Phật Học Vấn Đáp Loại Biên

佛學問答類編

Phần 11

Lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam giải đáp

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản in của Lư Bỉnh Nam Lăo Cư Sĩ Toàn Tập Biên Tập Ủy Viên Hội, Đài Loan, 2007)

Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang

 

* Hỏi: Chấp tŕ danh hiệu sáu chữ hồng danh Nam-mô A Di Đà Phật, có cần phải xướng theo nhịp điệu, hay chỉ niệm [b́nh thường] là được rồi? (Trần Tín Cát hỏi)

 

      Đáp: Cất giọng ngân nga chẳng qua là v́ tùy thuận đại chúng, ngơ hầu [mọi người đều niệm] cùng một giọng, nhịp nhàng, chẳng đến nỗi lộn xộn. Nếu tự ḿnh tŕ danh, nhằm cầu nhất tâm, ḥng cảm ứng đạo giao, báo tận sẽ sanh về Tây, niệm lớn tiếng, hay niệm thấp giọng, niệm nhanh, hay niệm chậm, niệm ra tiếng, hay niệm thầm, tâm dơi theo quán tưởng, chủ yếu là tự phù hợp với căn cơ của chính ḿnh. Điều cốt yếu là đạt được nhất tâm, chứ cất giọng ngân nga đều chẳng cần thiết!

 

* Hỏi: Đối với sớ văn hồi hướng Tây Phương, sau mỗi lượt công khóa đều phải hồi hướng, có cần phải đốt sớ văn hồi hướng hay không? (Trần Tín Cát hỏi)

 

      Đáp: Trong chùa miếu làm Phật sự cho người khác, hoặc là pháp hội đặc biệt th́ mới đốt sớ văn, nhằm tỏ rơ tánh chuyên nhất [của Phật sự ấy]. Hai thời công khóa hằng ngày đều chẳng cần đốt sớ văn. Đối với hai khóa tụng hằng ngày của người tại gia, chỉ dựa trên các bài văn Hồi Hướng do cổ đức đă soạn, chọn lấy bài nào khế hợp căn cơ của chính ḿnh, thành kính đọc lên th́ sự đă viên thành, chẳng cần phải đốt sớ văn!

 

* Hỏi: Sau khi đă thọ Ngũ Giới, có phải sẽ gọi là Ưu Bà Tắc? Có cần phải cạo trọc đầu hay không? Có cần phải ăn chay hay không? (Trần Tín Cát hỏi)

 

      Đáp: Chỉ thọ Tam Quy Y th́ cũng gọi là Ưu Bà Tắc. Nếu lại c̣n thọ giới th́ càng hay, chú trọng nơi thành tâm tuân thủ. Kể từ xưa, kẻ thế tục tại Trung Quốc đều giữ nguyên tóc. Nếu xuất gia làm Tăng, theo quy chế, ắt phải cạo tóc. Nói chung, cư sĩ tại gia chẳng làm như vậy, v́ mỗi bên có h́nh tướng riêng, chớ nên lẫn lộn! Người thời nay mô phỏng kiểu cách nước ngoài, cắt tóc ngắn, hoặc cạo sạch tóc, chính là thói quen ưa thích nhất thời, trọn chẳng phải là kẻ không có tóc bèn là tín đồ nhà Phật. Đối với chuyện ăn chay, không chỉ là vun bồi công đức, mà c̣n có thể giảm chứng xơ cứng mạch máu, tránh được các thứ ghẻ độc, thân thể khỏe mạnh, sống lâu, lợi ích không ǵ lớn bằng! Nếu v́ tập khí khó thể sửa đổi, trước hết, hăy học theo cách ăn ba thứ tịnh nhục. Tiến cao hơn là ăn rau cạnh thịt. Phật pháp có nhiều phương tiện!

 

* Hỏi: Sau khi đă thọ Ngũ Giới, trước hết, chẳng ăn chay trường, mà đầu tiên là ăn chay từ sáu ngày đến mười ngày, sau này sẽ ăn chay trường. Làm như vậy có được hay không? (Trần Tín Cát hỏi)

 

      Đáp: Ăn chay sáu ngày hay mười ngày, cần phải là “thanh trai”[1] th́ mới nên. Đối với những ngày khác, xin tham chiếu câu trả lời thứ năm để làm theo, [làm như vậy th́] đức Phật cũng cho phép.

 

      * Hỏi: Sau khi đă tin Phật, trong nhà vẫn c̣n nuôi súc sanh, tôi khuyên cha mẹ đừng nên nuôi nữa, cũng như khai thị về Phật pháp cho họ nghe. Thế nhưng cha mẹ vẫn nuôi như cũ, vậy th́ cần phải làm như thế nào? Hay là chẳng cần quan tâm đến? (Trần Tín Cát hỏi).

 

      Đáp: Cha mẹ là chủ nhà, tự nhiên là [mọi việc trong nhà] do họ làm chủ. Đức hạnh và ḷng hiếu của chính ḿnh chẳng đủ để cảm động cha mẹ th́ làm sao họ có thể nghe theo, tin tưởng lời khuyên? Nếu có chân tâm tin Phật, ắt sẽ có chân hạnh. Hăy nên phản tỉnh, soi xét bản thân, hiếu thảo, ḥa thuận để giữ yên gia đ́nh, lâu ngày chầy tháng, ḷng thành sẽ cảm động tâm người khác. Dùng thân để khuyên th́ tốt hơn là khuyên bằng lời lẽ, cha mẹ sẽ tự chuyển biến, mầm Bồ Đề tươi tốt, hiếu đạo cũng thành tựu.

 

      * Hỏi: Hàng xóm đều làm nghề thuộc da, nhưng có rất nhiều da ḅ bị vứt bỏ chẳng dùng. Tôi nhặt lấy để đun nước th́ có tội lỗi hay không? (Trần Tín Cát hỏi).

 

      Đáp: Người ta chưa vứt bỏ mà ta đă nhặt lấy, nếu chẳng phải là cưỡng đoạt, th́ cũng là gạt lấy. Vật bỏ mặc đó th́ ông cũng chớ nên màng tới, v́ đó chẳng phải là vật của ḿnh. Nếu họ đem cho ta th́ cũng là thiếu t́nh người, v́ [da ấy] có mùi hôi tanh, mất vệ sinh. Nếu v́ nhà nghèo mà nhận lấy, lúc đốt, hăy nghĩ thương xót những con ḅ gặp nạn, niệm Phật hồi hướng cho chúng th́ sẽ là bỏ ḷng tham, chuyển thành ḷng Bi.

 

      * Hỏi: Tôi muốn thọ Tam Quy Y, có thể gởi thư xin thọ, và vâng giữ sáu ngày trai hay chăng? (Do học tṛ hiện thời có khuyết hăm, chẳng tiện ra khỏi cửa. Trong sáu ngày trai, tṛ tự ḿnh đối trước Phật tự thọ quy y, cộng thêm ngày mồng Một thành bảy ngày ăn chay). (Trần Tín Cát hỏi)

 

      Đáp: Quy y và thọ giới có khoan dung và nghiêm ngặt khác nhau. Chẳng thể ra khỏi cửa th́ có thể gởi thư xin quy y. Khi đă nhận được điệp quy y, ắt nên đối trước Phật lễ tạ. Thọ giới th́ cần phải do đích thân giới sư trao truyền. Nếu mắc bệnh, có thể thỉnh pháp sư đến nhà, phương tiện truyền trao, hoặc là có cách khác, hăy nên để pháp sư tự quyết định, kẻ hèn này chẳng thể thốt lời nghị luận xằng bậy được! C̣n đối với chuyện sáu ngày trai hay mười ngày trai, cũng có thể tự thọ trước Phật. Tŕ giới, tu phước, Phật hoan hỷ!

 

      * Hỏi: Vùng Gia Nghĩa chẳng biết có tổ chức Niệm Phật Xă, Liên Tông Xă, Cư Sĩ Lâm, Lâm Chung Trợ Niệm Đoàn, các loại tổ chức đoàn thể như vậy hay không? Do tôi chẳng thấy có các tổ chức ấy, trong tâm rất mong tham gia, hy vọng thầy có thể giới thiệu một phen, khiến cho đệ tử có cơ hội tham gia. (Trần Tín Cát hỏi)

 

      Đáp: Thân thể đi lại bất tiện, tĩnh tu tại nhà, so ra hợp lẽ hơn. Bởi lẽ, niệm Phật mà cảnh thanh tĩnh, dễ đắc nhất tâm. Nếu có thể gắng gượng ra ngoài, tại thành phố Gia Nghĩa có hội Phật giáo, có thể hỏi họ, xin họ giới thiệu.

 

      * Hỏi: Trứng gà không có mầm sống (không có cồ) th́ ăn chay trường có thể thường dùng hay không (v́ tôi đă bị giải phẫu bảy tám lượt, thường lấy thuốc làm bạn, thân thể rất hư nhược), hay là chẳng thể dùng? (Trần Tín Cát hỏi)

 

      Đáp: Trứng không có cồ vốn chẳng có sanh mạng, có thể dùng thay thế dược phẩm, trọn chẳng phải là không được! Nhưng đối với các vật dinh dưỡng, cần phải xét xem thân thể bị thiếu loại nào, có phù hợp hay không, hăy nên do bác sĩ kiểm định. Nếu bác sĩ bảo trứng gà không gây hại th́ có thể ăn lâu dài. Do ăn trứng quá mức, có thể tăng [nguy cơ] mắc chứng xơ vữa mạch máu; v́ thế, cần phải [được bác sĩ] kiểm định. Giới luật nhà Phật được chia thành khai, giá, tŕ, phạm, đối với trứng không có cồ, có thể mở phương tiện.

     

* Hỏi: Công khóa hằng ngày tụng một quyển kinh Di Đà và một quyển Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm, khóa tối cũng giống như vậy, những lúc khác đều là chấp tŕ danh hiệu, như vậy th́ có được hay không? (Trần Tín Cát hỏi)

 

      Đáp: Về học th́ nên đa văn, nhưng hành tŕ hăy nên thuần nhất. Tự tu tại nhà, công khóa ấy hết sức thích hợp.

 

* Hỏi: Cha tôi hễ uống rượu thường gây huyên náo trong Phật đường, khuyên can nhưng lại chẳng nghe, gặp phải t́nh h́nh ấy th́ nên làm như thế nào? (Trần Tín Cát hỏi)

 

      Đáp: Xin xem lời đáp cho câu hỏi thứ bảy: Hăy cung kính phản tỉnh, chí thành hiếu thảo, mềm mỏng, nhẹ nhàng can gián. Nếu cha chẳng nghe, vẫn càng thêm hiếu kính. Nhân duyên chín muồi, sẽ tự biến đổi. Nhân duyên chưa chín muồi th́ cũng trọn đạo hiếu và có công đức vậy!

 

      * Hỏi: Hằng ngày quét đất, rửa sàn, hoặc rửa rau, thường có những chúng sanh bé nhỏ, do có lúc chẳng thấy, hoặc vô ư, lỡ làm chết chúng, như vậy th́ có tội lỗi hay không? Có tính là phá giới sát sanh hay không? (Trần Tín Cát hỏi)

 

      Đáp: Có tâm làm là tội, vô tâm là lỗi. Giữ ǵn tâm từ bi, cẩn thận nơi những hành vi nhỏ nhặt, tận hết sức mong tránh khỏi, giảm thiểu những chuyện vô ư là được. Tội và lỗi mỗi mỗi đều có nhân quả. Do duyên lực có mạnh hay yếu, mà quả cũng chia thành nhiều loại khác nhau. Nếu duyên lực chẳng đầy đủ, các pháp cũng chẳng thể sanh.

 

      * Hỏi: Phật có ba mươi hai tướng, tám mươi thứ hảo, nếu ai quán tướng của Như Lai, người ấy hành tà đạo, chẳng thể thấy Như Lai. Kinh Duy Ma lại nói “ba mươi hai tướng, tám mươi thứ hảo có thể làm Phật sự”, v́ sao đoạn này và ư nghĩa trên đây khác nhau? (Vương Tú Xuân hỏi)

 

      Đáp: Điều quan trọng trong Phật pháp là minh tâm kiến tánh. Tánh đă mê hoặc, nên trước hết phải đoạn Hoặc. Để đoạn Hoặc, cần phải có thiện xảo, tức là dùng thiện để thay ác, dùng tịnh thay uế. Ba mươi hai tướng, tám mươi thứ hảo, đều là tướng thanh tịnh trang nghiêm, có thể thay thế uế tướng ngũ dục, lục trần. “Làm Phật sự” chính là dùng cái nhân thanh tịnh ấy để thay đổi chủng tử ô uế trong tám thức. Khi các chủng tử ô uế dần dần đoạn mất, tướng thanh tịnh cũng thuộc hư vọng, ắt cũng chẳng giữ lại th́ mới hiển lộ Chân Như. Nếu chấp vào tướng hảo, sẽ chẳng đạt được Chân, nên cũng phải coi nó là rỗng không. Phật và pháp giống như bác sĩ và thuốc men, ứng với chứng bệnh mà cho thuốc, ôn, thanh, bổ, tả[2], trọn chẳng nhất định.

 

      * Hỏi: Đọc sách thánh hiền, làm chuyện thánh hiền, nếu ĺa khỏi những lời ấy th́ chẳng biết một điều ǵ (chẳng biết những ǵ nên làm, những ǵ nên dứt), hăy nên cứu văn điều tệ ấy bằng cách nào? (Du Kỳ hỏi)

 

      Đáp: Cầu học, hành đạo, phải nắm vững trọng tâm. Trọng tâm chính là nguyên tắc. Câu “đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành, tự thanh tịnh ư ḿnh” trong nhà Phật chính là trọng tâm. Những câu như “minh đức, tân dân, chỉ ư chí thiện, thành ư, chánh tâm, tu thân” của Nho gia đều là trọng tâm. Những điều ấy đều nên vâng giữ, chớ nên trái nghịch. Nếu nói đến những ǵ nên làm, những ǵ nên ngưng dứt th́ ngàn vạn đầu mối, há có thể nêu ra chi tiết? Nếu dựa trên nguyên tắc để cân nhắc th́ sẽ có thể giải quyết hết thảy vấn đề.

     

      * Hỏi: Người đă khuất lúc c̣n sống đă quy y Tam Bảo, tôi bảo người ấy phải thường xuyên niệm Phật, nhưng anh ta là kẻ bận bịu, sáng tối chẳng có công khóa niệm Phật. Đến khi ngă bệnh, anh ta bảo tôi hăy niệm Phật tiêu tai cho anh ta, tôi cũng làm. Về sau, bệnh t́nh chuyển biến tốt hơn, anh ta nói khi nằm mộng thấy rất nhiều vị Phật ở bên thân. Sau này, trước lúc anh ta mất một tuần, khi tôi đến thăm, cũng bảo anh ta phải niệm Phật, nhưng anh ta có niệm Phật hay không, tôi cũng không biết. Như vậy th́ có thể văng sanh hay không? Mong thầy chỉ dạy. (Tâm Phật hỏi)

 

      Đáp: Điềm chứng nghiệm văng sanh là khi lâm chung, chánh niệm phân minh, tâm chẳng điên đảo. Nếu có thể như vậy, quyết định văng sanh. Nói đến người đă khuất ấy, khi lâm chung, ông và tôi đều chẳng hiện diện nơi đó, chẳng hiểu rơ trạng huống, há dám nói bừa là văng sanh hay không! Nhưng ông ta nói trong mộng thấy Phật, tức là trong thức điền, [chủng tử] Phật đă khởi hiện hành. Sau đó, tuy chẳng thể liên tục, cũng chắc chắn là sanh trong đường lành.

 

      * Hỏi: Người đă mất sau khi mạng chung, từng được trợ niệm tám giờ bốn mươi phút, thấy mặt người đă khuất giống như c̣n sống. Lại kiểm nghiệm thân thể th́ tay chân rất lạnh, nhưng đầu và ngực rất ấm. Để qua một đêm, đến ngày hôm sau, đem cát quang minh[3] đă được tŕ chú do thầy từ bi ban cho đặt trên ngực người mất, làm như vậy th́ có thể thoát ĺa sáu đường hay không? Trong lễ tang và cúng thất, đều nhất loạt ăn chay, kiêng giết. (Tâm Phật hỏi)

 

      Đáp: Tướng ấy rất tốt, trợ niệm, cúng bái cũng rất hiểu pháp, dường như là nhân duyên đầy đủ. Nếu đúng như đă kể, sẽ là tướng văng sanh.

 

      * Hỏi: Tụng kinh niệm Phật nhằm bạt độ người mất; ngoài ra, c̣n có thể làm ǵ để tạo phước cho người đă khuất hay không? (Tâm Phật hỏi)

 

      Đáp: Bạt” () là giúp cho khỏi đọa lạc, “độ” () là siêu lên cao. “Chẳng đọa, siêu thăng” là căn bản của phước. Căn bản giống như chánh báo, gốc phước tự sanh ra lá phước, hoa phước, kết thành quả phước. Gốc tuy là một, nhưng lá, hoa, quả vô lượng. Lá, hoa, quả là những thứ ở ngoài gốc. Cố nhiên gốc là một tướng, nhưng lá, hoa, quả ngàn muôn sai khác!

 

      * Hỏi: Các vị pháp sư xuất gia đều v́ người đă khuất tụng Đại Thừa Kim Cang Bảo Sám Kinh. Tụng kinh ấy cho người đă khuất sẽ vượt trỗi các kinh khác, bạt độ người đă khuất sẽ có vô lượng công đức, đúng không? Kính mong thầy chỉ dạy! (Tâm Phật hỏi)

 

      Đáp: Kinh nói “các pháp b́nh đẳng”, một Thể vốn có thể sanh khởi muôn vàn tác dụng, nhưng do có ngoại lệ, nên có sai biệt. Trai chủ thành tâm, người tụng thành tâm, sẽ thật sự có thể cảm ứng, công năng càng thù thắng hơn. Nếu hời hợt làm cho xong chuyện, chẳng dốc tâm vào đó, lại c̣n giới hạnh tu tŕ chẳng trang nghiêm, sợ c̣n chuốc họa, nói ǵ đến công đức! [Như vậy th́ có công đức hay không], chẳng do tụng kinh nào vậy!

 

      * Hỏi: Nếu như muốn khuyên đồng học học Phật, bước đầu tiên phải nên làm như thế nào? Có đồng học xét về căn bản là chẳng muốn phát tâm, có kẻ lại c̣n cố ư hủy báng, có phải là hăy nên buông bỏ ư niệm khuyên họ học Phật hay chăng? (Lư Nguyệt Trinh hỏi)

 

      Đáp: Khuyên người khác học Phật, vốn dựa trên những điều ta biết. Biết nhiều th́ trí rộng, tự nhiên ngôn ngữ hay khéo, xét theo [căn cơ của] đối phương mà thí pháp [phù hợp], trọn chẳng nhất định. Khuyên người khác, họ chẳng tiếp nhận, là do học nghiệp của ta chẳng đủ, hăy nên phát ḷng hổ thẹn, càng mạnh mẽ cầu học hơn, để chuẩn bị cho công tác lần sau, cầu được thuận lợi. Ngoài ngôn ngữ ra, cần phải có các tập sách nhỏ [giảng giải Phật pháp], đó gọi là “muốn sự việc thuận lợi, th́ trước hết phải có công cụ nhạy bén”. Nếu nói “buông bỏ ư niệm” tức là tâm Bồ Đề thoái chuyển, hết sức chớ nên, hết sức chớ nên!

 

      * Hỏi: Phật Đường trong nhà hoặc tượng Phật trong pḥng có cần phải đặt bức rèm bằng vải vàng [che lại] hay không? V́ sao có lúc phải dùng vải vàng che lại? (Lư Nguyệt Trinh hỏi)

 

      Đáp: Tấm che để ngừa những thứ chẳng sạch sẽ, hoặc có lúc chuyên để trang nghiêm. Vốn chẳng câu nệ màu sắc, nhưng v́ theo mỗi nước, do thói quen ưa thích khác nhau, mà trở thành sai khác. Nước ta từ xưa đến nay, màu vàng là của đế vương chuyên dùng, nên được coi là trang nghiêm nhất, b́nh dân chẳng được dùng. Màu đỏ được coi là tốt lành, màu đen hoặc trắng được coi là xui xẻo, tang tóc. [Do quan niệm ấy] lưu hành đă lâu, trở thành tập quán. V́ thế, những thứ màn che trong nhà Phật phần nhiều dùng hai màu đỏ và vàng, nhằm tỏ ḷng kính trọng vậy.

 

      * Hỏi: Khi tŕ chú Đại Bi th́ có nhất định phải có hương, hoa hay không? Có cần phải thắp một ngọn đèn nhỏ hay không? Có cần phải cúng hương, hoa, trái cây liên tục chẳng gián đoạn hay không? (Lư Nguyệt Trinh hỏi)

 

      Đáp: Chuyện này không nhất định. Tùy sức mà có hay không [đều được], cố nhiên là có th́ càng tốt. Nếu không có, hăy nên giữ ḷng thành kính, Phật pháp viên dung, đề cao chân tâm. Đối với việc tŕ chú, do thuộc về công hạnh, ắt phải tŕ liên tục, chẳng gián đoạn. Hễ gián đoạn, sẽ là buông lung, giải đăi, đều là chướng đạo.

 

      * Hỏi: Trong Địa Tạng Vương Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh có một đoạn nói: “Năi quá khứ vô lượng A-tăng-kỳ kiếp na-do-tha bất khả thuyết kiếp, nhĩ thời hữu Phật, hiệu Nhất Thiết Trí Thành Tựu Như Lai… kỳ Phật thọ mạng lục vạn kiếp” (Trong quá khứ vô lượng A-tăng-kỳ kiếp na-do-tha bất khả thuyết kiếp, lúc ấy có Phật hiệu là Nhất Thiết Trí Thành Tựu Như Lai… đức Phật ấy có thọ mạng là sáu vạn kiếp). Lại nói: “Phục ư quá khứ vô lượng A-tăng-kỳ kiếp, hữu Phật xuất thế, danh Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai, kỳ Phật thọ mạng tứ thập kiếp” (lại trong quá khứ vô lượng A-tăng-kỳ kiếp, có Phật xuất thế, hiệu là Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai, vị Phật ấy có thọ mạng bốn mươi kiếp). Phật đă thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, v́ sao thọ mạng cũng có lúc hết? Lại c̣n thọ mạng có dài ngắn [khác nhau]? (Triệu Chánh Hoa hỏi)

 

      Đáp: Phật có ba thân:

- Một là Pháp Thân, tức Chân Như bản thể, không có khởi đầu, chẳng có kết thúc.

- Hai là Báo Thân, chính là đại thân có vô lượng tướng hảo, tùy theo các cơ duyên, có lúc hiện, có lúc ẩn. Khi hiện th́ giả nói là “khởi đầu”, khi ẩn th́ giả nói là “kết thúc”. Thật ra, khi tu thành bèn nói là “có khởi đầu”; sau khi đă thành, thật sự chẳng có kết thúc.

- Ba là Ứng Thân, v́ độ lục đạo, nên thị hiện cái thân sanh diệt. Chánh báo và y báo của thân ấy, thọ mạng dài ngắn, đều tương ứng với đường nào [trong lục đạo] mà Ngài đă ứng hiện, nên có thể nói là “có khởi đầu, có kết thúc”.

Đối với chuyện đă hỏi th́ nói chư Phật thọ mạng bao nhiêu kiếp đều là nói về sự ẩn mất của Báo Thân, chẳng giống với sự sanh diệt nơi Ứng Thân!

 

      * Hỏi: Nay có người đă văng sanh Tây Phương Cực Lạc liên bang, có thể siêu độ tổ tiên hay không? (Triệu Chánh Hoa hỏi)

 

Đáp: Văng sanh Cực Lạc chính là thiện căn làm chánh nhân, phước đức làm trợ duyên, cảm ứng đạo giao tạo thành. Hễ thiếu một trong bốn lực trên đây, sẽ chẳng thể văng sanh. Tuy chẳng văng sanh, đă siêu sanh thiện đạo. Nếu bốn lực trọn đủ, sau khi văng sanh, thần thông và trí huệ chẳng b́nh phàm, liền biết tổ tiên thật sự đang ở trong đường nào, có thể nương vào thần thông, đến đó cứu độ, có thể khiến cho họ siêu thăng đường lành. Nếu tổ tiên phát tâm học Phật th́ mới có hy vọng siêu thăng luân hồi!

     

      * Hỏi: Đại Thừa Bổn Sanh Tâm Địa Quán Kinh nói: “Thiện nam tử! Ư chư thế gian, hà giả tối phú? Hà giả tối bần? Bi mẫu tại đường, danh chi vi phú. Bi mẫu bất tại, danh chi vi bần. Bi mẫu tại thời, danh vi nhật trung. Bi mẫu tử thời, danh vi nhật một. Bi mẫu tại thời, danh vi nguyệt minh. Bi mẫu vong thời, danh vi ám dạ. Thị cố, nhữ đẳng cần gia tu tập, hiếu dưỡng phụ mẫu, nhược nhân cúng Phật, phước đẳng vô dị. Ưng đương như thị báo phụ mẫu ân” (Này thiện nam tử! Trong các thế gian, thế nào là giàu nhất? Thế nào là nghèo nhất? Bi mẫu c̣n sống th́ gọi là giàu. Bi mẫu đă khuất, th́ gọi là nghèo. Khi bi mẫu c̣n sống th́ gọi là mặt trời chính ngọ, khi bi mẫu đă chết, gọi là mặt trời lặn. Khi bi mẫu c̣n sống, gọi là trăng sáng. Khi bi mẫu mất đi, gọi là đêm đen. V́ thế, các ông hăy nên thêm siêng năng tu tập, hiếu dưỡng cha mẹ, sẽ có phước chẳng khác ǵ người cúng Phật. Hăy nên báo ân cha mẹ như vậy); v́ sao gọi mẹ là “bi mẫu”? (Hồng Hoán Mô hỏi)

     

      Đáp: Ban cho sự vui là Từ, cứu khổ là Bi. So sánh giữa đôi bên, dẹp khổ trọng yếu hơn. Quán Âm Bồ Tát tầm thanh cứu khổ, chẳng phải là Ngài không có ḷng Từ, do chú trọng điều trọng yếu, nên Ngài có hiệu là Đại Bi. Mẹ quan tâm con cái, giống như Quán Âm nh́n chúng sanh; v́ thế, gọi là “bi mẫu”, giống như ngài Quán Âm được xưng tụng là Đại Bi, lư ấy tương đồng.

 

      * Hỏi: Trong Phật Thuyết Phụ Mẫu Ân Nan Báo Kinh có nói: “Thế Tôn cáo chư tỳ-kheo: - Phụ mẫu ư tử, hữu đại tăng ích, nhũ bộ trưởng dưỡng, tùy thời tương dục, tứ đại đắc thành. Hữu kiên phụ phụ, tả kiên phụ mẫu, kinh lịch thiên niên, cánh sử tiện lợi bối thượng, nhiên vô hữu oán tâm ư phụ mẫu, thử tử do bất túc báo phụ mẫu ân” (đức Thế Tôn bảo các tỳ-kheo: “Cha mẹ có sự đại tăng ích đối với con cái, bú mớm, nuôi lớn, luôn luôn nuôi nấng, khiến cho thân Tứ Đại của con được trưởng thành. Vai phải cơng cha, vai trái cơng mẹ, trải qua ngàn năm, lại c̣n để cha mẹ tiêu tiểu trên lưng, nhưng chẳng có ḷng oán hận cha mẹ, đứa con ấy vẫn chưa đáng gọi là báo ân cha mẹ”). Con người chỉ có trăm tuổi, làm sao có thể trải qua ngàn năm. Xin hăy chỉ dạy! (Hồng Hoán Mô hỏi)

 

      Đáp: Đây là lời lẽ nhằm diễn tả sự tột bực, chẳng phải là ắt phải trải qua một ngàn năm, giống như nói “bách thân hà thục” (trăm thân làm sao chuộc), “bách xích can đầu” (đầu sào trăm thước), “thiên lự nhất đắc” (nghĩ ngợi ngàn lẽ, mới đạt được một điều), “thiên lư nga mao” (lông ngỗng ngàn dặm), “vạn tánh thống phổ” (muôn họ đều liệt kê hết), “vạn thọ vô cương” (tuổi thọ muôn vàn, chẳng có ngằn mé) v.v… Thử nghĩ xem: Thân làm sao có một trăm cho được? Cũng chẳng có cái sào nào dài trăm thước! Con số ngàn vạn cũng cùng một lệ ấy. V́ thế, nên hiểu đó là lời lẽ nói tới sự tột bực, đừng hiểu chết cứng nơi mặt văn tự!

 

      * Hỏi: Kinh Tạp Bảo Tạng dạy: “Nhược nhân ư phụ mẫu sở, tác thiểu cúng dường, hoạch phước vô lượng. Thiểu tác bất thuận, tội diệc vô lượng” (nếu ai cúng dường cha mẹ đôi chút, được phước vô lượng. Bất thuận đôi chút, tội cũng vô lượng). Ai mà chẳng cúng dường cha mẹ, nhưng chưa thấy phước ở chỗ nào! Xin hăy chỉ dạy. (Hồng Hoán Mô hỏi)

 

      Đáp: Tuy nói “cúng dường”, c̣n phải xét tới động cơ (motivation), xét xem sự biểu hiện từ đầu tới cuối, để định luận là tâm chân thành hay giả dối! Nếu chịu ảnh hưởng bởi hoàn cảnh, chẳng thể không cúng dường, hoặc do có mong cầu điều ǵ khác, hoặc là tâm miễn cưỡng, các loại [cúng dường] như thế, đều chẳng có ḷng thành, nhưng cũng có phước đức nhỏ nhoi. Chỉ v́ hết thảy các niệm giả dối, ngạo mạn xen lẫn, nên phước đức vặt vănh ấy chẳng có sức khởi lên hiện hành. Do đó, tợ hồ vô phước. Đó là một lư do. Nếu có t́nh h́nh như đă nói trên đây, sẽ là “bất thuận”, tức là cái nhân ác, tội cũng vô lượng. Người đời hiếu thuận cha mẹ, thiện ác hỗn tạp, do bù qua sớt lại, mắt kẻ tục khó thể nhận biết!

 

      * Hỏi: Trong bộ Tịnh Độ Văn của cư sĩ Long Thư đời Tống có nói: “Phụng dưỡng ngọt bùi là ḷng hiếu thế gian. Khuyên cha mẹ tu Tịnh Độ là ḷng hiếu xuất thế gian. Bởi lẽ, ḷng hiếu thế gian chỉ có một đời, nên vẫn là ḷng hiếu nhỏ nhoi. Ḷng hiếu xuất thế gian chẳng có lúc nào cùng tận, v́ cha mẹ sanh về Tịnh Độ, phước thọ không chỉ như hằng hà sa kiếp. Đó là ḷng hiếu không ǵ lớn hơn. Cha mẹ c̣n sống, mà chẳng thể dùng điều này để khuyên lơn, khích lệ, ngày sau uổng công đau đớn suông, uổng công cúng lễ trọng hậu, cũng có ích ǵ đâu!” Trong hai mươi bốn người con hiếu[4], chẳng biết có ai từng khuyên [cha mẹ] tu Tịnh Độ hay không? Xin hăy chỉ dạy! (Hồng Hoán Mô hỏi)

     

      Đáp: Hai mươi bốn người con hiếu, bắt đầu từ Ngu Thuấn, kết thúc vào đời Tống, người trong thời kỳ ấy nghe Phật pháp rất ít, người có thể nghe pháp môn Tịnh Độ, tu tập Tịnh Độ, sợ rằng chẳng có ai, như thế th́ làm sao có thể dùng pháp môn Tịnh Độ để khuyên cha mẹ? Có thể biết là Phật pháp khó nghe, người được nghe may mắn lắm. Đă được may mắn, mà tự ḿnh chẳng tu, cũng chẳng khuyên cha mẹ, có thể nói là phí uổng cuộc đời này!

