Phật
Học Vấn Đáp Loại Biên
佛學問答類編
Phần 1
Lăo cư sĩ Lư Bỉnh
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
(theo bản in của Lư Bỉnh Nam
Lăo Cư Sĩ Toàn Tập Biên Tập Ủy Viên Hội, Đài
Loan, 2007)
Giảo chánh: Đức Phong và Huệ
Trang
Lời
tựa cho bộ Tuyết Lư Thuật Học Vựng Cảo
Từ khi Phật giáo truyền sang phương Đông,
trong hai ngàn năm, các vị hiện thân cư sĩ dùng pháp
môn Tịnh Độ để cổ vũ người đương
thời, mà cũng khiến cho hậu thế được
hưởng lây lợi ích, tôi cho rằng có ba vị là Vương
Long Thư đời Tống, Châu An Sĩ và Bành Nhị Lâm đời
Thanh. Nếu dựa theo truyện kư ghi chép th́ xa là như Tông
Thiếu Văn, Lưu Di Dân, gần th́ như anh em Viên Trung
Lang[1], cho đến gần đây th́ như
các vị Dương Nhân Sơn, Đinh Trọng Hựu[2], nào phải chỉ có trăm, ngàn
người mà thôi! Nhưng họ chỉ tự tu, ít tiếp
dẫn đại chúng, hoặc trước tác nhiều, ít
giảng nói. Ngay như ba vị đại lăo Long Thư, An
Sĩ, Nhị Lâm đối với chuyện tự hành, hóa
tha, khiến cho kẻ khác tin tưởng trong lúc ấy, lưu
truyền đến mai sau, vẫn chưa thể hưng thịnh
bằng ngài Lư Tuyết Lư trong hiện thời, mà đối
với chuyện dựng cao pháp tràng, tiếp nhận, dung nạp
mọi căn cơ, họ cũng chẳng thể nào sánh bằng
Ngài.
Ngài là người
xứ Tế Nam, ở gần quê hương của thánh nhân
(Khổng Tử), thường dự vào trướng của
Diễn Thánh Công[3], học tập di giáo Châu, Khổng
đă nhuần nhuyễn; nhưng lại riêng bỏ Nho theo Phật,
học hỏi khắp các Tông, dốc ḷng nơi Tịnh
nghiệp. Do lánh nạn, t́m xuống phương
Đối
với mỗi cơ sở từ thiện, Ngài đều
tận tụy hoạch định, lo liệu, tiến hành,
cho đến khi đă đạt quy mô hoàn chỉnh bèn giao
cho người khác chủ tŕ, coi như chính ḿnh chẳng
can dự ǵ, chỉ chú trọng giảng kinh, thuyết pháp.
Do thính chúng nghề nghiệp bất đồng, căn cơ
sai khác, cụ chia các khóa giảng thành nhiều nơi, mỗi
nơi đều có thời gian biểu cố định.
Ngài qua lại các nơi ấy, dẫu mưa, gió, lạnh,
nóng, vẫn chẳng sót giờ dạy nào. Lời Ngài dạy
dung hợp Tánh, Tướng, hướng dẫn về An Dưỡng.
Người theo học đông đảo, vượt quá hạn
định; các vị môn đệ lỗi lạc cũng
chia nhau dành thời giờ diễn giảng các nơi ḥng
ban pháp thí rộng răi khiến kẻ lần chuỗi, đếm
hơi thở, ngưỡng vọng nơi đạo. Lại
thêm, Bồ Đề Thụ Tạp Chí Xă đặc biệt
mở mục vấn đáp. Dẫu người ta hỏi
những thứ vặt vănh, vụn vặt, Ngài vẫn khéo
léo giải đáp cặn kẽ, cốt sao cởi gỡ mối
nghi. Lại thương xót những người học
trong thời gần đây, mê man nơi học thuyết Duy
Vật sai lầm, nên đặc biệt mở những khóa
hội thảo tại Đài Trung dành cho sinh viên các đại
học và trường chuyên khoa trong kỳ nghỉ hè, nghỉ
đông, bao luôn ăn ở, nhằm giảng giải Phật
pháp. Phàm những người đến học, không ai chẳng
giống như được Đề Hồ rưới
đảnh, hối hận trước kia đă có cái nh́n hẹp
ḥi. Ngài lại tinh thông y lư, định kỳ chẩn bệnh,
chữa trị, những kẻ được sống sót,
b́nh phục không thể tính xiết. Đây chỉ là kể
riêng một chuyện so với những chuyện khác mà thôi.
Tín chúng nhiều người xin được
quy, Ngài nại cớ là kẻ bạch y (cư sĩ tại
gia), chẳng truyền Tam Quy, Ngũ Giới, giới thiệu
họ tới các bậc danh đức, viết thư gởi
gắm. Ngài lại hai lần lễ thỉnh phương
trượng chùa Thiên Ninh là Ḥa Thượng thượng Chứng
hạ Liên mở giới đàn. Trong lần thứ hai, người
quy y thọ giới hơn một ngàn người; do vậy,
[lần truyền giới ấy] được gọi là
Thiên Nhân Giới Hội, tôi cũng may mắn được
dự vào số ấy. Ngài ban lợi ích cho tôi, há chẳng
phải là nhiều lắm ư?
Chỉ
kể ngẫu nhiên một điều trong những điều
trên đây đă đủ chứng tỏ Ngài là bậc thừa
nguyện tái lai, nhưng Ngài một thân trọn đủ
[các điều ấy], măi cho đến nay suốt mười
tám năm, trong mười tám năm ấy, chẳng có giờ
nào, khắc nào, Ngài chẳng dốc trọn ḷng hoằng pháp
lợi sanh, ngay cả miếng ăn, giấc ngủ cũng
chẳng được thong dong. Hễ có khách hỏi đến,
đều nghe Ngài trả lời: “Bận lắm”. Người
đời bận bịu với quan tước, lợi lộc,
vợ con, đất đai, nhà cửa, ăn uống, vui
chơi, nhưng Ngài chẳng màng tới [những thứ ấy].
Ngài gởi thân trong một gian nhà hẹp lép, chẳng có quyến
thuộc chầu hầu, một bữa cơm chay giữa
Ngọ mỗi ngày, cậy vào các đệ tử thay nhau cúng
dường, dẫu khổ hạnh Đầu Đà cũng
không hơn được nổi! Ngài kêu bận bịu, có
phải là v́ tam giới chưa rỗng không, chúng sanh lắm
khổ, nên mới thành ra như thế đó chăng?
Phàm
những ǵ Ngài đă làm, dẫu ba vị đại lăo Long
Thư, An Sĩ, Nhị Lâm cũng chưa thể bén gót, nói
ǵ đến những kẻ khác! Ấy là v́ trau sửa chính
ḿnh, hoặc do hạnh thù thắng, độ người kiêm
tu phước báo. Sự nghiệp của Ngài xa thẳm,
huy hoàng, cũng do Ngài sẵn có thể lực để đảm
đương. Tới nay đă tám mươi, vẫn đứng
ngồi nhanh nhẹn, chân bước nhẹ nhàng, thoăn
thoắt, nh́n xa cứ ngỡ người khoảng năm
mươi, ắt là người được trời
trao cho trách nhiệm to lớn, há có phải ngẫu nhiên đâu!
Ngày
mồng Bảy tháng Chạp Âm Lịch năm nay, Ngài thọ
đúng tám mươi, các đệ tử cao túc như các cư
sĩ Khánh Quang Châu Bang Đạo, Thận Độc Hứa
Tổ Thành, Thời Anh Châu Phỉ, Từ Tỉnh Dân, Châu
Gia Lân, Giang Tú Anh đề xướng thu thập toàn bộ
những trước thuật từ trước đến
giờ của Ngài, bao gồm Phật học, y học, văn
học v.v... soạn thành bộ Tuyết Lư Thuật Học
Vựng Cảo, ấn hành lưu thông trong cơi đời. Khánh
Quang đảm nhiệm chức vụ Thứ Trưởng
xử lư thường vụ của bộ Khảo Tuyển[4], kiêm nhiệm công tác biên tập phần
viết về tôn giáo trong bộ Trung Hoa Đại Điển
của Trung Hoa Học Thuật Viện, đă chọn lựa
kỹ càng những tác phẩm chuyên viết về Phật học
và thi văn trong bộ sách ấy, soạn thành Tuyết Lư
Xiển Phật Vựng Cảo để đưa vào
Trung Hoa Đại Điển nhằm chúc thầy trường
thọ. Ngài đă thấu hiểu đạo, quán Không, há c̣n
quan tâm danh vọng ngoài thân? Chỉ v́ hai bộ sách ấy, lớn
th́ hoằng dương kinh điển, bảo vệ đạo
pháp, nhỏ th́ giáo hóa dân, tạo thành nề nếp, và những
từ ngữ ghi chép, tường thuật những t́nh h́nh
tao ngộ, lênh đênh thật là thú vị! Từ đây, sách
được khắc in dài lâu[5], khiến cả trăm năm sau, kẻ
nghe đến không ai chẳng dấy ḷng náo nức, khiến
cho tấm ḷng cứu thế của Ngài há chẳng được
thỏa thích đôi chút!
Tôi
chưa thể đọc trọn văn chương của
Ngài, nhưng đă trộm thấy được đôi chút
đầu mối, lại sống cùng quê, lại từng được
lạm dự giảng ṭa; do vậy, đem những điều
nghe biết về sự lập thân hành đạo của
Ngài ghi lại đại khái. Chỉ có người như
thế ấy mới có văn như thế này, mai sau vạn
cuốn sách sẽ có vạn người đọc, đă
có nhiều người như thế, há c̣n phải biện
định lời tôi đáng tin nữa chăng?
Ngày lành tháng Mười Một năm
Trung Hoa Dân Quốc 57, tức năm Mậu Thân (1968).
Đại biểu Quốc Dân Đại
Hội, măn phần Ưu Bà Tắc Niệm Sanh Thái Vận
Chấn, pháp danh Khoan Vận kính đề.
Lời
tựa cho bộ Phật Học Vấn Đáp Loại Biên Tục
Biên thứ hai
Phật
học là giác học, giác cái tâm của chúng sanh. Phàm là tâm bất
giác, bèn có vọng chấp, chấp sẽ gây chướng.
Hễ chướng th́ hết thảy mù mịt, dấy lên
phiền năo vô cùng. Điều quan trọng nhất là sanh nhằm
thời diệt pháp, vũ trụ biến thiên, hỏi đến
nguyên nhân v́ sao, chẳng thể hiểu được! Kẻ
hiếu học ắt sẽ suy tưởng nguyên do, nhưng
nghĩ măi chẳng ra, t́m hỏi bậc hữu đạo
mới ḥng biết được. Phàm phu Hoặc nghiệp
hiếm có kẻ nghĩ phải hỏi han, nh́n thấy khí
thế gian hữu t́nh, vô thường lưu chuyển, vội
cho là chuyện đương nhiên. Như Lai gọi những
kẻ ấy là “hạng đáng thương”, cần phải
được giác ngộ bằng giác học. Giác học dễ
nói với người đă giác, chẳng dễ nói với
kẻ bất giác; nhưng kẻ đă giác th́ chẳng cần
phải nói, chỉ có kẻ bất giác mới cần! Kẻ
bất giác chẳng biết họ cần; có nói, họ cũng
chẳng thể tiến nhập. Do vậy, nói với kẻ
bất giác, không chỉ khó nói, mà c̣n khó khăn ở chỗ
phải dùng nhiều phương cách tiếp dẫn, ngơ hầu
họ nhận biết họ cần phải hỏi han.
Nghiệp sư Tuyết Lư ở Đông Lỗ[6], hoằng hóa tại Đài Trung gần
như suốt cả một đời. Cụ giảng
kinh suốt năm để tiếp độ đại
chúng rộng khắp, lập ra khóa bồi dưỡng vào
tiết Hè và tiết Đông dành cho sinh viên đại chuyên.
Lại dùng giảng học, trước thuật để
tiếp dẫn rộng răi. Dùng lễ nhạc tiếp độ
kẻ học Nho, dùng thơ tiếp độ kẻ phong
nhă, dùng Kỳ Hoàng[7] tiếp độ kẻ học y,
dùng lịch sử tiếp độ kẻ học rộng.
Lại c̣n kiến lập các sự nghiệp phước
thiện nhằm tiếp độ nhân quần bệnh khổ.
Do vậy, chúng sanh đông đảo biết đến đạo
cần thiết, đua nhau đến xin nghe dưới ṭa
giảng kinh. Nghe rồi suy nghĩ thấy có những chỗ
không hiểu lắm, hoặc do ở chốn xa xôi chẳng
thể nghe được, đều dùng thư từ để
cầu xin tháo gỡ mối nghi, thầy mỗi mỗi đều
giải đáp. Câu hỏi nhiều, lời đáp trọng
yếu, hoặc là có kẻ ngoại đạo cố ư chất
vấn, bắt bẻ, thầy ứng theo căn cơ để
trả lời. Hoặc chiết phục, hoặc nhiếp
thọ, đều xuất phát từ bi tâm, cho nên câu hỏi
tuy tà, mà lời đáp là chánh, đều có đủ công năng
phá mê khải ngộ[8]. Bài vấn đáp được đăng
tải liên tục trên các tờ Giác Quần, Giác Sanh cho đến
Bồ Đề Thụ. Về sau, do nhu cầu của người
học càng lớn, bèn biên tập thành sách từ Sơ Biên,
Nhị Biên, cho đến Tục Biên, lưu thông trong ngoài nước.
Kẻ nghi vấn chưa quyết, đọc đến sẽ
lập tức giải trừ mối nghi. Kẻ phát tâm khuyến
hóa nhưng c̣n sợ khó khăn, đọc đến cũng
cảm thấy thông suốt. Kẻ sơ cơ lẫn người
học đạo đă lâu, tự hành, hóa tha, ai nấy đều
có sở đắc. Tục Biên được ra đời
nhằm chúc thọ thầy nhân dịp tám mươi, đến
nay đă bảy năm hơn, những bài văn [vấn đáp]
tiếp theo sau lại chồng chất, người đọc
vẫn có nhu cầu như trước. Các bạn trong nhóm
Minh Luân thưa với thầy, quyết định biên tập
lần nữa để nhà xuất bản Thanh Liên ấn
hành, lúc sắp lên khuôn, sai Dân viết lời tựa. Dân cũng
là người đất Lỗ, nghe một chẳng thể
hiểu hai, chẳng thể nhận định cao sâu hơn
được, chỉ đành viết những ǵ đă thấy.
Pháp thế gian do thầy nói chính là Phật pháp, nói pháp phổ
thông chính là pháp đặc biệt. V́ thế, lễ, nhạc,
thi, thư, giảng nói, giống như giữa trăm ḍng sông
tranh nhau chảy xiết, trong mỗi ḍng thầy dẫn một
chiếc thuyền to, chẳng quẩn
quanh, chẳng cắm lại, lướt thẳng vào biển
giác của Như Lai. Bộ sách này như hơi ẩm trên
sông, trên biển, kéo mây, tuôn mưa, ứng theo nhu cầu của
vạn vật mà tưới đẫm trọn khắp, chẳng
giống, chẳng khác sông biển. V́ thế, những
nghĩa trọng yếu của Ngũ Minh[9] đều được bao hàm trong
đây, nhưng [người đọc] chẳng thấy
sâu xa, huyền áo khó nhập, trở thành giống như
chuyện đương nhiên. Than ôi! Phật pháp không
người nói, dẫu có trí chẳng thể hiểu. Nếu
nói mà vẫn chưa hiểu th́ là v́ chưa thể giáo hóa một
cách quyền biến. Nếu có thể vận dụng cách
giáo hóa quyền biến để nói, chưa hề có kẻ
chẳng hiểu. Nguyện người học thâm nhập
kinh tạng, tự giác, giác tha, đọc một điều
này bèn biết những điều c̣n lại, chưa ai chẳng
thể như nguyện.
Trung Hoa Dân Quốc, năm Ất Măo
(1975), Hà Nguyệt Trung Hoàn thọ nghiệp đệ tử
Lô Giang Từ Tỉnh Dân kính đề
Lời
Tựa cho bộ Phật Học Loại Biên
Đức
Thích Ca tùy cơ diễn giáo, thuyết pháp bốn mươi
chín năm, Tam Tạng chia thành mười hai phần, lư thú[10] của Kinh Tạng không ǵ to lớn
chẳng bao gồm, không ǵ nhỏ nhặt chẳng được
thâu tóm, pháp ắt trọn đủ. Đoái nh́n tứ chúng
sơ cơ, thường cảm thấy biển giáo mênh mông,
sâu thẳm, ngước nh́n biển cả thở dài; do vậy,
đành bó gối chẳng thể tiến lên. Từ thuở
đề xướng lối văn Bạch Thoại, tuổi
thanh niên bắt đầu nghiên cứu kinh luận, mới
có thể gắng gượng. Trong một khoa, thuật ngữ
như rừng, dẫu từ điển giảng giải
cặn kẽ, cũng chẳng dễ đạt được
lợi ích nơi pháp. Nạp tăng[11] thuở trước ở Phù Dung Sơn
Tự tại Cửu Long, được cư sĩ Châu Phỉ
tặng cho hai bộ Phật Học Vấn Đáp của cư
sĩ Lư Bỉnh Nam, nội dung những lời vấn đáp
trong ấy, gơ nhẹ kêu nhỏ, gơ mạnh kêu to[12], như đại y vương ứng
theo căn bệnh ban thuốc, không ǵ chẳng khế cơ,
khế lư, phù hợp khít khao. Nạp tăng đặt sách ấy
trong núi, du khách phần nhiều thích xem, chưa đầy
tháng đă không biết ở chỗ nào, đủ thấy
những người cùng ưa thích bộ sách ấy rất
đông. Nay Châu cư sĩ gom góp, biên tập những lời
đáp của cụ Lư trước sau hơn ngàn bài, phân loại,
biên soạn thành tổng tập, sai nạp tăng viết
lời tựa. Lành thay! Lành thay! Mỗi câu đáp của cụ
Lư, lời lẽ giản dị, ư bao trùm, chữ nghĩa không
nhiều, ư nghĩa trọn đủ. Những lời ứng
phó, luận định, biện bác, có lúc nghiêm ngặt như
quân lệnh của Tŕnh Bất Thức, có lúc nhanh nhạy
như Lư Quảng cởi yên, tháo dây tua đeo ấn[13], nhưng chưa hề bị bắt
bí! Do vậy, biết thuở trước cụ đă học
rất sâu, Tánh Tướng kiêm thông, nên mới thừa sức
trả lời thoải mái như thế, đúng là bè báu độ
sanh, cầu bến nơi biển giác vậy. Viết vội
đôi ḍng tùy hỷ để làm lời tựa.
Ngày mồng Ba tháng Giêng năm Ất
Mùi (1979)
Sa-môn Dung Hy chùa Đại Giác,
Singapore, kính cẩn đề tựa.
Lời
tựa cho bộ Phật Học Vấn Đáp Loại Biên
(đây là một trong hai lời tựa
do người biên tập đă viết cho tập sách nhỏ
Phật Học Vấn Đáp khi đang chủ trương
tạp chí Giác Sanh trước kia)
Tiên
sinh Lư Tuyết Lư ở Tế Nam, Quốc Học uyên bác,
thông hiểu nội điển sâu xa, phát vô thượng
nguyện hoằng pháp lợi sanh. Từ thuở đến
Doanh Kiệu[14], đi khắp nơi giảng kinh,
đuốc trí chói ngời, lưỡi sen mầu nhiệm
rạng rỡ. V́ thế, kẻ sơ cơ cùng người
học đạo đă lâu, chen nhau theo về, phong khí đại
khai, người tin tưởng do vậy ngày càng đông đảo.
Cụ lại nhân lúc thanh nhàn, giải đáp những nghi
nan cho người khác. Nếu lời lẽ vẫn chưa
đủ, bèn dùng thêm văn tự [để chỉ bày]. Một
lần nói chưa đủ, thời chẳng nề hà giảng
đôi ba lượt. Giống như gơ chuông, gơ nhẹ ắt
chuông ngân nhỏ, gơ mạnh ắt chuông ngân to. Trong nhà ngoài
ngơ, lắm phen khéo léo khuyên dụ, vô úy bố thí tột bậc.
Thật đáng gọi là “hiện
thân cư sĩ, hành hạnh Bồ Tát đạo” vậy!
Các đề
tài vấn đáp từ nguyệt san Giác Quần cho đến
nguyệt san Giác Sanh, mỗi kỳ đều có chuyên mục
đăng tải. Lời văn giản ước, nghĩa
lư viên dung, thuận đạo, khế cơ, khai Quyền,
hiển Thật, dùng các thí dụ gần gũi, thường
trích dẫn rộng răi kinh Phật, khiến cho [người
đọc] đâu đâu cũng gặp nguồn, Nho lẫn
Thích đều thông hiểu lẽ uyên áo. Dứt tà thuyết,
uốn nắn những lời lẽ lệch lạc, ḥng ǵn
giữ đạo của bậc thánh thuở trước,
tuyên lưu pháp âm, diễn Chân Đế, nhằm hoằng dương
tông phong liên xă. Nêu một điều ḥng biết được
mọi điều, đoạn nghi khởi tín, hiểu tâm
chẳng ở đâu xa, người đọc cố nhiên
có thể tự lănh hội!
