Phật
Học Vấn Đáp Loại Biên
佛學問答類編
Phần 10
Lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam giải
đáp
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
(theo bản in của Lư Bỉnh Nam Lăo
Cư Sĩ Toàn Tập Biên Tập Ủy Viên Hội, Đài
Loan, 2007)
Giảo chánh: Đức Phong và Huệ
Trang
*
Hỏi: Hậu học rất có hứng thú t́m hiểu sâu về phương thức hóa thân vô lượng của Phật, Bồ Tát. Dựa theo ư nghĩa trong kinh (như
kinh Lăng Nghiêm, phẩm Phổ Môn của kinh Pháp Hoa), trong nhân gian có khá nhiều vị là hóa thân của Phật, Bồ Tát, hoặc là được phái đến, có vị vẫn chưa tự biết [chính ḿnh là hóa thân] (do khai ngộ có sớm hay chậm), có vị tự biết nhưng chẳng chịu nói với người khác; nay tôi muốn hiểu rơ cách thức hóa thân cứu độ chúng sanh của Phật, Bồ Tát, xin hỏi nên đọc kinh luận nào?
Ở đâu có bán, hoặc có thể mượn đọc? (Lưu cư
sĩ hỏi)
Đáp: Đối với các bậc hóa thân như ông đă luận, có vị tự biết, hoặc chẳng biết v.v… Suy theo lư, sự việc có lẽ là đúng như thế. Nhưng những điều giảng về hóa thân được nói rải rác trong các
kinh, trọn chẳng có kinh luận nào chuyên môn nói hoặc đặc biệt chép về chuyện này. Bọn hành giả chúng ta hăy nên noi theo thực tiễn, y giáo phụng hành, cầu liễu sanh tử. Nếu chuộng chuyện lạ lùng, e sẽ đâm quàng lối rẽ. Cổ đức có rất nhiều lời răn bảo như thế, chứ chẳng phải là kẻ hèn này ngăn trở hứng thú của kẻ khác!
* Hỏi: Đại nguyện của
Địa Tạng Vương Bồ Tát là: “Chúng sanh độ hết, mới chứng Bồ
Đề. Địa ngục chẳng trống, thề
chẳng thành Phật”. Phật đă phát đại
nguyện, nhưng chúng sanh ngày càng trở thành xấu ác
hơn, cớ sao Ngài chẳng dấn thân trong nhân gian
nhằm chỉ dạy lũ chúng sanh lạc
đường trở về nẻo lành? Làm như vậy
chẳng phải là sẽ có thể hoàn thành nhiệm vụ
rất nhanh ư? V́ sao bậc đại Phật chỉ
nói như vậy, mà chẳng thấy làm ǵ? (Tiết Đăng Huy hỏi)
Đáp: Đức Địa
Tạng hóa thân trong nhân gian vô lượng vô biên, mỗi pháp
giới đều có thân Ngài, nhưng con người
chẳng nhận biết. Rơ rệt nhất là chuyện Ngài
hóa thân tại Cửu Hoa Sơn vào đời
Đường. Ông nói “chỉ
dạy cho kẻ lạc đường” th́ bất quá
cũng là ngôn ngữ, văn tự. Kinh Phật gồm Tam
Tạng mênh mông, đều là chỉ bảo kẻ mê,
nhưng người ta không tin theo, lỗi của ai
vậy? Hơn nữa, pháp luật thế gian cũng
nhằm giữ ǵn điều thiện, trừng phạt
lỗi ác; các cơ quan như cảnh sát, nhà tù v.v…, các h́nh
phạt như bắt giữ, trừng phạt, lưu
đày, tử h́nh v.v… Chẳng thể chê trách những
điều đó là nói suông, cớ sao nhân dân vẫn
nhiều lượt vi phạm? Đó là v́ chúng sanh mê
muội chẳng quay đầu, ngược ngạo trách
Bồ Tát chẳng dốc sức làm việc, há có phải
lời luận định đúng lẽ công bằng ư?
* Hỏi: [Xét đến] lai lịch
của câu “Nam-mô A Di Đà
Phật”, cớ sao hàng cư sĩ phải hướng
đến Tây Phương Cực Lạc thế giới,
chỉ niệm A Di Đà Phật. chẳng niệm Thích Ca
Mâu Ni Phật? Thích Ca Mâu Ni Phật là đấng giáo chủ
cơi Tây Phương[1],
cớ sao chẳng niệm? Do kẻ độc giả ngu
muội này kém tài, học cạn, chẳng thể viết
lách nên hồn, xin hăy rộng ḷng giảng giải! (Tiết Đăng Huy hỏi)
Đáp: Đây chính là một tông
phái lớn trong nhà Phật, cũng có kinh điển chuyên
môn. Tăng tục các đời, các bậc kỳ tài
học rộng, suốt đời dùi mài, nghiên cứu,
vẫn chưa dám nói đă thấu hiểu đến
tột cùng pháp này. Tam Tạng vạn quyển, nói
đến chuyện này rất nhiều. Nếu dùng năm
ba câu để trả lời, khác ǵ chẳng nói. Dẫu có
nói, cũng phần nhiều là gây thêm hiểu lầm,
đến nỗi chuốc lấy mối họa báng pháp.
Nếu tiên sinh muốn biết khái lược nhiều
hơn, có thể thỉnh kinh A Di Đà để
đọc, sau đấy lại thảo luận th́
mới có thể nói được. Nếu không, uổng
công gây nên tranh luận tưng bừng, trở thành hư
luận! Xét ra, hiện thời lời ông hỏi về Tây
Phương chính là hiểu lầm. Hăy nên biết tiên sinh
sống ở phía Tây vùng B́nh Đông[2],
nên gọi là phương Tây; phía Tây của Đài Loan
cũng gọi là phương Tây. Phía Tây của Đại
Lục, phía Tây của Đông bán cầu, đều
giống như vậy, đều giả gọi là Tây.
Trước hết, hăy hiểu rơ điều này, lại
biết phương hướng tuy là giả định,
nhưng Tây Phương của Phật Di Đà th́ trong kinh
cũng có phạm trù ấy!
* Hỏi: Tứ chúng đệ
tử của Phật có phải đều là họ Thích
hay không? Hay là có người đă quy y Tam Bảo, nhưng
chưa thọ các giới th́ chẳng thể tính là họ
Thích được? (Chung Vân
Xương hỏi)
Đáp: Vốn chẳng phải
như vậy. Thích Ca là họ của đức Bổn
Sư Thế Tôn. Vào thời cổ, tại Trung Hoa,
người xuất gia vẫn giữ họ thế
tục, hoặc theo họ của thầy. Nếu [vị
tỳ-kheo ấy] từ ngoại quốc đến, bèn
lấy tên nước ḿnh đặt trước tên
hiệu làm họ. [Tên họ người xuất gia
thời cổ] hết sức phức tạp. Đến
đời pháp sư Đạo An đời Tấn
mới đề xướng lấy chữ Thích làm
họ, đời sau đều tuân theo. Hai chúng tại gia
trọn chẳng [đặt tên] giống như vậy.
* Hỏi: Ngày thánh đản của
Phật, Bồ Tát, khi cúng dường hoa quả, hăy nên
hướng về Phật, Bồ Tát nói những lời
ǵ, xin lăo cư sĩ chỉ dạy. (Chung Vân Xương hỏi)
Đáp: Chỉ dốc ḷng thành cúng
dường, Phật và Bồ Tát tự nhiên chiếu giám,
chẳng cần phải thưa bày điều ǵ, cảm
ứng chẳng sai!
* Hỏi: Trong mộng mị
thường thấy vào Phật điện trang nghiêm lạy
Phật, lễ Tăng. Phật, Bồ Tát đều là kim
thân, cao mấy trượng, động tác tự nhiên. Các
vị thần hộ pháp cũng giống như vậy,
nhưng các bậc cao tăng tôi đều chẳng
nhận biết [vị nào]. Đó là túc nghiệp hiện
tiền, hay là điều lành trong đời này hóa
hiện? (Trại Mạnh Thu
hỏi)
Đáp: Sự có túc nhân (nhân trong
đời quá khứ), gặp hiện duyên (duyên trong
đời này) bèn phát khởi, cũng có trường
hợp do nhân trong hiện tại đă sâu, gặp Tăng
Thượng Duyên bèn sanh khởi; hai điều ấy
đều có thể dẫn đến chuyện này.
Chỉ có người thần thông mới có thể quán sát
mà phân biệt, chứ phàm phu chẳng thể nói ǵ được!
* Hỏi: Tại chỗ ở
trước kia, ở phía Đông Nam thành Dự Tức có
một ngôi chùa cổ, vườn tháp, chánh điện
thờ tượng Thích Ca ngồi cao hơn một
trượng, dưới ṭa sen có mấy người h́nh
dạng giống như quỷ La Sát, chân đỏ, mặc
áo hở ngực, mặt xanh, tóc đỏ, dáng vẻ
hết sức nhọc nhằn nâng đỡ ṭa sen.
Đức Phật vốn từ bi, cớ ǵ cần
đến chúng sanh mệt nhọc nâng giữ [ṭa sen]?
Tạc tượng kiểu ấy th́ trong kinh có ǵ
để làm căn cứ hay không? (Trại Mạnh Thu hỏi)
Đáp: Chắc có lẽ là bát
bộ hộ pháp[3], dùng
sức lực nơi thân để cúng dường.
Phật tự có thần thông, phi hành tự tại,
trọn chẳng cần đến đại chúng vất
vả nâng giữ. Đây cũng là lời phỏng đoán,
ông vẫn nên ḍ hỏi từ nơi người
địa phương th́ hơn!
* Hỏi: Thuyết pháp, khai
thị phải chú trọng thích ứng căn cơ th́ chúng
sanh mới có lợi ích. Nếu không, sẽ trở thành
lời lẽ thừa thăi. Đạt Ma Sơ Tổ
vấn đáp cùng Lương Vũ Đế. Vũ
Đế không chỉ chẳng tỉnh ngộ, mà thậm
chí c̣n hiểu lầm. Có phải là do trí của Sơ
Tổ c̣n chưa hiểu rơ căn khí của đối
phương đấy chăng? (Lại
Đống Lương hỏi)
Đáp: Có lúc nói chỗ này, mà ư
ở nơi khác. Có khi nói hiện tại, mà hiệu quả
tại mai sau. Tổ sư đại quyền [thị
hiện], há có thể nói trọn ư? C̣n như Vũ
Đế chẳng ngộ, [Tổ phải tĩnh tọa]
nh́n vào vách tại Tung Sơn, dựng lập nền
tảng vĩ đại cho Thiền Tông, chẳng phải
là do hai đầu mối ấy dẫn khởi ư?
Nếu nói trí chẳng khế hợp căn cơ, [lời
thuyết pháp] bèn trở thành thừa thăi, hăy thử xét trong
hội Hoa Nghiêm, [hàng Thanh Văn] dự hội như
điếc, như câm! Trong hội Pháp Hoa, năm ngàn
người rời khỏi chỗ ngồi, cư sĩ
lại nói như thế nào đây?
* Hỏi: Tôi thấy cổ nhân
có lời lẽ quở trách kẻ giả Nho, giả Thích
như sau: “Nhà Nho có kẻ
giả mượn tiếng nhân nghĩa để dối
đời, đạo Thích có phường cậy
chuyện đúc tượng Phật để tom góp
tiền”. Hiện thời, thường thấy có
kẻ khuyến hóa quyên góp, làm thế nào để biết
họ là thật hay giả, chẳng bị lừa gạt?
(Lâm Khoan Tu hỏi)
Đáp: Điều này cần
phải suy xét lời lẽ, vẻ mặt, lại phải
xét do người nào thực hiện để tự châm
chước quyết định. Nếu không, đối
với bất cứ ai, tâm đều b́nh lặng, tự
lượng sức ḿnh để tận hết sức ta,
chẳng quan tâm đến kẻ khác [là thật hay
giả]. Nếu mong chẳng bị kẻ khác dối
gạt, kể từ xa xưa đă khó khăn. Xưa kia,
Tử Sản người hiền, c̣n lầm tin lời
dối trá “đă thả cá” của kẻ hầu[4];
gần đây th́ Tăng Văn Chánh Công[5] là
bậc sáng suốt, c̣n bị gă thư sinh dối trá
gạt tiền. Chớ nên không điều tra cặn
kẽ, mà cũng chớ nên v́ mắc nghẹn bèn bỏ ăn.
* Hỏi: Hữu vi tuy là ngụy,
nhưng vứt bỏ, ắt Phật đạo khó thành; vô
vi tuy chân, nhưng chấp vào đó, ắt huệ tâm
chẳng rạng. Đă nói là ngụy, sao chẳng cho phép
vứt bỏ; đă nói là chân, sao chẳng cho phép chấp
vào đó? (Lâm Khoan Tu hỏi)
Đáp: Thật Tướng tánh
Không, pháp vốn là như như. Do một niệm bất
giác, bèn có vô minh. “Như như”
là phẩm đức vốn sẵn có nơi tánh, vô minh là
vọng che phủ tánh. Lũ phàm phu chúng ta cầu học,
tu tŕ, bèn là hữu vi. Chẳng học, chẳng tu là vô vi.
Lại nói “vô vi” có nghĩa tánh đức chẳng do làm (tu
tập, tạo tác) mà thành, nên vô vi gọi là chân. Nói “hữu
vi” nghĩa là vô minh nhờ vào phương tiện
để đoạn; v́ thế, hữu vi gọi là
ngụy. Nếu chấp vô vi, tức là phế Sự,
phế Lư, tánh rốt cuộc bị trầm luân. Nếu
vứt bỏ hữu vi, tức là chẳng học,
chẳng tu, để mặc cho vô minh lâu dài!
* Hỏi: Nếu thấy trên
đường có người bán gà chở rất
nhiều gà, muốn thay cho chúng niệm “quy y Phật, quy theo Pháp, quy y Tăng” th́ niệm
ra tiếng hay niệm thầm? Nếu trông thấy kẻ
khác sát sanh, có thể thầm niệm chú Văng Sanh hay không?
Nếu đối với kẻ chẳng tin mà niệm ra
tiếng, bị kẻ đó nghe thấy, sợ bị
hiểu lầm. (Lâm Khoan Tu
hỏi)
Đáp: Phật pháp tuy nói tùy
duyên, nhưng cũng trọng phương tiện. Nếu
gây nên hiểu lầm, về mặt Sự đích xác là
chẳng nên, [v́] có thể nẩy sanh tranh chấp,
đến nỗi sanh ra thù oán, hoặc dẫn khởi
[kẻ ấy] báng Phật, tăng thêm tội nghiệt cho
kẻ ấy. Hăy nên biết vạn pháp duy tâm, chân thành
thầm niệm th́ công đức chẳng khác niệm ra
tiếng. Làm Phật sự trong chốn trần lao, hăy
cậy vào phương tiện thiện xảo vậy!
* Hỏi: Con người sau khi
chết, thần thức đi đầu thai, th́ khi cái thai
ấy sanh ra, thần thức mới nhập vào, hay là khi
cái thai ấy mới thành h́nh, thần thức liền
đến? (Tiên Thuần
Hiền hỏi)
Đáp: Xét theo Thập Nhị
Nhân Duyên, Thức duyên Danh Sắc, [mà Danh Sắc] do ba duyên,
tức hai giọt của nam nữ (tinh cha, trứng
mẹ) và thần thức hợp thành thai. Xét theo đó, chẳng phải là lúc thai thành h́nh, thần thức mới đến, mà cũng chẳng phải là lúc thai nhi lọt
ḷng mẹ, thần thức mới
nhập thai! Nhưng
cũng có trường hợp thai nhi sắp sanh ra th́ thần thức của người nào đó mới nhập thai, tức là lúc
thai h́nh thành, trước đó đă có thần thức khác thay thế
nhập thai. Chuyện
này thuộc trường hợp đặc biệt; ở đây là nói về trường hợp thông thường.
* Hỏi: Từng nghe thầy
nói: “Những
câu văn trong kinh chẳng thể tăng, giảm, chữ viết theo lối
cổ và chữ viết theo lối hiện thời chớ
nên tùy tiện sửa đổi”, đệ tử đọc
kinh Địa Tạng, phát hiện kinh Đại Bổn và Tiểu Bổn văn tự có chỗ sai khác, rốt cuộc là nên tuân theo quyển
nào để đọc th́ mới là đúng? (Giang Khoan Ngọc hỏi)
Đáp: Trước kia, tôi đă nói câu văn và chữ trong kinh chẳng
thể sửa đổi bừa băi, là nói
lúc ấn loát hoặc sao chép, [chớ nên] mặc t́nh sửa đổi; chứ không nói tới sự bất đồng giữa các dịch giả. Mỗi kinh thường có mấy loại bản dịch, hăy nên chọn bản được lưu hành thông dụng nhất để tụng tŕ. Bản khác chẳng giống với bản ấy th́ có
thể dùng để đối chiếu, nghiên cứu, chớ nên tụng xen tạp. Theo như tôi biết, kinh Địa Tạng có hai bản dịch. Một bản do pháp sư Thật Xoa Nan Đà dịch vào đời Đường là bản lưu thông rộng nhất trong hiện thời, bản kia do các vị pháp sư Pháp Đăng và Pháp Cự dịch, chẳng rơ các
Ngài thuộc thời nào. Hai bản đều được ấn hành, chẳng phải là [kinh Địa Tạng] có Đại Bổn và Tiểu Bổn sai khác! Cư sĩ thấy bản kinh đó khác với bản đang tụng là v́
có hai bản dịch [khác nhau], chẳng phải là do có kẻ xằng bậy tự tiện sửa đổi!
* Hỏi: Hết thảy các pháp do
đâu mà có?
Lúc thoạt đầu v́ sao có thần thức? Sơ khởi th́ làm sao có thể tạo nghiệp để đạt được cái quả trong hiện
tại? Sanh ra thần thức của chúng sanh như thế nào? Mong được biết tường tận! (Dương Thánh Sơn hỏi)
Đáp: Câu hỏi này gồm có bốn điều, nay tôi tách ra để đáp:
- Một, hết thảy các pháp sanh
từ tâm. Tâm sanh, hết
thảy các pháp bèn sanh. Tâm diệt, ắt hết thảy các pháp diệt.
- Hai, chân tánh bất sanh bất diệt. Vô thỉ vốn sáng suốt, chỉ v́ chẳng vâng giữ tự tánh, hễ động [niệm] bèn có vô minh, nên gọi là “vô thỉ vô minh”. “Vốn sáng suốt” là chân tánh. Vô minh là thần thức, thật sự nói theo triết lư th́ chỉ nói là “vô
thỉ”. Nếu nói là “sơ thỉ” (mới
khởi đầu), sẽ chẳng hợp lư luận.
- Ba, vô minh chính là bất giác, bất giác
tức là mê hoặc. Mê hoặc là tự điên đảo, điên đảo chính là tạo nghiệp. Tạo nghiệp là nhân; có nhân, ắt có kết quả. Như vậy th́ lục đạo, tam đồ, sanh, lăo, bệnh, tử, vạn kiếp ngàn đời xoay vần đến nay, nghiệp
cũ, nghiệp mới chồng chất chẳng rơ ràng. Nợ cũ chưa xong, nghiệp
mới lại tăng, thoạt nổi, thoạt ch́m, trải kiếp số như vi trần chẳng dứt.
- Bốn, nếu có thể hiểu rơ những lời đáp trên đây th́ sẽ tự hiểu mấy câu như “vô thỉ
vốn sáng suốt” và “vô thỉ vô
minh”…
* Hỏi: Để siêu độ tổ tiên
th́ niệm Phật hồi hướng có sức mạnh to lớn. hay là bố thí có sức mạnh to lớn? Thân thể lắm
bệnh v́ nghiệp nặng th́ sức giải nghiệp của
niệm Phật to lớn, hay là sức bố thí to lớn?
(Trần Ái hỏi)
Đáp: Kinh Kim Cang có nói: “Dùng bảy
báu đầy ắp Hằng hà sa số tam thiên đại
thiên thế giới để bố thí, được
phước nhiều chăng?... Nếu có
thiện nam tử, thiện nữ nhân đối với kinh này, dẫu chỉ thọ tŕ
bốn câu kệ, v́ người khác nói, phước đức ấy vượt trỗi
phước đức trước”. Lại nói: “Dùng thân
mạng nhiều như cát sông Hằng để bố thí. Nếu lại có người,
đối với kinh này dẫu chỉ thọ tŕ bốn câu kệ, v́ người khác nói, phước ấy rất nhiều”. Bốn câu kệ c̣n như thế, huống hồ Di Đà vạn đức
hồng danh? Dựa theo đó để nói, bất luận siêu
độ tổ tiên hay nhằm
tiêu nghiệp, lành bệnh, hăy nên biết là sức niệm Phật to lớn. Nhưng người niệm ắt phải thành kính; nếu là miệng có, tâm không, tức là chẳng đúng pháp, do vậy sức mạnh bèn trở thành nhẹ mỏng!
* Hỏi: Thế tục đều
tin Địa Lư, Phong Thủy, nhưng người niệm Phật có cần tin Địa Lư hay không? Tôi thường nghi hoặc! Có người nói:
“Cát tinh cao chiếu lương thiện sĩ, Địa Lư nguyên tùng tích đức môn” (Sao lành chiếu rạng người lương thiện, Địa Lư thuận theo kẻ tích đức), tin vào Địa Lư chẳng bằng tin thiên lư. Tôi nghe xong, cảm
thấy lời ấy rất đúng. Xin thầy
hăy phán định lẽ chánh! (Hoàng Châu Kim hỏi)
Đáp: Hướng lành, tránh dữ là Địa Lư. Sửa ác, hướng thiện là Thiên Lư. So sánh đôi bên, đúng là Địa Lư chẳng bằng Thiên Lư! Há cư sĩ chẳng biết Phật lư “phá mê, khơi gợi ngộ, tự hành, dạy người cùng vượt thoát sang bờ kia, hết thảy giải
thoát” ư? Tôi bèn nói: Tin Địa Lư chẳng bằng tin Thiên Lư, mà tin Thiên Lư càng chẳng bằng tin Phật lư!
* Hỏi: Đối với những nỗi khổ nơi báo thân hiện thời của chúng ta, có phải là thần thức cũng phải chịu khổ theo? (Tạ Ấu hỏi)
Đáp: Thọ có năm thứ là khổ, lạc, hỷ, ưu, xả. Cái thân giả hợp hứng chịu hai thứ khổ và lạc. Thần thức phân biệt hứng
chịu hai thứ hỷ và ưu. Xả th́ thân và thần thức đều phải hứng chịu.
* Hỏi: Thuở Phật tại thế, hàng Thanh Văn nghe đức Phật thuyết pháp bèn khai ngộ chứng quả vị, Duyên Giác do ngộ duyên cũng khai ngộ, tu hành chứng quả. Người hiện tại nghe thầy giảng kinh mười mấy năm, chưa nghe nói có ai chứng quả
vị. V́ sao khác biệt? (Tŕ Huệ Lâm hỏi)
Đáp: Phật chính là quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, trọn đủ Thập Lực và hết thảy các pháp Bất Cộng, do một âm thanh mà có thể diễn tả nhiều điều, một pháp mà lư khế hợp trọn
khắp căn cơ của các chúng sanh. V́ thế, gơ nhẹ bèn kêu nhẹ, tức là tiểu chứng; gơ lớn bèn kêu lớn tức là đại chứng. Ắt phải có thầy chứng quả th́ mới có tṛ chứng quả; nhưng người được
gặp Phật th́ cũng là do thiện căn, phước đức, nhân duyên nhiều
kiếp, cộng thêm tinh tấn.
Vật dụng được rèn đập, bèn dễ thành tựu. Kẻ hèn này là hạng phàm phu sát đất, chưa đoạn mảy may Hoặc (phiền năo) nào! Tuy giảng kinh, bất
quá nương theo chú giải, nghe lỏm, nói ṃ, tự ḿnh chưa thành tựu, làm sao có thể thành tựu người khác cho được? Nguyên tắc là như thế, nhưng do cũng có người trọn chẳng nghĩ là như vậy [nên rủ ḷng hỏi đến], tôi bèn viết mấy câu thông tục dâng lên để kính thưa, ḥng làm ḥn đá mài giũa ngọc. Tuy có học tṛ là trạng nguyên, trọn chẳng phải là đều theo học
với bậc thầy trạng nguyên! “Thầy
dẫn tiến vào cửa, thành tựu tùy mỗi người”. Huống hồ hoa bay, lá rụng, sắc núi, tiếng nước, vô t́nh
thuyết pháp c̣n có thể ngộ đạo. Hơn nữa, có lẽ là đạo chú trọng ở chỗ tự cầu, thầy là trợ duyên.
* Hỏi: Thân Trung
Ấm trụ nơi đâu? Thọ mạng bao lâu? Khi mang thân Trung Ấm, có biết chuyện trong đời trước hay không? (Thái Từ Tâm hỏi)
Đáp: Trung Ấm phiêu giạt không có nơi chốn.
Thọ mạng dài nhất chẳng quá bốn mươi chín ngày. Đối với [những chuyện] trong khi c̣n sống, có lúc nhớ, có lúc
không.
* Hỏi: V́ sao chúng ta quên chuyện đời trước? Từ giai đoạn nào bèn bắt đầu quên đời trước? (Thái Từ Tâm
hỏi)
Đáp: Cần ǵ nói tới chuyện đời trước cho xa xôi! Hăy thử nghĩ tới lúc mới sanh, lúc bú sữa có nhớ được hay không? Thậm chí, chuyện mười năm hoặc tám năm trước, hoặc là quên sạch, hoặc là quên khuấy một nửa, nguyên nhân v́ sao? Bắt đầu quên từ giai đoạn nào? Xin hăy trả lời! Nếu đáp được, chẳng cần phải rủ ḷng hỏi đến tôi! Hăy nên biết tỉnh lại sau khi say lúy túy, có lúc
chẳng nhớ chuyện trước khi say; chuyện trong mộng,
khi tỉnh giấc có lúc chẳng nhớ rơ ràng toàn bộ. C̣n như hôn mê mà
chết, Trung Ấm mịt mờ, lại trải qua nhập thai, xuất
thai, mấy phen tối
tăm, mờ mịt, chẳng biết c̣n quá hơn say lúy túy hoặc nằm mơ gấp mấy
lần? Chẳng nhớ chuyện trước kia, có chi là lạ?
* Hỏi: Lương Vũ Đế suốt đời bố thí, trai tăng,
dựng chùa, độ tăng, hỏi tổ Đạt Ma có công
đức như thế nào? Đạt Ma đáp “chẳng
có công đức”, chẳng biết là như thế nào? (Châu Huệ Đức hỏi)
Đáp: Công đức chia thành hai loại hữu lậu và vô lậu. Hữu lậu phần nhiều là phước nghiệp, vô
lậu đều là huệ nghiệp. Phước th́ sẽ đạt được hai quả là y báo và chánh báo; huệ là cái nhân của giải thoát hai thứ
chết
(Phần Đoạn và Biến Dịch). Những ǵ Vũ Đế đă nghe toàn là những chuyện thuộc về phước nghiệp chánh báo, y báo, chẳng phải là chuyện thuộc về huệ nghiệp giải thoát. Chánh báo và y báo thuộc loại pháp sanh diệt, nên tổ sư nói: “Thật sự chẳng có công đức ǵ”, ư Tổ muốn khuyên nhà vua hăy tấn tu tâm tánh.
* Hỏi: Thân người khó được, trung quốc[6] khó sanh, Phật pháp khó nghe, sanh tử khó liễu. Chúng ta may mắn được làm thân người, sanh tại Trung Quốc, đă nghe
Phật pháp, trong bốn điều khó đă đạt được ba, nhưng bản thân nghiệp sâu chướng nặng, tuy nghe pháp môn Tịnh Độ, cùng là thân cận tịnh nghiệp tri thức, may mắn không ǵ to tát hơn! Nhưng tôi vẫn chưa thể nhất tâm: Trong
thuận cảnh hay
nghịch cảnh đều chẳng quên văng sanh Tây Phương. Thuở trước, tôn giả A Nan hối hận v́ đa văn mà chẳng có công
hạnh ǵ, nói Ngài một mực thiên lệch đa văn, chẳng siêng dốc sức tu tập Định lực, chưa từng Văn, Tu, Tư, nên đạo lực chưa trọn, không chống nổi tà chú. Nay tôi tự thẹn đạo nghiệp chưa thành, thời gian thấm thoát, chẳng càng đặc biệt thêm dốc sức niệm Phật, sợ đánh mất chánh niệm, chẳng thể văng sanh. V́ thế, chẳng nghiên cứu kinh
điển, mà chuyên tâm niệm Phật, chẳng biết như thế nào? (Châu Huệ
Đức hỏi)
Đáp: Tu học quư ở chỗ hạnh giải tương ứng, tức là Định Huệ cân bằng. Định là cầu Tịch,
Huệ có thể khởi
Chiếu, chớ nên thiên lệch. Không có Giải, sợ sẽ phạm sai lầm. Không có Hạnh, chính là nói
chuyện ăn [chỉ nói mà chẳng ăn]. Đó là ư nghĩa đôi bên (Định và Huệ) cùng tiến. Nếu chuyên tâm niệm Phật, tất nhiên là đường lối chánh đáng, là đường nẻo Tịnh Tông, ắt cầu ngộ nhập. Đă ngộ nhập, sẽ chuyên tâm, Định có thể thành tựu. Nhưng nếu ngay cả
nghĩa lư của tông ḿnh mà cũng không cầu hiểu, sợ rằng hễ gặp chướng ngại, liền sanh tâm thoái chuyển, chứ không phải là đ̣i hỏi ông phải chuyên ṛng nghiên cứu Tam Tạng vậy!
* Hỏi: Từ xưa, các vị cao tăng, hoặc cổ Phật tái lai, hoặc Bồ Tát thị hiện, đều thường thị hiện địa vị phàm phu, trọn chẳng nói “ta là Bồ Tát”. Nghe nói Vĩnh Minh đại sư dùng thân cổ Phật thừa nguyện
xuất thế, Trí Giả đại sư là hóa thân của Phật Di Đà[7], chẳng biết có điều ǵ để chứng minh hay không? (Châu Huệ
Đức hỏi)
Đáp: Tổ Trí Giả được gọi là Tiểu Thích Ca, tổ Vĩnh Minh được gọi là hóa
thân của Di Đà, đều là lời lẽ tôn sùng tán thán của người khác, hoặc là do những vị ấy có những biểu hiện đặc biệt lạ lùng, nên người khác tôn xưng như thế, trọn chẳng phải là hai vị Tổ tự xưng như thế, mong chớ hiểu lầm!
* Hỏi: Có người nói cúng buổi sáng là cúng dường chư thiên, cúng
giữa trưa mới là cúng
dường Phật, thật sự có thuyết ấy hay chăng? (Chiêm Kim Chi hỏi)
Đáp: Tuy có thuyết ấy, chớ nên hiểu sai Lư. Do mười pháp giới, mỗi giới có giờ ăn khác nhau. Phật chỉ ăn giữa trưa, chư thiên ăn vào lúc sáng sớm. Thật ra, Phật cũng chẳng ăn. Tuy Phật chẳng thọ thực mà [tín
chúng] vẫn dâng cúng theo thời, nhằm tỏ ḷng tôn kính, quyết chẳng phải là cúng
dường thời trước sẽ là tôn quư, cúng dường thời sau bèn kém cỏi hơn!