 

* Hỏi: Trong bộ Trúc Song Nhị Bút[5] của Liên Tŕ đại sư đời Minh có câu: “Phận làm con đối với cha mẹ, chăm sóc, phụng dưỡng, hầu hạ cho cha mẹ được an ổn, đó là hiếu. Lập thân hành đạo để cha mẹ nở mày nở mặt, đó là đại hiếu. Dùng pháp môn Niệm Phật để khuyên, khiến cho cha mẹ sanh về Tịnh Độ, là đại hiếu trong các thứ đại hiếu. Tôi đến tuổi già mới nghe Phật pháp, nhưng xót nỗi gió cây tột bực[6], đau ḷng ngút trời, dẫu muốn ra sức báo đền th́ đă trễ tràng. Kính thưa cùng mọi người, cha mẹ c̣n sống, hăy sớm khuyên họ niệm Phật, cha mẹ đă khuất, hăy dốc ḷng niệm Phật ba năm. Nếu như chẳng thể, th́ hành một năm, hoặc trong bốn mươi chín ngày đều được. Hiếu tử muốn báo ân cù lao, chớ nên không biết chuyện này!” Người Trung Hoa khi cha mẹ đă mất, đều thỉnh pháp sư niệm kinh, đều là đại hiếu ư? (Hồng Hoán Mô hỏi)

     

Đáp: Người ấy hiếu thảo hay bất hiếu, phải xét theo cái tâm, chẳng thể chỉ nh́n bề ngoài. Ông có thể tham khảo lời đáp thứ ba, sẽ tự có thể rút ra kết luận. Lại phải nên biết vạn pháp do tâm tạo, ắt phải tự ḿnh tin tưởng Phật pháp, hoặc hiểu rơ tường tận pháp nghĩa, [sau đó] tự niệm, hoặc thỉnh người khác niệm, th́ mới có cảm ứng, hiếu đạo mới thành. Nếu chẳng hiểu nghĩa, đối với Phật sự, đủ mọi thứ hiểu biết tà vạy, hoặc tự ḿnh chẳng tin, chỉ có bề ngoài, sẽ chẳng có cảm ứng, có ǵ để nói là hiếu nữa ư?

 

      * Hỏi: Kinh Kim Cang nói: “Hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc”. Đối với chuyện tâm quá khứ chẳng thể được, đệ tử thật sự chẳng hiểu rơ ư nghĩa được bao hàm trong ấy, xin bậc thượng nhân hăy khai thị! (Trần Trí Minh hỏi)

 

      Đáp: Đối với câu hỏi này, người sơ học chẳng thể hiểu! Dẫu gặp bậc đại đức biện tài vô ngại, tuy chẳng phải là Ngài không có cách nào để nói hay tỷ dụ, nhưng vượt cấp để tiến lên sẽ ngă nhào đó thôi! Ở đây, tôi v́ ông giải thích nông cạn câu văn, nhưng ông cũng cần phải lắng ḷng suy nghĩ. “Tâm” là cái tâm khởi tâm động niệm, chẳng phải là nói đến quả tim thịt trong lồng ngực. Trước hết, phải hiểu chữ này nói đến điều ǵ, ḥng khỏi bị hiểu lầm. Tâm niệm đă qua đi, tức là đă diệt rồi; đă diệt th́ làm sao có thể có lại được? Sát-na trong hiện tại chẳng ngừng, hễ chẳng ngừng sẽ liền tiêu diệt, chẳng ngừng th́ không có ǵ để được. Vị lai là c̣n chưa sanh, vô sanh th́ vốn chẳng có vật, chẳng có vật th́ có ǵ để được nữa? Ta cùng các pháp đều do tâm sanh. Tâm đă là chẳng được th́ làm sao có Ngă và Pháp cho được?

 

      * Hỏi: Hết thảy các nhà tiểu thuyết nói Quán Thế Âm Bồ Tát là công chúa thứ ba của vua Diệu Trang, có phải là sự thật hay không? Do tôi đă hỏi khá nhiều vị xuất gia, nhưng vẫn khó đạt được [câu trả lời phù hợp] tiêu chuẩn lư tưởng! Thật ra, có phải là trong lịch sử, Quán Thế Âm Bồ Tát đă đản sanh trong một quốc gia nào đó, đến nay đă trải qua bao nhiêu năm? Xin bậc thượng nhân khai thị cho hàng văn học! (Trần Trí Minh hỏi)

 

      Đáp: Tra duyệt phẩm thứ hai mươi bảy của kinh Pháp Hoa là phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn Sự, [thấy kinh] chỉ nói nhà vua có hai con trai là Tịnh Tạng và Tịnh Nhăn, trọn chẳng nói vua có công chúa. Phẩm thứ hai mươi lăm là Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm diễn nói về ngài Quán Âm rất tường tận, nhưng chẳng liên quan ǵ đến Diệu Trang Nghiêm Vương. Hăy nên lấy kinh làm tiêu chuẩn. Xét theo sách Biên Niên Thông Luận[7], có chép chuyện Đạo Tuyên luật sư và thiên thần vấn đáp, thiên thần từng nói về ngài Quán Âm như sau: Trong nhiều kiếp quá khứ, có công chúa thứ ba của vua Trang Nghiêm tên là Diệu Thiện, chính là tiền thân của ngài Quán Âm v.v… Sách Biên Niên chẳng phải là kinh, mà cũng chẳng phải là luận, chép toàn những chuyện đồn đăi, chẳng đáng để tin tưởng! Nghiên cứu t́m ṭi Phật pháp, ắt có quy định, tức là “y pháp, bất y nhân”. Hễ trái nghịch nguyên tắc ấy th́ là sai!

 

      * Hỏi: Phẩm Xưng Phật Danh Hiệu trong kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện có một đoạn như sau: “Hựu ư quá khứ, hữu Phật xuất thế, hiệu Ca Sa Tràng Như Lai, nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, văn thị Phật danh giả, siêu nhất bách đại kiếp sanh tử chi tội” (Lại trong quá khứ, có Phật xuất thế, hiệu Ca Sa Tràng Như Lai, nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe danh hiệu đức Phật ấy, sẽ vượt thoát tội trong một trăm đại kiếp sanh tử). [Tôi thắc mắc như sau]:

1. Chữ “siêu” nên giảng như thế nào?     

2. Có phải là trong một trăm đại kiếp chẳng sanh, chẳng tử?

3. Trong một trăm đại kiếp ấy, thần thức ở trong đường nào? (Triệu Lệ Lương hỏi)

 

      Đáp: Chữ “siêu” ở đây nên hiểu là “siêu quá” (vượt thoát). Đối với từ ngữ “sanh tử chi tội” có hai cách hiểu:

1) Một là sanh trong tầng trời trên cao (chẳng sanh trong các tầng trời thấp như Tứ Vương Thiên, Đao Lợi Thiên v.v..), thọ mạng dài lâu hơn cả trăm đại kiếp, nên chẳng sanh tử.

2) Hai là chết mà gọi là “tội”, tức là chẳng được chết an lành. Người ấy có thể trải qua nhiều kiếp sanh tử, nhưng không hứng chịu nỗi khổ chết ngang trái, đột ngột.

Đă hiểu rơ các cách giải thích trên đây, th́ câu hỏi về thần thức chẳng c̣n là vấn đề nữa, nên bất tất phải rườm lời!

 

      * Hỏi: Lúc khởi nguyên tối sơ, sanh mạng của chúng ta v́ sao mà có? (Lư Thế Ảnh hỏi)

 

      Đáp: Chân Như bản tánh không có khởi đầu, chẳng có kết thúc, pháp vốn là như vậy, chẳng cậy vào nhân duyên. Nho gia nói đến Tánh, bèn bảo là “thiên mạng”, mở rộng ra đến tột bực, [cho rằng thiên mạng] tự nhiên mà có. Phật và Nho nói cùng một ư nghĩa, [chỉ là sử dụng] từ ngữ khác nhau. Kinh Lăng Nghiêm nói đại lược: Bổn Giác trong Chân Như, bất giác dấy động, bèn có vô minh, huyễn vọng sanh ra tứ đại chủng (Tứ Đại). Bốn loại ấy biến huyễn, sanh ra các vọng tướng (tướng hư vọng). Do bất giác, nên dấy lên Kiến Phần, huyễn vọng sanh ra Tướng Phần. Kiến Phần và Tướng Phần làm duyên cho nhau, như ống kính vạn hoa, vọng tướng vô lượng. Con người là một trong các thứ vọng tướng, thành phần cấu tạo nên con người chính là Tứ Đại.

 

      * Hỏi: Cũng có người nói: Tâm này từ vô thỉ đến nay vô h́nh, vô tướng, chẳng từng sanh, chẳng từng diệt, nhưng do khởi tâm động niệm, mà đến nỗi tạo nghiệp luân hồi trong lục đạo. Tâm này vô h́nh, vô tướng, v́ sao có động niệm? (Lư Thế Ảnh hỏi)

 

      Đáp: Trong lời đáp cho câu trước, tôi đă từng nói “bất giác bèn động”, “bất động” là nói Chân Như, c̣n động th́ gọi là vọng niệm. Tuy là vô h́nh, vẫn có thể bị động, như lạnh ấm là vô h́nh, há chúng chẳng động? Nếu bất động, sẽ luôn là ấm áp, hoặc là thường lạnh lẽo. Nhưng lạnh ấm đắp đổi, tức là động vậy! Nếu bất động th́ làm sao có biến đổi cho được?

 

      * Hỏi: Gieo cái nhân để đời đời đều biết tu Phật pháp như thế nào? (Triệu Chánh Hoa hỏi)

 

      Đáp: Đối với tám vạn bốn ngàn pháp được giảng trong kinh văn thiêng liêng của Tam Tạng, chọn lấy bất cứ một câu nào, hiểu sâu ư nghĩa, chí thành phụng hành, tức là đă cấy một hạt giống Kim Cang trong ruộng tám thức, không ngừng huân tập dài lâu, đời sau hễ gặp duyên, [chủng tử ấy] ắt sẽ dấy lên hiện hành. Khi duyên khởi lên hiện hành, có lẽ sẽ có thể tiếp tục tu tập.

 

      * Hỏi: Tại gia học Phật, nên học từ chỗ nào, và nghiên cứu, đọc tụng những kinh điển nào? (Triệu Chánh Hoa hỏi)

 

      Đáp: Trọng điểm trong câu hỏi này chính là câu “tại gia học Phật”. Hăy nên biết: Người xuất gia có thầy, có công khóa; người tại gia trọn chẳng phải là chuyên môn, phần nhiều ngả theo hướng tạp loạn. Nếu mong tuân theo quy củ, cũng ắt phải có thầy. Bước đầu học tập, trước hết phải nên hiểu rơ đại ư, hăy nên xem những tập sách nhỏ mang tánh chất tuyên truyền được viết bởi các vị đại đức từ đời Thanh trở về trước. Tiếp đó, xem kinh Bát Đại Nhân Giác, kế đó là xem kinh Tứ Thập Nhị Chương, rồi xem kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo để hiểu đại lược. Nếu cầu hiểu sâu hơn, các kinh về Bát Nhă và Duy Thức chính là tinh hoa; nhưng xét đến sự hành tŕ thật sự th́ trong thời kỳ Mạt Pháp, chỉ có Tịnh Độ là khế hợp!

 

      * Hỏi: Tôi thường thấy học đạo sớm, trễ, trước, sau sai khác. Có kẻ chưa đến tuổi nhược quan (hai mươi) mà đă biết học Phật. Có người ba mươi, bốn mươi, cho đến tuổi cổ hy (bảy mươi) mới biết tu học Phật đạo. Đó có phải là do cơ duyên khiến thành ra như vậy, xin thầy khai thị. (Triệu Chánh Hoa hỏi)

 

Đáp: Đạo học vấn, người nhập môn sớm, tu sớm, công phu sâu xa, hoặc kẻ nhập môn trễ, tu trễ, công phu nông cạn, lư thấy rơ ràng! Tu muộn chẳng bằng tu sớm, công cạn chẳng bằng công sâu, nhưng kẻ chẳng tu, không có công phu càng chẳng thể bằng người tu muộn, công phu nông cạn. Thường nói là “triêu văn đạo, tịch tử khả hỹ” (sáng nghe đạo, tối chết cũng đành). Học đạo sớm trễ, có trường hợp liên quan đến cơ duyên, có trường hợp liên quan đến chuyện giải đăi, buông lung, chẳng thể luận định nhất loạt được! Kẻ chưa đầy hai mươi đă học đạo phần nhiều do cơ duyên, kẻ ba bốn mươi tuổi và tuổi cổ hy mới biết tu học, có trường hợp do chẳng đủ cơ duyên, mà cũng có trường hợp do giải đăi, buông lung.

 

* Hỏi: Minh tâm kiến tánh là ǵ? (Dương Trí Hạnh hỏi)

 

      Đáp: Trước hết, nên biết Thể của tâm là ǵ, Thể của tánh là ǵ. Sau đó mới có thể nói tới “minh” và “kiến”. Tâm tánh là Lư Thể, “minh kiến” là công hạnh tu tập. Chẳng hiểu Lư Thể, sẽ không có cách nào để dụng công tu tập. Người học Phật giống như đi học, có các chương tŕnh Tiểu Học, Trung Học, Chuyên Nghiệp, Đại Học khác biệt. Muốn học nhảy lớp, sợ rằng chẳng thể được! Trước hết, ông hăy nên xem các sách nhập môn đơn giản, rồi xem kinh Tứ Thập Nhị Chương để hiểu đại lược, tiến cao hơn là nghiên cứu các bộ kinh lớn. Khi ấy, tự nhiên sẽ dần dần biết minh tâm kiến tánh [là như thế nào].

 

      * Hỏi: Cảnh giới chứng đạo là t́nh h́nh như thế nào? (Dương Trí Hạnh hỏi)

     

      Đáp: Nếu ông đă nếm các món ăn làm bằng gan rồng, tủy phượng, hễ nói đến, tự nhiên sẽ nghĩ tới vị của chúng. Nếu vẫn là chưa hề nếm môi, dẫu tại hạ nói chua, nói mặn, chỉ sợ người nghe trọn chẳng liễu giải mảy may!

 

      * Hỏi: V́ sao ngài Huệ Năng nói “thấy cảnh, tâm số[8] khởi”, nhưng ngài Ngọa Luân lại nói “thấy cảnh, tâm chẳng khởi”, sai biệt ở chỗ nào? Kính xin hăy phân tích! (Dương Trí Hạnh hỏi)

 

      Đáp: Tâm là ǵ, nay ông c̣n mờ mịt th́ khởi và bất khởi càng chẳng cần nói đến nữa!

 

      * Hỏi: Sau khi đức Phật nhập Niết Bàn, có c̣n sanh làm người trong thế giới này nữa hay không? Nguyên nhân ở chỗ nào? (Dương Trí Hạnh hỏi)

 

      Đáp: Sau khi đức Phật nhập Niết Bàn, dùng quả để làm nhân, Pháp Thân bất động, hóa thân vô lượng, trọn khắp mười phương, chuyên v́ độ thoát chúng sanh.

 

      * Hỏi: Tiền niệm bất sanh, hậu niệm bất diệt, nên hiểu như thế nào? (Dương Trí Hạnh hỏi)

 

      Đáp: Khi ông liễu giải “tiền niệm bất sanh”, sẽ tự có thể liễu giải “hậu niệm bất diệt”. Niệm của ông do tự tâm sanh ra, nên vẫn phải từ tự tâm mà tham ngộ.

      Nói thêm: Đối với năm câu hỏi sau cùng, đă có kinh và ngữ lục [giảng giải], nhưng chẳng phù hợp sơ cơ, nên xin lượng thứ chẳng đáp. Đối với danh sách các kinh [ông muốn thỉnh], cũng xin sau khi đă đọc các kinh nhập môn rồi hăy đọc các kinh ấy cũng chẳng muộn. Kính tặng ông một tập sách nhỏ, xin hăy thâu nhận.

 

      * Hỏi: Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật thường nói chúng sanh thời Mạt Pháp phần nhiều là độn căn, nhưng nay khoa học phát triển, mới lạ mỗi tháng, mỗi ngày, không ǵ chẳng phải do các chuyên gia hoặc học giả có chỉ số IQ rất cao hợp sức t́m ra. Xin hỏi: Có thể nói những người có bằng Thạc Sĩ, Tiến Sĩ, cho đến những nhà khoa học sáng tạo, phát minh là độn căn hay không? (Dương Thanh Mẫn hỏi)

 

      Đáp: Cổ nhân nói: “H́nh nhi thượng giả, vị chi đạo. H́nh nhi hạ giả, vị chi khí” (tạm dịch: Học về bản chất của vật th́ là Đạo, cái học vấn truy xét nơi h́nh tướng th́ gọi là Khí). Đạo vốn hư vô, nên nói: “Dịch vô Thể” (Dịch chẳng có Thể). Do chẳng có Thể, nên chẳng dễ biết. Tánh của Phu Tử hợp với thiên đạo, Tử Cống[9] là người hiền, c̣n chưa được nghe. “Khí” vốn có h́nh tượng, nên nói: “Sát hồ thiên địa, hữu vật tắc khả cùng lư” (Xem xét khắp trời đất, hễ có vật bèn có thể xét đến tột cùng lư của nó). Ông Ngơa Đặc (James Watt) sáng chế động cơ chạy bằng hơi nước, ông Đạo Nhĩ Đăng (John Dalton) sáng chế vật chất nguyên tử, con người phần nhiều hiểu biết, nhưng không thấu hiểu rơ ràng. Một đằng là tham cứu Chân Như Thật Tướng trong tâm, một đằng là chạy theo Thế Trí Biện Thông bên ngoài. Lệch về một bên là Pháp Chấp, là Sở Tri Chướng, chẳng tự giác chiếu, nên gọi là “độn căn”.

 

      * Hỏi: Văn học thường tu tập theo sách Nhân Thị Tử Tĩnh Tọa Pháp[10] của cư sĩ Tưởng Duy Kiều nhiều năm, đối với sự tu dưỡng thân tâm và cầu học đều được lợi ích to tát, nhưng mỗi ngày đều phải tốn thời gian từ một đến hai giờ, văn học muốn đổi các pháp Sổ Tức và Tùy Tức v.v… thành thầm niệm thánh hiệu Di Đà có được hay không? Nhưng khi hành tŕ đến môn Hoàn Tịnh của Lục Diệu Pháp Môn trong sách ấy, có phải vẫn là nhất tâm niệm Phật hay không? Nếu là “niệm Phật thấy Phật” th́ nên làm như thế nào (trong lúc tĩnh tọa)? (Dương Thanh Mẫn hỏi)

 

      Đáp: Phàm phu chẳng có kẻ nào không có niệm. Những điều họ nghĩ tới chẳng ngoài ngũ dục, lục trần. Sổ Tức và Tùy Tức đều là các pháp nhằm khắc chế vọng niệm. Niệm dấy lên trong tâm, niệm đều có tướng, huyễn ảnh của tướng lại in vào tâm. Thầm niệm Di Đà, Di Đà sẽ in vào tâm. Dùng tâm làm Phật, tâm này là Phật. Cổ nhân nói đó là vi diệu thượng Thiền, há có phải là phí công ư? Hơn nữa, Pháp Thân vô tướng, niệm đến mức nhất tâm bất loạn, sẽ là tương ứng với Phật, có thể nói là “thấy tâm, thấy đạo, thấy Phật”. Nếu có thể biết dùng tâm để niệm Phật, sẽ trọn chẳng do h́nh tướng bên ngoài, đi, đứng, nằm, ngồi, không ǵ chẳng thể!

 

      * Hỏi: Văn học rất thích đến thăm viếng, lễ bái chùa miếu. Kinh Phật từng nói lễ Phật, tụng kinh v.v… hăy nên tay sạch, tâm sạch, ư sạch, nhưng khổ v́ có những chùa miếu trước cửa chẳng lắp đặt nước máy để rửa tay sạch sẽ, [vậy th́] có thể chỉ tịnh tâm, tịnh ư rồi vào trong đó lễ bái hay không? (Dương Thanh Mẫn hỏi)

 

      Đáp: Mọi chuyện đều có thường và biến; do bị nghẹn chớ nên bỏ ăn! Có nước mà chẳng rửa, tức là giải đăi, khinh mạn. Không có nước th́ chẳng phải là do chính ḿnh có ư nghĩa chẳng mong sạch sẽ, mà do t́nh thế xui nên như vậy. Nếu có thể thật sự tịnh tâm và tịnh ư, tức là đă trọn đủ chân thành, vẫn thù thắng hơn kẻ chỉ dùng nước rửa sạch bên ngoài!

 

      * Hỏi: Có người nói thắp hương, nhất định phải mở cửa sổ, điều ấy có đáng tin hay không? (Dương Thanh Mẫn hỏi)

 

      Đáp: Kẻ hèn này thiển lậu, chưa thấy hoặc nghe chuyện đó từ kinh hoặc truyện. Trộm nghĩ, điều này thuộc vấn đề giữ cho không khí thanh khiết, có thể tùy thuộc ư ḿnh để quyết định.

 

      * Hỏi: Đệ tử Phật chánh tín có nên lạy ông trời để cầu thọ hay không? (Châu Tinh Nguyên hỏi)

 

      Đáp: Phật pháp nhất loạt b́nh đẳng, đối với trời, người, lục đạo, tám bộ, thảy đều cung kính, trọn chẳng có ǵ là không được! Nhưng v́ sắc thân mà cầu thọ, lại hướng về ông trời để cầu, lăo cư sĩ học rộng nghe nhiều, ắt có sự hiểu biết đúng đắn. Kẻ hèn này là độn căn, Pháp Chấp rất sâu, đă chẳng cầu thọ, mà cũng chẳng hướng về ông trời, nên chẳng suy xét là có nên hay không!

     

* Hỏi: Trên bài vị của ông trời ghi là Đệ Nhất Oai Đức Thành Tựu Chúng Sự Công Đức Thiên[11] đặt ở phía trên Thích Ca Mâu Ni Phật, bài vị của đức Bổn Sư lại xếp phía dưới ông trời, có phải là phạm lỗi khinh nhờn Thích Ca Mâu Ni Phật hay không? (Châu Tinh Nguyên hỏi)

 

Đáp: Phật giáo có hai ḍng lớn là Hiển Giáo và Mật Giáo. Đối với các pháp trong Mật Tông, nếu chẳng được Kim Cang Thượng Sư quán đảnh, chẳng được phép tham gia. Kẻ hèn này học Mật chẳng nhiều, nhưng biết trong Mật Giáo thờ Kim Cang Thượng Sư phía trên Phật. Trong Tứ Quy Y của họ, cũng là quy y Kim Cang Thượng Sư trước hết [rồi mới đến Tam Bảo], trong Hiển Tông chẳng thấy h́nh thức ấy. Lăo cư sĩ nói “thiên” được thờ trên Phật, nếu do thượng sư trong Mật Tông làm như vậy, hoặc là do căn cứ theo sở học trong tông ấy, th́ chẳng tiện thốt lời nghị luận bừa băi. Nếu không do Kim Cang Thượng Sư xếp đặt, lại chẳng có kinh điển để làm căn cứ th́ hết sức chớ nên [sắp đặt như vậy]!

 

* Hỏi: Kinh Kim Quang Minh có phải do đức Phật nói hay không? Nếu phải th́ trong năm thời thuyết pháp, kinh ấy được nói trong thời nào? (Châu Tinh Nguyên hỏi)

 

Đáp: Kinh Kim Quang Minh có ba bản dịch[12], cổ đức chú giải rất nhiều. Các vị tổ sư như Huệ Viễn đại sư, Trí Giả đại sư đều viết chú sớ, chưa nghe nói có ai nghi kinh ấy là trá ngụy. Nếu có [kẻ bảo kinh ấy là ngụy kinh] th́ cũng bị cự tuyệt, chẳng chấp nhận. So sánh giữa học vấn của kẻ hèn này và hai vị tổ Huệ Viễn và Trí Giả, giống như lửa đóm sánh cùng thái dương. Tiền hiền c̣n chẳng thốt lời bàn luận, tôi chẳng dám tùy tiện góp lời, tạo tác khẩu nghiệp. Mạt học chưa từng giảng thuật kinh này, nên cũng chẳng tra cứu, tham khảo xem kinh này thuộc thời nào trong ngũ giáo, chỉ đành tạm tin theo các bộ chú giải.

 

* Hỏi: Xin hỏi các ân trong Tứ Trọng Ân trọng đại như thế nào? Báo đáp như thế nào? Từ đầu đến cuối tôi hoàn toàn chẳng hiểu rơ! (Hoàng Mễ Điền hỏi)

 

Đáp: Tứ Ân vốn có hai thuyết:

1) Xét theo Tâm Địa Quán Kinh, [Tứ Ân] là ân cha mẹ, ân chúng sanh, ân quốc vương (chánh phủ, lănh tụ), và ân Tam Bảo. Cha mẹ có ân sanh trưởng, dưỡng dục; đó là nguyên do căn bản để có sắc thân. Chúng sanh có ân giúp đỡ lẫn nhau, v́ nếu chỉ có một thân này trơ trọi, sẽ chẳng có sức để tồn tại. Quốc vương có ân khiến cho ta an cư lạc nghiệp, nắm giữ lễ nhạc, chánh trị, h́nh phạt, nên xă hội mới có trật tự. Tam Bảo có ân thành tựu huệ mạng, phá mê, khải ngộ (khải phát giác ngộ), khiến cho ta được hưởng sự an lạc bất sanh bất diệt rốt ráo.

2) Sách Thích Thị Yếu Lăm lại nói là ân sư trưởng (ngoài ba ân cha mẹ, ân quốc vương, ân Tam Bảo ra), sư trưởng có ân truyền đạo, giải trừ mê hoặc, dạy nghề khiến cho ta có thể đạt đến địa vị.

Nếu nói phải báo đáp như thế nào, trong một đôi lời, khó thể nói trọn, chỉ có thể dùng sự luận sự. Nếu học nhân hoàn toàn hồi hướng hết thảy các công đức đă tạo về bốn ân ấy th́ coi như là báo đáp vậy.

 

* Hỏi: Kể từ lúc kẻ hậu sanh này học Phật đến nay, tâm liền có thể chẳng ĺa Phật, nhưng trong công khóa sáng tối, tâm cảnh thường khởi vọng niệm, không cách nào lắng yên các niệm được! Xin thầy hăy chỉ dạy phương pháp? (Kỷ Huệ Nhất hỏi)

 

Đáp: Phàm thuộc loài hàm thức, chẳng ai không có niệm. Cổ nhân răn dạy: “Khắc niệm tác thánh, vơng niệm tác cuồng” (chế ngự được ư niệm sẽ thành thánh, buông lung ư niệm sẽ thành cuồng). Công phu chế ngự ư niệm há có thể mong đạt được trong một thời gian ngắn? Đạt tới vô niệm trong nhà Phật cũng là một công phu tối cao, nhưng khó thể đạt tới vô niệm. V́ thế, dùng Phật niệm thay thế vọng niệm, ngơ hầu đạt tới nhất tâm bất loạn th́ sẽ thành công. Hiện tại, chớ nên gấp gáp mong cầu nhất tâm, chỉ cầu Phật niệm chẳng gián đoạn, luôn giữ cho sự giác ngộ ấy được liên tục, sẽ là đi đúng đường.

 

* Hỏi: Có phải là giáo nghĩa Phật giáo được phân biệt thành Thể và Dụng, giải thích như thế nào? Xin thầy hăy khai thị! (Kỷ Huệ Nhất hỏi)

 

Đáp: Tuy Phật học phân tích thành Thể, Tướng, Dụng, nhưng Phật pháp là giác hết thảy các pháp, chẳng phải là chỉ nói về một loại. Hết thảy các pháp đều có thể chia thành Thể, Tướng, Dụng th́ mới rơ ràng, chẳng hỗn độn. Nếu hỏi ư nghĩa của chúng, không ǵ bằng lập ra tỷ dụ. Như cái lư hương trước tượng Phật, chất đồng hay thau là Thể của nó. Lư vuông hay tṛn là Tướng của nó, đựng tro hay đựng vật khác là Dụng của nó. Một vật là như vậy, mà vạn vật cũng đều là như vậy.

 

* Hỏi: Cái được gọi là chánh báo và y báo nên giải nói như thế nào? (Kỷ Huệ Nhất hỏi)

 

Đáp: “Chánh báo” chỉ thân h́nh có được trong lục đạo, y báo chỉ hết thảy các vật phẩm và các sự việc để thân h́nh có thể nương cậy vào đó mà sống sót.

 

      * Hỏi: Kể từ khi học Phật đến nay, hậu sanh tu tŕ pháp môn Tịnh Độ, khởi tâm động niệm đều là Phật hiệu (trừ khóa tụng sáng tối ra), chưa hề nghĩ đến thánh hiệu Quán Âm, có phải là phạm lỗi chấp trước hay không? (Kỷ Huệ Nhất hỏi)

 

      Đáp: Đạo quư nơi chuyên nhất. Nếu có thể động niệm đều là Phật hiệu, sẽ là cảnh giới tốt đẹp nhất, chẳng giống sự chấp trước lầm lạc thông thường. Đạo Nho nói: “Trạch thiện cố chấp” (chọn lựa điều thiện để khăng khăng nắm giữ), nhà Phật nói: “Chấp tŕ danh hiệu”. Chấp trước kiểu ấy chính là thiện xảo.

 

      * Hỏi: Vi khuẩn thuộc về pháp tánh hay linh tánh? Nó có Phật Tánh hay không? (Kỷ Huệ Nhất hỏi)

 

      Đáp: Vi khuẩn thuộc loại thực vật, trọn chẳng phải là hữu t́nh. Cổ nhân giải thích: “[Tánh của] loài hữu t́nh gọi là Phật Tánh, nơi vật vô t́nh gọi là Pháp Tánh”. Cách giải thích ấy dễ hiểu. Hậu hiền giải thích t́nh và vô t́nh đều có Phật Tánh, nên có “ngoan thạch điểm đầu” (đá cứng gật đầu), lại nói “đồng viên Chủng Trí” (cùng viên thành Chủng Trí).