Chủ
biên tờ Giác Sanh là cư sĩ Châu Thời Anh đă tập
hợp các đề tài vấn đáp từ số báo thứ
mười trở về trước, biên soạn thành Phật
Học Vấn Đáp Sơ Tập. Nay lại tập hợp
những đề tài vấn đáp từ số báo mười
hai cho đến số hai mươi ba, biên soạn thành tập
thứ hai. Đính ngọc thêu gấm, phong phú ngoạn mục,
phương tiện khá nhiều, công đức chẳng cạn,
vâng mệnh viết lời tựa, quên bẵng bản thân
cố chấp, thô lậu, vui vẻ viết lại những
điều hiểu biết hẹp ḥi nơi đây, chắc
tiên sinh Tuyết Lư chẳng cười những lời
lẽ sơ sót v́ bị văn tự chướng đó ư?
Ngày mồng Chín tháng Bảy năm Dân
Quốc 41 (1952), Châu Bang Đạo kính cẩn viết lời
tựa
Ngọn
đèn trí huệ
(thay cho lời ghi sau khi hoàn thành công
tác biên tập)
Trưởng giả
Tuyết Công tuổi hạc đă bảy mươi tư,
do bốn mươi năm tu tŕ, thâm nhập, lại thêm tâm
huyết trong mười năm hội tụ thành Văn Tự
Bát Nhă, [các môn đệ] tập hợp những câu hỏi đă
nêu ra về đạo Phật và Nho, trao cho tôi làm công tác biên
tập, đèn huệ thắp cao, nhưng v́ tôi là kẻ t́nh
chấp nặng nề, nghiệp chướng sâu thẳm dường
ấy, lại có thể nương theo phước huệ
to lớn như thế, trong ḷng buồn vui chen lẫn!
Nhớ
hai năm trước, v́ cầu chứng một vấn đề
trong sự tu học, tôi đă xem trọn toàn bộ phần
vấn đáp đăng tải trong nhiều năm qua trên
tờ Bồ Đề Thụ, đem đối chiếu
[với vấn đề ḿnh đang thắc mắc, những
lời vấn đáp của cụ] khiến cho tôi ngay lập
tức là kẻ đang đi trong đêm đen đột
nhiên như bước vào một thế giới sáng ngời,
rạng rỡ.
Tôi làm công tác biên
soạn cuốn sách này, giở đầy [bản thảo]
trên chiếu tatami[15] trong Bồ Đề Tinh Xá của
lăo hữu Thời Anh, suốt ngày trước mắt toàn là
những chữ bằng mực đen nhảy múa trên nền
giấy trắng, mỗi một chữ chiếu rực mắt
tôi, khác nào luồng ánh sáng trí huệ rạng ngời. Tôi phải
nói như vậy, v́ tôi cảm nhận sâu xa, một vị
hành nhân Phật học nếu thiếu khuyết công phu tu
tŕ, trọn chẳng thể đạt được trí
huệ như thế (điều này chẳng giống như
kẻ thông minh trong thế tục). Nếu không có trí huệ,
chỉ dùng văn tự để soạn thành tác phẩm
sẽ chẳng có ánh sáng như thế. Thiếu trí huệ
th́ nơi hành vi, tâm sẽ không có cách nào chuyển cảnh.
Tôi
vừa biên soạn, vừa suy lường, chọn lựa,
lấy ra ba câu cụ Lư trả lời cư sĩ Lâu Vĩnh
Dự để làm chứng tu tŕ và trí huệ phải sóng đôi
với nhau như thế nào. Nhờ
đó, chúng ta có thể thấy được công phu và cảnh
giới của cụ Tuyết Lư ra sao?
Ông
Lâu hỏi: Xin hỏi thầy, niệm Phật mà chấp tướng
quá lố sẽ có những khuyết điểm ǵ?
Đáp: Quá lố
là toàn phần. Chấp tướng quá lố th́ toàn tướng
chính là tánh!
Ông
Lâu hỏi: Đối với y báo và chánh báo trang nghiêm trong cơi
Cực Lạc và tướng hảo, quang minh của Phật
Di Đà, tôi ngày đêm niệm niệm chẳng quên, có phải
là chấp tướng quá lố hay chăng?
Đáp:
Có thể nói là “toàn sự, toàn tướng”.
Ông
Lâu hỏi: Thiền từ vô tướng để vào, Tịnh
từ hữu tướng mà vào, chỉ cần có thể vào,
chẳng cần biết là vô tướng hay hữu tướng,
đúng chăng? Nhưng chúng sanh đời Mạt Pháp vọng
tưởng, chấp trước quá sâu, bước đầu
đều phải chọn cách hữu tướng để
vào. Đối với cách tham thoại đầu của nhà
Thiền, cư sĩ Phương Luân ví như lấy độc
trị độc, cũng có thể nói là từ hữu tướng
mà vào, điều này có nghĩa là như thế nào?
Đáp:
Cách nh́n ấy cũng là siêu việt.
Điều
được hỏi trong ba câu hỏi ấy chính là “bệnh
xứ”, người hiện thời học Phật đối
với chuyện dụng công, phần nhiều hoang mang chẳng
thể “nhập tướng”, cụ Lư điểm chỉ
như thế, c̣n ǵ tinh xác, hay đẹp hơn!
Những
lời vấn đáp như thế, đọc đến
như uống quỳnh tương, tương ứng khít
khao, mắt chẳng thấy xiết, tôi tin kẻ có duyên đọc
đến những câu ấy đều là người có
phước!
Tôi
biên tập bộ sách này, tuân theo tŕnh tự của luận
lư học, tiến hành chỉnh lư theo phương cách tổng
hợp và quy nạp, khiến cho mỗi một đề mục
có thể tạo thành một tiểu loại riêng, khiến
cho kết cấu nội dung có mối liên quan hỗ tương
[giữa các đề mục vấn đáp] ngơ hầu những
bằng hữu có duyên đọc tới như tôi đều
được thấm đẫm pháp vị.
Đọc
xong cuốn sách trong mười ngày đêm, xem hai ngàn sáu trăm
sáu mươi ba lần hỏi đáp, người hỏi
là một ngàn một trăm ba mươi ba người,
khoảng bốn mươi bốn vạn tám ngàn năm trăm
chữ.
Trong
đó, những câu hỏi liên quan đến Tịnh Tông chiếm
đến năm trăm hai mươi chín câu, người
hỏi là hai trăm ba mươi lăm vị, chiếm đến
tám vạn sáu ngàn chữ, gần như tất cả những
câu hỏi về niệm Phật đều được
bao gồm. Đồng thời tôi cũng nên nêu ra một vấn
đề, riêng cư sĩ Hồ Chánh Lâm đă hỏi bảy
mươi sáu câu, câu nào cũng hỏi về chuyện bên lề
của đường lối Phật Thích Ca, tôi cảm thấy
người này thưa hỏi với một tâm lư kiêu ngạo!
Mười
ngày qua, toàn bộ tinh thần và tư tưởng của tôi
vẫy vùng trong biển pháp, toàn bộ tâm linh tôi sáng bừng
ngọn đèn trí huệ, ngọn đèn ấy chẳng chỉ
chiếu sáng riêng tôi, mà c̣n chiếu rạng ngời người
khác.
Gần
đây tôi đọc một tác phẩm văn học rạng
ngời khá đầy đủ tư tưởng Phật
học của nữ sĩ Hoa Nghiêm là cuốn Ngọn Đèn
Trí Huệ, tác phẩm ấy sinh động, đẹp đẽ,
khiến cho người đọc cảm động, nhất
là cảm nhận đời người là một chuyến
lữ hành gieo neo, tối tăm, điều thiếu sót chánh
yếu là một ngọn đèn trí huệ, nay chúng ta được
đọc sách văn tự Thiền của cụ Tuyết
Lư, chúng ta càng được gội đẫm ân Phật.
Ngày
Hai Mươi Chín tháng Giêng năm Dân Quốc 51 (1962), Trần
Huệ Kiếm viết ở Bồ Đề Tinh Xá tại
Đài Trung.
Phật
Học Vấn Đáp Loại Biên
佛學問答類編
Phần 1
I. Thông
Vấn (những câu hỏi
tổng quát)
* Hỏi:
Đức Phật v́ một đại sự nhân duyên mà xuất
hiện trong cơi đời, đại sự là những sự
nào? (Dư B́nh hỏi)
Đáp:
Đại sự là sanh tử. Xin hăy suy nghĩ kỹ, trong
nhân gian c̣n có chuyện nào lớn hơn điều này nữa
ư? Chỉ có ḿnh đức Phật có thể liễu sự
này, cho nên Ngài ứng thế để giải quyết chuyện
này cho chúng sanh.
* Hỏi:
Đời người rốt cuộc là sống v́ điều
ǵ? Phật giáo nói như thế nào? (Thí Vô Úy hỏi)
Đáp:
Điều này gọi là nhân sinh quan, quan điểm mỗi
người khác nhau. Phật pháp bảo là do nghiệp lực
thiện ác dẫn dắt. Mỗi lần đến lănh quả
báo th́ người ngộ sẽ nhờ vào đấy mà t́m
cầu giải thoát, kẻ mê lại tạo ương họa
mới, lại phải chịu quả báo về sau.
* Hỏi:
Trên cơi đời, chân lư trong vũ trụ có phải là một
hay không? Ai (tôn giáo nào) là chân lư duy nhất? (Hoàng Thánh Hống hỏi)
Đáp:
Vấn đề này khá mơ hồ. Vũ trụ to lớn,
sự vật nhiều, phải nói từ nơi nào? Ở đây,
có thể nói: Mỗi sự vật đều có một chân
lư. Nếu quy nạp th́ có một chân lư chung, đó là “vạn pháp quy nhất”. “Vạn pháp quy nhất” là Nhất
Chân pháp giới, nhưng nó chẳng giống với vạn
vật. Vạn vật sanh diệt vô thường, Nhất
Chân pháp giới như như bất động, nên gọi
là Chân. Tôn giáo nào ngộ được lư này, sẽ có căn
cơ, đó là chân lư tôn giáo.
* Hỏi:
Phật và thánh nhân có ǵ khác biệt? (Lư Trung Tâm hỏi)
Đáp:
Thánh nhân có nhiều loại khác nhau, có hai loại lớn là thế
gian và xuất thế gian. Từ hai loại này, lại chia
thành bao nhiêu loại nữa. Đối với thánh nhân thế
gian, chỉ lấy Trung Quốc để luận th́ Nghiêu,
Thuấn, Vũ, Thang, Văn Vương, Vơ Vương, Châu
Công, Khổng Tử, Bá Di, Liễu Hạ Huệ[16] v.v... đều là thánh nhân. Thánh nhân
xuất thế gian th́ từ Thập Địa Bồ Tát trở
xuống Duyên Giác, Thanh Văn v.v... đều là thánh nhân. Phật
khác cả hai loại này, tức là những ǵ mà hai loại
thánh nhân trên đây biết, có thể làm, Phật đều
biết, đều có thể làm; nhưng những điều
Phật biết và có thể làm, có những điều mà hai
loại thánh nhân trên đây chẳng biết, chẳng làm được!
* Hỏi:
Phật giáo cứu thế có nhân quyền độc lập
xuất thế, v́ sao xen vào chuyện thiện ác thế
gian, [phán định] cái này đúng, cái kia sai? (Trần Vấn Vân hỏi)
Đáp:
Phật pháp trong thế gian, chẳng ĺa thế gian giác. Chẳng
nói tới phiền năo, làm sao hiển lộ Bồ Đề?
* Hỏi:
Trước Phật, cúng dường các thứ như hương,
hoa, trà, bánh, trái cây, có ư nghĩa ǵ? (Trang Khánh Hiền hỏi)
Đáp:
Ở đây có Sự và Lư khác biệt. Sự là nương
theo các phẩm vật cúng dường thường dùng
trong lễ nghi thế tục nhằm biểu thị ḷng thành
kính mà thôi. Về Lư th́ do trong các thứ cúng dường, pháp
cúng dường là tối thắng; v́ thế, dùng phẩm vật
để thay thế pháp. Hương biểu thị tinh tấn,
nến biểu thị trí huệ, hoa biểu thị nhẫn
nhục, nước trà biểu thị bố thí, bánh và trái
cây biểu thị Thiền Định. Lại c̣n một
loại [vật phẩm cúng dường] là đồ hương
(hương bôi), Hiển Giáo phần nhiều không dùng tới,
nhưng đồ hương[17] vẫn thuộc về ư nghĩa tŕ
giới. Hợp những nghĩa này lại th́ các phẩm vật
cúng dường [biểu thị] Lục Ba La Mật.
* Hỏi:
Có người nói Phật giáo chẳng đốt giấy vàng
bạc, chỉ dùng trái cây, hương, hoa, nến, trà, cúng
dường Phật, Bồ Tát nhằm ư nghĩa ǵ? (Vương Kế hỏi)
Đáp:
Giấy tiền vàng bạc đều là vật để
ban cho quỷ thần, cho nên vô ích đối với Phật.
Cúng Phật cũng chẳng qua nhằm biểu lộ ḷng thành
kính của ta, há Phật thật sự hưởng thụ?
Nhưng đức Phật từ bi cấm giết, chế
định ăn chay; cho nên cúng Phật cũng chỉ dùng
các loại như trà, quả v.v...
* Hỏi:
Có người hỏi, nhà Phật cúng Phật dùng trái cây, hương,
hoa, nến, trà là do ư nghĩa ǵ, xin thầy khai thị minh bạch.
(A Đào hỏi)
Đáp:
Vật cúng vốn có nhiều thứ, nói chung tuân theo nguyên tắc
“chẳng giết hại sanh mạng loài vật”. Nếu
nói chi tiết, những vật dùng để cúng dường
cũng nhằm thể hiện nghĩa lư. Nay nói về ư
nghĩa của những thứ vừa được nêu
lên [trong câu hỏi] th́ trái cây là thực vật nhằm biểu
thị Thiền Định, hương biểu thị tinh
tấn, hoa biểu thị nhẫn nhục, nến biểu
thị trí huệ, trà là nước, biểu thị bố
thí.
* Hỏi:
Trước ngực mỗi tượng Phật, đều
có chạm một chữ Vạn to hay nhỏ, chẳng biết
v́ nguyên do như thế nào? (Tạ
Trí Viễn hỏi)
Đáp:
Thân Phật có ba mươi hai thụy tướng, chẳng
giống như người tầm thường. Chữ ấy
cũng là một trong các thụy tướng.
* Hỏi:
Người xuất gia thuộc thế hệ đầu
tiên ở Trung Quốc là pháp sư nào? (Thích Tâm Xuyên hỏi)
Đáp:
Phật giáo bắt đầu truyền vào Trung Hoa, c̣n chưa
thể nói chắc chắn là trong đời Châu, Tần, Hán
hay Ngụy, làm sao có thể nói người xuất gia đầu
tiên ở đất Hán [là ai]. Nếu thừa nhận [Phật
giáo] bắt đầu [truyền vào Trung Hoa] kể từ
thời Hán Minh Đế, nếu dựa Hán Pháp Bản Nội
Truyện[18] đă ghi đại lược: “Khi ấy, quan Tư Không[19] là Lưu
Tuấn Đức và đạo sĩ Lữ Huệ Thông
v.v... gồm một ngàn người, thỉnh cầu xuất
gia, vua đều chấp nhận” th́ có thể nói là những vị
như ông Lưu là người xuất gia đầu tiên. Lại
dựa theo bộ Cao Tăng Truyện đời Lương
và cuốn Tam Bảo Kư của Phí Trường Pḥng đă nói:
Vào đời Tào Ngụy, trong niên hiệu Cam Lộ của
Cao Quư Hương Công[20], Châu Sĩ Hành người xứ Dĩnh
Xuyên là người xuất gia đầu tiên ở đất
Hán. Thời đại xa vời, mờ mịt, chuyện xưa
khó thể có chứng cứ đích xác. [Dĩ nhiên sử liệu]
chẳng phải chỉ có như thế, trong lúc chưa phát
hiện những thuyết khác, tạm chấp nhận hai
thuyết này để làm tài liệu tham khảo cũng được,
nhưng cũng chớ nên chấp chặt phải là như
vậy.
* Hỏi:
Phải trọn đủ mấy điều kiện th́ mới
là Tăng Bảo? (Trần Tâm Nguyện
hỏi)
Đáp:
Hiến thân cứu độ chúng sanh, trước hết
là bỏ ĺa quyến thuộc, điền sản, vào chùa cầu
tỳ-kheo xuống tóc, đó gọi là xuất gia. (Nói thông
thường) lại phải thọ các giới từ Sa Di
cho đến Tỳ-kheo Cụ Túc, mới gọi là Tăng
Bảo. Nhà Phật chế định giới luật như
thế. Phàm những ai biết đôi chút về giới luật,
không ai chẳng biết [như vậy].
* Hỏi:
V́ sao tại gia cư sĩ chẳng thể thâu nhận đệ
tử quy y? (Trần Tâm Nguyện
hỏi)
Đáp:
Tăng có nghĩa là Chúng, nhằm chỉ đoàn thể của
hết thảy các vị tỳ-kheo. Quy y Tăng, thật ra
là quy y đoàn thể tỳ-kheo. Người tại gia bất
quá là Cận Sự Nam và Cận Sự Nữ mà thôi, trọn
chẳng phải là tỳ-kheo, không có tư cách dự vào Tăng
đoàn, sao có thể tiếm phận, trao truyền quy y xằng
bậy được?
* Hỏi:
Chẳng biết người tin Phật có thể tin tưởng
sâu xa vào vận mạng do những thầy tướng số,
bói toán đă phán đoán hay không? (Thiện
Nhân hỏi)
Đáp:
Mạng do tâm tạo, bọn thầy bói há có thể chi phối
tâm ta ư? Chuyện Sa Di cứu kiến được tăng
tuổi thọ là tấm gương thuở trước [đấy
thôi].
* Hỏi:
Làm việc thiện, gieo nhân lành, tương lai có thể đắc
thiện quả, đó là đạo lư nhất định,
nhưng v́ sao niệm kinh, niệm chú là gieo phước, [điều
này] khiến cho kẻ khác cảm thấy hơi khó hiểu?
(Hoàng Quan Trung hỏi)
Đáp:
Đă tin gieo thiện nhân đắc phước quả, th́
nên biết gieo ác nhân đắc khổ quả. Xin hăy suy xét
cẩn thận, chúng sanh hằng ngày gây tạo: Thân giết,
trộm, dâm lắm phen, miệng nói dối, ác khẩu, nói đôi
chiều, nói thêu dệt lắm nỗi, những việc thiện
thật sự ít ỏi, hiếm hoi! Xét đến cái gốc
của những tạo tác th́ chỉ là do Ư. Hễ ư thiện
th́ thân và miệng thể hiện điều lành, ư ác ắt
thân miệng thể hiện điều ác. Tụng kinh chú của
Phật, ư ác chẳng sanh; thời gian chẳng nẩy sanh ác
chính là thời gian gieo phước vậy!
* Hỏi:
Đức Phật nói con người suốt ngày vùng vẫy,
thoi thóp trong biển khổ sóng sầu, nhưng v́ lẽ ǵ
lại nói thân người khó được? (Hoàng Quan Trung hỏi)
Đáp:
Thân người sầu khổ, có thể khơi gợi phát
khởi các tâm nhàm ĺa, xuất ly. Tuy khổ, nhưng chưa
đến nỗi cùng cực, v́ c̣n có cơ hội tu hành đúng
pháp. Nếu là chư thiên, ắt hưởng lạc quên lo
lắng [cho thân sau], Tu La sân hận chẳng cởi gỡ được,
súc sanh ngu si, ngạ quỷ đói khát, địa ngục chịu
khổ chẳng gián đoạn, đều chẳng có duyên
giải thoát. Do vậy, nhân gian đáng quư.
* Hỏi:
Nghe nói Quán Âm Bồ Tát thành Phật đă lâu, danh hiệu của
vị Phật ấy là ǵ? (Châu
Huệ Tiền hỏi)
Đáp:
Theo Thiên Thủ Thiên Nhăn Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh, Ngài
có hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai; đó là chuyện trong quá
khứ vô lượng kiếp, sao có thể nói [đích xác]
năm tháng nào!
* Hỏi:
Vô số Hằng hà sa cơi Phật có phải là tam thiên đại
thiên thế giới hay không? (Thái
Thế Phương hỏi)
Đáp:
Tam thiên đại thiên là con số có thể tính ra được,
Hằng hà sa là con số khó thể tính toán.
* Hỏi:
Lục Độ của Đại Thừa và Ngũ Giới
Thập Thiện trong Tiểu Thừa có chỗ nào khác nhau? (Thái Thế Phương hỏi)
Đáp:
Ngũ Giới, Thập Thiện phần nhiều mang ư nghĩa
tự tu, Lục Độ phần nhiều mang ư nghĩa lợi
ích người khác, đấy là chỗ khác nhau.
