Phật Học
Vấn Đáp Loại Biên
Quyển Trung
佛學問答類編
Phần 1
Lăo cư sĩ Lư Bỉnh
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
(theo bản in của Lư Bỉnh Nam Lăo
Cư Sĩ Toàn Tập Biên Tập Ủy Viên Hội, Đài
Loan, 2007)
Giảo chánh: Đức Phong và Huệ
Trang
II. Tích nghi (析疑, phá nghi)
* Hỏi: Thế giới
được tạo thành như thế nào? (Lư Thục Trân hỏi)
Đáp: Do nghiệp duyên của chúng
sanh tạo thành.
* Hỏi: Có người hỏi
chân lư vũ trụ quan và nhân sinh quan là ǵ? (Huệ Hương hỏi)
Đáp: Nhân sinh (人生) là sự kéo dài sanh mạng của thân
chánh báo, vũ trụ là cơi kư thác của báo thân. “Quan” (觀) là một loại
cảm tưởng đối với sự tồn tại
ấy. Nếu có thể biết chúng sanh v́ sao xuất hiện,
xuất hiện để làm chuyện ǵ, đạt
được kết quả ǵ, có mục đích ǵ,
hiểu rơ ràng triệt để, giác ngộ chân chánh th́
đó chính là chân lư về vũ trụ và nhân sinh quan.
Nếu không, tuy có quan (quan niệm), nhưng chưa phải
là chân lư.
* Hỏi: Ngoài tam thiên
đại thiên thế giới và ức vạn cơi Phật
th́ có vật ǵ? (Trần Minh
Triết hỏi)
Đáp: Thế giới và cơi Phật
đều là vô lượng vô tận. Ngoài một
đại thiên lại là thế giới và cơi Phật!
* Hỏi: Bản thân chúng ta có
sanh mạng, sanh mạng ấy và Phật có mối quan
hệ ǵ? (Trương Thanh Cẩm
hỏi)
Đáp: Thân cầu hướng
lành, tránh dữ; tánh cầu bất sanh, bất diệt.
Để đạt được hai mục đích
ấy, hoàn toàn là do trí huệ, và ắt phải
được Phật khai thị th́ mới có thể
ngộ nhập. Sanh ra thân xác ta là cha mẹ, nuôi sống
huệ mạng của ta là Phật Đà. Đấy chính là
mối quan hệ vậy.
* Hỏi: Phật giáo có đủ
sức giải thích nguyên do của vũ trụ hay không? (Hoàng Đại Xuyên hỏi)
Đáp: Đức Phật nhằm
giải thích nỗi mê muội đối với vũ
trụ và nhân sinh [của chúng sanh] mà xuất hiện trong
cơi đời. Há chỉ là giải thích mà thôi, Ngài c̣n phá
trừ, tạo lập, vận dụng, chuyển biến,
không ǵ chẳng thong dong tự tại. Phàm là đối
với chuyện nghiên cứu pháp giới duyên khởi,
phải là đối với người có thể lănh
hội mà bảo ban, chẳng phải là kẻ sơ
học mà ḥng thấu hiểu dễ dàng được đâu
nhé!
* Hỏi: Đối với
nguồn gốc nguyên thủy của vạn vật và con
người trong vũ trụ, tôi từng nghe nói “đều là do Thượng Đế
sáng tạo”. Xin hỏi thuyết ấy có đúng hay
không? (Chiêm Kim Chi hỏi)
Đáp: Phật học chủ
trương “vạn pháp đều
do các duyên ḥa hợp mà sanh”. Đă nói là “các duyên”, ắt là trước th́ chẳng nói
đến khởi đầu, sau th́ cũng chẳng
thể nói tới kết thúc. Sanh sôi không ngừng, biến
hóa vô cực. Nếu cứ muốn t́m kẻ sáng tạo
[vạn pháp] th́ [kẻ sáng tạo] vẫn là do các duyên. Nói
Thượng Đế sáng tạo chính là lời lẽ
mơ hồ của các nhà tôn giáo do họ chẳng biết
làm như thế nào. Thử nêu một chất vấn: Xét
đến cùng, Thượng Đế do đâu mà có?
Nếu bảo là tự nhiên có, [vậy th́] đă là như
thế, sao không nói là vạn vật tự nhiên mà có,
chẳng phải là càng thẳng thừng, thỏa đáng
hơn ư?
* Hỏi: Phật quán một
chén nước, [trong ấy] có tám vạn bốn ngàn con
trùng. Vậy th́ đun một bầu nước sôi
chẳng phải là đă giết chết rất nhiều sanh
mạng ư? (Hoàng Đại
Xuyên hỏi)
Đáp: Há chỉ là như
vậy! Trong một hơi thở, cũng đă tổn
hại bao nhiêu tiểu động vật trong không khí. Bất
quá, có những điều có thể lập ra phương
cách tránh né, có những điều chẳng có cách nào tránh né.
Có điều xuất phát từ sự cố ư, có hành
động xuất phát từ sự vô tâm. Có khi giảng
học để hiểu rơ Lư, có khi chế giới
để thuận theo Sự, tuân thủ chừng mực
Quyền hay Thật sao cho thích đáng.
* Hỏi: Chính phủ chẳng
tiếc tiền tài, nhân lực, [sai người] về vùng
quê phun DDT để giết ruồi, muỗi và những loài
trùng gây hại cho sản vật, khiến cho nhân dân
khỏi bị bệnh khổ, sản vật thu hoạch
phong phú, ai nấy đều ca ngợi, nhưng đấy
chính là giết chết chẳng ít sanh mạng. Đứng
trên lập trường Phật giáo, đối với
chuyện này có tán thành hay không? (Hoàng
Đại Xuyên hỏi)
Đáp: Chính phủ là một
cơ cấu chính trị, các biện pháp thực hiện
của chính phủ nhằm lấy lợi ích trước
mắt của nhân dân làm tiêu chuẩn. Phật giáo là
đạo tràng tuyển Phật, thuộc về phạm
trù giáo hóa, tuân theo chỉ thú “làm cho trọn khắp chúng sanh
b́nh đẳng an lạc”. Lập trường tuy bất
đồng đôi chút, nhưng đều cùng xuất phát
từ cái tâm lợi tha như nhau. Đôi bên ai nấy hành
theo điều ḿnh cho là đúng; đúng là chẳng cần
phải tán thành hay phản đối. Thử nghĩ
“mưa mùa Hạ, cây cối xanh tươi”, “tuyết tháng
Chạp báo trước mùa màng sẽ sung túc”, chuyện ǵ là
đúng, chuyện ǵ chẳng đúng?
* Hỏi: Trước kia,
phụ bản báo Trung Ương có đăng bài Bàn Về
Chuyện Phóng Sanh do ông X…. viết, có nói đoàn thể
từ thiện Y… nọ đến núi Z… phóng sanh. Trong
số đó cũng có không ít loài rắn. V́ lẽ đó, gia
súc của cư dân sống tại chân núi bị hại
chẳng ít, tuy phóng sanh cứu rắn mà lại gián tiếp
hại mạng gia súc. Phóng sanh như vậy rốt
cuộc là tích lũy công đức hay là tạo tội ác? (Hoàng Đại Xuyên hỏi)
Đáp: Luận theo Sự th́
đoàn thể từ thiện ấy xử lư chẳng thích
đáng, phạm lỗi chưa thể xét trọn mọi
mặt. Luận theo tâm th́ chỉ nh́n vào động cơ
khi ấy. Nếu luận theo Lư, ắt ông nói ông có lư, bà nói
bà có lư. Nếu chẳng ngước mắt ngó lên trời
cao, mà hướng xuống dưới để nh́n
trọn khắp, sẽ luôn luôn là lời lẽ chấp
trước vào một góc độ, khó có thể nói
lời chí công chí chánh. Huống chi trong núi vốn tự sanh
ra rắn, có căn cứ đích xác ǵ để đoan
quyết gia súc của thôn dân bị hại là do những con
rắn được thả bởi đoàn thể từ
thiện ấy hay chăng?
* Hỏi: T́nh và vô t́nh cùng
trọn vẹn Chủng Trí. Xét theo lư luận th́ có thể
nói thông suốt, nhưng xét theo sự thực vẫn
phải tốn công giảng giải, vẫn phải xin
thầy dùng cách nói nông cạn để chứng minh! (Cố Phượng Anh hỏi)
Đáp: Chuông và đá đều
là khoáng chất, là vật vô t́nh. Há chẳng nghe sách Hán
Thư chép: “Đồng Sơn
Tây băng, Lạc chung Đông ứng” (núi Đồng
bị lở ở phía Tây, chuông Lạc Dương ngân vang
ở phía Đông)[1].
Sách Phật ghi “Sanh công thuyết
pháp, ngoan thạch điểm đầu” (ngài
Đạo Sanh thuyết pháp, đá cũng gật
đầu)[2]. Những
thứ ấy đă có thể cảm thông thánh khí để
ngân vang hoặc gật đầu tán thành, lẽ đâu
chẳng thể chứng đạo viên trí? Nếu nghĩ
chúng thật sự không thể nào như vậy
được, xin hăy thử nghĩ: Đối với các
h́nh thể bằng gỗ khắc, đất nặn,
đồng đúc, vẽ trên giấy v.v… chúng ta hằng
ngày đối trước các h́nh tượng ấy
lễ bái là chuyện hồ đồ ư? Càng phải nên
biết: Vạn pháp duy tâm, có tâm, chẳng có cảnh, Không - Sắc
bất nhị, tâm cảnh viên dung, vấn đề ấy
sẽ được giải quyết dễ dàng!
* Hỏi: Lănh tụ Phật giáo
thị tịch, sau khi hỏa táng thu được
nhiều xá-lợi, chẳng biết xá-lợi là ǵ? (Niếp Vân hỏi)
Đáp: Xá-lợi
(Śarīra) là tên gọi
tại Ấn Độ, dịch sang tiếng Hán là Cốt
Thân, hoặc c̣n gọi là Linh Cốt. Ông đă thấy
ảnh chụp xá-lợi thu được do hỏa thiêu
Chương Gia đại sư lần này, nên ở đây
tôi không rườm lời mô tả h́nh dạng. Chỉ có
điều chuyện này ắt phải do [người
đă khuất] khi c̣n sống có công phu Giới, Định,
Huệ th́ mới kết thành. Nói đến chứng
cớ th́ xin hăy xem phẩm Xả Thân của kinh Kim Quang Minh.
* Hỏi: Gia Tô giáo và Phật
giáo có ǵ sai biệt? Tin theo giáo nào sẽ là rốt ráo? (Ngô A Nhị hỏi)
Đáp: Đạo Gia Tô sùng bái
trời là tột bậc, vẫn hạn cuộc trong
phạm vi tam giới. Phật giáo lấy vượt thoát
tam giới, đạt được giải thoát thật
sự làm chỗ quy túc. Đó là sự sai biệt. Trong tam
giới có sanh tử, vượt thoát tam giới sẽ là
bất sanh bất diệt, [như vậy th́] giáo nào là
rốt ráo, chẳng cần nói cũng biết.
* Hỏi: Nghe nói Gia Tô (Jesus) bái
Phật Thích Ca làm thầy[3],
chuyện ấy có xác thực hay chăng? (Ngô A Nhị hỏi)
Đáp: Đức Phật cách
hiện thời, nói theo tân thuyết[4]
đă là hơn hai ngàn năm trăm năm, c̣n Gia Tô
đến nay chưa đầy hai ngàn năm, chênh lệch
năm sáu trăm năm, lẽ đâu là Phật là thầy
của ông ta cho được?
* Hỏi: Đích xác là có thiên
đường và địa ngục ư? Thăng thiên
hoặc đọa địa ngục là do ai sai khiến? (Chiêm Kim Chi hỏi)
Đáp: Người ta
thường biết những kinh như A Hàm v.v… chép
đầy đủ về chư thiên, Địa Tạng
Bổn Nguyện Kinh nói tường tận về các
địa ngục. Dựa theo kinh để luận
định, lẽ đâu chẳng đích xác? C̣n cơ duyên
dẫn tới chuyện thăng hay đọa, hoàn toàn là do
nghiệp lực của chúng sanh làm nguyên nhân chánh yếu, do
chính ḿnh khiến thành ra như thế!
* Hỏi: Xin hăy phân định
rơ ràng Phật và thần, được chăng? (Hà Vĩnh Đinh hỏi)
Đáp: Bậc đoạn
hết vô minh trong bản tánh, bất sanh bất diệt là
Phật. Tánh nhiễm các Hoặc, nhưng rộng tích
chứa thiện nghiệp, đắc thiện báo thần
thông, chẳng thoát khỏi luân hồi th́ là thần.
* Hỏi: Kinh chép Phật Thích Ca
sanh từ hông bên phải của mẹ, giống như
Cơ Đốc (Christ) sống lại, chẳng phù hợp
căn cứ khoa học! Có phải là [nêu ra những chuyện
ấy] nhằm tán thán họ chẳng giống như phàm
phu, chứ hoàn toàn chẳng phải là sự thật? (Trương Cung hỏi)
Đáp: Cư sĩ chỉ
biết nói đến những chuyện chẳng thể
nghĩ bàn để chê trách là chẳng hợp khoa học, chẳng
biết chê trách những điều mà khoa học chẳng
phù hợp chuyện chẳng thể nghĩ bàn, tức là coi
khoa học là độc tôn duy nhất trong cả cơi
trời lẫn nhân gian! Thích Ca Thế Tôn sanh ra từ hông
mẹ, kẻ hèn này cũng chỉ thấy sách có chép, thật
hư đều chẳng đích thân trông thấy, nên chẳng
dám quyết đoán là có hay không. Nhưng trong phần Ngũ
Hành Chí[5] trong
Minh Sử, có chép vào năm Gia Tĩnh thứ tư (1525),
nông dân Khổng Phương ở Hoành Kính dưới hông
sanh ra một khối thịt, mổ ra xem, thấy một
đứa bé rành rành trong ấy. Lại vào tháng Hai năm
Long Khánh thứ năm (1571), một bà thường dân
ở Đường Sơn sanh con từ hông trái. Chánh
sử nước nhà c̣n có chuyện ấy, há lẽ nào những
chuyện ấy đều là ngụy tạo hết ư?
Cứ chê trách là chẳng hợp khoa học, sao không dùng khoa
học để khởi sự nghiên cứu đi?
* Hỏi: Như thế nào th́
sẽ được gọi là chân lư? (Vương Tích Kỳ hỏi)
Đáp: Các kinh liễu nghĩa
trong Phật môn là chân ngữ, thật ngữ, như
ngữ, bất cuống ngữ (lời lẽ chẳng
dối trá, lừa gạt), bất dị ngữ (không nói
sai lệch), chân lư ở trong đó. Bỏ đi những
thứ ấy, sẽ chẳng phải là chân lư.
* Hỏi: Trước khi Thích Ca
Mâu Ni Phật giáng thế, có những vị Phật khác tồn
tại hay chăng? Có căn cứ để khảo sát hay
chăng? (Vô Danh Thị hỏi)
Đáp: Suy ngược về vô
lượng kiếp trước vốn vẫn có Phật,
há chỉ có đấng Thích Tôn giáng thế lần này, trong
kinh Phật đă ghi chép nhiều lắm!
* Hỏi: Có người hỏi
Di Lặc Bồ Tát nay đang ở cung trời Đâu
Suất, [vậy th́] sau khi Niết Bàn, Phật Thích Ca ở
chỗ nào? (Khoan Châu hỏi)
Đáp: Thích Tôn là giáo chủ cơi
Sa Bà, tự nhiên trụ trong thế giới này. Chỉ có
điều chỗ Phật ngự tuy gọi là Sa Bà,
nhưng trang nghiêm bằng các thứ báu. Phàm phu bị nghiệp
ngăn chướng, nên thấy là đất, đá, ngói,
sạn vậy!
* Hỏi: Nhân loại trong thế
giới sớm nhất là do đâu mà có? Theo như lịch
sử nói, con người nguyên thủy từ loài khỉ
vượn tiến hóa thành. Căn cứ trên các nghiên
cứu, các khoa học gia hiện thời đă kết luận:
Con người hoàn toàn do mười bốn thứ nguyên
tố hợp thành. Mấy năm trước kia, tôi
từng thấy trong kinh luận Phật giáo, nay chẳng
nhớ rơ là kinh luận ǵ, đại khái là A Tỳ Đàm
Luận nói: Con người thoạt kỳ thủy từ
Quang Âm Thiên giáng hạ. Thoạt đầu, con người
sống vô cùng tự do, tùy theo ḷng mong mà đạt
được, chẳng cần phải cấy, trồng.
Đồng thời cũng chẳng có nam nữ đối
lập, hằng ngày ăn uống bằng nước
suối ngọt, chất đọng trên mặt đất
v.v… Lâu ngày, ḷng người biến đổi, tâm tham
dục nhiều. Sau này, đất chẳng sinh ra chất
bổ nữa, xuất hiện một loại canh mễ[6],
con người ăn vào mới hiện tướng nam
nữ. Từ đó, tiếp tục có thế giới nhân
loại như hiện thời. Đối với mấy
vấn đề trên đây, mỗi thuyết đều có
lư, chẳng biết xác thực là ai đúng, ai sai. Xin hăy
chỉ dạy! (Phan Thành Lâm
hỏi)
Đáp: Trong lời hỏi của cư
sĩ có hai chữ “sớm
nhất” th́ có thể bàn luận được. Nói là
khỉ vượn, hay nói là mười bốn loại nguyên
tố, hoặc nói là Quang Âm Thiên, đều chẳng có ǵ là
không được! Ba thuyết ấy chẳng cần
hỏi là ai đúng, ai sai, đều có thể nói là
“sớm nhất”. Nếu nói là “nguyên thủy” th́ sẽ
phạm khuyết điểm. Thử hỏi vượn
khỉ, nguyên tố, Quang Âm Thiên lại do đâu mà có?
Học thuyết viên măn nhất trong nhà Phật là “phàm những ǵ có tướng
đều do các duyên ḥa hợp mà hiện ra”, so ra có
thể chấp nhận được.
* Hỏi: Từ khai thiên lập
địa tới nay, trong vũ trụ có cái gọi là “chúa
tể tạo vật” như đạo Gia Tô nói “đức
Chúa Cha là chúa tể của tạo vật trong vũ trụ”
hay không? (Đàm Thành Chương
hỏi)
Đáp: Các duyên ḥa hợp, do cùng một
nghiệp cảm vời, chỉ do thức biến
hiện, nên có giả tướng. Thành, trụ, hoại, không
trong từng sát-na chẳng ngừng, vốn chẳng có
thật thể, sanh diệt vô thường. Lư luận theo
những điều trên đây, bèn biết vũ trụ
chẳng phải là do một đấng Chúa Trời
tạo dựng. Đă là chẳng thể tạo, làm sao có
chúa tể cho được?
* Hỏi: Tại các đại
danh sơn ở Đại Lục, có nhiều người
tu đạo, sau khi viên tịch, xác thân chẳng hư nát là
do đạo lư ǵ? Nghe nói ngồi canh th́n[7] có
thể thành đạo, và sau mấy lượt canh th́n, có
nhiều thứ yêu ma cổ quái đến thử thách, có đúng
hay không? (Bạch Vân Tiều hỏi)
Đáp: Xác thân không hư nát là
hiện tượng đôi khi có xảy ra, những
điều khác chẳng phải là chuyện trong nhà
Phật!
* Hỏi: Đại văn hào
Anh Quốc Vi Nhĩ Tư (H.G. Wells) trước tác bộ
Thế Giới Sử Cương có nói: “Từ những điều đạt
được do nghiên cứu hiện thời đến tận
cội gốc giáo nghĩa căn bản của Cù Đàm
(Gotama), bèn biết giáo nghĩa ấy hết sức
đơn giản, rơ ràng, phù hợp các quan điểm
cận đại nhất, chính là thành công do lư trí nhạy
bén từ xưa tới nay, chẳng cần phải bàn căi
nữa”. Tiên sinh Lương Khải Siêu lại nói: “Phật học rộng lớn,
sâu xa, to tát, vi diệu, thiết thực trong quan hệ con
người, hết sức thực dụng, thật
sự là một học thuyết cao thượng, viên măn,
sâu xa, rơ ràng nhất trong ṿng trời đất”. Mấy
vị tiên sinh ấy trọn chẳng phải là tín đồ
Phật giáo, nhưng nói như vậy, há chẳng phải là
nói: Phật học là giáo lư cao thượng, viên măn, triệt
để, đích xác được giới học thuật
trên thế giới công nhận, nhưng vẫn chưa thể
đạt đến địa vị khiến cho các vị
học giả trên thế giới tin tưởng, ngưỡng
mộ, đúng không? Hay là c̣n có nguyên nhân nào khác nữa? (Diệp Khánh Xuân hỏi)
Đáp: Lời lẽ của hai
tiên sinh Vi Nhĩ Tư và Lương Khải Siêu bất quá thuộc
loại tán thán, đó là lẽ hiển nhiên. C̣n [ông nghĩ]
họ c̣n có ngụ ư chi khác, tợ hồ là thổi lông t́m
vết vậy!
* Hỏi: Núi, sông, đại
địa là do cộng nghiệp của chúng sanh tạo tác.
Hiện thời, bom Cobalt[8] có
thể hủy diệt toàn thể nhân loại và sinh vật. Nếu
toàn thể nhân loại và sinh vật đều bị tử
vong hết sạch, ắt địa cầu cũng bị
hủy diệt theo ư? Trên mặt trăng nửa tháng là
ngày, nửa tháng là đêm, ngày th́ nóng dữ dội, đêm
th́ lạnh kinh khủng, chẳng sanh trưởng sinh vật,
là do nghiệp lực nào cảm thành? Chẳng biết tinh cầu
ấy v́ sao mà h́nh thành như vậy? Trước là có
căn khí giới, sau là có chúng sanh? Hay là có chúng sanh trước,
sau đó sẽ có căn khí giới? (Tông Thụy Tích hỏi)
Đáp:
Chuyện này phải tách ra để đáp:
1) Một là hỏi
về nỗi nghi “núi, sông, đại địa do cộng
nghiệp tạo thành”. Núi, sông, đại địa do các
duyên ḥa hợp mà thành, do nghiệp cảm của chúng sanh,
chỉ do thức hiện, không ǵ chẳng phải là cộng
nghiệp. Không chiêu cảm th́ trong thức cũng chẳng
hiện tướng. Dùng nước để sánh ví th́ trời,
rồng, người, quỷ, mỗi loài thấy nước
có h́nh tướng mỗi khác. Đó là một thí dụ rành
rành. Nhưng nước có các giai đoạn Thành, Trụ, Hoại,
Không, các loài như trời, rồng v.v… thấy tướng
sai khác chính là v́ nghiệp báo bất đồng, nên chẳng
thấy [nước chỉ có] một tướng;
nhưng nước trọn chẳng v́ những cảm nhận
sai lầm ấy mà trong sát-na biến thành lưu ly, hay biến
thành ngọn lửa. Dẫu cho chư thiên chết sạch,
c̣n có các loài rồng, người, quỷ v.v… chấp lấy
tướng của nước, nước chẳng v́
chư thiên đă chết mà tiêu diệt. Dẫu các loài đều
chết sạch, nhưng nước chưa đến [giai
đoạn] Không Kiếp [sẽ chẳng bị diệt mất],
ắt sẽ có trời, rồng, người, quỷ mới
sanh ra nương cậy vào nước. Hiểu rơ điều
này, bèn biết: Địa cầu không nhất định
thuận theo nhân loại mà tiêu diệt.
2) Hai, “mặt
trăng chẳng có không khí, không có động vật” là do
các khoa học gia dùng viễn vọng kính để ḍ t́m nói
ra. Đó chỉ là nh́n vào nửa phần, có thật sự
là như thế hay không, vẫn phải chờ các khoa học
gia phát minh tiến bộ hơn nữa. Mặt trăng tối
tăm, mấy chục năm trước, [các nhà khoa học]
từng nói mặt trăng chỉ có các núi lửa đă tắt.
Gần đây, họ lại chẳng thừa nhận thuyết
ấy. Lại sau bao nhiêu năm nữa, ắt sẽ có thuyết
mới. Dẫu nguyệt cầu thật sự chẳng có
động vật, nhưng ban đêm địa cầu
thường được mặt trăng soi sáng, nên Trung
Hoa căn cứ theo đó để soạn lịch. Huống
chi nó lại c̣n chuyển động xoay quanh địa cầu,
cớ sao biết nó chẳng do chúng sanh trên địa cầu
chiêu cảm? Nếu nói mặt trăng là do chúng sanh trên mặt
trăng mà hiện, mặt trời là do chúng sanh trong mặt
trời mà hiện, nước là do chúng sanh trong nước
mà hiện, thế mà chúng sanh sống trên lục địa
của địa cầu rơ ràng là gặp ngày nắng gắt
bèn uống nước, [vậy th́] mặt trời và nước
có phải là chỉ do chúng sanh nơi bản thể[9] mà
hiện, hay là nó cũng có mối quan hệ đối với
chúng sanh nơi những thể khác?
3) Ba, chúng sanh, khí
giới, điều nào chín muồi trước? Vốn là
v́ chẳng hiểu những sự [vừa được
biện luận] trên đây, nên mới nêu kèm theo câu hỏi này.
Đă hiểu rơ những sự trên đây th́ [vấn đề
này] có thể bỏ mặc, chẳng cần bàn tới.
* Hỏi:
Có sách viết: Trong cuộc biện luận của giới
tiến sĩ, tiến sĩ Bách Khắc
Sâm (Henri Bergeson) người Anh du lịch Ấn Độ đến
núi Kê Túc (Kukkuṭapādagiri),
được tôn giả Ca Diếp hiển tích hóa độ,
lại c̣n nói là “đời trước có duyên thầy tṛ”.
Chuyện
ấy có chính xác hay không? V́ sao tôn giả chỉ có duyên với
ḿnh ông ta? Người trong các nước trên thế giới
đông ngần ấy thảy đều vô duyên với tôn
giả ư? Ngay cả người Ấn Độ
cũng vô duyên ư? (Hồng
Hoàn hỏi)
Đáp:
Đích xác hay không, kẻ hèn này chẳng dám đoán định.
Trong sách đă chép “đời
trước có duyên thầy tṛ” tức là chẳng giống
những người khác. Nhưng duyên cũng có nhiều thứ,
có túc thế (đời trước), có duyên gặp gỡ
ngẫu nhiên, có duyên tạo tác trong hiện tại, có duyên
là liên đới, có duyên là giới hạn trong một thời
điểm v.v… Khi chín muồi, duyên sẽ khởi tác dụng.
Khi chưa chín muồi th́ giống như chẳng có liên quan
chi hết!
* Hỏi:
Có phải là điều tốt đẹp trong học Phật
chính là văng sanh thế giới Cực Lạc hay không? Tôi mong
cầu chân lư nên mới đọc mấy quyển kinh Phật,
nửa hiểu nửa không. Lại đọc tạp chí Phật
giáo, tuy đọc thấy hiểu nhiều hơn, nhưng
trong ấy có những bài viết công kích các tôn giáo, và
cũng có chuyện người xuất gia và tại gia căi
lộn với nhau, tâm tôi bèn hoài nghi. Xin tiên sinh hăy giải
đáp viên măn th́ tôi mới có thể tin Phật! (một độc giả ở Hoa
Liên hỏi)
Đáp:
Câu hỏi này được chia thành ba đoạn [để
trả lời]:
1) Một, học
Phật có phải là để sanh về Cực Lạc hay
không? Điều này chẳng nhất định. Phật
pháp vô biên, mỗi người có nguyện riêng. Có nhân, thiên,
Tiểu Quả, có Nhị Thừa La Hán, có Đại Thừa
Bồ Tát, có pháp tự lực minh tâm kiến tánh thành Phật,
có môn đới nghiệp văng sanh Cực Lạc. Chúng sanh
tùy theo căn khí mà tự chọn lựa, quyết chẳng
có chuyện đè đầu ḅ bắt ăn cỏ!
2) Hai là xem kinh nửa
hiểu, nửa không, xem tạp chí thấy có cảnh tượng
công kích lẫn nhau đáng chán. Chuyện này đă được
giải đáp trong phần Thông Vấn (câu hỏi tổng
quát), hăy xem các trang ba mươi ba và ba mươi tư.
3) Ba là ông đ̣i
phải có một câu trả lời viên măn th́ mới chịu
tin Phật. Cổ đức nói: “Thân người khó được, Phật pháp khó
nghe”. Lại nói: “Pháp vi diệu
rất sâu vô thượng, trăm ngàn vạn kiếp khó gặp
gỡ”. Thật sự triệt để ĺa khổ
được vui th́ chỉ có một pháp này, nếu ở
ngay trước mặt mà bỏ lỡ, sẽ lại phải
trầm luân sanh tử trong ngàn kiếp vạn đời.
Người nghiệp nhẹ, chướng cạn, hễ
nghe [nói đến Phật pháp] bèn dễ hiểu, dễ
tin. Người nghiệp chướng sâu, tuy nghe xong, tỉnh
ngộ, nhưng chẳng tin. [Những chuyện này] đều
liên quan đến cơ duyên họa phước của cá
nhân. Kẻ hèn này ngu si, quyết chẳng có năng lực
trả lời viên măn cho tiên sinh được! Xưa kia,
đức Phật tại thế, trí huệ đại biện,
mà bà lăo ở phía Đông thành [Xá Vệ] thề chẳng thấy
Phật, chính là tự ḿnh đoạn tuyệt với Phật,
chẳng phải là Phật đoạn tuyệt bà ta. Lại
nữa, bậc hiền nhân trong thế gian là Mạnh Tử
có nói: “Cầu th́ đạt
được, bỏ th́ sẽ mất”. Xin hăy suy ngẫm
cặn kẽ hai lời ấy.
* Hỏi:
Nhân loại do đâu mà có? Đạo Cơ Đốc và
đạo Thiên Chúa[10]
đều nói [con người] do Thượng Đế
sáng tạo. Phật giáo bảo là do các duyên ḥa hợp mà có. Khổng
giáo nói ngày thứ bảy sanh ra con người, thuở hỗn
độn sơ khai chưa hề có nhân loại. Có người
nói do loài vượn thay đổi theo lối sống mới
mà h́nh thành [nhân loại]. Rốt cuộc nhân loại là do
đâu mà có? (Hà Khôn Mậu hỏi)
Đáp:
Kinh Hoa Nghiêm có nguyên nhân luận, nói rất tường tận,
nhưng danh từ quá nhiều, sợ hàng sơ cơ chẳng
thể đốn giải. Cư sĩ đă biết các
duyên ḥa hợp, đó là chánh kiến, ở đây tôi nói theo
cách dễ hiểu. Các vật thể thuộc thể lỏng,
thể hơi và thể rắn đương nhiên có các
nguyên tố. Dựa theo các phát hiện gần đây, đă
có hơn chín mươi hai nguyên tố. Những nguyên tố
chưa được phát hiện chắc là chẳng biết
đến bao nhiêu! Các nguyên tố như thế trọn khắp
hư không, người b́nh phàm hiểu biết như thế.
Lại c̣n có linh tánh kỳ diệu nhất (giống như
điện tử) cũng trọn khắp hư không,
nhưng người b́nh phàm chẳng biết. Phàm những
thứ ấy đều là các duyên. Thể lỏng và thể
hơi cố nhiên là do các nhân duyên ḥa hợp, nhưng huyễn
khí thế gian[11],
như các loại khoáng vật nơi núi, sông, đại
địa, lại ḥa hợp, bèn hư huyễn có thực
vật như rong, rêu, cỏ, cây. Từ đó, càng ḥa hợp
càng phức tạp, linh tánh dựa vào đó, biến huyễn
sanh ra các động vật sống nơi ẩm thấp
thuộc về hữu t́nh thế gian. Các động vật
lại ḥa hợp lẫn nhau, bèn hư huyễn có các động
vật sanh bằng trứng hoặc bằng thai. Đó là
nói khái lược về sinh vật. Như nhân loại là một
loại động vật sanh bằng thai (vốn có thuyết
tứ sanh) do vậy mà xuất hiện. Nhưng trong các
động vật, con người vốn được
ưu đăi đặc biệt. Lại cần phải kết
hợp với nghiệp báo thiện ác như thiên đạo,
địa ngục, lục đạo để bù qua sớt
lại th́ mới phù hợp với ư chỉ của luận
thuyết [con người do] loài vượn [tiến hóa].
* Hỏi:
Kẻ học Phật đi lính, tiến ra tiền tuyến,
giết địch thủ, bảo vệ đất nước,
yên dân, không chỉ là vô tội mà c̣n có công. V́ sao đối
với những loài trùng hại người như muỗi,
ruồi, nhặng là môi giới của vi khuẩn gây bệnh
truyền nhiễm, thậm chí khiến cho người ta
ngă bệnh, mất mạng, tiêu diệt những loài trùng ấy
chính là phù hợp vệ sinh, tăng tấn sức khỏe
thân thể, lại ngược ngạo bảo đừng
nên diệt trừ chúng, mà c̣n phải nuôi dưỡng chúng?
Chuyện trước và sau há chẳng phải là không mâu thuẫn
ư? (Hành Ngọc hỏi)
Đáp:
Quốc gia lập ra quân đội nhằm vào ư nghĩa pḥng
vệ, chẳng phải là để xâm lược. Nếu
có kẻ xâm phạm ta, có thể chống cự, xua đuổi
chúng, khiến cho chúng nó chẳng càn rỡ, phải chịu
khuất phục mà bỏ đi, tức là đă trọn hết
khả năng. V́ thế nói: “Chỉ
qua vi vũ, bất tu đa sát” (không cần dùng đến
vũ lực, mà có thể hóa giải chiến tranh, chẳng
cần phải giết chóc nhiều)[12].
