Phật Học Vấn Đáp Loại Biên

Quyển Trung

佛學問答類編

Phần 2

Lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam giải đáp

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản in của Lư Bỉnh Nam Lăo Cư Sĩ Toàn Tập Biên Tập Ủy Viên Hội, Đài Loan, 2007)

Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang

 

* Hỏi: Nghe nói [khi lâm chung] bị bệnh th́ vẫn có chướng ngại, đúng không? (Chu Ấu)

 

          Đáp: Nhiều kiếp tạo nghiệp, nghiệp chủng cất giữ đă lâu trong thức điền. Khi xả báo, chúng tranh nhau dấy lên hiện hành, chẳng ai tránh khỏi! Nhưng có thể trong sát-na xả báo mà chánh niệm phân minh, Phật mạnh, chướng yếu, [dẫu bị bệnh] vẫn chẳng chướng ngại văng sanh! Do vậy, tôi cảm thấy chuyện trợ niệm lúc lâm chung đúng là chẳng thể xem thường được!

 

          * Hỏi: V́ sao công phu tốt đẹp như vậy mà chẳng được sống lâu, cao thọ? (Chu Ấu)

 

          Đáp: Tứ Đại chẳng thật, Ngũ Trược đều là khổ, cái đăy da thối này có ǵ đáng để lưu luyến? Nếu chấp vào thọ tướng, chướng ngại càng tăng! Đối với học nhân tu Tịnh, [để biện định] công phu tốt hay xấu, phải lấy chuyện văng sanh hay không làm chuẩn, chẳng phải do xét theo tuổi thọ trong cơi tục dài hay ngắn!

 

* Hỏi: Giáo pháp của chúng tôi có dạy: “Trước khi có trời đất, trước đó đă có Tây Phương Tam Bảo A Di Đà Phật, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí hai vị Bồ Tát”. Nếu xét theo sách Thiên Văn Học Nhập Môn có nói: Địa cầu và các hành tinh, vệ tinh, tuệ tinh (sao chổi) vào khoảng ba ngàn triệu năm trước chính là các mảnh vỡ tách ra từ mặt trời do va chạm với các hằng tinh dưới tác dụng của lực hấp dẫn. Phải mất thời gian mấy triệu năm [các mảnh vỡ ấy] mới nguội. Nói theo phương diện vật chất, trước hết phải là có nước, sau đó có thực vật, rồi có động vật. Chẳng biết chư Phật, Bồ Tát đản sanh như thế nào? Chẳng biết có thể tách rời địa cầu hay không? Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật sanh năm 622 trước Công Nguyên (tức năm thứ ba mươi đời Châu Tương Vương), Khổng Tử sanh vào năm 551 trước Công Nguyên, tức năm thứ hai mươi mốt đời Châu Linh Vương, Quan Phu Tử (Quan Công) sanh vào năm Diên Hy thứ năm đời vua Hoàn Đế nhà Đông Hán, tức là năm 122 Công Nguyên. Nếu nói theo khoa học, nhất định là phải có vật chất trước. Nếu nói theo phương diện tinh thần, người có đạo đức sau khi chết, sẽ có thể thành thần. Như vậy th́ chư Phật, Bồ Tát cũng là người trên địa cầu tu hành thành công. Phật Tổ Tây Phương Tam Bảo đản sanh ở nơi đâu tôi không biết, xét theo thời ấy th́ chẳng thể nào có chỗ để đặt chân trong hư không như vậy! Ngàn phần xin dạy cho! (Hà Trạch Thành hỏi)

         

          Đáp: “Chưa có trời đất, trước hết đă có Tây Phương Tam Bảo A Di Đà Phật”, tôi chưa hề nghe trong kinh giáo có nói như vậy, chỉ nói: “Pháp tánh đă có từ vô thỉ, thân ứng hóa của Phật tùy thời mà hiện”. Các hành tinh, vệ tinh v.v… như những nhà khoa học đă nói chính là “hằng sa thế giới” được nói trong kinh Phật. Những thế giới ấy đều là vô thường, thành, trụ, hoại, không, tụ tán không ngừng. Các duyên ḥa hợp bèn thành, duyên tán bèn không, như bọt trên mặt nước, sanh đây, diệt kia, hoàn toàn chẳng đồng thời! Pháp tánh rộng lớn không ngằn hạn, bao trùm hư không. Ứng hóa th́ đợi cho đến khi thế giới h́nh thành bèn giáng sanh trong ấy. Pháp tánh vô thỉ, vô chung, chẳng nói đến thọ mạng; c̣n sự ứng hóa và tinh cầu th́ đều là có sanh diệt. Theo cách tính của thế gian th́ [thế giới này đă tồn tại] mấy triệu ức, nhưng theo cách tính trong Phạn điển[1] sẽ là bao nhiêu kiếp. Sự ứng hóa và các tinh cầu có mối quan hệ sanh diệt với nhau. Ứng hóa th́ có tướng, nương vào tinh cầu để trụ; pháp tánh vô tướng, chẳng nương vào tinh cầu mà có.