* Hỏi: Chứng Đạo Ca có câu: “Tự tùng thức đắc Tào Khê lộ, liễu tri sanh tử bất tương quan” (kể từ biết nẻo Tào Khê, tử sanh hiểu rơ chẳng c̣n liên quan). Chúng ta chưa biết đường
lối Tào Khê th́ chuyện có liên quan nhất, không ǵ bằng
sanh tử. Như vậy th́ phải
thường nghĩ sanh tử là chuyện lớn, hay nên
nghĩ sanh tử chẳng liên quan? (Vương Chí Hiền hỏi)
Đáp: Lời bài ca rơ ràng! Câu trước nói “thức đắc” (識得: nhận biết), câu sau nói là “tri”. “Thức” (識) chỉ là nhận biết, mà “tri” (知) là hiểu biết. Hai từ ngữ ấy có
phạm vi rất khác nhau. Đạt đến cảnh
giới ấy, chính là đại triệt đại
ngộ, nhận biết tự tánh Niết Bàn mà thôi. Đă
nhận biết tự tánh Niết Bàn, dẫu chẳng liên quan với cái chết, nhưng vẫn phải nương theo
đó để tấn tu th́ mới có chứng đắc. Bọn
ta đang
điên đảo, chẳng ngộ, mà cứ nghĩ “sanh tử chẳng quan hệ”, đúng là sẽ trở thành “sống say, chết mộng” vậy.
* Hỏi: Khi đức Phật thuyết pháp đều có thiên long bát bộ hộ pháp. Đức Phật diệt độ đến nay là hơn hai ngàn năm; trong hơn hai ngàn năm ấy,
chẳng biết đă có bao nhiêu người nghe Phật pháp, v́ sao chưa được giải thoát? (Chiêm Kim Chi hỏi)
Đáp: Sông lớn trong tỉnh này (Đài Loan) có tên là
Trược Khê[8], mấy trăm năm cuồn
cuộn chảy về Đông, v́ sao đến nay vẫn
chẳng hết? Hăy nên biết: Sóng sau dồn sóng trước, nước trước mắt chẳng phải là nước xưa
kia. Thiên long bát bộ
vô lượng vô biên, mỗi
vị có thọ mạng riêng, thăng lên, giáng xuống.
Người hiện tại chưa chắc đă là người
xưa kia, sợ rằng người đắc giải thoát cũng [nhiều] như cát sông Hằng, khó thể tính được!
* Hỏi: Tôi dự định mỗi ngày bỏ ra hai tiếng đồng hồ để đọc hiểu bộ Kim Cang Kinh Giảng Nghĩa, nên đọc và ghi bút kư như thế nào? (Trần Đỉnh Nguyên hỏi)
Đáp: Trước là tụng kinh văn, sau là xem
chú giải, từng
câu, từng chữ một, chẳng được bỏ lỡ. Chớ nên tham mau, đừng nên cầu nhiều. Hễ có chỗ khế ngộ, bèn ghi lại. Đọc tụng như thế, đạt được một điều, bèn [nắm chắc] một điều. Tham nhiều, tham mau, tức
là nuốt trộng quả táo!
* Hỏi: Quyển đầu [của bộ
Kim Cang Kinh Giảng Nghĩa] là Khoa Phán, hai chữ ấy có nghĩa là ǵ?
Câu “khoa phân
nhị biểu” có phải là thuộc về phần mục lục, hay là có ư
nghĩa ǵ khác? (Trần
Đỉnh Nguyên hỏi)
Đáp: Chữ Khoa (科) có nghĩa là những ǵ thuộc về
cùng một loại, Phán (判) có nghĩa là phân tích. [Khoa Phán] có nghĩa là phân tích toàn bộ nghĩa lư trong kinh văn để sắp xếp mạch lạc, ngơ hầu người đọc kẻ nghe sẽ biết được thứ tự, cũng có thể nói là đặt tiểu đề cho mỗi đoạn. Đây chính là từ toàn thể mà chia nhỏ
ra, nhằm hợp nhiều nghĩa thành một [chỉnh thể để dễ lănh hội toàn vẹn].
* Hỏi: Nếu trước hết, tôi niệm thuộc ḷng kinh văn
th́ có ích
hay không? (Trần
Đỉnh Nguyên hỏi)
Đáp: Quen tay hay việc, rất hữu ích, nhưng nếu miệng chỉ lem lém đọc qua th́ lợi ích cũng rất ít.
* Hỏi: Kinh văn này c̣n có sách khảo cứu nào khác (bằng tiếng Hán) hay không? Nếu có th́ có thể thỉnh ở chỗ nào? (Trần
Đỉnh Nguyên hỏi)
Đáp: Kinh Kim Cang xưa nay được chú giải rất nhiều, khó thể kể trọn. Người mới học, trước hết hăy nên chọn nhất định một bản chú giải để xem. Sau khi đă
thông suốt, mới lại xem những loại khác. Có thể liễu giải bản chú giải này rồi th́ mới có thể tuyển chọn những bản chú giải khác để đọc.
* Hỏi: Nếu có việc phải đến chùa miếu ngoại giáo, nhằm tỏ vẻ cung kính, có nên
hành lễ bằng cách chắp tay, xá bái hay không? (Vương Thanh Hán hỏi)
Đáp: Chúng sanh b́nh đẳng, đều có Phật tánh. Hậu sinh đối với tiền bối phải
có lễ phép. Hiểu rơ những vị được tin thờ, ắt [là tín đồ đă] chọn lấy những vị tốt lành; lễ phép là mỹ
đức của chính ḿnh, hăy nên nhất loạt thi hành. Nhà Phật chẳng coi nhẹ
chuyện lấy thân làm gương, Nho gia từng lấy câu “vô bất
kính” (không ǵ chẳng kính) để làm khuôn mẫu giáo
huấn.
* Hỏi: Tại gia cư sĩ là
bậc thầy gương mẫu của người khác, có thể tiếp nhận sự lễ kính, đền đáp của thế gian hay không? [Điều ấy] có chướng ngại người tu hành hay không? Tuy là bậc thầy gương mẫu của người khác, trọn
hết trách nhiệm của người làm thầy,
thành tựu đệ tử,
trừ nhận lănh những thứ khen thưởng của cấp trên ra, có thể tiếp nhận những lễ vật báo đáp của người nhà đệ tử hay không? (Thái Lân Định hỏi)
Đáp: Chẳng hiểu rơ đạo lư th́ không thể làm thầy người khác bừa băi! Người tại gia tuy thông đạt đạo, vẫn chớ nên nghĩ tiếp nhận lễ vật báo đáp của người khác là đúng, để khỏi dấy động tâm tham, khiến đạo cũng bị mất.
* Hỏi: Oan hồn uổng tử thường là mấy chục năm chẳng tan mất, vẫn c̣n thể quấy phá. V́ sao người ấy khi chết chẳng bị nghiệp lực dẫn dắt? (Lại Đống Lương hỏi)
Đáp: Những kẻ ấy thuộc về quỷ đạo, chẳng phải là thân Trung Ấm. Đă là quỷ đạo, tức là [đă bị nghiệp lực] dẫn dắt.
* Hỏi: Kinh Tâm Địa Quán có nói: “Bồ Đề diệu quả chẳng khó thành, chân thiện tri
thức khó gặp”. Chúng con may mắn gặp bậc chân thiện tri thức, nhưng chưa thành Bồ Đề diệu quả; có phải là thầy c̣n có bí mật ǵ chưa truyền? (Châu Huệ
Đức hỏi)
Đáp: Bồ Đề diệu
quả chính là quê cũ Chân Như, chân thiện tri thức là người biết đường. Người biết đường chỉ có thể chỉ vẽ đường lối, không thể đi thay người khác. Hơn nữa, chẳng thể tách ĺa đường lối đă được chỉ! Kinh Phật là đường lối Chân Như. Mong kinh được lưu thông, há có bí mật! Bà cứ nhất
định hỏi bí mật th́ cũng chẳng phải là không có! Tôi nghe vị tổ thứ mười ba là ngài Ấn Quang đă dạy: “Cái gọi là bí mật chỉ là cung kính mà thôi”.
* Hỏi: Ngồi kết già là cách
chư Phật thường ngồi, nhưng phần lớn chúng ta chẳng thể ngồi. Ngồi như vậy chân đau chẳng thể kể xiết, trong tương lai văng sanh sợ cũng chẳng thể ngồi [xếp bằng] trên hoa sen, mà buông thơng hai chân xuống, có phải là rất khó coi hay chăng?
(Châu Huệ Đức hỏi)
Đáp: Đó là chuyện nhỏ nhặt! Có thể xếp chéo hai chân kết già th́ ngồi kết
già; chẳng thể th́ xếp chân này chồng lên chân kia [đó là bán già]. Nếu vẫn chẳng thể ngồi như vậy th́ cứ tùy tọa. Tùy tọa là hai chân xếp lại là được rồi, chẳng ai không thể ngồi như vậy. Ở Đài Loan c̣n có nhiều loại tatami có thể quỳ trên đó. Nếu hết thảy
đều chẳng thể làm được th́ quỳ cũng chẳng sao!
* Hỏi: Lục Tổ Đàn Kinh có câu:
“Thánh nhân
cầu tâm, chẳng
cầu Phật; ngu nhân
cầu Phật, chẳng cầu tâm. Người trí điều tâm, chẳng điều thân; kẻ ngu
điều thân, chẳng điều tâm”, xin thầy giải thích. (Châu Huệ Đức hỏi)
Đáp: Phật là Danh, tâm là Thật. Phật là Danh của tâm, tâm là Thật của Phật. Hoặc có thể nói: Tâm là tự tánh; Phật là chư Phật. Cầu chư Phật chỉ là đa văn, cầu tự tâm mới hiển lộ Chân Như. “Điều tâm” là trừ vọng niệm. “Điều thân” là các
oai nghi tĩnh tọa. Biết điều tâm th́
gánh nước, khiêng củi đều là đạo, nhưng
điều thân th́ vọng niệm luôn dấy lên tơi bời, luôn là ma!
* Hỏi: Đàn Kinh lại nói: “Có kẻ mê
trống ḷng tĩnh tọa, chẳng nghĩ ngợi ǵ, tự xưng là ‘cao
cả’, chẳng thể nói với những kẻ như vậy v́ họ là tà kiến”. Nay tôi muốn hỏi: Trống ḷng tĩnh tọa, chẳng
nghĩ ngợi ǵ, cảnh giới ấy người b́nh phàm
chẳng dễ dàng đạt đến, v́ sao chẳng
thể nói với người ấy, lại coi kẻ ấy là tà
kiến? (Châu Huệ
Đức hỏi)
Đáp: Cố nhiên, người b́nh phàm chẳng thể làm được chuyện ấy, nhưng chuyện ấy chẳng dính dáng ǵ đến “chứng Chân”! Hết mức th́ bất quá là Vô
Tưởng Định, chỉ chứng đến Vô Tưởng Thiên mà thôi. Hưởng tám vạn kiếp xong, rốt cuộc đọa lạc, xôi hỏng bỏng không! Lẽ nào chẳng phải là tà kiến!
* Hỏi: Thái Tử Tất Đạt Đa lúc sắp xuất gia, vào nửa đêm, nh́n lần cuối ái phi và con thơ đang say giấc, rồi mới dứt t́nh, lén ra khỏi cửa cung. Lại có thuyết nói sau khi Thái Tử xuất gia sáu năm, [bà Da Thâu Đà La] mới sanh La Hầu
La. Chẳng biết trong hai thuyết ấy, thuyết nào là đúng? (Lại Đống Lương hỏi)
Đáp: Đây là chuyện thuộc về tướng thị hiện, chẳng cần phải câu nệ t́m cầu nơi h́nh tích. Đă có hai thuyết,
tức là mỗi thuyết đều có phương tiện. Nói thông thường, bèn chọn thuyết nào được nhiều người chấp nhận; nếu gặp duyên khác, bèn nói theo duyên khác.
* Hỏi: Tôi đọc tạp chí nọ, thấy nói trong công khóa sớm tối, hành giả trước hết hăy hướng về Phật, Bồ Tát vấn tấn (cúi đầu xá), chẳng biết phải dùng câu nào để vấn tấn[9]. Xin hăy dạy [những câu nói] làm mẫu để tôi chiếu theo đó mà hành!
(Triệu Liên hỏi)
Đáp: Trong công khóa sáng tối, đương nhiên có chuyện
hướng về tượng Phật đang thờ mà vấn tấn, trong tâm tưởng đến Ngài, chẳng cần phải đọc câu ǵ. Nếu miệng muốn niệm, sẽ là ba nghiệp thân, khẩu, ư cung kính. Tức là lễ vị Phật, Bồ Tát nào, bèn thầm tưởng Phật, Bồ Tát ấy, miệng niệm danh
hiệu của vị Phật, Bồ Tát ấy.
* Hỏi: Tệ nhân cho rằng: Thọ
khổ trong địa ngục là đă đủ rồi.
Ví như kẻ sát nhân chưa hết hạn tù, [nếu
như] kẻ sát nhân đă bị pháp luật phán
định phải chịu h́nh phạt ǵ, người
bị hại chớ nên v́ không cam ḷng mà tầm cừu báo
thù. Nếu lại tầm cừu báo thù, pháp luật cũng
có thể xử phạt thích đáng kẻ bị hại.
Cùng một lư ấy, tôi nghe nói Phật và Bồ Tát
đều có thần thông, chẳng lẽ các Ngài chẳng
ngăn trở và xử phạt kẻ tầm cừu báo thù
(pháp lực của các Ngài có thể sánh bằng pháp luật
thế gian)? Nói “oan oan
tương báo chẳng lúc nào xong” th́ v́ sao chẳng
phải là đă thọ hết h́nh phạt đáng phải
gánh chịu trong địa ngục [th́ nghiệp báo ấy]
bèn hoàn tất? (Thái Tổ Thiên
hỏi)
Đáp: Câu hỏi này
được chia thành bốn đoạn để
đáp.
- Một, [thắc mắc] “thọ khổ trong địa
ngục là đă đủ rồi” đă được
đáp cặn kẽ trong lần trước. Những
điều giáo huấn của cổ nhân như “dư khánh” (điều may
mắn sót thừa), “dư
ương” (tai họa c̣n sót lại), “tước đoạt quyền công dân”, “Xuân
lạnh, Thu nóng” và các thứ tỷ dụ, há tiên sinh
chẳng từng thấy ư? Hăy nên tra cứu. Nếu
chẳng nghĩ giáo huấn và tỷ dụ của cổ
nhân là đúng, hăy nên chất vấn chỗ chẳng đúng
trong các lời cổ huấn và tỷ dụ, chớ nên
bỏ mặc chẳng đếm xỉa tới để
rồi thốt ra những lời trên đây.
- Hai, “người
bị hại chớ nên v́ không cam ḷng mà tầm cừu báo thù”.
Thật ra “dư
ương” của kẻ [phạm tội sát nhân]
chẳng phải do người bị hại tầm
cừu tạo thành, mà do “dư
ương” của chính ḿnh dẫn dắt. Như
lửa than đă tắt, nhưng tro vẫn có sức nóng.
Tro nóng gặp dịp, vẫn có thể đốt cháy
vật. Tro đốt cháy vật là do sức nóng c̣n sót
lại của than, trọn chẳng phải là do
người đốt than ban đầu [tạo ra], mà
vẫn là do tro nóng gây lên.
- Ba, Phật, Bồ Tát, “chẳng lẽ không thể ngăn trở và xử
phạt kẻ tầm cừu báo thù”. Chẳng có kẻ
tầm cừu, [chỉ là do] “dư
ương” gây ra, có ai để ngăn trở? Cũng giống như chẳng có kẻ
nào bắn tên, lại lầm lạc trách móc kẻ khác!
- Bốn, “v́ sao chẳng chịu trọn
hết h́nh phạt đáng phải nhận lănh trong
địa ngục”. Xin
hỏi ngược lại một câu, ṭa án phán xử
[phạm nhân] ở tù mười năm. Nếu chịu án
ba năm đă chết, có nên hỏi kẻ ấy v́ sao
chẳng chịu án đủ mười năm rồi
mới chết? Lại hỏi: Chịu án ba năm th́ có
thể coi là đă chịu hết án phạt hay chưa?
* Hỏi: Kinh Tứ Thập
Nhị Chương chép: “Đức
Phật nói: Ta thấy địa vị vương hầu
như bụt lọt qua kẽ hở, coi vàng, ngọc,
chất báu như ngói, sạn, coi quần áo bằng lụa
nơn như vải rách, coi đại thiên thế giới
như trái Ha Lê Lặc[10],
coi ao A Nậu[11]
như dầu bôi chân, coi phương tiện môn như
đống báu hóa hiện, coi vô thượng thừa
như vàng lụa trong mộng, coi Phật đạo
như hoa đốm trước mắt, coi Thiền
Định như cột Tu Di, coi Niết Bàn như tỉnh
giấc ngủ, coi điên đảo và chánh kiến như
sáu con rồng nhào lộn, coi b́nh đẳng như Nhất
Chân địa, coi hưng khởi giáo hóa như cây cỏ
tứ thời”. Xin hăy giải thích (Đồ Trinh Quang hỏi).
Đáp: Một đoạn kinh
văn dài ấy đă có nhiều người chú thích, xin
hăy bỏ công tra cứu, ắt sẽ tự hiểu rơ.
Mục vấn đáp này tuy có lúc giải thích kinh văn,
nhưng đều nhằm giải thích một đôi câu chất
vấn nghi hoặc, trọn chẳng giải thích toàn
bộ kinh văn của một chương, một
phẩm nào. Vấn đáp và giải thích kinh văn có tánh
chất bất đồng, xin hăy rộng ḷng dung thứ!
* Hỏi: Tôi thường
thấy bạn đồng nghiệp muốn hại sanh
vật (như kiến, gián v.v…), khuyên họ chẳng nghe;
dùng tiền hoặc vật để chuộc th́ họ vui
thích. Sau đó, họ cố ư bắt giữ cho tôi thấy
để toan trục lợi. Xin hỏi: Như vậy th́
có nên dùng lợi lộc chuộc mạng để phóng sanh
hay không? Nếu chẳng dùng lợi để chuộc,
họ sẽ giết chết chúng ngay trước mắt
tôi, tôi thấy vậy lại chẳng nỡ ḷng. Xin ân
sư dạy rơ phương pháp th́ chúng sanh may mắn
lắm thay! (Đồ Trinh
Quang hỏi)
Đáp: Phật pháp “từ bi làm gốc, phương
tiện làm cửa”, có ai chẳng nghe hai câu ấy?
Tiếc là [người ta thường] nghe loáng thoáng
chẳng chú ư, nên sanh ra ác quả. Cư sĩ dùng tiền
tài chuộc mạng, đó là từ bi; nhưng không có cách
ngăn chặn ác nhân, tức là thiếu phương
tiện. Chuyện quá khứ chẳng bàn tới, chuyện
tương lai há có cách nhất định? Hoặc là
chuộc hay chẳng chuộc, hễ chuộc th́ nên
khiến cho kẻ ấy biết xấu hổ mà
đừng làm nữa! Chẳng chuộc khiến cho kẻ
ấy biết tội mà thâu liễm. T́nh người,
sự vật biến huyễn vô thường, hăy thuận
theo từng lúc để châm chước quyết
định. Do kẻ sơ học chẳng có trí huệ
ấy, cốt sao tự tâm an vui là được rồi!
Cổ nhân phóng sanh, chẳng có lúc nhất định,
chẳng có nơi chốn nhất định, là v́ ngăn
ngừa phường giảo hoạt tham lợi mà săn
bắt vậy!
* Hỏi: Câu hỏi này lẽ ra cũng
phải viết trong thư gởi lần trước,
nhưng v́ tệ nhân mắc bệnh hay quên, nên bỏ sót. Do
tệ nhân từng học môn Tánh Danh Học[12]
trong phép bói toán, cũng từng thỉnh giáo các thầy
tướng, họ đều nói tệ nhân và cha mẹ
xung khắc, với anh em trai, chị em gái cũng phần
nhiều bất ḥa. Lại do từng đọc cuốn
sách nhỏ “Hứa
được th́ hứa” do cư sĩ Trần Hải
Lượng biên soạn, biết trong nhân gian, quyến
thuộc tụ hội đều do ân oán báo đền. Tôi
lại quan sát, suy lường cặn kẽ, cũng
cảm thấy quả thật chính ḿnh và người nhà
xung khắc, v́ tôi vốn thuở bé cũng chẳng
biết chút ǵ là “ân oán báo đền”, cứ tưởng
đời người chỉ có một đời này mà
thôi. Như nay đă biết rồi, trong tâm rất khó
chịu, cũng chẳng biết có cách thức tốt
đẹp nào ḥng giải trừ nỗi đau khổ này? (Thái Tổ Thiên hỏi)
Đáp: Ông hăy nên đọc sách
thánh hiền cho nhiều, và các sách giảng về nhân
quả báo ứng do nhà Phật biên soạn.
Trước hết, khiến cho tự tâm hiểu lư, sau
đấy, sửa đổi chính ḿnh, sám hối; lâu
dần, tánh t́nh biến đổi, hoàn cảnh
nhất định sẽ chuyển biến theo. Quá khứ
chẳng bàn tới, hiện tại chẳng tạo thêm oán
thù mới. Hăy nên biết: “Kính
người, người sẽ kính ta; chửi
người, ắt người chửi ta”, chỉ tin “họa phước chẳng có
cửa, chỉ do con người tự chuốc lấy”,
chớ nên mê tín thuyết Tánh Danh Học của
tướng số. Sách Phật có nói: “Tâm có thể tạo nghiệp, mà tâm cũng có thể
chuyển nghiệp”, mong ông hăy chuyển sang dụng công
nơi chính ḿnh, nhất định sẽ thấy hiệu
quả!
* Hỏi: Phẩm thứ bảy
Lợi Ích Tồn Vong trong kinh Địa Tạng có dạy:
“Doanh trai chi thứ, mễ cam,
thái diệp, bất khí ư địa” (Khi làm cỗ
chay, nước gạo, lá rau chẳng được
vứt xuống đất) là do lẽ lợi hại nào? (Lưu Nhân Phước hỏi)
Đáp: Mang ư nghĩa quư tiếc
nhân lực và vật lực, cũng có ư nghĩa tiếc
phước.
* Hỏi: Kinh Kim Cang dạy: “Hết thảy pháp hữu vi,
như mộng, huyễn, bọt, bóng, như sương,
cũng như chớp, hăy nên quán như thế”. “Quán” ở đây là
đối với các sự vật b́nh thường mà suy
tưởng như thế, hay có cách Quán nào khác? (Khiết Viên hỏi)
Đáp: Kinh nói “hết thảy”, lại nói “hữu vi pháp” tức là nói khái quát hữu vi.
Trừ vô vi ra, trọn chẳng có ǵ ra ngoài lệ ấy!
* Hỏi: Kinh Kim Cang nói “chẳng trụ sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp để sanh tâm”, nay tôi nghe
âm thanh xướng tán và niệm Phật sanh ḷng ưa thích,
có phải là cũng coi như trụ nơi trần mà sanh
tâm hay không? (Khiết Viên
hỏi)
Đáp: Muôn pháp trong thế gian
đều là Phật pháp. Người trí soi thấu
suốt, kẻ ngu mê chấp. Điều được
kinh Kim Cang phá trừ là phá trừ Ngă Chấp và Pháp Chấp,
chẳng phải là phá trừ pháp và sự. Thanh trần
của xướng bái và tán tụng thuộc tịnh, thanh
trần của khúc nhạc Bắc Lư[13]
thuộc cấu. Lấy tịnh thay thế cho cấu chính
là phương tiện. Khi công phu đạt mức,
chẳng cấu, chẳng tịnh, sẽ chẳng trụ
vào đâu!
* Hỏi: Hiếu Kinh dạy: “Thân thể phát phu thọ chi
phụ mẫu, bất cảm hủy thương” (thân
thể, da, tóc nhận từ cha mẹ, chẳng dám hủy hoại).
Người đời nay cắt tóc, giải phẫu
thẩm mỹ (như sửa mũi cho cao hơn), có
phải là bất hiếu? Lại nữa, “xả thân cho cọp ăn” trong Phật giáo và “sát thân thành nhân” (v́ thành tựu sự nhân nghĩa mà hy sinh tánh mạng) của Nho gia có ư
nghĩa tương đồng hay không? (Khiết Viên hỏi)
Đáp: Cắt tóc, sửa
mũi là thời trang hiện thời, là làm đẹp,
chẳng phải là hủy hoại, tổn thương.
Cổ nhân cũng cắt móng tay, nhổ tóc bạc, há có
phải là hủy hoại, tổn thương? C̣n như “xả thân cho cọp ăn” và
“sát thân thành nhân” bất quá ư
nghĩa có rộng hay hẹp, nhưng cái tâm nhân từ là
một.
* Hỏi: Trong quyển Thượng
của bộ Phật Học Vấn Đáp, nơi trang
một trăm ba mươi bảy, trong mục giải
đáp cho ông Thái X… có viết: “Có
biết những người như Thiên Thân, Vô
Trước hay không?... Hăy lấy đó làm gương
răn ḿnh”. Thiên Thân, Vô Trước rốt cuộc là
chuyện ǵ mà đáng lấy làm gương răn ḿnh? Tôi
kính cẩn mong được nghe! (Lư Định Siêu hỏi)
Đáp: Điều này chẳng
cần phải hỏi, chỉ xem lời hỏi ở trên
và câu đáp ở dưới, sẽ biết ư nghĩa.
* Hỏi: Đối với câu “gia bần, thân lăo, bất vi
lộc sĩ” (nhà nghèo, cha mẹ già, chẳng làm quan
hưởng bổng lộc), rốt cuộc nên hiểu là
“ra làm quan là hiếu”, hay “chẳng ra làm quan là hiếu”? (Lư Định Siêu hỏi)
Đáp: Sợ là có chuyện
chưa thấy rơ ràng trong nội dung lời hỏi, nên
cảm thấy ư nghĩa chẳng suông. Ông lại chẳng
nêu rơ câu ấy xuất phát từ sách vở nào, nên chẳng
dám đáp bừa!
* Hỏi: Chợt thấy tác
phẩm Tịnh Độ Tân Luận của vị pháp
sư nọ, bèn một mạch đọc hết. Sau
đó, cảm thấy nơi này người sơ cơ khá
đông, nhưng chớ nên để cho kẻ sơ cơ
đọc sách ấy, hăy nên cất kín một chỗ.
Về sau nghe nói Ngài cũng đối trước
Phật, phê phán sách ấy. Nếu đó là chuyện
thật, chẳng ngờ tôi có cùng kiến giải với
Ngài. Tuy là như vậy, nhưng mỗi lần tính phê phán
sâu hơn nữa, lại cảm thấy sách ấy tợ hồ
chẳng phải là thiếu lập luận, xin Ngài hăy
dạy rơ! (Lư Định Siêu
hỏi)
Đáp: Tại hạ chưa
từng thấy cuốn Tịnh Độ Tân Luận như
ông đă nói. Đối với lời phê phán như thế
nào, tôi càng thêm mờ mịt; trước đó, ông đă
dẫn lời vị pháp sư X…, sau đó dẫn thêm
lời lẽ [nhận định] này nọ. Sợ là có
kẻ hiếu sự bịa đặt lời đồn
đăi! Nay tôi đặc biệt trịnh trọng thanh minh,
đối với những điều đă nói trong
đoạn ấy, tôi nhất loạt chẳng biết!
* Hỏi: Thức ăn của nhân
loại thời thượng cổ phần nhiều là
thức ăn c̣n sống, chẳng giống như
người hiện thời nhấn mạnh vấn
đề dinh dưỡng, mà thọ mạng [của
người xưa] đến mấy vạn tuổi,
hoặc mấy ngàn tuổi. Thức ăn của nhân
loại hiện thời nấu chín, giơ đũa,
động chén đều nhấn mạnh dinh
dưỡng, mà thọ mạng ít ai được trăm
năm, chẳng biết do nguyên nhân ǵ? (Chung Vân Xương hỏi)
Đáp: Thời kiếp có
tăng hay giảm sai khác. Trong kiếp tăng, thọ
mạng tăng dài hơn, khí hậu, vật chất,
hết thảy đều sanh trưởng thích hợp,
như tiết Xuân tiến sang Hạ. Trong kiếp giảm,
thọ mạng giảm dần, khí hậu, vật chất,
hết thảy sẽ tương ứng giảm dần,
như tiết Thu tiến sang Đông. Lại nữa, kéo dài
tuổi thọ, giảm bệnh tật, dinh dưỡng
về mặt vật chất, bất quá là một
điều kiện. Ăn, ở, hoạt động, tu
dưỡng tinh thần, quả thật là những
điều trọng yếu. Nội Kinh nói: “Dĩ tửu vi tương, dĩ vọng vi
thường” (coi rượu như nước uống
thường xuyên, coi những điều xằng bậy
như lẽ thường)[14], “dĩ dục kiệt kỳ tinh,
dĩ hao tán kỳ chân” (đến nỗi tinh khí cạn
kiệt, chân khí hao tán). Tống Nho nói: “Bách ưu cảm kỳ tâm, vạn sự lao kỳ
h́nh” (trăm nỗi lo phiền khuấy động tâm,
muôn chuyện khiến thân thể nhọc nhằn).
Những điều vừa nêu trên đây đều do
tự ḿnh chuốc lấy. Những vị đế
vương sau thời Châu - Tần, những nhà phú quư trong
các nước Đông, Tây, há bị thiếu thốn
vật chất cung phụng? [Họ chẳng thọ] là do
chẳng biết dưỡng tâm, dưỡng thần
vậy.
* Hỏi: Người sống trên cơi
đời này đều chấp trước tài, sắc,
danh vọng, ăn uống, ngủ nghê. Đức Phật
nói năm món dục ấy là căn cội sanh vào
địa ngục. Dùng phương pháp nào để tránh
né th́ mới chẳng đến nỗi đọa nhập
địa ngục? (Chung Vân
Xương hỏi)
Đáp: Đă nói rơ năm
điều ấy là cội nguồn nỗi họa, c̣n
phải cầu chi khác nữa? Chỉ dùng ŕu bén chém
đứt năm căn cội ấy, sẽ là
người đi trên nẻo nhân thiên, chẳng c̣n lo bị
đọa lạc. Giới, Định, Huệ của Phật
pháp chính là lưỡi ŕu bén để chém những thứ
ấy.
* Hỏi: Tài, sắc, danh vọng, ăn
uống, ngủ nghê là năm cội rễ địa
ngục. Đại cư sĩ phải làm như thế
nào th́ mới có thể nhổ dẹp năm cội rễ
địa ngục ấy? (Chung
Vân Xương hỏi)
Đáp: Phật pháp tu tập ba
món Giới, Định, Huệ mà thôi. Giới là gắng
sức khống chế, đừng làm các điều ác.
Định là tâm địa tĩnh lặng, chánh khí
hừng hực hiển hiện, tà niệm và tư dục
chẳng dấy lên. Huệ là thấy thấu suốt
huyễn vọng, chẳng bị mê hoặc. Không mê tức
là dẹp trừ. Nhưng ba món ấy, tuy có trước
sau, ắt phải dung hợp thành một, đó gọi là
“Định Huệ cân bằng”, th́ mới có sức
mạnh dẹp trừ huyễn vọng!