Đấy chính là quân đội của người có ḷng
nhân vậy. Nếu dùng quân đội để chuyên xâm lược
mong diệt sạch các chủng tộc khác, đấy chính
là bọn giặc hung tàn trên quốc tế vậy! C̣n
như các loài động vật lan truyền vi khuẩn gây
bệnh, do hiện thời khoa học phát triển như
thế, có khó ǵ để lập phương cách pḥng ngừa,
chữa chạy, khiến cho chúng nó chẳng thể hại
người, cớ ǵ cứ phải diệt sạch các
loài ấy để rồi kết thành nỗi oan trái? Phật
pháp và lập trường chánh trị có chút khác biệt; v́
thế, chẳng ngại ǵ chủ trương mỗi bên mỗi
khác. Phật pháp theo quan điểm coi tứ sanh là b́nh
đẳng, yêu thương sanh mạng như chính ḿnh, lục
đạo là quyến thuộc trong nhiều đời, cho
nên chẳng chủ trương giết chóc. Ví như đứa
con ruột bị bệnh phổi, cha mẹ biết đó
là bệnh truyền nhiễm, chỉ đành cách ly, chữa
chạy, trọn chẳng đành ḷng giết béng nó đi
để khỏi phải bị lây bệnh!
* Hỏi:
Chúng sanh tàn sát lẫn nhau, đó là luật nhân quả. V́ sao
kẻ làm chuyện hung ác c̣n bị nhân sĩ trong xă hội
thóa mạ, ghét hận, và bị pháp luật xử phạt
đến nỗi phán án tử h́nh. Đao phủ tuân lệnh
xử tử kẻ phạm tội tử h́nh, há chẳng
phải là đă kết oán đời đời chẳng
thể giải thoát ư? (Hành
Ngọc hỏi)
Đáp: Tàn sát lẫn
nhau, tuy có nhân quả, nhưng chính là do kẻ mê hoặc noi
theo đường mê. Oán nên giải, đừng nên buộc,
chính là bậc giác ngộ noi theo đường giác. Mê và
giác, ǵ là đúng, ǵ là sai, thật phân minh. Người nắm
quyền cai trị đất nước, tuân thủ hết
thảy pháp quy, duy tŕ trị an. Kẻ phạm pháp bị trị
tội chính là nhân quả hiển nhiên trước mắt.
Nếu chẳng hiểu điều này, bàn lung tung những
chuyện quá khứ ẩn tàng, khó hiểu rơ, đó chính là
nói mớ trong mộng. Đao thủ đại diện
pháp luật hành h́nh, nên chẳng gánh nợ kết oán.
* Hỏi: Kể từ trước lúc vô
thỉ, thân Trung Ấm do đâu mà có? Từ thân Trung Ấm,
chuyển sanh thân người. Do thân người tu thành Phật,
Bồ Tát, mà Phật, Bồ Tát có ba thân Pháp, Ứng, Hóa. Hóa
Thân v́ ứng hóa chúng sanh, nên có thể biến hóa trăm
ngàn ức cho đến số vô lượng, nhưng thân
Trung Ấm của chúng sanh trừ thành Phật ra, thể
tánh của nó vốn là bất sanh bất diệt, chẳng
biến hóa. Thế nhưng xét ra, trước khi h́nh thành
thân Hậu Hữu, c̣n có một lần sanh tử biến
dịch cách biệt mấy tháng, duyên do quả báo là ở
chỗ nào? (Phương Phấn
Thanh hỏi)
Đáp: Thân Trung Ấm c̣n
được dịch là thân Trung Hữu, có nghĩa là “lúc
thân đời trước đă chết, chưa nhập
vào thân đời sau”. Hiểu rơ điều này, ắt
sẽ chẳng thể nói là “từ trước vô thỉ
mà có thân Trung Ấm”. Đă nói là “vô
thỉ”, há có thể nói là “trước vô thỉ” ư?
Ông nói đến chuyện thân Trung Ấm trước khi
thành Phật lại là hiểu lầm. Trung Ấm là thân
chuyển tiếp trong sanh tử, làm sao có thể thành
Phật cho được? Pháp Thân là tánh thể, Ứng Thân
và Hóa Thân là Tướng và Dụng. Ứng Thân và Hóa Thân nương
vào bản thể, như ánh nắng mặt trời
nương vào bản thể là mặt trời. “Bất biến”
là tánh thể như như, “tùy duyên” là Tướng và Dụng
u huyền. Không có chuyện “chỉ có Pháp Thân mà chẳng có Ứng
Thân và Hóa Thân”, giống như đă có mặt trời bèn có
ánh sáng. Trung Ấm sanh tử có sớm chậm sai khác,
nhưng chậm nhất cũng chẳng vượt quá
bốn mươi chín ngày mà thôi!
* Hỏi: Tánh của chúng sanh là cần phải
có ăn uống, sắc dục. Do dục mà có nhu cầu và
hưởng thụ, hoặc có lúc tham cầu mà chẳng
thể đạt được mục đích, bèn
dấy lên tranh đấu, tạo nghiệp. Do tạo
nghiệp, ắt phải chịu quả báo, luân hồi
trong lục đạo, khổ quả đến hằng
sa kiếp. Nhưng chúng sanh đă trọn đủ
Phật tánh, nếu có thể thành Phật, th́ hết
thảy hai thứ y báo và chánh báo trang nghiêm, hết thảy
các nhu cầu hưởng thụ tự tại, như cơi
nước Cực Lạc của Tây Phương A Di Đà
Phật vậy. Chúng sanh hay biết [điều ấy],
không ai chẳng hướng về, hâm mộ! Chúng sanh tuy
mê, chư Phật có thể độ; huống hồ
chư Phật, Bồ Tát lấy độ sanh làm chức
trách, chí hướng. V́ thế, chúng sanh tạo nghiệp,
bèn cho phép họ kiền thành sám hối để hóa độ.
Thế nhưng độ trễ chẳng bằng
độ sớm, độ ít chẳng bằng độ
nhiều, độ nhiều chẳng bằng độ
hết, cho đến hư không vô tận, thảy
đều độ hết. Như vậy th́ há chẳng
phải là chúng sanh và Phật một nhà, mười
phương cơi nước đều là Cực Lạc
ư? Nhưng rốt cuộc tới khi nào th́ mới có
thể độ hoàn toàn hết thảy chúng sanh? (Phương Phấn Thanh hỏi)
Đáp: Câu hỏi này thuần
túy là phô diễn những lư lẽ “cao siêu”, chỉ có câu
cuối cùng là lời thưa hỏi! Ngay sau phần cao
luận, đoạn “độ trễ chẳng bằng
độ sớm” cho đến “độ trọn
hết” đủ thấy ông phát tâm rộng lớn,
nhưng chẳng biết Phật, Bồ Tát độ chúng
sanh trọn chẳng phân biệt sớm, trễ, nhiều,
ít, chẳng cần biết là tứ sanh hay cửu hữu,
không ǵ chẳng là phổ độ trong từng sát-na!
Nếu hỏi khi nào sẽ độ hết, hăy thử xem
Xuân, Hạ, Thu, Đông giáp ṿng trở lại từ
đầu, có lúc nào sẽ hết hay chăng? Chúng sanh
cũng như thế, cần phải biết là chẳng có
con số cố định, mà là đời đời
chẳng dứt. Bất quá hạnh nguyện độ
chúng sanh của Phật, Bồ Tát niệm niệm tiếp
nối, chẳng có lúc chấm dứt mà thôi!
* Hỏi: Nếu có
trường hợp cha con cùng quy y với một vị pháp
sư, cùng gọi vị pháp sư ấy là sư phụ th́
có trở ngại ǵ chăng? (Trại
Mạnh Thu hỏi)
Đáp: Chuyện này chẳng có
phân biệt. A
* Hỏi: Nghe nói nguồn
gốc của nhân loại là do các vi khuẩn tiến hóa
thành người, có đích xác hay chăng? (Trương Hồng Thanh hỏi)
Đáp: Học vấn trong
Phật pháp chú trọng lư tâm tánh, nên nói là “vạn pháp duy
tâm”. Cư sĩ hỏi về nguồn gốc con
người th́ nhà Phật cũng đă từng nói tới,
“nguyên nhân luận” bàn về vấn đề này. Trong
phần hỏi đáp của tạp chí này đă từng nhiều
lượt đề cập, xin hăy tra duyệt. Các nhà khoa
học có các thuyết con người từ loài
vượn tiến hóa, hoặc do vi khuẩn tiến hóa,
đều là những lời lẽ thuộc loại suy
đoán, đúng hay sai cố nhiên là khó thể khẳng
định. Dẫu [giả thuyết của các nhà khoa
học] là đúng, xin hỏi là đối với loài
cầm thú, loài có vảy, có mai, côn trùng, vạn ức loài
động vật đều có thể nghiên cứu
đích xác nguồn gốc của từng loài hay chăng?
Vẫn là phiền phức, rắc rối, chẳng thích
đáng, chẳng [găy gọn bằng cách nói] “vạn pháp duy tâm”.
* Hỏi: Vũ trụ rộng
lớn được tạo thành bởi nguyên nhân nào? (Diệu Nguyên hỏi)
Đáp: Theo như ông viết
trong thư, ông thường cùng bạn bè đàm luận
Phật pháp, mỗi lần gặp phải vấn
đề khó giải đáp, bèn gởi thư chất
vấn. Cư sĩ học Phật chưa lâu, há có nên
đàm luận những vấn đề này trước tiên?
Chẳng thà vùi đầu đọc sách, đến lúc [nào
đó], sẽ tự nhiên hiểu rơ. Đối với câu
hỏi này, nếu trả lời cặn kẽ, ắt
sẽ phải là một cuốn sách dầy cộp, nói
giản yếu th́ e chẳng thể hiểu. Chỉ
đành nói là hăy chờ đến mai sau sẽ tự
hiểu rơ “tam giới duy tâm,
vạn pháp duy thức”. Trong mộng rơ ràng phô sáu nẻo,
tỉnh rồi ba cơi rỗng toang hoang!
* Hỏi: “Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh”,
“rốt cuộc sẽ thành
Phật” và “vào trong
địa ngục Vô Gián vĩnh viễn chẳng thoát ra” có
mâu thuẫn hay không? (Mạc Ngă
Hư hỏi)
Đáp: Năm thứ Vô Gián trong
địa ngục là nói về lúc ở trong địa
ngục, phải nhận lănh những điều ấy
chẳng gián đoạn, hoàn toàn chẳng phải là vĩnh
viễn chẳng thể thoát khỏi. Hăy nên biết: Tâm
niệm vô thường, các hành vô thường. Có
địa ngục nào chẳng phải là do tâm hạnh
[chiêu cảm], há có lẽ nào vĩnh viễn, thường
hằng? Ông lầm tưởng là vĩnh viễn thường
hằng, nên mới thấy có mâu thuẫn với học lư;
nhưng có thể xuất ly hay không, vẫn là do tâm hạnh
như thế nào mà thôi!
* Hỏi: Có người hỏi
Phật độ chúng sanh văng sanh Tây Phương. Nếu
độ hết, há chẳng phải là thế giới tiêu
diệt ư? Xin hăy khai thị. (Giản
Tố Anh hỏi)
Đáp: Ví như tù nhân hối
cải, pháp luật có quy định giảm án hoặc
phóng thích. Nếu có một tù nhân, bỗng khuyên các tù nhân
khác: “Các ông đừng nên hối cải, lư do là nếu
mọi người đều hối cải, há chẳng
phải là nhà tù trống rỗng ư?” Lời kẻ
ấy nói cũng giống như lời ông hỏi vậy!
* Hỏi: Điểm
đặc trưng của Phật giáo là ǵ? (Giản Tố Anh hỏi)
Đáp: Vạn pháp đều
trọn đủ, đạo Niết Bàn là đặc
trưng.
* Hỏi: Phật giáo gồm có
mấy loại? (Giản
Tố Anh hỏi)
Đáp: Giáo chỉ là một.
Bất quá, do khế hợp các căn cơ mà có Tiểu
Thừa và Đại Thừa, Hiển Tông và Mật Tông, diễn
giáo, hành tŕ, nói Quyền, nói Thật sai khác mà thôi!
* Hỏi: Tôi đọc bản
dịch cuốn Triết Học Tôn Giáo của tiên sinh
Tạ Phù Nhă, thấy trong lời tựa có viết: “Tôn giáo của người
phương Tây thuộc về bản chất quan,
thường quen chú trọng vào Tam Vị Nhất Thể của
Cơ Đốc giáo, nên nói là Thánh Phụ (đức Chúa
Cha, Thượng Đế), Thánh Tử (đức Chúa Con,
tức Gia Tô), và Thánh Linh (sự minh giác của con
người). Tuy có ba tên gọi, nhưng thực chất là
một… Thật ra, trong các tôn giáo cao cấp trên cơi
đời, không tôn giáo nào chẳng có thuyết Tam Vị
Nhất Thể. Đối với Tam Bảo Phật, Pháp, Tăng của Phật giáo,
Pháp có thể xem như ngôi Cha, Phật có thể xem như
ngôi Con, Tăng có thể coi như ngôi Chúng Linh (Thánh Linh),
mấu chốt là sự đối lập giữa một
(ngôi Cha) và nhiều (Thánh Linh), nhưng dùng ngôi Con để làm
trái đệm..”, tiên sinh nghĩ thuyết ấy như
thế nào? (Diệp Khánh Đảo
hỏi)
Đáp: Chẳng cần phải
so sánh, gán ghép gượng ép! Kinh Phật đă
được biên tập từ hơn hai ngàn mấy
trăm năm trước, tự có điểm độc
lập chẳng thể chối bỏ được,
những thuyết khác chẳng thể gây tổn hại tới
tinh túy của Phật giáo được. Nghĩa lư “tuy ba
mà một” rất nhiều, như “tâm, Phật, chúng sanh”, ba
thân Pháp, Báo, Ứng, tam trí nhất tâm, tam đức
chẳng khác nhau, Tam Đế chính là lẫn nhau v.v…
chẳng thể kể trọn! Trong lời hỏi của
ông, đối với thuyết của ông Tạ đă
đem Tam Bảo phối hợp với thuyết Tam Vị
Nhất Thể (Trinity) của họ, xét ra, có chỗ
chẳng hoàn toàn phù hợp, tôi rất sợ “sai chỉ hào ly, mất trong
khoảnh khắc”, chỉ đành nói là “khăng khăng
chẳng đồng ư”!
* Hỏi: Trong giáo nghĩa Phật
pháp, có một phần tương đồng giáo nghĩa Bà
La Môn giáo. Chỗ giống nhau ấy có phải là khi
đức Phật thuyết pháp bèn phương tiện vay
mượn [những giáo thuyết trong Bà La Môn giáo] để
sử dụng? Hay là Bà La Môn đă đạt
được một phần chân lư? (Diệp Khánh Đảo hỏi)
Đáp: Hai đằng
đều có.
* Hỏi: Như v́ mong mỏi
thành Phật mà học Phật th́ chính là tâm tham muốn
đạt được, tâm ích kỷ, há chẳng
phải là vọng niệm ư? (Trương
Văn Bỉnh hỏi)
Đáp: Mê luyến dục
trần th́ mới là tham. Học Phật vốn là khử
nhiễm, sửa đổi tập khí, minh tâm kiến tánh, được
gọi là chuyên ṛng tu tập, thành Phật nhằm phổ
độ chúng sanh, nên cũng chẳng thể chê là ích
kỷ được!
* Hỏi: Tin Phật giáo th́ có
mâu thuẫn đối với nghề nghiệp hay không?
Quân nhân có thể là tín đồ Phật giáo hay không? (Trịnh Đôn hỏi)
Đáp: Thu nhập từ
nghề nghiệp nhằm nuôi dưỡng sắc thân. Nghiên
cứu Phật pháp để khai trí huệ. Nếu
thiếu trí huệ th́ nghề nghiệp cũng chẳng làm
đến mức tốt đẹp được! Quân
nhân học Phật có thể tăng trưởng tinh
thần đại vô úy, có thể triệt để
bảo vệ đất nước, bảo vệ nhân dân,
cứu giúp, bảo vệ chúng sanh, hàng phục tà ma,
ngoại đạo.
* Hỏi: Pháp có trước, hay
là Phật có trước? Nếu pháp có trước th́
chẳng có Phật thuyết pháp, làm sao có pháp? Nếu nói là
Phật có trước th́ chẳng có pháp, làm sao có thể
nương vào pháp để viên chứng cho
được? (Huệ Tánh hỏi)
Đáp: Pháp do tâm tạo, tâm chính
là pháp. Phật do tâm tạo, tâm cũng là Phật. Tâm,
Phật và pháp, tuy có ba danh xưng, nhưng là một
Thể, chẳng có trước sau! Sợ ông khó hiểu,
tôi dùng Tục Đế để giải thích: Hết
thảy sự tướng đều là bổn pháp,
đối với chúng (sự tướng) mà mê hoặc th́
là chúng sanh. Ngộ chứng Chân Đế th́ là Phật Đà
(như Độc Giác thấy hoa rơi, lá rụng, bèn
chứng đạo). Chuẩn theo điều này có thể
nói là “bổn pháp có trước Phật”. Phật sẽ
chứng đắc Chân Đế, hướng về
đại chúng diễn nói, phá mê hoặc cho họ, [bổn
pháp đến khi ấy] mới gọi là Phật pháp.
Chuẩn theo điều này, lại có thể nói giả tạm
là “Phật pháp có sau đức Phật”.
* Hỏi: Có người tin Phật
đến hỏi: Đất sanh ra giun (trùng đất),
vốn là một sanh mạng, nông phu vô t́nh đụng
đến, chặt nó thành hai, hoặc năm, sáu
đoạn, những đoạn ấy cũng đều
có thể cựa quậy, tiếp tục sống như
thường. Kinh nói “hết
thảy chúng sanh đều có Phật tánh”, vậy th́
Phật tánh rốt cuộc là một hay là nhiều? (Nhan Triệu Văn hỏi)
Đáp: Con giun thuộc loại
động vật có đốt tṛn, một thân có
đủ cả giới tính đực và cái. Mỗi
tế bào có năng lực tái sanh độc lập,
điều này chỉ nói về điểm đặc
biệt thuộc phương diện sinh lư. Cơ thể
của nó đă có đủ giới tính đực và cái, là
lưỡng tính. Xét ra, vô lượng động vật,
tùy theo thời mà mỗi loài có sự sanh tử riêng.
Thần thức (tục gọi là linh hồn) giống
như ḍng điện, trọn khắp vũ trụ, gặp
chỗ nào có sanh cơ (có điều kiện đầy
đủ để khởi đầu một kiếp
sống), nếu nhân duyên phù hợp (chẳng hạn
chế là noăn, thai, thấp, hóa) liền đầu thai vào
đó. Các đốt tế bào của con giun đều
được phú bẩm khả năng tái sanh, khi bị
cắt thành từng đoạn, vô lượng thần
thức từ ngoại cảnh sẽ tự có thể
nương vào [các đoạn giun cắt rời ấy],
tức là mỗi đoạn sau khi sống lại sẽ có
thần thức riêng, mỗi đoạn có sanh mạng
riêng.
* Hỏi: Đối với
chữ Ái như Nho gia đă nói và chữ Ái được
nói trong Phật giáo, cũng như chữ Ái được
nói trong Cơ Đốc giáo, xin hăy nêu bày đại
lược (Lưu Khải hỏi)
Đáp: Nho gia lấy chữ Nhân
làm Thể, Ái phần nhiều là một tác dụng của
cái Thể ấy. Trước hết là từ gần
từ đến xa, từ con người yêu thương
đến súc vật. Nhưng gần và xa, giữa con
người và súc vật, mức độ Ái đều có
sự sai biệt và hạn độ tương
đương, chẳng hạn như “lăo ngô lăo dĩ cập nhân chi lăo” (đem ḷng thương
yêu người già của kẻ khác như thương yêu
người già của chính ḿnh), “quân
tử viễn bào trù” (quân tử xa lánh bếp núc), “kiến sanh bất nhẫn
kiến tử” (thấy sống, chẳng nỡ
thấy chết). Ái của Cơ Đốc giáo chỉ
hạn chế trong nhân loại, như nói người có
linh hồn, súc vật có hồn nhưng chẳng linh, cho nên
giết chúng để ăn là lẽ đương nhiên!
Nhà Phật chỉ nói từ bi b́nh đẳng, trọn
chẳng nói đến ái v́ ái là tác dụng của cảm
t́nh, c̣n từ bi là chuyện nên làm xét theo lư trí. Đối
với vô biên chúng sanh trong chín pháp giới, phải nên
cứu độ trọn khắp, như “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”
chẳng hạn. Ái của ba giáo đại lược là
như vậy!
* Hỏi: Xin hăy so sánh
đại lược giáo nghĩa, ưu điểm và khuyết
điểm của Phật giáo, Hồi giáo, Đạo giáo,
Bạch Liên giáo, Thiên Chúa giáo và Cơ Đốc giáo? (Lưu Khải hỏi)
Đáp: Bạch Liên giáo là tà ma,
ngoại đạo của Trung Hoa, trọn chẳng
phải là tôn giáo! Đối với sự hơn kém trong
giáo nghĩa của năm giáo kia, xin hăy coi trọn khắp
kinh điển của các giáo. Khi công phu đă sâu, sẽ
tự có thể biết. Tạp chí này chẳng tiện b́nh
luận, [để khỏi] gây ra những tranh chấp
về giáo nghĩa, xin hăy lượng thứ!
*Hỏi: Pháp trong Phật Pháp
Tăng và chữ Pháp trong “vạn
pháp duy thức” khác nhau ở chỗ nào? (Châu Bang Đạo hỏi)
Đáp: Chữ Pháp trong Tam
Bảo nói đơn giản sẽ là chuyên chỉ kinh
điển của nhà Phật. Chữ Pháp trong “vạn pháp duy thức” chính là
hết thảy sự lư trong thế gian và xuất thế
gian đều được bao gồm trong ấy. Đó
là khác biệt nho nhỏ!
* Hỏi: Hết thảy mười
phương ba đời chư Phật trước
đấng Thích Tôn chẳng có văn tự ghi chép, nhưng
khi rộng tuyên kinh pháp, vốn là như đếm của
báu sẵn có trong nhà, là do nhân duyên nào? Mong được
nghe giảng đại lược! (Châu Bang Đạo hỏi)
Đáp: Sau khi đă chứng Phật
quả, có Lục Thông, Thập Lực, liền có thể
hiểu thấu triệt trên, dưới, quá khứ,
vị lai. Hơn nữa, Phật Phật đạo
đồng, tự nhiên là chẳng cậy vào ghi chép mà có
thể biết trọn khắp!
* Hỏi: Hữu t́nh và vô t́nh
đều có sanh mạng, v́ sao vô t́nh chẳng thuộc
về chúng sanh? (Lâm Huệ Lan hỏi)
Đáp: Điều này có hai
thuyết:
1) Một là động vật do có
đủ Tứ Đại, Ngũ Ấm, Thập Nhị
Chi, Thập Bát Giới v.v… khá nhiều nhân duyên mà sanh, nên
gọi là “chúng sanh”.
2) [Hai là] do tám thức mà nhiều
lượt nhập thai, nên cũng gọi là “chúng sanh”.
Vô t́nh như khoáng vật, thực
vật… tuy có đủ Tứ Đại, nhưng chẳng
có đủ các điều kiện được nêu sau
đó như Ấm, Chi, Giới, Thức v.v… nên chẳng
gọi là “chúng sanh”.
* Hỏi: Người tu hành sau
khi đă khuất, hỏa thiêu bèn có xá-lợi châu, đó là chứng
cứ biểu thị người ấy đă đắc quả
vị ǵ? (Huệ Đức
hỏi)
Đáp: Xá-lợi sau khi hỏa thiêu là
chứng cứ biểu thị người ấy tu tŕ
hữu lực mà thôi, chẳng thể dựa vào đó
để đoan quyết là quả vị ǵ!
* Hỏi: Khi tụng kinh,
thỉnh chuông, gơ mơ là do có ư nghĩa ǵ? (Phổ Huệ hỏi)
Đáp: Chuông có thể cảnh
tỉnh đại chúng. Hơn nữa, thân chuông có đúc
kinh văn, hoặc đúc tên kinh. Khi thỉnh chuông, âm thanh
lan truyền trong hư không, giống như tiếng kinh
trọn khắp pháp giới, đó là ư nghĩa lợi ích
chúng sanh trọn khắp. Cá thường tỉnh táo,
chẳng ngủ, nên khắc gỗ thành h́nh [mơ cá], gơ mơ
để [giúp hành nhân] chẳng hôn trầm. [Chuông mơ] mang ư
nghĩa cảnh tỉnh này. Đă thế, đại chúng
tụng niệm, ắt phải có âm điệu, tiết
tấu th́ mới không lộn xộn, rối loạn; chuông
và mơ lại có tác dụng điều chỉnh âm tiết.
* Hỏi: Quán Thế Âm Bồ
Tát có phải là thân nữ hay không? Ngài có cùng là một
vị Bồ Tát với Thiên Thủ Quán Thế Âm hay không? (Lưu Định Xí hỏi)
Đáp: Quán Âm trọn chẳng
phải là thân nữ. Thân nữ và tướng Thiên Thủ v.v…
như ông đă thấy đều là ứng hóa.
* Hỏi: Học Phật th́
phải kiêng giết. Như giáo đồ của
đạo Gia Tô không kiêng giết, tội nghiệp ấy
do ai gánh vác? Người truyền đạo cứ nói “đều
do Thượng Đế gánh chịu”, điều đó có
thật hay không? (Đới
Lục Hỏa hỏi)
Đáp: Chính ḿnh ăn cơm,
chính ḿnh no. Tự ḿnh mọc ghẻ, tự ḿnh đau
đớn. Nếu nói người khác có thể chịu
thay th́ hết thảy nhân quả đều vô dụng!
Đó là lẽ thường. Nghĩa lư trong các giáo khác tôi
chưa từng nghiên cứu, chẳng tiện đàm luận
bừa băi!
* Hỏi: Phàm là bậc tổ
sư thành tựu hoặc chứng quả sẽ có ngữ
lục, trước thuật, hoặc có người thay
mặt chứng tỏ Ngài đă thành tựu. Có những
vị chẳng biết chữ, lại không có ai viết
thay, làm sao biết vị ấy đă thành tựu? (Trí Hùng hỏi)
Đáp: Chứng quả hay không, chẳng
do có sáng tác hay không! Bất quá là vị nào có trước tác
th́ người ta dễ biết, nhưng người
chẳng có trước tác hay không biết chữ, chỉ nh́n
vào h́nh tướng biểu hiện lúc lâm chung và hết
thảy các điềm lành th́ biết người ấy có
thành tựu hay không chẳng khó khăn ǵ!
* Hỏi: Thế giới có
chiến tranh th́ người dân trong mỗi nước
đều cầu nguyện quốc gia của chính ḿnh
thắng lợi. Rốt cuộc chư Phật sẽ
thỏa nguyện cho kẻ nào? (Lữ
Chánh Lương hỏi)
Đáp:
* Hỏi: Có người bạn
tới hỏi tôi: “Chúng ta do t́nh mà đọa, do đọa
nên chẳng thể giải thoát”. Phật có thể giải
thoát, đó là do Ngài vô t́nh hay là hữu t́nh vậy? (Lại Đống Lương hỏi)
Đáp: T́nh có thể chia thành hai
loại t́nh thức và ái t́nh để giải thích. Thức
là hư vọng phân biệt, ái là tham luyến triền miên;
v́ thế, đọa lạc. Phật đă chuyển ái
thành vô duyên từ bi, chuyển thức thành Đại Viên
Kính Trí, há c̣n có thể gọi Ngài là hữu t́nh ư?
* Hỏi: Khi đức Phật
nhập Niết Bàn, cớ sao các đại đệ
tử đă chứng Vô Sanh từ lâu lại khóc lóc? (Lại Đống Lương
hỏi)
Đáp: Trên đường
tối tăm, mất đi ngọn đuốc sáng. Trong
biển khổ, thuyền Từ sắp ch́m mất trong
chốc lát. Chúng sanh mất chỗ nương cậy,
người học mất đi người dẫn
dắt, vũ trụ tối tăm, sao không buồn bă cho
được?
* Hỏi: Thầy bói nói: Trong
mạng vận hằng năm, có người
được các sao Phước Đức, Thái Âm v.v…
chiếu, có khi bị xung phạm bởi các sao Bạch
Hổ, Thiên Cẩu v.v… Tôn Tử[13]
c̣n bị lănh đao, có lúc phải vượt ải này
nọ. Những chuyện giống như trên đây rất
nhiều, đối với những chuyện liên quan
đến thân mạng, có nên tin tưởng hay không? Phật
có thể giải thoát [những nỗi hoạn nạn
ấy] hay chăng? (Vưu Thái
Hoa hỏi)
Đáp: Đă là Phật tử
quy y, thọ giới, chớ nên tin tưởng, nghe theo
thuyết ngoại đạo ấy. Kinh dạy: “Chí tâm niệm một câu A Di
Đà Phật, có thể tiêu trừ trọng tội trong tám
mươi ức kiếp sanh tử”. Lại c̣n “xưng niệm thánh hiệu Quán
Âm có thể tiêu trừ hết thảy tai nạn khổ ách”.
Kinh văn đă dạy thật rơ, nhưng phải niệm
tới mức chẳng sanh nghi th́ mới có thể
đạt được cảm ứng.
* Hỏi: Nghe nói hiện
thời có một loại đạo nói ăn chay có thể
ăn trứng gà, thờ Phật Di Lặc. Họ nói
chẳng dùng tới kinh điển của Phật Thích Ca
v́ chẳng hợp thời. Đối với tín đồ
của họ, chuyên dùng điểm tâm trực chỉ[14]
bèn đắc đạo. Đó có phải là một phái
Phật giáo hay không? (Tam Mộc
hỏi)
Đáp: Phàm những kẻ nào
nói Phật Di Lặc nay đang giáng thế đều là con
cháu của bọn Bạch Liên Giáo do Hàn Sơn Đồng
sáng lập vào đời Nguyên. Như Hàn Lâm Nhi,
Đường Trại Nhi, Từ Hồng Nho, La Úy Quần
v.v… đều là hậu duệ của chúng, nói xằng
bậy “Lục Tổ vĩnh viễn chẳng truyền
[Thiền Tông cho tăng sĩ], mà truyền đạo
Thiền cho vợ chồng Bạch Mă trong chốn nhà lửa,
đủ mọi lời lẽ yêu dị, dối gạt
dân ngu. Sau đó, đều trở thành lũ tạo
phản bị tru diệt, đă có chứng cứ trong
lịch sử. Tên gọi của chúng tùy theo thời mà thay
đổi, như Thiên Lư Giáo, Bát Quái Hội, Nghĩa Ḥa
Đoàn, Hồng Đăng Tráo v.v… đều là biến
tướng [của Bạch Liên Giáo]. Hiện thời
những đạo này giáo nọ chính là ma con, ma cháu của
chúng nó. Những thuật lừa người chẳng ngoài cầu
cơ, rao truyền đồn đại, điểm
khiếu, chỉ tâm, phong tiên, phù thủy trị bệnh[15]
v.v… Những lũ dân ma ấy, nếu gặp chánh phủ
khoan dung, chẳng bị tru diệt rơ rệt, th́ do tội
hủy báng Tam Bảo cũng sẽ chẳng tránh khỏi sự
khiển trách trong cơi âm vậy!
* Hỏi: Trong Cựu
Ước Toàn Thư của đạo Gia Tô có nói: “Trời, đất, vạn
vật đều do Thượng Đế Gia Ḥa Hoa
(Jehovah) tạo ra. Do đó, trong vũ trụ chỉ có
một vị chân thần duy nhất. Phàm những ai tin
tưởng Ngài sẽ được cứu, linh hồn
lên Thiên Đường. Kẻ không tin, sau khi chết
sẽ bị phán xử vào địa ngục!” Chẳng
rơ có đúng hay không? (La Xuyên
hỏi)
Đáp: Đọc lời
hỏi, tôi thấy câu chữ rơ ràng, suông sẻ, ắt
[người hỏi] là người đọc sách hiểu
lư, chắc là đối với câu hỏi này bèn có thể
tự hiểu. Ông đă rủ ḷng hỏi đến, khiến
cho kẻ hèn này càng tăng thêm ḷng nghi! Thử hỏi:
Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn Vương, Vũ
Vương, Châu Công, Khổng Tử là các vị thánh nhân, Tăng
Sâm, Mẫn Tử Khiên là những vị đại
hiếu, Quan Công, Nhạc Phi là những bậc tinh trung, họ
chẳng hề tin tưởng Gia Ḥa Hoa, chẳng lẽ
đều đọa địa ngục cả ư?
* Hỏi: Thường là trong xă
hội, nhà nhà đều có đặt lư hương
thờ phụng Tam Quan Đại Đế[16],
các Ngài ấy là Phật hay là thần? Phật tử có nên
thờ phụng hay không? (Thí
Vạn Tấn hỏi)
Đáp: Tam Quan Đại Đế
là thần trong Đạo gia, chẳng phải là Phật.
Phật tử chẳng cần đa sự! Khổng
Tử dạy: “Phi kỳ
quỷ nhi tế chi, siểm dă” (Chẳng phải là
tổ tiên đă khuất của chính ḿnh mà thờ cúng chính
là siểm nịnh vậy).
* Hỏi: Có người thờ
Địa Mẫu[17]
cũng gọi là Bồ Tát, trong Phật giáo có vị ấy
hay không? (Vương B́nh Lang hỏi)
Đáp: Thần quỷ nhất loạt
gọi là Bồ Tát chính là do thế tục lẫn lộn.
Địa Mẫu chẳng xuất phát từ kinh Phật,
là thần trong đạo nào, kẻ hèn này không biết.
* Hỏi: Cầu cơ có
phải là chuyện thuộc về Phật giáo hay không?
Cần phải mất bao nhiêu thời gian để
học thành? Quư xă có thể chỉ dạy, hướng dẫn
tôi luyện tập, hoặc là ban tặng cho tôi một
bộ sách giảng nghĩa những bước tu tập
tuần tự có được hay chăng? (Bạch Vân Tiều hỏi)
Đáp: Cầu cơ thuộc
về chuyện quỷ thần, là chuyện bị Phật
giáo cấm ngặt nhất, tệ xă làm sao làm chuyện
ấy cho được? Chẳng thể vâng mạng, xin
hăy rộng dung!
