Phật Học Vấn Đáp Loại Biên

佛學問答類編

Phần 10

Lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam giải đáp

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản in của Lư Bỉnh Nam Lăo Cư Sĩ Toàn Tập Biên Tập Ủy Viên Hội, Đài Loan, 2007)

Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang

 

      * Hỏi: Hậu học rất có hứng thú t́m hiểu sâu v phương thức hóa thân vô lượng của Phật, Bồ Tát. Dựa theo ư nghĩa trong kinh (như kinh Lăng Nghiêm, phẩm Ph Môn của kinh Pháp Hoa), trong nhân gian có khá nhiều v là hóa thân của Phật, Bồ Tát, hoặcđược phái đến, v vẫn chưa t biết [chính ḿnh hóa thân] (do khai ngộ sớm hay chậm), có v t biết nhưng chẳng chịu nói với người khác; nay tôi muốn hiểu rơ cách thức hóa thân cứu độ chúng sanh của Phật, Bồ Tát, xin hỏi nên đọc kinh luận nào? đâu có bán, hoặc có th mượn đọc? (Lưu cư sĩ hỏi)

     

      Đáp: Đối với các bậc hóa thân như ông đă luận, có v t biết, hoặc chẳng biết v.v… Suy theo lư, s việc có lẽ là đúng như thế. Nhưng những điều giảng v hóa thân được nói rải rác trong các kinh, trọn chẳng có kinh luận nào chuyên môn nói hoặc đặc biệt chép về chuyện này. Bọn hành gi chúng ta hăy nên noi theo thực tiễn, y giáo phụng hành, cầu liễu sanh tử. Nếu chuộng chuyện l lùng, e s đâm quàng lối rẽ. C đức có rất nhiều lời răn bảo như thế, ch chẳng phải k hèn này ngăn tr hứng thú của k khác!

 

* Hỏi: Đại nguyện của Địa Tạng Vương Bồ Tát là: “Chúng sanh độ hết, mới chứng Bồ Đề. Địa ngục chẳng trống, thề chẳng thành Phật”. Phật đă phát đại nguyện, nhưng chúng sanh ngày càng trở thành xấu ác hơn, cớ sao Ngài chẳng dấn thân trong nhân gian nhằm chỉ dạy lũ chúng sanh lạc đường trở về nẻo lành? Làm như vậy chẳng phải là sẽ có thể hoàn thành nhiệm vụ rất nhanh ư? V́ sao bậc đại Phật chỉ nói như vậy, mà chẳng thấy làm ǵ? (Tiết Đăng Huy hỏi)

 

      Đáp: Đức Địa Tạng hóa thân trong nhân gian vô lượng vô biên, mỗi pháp giới đều có thân Ngài, nhưng con người chẳng nhận biết. Rơ rệt nhất là chuyện Ngài hóa thân tại Cửu Hoa Sơn vào đời Đường. Ông nói “chỉ dạy cho kẻ lạc đường” th́ bất quá cũng là ngôn ngữ, văn tự. Kinh Phật gồm Tam Tạng mênh mông, đều là chỉ bảo kẻ mê, nhưng người ta không tin theo, lỗi của ai vậy? Hơn nữa, pháp luật thế gian cũng nhằm giữ ǵn điều thiện, trừng phạt lỗi ác; các cơ quan như cảnh sát, nhà tù v.v…, các h́nh phạt như bắt giữ, trừng phạt, lưu đày, tử h́nh v.v… Chẳng thể chê trách những điều đó là nói suông, cớ sao nhân dân vẫn nhiều lượt vi phạm? Đó là v́ chúng sanh mê muội chẳng quay đầu, ngược ngạo trách Bồ Tát chẳng dốc sức làm việc, há có phải lời luận định đúng lẽ công bằng ư?

 

* Hỏi: [Xét đến] lai lịch của câu “Nam-mô A Di Đà Phật”, cớ sao hàng cư sĩ phải hướng đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, chỉ niệm A Di Đà Phật. chẳng niệm Thích Ca Mâu Ni Phật? Thích Ca Mâu Ni Phật là đấng giáo chủ cơi Tây Phương[1], cớ sao chẳng niệm? Do kẻ độc giả ngu muội này kém tài, học cạn, chẳng thể viết lách nên hồn, xin hăy rộng ḷng giảng giải! (Tiết Đăng Huy hỏi)

 

      Đáp: Đây chính là một tông phái lớn trong nhà Phật, cũng có kinh điển chuyên môn. Tăng tục các đời, các bậc kỳ tài học rộng, suốt đời dùi mài, nghiên cứu, vẫn chưa dám nói đă thấu hiểu đến tột cùng pháp này. Tam Tạng vạn quyển, nói đến chuyện này rất nhiều. Nếu dùng năm ba câu để trả lời, khác ǵ chẳng nói. Dẫu có nói, cũng phần nhiều là gây thêm hiểu lầm, đến nỗi chuốc lấy mối họa báng pháp. Nếu tiên sinh muốn biết khái lược nhiều hơn, có thể thỉnh kinh A Di Đà để đọc, sau đấy lại thảo luận th́ mới có thể nói được. Nếu không, uổng công gây nên tranh luận tưng bừng, trở thành hư luận! Xét ra, hiện thời lời ông hỏi về Tây Phương chính là hiểu lầm. Hăy nên biết tiên sinh sống ở phía Tây vùng B́nh Đông[2], nên gọi là phương Tây; phía Tây của Đài Loan cũng gọi là phương Tây. Phía Tây của Đại Lục, phía Tây của Đông bán cầu, đều giống như vậy, đều giả gọi là Tây. Trước hết, hăy hiểu rơ điều này, lại biết phương hướng tuy là giả định, nhưng Tây Phương của Phật Di Đà th́ trong kinh cũng có phạm trù ấy!

 

      * Hỏi: Tứ chúng đệ tử của Phật có phải đều là họ Thích hay không? Hay là có người đă quy y Tam Bảo, nhưng chưa thọ các giới th́ chẳng thể tính là họ Thích được? (Chung Vân Xương hỏi)

 

      Đáp: Vốn chẳng phải như vậy. Thích Ca là họ của đức Bổn Sư Thế Tôn. Vào thời cổ, tại Trung Hoa, người xuất gia vẫn giữ họ thế tục, hoặc theo họ của thầy. Nếu [vị tỳ-kheo ấy] từ ngoại quốc đến, bèn lấy tên nước ḿnh đặt trước tên hiệu làm họ. [Tên họ người xuất gia thời cổ] hết sức phức tạp. Đến đời pháp sư Đạo An đời Tấn mới đề xướng lấy chữ Thích làm họ, đời sau đều tuân theo. Hai chúng tại gia trọn chẳng [đặt tên] giống như vậy.

 

* Hỏi: Ngày thánh đản của Phật, Bồ Tát, khi cúng dường hoa quả, hăy nên hướng về Phật, Bồ Tát nói những lời ǵ, xin lăo cư sĩ chỉ dạy. (Chung Vân Xương hỏi)

     

Đáp: Chỉ dốc ḷng thành cúng dường, Phật và Bồ Tát tự nhiên chiếu giám, chẳng cần phải thưa bày điều ǵ, cảm ứng chẳng sai!

 

      * Hỏi: Trong mộng mị thường thấy vào Phật điện trang nghiêm lạy Phật, lễ Tăng. Phật, Bồ Tát đều là kim thân, cao mấy trượng, động tác tự nhiên. Các vị thần hộ pháp cũng giống như vậy, nhưng các bậc cao tăng tôi đều chẳng nhận biết [vị nào]. Đó là túc nghiệp hiện tiền, hay là điều lành trong đời này hóa hiện? (Trại Mạnh Thu hỏi)

 

      Đáp: Sự có túc nhân (nhân trong đời quá khứ), gặp hiện duyên (duyên trong đời này) bèn phát khởi, cũng có trường hợp do nhân trong hiện tại đă sâu, gặp Tăng Thượng Duyên bèn sanh khởi; hai điều ấy đều có thể dẫn đến chuyện này. Chỉ có người thần thông mới có thể quán sát mà phân biệt, chứ phàm phu chẳng thể nói ǵ được!

 

* Hỏi: Tại chỗ ở trước kia, ở phía Đông Nam thành Dự Tức có một ngôi chùa cổ, vườn tháp, chánh điện thờ tượng Thích Ca ngồi cao hơn một trượng, dưới ṭa sen có mấy người h́nh dạng giống như quỷ La Sát, chân đỏ, mặc áo hở ngực, mặt xanh, tóc đỏ, dáng vẻ hết sức nhọc nhằn nâng đỡ ṭa sen. Đức Phật vốn từ bi, cớ ǵ cần đến chúng sanh mệt nhọc nâng giữ [ṭa sen]? Tạc tượng kiểu ấy th́ trong kinh có ǵ để làm căn cứ hay không? (Trại Mạnh Thu hỏi)

 

      Đáp: Chắc có lẽ là bát bộ hộ pháp[3], dùng sức lực nơi thân để cúng dường. Phật tự có thần thông, phi hành tự tại, trọn chẳng cần đến đại chúng vất vả nâng giữ. Đây cũng là lời phỏng đoán, ông vẫn nên ḍ hỏi từ nơi người địa phương th́ hơn!

 

      * Hỏi: Thuyết pháp, khai thị phải chú trọng thích ứng căn cơ th́ chúng sanh mới có lợi ích. Nếu không, sẽ trở thành lời lẽ thừa thăi. Đạt Ma Sơ Tổ vấn đáp cùng Lương Vũ Đế. Vũ Đế không chỉ chẳng tỉnh ngộ, mà thậm chí c̣n hiểu lầm. Có phải là do trí của Sơ Tổ c̣n chưa hiểu rơ căn khí của đối phương đấy chăng? (Lại Đống Lương hỏi)

 

      Đáp: Có lúc nói chỗ này, mà ư ở nơi khác. Có khi nói hiện tại, mà hiệu quả tại mai sau. Tổ sư đại quyền [thị hiện], há có thể nói trọn ư? C̣n như Vũ Đế chẳng ngộ, [Tổ phải tĩnh tọa] nh́n vào vách tại Tung Sơn, dựng lập nền tảng vĩ đại cho Thiền Tông, chẳng phải là do hai đầu mối ấy dẫn khởi ư? Nếu nói trí chẳng khế hợp căn cơ, [lời thuyết pháp] bèn trở thành thừa thăi, hăy thử xét trong hội Hoa Nghiêm, [hàng Thanh Văn] dự hội như điếc, như câm! Trong hội Pháp Hoa, năm ngàn người rời khỏi chỗ ngồi, cư sĩ lại nói như thế nào đây?

 

      * Hỏi: Tôi thấy cổ nhân có lời lẽ quở trách kẻ giả Nho, giả Thích như sau: “Nhà Nho có kẻ giả mượn tiếng nhân nghĩa để dối đời, đạo Thích có phường cậy chuyện đúc tượng Phật để tom góp tiền”. Hiện thời, thường thấy có kẻ khuyến hóa quyên góp, làm thế nào để biết họ là thật hay giả, chẳng bị lừa gạt? (Lâm Khoan Tu hỏi)

 

      Đáp: Điều này cần phải suy xét lời lẽ, vẻ mặt, lại phải xét do người nào thực hiện để tự châm chước quyết định. Nếu không, đối với bất cứ ai, tâm đều b́nh lặng, tự lượng sức ḿnh để tận hết sức ta, chẳng quan tâm đến kẻ khác [là thật hay giả]. Nếu mong chẳng bị kẻ khác dối gạt, kể từ xa xưa đă khó khăn. Xưa kia, Tử Sản người hiền, c̣n lầm tin lời dối trá “đă thả cá” của kẻ hầu[4]; gần đây th́ Tăng Văn Chánh Công[5] là bậc sáng suốt, c̣n bị gă thư sinh dối trá gạt tiền. Chớ nên không điều tra cặn kẽ, mà cũng chớ nên v́ mắc nghẹn bèn bỏ ăn.

     

* Hỏi: Hữu vi tuy là ngụy, nhưng vứt bỏ, ắt Phật đạo khó thành; vô vi tuy chân, nhưng chấp vào đó, ắt huệ tâm chẳng rạng. Đă nói là ngụy, sao chẳng cho phép vứt bỏ; đă nói là chân, sao chẳng cho phép chấp vào đó? (Lâm Khoan Tu hỏi)

 

      Đáp: Thật Tướng tánh Không, pháp vốn là như như. Do một niệm bất giác, bèn có vô minh. “Như như” là phẩm đức vốn sẵn có nơi tánh, vô minh là vọng che phủ tánh. Lũ phàm phu chúng ta cầu học, tu tŕ, bèn là hữu vi. Chẳng học, chẳng tu là vô vi. Lại nói “vô vi” có nghĩa tánh đức chẳng do làm (tu tập, tạo tác) mà thành, nên vô vi gọi là chân. Nói “hữu vi” nghĩa là vô minh nhờ vào phương tiện để đoạn; v́ thế, hữu vi gọi là ngụy. Nếu chấp vô vi, tức là phế Sự, phế Lư, tánh rốt cuộc bị trầm luân. Nếu vứt bỏ hữu vi, tức là chẳng học, chẳng tu, để mặc cho vô minh lâu dài!

 

      * Hỏi: Nếu thấy trên đường có người bán gà chở rất nhiều gà, muốn thay cho chúng niệm “quy y Phật, quy theo Pháp, quy y Tăng” th́ niệm ra tiếng hay niệm thầm? Nếu trông thấy kẻ khác sát sanh, có thể thầm niệm chú Văng Sanh hay không? Nếu đối với kẻ chẳng tin mà niệm ra tiếng, bị kẻ đó nghe thấy, sợ bị hiểu lầm. (Lâm Khoan Tu hỏi)

 

      Đáp: Phật pháp tuy nói tùy duyên, nhưng cũng trọng phương tiện. Nếu gây nên hiểu lầm, về mặt Sự đích xác là chẳng nên, [v́] có thể nẩy sanh tranh chấp, đến nỗi sanh ra thù oán, hoặc dẫn khởi [kẻ ấy] báng Phật, tăng thêm tội nghiệt cho kẻ ấy. Hăy nên biết vạn pháp duy tâm, chân thành thầm niệm th́ công đức chẳng khác niệm ra tiếng. Làm Phật sự trong chốn trần lao, hăy cậy vào phương tiện thiện xảo vậy!

 

      * Hỏi: Con người sau khi chết, thần thức đi đầu thai, th́ khi cái thai ấy sanh ra, thần thức mới nhập vào, hay là khi cái thai ấy mới thành h́nh, thần thức liền đến? (Tiên Thuần Hiền hỏi)

 

      Đáp: Xét theo Thập Nhị Nhân Duyên, Thức duyên Danh Sắc, [mà Danh Sắc] do ba duyên, tức hai giọt của nam nữ (tinh cha, trứng mẹ) và thần thức hợp thành thai. Xét theo đó, chẳng phải là lúc thai thành h́nh, thần thức mới đến, mà cũng chẳng phải lúc thai nhi lọt ḷng mẹ, thần thức mới nhập thai! Nhưng cũng có trường hợp thai nhi sắp sanh ra th́ thần thức của người nào đó mới nhập thai, tức là lúc thai h́nh thành, trước đó đă có thần thức khác thay thế nhập thai. Chuyện này thuộc trường hợp đặc biệt; đây là nói v trường hợp thông thường.

 

      * Hỏi: Từng nghe thầy nói: “Những câu văn trong kinh chẳng thể tăng, giảm, chữ viết theo lối cổ và chữ viết theo lối hiện thời chớ nên tùy tiện sửa đổi”, đệ tử đọc kinh Địa Tạng, phát hiện kinh Đại Bổn và Tiểu Bổn văn t có ch sai khác, rốt cuộc là nên tuân theo quyển nào để đọc th́ mới là đúng? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

      Đáp: Trước kia, tôi đă nói câu văn và ch trong kinh chẳng th sửa đổi bừa băi, là nói lúc ấn loát hoặc sao chép, [chớ nên] mặc t́nh sửa đổi; ch không nói tới s bất đồng giữa các dịch giả. Mỗi kinh thường có mấy loại bản dịch, hăy nên chọn bản được lưu hành thông dụng nhất để tụng tŕ. Bản khác chẳng giống với bản ấy th́ có th dùng để đối chiếu, nghiên cứu, ch nên tụng xen tạp. Theo như tôi biết, kinh Địa Tạng hai bản dịch. Một bản do pháp sư Thật Xoa Nan Đà dịch vào đời Đường là bản lưu thông rộng nhất trong hiện thời, bản kia do các v phápPháp Đăng và Pháp C dịch, chẳng rơ các Ngài thuộc thời nào. Hai bản đều được ấn hành, chẳng phải là [kinh Địa Tạng] Đại Bổn và Tiểu Bổn sai khác! Cư sĩ thấy bản kinh đó khác với bản đang tụng là v́ có hai bản dịch [khác nhau], chẳng phải là do có k xằng bậy t tiện sửa đổi!

 

      * Hỏi: Hết thảy các pháp do đâu mà có? Lúc thoạt đầu v́ sao có thần thức? khởi th́ làm sao có th tạo nghiệp để đạt được cái qu trong hiện tại? Sanh ra thần thức của chúng sanh như thế nào? Mong được biết tường tận! (Dương Thánh Sơn hỏi)

 

      Đáp: Câu hỏi này gồm có bốn điều, nay tôi tách ra để đáp:

- Một, hết thảy các pháp sanh t tâm. Tâm sanh, hết thảy các pháp bèn sanh. Tâm diệt, ắt hết thảy các pháp diệt.

- Hai, chân tánh bất sanh bất diệt. Vô th vốn sáng suốt, ch v́ chẳng vâng gi t tánh, h động [niệm] bèn có minh, nên gọi là thỉ vô minh”. “Vốn sáng suốt” là chân tánh. minh là thần thức, thật sự nói theo triết lư th́ chỉ nói là thỉ”. Nếu nói là “sơ thỉ” (mới khởi đầu), s chẳng hợp lư luận.

- Ba, vô minh chính là bất giác, bất giác tức là hoặc. Mê hoặc là t điên đảo, điên đảo chính là tạo nghiệp. Tạo nghiệp là nhân; có nhân, ắt có kết quả. Như vậy th́ lục đạo, tam đồ, sanh, lăo, bệnh, tử, vạn kiếp ngàn đời xoay vần đến nay, nghiệp cũ, nghiệp mới chồng chất chẳng rơ ràng. N cũ chưa xong, nghiệp mới lại tăng, thoạt nổi, thoạt ch́m, trải kiếp s như vi trần chẳng dứt.

- Bốn, nếu có th hiểu rơ những lời đáp trên đây th́ s t hiểu mấy câu như “vô thỉ vốn sáng suốt” và thỉ vô minh”

 

      * Hỏi: Để siêu độ tổ tiên th́ niệm Phật hồi hướng sức mạnh to lớn. hay là b thí có sức mạnh to lớn? Thân thể lắm bệnh v́ nghiệp nặng th́ sức giải nghiệp của niệm Phật to lớn, hay là sức bố thí to lớn? (Trần Ái hỏi)

 

      Đáp: Kinh Kim Cang có nói: “Dùng bảy báu đầy ắp Hằng hà sa số tam thiên đại thiên thế giới để bố thí, được phước nhiều chăng?... Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân đối với kinh này, dẫu chỉ thọ tŕ bốn câu kệ, v́ người khác nói, phước đức ấy vượt trỗi phước đức trước”. Lại nói: “Dùng thân mạng nhiều như cát sông Hằng để bố thí. Nếu lại có người, đối với kinh này dẫu chỉ thọ tŕ bốn câu kệ,người khác nói, phước ấy rất nhiều”. Bốn câu kệ c̣n như thế, huống h Di Đà vạn đức hồng danh? Dựa theo đó để nói, bất luận siêu độ tổ tiên hay nhằm tiêu nghiệp, lành bệnh, hăy nên biết là sức niệm Phật to lớn. Nhưng người niệm ắt phải thành kính; nếu là miệng có, tâm không, tức là chẳng đúng pháp, do vậy sức mạnh bèn tr thành nh mỏng!

 

      * Hỏi: Thế tục đều tin Địa Lư, Phong Thủy, nhưng người niệm Phật cần tin Địa Lư hay không? Tôi thường nghi hoặc! Có người nói: “Cát tinh cao chiếu lương thiện sĩ, Địa Lư nguyên tùng tích đức môn” (Sao lành chiếu rạng người lương thiện, Địa Lư thuận theo k tích đức), tin vào Địa Lư chẳng bằng tin thiên lư. Tôi nghe xong, cảm thấy lời ấy rất đúng. Xin thầy hăy phán định l chánh! (Hoàng Châu Kim hỏi)

 

      Đáp: Hướng lành, tránh d là Địa Lư. Sửa ác, hướng thiện là Thiên Lư. So sánh đôi bên, đúng là Địa Lư chẳng bằng Thiên Lư! Há cư sĩ chẳng biết Phật “p mê, khơi gợi ngộ, t hành, dạy người cùng vượt thoát sang b kia, hết thảy giải thoát” ư? Tôi bèn nói: Tin Địa Lư chẳng bằng tin Thiên Lư, mà tin Thiên Lư càng chẳng bằng tin Phật lư!

 

      * Hỏi: Đối với những nỗi kh nơi báo thân hiện thời của chúng ta, có phải là thần thức cũng phải chịu kh theo? (Tạ Ấu hỏi)

 

      Đáp: Thọ có năm th là khổ, lạc, hỷ, ưu, xả. Cái thân gi hợp hứng chịu hai th khổ lạc. Thần thức phân biệt hứng chịu hai th h và ưu. X th́ thân và thần thức đều phải hứng chịu.

 

      * Hỏi: Thuở Phật tại thế, hàng Thanh Văn nghe đức Phật thuyết pháp bèn khai ngộ chứng quả vị, Duyên Giác do ngộ duyên cũng khai ngộ, tu hành chứng quả. Người hiện tại nghe thầy giảng kinh mười mấy năm, chưa nghe nói có ai chứng quả vị. V́ sao khác biệt? (Tŕ Huệ Lâm hỏi)

 

      Đáp: Phật chính là qu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, trọn đủ Thập Lực và hết thảy các pháp Bất Cộng, do một âm thanh mà có th diễn t nhiều điều, một pháp lư khế hợp trọn khắp căn cơ của các chúng sanh. V́ thế, nh bèn kêu nhẹ, tức là tiểu chứng; gơ lớn bèn kêu lớn tức là đại chứng. Ắt phải có thầy chứng qu th́ mới có tṛ chứng quả; nhưng người được gặp Phật th́ cũng là do thiện căn, phước đức, nhân duyên nhiều kiếp, cộng thêm tinh tấn. Vật dụng được rèn đập, bèn d thành tựu. Kẻ hèn này là hạng phàm phu sát đất, chưa đoạn mảy may Hoặc (phiền năo) nào! Tuy giảng kinh, bất quá nương theo chú giải, nghe lỏm, nói ṃ, tự ḿnh chưa thành tựu, làm sao có th thành tựu người khác cho được? Nguyên tắc như thế, nhưng do cũng người trọn chẳng nghĩ là như vậy [nên r ḷng hỏi đến], tôi bèn viết mấy câu thông tục dâng lên để kính thưa, ḥng làm ḥn đá mài giũa ngọc. Tuy có học tṛ là trạng nguyên, trọn chẳng phải đều theo học với bậc thầy trạng nguyên! “Thầy dẫn tiến vào cửa, thành tựu tùy mỗi người”. Huống h hoa bay, lá rụng, sắc núi, tiếng nước, vô t́nh thuyết pháp c̣n có th ng đạo. Hơn nữa, có l là đạo chú trọng ch t cầu, thầy là trợ duyên.

 

      * Hỏi: Thân Trung Ấm trụ nơi đâu? Thọ mạng bao lâu? Khi mang thân Trung Ấm, biết chuyện trong đời trước hay không? (Thái Từ Tâm hỏi)

 

      Đáp: Trung Ấm phiêu giạt không có nơi chốn. Th mạng dài nhất chẳng quá bốn mươi chín ngày. Đối với [những chuyện] trong khi c̣n sống, có lúc nhớ, có lúc không.

 

      * Hỏi: sao chúng ta quên chuyện đời trước? T giai đoạn nào bèn bắt đầu quên đời trước? (Thái Từ Tâm hỏi)

 

      Đáp: Cần ǵ nói tới chuyện đời trước cho xa xôi! Hăy th nghĩ tới lúc mới sanh, lúc bú sữa nh được hay không? Thậm chí, chuyện mười năm hoặc tám năm trước, hoặc là quên sạch, hoặc là quên khuấy một nửa, nguyên nhân sao? Bắt đầu quên t giai đoạn nào? Xin hăy tr lời! Nếu đáp được, chẳng cần phải r ḷng hỏi đến tôi! Hăy nên biết tỉnh lại sau khi say lúy túy, có lúc chẳng nh chuyện trước khi say; chuyện trong mộng, khi tỉnh giấc có lúc chẳng nh rơ ràng toàn bộ. C̣n như hôn mê mà chết, Trung Ấm mịt mờ, lại trải qua nhập thai, xuất thai, mấy phen tối tăm, m mịt, chẳng biết c̣n quá hơn say lúy túy hoặc nằm mơ gấp mấy lần? Chẳng nh chuyện trước kia, có chi là lạ?

 

      * Hỏi: Lương Đế suốt đời bố thí, trai tăng, dựng chùa, độ tăng, hỏi t Đạt Ma có công đức như thế nào? Đạt Ma đáp “chẳng có công đức”, chẳng biết là như thế nào? (Châu Huệ Đức hỏi)

 

      Đáp: Công đức chia thành hai loại hữu lậu lậu. Hữu lậu phần nhiều phước nghiệp, vô lậu đều là huệ nghiệp. Phước th́ s đạt được hai qu là y báo và chánh báo; hu là cái nhân của giải thoát hai th chết (Phần Đoạn và Biến Dịch). Những ǵ Vũ Đế đă nghe toàn là những chuyện thuộc v phước nghiệp chánh báo, y báo, chẳng phải chuyện thuộc v hu nghiệp giải thoát. Chánh báo và y báo thuộc loại pháp sanh diệt, nên t sư nói: “Thật sự chẳng có công đức ǵ”, ư T muốn khuyên nhà vua hăy tấn tu tâm tánh.

 

      * Hỏi: Thân người khó được, trung quốc[6] khó sanh, Phật pháp khó nghe, sanh tử khó liễu. Chúng ta may mắn được làm thân người, sanh tại Trung Quốc, đă nghe Phật pháp, trong bốn điều khó đă đạt được ba, nhưng bản thân nghiệp sâu chướng nặng, tuy nghe pháp môn Tịnh Độ, cùng là thân cận tịnh nghiệp tri thức, may mắn không ǵ to tát hơn! Nhưng tôi vẫn chưa thể nhất tâm: Trong thuận cảnh hay nghịch cảnh đều chẳng quên văng sanh Tây Phương. Thuở trước, tôn gi A Nan hối hận v́ đa văn mà chẳng có công hạnh ǵ, nói Ngài một mực thiên lệch đa văn, chẳng siêng dốc sức tu tập Định lực, chưa từng Văn, Tu, Tư, nên đạo lực chưa trọn, không chống nổi chú. Nay tôi tự thẹn đạo nghiệp chưa thành, thời gian thấm thoát, chẳng càng đặc biệt thêm dốc sức niệm Phật, sợ đánh mất chánh niệm, chẳng th văng sanh. V́ thế, chẳng nghiên cứu kinh điển, mà chuyên tâm niệm Phật, chẳng biết như thế nào? (Châu Huệ Đức hỏi)

 

      Đáp: Tu học quư ch hạnh giải tương ứng, tức là Định Huệ cân bằng. Định là cầu Tịch, Huệ có thể khởi Chiếu, ch nên thiên lệch. Không có Giải, s s phạm sai lầm. Không có Hạnh, chính là nói chuyện ăn [ch nói mà chẳng ăn]. Đó là ư nghĩa đôi bên (Định và Huệ) cùng tiến. Nếu chuyên tâm niệm Phật, tất nhiên là đường lối chánh đáng, là đường nẻo Tịnh Tông, ắt cầu ng nhập. Đă ng nhập, s chuyên tâm, Định có thể thành tựu. Nhưng nếu ngay c nghĩa lư của tông ḿnh mà cũng không cầu hiểu, s rằng h gặp chướng ngại, liền sanh tâm thoái chuyển, ch không phải là đ̣i hỏi ông phải chuyên ṛng nghiên cứu Tam Tạng vậy!

 

      * Hỏi: Từ xưa, các v cao tăng, hoặc c Phật tái lai, hoặc Bồ Tát thị hiện, đều thường thị hiện địa v phàm phu, trọn chẳng nóitaBồ Tát”. Nghe nói Vĩnh Minh đại sư dùng thân c Phật thừa nguyện xuất thế, Trí Giả đại sư là hóa thân của Phật Di Đà[7], chẳng biết có điều ǵ để chứng minh hay không? (Châu Huệ Đức hỏi)

 

      Đáp: T Trí Gi được gọi là Tiểu Thích Ca, tổ Vĩnh Minh được gọi là hóa thân của Di Đà, đều là lời l tôn sùng tán thán của người khác, hoặc do những v ấy những biểu hiện đặc biệt lạ lùng, nên người khác tôn xưng như thế, trọn chẳng phải là hai v T t xưng như thế, mong chớ hiểu lầm!

 

      * Hỏi: người nói cúng buổi sáng là cúng dường chư thiên, cúng giữa trưa mới là cúng dường Phật, thật sự thuyết ấy hay chăng? (Chiêm Kim Chi hỏi)

 

      Đáp: Tuy có thuyết ấy, ch nên hiểu sai Lư. Do mười pháp giới, mỗi giới có gi ăn khác nhau. Phật chỉ ăn giữa trưa, chư thiên ăn vào lúc sáng sớm. Thật ra, Phật cũng chẳng ăn. Tuy Phật chẳng th thực mà [tín chúng] vẫn dâng cúng theo thời, nhằm t ḷng tôn kính, quyết chẳng phải là cúng dường thời trước s là tôn quư, cúng dường thời sau bèn kém cỏi hơn!