* Hỏi: Tại vùng Kim Môn[15],
Phật giáo trong mấy năm gần đây thành lập Kim
Môn Niệm Phật Hội, lần lượt trong hai
năm Dân Quốc 50 (1961) và 54 (1965), hai lượt ủy
lạo quân đội ở tiền tuyến, và đại
biểu của đại hội tăng sĩ Trung Hoa
đến Kim Môn ủy lạo quân đội. Phật giáo
ở Kim Môn do có những sự tổ chức ấy, nên
Phật giáo đồ ở tiền phương và hậu
phương thường có quang cảnh đón tiếp náo
nhiệt, khiến cho chúng tôi cảm thấy Phật giáo
hưng thịnh một thời. Lại c̣n có một vị
pháp sư vốn là tăng sĩ xuất gia tại
Đại Lục, gần đây vừa giải ngũ,
khôi phục thân phận xuất gia, nghĩ ra rất
nhiều biện pháp náo nhiệt. Chẳng hạn như khi
người già mất đi, vị ấy bèn sử dụng
tín đồ Phật giáo sắp thành đội h́nh dài,
cuối đội h́nh có ba vị pháp sư xuất gia
đắp cà sa đỏ rực, xếp theo hàng ngang, theo
sau là quan tài. Đội ngũ đưa ma như vậy
diễn hành trên đường phố, gọi là “tam sư tiếp dẫn”.
Nhưng có người nói: “Làm như vậy đối
với người già đă chết, nhất là đối
với tín đồ Phật giáo, chẳng có lợi ích ǵ!”
Nếu chẳng có lợi ích ǵ, v́ sao vị pháp sư
ấy phải chủ trương làm như thế? Xin hăy
giải đáp tường tận: Rốt ráo là có lợi
ích hay không? Và cách làm như vậy là đúng hay sai? Lại
phải nên làm như thế nào th́ mới là tốt
đẹp? (Đào Dân Trị
hỏi)
Đáp: Phật pháp là Phật
pháp, thói quen là thói quen! Hiểu rơ Phật pháp th́ làm bên
Đông hay làm bên Tây đều là thiện xảo. Chẳng
hiểu rơ Phật pháp, dẫu gióng chuông, gơ khánh, đều
là làm xằng! Đúng hay sai, nên hay không nên, là do hiểu rơ
hay không hiểu rơ, mê hay chẳng mê. Hiểu rơ là ǵ? Siêng tu
Giới, Định, Huệ, dứt diệt tham, sân, si,
nghiêm tịnh Giới Luật, đó là hiểu rơ. Trái
ngược những điều ấy tức là mê
muội. Người khác sáng suốt hay mê muội, nếu
công phu của chính ḿnh sâu dầy, thoạt nh́n bèn hiểu rơ
ngay. Nếu không, khó thể biết được! Chỉ
đành trông thấy những ǵ đă quen thuộc bèn tùy
hỷ, những ǵ chẳng quen mắt bèn tránh xa!
* Hỏi: Hàng cư sĩ
trẻ tuổi trừ sự nghiệp ra, v́ liễu sanh tử đại sự mà thiên trọng
học Phật, chuyện hôn nhân để mặc cho cha
mẹ và người làm mai mối xếp đặt.
Kết quả là cô gái cưới về bản tánh
hướng ngoại, chẳng giữ đạo làm
vợ. Do đó, chàng cư sĩ trẻ tuổi cảm
nhận sâu xa, nếu thoạt đầu tự ḿnh t́m
kiếm đối tượng và nói chuyện yêu
đương, sẽ chẳng đến nỗi gặp
t́nh cảnh khốn khó sau đám cưới. Xin hỏi: Cư
sĩ học Phật mà yêu đương th́ có
chướng ngại đạo nghiệp tu hành hay không? (Thái Lân Định hỏi)
Đáp: Chánh thức cầu hôn,
nào ngại tự t́m đối tượng, nhưng
cần phải cư xử thận trọng, hành xử
đúng lễ. Chớ nên sáng Tần chiều Sở, yêu
đương bừa băi! Cần phải vạch rơ
giới tuyến giữa cầu hôn và tà dâm. Cư sĩ
lại nói “do cha mẹ làm chủ, nhưng vợ chẳng
tṛn đạo vợ”, nói như vậy là chẳng đúng
thực tế, quá mức lệch lạc! Hăy nên biết:
Chuyện giữ đạo làm vợ chẳng hoàn toàn do
người nào chủ tŕ cuộc hôn nhân ấy, mà là do phong
khí xă hội một thời tạo nên. Lỗi ấy có
nguyên nhân của nó. Hăy thử nghĩ thuở xưa,
phần nhiều [cưới hỏi] do cha mẹ làm
chủ, thời nay phần nhiều là chính ḿnh thuận ư. Các
vụ án tranh chấp trong hôn nhân và gia đ́nh chia tay, tái
hợp, thuở xưa nhiều hay hiện thời
nhiều?
* Hỏi: Tôi xem tiểu
thuyết văn nghệ Phật giáo chẳng nhiều,
nhưng trước kia có mua hai cuốn để xem,
[cảm thấy] nội dung rất có thể dẫn
dắt kẻ sơ học nhập môn, nhưng nhân vật
trong tiểu thuyết cũng hút thuốc, uống
rượu, tôi nghĩ người sơ học ắt
sẽ rất khó từ bỏ [những thói xấu ấy].
Xin hỏi thầy hăy nên làm như thế nào th́ thích
đáng? (Thái Lân Định
hỏi)
Đáp: Tiểu thuyết
Phật giáo nhằm dẫn dắt hàng sơ cơ, bất
quá là một phương tiện, nhưng cũng nên xét xem
nội dung như thế nào. Tệ ư cho rằng nếu
muốn đạt chánh quả, phải noi theo
đường chánh. Bỏ đường chánh chẳng
noi theo, sợ chẳng thành tựu
! Nói nhấn mạnh hơn, đối với
người sơ cơ, chuyện này lại càng khẩn
yếu, thông thường là điều ǵ được
tiếp xúc đầu tiên sẽ trở thành chủ
chốt. Ngạn ngữ xưa có câu: “Giáo phụ tân lai, giáo nhi anh hài” (dạy con từ
thuở c̣n thơ, dạy vợ từ thuở ban sơ
mới về). Nếu bỏ kinh Phật để xem
tiểu thuyết, tri kiến lệch lạc, tà vạy, chẳng
dễ ǵ uốn nắn được!
* Hỏi: Trung Luận do Long
Thọ Bồ Tát soạn, Thanh Mục Bồ Tát chú giải,
nhưng do đọc thấy văn mạch liên tục,
học tṛ thật sự chẳng thể phân biệt
đoạn nào của ngài Long Thọ, chỗ nào của ngài
Thanh Mục viết? (Lư Ứng
Nam hỏi)
Đáp: Trong lời văn
của bộ luận ấy, có đoạn viết theo
thể loại Kệ, có đoạn viết theo lối
văn xuôi. Những đoạn viết theo lối Kệ
là lời Luận. Phần văn xuôi là lời chú giải.
* Hỏi: Thầy từng nói
để phá trừ Nhị Chướng, ngoài việc chính
ḿnh thực hiện và luôn tự phản tỉnh, xét
đoán bản thân ra, chẳng có cách nào khác! Đă là chỉ
có thể tự hành, chẳng phải là không thấy
hiệu quả hóa độ người khác ư? Cũng
chính là ngoài việc tự hành ra, nhờ vào sức
người khác để hóa độ ta, trọn
chẳng có tác dụng ǵ ư? (Tạ
Hữu Côn hỏi)
Đáp: Vạn pháp do nhân duyên
sanh, ắt ḥa hợp mà thành; nhưng một chuyện
được thành, [xét về] lực th́ có chủ và khách
sai khác. Tự là chủ lực, Tha là trợ lực. Lư nhân
duyên ḥa hợp cố nhiên là nhị lực; nhưng chính
ḿnh ắt phải động th́ tha lực mới có
thể giúp đỡ. Nếu tự ḿnh chẳng
động, tha lực dẫu có, cũng như không! Ta hóa
độ người khác chính là tự hành, mà nhờ vào
người khác để hóa độ ḿnh th́ cũng là
tự hành.
* Hỏi: Học Phật
nhằm mục đích “ĺa khổ, được vui”,
sự vui ấy có vĩnh viễn tồn tại hay không?
Nếu vĩnh viễn tồn tại, làm thế nào
để đạt được? (Tạ Hữu Côn hỏi)
Đáp: Lạc được
nói trong Phật học có chân thật và phương
tiện sai khác, do tùy thuận căn khí của chúng sanh mà
thiện xảo giả định. Vĩnh viễn lạc
là xét theo Niết Bàn bất sanh bất diệt để
nói, bèn có các thứ phương pháp tu tŕ. Tin tưởng,
nương theo các phương pháp đó để tu tŕ,
công phu viên măn, sẽ tự nhiên đạt được.
Thế tục thường nói: “Ông
tu ông đắc, bà tu bà đắc, chẳng tu chẳng
đắc” là nói đến ư này!
* Hỏi: Thường nghe Lư
cư sĩ nói: “Sở dĩ
sanh ra khổ, là do nguyện vọng bên trong và hoàn cảnh
bên ngoài chẳng phù hợp, nên cảm thấy khổ”; nay
thầy nói: “Khổ chỉ là
do bất giác mà thôi”, có mâu thuẫn hay không? (Tạ Hữu Côn hỏi)
Đáp: Lời Lư cư sĩ và
lời tại hạ trọn chẳng mâu thuẫn, một
đằng nói về bộ phận, một đằng nói
về nguyên tắc; gộp lại để xét th́ là
như nhau. Rốt ráo chẳng có khổ th́ chỉ có
Niết Bàn. Ắt phải khởi tu, ắt phải giác
rồi mới chịu tu tŕ; đó gọi là Bất Giác,
Thỉ Giác, Tùy Phần Giác, Cứu Cánh Giác. Cứu Cánh Giác
là Niết Bàn. Bất Giác chẳng chứng Niết Bàn, nên
ĺa khổ sẽ bắt đầu tự giác.
* Hỏi: Xin hỏi tất
cả quả đều là do nhân và duyên mà có, ngay cả
tư tưởng của chúng ta cũng đều có nhân
duyên, vậy th́ chúng ta c̣n ư chí tự do ǵ nữa? (Ẩn Danh Thị hỏi)
Đáp: Ư chí tùy thuộc mỗi
cá nhân mà tự do dấy lên, điều đó được
gọi là Nhân. Cái ư chí được dấy lên ấy
ắt có điều mong mỏi. Điều
được mong mỏi thành tựu, bèn gọi là
quả. Mong mỏi chẳng thành, tức là chỉ có ư chí
suông mà thôi. Tư tưởng dấy lên, lại phải do điều
ǵ mà khởi? Ắt có sự vật dẫn dắt, sự
vật chính là nhân duyên vậy!
* Hỏi: Tông chỉ học
Phật là “ĺa khổ, được vui”, nhưng khổ
và lạc đều là Phiền Năo Chướng, sao lại
bỏ chướng này để cầu chướng kia? (Ẩn Danh Thị hỏi)
Đáp: Lạc có thế gian
lạc và xuất thế gian lạc. Thế gian lạc là
ngũ dục lục trần. Xuất thế gian lạc là
thanh tịnh tịch diệt. Thế gian lạc gọi là
Hoại Khổ, tất nhiên là Phiền Năo Chướng.
Xuất thế gian lạc gọi là Niết Bàn, do chẳng
có khổ nên gọi là lạc, chẳng phải là thứ
lạc chấp trước các tướng, nên chính là
đức giải thoát, đại tự tại.
* Hỏi: Sanh trong cơi trời th́
có hoài thai giống như trong nhân gian hay không? Sanh theo cách
nào? (Ngô Vượng An hỏi)
Đáp: Chúng sanh xuất sanh
được chia thành bốn loại là noăn, thai, thấp,
hóa. Cơi trời thuộc loại hóa sanh, nhưng vẫn
ở trong sanh tử luân hồi, chẳng tốt
đẹp như thế giới Cực Lạc bất sanh
bất diệt.
* Hỏi: Thánh tượng
Phật, Bồ Tát v́ sao đều là chân để trần
(không mang giày, dép)? (Ngô
Vượng An hỏi)
Đáp: Đấng giáo chủ của
thế giới Sa Bà là Thích Ca Mâu Ni Phật thị hiện
tại Ấn Độ. Cổ tục Ấn Độ
phần nhiều đi chân đất, mà thật ra, vào
thời cổ ở Trung Hoa, hễ bước vào cửa
liền cởi giầy nhằm tỏ ḷng kính trọng.
Hơn nữa, đức Phật từ bi, đi chân
đất nhằm khỏi đạp chết sinh vật.
Người trong cơi này thấy dáng vẻ của Phật
trong cơi này [là như vậy], nên tạo tượng
Phật, Bồ Tát bèn lấy đó làm chuẩn.
* Hỏi: Quán Âm Tế
Độ Bổn Nguyện Chân Kinh là kinh sách đáng tin
cậy hay không? (Lâm Kim hỏi)
Đáp: Kẻ hèn này chưa
từng thấy nghe kinh ấy. Nếu chẳng phải là
do hiểu biết hẹp ḥi, tôi e rằng kinh ấy có
chỗ đáng nghi vấn! V́ chỉ nhắc tới tên kinh,
chưa thấy nội dung, nên chẳng dám phán đoán
chắc chắn. Nhưng tựa đề kinh có thêm
một chữ Chân, tợ hồ là kinh của ngoại giáo
hoặc xuất phát từ đàn cầu cơ! Kinh Phật
ngoại trừ Đà La Ni dùng chữ Chân ra (tức Chân
Ngôn), phàm là tựa đề kinh, phần nhiều chẳng
có chữ ấy, nên tôi nói là đáng nghi!
* Hỏi: Tác phẩm Quán Âm
Truyện do Mạn Đà La Thất Chủ Nhân trước
tác có đáng tin cậy hay không? (Lâm
Kim hỏi)
Đáp: Truyện là do
người đời sau trước thuật, trọn
chẳng phải là kinh văn, chẳng ngại tán thán thêm
vài phần, nhưng nội dung cần phải dựa theo
kinh Phật làm chuẩn. Tác phẩm ấy vốn là thể
loại riêng, kẻ hèn này cũng chưa đọc, nên
chẳng dám nói là đúng hay sai. Nếu tác giả là Phật
giáo đồ th́ có thể mượn làm phẩm vật
để tuyên truyền. Nếu xuất phát từ
ngoại giáo và đàn cầu cơ viết ra bừa băi th́
từ nơi nào đưa đến, hăy trả về
nơi ấy mới nên!
* Hỏi: Thân Trung Ấm ở
trong thế giới nào? (Lâm Kim
hỏi)
Đáp: Thế giới nào có
chúng sanh, thế giới ấy bèn có thân Trung Ấm.
* Hỏi: Có phải là Phật
có một thế giới riêng của Phật hay không? (Lâm Kim hỏi)
Đáp: Có thể nói như
vậy, nhưng thế giới riêng ấy có thể
gần, mà có thể xa, có thể ở ngay trước
ấy. Bởi lẽ, thế giới vốn chẳng có, mà
do tâm huyễn hóa. Uế độ của chúng sanh là do tâm
chúng sanh hiện, nên chúng sanh trông thấy. Phật ngự
trong tịnh độ, do tâm Phật hiện, Phật nhăn
trông thấy. Như người ở trong nhà nằm
mộng, lúc mộng và tỉnh vốn thấy hai thứ
cảnh giới, nhưng hai thứ cảnh giới ấy
đều ở trong cùng một nhà!
* Hỏi: Quư xă có bản chân
truyền Quán Âm Truyện hay không? (Lâm Kim hỏi)
Đáp: Cớ ǵ cứ phải
t́m kiếm truyện do người đời sau
[trước tác]? Trong kinh Pháp Hoa có phẩm Phổ Môn chính
là chân truyện của Quán Thế Âm Bồ Tát. Khăng
khăng vứt bỏ cái chân thật, để t́m cầu
lẽ chân nơi khác, chẳng đáng buồn ư?
* Hỏi: Kinh Kim Cang chép: “Hư không ở phương
Đông có thể suy lường hay không? Không ạ!...
Hư không nơi bốn phương, trên, dưới có
thể suy lường hay không? Cũng không” Lại nói: “Như số cát trong sông
Hằng, các sông Hằng nhiều như lượng cát
ấy… nhưng các sông Hằng c̣n nhiều hơn số ấy
vô số lần”. Đủ biết không gian to lớn
chẳng thể nghĩ bàn, tồn tại trong vũ
trụ nhiều như cát sông Hằng, chẳng biết
số ấy là bao nhiêu, cũng là chẳng thể nghĩ
bàn. Những lời Phật đă nói phù hợp những ǵ
các nhà khoa học hiện thời đă quan sát. Không gian đúng
là to lớn chẳng thể nghĩ bàn, vạn vật
nhiều chẳng thể nghĩ bàn, do đâu mà có? Nhiệt
lượng của mặt trời to vô lượng
(dự đoán của các nhà khoa học là chuyện khác); c̣n
như địa cầu to dường ấy, bềnh
bồng trong hư không, ngày đêm xoay chuyển, v́ lẽ
nào khiến thành như thế? Chẳng biết trong kinh
Phật có giải thích hay không? Kính xin khai thị, vô cùng
cảm tạ! (Mă Chấp Trung
hỏi)
Đáp: Bồ Tát phá sạch
Trần Sa Hoặc mới chứng Phật quả;
đối với bất cứ vấn đề nào, trong
kinh đều có nguyên tắc: “Nhất
niệm bất giác, bèn có vô minh”. V́ vô minh là hư không
tối tăm; do minh, nên lại sanh cái thấy tướng
tối tăm. Vọng kiến đă sanh, vọng cảnh
tự hiện. Theo kinh luận, vô minh làm nhân, sanh ra tam
tế[16], “sanh” chính là “đến”. Hơn nữa, Tâm Kinh Bát Nhă như
nhiều người biết, [đă dạy]: “Sắc tức là Không, Không
tức là Sắc”. Sắc là Tướng của vạn
vật; Không là Tánh của vạn vật. Tướng
nương vào Tánh mà có, do cộng nghiệp khiến thành
như vậy. [Những điều ông hỏi] như “v́
sao mà có, cớ sao như vậy” nói đại lược
là như thế đó.
* Hỏi: Đức Phật
nói: “Ái dục mạc thậm
ư sắc, lại hữu nhất hỹ, nhược
sử nhị đồng, phổ thiên chi nhân, vô năng vi
đạo giả hỹ” (ái dục không ǵ lớn
bằng sắc, [trong ngũ dục] chỉ có nó là lợi
hại nhất. Nếu có món dục nào khác [có sức
mạnh] giống như nó, khắp trong thiên hạ, không ai
có thể tu đạo được)[17],
nên hiểu như thế nào? Xin hăy chỉ dạy cặn
kẽ! (Vương B́nh Lang
hỏi)
Đáp: Dục, nếu nh́n theo
phương diện rơ rệt, th́ có năm điều: Tài,
sắc danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ. Ma
lực to lớn th́ chỉ có Sắc là mạnh mẽ nhất.
Tài và sắc đồng thời; có thể bỏ tài,
lấy sắc. Danh vọng, ăn uống, ngủ nghê và
sắc đồng thời, ắt cũng lấy sắc,
bỏ những thứ khác. Sắc là đại ma duy
nhất, những thứ khác đều chẳng thể chống
lại. Xem xét sử sách xưa nay, trong ngoài nước, thấy
chép đầy dẫy chuyện tham sắc. Có kẻ do
trọng sắc mà vứt bỏ ngôi vua, có kẻ v́ sắc
mà mất nước chẳng hối hận, có kẻ v́ mê
chuộng sắc mà mắc nạn, quên bẵng vua, cha. Có
kẻ trong sát-na lâm chung vẫn luyến sắc chẳng
bỏ! Các thứ dục khác chẳng mạnh mẽ như
vậy, nên nói: “Lại hữu
nhất hỹ” (chỉ có nó là thứ lợi hại
nhất).
* Hỏi: Trong Phật Giáo Sơ
Học Khóa Bổn Chú Giải do cư sĩ Dương Nhân
Sơn trước thuật, có nói “địa ngục ở lưỡng cực”,
[điều ấy có nghĩa là địa ngục] ở
ngay trên địa cầu Nam Diêm Phù Đề đúng không? (Đới Thiêm Đinh hỏi)
Đáp: Hữu t́nh thế gian và
khí thế gian[18],
hết thảy đều là danh tướng, duy tâm sở
hiện, tự tạo, tự trói buộc, đó là nói chân
thật. Đă hiện ra đại châu, núi, biển, bèn có
địa ngục, thiên đường, vốn chẳng
có chỗ nhất định, có thể hiện bất
cứ chỗ nào. Nghĩa sâu xa, lư vi tế, phàm phu chẳng
dễ biết được, ắt phải nói
phương tiện là một chỗ ngơ hầu thông
tục dễ hiểu. Đă không có nơi chốn, nên nói
bất cứ chỗ nào, bèn là chỗ đó, Lư và Sự
mới đạt đến vô ngại. Như vậy th́
hăy nên nương theo Thánh Lượng[19],
tin tưởng lời ấy. Nếu cứ biện
định này nọ, đó là kẻ si nói mớ! Cổ
đức giảng giải về sự an lập thế
giới, đều tuân theo nguyên tắc này. Dương lăo
cư sĩ nói “lưỡng
cực” chính là nói về Nam Diêm Phù Đề, tức
quả địa cầu này!
* Hỏi: Tứ đại
bộ châu ở trong biển cả nước mặn vây
quanh bốn phía núi Tu Di, phía ngoài có núi Thiết Vy bọc
quanh, nhưng trong tứ đại bộ châu đều có
địa ngục ư? Kinh [Địa Tạng Bồ Tát]
Bổn Nguyện dạy: “Địa
ngục ở trong núi Thiết Vy”, lại “ở trong ba cái biển là
đại địa ngục”. “Ba cái biển” có
phải là nói về thân, ngữ, ư? (Đới Thiêm Đinh hỏi)
Đáp: Sa Bà đại thiên
thế giới có vô lượng tứ đại châu,
[trong mỗi châu] đều có lục đạo, há
phải chỉ là mấy phần trong một tiểu đơn
vị [thế giới]! Kinh Địa Tạng nói ba cái
biển th́ chính là ba cái biển, ông bỗng nhiên lại nói
[ba cái biển] ấy ngụ ư thân, miệng, ư, nhằm
tỷ dụ do ba nghiệp đă tạo mà khiến thành
như thế. Trong lời đáp trước, tôi đă
từng nói “Lư và Sự dung hợp th́ chẳng trở
ngại ǵ”. Nếu nói dung hội th́ [hiểu như
vậy] cũng chẳng phải là không được,
nhưng chớ nên nói thiên chấp.
* Hỏi: Kinh Bổn Nguyện
nói: Nơi cuộc đất thanh khiết ở
phương Nam, làm cái khám thất và quay đầu
hướng về phương Nam, mà chẳng nói hướng
về Đông, Tây, Bắc, ư nghĩa như thế nào? (Đới Thiêm Đinh hỏi)
Đáp: Hư không mênh mông,
thật sự chẳng có bốn phương, trên,
dưới; v́ để dễ nói, mà giả lập
phương hướng. Kinh nêu ra một phương,
bất quá nhằm làm cho người ta tâm định
một chỗ, sẽ có cảm ứng với Phật,
Bồ Tát. Xét theo Lư, Pháp Thân trọn khắp hư không;
luận theo Sự, hăy nên y giáo phụng hành. Đối
với lời hỏi của ông, đúng là chẳng có ǵ
đáng nghi [mà cứ hỏi], cổ nhân từng bảo “đó là hư luận”. Nếu
lại mở rộng ra, v́ sao nói thế giới Cực
Lạc ở phương Tây? V́ sao nói thế giới
[Tịnh] Lưu Ly [của Phật Dược Sư] ở
phương Đông? Há chẳng phải là đều có
vấn đề ư?
* Hỏi: Quán Thế Âm Bồ
Tát là cổ Phật từ nhiều kiếp trước,
hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai, trọn chẳng phải
là phàm nhân trong thế giới Sa Bà. V́ sao c̣n có ngày
đản sanh, ngày xuất gia, và ngày thành đạo? (Tôn Chánh Tu hỏi)
Đáp: Lịch pháp xưa nay,
trong ngoài nước vốn bất đồng. Sinh
nhật của cổ nhân nước ta c̣n chẳng
chuẩn xác, huống là những vị xuất hiện
trước khi có sử sách, cũng như những vị
thuộc thế giới khác! Những ngày ấy bất quá
là do người đời sau giả định một
ngày nhằm kỷ niệm Bồ Tát. Lại c̣n nói
đến ngày xuất gia và thành đạo th́ cũng là do
muốn được thân cận thêm vài lượt mà
thôi!
* Hỏi: Trong một năm có ba
lượt kỷ niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, các ngày
kỷ niệm sinh nhật, xuất gia, và thành đạo
ấy nếu căn cứ trên gia thế và nhân vật
được bịa đặt trong cuốn tiểu
thuyết Diệu Trang Vương Tam Công Chúa để sùng
bái th́ là sai lầm, hăy nên làm như thế nào? (Tôn Chánh Tu hỏi)
Đáp: Ngày kỷ niệm
Bồ Tát vốn đă được nói rơ trong
điều trước. Ba ngày kỷ niệm ấy tuy là giả
định, nhưng thật sự chẳng căn cứ
trên tiểu thuyết. Nhưng vào thời cổ tại
Trung Quốc cũng chẳng có chuyện khánh thọ;
từ sau đời Đường trở đi mới
thịnh hành.
* Hỏi: Ba điều pháp ích
(lợi ích nơi pháp) có ngang hàng hay không? (Chung Vân Xương hỏi)
Đáp: Ngang hàng hay không là do con
người vận dụng. Pháp ích đều đạt
được, nhưng lợi ích có các loại khác nhau.
Như tụng niệm có thể giữ Giới, xem có
thể cầu Định, nghe có thể khai Huệ, ngay
cả cúng dường cũng được phước.
Nhưng chẳng phải là nghe sẽ không thể
đạt được Giới, Định, Huệ, Phước;
xem và cúng dường cũng giống như thế.
Chỉ là tùy thuộc chú trọng như thế nào mà sẽ
được cảm ứng như thế ấy.
* Hỏi: “Nhân loại làm nô lệ cho vật chất, thân
người là công xưởng chế tạo nước
tiểu!” Lời ấy là tích cực hay tiêu cực? Hành
nhân tu Tịnh thường nghĩ nhớ lời ấy có
ích hay không? (Chung Vân Xương
hỏi)
Đáp: Kinh Phật có dạy “quán thọ là khổ”, “quán thân bất tịnh”,
đó là phương pháp cầu khai chánh huệ,
dường như thù thắng hơn nói “nô lệ cho vật chất, công xưởng chế
tạo nước tiểu”. Giữ ư niệm ấy th́
đối với chuyện “ngăn ngừa phẫn
nộ, ngăn lấp dục vọng”, “dùi mài tiết tháo”
là tích cực, nhưng đối với “tranh quyền
đoạt lợi”, “kẻ mạnh ăn thịt kẻ
yếu” sẽ là tiêu cực. Hành nhân tu tịnh mỗi
người có phương pháp thường niệm riêng,
hoặc nghĩ đến câu Thoại Đầu như
trong nhà Thiền, hoặc Phật hiệu như trong
Tịnh Độ, cốt sao liên tiếp chẳng dứt,
ḥa thành một khối. Lại c̣n ắt phải chẳng
khởi các niệm khác! Hễ phan duyên [những ư niệm]
như “nô lệ vật chất, nước tiểu” sẽ
khiến cho chánh niệm xáo động, có thể bị tán
loạn. Nếu gặp lúc bị vật dục mê hoặc,
dụ dỗ, bèn quán “Khổ,
Không, Bất Tịnh” th́ cũng chẳng ngại ǵ!
* Hỏi: Khi pháp sư
đại đức giảng kinh, hậu học
thường ngủ gật trong giảng đường,
tự biết căn cạn, phước mỏng, ư thức
tối tăm, chẳng thể đích thân đạt
được Phật pháp tôn quư, tự biết phạm
lỗi, nhưng chẳng biết điều phục
nỗi ham muốn tham ngủ như thế nào? (Chung Vân Xương hỏi)
Đáp: Hễ
buồn ngủ nhẹ th́ xoa tai, ưỡn ngực,
hoặc dùng sức nắm chặt tay, mở to mắt.
Nếu vẫn chẳng thể đuổi cơn buồn
ngủ, hăy nên để sẵn hai đồng tiền bằng
kền, gặp lúc buồn ngủ, dùng hai đồng
tiền ấy kẹp phía trong đùi, dùng sức kẹp
mạnh một cái, do đau quá, cơn buồn ngủ
sẽ biến mất. Chẳng thể hạ quyết tâm
này th́ ra ngoài một chút, rồi trở lại nghe, sẽ
có thể tỉnh táo.
* Hỏi: Mỗi lần tham gia
pháp hội, pháp sư xướng niệm các hồng danh như
Tiêu Tai Diên Thọ, Đại Trí, Đại Hạnh,
Đại Bi, Đại Nguyện v.v…, có thể thấy
mỗi vị Phật, Bồ Tát đều có hoằng nguyện
đặc thù xót đời thương người. C̣n
như đối với đấng Đương Lai
Hạ Sanh, có phải là tán dương Ngài phát nguyện sẽ
trở lại giáng sanh trong cơi phàm nhằm độ chúng
sanh hay không? Nếu đúng là như vậy, chúng ta là phàm phu
mắt thịt làm sao có thể thấy thân biến hóa
ấy cho được? (Dương
Khai Khánh hỏi)
Đáp: Pháp hội loại nào?
Theo nghi thức nào? Trọn chẳng phải là bất
cứ pháp hội nào cũng sử dụng cùng một nghi
thức chẳng thay đổi. Tôi chỉ đoán là pháp
hội như cư sĩ đă hỏi chính là nghi thức
Phật Tiền Đại Cúng, Cúng là cúng dường trai
soạn. [Nghi thức] có ư nghĩa Phổ (trọn
khắp), ắt là mười phương ba đời
đều chẳng sót th́ mới là Phổ. Đương
Lai Hạ Sanh là nói tới Di Lặc Bồ Tát. Trong
tương lai, sau khi pháp của Thích Ca
Thế Tôn đă diệt, Ngài liền đến Sa Bà, thành
Phật, độ chúng sanh. Cố nhiên phải nên hiến
cúng nhằm tỏ ḷng tôn kính. Lại nữa, bày cỗ chay
cúng dường, lại c̣n tán thán, nhằm biểu
thị sự thành kính nơi tự tâm, chẳng phải là
mắt thấy rồi mới cúng dường, tán thán! Ví
như mỗi năm, vào ngày lễ giáo sư, bèn tán thán
Khổng Tử. Tiết Thanh Minh tảo mộ, cúng bái
tổ tiên, thử hỏi có ai chính mắt thấy Khổng
Tử và tổ tiên hay không? Tâm thành, thần bèn đến
hưởng!
* Hỏi: Giải thích kinh
văn trong kinh Phật, thường thấy có nhiều
cách giải thích khác lạ! Chẳng hạn như
để giải thích một danh từ nào đó, người
này cho là như thế này, người kia cho là như
thế nọ, nhưng đều là dựa trên ư nghĩa
của tự dạng chữ Hán để giải thích.
Học tṛ cảm thấy rất kỳ quái, cớ sao
chẳng trực tiếp xét theo nguyên bản tiếng
Phạn? Nếu chỉ dụng công nơi tự dạng
chữ Hán, ắt sẽ trở thành huấn hỗ[20],
tuy lư luận cao sâu, hay khéo, nhưng nếu Phạn văn
chẳng có các ư nghĩa ấy, há chẳng phải là “ĺa
kinh” mà chẳng hay chẳng biết đấy ư? (Giản Tông Tu hỏi)
Đáp: Đây chính là chỗ khó
khăn trong phiên dịch, ắt trước hết
phải tinh thông văn tự của một nước nào
đó, sau đấy mới có thể vận dụng
văn tự của nước ấy. Phiên dịch kinh khó
khăn, đọc kinh, hiểu kinh, cũng ắt phải
tinh thông văn lư trước đă th́ mới chẳng
hiểu sai. Khác lạ là do chẳng hiểu nghĩa chân
thật, nhưng cũng có trường hợp cả hai
lối giải thích khác biệt đều đúng, v́
một đằng giải về Thể, một
đằng giải về Tướng, tuy khác nhau, nhưng
chẳng có mâu thuẫn ǵ!