 

      * Hỏi: Tôi v́ hoảng sợ, lo nghĩ, hoài nghi, phẫn nộ v.v… dẫn đến tinh thần suy sụp, bị mất ngủ triền miên đă một năm rưỡi, nhưng tôi vẫn c̣n là một học sinh bậc Cao Trung (Trung Học Đệ Nhị Cấp), không có cách nào cầu học, tương lai gần như bị hủy hoại. V́ tâm lư của một cá nhân kể từ nhỏ đă bắt đầu [có cá tánh như vậy], nhưng tôi hy vọng cuối cùng là trong năm nay (năm Dân Quốc 58 - 1969), vào tháng Bảy Dương Lịch có thể đi học trở lại, nhưng mỗi ngày tôi vẫn phiền năo, đau khổ v́ bị mất ngủ, xin hỏi là do báo ứng như thế nào? Nên bổ cứu như thế nào để sớm có ngày b́nh phục khỏe mạnh? (và có phải là hiện thời tin Phật giáo là thích hợp nhất hay không?) (Tề Định Tiệp hỏi)

 

      Đáp: Hết thảy đau khổ cố nhiên có túc nhân (nhân trong đời quá khứ), nhưng cũng có hiện duyên (duyên trong hiện tại). Nhân duyên hợp lại th́ mới kết thành quả. Do túc nhân khó t́m ṭi, nên chẳng cần phải nói tới. Đối với hiện duyên, hăy nên tự phản tỉnh, quan sát, sẽ có thể t́m ra nguyên do của căn bệnh. Nếu chưa bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh chẳng tốt đẹp dẫn khởi những hành vi tổn hại thân thể, và bị các tà niệm kích động tâm t́nh, lẽ nào thất t́nh (bảy mối t́nh cảm, như mừng, giận…) xằng bậy dấy lên, mất ngủ triền miên? Kế sách trong hiện thời là chẳng nói đến túc nhân, hăy nên phản tỉnh xem thân tâm bị mê hoặc [v́ những lẽ nào], để càng thêm thống thiết sửa đổi, hối lỗi. Đấy chính là “gh́m cương bên dốc núi”, sẽ tránh khỏi nguy hiểm. C̣n nói đến chuyện học Phật, th́ Phật là giác, giác là trừ mê, như mộng mới tỉnh, tỉnh ngộ những nỗi sai trái trước kia để bỏ đi, nay phải hướng theo giác ngộ th́ tương lai sẽ sáng sủa.

 

      * Hỏi: Nay tôi nên xem những sách vở nào? (thuộc loại tu tâm dưỡng tánh). Hăy nên tụng kinh nào, chú nào? (Đối với những điều trên đây, xin cụ hăy chỉ dạy đơn giản, thích hợp, do có liên quan đến sự mệt mỏi nơi thân, tâm). (Tề Định Tiệp hỏi)

 

      Đáp: Phật lư sâu xa, uyên áo, bậc trí c̣n khó thấu hiểu, nhưng pháp môn vô lượng, có cạn, có sâu. Trước hết, hăy nên xem những tập sách nhỏ chép lời khai thị của cổ đức, sau đấy mới đọc kinh Đại Thừa, sẽ chẳng đến nỗi nuốt không trôi. Tôi cẩn thận chọn ra mấy tập sách nhỏ để gởi tặng, đọc xong xin lại gởi thư trao đổi.

 

      * Hỏi: Rốt cuộc là có Phật hay không? Phật là từ ngữ chúng ta dùng để tôn xưng đức Thích Ca, hay là lư tưởng tối cao trong tư tưởng của nhân loại (tức là một thứ giả định)? Hay là thật sự tồn tại? V́ thật sự có Phật tồn tại th́ tín ngưỡng mới có giá trị! (Tề Định Tiệp hỏi)

 

      Đáp: Hiện thời Tam Tạng kinh điển c̣n lưu truyền, nếu không có Phật, lấy đâu ra kinh? Nhưng Phật cũng là do con người tu thành, như Khổng Tử trọn chẳng phải vừa ra khỏi thai bèn được gọi là bậc Thánh. Đó gọi là “ông tu, ông đắc, bà tu, bà đắc, không tu chẳng đắc”, tức là ai tu cũng đều có thể thành. V́ thế, mười phương ba đời, Phật nhiều đến vô lượng, thật sự tồn tại, quyết chẳng phải là giả định.

 

      * Hỏi: Niệm A Di Đà Phật có được hay không? Hay là niệm Quán Âm Bồ Tát tốt hơn? Hiện thời, tôi đang tŕ tụng Bạch Y Đại Sĩ Thần Chú, đă tụng được một phần ba, xin hỏi yếu lănh trong tŕ tụng? (Tề Định Tiệp hỏi)

 

      Đáp: Chúng sanh đều có Phật Tánh. Tánh ấy bị dục chướng lấp, biến thành thần thức. Ngoại đạo gọi thần thức là linh hồn, chính là cái hồn mê hoặc, điên đảo, nên có quá khứ, hiện tại, vị lai, các thứ biến hóa. Nhưng sự biến hóa trong ba đời ấy được gọi là “luân hồi”, có nghĩa là chẳng ngưng nghỉ. Trong ba đời, mỗi đời đều có nỗi khổ. Sau khi quư cư sĩ tụng chú Bạch Y đủ số, có thể đổi sang niệm Quán Âm Bồ Tát, sẽ trừ được nỗi khổ trong hiện tại. Tiến hơn bước nữa là niệm A Di Đà Phật, ḥng trừ nỗi khổ trong tương lai. Lời lẽ này chính là yếu lănh hành tŕ vậy.

 

      * Hỏi: Sáng tối nếu tôi ngủ một ḿnh cảm thấy rất sợ quỷ, sợ người (giữa ban ngày cũng sợ), sợ rắn chui vào nhà (mùa Hạ) v́ thay đổi hoàn cảnh để chữa trị (nhà cửa ở lưng núi), có cách nào đối trị hay không? (Tề Định Tiệp hỏi)

 

      Đáp: Nếu hiểu Phật lư, tâm khai ư giải, vọng hết, trí sanh, sẽ có tinh thần đại vô úy.

 

      * Hỏi: Từ bé, tôi đă bị người khác lợi dụng, dối gạt. Trong kư ức của tôi, dường như từ nhỏ đă cảm giác hoảng sợ, đa sầu, dễ xúc cảm, đó là loại báo ứng ǵ? Có cách nào cứu chữa? Huống chi tôi là nam nhi, mong có thể thích ứng với cuộc sống trong xă hội! (Tề Định Tiệp hỏi)

 

      Đáp: Đối với vấn đề này, chỉ nên coi lại mấy câu hỏi trên đây sẽ thấy rơ. Lại càng thêm tin tưởng sâu xa, nương theo lời đáp cho câu hỏi thứ tư để làm th́ hết thảy mọi việc hễ xảy đến sẽ giải quyết được ngay.

 

      * Hỏi: Nếu bệnh của tôi là do bị người khác hăm hại (bùa chú), th́ nên trị như thế nào? (Tề Định Tiệp hỏi)

     

      Đáp: Loại tư tưởng ấy thuần là mê tín. Dẫu có đi nữa, tà chẳng phạm chánh! Trong kinh Pháp Hoa, Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm có nói: “Chú trớ chư độc dược, sở dục hại thân giả, niệm bỉ Quán Âm lực, hoàn trước ư bổn nhân” (dùng bùa chú, nguyền rủa, các thứ độc dược toan hại thân giả, do sức niệm Quán Âm của [người bị hại], sẽ quay ngược lại người làm hại). Chỉ sợ cư sĩ tâm niệm chẳng thành kính, hễ chân thành, há có lo chi!

 

      * Hỏi: Phật đă là đại trí, đại bi, đại năng, v́ sao phải tin lời Phật dạy th́ mới có thể được giải thoát, được Phật cứu giúp? Phật đối với chúng sanh b́nh đẳng, v́ sao kẻ chẳng tin bèn chẳng thể được Phật cứu giúp? Sao chẳng khiến cho kẻ chẳng tin bèn tin tưởng vậy? (Tề Định Tiệp hỏi)

 

      Đáp: Mặt trời chiếu khắp, nhưng tay tự bịt mắt nên chẳng thấy. Sấm sét có tiếng, nhưng tay tự bịt tai, sẽ chẳng nghe. Con cái trốn tránh, ḷng cha yêu thương thi thố vào đâu? Chẳng phải là ánh sáng không chiếu, chẳng phải là sấm sét không có tiếng, chẳng phải là cha không rủ ḷng Từ, mà là đối phương chẳng tiếp nhận! C̣n như nói kẻ chẳng tin bèn làm cho tin tưởng, há chẳng nghe câu “đạo cao một thước, ma cao một trượng” đấy ư? Nghiệp lực của chúng sanh mạnh mẽ, Phật lực tuy gia bị, nghiệp lực chẳng tiêu ngay, nên chẳng có phước tin Phật. Như mặt trời có thể làm tan băng, nhưng nếu ba đông rét buốt, tuy mặt trời mọc giữa trời, băng chẳng tan được mấy! Người học Phật cần phải hiểu rơ lư, đừng một mực mê tín!

 

      * Hỏi: Ví như v́ nhất tâm niệm Quán Âm Bồ Tát, bèn có thể được cảm ứng che chở, hóa ra là chớ nên làm nhiều điều lành ư? Huống nữa, bốn chữ Quán Âm Bồ Tát chỉ bất quá là văn tự trong thế gian chúng ta mà thôi! (Tề Định Tiệp hỏi)

 

      Đáp: Bệnh của quư cư sĩ do nơi kiến giải này! Đă niệm chú Bạch Y, lại nói Bồ Tát bất quá là văn tự thế gian, tâm hạnh mâu thuẫn, há có kết quả tốt đẹp ư? Chắc là chưa nghe Phật pháp nói đến chuyện Chánh Trợ Song Tu. Chánh là khắc chế ư niệm, khiến cho tâm chánh. Trợ là dùng điều thiện để giúp đỡ. Phải biết: Chỉ làm lành, chưa chắc đă biết khắc chế ư niệm. Học theo Phật, Bồ Tát, cần phải hành thiện hạnh kèm theo. Điều này c̣n gọi là Phước Huệ Song Tu. Nếu chỉ tu Huệ, tuy sau này được giải thoát, nhưng phước báo mỏng tanh. Nếu chỉ tu phước, [sẽ thành] trọc phú, ngu si, vẫn ở trong luân hồi. Văn tự cố nhiên nhằm biểu thị tác dụng của tự tánh, nhưng nếu gặp lúc nguy hiểm, gọi cha, cha sẽ tới giúp, gọi mẹ, mẹ bèn đến giúp, há chẳng phải là sức mạnh của văn tự đó sao?

 

      * Hỏi: Nay tôi có cần phải dùng thuốc hay không? (Tề Định Tiệp hỏi)

     

      Đáp: Sự có chánh, trợ, Lư chia ra nhân và duyên. Học Phật là công phu chánh yếu, là thiện nhân. Thuốc men là công phu phụ trợ, là duyên tăng thêm. Hai thứ ấy chẳng trở ngại lẫn nhau, nhưng khi lành bệnh, chớ nên dùng thuốc nữa, vẫn dùng thuốc, sẽ trở thành bệnh. Sau khi lành bệnh, vẫn cần phải học Phật, ắt phải thường xuyên giác chiếu, chẳng giác sẽ mê!

 

      * Hỏi: Rốt cuộc, Phật giáo tồn tại trong vũ trụ bao nhiêu năm? Ngài Tam Tạng sang Ấn Độ thỉnh kinh, cách thời đức Phật trụ thế bao nhiêu năm? Lại cách hiện thời bao nhiêu năm? (cư sĩ Tố Hoa hỏi)

 

      Đáp: Xét theo chiều dọc, vũ trụ chẳng có khởi đầu, chẳng có kết thúc. Theo chiều ngang là vô lượng, vô biên. Có hằng sa vị Phật, khó thể nói là bao nhiêu vị, rốt cuộc ông hỏi là Phật giáo của vị nào? Nếu nói theo đức Thích Ca Thế Tôn, th́ thế gian lưu truyền hai thuyết “một ngàn chín trăm năm” và một “một ngàn năm trăm năm” khác nhau. Lại hỏi đến Tam Tạng th́ đại khái là nói đến pháp sư Huyền Trang thời Đường. Nếu tôi suy tính không sai lầm, th́ trên là pháp sư cách thời đức Thế Tôn khoảng chừng một ngàn ba trăm năm, dưới là cách thời hiện tại khoảng một ngàn bốn trăm hoặc một ngàn năm trăm năm. Đây là ước tính, chưa tính toán tường tận. Kẻ hèn này rất bận, không có thời gian để tính toán tỉ mỉ con số năm tháng đích xác ḥng trả lời câu hỏi này.

 

* Hỏi: Như thế nào th́ mới có thể xây cất Niệm Phật Đường? Cần những vật liệu ǵ? (cư sĩ Tố Hoa hỏi)

 

      Đáp: Tự ḿnh niệm Phật tại nhà rất tốt, xây cất Niệm Phật Đường hết sức phiền toái, chẳng phải là một người có thể lo liệu được. Chẳng phải là bằng đôi ba câu bèn có thể nói trọn.

 

* Hỏi: Phải đọc những sách vở, kinh điển nào th́ mới thể hoằng pháp thuận lợi? (cư sĩ Tố Hoa hỏi)

     

      Đáp: Tinh thông một quyển th́ cũng có thể hoằng pháp. Đọc vạn quyển mà chẳng thông suốt chút nào, cũng vô dụng! Chớ nên hiểu lầm chữ “tinh thông” vừa nói. Thật sự tinh thông một kinh, sẽ hiểu các kinh. Đó đều là những lời nghe hơi gió đuổi bắt bóng, kính khuyên ông trước hết hăy nên lập chí tự tu. Khi cơ duyên đưa tới, lại nghĩ đến chuyện này th́ cũng chẳng muộn!

     

      * Hỏi: Cụ nói “do Tam Tạng kinh điển hiện c̣n lưu truyền, nếu không có Phật, lấy đâu ra kinh?” Ngu sanh[13] nghi ngờ câu này! Như Thánh Kinh của Cơ Đốc Giáo nói vũ trụ do Thượng Đế làm chúa tể, nhưng điều đó là sai lầm. Thánh Kinh do con người (Gia Tô tức Jesus) nói ra (ngu sanh chưa từng đọc Thánh Kinh, chỉ suy lường đó thôi, hóa ra [Thánh Kinh] là do con người nói ra). Ông ta (tức Gia Tô) nói “có Thượng Đế”, điều đó chẳng chánh xác. Thật giống như kinh Phật nói “có Phật” vậy, nhưng Phật Giáo đề cao Phật vĩ đại hơn Cơ Đốc Giáo đó thôi, nhưng chưa chắc đă có Phật! Do vậy, có thể là kinh Phật do một nhân vật vĩ đại hoặc một tư tưởng gia nói ra. Mục đích chẳng ngoài cảm hóa nhân loại, đề cao quan niệm đạo đức của con người, khiến cho xă hội an định. Nhưng “có Phật hay không”, tợ hồ giống như “có Thượng Đế hay không” khiến cho tôi hoài nghi. Do vậy, tuy có Tam Tạng kinh điển do một vị thánh nhân nói ra, nhưng vị thánh nhân ấy trọn chưa thành Phật (tức là người đă chết, chẳng có đời sau, mà cũng chẳng có đời trước), chỉ bất quá là tinh thần vĩ đại mà thôi. Chữ “tinh thần” ấy mang ư nghĩa tinh thần trong câu “tinh thần sung măn” như thường nói (tức là con người chỉ có một đời! Do vậy, sợ rằng kinh Phật là lư tưởng do người đời sau tạo ra. Khi có người nêu câu hỏi này, bèn gắng hết sức nói Phật giáo tốt đẹp! Không chỉ trong hiện tại, mà trong quá khứ cũng có người nói như thế) (Tề Định Tiệp hỏi)

 

      Đáp: Phật là người tu hành nhiều kiếp, trong khi sống cuộc đời cuối cùng, Ngài đă chứng đắc quả vị. Trọn chẳng phải là lúc c̣n sống chưa tu thành Phật, chết đi mới thành Phật. Nếu nói là “chết rồi mới thành Phật”, sẽ là hiểu lầm to lớn quá đỗi. Giáo chủ của Phật giáo hiện thời là Thích Ca Mâu Ni. Ngài đă sống tại Ấn Độ vào hơn hai ngàn trước, kinh được Ngài nói ra trong thuở ấy, đại chúng đích thân nghe, chứng minh và ghi chép. Phật và kinh điển được sách lịch sử trong ngoài nước ghi chép tường tận, rơ ràng, há phải là bịa đặt! C̣n “tinh thần” như ông đă nói, chính là tánh thể khởi tác dụng. Tánh chính là Pháp Thân của Phật, chân thường, bất diệt. Ông lại nói “tức là con người chỉ có một đời”, đấy là căn bệnh thiên chấp trong thời đại ngày nay! Tạm thời chẳng bàn đến tôn giáo của ngoại quốc, kinh sử của Trung Quốc đều chẳng chủ trương như vậy.

 

      * Hỏi: Ngu sanh gặp khó khăn về mặt tín ngưỡng, do tŕnh độ tín ngưỡng hiện thời, đối với những ǵ chẳng thấy bèn nói là không có th́ cũng không được, muốn t́m ṭi xem rốt cuộc là có Phật hay không? Khoa học phát triển, là kết tinh của sức người cùng nhau nỗ lực sáng tạo. Do vậy, khoa học (hiểu theo nghĩa hẹp) như y học v.v… cũng chẳng thể hoàn toàn đáng tin cậy, như tai nạn xe cộ là một thí dụ đơn giản. Do vậy, xin cụ hăy chứng minh cặn kẽ có Phật hay không? (Tề Định Tiệp hỏi)

 

      Đáp: Chữ Phật có nghĩa là Chánh Giác nơi tánh. Tánh bị mê bèn là phàm phu, sanh tử luân hồi chẳng ngừng. Tánh giác th́ là chư Phật, tánh ấy thường c̣n bất diệt, có thể đến, có thể đi, tùy ư tự tại, tùy duyên bèn hiện, vô duyên bèn ẩn. “Hiện” chính là Báo Thân và Hóa Thân; Pháp Thân là Không, chẳng có tướng. Phật tồn tại khắp nơi, mọi lúc đều hiện, như ánh trăng trong nước: Nước sạch bèn phân minh có thể thấy, nước đục bèn mờ mịt, xám xịt chẳng thấy!

 

      * Hỏi: Ngu sanh thấy có những thí dụ, như tuy chẳng thấy ḍng điện, chẳng thể nói là không có điện (xem trong sách Tri Kỷ Tri Bỉ (biết người, biết ta)). Trong một sách khác, có nói cây cối trong tiết Đông chẳng thể đơm hoa, chẳng thể nói là khi tiết Xuân, nó cũng chẳng thể trổ hoa (sách Học Phật Thông Luận), nhưng hai thí dụ ấy mỗi cá nhân đều biết, sức người có thể đạt đến được. Do vậy, xin hăy khai thị, ngu sanh mong dùng sự linh cảm do người khác đă đạt được để khơi gợi, phát khởi tín ngưỡng, nhưng đôi bên ắt phải hoàn toàn tín nhiệm. Huống chi tâm bệnh hoài nghi của ngu sanh mười phần to lớn, nên phương pháp ấy gặp mười phần khó khăn. (Tề Định Tiệp hỏi)

 

      Đáp: Tự ḿnh vọng tưởng, chẳng bằng xem sách. Xem sách cần phải xét đoán cặn kẽ; sau khi đă xét đoán cặn kẽ, lại càng phải thêm suy nghĩ. Các công phu ấy, nếu khuyết một thứ, sẽ học chẳng thành. Nếu chịu trống ḷng, tin Phật là bậc thánh, kinh chẳng nói dối, thẳng thừng tiếp nhận, chẳng nghi, th́ cũng có thể thành tựu. Nếu có nghe, mà chẳng chánh (suy nghĩ chánh đáng, vận dụng những điều đă nghe để chánh tâm thành ư), hoặc tuy có chánh mà chẳng suy nghĩ, hoặc suy nghĩ mà chẳng tu, hễ có một trong những trường hợp ấy, sẽ như nước giội lên đá, chẳng thấm một giọt nào. Đối với những ǵ người khác đă đạt được, ai có thể vượt trỗi đức Thế Tôn? Nay đối với Ngài mà ông c̣n chẳng tín nhiệm, há c̣n có thể nói tới người nào khác nữa đây!

 

      * Hỏi: Pháp hỷ và thiền duyệt là giống nhau hay khác nhau? (Lương Trọng Lập hỏi)

 

      Đáp: Chữ “pháp” chỉ hết thảy các giáo pháp, chữ Thiền chỉ công phu trong Tông môn.

 

      * Hỏi: Người tin Phật kiên định, đă đạt đến cảnh giới “lạnh, ấm tự biết”, đă tin tưởng các lư luận (chỉ các sách hoằng dương Phật pháp), đă ĺa tự ngă để lănh hội, mà vẫn c̣n có khoảng cách, huống chi ngu sanh cho tới nay tín tâm vẫn chưa dấy lên. Do vậy, lại nêu ra câu hỏi: Rốt cuộc là có Phật hay không? Xin cụ từ bi khai thị, [bởi lẽ], mỗi người trước khi tin tưởng, ngưỡng mộ, đều có nghi vấn. Những điều vừa viết trên đây, bất quá là để xin cụ xem xét mà “đối ứng chứng bệnh cho thuốc” đó thôi. (Tề Định Tiệp hỏi)

 

      Đáp: Pháp Thân Phật vô thỉ vô chung, trọn khắp hư không pháp giới, Báo Thân Phật và Hóa Thân Phật đều do Pháp Thân hóa ra. Pháp Thân chẳng có thời gian và không gian, Báo Thân và Hóa Thân th́ tùy thời, tùy chỗ đều hiện. Để thấy được các thân ấy, tức là [để thấy những chuyện] thuộc về sự tướng, cần phải cậy vào nhân duyên. Nếu mong hiểu biết th́ phải do lư giải. Hăy nên nghe nhiều, đọc nhiều. Nếu không có nhân duyên mà thấy sự, chẳng do nghe đọc mà hiểu lư, sẽ là “t́m cá trên cây, nấu cát mong thành cơm”. Tôi thưa thật với ông, Phật sự tôi đă tin, Phật lư tôi đă có phần hiểu biết, nhưng tôi nói ra, người khác chẳng hiểu, đó chính “lạnh nóng tự biết”. Tôi chẳng có năng lực khiến cho người khác tin tưởng. Người khác khi phước đă chín muồi, bèn tự nhiên dấy lên ḷng tin, [khi đó], người ấy tu huệ, sẽ tự có thể đoạn nghi.

 

      * Hỏi: Nghe nói người nghiệp chướng sâu nặng sẽ chẳng có phước tin Phật, vậy th́ chỉ cần nghiệp tiêu sẽ có thể tin Phật. Làm thế nào để nghiệp chướng mau tiêu? Có phương pháp nào không, xin cụ hăy trả lời. Cuối cùng, xin cụ giới thiệu những sách vở dẫn dắt người không có tín ngưỡng tôn giáo nhập Phật môn (tin Phật) để tôi sẽ thỉnh (thư cục nào có bán). (Tề Định Tiệp hỏi)

 

      Đáp: Lời này rất đúng. Cổ nhân nói: “Phước chí tâm linh”, “linh” là có thể cảm thông. Hễ thông bèn có thể nhập, hễ nhập bèn có sở đắc. Cầu tiêu nghiệp chướng, không ǵ bằng dấy ḷng tin. Chẳng thể tin Lư, chỉ cầu tin Sự. Chẳng thể tin Sự, chỉ cầu tin vào Thánh Ngôn Lượng của Phật. Kinh nói: “Tín là nguồn đạo, mẹ công đức, có thể sanh ra hết thảy các thiện căn”. Đối với những tập sách nhỏ dẫn khởi ḷng tin th́ như bộ Chánh Tín Lục của Trương Thương Anh đời Tống, ông có thể t́m kiếm. Tại hạ không biết bán ở chỗ nào!

 

      * Hỏi: Vi Đà và Quan Vũ cùng là thần hộ pháp trong Phật môn. V́ sao các khóa tụng thông dụng chỉ tán Vi Đà, chẳng tán Quan Vũ? (Trại Mạnh Thu hỏi)

 

      Đáp: Điều này thuộc về chuyện niên đại trước sau, và liên quan đến tập quán. Hơn nữa, Vi Đà xuất phát từ kinh tiếng Phạn, từ đời Tùy - Đường trở đi mới có thuyết nói Quan Đế là hộ pháp[14]. Nếu hiềm là thiên lệch, hăy nên biết hộ pháp há chỉ có Vi Đà, mà c̣n có thiên long bát bộ, cả một số lượng lớn, làm sao có thể tán từng vị cho được? Muốn cho chu toàn th́ c̣n có bài tán Già Lam Thánh Chúng, “chúng” là bất cứ vị hộ pháp nào cũng đều được bao gồm trong đó.

 

      * Hỏi: Có vị tại gia Ưu-bà-tắc chủ tŕ lễ phóng sanh, và cũng nói Tam Quy, như vậy th́ có đúng pháp hay không? (Trại Mạnh Thu hỏi)

 

      Đáp: Đối với chuyện này, người làm như vậy tại các nơi rất nhiều. Theo Long Thư Tịnh Độ Văn, Vương cư sĩ mỗi lần đi qua miếu thờ thần, liền niệm Tam Quy Y. Chuẩn theo đó, theo thói quen thông tục, tợ hồ có thể hành phương tiện ấy. Nếu cứ phải chánh thức thỉnh tỳ-kheo phóng sanh, sợ có lúc chưa chắc gặp duyên, sẽ trở thành chấp Lư phế Sự.

 

      * Hỏi: Trong phần thứ tám, tức phần Y Pháp Xuất Sanh của kinh Kim Cang, có nói “bốn câu kệ” là nói đến điều ǵ? (Khuông Chấn Cơ hỏi)

 

      Đáp: Đối với vấn đề này, tiền nhân có rất nhiều cách giải thích. Có người nghĩ Kim Cang, Bát Nhă, Ba La Mật và Kinh là [bốn câu kệ]. Có người cho rằng “vô ngă tướng”, “nhân tướng”, “chúng sanh tướng” và “thọ giả tướng” chính là nó. Có người nghĩ đó là bài kệ “hết thảy pháp hữu vi…. hăy nên quán như thế”. Có người nghĩ đó chính là “chẳng trụ vào Sắc để sanh tâm… để sanh tâm ấy”. Lại c̣n có người chủ trương những thuyết khác, chẳng thể nêu đầy đủ. Các thuyết hoặc là do quán triệt trước thuật của mỗi người mà được chọn, hoặc do khế cơ với cách nói của một người mà được chọn, tuy đều hay khéo, chớ nên chấp trước, câu nệ. Lại c̣n có người chủ trương, “bốn câu kệ” là chọn bất cứ bốn câu nào [trong kinh Kim Cang]. Thuyết này được đa số mọi người đồng ư, có lẽ khá viên dung. Hăy thuận theo nghĩa lư trong ngữ cảnh của lời văn mà tuân theo [một thuyết nào đó].

 

      * Hỏi: Điều cơ bản trong việc học Phật là phải cầu chuyên nhất. Cần phải là “chẳng trụ vào đâu để sanh tâm”, nếu có cái tâm “văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới” th́ có thể tu thành Phật đạo hay không? (Khuông Chấn Cơ hỏi)

 

      Đáp: Trở về nguồn, chẳng có hai đường, nhưng phương tiện có nhiều môn. Thuyết pháp chẳng khế cơ, sẽ giống như lời lẽ thừa thăi. Chúng sanh căn khí khác nhau, đủ mọi lẽ phân biệt. Nếu chẳng phương tiện khế cơ, Phật pháp đều trở thành uổng phí. Tám vạn pháp môn nói Đông, nói Tây, nếu có mâu thuẫn th́ sẽ thành loại Phật pháp ǵ? Vô trụ sanh tâm chính là quá tŕnh Tu Đức, chẳng phải là ngay lập tức thành Phật. Cần phải mất ba A-tăng-kỳ kiếp th́ mới đoạn sạch Hoặc viên măn. Tâm mong văng sanh, đó chỉ là văng sanh. Sau khi văng sanh, có thể trở thành bậc Nhất Sanh Bổ Xứ, Bổ Xứ chính là Phật trong tương lai. Cứu Cánh Giác chẳng có sai khác, nhưng Tùy Phần Giác đều có phương tiện. Nếu liễu đạt giáo lư, tu một pháp là tu chung các pháp. Chẳng hiểu rơ giáo lư, đôi bên thường trở thành chướng ngại.

 

      * Hỏi: Chỗ quy túc cuối cùng trong học Phật là chứng Niết Bàn. Muốn chứng Niết Bàn, ắt phải buông xuống hết thảy thiện niệm và ác niệm, chẳng lo nghĩ ǵ, chẳng suy nghĩ ǵ. Nếu phát ra cái nguyện “nương theo bổn nguyện để trở lại độ đời”, sẽ bị nguyện ấy lôi kéo, làm sao c̣n có thể chứng Niết Bàn cho được? (Khuông Chấn Cơ hỏi)

 

      Đáp: Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, đó chính là phương tiện Thiền Na trong Đàn Kinh. Nương theo nguyện trở lại độ đời, chính là thánh ngôn trong kinh điển Tịnh Độ. Tiểu Thừa tự giải thoát, đắm chấp Niết Bàn chẳng rốt ráo, chỉ đắc La Hán, chẳng thể thành Phật. Chẳng trụ trong Niết Bàn, nhiều kiếp độ chúng sanh, hết sạch Trần Sa Hoặc, th́ mới là Niết Bàn rốt ráo. Hoặc chưa hết, bèn có cái lôi kéo; chứ Hoặc đă hết sạch, bèn được tự tại.

 

      * Hỏi: Đức Phật phó chúc Chánh Pháp Nhăn Tạng cho tôn giả Ma Ha Ca Diếp. Đó là một loại “chẳng lập văn tự, truyền riêng ngoài giáo”. Đạt Ma Tổ Sư sang phương Đông đến Trung Hoa, truyền đến Lục Tổ Huệ Năng, lập ra một bộ Lục Tổ Đàn Kinh, có phải là giáo môn ấy đến lúc đó đă bị biến chất, đánh mất chân nghĩa truyền pháp của đức Phật? (Khuông Chấn Cơ hỏi)

 

      Đáp: Chất và pháp hăy nên tách ra để nói. Dường như “chất” dùng để chỉ sự quay về nguồn, “pháp” có lẽ dùng để chỉ phương tiện. Chất chẳng thể biến, pháp có thể tùy duyên. Phương pháp của Phật, ai có thể hiểu được? Tiền nhân nói: “Các vị tổ đời sau, chẳng biết Mă Minh, Long Thọ. Long Thọ chẳng biết A Nan, A Nan chẳng biết Ca Diếp, Ca Diếp chẳng biết Phật”. Đă chẳng biết, làm sao có thể nắm được phương pháp? Điều ấy chẳng sao cả! Chỉ là khéo hay vụng sai khác đó thôi! Nếu chẳng cầu trở về nguồn, chẳng biết trở về nguồn, chẳng học trở về nguồn, thậm chí kiêng nói chuyện trở về nguồn th́ Phật pháp bị diệt mất, c̣n nói ǵ tới biến chất nữa!