 

* Hỏi: “Chúng sanh” được nói trong Phật giáo chính là hết thảy những ǵ có sanh mạng tồn tại, ngay cả quỷ thần cũng đều là [chúng sanh]. Kinh Kim Cang nói: “Nhược noăn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh, hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng, phi hữu tướng, phi vô tướng chi loại” (Như các loài sanh bằng trứng, sanh bằng thai, sanh nơi ẩm ướt, hóa sanh, có h́nh sắc, không có h́nh sắc, có tâm tưởng, không có tâm tưởng, chẳng phải là có tướng, chẳng phải không có tướng). Nếu xét theo lịch sử th́ sáu mươi vạn năm trước, người vượn Bắc Kinh, người vượn ở Trảo Oa (Java), Nam Dương (Indonesia) v.v… nhân số rất ít, đời đời truyền thừa, số người tăng lên, chẳng biết linh hồn sanh sôi như thế nào? Mong hăy dạy cho! (Hà Trạch Thành hỏi)

 

          Đáp: “Linh hồn” chính là pháp tánh sau khi đă mê, hư huyễn tạo thành vọng thức. Thức bèn có thai, noăn, thấp, hóa, hư vọng hiện ra h́nh tướng giả dối. Pháp tánh chẳng có thời gian, chẳng có không gian. Đọc kỹ lời đáp cho câu hỏi trước sẽ biết. Nếu ngộ lời đáp cho câu trước, th́ nay tôi dùng biển cả để tỷ dụ. Tánh ướt ví như pháp tánh, vọng thức ví như nước, thai, noăn, thấp, hóa, ví như nổi sóng. Xin hỏi Thái B́nh Dương nổi gió, sóng cuồn cuộn muôn vàn h́nh trạng, xô vào bờ, tung lên tận trời, mười ngày chẳng dứt, nước từ đâu ra? Ấn Độ Dương, Đại Tây Dương v.v… cũng giống như thế, mỗi biển đều cuộn sóng, nước từ đâu ra?

 

* Hỏi: Kinh Di Đà nói Tây Phương Cực Lạc thế giới: Chúng sanh trong cơi ấy chẳng có các nỗi khổ, chỉ hưởng những điều vui, nên gọi là Cực Lạc. Có bảy tầng lan can, bảy tầng lưới mành, bảy tầng hàng cây, đều bằng bốn thứ báu, có ao bảy báu, nước tám công đức đầy ắp trong đó, đáy ao thuần dùng cát vàng để trải đất, đường đi, thềm bậc bốn phía đều do vàng, bạc, lưu ly, pha lê hợp thành. Trên đó có lầu gác, cũng do các chất như vậy hợp thành. Hoa sen trong ao to như bánh xe, cũng có hào quang các màu. Xét theo đó, thuở ấy, khoa học chưa phát triển, khá nhiều chất báu phải vận chuyển từ nơi nào đến đó để xây dựng? Nếu như lên cao một vạn mét tách khỏi địa cầu th́ trong hư không cũng chẳng có không khí để hô hấp, lại c̣n lạnh buốt quá mức dị thường, làm sao có thể ở cho được? Nếu xét theo lời đức Phật dạy: “Các pháp do nhân duyên sanh, các pháp do nhân duyên diệt, vạnh hạnh vô thường là pháp sanh diệt. Sanh diệt đă diệt, tịch diệt là vui”. Nếu xét theo khoa học và thiên văn, tất cả các tinh cầu trong hư không cũng là từ vô lượng vô biên vi trần hợp thành, bất luận là mặt trời, hành tinh, hay địa cầu, cũng sẽ có ngày diệt mất, cũng là chẳng thể thường trụ. Ngàn muôn phần mong mỏi cụ chỉ bảo điều nghi vấn này! (Hà Trạch Thành hỏi)

 

          Đáp: Câu hỏi này gồm ba đoạn:

1) Nghi hoặc các chất báu trong cơi Cực Lạc: Khi khoa học chưa phát triển, các chất báu vận chuyển từ nơi nào đến đó? Trước hết, xin dùng khoa học để đáp. Tại Trung Hoa, Vạn Lư Trường Thành, cung A Pḥng[2] lâu đài rộng đến ba trăm dặm, dẫn chín nhánh sông đổ ra biển[3], các sông đào nơi chín tỉnh, đều là những công tŕnh to tát nhất trên thế giới, đến nay chẳng có ǵ ḥng sánh bằng được. Thuở ấy chưa có khoa học, làm cách nào để vận chuyển vật liệu xây dựng? Lại nữa, trong thế giới này, cũng có các thứ báu, Lam Điền[4] nhiều ngọc, cát sông Trường Giang có lẫn vàng, hải đảo có san hô, ven biển c̣n có châu ngọc. Thời cổ chẳng có khoa học, [những thứ ấy] đều do đâu mà có? Nay có khoa học, chúng tăng thêm bao nhiêu? Nếu tin vào Phật pháp, hăy nên biết chuyện thần thông: Đức Phật phóng quang hiện ra cơi Phật, nhấn ngón chân mà [đại địa] biến thành sắc vàng[5]. Nếu chấp chết cứng nơi khoa học, ắt kinh Phật phần nhiều biến thành vọng ngữ!

2) Hai là nghi trời cao rét buốt, chẳng thể cư trụ. Đấy lại là do chẳng hiểu khoa học vậy! Vũ trụ mênh mông, thật sự chẳng có cao, thấp, bốn phương. Để nói năng thuận tiện, bèn dựa theo địa cầu để nói: Gần mặt trời th́ ấm, xa mặt trời th́ lạnh, chẳng phải là không khí tự có nóng hay lạnh. Cứ nh́n vào vùng xích đạo và hai địa cực của địa cầu sẽ biết. Hơn nữa, trong vũ trụ chẳng phải chỉ có một mặt trời, các nhà thiên văn đă phát hiện khá nhiều mặt trời mới. Cách xa mặt trời th́ lạnh, rất gần mặt trời th́ nóng vậy!

3) Ba, “tịch diệt là vui” chính là nói “chuyển thức thành trí”. Tận diệt các khổ, sanh tử đă giải quyết xong, pháp tánh thường trụ, lẽ nào chẳng vui? Tướng đều là hư vọng, vạn vật huyễn biến, lư chẳng thường trụ, có ǵ đáng nghi? Hơn nữa, xin hăy rủ ḷng xem xét, khoa học cứ mỗi trăm năm bèn thay đổi, Phật pháp dẫu kiếp số nhiều như cát bụi vẫn là như vậy. Người nghiên cứu [Phật pháp] chẳng ngại [dùng khoa học để] đối chiếu, nhưng chớ nên mù quáng tin tưởng để rồi nẩy sanh ư niệm so đo cao thấp!

 

          * Hỏi: Tại Hương Cảng, lăo cư sĩ Sầm Học Lữ vào tháng Mười năm Quư Tỵ, tức năm 1953, đă viết bài Bệnh Dị Kư, ghi lại t́nh trạng đă chết rồi sống lại. Ở đây, tôi trích lục một đoạn gọi là Cảnh Giới Trong Mộng, xin cụ hăy rộng ḷng xem xét. Bài viết này khá giống bài Kỷ Mộng (ghi lại giấc mộng) của ông Viên Trung Đạo[6], có người cho đó là một loại huyễn giác trong khi bị bệnh, cũng có người nghĩ đó là cảnh giới đích xác chân thật, xin hăy chỉ dạy! (Chung Quân Lương hỏi)

         

Đáp: “Phàm những ǵ có tướng đều là hư vọng” chính là huyễn cảnh. “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” chính là huyễn giác. Nếu bảo là huyễn, th́ tâm và cảnh không ǵ chẳng phải là huyễn. Không chính là Sắc, biết Không chính là Diệu Hữu, toàn thể vọng chính là chân. Biết “các Hữu” vốn là Không; nếu bảo là chân th́ hết thảy không ǵ chẳng chân! Đối với tướng đă hiện của Sầm cư sĩ, bảo là huyễn th́ sẽ là “biết Lư, nhưng mê muội nơi Sự”. Bảo là thật th́ sẽ là “biết Sự mà coi nhẹ Lư”. Nhưng Lư do Sự mà có, Sự do Lư mà là chân. Lư và Sự hợp nhất bèn là Thật. Lư và Sự tách rời th́ là Quyền. Ắt phải hiểu lẽ này th́ tranh biện Huyễn và Chân sẽ chấm dứt. Hơn nữa, Sầm cư sĩ mộng huyễn: “Ánh sáng năm sắc chói ngời, cây báu, lầu vàng”. Thường nhân huyễn mộng, hôn trầm, điên đảo, đối với các tướng ác đáng sợ [trong giấc mộng ấy] đều luận định là huyễn; nhưng thường nhân cũng có thể biến ra cảnh giới để tự huyễn, đó có phải cũng là bị huyễn hoặc bởi cảnh giới biến huyễn của cụ Sầm ư?   