* Hỏi: Trong vườn nhà
vợ tôi có một cây hoa, tục gọi là Mục Niên Hoa,
hoa màu trắng, hương thơm rất dễ chịu.
Tôi thường ngắt hoa ấy cúng Phật. Có vị ni
sư ở chùa nọ nói hoa ấy là hoa kết duyên,
chẳng thể cúng Phật. Chẳng biết [lời
vị ni sư ấy nói] có đích xác hay không? (Khưu Hợp Thuận hỏi).
Đáp: Trong điều
trước, tôi đă có nói, kính Phật chủ yếu là
thành tâm. Phàm là vật cúng dường, chẳng cần
phải viện dẫn kinh điển [để luận
đoán]. Tuy kẻ hèn này chẳng biết loại hoa có tên là
Mục Niên Hoa như thế nào, nhưng ông đă nói là hoa
trắng sạch, mùi thơm lại dễ chịu, hái cúng
Phật trọn chẳng phải là không được!
Nếu v́ kết duyên mà chê bỏ, tợ hồ phạm lỗi
câu nệ. Cần phải biết duyên
có thiện, ác, mà cũng có Phật và thế tục.
Kết duyên với thế tục th́ có lẽ là ô
trược, nhưng kết duyên với Phật,
sẽ hóa thành thanh tịnh!
* Hỏi: Đệ tử
tự xét thọ mạng chẳng dài, nhưng tâm bi mẫn
chúng sanh cũng hết sức thiết tha, trong khoảng
thời gian ngắn ngủi, tạm bợ này, nên thiên
trọng tự độ hay độ tha? (Vương Chí Hiền hỏi)
Đáp: Điều này chẳng
nhất định! Tuổi thọ đă được
định sẵn, [nhưng do] tu đạt
được phước báo, [mà thọ mạng có] các
thứ bất đồng. Sách sử đă ghi chép, ai
nấy đều biết Viên Liễu Phàm là một thí
dụ; nhưng người học Phật chớ nên
chấp trước tướng thọ giả. C̣n như
hai vấn đề ông đă nêu, mỗi người có
nguyện riêng, nhưng nếu tính toán giùm cư sĩ th́
tự độ là chuyện cấp bách, độ kẻ
khác là tùy duyên.
* Hỏi: Căn khí của
đệ tử như thế nào? Nếu bảo là tŕ
độn hơn kẻ b́nh phàm th́ cớ sao vừa nghe
Phật pháp liền có thể nương về, mong
được giải ngộ? Nếu bảo là nhạy
bén hơn kẻ b́nh phàm, cớ sao tập khí phiền năo
nặng nề dường ấy? (Vương Chí Hiền hỏi)
Đáp: Học Phật cần
phải hạnh giải tương ứng, có nghe th́
ắt phải tu. Căn khí của cư sĩ không ǵ
chẳng phải là túc duyên. Đại khái là trong quá
khứ, xem trọng Văn, coi nhẹ Tu, nên nay nghe có
thể ngộ, nhưng cảm thấy khó thể khuất
phục phiền hoặc.
* Hỏi: Đệ tử
khuyết thiếu nhân duyên và pháp duyên, hăy nên vun bồi
như thế nào? Cơ duyên hoằng pháp của đệ
tử khi nào mới chín muồi? (Vương
Chí Hiền hỏi)
Đáp: Hoằng pháp th́
trước hết phải cầu học thông đạt,
tiếp đó là rộng hành ba thứ bố thí (tài thí, pháp
thí, vô úy thí). Cầu học mới biết pháp, rộng thí
để kết duyên. Cầu nơi chính ḿnh, hành nơi
chính ḿnh, vun bồi lâu ngày, chẳng thể nóng vội
được!
* Hỏi: Đệ tử
trải đời chưa sâu, làm như thế nào
để tăng trưởng sự từng trải? Hay
là nên chuyên tâm ngầm tu, chẳng hỏi đến
chuyện đời? (Vương
Chí Hiền hỏi)
Đáp: Xuất gia và tại gia,
hoàn cảnh bất đồng. Người xuất gia có
thể chẳng hỏi đến chuyện đời;
người tại gia trong có quyến thuộc, ngoài là xă
giao, lo toan sanh kế, làm sao có thể chẳng hỏi
đến chuyện đời cho được? C̣n
như ông hỏi làm thế nào để tăng
trưởng sự trải đời, th́ hăy qua xử
sự với quyến thuộc, với xă hội, gánh
chịu hết thảy những cảnh thuận
nghịch, tư cách từng trải sẽ tự sâu
dầy.
* Hỏi: Đệ tử có
phải là nhân tài hoằng pháp hay không? Nếu kham hoằng
pháp, học trước tác hoặc giảng kinh như
thế nào? Hay là chớ nên toan tính chuyện ấy, hăy chuyên
tâm niệm danh hiệu Phật? (Vương
Chí Hiền hỏi)
Đáp: Những điều ông
đă hỏi đều không nhất định! Vàng
xuất phát từ quặng, ngọc quư xuất phát từ
ngọc thô. Quặng vàng có thể nung luyện thành vàng ṛng;
ngọc thô có thể mài giũa thành mỹ ngọc. Không
nung, không mài, quặng và ngọc thô vẫn y như cũ.
Cổ nhân bảo “trọn
chẳng tự nhiên có Thích Ca” là do ư nghĩa như
vậy.
* Hỏi: Đệ tử
diện mạo xấu xí, ăn nói vụng về, so ra thích
hợp ngầm tu, cảm thấy chẳng thích hợp
xuất hiện nơi đạo tràng, có đúng hay không? (Vương Chí Hiền hỏi)
Đáp: Phật pháp chú trọng
đạo, chẳng chú trọng tướng mạo! A
Nậu Lâu Đà mù mắt, Thiền Tông Lục Tổ
diện mạo xấu xí, nhưng đều là thánh nhân. Xét
theo pháp thế gian th́ Yến Anh[21]
và Bùi Độ[22],
loắt choắt, mặt mũi thô lậu, nhưng
đều là bậc lương tướng (bậc
tể tướng giỏi giang). Nếu đạo
thật sự đáng kể, diện mạo há có trở
ngại ǵ? Huống chi cư sĩ mặt mày đoan chánh,
lục căn chẳng khuyết, bất quá cảm thấy
hơi gầy g̣ mà thôi, có ǵ đáng tự ty! C̣n như
thiếu tài ăn nói là do huệ chưa khai, một khi bên
trong đă sung măn, sẽ có thể tự phát xuất
biện tài.
* Hỏi: Đệ tử
bị thần kinh suy nhược, có ảnh hưởng
rất lớn đến học nghiệp và đạo
nghiệp, cũng như chuyện hoằng pháp và lợi
sanh, chẳng biết nên khắc phục chướng
ngại này như thế nào? Xin hăy chỉ dạy. (Vương Chí Hiền hỏi)
Đáp: Chuyện này liên quan
đến tu dưỡng, nhưng không biết vui
đạo. Nếu đạo thật sự sung măn, tinh
thần sẽ tự phấn chấn. Mong hăy đem Thân
Kiến và Ngă Tướng đồng thời gạt
bỏ, chuyên tâm nơi đạo, chướng ngại
sẽ tự nhiên dứt trừ.
* Hỏi: Đệ tử
rất mong thành lập một gia đ́nh Phật hóa,
nhưng sống trong vùng quê hẻo lánh, khó t́m đối
tượng chánh tín, có thể cậy người giới
thiệu hay không? (Vương
Chí Hiền hỏi)
Đáp: Người học
Phật theo đúng lẽ nên Phật hóa gia đ́nh, Lữ
Văn Mục Công[23]
đời Tống chính là tấm gương đời
trước. T́m cầu người phối ngẫu, càng
nên t́m người đồng đạo th́ mới có
thể [ḥa hợp] như gảy đàn sắt, đàn
cầm, chồng xướng vợ ḥa theo. Vợ con
hảo hợp, cha mẹ vui ḷng, ḷng hiếu hưng
khởi từ trong nhà, có tác dụng giáo hóa lan đến
cả nước. Đối với đại sự
trong thế tục, hăy nên cầu người làm mối
tốt lành.
* Hỏi: Tôn giáo chẳng
thể rời khỏi nghi thức, nhưng tôi thấy
Phật pháp hiện thời suy vi, phần lớn
đều từ nghi thức trong Phật giáo diễn
biến thành thói tệ “chỉ có h́nh thức”, khiến cho
[Phật giáo] và thần đạo hỗn tạp, chẳng
khác biệt. Như các pháp hội mù quáng diễn tṛ náo
nhiệt, rước xách ŕnh rang trên đường
phố để cầu phước v.v… trở thành
căn bệnh tệ hại ai cũng biết. Tuy nói là
cũng có thể tạo thành công đức kết duyên,
nhưng phá hoại Phật pháp phần lớn là do
chuyện này. Đấy là do căn khí của chúng sanh
thời Mạt Pháp như thế, nay muốn hoằng
dương Phật pháp, lại sợ làm hại Phật
pháp, nghi thức đă không thể bỏ, nhưng lại
sợ đó là thói tệ khiến cho chánh pháp bị suy
hoại. Đối với điều này, kính xin tôn sư
khai thị tường tận. (Hoàng
Hoằng Giới hỏi)
Đáp: Trước hết,
ắt phải thông thạo Phật pháp th́ mới có cái
để hoằng dương. Cái được hoằng
dương là pháp, không có pháp th́ hoằng bằng cách nào? Những
điều tṛ đă nêu chỉ là nghi thức và h́nh
thức, đó là một phần nhỏ trong phạm vi
hoằng pháp. Như quảng cáo nơi tiệm buôn, như
trống chiêng đánh nhằm mở đầu tuồng
hát. Sau quảng cáo phải có hàng hóa, sau trống chiêng
cần phải có ca múa. Nếu chẳng có hàng hóa mà phát
quảng cáo, không có ca múa mà gióng trống khua chiêng, tức là
khinh người, lại c̣n phá hoại chính ḿnh. V́ vậy,
hiện thời, hai điều này đều là tất
yếu cần thiết, chỉ có con người mới là
cao hay thấp khác nhau, như tay và chân, có cái để làm
việc, có cái để đi lại, phải suy xét tài sức
ḥng chọn một con đường để theo mà thôi.
Nếu thật sự có pháp th́ chẳng tuyên truyền mà
vẫn tự hưng thịnh.
* Hỏi: Tôi cũng
thường thấy thanh niên học Phật hiện
thời thường lấy Phật pháp làm chiêu bài
để lừa ḿnh, dối người. Đối
với những kẻ ấy, nếu dùng phương pháp
Mặc Tẫn, tôi nghĩ những kẻ ấy do tuổi
trẻ, hăy c̣n có ngày quay đầu, nên chẳng đành ḷng
tẫn xuất; nhưng lại không thể nỡ ḷng
thấy những chuyện làm càn làm quấy trước
mắt, trộm đời, dối danh, lỡ làng huệ
mạng của người chưa học Phật. Như
thế th́ nên làm như thế nào? (Hoàng Hoằng Giới hỏi)
Đáp: Dùng tài dạy kẻ bất tài,
dùng năng lực ḥng dạy kẻ thiếu năng lực,
đó là nghĩa vụ của bậc hiền triết, là bi
tâm của Bồ Tát. Tận hết sức ta, nghe hay không là
tùy họ. Tận hết sức ta là Bồ Đề,
họ nghe hay không là tùy duyên. Nếu chẳng phải là kẻ đầu sỏ chuyên làm ác
chẳng biết hối cải th́ chẳng cần phải
Mặc Tẫn. Nếu là kẻ đầu sỏ chuyên làm
ác, ắt phải Mặc Tẫn. Tẫn xuất hay không
đều là từ bi. Nếu một mực ra rả khuyên
răn, chắc sẽ khiến cho kẻ ấy càng thêm
phiền năo; tẫn xuất may ra sẽ khiến cho kẻ
ấy có lúc tự phản tỉnh. C̣n như huệ
mạng của người thứ ba th́ tùy thuộc nhân
duyên, tuy bị những kẻ ấy dụ dỗ, mê hoặc,
ta bèn uốn nắn. Sửa cầu hay chặt cầu, hành
theo lẽ nào cũng đều được!
* Hỏi: Các hành tinh trong Thái
Dương Hệ như Kim Tinh, Mộc Tinh, Thổ Tinh,
Hỏa Tinh, Thủy Tinh, Thiên Vương Tinh,
Diêm Vương Tinh… và các vệ tinh như mặt trăng
v.v… Trong đó, chỉ có hai tinh cầu có nhiệt
độ gần giống như địa cầu,
những hành tinh khác đều là trên ngàn vạn độ
hoặc trăm ngàn độ dưới điểm
đóng băng. Theo các nhà thiên văn học, những tinh
cầu khác chẳng thể nào có sinh vật tồn tại.
Tuy nhiệt độ mặt trăng gần giống
như địa cầu, có lẽ có sinh vật, nhưng
chưa chắc đă có nhân loại tồn tại.
Mười phương chư Phật sẽ độ con
người hoặc độ loài sinh vật nào trong
một cơi Phật như vậy? (Lâm Thanh Ḥa hỏi)
Đáp: Chúng sanh có lục
đạo cửu giới sai khác, Phật đều b́nh
đẳng độ, trọn chẳng phải là chuyên
độ nhân loại, xem nhẹ những loài khác. Nếu
trên mặt trăng có sinh vật, Phật liền độ
thoát. Kinh Kim Cang nói: “Tất
cả hết thảy các loài chúng sanh, hoặc là noăn sanh,
hoặc là thai sanh, hoặc là thấp sanh, hoặc là hóa sanh,
hoặc có sắc chất, hoặc chẳng có sắc
chất, hoặc có tưởng, hoặc vô tưởng, hoặc
là phi hữu tưởng, phi vô tưởng, ta đều
khiến cho họ nhập Vô Dư Niết Bàn mà diệt
độ”. Kinh văn rành rành, có thể tham khảo
vậy!
* Hỏi: Nếu có thể
trừ diệt vọng t́nh th́ có thể chẳng nằm
mộng ư? (Ngô Thương
Sanh hỏi)
Đáp: Cổ nhân nói: “Ngày có suy tưởng, đêm bèn
nằm mộng”. Lại nói: “Tâm
người trí như hạt châu dưới vực”.
Xét theo đó, nếu chẳng có vọng tưởng,
sẽ có thể chẳng nằm mộng.
* Hỏi: Đă biết một
ngàn vị Phật xuất thế trong Hiền Kiếp
(đă thành con số nhất định), nhưng các
vị Phật chưa thành Phật đó nay đang ở
chỗ nào? (Vương
Huyễn Như hỏi)
Đáp: Một đại thiên
bèn có tiểu thiên, trung thiên, đại thiên, lại là vô
lượng sa số, nhưng chúng sanh sanh nơi này,
diệt nơi kia, diệt chỗ Giáp, sanh chỗ Ất.
Một trăm năm này xuất phát từ Đông, một
trăm năm nữa lại xuất phát từ Tây, ba
Tăng Kỳ kiếp lâu dài, nhiều lượt biến
động, ắt phải là người có Thiên Nhăn Thông
th́ mới có thể nói được. Lại c̣n phải
chỉ rơ thời kỳ và nơi chốn th́ mới có thể
giải đáp khế cơ.
* Hỏi: Trong thời gian
một vạn năm Mạt Pháp, Phật pháp có hiện
tượng thịnh suy hay không? Có sự tích cảm
ứng hay không? (Vương
Huyễn Như hỏi)
Đáp: Ví như nói một
năm có bốn mùa, Xuân ấm, Hạ nóng, Thu mát, Đông
lạnh, đó là lẽ thường. Trong những lúc
ấy, há chẳng có những khác biệt nhỏ nhặt?
Trong ba tháng Xuân, cũng có ngày mát lạnh; trong ba tháng Thu,
cũng có ngày nóng bức. Vua Nghiêu, vua Thuấn là bậc nhân
từ, mà c̣n xuất hiện bốn con vật hung tàn[24];
vua Kiệt, vua Trụ hung bạo, [nhưng trong thời ấy]
cũng xuất hiện những bậc trung hiếu. Chánh
Pháp và Mạt Pháp trong Phật pháp cũng giống như
thế.
* Hỏi: Nếu khuyên một
người ngoại quốc niệm kinh hoặc niệm
Phật hiệu th́ niệm theo âm tiếng Hoa, hay là dịch
sang tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha? (Vương Huyễn Như
hỏi)
Đáp: Nếu nước
ngoại quốc ấy đă có kinh được phiên
dịch th́ mới có thể thuận theo âm của
nước ấy để niệm. Nếu không có, niệm
bằng cách nào? Nếu là người biết tiếng Hoa,
dạy người ấy tụng kinh bằng tiếng Hoa.
Nếu chẳng am hiểu tiếng Hoa, có thể dạy
truyền khẩu, chỉ cần người ấy có ḷng
thành, ắt được lợi ích to lớn. Truyện
kư chép bầy nhạn nghe kinh, chim vẹt niệm Phật;
nhạn và vẹt đều chẳng biết chữ,
chỉ có thể nghe âm. [Kinh Lăng Nghiêm đă dạy]: “Chân giáo thể phương này,
thanh tịnh nơi nghe tiếng”. V́ thế, nói: “Nghe mà tâm chí thành, sẽ tự
được đại lợi ích”.
* Hỏi: Khéo sao, liên quan đến
chuyện tiêu tai có Diên Thọ Dược Sư Phật,
liên quan đến cứu khổ cứu nạn có Đại
Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quán
Thế Âm Bồ Tát, liên quan đến địa ngục
có Địa Tạng Vương Bồ Tát… Chẳng lẽ
không thể có hai vị ư? Nếu không, há chẳng
phải là giống như trong một quốc gia, liên quan
đến tài chánh có một vị bộ trưởng tài
chánh, liên quan đến vấn đề nội chánh có
một vị bộ trưởng nội chánh? (Vương Huyễn Như
hỏi)
Đáp: Quốc gia lập ra các cơ
cấu, không ǵ chẳng v́ nhu cầu của nhân dân, châm
chước các lẽ tổn hại hay lợi ích mà
tăng hoặc giảm. Phật, Bồ Tát cứu
độ chúng sanh, cũng xét theo nhu cầu của chúng
sanh, phát nguyện ứng theo sự mong cầu mà tự gánh
vác, nhằm măn nguyện của đại chúng. Lư này
dễ hiểu, chẳng cần phải nêu câu hỏi.
Chuyện vốn thuận theo t́nh người như
thế, có ǵ lạ lùng? Nói thêm: Kính khuyên cư sĩ,
nếu thật sự học Phật, cần phải
cầu thiện tri thức chỉ vẽ một
đường lối th́ mới có
chỗ để tiến nhập. Nếu không, sờ
soạng trong chốn tối tăm, e phải sa hố,
sụp hào. Lại c̣n phải nên cầu từ nơi
cung kính, nếu dính dáng hư luận, khó thể đạt
được pháp ích.
* Hỏi: Dùng máy phóng thanh phát ra tiếng
tụng kinh, ở nơi cư ngụ trong chốn núi non
khá nhỏ, nhưng có thể khiến cho hết thảy
sơn thần, thổ địa nghe âm thanh ấy th́
họ cũng được độ hay chăng? (Hoàng Từ Chiêu hỏi)
Đáp: Tiếng tụng kinh lan
truyền trong không trung cũng giống như hành pháp
bố thí. Quỷ thần nghe tiếng, tự nhiên
đạt được lợi ích, nhưng đắc
độ hay không, cũng cần phải xét xem họ có tín
phụng hay không để luận định. Chỉ là ta
thí pháp là chuyện của ta, c̣n họ tín phụng hay không
là chuyện của họ, mỗi đằng làm một
chuyện, mỗi đằng có nhân duyên, mỗi
người tu phước huệ th́ mỗi người
tự đạt.
* Hỏi: Phải nên tùy thuận chúng sanh
như thế nào? (Hoàng Từ
Chiêu hỏi)
Đáp: Nguyên tắc là chẳng
chuộng thứ người ta ghét, chẳng ghét thứ
người ta ưa, đừng chấp trước Ngă
Kiến, chẳng chướng ngại hành vi của kẻ
khác. Đại khái là như vậy, khó thể nói cặn
kẽ trọn hết! Nhưng điều đáng phải
chú ư nhất là tùy thuận điều thiện. Không
chỉ là tán thán, mà c̣n phải giúp cho thành tựu. Quân
tử thành tựu điều tốt lành cho người
khác, cũng giống như vậy đó.
* Hỏi: Trong sách cổ
thường thấy có chép chuyện quỷ thần báo ân.
Học tṛ có chút nghi vấn: Do quỷ thần ở trong tam
ác đạo, chính ḿnh vẫn chưa thể tự tại,
bị nghiệp lực bức bách, sao lại có thể báo
ân người đang ở trong ba thiện đạo? (Trịnh Thắng Dương
hỏi)
Đáp: T́nh h́nh trong ba ác
đạo chẳng đồng nhất, không thể nói
nhất loạt như nhau được! Súc sanh th́
thần thức nương vào thân, chẳng
được tự do. Địa ngục chẳng
thể tự thoát ra, nên cũng chẳng có tự do. Thân
thần quỷ có tiểu thần thông bẩm sinh, nên khi
nhân duyên chín muồi sẽ có thể báo ân, báo oán. Sách vở
nhà Phật và các nhà (các tôn giáo khác hoặc các trường
phái triết học) đều có ghi chép những chuyện
như thế.
* Hỏi: Hiện thời
miếu thờ thần rất thịnh vượng, có
đúng là linh thiêng hay không? (Trịnh
Thắng Dương hỏi)
Đáp: [Hễ miếu nào] có quỷ
thần nương tựa, ắt sẽ thiêng. Không có
quỷ thần dựa vào, ắt chẳng thiêng. Nhà Phật
trọn chẳng phủ nhận đạo quỷ
thần, bất quá chẳng giống như thế tục
mê muội, nên chẳng xằng bậy cúng tế phi lễ.
Lại c̣n biết ở trong đạo quỷ thần th́ chỉ
có khổ, chẳng thể tự liễu thoát, nên chẳng
mù quáng quy y [quỷ thần], mà càng thêm bi mẫn siêu
độ họ.
* Hỏi: Người
đời nói Thượng Đế sai các vị thần
kỳ đi xem xét việc thiện ác trong nhân gian, hễ
thiện bèn ban cho sự cát tường, hễ ác bèn giáng
tai họa, lời ấy có chánh xác hay không? (Trịnh Thắng Dương hỏi)
Đáp: “Người đời
nói” tức là cách nh́n của thế gian. Nho gia Trung Quốc
có cách nh́n như vậy. Đó gọi là “hoàng thiên vô thân, duy đức thị phụ”
(trời chẳng xét t́nh thân, chỉ đối với
người nào có đức bèn giúp đỡ), “đế hứa ngă phạt
hữu tội hỹ” (thượng đế cho phép ta
trừng phạt kẻ có tội), “thiên tích công thuần hỗ” (trời cho ông
phước thọ to lớn)[25], “thiên mạng tru chi” (trời
tru đất diệt). Nho gia vốn ít nói đến
thần và trời, mà [sách vở Nho gia] c̣n ghi chép [những
câu như thế]. Xưa nay, tôn giáo tại Trung Quốc và
Tây Phương nh́n nhận thần và trời càng chẳng
thể kể xiết. Nhà Phật tuy trọng nhân quả,
nhưng cũng chẳng phản đối sự
tướng. Vạn pháp duy tâm. Thần thưởng
phạt cũng do tâm tạo ra, có ǵ là sai!
* Hỏi: Báo Bồ Đề Thụ
số một trăm tám mươi mốt có đăng
tải chuyện lạ chuyển thế. Học nhân đă
đọc mấy lượt, cảm thấy người
ấy đời trước chẳng thọ thân Trung
Ấm, sau khi chết bèn trực tiếp đầu thai
chuyển thế, chẳng chịu nỗi khổ thai
ngục mười tháng, nên có thể nhớ sự
việc. Đây là chuyện thuộc về phương
diện nhân quả báo ứng, mong cầu cụ hăy từ
bi khai thị. (Đới Thiêm
Đinh hỏi)
Đáp: Tại hạ bận
bịu nhiều việc, chưa đọc chuyện
được đăng tải trong số báo Bồ
Đề Thụ ấy, nên chẳng hiểu rơ
tường tận; nhưng nghe nói giữa hai đời
bị mê, cố nhiên phần nhiều là do thân Trung Ấm và
thai ngục. Nhưng cũng có trường hợp
chẳng trải qua thân Trung Ấm mà do thai ngục [nên mê],
cũng có trường hợp chẳng trải qua thai
ngục, nhưng do Trung Ấm [nên mê], cũng có
trường hợp chẳng trải qua Trung Ấm lẫn
thai ngục, t́nh h́nh phức tạp, kẻ chưa
đắc Thiên Nhăn chỉ có thể dựa theo sách vở
để suy luận. Do không có căn cứ, nên chẳng
ngại ǵ giả lập nghi vấn, quả thật, chẳng
dám nói khẳng định.
* Hỏi: Hậu học
thường thấy kẻ khác bệnh khổ, tâm rất
đau khổ, thường muốn dùng kinh chú để
tiêu trừ bệnh khổ cho người khác, nhưng
tự cảm thấy công phu tu tŕ chẳng đủ,
chẳng dám làm bừa, để khỏi bị kẻ khác
chê bai, biết làm thế nào? Để trừ nỗi
khổ cho người bệnh, dùng cách nào là tốt
đẹp? (Trịnh Chí Tây
hỏi)
Đáp: Tâm ấy rất lành, hăy
nên giữ tấm ḷng ấy. Hăy nên tự hổ thẹn
để cầu công phu tinh tấn. Lại nên thầm tŕ
tụng chẳng để cho người khác biết.
Hễ có hiệu quả, ắt có công đức; không
hiệu quả th́ cũng chẳng có ai gièm chê!
* Hỏi: Tôi đọc báo Bồ
Đề Thụ số một trăm bảy mươi
chín, trong bài Đại Tạng Hội Duyệt, [thấy có
ghi] đức Phật nói Cửu Hoạnh Kinh giảng
về chín nhân duyên khiến cho người ta mạng
chưa hết mà bị chết ngang xương. Ngoài các
điều sáu, bảy, tám, chín c̣n dễ biết ra,
những điều c̣n lại như một, hai, ba,
bốn, năm đều chẳng dễ hiểu. Tự
thẹn nông cạn, thô lậu, kính xin hăy rộng ḷng
chỉ dạy! Nếu cụ nêu những thí dụ [cho
dễ hiểu] th́ càng hay! (Tri
Chỉ hỏi)
Đáp: Một, “bất ưng phạn vi phạn giả”. “Phạn” (飯) là
ăn; [điều này] có nghĩa là những thứ không nên
ăn mà cứ ăn bừa đến nỗi bị
tổn hại; như có người do đánh cược
mà ăn một lượng muối lớn đến
nỗi chết tươi! Hai, “bất
lượng phạn giả”, nghĩa là ăn uống
chẳng biết chừng mực. Ba, “bất tập phạn, phạn
giả”, nghĩa là đối với một loại
thức ăn nào đó, trọn chẳng quen ăn, mà
cứ miễn cưỡng ăn, hoặc là chẳng
biết thời tiết thích hợp, như Đông, Hạ,
hàn, nhiệt, dùng thuốc sai lầm. Bốn, “bất xuất sanh giả”,
nghĩa là thức ăn cũ chưa tiêu hết mà
đă lại ăn thêm, đến nỗi đầy
bụng v.v… Năm, “chỉ
thục giả”, “thục” (熟)
là tiêu hóa, tích thành phân trong ruột. Ư nói:
Khi mắc đại tiểu tiện, mà không đi vệ
sinh ngay, cứ ráng nhịn đến nỗi sanh ra các bệnh.
* Hỏi: Trước mặt có
một quả núi, xét theo kiến giải của mọi
người, ta đích thân mắt thấy quả núi
ấy, sự tồn tại của nó chắc chắn
chẳng có vấn đề ǵ. Nhưng nói theo Quang Học
và Sinh Lư Học, quả núi ta thấy ấy do các phân tử
và nguyên tử từ bề mặt của mặt trời
chấn động mạnh mẽ, kích động rất
lớn truyền xuống mặt đất, những
vật thể trên mặt đất bèn tiếp nhận. Do
thiên nhiên có tần số rung động khác biệt, bèn
hấp thu một phần, phản xạ những phần
c̣n lại, bèn chia ra thành màu sắc và sáng, tối. Ta
thấy núi là do các dao động phản xạ từ núi
ấy tỏa ra các phía tạo thành, gặp phải thấu
kính lồi (thủy tinh thể) trong mắt ta, khúc xạ mà
tụ thành h́nh ảnh ngược nơi vơng mạc. Màu
sắc, độ sáng tối chẳng khác ǵ quả núi
trước mặt. H́nh ảnh ngược ấy
khiến cho chất màu tím (rhodopsin) trên vơng mạc[26]
tạo thành phản ứng hóa học, kích thích “thể h́nh
nón” nơi đầu thần kinh thị giác. Thần kinh
thị giác dẫn truyền lực kích thích ấy
đến trung khu thần kinh, mới có cảm giác
thấy quả núi ấy. Những điều vừa nói
trên đây có phải là Pháp Chấp hay không? Vậy th́ phá Pháp
Chấp trong nhà Phật và khoa tự nhiên có kết luận
giống nhau hay không? (Ngô
Thương Sanh hỏi)
Đáp: Ư của tṛ cho rằng
Quang Học và Sinh Lư Học đều là khoa học, ắt
đă trải qua thực nghiệm và nghiên cứu
tường tận, phát minh lư ấy, sự chẳng có sai
lầm. Cần biết ư nghĩa của Pháp Chấp: Không
phải chỉ là những thứ hư vọng, sai
lầm, mà c̣n nói bao gồm hết thảy. Hễ biết
một mà chẳng cầu biết đến những lư
khác th́ đều là Pháp Chấp. Nói theo Chân Như, như
như bất động, kinh đă nói rơ ràng, chẳng
biết c̣n có tùy duyên. Tâm pháp là như thế, mà vạn pháp
cũng đều như thế. Có thể hiểu viên măn
th́ hết thảy mới vô ngại. Hễ chấp một
bên, ắt sự chẳng thông suốt. Mắt có thể
thấy núi, lư luận như ông vừa dẫn đă
được chứng nghiệm xác thực, nhưng hăy
c̣n có lư khác. Chẳng “chấp lư này, phế lư khác” th́
được. Nếu không, sẽ chính là Pháp Chấp vậy!
* Hỏi: Chỉ riêng
người kiến tánh hiểu rơ, những người
khác chẳng thấy. Nay tôi xin hỏi: Sau khi kiến tánh,
sẽ có thần thông hay không?
(Châu Huệ Đức hỏi)
Đáp: Kiến tánh chính là
trừ Hoặc. Trừ Hoặc có sâu hay cạn sai khác.
Người đoạn sạch Kiến Tư Hoặc
đều có thần thông. V́ thế, thần thông cũng
chia ra thành lớn hay nhỏ, không thể nói nhất
loạt được!