* Hỏi: Tiên, Phật, Bồ Tát, có ǵ
phân biệt? Hiện thời, có phải Ngọc Hoàng Đại
Đế là Quan Thánh Đế Quân? Bất quá ông ta coi
trọng trung nghĩa, sao lại có địa vị cao
hơn Quán Âm Đại Sĩ? (Bạch
Vân Tiều hỏi)
Đáp: Phật là bậc thánh
nhân xuất thế đă chứng Đại Bát Niết Bàn.
Bồ Tát có năm mươi hai tầng cấp sai khác, cao nhất
là Diệu Giác, bằng với Phật. Chỗ khác biệt
là Phật như trăng ngày Rằm, Diệu Giác như trăng
Mười Bốn. Tiên là nói thông tục theo Đạo giáo,
chia thành ba loại là thiên tiên, địa tiên và quỷ. Nếu
xét theo kinh Phật, sẽ có mười loại, coi chi
tiết trong kinh Lăng Nghiêm, tôi sợ rườm rà nên
không nêu ra. Nói chung, họ là những chúng sanh chẳng tu
Chánh Giác, khi quả báo đă hết, lại phải luân
hồi. C̣n như nói Ngọc Hoàng đă đổi thành Quan
Thánh Đế Quân chính là do bọn ngoại đạo phàm
tục bịa đặt để mê hoặc đại
chúng. Lời lẽ nói mớ trong mộng, chẳng đáng
bàn tới! [Nói] Quan Đế có địa vị cao hơn
Quán Âm, lại chính là dùng phàm để khinh miệt thánh,
tội lỗi muôn phần! Ngay như vô lượng thiên
đế trong hai mươi tám tầng trời c̣n đều
là thần hộ pháp trong Phật môn. Địa vị của
họ nếu so sánh với Quán Âm th́ Quán Âm giống như
viện trưởng của quốc gia, Thượng
Đế c̣n là sĩ quan chỉ huy đội hộ
vệ giữ cửa; huống hồ quả vị của
Quan Đế c̣n chưa đạt đến tầng
trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng ư?
* Hỏi: Tôi từng nghe
người khác nói: “Hiện thời chẳng phải là Thích
Ca Mâu Ni Phật, A Di Đà Phật hoặc Bồ Tát nào
đó đang hưng thịnh, mà là Tế Công Hoạt
Phật đang hưng thịnh”. Chẳng biết [lời
lẽ ấy] có đích xác hay không? (Trần Vinh Tấn hỏi)
Đáp: Phật pháp như mặt
trời, mặt trăng, chẳng có ǵ là hưng thịnh
hay không hưng thịnh. Kẻ thốt ra lời ấy
chắc chắc thuộc hạng chẳng hiểu rơ
Phật lư, đúng là hạng sùng bái cầu cơ. Nếu
kẻ ấy chịu trống ḷng học Phật th́ có
một quyển Kỹ Lộ Chỉ Quy (hướng
dẫn nơi lối rẽ), hăy khuyên người ấy
đọc sách đó. Nếu người ấy không
chịu, đừng tranh luận với hắn, ai nấy cứ
làm theo điều ḿnh nghĩ là đúng mà thôi.
* Hỏi: Nữ nhân từ mười
hai tuổi đến bốn mươi mấy tuổi
đều có kinh nguyệt, có người nói: “Trong ṿng
bốn hoặc năm ngày trước hoặc sau khi có kinh th́
có thể lễ Phật, tụng kinh”, đúng chăng? (Kha Tiên Giang hỏi)
Đáp: Kinh nguyệt là
chuyện thuộc về sinh lư, chẳng thể tránh né.
Tụng kinh, lễ Phật quư ở chỗ công phu lâu dài,
thường hằng. Có kẻ nói trong khi có kinh không thể
tụng kinh, lễ Phật, tức là lời luận
định xuất phát từ cái tâm ǵn giữ ḷng kính ngu
muội, chẳng hiểu rơ sự lư!
* Hỏi: Những kẻ dùng bùa
chú để chữa bệnh, cũng tự xưng là
đệ tử Phật, xin hỏi chuyện ấy là
như thế nào? (Vương Giới
Nhất hỏi)
Đáp: Dùng bùa chú để
chữa bệnh chính là tài lẻ của bọn
phương sĩ[18]
ngoại đạo, họ tự xưng là đệ
tử Phật, đơn giản là nói càn! Người
hiểu Lư đôi chút đều có thể biện
định được!
* Hỏi: Trong các thần, Lăo
Tổ là cao nhất, nghe nói Phật Tổ và Khổng Thánh
Nhân đều là đệ tử của Ngài, lại có
người nói Vô Sanh Lăo Mẫu càng cao hơn nữa.
Rốt cuộc vị nào cao nhất? (Nhất Trần hỏi)
Đáp: Tra duyệt khắp Tam
Tạng trọn chẳng thấy có chuyện đức
Phật bái Lăo Tổ làm thầy. Trong Nhị Thập Tứ
Sử và Tứ Thư, Ngũ Kinh, cũng chẳng có có
chuyện Khổng Tử bái Lăo Tổ làm thầy. Tiên sinh
nghe lời ấy, có chánh sử để khảo duyệt
hay chăng? Xin hăy thứ lỗi! Đối với
loại thần thoại vô căn cứ này, tôi chẳng
rảnh hơi quản đến, càng chẳng bàn ai cao, ai
thấp!
* Hỏi: Kinh Kim Cang có bản
chú giải của Nhiên Đăng Cổ Phật, bản
chú giải của Lữ Tổ, bản chú giải của Tế
Công Hoạt Phật, so ra bản nào giảng hay nhất? (Nhất Trần hỏi)
Đáp: Nhiên Đăng Phật
chú giải kinh Kim Cang th́ cũng giống như từ
điển Khang Hy có bản in đời Tống! Hai
bản chú giải của Lữ Tổ và Tế Công cũng
là do bọn hiếu sự ngụy tạo nhằm lừa
gạt kẻ ngu!
Ghi thêm: Nếu tiên sinh có tâm
hướng Phật, trước hết hăy nên t́m
đọc hai tập sách nhỏ. Một là Kỹ Lộ
Chỉ Quy, hai là Hồi Đầu Thị Ngạn. Học
Phật cần phải nhập tri kiến Phật. Đề-hồ
mà thêm vào một giọt rượu Trấm[19],
sẽ biến thành độc dược!
* Hỏi: Khẩn cầu Quán Âm Bồ
Tát cứu khổ cứu nạn có phải là tham lam hay
không? (Chung Thế Hiền hỏi)
Đáp: Luận theo Tục Đế,
chuyên cầu tránh nạn th́ chưa phải là tham. Luận
theo Chân Đế, luyến tiếc sắc thân này th́
cũng là tham!
* Hỏi: Đức Phật nói
địa ngục th́ thật sự có chuyện ấy hay
không? Các nhà khoa học hiện thời bảo trong ruột
địa cầu là lửa, xin hăy giải trừ nỗi
nghi! (Trần Chí Nghiệp
hỏi)
Đáp: Vạn pháp đều do
tâm tạo, tức là do tâm hiện, sao lại bảo là
không? Địa ngục có chỗ ở dưới
đất. Xét theo ba ác đạo, địa ngục
được gọi là hỏa đồ, do lửa
dữ bức bách vậy. Các nhà khoa học nói tâm quả
đất là lửa, đúng là xứng hợp. Nhưng
cũng có địa ngục rải rác trong đồng
hoang, dưới cội cây, trên không trung. Hết thảy
vật chất đều là y báo của chúng sanh (tức là
các vật để thân tâm nương vào như núi, sông,
đại địa, áo, cơm, nhà cửa, vật
dụng), tùy theo sức nghiệp quả mà thấy khác
biệt. Lửa trong ruột quả đất chính là
điều được thấy bởi mắt
người, chúng sanh trong địa ngục
đương nhiên thấy là vật khác, nhưng núi
đao, rừng gươm, chắc chắn chẳng hư
huyễn! Nay tôi nêu ra một thí dụ: Mắt người
thấy nước sông là nước, mắt chư thiên
thấy là lưu ly, mắt cá hoặc rồng thấy là mây
khói, mắt ngạ quỷ thấy là máu mủ. Sợ ông
hăy c̣n nghi, lại nêu một thí dụ khác. Người trông
thấy cục phân to bèn bịt mũi, chó lại thấy
là món ngon lành!
* Hỏi: Chuyện luân hồi
đến tột cùng là có hay không? Nếu thật sự có
chuyện ấy, cớ sao chẳng hướng dẫn
trọn hết mọi người ai nấy đều
trông thấy để họ biết rồi sẽ tự
kềm chế? (Trần Chí
Nghiệp hỏi)
Đáp: Chết đây, sanh kia,
bao lượt chẳng dứt, nên gọi là luân hồi. Những
điều được ghi chép trong sách Phật tạm
thời chẳng bàn đến, kinh sách Nho gia cũng chép
nhiều lắm. Như Bành Sanh[20]
làm lợn, Đỗ Bá làm lệ[21],
Dương Thúc Tử lại đầu thai vào nhà họ
Dương, nhớ chuyện đời trước, há có
thể nói toàn là gạt người ư? C̣n như ông nói “hướng
dẫn người ta đến thăm”, đúng là
chẳng dễ thực hiện! Từ chỗ kia chết,
đầu thai vào chỗ này, là do thần thức bềnh
bồng trôi nổi. Thần thức c̣n thật sự
chẳng dễ thấy, huống là có thể thuận theo
nó đến khắp nơi thăm viếng! Ví như chúng
ta nằm mộng, đích xác là chẳng giả, nhưng
muốn dẫn người khác tham quan cảnh trong
mộng của ta, hiện thời c̣n chưa phát minh
phương pháp ấy. Lại như ở Đài Loan phát
sóng truyền thanh, Nữu Ước thu được
tiếng nói, đó là làn sóng điện trên không trung,
cũng chẳng có cách nào hướng dẫn người
khác đuổi theo [làn sóng ấy] để tham quan [nước
Mỹ]!
* Hỏi: Phật pháp vô biên, v́
sao chẳng thể thắng ma? V́ sao chẳng thể
khiến cho người ta tin Phật, khiến cho thế
giới chẳng có thảm kịch chiến tranh? (Hao Thạch hỏi)
Đáp: Câu hỏi này cần
phải chia thành ba đoạn để trả lời:
1) Một là nói “Phật lực trọn
chẳng có chuyện không thể thắng ma”. Bất quá, người
học Phật trong đời sau chẳng có đủ
đạo lực, có kẻ chẳng thể thắng ma chính
là do chí nguyện bạc nhược mà nên nỗi, quả
thật chẳng phải là do Phật pháp không linh.
2) Hai, tâm, Phật, chúng sanh, ba thứ
chẳng sai biệt, đều có sức mạnh chẳng
thể nghĩ bàn. Tâm mê bèn là chúng sanh, tâm ngộ chính là
Phật Đà. Mê hay ngộ toàn là do chính ḿnh, bất quá người
giác trước thương xót kẻ chưa giác, nên có
trách nhiệm giác ngộ. Để giác người khác,
chỉ có cách dùng ngôn ngữ, văn tự, Tam Tạng kinh
điển. Chúng sanh bị vô thỉ vô minh (trong tâm có ba
thứ bệnh là si, mạn, nghi) che lấp, chẳng
chịu học hỏi, t́m ṭi, nên chẳng tin. Tâm kẻ
ấy lại chẳng phải là tảng đá hay tấm
chiếu, làm sao đức Phật có thể thay họ
chuyển dời hoặc thay họ xếp cuộn lại
được?
3) Ba, chiến tranh trên thế giới do
tham, sân, si trong tâm con người tạo thành, tức là do
chẳng tin Phật pháp mà nên nỗi! Đức Phật
như y vương, vốn có thể trị căn
bệnh cuồng ấy, nhưng bệnh nhân chẳng
chịu uống thuốc, tất nhiên bệnh t́nh tăng
nặng hơn. Đă chẳng uống thuốc của bác
sĩ, lại trách ngược bác sĩ vô dụng, có lẽ
ấy hay chăng?
* Hỏi: Phật lấy từ
bi làm gốc, nếu như người trong nước
đều thực hành từ bi, đồng thời,
ngoại quốc thấy có cơ hội thâu tóm ta, bèn dốc
hết vũ lực xâm nhập. Khi ấy, nếu dùng
vũ lực để chống cự, ắt phạm sát
giới, trái nghịch từ bi. Không chống cự th́
sẽ mất nước, vĩnh viễn làm nô lệ, hăy
nên như thế nào? (Liêu Nhất
Tân hỏi)
Đáp: Đệ tử
Phật chia thành xuất gia và tại gia khác biệt.
Người xuất gia ngoài kinh, tượng, y bát ra,
những thứ khác đều bỏ sạch. Thế gian
xâm đoạt phần nhiều là do tài vật. Đă
đánh mất mục tiêu xâm đoạt, c̣n nói ǵ
đến chuyện dùng vũ lực để chống
cự? Nếu là kẻ tại gia có trách nhiệm
đối với quốc gia, có thể thực hành sự
cai trị nhân từ, sẽ được người
trong nước đồng t́nh, ngoại quốc há dám cẩu
thả làm bậy? Nếu như bất hạnh bị
địch thủ xâm phạm, đứng lên chống
cự, đó là bảo vệ dân chúng, chính là vô úy bố thí.
Nhưng chống cự hăy nên có hạn chế, pḥng vệ
đúng như pháp luật quy định, chớ nên
vượt quá mức độ cần thiết th́ sẽ
chẳng thương tổn ḷng Từ!
* Hỏi: Ấn Độ là thánh
địa bắt nguồn Phật giáo, cớ sao Ấn
Độ lại vong quốc? Có phải là do ảnh
hưởng của Phật giáo hay không? (Một độc giả hỏi)
Đáp: Từ mấy trăm
năm trước, Phật giáo Ấn Độ đă
bị suy vi; về sau, chỉ có Bà La Môn và Hồi giáo hưng
thịnh. Khi vong quốc, chẳng dính dáng ǵ đến
Phật giáo, xin hăy xem sử ngoại quốc sẽ tự
biết.
* Hỏi: Trong thiên Trọng Ni [sách
Liệt Tử] chép: “Thái Tể
vấn Khổng Tử viết: Phu tử thánh giả dư?
Khổng Tử viết: Mỗ vật cảm. Hựu
vấn viết: Tam Hoàng Ngũ Đế. Khổng Tử hựu
bất đáp. Thái Tể hăi nhiên viết: Nhiên tắc thùy vi
thánh giả? Khổng Tử động dung nhi ngôn viết:
Tây Phương hữu đại thánh nhân, bất trị
nhi bất loạn, bất hóa nhi tự hành, bất ngôn nhi
tự tín, đăng đăng hồ dân vô năng danh yên” (Thái
Tể hỏi Khổng Tử: “Phu tử là thánh nhân ư?”
Khổng tử đáp: “Ta chẳng dám”. Lại hỏi: “Tam
Hoàng, Ngũ Đế là thánh nhân ư?” Khổng Tử
lại chẳng đáp. Thái Tể kinh hăi, nói: “Vậy th́ ai
sẽ thánh nhân?” Khổng Tử đổi sắc mặt
mà nói: “Phương Tây có bậc đại thánh, chẳng
cai trị mà cơi đời chẳng loạn, chẳng giáo
hóa mà dân chúng tự hành, chẳng nói mà người khác tự
tin tưởng. Ân đức mênh mông đối với dân,
chẳng thể diễn tả được”). Xin hỏi
bậc đại thánh nhân ở phương Tây ấy có
phải là nói tới Phật hay không? (Liêu mỗ mỗ hỏi)
Đáp: Đó là nói về
Phật Đà, người xưa đă có nhiều vị
giảng rơ [chuyện này].
* Hỏi: Tống Tử Quán Âm
xuất phát từ kinh điển hay do con người
đặt ra? Bồ Tát thật sự có thể ban tặng
con hay sao? (Trần Phật Tử
hỏi)
Đáp: Cá nhân tôi chưa thấy
Tống Tử Quán Âm xuất phát từ kinh điển nào,
nhưng tôi cho rằng đó là v́ trong phẩm Phổ Môn của
kinh Pháp Hoa có câu “cầu con trai
được con trai, cầu con gái được con gái”,
[tiền nhân] bèn dựa theo đó mà tạo h́nh tướng
ấy. Nhưng lời kinh đă nói rất rơ, nhất tâm
cầu, ắt sẽ đạt được, chính là do
cảm ứng mà thành, giống như Bồ Tát tặng cho.
Đặc biệt tạo h́nh tượng ấy nhằm
nêu rơ chuyện đó cho người ta dễ hiểu. Câu
trả lời này hoàn toàn xuất phát từ sự đoán
ṃ của tôi, ông vẫn cần phải thỉnh giáo bậc
cao minh khác.
* Hỏi: Trong phẩm Phổ
Môn của kinh Pháp Hoa có nói: Niệm danh hiệu Quán Âm
cầu con trai được con trai, cầu con gái
được con gái, lửa chẳng thể thiêu,
nước chẳng thể ch́m, binh đao chẳng thể
hại, có những điều hiệu nghiệm ấy. Xin
hỏi đó có phải là mê tín hay không? Làm thế nào
để chứng thực chẳng phải là mê tín? (Từ Phước hỏi)
Đáp: Hết thảy những
điều hiệu nghiệm trong đoạn kinh văn
ấy, phải do hai chữ “nhất tâm”. V́ thế, có
thể cảm ứng đạo giao, cũng giống
như kinh Di Đà nói “nhất
tâm bất loạn, lâm chung Phật hiện thân”. Đó là
v́ tâm và Phật hợp nhất, c̣n ở đây là tâm và Quán
Âm hợp nhất. Đă là hợp nhất, đạt được
cảm ứng sẽ tự là chuyện thuộc về khả
năng của chính ḿnh. Nếu nghi điều này là mê tín, tức
là về căn bản chẳng thừa nhận có Quán Âm.
Đối với vấn đề chứng thực,
những chuyện “tŕ danh được cứu” xưa nay
đă ghi chép rất nhiều, sự thực đă
được chứng minh đích xác!
* Hỏi: Nói “quán tưởng”
và “hồi hướng” th́ có phải là vô minh, vọng
niệm hay chăng? (Triệu Vĩnh
Siêu hỏi)
Đáp: Quán tưởng là một
phương pháp tu tŕ. Quán là quán chiếu, Tưởng là thiết
tưởng (h́nh dung, suy tưởng, liên tưởng v.v…).
Xét theo Sự, quán tưởng th́ có mười sáu phép Quán
của Tịnh Tông, Bổn Tôn Quán trong Mật Tông v.v… Xét
theo phương diện Lư, [th́ có các phép Quán như] Tứ
Niệm Trụ quán thân bất tịnh v.v… và Tam Đế
Tam Quán v.v… Hồi hướng là một loại nguyện
tâm, thâu gom hết thảy công đức đưa về một
chỗ nhằm một mục đích nào đó. Có các
loại như hồi Sự hướng Lư, hồi nhân
hướng quả, hồi tự hướng tha. Hai
thứ trên đây (quán tưởng và hồi hướng)
khác với vô minh và vọng niệm.
* Hỏi: Thường nghe “thân người khó
được, Phật pháp khó nghe, trung thổ khó sanh”. “Trung
thổ” ở đây chỉ nơi nào? (Lục Huyền Trí hỏi)
Đáp: Chỉ quốc gia là trung
tâm văn hóa vật chất phồn thịnh trong một
châu nào đó, khác với bộ lạc ở nơi hẻo
lánh, biên cương, nhỏ hẹp.
* Hỏi: V́ sao hiện thời
chúng sanh hiểu lầm Thích giáo (đạo Phật) là mê tín?
(Toàn Vọng hỏi)
Đáp: Kẻ hiểu lầm
nói như thế, v́ họ không hiểu rơ Sự Lư,
ngược ngạo mạo nhận là bậc thông gia, không
biết cũng cứ gắng nói bừa là hiểu
biết. V́ như vậy, nên gọi là chúng sanh. Nhưng
trong lời hỏi có hai chữ “hiện
thời”, tợ hồ có
ư nói trước kia vẫn chưa phải là như vậy.
Đúng như ông đă nói, hiện thời rồng rắn
hỗn tạp, mắt cá lẫn với chân châu, khiến
cho người đời bị mờ mắt. V́ vậy,
đệ tử Phật ắt phải trọn hết trách
nhiệm hộ giáo. Nghiêm ngặt phân định tà chánh, quở
trách, bài xích phường tà ma ngoại đạo giả
mạo hoặc dựa hơi Phật pháp, đừng nghe
chúng nó “treo đầu dê bán thịt chó”, mê hoặc chúng sanh,
khinh miệt Phật giáo!
* Hỏi: V́ sao đức
Phật không chính tay viết kinh Phật, hoặc là trong khi
đích thân thuyết pháp, bèn sai đồ đệ ghi chép
để truyền cho hậu thế? (Thí Hiếu Học hỏi)
Đáp: Một người
giảng nói, mọi người lắng nghe, c̣n ǵ phổ
cập bằng? Ngài A Nan đa văn nhớ dai, khi kết
tập th́ một người thuật lại, mọi
người chứng minh, c̣n ǵ xác thực bằng? Nếu
đức Thế Tôn cứ phải bế môn viết sách, thời
gian có hạn, há lại có thể giảng kinh hơn ba
trăm hội, mà thuở ấy lại chẳng có
thuật ấn loát. Do đó, [viết sách] cũng chẳng
thể phổ độ các đệ tử
được!
* Hỏi: Hết thảy do Tứ
Đại ḥa hợp tạo thành, Tứ Đại lại
do ǵ ḥa hợp mà thành? (Sa Nhâm
hỏi)
Đáp: Vạn pháp không có ǵ
chẳng do các duyên ḥa hợp tạo thành. Câu kệ “các pháp từ duyên sanh” chính là
lời liễu nghĩa vậy!
* Hỏi: Chánh Pháp, Tượng
Pháp, Mạt Pháp, tổng cộng là một vạn hai ngàn
năm, Phật Di Lặc c̣n phải sau bao nhiêu vạn
năm mới đến thế giới Sa Bà này. Trong
khoảng thời gian ấy, nếu chẳng có Phật pháp,
há chúng sanh chẳng phải là quá khổ ư? (Sa Nhâm hỏi)
Đáp: Sanh trước hoặc
sau Phật là một trong tám nạn, đương nhiên là
khổ!
* Hỏi: Con người do luân
hồi mà có, cớ sao chẳng thể biết chuyện
đời trước? (Sa Nhâm
hỏi)
Đáp: Sau khi đă say chẳng
nhớ được chuyện lúc tỉnh, đến già
chẳng nhớ chuyện thuở bé. Huống hồ
xuất thai, nhập thai, hôn trầm, mờ mịt, lẽ
nào chẳng mê cho được!
* Hỏi: V́ sao đức
Phật chẳng thể làm cho Ma Vương, ngoại
đạo nhập chánh ngộ? (Sa
Nhâm hỏi)
Đáp: Phật là vô
thượng y vương, có thể chữa bất cứ
bệnh tật nào; chúng sanh như bệnh nhân, chẳng
chịu uống thuốc, cố nhiên bệnh chẳng
thể trừ! Ma chẳng thích nghe Phật pháp, làm sao có
thể ngộ cho được? Đó là lẽ thứ
nhất. Ma tà, ngoại đạo nghiệt nặng,
chướng sâu, tập khí ác kiên cố, tâm như
gương đục, quang minh chẳng lọt vào
được, nên nghe lời Phật chẳng thể
liễu giải. Như trời Đông rét buốt, băng
đóng cứng, ánh nắng chiếu xuống, do băng
đă đông lạnh lâu ngày, dẫu [có ánh nắng] mạnh
mẽ trong phút chốc, băng khó thể tan chảy
được. Đó là lẽ thứ hai.
* Hỏi: Tôi chẳng tin
thuyết “tam giáo đồng
nguyên” (tam giáo cùng một nguồn). Chỉ có điều
đọc sách Lăo Trang thấy cảnh giới cũng rất
cao, lại c̣n có khá nhiều chỗ tương tự. Sự
sai biệt của hai vị ấy rốt cuộc là như
thế nào? (Hồ Chi Chân
hỏi)
Đáp: Tam giáo có chỗ
tương đồng, đó là sự thật. Nếu
bảo là cùng một nguồn th́ sẽ là gượng ép,
gán ghép. Thử hỏi, “nguyên”
(nguồn cội) là nói về chuyện ǵ vậy? Có thể
đáp được không? Ở đây, tôi chỉ nói
sự giống nhau và khác nhau giữa Lăo Tử và Trang
Tử. Lăo Tử chán cơi đời bạc bẽo, xu
nịnh, trá ngụy, nên tận lực đề cao sự
thuần phác ḥng cứu văn thói tệ đương
thời, tự nhiên có nhiều chỗ chẳng giống
như Nho gia chủ trương “kinh
thế” (經世: lo toan, sắp xếp chuyện
đời). Người quen sống yên ổn, nghe măi
luận thuyết ấy, đương nhiên cảm
thấy thuyết ấy rất cao. Trang Tử cũng
đề cao chuyện ấy, nên ư chỉ của hai ông
cũng chẳng có ǵ khác nhau. Điểm khác biệt là sách
Lăo Tử nói đơn giản, nhưng vi tế, phần
nhiều giảng về sự lư. Sách của Trang Tử
nhằm giải tỏa nỗi bực tức, phần
nhiều nói chuyện ngụ ngôn. Lăo Tử mở ra
đầu mối ôn nhuận như ngọc, Trang Tử tập
hợp hoàn thiện các luận thuyết ấy sáng rực
rỡ như châu. Đoạn sau trong lời hỏi đă
vượt ngoài phạm vi Phật học, vốn thuộc
vào thể lệ chẳng giải đáp, nhưng do có liên
quan với đoạn trước nên tôi miễn
cưỡng phúc đáp mấy lời!
* Hỏi: Nghe nói hết thảy
nhân loại đều do dâm niệm mà sanh, nhưng bậc
thánh hiền thời cổ như Khổng Tử, Nghiêu, Thuấn,
hoặc hàng Bồ Tát thừa nguyện tái lai cũng do
nhiễm dâm niệm mà sanh ư? (Vương
Khả Tiêu hỏi)
Đáp: Đă nói là “thừa nguyện” th́ cũng rơ
ràng là chẳng do dâm niệm mà nhập thai!
* Hỏi: Lư tưởng cao
nhất trong Phật giáo (đối với quốc gia, xă
hội và bản thân của mỗi cá nhân) là phải
đạt tới mục đích ǵ? Có phải là càng
phải thực hiện hoàn thiện hơn những ǵ đă
được nói trong thiên sách Lễ Vận Đại
Đồng[22] hay
chăng? (Đặng Chí Thiện
hỏi)
Đáp: Đối tượng
ích lợi của nhà Phật không phải chỉ là nhân
loại, chẳng phải chỉ là một nước,
chẳng phải chỉ là một thế giới, chẳng
phải chỉ là một thời hạn. Xin hăy nghiền
ngẫm Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm, sẽ có
thể thấy đại lược đôi phần!
* Hỏi: Khi niệm kinh bèn
đánh chuông trống nhằm biểu thị điều ǵ,
có ư nghĩa ǵ? (Thí Tương
Ngấn hỏi)
Đáp: Nghe tiếng Phạm âm
xướng bái khiến cho người ta sanh tâm nghiêm túc,
nhu ḥa, lại c̣n phối hợp với chuông trống
nhằm [khiến cho người nghe] càng phát tâm tỉnh
ngộ sâu hơn, đây cũng là dùng âm thanh để làm
Phật sự. Hơn nữa, nhiều người
xướng niệm, cũng ắt phải có nhạc khí
th́ âm tiết mới chẳng đến nỗi tạp
loạn, rối ren!
* Hỏi: Theo Vật Lư Học
nghiên cứu, muỗi sanh sản trong chỗ nước
bùn, chẳng biết muỗi có linh tánh hay không? Có thể đập
nó hay chăng? (Thí Tương
Ngấn hỏi)
Đáp: Thai, noăn, thấp, hóa
đều là sắc thân, ắt phải có tánh ấy th́
mới có thể trưởng dưỡng, há muỗi có
thể ra ngoài lệ ấy! Chúng sanh đều có Phật tánh,
đều chớ nên giết!
* Hỏi: Khoa học phát
triển th́ có quan hệ lợi hay hại đối
với tôn giáo hay không? (Thí
Tương Ngấn hỏi)
Đáp: Tôn giáo mê tín chẳng phù
hợp lư trí sẽ do khoa học phát triển mà bị
ảnh hưởng. Phật giáo chẳng phải vậy!
Xin hăy tham khảo số thứ năm của tạp chí
này, số đặc biệt về Phật Đản,
đọc bài viết của pháp sư Nam Đ́nh và bài
văn vụng về của tôi sẽ tự biết.
* Hỏi: Gia Tô giáo nói vạn
vật trong vũ trụ do Thiên Chúa sáng tạo.
Trước khi đấng Thích Tôn xuất thế, vạn
vật trong vũ trụ do đâu mà có? (Thí Tương Ngấn hỏi)
Đáp: Câu hỏi này có liên quan
đến giáo nghĩa của tôn giáo khác, nên tôi tránh
chẳng trả lời! Phật giáo chỉ nói “duyên khởi tánh Không”, chính là
lư muôn đời chẳng thể đảo ngược,
phá hoại được! Ông cũng có thể tham khảo
bài văn của pháp sư
* Hỏi: Hôm Chủ Nhật, khi
nghe giảng kinh Pháp Hoa ở chùa Linh Sơn, từng nghe nói “Bồ
Tát hóa độ chúng sanh cần phải dùng phương
tiện thiện xảo”. Nếu độ kẻ ăn xin,
sẽ phải thay đổi sang quần áo của gă ăn
mày. Nếu không, sẽ chẳng khế cơ. Có
người chất vấn cụ: “Ông có thể làm
được hay không?” Giả sử làm được,
mục đích [làm như vậy] là để thuận
tiện độ người ấy, nhưng người
ngoài do tà kiến sẽ hiểu lầm, chẳng biết
thâm tâm của Bồ Tát, há dễ dàng ư? Đâm ra [v́ độ
sanh mà phải] hứng chịu sự hủy báng ấy! (Triều Tân ban liên hữu
hỏi)
Đáp: Nói tới “phương
tiện” th́ chính là trí huệ được vận
dụng quyền biến. Quyền biến tức là
chẳng có pháp nhất định, cốt sao thật
sự khế hợp là được rồi! Nếu
muốn độ người ăn mày, có lúc có thể
ăn mặc lam lũ, có khi phục sức hoa lệ. Há lại
chẳng nghe nói có Tứ Nhiếp Pháp ư? Nếu hành
bố thí, ngại ǵ hoa lệ? Nếu hành đồng
sự, ắt cần phải lam lũ. Nếu chấp
một pháp, há có thể gọi là phương tiện
thiện xảo được chăng? C̣n như bị
hủy báng th́ trong thế giới này sẽ khó tránh
khỏi. Khổng Tử là bậc đại thánh mà
thường bị Thúc Tôn Vũ Thúc[23]
hủy báng. Phật là bậc thánh của chư thánh, là
trời của các trời, mà c̣n bị Đề Bà
Đạt Đa hủy báng.
* Hỏi: Có người nói
đức Thế Tôn riêng v́ thương xót chúng sanh bần
hàn, khổ năo mà đến hóa độ, nhưng Phật
giáo hiện thời chuyên v́ người có tiền tài,
thế lực, [những kẻ có tiền tài, thế lực]
th́ mới được coi là Phật giáo đồ. Nh́n
theo cách ấy th́ có thể nói Phật giáo là từ bi, b́nh
đẳng hay chăng? (Triều
Tân ban liên hữu hỏi)
Đáp: Phật độ chúng sanh chẳng
phân biệt nghèo, giàu. Hiện thời, kẻ cung kính
người có tiền tài, thế lực, chính là do tánh phàm
tục của hạng phàm phu, trọn chẳng phải là giáo
nghĩa của Phật là như vậy! Hơn nữa, người
học Phật cũng chẳng phải là vừa học liền
có thể thay đổi, trừ bỏ tập khí. Điều
này lại cần phải luận định khoan dung hơn!
* Hỏi: Tế Công uống rượu
ăn thịt mà người ta gọi Ngài là Hoạt
Phật (Phật sống), chẳng biết là thật hay giả?
Người hiện thời quen nói: “Tâm tánh tốt lành là được
rồi, cần ǵ ăn chay! Ăn chay tổn hại thân thể,
làm sao có thể ĺa khổ được vui, lại làm sao
có thể tăng thọ, tăng phước cho được!”
Gặp trường hợp như vậy, nên dùng lời lẽ
ǵ để đối đáp? (Triều
Tân ban liên hữu hỏi)
Đáp: Tế Công uống
rượu ăn thịt đều là tiểu thuyết tục
truyền, chẳng đáng tin tưởng. Hơn nữa, nói
theo tiểu thuyết, ḥa thượng Tế Công có các thứ
thần thông, nên Ngài có thể uống rượu ăn
thịt. Người học Phật hiện thời, ngay cả
nửa điểm quỷ thông cũng chưa có, [nếu học đ̣i Tế Công] uống rượu
ăn thịt, bất quá là phá giới, tạo nỗi oan
nghiệt mà thôi. Nếu nói “tâm tốt cần ǵ phải ăn
chay”, xin hỏi thịt mà người ấy ăn có phải
là do [các động vật bị] cắt, chặt, đổ
máu mà có hay không? V́ quư vị tham ăn mà giết mạng nó,
hảo tâm kiểu đó chỉ có trời mới biết!
Lại v́ bổ béo chính ḿnh, ḥng tăng thọ, tăng phước,
mà khiến cho mạng con vật bị cắt chặt ngàn
vạn nhát, thế mà vẫn cứ xưng là hảo tâm? Nếu
như tâm người ấy chẳng tốt, sẽ chẳng
biết [c̣n sát hại thảm khốc hơn] như thế
nào nữa? Nếu nói ăn thịt để tăng phước
thọ, vậy th́ những kẻ phú quư ắt lẽ ra chẳng
ngă bệnh, chẳng bị tử vong!