 

      * Hỏi: Bộ Phật Học Vấn Đáp Loại Biên do quư xă bổ sung và tái bản vào tháng Tư năm Dân Quốc 51 (1962) đến nay đă hơn bảy năm, có thể lại đem những vấn đề đă được giải đáp trong bảy năm xuất bản thành một cuốn bổ sung để học nhân học Phật có cái tham khảo hay không? (Khuông Chấn Cơ hỏi)

 

      Đáp: Hiện thời đang trù tính chuyện này.

 

      * Hỏi: Người học Phật cảm thấy vấn đề khó khăn nhất là trong kinh văn, chú ngữ có rất nhiều chữ chẳng biết cách đọc, như Nam Mô nên đọc là Na Ma ra, những chữ khác có t́nh h́nh tương tự rất nhiều. Pháp sư Thánh Ấn chùa Từ Minh từng chế tác mấy đĩa thâu âm xướng tụng Phật giáo để người học Phật có thể học tập tŕ tụng, công đức rất lớn. Tôi đề nghị quư xă, tự viện hoặc liên xă hăy bàn bạc, lo liệu thâu âm mấy loại kinh văn chú ngữ thường được tŕ tụng theo giọng Quốc Ngữ[15] để giúp người học noi theo âm thanh mà tập luyện tụng niệm, ḥng tránh khỏi chuyện đọc tụng luông tuồng! (Khuông Chấn Cơ hỏi)

 

      Đáp: [Từ ngữ được sử dụng trong] kinh văn phụ thuộc vào ngữ hệ các nơi xưa nay khác nhau, khó thể mong [từ ngữ] đồng nhất được. Quốc Ngữ cũng có vấn đề lớn, chỉ có cách là người mỗi nơi thuận theo phương âm của chính ḿnh để niệm, miễn sao âm đọc được công nhận theo tiếng của vùng ấy là được rồi. C̣n chú ngữ thuộc về Mật Tông, ắt phải được khẩu truyền âm đọc theo tiếng Phạn. Nếu chiếu theo cách đọc giả thiết [được ghi chú] trong bản in th́ mười phần sai âm hết bảy tám, nhưng do lưu truyền đă lâu, đem lầm đáp lỗi, mong hiểu cách đọc cho đúng vô cùng khó. Như ông nói chữ Nam Mô đọc như Na Ma chính là cách đọc theo đời Đường, nhưng chữ Na Ma theo cách phát âm hiện thời cũng chẳng giống như thời Đường, nay đọc như hai chữ Năi Một[16] th́ gần với âm thời Đường hơn.

 

      * Hỏi: Trong kinh A Di Đà, chữ Nậu trong danh hiệu A Nậu Lâu Đà, theo tự điển Khang Hy ghi chép th́ có hai cách đọc tức là Nô Câu Thiết và Nô Hậu Thiết[17], nên đọc theo âm nào là đúng? (Khuông Chấn Cơ hỏi)

 

      Đáp: Đối với âm đọc của chữ này, phần lớn người Trung Quốc đọc theo kiểu Nô Hậu. Tuy phần nhiều đọc như vậy, nhưng cũng là đọc thuận theo giọng địa phương, chưa chắc là đă chuẩn xác. Chữ này vốn là phiên âm tiếng Phạn, được dịch âm tại đất Tần (Thiểm Tây) ở phương Bắc, nhằm thời Diêu Tần cát cứ[18] dưới triều Đông Tấn. [Từ điển Khang Hy ghi] chữ Nậu được đọc là Nô Hầu, hay Nô Câu v.v… là các cách phát âm thời ấy, vùng ấy, rốt cuộc như thế nào [mới là chánh xác], kẻ hèn này đối với chuyện ngữ hệ chưa từng nghiên cứu, chẳng dám đoán xằng, cũng chỉ đành thuận theo đa số để giữ ḷng thành kính mà niệm vậy.

 

      * Hỏi: “Do tâm sanh nên các pháp sanh. Do pháp sanh, nên các thứ tâm sanh”. Đối với hai câu kinh văn trên đây, có phải là câu trước nói do Kiến Phần tiếp xúc Tướng Phần, câu sau có phải là lục căn đối trước sáu trần mà phát sanh ra thức hay không? (Tiên Thuần Hiền hỏi)

 

      Đáp: Có thể nói như vậy.

 

      * Hỏi: Trong tam giới có mười hai loại dị sanh[19], nhưng xét ra, kinh Kim Cang có nói “nhược noăn sanh, nhược thai sanh, năi chí phi hữu tưởng, phi vô tưởng” (hoặc là sanh bằng trứng, hoặc là sanh bằng thai, cho đến chẳng phải là có tưởng, chẳng phải là vô tưởng) th́ chỉ là mười loại chúng sanh, hai loại kia là ǵ? Lại nữa, “nhược hữu sắc” là có vật chất,“nhược vô tưởng” là tinh thần hóa thành đất, gỗ, vàng, đá, há chẳng phải là giống như “hữu sắc”? Đối với các loại c̣n lại, tôi cũng không hiểu rơ cho lắm! (Tiên Thuần Hiền hỏi)

 

      Đáp: Mười hai loại sanh được nói trong kinh Lăng Nghiêm. Tên của chúng là noăn sanh, thấp sanh, thai sanh, hóa sanh, hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng, phi hữu sắc, phi vô sắc, phi hữu tưởng, phi vô tưởng. C̣n như câu “như vô tưởng chính là tinh thần hóa thành đất, gỗ, vàng, đá, há chẳng phải là tương tự như hữu sắc” chính là hiểu lầm. V́ chữ “vô tưởng” chỉ [những thứ không có] tinh thần, chẳng phải là dùng “vô sắc” để chỉ tinh thần. [Ghi nhớ như vậy] sẽ dễ hiểu rơ, chẳng đến nỗi hỗn loạn. Tinh thần hóa thành đất, gỗ, vàng, đá, cũng chẳng phải là tương tự. Khi nó là tinh thần, bèn thuộc loại vô sắc; khi là đất, gỗ, vàng, đá, bèn thuộc loại hữu sắc. Chỉ dùng t́nh trạng hiện tiền để đặt tên cho cái đang hiện hữu, chẳng dùng loại trước hay sau để đặt tên cho [t́nh trạng] hiện tiền. Danh do tướng mà có; tướng đă biến đổi th́ danh cũng đổi theo.

 

      * Hỏi: Tôi có một người bạn chẳng tin Phật, chẳng tin bất cứ tôn giáo nào, phục vụ trong giới quân nhân và chánh trường, ông ta nói: “Tôi có một người bạn khác tin Phật, sớm tối đều ở trong nhà thắp hương, lạy lục, cảm thấy hết sức vô nghĩa!” Đệ tử giải thích: “Phật giáo chia thành ba phần là Giáo, Lư, Hành. Ông trông thấy những chuyện như thắp hương, quỳ lạy thuộc về Giáo, cũng là một loại nghi thức. Khi ông làm lễ kỷ niệm, cũng hướng về di tượng của Tổng Lư (Thủ Tướng) khom ḿnh lễ ba lượt v.v… có cùng một ư nghĩa!” Đệ tử nói theo cách đó có đúng hay không? Có phạm giới vọng ngữ hay không? (Tiên Thuần Hiền hỏi)

     

      Đáp: Lời ông nói chẳng giả, vọng ngữ ở chỗ nào? Nhưng lời ông nói với người ấy cũng chẳng hợp nghĩa lư cho lắm, v́ đă chẳng thể phá được sự mê hoặc của người ấy, lại chẳng thể phá vỡ sự khinh mạn của kẻ đó.

 

      * Hỏi: Có hai vị nữ cư sĩ nói: “Vị pháp sư X… nói ‘con người chết đi bèn đọa địa ngục, linh hồn thứ nhất bèn chết trong vạc dầu, linh hồn thứ hai lại lên núi đao chịu khổ, có thể có mười vạn tám ngàn linh hồn theo nghiệp thọ khổ như thế’. Xin hỏi t́nh h́nh khi đọa địa ngục rốt ráo là như thế nào?” Đệ tử đáp: “Chủng loại địa ngục rất nhiều, có thể xem chi tiết trong kinh Địa Tạng. Con người có tám thức, ngoại đạo gọi thức là ‘linh hồn’. Khi mạng chung, năm thức trước, thức thứ sáu, thức thứ bảy nối tiếp nhau mất tác dụng, chỉ c̣n sót lại thức thứ tám đi theo nghiệp thọ khổ báo. Lần đầu tiên là vào vạc dầu bèn mê man, chết đi, ngưng một lát, tự ḿnh sống lại, lại lên núi đao, thọ khổ báo từng lượt như thế xong mới ngưng”. Đệ tử đáp như vậy có đúng pháp hay không? Có phạm giới hay không? (Tiên Thuần Hiền hỏi)

 

      Đáp: Trong địa ngục Ngũ Vô Gián, mạng chẳng gián đoạn, thường liên tục, thọ khổ không gián đoạn, chịu đủ các khí cụ hành tội. Lời đáp có căn cứ, nên chẳng thuộc vọng ngữ, sao lại nói là phạm giới? Hết thảy sự lư, biết th́ nói biết, không biết th́ chớ nên miễn cưỡng ra vẻ hiểu biết [th́ sẽ chẳng phạm giới vọng ngữ].

 

      * Hỏi: Như Ư Luân Bảo Vương Đà La Ni, Tiêu Tai Cát Tường Thần Chú, Công Đức Bảo Sơn Thần Chú, Phật Mẫu Chuẩn Đề Thần Chú, Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Đà La Ni, Thất Phật Diệt Tội Chân Ngôn, Thiện Thiên Nữ Chú v.v… xuất phát từ kinh điển nào? Lại c̣n Phá Địa Ngục Chân Ngôn, Phổ Triệu Thỉnh Chân Ngôn, Giải Oán Kết Chân Ngôn, Địa Tạng Bồ Tát Diệt Định Nghiệp Chân Ngôn, Quán Thế Âm Bồ Tát Diệt Chướng Nghiệp Chân Ngôn, Khai Yết Hầu Chân Ngôn, Tam Muội Da Giới Chân Ngôn, Cam Lộ Thủy Chân Ngôn, Nhất Tự Thủy Luân Chú, Nhũ Hải Chân Ngôn v.v… xuất phát từ kinh điển nào? (Trịnh Thu Ba hỏi)

 

      Đáp: Các danh hiệu thần chú như ông vừa kể có chép tường tận trong Triêu Mộ Khóa Tụng. Các chú ấy lấy từ phần Bí Mật Bộ trong Đại Tạng Kinh. Nếu chưa từng học Phật, lại chưa được thầy dạy, sợ là xem và đọc đều chẳng thể thông thạo. Nay tôi tặng một tập sách mỏng, xin hăy xem, tụng cẩn thận, sẽ hiểu đại lược đường nẻo, th́ mới có chỗ tiến nhập đôi chút.

 

      * Hỏi: Thanh Thủy Tổ Sư Cổ Phật là tổ sư đời nào? Thành Phật vào triều đại nào? Xuất phát từ kinh điển nào? Xin thầy khai thị? (Trịnh Thu Ba hỏi)

 

      Đáp: Chẳng biết Thanh Thủy Tổ Sư là người như thế nào! Đă chẳng phải là Phật giáo, sao có thể gọi là Phật cho được? Ông có tâm học Phật, cần phải t́m về đường chánh!

 

      * Hỏi: Thánh hiền thời cổ nói mặt trăng là Quảng Hàn Cung, tức chỗ ở của Thường Nga tiên tử[20], dành cho thần tiên cư ngụ, chỉ có người tu luyện thành phi tiên mới có thể đến đó, chứ phàm phu nhục thân chẳng thể trông thấy! (Diệp Ngân Nữ hỏi)

     

Đáp: Nói Quảng Hàn Cung và Thường Nga v.v… chính là lời lẽ giả thiết của bọn văn nhân Trung Quốc, là [cách nói theo kiểu] ngụ ngôn, lư tưởng, chẳng chép trong kinh sử, chỉ nhằm để điểm xuyết cho thơ phú bóng bảy, là lời nói chơi lúc trà dư tửu hậu mà thôi. Các sách vở mẫu mực, khuôn phép, nghiêm túc đều chẳng nói đến chuyện ấy. Bậc thánh hiền thời cổ trọn chẳng nói đến chuyện ấy, chớ có hiểu lầm!

 

      * Hỏi: Nay phàm phu nhục thân Hàng Tư Lăng[21] chánh thức lên nguyệt cầu, từ nguyệt cầu quay về, tôi rất hoài nghi, chẳng hiểu rơ! (Diệp Ngân Nữ hỏi)

 

      Đáp: Chủng loại trong thế giới nhiều như trần sát[22], chẳng phải chỉ có một. Có thứ thuộc loại vật chất th́ gọi là Khí Thế Gian, có thứ thuộc loại Uẩn Xứ th́ gọi là Hữu T́nh Thế Gian. Có thứ thuộc về tâm tu th́ gọi là Chánh Giác Thế Gian. Có thứ có h́nh dáng hiển nhiên, có thứ vô h́nh, có loài hữu h́nh, nhưng mắt thịt b́nh phàm chẳng thể thấy được. Nguyệt cầu thuộc về hữu h́nh khí thế gian, mắt thịt của ai cũng trông thấy được; đă thấy th́ có thể đến đấy, đó là lẽ đương nhiên. Bất quá là do vấn đề kỹ thuật, [nên sẽ có những tinh cầu con người chưa đến được], có ǵ đáng nghi?

 

* Hỏi: Nh́n như vậy th́ chẳng nên ăn chay, tu hành, rèn luyện khổ sở, v́ nhục thân phàm phu cũng có thể lên cơi trời được ư? (Diệp Ngân Nữ hỏi)

 

Đáp: Nguyệt cầu chẳng phải là cơi trời, mà thuộc về vật chất khí thế gian, lên đó [sẽ thấy] là một vùng hoang vắng, thê lương, chẳng trang nghiêm như địa cầu, sao lại khổ sở đến đó? Để đến đó, cũng chẳng cần phải tu luyện! Chỗ hy vọng sẽ đến được bằng tu luyện thuộc về cơi biến hóa bởi tâm linh, chẳng liên can ǵ đến chuyện này!    

     

* Hỏi: Có phải là chẳng luận tốt, xấu, hễ có tiền, có can đảm, có kiến thức th́ sẽ có thể lên được cơi trời hay không? (Diệp Ngân Nữ hỏi)

 

Đáp: Cơi trời chẳng phải là mặt trăng, trong lời đáp trên đây đă nói rơ ràng! Có tiền, có ḷng can đảm, có kiến thức, không chỉ lên mặt trăng, mà vô lượng tinh cầu trong hư không đều có thể đến được, do chúng đều thuộc về khí thế gian, nhưng [dẫu đến các tinh cầu vẫn] chẳng thấy cung trời ở cơi nào. Do hiểu biết th́ có thể đến được, chứ chỉ có tiền và có ḷng can đảm, làm thế nào cũng chẳng được!

 

* Hỏi: Thường nghe nói thần tiên có thể biết quá khứ, vị lai, có chuyện ǵ sắp xảy đến, do tâm huyết trào dâng, nên họ ắt sẽ biết trước. Cớ sao ông Hàng Tư Lăng là nhục thân phàm phu lại có thể lên nguyệt cầu trong cơi trời? V́ sao thần tướng hộ vệ giữ thiên môn chẳng đóng thiên môn, chẳng cho ông ta bước vào nguyệt cầu th́ mới là đúng chứ! (Diệp Ngân Nữ hỏi)

 

Đáp: Trong điều trước tôi đă nói rơ, [nếu đọc kỹ, suy nghĩ cẩn thận th́] có thể tự hiểu câu hỏi này. Bà đă lầm lẫn nguyệt cầu là cơi trời, các sách của thánh hiền Trung Quốc và các ngoại đạo đều chẳng nói mặt trăng là cơi trời. Đă chẳng phải là cơi trời, há có thiên môn và thần tướng hộ vệ? Tư tưởng trên đây đều là huyễn giác của một ḿnh quư đại đức, hoặc do chịu ảnh hưởng bởi các thứ tiểu thuyết thần tiên quái dị!

 

* Hỏi: Nghe nói thần tiên trên cơi trời nghĩ đến áo bèn có áo, nghĩ đến ăn bèn có ăn, nghĩ như thế nào bèn được như thế đấy. Đúng không? (Diệp Ngân Nữ hỏi)

 

Đáp: Thần tiên trên cơi trời có lẽ được như thế, nhưng vẫn là sanh tử phàm phu, chẳng liên can ǵ đến đại đạo! Huống chi mặt trăng chẳng phải là cơi trời, những lời lẽ kiểu này cũng chẳng cần phải bàn đến nữa!

 

* Hỏi: Mai sau, ông Hàng Tư Lăng lên mặt trăng trên cơi trời xây dựng nhà cửa để ở, thiết lập một thế giới mới, [vậy th́] trong tương lai, Hàng Tư Lăng ở trong mặt trăng, cũng là nghĩ ǵ bèn có nấy, giống hệt như thần tiên ư? (Diệp Ngân Nữ hỏi)

 

Đáp: Hàng Tư Lăng là nhục thể phàm phu, nguyệt cầu là thế giới vật chất, so với người sống trên địa cầu chẳng sai biệt cho mấy. Bà nghe sách vở nói thần tiên phi hành tự tại, ẩn hiện tùy ư, ăn, uống, đi lại, cư trụ chẳng nhờ vào máy móc, chứ ông Hàng Tư Lăng rời khỏi máy móc sẽ bó tay chịu chết! Ông ta là vĩ nhân, chẳng phải là thần tiên!

 

      * Hỏi: Trên cơi trời thật sự có thần tiên hay chăng? Hay là chẳng có thần tiên? (Diệp Ngân Nữ hỏi)

 

      Đáp: Sách vở ghi chép như thế, kinh Phật cũng nói như vậy, nhưng cần phải hiểu rơ “Trời là ǵ? Thân h́nh như thế nào sẽ là thần tiên?” th́ mới có thể giải quyết câu hỏi “có hay không”, chẳng thể tùy tiện nói này nói nọ! Muốn biết trạng huống của thần tiên, xin hăy đọc cách sách được thâu thập trong Đạo Tạng, muốn biết trạng huống của Phật, Bồ Tát, cần phải nghiên cứu kinh điển nhà Phật. Nếu chẳng hiểu rơ những chuyện ấy, cứ nuốt trộng quả táo, th́ nói có hay nói không, sẽ đều là hư luận!

 

      * Hỏi: Hay là thần tiên từ bi rời đi để cho ông Hàng Tư Lăng lên đó sáng lập một thế giới mới đấy chăng? (Diệp Ngân Nữ hỏi)

 

      Đáp: Thử dùng địa cầu này để bàn luận. Có thần hay không có thần? Xin quư đại đức phán đoán một phen! Nếu nói là vô thần, tỉnh này (Đài Loan) thờ phụng thần thánh thật đông, rốt cuộc là thờ phụng ǵ vậy? Nếu nói là có thần, người Hoa, người ngoại quốc, các sắc dân vàng, trắng, đỏ, đen, xám, bậc thánh hiền quân tử, kẻ gian dối, trộm cắp, tà dâm, lại c̣n có chim bay, thú chạy, loài có mai, có vảy, côn trùng, chẳng biết thần ẩn nấp trong chỗ nào?

 

      * Hỏi: Trong nguyệt cầu, thật sự chẳng có Thường Nga tiên tử ư? Vậy th́ sách chép vợ của Hậu Nghệ trốn đến cung trăng, hóa làm Thường Nga là giả hay thật? Lại c̣n có Ngô Cang đốn cây quế trong cung trăng đốn măi không xong, quanh năm suốt tháng chặt măi không ngừng, nay vẫn c̣n đang chặt, là giả hay thật?(Diệp Ngân Nữ hỏi)

 

      Đáp: Trong lời đáp cho câu hỏi thứ nhất, tôi đă nói rơ, nhưng thật ra, chẳng cần giải đáp, vẫn có thể suy ra được! Trong Tây Du Kư, Đường Tăng đi thỉnh kinh, trên đường đi, yêu tinh rất đông, nay chúng ở chỗ nào? Cớ sao chẳng hỏi? Nếu nói năm tháng đă lâu, yêu tinh đă chết, th́ c̣n có Ngũ Hành Sơn, Hoa Quả Sơn, Hỏa Diệm Sơn, Thông Thiên Hà v.v… rốt cuộc đă bị dời đến đâu rồi? Đại đức chẳng hỏi, chắc là đă biết rơ. Nếu thật sự hiểu rơ Tây Du Kư th́ sẽ hiểu rơ chuyện Thường Nga và Ngô Cang!

 

      * Hỏi: Hàng Tư Lăng nói nguyệt cầu tối om, chẳng có ánh sáng, cớ sao trong đêm tối, mặt trăng lại chiếu sáng ngời như ban ngày? (Diệp Ngân Nữ hỏi)

 

      Đáp: Mặt trăng vốn chẳng có ánh sáng; mặt trăng tỏa ánh sáng do phản chiếu ánh sáng mặt trời. Đó là kiến thức khoa học thông thường, học tṛ Tiểu Học trong nước cũng biết chuyện này. Nếu bà đă chẳng hiểu ánh sáng của các ngôi sao trong Thái Dương Hệ và sự vận chuyển theo quỹ đạo của chúng th́ có nói cũng phí lời!

 

      * Hỏi: Tây Thiên là nơi đức giáo chủ A Di Đà Phật ở, mai sau, ông Hàng Tư Lăng có thể ngồi phi thuyền đến Tây Thiên Cực Lạc quốc độ, Tây Thiên giáo chủ A Di Đà Phật cũng phải nhường cho Hàng Tư Lăng chiếm lănh ư? V́ ông ta có ḷng can đảm, lại có tiền, có thể ngồi phi thuyền đi khắp trời đất, các nơi xa gần và mười phương đều có thể đến được! (Diệp Ngân Nữ hỏi)

 

      Đáp: Cơi Phật Di Đà là Chánh Giác Tịnh Độ, xa đến mười vạn ức cơi, gần th́ chỉ ở ngay trước mắt, nhưng phàm phu tục tử vẫn chẳng trông thấy, làm sao có thể đến được? Nói kiểu này khác ǵ kẻ mù xỏ kim. Đến Cực Lạc chẳng phải bằng phi thuyền, chẳng phải là cốt nhục ô uế [đến đó], mà là thần thức, là cái tâm thanh tịnh. Tôi lại có một lời kính tŕnh: Đừng nên một mực mê tín tiền tài, can đảm, kiến thức. Đừng nói là một ḿnh ông Hàng Tư Lăng, ngay cả mười vạn ông Hàng Tư Lăng dẫu có một đống kim cương to bằng địa cầu, cũng chẳng thể đặt chân đến Tây Phương chừng một tấc! Nếu muốn đến, ắt phải buông xuống hết thảy những tṛ tiểu xảo, t́m cầu từ tâm tánh th́ mới có mấy phần tương ứng. Chuyện này chỉ có thể nói với người trong đạo tràng, chẳng thể nói với kẻ chẳng hiểu biết. Nói thêm chút nữa, [giả sử] ông Hàng Tư Lăng đến được Cực Lạc, lại cần ǵ Phật Di Đà phải nhường ngôi? Thử nghĩ xem, ông Hàng Tư Lăng hiện đang ở địa cầu, ông ta cũng chưa lănh đạo địa cầu. Thu hẹp phạm vi hơn, Hàng Tư Lăng là người Mỹ, cũng chẳng từng thấy ông ta chiếm lănh ngôi hoàng đế nước Mỹ!

 

      * Hỏi: Phật Thích Ca có hóa thân, Ngài có hóa thân thuyết pháp tại Trung Quốc hay không? Ngài hiện đang ở chỗ nào? (Diệp Ngân Nữ hỏi)

 

      Đáp: Luôn luôn thuyết pháp, đâu đâu cũng hiện diện, người có đạo sẽ có thể thấy, nghe, kẻ chẳng thông hiểu bèn không biết.

 

      * Hỏi: Trời đất lúc hỗn độn sơ khai, từ thuở ban sơ, từ đâu mà có nhân loại? (Diệp Ngân Nữ hỏi)

 

      Đáp: Hỗn độn chưa khai th́ chẳng có trời đất, hư vọng, điên đảo, bèn có tướng huyễn giả. Nếu là đệ tử Phật, ắt phải nghiên cứu Phật pháp, đối với những chuyện thường t́nh, tà kiến thế tục, bươi móc những thứ dây cà dây muống ấy th́ có ích ǵ?

 

      * Hỏi: Ngẫu nhiên có lúc tâm chẳng có phiền năo, tôi cũng tin tưởng sâu xa là tâm vốn thanh tịnh chẳng có vật ǵ, cũng biết những vọng niệm do chẳng chú ư mà sanh từ trong sự thanh tịnh ấy, càng học bèn hiểu rơ thức thứ sáu và thức thứ bảy đều giúp cho vọng niệm tiếp tục sanh khởi, chứ chẳng phải là căn do, và cũng tin tưởng rằng trong sự bất giác nơi thanh tịnh, thật sự có thức thứ tám làm cái kho chứa các chủng tử, nhưng chẳng biết phải nên làm như thế nào th́ mới có thể khiến cho những chủng tử xấu đă sẵn có ấy sẽ triệt để chẳng sanh khởi? (Tiêu Chí Dương hỏi)

 

      Đáp: Chủng tử sanh khởi, bèn gọi là “khởi hiện hành”. Đă có chủng tử, hễ gặp duyên, bèn khởi hiện hành. Muốn cho nó chẳng sanh, chỉ đành đoạn trừ. Đó gọi là đoạn Hoặc. Ắt trước hết phải liễu tri Kiến Tư Hoặc là chuyện như thế nào? Theo đúng pháp để tu, hễ công phu đủ mức th́ mới đoạn được. Kém hơn một bậc là chẳng thể đoạn, bèn chế ngự nó, cũng có thể khiến cho nó tạm thời chẳng sanh; cũng cần phải có công phu kha khá th́ mới có thể khuất phục nó. Những điều này kẻ mới học đều chưa thể làm được. Lại sợ tuy nghe, chứ không hiểu, ắt phải đọc thêm mấy bộ kinh điển, để hiểu đôi chút lư và danh tướng, dần dần rồi sẽ biết. Nếu cư sĩ muốn thâm nhập, trước hết, hăy nên tậu một bộ Phật Học Từ Điển để làm tài liệu tham khảo trong khi nghiên cứu, học tập kinh điển. Nếu không, sẽ có nhiều thứ chẳng thể nào ghi nhớ được!

 

      * Hỏi: Lại nữa, tôi thấy trong sách có nói Tam Tế, Lục Thô, cũng đă đoán rằng Tam Tế và Lục Thô từ vô minh liên tục tạo thành giống như tuyết dồn lại, nhưng chẳng biết: Nếu tách Tam Tế và Lục Thô ra để nói th́ định nghĩa của chúng là ǵ? (Tiêu Chí Dương hỏi)

 

      Đáp: Tam Tế là tướng động cực vi của tâm thể, chẳng dễ liễu tri. Tế tướng thứ nhất là động thái của chân tâm, tế tướng thứ hai là [tâm đă] động th́ bèn có vọng kiến (thấy biết hư vọng), tế tướng thứ ba là do đă thấy bèn có vọng tướng được trông thấy. Thô là nói đối ứng với ba thứ Tế trên đây, dễ liễu tri hơn. Một là hư vọng phân biệt; hai là sau khi đă chấp cảnh, bèn liên tục chẳng dứt; ba là sanh ra ư niệm chấp trước sâu đậm; bốn là do so đo giả danh, ngôn ngữ v.v.. mà sanh ra phiền năo; năm là do phiền năo bèn tạo các nghiệp thiện ác; sáu là do tạo nghiệp bèn cảm thọ khổ quả sanh tử. Đây bất quá là nói đại lược danh xưng của sự việc, muốn hiểu cặn kẽ th́ phải đợi đến mai sau.

 

      * Hỏi: Đă là pháp nào cũng b́nh đẳng, cớ sao trong mười nguyện Phổ Hiền lại nói “trong các thứ cúng dường, pháp cúng dường là bậc nhất”? (Dương Đức Vinh hỏi)

 

      Đáp: Một chữ Pháp có Thông và Biệt. Thông th́ là danh xưng chung của hết thảy Sự, Lư, tâm, vật. Biệt là chuyên chỉ chân lư mầu nhiệm trong Tam Tạng kinh điển của Phật. Chữ Pháp trong Pháp Cúng Dường là nói đến Biệt, chẳng nói đến Thông, ư nói: Dùng Tam Tạng kinh điển để cúng dường, sẽ là trên có thể hoằng dương Phật pháp, dưới có thể hóa độ chúng sanh, nên [pháp cúng dường] là tối thượng trong các sự thuộc về bậc thượng.

 

      * Hỏi: Trong Sử từng có nói “Phật giáo được Trung Quốc hóa”, th́ Thiền Tông là một cống hiến to lớn, điều này có thể hiểu là giá trị tồn tại của văn hóa Trung Quốc vượt xa giá trị ban đầu của Phật giáo hay không? (Kỷ Tuấn Thần hỏi)

 

      Đáp: Trong hai mươi bốn bộ chánh sử, chưa từng thấy có lời lẽ ấy. Người đời sau thường có thành kiến “ta, người”, chuộng lôi Đông, kéo Tây, làm nô dịch cho chủ trương ấy. Họ nói năng như thế nào là chuyện của họ, sự thật vẫn là sự thật. Kẻ hèn này chẳng liễu giải thứ ngôn luận ấy cho lắm, nên chẳng thể nói là có chấp nhận được hay không! V́ sao vậy? Trung Quốc to lớn, học thuật nhiều, họ nói “Trung Quốc hóa” tức là nói về điều ǵ? Giới tuyến lẫn phạm vi đều chẳng rơ ràng! Tinh thần hoằng pháp của Phật giáo đều dựa trên [các tiêu chuẩn] phương tiện và khế cơ khi hướng về một loại chúng sanh nào đó để thuyết pháp, hết thảy đều tùy thuận họ, nhằm khiến cho họ dễ tiếp nhận. Nguyên tắc bất biến, chỉ là tùy duyên mà thôi, há có chuyện “hóa” ǵ?

 

      * Hỏi: Trong kinh điển có nhiều điều đă được khoa học kiểm nghiệm, chứng minh, nhưng các kiểm nghiệm, chứng minh ấy phần nhiều do trí huệ của những người phương Tây chưa niệm Phật tạo thành, vậy th́ những người ấy có phải là đă khai trí huệ của Phật hay không? (Kỷ Tuấn Thần hỏi)

     

      Đáp: Đức Phật nói vạn pháp, đều nhằm xiển minh bổn tánh, chẳng phải là chuộng bao quát rộng răi, gồm thâu trọn khắp, [lan man] chẳng có trọng tâm. Khoa học chỉ nghiên cứu vạn pháp, tuy nói là tinh vi, nhưng chẳng thấu đạt tâm tánh. Đó là chỗ bất đồng trong sự tương đồng giữa hai phái (tức Phật pháp và khoa học), c̣n phải đợi đến mai sau mới có thể hội thông. Hiềm rằng đoạn văn kế tiếp có chỗ hơi tối nghĩa, nên tôi tự tiện suy đoán ư nghĩa. Niệm Phật là hành môn trong pháp, c̣n giáo lư là giải môn trong pháp, tu gộp chung th́ Phật pháp lẫn khoa học đều có thể thành tựu, tách ra sẽ thành lệch lạc, chẳng viên măn! Lại nữa, chúng sanh đều có Phật Tánh, Phật Tánh vốn có trí huệ, biết Phật pháp là Chánh Trí, hiểu khoa học là Quyền Trí.