* Hỏi: Cổ đức nói: “Hướng về thiện tri
thức, hỏi đường lối kiến tánh
khiến cho tâm ngộ. Đáp: Chỉ biết ngưng dứt
cái tâm là xong, chẳng c̣n nghĩ trước, lo sau”. Câu
này có phải là tương phản câu kinh Lăng Nghiêm “chẳng bằng một ngày tu
nghiệp vô lậu, xa ĺa hai nỗi khổ yêu, ghét trong
thế gian” hay không? (Châu
Huệ Đức hỏi)
Đáp: Cổ đức nói
lời ấy với ư nghĩa “dứt
diệt bèn là Bồ Đề”, “chỉ dứt trừ phàm t́nh, chẳng có thánh
giải nào khác”. Ư nghĩa chánh yếu của kinh là “xa ĺa sự yêu ghét trong thế
gian”. Đấy cũng là ngưng dứt và trừ
khử các phàm t́nh, nên hai câu chẳng mâu thuẫn nhau.
* Hỏi: Nếu người
mới tin, phát tâm hướng về pháp sư quy y, thủ
tục như thế nào? Chi phí bao nhiêu? (như cúng
dường v.v…) (Vương
Chí Thành hỏi)
Đáp: Quy y lần đầu
gọi là Phản Tà Tam Quy. Nhiều người
đồng thời quy y, pháp sư thăng ṭa thuyết pháp
th́ nghi lễ rườm rà. Một hai người quy y,
pháp sư tùy duyên phương tiện, ắt lễ nghi
đơn giản. Thủ tục do pháp sư chỉ
dẫn, hướng về Tam Bảo lễ bái, tự nói
Tam Quy ba lượt, cấp phát điệp Quy Y là hoàn
tất. Sự rất đơn giản, nhưng
được lợi ích hay không là do tâm người
cầu quy y chí thành hay khinh mạn. Nghi lễ rườm rà
hay đơn giản, chẳng quan trọng! Chi phí cúng
dường trọn chẳng có tiêu chuẩn, lượng
theo sức ḿnh, nhiều hay ít chẳng câu nệ. Dẫu
nghèo nàn chẳng có đồng nào, vẫn nhiếp thọ
b́nh đẳng. Chỉ có điều người
để ta quy y ắt phải là bậc tỳ-kheo
xuất gia chánh thức th́ mới gọi là Tăng Bảo,
mới hợp lẽ Tam Quy.
* Hỏi: Lại nữa, bái
sư phụ và hướng về pháp sư quy y, chưa rơ
là hai chuyện hay là một chuyện? (Vương Chí Thành hỏi)
Đáp: Bái Sư có ư nghĩa xin học
nghề, hoặc giải quyết nghi hoặc. Lớn
như văn chương, vơ thuật, nông, công,
thương, y; nhỏ th́ như giặt quần áo, đánh
giày. Mỗi nghề đều có kỹ thuật riêng,
mỗi kỹ thuật có đường lối riêng.
Học hỏi th́ ắt phải có người có khả
năng truyền dạy. Đó gọi là Bái Sư. Quy y tuy
cũng là bái sư, nhưng ư nghĩa khác biệt với
điều trên đây rất lớn. Quy là phản tà quy
chánh (bỏ tà, trở về chánh), Y là cậy vào đó ḥng
thoát lục đạo. Trong trường hợp
trước (tức Bái Sư trong thế gian), chỉ
cầu học nghề, người được tôn làm
thầy chẳng có phân biệt. Trường hợp sau,
[vị thầy ta xin quy y] ắt phải là tỳ-kheo xuất
gia th́ mới cùng một Thể với Phật pháp.
Phật pháp trong Tăng đoàn, nên Tăng đoàn gọi là
Bảo. Quy y ắt phải có Tam Bảo, hễ thiếu
một th́ sự chẳng lập, trăm nỗi tệ
dồn dập nẩy sanh, rớt vào tà ma, ngoại
đạo!
* Hỏi: Miếu thờ
thần ở Đài Loan (thờ thần quỷ) là
thuộc Đạo giáo hay Phật giáo? Nếu là
Đạo giáo, v́ sao vẫn thờ Bồ Tát (như Quán
Thế Âm Bồ Tát), v́ sao những thiện nam tín nữ
tự cho ḿnh là tín đồ Phật giáo? (Tâm Bỉnh hỏi)
Đáp: Miếu thờ quỷ
thần chẳng thể v́ thờ vị thần nào mà phán
định là giáo nào! V́ người dân đối với
thần, Phật, quỷ quái chẳng phân biệt đă lâu,
chỉ là mơ hồ chịu ảnh hưởng mà
thờ cúng đó thôi! Lại luận định về
đồ đệ của Tăng hay Đạo,
người t́m hiểu giáo, hiểu rơ đạo cố
nhiên chẳng ít; nhưng kẻ chẳng phải tăng,
chẳng phải đạo, chẳng phải tục,
giả mạo trà trộn trong chùa miếu cũng đông.
Thần, Phật, quỷ quái, nhất loạt thờ
phụng, họ chẳng phải là hoằng giáo, chẳng đáng
quở trách sâu xa. Thiện nam tín nữ b́nh phàm tự cho
ḿnh là tín đồ nhà Phật cũng là do hiểu biết
mờ mịt, mù mờ đi theo, càng khó trách
được!
* Hỏi: Nếu kẻ ở
trong ba ác đạo thỉnh Phật lực th́ có
được bạt độ đến Tây
Phương hay chăng? (Lâm
Hồng Tú Anh hỏi)
Đáp: Đức Phật
đồng thể đại bi, phổ độ cửu
hữu; hai lực (tự lực và tha lực) cùng cảm,
hễ có duyên bèn có thể siêu thoát. Sử truyện chép chim
vẹt văng sanh, tức là tam ác đạo có thể văng sanh.
Lư tuy là như thế, nhưng về Sự rất ít.
Bởi lẽ, ba ác đạo chẳng dễ phát khởi
giác tâm, nên chẳng có cảm ứng, [tức là] do hai
lực bị thiếu một, nên chuyện ấy khó thành
tựu!
* Hỏi: Có phải là dùng
Phật lực chỉ có thể bạt độ
[người ấy từ ba ác đạo] sanh về ba
thiện đạo? Có phải là Phật lại dùng hóa thân
trong ba thiện đạo để hóa độ khiến
cho kẻ ấy lại thoát tam giới? (Lâm Hồng Tú Anh hỏi)
Đáp: Xin hăy tham khảo lời đáp
trong phần trước sẽ có thể ngộ vấn
đề này. Phật độ cửu hữu, hoàn toàn do
nhị lực; nhị lực cảm ứng, liền có
thể trực siêu (siêu thoát thẳng về Tây Phương
Cực Lạc). Ông nói hai chữ “chỉ
có thể” chẳng đúng! Chỉ là trong ác đạo
chẳng dễ phát tâm, hoặc là đă phát, nhưng
chẳng dũng mănh. Hễ đă phát, bèn có cảm, nhưng
lực ít ỏi mà thôi! Từ ác đạo đến
thiện đạo, nếu [kẻ ấy] nửa chừng
hết sức [bèn chẳng thoát ra khỏi ba thiện
đạo], chứ sức của đức Phật
chưa hề có cùng tận. Kẻ nửa đường
ngưng nghỉ, chẳng phải là điều Phật mong
muốn. Đừng nên v́ mẹ ngài Mục Liên và phi tử
Hy Thị của Lương Vũ Đế siêu thăng
thiên đạo mà nghĩ [Phật lực] chỉ có thể
là như thế mà thôi!
* Hỏi: Thời gian thọ báo trong tam
ác đạo chưa măn th́ có thể cứu bạt
khiến cho thoát ra hay không? (Lâm
Hồng Tú Anh hỏi)
Đáp: Hăy coi kỹ lời
đáp cho hai điều trước, sẽ tự có
thể suy ra mà liễu giải.
* Hỏi: Người đời thờ
thần là do tôn kính nhân cách của vị thần ấy mà
thờ. Nếu sau khi vị thần ấy hết quả
báo [làm thần trong đường quỷ thần],
đầu thai trong đường khác, có phải là
chức vị ấy sẽ có người thay thế
tiếp nhận hay không? Tỷ dụ như sau khi Ngọc
Hoàng Đại Đế báo tận, đầu thai nơi
khác, vị được người đời tôn
thờ là ai? (Lâm Hồng Tú Anh
hỏi)
Đáp: Muôn vật đều có thần
làm chủ, sách Lễ Kư của Nho gia cũng nói [như
vậy]. Chủ này đă đi, tự nhiên sẽ có chủ
khác đến thay. Muôn pháp vô thường, khi đủ
nhân duyên bèn sanh, Sự Lư như vậy, có thể suy ra mà
biết. Đối với địa vị Ngọc
Đế như ông đă hỏi, người nào
đến thay, và Ngọc Đế lại sanh về
đâu, kẻ hèn này đọc kinh rất ít, chưa
từng thấy lời huyền kư, tự xét chính ḿnh
lại chẳng có thần thông, làm sao có thể biết
chuyện vị lai cho được? Chỉ có một
lời để kính đáp: Kẻ hèn này là kẻ ăn nói
thật thà. Nếu tin lời đồn đại “Sau Ngọc Đế, Quan Công
sẽ tiếp nhận [ngôi vị] thay thế, sau Quan Công là
Lữ Tổ tiếp nhận thay thế v.v…” tức là
trúng tà thuật của tà ma, ngoại đạo, hại
tâm, mê tánh, đă mê hoặc lại càng thêm điên
đảo! Mê hoặc, điên đảo chướng
ngại chánh tri chánh kiến, hăy nên thận trọng!
* Hỏi: Phật pháp khó nghe trong vô
lượng vô số kiếp đă được thầy
tôi nói rơ ràng, hoặc nói kín nhiệm, ngôn giáo đă trải
mấy chục năm, nhưng nói theo thế tục th́ “dưới tay tướng
mạnh, chẳng có binh hèn”. Thầy thường nói
chúng tôi chẳng biết niệm Phật. Sợ là chúng tôi
vô trí, tu tŕ lầm loạn, nên dưới sự d́u dắt
của thầy, chẳng có một ai ngộ đạo! Hay
là nói theo pháp thế gian, trên lũ lính yếu hèn là vị
tướng soái chẳng nghiêm, tức là thầy
đối với chúng tôi quá khách sáo, xin hăy dùng phương
pháp nghiêm trọng nơi pháp xuất thế của cổ
đại đức [ngơ hầu] “dưới hương bản[27] sẽ xuất hiện tổ
sư”! (Châu Huệ
Đức hỏi)
Đáp: “Dưới
hương bản sẽ xuất hiện tổ sư”,
lời này rất thông minh, nhưng kẻ hèn này có thể
đánh hương bản, chỉ lo ít có ai có thể
tiếp nhận hương bản, đành riêng than
thở: “Có người đánh, nhưng rốt cuộc
người nhận là ai?” Trong Phật pháp có Nhiếp, có
Chiết, quán sát căn cơ để sử dụng.
Hiện thời, nếu đánh hương bản, sợ
kẻ bị đánh chẳng chạy sang ngoại
đạo nhận sữa ḅ để uống, th́ cũng
sẽ chạy sang tiệm buôn Phật để góp
vốn! Hương bản tổ sư làm sao dùng
được!
* Hỏi: Trong lục đạo, đức Thế Tôn đều thị hiện
độ sanh, nhưng
trong sáu nẻo, như chúng sanh trong tam ác đạo có thể tiếp nhận sự giáo hóa của đức Phật hay không? Nhân đạo c̣n khó, huống hồ các đường khác? (Tín Nghĩa
Ban hỏi)
Đáp: Đức Thế Tôn
đại từ đại bi, phổ độ chúng sanh,
chẳng v́ dễ độ mà đến, chẳng v́ khó
độ mà đi. Ban bố từ bi tùy thuộc nhân duyên
của họ. Trong đường dễ độ,
cũng có kẻ vô duyên. Trong nẻo khó độ, cũng có
lắm kẻ hữu duyên. Nếu Phật bỏ khó,
lấy dễ, ắt chẳng phải là vô ngă b́nh
đẳng vậy!
* Hỏi: Kính xin thầy giới thiệu
các tác phẩm của các vị cao tăng đại
đức nhiều đời để sau này con có
thể thỉnh về đọc (Học tṛ hiện
thời chỉ đọc tác phẩm của Ngẫu Ích,
Hám Sơn, Tử Bách, và Liên Tŕ Đại Sư Toàn Tập, cảm thấy rất hay, do đó muốn xem nhiều hơn nữa). (Châu Bảo Nguyệt hỏi)
Đáp: Trước tác của cao tăng đại đức nhiều chẳng thể kể xiết. Kinh văn
trong Tam Tạng, trừ chánh văn kinh và luật ra, hết thảy luận,
chú, sớ giải đều là trước tác của các Ngài. Nếu người học muốn cầu bản lănh sâu xa, chớ nên bỏ kinh để cầu những trước tác. Đọc kinh, tham khảo chú giải th́ đôi bên đều toàn vẹn. Nếu cứ muốn chuyên đọc phần trước tác trong nhà Phật, Thiền có Ngũ Đăng Hội Nguyên, Chỉ Nguyệt Lục, Đàn Kinh v.v… Tịnh
có Triệt Ngộ Thiền Sư Ngữ Lục, Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao v.v…
Giáo có Đế Nhàn Pháp Sư Toàn Tập, Thái Hư Pháp Sư Toàn Tập v.v… đều rất rộng.
* Hỏi: Con trộm nghĩ Phật môn có một câu ngạn ngữ, nhất thời chẳng biết xuất phát từ sách vở, sử truyện nào, dám phiền thỉnh cầu đại đức khai
thị. Câu ấy chính là “tham Thiền hựu niệm Phật, do như
đới giác hổ” (Tham Thiền lại niệm Phật, giống như hổ đội sừng). Kính xin đại đức rủ ḷng chỉ dạy câu ấy là pháp cú xuất phát từ vị tông tượng nào trong Thiền môn, và ghi chép trong sách vở, truyện kư nào? (Ẩn Danh Thị hỏi)
Đáp: Hai câu tục ngữ như ông đă hỏi, chẳng có sách vở nào nói
đến. Nếu chiếu theo nguyên văn đă ghi trong thư gởi đến, tợ hồ là tục ngữ. Nhưng kẻ hèn này cũng từng nghe có lời lẽ giống
như thế, xin chép lại, mong ông
tham khảo: “Hữu Thiền, hữu Tịnh Độ, do như
đới giác hổ”.
Văn tự của câu được ghi trong thư
chẳng giống câu ấy, nhưng
ư nghĩa chẳng sai khác cho mấy. Chữ “đới” (帶) trong câu sau có phải là
chữ Đới (戴) bị viết sai[28], tôi đoán chữ Đới (帶) là sai. Như kẻ hèn này biết, câu ấy xuất phát từ bài kệ của pháp sư Diên Thọ tại Hàng Châu vào đời Tống. Sư từng trụ tích tại chùa Vĩnh Minh, nên người đời gọi Ngài là thiền sư Vĩnh Minh Thọ, Ngài là tổ đời thứ sáu của Liên Tông. Trong bộ Tông Kính Lục do Ngài trước tác có bài kệ này.
* Hỏi: Nho, Thích, Đạo tam giáo, người người
đều nói “tam giáo đồng tông”, có phải là do cùng một vị tổ sư [sáng lập rồi các thế hệ sau] phân khai
thành tam giáo? Danh
hiệu vị tổ sư sáng giáo (sáng lập giáo pháp) đầu tiên là ǵ? Tôn giáo ấy có tên là ǵ? (Lâm Tú
Diễm hỏi)
Đáp: Mỗi giáo trong tam giáo có lư
riêng, có điểm chú trọng riêng. Chẳng qua “hướng dẫn con người làm lành” giống nhau, nên lư trong ấy có những chỗ tương thông mà thôi! Nếu nói là cùng một tổ sư, đấy chính là lời dối trá của bọn ngoại đạo vô tri, chớ nên nghe theo, tin tưởng. Tổ sư lẫn tôn giáo gốc đều không có, lấy đâu ra danh tự?
* Hỏi: V́ sao đạo nhân nam giới
trong trai đường[29] búi tóc? Lại có người ở trong
trai đường ăn mặc giống như người thế tục, chưa thể phân biệt? (Lâm Tú Diễm hỏi)
Đáp: Trai đường là nơi người thế tục tụ tập, khác với chùa Phật. Trước hết, hăy nên phân biệt rơ ràng hai danh từ, hiểu rơ giới tuyến giữa tăng và tục. Như ông nói họ búi tóc trên đầu đó chính là cách thức để tóc của Đạo giáo, chẳng phải là tăng sĩ Phật giáo. Nhưng ông chẳng nói rơ trai đường thờ phụng tượng ǵ, thờ Phật hay thờ thần của Đạo giáo, nên chẳng tiện phê b́nh nhiều hơn.
* Hỏi:
Trong nhà chúng ta kính thờ Táo Quân Lăo Gia, Môn Quan, Thổ Địa, Ngũ Thổ Long Thần[30] ; đó là giáo ǵ? (Lâm Tú
Diễm hỏi)
Đáp: Đều là cổ tục của Trung Quốc, được gọi là Ngũ Tự Chi Thần
(năm vị thần thường được thờ cúng), chẳng được gọi là một tôn giáo nào, chỉ nhằm ư nghĩa báo đền công lao. Riêng Ngũ Thổ Long Thần
chẳng thấy nói đến trong kinh truyện nào, có lẽ là phong tục
của một địa phương, trọn chẳng phải là nhà nào cũng thờ.
* Hỏi: Xin hỏi Thích Ca Mâu Ni Phật có hiển hiện hóa thân tại Trung Quốc hay không? Có độ người tại Trung Quốc hay không? Độ được bao nhiêu người? (Lâm Tú Diễm hỏi)
Đáp: Chúng ta là phàm phu, chẳng biết Túc Mạng, lại chẳng có Thiên Nhăn, làm sao biết được chuyện ấy! Tuy có vị được kẻ khác xưng tụng, như Trí Giả đại sư được coi là hóa
thân của Phật Thích Ca, đó có phải là lời xưng tán hay không, chẳng dám nói chắc chắn! Nhưng Phật, Bồ Tát cứu độ chúng sanh, hóa thân vô lượng, thường được thấy chép trong các kinh văn. Xét theo đó, hóa thân của Phật Thích Ca luôn luôn có, huống chi trọng
tâm của Phật giáo là Trung Quốc,
lẽ nào chẳng hóa thân của Phật? Tổ sư các đời của mười tông Phật giáo tại Trung Quốc đều có thành tựu, người chứng quả trong tứ
chúng đệ tử há chỉ ngàn vạn? Truyện kư đă chép tường tận, há c̣n
nghi vấn ư?
* Hỏi: Trong các chùa, đại đa số thờ phụng tượng của mười tám vị tôn giả. Trước khi các Ngài đắc quả La Hán, có phải là các Ngài từ thiếu niên hoặc trung niên hay lăo niên xuất gia hay không? Tên họ ngoài đời? Xuất sanh ở nơi đâu? Tu hành ở nơi đâu? (Tăng Khải Nguyên hỏi)
Đáp: Tuy sách vở có chép danh xưng của mười tám vị La Hán, nhưng nơi xuất sanh, và quá tŕnh tu tập, di chuyển
v.v… của các Ngài, kẻ hèn này chẳng thể nói rơ từng điều được v́ trong tay chẳng
có các tài liệu ấy. Như chính đức Thế Tôn th́ trong kinh truyện
có chép tường tận, c̣n tài liệu về những vị khác như mười vị đại đệ tử, trong kinh có nói, nhưng chẳng tường tận, đối với những vị khác có thể suy ra [càng ít tài liệu hơn]. V́ thế, chẳng có cách
nào để thưa tŕnh được!
* Hỏi: Đạt Ma Tổ Sư truyền giáo đến Trung Quốc, v́ sao quả vị được xếp vào hàng La Hán? (Tăng Khải
Nguyên hỏi)
Đáp: Một lời khó nói
trọn hết, mong ông hăy đọc kỹ bộ Truyền Pháp Chánh Tông Kư sẽ tự hiểu cặn kẽ.
* Hỏi: Đối với câu “chẳng đến chỗ ngoại
đạo nhận lănh sữa ḅ để ăn”, văn sinh chẳng liễu giải rơ ràng,
xin thầy từ bi giải thích? (Lư Truyền
Tân hỏi)
Đáp: Ngoại đạo chẳng có đạo, chỉ tham quyến
thuộc. Hễ quyến thuộc chẳng đông thêm, bèn dùng lợi để dụ dỗ. Dùng phương pháp khéo léo để có những thứ vật chất như sữa bột, y phục, tùy tiện ban phát. Người nhận, phần nhiều do tham cầu hai món quà ấy bèn nhập giáo. Tín đồ Phật giáo vô tri cũng có kẻ tham món lợi nhỏ nhặt, bèn trái nghịch giác, xuôi theo trần lao. Phật giáo hiện thời chẳng đánh hương bản, mà c̣n
chẳng được mấy người. Thử nghĩ: Một bên đập hương bản, một bên tặng sữa bột, hăy xem phàm phu sẽ t́m đến bên nào? “Tiệm buôn Phật” là hiện thời có những kẻ chẳng
tăng chẳng tục; thường
được gọi là Thần Côn[31], [trong điện thờ của họ]
bày lẫn lộn Như Lai, Bồ Tát, Vương Gia, Lăo Mẫu… [chuyên bày vẽ cúng bái rầm rộ nhằm]
cầu phước, cầu con, triệu hồn, trị bệnh, xin keo, coi bói, lạy sao Bắc Đẩu, bái sám, [tuyên bố] không
ǵ chẳng thể [làm được]. Hễ bước vào cửa [đền
miếu của họ], trăm món hàng đều có đủ, đăi đằng chu đáo, hút thuốc, uống rượu tùy duyên! [Họ kêu gọi tín chủ] “bố thí bậc nhất, càng nhiều càng tốt
lành”. Nhân sĩ trong xă hội đặt tên cho nơi ấy là “tiệm buôn
Phật”. Thiện bảng[32] đề tên đại hộ pháp chủ, người người mắt xanh[33],
ai nấy mọp lạy, đền thánh, ṭa cao, bốn vách rực
rỡ. [Những người quyên góp cho những nơi ấy] được gọi là “cổ đông[34] của tiệm buôn Phật”, [luôn tự xưng] “hết thảy vô ngại, đều đại hoan hỷ,
ngũ dục, lục trần chính là Phật pháp”. Lại nghĩ xem, có phàm phu nào muốn đến chỗ bị đánh hương bản?
* Hỏi:
Văn sinh đọc báo Bồ Đề Thụ số một trăm tám mươi tư, thấy trong câu hỏi của cư sĩ Châu Huệ Đức ở Đài Loan, [có nói] “dưới
tay tướng mạnh, chẳng có binh hèn, dưới
hương bản xuất hiện tổ sư”, nói hai câu này, tứ muội[35] đúng là trí huệ như biển. Tăng nhân giấu pháp có lỗi hay không? Vị thầy tại gia dạy môn sinh chẳng nghiêm, có phải là buông lung? Xin thầy từ bi giải đáp cho văn sinh trên báo Bồ Đề Thụ! (Lư Truyền
Tân hỏi)
Đáp: Nghĩa vụ của thầy và tṛ mỗi bên có giới hạn. Bất luận tại gia hay xuất
gia, trọn chẳng khác biệt. Cổ nhân có giáo huấn về sự dạy dỗ, chớ nên không biết: “Chỉ
văn lai học, bất văn văng giáo” (chỉ nghe nói có kẻ t́m đến xin học, chẳng nghe nói thầy phải t́m đến tṛ để dạy), “bất phẫn bất khải, bất phỉ
bất phát” (chẳng căm phẫn sẽ chẳng thể khơi gợi, chẳng tức tối bèn chẳng phát sanh). C̣n có nhiều điều luận định nữa, chẳng cần
phải nêu từng điều một. Những điều ấy nhằm nêu rơ: Tṛ phải đến cầu trước; sau đó, thầy bèn dạy cho. [Học
tṛ] đến cầu chẳng ngơi, ắt [thầy sẽ] dạy dỗ chẳng mệt; nhưng cũng có ngoại lệ: “Cử
nhất ngung, bất
dĩ tam ngung phản, tắc bất phục dă” (Nêu lên một góc mà chẳng suy ra được ba góc kia, chẳng dạy nữa) và “phi kỳ
nhân bất truyền” (chẳng
đúng người [thích hợp tiếp nhận giáo huấn], chẳng truyền). Hai điều này đều là nói về kẻ độn căn, chẳng thể tiếp nhận rộng nhiều, cưỡng ép họ [học cho nhiều sẽ] vô ích.
Nếu có kẻ ĺa thầy phản đạo th́ cũng chỉ “minh cổ
công chi, phi ngô đồ dă” (đánh
trống công kích tội trạng, [tuyên bố kẻ ấy] chẳng phải là học tṛ ta)[36] mà thôi, chẳng thể có quy cách nghiêm ngặt nào khác. Những điều đó đều là lệ chung trong sự tự
do giáo dục. Nếu
nhận lời gởi gắm của cha anh người ta, hoặc đổi con cho nhau để dạy, hoặc [học tṛ] là bậc chí sĩ v́ đạo mà lập thệ thành tựu, hoặc là liều thân làm việc nhọc nhằn để cầu trao đổi tài nghệ, hoặc hy sinh hết
thảy để chuyên cầu kiến thức, ứng xử v.v… Thầy phải trọn hết khả năng, chẳng giữ lại điều ǵ, thiết tha dùi mài, đă sâu lại càng sâu hơn; học tṛ chưa thành tài, chẳng cho phép ra khỏi cửa! Nếu tṛ có chút biếng nhác, bèn “đáng dạy, áp dụng h́nh phạt”, đó là lệ chung trong giáo dục cưỡng bức. Hai thứ giáo dục do học tṛ chọn lựa, chẳng do thầy! Tiến hành như thế nào là do thời cơ thích hợp. Giáo dục tự do th́ thầy chẳng thể nghiêm khắc, giáo dục cưỡng bách th́ thầy chẳng thể khoan dung.
* Hỏi: Tôi tin Ấn Quang đại
sư là một phân thân của Đại Thế Chí Bồ
Tát chẳng sai. Tôi chứng kiến vị đại đức nọ phẩm hạnh cao cả, đương nhiên cũng là Đại Thế Chí Bồ Tát hóa thân, có lẽ chẳng c̣n có thể nghi ngờ ǵ nữa! Nhưng đấng Đại Từ Đại Bi Bồ Tát là Đại Quảng Minh Như Lai, Đại Thế Chí Bồ Tát là Đại Hiển Thông Như Lai, hai vị đều thả chiếc bè Từ, mối quan hệ
giữa các Ngài ắt rất mật thiết. Tôi nghĩ vị đại đức nọ đă viên thông, chẳng ngại ǵ khuyên vị ấy hăy mở rộng tâm lượng tiến cao hơn một tầng nữa! (Bạch Giới Phàm hỏi)
Đáp: Ấn Quang đại sư là tổ sư của
Liên Tông, thánh cảnh như thế nào, hàng bạch y phàm phu chẳng dám suy lường xằng bậy! Nhưng khi Ngài trụ thế, cũng từng có người tuyên dương chuyện ấy, bị đại sư quở trách nặng nề. Ngài chỉ rơ kẻ ấy ham chuộng
chuyện kỳ quái, thốt lời rỗng tuếch, hư giả, quái đản! Sau đấy, chẳng c̣n ai dám nói nữa! Đủ thấy thịnh đức của tổ sư dạy người khác thật thà tu tŕ, chẳng chuộng [những thứ] hời hợt, rỗng tuếch, sẽ chẳng chuốc lấy ma sự! Tại hạ trọn vâng theo lời Ngài giáo huấn, dạy người khác cầu lẽ thật. Phàm đối với những chuyện do tứ chúng kiêu căng khoe khoang, đều nhất loạt tránh né, chẳng phụ họa, ḥng tránh khỏi người lẫn thần kinh hăi, phá hoại chánh pháp. Vị đại đức X… như ông đă nói sợ chưa viên thông, nên cũng chẳng đa sự chủ động khuyên lơn!
* Hỏi: Chỉ niệm thần chú trong Tâm Kinh có được hay không? Hay
là phải niệm toàn bộ Tâm Kinh và chú ngữ? (Hác Truyền Sâm hỏi)
Đáp: Niệm riêng lẻ hay niệm gộp chung, điều cốt yếu là thành tâm. Tâm thật sự chân thành, không ǵ chẳng được! Nếu tâm qua quít cho
xong chuyện, hoặc miệng có, tâm không, dù chỉ niệm chú ngữ hay niệm
toàn bộ bản kinh đều chẳng đúng pháp!
* Hỏi: Nếu cảm ứng thuộc về sự linh nghiệm nơi Phật, đức Phật chưa hề có nguyện hư dối, đức Phật quyết chẳng
nói dối. Hễ có cảm ứng, ắt sẽ tuyệt đối thực hiện. Nếu chẳng thực hiện, lại là do nguyên cớ nào? (Hác Truyền
Sâm hỏi)
Đáp: Hăy suy nghĩ kỹ thí dụ về nước và trăng trong số báo lần trước, ông sẽ hiểu lư cảm ứng. Có cảm bèn
ứng; chẳng cảm, không ứng. Phàm [những trường hợp] không ứng, đều
là do sức cảm chẳng đủ. Nước có thể diệt lửa, mặt trời có thể nung chảy
băng. Nếu dùng một chén nước để cứu cả xe củi cháy, lửa ấy chẳng tắt. Băng đóng suốt ba tháng mùa Đông, ánh mặt trời soi nửa ngày khó tan! Chẳng phải là lửa không thể dập tắt, chẳng phải là băng không thể tan, [mà là
do] sức của nước và mặt trời ít ỏi, chẳng đủ!
* Hỏi: Một người sau khi đă quy y với một vị pháp sư, nếu lại quy y lần nữa hoặc nhiều
lần với các pháp
sư khác th́ có
hạn chế hay không? (Hác Truyền
Sâm hỏi)
Đáp: Quy y pháp sư th́ [vị pháp sư ấy] cần phải là vị Tăng xuất gia. Tăng có nghĩa là Chúng. Vị thầy quy y là người đại diện cho Tăng đoàn. Quy y tăng có nghĩa là quy y hết
thảy tăng chúng trong Phật giáo. Chỉ quy y với
một người, th́ các vị tăng đều là thầy của ta. Nhưng người hiện thời chẳng hiểu rơ ư
nghĩa này, cũng có trường hợp quy y nhiều người, gọi là “kết duyên”, đó chính là xu hướng được ưa chuộng nhất thời. Chớ nên câu nệ điều này, tùy thuộc tâm nguyện của mỗi người mà thôi!
* Hỏi: Phật giáo có thư viện riêng để mượn sách đọc hay không? Nếu phải mua nhiều,
không chỉ là chẳng kinh tế, mà c̣n
do chưa từng thấy sách, [đặt mua] gởi
qua bưu điện, thường là nội dung của sách chẳng phù hợp tựa đề! (Hồng Triều Nguyên hỏi)
Đáp: Mua sách xem không hiểu, mượn sách cũng xem không hiểu giống hệt nhau! Phật giáo có thư viện tại Tây Nhai, Liễu
Xuyên ở Đài Trung, các
chùa lớn cũng có kinh tạng; nhưng các sách có sâu cạn khác nhau, ắt phải được hàng tri thức chỉ dạy thứ tự th́ mới có chỗ tiến nhập. Lại c̣n phải chân tâm cầu học, tu tập chẳng sót, tự nhiên sẽ
có thể có thành tựu. Nếu chẳng cầu nghe dạy, chẳng tu học, chỉ có nguyện suông th́ vô ích!