* Hỏi: Trong ba đại tôn
giáo trên thế giới, sức phát triển và sức phổ
biến của các tôn giác khác đều rất hưng thịnh
khắp nơi, c̣n Phật giáo suy vi là do khuyết điểm
nào? (Triều Tân ban liên hữu
hỏi)
Đáp: Giáo thịnh hay suy không
do tín đồ nhiều hay ít, mà do có nhân tài hay không. Hiện
thời, [Phật giáo có] khuyết điểm thật nhiều,
chủ yếu là do giới lẫn thừa đều lỏng
lẻo vậy!
* Hỏi: Trong bài minh của Quốc
Phụ[24] có mấy
câu như sau: “Phật giáo là
ḷng nhân cứu thế, Phật học là mẹ của triết
học, nghiên cứu Phật học có thể bù đắp
những chỗ lệch lạc trong khoa học”. Quốc
Phụ sùng bái Phật học như vậy, cớ sao Phật
giáo vẫn chẳng phổ biến? Khẩn cầu hăy giải
thích! (Hồng Hoàn hỏi)
Đáp: Ḷng yêu thương thân
thiết gọi là Nhân. Chúng sanh trong cơi đời được
phân chia thành chín giới, chủng loại thiên sai vạn biệt,
chẳng thể cùng tận, [mỗi loài chúng sanh] đều
có các nỗi khổ, đều mong được cứu.
Có thể cứu trọn khắp th́ gọi là “cứu thế”. Phân loại để
cứu th́ chỉ có thể nói là cứu một loại nào đó.
Ḷng yêu thương chúng sanh trong các tôn giáo khác th́ hoặc là
yêu người mà hại vật, hoặc yêu lớn, hại
nhỏ, lắm nỗi sai biệt v.v… Phật giáo th́ coi cửu
giới tứ sanh đều như con một, b́nh
đẳng cứu bạt. V́ thế gọi là “ḷng nhân cứu thế”. Những
môn triết học khác, phần nhiều nói đến ngoại
cảnh, chỉ ḿnh Phật học nói tâm tạo, có thể
truy đến tận cùng cội gốc. V́ thế nói là “mẹ của triết học”.
Khoa học thường thiên về vật chất, thiên
về dục vọng, thiên về kiểu so sánh phán đoán
dựa trên những ǵ nhận biết trước mắt,
có lợi mà cũng có hại, do vậy gọi là “lệch lạc”. Phật
học chẳng phải không, chẳng phải có, cũng không,
cũng có, nói đến Trung Đạo, chỉ cầu minh
tâm kiến tánh, chủ trương thiểu dục tri túc.
Mỗi một sự lư, đều nói đến mức “theo
chiều dọc tột cùng ba đời, theo chiều ngang
trọn khắp mười phương”, không chỉ câu
nệ Hiện Lượng, có lợi, chẳng có hại, hết
thảy viên dung, nên nói là “có
thể bù đắp cho những chỗ lệch lạc
của khoa học”. Quốc Phụ là bậc đại
trí đại dũng, do nhận biết thấu triệt cơ
duyên này, nên lớn tiếng hô hào. Những kẻ kém trí hơn,
tự nhiên chẳng thể tin tưởng!
* Hỏi: Giới chẳng tà dâm trong Ngũ
Giới của cư sĩ có phải là lấy quy chế một
vợ một chồng làm nguyên tắc? Nhưng học nhân
do học bài thứ tư giảng về Chuyển Luân Thánh
Vương trong lớp hàm thụ trung cấp mới biết
Chuyển Luân Thánh Vương phi thiếp đông đảo,
có phải là phạm tà dâm hay không? Tôi thưa hỏi thầy
Phương Luân[25], ông
ta đáp: “Hễ giao hợp
với thê thiếp đều gọi là chánh dâm”. Như
thế th́ vô h́nh trung đă đề xướng một chồng
nhiều vợ, cũng chẳng phù hợp với chế độ
hôn nhân trong pháp luật của quốc gia hiện thời
cho lắm! Nếu đứng trên lập trường của
nữ giới, cũng có thể nói “một vợ nhiều
chồng đều gọi là chánh dâm!” Học nhân chẳng
chấp nhận cách nói này, lại cúi xin lăo cư sĩ hăy phân
biệt tường tận chánh dâm và tà dâm như thế nào
để tôi được nghe nh́n đúng lẽ! (Lư Vinh Đường hỏi)
Đáp: Các nơi, các nước
trên thế giới, phong tục mỗi chỗ khác biệt,
xưa nay lại có nhiều biến hóa, quốc gia chế định
pháp luật phần nhiều dựa trên tập tục. Có
trường hợp một chồng một vợ, có trường
hợp một chồng nhiều vợ, cũng có khi là một
vợ nhiều chồng, nhưng những chuyện này bị
giới hạn bởi khu vực và thời gian, hễ vượt
ra ngoài giới hạn và thời gian sẽ chẳng thể
thực hiện được. Lấy ngay Trung Hoa vào thời
cổ để luận, thiên tử có một hoàng hậu,
ba phu nhân, chín tần, hai mươi bảy thế phụ,
tám mươi mốt ngự thê[26] v.v…
được ghi chép trong kinh điển [Nho gia]. Cho đến
đời Thanh, người thường c̣n được
phép có một vợ nhiều thiếp. Cho đến gần
đây, pháp luật mới quy định một chồng, một
vợ, nhưng chẳng thể dùng luật hiện thời
để ràng buộc cổ nhân, mà cũng chẳng thể
dùng luật nơi đất Giáp để ràng buộc xứ
Ất. Những điều này đều thuộc về
quyền hạn chánh trị trong thế gian, Phật pháp chế
giới đều thuộc trong phạm vi Tánh và Tu, trọn
chẳng thay thế quyền cai trị xử phạt [trong
cơi đời]. V́ thế, chẳng hạn chế người
ta phải là một vợ một chồng, càng chẳng đề
xướng đa thê, lại càng chẳng đề xướng
đa phu. Chỉ cần thấy rơ giới hạn giữa
chánh trị và tôn giáo, sẽ chẳng chỉ trích Phật giáo.
Đối với vấn đề tà dâm, nếu thuộc
trong phạm vi được chánh trị cho phép sống
chung th́ [tội tà dâm] sẽ chẳng thành lập.
* Hỏi: Tư tưởng của
một dân tộc biến thiên chủ yếu là v́ bối cảnh
lịch sử. Các dân tộc trên thế giới coi tư tưởng
tiêu cực của dân tộc Ấn Độ là kỳ lạ,
đặc biệt nhất, [người Ấn] hướng
tới đời tương lai, chẳng coi trọng hiện
thực, đối với thời gian có quan niệm là khổ.
Trong các tông phái ở Ấn Độ, bất luận là chánh
thống hay ngoại đạo, tư tưởng ấy rất
rơ rệt. Phật giáo là một tông phái tôn giáo của Ấn
Độ, xin hỏi rốt cuộc là do biến động
to lớn nào trong diễn biến lịch sử đă sanh
ra tư tưởng tiêu cực ấy? (Quách Nghĩa Minh hỏi)
Đáp: Đối với Phật
giáo, tiên sinh có quan niệm coi Phật giáo là một trong các tôn
giáo của Ấn Độ, [từ đó kết luận]
do tư tưởng của dân tộc Ấn Độ tiêu
cực, nên Phật giáo cũng sẽ chẳng thể ra ngoài
lệ ấy. Lời chất vấn nêu ra đại khái có
ba điểm: Một là tư tưởng tiêu cực; hai là
không coi trọng hiện thực, ba là coi thời gian là khổ.
Xin tách ra từng điều để đáp!
1) Một, “tiêu cực” chỉ chuyện
ǵ? Lời lẽ quá sức mơ hồ! Tôi cũng xin hỏi
ngược lại, đó là nói tới chuyện đề
cao tánh đức, đạo nghĩa, học vấn? Hay là
thay đổi phong tục nhằm cứu vớt dân chúng
trong cảnh nước lửa? Hay là [tiêu cực đối
với chuyện] quan cao, tiền nhiều, tiếng tăm,
lợi dưỡng? Hay là [tiêu cực đối với]
chuyện tấn công thành tŕ, xâm lược, giết
người, phóng hỏa? Hay là [tiêu cực đối
với] chuyện giết cha, giết vua, [tạo tác những
hành vi] sâu dân mọt nước ư? Hay là [tiêu cực đối
với] mưu mẹo cậy thế chiếm đoạt,
tổn người lợi ḿnh? Hay là [tiêu cực đối
với] chuyện uống rượu ngon, khiêu vũ cùng phụ
nữ, cờ bạc ư? Nêu đại lược bảy
điều, xin hăy chỉ ra một điều nào? Ở đây,
tôi xin Ngài hăy trả lời: Đức Phật răn cấm
uống rượu, tà dâm, cho nên đối với điều
thứ bảy đă nêu trên đây sẽ là tiêu cực. Phật
răn cấm tham lam, trộm cắp, nói về lẽ b́nh
đẳng, nên tiêu cực đối với điều thứ
sáu vừa kể trên đây. Đức Phật răn không
làm kẻ giặc của nước nhà, không trốn thuế,
lại chủ trương một vai gánh cha, một vai cơng
mẹ, nên tiêu cực đối với điều thứ
năm vừa kể trên đây. Phật dạy bậc quân
vương nhân từ bảo vệ quốc gia, giữ yên
cương vực, dứt chuyện binh đao, nên tiêu cực
đối với điều thứ tư vừa kể
trên đây. Phật vứt bỏ của cải trong bốn
biển và bá quan, khất thực hóa độ chúng sanh, nên
là tiêu cực đối với điều thứ ba vừa
kể trên đây. Phật dùng đầu, mắt, năo, tủy,
chẻ thây để độ chúng sanh, Bồ Tát v́ địa
ngục chẳng trống không, thề chẳng thành Phật,
nên tích cực đối với điều thứ hai vừa
kể trên đây. Phật v́ cầu học, truyền pháp, lột
da làm giấy, chẻ xương làm bút, nên tích cực đối
với điều thứ nhất vừa kể trên đây.
Sự tiêu cực hay tích cực của Phật giáo là do Phật
giáo có lư riêng. C̣n sự tích cực và tiêu cực trong theo
[quan niệm của đại chúng] hiện thời là do họ
có lư riêng của họ, ai nấy tự cho là đúng, ai nấy
trọn hết đạo của ḿnh mà thôi!
2) Hai là [chê Phật giáo] không coi trọng
hiện thực, tức là nói đến sự tu thân, tề
gia, trị quốc, b́nh thiên hạ trong thế gian? Hay là nói
đến sự hưởng thụ trong đời người?
Xét theo những kinh như kinh Lễ Lục Phương và
kinh Ngọc Da Nữ v.v…, đối với chuyện cư
xử trong gia đ́nh và trong xă hội, há chẳng phải là
khuôn phép tốt đẹp cho việc tu thân, tề gia ư?
Khổng Tử thấy chẳng hợp đạo bèn từ
quan bỏ đi, Mạnh Tử chẳng chịu v́ điều
lợi mà hy sinh nguyên tắc chánh đáng[27],
cự tuyệt chẳng gặp chư hầu. Thánh hiền
thế gian c̣n chẳng bị dâm loạn v́ phú quư, chẳng bị
đổi dời chí hướng v́ nghèo hèn, huống hồ
Phật há chịu hy sinh đại đạo để hướng
dẫn chúng sanh xuôi theo ḷng dục ư?
3) Ba là coi thời gian là khổ. Đó là
giáo huấn của người giác nhằm cảnh tỉnh
kẻ mê, bởi lẽ người giác th́ an lạc, kẻ
mê th́ khổ sở. Kẻ mê ôm ḷng tham, sân, giết, trộm,
dâm, dối, bộc lộc ra ngoài, cầu chẳng được
thỏa là khổ, được rồi lại bị mất
đi cũng khổ! Yêu thương phải chia ĺa, oán ghét
phải gặp gỡ, sanh, già, bệnh, chết, sao nói là chẳng
khổ? Người giác phước huệ nhị nghiêm (được
trang nghiêm bằng hai thứ phước và huệ), tự
nhiên là vui, phiền năo tức Bồ Đề, sanh tử
tức Niết Bàn, không ǵ chẳng vui. V́ thế nói “khổ là giáo huấn dành cho
người mê”. Thật ra, người mê ở trong cảnh
khổ cũng chẳng biết!
* Hỏi: Đức Phật nói
“hết thảy hàm linh ngọ
ngoạy, cử động đều có Phật Tánh”, nhưng trong loài động vật
bậc cao, nói theo Sinh Lư Học, giống đực mỗi
lần bắn tinh bèn có tới hai vạn vạn tinh trùng,
những tinh trùng ấy là động vật hay thực
vật? Nếu thuộc loại động vật, khi chúng
ta nam nữ giao hợp, có phải là đă giết chết rất
nhiều chúng sanh (v́ chúng sanh đều có Phật Tánh) cho nên
đă tạo nghiệp sát sanh. Lại nói theo mười hai
nhân duyên, tinh cha huyết mẹ tiếp nhận thần thức
th́ thai mới kết thành mầm thai. Tinh trùng có thể tự
chuyển động, vậy th́ có phải là mỗi tinh trùng
đều có thần thức (thức thứ tám) trong ấy
hay chăng? Nếu là hai vạn vạn tinh trùng th́ thần
thức (chứa đựng Phật Tánh) [trong ấy] sao lại
nhiều đến thế? Khó thể hiểu được!
Xin hăy phá trừ nỗi nghi! (Lư
Vinh Đường hỏi)
Đáp: Giới luật có văn
bản [ghi cặn kẽ] từng điều, có nghĩa lư.
[Giảng giải cặn kẽ] khai, giá, tŕ, phạm chính là
kinh văn của từng giới điều vậy! V́ sao
có khai, giá, tŕ, phạm, đó chính là nghĩa lư. Ắt phải
đối chiếu cả đôi bên th́ mới khởi lên nghị
luận được. Chuyện này thuộc về [lănh vực
hiểu biết] của bậc chuyên gia, chẳng phải chỉ
là người có kiến thức thông thường về Phật
học mà ḥng biện luận được! Kinh có chép một
vị tỳ-kheo, lúc mất tri giác (hôn mê), bị một phụ
nữ làm chuyện ô uế, đại sĩ Duy Ma Cật bảo
là chẳng phạm giới. Có thể thấy là lư này chẳng
đơn giản! Bọn ta đối với chuyện này,
hăy nên tuân theo những ǵ vốn đă được truyền
dạy trong giới đàn, có thể khiến cho những kẻ
b́nh phàm giữ ḿnh trong sạch là được rồi. Cư
sĩ đă hỏi tới, kẻ hèn này chẳng nghiên cứu
Luật Học, chỉ đành thưa tŕnh những ǵ chính
ḿnh đă biết như sau: Đối với phàm phu mà nói,
giới sát chỉ giới hạn trong việc có thể tránh
được mà [phàm phu vẫn cố ư] chẳng tránh né. Nếu
thuộc về chuyện phàm phu chẳng thể tránh được
th́ phàm phu chẳng phạm giới. Như hô hấp và đi
đường, đều có vô lượng sanh mạng
bị giết. Giới luật đă chẳng cấm người
ta hít thở, lại chẳng cấm người ta đi đường.
Do đó, biết đấy là Khai. Giới luật chẳng
cấm tại gia ưu-bà-tắc và ưu-bà-di kết hôn, [điều
này] đă có kinh văn rơ rệt. Do vậy, đối
với chuyện này, cũng chẳng trở thành tội sát
sanh. Trong lời hỏi của Ngài lại c̣n nghi hai vạn
vạn Phật Tánh là nhiều, cho đó là chuyện kỳ
quái, xin hỏi: Hư không có cùng tận hay chăng? Phật
Tánh đă thật sự là như thế, vậy th́ hai vạn
vạn bất quá chỉ là một cái bọt nước
trong biển xanh đó thôi!
* Hỏi: Có người nói, Phật
giáo là b́nh đẳng, vậy mà trong kinh Phật có chép khi đức
Phật giáng sanh đă nói câu kệ “thiên thượng, thiên hạ, duy ngă độc tôn”.
Đó có phải là thiếu b́nh đẳng hay chăng? (Trịnh Nghĩa Lang hỏi)
Đáp: Trong ấy có Thiền
cơ, có thể hiểu chứ không thể nói. Ở đây,
tôi nói qua loa, tắc trách: Khi đức Thích Tôn đản
sanh, chư đại đệ tử c̣n chưa thấy
nghe, nên ai có thể nói ư nghĩa rốt ráo cho được?
Cư sĩ ép tôi nói, chỉ đành nói chữ Ngă theo cách hiểu
của tôi: Chữ Ngă ấy chính là Ngă chân thật trong bốn
tịnh đức. Mỗi người đều có [Ngă chân
thật ấy], chẳng ai là không có, gọi Ngă ấy là độc
tôn, đúng là b́nh đẳng.
* Hỏi: Nói theo Phật giáo, tội
tự sát cực nặng. Giả sử liều thân nhằm
đề cao chánh nghĩa, cảnh tỉnh kẻ ngu muội,
do ḷng nhân của bậc chí sĩ mà tự sát, th́ cũng là
có tội đó chăng? (Trương
Duy Minh hỏi)
Đáp: Phật pháp có nguyên tắc, có phương
tiện, chớ nên ngây ngốc! Đối với chuyện
đă hỏi, nếu hữu ích cho dân chúng và quốc gia th́
có thể làm. Kinh Phật có chép chuyện cắt thịt để
cha mẹ no ḷng, v́ nửa bài kệ mà xả thân v.v… Đă có
lệ ấy! Trong pháp thế gian th́ chẳng đầu hàng
kẻ địch ḥng chẳng nhục thân [nên tự sát],
những trường hợp như vậy cũng nhiều.
Đă có nghĩa (nghĩa lư) trong ấy, há nói là “có tội” được
ư?
* Hỏi: V́ sao có chúng sanh? Chúng
sanh từ đâu sanh ra? Chết sẽ đi về đâu? (Lại Chân Ngộ hỏi)
Đáp: Vấn đề này thoạt
nh́n dường như đơn giản, nhưng lư thật
cao sâu. Nói ra, cố nhiên chẳng dễ dàng, sợ rằng
nói ra, để hiểu cũng khá tốn công! V́ đă có thể
hiểu đại khái Thật Tướng của các pháp
th́ mới dễ dàm luận chuyện này. Ngài đă hỏi
tới, chỉ đành vâng mạng trả lời giản lược.
Trong vũ trụ vốn đầy ắp các điện tử
hữu h́nh cực dày đặc; lại c̣n đầy ắp
Chân Như vô h́nh vô danh, chúng ḥa hợp lẫn nhau, biến hóa,
tụ tập thành h́nh dạng, sanh ra muôn vật. Đó là chúng
sanh.
* Hỏi: Bổn ư của Phật là ở
chỗ nào? Có phải là có quan niệm phồn thực hay không?
(Liên Vân ban liên hữu hỏi)
Đáp: Bổn ư của Phật là cứu
độ chúng sanh, khiến cho họ ĺa khổ được
vui. Phồn thực gọi là sanh, điêu tàn là diệt; đó
là chuyện thuộc về phía chúng sanh. Phật Tánh thường
trụ, chẳng có phồn thực, mà cũng chẳng có điêu
tàn. Kinh nói “chẳng tăng,
chẳng giảm” là nói đến chuyện này. Niệm thật
sự chẳng có cội gốc, do phương tiện nên
mới có Quan.
* Hỏi: “Bồ
Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”. V́ sao đă là Bồ
Tát mà vẫn c̣n có sợ? (Huệ
Diệu hỏi)
Đáp: Bồ Tát có rất nhiều
đẳng cấp. Chưa đạt đến cảnh
giới vô vi, vô duyên, th́ hăy c̣n có tạo tác; ắt vẫn phải
tự quan sát, thấu hiểu. Sự quan sát thấu hiểu
ấy chính là “úy” (畏: kinh sợ), có ư nghĩa “cẩn thận”
như trong thế tục [thường nói], đó là lẽ
thứ nhất. “Bồ Tát” là
chỉ chung người giác ngộ, thấy quả biết
nhân, thấy nhân biết quả, hiểu rơ quả phước
hay họa đều từ nhân mà có. V́ thế, phải thận
trọng khi tạo nhân, nên gọi là Úy. Chẳng giống như
phàm phu sau khi đă hứng chịu quả th́ mới kinh sợ,
chứ lúc tạo nhân th́ mang tâm lư cầu may sẽ tránh khỏi
[hậu quả]. Đó là lẽ thứ hai.
* Hỏi: Tín đồ Thiên Chúa
giáo thường nói “nhân loại do Thiên Chúa tạo ra”. Phật
giáo của chúng ta giải thích lai lịch của hết
thảy các sanh vật như thế nào? (Lư Nhân Hồng hỏi)
Đáp: Hết thảy đều
do nhân duyên ḥa hợp mà sanh, đấy chính là chân tướng
do nhà Phật đạt được.
* Hỏi: Nghiệp cảm duyên
khởi và Sinh Vật Tiến Hóa Luận của khoa học
trọn chẳng mâu thuẫn, chỉ có điều là v́ cớ
nào mà người luận định thường bài xích
thuyết Tiến Hóa của khoa học? (Lê Minh Thời hỏi)
Đáp: Xét bề ngoài th́ có mấy
phần ḥa hợp, nhưng xét theo chỉ thú th́ mỗi bên
theo một lối riêng.
* Hỏi: Pháp Tánh thuộc về một vị
Phật, một cơi nước, hay là nhiều vị Phật,
một cơi nước? (Hồ
Chánh Lâm hỏi)
Đáp: Xin hăy ngẩng đầu ngắm
trời xanh thăm thẳm, nó thuộc về Trung Quốc,
Mỹ Quốc, hay thuộc các nước như Anh, Pháp, Đức,
Nhật v.v…?
* Hỏi: Tinh cầu do đâu mà
có? (Lư Học Thi hỏi)
Đáp: Chẳng cần chỉ
nói tới tinh cầu, nói chung là hết thảy các hiện
tướng (tướng được hiện ra) tuy thiên
sai vạn biệt, chỉ có một nguyên tắc, tức là
do các duyên ḥa hợp mà hóa sanh. Sau khi đă sanh thành, duyên vẫn
không ngừng tiến nhập, cho nên có diễn biến thành,
trụ, hoại, không, chẳng có bất cứ một hiện
tượng nào tồn tại thường hằng. Đă
hiểu rơ lư này, ắt sẽ liễu giải nghĩa duyên
sanh vậy!
* Trả lời đồng
học Ngô Di thuộc đại học Sư Phạm trong
mục Tái Đàm Phật Pháp (câu hỏi gồm có chín đoạn, tổng cộng
hai mươi mốt câu hỏi, nên đánh số trước
mỗi câu hỏi để có thể đối chiếu,
xét theo từng điều vấn đáp, ngơ hầu dễ dàng
thuận tiện xem đọc, khỏi phải t́m ṭi đối
chiếu trước sau).
Hỏi: Cảm ơn
người biên tập đă chỉ giáo, nhưng giải đáp
vấn đề trọn chẳng đơn giản như
thế, tôi vẫn c̣n có nhiều câu hỏi cần được
giải đáp. Những vấn đề ấy không chỉ
khiến cho cá nhân tôi mê hoặc và mâu thuẫn, mà c̣n do chính Phật
giáo khiến cho cá nhân tôi mê hoặc và mâu thuẫn. Những
câu hỏi ấy có thể chia thành ba phần để phân
tích: Một là theo phương diện lư luận, hai là theo
phương diện thực tiễn, ba là phối hợp lư
luận và thực tiễn. Nói theo phương diện lư luận,
trong kinh điển mênh mông của Phật giáo, đích xác là
có nhiều chân lư không thể ṃn diệt được, những
chân lư ấy lại khác hẳn triết học và khoa học.
1. Trong bài Tinh Thần
và Giá Trị Phật Giáo, tôi từng nhấn mạnh “Phật giáo là tôn giáo, chẳng phải
là khoa học, mà cũng chẳng phải là triết học”.
V́ khoa học (chỉ phần lớn triết học Tây
Dương) đều nghiên cứu ngoại tại, c̣n tôn
giáo nghiên cứu nội tại.
2. Sở dĩ Phật
giáo vĩ đại là do nhiều học giả Phật giáo
đă thật sự nắm được tác dụng vi diệu
của cái tâm, cũng như do nhiều Phật giáo đồ
đă thật sự đạt được giải
thoát. Chân lư tôn giáo dành cho nhân sinh thọ dụng. Khoa học
và triết học Tây Dương trong hiện thời đă
đem lại cho chúng ta những ǵ? Chỉ là khiến cho chúng
ta có cảm giác sợ hăi, cảm thấy thần kinh thác loạn
mà thôi!
Đáp:
Người biên tập tạp chí này do bận việc đă
giao bản thảo của Ngài cho tôi, bảo hăy đáp thay.
Tôi đọc bản thảo, biết gia đ́nh Ngô tiên sinh
nhiều đời thờ Phật, chính ḿnh lại coi trọng
thực tiễn, chỉ mong tăng trưởng tri kiến
mà đưa ra nghi vấn. Kẻ hèn này vâng mạng đáp lời,
xin thanh minh trước. Một là căn cứ trên giáo nghĩa,
hai là chẳng chú trọng tranh biện, ba là chẳng nương
theo thói ưa thích hiện thời để giải thích
cong vạy! Chỉ mong giải trừ sự hiểu lầm
của Ngô tiên sinh, t́m ṭi thật nghĩa, đạt đến
nguyện lực của chính ḿnh. Giáo học Phật giáo là
nhất trí mà thực tiễn, đó là điều tôi thơm
thảo mong cầu.
1. Xét về tánh chất,
Phật giáo đích xác thuộc về tôn giáo. Lịch đại
tổ sư từng có các trước tác [giảng giải
cặn kẽ về] giáo thừa, giáo nghi, giáo tướng
v.v… Phán giáo, hộ giáo, phân biệt giáo hạ, giáo nội,
giáo ngoại v.v… đủ có thể chứng tỏ [Phật
giáo là tôn giáo]. Hiện thời, kiêng nói [Phật giáo] là tôn giáo
là v́ một số ít người chuộng thói thời thượng,
nếu bảo Phật giáo là tôn giáo, sợ bị rơi vào
mê tín, chẳng bằng nói là khoa học và triết học,
khoác lấy phong thái Tây Dương sẽ hợp với trào
lưu hiện thời hơn! Nhưng Phật giáo được
gọi là Phật giáo vốn là v́ có chỗ lạ lùng, đặc
biệt. Trong bất cứ tôn giáo nào, ắt có một vị
thần tối cao được sùng bái nắm quyền thưởng
phạt; Phật giáo chẳng có [khái niệm ấy], chỉ
nói nhân quả là do chính ḿnh. Chúng sanh, tâm, Phật, ba thứ
chẳng sai biệt. Đó là chỗ khác biệt các tôn giáo vậy!
Phật giáo có Ngũ Minh (Pañcavidyā), một
là Nội Minh (Adhyātmavidyā) chuyên nghiên
cứu nội tại. Kinh văn trong Tam Tạng chuyên luận
về chuyện này, nên gọi là “nội
điển”. Hai là Nhân Minh (Hetuvidyā) thuộc
về Triết Học. Ba loại kia là Thanh Minh (Śabdavidyā), Y Dược
Minh (Cikitsā-vidyā), và Công
Xảo Minh (Śilakarmasthāna-vidyā) đều
thuộc về khoa học. V́ thế, nếu có kẻ nói Phật
giáo chẳng
phải là tôn giáo, mà là khoa học và triết học,
cũng hợp lư, bất quá là thiên lệch, chẳng viên măn
mà thôi.
2. Phật pháp nói tâm có nhiều thứ.
Đây là nói cái tâm “minh tâm kiến tánh” chẳng phải là quả
tim hữu h́nh, chẳng phải là sức suy nghĩ thuộc
về tư tưởng vô h́nh, chẳng phải là ư niệm
chẳng ngừng trong từng sát-na, mà là ngôn ngữ dứt
bặt, tâm hạnh xứ diệt. Chân Như ví như uống
nước, ấm lạnh tự biết. Nếu người
học có thể nắm được, ở mức độ
nông cạn th́ gọi là “kiến đạo”, ở mức độ
sâu th́ là “chứng đắc”. Giải thoát có liễu nghĩa
và bất liễu nghĩa khác biệt. Bất liễu nghĩa
là cảnh giới thuộc phương diện so sánh, như
khổ và vui trong hiện thời, trong tương lai là nhân,
thiên, Thanh Văn, Duyên Giác, các địa vị Thập Trụ,
Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa
Bồ Tát, địa vị sau giác ngộ cao hơn địa
vị trước, so với địa vị trước,
địa vị sau được gọi là giải thoát.
Liễu nghĩa giải thoát chính là hai thứ Phần Đoạn
sanh tử và Biến Dịch sanh tử đă hết, chính là
Vô Trụ Niết Bàn. Do đă trừ khử các thứ trói
buộc Hoặc, Nghiệp, Khổ, nên gọi là Giải. Do
chẳng bị sanh tử câu thúc nên gọi là Thoát. Tiên sinh nói
“nhiều người học đă nắm chắc tâm, nhiều
giáo đồ đă được giải thoát”, thời cổ
th́ đúng là như thế, hiện thời dường như
khó thể nói là nhiều!
Hỏi: Tôi thừa nhận Phật
học xét theo lư luận, nhấn mạnh Phật giáo là một
tôn giáo thuần là trí huệ. Lại c̣n được người
xưa theo đuổi như vậy, nhưng thành tựu ra
sao? Tôi chẳng thể không hoài nghi; những câu hỏi chủ
yếu đối với Phật giáo là:
3. Đúng như người biên tập đă
nói: “Cội nguồn ở
nơi sanh tử”, nhưng điều được Phật
học mong cầu cũng nằm ngay trong liễu sanh
tử. Tất
cả kinh điển Phật giáo đều tập trung vào
vấn đề này; nhưng vấn đề này có được
giải quyết hay chăng? Câu trả lời của tôi là
phủ định. V́ nếu vấn đề này đă được
giải quyết, những kinh điển sẽ được
chất lên gác cao, mọi người chẳng cần phải
nghiên cứu nữa.
4. V́ chúng ta chỉ
cần tin tưởng kết luận ấy, bèn có thể
liễu sanh tử, giống như lư luận để phát
minh ra đèn điện phải trải qua trăm ngàn lần
thí nghiệm, cho đến một hôm nghiên cứu thành công,
chúng ta chỉ cần bật công tắc, ai nấy đều
có ánh sáng, mọi người cần ǵ phải tốn tinh
lực đích thân làm thí nghiệm nữa?
5. Đạo lư Phật
học cũng là như thế, nếu học thuyết luân
hồi đúng là chuyện có thể chứng thực, chỉ
cần người ta tin tưởng đạo lư ấy,
c̣n có ai dám làm càn, làm quấy nữa ư?
6. Vấn đề
hiện thời là học thuyết luân hồi vẫn chưa
có suy luận đáng tin cậy để biến thành một
loại sự thật. Chỉ v́ nó vẫn chưa có suy luận
đáng tin cậy, nên mới có nhu cầu nghiên cứu Phật
pháp. Chỉ v́ bản thân Phật pháp vẫn chưa có được
một định luận (lư luận chắc chắn, quyết
định) đích xác, thiết thực, chẳng thể
chuyển dời, [hễ có được lư luận ấy
th́] trong tương lai, Phật pháp mới có thể mở
rộng. Chúng ta cần phải nhận rơ điểm này, vấn
đề nẩy sanh ở ngay chỗ này.
Đáp:
3. Đối với vấn đề sanh tử như
trong kinh Phật đă nói, tiên sinh phủ nhận vấn
đề ấy đă được giải quyết, lại
c̣n nói “nếu đă giải quyết, kinh điển có thể
chất lên gác cao”. Y giáo phụng hành, công phu đă đạt
đúng mức th́ vấn đề đều được
giải quyết. Kinh Phật có chép [tiểu sử] của
nhiều vị Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, sau đó là Thiền
Tông ngữ lục trong nhà Thiền, văng sanh truyện của
Tịnh Tông v.v… đă chép chuyện họ đến đi
tự tại rất lạ lùng, mỗi vị đều có
văn bản có thể chứng thực, sao lại bảo
là “chẳng có”? Bất quá là tin và chẳng tin, không thể cưỡng
ép được! Nếu nói là “buộc kinh để lên gác
cao” th́ người đă liễu sanh tử cố nhiên có thể
buộc kinh cất trên gác cao, nhưng chúng sanh vô biên, há có nên
chẳng tặng lại cho người sau ư?
4. Bật công tắc
bèn có ánh sáng chính là bước cuối cùng. Trước khi bật
cái nút ấy, ắt phải có nút, có đường dây, có đèn,
có máy móc, có điện, có kiến trúc, có kỹ sư, có công
nhân v.v… các thứ kế hoạch và thiết bị. Nếu
không, phải hướng về đâu để ấn nút?
So theo thí dụ của tiên sinh th́ kinh Phật giống như
sách hướng dẫn sử dụng, người học
như người trù bị của công ty lắp đặt
điện khí. Không trải qua các thứ thủ tục
[chuẩn bị], làm sao có thể ấn nút bèn có ánh sáng phát
ra? C̣n như mỗi nhà tiêu dùng ấn nút bèn có ánh sáng, bất
quá là nhờ vào người khác mà được thọ dụng.
Khi họ chẳng cung cấp điện, dẫu ấn nút,
cũng chẳng sanh ra ánh sáng. Điều này ví như người
học chính ḿnh chẳng vận dụng công phu, chuyên cậy
vào Phật lực gia bị, nói chung là khi lâm chung bèn chẳng
liễu nghĩa, rốt cuộc chẳng phải là triệt
để liễu nghĩa.