 

          * Hỏi: Đứa con ba mươi chín tuổi của đệ tử bị bệnh mất tại Đài Loan; khi ấy, đệ tử c̣n đang ở Hương Cảng, từng gởi thư sang chùa Vân Môn xin ḥa thượng Hư Vân siêu độ. Ngài gởi thư trả lời, có những câu như: “Ngay hôm nhận được lời căn dặn, bèn v́ lệnh lang niệm Phật hồi hướng ba ngày, chắc là đă nương theo Phật quang tiếp dẫn, mau sanh về Tịnh Độ”. Đệ tử từng đem thư ấy hỏi ư một vị tri thức bên Thiền Tông, vị ấy bảo Ngài nói kiểu ấy nhằm “dỗ trẻ nít nín khóc”. Đệ tử đối với chuyện này vẫn nghi hoặc, xin hăy chỉ dạy. (Chung Quân Lương hỏi)

 

          Đáp: Lương Hoàng Sám có thể siêu độ thân rắn trong giếng, nước tam-muội có thể giải trừ oán thù xưa giữa Tiều Thố và Viên Áng. Ngài Hư Vân là bậc cao tăng, sức niệm Phật chẳng giống kẻ tầm thường, phàm tục, há lẽ nào chẳng cảm ứng? Phật pháp khó nghĩ tưởng, chẳng thật, chẳng hư. Nếu nói theo liễu nghĩa th́ chỉ có Nhất Thừa, do độ chúng sanh trong chín pháp giới bèn quyền hiện cơi Phật. Nhất Thừa th́ “ngôn ngữ dứt bặt, tâm hạnh xứ diệt”. Có hai thừa hay ba thừa đều là “dỗ trẻ nín khóc”. Vậy th́ nắm tay, hoặc giơ thẳng ngón tay, có ǵ chẳng phải là “dỗ trẻ nín khóc”? Đă nín khóc rồi th́ có ǵ là chân thật?

 

          * Hỏi: Hết thảy chúng sanh đều có Phật Tánh. Có phải là chúng sanh thai, noăn, thấp, hóa đều có Phật Tánh hay không? Nhưng các loài tiểu trùng như ruồi, muỗi, kiến v.v… cũng đều có Phật Tánh, cũng đều có thể thành Phật ư? (Lại Khoan Châu hỏi)

 

          Đáp: Đă nói là “hết thảy chúng sanh” th́ đă bao gồm trọn hết tứ sanh, lục đạo. Bất luận là có thân h́nh lớn hay bé, đều là nương theo tánh mà sanh. Thân tướng tuy có lớn hay nhỏ, tánh đều bao trùm tận hư không. Tánh được gọi là Phật là do có thể giác. Giác từ nơi nghe và tu, tu viên măn bèn thành Phật. Chỉ có điều: Ruồi, muỗi, súc sanh thuộc về một trong tám nạn[7], dẫu sẵn có tánh thành Phật, nhưng thiếu duyên nghe pháp, cho nên rất khó thể thành Phật ngay trong thân ấy!

 

          * Hỏi: Ông Vương Dương Minh khi lâm chung có nói: “Tâm này quang minh”. Tống Nho cũng có kẻ biết trước lúc mất, nói cười ngồi qua đời. Xét ra, nhà Nho đời Tống, đời Minh, đối với Phật pháp th́ ngấm ngầm vâng giữ, bề ngoài cự tuyệt; nếu nói theo Phật giáo, há chẳng phải là họ báng Phật, báng Pháp ư? Nhưng khi lâm chung, hiện tướng lành ấy, lại chẳng khác các bậc cao tăng đại đức; chuyện này nên giải thích như thế nào? (Chung Quân Lương hỏi)

 

          Đáp: Ngấm ngầm vâng giữ chính là tâm chân thành mong cầu, bề ngoài cự tuyệt là lời lẽ vờ vĩnh. Chân thành mong cầu là chân thật, giả vờ là hư giả. Nhưng do cái tâm chân thật, cố nhiên tự đạt được lợi ích; lời lẽ hư giả, chẳng khỏi khiến cho người khác lầm lạc. Tu huệ chẳng tu phước, hoặc tu phước chẳng tu huệ, mỗi loại đều được quả báo tương ứng. C̣n chuyện thân đời sau (tức là họ sẽ sanh trong đường nào) th́ nhục nhăn [của lũ phàm phu chúng ta] chẳng thấy được!