* Hỏi:
Đi đường gặp xuất gia Tăng Bảo, chẳng
biết có thể đảnh lễ ngay trên đường,
hay nên làm như thế nào? (Trần
Lâm Châu hỏi)
Đáp:
Cư sĩ gặp Tăng Bảo, đúng ra nên đảnh
lễ, nhưng ở ngoài đường sá, có thể phương
tiện là chắp tay, xá chào là được rồi. Đường
sá là nơi xe ngựa qua lại, nếu rạp ḿnh đảnh
lễ sẽ gây trở ngại giao thông!
* Hỏi:
Nếu mới gặp bậc đại đức lần
đầu, hướng về vị ấy đảnh lễ,
v́ sao trong tâm cảm nhận buồn thương, như gặp
lại người chí thân xa cách đă lâu, hai mắt toan ứa
lệ, là nhân duyên như thế nào? (Nhan Phật Triệu hỏi)
Đáp:
Đấy chính là tâm chí thành khẩn thiết, thân cận,
cung kính tột bực, nên biểu hiện ra như thế!
* Hỏi:
V́ sao bậc ḥa thượng trọn đủ thần
thông chỉ thấy trong sách vở, hiện thời có những
trường hợp thật sự như vậy hay chăng?
Ở Đài Loan có hay chăng? (Trương
Cung hỏi)
Đáp:
Thật sự có bậc thần thông, nhưng họ đều
giữ kín, chẳng nói ra. Phàm những kẻ tự ḿnh khoe
khoang đều là hạng vô đạo! Như vậy th́ người
thật sự hữu đạo, người khác làm sao biết
được?
* Hỏi:
Sách Quán Âm Đắc Đạo là tiểu thuyết dễ đọc
về Phật giáo trong dân gian, xin hỏi những sự từng
trải trong quá tŕnh đắc đạo [của Quán Thế
Âm Bồ Tát] như đă kể trong sách ấy có chính xác hay
không? (Hương Viễn hỏi)
Đáp:
Bịa đặt, đồn thổi! Chỉ là những kẻ
nhàn tản lúc chiều tà, bên sườn đồi, dưới
cội cây, hướng về những ông già bà cả trong
làng kể chuyện cười mà thôi!
* Hỏi:
Kinh Phật rất nhiều, khó thể đọc trọn,
xin chọn lựa tên gọi của mấy bộ kinh Phật
vừa có chú giải, vừa có chỗ bán, và xin thầy chỉ
dạy thứ tự xem đọc trước sau! (Trầm Chung Ngũ hỏi)
Đáp:
Để trả lời câu hỏi này; trước hết,
tôi kính dâng một lời: Khi mới cầu học, chỉ
nên chiếu theo cách làm của người tu thuở trước,
tạm thời chớ nên mong mỏi suy xét, [phê phán] điều
này đúng, điều kia sai! Đối với thứ tự
nghiên cứu, chẳng ngại từ đơn giản cho đến
phức tạp! Bắt đầu bằng Bát Đại Nhân
Giác Kinh, tiếp đó nghiên cứu Tứ Thập Nhị Chương
Kinh, Phật Di Giáo Kinh, Phạm Vơng Kinh, đây là những
kinh dạy về kiến thức thông thường cần
phải có! Tịnh Độ Tam Kinh thuộc về Hạnh
môn cầu đắc Định. Bách Pháp Minh Môn Luận, Bát
Thức Quy Củ Tụng, Tam Thập Duy Thức Tụng, Kim
Cang Kinh, Bát Nhă Tâm Kinh, Vĩnh Gia Thiền Tông Cập Chứng
Đạo Ca, những kinh luận này để học về
Tánh và Tướng, chủ yếu là huệ giải. Đại
Thừa Khởi Tín Luận, luận này dung hội Tánh và Tướng,
có thể điều ḥa những thiên chấp. Sau khi trải
qua giai đoạn này rồi mới nghiên cứu những bộ
kinh sách lớn, sẽ tương đối dễ ngộ
nhập hơn. Chắc là những tiệm lưu thông kinh sách
Phật giáo ở Đài Loan đều có những sách kể
trên.
* Hỏi:
Phật giáo lấy hư tịch làm Tông, chẳng đến,
chẳng đi, lại chẳng tin vào thuyết luân hồi,
nhưng v́ Phật giáo chưa phá hoại thuyết luân hồi
của Bà La Môn Giáo Ấn Độ, đối với “cái
chưa phá hoại” ấy, có phải là Phật giáo cũng thuận
t́nh mê tín hay chăng? (Trương
Hồng Thanh hỏi)
Đáp:
Khi chúng sanh chưa tỉnh giấc mộng lớn, bèn có luân
hồi. Hiện tướng này rành rành, chẳng phải là
mê tín. Chuyện này chẳng thể nói là đồng ư với
Bà La Môn. Ví như người Hoa có miệng để ăn,
người ngoại quốc cũng có miệng để ăn.
Thậm chí các loài động vật đều có miệng
để ăn; đó là vấn đề hiện thực.
Chẳng thể nói ai đồng ư với ai, c̣n như “chẳng
đến, chẳng đi” là nói về Pháp Thân, có chút khác biệt
với “vô minh thức thần”.
* Hỏi:
Nhân quả luân hồi và thế giới Cực Lạc được
nói trong Phật giáo có phải là chỉ nhằm khiến cho
người ta dễ tin vào chuyện “chánh tâm, dưỡng tánh”
mà thôi, hay là thật sự có chuyện ấy? (Trương Xuân Huyên hỏi)
Đáp:
Người mới học làm sao có thể hiểu rơ tâm tánh,
càng nói cặn kẽ, họ càng chẳng hiểu. Nếu như
tinh tấn chẳng lùi, sau năm sáu năm, lại nhắc
đến vấn đề này, cũng chẳng phải là
trễ. Những điều ông hỏi như nhân quả, luân
hồi, Cực Lạc v.v... đều chân thật, chẳng
dối, đừng nghi rồi hiểu sai lầm, mờ mờ
mịt mịt chuốc lấy ương họa!
* Hỏi:
Tôi đang bị bệnh phổi, tiên sinh có phương thuốc
thần diệu nào để chữa trị hay chăng? Kính
mong Ngài vốn giữ tâm niệm từ bi sẽ bảo cho
biết (Trương Xuân Huyên hỏi)
Đáp:
Bệnh phổi có nhiều loại, há có thể chấp cứng
một toa thuốc rồi bộp
chộp dùng một toa thuốc ấy để trị khắp
các chứng bệnh phổi? Cũng giống như chúng
sanh Hoặc nghiệp khác nhau, nên [đức Phật] mới
xét căn cơ mà nói tám vạn bốn ngàn pháp.
* Hỏi:
Nhăn Minh Kinh có phải do đức Phật nói hay không? Chỉ
tụng kinh ấy sẽ khiến cho con người
được sáng mắt, hiệu nghiệm phi thường,
có thể cứu lành bệnh mắt vốn chẳng chữa
trị được. Nếu kinh ấy chẳng do đức
Phật nói th́ có thể dùng để cứu người
được chăng? (Lại
Trần Cát hỏi)
Đáp:
Nhăn Minh Kinh được thế tục truyền tụng
trọn chẳng phải do đức Phật nói. Kinh ấy
bất quá thuộc về thuật thôi miên; tuy có thể chữa
bệnh, nhưng cũng chẳng có ǵ lạ lùng, chớ nên
tập theo. Phải biết vạn pháp duy tâm, linh thiêng là do
ḷng Thành. Nếu muốn sáng mắt, có thể tụng Nhăn
Minh Kinh của nhà Phật. Kinh nào vậy? Chính là bốn câu “thanh tịnh vô cấu quang, huệ
nhật phá chư ám, năng phục tai phong hỏa, phổ
minh chiếu thế gian” (quang minh thanh tịnh, vô cấu,
mặt trời trí huệ phá các tối tăm, có thể trừ
tai nạn, gió, lửa, chiếu sáng khắp thế gian)
[trong phẩm Phổ Môn], lại c̣n niệm thánh hiệu
Quán Âm, hai mắt sẽ sáng ngời.
* Hỏi:
Kẻ hầu đồng chẳng có bao nhiêu chữ
nghĩa, nhưng khi ngồi đồng có thể làm
thơ, có thể vẽ vời, sau khi ra khỏi đàn bèn
chẳng biết ǵ nữa, là do nguyên nhân nào? (Dương Từ Hy hỏi)
Đáp:
Chắc là có quỷ hay hồ ly thông thạo chữ nghĩa
dựa vào mà thôi, những chuyện quái đản ấy người
tu đạo nên tránh xa!
* Hỏi:
Có người hỏi: Thuở Thích Ca Mâu Ni Phật tại
thế, có bậc A La Hán có thể hiện các thứ thần
thông. Hiện thời có A La Hán hay chăng? Nếu đă chứng
Tứ Quả A La Hán th́ sau khi lâm chung, thần thức sẽ
đi về đâu? (Diệu Canh
hỏi)
Đáp:
Bọn phàm phu chúng ta chẳng nhận biết bậc thánh,
chẳng dám nói đời hiện tại có [A La Hán] hay không!
Nếu đă viên chứng Tứ Quả, tức là đă đoạn
Phần Đoạn sanh tử, sẽ mặc sức tự
tại, chẳng thể nói thần thức đến nơi
nào được!
* Hỏi:
Đối với lời thưa hỏi đăng trên tạp
chí Bồ Đề Thụ số ba mươi, trong lời
khai thị thứ năm đă dạy: “Chẳng nghe chuyện Tăng Sâm nghe tiếng giết
lợn v.v...”, xin hăy khai thị rơ ràng hơn. (Lư Vĩnh Mậu hỏi)
Đáp:
Tăng Sâm[21] thuở nhỏ nhà nghèo, nghe hàng xóm
giết lợn, hỏi mẹ. Mẹ nói đùa: “Họ giết
cho con ăn thịt đấy”. Nói xong, mẹ rất hối
hận, rốt cuộc bán quần áo, đồ đạc
để đổi lấy thịt cho con ăn, ḥng giữ
trọn chữ tín.
* Hỏi:
Ma Vương có thể xua các loài quỷ mị tới nhiễu
loạn Chánh Pháp. Trước khi thành đạo, đức
Phật ngồi trên ṭa Kim Cang, Ma Vương cũng từng
uy hiếp, đem lợi lạc dụ dỗ ḥng phá hoại;
Ma Vương có vượt ra ngoài nghiệp báo hay chăng?
Nếu không, lẽ ra phải đọa địa ngục
ngay trong thân ấy! Nếu nói ma vốn tượng trưng
cho vô minh và t́nh dục nơi tự tánh, nên nói “đạo cao một thước,
ma cao một trượng”, đích xác là có một vật
đối lập ư? Pháp Thân trọn hết thảy,
theo nghĩa ấy, có phải ma cũng chính là Phật hay chăng?
(Lê Minh Thời hỏi)
Đáp:
Ma đă nhiễu loạn Chánh Pháp, tức là khởi Hoặc,
tạo nghiệp, báo hết, cái nhân chín muồi, hắn sẽ
tự chịu báo! Đức Thế Tôn bị ma quấy
nhiễu, đấy chính là một trong tám tướng thành
đạo, thiện xảo thuyết pháp, chẳng phải
là thật. Ma biểu thị vô minh, nói như vậy cũng
chẳng sai, bởi lẽ, vạn pháp duy tâm, khi giác là Phật,
lúc mê bèn là ma.
* Hỏi:
A Tu La ở giữa loài người và súc sanh th́ là vật ǵ
vậy? (Lê Minh Thời hỏi)
Đáp:
Có phước, thiếu đức, đó là một loại
chúng sanh tương tự như trời, tương tự
như thần.
* Hỏi:
Tôi đọc bài Tâm Đắc Do Đọc Học Thuyết
Của Vương Dương Minh của cụ Mạc Chánh,
bậc đại nho nổi tiếng một thuở là Vương
Dương Minh rốt cuộc đă lén trộm lấy Phật
pháp để khoe tài vặt. Hơn nữa, học nhân cũng
quen biết ông X... nghiên cứu Phật pháp rất sâu, nhưng
lại theo đạo Cơ Đốc, nhưng thật ra
chẳng phải là theo đạo Cơ Đốc thật
sự, chỉ là ghẹo đời, chẳng cung kính. Đối
với những người như vậy, nên nhận định
họ do nghe pháp sẽ cảm ứng quả báo thăng, đọa
như thế nào? (Lê Minh Thời
hỏi)
Đáp:
Ông X... nghiên cứu chưa chắc đă rất sâu. Người
thật sự hiểu sâu xa, ắt sẽ khởi ḷng tin, đâu
đến nỗi quy y ngoại đạo! Nếu chẳng
chân thật th́ chẳng đáng gọi là Phật tử thật
sự. Người như thế trọn chẳng đạt
được lợi ích nơi Phật pháp, thứ ǵ cũng
chẳng đạt được, những thứ khác chẳng
cần phải rườm lời bàn định nữa!
* Hỏi:
Trí Giả đại sư hiện thân phàm phu, cớ sao biết
Ngài là Phật Thích Ca hóa thân? (Hà
Vĩnh Đinh hỏi)
Đáp:
Do Ngài đức hạnh lẫn học vấn đều
cao, nên đề cao Ngài như vậy.
* Hỏi:
Nghe nói người tin kinh Kim Cang, muốn đọc tụng
th́ nhất định phải ăn chay. Nếu là kẻ
chẳng ăn chay, chẳng thể đọc tụng. Lời
ấy có thật hay không? (Trang
Khánh Hiền hỏi)
Đáp:
Tụng kinh quư ở chỗ tam nghiệp thanh tịnh. Không ăn
chay vẫn tụng kinh được, nhưng nếu thiếu
ḷng thành kính th́ hiệu quả rất bé!
* Hỏi:
Trong Phật học, giải thích Mộng như thế nào?
Mộng cảnh có báo trước cát, hung, họa, phước,
hoặc điều ǵ khác hay không? (Hoàng Ḥe Đ́nh hỏi)
Đáp:
Mộng thuộc về huyễn cảnh của tâm thức
hay nghiệp, cho nên cũng có lúc tương ứng với
cát và hung.
* Hỏi:
Hiện thời các bà cụ được gọi là “hâm mộ
hội Long Hoa” thường tụng niệm những kinh như
Khổ Cứu Kinh, Thái Dương Kinh, Thái Âm Kinh, Diệu
Sa Kinh, Nhăn Quang Kinh, Thọ Sanh Kinh v.v..., những kinh ấy
do Phật nói, hay là kinh của ngoại đạo? Kính xin lăo
cư sĩ chỉ rơ! (Lư Vinh
Đường hỏi)
Đáp:
Những kinh ấy đều do kẻ hiếu sự, vô
tri làm càn, bịa đặt, giả danh. Những bà cụ
thất học, thiếu hiểu biết dễ đi vào ngơ
rẽ, chẳng có chi là lạ!
* Hỏi:
Tướng Mạng Học có liên quan với Phật học
hay không? Hay là một thứ bí pháp khác hẳn? (Trang Khánh Hiền hỏi)
Đáp:
Nhà Phật gọi chuyện theo đuổi công việc xem
tướng, đoán lành dữ để sống là tà mạng.
Tứ chúng đệ tử, đều chẳng nên làm, bởi
sẽ dính dáng vào đường mê, trái nghịch chánh giác.
* Hỏi:
Tín đồ Phật giáo trước khi ăn chắp tay cung
kính, nên quán tưởng như thế nào? (Trạch Mạnh Thu hỏi)
Đáp:
Tận hư không đều là Tam Bảo, khắp pháp giới
vô lượng chúng sanh. Quán như thế, cúng dường như
thế.
* Hỏi:
Chỉ tụng kinh, không hiểu ư nghĩa trong ấy th́ có
lợi ích hay không? (Tiêu Kim Vinh hỏi)
Đáp:
Tụng kinh và nghiên cứu kinh đều có lợi ích. Nghiên
cứu kinh có thể khai trí huệ, tụng kinh có thể
đắc Định.
* Hỏi:
Thân con kiến bé như thế, nhưng bổn tánh của
nó có giống hệt như chúng sanh trong chín pháp giới, hay
là có giảm thiểu? (Vương
Huệ Hương hỏi)
Đáp:
Một vốc nước và một ao nước có cùng tánh
ướt, trọn chẳng sai khác. Chỉ có nước
trong một vốc và một ao là khác biệt về số
lượng mà thôi!
* Hỏi:
Có thể lập thân xử thế viên măn trên mọi phương
diện là do thông minh hay do trí huệ? (Dương Tố Nguyệt hỏi)
Đáp:
Nói theo pháp thế gian th́ chẳng khác biệt ǵ, nói miễn
cưỡng th́ trí huệ giống như Thể, thông minh giống
như Dụng mà thôi.
* Hỏi:
Hiểu rơ nhân quả, chẳng có vọng tưởng nào có
thể sanh, chẳng có phiền năo có thể khởi, có phải
là chứng trí huệ hay không? (Dương
Tố Nguyệt hỏi)
Đáp:
Nói theo pháp xuất thế gian, có thể nói là tác dụng của
trí huệ.
* Hỏi:
Giới hạn giữa thông minh và trí huệ là như thế
nào? (Dương Tố Nguyệt
hỏi)
Đáp:
Trước là xét theo pháp thế gian th́ hai chữ ấy (thông
minh và trí huệ) thường dùng lẫn lộn, chẳng
phân biệt, sau là nói theo pháp xuất thế gian th́ hai chữ
ấy cũng thường được dùng chẳng phân
biệt! Nếu phải xét đến giới hạn th́ quư
vị có thể nghe, có thể nhận biết không lầm,
bèn gọi là Thông; mắt thấy có thể nhận biết
không sai chạy bèn gọi là Minh. Thông đạt chuyện hữu
vi, có thể quyết đoán th́ gọi là Trí; thông đạt
lư Không vô vi, an nhẫn nơi pháp th́ gọi là Huệ.
* Hỏi: Làm thế nào để ngộ
duyên sanh pháp (pháp sanh bởi các duyên)? (Lâm Thánh Côn hỏi)
Đáp:
Hiểu rơ giáo tướng, hoặc là hành hạnh Bát Nhă, sẽ
ngộ!
* Hỏi:
V́ sao chấp trước là khổ? (Dương Thiên Nguyên hỏi)
Đáp:
Chấp trước là cảnh mê hoặc, chướng ngại;
viên dung là cảnh trí chiếu giải thoát. Đây là vấn
đề học hỏi và công phu, hàng sơ cơ chẳng
thể hiểu rơ. Nếu tưởng lầm, sẽ thành
ma cảnh. Khi hàng sơ chưa hiểu rơ giáo tướng, chỉ
nên y giáo phụng hành, chớ nên lạm dự đàm huyền
thuyết diệu!
* Hỏi:
Đức Phật nói tám vạn bốn ngàn pháp môn, chân lư
trong ấy là một hay là hai? (Trí
Dẫn hỏi)
Đáp:
Ở đây, lấy cái thân của một cá nhân để
nói th́ phía trên là đầu, đầu lại chia ra mắt,
tai, mũi, miệng v.v... Phần giữa gọi là thân, thân
lại chia thành vú, eo, lưng v.v.... Bốn phần ngoài thân gọi là tứ chi, tứ chi lại phân
thành tay, chân, ngón tay, ḷng bàn tay v.v... Ở bên trong gọi là Tạng,
Tạng lại chia thành tim, gan, lá lách, phổi v.v... Thử
hỏi đấy là một nghĩa hay là nhiều nghĩa?
Chân lư Phật pháp nơi tám vạn bốn ngàn pháp môn cũng
giống như vậy.
* Hỏi:
Kinh dạy: “Chẳng sanh diệt”. Pháp nào bất sanh, pháp nào
bất diệt? (Tiêu Thiệu Hinh
hỏi)
Đáp:
Chỉ có Chân Như.
* Hỏi:
Đối với Ngũ Nhăn của Như Lai th́ nhục nhăn,
thiên nhăn, huệ nhăn, pháp nhăn, và Phật nhăn là như thế
nào? (Tiêu Thiệu Hinh hỏi)
Đáp:
Nhục nhăn hễ bị ngăn ngại sẽ chẳng thể
thấy. Thiên nhăn xa, gần, sáng, tối đều không trở
ngại. Hai loại mắt này được dùng trong hiện
thực. Huệ nhăn có thể quán lư Chân Không. Pháp nhăn có thể
thấu hiểu duyên do của giả tướng. Hai loại
mắt này là dùng trí để nhận biết. Phật nhăn
th́ có thể dùng đơn độc hay dùng lẫn với
các loại mắt khác, không ǵ chẳng thể.