 

      * Hỏi: Phật tức là bậc đă chứng đắc Niết Bàn, tâm đại bi do đâu phát khởi? (Kỷ Tuấn Thần hỏi)

 

      Đáp: Câu hỏi này cũng tối nghĩa, nên cũng đành đoán bừa! Cảnh giới Niết Bàn cố nhiên là vô tác, vô nguyện, vô tu, vô chứng, đó là Chân Như bất biến. Nhưng Chân Như trọn đủ vạn pháp, từ bi chính là tánh, chỉ có tùy duyên, đều là từ bi. Chẳng cần phải tác ư, chẳng cần phải phan duyên, tự nhiên là như thế, nên gọi là “vô duyên từ bi”.

 

      * Hỏi: Trong số báo một trăm chín mươi lăm của quư san, cuối báo có đăng Nhị Tổ Điều Tâm Đồ, thoạt nh́n qua, thấy có một con hổ ngủ vùi, trên hổ lại thấy Nhị Tổ gục xuống ngủ vùi, há có thể gọi là “điều tâm” ư? Văn học suy nghĩ trăm lẽ, vẫn chẳng hiểu, chẳng lẽ ngủ say tít tḥ ḷ được gọi là “điều tâm” ư? Nhưng bức vẽ ấy đă xuất phát từ bức họa nổi tiếng của Thạch Khác[23] đời Bắc Tống, há có phải là suy đoán xằng bậy! Sau đó, văn học suy đi nghĩ lại, dường như liễu giải đôi chút, xin cho phép văn bối nêu ra: “Con hổ ngủ an ổn, tổ sư làm bạn với nó cũng ngủ an ổn, đó là điều tâm”. Nếu con chưa liễu giải chánh xác, vẫn mong thầy chỉ dạy đúng nghĩa, ḥng giúp cho văn học liễu giải bức vẽ ấy? (Lâm Lương Trụ hỏi)

 

      Đáp: Đồ họa chẳng qua nhằm ngụ ư mà thôi! Có đúng là do người đă hiểu Phật học vẽ hay không, chẳng dám khẳng định! Nếu muốn thật sự cầu điều tâm, chỉ có cách nghiên cứu kinh Phật, đúng pháp phụng hành. Đối với lẽ thâm áo, nếu thoạt đầu xem chẳng hiểu, th́ cũng có những sách sơ cơ nông cạn hơn, đó là đường lối chánh đáng. Nếu chẳng cầu nơi đó, cứ ngóng gió bắt bóng, sờ soạng lung tung, sợ sẽ nẩy sanh ma chướng. Nếu không, cũng tăng trưởng tà kiến, tại hạ vốn mong căn cứ trên bức vẽ để giải thích, thêm thắt mấy câu, kế đó, nghĩ: Chỉ ra lối rẽ, càng tạo thêm lắm lối rẽ, chỉ có tổn hại, chẳng có ích ǵ! V́ thế, quăng bút chẳng làm!

 

* Hỏi: Có người hỏi thiền sư Tây Đường Trí Tạng: “Có thiên đường, địa ngục hay không?” Sư nói: “Có!” Lại hỏi: “Có Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo hay không?” Sư nói: “Có”. Lại hỏi thêm nhiều câu, Sư luôn đáp là Có. Hỏi: “Ḥa thượng dựa vào đâu để nói chẳng sai?” Sư nói: “Ông đă từng đến gặp bậc tôn túc hay chưa?” Đáp: “Tôi từng đến tham phỏng ḥa thượng Kính Sơn”. Sư hỏi: “Ḥa thượng Kính Sơn nói ǵ với ông?” Đáp: “Ngài nói hết thảy đều là Vô”. Sư nói: “Ông có vợ hay không?” Thưa: “Có”. Sư hỏi: “Ḥa thượng Kính Sơn có vợ hay không?” Thưa: “Không!” Sư bảo: “Ḥa thượng Kính Sơn nói không th́ được”. Lại nữa, trong lời tựa cho bộ U Minh Vấn Đáp Lục[24], cũng có chép tương tự, đối với hai câu chuyện ấy, chẳng biết chuyện nào là chánh xác? (Tề Định Tiệp hỏi)

 

Đáp: Đó là cơ phong trong nhà Thiền, trọn chẳng giảng giáo, thuyết lư, đôi bên tự hỏi, tự tu, chẳng cho phép suy nghĩ, huống hồ giảng nói! Cư sĩ chưa tu đạo ấy, làm sao có thể hiểu được! Nay nếu tôi hướng về cư sĩ nói lung tung, chỉ khiến cho càng nói càng mê mà thôi! Ông lại hỏi về U Minh Vấn Đáp Lục, “chẳng biết chuyện nào là chánh xác?” Kính cẩn thưa rằng: Cả hai đều chánh xác. Kính khuyên ông từ nay trở đi, trước hết, hăy đọc những sách nào ông có thể hiểu được, c̣n đàm huyền thuyết diệu là chuyện của các bậc đại đức đă học lâu ngày. Vượt cấp, vượt phận, sẽ trọn chẳng đạt được mảy may ǵ!

 

* Hỏi: Nhân loại vốn có phải là Chân Như hay không? Nếu là đúng, v́ sao lại bị đọa lạc? Có phải là vị Phật đầu tiên sau khi đọa lạc mới tu thành Phật ư? Hay là chưa bị đọa lạc đă tu thành Phật? Nếu đọa lạc rồi mới thành Phật, làm sao Ngài biết tu rồi mới có thể thành Phật? V́ chẳng có Phật chỉ dẫn! Trên đây là nói giả sử có Phật, v́ chúng sanh sau khi bị đọa lạc ở trong ấy (trong ác đạo), biết tu tập sẽ thành Phật? Điều này lại liên quan đến vấn đề có Phật hay không? (Tề Định Tiệp hỏi)

 

Đáp: Câu hỏi của ông chẳng có ư nghĩa, chẳng rơ ràng. Theo đúng lẽ chẳng đáp, nhưng nhằm tùy thuận, chỉ đành miễn cưỡng giải thích câu hỏi “v́ sao Chân Như lại bị đọa lạc?” Chân Như là tên gọi của bản tánh, chỉ là bị ô nhiễm che lấp, nên tuy sáng mà tối tăm, giống như vàng c̣n ở trong quặng, bị bùn đất hoen bẩn, nên vẻ rạng rỡ bị ẩn. Tuy vẻ rạng rỡ bị ẩn, chất vàng vẫn là như cũ. Nếu nung luyện thành vàng ṛng, sẽ chẳng c̣n xen lẫn bùn, cát. Chân Như trải qua tu luyện bèn sạch hết, cũng chẳng c̣n nhiễm nữa!

 

* Hỏi: Xin cụ giới thiệu các tác phẩm thuộc loại Phật pháp và khoa học (có thể khơi gọi ḷng tin tưởng, ngưỡng mộ) là loại sách ai nấy đều ưa thích (được viết sau thời Dân Quốc, cũng là loại sách khơi gợi ḷng tín ngưỡng, cảnh tỉnh con người). (Tề Định Tiệp hỏi)

 

      Đáp: Nếu muốn học Phật, trước hết cần phải hiểu rơ ràng đường nẻo, đi thẳng trên con đường lớn. Vàn muôn phần chớ nên xem rộng những thứ [sách vở] bao gồm những thuyết quanh co, khúc khuỷu, tạp loạn, v́ điều nào được tiếp xúc đầu tiên sẽ là chánh yếu. Hễ căn cội chẳng vững, cây chẳng thể mọc lớn được! Nếu tri kiến tà vạy, sai trái, suốt đời chẳng thành tựu được ǵ! Đó là lời ngàn vạn phần chân thật, chẳng dối gạt ông! Nay tôi kính tặng hai tập sách đơn giản, mong ông t́m hiểu kỹ, sẽ có lợi ích. Hai chữ “khoa học”, há dễ nói ư? Chẳng được hưởng nền giáo dục bậc cao, làm sao hiểu khoa học cao sâu? Khoa học có nhiều chủng loại, rốt cuộc ông muốn nói đến ngành khoa học nào? Kiểu lư luận nuốt trộng quả táo, đâu phải là khoa học!

 

* Hỏi: Ví như niệm Quán Âm Bồ Tát hoặc niệm A Di Đà Phật sẽ được cứu th́ thật sự quá thuận tiện (v́ chúng sanh nghiệp chướng sâu nặng), trong chuyện này nhất định là có đạo lư, có phải là do Quán Âm Bồ Tát bi mẫn chúng sanh? (Tề Định Tiệp hỏi)

 

      Đáp: Hết thảy tội nghiệp đều từ tâm khởi. Niệm niệm nối tiếp, tăng thêm sức mạnh, khởi tâm là nhân, nối tiếp là duyên. Nhân duyên ḥa hợp, liền sanh ra quả. Thay đổi ư niệm nghĩ đến các điều ác thành niệm Phật và niệm Bồ Tát, cố nhiên cảm được Tha Lực gia bị, tự tâm đă đoạn ác duyên. Do vô duyên, [nên quả] chẳng sanh. Đó chính là điều chí lư, chẳng phải là tiện nghi!

 

* Hỏi: Tôi thường thấy sách nói: Mắc chứng mất ngủ bèn niệm A Di Đà Phật hoặc niệm Quán Âm Bồ Tát, rốt cuộc cách nào mới tốt? Khiến cho con người chẳng thể chuyên tâm, há có phải là khiến cho người ta bị lầm lẫn? (Câu hỏi này, trong số báo một trăm chín mươi bảy, số ra vào tháng Tư năm nay, nơi trang bốn mươi, ngu sanh đă hỏi trong câu hỏi thứ tư, cụ nói niệm Quán Âm Bồ Tát có thể trừ nỗi khổ trong hiện tại. Nay có phải là niệm Quán Âm Bồ Tát sẽ tốt hơn, do duyên cớ nào?). Cụ nói tiến hơn nữa là niệm A Di Đà Phật, có thể trừ nỗi khổ trong tương lai, nhưng con người chẳng có cách nào biết trước cái chết, khi bệnh bèn niệm Quán Âm Bồ Tát, sợ rằng mai sau chết đi, do lúc c̣n sống, thời gian niệm A Di Đà Phật quá ít, rất khó văng sanh Tịnh Độ. Lại c̣n do không có cách nào biết trước lúc chết, mà con người lại bị bệnh bất cứ lúc nào, hễ bệnh, bèn niệm Quán Âm Bồ Tát, nhưng văng sanh Tịnh Độ phải chuyên niệm A Di Đà Phật, há có phải là rất mâu thuẫn ư? Chẳng biết có phải là cụ nói “tương lai” nghĩa là:

- Một là sau khi bệnh đă lành, bèn niệm A Di Đà Phật.

- Hai là trong tương lai sẽ chẳng bị luân hồi, có thể văng sanh Tịnh Độ.

Đó chính là “trừ nỗi khổ trong tương lai” đấy chăng? (Tề Định Tiệp hỏi)

 

      Đáp: Câu trả lời trước kia, thật ra là phương tiện. V́ người thế gian phần nhiều tham luyến sắc thân, thích Quán Âm cứu khổ, cứu nạn, ghét nghe nói đến chuyện mạng chung! V́ thế, người đáp bèn tùy cơ trả lời, v́ sợ người nghe sẽ ngă ḷng! Nếu cư sĩ có thể ngộ thân chẳng phải là ta, nhất tâm sanh Tây. Từ nay, suốt đời phụng tŕ một câu Di Đà, đạo quư nơi chuyên nhất, lại c̣n quư ở chỗ khế cơ.

 

* Hỏi: Chúng sanh đă là b́nh đẳng, huống hồ chư Phật? V́ sao lại nói cần phải niệm A Di Đà Phật, mà chẳng niệm Quán Âm Bồ Tát (hoặc danh hiệu các vị Phật khác) để mong văng sanh Tịnh Độ? (Tề Định Tiệp hỏi)

 

      Đáp: Hết thảy b́nh đẳng là quy về Tánh Thể để nói, nhưng xét theo Tướng và Dụng, sẽ khác nhau. Muốn lạnh th́ nên uống nước đá, muốn nóng cần phải hướng đến lửa, đi ngược đường, ắt sẽ chẳng thành công. Phật pháp là Giới, Định, Huệ. Nếu cầu đắc Định, bất cứ danh hiệu Phật, Bồ Tát nào, không danh hiệu nào chẳng thể tŕ, không cứ phải [tŕ danh hiệu] Di Đà! Nếu cầu văng sanh Tịnh Độ của Phật Di Đà, ắt niệm Di Đà, pháp vốn là như thế, trái nghịch sẽ chẳng tương ứng. Như sống ở Đài Trung, muốn qua B́nh Đông, ắt phải mua vé xe về phương Nam, muốn tới Cơ Long, ắt phải mua vé xe lên phía Bắc. Theo hướng Nam hay hướng Bắc tuy khác nhau, nhưng B́nh Đông lẫn Cơ Long đều thuộc Đài Loan.

 

      * Hỏi: Tôi thấy trong sách nói niệm A Di Đà Phật là Chánh Hạnh, hành thiện là Trợ Hạnh. Hành thiện thường là đạo lư làm người, v́ sao là Trợ Hạnh? Học Phật mà ngay cả đạo lư làm người c̣n chẳng hiểu, vậy th́ niệm A Di Đà Phật có thể văng sanh chỉ là mộng tưởng! Nói cách khác, hạng người niệm A Di Đà Phật ấy làm sao có thể coi là Chánh Hạnh cho được? Trong kỳ báo một trăm chín mươi bảy, nơi trang bốn mươi tám, cụ trả lời câu hỏi thứ chín: “Chánh” là khắc chế ư niệm khiến cho tâm chánh đáng; Trợ là dùng điều thiện để giúp đỡ. Khắc chế ư niệm khiến cho tâm chánh đáng th́ phải nên khắc phục tất cả phiền năo nơi bản thân đúng không? Nhờ vào niệm A Di Đà Phật để khắc chế ư niệm khiến cho cái tâm chánh đáng, há chẳng phải là mang tánh chất ỷ lại quá mức! Niệm Phật cần phải chuyên tâm, thế mà lại cần phải cậy vào niệm Phật (để khắc chế ư niệm khiến cho tâm chánh đáng), há chẳng phải là mâu thuẫn hay sao? (Tề Định Tiệp hỏi)

 

      Đáp: Tâm và thân có sự phân biệt rất lớn. Thân là cơ thể hữu h́nh, tâm là linh minh vô h́nh. Đức Phật nói “vạn pháp chỉ do tâm tạo”, không chỉ là tư tưởng được sanh ra từ nó, mà ngay cả hết thảy những thứ hữu tướng, không ǵ chẳng phải là do tâm niệm tạo nên. Điều này chẳng phải do kẻ hèn này xằng bậy chủ trương, mà vốn được nói trong kinh Phật. Trong lời luận định cao quư của ông, ông cho rằng đạo lư làm người là khắc phục phiền năo nơi bản thân, chẳng nghĩ khắc chế ư niệm là đúng. Lại cho rằng niệm Phật là dựa dẫm. Nay tôi tạm thời khoan bàn đến Phật, v́ huyền diệu khó nói rơ. Trong văn hóa Trung Quốc, sách Đại Học cũng nói: “Dục tu kỳ thân giả, tiên chánh kỳ tâm” (muốn tu cái thân th́ trước hết phải khiến cho cái tâm chánh đáng), “tâm chánh, nhi hậu thân tu” (chánh đáng cái tâm rồi mới tu cái thân). V́ thế, đạo lư làm người, trước hết là ắt phải lấy chuyện “chánh đáng cái tâm, khắc phục phiền năo” làm chủ lực, chú trọng nơi tâm, chứ không phải thân! Lại nữa, nói đến niệm Phật, trọn chẳng phải chỉ là cốt sao miệng niệm Phật, mặc cho cái thân làm chuyện xấu, chớ nên hiểu lầm! Niệm Phật chuyên tâm th́ “chuyên” là chẳng nghĩ tới những điều tà vạy khác. Không có những điều tà vạy khác, đó chính là “tâm chánh”, há có mâu thuẫn? Khởi ác niệm hoặc vọng niệm tức là tâm bệnh, niệm Phật là thuốc, có thể trừ tâm bệnh. Có bệnh th́ phải cậy vào thuốc, đó là lẽ đương nhiên!

 

      * Hỏi: Bài thứ ba mươi sáu trong bộ Phật Học Thường Thức Khóa Bổn do đại cư sĩ biên soạn là bài Nhập Tự Tu Tri (những điều cần biết khi vào chùa). [Theo đó], sau khi vào cửa chùa, chớ nên đi thẳng vào chính giữa, tiến thoái đều nên thuận theo phía tay trái của người ấy, đi theo phía ấy. Khi cửa chùa chỉ có một cái th́ cố nhiên ra vào nên làm như vậy, v́ ra vào cùng một cửa. Nếu cửa chùa có ba cái, để tránh khỏi đông người ùn tắc, chen chúc, có thể mở rộng ra hay không? [Từ đó, đối với việc ra vào chùa, tôi nghĩ nên tuân theo quy tắc sau đây]:

      1) Cửa chánh giữa chớ nên tùy tiện ra vào.

      2) Khi vào chùa nên đi theo cửa bên tay trái của người đó để vào.

      3) Khi ra khỏi chùa, cũng nên theo cửa bên tay trái của người đó ḥng theo đường khác để đi. (Tề Định Tiệp hỏi)

 

      Đáp: Lập ra tam môn (cửa tam quan), tức là cửa giữa dùng cho đại điển (các cuộc lễ quan trọng), hai cửa trái và phải dùng ra vào trong lúc thường ngày. V́ thế, cửa bên trái và phải c̣n gọi là Tiện Môn (便門), nghĩa là có thể sử dụng thuận tiện. Chẳng phải chỉ riêng chùa miếu làm như thế, mà trước kia các cơ quan công thự cũng đều lập ra ba cửa. Do đó, gọi quan nha (dinh thự, công phủ) là Lục Phiến Môn (六扇門: cửa sáu cánh). Kẻ biết lễ, giữ ḷng kính, sẽ tự biết tuân thủ [quy định ấy]. Những chuyện giống như vậy thuộc về Lễ, chẳng thuộc về pháp luật, mọi người bằng ḷng vâng giữ th́ giữ, chẳng thể là quy định mang tánh chất cứng rắn được!

 

      * Hỏi: Nơi phần sau bộ Phật Môn Thường Dụng Khóa Tụng Bổn do đại cư sĩ biên soạn, trong phần thánh đản của chư Phật, Bồ Tát, có nói ngày mồng Năm tháng Mười là thánh đản của Đạt Ma Tổ Sư, nhưng theo một số pháp sư, ngày ấy chẳng phải là thánh đản của tổ sư, mà là kỵ thần (ngày giỗ), rốt cuộc ngày nào mới là đúng? Tuy chỉ cần có cơ hội kỷ niệm để báo ân Tổ là được rồi, nhưng cũng cần phải xét theo tánh chân thật, để khỏi nói năng mâu thuẫn, xử sự chẳng thông suốt, nói nước đôi. V́ thế, dám xin cụ hăy chỉ dạy. (Tề Định Tiệp hỏi)

 

      Đáp: Bộ Phật Môn Thường Dụng Khóa Tụng Bổn chẳng phải do kẻ hèn này biên soạn, người đứng ra in sai tôi ghi phần thư thiêm[25] mà thôi, chớ nên hiểu lầm. C̣n như ngày đó là thánh đản hay kỵ thần của Đạt Ma tổ sư, hai bên đều khó khảo cứu chánh xác, v́ Tổ là người bên Tây Độ (Ấn Độ), giáng sanh lẫn viên tịch đều chẳng ở tại Trung Hoa. Hơn nữa, mỗi nơi, mỗi thời, lịch pháp trọn chẳng thống nhất, rất khó biết được sự thật. Lấy ngay ngày thánh đản của đức Thế Tôn là mồng Tám tháng Tư để luận, vốn là ngày mồng Tám tháng Tư theo lịch pháp Ấn Độ, Trung Quốc cử hành [lễ kỷ niệm] lại tuân theo cách tính ngày tháng đời Hạ[26]. Nay lại cử hành theo ngày tháng Tây lịch, lịch Ấn Độ và Tây lịch chạy nhau một tháng, Tây lịch và Hạ lịch lại sai khác nhau một tháng.

 

      * Hỏi: Vạn tượng trong vũ trụ có thành tựu, hủy diệt, rốt cuộc là do ǵ mà thành? Nếu nói vạn pháp trong vũ trụ đều do vọng tâm mà có, th́ vọng tâm lại do đâu mà có? (Lư Tùng Lân hỏi)

 

      Đáp: Vấn đề này xưa nay, trong ngoài nước, hết thảy các vị thánh triết đă từng t́m ṭi, là một chuyện khó giải quyết nhất, chỉ có bậc tham cứu, tu tập mới tự chứng, chẳng thể diễn tả hoặc h́nh dung được. Chỉ có thể nói được bằng một chữ Tánh mà thôi, chữ ấy chính là nguồn cội của vọng tâm. Giác chính là tánh, mê chính là vọng tâm. Nếu lại truy xem tánh do đâu mà có, Nho gia nói: “Thiên mạng chi vị tánh” (mạng trời được gọi là Tánh), nghĩa là tự nhiên mà có. Phật nói: “Pháp nhĩ như thị” (pháp vốn là như thế). V́ thế, gọi là Chân Như, rỗng rang, chẳng có tự thể, nhưng trọn đủ toàn vẹn tác dụng và đức năng. Do đó, nó là Không, nhưng chẳng phải là Không, vốn là bất sanh, mà cũng chẳng có diệt. Đă vốn chẳng sanh, nên chẳng từ đâu mà có. Đấy chính là chuyện sâu xa, kín nhiệm nhất, chẳng phải là hàng sơ học mà ḥng nghe, biết được.

 

      * Hỏi: Vạn pháp trong vũ trụ do vọng tâm hiện ra đều là Không, hư giả, chẳng thật. V́ chúng sanh bị lầm lẫn bởi vọng, nên làm những chuyện tranh danh đoạt lợi. V́ cái danh chẳng thật, v́ cái lợi hư ngụy mà tạo nghiệp thấp kém, xấu ác. Nếu chẳng tạo ác nghiệp, tội báo sẽ tự chẳng c̣n nữa, từ đó có thể đạt đến giải thoát, chẳng bị vây hăm, ràng buộc trong nhà tù to lớn là thế giới này. Học nhân nói như vậy có đúng hay không? Vẫn mong cụ uốn nắn cho đúng! (Lư Tùng Lân hỏi)

 

      Đáp: Những lời ông đă nói cố nhiên là hữu lư, nhưng sự chẳng đơn giản. Cổ đức nói: “Tùy duyên tiêu nghiệp chướng, cánh bất tạo tân ương” (tùy duyên tiêu nghiệp chướng, chẳng tạo ương họa mới). Lời quư cư sĩ đă nói chỉ là “cánh bất tạo tân ương”. Chẳng tạo nghiệp mới là điều đáng quư, nhưng vẫn phải tiêu trừ nghiệp cũ vốn có th́ mới được giải thoát, nhưng tiêu nghiệp cũ th́ cũng ắt là chẳng tạo thêm nghiệp mới th́ mới được!

 

      * Hỏi: Lục Tổ nói: “Bất thị phong động, dă bất thị phan động, nhi thị nhân giả tâm động” (chẳng phải là gió động, cũng chẳng phải là phan động, mà là tâm nhân giả động). Lư “tâm động” ấy hết sức mầu nhiệm, nhưng tôi chẳng ngộ được. Kính xin từ bi chỉ dạy. (Trịnh Chí Tây hỏi)

 

      Đáp: Vạn pháp chỉ do tâm tạo, ai nấy đều nghe [lư ấy], nhưng người ngộ quyết chẳng phải là kẻ sơ cơ. Đối với chuyện thuộc về tâm, chỉ có công phu đạt mức th́ sẽ tự ngộ, trọn chẳng có lẽ nào do người khác giải nói [mà ngộ được]. Kẻ sơ cơ học Phật, nghe ít, nghiên cứu ít, tâm c̣n chẳng biết, nói chi vạn pháp duy tâm! Càng khó nói tới tâm sanh, pháp sanh, tâm động, pháp động, tâm tĩnh, pháp tĩnh, tâm diệt, pháp diệt. Vấn đề này đợi đến khi cư sĩ đă học Phật sau mười năm rồi mới lại hỏi th́ vẫn chẳng muộn.

 

      * Hỏi: Có lúc ở nơi ruộng, hoặc trên đường, và những nơi khác ngộ sát khá nhiều sanh mạng. Khi phát giác bèn v́ chúng nó niệm Phật, niệm chú Văng Sanh, có thể giúp cho chúng nó văng sanh hay không? (Trịnh Chí Tây hỏi)

 

      Đáp: Chuyện này chẳng thể nói nhất định, phải xem niệm lực như thế nào? Nhưng chúng nó có văng sanh hay không, tuy chẳng thể biết, nhưng cư sĩ có thiện niệm ấy, chính ḿnh trước hết đă vun bồi công đức và tiêu trừ nỗi oán hận của chúng, và cũng tiêu trừ tội khiên đối với chúng, vâng làm các điều lành. Hăy nên biết như vậy.

 

      * Hỏi: Phật nói: “Ngô thị dĩ thành Phật, nhữ thị vị thành Phật” (ta là Phật đă thành, các ngươi là Phật chưa thành), gần đây, hậu học đối với mỗi chúng sanh đều xem như là Phật, ngay cả đối với cha mẹ, vợ, con cũng quán như thế. Lâu ngày, cũng cảm thấy cha mẹ, vợ con cũng là Phật, cũng b́nh đẳng, chẳng phân chia cao thấp, nhưng Ấn Tổ (tổ Ấn Quang) từng dạy “đôn luân, tận phận” (giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận), tợ hồ mâu thuẫn, như thế nào th́ mới nên? (Trịnh Chí Tây hỏi)

 

      Đáp: “Đă thành Phật” là chính ḿnh đă chứng đắc Phật quả, “chưa thành Phật” th́ vẫn là thân phàm phu, chịu tu chẳng ngừng th́ mới có thể thành Phật. Biếng nhác chẳng tu, chẳng có hy vọng thành Phật. Phật và phàm phu, tánh b́nh đẳng, nhưng thân khác nhau. Thân phàm phu kể từ lúc được sanh ra, [sẽ lần lượt] có cha mẹ, vợ con. Ở trong thế tục, bèn luận theo thế tục, mỗi người đều có bổn phận, nên cần phải giữ vẹn, trọn hết. Ngay cả Phật cũng phải trên là hiếu thảo với cha mẹ, dưới giáo hóa đệ tử. Nếu phân theo thân thanh tịnh, Phật và phàm phu, há có mâu thuẫn ǵ? Ở đây, tôi nêu một tỷ dụ, công dân hiện thời đều có tư cách được bầu làm Tổng Thống, đó là b́nh đẳng, nhưng kẻ nào vẫn chưa được bầu làm Tổng Thống, th́ chẳng có quyền tự xưng là Tổng Thống, ban phát hiệu lệnh. Đó là do vai tṛ và bổn phận khác nhau! Hiểu lầm sự b́nh đẳng th́ đă gây rối loạn trật tự công cộng, mà c̣n hại chính ḿnh, chớ nên không chú tâm thấu hiểu.

 

      * Hỏi: “Thiên hà ngôn tai? Tứ thời hành yên, vạn vật sanh yên, thiên hà ngôn tai” (Trời có nói ǵ đâu? Bốn mùa luân chuyển, vạn vật sanh trưởng, trời có nói chi đâu!). Phật pháp vô lượng vô biên, chẳng nói mà nói. Phật pháp trong thế giới Cực Lạc và thế giới Sa Bà của chúng ta chẳng hai, chỉ có điều trong cơi trước, chúng sanh được Phật lực giúp đỡ, nên khéo nghe, có thể “chẳng nghe mà nghe”. V́ vậy, dễ thành Phật quả, có đúng hay không? (Trịnh Chí Tây hỏi)

     

Đáp: Để tuyên dương Phật pháp, có khi dùng ngôn thuyết, tức là [giảng kinh] hơn ba trăm hội vậy. Có khi chẳng dùng ngôn thuyết, cầm cành hoa, mỉm cười chính là như vậy. Có khi chẳng nói mà nói, nói mà chẳng nói, hội Lăng Nghiêm [đức Phật] hỏi về tâm, [ngài A Nan] thưa bảy chỗ đều chẳng trúng, chính là trường hợp này. Có khi nhờ vào vật để quán, chẳng nói mà nói, như sắc núi, tiếng nước, hoa bay, lá rụng, chính là trường hợp này. Có trường hợp vật rung động phát ra âm thanh, rành rành diễn thuyết, như các loài chim, cây cối, ngũ trần v.v… trong cơi Cực Lạc có thể biểu diễn các pháp, chính là trường hợp này. Trọn chẳng phải là nhất loạt “chẳng nói mà nói”, cũng chẳng phải là được thần lực của Phật giúp đỡ mà học thành công năng lực “chẳng nghe mà nghe”.

 

* Hỏi: “Vạn pháp quy nhất”, “Phật Phật đạo đồng”, nhưng vô tận vô số chư Phật thật sự là một vị Phật, đúng không? (Lư Thục Quân hỏi)

 

      Đáp: Nói như thế cũng chẳng phải là không được, kinh có nói “mười phương ba đời Phật, cùng chung một Pháp Thân”. Nếu nói đến Báo Thân và Ứng Thân, sẽ là vạn ức hằng sa khó trọn hết. Đó là “trong nhiều là một, trong một có nhiều”. Cảnh giới Phật pháp chẳng thể nói chấp nhất được!

 

* Hỏi: T́nh cảm nam nữ đạm bạc đến mức độ nào th́ mới có thể dùng cách quán chiếu để khuất phục Hoặc (phiền năo) ấy, trừ khử chuyện đó. Hai dục vọng ăn uống và nam nữ có liên quan với nhau hay không? (như tham dục đối với ăn uống nhạt bớt th́ có phải là dục vọng nam nữ cũng nhạt bớt hay không?) (Lư Thục Quân hỏi)

     

      Đáp: Câu hỏi này có hai nghĩa, trước hết giải thích về chuyện trừ bỏ t́nh cảm nam nữ. Học Phật chia ra hai chúng xuất gia và tại gia, kẻ tại gia chẳng cấm kết hôn. Đă thành chồng vợ, há chẳng có ái t́nh? Nhưng hăy nên phát sanh t́nh cảm trong khuôn khổ lễ giáo. Giữ trong khuôn khổ lễ giáo th́ cũng giống như chế ngự Hoặc. Tiếp đó là giải thích về mối quan hệ giữa hai món dục vọng. Ăn nhiều thứ cay nồng, huyết nhục, rượu chè v.v… sẽ kích thích xung động, biến hóa sinh lư, nên sẽ có nhiều dâm niệm. Ngoài điều ấy ra, chẳng giữ sao cho “mắt thấy sắc chánh đáng, tai nghe tiếng chánh đáng” th́ cũng sanh khởi tà niệm.