5. Sự thật
là sự thật. Hiểu hay chẳng hiểu là do con người,
tin và chẳng tin cũng do con người, nhưng sự
th́ có khi bày ngay ra trước mặt, có thể nghe, có thể
thấy, mà cũng có khi [sự thật] chẳng ở trước
mặt, chẳng thể nghe, chẳng thể thấy. Đối
với chuyện có thể nghe, có thể thấy, chưa chắc
đă không nhận biết sai lạc; chuyện chẳng thể
nghe, chẳng thể thấy, không thể quả quyết “ắt
phải là chẳng có”. Ba mươi năm trước, nếu
có người nói đến bom nguyên tử, ắt bị mọi
người cười là chuyện thần thoại. Nếu
con người do trí lực, có thể dời chuyển vật
chất thành tinh thần, mấy chục năm sau không chừng
khoa học có thể trắc nghiệm về sự luân hồi.
Chúng sanh trong cơi này mê hoặc, điên đảo, cứng cỏi,
khó hóa độ, đối với chuyện chẳng thể
bày ra trước mặt, người mê nặng nề cố
nhiên chẳng thể ngộ. Dẫu là việc bày ra trước
mặt, kẻ không tin vẫn là cả đống! Nhà giam
trọn khắp cả nước, ai mà chẳng nghe, chẳng
thấy? Cớ sao kẻ phạm tội vẫn dám phạm
tội?
6. Đức Phật
dạy chúng sanh, có Tam Lượng để hiểu lư, có Lục
Thông để chứng sự. Tam Lượng là Hiện Lượng,
Tỷ Lượng, và Thánh Giáo Lượng. Lượng (量) là giống như thưng, đấu
để đong gạo, ḥng biết số lượng.
Hiện Lượng (現量) là chuyện bày ra trước
mắt, có thể nghe, có thể thấy, như học hành
tốt nghiệp bèn có thể đạt được học
vị. Làm chuyện gian trá, vi phạm quy chế thi cử,
liền vào nhà giam v.v… Tỷ Lượng (比量) là thấy nghe
chuyện ấy bèn có thể suy đoán sự việc, như
ban đêm nh́n xa xa thấy nhà sáng choang, biết là có đèn,
cách vách bốc khói bèn biết là dưới đó có lửa
v.v… Thánh Giáo Lượng (聖教量) là nói tới bậc
thánh nhân hành viên măn, ngôn giáo do Ngài đă lập chính là kinh
điển Tam Tạng mười hai bộ loại. Do sự
thật hiện tiền bèn có thể chỉ rơ th́ dùng Hiện
Lượng. Nếu dùng sự thật hiện tiền sẽ
chẳng thể chứng minh th́ dùng Tỷ Lượng. Cả
hai cách ấy đều không dùng được, chỉ đành
lấy nhân cách để đảm bảo, tin tưởng
ngôn giáo của vị [chỉ dạy ấy] chẳng dối
gạt, [đó là Thánh Giáo Lượng]. Trong kinh A Hàm, kinh
văn chép lời đức Thế Tôn kể về chuyện
luân hồi trong lục đạo của chính ḿnh, đâu đâu
cũng thấy, sao lại nói “luân hồi chẳng có suy luận
nào đáng tin cậy, chẳng có định luận chân xác,
thiết thực!” Ngay cả kinh sử Nho gia cũng ghi chép
chuyện này khá nhiều. Kinh Dịch có câu “du hồn vi biến” (cái hồn bềnh bồng
biến hóa), Tả Truyện nói “Bành
Sanh làm lợn”, sách Quốc Ngữ ghi “Đỗ Bá làm quỷ bắn [Châu] Tuyên Vương ở
đất Hạo”, Sử Kư ghi “Thân Sanh đă chết, Hồ Đột trở về
nước cải táng, gặp mặt tṛ chuyện”[28], Tấn Thư
chép “Dương Hỗ nhớ
chuyện đời trước, sang nhà hàng xóm lấy chiếc
ṿng”[29] v.v… chẳng
thể nêu trọn. Nước Anh hiện thời là quốc
gia có lắm quỷ, người đời đều biết.
Chẳng phải là riêng ḿnh kinh Phật nói như thế. Đó
là dùng Tam Lượng để lư giải vậy! Kinh thường
chép Phật hoặc La Hán, tới lúc tất yếu có thể
cho đối phương mượn thần thông, khiến
cho người ấy biết trạng huống trong đời
trước, đó là dùng thần thông để chứng thực
sự việc vậy.
Hỏi:
7. Nếu Phật giáo nghiên cứu vấn đề sanh tử
cũng giống như khoa học và triết học truy cầu
chân lư, vậy th́ đối với vấn đề nghiên
cứu t́nh h́nh sau khi chết chỉ có hai khả năng:
- Một là chết
rồi bèn có luân hồi.
- Hai là sau khi đă
chết, chẳng có luân hồi.
Nếu là trường
hợp trước, đương nhiên là do giải tín mà
sanh khởi tín tâm. Vạn nhất bất hạnh là trường
hợp sau th́ Phật giáo há chẳng phải là không có giá trị
tồn tại? Đấy chẳng phải là từ giải
tín ngược ngạo dẫn đến bi kịch diệt
tín? Căn bệnh của khoa học là ở ngay chỗ này,
họ chỉ chú trọng sự thật, chỉ chấp vào
sự thật, chỉ coi sự thật là chân lư, chẳng
biết đến “hóa” (biến hóa).
8. Các nhà khoa học
nói con người chết đi [xác thân] sẽ mục nát,
tinh thần cũng diệt vong theo. Họ biện giải đến
đó liền kết thúc công việc, ngỡ là đă phát hiện
sự thật. Sự thật là chân lư, nhưng họ chẳng
quan tâm sự thật ấy đă khiến cho nhân loại
kinh hăi, họ cũng chẳng tốt bụng biến hóa sự
thật này thành một chân lư khác để làm cho nhân loại
đạt đến giải thoát.
9. Các nhà triết
học cũng giống như vậy. Họ càng nghiên cứu,
càng thấy rơ sự thật, sự thật rốt cuộc
là máu me đầm đ́a. Do đó, họ càng bị đau
khổ tấn công, Thúc Bổn Hoa (A. Schopenhauer) và Ni Thái (F.W.
Nietzche) v.v… là như vậy. V́ sao họ có hậu quả như
vậy? Là v́ họ đều theo đuổi cái Biết, đều
là lư trí thuần túy, nên chẳng dễ đạt đến
giải thoát!
Đáp:
7. Đối với hai chữ Chân Lư, Phật pháp xác thực
là khẳng định, hễ có mảy may mơ hồ th́
sẽ không được. Chân lư chính là cái lư vĩnh hằng,
triệt để, chẳng phân biệt thời gian và không
gian. Đó gọi là “theo chiều ngang trọn khắp mười
phương, chẳng đổi dời, theo chiều dọc
trọn khắp ba đời chẳng thay đổi”. Tà
thuyết gặp phải chân lư sẽ không thể ngăn trở
được. Thánh nhân có xuất hiện lần nữa cũng
chẳng thể thay đổi. Nếu là chẳng viên măn,
không có kết luận nhất định, hôm qua đỏ,
bữa nay trắng, có sửa đổi cho đúng, có bổ
sung, có phát hiện mới (ngoại trừ phương tiện
nói quyền biến ra) v.v… sẽ đều chẳng phải
là chân lư! Nếu nói tới chuyện liễu thoát sanh tử,
chỉ có Phật pháp là chân lư, chẳng có ǵ cao hơn được!
Càng phải nên biết: Hễ có luân hồi th́ là chuyện sanh
tử lưu chuyển của phàm phu. Chẳng có luân hồi
là tu chứng quả Niết Bàn. Nói lùi lại một bước,
dẫu chẳng bàn đến pháp xuất thế của đức
Phật, hăy đem cái học của Duy Thức, Nhân Minh v.v…
so với pháp thế gian, cũng đều vượt trội
Lăo Trang, Công Tôn Long[30] của
phương Đông, Tô Cách Lạp Để (Socrates) và Bách
Lạp Đồ (Plato) của phương Tây, quyết chẳng
lo ǵ đến bi kịch diệt mất.
8. Sự thật
trong Phật pháp lại chẳng mơ hồ như thế!
“Thật” là chân thật. Phàm hết thảy các duyên ḥa hợp
bèn có sự, nói là sự tướng, chẳng nói là sự
thật, v́ nó là hiện tướng (tướng được
biến hiện) thoắt sanh, thoắt diệt, như mộng,
huyễn, bọt, bóng, sương, chớp, đều chẳng
phải là cảnh thật sự. Sự đă chẳng thật,
há có chân lư? Ngay trong khi người ấy khởi Hoặc tạo
nghiệp, chấp trước chẳng bỏ, dùi lỗ sừng
trâu[31],
há có pháp và người giải thoát!
9. Những kẻ
ấy (các nhà khoa học và triết học) tuy đề
cao lư trí, nhưng họ đi theo đường lối chẳng
phải là Niết Bàn, nên chẳng đạt được
giải thoát. Cái gọi là “giải thoát” chính là một trong
ba điều trọng yếu của Niết Bàn, hai điều
kia là Pháp Thân và Bát Nhă. Đúng là tuy ba mà một, tuy một mà
ba. Phái ấy cũng có tỷ dụ, như gă thầy thuốc
nửa vời, tuy có thể chẩn bệnh, nhưng chẳng
biết dùng thuốc, nên chỉ có thể nói những lời
lẽ cao xa, thiếu thực tế! Phật chẳng vậy,
Ngài được gọi là Đại Y Vương v́ có
thể khéo ứng theo căn bệnh mà cho thuốc!
Hỏi:
C̣n như tôi nhấn mạnh Phật giáo chẳng phải là
khoa học và triết học nhằm khiến cho Phật giáo
tránh khỏi đi vào lối rẽ của khoa học và triết
học.
10. Phật giáo cần
phải tiếp nhận sự thật, nhưng chớ nên chấp
trước sự thật, càng chẳng thể coi sự
thật là chân lư, mà là khiến cho sự thật được
trở thành tốt đẹp hơn.
11. Dẫu con người
sau khi chết chẳng có luân hồi, Phật giáo vẫn nghiễm
nhiên có giá trị phát triển. Đó là nói theo t́nh cảm, chẳng
nói theo lư trí. Đạo lư này giống như khi người
bạn thân của chúng ta đă khuất bóng trên cơi đời.
Trên phương diện lư trí, chúng ta biết người ấy
chẳng tồn tại nên bi ai, nhưng trên mặt t́nh cảm,
vẫn cảm thấy người ấy ở cạnh chúng
ta. V́ vậy, tôi chủ trương niềm tin trong Phật
giáo chẳng phải thuần là lư trí, mà là t́nh cảm. Từ
niềm tin mang tánh chất t́nh cảm này, chúng ta lại xem
xét phương diện thực tiễn của Phật giáo.
Đáp:
10. Phật pháp có tự thuyết ngữ và tùy thuận ngữ.
Tiên sinh nói đến hai chữ “sự thật” th́ đó vốn
là từ ngữ thông dụng trong hiện thời, để
trả lời câu hỏi này, kẻ hèn này tạm thời sử
dụng. Phật pháp phân tích hết thảy tột bậc
vi tế, các danh từ đối đăi cũng có nhiều
thứ. Sự và Lư chính là một loại trong các thứ
danh từ đối đăi ấy. Nhưng theo cách nói của
nhà Phật, Sự chẳng ĺa Lư, Lư chẳng rời Sự.
Nếu chúng chẳng ăn khớp với nhau, sẽ chẳng
hợp La Tập (logic). Nói đến chấp trước,
tiên sinh lại càng chẳng cần phải lo nghĩ nhiều,
há chẳng nghe kinh Kim Cang nói những câu như “không có bốn
tướng, tức là [không có] ngă tướng, nhân tướng,
chúng sanh tướng và thọ giả tướng, cái được
gọi là Phật pháp th́ chẳng phải là Phật pháp. Pháp
c̣n nên bỏ, huống hồ phi pháp” v.v… ư? Phật pháp đă
phá Ngă Chấp, và cũng phá Pháp Chấp, lại c̣n phá tà chấp
phi pháp. C̣n như sự thật được mỹ hóa th́
đúng là như vậy. Sau khi đă giải thoát, bèn có thánh
cảnh Tịch Quang, trang nghiêm Tịnh Độ. Trước
khi giải thoát, bèn ứng với Ngũ Giới, Thập
Thiện, Lục Độ, vạn hạnh, tự giác, giác
tha, ĺa khổ được vui, không lúc nào, không chỗ nào
chẳng là mỹ hóa! Không chỉ là mỹ hóa nhân gian, mà c̣n
phải “trang nghiêm địa
ngục”.
11. Căn cứ
trên kinh điển, sách vở để luận, luân hồi
đích xác là có. Nếu như chẳng có, vấn đề
sanh tử đă tự nhiên được giải quyết,
đó gọi là “chết là hết chuyện”! Cớ ǵ đức
Thế Tôn phải bỏ ngôi Thái Tử tôn quư và sự giàu có
trọn bốn biển để vào Tuyết Sơn chịu
khổ, thuyết pháp bốn mươi chín năm? Do chẳng
thể giải quyết, nên mới có đủ các thứ
rườm rà. Khoa học nói con người đă chết,
thần thức bèn diệt, Phật pháp gọi quan điểm
ấy là Đoạn Kiến, là một trong các thứ tà kiến.
Cần biết đức Phật đă được gọi
là Y Vương, chẳng phải chỉ có một cách trị
bệnh! Đối với bậc thượng trí, bèn nói Vô
Trụ Niết Bàn, đối với hàng trung trí bèn nói pháp Thanh
Văn và Duyên Giác, đối với kẻ hạ trí bèn nói
pháp nhân thiên, đối với kẻ hạ ngu chỉ nói tới
họa phước trước mắt, chẳng nói tới
những điều khác. Trọn chẳng phải là mỗi
buổi thuyết pháp, ắt đều phải nói tới luân
hồi. C̣n như đối với ḷng tin, là t́nh cảm
hay lư trí, th́ cũng tùy thuộc căn khí của đối
phương, bất tất quy định cứng ngắc!
Đại khái là tín ngưỡng trong cơi nhân thiên và chuyện
trước mắt phần nhiều xuất phát từ t́nh
cảm, từ Thanh Văn và Duyên Giác trở lên, nếu chẳng
do lư trí, sẽ không thể thực hiện được.
Hỏi:
12. Tôi thường có một cách nghĩ nực cười:
Một học giả Phật giáo thật sự đọc
trọn khắp tất cả kinh điển, lại c̣n có
thể minh tâm kiến tánh, và một Phật giáo đồ
điều ǵ cũng chẳng biết, chỉ biết cầu
thần bái Phật, thí xả, làm lành, rốt cuộc người
nào sẽ đạt được giải thoát chân chánh?
13. Người trước
là niềm tin thuần lư trí, người sau là niềm tin
thuần t́nh cảm. Trong hai loại niềm tin ấy, ai nắm
được chân lư thật sự? Theo cách nh́n của tôi,
tôi đồng t́nh với người sau, người trước
thuần là chấp trước vào sự hiểu biết, đúng
như người biên tập đă nói: “Pháp thế gian đều là mâu thuẫn, thường
nói là pháp thế gian đều tương đối, chẳng
có tuyệt đối…” Xét theo tư tưởng th́ tiên
sinh mâu thuẫn với tâm thái thông thường của nhân
sinh. Phật pháp chính v́ giải quyết mâu thuẫn này mà tồn
tại, nhưng Phật pháp hễ trải qua sự tŕnh bày
bằng ngôn ngữ hoặc văn tự th́ lại trở
thành tương đối.
14. Phật pháp đích
xác là tương đối. Một người có tín tâm do
thuần túy truy cầu lư trí, sẽ vĩnh viễn rơi vào
tương đối, v́ tư tưởng do mâu thuẫn
tạo thành. Chỉ có cảm nhận trực tiếp bằng
t́nh cảm th́ mới có thể nắm chắc chân lư tuyệt
đối. Đối với đạo lư này, tôi có thể
nêu ra một thí dụ trong hiện thực.
15. Mẹ tôi tin Phật,
nhưng căn bản là cụ chẳng hiểu Phật pháp
là ǵ. Tự nhiên là cụ chẳng có nhân duyên văn tự,
lại cũng chẳng biết minh tâm kiến tánh là ǵ. Điều
kiện thiên bẩm khiến cho cụ về căn bản
th́ chẳng có cách nào đạt được giải tín
thuần bằng lư trí, dấy lên ḷng tin, nhưng cụ là một
tín đồ kiền thành. Lại c̣n tin tưởng hết
sức đáng yêu, cụ thường “do thương chuột
mà chừa cơm lại”. Người khác kể khổ, dẫu
là nói dối, bà cũng khóc đến nỗi mắt đỏ
hoe, móc hầu bao ra. Có một lần cụ biết rơ kẻ
khác nói dối, nhưng vẫn cứ cho tiền người
ấy. Cụ nói cụ không thể chẳng làm như thế.
Hành vi ấy chẳng thể giải thích thuần bằng
lư trí được. Có một lần cụ biết tôi viết
mấy bài văn xuôi về Phật giáo, bèn ngưỡng mộ
nói: “Các con biết chữ đúng là hay quá, hăy nên học tập
nhiều hơn để mai sau bảo cho mẹ biết Phật
học rốt ráo nói những ǵ?” Khi ấy, tôi cảm khái nói:
“Mẹ ơi! Con không thể nói cho mẹ biết được,
con hiểu ít hơn mẹ. Nhất cử nhất động
của mẹ đều là Phật pháp”. Khi ấy, cụ trách
tôi là đă cḥng ghẹo cụ. Thật ra, nếu tôi đổ
hết công sức suốt đời nghiên cứu Phật
pháp, cũng vĩnh viễn chẳng thể vượt hơn
mẹ tôi được. V́ hành vi của cụ xuất phát
tự nhiên, c̣n tôi là chỉ là về sau học được.
16. Sự bố
thí, làm lành của cụ là t́nh cảm, dẫu tôi có thể
bố thí, làm lành, vẫn ít nhiều bị ảnh hưởng
bởi nhân quả, báo ứng v.v… v́ tôi khởi lên tín tâm từ
lư trí. So sánh giữa mẹ tôi và tôi, cảnh giới của
cụ cao hơn, nhưng ngay cả Phật pháp là ǵ, cụ
cũng chẳng hiểu!
Đáp:
12. Đọc trọn khắp kinh điển thuộc về
Văn, minh tâm kiến tánh thuộc về Chứng. Người
nghe mà chẳng tu, [chính là] kể chuyện ăn, đếm
của báu. Trước khi chứng, ắt phải chuyên dốc
tu tập. Thí xả, làm lành thuộc về Trợ Hạnh.
Ba chuyện này, mỗi chuyện đều có phần hạn,
chẳng thể nói lẫn lộn được! Chúng sanh ai
ấy đều có thiên chấp, có kẻ thích nghe, có người
chuộng trợ hạnh, có người chỉ cầu chứng,
có kẻ làm kèm thêm những hạnh ngoài điều được
coi là chánh yếu. Nếu chấp trước một lẽ,
sẽ là thiên chấp. Nếu nói tới chuyện được
giải thoát, chỉ có người minh tâm kiến tánh là đắc
giải thoát, những trường hợp khác đều là
mờ mịt!
13. Đọc kinh
rồi bắt đầu tu tập là tự lợi. Đọc
kinh mà bố thí, làm lành thuộc về lợi tha. Tự lợi
và lợi tha chính là Bồ Tát Hạnh, mới được
gọi là “đă nắm chắc chân lư”. Chỉ đọc
kinh, chẳng tự tu, chẳng bố thí, làm lành, hoặc
chỉ bố thí, làm lành, chẳng đọc, chẳng tu, đều
trái nghịch chân lư!
14. Phật pháp có hai
môn là Quyền và Thật. Quyền là phương tiện khế
cơ, giả gọi là tương đối. Thật là khế
lư Đệ Nhất Nghĩa, đích xác thuộc về tuyệt
đối. Bất quá, hàng sơ cơ chẳng thể tiếp
nhận Đệ Nhất Nghĩa. Nay tôi nói đại lược
là thiện và ác, chân và giả, Thật và Quyền, phàm và thánh,
phiền năo và Bồ Đề, sanh tử và Niết Bàn v.v…
đều là tương đối. Chẳng thể nói Đệ
Nhất Nghĩa là thiện hay ác, cho đến sanh tử chính
là Niết Bàn, ngôn ngữ dứt bặt, tâm hành xứ diệt.
Do vậy, nói Đệ Nhất Nghĩa của Phật pháp
là tuyệt đối, chẳng có mâu thuẫn.
Lại nữa, toàn
bộ lời cao luận của tiên sinh đa phần coi trọng
t́nh cảm, bài xích lư trí. Nói theo pháp thế gian, t́nh cảm cũng
có tà và chánh. Ưa điều lành, chuộng đạo th́ là
t́nh cảm chánh đáng. Ham người chuộng vật là
t́nh cảm thuộc loại tà. Tiên sinh quả thật thuộc
về loại trước, tự nhiên là đáng quư. Xét theo
lư trí, th́ cũng chia thành thánh và tục. Thế Trí Biện Thông
là tục, Chánh Đẳng Chánh Giác là thánh. Tiên sinh biết loại
trước, nhưng chắc là chẳng biết loại
sau, ở đây, tôi sẽ trần thuật. Bản tánh vốn
tịnh, nên gọi là “viên trí”. Do nhiễm vô minh, nên gọi
là “t́nh thức”. Viên trí Chân Như đầy đủ các đức
năng, do t́nh thức lầm lạc sai sử, nên dấy lên
phiền năo. Do t́nh thức khởi Hoặc tạo nghiệp,
nên có sanh tử. Viên trí Tịch và Chiếu cùng dung thông, nên đắc
Niết Bàn. T́nh thức là pháp sanh diệt, nên nói là “vọng”.
Viên trí là pháp Niết Bàn, nên mới là chân. Người tu tŕ
nếu đạt tới mức nghiệp tận t́nh không,
chuyển thức thành trí th́ mới là liễu nghĩa giải
thoát. Tuy nói như thế, người mới học Phật
mười người hết tám chín, đa số là do t́nh
cảm mà theo vào Phật giáo, quá tŕnh là như thế. Nhưng
chẳng cầu khai trí, rốt cuộc e rằng khi gặp
phải chướng ngại sẽ thoái chuyển.
15. Tiên sinh không thể
phân tích rạch ṛi thánh trí và tục trí, nên bài xích trí. Thái phu
nhân tin Phật, thích bố thí, chẳng phân biệt, đúng
là phiền năo ít, vô minh mỏng, đấy chính là Chân Như
khởi lên đức năng, có ǵ để nói là ra ngoài lư
trí? Tiên sinh tuy vượt ra ngoài t́nh cảm, nhưng tiến
lên tuần tự, cũng chẳng thể nói là vĩnh viễn
tụt sau người khác.
16. Thái phu nhân dấy
ḷng [bố thí] tự nhiên, đừng lầm là t́nh cảm.
Tiên sinh có điều e ngại, có điều mong cầu, bất
tịnh chấp tướng, không thể nói là “thuần lư
trí”. Nếu luận theo cảnh giới, đương
nhiên chẳng bằng thái phu nhân, nhưng nếu có chí, ắt
sẽ thành tựu, vẫn mong mai sau tinh tấn.
Hỏi:
17. Nói tới chuyện phối hợp lư luận và thực
tiễn, nỗi mâu thuẫn và mê hoặc của tôi càng lợi
hại. Tôi đă từng oán giận Phật học và Phật
giáo chẳng thể phối hợp, đấy là một hiện
tượng rất đáng sợ. Dựa theo chuyện cá
nhân tôi đọc kinh điển Phật giáo để nói,
tôi cảm thấy đúng là “triết học trong tháp ngà”. Nói
khó nghe hơn một chút, sẽ là thuộc loại “đùa
bỡn khái niệm”. Dẫu trong ấy thật sự có đại
đạo lư, cũng chỉ là một hai người có thể
hưởng dụng. Phật giáo b́nh đẳng đối
với chúng sanh, cớ sao chỉ một hai người mới
có thể ngộ đạo lư ấy? Thuở Phật Thích
Ca tại thế, ắt sẽ chẳng giống như vậy,
v́ Ngài đă dung ḥa Phật học và Phật giáo với
nhau!
Đáp:
17. Vấn đề “Phật học và Phật giáo chẳng
ḥa hợp” cũng là có phân biệt. Nếu là kẻ văn
nhân hoặc học sĩ b́nh phàm, coi kinh Phật như triết
học hoặc văn học để dùng [trong trước
tác hoặc biện luận], mục đích vốn là như
thế, chẳng tu tập, th́ chẳng có ǵ để nói nữa.
Nếu Phật giáo đồ mà chỉ nói suông, chẳng tu
tập, đó chính là tự đặt ḿnh ra ngoài Phật giáo,
nắm níu sự phong nhă của thế tục. Đấy chính
là hiện tượng Phật giáo suy vi khiến cho tiên sinh
lo lắng mà kẻ hèn này cũng lo lắng.
C̣n như ông nói [Phật
giáo] là “triết học trong tháp ngà” và thuộc loại tư
tưởng khái niệm, [nói như vậy] chẳng khỏi
là hiểu lầm. Phật học tuy cao, nhưng khi nói, [đức
Phật] đă chia thành từng thời kỳ. Lại c̣n
xem xét căn khí để phân chia theo thứ tự. V́ lẽ
đó, có năm thời diễn giáo, và ngũ thừa thuyết
pháp, tam châu thuyết pháp[32]
sai biệt, ắt khiến cho [Phật giáo] thích hợp trọn
khắp ba căn, thâu gồm toàn bộ lợi căn lẫn
độn căn, trọn chẳng cưỡng ép ai nấy
đều phải biết đến Đệ Nhất
Nghĩa Đế, cho nên chẳng thuộc loại triết
học trong tháp ngà! Cổ nhân răn dạy: “Hiểu mà chẳng hành, chính là kể
chuyện ăn, đếm của báu. Ngàn ngày học giáo,
chẳng bằng một ngày tu đạo”. Vốn coi trọng
tri hành hợp nhất, há có bao giờ chỉ là khái niệm
suông! Lại hăy nên biết: Người có thể hoằng đạo,
chẳng phải là đạo có thể hoằng người.
Giáo vốn chủ trương “tín, giải, hành, chứng”,
nhưng con người tự vạch giới tuyến, lỗi
ở nơi người, chẳng phải do giáo vậy!
Hỏi: 18. Điều
khiến cho tôi có cảm giác mâu thuẫn nhất là Phật
học phê b́nh mê tín, nhưng Phật giáo lại ít nhiều
dính líu lắm thứ mê tín. Đối với vấn đề
mê tín, theo lập trường tôn giáo, [mê tín] nhẹ nhàng đôi
chút th́ có thể coi là những nét điểm xuyết, nhưng
những điều mê tín sau đây chẳng thể chấp
nhận được như dùng tiền để hoàn
nguyện v.v… Tôi đă bàn chuyện này với nhiều vị
pháp sư, họ đều coi đó là chuyện của hàng
ngu phu, ngu phụ, chẳng đáng để bàn tới trong
Phật pháp. Điều này khiến cho tôi càng mê hoặc. Nếu
họ (những kẻ làm chuyện mê tín) làm chuyện ngu ngốc,
v́ sao người học Phật chẳng điểm hóa họ?
Nếu là trái nghịch Phật pháp, cớ sao Phật giáo chẳng
[gạn đục] lắng trong cho họ?
19. Tôi cảm thấy
nghiên cứu Phật pháp trong hiện thời th́ chẳng nên
đổ công sức nơi lư luận, v́ tiền nhân đă
dụng công chẳng ít, mà hăy nên nỗ lực nơi phương
diện thực tiễn khiến cho Phật giáo nhất trí.
Đó là nhiệm vụ của thế hệ chúng ta.
Đáp:
18. Dùng tiền hoàn nguyện, tuy chẳng phải là Phật
pháp, nhưng cũng chẳng trái nghịch Phật pháp. Chúng
sanh do gặp ách nạn, khởi tâm sám hối, muốn gieo phước
điền, bèn hành bố thí, hoặc trang nghiêm chùa Phật,
hoặc in kinh lưu thông, hoặc phóng sanh, cũng là công
đức. Chẳng hiểu lư ấy mà làm chuyện đó
th́ mới gọi là mê tín. Nếu thật sự chẳng có
lư ấy, mà ngược ngạo làm chuyện này, cũng gọi
là mê tín. Nghi thức Phật giáo có lúc dường như kèm
theo mê tín, nhưng đều có ư nghĩa, giống như những
chuyện được chép trong Lễ Kinh của Nho gia theo
pháp thế gian; nhưng đối với những thói tục
về sau bị đưa vào Phật giáo th́ lại cần
phải luận định riêng!
19. Phật học
và Phật giáo nhất trí, tất nhiên là lời luận định
chắc chắn như vàng đá, nhưng muốn cầu thực
tiễn, ắt phải dựa theo lư. Nếu xét theo lư, ắt
sẽ là thực tiễn, và Lư Sự viên dung, chẳng lệch
lạc phế bỏ bên nào! Lại nữa, nếu ít xét Lư
mà hành thực tiễn cho nhiều, đối với tự
lợi th́ được, chứ nếu muốn lợi
tha, cũng chẳng thể coi nhẹ giáo lư được!
Hỏi:
20. Cuối cùng, nói về cá nhân tôi, tôi nguyện thà vĩnh
viễn quẩn quanh trong chỗ mâu thuẫn, v́ tôi kính sợ
tuyệt đối. Tôi chẳng dám tưởng tượng
một người đă nắm chắc tuyệt đối
th́ nhân sinh quan của người ấy rốt cuộc sẽ
là như thế nào? Đồng thời, tôi cũng hoài nghi
một người có thể truy cầu tuyệt đối
hay không? V́ không chỉ ngôn ngữ và văn tự là tương
đối, mà tác dụng của tâm cũng là tương đối.
Tuyệt đối cũng có lẽ là một thứ cảnh
giới truy cầu, nhưng chẳng có một ai có thể
nắm bắt, đạt tới cảnh giới ấy!
Giống như Niết Bàn là lư tưởng Phật giáo, rốt
cuộc có mấy ai có thể đích thân nhập Niết
Bàn?
Đáp:
20. Vấn đề tuyệt đối đă được
nói rơ trong phần trước. C̣n như tương đối
th́ muôn pháp trong thế gian không ǵ chẳng đều là như
vậy, không chỉ riêng ngôn ngữ, văn tự mà thôi! Lại
nói tới “tác dụng của
tâm”, tâm là tâm, tác dụng của tâm là tác dụng của
tâm, trong Phật pháp, tâm được chia thành chân và vọng.
Trong phần trước đă giải thích đại lược
chân tâm, thuần thuộc về tuyệt đối. Vọng
tâm thuộc về tương đối, nên nó khởi tác
dụng phải thuộc về tương đối, càng
chẳng cần phải nói nữa. Vin nắm, đạt lên
(đây là lời lẽ tùy thuận) cảnh giới chân tâm
tuyệt đối th́ chúng sanh đều có thể làm được,
bởi chúng sanh đều có Phật Tánh, bất quá vấn
đề là có chịu gánh vác hay chăng? Có thể nghiệp
tận t́nh không, chuyển thức thành trí, đó chính là Niết
Bàn, trọn chẳng phải là chuyện không tưởng. Đức
Thế Tôn và các vị đệ tử Đại La Hán đều
là người như vậy. Về sau, chư Tổ các tông
Thiền và Tịnh, cũng như Cao Tăng Truyện, Cư
Sĩ Truyện, Văng Sanh Truyện, phần nhiều có chép các
sự tích linh dị. Nếu chẳng phải là sự thật
th́ Tam Tạng mười hai bộ đều là hư luận
cả rồi!
Hỏi:
21. Tuy tôi học Phật với hy vọng giải thoát, nhưng
nay tôi cảm thấy giải thoát đối với tôi cũng
là một thứ hy vọng xa vời, v́ hễ tôi c̣n có ư niệm
giải thoát sẽ vĩnh viễn chẳng thể giải
thoát. Đạo lư nhân sinh thường là như thế, quư
vị truy cầu khoái lạc, sẽ đau khổ càng sâu.
Quư vị mong thoát khỏi vinh hoa, vĩnh viễn chẳng
thoát được. Quư vị muốn minh tâm kiến tánh, vĩnh
viễn chẳng thể minh tâm, chẳng thể kiến tánh!
V́ quư vị có nhu cầu, sẽ vĩnh viễn bị hăm nhập
trong cảnh mâu thuẫn vây khốn. Những điều tôi
vừa nêu trên đây đều là cách nh́n của cá nhân tôi,
chắc cũng rất ấu trĩ, rất ngờ nghệch,
nhưng phát xuất từ chân t́nh. Mong người biên tập
cùng chư vị đại đức chẳng tiếc sức
chỉ giáo!
Đáp:
21. Truy cầu tương đối, có tự và tha khác biệt.
Hết thảy cái ở bên ngoài là Tha, đă thuộc về
Tha th́ chẳng thể luôn ắt có được. Đó chính
là Cầu Bất Đắc Khổ trong tám khổ. Đại
đạo tâm tánh nội tại th́ là Tự, cầu nơi
Tự ắt sẽ đạt được, bỏ [Tự]
th́ sẽ bị mất [sự tự tại], quyền ấy
do chính ḿnh điều khiển. Như tiên sinh đă nói, hễ
có điều mong cầu, sẽ lâm vào cảnh mâu thuẫn,
nói ngược lại th́ chính là: Không cầu sẽ đạt
được. Sự luận định ấy rất
cao, trong Phật học cũng có thuyết này, nhưng có phần
hạn. Ở đây, tôi lập ra một tỷ dụ: Có bệnh
bèn cầu thuốc, sự mong cầu ấy nhằm trừ
hết bệnh. Hết bệnh th́ t́nh trạng b́nh thường
sẽ hiển lộ, nhưng sự b́nh thường ấy
chẳng do thuốc đem lại. Đă khôi phục b́nh
thường mà cầu thuốc, sẽ thành chẳng b́nh thường.