* Hỏi:
Kiến Hoặc dễ đoạn, Tư Hoặc khó đoạn,
trừ phát tâm hổ thẹn ra, c̣n có cách nào khiến cho
Tư Hoặc dễ đoạn trừ hay chăng? (Cố Canh Đồng hỏi)
Đáp:
Tư Hoặc là tham, sân, si, mạn, nghi. Tu Tứ Đế,
quán mười hai nhân duyên, hành Lục Độ, đều
có thể đoạn [Tư Hoặc]. Người tham Thiền
đoạn ngay hai thứ Hoặc này. Người tu Tịnh
cũng đoạn hai thứ Hoặc này. Nhưng tham Thiền
ắt phải đoạn Hoặc th́ mới có thành tựu;
người tu Tịnh dẫu chẳng đoạn, vẫn
có thể đới nghiệp văng sanh!
* Hỏi:
Đâu Suất Thiên chẳng ra ngoài tam giới, ắt chẳng
tránh khỏi thành, trụ, hoại, không, [cơi trời ấy]
có phải là rốt ráo hay không? (Cao
Thiêm Đinh hỏi)
Đáp:
Đă có thành, trụ, hoại, không th́ là pháp vô thường.
Rốt ráo là Thường Tịch Quang bất sanh bất diệt.
* Hỏi:
Hiện nay, Phật Thích Ca có đang thuyết pháp hay không? Ở
nơi đâu? (Quách Gia Ninh hỏi)
Đáp:
Tận hư không trọn pháp giới, thuyết pháp khắp
nơi. Pháp Thân thuyết pháp th́ bậc trí biết. Nếu là
Báo Thân và Ứng Thân thuyết pháp th́ người hữu duyên
sẽ gặp.
* Hỏi:
Lúc mới đản sanh, Thích Ca Phật nói: “Thiên thượng thiên hạ, duy
ngă độc tôn”, chữ Ngă trong ấy chỉ Phật Tánh,
hay nói đến cái Ta thông tục? (Quách Gia Ninh hỏi)
Đáp:
Tôi nghĩ cách nói thứ nhất là viên dung. Bất quá, chữ
Ngă thốt từ miệng đức Thế Tôn th́ hiểu
theo cả hai cách đều được, chẳng cần
khởi lên phân biệt.
* Hỏi:
Chúng sanh đều có Phật Tánh, Tánh có tùy thuộc h́nh trạng
mà lớn hoặc nhỏ hay chăng? Nếu là không, nên h́nh
dung như thế nào? (Lư Học
Thi hỏi)
Đáp:
Ngài[22]
có ư niệm hay chăng? Nếu không có ư niệm, cớ sao ở
trong nhà, nhắm mắt suy tư, cao th́ có thể biết mặt
trời, mặt trăng, tinh tú trên trời; xa th́ có thể
biết được núi, sông bên Đại Lục. Nếu
có ư niệm th́ ư niệm có h́nh trạng lớn, nhỏ, vuông,
tṛn ra sao, xin rộng ḷng chỉ giáo. Phật Tánh là Thể của
niệm, niệm là tác dụng của Phật Tánh sau khi mê.
Dụng c̣n chưa thể nói được th́ Thể càng
phải tự tham cứu!
* Hỏi:
Đă là pháp pháp b́nh đẳng, cớ sao Phổ Hiền Bồ
Tát nói: “Trong các thứ cúng
dường, pháp cúng dường là tối thắng”? (Dương Đức Vinh hỏi)
Đáp:
Pháp pháp b́nh đẳng là nói theo Lư; pháp cúng dường tối
thắng là nói theo mặt Sự.
* Hỏi:
Chân tâm sanh ra vạn pháp, nên chân tâm là Thượng Đế
trong Phật giáo, pháp sư Đạo An bảo nói như vậy
chẳng đúng, rốt cuộc là như thế nào? (Dương Đức Vinh hỏi)
Đáp:
Đối với hai câu “tâm sanh
ra vạn pháp” và “tâm là
Thượng Đế trong Phật giáo”, không biết câu
bị pháp sư Đạo An quở trách là câu trên hay câu dưới,
lời lẽ và ư nghĩa đều chẳng rơ ràng, không dám
đáp bừa. Nhưng luận định về câu thứ
hai, dường như cư sĩ thừa nhận “có thể
sanh” là Thượng Đế th́ chỉ riêng cách nh́n như
vậy đă đáng ăn một trăm gậy của pháp
sư rồi!
* Hỏi:
Do Trung Đạo Luận nói “phi
thiện, phi ác, phi không, phi hữu”; thiên đường
há chẳng phải là địa ngục. Nếu vậy, c̣n
tu ǵ nữa? (Trương Cung hỏi)
Đáp:
Thiện là thiện, ác là ác, không là không, có là có, thiên
đường là thiên đường, địa ngục
là địa ngục, sự tướng phân minh, sao có thể
nói ba chữ “há chẳng phải”, nói như vậy tức
là điên đảo rồi! Phải biết chữ Phi
trong “thiện, ác, không, hữu” chẳng thể hiểu là
“há chẳng phải”! Cảnh giới phàm phu suy nghĩ không
ra ngoài hai đường thiện ác, nh́n chẳng thể vượt
ngoài hai bên Có và Không, quả báo chẳng ngoài hai thái cực
Thiên Đường và Địa Ngục. Thử hỏi:
Suy nghĩ chẳng thuộc thiện, ác, nh́n chẳng vướng
vào Có và Không, quả báo chẳng ở trong cơi trời, địa
ngục, sáu đường, đó là cảnh giới ǵ? Đấy
là diệu nghĩa của chữ Phi, đừng hiểu lầm!
* Hỏi:
Chẳng nương theo thầy, chẳng thọ giới, nếu
ngày nào đó đốn ngộ, có thể thành Phật hay chăng?
(Trương Cung hỏi)
Đáp:
Có bậc Độc Giác là như vậy, nhưng giác ngộ
trong đời này cũng do nhiều đời tu hành mà ra;
hiện tại, trong vạn vạn người, khó gặp
được một người. Phật th́ cũng có Tạng
Đầu và Viên Măn[23] khác biệt. Ngộ có đến mấy
loại khác biệt, hết sức phức tạp!
* Hỏi:
Trong Quán Vô Lượng Thọ Phật kinh giảng về Hạ
Phẩm Hạ Sanh có câu: “Ngũ
Nghịch, Thập Ác”. Ngũ Nghịch là giết cha, giết
mẹ, giết A La Hán, phá ḥa hợp Tăng, làm thân Phật
chảy máu, nhưng chư Phật, A La Hán là Pháp Thân, đao,
búa chẳng thể tổn thương, làm sao phàm phu có thể
giết được! Điều này khó thể hiểu rơ
ràng! (Lư Vinh Đường hỏi)
Đáp:
Phật có các thân Pháp, Báo, Ứng Hóa. Hai thân Pháp và Báo phàm phu chẳng
thể trông thấy, huống là gây tổn hại. Ứng Thân
như thân đức Thích Ca Thế Tôn thuở Ngài tại
thế, Hóa Thân như tượng gỗ khắc, đất
nặn, đồng đúc, vẽ trên giấy v.v.... th́ đều
có thể [tổn hại].
* Hỏi:
Viên Mai[24] đời Thanh nói: Kinh Lăng
Nghiêm áng chừng là do người đời Lục Triều[25] ngụy tạo, “Tây Vực chẳng hề có kinh ấy” (coi trong thư
gởi Tŕnh Miên Trang trong phần Xích Độc (thư từ)
của bộ Tiểu Thương Sơn Pḥng). Làm thế nào
để bác bỏ thuyết của họ Viên? (Trầm Chung Ngũ hỏi)
Đáp:
Viên Tử Tài chỉ là một nhà văn học mà thôi! Đối
với Phật học và khảo cứ (khảo sát, đưa
ra chứng cứ) đều là kẻ lơ mơ, lời ông
ta nói chẳng đáng bận tâm. Nhưng biện định
kinh ấy là chân hay ngụy, trong Phật môn đă có lắm
người, đến nay vẫn tranh căi chẳng ngớt,
há có nên coi thường bệnh tật trong tạng phủ
để chuyên hỏi đến những thứ ghẻ
chốc [ngoài da] ư?
* Hỏi:
Tôi cảm nhận một đời này chỉ là một đoạn
nhân duyên nhỏ trong đại sanh mạng vô thỉ vô chung
mà thôi. Lúc có thân này, vốn chẳng thể coi là sống, mà
lúc thân này diệt, cũng không thể coi là chết. Đúng
hay không? (Huyền Âm hỏi)
Đáp:
Đúng như vậy; đúng như thế. Thiền sư
Nga Đầu thị tịch đă nói kệ: “Tích bổn bất sanh, kim diệc
bất diệt. Vân tán trường không, bích thiên hạo
nguyệt” (Xưa vốn chẳng sanh, nay cũng chẳng
diệt. Mây tan giữa lừng, trăng ngời trời biếc)
chính là ư này! Nhưng một đoạn tiểu nhân duyên này
quả thật có thánh phàm khác biệt! Nơi bậc thánh là
tùy duyên ứng hiện; nơi phàm nhân th́ do nghiệp lực
lôi dẫn. Một đằng là tự tại, một đằng
là trói buộc. Bọn phàm phu chúng ta hăy nên tận hết sức
thoát khỏi trói buộc, cầu được tự tại.
Chớ nên mơ màng, mờ mịt, khư khư phô trương
những lời lẽ khoáng đạt.
* Hỏi:
Anh tôi là Trí Huyền (hiện đang ở Đại Lục),
dốc chí siêng năng niệm Phật, hằng ngày chẳng
ĺa thánh hiệu Di Đà, xem đọc nguyệt san Phật
học, chợt nghe tin dữ Ấn Quang đại sư
đă quy Tây, suốt ngày khóc lóc, buông bỏ Di Đà, khóc ngâm
rằng: “Thống hám sư
chung văn giáo văn, nguyệt san độc băi lệ chiêm
khâm” (tiếc nuối nghe tin thầy mất trễ, nguyệt
san thôi đọc, áo lệ đầm). Người niệm
Phật đối với chuyện người đă mất
cũng khóc lóc, chẳng thể thấy thấu suốt, có ư
nghĩa như thế nào vậy? (Trác Trung Chấn hỏi)
Đáp:
Chúng sanh thức chưa chuyển, t́nh chưa hết, nghe
cha, mẹ, sư trưởng qua đời, mà chẳng đau
ḷng, nhức óc, chắc chắn là hạng đại gian ác.
Thử hỏi đă thấy thấu suốt chuyện này,
nhưng ngũ dục, lục trần đă thấy thấu
suốt hay chưa? Có c̣n tham nhiễm hay không?
* Hỏi:
Nghe tiếng chuông trống, niệm Phật trong tự viện,
dấy ḷng ngưỡng mộ, khôn ngăn lệ trào, toan
ḱm hăm ḷng xót xa, nhưng đâm ra càng thêm sướt mướt,
có phải là nghiệp chướng sâu rộng hay chăng?
(Ông Đức Ḥa hỏi)
Đáp:
Ngưỡng mộ cùng cực sẽ sanh ḷng yêu kính, yêu kính
tột bậc sẽ sanh luyến mộ. Luyến mộ
cùng cực ắt sanh ḷng cảm kích, cảm kích đến
mức không biết làm sao, nước mắt từ trong bầu
trời chân tánh sẽ trào ra. Đó là ḷng chân thành mộ
đạo của kẻ sơ học, chẳng phải là
nghiệp chướng!
* Ngài
Tân Đầu Lô Phả La Đọa v́ hiện thần
thông lấy bát nên bị đức Phật quở trách chẳng
cho nhập diệt[26],
lưu thân lại cho người đời sau cúng dường,
nhưng chưa nghe nói ai trông thấy thân thể Ngài, có phải
Ngài thuộc về Vô Sắc Giới? (Lâu Vĩnh Dự hỏi)
Đáp:
Ẩn ḿnh nơi vắng vẻ, sâu thẳm, làm sao con
người thấy được? Bậc ẩn sĩ thời
cổ, người đời c̣n chưa biết họ mất
lúc nào. Hiểu rơ lẽ này, chẳng cần phải lắm
chuyện truy xét là hữu sắc hay vô sắc!
* Hỏi:
Nếu phiền năo chính là Bồ Đề, sanh tử tức
Niết Bàn, cớ sao c̣n chia trí, ngu, ngộ, mê sai khác? (Hồ Chánh Lâm hỏi)
Đáp:
Hàng sơ cơ chẳng dễ ǵ liễu giải câu hỏi
này. Giảng càng tường tận, người nghe càng thấm
thía. Trước hết, chỉ lấy hai món Lư và Hạnh
để giải thích. Khi mê bổn tánh, bèn là phiền năo, bèn
có sanh tử. Khi ngộ bổn tánh tức là Bồ Đề, bèn đắc
Niết Bàn; nhưng mê hay ngộ đều cùng một tánh,
cho nên nói: “Phiền năo sanh tử
chính là Bồ Đề Niết Bàn”. Nếu dùng biển
làm tỷ dụ, lúc tĩnh gọi là nước, khi động
gọi là sóng; nhưng động và tĩnh chẳng phải
hai vật; đấy là nói theo Lư. Nếu hiểu tánh là một,
mà phân ra mê ngộ, vật là một mà chia ra động và tĩnh,
lẽ nào c̣n nghi? “Tức” là nói theo Lư Thể, “phân” là nói theo
sự tướng. Hơn nữa, kẻ chưa phát đại
tâm thấy sanh tử như oan gia, mê đắm cảnh vui
Niết Bàn. Người đă phát đại tâm, v́ độ
vô lượng chúng sanh, mà chẳng ham Niết Bàn, cam tâm vào sanh
tử, thấy các phiền năo đều là Bồ Đề.
V́ thế nói Tức, đây là nói theo Hạnh vậy!
* Hỏi:
Thế giới Sa Bà thành, trụ, hoại, không ba lượt
bèn gọi là ba đại A-tăng-kỳ kiếp, trước
hoặc sau tam kiếp ấy, có thể nói là “thế giới
này là chẳng có” hay chăng? Như thế th́ vô lượng
vô biên kiếp có phải là nói về thế giới phương
khác hay vẫn ở trong thế giới này? (Hồ Chánh Lâm hỏi)
Đáp: Bốn danh xưng Trung Kiếp Thành, Trụ,
Hoại, Không chẳng hạn cuộc trong Sa Bà. Ba A-tăng-kỳ
kiếp lại là một danh từ toán số khác. Nhưng
đo lường, cân đong, mỗi thứ có pháp tắc
tính toán riêng, đây là lời đáp cho ba câu đầu.
Đối với đoạn sau, chỉ dùng tỷ dụ
giả thiết để giảng rơ: Một ngày đêm có
hai mươi bốn giờ, gió to không ngừng thổi,
nước biển trào sóng, con sóng này tan, con sóng kia dâng lên,
đột nhiên cuồn cuộn chảy về phía Đông,
sau đấy lại ào ào rút về Tây, trong khoảng thời
gian hai mươi bốn giờ ấy, xin hỏi là thời
gian sóng đánh về phía Đông hay là thời gian sóng dạt
về phía Tây? Là thời gian của một con sóng, hay thời
gian của nhiều con sóng?
* Hỏi:
Những hiện tượng như nhật thực, nguyệt
thực, sao băng v.v... trên bầu trời, cũng như
các nhà thiên văn có thể dự đoán thời gian xảy
ra nhật thực, hay nguyệt thực, theo vũ trụ
quan Phật pháp nên giải thích như thế nào? (Hồ Chánh Lâm hỏi)
Đáp:
Nhân duyên khiến đức Phật xuất thế, chẳng
v́ những chuyện vụn vặt này; dẫu có ai hỏi
th́ chẳng qua do tùy duyên mà dạy bảo đó thôi! V́ thế,
trong kinh đối với những chuyện này, trọn chẳng
chuyên bàn tới. Trong trước thuật của xứ Chấn
Đán (Trung Hoa) có sách Pháp Uyển Châu Lâm từng phân môn, chia
loại, tạp kư khá nhiều, có ghi chép chuyện này. Nhưng
đối với chuyện này, có câu là tùy thuận mà nói, có
câu phương tiện mà nói, nói trừu tượng, nói một
phần, cần phải có tầm nh́n linh động; nếu
câu nệ, sẽ lại lọt vào nghi thành!
* Hỏi:
Kinh Lăng Nghiêm nói: “Bất tri
thân tâm ngoại kịp sơn hà hư không đại địa
giai diệu minh chân tâm trung vật” (Chẳng biết ngoài
thân tâm ra, cho đến núi, sông, đại địa, đều
là vật ở trong diệu minh chân tâm), đây có phải là
hàm ư “tâm và vật giống hệt như nhau”? Nếu đúng
như vậy, do nương vào pháp pháp b́nh đẳng, lẽ
ra chúng ta lưu chuyển sẽ chẳng giới hạn
trong lục đạo hữu t́nh, mà cũng phải nên lưu
chuyển trong các loài vô t́nh như thực vật, khoáng vật
v.v... Như vậy th́ mới có thể nói là “sắc tâm b́nh
đẳng”? (Hồ Chánh Lâm hỏi)
Đáp:
Câu hỏi này nên chia ra để nói. Điều vừa được
kinh nhắc tới chỉ là nói “vạn pháp đều do tâm
hiện”. Nếu tâm chẳng hiện, làm sao có thể biết
được? Phạm vi [diễn đạt] của ngôn
ngữ chỉ có như vậy mà thôi! Tâm và vật như
nhau, theo Lư có thể nói như vậy, nhưng mỗi sự
có giới hạn riêng. Ví như mẹ và con xét về Lư là cùng
một Thể, nhưng xét theo Sự th́ mẹ chính là mẹ,
con chính là con. Nếu cứ chấp “mẹ và con xét theo Lư là
một” th́ cha có thể chỉ con bảo là vợ hay chăng?
C̣n nói “lưu chuyển chẳng hạn cuộc trong hữu
t́nh” th́ cũng chưa hề chẳng có chuyện ấy. Nhưng
mạng của chúng sanh phần nhiều do nương vào sự
dâm dục của loài hữu t́nh mà có, nên lưu chuyển trong
sáu đường là chuyện thường; thần thức
có lúc tiếp xúc khoáng vật, thực vật, nhưng khoáng
vật và thực vật trọn chẳng giao cấu, nên cũng
chẳng có cơ hội nhập thai! Nếu nói tới si mị
vơng lượng[27]
cũng có thể giao cảm, cử động, chẳng
qua là chuyện ngẫu nhiên, hoặc do quỷ thần dựa
vào, hoặc do vật lâu đời trở thành yêu quái. Nói
chung, chẳng thấy gỗ đá ở mọi nơi đều
có thể nói năng, cử động. Người đọc
sách nên khéo hiểu nghĩa ấy, đừng chấp vào từ
ngữ để rồi sai lầm!
* Hỏi:
V́ sao Thích Ca Mâu Ni Phật giới thiệu chúng ta văng sanh Tây
Phương thế giới, bản thân đức Thế
Tôn sanh trong thế giới nào? Cớ sao đức Thế Tôn
chẳng tạo một thế giới [của riêng ḿnh]? (Bảo Châu hỏi)
Đáp:
Thế giới vô tận đều do nghiệp lực của
chúng sanh hiện ra, không thiếu khuyết, cần ǵ đức
Thích Ca phải tạo nữa? Đức Di Đà tạo thế
giới bất quá do thương xót chúng sanh nghiệp hạnh
xen tạp, thế giới lắm nỗi khổ, nên tạo
ra một thế giới chỉ sướng chẳng khổ,
ḥng tiếp dẫn chúng sanh trong các cơi khác. Chúng sanh sanh về
đó, đều do vâng lời giáo huấn của Thích Ca Thế
Tôn mà chuyển nghiệp. Kẻ chẳng chuyển nghiệp
cũng chẳng có phần sanh [về đó], nhưng vẫn
có thể nói là “do nghiệp lực của chúng sanh nghiệp
lực cảm vời”. Thích Tôn từng dùng chân nhấn xuống
đất, [cơi Sa Bà] lập tức biến thành trang nghiêm.
Do liên quan đến nghiệp lực của chúng sanh, nên chẳng
thể giữ [sự trang nghiêm ấy] lâu dài được!
Hiểu điều này, liền biết tịnh hay uế là
do tâm và nghiệp của chúng sanh. Dẫu Thích Tôn biến hết
vô biên thế giới thành Cực Lạc, chúng sanh ác nghiệp
vẫn thấy là uế độ! Giống như cùng nh́n
vào nước, mà trời, người, quỷ, rồng mỗi
loài thấy khác biệt, [những điều vừa nói trên
đây] cũng có cùng một lẽ ấy!
* Hỏi:
Tam giới chỉ gồm ba loại hữu sắc, vô sắc,
và hữu dục niệm; hữu sắc và vô sắc là nói tới
loài sanh vật nào? (Liễu Tử
Kỳ hỏi)
Đáp:
Chữ Dục là “nhiễm”, nam, nữ, ăn uống. Chữ
Sắc là diệu tướng trang nghiêm bậc thượng.
Vô sắc là hai thứ ấy đều chẳng có!