* Hỏi: Đệ tử thích đọc thiện thư, như trong mục
lục lưu thông sách nhà Phật của Thụy Thành Thư Cục có sách
Minh Tâm Bảo Giám[37], có phải là do đọc một quyển sách tốt lành mà có thể khiến cho người ta sẽ tiêu trừ thân tâm, cũng như [khiến cho độc giả] ít dục, trừ vọng hay không? (Hồng Triều
Nguyên hỏi)
Đáp: Thích đọc thiện thư chính là chuyện tốt, nhưng các giáo đều có thiện thư. Điều thiện được mỗi giáo chủ trương cũng đều khác nhau. Nếu học Phật bèn đọc thiện thư của nhà Phật, cầu sao cho từ hữu lậu thiện mà đạt đến vô lậu thiện. Sách Minh Tâm Bảo Giám như ông đă nêu, kẻ hèn này chưa từng xem tới, nên chẳng tiện đáp lời.
* Hỏi: Tôi thường đọc Cao Tăng Truyện (tuyển độc), trọn chưa thấy kể chuyện tỳ-kheo-ni. Chẳng lẽ tỳ-kheo-ni không thể tu thành chánh quả ư? (Huyễn Ngu hỏi)
Đáp: Ông đọc Cao Tăng Truyện, mà sách
ấy chuyên chép về tỳ-kheo [nên làm
sao có chuyện tỳ-kheo-ni cho được!]. Lại nói đến chánh quả, xin hỏi chánh quả loại
nào? Thành Phật? Thành La Hán? Hay là văng
sanh Tịnh Độ? Tạm thời chẳng nói đến ni sư, ông thấy các vị cao tăng, chánh quả của họ thuộc loại nào? Nếu có thể chỉ ra, sẽ chẳng hoài nghi ni sư nữa!
* Hỏi: “Bất thủ
ư tướng, như như bất động” (chẳng chấp lấy tướng, như như bất động) là chỗ trọng yếu trong kinh Kim Cang. Chúng sanh do luôn chấp tướng, nên đuổi theo tướng bèn càng mê hơn; đó là pháp xuất thế, nhưng nếu có đứa con chửi (hoặc đánh) cha. Nếu v́ “chẳng
chấp lấy tướng”, bèn
để mặc cho nó đánh mắng, tợ hồ trái nghịch luân thường! Nếu quở trách, ắt sanh sân, đă chấp lấy tướng, chẳng hợp với pháp! Xin bậc trưởng giả hăy cởi gỡ nỗi nghi! (Trịnh Triều Tín
hỏi)
Đáp: Công phu từ miễn
cưỡng mà tiến đến tự nhiên,
từ chấp tướng mà tiến đến vô tướng. Đây chính là thứ tự từ cạn tiến đến sâu trong tu hành của bất cứ ai! Nếu hiểu rơ lư
này, tự nhiên xử sự đúng pháp. Do chẳng hiểu Phật lư, hết thảy hành động chẳng tránh khỏi điên đảo. Sau khi hiểu rơ, thông đạt t́nh lư, đều có thể ứng
phó hoàn cảnh thiện xảo. Con làm chuyện ngỗ nghịch là ác chúng sanh, sống chịu hoa báo, chết
đọa tam đồ. Cha
đă học Phật hiểu đạo, hăy nên càng thêm thương xót, ngoài th́ dùng
hai pháp Chiết và Nhiếp để điều phục, trong th́ dùng Nhân Duyên Không Quán, chẳng khởi sân niệm! Nếu chẳng như vậy, sẽ dấy khởi phiền năo, tăng thêm tội nghiệp cho nó, đó chính là “chấp tướng”.
* Hỏi: Người học Phật chẳng chấp năng hành, sở hành, năng nhẫn, sở nhẫn, trong tâm một mực vô sự, vậy th́ niệm Phật có lẽ chẳng cần phải hồi hướng. V́ có hồi hướng, tức là đă chấp trước, không biết là [hiểu như vậy] có đúng hay không? (Trịnh Triều Tín hỏi)
Đáp: Căn tánh của chúng sanh có lợi và độn. Lợi th́ có thể đốn ngộ, độn th́ cần phải
tiệm tu. Bậc lợi căn tâm có vọng niệm, chỗ nào cũng chấp tướng, hễ được tri thức khai thị,
bèn có thể biết chính ḿnh vọng niệm và chấp tướng. Kẻ độn căn vọng niệm, chấp
tướng, nhưng không tự biết, nên
mê muội lâu dài. “Pháp môn Niệm Phật vốn chẳng có danh xưng hồi
hướng”, đó là nói theo bậc lợi căn, c̣n kẻ độn căn chẳng đáng nói tới chuyện này. Hiện thời, kẻ độn căn đông đảo, lúc mới tin tưởng Phật pháp, chẳng ngại tạm chấp tướng th́ mới có chỗ tiến nhập. Thử nghĩ niệm Phật, bái Phật, tham Thiền, tŕ giới, tu phước v.v… có ǵ chẳng phải là chấp tướng? Nếu phế sạch, người học khởi sự tu tập sẽ chẳng có ǵ
để dốc sức thực hiện. Người lợi căn nghe một,
ngộ cả ngàn, hoặc thẳng thừng
vượt khỏi đầu sào. Nếu ông có bản lănh thiên phú ấy, ông sẽ có thể gánh vác!
* Hỏi: Sau khi chết, linh hồn
của con người sẽ đi về đâu? (Quách Minh
Đường hỏi)
Đáp: Trong kinh điển Nho gia Trung Quốc
có nhiều chỗ ghi chép, rơ rệt nhất là câu
“du hồn vi
biến” trong kinh Dịch. Hồn đă nói là “du” (游) , tức là bồng bềnh trong không
trung, chẳng có chỗ cố định. Trong hư không, chia ra thành chín loại chúng sanh, quy nạp thành
lục đạo, tức là thiên, nhân, Tu La, súc sanh, quỷ, địa ngục. Khi cơ
duyên của hồn ấy tụ hợp, bèn đầu thai vào
một trong sáu đường, lại thọ sanh, rồi
lại chết đi.
* Hỏi: Hạnh nguyện của Bồ Tát là “vô duyên đại từ”. Hai chữ Vô Duyên đến tột cùng là “oán thân b́nh đẳng, không ǵ chẳng duyên” đấy chăng? Hay là chẳng
duyên vào đâu? (Lương Tử Cán
hỏi)
Đáp: Hạnh nguyện của Bồ Tát không ǵ chẳng phải là lục độ, vạn hạnh,
từ bi hỷ xả. Nói “vô duyên” chính là tự hành, hóa độ người khác, nhưng tâm chẳng chấp tướng, ngoài chẳng phan duyên, nên gọi là “vô duyên”.
* Hỏi: Xưa kia, đức Thế Tôn ở dưới cội Bồ Đề, nhằm ngày mồng Tám tháng Chạp, đêm thấy sao Mai, bỗng ngộ đạo, ba lần than thở: “Lạ thay!
Hết thảy chúng sanh đều có trí huệ và đức
tướng của Như Lai; chỉ v́
vọng tưởng, chấp
trước, nên không thể
chứng đắc. Nếu
ĺa vọng
tưởng, ắt Vô Sư Trí, Tự Nhiên Trí, hết thảy hiển hiện”. Nói như vậy, thành Phật rất dễ dàng ư? (Triệu Lệ Lượng hỏi)
Đáp: Phật dạy “nếu ĺa vọng tưởng”,
tổ sư nói “chỉ khử phàm t́nh”, há có dối người? Nhưng nói dễ dàng, làm khó
khăn! Nếu thật sự có thể ĺa vọng tưởng, dứt phàm t́nh, bèn thành tựu. Chỉ v́ tập khí trăm ngàn vạn kiếp quấy phá, chẳng chịu ĺa, chẳng chịu trừ khử, nên càng mê càng
sâu, chẳng có mảy may sức lực để đào thải, nên trầm luân trong lục đạo.
* Hỏi: Phàm phu bị nghiệp dẫn dắt lưu chuyển, nên có luân
hồi trong lục đạo. Bồ Tát bị bi tâm dẫn dắt, lưu chuyển, bi tâm đến nơi nào, Bồ Tát đến nơi đó.
Nếu bi tâm sai sử quư vị vào địa ngục
độ sanh, quư vị chẳng thể khống chế t́nh cảm, chẳng vào địa ngục độ sanh sẽ
chẳng được! Nếu không, quư vị sẽ
cảm thấy tự tâm bất an. Bồ Tát bị mê khi cách ấm, dùng pháp ǵ để bảo đảm đời sau lại tu hành? Hay là lại biến thành phàm phu? Nếu như vậy th́ lại
vào trong luân
hồi lục đạo mất
rồi! (Lương Tử Cán
hỏi)
Đáp: Phẩm vị của Bồ Tát rất nhiều, có mê và không mê. Người không mê chẳng cần bàn tới. Người mê th́ chỉ có nguyện ấy, gặp duyên bèn giác, chẳng mất dịp tiếp tục tu hành. Nguyện lực to lớn chẳng thể nghĩ bàn,
lịch đại tổ sư đa số là bậc nương theo nguyện
tái lai. Nếu
vào địa ngục, cần phải lượng định công phu tu tập của chính ḿnh có thể thực hiện hạnh Đồng Sự trong địa ngục hay không? Trong khổ sở, vẫn có thể tự tại độ người khác hay không? Nếu tâm có thừa, mà sức chẳng đủ, sẽ giống như kẻ bơi lội chẳng rành, vào biển bèn chết đuối, đôi đàng đều hỏng, vô ích!
* Hỏi: Theo nguyệt san Bồ Đề Thụ đăng tải, ngày mồng Tám tháng Tư mỗi năm là ngày
Phật thánh đản, có phải là thánh đản của Thích Ca Như Lai Phật hay không? Ngày Mười Chín tháng Hai, ngày Mười Chín tháng Sáu, ngày Mười Chín tháng Chín là thánh đản của vị Phật nào? Tôi nghe phong phanh dường như tháng Hai, tháng Sáu, tháng Chín là các
ngày thánh đản, thành đạo, quy Phật (nhập Niết
Bàn) của Quán Thế Âm Bồ Tát. Nếu là như vậy, các ngày đắc đạo, thành Phật của Thích Ca Mâu Ni Phật là khi nào? Xin hăy dạy cho! (Trầm Kiện Chương hỏi)
Đáp: Vấn đề này đă được giải đáp nhiều lượt trong cột
báo này, chẳng tiện lặp đi lặp lại, mong hăy tra t́m sẽ tự biết. Nhưng tôi dùng nguyên tắc chung để kính cẩn đáp lời. Thích Ca Thế Tôn ứng thân trong thế
giới này, sự giáng sanh
và nhập Niết Bàn, sự ứng tích của Phật Thích Ca đều được ghi chép. Nếu là Phật, Bồ Tát ứng hóa trong các cơi khác, do lịch pháp khác biệt cơi này, chẳng thể khảo chứng, nên chỉ mượn một loại nhân duyên nào đó, giả định một ngày để thành tâm kỷ niệm mà thôi!
* Hỏi: Gần đây, người dụng công bất
luận xuất gia hay tại gia, thường
thường có kẻ bị khốn đốn bởi ma, thậm chí chẳng biết ăn uống, loạn phạm vọng ngôn. Thông thường, sắc thân có bệnh, thầy thuốc có thể trị được, nhưng đối với loại bệnh này, hăy nên làm như thế nào? (Bổn Như hỏi)
Đáp: Dụng công trọn chẳng có sư thừa, hoặc do
chẳng hiểu rơ kinh nghĩa, oan uổng đi theo đường tà, nên mới có chứng bệnh ấy. Hoặc do chẳng tuân thủ giới luật, xen tạp ngoại
đạo, tam độc hừng hực, tà tri tà kiến, nên
cũng mắc căn bệnh này. Bệnh chẳng
phải do một ngày mà thành, mà cũng chẳng thể vừa trị liền khỏi. Ắt phải bỏ những điều đă tu tập, sám hối lâu ngày, lại tận hết sức người, mời mọc bác sĩ, dùng đúng phương pháp để biến đổi tư tưởng, dùng thuốc và châm cứu nhằm chữa trị kinh lạc th́ mới có thể hữu hiệu!
* Hỏi: Phật có độ chúng sanh hay không? Hiện thời Ngài có ba mươi hai tướng và độ chúng sanh, sao lại nói là không? (Ngô Thương Sanh hỏi)
Đáp: Phật động, tịnh, nói năng, im lặng đều là độ chúng sanh, nhưng
chẳng có tướng độ trọn hết chúng sanh, nên nói “Phật chẳng độ chúng sanh”. Tánh đức của chúng sanh đều là Phật, [nhờ vào] Tu Đức để hiển lộ, nên tự tánh hiển
hiện;
v́ thế nói “Phật chẳng độ chúng sanh”. Giảng nói luôn có Lư và
có Sự; ở đây là dựa theo Lư để nói.
* Hỏi: Thân thể và Ngă cố nhiên là hai chuyện, cớ sao thầy nói: Ngă là thanh khiết, chẳng có chút nhiễm ô, thân thể là bất tịnh, bất cấu. Hai thứ ấy
không ǵ là
chẳng tương quan, vậy th́ cái
Ngă nương vào thức thứ bảy chẳng
phải là vô minh ư? (Ngô
Thương Sanh hỏi)
Đáp: Chữ “thân” chỉ vật do Tứ Đại giả hợp,
thuộc về bất tịnh. “Ngă” chỉ Chân Ngă trong bốn tịnh đức (Thường,
Lạc, Ngă, Tịnh), tức là Chân Như bản tánh, đó gọi là “chẳng có vật làm sao nhiễm”, nên gọi là “thanh
tịnh diệu tâm”. Cái Ngă nơi thức thứ bảy là Ngă Chấp trong bốn thứ điên đảo, chẳng phải là Chân Ngă trong bản tánh, chớ nên lẫn lộn!
* Hỏi: Làm thế nào để tránh khỏi chao động trong vô niệm? (Trần Thục Anh hỏi)
Đáp: Đă là vô niệm, há có
chao động? Đă chẳng có chao động, tránh né chỗ nào?
* Hỏi: Học rộng nghe nhiều là tốt, hay chuyên tâm niệm Phật
là tốt? Học rộng nghe nhiều dường như chẳng thể niệm Phật nhiều? Niệm Phật nhiều dường như cũng chẳng thể học rộng nghe nhiều, có đúng như vậy hay không? Rốt cuộc nên làm như thế nào? (Trần Thục Anh hỏi)
Đáp: Học rộng thuộc loại cầu hiểu biết, niệm Phật thuộc loại thực hành. Trong học
vấn thế gian th́ gọi là “tri hành hợp nhất”, trong Phật
pháp gọi là “giải hành
tương ứng”. Nói đến chuyện chuyên tâm niệm Phật
và niệm nhiều th́ chuyên chú đến mức buông xuống vạn
duyên, niệm nhiều đến mức công khóa hằng ngày là mười vạn câu, sẽ có thể chẳng cầu học rộng nghe nhiều,
mà tương ứng với đạo. Nếu mỗi ngày ngồi nửa cây hương, niệm một ngàn câu Phật hiệu, có rất nhiều thời gian, mà chẳng cầu học và nghe th́ phải nên làm chuyện ǵ đây?
* Hỏi: Quán Thế Âm Bồ
Tát và Phật có sự khác biệt và quan hệ
như thế nào? Tôi nghe nói Quán Thế Âm là vị Bồ Tát thuộc địa vị đă giác ngộ (Đẳng Giác), chẳng phải là Ngài đă thành Phật hay sao? (Giản Tông Tu hỏi)
Đáp: Phật thuộc quả vị, Bồ Tát thuộc tu vị. Dùng mặt trăng làm tỷ dụ, ánh sáng có tṛn đầy hay khuyết
thiếu. Phật ví như trăng rằm, quang minh viên măn. Bồ
Tát thuộc địa vị tu hành, tiến lên từng bước, từ Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, cho đến Đẳng Giác, như trăng mồng một, trăng thượng huyền, hạ huyền, trăng khuyết, trăng rằm, dần dần sáng hơn. Đoạn hết vô minh, liền thành Phật quả. Nhưng đối với Quán Âm Bồ Tát, phải nên biện luật riêng, vị Bồ Tát này đă chứng Phật quả từ lâu, hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai. Do bi tâm quá nặng, nên hiện thân Bồ Tát, giúp đỡ chư Phật trong các cơi độ chúng sanh. Đó là sự sai biệt và quan hệ vậy.
* Hỏi: Di Lặc Bồ Tát c̣n chưa thành Phật (v́ Ngài c̣n phải nghe đức Thích Ca thuyết pháp), v́ sao biết là sau này Ngài sẽ kế tục Phật Thích Ca đến thế
giới này lập giáo, thuyết pháp? (Giản Tông Tu
hỏi)
Đáp: Đây là chuyện được đức Thế Tôn huyền kư chép trong các kinh điển. Điều này là dựa theo Thánh Ngôn Lượng để nói, chẳng phải là nói năng tùy tiện.
* Hỏi: Phật giáo có điện thờ Thập Điện Diêm La, lại c̣n có Thập Điện Diêm La Vương v.v… Sự ghi chép này là dựa theo chuyện trong nhân gian mà nói phương tiện [như
vậy] nhằm biểu hiện Lư, hay là ngoài cơi nhân gian thật sự có chuyện này? (Châu Di Quân
hỏi)
Đáp: Danh
xưng Diêm La (Yamarāja) thấy chép trong các kinh, c̣n danh
hiệu của mười vua Diêm La được ghi trong các tác phẩm biên soạn tại Trung Quốc
và Nhật Bản. Ngoài cơi người, xác thực có cảnh ấy. Đây là lời chân thật nhằm nói với hàng sơ học, không hiểu rơ giáo lư. Khi nào người học triệt ngộ Chân Như, th́ tam thiên đại thiên đều không, ắt chứng Vô Tướng tam-muội, mới có thể nói đây là phương tiện. Nếu không, Hoặc nghiệp trói buộc, lôi kéo, tự chuốc lấy khổ! Ông đă có tâm
học Phật, hăy nên xem kinh Phật
để có căn cứ, tin sâu nhân
quả ḥng nhập chánh kiến.
* Hỏi: Trong phẩm Hành Do của Lục Tổ Đàn Kinh có một đoạn chép: Ngài Huệ Năng ném y bát trên đá, Huệ Minh đuổi tới, nhấc lên, nhưng chẳng lay động được, xin hăy giải nghi. Y bát chẳng nặng lắm, làm sao có thể chẳng động? (Châu Di Quân
hỏi)
Đáp: Người chứng đạo và đắc định
đều có thần thông, tức là
có thể dùng tâm thể để chi phối sự tướng. Lục Tổ là bậc chứng đạo, y bát là sự tướng, là chuyện nhỏ nhặt, há đáng để kinh hăi, ngạc nhiên? Kinh dạy: “A La Hán có thể
phi hành biến hóa, thọ mạng trải kiếp dài lâu, tuy an trụ mà chấn động trời đất”. Chỉ khiến cho y bát chẳng động, cố nhiên là chuyện nhỏ nhặt!
* Hỏi: Theo Truyền Đăng Lục, có chép Sơ Tổ Bồ Đề
Đạt Ma đến Quảng Châu, Lương Vũ Đế nghênh tiếp Tổ đến Kiến Nghiệp (Nam Kinh), hỏi về công đức v.v… Cuối cùng, nhà vua nói một câu: “Người thắng là ai?” Tổ đáp: “Chẳng biết”, vua chẳng ngộ, Tổ bèn vượt sông, đến chùa Thiếu Lâm của nước Ngụy. Xin hăy chỉ dạy Tổ nói “chẳng biết” có nghĩa là ǵ?
Vua chẳng ngộ là do nhân nào? (Châu Di Quân
hỏi)
Đáp: Ông muốn nhập Phật môn, trước hết hăy nên đọc những cuốn sách nhỏ, nông cạn nhất để hiểu rơ giáo tướng, theo đúng lời dạy mà tu hành thật
sự. Đại lược [là tu hành đă có] đường nẻo rồi mới lại cầu minh sư chỉ dạy kinh điển th́ mới có chỗ
ngộ nhập. Kẻ sơ học chẳng thể hiểu sách Truyền Đăng Lục! Dẫu gặp thiện tri thức giảng giải, nhưng do thiếu
căn bản, nên có nghe cũng chẳng hiểu. Xin hăy thử nghĩ, Lương Vũ Đế tinh thâm văn học, Phật học uyên bác, c̣n chưa thể ngộ; ông muốn vừa nghe liền
ngộ, há có
lẽ ấy?
* Hỏi: Lư “tướng
nương vào tánh; hành do thời gian”, hai điều ấy, điều nào là trước? Xin hăy chỉ dạy! (Châu Di Quân hỏi)
Đáp: Tại hạ chẳng nhận biết chữ thứ sáu trong lời
hỏi, do đó, đối với sự
mạch lạc của toàn thể văn lư [cảm thấy] chẳng thích đáng, xin hăy lượng thứ khó thể trả lời!
* Hỏi: Xin hăy giải thích nghi vấn “Định Huệ nhất thể, bất nhị”. Xét theo thời gian th́ có thể nói rơ điều nào có trước hay không? (Châu Di Quân hỏi)
Đáp: Phật pháp có Sự và Lư. Nếu nói đơn giản theo Sự, từ Giới sanh Định, từ Định sanh Huệ. Như vậy th́ xét theo thời gian, Định trước, Huệ sau. Nếu
xét theo lư luận, ắt lại có cách
nói khác. Nói thêm, nếu muốn xem tập sách nhỏ [giảng về vấn đề này], xin
hăy gởi thư để tôi biếu tặng.
* Hỏi: Người b́nh phàm nghĩ Phật giáo là mê tín, tiêu
cực, lại c̣n các thứ tà thuyết của ngoại đạo phá
hoại Phật pháp. Trong Luận
Tạng của Phật giáo, có
bộ luận nào đả phá [những tà thuyết ấy] hay không? Xin
hăy dạy rơ ràng, cặn kẽ! (Lữ Lư Do hỏi)
Đáp: Thời cổ chẳng có những danh từ bài xích Phật giáo là “mê tín, tiêu cực”. Đại khái là hiện thời mới nói như vậy, phần nhiều là do thói sính dùng từ ngữ nửa Tây, nửa Tàu hiện thời. Những kẻ ấy toàn là nghe lỏm
nói ṃ, người khác nói sao bèn hùa theo làm vậy, cần ǵ phải so đo? Nếu có bi tâm độ họ, cũng cần phải t́m kiếm những chuyện đang
thuộc trào lưu hiện thời để nói. Nếu khảo cứu văn hiến [để làm chứng cứ tranh luận], sợ chẳng khế cơ! Bất luận văn tự giảng rơ đến thế nào đi nữa, trong mắt
họ cũng chẳng coi cổ nhân ra ǵ. Cư sĩ ắt phải biết, như sách Mâu Tử của vị Thái Thú đất Thương Ngô đời Hán, bộ Hoằng Minh Tập của Tăng Hựu đại sư đời
Lương, bộ Quảng Hoằng Minh Tập của Đạo Tuyên Luật Sư đời Đường, Hộ Pháp Luận của tể tướng Trương Thương Anh đời Tống v.v… đều là [những tác phẩm đả phá tà
thuyết mạnh mẽ].
* Hỏi: Người tại gia mang chí nguyện muốn
xuất gia để nghiên cứu Phật học nhằm
hoằng hóa Phật giáo. Về sau, do hoàn cảnh gia đ́nh chẳng thể xuất gia, [như vậy] th́ có phạm giới hay không? Xin
hăy dạy rơ! (Lữ Lư Do
hỏi)
Đáp: Đó là chí nguyện chẳng toại mà thôi.
Chưa thọ giới, há có
ǵ phạm để đáng nói!
* Hỏi: Nơi trang một
trăm tám mươi sách Ấn Quang Đại
Sư Gia Ngôn Lục có viết “c̣n như
nói kỹ nữ, thể
nữ v.v… bất quá nhằm mở rộng tâm bố thí
của Bồ Tát, chớ nên v́ từ mà hại ư”. Rốt cuộc là có ư nghĩa như thế nào?
Đáp: Bản in hiện thời, chẳng giống bản cũ. Cùng một loại sách, mỗi thư cục ấn hành có cách
thức riêng biệt. Ông chẳng nói rơ bản in ấy do thư cục nào xuất bản, chẳng thể t́m kiếm. Đối với chuyện ông đă hạ ḿnh hỏi tới, chỉ có thể dựa theo lời văn để giảng giải ư nghĩa. Ở đây, có lẽ là nói Bồ Tát độ chúng sanh, v́ thích ứng cơ duyên mà hiện các thứ thân, thậm chí hóa
hiện kỹ nữ, thể nữ v.v… bất
quá nhằm tŕnh bày nỗi khổ tâm thí pháp của Bồ Tát, mở rộng đến cùng cực để nói, chớ nên lầm tưởng nghĩ Bồ Tát độ chúng
sanh, ắt hóa thân ấy; càng chớ nên lầm tưởng kỹ nữ, thể nữ là Bồ Tát. Nếu độc giả chấp trước ngây ngốc, sẽ tổn hại ư nghĩa vốn có của bài luận ấy.
* Hỏi: Phật pháp chẳng cho phép tự tiện hiển lộ thần thông. Huống chi thần thông là thần thông, nhân quả là nhân quả, nghiệp lực là
nghiệp lực. Đă có thần thông, chẳng thể tiêu trừ nhân quả và nghiệp lực, chỉ đành nghe theo số mạng. Những năm gần đây, người học Mật Tông thích khoe chính ḿnh đắc thần thông, đâm ra khiến cho kẻ vô tri hủy báng, [do đó], chẳng ổn thỏa, thích đáng bằng tu Tịnh Độ Tông đới nghiệp văng sanh, đúng không? (Vương Siêu Nhất hỏi)
Đáp: Đức Phật v́ một đại
sự nhân duyên mà xuất hiện trong cơi đời. Học Phật th́ Đệ Nhất Nghĩa Đế là liễu sanh tử, chẳng phải chỉ là đắc thần thông là đă xong việc. Cái được gọi là “thần thông” bất quá là một thứ kỹ năng! Cầu liễu sanh tử là gốc, thần thông là ngọn.
Nếu có thể liễu
sanh tử, tự
nhiên thần thông tự đầy đủ. Cách nh́n của cư sĩ phù hợp chánh pháp nhăn.
* Hỏi: Minh tâm kiến tánh có thể liễu thoát sanh tử hay không? Kinh
Kim Cang nói Thanh Văn Thừa [có ư nghĩa]: Một là Nhập Lưu, hai là Nhất Văng Lai. Có lẽ là họ chưa thoát ly luân hồi, tức là
chưa liễu thoát sanh tử, đúng không? (Vương Siêu Nhất hỏi)
Đáp: Minh tâm kiến tánh cũng chia theo thứ tự, như trăng non tỏa ánh sáng. Mồng Hai, mồng Ba là trăng lưỡi liềm, mồng Bảy, mồng Tám là thượng huyền (trăng bán nguyệt đầu tháng), Mười Bốn và Rằm là trăng rằm. Nhất Quả, Nhị Quả và Tam Quả trong Thanh Văn Thừa kiến tánh chưa thấu
triệt, như ánh sáng của trăng lưỡi liềm, chưa liễu thoát sanh tử. Tứ
Quả La Hán th́ kiến tánh và tam đức giải thoát đạt được một nửa, như vầng trăng thượng huyền, đă đoạn Phần Đoạn sanh tử.
* Hỏi: Minh tâm kiến tánh là cảnh giới ǵ? Đài Loan có bậc đại đức nào chứng đắc hay không? (Vương Siêu
Nhất hỏi)
Đáp: Là cảnh giới nào ư? Nh́n từ Kiến Hoặc và Tư Hoặc. “Đài Loan có bậc đại đức nào chứng đắc hay không?” là hỏi có vị nào kiến tánh? Hay là hỏi có người nào có thể là người ấn chứng? Phân vân đôi ngả, xin thứ lỗi tạm thời chẳng đáp!
* Hỏi:
Trong Đệ Thập Tứ Giảng, nơi trang [đánh số thứ tự là] Ất có nói: “Thân người khó được, giống như
trên núi cao thả chỉ xuống để luồn qua lỗ
kim, rùa mù vươn cổ chui đúng vào bọng gỗ
nổi”. Điều này là tỷ dụ giống như Gia Tô (Jesus) đă nói: “Kẻ giàu
vào nước trời, khó hơn lạc đà chui qua
lỗ kim”. Tôi
e rằng chuyện này toàn là nhằm khích lệ con người hướng thiện mà nói
đó thôi. Nếu là nói theo sự thật, th́ phải nói là người tu Tịnh Độ chỉ cần chân thành, ắt vạn người tu, vạn người về, hết sức dễ dàng; nhưng
kẻ chẳng tin Phật, đều phải đọa nhập tam đồ, chẳng thể làm người lần nữa. Như vậy th́ đức Phật thừa nguyện tái lai độ thế, sẽ chẳng có người để độ? Lại nói, Đài Loan đang gặp nạn nhân măn, có phải là những người ấy từ các cơi trời đọa lạc? Thật khó giải quyết mối nghi, xin hăy dạy cho! (Kim Á Đạc hỏi)
Đáp: Chỉ vốn có thể xỏ vào lỗ kim, rùa cũng có thể vươn cổ trúng bọng gỗ. Chúng trở thành điều khó thể thực hiện v́ gặp duyên chẳng dễ. Những câu ấy chỉ nói lên [ư nghĩa] “thân
người khó được”.
[Kinh luận nhà Phật] có những câu như vậy, trọn chẳng nói tin
Phật nhằm cầu có được thân người, cũng chẳng nói v́ không tin Phật, đều nhập tam đồ. Vạch rơ phạm vi th́ mới dễ nói chuyện, đó là điều thứ nhất. Lạc đà to mà lỗ kim nhỏ[38], vốn chẳng thể tiến nhập, tức là nói
tới chuyện tuyệt đối không thể có, chẳng giống như kim và chỉ, đầu rùa và bọng gỗ; đó là điều thứ hai. Tu Tịnh Độ thành
tâm, “vạn người tu, vạn
người đến” là nói đến chuyện sanh Tây giải thoát, chẳng phải là nói đến chuyện tu tập để cầu được thân người trong thế gian này. Đó là điều thứ ba. Thừa nguyện tái lai là v́ thế gian c̣n có chúng
sanh chưa được độ, chẳng phải là v́ nguyện mà đến để rồi lo thế gian này chẳng có người! Đó là điều thứ tư. Người Đài Loan đông đảo là từ Đại Lục di dân tới nên đột ngột tăng lên. Đó là chuyện trước mắt, có ǵ khó hiểu?
Tạm thời chẳng cần phải nh́n đến lư do xa xôi là từ thiên quốc đọa lạc và kẻ măn tội trong ác đạo [sanh vào nhân gian].
Đó là điều thứ năm.