 

* Hỏi: Tuy nói pháp môn Tịnh Độ cậy vào Phật lực và tự lực để tiến nhập, thật ra là tự lực cũng chính là Phật lực, v́ hai lực ấy vốn là một. Cũng tức là “ngoài tâm không có pháp”, “tâm này chính là Phật”. Do vậy, nếu trong đời hiện tại mà đạt được cảnh giới viên măn th́ trong lúc sanh về thế giới Cực Lạc sẽ ở trong tánh hải, đúng không? (Lư Thục Quân hỏi)

 

      Đáp: Có thể nói như vậy.

     

* Hỏi: Trong thời gian đi học, làm thế nào để mỗi ngày xem kinh nửa tiếng đồng hồ? (Lư Thục Quân hỏi)

 

      Đáp: Các bài tập trong trường cố nhiên nhiều lắm, các thứ giải trí khác, các hoạt động khác cũng chẳng hề ít. Giảm bớt những tiết mục giải trí để tu dưỡng tâm tánh, sẽ chẳng bị ảnh hưởng việc học, mà cũng chẳng quá sức mệt nhọc. Tâm an th́ thân thể sẽ thoải mái, không ǵ tốt lành hơn!

 

      * Hỏi: Xin hỏi chương thứ hai mươi trong kinh Tứ Thập Nhị Chương, v́ sao Địa Đại trong Tứ Đại Chủng (Địa, Thủy, Hỏa, Phong) có tánh chướng ngại lớn nhất? (Ẩn Danh Thị hỏi)

 

      Đáp: Ba sự Thủy, Hỏa, Phong do Thể của chúng rỗng không nên chẳng thể ngăn trở vật, vật đều có thể xuyên qua. Chỉ có Địa là cứng chắc, nên có thể ngăn trở và chuyên chở. Mượn h́nh thể của nó để tỷ dụ các thứ xương, thịt, da v.v… trong thân thể con người. Xương, thịt, da trong thân người vốn thuộc về chất rắn, nên có ư nghĩa tương tự.

 

      * Hỏi: Xin hỏi trong chương thứ hai mươi ba của kinh Tứ Thập Nhị Chương, đối với tam giới (Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới), v́ sao La Hán lại nghĩ Thiền đạt tới Tứ Không Thiên là Niết Bàn? (Ẩn Danh Thị hỏi)

 

      Đáp: Kẻ hiểu lầm Tứ Không Thiên là Niết Bàn chính là những vị trời tu Tứ Không Định, chứ không phải là bậc A La Hán đă đoạn sạch hai Hoặc.

 

      * Hỏi: Tĩnh tọa chừng nửa tiếng đồng, thân thường toát mồ hôi, nhưng chẳng biết là có nên lau mồ hôi hay không? Lại nữa, đối với người mới học tĩnh tọa, có phải là đều có hiện tượng ấy hay không? (Cam Liên Hinh hỏi)

 

      Đáp: Đó là hiện tượng thường có, chẳng đáng để kinh ngạc. Khi chưa bắt đầu ngồi, nếu mồ hôi toát ra mà ít th́ nó sẽ tự nhiên mất đi, nếu toát mồ hôi nhiều, lau đi chẳng sao. Nhưng nếu đă tĩnh tọa, th́ gạt mồ hôi là được rồi.

 

      * Hỏi: Thân thể sanh bệnh, trừ nhất tâm tŕ danh ra th́ tĩnh tọa có thể điều dưỡng thân tâm hay không? (Cam Liên Hinh hỏi)

 

      Đáp: Tĩnh tọa đúng pháp tự nhiên trừ bệnh; nhưng nếu chẳng gặp đúng thầy, hoặc là thầy thuộc ngoại đạo, đâm ra đổ bệnh nặng. Theo như tại hạ thấy, [tĩnh tọa sai cách hoặc tà vạy] phần nhiều bị bệnh thần kinh. Ngoài ra là năo xung huyết, mắt ḷa, mất ngủ, nhức đầu v.v… trị liệu đều rất khó khăn, chớ nên không cẩn thận.

 

      * Hỏi: Tôi tuổi tác đă cao, chỉ ngồi bán già th́ có được hay không? Hay là dùng phương pháp nào để tĩnh tọa th́ sẽ thích hợp hơn? (Cam Liên Hinh hỏi)

 

      Đáp: Ngồi bán già hay kiết già tùy theo khả năng mỗi người, dẫu chỉ ngồi xếp chân cũng chẳng phải là không được! Chuyện này cũng cần phải luyện tập lâu ngày th́ mới có thể ngồi kiết già. Tuổi trẻ dễ dàng hơn, tuổi già [mà ngồi kiết già] chẳng tránh khỏi khó khăn đôi chút.

 

      * Hỏi: Sau khi cha mẹ đă chết, nếu chuyển sanh về phương khác, niệm kinh hồi hướng cho họ th́ vẫn hữu hiệu hay chăng? (Cam Liên Hinh hỏi)

 

      Đáp: Giả thân tuy hóa, thần thức tuy đă đổi chỗ, nhưng thức bất diệt, nên hồi hướng vẫn có lợi ích; nhưng để tạo lợi ích cho người được hồi hướng, cần phải hiểu rơ Phật lư, đúng pháp hồi hướng. Nếu nghịch đạo, sẽ chẳng tương ứng, nhưng cũng có thể tiêu trừ tội khiên.

 

      * Hỏi: Đệ tử Ngũ Bảo đốt tiền văng sanh, có đúng pháp hay chăng? (Cam Liên Hinh hỏi)

 

Đáp: Trong câu hỏi có danh xưng “đệ tử Ngũ Bảo”, tại hạ chưa nghe nói Ngũ Bảo là như thế nào? Lại c̣n năm điều ông đă hỏi, ông đánh số là một, bốn, ba, hai, ba, đă chẳng theo thứ tự, lại c̣n có số bị trùng lặp (nay tôi đă điều chỉnh giùm), chẳng biết tiên sinh học theo đạo nào? Đọc sách nào? Hơi khiến cho kẻ khác sanh nghi. Lại thấy sau các điều đă hỏi, có câu “thân thể sanh bệnh”, vậy là sau khi học đạo bèn thành bệnh? Hay là v́ có bệnh mà học đạo? Nếu thuộc điều trước, hăy gấp nên buông những điều đă học xuống để cầu vị minh sư khác. Nếu thuộc về điều sau, cũng nên cầu thầy, chớ nên đóng cửa chế xe, bệnh càng thêm bệnh! C̣n đối với tiền văng sanh, chính là do kẻ ngu mê hiểu lầm chú Văng Sanh[27], hết sức chẳng phù hợp Phật pháp.

 

* Hỏi: Do học tṛ ham xem sách, b́nh thường trừ các văn kiện, tạp chí liên quan đến nghề nghiệp ra, thường thích xem những kinh sách hữu ích cho tâm linh, tuy thầy từng hỏi con nay đang đọc sách nào, rồi sẽ xem sách nào, nhưng học tṛ luôn cảm thấy khó thể chịu đựng khát khao về mặt tâm linh, có phải là do đói nên chẳng chọn lựa thức ăn hay chăng? (Thí Chấn Huy hỏi)

 

Đáp: Quư cư sĩ thích đọc, học rộng, chính là đáng quư, khó có, nhưng Nho gia có năm cách cầu học là bác học, thẩm vấn, thận tư, minh biện, đốc hành (học vấn rộng răi, t́m hiểu cặn kẽ đến tận nguồn cội, suy nghĩ kỹ càng cặn kẽ xem có ích lợi hoặc hữu dụng cho chính ḿnh hay không, quyết đoán và nhận định xác đáng để tiếp nhận hay từ bỏ, tận lực thực hiện những điều chính ḿnh đă học). Nay chỉ có một loại, coi nhẹ bốn loại kia, sẽ khó đạt được học vấn thật sự. Đối với cách cầu học trong nhà Phật là Văn, Tư, Tu, nay ông chỉ đa văn, chẳng cầu Tư, khó tránh [tệ nạn] hiểu lời văn không xét theo ngữ cảnh và nội dung của toàn bộ tác phẩm, hoặc nẩy sanh hiểu biết sai lầm. Huống chi chẳng xét tới ư nghĩa của từ ngữ, chẳng phân định rơ chương tiết, câu văn, nên tuy học rộng nhưng tạp. Đă tạp th́ sẽ chẳng thể thâm nhập! Nghĩa lư trong kinh vi diệu, cốt yếu là tham ngộ. Chẳng thấu đạt Văn Tự Bát Nhă, có lẽ sẽ khó thể khế hợp Thật Tướng. Tuy có tài như vàng ṛng, ngọc quư, nhưng chẳng được un đúc, nung luyện, mài giũa, đó chính là tự mong bị vùi lấp!

 

* Hỏi: Ở chỗ tôi có một vị thiền sư nói pháp môn Niệm Phật là pháp môn phương tiện, chỉ nhằm an ủi người già. Cậy vào Tha Lực để đới nghiệp văng sanh, chẳng có lẽ ấy! Bởi lẽ, niệm đến mức tự tánh Di Đà phát hiện bèn được độ th́ rốt ráo vẫn là Tự Lực. Nhớ có lần dự buổi giảng kinh tại hội Phật Giáo, thấy một bà cụ già đang lần chuỗi niệm Phật tại đó, bị vị thiền sư ấy nạt một tiếng, bà cụ ấy vội vă cất chuỗi, sợ sệt chẳng dám niệm nữa. Đối với lời vị ấy nói, đại đức có nghĩ là đúng hay không? (Trần Văn Bân hỏi)

 

Đáp: Thiền sư dạy Thiền, pháp sư Tịnh Độ dạy Tịnh, mỗi người có sở học riêng, mỗi người hoằng đạo của ḿnh, đạo quư ở chỗ chuyên ṛng, không có ǵ đáng chê trách! Nay nhằm thời Mạt Pháp, con người căn tánh chậm lụt, kém cỏi, nếu có thể tu tập chuyên nhất, đă là khó kiếm. Nếu mong chư pháp b́nh đẳng, pháp môn vô lượng đều học, viên dung vô ngại, càng khó có được! Hăy nên biết Thiền, Tịnh, Luật, Mật, đều do đức Phật nói, đều là tùy duyên, khế cơ, phương tiện thiện xảo. Nếu nói pháp này là thật, pháp kia là giả, đấu tranh kiên cố, rất trái nghịch ư Phật! Nếu hỏi tại hạ “đối với lời ông ta nói, có nghĩ là đúng hay không”, tại hạ chưa hiểu rơ đại sự, một mực hồ đồ, chính ḿnh c̣n chưa biết, sao có thể biết người khác? Khuyên ông tin Thiền th́ tu Thiền, tin Tịnh bèn tu Tịnh, đều có thể thành tựu, Phật chẳng nói dối. Nếu chỉ phân biệt [pháp môn này, pháp môn nọ là cao thấp] th́ đúng là chẳng có lẽ ấy!

 

* Hỏi: Xin hỏi thầy, có người khác giới thiệu cho tôi uống dược thảo, uống vào chẳng thấy công hiệu, một năm sau, bèn chỉ có thể thấy gần, chẳng thể nh́n xa, đó có phải vừa khéo tương phản với trước kia hay không? Vậy th́ có phải thực hiện lời hứa nguyện xuất gia làm ni trong thuở ấy hay không? (Trần Nga hỏi)

 

      Đáp: Có bệnh th́ uống thuốc, cầu nguyện chẳng ngại ǵ! Chỉ là hăy nên thực hiện lời nguyện đă phát, chớ nên miệng có tâm không. C̣n như nói tới chuyện xuất gia làm ni, đó là đại sự, càng chớ nên tùy tiện nói lung tung! Người chẳng học Phật, ăn nói c̣n phải giữ lời, người học Phật há nên ăn nói bừa băi như trẻ nít đùa bỡn! Vấn đề chẳng phải là hiện thời, mà là thuở trước cái tâm có chân thật hay không? Lại c̣n trong gia đ́nh hiện thời có chướng ngại hay không? Sau khi xuất gia, có thể khổ tu chẳng biến đổi hay không? Mọi thứ đều phải do chính ḿnh quyết định, người khác chẳng tiện buông lời nghị luận suông!

 

      * Hỏi: Làm thế nào để tiêu trừ tội nghiệt phá thai? (Trần Nga hỏi)

 

      Đáp: Nghiệp đă tạo, chỉ có sám hối, niệm Phật cho nhiều, hồi hướng cho họ, nhưng cần phải thành tâm th́ mới có hiệu quả. Nếu chỉ qua quít cho xong việc, sẽ uổng công!

 

      * Hỏi: Tai điếc, mắt rất yếu, bệnh bao tử khá nhẹ, với t́nh trạng thân thể hiện thời, tôi chẳng biết phải tu theo pháp môn nào? (Trần Nga hỏi)

     

Đáp: Sở học của cư sĩ có thể nói là rộng răi, nhưng tôi có một lời, xin hăy rộng ḷng tha thứ. Dẫu thầy cao minh, nhưng căn khí của ḿnh như thế nào? Tiến thoái như thế nào? Tại ḿnh, chẳng do thầy! Theo ư vụng dại của tôi, sợ Thiền lẫn Mật chẳng hợp căn cơ của bà, chẳng bằng Tịnh Độ, thích hợp khắp ba căn, mong hăy soi xét.

 

      * Hỏi: Hiện thời người xuất gia thường niệm kinh lấy tiền, từ thời nào bắt đầu có lệ ấy? (Hứa Kim Thành hỏi)

 

      Đáp: Trong bài Lạc Dương Già Lam Kư do Dương Huyền soạn vào đời Hậu Ngụy[28], có đoạn: “Hai chùa Tần Thái và Thượng Công tiếp nhận vật cúng dường, các chùa khác chẳng bằng”. Tăng chúng trong chùa miếu tiếp nhận người khác cúng dường đă có từ rất lâu, đại khái là phàm có người dâng cúng, ắt phải chú nguyện cho họ. Suy ra, v́ người khác tụng kinh th́ người ta phải cúng dường. Trong kinh đă chép, bố thí là một trong các Độ, là chuyện dĩ nhiên tại Thiên Trúc.

 

      * Hỏi: Trong chùa miếu Phật giáo cho xin xăm, bói quẻ, điều đó có đúng là do Phật Tổ truyền lại hay không? (Hứa Kim Thành hỏi)

 

      Đáp: Xem bói bằng mai rùa hoặc cỏ Thi là phép xưa của Trung Quốc đă được chép trong sử truyện, kẻ hèn này biết như vậy. C̣n như chùa miếu cho xin xăm, tuy Phật, Tổ chẳng truyền dạy, nhưng trong kinh Chiêm Sát có một loại [chiêm bốc] gần giống như vậy, có lẽ là do phỏng theo kinh Chiêm Sát mà biến tướng, hoặc tùy thuận phong tục mà làm như vậy. Trong hai lẽ, ắt sẽ có một. Có lẽ chẳng nên chấp trước, truy khảo. Hiện thời tuy coi chuyện này là mê tín, nhưng cổ đại đức cũng có vị tin tưởng, xem bói để giải quyết mối nghi. Chẳng nghi th́ bói làm ǵ? Bói và chẳng bói, ai có thể cưỡng được? Lại nữa, đối với kinh Chiêm Sát, người đời sau cũng có kẻ nghi ngờ, kẻ hèn này học thức rất cạn, chẳng dám thốt lời!

 

      * Hỏi: Người Hoa hễ thỉnh người xuất gia tụng kinh, bái sám, đều phải đốt tiền, thiêu vàng mă, những thứ ấy có thuộc về Phật giáo hay không? (Hứa Kim Thành hỏi)

 

      Đáp: Đốt tiền vàng mă chính là tập tục của Trung Quốc, chẳng liên quan ǵ đến nhà Phật, chớ nên gắng gượng gán ghép. Nhưng thỉnh Tăng tụng kinh, th́ trách nhiệm của vị Tăng là thành tâm tụng niệm mà thôi, những chuyện khác Tăng chẳng thể quản nhiều!

 

      * Hỏi: Đốt tiền giấy, vàng mă th́ người đă khuất có thật sự hưởng được hay không? (Hứa Kim Thành hỏi)

 

      Đáp: Chuyện này cổ nhân đă bàn luận rất nhiều, xin ông hăy tự kiếm sách đọc, để rồi tin hay không tin, tự ḿnh phán đoán. Lời đáp của kẻ hèn này cũng là suy đoán, chẳng phải là Hiện Lượng, huống chi [chính ḿnh] c̣n chưa qua đời, chưa từng chính mắt thấy! Dẫu có qua đời, chính mắt thấy, nhưng ông c̣n sống sờ sờ, đợi đến khi tôi quay lại, báo cho ông biết, ông vẫn chẳng nghe được, chẳng có ǵ để làm chứng.

 

      * Hỏi: Tại gia niệm Phật tu Tịnh nghiệp, về mặt h́nh thức th́ có phải nên hướng về vị Tăng xuất gia xin quy y? (Vương Chí Tây hỏi)

 

      Đáp: Hễ học th́ nên có thầy, cầu đạo th́ càng nên có sư truyền, tại gia tu Tịnh nghiệp khá đơn giản, có thầy cố nhiên là tốt đẹp, nhưng không có thầy cũng được. Nhưng chuyện quy y tuy nói là h́nh thức, thật sự cũng nên thay đổi cái tâm. Hễ đă quy y, tâm có chỗ hướng về. Nếu quy y, ắt cần phải có vị tăng xuất gia [truyền trao]. Tăng là đoàn thể tăng chúng. Vị ấy đại diện cho tăng chúng tiếp nhận chúng sanh quy y, chẳng phải là quyến thuộc riêng của vị ấy. Quy y Tăng đoàn là v́ có Phật pháp trong ấy, nên ắt phải quy y Pháp. Quy y Pháp là học Phật, nên ắt phải quy y Phật. Đó gọi là Tam Quy Y, [người đă thọ Tam Quy Y] được gọi là Tam Bảo đệ tử. Sau đó mới có tư cách cầu pháp và tu pháp. Người trọng đạo ắt có thầy.

 

      * Hỏi: Tôi thường đọc sách Tịnh Độ thấy có câu “sanh th́ quyết định sanh, đi th́ thật sự chẳng đi”, chưa hiểu nghĩa ấy, xin hăy giải thích nông cạn. (Vương Chí Tây hỏi)

     

      Đáp: Sợ kẻ sơ cơ khó thể lănh hội, đối với điều này cần phải biết đôi chút về tâm pháp th́ mới chẳng hiểu lầm, nên miễn cưỡng nói như sau: “Tâm sanh th́ vạn pháp sanh”. Tâm niệm Cực Lạc, th́ tâm sanh về Cực Lạc, nên nói “quyết định sanh”. Tâm lượng của chúng sanh to lớn không ǵ ra ngoài được, theo chiều ngang gồm khắp mười phương, theo chiều dọc cùng tột ba đời, vốn chẳng có đến, mà cũng vốn chẳng có đi, nên nói là “thật sự chẳng đi”.

 

      * Hỏi: Đối với các tờ báo và tạp chí Phật giáo sau khi đọc xong, do chỗ ở chật hẹp, không có cách nào lưu giữ toàn bộ, phải nên xử lư như thế nào? Đốt đi có được hay không? (Vương Chí Tây hỏi)

 

      Đáp: “Nhất ty, nhất lũ, đương tư lai thời bất dị” (đối với một sợi tơ, một sợi gai, hăy nên nghĩ có được chẳng dễ). Không xem th́ đem tặng cho người khác xem, đó chính là hoằng pháp. Dùng lửa đốt đi, vô ích cho đại chúng, lại c̣n gây tổn hại cho vật, nên tôi chẳng tán đồng cách thiêu hủy.

 

      * Hỏi: Người tu hành đă chết bèn hỏa táng, có người có xá-lợi, có kẻ chẳng có xá-lợi. Có phải là người tu hành tốt đẹp bèn có xá-lợi hay không? Hỏa táng giống như nhau, kết quả khác nhau, v́ sao? (Tâm Liên hỏi)

     

      Đáp: Sau khi hỏa táng có xá-lợi hay không là do công phu sâu hay cạn, nhưng tuy tu hành, c̣n có vô lậu học và hữu lậu pháp sai khác. Vô lậu học là nói đến Giới, Định, Huệ, công phu sâu, có thể có xá-lợi. Hữu lậu pháp chỉ tu thiện sự bèn đắc phước báo, nhưng khuyết thiếu công phu nội tu, sợ rằng chẳng có xá-lợi.

 

      * Hỏi: Trên đỉnh đầu ba vị Phật Di Đà, Thích Ca, Dược Sư đều có một khối màu đỏ, nên gọi là ǵ? Từ đâu mà có? V́ sao trên đỉnh đầu ba vị Bồ Tát Quán Âm, Thế Chí, Địa Tạng không có khối đỏ? (Trần Sĩ Lương hỏi)

 

      Đáp: Phật có ba mươi hai tướng mà những người khác chẳng có. Khối màu đỏ như ông đă nói chính là tướng nhục kế trên đỉnh đầu. Nhưng đắp tượng, vẽ vời, điêu khắc v.v… bất quá chỉ biểu thị đại lược ư nghĩa, cũng có khi không làm thành khối màu đỏ, chỉ cần trên đỉnh đầu u lên, chẳng bằng phẳng [nhằm biểu thị nhục kế], đó là chuyện thường thấy. Bồ Tát c̣n chưa đạt đến địa vị Phật, phước tướng chưa toàn vẹn, nên chẳng có nhục kế. Đó là chỗ sai biệt.

 

      * Hỏi: Xin chỉ dạy: Từ Sơ Thiền đến Tứ Thiền có phải là bốn giai đoạn cảm được do ngồi Thiền hay không? Tôi tĩnh tọa mười mấy năm, chú tâm vào đỉnh đầu, thoạt đầu cảm thấy đỉnh đầu ngứa; mấy năm sau không có cảm giác ngứa, chỉ cảm thấy trên đỉnh đầu chẳng tan, trong khi tĩnh tọa, cảm thấy tại đỉnh đầu chẳng có ư niệm ǵ khác, đích xác là một niệm A Di Đà. Tĩnh tọa xong, niệm A Di Đà Phật ra tiếng, hồi hướng Tây Phương. Cho đến nay chẳng có cảm giác tiến triển, khẩn thiết xin trưởng lăo rủ ḷng dạy bảo hậu học tu tŕ, theo đuổi chánh pháp. (Trần Sĩ Lương hỏi)

 

      Đáp: Tứ Thiền là bốn giai đoạn. Cố nhiên tu Thiền cần phải tọa Thiền, nhưng chuyên ngồi th́ chẳng phải là Thiền! Thiền là công phu định lực, mỗi môn Thiền có cách tu Thiền riêng. Nếu không có sư thừa, sợ sẽ xuất hiện sai lầm. Đối với chỗ tâm trụ vào, lâu ngày sẽ cảm thấy khác lạ, chẳng có ǵ là kỳ quái! Tâm chỉ thường trụ một chỗ, cũng có cách như vậy, nhưng nếu chẳng hiểu giáo lư, sợ sẽ phát sanh bệnh tật. V́ vậy, sau khi tĩnh tọa, ông nên tham khảo [các kinh sách dạy về] Tiểu Chỉ Quán, Đại Chỉ Quán v.v… Nếu niệm Phật Di Đà đến mức buông xuống vạn duyên, tạp niệm chẳng khởi, đó chính là tiến bộ. Nếu mong mỏi những điềm kỳ dị, sẽ là vọng niệm, hăy nên đọc Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao, sẽ tự có phương hướng.

 

      * Hỏi: Xưa kia, Phạm Chí tay cầm hoa ngô đồng dâng lên đức Phật. Đức Phật bảo: “Buông xuống”. Phạm Chí liền buông hoa từ một bên tay xuống, đức Phật lại nói: “Hăy buông xuống”, Phạm Chí lại buông luôn hoa từ tay kia. Đức Phật vẫn nói: “Hăy buông xuống”. Phạm Chí thưa: “Hoa trong hai tay con đă đều buông xuống, nay Ngài dạy con buông xuống điều ǵ?” Đức Phật nói: “Buông cái chính giữa xuống”. Phạm Chí hoát nhiên đại ngộ, chẳng biết “buông cái chính giữa xuống” có ư nghĩa ǵ? Xin chỉ dạy! (Ngô Lăo Văn hỏi)

 

      Đáp: “Chính giữa” cũng là nói phương tiện. Ông đă tự nói là kẻ sơ học, chỉ đành tùy thuận đáp lời. “Chính giữa” ám chỉ cái tâm. Tâm là cái gốc tạo tác vọng niệm, Ngă Kiến, Thiên Kiến, Tà Kiến, Đoạn Thường Kiến v.v… tham tâm, sân tâm, si tâm, ngạo mạn tâm v.v… Cái này diệt, cái kia dấy lên, niệm niệm chẳng ngừng. Cứ một niệm là một hạt giống sanh tử, gieo vào ruộng tám thức, dị thục[29] hiện hành, luân hồi chẳng dứt, rất đáng buồn đau! Nếu có thể buông xuống những tâm niệm ấy, đó chính là “khắc chế ư niệm bèn thành thánh”, tùy duyên tiêu nghiệp cũ, trọn chẳng tạo họa ương mới; thành Phật, làm Tổ, không ǵ chẳng phải là như vậy.

 

      * Hỏi: Kinh Kim Cang nói: Vô Tránh tam-muội là bậc nhất trong loài người. Do kẻ sơ học chẳng biết ư Phật, kính xin khai thị? (Ngô Lăo Văn hỏi)

 

      Đáp: “Tránh” () là cái tâm thị phi nhân ngă, hoặc ngôn luận năo loạn chúng sanh v.v… Có thể ngộ lư Không, chẳng khởi cái tâm ấy, th́ gọi là Vô Tránh. Tam-muội là tiếng Phạn, dịch sang tiếng Hán là Chánh Định. Ư chỉ đại lược là như vậy, nói cặn kẽ sợ vướng lỗi rườm rà, thừa thăi.

 

      * Hỏi: Chúng sanh từ phát tâm cho đến viên thành đạo quả A La Hán phải trải từ ba đời cho đến sáu mươi kiếp, Bích Chi Phật th́ từ bốn đời cho đến một trăm kiếp, thành Phật th́ cần phải ba A-tăng-kỳ kiếp; cách tính đời và kiếp trong ấy như thế nào? (Triệu Chánh Hoa hỏi)

 

      Đáp: Có đến mấy cách nói, ở đây tôi nêu một cách. Tính từ lúc con người chỉ thọ mười tuổi, cứ một trăm năm tăng thêm một tuổi, [tăng dần như vậy] cho đến khi thọ tám vạn bốn ngàn tuổi, lại giảm xuống, [cứ mỗi trăm năm giảm một tuổi], giảm xuống đến mười tuổi, th́ là một tiểu kiếp. Hai mươi tiểu kiếp là một trung kiếp. Bốn trung kiếp là một đại kiếp. A-tăng-kỳ kiếp lại theo cách tính khác. Mười vạn là một ức, mười ức là một triệu, mười triệu là một kinh (), mười kinh là một cai (), cứ tăng gấp mười như vậy thành một con số mới, tăng thêm lần lượt như vậy cho đến một trăm hai mươi lần th́ thành một con số lớn có tên là A-tăng-kỳ.

 

      * Hỏi: Hiện thời, đảo này (Đài Loan) rất thịnh hành thói thiết lập miếu cầu cơ, trong ấy thường có chuyện Thích Ca Văn Phật, Tây Phương Như Lai… đến tham dự, giáng bút. Ngu ư cho rằng đó là ngoại đạo mạo danh Phật giáo nhằm đạt một mục đích nào đó, kẻ bị họ mê hoặc rất đông, lại c̣n dần dần lan tràn, ắt gây nên mối lo chướng ngại cho chánh pháp. Hăy nên mưu tính cách cứu văn như thế nào? (Triệu Chánh Hoa hỏi)

 

      Đáp: Chỉ có học hỏi Phật pháp, nghiên cứu tinh tường Phật lư, có đủ chánh tri chánh kiến, sẽ tự biết chỗ sai trái của bọn họ. Nếu chính ḿnh chẳng giác, làm sao biết kẻ khác là tà hay chánh!

 

      * Hỏi: Có những trước thuật nào để dạy Phật học (trừ A Di Đà Kinh Trích Chú Tiếp Mông Nghĩa Uẩn Hợp San ra), xin hăy rộng ḷng giới thiệu? (Triệu Chánh Hoa hỏi)

 

      Đáp: Những sách được xuất bản ít ỏi. Nếu sau này lại được tiếp tục in, tự nhiên sẽ cúng dường mọi người.

 

      * Hỏi: Thư cục nào có bán sách Tịnh Độ Thánh Hiền Lục (kẻ ngu này từng hỏi khắp những chỗ lưu thông kinh Phật ở nơi này, thậm chí chùa Thiện Đạo ở Đài Bắc và Thụy Thành Thư Cục ở Đài Trung đều không có) (Triệu Chánh Hoa hỏi)

     

Đáp: Đại khái là các thư cục chưa ấn hành, chẳng biết là Hương Cảng có hay không, tôi chẳng biết.

 

      * Hỏi: Phạm vi giáo hóa của một vị Phật là một đại thiên thế giới, v́ sao vậy? (Triệu Chánh Hoa hỏi)

 

      Đáp: Đây cũng là phương tiện cho dễ nói.

 

      * Hỏi: Trung tâm phục vụ Phật giáo của huyện Chương Hóa tặng cho tôi một bộ Phật Thuyết Đại Thừa Kim Cang Kinh Luận (đầu mùa Xuân năm Ất Sửu đời Quang Tự, tàng bản của Khánh Phương Thư Cục ở Cao Hùng). Xem kinh văn và ngữ khí, dường như chẳng phải là kinh, mà cũng chẳng phải là luận, nhưng câu thứ nhất mở đầu kinh là “như thị ngă văn” th́ phải thuộc về kinh. Xin hỏi là trong kinh điển Phật giáo có loại kinh luận này hay không? (Lâm Đồng Cứ hỏi)

 

      Đáp: Đây là luận của kinh, trọn chẳng phải là kinh, nhưng luận ấy do người nào soạn, nội dung như thế nào, kẻ hèn này học ít, thô lậu, chưa thấy, mong ông hăy tự tra duyệt trong mục lục của Đại Tạng.

 

      * Hỏi: Đại Tạng Kinh và Tam Tạng Kinh có giống nhau hay không? (Hoàng Giai Chi hỏi)

 

      Đáp: Cùng là một chuyện, tên gọi khác nhau.

 

      * Hỏi: Từ khi được phiên dịch đến nay, Trung Quốc có bao nhiêu bản kinh Phật? (Hoàng Giai Chi hỏi)

 

      Đáp: So với kinh Phật [vốn có] tại Thiên Trúc th́ số kinh đă được dịch tại phương Đông, Trung Quốc đứng đầu. Đến nay hiện c̣n Tam Tạng mênh mông đều bằng tiếng Hán, là do Trung Hoa dịch. Chỉ có vấn đề số tập và đóng thành bộ mỗi nơi mỗi khác, chẳng có cách nào để nói xác định nhất loạt được.