* Hỏi:
Nho giáo chẳng thể giải quyết vấn đề, cho
nên chỉ có thể tiêu diệt vấn đề. Tôi cũng
cảm thấy Nho giáo chỉ quẩn quanh trong lưới nghiệp
lực, nhưng trong bộ Thông Sử của Lữ Tư
Miễn[28] có viết: “Phật giáo dùng cách tiêu diệt xă hội để
giải quyết xă hội”, cách nói này dường như
có lư, như A Di Đà Phật phát nguyện muốn độ
hết tất cả chúng sanh trong Đông Độ. Nếu
chúng sanh đắc độ hết th́ há chẳng phải
là xă hội đă bị tiêu diệt ư? Bất quá là sau
khi xă hội bị tiêu diệt, tất cả chúng sanh có thể
đến cơi Cực Lạc, đương nhiên là tốt
đẹp hơn xă hội trong ba cơi như nhà lửa này,
nhưng chúng sanh sẽ có ngày được độ hết
hay chăng? Tệ ư cho rằng A Di Đà Phật tâm cứu
người tha thiết nên phát nguyện to lớn như vậy!
(Liễu Tử Kỳ hỏi)
Đáp:
Tôi chẳng hiểu ư câu nói “dùng
cách tiêu diệt xă hội để giải quyết xă hội”
của ông Lữ. Có khác nào gặp người mắc bệnh,
không có cách nào chữa trị bèn giết phứt cho xong? Đây
đúng là “người nhân thấy
là nhân, người trí thấy là trí”. Xă hội vốn yên
lành, sao lại nói là giải quyết? Cần phải giải
quyết chính là sự tranh chấp! Luật nhà Phật ngoài
là cấm giết, trộm, dâm, trong là ngăn tham, sân, si. Đấy
chẳng phải là đạo để giải quyết vấn
đề từ căn bản ư? Không chỉ trang nghiêm cơi
người, thậm chí c̣n trang nghiêm địa ngục, đấy
chẳng phải là kiến thiết xă hội triệt để
ư? Chẳng nghiên cứu sách của nhà nào, tự ḿnh sẽ
chẳng thể bàn chuyện nhà đó. C̣n như cư sĩ
nghi “chúng sanh đều sanh về Cực Lạc th́ xă hội
này sẽ tiêu diệt”, [tức là] chẳng biết văng sanh là
cái quả quy kết của thần thức; trước đó,
[người văng sanh ấy] cũng phải dùng cái thân để
tạo thiện nhân ở nơi đây (cơi Sa Bà). Tu cái nhân ấy,
trước lúc thần thức về xă hội bên kia, thân đă
trang nghiêm xă hội này trước. Cổ nhân nói: Một làng
giữ Ngũ Giới, làng ấy b́nh trị; cho đến
cả nước giữ Ngũ Giới th́ cả nước
b́nh trị. Hăy nên suy nghĩ sâu xa! Đây cũng chỉ là nói
một khía cạnh mà thôi. Nếu nói theo ư nghĩa viên măn, sẽ
rất rườm rà!
* Hỏi:
Theo luận thuyết tiến hóa, “con người tiến hóa
từ loài khỉ”, và như Thiên Chúa Giáo nói “con người
do Thượng Đế tạo ra”, cố nhiên là luận
thuyết hoang đường, sai lạc tột bậc, chẳng
đáng một trận cười! Nhưng trong Nguyên Nhân Luận
của Phật giáo có nói: “...Tổ tiên của con người từ Phước Sanh Thiên mà
đến, đă nếm những thứ mọc trên mặt
đất, bèn vướng mắc nơi đất”.
Xin hỏi v́ sao chư thiên giáng lâm cơi này, lại chẳng trở
về được? Thuyết của Nguyên Nhân Luận[29] có phải là căn cứ theo kinh Hoa
Nghiêm để lập luận hay chăng? (Hậu học
chưa đọc kinh Hoa Nghiêm) (Chân
Tàm Quư hỏi)
Đáp:
Lục đạo lần lượt luân chuyển. Giáng lâm
cơi này, có ǵ là lạ? Cố nhiên, Nguyên Nhân Luận căn cứ
trên Hoa Nghiêm. Điều càng phải nên biết là bất cứ
thế giới nào cũng đều có Thành, Trụ, Hoại,
Không. Cần nên biết rằng: Điều được
nói trong luận ấy bất quá là một giai đoạn nào
đó trong các số kiếp nhiều như vi trần mà thôi!
* Hỏi:
Hư không vô lượng vô biên, đức Phật nói trăm
ức mặt trời, mặt trăng, đấy cũng chẳng
qua là nói tới một phần trong vô lượng vô biên, trọn
chẳng phải là cực hạn, đúng không? Lại nữa,
số lượng bao nhiêu là do tâm phân biệt hư vọng
của con người sanh ra, chứ thật sự th́ “hết thảy vào một, một
vào hết thảy”. Có kẻ hoài nghi chúng sanh vô số, chư
Phật, Bồ Tát cũng vô số, rốt cuộc là chư
Phật, Bồ Tát nhiều hơn, hay là chúng sanh nhiều hơn?
Thật ra, đă nói là vô số, sẽ chẳng thể phân
biệt nhiều hay ít, như đức Phật nói Pháp Thân
của Phật trọn khắp hết thảy mọi nơi,
Phật có thể hóa thân ngàn trăm vạn ức phân thân
trong các cơi nước nhiều như vi trần để
cứu độ chúng sanh, há có phải là dùng con số bao
nhiêu để hạn định? V́ thế, bất đắc
dĩ mà nói là vô lượng, vô biên. Nói tột cùng sẽ là
chẳng thể nói, chẳng thể diễn tả, há nào phải
chỉ có Lư này chẳng thể nói, chẳng thể diễn
tả! Há có phải chỉ có Lư này là chẳng thể nói, mà
hết thảy đều là chẳng thể nói! Hễ nói
sẽ chẳng trúng, tướng hiện bèn cười,
trong ḷng vui vẻ, dường như sẽ gần với
lẽ thật[30], có phải hay chăng? (Tân La hỏi)
Đáp:
Đúng như vậy, đúng như thế!
* Hỏi:
Giới, Định, Huệ Tam Học nhà Phật và công phu
“định, tĩnh, an, lự” của Nho gia có giống
nhau hay chăng? (Hồ Chánh Lâm
hỏi)
Đáp:
Xét theo phương diện dụng công tu hành, có thể nói
là nh́n chung th́ giống nhau, [nhưng nếu xét theo phương
diện] nhà Phật hiểu Huệ là như thế nào và ư
chỉ đạt được [các thứ định, tĩnh,
an, lự] của Nho gia th́ có sai khác!
*
Kinh Kim Cang dạy: “Hết thảy
pháp chính là Phật pháp”, trước lúc nghiên cứu Phật
pháp, đọc đến câu này, tôi cảm thấy dường
như thấu hiểu, nay th́ đâm ra chẳng thấu hiểu,
thông suốt! (Lê Minh Thời hỏi)
Đáp:
Hết thảy các pháp, có pháp nào chẳng phải là Phật
pháp, ông hăy thử nói ra xem?
* Hỏi:
Trong báo Bồ Đề Thụ số bốn mươi,
trả lời câu hỏi thứ hai của cư sĩ Chân
Tàm Quư, đă viết: “Lâm chung phóng
quang, nếu muốn xét coi người ấy có thoát tam giới
hay không, th́ xét nghiệm chỗ c̣n ấm sau cùng là đáng
tin cậy nhất”. Cách xét nghiệm hơi ấm là như
thế nào? Xin dạy rơ! (Lê Minh
Thời hỏi)
Đáp:
Trán: trời; ngực: người; bụng: súc sanh; đầu
gối: ngạ quỷ; bàn chân: địa ngục. Cũng
có thuyết bảo: Bụng là ngạ quỷ, đầu gối
là súc sanh. Trong tay không có sách, nên chẳng nhớ vốn là như
thế nào!
* Hỏi:
Thầy thuốc chẩn bệnh, nếu lúc gặp phải
trường hợp biết rơ chẳng thể trị được,
có nên nói thẳng với bệnh nhân hay không? Nếu chẳng
nói thẳng, mà nói lấp lửng, mơ hồ, có kết thành
tội vọng ngữ hay chăng? (Trầm Chung Ngũ hỏi)
Đáp:
Không nói tức là chỉ giữ im lặng mà thôi, không thể
nói là vọng ngữ.
* Hỏi:
Theo thói tục, khi kính Phật, cầu Phật xét soi, nhận
lấy vật cúng dường, có nên gieo sấp ngửa
(xin keo) để coi thánh ư có chứng minh hay không? Mấy năm
gần đây, tôi tới chùa Trúc Liên (Quán Âm Miếu) ở Tân
Trúc, hướng về Phật, thần xin keo để hỏi
về cưới gả, xây cất, an táng v.v... được
ngày tốt rất nhiều. Lại c̣n mua một lá bùa ở
miếu, dán vào nơi sẽ làm chuyện ấy, sẽ chẳng
sợ bị thần sát thương con người rất
linh nghiệm, dường như điều này cũng phù
hợp Phật pháp đấy chăng? Đệ tử Tam
Bảo có nên làm như vậy hay không? (Hà Vĩnh Đinh hỏi)
Đáp:
Đối trước Phật, vạn phần chớ nên
giở những tṛ huyền hoặc, hư dối như
xin keo v.v... Đệ tử Phật càng chớ nên xen tạp
những thứ giống như vậy.
* Hỏi:
Phật giáo chẳng đề xướng đốt giấy
tiền, vàng mă, nhưng dân Đài Loan khi có người mất,
cho đến bây giờ vẫn làm như thế này: Lập
tức thỉnh Tăng đến nhà, lập đạo tràng,
treo tượng Phật, làm công đức truy tiến, tuyên
kinh, lễ sám, khai thông đường nẻo trong cơi âm, cúng
dường Phật bằng thịt gia súc, lại c̣n cắt
nhiều giấy màu, dán thành rương tiền, quỹ vàng,
linh kiều (cầu độ vong), tớ gái cho người
chết, đặt lên là “Xuân Đào, Thu Cúc nhị tiên”.
Trong rương vàng, quỹ tiền đựng đầy
tiền gởi kho [trong cơi âm], đồng loạt thiêu đi.
Trong ma chay, có một nghi lễ gọi là Quá Kiều (qua cầu),
Bá Công[31] dẫn người chết qua cầu
vàng, cầu bạc v.v... Phía dưới cầu, đặt
một cái đồng la (thanh la hay chiêng bằng đồng),
bảo các con của người chết rải nhiều
tiền (đồng tiền mới của Đài Loan) vào cái
đồng la ấy, bảo: “Càng bỏ nhiều tiền,
càng tiêu tai nhiều, Bá Công sẽ dẫn người chết
vượt qua khỏi cầu ấy. Nếu không bỏ tiền,
sẽ chẳng qua được cái ải này”. Trong kinh Phật
có chuyện như vậy hay chăng? (Hà Vĩnh Đinh hỏi)
Đáp:
Đây là thói mê tín ở địa phương, bịa đặt
để gạt tiền. Những kẻ làm cái tṛ này tuy mặc
ca-sa, nhưng thật sự chẳng phải là Tăng chúng,
chớ nên hiểu lầm! Những điều ông đă nói
đều chẳng dính dáng ǵ đến kinh Phật!
* Hỏi:
Học tṛ đọc, nghiên cứu sách Phật hết sức
thú vị, càng đọc càng tham đọc nhiều hơn,
điều này dường như đă phạm giới
tham đó chăng? (Hà Vĩnh Đinh
hỏi)
Đáp:
Luyến đắm lục trần th́ gọi là tham dục;
siêng năng nghiền ngẫm kinh Phật là chánh tinh tấn,
giới luật chẳng cấm đoán, lẽ nào phạm
giới?
* Hỏi:
Tôi có mấy pho tượng Phật cũ đă thờ trước
kia, về căn bản là chẳng thể tặng cho người
khác được. Giữ lại th́ giữ đến bao
giờ? Chẳng biết xử trí như thế nào? (Lưu Phong Vân hỏi)
Đáp:
Cư sĩ đă tín phụng Phật giáo, đối với
Tam Bảo, lẽ ra phải suốt đời thờ phụng.
Nay đă manh nha cái tâm buông bỏ là do duyên cớ nào? Nếu
thân ḿnh là khách, ở nhờ nhà người khác, hoặc đang
ở trong quân ngũ, có thể bị điều động
bất ngờ th́ có thể tạm gởi đến chùa Phật,
cũng chẳng nhất định phải theo cách nào!
* Hỏi:
Dâm là chuyện xấu hổ nhất trong nhân sinh quan; trong xă
hội hiện thời, nam nữ luyến ái lẫn nhau có
phải là dâm hay chăng? Có nên hay chăng? (Phan Chấn Bang hỏi)
Đáp:
Vợ chồng chung sống là một giềng mối lớn
của con người, đó là chánh dâm, trọn chẳng trái
pháp. [Luyến ái] ngoài vợ chồng ra th́ gọi là tà dâm, pháp
luật lẫn đạo đức đều chẳng
chấp thuận.
* Hỏi:
Làm thế nào để chịu đựng đau khổ? (Diêu Thanh Nguyên hỏi)
Đáp:
Nghe nhiều Phật lư, hiểu sâu nhân quả; nh́n thấu
suốt giả tướng, nhẫn lực sẽ tự
sanh ra.
* Hỏi: Nếu
một người bị túc oán ràng buộc, thân tâm sẽ
có hiện tượng ǵ? (Huệ
Khang hỏi)
Đáp: Mỗi người
mỗi khác, chẳng thể nói đồng loạt được;
nhưng chướng ngại học Phật là nặng nề,
quan trọng nhất. Những thứ cảnh giới thuận
nghịch khác, họa phước không nhất định,
nên chẳng thể nói nhất định tiêu chuẩn là như
thế nào!
* Hỏi:Trong sáu
thứ thần thông có Túc Mạng Thông và Lậu Tận Thông,
tôi c̣n chưa hiểu chỗ này,
xin chỉ dạy! (Tiêu Huệ Tâm
hỏi)
Đáp:
Thông hiểu sự sanh tử đến đi trong bao nhiêu đời
th́ gọi là Túc Mạng Thông. Phiền năo đă hết, không
c̣n rơi rớt luân hồi là Lậu Tận Thông.
* Hỏi:
Người ăn chay có thể kết thành xá-lợi hay không?
(Hoàng Cẩm Lương hỏi)
Đáp:
Kinh dạy [xá-lợi] do Giới, Định, Huệ huân tập.
Nếu chỉ ăn chay th́ bất quá chỉ có một thứ
là Giới, chưa hoàn toàn hội đủ điều kiện,
sợ chẳng có tướng lành này! Ông chẳng thấy trong
các tôn giáo khác cũng có nhiều người suốt đời
ăn chay mà chẳng thấy có thành tựu ấy.
* Hỏi:
Do đâu mà tín đồ [Phật giáo] ăn chay? (Trang Khánh Hiền hỏi)
Đáp:
Phật cấm sát sanh, chủ trương ăn chay. Đấy
chính là nguyên do.
* Hỏi:
Gần đây, Bất Huệ phát tâm ăn chay, giảm ác,
hướng thiện, nay đă ăn chay gần hơn nửa
năm, tinh thần vẫn như cũ, nhưng thể lực
giảm sút rất lớn, thân thể hư nhược,
không biết có phải do ăn chay gây nên hay không? (Thái Vĩnh Đức hỏi)
Đáp:
Ăn thịt mạnh mẽ, ăn chay yếu ớt, đó
là tâm lư thế tục. Nếu nói ăn chay khỏe mạnh,
ít bệnh, giới y học bèn hoài nghi. Sự thật là như
vậy, nay tôi nêu ra một thí dụ: Voi, lạc đà, trâu,
ngựa chẳng ăn thịt mà sức của chúng đều
mạnh, bất quá, hổ, báo, sài lang tánh hung tợn mà thôi!
Tăng sĩ Thiếu Lâm Tự đều ăn chay, mà Dịch
Cân, Tẩy Tủy, Kim Chung Tráo, Thiết Bố Sam, quyền
thuật, thiên hạ chẳng có ai địch lại, há c̣n
dám chẳng tin ư?
* Hỏi:
Em trai tôi cưới vợ, vẫn theo thói tục sát sanh, tôi
thấy vậy đau ḷng, nhưng trọn chẳng làm sao
ngăn cản được! Mắt thấy giết chóc,
chẳng biết là đối với việc này nên siêu
độ bằng cách nào? (Phan Chấn
Bang hỏi)
Đáp:
Niệm chú Văng Sanh là được rồi, nhưng phải
thành tâm.
* Hỏi:
Có người hỏi tôi kẻ mổ lợn có thể quy
y hay không? Nhưng ông ta quy y rồi vẫn phải giết
lợn, như vậy th́ có thể quy y hay chăng? (Trần Liên Sanh hỏi)
Đáp:
“Buông dao đồ tể xuống,
ngay lập tức thành Phật”. Lẽ nào kẻ giết
lợn chẳng thể quy y? Cầu quy y, trước tiên nên
sám hối th́ mới là chân tâm. Cớ sao vẫn vung đao
giết heo, tức là thiếu ḷng sám hối, sợ chẳng
thể đạt được lợi ích do quy y!
* Hỏi:
Ăn cơm thường ăn nhầm canh thịt, hoặc
nếm nhầm những món rau có lẫn thịt loài thú, có
trở ngại ǵ chăng? (Trang
Khánh Hiền hỏi)
Đáp:
Kẻ ăn lầm chẳng phạm giới, do v́ vô tâm. Kẻ
nếm thử tức là phạm lỗi. Nếu do hoàn cảnh
bó buộc, ăn rau bên cạnh thịt lại là chuyện
khác.
* Hỏi:
Trong toa thuốc Bắc thích hợp với t́nh trạng bệnh
tật, cần phải pha trộn thêm các loài côn trùng phơi
khô như chuồn chuồn, xác ve v.v... tín đồ bị
bệnh có thể dùng hay chăng? (Trang Khánh Hiền hỏi)
Đáp:
Lúc ắt phải dùng th́ khi chế thuốc hăy quán tưởng,
chẳng thể so sánh với chuyện do tham ăn [mà làm như
vậy], chỉ niệm Phật hồi hướng cho chúng
là được rồi. Nếu giết những động
vật c̣n sống để làm thuốc, ắt vi phạm
giới luật, do giết chúng để làm lợi ḿnh, đánh
mất Bồ Đề tâm vậy!
* Hỏi:
Các chứng bệnh tật đều do vi khuẩn xâm nhập
thân thể, nếu uống thuốc có phạm tội giết
vi khuẩn hay chăng? (Thái Thế
Phương hỏi)
Đáp:
Vi khuẩn là thực vật vô t́nh, giết không sao cả,
huống là để trị bệnh ư?
* Hỏi:
Kiến thuộc loại noăn sanh, các loài tiểu động
vật thuộc loại noăn sanh chết rồi chẳng dễ
sống lại, cớ sao mạng kiến lại đặc
biệt thù thắng, lạ quá! Xin dạy rơ! (Nhan Phật Triệu hỏi)
Đáp:
Lời hỏi này dường như là chấp trước!
Cư sĩ nói noăn sanh chẳng dễ sống lại; nếu
sống lại bèn cho là quái dị. Nói như vậy chẳng
phải là cho rằng [các động vật thuộc] ba lối
sanh Thai, Thấp, Hóa chết đi vẫn thường sống
lại đó sao? Nếu ba loài ấy chẳng thường
thấy chết rồi sống lại, mà vẫn thường
là chết rồi chẳng dễ ǵ sống lại, hễ
chết là chết luôn, đó là chuyện thường; chết
rồi sống lại là chuyện đôi khi [mới thấy].
* Hỏi:
Đối với kiến và người, đều là có
giác tánh, chẳng biết giết một con kiến hay giết
một người, tội nào nặng hơn? (Trịnh Nghĩa Lang hỏi)
Đáp:
Tánh mạng của chúng sanh b́nh đẳng. Chỉ có khởi
tâm động niệm của người tạo sát nghiệp
sai biệt rất nhiều! Đă có sai khác, tội quả sẽ
chia thành nặng nhẹ. Cái tâm giết người so với
cái tâm giết kiến hung ác gấp nhiều lần, cho nên
tội to. Nếu chẳng hiểu nghĩa này, ở đây
tôi có thể nêu một thí dụ nhằm phân biệt rơ ràng:
Người qua đường và cha mẹ trong nhà, cùng là người,
nhưng thử hỏi cái tội giết cha mẹ và tội
giết người qua đường có giống nhau hay
chăng?
* Hỏi:
Cái gọi là vi khuẩn trong y học có phải là chúng sanh hay
không? Là chúng sanh trong đường nào? Do nghiệp lực
ǵ chuyển biến? Xin hăy chỉ dạy [những điều
ấy] phát xuất từ kinh nào? Xin dẫn kinh làm chứng.
(Lâm Hỏa Thọ hỏi)
Đáp:
Các loài trong thế gian vật, chia làm ba loại lớn là
động vật, thực vật, và khoáng vật. Động
vật có t́nh thức, do nghiệp lực thông với cửu
hữu (tam giới)[32]; thực vật và khoáng vật vô
t́nh, chẳng tạo nghiệp lục đạo, chẳng
phải thọ báo. Vi khuẩn thuộc loại hạ đẳng
thực vật, là vật thể vô t́nh, chẳng xếp vào
đường nào [trong lục đạo].