* Hỏi: Thần thông là một
cảnh giới tu hành, cũng là một loại pháp môn để độ kẻ khác. Như Tế Công Hoạt Phật và Kim Sơn Hoạt Phật đều dùng thần thông biến hóa, Quán Âm
hiện h́nh tượng, cũng là thần thông. Nước Anh có hội nghiên cứu linh hồn, nước Pháp có thuật triệu quỷ, cũng là nương vào thần thông nhằm chứng minh có thần. Đối với chuyện hoằng dương Phật pháp [những điều ấy] đều là có ích. Văn bối thấy ḷng người gần đây chẳng bằng thuở xưa, tạo ác lắm nỗi; nếu không chỉ bày, cảnh cáo, ai chịu quay đầu, chỉ
lấy “Phật chẳng nói
dối” làm chứng, giống như dùng Thánh Kinh để chứng tỏ Thượng Đế, làm sao ổn thỏa cho được? Sách Trung Dung nói: “Thể
vật nhi bất khả di” (sinh trưởng muôn vật chẳng sót)[39] tức là nương vào vật để chứng minh có
thần, giống như bói toán bằng mai rùa. Lại nữa, nếu có thể khiến cho thần nhập tượng th́ sẽ có thể khiến cho người ta dấy ḷng tin: Ta có niềm tin nơi nhân quả v́ các thứ thần thông đều phù hợp với những ǵ đức Phật đă nói. Kiến giải hẹp ḥi ấy có đúng hay không? Xin chỉ ra chỗ sai lầm! (Kim Á
Đạc hỏi)
Đáp: Người học Phật chẳng phải là không cần đến thần thông, nhưng chẳng được phép khoe khoang thần thông, cũng như chẳng được bỏ chuyện liễu sanh tử để chuyên học thần thông! Mọi sự đều có lợi và tệ, chẳng thể vẹn toàn đôi đàng. V́ thế, so sánh lợi hại, [cổ đức] bèn có huấn thị quở trách [chuyện vận dụng thần thông tùy tiện]. Nếu để khuyến hóa đại chúng bèn khinh thị hiển lộ thần thông, ắt sẽ có kẻ gian dùng tṛ ảo thuật giả vờ thần thông ḥng làm càn, làm quấy, như bọn giặc Hoàng Cân, Bạch Liên giáo v.v… đều thuộc loại này. Nếu nói kinh điển Nho gia có chép chuyện bói bằng mai rùa, Phật pháp cũng cho phép chiêm sát bằng luân tướng[40]. Nếu nói là chỉ dạy, cảnh tỉnh th́ luật thế gian có nhà tù, sự báo ứng trong cơi âm
hiển hiện nơi cơi đời, chẳng lúc nào không
có! Hơn nữa, kinh Phật, sử Nho, ghi chép cả đống. Hiềm rằng người đời nay coi
như chẳng nghe biết. Nếu hiện thần thông, chưa chắc đă không chuốc lấy nỗi hiềm nghi dùng yêu thuật mê hoặc đại chúng, [đâm ra] do nóng vội mà ngược ngạo sanh ra chướng ngại. Những
chuyện như vậy chỉ bậc có đức ngẫu nhiên thực hiện một lần. Nếu chuyên hướng theo chuyện
này, tức là hạnh chẳng noi theo lẽ
chánh. V́ thế, Khổng Tử chẳng nói đến chuyện “quái lực, loạn
thần”, đức Phật răn cấm chẳng được khoe khoang
thần thông trong cơi tục.
* Hỏi: Chiếu theo thuyết Chọn Lọc Tự Nhiên của Đạt Nhĩ Văn (Darwin), th́ là [những sinh vật nào] có ưu thế sẽ thắng, [những sinh vật] kém hơn sẽ diệt vong, thuần
túy là tuân theo lẽ mạnh yếu, chẳng tuân theo thiện ác. Kỳ lân tuyệt chủng là do nó có ḷng nhân, nhân loại thuở thái sơ cũng thế. Cho đến khi tư tưởng phát triển, mới quy về [ư niệm] do được người đắc đạo giúp đỡ nhiều phen mà tranh
thủ thắng lợi cuối cùng. Nay bọn giặc Cộng nương vào tà thuyết của Mă Khắc Tư (Karl Marx), trộm chiếm giữ Đại Lục, thói ác
trong nội tâm bọn chúng chẳng trải qua sự phán xử trong cơi Âm chẳng được! Nếu không, do có cái tâm A Tu La, ắt
tạo ra cảnh giới A Tu La, như vậy chẳng phải là trái nghịch Phật pháp ư? Xin hăy khai thị
theo quả báo thiện ác. (Kim Á
Đạc hỏi)
Đáp: Học thuyết có cội nguồn là tâm
lư; hễ có học thuyết, ắt cầu nó đạt đến viên măn. [Những điều nào] hợp với chính ḿnh bèn dẫn chứng, nhưng [những điều ấy] chẳng phải là lư
nhất định. Kỳ lân do ḷng nhân mà tuyệt
chủng, chỉ là một lẽ; nhưng Kiêu Kính (梟獍)[41] bất nhân, cũng chẳng thấy chúng đầy ắp nhân gian. Vả nữa, mọi sự ắt phải nh́n thấu
triệt trước sau, chẳng thể chỉ luận
định theo những điều trước mắt. Tào Tháo giết hoàng hậu và
hoàng tử [nhà Hán] nên được thiên hạ, đó là chuyện trước mắt. Họ Tư Mă[42] làm giống hệt như vậy, kết quả cũng thế. Lịch sử ghi chép những chuyện như vậy, há chỉ có trăm ngàn! Nhân quả vằng vặc, chẳng cần phải nêu thêm nữa!
Suy ngẫm lời ông Đạt Nhĩ Văn giải thích sự sinh tồn,
sẽ thấy chim phượng, kỳ lân dạo khắp cơi đời trong thuở Đường Ngu, kẻ ác vào trong địa ngục, ong bướm bay lượn giữa hoa thơm, nhặng, gịi đục khoét trong chốn
hầm xí. Muôn vật tương cảm theo loài, tôi chẳng ngờ chi!
* Hỏi: Phật Thích Ca có hiện thân giáo
hóa tại Trung Quốc hay không? (Lâm Tú Diễm hỏi)
Đáp: Pháp Thân của đấng Thích Tôn trọn khắp hư không, ứng hiện khắp nơi trong thế giới Sa Bà, bất quá lũ phàm phu chúng ta gặp mặt mà không biết. Trí Giả đại sư đời Tùy, được người đời xưng tụng là Thích Ca, đó là trường hợp rơ rệt. C̣n những trường hợp thị hiện ngấm ngầm, ắt chẳng thể đếm xiết. Hơn nữa, xá-lợi của đức Thích Ca, bộ Chúng Thánh Điểm Kư là kinh văn về giới
luật, và y bát do đức Phật đích thân truyền lại đă đều truyền đến Trung Quốc, tức là đức Thích Ca và Phật pháp đă sớm lấy Trung Quốc làm nền tảng.
* Hỏi: Quán Âm Bồ Tát tay cầm tịnh b́nh và cành dương là do chỗ nào mà
có? (Lâm Tú Diễm hỏi)
Đáp: Quán Âm Bồ Tát tự tại nơi các pháp, tay cầm tịnh b́nh, là do tùy niệm ứng hóa mà có, há giống như phàm phu sử dụng vật chất phải t́m cầu các nơi ư? Nếu cần phải hướng ra ngoài để cầu tịnh b́nh th́ Thiên Thủ Quán Âm một ngàn tay là một ngàn vật, làm sao có thể nói xuất xứ của từng vật cho được!
* Hỏi: Quán Âm Bồ Tát cầm tịnh b́nh và cành
dương có ư
nghĩa ǵ vậy? (Lâm Tú Diễm hỏi)
Đáp: Tịnh b́nh chứa cam lộ, gặp duyên liền rưới, rẩy lên người bèn dứt phiền năo, rẩy nơi đất bèn thanh
lương.
* Hỏi: Trên măo đội đầu của Quán Âm Bồ Tát có một vị Phật, đó là Phật nào vậy? (Lâm Tú Diễm hỏi)
Đáp: Quán Âm Bồ Tát là một vị thánh trong thế giới Cực
Lạc, đến dạo chơi
trong Sa Bà, tiếp
dẫn chúng sanh văng sanh Tây Phương, thân cận Di Đà. Đỉnh
đầu Ngài đội đức Phật Di Đà.
* Hỏi: Nghe nói hai vị Bồ Tát Phổ Hiền và Văn Thù là chị ruột của Quán Âm
Bồ Tát, đúng không? (Lâm Tú
Diễm hỏi)
Đáp: Chúng sanh sơ cơ tu hành, cố nhiên có tướng nam nữ. Nếu đạt đến quả địa, nhất loạt đều thành trượng phu. Ba vị Quán Âm,
Văn Thù, Phổ Hiền đều chứng Phật quả, v́ độ chúng sanh mà quyền hiện Bồ Tát, nhưng Bồ Tát lại có tại gia và xuất gia khác nhau. Ba vị đều hiện h́nh tướng tại gia. Do v́ tóc dài, đội măo, đeo chuỗi ngọc khắp thân, tục nhân chẳng biết, lầm tưởng các Ngài là thân nữ, nên lại bịa chuyện các Ngài là chị em, đáng nực cười thay!
* Hỏi: Quán Âm Bồ Tát xuất sanh tại nơi nào và hành trạng như
thế nào? Xin hăy chỉ dạy. (Lâm Tú Diễm hỏi)
Đáp: Từ kiếp lâu xa, đức Quán Âm đă thành Phật, trong vô lượng thế
giới đều từng hóa thân, làm sao có thể chép từng nơi xuất sanh và hành trạng của Ngài cho được? Chỉ có căn cứ trên kinh
điển, nói chuyện trước mắt th́ vị này hiện đang ngự trong cơi Cực Lạc, tức là sống trong cơi Cực Lạc, dạo khắp Sa Bà, tầm thanh cứu khổ, dạy
người niệm Phật, văng sanh Tây Phương.
* Hỏi: Phật giáo thường nói đến chuyện ngộ chân lư, rốt cuộc là ngộ xă hội lư hay là ngộ Phật lư? Rốt cuộc là ngộ chân lư nào? (Hồ Mỹ
Nguyệt hỏi)
Đáp: Phật pháp ở trong thế gian, chẳng
ĺa thế gian giác. Mê th́ là thế gian lư, giác ngộ bèn là Phật lư. Thế gian lư do mê bèn
gọi là vọng, Phật lư do ngộ bèn gọi là chân.
* Hỏi: Phật giáo cùng những
tôn giáo khác có điểm nào đặc sắc bất đồng? (Hồ Mỹ Nguyệt hỏi)
Đáp: Nói theo nhân địa, các tôn giáo khác coi trọng
tin nhận, phục tùng; Phật giáo coi trọng
tín giải, giác
ngộ. Nói theo quả địa, các tôn giáo khác chẳng đoạn sanh tử luân hồi, chỉ riêng Phật giáo có thể đạt đến bất sanh bất diệt. Nói theo phương diện sùng bái, các tôn giáo khác đề cao Thượng Đế tôn quư nhất, nắm quyền thưởng phạt. Phật giáo coi Thượng Đế là phàm phu, trọn chẳng có quyền làm chủ, chủ trương “tâm
tức là Phật”, tâm
cao hơn hết thảy, có thể tạo
ra vạn pháp, có thể chuyển họa phước. Những điều vừa nêu trên đây là nói đại lược về sự bất đồng giữa Phật giáo và các
tôn giáo khác.
* Hỏi: Phật dạy đệ tử có sở trường đặc biệt nào? (Hồ Mỹ
Nguyệt hỏi)
Đáp: Chữ Dạy trong câu “Phật dạy đệ tử” có giới tuyến không rơ ràng. Phật giáo cho đến nay đă là hai ngàn mấy trăm năm, đệ tử trải
các đời số lượng nhiều như cát sông Hằng, làm sao có thể nói sở trường của mỗi vị? Chỉ nói về đệ tử trong thời đức Phật, số lượng cũng vạn ngàn. Nếu hỏi đến sở trường, hăy nên nêu ra mấy vị th́ mới có thể nói trong phạm
vi. Ở đây, do hỏi chung chung, chỉ có thể đáp chung chung. Vô lượng
thế giới, không nơi nào chẳng thấy; tâm niệm của chúng sanh, không ǵ chẳng biết. Quá khứ, vị lai, như hiện trước mắt, phi
hành tự tại, hóa thân vô lượng. Có thể đem núi Tu Di nhét vào hạt cải, nhưng chư thiên các cơi trời Tứ Vương, Đao Lợi… vào trong ấy
mà chẳng biết. Bốn đại hải trút vào một lỗ chân lông, mà chư long, quỷ thần chẳng bị phiền nhiễu! Có thể rút gọn một kiếp thành bảy ngày, có thể kéo
dài bảy ngày thành một kiếp. Có thể đặt tam thiên đại thiên thế giới trong ḷng bàn tay để bay qua mười phương. Lại c̣n có thể ném khỏi hằng sa thế giới, nhưng khiến cho hết thảy chúng sanh bất động. Một hơi hút trọn tất cả các gió trong mười phương thế giới, một bụng đựng trọn hết lửa
khi kiếp tận trong mười phương thế
giới. Những điều giống như vậy, trọn chẳng thể kể xiết.
* Hỏi: “Quy
y Phật lưỡng túc tôn” giải thích như thế
nào? (Hồ Mỹ Nguyệt hỏi)
Đáp: Trong loài hai chân như người
và chư thiên, Phật là tôn quư. Đó là nói về h́nh dáng bên
ngoài. Phước đức và trí huệ, hai thứ ấy
đều trọn đủ, nên Phật là tôn quư, đó là
nói về nội đức. Quy: Mê mà quay trở lại, Y
là cậy vào đó để đắc độ. Nói
gộp lại, bọn ta là phàm phu ngu mê, hăy nên gieo ḿnh nương
cậy Phật ḥng liễu thoát sanh tử, ĺa khổ
được vui.
* Hỏi: Hai chữ danh xưng “Phật giáo” nên giải thích
như thế nào? (Hồ Mỹ
Nguyệt hỏi)
Đáp: Có thể tự giác, lại
c̣n dùng những điều tự giác để giác ngộ
người khác; hai sự này đều có thể làm
đến viên măn tột cùng. Đó là ư nghĩa chữ Phật.
Truyền dạy đạo pháp cho người khác,
khiến cho họ nương theo tu tập. Đó là ư
nghĩa của chữ Giáo. Nói gộp lại, tức là dùng
đạo Chân Giác để sáng lập, truyền thụ,
khiến cho đại chúng tu tŕ, chứng đắc
Phật quả, đó là chính ư nghĩa Phật giáo.
* Hỏi: Chúng tôi là kẻ tại gia, gia
đ́nh hỗn tạp, làm thế nào để giải thoát
các tạp phiền năo và vô minh? (Hồ Mỹ
Nguyệt hỏi)
Đáp: Mong thành thánh, thành
hiền, thành Phật, làm tổ, là chuyện mỗi
người đều nên làm, trọn chẳng phân biệt
xuất gia hay tại gia. Phật có tứ chúng đệ
tử, đều có thể chứng quả, đó là
chứng cớ rơ rệt. Bất quá người tại gia
việc đời rối ren, so ra khó thanh tịnh. Nhưng
nếu thật sự có thể vận dụng
phương tiện thiện xảo thích nghi, giống
như trồng hoa sen trong lửa, trong lửa đỏ mà
hoa vẫn có thể sanh trưởng, giống như
gặp ao chuôm, sẽ càng thêm xum xuê. Ngược lại,
trồng sen trong nước, gặp lửa có thể
bị héo. Tuy có các sự khó dễ ấy, chỉ cần là
kẻ có chí, không ai là chẳng rốt cuộc thành tựu.
* Hỏi: Hiện thời
chỗ nào có bậc cao tăng kết cḥi tranh tu hạnh
Đầu Đà để có thể thân cận? (Trương Vĩnh Cát hỏi)
Đáp: Người tu kết
cḥi tranh, c̣n có mấy chỗ, nhưng ông đ̣i nêu tên cao
tăng tu hạnh Đầu Đà, ắt khó thể kể
được. Bởi lẽ, hành hạnh Đầu
Đà cố nhiên là cao tăng, nhưng cao tăng cũng có
vị chẳng hành hạnh Đầu Đà, cũng có
vị chẳng ở trong cḥi tranh. Chuyện này cần
phải đích thân đến tham phỏng, sẽ khéo t́m
được thầy.
* Hỏi: Tu đạo trong núi
thẳm, nếu chẳng có bậc cao tăng đại
đức chỉ dạy, chính ḿnh lại chẳng
hiểu, nên dùng loại kinh nào chỉ dạy phương
pháp tham Thiền để tham khảo? (Trương Vĩnh Cát hỏi)
Đáp: Tu hành trong núi thẳm,
giống như bế quan, ắt phải thông đạt
giáo tướng th́ mới thực hiện tốt
đẹp. Nếu không, tu mù, luyện đui, phần
nhiều lạc lối. Kinh điển th́ cần phải
hỏi chính ḿnh muốn tu pháp ǵ, để mở kinh
[tương ứng] ra đọc th́ mới có ích. Nếu
không, càng xe hướng về phương Nam mà bánh xe xoay
về phương Bắc, rất có thể chẳng
hiểu văn nghĩa, chẳng đạt được
mảy may ǵ!
* Hỏi: Ăn thực vật
mọc hoang, chẳng ăn gạo trong một thời gian
dài th́ có được hay không? Trong quá khứ đă có
vị Tăng hay tục nào hành như vậy hay chưa? (Trương Vĩnh Cát hỏi)
Đáp: Trong quá khứ, cố
nhiên là có tăng hay tục hành như thế, nhưng
đều là tu tập đă lâu mà thành, quyết chẳng
phải là người quen hưởng cao lương
mỹ vị mà ngay lập tức có thể làm
được!
* Hỏi: Hiện thời trong
tỉnh này (Đài Loan) có mấy nơi danh sơn
thường có bậc cao tăng kết cḥi tranh? (Trương Vĩnh Cát hỏi)
Đáp: Hăy tham khảo lời
đáp thứ nhất.
* Hỏi: Thiền sư Điểu Sào
là người thời nào? Xuất thân như thế nào?
Cả đời có sự tích ǵ? Ngài tu hành trong núi nào? Phương
pháp tu hành là như thế nào? Kính xin hăy dạy tường
tận. (Trương Vĩnh
Cát hỏi)
Đáp: Sư là người
thời vua Đại Tông nhà Đường[43].
Họ ngoài đời là Phan. Chín tuổi xuất gia, tham
học các danh sư khắp Nam Bắc, sáng tỏ tâm
địa. Về sau, Ngài trụ tại núi Tần
Vọng, ở vắt vẻo trên một cội tùng có tán
x̣e như cái lọng, người ta bèn gọi Ngài là thiền
sư Điểu Sào (thiền sư tổ chim). Sau này, Ngài
tọa hóa ở ngay nơi đó.
* Hỏi: Trong tỉnh này, Đại
Phật Tự ở trên núi cao có tất cả mấy
chỗ? Rải rác ở những chỗ nào? (Trương Vĩnh Cát hỏi)
Đáp: Núi Quan Âm ở Đài
Bắc có chùa Lăng Vân, núi Quan Âm ở Đại Hồ
tại Miêu Lật có chùa Pháp Vân. Núi Sư Đầu ở
Trúc Nam có chùa Nguyên Quang v.v… Các ngôi chùa cổ có đến
mười mấy chỗ. Phương Nam th́ tại Quan
Tể Lănh có chùa Đại Tiên, những nơi khác c̣n có
rất nhiều, chẳng thể kể xiết!
* Hỏi: Trong mục vấn đáp
số báo một trăm lẻ một, đại
đức trả lời Quán Thế Âm Bồ Tát chẳng
phải là người trong thế giới Sa Bà, tôi chưa
hiểu rơ. Tôi nghĩ vào ngày Mười Chín của các tháng
Hai, Sáu, Chín, tất cả các chùa miếu đều lễ
bái Quán Âm Bồ Tát, nói những ngày đó [lần
lượt] là ngày thánh đản, hoặc xuất gia,
hoặc thành đạo, là do nhân duyên nào? (Hoàng Mễ Điền hỏi)
Đáp: Người trong cơi này, có ngày,
tháng, năm sanh, nhưng lâu năm th́ cũng chẳng
thể khảo cứu tường tận. [Đối
với những vị] ở ngoài cơi này, càng chẳng
thể luận định được! C̣n v́ sao ấn
định ngày nào đó là thánh đản, ngày nào đó
xuất gia, đều do người đời sau giả
định, mượn những ngày đó để
kỷ niệm mà thôi, đă lâu ngày, khó thể xét
tường tận từng điều một. Do vậy,
vào ngày đó, bèn tùy hỷ, thành tâm cúng dường, lễ
bái là được rồi. Nếu cứ muốn phải
chuẩn xác, chẳng qua là vẽ chuyện thêm phiền. Do
lẽ đó, các nhà chép kinh đối với [thời
điểm] đức Phật thuyết pháp luôn ghi
bằng hai chữ “nhất thời”,
trọn chẳng chép là ngày tháng nào!
* Hỏi: Trong bài hồi hướng có
câu “xảo bả trần lao
đương Phật sự” (khéo lấy trần lao
làm Phật sự) có nghĩa là ǵ? Thực hiện như
thế nào? (Bạch
Trương Văn Thích hỏi)
Đáp: Trần lao là tên khác
của phiền năo. Phiền năo có thể phủ lấp
chân tánh, nên gọi là Trần. Nó lại có thể khuấy
loạn thân tâm, nên gọi là Lao (mệt nhọc). Các
việc thế gian phần nhiều thuộc về
phiền năo, hăy nên dùng phương pháp thiện xảo
phương tiện để biến hết thảy
phiền năo thành trợ duyên cho tự giác và giác tha, đó
gọi là “phiền năo chính là
Bồ Đề”. Hăy nên biết như thế, hăy nên
hành như thế.
* Hỏi: V́ sao chư Phật
trước đức Thích Ca chẳng có kinh điển? (Bạch Trương Văn Thích
hỏi)
Đáp: Thế gian thành, trụ,
hoại, không, Phật pháp có [các thời kỳ] Chánh,
Tượng, Mạt, Diệt. Đức Phật
trước chẳng phải là không có kinh điển,
nhưng pháp đến thời kỳ Diệt, kinh
điển chẳng c̣n nữa. Hăy thử xem những
chuyện được chép trong sử kư Trung Quốc,
cổ nhất là Phục Hy, Thần Nông, bất quá mới
là năm ngàn năm mà những sách ấy há có c̣n ư?
Huống chi vị Phật trước cách đức
Phật Thích Ca bao nhiêu kiếp số, kinh điển làm sao
tồn tại cho đến hiện thời
được? Hăy nên biết Phật Phật đạo
đồng, những ǵ Thích Tôn đă nói trong hiện
tại chính là kinh do các đức Phật trước kia
đă nói.
* Hỏi: Kinh Kim Cang có nói
“chẳng có ngă tướng, nhân tướng, chúng sanh
tướng, thọ giả tướng”, có nghĩa là ǵ? (Lâm Chánh Khảo hỏi)
Đáp: Bốn câu ấy
được giải thích khác nhau, có lẽ ông học
Phật chưa lâu, kẻ hèn này chỉ nói theo cách giải
thích dễ hiểu. Sau này, ông học khá hơn, sẽ
tự lănh hội những cách giảng giải khác. Ngă là
nói thân thể của chính ḿnh, Nhân là nói đến
người khác. Chúng Sanh là nói đến đa số.
Thọ Giả là nói liên tục không ngừng, Tướng
là nói tới h́nh trạng. Đại ư là Nhân, Ngă, Chúng Sanh,
Thọ Giả v.v… chỉ có giả tướng, trọn
chẳng có thực thể.
* Hỏi: “Phát A Nậu Đa La
Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm” nghĩa là ǵ? (Lâm Chánh Khảo hỏi)
Đáp: Đại ư là phát tâm,
mong trên thành Phật quả, dưới độ chúng sanh.
* Hỏi: Nghe nói người xuất gia
làm ḥa thượng, chẳng thể hoàn tục, nhưng
trong ngôi chùa Phật tại quê tôi có một vị xuất
gia làm ḥa thượng đă hơn một năm, gần
đây bỗng hoàn tục, hút thuốc, uống rượu
trên phố, vào quán rượu v.v… chẳng biết
người như vậy sau này sẽ có ác quả báo
ứng ǵ hay không? Hoặc là chẳng sao cả! (Lâm Chánh Khảo hỏi)
Đáp: Người xuất gia có tu, có
đắc, kẻ chịu hoàn tục là do chẳng hiểu
Phật lư, chẳng cam chịu tĩnh mịch, sẽ
tự hoàn tục. Nhưng khi xuất gia, bậc
trưởng lăo trong chùa, thấy kẻ đó chẳng
khế hợp, có thể cự tuyệt chẳng thâu
nhận. Nếu kẻ ấy hoàn tục, chẳng
cưỡng chế, ngăn trở. Người ấy
đă hoàn tục, hết thảy hành vi chẳng liên can ǵ đến
chùa miếu. C̣n như nhân quả tốt lành th́ bất
luận tại gia hay xuất gia đều như nhau, sao
lại nói là không sao cả!
* Hỏi: Nghe nói Thích Ca Thế Tôn ngự
trong thế giới Vô Thắng, chẳng phải ở trong
Tây Phương Cực Lạc thế giới, điều ấy
có chân xác hay không? Làm sao có lẽ ấy cho được? (Lâm Hoán Thành hỏi)
Đáp: Luận theo h́nh tích
của hóa thân, đức Thích Tôn giáo hóa trong cơi này, Sa Bà tam
thiên đại thiên thế giới là cơi Phật của
đấng Thích Tôn. Nói theo Pháp Thân, sẽ là vô lượng
thế giới, chẳng ở riêng một cơi nào.
* Hỏi: Trong biểu
đồ giảng về Thập Nhị Nhân Duyên có nói: “Quá khứ có nhân duyên, nên hiện
tại có khổ quả. Do hiện tại có nhân duyên, nên
vị lai có khổ quả”. Vấn đề là v́ sao
khổ quả nhiều, chẳng thấy lạc quả?
Nói rằng: “Phá mê ắt sẽ
có thể khơi gợi ngộ”, “ĺa khổ sẽ tự đắc lạc”, xin
hăy trả lời v́ sao chẳng thấy nguyên nhân của lạc
quả? (Trần Lam Sơn
hỏi)
Đáp: Tam giới như nhà
lửa, sanh tử không ngừng, đó là Khổ. Niết
Bàn tịch tĩnh, bất sanh, bất diệt, đó là
Lạc. Phàm phu không biết, nên cần phải khai ngộ,
ắt cần phải liễu sanh tử th́ mới
đắc chân lạc. Thập Nhị Nhân Duyên bắt đầu
từ Vô Minh, đi theo thứ tự thuận tới Hành, tới
Lăo Tử, th́ gọi là Lưu Chuyển Môn. Chết rồi
lại sanh, sanh rồi lại chết, chẳng thoát
khỏi thế gian, nên đều là Khổ. Nếu
khởi từ Lăo Tử, chuyển ngược về
trước để đoạn, bất cứ
đoạn một điều ǵ, th́ gọi là Hoàn Diệt
Môn. Diệt trừ cái nhân khổ trước, ắt
chẳng có khổ quả sau đó.
Vượt thoát tam giới th́ mới đạt
được lạc.
* Hỏi: Xin hăy giải thích “tam giới hỏa trạch”
là như thế nào? (Du Kỳ
hỏi)
Đáp: Nghĩa này phát xuất
từ kinh Pháp Hoa. Chắc ông đă liễu giải danh
từ tam giới. “Hỏa
trạch” (nhà lửa) là tỷ dụ, nhà đang ở,
chất củi kín chung quanh, ở trong nhà ấy, yên ổn
được mấy lúc, bất quá là trong khoảnh
khắc liền thành tro tàn. Chúng sanh ở trong Sa Bà, các
nỗi khổ chen nhau nung đốt, sanh tử không
ngừng, cũng giống như vậy!
* Hỏi: Xin hỏi nên hiểu
một Phật độ như thế nào? (Du Kỳ hỏi)
Đáp: “Độ” nghĩa là cuộc đất, tức
là như nay nói là “chỗ, nơi”. Chớ nên chấp
chết cứng [từ ngữ ấy] có nghĩa là
đất đai. Chất liệu của Nam Thiệm
Bộ Châu trong cơi Sa Bà là đất, nhưng “địa” ở
các nơi khác chẳng phải đều là đất!
* Hỏi: Xin hỏi sáu tầng
trời cơi Dục, mười tám tầng cơi Sắc,
bốn tầng cơi Vô Sắc, danh xưng của mỗi
tầng như thế nào? (Du
Kỳ hỏi)
Đáp: Kể tên [đầy
đủ] ở đây, sẽ chiếm quá nhiều
chỗ. Nghe nói trong túi hành trang của ông có cuốn Di Đà
Trích Chú Tiếp Mông, trong ấy có biểu đồ
liệt kê các cơi trời, đối với mỗi cơi
đều có ghi chú. Xin hăy tra duyệt, sẽ biết
trọn vẹn danh từ và ư nghĩa.
* Hỏi: Xin hỏi trong ḷng hiếu
thảo đối với cha mẹ, chẳng phải là
cũng có Ái đó sao? Cụ nói đó là cách nói của
thế tục, vậy th́ nhà Phật nói như thế nào? (Du Kỳ hỏi)
Đáp: Ái là t́nh dấy lên, [t́nh
cảm ấy] hướng đến cha mẹ bèn
được đặt tên là Hiếu. Ḷng yêu
thương ấy chánh đáng, chẳng tổn hại Tánh
Đức. Nếu Ái hướng đến tài sắc,
sẽ được đặt tên là tham, dâm. Ái ấy là
tà, tổn hại Tánh Đức. Tà ái bèn tạo ác
nghiệp, chánh ái là hữu lậu thiện nghiệp.
Người học Phật tu hành, chưa đạt
tới mức nghiệp tận t́nh không, tuy hiếu vẫn
là ái kiến. Nếu Hoặc đoạn, trí khai, ắt
hiếu xuất phát từ Tánh Đức, thuần là
tự nhiên, chẳng có ái vậy.
* Hỏi: Trong mỗi kinh
đều có thiên, nhân, rồng, quỷ, A Tu La hộ tŕ
Phật, nghe pháp. Địa ngục đạo là một
trong lục đạo, v́ sao chẳng được
kể vào trong ấy? (Châu
Huệ Đức hỏi)
Đáp: Cư sĩ vốn
rất thông minh, sao cứ hỏi măi chuyện này? Chuyện
cư sĩ hỏi, tôi tạm thời không bàn tới. Tôi có
một câu hỏi, xin hăy trả lời! Tháng này là lễ
quốc khánh, nam nữ các giới mặc sức tham gia, có
thể nói là một đại hội không ngăn trở;
nhưng thời quá khứ, chưa hề thấy tù nhân
trong nhà giam được tham gia, đạo lư như
thế nào, xin hăy dạy rơ cho tôi!
* Hỏi: Lục Tổ Huệ
Năng đại sư có biết chữ hay không? (Khưu Quốc Vinh hỏi)
Đáp: Truyện tổ sư
chép như vậy, chúng ta là người đời sau,
chẳng gặp mặt Tổ, chỉ đành tin như
vậy. Nếu nói khác đi, sẽ tạo thành đầu
mối tranh căi.
* Hỏi: Chẳng biết tại gia
cư sĩ và tại gia ưu-bà-tắc có chỗ nào khác
biệt? (Trần Tín Cát
hỏi)
Đáp: Cư sĩ là danh
xưng tiếng Hán. Ưu-bà-tắc là danh xưng tiếng
Phạn, đều là người tu thanh tịnh tại
gia. Danh xưng khác nhau, nhưng ư nghĩa như nhau!