Phật học đến cuối cùng có pháp vô vi, kinh nói “dâng cơm lên ngàn ức ba đời
chư Phật, chẳng bằng dâng cơm cho một
người vô niệm, vô trụ, vô tu, vô chứng”, lại
có câu “vô trí mà cũng vô đắc”.
Nhưng những điều này đều chẳng phải
là chuyện của hàng sơ học. Sơ học ắt phải
khởi sự từ hữu vi, hiểu một phần giáo,
sẽ trừ một phần tướng. Khi đạt đến
tột đỉnh th́ mới như lời tiên sinh đă nói.
Học phải theo thứ tự, chớ nên vượt cấp
tràn lan! Lại nữa, tiên sinh hy vọng giải thoát, không
biết là nói tới sự giải thoát như thế nào? Ví
như ăn uống, mong ngọt th́ phải ăn mật,
muốn mặn th́ phải ăn muối, gừng cay, mơ
chua v.v… cũng đều phải có thứ tự. Nếu
tán loạn chẳng chọn lựa đầu mối, nhiều
ngơ rẽ, chẳng biết phương hướng, sẽ
chẳng khỏi bàng hoàng vậy!
Nói thêm, trước
hết tiên sinh nên học các pháp như Tứ Đế, Thập
Nhị Nhân Duyên, Ngũ Uẩn. Học theo bất cứ học
phái nào, ắt đều phải noi theo đường lối
[của học phái] ấy, sau đấy sẽ lại nghiên
cứu các kinh chuyên biệt, tu th́ Thiền hoặc Tịnh,
chọn lấy một môn, ắt sẽ tri hành hợp nhất,
dần dần bước vào cảnh đẹp đẽ
vậy!
* Hỏi: Gà mái ấp
trứng, thấy rơ là trứng nở ra gà, nhưng trong báo
Bồ Đề Thụ số mười lăm, Lư cư
sĩ trả lời cư sĩ Vương Phước
Lang ở Đài Nam có nói: “Hăy
nên biết gà từ trong trứng sanh ra, nhưng gà trưởng
thành bèn chẳng biết nó là do trứng mà có”. Chẳng
biết [cụ nói như vậy] nghĩa là sao? (Ngô Minh An hỏi)
Đáp:
Khoan nói tới gà, chúng ta là người, chỉ dùng chuyện
người để nói, con người do từ tử
cung nơi thân mẹ mà ra, xé bọc thai sanh ra, nuôi lớn trưởng
thành, có thể tự biết cái tử cung nơi ḿnh đă
từng ở trong đó hay chăng? Có tự biết ḿnh bị
bao trong cái bọc thai hay không? Có thật sự đích thân thấy
hay không? Có thể thật sự nhớ hay không?
* Hỏi:
Mỗi bộ kinh đều có ghi chép thiên long bát bộ đến
nghe Phật pháp, nhưng trong tám bộ, loài măng xà tội
nghiệp nặng nề, làm sao họ có thể nghe hiểu
được? (Trương Khoan
Tâm hỏi)
Đáp:
Phàm loài này thuộc về loài thần nơi cơi trời Tứ
Vương Thiên, trọn chẳng phải là loài măng xà thông
thường, [mà là các loại rắn thần] đă hộ
pháp từ lâu xa, hăy nên hiểu ư này. Như những loài voi,
ngựa v.v… do bị con người sai khiến đă lâu, cũng
hiểu ư người. Huống hồ đức Phật nhạo
thuyết vô ngại, âm thanh biến hóa vô cùng. Kinh nói đức
Phật dùng một âm thanh để thuyết pháp, chúng sanh tùy
theo từng loài đều hiểu, c̣n lo chi nữa?
* Hỏi:
Phật pháp vô biên, vạn đức, vạn năng, v́ sao nói
“Phật chẳng thể độ kẻ vô duyên”? Nếu nói
như thế, [chẳng lẽ] Phật lực vẫn là hữu
hạn. Xin hăy giảng rơ lư này? (Lâm
Hồng Quế hỏi)
Đáp:
Các pháp do nhân duyên sanh, đấy là nguyên lư. Nếu chẳng
có duyên mà khởi lên, lư sẽ chẳng chân thật. Hăy nên biết
Phật và chúng sanh đều có cùng cái tâm này. Kẻ có tâm
tin tưởng th́ là hữu duyên, kẻ không tin th́ chính là vô
duyên. Kẻ tâm cấu nhẹ sẽ dễ khởi ḷng tin,
kẻ tâm cấu nặng nề, khó dấy ḷng tin. Phật là
đại y vương, nói đủ mọi phương
pháp, tức là để chữa bệnh do tâm cấu. Người
bệnh nhẹ sẽ chóng lành, người bệnh nặng
sẽ lành bệnh chậm chạp, nhưng chẳng có ai không
lành bệnh. Kẻ vô duyên là tạm thời vô duyên, trọn
chẳng phải là vĩnh cữu vô duyên. Bất quá giống
như bệnh nặng hay nhẹ, lành bệnh có sớm hay
trễ sai khác. Phàm là như vậy, Phật pháp vẫn là vô
biên, Phật lực vẫn là chẳng có hạn độ.
* Hỏi:
Có rất nhiều Phật học tùng thư đều nói
thiện ác chẳng thể tiêu trừ lẫn nhau. Tuy đă
chứng đắc địa vị A La Hán, Bồ Tát, cho đến
địa vị Phật, cũng khó tránh khỏi quả báo
do định nghiệp, như những chuyện vua Lưu
Ly tru diệt ḍng học Thích Ca, đức Thế Tôn nhức
đầu, hoặc chuyện Bách Trượng lăo nhân độ
chồn hoang, đều nhằm nói như thế. Nhưng
lại có rất nhiều kinh điển nói chỉ cần
theo đúng pháp tu hành, sẽ có thể trừ đại tội
Ngũ Nghịch, Thập Ác, như kinh Quán Vô Lượng Thọ,
hoặc các kinh kệ đà-la-ni của Mật Tông v.v... đều
nói như vậy. Chẳng biết rốt cuộc là ai đúng,
ai sai? (Lư Minh Dương hỏi)
Đáp:
Đức Thế Tôn thuyết pháp như lương y chữa
bệnh: Cần phải chẩn đoán căn nguyên để
cho thuốc, người uống vào không ai chẳng lành bệnh.
Nhưng thuốc dành cho Giáp, chưa chắc đă có thể
trị bệnh của Ất. Do bệnh khác nhau, nên thuốc
cũng sai khác. Kinh Phật Tam Tạng mênh mông, pháp môn lắm
thứ, thoạt nh́n dường như mâu thuẫn, thật
ra là đều khế hợp các cơ nghi trong thuở ấy.
Người đời sau có thể dung hội ư này, lư đều
chẳng trái nghịch. Thiện ác không thể tiêu trừ lẫn
nhau, giống như đồng thời gieo hai thứ dưa
và đậu, đậu chẳng v́ dưa mà biến đổi,
dưa cũng chẳng v́ đậu mà chuyển biến. Do
gieo trên đất hai loại, nên mỗi loài tự sanh trưởng.
Người tu hành Nghiệp Hoặc chưa trọn, chịu
báo ấy một phần, cũng giống như lư ấy. Đó
chính là ư nghĩa “chẳng thể tiêu trừ lẫn nhau”. Nếu
như gieo hạt xuống đất, có pháp phá hoại khả
năng sanh thành của hạt ấy, hoặc [hạt giống
bị] moi lên vứt đi, đất trống trơn chẳng
có ǵ, làm sao có thể nẩy mầm, kết quả cho được!
Người tu hành đă đoạn các Hoặc, nghiệp tận,
t́nh không, tám thức điền chuyển thành Đại Viên
Kính, cái nhân gây tội đă chẳng c̣n, há có tội báo? Đó
là nghĩa “tu hành diệt trừ” vậy! La Hán và Bồ Tát chưa
đạt đến cực quả, tự nhiên sẽ chẳng
tránh khỏi như trên đây đă nói. Phật là Nhất
Chân pháp giới, há có khổ báo? Nhưng trong kinh, những
chuyện như đau đầu, đau lưng, thương
vàng, [Phật phải thọ trai bằng] lúa mạch dành cho
ngựa ăn[33]
v.v… đều giống như tám tướng thành đạo
nhằm quyền biến ḥng nhờ vào đó để thuyết
pháp vậy.
* Hỏi:
Khi chưa quy y Tam Bảo, phàm có chuyện ǵ liên quan đến
sự cát, hung, họa, phước nơi hành động của
cá nhân, không có điều ǵ tôi chẳng biết trước;
thậm chí sẽ có ai đến, đều biết trước
một ngày. Từ năm Dân Quốc 46 (1957), sau khi quy y Tam Bảo,
thọ Ngũ Giới tại Linh Sơn ở Đài Trung, hết
thảy đều chẳng hay biết nữa, nguyên nhân là
v́ sao? (Châu Tinh Nguyên hỏi)
Đáp: Cư
sĩ tự nói là biết trước hết thảy, đó
là do học tập đạo ǵ mà tu thành? Hay là bẩm sinh đă
có năng lực ấy? Nếu tu ngoại đạo, e là
thuộc về tà pháp. Sau khi quy y, tà tự rút lui, nên mất
đi khả năng biết trước. Nếu là bẩm
sanh đă có, do chẳng hiểu chánh đạo, lâu ngày cũng
tự chiêu cảm ma, đó là nguy cơ ẩn sẵn hằng
ngày. Nay do quy y, thọ giới, khôi phục trạng thái thông
thường, tương lai phẳng lặng, chính là điềm
tốt đẹp. Lại nữa, tu Định trong nhà Phật,
dẫu đắc thần thông, nhưng chẳng đắc
Lậu Tận th́ cũng vô dụng, v́ người chánh tri chánh
kiến tuy đă đắc thần thông, [thần thông] vẫn
c̣n có thể bị mất đi!
* Hỏi:
Mỗi ngày tôi thức dậy lúc ba giờ rưỡi, bốn
giờ bèn dâng hương, lễ Phật (có phải là quá sớm
hay không)? Bất luận có bị bệnh hay không, chưa từng
gián đoạn. Tự xét Tín, Nguyện, Hạnh đă trọn
đủ, nhưng hiện tại vẫn chưa khôi phục
cảnh giới tốt đẹp xưa kia, có phải là
do đă phạm lỗi ngă mạn hay không? Nếu là như
vậy th́ nên bổ cứu hoặc sám hối như thế
nào? (Châu Tinh Nguyên hỏi)
Đáp:
Có thể dậy sớm là chuyện tốt. Quy củ của
các chùa đại khái cũng là thức giấc khoảng bốn
giờ sáng. Câu “tự xét Tín, Nguyện, Hạnh đă trọn
đủ” đă bộc lộ cái tâm ngă mạn, tự khen
ḿnh của cư sĩ. Hành nhân như lũ chúng ta dùng xe chở,
hoặc đong bằng đấu, há có thể kể xiết,
quư báu chi đâu! Nói là có Tín, Nguyện, Hạnh, cố nhiên chẳng
phải là không được, nhưng nói thẳng thừng
là “trọn đủ” th́ quá lố! Sám hối th́ được,
nhưng mong cầu cảnh giới th́ chớ nên cho lắm!
Hăy xem lời đáp cho câu thứ ba, ắt sẽ tự hiểu
ư này.
* Hỏi: Kể từ
khi tôi tín ngưỡng Phật giáo, từ đây cũng tin
tưởng, thờ phụng Quán Thế Âm Bồ Tát. Do muốn
hiểu rơ cái nhân của Bồ Tát, nên trong quá khứ có đọc
một quyển sách có tựa đề là Quán Thế Âm Bổn
Nguyện Kinh bèn tin tưởng; sau đấy lại xem các
tác phẩm trước thuật của những vị pháp
sư cận đại, thấy nói quyển sách ấy là
tiểu thuyết chẳng đáng tin. Như vậy th́ rốt
cuộc là Bồ Tát hiển hóa, giáng sanh thuộc thời đại
nào, có căn cứ nào hay không? (Hoàng
Mễ Điền và Hoàng Đạo Không hỏi)
Đáp:
Quán Âm Bồ Tát chẳng phải là người thuộc vào
thế giới Sa Bà, mà cũng chẳng thị hiện trong
kiếp này. V́ thế, các sách vở trong châu Nam Diêm Phù Đề
chẳng ghi chép đích xác, bởi lẽ, nơi chốn xa
xôi, năm tháng mịt mờ, t́nh thế ắt là như vậy.
Như vua Hiên Viên của Trung Quốc, bất quá là cách đây
mấy ngàn năm mà thôi, mà c̣n chẳng có sách vở nào chuyên
viết về ông ta tường tận, có chi là lạ? Những
điều ghi chép [về Quán Âm Bồ Tát] chỉ là dựa
theo kinh Phật, như phẩm Phổ Môn của kinh Pháp
Hoa, kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Thọ Kư, kinh Thiên Thủ Thiên
Nhăn Đại Bi Tâm Đà La Ni, kinh Bi Hoa v.v… nói đại lược
bổn tích, đó là căn cứ, c̣n những thứ khác [chẳng
phải là kinh Phật] đều là ức đoán. Hơn nữa,
kinh Phật [chỉ chú trọng] nêu bày thần lực từ
bi của đức Quán Âm chuyên nhằm làm cho chúng sanh tín phụng
đạt được lợi ích. V́ thế, đối
với những chuyện vụn vặt như thân thế,
tiểu sử của Ngài, do chẳng liên quan đến tông
chỉ rộng lớn, nên chẳng ghi chép đầy đủ
để làm ǵ!
* Hỏi:
Trong bộ tượng Tam Thánh, Quán Thế Âm Bồ Tát và Đại
Thế Chí Bồ Tát là trợ thủ của A Di Đà Phật.
Nếu chúng sanh có tai nạn khẩn cấp bèn niệm Quán
Thế Âm Bồ Tát. Ngài có thể tầm thanh cứu khổ,
đồng thời thường hiện tướng cho người
ta thấy, nhưng v́ sao chưa hề nghe nói Đại Thế
Chí Bồ Tát hiện tướng cho người ta thấy?
Chẳng nghe nói chúng sanh hễ có tai nạn bèn cầu Đại
Thế Chí Bồ Tát. Vậy th́ Ngài giúp đỡ A Di Đà Phật
là giúp theo kiểu nào? (Tŕ Huệ
Lâm hỏi)
Đáp: Chuyện
này chia thành Thông và Biệt. Quán Âm hành hạnh Phổ Môn là Thông,
nhiều người biết đến. Ngài Thế Chí chỉ
có người tu Tịnh biết đến là Biệt, nên
nhiều người chẳng biết. Hễ biết bèn thường
niệm, do thường niệm th́ Ngài sẽ ứng hiện.
Kẻ chẳng biết bèn không niệm, nên Ngài chẳng ứng
hiện. Niệm là năng cảm, hiện là năng ứng.
Nếu như nhất tâm tín niệm ngài Thế Chí, ngài Thế
Chí nhất định có thể hiện. Hiện hay chẳng
hiện là do chúng sanh niệm hay chẳng niệm, chẳng
phải là cầu ngài Thế Chí mà Ngài chẳng ứng! Trong
hai vị phụ tá của Phật Di Đà, Quán Âm chủ về
Bi, Thế Chí chủ về Trí. Tự độ và độ
chúng ắt phải là cùng vận dụng Bi và Trí, cớ sao
lại ngược ngạo ngờ vực ngài Thế Chí chẳng
giúp được ǵ!
* Hỏi:
Kinh có nói trong kiếp quá khứ, Thích Tôn v́ cứu vớt
chúng sanh đang gặp nạn đói, bèn dùng thần thông biến
hóa thành cá để làm thức ăn [cho dân chúng]. Đă có
thể sử dụng thần thông biến thành cá, sao chẳng
trực tiếp khiến cho ngũ cốc được mùa
cho họ ăn? Nếu v́ định nghiệp khó chuyển
th́ tuy hóa thành cá, há họ chẳng bị nghiệp lực ngăn
chướng nên chẳng thể ăn ư? (Hứa Trí Thuần hỏi)
Đáp:
Kinh Phật có Đại Thừa và Tiểu Thừa, đối
tượng thuyết pháp mỗi loại mỗi khác, người
đọc hăy nên khéo hiểu trọn vẹn, chớ nên đọc
theo kiểu chấp chết cứng. Nếu bắt chước
tác phong của kẻ khăng khăng chấp chặt, há chỉ
có như thế, mà c̣n là chỗ nào cũng đều gặp
nhiều chướng ngại! Ở đây, có ba ư để
giải thích:
1) Chuyện được
kinh nhắc đến chính là trong kiếp quá khứ, Thích Tôn
c̣n là học nhân, dẫu có thần thông, nhưng có hạn lượng,
hoặc là chỉ có thể chuyển thành thân cá, chẳng thể
chuyển biến thành lương thực trong cơi đại
địa được!
2) Đoạn kinh
văn này ắt là có một đối tượng và hoàn cảnh
nhất định, chuyên nhằm khế cơ, cũng giống
như công án của nhà Thiền, đều do thích ứng căn
cơ mà phát khởi.
3) Nơi được nhắc tới
trong kinh đă thuộc về kiếp lâu xa, cơi đất ấy
có sanh trưởng ngũ cốc hay không, hoặc là ở gần
nơi đánh cá, săn bắt, như vùng Nội Mông của
Trung Hoa chỉ sống bằng du mục, thảy đều
chưa thể biết. Chớ nên tự tiện đối
với t́nh huống không rơ ràng mà vội vă bới lông t́m vết!
* Hỏi:
Tôi thấy trong Ấn Quang Đại Sư Văn Sao có nói:
“Phàm muốn liễu sanh tử,
ắt phải thật chứng. Nếu chỉ ngộ mà chưa
chứng, ắt Phiền Hoặc vẫn c̣n, cần phải
nỗ lực to lớn. Nếu có thể khăng khăng bền
chí rèn luyện qua sự duyên, ắt tâm sẽ giác chiếu,
ngầm hợp thánh trí, phàm t́nh nhân, ngă, thị phi sẽ
không do đâu mà dấy lên được. Nếu phàm t́nh vẫn
lừng lẫy y như cũ, công hạnh càng cao, t́nh kiến
càng nặng, từ ngộ mà vào mê, khó ḷng tránh khỏi!” V́
sao công hạnh càng cao mà đâm ra t́nh kiến càng nặng như
vậy? (Hứa Trí Thuần hỏi)
Đáp:
Đoạn nghị luận này nói lên sự khó khăn của
pháp môn tự lực thông thường, nhằm chỉ rơ sự
dễ dàng của pháp môn Tịnh Độ, đặc biệt
nêu ra hai chữ Chứng và Ngộ. Nói “chỉ ngộ chưa
chứng”, [nghĩa là] phàm t́nh hăy c̣n, địa vị thánh
sẽ chẳng viên măn. Chỉ nhờ vào liễu ngộ,
tri kiến càng tăng, tri kiến ấy chính là phàm t́nh, công
hạnh được nhắc đến trong đoạn
văn trên đây là nói tới công hạnh do sự liễu
ngộ tri kiến.
* Hỏi:
Kinh Kim Cang nói “phàm những ǵ có
tướng đều là hư vọng”, lại nói “hết thảy pháp hữu vi,
như mộng, huyễn, bọt, bóng, như sương
cũng như chớp”. Tịnh Độ Tông niệm Phật
cầu sanh thế giới Cực Lạc, có phải là chấp
tướng hay không? Có phải là hữu vi hay chăng? Tôi
nghĩ tông này chẳng phải là học lư cao nhất trong
nhà Phật, đại khái là để dẫn dụ người
khác nhập môn. Sau khi đă thật sự tin Phật, tự
nhiên đổi sang chân lư cao sâu khác. Nếu không, chỉ một
mực niệm Phật, cần ǵ phải dùng đến
Tam Tạng kinh điển chi nữa! (Trương Tường Mưu hỏi)
Đáp:
Câu này cần phải chia thành bốn đoạn để
đáp:
1) “Trở về nguồn chẳng có hai đường,
phương tiện có nhiều môn”. “Quy nguyên chẳng hai” chính
là Thật Trí tự chứng Nhất Chân pháp giới. “Phương tiện nhiều
môn” là Quyền Trí lợi tha, thiện xảo nhân duyên. Quyền
Thật bất nhị, đó là nguyên tắc. Có tướng
là Sắc, vô tướng là Không, Sắc tức là Không, Không
tức là Sắc, thật sự cũng chẳng tách rời.
Hữu vi là tạo tác, vô vi là “pháp
nhĩ” (pháp vốn là như vậy). Tạo tác là Tu Đức,
pháp nhĩ là Tánh Đức. Tu há có thể ĺa khỏi Tánh, cũng
khó tách rời. Hễ thiên chấp, năm căn sẽ tranh
chấp lẫn nhau. Viên quán, ắt chư pháp nhất quán.
Kinh có lúc nói thiên chấp là để khế cơ, có khi nói
viên dung nhằm xiển dương Lư. Lư và Sự vốn tự
viên dung, há nên chấp chết cứng? Nếu bài xích Tịnh
Độ là chấp tướng, vậy th́ các tông khác có Chỉ
Quán, Sổ Tức, tham thoại đầu, đoạn Hoặc
v.v… há chẳng phải là hữu vi, chấp tướng ư?
2) Ông nghi Tịnh chẳng
phải là học lư cao nhất. Nói theo lẽ thông thường,
các pháp b́nh đẳng, trọn chẳng có cao hay thấp. Nói
riêng biệt, Đăng Địa Bồ Tát c̣n chưa thể
hiểu [pháp môn Tịnh Độ], chỉ có Phật và Phật
mới có thể thấu hiểu đến tột cùng. Vậy
th́, [Tịnh Độ] là cao hay thấp có thể biết rơ!
3) Ông nghi “sau khi đă
nhập môn, bèn đổi sang chân lư khác”. Hăy thử xem các vị
đại đức trong Thiền Tông, thường là các
Ngài đa số sau khi đă ngộ bèn tu Tịnh, mà chư
Tổ trong Tịnh Tông càng có nhiều vị là bậc tông tượng
triệt ngộ trong nhà Thiền. Có thể nói là pháp này là để
nhập thất, chẳng phải để nhập môn, bất
quá thích hợp khắp ba căn, lợi căn lẫn độn
căn đều thâu tóm mà thôi!
4) Đối với
điều nghi “một mực niệm Phật, không cần
đến Tam Tạng”, xin cư sĩ duyệt tạng (đọc
Đại Tạng Kinh) sẽ tự biết. Trong các kinh luận,
đề xướng, chỉ dạy pháp này, chỗ nào cũng
đều là như vậy. Cổ đức nói “ngàn kinh muôn luận, đâu đâu
cũng chỉ quy”, tôi tin chẳng phải là lời lẽ
rỗng tuếch! Hiểu rơ lẽ này, chỉ có thể nói kinh
luận phần nhiều chứa đựng giáo nghĩa Tịnh
Độ, chẳng thể nói niệm Phật bèn phế bỏ
các kinh.
* Hỏi:
Nghe nói trong phẩm Hạnh Nguyện có nói “giữ lại Hoặc để có thể vào trong
các giới độ chúng sanh”. Há chẳng phải là minh
tâm kiến tánh th́ mới đắc thần thông đầy
đủ, đến đi tự tại? Cớ sao lại
ngược ngạo giữ lại Hoặc vậy? (Hứa Trí Thuần hỏi)
Đáp:
“Giữ lại Hoặc” có
nghĩa là chẳng nhập Niết Bàn. Thần thông do Định
lực mà có. Minh tâm kiến tánh cũng có một phần hay
viên măn sai khác! Định sâu bèn có thể đắc thần
thông, chẳng cần đợi đến giác ngộ viên
măn. Hoan Hỷ Địa Bồ Tát trong Biệt Giáo, Phát Tâm
Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo đều đă chứng một
phần Pháp Thân, thị hiện trong trăm giới,
cũng chẳng đợi đến khi giác ngộ viên măn.
* Hỏi:
Cổ đức dịch kinh, đầu các kinh phần nhiều
mở đầu bằng các câu như “như thị ngă văn” v.v… v́ tuân thủ di giáo, chỉ
có Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh là thuộc ngoại lệ.
Toàn bộ kinh văn chỉ có vỏn vẹn hai trăm sáu
mươi chữ, trừ chữ Xá Lợi Tử ra, từ
“Sắc bất dị Không”
cho đến “cố thuyết
Bát Nhă Ba La Mật Đa chú” là hai trăm mười ba chữ.
Trong bộ tân dịch Đại Bát Nhă, trong sáu trăm cuốn,
có hơn hai trăm cuốn trong ấy tôi từng thấy đoạn
kinh văn [gồm hai trăm mười ba chữ] ấy.
C̣n th́ câu mở đầu gồm hai mươi lăm chữ
“Quán Tự Tại Bồ Tát, hành
thâm Bát Nhă Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến
Ngũ Uẩn giai Không, độ nhất thiết khổ
ách” và đoạn cuối cùng gồm hai mươi hai chữ:
“Tức thuyết chú viết: Yết
đế, yết đế, ba la yết đế, ba la
tăng yết đế, Bồ Đề sa bà ha”. Hai đoạn
đầu cuối ấy, tổng cộng bốn mươi
bảy chữ chưa rơ xuất phát từ kinh nào. Học
nhân tŕ tụng kinh này, từ năm bốn mươi cho đến
nay chưa hề lười nhác đôi chút, trọn chẳng
phải là hoài nghi kinh này, bất quá là muốn biết ư nghĩa
chân thật của cả bộ kinh mà thôi. Xin hỏi kinh này
có phải đúng là là thuộc loại đơn hành bản
(bản kinh lưu thông riêng biệt), hay là sau đời Lư Đường[34]
trở đi, các vị tiên đức đă chọn lựa
những điều trọng yếu trong các kinh, diễn dịch
mà thành hay không? Xin phiền cụ hăy khai thị! (Triệu Siêu hỏi)
Đáp:
Bát Nhă Ba La Mật Tâm Kinh thuộc về Bát Nhă Bộ trong Đại
Tạng Kinh. Bát Nhă có hơn sáu trăm cuốn, kinh này là một
trong số đó. Người đời sau do v́ lẽ tinh
túy trong kinh này, nên lấy ra lưu thông riêng. Kinh này vốn có
chín bản dịch[35], đă
mất hai bản, nhưng nội dung và câu chữ của bảy
bản dịch cố nhiên có sai khác, tựa đề kinh cũng
không nhất trí. Chỉ riêng hai bản dịch của ngài Cưu
Ma La Thập đời Diêu Tần và ngài Huyền Trang đời
Đường không có chữ “như
thị ngă văn”, năm bản kia đều có. C̣n như
đoạn chú ngữ Bát Nhă th́ bảy bản dịch đều
chép, bất quá thứ tự bất đồng. Cuối năm
bản dịch kia đều có câu “giai đại hoan hỷ, tín thọ phụng hành”.
Bản cư sĩ đọc chính là bản dịch của
ngài Huyền Trang, cũng là bản được lưu hành
phổ biến nhất.
* Hỏi:
Thiên giới chẳng có nơi chốn, phương hướng,
con người nương vào địa cầu để
sinh tồn. Hằng ngày địa cầu xoay quanh không ngừng,
về căn bản là chẳng thể xác định phương
hướng. Nói “trên trời có hai mươi tám tầng” là
nói về ngày nào, thời nào, chỗ nào vậy? (Lư Vân Tiêu hỏi)
Đáp:
Tuy địa cầu chuyển động, thật ra, giả
định phương hướng chẳng trở ngại
ǵ, bởi nó tự xoay quanh chính nó theo chiều ngang, chẳng
phải là chuyển động điên đảo lên cao xuống
thấp, tức là Á và Mỹ hai châu chuyển hướng,
nhưng Nam Cực và Bắc Cực không chuyển hướng,
nên có thể nói phía hướng về mặt trời là Thiên.
Trong sự chuyển động chung, lại có quỹ đạo
nhất định, tức là con đường nó chuyển
động xoay quanh mặt trời, vẫn là theo chiều
ngang, giáp ṿng sẽ trở lại, có thể nói như vậy
đối với cơi trời thuộc phạm vi của châu
này (Nam Diêm Phù Đề). C̣n phía trên có hai mươi tám tầng
trời, chẳng phải là nói đến một châu, mà là
nói về phạm vi bốn phía [của những cơi đất]
như quả địa cầu này.
* Hỏi:
Trong khoảng thời gian từ Phật Ca Diếp đến
Phật Thích Ca, nhân loại từng có một giai đoạn
ăn lông, uống máu, từ nay đến cho khi Phật Di
Lặc ứng tích, có phải cũng sẽ có một thời
kỳ trở lại cuộc sống trong hang động
hay không? (Quách Gia Ninh hỏi)
Đáp:
Thành, trụ, hoại, không là đại biến hóa của
tinh cầu. Biển xanh, ruộng dâu chính là tiểu biến
hóa của tinh cầu. Bất luận phồn vinh hay suy vi đều
là biến hóa, đó là học lư vô thường. C̣n như ăn
lông, uống máu, sống trong hang động, hay nơi đồng
hoang, chính là chuyện thuộc về một thời kỳ,
ắt phải có ghi chép th́ mới dễ nói. Trước thời
Phật Thích Ca, theo sử Trung Hoa ghi chép th́ đă từng có
thời kỳ ăn lông, uống máu, nhưng trước
khi có sử, niên đại, thời kiếp rất lâu,
trong thuở đó, có biến hóa lần nào hay không, vẫn
chưa thể nói được! Huống hồ là đối
với vị lai, kẻ hèn này chưa từng thấy có huyền
kư về cuộc sống trong hang hốc, nên cũng chẳng
tự tiện suy đoán bừa băi được!
* Hỏi:
Vào thời Phật Di Lặc hạ sanh, nếu phi cơ trở
thành công cụ giao thông phổ biến vào thời đó, có
phải là sẽ gây trở ngại cho Thần Túc Thông của
các đệ tử Phật hay chăng? (Quách Gia Ninh hỏi)
Đáp:
Phi cơ có thể thật sự tồn tại đến
thời đó ư? Chẳng thể nào không nghi ngờ! Dẫu
đến khi đó, máy bay đầy trời, vẫn chẳng
trở ngại Thần Túc. Xin hăy thử nghĩ có bao nhiêu hệ
Ngân Hà trong hư không, các ngôi sao xoay chuyển nhiều cỡ
nào, cũng chưa thấy chúng luôn luôn va đụng nhau,
khiến các ngôi sao tan nát bắn tung tóe như mưa!
* Hỏi:
Trong tượng Tây Phương Tam Thánh, Quán Thế Âm và Đại
Thế Chí Bồ Tát diện mạo và phục trang giống
như nữ giới, chẳng biết hai vị Bồ Tát ấy
là nam hay nữ? (Lâm Quư Diễm
hỏi)
Đáp: Tạo tượng
Bồ Tát có tướng xuất gia và tướng tại
gia khác biệt. Đầu tṛn, đắp ca-sa là tướng
xuất gia, như tượng Di Lặc và Địa Tạng
Bồ Tát. Măo báu, xơa tóc, thân mặc áo xống thế tục,
đeo giắt anh lạc là tướng tại gia. Như Văn
Thù và Phổ Hiền trong Hoa Nghiêm, Quán Âm và Thế Chí trong cơi
Cực Lạc, các vị Bồ Tát đều là như vậy.
Do các Ngài để tóc xơa, thân đeo giắt anh lạc, thế
tục tưởng lầm là nữ giới, thật ra chẳng
phải là như vậy.
* Hỏi: Kinh Dịch
nói: “Vô cực mà thái cực.
Thái Cực sanh Lưỡng Nghi”. Đó là nguyên lư tạo
thành vạn vật trong vũ trụ. Khoa học Tây Dương
nói tinh vân (nebulae) là nguyên lư cấu thành vũ trụ. Trong
kinh Lăng Nghiêm, đức Thích Ca trả lời câu hỏi
của ngài Phú Lâu Na: “Giác tánh vốn
sẵn thanh tịnh, cớ sao bỗng sanh ra núi, sông, đại
địa” như sau: “….Từ
nơi chân giác khởi lên một cái minh (sáng suốt) hư
vọng, nên chân không biến thành cái không trơ trơ, tăm
tối. Do tối và sáng đối đăi nhau mà tạo thành
dao động, nên có Phong Luân chấp tŕ thế giới. Do
trong hư không sanh ra dao động, do chấp cứng chắc
nơi cái minh ấy nên thành chướng ngại, [tạo
thành địa đại]. [Tinh túy của địa đại]
là chất vàng báu ấy, cái vọng giác nẩy sanh từ vọng
minh ấy lại tạo thành tướng cứng chắc,
ngăn ngại, nên có Kim Luân ǵn giữ quốc độ. Vọng
giác chấp trước kiên cố, chất báu đă được
tạo thành, vọng minh dao động, cảm vời Phong
Đại nẩy sanh. Gió và chất vàng chà xát lẫn nhau, nên
có ánh lửa, có tánh chất biến hóa. Thể của chất
báu là sáng sạch, có thể sanh ra tánh thấm nhuần, được
ánh lửa nung nấu, cho nên có Thủy Luân chứa đựng
mười phương cơi. Lửa bốc lên, nước
tuôn xuống, giao cảm phát sanh mà tạo thành chất cứng
rắn. Chỗ ướt là biển cả, chỗ khô là châu
lục. Do v́ nghĩa ấy, trong biển cả kia thường
có ánh lửa bốc lên, trong chốn lục địa, có sông
ng̣i thường tuôn chảy. Thế nước kém hơn
lửa, bèn kết thành núi cao. Do đó, đá trên núi đập
vào nhau sẽ xẹt ra tia lửa. nung lên sẽ chảy nước.
Đất có thế lực kém hơn nước, co rút lại
sẽ thành thảo mộc. V́ thế, [cây cối] rừng rậm
nếu bị đốt sẽ trở thành đất, nếu
bị vặn vắt sẽ chảy ra nước. Do các vọng
giao nhau mà phát sanh, lần lượt trở thành chủng tử
[cho các tướng mới phát sanh]. Do bởi nhân duyên ấy,
thế giới liên tục [h́nh thành]”[36], đó là nguyên
lư tạo thành vạn vật trong vũ trụ. Ba thứ
nguyên lư trên đây khác nhau và giống nhau ở chỗ nào? Có
chỗ nào mâu thuẫn hoặc tương tự hay không?