* Hỏi:
Nếu người bị bệnh, uống thuốc ít thấy
công hiệu, cần phải dùng toa thuốc sử dụng động
vật mới lành bệnh (chẳng hạn như bệnh
hoàng đảm[33] phải ăn ốc, quáng gà phải
ăn gan heo hay ḅ, hoặc dầu gan cá); nhưng nếu là người
thọ giới lại dạy người ta ăn động
vật để trị bệnh, ngôn hạnh rốt cuộc
rớt vào ác nghiệp, hay là vô kư (không thiện, không ác). Nếu
là vô kư th́ có thể nêu lên một thí dụ để dứt
ḷng nghi hay chăng? (La Đức
Chương hỏi)
Đáp:
Trị bệnh cho người khác là thiện nghiệp, dạy
người khác sát sanh là ác nghiệp. Thiện ác xen lẫn,
làm sao có thể nói là vô kư được? Ăn gan heo, dầu
gan cá v.v... vẫn c̣n thể gọi là thuộc loại tam tịnh[34]. Nếu ăn ốc th́ sẽ chẳng
phải chỉ giết một mạng, tội sẽ tính
chồng chất lại. Thật ra, thuốc Tây lẫn thuốc
Bắc đều có rất nhiều cách trị bệnh hoàng
đảm, trọn chẳng nhất định phải dùng
ốc. Nếu bệnh hoàng đảm thuộc âm chứng
mà lầm lạc dùng ốc, đâm ra bệnh càng nặng hơn!
* Hỏi:
Nếu có một gia đ́nh ăn chay trường, nhưng
thích mua cá, thịt, gan lợn v.v... cho con cái ăn. Nhưng
khuyên giải người phụ nữ ấy, cô ta chẳng
nghe, rốt cuộc nên dùng phương pháp nào để
khuyến cáo? Tôi tính dùng câu thơ: “Ngật tha bán cân, hoàn bát lạng, oan oan tương
báo hà nhật liễu” (Ăn nó nửa cân, đền tám
lạng, oan oan tương báo thuở nào ngơi) th́ có được
hay không? Có phương pháp nào xảo diệu hơn không để
khiến cho cô ta nghe theo? (Tín Huệ
hỏi)
Đáp:
Chính ḿnh ăn chay trường, tự ḿnh có công đức;
con cái chẳng thể ăn chay, xét về t́nh, tuy chẳng
thể ép buộc, chỉ đành mặc nó; nhưng nếu
ngược ngạo vui vẻ mua cá thịt cho con, tức là
gián tiếp sát sanh, gây họa cho con cái! Đấy đều
là do chẳng hiểu đạo lư mà ra, nên mới làm chuyện
hại ḿnh, hại con! Câu thơ cư sĩ đă chọn
chính là khuyên họ nên hoàn toàn thôi ăn thịt, dường
như khó khăn, chẳng bằng trước hết cứu
văn lỗi lầm của người gia chủ ăn chay
trường, kế đó là lại thiện xảo khuyên
con cái người ấy ăn chay. Cổ nhân có một bài
kệ về chuyện cha mẹ khuyên nhủ đứa con
ăn thịt, giống hệt như chuyện này, nay tôi
sao lục để [cư sĩ] thuận tiện bảo
với người ấy: “Trường
trai, trường thọ nhân, thực nhục khiếm tha
trái, tự tri cầu phước đức, nhẫn
tương thân nhi hại” (Trường trai: nhân sống
thọ; ăn thịt: Mắc nợ người. Biết
tự cầu phước đức, sao nỡ hại con
ḿnh).
* Hỏi:
Giết các loài trùng có tội lỗi hay không? Trong vườn
trà và cam do em trai trồng để buôn bán, mùa Hè, các chủng
loại bọ cam, sâu trà, cũng như các loại trùng khác
sanh sôi rất nhiều, nếu chẳng giết sẽ bị
tổn hại khá lớn, phải nên làm như thế nào? (Lư Vĩnh Thanh hỏi)
Đáp:
Trước tiên, hăy nên biết: Sát sanh tạo tội thuộc
về tánh ác tự nhiên trong nhân quả, chẳng thể hướng
về vị thần nào [để cầu cạnh] cởi
gỡ tội ấy được! Nguyên tắc là như
vậy. Ông có thể hỏi thăm những chuyên gia nông
nghiệp phương cách để ngăn ngừa trùng bọ
sanh sôi th́ hay hơn. Nếu không, trong chừng mực có thể,
hăy gắng giết thật ít. Lúc bất đắc dĩ,
chỉ có cách niệm Phật hồi hướng cho chúng.
* Hỏi:
Giết muỗi, trùng có tính là sát sanh hay không? Để cho
chúng nó hút máu ta th́ tốt hơn, hay diệt trừ chúng tốt
hơn? (Hoàng Thiên Tống hỏi)
Đáp:
“Sanh” chỉ động vật, “sát” là giết hại, điều
này hết sức đơn giản, dễ hiểu. Cho nó hút
máu là bố thí, diệt nó là sát hại, đấy là hai chuyện.
Người chịu bố thí, tự nhiên chẳng giết.
Đó là cảnh giới của Đại Thừa Bồ
Tát, chẳng giết mà cũng chẳng bố thí, người
học đạo b́nh thường đều có thể làm
được!
* Hỏi:
Có người nói: Quỷ có thể báo thù người sống,
có chuyện ấy hay chăng? (Hoàng
Thiên Tống hỏi)
Đáp:
Điều này chẳng cần tra cứu sách Phật, trong
hai mươi bốn bộ sử của Trung Quốc đă
ghi chép chuyện này nhiều lắm.
* Hỏi:
Muốn t́m học với bậc lương sư, ḥng phá
vỡ khối nghi, nhưng xét bổn tánh của chính ḿnh,
do bản thân chẳng thuận tiện, chẳng dám khuấy
nhiễu khiến người khác khổ năo, con tính Thiền
Tịnh Song Tu, không có thầy d́u dắt, nhất tâm lạy
Phật tu tŕ, có thể phá tan tăm tối, thấy diện
mục sẵn có hay không? (Ông Huệ
Hân hỏi)
Đáp:
Thiền Tịnh Song Tu là nhân. Không có thầy th́ Thiền đă
không hiểu, mà Tịnh cũng chẳng thấu đạt;
huống hồ Thiền Tịnh Song Tu ư? Nếu chẳng
có minh sư, nhưng chịu thật niệm Phật, không
đi sai đường, đó là người có thiện
căn từ trước; do vậy, sẽ thật sự tự
đạt được cái quả viên măn. “Thấy bổn tánh của chính
ḿnh” là quả. Chẳng hiểu giáo tướng, tánh là ǵ,
kiến là ǵ, đều là một khối đen kịt! Dẫu
có nói được tu như thế nào, đắc như
thế nào, há chẳng phải là nói suông bàn rỗng? Chỉ
nên tinh tấn không lùi, hạ phẩm văng sanh đă là bậc
kiệt xuất, muốn đắc quả viên măn phải
nhờ vào cái nhân chân thật!
* Hỏi:
Có kẻ bảo tôi “kinh Kim Cang dạy
con người ta hết thảy đừng chấp tướng”,
nói tôi niệm kinh cũng là chấp tướng. Tôi nghe lời
ấy cũng có lư, nhưng
chẳng niệm trong tâm lại bất an, nên làm như thế
nào mới là đúng? (Lưu Học
Trung hỏi)
Đáp:
Nghe lời kẻ ấy ngỡ là có lư th́ chính là chấp
tướng; chẳng niệm trong ḷng bất an cũng là chấp
tướng. Đó đều là v́ cư sĩ tri kiến chưa
định, lay động theo chiều gió mà ra! Động
ắt có tướng, định là vô tướng. Định
là như thế nào? Đi, đứng, ngồi, nằm, chẳng
ĺa điều này. Niệm tới mức thuần thục,
chẳng biết năng niệm là ǵ, lại càng chẳng biết
sở niệm là ǵ. Đă vô phân biệt, làm sao có tướng?
* Hỏi:
Gần đây báo chí phương Nam có đăng tải một
nông dân vừa sanh con, ba ngày sau, người mẹ ra ngoài giặt
áo, chợt nghe tiếng đứa bé khóc thét lên, mẹ vội
chạy vào xem, thấy một con chuột to nặng tới
một cân đang cắn cổ đứa bé, máu tuôn đẫm
áo. Mẹ thấy vậy, vội chẳng tiếc thân đuổi
chuột cứu con, nhưng đă chậm rồi, cổ đứa
con đă bị chuột cắn một lỗ to, mê man bất
tỉnh. Xin hăy chỉ dạy, đối với chuyện
như vậy [có phải là] đệ tử Phật chẳng
thể khai sát giới, người giữ giới bèn để
chuột sống, bỏ mặc đứa bé? Xin hăy cởi
gỡ mối nghi nan này! (Thái
Vĩnh Đức hỏi)
Đáp:
Nếu lúc thấy chuột cắn đứa bé mà khoanh tay
chẳng cứu, cho là làm như vậy nhằm giữ vẹn
tánh mạng của chuột, bỏ mặc đứa bé, Phật
đâu có dạy chuyện ngớ ngẩn như thế!
Hỏi:
Con cái tin tưởng kinh Phật, trọn chẳng phạm
tội lỗi to lớn nào, nhưng làm cha mẹ, giữ vững
lời giáo huấn của cổ nhân như “chẳng đánh, chẳng nên người, roi đánh
ra người tốt” v.v... Kẻ làm cha mẹ có phải
là có tội hay chăng? Có bất lợi đối với
con cái hay chăng? (Hành Ngọc
hỏi)
Đáp:
Thiện khuyên, ác quản, đều nhằm mong con nên người,
há có tội lỗi? Nhưng cũng phải nên xét tới trào
lưu hiện thời, trừng phạt bằng cách đánh
đập cũng chẳng phải là điều nên làm thường
xuyên.
* Hỏi:
Pháp thế gian khuyên người ta mến tiếc giấy
có chữ, hăy nên thiêu hủy những tờ giấy bỏ đi
ấy, nhưng người nghèo khổ trong thế gian
chuyên nhặt giấy bỏ đi, đem bán cho xưởng
chế giấy mong kiếm chút lời, trọn chẳng bỏ
phí giấy. Một cử chỉ được hai điều
lợi. Như vậy th́ hai cách trước và sau, cách nào tốt
nhất? (Hành Ngọc hỏi)
Đáp:
Kinh Phật hư nát, chẳng thể tu bổ th́ có thể
chọn cách thứ nhất (thiêu hủy); nếu là giấy
có những chữ thông tục, có thể chọn cách sau!
* Hỏi:
Tệ nhân tuổi nhỏ vô tri, ngạo mạn chẳng
nghe lời mẹ răn dạy, ngược ngạo dùng lời
tục tằn mắng nhiếc song thân, nay đă trưởng
thành, tự biết bất hiếu, mắc vô lượng
vô biên tội lỗi, muốn cầu sám hối, nhưng
song thân đều mất đă lâu. Hối hận chẳng
kịp, trong ḷng mười phần hổ thẹn và bi ai,
không biết báo đáp ân cha mẹ như thế nào? Làm sao sám
hối tội ấy? (Phan Ngọc
Tuyền hỏi)
Đáp:
Mỗi ngày dành thời gian cố định để tụng
một quyển kinh A Di Đà, niệm thánh hiệu Di Đà
mấy trăm câu, hoặc mấy ngàn câu, đem công đức
ấy hồi hướng song thân văng sanh Cực Lạc, đó
là báo ân chân thật, sám hối triệt để. Báo ân chớ
nên biếng nhác, phụng sự bậc đă khuất như
đang c̣n sống. Nếu có thể làm như thế, cổ
nhân như ông Đinh Lan[35] chẳng c̣n riêng được tiếng
thơm như trước nữa!
* Hỏi:
Tôi nhớ ở quê hương nơi đất Mân (Phước
Kiến), có một vị là Thạch cư sĩ, hành tŕ rất
siêng năng, tín, giải, hạnh đều chân thật, đă
thọ Tại Gia Bồ Tát Giới, cớ sao ông ta cưới
ba vợ, bốn người thiếp, điều ấy há
chẳng phải là trái nghịch chế định của
Phật ư? Hậu học dựa theo lời Thạch cư
sĩ đă nói: “Do hoàn cảnh
tốt đẹp, cưới gái nhà nghèo về làm thê thiếp
cũng là một cách độ họ”, [toan tính] do cơ
duyên này, [bản thân tôi cũng] cưới nữ nhân khổ
sở, khó khăn về làm thiếp có phải là cách tốt
lành để độ chúng sanh hay chăng? Xin hăy phán định,
chỉ dạy! (Nhan Phật Triệu
hỏi)
Đáp:
Thế sự như cuộc cờ, thiên sai vạn biệt,
chẳng thể nhất loạt luận định được!
Nếu thật sự v́ độ họ tu đạo th́
không ǵ chẳng được. Nếu chẳng thể độ,
sẽ là tham đông quyến thuộc, tự chuốc lấy
buộc ràng. Nếu nói “tuy chẳng thể độ, nhưng
cũng có thể cứu họ khỏi đói nghèo”, tôi nói:
Thật sự có cái tâm bố thí, cứu vớt, sao chẳng
tự bỏ tiền ra giúp chi phí, kiếm người [xứng
đôi vừa lứa với cô gái ấy] để gả,
há chẳng phải là càng tốt đẹp hơn ư?
* Hỏi:
Văn bối hễ ngủ, mộng huyễn liền dâng trào,
thậm chí, trước khi đi vào giấc ngủ, mộng
huyễn đă dấy lên, có thể nói là chẳng lúc nào không
mộng, nhưng văn bối hỏi ḍ người khác, ai nấy
đều nói ít khi bị như vậy. Cớ sao riêng văn bối
thường mắc phải, rốt cuộc là chuyện hiếm
có hay thường có, có liên quan ǵ đến tâm lư hoặc sinh
lư hay chăng? Có phương pháp ǵ để khắc chế?
(Chương Phổ Minh hỏi)
Đáp:
Mộng cảnh tơi bời là do tạp niệm quá nhiều,
tinh thần chẳng thể chuyên nhất. Nếu cái thân Tứ
Đại chẳng điều ḥa th́ cũng mộng nhiều!
* Hỏi:
Tôi thường nghe định nghiệp chẳng thể
giải trừ, kẻ giết người nhất định
bị người khác giết, nhưng trong Phật pháp bảo
niệm Phật có thể tiêu tai miễn nạn, mà cũng
có thể ĺa khổ được vui, thậm chí giải
thoát chứng quả. Vậy th́ tội nghiệp sát nhân tiêu
tan nơi đâu? (Chiêm Kim Chi hỏi)
Đáp:
Giết người đền mạng, thiếu nợ trả
tiền, đấy là nguyên tắc. Nếu hiểu Phật
pháp, sẽ có nhiều cách thiện xảo, đối với
đối phương có thể làm cho họ siêu thăng, giải
oán, trừ tan hoàn cảnh bức bách. Đối với chính
ḿnh, có thể tu đến mức đoạn các Hoặc vọng,
nghiệp tận, t́nh không, tiêu trừ chủng tử [tội
chướng do sát nhân] kết thành quả báo. Nhưng c̣n có
hai điều ngoại lệ cũng cần nên biết: Một
là người đại tu hành coi thân hư huyễn, thần
thông du hư, nên chẳng bỏ tướng quả báo. Như An
Thế Cao đại sư, hai lượt đến Lạc
Dương đền mạng; Thiền Tông Lục Tổ ban
đêm gặp thích khách, đặt vàng lên bàn, bảo: “Chỉ
thiếu tiền của ông!”, đấy là những trường
hợp như vậy đó. Hai là người tu Tịnh
Độ đới nghiệp văng sanh, thừa nguyện
tái lai, độ thoát oán thân đều thành pháp lữ, chẳng
ĺa An Dưỡng, Nhất Sanh Bổ Xứ.
* Hỏi:
Trước kia, hậu học đọc Ấn Quang Văn
Sao sanh ḷng tin, cho nên đối với ngôn giáo của Ngài không
ǵ chẳng coi như Pháp Bảo, nhưng tôi thấy Ngài chẳng
cho người khác coi nhiều kinh giáo, có xem th́ chỉ giới
hạn trong kinh luận Tịnh Độ, đối với
điều này chẳng thể không nghi ngờ. Bởi lẽ,
đại sư Tông lẫn Giáo đều thông, cớ sao chẳng
chấp thuận người khác cầu thông Tông thông Giáo, há
có phải là bậc Bồ Tát hoằng dương Tịnh
Độ nên làm như thế ư? Hay là v́ thời Mạt
Pháp căn tánh con người kém hèn, chỉ có tŕ danh mới
khế cơ? (Chung Quán Tĩnh
hỏi)
Đáp:
“Pháp môn vô lượng thệ
nguyện học” là thánh huấn, lẽ nào chẳng cho
phép người khác xem nhiều kinh giáo? C̣n như chỉ hạn
cuộc trong kinh luận Tịnh Độ, cũng không phải
là [Tổ bó buộc phải tuân thủ] như thế; nhưng
trong khi hỏi đáp, nếu Tổ nói như vậy th́ do
nguyên cớ nào? Đều là tùy thuận căn cơ mà tiếp
dẫn, Tổ sợ kẻ ấy đọc kinh sách tràn
lan, hiểu sai be bét, không chỉ vô ích, mà c̣n có hại. Thử
nêu thí dụ như: “Phiền
năo tức Bồ Đề, sanh tử tức Niết Bàn”, “Ma tới giết ma, Phật đến
giết Phật”, “tâm chẳng
dính dáng đến đạo”, “chẳng tu, chẳng chứng” v.v... Những ư chỉ
ấy, kẻ sơ cơ làm sao liễu giải được!
Đối với các thứ giáo nghĩa, đức Thế
Tôn pháp vương c̣n chia thành năm thời để diễn
giảng, nên biết là đức Phật đă thuận
theo căn cơ mà phân chia thứ tự. Pháp là thuốc, ắt
phải ứng theo căn bệnh mà cắt thuốc vậy!
* Hỏi:
Trong xă hội xưa nay, có những nhân vật bậc thượng
lại chẳng bằng những kẻ tầm thường,
chẳng tin Phật pháp. Dựa theo nhân quả để nói
th́: Được hưởng phước đều do
kiếp trước đă tu, cớ sao nay có kẻ ngay cả
vào chùa miếu lạy Phật cũng chẳng muốn, có
phải là đời trước tu phước nhưng chẳng
tu huệ đến nỗi đời này chẳng có duyên
nghĩ tới Phật hay chăng? (Nhan Điền hỏi)
Đáp:
Đời này hiển đạt, chẳng muốn bước
chân vào chùa chiền, thân cận Tam Bảo, t́nh h́nh ấy hết
sức phức tạp. Cư sĩ nói “tu phước, chẳng
tu huệ”, th́ cũng là một nhân trong đời quá khứ.
Lại c̣n hoàn cảnh tập tục trong hiện tại có
sức ảnh hưởng cũng rất lớn. Đối
với các t́nh h́nh tệ hại trong giáo pháp của chúng ta
khiến cho người khác mất cảm t́nh, chúng ta cũng
phải nên tự trách ḿnh!
* Hỏi:
Hai người bạn A và B là cấp trên lúc tôi mới học
Phật. Hai vị này đều thông hiểu Thích, Đạo,
Nho; nhưng ông A vừa nghe chánh pháp liền tu Tịnh Độ,
phát Bồ Đề tâm, mỗi năm càng thêm tinh tấn. Ông
B tuy khá thông hiểu thấu suốt Lư, lúc rảnh rỗi bèn
bàn luận Phật học, biện tài hùng hồn, lưu loát,
ca ngợi Phật pháp, rốt cuộc vẫn chẳng tin có
Tịnh Độ, cảm ứng, luân hồi v.v... Dường
như chỉ hiểu Lư th́ sẽ có cách trừ bỏ trần
cấu chấp trước, ḥng trở về Minh Hạnh
Túc, cùng lên Liên Bang, xin chỉ dạy! (Nhan Điền hỏi)
Đáp:
Thật sự hiểu biết, thấy rơ ràng, và Thế Trí
Biện Thông là hai con đường khác biệt rạch ṛi!
Cư sĩ bảo ông B thông suốt, thấu triệt Phật
lư, tôi chẳng dám tin! Nếu thông triệt th́ sẽ Quyền
Thật chẳng hai, tự hiểu rơ lư Tam Đế viên
dung, liền có thể pháp pháp vô ngại. Những chuyện
như Tịnh Độ, cảm ứng, luân hồi v.v... kể
từ thoạt đầu là Hoa Nghiêm cho tới cuối cùng
là Niết Bàn, không kinh nào chẳng nói mà ông B chẳng chịu
tin, tự khoe kiến thức cao siêu, coi kinh Phật là kém hèn,
thô lậu, làm sao có thể xưng là “thông suốt, thấu triệt”,
mà cũng chẳng đáng để gọi là ca ngợi Phật
pháp! Chắc cái học của ông ấy là do nghe ngóng [rồi
ghi nhớ]. Nếu gặp bậc cao tăng đại
đức, không chừng có thể chuyển biến cảnh
giới!