 

      * Hỏi: Chứng Đạo Ca câu: Tự tùng thức đắc Tào Khê lộ, liễu tri sanh tử bất tương quan (kể từ biết nẻo Tào Khê, tử sanh hiểu rơ chẳng c̣n liên quan). Chúng ta chưa biết đường lối Tào Khê th́ chuyện có liên quan nhất, không ǵ bằng sanh tử. N vậy th́ phải thường nghĩ sanh tử là chuyện lớn, hay nên nghĩ sanh tử chẳng liên quan? (Vương Chí Hiền hỏi)

 

      Đáp: Lời bài ca rơ ràng! Câu trước nói “thức đắc” (識得: nhận biết), câu sau nói là “tri”. Thức () chỉ là nhận biết, mà tri () là hiểu biết. Hai từ ngữ ấy có phạm vi rất khác nhau. Đạt đến cảnh giới ấy, chính là đại triệt đại ngộ, nhận biết tự tánh Niết Bàn thôi. Đă nhận biết t tánh Niết Bàn, dẫu chẳng liên quan với cái chết, nhưng vẫn phải nương theo đó để tấn tu th́ mới có chứng đắc. Bọn ta đang điên đảo, chẳng ngộ, mà cứ nghĩ “sanh tử chẳng quan hệ”, đúng là sẽ trở thành sống say, chết mộng” vậy.

 

      * Hỏi: Khi đức Phật thuyết pháp đều có thiên long bát bộ hộ pháp. Đức Phật diệt độ đến nay hơn hai ngàn năm; trong hơn hai ngàn năm ấy, chẳng biết đă có bao nhiêu người nghe Phật pháp, v́ sao chưa được giải thoát? (Chiêm Kim Chi hỏi)

 

      Đáp: Sông lớn trong tỉnh này (Đài Loan) có tên là Trược Khê[8], mấy trăm năm cuồn cuộn chảy về Đông, v́ sao đến nay vẫn chẳng hết? Hăy nên biết: Sóng sau dồn sóng trước, nước trước mắt chẳng phải là nước xưa kia. Thiên long bát bộ vô lượng vô biên, mỗi vị có thọ mạng riêng, thăng lên, giáng xuống. Người hiện tại chưa chắc đă là người xưa kia, s rằng người đắc giải thoát cũng [nhiều] như cát sông Hằng, khó th tính được!

 

      * Hỏi: Tôi d định mỗi ngày b ra hai tiếng đồng h để đọc hiểu bộ Kim Cang Kinh Giảng Nghĩa, nên đọc và ghi bút kư như thế nào? (Trần Đỉnh Nguyên hỏi)

 

      Đáp: Trước tụng kinh văn, sau là xem c giải, từng câu, từng ch một, chẳng được b lỡ. Ch nên tham mau, đừng nên cầu nhiều. H chỗ khế ngộ, bèn ghi lại. Đọc tụng như thế, đạt được một điều, bèn [nắm chắc] một điều. Tham nhiều, tham mau, tức là nuốt trộng qu táo!

 

      * Hỏi: Quyển đầu [của bộ Kim Cang Kinh Giảng Nghĩa] là Khoa Phán, hai ch ấy có nghĩa là ǵ? Câu “khoa phân nhị biểu” có phải là thuộc v phần mục lục, hay ư nghĩa ǵ khác? (Trần Đỉnh Nguyên hỏi)

 

      Đáp: Chữ Khoa () nghĩa là những ǵ thuộc về cùng một loại, Phán () có nghĩa là phân tích. [Khoa Phán] có nghĩa là phân tích toàn b nghĩa lư trong kinh văn để sắp xếp mạch lạc, ngơ hầu người đọc k nghe sẽ biết được th tự, cũng có th nói là đặt tiểu đề cho mỗi đoạn. Đây chính là t toàn th mà chia nh ra, nhằm hợp nhiều nghĩa thành một [chỉnh th để dễ lănh hội toàn vẹn].

 

      * Hỏi: Nếu trước hết, tôi niệm thuộc ḷng kinh văn th́ có ích hay không? (Trần Đỉnh Nguyên hỏi)

 

      Đáp: Quen tay hay việc, rất hữu ích, nhưng nếu miệng ch lem lém đọc qua th́ lợi ích cũng rất ít.

 

      * Hỏi: Kinh văn này c̣n có sách khảo cứu nào khác (bằng tiếng Hán) hay không? Nếu có th́ có th thỉnh ch nào? (Trần Đỉnh Nguyên hỏi)

 

      Đáp: Kinh Kim Cang xưa nay được chú giải rất nhiều, khó th k trọn. Người mới học, trước hết hăy nên chọn nhất định một bản chú giải để xem. Sau khi đă thông suốt, mới lại xem những loại khác. Có th liễu giải bản chú giải này rồi th́ mới có th tuyển chọn những bản chú giải khác để đọc.

 

      * Hỏi: Nếu có việc phải đến chùa miếu ngoại giáo, nhằm tỏ vẻ cung kính, có nên hành l bằng cách chắp tay, xá bái hay không? (Vương Thanh Hán hỏi)

 

      Đáp: Chúng sanh b́nh đẳng, đềuPhật tánh. Hậu sinh đối với tiền bối phải có lễ phép. Hiểu rơ những v được tin thờ, ắt [là tín đồ đă] chọn lấy những v tốt lành; lễ phép là mỹ đức của chính ḿnh, hăy nên nhất loạt thi hành. Nhà Phật chẳng coi nh chuyện lấy thân làm gương, Nho gia từng lấy câu “vô bất kính” (không ǵ chẳng kính) để làm khuôn mẫu giáo huấn.

 

      * Hỏi: Tại gia cư sĩ bậc thầy gương mẫu của người khác, th tiếp nhận s l kính, đền đáp của thế gian hay không? [Điều ấy] chướng ngại người tu hành hay không? Tuy bậc thầy gương mẫu của người khác, trọn hết trách nhiệm của người làm thầy, thành tựu đệ tử, trừ nhận lănh những th khen thưởng của cấp trên ra, có th tiếp nhận những l vật báo đáp của người  nhà đệ t hay không? (Thái Lân Định hỏi)

 

      Đáp: Chẳng hiểu rơ đạoth́ không th làm thầy người khác bừa băi! Người tại gia tuy thông đạt đạo, vẫn ch nên nghĩ tiếp nhận l vật báo đáp của người khác là đúng, để khỏi dấy động tâm tham, khiến đạo cũng b mất.

 

      * Hỏi: Oan hồn uổng t thường là mấy chục năm chẳng tan mất, vẫn c̣n th quấy phá. V́ sao ngườiy khi chết chẳng b nghiệp lực dẫn dắt? (Lại Đống Lương hỏi)

 

      Đáp: Những kẻy thuộc v quỷ đạo, chẳng phải thân Trung Ấm. Đă là qu đạo, tức là [đă b nghiệp lực] dẫn dắt.

 

* Hỏi: Kinh Tâm Địa Quán có nói: “Bồ Đề diệu quả chẳng khó thành, chân thiện tri thức khó gặp”. Chúng con may mắn gặp bậc chân thiện tri thức, nhưng chưa thành Bồ Đề diệu quả; có phải là thầy c̣n có bí mật ǵ chưa truyền? (Châu Huệ Đức hỏi)

 

      Đáp: Bồ Đề diệu quả chính là quê cũ Chân Như, chân thiện tri thức là người biết đường. Người biết đường ch có th ch v đường lối, không th đi thay người khác. Hơn nữa, chẳng th tách ĺa đường lối đă được chỉ! Kinh Phật đường lối Chân Như. Mong kinh được lưu thông, có bí mật! Bà cứ nhất định hỏi bí mật th́ cũng chẳng phải không có! Tôi nghe v t th mười ba là ngài Ấn Quang đă dạy: “Cái gọi là bí mật chỉ là cung kính mà thôi”.

 

      * Hỏi: Ngồi kết già là cách chư Phật thường ngồi, nhưng phần lớn chúng ta chẳng th ngồi. Ngồi như vậy chân đau chẳng th k xiết, trong tương lai văng sanh sợ cũng chẳng thể ngồi [xếp bằng] trên hoa sen, buông thơng hai chân xuống, có phải là rất khó coi hay chăng? (Châu Huệ Đức hỏi)

 

      Đáp: Đó là chuyện nh nhặt! Có th xếp chéo hai chân kết già th́ ngồi kết già; chẳng th th́ xếp chân này chồng lên chân kia [đó là bán già]. Nếu vẫn chẳng th ngồi như vậy th́ c tùy tọa. Tùy tọa là hai chân xếp lại là được rồi, chẳng ai không th ngồi như vậy. Đài Loan c̣n có nhiều loại tatami có th qu trên đó. Nếu hết thảy đều chẳng th làm được th́ qu cũng chẳng sao!

 

      * Hỏi: Lục Tổ Đàn Kinh có câu: Thánh nhân cầu tâm, chẳng cầu Phật; ngu nhân cầu Phật, chẳng cầu tâm. Người trí điều tâm, chẳng điều thân; kẻ ngu điều thân, chẳng điều tâm”, xin thầy giải thích. (Châu Huệ Đức hỏi)

     

Đáp: Phật Danh, tâm Thật. Phật Danh của tâm, tâm là Thật của Phật. Hoặc có th nói: Tâm là tự tánh; Phật chư Phật. Cầu chư Phật chỉ là đa văn, cầu tự tâm mới hiển l Chân Như. Điều tâm” là tr vọng niệm. Điều thân là các oai nghi tĩnh tọa. Biết điều tâm th́ gánh nước, khiêng củi đềuđạo, nhưng điều thân th́ vọng niệm luôn dấy lên tơi bời, luôn là ma!

 

      * Hỏi: Đàn Kinh lại nói: kẻ mê trống ḷng tĩnh tọa, chẳng nghĩ ngợi ǵ, tự xưng là ‘cao cả’, chẳng thể nói với những k như vậy h tà kiến”. Nay tôi muốn hỏi: Trống ḷng tĩnh tọa, chẳng nghĩ ngợi ǵ, cảnh giới ấy người b́nh phàm chẳng d dàng đạt đến, v́ sao chẳng th nói với ngườiy, lại coi k ấy là kiến? (Châu Huệ Đức hỏi)

 

      Đáp: Cố nhiên, người b́nh phàm chẳng th làm được chuyện ấy, nhưng chuyện ấy chẳng dính dáng ǵ đến “chứng Chân”! Hết mức th́ bất quá là Vô Tưởng Định, ch chứng đến Vô Tưởng Thiên mà thôi. Hưởng tám vạn kiếp xong, rốt cuộc đọa lạc, xôi hỏng bỏng không! L nào chẳng phải kiến!

 

      * Hỏi: Thái T Tất Đạt Đa lúc sắp xuất gia, vào nửa đêm, nh́n lần cuối ái phi và con thơ đang say giấc, rồi mới dứt t́nh, lén ra khỏi cửa cung. Lại có thuyết nói sau khi Thái T xuất gia sáu năm, [bà Da Thâu Đà La] mới sanh La Hầu La. Chẳng biết trong hai thuyết ấy, thuyết nào là đúng? (Lại Đống Lương hỏi)

 

      Đáp: Đây là chuyện thuộc v tướng th hiện, chẳng cần phải câu n t́m cầu nơi h́nh tích. Đă có hai thuyết, tức là mỗi thuyết đều có phương tiện. Nói thông thường, bèn chọn thuyết nào được nhiều người chấp nhận; nếu gặp duyên khác, bèn nói theo duyên khác.

 

      * Hỏi: Tôi đọc tạp chí nọ, thấy nói trong công khóa sớm tối, hành gi trước hết hăy hướng v Phật, Bồ Tát vấn tấn (cúi đầu xá), chẳng biết phải dùng câu nào để vấn tấn[9]. Xin hăy dạy [những câu nói] làm mẫu để tôi chiếu theo đó mà hành! (Triệu Liên hỏi)

 

      Đáp: Trong công khóa sáng tối, đương nhiên có chuyện hướng v tượng Phật đang th mà vấn tấn, trong tâm tưởng đến Ngài, chẳng cần phải đọc câu ǵ. Nếu miệng muốn niệm, s ba nghiệp thân, khẩu, ư cung kính. Tức là l v Phật, Bồ Tát nào, bèn thầm tưởng Phật, Bồ Tát ấy, miệng niệm danh hiệu của v Phật, Bồ Tát ấy.

 

* Hỏi: Tệ nhân cho rằng: Thọ khổ trong địa ngục là đă đủ rồi. Ví như kẻ sát nhân chưa hết hạn tù, [nếu như] kẻ sát nhân đă bị pháp luật phán định phải chịu h́nh phạt ǵ, người bị hại chớ nên v́ không cam ḷng mà tầm cừu báo thù. Nếu lại tầm cừu báo thù, pháp luật cũng có thể xử phạt thích đáng kẻ bị hại. Cùng một lư ấy, tôi nghe nói Phật và Bồ Tát đều có thần thông, chẳng lẽ các Ngài chẳng ngăn trở và xử phạt kẻ tầm cừu báo thù (pháp lực của các Ngài có thể sánh bằng pháp luật thế gian)? Nói “oan oan tương báo chẳng lúc nào xong” th́ v́ sao chẳng phải là đă thọ hết h́nh phạt đáng phải gánh chịu trong địa ngục [th́ nghiệp báo ấy] bèn hoàn tất? (Thái Tổ Thiên hỏi)

 

      Đáp: Câu hỏi này được chia thành bốn đoạn để đáp.

- Một, [thắc mắc] “thọ khổ trong địa ngục là đă đủ rồi” đă được đáp cặn kẽ trong lần trước. Những điều giáo huấn của cổ nhân như “dư khánh” (điều may mắn sót thừa), “dư ương” (tai họa c̣n sót lại), “tước đoạt quyền công dân”, “Xuân lạnh, Thu nóng” và các thứ tỷ dụ, há tiên sinh chẳng từng thấy ư? Hăy nên tra cứu. Nếu chẳng nghĩ giáo huấn và tỷ dụ của cổ nhân là đúng, hăy nên chất vấn chỗ chẳng đúng trong các lời cổ huấn và tỷ dụ, chớ nên bỏ mặc chẳng đếm xỉa tới để rồi thốt ra những lời trên đây.

- Hai, “người bị hại chớ nên v́ không cam ḷng mà tầm cừu báo thù”. Thật ra “dư ương” của kẻ [phạm tội sát nhân] chẳng phải do người bị hại tầm cừu tạo thành, mà do “dư ương” của chính ḿnh dẫn dắt. Như lửa than đă tắt, nhưng tro vẫn có sức nóng. Tro nóng gặp dịp, vẫn có thể đốt cháy vật. Tro đốt cháy vật là do sức nóng c̣n sót lại của than, trọn chẳng phải là do người đốt than ban đầu [tạo ra], mà vẫn là do tro nóng gây lên.

- Ba, Phật, Bồ Tát, “chẳng lẽ không thể ngăn trở và xử phạt kẻ tầm cừu báo thù”. Chẳng có kẻ tầm cừu, [chỉ là do] “dư ương” gây ra, có ai để ngăn trở? Cũng giống như chẳng có kẻ nào bắn tên, lại lầm lạc trách móc kẻ khác!

      - Bốn, “v́ sao chẳng chịu trọn hết h́nh phạt đáng phải nhận lănh trong địa ngục”. Xin hỏi ngược lại một câu, ṭa án phán xử [phạm nhân] ở tù mười năm. Nếu chịu án ba năm đă chết, có nên hỏi kẻ ấy v́ sao chẳng chịu án đủ mười năm rồi mới chết? Lại hỏi: Chịu án ba năm th́ có thể coi là đă chịu hết án phạt hay chưa?

 

      * Hỏi: Kinh Tứ Thập Nhị Chương chép: “Đức Phật nói: Ta thấy địa vị vương hầu như bụt lọt qua kẽ hở, coi vàng, ngọc, chất báu như ngói, sạn, coi quần áo bằng lụa nơn như vải rách, coi đại thiên thế giới như trái Ha Lê Lặc[10], coi ao A Nậu[11] như dầu bôi chân, coi phương tiện môn như đống báu hóa hiện, coi vô thượng thừa như vàng lụa trong mộng, coi Phật đạo như hoa đốm trước mắt, coi Thiền Định như cột Tu Di, coi Niết Bàn như tỉnh giấc ngủ, coi điên đảo và chánh kiến như sáu con rồng nhào lộn, coi b́nh đẳng như Nhất Chân địa, coi hưng khởi giáo hóa như cây cỏ tứ thời”. Xin hăy giải thích (Đồ Trinh Quang hỏi).

     

      Đáp: Một đoạn kinh văn dài ấy đă có nhiều người chú thích, xin hăy bỏ công tra cứu, ắt sẽ tự hiểu rơ. Mục vấn đáp này tuy có lúc giải thích kinh văn, nhưng đều nhằm giải thích một đôi câu chất vấn nghi hoặc, trọn chẳng giải thích toàn bộ kinh văn của một chương, một phẩm nào. Vấn đáp và giải thích kinh văn có tánh chất bất đồng, xin hăy rộng ḷng dung thứ!

 

      * Hỏi: Tôi thường thấy bạn đồng nghiệp muốn hại sanh vật (như kiến, gián v.v…), khuyên họ chẳng nghe; dùng tiền hoặc vật để chuộc th́ họ vui thích. Sau đó, họ cố ư bắt giữ cho tôi thấy để toan trục lợi. Xin hỏi: Như vậy th́ có nên dùng lợi lộc chuộc mạng để phóng sanh hay không? Nếu chẳng dùng lợi để chuộc, họ sẽ giết chết chúng ngay trước mắt tôi, tôi thấy vậy lại chẳng nỡ ḷng. Xin ân sư dạy rơ phương pháp th́ chúng sanh may mắn lắm thay! (Đồ Trinh Quang hỏi)

 

      Đáp: Phật pháp “từ bi làm gốc, phương tiện làm cửa”, có ai chẳng nghe hai câu ấy? Tiếc là [người ta thường] nghe loáng thoáng chẳng chú ư, nên sanh ra ác quả. Cư sĩ dùng tiền tài chuộc mạng, đó là từ bi; nhưng không có cách ngăn chặn ác nhân, tức là thiếu phương tiện. Chuyện quá khứ chẳng bàn tới, chuyện tương lai há có cách nhất định? Hoặc là chuộc hay chẳng chuộc, hễ chuộc th́ nên khiến cho kẻ ấy biết xấu hổ mà đừng làm nữa! Chẳng chuộc khiến cho kẻ ấy biết tội mà thâu liễm. T́nh người, sự vật biến huyễn vô thường, hăy thuận theo từng lúc để châm chước quyết định. Do kẻ sơ học chẳng có trí huệ ấy, cốt sao tự tâm an vui là được rồi! Cổ nhân phóng sanh, chẳng có lúc nhất định, chẳng có nơi chốn nhất định, là v́ ngăn ngừa phường giảo hoạt tham lợi mà săn bắt vậy!

 

* Hỏi: Câu hỏi này lẽ ra cũng phải viết trong thư gởi lần trước, nhưng v́ tệ nhân mắc bệnh hay quên, nên bỏ sót. Do tệ nhân từng học môn Tánh Danh Học[12] trong phép bói toán, cũng từng thỉnh giáo các thầy tướng, họ đều nói tệ nhân và cha mẹ xung khắc, với anh em trai, chị em gái cũng phần nhiều bất ḥa. Lại do từng đọc cuốn sách nhỏ “Hứa được th́ hứa” do cư sĩ Trần Hải Lượng biên soạn, biết trong nhân gian, quyến thuộc tụ hội đều do ân oán báo đền. Tôi lại quan sát, suy lường cặn kẽ, cũng cảm thấy quả thật chính ḿnh và người nhà xung khắc, v́ tôi vốn thuở bé cũng chẳng biết chút ǵ là “ân oán báo đền”, cứ tưởng đời người chỉ có một đời này mà thôi. Như nay đă biết rồi, trong tâm rất khó chịu, cũng chẳng biết có cách thức tốt đẹp nào ḥng giải trừ nỗi đau khổ này? (Thái Tổ Thiên hỏi)

 

      Đáp: Ông hăy nên đọc sách thánh hiền cho nhiều, và các sách giảng về nhân quả báo ứng do nhà Phật biên soạn. Trước hết, khiến cho tự tâm hiểu lư, sau đấy, sửa đổi chính ḿnh, sám hối; lâu dần, tánh t́nh biến đổi, hoàn cảnh nhất định sẽ chuyển biến theo. Quá khứ chẳng bàn tới, hiện tại chẳng tạo thêm oán thù mới. Hăy nên biết: “Kính người, người sẽ kính ta; chửi người, ắt người chửi ta”, chỉ tin “họa phước chẳng có cửa, chỉ do con người tự chuốc lấy”, chớ nên mê tín thuyết Tánh Danh Học của tướng số. Sách Phật có nói: “Tâm có thể tạo nghiệp, mà tâm cũng có thể chuyển nghiệp”, mong ông hăy chuyển sang dụng công nơi chính ḿnh, nhất định sẽ thấy hiệu quả!

 

      * Hỏi: Phẩm thứ bảy Lợi Ích Tồn Vong trong kinh Địa Tạng có dạy: “Doanh trai chi thứ, mễ cam, thái diệp, bất khí ư địa” (Khi làm cỗ chay, nước gạo, lá rau chẳng được vứt xuống đất) là do lẽ lợi hại nào? (Lưu Nhân Phước hỏi)

 

      Đáp: Mang ư nghĩa quư tiếc nhân lực và vật lực, cũng có ư nghĩa tiếc phước.

 

      * Hỏi: Kinh Kim Cang dạy: “Hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng, như sương, cũng như chớp, hăy nên quán như thế”. “Quán” ở đây là đối với các sự vật b́nh thường mà suy tưởng như thế, hay có cách Quán nào khác? (Khiết Viên hỏi)

 

      Đáp: Kinh nói “hết thảy”, lại nói “hữu vi pháp” tức là nói khái quát hữu vi. Trừ vô vi ra, trọn chẳng có ǵ ra ngoài lệ ấy!

 

      * Hỏi: Kinh Kim Cang nói “chẳng trụ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp để sanh tâm”, nay tôi nghe âm thanh xướng tán và niệm Phật sanh ḷng ưa thích, có phải là cũng coi như trụ nơi trần mà sanh tâm hay không? (Khiết Viên hỏi)

 

      Đáp: Muôn pháp trong thế gian đều là Phật pháp. Người trí soi thấu suốt, kẻ ngu mê chấp. Điều được kinh Kim Cang phá trừ là phá trừ Ngă Chấp và Pháp Chấp, chẳng phải là phá trừ pháp và sự. Thanh trần của xướng bái và tán tụng thuộc tịnh, thanh trần của khúc nhạc Bắc Lư[13] thuộc cấu. Lấy tịnh thay thế cho cấu chính là phương tiện. Khi công phu đạt mức, chẳng cấu, chẳng tịnh, sẽ chẳng trụ vào đâu!

 

      * Hỏi: Hiếu Kinh dạy: “Thân thể phát phu thọ chi phụ mẫu, bất cảm hủy thương” (thân thể, da, tóc nhận từ cha mẹ, chẳng dám hủy hoại). Người đời nay cắt tóc, giải phẫu thẩm mỹ (như sửa mũi cho cao hơn), có phải là bất hiếu? Lại nữa, “xả thân cho cọp ăn” trong Phật giáo và “sát thân thành nhân” (v́ thành tựu sự nhân nghĩa hy sinh tánh mạng) của Nho gia có ư nghĩa tương đồng hay không? (Khiết Viên hỏi)

 

      Đáp: Cắt tóc, sửa mũi là thời trang hiện thời, là làm đẹp, chẳng phải là hủy hoại, tổn thương. Cổ nhân cũng cắt móng tay, nhổ tóc bạc, há có phải là hủy hoại, tổn thương? C̣n như “xả thân cho cọp ăn”“sát thân thành nhân” bất quá ư nghĩa có rộng hay hẹp, nhưng cái tâm nhân từ là một.

 

      * Hỏi: Trong quyển Thượng của bộ Phật Học Vấn Đáp, nơi trang một trăm ba mươi bảy, trong mục giải đáp cho ông Thái X… có viết: “Có biết những người như Thiên Thân, Vô Trước hay không?... Hăy lấy đó làm gương răn ḿnh”. Thiên Thân, Vô Trước rốt cuộc là chuyện ǵ mà đáng lấy làm gương răn ḿnh? Tôi kính cẩn mong được nghe! (Lư Định Siêu hỏi)

 

      Đáp: Điều này chẳng cần phải hỏi, chỉ xem lời hỏi ở trên và câu đáp ở dưới, sẽ biết ư nghĩa.

 

      * Hỏi: Đối với câu “gia bần, thân lăo, bất vi lộc sĩ” (nhà nghèo, cha mẹ già, chẳng làm quan hưởng bổng lộc), rốt cuộc nên hiểu là “ra làm quan là hiếu”, hay “chẳng ra làm quan là hiếu”? (Lư Định Siêu hỏi)

 

      Đáp: Sợ là có chuyện chưa thấy rơ ràng trong nội dung lời hỏi, nên cảm thấy ư nghĩa chẳng suông. Ông lại chẳng nêu rơ câu ấy xuất phát từ sách vở nào, nên chẳng dám đáp bừa!

 

      * Hỏi: Chợt thấy tác phẩm Tịnh Độ Tân Luận của vị pháp sư nọ, bèn một mạch đọc hết. Sau đó, cảm thấy nơi này người sơ cơ khá đông, nhưng chớ nên để cho kẻ sơ cơ đọc sách ấy, hăy nên cất kín một chỗ. Về sau nghe nói Ngài cũng đối trước Phật, phê phán sách ấy. Nếu đó là chuyện thật, chẳng ngờ tôi có cùng kiến giải với Ngài. Tuy là như vậy, nhưng mỗi lần tính phê phán sâu hơn nữa, lại cảm thấy sách ấy tợ hồ chẳng phải là thiếu lập luận, xin Ngài hăy dạy rơ! (Lư Định Siêu hỏi)

 

      Đáp: Tại hạ chưa từng thấy cuốn Tịnh Độ Tân Luận như ông đă nói. Đối với lời phê phán như thế nào, tôi càng thêm mờ mịt; trước đó, ông đă dẫn lời vị pháp sư X…, sau đó dẫn thêm lời lẽ [nhận định] này nọ. Sợ là có kẻ hiếu sự bịa đặt lời đồn đăi! Nay tôi đặc biệt trịnh trọng thanh minh, đối với những điều đă nói trong đoạn ấy, tôi nhất loạt chẳng biết!

     

* Hỏi: Thức ăn của nhân loại thời thượng cổ phần nhiều là thức ăn c̣n sống, chẳng giống như người hiện thời nhấn mạnh vấn đề dinh dưỡng, mà thọ mạng [của người xưa] đến mấy vạn tuổi, hoặc mấy ngàn tuổi. Thức ăn của nhân loại hiện thời nấu chín, giơ đũa, động chén đều nhấn mạnh dinh dưỡng, mà thọ mạng ít ai được trăm năm, chẳng biết do nguyên nhân ǵ? (Chung Vân Xương hỏi)

 

      Đáp: Thời kiếp có tăng hay giảm sai khác. Trong kiếp tăng, thọ mạng tăng dài hơn, khí hậu, vật chất, hết thảy đều sanh trưởng thích hợp, như tiết Xuân tiến sang Hạ. Trong kiếp giảm, thọ mạng giảm dần, khí hậu, vật chất, hết thảy sẽ tương ứng giảm dần, như tiết Thu tiến sang Đông. Lại nữa, kéo dài tuổi thọ, giảm bệnh tật, dinh dưỡng về mặt vật chất, bất quá là một điều kiện. Ăn, ở, hoạt động, tu dưỡng tinh thần, quả thật là những điều trọng yếu. Nội Kinh nói: “Dĩ tửu vi tương, dĩ vọng vi thường” (coi rượu như nước uống thường xuyên, coi những điều xằng bậy như lẽ thường)[14], “dĩ dục kiệt kỳ tinh, dĩ hao tán kỳ chân” (đến nỗi tinh khí cạn kiệt, chân khí hao tán). Tống Nho nói: “Bách ưu cảm kỳ tâm, vạn sự lao kỳ h́nh” (trăm nỗi lo phiền khuấy động tâm, muôn chuyện khiến thân thể nhọc nhằn). Những điều vừa nêu trên đây đều do tự ḿnh chuốc lấy. Những vị đế vương sau thời Châu - Tần, những nhà phú quư trong các nước Đông, Tây, há bị thiếu thốn vật chất cung phụng? [Họ chẳng thọ] là do chẳng biết dưỡng tâm, dưỡng thần vậy.

 

* Hỏi: Người sống trên cơi đời này đều chấp trước tài, sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ nghê. Đức Phật nói năm món dục ấy là căn cội sanh vào địa ngục. Dùng phương pháp nào để tránh né th́ mới chẳng đến nỗi đọa nhập địa ngục? (Chung Vân Xương hỏi)

 

      Đáp: Đă nói rơ năm điều ấy là cội nguồn nỗi họa, c̣n phải cầu chi khác nữa? Chỉ dùng ŕu bén chém đứt năm căn cội ấy, sẽ là người đi trên nẻo nhân thiên, chẳng c̣n lo bị đọa lạc. Giới, Định, Huệ của Phật pháp chính là lưỡi ŕu bén để chém những thứ ấy.

 

* Hỏi: Tài, sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ nghê là năm cội rễ địa ngục. Đại cư sĩ phải làm như thế nào th́ mới có thể nhổ dẹp năm cội rễ địa ngục ấy? (Chung Vân Xương hỏi)

 

      Đáp: Phật pháp tu tập ba món Giới, Định, Huệ mà thôi. Giới là gắng sức khống chế, đừng làm các điều ác. Định là tâm địa tĩnh lặng, chánh khí hừng hực hiển hiện, tà niệm và tư dục chẳng dấy lên. Huệ là thấy thấu suốt huyễn vọng, chẳng bị mê hoặc. Không mê tức là dẹp trừ. Nhưng ba món ấy, tuy có trước sau, ắt phải dung hợp thành một, đó gọi là “Định Huệ cân bằng”, th́ mới có sức mạnh dẹp trừ huyễn vọng!

