Phật Học Vấn Đáp Loại Biên

Quyển Trung

佛學問答類編

Phần 1

Lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam giải đáp

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản in của Lư Bỉnh Nam Lăo Cư Sĩ Toàn Tập Biên Tập Ủy Viên Hội, Đài Loan, 2007)

Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang

 

II. Tích nghi (析疑, phá nghi)

 

      * Hỏi: Thế giới được tạo thành như thế nào? (Lư Thục Trân hỏi)

 

      Đáp: Do nghiệp duyên của chúng sanh tạo thành.

 

      * Hỏi: Có người hỏi chân lư vũ trụ quan và nhân sinh quan là ǵ? (Huệ Hương hỏi)

 

      Đáp: Nhân sinh (人生) là sự kéo dài sanh mạng của thân chánh báo, vũ trụ là cơi kư thác của báo thân. “Quan” () là một loại cảm tưởng đối với sự tồn tại ấy. Nếu có thể biết chúng sanh v́ sao xuất hiện, xuất hiện để làm chuyện ǵ, đạt được kết quả ǵ, có mục đích ǵ, hiểu rơ ràng triệt để, giác ngộ chân chánh th́ đó chính là chân lư về vũ trụ và nhân sinh quan. Nếu không, tuy có quan (quan niệm), nhưng chưa phải là chân lư.

 

      * Hỏi: Ngoài tam thiên đại thiên thế giới và ức vạn cơi Phật th́ có vật ǵ? (Trần Minh Triết hỏi)

 

      Đáp: Thế giới và cơi Phật đều là vô lượng vô tận. Ngoài một đại thiên lại là thế giới và cơi Phật!

 

      * Hỏi: Bản thân chúng ta có sanh mạng, sanh mạng ấy và Phật có mối quan hệ ǵ? (Trương Thanh Cẩm hỏi)

 

      Đáp: Thân cầu hướng lành, tránh dữ; tánh cầu bất sanh, bất diệt. Để đạt được hai mục đích ấy, hoàn toàn là do trí huệ, và ắt phải được Phật khai thị th́ mới có thể ngộ nhập. Sanh ra thân xác ta là cha mẹ, nuôi sống huệ mạng của ta là Phật Đà. Đấy chính là mối quan hệ vậy.

      * Hỏi: Phật giáo có đủ sức giải thích nguyên do của vũ trụ hay không? (Hoàng Đại Xuyên hỏi)

 

      Đáp: Đức Phật nhằm giải thích nỗi mê muội đối với vũ trụ và nhân sinh [của chúng sanh] mà xuất hiện trong cơi đời. Há chỉ là giải thích mà thôi, Ngài c̣n phá trừ, tạo lập, vận dụng, chuyển biến, không ǵ chẳng thong dong tự tại. Phàm là đối với chuyện nghiên cứu pháp giới duyên khởi, phải là đối với người có thể lănh hội mà bảo ban, chẳng phải là kẻ sơ học mà ḥng thấu hiểu dễ dàng được đâu nhé!

 

      * Hỏi: Đối với nguồn gốc nguyên thủy của vạn vật và con người trong vũ trụ, tôi từng nghe nói “đều là do Thượng Đế sáng tạo”. Xin hỏi thuyết ấy có đúng hay không? (Chiêm Kim Chi hỏi)

 

      Đáp: Phật học chủ trương “vạn pháp đều do các duyên ḥa hợp mà sanh”. Đă nói là “các duyên”, ắt là trước th́ chẳng nói đến khởi đầu, sau th́ cũng chẳng thể nói tới kết thúc. Sanh sôi không ngừng, biến hóa vô cực. Nếu cứ muốn t́m kẻ sáng tạo [vạn pháp] th́ [kẻ sáng tạo] vẫn là do các duyên. Nói Thượng Đế sáng tạo chính là lời lẽ mơ hồ của các nhà tôn giáo do họ chẳng biết làm như thế nào. Thử nêu một chất vấn: Xét đến cùng, Thượng Đế do đâu mà có? Nếu bảo là tự nhiên có, [vậy th́] đă là như thế, sao không nói là vạn vật tự nhiên mà có, chẳng phải là càng thẳng thừng, thỏa đáng hơn ư?

 

      * Hỏi: Phật quán một chén nước, [trong ấy] có tám vạn bốn ngàn con trùng. Vậy th́ đun một bầu nước sôi chẳng phải là đă giết chết rất nhiều sanh mạng ư? (Hoàng Đại Xuyên hỏi)

 

      Đáp: Há chỉ là như vậy! Trong một hơi thở, cũng đă tổn hại bao nhiêu tiểu động vật trong không khí. Bất quá, có những điều có thể lập ra phương cách tránh né, có những điều chẳng có cách nào tránh né. Có điều xuất phát từ sự cố ư, có hành động xuất phát từ sự vô tâm. Có khi giảng học để hiểu rơ Lư, có khi chế giới để thuận theo Sự, tuân thủ chừng mực Quyền hay Thật sao cho thích đáng.

 

      * Hỏi: Chính phủ chẳng tiếc tiền tài, nhân lực, [sai người] về vùng quê phun DDT để giết ruồi, muỗi và những loài trùng gây hại cho sản vật, khiến cho nhân dân khỏi bị bệnh khổ, sản vật thu hoạch phong phú, ai nấy đều ca ngợi, nhưng đấy chính là giết chết chẳng ít sanh mạng. Đứng trên lập trường Phật giáo, đối với chuyện này có tán thành hay không? (Hoàng Đại Xuyên hỏi)

 

      Đáp: Chính phủ là một cơ cấu chính trị, các biện pháp thực hiện của chính phủ nhằm lấy lợi ích trước mắt của nhân dân làm tiêu chuẩn. Phật giáo là đạo tràng tuyển Phật, thuộc về phạm trù giáo hóa, tuân theo chỉ thú “làm cho trọn khắp chúng sanh b́nh đẳng an lạc”. Lập trường tuy bất đồng đôi chút, nhưng đều cùng xuất phát từ cái tâm lợi tha như nhau. Đôi bên ai nấy hành theo điều ḿnh cho là đúng; đúng là chẳng cần phải tán thành hay phản đối. Thử nghĩ “mưa mùa Hạ, cây cối xanh tươi”, “tuyết tháng Chạp báo trước mùa màng sẽ sung túc”, chuyện ǵ là đúng, chuyện ǵ chẳng đúng?

 

      * Hỏi: Trước kia, phụ bản báo Trung Ương có đăng bài Bàn Về Chuyện Phóng Sanh do ông X…. viết, có nói đoàn thể từ thiện Y… nọ đến núi Z… phóng sanh. Trong số đó cũng có không ít loài rắn. V́ lẽ đó, gia súc của cư dân sống tại chân núi bị hại chẳng ít, tuy phóng sanh cứu rắn mà lại gián tiếp hại mạng gia súc. Phóng sanh như vậy rốt cuộc là tích lũy công đức hay là tạo tội ác? (Hoàng Đại Xuyên hỏi)

 

      Đáp: Luận theo Sự th́ đoàn thể từ thiện ấy xử lư chẳng thích đáng, phạm lỗi chưa thể xét trọn mọi mặt. Luận theo tâm th́ chỉ nh́n vào động cơ khi ấy. Nếu luận theo Lư, ắt ông nói ông có lư, bà nói bà có lư. Nếu chẳng ngước mắt ngó lên trời cao, mà hướng xuống dưới để nh́n trọn khắp, sẽ luôn luôn là lời lẽ chấp trước vào một góc độ, khó có thể nói lời chí công chí chánh. Huống chi trong núi vốn tự sanh ra rắn, có căn cứ đích xác ǵ để đoan quyết gia súc của thôn dân bị hại là do những con rắn được thả bởi đoàn thể từ thiện ấy hay chăng?

 

      * Hỏi: T́nh và vô t́nh cùng trọn vẹn Chủng Trí. Xét theo lư luận th́ có thể nói thông suốt, nhưng xét theo sự thực vẫn phải tốn công giảng giải, vẫn phải xin thầy dùng cách nói nông cạn để chứng minh! (Cố Phượng Anh hỏi)

 

      Đáp: Chuông và đá đều là khoáng chất, là vật vô t́nh. Há chẳng nghe sách Hán Thư chép: “Đồng Sơn Tây băng, Lạc chung Đông ứng” (núi Đồng bị lở ở phía Tây, chuông Lạc Dương ngân vang ở phía Đông)[1]. Sách Phật ghi “Sanh công thuyết pháp, ngoan thạch điểm đầu” (ngài Đạo Sanh thuyết pháp, đá cũng gật đầu)[2]. Những thứ ấy đă có thể cảm thông thánh khí để ngân vang hoặc gật đầu tán thành, lẽ đâu chẳng thể chứng đạo viên trí? Nếu nghĩ chúng thật sự không thể nào như vậy được, xin hăy thử nghĩ: Đối với các h́nh thể bằng gỗ khắc, đất nặn, đồng đúc, vẽ trên giấy v.v… chúng ta hằng ngày đối trước các h́nh tượng ấy lễ bái là chuyện hồ đồ ư? Càng phải nên biết: Vạn pháp duy tâm, có tâm, chẳng có cảnh, Không - Sắc bất nhị, tâm cảnh viên dung, vấn đề ấy sẽ được giải quyết dễ dàng!

 

      * Hỏi: Lănh tụ Phật giáo thị tịch, sau khi hỏa táng thu được nhiều xá-lợi, chẳng biết xá-lợi là ǵ? (Niếp Vân hỏi)

 

      Đáp: Xá-lợi (Śarīra) là tên gọi tại Ấn Độ, dịch sang tiếng Hán là Cốt Thân, hoặc c̣n gọi là Linh Cốt. Ông đă thấy ảnh chụp xá-lợi thu được do hỏa thiêu Chương Gia đại sư lần này, nên ở đây tôi không rườm lời mô tả h́nh dạng. Chỉ có điều chuyện này ắt phải do [người đă khuất] khi c̣n sống có công phu Giới, Định, Huệ th́ mới kết thành. Nói đến chứng cớ th́ xin hăy xem phẩm Xả Thân của kinh Kim Quang Minh.

 

      * Hỏi: Gia Tô giáo và Phật giáo có ǵ sai biệt? Tin theo giáo nào sẽ là rốt ráo? (Ngô A Nhị hỏi)

 

      Đáp: Đạo Gia Tô sùng bái trời là tột bậc, vẫn hạn cuộc trong phạm vi tam giới. Phật giáo lấy vượt thoát tam giới, đạt được giải thoát thật sự làm chỗ quy túc. Đó là sự sai biệt. Trong tam giới có sanh tử, vượt thoát tam giới sẽ là bất sanh bất diệt, [như vậy th́] giáo nào là rốt ráo, chẳng cần nói cũng biết.

 

      * Hỏi: Nghe nói Gia Tô (Jesus) bái Phật Thích Ca làm thầy[3], chuyện ấy có xác thực hay chăng? (Ngô A Nhị hỏi)

 

      Đáp: Đức Phật cách hiện thời, nói theo tân thuyết[4] đă là hơn hai ngàn năm trăm năm, c̣n Gia Tô đến nay chưa đầy hai ngàn năm, chênh lệch năm sáu trăm năm, lẽ đâu là Phật là thầy của ông ta cho được?

 

      * Hỏi: Đích xác là có thiên đường và địa ngục ư? Thăng thiên hoặc đọa địa ngục là do ai sai khiến? (Chiêm Kim Chi hỏi)

 

      Đáp: Người ta thường biết những kinh như A Hàm v.v… chép đầy đủ về chư thiên, Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh nói tường tận về các địa ngục. Dựa theo kinh để luận định, lẽ đâu chẳng đích xác? C̣n cơ duyên dẫn tới chuyện thăng hay đọa, hoàn toàn là do nghiệp lực của chúng sanh làm nguyên nhân chánh yếu, do chính ḿnh khiến thành ra như thế!

 

      * Hỏi: Xin hăy phân định rơ ràng Phật và thần, được chăng? (Hà Vĩnh Đinh hỏi)

 

      Đáp: Bậc đoạn hết vô minh trong bản tánh, bất sanh bất diệt là Phật. Tánh nhiễm các Hoặc, nhưng rộng tích chứa thiện nghiệp, đắc thiện báo thần thông, chẳng thoát khỏi luân hồi th́ là thần.

 

      * Hỏi: Kinh chép Phật Thích Ca sanh từ hông bên phải của mẹ, giống như Cơ Đốc (Christ) sống lại, chẳng phù hợp căn cứ khoa học! Có phải là [nêu ra những chuyện ấy] nhằm tán thán họ chẳng giống như phàm phu, chứ hoàn toàn chẳng phải là sự thật? (Trương Cung hỏi)

 

      Đáp: Cư sĩ chỉ biết nói đến những chuyện chẳng thể nghĩ bàn để chê trách là chẳng hợp khoa học, chẳng biết chê trách những điều mà khoa học chẳng phù hợp chuyện chẳng thể nghĩ bàn, tức là coi khoa học là độc tôn duy nhất trong cả cơi trời lẫn nhân gian! Thích Ca Thế Tôn sanh ra từ hông mẹ, kẻ hèn này cũng chỉ thấy sách có chép, thật hư đều chẳng đích thân trông thấy, nên chẳng dám quyết đoán là có hay không. Nhưng trong phần Ngũ Hành Chí[5] trong Minh Sử, có chép vào năm Gia Tĩnh thứ tư (1525), nông dân Khổng Phương ở Hoành Kính dưới hông sanh ra một khối thịt, mổ ra xem, thấy một đứa bé rành rành trong ấy. Lại vào tháng Hai năm Long Khánh thứ năm (1571), một bà thường dân ở Đường Sơn sanh con từ hông trái. Chánh sử nước nhà c̣n có chuyện ấy, há lẽ nào những chuyện ấy đều là ngụy tạo hết ư? Cứ chê trách là chẳng hợp khoa học, sao không dùng khoa học để khởi sự nghiên cứu đi?

 

      * Hỏi: Như thế nào th́ sẽ được gọi là chân lư? (Vương Tích Kỳ hỏi)

 

      Đáp: Các kinh liễu nghĩa trong Phật môn là chân ngữ, thật ngữ, như ngữ, bất cuống ngữ (lời lẽ chẳng dối trá, lừa gạt), bất dị ngữ (không nói sai lệch), chân lư ở trong đó. Bỏ đi những thứ ấy, sẽ chẳng phải là chân lư.

 

      * Hỏi: Trước khi Thích Ca Mâu Ni Phật giáng thế, có những vị Phật khác tồn tại hay chăng? Có căn cứ để khảo sát hay chăng? (Vô Danh Thị hỏi)

 

      Đáp: Suy ngược về vô lượng kiếp trước vốn vẫn có Phật, há chỉ có đấng Thích Tôn giáng thế lần này, trong kinh Phật đă ghi chép nhiều lắm!

 

      * Hỏi: Có người hỏi Di Lặc Bồ Tát nay đang ở cung trời Đâu Suất, [vậy th́] sau khi Niết Bàn, Phật Thích Ca ở chỗ nào? (Khoan Châu hỏi)

 

      Đáp: Thích Tôn là giáo chủ cơi Sa Bà, tự nhiên trụ trong thế giới này. Chỉ có điều chỗ Phật ngự tuy gọi là Sa Bà, nhưng trang nghiêm bằng các thứ báu. Phàm phu bị nghiệp ngăn chướng, nên thấy là đất, đá, ngói, sạn vậy!

 

* Hỏi: Nhân loại trong thế giới sớm nhất là do đâu mà có? Theo như lịch sử nói, con người nguyên thủy từ loài khỉ vượn tiến hóa thành. Căn cứ trên các nghiên cứu, các khoa học gia hiện thời đă kết luận: Con người hoàn toàn do mười bốn thứ nguyên tố hợp thành. Mấy năm trước kia, tôi từng thấy trong kinh luận Phật giáo, nay chẳng nhớ rơ là kinh luận ǵ, đại khái là A Tỳ Đàm Luận nói: Con người thoạt kỳ thủy từ Quang Âm Thiên giáng hạ. Thoạt đầu, con người sống vô cùng tự do, tùy theo ḷng mong mà đạt được, chẳng cần phải cấy, trồng. Đồng thời cũng chẳng có nam nữ đối lập, hằng ngày ăn uống bằng nước suối ngọt, chất đọng trên mặt đất v.v… Lâu ngày, ḷng người biến đổi, tâm tham dục nhiều. Sau này, đất chẳng sinh ra chất bổ nữa, xuất hiện một loại canh mễ[6], con người ăn vào mới hiện tướng nam nữ. Từ đó, tiếp tục có thế giới nhân loại như hiện thời. Đối với mấy vấn đề trên đây, mỗi thuyết đều có lư, chẳng biết xác thực là ai đúng, ai sai. Xin hăy chỉ dạy! (Phan Thành Lâm hỏi)

     

Đáp: Trong lời hỏi của cư sĩ có hai chữ “sớm nhất” th́ có thể bàn luận được. Nói là khỉ vượn, hay nói là mười bốn loại nguyên tố, hoặc nói là Quang Âm Thiên, đều chẳng có ǵ là không được! Ba thuyết ấy chẳng cần hỏi là ai đúng, ai sai, đều có thể nói là “sớm nhất”. Nếu nói là “nguyên thủy” th́ sẽ phạm khuyết điểm. Thử hỏi vượn khỉ, nguyên tố, Quang Âm Thiên lại do đâu mà có? Học thuyết viên măn nhất trong nhà Phật là “phàm những ǵ có tướng đều do các duyên ḥa hợp mà hiện ra”, so ra có thể chấp nhận được.

 

      * Hỏi: Từ khai thiên lập địa tới nay, trong vũ trụ có cái gọi là “chúa tể tạo vật” như đạo Gia Tô nói “đức Chúa Cha là chúa tể của tạo vật trong vũ trụ” hay không? (Đàm Thành Chương hỏi)

     

Đáp: Các duyên ḥa hợp, do cùng một nghiệp cảm vời, chỉ do thức biến hiện, nên có giả tướng. Thành, trụ, hoại, không trong từng sát-na chẳng ngừng, vốn chẳng có thật thể, sanh diệt vô thường. Lư luận theo những điều trên đây, bèn biết vũ trụ chẳng phải là do một đấng Chúa Trời tạo dựng. Đă là chẳng thể tạo, làm sao có chúa tể cho được?

 

      * Hỏi: Tại các đại danh sơn ở Đại Lục, có nhiều người tu đạo, sau khi viên tịch, xác thân chẳng hư nát là do đạo lư ǵ? Nghe nói ngồi canh th́n[7] có thể thành đạo, và sau mấy lượt canh th́n, có nhiều thứ yêu ma cổ quái đến thử thách, có đúng hay không? (Bạch Vân Tiều hỏi)

 

      Đáp: Xác thân không hư nát là hiện tượng đôi khi có xảy ra, những điều khác chẳng phải là chuyện trong nhà Phật!

 

      * Hỏi: Đại văn hào Anh Quốc Vi Nhĩ Tư (H.G. Wells) trước tác bộ Thế Giới Sử Cương có nói: “Từ những điều đạt được do nghiên cứu hiện thời đến tận cội gốc giáo nghĩa căn bản của Cù Đàm (Gotama), bèn biết giáo nghĩa ấy hết sức đơn giản, rơ ràng, phù hợp các quan điểm cận đại nhất, chính là thành công do lư trí nhạy bén từ xưa tới nay, chẳng cần phải bàn căi nữa”. Tiên sinh Lương Khải Siêu lại nói: “Phật học rộng lớn, sâu xa, to tát, vi diệu, thiết thực trong quan hệ con người, hết sức thực dụng, thật sự là một học thuyết cao thượng, viên măn, sâu xa, rơ ràng nhất trong ṿng trời đất”. Mấy vị tiên sinh ấy trọn chẳng phải là tín đồ Phật giáo, nhưng nói như vậy, há chẳng phải là nói: Phật học là giáo lư cao thượng, viên măn, triệt để, đích xác được giới học thuật trên thế giới công nhận, nhưng vẫn chưa thể đạt đến địa vị khiến cho các vị học giả trên thế giới tin tưởng, ngưỡng mộ, đúng không? Hay là c̣n có nguyên nhân nào khác nữa? (Diệp Khánh Xuân hỏi)

 

      Đáp: Lời lẽ của hai tiên sinh Vi Nhĩ Tư và Lương Khải Siêu bất quá thuộc loại tán thán, đó là lẽ hiển nhiên. C̣n [ông nghĩ] họ c̣n có ngụ ư chi khác, tợ hồ là thổi lông t́m vết vậy!

 

      * Hỏi: Núi, sông, đại địa là do cộng nghiệp của chúng sanh tạo tác. Hiện thời, bom Cobalt[8] có thể hủy diệt toàn thể nhân loại và sinh vật. Nếu toàn thể nhân loại và sinh vật đều bị tử vong hết sạch, ắt địa cầu cũng bị hủy diệt theo ư? Trên mặt trăng nửa tháng là ngày, nửa tháng là đêm, ngày th́ nóng dữ dội, đêm th́ lạnh kinh khủng, chẳng sanh trưởng sinh vật, là do nghiệp lực nào cảm thành? Chẳng biết tinh cầu ấy v́ sao mà h́nh thành như vậy? Trước là có căn khí giới, sau là có chúng sanh? Hay là có chúng sanh trước, sau đó sẽ có căn khí giới? (Tông Thụy Tích hỏi)

 

      Đáp: Chuyện này phải tách ra để đáp:

1) Một là hỏi về nỗi nghi “núi, sông, đại địa do cộng nghiệp tạo thành”. Núi, sông, đại địa do các duyên ḥa hợp mà thành, do nghiệp cảm của chúng sanh, chỉ do thức hiện, không ǵ chẳng phải là cộng nghiệp. Không chiêu cảm th́ trong thức cũng chẳng hiện tướng. Dùng nước để sánh ví th́ trời, rồng, người, quỷ, mỗi loài thấy nước có h́nh tướng mỗi khác. Đó là một thí dụ rành rành. Nhưng nước có các giai đoạn Thành, Trụ, Hoại, Không, các loài như trời, rồng v.v… thấy tướng sai khác chính là v́ nghiệp báo bất đồng, nên chẳng thấy [nước chỉ có] một tướng; nhưng nước trọn chẳng v́ những cảm nhận sai lầm ấy mà trong sát-na biến thành lưu ly, hay biến thành ngọn lửa. Dẫu cho chư thiên chết sạch, c̣n có các loài rồng, người, quỷ v.v… chấp lấy tướng của nước, nước chẳng v́ chư thiên đă chết mà tiêu diệt. Dẫu các loài đều chết sạch, nhưng nước chưa đến [giai đoạn] Không Kiếp [sẽ chẳng bị diệt mất], ắt sẽ có trời, rồng, người, quỷ mới sanh ra nương cậy vào nước. Hiểu rơ điều này, bèn biết: Địa cầu không nhất định thuận theo nhân loại mà tiêu diệt.

2) Hai, “mặt trăng chẳng có không khí, không có động vật” là do các khoa học gia dùng viễn vọng kính để ḍ t́m nói ra. Đó chỉ là nh́n vào nửa phần, có thật sự là như thế hay không, vẫn phải chờ các khoa học gia phát minh tiến bộ hơn nữa. Mặt trăng tối tăm, mấy chục năm trước, [các nhà khoa học] từng nói mặt trăng chỉ có các núi lửa đă tắt. Gần đây, họ lại chẳng thừa nhận thuyết ấy. Lại sau bao nhiêu năm nữa, ắt sẽ có thuyết mới. Dẫu nguyệt cầu thật sự chẳng có động vật, nhưng ban đêm địa cầu thường được mặt trăng soi sáng, nên Trung Hoa căn cứ theo đó để soạn lịch. Huống chi nó lại c̣n chuyển động xoay quanh địa cầu, cớ sao biết nó chẳng do chúng sanh trên địa cầu chiêu cảm? Nếu nói mặt trăng là do chúng sanh trên mặt trăng mà hiện, mặt trời là do chúng sanh trong mặt trời mà hiện, nước là do chúng sanh trong nước mà hiện, thế mà chúng sanh sống trên lục địa của địa cầu rơ ràng là gặp ngày nắng gắt bèn uống nước, [vậy th́] mặt trời và nước có phải là chỉ do chúng sanh nơi bản thể[9] mà hiện, hay là nó cũng có mối quan hệ đối với chúng sanh nơi những thể khác?

3) Ba, chúng sanh, khí giới, điều nào chín muồi trước? Vốn là v́ chẳng hiểu những sự [vừa được biện luận] trên đây, nên mới nêu kèm theo câu hỏi này. Đă hiểu rơ những sự trên đây th́ [vấn đề này] có thể bỏ mặc, chẳng cần bàn tới.

 

      * Hỏi: Có sách viết: Trong cuộc biện luận của giới tiến sĩ, tiến sĩ Bách Khắc Sâm (Henri Bergeson) người Anh du lịch Ấn Độ đến núi Kê Túc (Kukkuṭapādagiri), được tôn giả Ca Diếp hiển tích hóa độ, lại c̣n nói là “đời trước có duyên thầy tṛ”. Chuyện ấy có chính xác hay không? V́ sao tôn giả chỉ có duyên với ḿnh ông ta? Người trong các nước trên thế giới đông ngần ấy thảy đều vô duyên với tôn giả ư? Ngay cả người Ấn Độ cũng vô duyên ư? (Hồng Hoàn hỏi)

 

      Đáp: Đích xác hay không, kẻ hèn này chẳng dám đoán định. Trong sách đă chép “đời trước có duyên thầy tṛ” tức là chẳng giống những người khác. Nhưng duyên cũng có nhiều thứ, có túc thế (đời trước), có duyên gặp gỡ ngẫu nhiên, có duyên tạo tác trong hiện tại, có duyên là liên đới, có duyên là giới hạn trong một thời điểm v.v… Khi chín muồi, duyên sẽ khởi tác dụng. Khi chưa chín muồi th́ giống như chẳng có liên quan chi hết!

 

      * Hỏi: Có phải là điều tốt đẹp trong học Phật chính là văng sanh thế giới Cực Lạc hay không? Tôi mong cầu chân lư nên mới đọc mấy quyển kinh Phật, nửa hiểu nửa không. Lại đọc tạp chí Phật giáo, tuy đọc thấy hiểu nhiều hơn, nhưng trong ấy có những bài viết công kích các tôn giáo, và cũng có chuyện người xuất gia và tại gia căi lộn với nhau, tâm tôi bèn hoài nghi. Xin tiên sinh hăy giải đáp viên măn th́ tôi mới có thể tin Phật! (một độc giả ở Hoa Liên hỏi)

 

      Đáp: Câu hỏi này được chia thành ba đoạn [để trả lời]:

1) Một, học Phật có phải là để sanh về Cực Lạc hay không? Điều này chẳng nhất định. Phật pháp vô biên, mỗi người có nguyện riêng. Có nhân, thiên, Tiểu Quả, có Nhị Thừa La Hán, có Đại Thừa Bồ Tát, có pháp tự lực minh tâm kiến tánh thành Phật, có môn đới nghiệp văng sanh Cực Lạc. Chúng sanh tùy theo căn khí mà tự chọn lựa, quyết chẳng có chuyện đè đầu ḅ bắt ăn cỏ!

2) Hai là xem kinh nửa hiểu, nửa không, xem tạp chí thấy có cảnh tượng công kích lẫn nhau đáng chán. Chuyện này đă được giải đáp trong phần Thông Vấn (câu hỏi tổng quát), hăy xem các trang ba mươi ba và ba mươi tư.

3) Ba là ông đ̣i phải có một câu trả lời viên măn th́ mới chịu tin Phật. Cổ đức nói: “Thân người khó được, Phật pháp khó nghe”. Lại nói: “Pháp vi diệu rất sâu vô thượng, trăm ngàn vạn kiếp khó gặp gỡ”. Thật sự triệt để ĺa khổ được vui th́ chỉ có một pháp này, nếu ở ngay trước mặt mà bỏ lỡ, sẽ lại phải trầm luân sanh tử trong ngàn kiếp vạn đời. Người nghiệp nhẹ, chướng cạn, hễ nghe [nói đến Phật pháp] bèn dễ hiểu, dễ tin. Người nghiệp chướng sâu, tuy nghe xong, tỉnh ngộ, nhưng chẳng tin. [Những chuyện này] đều liên quan đến cơ duyên họa phước của cá nhân. Kẻ hèn này ngu si, quyết chẳng có năng lực trả lời viên măn cho tiên sinh được! Xưa kia, đức Phật tại thế, trí huệ đại biện, mà bà lăo ở phía Đông thành [Xá Vệ] thề chẳng thấy Phật, chính là tự ḿnh đoạn tuyệt với Phật, chẳng phải là Phật đoạn tuyệt bà ta. Lại nữa, bậc hiền nhân trong thế gian là Mạnh Tử có nói: “Cầu th́ đạt được, bỏ th́ sẽ mất”. Xin hăy suy ngẫm cặn kẽ hai lời ấy.

 

      * Hỏi: Nhân loại do đâu mà có? Đạo Cơ Đốc và đạo Thiên Chúa[10] đều nói [con người] do Thượng Đế sáng tạo. Phật giáo bảo là do các duyên ḥa hợp mà có. Khổng giáo nói ngày thứ bảy sanh ra con người, thuở hỗn độn sơ khai chưa hề có nhân loại. Có người nói do loài vượn thay đổi theo lối sống mới mà h́nh thành [nhân loại]. Rốt cuộc nhân loại là do đâu mà có? (Hà Khôn Mậu hỏi)

 

      Đáp: Kinh Hoa Nghiêm có nguyên nhân luận, nói rất tường tận, nhưng danh từ quá nhiều, sợ hàng sơ cơ chẳng thể đốn giải. Cư sĩ đă biết các duyên ḥa hợp, đó là chánh kiến, ở đây tôi nói theo cách dễ hiểu. Các vật thể thuộc thể lỏng, thể hơi và thể rắn đương nhiên có các nguyên tố. Dựa theo các phát hiện gần đây, đă có hơn chín mươi hai nguyên tố. Những nguyên tố chưa được phát hiện chắc là chẳng biết đến bao nhiêu! Các nguyên tố như thế trọn khắp hư không, người b́nh phàm hiểu biết như thế. Lại c̣n có linh tánh kỳ diệu nhất (giống như điện tử) cũng trọn khắp hư không, nhưng người b́nh phàm chẳng biết. Phàm những thứ ấy đều là các duyên. Thể lỏng và thể hơi cố nhiên là do các nhân duyên ḥa hợp, nhưng huyễn khí thế gian[11], như các loại khoáng vật nơi núi, sông, đại địa, lại ḥa hợp, bèn hư huyễn có thực vật như rong, rêu, cỏ, cây. Từ đó, càng ḥa hợp càng phức tạp, linh tánh dựa vào đó, biến huyễn sanh ra các động vật sống nơi ẩm thấp thuộc về hữu t́nh thế gian. Các động vật lại ḥa hợp lẫn nhau, bèn hư huyễn có các động vật sanh bằng trứng hoặc bằng thai. Đó là nói khái lược về sinh vật. Như nhân loại là một loại động vật sanh bằng thai (vốn có thuyết tứ sanh) do vậy mà xuất hiện. Nhưng trong các động vật, con người vốn được ưu đăi đặc biệt. Lại cần phải kết hợp với nghiệp báo thiện ác như thiên đạo, địa ngục, lục đạo để bù qua sớt lại th́ mới phù hợp với ư chỉ của luận thuyết [con người do] loài vượn [tiến hóa].

 

      * Hỏi: Kẻ học Phật đi lính, tiến ra tiền tuyến, giết địch thủ, bảo vệ đất nước, yên dân, không chỉ là vô tội mà c̣n có công. V́ sao đối với những loài trùng hại người như muỗi, ruồi, nhặng là môi giới của vi khuẩn gây bệnh truyền nhiễm, thậm chí khiến cho người ta ngă bệnh, mất mạng, tiêu diệt những loài trùng ấy chính là phù hợp vệ sinh, tăng tấn sức khỏe thân thể, lại ngược ngạo bảo đừng nên diệt trừ chúng, mà c̣n phải nuôi dưỡng chúng? Chuyện trước và sau há chẳng phải là không mâu thuẫn ư? (Hành Ngọc hỏi)

 

      Đáp: Quốc gia lập ra quân đội nhằm vào ư nghĩa pḥng vệ, chẳng phải là để xâm lược. Nếu có kẻ xâm phạm ta, có thể chống cự, xua đuổi chúng, khiến cho chúng nó chẳng càn rỡ, phải chịu khuất phục mà bỏ đi, tức là đă trọn hết khả năng. V́ thế nói: “Chỉ qua vi vũ, bất tu đa sát” (không cần dùng đến vũ lực, mà có thể hóa giải chiến tranh, chẳng cần phải giết chóc nhiều)[12]. Đấy chính là quân đội của người có ḷng nhân vậy. Nếu dùng quân đội để chuyên xâm lược mong diệt sạch các chủng tộc khác, đấy chính là bọn giặc hung tàn trên quốc tế vậy! C̣n như các loài động vật lan truyền vi khuẩn gây bệnh, do hiện thời khoa học phát triển như thế, có khó ǵ để lập phương cách pḥng ngừa, chữa chạy, khiến cho chúng nó chẳng thể hại người, cớ ǵ cứ phải diệt sạch các loài ấy để rồi kết thành nỗi oan trái? Phật pháp và lập trường chánh trị có chút khác biệt; v́ thế, chẳng ngại ǵ chủ trương mỗi bên mỗi khác. Phật pháp theo quan điểm coi tứ sanh là b́nh đẳng, yêu thương sanh mạng như chính ḿnh, lục đạo là quyến thuộc trong nhiều đời, cho nên chẳng chủ trương giết chóc. Ví như đứa con ruột bị bệnh phổi, cha mẹ biết đó là bệnh truyền nhiễm, chỉ đành cách ly, chữa chạy, trọn chẳng đành ḷng giết béng nó đi để khỏi phải bị lây bệnh!