([Nói vũ trụ là] do hạt nhân nguyên tử tạo thành,
rất giống với thuyết Thái Cực sanh Lưỡng
Nghi, [nói] “vô cực mà thái cực” th́ rất giống với
thuyết tinh vân. Thế của nước kém lửa, kết
thành núi cao, thế của đất kém nước, cô đọng
lại thành cỏ cây… tương tự thuyết Ngũ Hành
Tương Sanh (Ngũ Hành sanh ra lẫn nhau)[37],
trời tṛn, đất vuông, trời động, đất
tĩnh, nhưng mâu thuẫn thuyết địa cầu
xoay quanh mặt trời), kính xin hăy chỉ dạy! (Tiên Thuần Hiền hỏi)
Đáp:
“Vô cực mà thái cực rồi
tới Lưỡng Nghi” là từ ngoại tại chẳng
có h́nh tượng mà suy tới có h́nh tượng. [Khoa học
nói] do tinh vân mà có vũ trụ là từ đă có h́nh tượng
mà dự đoán diễn biến. Những điều kinh Lăng
Nghiêm đă nói là từ cái tâm sáng suốt hay tối tăm mà
đối đăi biến huyễn, sanh khởi vọng tưởng.
Điểm xuất phát của ba thuyết này chia thành “trong,
ngoài, có, không”, hiển nhiên là bất đồng. Đă chẳng
xuất phát từ một chỗ, nên cũng chẳng thể
nói là mâu thuẫn, lại càng chẳng cần phải cố
ư gượng ép [sao cho ba thuyết] phù hợp. Hạt nhân
nguyên tử, Thái Cực, Lưỡng Nghi, vô cực mà là thái
cực, tinh vân, một đoạn kinh Lăng Nghiêm và Ngũ
Hành Tương Sanh, cố nhiên chẳng phải là không có mấy
phần tương tự, nhưng xét ra th́ là gán ghép miễn
cưỡng, chẳng thà cứ tạm nghe theo cách giải
thích của riêng từng thuyết. Chờ đến khi có
người tinh thông cả ba loại học vấn này, chắc
là sẽ có thể nói ra chỗ khác nhau và giống nhau thật
sự. Đối với chuyện “trời tṛn, đất
vuông” th́ hai quẻ Càn và Khôn trong kinh Dịch cũng như
kinh Lăng Nghiêm trong nhà Phật đều chưa nói như
thế, nên có mâu thuẫn hay không, hai thuyết ấy chẳng
chịu trách nhiệm! “Trời động, đất tĩnh”
là do các nhà văn học dựa theo hiện tượng trước
mắt mà thốt ra, v́ mặt trời ở trên đỉnh
đầu con người, nên gọi là “thiên tượng”
(天象: hiện tượng
thiên văn), do thấy nó vận hành, nên bảo là “trời động”.
[Do thấy] đất cơng chở núi non dường như
thường hằng, nên bảo là “đất tĩnh”. Những
điều này bất quá là lời lẽ h́nh dung, đương
nhiên chẳng phù hợp khoa học. Do các nhà khoa học đă
biết địa cầu tự xoay quanh nó, nên có hiện tượng
ngày và đêm, mặt trời vốn chẳng có mọc hay lặn,
cũng v́ tùy thuận người khác mà nói “trời tảng
sáng, mặt trời mọc”, đương nhiên cũng là
chẳng hợp khoa học.
* Hỏi:
Trong mục Phật Học Vấn Đáp do thầy chủ
tŕ, đối với câu hỏi thứ tư của pháp
sư Như Bổn: Trong bài kệ tụng của phẩm
Phổ Môn có nói “chú trớ
chư độc dược, sở dục hại thân giả,
niệm bỉ Quán Âm lực, hoàn trước ư bổn
nhân” (chú, nguyền rủa, thuốc độc, toan hăm hại
đến thân, do sức niệm Quán Âm, trở ngược
kẻ gây chuyện). Cách làm như thế há chẳng phải
là tổn thương tâm từ bi? Đối phương
dùng thuốc độc hại ta, tuy chúng ta niệm thánh hiệu
được cứu, nhưng thuốc độc ấy
hại ngược lại đối phương, như
thế th́ chẳng phải là hết sức tổn thương
tông chỉ từ bi hay sao?
Thầy
đáp rằng: Đời Tống, ông Tô Đông Pha từng
có nỗi nghi ấy, tự tiện sửa kinh, đă bị
cổ đức quở trách. Ấy là v́ nghĩa “trở ngược về
người gây hại” trọn chẳng phải là bị
chú hay thuốc độc báo thù, cũng chẳng phải do
ngài Quán Âm giáng những thứ đó lên thân [người bày
ra chuyện gây hại], mà là như kinh Tứ Thập Nhị
Chương đă dạy: “Tử
dĩ lễ tùng nhân, kỳ nhân bất nạp, lễ quy tử
hồ? Đối viết:
Quy hỹ” (Ông đem lễ vật tặng cho người
khác, người ấy chẳng nhận, lễ vật có
trở về với ông hay chăng? Thưa: Trở về ạ!),
ư giống như vậy đó!
Điều
này nên hiểu là thuộc loại “tự làm, tự hứng chịu oan nghiệt”, “tự làm, tự chịu”, “tự ăn cái quả [do chính
ḿnh gieo trồng]”, giống như ngửa mặt nhổ
lên trời, trời chẳng nhận cái khạc nhổ ấy.
Xin hỏi [hiểu như vậy] có đúng hay không? (Hùng Thanh Tuấn hỏi).
Đáp: Cũng có
thể nói như thế, ư giống nhau, tuy sự khác nhau, đều
có thể vận dụng [những cách nói ấy].
* Hỏi:
Cổ nhân nói về văng sanh Tịnh Độ có bốn câu
kệ, lời lẽ giống như mâu thuẫn, tra duyệt
sách cũng chẳng thấy giải thích, chính là: “Sanh th́ quyết định sanh,
đi th́ thật sự chẳng đi. Đi th́ quyết
định đi, sanh th́ thật sự chẳng sanh”. Rốt
cuộc ư nghĩa được bao hàm [trong những câu trên
đây] là ǵ, xin hăy chỉ dạy cặn kẽ! (Địch Sanh hỏi)
Đáp:
Bốn câu ấy đă được cổ đức giảng
giải từ lâu, bất quá lời lẽ đơn giản,
ư nghĩa bao trùm, văn lẫn nghĩa đều uyên áo, hàng
sơ học chẳng thể lănh thọ đó thôi! Ở đây,
tôi giải thích nông cạn như sau: Câu “sanh th́ quyết định sanh” là nói một niệm
thần thức hóa sanh trong hoa sen. “Quyết định sanh” là chứng thực chuyện
hóa sanh chân thật tột bậc, chẳng phải là hư
vọng. Trong câu “đi th́ thật
sự không đi”,“đi”
là nói một niệm thần thức ĺa cơi này, hướng
đến cơi kia, “thật sự
không đi” là nói thức chính là tùy duyên theo tánh. Thức đi
chứ tánh chẳng đi, v́ tánh có lượng bằng với
hư không, bao trùm trọn hết cơi nước số lượng
nhiều như cát, chẳng đến, chẳng đi, nên
nói là “không đi”. Chữ “đi” trong câu “đi th́ quyết định đi” chỉ một
niệm thần thức, ĺa nơi đây, hướng đến
nơi kia, “quyết định
đi” là chứng thực chuyện hướng đến
nơi kia là xác thực, chẳng phải là dối gạt!
Chữ Sanh trong câu “sanh th́ thật
sự chẳng sanh” chỉ một niệm thần thức
hóa sanh trong hoa sen, “thật sự
chẳng sanh” ư nói: Chẳng phải là thức, mà là tánh có
thể chuyển biến. Thức sanh, nhưng tánh chẳng
sanh; bởi lẽ, tánh thể chẳng có sắc tướng,
cưỡng gọi là Chân Như, bất sanh, bất diệt,
nên nói là “bất sanh”. Trong bốn câu này, câu một và ba đều
nói về thức, câu hai và bốn đều nói về tánh.
* Hỏi:
Ngẫu nhiên đọc phó bản của Trung Ương Nhật
Báo số ra ngày Hai Mươi Chín tháng Mười, có đăng
tải một bài viết liên quan đến Phật học,
hậu học đọc xong cảm thấy cách nh́n đối
với Phật học của người kư tên là Hoa Nghiêm tiên
sinh ấy tuân theo một kiểu lư luận khác biệt. V́
thế, cảm thấy rất bối rối, nay tôi gởi
kèm nguyên văn, xin thầy hăy đọc rồi giải trừ
nỗi nghi cho hậu học. (Trần
Vĩ Anh hỏi)
Đáp:
Phật pháp như biển cả, uyên bác, sâu thẳm; chẳng
chuyên tinh suy nghĩ, suy xét sâu xa, sẽ chẳng thể thấu
hiểu rốt ráo. Nếu chỉ loáng thoáng ngoài da, hiểu
biết nửa vời, tự tiện phét lác tận trời,
khen hay, chê dở, sẽ giống như kẻ mù đếm
sao, kẻ điếc b́nh luận âm nhạc, chẳng hợp
sự thật, ai nấy đều biết tỏng ṭng
tong! Hiện thời, ngôn luận tự do, thói khinh miệt
thánh nhân đă có lâu ngày. Cái học của Khổng Tử là
lấy nhân, hiếu, lễ, nghĩa làm gốc để
duy tŕ dân tộc Trung Hoa, dẫu bị ngả nghiêng mà luôn có
người phục hưng. Từ sau cuộc biến động
Ngũ Tứ trở đi, [thiên hạ] luôn lớn tiếng
ḥ hét “đả đảo tiệm
buôn nhà họ Khổng”, bảo “hiếu và lễ đều là thuốc độc”,
rốt cuộc Khổng Tử có bị tổn hại chi
chăng? Dân tộc có bị tổn hại ǵ chăng? Người
sáng mắt tự có thể biện định, quư cư sĩ
hăy nên dùng lệ ấy để xem xét.
* Hỏi: Trong kinh
Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công
Đức có nói: “Từ
phương Đông qua khỏi mười Căng Già sa cơi
Phật, có thế giới tên là Tịnh Lưu Ly, Phật
hiệu là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai”. Một
Căng Già Sa cơi Phật bao xa? Có bao nhiêu cây số? Lại nữa,
ở phương Đông là ở chỗ nào? Địa cầu
tṛn xoe rốt cuộc phương Đông là ở chỗ nào?
(Tôi biết chỗ mặt trời mọc là phương Đông,
nhưng nh́n từ nước ḿnh th́ phương Đông là
nước Mỹ. Nếu nh́n từ Mỹ th́ phương
Đông là châu Âu. Lại nh́n từ Ấn Độ, sẽ
lại thấy phương Đông là Trung Hoa!) Rốt cuộc
là ở nơi nào th́ mới là tiêu chuẩn? (Lâm
Đáp: Bốn phương
trên dưới, xét theo sự th́ vốn chẳng có, nhằm
nhận biết thuận tiện, nên lập ra danh từ giả
định, nhưng sáu phương chính là giả danh. Tuy
chẳng có chỗ nhất định, nhưng có các phương
giả định. V́ thế, nơi mặt đất có nơi
giả định là Đông, Tây, như địa cầu
tự xoay quanh nó, chỗ nào hướng về phía mặt
trời th́ gọi là Đông, bất luận ba nước
Mỹ, Trung, Nhật, đều thấy mặt trời xuất
hiện trước hết từ phương Đông. Bầu
trời có phương hướng Đông, Tây giả định.
Như đối với Thái Dương hệ trong vũ
trụ, lấy mặt trời làm trung tâm. Đă ấn định
một trung tâm, th́ sẽ có bốn phương, trên, dưới,
nhưng vũ trụ chẳng có ngằn mé. Đối với
một thế giới trong Thái Dương hệ, liền
gọi sáu phía của mặt trời là sáu phương. Nhưng
trong Thái Dương hệ, có vô số tinh cầu, đều
tự xoay chuyển quanh mặt trời, mỗi tinh cầu
có quỹ đạo riêng. Tinh cầu xoay trên quỹ đạo
cố định, nên phương hướng cũng đều
có nhất định, tiêu chuẩn là như thế, há c̣n
ngờ chi nữa?
* Hỏi:
Người tu hành lúc mạng chung cần phải để
sau tám giờ mới có thể dời động (v́ khi ấy
thần thức c̣n chưa ĺa khỏi [xác thân]). Nếu không,
[người đă chết do bị dời động] sẽ
cảm thấy đau khổ, sợ bị đọa nhập
lục đạo (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh,
Tu La, người, trời), không thể sanh về Tây. Chiếu
theo lẽ này, suy ra người chẳng được chết
tốt lành bèn có đau khổ. Hễ có đau khổ, sẽ
chẳng thể sanh về Tây. Đời người khó bảo
đảm sẽ chết tốt lành, vậy th́ thường
ngày siêng tu khổ luyện, há chẳng phải là lăng phí tâm
huyết, nhọc nhằn tốn công ư? (Liêu Thanh Hoa hỏi)
Đáp: Người
chẳng chết tốt lành th́ gọi là “hoạnh tử” (chết ngang xương). Đấy
là một thứ nhân duyên ác, có thể chướng đạo.
V́ thế, hành giả hăy nên coi trọng phước huệ
song tu. Tuy huệ là căn bản để chứng đạo,
nhưng phước có thể làm trợ duyên trừ chướng,
[phước lẫn huệ] đều chớ nên thiên lệch.
Nhưng bậc đại tu hành thông đạt giáo tướng,
liễu ngộ tâm tánh, sẽ có thể chẳng khổ, chẳng
vui, dẫu gặp ác duyên vẫn chẳng dấy lên phiền
năo, tức là [những ác duyên ấy] chẳng trở ngại
sự thành tựu, chứng đắc vậy!
* Hỏi:
Đức Phật nói Tây Phương Cực Lạc thế
giới chẳng có thân nữ, chỉ có điều là trong tượng
Tây Phương Tam Thánh, v́ sao Quán Âm và Thế Chí Bồ Tát thị
hiện thân nữ, mong hăy khai thị! (Hạ Trấn Hoa hỏi)
Đáp:
Cách tạc tượng Bồ Tát có [h́nh tướng] xuất
gia và tại gia khác biệt. Đầu tṛn, áo ca-sa là h́nh tượng
xuất gia, như hai vị tôn thánh Di Lặc và Địa
Tạng. Để tóc, đeo anh lạc, chính là h́nh tượng
tại gia, như hai vị tôn thánh Văn Thù và Phổ Hiền
trong hội Hoa Nghiêm. Hai vị tôn thánh trong cơi Tây
Phương là Quán Âm và Thế Chí cũng mang h́nh tượng
tại gia, trọn chẳng phải là thân nữ. Nhưng đấy
đều là phương tiện tạc tượng, thật
ra nam là tương phản của nữ; đă không có nữ,
cần ǵ nói đến nam? Nhằm lợi sanh mà hóa thân đó
thôi!
* Hỏi: Linh quang
trong lục đạo là đến đi, bất sanh, bất
diệt. Cớ sao hai ngàn năm trước dân số và các
loài trùng nhiều hơn nhân loại và các loài trùng hiện thời
từ mấy chục lần trở lên? Chẳng biết
những thứ linh quang ấy từ chỗ nào mà xuất
sanh? Kính xin cụ hăy khai thị. (Tâm
Dung hỏi)
Đáp:
Đă từng có nhiều người hỏi về vấn
đề này, tôi đă trả lời nhiều lượt.
Xin hăy t́m đọc trong bộ Vấn Đáp Vựng Biên do
tạp chí này ấn hành sẽ biết rơ.
* Hỏi: Ngoại
giáo tà đạo có dùng một loại phù chú khiến cho con
người mê mất tinh, khí, thần, vậy th́ Phật giáo
phải dùng loại chú ngữ nào để đối phó
phù chú của ngoại giáo? (Tâm
Dung hỏi)
Đáp:
Nếu xét theo Mật Tông, pháp môn rất nhiều, mỗi môn
đều có công dụng chuyên biệt. Nếu nói theo Hiển
Giáo, nếu như tâm đă định, hễ định ắt
sanh quang, tà làm sao có thể xâm phạm được? Nếu
khởi lên sự giác chiếu, sẽ là huệ kiếm kim cang,
không tà nào chẳng bị đập nát. Nếu chẳng thể
nhiếp tâm nơi Định, hăy xét xem ta thường tŕ
tụng nhuần nhuyễn một chú nào, tụng lên sẽ
có thể đối trị, hoặc dùng một câu vạn
đức hồng danh cũng có thể tiêu trừ.
* Hỏi:
Đại đức đôi ba lượt nhấn mạnh
tu pháp môn Đại Thừa cần phải phát đại
tâm, thượng cầu, hạ hóa, đủ chứng tỏ
đại đức hành đại Bồ Tát đạo.
Nhưng độ chúng sanh cần phải có đại trí
huệ và trọn đủ các điều kiện kha khá,
chẳng phải là hạng phàm phu tầm thường mà ḥng
thỏa nguyện trong một đời này! Khi tuyên giảng
kinh Di Đà, đại đức đă từng khai thị:
Phát nguyện sanh Tây th́ đă bao gồm Tứ Hoằng Thệ
Nguyện. Như vậy th́ chỉ phát một nguyện sanh
Tây, sau khi đă sanh Tây bèn thừa nguyện tái lai th́ đă
bao gồm độ chúng sanh vậy! Nhưng có người
nói: “Nếu chẳng thể độ chúng, lợi sanh, tuyệt
đối chẳng thể văng sanh cơi Tây Phương”. V́ thế,
tôi cứ lẩn quẩn, sợ ảnh hưởng đến
tín tâm của kẻ sơ học. (Mạnh Hiếu Quang hỏi)
Đáp:
Đại Thừa có nghĩa là tự ḿnh và người khác
đều được lợi. Trái nghịch điều
ấy, há đáng gọi là Đại Thừa? Người
tu ắt phải có đại trí huệ, chuyện này bất
quá là đạt được hiệu quả rộng lớn.
Nếu như vô trí mà có nguyện, thâu được hiệu
quả tuy ít, nhưng nguyện bèn to. Thường hành nguyện
ấy, bổn trí sẽ khai. Xét theo sự là có chịu làm
hay không? Bi tâm có phát khởi hay không? Ư chỉ của việc
tu Tịnh Độ sanh Tây là nhằm đoạn Biến Dịch
sanh tử, Nhất Sanh Bổ Xứ; chẳng hành hai điều
lợi (tự lợi và lợi tha) th́ dùng ǵ để phá Trần
Sa và Vô Minh? Nếu chẳng phát nguyện “thừa nguyện tái lai”, cổ đức nói “Nhị Thừa chẳng thể
sanh”. Nếu y theo lệ mà niệm và nguyện, nhưng
trong tâm chẳng có [niệm và nguyện ấy], tức là đă
dối Phật, lại c̣n tự gạt ḿnh. Lại nữa,
“có kẻ nói chẳng độ
chúng, lợi sanh, sẽ chẳng thể văng sanh”, tất
nhiên là lời trung thực, cớ ǵ phải quẩn quanh lo
âu? Gặp dịp bèn khuyên người khác niệm Phật,
đấy chính là độ chúng. Tu tŕ với ư định
sẽ v́ họ mà tái lai, đó chính là lợi sanh. Hai điều
ấy có khó khăn ǵ?
* Hỏi:
Chúng ta sắp chết liền hôn mê, bất tỉnh. Đă
hôn mê, dẫu công phu tŕ danh thường nhật sâu xa, vẫn
chẳng thể chánh niệm, há chẳng phải là đă phí
công tu tŕ suốt cả một đời ư? (Ngô Mậu Tùng hỏi)
Đáp:
Người công phu sâu biết trước lúc mất, lúc lâm
chung như nhập Thiền Định. Thần thức
hôn mê, không thể chánh niệm, tức là thường ngày dụng
công chẳng sâu. Tuy vậy, người công phu sâu thường
ít, cho nên có tổ chức Trợ Niệm Đoàn, có thể
bổ cứu [khuyết điểm ấy]. Đó là điểm
đặc thù của pháp môn Tịnh Độ.
* Hỏi:
Trong bài Nghiên Cứu Vấn Đề Sanh Tử, nơi
trang sáu mươi hai có ghi: “A
Di Đà Như Lai chính là để miêu tả tư thái thuyết
giáo giả thiết của Phật Thích Ca trong năm
mươi năm [mà tạo ra]. Thích Ca chính là tên gọi của
thái tử Tất Đạt Đa giáng sanh từ hơn hai
ngàn năm trước, trong lịch sử thật sự
có nhân vật này… Chuẩn theo đó, Tây Phương Cực
Lạc thế giới và thuyết văng sanh cũng đều
là hư vọng, pháp môn Tịnh Độ cũng là dùng vọng
để hướng dẫn vọng. Bởi lẽ, những
chuyện trên đây (thế giới Cực Lạc, văng
sanh, pháp môn Tịnh Độ) đều do Phật Di
Đà mà có. Nay Phật Di Đà đă là hư vô, làm sao có những
chuyện khác cho được!” Hậu học đọc
điều này, cảm thấy rất kinh sợ, mê hoặc;
cầu thỉnh cụ hăy chỉ dạy đường nẻo
nơi chốn mê! (Liêu Thanh Hoa hỏi)
Đáp:
Kẻ hư vọng, gă ngây ngốc, chỗ nào cũng đều
có. Đọc sách Nho bèn hủy Nho, tụng kinh Phật mà báng
Phật, từ xưa đă có nhiều trường hợp,
chẳng có ǵ lạ cả! Sách ấy do một người
Nhật biên soạn, [hắn ta có] nhận thức về giáo
pháp rất nông cạn, thuần dùng tri kiến sanh tử
để ḍ lường biển viên giác! Dường như
đối với lư “vô pháp tướng, vô phi pháp tướng,
chẳng thực, chẳng hư, Tam Đế, Tam Quán”, hắn
ta đều chẳng nghe tới, nên mới chê trách đức
Thế Tôn dùng vọng để hướng dẫn vọng!
Nhưng kẻ tin th́ cứ tin, kẻ hủy báng cứ hủy
báng, ai nấy có tự do, ai nấy có nhân quả riêng. Cư
sĩ là người sơ học, từ nay trở đi,
chỉ nên tuân thủ giáo huấn “y pháp, bất y nhân”, tiến lên phía trước,
chẳng đâm quàng ngơ rẽ. Nếu đă đạt đến
chỗ có ngộ nhập đôi chút, sẽ có lúc quay đầu
cười x̣a. Bản tiếng Hán của sách ấy vốn
dịch từ nguyên tác, chẳng chịu trách nhiệm về
sự phát ngôn!
* Hỏi:
Bà La Môn là một dân tộc tại Ấn Độ; kinh Địa
Tạng nói: “Trong quá khứ chẳng
thể nghĩ bàn A-tăng-kỳ kiếp, lúc ấy có Phật,
hiệu là Giác Hoa Định Tự Tại Vương
Như Lai, trong thời Tượng Pháp, có một cô gái Bà La
Môn…” Cứ hai mươi tiểu kiếp là một trung
kiếp, lại bao gồm bốn trung kiếp Thành, Trụ,
Hoại, Không mới là một đại kiếp. A-tăng-kỳ
kiếp dịch là Vô Lượng Kiếp. V́ lẽ ǵ trước
kia địa cầu đă hoại bao nhiêu lần mà hăy c̣n
có chủng tộc Bà La Môn? (Lại
Đống Lương hỏi)
Đáp:
Tuy Bà La Môn là một chủng tộc của Ấn, nhưng
thuộc về giáo pháp tu phạm hạnh. Từ kiếp xa
xôi trước đă có Phật Đà, đều có những
giáo ở ngoài Phật giáo. Trên thế giới, trong khoảng
từ cuối kiếp Thành tới đầu kiếp Hoại,
tự nhiên là phải có động vật nương ở
và văn hóa, tôn giáo…. Thật sự có những chuyện ấy,
trọn chẳng có ǵ là lạ!
* Hỏi:
Trong các thứ cúng dường, cúng Phật tối thắng.
Đức Phật ngự tại Kỳ Viên, có lần, ngài
Xá Lợi Phất đem một bát cơm cúng Phật. Đức
Phật thấy bên cạnh có con chó, liền chuyển thí bát
cơm ấy cho con chó ăn, đồng thời, đức
Phật hỏi ngài Xá Lợi Phất: “Ngươi đem cơm
cúng cho ta, ta đem cơm ấy thí cho chó, ai được
phước lợi nhiều hơn?” Ngài Xá Lợi Phất
thưa: “Bố thí cho chó, được phước lợi
nhiều”, đức Phật liền ấn khả. Điều
này có nghĩa là như thế nào? (Lại Đống Lương hỏi)
Đáp:
Ngoài là phước điền, Phật là phước điền
tối thắng. Trong là tâm điền, từ bi b́nh đẳng
là điều tối thắng trong tâm điền. Nếu v́
cầu phước mà bố thí, phước đức thu
được do cái tâm riêng tư ấy sẽ ít ỏi. V́
thương xót mà bố thí, phước đức thu được
do công tâm sẽ là bậc nhất. Ngài Xá Lợi Phất cúng
Phật là hướng về phước điền cầu
phước, Phật bố thí chó là từ trong nội tâm
khởi ḷng bi. So giữa hai đằng, khởi ḷng bi thù
thắng hơn cầu phước.
* Hỏi:
Từ xưa cao tăng hoặc cư sĩ thường dùng
lửa tam-muội để đốt thân, chẳng biết
phun ra lửa tam-muội như thế nào? (Lại Đống Lương hỏi)
Đáp:
Chuyện này rất ít, trọn chẳng phải là thường
xuyên. Đă nói là lửa tam-muội th́ phải là do Chánh Định
thành tựu mà đạt được. Thường thấy
trong kinh nói các vị La Hán nhập Thủy định, hoặc
Hỏa định, hoặc bay trên hư không, phun ra nước,
phun ra lửa, đều là sức thần thông từ Định
mà có. Nếu cư sĩ thành tựu nơi Định, nước
lửa tự nhiên sẽ như ư.
* Hỏi:
Kinh Tứ Thập Nhị Chương có nói dâng cơm lên ngàn
ức chư Phật trong ba đời, chẳng bằng dâng
cơm cho một người vô niệm, vô trụ, vô tu, vô
chứng. Phàm người vô niệm, vô trụ, vô tu, vô chứng,
cao nhất cũng chẳng thể vượt hơn Phật;
v́ sao dâng cơm cho một ngàn ức ba đời chư Phật,
vẫn chẳng bằng dâng cơm lên một người vậy?
(Lại Đống
Lương hỏi)
Đáp:
Giáo nghĩa có Tạng, Thông, Biệt, Viên. Công năng của
Tạng Giáo chẳng bằng Viên Giáo. “Ba đời chư Phật”
ở đây là nói đến [quả vị Phật trong] Tạng
Giáo, c̣n vô tu vô chứng là nói tới [quả vị Phật trong]
Viên Giáo. Lại c̣n có một nghĩa mà cư sĩ phải
thể hội, tham thấu: Vô niệm, vô trụ, vô tu, vô chứng
là ǵ vậy?
* Hỏi:
Đối với Phật học, tiên sinh Lương Khải
Siêu có nghiên cứu kha khá. Trong bài Giáo Lư Phật Giáo Nguyên Thủy
Ấn Độ, ông ta từng cực lực chê trách thuyết
“linh hồn đầu thai biến thành lợn, thành ngựa”,
cho rằng đó chẳng phải là Phật lư. Đấy
có phải là phủ nhận lục đạo luân hồi hay
chăng? Lại dựa trên quan điểm của thuyết
Tiến Hóa Luận, trước khi nhân loại xuất hiện
trên địa cầu, trước hết là có các động
vật bậc thấp, trước động vật lại
có thực vật, vậy th́ lục đạo luân hồi
do đường nào mà dấy lên? (La Kiếm Nhân hỏi)
Đáp:
Đạo học Phật có tiêu chuẩn Tứ Y. Muốn
học Phật pháp, hăy nên nương theo Thánh Ngôn Lượng.
Hăy nên biết vạn pháp duy tâm, chỉ là mê và ngộ. Hễ
mê, bèn hiện lục đạo, như thường nói “trong mộng rành rành phô sáu nẻo”.
Ngộ th́ hết thảy tịch diệt, như đă nói “giác rồi ba cơi rỗng toang
hoang”. Theo như kinh A Hàm đă chép, đức Thế Tôn
từ nhiều kiếp trước cũng từng luân chuyển
trong lục đạo, lẽ nào lại nói [lục đạo
luân hồi] chẳng có? Tôi trộm cho rằng Lương
tiên sinh nói lời ấy chắc là nhằm phù hợp trào lưu
trong chốc lát ḥng duy tŕ Phật pháp, là một thứ phương
tiện khổ tâm mà thôi. C̣n như lập thuyết của
Tiến Hóa Luận, bất quá là câu nệ vào một giai đoạn,
nghiên cứu sự phát sanh và tiến hóa của một loài
nào đó mà thôi! Há chẳng biết thế giới vô lượng,
thần thức (linh hồn) đầy ắp không trung, cái
này đến, cái kia đi, biểu hiện thành Thành, Trụ,
Hoại, Không. Nếu tầm mắt hạn hẹp, chỉ
nh́n trong phạm vi địa cầu, há có thể nói thông suốt
được ư?
Ghi
thêm: Vấn đề này đă được giải
đáp nhiều lần, xin hăy tra duyệt bộ Vấn Đáp
Loại Biên.
* Hỏi: Nghe nói từ
tro xương của bà vợ ông Đổng Sự Châu
Bang Đạo nhặt được hơn ba trăm hạt
xá-lợi, có thật hay không? Xá-lợi nhiều như vậy
có nhất định sanh về Tây hay không? (
Đáp:
Việc này là xác thực, tổng cộng là ba trăm tám mươi
mấy viên. Khi thâu nhặt, có người ở Đài Trung
hiện diện đích thân chứng kiến, được
cất giữ trong b́nh hiện thời hăy c̣n, có thể kiểm
chứng. Có xá-lợi, cố nhiên là đă khó có, lại c̣n có
Phật hiện, thấy quang minh, c̣n có nhiều tướng
lành nữa. Kẻ hèn này tuy là phàm phu, chẳng thể biết
[đích xác] chỗ bà ta quay về, nhưng xét theo các kinh luận,
lấy lời tiên đức làm chứng, do thấy những
chuyện đă hiện ấy, bà ta đă văng sanh cơi sen chẳng
c̣n ngờ ǵ!
Phật Học Vấn Đáp Loại
Biên
Quyển Trung
Phần 1 hết
[1] Theo Đông Phương Sóc Truyện
trong Hán Thư: Thời Hán Hiếu Vũ Đế (Lưu
Triệt), cái chuông đồng treo trước cung Vị
Ương tại kinh đô Lạc Dương vô duyên vô
cớ ngân vang suốt ba ngày ba đêm không ngớt. Vua
hỏi Thái Sử Vương Tố, ông Tố nói: “Sợ
rằng sẽ có chiến tranh”. Hỏi đến Đông
Phương Sóc, Sóc tâu: “Thần nghe nói đồng là con
của núi, núi là mẹ của đồng. Nói theo sự ḥa
hợp giữa âm dương, mẹ con tương
cảm, chắc là có núi sụt, nên chuông mới ngân vang
trước, sẽ có chuyện tương ứng trong ṿng
năm ngày”. Đến ngày thứ ba, thái thú Nam Quận dâng
biểu tâu núi lở liên tiếp suốt hai mươi
mấy dặm. Về sau, người ta thường dùng
thành ngữ “Đồng sơn
Tây băng, Lạc chung Đông ứng” để
diễn tả sự cơ cảm tương ứng. Hán
Thư c̣n gọi là Tiền Hán Thư là một bộ
sử do Ban Cố biên soạn vào đời Hán. Thoạt
đầu bộ Sử này do Ban Bưu khởi
xướng, nhưng người hoàn thành những phần
chủ yếu là Ban Cố. Về sau, Ban Cố phải theo
Đậu Hiến đánh Hung Nô, do liên quan đến
vấn đề phe phái tranh giành quyền bính trong triều
đ́nh, bị bỏ tù, chết trong ngục. Hán Ḥa
Đế sai em gái Ban Cố là Ban Chiêu (Tào Đại Gia)
hoàn tất Hán Thư với sự giúp đỡ của Mă
Tục.
[2] Ngài Trúc Đạo Sanh (372-434) là một
vị cao tăng thời Đô người Tấn, là
người xứ Bành Thành (nay là huyện Đồng
Sơn, tỉnh Giang Tô), có họ ngoài đời là Ngụy,
thuộc ḍng dơi thư hương. Sư thông minh mẫn
tiệp từ bé. Năm Sư lên bảy tuổi, pháp sư
Trúc Pháp Thải giảng kinh Phóng Quang Bát Nhă ở chùa Ngơa
Quan (Kiến Khang), Sư nghe giảng, tỉnh ngộ, bèn
xin xuất gia, đổi theo họ của thầy nên
được gọi là Trúc Đạo Sanh. Mười
lăm tuổi, do nghiên cứu Phật lư tinh chuyên, Sư có
thể đăng đài giảng pháp, biện bác rành
mạch, các danh sĩ, học tăng nổi tiếng
thời ấy không thể bắt bẻ được.
Vào năm Long An nguyên niên (397), Sư vào Lư Sơn tiềm
tu bảy năm, học giáo nghĩa Nhất Thiết
Hữu Bộ với ngài Tăng Già Đề Bà.