 

      * Hỏi: Tại vùng Kim Môn[15], Phật giáo trong mấy năm gần đây thành lập Kim Môn Niệm Phật Hội, lần lượt trong hai năm Dân Quốc 50 (1961) và 54 (1965), hai lượt ủy lạo quân đội ở tiền tuyến, và đại biểu của đại hội tăng sĩ Trung Hoa đến Kim Môn ủy lạo quân đội. Phật giáo ở Kim Môn do có những sự tổ chức ấy, nên Phật giáo đồ ở tiền phương và hậu phương thường có quang cảnh đón tiếp náo nhiệt, khiến cho chúng tôi cảm thấy Phật giáo hưng thịnh một thời. Lại c̣n có một vị pháp sư vốn là tăng sĩ xuất gia tại Đại Lục, gần đây vừa giải ngũ, khôi phục thân phận xuất gia, nghĩ ra rất nhiều biện pháp náo nhiệt. Chẳng hạn như khi người già mất đi, vị ấy bèn sử dụng tín đồ Phật giáo sắp thành đội h́nh dài, cuối đội h́nh có ba vị pháp sư xuất gia đắp cà sa đỏ rực, xếp theo hàng ngang, theo sau là quan tài. Đội ngũ đưa ma như vậy diễn hành trên đường phố, gọi là “tam sư tiếp dẫn”. Nhưng có người nói: “Làm như vậy đối với người già đă chết, nhất là đối với tín đồ Phật giáo, chẳng có lợi ích ǵ!” Nếu chẳng có lợi ích ǵ, v́ sao vị pháp sư ấy phải chủ trương làm như thế? Xin hăy giải đáp tường tận: Rốt ráo là có lợi ích hay không? Và cách làm như vậy là đúng hay sai? Lại phải nên làm như thế nào th́ mới là tốt đẹp? (Đào Dân Trị hỏi)

 

      Đáp: Phật pháp là Phật pháp, thói quen là thói quen! Hiểu rơ Phật pháp th́ làm bên Đông hay làm bên Tây đều là thiện xảo. Chẳng hiểu rơ Phật pháp, dẫu gióng chuông, gơ khánh, đều là làm xằng! Đúng hay sai, nên hay không nên, là do hiểu rơ hay không hiểu rơ, mê hay chẳng mê. Hiểu rơ là ǵ? Siêng tu Giới, Định, Huệ, dứt diệt tham, sân, si, nghiêm tịnh Giới Luật, đó là hiểu rơ. Trái ngược những điều ấy tức là mê muội. Người khác sáng suốt hay mê muội, nếu công phu của chính ḿnh sâu dầy, thoạt nh́n bèn hiểu rơ ngay. Nếu không, khó thể biết được! Chỉ đành trông thấy những ǵ đă quen thuộc bèn tùy hỷ, những ǵ chẳng quen mắt bèn tránh xa!

 

      * Hỏi: Hàng cư sĩ trẻ tuổi trừ sự nghiệp ra, v́ liễu sanh tử đại sự mà thiên trọng học Phật, chuyện hôn nhân để mặc cho cha mẹ và người làm mai mối xếp đặt. Kết quả là cô gái cưới về bản tánh hướng ngoại, chẳng giữ đạo làm vợ. Do đó, chàng cư sĩ trẻ tuổi cảm nhận sâu xa, nếu thoạt đầu tự ḿnh t́m kiếm đối tượng và nói chuyện yêu đương, sẽ chẳng đến nỗi gặp t́nh cảnh khốn khó sau đám cưới. Xin hỏi: Cư sĩ học Phật mà yêu đương th́ có chướng ngại đạo nghiệp tu hành hay không? (Thái Lân Định hỏi)

 

      Đáp: Chánh thức cầu hôn, nào ngại tự t́m đối tượng, nhưng cần phải cư xử thận trọng, hành xử đúng lễ. Chớ nên sáng Tần chiều Sở, yêu đương bừa băi! Cần phải vạch rơ giới tuyến giữa cầu hôn và tà dâm. Cư sĩ lại nói “do cha mẹ làm chủ, nhưng vợ chẳng tṛn đạo vợ”, nói như vậy là chẳng đúng thực tế, quá mức lệch lạc! Hăy nên biết: Chuyện giữ đạo làm vợ chẳng hoàn toàn do người nào chủ tŕ cuộc hôn nhân ấy, mà là do phong khí xă hội một thời tạo nên. Lỗi ấy có nguyên nhân của nó. Hăy thử nghĩ thuở xưa, phần nhiều [cưới hỏi] do cha mẹ làm chủ, thời nay phần nhiều là chính ḿnh thuận ư. Các vụ án tranh chấp trong hôn nhân và gia đ́nh chia tay, tái hợp, thuở xưa nhiều hay hiện thời nhiều?

 

      * Hỏi: Tôi xem tiểu thuyết văn nghệ Phật giáo chẳng nhiều, nhưng trước kia có mua hai cuốn để xem, [cảm thấy] nội dung rất có thể dẫn dắt kẻ sơ học nhập môn, nhưng nhân vật trong tiểu thuyết cũng hút thuốc, uống rượu, tôi nghĩ người sơ học ắt sẽ rất khó từ bỏ [những thói xấu ấy]. Xin hỏi thầy hăy nên làm như thế nào th́ thích đáng? (Thái Lân Định hỏi)

 

      Đáp: Tiểu thuyết Phật giáo nhằm dẫn dắt hàng sơ cơ, bất quá là một phương tiện, nhưng cũng nên xét xem nội dung như thế nào. Tệ ư cho rằng nếu muốn đạt chánh quả, phải noi theo đường chánh. Bỏ đường chánh chẳng noi theo, sợ chẳng thành tựu  ! Nói nhấn mạnh hơn, đối với người sơ cơ, chuyện này lại càng khẩn yếu, thông thường là điều ǵ được tiếp xúc đầu tiên sẽ trở thành chủ chốt. Ngạn ngữ xưa có câu: “Giáo phụ tân lai, giáo nhi anh hài” (dạy con từ thuở c̣n thơ, dạy vợ từ thuở ban sơ mới về). Nếu bỏ kinh Phật để xem tiểu thuyết, tri kiến lệch lạc, tà vạy, chẳng dễ ǵ uốn nắn được!

 

      * Hỏi: Trung Luận do Long Thọ Bồ Tát soạn, Thanh Mục Bồ Tát chú giải, nhưng do đọc thấy văn mạch liên tục, học tṛ thật sự chẳng thể phân biệt đoạn nào của ngài Long Thọ, chỗ nào của ngài Thanh Mục viết? (Lư Ứng Nam hỏi)

 

      Đáp: Trong lời văn của bộ luận ấy, có đoạn viết theo thể loại Kệ, có đoạn viết theo lối văn xuôi. Những đoạn viết theo lối Kệ là lời Luận. Phần văn xuôi là lời chú giải.

 

      * Hỏi: Thầy từng nói để phá trừ Nhị Chướng, ngoài việc chính ḿnh thực hiện và luôn tự phản tỉnh, xét đoán bản thân ra, chẳng có cách nào khác! Đă là chỉ có thể tự hành, chẳng phải là không thấy hiệu quả hóa độ người khác ư? Cũng chính là ngoài việc tự hành ra, nhờ vào sức người khác để hóa độ ta, trọn chẳng có tác dụng ǵ ư? (Tạ Hữu Côn hỏi)

 

      Đáp: Vạn pháp do nhân duyên sanh, ắt ḥa hợp mà thành; nhưng một chuyện được thành, [xét về] lực th́ có chủ và khách sai khác. Tự là chủ lực, Tha là trợ lực. Lư nhân duyên ḥa hợp cố nhiên là nhị lực; nhưng chính ḿnh ắt phải động th́ tha lực mới có thể giúp đỡ. Nếu tự ḿnh chẳng động, tha lực dẫu có, cũng như không! Ta hóa độ người khác chính là tự hành, mà nhờ vào người khác để hóa độ ḿnh th́ cũng là tự hành.

 

      * Hỏi: Học Phật nhằm mục đích “ĺa khổ, được vui”, sự vui ấy có vĩnh viễn tồn tại hay không? Nếu vĩnh viễn tồn tại, làm thế nào để đạt được? (Tạ Hữu Côn hỏi)

 

      Đáp: Lạc được nói trong Phật học có chân thật và phương tiện sai khác, do tùy thuận căn khí của chúng sanh mà thiện xảo giả định. Vĩnh viễn lạc là xét theo Niết Bàn bất sanh bất diệt để nói, bèn có các thứ phương pháp tu tŕ. Tin tưởng, nương theo các phương pháp đó để tu tŕ, công phu viên măn, sẽ tự nhiên đạt được. Thế tục thường nói: “Ông tu ông đắc, bà tu bà đắc, chẳng tu chẳng đắc” là nói đến ư này!

 

      * Hỏi: Thường nghe Lư cư sĩ nói: “Sở dĩ sanh ra khổ, là do nguyện vọng bên trong và hoàn cảnh bên ngoài chẳng phù hợp, nên cảm thấy khổ”; nay thầy nói: “Khổ chỉ là do bất giác mà thôi”, có mâu thuẫn hay không? (Tạ Hữu Côn hỏi)

 

      Đáp: Lời Lư cư sĩ và lời tại hạ trọn chẳng mâu thuẫn, một đằng nói về bộ phận, một đằng nói về nguyên tắc; gộp lại để xét th́ là như nhau. Rốt ráo chẳng có khổ th́ chỉ có Niết Bàn. Ắt phải khởi tu, ắt phải giác rồi mới chịu tu tŕ; đó gọi là Bất Giác, Thỉ Giác, Tùy Phần Giác, Cứu Cánh Giác. Cứu Cánh Giác là Niết Bàn. Bất Giác chẳng chứng Niết Bàn, nên ĺa khổ sẽ bắt đầu tự giác.

 

      * Hỏi: Xin hỏi tất cả quả đều là do nhân và duyên mà có, ngay cả tư tưởng của chúng ta cũng đều có nhân duyên, vậy th́ chúng ta c̣n ư chí tự do ǵ nữa? (Ẩn Danh Thị hỏi)

 

      Đáp: Ư chí tùy thuộc mỗi cá nhân mà tự do dấy lên, điều đó được gọi là Nhân. Cái ư chí được dấy lên ấy ắt có điều mong mỏi. Điều được mong mỏi thành tựu, bèn gọi là quả. Mong mỏi chẳng thành, tức là chỉ có ư chí suông mà thôi. Tư tưởng dấy lên, lại phải do điều ǵ mà khởi? Ắt có sự vật dẫn dắt, sự vật chính là nhân duyên vậy!

 

      * Hỏi: Tông chỉ học Phật là “ĺa khổ, được vui”, nhưng khổ và lạc đều là Phiền Năo Chướng, sao lại bỏ chướng này để cầu chướng kia? (Ẩn Danh Thị hỏi)

 

      Đáp: Lạc có thế gian lạc và xuất thế gian lạc. Thế gian lạc là ngũ dục lục trần. Xuất thế gian lạc là thanh tịnh tịch diệt. Thế gian lạc gọi là Hoại Khổ, tất nhiên là Phiền Năo Chướng. Xuất thế gian lạc gọi là Niết Bàn, do chẳng có khổ nên gọi là lạc, chẳng phải là thứ lạc chấp trước các tướng, nên chính là đức giải thoát, đại tự tại.

 

      * Hỏi: Sanh trong cơi trời th́ có hoài thai giống như trong nhân gian hay không? Sanh theo cách nào? (Ngô Vượng An hỏi)

 

      Đáp: Chúng sanh xuất sanh được chia thành bốn loại là noăn, thai, thấp, hóa. Cơi trời thuộc loại hóa sanh, nhưng vẫn ở trong sanh tử luân hồi, chẳng tốt đẹp như thế giới Cực Lạc bất sanh bất diệt.

 

      * Hỏi: Thánh tượng Phật, Bồ Tát v́ sao đều là chân để trần (không mang giày, dép)? (Ngô Vượng An hỏi)

     

Đáp: Đấng giáo chủ của thế giới Sa Bà là Thích Ca Mâu Ni Phật thị hiện tại Ấn Độ. Cổ tục Ấn Độ phần nhiều đi chân đất, mà thật ra, vào thời cổ ở Trung Hoa, hễ bước vào cửa liền cởi giầy nhằm tỏ ḷng kính trọng. Hơn nữa, đức Phật từ bi, đi chân đất nhằm khỏi đạp chết sinh vật. Người trong cơi này thấy dáng vẻ của Phật trong cơi này [là như vậy], nên tạo tượng Phật, Bồ Tát bèn lấy đó làm chuẩn.

 

      * Hỏi: Quán Âm Tế Độ Bổn Nguyện Chân Kinh là kinh sách đáng tin cậy hay không? (Lâm Kim hỏi)

 

      Đáp: Kẻ hèn này chưa từng thấy nghe kinh ấy. Nếu chẳng phải là do hiểu biết hẹp ḥi, tôi e rằng kinh ấy có chỗ đáng nghi vấn! V́ chỉ nhắc tới tên kinh, chưa thấy nội dung, nên chẳng dám phán đoán chắc chắn. Nhưng tựa đề kinh có thêm một chữ Chân, tợ hồ là kinh của ngoại giáo hoặc xuất phát từ đàn cầu cơ! Kinh Phật ngoại trừ Đà La Ni dùng chữ Chân ra (tức Chân Ngôn), phàm là tựa đề kinh, phần nhiều chẳng có chữ ấy, nên tôi nói là đáng nghi!

 

      * Hỏi: Tác phẩm Quán Âm Truyện do Mạn Đà La Thất Chủ Nhân trước tác có đáng tin cậy hay không? (Lâm Kim hỏi)

 

      Đáp: Truyện là do người đời sau trước thuật, trọn chẳng phải là kinh văn, chẳng ngại tán thán thêm vài phần, nhưng nội dung cần phải dựa theo kinh Phật làm chuẩn. Tác phẩm ấy vốn là thể loại riêng, kẻ hèn này cũng chưa đọc, nên chẳng dám nói là đúng hay sai. Nếu tác giả là Phật giáo đồ th́ có thể mượn làm phẩm vật để tuyên truyền. Nếu xuất phát từ ngoại giáo và đàn cầu cơ viết ra bừa băi th́ từ nơi nào đưa đến, hăy trả về nơi ấy mới nên!

 

      * Hỏi: Thân Trung Ấm ở trong thế giới nào? (Lâm Kim hỏi)

 

      Đáp: Thế giới nào có chúng sanh, thế giới ấy bèn có thân Trung Ấm.

 

      * Hỏi: Có phải là Phật có một thế giới riêng của Phật hay không? (Lâm Kim hỏi)

 

      Đáp: Có thể nói như vậy, nhưng thế giới riêng ấy có thể gần, mà có thể xa, có thể ở ngay trước ấy. Bởi lẽ, thế giới vốn chẳng có, mà do tâm huyễn hóa. Uế độ của chúng sanh là do tâm chúng sanh hiện, nên chúng sanh trông thấy. Phật ngự trong tịnh độ, do tâm Phật hiện, Phật nhăn trông thấy. Như người ở trong nhà nằm mộng, lúc mộng và tỉnh vốn thấy hai thứ cảnh giới, nhưng hai thứ cảnh giới ấy đều ở trong cùng một nhà!

 

      * Hỏi: Quư xă có bản chân truyền Quán Âm Truyện hay không? (Lâm Kim hỏi)

 

      Đáp: Cớ ǵ cứ phải t́m kiếm truyện do người đời sau [trước tác]? Trong kinh Pháp Hoa có phẩm Phổ Môn chính là chân truyện của Quán Thế Âm Bồ Tát. Khăng khăng vứt bỏ cái chân thật, để t́m cầu lẽ chân nơi khác, chẳng đáng buồn ư?

 

      * Hỏi: Kinh Kim Cang chép: “Hư không ở phương Đông có thể suy lường hay không? Không ạ!... Hư không nơi bốn phương, trên, dưới có thể suy lường hay không? Cũng không” Lại nói: “Như số cát trong sông Hằng, các sông Hằng nhiều như lượng cát ấy… nhưng các sông Hằng c̣n nhiều hơn số ấy vô số lần”. Đủ biết không gian to lớn chẳng thể nghĩ bàn, tồn tại trong vũ trụ nhiều như cát sông Hằng, chẳng biết số ấy là bao nhiêu, cũng là chẳng thể nghĩ bàn. Những lời Phật đă nói phù hợp những ǵ các nhà khoa học hiện thời đă quan sát. Không gian đúng là to lớn chẳng thể nghĩ bàn, vạn vật nhiều chẳng thể nghĩ bàn, do đâu mà có? Nhiệt lượng của mặt trời to vô lượng (dự đoán của các nhà khoa học là chuyện khác); c̣n như địa cầu to dường ấy, bềnh bồng trong hư không, ngày đêm xoay chuyển, v́ lẽ nào khiến thành như thế? Chẳng biết trong kinh Phật có giải thích hay không? Kính xin khai thị, vô cùng cảm tạ! (Mă Chấp Trung hỏi)

 

      Đáp: Bồ Tát phá sạch Trần Sa Hoặc mới chứng Phật quả; đối với bất cứ vấn đề nào, trong kinh đều có nguyên tắc: “Nhất niệm bất giác, bèn có vô minh”. V́ vô minh là hư không tối tăm; do minh, nên lại sanh cái thấy tướng tối tăm. Vọng kiến đă sanh, vọng cảnh tự hiện. Theo kinh luận, vô minh làm nhân, sanh ra tam tế[16], “sanh” chính là “đến”. Hơn nữa, Tâm Kinh Bát Nhă như nhiều người biết, [đă dạy]: “Sắc tức là Không, Không tức là Sắc”. Sắc là Tướng của vạn vật; Không là Tánh của vạn vật. Tướng nương vào Tánh mà có, do cộng nghiệp khiến thành như vậy. [Những điều ông hỏi] như “v́ sao mà có, cớ sao như vậy” nói đại lược là như thế đó.

 

      * Hỏi: Đức Phật nói: “Ái dục mạc thậm ư sắc, lại hữu nhất hỹ, nhược sử nhị đồng, phổ thiên chi nhân, vô năng vi đạo giả hỹ” (ái dục không ǵ lớn bằng sắc, [trong ngũ dục] chỉ có nó là lợi hại nhất. Nếu có món dục nào khác [có sức mạnh] giống như nó, khắp trong thiên hạ, không ai có thể tu đạo được)[17], nên hiểu như thế nào? Xin hăy chỉ dạy cặn kẽ! (Vương B́nh Lang hỏi)

 

      Đáp: Dục, nếu nh́n theo phương diện rơ rệt, th́ có năm điều: Tài, sắc danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ. Ma lực to lớn th́ chỉ có Sắc là mạnh mẽ nhất. Tài và sắc đồng thời; có thể bỏ tài, lấy sắc. Danh vọng, ăn uống, ngủ nghê và sắc đồng thời, ắt cũng lấy sắc, bỏ những thứ khác. Sắc là đại ma duy nhất, những thứ khác đều chẳng thể chống lại. Xem xét sử sách xưa nay, trong ngoài nước, thấy chép đầy dẫy chuyện tham sắc. Có kẻ do trọng sắc mà vứt bỏ ngôi vua, có kẻ v́ sắc mà mất nước chẳng hối hận, có kẻ v́ mê chuộng sắc mà mắc nạn, quên bẵng vua, cha. Có kẻ trong sát-na lâm chung vẫn luyến sắc chẳng bỏ! Các thứ dục khác chẳng mạnh mẽ như vậy, nên nói: “Lại hữu nhất hỹ” (chỉ có nó là thứ lợi hại nhất).

 

      * Hỏi: Trong Phật Giáo Sơ Học Khóa Bổn Chú Giải do cư sĩ Dương Nhân Sơn trước thuật, có nói “địa ngục ở lưỡng cực”, [điều ấy có nghĩa là địa ngục] ở ngay trên địa cầu Nam Diêm Phù Đề đúng không? (Đới Thiêm Đinh hỏi)

 

      Đáp: Hữu t́nh thế gian và khí thế gian[18], hết thảy đều là danh tướng, duy tâm sở hiện, tự tạo, tự trói buộc, đó là nói chân thật. Đă hiện ra đại châu, núi, biển, bèn có địa ngục, thiên đường, vốn chẳng có chỗ nhất định, có thể hiện bất cứ chỗ nào. Nghĩa sâu xa, lư vi tế, phàm phu chẳng dễ biết được, ắt phải nói phương tiện là một chỗ ngơ hầu thông tục dễ hiểu. Đă không có nơi chốn, nên nói bất cứ chỗ nào, bèn là chỗ đó, Lư và Sự mới đạt đến vô ngại. Như vậy th́ hăy nên nương theo Thánh Lượng[19], tin tưởng lời ấy. Nếu cứ biện định này nọ, đó là kẻ si nói mớ! Cổ đức giảng giải về sự an lập thế giới, đều tuân theo nguyên tắc này. Dương lăo cư sĩ nói “lưỡng cực” chính là nói về Nam Diêm Phù Đề, tức quả địa cầu này!

 

      * Hỏi: Tứ đại bộ châu ở trong biển cả nước mặn vây quanh bốn phía núi Tu Di, phía ngoài có núi Thiết Vy bọc quanh, nhưng trong tứ đại bộ châu đều có địa ngục ư? Kinh [Địa Tạng Bồ Tát] Bổn Nguyện dạy: “Địa ngục ở trong núi Thiết Vy”, lại “ở trong ba cái biển là đại địa ngục”. “Ba cái biển” có phải là nói về thân, ngữ, ư? (Đới Thiêm Đinh hỏi)

 

      Đáp: Sa Bà đại thiên thế giới có vô lượng tứ đại châu, [trong mỗi châu] đều có lục đạo, há phải chỉ là mấy phần trong một tiểu đơn vị [thế giới]! Kinh Địa Tạng nói ba cái biển th́ chính là ba cái biển, ông bỗng nhiên lại nói [ba cái biển] ấy ngụ ư thân, miệng, ư, nhằm tỷ dụ do ba nghiệp đă tạo mà khiến thành như thế. Trong lời đáp trước, tôi đă từng nói “Lư và Sự dung hợp th́ chẳng trở ngại ǵ”. Nếu nói dung hội th́ [hiểu như vậy] cũng chẳng phải là không được, nhưng chớ nên nói thiên chấp.

 

      * Hỏi: Kinh Bổn Nguyện nói: Nơi cuộc đất thanh khiết ở phương Nam, làm cái khám thất và quay đầu hướng về phương Nam, mà chẳng nói hướng về Đông, Tây, Bắc, ư nghĩa như thế nào? (Đới Thiêm Đinh hỏi)

 

      Đáp: Hư không mênh mông, thật sự chẳng có bốn phương, trên, dưới; v́ để dễ nói, mà giả lập phương hướng. Kinh nêu ra một phương, bất quá nhằm làm cho người ta tâm định một chỗ, sẽ có cảm ứng với Phật, Bồ Tát. Xét theo Lư, Pháp Thân trọn khắp hư không; luận theo Sự, hăy nên y giáo phụng hành. Đối với lời hỏi của ông, đúng là chẳng có ǵ đáng nghi [mà cứ hỏi], cổ nhân từng bảo “đó là hư luận”. Nếu lại mở rộng ra, v́ sao nói thế giới Cực Lạc ở phương Tây? V́ sao nói thế giới [Tịnh] Lưu Ly [của Phật Dược Sư] ở phương Đông? Há chẳng phải là đều có vấn đề ư?

 

      * Hỏi: Quán Thế Âm Bồ Tát là cổ Phật từ nhiều kiếp trước, hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai, trọn chẳng phải là phàm nhân trong thế giới Sa Bà. V́ sao c̣n có ngày đản sanh, ngày xuất gia, và ngày thành đạo? (Tôn Chánh Tu hỏi)

 

      Đáp: Lịch pháp xưa nay, trong ngoài nước vốn bất đồng. Sinh nhật của cổ nhân nước ta c̣n chẳng chuẩn xác, huống là những vị xuất hiện trước khi có sử sách, cũng như những vị thuộc thế giới khác! Những ngày ấy bất quá là do người đời sau giả định một ngày nhằm kỷ niệm Bồ Tát. Lại c̣n nói đến ngày xuất gia và thành đạo th́ cũng là do muốn được thân cận thêm vài lượt mà thôi!

 

* Hỏi: Trong một năm có ba lượt kỷ niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, các ngày kỷ niệm sinh nhật, xuất gia, và thành đạo ấy nếu căn cứ trên gia thế và nhân vật được bịa đặt trong cuốn tiểu thuyết Diệu Trang Vương Tam Công Chúa để sùng bái th́ là sai lầm, hăy nên làm như thế nào? (Tôn Chánh Tu hỏi)

 

      Đáp: Ngày kỷ niệm Bồ Tát vốn đă được nói rơ trong điều trước. Ba ngày kỷ niệm ấy tuy là giả định, nhưng thật sự chẳng căn cứ trên tiểu thuyết. Nhưng vào thời cổ tại Trung Quốc cũng chẳng có chuyện khánh thọ; từ sau đời Đường trở đi mới thịnh hành.

     

      * Hỏi: Ba điều pháp ích (lợi ích nơi pháp) có ngang hàng hay không? (Chung Vân Xương hỏi)

     

Đáp: Ngang hàng hay không là do con người vận dụng. Pháp ích đều đạt được, nhưng lợi ích có các loại khác nhau. Như tụng niệm có thể giữ Giới, xem có thể cầu Định, nghe có thể khai Huệ, ngay cả cúng dường cũng được phước. Nhưng chẳng phải là nghe sẽ không thể đạt được Giới, Định, Huệ, Phước; xem và cúng dường cũng giống như thế. Chỉ là tùy thuộc chú trọng như thế nào mà sẽ được cảm ứng như thế ấy.

 

      * Hỏi: “Nhân loại làm nô lệ cho vật chất, thân người là công xưởng chế tạo nước tiểu!” Lời ấy là tích cực hay tiêu cực? Hành nhân tu Tịnh thường nghĩ nhớ lời ấy có ích hay không? (Chung Vân Xương hỏi)

 

      Đáp: Kinh Phật có dạy “quán thọ là khổ”, “quán thân bất tịnh”, đó là phương pháp cầu khai chánh huệ, dường như thù thắng hơn nói “nô lệ cho vật chất, công xưởng chế tạo nước tiểu”. Giữ ư niệm ấy th́ đối với chuyện “ngăn ngừa phẫn nộ, ngăn lấp dục vọng”, “dùi mài tiết tháo” là tích cực, nhưng đối với “tranh quyền đoạt lợi”, “kẻ mạnh ăn thịt kẻ yếu” sẽ là tiêu cực. Hành nhân tu tịnh mỗi người có phương pháp thường niệm riêng, hoặc nghĩ đến câu Thoại Đầu như trong nhà Thiền, hoặc Phật hiệu như trong Tịnh Độ, cốt sao liên tiếp chẳng dứt, ḥa thành một khối. Lại c̣n ắt phải chẳng khởi các niệm khác! Hễ phan duyên [những ư niệm] như “nô lệ vật chất, nước tiểu” sẽ khiến cho chánh niệm xáo động, có thể bị tán loạn. Nếu gặp lúc bị vật dục mê hoặc, dụ dỗ, bèn quán “Khổ, Không, Bất Tịnh” th́ cũng chẳng ngại ǵ!

 

      * Hỏi: Khi pháp sư đại đức giảng kinh, hậu học thường ngủ gật trong giảng đường, tự biết căn cạn, phước mỏng, ư thức tối tăm, chẳng thể đích thân đạt được Phật pháp tôn quư, tự biết phạm lỗi, nhưng chẳng biết điều phục nỗi ham muốn tham ngủ như thế nào? (Chung Vân Xương hỏi)

 

      Đáp: Hễ buồn ngủ nhẹ th́ xoa tai, ưỡn ngực, hoặc dùng sức nắm chặt tay, mở to mắt. Nếu vẫn chẳng thể đuổi cơn buồn ngủ, hăy nên để sẵn hai đồng tiền bằng kền, gặp lúc buồn ngủ, dùng hai đồng tiền ấy kẹp phía trong đùi, dùng sức kẹp mạnh một cái, do đau quá, cơn buồn ngủ sẽ biến mất. Chẳng thể hạ quyết tâm này th́ ra ngoài một chút, rồi trở lại nghe, sẽ có thể tỉnh táo.

 

      * Hỏi: Mỗi lần tham gia pháp hội, pháp sư xướng niệm các hồng danh như Tiêu Tai Diên Thọ, Đại Trí, Đại Hạnh, Đại Bi, Đại Nguyện v.v…, có thể thấy mỗi vị Phật, Bồ Tát đều có hoằng nguyện đặc thù xót đời thương người. C̣n như đối với đấng Đương Lai Hạ Sanh, có phải là tán dương Ngài phát nguyện sẽ trở lại giáng sanh trong cơi phàm nhằm độ chúng sanh hay không? Nếu đúng là như vậy, chúng ta là phàm phu mắt thịt làm sao có thể thấy thân biến hóa ấy cho được? (Dương Khai Khánh hỏi)

 

      Đáp: Pháp hội loại nào? Theo nghi thức nào? Trọn chẳng phải là bất cứ pháp hội nào cũng sử dụng cùng một nghi thức chẳng thay đổi. Tôi chỉ đoán là pháp hội như cư sĩ đă hỏi chính là nghi thức Phật Tiền Đại Cúng, Cúng là cúng dường trai soạn. [Nghi thức] có ư nghĩa Phổ (trọn khắp), ắt là mười phương ba đời đều chẳng sót th́ mới là Phổ. Đương Lai Hạ Sanh là nói tới Di Lặc Bồ Tát. Trong tương lai, sau khi pháp của Thích Ca Thế Tôn đă diệt, Ngài liền đến Sa Bà, thành Phật, độ chúng sanh. Cố nhiên phải nên hiến cúng nhằm tỏ ḷng tôn kính. Lại nữa, bày cỗ chay cúng dường, lại c̣n tán thán, nhằm biểu thị sự thành kính nơi tự tâm, chẳng phải là mắt thấy rồi mới cúng dường, tán thán! Ví như mỗi năm, vào ngày lễ giáo sư, bèn tán thán Khổng Tử. Tiết Thanh Minh tảo mộ, cúng bái tổ tiên, thử hỏi có ai chính mắt thấy Khổng Tử và tổ tiên hay không? Tâm thành, thần bèn đến hưởng!

 

      * Hỏi: Giải thích kinh văn trong kinh Phật, thường thấy có nhiều cách giải thích khác lạ! Chẳng hạn như để giải thích một danh từ nào đó, người này cho là như thế này, người kia cho là như thế nọ, nhưng đều là dựa trên ư nghĩa của tự dạng chữ Hán để giải thích. Học tṛ cảm thấy rất kỳ quái, cớ sao chẳng trực tiếp xét theo nguyên bản tiếng Phạn? Nếu chỉ dụng công nơi tự dạng chữ Hán, ắt sẽ trở thành huấn hỗ[20], tuy lư luận cao sâu, hay khéo, nhưng nếu Phạn văn chẳng có các ư nghĩa ấy, há chẳng phải là “ĺa kinh” mà chẳng hay chẳng biết đấy ư? (Giản Tông Tu hỏi)

 

      Đáp: Đây chính là chỗ khó khăn trong phiên dịch, ắt trước hết phải tinh thông văn tự của một nước nào đó, sau đấy mới có thể vận dụng văn tự của nước ấy. Phiên dịch kinh khó khăn, đọc kinh, hiểu kinh, cũng ắt phải tinh thông văn lư trước đă th́ mới chẳng hiểu sai. Khác lạ là do chẳng hiểu nghĩa chân thật, nhưng cũng có trường hợp cả hai lối giải thích khác biệt đều đúng, v́ một đằng giải về Thể, một đằng giải về Tướng, tuy khác nhau, nhưng chẳng có mâu thuẫn ǵ!