 

      * Hỏi: Chúng sanh tàn sát lẫn nhau, đó là luật nhân quả. V́ sao kẻ làm chuyện hung ác c̣n bị nhân sĩ trong xă hội thóa mạ, ghét hận, và bị pháp luật xử phạt đến nỗi phán án tử h́nh. Đao phủ tuân lệnh xử tử kẻ phạm tội tử h́nh, há chẳng phải là đă kết oán đời đời chẳng thể giải thoát ư? (Hành Ngọc hỏi)

     

Đáp: Tàn sát lẫn nhau, tuy có nhân quả, nhưng chính là do kẻ mê hoặc noi theo đường mê. Oán nên giải, đừng nên buộc, chính là bậc giác ngộ noi theo đường giác. Mê và giác, ǵ là đúng, ǵ là sai, thật phân minh. Người nắm quyền cai trị đất nước, tuân thủ hết thảy pháp quy, duy tŕ trị an. Kẻ phạm pháp bị trị tội chính là nhân quả hiển nhiên trước mắt. Nếu chẳng hiểu điều này, bàn lung tung những chuyện quá khứ ẩn tàng, khó hiểu rơ, đó chính là nói mớ trong mộng. Đao thủ đại diện pháp luật hành h́nh, nên chẳng gánh nợ kết oán.

 

* Hỏi: Kể từ trước lúc vô thỉ, thân Trung Ấm do đâu mà có? Từ thân Trung Ấm, chuyển sanh thân người. Do thân người tu thành Phật, Bồ Tát, mà Phật, Bồ Tát có ba thân Pháp, Ứng, Hóa. Hóa Thân v́ ứng hóa chúng sanh, nên có thể biến hóa trăm ngàn ức cho đến số vô lượng, nhưng thân Trung Ấm của chúng sanh trừ thành Phật ra, thể tánh của nó vốn là bất sanh bất diệt, chẳng biến hóa. Thế nhưng xét ra, trước khi h́nh thành thân Hậu Hữu, c̣n có một lần sanh tử biến dịch cách biệt mấy tháng, duyên do quả báo là ở chỗ nào? (Phương Phấn Thanh hỏi)

 

      Đáp: Thân Trung Ấm c̣n được dịch là thân Trung Hữu, có nghĩa là “lúc thân đời trước đă chết, chưa nhập vào thân đời sau”. Hiểu rơ điều này, ắt sẽ chẳng thể nói là “từ trước vô thỉ mà có thân Trung Ấm”. Đă nói là “vô thỉ”, há có thể nói là “trước vô thỉ” ư? Ông nói đến chuyện thân Trung Ấm trước khi thành Phật lại là hiểu lầm. Trung Ấm là thân chuyển tiếp trong sanh tử, làm sao có thể thành Phật cho được? Pháp Thân là tánh thể, Ứng Thân và Hóa Thân là Tướng và Dụng. Ứng Thân và Hóa Thân nương vào bản thể, như ánh nắng mặt trời nương vào bản thể là mặt trời. “Bất biến” là tánh thể như như, “tùy duyên” là Tướng và Dụng u huyền. Không có chuyện “chỉ có Pháp Thân mà chẳng có Ứng Thân và Hóa Thân”, giống như đă có mặt trời bèn có ánh sáng. Trung Ấm sanh tử có sớm chậm sai khác, nhưng chậm nhất cũng chẳng vượt quá bốn mươi chín ngày mà thôi!

 

* Hỏi: Tánh của chúng sanh là cần phải có ăn uống, sắc dục. Do dục mà có nhu cầu và hưởng thụ, hoặc có lúc tham cầu mà chẳng thể đạt được mục đích, bèn dấy lên tranh đấu, tạo nghiệp. Do tạo nghiệp, ắt phải chịu quả báo, luân hồi trong lục đạo, khổ quả đến hằng sa kiếp. Nhưng chúng sanh đă trọn đủ Phật tánh, nếu có thể thành Phật, th́ hết thảy hai thứ y báo và chánh báo trang nghiêm, hết thảy các nhu cầu hưởng thụ tự tại, như cơi nước Cực Lạc của Tây Phương A Di Đà Phật vậy. Chúng sanh hay biết [điều ấy], không ai chẳng hướng về, hâm mộ! Chúng sanh tuy mê, chư Phật có thể độ; huống hồ chư Phật, Bồ Tát lấy độ sanh làm chức trách, chí hướng. V́ thế, chúng sanh tạo nghiệp, bèn cho phép họ kiền thành sám hối để hóa độ. Thế nhưng độ trễ chẳng bằng độ sớm, độ ít chẳng bằng độ nhiều, độ nhiều chẳng bằng độ hết, cho đến hư không vô tận, thảy đều độ hết. Như vậy th́ há chẳng phải là chúng sanh và Phật một nhà, mười phương cơi nước đều là Cực Lạc ư? Nhưng rốt cuộc tới khi nào th́ mới có thể độ hoàn toàn hết thảy chúng sanh? (Phương Phấn Thanh hỏi)

 

      Đáp: Câu hỏi này thuần túy là phô diễn những lư lẽ “cao siêu”, chỉ có câu cuối cùng là lời thưa hỏi! Ngay sau phần cao luận, đoạn “độ trễ chẳng bằng độ sớm” cho đến “độ trọn hết” đủ thấy ông phát tâm rộng lớn, nhưng chẳng biết Phật, Bồ Tát độ chúng sanh trọn chẳng phân biệt sớm, trễ, nhiều, ít, chẳng cần biết là tứ sanh hay cửu hữu, không ǵ chẳng là phổ độ trong từng sát-na! Nếu hỏi khi nào sẽ độ hết, hăy thử xem Xuân, Hạ, Thu, Đông giáp ṿng trở lại từ đầu, có lúc nào sẽ hết hay chăng? Chúng sanh cũng như thế, cần phải biết là chẳng có con số cố định, mà là đời đời chẳng dứt. Bất quá hạnh nguyện độ chúng sanh của Phật, Bồ Tát niệm niệm tiếp nối, chẳng có lúc chấm dứt mà thôi!

 

      * Hỏi: Nếu có trường hợp cha con cùng quy y với một vị pháp sư, cùng gọi vị pháp sư ấy là sư phụ th́ có trở ngại ǵ chăng? (Trại Mạnh Thu hỏi)

 

      Đáp: Chuyện này chẳng có phân biệt. A Nan là em đức Phật, La Hầu La là con Phật, đồng thời làm đệ tử Phật. Nho gia th́ Tăng Tích và Tăng Sâm vốn là cha con, cũng cùng làm đệ tử của Khổng Tử.

 

      * Hỏi: Nghe nói nguồn gốc của nhân loại là do các vi khuẩn tiến hóa thành người, có đích xác hay chăng? (Trương Hồng Thanh hỏi)

 

      Đáp: Học vấn trong Phật pháp chú trọng lư tâm tánh, nên nói là “vạn pháp duy tâm”. Cư sĩ hỏi về nguồn gốc con người th́ nhà Phật cũng đă từng nói tới, “nguyên nhân luận” bàn về vấn đề này. Trong phần hỏi đáp của tạp chí này đă từng nhiều lượt đề cập, xin hăy tra duyệt. Các nhà khoa học có các thuyết con người từ loài vượn tiến hóa, hoặc do vi khuẩn tiến hóa, đều là những lời lẽ thuộc loại suy đoán, đúng hay sai cố nhiên là khó thể khẳng định. Dẫu [giả thuyết của các nhà khoa học] là đúng, xin hỏi là đối với loài cầm thú, loài có vảy, có mai, côn trùng, vạn ức loài động vật đều có thể nghiên cứu đích xác nguồn gốc của từng loài hay chăng? Vẫn là phiền phức, rắc rối, chẳng thích đáng, chẳng [găy gọn bằng cách nói] “vạn pháp duy tâm”.

 

      * Hỏi: Vũ trụ rộng lớn được tạo thành bởi nguyên nhân nào? (Diệu Nguyên hỏi)

 

      Đáp: Theo như ông viết trong thư, ông thường cùng bạn bè đàm luận Phật pháp, mỗi lần gặp phải vấn đề khó giải đáp, bèn gởi thư chất vấn. Cư sĩ học Phật chưa lâu, há có nên đàm luận những vấn đề này trước tiên? Chẳng thà vùi đầu đọc sách, đến lúc [nào đó], sẽ tự nhiên hiểu rơ. Đối với câu hỏi này, nếu trả lời cặn kẽ, ắt sẽ phải là một cuốn sách dầy cộp, nói giản yếu th́ e chẳng thể hiểu. Chỉ đành nói là hăy chờ đến mai sau sẽ tự hiểu rơ “tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”. Trong mộng rơ ràng phô sáu nẻo, tỉnh rồi ba cơi rỗng toang hoang!

 

      * Hỏi: “Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh”, “rốt cuộc sẽ thành Phật”“vào trong địa ngục Vô Gián vĩnh viễn chẳng thoát ra” có mâu thuẫn hay không? (Mạc Ngă Hư hỏi)

 

      Đáp: Năm thứ Vô Gián trong địa ngục là nói về lúc ở trong địa ngục, phải nhận lănh những điều ấy chẳng gián đoạn, hoàn toàn chẳng phải là vĩnh viễn chẳng thể thoát khỏi. Hăy nên biết: Tâm niệm vô thường, các hành vô thường. Có địa ngục nào chẳng phải là do tâm hạnh [chiêu cảm], há có lẽ nào vĩnh viễn, thường hằng? Ông lầm tưởng là vĩnh viễn thường hằng, nên mới thấy có mâu thuẫn với học lư; nhưng có thể xuất ly hay không, vẫn là do tâm hạnh như thế nào mà thôi!

 

      * Hỏi: Có người hỏi Phật độ chúng sanh văng sanh Tây Phương. Nếu độ hết, há chẳng phải là thế giới tiêu diệt ư? Xin hăy khai thị. (Giản Tố Anh hỏi)

 

      Đáp: Ví như tù nhân hối cải, pháp luật có quy định giảm án hoặc phóng thích. Nếu có một tù nhân, bỗng khuyên các tù nhân khác: “Các ông đừng nên hối cải, lư do là nếu mọi người đều hối cải, há chẳng phải là nhà tù trống rỗng ư?” Lời kẻ ấy nói cũng giống như lời ông hỏi vậy!

 

      * Hỏi: Điểm đặc trưng của Phật giáo là ǵ? (Giản Tố Anh hỏi)

 

      Đáp: Vạn pháp đều trọn đủ, đạo Niết Bàn là đặc trưng.

 

      * Hỏi: Phật giáo gồm có mấy loại? (Giản Tố Anh hỏi)

 

      Đáp: Giáo chỉ là một. Bất quá, do khế hợp các căn cơ mà có Tiểu Thừa và Đại Thừa, Hiển Tông và Mật Tông, diễn giáo, hành tŕ, nói Quyền, nói Thật sai khác mà thôi!

 

      * Hỏi: Tôi đọc bản dịch cuốn Triết Học Tôn Giáo của tiên sinh Tạ Phù Nhă, thấy trong lời tựa có viết: “Tôn giáo của người phương Tây thuộc về bản chất quan, thường quen chú trọng vào Tam Vị Nhất Thể của Cơ Đốc giáo, nên nói là Thánh Phụ (đức Chúa Cha, Thượng Đế), Thánh Tử (đức Chúa Con, tức Gia Tô), và Thánh Linh (sự minh giác của con người). Tuy có ba tên gọi, nhưng thực chất là một… Thật ra, trong các tôn giáo cao cấp trên cơi đời, không tôn giáo nào chẳng có thuyết Tam Vị Nhất Thể. Đối với Tam Bảo Phật, Pháp, Tăng của Phật giáo, Pháp có thể xem như ngôi Cha, Phật có thể xem như ngôi Con, Tăng có thể coi như ngôi Chúng Linh (Thánh Linh), mấu chốt là sự đối lập giữa một (ngôi Cha) và nhiều (Thánh Linh), nhưng dùng ngôi Con để làm trái đệm..”, tiên sinh nghĩ thuyết ấy như thế nào? (Diệp Khánh Đảo hỏi)

 

      Đáp: Chẳng cần phải so sánh, gán ghép gượng ép! Kinh Phật đă được biên tập từ hơn hai ngàn mấy trăm năm trước, tự có điểm độc lập chẳng thể chối bỏ được, những thuyết khác chẳng thể gây tổn hại tới tinh túy của Phật giáo được. Nghĩa lư “tuy ba mà một” rất nhiều, như “tâm, Phật, chúng sanh”, ba thân Pháp, Báo, Ứng, tam trí nhất tâm, tam đức chẳng khác nhau, Tam Đế chính là lẫn nhau v.v… chẳng thể kể trọn! Trong lời hỏi của ông, đối với thuyết của ông Tạ đă đem Tam Bảo phối hợp với thuyết Tam Vị Nhất Thể (Trinity) của họ, xét ra, có chỗ chẳng hoàn toàn phù hợp, tôi rất sợ “sai chỉ hào ly, mất trong khoảnh khắc”, chỉ đành nói là “khăng khăng chẳng đồng ư”!

 

      * Hỏi: Trong giáo nghĩa Phật pháp, có một phần tương đồng giáo nghĩa Bà La Môn giáo. Chỗ giống nhau ấy có phải là khi đức Phật thuyết pháp bèn phương tiện vay mượn [những giáo thuyết trong Bà La Môn giáo] để sử dụng? Hay là Bà La Môn đă đạt được một phần chân lư? (Diệp Khánh Đảo hỏi)

 

      Đáp: Hai đằng đều có.

 

      * Hỏi: Như v́ mong mỏi thành Phật mà học Phật th́ chính là tâm tham muốn đạt được, tâm ích kỷ, há chẳng phải là vọng niệm ư? (Trương Văn Bỉnh hỏi)

 

      Đáp: Mê luyến dục trần th́ mới là tham. Học Phật vốn là khử nhiễm, sửa đổi tập khí, minh tâm kiến tánh, được gọi là chuyên ṛng tu tập, thành Phật nhằm phổ độ chúng sanh, nên cũng chẳng thể chê là ích kỷ được!

 

      * Hỏi: Tin Phật giáo th́ có mâu thuẫn đối với nghề nghiệp hay không? Quân nhân có thể là tín đồ Phật giáo hay không? (Trịnh Đôn hỏi)

 

      Đáp: Thu nhập từ nghề nghiệp nhằm nuôi dưỡng sắc thân. Nghiên cứu Phật pháp để khai trí huệ. Nếu thiếu trí huệ th́ nghề nghiệp cũng chẳng làm đến mức tốt đẹp được! Quân nhân học Phật có thể tăng trưởng tinh thần đại vô úy, có thể triệt để bảo vệ đất nước, bảo vệ nhân dân, cứu giúp, bảo vệ chúng sanh, hàng phục tà ma, ngoại đạo.

 

      * Hỏi: Pháp có trước, hay là Phật có trước? Nếu pháp có trước th́ chẳng có Phật thuyết pháp, làm sao có pháp? Nếu nói là Phật có trước th́ chẳng có pháp, làm sao có thể nương vào pháp để viên chứng cho được? (Huệ Tánh hỏi)

 

      Đáp: Pháp do tâm tạo, tâm chính là pháp. Phật do tâm tạo, tâm cũng là Phật. Tâm, Phật và pháp, tuy có ba danh xưng, nhưng là một Thể, chẳng có trước sau! Sợ ông khó hiểu, tôi dùng Tục Đế để giải thích: Hết thảy sự tướng đều là bổn pháp, đối với chúng (sự tướng) mà mê hoặc th́ là chúng sanh. Ngộ chứng Chân Đế th́ là Phật Đà (như Độc Giác thấy hoa rơi, lá rụng, bèn chứng đạo). Chuẩn theo điều này có thể nói là “bổn pháp có trước Phật”. Phật sẽ chứng đắc Chân Đế, hướng về đại chúng diễn nói, phá mê hoặc cho họ, [bổn pháp đến khi ấy] mới gọi là Phật pháp. Chuẩn theo điều này, lại có thể nói giả tạm là “Phật pháp có sau đức Phật”.

 

* Hỏi: Có người tin Phật đến hỏi: Đất sanh ra giun (trùng đất), vốn là một sanh mạng, nông phu vô t́nh đụng đến, chặt nó thành hai, hoặc năm, sáu đoạn, những đoạn ấy cũng đều có thể cựa quậy, tiếp tục sống như thường. Kinh nói “hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh”, vậy th́ Phật tánh rốt cuộc là một hay là nhiều? (Nhan Triệu Văn hỏi)

 

      Đáp: Con giun thuộc loại động vật có đốt tṛn, một thân có đủ cả giới tính đực và cái. Mỗi tế bào có năng lực tái sanh độc lập, điều này chỉ nói về điểm đặc biệt thuộc phương diện sinh lư. Cơ thể của nó đă có đủ giới tính đực và cái, là lưỡng tính. Xét ra, vô lượng động vật, tùy theo thời mà mỗi loài có sự sanh tử riêng. Thần thức (tục gọi là linh hồn) giống như ḍng điện, trọn khắp vũ trụ, gặp chỗ nào có sanh cơ (có điều kiện đầy đủ để khởi đầu một kiếp sống), nếu nhân duyên phù hợp (chẳng hạn chế là noăn, thai, thấp, hóa) liền đầu thai vào đó. Các đốt tế bào của con giun đều được phú bẩm khả năng tái sanh, khi bị cắt thành từng đoạn, vô lượng thần thức từ ngoại cảnh sẽ tự có thể nương vào [các đoạn giun cắt rời ấy], tức là mỗi đoạn sau khi sống lại sẽ có thần thức riêng, mỗi đoạn có sanh mạng riêng.

 

      * Hỏi: Đối với chữ Ái như Nho gia đă nói và chữ Ái được nói trong Phật giáo, cũng như chữ Ái được nói trong Cơ Đốc giáo, xin hăy nêu bày đại lược (Lưu Khải hỏi)

 

      Đáp: Nho gia lấy chữ Nhân làm Thể, Ái phần nhiều là một tác dụng của cái Thể ấy. Trước hết là từ gần từ đến xa, từ con người yêu thương đến súc vật. Nhưng gần và xa, giữa con người và súc vật, mức độ Ái đều có sự sai biệt và hạn độ tương đương, chẳng hạn như “lăo ngô lăo dĩ cập nhân chi lăo” (đem ḷng thương yêu người già của kẻ khác như thương yêu người già của chính ḿnh), “quân tử viễn bào trù” (quân tử xa lánh bếp núc), “kiến sanh bất nhẫn kiến tử” (thấy sống, chẳng nỡ thấy chết). Ái của Cơ Đốc giáo chỉ hạn chế trong nhân loại, như nói người có linh hồn, súc vật có hồn nhưng chẳng linh, cho nên giết chúng để ăn là lẽ đương nhiên! Nhà Phật chỉ nói từ bi b́nh đẳng, trọn chẳng nói đến ái v́ ái là tác dụng của cảm t́nh, c̣n từ bi là chuyện nên làm xét theo lư trí. Đối với vô biên chúng sanh trong chín pháp giới, phải nên cứu độ trọn khắp, như “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ” chẳng hạn. Ái của ba giáo đại lược là như vậy!

 

      * Hỏi: Xin hăy so sánh đại lược giáo nghĩa, ưu điểm và khuyết điểm của Phật giáo, Hồi giáo, Đạo giáo, Bạch Liên giáo, Thiên Chúa giáo và Cơ Đốc giáo? (Lưu Khải hỏi)

 

      Đáp: Bạch Liên giáo là tà ma, ngoại đạo của Trung Hoa, trọn chẳng phải là tôn giáo! Đối với sự hơn kém trong giáo nghĩa của năm giáo kia, xin hăy coi trọn khắp kinh điển của các giáo. Khi công phu đă sâu, sẽ tự có thể biết. Tạp chí này chẳng tiện b́nh luận, [để khỏi] gây ra những tranh chấp về giáo nghĩa, xin hăy lượng thứ!

 

      *Hỏi: Pháp trong Phật Pháp Tăng và chữ Pháp trong “vạn pháp duy thức” khác nhau ở chỗ nào? (Châu Bang Đạo hỏi)

 

      Đáp: Chữ Pháp trong Tam Bảo nói đơn giản sẽ là chuyên chỉ kinh điển của nhà Phật. Chữ Pháp trong “vạn pháp duy thức” chính là hết thảy sự lư trong thế gian và xuất thế gian đều được bao gồm trong ấy. Đó là khác biệt nho nhỏ!

 

* Hỏi: Hết thảy mười phương ba đời chư Phật trước đấng Thích Tôn chẳng có văn tự ghi chép, nhưng khi rộng tuyên kinh pháp, vốn là như đếm của báu sẵn có trong nhà, là do nhân duyên nào? Mong được nghe giảng đại lược! (Châu Bang Đạo hỏi)

     

Đáp: Sau khi đă chứng Phật quả, có Lục Thông, Thập Lực, liền có thể hiểu thấu triệt trên, dưới, quá khứ, vị lai. Hơn nữa, Phật Phật đạo đồng, tự nhiên là chẳng cậy vào ghi chép mà có thể biết trọn khắp!

 

      * Hỏi: Hữu t́nh và vô t́nh đều có sanh mạng, v́ sao vô t́nh chẳng thuộc về chúng sanh? (Lâm Huệ Lan hỏi)

 

      Đáp: Điều này có hai thuyết:

1) Một là động vật do có đủ Tứ Đại, Ngũ Ấm, Thập Nhị Chi, Thập Bát Giới v.v… khá nhiều nhân duyên mà sanh, nên gọi là “chúng sanh”.

2) [Hai là] do tám thức mà nhiều lượt nhập thai, nên cũng gọi là “chúng sanh”.

Vô t́nh như khoáng vật, thực vật… tuy có đủ Tứ Đại, nhưng chẳng có đủ các điều kiện được nêu sau đó như Ấm, Chi, Giới, Thức v.v… nên chẳng gọi là “chúng sanh”.

 

      * Hỏi: Người tu hành sau khi đă khuất, hỏa thiêu bèn có xá-lợi châu, đó là chứng cứ biểu thị người ấy đă đắc quả vị ǵ? (Huệ Đức hỏi)

     

Đáp: Xá-lợi sau khi hỏa thiêu là chứng cứ biểu thị người ấy tu tŕ hữu lực mà thôi, chẳng thể dựa vào đó để đoan quyết là quả vị ǵ!

 

      * Hỏi: Khi tụng kinh, thỉnh chuông, gơ mơ là do có ư nghĩa ǵ? (Phổ Huệ hỏi)

 

      Đáp: Chuông có thể cảnh tỉnh đại chúng. Hơn nữa, thân chuông có đúc kinh văn, hoặc đúc tên kinh. Khi thỉnh chuông, âm thanh lan truyền trong hư không, giống như tiếng kinh trọn khắp pháp giới, đó là ư nghĩa lợi ích chúng sanh trọn khắp. Cá thường tỉnh táo, chẳng ngủ, nên khắc gỗ thành h́nh [mơ cá], gơ mơ để [giúp hành nhân] chẳng hôn trầm. [Chuông mơ] mang ư nghĩa cảnh tỉnh này. Đă thế, đại chúng tụng niệm, ắt phải có âm điệu, tiết tấu th́ mới không lộn xộn, rối loạn; chuông và mơ lại có tác dụng điều chỉnh âm tiết.

 

      * Hỏi: Quán Thế Âm Bồ Tát có phải là thân nữ hay không? Ngài có cùng là một vị Bồ Tát với Thiên Thủ Quán Thế Âm hay không? (Lưu Định Xí hỏi)

 

      Đáp: Quán Âm trọn chẳng phải là thân nữ. Thân nữ và tướng Thiên Thủ v.v… như ông đă thấy đều là ứng hóa.

 

      * Hỏi: Học Phật th́ phải kiêng giết. Như giáo đồ của đạo Gia Tô không kiêng giết, tội nghiệp ấy do ai gánh vác? Người truyền đạo cứ nói “đều do Thượng Đế gánh chịu”, điều đó có thật hay không? (Đới Lục Hỏa hỏi)

 

      Đáp: Chính ḿnh ăn cơm, chính ḿnh no. Tự ḿnh mọc ghẻ, tự ḿnh đau đớn. Nếu nói người khác có thể chịu thay th́ hết thảy nhân quả đều vô dụng! Đó là lẽ thường. Nghĩa lư trong các giáo khác tôi chưa từng nghiên cứu, chẳng tiện đàm luận bừa băi!

 

      * Hỏi: Phàm là bậc tổ sư thành tựu hoặc chứng quả sẽ có ngữ lục, trước thuật, hoặc có người thay mặt chứng tỏ Ngài đă thành tựu. Có những vị chẳng biết chữ, lại không có ai viết thay, làm sao biết vị ấy đă thành tựu? (Trí Hùng hỏi)

     

Đáp: Chứng quả hay không, chẳng do có sáng tác hay không! Bất quá là vị nào có trước tác th́ người ta dễ biết, nhưng người chẳng có trước tác hay không biết chữ, chỉ nh́n vào h́nh tướng biểu hiện lúc lâm chung và hết thảy các điềm lành th́ biết người ấy có thành tựu hay không chẳng khó khăn ǵ!

 

      * Hỏi: Thế giới có chiến tranh th́ người dân trong mỗi nước đều cầu nguyện quốc gia của chính ḿnh thắng lợi. Rốt cuộc chư Phật sẽ thỏa nguyện cho kẻ nào? (Lữ Chánh Lương hỏi)

 

      Đáp: Chư Phật từ bi b́nh đẳng, quyết chẳng có chuyện thích điều ác, giúp kẻ khác gây chiến. Bất quá thương xót quốc gia thiện lương bị bạo lực xâm lược, có người [trong nước ấy] cầu nguyện bèn hộ tŕ cho họ đó thôi!

 

      * Hỏi: Có người bạn tới hỏi tôi: “Chúng ta do t́nh mà đọa, do đọa nên chẳng thể giải thoát”. Phật có thể giải thoát, đó là do Ngài vô t́nh hay là hữu t́nh vậy? (Lại Đống Lương hỏi)

 

      Đáp: T́nh có thể chia thành hai loại t́nh thức và ái t́nh để giải thích. Thức là hư vọng phân biệt, ái là tham luyến triền miên; v́ thế, đọa lạc. Phật đă chuyển ái thành vô duyên từ bi, chuyển thức thành Đại Viên Kính Trí, há c̣n có thể gọi Ngài là hữu t́nh ư?

 

      * Hỏi: Khi đức Phật nhập Niết Bàn, cớ sao các đại đệ tử đă chứng Vô Sanh từ lâu lại khóc lóc? (Lại Đống Lương hỏi)

 

      Đáp: Trên đường tối tăm, mất đi ngọn đuốc sáng. Trong biển khổ, thuyền Từ sắp ch́m mất trong chốc lát. Chúng sanh mất chỗ nương cậy, người học mất đi người dẫn dắt, vũ trụ tối tăm, sao không buồn bă cho được?

 

      * Hỏi: Thầy bói nói: Trong mạng vận hằng năm, có người được các sao Phước Đức, Thái Âm v.v… chiếu, có khi bị xung phạm bởi các sao Bạch Hổ, Thiên Cẩu v.v… Tôn Tử[13] c̣n bị lănh đao, có lúc phải vượt ải này nọ. Những chuyện giống như trên đây rất nhiều, đối với những chuyện liên quan đến thân mạng, có nên tin tưởng hay không? Phật có thể giải thoát [những nỗi hoạn nạn ấy] hay chăng? (Vưu Thái Hoa hỏi)

 

      Đáp: Đă là Phật tử quy y, thọ giới, chớ nên tin tưởng, nghe theo thuyết ngoại đạo ấy. Kinh dạy: “Chí tâm niệm một câu A Di Đà Phật, có thể tiêu trừ trọng tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử”. Lại c̣n “xưng niệm thánh hiệu Quán Âm có thể tiêu trừ hết thảy tai nạn khổ ách”. Kinh văn đă dạy thật rơ, nhưng phải niệm tới mức chẳng sanh nghi th́ mới có thể đạt được cảm ứng.

 

      * Hỏi: Nghe nói hiện thời có một loại đạo nói ăn chay có thể ăn trứng gà, thờ Phật Di Lặc. Họ nói chẳng dùng tới kinh điển của Phật Thích Ca v́ chẳng hợp thời. Đối với tín đồ của họ, chuyên dùng điểm tâm trực chỉ[14] bèn đắc đạo. Đó có phải là một phái Phật giáo hay không? (Tam Mộc hỏi)

 

      Đáp: Phàm những kẻ nào nói Phật Di Lặc nay đang giáng thế đều là con cháu của bọn Bạch Liên Giáo do Hàn Sơn Đồng sáng lập vào đời Nguyên. Như Hàn Lâm Nhi, Đường Trại Nhi, Từ Hồng Nho, La Úy Quần v.v… đều là hậu duệ của chúng, nói xằng bậy “Lục Tổ vĩnh viễn chẳng truyền [Thiền Tông cho tăng sĩ], mà truyền đạo Thiền cho vợ chồng Bạch Mă trong chốn nhà lửa, đủ mọi lời lẽ yêu dị, dối gạt dân ngu. Sau đó, đều trở thành lũ tạo phản bị tru diệt, đă có chứng cứ trong lịch sử. Tên gọi của chúng tùy theo thời mà thay đổi, như Thiên Lư Giáo, Bát Quái Hội, Nghĩa Ḥa Đoàn, Hồng Đăng Tráo v.v… đều là biến tướng [của Bạch Liên Giáo]. Hiện thời những đạo này giáo nọ chính là ma con, ma cháu của chúng nó. Những thuật lừa người chẳng ngoài cầu cơ, rao truyền đồn đại, điểm khiếu, chỉ tâm, phong tiên, phù thủy trị bệnh[15] v.v… Những lũ dân ma ấy, nếu gặp chánh phủ khoan dung, chẳng bị tru diệt rơ rệt, th́ do tội hủy báng Tam Bảo cũng sẽ chẳng tránh khỏi sự khiển trách trong cơi âm vậy!

 

      * Hỏi: Trong Cựu Ước Toàn Thư của đạo Gia Tô có nói: “Trời, đất, vạn vật đều do Thượng Đế Gia Ḥa Hoa (Jehovah) tạo ra. Do đó, trong vũ trụ chỉ có một vị chân thần duy nhất. Phàm những ai tin tưởng Ngài sẽ được cứu, linh hồn lên Thiên Đường. Kẻ không tin, sau khi chết sẽ bị phán xử vào địa ngục!” Chẳng rơ có đúng hay không? (La Xuyên hỏi)

 

      Đáp: Đọc lời hỏi, tôi thấy câu chữ rơ ràng, suông sẻ, ắt [người hỏi] là người đọc sách hiểu lư, chắc là đối với câu hỏi này bèn có thể tự hiểu. Ông đă rủ ḷng hỏi đến, khiến cho kẻ hèn này càng tăng thêm ḷng nghi! Thử hỏi: Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn Vương, Vũ Vương, Châu Công, Khổng Tử là các vị thánh nhân, Tăng Sâm, Mẫn Tử Khiên là những vị đại hiếu, Quan Công, Nhạc Phi là những bậc tinh trung, họ chẳng hề tin tưởng Gia Ḥa Hoa, chẳng lẽ đều đọa địa ngục cả ư?

 

      * Hỏi: Thường là trong xă hội, nhà nhà đều có đặt lư hương thờ phụng Tam Quan Đại Đế[16], các Ngài ấy là Phật hay là thần? Phật tử có nên thờ phụng hay không? (Thí Vạn Tấn hỏi)

 

      Đáp: Tam Quan Đại Đế là thần trong Đạo gia, chẳng phải là Phật. Phật tử chẳng cần đa sự! Khổng Tử dạy: “Phi kỳ quỷ nhi tế chi, siểm dă” (Chẳng phải là tổ tiên đă khuất của chính ḿnh mà thờ cúng chính là siểm nịnh vậy).

 

      * Hỏi: Có người thờ Địa Mẫu[17] cũng gọi là Bồ Tát, trong Phật giáo có vị ấy hay không? (Vương B́nh Lang hỏi)

 

      Đáp: Thần quỷ nhất loạt gọi là Bồ Tát chính là do thế tục lẫn lộn. Địa Mẫu chẳng xuất phát từ kinh Phật, là thần trong đạo nào, kẻ hèn này không biết.