* Hỏi:
Làm một đệ tử Phật kiền thành, trừ tận
gốc tâm lư ngạo mạn, quư nhất là nhẫn nhục,
nhưng nhẫn nhục có giới hạn hay không? Nên giới
hạn tới mức nào? (Châu Gia
Lân hỏi)
Đáp:
Nên lấy Thất Giác Chi làm gương. Phàm những ǵ có ích
cho chúng sanh, hoặc giúp tăng trưởng Bồ Đề
th́ Nhẫn cũng không có hạn định. Như đức
Thích Ca chịu đựng vua Ca Lợi cắt chặt thân
thể vậy. Nếu chẳng nhẫn sẽ có ích cho chúng
sanh, tăng trưởng Bồ Đề th́ Nhẫn bèn có ṭng
quyền, như xưa kia đức Thích Ca do cứu
năm trăm thương nhân mà giết kẻ khởi ác
tâm. Cơ duyên giết hại khi ấy là do ḷng bi mẫn, chẳng
phải là phẫn hận, nhằm cứu họ khỏi đọa
lạc mà tự nguyện đọa lạc. Về h́nh tích
dường như chẳng nhẫn, nhưng thật ra vẫn
là nhẫn!
* Hỏi:
Đệ tử từ khi vào Phật môn, được Phật
pháp un đúc, cảm thấy hết thảy các nỗi thú vị
trong nhân gian đều tẻ nhạt, vốn chuẩn bị
tâm lư thi vào trường đại học cho thỏa ước
mơ, nay [những ước vọng ấy] đều tiêu
mất, đối với các thứ triết học và kinh
tế học v.v... đều chẳng có ḷng muốn tiếp
tục nghiên cứu, tâm lư này có b́nh thường hay không? Xin
rộng ḷng chỉ dạy! (Châu
Gia Lân hỏi)
Đáp:
[Cái tâm] bon chen tranh đoạt danh lợi, cố nhiên nên nhạt
mỏng; nhưng tấn đức tu nghiệp (tăng tấn
đức hạnh, nâng cao tŕnh độ) chớ nên tiêu cực.
Ấy là v́ lợi ích chúng sanh mà học Phật, ắt phải
học hỏi pháp thế gian mới ḥng đầy đủ
phương tiện tiếp dẫn được!
* Hỏi:
Hành giả Luật Tông có thể văng sanh Cực Lạc hay
chăng? Hay là c̣n có phương pháp tu tŕ khác để cuối
cùng sẽ trở về đó? (Trạch
Mạnh Thu hỏi)
Đáp:
Mỗi tông có cách tu riêng, mục tiêu đạt được
cũng có Quyền và Thật khác biệt. Văng sanh Cực Lạc
là quả của Tịnh Độ Tông, trước hết
ắt phải có tín nguyện hạnh làm nhân. Nếu tu Luật
Tông mà chịu hồi hướng Tây Phương, phát nguyện
văng sanh th́ cũng được văng sanh.
* Hỏi:
Kinh Kim Cang vốn chẳng chia thành ba mươi hai phần,
nghe nói là do Chiêu Minh Thái Tử[36] đời Lương chia ra [như
thế], có phải là thêm vào để người đọc
tụng đỡ tốn sức hay chăng? (Trần Táo hỏi)
Đáp:
Kinh Kim Cang nguyên văn chẳng chia chẻ. Nếu muốn
hiểu rơ về cách phân đoạn, đă có phương
pháp khoa phán. Cách phân chia như hiện thời thật ra chẳng
tinh tường, khéo léo, tương truyền là do Chiêu Minh
Thái Tử định ra, cũng có thể nói là ư tưởng
thoạt đầu cũng nhằm để đọc tụng
đỡ tốn công sức.
* Hỏi:
Đối với chuyện giữa trưa ăn một bữa,
tôi đă từng xem lời giải thích trong Phật Học
Vấn Đáp, mà cũng từng thỉnh giáo mấy vị
pháp sư. Tự nhiên mỗi chuyện đều có lư do, tôi
nghĩ chuyện này có mối quan hệ ǵ với thiện
ác. Phong tục Trung Quốc từ xưa là ngày ăn ba bữa,
Phật giáo hạn định ngày ăn một bữa, há chẳng
phải là ép buộc con người tổn hại thân thể
ư? (Trầm Tử Lương
hỏi)
Đáp:
Đối với câu hỏi này, ông đă xem lời giải
thích, mà cũng đă nghe lời [các pháp sư] giảng giải,
chẳng cần kẻ tầm thường phải rườm
lời nhắc lại nữa! Chỉ có hai điều ông
bắt bẻ “ép người” và “chẳng hợp phong tục
từ xưa của Trung Quốc”, dựa vào đó để
bài bác. Do tiên sinh nghi nơi ấy, nên tôi liền vâng lời
phúc đáp chỗ ấy. Nhà Phật tuy có quy định giữa
trưa ăn một bữa, người nào có thể giữ
th́ tuân thủ, kẻ chẳng thể giữ th́ tùy ư. Trọn
chẳng phải là mỗi giáo đồ đều phải
hành như thế, há có chuyện ép buộc! Dẫu là người
đă thọ Bồ Tát đại giới, trong kinh văn dạy
về giới luật cũng chỉ hạn định
[giữ giới không ăn quá Ngọ] trong sáu ngày. Chỉ có
người hiểu lợi ích của việc này, và hiểu
rơ lư vệ sinh, phần nhiều tự động giữ
quy định ngày ăn một bữa. Đây là [lời đáp
cho câu vấn nạn] thứ nhất. Vũ trụ to lớn,
Lư Sự muôn mối, có lẽ chẳng nên viện lẽ
Trung Quốc có hay không [phong tục ấy] để phân định
thiện ác. Trung Quốc thời cổ có chuyện giết
người tuẫn táng, nay có nên vâng theo hay chăng? Huống
chi, [cổ nhân] coi ăn một bữa là quư, Trung Quốc
thời cổ có lệ ăn như thế. Theo thiên Lễ
Khí trong sách Lễ Kư, trong chương “dĩ thiểu vi quư” (coi ít là quư) có câu: “Thiên tử nhất thực,
chư hầu tái, đại phu sĩ tam, thực lực vô
số” (thiên tử ăn một bữa, chư hầu
hai bữa, các quan ăn ba bữa, những người thường
dân th́ không có hạn định). Theo ư chung của các vị
chú giải, câu này có nghĩa là bậc cao quư, đức dầy,
chú trọng ăn vừa no, [coi đó] là một nết tốt,
chẳng quan tâm đến vị ngon của thức ăn.
Ôi! Từ lúc đả đảo Khổng gia điếm[37], văn hóa Trung Quốc hoàn toàn mất
sạch! Đây là [lời đáp cho câu vấn nạn] thứ
hai.
* Hỏi:
Đệ tử quy y pháp sư thượng Sám hạ Vân,
tu hành pháp Tịnh nghiệp nhiều năm, vâng giữ pháp
tŕ danh, nhưng lúc niệm Phật th́ ít, lúc ĺa niệm th́ nhiều,
tâm suốt ngày sanh diệt chẳng ngừng, sanh, trụ, dị,
diệt, chẳng thành thể thống ǵ! Đệ tử đọc
các trước tác của chư tổ sư xưa nay, thấy
những câu như: “Người
học Phật chí cầu kiến tánh, mới là Phật tử”
v.v.. Do vậy, gần đây đọc Lục Tổ Đàn
Kinh, [thấy kinh ấy] cũng luận định kiến
tánh, trực chỉ nguồn tâm: “Thành
Phật, làm Tổ, chỉ do một tâm này, ai nấy vốn
sẵn có, người người viên thành. Chúng sanh do mê, nên chẳng biết
tự tâm là Phật”. Do vậy, đệ tử tính bỏ
Tịnh nghiệp để học Thiền, mong bái Ngài làm
thầy, mong mỏi Ngài từ bi nhiếp thọ. Công khóa hằng
ngày ấn định theo cách nào? Thời giờ tọa Thiền
nên như thế nào? Xin hăy dạy rành rẽ! (Trịnh Quân Hải hỏi)
Đáp:
“Kiến tánh thành Phật” là lời khẳng định quy
kết về nguồn cội, nhưng cách kiến tánh như
thế nào th́ mỗi pháp mỗi khác. Đó gọi là: “Quy nguyên vô nhị lộ,
phương tiện hữu đa môn” (về nguồn không
hai lối, phương tiện có nhiều môn). Cư sĩ
tuy đọc nhiều kinh điển, nhưng nói chung là
thiếu người chỉ dạy, chẳng có hệ thống,
nên mới gặp cảnh nghi ngờ, đi vào ngơ rẽ! Cần
biết rằng: Tham Thiền nhằm cầu kiến tánh, nhưng
niệm Phật cũng là cầu kiến
tánh, nhưng có thể kiến tánh hay không chẳng phải
là chuyện đơn giản! Nếu kiến tánh, đương
nhiên là tốt đẹp. Lỡ chẳng kiến tánh th́ vẫn
thuộc trong ṿng khổ sở chẳng ngớt! Chỗ ổn
thỏa của Tịnh Tông là đới nghiệp văng sanh.
Nếu kiến tánh trong đời này, cố nhiên là Thượng
Phẩm, chứng [Vô Sanh] Pháp Nhẫn. Dẫu chẳng kiến
tánh, cũng đă thoát luân hồi. Cư sĩ đă quy y Sám
công, hăy nên nương theo Ngài tu Tịnh Độ, chớ
nên sáng Tần tối Sở, giơ con cờ lên chẳng biết
đặt xuống nơi nào nhất định, lỡ làng
tiền đồ! Kẻ tầm thường này tuy xưa
kia có học Tham Thiền đôi chút, nhưng tiểu ngộ
cũng chưa có, đâu dám làm kẻ đui hướng dẫn
người khác, mong hăy rộng dung!
* Hỏi:
Đối với quan niệm chính trị, Phật tử nên
giữ thái độ như thế bào là thích hợp? (Huệ Khang từ Phi Luật Tân
hỏi)
Đáp:
Giáo đồ nhà Phật cũng là một phần tử công
dân, phải dốc ḷng trung đối với đất nước,
tư tưởng thuần khiết, há có hai ḷng! Phạm vi
của cuộc hỏi đáp này vốn chỉ xoay quanh Phật
lư, chẳng dính đến chính trị. Tiên sinh cứ gạn
hỏi th́ tôi thuộc hạng người chuộng cổ,
nhưng biết “đa hành bất
nghĩa, tất tự tễ” (làm lắm chuyện bất
nghĩa, ắt tự diệt vong) và “nhân giả vô địch ư thiên hạ” (người
nhân từ th́ trong thiên hạ chẳng có ai là kẻ đối
địch). Hai câu này là giáo huấn của cổ nhân, là
thiên kinh địa nghĩa.
* Hỏi:
Gần đây, tứ chúng học Phật, hễ quy y một
vị thầy, ắt mong được ban một pháp hiệu.
Pháp hiệu lại c̣n phải có chữ định cho từng
thế hệ trong tông phái[38]. Chữ đặt trong kệ truyền
tông phái vốn là theo tông phổ của thế tục. Xưa
kia, các vị đệ tử của đức Thích Ca
như Kiều Trần Như, Ma Ha Ca Diếp, Tu Bạt Đà
La v.v... đều chiếu theo tên họ vốn có [để
xưng hô], trọn chẳng ban pháp hiệu theo pháp phái. Phật
pháp truyền sang phương Đông, thoạt đầu,
Tăng Già vẫn dùng tên họ thế tục, về sau, có
thể là lấy theo họ của thầy. Đời Tấn,
pháp sư Đạo An đề xướng bỏ họ
ngoài đời, theo họ Thích của đức Thích Ca. Sư
có nói: Do sau bản kinh A Hàm được dịch vào đời
Hán, có những câu như: “Bốn
con sông đổ vào biển, chẳng c̣n tên sông nữa”
v.v... [từ đấy tăng nhân Trung Quốc] mới thật
sự phổ biến thói quen bỏ tên họ gốc (tên họ
ngoài đời). Khi ấy, chẳng những chưa có tự
phái (kệ truyền thừa của pháp phái) mà giữa thầy
và tṛ, pháp hiệu cũng ưa dùng lại một chữ,
như Cao Phong và Trung Phong là theo lệ ấy. Sau thời Triệu
Tống (Bắc Tống), các phái đặt kệ truyền
pháp rất phổ biến, hai chúng xuất gia cũng không
ra ngoài lệ ấy, nên sau khi xuất gia, bỏ họ ngoài
đời, lập phổ hệ mới, không khỏi hùa
theo thói tục, muốn cho môn hộ, hệ phái chẳng ngày
càng suy vi, há có được chăng? Có nên trừ khử tận
gốc thói quen hèn tệ thuộc loại vô minh này hay không? (Triệu Siêu hỏi)
Đáp:
Chuyện này xưa kia Ngẫu Ích đại sư đă từng
nói tới, nhưng tới nay vẫn chẳng thay đổi.
Luận theo phương diện Quyền, đối với
ư nghĩa và tông chỉ của kinh luật, trọn chẳng
có mâu thuẫn ǵ. Thuận theo lối xưa, hay theo kiểu
hiện thời, dường như chẳng cần chấp
nhặt. Hễ chấp th́ chỗ nào cũng bị chướng
ngại. Nếu cứ ắt phải trở lại lối
cổ, há phải chỉ có chuyện này? Ngày nay, chuyện cơm
áo, cư trụ của Tăng Già đều trở thành đề
tài tranh luận. [Có những người khảo cứu thấy]
thời đức Phật chẳng mặc áo hải thanh, thức
ăn phải đi xin, chẳng ở trong chùa miếu, trừ
những điều này ra, những chuyện vụn vặt
c̣n nhiều hơn nữa, không thể kể xiết! Tôi trộm
cho rằng: Đối với phương diện chất
lượng, hăy nên nương theo kinh, đối với phương
diện ứng dụng, chỉ cần không tổn hại đại
thể, thuận theo cơi đời mà diễn biến cũng
chẳng trở ngại ǵ. C̣n như nói “do vậy sẽ tạo
thành môn hộ”, dường như không phải thảy đều
như thế, hoạn quan Mạnh Tử, Mạnh Tử xứ
Ngô, Mạnh Tử người đất Trâu[39], tên vốn giống nhau, há có kết
thành bè phái ư? Tử Tang Hộ, Mạnh Tử Phản, Tử
Cầm Trương[40], tên họ mỗi người mỗi
khác, chẳng trở ngại tâm đầu ư hợp! Lại
nghi [cách đặt pháp hiệu theo pháp phái] có phải là thói
quen hèn kém do vô minh hay không, cố nhiên đây là một thói
quen, nhưng nó chẳng dính dáng ǵ đến vô minh cả!
Phật Học Vấn Đáp Loại
Biên
Phần 1 hết
[1] Trung Lang là tên tự của
Viên Hoằng Đạo (1568-1610). Viên Hoằng Đạo có
hiệu là Thạch Công, là người xứ Công An, sống
vào đời Minh, hai em trai là Viên Tông Đạo và Viên Trung
Đạo đều tài danh, nên người đời
thường dùng chữ Tam Viên để gọi họ. Qua
trước tác, họ đă thành lập riêng một trào
lưu văn học gọi là Công An Phái. Tác phẩm Phật
học nổi tiếng nhất của Viên Hoằng Đạo
là Tây Phương Hiệp Luận.
[2] Trọng Hựu là tên
tự của Đinh Phước Bảo, một nhà Phật
học nổi tiếng thời đầu Dân Quốc, tác
giả bộ Phật Học Đại Tự Điển.
[3] Diễn Thánh Công là
tước vị thế tập dành riêng cho hậu duệ
đích truyền của Khổng Tử. Tước vị
này được coi như bắt đầu từ thời
Tần khi Tần Thủy Hoàng phong cho cháu chín đời của
Khổng Tử là Khổng Phụ làm Thiếu Phó. Hán Cao Tổ
đổi tước vị này thành Phụng Kỵ Quân,
Hán Nguyên Đế đổi thành Bao Thành Quân, Hán Thành Đế
đổi tước vị này thành Ân Thiệu Gia Hầu.
Thời Tào Ngụy đổi thành Tông Thánh Hầu, rồi
lần lượt đổi thành Sùng Thánh Hầu (đời
Bắc Ngụy), Cung Thánh Hầu (đời Bắc Tề),
Trâu Quốc Công (đời Tùy), Văn Tuyên Vương
(đời Đường Huyền Tông), về sau đổi
thành Văn Tuyên Công. Chức vụ này đổi thành Diễn
Thánh Công dưới đời Tống Nhân Tông và danh hiệu
này giữ măi cho đến thời Dân Quốc. Năm 1935,
với ư định xóa bỏ mọi quan chức nhà Thanh,
chính quyền Dân Quốc đổi Diễn Thánh Công thành
Đại Thành Chí Thánh Tiên Sự Phụng Kỵ Quan. Sau khi
người cuối cùng giữ chức Diễn Thánh Công là
Khổng Đức Thành qua đời vào năm 2008, chức
quan này bị phế trừ, tuy con cháu Khổng Đức
Thành vẫn kế tập tước vị này, nhưng
không c̣n dinh thự, không có lương bổng, mà cũng chẳng
có nhân viên trực thuộc.
[4] Tuy gọi là Khảo
Tuyển Bộ, nhưng bộ này chẳng dính líu ǵ đến
công tác thi cử trong bộ Giáo Dục. Khảo Tuyển ở
đây chịu trách nghiệm sát hạch tŕnh độ
chuyên môn các công chức, thanh tra các cơ cấu khảo tuyển
nhân viên trực thuộc chánh phủ, quy định chính
sách, chế độ đăi ngộ, thăng cấp, giáng
chức, thuyên chuyển công chức.
[5] Nguyên văn “thọ chi lật táo”. Thời
cổ, do in sách bằng mộc bản, ván khắc chữ
thường làm bằng gỗ cây lật hoặc cây táo do sớ
của những loại gỗ này thẳng, dễ khắc,
ván lại bền, lâu hư. V́ thế, chúc tụng một
tác phẩm nào sẽ được tái bản nhiều lần,
người ta dùng từ ngữ “thọ
chi lật táo”.
[6] Đông Lỗ là thành
ngữ chỉ tỉnh Sơn Đông, do vào thời Xuân Thu
Chiến Quốc, địa bàn đất Lỗ thuộc
tỉnh Sơn Đông. Cụ Lư Bỉnh
[7] Kỳ Hoàng là Kỳ Bá và Hoàng Đế, hai vị
được coi là thánh tổ của y học Trung Hoa.
Theo truyền thuyết, Kỳ Bá ưa thích y dược,
ban ngày nếm thuốc, nghiên cứu dược tánh, ban
đêm tập dưỡng sanh, nắm vững hệ thống
kinh lạc. Do Hoàng Đế cũng ưa thích y học nên
t́m đến học hỏi với ông; về sau, Kỳ Bá
trở thành đại thần của Hoàng Đế.
Người Trung Hoa vẫn coi bộ Hoàng Đế Nội
Kinh là cuộc thảo luận y học giữa Hoàng Đế
và Kỳ Bá.
[8] “Phá mê khải ngộ” (phá mê hoặc, khơi gợi
sự giác ngộ). Ở đây, cư sĩ Từ Tỉnh
Dân dùng chữ Khải (啟), không phải “khai” (開) nhằm ca ngợi lời
giải đáp của cụ Lư Bỉnh Nam giống như một
khai thị quan trọng hướng dẫn người học,
người hỏi tự nhận thức, tự t́m ra lẽ
chánh qua lời dạy.
[9] Ngũ Minh (Pañca vidyā-sthānāni)
năm thứ học thuật chánh yếu của cổ Ấn
Độ gồm:
1. Thanh minh (Sabda-vidyā):
Ngôn ngữ học, nghiên cứu điển tịch.
2. Công xảo minh
(Silpakarma-vidyā): Công nghệ, kỹ thuật, toán pháp, lịch
số.
3. Y phương minh
(Cikitsā-vidyā): Y học, dược học, chú pháp.
4. Nhân minh (Hetu-vidyā):
Luận lư học.
5. Nội minh (Adhyātma-vidyā):
Cái học về diệu lư ngũ thừa nhân quả.
[10] Lư thú: Chỗ quy kết của nghĩa lư trong kinh điển.
[11] Nạp tăng: Do tỳ-kheo
mặc ca-sa bằng các mụn vải chằm lại nên gọi
là Nạp Tăng.
[12] Đây là lời tán
thán cụ Lư Bỉnh
[13] Lư Quảng và Tŕnh Bất Thức là hai danh tướng
thời Đông Hán. Lư Quảng nổi tiếng phóng túng,
không chú trọng quân kỷ, nhưng thương lính như
con nên binh sĩ phục tùng, thường chuyển bại
thành thắng; trong khi đó Tŕnh Bất Thức hết sức
nghiêm khắc, quân lệnh như núi. Ở đây, pháp sư
Dung Hy dùng từ ngữ “điêu
đẩu sâm nghiêm” để diễn tả quân kỷ
của Tŕnh Bất Thức, điêu và đẩu là hai dụng
cụ bằng đồng bằng sắt có thể dùng
để đun nước, nấu cơm của mỗi
quân nhân, và dùng để gơ làm hiệu lệnh tuần tra
trong đêm tối.