 

      * Hỏi: Trong vườn nhà vợ tôi có một cây hoa, tục gọi là Mục Niên Hoa, hoa màu trắng, hương thơm rất dễ chịu. Tôi thường ngắt hoa ấy cúng Phật. Có vị ni sư ở chùa nọ nói hoa ấy là hoa kết duyên, chẳng thể cúng Phật. Chẳng biết [lời vị ni sư ấy nói] có đích xác hay không? (Khưu Hợp Thuận hỏi).

     

      Đáp: Trong điều trước, tôi đă có nói, kính Phật chủ yếu là thành tâm. Phàm là vật cúng dường, chẳng cần phải viện dẫn kinh điển [để luận đoán]. Tuy kẻ hèn này chẳng biết loại hoa có tên là Mục Niên Hoa như thế nào, nhưng ông đă nói là hoa trắng sạch, mùi thơm lại dễ chịu, hái cúng Phật trọn chẳng phải là không được! Nếu v́ kết duyên mà chê bỏ, tợ hồ phạm lỗi câu nệ. Cần phải biết duyên có thiện, ác, mà cũng có Phật và thế tục. Kết duyên với thế tục th́ có lẽ là ô trược, nhưng kết duyên với Phật, sẽ hóa thành thanh tịnh!

 

      * Hỏi: Đệ tử tự xét thọ mạng chẳng dài, nhưng tâm bi mẫn chúng sanh cũng hết sức thiết tha, trong khoảng thời gian ngắn ngủi, tạm bợ này, nên thiên trọng tự độ hay độ tha? (Vương Chí Hiền hỏi)

 

      Đáp: Điều này chẳng nhất định! Tuổi thọ đă được định sẵn, [nhưng do] tu đạt được phước báo, [mà thọ mạng có] các thứ bất đồng. Sách sử đă ghi chép, ai nấy đều biết Viên Liễu Phàm là một thí dụ; nhưng người học Phật chớ nên chấp trước tướng thọ giả. C̣n như hai vấn đề ông đă nêu, mỗi người có nguyện riêng, nhưng nếu tính toán giùm cư sĩ th́ tự độ là chuyện cấp bách, độ kẻ khác là tùy duyên.

 

      * Hỏi: Căn khí của đệ tử như thế nào? Nếu bảo là tŕ độn hơn kẻ b́nh phàm th́ cớ sao vừa nghe Phật pháp liền có thể nương về, mong được giải ngộ? Nếu bảo là nhạy bén hơn kẻ b́nh phàm, cớ sao tập khí phiền năo nặng nề dường ấy? (Vương Chí Hiền hỏi)

 

      Đáp: Học Phật cần phải hạnh giải tương ứng, có nghe th́ ắt phải tu. Căn khí của cư sĩ không ǵ chẳng phải là túc duyên. Đại khái là trong quá khứ, xem trọng Văn, coi nhẹ Tu, nên nay nghe có thể ngộ, nhưng cảm thấy khó thể khuất phục phiền hoặc.

 

      * Hỏi: Đệ tử khuyết thiếu nhân duyên và pháp duyên, hăy nên vun bồi như thế nào? Cơ duyên hoằng pháp của đệ tử khi nào mới chín muồi? (Vương Chí Hiền hỏi)

 

      Đáp: Hoằng pháp th́ trước hết phải cầu học thông đạt, tiếp đó là rộng hành ba thứ bố thí (tài thí, pháp thí, vô úy thí). Cầu học mới biết pháp, rộng thí để kết duyên. Cầu nơi chính ḿnh, hành nơi chính ḿnh, vun bồi lâu ngày, chẳng thể nóng vội được!

 

      * Hỏi: Đệ tử trải đời chưa sâu, làm như thế nào để tăng trưởng sự từng trải? Hay là nên chuyên tâm ngầm tu, chẳng hỏi đến chuyện đời? (Vương Chí Hiền hỏi)

 

      Đáp: Xuất gia và tại gia, hoàn cảnh bất đồng. Người xuất gia có thể chẳng hỏi đến chuyện đời; người tại gia trong có quyến thuộc, ngoài là xă giao, lo toan sanh kế, làm sao có thể chẳng hỏi đến chuyện đời cho được? C̣n như ông hỏi làm thế nào để tăng trưởng sự trải đời, th́ hăy qua xử sự với quyến thuộc, với xă hội, gánh chịu hết thảy những cảnh thuận nghịch, tư cách từng trải sẽ tự sâu dầy.

 

      * Hỏi: Đệ tử có phải là nhân tài hoằng pháp hay không? Nếu kham hoằng pháp, học trước tác hoặc giảng kinh như thế nào? Hay là chớ nên toan tính chuyện ấy, hăy chuyên tâm niệm danh hiệu Phật? (Vương Chí Hiền hỏi)

 

      Đáp: Những điều ông đă hỏi đều không nhất định! Vàng xuất phát từ quặng, ngọc quư xuất phát từ ngọc thô. Quặng vàng có thể nung luyện thành vàng ṛng; ngọc thô có thể mài giũa thành mỹ ngọc. Không nung, không mài, quặng và ngọc thô vẫn y như cũ. Cổ nhân bảo “trọn chẳng tự nhiên có Thích Ca” là do ư nghĩa như vậy.

 

      * Hỏi: Đệ tử diện mạo xấu xí, ăn nói vụng về, so ra thích hợp ngầm tu, cảm thấy chẳng thích hợp xuất hiện nơi đạo tràng, có đúng hay không? (Vương Chí Hiền hỏi)

 

      Đáp: Phật pháp chú trọng đạo, chẳng chú trọng tướng mạo! A Nậu Lâu Đà mù mắt, Thiền Tông Lục Tổ diện mạo xấu xí, nhưng đều là thánh nhân. Xét theo pháp thế gian th́ Yến Anh[21] và Bùi Độ[22], loắt choắt, mặt mũi thô lậu, nhưng đều là bậc lương tướng (bậc tể tướng giỏi giang). Nếu đạo thật sự đáng kể, diện mạo há có trở ngại ǵ? Huống chi cư sĩ mặt mày đoan chánh, lục căn chẳng khuyết, bất quá cảm thấy hơi gầy g̣ mà thôi, có ǵ đáng tự ty! C̣n như thiếu tài ăn nói là do huệ chưa khai, một khi bên trong đă sung măn, sẽ có thể tự phát xuất biện tài.

 

      * Hỏi: Đệ tử bị thần kinh suy nhược, có ảnh hưởng rất lớn đến học nghiệp và đạo nghiệp, cũng như chuyện hoằng pháp và lợi sanh, chẳng biết nên khắc phục chướng ngại này như thế nào? Xin hăy chỉ dạy. (Vương Chí Hiền hỏi)

 

      Đáp: Chuyện này liên quan đến tu dưỡng, nhưng không biết vui đạo. Nếu đạo thật sự sung măn, tinh thần sẽ tự phấn chấn. Mong hăy đem Thân Kiến và Ngă Tướng đồng thời gạt bỏ, chuyên tâm nơi đạo, chướng ngại sẽ tự nhiên dứt trừ.

 

      * Hỏi: Đệ tử rất mong thành lập một gia đ́nh Phật hóa, nhưng sống trong vùng quê hẻo lánh, khó t́m đối tượng chánh tín, có thể cậy người giới thiệu hay không? (Vương Chí Hiền hỏi)

 

      Đáp: Người học Phật theo đúng lẽ nên Phật hóa gia đ́nh, Lữ Văn Mục Công[23] đời Tống chính là tấm gương đời trước. T́m cầu người phối ngẫu, càng nên t́m người đồng đạo th́ mới có thể [ḥa hợp] như gảy đàn sắt, đàn cầm, chồng xướng vợ ḥa theo. Vợ con hảo hợp, cha mẹ vui ḷng, ḷng hiếu hưng khởi từ trong nhà, có tác dụng giáo hóa lan đến cả nước. Đối với đại sự trong thế tục, hăy nên cầu người làm mối tốt lành.

 

      * Hỏi: Tôn giáo chẳng thể rời khỏi nghi thức, nhưng tôi thấy Phật pháp hiện thời suy vi, phần lớn đều từ nghi thức trong Phật giáo diễn biến thành thói tệ “chỉ có h́nh thức”, khiến cho [Phật giáo] và thần đạo hỗn tạp, chẳng khác biệt. Như các pháp hội mù quáng diễn tṛ náo nhiệt, rước xách ŕnh rang trên đường phố để cầu phước v.v… trở thành căn bệnh tệ hại ai cũng biết. Tuy nói là cũng có thể tạo thành công đức kết duyên, nhưng phá hoại Phật pháp phần lớn là do chuyện này. Đấy là do căn khí của chúng sanh thời Mạt Pháp như thế, nay muốn hoằng dương Phật pháp, lại sợ làm hại Phật pháp, nghi thức đă không thể bỏ, nhưng lại sợ đó là thói tệ khiến cho chánh pháp bị suy hoại. Đối với điều này, kính xin tôn sư khai thị tường tận. (Hoàng Hoằng Giới hỏi)

 

      Đáp: Trước hết, ắt phải thông thạo Phật pháp th́ mới có cái để hoằng dương. Cái được hoằng dương là pháp, không có pháp th́ hoằng bằng cách nào? Những điều tṛ đă nêu chỉ là nghi thức và h́nh thức, đó là một phần nhỏ trong phạm vi hoằng pháp. Như quảng cáo nơi tiệm buôn, như trống chiêng đánh nhằm mở đầu tuồng hát. Sau quảng cáo phải có hàng hóa, sau trống chiêng cần phải có ca múa. Nếu chẳng có hàng hóa mà phát quảng cáo, không có ca múa mà gióng trống khua chiêng, tức là khinh người, lại c̣n phá hoại chính ḿnh. V́ vậy, hiện thời, hai điều này đều là tất yếu cần thiết, chỉ có con người mới là cao hay thấp khác nhau, như tay và chân, có cái để làm việc, có cái để đi lại, phải suy xét tài sức ḥng chọn một con đường để theo mà thôi. Nếu thật sự có pháp th́ chẳng tuyên truyền mà vẫn tự hưng thịnh.

 

      * Hỏi: Tôi cũng thường thấy thanh niên học Phật hiện thời thường lấy Phật pháp làm chiêu bài để lừa ḿnh, dối người. Đối với những kẻ ấy, nếu dùng phương pháp Mặc Tẫn, tôi nghĩ những kẻ ấy do tuổi trẻ, hăy c̣n có ngày quay đầu, nên chẳng đành ḷng tẫn xuất; nhưng lại không thể nỡ ḷng thấy những chuyện làm càn làm quấy trước mắt, trộm đời, dối danh, lỡ làng huệ mạng của người chưa học Phật. Như thế th́ nên làm như thế nào? (Hoàng Hoằng Giới hỏi)

     

Đáp: Dùng tài dạy kẻ bất tài, dùng năng lực ḥng dạy kẻ thiếu năng lực, đó là nghĩa vụ của bậc hiền triết, là bi tâm của Bồ Tát. Tận hết sức ta, nghe hay không là tùy họ. Tận hết sức ta là Bồ Đề, họ nghe hay không là tùy duyên. Nếu chẳng phải là kẻ đầu sỏ chuyên làm ác chẳng biết hối cải th́ chẳng cần phải Mặc Tẫn. Nếu là kẻ đầu sỏ chuyên làm ác, ắt phải Mặc Tẫn. Tẫn xuất hay không đều là từ bi. Nếu một mực ra rả khuyên răn, chắc sẽ khiến cho kẻ ấy càng thêm phiền năo; tẫn xuất may ra sẽ khiến cho kẻ ấy có lúc tự phản tỉnh. C̣n như huệ mạng của người thứ ba th́ tùy thuộc nhân duyên, tuy bị những kẻ ấy dụ dỗ, mê hoặc, ta bèn uốn nắn. Sửa cầu hay chặt cầu, hành theo lẽ nào cũng đều được!

 

      * Hỏi: Các hành tinh trong Thái Dương Hệ như Kim Tinh, Mộc Tinh, Thổ Tinh, Hỏa Tinh, Thủy Tinh, Thiên Vương Tinh, Diêm Vương Tinh… và các vệ tinh như mặt trăng v.v… Trong đó, chỉ có hai tinh cầu có nhiệt độ gần giống như địa cầu, những hành tinh khác đều là trên ngàn vạn độ hoặc trăm ngàn độ dưới điểm đóng băng. Theo các nhà thiên văn học, những tinh cầu khác chẳng thể nào có sinh vật tồn tại. Tuy nhiệt độ mặt trăng gần giống như địa cầu, có lẽ có sinh vật, nhưng chưa chắc đă có nhân loại tồn tại. Mười phương chư Phật sẽ độ con người hoặc độ loài sinh vật nào trong một cơi Phật như vậy? (Lâm Thanh Ḥa hỏi)

 

      Đáp: Chúng sanh có lục đạo cửu giới sai khác, Phật đều b́nh đẳng độ, trọn chẳng phải là chuyên độ nhân loại, xem nhẹ những loài khác. Nếu trên mặt trăng có sinh vật, Phật liền độ thoát. Kinh Kim Cang nói: “Tất cả hết thảy các loài chúng sanh, hoặc là noăn sanh, hoặc là thai sanh, hoặc là thấp sanh, hoặc là hóa sanh, hoặc có sắc chất, hoặc chẳng có sắc chất, hoặc có tưởng, hoặc vô tưởng, hoặc là phi hữu tưởng, phi vô tưởng, ta đều khiến cho họ nhập Vô Dư Niết Bàn mà diệt độ”. Kinh văn rành rành, có thể tham khảo vậy!

 

      * Hỏi: Nếu có thể trừ diệt vọng t́nh th́ có thể chẳng nằm mộng ư? (Ngô Thương Sanh hỏi)

 

      Đáp: Cổ nhân nói: “Ngày có suy tưởng, đêm bèn nằm mộng”. Lại nói: “Tâm người trí như hạt châu dưới vực”. Xét theo đó, nếu chẳng có vọng tưởng, sẽ có thể chẳng nằm mộng.

 

      * Hỏi: Đă biết một ngàn vị Phật xuất thế trong Hiền Kiếp (đă thành con số nhất định), nhưng các vị Phật chưa thành Phật đó nay đang ở chỗ nào? (Vương Huyễn Như hỏi)

 

      Đáp: Một đại thiên bèn có tiểu thiên, trung thiên, đại thiên, lại là vô lượng sa số, nhưng chúng sanh sanh nơi này, diệt nơi kia, diệt chỗ Giáp, sanh chỗ Ất. Một trăm năm này xuất phát từ Đông, một trăm năm nữa lại xuất phát từ Tây, ba Tăng Kỳ kiếp lâu dài, nhiều lượt biến động, ắt phải là người có Thiên Nhăn Thông th́ mới có thể nói được. Lại c̣n phải chỉ rơ thời kỳ và nơi chốn th́ mới có thể giải đáp khế cơ.

 

      * Hỏi: Trong thời gian một vạn năm Mạt Pháp, Phật pháp có hiện tượng thịnh suy hay không? Có sự tích cảm ứng hay không? (Vương Huyễn Như hỏi)

 

      Đáp: Ví như nói một năm có bốn mùa, Xuân ấm, Hạ nóng, Thu mát, Đông lạnh, đó là lẽ thường. Trong những lúc ấy, há chẳng có những khác biệt nhỏ nhặt? Trong ba tháng Xuân, cũng có ngày mát lạnh; trong ba tháng Thu, cũng có ngày nóng bức. Vua Nghiêu, vua Thuấn là bậc nhân từ, mà c̣n xuất hiện bốn con vật hung tàn[24]; vua Kiệt, vua Trụ hung bạo, [nhưng trong thời ấy] cũng xuất hiện những bậc trung hiếu. Chánh Pháp và Mạt Pháp trong Phật pháp cũng giống như thế.

 

      * Hỏi: Nếu khuyên một người ngoại quốc niệm kinh hoặc niệm Phật hiệu th́ niệm theo âm tiếng Hoa, hay là dịch sang tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha? (Vương Huyễn Như hỏi)

 

      Đáp: Nếu nước ngoại quốc ấy đă có kinh được phiên dịch th́ mới có thể thuận theo âm của nước ấy để niệm. Nếu không có, niệm bằng cách nào? Nếu là người biết tiếng Hoa, dạy người ấy tụng kinh bằng tiếng Hoa. Nếu chẳng am hiểu tiếng Hoa, có thể dạy truyền khẩu, chỉ cần người ấy có ḷng thành, ắt được lợi ích to lớn. Truyện kư chép bầy nhạn nghe kinh, chim vẹt niệm Phật; nhạn và vẹt đều chẳng biết chữ, chỉ có thể nghe âm. [Kinh Lăng Nghiêm đă dạy]: “Chân giáo thể phương này, thanh tịnh nơi nghe tiếng”. V́ thế, nói: “Nghe mà tâm chí thành, sẽ tự được đại lợi ích”.

 

* Hỏi: Khéo sao, liên quan đến chuyện tiêu tai có Diên Thọ Dược Sư Phật, liên quan đến cứu khổ cứu nạn có Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát, liên quan đến địa ngục có Địa Tạng Vương Bồ Tát… Chẳng lẽ không thể có hai vị ư? Nếu không, há chẳng phải là giống như trong một quốc gia, liên quan đến tài chánh có một vị bộ trưởng tài chánh, liên quan đến vấn đề nội chánh có một vị bộ trưởng nội chánh? (Vương Huyễn Như hỏi)

 

Đáp: Quốc gia lập ra các cơ cấu, không ǵ chẳng v́ nhu cầu của nhân dân, châm chước các lẽ tổn hại hay lợi ích mà tăng hoặc giảm. Phật, Bồ Tát cứu độ chúng sanh, cũng xét theo nhu cầu của chúng sanh, phát nguyện ứng theo sự mong cầu mà tự gánh vác, nhằm măn nguyện của đại chúng. Lư này dễ hiểu, chẳng cần phải nêu câu hỏi. Chuyện vốn thuận theo t́nh người như thế, có ǵ lạ lùng? Nói thêm: Kính khuyên cư sĩ, nếu thật sự học Phật, cần phải cầu thiện tri thức chỉ vẽ một đường lối th́ mới có chỗ để tiến nhập. Nếu không, sờ soạng trong chốn tối tăm, e phải sa hố, sụp hào. Lại c̣n phải nên cầu từ nơi cung kính, nếu dính dáng hư luận, khó thể đạt được pháp ích.

 

* Hỏi: Dùng máy phóng thanh phát ra tiếng tụng kinh, ở nơi cư ngụ trong chốn núi non khá nhỏ, nhưng có thể khiến cho hết thảy sơn thần, thổ địa nghe âm thanh ấy th́ họ cũng được độ hay chăng? (Hoàng Từ Chiêu hỏi)

 

      Đáp: Tiếng tụng kinh lan truyền trong không trung cũng giống như hành pháp bố thí. Quỷ thần nghe tiếng, tự nhiên đạt được lợi ích, nhưng đắc độ hay không, cũng cần phải xét xem họ có tín phụng hay không để luận định. Chỉ là ta thí pháp là chuyện của ta, c̣n họ tín phụng hay không là chuyện của họ, mỗi đằng làm một chuyện, mỗi đằng có nhân duyên, mỗi người tu phước huệ th́ mỗi người tự đạt.

 

* Hỏi: Phải nên tùy thuận chúng sanh như thế nào? (Hoàng Từ Chiêu hỏi)

 

      Đáp: Nguyên tắc là chẳng chuộng thứ người ta ghét, chẳng ghét thứ người ta ưa, đừng chấp trước Ngă Kiến, chẳng chướng ngại hành vi của kẻ khác. Đại khái là như vậy, khó thể nói cặn kẽ trọn hết! Nhưng điều đáng phải chú ư nhất là tùy thuận điều thiện. Không chỉ là tán thán, mà c̣n phải giúp cho thành tựu. Quân tử thành tựu điều tốt lành cho người khác, cũng giống như vậy đó.

 

      * Hỏi: Trong sách cổ thường thấy có chép chuyện quỷ thần báo ân. Học tṛ có chút nghi vấn: Do quỷ thần ở trong tam ác đạo, chính ḿnh vẫn chưa thể tự tại, bị nghiệp lực bức bách, sao lại có thể báo ân người đang ở trong ba thiện đạo? (Trịnh Thắng Dương hỏi)

 

      Đáp: T́nh h́nh trong ba ác đạo chẳng đồng nhất, không thể nói nhất loạt như nhau được! Súc sanh th́ thần thức nương vào thân, chẳng được tự do. Địa ngục chẳng thể tự thoát ra, nên cũng chẳng có tự do. Thân thần quỷ có tiểu thần thông bẩm sinh, nên khi nhân duyên chín muồi sẽ có thể báo ân, báo oán. Sách vở nhà Phật và các nhà (các tôn giáo khác hoặc các trường phái triết học) đều có ghi chép những chuyện như thế.

 

      * Hỏi: Hiện thời miếu thờ thần rất thịnh vượng, có đúng là linh thiêng hay không? (Trịnh Thắng Dương hỏi)

 

      Đáp: [Hễ miếu nào] có quỷ thần nương tựa, ắt sẽ thiêng. Không có quỷ thần dựa vào, ắt chẳng thiêng. Nhà Phật trọn chẳng phủ nhận đạo quỷ thần, bất quá chẳng giống như thế tục mê muội, nên chẳng xằng bậy cúng tế phi lễ. Lại c̣n biết ở trong đạo quỷ thần th́ chỉ có khổ, chẳng thể tự liễu thoát, nên chẳng mù quáng quy y [quỷ thần], mà càng thêm bi mẫn siêu độ họ.

 

      * Hỏi: Người đời nói Thượng Đế sai các vị thần kỳ đi xem xét việc thiện ác trong nhân gian, hễ thiện bèn ban cho sự cát tường, hễ ác bèn giáng tai họa, lời ấy có chánh xác hay không? (Trịnh Thắng Dương hỏi)

 

      Đáp: “Người đời nói” tức là cách nh́n của thế gian. Nho gia Trung Quốc có cách nh́n như vậy. Đó gọi là “hoàng thiên vô thân, duy đức thị phụ” (trời chẳng xét t́nh thân, chỉ đối với người nào có đức bèn giúp đỡ), “đế hứa ngă phạt hữu tội hỹ” (thượng đế cho phép ta trừng phạt kẻ có tội), “thiên tích công thuần hỗ” (trời cho ông phước thọ to lớn)[25], “thiên mạng tru chi” (trời tru đất diệt). Nho gia vốn ít nói đến thần và trời, mà [sách vở Nho gia] c̣n ghi chép [những câu như thế]. Xưa nay, tôn giáo tại Trung Quốc và Tây Phương nh́n nhận thần và trời càng chẳng thể kể xiết. Nhà Phật tuy trọng nhân quả, nhưng cũng chẳng phản đối sự tướng. Vạn pháp duy tâm. Thần thưởng phạt cũng do tâm tạo ra, có ǵ là sai!

 

      * Hỏi: Báo Bồ Đề Thụ số một trăm tám mươi mốt có đăng tải chuyện lạ chuyển thế. Học nhân đă đọc mấy lượt, cảm thấy người ấy đời trước chẳng thọ thân Trung Ấm, sau khi chết bèn trực tiếp đầu thai chuyển thế, chẳng chịu nỗi khổ thai ngục mười tháng, nên có thể nhớ sự việc. Đây là chuyện thuộc về phương diện nhân quả báo ứng, mong cầu cụ hăy từ bi khai thị. (Đới Thiêm Đinh hỏi)

 

      Đáp: Tại hạ bận bịu nhiều việc, chưa đọc chuyện được đăng tải trong số báo Bồ Đề Thụ ấy, nên chẳng hiểu rơ tường tận; nhưng nghe nói giữa hai đời bị mê, cố nhiên phần nhiều là do thân Trung Ấm và thai ngục. Nhưng cũng có trường hợp chẳng trải qua thân Trung Ấm mà do thai ngục [nên mê], cũng có trường hợp chẳng trải qua thai ngục, nhưng do Trung Ấm [nên mê], cũng có trường hợp chẳng trải qua Trung Ấm lẫn thai ngục, t́nh h́nh phức tạp, kẻ chưa đắc Thiên Nhăn chỉ có thể dựa theo sách vở để suy luận. Do không có căn cứ, nên chẳng ngại ǵ giả lập nghi vấn, quả thật, chẳng dám nói khẳng định.

 

      * Hỏi: Hậu học thường thấy kẻ khác bệnh khổ, tâm rất đau khổ, thường muốn dùng kinh chú để tiêu trừ bệnh khổ cho người khác, nhưng tự cảm thấy công phu tu tŕ chẳng đủ, chẳng dám làm bừa, để khỏi bị kẻ khác chê bai, biết làm thế nào? Để trừ nỗi khổ cho người bệnh, dùng cách nào là tốt đẹp? (Trịnh Chí Tây hỏi)

 

      Đáp: Tâm ấy rất lành, hăy nên giữ tấm ḷng ấy. Hăy nên tự hổ thẹn để cầu công phu tinh tấn. Lại nên thầm tŕ tụng chẳng để cho người khác biết. Hễ có hiệu quả, ắt có công đức; không hiệu quả th́ cũng chẳng có ai gièm chê!

 

* Hỏi: Tôi đọc báo Bồ Đề Thụ số một trăm bảy mươi chín, trong bài Đại Tạng Hội Duyệt, [thấy có ghi] đức Phật nói Cửu Hoạnh Kinh giảng về chín nhân duyên khiến cho người ta mạng chưa hết mà bị chết ngang xương. Ngoài các điều sáu, bảy, tám, chín c̣n dễ biết ra, những điều c̣n lại như một, hai, ba, bốn, năm đều chẳng dễ hiểu. Tự thẹn nông cạn, thô lậu, kính xin hăy rộng ḷng chỉ dạy! Nếu cụ nêu những thí dụ [cho dễ hiểu] th́ càng hay! (Tri Chỉ hỏi)

 

      Đáp: Một, “bất ưng phạn vi phạn giả”. “Phạn” () là ăn; [điều này] có nghĩa là những thứ không nên ăn mà cứ ăn bừa đến nỗi bị tổn hại; như có người do đánh cược mà ăn một lượng muối lớn đến nỗi chết tươi! Hai, “bất lượng phạn giả”, nghĩa là ăn uống chẳng biết chừng mực. Ba, “bất tập phạn, phạn giả”, nghĩa là đối với một loại thức ăn nào đó, trọn chẳng quen ăn, mà cứ miễn cưỡng ăn, hoặc là chẳng biết thời tiết thích hợp, như Đông, Hạ, hàn, nhiệt, dùng thuốc sai lầm. Bốn, “bất xuất sanh giả”, nghĩa là thức ăn cũ chưa tiêu hết mà đă lại ăn thêm, đến nỗi đầy bụng v.v… Năm, “chỉ thục giả”, “thục () tiêu hóa, tích thành phân trong ruột. Ư nói: Khi mắc đại tiểu tiện, mà không đi vệ sinh ngay, cứ ráng nhịn đến nỗi sanh ra các bệnh.

 

      * Hỏi: Trước mặt có một quả núi, xét theo kiến giải của mọi người, ta đích thân mắt thấy quả núi ấy, sự tồn tại của nó chắc chắn chẳng có vấn đề ǵ. Nhưng nói theo Quang Học và Sinh Lư Học, quả núi ta thấy ấy do các phân tử và nguyên tử từ bề mặt của mặt trời chấn động mạnh mẽ, kích động rất lớn truyền xuống mặt đất, những vật thể trên mặt đất bèn tiếp nhận. Do thiên nhiên có tần số rung động khác biệt, bèn hấp thu một phần, phản xạ những phần c̣n lại, bèn chia ra thành màu sắc và sáng, tối. Ta thấy núi là do các dao động phản xạ từ núi ấy tỏa ra các phía tạo thành, gặp phải thấu kính lồi (thủy tinh thể) trong mắt ta, khúc xạ mà tụ thành h́nh ảnh ngược nơi vơng mạc. Màu sắc, độ sáng tối chẳng khác ǵ quả núi trước mặt. H́nh ảnh ngược ấy khiến cho chất màu tím (rhodopsin) trên vơng mạc[26] tạo thành phản ứng hóa học, kích thích “thể h́nh nón” nơi đầu thần kinh thị giác. Thần kinh thị giác dẫn truyền lực kích thích ấy đến trung khu thần kinh, mới có cảm giác thấy quả núi ấy. Những điều vừa nói trên đây có phải là Pháp Chấp hay không? Vậy th́ phá Pháp Chấp trong nhà Phật và khoa tự nhiên có kết luận giống nhau hay không? (Ngô Thương Sanh hỏi)

 

      Đáp: Ư của tṛ cho rằng Quang Học và Sinh Lư Học đều là khoa học, ắt đă trải qua thực nghiệm và nghiên cứu tường tận, phát minh lư ấy, sự chẳng có sai lầm. Cần biết ư nghĩa của Pháp Chấp: Không phải chỉ là những thứ hư vọng, sai lầm, mà c̣n nói bao gồm hết thảy. Hễ biết một mà chẳng cầu biết đến những lư khác th́ đều là Pháp Chấp. Nói theo Chân Như, như như bất động, kinh đă nói rơ ràng, chẳng biết c̣n có tùy duyên. Tâm pháp là như thế, mà vạn pháp cũng đều như thế. Có thể hiểu viên măn th́ hết thảy mới vô ngại. Hễ chấp một bên, ắt sự chẳng thông suốt. Mắt có thể thấy núi, lư luận như ông vừa dẫn đă được chứng nghiệm xác thực, nhưng hăy c̣n có lư khác. Chẳng “chấp lư này, phế lư khác” th́ được. Nếu không, sẽ chính là Pháp Chấp vậy!