 

      * Hỏi: Cầu cơ có phải là chuyện thuộc về Phật giáo hay không? Cần phải mất bao nhiêu thời gian để học thành? Quư xă có thể chỉ dạy, hướng dẫn tôi luyện tập, hoặc là ban tặng cho tôi một bộ sách giảng nghĩa những bước tu tập tuần tự có được hay chăng? (Bạch Vân Tiều hỏi)

 

      Đáp: Cầu cơ thuộc về chuyện quỷ thần, là chuyện bị Phật giáo cấm ngặt nhất, tệ xă làm sao làm chuyện ấy cho được? Chẳng thể vâng mạng, xin hăy rộng dung!     

 

* Hỏi: Tiên, Phật, Bồ Tát, có ǵ phân biệt? Hiện thời, có phải Ngọc Hoàng Đại Đế là Quan Thánh Đế Quân? Bất quá ông ta coi trọng trung nghĩa, sao lại có địa vị cao hơn Quán Âm Đại Sĩ? (Bạch Vân Tiều hỏi)

 

      Đáp: Phật là bậc thánh nhân xuất thế đă chứng Đại Bát Niết Bàn. Bồ Tát có năm mươi hai tầng cấp sai khác, cao nhất là Diệu Giác, bằng với Phật. Chỗ khác biệt là Phật như trăng ngày Rằm, Diệu Giác như trăng Mười Bốn. Tiên là nói thông tục theo Đạo giáo, chia thành ba loại là thiên tiên, địa tiên và quỷ. Nếu xét theo kinh Phật, sẽ có mười loại, coi chi tiết trong kinh Lăng Nghiêm, tôi sợ rườm rà nên không nêu ra. Nói chung, họ là những chúng sanh chẳng tu Chánh Giác, khi quả báo đă hết, lại phải luân hồi. C̣n như nói Ngọc Hoàng đă đổi thành Quan Thánh Đế Quân chính là do bọn ngoại đạo phàm tục bịa đặt để mê hoặc đại chúng. Lời lẽ nói mớ trong mộng, chẳng đáng bàn tới! [Nói] Quan Đế có địa vị cao hơn Quán Âm, lại chính là dùng phàm để khinh miệt thánh, tội lỗi muôn phần! Ngay như vô lượng thiên đế trong hai mươi tám tầng trời c̣n đều là thần hộ pháp trong Phật môn. Địa vị của họ nếu so sánh với Quán Âm th́ Quán Âm giống như viện trưởng của quốc gia, Thượng Đế c̣n là sĩ quan chỉ huy đội hộ vệ giữ cửa; huống hồ quả vị của Quan Đế c̣n chưa đạt đến tầng trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng ư?

 

      * Hỏi: Tôi từng nghe người khác nói: “Hiện thời chẳng phải là Thích Ca Mâu Ni Phật, A Di Đà Phật hoặc Bồ Tát nào đó đang hưng thịnh, mà là Tế Công Hoạt Phật đang hưng thịnh”. Chẳng biết [lời lẽ ấy] có đích xác hay không? (Trần Vinh Tấn hỏi)

 

      Đáp: Phật pháp như mặt trời, mặt trăng, chẳng có ǵ là hưng thịnh hay không hưng thịnh. Kẻ thốt ra lời ấy chắc chắc thuộc hạng chẳng hiểu rơ Phật lư, đúng là hạng sùng bái cầu cơ. Nếu kẻ ấy chịu trống ḷng học Phật th́ có một quyển Kỹ Lộ Chỉ Quy (hướng dẫn nơi lối rẽ), hăy khuyên người ấy đọc sách đó. Nếu người ấy không chịu, đừng tranh luận với hắn, ai nấy cứ làm theo điều ḿnh nghĩ là đúng mà thôi.

 

      * Hỏi: Nữ nhân từ mười hai tuổi đến bốn mươi mấy tuổi đều có kinh nguyệt, có người nói: “Trong ṿng bốn hoặc năm ngày trước hoặc sau khi có kinh th́ có thể lễ Phật, tụng kinh”, đúng chăng? (Kha Tiên Giang hỏi)

 

      Đáp: Kinh nguyệt là chuyện thuộc về sinh lư, chẳng thể tránh né. Tụng kinh, lễ Phật quư ở chỗ công phu lâu dài, thường hằng. Có kẻ nói trong khi có kinh không thể tụng kinh, lễ Phật, tức là lời luận định xuất phát từ cái tâm ǵn giữ ḷng kính ngu muội, chẳng hiểu rơ sự lư!

 

      * Hỏi: Những kẻ dùng bùa chú để chữa bệnh, cũng tự xưng là đệ tử Phật, xin hỏi chuyện ấy là như thế nào? (Vương Giới Nhất hỏi)

 

      Đáp: Dùng bùa chú để chữa bệnh chính là tài lẻ của bọn phương sĩ[18] ngoại đạo, họ tự xưng là đệ tử Phật, đơn giản là nói càn! Người hiểu Lư đôi chút đều có thể biện định được!

 

      * Hỏi: Trong các thần, Lăo Tổ là cao nhất, nghe nói Phật Tổ và Khổng Thánh Nhân đều là đệ tử của Ngài, lại có người nói Vô Sanh Lăo Mẫu càng cao hơn nữa. Rốt cuộc vị nào cao nhất? (Nhất Trần hỏi)

 

      Đáp: Tra duyệt khắp Tam Tạng trọn chẳng thấy có chuyện đức Phật bái Lăo Tổ làm thầy. Trong Nhị Thập Tứ Sử và Tứ Thư, Ngũ Kinh, cũng chẳng có có chuyện Khổng Tử bái Lăo Tổ làm thầy. Tiên sinh nghe lời ấy, có chánh sử để khảo duyệt hay chăng? Xin hăy thứ lỗi! Đối với loại thần thoại vô căn cứ này, tôi chẳng rảnh hơi quản đến, càng chẳng bàn ai cao, ai thấp!

 

      * Hỏi: Kinh Kim Cang có bản chú giải của Nhiên Đăng Cổ Phật, bản chú giải của Lữ Tổ, bản chú giải của Tế Công Hoạt Phật, so ra bản nào giảng hay nhất? (Nhất Trần hỏi)

 

      Đáp: Nhiên Đăng Phật chú giải kinh Kim Cang th́ cũng giống như từ điển Khang Hy có bản in đời Tống! Hai bản chú giải của Lữ Tổ và Tế Công cũng là do bọn hiếu sự ngụy tạo nhằm lừa gạt kẻ ngu!

      Ghi thêm: Nếu tiên sinh có tâm hướng Phật, trước hết hăy nên t́m đọc hai tập sách nhỏ. Một là Kỹ Lộ Chỉ Quy, hai là Hồi Đầu Thị Ngạn. Học Phật cần phải nhập tri kiến Phật. Đề-hồ mà thêm vào một giọt rượu Trấm[19], sẽ biến thành độc dược!    

 

      * Hỏi: Khẩn cầu Quán Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn có phải là tham lam hay không? (Chung Thế Hiền hỏi)

 

      Đáp: Luận theo Tục Đế, chuyên cầu tránh nạn th́ chưa phải là tham. Luận theo Chân Đế, luyến tiếc sắc thân này th́ cũng là tham!

 

      * Hỏi: Đức Phật nói địa ngục th́ thật sự có chuyện ấy hay không? Các nhà khoa học hiện thời bảo trong ruột địa cầu là lửa, xin hăy giải trừ nỗi nghi! (Trần Chí Nghiệp hỏi)

 

      Đáp: Vạn pháp đều do tâm tạo, tức là do tâm hiện, sao lại bảo là không? Địa ngục có chỗ ở dưới đất. Xét theo ba ác đạo, địa ngục được gọi là hỏa đồ, do lửa dữ bức bách vậy. Các nhà khoa học nói tâm quả đất là lửa, đúng là xứng hợp. Nhưng cũng có địa ngục rải rác trong đồng hoang, dưới cội cây, trên không trung. Hết thảy vật chất đều là y báo của chúng sanh (tức là các vật để thân tâm nương vào như núi, sông, đại địa, áo, cơm, nhà cửa, vật dụng), tùy theo sức nghiệp quả mà thấy khác biệt. Lửa trong ruột quả đất chính là điều được thấy bởi mắt người, chúng sanh trong địa ngục đương nhiên thấy là vật khác, nhưng núi đao, rừng gươm, chắc chắn chẳng hư huyễn! Nay tôi nêu ra một thí dụ: Mắt người thấy nước sông là nước, mắt chư thiên thấy là lưu ly, mắt cá hoặc rồng thấy là mây khói, mắt ngạ quỷ thấy là máu mủ. Sợ ông hăy c̣n nghi, lại nêu một thí dụ khác. Người trông thấy cục phân to bèn bịt mũi, chó lại thấy là món ngon lành!

 

      * Hỏi: Chuyện luân hồi đến tột cùng là có hay không? Nếu thật sự có chuyện ấy, cớ sao chẳng hướng dẫn trọn hết mọi người ai nấy đều trông thấy để họ biết rồi sẽ tự kềm chế? (Trần Chí Nghiệp hỏi)

 

      Đáp: Chết đây, sanh kia, bao lượt chẳng dứt, nên gọi là luân hồi. Những điều được ghi chép trong sách Phật tạm thời chẳng bàn đến, kinh sách Nho gia cũng chép nhiều lắm. Như Bành Sanh[20] làm lợn, Đỗ Bá làm lệ[21], Dương Thúc Tử lại đầu thai vào nhà họ Dương, nhớ chuyện đời trước, há có thể nói toàn là gạt người ư? C̣n như ông nói “hướng dẫn người ta đến thăm”, đúng là chẳng dễ thực hiện! Từ chỗ kia chết, đầu thai vào chỗ này, là do thần thức bềnh bồng trôi nổi. Thần thức c̣n thật sự chẳng dễ thấy, huống là có thể thuận theo nó đến khắp nơi thăm viếng! Ví như chúng ta nằm mộng, đích xác là chẳng giả, nhưng muốn dẫn người khác tham quan cảnh trong mộng của ta, hiện thời c̣n chưa phát minh phương pháp ấy. Lại như ở Đài Loan phát sóng truyền thanh, Nữu Ước thu được tiếng nói, đó là làn sóng điện trên không trung, cũng chẳng có cách nào hướng dẫn người khác đuổi theo [làn sóng ấy] để tham quan [nước Mỹ]!

 

      * Hỏi: Phật pháp vô biên, v́ sao chẳng thể thắng ma? V́ sao chẳng thể khiến cho người ta tin Phật, khiến cho thế giới chẳng có thảm kịch chiến tranh? (Hao Thạch hỏi)

 

      Đáp: Câu hỏi này cần phải chia thành ba đoạn để trả lời:

1) Một là nói “Phật lực trọn chẳng có chuyện không thể thắng ma”. Bất quá, người học Phật trong đời sau chẳng có đủ đạo lực, có kẻ chẳng thể thắng ma chính là do chí nguyện bạc nhược mà nên nỗi, quả thật chẳng phải là do Phật pháp không linh.

2) Hai, tâm, Phật, chúng sanh, ba thứ chẳng sai biệt, đều có sức mạnh chẳng thể nghĩ bàn. Tâm mê bèn là chúng sanh, tâm ngộ chính là Phật Đà. Mê hay ngộ toàn là do chính ḿnh, bất quá người giác trước thương xót kẻ chưa giác, nên có trách nhiệm giác ngộ. Để giác người khác, chỉ có cách dùng ngôn ngữ, văn tự, Tam Tạng kinh điển. Chúng sanh bị vô thỉ vô minh (trong tâm có ba thứ bệnh là si, mạn, nghi) che lấp, chẳng chịu học hỏi, t́m ṭi, nên chẳng tin. Tâm kẻ ấy lại chẳng phải là tảng đá hay tấm chiếu, làm sao đức Phật có thể thay họ chuyển dời hoặc thay họ xếp cuộn lại được?

3) Ba, chiến tranh trên thế giới do tham, sân, si trong tâm con người tạo thành, tức là do chẳng tin Phật pháp mà nên nỗi! Đức Phật như y vương, vốn có thể trị căn bệnh cuồng ấy, nhưng bệnh nhân chẳng chịu uống thuốc, tất nhiên bệnh t́nh tăng nặng hơn. Đă chẳng uống thuốc của bác sĩ, lại trách ngược bác sĩ vô dụng, có lẽ ấy hay chăng?

 

      * Hỏi: Phật lấy từ bi làm gốc, nếu như người trong nước đều thực hành từ bi, đồng thời, ngoại quốc thấy có cơ hội thâu tóm ta, bèn dốc hết vũ lực xâm nhập. Khi ấy, nếu dùng vũ lực để chống cự, ắt phạm sát giới, trái nghịch từ bi. Không chống cự th́ sẽ mất nước, vĩnh viễn làm nô lệ, hăy nên như thế nào? (Liêu Nhất Tân hỏi)

 

      Đáp: Đệ tử Phật chia thành xuất gia và tại gia khác biệt. Người xuất gia ngoài kinh, tượng, y bát ra, những thứ khác đều bỏ sạch. Thế gian xâm đoạt phần nhiều là do tài vật. Đă đánh mất mục tiêu xâm đoạt, c̣n nói ǵ đến chuyện dùng vũ lực để chống cự? Nếu là kẻ tại gia có trách nhiệm đối với quốc gia, có thể thực hành sự cai trị nhân từ, sẽ được người trong nước đồng t́nh, ngoại quốc há dám cẩu thả làm bậy? Nếu như bất hạnh bị địch thủ xâm phạm, đứng lên chống cự, đó là bảo vệ dân chúng, chính là vô úy bố thí. Nhưng chống cự hăy nên có hạn chế, pḥng vệ đúng như pháp luật quy định, chớ nên vượt quá mức độ cần thiết th́ sẽ chẳng thương tổn ḷng Từ!

 

      * Hỏi: Ấn Độ là thánh địa bắt nguồn Phật giáo, cớ sao Ấn Độ lại vong quốc? Có phải là do ảnh hưởng của Phật giáo hay không? (Một độc giả hỏi)

 

      Đáp: Từ mấy trăm năm trước, Phật giáo Ấn Độ đă bị suy vi; về sau, chỉ có Bà La Môn và Hồi giáo hưng thịnh. Khi vong quốc, chẳng dính dáng ǵ đến Phật giáo, xin hăy xem sử ngoại quốc sẽ tự biết.

 

      * Hỏi: Trong thiên Trọng Ni [sách Liệt Tử] chép: “Thái Tể vấn Khổng Tử viết: Phu tử thánh giả dư? Khổng Tử viết: Mỗ vật cảm. Hựu vấn viết: Tam Hoàng Ngũ Đế. Khổng Tử hựu bất đáp. Thái Tể hăi nhiên viết: Nhiên tắc thùy vi thánh giả? Khổng Tử động dung nhi ngôn viết: Tây Phương hữu đại thánh nhân, bất trị nhi bất loạn, bất hóa nhi tự hành, bất ngôn nhi tự tín, đăng đăng hồ dân vô năng danh yên” (Thái Tể hỏi Khổng Tử: “Phu tử là thánh nhân ư?” Khổng tử đáp: “Ta chẳng dám”. Lại hỏi: “Tam Hoàng, Ngũ Đế là thánh nhân ư?” Khổng Tử lại chẳng đáp. Thái Tể kinh hăi, nói: “Vậy th́ ai sẽ thánh nhân?” Khổng Tử đổi sắc mặt mà nói: “Phương Tây có bậc đại thánh, chẳng cai trị mà cơi đời chẳng loạn, chẳng giáo hóa mà dân chúng tự hành, chẳng nói mà người khác tự tin tưởng. Ân đức mênh mông đối với dân, chẳng thể diễn tả được”). Xin hỏi bậc đại thánh nhân ở phương Tây ấy có phải là nói tới Phật hay không? (Liêu mỗ mỗ hỏi)

 

      Đáp: Đó là nói về Phật Đà, người xưa đă có nhiều vị giảng rơ [chuyện này].

 

      * Hỏi: Tống Tử Quán Âm xuất phát từ kinh điển hay do con người đặt ra? Bồ Tát thật sự có thể ban tặng con hay sao? (Trần Phật Tử hỏi)

 

      Đáp: Cá nhân tôi chưa thấy Tống Tử Quán Âm xuất phát từ kinh điển nào, nhưng tôi cho rằng đó là v́ trong phẩm Phổ Môn của kinh Pháp Hoa có câu “cầu con trai được con trai, cầu con gái được con gái”, [tiền nhân] bèn dựa theo đó mà tạo h́nh tướng ấy. Nhưng lời kinh đă nói rất rơ, nhất tâm cầu, ắt sẽ đạt được, chính là do cảm ứng mà thành, giống như Bồ Tát tặng cho. Đặc biệt tạo h́nh tượng ấy nhằm nêu rơ chuyện đó cho người ta dễ hiểu. Câu trả lời này hoàn toàn xuất phát từ sự đoán ṃ của tôi, ông vẫn cần phải thỉnh giáo bậc cao minh khác.

 

      * Hỏi: Trong phẩm Phổ Môn của kinh Pháp Hoa có nói: Niệm danh hiệu Quán Âm cầu con trai được con trai, cầu con gái được con gái, lửa chẳng thể thiêu, nước chẳng thể ch́m, binh đao chẳng thể hại, có những điều hiệu nghiệm ấy. Xin hỏi đó có phải là mê tín hay không? Làm thế nào để chứng thực chẳng phải là mê tín? (Từ Phước hỏi)

 

      Đáp: Hết thảy những điều hiệu nghiệm trong đoạn kinh văn ấy, phải do hai chữ “nhất tâm”. V́ thế, có thể cảm ứng đạo giao, cũng giống như kinh Di Đà nói “nhất tâm bất loạn, lâm chung Phật hiện thân”. Đó là v́ tâm và Phật hợp nhất, c̣n ở đây là tâm và Quán Âm hợp nhất. Đă là hợp nhất, đạt được cảm ứng sẽ tự là chuyện thuộc về khả năng của chính ḿnh. Nếu nghi điều này là mê tín, tức là về căn bản chẳng thừa nhận có Quán Âm. Đối với vấn đề chứng thực, những chuyện “tŕ danh được cứu” xưa nay đă ghi chép rất nhiều, sự thực đă được chứng minh đích xác!

 

      * Hỏi: Nói “quán tưởng” và “hồi hướng” th́ có phải là vô minh, vọng niệm hay chăng? (Triệu Vĩnh Siêu hỏi)

 

      Đáp: Quán tưởng là một phương pháp tu tŕ. Quán là quán chiếu, Tưởng là thiết tưởng (h́nh dung, suy tưởng, liên tưởng v.v…). Xét theo Sự, quán tưởng th́ có mười sáu phép Quán của Tịnh Tông, Bổn Tôn Quán trong Mật Tông v.v… Xét theo phương diện Lư, [th́ có các phép Quán như] Tứ Niệm Trụ quán thân bất tịnh v.v… và Tam Đế Tam Quán v.v… Hồi hướng là một loại nguyện tâm, thâu gom hết thảy công đức đưa về một chỗ nhằm một mục đích nào đó. Có các loại như hồi Sự hướng Lư, hồi nhân hướng quả, hồi tự hướng tha. Hai thứ trên đây (quán tưởng và hồi hướng) khác với vô minh và vọng niệm.

 

* Hỏi: Thường nghe “thân người khó được, Phật pháp khó nghe, trung thổ khó sanh”. “Trung thổ” ở đây chỉ nơi nào? (Lục Huyền Trí hỏi)

 

      Đáp: Chỉ quốc gia là trung tâm văn hóa vật chất phồn thịnh trong một châu nào đó, khác với bộ lạc ở nơi hẻo lánh, biên cương, nhỏ hẹp.

 

      * Hỏi: V́ sao hiện thời chúng sanh hiểu lầm Thích giáo (đạo Phật) là mê tín? (Toàn Vọng hỏi)

 

      Đáp: Kẻ hiểu lầm nói như thế, v́ họ không hiểu rơ Sự Lư, ngược ngạo mạo nhận là bậc thông gia, không biết cũng cứ gắng nói bừa là hiểu biết. V́ như vậy, nên gọi là chúng sanh. Nhưng trong lời hỏi có hai chữ “hiện thời”, tợ hồ có ư nói trước kia vẫn chưa phải là như vậy. Đúng như ông đă nói, hiện thời rồng rắn hỗn tạp, mắt cá lẫn với chân châu, khiến cho người đời bị mờ mắt. V́ vậy, đệ tử Phật ắt phải trọn hết trách nhiệm hộ giáo. Nghiêm ngặt phân định tà chánh, quở trách, bài xích phường tà ma ngoại đạo giả mạo hoặc dựa hơi Phật pháp, đừng nghe chúng nó “treo đầu dê bán thịt chó”, mê hoặc chúng sanh, khinh miệt Phật giáo!

 

      * Hỏi: V́ sao đức Phật không chính tay viết kinh Phật, hoặc là trong khi đích thân thuyết pháp, bèn sai đồ đệ ghi chép để truyền cho hậu thế? (Thí Hiếu Học hỏi)

 

      Đáp: Một người giảng nói, mọi người lắng nghe, c̣n ǵ phổ cập bằng? Ngài A Nan đa văn nhớ dai, khi kết tập th́ một người thuật lại, mọi người chứng minh, c̣n ǵ xác thực bằng? Nếu đức Thế Tôn cứ phải bế môn viết sách, thời gian có hạn, há lại có thể giảng kinh hơn ba trăm hội, mà thuở ấy lại chẳng có thuật ấn loát. Do đó, [viết sách] cũng chẳng thể phổ độ các đệ tử được!

 

      * Hỏi: Hết thảy do Tứ Đại ḥa hợp tạo thành, Tứ Đại lại do ǵ ḥa hợp mà thành? (Sa Nhâm hỏi)

 

      Đáp: Vạn pháp không có ǵ chẳng do các duyên ḥa hợp tạo thành. Câu kệ “các pháp từ duyên sanh” chính là lời liễu nghĩa vậy!

 

      * Hỏi: Chánh Pháp, Tượng Pháp, Mạt Pháp, tổng cộng là một vạn hai ngàn năm, Phật Di Lặc c̣n phải sau bao nhiêu vạn năm mới đến thế giới Sa Bà này. Trong khoảng thời gian ấy, nếu chẳng có Phật pháp, há chúng sanh chẳng phải là quá khổ ư? (Sa Nhâm hỏi)

 

      Đáp: Sanh trước hoặc sau Phật là một trong tám nạn, đương nhiên là khổ!

 

      * Hỏi: Con người do luân hồi mà có, cớ sao chẳng thể biết chuyện đời trước? (Sa Nhâm hỏi)

 

      Đáp: Sau khi đă say chẳng nhớ được chuyện lúc tỉnh, đến già chẳng nhớ chuyện thuở bé. Huống hồ xuất thai, nhập thai, hôn trầm, mờ mịt, lẽ nào chẳng mê cho được!

 

      * Hỏi: V́ sao đức Phật chẳng thể làm cho Ma Vương, ngoại đạo nhập chánh ngộ? (Sa Nhâm hỏi)

 

      Đáp: Phật là vô thượng y vương, có thể chữa bất cứ bệnh tật nào; chúng sanh như bệnh nhân, chẳng chịu uống thuốc, cố nhiên bệnh chẳng thể trừ! Ma chẳng thích nghe Phật pháp, làm sao có thể ngộ cho được? Đó là lẽ thứ nhất. Ma tà, ngoại đạo nghiệt nặng, chướng sâu, tập khí ác kiên cố, tâm như gương đục, quang minh chẳng lọt vào được, nên nghe lời Phật chẳng thể liễu giải. Như trời Đông rét buốt, băng đóng cứng, ánh nắng chiếu xuống, do băng đă đông lạnh lâu ngày, dẫu [có ánh nắng] mạnh mẽ trong phút chốc, băng khó thể tan chảy được. Đó là lẽ thứ hai.

 

      * Hỏi: Tôi chẳng tin thuyết “tam giáo đồng nguyên” (tam giáo cùng một nguồn). Chỉ có điều đọc sách Lăo Trang thấy cảnh giới cũng rất cao, lại c̣n có khá nhiều chỗ tương tự. Sự sai biệt của hai vị ấy rốt cuộc là như thế nào? (Hồ Chi Chân hỏi)

 

      Đáp: Tam giáo có chỗ tương đồng, đó là sự thật. Nếu bảo là cùng một nguồn th́ sẽ là gượng ép, gán ghép. Thử hỏi, “nguyên” (nguồn cội) là nói về chuyện ǵ vậy? Có thể đáp được không? Ở đây, tôi chỉ nói sự giống nhau và khác nhau giữa Lăo Tử và Trang Tử. Lăo Tử chán cơi đời bạc bẽo, xu nịnh, trá ngụy, nên tận lực đề cao sự thuần phác ḥng cứu văn thói tệ đương thời, tự nhiên có nhiều chỗ chẳng giống như Nho gia chủ trương “kinh thế” (經世: lo toan, sắp xếp chuyện đời). Người quen sống yên ổn, nghe măi luận thuyết ấy, đương nhiên cảm thấy thuyết ấy rất cao. Trang Tử cũng đề cao chuyện ấy, nên ư chỉ của hai ông cũng chẳng có ǵ khác nhau. Điểm khác biệt là sách Lăo Tử nói đơn giản, nhưng vi tế, phần nhiều giảng về sự lư. Sách của Trang Tử nhằm giải tỏa nỗi bực tức, phần nhiều nói chuyện ngụ ngôn. Lăo Tử mở ra đầu mối ôn nhuận như ngọc, Trang Tử tập hợp hoàn thiện các luận thuyết ấy sáng rực rỡ như châu. Đoạn sau trong lời hỏi đă vượt ngoài phạm vi Phật học, vốn thuộc vào thể lệ chẳng giải đáp, nhưng do có liên quan với đoạn trước nên tôi miễn cưỡng phúc đáp mấy lời!

 

      * Hỏi: Nghe nói hết thảy nhân loại đều do dâm niệm mà sanh, nhưng bậc thánh hiền thời cổ như Khổng Tử, Nghiêu, Thuấn, hoặc hàng Bồ Tát thừa nguyện tái lai cũng do nhiễm dâm niệm mà sanh ư? (Vương Khả Tiêu hỏi)

 

      Đáp: Đă nói là “thừa nguyện” th́ cũng rơ ràng là chẳng do dâm niệm mà nhập thai!

 

      * Hỏi: Lư tưởng cao nhất trong Phật giáo (đối với quốc gia, xă hội và bản thân của mỗi cá nhân) là phải đạt tới mục đích ǵ? Có phải là càng phải thực hiện hoàn thiện hơn những ǵ đă được nói trong thiên sách Lễ Vận Đại Đồng[22] hay chăng? (Đặng Chí Thiện hỏi)

 

      Đáp: Đối tượng ích lợi của nhà Phật không phải chỉ là nhân loại, chẳng phải chỉ là một nước, chẳng phải chỉ là một thế giới, chẳng phải chỉ là một thời hạn. Xin hăy nghiền ngẫm Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm, sẽ có thể thấy đại lược đôi phần!

 

      * Hỏi: Khi niệm kinh bèn đánh chuông trống nhằm biểu thị điều ǵ, có ư nghĩa ǵ? (Thí Tương Ngấn hỏi)

 

      Đáp: Nghe tiếng Phạm âm xướng bái khiến cho người ta sanh tâm nghiêm túc, nhu ḥa, lại c̣n phối hợp với chuông trống nhằm [khiến cho người nghe] càng phát tâm tỉnh ngộ sâu hơn, đây cũng là dùng âm thanh để làm Phật sự. Hơn nữa, nhiều người xướng niệm, cũng ắt phải có nhạc khí th́ âm tiết mới chẳng đến nỗi tạp loạn, rối ren!

 

      * Hỏi: Theo Vật Lư Học nghiên cứu, muỗi sanh sản trong chỗ nước bùn, chẳng biết muỗi có linh tánh hay không? Có thể đập nó hay chăng? (Thí Tương Ngấn hỏi)

 

      Đáp: Thai, noăn, thấp, hóa đều là sắc thân, ắt phải có tánh ấy th́ mới có thể trưởng dưỡng, há muỗi có thể ra ngoài lệ ấy! Chúng sanh đều có Phật tánh, đều chớ nên giết!

 

      * Hỏi: Khoa học phát triển th́ có quan hệ lợi hay hại đối với tôn giáo hay không? (Thí Tương Ngấn hỏi)

 

      Đáp: Tôn giáo mê tín chẳng phù hợp lư trí sẽ do khoa học phát triển mà bị ảnh hưởng. Phật giáo chẳng phải vậy! Xin hăy tham khảo số thứ năm của tạp chí này, số đặc biệt về Phật Đản, đọc bài viết của pháp sư Nam Đ́nh và bài văn vụng về của tôi sẽ tự biết.

 

      * Hỏi: Gia Tô giáo nói vạn vật trong vũ trụ do Thiên Chúa sáng tạo. Trước khi đấng Thích Tôn xuất thế, vạn vật trong vũ trụ do đâu mà có? (Thí Tương Ngấn hỏi)

 

      Đáp: Câu hỏi này có liên quan đến giáo nghĩa của tôn giáo khác, nên tôi tránh chẳng trả lời! Phật giáo chỉ nói “duyên khởi tánh Không”, chính là lư muôn đời chẳng thể đảo ngược, phá hoại được! Ông cũng có thể tham khảo bài văn của pháp sư Nam Đ́nh, trong ấy có nói đại lược!

 

      * Hỏi: Hôm Chủ Nhật, khi nghe giảng kinh Pháp Hoa ở chùa Linh Sơn, từng nghe nói “Bồ Tát hóa độ chúng sanh cần phải dùng phương tiện thiện xảo”. Nếu độ kẻ ăn xin, sẽ phải thay đổi sang quần áo của gă ăn mày. Nếu không, sẽ chẳng khế cơ. Có người chất vấn cụ: “Ông có thể làm được hay không?” Giả sử làm được, mục đích [làm như vậy] là để thuận tiện độ người ấy, nhưng người ngoài do tà kiến sẽ hiểu lầm, chẳng biết thâm tâm của Bồ Tát, há dễ dàng ư? Đâm ra [v́ độ sanh mà phải] hứng chịu sự hủy báng ấy! (Triều Tân ban liên hữu hỏi)

 

      Đáp: Nói tới “phương tiện” th́ chính là trí huệ được vận dụng quyền biến. Quyền biến tức là chẳng có pháp nhất định, cốt sao thật sự khế hợp là được rồi! Nếu muốn độ người ăn mày, có lúc có thể ăn mặc lam lũ, có khi phục sức hoa lệ. Há lại chẳng nghe nói có Tứ Nhiếp Pháp ư? Nếu hành bố thí, ngại ǵ hoa lệ? Nếu hành đồng sự, ắt cần phải lam lũ. Nếu chấp một pháp, há có thể gọi là phương tiện thiện xảo được chăng? C̣n như bị hủy báng th́ trong thế giới này sẽ khó tránh khỏi. Khổng Tử là bậc đại thánh mà thường bị Thúc Tôn Vũ Thúc[23] hủy báng. Phật là bậc thánh của chư thánh, là trời của các trời, mà c̣n bị Đề Bà Đạt Đa hủy báng.

 

      * Hỏi: Có người nói đức Thế Tôn riêng v́ thương xót chúng sanh bần hàn, khổ năo mà đến hóa độ, nhưng Phật giáo hiện thời chuyên v́ người có tiền tài, thế lực, [những kẻ có tiền tài, thế lực] th́ mới được coi là Phật giáo đồ. Nh́n theo cách ấy th́ có thể nói Phật giáo là từ bi, b́nh đẳng hay chăng? (Triều Tân ban liên hữu hỏi)

     

Đáp: Phật độ chúng sanh chẳng phân biệt nghèo, giàu. Hiện thời, kẻ cung kính người có tiền tài, thế lực, chính là do tánh phàm tục của hạng phàm phu, trọn chẳng phải là giáo nghĩa của Phật là như vậy! Hơn nữa, người học Phật cũng chẳng phải là vừa học liền có thể thay đổi, trừ bỏ tập khí. Điều này lại cần phải luận định khoan dung hơn!

 

      * Hỏi: Tế Công uống rượu ăn thịt mà người ta gọi Ngài là Hoạt Phật (Phật sống), chẳng biết là thật hay giả? Người hiện thời quen nói: “Tâm tánh tốt lành là được rồi, cần ǵ ăn chay! Ăn chay tổn hại thân thể, làm sao có thể ĺa khổ được vui, lại làm sao có thể tăng thọ, tăng phước cho được!” Gặp trường hợp như vậy, nên dùng lời lẽ ǵ để đối đáp? (Triều Tân ban liên hữu hỏi)

 

      Đáp: Tế Công uống rượu ăn thịt đều là tiểu thuyết tục truyền, chẳng đáng tin tưởng. Hơn nữa, nói theo tiểu thuyết, ḥa thượng Tế Công có các thứ thần thông, nên Ngài có thể uống rượu ăn thịt. Người học Phật hiện thời, ngay cả nửa điểm quỷ thông cũng chưa có, [nếu học đ̣i Tế Công] uống rượu ăn thịt, bất quá là phá giới, tạo nỗi oan nghiệt mà thôi. Nếu nói “tâm tốt cần ǵ phải ăn chay”, xin hỏi thịt mà người ấy ăn có phải là do [các động vật bị] cắt, chặt, đổ máu mà có hay không? V́ quư vị tham ăn mà giết mạng nó, hảo tâm kiểu đó chỉ có trời mới biết! Lại v́ bổ béo chính ḿnh, ḥng tăng thọ, tăng phước, mà khiến cho mạng con vật bị cắt chặt ngàn vạn nhát, thế mà vẫn cứ xưng là hảo tâm? Nếu như tâm người ấy chẳng tốt, sẽ chẳng biết [c̣n sát hại thảm khốc hơn] như thế nào nữa? Nếu nói ăn thịt để tăng phước thọ, vậy th́ những kẻ phú quư ắt lẽ ra chẳng ngă bệnh, chẳng bị tử vong!