Đến năm 32 tuổi, Sư lại đến
Trường An, cùng với các bạn như Huệ
Dục, Huệ Quán, Huệ Nghiêm v.v… theo học Bát Nhă Trung
Quán với ngài Cưu Ma La Thập, và cũng tham gia dịch
trường để dịch kinh Đại Bát Nhă. Sư
chủ trương “yếu
quyết nhập đạo, lấy huệ giải làm
gốc”, chẳng câu nệ từng câu kinh. Sư
đề xướng “Nhất
Xiển Đề cũng có thể thành Phật”. Thời
ấy do kinh Đại Bát Niết Bàn chưa truyền vào
Trung Quốc, Phật giáo hoàn toàn chẳng có quan niệm
ấy, nên tăng tục đương thời coi Sư
là người tuyên truyền dị thuyết, kịch
liệt phản đối, tẫn xuất Sư ra
khỏi kinh đô. Sư vào ẩn trong núi Hổ Khâu ở
Tô Châu, vạn phần cảm khái, giảng pháp trong
đồng hoang, coi những tảng đá ngổn ngang là
thính chúng. Có lần Sư cao giọng hỏi: “Chúng sanh đều có Phật
Tánh, vạn vật cũng có Phật tánh, các ngươi
cũng có Phật tánh, lẽ nào Nhất Xiển Đề
chẳng có Phật tánh ư? Ta nói pháp này có khế hợp
Phật tâm hay chăng?” Các tảng đá chung quanh
đều gật gù, tỏ ư tán thành.
[3] Thuyết này phát xuất từ một
cuốn tiểu thuyết của ông Nicholas Notovitch xuất
bản vào năm 1894 có tựa đề The Unknown Life of Jesus
Christ. Theo đó, Notovitch tuyên bố
ông ta t́m thấy các tài liệu trong tu viện Tây Tạng nói
thánh Issa từ Do Thái đến Ấn Độ vào năm
12 tuổi để nghiên cứu kinh Veda. Bị các tu sĩ
Bà La Môn gây khó dễ, ông ta phải sang Tây Tạng nghiên
cứu Phật học. Issa chính là biến âm của chữ
Jesus! Thuyết này được Janet Bock viết lại
thành tác phẩm The Jesus Mystery, và được những nhà
“huyền bí” lặp lại như Edgar Cayce, Bhagwan Shree
Rajneesh và Sai Baba, nhưng họ đều quên một chi
tiết rất quan trọng: Đạo Phật chỉ
truyền vào Tây Tạng kể từ thế kỷ thứ
bảy! Một tác giả khác là J.A. Douglas đă t́m
đến tận tu viện được nhắc
đến trong tác phẩm của Notovitch và được
lạt-ma tu viện trưởng cho biết trong chùa
chẳng có cuốn sách hay văn bản nào nhắc
đến thánh Issa cả!
[4] Tân thuyết là thuyết của giới
nghiên cứu Âu Tây về niên đại giáng sanh của Thích
Ca Mâu Ni Phật, c̣n cựu thuyết là thuyết của
Phật giáo Trung Hoa nói đức Phật giáng sanh vào
đời Châu, cùng thời với Khổng Tử.
[6] Canh mễ (秔米,粳米) là
một loại gạo chín muộn và ít nhựa. Có
thuyết nói là tên chung của các loại gạo tẻ,
một số cho rằng loại này tương tự
như lúa tám cánh của ta.
[7] Không rơ ngồi Canh Th́n (庚辰) là cách tu luyện như thế nào,
nhưng xét theo ngữ khí và văn cảnh, chắc chắn
đây là một phép thổ nạp luyện Tinh, Khí,
Thần của bọn luyện đan, nên người
hỏi mới nói “ngồi Canh Th́n th́ mới có thể thành
đạo”.
[8] Bom Cobalt là một loại bom theo lư
thuyết thường được coi là nguy hiểm nhất,
xếp vào loại “Salted bomb”, nghĩa là khi nổ, nó sẽ
tung ra vô số mảnh vỡ mang chất phóng xạ,
khiến cho cả một khu vực rộng lớn bị
nhiễm phóng xạ. Khái niệm này do vật lư gia Leó Sizlárd
đưa ra vào tháng Hai năm 1950. May mắn là cho
đến nay, sau các thí nghiệm thất bại, không ai
theo đuổi ư tưởng này nữa. Theo nguyên tắc,
kim loại Cobalt thông thường (có nguyên tử
lượng là 59) sẽ được nhồi vào bom nguyên
tử. Khi bom nổ, các trung ḥa tử (neutron) sanh ra từ vụ
nổ sẽ chuyển hóa Cobalt thông thường thành đồng
vị (isotope) của nó có nguyên tử lượng là 60. Sau
đó, hơi cobalt sẽ đông
lại rơi xuống và trở thành các vật liệu mang
tính phóng xạ. Do bản chất nguy hiểm của
loại bom này, các tiểu thuyết hoặc phim viễn
tưởng thường nói đến chuyện nhân
loại và thế giới bị hủy diệt do sử
dụng bom Cobalt.
[9] “Bản thể” ở đây là nói
tới chúng sanh được sống trong một môi
trường nào đó. V́ ông Tông Thụy Tích cho mặt
trăng không có chúng sanh (động vật) tồn tại
th́ làm sao nó có thể hiện tướng, cụ Lư Bỉnh
Nam bèn lập luận, nói như vậy th́ mặt trời
hiện diện là v́ có chúng sanh sống trong mặt trời
(mặt trời sẽ gọi là bản thể đối
với chúng sanh ấy), nước tồn tại là v́ có
chúng sanh sống trong nước. Nếu vậy th́ lẽ
ra chúng sanh sống trên đất liền ở ngoài
nước phải là chẳng thấy nước th́
mới đúng lư chớ?
[10] Người Hoa gọi Công giáo là Thiên
Chúa giáo, c̣n các tôn giáo tin thờ Chúa Trời và Jesus ở
ngoài Công giáo (như Giáo Hội Cải Cách, Tin Lành, Chính Thống
Giáo...) th́ gọi là Cơ Đốc giáo.
[11] “Khí thế
gian” (器世間) là danh từ phiếm chỉ các vật
chất, chẳng phải là sinh vật.
[12] Đây là một thành ngữ, xuất
phát từ Tả Truyện: “Phan
Đảng tâu với Sở Trang Vương: ‘Thần nghe
nói chiến thắng quân địch, ắt phải phô
trương cho con cháu biết để chúng nó không quên vơ
công hiển hách của cha ông’. Sở Trang Vương nói:
‘Phi nhĩ sở tri dă, phù văn, chỉ qua vi vũ” (ông
đâu có biết, thường nghe nói, dứt đao binh mới
là vơ công thật sự). Các nhà chú giải giảng câu này có
nghĩa là: Vua Sở chê Phan Đảng (quan đại phu
của nước Sở thuở ấy) chỉ biết
kiêu ngạo một thời, chữ Vũ (武) do chữ Chỉ (止) và Qua (戈) hợp thành, có nghĩa là phải
chấm dứt (Chỉ) sử dụng vũ khí (Qua là
ngọn giáo, một thứ vũ khí phổ biến trong
chiến tranh thời cổ), đó mới là nghệ
thuật tối cao trong sử dụng vũ lực.
[13] Ở đây, người hỏi đă
lẫn lộn giữa Tôn Vũ và Tôn Tẫn. Tôn Vũ (孫武) thường gọi là Ngô Tôn Tử là một nhà quân
sự đại tài, được coi là hậu duệ
của vua Thuấn. Họ Tôn chính là hậu duệ của
Điền Hoàn (công tử Hoàn nước Trần). Tề
Vương phong cho Điền Thư (cháu năm
đời của Điền Hoàn) đất Lạc An và
đổi họ Điền thành họ Tôn. Điền
Thư là ông nội của Tôn Vũ. Do nội loạn, Tôn
Vũ mang gia đ́nh sang Cô Tô (kinh đô của nước
Ngô), ông có mối giao t́nh mật thiết với Ngũ
Tử Tư. Ngũ Tử Tư tiến cử Tôn Vũ lên
Ngô Vương Hạp Lương, dâng lên mười ba
thiên binh pháp rất được vua Ngô tán thưởng,
phong làm thượng tướng quân. Chiến công lẫy
lừng nhất của ông là vào năm 510 trước Công
Nguyên, chỉ với ba vạn quân, ông đă đánh bại
mười sáu vạn quân của nước Việt. Tôn
Tử Binh Pháp cho đến hiện thời vẫn
được coi là cuốn binh thư lừng lẫy
nhất trong giới quân sự. Tôn Tẫn c̣n gọi là
Tề Tôn Tử, chính là cháu nội của Tôn Vũ, không rơ
tên thật là ǵ. Do bị bạn học là Bàng Quyên hăm
hại, vu oan, Tôn Tẫn bị vua Ngụy hạ lệnh
chặt chân, khắc chữ lên mặt, nên mới có tên là
Tôn Tẫn (孫臏). Về sau được sứ
giả nước Tề giúp đỡ mới trốn
khỏi nước Ngụy. Sang đến Tề, ông
được vua Tề phong là Quân Sư, ông ngồi trong
xe kín, đánh bại quân Ngụy nhiều lần. Tôn
Tẫn cũng viết binh pháp nhưng hiện thời
chỉ c̣n ba mươi thiên.
[14] Ngoại đạo dựa hơi Phật
giáo không hiểu truyền tâm ấn là ǵ, thường
nghĩ tâm ấn là một thứ pháp lực có thể trao
truyền, nên bày ra những kiểu cách hoang
đường như đóng cửa, không cho ai vào,
thầy truyền tâm ấn, trực chỉ tâm tánh cho tṛ, kẻ
khác không được nghe lén. Thậm chí “Vô Thượng
Sư” của một tà phái c̣n tuyên bố: “Sư phụ
truyền tâm ấn sẽ có thể lấy lại”.
[15] “Điểm khiếu” (點竅) là biến tướng của cái
gọi là “truyền tâm” hay “truyền tâm ấn” trong các tà
đạo. Tṛ vào pḥng kín, phơi bày thân thể, thầy
sẽ trực tiếp điểm vào những chỗ
được coi là có huyệt vị trọng yếu
nhằm khai mở Luân Xa, hoặc đả thông sanh tử
huyền quan v.v…
“Phong Tiên” (封仙) là thầy đặt cho tṛ một danh
hiệu nào đó, thường là dựa trên cơ bút
để sắc phong những người có chức
sắc (đôi khi c̣n gọi là “thiên phong”), gọi họ là
hóa thân của vị tiên hay thánh nào đó, hoặc nói họ
sau khi mất sẽ thành vị tiên có danh hiệu nào đó.
“Phù Thủy” (符水) ở đây là vẽ bùa, xong
đốt lấy tro vào ḥa nước cho người
bệnh uống.
[16] Tam Quan Đại Đế (c̣n gọi
là Tam Nguyên Đại Đế) là ba vị thần
chưởng quản thiên đường, địa
ngục, và biển cả trong Đạo Giáo, bao gồm
Thiên Quan, Địa Quan và Thủy Quan. Ngày lễ của ba
vị thần này tương ứng với Rằm tháng
Giêng, Rằm tháng Bảy và Rằm tháng Mười, và
thường được biết dưới danh
xưng lễ Thượng Nguyên, Trung Nguyên và Hạ Nguyên,
v́ Đạo Giáo đă phong cho các vị thần này các danh
hiệu lần lượt có những chữ ấy.
Chẳng hạn như Thiên Quan Đại Đế có danh
xưng đầy đủ là Thượng Nguyên Nhất
Phẩm Cửu Khí Tứ Phước Thiên Quan Diệu Linh
Nguyên Dương Đại Đế Tử Vi Đế Quân.
Thường gọi đơn giản hơn là
Thượng Nguyên Nhất Phẩm Tứ Phước Thiên
Quan Tử Vi Đại Đế, Trung Nguyên Xá Tội
Địa Quan Thanh Hư Đại Đế và Hạ
Nguyên Giải Ách Thủy Quan Động Âm Đại
Đế. Dân gian cho rằng Thiên Quan Đại Đế
là vua Nghiêu, Địa Quan là vua Thuấn, c̣n Thủy Quan là
vua Vũ. Đạo Giáo c̣n có thuyết Tam Quan là do khí
của Tam Thanh hóa ra, chẳng hạn khí của Nguyên
Thỉ Thiên Tôn hóa thành Thiên Quan, Linh Bảo Thiên Tôn hóa thành
Địa Quan, Đạo Đức Thiên Tôn hóa thành
Thủy Quan.
[17] Địa Mẫu (Địa Mẫu
Nguyên Quân, Hậu Thổ Phu Nhân, Hư Không Địa
Mẫu Chí Tôn) chính là nữ thần đất theo quan
niệm mẹ đất được nhân cách hóa
(địa cầu được nhân cách hóa) thống lănh
toàn bộ các thần thổ địa (thần trông coi
một cuộc đất). Đây chính là vị thần
thường được gọi là Hậu Thổ trong
các cổ thư thời Tiên Tần. Đạo Giáo c̣n
gọi Địa Mẫu là Hậu Thổ Nương
Nương, nhưng tại Đài Loan, Hậu Thổ
lại được hiểu là vị nam thần, cai
quản một khu vực đất đai, nhất là
nơi phần mộ, trong khi Địa Mẫu là mẹ
đất, sanh thành muôn loài. Có thuyết nói Địa
Mẫu chính là Nữ Oa.
[18] “Phương sĩ” (方士) là danh xưng để gọi
những kẻ thực hành Phương Thuật, tức là
các phương thức dưỡng khí, bế tinh, thổ
nạp, luyện đan v.v… nhằm đạt đến
trường sanh bất lăo, hoặc thành tiên bay lên trời
v.v…
[19] Trấm (鴆) là một loài chim cực độc
trong truyền thuyết, thường được mô
tả là thân đen, mắt đỏ, toàn thân phủ
đầy lông đen ánh tía, thích ăn rắn. Lông của nó
kịch độc, chỉ cần một cái lông rớt
xuống nước, nước sẽ biến thành
chất độc.
[20] Bành Sanh họ Khương, là quan
đại phu nước Tề. Năm 694 trước Công
Nguyên, Lỗ Hoàn Công (Cơ Doăn) và vợ là Văn
Khương sang thăm nước
Tề, Văn Khương tư thông với anh trai là
Tề Tương Công (Khương Chư Nhi), bị
Lỗ Hoàn Công biết được. Lúc Lỗ Hoàn
Công quay về, Tề Tương Công sai Bành Sanh ngồi cùng
xe với Lỗ Hoàn Công để thừa dịp giết
chết Lỗ Hoàn Công. Khi bị nước Lỗ hạch
hỏi, Tề Tương Công trút hết trách nhiệm cho
Bành Sanh rồi sai người giết chết. Năm 686
trước Công Nguyên, Tề Tương Công đi săn
gặp một con lợn rừng giống người,
tả hữu đều nói là công tử Bành Sanh. Tề
Tương Công nổi cáu, bắn một mũi tên, con
lợn rừng đứng thẳng người lên, gào to.
Tề Tương Công kinh hoảng, đánh mất một
chiếc giày. Tối hôm ất, bọn Liên Xứng và
Quản Chí Phụ vào cung giết chết Tề
Tương Công.
[21] Đỗ Bá là hậu duệ của
Đan Châu (con vua Nghiêu), là đại thần của Châu
Tuyên Vương (Cơ Tĩnh). Châu Tuyên Vương nghe
lời thầy bói nói có một cô gái sẽ làm mất giang
sơn nhà Châu bèn hạ lệnh giết rất nhiều
phụ nữ và bé gái. Đỗ Bá can gián, nhưng Châu Tuyên
Vương không nghe, giết chết Đỗ Bá. Con ông ta
là Tử Thấp Thúc bèn trốn sang nước Tấn,
được phong chức Sĩ Sư của nước
Tấn. Tử Thấp Thúc trở thành thủy tổ
họ Sĩ (tức họ Phạm) sau này. Trong mộng,
Châu Tuyên Vương mộng thấy Đỗ Bá bắn
giết nhà vua nên kinh hăi lâm bệnh mà chết. Lệ (厲) là tiếng để gọi ác quỷ
vào thời cổ.
[22] Lễ Vận Đại Đồng là
một thiên trong sách Lễ Kư, nói về khởi nguyên
của lễ trong thời đại đế
vương, nhắc tới hai h́nh thái xă hội là
Đại Đồng và Tiểu Khang. Đại
Đồng được coi là h́nh thái xă hội lư
tưởng, c̣n Tiểu Khang kém cỏi hơn nhưng
vẫn ít loạn lạc hơn những thời
đại sau này.
[23] Thúc Tôn Vũ Thúc tên thật là Cơ Châu
Cừu, là tông chủ đời thứ tám của Thúc Tôn
Thị nước Lỗ, thụy hiệu là Vũ nên
thường gọi là Thúc Tôn Vũ Thúc. Vào năm 498
trước Công Nguyên, Khổng Tử làm Đại Tư
Khấu (tương đương với H́nh Bộ
Thượng Thư sau này) nước Lỗ chủ
trương “đọa Tam Đô” (dẹp bỏ Tam Đô),
nhằm tập trung quyền lực về vua Lỗ,
giải trừ sự chuyên quyền của Tam Hoàn. Tam
Đô là thái ấp của Tam Hoàn (tức Thành Ấp của
Mạnh Tôn Thị, Hậu Ấp của Thúc Tôn Thị và
Phí Ấp của Quư Tôn Thị), do bị họ chống
đối, nên kế hoạch ấy thất bại. Thúc
Tôn Vũ Thúc căm hận Khổng Tử, thường
nhiều lượt hủy báng Ngài. Nói thêm, Lỗ Hoàn Công
có bốn người con trai: Cơ Đồng (về sau
trở thành Lỗ Trang Công), Khánh Phụ, Thúc Nha, và Quư
Hữu. Ba người sau đều được Lỗ
Trang Công phong làm quan Khanh, con cháu của họ trở thành ba
gia tộc lớn, lần lượt được
gọi là Mạnh Tôn Thị, Thúc Tôn Thị và Quư Tôn Thị,
lũng đoạn triều chính nước Lỗ. Họ
liên kết với nhau khống chế triều đ́nh
nước Lỗ, sử thường gọi họ là
Lỗ Tam Hoàn.
[24] Quốc Phụ là danh hiệu tôn xưng
Tôn Văn của người Hoa.
[25] Phương Luân (1897-1988) là một
cư sĩ hữu danh của Phật giáo Trung Quốc, tác
giả của bộ sách nổi tiếng Duy Thức Tam
Tụng Giảng Thoại. Ông là người huyện Lâm
Sâm, tỉnh Phước Kiến. Ông Phương từng
tốt nghiệp trường đào tạo sĩ quan hải
quân, được thăng đến chức vụ
Thiếu Hiệu của Hải Quân Trung Hoa Dân Quốc.
Năm 1949, ông Phương theo chính phủ sang Đài Loan.
Trong lúc c̣n tại ngũ, do đọc quyển Viên Giác Kinh
Giảng Nghĩa của pháp sư Đế Nhàn, ông phát tâm
tin Phật, bèn dốc sức t́m hiểu Phật pháp. Khi
sang Đài Loan, ông là một trong những cây bút chủ
yếu của tờ Bồ Đề Thụ. Khi tờ nguyệt
san Bồ Đề Thụ mở lớp Phật học
hàm thụ, đă mời Phương Luân chủ tŕ. Ông bèn
biên soạn ba bộ sách Sơ, Trung Cao Cấp Phật
Học Khóa Bản, lưu hành rất rộng răi. Khi pháp
sư Tinh Vân lập Thọ Sơn Phật Học Viện,
đă cung thỉnh ông đến dạy tại Phật Học
Viện. Ông cũng thường giảng Phật pháp trên
đài phát thanh Cao Hùng, và được mời giảng
diễn rất nhiều nơi tại Đài Loan.
[26] Phu Nhân (夫人), Tần (嬪), Thế Phụ (世婦), Ngự Thê (御妻) đều là những thứ bậc để phân
định ngôi vị của vợ vua. Quy định này
được ghi chép đầu tiên trong Châu Lễ. Theo
đó, vua có tất cả một trăm hai mươi
mốt vợ. Tần c̣n gọi là Hoàng Tần, Cung Tần
v.v… Từ thời Tây Tấn trở đi, không c̣n danh
xưng Phu Nhân mà thay bằng Quư Phi (貴妃). Đồng thời quy định rơ
Cửu Tần bao gồm Thục Phi, Thục Viên, Thục
Nghi, Tu Hoa, Tu Dung, Tu Nghi, Tiệp Dư, Dung Hoa, Sung Hoa,
mỗi một danh hiệu có thể có nhiều
người mang tước vị ấy. Đến
đời Tống và Kim lại tăng thêm thành mười
tám địa vị, gồm Thái Nghi, Quư Nghi, Phi Nghi,
Thục Nghi, Uyển Nghi, Thuận Nghi, Thuận Dung,
Thục Dung, Uyển Dung, Chiêu Nghi, Chiêu Dung, Chiêu Viện, Tu
Nghi, Tu Dung, Tu Viện, Sung Nghi, Sung Dung, Sung Viện. Thế
Phụ vốn là nữ quan coi sóc việc lễ nghi trong
cung, hướng dẫn lễ nghi cho các cung nữ, phi
tần và quan khách, dần dần trở thành vợ vua,
thường gọi là Thế Phi. Thoạt đầu,
Ngự Thê (c̣n gọi là Nữ Khanh) cũng là các nữ quan
giúp việc cho Thế Phụ trong các lễ nghi.
[27] Nguyên văn “uổng
xích trực tầm”. Uổng Xích (枉尺) là cái thước dây cuộn lại, Tầm
(尋) là tám
thước. Cái thước cuộn lại chỉ dài
một thước, kéo thẳng ra sẽ là một Tầm.
Điều này tỷ dụ người ta có thể
chịu ủy khuất nơi những tiểu tiết, tạm
thời hy sinh nguyên tắc để đạt
được mục đích.
[28] Thân Sanh họ Cơ là con trưởng
của Tấn Hiến Công (Cơ Quỷ Chư), do Tề
Khương sanh ra. Tấn Hiến Công đánh Ly Nhung, quân Ly
Nhung thua trận dâng lên hai mỹ nữ là Ly Cơ và
Thiếu Cơ để cầu ḥa. Tấn Hiến Công mê
đắm Ly Cơ, bất chấp lời can gián, lập
Ly Cơ làm phu nhân, muốn phế Thân Sanh để lập
con trai của Ly Cơ là Hề Tề làm Thái Tử. Do Thân
Sanh hiền năng, lập nhiều chiến công,
được quần thần kính yêu, không thể phế
ngay; Ly Cơ bèn lập mưu hăm hại Thân Sanh bằng cách
bôi mật ong lên đầu, mời Thân Sanh vào cung theo bà ta
đi dạo hoa viên. Ong kéo đến từng đàn. Ly
Cơ bảo Thân Sanh giúp đuổi ong bu trên đầu,
Tấn Hiến Công đứng trên gác trông thấy, ngỡ
Thân Sanh đang cợt nhả với vợ ḿnh, giận
lắm, kiếm cớ đuổi Thân Sanh ra Khúc Ốc trông
coi tông miếu. Ly Cơ lại sai người đến
nói với Thân Sanh là mộng thấy Tề Khương
hiện về kêu đói, bảo Thân Sanh hăy làm cỗ cúng.
Thân Sanh cúng xong, gởi rượu thịt về biếu
cha, Ly Khương bèn bỏ thuốc độc vào. Khi
Tấn Hiến Công sắp ăn, Ly Cơ ngăn lại,
bảo đem thử trước, quả nhiên rượu
thịt có độc. Tấn Hiến Công nổi giận
sai người đến Khúc Ốc ép Thân Sanh tự sát.
Tấn Hiến Công chết, Tuân Tức lập Hề
Tề làm vua. Trong tang lễ Tấn Hiến Công, thầy
của Thân Sanh là Lư Khắc bèn giết chết Hề
Tề. Tuân Tức lại lập em của Hề Tề là
Trác Tử lên làm vua, chẳng được mấy ngày,
lại bị giết chết. Ly Cơ hoảng sợ,
tự sát, Lư Khắc sai người bằm nát xác bà ta. Khi
đó, Tần Mục Công đưa công tử Di Ngô (em cùng
cha khác mẹ của Thân Sanh) về nước làm vua,
hiệu là Tấn Huệ Công. Tấn Huệ Công giết Lư
Khắc và những người chống đối. Theo
lời thỉnh cầu của Giả Quân (một
người vợ khác của Tấn Hiến Công), Tấn
Huệ Công sai Hồ Đột cải táng cho Thân Sanh. Khâm
liệm, tế bái xong xuôi, trên đường trở
về, Hồ Đột thấy một đoàn xe chặn
đường, trên xe Thân Sanh áo măo như khi c̣n sống,
mời lên xe tṛ chuyện, bàn về t́nh h́nh nước
Tấn.
[29] Dương Hỗ (221-278), tự Thúc
Tử, người xứ Nam Thành, quận Thái Sơn, là
một nhà quân sự lỗi lạc đời Tấn,
thuộc ḍng dơi danh gia vọng tộc, cha ông đều
nắm quyền to lớn, chị ruột là Dương Huy
Du chính là hoàng hậu của Tấn Cảnh Đế
(Tư Mă Sư). Ông làm quan đến chức Thượng
Thư Tả Bộc Xạ, kiêm Trấn Nam Tướng
Quân. Tấn Thư chép theo Thái B́nh Quảng Kư: Lúc ba tuổi,
Dương Hỗ được mẹ ẵm đi
chơi, đến gốc cây của hàng xóm bèn ṃ trong
bộng cây lấy ra chiếc ṿng vàng. Người hàng xóm
nói: “Con trai ta lúc bảy tuổi, té giếng chết, nó
từng có chiếc ṿng vàng này”. Như vậy đứa con
hàng xóm chính là tiền thân của Dương Hỗ. Tấn
Thư là bộ sử được biên soạn vào
đời Đường bởi Pḥng Huyền Linh và Lư
Diên Thọ vào năm 648 theo mệnh lệnh của
Đường Thái Tông, gồm 132 quyển, chép các sự
kiện lịch sử từ triều đại nhà
Tấn từ thời Tư Mă Ư (Tấn Cao Tổ) cho
đến khi Lưu Dụ phế Tấn Cung Đế
(Tư Mă Đức Văn) lập ra nhà Lưu Tống.
[30] Công Tôn Long (320-250 trước Công Nguyên),
tự là Tử Khiêm, người nước Triệu,
từng là môn khách của B́nh Nguyên Quân (Triệu Thắng),
là triết gia đại biểu cho học phái Danh Gia,
được coi là bậc thầy về ngụy
biện. Ông ta từng lư luận ngựa trắng không
phải là ngựa, và ḥn đá trắng cứng th́ không
phải là đá.
[31] Nguyên văn “toản
ngưu giác” là một thành ngữ ngụ ư phí công tốn
sức làm chuyện vô ích, ví như sừng trâu đă
rỗng sẵn, cần ǵ phải khoan rỗng sừng trâu!
[32] Tam châu thuyết pháp: Trong hội Pháp Hoa,
khi giảng về Tích Môn, Phật đă nói rơ, để
độ Thanh Văn chúng bèn có bốn giai đoạn là
chánh thuyết (giảng giải thẳng vào pháp môn), lănh
giải (đại chúng nghe hiểu), thuật thành (nêu bày
sự thành tựu) và thọ kư (dự kư sẽ thành quả
vị như thế nào trong tương lai). Bốn giai
đoạn ấy gọi chung là một Châu. Nhưng do
căn cơ có thượng, trung, hạ, nên phân thành ba châu:
1) Thuyết pháp châu: Nói thẳng vào thật lư diệu
pháp khiến cho người nghe ngộ nhập Nhất
Thừa.
2) Thí dụ châu: Nói các thí dụ như ba cỗ xe
thoát khỏi nhà lửa, đứa con bỏ cha trốn đi…
khiến cho hàng trung căn ngộ nhập Nhất Thừa.
3) Nhân duyên châu: Nói ra nhân duyên trong quá khứ như
chuyện mười sáu vị vương tử thời
Đại Thông Trí Thắng Phật để độ
hạ căn nhập Nhất Thừa.
[33] Đức Phật bị đau
đầu ba ngày là v́ vào đời quá khứ, trong một
thôn làng nọ, có một ngư vương suất lănh binh
tôm tướng cá sống yên vui trong sông. Dân chúng trong thôn
ấy đánh bắt cá ráo riết, rốt cuộc ngư
vương cũng bị bắt. Thuở ấy có năm
trăm người chia nhau ăn con cá to ấy, trong thôn
chỉ có một đứa trẻ không ăn cá, nhưng do
hiếu kỳ nên dùng gậy đập lên đầu
ngư vương ba cái. Thuở ấy, đức Phật
chính là đứa trẻ ấy. Do đó, đời này Ngài
bị nhức đầu ba lần, năm trăm thôn dân
chính là những người thuộc họ Thích Ca, ngư
vương trở thành vua Tỳ Lưu Ly trong đời
này, tru diệt ḍng họ Thích Ca.
Theo Phật Thuyết Hưng Khởi Hạnh Kinh,
quyển thượng: Đức Phật khất thực
tại thành La Duyệt Chỉ. Có kẻ đốn gỗ
cứng, có một phiến gỗ dài hai thước
đặt bên cạnh dài như một cây thương,
vọt thẳng đến bên cạnh Phật. Đức
Phật vọt lên không, miếng gỗ ấy đuổi
theo. Phật trở về Tăng pḥng, giơ đùi cho cái
thương bằng gỗ ấy đâm vào. Cái
thương gỗ ấy đâm vào đùi Ngài từ trên
thấu xuống đất, khi chạm đất,
đại địa chấn động sáu lượt.
Đức Phật bèn nói nhân duyên: Đời quá khứ,
Ngài làm chủ thuyền, do nước biển tràn vào, bèn
tranh thuyền cùng một chủ thuyền khác, dùng mâu
đâm thủng đùi người ấy, người
ấy bèn chết. Do tội sát nhân, bị lănh khổ báo
trong tam đồ. Đến khi thành Phật vẫn
phải chịu quả báo bị hại v́ cái thương
bằng gỗ.
Theo Trung Bổn Khởi Hạnh Kinh, đức
Phật nhận lời thỉnh của Bà La Môn A Kỳ
Đạt an cư tại nước Xá Vệ. A Kỳ
Đạt bị ma loạn tâm, đắm ch́m trong dục
lạc, quên bẵng cúng dường. Đệ tử
khất thực cũng chẳng xin được ǵ. Khi
ấy, có người huấn luyện ngựa bèn trích
phần lúa mạch nuôi ngựa để cúng dường
Thế Tôn và tăng đoàn nấu cháo tạm ăn cho
đỡ đói cho qua ba tháng. Ba tháng an cư đă măn, A
Kỳ Đạt đau buồn đến sám hối.
Đức Phật bèn nói nhân duyên: Trong đời quá
khứ, khi Duy Vệ Phật thành Phật trở về
nước, được vua và dân chúng cúng dường
rộng lớn. Khi đó, có Phạm Chí do ḷng ghen ghét, buông lời
gièm xiểm: “Gă này chỉ đáng ăn lúa mạch nuôi ngựa”,
nên đời này thọ báo này.
[34] Lư Đường cách gọi khác
của nhà Đường (618-907) do Lư Uyên sáng lập.
Gọi là Lư Đường nhằm phân biệt với
những nhà Đường khác trong lịch sử,
chẳng hạn nước Đường của Lưu
Lũy (hậu duệ của vua Nghiêu), nước
Đường của Thúc Ngu (em trai của Châu Thành
Vương), sau này trở thành đất Tấn, nhà
Hậu Đường do Lư Tồn Úc (thuộc thị
tộc Sa Đà) sáng lập, Nam Đường do Từ Tri
Hạo sáng lập, nước Đường của Lư
Thiêm Bảo sáng lập vào đời Minh, hoặc
nước Đường của Thái Bá Quán sáng lập
(cũng vào đời Minh) v.v… Lư Uyên đặt tên cho
triều đại của ḿnh là Đường v́ ông
xuất thân là quư tộc thuộc nhà Bắc Châu, từ
năm bảy tuổi đă được phong làm
Đường quốc công (tập tước từ cha
là Trụ Quốc Đại Tướng Quân Lư Bính của
nhà Bắc Châu, Lư Bính mất khi Lư Uyên được
bảy tuổi).
[35] Thật ra, Tâm Kinh có khá nhiều bản
dịch như sau:
1) Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật Chú Kinh do ngài Chi Khiêm dịch
vào đời Ngô, bản này đă mất (chỉ c̣n tên
trong Đại Tạng Mục Lục).
2) Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh do ngài
Cưu Ma La Thập dịch.
3) Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh do ngài Huyền Trang
dịch.
4) Bát Nhă Ba La Mật Đa Na Kinh do ngài Bồ
Đề Lưu Chí dịch vào đời Đường
(thất truyền).
5) Ma Ha Bát Nhă Tủy Tâm Kinh do ngài Thật Xoa Nan Đà
dịch vào đời Đường (thất truyền).
6) Phật Thuyết Ba La Mật Đa Tâm Kinh do ngài
Nghĩa Tịnh dịch vào đời Đường.
7) Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh do ngài Pháp Nguyệt
dịch vào đời Đường (lần thứ
nhất).
8) Phổ Biến Trí Tạng Bát Nhă Ba La Mật Đa
Tâm Kinh do ngài Pháp Nguyệt dịch vào đời
Đường (dịch lại lần thứ hai).
9) Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh do ngài Bát Nhă và các
vị như Lợi Ngôn v.v… cùng dịch vào đời
Đường.
10) Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh do ngài Trí Huệ Luân
dịch vào đời
Đường. Ngài dịch thành hai bản khác nhau.
11) Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh do ngài Pháp Thành
dịch vào đời Đường.
12) Thánh Phật Mẫu Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh
do ngài Thi Hộ dịch vào đời Tống.
Như vậy là tối thiểu Bát Nhă Tâm Kinh có đến
mười ba bản dịch khác nhau (do ngài Trí Huệ Luân có
hai bản dịch khác nhau).
[36] Chúng tôi dịch đoạn này theo
lời chú giải trong sách Lăng Nghiêm Chánh Mạch của
pháp sư Giao Quang.
[37] Ngũ Hành Tương Sanh là Kim sanh
Thủy, Thủy sanh Mộc, Mộc sanh Hỏa, Hỏa sanh
Thổ, Thổ sanh Kim.