 

      * Hỏi: Chỉ riêng người kiến tánh hiểu rơ, những người khác chẳng thấy. Nay tôi xin hỏi: Sau khi kiến tánh, sẽ có thần thông hay không? (Châu Huệ Đức hỏi)

 

      Đáp: Kiến tánh chính là trừ Hoặc. Trừ Hoặc có sâu hay cạn sai khác. Người đoạn sạch Kiến Tư Hoặc đều có thần thông. V́ thế, thần thông cũng chia ra thành lớn hay nhỏ, không thể nói nhất loạt được!

 

      * Hỏi: Cổ đức nói: “Hướng về thiện tri thức, hỏi đường lối kiến tánh khiến cho tâm ngộ. Đáp: Chỉ biết ngưng dứt cái tâm là xong, chẳng c̣n nghĩ trước, lo sau”. Câu này có phải là tương phản câu kinh Lăng Nghiêm “chẳng bằng một ngày tu nghiệp vô lậu, xa ĺa hai nỗi khổ yêu, ghét trong thế gian” hay không? (Châu Huệ Đức hỏi)

 

      Đáp: Cổ đức nói lời ấy với ư nghĩa “dứt diệt bèn là Bồ Đề”, “chỉ dứt trừ phàm t́nh, chẳng có thánh giải nào khác”. Ư nghĩa chánh yếu của kinh là “xa ĺa sự yêu ghét trong thế gian”. Đấy cũng là ngưng dứt và trừ khử các phàm t́nh, nên hai câu chẳng mâu thuẫn nhau.

 

      * Hỏi: Nếu người mới tin, phát tâm hướng về pháp sư quy y, thủ tục như thế nào? Chi phí bao nhiêu? (như cúng dường v.v…) (Vương Chí Thành hỏi)

 

      Đáp: Quy y lần đầu gọi là Phản Tà Tam Quy. Nhiều người đồng thời quy y, pháp sư thăng ṭa thuyết pháp th́ nghi lễ rườm rà. Một hai người quy y, pháp sư tùy duyên phương tiện, ắt lễ nghi đơn giản. Thủ tục do pháp sư chỉ dẫn, hướng về Tam Bảo lễ bái, tự nói Tam Quy ba lượt, cấp phát điệp Quy Y là hoàn tất. Sự rất đơn giản, nhưng được lợi ích hay không là do tâm người cầu quy y chí thành hay khinh mạn. Nghi lễ rườm rà hay đơn giản, chẳng quan trọng! Chi phí cúng dường trọn chẳng có tiêu chuẩn, lượng theo sức ḿnh, nhiều hay ít chẳng câu nệ. Dẫu nghèo nàn chẳng có đồng nào, vẫn nhiếp thọ b́nh đẳng. Chỉ có điều người để ta quy y ắt phải là bậc tỳ-kheo xuất gia chánh thức th́ mới gọi là Tăng Bảo, mới hợp lẽ Tam Quy.

 

      * Hỏi: Lại nữa, bái sư phụ và hướng về pháp sư quy y, chưa rơ là hai chuyện hay là một chuyện? (Vương Chí Thành hỏi)

     

Đáp: Bái Sư có ư nghĩa xin học nghề, hoặc giải quyết nghi hoặc. Lớn như văn chương, vơ thuật, nông, công, thương, y; nhỏ th́ như giặt quần áo, đánh giày. Mỗi nghề đều có kỹ thuật riêng, mỗi kỹ thuật có đường lối riêng. Học hỏi th́ ắt phải có người có khả năng truyền dạy. Đó gọi là Bái Sư. Quy y tuy cũng là bái sư, nhưng ư nghĩa khác biệt với điều trên đây rất lớn. Quy là phản tà quy chánh (bỏ tà, trở về chánh), Y là cậy vào đó ḥng thoát lục đạo. Trong trường hợp trước (tức Bái Sư trong thế gian), chỉ cầu học nghề, người được tôn làm thầy chẳng có phân biệt. Trường hợp sau, [vị thầy ta xin quy y] ắt phải là tỳ-kheo xuất gia th́ mới cùng một Thể với Phật pháp. Phật pháp trong Tăng đoàn, nên Tăng đoàn gọi là Bảo. Quy y ắt phải có Tam Bảo, hễ thiếu một th́ sự chẳng lập, trăm nỗi tệ dồn dập nẩy sanh, rớt vào tà ma, ngoại đạo!

 

      * Hỏi: Miếu thờ thần ở Đài Loan (thờ thần quỷ) là thuộc Đạo giáo hay Phật giáo? Nếu là Đạo giáo, v́ sao vẫn thờ Bồ Tát (như Quán Thế Âm Bồ Tát), v́ sao những thiện nam tín nữ tự cho ḿnh là tín đồ Phật giáo? (Tâm Bỉnh hỏi)

 

      Đáp: Miếu thờ quỷ thần chẳng thể v́ thờ vị thần nào mà phán định là giáo nào! V́ người dân đối với thần, Phật, quỷ quái chẳng phân biệt đă lâu, chỉ là mơ hồ chịu ảnh hưởng mà thờ cúng đó thôi! Lại luận định về đồ đệ của Tăng hay Đạo, người t́m hiểu giáo, hiểu rơ đạo cố nhiên chẳng ít; nhưng kẻ chẳng phải tăng, chẳng phải đạo, chẳng phải tục, giả mạo trà trộn trong chùa miếu cũng đông. Thần, Phật, quỷ quái, nhất loạt thờ phụng, họ chẳng phải là hoằng giáo, chẳng đáng quở trách sâu xa. Thiện nam tín nữ b́nh phàm tự cho ḿnh là tín đồ nhà Phật cũng là do hiểu biết mờ mịt, mù mờ đi theo, càng khó trách được!

 

      * Hỏi: Nếu kẻ ở trong ba ác đạo thỉnh Phật lực th́ có được bạt độ đến Tây Phương hay chăng? (Lâm Hồng Tú Anh hỏi)

 

      Đáp: Đức Phật đồng thể đại bi, phổ độ cửu hữu; hai lực (tự lực và tha lực) cùng cảm, hễ có duyên bèn có thể siêu thoát. Sử truyện chép chim vẹt văng sanh, tức là tam ác đạo có thể văng sanh. Lư tuy là như thế, nhưng về Sự rất ít. Bởi lẽ, ba ác đạo chẳng dễ phát khởi giác tâm, nên chẳng có cảm ứng, [tức là] do hai lực bị thiếu một, nên chuyện ấy khó thành tựu!

 

      * Hỏi: Có phải là dùng Phật lực chỉ có thể bạt độ [người ấy từ ba ác đạo] sanh về ba thiện đạo? Có phải là Phật lại dùng hóa thân trong ba thiện đạo để hóa độ khiến cho kẻ ấy lại thoát tam giới? (Lâm Hồng Tú Anh hỏi)

     

Đáp: Xin hăy tham khảo lời đáp trong phần trước sẽ có thể ngộ vấn đề này. Phật độ cửu hữu, hoàn toàn do nhị lực; nhị lực cảm ứng, liền có thể trực siêu (siêu thoát thẳng về Tây Phương Cực Lạc). Ông nói hai chữ “chỉ có thể” chẳng đúng! Chỉ là trong ác đạo chẳng dễ phát tâm, hoặc là đă phát, nhưng chẳng dũng mănh. Hễ đă phát, bèn có cảm, nhưng lực ít ỏi mà thôi! Từ ác đạo đến thiện đạo, nếu [kẻ ấy] nửa chừng hết sức [bèn chẳng thoát ra khỏi ba thiện đạo], chứ sức của đức Phật chưa hề có cùng tận. Kẻ nửa đường ngưng nghỉ, chẳng phải là điều Phật mong muốn. Đừng nên v́ mẹ ngài Mục Liên và phi tử Hy Thị của Lương Vũ Đế siêu thăng thiên đạo mà nghĩ [Phật lực] chỉ có thể là như thế mà thôi!

 

* Hỏi: Thời gian thọ báo trong tam ác đạo chưa măn th́ có thể cứu bạt khiến cho thoát ra hay không? (Lâm Hồng Tú Anh hỏi)

 

      Đáp: Hăy coi kỹ lời đáp cho hai điều trước, sẽ tự có thể suy ra mà liễu giải.

 

* Hỏi: Người đời thờ thần là do tôn kính nhân cách của vị thần ấy mà thờ. Nếu sau khi vị thần ấy hết quả báo [làm thần trong đường quỷ thần], đầu thai trong đường khác, có phải là chức vị ấy sẽ có người thay thế tiếp nhận hay không? Tỷ dụ như sau khi Ngọc Hoàng Đại Đế báo tận, đầu thai nơi khác, vị được người đời tôn thờ là ai? (Lâm Hồng Tú Anh hỏi)

     

Đáp: Muôn vật đều có thần làm chủ, sách Lễ Kư của Nho gia cũng nói [như vậy]. Chủ này đă đi, tự nhiên sẽ có chủ khác đến thay. Muôn pháp vô thường, khi đủ nhân duyên bèn sanh, Sự Lư như vậy, có thể suy ra mà biết. Đối với địa vị Ngọc Đế như ông đă hỏi, người nào đến thay, và Ngọc Đế lại sanh về đâu, kẻ hèn này đọc kinh rất ít, chưa từng thấy lời huyền kư, tự xét chính ḿnh lại chẳng có thần thông, làm sao có thể biết chuyện vị lai cho được? Chỉ có một lời để kính đáp: Kẻ hèn này là kẻ ăn nói thật thà. Nếu tin lời đồn đại “Sau Ngọc Đế, Quan Công sẽ tiếp nhận [ngôi vị] thay thế, sau Quan Công là Lữ Tổ tiếp nhận thay thế v.v…” tức là trúng tà thuật của tà ma, ngoại đạo, hại tâm, mê tánh, đă mê hoặc lại càng thêm điên đảo! Mê hoặc, điên đảo chướng ngại chánh tri chánh kiến, hăy nên thận trọng!

 

* Hỏi: Phật pháp khó nghe trong vô lượng vô số kiếp đă được thầy tôi nói rơ ràng, hoặc nói kín nhiệm, ngôn giáo đă trải mấy chục năm, nhưng nói theo thế tục th́ “dưới tay tướng mạnh, chẳng có binh hèn”. Thầy thường nói chúng tôi chẳng biết niệm Phật. Sợ là chúng tôi vô trí, tu tŕ lầm loạn, nên dưới sự d́u dắt của thầy, chẳng có một ai ngộ đạo! Hay là nói theo pháp thế gian, trên lũ lính yếu hèn là vị tướng soái chẳng nghiêm, tức là thầy đối với chúng tôi quá khách sáo, xin hăy dùng phương pháp nghiêm trọng nơi pháp xuất thế của cổ đại đức [ngơ hầu] “dưới hương bản[27] sẽ xuất hiện tổ sư”! (Châu Huệ Đức hỏi)

 

Đáp: “Dưới hương bản sẽ xuất hiện tổ sư”, lời này rất thông minh, nhưng kẻ hèn này có thể đánh hương bản, chỉ lo ít có ai có thể tiếp nhận hương bản, đành riêng than thở: “Có người đánh, nhưng rốt cuộc người nhận là ai?” Trong Phật pháp có Nhiếp, có Chiết, quán sát căn cơ để sử dụng. Hiện thời, nếu đánh hương bản, sợ kẻ bị đánh chẳng chạy sang ngoại đạo nhận sữa ḅ để uống, th́ cũng sẽ chạy sang tiệm buôn Phật để góp vốn! Hương bản tổ sư làm sao dùng được!

 

* Hỏi: Trong lục đạo, đức Thế Tôn đều thị hiện độ sanh, nhưng trong sáu nẻo, như chúng sanh trong tam ác đạo th tiếp nhận s giáo hóa của đức Phật hay không? Nhân đạo c̣n khó, huống h các đường khác? (Tín Nghĩa Ban hỏi)

     

      Đáp: Đức Thế Tôn đại từ đại bi, phổ độ chúng sanh, chẳng v́ dễ độ mà đến, chẳng v́ khó độ mà đi. Ban bố từ bi tùy thuộc nhân duyên của họ. Trong đường dễ độ, cũng có kẻ vô duyên. Trong nẻo khó độ, cũng có lắm kẻ hữu duyên. Nếu Phật bỏ khó, lấy dễ, ắt chẳng phải là vô ngă b́nh đẳng vậy!

 

* Hỏi: Kính xin thầy giới thiệu các tác phẩm của các vị cao tăng đại đức nhiều đời để sau này con có thể thỉnh về đọc (Học tṛ hiện thời chỉ đọc tác phẩm của Ngẫu Ích, Hám Sơn, Tử Bách, và Liên Tŕ Đại Toàn Tập, cảm thấy rất hay, do đó muốn xem nhiều hơn nữa). (Châu Bảo Nguyệt hỏi)

 

      Đáp: Trước tác của cao tăng đại đức nhiều chẳng th k xiết. Kinh văn trong Tam Tạng, tr chánh văn kinh và luật ra, hết thảy luận, chú, s giải đều là trước tác của các Ngài. Nếu người học muốn cầu bản lănh sâu xa, ch nên b kinh để cầu những trước tác. Đọc kinh, tham khảo chú giải th́ đôi bên đều toàn vẹn. Nếu c muốn chuyên đọc phần trước tác trong nhà Phật, Thiền có Ngũ Đăng Hội Nguyên, Chỉ Nguyệt Lục, Đàn Kinh v.v… Tịnh Triệt Ngộ Thiền Sư Ng Lục, Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao v.v… Giáo có Đế Nhàn Pháp Toàn Tập, Thái Hư Pháp Toàn Tập v.vđều rất rộng.

 

* Hỏi: Con trộm nghĩ Phật môn có một câu ngạn ngữ, nhất thời chẳng biết xuất phát từ sách vở, sử truyện nào, dám phiền thỉnh cầu đại đức khai thị. Câu ấy chính là “tham Thiền hựu niệm Phật, do như đới giác hổ” (Tham Thiền lại niệm Phật, giống như h đội sừng). Kính xin đại đức r ḷng chỉ dạy câu ấy là pháp cú xuất phát t v tông tượng nào trong Thiền môn, và ghi chép trong sách vở, truyện kư nào? (Ẩn Danh Thị hỏi)

 

      Đáp: Hai câu tục ng như ông đă hỏi, chẳng có sách v nào nói đến. Nếu chiếu theo nguyên văn đă ghi trong thư gởi đến, t h là tục ngữ. Nhưng k hèn này cũng từng nghe có lời lẽ giống như thế, xin chép lại, mong ông tham khảo: “Hữu Thiền, hữu Tịnh Độ, do như đới giác hổ”. Văn tự của câu được ghi trong thư chẳng giống câu ấy, nhưng ư nghĩa chẳng sai khác cho mấy. Chữ “đới” () trong câu sau có phải là chữ Đới () bị viết sai[28], tôi đoán chữ Đới () sai. Như k hèn này biết, câu ấy xuất phát t bài k của phápDiên Th tại Hàng Châu vào đời Tống. Sư từng tr tích tại chùa Vĩnh Minh, nên người đời gọi Ngài là thiền sư Vĩnh Minh Thọ, Ngài t đời th sáu của Liên Tông. Trong b Tông Kính Lục do Ngài trước tác có bài k này.

 

      * Hỏi: Nho, Thích, Đạo tam giáo, người người đều nóitam giáo đồng tông, có phải là do cùng một v t sư [sáng lập rồi các thế h sau] phân khai thành tam giáo? Danh hiệu v t sư sáng giáo (sáng lập giáo pháp) đầu tiên là ǵ? Tôn giáo ấy có tên là ǵ? (Lâm Tú Diễm hỏi)

     

      Đáp: Mỗi giáo trong tam giáo có lư riêng, có điểm chú trọng riêng. Chẳng qua “hướng dẫn con người làm lành” giống nhau, nên trong ấy có những ch tương thông mà thôi! Nếu nói là cùng một t sư, đấy chính là lời dối trá của bọn ngoại đạo tri, ch nên nghe theo, tin tưởng. T sư lẫn tôn giáo gốc đều không có, lấy đâu ra danh tự?

 

      * Hỏi: V́ sao đạo nhân nam giới trong trai đường[29] búi tóc? Lại có người ở trong trai đường ăn mặc giống như người thế tục, chưa th phân biệt? (Lâm Tú Diễm hỏi)

 

Đáp: Trai đường nơi người thế tục t tập, khác với chùa Phật. Trước hết, hăy nên phân biệt ràng hai danh từ, hiểu rơ giới tuyến giữa tăng và tục. Như ông nói h búi tóc trên đầu đó chính là cách thức để tóc của Đạo giáo, chẳng phải là tăng sĩ Phật giáo. Nhưng ông chẳng nói rơ trai đường th phụng tượng ǵ, th Phật hay th thần của Đạo giáo, nên chẳng tiện phê b́nh nhiều hơn.

 

      * Hỏi: Trong nhà chúng ta kính th Táo Quân Lăo Gia, Môn Quan, Thổ Địa, Ngũ Thổ Long Thần[30] ; đó là giáo ǵ? (Lâm Tú Diễm hỏi)

 

      Đáp: Đều là c tục của Trung Quốc, được gọi là Ngũ T Chi Thần (năm v thần thường được th cúng), chẳng được gọi là một tôn giáo nào, ch nhằm ư nghĩa báo đền công lao. Riêng Ngũ Th Long Thần chẳng thấy nói đến trong kinh truyện nào, có l là phong tục của một địa phương, trọn chẳng phải là nhà nào cũng thờ.

 

      * Hỏi: Xin hỏi Thích Ca Mâu Ni Phật hiển hiện hóa thân tại Trung Quốc hay không? độ người tại Trung Quốc hay không? Độ được bao nhiêu người? (Lâm Tú Diễm hỏi)     

 

      Đáp: Chúng ta là phàm phu, chẳng biết Túc Mạng, lại chẳngThiên Nhăn, làm sao biết được chuyện ấy! Tuy có v được k khác xưng tụng, như Trí Gi đại sư được coi là hóa thân của Phật Thích Ca, đó có phải là lời xưng tán hay không, chẳng dám nói chắc chắn! Nhưng Phật, Bồ Tát cứu độ chúng sanh, hóa thân vô lượng, thường được thấy chép trong các kinh văn. Xét theo đó, hóa thân của Phật Thích Ca luôn luôn có, huống chi trọng tâm của Phật giáo là Trung Quốc, lẽ nào chẳng hóa thân của Phật? T sư các đời của mười tông Phật giáo tại Trung Quốc đều có thành tựu, người chứng qu trong t chúng đệ t há ch ngàn vạn? Truyện kư đă chép tường tận, há c̣n nghi vấn ư?

 

      * Hỏi: Trong các chùa, đại đa s th phụng tượng của mười tám v tôn giả. Trước khi các Ngài đắc qu La Hán, có phải là các Ngài t thiếu niên hoặc trung niên hay lăo niên xuất gia hay không? Tên h ngoài đời? Xuất sanh nơi đâu? Tu hành nơi đâu? (Tăng Khải Nguyên hỏi)

 

      Đáp: Tuy sách v có chép danh xưng của mười tám v La Hán, nhưng nơi xuất sanh, và quá tŕnh tu tập, di chuyển v.v… của các Ngài, kẻ hèn này chẳng th nói rơ từng điều được v́ trong tay chẳng có các tài liệu ấy. Như chính đức Thế Tôn th́ trong kinh truyện có chép tường tận, c̣n tài liệu v những v khác như mười v đại đệ tử, trong kinh có nói, nhưng chẳng tường tận, đối với những v khác có th suy ra [càng ít tài liệu hơn]. V́ thế, chẳng có cách nào để thưa tŕnh được!

 

      * Hỏi: Đạt Ma T Sư truyền giáo đến Trung Quốc, v́ sao qu v được xếp vào hàng La Hán? (Tăng Khải Nguyên hỏi)

     

      Đáp: Một lời khó nói trọn hết, mong ông hăy đọc k b Truyền Pháp Chánh Tông Kư s t hiểu cặn kẽ.

 

* Hỏi: Đối với câu “chẳng đến ch ngoại đạo nhận lănh sữa ḅ để ăn”, văn sinh chẳng liễu giải rơ ràng, xin thầy từ bi giải thích? (Lư Truyền Tân hỏi)

 

      Đáp: Ngoại đạo chẳng có đạo, ch tham quyến thuộc. H quyến thuộc chẳng đông thêm, bèn dùng lợi để d dỗ. Dùng phương pháp khéo léo để có những th vật chất như sữa bột, y phục, tùy tiện ban phát. Người nhận, phần nhiều do tham cầu hai món quà ấy bèn nhập giáo. Tín đồ Phật giáo vô tri cũng có k tham món lợi nhỏ nhặt, bèn trái nghịch giác, xuôi theo trần lao. Phật giáo hiện thời chẳng đánh hương bản, mà c̣n chẳng được mấy người. Th nghĩ: Một bên đập hương bản, một bên tặng sữa bột, hăy xem phàm phu s t́m đến bên nào? “Tiệm buôn Phật” là hiện thời có những kẻ chẳng tăng chẳng tục; thường được gọi là Thần Côn[31], [trong điện thờ của họ] bày lẫn lộn Như Lai, Bồ Tát, Vương Gia, Lăo Mẫu… [chuyên bày vẽ cúng bái rầm rộ nhằm] cầu phước, cầu con, triệu hồn, tr bệnh, xin keo, coi bói, lạy sao Bắc Đẩu, bái sám, [tuyên bố] không ǵ chẳng thể [làm được]. H bước vào cửa [đền miếu của họ], trăm món hàng đều có đủ, đăi đằng chu đáo, hút thuốc, uống rượu tùy duyên! [H kêu gọi tín chủ]bố thí bậc nhất, càng  nhiều càng tốt lành. Nhân sĩ trong xă hội đặt tên cho nơi ấy là “tiệm buôn Phật”. Thiện bảng[32] đề tên đại h pháp chủ, người người mắt xanh[33], ai nấy mọp lạy, đền thánh, ṭa cao, bốn vách rực rỡ. [Những người quyên góp cho những nơi ấy] được gọi là “c đông[34] của tiệm buôn Phật, [luôn tự xưng] “hết thảy ngại, đều đại hoan hỷ, ngũ dục, lục trần chính là Phật pháp”. Lại nghĩ xem, có phàm phu nào muốn đến ch b đánh hương bản?

 

      * Hỏi: Văn sinh đọc báo B Đề Th s một trăm tám mươi tư, thấy trong câu hỏi của cư sĩ Châu Hu Đức Đài Loan, [có nói] “dưới tay tướng mạnh, chẳng có binh hèn, dưới hương bản xuất hiện tổ sư”, nói hai câu này, tứ muội[35] đúng là trí huệ như biển. Tăng nhân giấu pháp có lỗi hay không? Vị thầy tại gia dạy môn sinh chẳng nghiêm, có phải là buông lung? Xin thầy từ bi giải đáp cho văn sinh trên báo Bồ Đề Thụ! (Lư Truyền Tân hỏi)

 

      Đáp: Nghĩa v của thầy và tṛ mỗi bên có giới hạn. Bất luận tại gia hay xuất gia, trọn chẳng khác biệt. C nhân có giáo huấn v s dạy dỗ, ch nên không biết: “Chỉ văn lai học, bất văn văng giáo” (ch nghe nói có k t́m đến xin học, chẳng nghe nói thầy phải t́m đến tṛ để dạy), “bất phẫn bất khải, bất phỉ bất phát” (chẳng căm phẫn sẽ chẳng th khơi gợi, chẳng tức tối bèn chẳng phát sanh). C̣n có nhiều điều luận định nữa, chẳng cần phải nêu từng điều một. Những điều ấy nhằm nêu rơ: T phải đến cầu trước; sau đó, thầy bèn dạy cho. [Học tṛ] đến cầu chẳng ngơi, ắt [thầy sẽ] dạy d chẳng mệt; nhưng cũng có ngoại lệ: “Cử nhất ngung, bất dĩ tam ngung phản, tắc bất phục dă” (Nêu lên một góc mà chẳng suy ra được ba góc kia, chẳng dạy nữa) và “phi kỳ nhân bất truyền” (chẳng đúng người [thích hợp tiếp nhận giáo huấn], chẳng truyền). Hai điều này đều là nói v k độn căn, chẳng th tiếp nhận rộng nhiều, cưỡng ép h [học cho nhiều sẽ] vô ích. Nếu có k ĺa thầy phản đạo th́ cũng ch “minh cổ công chi, phi ngô đồ dă” (đánh trống công kích tội trạng, [tuyên bố kẻ ấy] chẳng phải là học tṛ ta)[36] thôi, chẳng th có quy cách nghiêm ngặt nào khác. Những điều đó đều là l chung trong sự tự do giáo dục. Nếu nhận lời gởi gắm của cha anh người ta, hoặc đổi con cho nhau để dạy, hoặc [học tṛ] là bậc chí sĩ v́ đạo mà lập th thành tựu, hoặc là liều thân làm việc nhọc nhằn để cầu trao đổi tài nghệ, hoặc hy sinh hết thảy để chuyên cầu kiến thức, ứng xử v.v… Thầy phải trọn hết kh năng, chẳng gi lại điều ǵ, thiết tha dùi mài, đă sâu lại càng sâu hơn; học tṛ chưa thành tài, chẳng cho phép ra khỏi cửa! Nếu tṛ có chút biếng nhác, bènđáng dạy, áp dụng h́nh phạt”, đó là l chung trong giáo dục cưỡng bức. Hai th giáo dục do học tṛ chọn lựa, chẳng do thầy! Tiến hành như thế nào là do thời cơ thích hợp. Giáo dục t do th́ thầy chẳng th nghiêm khắc, giáo dục cưỡng bách th́ thầy chẳng th khoan dung.

 

      * Hỏi: Tôi tin Ấn Quang đại sư một phân thân của Đại Thế Chí Bồ Tát chẳng sai. Tôi chứng kiến v đại đức n phẩm hạnh cao cả, đương nhiên cũng là Đại Thế Chí Bồ Tát hóa thân, có l chẳng c̣n có th nghi ng ǵ nữa! Nhưng đấng Đại T Đại Bi Bồ Tát Đại Quảng Minh Như Lai, Đại Thế Chí Bồ Tát Đại Hiển Thông Như Lai, hai v đều th chiếc bè Từ, mối quan h giữa các Ngài ắt rất mật thiết. Tôi nghĩ v đại đức n đă viên thông, chẳng ngại ǵ khuyên v ấy hăy m rộng tâm lượng tiến cao hơn một tầng nữa! (Bạch Giới Phàm hỏi)

 

      Đáp: Ấn Quang đại t sư của Liên Tông, thánh cảnh như thế nào, hàng bạch y phàm phu chẳng dám suy lường xằng bậy! Nhưng khi Ngài tr thế, cũng từng có người tuyên dương chuyện ấy, b đại sư qu trách nặng nề. Ngài ch rơ k ấy ham chuộng chuyện k quái, thốt lời rỗng tuếch, giả, quái đản! Sau đấy, chẳng c̣n ai dám nói nữa! Đủ thấy thịnh đức của t sư dạy người khác thật thà tu tŕ, chẳng chuộng [những thứ] hời hợt, rỗng tuếch, s chẳng chuốc lấy ma sự! Tại h trọn vâng theo lời Ngài giáo huấn, dạy người khác cầu l thật. Phàm đối với những chuyện do tứ chúng kiêu căng khoe khoang, đều nhất loạt tránh né, chẳng ph họa, ḥng tránh khỏi người lẫn thần kinh hăi, phá hoại chánh pháp. Vị đại đức X… như ông đă nói s chưa viên thông, nên cũng chẳng đa s ch động khuyên lơn!

 

      * Hỏi: Chỉ niệm thần chú trong Tâm Kinh có được hay không? Hay là phải niệm toàn b Tâm Kinh và chú ngữ? (Hác Truyền Sâm hỏi)

 

      Đáp: Niệm riêng l hay niệm gộp chung, điều cốt yếu là thành tâm. Tâm thật s chân thành, không ǵ chẳng được! Nếu tâm qua quít cho xong chuyện, hoặc miệng có, tâm không, dù ch niệm chú ng hay niệm toàn b bản kinh đều chẳng đúng pháp!

 

      * Hỏi: Nếu cảm ứng thuộc v s linh nghiệm nơi Phật, đức Phật chưa hề có nguyện hư dối, đức Phật quyết chẳng nói dối. H có cảm ứng, ắt s tuyệt đối thực hiện. Nếu chẳng thực hiện, lại là do nguyên c nào? (Hác Truyền Sâm hỏi)

 

      Đáp: Hăy suy nghĩ k thí d v nước và trăng trong s báo lần trước, ông s hiểu lư cảm ứng. Có cảm bèn ứng; chẳng cảm, không ứng. Phàm [những trường hợp] không ứng, đều là do sức cảm chẳng đủ. Nước có th diệt lửa, mặt trời có th nung chảy băng. Nếu dùng một chén nước để cứu c xe củi cháy, lửa ấy chẳng tắt. Băng đóng suốt ba tháng mùa Đông, ánh mặt trời soi nửa ngày khó tan! Chẳng phải là lửa không th dập tắt, chẳng phải là băng không th tan, [mà là do] sức của nước và mặt trời ít ỏi, chẳng đủ!

 

      * Hỏi: Một người sau khi đă quy y với một v pháp sư, nếu lại quy y lần nữa hoặc nhiều lần với các phápkhác th́ có hạn chế hay không? (Hác Truyền Sâm hỏi)

 

      Đáp: Quy y pháp sư th́ [v pháp sư ấy] cần phải là v Tăng xuất gia. Tăng có nghĩa là Chúng. V thầy quy y là người đại diện cho Tăng đoàn. Quy y tăng nghĩa là quy y hết thảy tăng chúng trong Phật giáo. Ch quy y với một người, th́ các v tăng đều là thầy của ta. Nhưng người hiện thời chẳng hiểu rơ ư nghĩa này, cũng có trường hợp quy y nhiều người, gọi là kết duyên”, đó chính là xu hướng được ưa chuộng nhất thời. Ch nên câu n điều này, tùy thuộc tâm nguyện của mỗi người thôi!

 

* Hỏi: Phật giáo có thư viện riêng để mượn sách đọc hay không? Nếu phải mua nhiều, không ch là chẳng kinh tế, mà c̣n do chưa từng thấy sách, [đặt mua] gởi qua bưu điện, thường là nội dung của sách chẳng phù hợp tựa đề! (Hồng Triều Nguyên hỏi)

 

Đáp: Mua sách xem không hiểu, mượn sách cũng xem không hiểu giống hệt nhau! Phật giáo có thư viện tại Tây Nhai, Liễu Xuyên Đài Trung, các chùa lớn cũng có kinh tạng; nhưng các sách có sâu cạn khác nhau, ắt phải được hàng tri thức ch dạy th t th́ mới có ch tiến nhập. Lại c̣n phải chân tâm cầu học, tu tập chẳng sót, tự nhiên sẽ có th thành tựu. Nếu chẳng cầu nghe dạy, chẳng tu học, ch có nguyện suông th́ vô ích!