 

      * Hỏi: Trong ba đại tôn giáo trên thế giới, sức phát triển và sức phổ biến của các tôn giác khác đều rất hưng thịnh khắp nơi, c̣n Phật giáo suy vi là do khuyết điểm nào? (Triều Tân ban liên hữu hỏi)

 

      Đáp: Giáo thịnh hay suy không do tín đồ nhiều hay ít, mà do có nhân tài hay không. Hiện thời, [Phật giáo có] khuyết điểm thật nhiều, chủ yếu là do giới lẫn thừa đều lỏng lẻo vậy!

 

      * Hỏi: Trong bài minh của Quốc Phụ[24] có mấy câu như sau: “Phật giáo là ḷng nhân cứu thế, Phật học là mẹ của triết học, nghiên cứu Phật học có thể bù đắp những chỗ lệch lạc trong khoa học”. Quốc Phụ sùng bái Phật học như vậy, cớ sao Phật giáo vẫn chẳng phổ biến? Khẩn cầu hăy giải thích! (Hồng Hoàn hỏi)

 

      Đáp: Ḷng yêu thương thân thiết gọi là Nhân. Chúng sanh trong cơi đời được phân chia thành chín giới, chủng loại thiên sai vạn biệt, chẳng thể cùng tận, [mỗi loài chúng sanh] đều có các nỗi khổ, đều mong được cứu. Có thể cứu trọn khắp th́ gọi là “cứu thế”. Phân loại để cứu th́ chỉ có thể nói là cứu một loại nào đó. Ḷng yêu thương chúng sanh trong các tôn giáo khác th́ hoặc là yêu người mà hại vật, hoặc yêu lớn, hại nhỏ, lắm nỗi sai biệt v.v… Phật giáo th́ coi cửu giới tứ sanh đều như con một, b́nh đẳng cứu bạt. V́ thế gọi là “ḷng nhân cứu thế”. Những môn triết học khác, phần nhiều nói đến ngoại cảnh, chỉ ḿnh Phật học nói tâm tạo, có thể truy đến tận cùng cội gốc. V́ thế nói là “mẹ của triết học”. Khoa học thường thiên về vật chất, thiên về dục vọng, thiên về kiểu so sánh phán đoán dựa trên những ǵ nhận biết trước mắt, có lợi mà cũng có hại, do vậy gọi là “lệch lạc”. Phật học chẳng phải không, chẳng phải có, cũng không, cũng có, nói đến Trung Đạo, chỉ cầu minh tâm kiến tánh, chủ trương thiểu dục tri túc. Mỗi một sự lư, đều nói đến mức “theo chiều dọc tột cùng ba đời, theo chiều ngang trọn khắp mười phương”, không chỉ câu nệ Hiện Lượng, có lợi, chẳng có hại, hết thảy viên dung, nên nói là “có thể bù đắp cho những chỗ lệch lạc của khoa học”. Quốc Phụ là bậc đại trí đại dũng, do nhận biết thấu triệt cơ duyên này, nên lớn tiếng hô hào. Những kẻ kém trí hơn, tự nhiên chẳng thể tin tưởng!

 

* Hỏi: Giới chẳng tà dâm trong Ngũ Giới của cư sĩ có phải là lấy quy chế một vợ một chồng làm nguyên tắc? Nhưng học nhân do học bài thứ tư giảng về Chuyển Luân Thánh Vương trong lớp hàm thụ trung cấp mới biết Chuyển Luân Thánh Vương phi thiếp đông đảo, có phải là phạm tà dâm hay không? Tôi thưa hỏi thầy Phương Luân[25], ông ta đáp: “Hễ giao hợp với thê thiếp đều gọi là chánh dâm”. Như thế th́ vô h́nh trung đă đề xướng một chồng nhiều vợ, cũng chẳng phù hợp với chế độ hôn nhân trong pháp luật của quốc gia hiện thời cho lắm! Nếu đứng trên lập trường của nữ giới, cũng có thể nói “một vợ nhiều chồng đều gọi là chánh dâm!” Học nhân chẳng chấp nhận cách nói này, lại cúi xin lăo cư sĩ hăy phân biệt tường tận chánh dâm và tà dâm như thế nào để tôi được nghe nh́n đúng lẽ! (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Các nơi, các nước trên thế giới, phong tục mỗi chỗ khác biệt, xưa nay lại có nhiều biến hóa, quốc gia chế định pháp luật phần nhiều dựa trên tập tục. Có trường hợp một chồng một vợ, có trường hợp một chồng nhiều vợ, cũng có khi là một vợ nhiều chồng, nhưng những chuyện này bị giới hạn bởi khu vực và thời gian, hễ vượt ra ngoài giới hạn và thời gian sẽ chẳng thể thực hiện được. Lấy ngay Trung Hoa vào thời cổ để luận, thiên tử có một hoàng hậu, ba phu nhân, chín tần, hai mươi bảy thế phụ, tám mươi mốt ngự thê[26] v.v… được ghi chép trong kinh điển [Nho gia]. Cho đến đời Thanh, người thường c̣n được phép có một vợ nhiều thiếp. Cho đến gần đây, pháp luật mới quy định một chồng, một vợ, nhưng chẳng thể dùng luật hiện thời để ràng buộc cổ nhân, mà cũng chẳng thể dùng luật nơi đất Giáp để ràng buộc xứ Ất. Những điều này đều thuộc về quyền hạn chánh trị trong thế gian, Phật pháp chế giới đều thuộc trong phạm vi Tánh và Tu, trọn chẳng thay thế quyền cai trị xử phạt [trong cơi đời]. V́ thế, chẳng hạn chế người ta phải là một vợ một chồng, càng chẳng đề xướng đa thê, lại càng chẳng đề xướng đa phu. Chỉ cần thấy rơ giới hạn giữa chánh trị và tôn giáo, sẽ chẳng chỉ trích Phật giáo. Đối với vấn đề tà dâm, nếu thuộc trong phạm vi được chánh trị cho phép sống chung th́ [tội tà dâm] sẽ chẳng thành lập.

 

      * Hỏi: Tư tưởng của một dân tộc biến thiên chủ yếu là v́ bối cảnh lịch sử. Các dân tộc trên thế giới coi tư tưởng tiêu cực của dân tộc Ấn Độ là kỳ lạ, đặc biệt nhất, [người Ấn] hướng tới đời tương lai, chẳng coi trọng hiện thực, đối với thời gian có quan niệm là khổ. Trong các tông phái ở Ấn Độ, bất luận là chánh thống hay ngoại đạo, tư tưởng ấy rất rơ rệt. Phật giáo là một tông phái tôn giáo của Ấn Độ, xin hỏi rốt cuộc là do biến động to lớn nào trong diễn biến lịch sử đă sanh ra tư tưởng tiêu cực ấy? (Quách Nghĩa Minh hỏi)

 

      Đáp: Đối với Phật giáo, tiên sinh có quan niệm coi Phật giáo là một trong các tôn giáo của Ấn Độ, [từ đó kết luận] do tư tưởng của dân tộc Ấn Độ tiêu cực, nên Phật giáo cũng sẽ chẳng thể ra ngoài lệ ấy. Lời chất vấn nêu ra đại khái có ba điểm: Một là tư tưởng tiêu cực; hai là không coi trọng hiện thực, ba là coi thời gian là khổ. Xin tách ra từng điều để đáp!

1) Một, “tiêu cực” chỉ chuyện ǵ? Lời lẽ quá sức mơ hồ! Tôi cũng xin hỏi ngược lại, đó là nói tới chuyện đề cao tánh đức, đạo nghĩa, học vấn? Hay là thay đổi phong tục nhằm cứu vớt dân chúng trong cảnh nước lửa? Hay là [tiêu cực đối với chuyện] quan cao, tiền nhiều, tiếng tăm, lợi dưỡng? Hay là [tiêu cực đối với] chuyện tấn công thành tŕ, xâm lược, giết người, phóng hỏa? Hay là [tiêu cực đối với] chuyện giết cha, giết vua, [tạo tác những hành vi] sâu dân mọt nước ư? Hay là [tiêu cực đối với] mưu mẹo cậy thế chiếm đoạt, tổn người lợi ḿnh? Hay là [tiêu cực đối với] chuyện uống rượu ngon, khiêu vũ cùng phụ nữ, cờ bạc ư? Nêu đại lược bảy điều, xin hăy chỉ ra một điều nào? Ở đây, tôi xin Ngài hăy trả lời: Đức Phật răn cấm uống rượu, tà dâm, cho nên đối với điều thứ bảy đă nêu trên đây sẽ là tiêu cực. Phật răn cấm tham lam, trộm cắp, nói về lẽ b́nh đẳng, nên tiêu cực đối với điều thứ sáu vừa kể trên đây. Đức Phật răn không làm kẻ giặc của nước nhà, không trốn thuế, lại chủ trương một vai gánh cha, một vai cơng mẹ, nên tiêu cực đối với điều thứ năm vừa kể trên đây. Phật dạy bậc quân vương nhân từ bảo vệ quốc gia, giữ yên cương vực, dứt chuyện binh đao, nên tiêu cực đối với điều thứ tư vừa kể trên đây. Phật vứt bỏ của cải trong bốn biển và bá quan, khất thực hóa độ chúng sanh, nên là tiêu cực đối với điều thứ ba vừa kể trên đây. Phật dùng đầu, mắt, năo, tủy, chẻ thây để độ chúng sanh, Bồ Tát v́ địa ngục chẳng trống không, thề chẳng thành Phật, nên tích cực đối với điều thứ hai vừa kể trên đây. Phật v́ cầu học, truyền pháp, lột da làm giấy, chẻ xương làm bút, nên tích cực đối với điều thứ nhất vừa kể trên đây. Sự tiêu cực hay tích cực của Phật giáo là do Phật giáo có lư riêng. C̣n sự tích cực và tiêu cực trong theo [quan niệm của đại chúng] hiện thời là do họ có lư riêng của họ, ai nấy tự cho là đúng, ai nấy trọn hết đạo của ḿnh mà thôi!

2) Hai là [chê Phật giáo] không coi trọng hiện thực, tức là nói đến sự tu thân, tề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ trong thế gian? Hay là nói đến sự hưởng thụ trong đời người? Xét theo những kinh như kinh Lễ Lục Phương và kinh Ngọc Da Nữ v.v…, đối với chuyện cư xử trong gia đ́nh và trong xă hội, há chẳng phải là khuôn phép tốt đẹp cho việc tu thân, tề gia ư? Khổng Tử thấy chẳng hợp đạo bèn từ quan bỏ đi, Mạnh Tử chẳng chịu v́ điều lợi mà hy sinh nguyên tắc chánh đáng[27], cự tuyệt chẳng gặp chư hầu. Thánh hiền thế gian c̣n chẳng bị dâm loạn v́ phú quư, chẳng bị đổi dời chí hướng v́ nghèo hèn, huống hồ Phật há chịu hy sinh đại đạo để hướng dẫn chúng sanh xuôi theo ḷng dục ư?

3) Ba là coi thời gian là khổ. Đó là giáo huấn của người giác nhằm cảnh tỉnh kẻ mê, bởi lẽ người giác th́ an lạc, kẻ mê th́ khổ sở. Kẻ mê ôm ḷng tham, sân, giết, trộm, dâm, dối, bộc lộc ra ngoài, cầu chẳng được thỏa là khổ, được rồi lại bị mất đi cũng khổ! Yêu thương phải chia ĺa, oán ghét phải gặp gỡ, sanh, già, bệnh, chết, sao nói là chẳng khổ? Người giác phước huệ nhị nghiêm (được trang nghiêm bằng hai thứ phước và huệ), tự nhiên là vui, phiền năo tức Bồ Đề, sanh tử tức Niết Bàn, không ǵ chẳng vui. V́ thế nói “khổ là giáo huấn dành cho người mê”. Thật ra, người mê ở trong cảnh khổ cũng chẳng biết!

 

      * Hỏi: Đức Phật nói “hết thảy hàm linh ngọ ngoạy, cử động đều có Phật Tánh”, nhưng trong loài động vật bậc cao, nói theo Sinh Lư Học, giống đực mỗi lần bắn tinh bèn có tới hai vạn vạn tinh trùng, những tinh trùng ấy là động vật hay thực vật? Nếu thuộc loại động vật, khi chúng ta nam nữ giao hợp, có phải là đă giết chết rất nhiều chúng sanh (v́ chúng sanh đều có Phật Tánh) cho nên đă tạo nghiệp sát sanh. Lại nói theo mười hai nhân duyên, tinh cha huyết mẹ tiếp nhận thần thức th́ thai mới kết thành mầm thai. Tinh trùng có thể tự chuyển động, vậy th́ có phải là mỗi tinh trùng đều có thần thức (thức thứ tám) trong ấy hay chăng? Nếu là hai vạn vạn tinh trùng th́ thần thức (chứa đựng Phật Tánh) [trong ấy] sao lại nhiều đến thế? Khó thể hiểu được! Xin hăy phá trừ nỗi nghi! (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Giới luật có văn bản [ghi cặn kẽ] từng điều, có nghĩa lư. [Giảng giải cặn kẽ] khai, giá, tŕ, phạm chính là kinh văn của từng giới điều vậy! V́ sao có khai, giá, tŕ, phạm, đó chính là nghĩa lư. Ắt phải đối chiếu cả đôi bên th́ mới khởi lên nghị luận được. Chuyện này thuộc về [lănh vực hiểu biết] của bậc chuyên gia, chẳng phải chỉ là người có kiến thức thông thường về Phật học mà ḥng biện luận được! Kinh có chép một vị tỳ-kheo, lúc mất tri giác (hôn mê), bị một phụ nữ làm chuyện ô uế, đại sĩ Duy Ma Cật bảo là chẳng phạm giới. Có thể thấy là lư này chẳng đơn giản! Bọn ta đối với chuyện này, hăy nên tuân theo những ǵ vốn đă được truyền dạy trong giới đàn, có thể khiến cho những kẻ b́nh phàm giữ ḿnh trong sạch là được rồi. Cư sĩ đă hỏi tới, kẻ hèn này chẳng nghiên cứu Luật Học, chỉ đành thưa tŕnh những ǵ chính ḿnh đă biết như sau: Đối với phàm phu mà nói, giới sát chỉ giới hạn trong việc có thể tránh được mà [phàm phu vẫn cố ư] chẳng tránh né. Nếu thuộc về chuyện phàm phu chẳng thể tránh được th́ phàm phu chẳng phạm giới. Như hô hấp và đi đường, đều có vô lượng sanh mạng bị giết. Giới luật đă chẳng cấm người ta hít thở, lại chẳng cấm người ta đi đường. Do đó, biết đấy là Khai. Giới luật chẳng cấm tại gia ưu-bà-tắc và ưu-bà-di kết hôn, [điều này] đă có kinh văn rơ rệt. Do vậy, đối với chuyện này, cũng chẳng trở thành tội sát sanh. Trong lời hỏi của Ngài lại c̣n nghi hai vạn vạn Phật Tánh là nhiều, cho đó là chuyện kỳ quái, xin hỏi: Hư không có cùng tận hay chăng? Phật Tánh đă thật sự là như thế, vậy th́ hai vạn vạn bất quá chỉ là một cái bọt nước trong biển xanh đó thôi!

 

      * Hỏi: Có người nói, Phật giáo là b́nh đẳng, vậy mà trong kinh Phật có chép khi đức Phật giáng sanh đă nói câu kệ “thiên thượng, thiên hạ, duy ngă độc tôn”. Đó có phải là thiếu b́nh đẳng hay chăng? (Trịnh Nghĩa Lang hỏi)

 

      Đáp: Trong ấy có Thiền cơ, có thể hiểu chứ không thể nói. Ở đây, tôi nói qua loa, tắc trách: Khi đức Thích Tôn đản sanh, chư đại đệ tử c̣n chưa thấy nghe, nên ai có thể nói ư nghĩa rốt ráo cho được? Cư sĩ ép tôi nói, chỉ đành nói chữ Ngă theo cách hiểu của tôi: Chữ Ngă ấy chính là Ngă chân thật trong bốn tịnh đức. Mỗi người đều có [Ngă chân thật ấy], chẳng ai là không có, gọi Ngă ấy là độc tôn, đúng là b́nh đẳng.

 

      * Hỏi: Nói theo Phật giáo, tội tự sát cực nặng. Giả sử liều thân nhằm đề cao chánh nghĩa, cảnh tỉnh kẻ ngu muội, do ḷng nhân của bậc chí sĩ mà tự sát, th́ cũng là có tội đó chăng? (Trương Duy Minh hỏi)

 

Đáp: Phật pháp có nguyên tắc, có phương tiện, chớ nên ngây ngốc! Đối với chuyện đă hỏi, nếu hữu ích cho dân chúng và quốc gia th́ có thể làm. Kinh Phật có chép chuyện cắt thịt để cha mẹ no ḷng, v́ nửa bài kệ mà xả thân v.v… Đă có lệ ấy! Trong pháp thế gian th́ chẳng đầu hàng kẻ địch ḥng chẳng nhục thân [nên tự sát], những trường hợp như vậy cũng nhiều. Đă có nghĩa (nghĩa lư) trong ấy, há nói là “có tội” được ư?

 

      * Hỏi: V́ sao có chúng sanh? Chúng sanh từ đâu sanh ra? Chết sẽ đi về đâu? (Lại Chân Ngộ hỏi)

 

      Đáp: Vấn đề này thoạt nh́n dường như đơn giản, nhưng lư thật cao sâu. Nói ra, cố nhiên chẳng dễ dàng, sợ rằng nói ra, để hiểu cũng khá tốn công! V́ đă có thể hiểu đại khái Thật Tướng của các pháp th́ mới dễ dàm luận chuyện này. Ngài đă hỏi tới, chỉ đành vâng mạng trả lời giản lược. Trong vũ trụ vốn đầy ắp các điện tử hữu h́nh cực dày đặc; lại c̣n đầy ắp Chân Như vô h́nh vô danh, chúng ḥa hợp lẫn nhau, biến hóa, tụ tập thành h́nh dạng, sanh ra muôn vật. Đó là chúng sanh.

 

* Hỏi: Bổn ư của Phật là ở chỗ nào? Có phải là có quan niệm phồn thực hay không? (Liên Vân ban liên hữu hỏi)

     

Đáp: Bổn ư của Phật là cứu độ chúng sanh, khiến cho họ ĺa khổ được vui. Phồn thực gọi là sanh, điêu tàn là diệt; đó là chuyện thuộc về phía chúng sanh. Phật Tánh thường trụ, chẳng có phồn thực, mà cũng chẳng có điêu tàn. Kinh nói “chẳng tăng, chẳng giảm” là nói đến chuyện này. Niệm thật sự chẳng có cội gốc, do phương tiện nên mới có Quan.

 

* Hỏi: “Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”. V́ sao đă là Bồ Tát mà vẫn c̣n có sợ? (Huệ Diệu hỏi)

 

      Đáp: Bồ Tát có rất nhiều đẳng cấp. Chưa đạt đến cảnh giới vô vi, vô duyên, th́ hăy c̣n có tạo tác; ắt vẫn phải tự quan sát, thấu hiểu. Sự quan sát thấu hiểu ấy chính là “úy” (: kinh sợ), có ư nghĩa “cẩn thận” như trong thế tục [thường nói], đó là lẽ thứ nhất. “Bồ Tát” là chỉ chung người giác ngộ, thấy quả biết nhân, thấy nhân biết quả, hiểu rơ quả phước hay họa đều từ nhân mà có. V́ thế, phải thận trọng khi tạo nhân, nên gọi là Úy. Chẳng giống như phàm phu sau khi đă hứng chịu quả th́ mới kinh sợ, chứ lúc tạo nhân th́ mang tâm lư cầu may sẽ tránh khỏi [hậu quả]. Đó là lẽ thứ hai.

 

      * Hỏi: Tín đồ Thiên Chúa giáo thường nói “nhân loại do Thiên Chúa tạo ra”. Phật giáo của chúng ta giải thích lai lịch của hết thảy các sanh vật như thế nào? (Lư Nhân Hồng hỏi)

 

      Đáp: Hết thảy đều do nhân duyên ḥa hợp mà sanh, đấy chính là chân tướng do nhà Phật đạt được.

 

      * Hỏi: Nghiệp cảm duyên khởi và Sinh Vật Tiến Hóa Luận của khoa học trọn chẳng mâu thuẫn, chỉ có điều là v́ cớ nào mà người luận định thường bài xích thuyết Tiến Hóa của khoa học? (Lê Minh Thời hỏi)

 

      Đáp: Xét bề ngoài th́ có mấy phần ḥa hợp, nhưng xét theo chỉ thú th́ mỗi bên theo một lối riêng.

 

* Hỏi: Pháp Tánh thuộc về một vị Phật, một cơi nước, hay là nhiều vị Phật, một cơi nước? (Hồ Chánh Lâm hỏi)

 

Đáp: Xin hăy ngẩng đầu ngắm trời xanh thăm thẳm, nó thuộc về Trung Quốc, Mỹ Quốc, hay thuộc các nước như Anh, Pháp, Đức, Nhật v.v…?

 

      * Hỏi: Tinh cầu do đâu mà có? (Lư Học Thi hỏi)

 

      Đáp: Chẳng cần chỉ nói tới tinh cầu, nói chung là hết thảy các hiện tướng (tướng được hiện ra) tuy thiên sai vạn biệt, chỉ có một nguyên tắc, tức là do các duyên ḥa hợp mà hóa sanh. Sau khi đă sanh thành, duyên vẫn không ngừng tiến nhập, cho nên có diễn biến thành, trụ, hoại, không, chẳng có bất cứ một hiện tượng nào tồn tại thường hằng. Đă hiểu rơ lư này, ắt sẽ liễu giải nghĩa duyên sanh vậy!

 

      * Trả lời đồng học Ngô Di thuộc đại học Sư Phạm trong mục Tái Đàm Phật Pháp (câu hỏi gồm có chín đoạn, tổng cộng hai mươi mốt câu hỏi, nên đánh số trước mỗi câu hỏi để có thể đối chiếu, xét theo từng điều vấn đáp, ngơ hầu dễ dàng thuận tiện xem đọc, khỏi phải t́m ṭi đối chiếu trước sau).

     

Hỏi: Cảm ơn người biên tập đă chỉ giáo, nhưng giải đáp vấn đề trọn chẳng đơn giản như thế, tôi vẫn c̣n có nhiều câu hỏi cần được giải đáp. Những vấn đề ấy không chỉ khiến cho cá nhân tôi mê hoặc và mâu thuẫn, mà c̣n do chính Phật giáo khiến cho cá nhân tôi mê hoặc và mâu thuẫn. Những câu hỏi ấy có thể chia thành ba phần để phân tích: Một là theo phương diện lư luận, hai là theo phương diện thực tiễn, ba là phối hợp lư luận và thực tiễn. Nói theo phương diện lư luận, trong kinh điển mênh mông của Phật giáo, đích xác là có nhiều chân lư không thể ṃn diệt được, những chân lư ấy lại khác hẳn triết học và khoa học.

1. Trong bài Tinh Thần và Giá Trị Phật Giáo, tôi từng nhấn mạnh “Phật giáo là tôn giáo, chẳng phải là khoa học, mà cũng chẳng phải là triết học”. V́ khoa học (chỉ phần lớn triết học Tây Dương) đều nghiên cứu ngoại tại, c̣n tôn giáo nghiên cứu nội tại.

2. Sở dĩ Phật giáo vĩ đại là do nhiều học giả Phật giáo đă thật sự nắm được tác dụng vi diệu của cái tâm, cũng như do nhiều Phật giáo đồ đă thật sự đạt được giải thoát. Chân lư tôn giáo dành cho nhân sinh thọ dụng. Khoa học và triết học Tây Dương trong hiện thời đă đem lại cho chúng ta những ǵ? Chỉ là khiến cho chúng ta có cảm giác sợ hăi, cảm thấy thần kinh thác loạn mà thôi!

 

      Đáp: Người biên tập tạp chí này do bận việc đă giao bản thảo của Ngài cho tôi, bảo hăy đáp thay. Tôi đọc bản thảo, biết gia đ́nh Ngô tiên sinh nhiều đời thờ Phật, chính ḿnh lại coi trọng thực tiễn, chỉ mong tăng trưởng tri kiến mà đưa ra nghi vấn. Kẻ hèn này vâng mạng đáp lời, xin thanh minh trước. Một là căn cứ trên giáo nghĩa, hai là chẳng chú trọng tranh biện, ba là chẳng nương theo thói ưa thích hiện thời để giải thích cong vạy! Chỉ mong giải trừ sự hiểu lầm của Ngô tiên sinh, t́m ṭi thật nghĩa, đạt đến nguyện lực của chính ḿnh. Giáo học Phật giáo là nhất trí mà thực tiễn, đó là điều tôi thơm thảo mong cầu.

1. Xét về tánh chất, Phật giáo đích xác thuộc về tôn giáo. Lịch đại tổ sư từng có các trước tác [giảng giải cặn kẽ về] giáo thừa, giáo nghi, giáo tướng v.v… Phán giáo, hộ giáo, phân biệt giáo hạ, giáo nội, giáo ngoại v.v… đủ có thể chứng tỏ [Phật giáo là tôn giáo]. Hiện thời, kiêng nói [Phật giáo] là tôn giáo là v́ một số ít người chuộng thói thời thượng, nếu bảo Phật giáo là tôn giáo, sợ bị rơi vào mê tín, chẳng bằng nói là khoa học và triết học, khoác lấy phong thái Tây Dương sẽ hợp với trào lưu hiện thời hơn! Nhưng Phật giáo được gọi là Phật giáo vốn là v́ có chỗ lạ lùng, đặc biệt. Trong bất cứ tôn giáo nào, ắt có một vị thần tối cao được sùng bái nắm quyền thưởng phạt; Phật giáo chẳng có [khái niệm ấy], chỉ nói nhân quả là do chính ḿnh. Chúng sanh, tâm, Phật, ba thứ chẳng sai biệt. Đó là chỗ khác biệt các tôn giáo vậy! Phật giáo có Ngũ Minh (Pañcavidyā), một là Nội Minh (Adhyātmavidyā) chuyên nghiên cứu nội tại. Kinh văn trong Tam Tạng chuyên luận về chuyện này, nên gọi là “nội điển”. Hai là Nhân Minh (Hetuvidyā) thuộc về Triết Học. Ba loại kia là Thanh Minh (Śabdavidyā), Y Dược Minh (Cikitsā-vidyā), và Công Xảo Minh (Śilakarmasthāna-vidyā) đều thuộc về khoa học. V́ thế, nếu có kẻ nói Phật giáo chẳng phải là tôn giáo, mà là khoa học và triết học, cũng hợp lư, bất quá là thiên lệch, chẳng viên măn mà thôi.

 2. Phật pháp nói tâm có nhiều thứ. Đây là nói cái tâm “minh tâm kiến tánh” chẳng phải là quả tim hữu h́nh, chẳng phải là sức suy nghĩ thuộc về tư tưởng vô h́nh, chẳng phải là ư niệm chẳng ngừng trong từng sát-na, mà là ngôn ngữ dứt bặt, tâm hạnh xứ diệt. Chân Như ví như uống nước, ấm lạnh tự biết. Nếu người học có thể nắm được, ở mức độ nông cạn th́ gọi là “kiến đạo”, ở mức độ sâu th́ là “chứng đắc”. Giải thoát có liễu nghĩa và bất liễu nghĩa khác biệt. Bất liễu nghĩa là cảnh giới thuộc phương diện so sánh, như khổ và vui trong hiện thời, trong tương lai là nhân, thiên, Thanh Văn, Duyên Giác, các địa vị Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa Bồ Tát, địa vị sau giác ngộ cao hơn địa vị trước, so với địa vị trước, địa vị sau được gọi là giải thoát. Liễu nghĩa giải thoát chính là hai thứ Phần Đoạn sanh tử và Biến Dịch sanh tử đă hết, chính là Vô Trụ Niết Bàn. Do đă trừ khử các thứ trói buộc Hoặc, Nghiệp, Khổ, nên gọi là Giải. Do chẳng bị sanh tử câu thúc nên gọi là Thoát. Tiên sinh nói “nhiều người học đă nắm chắc tâm, nhiều giáo đồ đă được giải thoát”, thời cổ th́ đúng là như thế, hiện thời dường như khó thể nói là nhiều!

 

Hỏi: Tôi thừa nhận Phật học xét theo lư luận, nhấn mạnh Phật giáo là một tôn giáo thuần là trí huệ. Lại c̣n được người xưa theo đuổi như vậy, nhưng thành tựu ra sao? Tôi chẳng thể không hoài nghi; những câu hỏi chủ yếu đối với Phật giáo là:

3. Đúng như người biên tập đă nói: “Cội nguồn ở nơi sanh tử”, nhưng điều được Phật học mong cầu cũng nằm ngay trong liễu sanh tử. Tất cả kinh điển Phật giáo đều tập trung vào vấn đề này; nhưng vấn đề này có được giải quyết hay chăng? Câu trả lời của tôi là phủ định. V́ nếu vấn đề này đă được giải quyết, những kinh điển sẽ được chất lên gác cao, mọi người chẳng cần phải nghiên cứu nữa.

4. V́ chúng ta chỉ cần tin tưởng kết luận ấy, bèn có thể liễu sanh tử, giống như lư luận để phát minh ra đèn điện phải trải qua trăm ngàn lần thí nghiệm, cho đến một hôm nghiên cứu thành công, chúng ta chỉ cần bật công tắc, ai nấy đều có ánh sáng, mọi người cần ǵ phải tốn tinh lực đích thân làm thí nghiệm nữa?

5. Đạo lư Phật học cũng là như thế, nếu học thuyết luân hồi đúng là chuyện có thể chứng thực, chỉ cần người ta tin tưởng đạo lư ấy, c̣n có ai dám làm càn, làm quấy nữa ư?

6. Vấn đề hiện thời là học thuyết luân hồi vẫn chưa có suy luận đáng tin cậy để biến thành một loại sự thật. Chỉ v́ nó vẫn chưa có suy luận đáng tin cậy, nên mới có nhu cầu nghiên cứu Phật pháp. Chỉ v́ bản thân Phật pháp vẫn chưa có được một định luận (lư luận chắc chắn, quyết định) đích xác, thiết thực, chẳng thể chuyển dời, [hễ có được lư luận ấy th́] trong tương lai, Phật pháp mới có thể mở rộng. Chúng ta cần phải nhận rơ điểm này, vấn đề nẩy sanh ở ngay chỗ này.

 

      Đáp: 3. Đối với vấn đề sanh tử như trong kinh Phật đă nói, tiên sinh phủ nhận vấn đề ấy đă được giải quyết, lại c̣n nói “nếu đă giải quyết, kinh điển có thể chất lên gác cao”. Y giáo phụng hành, công phu đă đạt đúng mức th́ vấn đề đều được giải quyết. Kinh Phật có chép [tiểu sử] của nhiều vị Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, sau đó là Thiền Tông ngữ lục trong nhà Thiền, văng sanh truyện của Tịnh Tông v.v… đă chép chuyện họ đến đi tự tại rất lạ lùng, mỗi vị đều có văn bản có thể chứng thực, sao lại bảo là “chẳng có”? Bất quá là tin và chẳng tin, không thể cưỡng ép được! Nếu nói là “buộc kinh để lên gác cao” th́ người đă liễu sanh tử cố nhiên có thể buộc kinh cất trên gác cao, nhưng chúng sanh vô biên, há có nên chẳng tặng lại cho người sau ư?

4. Bật công tắc bèn có ánh sáng chính là bước cuối cùng. Trước khi bật cái nút ấy, ắt phải có nút, có đường dây, có đèn, có máy móc, có điện, có kiến trúc, có kỹ sư, có công nhân v.v… các thứ kế hoạch và thiết bị. Nếu không, phải hướng về đâu để ấn nút? So theo thí dụ của tiên sinh th́ kinh Phật giống như sách hướng dẫn sử dụng, người học như người trù bị của công ty lắp đặt điện khí. Không trải qua các thứ thủ tục [chuẩn bị], làm sao có thể ấn nút bèn có ánh sáng phát ra? C̣n như mỗi nhà tiêu dùng ấn nút bèn có ánh sáng, bất quá là nhờ vào người khác mà được thọ dụng. Khi họ chẳng cung cấp điện, dẫu ấn nút, cũng chẳng sanh ra ánh sáng. Điều này ví như người học chính ḿnh chẳng vận dụng công phu, chuyên cậy vào Phật lực gia bị, nói chung là khi lâm chung bèn chẳng liễu nghĩa, rốt cuộc chẳng phải là triệt để liễu nghĩa.