* Hỏi: Thân phận ǵ th́
mới có thể mặc trường bào trắng? Và trong
trường hợp nào th́ mới có thể mặc? (Trần Tín Cát hỏi)
Đáp: Phật môn gọi
trường bào là đại bào, c̣n gọi là hải thanh,
đó là y phục cổ của Trung Quốc. Khi khoanh hai tay
lại, tay áo rộng chấm đến đầu
gối, vạt áo và cổ áo đều được may
chỉ dằn mép, đều to rộng. Loại áo này
phần nhiều chọn màu xanh dương, người
xuất gia dùng màu vàng. Loại áo này chẳng hạn chế
nghiêm ngặt, sau khi quy y liền có thể mặc. Mặc
khi tham gia Phật sự là thích hợp, cốt sao chỉnh
tề là được rồi, khác với các loại
thủy điền y và mạn y[44].
Những loại ấy được gọi là ca-sa, thủy
điền y dành riêng cho chúng xuất gia, mạn y dành cho
chúng tại gia. Hàng tại gia sau khi thọ Ngũ Giới,
gặp lễ trọng có thể đắp [mạn y].
Phật Học Vấn Đáp
Loại Biên
Phần 10 hết
[1] Ở đây, ông Tiết lầm lẫn
hai khái niệm Tây Thiên và Tây Phương Cực Lạc. Do
Ấn Độ ở phía Tây Trung Hoa, nên thường
được gọi là Tây Thiên (hoặc Tây Trúc, Thiên Trúc),
c̣n Trung Hoa thường gọi là Đông Thổ (Đông Độ).
Ông Tiết nghĩ Tây Phương Cực Lạc thế
giới là Ấn Độ nên mới viết “Thích Ca Mâu Ni Phật là
đấng giáo chủ cơi Tây Phương”.
[2] B́nh Đông là một huyện của
đảo Đài Loan, nằm về cuối đảo,
thuộc về phía Đông Nam.
[3] C̣n gọi là “thiên
long bát bộ”, tức trời, rồng, dạ xoa, A Tu
La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Càn Thát Bà, Ma Hầu La Già.
[4] Đây là một điển tích. Tử
Sản họ Công Tôn, tên là Kiều, tên tự là Tử
Sản, làm Tướng Quốc nước Trịnh. Ông là
một chánh khách tài giỏi, thông minh, khéo tổ chức, cai
trị, biến nước Trịnh thành một
nước hùng mạnh thời ấy. Có lần có
người biếu Tử Sản một con cá to, Tử
Sản chẳng nỡ ăn, sai người hầu chuyên
trông nom ao chuôm trong thái ấp hăy đem thả cá.
Người ấy đem nấu ăn no nê, rồi trở
về nói dối: “Cá vừa mới được thả,
thoạt đầu nó khẽ cựa quậy, rồi tung
tăng bơi đi”. Tử Sản vui mừng nói: “Nó
được sống trong nơi thích hợp đấy
mà”. Người hầu ra ngoài, chê: “Ai bảo Tử Sản
có trí? Ta đă nấu ăn mất rồi mà c̣n bảo nó
đă được sống nơi thích hợp!”
[5] Tăng Văn Chánh Công chính là Tăng
Quốc Phiên (1811-1872). Ông thoạt đầu có tên là Tử
Thành, tự Bá Hàm, thụy hiệu là Văn Chánh,
người huyện Tương Hương, phủ
Trường Sa, tỉnh Hồ Nam. Ông là một đại
thần lỗi lạc cuối đời Thanh,
được đánh giá rất cao về học vấn,
tài văn chương, năng lực, đức
độ cũng như tài cầm quân. Công lao lớn nhất
của ông là dẹp tan loạn Thái B́nh Thiên Quốc. Không rơ
chuyện ông bị gă thư sinh gạt tiền là như
thế nào.
[6] “Trung quốc” ở đây không có
nghĩa là Trung Hoa, mà có nghĩa những vùng ở chính
giữa đất nước, hoặc những
địa phương phồn thịnh, văn minh,
chẳng phải là nơi biên cương, quê mùa, hẻo
lánh, nhưng bà Châu Huệ Đức lại hiểu
chữ “trung quốc” có nghĩa là Trung Quốc, nên mới nói:
“Chúng ta may
được làm thân người, sanh tại Trung
Quốc”.
[7] Ở đây, bà Châu Huệ Đức
nói sai. Ngài Trí Giả được Phật môn Trung Hoa coi
là hậu thân của Phật Thích Ca.
[8] Con sông này có tên gọi đầy
đủ là Trược Thủy Khê, dài 186 km, lưu
vực rộng đến 156,90 km2. Do sông mang theo
một lượng lớn phù sa, quanh năm nước
sông đục ngầu, nên có tên như vậy. Sông khởi
nguồn từ huyện Nam Đầu, chảy qua các
huyện Nam Đầu, Vân Lâm, Gia Nghĩa, là ranh giới
tự nhiên giữa hai huyện Chương Hóa và Vân Lâm. Sông
có rất nhiều phụ lưu như Thanh Thủy Khê, Gia
Tẩu Liêu Khê, Đông Phố Nhuế Khê, Thủy Lư Khê, Tùng
Bách Khanh Khê, Trác Côn Khê v.v…
[9] Do “vấn tấn” (問訊) c̣n có nghĩa là chào hỏi, hỏi
thăm, nên ông Triệu Liên mới nghĩ khi “vấn
tấn” Phật, Bồ Tát phải niệm những lời
thưa hỏi.
[10] Ha Lê Lặc (Harītakī) là một
loại trái thường được dùng làm thuốc,
thường được biết dưới tên
tiếng Anh là Myrobalan. Trái có h́nh thoi, quả mọng, có
vị đắng, được Trung Y coi là có tính ấm,
không độc, có tác dụng tiêu đàm, hạ khí, chữa
cảm v.v…
[11] A Nậu có tên gọi đầy
đủ là A Nậu Đạt (Anavatapta),
dịch sang nghĩa tiếng Hán là Vô Nhiệt, hoặc
Thanh Lương Tŕ, là một vùng tuyết đọng
cực lớn, nằm ở phía Nam Hương Sơn
(Kailana), phía Bắc Tuyết Sơn (Himalayas),
được coi là nơi phát nguồn các con sông chính tại
Ấn Độ.
[12] Tánh Danh Học (姓名學) là phép bói toán dựa theo tên họ
của mỗi người. Các nhà tướng số
dựa theo cách viết chữ Hán của tên gọi
để lập các hào Bát Quái, dựa vào bộ thủ
để đoán định Ngũ Hành và suy đoán
vận mạng của người mang tên họ ấy.
Họ c̣n đi xa hơn bằng cách dựa vào tuổi
của người ấy để khuyên nên tránh
đặt tên ǵ, hoặc nên đặt tên ǵ. Đôi khi có những
lư luận nghe rất ngô nghê như người tuổi
Hợi phải kiêng đặt tên có chữ Hỏa trong
đó v́ lợn kỵ bị lửa nướng, hoặc
có những chữ liên quan đến cúng tế, chúc
tụng, mừng vui, v́ lợn thường bị giết
trong những dịp ấy!
[13] Bắc Lư là một loại nhạc khúc
đệm cho một điệu múa thời cổ. Từ
ngữ này thấy được chép đầu tiên trong
Sử Kư của Tư Mă Thiên: “Đế
Trụ hảo tửu dâm nhạc, bế ư phụ nhân,
ái Đát Kỷ. Đát chi ngôn thị tùng, ư thị
sử Sư Quyên tác tân dâm nhạc, Bắc Lư chi vũ,
mỵ mỵ chi nhạo” (Vua Trụ thích rượu,
ưa đắm nhạc, mê đàn bà, say đắm Đát
Kỷ, nên nghe lời Đát Kỷ, sai Sư Quyên (một
vị nhạc sư nổi tiếng thời ấy)
chế ra khúc nhạc quyến rũ say đắm mới
để dùng trong điệu vũ Bắc Lư, vua vui thích
say sưa trong ấy). Về sau, chữ Bắc Lư
thường được dùng với nghĩa xấu, tất
cả các loại nhạc khêu gợi, ủy mị, dâm
đăng, hoặc thô tục đều được
gọi là Bắc Lư.
[14] Đây là một đoạn vấn
đáp trong Hoàng Đế Nội Kinh, thiên Thượng
Cổ Thiên Chân Luận. Theo đó, Hoàng Đế hỏi
Kỳ Bá v́ sao con người từ năm mươi
tuổi trở đi đă suy nhược, có nhiều
người chẳng cử động được,
nhưng người thời thượng cổ dẫu
trăm tuổi vẫn khỏe mạnh, hăng hái? Kỳ
Bá trả lời: “Dĩ
tửu vi tương, dĩ vọng vi thường, túy
dĩ nhập pḥng, dĩ dục kiệt kỳ tinh, dĩ
hao tán kỳ chân” ([người thời nay] coi
rượu như nước lă để uống thường
xuyên, coi những điều xằng bậy như lẽ
thường, đă say sưa c̣n ân ái, đến nỗi
tinh khí cạn kiệt, chân khí hao tán).
[15] Kim Môn là một quần đảo
(gồm các đảo Đại Kim Môn, Tiểu Kim Môn,
Sư Dự, Mănh Hổ Dự, Thảo Dự, Hậu
Dự, Động Đĩnh v.v…), được tổ
chức thành cấp huyện của Đài Loan, có tên cổ
là Ngô Châu, vốn thuộc huyện Đồng An tỉnh
Phước Kiến, được tách ra thành huyện
Tư Minh thời Dân Quốc, đến năm 1913, thành
lập huyện Kim Môn. Quần đảo này gần như
đối diện với thành phố Hạ Môn của
Trung Quốc, nên phía Trung Cộng thường đem tàu
đến pháo kích thị uy nhằm dằn mặt Trung Hoa
Dân Quốc. V́ thế, Kim Môn thường được
coi là tiền tuyến của Đài Loan.
[16] Tam Tế, nói đủ là Tam Tế Tướng,
tức là ba tướng vi tế do một niệm bất
giác vô minh sanh ra, tức là Vô Minh Nghiệp Tướng, Kiến
Tướng (c̣n gọi là Chuyển Tướng, Năng
Kiến Tướng), và Cảnh Giới Tướng.
[17] Chúng tôi dịch câu này theo bài giảng
Phật Thuyết Tứ Thập Nhị Chương
Giảng Kư của pháp sư Tự Lập. Pháp sư Tự
Lập, pháp danh Truyền Tâm, tự Thừa Ḥa, hiệu
Tự Lập, sanh năm 1927, hiện vẫn c̣n sống, là
người huyện Thái, tỉnh Giang Tô. Do mồ côi
từ bé, Sư y chỉ ḥa thượng Bái Lâm Trí Khai ở
Quán Âm Am tại quê nhà từ năm chín tuổi. Sư
từng theo học với các vị Đại Tỉnh, Nam
Đ́nh, tốt nghiệp từ Vũ Lâm Phật Học
Viện tại Hàng Châu. Năm 1949, Sư sang Đài Loan, y
chỉ pháp sư Từ Hàng, nhận lời thỉnh
của đại chúng làm Trụ Tŕ chùa Ẩn Tú tại
Manila (Philippines), và làm đạo sư của Phổ
Hiền Phật Học Viện tại đó. Sư c̣n sáng
lập tạp chí Từ Hàng xuất bản mỗi ba tháng,
và thường viết nhiều bài về Phật giáo
với pháp danh Nhược Thủy.
[18] Hữu t́nh thế gian là các sinh vật,
c̣n khí thế gian chính là hoàn cảnh, môi trường
vật chất.
[19] Thánh Lượng chính là Thánh Ngôn
Lượng, tức dựa trên lời dạy của thánh
nhân (Phật, Bồ Tát, La Hán v.v..) để lănh nhận chân
lư.
[20] Huấn Hỗ (訓詁, c̣n đọc là Huấn
Cố. Đôi khi c̣n dùng các danh từ khác là Cố Huấn,
Cổ Huấn, Giải Cố, Giải Hỗ) là một ngành học thuật chuyên
nghiên cứu cổ thư của Trung Hoa. Huấn Hỗ có
nghĩa là nghiên cứu ư nghĩa của từng từ
ngữ, cách biến hóa của chúng trong phương pháp
sử dụng theo từng thời đại, cũng
như nghiên cứu cú pháp và các biện pháp tu từ trong
văn học cổ điển Trung Hoa. Ngành học này
được chia làm hai tiểu loại chính là Âm Vận
Học và Văn Tự Học. Môn học này đă h́nh thành
vào thời Tiên Tần, và được hệ thống hóa
vào đời Hán. Các tác phẩm thuộc hệ thống
Huấn Hỗ có thể chia thành hai loại: Loại
thứ nhất là Chú Sớ tức giải thích các tác
phẩm cổ như Luận Ngữ Chú Sớ, Mao Thi Chú
Sớ, Hàn Phi Tử Tập Giải v.v… Loại thứ hai
chú trọng giải thích, phân loại từ ngữ cổ,
các tác phẩm điển h́nh cho loại này là các bộ
Nhĩ Nhă, Thuyết Văn Giải Tự, Do Hiên Sứ
Giả Tuyệt Đại Ngữ Thích Biệt Quốc
Phương Ngôn v.v…
[21] Yến Anh (?-500 trước Công Nguyên),
tên là Trọng, thường được gọi là B́nh
Trọng hoặc Yến Tử (Án Tử), quê ở
huyện Di Duy (nay thuộc Lai Châu, tỉnh Sơn Đông).
Ông là một nhà ngoại giao và chính khách lỗi lạc
thời Xuân Thu Chiến Quốc. Yến Anh là con của
Thượng Đại Phu Yến Nhược nước
Tề, cực thông minh, mẫn thiệp, giỏi ăn nói,
khéo cai trị, sống hết sức tiết kiệm, tài
cao, nhưng khiêm cung. Yến Anh làm Thượng Đại
Phu suốt ba đời vua Linh Công, Trang Công, và Cảnh Công
nước Tề. Ông thường khuyên Tề Cảnh Công
(Tề Đông Hôn Hầu) đừng đam mê tửu
sắc. Ông được dân chúng ngưỡng mộ
đến nỗi quyền thần Thôi Trữ khi giết Tề
Trang Công đă không dám động đến ông khi ông công
khai đến trước xác Tề Trang Công khóc trong khi các
quan chẳng dám hó hé. Ông đi sứ nước Sở, do
vua Sở thấy ông loắt choắt, tính làm nhục,
chỉ mở hé cửa chính mời ông vào. Ông nói: “Nếu
đi sứ sang nước của chó th́ mới theo lỗ
chó chui vào. Nay tôi đi sứ nước Sở, chẳng
nên theo lỗ chó này chui vào”. Vua quan nước Sở
sượng mặt, phải mở rộng cửa chánh
đón ông. Sở Linh Vương nói kháy: “Nước Tề
hết người rồi sao mà sai ông đi sứ”.
Yến Anh đáp: “Nước Tề sai người đi
sứ, mỗi nơi đều có chủ trương
riêng. Người hiền sai đi sức nước
hiền, kẻ chẳng hiền mới sai sang sứ
nước chẳng ra ǵ. Yến Anh tôi chẳng ra ǵ, nên
mới được sai đi sứ nước Sở”.
Sở Linh Vương câm nín! Yến Anh thường
được nhắc tới nhiều lần trong bộ
tiểu thuyết Chung Vô Diệm.
[22] Bùi Độ (765-839) là vị tể
tướng lừng danh đời Đương, ông
tự là Trung Lập, người huyện Văn Hỷ
tỉnh Hà Đông (nay thuộc tỉnh Sơn Tây). Ông làm quan
trải các đời vua Đường Hiến Tông,
Mục Tông, Kính Tông và Văn Tông. Ông có công dẹp tan thế
lực của các phiên trấn lũng đoạn chính
quyền trung ương thời đó. Công lớn nhất
của ông là hoạch địch kế sách tước
quyền, đập tan cuộc phản loạn của
Tiết Độ Sứ Ngô Nguyên Tề (cấu kết
với các Tiết Độ Sứ Vương Thừa Tông
và Lư Sư Đạo).
[23] Lữ Văn Mục Công chính là Lữ
Mông Chánh (946-1011), là một vị quan nổi tiếng
thời Bắc Tống, quê ở Lạc Dương,
tỉnh Hà Nam, tên tự là Thánh Công, thụy hiệu Văn
Mục, ba lượt làm Tể Tướng. Bảy
người con của ông là Lữ Tùng Giản, Lữ Duy
Giản, Lữ Thừa Giản, Lữ Hành Giản, Lữ
Vụ Giản, Lữ Cư Giản và Lữ Tri Giản
đều làm quan to và đều nổi tiếng là tài cao
học rộng. Ông bị cha ruồng rẫy từ bé,
sống rất cực khổ, từng có lúc phải ăn
xin v́ mẹ không kiếm nổi tiền mua gạo. Ông
đỗ Trạng Nguyên năm Thái B́nh Hưng Quốc
thứ 2 (977), được phong làm Tể Tướng
lần thứ nhất vào năm Đoan Củng nguyên niên
(988), tức là chỉ mười một năm sau khi
được bổ làm quan đầu tiên. Do can vua thẳng
thừng nên bị giáng chức hai lần. Lần giáng
chức thứ nhất vào năm Thuần Hóa thứ hai
(991), ông được phục chức hai năm sau đó.
Lần giáng chức thứ hai nhằm năm Chí Đạo
nguyên niên (995). Đến năm Hàm B́nh thứ tư (1001)
mới được phục chức Tể Tướng,
và được phong Lại Quốc Công. Ông thông hiểu
Phật học sâu xa, ngộ thế sự vô thường,
thường giáo huấn con cháu tin Phật, học Phật,
và thường nói: “Những
kẻ chẳng tin Phật pháp đừng sanh làm con cháu
trong nhà ta”.
[24] Theo thần thoại Trung Quốc,
thời vua Nghiêu và Thuấn, xuất hiện bốn con
vật hung tàn là Hỗn Độn (混沌), Thao
Thiết (饕餮),
Cùng Kỳ (窮奇) và Đào Ngột (檮杌). Theo
Thần Dị Kinh, Hỗn Độn h́nh dáng giống
như chó, mập núc ních, màu đỏ rực, có sáu chân,
không có móng, có mắt, nhưng không thấy, có tai, nhưng
không nghe được, có bốn cánh, trong bụng không có
ngũ tạng. Con vật này hễ gặp người
hiền đức bèn tấn công, gặp kẻ ác bèn tuân theo
sự chỉ huy của họ. Cùng Kỳ to bằng con
trâu, h́nh dạng như hổ, da dầy, mọc lông
nhọn tua tủa như nhím, có cánh, tiếng như chó tru,
thích ăn thịt người. Đào Ngột h́nh dạng
giống như hổ, nhưng lông như lông chó, mặt
người, chân hổ, nanh như nanh lợn rừng,
đuôi dài một trượng tám thước. Thao
Thiết c̣n gọi là Đồ Đằng (图腾),
đầu có sừng cong, mũi to, trên mũi có sừng,
răng bén nhọn ch́a ra ngoài, tham ăn, hung bạo. Theo
truyền thuyết, khi Xi Vưu bị Hiên Viên Hoàng
Đế chém đầu, đầu Xi Vưu liền
biến thành ác thú Thao Thiết. Thần Dị Kinh lại
nói Thao Thiết h́nh dáng giống như loài trâu, mặt
người, mắt ở dưới nách, ăn thịt
người. Có thuyết nói Thao Thiết chính là một trong
chín loại sinh vật do rồng sanh ra, có đầu nhưng
không có thân nên ăn măi không no. Các thứ đỉnh đồng
cổ thường khắc h́nh đầu loại thú này, gọi
là Thao Thiết Văn.
[25] Câu này xuất phát từ bài Bí Cung trong
phần Lỗ Tụng của Kinh Thi: “Thiên tích công thuần hỗ, mi thọ bảo Lỗ,
cư Thường dữ Hứa, phục Châu Công chi vũ.
Lỗ Hầu an hỷ, lệnh thê thọ mẫu, nghi
đại phu thứ sĩ, bang quốc thị hữu”. Bài
này thường được giải thích như sau:
“Trời ban cho ông phước phận to lớn, sống
lâu để bảo vệ nước Lỗ. Có thể
giành lại đất Thường và đất Hứa,
khôi phục biên cương đất nước từ
thời Châu Công. Vua Lỗ an lạc, sung sướng,
vợ hiền, con ngoan, mẹ già rất thọ, khiến
cho quan lẫn dân đều sống yên vui, tự nhiên
giữ vững đất nước”. Bí Cung chính là tên
một cung điện mà vua Lỗ dành riêng để
tế lễ tổ tiên. Phần Lỗ Tụng chép
những bài hát được dùng trong các nghi lễ cúng
tế của hoàng tộc nước Lỗ.
[26] Vơng mạc (Retina) là lớp màng lót
mặt trong của mắt, gồm nhiều huyết
quản li ti có tác dụng nuôi dưỡng mắt và
tiếp nhận ánh sáng; có thể ví vơng mạc giống
như phim trong máy chụp ảnh. Vơng mạc có chứa
nhiều tế bào h́nh nón (được gọi là “thể
h́nh nón”, cone cells) và h́nh que (rod cells), có tác dụng tiếp
nhận và dẫn truyền các kích thích từ bên ngoài,
chuyển sang các dây thần kinh thị giác.
[27] Hương bản (香板) là một dụng cụ dùng trong
Thiền Đường để vị tăng giám
thiền đánh nhẹ lên vai người tọa Thiền
với tác dụng điều chỉnh tư thế,
hoặc thức tỉnh khi người ấy hôn trầm
hoặc trạo cử. Hương bản có h́nh dáng
hẹp dài, thường làm bằng gỗ, có h́nh dạng
như một thanh kiếm. Trên thân hương bản
thường khắc những chữ như Cảnh Sách,
Tinh Tấn v.v... Tùy theo thời tiết trong năm mà
hương bản có độ dày khác nhau (v́ mùa Đông
mặc quần áo dày hơn, nên hương bản phải
nặng hơn). Theo truyền thuyết, khi ngài Ngọc Lâm
Thông Tú quốc sư viên tịch, vua Ung Chánh nhà Thanh rất
luyến mộ, bèn hạ lệnh t́m môn nhân của Ngài vào
cung vấn pháp. Do ngài Ngọc Lâm thường du hóa trong nhân
gian, rất khó biết ai là đệ tử thật sự
đắc pháp của Ngài. Tại chùa Cao Mân ở Giang Tô có
một vị Tăng chốc đầu tự xưng là
đồ tôn của quốc sư; nên quan lại
địa phương vội vă đưa vị Sư
ấy vào cung. Hỏi đáp mấy câu, thấy vị
Tăng ấy mù mờ chẳng biết ǵ, vua hết
sức tức giận, quở sư là kẻ đă làm
nhục tông sư, nên ra lệnh nhốt vào một gian
tịnh thất, treo một thanh kiếm báu ngoài cửa,
hạn định trong bảy ngày phải khai ngộ. Nếu
không, sẽ chặt đầu. Đến tối thứ
bảy, vị Tăng ấy vẫn chưa khai ngộ,
bị quân lính đuổi giết, chạy ṿng quanh, vấp
phải cột, ngă xuống đất, chợt khai
ngộ, bèn kêu ầm lên: “Hạ
gươm xuống, ta muốn chặt đầu vạn
tuế gia”. Vua đến cật vấn, ấn
chứng vị sư ấy thật sự khai ngộ. Do
đó, Thiền gia chế ra hương bản theo h́nh
kiếm báu để cảnh tỉnh hành giả tọa
Thiền và áp dụng lối chạy hương
(hương băo).
[28] Trong câu hỏi của Ẩn Danh
Thị, chữ Đới được ghi là 帶 (cái đai), chẳng phải là Đới (戴: mang theo) như trong bài Tứ
Liệu Giản của tổ Vĩnh Minh Diên Thọ.
[29] “Trai
đường” (齋堂) ở đây có nghĩa là những
nơi thờ phụng Phật, thần lẫn lộn,
người ở nơi ấy ăn chay. Thông
thường, “trai đường” có thể là nơi
thờ tự của một giáo phái ngoại đạo
dựa hơi Phật giáo tại Đài Loan có danh xưng là
Trai Giáo (tức Long Hoa Trai Giáo), hoặc đơn thuần
là một ngôi miếu thờ cúng thần Phật lẫn
lộn, đạo nhân (thật ra là người giữ
miếu) nơi đó ăn vận giống như
đạo sĩ hoặc người thế tục,
nhưng ăn chay. Họ thường pha trộn lung tung
giữa Đạo giáo và Phật đạo, cách tu thường
là luyện đan, luyện khí, tụng kinh Phật lẫn
kinh Đạo Giáo, cầu cơ, lên đồng, chữa
bệnh bằng phù phép v.v… Điểm khác biệt giữa
Thiện Đường và Trai Đường là
người tu hành hoặc chủ tŕ Thiện
Đường không nhất thiết ăn chay như
người tu trong Trai Đường.
[30] Ngũ Phương Ngũ Thổ Long
Thần được coi là một trong các vị thần
chủ quản đất đai, bao gồm nhiều
vị thần, thường được viết thành
bài vị bao gồm hai vị thần
Tiền Hậu Địa Chủ Tài Thần và Ngũ
Phương Ngũ Thổ Long Thần. Ngũ Phương
tức là bốn phương và chính giữa, Ngũ Thổ
là núi rừng, sông ng̣i, đồi g̣, phần mộ và
đồng bằng. Do người Hoa tin đất có long
mạch, nên thần thổ địa cũng
được gọi là Long Thần. Có thuyết giải thích
long thần thật sự là long vương. Có thuyết
lại giải thích do “có đất th́ mới tiền
của” nên thần thổ địa chính là Tài Thần
hoặc Phước Đức Chánh Thần.
[31] Thần Côn (神棍), là những kẻ dối gạt
thường xưng là được quỷ thần giáng
thân, bày vẽ những tṛ hoa dạng, tự xưng có
thần thông, phép lạ nhằm mục đích trục
lợi.
[32] “Thiện bảng” (善榜) ở đây là bảng ghi tên
người bố thí, quyên tặng.
[33] Mắt xanh (thanh nhăn, 青眼) là một từ ngữ chỉ sự
đối đăi hết sức tôn trọng. Theo truyền
thuyết, Nguyễn Tịch (một trong Trúc Lâm Thất
Hiền), khi coi trọng ai bèn nh́n thẳng, chăm chú, tṛng
đen trắng phân minh, nhằm tỏ ư tôn trọng, nên gọi
là “thanh nhăn”. Khi coi thường ai, chỉ liếc xéo
để lộ toàn tṛng trắng, nên gọi là “bạch
nhăn”.
[34] Cổ đông (股東): Người góp vốn, hùn vốn.
[35] Tứ muội: Cô em thứ tư,
tiếng gọi thân mật bà Châu Huệ Đức, v́
họ đều là học tṛ của cụ Lư Bỉnh Nam.
[36] Đây là một câu nói trích trong sách
Luận Ngữ: “Quư Thị phú
ư Châu Công, nhi Cầu dă vi chi tụ liễm nhi phụ.
Tử viết: - Phi ngô đồ dă, tiểu tử minh
cổ nhi công chi, khả dă” (Quư Thị giàu có hơn Châu
Công, mà Nhiêm Cầu vẫn c̣n giúp cho hắn ta kiếm thêm tiền
tài. Khổng Tử nói: - Chẳng phải là học tṛ
của ta! Các bạn học có thể đánh trống công
bố tội lỗi của anh ta).
[37] Minh Tâm Bảo Giám là một tác phẩm
bao gồm những câu cách ngôn về đạo đức
tu thân, dưỡng tánh, an thân lập mạng. Không rơ ai là
tác giả, các nhà nghiên cứu chỉ biết sách
được h́nh thành vào cuối đời Nguyên,
đầu đời Minh; bản lưu thông hiện
thời được Phạm Lập Bổn chỉnh lư
vào đời Minh. Sách được chia thành hai
mươi thiên, gồm chừng sáu trăm đến
bảy trăm đoạn.
[38] Theo cách giải thích truyền thống
của thần học Công Giáo, “lỗ
kim” ở đây không phải là lỗ của cây kim mà là
một cổng phụ rất nhỏ bên cạnh cổng
thành chính ở Jerusalem, chỉ mở cho người và
vật ra vào khi cổng thành chính đă đóng. Khi dẫn
lạc đà qua, người ta phải tháo hết
đồ đạc trên lưng nó xuống, tốn rất
nhiều công sức buộc lạc đà khụy gối
xuống, ḅ qua lỗ nhỏ ấy. Tuy thế, theo một
số nhà thần học, “lỗ kim” đúng là lỗ kim, v́
trong đoạn kinh kế tiếp trong sách Phúc Âm Mathew, câu
26 trong tiết 19: “Đối
với con người th́ không thể, nhưng đối
với Chúa mọi thứ đều có thể”. Cyril of
Alexandria (Thượng Phụ xứ Alexandria, 376-444, ông này được
coi là bậc thầy khai sáng trong thần học Thiên Chúa
Giáo) lại cho rằng chữ Kamêlos (lạc đà) trong
bản in Kinh Thánh bằng tiếng Hy Lạp là sai, đúng
ra phải là Kamilos (dây thừng). Tuy vậy, thuyết này
bị coi là vơ đoán, thiếu bằng chứng thuyết
phục.
[39] Chúng tôi dịch câu này theo lời chú
giải của Khổng Dĩnh Đạt: “Ư nói đạo quỷ thần dưỡng sanh
vạn vật, không ǵ chẳng trọn khắp, không bỏ
sót ǵ, có nghĩa là vạn vật không ǵ chẳng do khí
quỷ thần sanh ra”.
[40] Đây là phép xét xem nghiệp
chướng nặng hay nhẹ được dạy trong
kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo.
[41] Cổ thư nói Kiêu là một loài chim ác,
vừa nở ra bèn giết chết chim mẹ để
ăn thịt; Kính là một loài thú vừa sanh ra bèn ăn
thịt cha.
[42] Tào Tháo là thừa tướng nhà Hán, ép
Hán Hiến Đế phong làm Ngụy Công (với thái ấp
là Ngụy Quận và chín quận khác thuộc Kư Châu, h́nh
thành một nước riêng trong lănh thổ nhà Hán, với
hệ thống chánh quyền riêng). Năm 216, Tào Tháo ép Hán
Hiến Đế phong ông ta làm Ngụy Vương,
chuẩn bị các kế hoạch cho con cháu cướp ngôi
nhà Hán. Tư Mă Viêm là cháu nội đại tướng
Tư Mă Ư của nhà Tào Ngụy đă bắt hoàng đế
Tào Nguyên Đế (Tào Hoán) thoái vị và nhường ngôi
cho ông ta, lập ra nhà Tấn. Sở dĩ, Tư Mă Viêm
chọn tên của triều đại là Tấn v́ cha
của ông ta là Tư Mă Chiêu do có công dẹp tan nhà Thục
Hán của Lưu Bị, nên được vua Tào Ngụy
phong là Tấn Vương.
[43] Đường Đại Tông làm vua
từ năm 762 đến năm 779.
[44] “Thủy
điền y” c̣n gọi là Phước Điền Y,
tức y của hàng xuất gia gồm các loại năm
điều, bảy điều, hai lăm điều. Do
được may bởi các mảnh vải ghép lại
(mỗi mảnh là một điều), may dằn mép
hoặc viền mép trông giống như thửa ruộng,
nên gọi như vậy. Mạn y là y trơn không có
điều, thường dành riêng cho sa-di hoặc cư
sĩ; nhưng cư sĩ người Hoa thường
chỉ đắp mạn y khi tụng Bồ Tát Giới hoặc
trong lễ sám hối, không đắp thường xuyên.