 

      * Hỏi: Nếu có đầu mối để xem hết tất cả các kinh Phật (từ quyển thứ nhất đến quyển cuối cùng) th́ phải t́m ở chỗ nào? Có thể mượn từ chỗ nào? (Hoàng Giai Chi hỏi)

 

      Đáp: Hiện thời, thuật ấn loát phát triển. Lấy ngay Đài Loan để nói, [Đại Tạng Kinh] đă được in mấy lượt. Phàm là các chùa miếu lớn đều có tàng trữ. Nếu đến chùa mượn bất tiện, có thể t́m xem ở các thư viện.

 

      * Hỏi: Đại Tạng Kinh được giữ tại chùa Đông Sơn ở B́nh Đông có phải là tất cả kinh Phật? (Hoàng Giai Chi hỏi)

     

      Đáp: Gọi là Đại Tạng Kinh th́ [đương nhiên] là kinh Phật. Tuy mỗi chùa có tàng bản khác nhau, nhưng kinh chẳng biến đổi. Chỉ là bản đang được lưu giữ hoàn chỉnh hay tàn khuyết khác nhau. Một vấn đề khác là chuyện bảo quản; v́ thế, chẳng biết [bản ở chùa Đông Sơn] có bao gồm tất cả [các bản kinh trong Đại Tạng Kinh] hay không!

 

      * Hỏi: Do trong Phật giáo chia thành mười đại tông phái, mười đại tông phái ấy có những điểm đặc sắc nào? (Hoàng Giai Chi hỏi)

     

Đáp: Đại đức đă phát tâm duyệt Đại Tạng, nên xin hăy bắt đầu thực hiện. Sau khi duyệt xong toàn bộ Đại Tạng, kẻ hèn này mới có thể vâng lời giải đáp thích hợp. Nếu hiềm thời gian lâu dài, chẳng thể kiên nhẫn, trước hết, hăy xem bộ Duyệt Tạng Tri Tân, điểm đặc sắc của mười tông sẽ hiện ngay trước mắt.

     

      * Hỏi: Mười đại tông phái tu luyện có những điểm bất đồng nào? (Hoàng Giai Chi hỏi)

     

      Đáp: Trước hết phải biết mỗi tông có điểm đặc sắc nào th́ sẽ tự có thể biết sự tu luyện của họ có những điều khác biệt nào. Chẳng biết điều trước, khó thể nói điều sau.

 

      * Hỏi: Họ lấy kinh điển nào làm chủ? Có phải là lấy tất cả các kinh Phật làm chủ, hoặc chỉ lấy một bộ phận kinh Phật làm chủ? (Hoàng Giai Chi hỏi)

 

      Đáp: Chữ “họ” chỉ ai? Tôi chưa hiểu rơ tôn ư, nên chẳng thể tùy tiện đáp bừa được! Nếu là nói về mười tông th́ mỗi tông đều có thông và chuyên. Thông là tất cả hết thảy, chuyên th́ có thể là một bộ phận. Học giáo th́ cần phải biết trọn hết thảy, nhưng nghiên cứu giáo nghĩa của một tông th́ phải chuyên tu một bộ phận.

 

      * Hỏi: Tịnh Thiền song tu và chuyên dốc sức tu Thiền hoặc dốc sức tu Tịnh Độ có chỗ bất đồng ra sao? (Hoàng Giai Chi hỏi)

     

Đáp: Trở về nguồn chẳng có hai đường, nhưng phương tiện có nhiều cửa. Hơn nữa, chỉ có pháp Nhất Thừa, không hai, cũng chẳng ba. Bậc lợi căn bèn ngộ hết thảy các pháp môn là một, kẻ độn căn chỉ thấy pháp môn sai khác. Hiểu rơ những lẽ trên đây, nói Thiền Tịnh là một th́ chúng là một, nói là khác th́ chúng là khác. “Một” là nói theo Lư, “khác” là luận theo Sự. Nếu tu mỗi pháp khác biệt th́ phải chuyên công dốc sức. Nếu ngộ chúng là một, bèn song tu. Người học ắt phải có tâm đắc đôi chút nơi Văn Tự Bát Nhă, tự có thể đối với nghĩa mà phân ra Sự và Lư, đồng và bất đồng, chứ chẳng thể dùng ngôn ngữ để tỷ dụ được!

 

      * Hỏi: Loại người nào có thể Thiền Tịnh Song Tu? Loại người nào chỉ có thể tu Tham Thiền? Loại người nào chỉ có thể tu Tịnh Độ? (Hoàng Giai Chi hỏi)

     

      Đáp: Tịnh pháp th́ ba thứ căn khí thượng, trung, hạ đều có thể tu tập. Thiền pháp th́ e rằng căn khí trung hạ chẳng có phần! Thiền Tịnh Song Tu chỉ có căn khí viên đốn thượng thượng mới chẳng đến nỗi gặp cảnh hai đằng đều xôi hỏng bỏng không!

 

      * Hỏi: Phải tu như thế nào th́ mới có thể minh tâm kiến tánh? Sau khi minh tâm kiến tánh, nếu nỗ lực tu luyện, t́nh h́nh lại là như thế nào? (Hoàng Giai Chi hỏi)

     

      Đáp: Thường tu một pháp, tâm thường trong Định. Trước hết là chế phục tham, sân, si, mạn, nghi; sau đó đoạn tham, sân, si, mạn, nghi, bèn thấy tâm tánh. Bởi lẽ, chẳng thấy chân tánh chính là do tham, sân, si, mạn, nghi che lấp. Thập Sử tức tham, sân v.v… hợp thành hơn một trăm sáu mươi phẩm, hoàn toàn đoạn hết [các phẩm ấy], bèn chứng A La Hán. Nếu tu cao hơn, đoạn Trần Sa và Vô Minh, sẽ lần lượt tiến theo năm mươi hai cấp bậc Bồ Tát. Lại tiến hơn nữa là đoạn Căn Bản Vô Minh, bèn chứng Phật quả.

 

      * Hỏi: Cụ có thể tặng cho tôi một quyển sách nói về các thứ ma cảnh khi tọa thiền hay không? (Hoàng Giai Chi hỏi)

 

      Đáp: Trong tay tại hạ không có loại sách ấy, trọn chẳng phải là không nỡ cho! Kính khuyên ông cũng chẳng cần phải t́m hỏi người khác. Ma là phát bệnh, bệnh th́ cần hiểu rơ thuốc, khéo léo trị liệu, chẳng thể chấp chặt một phương thuốc để trị trăm bệnh được! Nếu chưa từng học y, cứ tự do uống thuốc, sợ rằng bệnh nhẹ sẽ trở nặng, chẳng thể không cẩn thận. Thử hỏi đại đức tọa thiền có thầy hay không? Xin hăy trân trọng!

 

      * Hỏi: Trong kinh Phật có ghi chữ Khoa Phán, chính là như hiện tại nói phân chia (Phán) thành chương, tiết, đoạn (tức là Khoa), đúng không? (Tiên Thuần Hiền hỏi)

 

      Đáp: Đại lược là như vậy, nhưng chia [kinh văn theo kiểu Khoa Phán] vô cùng khó! Ắt phải hiểu rơ văn lư, rồi cầu t́m ư nghĩa của kinh, lấy kinh nghĩa làm chánh, văn nghĩa là thứ yếu. Giống như mạch lạc trong thân thể con người, trọn khắp một thân, chỗ nào cũng tương thông, tuy mỗi thứ có tác dụng riêng, nhưng đều quy về một nguồn. Chương, tiết, đoạn vẫn thuộc về tướng bên ngoài.

 

      * Hỏi: Trước kia, thầy đă từng nói: “Kẻ mới học Phật thấy núi là núi, thấy nước là nước. Khi công phu tiến hơn, thấy núi chẳng phải là núi, thấy nước chẳng phải là nước. Cho đến khi công phu lại tiến hơn nữa, sẽ thấy núi lại là núi, thấy nước lại là nước”. Hiện thời, đối với điều này, đệ tử lănh ngộ như sau: Đối với kẻ sơ học, không có ǵ đáng nghi, nên chẳng nhắc tới. Công phu tiến hơn th́ do người ấy đă liễu giải đạo lư phá tướng, nên thấy núi chẳng phải là núi. Đợi đến khi công phu lại tiến cao hơn nữa, liễu giải Tánh và Tướng như một. Do tâm của chúng sanh trong thế giới Sa Bà bất b́nh đẳng, nên núi, sông được hiện cũng chẳng b́nh đẳng. V́ thế, thấy núi lại là núi, đúng không? (Tiên Thuần Hiền hỏi)

 

      Đáp: Lời nói ấy, nếu ngẫu nhiên nhắc tới th́ không sao. Nếu chuyên bám víu vào đó, sẽ là phương tiện ĺa tịnh. Sợ rằng, chẳng Thiền, chẳng Tịnh, đằng nào cũng chẳng đạt được. Huống chi lời lẽ ấy chỉ có thể dùng để tạm thời thích hợp với căn cơ. Nếu coi như là lời giảng trong sách giáo khoa, sẽ hoàn toàn biến thành hư luận! Đối với lời hỏi của cư sĩ trong câu này, xét từ câu “công phu tiến hơn” cho đến “liễu giải Tánh và Tướng như một” tính ra được mấy phần tương tự, những điều khác đều chẳng liên quan!

 

      * Hỏi: Nay tôi đường đột viết thư xin hỏi, v́ bỉ nhân học Phật đă hai mươi mấy năm qua. Xin thưa tŕnh đại lược cùng đại đức về công khóa thọ tŕ: Kinh Pháp Hoa, chú Lăng Nghiêm, chú Đại Bi; trong quá tŕnh ấy, thọ tŕ gần như chẳng gián đoạn. Xét theo tâm đắc, “phàm lưu” cũng bất quá dụng công nơi Căn, Trần và tám thức, đại khái là xa gần, cao thấp, sâu cạn mà thôi, cũng chưa gặp phải nan đề rất lớn! (Giác Lực đại đức hỏi)

 

      Đáp: Lời Ngài rủ ḷng hỏi tới rất phức tạp, cần phải tách thành đoạn để nói. “Xét theo tâm đắc, phàm lưu bất quá dụng công nơi Căn, Trần và tám thức… cũng chưa gặp phải nan đề rất lớn”: Linh quang riêng chiếu, vượt thoát Căn Trần, đấy chính là nan đề của Căn, Trần. Chuyển tám thức thành bốn trí, đấy chính là nan đề của tám thức. Tiến cao hơn một bước, sẽ cảm thấy khó hơn một bước; chẳng tiến sẽ chẳng biết là khó, chớ nên ôm ḷng coi thường!

 

      * Hỏi: Trong Phật học có một số như Phật Tánh, tự tánh, chân tâm, thức thứ tám. Danh từ nhà Thiền có “bổn lai diện mục”. Trong Quốc Học[30] có “bổn tánh”, chúng có thể là cùng một thứ hay không? (Giác Lực đại đức hỏi)

     

      Đáp: [Ông hỏi] “Phật Tánh, tự tánh”… và “bổn tánh” trong Quốc Học có phải là cùng một thứ hay không? [Xin trả lời]: Trọn chẳng phải là hai, bất quá [các danh từ ấy diễn tả các ư nghĩa nội hàm] chi tiết hay đại lược, ẩn hay hiển mà thôi!

 

      * Hỏi: Thế tục gọi vật ấy là “linh hồn”. Đức Phật nói từ vô thỉ đến nay luân hồi trong lục đạo, chính là ở chỗ này phát sanh nan đề lớn nhất: Rốt cuộc đối với kẻ phiêu giạt sanh tử trong năm đường th́ vật ấy có tăng hay giảm, hay là giữ nguyên số lượng bất động? (Giác Lực đại đức hỏi)

     

      Đáp: [Ông hỏi]“Linh hồn ấy phiêu giạt trong năm đường th́ vật ấy có tăng hay giảm, hay là giữ nguyên bản chất bất động”: Linh hồn chính là thần thức, mỗi một chúng sanh đều có thần thức. Nếu biết là một hay là nhiều, th́ mới có thể nói là có tăng giảm. Thử xem nước trong biển cả, ngày hôm qua gió to, hoa sóng, bọt biển cuồn cuộn khắp cả biển. Hôm nay gió nhẹ, sóng cuộn giữa vời, hoặc chỉ hiện ra ở mấy chỗ, có phải là ngày hôm qua tăng, hôm nay giảm, hay là giữ nguyên số lượng bất động? Lại ở quư xứ vào mười năm trước, từng dựng một căn nhà, trong nhà có gắn đèn; nay đă dựng mười gian, đều có gắn đèn, thử nghĩ xem ánh sáng từ mười năm trước và ánh sáng hiện thời có tăng giảm hay không? Xin hăy tham cứu sẽ tự biết.

 

      * Hỏi: Trong khu vực giáo hóa của một đức Phật, mỗi vị Phật đều có cơi nước riêng, tức là ba ngàn đại thiên[31] thế giới. Ở trong cơi nước ấy, phàm thánh cùng ở, tự tánh chủ nhân ông của những kẻ phiêu giạt chẳng biết số đến bao nhiêu. Trong bốn tiểu kiếp Thành, Trụ, Hoại, Không, [các tự tánh ấy] có tăng giảm hay không, hay là một con số nhất định? (Giác Lực đại đức)

 

      Đáp: Nếu nói tới “tự tại chủ nhân ông” th́ là một mà chẳng phải một, là nhiều mà chẳng phải nhiều. Nếu nói đến cái thân Ngũ Uẩn th́ ví như bọt sóng trong biển cả, chẳng thể biết con số, mà cũng chẳng có số nhất định.

 

      * Hỏi: Bỉ nhân thường có tâm mong làm những chuyện hóa độ lợi chúng sanh trong khả năng, nhưng nhiều năm qua v́ trong sự học Phật đă hỗn tạp cái học về quỷ thần, nên chẳng dễ thông suốt. V́ thế nói là cửa ải khó vượt qua. Khổng phu tử nói: “Thần chi cách tư, vị tri sanh nhi yên tri tử” (thần linh giáng xuống, chưa biết chuyện sống, há biết chuyện chết)[32], chuyện này chẳng triệt để! (Giác Lực đại đức hỏi)

 

      Đáp: [Ông nói] “Khổng phu tử nói: Chưa biết chuyện sống, làm sao biết chuyện chết, chuyện này chẳng triệt để”, chúng ta dốc sức học Phật, hăy nên t́m ṭi trong phạm vi nhà Phật. Đối với sở học của Khổng Tử, chưa từng học tập, há nên tùy tiện phê b́nh? Hàn Xương Lê (Hàn Dũ) chưa đọc kinh Phật, đă dâng biểu soạn sớ, khăng khăng bài Phật, lâu ngày bị kẻ hiểu biết chê cười, quư đại đức chưa đọc sách Khổng, v́ sao cũng giẫm theo vết xe đổ ấy? Nói theo phương diện hóa tích[33], Khổng Tử giáng thế, có phải là ứng thân của Phật, Bồ Tát hay không, cổ đức trong Phật môn đă sớm có nhiều nghị luận, chúng ta chớ nên khinh miệt thánh nhân!

 

      * Hỏi: Do ở trong thôn của hậu học có rất nhiều người tưởng lầm tôi có thần thông, liền muốn lợi dụng Phật giáo đồ chúng tôi. Do tôi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng bèn chấp trước lục trần, dấy lên vọng tâm, lại chẳng có cách nào khống chế vọng tâm ấy; v́ vậy, thường khởi hận tâm. Xin hăy dạy cho biết đó có phải là thần thông hay không? Người có thần thông đến mức độ nào th́ mới có thể đối trị vọng niệm? (Trương Tâm Mân hỏi)

 

      Đáp: Thân trời có thần thông, thân quỷ cũng có tiểu thông. Đó gọi là “báo đắc thông” (thần thông do quả báo mà có). Quư đại đức chẳng phải là trời, mà cũng chẳng phải là quỷ, sẽ chẳng có “báo đắc thông”. Chẳng cần biết là Thiền Định thế gian hay Thiền Định xuất thế gian; nếu Định thành tựu, sẽ đắc thần thông. Đó gọi là “tu đắc thông”. Quư đại đức đă chẳng thể khống chế vọng tâm, tức là chẳng có mảy may Định nào, nên “tu đắc thông” càng khỏi phải bàn tới! Kính thưa quư đại đức, chuyện thần thông chớ nên hư luận, chớ nên vọng tưởng, chớ nên vọng ngữ! Hăy nên lập tức tiêu diệt ư niệm ấy. Nếu không, dẫu chẳng bị ma dựa, cũng chuốc lấy tội lỗi!

 

      * Hỏi: Chúng sanh tạo nghiệp thọ khổ v́ vô minh, nhưng vô minh vốn nương vào bổn tánh mà tồn tại, nếu có thể khiến cho bổn tánh cũng đoạn diệt, sẽ trở thành trạng thái ngoan không, vô minh cũng chẳng do đâu mà tồn tại được! Tôi tin tưởng đó là sự giải thoát sanh tử triệt để nhất, đương nhiên cũng chẳng cần phải thành Phật. Xin hỏi quan niệm ấy có chánh xác, hoặc phù hợp với Thiền Tông hay không? (Pḥng Huân Minh hỏi)

 

      Đáp: Lời bàn luận này của quư cư sĩ, xét đến hết mức, chỉ là hư luận! Nếu biện giải cùng ông, dẫu vạn lời cũng khó nói rơ. Tôi tạm thời tùy thuận, thay ông vạch ra một kế sách. Cư sĩ muốn tự diệt tánh, cần phải có phương pháp thứ tự th́ mới có thể thực hiện được. Trước hết, biết tánh của lũ phàm phu chúng ta chính là phiền năo triền cái. Nếu muốn diệt tánh, trước hết giải trừ phiền năo triền cái cho hết sạch th́ tánh mới hiển lộ, mới có thể lấy ra tánh để diệt. Tánh giống như chủ soái, triền cái như ba quân; chẳng phá ba quân, sẽ chẳng thể đoạt soái!

 

      * Hỏi: Năm ngoái, vào đêm trước ngày đến triều bái chùa X… ở miền Bắc, bỗng mộng thấy trong vùng núi hoang xuất hiện một ngôi chùa. Trong chùa hiện ra một tượng Phật nằm, sắc vàng, nằm trên rồng vàng. Khắp bốn phía là năm vị A La Hán vây quanh chầu hầu, thủ hộ. Lần thứ hai lại đến thăm ngôi chùa ấy, ngủ đêm tại chùa đó. Trong đêm, lại mộng thấy trên đỉnh núi, giữa hư không phun ra hai cột nước, nổ bùng ra năm luồng sáng có mười màu, năm sắc chen lẫn rực rỡ, xẹt ra các đóa hoa pháo bông xinh đẹp, đáng yêu, thù thắng dị thường, giống như pháo bông được bắn vào đêm Quốc Khánh Song Thập tại Đài Bắc vậy. Sau đó, trên nền đất ngôi chùa Phật dưới chân núi mọc lên một cái cây nhỏ. Cái cây ấy cũng trổ hoa, bùng nổ thành pháo bông. Lại thấy một con gián lớn to gấp đôi những con gián thông thường, lột xác trên tường, có vẻ như được giải thoát. Sau cùng, thấy hậu sơn nứt sụp, đè nát ngôi chùa đó. Tôi bèn kinh hoảng chạy ra khỏi ngôi chùa ấy. Sáng hôm sau thức dậy, nhớ lại địa h́nh trong giấc mộng hồi đêm th́ chính là địa h́nh của ngôi chùa đă ngủ đêm, đỉnh núi [trong giấc mộng] chính là đỉnh núi phía sau ngôi chùa ấy. Xin hỏi giấc mộng ấy có ư nghĩa ǵ, có thích hợp để xuất gia tu hành đạt thành tựu hay không? Hay là giấc mộng ấy do vọng tưởng tạo thành? (Pḥng Huân Minh hỏi)

 

      Đáp: Kiếp sống phù du như giấc mộng, mộng sao có thể thành thật? Mộng chỉ là h́nh bóng phản chiếu của ư thức. Ư thức có thể dấy lên Hoặc (phiền năo), tạo nghiệp thiện, ác; v́ thế, mộng là điềm báo cát, hung. Nhưng ư niệm chia ra thành thiện, ác, vô kư (không thiện, không ác). Lại c̣n luận định sức mạnh lớn hay nhỏ. V́ thế, nếu là niệm vô kư và sức nhỏ th́ mộng cũng trở thành hư huyễn. Xét theo những điều ông ghi chép, mộng thấy Tam Bảo đều là thiện căn, phước đức, c̣n ác cảnh kinh sợ, chẳng thể coi là điều tốt lành, v́ trong thức điền có chủng tử [biến huyễn thành những cảnh tượng như vậy]. Đối với điều kiện xuất gia, hăy nên trong lúc thanh tịnh, tự ḿnh quan sát, chuyện đại sự như vậy, c̣n chớ nên nghe theo lời người khác khuyến khích hay ngăn trở, huống hồ phó thác cho mộng mị!

 

      * Hỏi: Lôi Âm Vương và “không thầy tự thông suốt” đều là ngoại đạo[34]; hiện thời, nếu một người đă thông th́ ai có thể ấn chứng? (cư sĩ Điền Lũy hỏi)

 

      Đáp: Ông nói “thông” th́ là viên thông các pháp, hay là Ngũ Thông, Lục Thông? Do chưa hiểu rơ, nên chẳng dám đáp xằng. Người đắc thần thông, mới biết người khác là thông; tại hạ chẳng thông một thứ nào, xước hiệu[35] là Bất Thông, sao dám nói người khác thông hay chẳng thông! Đấy chẳng phải là nói khiêm tốn, mà bấm ngón tay tính th́ tôi học Phật đă hơn năm mươi năm, đối với chuyện ăn cơm và ngủ nghê c̣n chưa thông nữa là!

 

      * Hỏi: Tôi cũng có thật nhiều vấn đề, đại khái là vấn đề trong sự sanh tồn của phàm phu, mong lăo cư sĩ chỉ dạy thành Phật. (cư sĩ Điền Lũy hỏi)

 

      Đáp: So sánh tám vạn bốn ngàn môn Bồ Đề, đă ít lại càng ít hơn. Ông đă có thể trống ḷng cầu đạo, những vấn đề như ông đă nói đều chẳng phải là vấn đề. C̣n như chỉ dạy thành Phật, há tôi dám [đảm đương]? Nếu ông thật sự có thể chí tâm niệm Phật, chế phục các Hoặc, chẳng loạn, đới nghiệp văng sanh th́ cũng chẳng thẹn cái thân này!

      Nói thêm: Hoàn toàn chưa nhận được một trăm đồng của ông. Thật ra, bưu phí cũng chẳng cần nhiều như thế, không nhận được cũng chẳng sao! Do tại hạ trả lời câu hỏi, chỉ là phát biểu trong báo Bồ Đề Thụ, chẳng phải là gởi thư trực tiếp, [nếu không], đă sớm báo chuyện này!

 

      * Hỏi: Trong bài giảng thứ tư của bộ Đại Chuyên Phật Học Thập Tứ Giảng do đại đức biên soạn có một bài văn viết: “Thiện… là kẻ khác, ác…. thuộc Phật”. Minh tôi suy nghĩ trăm lượt chẳng hiểu, xin hăy giải thích. (Diệp Tùng Minh hỏi)

 

      Đáp: Trong trong biểu đồ thứ tư, trọn chẳng có bài văn nào. Xét trong biểu đồ thứ ba th́ trong trang thứ tư có liệt kê “thiện tiêu cực thuộc kẻ khác”, “ác tiêu cực thuộc về Phật”. Ở đây, chú trọng hai chữ “tiêu cực”. “Tiêu cực” có nghĩa là chẳng tận hết tâm lực, làm qua quít cho xong chuyện. Câu ấy có nghĩa là đối với những thiện sự tăng tấn đức, cứu giúp kẻ khó khăn, bèn chẳng tận hết tâm lực, qua loa cho xong chuyện, [đó là đặc tánh] của “những kẻ khác”. Từ ngữ “những kẻ khác” chỉ những kẻ không học Phật. C̣n hết thảy các chuyện buông lung ḷng dục, toan tính riêng tư v.v… th́ kẻ thật sự học Phật, quyết chẳng chịu tranh giành, chữ “Phật” chỉ người học Phật, chứ không phải là nói về đức Phật.

 

      * Hỏi: Nếu dùng kim xăm bài chú Văng Sanh bằng mực đen trên lưng, Minh tôi cho rằng có thể bảo đảm b́nh an, lại c̣n có ư nghĩa đem thân này hiến dâng lên Phật, chẳng biết tôn ư của đại đức như thế nào? Nếu chẳng thích hợp, nhưng đă xăm rồi, muốn xóa bỏ lại chẳng phải là chuyện dễ. Cứ giữ như vậy th́ có phạm tội với Phật hay không? (Diệp Tùng Minh hỏi)

 

      Đáp: Đă xăm th́ rất khó xóa đi. Nếu có thể giữ tịnh giới chẳng sát sanh, trộm cắp th́ chẳng mắc tội lỗi ǵ!

 

* Hỏi: [Tôi có các câu hỏi như sau]

1. Kinh Hoa Nghiêm nói “Như Lai quang phổ chiếu, diệt trừ chúng ám minh, thị quang phi hữu chiếu, diệc phục phi vô chiếu” (quang minh của Như Lai chiếu khắp, diệt trừ các tối tăm, quang minh ấy chẳng phải là có chiếu, mà cũng chẳng phải là không có chiếu). Đệ tử giải ngộ “chẳng phải là có chiếu, chẳng phải là không chiếu” như sau: Như Lai quang chính là Pháp Thân của Chân Như bản tánh Phật, đầy ắp hư không, như như bất động, vô h́nh, vô tướng, các thứ quang minh hữu tướng như ánh sáng mặt trời, ánh sáng đèn v.v… chẳng thể sánh bằng. Hết thảy vạn pháp đều được bao gồm trong Như Lai quang vĩnh cửu bất biến. V́ thế, chẳng nói là hữu chiếu hay vô chiếu. V́ nếu nói là hữu chiếu th́ chưa hề có thể t́m được bất cứ h́nh tích nào! Nếu nói là vô chiếu th́ ĺa ngoài hư không, tồn tại đơn độc, về Sự lẫn Lư đều nói chẳng suông. V́ thế, nói là “chẳng phải là hữu chiếu, chẳng phải là vô chiếu”, đúng chăng?

2. “Ư pháp vô sở trước, vô niệm diệc vô nhiễm, vô trụ, vô xứ sở, bất hoại ư Pháp Tánh” (chẳng chấp trước các pháp, vô niệm, cũng vô nhiễm, chẳng trụ, không nơi chốn, chẳng hư hoại Pháp Tánh). Đệ tử lănh ngộ đoạn này là: Có thể biết tổng tướng và biệt tướng của pháp, và liễu ngộ “những ǵ có tướng đều là hư vọng”. V́ vậy, không chấp trước có thể phá trừ Biến Kế Chấp và Y Tha Khởi, bèn đạt được Viên Thành Thật Tánh. Bản tánh vô nhiễm và vô niệm đầy ắp hư không. Pháp Tánh chẳng trụ, không có xứ sở và Phật Tánh vốn cùng thuộc loại Đồng Viên Chủng Trí, đều là chân không diệu hữu, nên chẳng hoại pháp tánh, đúng không? Xin hăy chỉ dạy.

3. “Thử trung vô hữu nhị, diệc phục vô hữu nhất, đại trí thiện kiến giả, như lư xảo an trụ, vô trung vô hữu nhị, vô nhị diệc phục vô, tam giới nhất thiết không, thị tắc chư Phật kiến” (trong ấy chẳng có hai, mà cũng chẳng có một. Bậc đại trí khéo thấy, đúng lư khéo ở yên. Trong Vô chẳng có hai, không hai cũng là vô. Tam giới hết thảy không, chư Phật thấy như vậy). Đệ tử liễu ngộ điều này là: Nhất Chân pháp giới chẳng lập một mảy may, làm sao có một, hai, và tướng hữu vô, nên tam giới chẳng đáng để bàn tới nữa! Chỉ có chư Phật là bậc đại trí khéo thấy th́ mới có thể liễu giải lư này và an trụ trong cảnh giới ấy. Đúng không? Xin hăy chỉ dạy? (Tiên Thuần Hiền hỏi)

 

Đáp: Trong kinh, ba bài kệ này nêu nhằm giải thích một sự, chẳng phải là dấy lên nghị luận suông. Nếu nói đến chuyện khác, mượn những bài kệ này để làm chứng th́ cũng chẳng phải là không được. Nếu chiếu theo lời kệ để giảng giải ư nghĩa bài kệ, vứt bỏ phần kinh văn trước đó, sẽ trở thành rỗng tuếch, chẳng dính dáng vào đâu, trở thành những lời lẽ phù phiếm. Quư cư sĩ nên kiểm chứng nguyên bản kinh văn để đối chiếu, sẽ biết ba bài kệ, mỗi bài nói về một chuyện ǵ, sẽ tin lời tại hạ nói chẳng sai. Lời cao luận như ông đă nói, tuy chia thành ba nơi, nhưng nếu đổi chỗ cho nhau, th́ vẫn là tương tự, cho nên thành ra lời lẽ mơ hồ, chẳng ăn nhập vào đâu! Sợ rằng [nếu đem luận điệu ấy nói với kẻ khác], sẽ mắc phải chuyện tranh căi.

 

* Hỏi: Tôi vẫn chưa thể hoàn toàn liễu giải ư nghĩa chân thật trong câu nói của Văn Thù Bồ Tát: “Cúc hoa nguyên thượng cảnh, hành nhân khứ lộ trường” (hoa cúc vẫn c̣n nguyên cảnh cũ, hành nhân thăm thẳm bước đường dài). Xin thầy hăy khai thị. (Trần Thông Huy hỏi)

 

Đáp: Câu hỏi này chẳng có đầu đuôi, cũng chẳng nêu xuất xứ, chẳng tiện đáp bừa được. Nghiên cứu câu văn, đối với thơ văn thông thường, cũng chẳng thể dựa theo vài câu để luận định được, ắt phải xem xét văn lư của phần trước và sau đó th́ mới hiểu ư nghĩa, huống hồ Phật học ư? Hai câu ông vừa mới nói rất có thể trích từ ngữ lục nhà Thiền. Nếu đúng như vậy, càng chẳng cần phải hiểu! V́ những câu nói trong nhà Thiền phần nhiều là quan sát căn cơ rồi mới nói phù hợp với căn cơ [của người hỏi đáp khi ấy], chỉ cho phép tham cứu, chẳng cho phép giảng giải. Hễ giảng giải, sẽ biến diệu pháp sống động thành lời thừa thăi chết cứng. Ông nghiền ngẫm lời đáp này rồi lại kiếm sách nguyên bản có câu nói ấy để tham cứu cặn kẽ, may ra sẽ có ngộ xứ!