5. Sự thật là sự thật. Hiểu hay chẳng hiểu là do con người, tin và chẳng tin cũng do con người, nhưng sự th́ có khi bày ngay ra trước mặt, có thể nghe, có thể thấy, mà cũng có khi [sự thật] chẳng ở trước mặt, chẳng thể nghe, chẳng thể thấy. Đối với chuyện có thể nghe, có thể thấy, chưa chắc đă không nhận biết sai lạc; chuyện chẳng thể nghe, chẳng thể thấy, không thể quả quyết “ắt phải là chẳng có”. Ba mươi năm trước, nếu có người nói đến bom nguyên tử, ắt bị mọi người cười là chuyện thần thoại. Nếu con người do trí lực, có thể dời chuyển vật chất thành tinh thần, mấy chục năm sau không chừng khoa học có thể trắc nghiệm về sự luân hồi. Chúng sanh trong cơi này mê hoặc, điên đảo, cứng cỏi, khó hóa độ, đối với chuyện chẳng thể bày ra trước mặt, người mê nặng nề cố nhiên chẳng thể ngộ. Dẫu là việc bày ra trước mặt, kẻ không tin vẫn là cả đống! Nhà giam trọn khắp cả nước, ai mà chẳng nghe, chẳng thấy? Cớ sao kẻ phạm tội vẫn dám phạm tội?

6. Đức Phật dạy chúng sanh, có Tam Lượng để hiểu lư, có Lục Thông để chứng sự. Tam Lượng là Hiện Lượng, Tỷ Lượng, và Thánh Giáo Lượng. Lượng () là giống như thưng, đấu để đong gạo, ḥng biết số lượng. Hiện Lượng (現量) là chuyện bày ra trước mắt, có thể nghe, có thể thấy, như học hành tốt nghiệp bèn có thể đạt được học vị. Làm chuyện gian trá, vi phạm quy chế thi cử, liền vào nhà giam v.v… Tỷ Lượng (比量) là thấy nghe chuyện ấy bèn có thể suy đoán sự việc, như ban đêm nh́n xa xa thấy nhà sáng choang, biết là có đèn, cách vách bốc khói bèn biết là dưới đó có lửa v.v… Thánh Giáo Lượng (聖教量) là nói tới bậc thánh nhân hành viên măn, ngôn giáo do Ngài đă lập chính là kinh điển Tam Tạng mười hai bộ loại. Do sự thật hiện tiền bèn có thể chỉ rơ th́ dùng Hiện Lượng. Nếu dùng sự thật hiện tiền sẽ chẳng thể chứng minh th́ dùng Tỷ Lượng. Cả hai cách ấy đều không dùng được, chỉ đành lấy nhân cách để đảm bảo, tin tưởng ngôn giáo của vị [chỉ dạy ấy] chẳng dối gạt, [đó là Thánh Giáo Lượng]. Trong kinh A Hàm, kinh văn chép lời đức Thế Tôn kể về chuyện luân hồi trong lục đạo của chính ḿnh, đâu đâu cũng thấy, sao lại nói “luân hồi chẳng có suy luận nào đáng tin cậy, chẳng có định luận chân xác, thiết thực!” Ngay cả kinh sử Nho gia cũng ghi chép chuyện này khá nhiều. Kinh Dịch có câu “du hồn vi biến” (cái hồn bềnh bồng biến hóa), Tả Truyện nói “Bành Sanh làm lợn”, sách Quốc Ngữ ghi “Đỗ Bá làm quỷ bắn [Châu] Tuyên Vương ở đất Hạo”, Sử Kư ghi “Thân Sanh đă chết, Hồ Đột trở về nước cải táng, gặp mặt tṛ chuyện”[28], Tấn Thư chép “Dương Hỗ nhớ chuyện đời trước, sang nhà hàng xóm lấy chiếc ṿng”[29] v.v… chẳng thể nêu trọn. Nước Anh hiện thời là quốc gia có lắm quỷ, người đời đều biết. Chẳng phải là riêng ḿnh kinh Phật nói như thế. Đó là dùng Tam Lượng để lư giải vậy! Kinh thường chép Phật hoặc La Hán, tới lúc tất yếu có thể cho đối phương mượn thần thông, khiến cho người ấy biết trạng huống trong đời trước, đó là dùng thần thông để chứng thực sự việc vậy.

 

      Hỏi: 7. Nếu Phật giáo nghiên cứu vấn đề sanh tử cũng giống như khoa học và triết học truy cầu chân lư, vậy th́ đối với vấn đề nghiên cứu t́nh h́nh sau khi chết chỉ có hai khả năng:

- Một là chết rồi bèn có luân hồi.

- Hai là sau khi đă chết, chẳng có luân hồi.

Nếu là trường hợp trước, đương nhiên là do giải tín mà sanh khởi tín tâm. Vạn nhất bất hạnh là trường hợp sau th́ Phật giáo há chẳng phải là không có giá trị tồn tại? Đấy chẳng phải là từ giải tín ngược ngạo dẫn đến bi kịch diệt tín? Căn bệnh của khoa học là ở ngay chỗ này, họ chỉ chú trọng sự thật, chỉ chấp vào sự thật, chỉ coi sự thật là chân lư, chẳng biết đến “hóa” (biến hóa).

8. Các nhà khoa học nói con người chết đi [xác thân] sẽ mục nát, tinh thần cũng diệt vong theo. Họ biện giải đến đó liền kết thúc công việc, ngỡ là đă phát hiện sự thật. Sự thật là chân lư, nhưng họ chẳng quan tâm sự thật ấy đă khiến cho nhân loại kinh hăi, họ cũng chẳng tốt bụng biến hóa sự thật này thành một chân lư khác để làm cho nhân loại đạt đến giải thoát.

9. Các nhà triết học cũng giống như vậy. Họ càng nghiên cứu, càng thấy rơ sự thật, sự thật rốt cuộc là máu me đầm đ́a. Do đó, họ càng bị đau khổ tấn công, Thúc Bổn Hoa (A. Schopenhauer) và Ni Thái (F.W. Nietzche) v.v… là như vậy. V́ sao họ có hậu quả như vậy? Là v́ họ đều theo đuổi cái Biết, đều là lư trí thuần túy, nên chẳng dễ đạt đến giải thoát!

 

      Đáp: 7. Đối với hai chữ Chân Lư, Phật pháp xác thực là khẳng định, hễ có mảy may mơ hồ th́ sẽ không được. Chân lư chính là cái lư vĩnh hằng, triệt để, chẳng phân biệt thời gian và không gian. Đó gọi là “theo chiều ngang trọn khắp mười phương, chẳng đổi dời, theo chiều dọc trọn khắp ba đời chẳng thay đổi”. Tà thuyết gặp phải chân lư sẽ không thể ngăn trở được. Thánh nhân có xuất hiện lần nữa cũng chẳng thể thay đổi. Nếu là chẳng viên măn, không có kết luận nhất định, hôm qua đỏ, bữa nay trắng, có sửa đổi cho đúng, có bổ sung, có phát hiện mới (ngoại trừ phương tiện nói quyền biến ra) v.v… sẽ đều chẳng phải là chân lư! Nếu nói tới chuyện liễu thoát sanh tử, chỉ có Phật pháp là chân lư, chẳng có ǵ cao hơn được! Càng phải nên biết: Hễ có luân hồi th́ là chuyện sanh tử lưu chuyển của phàm phu. Chẳng có luân hồi là tu chứng quả Niết Bàn. Nói lùi lại một bước, dẫu chẳng bàn đến pháp xuất thế của đức Phật, hăy đem cái học của Duy Thức, Nhân Minh v.v… so với pháp thế gian, cũng đều vượt trội Lăo Trang, Công Tôn Long[30] của phương Đông, Tô Cách Lạp Để (Socrates) và Bách Lạp Đồ (Plato) của phương Tây, quyết chẳng lo ǵ đến bi kịch diệt mất.

8. Sự thật trong Phật pháp lại chẳng mơ hồ như thế! “Thật” là chân thật. Phàm hết thảy các duyên ḥa hợp bèn có sự, nói là sự tướng, chẳng nói là sự thật, v́ nó là hiện tướng (tướng được biến hiện) thoắt sanh, thoắt diệt, như mộng, huyễn, bọt, bóng, sương, chớp, đều chẳng phải là cảnh thật sự. Sự đă chẳng thật, há có chân lư? Ngay trong khi người ấy khởi Hoặc tạo nghiệp, chấp trước chẳng bỏ, dùi lỗ sừng trâu[31], há có pháp và người giải thoát!

9. Những kẻ ấy (các nhà khoa học và triết học) tuy đề cao lư trí, nhưng họ đi theo đường lối chẳng phải là Niết Bàn, nên chẳng đạt được giải thoát. Cái gọi là “giải thoát” chính là một trong ba điều trọng yếu của Niết Bàn, hai điều kia là Pháp Thân và Bát Nhă. Đúng là tuy ba mà một, tuy một mà ba. Phái ấy cũng có tỷ dụ, như gă thầy thuốc nửa vời, tuy có thể chẩn bệnh, nhưng chẳng biết dùng thuốc, nên chỉ có thể nói những lời lẽ cao xa, thiếu thực tế! Phật chẳng vậy, Ngài được gọi là Đại Y Vương v́ có thể khéo ứng theo căn bệnh mà cho thuốc!

 

      Hỏi: C̣n như tôi nhấn mạnh Phật giáo chẳng phải là khoa học và triết học nhằm khiến cho Phật giáo tránh khỏi đi vào lối rẽ của khoa học và triết học.

10. Phật giáo cần phải tiếp nhận sự thật, nhưng chớ nên chấp trước sự thật, càng chẳng thể coi sự thật là chân lư, mà là khiến cho sự thật được trở thành tốt đẹp hơn.

11. Dẫu con người sau khi chết chẳng có luân hồi, Phật giáo vẫn nghiễm nhiên có giá trị phát triển. Đó là nói theo t́nh cảm, chẳng nói theo lư trí. Đạo lư này giống như khi người bạn thân của chúng ta đă khuất bóng trên cơi đời. Trên phương diện lư trí, chúng ta biết người ấy chẳng tồn tại nên bi ai, nhưng trên mặt t́nh cảm, vẫn cảm thấy người ấy ở cạnh chúng ta. V́ vậy, tôi chủ trương niềm tin trong Phật giáo chẳng phải thuần là lư trí, mà là t́nh cảm. Từ niềm tin mang tánh chất t́nh cảm này, chúng ta lại xem xét phương diện thực tiễn của Phật giáo.

 

      Đáp: 10. Phật pháp có tự thuyết ngữ và tùy thuận ngữ. Tiên sinh nói đến hai chữ “sự thật” th́ đó vốn là từ ngữ thông dụng trong hiện thời, để trả lời câu hỏi này, kẻ hèn này tạm thời sử dụng. Phật pháp phân tích hết thảy tột bậc vi tế, các danh từ đối đăi cũng có nhiều thứ. Sự và Lư chính là một loại trong các thứ danh từ đối đăi ấy. Nhưng theo cách nói của nhà Phật, Sự chẳng ĺa Lư, Lư chẳng rời Sự. Nếu chúng chẳng ăn khớp với nhau, sẽ chẳng hợp La Tập (logic). Nói đến chấp trước, tiên sinh lại càng chẳng cần phải lo nghĩ nhiều, há chẳng nghe kinh Kim Cang nói những câu như “không có bốn tướng, tức là [không có] ngă tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng và thọ giả tướng, cái được gọi là Phật pháp th́ chẳng phải là Phật pháp. Pháp c̣n nên bỏ, huống hồ phi pháp” v.v… ư? Phật pháp đă phá Ngă Chấp, và cũng phá Pháp Chấp, lại c̣n phá tà chấp phi pháp. C̣n như sự thật được mỹ hóa th́ đúng là như vậy. Sau khi đă giải thoát, bèn có thánh cảnh Tịch Quang, trang nghiêm Tịnh Độ. Trước khi giải thoát, bèn ứng với Ngũ Giới, Thập Thiện, Lục Độ, vạn hạnh, tự giác, giác tha, ĺa khổ được vui, không lúc nào, không chỗ nào chẳng là mỹ hóa! Không chỉ là mỹ hóa nhân gian, mà c̣n phải “trang nghiêm địa ngục”.

11. Căn cứ trên kinh điển, sách vở để luận, luân hồi đích xác là có. Nếu như chẳng có, vấn đề sanh tử đă tự nhiên được giải quyết, đó gọi là “chết là hết chuyện”! Cớ ǵ đức Thế Tôn phải bỏ ngôi Thái Tử tôn quư và sự giàu có trọn bốn biển để vào Tuyết Sơn chịu khổ, thuyết pháp bốn mươi chín năm? Do chẳng thể giải quyết, nên mới có đủ các thứ rườm rà. Khoa học nói con người đă chết, thần thức bèn diệt, Phật pháp gọi quan điểm ấy là Đoạn Kiến, là một trong các thứ tà kiến. Cần biết đức Phật đă được gọi là Y Vương, chẳng phải chỉ có một cách trị bệnh! Đối với bậc thượng trí, bèn nói Vô Trụ Niết Bàn, đối với hàng trung trí bèn nói pháp Thanh Văn và Duyên Giác, đối với kẻ hạ trí bèn nói pháp nhân thiên, đối với kẻ hạ ngu chỉ nói tới họa phước trước mắt, chẳng nói tới những điều khác. Trọn chẳng phải là mỗi buổi thuyết pháp, ắt đều phải nói tới luân hồi. C̣n như đối với ḷng tin, là t́nh cảm hay lư trí, th́ cũng tùy thuộc căn khí của đối phương, bất tất quy định cứng ngắc! Đại khái là tín ngưỡng trong cơi nhân thiên và chuyện trước mắt phần nhiều xuất phát từ t́nh cảm, từ Thanh Văn và Duyên Giác trở lên, nếu chẳng do lư trí, sẽ không thể thực hiện được.

 

      Hỏi: 12. Tôi thường có một cách nghĩ nực cười: Một học giả Phật giáo thật sự đọc trọn khắp tất cả kinh điển, lại c̣n có thể minh tâm kiến tánh, và một Phật giáo đồ điều ǵ cũng chẳng biết, chỉ biết cầu thần bái Phật, thí xả, làm lành, rốt cuộc người nào sẽ đạt được giải thoát chân chánh?

13. Người trước là niềm tin thuần lư trí, người sau là niềm tin thuần t́nh cảm. Trong hai loại niềm tin ấy, ai nắm được chân lư thật sự? Theo cách nh́n của tôi, tôi đồng t́nh với người sau, người trước thuần là chấp trước vào sự hiểu biết, đúng như người biên tập đă nói: “Pháp thế gian đều là mâu thuẫn, thường nói là pháp thế gian đều tương đối, chẳng có tuyệt đối…” Xét theo tư tưởng th́ tiên sinh mâu thuẫn với tâm thái thông thường của nhân sinh. Phật pháp chính v́ giải quyết mâu thuẫn này mà tồn tại, nhưng Phật pháp hễ trải qua sự tŕnh bày bằng ngôn ngữ hoặc văn tự th́ lại trở thành tương đối.

14. Phật pháp đích xác là tương đối. Một người có tín tâm do thuần túy truy cầu lư trí, sẽ vĩnh viễn rơi vào tương đối, v́ tư tưởng do mâu thuẫn tạo thành. Chỉ có cảm nhận trực tiếp bằng t́nh cảm th́ mới có thể nắm chắc chân lư tuyệt đối. Đối với đạo lư này, tôi có thể nêu ra một thí dụ trong hiện thực.

15. Mẹ tôi tin Phật, nhưng căn bản là cụ chẳng hiểu Phật pháp là ǵ. Tự nhiên là cụ chẳng có nhân duyên văn tự, lại cũng chẳng biết minh tâm kiến tánh là ǵ. Điều kiện thiên bẩm khiến cho cụ về căn bản th́ chẳng có cách nào đạt được giải tín thuần bằng lư trí, dấy lên ḷng tin, nhưng cụ là một tín đồ kiền thành. Lại c̣n tin tưởng hết sức đáng yêu, cụ thường “do thương chuột mà chừa cơm lại”. Người khác kể khổ, dẫu là nói dối, bà cũng khóc đến nỗi mắt đỏ hoe, móc hầu bao ra. Có một lần cụ biết rơ kẻ khác nói dối, nhưng vẫn cứ cho tiền người ấy. Cụ nói cụ không thể chẳng làm như thế. Hành vi ấy chẳng thể giải thích thuần bằng lư trí được. Có một lần cụ biết tôi viết mấy bài văn xuôi về Phật giáo, bèn ngưỡng mộ nói: “Các con biết chữ đúng là hay quá, hăy nên học tập nhiều hơn để mai sau bảo cho mẹ biết Phật học rốt ráo nói những ǵ?” Khi ấy, tôi cảm khái nói: “Mẹ ơi! Con không thể nói cho mẹ biết được, con hiểu ít hơn mẹ. Nhất cử nhất động của mẹ đều là Phật pháp”. Khi ấy, cụ trách tôi là đă cḥng ghẹo cụ. Thật ra, nếu tôi đổ hết công sức suốt đời nghiên cứu Phật pháp, cũng vĩnh viễn chẳng thể vượt hơn mẹ tôi được. V́ hành vi của cụ xuất phát tự nhiên, c̣n tôi là chỉ là về sau học được.

16. Sự bố thí, làm lành của cụ là t́nh cảm, dẫu tôi có thể bố thí, làm lành, vẫn ít nhiều bị ảnh hưởng bởi nhân quả, báo ứng v.v… v́ tôi khởi lên tín tâm từ lư trí. So sánh giữa mẹ tôi và tôi, cảnh giới của cụ cao hơn, nhưng ngay cả Phật pháp là ǵ, cụ cũng chẳng hiểu!

 

      Đáp: 12. Đọc trọn khắp kinh điển thuộc về Văn, minh tâm kiến tánh thuộc về Chứng. Người nghe mà chẳng tu, [chính là] kể chuyện ăn, đếm của báu. Trước khi chứng, ắt phải chuyên dốc tu tập. Thí xả, làm lành thuộc về Trợ Hạnh. Ba chuyện này, mỗi chuyện đều có phần hạn, chẳng thể nói lẫn lộn được! Chúng sanh ai ấy đều có thiên chấp, có kẻ thích nghe, có người chuộng trợ hạnh, có người chỉ cầu chứng, có kẻ làm kèm thêm những hạnh ngoài điều được coi là chánh yếu. Nếu chấp trước một lẽ, sẽ là thiên chấp. Nếu nói tới chuyện được giải thoát, chỉ có người minh tâm kiến tánh là đắc giải thoát, những trường hợp khác đều là mờ mịt!

13. Đọc kinh rồi bắt đầu tu tập là tự lợi. Đọc kinh mà bố thí, làm lành thuộc về lợi tha. Tự lợi và lợi tha chính là Bồ Tát Hạnh, mới được gọi là “đă nắm chắc chân lư”. Chỉ đọc kinh, chẳng tự tu, chẳng bố thí, làm lành, hoặc chỉ bố thí, làm lành, chẳng đọc, chẳng tu, đều trái nghịch chân lư!

14. Phật pháp có hai môn là Quyền và Thật. Quyền là phương tiện khế cơ, giả gọi là tương đối. Thật là khế lư Đệ Nhất Nghĩa, đích xác thuộc về tuyệt đối. Bất quá, hàng sơ cơ chẳng thể tiếp nhận Đệ Nhất Nghĩa. Nay tôi nói đại lược là thiện và ác, chân và giả, Thật và Quyền, phàm và thánh, phiền năo và Bồ Đề, sanh tử và Niết Bàn v.v… đều là tương đối. Chẳng thể nói Đệ Nhất Nghĩa là thiện hay ác, cho đến sanh tử chính là Niết Bàn, ngôn ngữ dứt bặt, tâm hành xứ diệt. Do vậy, nói Đệ Nhất Nghĩa của Phật pháp là tuyệt đối, chẳng có mâu thuẫn.

Lại nữa, toàn bộ lời cao luận của tiên sinh đa phần coi trọng t́nh cảm, bài xích lư trí. Nói theo pháp thế gian, t́nh cảm cũng có tà và chánh. Ưa điều lành, chuộng đạo th́ là t́nh cảm chánh đáng. Ham người chuộng vật là t́nh cảm thuộc loại tà. Tiên sinh quả thật thuộc về loại trước, tự nhiên là đáng quư. Xét theo lư trí, th́ cũng chia thành thánh và tục. Thế Trí Biện Thông là tục, Chánh Đẳng Chánh Giác là thánh. Tiên sinh biết loại trước, nhưng chắc là chẳng biết loại sau, ở đây, tôi sẽ trần thuật. Bản tánh vốn tịnh, nên gọi là “viên trí”. Do nhiễm vô minh, nên gọi là “t́nh thức”. Viên trí Chân Như đầy đủ các đức năng, do t́nh thức lầm lạc sai sử, nên dấy lên phiền năo. Do t́nh thức khởi Hoặc tạo nghiệp, nên có sanh tử. Viên trí Tịch và Chiếu cùng dung thông, nên đắc Niết Bàn. T́nh thức là pháp sanh diệt, nên nói là “vọng”. Viên trí là pháp Niết Bàn, nên mới là chân. Người tu tŕ nếu đạt tới mức nghiệp tận t́nh không, chuyển thức thành trí th́ mới là liễu nghĩa giải thoát. Tuy nói như thế, người mới học Phật mười người hết tám chín, đa số là do t́nh cảm mà theo vào Phật giáo, quá tŕnh là như thế. Nhưng chẳng cầu khai trí, rốt cuộc e rằng khi gặp phải chướng ngại sẽ thoái chuyển.

15. Tiên sinh không thể phân tích rạch ṛi thánh trí và tục trí, nên bài xích trí. Thái phu nhân tin Phật, thích bố thí, chẳng phân biệt, đúng là phiền năo ít, vô minh mỏng, đấy chính là Chân Như khởi lên đức năng, có ǵ để nói là ra ngoài lư trí? Tiên sinh tuy vượt ra ngoài t́nh cảm, nhưng tiến lên tuần tự, cũng chẳng thể nói là vĩnh viễn tụt sau người khác.

16. Thái phu nhân dấy ḷng [bố thí] tự nhiên, đừng lầm là t́nh cảm. Tiên sinh có điều e ngại, có điều mong cầu, bất tịnh chấp tướng, không thể nói là “thuần lư trí”. Nếu luận theo cảnh giới, đương nhiên chẳng bằng thái phu nhân, nhưng nếu có chí, ắt sẽ thành tựu, vẫn mong mai sau tinh tấn.

 

      Hỏi: 17. Nói tới chuyện phối hợp lư luận và thực tiễn, nỗi mâu thuẫn và mê hoặc của tôi càng lợi hại. Tôi đă từng oán giận Phật học và Phật giáo chẳng thể phối hợp, đấy là một hiện tượng rất đáng sợ. Dựa theo chuyện cá nhân tôi đọc kinh điển Phật giáo để nói, tôi cảm thấy đúng là “triết học trong tháp ngà”. Nói khó nghe hơn một chút, sẽ là thuộc loại “đùa bỡn khái niệm”. Dẫu trong ấy thật sự có đại đạo lư, cũng chỉ là một hai người có thể hưởng dụng. Phật giáo b́nh đẳng đối với chúng sanh, cớ sao chỉ một hai người mới có thể ngộ đạo lư ấy? Thuở Phật Thích Ca tại thế, ắt sẽ chẳng giống như vậy, v́ Ngài đă dung ḥa Phật học và Phật giáo với nhau!

 

      Đáp: 17. Vấn đề “Phật học và Phật giáo chẳng ḥa hợp” cũng là có phân biệt. Nếu là kẻ văn nhân hoặc học sĩ b́nh phàm, coi kinh Phật như triết học hoặc văn học để dùng [trong trước tác hoặc biện luận], mục đích vốn là như thế, chẳng tu tập, th́ chẳng có ǵ để nói nữa. Nếu Phật giáo đồ mà chỉ nói suông, chẳng tu tập, đó chính là tự đặt ḿnh ra ngoài Phật giáo, nắm níu sự phong nhă của thế tục. Đấy chính là hiện tượng Phật giáo suy vi khiến cho tiên sinh lo lắng mà kẻ hèn này cũng lo lắng.

C̣n như ông nói [Phật giáo] là “triết học trong tháp ngà” và thuộc loại tư tưởng khái niệm, [nói như vậy] chẳng khỏi là hiểu lầm. Phật học tuy cao, nhưng khi nói, [đức Phật] đă chia thành từng thời kỳ. Lại c̣n xem xét căn khí để phân chia theo thứ tự. V́ lẽ đó, có năm thời diễn giáo, và ngũ thừa thuyết pháp, tam châu thuyết pháp[32] sai biệt, ắt khiến cho [Phật giáo] thích hợp trọn khắp ba căn, thâu gồm toàn bộ lợi căn lẫn độn căn, trọn chẳng cưỡng ép ai nấy đều phải biết đến Đệ Nhất Nghĩa Đế, cho nên chẳng thuộc loại triết học trong tháp ngà! Cổ nhân răn dạy: “Hiểu mà chẳng hành, chính là kể chuyện ăn, đếm của báu. Ngàn ngày học giáo, chẳng bằng một ngày tu đạo”. Vốn coi trọng tri hành hợp nhất, há có bao giờ chỉ là khái niệm suông! Lại hăy nên biết: Người có thể hoằng đạo, chẳng phải là đạo có thể hoằng người. Giáo vốn chủ trương “tín, giải, hành, chứng”, nhưng con người tự vạch giới tuyến, lỗi ở nơi người, chẳng phải do giáo vậy!

 

Hỏi: 18. Điều khiến cho tôi có cảm giác mâu thuẫn nhất là Phật học phê b́nh mê tín, nhưng Phật giáo lại ít nhiều dính líu lắm thứ mê tín. Đối với vấn đề mê tín, theo lập trường tôn giáo, [mê tín] nhẹ nhàng đôi chút th́ có thể coi là những nét điểm xuyết, nhưng những điều mê tín sau đây chẳng thể chấp nhận được như dùng tiền để hoàn nguyện v.v… Tôi đă bàn chuyện này với nhiều vị pháp sư, họ đều coi đó là chuyện của hàng ngu phu, ngu phụ, chẳng đáng để bàn tới trong Phật pháp. Điều này khiến cho tôi càng mê hoặc. Nếu họ (những kẻ làm chuyện mê tín) làm chuyện ngu ngốc, v́ sao người học Phật chẳng điểm hóa họ? Nếu là trái nghịch Phật pháp, cớ sao Phật giáo chẳng [gạn đục] lắng trong cho họ?

19. Tôi cảm thấy nghiên cứu Phật pháp trong hiện thời th́ chẳng nên đổ công sức nơi lư luận, v́ tiền nhân đă dụng công chẳng ít, mà hăy nên nỗ lực nơi phương diện thực tiễn khiến cho Phật giáo nhất trí. Đó là nhiệm vụ của thế hệ chúng ta.

 

      Đáp: 18. Dùng tiền hoàn nguyện, tuy chẳng phải là Phật pháp, nhưng cũng chẳng trái nghịch Phật pháp. Chúng sanh do gặp ách nạn, khởi tâm sám hối, muốn gieo phước điền, bèn hành bố thí, hoặc trang nghiêm chùa Phật, hoặc in kinh lưu thông, hoặc phóng sanh, cũng là công đức. Chẳng hiểu lư ấy mà làm chuyện đó th́ mới gọi là mê tín. Nếu thật sự chẳng có lư ấy, mà ngược ngạo làm chuyện này, cũng gọi là mê tín. Nghi thức Phật giáo có lúc dường như kèm theo mê tín, nhưng đều có ư nghĩa, giống như những chuyện được chép trong Lễ Kinh của Nho gia theo pháp thế gian; nhưng đối với những thói tục về sau bị đưa vào Phật giáo th́ lại cần phải luận định riêng!

19. Phật học và Phật giáo nhất trí, tất nhiên là lời luận định chắc chắn như vàng đá, nhưng muốn cầu thực tiễn, ắt phải dựa theo lư. Nếu xét theo lư, ắt sẽ là thực tiễn, và Lư Sự viên dung, chẳng lệch lạc phế bỏ bên nào! Lại nữa, nếu ít xét Lư mà hành thực tiễn cho nhiều, đối với tự lợi th́ được, chứ nếu muốn lợi tha, cũng chẳng thể coi nhẹ giáo lư được!

 

      Hỏi: 20. Cuối cùng, nói về cá nhân tôi, tôi nguyện thà vĩnh viễn quẩn quanh trong chỗ mâu thuẫn, v́ tôi kính sợ tuyệt đối. Tôi chẳng dám tưởng tượng một người đă nắm chắc tuyệt đối th́ nhân sinh quan của người ấy rốt cuộc sẽ là như thế nào? Đồng thời, tôi cũng hoài nghi một người có thể truy cầu tuyệt đối hay không? V́ không chỉ ngôn ngữ và văn tự là tương đối, mà tác dụng của tâm cũng là tương đối. Tuyệt đối cũng có lẽ là một thứ cảnh giới truy cầu, nhưng chẳng có một ai có thể nắm bắt, đạt tới cảnh giới ấy! Giống như Niết Bàn là lư tưởng Phật giáo, rốt cuộc có mấy ai có thể đích thân nhập Niết Bàn?

 

      Đáp: 20. Vấn đề tuyệt đối đă được nói rơ trong phần trước. C̣n như tương đối th́ muôn pháp trong thế gian không ǵ chẳng đều là như vậy, không chỉ riêng ngôn ngữ, văn tự mà thôi! Lại nói tới “tác dụng của tâm”, tâm là tâm, tác dụng của tâm là tác dụng của tâm, trong Phật pháp, tâm được chia thành chân và vọng. Trong phần trước đă giải thích đại lược chân tâm, thuần thuộc về tuyệt đối. Vọng tâm thuộc về tương đối, nên nó khởi tác dụng phải thuộc về tương đối, càng chẳng cần phải nói nữa. Vin nắm, đạt lên (đây là lời lẽ tùy thuận) cảnh giới chân tâm tuyệt đối th́ chúng sanh đều có thể làm được, bởi chúng sanh đều có Phật Tánh, bất quá vấn đề là có chịu gánh vác hay chăng? Có thể nghiệp tận t́nh không, chuyển thức thành trí, đó chính là Niết Bàn, trọn chẳng phải là chuyện không tưởng. Đức Thế Tôn và các vị đệ tử Đại La Hán đều là người như vậy. Về sau, chư Tổ các tông Thiền và Tịnh, cũng như Cao Tăng Truyện, Cư Sĩ Truyện, Văng Sanh Truyện, phần nhiều có chép các sự tích linh dị. Nếu chẳng phải là sự thật th́ Tam Tạng mười hai bộ đều là hư luận cả rồi!

 

      Hỏi: 21. Tuy tôi học Phật với hy vọng giải thoát, nhưng nay tôi cảm thấy giải thoát đối với tôi cũng là một thứ hy vọng xa vời, v́ hễ tôi c̣n có ư niệm giải thoát sẽ vĩnh viễn chẳng thể giải thoát. Đạo lư nhân sinh thường là như thế, quư vị truy cầu khoái lạc, sẽ đau khổ càng sâu. Quư vị mong thoát khỏi vinh hoa, vĩnh viễn chẳng thoát được. Quư vị muốn minh tâm kiến tánh, vĩnh viễn chẳng thể minh tâm, chẳng thể kiến tánh! V́ quư vị có nhu cầu, sẽ vĩnh viễn bị hăm nhập trong cảnh mâu thuẫn vây khốn. Những điều tôi vừa nêu trên đây đều là cách nh́n của cá nhân tôi, chắc cũng rất ấu trĩ, rất ngờ nghệch, nhưng phát xuất từ chân t́nh. Mong người biên tập cùng chư vị đại đức chẳng tiếc sức chỉ giáo!