     

* Hỏi: Đệ t thích đọc thiện thư, như trong mục lục lưu thông sách nhà Phật của Thụy Thành Thư Cục có sách Minh Tâm Bảo Giám[37], có phải là do đọc một quyển sách tốt lành mà có th khiến cho người ta s tiêu tr thân tâm, cũng như [khiến cho độc giả] ít dục, tr vọng hay không? (Hồng Triều Nguyên hỏi)

 

Đáp: Thích đọc thiện thư chính là chuyện tốt, nhưng các giáo đều có thiện thư. Điều thiện được mỗi giáo ch trương cũng đều khác nhau. Nếu học Phật bèn đọc thiện thư của nhà Phật, cầu sao cho t hữu lậu thiệnđạt đến vô lậu thiện. Sách Minh Tâm Bảo Giám như ông đă nêu, k hèn này chưa từng xem tới, nên chẳng tiện đáp lời.

 

* Hỏi: Tôi thường đọc Cao Tăng Truyện (tuyển độc), trọn chưa thấy k chuyện tỳ-kheo-ni. Chẳng l tỳ-kheo-ni không thể tu thành chánh quả ư? (Huyễn Ngu hỏi)

 

      Đáp: Ông đọc Cao Tăng Truyện, mà sách ấy chuyên chép v tỳ-kheo [nên làm sao có chuyện tỳ-kheo-ni cho được!]. Lại nói đến chánh quả, xin hỏi chánh quả loại nào? Thành Phật? Thành La Hán? Hay là văng sanh Tịnh Độ? Tạm thời chẳng nói đến ni sư, ông thấy các vị cao tăng, chánh qu của h thuộc loại nào? Nếu thể chỉ ra, sẽ chẳng hoài nghi ni nữa!

 

      * Hỏi: Bất thủ ư tướng, như như bất động” (chẳng chấp lấy tướng, như như bất động) là ch trọng yếu trong kinh Kim Cang. Chúng sanh do luôn chấp tướng, nên đuổi theo tướng bèn càng mê hơn; đó là pháp xuất thế, nhưng nếu đứa con chửi (hoặc đánh) cha. Nếu v́ “chẳng chấp lấy tướng”, bèn để mặc cho nó đánh mắng, tợ hồ trái nghịch luân thường! Nếu qu trách, ắt sanh sân, đă chấp lấy tướng, chẳng hợp với pháp! Xin bậc trưởng gi hăy cởi g nỗi nghi! (Trịnh Triều Tín hỏi)

 

      Đáp: Công phu từ miễn cưỡng mà tiến đến tự nhiên, từ chấp tướng mà tiến đến tướng. Đây chính là th t t cạn tiến đến sâu trong tu hành của bất c ai! Nếu hiểu rơ lư này, tự nhiên xử s đúng pháp. Do chẳng hiểu Phật lư, hết thảy hành động chẳng tránh khỏi điên đảo. Sau khi hiểu rơ, thông đạt t́nh lư, đều có thể ứng phó hoàn cảnh thiện xảo. Con làm chuyện ngỗ nghịch là ác chúng sanh, sống chịu hoa báo, chết đọa tam đồ. Cha đă học Phật hiểu đạo, hăy nên càng thêm thương xót, ngoài th́ dùng hai pháp Chiết và Nhiếp để điều phục, trong th́ dùng Nhân Duyên Không Quán, chẳng khởi sân niệm! Nếu chẳng như vậy, sẽ dấy khởi phiền năo, tăng thêm tội nghiệp cho nó, đó chính là “chấp tướng”.

 

      * Hỏi: Người học Phật chẳng chấp năng hành, sở hành, năng nhẫn, s nhẫn, trong tâm một mực vô sự, vậy th́ niệm Phật l chẳng cần phải hồi hướng. V́ có hồi hướng, tức là đă chấp trước, không biết là [hiểu như vậy] có đúng hay không? (Trịnh Triều Tín hỏi)

 

      Đáp: Căn tánh của chúng sanh lợi và độn. Lợi th́ có th đốn ngộ, độn th́ cần phải tiệm tu. Bậc lợi căn tâm có vọng niệm, chỗ nào cũng chấp tướng, hễ được tri thức khai thị, bèn có th biết chính ḿnh vọng niệm và chấp tướng. K độn căn vọng niệm, chấp tướng, nhưng không tự biết, nên mê muội lâu dài. Pháp môn Niệm Phật vốn chẳng có danh xưng hồi hướng”, đó là nói theo bậc lợi căn, c̣n k độn căn chẳng đáng nói tới chuyện này. Hiện thời, k độn căn đông đảo, lúc mới tin tưởng Phật pháp, chẳng ngại tạm chấp tướng th́ mới có ch tiến nhập. Th nghĩ niệm Phật, bái Phật, tham Thiền, tŕ giới, tu phước v.v… có ǵ chẳng phải là chấp tướng? Nếu phế sạch, người học khởi s tu tập s chẳng để dốc sức thực hiện. Người lợi căn nghe một, ng c ngàn, hoặc thẳng thừng vượt khỏi đầu sào. Nếu ông có bản lănh thiên phú ấy, ông s có th gánh vác!

 

* Hỏi: Sau khi chết, linh hồn của con người sẽ đi v đâu? (Quách Minh Đường hỏi)

 

      Đáp: Trong kinh điển Nho gia Trung Quốc có nhiều ch ghi chép, rơ rệt nhất là câu “du hồn vi biến” trong kinh Dịch. Hồn đă nói là “du” () , tức là bồng bềnh trong không trung, chẳng có ch c định. Trong hư không, chia ra thành chín loại chúng sanh, quy nạp thành lục đạo, tức là thiên, nhân, Tu La, súc sanh, quỷ, địa ngục. Khi cơ duyên của hồn ấy t hợp, bèn đầu thai vào một trong sáu đường, lại th sanh, rồi lại chết đi.

 

      * Hỏi: Hạnh nguyện của Bồ Tát “vô duyên đại từ. Hai ch Vô Duyên đến tột cùng là “oán thân b́nh đẳng, không ǵ chẳng duyênđấy chăng? Hay là chẳng duyên vào đâu? (Lương Tử Cán hỏi)

 

      Đáp: Hạnh nguyện của Bồ Tát không ǵ chẳng phải lục độ, vạn hạnh, t bi h xả. Nói “vô duyên” chính là t hành, hóa độ người khác, nhưng tâm chẳng chấp tướng, ngoài chẳng phan duyên, nên gọi là “vô duyên”.

 

      * Hỏi: Xưa kia, đức Thế Tôn dưới cội Bồ Đề, nhằm ngày mồng Tám tháng Chạp, đêm thấy sao Mai, bỗng ngộ đạo, ba lần than thở: “Lạ thay! Hết thảy chúng sanh đều có trí huệ và đức tướng của Như Lai; chỉ v́ vọng tưởng, chấp trước, nên không thể chứng đắc. Nếu ĺa vọng tưởng, ắt Vô Sư Trí, Tự Nhiên Trí, hết thảy hiển hiện”. Nói như vậy, thành Phật rất d dàng ư? (Triệu Lệ Lượng hỏi)

 

      Đáp: Phật dạy “nếu ĺa vọng tưởng”, tổ sư nói “chỉ khử phàm t́nh”, há có dối người? Nhưng nói d dàng, làm khó khăn! Nếu thật sự th ĺa vọng tưởng, dứt phàm t́nh, bèn thành tựu. Chỉ v́ tập khí trăm ngàn vạn kiếp quấy phá, chẳng chịu ĺa, chẳng chịu tr khử, nên càng mê càng sâu, chẳng có mảy may sức lực để đào thải, nên trầm luân trong lục đạo.

 

      * Hỏi: Phàm phu bị nghiệp dẫn dắt lưu chuyển, nên luân hồi trong lục đạo. Bồ Tát bị bi tâm dẫn dắt, lưu chuyển, bi tâm đến nơi nào, Bồ Tát đến nơi đó. Nếu bi tâm sai s quư vị vào địa ngục độ sanh, quư vị chẳng th khống chế t́nh cảm, chẳng vào địa ngục độ sanh s chẳng được! Nếu không, quư vị sẽ cảm thấy t tâm bất an. Bồ Tát bị mê khi cách ấm, dùng pháp ǵ để bảo đảm đời sau lại tu hành? Hay là lại biến thành phàm phu? Nếu như vậy th́ lại vào trong luân hồi lục đạo mất rồi! (Lương Tử Cán hỏi)

 

      Đáp: Phẩm v của Bồ Tát rất nhiều, có mê không. Người không mê chẳng cần bàn tới. Người mê th́ ch có nguyện ấy, gặp duyên bèn giác, chẳng mất dịp tiếp tục tu hành. Nguyện lực to lớn chẳng thể nghĩ bàn, lịch đại tổ sư đa s là bậc nương theo nguyện tái lai. Nếu vào địa ngục, cần phải lượng định công phu tu tập của chính ḿnh có th thực hiện hạnh Đồng S trong địa ngục hay không? Trong kh sở, vẫn có th tự tại độ người khác hay không? Nếu tâm có thừa, mà sức chẳng đủ, s giống như kẻ bơi lội chẳng rành, vào biển bèn chết đuối, đôi đàng đều hỏng, vô ích!

 

* Hỏi: Theo nguyệt san B Đề Th đăng tải, ngày mồng Tám tháng Tư mỗi năm là ngày Phật thánh đản, có phải là thánh đản của Thích Ca Như Lai Phật hay không? Ngày Mười Chín tháng Hai, ngày Mười Chín tháng Sáu, ngày Mười Chín tháng Chín là thánh đản của v Phật nào? Tôi nghe phong phanh dường như tháng Hai, tháng Sáu, tháng Chín là các ngày thánh đản, thành đạo, quy Phật (nhập Niết Bàn) của Quán Thế Âm Bồ Tát. Nếu là như vậy, các ngày đắc đạo, thành Phật của Thích Ca Mâu Ni Phật khi nào? Xin hăy dạy cho! (Trầm Kiện Chương hỏi)

 

Đáp: Vấn đề này đă được giải đáp nhiều lượt trong cột báo này, chẳng tiện lặp đi lặp lại, mong hăy tra t́m s t biết. Nhưng tôi dùng nguyên tắc chung để kính cẩn đáp lời. Thích Ca Thế Tôn ứng thân trong thế giới này, sự giáng sanh và nhập Niết Bàn, s ứng tích của Phật Thích Ca đều được ghi chép. Nếu là Phật, Bồ Tát ứng hóa trong các cơi khác, do lịch pháp khác biệt cơi này, chẳng th khảo chứng, nên ch mượn một loại nhân duyên nào đó, gi định một ngày để thành tâm k niệm mà thôi!

     

* Hỏi: Gần đây, người dụng công bất luận xuất gia hay tại gia, thường thường có kẻ b khốn đốn bởi ma, thậm chí chẳng biết ăn uống, loạn phạm vọng ngôn. Thông thường, sắc thân có bệnh, thầy thuốc có th tr được, nhưng đối với loại bệnh này, hăy nên làm như thế nào? (Bổn Như hỏi)

 

      Đáp: Dụng công trọn chẳng thừa, hoặc do chẳng hiểu rơ kinh nghĩa, oan uổng đi theo đường tà, nên mới chứng bệnh ấy. Hoặc do chẳng tuân thủ giới luật, xen tạp ngoại đạo, tam độc hừng hực, tà tri tà kiến, nên cũng mắc căn bệnh này. Bệnh chẳng phải do một ngày mà thành, mà cũng chẳng th vừa tr liền khỏi. Ắt phải b những điều đă tu tập, sám hối lâu ngày, lại tận hết sức người, mời mọc bác sĩ, dùng đúng phương pháp để biến đổi tư tưởng, dùng thuốc và châm cứu nhằm chữa trị kinh lạc th́ mới có th hữu hiệu!

 

      * Hỏi: Phật có độ chúng sanh hay không? Hiện thời Ngài có ba mươi hai tướng và độ chúng sanh, sao lại nói là không? (Ngô Thương Sanh hỏi)

 

      Đáp: Phật động, tịnh, nói năng, im lặng đều là độ chúng sanh, nhưng chẳng có tướng độ trọn hết chúng sanh, nên nói Phật chẳng độ chúng sanh. Tánh đức của chúng sanh đều là Phật, [nh vào] Tu Đức để hiển lộ, nên tự tánh hiển hiện; v́ thế nói Phật chẳng độ chúng sanh. Giảng nói luôn Lư và có Sự; đây là dựa theo Lư để nói.

 

      * Hỏi: Thân th và Ngă c nhiên là hai chuyện, c sao thầy nói: Ngă là thanh khiết, chẳng có chút nhiễm ô, thân th là bất tịnh, bất cấu. Hai th ấy không ǵ là chẳng tương quan, vậy th́ cái Ngă nương vào thức thứ bảy chẳng phải vô minh ư? (Ngô Thương Sanh hỏi)

 

      Đáp: Chữ “thân ch vật do T Đại giả hợp, thuộc v bất tịnh. “Ngă” ch Chân Ngă trong bốn tịnh đức (Thường, Lạc, Ngă, Tịnh), tức Chân N bản tánh, đó gọi là “chẳng có vật làm sao nhiễm”, nên gọi làthanh tịnh diệu tâm”. Cái Ngă nơi thức th bảy là Ngă Chấp trong bốn th điên đảo, chẳng phải Chân Ngă trong bản tánh, ch nên lẫn lộn!

 

      * Hỏi: Làm thế nào để tránh khỏi chao động trong vô niệm? (Trần Thục Anh hỏi)

 

      Đáp: Đă là vô niệm, há có chao động? Đă chẳng có chao động, tránh né ch nào?

 

      * Hỏi: Học rộng nghe nhiều là tốt, hay chuyên tâm niệm Phật là tốt? Học rộng nghe nhiều dường như chẳng th niệm Phật nhiều? Niệm Phật nhiều dường như cũng chẳng thể học rộng nghe nhiều, có đúng như vậy hay không? Rốt cuộc nên làm như thế nào? (Trần Thục Anh hỏi)

 

      Đáp: Học rộng thuộc loại cầu hiểu biết, niệm Phật thuộc loại thực hành. Trong học vấn thế gian th́ gọi là tri hành hợp nhất”, trong Phật pháp gọi là “giải hành tương ứng. Nói đến chuyện chuyên tâm niệm Phật và niệm nhiều th́ chuyên chú đến mức buông xuống vạn duyên, niệm nhiều đến mức công khóa hằng ngày là mười vạn câu, s có th chẳng cầu học rộng nghe nhiều, mà tương ứng với đạo. Nếu mỗi ngày ngồi nửa cây hương, niệm một ngàn câu Phật hiệu, có rất nhiều thời gian, mà chẳng cầu học và nghe th́ phải nên làm chuyện ǵ đây?

 

      * Hỏi: Quán Thế Âm Bồ Tát Phật s khác biệt và quan h như thế nào? Tôi nghe nói Quán Thế Âm là vị Bồ Tát thuộc địa v đă giác ngộ (Đẳng Giác), chẳng phải Ngài đă thành Phật hay sao? (Giản Tông Tu hỏi)

 

      Đáp: Phật thuộc quả vị, Bồ Tát thuộc tu vị. Dùng mặt trăng làm t dụ, ánh sáng có tṛn đầy hay khuyết thiếu. Phật như trăng rằm, quang minh viên măn. Bồ Tát thuộc địa v tu hành, tiến lên từng bước, t Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, cho đến Đẳng Giác, như trăng mồng một, trăng thượng huyền, h huyền, trăng khuyết, trăng rằm, dần dần sáng hơn. Đoạn hết vô minh, liền thành Phật quả. Nhưng đối với Quán Âm Bồ Tát, phải nên biện luật riêng, v Bồ Tát này đă chứng Phật quả t lâu, hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai. Do bi tâm quá nặng, nên hiện thân Bồ Tát, giúp đỡ chư Phật trong các cơi độ chúng sanh. Đó là s sai biệt và quan h vậy.

 

      * Hỏi: Di Lặc Bồ Tát c̣n chưa thành Phật ( Ngài c̣n phải nghe đức Thích Ca thuyết pháp), sao biết sau này Ngài s kế tục Phật Thích Ca đến thế giới này lập giáo, thuyết pháp? (Giản Tông Tu hỏi)

 

      Đáp: Đây là chuyện được đức Thế Tôn huyền chép trong các kinh điển. Điều này là dựa theo Thánh Ngôn Lượng để nói, chẳng phải nói năng tùy tiện.

 

      * Hỏi: Phật giáo có điện thờ Thập Điện Diêm La, lại c̣n có Thập Điện Diêm La Vương v.v… S ghi chép này là dựa theo chuyện trong nhân gian mà nói phương tiện [như vậy] nhằm biểu hiện Lư, hay là ngoài cơi nhân gian thật s có chuyện này? (Châu Di Quân hỏi)

 

      Đáp: Danh xưng Diêm La (Yamarāja) thấy chép trong các kinh, c̣n danh hiệu của mười vua Diêm La được ghi trong các tác phẩm biên soạn tại Trung Quốc và Nhật Bản. Ngoài cơi người, xác thực có cảnh ấy. Đây là lời chân thật nhằm nói với hàng sơ học, không hiểu rơ giáo lư. Khi nào người học triệt ng Chân Như, th́ tam thiên đại thiên đều không, ắt chứng Vô Tướng tam-muội, mới có th nói đây là phương tiện. Nếu không, Hoặc nghiệp trói buộc, lôi kéo, t chuốc lấy khổ! Ông đă có tâm học Phật, hăy nên xem kinh Phật để có căn cứ, tin sâu nhân quả ḥng nhập chánh kiến.

 

      * Hỏi: Trong phẩm Hành Do của Lục Tổ Đàn Kinh một đoạn chép: Ngài Hu Năng ném y bát trên đá, Hu Minh đuổi tới, nhấc lên, nhưng chẳng lay động được, xin hăy giải nghi. Y bát chẳng nặng lắm, làm sao có th chẳng động? (Châu Di Quân hỏi)

 

      Đáp: Người chứng đạo và đắc định đều có thần thông, tức có th dùng tâm th để chi phối s tướng. Lục Tổ bậc chứng đạo, y bát là s tướng, là chuyện nh nhặt, há đáng để kinh hăi, ngạc nhiên? Kinh dạy: “A La Hán có thể phi hành biến hóa, thọ mạng trải kiếp dài lâu, tuy an tr mà chấn động trời đất. Ch khiến cho y bát chẳng động, c nhiên là chuyện nh nhặt!

     

      * Hỏi: Theo Truyền Đăng Lục, có chép Sơ T Bồ Đề Đạt Ma đến Quảng Châu, Lương Vũ Đế nghênh tiếp T đến Kiến Nghiệp (Nam Kinh), hỏi v công đức v.v… Cuối cùng, nhà vua nói một câu: Người thắng là ai?” T đáp: “Chẳng biết”, vua chẳng ngộ, T bèn vượt sông, đến chùa Thiếu Lâm của nước Ngụy. Xin hăy ch dạy T nói “chẳng biết” có nghĩa là ǵ? Vua chẳng ng là do nhân nào? (Châu Di Quân hỏi)

 

      Đáp: Ông muốn nhập Phật môn, trước hết hăy nên đọc những cuốn sách nhỏ, nông cạn nhất để hiểu rơ giáo tướng, theo đúng lời dạy mà tu hành thật sự. Đại lược [là tu hành đă có] đường nẻo rồi mới lại cầu minh sư ch dạy kinh điển th́ mới có chỗ ngộ nhập. K sơ học chẳng th hiểu sách Truyền Đăng Lục! Dẫu gặp thiện tri thức giảng giải, nhưng do thiếu căn bản, nên có nghe cũng chẳng hiểu. Xin hăy th nghĩ, Lương Vũ Đế tinh thâm văn học, Phật học uyên bác, c̣n chưa th ngộ; ông muốn vừa nghe liền ngộ, há có l ấy?

 

      * Hỏi: Lư “tướng nương vào tánh; hành do thời gian”, hai điều ấy, điều nào là trước? Xin hăy ch dạy! (Châu Di Quân hỏi)

 

      Đáp: Tại h chẳng nhận biết ch th sáu trong lời hỏi, do đó, đối với sự mạch lạc của toàn th văn lư [cảm thấy] chẳng thích đáng, xin hăy lượng th khó th tr lời!

     

* Hỏi: Xin hăy giải thích nghi vấn Định Huệ nhất thể, bất nhị”. Xét theo thời gian th́ có th nói rơ điều nào có trước hay không? (Châu Di Quân hỏi)

 

      Đáp: Phật pháp S và Lư. Nếu nói đơn giản theo Sự, t Giới sanh Định, từ Định sanh Huệ. Như vậy th́ xét theo thời gian, Định trước, Hu sau. Nếu xét theo lư luận, ắt lại có cách nói khác.    Nói thêm, nếu muốn xem tập sách nh [giảng v vấn đề này], xin hăy gởi thư để tôi biếu tặng.

 

* Hỏi: Người b́nh phàm nghĩ Phật giáo là mê tín, tiêu cực, lại c̣n các th tà thuyết của ngoại đạo phá hoại Phật pháp. Trong Luận Tạng của Phật giáo, có b luận nào đả phá [những tà thuyết ấy] hay không? Xin hăy dạy rơ ràng, cặn kẽ! (Lữ Do hỏi)

 

      Đáp: Thời c chẳng có những danh t bài xích Phật giáo là “mê tín, tiêu cực”. Đại khái hiện thời mới nói như vậy, phần nhiều là do thói sính dùng t ngữ nửa Tây, nửa Tàu hiện thời. Những k ấy toàn là nghe lỏm nói ṃ, người khác nói sao bèn hùa theo làm vậy, cần ǵ phải so đo? Nếu có bi tâm độ họ, cũng cần phải t́m kiếm những chuyện đang thuộc trào lưu hiện thời để nói. Nếu khảo cứu văn hiến [để làm chứng c tranh luận], s chẳng khế cơ! Bất luận văn t giảng rơ đến thế nào đi nữa, trong mắt h cũng chẳng coi c nhân ra ǵ. ắt phải biết, như sách Mâu T của v Thái Thú đất Thương Ngô đời Hán, b Hoằng Minh Tập của Tăng Hựu đại sư đời Lương, b Quảng Hoằng Minh Tập của Đạo Tuyên Luật Sư đời Đường, Hộ Pháp Luận của t tướng Trương Thương Anh đời Tống v.v… đều là [những tác phẩm đả phá tà thuyết mạnh mẽ].

 

      * Hỏi: Người tại gia mang chí nguyện muốn xuất gia để nghiên cứu Phật học nhằm hoằng hóa Phật giáo. V sau, do hoàn cảnh gia đ́nh chẳng thể xuất gia, [như vậy] th́ có phạm giới hay không? Xin hăy dạy rơ! (Lữ Lư Do hỏi)

     

Đáp: Đó là chí nguyện chẳng toại mà thôi. Chưa th giới, há có ǵ phạm để đáng nói!

 

      * Hỏi: Nơi trang một trăm tám mươi sách Ấn Quang Đại Sư Gia Ngôn Lục viết “c̣n như nói kỹ nữ, thể nữ v.v… bất quá nhằm mở rộng tâm bố thí của Bồ Tát, chớ nên v́ từ mà hại ư”. Rốt cuộc là có ư nghĩa như thế nào?

     

      Đáp: Bản in hiện thời, chẳng giống bản cũ. Cùng một loại sách, mỗi thư cục ấn hành có cách thức riêng biệt. Ông chẳng nói rơ bản in ấy do thư cục nào xuất bản, chẳng th t́m kiếm. Đối với chuyện ông đă h ḿnh hỏi tới, ch có th dựa theo lời văn để giảng giải ư nghĩa. đây, có l là nói Bồ Tát độ chúng sanh, v́ thích ứng cơ duyên mà hiện các th thân, thậm chí hóa hiện k nữ, th n v.v… bất quá nhằm tŕnh bày nỗi kh tâm thí pháp của Bồ Tát, m rộng đến cùng cực để nói, ch nên lầm tưởng nghĩ Bồ Tát độ chúng sanh, ắt hóa thân ấy; càng ch nên lầm tưởng k nữ, th n là Bồ Tát. Nếu độc gi chấp trước ngây ngốc, s tổn hại ư nghĩa vốn có của bài luận ấy.

     

* Hỏi: Phật pháp chẳng cho phép t tiện hiển lộ thần thông. Huống chi thần thông là thần thông, nhân quả nhân quả, nghiệp lực là nghiệp lực. Đă có thần thông, chẳng th tiêu tr nhân quả nghiệp lực, chỉ đành nghe theo s mạng. Những năm gần đây, người học Mật Tông thích khoe chính ḿnh đắc thần thông, đâm ra khiến cho k vô tri hủy báng, [do đó], chẳng ổn thỏa, thích đáng bằng tu Tịnh Độ Tông đới nghiệp văng sanh, đúng không? (Vương Siêu Nhất hỏi)

 

      Đáp: Đức Phật một đại sự nhân duyên mà xuất hiện trong cơi đời. Học Phật th́ Đệ Nhất Nghĩa Đế liễu sanh tử, chẳng phải ch là đắc thần thông là đă xong việc. Cái được gọi làthần thông” bất quá là một thứ kỹ năng! Cầu liễu sanh tử gốc, thần thông là ngọn. Nếu có thể liễu sanh tử, tự nhiên thần thông tự đầy đủ. Cách nh́n của cư sĩ phù hợp chánh pháp nhăn.

 

      * Hỏi: Minh tâm kiến tánh th liễu thoát sanh tử hay không? Kinh Kim Cang nói Thanh Văn Thừa [có ư nghĩa]: Một là Nhập Lưu, hai là Nhất Văng Lai. Có l là h chưa thoát ly luân hồi, tức chưa liễu thoát sanh tử, đúng không? (Vương Siêu Nhất hỏi)

 

      Đáp: Minh tâm kiến tánh cũng chia theo th tự, như trăng non tỏa ánh sáng. Mồng Hai, mồng Ba là trăng lưỡi liềm, mồng Bảy, mồng Tám là thượng huyền (trăng bán nguyệt đầu tháng), Mười Bốn và Rằm là trăng rằm. Nhất Quả, Nh Qu và Tam Quả trong Thanh Văn Thừa kiến tánh chưa thấu triệt, như ánh sáng của trăng lưỡi liềm, chưa liễu thoát sanh tử. Tứ Qu La Hán th́ kiến tánh và tam đức giải thoát đạt được một nửa, như vầng trăng thượng huyền, đă đoạn Phần Đoạn sanh tử.

 

      * Hỏi: Minh tâm kiến tánh là cảnh giới ǵ? Đài Loan có bậc đại đức nào chứng đắc hay không? (Vương Siêu Nhất hỏi)

     

      Đáp: Là cảnh giới nào ư? Nh́n t Kiến Hoặc và Tư Hoặc.Đài Loan có bậc đại đức nào chứng đắc hay không?” là hỏi có v nào kiến tánh? Hay là hỏi có người nào có th là ngườin chứng? Phân vân đôi ngả, xin th lỗi tạm thời chẳng đáp!

 

      * Hỏi: Trong Đệ Thập T Giảng, nơi trang [đánh s th t là] Ất có nói: “Thân người khó được, giống như trên núi cao thả chỉ xuống để luồn qua lỗ kim, rùa mù vươn cổ chui đúng vào bọng gỗ nổi”. Điều này là tỷ d giống như Gia Tô (Jesus) đă nói: “Kẻ giàu vào nước trời, khó hơn lạc đà chui qua lỗ kim”. Tôi e rằng chuyện này toàn là nhằm khích l con người hướng thiện mà nói đó thôi. Nếu nói theo s thật, th́ phải nói là người tu Tịnh Độ ch cần chân thành, ắt vạn người tu, vạn người về, hết sức dễ dàng; nhưng k chẳng tin Phật, đều phải đọa nhập tam đồ, chẳng th làm người lần nữa. Như vậy th́ đức Phật thừa nguyện tái lai độ thế, s chẳng có người để độ? Lại nói, Đài Loan đang gặp nạn nhân măn, có phải là những ngườiy t các cơi trời đọa lạc? Thật khó giải quyết mối nghi, xin hăy dạy cho! (Kim Á Đạc hỏi)

 

      Đáp: Chỉ vốn có th x vào l kim, rùa cũng có th vươn c trúng bọng gỗ. Chúng tr thành điều khó th thực hiện v́ gặp duyên chẳng dễ. Những câu ấy ch nói lên [ư nghĩa] “thân người khó được”. [Kinh luận nhà Phật] có những câu như vậy, trọn chẳng nói tin Phật nhằm cầu được thân người, cũng chẳng nói v́ không tin Phật, đều nhập tam đồ. Vạch rơ phạm vi th́ mới d nói chuyện, đó là điều th nhất. Lạc đà to mà l kim nh[38], vốn chẳng th tiến nhập, tức là nói tới chuyện tuyệt đối không th có, chẳng giống như kim và chỉ, đầu rùa và bọng gỗ; đó là điều th hai. Tu Tịnh Độ thành tâm, vạn người tu, vạn người đến” là nói đến chuyện sanh Tây giải thoát, chẳng phải nói đến chuyện tu tập để cầu được thân người trong thế gian này. Đó là điều th ba. Thừa nguyện tái lai là v́ thế gian c̣n có chúng sanh chưa được độ, chẳng phải là nguyện mà đến để rồi lo thế gian này chẳng có người! Đó là điều th tư. Người Đài Loan đông đảo là t Đại Lục di dân tới nên đột ngột tăng lên. Đó là chuyện trước mắt, có ǵ khó hiểu? Tạm thời chẳng cần phải nh́n đến lư do xa xôi là t thiên quốc đọa lạc và k măn tội trong ác đạo [sanh vào nhân gian]. Đó là điều th năm.