 

* Hỏi: Nơi lư hương trước bàn Phật trong nhà, mỗi ngày thắp hương đều c̣n lại chân hương trong lư. Tôi quen tánh mỗi ngày lau dọn bàn Phật, bèn nhổ sạch hết chân hương, chỉ để lại một cây. Như vậy th́ có ảnh hưởng đến sự b́nh an của gia đ́nh hay không? Hay là đừng nhổ bỏ chân hương, cứ để chân hương cắm đầy bát hương rồi mới nhổ bỏ th́ tốt hơn? (Quách Thiệu Chân hỏi)

 

Đáp: Học Phật ắt phải quy y Tam Bảo, Tam Bảo là Phật, Pháp, Tăng. Pháp chính là kinh điển, tức hết thảy đạo lư chân thật. Con người hưởng họa, phước, cát, hung, hoàn toàn do [tạo nghiệp] thiện, ác, vô kư. Đó là định luật nhân quả. Thiện th́ tuân thủ, ác th́ sửa đổi, chẳng tuân theo những điều mê tín khác. Chân hương c̣n sót lại trong lư hương, nhổ sạch hết, hoặc giữ lại, trọn chẳng thể nói là thiện hay ác, mà thuần là vô kư, chẳng liên quan mảy may đến họa phước của bản thân và gia đ́nh!

 

* Hỏi: Mười năm trước, tạo rất nhiều mộ. Gần đây nhất, thầy Địa Lư xem mộ, nói mộ tạo không đúng chữ[36], phải đào lên để tạo chữ lại th́ gia đ́nh mới có thể b́nh an. Phật giáo có nói điều này là tất yếu hay không? Ngoài ra, có quan hệ ǵ đến sự b́nh an trong gia đ́nh hay không? (Quách Thiệu Chân hỏi)

 

Đáp: Phần mộ, Địa Lư chính là phong tục của một làng, một nước. Giáo nghĩa trong kinh Phật chỉ nói đến thiện ác, nhân quả. Âm Dương, nhà cửa, đất đai, Phong Thủy, lưu niên khí vận[37], cũng thuộc vô kư, có nghĩa là chẳng thiện, chẳng ác. Tín đồ nhà Phật chẳng tin những thứ ấy, đối với những ǵ chẳng thuộc vào phạm vi trái nghịch nhân quả th́ giáo nghĩa trọn chẳng có văn từ nào để cấm chỉ hoặc khuyên nên làm, có thể tự do quyết định.

 

* Hỏi: Kinh Kim Cang nói: “Nhược phục hữu nhân, đắc văn thị kinh, bất kinh, bất bố, đương tri thị nhân, thậm vi hy hữu” (nếu lại có người, được nghe kinh này mà chẳng kinh, chẳng sợ, hăy nên biết người ấy rất là hiếm có). Phẩm Phổ Môn nói: “Thị Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát, ư bố úy cấp nạn chi trung, năng thí vô úy. Thị cố thử Sa Bà thế giới, giai hiệu chi vi Thí Vô Úy giả” (Vị Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát này trong khi kinh sợ, bạn gấp, có thể ban sự không sợ hăi. V́ thế, thế giới Sa Bà đều gọi ngài là Đấng Ban Bố Sự Không Sợ Hăi). Trong Hương Cảng Thực Dụng Phật Học Từ Điển: “Ngoại hộ thiện tri thức khiến cho ta chẳng thiếu thốn, hoảng sợ, được an ổn tu đạo, là một trong ba loại thiện tri thức”. “Khiến cho ta chẳng thiếu thốn, hoảng sợ” như Phật Học Từ Điển đă nói và “chẳng kinh, chẳng sợ” của kinh Kim Cang và “thí vô úy” của phẩm Phổ Môn dường như có ư chỉ khác biệt, liên quan đến vấn đề “khiến cho ta chẳng thiếu thốn, kinh sợ”. Xin hăy chỉ dạy tường tận! (Hùng Thanh Tuấn hỏi)

 

      Đáp: Úy () thuộc về phạm vi của Cụ (: sợ hăi) trong thất t́nh, tức là một loại t́nh cảm. Đă có Thể, ắt có danh. Các chữ “bố úy” (怖畏) và “úy cụ” (畏懼) tuy từ ngữ hơi khác, ư nghĩa chẳng khác biệt; nhưng phát sanh Úy, ắt phải do có sự, mà Sự th́ thiên sai vạn biệt. Mỗi sự có một tên, nhưng tên gọi của thứ t́nh cảm sợ hăi th́ bất biến, vẫn là một. Trong lời hỏi, ông đă nêu lên ba điều được ghi trong kinh sách, đều là sự khác biệt, nhưng t́nh cảm sợ hăi chẳng thể hiểu khác. Do sự sai khác, nên bất đồng. “Khiến cho chẳng thiếu thốn, kinh sợ” th́ người tu trong nhà Phật, ba y một bát, chẳng lo kinh doanh, những thứ cần dùng cho cuộc sống đều do hộ pháp cư sĩ cúng dường. Được cúng dường sẽ an ổn tu tŕ. Khuyết thiếu cúng dường, sẽ phải lo âu, sợ hăi v́ cuộc sống.

 

      * Hỏi: Tôn giả Mục Kiền Liên xuống địa ngục cứu mẹ, phá vỡ cửa địa ngục. Chuyện đó có phải do Thích Ca Mâu Ni Phật nói ra hay không? (Lư Trí Viễn hỏi)

 

      Đáp: Mẹ của tôn giả đọa trong ngạ quỷ đạo. Tôn giả đến cứu, kinh điển có chép chuyện này, đúng là chẳng phải truyền tụng hư vọng. Nói Ngài phá vỡ cửa địa ngục là tiểu thuyết hư cấu, bịa đặt nhảm nhí, nực cười đó thôi!

Phật Học Vấn Đáp Loại Biên

Phần 11 hết

 

 

     



[1] “Thanh trai” theo nghĩa gốc là dọn ḿnh thanh khiết, chuẩn bị cho ngày lễ quan trọng. Đế vương và các quan chức ngày xưa trước các lễ tế trọng đại thường cử hành “thanh trai”, tức là không uống rượu, ăn thịt, kiêng cử sắc dục, không dùng các thứ có huyết nhục, không nói lời thô lỗ, tâm b́nh, khí ḥa, nghĩ đến những điều tốt lành. Ở đây, cụ Lư Bỉnh Nam dùng chữ “thanh trai” với ư nghĩa khuyên ông Trần Tín Cát trong những ngày chay phải thật sự kiêng huyết nhục, rượu chè, trai gái, giữ cho thân tâm thanh tịnh.

[2] “Ôn, thanh, bổ, tả” là thuật ngữ dùng trong Trung Y để chỉ các phương cách chữa bệnh khác nhau. Ôn () là dùng thuốc hoặc châm cứu khiến cho cơ thể ấm lên nếu người bệnh bị mắc chứng hàn, Thanh () là làm cho bệnh nhiệt giảm bớt. Bổ () là bổ cứu khi bệnh trạng được coi là hư nhược (thường gọi là “hư chứng”), Tả () là giảm bớt khi cơ thể quá sung măn về một phương diện nào đó (thường gọi là “thực chứng”). Riêng đối với châm cứu, Bổ Tả c̣n là một thuật ngữ chỉ cách đâm kim, chẳng hạn Bổ là khi đâm kim xuống huyệt, không vê kim (xoay kim), châm vào khi bệnh nhân thở ra, và rút kim ra khi bệnh nhân hít vào, châm vào từ từ, rút ra nhanh, khi rút kim bèn dùng ngón tay bịt chặt huyệt vừa châm, thời gian lưu kim trong huyệt lâu hơn và phải dùng kim có chất vàng.

[3] Cát quang minh (quang minh sa) là cát hoặc đất mịn sạch đă được gia tŕ bằng thần chú Tỳ Lô Giá Na Phật Đại Quán Đảnh Quang Chân Ngôn, với ư nguyện nhờ sức gia tŕ của thần chú mà người đă khuất được tiêu trừ tội nghiệp, văng sanh Tây Phương.

[4] Hai mươi bốn người con hiếu (Nhị Thập Tứ Hiếu) chính là một tác phẩm ghi lại hai mươi bốn tấm gương hiếu thảo do Quách Cư Kính biên soạn vào đời Nguyên. Thật ra, những tấm gương này đă được nhắc đến trước đó trong các bộ sách như Nghệ Văn Tụ Loại, Thái B́nh Quảng Lăm v.v… Quách Cư Kính chỉ biên soạn và hệ thống lại mà thôi. Hai mươi bốn người con hiếu thảo là Ngu Thuấn, Lưu Hằng (Hán Văn Đế), Tăng Sâm, Mẫn Tổn (Mẫn Tử Khiên), Trọng Do (Tử Lộ), Đổng Vĩnh, Đàm Tử, Giang Cách, Lục Tích, Đường phu nhân, Ngô Mănh, Vương Tường, Quách Cự, Dương Hương, Châu Thọ Xương, Dữu Kiềm Lâu, Lăo Lai Tử, Thái Thuận, Hoàng Hương, Khương Thi, Vương Biều, Đinh Lan, Mạnh Tông, Hoàng Đ́nh Kiên. Ngoại trừ Hoàng Đ́nh Kiên sống vào đời Bắc Tống, những người c̣n lại chủ yếu sống trong các thời Đông Hán, Tam Quốc, Tây Tấn là thời đại Phật giáo chưa được hoằng dương mạnh mẽ tại Trung Hoa.

[5] Ở đây, ông Hồng Hoán Mô đă nêu sai tên tác phẩm, đúng ra là Trúc Song Tùy Bút.

[6] Nguyên văn “phong mộc chi bi”, c̣n nói là “phong thụ chi bi”, xuất phát từ một câu nói đau xót của Cao Ngư. Theo Hàn Thi Ngoại Truyện, Khổng Tử đi đường, thấy Cao Ngư khóc rống bên vệ đường, bèn dừng xe hỏi thăm duyên cớ. Cao Ngư trả lời: “Ngô thất chi tam hỹ: Thiếu nhi học, du chư hầu dĩ hậu ngô thân, thất chi nhất dă. Cao thượng ngô chí, nhàn ngô sự quân, thất chi nhị dă. Dữ hữu hậu nhi trung tuyệt chi, thất chi tam dă. Thụ dục tĩnh nhi phong bất chỉ, tử dục dưỡng nhi thân bất đăi dă. Văng nhi bất khả truy giả, niên dă. Khứ nhi bất khả kiến giả, thân dă” (Tôi đă đánh mất ba điều. Thuở nhỏ v́ học hành, đi khắp các nước chư hầu, chẳng thể phụng dưỡng cha mẹ, đó là điều mất mát thứ nhất. V́ say mê lư tưởng, tôi chẳng phụng sự vua, đó là điều mất mát thứ hai. Với những bạn bè thân thiết, tôi chẳng thể qua lại, đó là điều mất mát thứ ba. Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng, con muốn phụng dưỡng nhưng cha mẹ chẳng đợi. Năm tháng qua đi chẳng thể trở lại được, cha mẹ đă khuất rồi chẳng thể thấy lại). Do đó, văn học thường dùng từ ngữ “phong mộc chi bi” hoặc “phong thụ chi bi” để diễn tả nỗi đau xót của người con chẳng thể phụng dưỡng cha mẹ.

[7] Biên Niên Thông Luận có tên gọi đầy đủ là Long Hưng Biên Niên Thông Luận, do Tổ Tú soạn vào niên hiệu Long Hưng thứ hai (1164) đời Tống, là một loại sách sử truyện chép theo lối biên niên về các sự kiện quan trọng trong Phật giáo kể từ năm Vĩnh B́nh thứ bảy (64) đời Hán Minh Đế cho đến năm Hiển Đức thứ tư (957) đời Hậu Châu thời Ngũ Đại.

[8] Tâm Số c̣n gọi là Tâm Sở, tức các tác dụng tâm lư của tâm.

[9] Tử Cống tên thật là Đoan Mộc Tứ (520-446 trước Công Nguyên), người nước Vệ, có tên tự là Tử Cống, là học tṛ đắc ư nhất của Khổng Tử, đứng đầu trong hàng Thập Triết. Ông này nổi tiếng khéo biện luận, hùng biện, lại có tài kinh tế, từng làm Tướng Quốc hai nước Lỗ và Vệ, lại giỏi buôn bán, từng kinh doanh giữa hai nước Tào và Lỗ, nên là người giàu có nhất trong các học tṛ của Khổng Tử. Khi Khổng Tử mất, ông thủ tang đến sáu năm, tức là người cư tang lâu nhất trong các học tṛ. Tài kinh doanh của ông nổi tiếng đến nỗi sau này những người kinh doanh thành công thường được khen là đă kế thừa Đoan Mộc Di Phong (phong thái truyền lại của ông Đoan Mộc). Thậm chí có nơi c̣n thờ ông làm Tài Thần.

[10] Nhân Thị Tử là hiệu tự xưng của ông Tưởng Duy Kiều. Ông Kiều vốn giữ chức biên tập viên của Thương Vụ Ấn Thư Quán, đă viết một loạt bài nói về tĩnh tọa đăng liên tục trên tờ Nhân Sinh Tạp Chí. Do độc giả yêu cầu, bèn biên tập thành sách và xuất bản. Sách có nội dung tổng hợp những quan điểm về Khí Công kết hợp với tư tưởng Tam Giáo.

[11] Công Đức Thiên (c̣n gọi là Cát Tường Thiên Nữ, Bảo Tạng Thiên Nữ, Lakṣmī), đôi khi c̣n được gọi là Ma Ha Thất Lợi (Mahāśrī), là vợ của thần Tỳ Thấp Nô (Vishnu). Theo truyền thống Phật giáo, bà được coi là em gái của Tỳ Sa Môn Thiên Vương. Thiện Thiên Nữ Chú (danh xưng đầy đủ là Đại Cát Tường Thiên Nữ Chú) trong phần Tiểu Thập Chú nơi công khóa sáng của Thiền Môn do vị thiên nữ này đă nói trong hội Kim Quang Minh. Bà được coi là một vị phước thân mang lại may mắn, thịnh vượng, thường được tạc tượng thành một vị nữ thần xinh đẹp, có bốn tay. Hai tay cầm hoa sen, hai tay c̣n lại x̣e ra, tỏa ra ánh sáng màu vàng ṛng. Do ông Châu Tinh Nguyên chỉ thấy bài vị, không thấy h́nh tượng, ngỡ vị này là nam nên mới dùng chữ “thiên công” (ông trời) để gọi vị thiên nữ này.

[12] Kinh Kim Quang Minh (Suvarṇaprabhāsottamarājasūtraṃ) có tên gọi đầy đủ là Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh, hoặc Kim Quang Minh Đế Vương Kinh, là một trong Hộ Quốc Tam Kinh của Phật giáo. Hiện thời, trong Đại Tạng c̣n có năm bản khác nhau:

1. Kim Quang Minh Kinh, bốn quyển, do ngài Đàm Vô Sấm dịch vào đời Bắc Lương.

2. Kim Quang Minh Đế Vương Kinh do ngài Chân Đế dịch vào đời Trần.

3. Kim Quang Cánh Quảng Đại Biện Tài Thủ Đà La Ni Kinh, do ngài Da Xá Quật Đa dịch vào đời Bắc Châu.

4. Hợp Bộ Kim Quang Kinh, do các vị như Bảo Quư v.v… hội tập vào đời Tùy.

5. Kim Quang Tối Thắng Vương Kinh do ngài Nghĩa Tịch dịch vào đời Đường.

Tuy có năm loại, nhưng bản thứ ba bị khuyết, và bản Hợp Bộ là hội tập, nên kể như chỉ có ba bản.

[13] Ngu sanh: Người học tṛ ngu muội.

[14] Truyền thống thờ Quan Đế làm thần hộ pháp bắt nguồn từ tông Thiên Thai. Theo Trí Giả Đại Sư Biệt Truyện, khi Trí Giả đại sư nhập định tại núi Ngọc Tuyền ở Kinh Châu, thấy có hai người đến chào hỏi. Một người rậm râu, oai vũ, một người trẻ tuổi hơn, tóc óng mượt, đội măo, xưng danh là Quan Vũ và Quan B́nh, xin quy y, và phát nguyện hộ tŕ môn đ́nh Thiên Thai. Đại sư cầm lư hương, truyền thọ quy giới cho họ. Từ đó, tông Thiên Thai thờ Quan Đế như thần hộ pháp, các chùa miếu khác phỏng theo. Theo Thất Phật Bát Đại Bồ Tát Đà La Ni Thần Chú Kinh, có mười tám vị đại thần hộ pháp đứng đầu, chính là Mỹ Âm, Phạm Âm, Thiên Cổ, Xảo Diệu, Thán Mỹ, Quảng Diệu, Lôi Âm, Sư Tử Âm, Diệu Mỹ, Phạm Hưởng, Nhân Âm, Phật Nô, Thán Đức, Quảng Mục, Diệu Nhăn, Triệt Thính, Triệt Thị, Biến Quán. Tuy thế, Phật môn Trung Hoa tôn xưng Quan Đế là Già Lam Bồ Tát và chỉ tạc tượng hai vị hộ pháp là Vi Đà và Quan Đế trong đại điện. Trong trai đường th́ thờ thêm một vị hộ pháp nữa là Giám Trai Sứ Giả và Đại Hắc Thiên. Đôi khi, ba vị đại thí chủ thường hộ tŕ Phật pháp là vua Ba Tư Nặc, Thái Tử Kỳ Đà và Trưởng Giả Cấp Cô Độc cũng được kể trong số các thần hộ pháp. Điều thú vị là các chùa cổ tại Bắc Việt thường tạc tượng Đức Thánh Hiền, và thường được giải thích là tượng trưởng giả Cấp Cô Độc. Trong khi đó, truyền thống Mật Tông, đặc biệt là Tạng Truyền Mật Tông lại đặc biệt tôn sùng các vị hộ pháp là Đại Hắc Thiên (Mahakala), Diễm Ma (Yama), Mă Đầu Minh Vương (Hayagriva), Tỳ Sa Môn (Vaisravana), Cát Tường Thiên Mẫu (Shri Devi), Nhất Kế La Sát (Ekajaṭī), La Hầu La A Tu La Vương (Rahula) v.v…

[15] Quốc Ngữ chính là tiếng Quan Thoại, c̣n gọi là tiếng Phổ Thông. Do được coi là ngôn ngữ chính thức của toàn bộ Trung Hoa, nên gọi là Quốc Ngữ. Cụ Lư nói “Quốc Ngữ cũng có vấn đề” v́ tùy theo địa phương mà cách phát âm theo tiếng Quốc Ngữ cũng bị biến đổi theo.

[16] Đây chỉ là những cách nhằm diễn tả cách đọc chữ Nam Mô cho gần với âm Nam Mô v́ hiện thời, nếu nh́n vào mặt chữ, âm Quan Thoại sẽ đọc chữ Nam Mô thành Nán Wú.

[17] Đây là cách dùng hai chữ ghép lại để h́nh dung âm đọc, thường gọi là lối chú âm bằng Phiên Thiết. Chẳng hạn, Nô Câu Thiết là lấy vận mẫu chữ đầu với ghép âm vận của chữ sau. Tức là Nô Câu Thiết sẽ đọc thành Nâu. Nô Hậu Thiết đọc thành Nậu. Thật ra, để đọc đúng âm theo lối Phiên Thiết c̣n phải dựa theo luật ḥa âm thanh trược, thăng giáng mà quy định dấu rất phức tạp.

[18] Cát cứ (割據) c̣n gọi là Liệt Cứ (裂據), là từ ngữ chỉ thế lực quân phiệt hoặc cường hào, dùng vũ lực chiếm cứ một vùng nào đó, tạo thành t́nh h́nh quốc gia phân liệt, tranh chấp quyền hành với chánh quyền Trung Ương. Cuối thời Tây Tấn, do chánh quyền trung ương suy yếu, các tướng lănh, thổ phỉ thừa cơ nổi lên cát cứ xưng vương, mà các nhà Tiền Tần, Diêu Tần, Tiền Yên v.v… đều do những tướng lănh phản loạn xưng vương lập quốc.

[19] Dị sanh (Bālaprthagjana), c̣n dịch là Phàm Phu, dịch thành Dị Sanh là theo cách dịch mới sau thời ngài Huyền Trang. Phàm phu luân hồi trong lục đạo, chịu đủ mọi thứ quả báo sai biệt, nên gọi là Dị Sanh.

[20] Thường Nga (嫦娥) c̣n gọi là Hằng Nga (姮娥). Theo huyền thoại cổ Trung Hoa, Thường Nga là vợ của Hậu Nghệ (后羿). Hậu Nghệ là một tay thiện xạ lỗi lạc thời cổ. Khi có mười mặt trời mọc trên thế gian khiến cỏ cây cháy xém, vua Nghiêu sai Hậu Nghệ bắn rớt chín mặt trời. Hậu Nghệ c̣n bắn chết các con ác thú trong thời ấy như Tạc Xỉ, Cửu Anh, Đại Phong, Phong Hy, Tu Xà v.v… Muốn được trường sanh bất tử, Hậu Nghệ xin Tây Vương Mẫu ban thuốc bất tử. Thừa lúc chồng đi vắng, Thường Nga uống trộm thuốc ấy, rồi bay lên cung trăng trốn. Trên cung trăng, Thường Nga c̣n có Ngọc Thố (thỏ ngọc) và Ngô Cang làm bạn. Theo truyền thuyết, thuở xưa có bốn con vật là khỉ, cáo, rái và thỏ đến chỗ một người tu đạo nghe giảng. Một năm nọ, trời hạn hán quá nặng, người tu đạo không c̣n ǵ để ăn. Thỏ bèn nhảy vào lửa để biến thành thức ăn cho người tu đạo. Người tu đạo bèn hiển lộ nguyên thân là Đế Thích, đem thỏ để lên cung trăng. C̣n Ngô Cang là tiều phu, người xứ Tây Hà, mê đạo tiên, nhưng không chuyên tâm học tập, khiến Thiên Đế phẫn nộ, đày Ngô Cang lên mặt trăng, sai chặt một cây quế. Khi nào đốn sạch cây quế th́ mới được thành tiên. Mỗi ngày Ngô Cang đốn được nửa cây, lại nghỉ chốc lát, cây quế lại mọc lên như cũ, nên cứ phải đốn măi. Bọn đạo sĩ tôn Thường Nga là Nguyệt Thần với đạo hiệu Nguyệt Cung Hoàng Hoa Tố Diệu Nguyên Tinh Thánh Hậu Thái Âm Nguyên Quân hoặc Nguyệt Cung Thái Âm Hoàng Quân Hiếu Đạo Minh Vương. Mỗi khi cúng sao hạn, họ đề bài vị cửu diệu, trong ấy có Thái Âm Tinh Quân, đấy chính là danh hiệu ngắn gọn của Thường Nga.

[21] Hàng Tư Lăng là một cách phiên âm tên của Neil Alden Armstrong (1930-2012), phi hành gia Mỹ. Amrstrong là người đầu tiên đặt chân lên mặt trăng bằng phi thuyền Apollo 11. Đôi khi tên ông c̣n được phiên âm là Nham Sĩ Đường, A Mỗ Tư Tráng hoặc A Mẫu Tư Đặc Lăng tùy theo giọng đọc của từng vùng, nhưng cách phiên âm thành Hàng Tư Lăng phổ biến nhất.

[22] Do các cơi nước nhiều như số vi trần, nên thường gọi chung là “trần sát”. Sát là “sát-độ” nói gọn, hiểu theo nghĩa hẹp th́ tối thiểu là một tam thiên đại thiên thế giới.

[23] Thạch Khác (石恪), không rơ năm sinh và năm mất, tên tự là Tử Truyền, người phủ Thành Đô, Tứ Xuyên, là nhà danh họa thời Ngũ Đại, chỉ biết ông mất vào đầu thời Bắc Tống. Ông tính t́nh hào phóng, thích đùa giỡn, khéo vẽ nhân vật rất sống động. Ông thường vẽ các nhân vật với nét bút rất phóng khoáng, đôi khi hơi kỳ lạ. Bức Nhị Tổ Điều Tâm Đồ (二祖調) được coi là tác phẩm tiêu biểu nhất.

[24] Cuốn sách này do ông Lê Chú biên soạn vào đầu thời Dân Quốc. Ông này từng làm phán quan cơi âm mấy năm, nên ghi lại quá tŕnh phán án và luận tội trong âm phủ.

[25] Trong cách in sách theo lối cổ, trước mỗi tập có một trang đính kèm ghi chương, mục, kết cấu tiểu đề của từng phần trong sách để người đọc tiện tra cứu. Phần đó được gọi là Thư Thiêm. Đôi khi người viết Thư Thiêm c̣n ghi rơ nội dung tóm tắt của từng chương, gần giống như lối viết Khoa Phán.

[26] Tức là Âm Lịch hiện thời, c̣n gọi là Hạ Lịch, hoặc Nông Lịch. Gọi là Hạ Lịch v́ tuân thủ cách lấy tháng Dần làm tháng Giêng khởi đầu một năm theo quy định đời Hạ, chứ Hạ lịch hiện thời đă biến đổi, không ngừng cải tiến, bổ sung, chẳng phải là lịch pháp được dùng từ thời cổ, nên phải gọi cho đúng là Âm Dương Lịch, v́ đă không c̣n thuần túy là Âm Lịch.

[27] Đây là một h́nh thức mê tín của dân Trung Hoa, họ thích đốt tiền giấy, vàng thoi (vàng vó), vàng, bạc, đồ mă, h́nh nhân v.v… cho người chết. Tiền Văng Sanh là những tờ giấy có in danh hiệu A Di Đà Phật, và chú Văng Sanh được xếp thành ṿng tṛn. Có loại Văng Sanh Tiền cầu kỳ hơn, in đến bảy loại chú phổ biến trong nhà Phật như chú Đại Bi, Lăng Nghiêm Tâm Chú, chú Chuẩn Đề, Bạch Y v.v… và viết nhiều danh hiệu vị Phật. Họ tin là đốt tiền cũng giống như tụng chú. Do đó, dẫn đến tập tục đốt những bản kinh Kim Cang in bằng mực đỏ, với quan niệm “đốt một bộ, cũng giống như tụng một bộ kinh cho người chết”. Tổ Ấn Quang đă quở trách nặng nề chuyện này. Hiện thời, ngay trong tự viện tại Hoa Lục, vẫn c̣n thói quen xếp những tờ tiền Văng Sanh ghép lại như đài hoa để đốt trong các lễ Mông Sơn hoặc phóng Diệm Khẩu.

[28] Hậu Ngụy là danh xưng để gọi chung Bắc Ngụy, Đông Ngụy và Tây Ngụy nhằm phân biệt với nhà Tào Ngụy (do Tào Phi, con trai Tào Tháo, sáng lập). Nhà Bắc Ngụy do Thác Bạt Khuê (dân tộc Tiên Ty) thành lập vào năm 386 sau khi nhà Tiền Tần bị diệt (thoạt đầu có tên là Đại), đổi tên thành Ngụy vào năm 398. Đến đời vua thứ bảy là Hiếu Văn Đế (Thác Bạt Hoằng) đổi họ Thác Bạt thành Nguyên, nên sử đôi khi c̣n gọi nhà Bắc Ngụy là Nguyên Ngụy. Năm 534, nhà Bắc Ngụy bị tách ra thành Tây Ngụy (dưới sự khống trị của quyền thần Vũ Văn Thái), và Đông Ngụy (do quyền thần Cao Hoan đưa Nguyên Thiện Kiến lên ngôi, nhưng đến năm 550, Cao Dương, con trai Cao Hoan, đă phế trất vua Đông Ngụy, và lập ra nhà Cao Tề).

[29] Dị Thục (異熟, Vipāka) là một trong năm loại quả báo (Dị Thục, Đẳng Lưu, Sĩ Dụng, Tăng Thượng và Ly Hệ) trong Tướng Tông. Dị Thục Quả là khổ quả do ác nghiệp chiêu cảm, hoặc lạc quả do thiện nghiệp chiêu cảm. Do cái nhân có thiện hoặc ác, nhưng cái quả có tánh chất vô kư (chẳng thiện, chẳng ác), nên gọi là Dị. Hoặc là do quả chín muồi chẳng cùng một đời với cái nhân đă tạo, nên gọi là Dị.

[30] Quốc Học là ngành nghiên cứu các khía cạnh của văn hóa truyền thống Trung Hoa.

[31] Vị cư sĩ này lầm tưởng “tam thiên đại thiên” là ba ngàn đại thiên, chẳng biết đại thiên chính là một ngàn trung thiên, trung thiên là một ngàn tiểu thiên, mỗi tiểu thiên là một ngàn đơn vị thế giới. Do có ba lần chữ thiên được lặp lại trong danh xưng này, nên gọi là Tam Thiên Đại Thiên thế giới. V́ không biết điều đó, ông ta viết: “Mỗi nhất tôn Phật, các hữu kỳ cảnh, tam cá thiên đích đại thiên thế giới” (mỗi vị Phật đều có cơi nước riêng, tức là ba ngàn đại thiên thế giới ).

[32] Vị cư sĩ có danh xưng rất kêu là Giác Lực đại đức này đă nhớ lẫn lộn, râu ông nọ cắm cằm bà kia. Câu đầu tiên “thần chi cách tư” vốn là một câu trong kinh Thi, không do Khổng Tử nói, câu ấy nguyên văn là: “Thần chi cách tư, bất khả độ tư, thẩn khả tạ tư?” (thần linh giáng xuống, không thể nào suy lường được, há có nên phóng túng, khinh mạn ư). Câu thứ hai trích từ Luận Ngữ, thiên Tiên Tấn: “Quư Lộ vấn sự quỷ thần, Tử viết: Vị năng nhân sự, yên năng sự quỷ? Viết: Cảm vấn tử. Viết: Vị tri sanh, yên tri tử?” (Quư Lộ hỏi Khổng Tử cách thờ quỷ thần. Khổng Tử bảo: “Chưa phụng sự con người cho tốt đẹp, th́ làm sao có thể thờ quỷ?” Quư Lộ hỏi: “Dám hỏi Ngài chuyện sau khi đă chết”. Khổng Tử đáp: “Chưa biết chuyện chết, làm sao biết chuyện sống”). Do ông ta cắt câu, gán ghép tùy tiện, chứng tỏ thái độ học tập không nghiêm túc, hoặc chỉ là nghe hơi nồi chơ, chưa từng thật sự đọc sách Nho, lại c̣n phê phán lung tung, nên cụ Lư Bỉnh Nam mới quở trách nặng nề: Đối với sở học của Khổng Tử, chưa từng học tập, há nên tùy tiện phê b́nh?”

[33] Hóa tích: Dấu vết, các hành trạng đă ứng hóa trên thế gian.

[34] Ông Điền Lũy đă viết sai câu này. Đúng ra phải là “sau Oai Âm Vương Phật, nếu không thầy mà tự thông sẽ là thiên nhiên ngoại đạo”.

[35] Xước hiệu (綽號) là tên gọi không chánh thức, thường do người khác gán cho, gần tương đương với Nickname của Anh, Mỹ. Lại chia thành hai loại:

1) Tên gọi mang tính cách thân mật, yêu mến th́ gọi là Nặc Xưng (暱稱).

2) Biểu thị đùa bỡn, châm chọc th́ gọi là Hỗn Hiệu (渾號), Hỗn Danh (渾名), hoặc Hoa Danh (花名).

[36] “Mộ không đúng chữ” có nghĩa là hướng mộ, kích thước, vị trí không phù hợp với những kiểu cách an táng được coi là hưng vượng, may mắn theo cách coi hướng Âm Phần của khoa Địa Lư.

[37] Lưu niên vận khí: Vận khí (vận số hên xui) hằng năm của một cá nhân.