 

      Đáp: 21. Truy cầu tương đối, có tự và tha khác biệt. Hết thảy cái ở bên ngoài là Tha, đă thuộc về Tha th́ chẳng thể luôn ắt có được. Đó chính là Cầu Bất Đắc Khổ trong tám khổ. Đại đạo tâm tánh nội tại th́ là Tự, cầu nơi Tự ắt sẽ đạt được, bỏ [Tự] th́ sẽ bị mất [sự tự tại], quyền ấy do chính ḿnh điều khiển. Như tiên sinh đă nói, hễ có điều mong cầu, sẽ lâm vào cảnh mâu thuẫn, nói ngược lại th́ chính là: Không cầu sẽ đạt được. Sự luận định ấy rất cao, trong Phật học cũng có thuyết này, nhưng có phần hạn. Ở đây, tôi lập ra một tỷ dụ: Có bệnh bèn cầu thuốc, sự mong cầu ấy nhằm trừ hết bệnh. Hết bệnh th́ t́nh trạng b́nh thường sẽ hiển lộ, nhưng sự b́nh thường ấy chẳng do thuốc đem lại. Đă khôi phục b́nh thường mà cầu thuốc, sẽ thành chẳng b́nh thường. Phật học đến cuối cùng có pháp vô vi, kinh nói “dâng cơm lên ngàn ức ba đời chư Phật, chẳng bằng dâng cơm cho một người vô niệm, vô trụ, vô tu, vô chứng”, lại có câu “vô trí mà cũng vô đắc”. Nhưng những điều này đều chẳng phải là chuyện của hàng sơ học. Sơ học ắt phải khởi sự từ hữu vi, hiểu một phần giáo, sẽ trừ một phần tướng. Khi đạt đến tột đỉnh th́ mới như lời tiên sinh đă nói. Học phải theo thứ tự, chớ nên vượt cấp tràn lan! Lại nữa, tiên sinh hy vọng giải thoát, không biết là nói tới sự giải thoát như thế nào? Ví như ăn uống, mong ngọt th́ phải ăn mật, muốn mặn th́ phải ăn muối, gừng cay, mơ chua v.v… cũng đều phải có thứ tự. Nếu tán loạn chẳng chọn lựa đầu mối, nhiều ngơ rẽ, chẳng biết phương hướng, sẽ chẳng khỏi bàng hoàng vậy!

Nói thêm, trước hết tiên sinh nên học các pháp như Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Ngũ Uẩn. Học theo bất cứ học phái nào, ắt đều phải noi theo đường lối [của học phái] ấy, sau đấy sẽ lại nghiên cứu các kinh chuyên biệt, tu th́ Thiền hoặc Tịnh, chọn lấy một môn, ắt sẽ tri hành hợp nhất, dần dần bước vào cảnh đẹp đẽ vậy!

 

* Hỏi: Gà mái ấp trứng, thấy rơ là trứng nở ra gà, nhưng trong báo Bồ Đề Thụ số mười lăm, Lư cư sĩ trả lời cư sĩ Vương Phước Lang ở Đài Nam có nói: “Hăy nên biết gà từ trong trứng sanh ra, nhưng gà trưởng thành bèn chẳng biết nó là do trứng mà có”. Chẳng biết [cụ nói như vậy] nghĩa là sao? (Ngô Minh An hỏi)

 

      Đáp: Khoan nói tới gà, chúng ta là người, chỉ dùng chuyện người để nói, con người do từ tử cung nơi thân mẹ mà ra, xé bọc thai sanh ra, nuôi lớn trưởng thành, có thể tự biết cái tử cung nơi ḿnh đă từng ở trong đó hay chăng? Có tự biết ḿnh bị bao trong cái bọc thai hay không? Có thật sự đích thân thấy hay không? Có thể thật sự nhớ hay không?

 

      * Hỏi: Mỗi bộ kinh đều có ghi chép thiên long bát bộ đến nghe Phật pháp, nhưng trong tám bộ, loài măng xà tội nghiệp nặng nề, làm sao họ có thể nghe hiểu được? (Trương Khoan Tâm hỏi)

 

      Đáp: Phàm loài này thuộc về loài thần nơi cơi trời Tứ Vương Thiên, trọn chẳng phải là loài măng xà thông thường, [mà là các loại rắn thần] đă hộ pháp từ lâu xa, hăy nên hiểu ư này. Như những loài voi, ngựa v.v… do bị con người sai khiến đă lâu, cũng hiểu ư người. Huống hồ đức Phật nhạo thuyết vô ngại, âm thanh biến hóa vô cùng. Kinh nói đức Phật dùng một âm thanh để thuyết pháp, chúng sanh tùy theo từng loài đều hiểu, c̣n lo chi nữa?

 

      * Hỏi: Phật pháp vô biên, vạn đức, vạn năng, v́ sao nói “Phật chẳng thể độ kẻ vô duyên”? Nếu nói như thế, [chẳng lẽ] Phật lực vẫn là hữu hạn. Xin hăy giảng rơ lư này? (Lâm Hồng Quế hỏi)

 

      Đáp: Các pháp do nhân duyên sanh, đấy là nguyên lư. Nếu chẳng có duyên mà khởi lên, lư sẽ chẳng chân thật. Hăy nên biết Phật và chúng sanh đều có cùng cái tâm này. Kẻ có tâm tin tưởng th́ là hữu duyên, kẻ không tin th́ chính là vô duyên. Kẻ tâm cấu nhẹ sẽ dễ khởi ḷng tin, kẻ tâm cấu nặng nề, khó dấy ḷng tin. Phật là đại y vương, nói đủ mọi phương pháp, tức là để chữa bệnh do tâm cấu. Người bệnh nhẹ sẽ chóng lành, người bệnh nặng sẽ lành bệnh chậm chạp, nhưng chẳng có ai không lành bệnh. Kẻ vô duyên là tạm thời vô duyên, trọn chẳng phải là vĩnh cữu vô duyên. Bất quá giống như bệnh nặng hay nhẹ, lành bệnh có sớm hay trễ sai khác. Phàm là như vậy, Phật pháp vẫn là vô biên, Phật lực vẫn là chẳng có hạn độ.

 

      * Hỏi: Có rất nhiều Phật học tùng thư đều nói thiện ác chẳng thể tiêu trừ lẫn nhau. Tuy đă chứng đắc địa vị A La Hán, Bồ Tát, cho đến địa vị Phật, cũng khó tránh khỏi quả báo do định nghiệp, như những chuyện vua Lưu Ly tru diệt ḍng học Thích Ca, đức Thế Tôn nhức đầu, hoặc chuyện Bách Trượng lăo nhân độ chồn hoang, đều nhằm nói như thế. Nhưng lại có rất nhiều kinh điển nói chỉ cần theo đúng pháp tu hành, sẽ có thể trừ đại tội Ngũ Nghịch, Thập Ác, như kinh Quán Vô Lượng Thọ, hoặc các kinh kệ đà-la-ni của Mật Tông v.v... đều nói như vậy. Chẳng biết rốt cuộc là ai đúng, ai sai? (Lư Minh Dương hỏi)

 

      Đáp: Đức Thế Tôn thuyết pháp như lương y chữa bệnh: Cần phải chẩn đoán căn nguyên để cho thuốc, người uống vào không ai chẳng lành bệnh. Nhưng thuốc dành cho Giáp, chưa chắc đă có thể trị bệnh của Ất. Do bệnh khác nhau, nên thuốc cũng sai khác. Kinh Phật Tam Tạng mênh mông, pháp môn lắm thứ, thoạt nh́n dường như mâu thuẫn, thật ra là đều khế hợp các cơ nghi trong thuở ấy. Người đời sau có thể dung hội ư này, lư đều chẳng trái nghịch. Thiện ác không thể tiêu trừ lẫn nhau, giống như đồng thời gieo hai thứ dưa và đậu, đậu chẳng v́ dưa mà biến đổi, dưa cũng chẳng v́ đậu mà chuyển biến. Do gieo trên đất hai loại, nên mỗi loài tự sanh trưởng. Người tu hành Nghiệp Hoặc chưa trọn, chịu báo ấy một phần, cũng giống như lư ấy. Đó chính là ư nghĩa “chẳng thể tiêu trừ lẫn nhau”. Nếu như gieo hạt xuống đất, có pháp phá hoại khả năng sanh thành của hạt ấy, hoặc [hạt giống bị] moi lên vứt đi, đất trống trơn chẳng có ǵ, làm sao có thể nẩy mầm, kết quả cho được! Người tu hành đă đoạn các Hoặc, nghiệp tận, t́nh không, tám thức điền chuyển thành Đại Viên Kính, cái nhân gây tội đă chẳng c̣n, há có tội báo? Đó là nghĩa “tu hành diệt trừ” vậy! La Hán và Bồ Tát chưa đạt đến cực quả, tự nhiên sẽ chẳng tránh khỏi như trên đây đă nói. Phật là Nhất Chân pháp giới, há có khổ báo? Nhưng trong kinh, những chuyện như đau đầu, đau lưng, thương vàng, [Phật phải thọ trai bằng] lúa mạch dành cho ngựa ăn[33] v.v… đều giống như tám tướng thành đạo nhằm quyền biến ḥng nhờ vào đó để thuyết pháp vậy.

 

      * Hỏi: Khi chưa quy y Tam Bảo, phàm có chuyện ǵ liên quan đến sự cát, hung, họa, phước nơi hành động của cá nhân, không có điều ǵ tôi chẳng biết trước; thậm chí sẽ có ai đến, đều biết trước một ngày. Từ năm Dân Quốc 46 (1957), sau khi quy y Tam Bảo, thọ Ngũ Giới tại Linh Sơn ở Đài Trung, hết thảy đều chẳng hay biết nữa, nguyên nhân là v́ sao? (Châu Tinh Nguyên hỏi)

     

Đáp: Cư sĩ tự nói là biết trước hết thảy, đó là do học tập đạo ǵ mà tu thành? Hay là bẩm sinh đă có năng lực ấy? Nếu tu ngoại đạo, e là thuộc về tà pháp. Sau khi quy y, tà tự rút lui, nên mất đi khả năng biết trước. Nếu là bẩm sanh đă có, do chẳng hiểu chánh đạo, lâu ngày cũng tự chiêu cảm ma, đó là nguy cơ ẩn sẵn hằng ngày. Nay do quy y, thọ giới, khôi phục trạng thái thông thường, tương lai phẳng lặng, chính là điềm tốt đẹp. Lại nữa, tu Định trong nhà Phật, dẫu đắc thần thông, nhưng chẳng đắc Lậu Tận th́ cũng vô dụng, v́ người chánh tri chánh kiến tuy đă đắc thần thông, [thần thông] vẫn c̣n có thể bị mất đi!

 

      * Hỏi: Mỗi ngày tôi thức dậy lúc ba giờ rưỡi, bốn giờ bèn dâng hương, lễ Phật (có phải là quá sớm hay không)? Bất luận có bị bệnh hay không, chưa từng gián đoạn. Tự xét Tín, Nguyện, Hạnh đă trọn đủ, nhưng hiện tại vẫn chưa khôi phục cảnh giới tốt đẹp xưa kia, có phải là do đă phạm lỗi ngă mạn hay không? Nếu là như vậy th́ nên bổ cứu hoặc sám hối như thế nào? (Châu Tinh Nguyên hỏi)

 

      Đáp: Có thể dậy sớm là chuyện tốt. Quy củ của các chùa đại khái cũng là thức giấc khoảng bốn giờ sáng. Câu “tự xét Tín, Nguyện, Hạnh đă trọn đủ” đă bộc lộ cái tâm ngă mạn, tự khen ḿnh của cư sĩ. Hành nhân như lũ chúng ta dùng xe chở, hoặc đong bằng đấu, há có thể kể xiết, quư báu chi đâu! Nói là có Tín, Nguyện, Hạnh, cố nhiên chẳng phải là không được, nhưng nói thẳng thừng là “trọn đủ” th́ quá lố! Sám hối th́ được, nhưng mong cầu cảnh giới th́ chớ nên cho lắm! Hăy xem lời đáp cho câu thứ ba, ắt sẽ tự hiểu ư này.

 

* Hỏi: Kể từ khi tôi tín ngưỡng Phật giáo, từ đây cũng tin tưởng, thờ phụng Quán Thế Âm Bồ Tát. Do muốn hiểu rơ cái nhân của Bồ Tát, nên trong quá khứ có đọc một quyển sách có tựa đề là Quán Thế Âm Bổn Nguyện Kinh bèn tin tưởng; sau đấy lại xem các tác phẩm trước thuật của những vị pháp sư cận đại, thấy nói quyển sách ấy là tiểu thuyết chẳng đáng tin. Như vậy th́ rốt cuộc là Bồ Tát hiển hóa, giáng sanh thuộc thời đại nào, có căn cứ nào hay không? (Hoàng Mễ Điền và Hoàng Đạo Không hỏi)

 

      Đáp: Quán Âm Bồ Tát chẳng phải là người thuộc vào thế giới Sa Bà, mà cũng chẳng thị hiện trong kiếp này. V́ thế, các sách vở trong châu Nam Diêm Phù Đề chẳng ghi chép đích xác, bởi lẽ, nơi chốn xa xôi, năm tháng mịt mờ, t́nh thế ắt là như vậy. Như vua Hiên Viên của Trung Quốc, bất quá là cách đây mấy ngàn năm mà thôi, mà c̣n chẳng có sách vở nào chuyên viết về ông ta tường tận, có chi là lạ? Những điều ghi chép [về Quán Âm Bồ Tát] chỉ là dựa theo kinh Phật, như phẩm Phổ Môn của kinh Pháp Hoa, kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Thọ Kư, kinh Thiên Thủ Thiên Nhăn Đại Bi Tâm Đà La Ni, kinh Bi Hoa v.v… nói đại lược bổn tích, đó là căn cứ, c̣n những thứ khác [chẳng phải là kinh Phật] đều là ức đoán. Hơn nữa, kinh Phật [chỉ chú trọng] nêu bày thần lực từ bi của đức Quán Âm chuyên nhằm làm cho chúng sanh tín phụng đạt được lợi ích. V́ thế, đối với những chuyện vụn vặt như thân thế, tiểu sử của Ngài, do chẳng liên quan đến tông chỉ rộng lớn, nên chẳng ghi chép đầy đủ để làm ǵ!

 

      * Hỏi: Trong bộ tượng Tam Thánh, Quán Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát là trợ thủ của A Di Đà Phật. Nếu chúng sanh có tai nạn khẩn cấp bèn niệm Quán Thế Âm Bồ Tát. Ngài có thể tầm thanh cứu khổ, đồng thời thường hiện tướng cho người ta thấy, nhưng v́ sao chưa hề nghe nói Đại Thế Chí Bồ Tát hiện tướng cho người ta thấy? Chẳng nghe nói chúng sanh hễ có tai nạn bèn cầu Đại Thế Chí Bồ Tát. Vậy th́ Ngài giúp đỡ A Di Đà Phật là giúp theo kiểu nào? (Tŕ Huệ Lâm hỏi)

 

Đáp: Chuyện này chia thành Thông và Biệt. Quán Âm hành hạnh Phổ Môn là Thông, nhiều người biết đến. Ngài Thế Chí chỉ có người tu Tịnh biết đến là Biệt, nên nhiều người chẳng biết. Hễ biết bèn thường niệm, do thường niệm th́ Ngài sẽ ứng hiện. Kẻ chẳng biết bèn không niệm, nên Ngài chẳng ứng hiện. Niệm là năng cảm, hiện là năng ứng. Nếu như nhất tâm tín niệm ngài Thế Chí, ngài Thế Chí nhất định có thể hiện. Hiện hay chẳng hiện là do chúng sanh niệm hay chẳng niệm, chẳng phải là cầu ngài Thế Chí mà Ngài chẳng ứng! Trong hai vị phụ tá của Phật Di Đà, Quán Âm chủ về Bi, Thế Chí chủ về Trí. Tự độ và độ chúng ắt phải là cùng vận dụng Bi và Trí, cớ sao lại ngược ngạo ngờ vực ngài Thế Chí chẳng giúp được ǵ!

 

      * Hỏi: Kinh có nói trong kiếp quá khứ, Thích Tôn v́ cứu vớt chúng sanh đang gặp nạn đói, bèn dùng thần thông biến hóa thành cá để làm thức ăn [cho dân chúng]. Đă có thể sử dụng thần thông biến thành cá, sao chẳng trực tiếp khiến cho ngũ cốc được mùa cho họ ăn? Nếu v́ định nghiệp khó chuyển th́ tuy hóa thành cá, há họ chẳng bị nghiệp lực ngăn chướng nên chẳng thể ăn ư? (Hứa Trí Thuần hỏi)

 

      Đáp: Kinh Phật có Đại Thừa và Tiểu Thừa, đối tượng thuyết pháp mỗi loại mỗi khác, người đọc hăy nên khéo hiểu trọn vẹn, chớ nên đọc theo kiểu chấp chết cứng. Nếu bắt chước tác phong của kẻ khăng khăng chấp chặt, há chỉ có như thế, mà c̣n là chỗ nào cũng đều gặp nhiều chướng ngại! Ở đây, có ba ư để giải thích:

1) Chuyện được kinh nhắc đến chính là trong kiếp quá khứ, Thích Tôn c̣n là học nhân, dẫu có thần thông, nhưng có hạn lượng, hoặc là chỉ có thể chuyển thành thân cá, chẳng thể chuyển biến thành lương thực trong cơi đại địa được!

2) Đoạn kinh văn này ắt là có một đối tượng và hoàn cảnh nhất định, chuyên nhằm khế cơ, cũng giống như công án của nhà Thiền, đều do thích ứng căn cơ mà phát khởi.

 3) Nơi được nhắc tới trong kinh đă thuộc về kiếp lâu xa, cơi đất ấy có sanh trưởng ngũ cốc hay không, hoặc là ở gần nơi đánh cá, săn bắt, như vùng Nội Mông của Trung Hoa chỉ sống bằng du mục, thảy đều chưa thể biết. Chớ nên tự tiện đối với t́nh huống không rơ ràng mà vội vă bới lông t́m vết!

 

      * Hỏi: Tôi thấy trong Ấn Quang Đại Sư Văn Sao có nói: “Phàm muốn liễu sanh tử, ắt phải thật chứng. Nếu chỉ ngộ mà chưa chứng, ắt Phiền Hoặc vẫn c̣n, cần phải nỗ lực to lớn. Nếu có thể khăng khăng bền chí rèn luyện qua sự duyên, ắt tâm sẽ giác chiếu, ngầm hợp thánh trí, phàm t́nh nhân, ngă, thị phi sẽ không do đâu mà dấy lên được. Nếu phàm t́nh vẫn lừng lẫy y như cũ, công hạnh càng cao, t́nh kiến càng nặng, từ ngộ mà vào mê, khó ḷng tránh khỏi!” V́ sao công hạnh càng cao mà đâm ra t́nh kiến càng nặng như vậy? (Hứa Trí Thuần hỏi)

 

      Đáp: Đoạn nghị luận này nói lên sự khó khăn của pháp môn tự lực thông thường, nhằm chỉ rơ sự dễ dàng của pháp môn Tịnh Độ, đặc biệt nêu ra hai chữ Chứng và Ngộ. Nói “chỉ ngộ chưa chứng”, [nghĩa là] phàm t́nh hăy c̣n, địa vị thánh sẽ chẳng viên măn. Chỉ nhờ vào liễu ngộ, tri kiến càng tăng, tri kiến ấy chính là phàm t́nh, công hạnh được nhắc đến trong đoạn văn trên đây là nói tới công hạnh do sự liễu ngộ tri kiến.

 

      * Hỏi: Kinh Kim Cang nói “phàm những ǵ có tướng đều là hư vọng”, lại nói “hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng, như sương cũng như chớp”. Tịnh Độ Tông niệm Phật cầu sanh thế giới Cực Lạc, có phải là chấp tướng hay không? Có phải là hữu vi hay chăng? Tôi nghĩ tông này chẳng phải là học lư cao nhất trong nhà Phật, đại khái là để dẫn dụ người khác nhập môn. Sau khi đă thật sự tin Phật, tự nhiên đổi sang chân lư cao sâu khác. Nếu không, chỉ một mực niệm Phật, cần ǵ phải dùng đến Tam Tạng kinh điển chi nữa! (Trương Tường Mưu hỏi)

 

      Đáp: Câu này cần phải chia thành bốn đoạn để đáp:

1) “Trở về nguồn chẳng có hai đường, phương tiện có nhiều môn”. “Quy nguyên chẳng hai” chính là Thật Trí tự chứng Nhất Chân pháp giới. “Phương tiện nhiều môn” là Quyền Trí lợi tha, thiện xảo nhân duyên. Quyền Thật bất nhị, đó là nguyên tắc. Có tướng là Sắc, vô tướng là Không, Sắc tức là Không, Không tức là Sắc, thật sự cũng chẳng tách rời. Hữu vi là tạo tác, vô vi là “pháp nhĩ” (pháp vốn là như vậy). Tạo tác là Tu Đức, pháp nhĩ là Tánh Đức. Tu há có thể ĺa khỏi Tánh, cũng khó tách rời. Hễ thiên chấp, năm căn sẽ tranh chấp lẫn nhau. Viên quán, ắt chư pháp nhất quán. Kinh có lúc nói thiên chấp là để khế cơ, có khi nói viên dung nhằm xiển dương Lư. Lư và Sự vốn tự viên dung, há nên chấp chết cứng? Nếu bài xích Tịnh Độ là chấp tướng, vậy th́ các tông khác có Chỉ Quán, Sổ Tức, tham thoại đầu, đoạn Hoặc v.v… há chẳng phải là hữu vi, chấp tướng ư?

2) Ông nghi Tịnh chẳng phải là học lư cao nhất. Nói theo lẽ thông thường, các pháp b́nh đẳng, trọn chẳng có cao hay thấp. Nói riêng biệt, Đăng Địa Bồ Tát c̣n chưa thể hiểu [pháp môn Tịnh Độ], chỉ có Phật và Phật mới có thể thấu hiểu đến tột cùng. Vậy th́, [Tịnh Độ] là cao hay thấp có thể biết rơ!

3) Ông nghi “sau khi đă nhập môn, bèn đổi sang chân lư khác”. Hăy thử xem các vị đại đức trong Thiền Tông, thường là các Ngài đa số sau khi đă ngộ bèn tu Tịnh, mà chư Tổ trong Tịnh Tông càng có nhiều vị là bậc tông tượng triệt ngộ trong nhà Thiền. Có thể nói là pháp này là để nhập thất, chẳng phải để nhập môn, bất quá thích hợp khắp ba căn, lợi căn lẫn độn căn đều thâu tóm mà thôi!

4) Đối với điều nghi “một mực niệm Phật, không cần đến Tam Tạng”, xin cư sĩ duyệt tạng (đọc Đại Tạng Kinh) sẽ tự biết. Trong các kinh luận, đề xướng, chỉ dạy pháp này, chỗ nào cũng đều là như vậy. Cổ đức nói “ngàn kinh muôn luận, đâu đâu cũng chỉ quy”, tôi tin chẳng phải là lời lẽ rỗng tuếch! Hiểu rơ lẽ này, chỉ có thể nói kinh luận phần nhiều chứa đựng giáo nghĩa Tịnh Độ, chẳng thể nói niệm Phật bèn phế bỏ các kinh.

 

      * Hỏi: Nghe nói trong phẩm Hạnh Nguyện có nói “giữ lại Hoặc để có thể vào trong các giới độ chúng sanh”. Há chẳng phải là minh tâm kiến tánh th́ mới đắc thần thông đầy đủ, đến đi tự tại? Cớ sao lại ngược ngạo giữ lại Hoặc vậy? (Hứa Trí Thuần hỏi)

 

      Đáp: “Giữ lại Hoặc” có nghĩa là chẳng nhập Niết Bàn. Thần thông do Định lực mà có. Minh tâm kiến tánh cũng có một phần hay viên măn sai khác! Định sâu bèn có thể đắc thần thông, chẳng cần đợi đến giác ngộ viên măn. Hoan Hỷ Địa Bồ Tát trong Biệt Giáo, Phát Tâm Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo đều đă chứng một phần Pháp Thân, thị hiện trong trăm giới, cũng chẳng đợi đến khi giác ngộ viên măn.

 

      * Hỏi: Cổ đức dịch kinh, đầu các kinh phần nhiều mở đầu bằng các câu như “như thị ngă văn” v.v… v́ tuân thủ di giáo, chỉ có Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh là thuộc ngoại lệ. Toàn bộ kinh văn chỉ có vỏn vẹn hai trăm sáu mươi chữ, trừ chữ Xá Lợi Tử ra, từ “Sắc bất dị Không” cho đến “cố thuyết Bát Nhă Ba La Mật Đa chú” là hai trăm mười ba chữ. Trong bộ tân dịch Đại Bát Nhă, trong sáu trăm cuốn, có hơn hai trăm cuốn trong ấy tôi từng thấy đoạn kinh văn [gồm hai trăm mười ba chữ] ấy. C̣n th́ câu mở đầu gồm hai mươi lăm chữ “Quán Tự Tại Bồ Tát, hành thâm Bát Nhă Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến Ngũ Uẩn giai Không, độ nhất thiết khổ ách” và đoạn cuối cùng gồm hai mươi hai chữ: “Tức thuyết chú viết: Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, Bồ Đề sa bà ha”. Hai đoạn đầu cuối ấy, tổng cộng bốn mươi bảy chữ chưa rơ xuất phát từ kinh nào. Học nhân tŕ tụng kinh này, từ năm bốn mươi cho đến nay chưa hề lười nhác đôi chút, trọn chẳng phải là hoài nghi kinh này, bất quá là muốn biết ư nghĩa chân thật của cả bộ kinh mà thôi. Xin hỏi kinh này có phải đúng là là thuộc loại đơn hành bản (bản kinh lưu thông riêng biệt), hay là sau đời Lư Đường[34] trở đi, các vị tiên đức đă chọn lựa những điều trọng yếu trong các kinh, diễn dịch mà thành hay không? Xin phiền cụ hăy khai thị! (Triệu Siêu hỏi)

 

      Đáp: Bát Nhă Ba La Mật Tâm Kinh thuộc về Bát Nhă Bộ trong Đại Tạng Kinh. Bát Nhă có hơn sáu trăm cuốn, kinh này là một trong số đó. Người đời sau do v́ lẽ tinh túy trong kinh này, nên lấy ra lưu thông riêng. Kinh này vốn có chín bản dịch[35], đă mất hai bản, nhưng nội dung và câu chữ của bảy bản dịch cố nhiên có sai khác, tựa đề kinh cũng không nhất trí. Chỉ riêng hai bản dịch của ngài Cưu Ma La Thập đời Diêu Tần và ngài Huyền Trang đời Đường không có chữ “như thị ngă văn”, năm bản kia đều có. C̣n như đoạn chú ngữ Bát Nhă th́ bảy bản dịch đều chép, bất quá thứ tự bất đồng. Cuối năm bản dịch kia đều có câu “giai đại hoan hỷ, tín thọ phụng hành”. Bản cư sĩ đọc chính là bản dịch của ngài Huyền Trang, cũng là bản được lưu hành phổ biến nhất.

 

      * Hỏi: Thiên giới chẳng có nơi chốn, phương hướng, con người nương vào địa cầu để sinh tồn. Hằng ngày địa cầu xoay quanh không ngừng, về căn bản là chẳng thể xác định phương hướng. Nói “trên trời có hai mươi tám tầng” là nói về ngày nào, thời nào, chỗ nào vậy? (Lư Vân Tiêu hỏi)

 

      Đáp: Tuy địa cầu chuyển động, thật ra, giả định phương hướng chẳng trở ngại ǵ, bởi nó tự xoay quanh chính nó theo chiều ngang, chẳng phải là chuyển động điên đảo lên cao xuống thấp, tức là Á và Mỹ hai châu chuyển hướng, nhưng Nam Cực và Bắc Cực không chuyển hướng, nên có thể nói phía hướng về mặt trời là Thiên. Trong sự chuyển động chung, lại có quỹ đạo nhất định, tức là con đường nó chuyển động xoay quanh mặt trời, vẫn là theo chiều ngang, giáp ṿng sẽ trở lại, có thể nói như vậy đối với cơi trời thuộc phạm vi của châu này (Nam Diêm Phù Đề). C̣n phía trên có hai mươi tám tầng trời, chẳng phải là nói đến một châu, mà là nói về phạm vi bốn phía [của những cơi đất] như quả địa cầu này.

 

      * Hỏi: Trong khoảng thời gian từ Phật Ca Diếp đến Phật Thích Ca, nhân loại từng có một giai đoạn ăn lông, uống máu, từ nay đến cho khi Phật Di Lặc ứng tích, có phải cũng sẽ có một thời kỳ trở lại cuộc sống trong hang động hay không? (Quách Gia Ninh hỏi)

     

      Đáp: Thành, trụ, hoại, không là đại biến hóa của tinh cầu. Biển xanh, ruộng dâu chính là tiểu biến hóa của tinh cầu. Bất luận phồn vinh hay suy vi đều là biến hóa, đó là học lư vô thường. C̣n như ăn lông, uống máu, sống trong hang động, hay nơi đồng hoang, chính là chuyện thuộc về một thời kỳ, ắt phải có ghi chép th́ mới dễ nói. Trước thời Phật Thích Ca, theo sử Trung Hoa ghi chép th́ đă từng có thời kỳ ăn lông, uống máu, nhưng trước khi có sử, niên đại, thời kiếp rất lâu, trong thuở đó, có biến hóa lần nào hay không, vẫn chưa thể nói được! Huống hồ là đối với vị lai, kẻ hèn này chưa từng thấy có huyền kư về cuộc sống trong hang hốc, nên cũng chẳng tự tiện suy đoán bừa băi được!

 

      * Hỏi: Vào thời Phật Di Lặc hạ sanh, nếu phi cơ trở thành công cụ giao thông phổ biến vào thời đó, có phải là sẽ gây trở ngại cho Thần Túc Thông của các đệ tử Phật hay chăng? (Quách Gia Ninh hỏi)

 

      Đáp: Phi cơ có thể thật sự tồn tại đến thời đó ư? Chẳng thể nào không nghi ngờ! Dẫu đến khi đó, máy bay đầy trời, vẫn chẳng trở ngại Thần Túc. Xin hăy thử nghĩ có bao nhiêu hệ Ngân Hà trong hư không, các ngôi sao xoay chuyển nhiều cỡ nào, cũng chưa thấy chúng luôn luôn va đụng nhau, khiến các ngôi sao tan nát bắn tung tóe như mưa!

 

      * Hỏi: Trong tượng Tây Phương Tam Thánh, Quán Thế Âm và Đại Thế Chí Bồ Tát diện mạo và phục trang giống như nữ giới, chẳng biết hai vị Bồ Tát ấy là nam hay nữ? (Lâm Quư Diễm hỏi)

 

Đáp: Tạo tượng Bồ Tát có tướng xuất gia và tướng tại gia khác biệt. Đầu tṛn, đắp ca-sa là tướng xuất gia, như tượng Di Lặc và Địa Tạng Bồ Tát. Măo báu, xơa tóc, thân mặc áo xống thế tục, đeo giắt anh lạc là tướng tại gia. Như Văn Thù và Phổ Hiền trong Hoa Nghiêm, Quán Âm và Thế Chí trong cơi Cực Lạc, các vị Bồ Tát đều là như vậy. Do các Ngài để tóc xơa, thân đeo giắt anh lạc, thế tục tưởng lầm là nữ giới, thật ra chẳng phải là như vậy.