[14] Doanh Kiệu (瀛嶠): Một tên gọi ít
phổ biến của Đài Loan, Doanh là biển khơi, Kiệu
là ngọn núi cao nhọn.
[15] Tatami là một loại
thảm hay đệm lót nền kết bằng rơm trong
kiến trúc truyền thống của Nhật Bản.
[16] Bá Di họ Tử, thuộc thị tộc Mặc
Thai, tên là Doăn, tự Công Tín, là con trưởng của Á Vi,
vua nước Cô Trúc (nay thuộc thành phố Đường
Sơn, tỉnh Hà Bắc). Em trai là Thúc Tề được
vua cha dự định truyền ngôi, nhưng điều
này trái với tông pháp truyền ngôi cho ḍng đích thời ấy,
nhưng Thúc Tề không muốn đoạt ngôi của anh,
Bá Di cũng chẳng muốn trái lời cha, nên hai anh em cùng
bỏ trốn, chạy sang đất của bộ lạc
Châu, được Châu Văn Vương coi trọng. Khi
Châu Vũ Vương hưng binh phạt Trụ, Bá Di và Thúc
Tề đă chặn đường, khóc lóc can ngăn,
nhưng Châu Vũ Vương đă quyết ư. Khi Trụ
Vương bị diệt, hai anh em khóc lóc, quyết định
chẳng ăn thóc lúa nhà Châu nhằm biểu hiện ḷng
trung với nhà Thương, trốn vào núi Thủ
Dương ẩn cư, ăn vỏ cây, rau dại sống
qua ngày. Về sau, có người nói thiên hạ đă là của
nhà Châu th́ cỏ hoang, rau dại cũng là của nhà Châu, họ
bèn nhịn đói đến chết.
Liễu Hạ Huệ
(720-621 trước Công Nguyên), họ Triển tên Hoạch,
biểu tự là Cầm, một tên tự nữa là Quư,
người nước Lỗ, là hậu duệ của
công tử Triển (con trai Lỗ Hiếu Công); do vậy, họ
gốc của ông là Cơ, do gọi theo tên của tổ phụ
nên thành họ Triển. Liễu Hạ là tên thực ấp
(đất phong của ông), Huệ là thụy hiệu, cho nên mới thường gọi là Liễu
Hạ Huệ. Ông làm quan đại phu nước Lỗ,
ông được coi là thủy tổ của những
người mang họ Liễu sau này. Ông là nhân vật
được coi là người đức hạnh, với
câu chuyện: Trên đường thấy một phụ nữ
bị rét cóng sắp chết, nên ông cởi áo khoác phủ
cho cô ta rồi ôm cô ta trong ḷng cho hết lạnh, nhưng chẳng
khởi tà tâm.
[17] Đồ Hương (Vilepana)
là loại hương dùng để bôi trên thân nhằm khử
mùi hôi khi trời
nóng bức. Có nhiều loại đồ hương,
đơn giản nhất là loại dùng Chiên Đàn nghiền
thành bột ḥa với nước để bôi trên thân, có
loại dùng sáp ḥa hương liệu để bôi thân, có
loại xông ướp áo cho thơm. Nói cách khác, có thể hiểu
Đồ Hương là các loại nước hoa và các chất
deodorant sau này. Do đồ hương có tác dụng khử
mùi hôi, khiến cho thân thể thơm tho, giống như tŕ
giới khiến cho thân tâm thanh tịnh, thơm sạch,
xông ướp thân tâm bằng hương đức hạnh.
V́ thế, Đồ Hương biểu thị Tŕ Giới.
[18] Đây là một tác phẩm
ghi sự truyền thừa của Phật giáo vào Trung Hoa,
không rơ viết vào thời nào và ai là tác giả. Theo đó, Phật
giáo truyền vào Trung Hoa từ thời Hán Minh Đế
trong niên hiệu Vĩnh B́nh (58-75) và đă liên tục bị
Đạo giáo công kích. Nguyên bản hoàn chỉnh của tác
phẩm này đă bị thất truyền, chỉ c̣n những
phần trích dẫn trong các bộ sử liệu về sau
như Tập Cổ Kim Phật Đạo Luận Hành, Quảng
Hoằng Minh Tập, Pháp Uyển Châu Lâm v.v...
[19] Tư Không là chức
quan được thiết lập từ thời Tây Châu,
được xếp vào hàng Tam Công, tương
đương với Lục Khanh. Tư Không cùng với
Tư Mă, Tư Khấu, Tư Sĩ, Tư Đồ
được gọi là Ngũ Quan. Tư Không tương
đương với Thượng Thư bộ Công về
sau này, chưởng quản công tác thủy lợi, xây dựng
cung thất, các công tŕnh công cộng v.v...
[20] Cao Quư Hương Công
là tước hiệu của Tào Mao (241-260), là cháu nội của
Tào Phi (con trai trưởng của Tào Tháo). Năm 254, quyền
thần Tư Mă Sư phế lập Tào Phương (Ngụy
Thiếu Đế), đưa Tào Mao lên ngôi vua, làm con rối
cho Tư Mă Sư và Tư Mă Chiêu thao túng. Khi vua trưởng
thành, toan trừ khử bè lũ Tư Mă Sư, nhưng bất
thành, bị giết, nên không có đế hiệu. Sử chỉ
gọi vua là Cao Quư Hương Công theo đất phong khi c̣n
là công tử của Đông Hải Vương Tào Lâm.
[21] Tăng Sâm (505-435 trước Công Nguyên), tự là Tử
Dư, người xứ Nam Phú, nước Lỗ (nay là
B́nh Ấp, tỉnh Sơn Tây), là một trong những học
tṛ lỗi lạc của Khổng Tử, có mỹ hiệu
là Tông Thánh. Tăng Sâm, Khổng Cấp, Nhan Hồi và Mạnh
Tử, được Nho gia xưng tụng mỹ hiệu
Tứ Phối (tức bốn truyền nhân xuất sắc
nhất của Khổng Tử). Tương truyền ông là
người trước thuật các sách Đại Học,
Hiếu Kinh. Sách chỉ nói ông là hậu duệ của vua Hạ
Vũ, vốn có họ là Tự, nhưng không giải thích
v́ sao đến đời cha ông lại có họ là
Tăng. Khi Khổng Tử mất, ông là người kế
thừa mối đạo, cháu nội của Khổng Tử
là Khổng Cấp cũng theo học với ông. Ông nổi
tiếng với câu nói: “Mỗi
ngày ta tự xét ḿnh ba việc: Nhận lời làm giúp người
ta việc ǵ có thật t́nh làm hay không? Cùng với bạn bè
giao ước điều ǵ, có thất tín hay không? Thầy
dạy ta những ǵ, ta có nghiên cứu học tập hay
không?” Điều này được Nho gia gọi là “Tăng Tử tam tỉnh” (ba
điều phản tỉnh của Tăng Tử).
[22] Nguyên văn là Đài Đoan, chữ này vốn là chữ
dùng để gọi chức quan Thị Ngự Sử
đời Đường. Phàm những chuyện liên quan
đến Ngự Sử Đài đều do quan Thị Ngự
Sử lo liệu nên gọi là Đài Đoan. Về sau, chữ
Đài Đoan được dùng như một từ ngữ
tỏ ḷng kính trọng hoặc gọi người khác một
cách văn vẻ.
[23] Tạng Đầu Phật:
Quả vị Phật trong Tạng Giáo. Viên Măn Phật: Quả
vị Phật trong Viên Giáo.
[24] Viên Mai (1716-1797), tự Tử Tài, hiệu Giản
Trai, biệt hiệu Tùy Viên Lăo Nhân, là một thi nhân và
văn sĩ đời Thanh, người xứ Tiền
Đường, tỉnh Chiết Giang, từng làm tri huyện
Giang Ninh, và là một trong tám đại gia về thể loại
Biền Văn đời Thanh. Trước tác có Tiểu
Thương Sơn Pḥng Văn Tập, Tùy Viên Thi Thoại, Tử
Bất Ngữ, Thái Muội Văn. Viên Mai thích sưu tập
những câu chuyện cũ, kỳ dị, viết thành bộ
Tử Bất Ngữ, nổi tiếng không kém bộ Duyệt
Vy Thảo Đường Bút Kư của Kỷ Hiểu Lam.
Ông ta thích luận bàn về đạo Phật, nhưng
không hiểu đến nơi đến chốn nên có những
dị thuyết rất lạ lùng, chẳng hạn bảo
Lăng Nghiêm do người đời Lục Triều bịa
ra, nhưng chẳng nêu được một chứng cứ
khả tín nào. Ông cũng rất thích ăn uống, nên
đă sưu tập mọi công thức chế biến món ngon
vật lạ thời ấy, viết thành cuốn Tùy Viên Thực
Đơn. Cuốn Thực Đơn ấy cũng
được dịch sang tiếng Nhật.
[25] Lục Triều là sáu
triều đại liên tiếp trong lịch sử Trung Hoa,
có hai cách hiểu:
1. Đông Ngô (do Tôn Quyền
sáng lập), Đông Tấn (hậu duệ của nhà Tây Tấn,
được kể từ lúc Tư Mă Duệ làm vua), Tống
(do Lưu Dụ sáng lập, khác với nhà Đại Tống
hoặc Triệu Tống sau này của Triệu Khuông Dẫn),
Tề (do Tiêu Đạo Thành sáng lập), Lương (do
Tiêu Diễn sáng lập), Trần (do Trần Bá Tiên sáng lập).
Sáu triều đại này lần lượt đóng đô
tại Kiến Khang (Nam Kinh). Đây là cách hiểu của Hứa
Tung trong bộ Kiến Khang Thực Lục.
2. Đông Ngụy (do
Tào Phi sáng lập), Tấn (do Tư Mă Viêm sáng lập), Tống,
Tề, Lương, Trần. Đây là cách hiểu của
sách Tư Trị Thông Giám (do Tư Mă Quang soạn).
[26] Theo kinh Trường A Hàm, có lần một vị
trưởng giả của thành Vương Xá đă đặt
một cái bát bằng gỗ trầm trên sào rất cao, thách
thức có vị thánh nhân nào có thể lấy xuống
được, ngài Tân Đầu Lô dùng thần thông bay lên
đoạt lấy bát trầm ấy, được quần
chúng tán thưởng vang đội. Đức Phật quở
trách Ngài đă lạm dụng thần thông để làm chuyện
vô ích nên cấm Ngài không được nhập diệt mà
phải trụ thế làm phước điền cho chúng
sanh cho đến khi Di Lặc Phật ra đời.
[27] Si mị vơng lượng là thành ngữ
chỉ chung các loài yêu quái. Theo truyền thuyết, thời cổ
loài quỷ quái trong núi sâu, rừng rậm th́ gọi là Si và
Mị, các loài tinh quái trong núi sông, cây cối th́ gọi là Vơng,
các loài yêu tinh ẩn nấp trong chốn tối tăm để
trêu ghẹo hại người th́ gọi là Lượng.
[28] Lữ Tư Miễn
(1884-1957), tự Thành Chu, bút danh Nô Ngưu, quê ở huyện
Vũ Tấn, tỉnh Giang Tô, từng dạy đại học
Quang Hoa tại Thượng Hải, chủ nhiệm bộ
môn lịch sử. Thông Sử chính là bộ Lữ Trước
Trung Quốc Thông Sử của ông Lữ.
[29] Nguyên Nhân Luận có tên gọi đầy đủ
là Hoa Nghiêm Nguyên Nhân Luận, một quyển, do ngài Tông Mật
soạn vào đời Đường. Luận này dựa
trên tông chỉ của kinh Hoa Nghiêm để luận định
cội nguồn vũ trụ và con người, chủ yếu
dùng luận thuyết Hoa Nghiêm để phá những kiến
chấp “vạn vật do hư vô đại đạo
sanh ra” hoặc do Thượng Đế sanh ra.
[30] Nguyên văn “tướng
hiện nhi tiếu, mạc nghịch ư tâm, thứ kỷ
cận chi”. Câu này sử dụng
hai thành ngữ “tương thị
nhi tiếu, mạc nghịch ư tâm” (nh́n nhau cười,
tâm đầu ư hợp). “Mạc
nghịch” là đôi bên thuận thảo, hết sức hợp
ư, h́nh dung bạn bè chơi với nhau thân thiết, chẳng
hề có mâu thuẫn, kèn cựa nào. Thành ngữ này dựa
theo một câu trong thiên Đại Tông Sư của Nam Hoa
Kinh. “Thứ kỷ” là “gần
như, dường như”. Từ ngữ này dựa theo câu
nói trong sách Sử Kư, thiên Tần Thủy Hoàng Bản Kỷ:
“Quả nhân dĩ vi thiện,
thứ kỷ tức binh cách”, câu này được các
nhà chú giải giảng là “quả nhân v́ làm lành, gần
như chấm dứt chiến tranh”.
[31] Bá Công là một danh
xưng của thần Thổ Địa. Người Hoa gọi
thần Thổ Địa bằng nhiều danh xưng
như Bá Công, Đại Bá Công, Phước Đức Chánh
Thần, Phước Đức Lăo Gia, Thổ Địa
Công Công, Phước Đức Công, Thổ Địa Công,
Thổ Địa Gia, Địa Chủ Công, Thổ Công,
Phước Đức, Thổ Địa, Thổ Bá, Thổ
Chánh, Địa Chủ, Xă Thần, Xă Công, Xă Quan, Hậu Thổ
v.v...
[32] Cửu hữu, c̣n gọi
là Cửu Cư, hàm nghĩa hữu t́nh chúng sanh trong tam giới
có chín nơi cư trụ, gồm: 1) Nhân gian và sáu cơi trời
trong Dục Giới. 2) Sơ Thiền Thiên. 3) Nhị Thiền
Thiên 4) Tam Thiền Thiên 5) Vô Tưởng Thiên 6) Không Xứ
Thiên 7) Thức Xứ Thiên 8) Vô Sở Hữu Xứ Thiên 9)
Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên.
[33] Hoàng đảm
(Jaundice, c̣n gọi là Icterus), c̣n gọi là Hoàng Bệnh, hay
Hoàng Đản, là một chứng bệnh da vàng như sáp,
tṛng mắt cũng vàng do thặng dư chất bilirubin
(đản hồng tố) trong máu. Khi lượng biliburin
trong máu cao hơn 1,8 mg/dL sẽ thấy triệu chứng
hoàng đảm. Chứng bệnh này thường là dấu
hiệu gan bị tổn thương như trong các trường
hợp viêm gan siêu vi (hepatitis) hay ung thư gan, ung thư lá
lách, hoặc nhẹ hơn là ống mật bị nghẽn,
tụy tạng có sạn v.v...
[34] Tam tịnh là Tam Tịnh
Nhục tức là ba thứ thịt có thể ăn nếu
không có ǵ khác để ăn hay v́ lư do đặc biệt cần
ăn như chữa bệnh chẳng hạn. Tam Tịnh Nhục
là thịt của con vật nếu chính ḿnh không thấy nó
bị giết, hoặc chẳng hoài nghi do ḿnh mà nó bị giết,
hoặc chẳng do chính ḿnh giết.
[35] Đinh Lan là một
nhân vật sống vào đời Hán và được
đưa vào danh sách hai mươi bốn người con
có hiếu (Nhị Thập Tứ Hiếu). Cha mất sớm,
ông được mẹ nuôi dưỡng khôn lớn. Mỗi
ngày Đinh Lan cày cấy, đến trưa mẹ mang
cơm ra đồng cho ăn; nhưng Đinh Lan đối
xử với mẹ rất tệ hại, bất luận
mẹ đưa cơm sớm hay trễ, ông ta đều
chửi mắng. Về sau, Đinh Lan biết lỗi, toan tạ
tội với mẹ. Khi mẹ đưa cơm đến,
ông ta chắp tay, nhưng quên bỏ roi xuống, mẹ ngỡ
Đinh Lan toan đánh bèn cắm đầu chạy, nào ngờ
va phải một cái cây lê chết tươi. Đinh Lan chặt
cây ấy, nhờ thợ tạc h́nh tượng mẹ
để làm kỷ niệm. Mỗi ngày đều cung kính
đối trước tượng thưa hỏi, tạ
tội. Khi Đinh Lan cưới vợ, bà vợ do đố
kỵ, lấy kim đâm tượng, tượng gỗ
tuôn máu đỏ tươi. Đinh Lan biết chuyện liền
bỏ vợ. Do câu chuyện này, thời cổ, khi khắc
bài vị thờ mẹ, người Hoa thường dùng gỗ
cây lê.
[36] Chiêu Minh Thái Tử tên
thật là Tiêu Thống (501-531), con trai trưởng của
Lương Vũ Đế, tên tự là Đức Thí, là một
văn gia nổi tiếng của Trung Quốc, được
lập làm Thái Tử vào năm Thiên Giám nguyên niên. Tên thụy
khi mất là Chiêu Minh nên ông thường được gọi
là Chiêu Minh Thái Tử. Tuy mất sớm (chưa đầy
ba mươi mốt tuổi), ông đă góp phần biên soạn
bộ tổng tập thi văn Trung Quốc từ thời
cổ cho đến khi ấy, đặt tên là Văn Tuyển
(thường được gọi là Chiêu Minh Văn Tuyển).
Đối với kinh điển Phật giáo, ông cũng
nghiên cứu sâu xa. Do có cống hiến lớn, ông cùng cha
(Lương Vũ Đế) được một số
chùa Thiền Tông ở Hoa
[37] Đây là khẩu hiệu
của các nhà tân học quá khích như Hồ Thích,
Trương Độc Tú trong phong trào Ngũ Tứ chủ
trương xóa bỏ cái học cũ, phế bỏ Khổng
Mạnh. “Đả đảo Khổng gia điếm” là
“đả đảo tiệm buôn của nhà họ Khổng”.
[38] Nguyên văn là tự phái, tức là mỗi pháp phái
truyền thừa có một bài kệ quy định cách
đặt pháp danh. Chẳng hạn, tông Lâm Tế theo pháp
phái của ngài Vạn Phong Thời Ủy sẽ vâng theo bài
kệ: “Tổ đạo giới
định tông, phương quảng chứng viên thông, hạnh
siêu minh thật tế, liễu đạt ngộ chân không,
như nhật quang thường chiếu, phổ châu lợi
ích đồng, tín hương sanh phước huệ,
tương kế chấn từ phong”. Theo đó, chẳng
hạn thầy chữ Siêu th́ tṛ sẽ có pháp danh là chữ
Minh. Từ đời chữ Minh, tại Việt
[39] Nguyên văn “tự nhân
Mạnh Tử, Ngô Mạnh Tử, Trâu nhân Mạnh Tử”
: Đây là ba nhân vật có cùng chữ Mạnh trong tên họ:
Tự nhân Mạnh Tử được nhắc tới
trong bài Cảng Bá của thiên Nhĩ Nhă kinh Thi: “Tự nhân Mạnh Tử, vi tác
thử thi, phàm bách quân tử, kính nhi thính chi” (hoạn
quan Mạnh Tử, làm bài thơ này, quân tử đi qua, kính
xin nghe lấy). Theo lệ cổ, người cùng họ
không thể lấy nhau, Lỗ Chiêu Công muốn lấy
người con gái xứ Ngô làm vợ, nhưng cô ta cũng
họ Cơ giống như nhà vua, vua bèn đổi họ
cô ta thành Ngô, v́ cô là con đầu ḷng trong nhà nên vua đặt
tên cho cô ta là Ngô Mạnh Tử. Khổng Tử phê phán: “Quân thủ ư Ngô, vị đồng
tánh, vị chi Ngô Mạnh Tử, quân nhi tri lễ, thục bất
tri lễ” (Vua lấy con gái đất Ngô, v́ cô ta cùng họ,
bèn gọi cô ta là Ngô Mạnh Tử, vua mà biết lễ th́
c̣n ai mà chẳng biết lễ nữa). Mạnh Tử
đất Trâu chính là Mạnh Kha, tự Tử Dư, quê ở
Trâu Thành, tỉnh Sơn Đông, là người kế nghiệp
Khổng Tử.
[40] Đây là tên ba nhân vật do Trang Tử đặt ra
trong thiên Đại Tông Sư sách Nam Hoa Kinh. Trang Tử viết:
“Tử Tang Hộ, Mạnh Tử
Phản, Tử Cầm Trương ba người tṛ chuyện,
bảo: ‘Ai có thể lấy vô tâm để kết giao với
nhau, giúp nhau mà chẳng lộ dấu vết? Ai có thể
vượt khỏi ngoại vật, nhảy vào chỗ vô
cùng, quên hết sanh mạng, không biết nơi đâu là
cùng tận?’ Ba người nh́n nhau cười, trong bụng
cảm thấy rất hợp nhau, bèn kết làm bạn”.