 

      * Hỏi: Thần thông là một cảnh giới tu hành, cũng một loại pháp môn để độ k khác. Như Tế Công Hoạt Phật và Kim Sơn Hoạt Phật đều dùng thần thông biến hóa, Quán Âm hiện h́nh tượng, cũng là thần thông. Nước Anhhội nghiên cứu linh hồn, nước Pháp có thuật triệu quỷ, cũng là nương vào thần thông nhằm chứng minh có thần. Đối với chuyện hoằng dương Phật pháp [những điều ấy] đều là có ích. Văn bối thấy ḷng người gần đây chẳng bằng thu xưa, tạo ác lắm nỗi; nếu không ch bày, cảnh cáo, ai chịu quay đầu, chỉ lấy Phật chẳng nói dối” làm chứng, giống như dùng Thánh Kinh để chứng tỏ Thượng Đế, làm sao ổn thỏa cho được? Sách Trung Dung nói: “Thể vật nhi bất khả di” (sinh trưởng muôn vật chẳng sót)[39] tứcnương vào vật để chứng minh có thần, giống như bói toán bằng mai rùa. Lại nữa, nếu có th khiến cho thần nhập tượng th́ s có th khiến cho người ta dấy ḷng tin: Ta có niềm tin nơi nhân qu v́ các th thần thông đều phù hợp với những ǵ đức Phật đă nói. Kiến giải hẹp ḥiy có đúng hay không? Xin ch ra ch sai lầm! (Kim Á Đạc hỏi)

 

      Đáp: Người học Phật chẳng phải là không cần đến thần thông, nhưng chẳng được phép khoe khoang thần thông, cũng như chẳng được b chuyện liễu sanh t để chuyên học thần thông! Mọi s đều có lợi và tệ, chẳng th vẹn toàn đôi đàng. V́ thế, so sánh lợi hại, [c đức] bèn có huấn th qu trách [chuyện vận dụng thần thông tùy tiện]. Nếu để khuyến hóa đại chúng bèn khinh th hiển l thần thông, ắt sẽ k gian dùng tṛ ảo thuật gi v thần thông ḥng làm càn, làm quấy, như bọn giặc Hoàng Cân, Bạch Liên giáo v.v… đều thuộc loại này. Nếu nói kinh điển Nho gia có chép chuyện bói bằng mai rùa, Phật pháp cũng cho phép chiêm sát bằng luân tướng[40]. Nếu nói là ch dạy, cảnh tỉnh th́ luật thế gian có nhà tù, s báo ứng trong cơi âm hiển hiện nơi cơi đời, chẳng lúc nào không! Hơn nữa, kinh Phật, s Nho, ghi chép c đống. Hiềm rằng người đời nay coi như chẳng nghe biết. Nếu hiện thần thông, chưa chắc đă không chuốc lấy nỗi hiềm nghi dùng yêu thuật mê hoặc đại chúng, [đâm ra] do nóng vội mà ngược ngạo sanh ra chướng ngại. Những chuyện như vậy chỉ bậc có đức ngẫu nhiên thực hiện một lần. Nếu chuyên hướng theo chuyện này, tức là hạnh chẳng noi theo l chánh. V́ thế, Khổng T chẳng nói đến chuyện “quái lực, loạn thần”, đức Phật răn cấm chẳng được khoe khoang thần thông trong cơi tục.

 

      * Hỏi: Chiếu theo thuyết Chọn Lọc T Nhiên của Đạt Nhĩ Văn (Darwin), th́ [những sinh vật nào] có ưu thế s thắng, [những sinh vật] kém hơn s diệt vong, thuần túy là tuân theo l mạnh yếu, chẳng tuân theo thiện ác. Kỳ lân tuyệt chủng là do có ḷng nhân, nhân loại thuở thái sơ cũng thế. Cho đến khi tư tưởng phát triển, mới quy v [ư niệm] do được người đắc đạo giúp đỡ nhiều phen mà tranh th thắng lợi cuối cùng. Nay bọn giặc Cộng nương vào tà thuyết của Mă Khắc Tư (Karl Marx), trộm chiếm gi Đại Lục, thói ác trong nội tâm bọn chúng chẳng trải qua s phán x trong cơi Âm chẳng được! Nếu không, do có cái tâm A Tu La, ắt tạo ra cảnh giới A Tu La, như vậy chẳng phải trái nghịch Phật pháp ư? Xin hăy khai th theo qu báo thiện ác. (Kim Á Đạc hỏi)

 

      Đáp: Học thuyết có cội nguồn là tâm; h có học thuyết, ắt cầu nó đạt đến viên măn. [Những điều nào] hợp với chính ḿnh bèn dẫn chứng, nhưng [những điều ấy] chẳng phải là lư nhất định. Kỳ lân do ḷng nhân mà tuyệt chủng, chỉ là một lẽ; nhưng Kiêu Kính (梟獍)[41] bất nhân, cũng chẳng thấy chúng đầy ắp nhân gian. Vả nữa, mọi sự ắt phải nh́n thấu triệt trước sau, chẳng thể chỉ luận định theo những điều trước mắt. Tào Tháo giết hoàng hậu và hoàng t [nhà Hán] nên được thiên hạ, đó là chuyện trước mắt. H Tư Mă[42] làm giống hệt như vậy, kết qu cũng thế. Lịch s ghi chép những chuyện như vậy, chỉ có trăm ngàn! Nhân qu vằng vặc, chẳng cần phải nêu thêm nữa! Suy ngẫm lời ông Đạt Nhĩ Văn giải thích s sinh tồn, s thấy chim phượng, k lân dạo khắp cơi đời trong thuở Đường Ngu, kẻ ác vào trong địa ngục, ong bướm bay lượn giữa hoa thơm, nhặng, gịi đục khoét trong chốn hầm xí. Muôn vật tương cảm theo loài, tôi chẳng ng chi!

 

      * Hỏi: Phật Thích Ca có hiện thân giáo hóa tại Trung Quốc hay không? (Lâm Diễm hỏi)

 

      Đáp: Pháp Thân của đấng Thích Tôn trọn khắp không, ứng hiện khắp nơi trong thế giới Sa, bất quá lũ phàm phu chúng ta gặp mặt mà không biết. T Giả đại sư đời Tùy, được người đời xưng tụng là Thích Ca, đó là trường hợp rơ rệt. C̣n những trường hợp th hiện ngấm ngầm, ắt chẳng th đếm xiết. Hơn nữa, xá-lợi của đức Thích Ca, b Chúng Thánh Điểm là kinh văn về giới luật, và y bát do đức Phật đích thân truyền lại đă đều truyền đến Trung Quốc, tức là đức Thích Ca và Phật pháp đă sớm lấy Trung Quốc làm nền tảng.

 

      * Hỏi: Quán Âm Bồ Tát tay cầm tịnh b́nh và cành dương là do chỗ nào có? (Lâm Diễm hỏi)

 

      Đáp: Quán Âm Bồ Tát tự tại nơi các pháp, tay cầm tịnh b́nh, do tùy niệm ứng hóa mà có, giống như phàm phu s dụng vật chất phải t́m cầu các nơi ư? Nếu cần phải hướng ra ngoài để cầu tịnh b́nh th́ Thiên Th Quán Âm một ngàn tay là một ngàn vật, làm sao có th nói xuất x của từng vật cho được!

 

      * Hỏi: Quán Âm Bồ Tát cầm tịnh b́nh và cành dương có ư nghĩa ǵ vậy? (Lâm Tú Diễm hỏi)

 

      Đáp: Tịnh b́nh chứa cam lộ, gặp duyên liền rưới, rẩy lên người bèn dứt phiền năo, rẩy nơi đất bèn thanh lương.

 

      * Hỏi: Trên măo đội đầu của Quán Âm Bồ Tát một vị Phật, đó là Phật nào vậy? (Lâm Tú Diễm hỏi)

 

      Đáp: Quán Âm Bồ Tát là một v thánh trong thế giới Cực Lạc, đến dạo chơi trong Sa Bà, tiếp dẫn chúng sanh văng sanh Tây Phương, thân cận Di Đà. Đỉnh đầu Ngài đội đức Phật Di Đà.

 

      * Hỏi: Nghe nói hai v Bồ Tát Phổ Hiền Văn Thù là ch ruột của Quán Âm Bồ Tát, đúng không? (Lâm Tú Diễm hỏi)

 

      Đáp: Chúng sanh sơ cơ tu hành, c nhiên có tướng nam nữ. Nếu đạt đến qu địa, nhất loạt đều thành trượng phu. Ba v Quán Âm, Văn Thù, Ph Hiền đều chứng Phật quả, v́ độ chúng sanh mà quyền hiện Bồ Tát, nhưng Bồ Tát lại có tại gia và xuất gia khác nhau. Ba v đều hiện h́nh tướng tại gia. Do v́ tóc dài, đội măo, đeo chuỗi ngọc khắp thân, tục nhân chẳng biết, lầm tưởng các Ngài là thân nữ, nên lại bịa chuyện các Ngài là ch em, đáng nực cười thay!

     

* Hỏi: Quán Âm Bồ Tát xuất sanh tại nơi nào và hành trạng như thế nào? Xin hăy ch dạy. (Lâm Tú Diễm hỏi)

 

      Đáp: T kiếp lâu xa, đức Quán Âm đă thành Phật, trong vô lượng thế giới đều từng hóa thân, làm sao có th chép từng nơi xuất sanh và hành trạng của Ngài cho được? Ch có căn c trên kinh điển, nói chuyện trước mắt th́ v này hiện đang ng trong cơi Cực Lạc, tức là sống trong cơi Cực Lạc, dạo khắp Sa, tầm thanh cứu khổ, dạy người niệm Phật, văng sanh Tây Phương.

 

* Hỏi: Phật giáo thường nói đến chuyện ng chân lư, rốt cuộc là ng xă hội lư hay là ng Phật lư? Rốt cuộc là ng chân lư nào? (Hồ Mỹ Nguyệt hỏi)

Đáp: Phật pháp trong thế gian, chẳng ĺa thế gian giác. Mê th́ là thế gian lư, giác ngộ bèn là Phật lư. Thế gian lư do mê bèn gọi là vọng, Phật do ng bèn gọi là chân.

 

* Hỏi: Phật giáo cùng những tôn giáo khác có điểm nào đặc sắc bất đồng? (Hồ Mỹ Nguyệt hỏi)

     

Đáp: Nói theo nhân địa, các tôn giáo khác coi trọng tin nhận, phục tùng; Phật giáo coi trọng tín giải, giác ngộ. Nói theo quả địa, các tôn giáo khác chẳng đoạn sanh tử luân hồi, chỉ riêng Phật giáo có thể đạt đến bất sanh bất diệt. Nói theo phương diện sùng bái, các tôn giáo khác đề cao Thượng Đế tôn quư nhất, nắm quyền thưởng phạt. Phật giáo coi Thượng Đế là phàm phu, trọn chẳng có quyền làm chủ, chủ trương “tâm tức là Phật, tâm cao hơn hết thảy, có thể tạo ra vạn pháp, th chuyển họa phước. Những điều vừa nêu trên đây là nói đại lược v s bất đồng giữa Phật giáo và các tôn giáo khác.

 

* Hỏi: Phật dạy đệ t có s trường đặc biệt nào? (Hồ Mỹ Nguyệt hỏi)

 

      Đáp: Chữ Dạy trong câuPhật dạy đệ t” có giới tuyến không rơ ràng. Phật giáo cho đến nay đă là hai ngàn mấy trăm năm, đệ tử trải các đời s lượng nhiều như cát sông Hằng, làm sao có th nói s trường của mỗi vị? Ch nói v đệ t trong thời đức Phật, s lượng cũng vạn ngàn. Nếu hỏi đến s trường, hăy nên nêu ra mấy v th́ mới có th nói trong phạm vi. đây, do hỏi chung chung, ch có th đáp chung chung. Vô lượng thế giới, không nơi nào chẳng thấy; tâm niệm của chúng sanh, khôngchẳng biết. Quá khứ, v lai, như hiện trước mắt, phi hành tự tại, hóa thân vô lượng. Có thể đem núi Tu Di nhét vào hạt cải, nhưng chư thiên các cơi trời Tứ Vương, Đao Lợi… vào trong ấy mà chẳng biết. Bốn đại hải trút vào một lỗ chân lông, chư long, quỷ thần chẳng bị phiền nhiễu! Có th rút gọn một kiếp thành bảy ngày, có thể kéo dài bảy ngày thành một kiếp. Có th đặt tam thiên đại thiên thế giới trong ḷng bàn tay để bay qua mười phương. Lại c̣n có th ném khỏi hằng sa thế giới, nhưng khiến cho hết thảy chúng sanh bất động. Một hơi hút trọn tất c các gió trong mười phương thế giới, một bụng đựng trọn hết lửa khi kiếp tận trong mười phương thế giới. Những điều giống như vậy, trọn chẳng th k xiết.

 

* Hỏi: “Quy y Phật lưỡng túc tôn” giải thích như thế nào? (Hồ Mỹ Nguyệt hỏi)

 

      Đáp: Trong loài hai chân như người và chư thiên, Phật là tôn quư. Đó là nói về h́nh dáng bên ngoài. Phước đức và trí huệ, hai thứ ấy đều trọn đủ, nên Phật là tôn quư, đó là nói về nội đức. Quy: Mê mà quay trở lại, Y là cậy vào đó để đắc độ. Nói gộp lại, bọn ta là phàm phu ngu mê, hăy nên gieo ḿnh nương cậy Phật ḥng liễu thoát sanh tử, ĺa khổ được vui.

 

* Hỏi: Hai chữ danh xưng “Phật giáo” nên giải thích như thế nào? (Hồ Mỹ Nguyệt hỏi)

 

      Đáp: Có thể tự giác, lại c̣n dùng những điều tự giác để giác ngộ người khác; hai sự này đều có thể làm đến viên măn tột cùng. Đó là ư nghĩa chữ Phật. Truyền dạy đạo pháp cho người khác, khiến cho họ nương theo tu tập. Đó là ư nghĩa của chữ Giáo. Nói gộp lại, tức là dùng đạo Chân Giác để sáng lập, truyền thụ, khiến cho đại chúng tu tŕ, chứng đắc Phật quả, đó là chính ư nghĩa Phật giáo.

 

* Hỏi: Chúng tôi là kẻ tại gia, gia đ́nh hỗn tạp, làm thế nào để giải thoát các tạp phiền năo và vô minh? (Hồ Mỹ Nguyệt hỏi)

 

      Đáp: Mong thành thánh, thành hiền, thành Phật, làm tổ, là chuyện mỗi người đều nên làm, trọn chẳng phân biệt xuất gia hay tại gia. Phật có tứ chúng đệ tử, đều có thể chứng quả, đó là chứng cớ rơ rệt. Bất quá người tại gia việc đời rối ren, so ra khó thanh tịnh. Nhưng nếu thật sự có thể vận dụng phương tiện thiện xảo thích nghi, giống như trồng hoa sen trong lửa, trong lửa đỏ mà hoa vẫn có thể sanh trưởng, giống như gặp ao chuôm, sẽ càng thêm xum xuê. Ngược lại, trồng sen trong nước, gặp lửa có thể bị héo. Tuy có các sự khó dễ ấy, chỉ cần là kẻ có chí, không ai là chẳng rốt cuộc thành tựu.

 

      * Hỏi: Hiện thời chỗ nào có bậc cao tăng kết cḥi tranh tu hạnh Đầu Đà để có thể thân cận? (Trương Vĩnh Cát hỏi)

 

      Đáp: Người tu kết cḥi tranh, c̣n có mấy chỗ, nhưng ông đ̣i nêu tên cao tăng tu hạnh Đầu Đà, ắt khó thể kể được. Bởi lẽ, hành hạnh Đầu Đà cố nhiên là cao tăng, nhưng cao tăng cũng có vị chẳng hành hạnh Đầu Đà, cũng có vị chẳng ở trong cḥi tranh. Chuyện này cần phải đích thân đến tham phỏng, sẽ khéo t́m được thầy.

 

      * Hỏi: Tu đạo trong núi thẳm, nếu chẳng có bậc cao tăng đại đức chỉ dạy, chính ḿnh lại chẳng hiểu, nên dùng loại kinh nào chỉ dạy phương pháp tham Thiền để tham khảo? (Trương Vĩnh Cát hỏi)

 

      Đáp: Tu hành trong núi thẳm, giống như bế quan, ắt phải thông đạt giáo tướng th́ mới thực hiện tốt đẹp. Nếu không, tu mù, luyện đui, phần nhiều lạc lối. Kinh điển th́ cần phải hỏi chính ḿnh muốn tu pháp ǵ, để mở kinh [tương ứng] ra đọc th́ mới có ích. Nếu không, càng xe hướng về phương Nam mà bánh xe xoay về phương Bắc, rất có thể chẳng hiểu văn nghĩa, chẳng đạt được mảy may ǵ!

 

      * Hỏi: Ăn thực vật mọc hoang, chẳng ăn gạo trong một thời gian dài th́ có được hay không? Trong quá khứ đă có vị Tăng hay tục nào hành như vậy hay chưa? (Trương Vĩnh Cát hỏi)

     

      Đáp: Trong quá khứ, cố nhiên là có tăng hay tục hành như thế, nhưng đều là tu tập đă lâu mà thành, quyết chẳng phải là người quen hưởng cao lương mỹ vị mà ngay lập tức có thể làm được!

 

      * Hỏi: Hiện thời trong tỉnh này (Đài Loan) có mấy nơi danh sơn thường có bậc cao tăng kết cḥi tranh? (Trương Vĩnh Cát hỏi)

 

      Đáp: Hăy tham khảo lời đáp thứ nhất.

 

* Hỏi: Thiền sư Điểu Sào là người thời nào? Xuất thân như thế nào? Cả đời có sự tích ǵ? Ngài tu hành trong núi nào? Phương pháp tu hành là như thế nào? Kính xin hăy dạy tường tận. (Trương Vĩnh Cát hỏi)

 

      Đáp: Sư là người thời vua Đại Tông nhà Đường[43]. Họ ngoài đời là Phan. Chín tuổi xuất gia, tham học các danh sư khắp Nam Bắc, sáng tỏ tâm địa. Về sau, Ngài trụ tại núi Tần Vọng, ở vắt vẻo trên một cội tùng có tán x̣e như cái lọng, người ta bèn gọi Ngài là thiền sư Điểu Sào (thiền sư tổ chim). Sau này, Ngài tọa hóa ở ngay nơi đó.

 

* Hỏi: Trong tỉnh này, Đại Phật Tự ở trên núi cao có tất cả mấy chỗ? Rải rác ở những chỗ nào? (Trương Vĩnh Cát hỏi)

 

      Đáp: Núi Quan Âm ở Đài Bắc có chùa Lăng Vân, núi Quan Âm ở Đại Hồ tại Miêu Lật có chùa Pháp Vân. Núi Sư Đầu ở Trúc Nam có chùa Nguyên Quang v.v… Các ngôi chùa cổ có đến mười mấy chỗ. Phương Nam th́ tại Quan Tể Lănh có chùa Đại Tiên, những nơi khác c̣n có rất nhiều, chẳng thể kể xiết!

 

* Hỏi: Trong mục vấn đáp số báo một trăm lẻ một, đại đức trả lời Quán Thế Âm Bồ Tát chẳng phải là người trong thế giới Sa Bà, tôi chưa hiểu rơ. Tôi nghĩ vào ngày Mười Chín của các tháng Hai, Sáu, Chín, tất cả các chùa miếu đều lễ bái Quán Âm Bồ Tát, nói những ngày đó [lần lượt] là ngày thánh đản, hoặc xuất gia, hoặc thành đạo, là do nhân duyên nào? (Hoàng Mễ Điền hỏi)

 

Đáp: Người trong cơi này, có ngày, tháng, năm sanh, nhưng lâu năm th́ cũng chẳng thể khảo cứu tường tận. [Đối với những vị] ở ngoài cơi này, càng chẳng thể luận định được! C̣n v́ sao ấn định ngày nào đó là thánh đản, ngày nào đó xuất gia, đều do người đời sau giả định, mượn những ngày đó để kỷ niệm mà thôi, đă lâu ngày, khó thể xét tường tận từng điều một. Do vậy, vào ngày đó, bèn tùy hỷ, thành tâm cúng dường, lễ bái là được rồi. Nếu cứ muốn phải chuẩn xác, chẳng qua là vẽ chuyện thêm phiền. Do lẽ đó, các nhà chép kinh đối với [thời điểm] đức Phật thuyết pháp luôn ghi bằng hai chữ “nhất thời”, trọn chẳng chép là ngày tháng nào!

 

* Hỏi: Trong bài hồi hướng có câu “xảo bả trần lao đương Phật sự” (khéo lấy trần lao làm Phật sự) có nghĩa là ǵ? Thực hiện như thế nào? (Bạch Trương Văn Thích hỏi)

 

      Đáp: Trần lao là tên khác của phiền năo. Phiền năo có thể phủ lấp chân tánh, nên gọi là Trần. Nó lại có thể khuấy loạn thân tâm, nên gọi là Lao (mệt nhọc). Các việc thế gian phần nhiều thuộc về phiền năo, hăy nên dùng phương pháp thiện xảo phương tiện để biến hết thảy phiền năo thành trợ duyên cho tự giác và giác tha, đó gọi là “phiền năo chính là Bồ Đề”. Hăy nên biết như thế, hăy nên hành như thế.

 

* Hỏi: V́ sao chư Phật trước đức Thích Ca chẳng có kinh điển? (Bạch Trương Văn Thích hỏi)

 

      Đáp: Thế gian thành, trụ, hoại, không, Phật pháp có [các thời kỳ] Chánh, Tượng, Mạt, Diệt. Đức Phật trước chẳng phải là không có kinh điển, nhưng pháp đến thời kỳ Diệt, kinh điển chẳng c̣n nữa. Hăy thử xem những chuyện được chép trong sử kư Trung Quốc, cổ nhất là Phục Hy, Thần Nông, bất quá mới là năm ngàn năm mà những sách ấy há có c̣n ư? Huống chi vị Phật trước cách đức Phật Thích Ca bao nhiêu kiếp số, kinh điển làm sao tồn tại cho đến hiện thời được? Hăy nên biết Phật Phật đạo đồng, những ǵ Thích Tôn đă nói trong hiện tại chính là kinh do các đức Phật trước kia đă nói.

 

      * Hỏi: Kinh Kim Cang có nói “chẳng có ngă tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng”, có nghĩa là ǵ? (Lâm Chánh Khảo hỏi)

 

      Đáp: Bốn câu ấy được giải thích khác nhau, có lẽ ông học Phật chưa lâu, kẻ hèn này chỉ nói theo cách giải thích dễ hiểu. Sau này, ông học khá hơn, sẽ tự lănh hội những cách giảng giải khác. Ngă là nói thân thể của chính ḿnh, Nhân là nói đến người khác. Chúng Sanh là nói đến đa số. Thọ Giả là nói liên tục không ngừng, Tướng là nói tới h́nh trạng. Đại ư là Nhân, Ngă, Chúng Sanh, Thọ Giả v.v… chỉ có giả tướng, trọn chẳng có thực thể.

 

      * Hỏi: “Phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm” nghĩa là ǵ? (Lâm Chánh Khảo hỏi)

 

      Đáp: Đại ư là phát tâm, mong trên thành Phật quả, dưới độ chúng sanh.

 

* Hỏi: Nghe nói người xuất gia làm ḥa thượng, chẳng thể hoàn tục, nhưng trong ngôi chùa Phật tại quê tôi có một vị xuất gia làm ḥa thượng đă hơn một năm, gần đây bỗng hoàn tục, hút thuốc, uống rượu trên phố, vào quán rượu v.v… chẳng biết người như vậy sau này sẽ có ác quả báo ứng ǵ hay không? Hoặc là chẳng sao cả! (Lâm Chánh Khảo hỏi)

 

Đáp: Người xuất gia có tu, có đắc, kẻ chịu hoàn tục là do chẳng hiểu Phật lư, chẳng cam chịu tĩnh mịch, sẽ tự hoàn tục. Nhưng khi xuất gia, bậc trưởng lăo trong chùa, thấy kẻ đó chẳng khế hợp, có thể cự tuyệt chẳng thâu nhận. Nếu kẻ ấy hoàn tục, chẳng cưỡng chế, ngăn trở. Người ấy đă hoàn tục, hết thảy hành vi chẳng liên can ǵ đến chùa miếu. C̣n như nhân quả tốt lành th́ bất luận tại gia hay xuất gia đều như nhau, sao lại nói là không sao cả!

 

* Hỏi: Nghe nói Thích Ca Thế Tôn ngự trong thế giới Vô Thắng, chẳng phải ở trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, điều ấy có chân xác hay không? Làm sao có lẽ ấy cho được? (Lâm Hoán Thành hỏi)  

 

      Đáp: Luận theo h́nh tích của hóa thân, đức Thích Tôn giáo hóa trong cơi này, Sa Bà tam thiên đại thiên thế giới là cơi Phật của đấng Thích Tôn. Nói theo Pháp Thân, sẽ là vô lượng thế giới, chẳng ở riêng một cơi nào.

 

      * Hỏi: Trong biểu đồ giảng về Thập Nhị Nhân Duyên có nói: “Quá khứ có nhân duyên, nên hiện tại có khổ quả. Do hiện tại có nhân duyên, nên vị lai có khổ quả”. Vấn đề là v́ sao khổ quả nhiều, chẳng thấy lạc quả? Nói rằng: “Phá mê ắt sẽ có thể khơi gợi ngộ”, “ĺa khổ sẽ tự đắc lạc”, xin hăy trả lời v́ sao chẳng thấy nguyên nhân của lạc quả? (Trần Lam Sơn hỏi)

 

      Đáp: Tam giới như nhà lửa, sanh tử không ngừng, đó là Khổ. Niết Bàn tịch tĩnh, bất sanh, bất diệt, đó là Lạc. Phàm phu không biết, nên cần phải khai ngộ, ắt cần phải liễu sanh tử th́ mới đắc chân lạc. Thập Nhị Nhân Duyên bắt đầu từ Vô Minh, đi theo thứ tự thuận tới Hành, tới Lăo Tử, th́ gọi là Lưu Chuyển Môn. Chết rồi lại sanh, sanh rồi lại chết, chẳng thoát khỏi thế gian, nên đều là Khổ. Nếu khởi từ Lăo Tử, chuyển ngược về trước để đoạn, bất cứ đoạn một điều ǵ, th́ gọi là Hoàn Diệt Môn. Diệt trừ cái nhân khổ trước, ắt chẳng có khổ quả sau đó. Vượt thoát tam giới th́ mới đạt được lạc.

 

      * Hỏi: Xin hăy giải thích “tam giới hỏa trạch” là như thế nào? (Du Kỳ hỏi)

 

      Đáp: Nghĩa này phát xuất từ kinh Pháp Hoa. Chắc ông đă liễu giải danh từ tam giới. “Hỏa trạch” (nhà lửa) là tỷ dụ, nhà đang ở, chất củi kín chung quanh, ở trong nhà ấy, yên ổn được mấy lúc, bất quá là trong khoảnh khắc liền thành tro tàn. Chúng sanh ở trong Sa Bà, các nỗi khổ chen nhau nung đốt, sanh tử không ngừng, cũng giống như vậy!

 

      * Hỏi: Xin hỏi nên hiểu một Phật độ như thế nào? (Du Kỳ hỏi)

 

      Đáp: “Độ” nghĩa là cuộc đất, tức là như nay nói là “chỗ, nơi”. Chớ nên chấp chết cứng [từ ngữ ấy] có nghĩa là đất đai. Chất liệu của Nam Thiệm Bộ Châu trong cơi Sa Bà là đất, nhưng “địa” ở các nơi khác chẳng phải đều là đất!

 

      * Hỏi: Xin hỏi sáu tầng trời cơi Dục, mười tám tầng cơi Sắc, bốn tầng cơi Vô Sắc, danh xưng của mỗi tầng như thế nào? (Du Kỳ hỏi)

 

      Đáp: Kể tên [đầy đủ] ở đây, sẽ chiếm quá nhiều chỗ. Nghe nói trong túi hành trang của ông có cuốn Di Đà Trích Chú Tiếp Mông, trong ấy có biểu đồ liệt kê các cơi trời, đối với mỗi cơi đều có ghi chú. Xin hăy tra duyệt, sẽ biết trọn vẹn danh từ và ư nghĩa.

     

* Hỏi: Xin hỏi trong ḷng hiếu thảo đối với cha mẹ, chẳng phải là cũng có Ái đó sao? Cụ nói đó là cách nói của thế tục, vậy th́ nhà Phật nói như thế nào? (Du Kỳ hỏi)

 

      Đáp: Ái là t́nh dấy lên, [t́nh cảm ấy] hướng đến cha mẹ bèn được đặt tên là Hiếu. Ḷng yêu thương ấy chánh đáng, chẳng tổn hại Tánh Đức. Nếu Ái hướng đến tài sắc, sẽ được đặt tên là tham, dâm. Ái ấy là tà, tổn hại Tánh Đức. Tà ái bèn tạo ác nghiệp, chánh ái là hữu lậu thiện nghiệp. Người học Phật tu hành, chưa đạt tới mức nghiệp tận t́nh không, tuy hiếu vẫn là ái kiến. Nếu Hoặc đoạn, trí khai, ắt hiếu xuất phát từ Tánh Đức, thuần là tự nhiên, chẳng có ái vậy.

 

      * Hỏi: Trong mỗi kinh đều có thiên, nhân, rồng, quỷ, A Tu La hộ tŕ Phật, nghe pháp. Địa ngục đạo là một trong lục đạo, v́ sao chẳng được kể vào trong ấy? (Châu Huệ Đức hỏi)

 

      Đáp: Cư sĩ vốn rất thông minh, sao cứ hỏi măi chuyện này? Chuyện cư sĩ hỏi, tôi tạm thời không bàn tới. Tôi có một câu hỏi, xin hăy trả lời! Tháng này là lễ quốc khánh, nam nữ các giới mặc sức tham gia, có thể nói là một đại hội không ngăn trở; nhưng thời quá khứ, chưa hề thấy tù nhân trong nhà giam được tham gia, đạo lư như thế nào, xin hăy dạy rơ cho tôi!

 

      * Hỏi: Lục Tổ Huệ Năng đại sư có biết chữ hay không? (Khưu Quốc Vinh hỏi)

 

      Đáp: Truyện tổ sư chép như vậy, chúng ta là người đời sau, chẳng gặp mặt Tổ, chỉ đành tin như vậy. Nếu nói khác đi, sẽ tạo thành đầu mối tranh căi.

 

* Hỏi: Chẳng biết tại gia cư sĩ và tại gia ưu-bà-tắc có chỗ nào khác biệt? (Trần Tín Cát hỏi)

 

      Đáp: Cư sĩ là danh xưng tiếng Hán. Ưu-bà-tắc là danh xưng tiếng Phạn, đều là người tu thanh tịnh tại gia. Danh xưng khác nhau, nhưng ư nghĩa như nhau!