 

* Hỏi: Kinh Dịch nói: “Vô cực mà thái cực. Thái Cực sanh Lưỡng Nghi”. Đó là nguyên lư tạo thành vạn vật trong vũ trụ. Khoa học Tây Dương nói tinh vân (nebulae) là nguyên lư cấu thành vũ trụ. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Thích Ca trả lời câu hỏi của ngài Phú Lâu Na: “Giác tánh vốn sẵn thanh tịnh, cớ sao bỗng sanh ra núi, sông, đại địa” như sau: “….Từ nơi chân giác khởi lên một cái minh (sáng suốt) hư vọng, nên chân không biến thành cái không trơ trơ, tăm tối. Do tối và sáng đối đăi nhau mà tạo thành dao động, nên có Phong Luân chấp tŕ thế giới. Do trong hư không sanh ra dao động, do chấp cứng chắc nơi cái minh ấy nên thành chướng ngại, [tạo thành địa đại]. [Tinh túy của địa đại] là chất vàng báu ấy, cái vọng giác nẩy sanh từ vọng minh ấy lại tạo thành tướng cứng chắc, ngăn ngại, nên có Kim Luân ǵn giữ quốc độ. Vọng giác chấp trước kiên cố, chất báu đă được tạo thành, vọng minh dao động, cảm vời Phong Đại nẩy sanh. Gió và chất vàng chà xát lẫn nhau, nên có ánh lửa, có tánh chất biến hóa. Thể của chất báu là sáng sạch, có thể sanh ra tánh thấm nhuần, được ánh lửa nung nấu, cho nên có Thủy Luân chứa đựng mười phương cơi. Lửa bốc lên, nước tuôn xuống, giao cảm phát sanh mà tạo thành chất cứng rắn. Chỗ ướt là biển cả, chỗ khô là châu lục. Do v́ nghĩa ấy, trong biển cả kia thường có ánh lửa bốc lên, trong chốn lục địa, có sông ng̣i thường tuôn chảy. Thế nước kém hơn lửa, bèn kết thành núi cao. Do đó, đá trên núi đập vào nhau sẽ xẹt ra tia lửa. nung lên sẽ chảy nước. Đất có thế lực kém hơn nước, co rút lại sẽ thành thảo mộc. V́ thế, [cây cối] rừng rậm nếu bị đốt sẽ trở thành đất, nếu bị vặn vắt sẽ chảy ra nước. Do các vọng giao nhau mà phát sanh, lần lượt trở thành chủng tử [cho các tướng mới phát sanh]. Do bởi nhân duyên ấy, thế giới liên tục [h́nh thành]”[36], đó là nguyên lư tạo thành vạn vật trong vũ trụ. Ba thứ nguyên lư trên đây khác nhau và giống nhau ở chỗ nào? Có chỗ nào mâu thuẫn hoặc tương tự hay không? ([Nói vũ trụ là] do hạt nhân nguyên tử tạo thành, rất giống với thuyết Thái Cực sanh Lưỡng Nghi, [nói] “vô cực mà thái cực” th́ rất giống với thuyết tinh vân. Thế của nước kém lửa, kết thành núi cao, thế của đất kém nước, cô đọng lại thành cỏ cây… tương tự thuyết Ngũ Hành Tương Sanh (Ngũ Hành sanh ra lẫn nhau)[37], trời tṛn, đất vuông, trời động, đất tĩnh, nhưng mâu thuẫn thuyết địa cầu xoay quanh mặt trời), kính xin hăy chỉ dạy! (Tiên Thuần Hiền hỏi)

 

      Đáp: “Vô cực mà thái cực rồi tới Lưỡng Nghi” là từ ngoại tại chẳng có h́nh tượng mà suy tới có h́nh tượng. [Khoa học nói] do tinh vân mà có vũ trụ là từ đă có h́nh tượng mà dự đoán diễn biến. Những điều kinh Lăng Nghiêm đă nói là từ cái tâm sáng suốt hay tối tăm mà đối đăi biến huyễn, sanh khởi vọng tưởng. Điểm xuất phát của ba thuyết này chia thành “trong, ngoài, có, không”, hiển nhiên là bất đồng. Đă chẳng xuất phát từ một chỗ, nên cũng chẳng thể nói là mâu thuẫn, lại càng chẳng cần phải cố ư gượng ép [sao cho ba thuyết] phù hợp. Hạt nhân nguyên tử, Thái Cực, Lưỡng Nghi, vô cực mà là thái cực, tinh vân, một đoạn kinh Lăng Nghiêm và Ngũ Hành Tương Sanh, cố nhiên chẳng phải là không có mấy phần tương tự, nhưng xét ra th́ là gán ghép miễn cưỡng, chẳng thà cứ tạm nghe theo cách giải thích của riêng từng thuyết. Chờ đến khi có người tinh thông cả ba loại học vấn này, chắc là sẽ có thể nói ra chỗ khác nhau và giống nhau thật sự. Đối với chuyện “trời tṛn, đất vuông” th́ hai quẻ Càn và Khôn trong kinh Dịch cũng như kinh Lăng Nghiêm trong nhà Phật đều chưa nói như thế, nên có mâu thuẫn hay không, hai thuyết ấy chẳng chịu trách nhiệm! “Trời động, đất tĩnh” là do các nhà văn học dựa theo hiện tượng trước mắt mà thốt ra, v́ mặt trời ở trên đỉnh đầu con người, nên gọi là “thiên tượng” (天象: hiện tượng thiên văn), do thấy nó vận hành, nên bảo là “trời động”. [Do thấy] đất cơng chở núi non dường như thường hằng, nên bảo là “đất tĩnh”. Những điều này bất quá là lời lẽ h́nh dung, đương nhiên chẳng phù hợp khoa học. Do các nhà khoa học đă biết địa cầu tự xoay quanh nó, nên có hiện tượng ngày và đêm, mặt trời vốn chẳng có mọc hay lặn, cũng v́ tùy thuận người khác mà nói “trời tảng sáng, mặt trời mọc”, đương nhiên cũng là chẳng hợp khoa học.

 

      * Hỏi: Trong mục Phật Học Vấn Đáp do thầy chủ tŕ, đối với câu hỏi thứ tư của pháp sư Như Bổn: Trong bài kệ tụng của phẩm Phổ Môn có nói “chú trớ chư độc dược, sở dục hại thân giả, niệm bỉ Quán Âm lực, hoàn trước ư bổn nhân” (chú, nguyền rủa, thuốc độc, toan hăm hại đến thân, do sức niệm Quán Âm, trở ngược kẻ gây chuyện). Cách làm như thế há chẳng phải là tổn thương tâm từ bi? Đối phương dùng thuốc độc hại ta, tuy chúng ta niệm thánh hiệu được cứu, nhưng thuốc độc ấy hại ngược lại đối phương, như thế th́ chẳng phải là hết sức tổn thương tông chỉ từ bi hay sao?

      Thầy đáp rằng: Đời Tống, ông Tô Đông Pha từng có nỗi nghi ấy, tự tiện sửa kinh, đă bị cổ đức quở trách. Ấy là v́ nghĩa “trở ngược về người gây hại” trọn chẳng phải là bị chú hay thuốc độc báo thù, cũng chẳng phải do ngài Quán Âm giáng những thứ đó lên thân [người bày ra chuyện gây hại], mà là như kinh Tứ Thập Nhị Chương đă dạy: “Tử dĩ lễ tùng nhân, kỳ nhân bất nạp, lễ quy tử hồ? Đối viết: Quy hỹ” (Ông đem lễ vật tặng cho người khác, người ấy chẳng nhận, lễ vật có trở về với ông hay chăng? Thưa: Trở về ạ!), ư giống như vậy đó!

      Điều này nên hiểu là thuộc loại “tự làm, tự hứng chịu oan nghiệt”, “tự làm, tự chịu”, “tự ăn cái quả [do chính ḿnh gieo trồng]”, giống như ngửa mặt nhổ lên trời, trời chẳng nhận cái khạc nhổ ấy. Xin hỏi [hiểu như vậy] có đúng hay không? (Hùng Thanh Tuấn hỏi).

     

Đáp: Cũng có thể nói như thế, ư giống nhau, tuy sự khác nhau, đều có thể vận dụng [những cách nói ấy].

 

      * Hỏi: Cổ nhân nói về văng sanh Tịnh Độ có bốn câu kệ, lời lẽ giống như mâu thuẫn, tra duyệt sách cũng chẳng thấy giải thích, chính là: “Sanh th́ quyết định sanh, đi th́ thật sự chẳng đi. Đi th́ quyết định đi, sanh th́ thật sự chẳng sanh”. Rốt cuộc ư nghĩa được bao hàm [trong những câu trên đây] là ǵ, xin hăy chỉ dạy cặn kẽ! (Địch Sanh hỏi)

 

      Đáp: Bốn câu ấy đă được cổ đức giảng giải từ lâu, bất quá lời lẽ đơn giản, ư nghĩa bao trùm, văn lẫn nghĩa đều uyên áo, hàng sơ học chẳng thể lănh thọ đó thôi! Ở đây, tôi giải thích nông cạn như sau: Câu “sanh th́ quyết định sanh” là nói một niệm thần thức hóa sanh trong hoa sen. “Quyết định sanh” là chứng thực chuyện hóa sanh chân thật tột bậc, chẳng phải là hư vọng. Trong câu “đi th́ thật sự không đi”,“đi” là nói một niệm thần thức ĺa cơi này, hướng đến cơi kia, “thật sự không đi” là nói thức chính là tùy duyên theo tánh. Thức đi chứ tánh chẳng đi, v́ tánh có lượng bằng với hư không, bao trùm trọn hết cơi nước số lượng nhiều như cát, chẳng đến, chẳng đi, nên nói là “không đi”. Chữ “đi” trong câu “đi th́ quyết định đi” chỉ một niệm thần thức, ĺa nơi đây, hướng đến nơi kia, “quyết định đi” là chứng thực chuyện hướng đến nơi kia là xác thực, chẳng phải là dối gạt! Chữ Sanh trong câu “sanh th́ thật sự chẳng sanh” chỉ một niệm thần thức hóa sanh trong hoa sen, “thật sự chẳng sanh” ư nói: Chẳng phải là thức, mà là tánh có thể chuyển biến. Thức sanh, nhưng tánh chẳng sanh; bởi lẽ, tánh thể chẳng có sắc tướng, cưỡng gọi là Chân Như, bất sanh, bất diệt, nên nói là “bất sanh”. Trong bốn câu này, câu một và ba đều nói về thức, câu hai và bốn đều nói về tánh.

 

      * Hỏi: Ngẫu nhiên đọc phó bản của Trung Ương Nhật Báo số ra ngày Hai Mươi Chín tháng Mười, có đăng tải một bài viết liên quan đến Phật học, hậu học đọc xong cảm thấy cách nh́n đối với Phật học của người kư tên là Hoa Nghiêm tiên sinh ấy tuân theo một kiểu lư luận khác biệt. V́ thế, cảm thấy rất bối rối, nay tôi gởi kèm nguyên văn, xin thầy hăy đọc rồi giải trừ nỗi nghi cho hậu học. (Trần Vĩ Anh hỏi)

 

      Đáp: Phật pháp như biển cả, uyên bác, sâu thẳm; chẳng chuyên tinh suy nghĩ, suy xét sâu xa, sẽ chẳng thể thấu hiểu rốt ráo. Nếu chỉ loáng thoáng ngoài da, hiểu biết nửa vời, tự tiện phét lác tận trời, khen hay, chê dở, sẽ giống như kẻ mù đếm sao, kẻ điếc b́nh luận âm nhạc, chẳng hợp sự thật, ai nấy đều biết tỏng ṭng tong! Hiện thời, ngôn luận tự do, thói khinh miệt thánh nhân đă có lâu ngày. Cái học của Khổng Tử là lấy nhân, hiếu, lễ, nghĩa làm gốc để duy tŕ dân tộc Trung Hoa, dẫu bị ngả nghiêng mà luôn có người phục hưng. Từ sau cuộc biến động Ngũ Tứ trở đi, [thiên hạ] luôn lớn tiếng ḥ hét “đả đảo tiệm buôn nhà họ Khổng”, bảo “hiếu và lễ đều là thuốc độc”, rốt cuộc Khổng Tử có bị tổn hại chi chăng? Dân tộc có bị tổn hại ǵ chăng? Người sáng mắt tự có thể biện định, quư cư sĩ hăy nên dùng lệ ấy để xem xét.

     

* Hỏi: Trong kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức có nói: “Từ phương Đông qua khỏi mười Căng Già sa cơi Phật, có thế giới tên là Tịnh Lưu Ly, Phật hiệu là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai”. Một Căng Già Sa cơi Phật bao xa? Có bao nhiêu cây số? Lại nữa, ở phương Đông là ở chỗ nào? Địa cầu tṛn xoe rốt cuộc phương Đông là ở chỗ nào? (Tôi biết chỗ mặt trời mọc là phương Đông, nhưng nh́n từ nước ḿnh th́ phương Đông là nước Mỹ. Nếu nh́n từ Mỹ th́ phương Đông là châu Âu. Lại nh́n từ Ấn Độ, sẽ lại thấy phương Đông là Trung Hoa!) Rốt cuộc là ở nơi nào th́ mới là tiêu chuẩn? (Lâm Nam Tân hỏi)

     

Đáp: Bốn phương trên dưới, xét theo sự th́ vốn chẳng có, nhằm nhận biết thuận tiện, nên lập ra danh từ giả định, nhưng sáu phương chính là giả danh. Tuy chẳng có chỗ nhất định, nhưng có các phương giả định. V́ thế, nơi mặt đất có nơi giả định là Đông, Tây, như địa cầu tự xoay quanh nó, chỗ nào hướng về phía mặt trời th́ gọi là Đông, bất luận ba nước Mỹ, Trung, Nhật, đều thấy mặt trời xuất hiện trước hết từ phương Đông. Bầu trời có phương hướng Đông, Tây giả định. Như đối với Thái Dương hệ trong vũ trụ, lấy mặt trời làm trung tâm. Đă ấn định một trung tâm, th́ sẽ có bốn phương, trên, dưới, nhưng vũ trụ chẳng có ngằn mé. Đối với một thế giới trong Thái Dương hệ, liền gọi sáu phía của mặt trời là sáu phương. Nhưng trong Thái Dương hệ, có vô số tinh cầu, đều tự xoay chuyển quanh mặt trời, mỗi tinh cầu có quỹ đạo riêng. Tinh cầu xoay trên quỹ đạo cố định, nên phương hướng cũng đều có nhất định, tiêu chuẩn là như thế, há c̣n ngờ chi nữa?

 

      * Hỏi: Người tu hành lúc mạng chung cần phải để sau tám giờ mới có thể dời động (v́ khi ấy thần thức c̣n chưa ĺa khỏi [xác thân]). Nếu không, [người đă chết do bị dời động] sẽ cảm thấy đau khổ, sợ bị đọa nhập lục đạo (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, Tu La, người, trời), không thể sanh về Tây. Chiếu theo lẽ này, suy ra người chẳng được chết tốt lành bèn có đau khổ. Hễ có đau khổ, sẽ chẳng thể sanh về Tây. Đời người khó bảo đảm sẽ chết tốt lành, vậy th́ thường ngày siêng tu khổ luyện, há chẳng phải là lăng phí tâm huyết, nhọc nhằn tốn công ư? (Liêu Thanh Hoa hỏi)

     

Đáp: Người chẳng chết tốt lành th́ gọi là “hoạnh tử” (chết ngang xương). Đấy là một thứ nhân duyên ác, có thể chướng đạo. V́ thế, hành giả hăy nên coi trọng phước huệ song tu. Tuy huệ là căn bản để chứng đạo, nhưng phước có thể làm trợ duyên trừ chướng, [phước lẫn huệ] đều chớ nên thiên lệch. Nhưng bậc đại tu hành thông đạt giáo tướng, liễu ngộ tâm tánh, sẽ có thể chẳng khổ, chẳng vui, dẫu gặp ác duyên vẫn chẳng dấy lên phiền năo, tức là [những ác duyên ấy] chẳng trở ngại sự thành tựu, chứng đắc vậy!

 

      * Hỏi: Đức Phật nói Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng có thân nữ, chỉ có điều là trong tượng Tây Phương Tam Thánh, v́ sao Quán Âm và Thế Chí Bồ Tát thị hiện thân nữ, mong hăy khai thị! (Hạ Trấn Hoa hỏi)

 

      Đáp: Cách tạc tượng Bồ Tát có [h́nh tướng] xuất gia và tại gia khác biệt. Đầu tṛn, áo ca-sa là h́nh tượng xuất gia, như hai vị tôn thánh Di Lặc và Địa Tạng. Để tóc, đeo anh lạc, chính là h́nh tượng tại gia, như hai vị tôn thánh Văn Thù và Phổ Hiền trong hội Hoa Nghiêm. Hai vị tôn thánh trong cơi Tây Phương là Quán Âm và Thế Chí cũng mang h́nh tượng tại gia, trọn chẳng phải là thân nữ. Nhưng đấy đều là phương tiện tạc tượng, thật ra nam là tương phản của nữ; đă không có nữ, cần ǵ nói đến nam? Nhằm lợi sanh mà hóa thân đó thôi!

 

* Hỏi: Linh quang trong lục đạo là đến đi, bất sanh, bất diệt. Cớ sao hai ngàn năm trước dân số và các loài trùng nhiều hơn nhân loại và các loài trùng hiện thời từ mấy chục lần trở lên? Chẳng biết những thứ linh quang ấy từ chỗ nào mà xuất sanh? Kính xin cụ hăy khai thị. (Tâm Dung hỏi)

     

      Đáp: Đă từng có nhiều người hỏi về vấn đề này, tôi đă trả lời nhiều lượt. Xin hăy t́m đọc trong bộ Vấn Đáp Vựng Biên do tạp chí này ấn hành sẽ biết rơ.

 

* Hỏi: Ngoại giáo tà đạo có dùng một loại phù chú khiến cho con người mê mất tinh, khí, thần, vậy th́ Phật giáo phải dùng loại chú ngữ nào để đối phó phù chú của ngoại giáo? (Tâm Dung hỏi)

 

      Đáp: Nếu xét theo Mật Tông, pháp môn rất nhiều, mỗi môn đều có công dụng chuyên biệt. Nếu nói theo Hiển Giáo, nếu như tâm đă định, hễ định ắt sanh quang, tà làm sao có thể xâm phạm được? Nếu khởi lên sự giác chiếu, sẽ là huệ kiếm kim cang, không tà nào chẳng bị đập nát. Nếu chẳng thể nhiếp tâm nơi Định, hăy xét xem ta thường tŕ tụng nhuần nhuyễn một chú nào, tụng lên sẽ có thể đối trị, hoặc dùng một câu vạn đức hồng danh cũng có thể tiêu trừ.

 

      * Hỏi: Đại đức đôi ba lượt nhấn mạnh tu pháp môn Đại Thừa cần phải phát đại tâm, thượng cầu, hạ hóa, đủ chứng tỏ đại đức hành đại Bồ Tát đạo. Nhưng độ chúng sanh cần phải có đại trí huệ và trọn đủ các điều kiện kha khá, chẳng phải là hạng phàm phu tầm thường mà ḥng thỏa nguyện trong một đời này! Khi tuyên giảng kinh Di Đà, đại đức đă từng khai thị: Phát nguyện sanh Tây th́ đă bao gồm Tứ Hoằng Thệ Nguyện. Như vậy th́ chỉ phát một nguyện sanh Tây, sau khi đă sanh Tây bèn thừa nguyện tái lai th́ đă bao gồm độ chúng sanh vậy! Nhưng có người nói: “Nếu chẳng thể độ chúng, lợi sanh, tuyệt đối chẳng thể văng sanh cơi Tây Phương”. V́ thế, tôi cứ lẩn quẩn, sợ ảnh hưởng đến tín tâm của kẻ sơ học. (Mạnh Hiếu Quang hỏi)

 

      Đáp: Đại Thừa có nghĩa là tự ḿnh và người khác đều được lợi. Trái nghịch điều ấy, há đáng gọi là Đại Thừa? Người tu ắt phải có đại trí huệ, chuyện này bất quá là đạt được hiệu quả rộng lớn. Nếu như vô trí mà có nguyện, thâu được hiệu quả tuy ít, nhưng nguyện bèn to. Thường hành nguyện ấy, bổn trí sẽ khai. Xét theo sự là có chịu làm hay không? Bi tâm có phát khởi hay không? Ư chỉ của việc tu Tịnh Độ sanh Tây là nhằm đoạn Biến Dịch sanh tử, Nhất Sanh Bổ Xứ; chẳng hành hai điều lợi (tự lợi và lợi tha) th́ dùng ǵ để phá Trần Sa và Vô Minh? Nếu chẳng phát nguyện “thừa nguyện tái lai”, cổ đức nói “Nhị Thừa chẳng thể sanh”. Nếu y theo lệ mà niệm và nguyện, nhưng trong tâm chẳng có [niệm và nguyện ấy], tức là đă dối Phật, lại c̣n tự gạt ḿnh. Lại nữa, “có kẻ nói chẳng độ chúng, lợi sanh, sẽ chẳng thể văng sanh”, tất nhiên là lời trung thực, cớ ǵ phải quẩn quanh lo âu? Gặp dịp bèn khuyên người khác niệm Phật, đấy chính là độ chúng. Tu tŕ với ư định sẽ v́ họ mà tái lai, đó chính là lợi sanh. Hai điều ấy có khó khăn ǵ?

 

      * Hỏi: Chúng ta sắp chết liền hôn mê, bất tỉnh. Đă hôn mê, dẫu công phu tŕ danh thường nhật sâu xa, vẫn chẳng thể chánh niệm, há chẳng phải là đă phí công tu tŕ suốt cả một đời ư? (Ngô Mậu Tùng hỏi)

 

      Đáp: Người công phu sâu biết trước lúc mất, lúc lâm chung như nhập Thiền Định. Thần thức hôn mê, không thể chánh niệm, tức là thường ngày dụng công chẳng sâu. Tuy vậy, người công phu sâu thường ít, cho nên có tổ chức Trợ Niệm Đoàn, có thể bổ cứu [khuyết điểm ấy]. Đó là điểm đặc thù của pháp môn Tịnh Độ.

 

      * Hỏi: Trong bài Nghiên Cứu Vấn Đề Sanh Tử, nơi trang sáu mươi hai có ghi: “A Di Đà Như Lai chính là để miêu tả tư thái thuyết giáo giả thiết của Phật Thích Ca trong năm mươi năm [mà tạo ra]. Thích Ca chính là tên gọi của thái tử Tất Đạt Đa giáng sanh từ hơn hai ngàn năm trước, trong lịch sử thật sự có nhân vật này… Chuẩn theo đó, Tây Phương Cực Lạc thế giới và thuyết văng sanh cũng đều là hư vọng, pháp môn Tịnh Độ cũng là dùng vọng để hướng dẫn vọng. Bởi lẽ, những chuyện trên đây (thế giới Cực Lạc, văng sanh, pháp môn Tịnh Độ) đều do Phật Di Đà mà có. Nay Phật Di Đà đă là hư vô, làm sao có những chuyện khác cho được!” Hậu học đọc điều này, cảm thấy rất kinh sợ, mê hoặc; cầu thỉnh cụ hăy chỉ dạy đường nẻo nơi chốn mê! (Liêu Thanh Hoa hỏi)

 

      Đáp: Kẻ hư vọng, gă ngây ngốc, chỗ nào cũng đều có. Đọc sách Nho bèn hủy Nho, tụng kinh Phật mà báng Phật, từ xưa đă có nhiều trường hợp, chẳng có ǵ lạ cả! Sách ấy do một người Nhật biên soạn, [hắn ta có] nhận thức về giáo pháp rất nông cạn, thuần dùng tri kiến sanh tử để ḍ lường biển viên giác! Dường như đối với lư “vô pháp tướng, vô phi pháp tướng, chẳng thực, chẳng hư, Tam Đế, Tam Quán”, hắn ta đều chẳng nghe tới, nên mới chê trách đức Thế Tôn dùng vọng để hướng dẫn vọng! Nhưng kẻ tin th́ cứ tin, kẻ hủy báng cứ hủy báng, ai nấy có tự do, ai nấy có nhân quả riêng. Cư sĩ là người sơ học, từ nay trở đi, chỉ nên tuân thủ giáo huấn “y pháp, bất y nhân”, tiến lên phía trước, chẳng đâm quàng ngơ rẽ. Nếu đă đạt đến chỗ có ngộ nhập đôi chút, sẽ có lúc quay đầu cười x̣a. Bản tiếng Hán của sách ấy vốn dịch từ nguyên tác, chẳng chịu trách nhiệm về sự phát ngôn!

 

      * Hỏi: Bà La Môn là một dân tộc tại Ấn Độ; kinh Địa Tạng nói: “Trong quá khứ chẳng thể nghĩ bàn A-tăng-kỳ kiếp, lúc ấy có Phật, hiệu là Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, trong thời Tượng Pháp, có một cô gái Bà La Môn…” Cứ hai mươi tiểu kiếp là một trung kiếp, lại bao gồm bốn trung kiếp Thành, Trụ, Hoại, Không mới là một đại kiếp. A-tăng-kỳ kiếp dịch là Vô Lượng Kiếp. V́ lẽ ǵ trước kia địa cầu đă hoại bao nhiêu lần mà hăy c̣n có chủng tộc Bà La Môn? (Lại Đống Lương hỏi)

 

      Đáp: Tuy Bà La Môn là một chủng tộc của Ấn, nhưng thuộc về giáo pháp tu phạm hạnh. Từ kiếp xa xôi trước đă có Phật Đà, đều có những giáo ở ngoài Phật giáo. Trên thế giới, trong khoảng từ cuối kiếp Thành tới đầu kiếp Hoại, tự nhiên là phải có động vật nương ở và văn hóa, tôn giáo…. Thật sự có những chuyện ấy, trọn chẳng có ǵ là lạ!

 

      * Hỏi: Trong các thứ cúng dường, cúng Phật tối thắng. Đức Phật ngự tại Kỳ Viên, có lần, ngài Xá Lợi Phất đem một bát cơm cúng Phật. Đức Phật thấy bên cạnh có con chó, liền chuyển thí bát cơm ấy cho con chó ăn, đồng thời, đức Phật hỏi ngài Xá Lợi Phất: “Ngươi đem cơm cúng cho ta, ta đem cơm ấy thí cho chó, ai được phước lợi nhiều hơn?” Ngài Xá Lợi Phất thưa: “Bố thí cho chó, được phước lợi nhiều”, đức Phật liền ấn khả. Điều này có nghĩa là như thế nào? (Lại Đống Lương hỏi)

 

      Đáp: Ngoài là phước điền, Phật là phước điền tối thắng. Trong là tâm điền, từ bi b́nh đẳng là điều tối thắng trong tâm điền. Nếu v́ cầu phước mà bố thí, phước đức thu được do cái tâm riêng tư ấy sẽ ít ỏi. V́ thương xót mà bố thí, phước đức thu được do công tâm sẽ là bậc nhất. Ngài Xá Lợi Phất cúng Phật là hướng về phước điền cầu phước, Phật bố thí chó là từ trong nội tâm khởi ḷng bi. So giữa hai đằng, khởi ḷng bi thù thắng hơn cầu phước.

 

      * Hỏi: Từ xưa cao tăng hoặc cư sĩ thường dùng lửa tam-muội để đốt thân, chẳng biết phun ra lửa tam-muội như thế nào? (Lại Đống Lương hỏi)

 

      Đáp: Chuyện này rất ít, trọn chẳng phải là thường xuyên. Đă nói là lửa tam-muội th́ phải là do Chánh Định thành tựu mà đạt được. Thường thấy trong kinh nói các vị La Hán nhập Thủy định, hoặc Hỏa định, hoặc bay trên hư không, phun ra nước, phun ra lửa, đều là sức thần thông từ Định mà có. Nếu cư sĩ thành tựu nơi Định, nước lửa tự nhiên sẽ như ư.

 

      * Hỏi: Kinh Tứ Thập Nhị Chương có nói dâng cơm lên ngàn ức chư Phật trong ba đời, chẳng bằng dâng cơm cho một người vô niệm, vô trụ, vô tu, vô chứng. Phàm người vô niệm, vô trụ, vô tu, vô chứng, cao nhất cũng chẳng thể vượt hơn Phật; v́ sao dâng cơm cho một ngàn ức ba đời chư Phật, vẫn chẳng bằng dâng cơm lên một người vậy? (Lại Đống Lương hỏi)

 

      Đáp: Giáo nghĩa có Tạng, Thông, Biệt, Viên. Công năng của Tạng Giáo chẳng bằng Viên Giáo. “Ba đời chư Phật” ở đây là nói đến [quả vị Phật trong] Tạng Giáo, c̣n vô tu vô chứng là nói tới [quả vị Phật trong] Viên Giáo. Lại c̣n có một nghĩa mà cư sĩ phải thể hội, tham thấu: Vô niệm, vô trụ, vô tu, vô chứng là ǵ vậy?

 

      * Hỏi: Đối với Phật học, tiên sinh Lương Khải Siêu có nghiên cứu kha khá. Trong bài Giáo Lư Phật Giáo Nguyên Thủy Ấn Độ, ông ta từng cực lực chê trách thuyết “linh hồn đầu thai biến thành lợn, thành ngựa”, cho rằng đó chẳng phải là Phật lư. Đấy có phải là phủ nhận lục đạo luân hồi hay chăng? Lại dựa trên quan điểm của thuyết Tiến Hóa Luận, trước khi nhân loại xuất hiện trên địa cầu, trước hết là có các động vật bậc thấp, trước động vật lại có thực vật, vậy th́ lục đạo luân hồi do đường nào mà dấy lên? (La Kiếm Nhân hỏi)

 

      Đáp: Đạo học Phật có tiêu chuẩn Tứ Y. Muốn học Phật pháp, hăy nên nương theo Thánh Ngôn Lượng. Hăy nên biết vạn pháp duy tâm, chỉ là mê và ngộ. Hễ mê, bèn hiện lục đạo, như thường nói “trong mộng rành rành phô sáu nẻo”. Ngộ th́ hết thảy tịch diệt, như đă nói “giác rồi ba cơi rỗng toang hoang”. Theo như kinh A Hàm đă chép, đức Thế Tôn từ nhiều kiếp trước cũng từng luân chuyển trong lục đạo, lẽ nào lại nói [lục đạo luân hồi] chẳng có? Tôi trộm cho rằng Lương tiên sinh nói lời ấy chắc là nhằm phù hợp trào lưu trong chốc lát ḥng duy tŕ Phật pháp, là một thứ phương tiện khổ tâm mà thôi. C̣n như lập thuyết của Tiến Hóa Luận, bất quá là câu nệ vào một giai đoạn, nghiên cứu sự phát sanh và tiến hóa của một loài nào đó mà thôi! Há chẳng biết thế giới vô lượng, thần thức (linh hồn) đầy ắp không trung, cái này đến, cái kia đi, biểu hiện thành Thành, Trụ, Hoại, Không. Nếu tầm mắt hạn hẹp, chỉ nh́n trong phạm vi địa cầu, há có thể nói thông suốt được ư?

      Ghi thêm: Vấn đề này đă được giải đáp nhiều lần, xin hăy tra duyệt bộ Vấn Đáp Loại Biên.

 

* Hỏi: Nghe nói từ tro xương của bà vợ ông Đổng Sự Châu Bang Đạo nhặt được hơn ba trăm hạt xá-lợi, có thật hay không? Xá-lợi nhiều như vậy có nhất định sanh về Tây hay không? (Chu Ấu hỏi)

 

      Đáp: Việc này là xác thực, tổng cộng là ba trăm tám mươi mấy viên. Khi thâu nhặt, có người ở Đài Trung hiện diện đích thân chứng kiến, được cất giữ trong b́nh hiện thời hăy c̣n, có thể kiểm chứng. Có xá-lợi, cố nhiên là đă khó có, lại c̣n có Phật hiện, thấy quang minh, c̣n có nhiều tướng lành nữa. Kẻ hèn này tuy là phàm phu, chẳng thể biết [đích xác] chỗ bà ta quay về, nhưng xét theo các kinh luận, lấy lời tiên đức làm chứng, do thấy những chuyện đă hiện ấy, bà ta đă văng sanh cơi sen chẳng c̣n ngờ ǵ!

      Phật Học Vấn Đáp Loại Biên

Quyển Trung

Phần 1 hết

 



[1] Theo Đông Phương Sóc Truyện trong Hán Thư: Thời Hán Hiếu Vũ Đế (Lưu Triệt), cái chuông đồng treo trước cung Vị Ương tại kinh đô Lạc Dương vô duyên vô cớ ngân vang suốt ba ngày ba đêm không ngớt. Vua hỏi Thái Sử Vương Tố, ông Tố nói: “Sợ rằng sẽ có chiến tranh”. Hỏi đến Đông Phương Sóc, Sóc tâu: “Thần nghe nói đồng là con của núi, núi là mẹ của đồng. Nói theo sự ḥa hợp giữa âm dương, mẹ con tương cảm, chắc là có núi sụt, nên chuông mới ngân vang trước, sẽ có chuyện tương ứng trong ṿng năm ngày”. Đến ngày thứ ba, thái thú Nam Quận dâng biểu tâu núi lở liên tiếp suốt hai mươi mấy dặm. Về sau, người ta thường dùng thành ngữ “Đồng sơn Tây băng, Lạc chung Đông ứng” để diễn tả sự cơ cảm tương ứng. Hán Thư c̣n gọi là Tiền Hán Thư là một bộ sử do Ban Cố biên soạn vào đời Hán. Thoạt đầu bộ Sử này do Ban Bưu khởi xướng, nhưng người hoàn thành những phần chủ yếu là Ban Cố. Về sau, Ban Cố phải theo Đậu Hiến đánh Hung Nô, do liên quan đến vấn đề phe phái tranh giành quyền bính trong triều đ́nh, bị bỏ tù, chết trong ngục. Hán Ḥa Đế sai em gái Ban Cố là Ban Chiêu (Tào Đại Gia) hoàn tất Hán Thư với sự giúp đỡ của Mă Tục.

[2] Ngài Trúc Đạo Sanh (372-434) là một vị cao tăng thời Đô người Tấn, là người xứ Bành Thành (nay là huyện Đồng Sơn, tỉnh Giang Tô), có họ ngoài đời là Ngụy, thuộc ḍng dơi thư hương. Sư thông minh mẫn tiệp từ bé. Năm Sư lên bảy tuổi, pháp sư Trúc Pháp Thải giảng kinh Phóng Quang Bát Nhă ở chùa Ngơa Quan (Kiến Khang), Sư nghe giảng, tỉnh ngộ, bèn xin xuất gia, đổi theo họ của thầy nên được gọi là Trúc Đạo Sanh. Mười lăm tuổi, do nghiên cứu Phật lư tinh chuyên, Sư có thể đăng đài giảng pháp, biện bác rành mạch, các danh sĩ, học tăng nổi tiếng thời ấy không thể bắt bẻ được. Vào năm Long An nguyên niên (397), Sư vào Lư Sơn tiềm tu bảy năm, học giáo nghĩa Nhất Thiết Hữu Bộ với ngài Tăng Già Đề Bà. Đến năm 32 tuổi, Sư lại đến Trường An, cùng với các bạn như Huệ Dục, Huệ Quán, Huệ Nghiêm v.v… theo học Bát Nhă Trung Quán với ngài Cưu Ma La Thập, và cũng tham gia dịch trường để dịch kinh Đại Bát Nhă. Sư chủ trương “yếu quyết nhập đạo, lấy huệ giải làm gốc”, chẳng câu nệ từng câu kinh. Sư đề xướng “Nhất Xiển Đề cũng có thể thành Phật”. Thời ấy do kinh Đại Bát Niết Bàn chưa truyền vào Trung Quốc, Phật giáo hoàn toàn chẳng có quan niệm ấy, nên tăng tục đương thời coi Sư là người tuyên truyền dị thuyết, kịch liệt phản đối, tẫn xuất Sư ra khỏi kinh đô. Sư vào ẩn trong núi Hổ Khâu ở Tô Châu, vạn phần cảm khái, giảng pháp trong đồng hoang, coi những tảng đá ngổn ngang là thính chúng. Có lần Sư cao giọng hỏi: “Chúng sanh đều có Phật Tánh, vạn vật cũng có Phật tánh, các ngươi cũng có Phật tánh, lẽ nào Nhất Xiển Đề chẳng có Phật tánh ư? Ta nói pháp này có khế hợp Phật tâm hay chăng?” Các tảng đá chung quanh đều gật gù, tỏ ư tán thành.

[3] Thuyết này phát xuất từ một cuốn tiểu thuyết của ông Nicholas Notovitch xuất bản vào năm 1894 có tựa đề The Unknown Life of Jesus Christ. Theo đó, Notovitch tuyên bố ông ta t́m thấy các tài liệu trong tu viện Tây Tạng nói thánh Issa từ Do Thái đến Ấn Độ vào năm 12 tuổi để nghiên cứu kinh Veda. Bị các tu sĩ Bà La Môn gây khó dễ, ông ta phải sang Tây Tạng nghiên cứu Phật học. Issa chính là biến âm của chữ Jesus! Thuyết này được Janet Bock viết lại thành tác phẩm The Jesus Mystery, và được những nhà “huyền bí” lặp lại như Edgar Cayce, Bhagwan Shree Rajneesh và Sai Baba, nhưng họ đều quên một chi tiết rất quan trọng: Đạo Phật chỉ truyền vào Tây Tạng kể từ thế kỷ thứ bảy! Một tác giả khác là J.A. Douglas đă t́m đến tận tu viện được nhắc đến trong tác phẩm của Notovitch và được lạt-ma tu viện trưởng cho biết trong chùa chẳng có cuốn sách hay văn bản nào nhắc đến thánh Issa cả!

[4] Tân thuyết là thuyết của giới nghiên cứu Âu Tây về niên đại giáng sanh của Thích Ca Mâu Ni Phật, c̣n cựu thuyết là thuyết của Phật giáo Trung Hoa nói đức Phật giáng sanh vào đời Châu, cùng thời với Khổng Tử.

[5] Chí () là một phần của bộ Sử, trong khi Bản Kỷ (本紀), Liệt Truyện (列傳), và Biểu () chú trọng ghi chép về các sự kiện lịch sử và hành trạng của một nhân vật lịch sử, Chí ghi chép những diễn biến trong chế độ xă hội và học thuật. Ngũ Hành Chí (五行志) là một phần của Chí trong một bộ sử chủ yếu ghi chép những chuyện lạ thường trong một triều đại.

[6] Canh mễ (秔米,粳米) là một loại gạo chín muộn và ít nhựa. Có thuyết nói là tên chung của các loại gạo tẻ, một số cho rằng loại này tương tự như lúa tám cánh của ta.

[7] Không rơ ngồi Canh Th́n (庚辰) là cách tu luyện như thế nào, nhưng xét theo ngữ khí và văn cảnh, chắc chắn đây là một phép thổ nạp luyện Tinh, Khí, Thần của bọn luyện đan, nên người hỏi mới nói “ngồi Canh Th́n th́ mới có thể thành đạo”.

[8] Bom Cobalt là một loại bom theo lư thuyết thường được coi là nguy hiểm nhất, xếp vào loại “Salted bomb”, nghĩa là khi nổ, nó sẽ tung ra vô số mảnh vỡ mang chất phóng xạ, khiến cho cả một khu vực rộng lớn bị nhiễm phóng xạ. Khái niệm này do vật lư gia Leó Sizlárd đưa ra vào tháng Hai năm 1950. May mắn là cho đến nay, sau các thí nghiệm thất bại, không ai theo đuổi ư tưởng này nữa. Theo nguyên tắc, kim loại Cobalt thông thường (có nguyên tử lượng là 59) sẽ được nhồi vào bom nguyên tử. Khi bom nổ, các trung ḥa tử (neutron) sanh ra từ vụ nổ sẽ chuyển hóa Cobalt thông thường thành đồng vị (isotope) của nó có nguyên tử lượng là 60. Sau đó, hơi cobalt sẽ đông lại rơi xuống và trở thành các vật liệu mang tính phóng xạ. Do bản chất nguy hiểm của loại bom này, các tiểu thuyết hoặc phim viễn tưởng thường nói đến chuyện nhân loại và thế giới bị hủy diệt do sử dụng bom Cobalt.

[9] “Bản thể” ở đây là nói tới chúng sanh được sống trong một môi trường nào đó. V́ ông Tông Thụy Tích cho mặt trăng không có chúng sanh (động vật) tồn tại th́ làm sao nó có thể hiện tướng, cụ Lư Bỉnh Nam bèn lập luận, nói như vậy th́ mặt trời hiện diện là v́ có chúng sanh sống trong mặt trời (mặt trời sẽ gọi là bản thể đối với chúng sanh ấy), nước tồn tại là v́ có chúng sanh sống trong nước. Nếu vậy th́ lẽ ra chúng sanh sống trên đất liền ở ngoài nước phải là chẳng thấy nước th́ mới đúng lư chớ?

[10] Người Hoa gọi Công giáo là Thiên Chúa giáo, c̣n các tôn giáo tin thờ Chúa Trời và Jesus ở ngoài Công giáo (như Giáo Hội Cải Cách, Tin Lành, Chính Thống Giáo...) th́ gọi là Cơ Đốc giáo.

[11] “Khí thế gian” (器世間) là danh từ phiếm chỉ các vật chất, chẳng phải là sinh vật.

[12] Đây là một thành ngữ, xuất phát từ Tả Truyện: “Phan Đảng tâu với Sở Trang Vương: ‘Thần nghe nói chiến thắng quân địch, ắt phải phô trương cho con cháu biết để chúng nó không quên vơ công hiển hách của cha ông’. Sở Trang Vương nói: ‘Phi nhĩ sở tri dă, phù văn, chỉ qua vi vũ” (ông đâu có biết, thường nghe nói, dứt đao binh mới là vơ công thật sự). Các nhà chú giải giảng câu này có nghĩa là: Vua Sở chê Phan Đảng (quan đại phu của nước Sở thuở ấy) chỉ biết kiêu ngạo một thời, chữ Vũ () do chữ Chỉ () và Qua () hợp thành, có nghĩa là phải chấm dứt (Chỉ) sử dụng vũ khí (Qua là ngọn giáo, một thứ vũ khí phổ biến trong chiến tranh thời cổ), đó mới là nghệ thuật tối cao trong sử dụng vũ lực.

[13] Ở đây, người hỏi đă lẫn lộn giữa Tôn Vũ và Tôn Tẫn. Tôn Vũ (孫武) thường gọi là Ngô Tôn Tử là một nhà quân sự đại tài, được coi là hậu duệ của vua Thuấn. Họ Tôn chính là hậu duệ của Điền Hoàn (công tử Hoàn nước Trần). Tề Vương phong cho Điền Thư (cháu năm đời của Điền Hoàn) đất Lạc An và đổi họ Điền thành họ Tôn. Điền Thư là ông nội của Tôn Vũ. Do nội loạn, Tôn Vũ mang gia đ́nh sang Cô Tô (kinh đô của nước Ngô), ông có mối giao t́nh mật thiết với Ngũ Tử Tư. Ngũ Tử Tư tiến cử Tôn Vũ lên Ngô Vương Hạp Lương, dâng lên mười ba thiên binh pháp rất được vua Ngô tán thưởng, phong làm thượng tướng quân. Chiến công lẫy lừng nhất của ông là vào năm 510 trước Công Nguyên, chỉ với ba vạn quân, ông đă đánh bại mười sáu vạn quân của nước Việt. Tôn Tử Binh Pháp cho đến hiện thời vẫn được coi là cuốn binh thư lừng lẫy nhất trong giới quân sự. Tôn Tẫn c̣n gọi là Tề Tôn Tử, chính là cháu nội của Tôn Vũ, không rơ tên thật là ǵ. Do bị bạn học là Bàng Quyên hăm hại, vu oan, Tôn Tẫn bị vua Ngụy hạ lệnh chặt chân, khắc chữ lên mặt, nên mới có tên là Tôn Tẫn (孫臏). Về sau được sứ giả nước Tề giúp đỡ mới trốn khỏi nước Ngụy. Sang đến Tề, ông được vua Tề phong là Quân Sư, ông ngồi trong xe kín, đánh bại quân Ngụy nhiều lần. Tôn Tẫn cũng viết binh pháp nhưng hiện thời chỉ c̣n ba mươi thiên.

[14] Ngoại đạo dựa hơi Phật giáo không hiểu truyền tâm ấn là ǵ, thường nghĩ tâm ấn là một thứ pháp lực có thể trao truyền, nên bày ra những kiểu cách hoang đường như đóng cửa, không cho ai vào, thầy truyền tâm ấn, trực chỉ tâm tánh cho tṛ, kẻ khác không được nghe lén. Thậm chí “Vô Thượng Sư” của một tà phái c̣n tuyên bố: “Sư phụ truyền tâm ấn sẽ có thể lấy lại”.

[15] “Điểm khiếu” (點竅) là biến tướng của cái gọi là “truyền tâm” hay “truyền tâm ấn” trong các tà đạo. Tṛ vào pḥng kín, phơi bày thân thể, thầy sẽ trực tiếp điểm vào những chỗ được coi là có huyệt vị trọng yếu nhằm khai mở Luân Xa, hoặc đả thông sanh tử huyền quan v.v…

“Phong Tiên” (封仙) là thầy đặt cho tṛ một danh hiệu nào đó, thường là dựa trên cơ bút để sắc phong những người có chức sắc (đôi khi c̣n gọi là “thiên phong”), gọi họ là hóa thân của vị tiên hay thánh nào đó, hoặc nói họ sau khi mất sẽ thành vị tiên có danh hiệu nào đó.

“Phù Thủy” (符水) ở đây là vẽ bùa, xong đốt lấy tro vào ḥa nước cho người bệnh uống.

[16] Tam Quan Đại Đế (c̣n gọi là Tam Nguyên Đại Đế) là ba vị thần chưởng quản thiên đường, địa ngục, và biển cả trong Đạo Giáo, bao gồm Thiên Quan, Địa Quan và Thủy Quan. Ngày lễ của ba vị thần này tương ứng với Rằm tháng Giêng, Rằm tháng Bảy và Rằm tháng Mười, và thường được biết dưới danh xưng lễ Thượng Nguyên, Trung Nguyên và Hạ Nguyên, v́ Đạo Giáo đă phong cho các vị thần này các danh hiệu lần lượt có những chữ ấy. Chẳng hạn như Thiên Quan Đại Đế có danh xưng đầy đủ là Thượng Nguyên Nhất Phẩm Cửu Khí Tứ Phước Thiên Quan Diệu Linh Nguyên Dương Đại Đế Tử Vi Đế Quân. Thường gọi đơn giản hơn là Thượng Nguyên Nhất Phẩm Tứ Phước Thiên Quan Tử Vi Đại Đế, Trung Nguyên Xá Tội Địa Quan Thanh Hư Đại Đế và Hạ Nguyên Giải Ách Thủy Quan Động Âm Đại Đế. Dân gian cho rằng Thiên Quan Đại Đế là vua Nghiêu, Địa Quan là vua Thuấn, c̣n Thủy Quan là vua Vũ. Đạo Giáo c̣n có thuyết Tam Quan là do khí của Tam Thanh hóa ra, chẳng hạn khí của Nguyên Thỉ Thiên Tôn hóa thành Thiên Quan, Linh Bảo Thiên Tôn hóa thành Địa Quan, Đạo Đức Thiên Tôn hóa thành Thủy Quan.

[17] Địa Mẫu (Địa Mẫu Nguyên Quân, Hậu Thổ Phu Nhân, Hư Không Địa Mẫu Chí Tôn) chính là nữ thần đất theo quan niệm mẹ đất được nhân cách hóa (địa cầu được nhân cách hóa) thống lănh toàn bộ các thần thổ địa (thần trông coi một cuộc đất). Đây chính là vị thần thường được gọi là Hậu Thổ trong các cổ thư thời Tiên Tần. Đạo Giáo c̣n gọi Địa Mẫu là Hậu Thổ Nương Nương, nhưng tại Đài Loan, Hậu Thổ lại được hiểu là vị nam thần, cai quản một khu vực đất đai, nhất là nơi phần mộ, trong khi Địa Mẫu là mẹ đất, sanh thành muôn loài. Có thuyết nói Địa Mẫu chính là Nữ Oa.

[18] “Phương sĩ” (方士) là danh xưng để gọi những kẻ thực hành Phương Thuật, tức là các phương thức dưỡng khí, bế tinh, thổ nạp, luyện đan v.v… nhằm đạt đến trường sanh bất lăo, hoặc thành tiên bay lên trời v.v…

[19] Trấm () là một loài chim cực độc trong truyền thuyết, thường được mô tả là thân đen, mắt đỏ, toàn thân phủ đầy lông đen ánh tía, thích ăn rắn. Lông của nó kịch độc, chỉ cần một cái lông rớt xuống nước, nước sẽ biến thành chất độc.

[20] Bành Sanh họ Khương, là quan đại phu nước Tề. Năm 694 trước Công Nguyên, Lỗ Hoàn Công (Cơ Doăn) và vợ là Văn Khương sang thăm nước Tề, Văn Khương tư thông với anh trai là Tề Tương Công (Khương Chư Nhi), bị Lỗ Hoàn Công biết được. Lúc Lỗ Hoàn Công quay về, Tề Tương Công sai Bành Sanh ngồi cùng xe với Lỗ Hoàn Công để thừa dịp giết chết Lỗ Hoàn Công. Khi bị nước Lỗ hạch hỏi, Tề Tương Công trút hết trách nhiệm cho Bành Sanh rồi sai người giết chết. Năm 686 trước Công Nguyên, Tề Tương Công đi săn gặp một con lợn rừng giống người, tả hữu đều nói là công tử Bành Sanh. Tề Tương Công nổi cáu, bắn một mũi tên, con lợn rừng đứng thẳng người lên, gào to. Tề Tương Công kinh hoảng, đánh mất một chiếc giày. Tối hôm ất, bọn Liên Xứng và Quản Chí Phụ vào cung giết chết Tề Tương Công.

[21] Đỗ Bá là hậu duệ của Đan Châu (con vua Nghiêu), là đại thần của Châu Tuyên Vương (Cơ Tĩnh). Châu Tuyên Vương nghe lời thầy bói nói có một cô gái sẽ làm mất giang sơn nhà Châu bèn hạ lệnh giết rất nhiều phụ nữ và bé gái. Đỗ Bá can gián, nhưng Châu Tuyên Vương không nghe, giết chết Đỗ Bá. Con ông ta là Tử Thấp Thúc bèn trốn sang nước Tấn, được phong chức Sĩ Sư của nước Tấn. Tử Thấp Thúc trở thành thủy tổ họ Sĩ (tức họ Phạm) sau này. Trong mộng, Châu Tuyên Vương mộng thấy Đỗ Bá bắn giết nhà vua nên kinh hăi lâm bệnh mà chết. Lệ () là tiếng để gọi ác quỷ vào thời cổ.

[22] Lễ Vận Đại Đồng là một thiên trong sách Lễ Kư, nói về khởi nguyên của lễ trong thời đại đế vương, nhắc tới hai h́nh thái xă hội là Đại Đồng và Tiểu Khang. Đại Đồng được coi là h́nh thái xă hội lư tưởng, c̣n Tiểu Khang kém cỏi hơn nhưng vẫn ít loạn lạc hơn những thời đại sau này.

[23] Thúc Tôn Vũ Thúc tên thật là Cơ Châu Cừu, là tông chủ đời thứ tám của Thúc Tôn Thị nước Lỗ, thụy hiệu là Vũ nên thường gọi là Thúc Tôn Vũ Thúc. Vào năm 498 trước Công Nguyên, Khổng Tử làm Đại Tư Khấu (tương đương với H́nh Bộ Thượng Thư sau này) nước Lỗ chủ trương “đọa Tam Đô” (dẹp bỏ Tam Đô), nhằm tập trung quyền lực về vua Lỗ, giải trừ sự chuyên quyền của Tam Hoàn. Tam Đô là thái ấp của Tam Hoàn (tức Thành Ấp của Mạnh Tôn Thị, Hậu Ấp của Thúc Tôn Thị và Phí Ấp của Quư Tôn Thị), do bị họ chống đối, nên kế hoạch ấy thất bại. Thúc Tôn Vũ Thúc căm hận Khổng Tử, thường nhiều lượt hủy báng Ngài. Nói thêm, Lỗ Hoàn Công có bốn người con trai: Cơ Đồng (về sau trở thành Lỗ Trang Công), Khánh Phụ, Thúc Nha, và Quư Hữu. Ba người sau đều được Lỗ Trang Công phong làm quan Khanh, con cháu của họ trở thành ba gia tộc lớn, lần lượt được gọi là Mạnh Tôn Thị, Thúc Tôn Thị và Quư Tôn Thị, lũng đoạn triều chính nước Lỗ. Họ liên kết với nhau khống chế triều đ́nh nước Lỗ, sử thường gọi họ là Lỗ Tam Hoàn.

[24] Quốc Phụ là danh hiệu tôn xưng Tôn Văn của người Hoa.

[25] Phương Luân (1897-1988) là một cư sĩ hữu danh của Phật giáo Trung Quốc, tác giả của bộ sách nổi tiếng Duy Thức Tam Tụng Giảng Thoại. Ông là người huyện Lâm Sâm, tỉnh Phước Kiến. Ông Phương từng tốt nghiệp trường đào tạo sĩ quan hải quân, được thăng đến chức vụ Thiếu Hiệu của Hải Quân Trung Hoa Dân Quốc. Năm 1949, ông Phương theo chính phủ sang Đài Loan. Trong lúc c̣n tại ngũ, do đọc quyển Viên Giác Kinh Giảng Nghĩa của pháp sư Đế Nhàn, ông phát tâm tin Phật, bèn dốc sức t́m hiểu Phật pháp. Khi sang Đài Loan, ông là một trong những cây bút chủ yếu của tờ Bồ Đề Thụ. Khi tờ nguyệt san Bồ Đề Thụ mở lớp Phật học hàm thụ, đă mời Phương Luân chủ tŕ. Ông bèn biên soạn ba bộ sách Sơ, Trung Cao Cấp Phật Học Khóa Bản, lưu hành rất rộng răi. Khi pháp sư Tinh Vân lập Thọ Sơn Phật Học Viện, đă cung thỉnh ông đến dạy tại Phật Học Viện. Ông cũng thường giảng Phật pháp trên đài phát thanh Cao Hùng, và được mời giảng diễn rất nhiều nơi tại Đài Loan.

[26] Phu Nhân (夫人), Tần (), Thế Phụ (世婦), Ngự Thê (御妻) đều là những thứ bậc để phân định ngôi vị của vợ vua. Quy định này được ghi chép đầu tiên trong Châu Lễ. Theo đó, vua có tất cả một trăm hai mươi mốt vợ. Tần c̣n gọi là Hoàng Tần, Cung Tần v.v… Từ thời Tây Tấn trở đi, không c̣n danh xưng Phu Nhân mà thay bằng Quư Phi (貴妃). Đồng thời quy định rơ Cửu Tần bao gồm Thục Phi, Thục Viên, Thục Nghi, Tu Hoa, Tu Dung, Tu Nghi, Tiệp Dư, Dung Hoa, Sung Hoa, mỗi một danh hiệu có thể có nhiều người mang tước vị ấy. Đến đời Tống và Kim lại tăng thêm thành mười tám địa vị, gồm Thái Nghi, Quư Nghi, Phi Nghi, Thục Nghi, Uyển Nghi, Thuận Nghi, Thuận Dung, Thục Dung, Uyển Dung, Chiêu Nghi, Chiêu Dung, Chiêu Viện, Tu Nghi, Tu Dung, Tu Viện, Sung Nghi, Sung Dung, Sung Viện. Thế Phụ vốn là nữ quan coi sóc việc lễ nghi trong cung, hướng dẫn lễ nghi cho các cung nữ, phi tần và quan khách, dần dần trở thành vợ vua, thường gọi là Thế Phi. Thoạt đầu, Ngự Thê (c̣n gọi là Nữ Khanh) cũng là các nữ quan giúp việc cho Thế Phụ trong các lễ nghi.

[27] Nguyên văn “uổng xích trực tầm”. Uổng Xích (枉尺) là cái thước dây cuộn lại, Tầm () là tám thước. Cái thước cuộn lại chỉ dài một thước, kéo thẳng ra sẽ là một Tầm. Điều này tỷ dụ người ta có thể chịu ủy khuất nơi những tiểu tiết, tạm thời hy sinh nguyên tắc để đạt được mục đích.

[28] Thân Sanh họ Cơ là con trưởng của Tấn Hiến Công (Cơ Quỷ Chư), do Tề Khương sanh ra. Tấn Hiến Công đánh Ly Nhung, quân Ly Nhung thua trận dâng lên hai mỹ nữ là Ly Cơ và Thiếu Cơ để cầu ḥa. Tấn Hiến Công mê đắm Ly Cơ, bất chấp lời can gián, lập Ly Cơ làm phu nhân, muốn phế Thân Sanh để lập con trai của Ly Cơ là Hề Tề làm Thái Tử. Do Thân Sanh hiền năng, lập nhiều chiến công, được quần thần kính yêu, không thể phế ngay; Ly Cơ bèn lập mưu hăm hại Thân Sanh bằng cách bôi mật ong lên đầu, mời Thân Sanh vào cung theo bà ta đi dạo hoa viên. Ong kéo đến từng đàn. Ly Cơ bảo Thân Sanh giúp đuổi ong bu trên đầu, Tấn Hiến Công đứng trên gác trông thấy, ngỡ Thân Sanh đang cợt nhả với vợ ḿnh, giận lắm, kiếm cớ đuổi Thân Sanh ra Khúc Ốc trông coi tông miếu. Ly Cơ lại sai người đến nói với Thân Sanh là mộng thấy Tề Khương hiện về kêu đói, bảo Thân Sanh hăy làm cỗ cúng. Thân Sanh cúng xong, gởi rượu thịt về biếu cha, Ly Khương bèn bỏ thuốc độc vào. Khi Tấn Hiến Công sắp ăn, Ly Cơ ngăn lại, bảo đem thử trước, quả nhiên rượu thịt có độc. Tấn Hiến Công nổi giận sai người đến Khúc Ốc ép Thân Sanh tự sát. Tấn Hiến Công chết, Tuân Tức lập Hề Tề làm vua. Trong tang lễ Tấn Hiến Công, thầy của Thân Sanh là Lư Khắc bèn giết chết Hề Tề. Tuân Tức lại lập em của Hề Tề là Trác Tử lên làm vua, chẳng được mấy ngày, lại bị giết chết. Ly Cơ hoảng sợ, tự sát, Lư Khắc sai người bằm nát xác bà ta. Khi đó, Tần Mục Công đưa công tử Di Ngô (em cùng cha khác mẹ của Thân Sanh) về nước làm vua, hiệu là Tấn Huệ Công. Tấn Huệ Công giết Lư Khắc và những người chống đối. Theo lời thỉnh cầu của Giả Quân (một người vợ khác của Tấn Hiến Công), Tấn Huệ Công sai Hồ Đột cải táng cho Thân Sanh. Khâm liệm, tế bái xong xuôi, trên đường trở về, Hồ Đột thấy một đoàn xe chặn đường, trên xe Thân Sanh áo măo như khi c̣n sống, mời lên xe tṛ chuyện, bàn về t́nh h́nh nước Tấn.

[29] Dương Hỗ (221-278), tự Thúc Tử, người xứ Nam Thành, quận Thái Sơn, là một nhà quân sự lỗi lạc đời Tấn, thuộc ḍng dơi danh gia vọng tộc, cha ông đều nắm quyền to lớn, chị ruột là Dương Huy Du chính là hoàng hậu của Tấn Cảnh Đế (Tư Mă Sư). Ông làm quan đến chức Thượng Thư Tả Bộc Xạ, kiêm Trấn Nam Tướng Quân. Tấn Thư chép theo Thái B́nh Quảng Kư: Lúc ba tuổi, Dương Hỗ được mẹ ẵm đi chơi, đến gốc cây của hàng xóm bèn ṃ trong bộng cây lấy ra chiếc ṿng vàng. Người hàng xóm nói: “Con trai ta lúc bảy tuổi, té giếng chết, nó từng có chiếc ṿng vàng này”. Như vậy đứa con hàng xóm chính là tiền thân của Dương Hỗ. Tấn Thư là bộ sử được biên soạn vào đời Đường bởi Pḥng Huyền Linh và Lư Diên Thọ vào năm 648 theo mệnh lệnh của Đường Thái Tông, gồm 132 quyển, chép các sự kiện lịch sử từ triều đại nhà Tấn từ thời Tư Mă Ư (Tấn Cao Tổ) cho đến khi Lưu Dụ phế Tấn Cung Đế (Tư Mă Đức Văn) lập ra nhà Lưu Tống.

[30] Công Tôn Long (320-250 trước Công Nguyên), tự là Tử Khiêm, người nước Triệu, từng là môn khách của B́nh Nguyên Quân (Triệu Thắng), là triết gia đại biểu cho học phái Danh Gia, được coi là bậc thầy về ngụy biện. Ông ta từng lư luận ngựa trắng không phải là ngựa, và ḥn đá trắng cứng th́ không phải là đá.

[31] Nguyên văn “toản ngưu giác” là một thành ngữ ngụ ư phí công tốn sức làm chuyện vô ích, ví như sừng trâu đă rỗng sẵn, cần ǵ phải khoan rỗng sừng trâu!

[32] Tam châu thuyết pháp: Trong hội Pháp Hoa, khi giảng về Tích Môn, Phật đă nói rơ, để độ Thanh Văn chúng bèn có bốn giai đoạn là chánh thuyết (giảng giải thẳng vào pháp môn), lănh giải (đại chúng nghe hiểu), thuật thành (nêu bày sự thành tựu) và thọ kư (dự kư sẽ thành quả vị như thế nào trong tương lai). Bốn giai đoạn ấy gọi chung là một Châu. Nhưng do căn cơ có thượng, trung, hạ, nên phân thành ba châu:

1) Thuyết pháp châu: Nói thẳng vào thật lư diệu pháp khiến cho người nghe ngộ nhập Nhất Thừa.

2) Thí dụ châu: Nói các thí dụ như ba cỗ xe thoát khỏi nhà lửa, đứa con bỏ cha trốn đi… khiến cho hàng trung căn ngộ nhập Nhất Thừa.

3) Nhân duyên châu: Nói ra nhân duyên trong quá khứ như chuyện mười sáu vị vương tử thời Đại Thông Trí Thắng Phật để độ hạ căn nhập Nhất Thừa.

[33] Đức Phật bị đau đầu ba ngày là v́ vào đời quá khứ, trong một thôn làng nọ, có một ngư vương suất lănh binh tôm tướng cá sống yên vui trong sông. Dân chúng trong thôn ấy đánh bắt cá ráo riết, rốt cuộc ngư vương cũng bị bắt. Thuở ấy có năm trăm người chia nhau ăn con cá to ấy, trong thôn chỉ có một đứa trẻ không ăn cá, nhưng do hiếu kỳ nên dùng gậy đập lên đầu ngư vương ba cái. Thuở ấy, đức Phật chính là đứa trẻ ấy. Do đó, đời này Ngài bị nhức đầu ba lần, năm trăm thôn dân chính là những người thuộc họ Thích Ca, ngư vương trở thành vua Tỳ Lưu Ly trong đời này, tru diệt ḍng họ Thích Ca.

Theo Phật Thuyết Hưng Khởi Hạnh Kinh, quyển thượng: Đức Phật khất thực tại thành La Duyệt Chỉ. Có kẻ đốn gỗ cứng, có một phiến gỗ dài hai thước đặt bên cạnh dài như một cây thương, vọt thẳng đến bên cạnh Phật. Đức Phật vọt lên không, miếng gỗ ấy đuổi theo. Phật trở về Tăng pḥng, giơ đùi cho cái thương bằng gỗ ấy đâm vào. Cái thương gỗ ấy đâm vào đùi Ngài từ trên thấu xuống đất, khi chạm đất, đại địa chấn động sáu lượt. Đức Phật bèn nói nhân duyên: Đời quá khứ, Ngài làm chủ thuyền, do nước biển tràn vào, bèn tranh thuyền cùng một chủ thuyền khác, dùng mâu đâm thủng đùi người ấy, người ấy bèn chết. Do tội sát nhân, bị lănh khổ báo trong tam đồ. Đến khi thành Phật vẫn phải chịu quả báo bị hại v́ cái thương bằng gỗ.

Theo Trung Bổn Khởi Hạnh Kinh, đức Phật nhận lời thỉnh của Bà La Môn A Kỳ Đạt an cư tại nước Xá Vệ. A Kỳ Đạt bị ma loạn tâm, đắm ch́m trong dục lạc, quên bẵng cúng dường. Đệ tử khất thực cũng chẳng xin được ǵ. Khi ấy, có người huấn luyện ngựa bèn trích phần lúa mạch nuôi ngựa để cúng dường Thế Tôn và tăng đoàn nấu cháo tạm ăn cho đỡ đói cho qua ba tháng. Ba tháng an cư đă măn, A Kỳ Đạt đau buồn đến sám hối. Đức Phật bèn nói nhân duyên: Trong đời quá khứ, khi Duy Vệ Phật thành Phật trở về nước, được vua và dân chúng cúng dường rộng lớn. Khi đó, có Phạm Chí do ḷng ghen ghét, buông lời gièm xiểm: “Gă này chỉ đáng ăn lúa mạch nuôi ngựa”, nên đời này thọ báo này.

[34] Lư Đường cách gọi khác của nhà Đường (618-907) do Lư Uyên sáng lập. Gọi là Lư Đường nhằm phân biệt với những nhà Đường khác trong lịch sử, chẳng hạn nước Đường của Lưu Lũy (hậu duệ của vua Nghiêu), nước Đường của Thúc Ngu (em trai của Châu Thành Vương), sau này trở thành đất Tấn, nhà Hậu Đường do Lư Tồn Úc (thuộc thị tộc Sa Đà) sáng lập, Nam Đường do Từ Tri Hạo sáng lập, nước Đường của Lư Thiêm Bảo sáng lập vào đời Minh, hoặc nước Đường của Thái Bá Quán sáng lập (cũng vào đời Minh) v.v… Lư Uyên đặt tên cho triều đại của ḿnh là Đường v́ ông xuất thân là quư tộc thuộc nhà Bắc Châu, từ năm bảy tuổi đă được phong làm Đường quốc công (tập tước từ cha là Trụ Quốc Đại Tướng Quân Lư Bính của nhà Bắc Châu, Lư Bính mất khi Lư Uyên được bảy tuổi).

[35] Thật ra, Tâm Kinh có khá nhiều bản dịch như sau:

1) Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật Chú Kinh do ngài Chi Khiêm dịch vào đời Ngô, bản này đă mất (chỉ c̣n tên trong Đại Tạng Mục Lục).

2) Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh do ngài Cưu Ma La Thập dịch.

3) Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh do ngài Huyền Trang dịch.

4) Bát Nhă Ba La Mật Đa Na Kinh do ngài Bồ Đề Lưu Chí dịch vào đời Đường (thất truyền).

5) Ma Ha Bát Nhă Tủy Tâm Kinh do ngài Thật Xoa Nan Đà dịch vào đời Đường (thất truyền).

6) Phật Thuyết Ba La Mật Đa Tâm Kinh do ngài Nghĩa Tịnh dịch vào đời Đường.

7) Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh do ngài Pháp Nguyệt dịch vào đời Đường (lần thứ nhất).

8) Phổ Biến Trí Tạng Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh do ngài Pháp Nguyệt dịch vào đời Đường (dịch lại lần thứ hai).

9) Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh do ngài Bát Nhă và các vị như Lợi Ngôn v.v… cùng dịch vào đời Đường.

10) Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh do ngài Trí Huệ Luân dịch vào đời Đường. Ngài dịch thành hai bản khác nhau.

11) Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh do ngài Pháp Thành dịch vào đời Đường.

12) Thánh Phật Mẫu Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh do ngài Thi Hộ dịch vào đời Tống.

Như vậy là tối thiểu Bát Nhă Tâm Kinh có đến mười ba bản dịch khác nhau (do ngài Trí Huệ Luân có hai bản dịch khác nhau).

[36] Chúng tôi dịch đoạn này theo lời chú giải trong sách Lăng Nghiêm Chánh Mạch của pháp sư Giao Quang.

[37] Ngũ Hành Tương Sanh là Kim sanh Thủy, Thủy sanh Mộc, Mộc sanh Hỏa, Hỏa sanh Thổ, Thổ sanh Kim.