 

      * Hỏi: Thân phận ǵ th́ mới có thể mặc trường bào trắng? Và trong trường hợp nào th́ mới có thể mặc? (Trần Tín Cát hỏi)

 

      Đáp: Phật môn gọi trường bào là đại bào, c̣n gọi là hải thanh, đó là y phục cổ của Trung Quốc. Khi khoanh hai tay lại, tay áo rộng chấm đến đầu gối, vạt áo và cổ áo đều được may chỉ dằn mép, đều to rộng. Loại áo này phần nhiều chọn màu xanh dương, người xuất gia dùng màu vàng. Loại áo này chẳng hạn chế nghiêm ngặt, sau khi quy y liền có thể mặc. Mặc khi tham gia Phật sự là thích hợp, cốt sao chỉnh tề là được rồi, khác với các loại thủy điền y và mạn y[44]. Những loại ấy được gọi là ca-sa, thủy điền y dành riêng cho chúng xuất gia, mạn y dành cho chúng tại gia. Hàng tại gia sau khi thọ Ngũ Giới, gặp lễ trọng có thể đắp [mạn y].

Phật Học Vấn Đáp Loại Biên

Phần 10 hết

 



[1] Ở đây, ông Tiết lầm lẫn hai khái niệm Tây Thiên và Tây Phương Cực Lạc. Do Ấn Độ ở phía Tây Trung Hoa, nên thường được gọi là Tây Thiên (hoặc Tây Trúc, Thiên Trúc), c̣n Trung Hoa thường gọi là Đông Thổ (Đông Độ). Ông Tiết nghĩ Tây Phương Cực Lạc thế giới là Ấn Độ nên mới viết “Thích Ca Mâu Ni Phật là đấng giáo chủ cơi Tây Phương”.

[2] B́nh Đông là một huyện của đảo Đài Loan, nằm về cuối đảo, thuộc về phía Đông Nam.

[3] C̣n gọi là “thiên long bát bộ”, tức trời, rồng, dạ xoa, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Càn Thát Bà, Ma Hầu La Già.

[4] Đây là một điển tích. Tử Sản họ Công Tôn, tên là Kiều, tên tự là Tử Sản, làm Tướng Quốc nước Trịnh. Ông là một chánh khách tài giỏi, thông minh, khéo tổ chức, cai trị, biến nước Trịnh thành một nước hùng mạnh thời ấy. Có lần có người biếu Tử Sản một con cá to, Tử Sản chẳng nỡ ăn, sai người hầu chuyên trông nom ao chuôm trong thái ấp hăy đem thả cá. Người ấy đem nấu ăn no nê, rồi trở về nói dối: “Cá vừa mới được thả, thoạt đầu nó khẽ cựa quậy, rồi tung tăng bơi đi”. Tử Sản vui mừng nói: “Nó được sống trong nơi thích hợp đấy mà”. Người hầu ra ngoài, chê: “Ai bảo Tử Sản có trí? Ta đă nấu ăn mất rồi mà c̣n bảo nó đă được sống nơi thích hợp!”

[5] Tăng Văn Chánh Công chính là Tăng Quốc Phiên (1811-1872). Ông thoạt đầu có tên là Tử Thành, tự Bá Hàm, thụy hiệu là Văn Chánh, người huyện Tương Hương, phủ Trường Sa, tỉnh Hồ Nam. Ông là một đại thần lỗi lạc cuối đời Thanh, được đánh giá rất cao về học vấn, tài văn chương, năng lực, đức độ cũng như tài cầm quân. Công lao lớn nhất của ông là dẹp tan loạn Thái B́nh Thiên Quốc. Không rơ chuyện ông bị gă thư sinh gạt tiền là như thế nào.

[6] “Trung quốc” ở đây không có nghĩa là Trung Hoa, mà có nghĩa những vùng ở chính giữa đất nước, hoặc những địa phương phồn thịnh, văn minh, chẳng phải là nơi biên cương, quê mùa, hẻo lánh, nhưng bà Châu Huệ Đức lại hiểu chữ “trung quốc” có nghĩa là Trung Quốc, nên mới nói: Chúng ta may được làm thân người, sanh tại Trung Quốc”.

[7] Ở đây, bà Châu Huệ Đức nói sai. Ngài Trí Giả được Phật môn Trung Hoa coi là hậu thân của Phật Thích Ca.

[8] Con sông này có tên gọi đầy đủ là Trược Thủy Khê, dài 186 km, lưu vực rộng đến 156,90 km2. Do sông mang theo một lượng lớn phù sa, quanh năm nước sông đục ngầu, nên có tên như vậy. Sông khởi nguồn từ huyện Nam Đầu, chảy qua các huyện Nam Đầu, Vân Lâm, Gia Nghĩa, là ranh giới tự nhiên giữa hai huyện Chương Hóa và Vân Lâm. Sông có rất nhiều phụ lưu như Thanh Thủy Khê, Gia Tẩu Liêu Khê, Đông Phố Nhuế Khê, Thủy Lư Khê, Tùng Bách Khanh Khê, Trác Côn Khê v.v…

[9] Do “vấn tấn” (問訊) c̣n có nghĩa là chào hỏi, hỏi thăm, nên ông Triệu Liên mới nghĩ khi “vấn tấn” Phật, Bồ Tát phải niệm những lời thưa hỏi.

[10] Ha Lê Lặc (Harītakī) là một loại trái thường được dùng làm thuốc, thường được biết dưới tên tiếng Anh là Myrobalan. Trái có h́nh thoi, quả mọng, có vị đắng, được Trung Y coi là có tính ấm, không độc, có tác dụng tiêu đàm, hạ khí, chữa cảm v.v…

[11] A Nậu có tên gọi đầy đủ là A Nậu Đạt (Anavatapta), dịch sang nghĩa tiếng Hán là Vô Nhiệt, hoặc Thanh Lương Tŕ, là một vùng tuyết đọng cực lớn, nằm ở phía Nam Hương Sơn (Kailana), phía Bắc Tuyết Sơn (Himalayas), được coi là nơi phát nguồn các con sông chính tại Ấn Độ.

[12] Tánh Danh Học (姓名學) là phép bói toán dựa theo tên họ của mỗi người. Các nhà tướng số dựa theo cách viết chữ Hán của tên gọi để lập các hào Bát Quái, dựa vào bộ thủ để đoán định Ngũ Hành và suy đoán vận mạng của người mang tên họ ấy. Họ c̣n đi xa hơn bằng cách dựa vào tuổi của người ấy để khuyên nên tránh đặt tên ǵ, hoặc nên đặt tên ǵ. Đôi khi có những lư luận nghe rất ngô nghê như người tuổi Hợi phải kiêng đặt tên có chữ Hỏa trong đó v́ lợn kỵ bị lửa nướng, hoặc có những chữ liên quan đến cúng tế, chúc tụng, mừng vui, v́ lợn thường bị giết trong những dịp ấy!

[13] Bắc Lư là một loại nhạc khúc đệm cho một điệu múa thời cổ. Từ ngữ này thấy được chép đầu tiên trong Sử Kư của Tư Mă Thiên: “Đế Trụ hảo tửu dâm nhạc, bế ư phụ nhân, ái Đát Kỷ. Đát chi ngôn thị tùng, ư thị sử Sư Quyên tác tân dâm nhạc, Bắc Lư chi vũ, mỵ mỵ chi nhạo” (Vua Trụ thích rượu, ưa đắm nhạc, mê đàn bà, say đắm Đát Kỷ, nên nghe lời Đát Kỷ, sai Sư Quyên (một vị nhạc sư nổi tiếng thời ấy) chế ra khúc nhạc quyến rũ say đắm mới để dùng trong điệu vũ Bắc Lư, vua vui thích say sưa trong ấy). Về sau, chữ Bắc Lư thường được dùng với nghĩa xấu, tất cả các loại nhạc khêu gợi, ủy mị, dâm đăng, hoặc thô tục đều được gọi là Bắc Lư.

[14] Đây là một đoạn vấn đáp trong Hoàng Đế Nội Kinh, thiên Thượng Cổ Thiên Chân Luận. Theo đó, Hoàng Đế hỏi Kỳ Bá v́ sao con người từ năm mươi tuổi trở đi đă suy nhược, có nhiều người chẳng cử động được, nhưng người thời thượng cổ dẫu trăm tuổi vẫn khỏe mạnh, hăng hái? Kỳ Bá trả lời: “Dĩ tửu vi tương, dĩ vọng vi thường, túy dĩ nhập pḥng, dĩ dục kiệt kỳ tinh, dĩ hao tán kỳ chân” ([người thời nay] coi rượu như nước lă để uống thường xuyên, coi những điều xằng bậy như lẽ thường, đă say sưa c̣n ân ái, đến nỗi tinh khí cạn kiệt, chân khí hao tán).

[15] Kim Môn là một quần đảo (gồm các đảo Đại Kim Môn, Tiểu Kim Môn, Sư Dự, Mănh Hổ Dự, Thảo Dự, Hậu Dự, Động Đĩnh v.v…), được tổ chức thành cấp huyện của Đài Loan, có tên cổ là Ngô Châu, vốn thuộc huyện Đồng An tỉnh Phước Kiến, được tách ra thành huyện Tư Minh thời Dân Quốc, đến năm 1913, thành lập huyện Kim Môn. Quần đảo này gần như đối diện với thành phố Hạ Môn của Trung Quốc, nên phía Trung Cộng thường đem tàu đến pháo kích thị uy nhằm dằn mặt Trung Hoa Dân Quốc. V́ thế, Kim Môn thường được coi là tiền tuyến của Đài Loan.

[16] Tam Tế, nói đủ là Tam Tế Tướng, tức là ba tướng vi tế do một niệm bất giác vô minh sanh ra, tức là Vô Minh Nghiệp Tướng, Kiến Tướng (c̣n gọi là Chuyển Tướng, Năng Kiến Tướng), và Cảnh Giới Tướng.

[17] Chúng tôi dịch câu này theo bài giảng Phật Thuyết Tứ Thập Nhị Chương Giảng Kư của pháp sư Tự Lập. Pháp sư Tự Lập, pháp danh Truyền Tâm, tự Thừa Ḥa, hiệu Tự Lập, sanh năm 1927, hiện vẫn c̣n sống, là người huyện Thái, tỉnh Giang Tô. Do mồ côi từ bé, Sư y chỉ ḥa thượng Bái Lâm Trí Khai ở Quán Âm Am tại quê nhà từ năm chín tuổi. Sư từng theo học với các vị Đại Tỉnh, Nam Đ́nh, tốt nghiệp từ Vũ Lâm Phật Học Viện tại Hàng Châu. Năm 1949, Sư sang Đài Loan, y chỉ pháp sư Từ Hàng, nhận lời thỉnh của đại chúng làm Trụ Tŕ chùa Ẩn Tú tại Manila (Philippines), và làm đạo sư của Phổ Hiền Phật Học Viện tại đó. Sư c̣n sáng lập tạp chí Từ Hàng xuất bản mỗi ba tháng, và thường viết nhiều bài về Phật giáo với pháp danh Nhược Thủy.

[18] Hữu t́nh thế gian là các sinh vật, c̣n khí thế gian chính là hoàn cảnh, môi trường vật chất.

[19] Thánh Lượng chính là Thánh Ngôn Lượng, tức dựa trên lời dạy của thánh nhân (Phật, Bồ Tát, La Hán v.v..) để lănh nhận chân lư.

[20] Huấn Hỗ (訓詁, c̣n đọc là Huấn Cố. Đôi khi c̣n dùng các danh từ khác là Cố Huấn, Cổ Huấn, Giải Cố, Giải Hỗ) là một ngành học thuật chuyên nghiên cứu cổ thư của Trung Hoa. Huấn Hỗ có nghĩa là nghiên cứu ư nghĩa của từng từ ngữ, cách biến hóa của chúng trong phương pháp sử dụng theo từng thời đại, cũng như nghiên cứu cú pháp và các biện pháp tu từ trong văn học cổ điển Trung Hoa. Ngành học này được chia làm hai tiểu loại chính là Âm Vận Học và Văn Tự Học. Môn học này đă h́nh thành vào thời Tiên Tần, và được hệ thống hóa vào đời Hán. Các tác phẩm thuộc hệ thống Huấn Hỗ có thể chia thành hai loại: Loại thứ nhất là Chú Sớ tức giải thích các tác phẩm cổ như Luận Ngữ Chú Sớ, Mao Thi Chú Sớ, Hàn Phi Tử Tập Giải v.v… Loại thứ hai chú trọng giải thích, phân loại từ ngữ cổ, các tác phẩm điển h́nh cho loại này là các bộ Nhĩ Nhă, Thuyết Văn Giải Tự, Do Hiên Sứ Giả Tuyệt Đại Ngữ Thích Biệt Quốc Phương Ngôn v.v…

[21] Yến Anh (?-500 trước Công Nguyên), tên là Trọng, thường được gọi là B́nh Trọng hoặc Yến Tử (Án Tử), quê ở huyện Di Duy (nay thuộc Lai Châu, tỉnh Sơn Đông). Ông là một nhà ngoại giao và chính khách lỗi lạc thời Xuân Thu Chiến Quốc. Yến Anh là con của Thượng Đại Phu Yến Nhược nước Tề, cực thông minh, mẫn thiệp, giỏi ăn nói, khéo cai trị, sống hết sức tiết kiệm, tài cao, nhưng khiêm cung. Yến Anh làm Thượng Đại Phu suốt ba đời vua Linh Công, Trang Công, và Cảnh Công nước Tề. Ông thường khuyên Tề Cảnh Công (Tề Đông Hôn Hầu) đừng đam mê tửu sắc. Ông được dân chúng ngưỡng mộ đến nỗi quyền thần Thôi Trữ khi giết Tề Trang Công đă không dám động đến ông khi ông công khai đến trước xác Tề Trang Công khóc trong khi các quan chẳng dám hó hé. Ông đi sứ nước Sở, do vua Sở thấy ông loắt choắt, tính làm nhục, chỉ mở hé cửa chính mời ông vào. Ông nói: “Nếu đi sứ sang nước của chó th́ mới theo lỗ chó chui vào. Nay tôi đi sứ nước Sở, chẳng nên theo lỗ chó này chui vào”. Vua quan nước Sở sượng mặt, phải mở rộng cửa chánh đón ông. Sở Linh Vương nói kháy: “Nước Tề hết người rồi sao mà sai ông đi sứ”. Yến Anh đáp: “Nước Tề sai người đi sứ, mỗi nơi đều có chủ trương riêng. Người hiền sai đi sức nước hiền, kẻ chẳng hiền mới sai sang sứ nước chẳng ra ǵ. Yến Anh tôi chẳng ra ǵ, nên mới được sai đi sứ nước Sở”. Sở Linh Vương câm nín! Yến Anh thường được nhắc tới nhiều lần trong bộ tiểu thuyết Chung Vô Diệm.

[22] Bùi Độ (765-839) là vị tể tướng lừng danh đời Đương, ông tự là Trung Lập, người huyện Văn Hỷ tỉnh Hà Đông (nay thuộc tỉnh Sơn Tây). Ông làm quan trải các đời vua Đường Hiến Tông, Mục Tông, Kính Tông và Văn Tông. Ông có công dẹp tan thế lực của các phiên trấn lũng đoạn chính quyền trung ương thời đó. Công lớn nhất của ông là hoạch địch kế sách tước quyền, đập tan cuộc phản loạn của Tiết Độ Sứ Ngô Nguyên Tề (cấu kết với các Tiết Độ Sứ Vương Thừa Tông và Lư Sư Đạo).

[23] Lữ Văn Mục Công chính là Lữ Mông Chánh (946-1011), là một vị quan nổi tiếng thời Bắc Tống, quê ở Lạc Dương, tỉnh Hà Nam, tên tự là Thánh Công, thụy hiệu Văn Mục, ba lượt làm Tể Tướng. Bảy người con của ông là Lữ Tùng Giản, Lữ Duy Giản, Lữ Thừa Giản, Lữ Hành Giản, Lữ Vụ Giản, Lữ Cư Giản và Lữ Tri Giản đều làm quan to và đều nổi tiếng là tài cao học rộng. Ông bị cha ruồng rẫy từ bé, sống rất cực khổ, từng có lúc phải ăn xin v́ mẹ không kiếm nổi tiền mua gạo. Ông đỗ Trạng Nguyên năm Thái B́nh Hưng Quốc thứ 2 (977), được phong làm Tể Tướng lần thứ nhất vào năm Đoan Củng nguyên niên (988), tức là chỉ mười một năm sau khi được bổ làm quan đầu tiên. Do can vua thẳng thừng nên bị giáng chức hai lần. Lần giáng chức thứ nhất vào năm Thuần Hóa thứ hai (991), ông được phục chức hai năm sau đó. Lần giáng chức thứ hai nhằm năm Chí Đạo nguyên niên (995). Đến năm Hàm B́nh thứ tư (1001) mới được phục chức Tể Tướng, và được phong Lại Quốc Công. Ông thông hiểu Phật học sâu xa, ngộ thế sự vô thường, thường giáo huấn con cháu tin Phật, học Phật, và thường nói: “Những kẻ chẳng tin Phật pháp đừng sanh làm con cháu trong nhà ta”.

[24] Theo thần thoại Trung Quốc, thời vua Nghiêu và Thuấn, xuất hiện bốn con vật hung tàn là Hỗn Độn (混沌), Thao Thiết (饕餮), Cùng Kỳ (窮奇) và Đào Ngột (檮杌). Theo Thần Dị Kinh, Hỗn Độn h́nh dáng giống như chó, mập núc ních, màu đỏ rực, có sáu chân, không có móng, có mắt, nhưng không thấy, có tai, nhưng không nghe được, có bốn cánh, trong bụng không có ngũ tạng. Con vật này hễ gặp người hiền đức bèn tấn công, gặp kẻ ác bèn tuân theo sự chỉ huy của họ. Cùng Kỳ to bằng con trâu, h́nh dạng như hổ, da dầy, mọc lông nhọn tua tủa như nhím, có cánh, tiếng như chó tru, thích ăn thịt người. Đào Ngột h́nh dạng giống như hổ, nhưng lông như lông chó, mặt người, chân hổ, nanh như nanh lợn rừng, đuôi dài một trượng tám thước. Thao Thiết c̣n gọi là Đồ Đằng (图腾), đầu có sừng cong, mũi to, trên mũi có sừng, răng bén nhọn ch́a ra ngoài, tham ăn, hung bạo. Theo truyền thuyết, khi Xi Vưu bị Hiên Viên Hoàng Đế chém đầu, đầu Xi Vưu liền biến thành ác thú Thao Thiết. Thần Dị Kinh lại nói Thao Thiết h́nh dáng giống như loài trâu, mặt người, mắt ở dưới nách, ăn thịt người. Có thuyết nói Thao Thiết chính là một trong chín loại sinh vật do rồng sanh ra, có đầu nhưng không có thân nên ăn măi không no. Các thứ đỉnh đồng cổ thường khắc h́nh đầu loại thú này, gọi là Thao Thiết Văn.

[25] Câu này xuất phát từ bài Bí Cung trong phần Lỗ Tụng của Kinh Thi: “Thiên tích công thuần hỗ, mi thọ bảo Lỗ, cư Thường dữ Hứa, phục Châu Công chi vũ. Lỗ Hầu an hỷ, lệnh thê thọ mẫu, nghi đại phu thứ sĩ, bang quốc thị hữu”. Bài này thường được giải thích như sau: “Trời ban cho ông phước phận to lớn, sống lâu để bảo vệ nước Lỗ. Có thể giành lại đất Thường và đất Hứa, khôi phục biên cương đất nước từ thời Châu Công. Vua Lỗ an lạc, sung sướng, vợ hiền, con ngoan, mẹ già rất thọ, khiến cho quan lẫn dân đều sống yên vui, tự nhiên giữ vững đất nước”. Bí Cung chính là tên một cung điện mà vua Lỗ dành riêng để tế lễ tổ tiên. Phần Lỗ Tụng chép những bài hát được dùng trong các nghi lễ cúng tế của hoàng tộc nước Lỗ.

[26] Vơng mạc (Retina) là lớp màng lót mặt trong của mắt, gồm nhiều huyết quản li ti có tác dụng nuôi dưỡng mắt và tiếp nhận ánh sáng; có thể ví vơng mạc giống như phim trong máy chụp ảnh. Vơng mạc có chứa nhiều tế bào h́nh nón (được gọi là “thể h́nh nón”, cone cells) và h́nh que (rod cells), có tác dụng tiếp nhận và dẫn truyền các kích thích từ bên ngoài, chuyển sang các dây thần kinh thị giác.

[27] Hương bản (香板) là một dụng cụ dùng trong Thiền Đường để vị tăng giám thiền đánh nhẹ lên vai người tọa Thiền với tác dụng điều chỉnh tư thế, hoặc thức tỉnh khi người ấy hôn trầm hoặc trạo cử. Hương bản có h́nh dáng hẹp dài, thường làm bằng gỗ, có h́nh dạng như một thanh kiếm. Trên thân hương bản thường khắc những chữ như Cảnh Sách, Tinh Tấn v.v... Tùy theo thời tiết trong năm mà hương bản có độ dày khác nhau (v́ mùa Đông mặc quần áo dày hơn, nên hương bản phải nặng hơn). Theo truyền thuyết, khi ngài Ngọc Lâm Thông Tú quốc sư viên tịch, vua Ung Chánh nhà Thanh rất luyến mộ, bèn hạ lệnh t́m môn nhân của Ngài vào cung vấn pháp. Do ngài Ngọc Lâm thường du hóa trong nhân gian, rất khó biết ai là đệ tử thật sự đắc pháp của Ngài. Tại chùa Cao Mân ở Giang Tô có một vị Tăng chốc đầu tự xưng là đồ tôn của quốc sư; nên quan lại địa phương vội vă đưa vị Sư ấy vào cung. Hỏi đáp mấy câu, thấy vị Tăng ấy mù mờ chẳng biết ǵ, vua hết sức tức giận, quở sư là kẻ đă làm nhục tông sư, nên ra lệnh nhốt vào một gian tịnh thất, treo một thanh kiếm báu ngoài cửa, hạn định trong bảy ngày phải khai ngộ. Nếu không, sẽ chặt đầu. Đến tối thứ bảy, vị Tăng ấy vẫn chưa khai ngộ, bị quân lính đuổi giết, chạy ṿng quanh, vấp phải cột, ngă xuống đất, chợt khai ngộ, bèn kêu ầm lên: “Hạ gươm xuống, ta muốn chặt đầu vạn tuế gia”. Vua đến cật vấn, ấn chứng vị sư ấy thật sự khai ngộ. Do đó, Thiền gia chế ra hương bản theo h́nh kiếm báu để cảnh tỉnh hành giả tọa Thiền và áp dụng lối chạy hương (hương băo).

[28] Trong câu hỏi của Ẩn Danh Thị, chữ Đới được ghi là (cái đai), chẳng phải là Đới (: mang theo) như trong bài Tứ Liệu Giản của tổ Vĩnh Minh Diên Thọ.

[29] “Trai đường” (齋堂) ở đây có nghĩa là những nơi thờ phụng Phật, thần lẫn lộn, người ở nơi ấy ăn chay. Thông thường, “trai đường” có thể là nơi thờ tự của một giáo phái ngoại đạo dựa hơi Phật giáo tại Đài Loan có danh xưng là Trai Giáo (tức Long Hoa Trai Giáo), hoặc đơn thuần là một ngôi miếu thờ cúng thần Phật lẫn lộn, đạo nhân (thật ra là người giữ miếu) nơi đó ăn vận giống như đạo sĩ hoặc người thế tục, nhưng ăn chay. Họ thường pha trộn lung tung giữa Đạo giáo và Phật đạo, cách tu thường là luyện đan, luyện khí, tụng kinh Phật lẫn kinh Đạo Giáo, cầu cơ, lên đồng, chữa bệnh bằng phù phép v.v… Điểm khác biệt giữa Thiện Đường và Trai Đường là người tu hành hoặc chủ tŕ Thiện Đường không nhất thiết ăn chay như người tu trong Trai Đường.

[30] Ngũ Phương Ngũ Thổ Long Thần được coi là một trong các vị thần chủ quản đất đai, bao gồm nhiều vị thần, thường được viết thành bài vị bao gồm hai vị thần Tiền Hậu Địa Chủ Tài Thần và Ngũ Phương Ngũ Thổ Long Thần. Ngũ Phương tức là bốn phương và chính giữa, Ngũ Thổ là núi rừng, sông ng̣i, đồi g̣, phần mộ và đồng bằng. Do người Hoa tin đất có long mạch, nên thần thổ địa cũng được gọi là Long Thần. Có thuyết giải thích long thần thật sự là long vương. Có thuyết lại giải thích do “có đất th́ mới tiền của” nên thần thổ địa chính là Tài Thần hoặc Phước Đức Chánh Thần.

[31] Thần Côn (神棍), là những kẻ dối gạt thường xưng là được quỷ thần giáng thân, bày vẽ những tṛ hoa dạng, tự xưng có thần thông, phép lạ nhằm mục đích trục lợi.

[32] “Thiện bảng” (善榜) ở đây là bảng ghi tên người bố thí, quyên tặng.

[33] Mắt xanh (thanh nhăn, 青眼) là một từ ngữ chỉ sự đối đăi hết sức tôn trọng. Theo truyền thuyết, Nguyễn Tịch (một trong Trúc Lâm Thất Hiền), khi coi trọng ai bèn nh́n thẳng, chăm chú, tṛng đen trắng phân minh, nhằm tỏ ư tôn trọng, nên gọi là “thanh nhăn”. Khi coi thường ai, chỉ liếc xéo để lộ toàn tṛng trắng, nên gọi là “bạch nhăn”.

[34] Cổ đông (股東): Người góp vốn, hùn vốn.

[35] Tứ muội: Cô em thứ tư, tiếng gọi thân mật bà Châu Huệ Đức, v́ họ đều là học tṛ của cụ Lư Bỉnh Nam.

[36] Đây là một câu nói trích trong sách Luận Ngữ: “Quư Thị phú ư Châu Công, nhi Cầu dă vi chi tụ liễm nhi phụ. Tử viết: - Phi ngô đồ dă, tiểu tử minh cổ nhi công chi, khả dă” (Quư Thị giàu có hơn Châu Công, mà Nhiêm Cầu vẫn c̣n giúp cho hắn ta kiếm thêm tiền tài. Khổng Tử nói: - Chẳng phải là học tṛ của ta! Các bạn học có thể đánh trống công bố tội lỗi của anh ta).

[37] Minh Tâm Bảo Giám là một tác phẩm bao gồm những câu cách ngôn về đạo đức tu thân, dưỡng tánh, an thân lập mạng. Không rơ ai là tác giả, các nhà nghiên cứu chỉ biết sách được h́nh thành vào cuối đời Nguyên, đầu đời Minh; bản lưu thông hiện thời được Phạm Lập Bổn chỉnh lư vào đời Minh. Sách được chia thành hai mươi thiên, gồm chừng sáu trăm đến bảy trăm đoạn.

[38] Theo cách giải thích truyền thống của thần học Công Giáo, “lỗ kim” ở đây không phải là lỗ của cây kim mà là một cổng phụ rất nhỏ bên cạnh cổng thành chính ở Jerusalem, chỉ mở cho người và vật ra vào khi cổng thành chính đă đóng. Khi dẫn lạc đà qua, người ta phải tháo hết đồ đạc trên lưng nó xuống, tốn rất nhiều công sức buộc lạc đà khụy gối xuống, ḅ qua lỗ nhỏ ấy. Tuy thế, theo một số nhà thần học, “lỗ kim” đúng là lỗ kim, v́ trong đoạn kinh kế tiếp trong sách Phúc Âm Mathew, câu 26 trong tiết 19: “Đối với con người th́ không thể, nhưng đối với Chúa mọi thứ đều có thể”. Cyril of Alexandria (Thượng Phụ xứ Alexandria, 376-444, ông này được coi là bậc thầy khai sáng trong thần học Thiên Chúa Giáo) lại cho rằng chữ Kamêlos (lạc đà) trong bản in Kinh Thánh bằng tiếng Hy Lạp là sai, đúng ra phải là Kamilos (dây thừng). Tuy vậy, thuyết này bị coi là vơ đoán, thiếu bằng chứng thuyết phục.

[39] Chúng tôi dịch câu này theo lời chú giải của Khổng Dĩnh Đạt: “Ư nói đạo quỷ thần dưỡng sanh vạn vật, không ǵ chẳng trọn khắp, không bỏ sót ǵ, có nghĩa là vạn vật không ǵ chẳng do khí quỷ thần sanh ra”.

[40] Đây là phép xét xem nghiệp chướng nặng hay nhẹ được dạy trong kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo.

[41] Cổ thư nói Kiêu là một loài chim ác, vừa nở ra bèn giết chết chim mẹ để ăn thịt; Kính là một loài thú vừa sanh ra bèn ăn thịt cha.

[42] Tào Tháo là thừa tướng nhà Hán, ép Hán Hiến Đế phong làm Ngụy Công (với thái ấp là Ngụy Quận và chín quận khác thuộc Kư Châu, h́nh thành một nước riêng trong lănh thổ nhà Hán, với hệ thống chánh quyền riêng). Năm 216, Tào Tháo ép Hán Hiến Đế phong ông ta làm Ngụy Vương, chuẩn bị các kế hoạch cho con cháu cướp ngôi nhà Hán. Tư Mă Viêm là cháu nội đại tướng Tư Mă Ư của nhà Tào Ngụy đă bắt hoàng đế Tào Nguyên Đế (Tào Hoán) thoái vị và nhường ngôi cho ông ta, lập ra nhà Tấn. Sở dĩ, Tư Mă Viêm chọn tên của triều đại là Tấn v́ cha của ông ta là Tư Mă Chiêu do có công dẹp tan nhà Thục Hán của Lưu Bị, nên được vua Tào Ngụy phong là Tấn Vương.

[43] Đường Đại Tông làm vua từ năm 762 đến năm 779.

[44] “Thủy điền y” c̣n gọi là Phước Điền Y, tức y của hàng xuất gia gồm các loại năm điều, bảy điều, hai lăm điều. Do được may bởi các mảnh vải ghép lại (mỗi mảnh là một điều), may dằn mép hoặc viền mép trông giống như thửa ruộng, nên gọi như vậy. Mạn y là y trơn không có điều, thường dành riêng cho sa-di hoặc cư sĩ; nhưng cư sĩ người Hoa thường chỉ đắp mạn y khi tụng Bồ Tát Giới hoặc trong lễ sám hối, không đắp thường xuyên.