 

          * Hỏi: Chúng ta niệm Phật, trong tương lai sẽ thành Phật, nhưng kẻ nam háo sắc, trong ư tưởng luôn nghĩ đến mỹ nữ, đời sau ắt đọa làm thân nữ. Vậy th́ dâm nữ, do niệm niệm đều nghĩ đến nam nhân, đâm ra đời sau sẽ được chuyển từ nữ thành thân nam vậy! Cớ sao người nữ may mắn mà người nam lại bất hạnh như thế? (Châu Huệ Đức hỏi)

 

          Đáp: Đối với điều luận định này, trong An Sĩ Toàn Thư cũng có đặt ra câu hỏi, nay tôi giới thiệu đại ư như sau để tham khảo. Đó chính là nói: Thân nam là siêu, thân nữ là đọa; chẳng dâm th́ có thể siêu, háo dâm ắt đọa. Kẻ nam háo nữ sắc là ác, thân sau do cái nhân ác mà đọa làm người nữ. Kẻ nữ ham mê nam sắc cũng là ác, thân sau cũng đọa. Hễ đọa th́ chẳng có lẽ nào được làm thân nam!

 

          * Hỏi: Năm ngoái, từ báo chí, bỉ nhân thấy một chuyện chẳng thể nghĩ bàn, liên quan đến chuyện một người sau khi đă tử vong, linh hồn nương gá thân thể người khác. Đó là chuyện tại Kim Môn có một phụ nữ, sau khi đă chết, vong linh chẳng mất đi, vật vờ phiêu du trong làng Mạch Liêu, huyện Vân Lâm, gá vào thân thể một người nữ. Người bị dựa thân, sau cơn bệnh, bỗng dưng hoàn toàn quên sạch thân thế và những chuyện đă từng trải của chính ḿnh, tự xưng là người X… ở Kim Môn, động tác và giọng nói của người ấy cũng bỗng dưng biến hóa, rơ ràng là giống hệt như người vùng Kim Môn. Trong t́nh h́nh như vậy, dùng quan điểm Phật giáo và Phật lư để xét, người sau khi đă chết, có phải là linh hồn có thể dựa vào thân người khác hay chăng? Xin hăy phán định, giải thích như thế nào? (Diệp Đặc Hoa hỏi)

 

          Đáp: Cái hồn lang thang dựa vào thân người mới mất, tục gọi là “tá thi hoàn hồn” (借屍還魂, mượn xác sống lại), trong dă sử, bút kư đă ghi chép rất nhiều. Đă thấy chép trong sách vở, lại thấy trong sự thực, chẳng phải là hư vọng! Hăy nên tin là đúng. Kinh Dịch nói: “Du hồn vi biến” (Cái hồn bềnh bồng biến hóa), không thể nói là “chẳng thể nghĩ bàn”.

 

          * Hỏi: Đệ tử thường nghi ngờ thuyết “quân tử viễn bào trù” (bậc quân tử lánh xa bếp núc) của Nho gia, há có lẽ nào chẳng thấy, chẳng nghe, bèn có thể ăn thịt [những con vật bị giết] được ư? (Liêu Ngọc Kiều hỏi)

 

          Đáp: Đây chính là trước hết nhằm cầu cái tâm “thắng tàn, khử sát” (trừ khử hung tàn, giết chóc). Ư nghĩa “tam tịnh nhục” trong nhà Phật khá giống ư này, có ǵ đáng nghi?

 

          * Hỏi: Sau khi thắng giặc Nhật, giải ngũ về Đà Thành[8], tôi có đến tham bái Quán Âm Điện. Từ phía sau đại điện vừa mới xoay ḿnh đi ra, khoảng mười mấy trượng mới đến Quán Âm Điện, đột nhiên thấy có một cái “tôi” khác đă đến đó trước đó, đứng dưới chân thánh tượng. Thoạt đầu, tôi cảm thấy hết sức lạ lùng; sau đó, nhớ ra người ta có ba thân, đấy chắc là một trong ba thân! Lại nữa, vào mùa Hạ năm Dân Quốc 45 (1956), tôi cùng mấy người bạn đến chơi chùa Đông Phổ Đà thuộc Tân Giới huyện Cửu Long (Hương Cảng), trong số đó, có người bạn nói: “Chính giữa điện thờ có một vị Phật mập mạp, rốt cuộc là tượng A Di Đà Phật hay tượng Di Lặc Phật?” Tôi đáp: “Người nước ta thường coi vị tay cầm túi vải là Di Lặc Phật, khi đến đó sẽ thấy”. Ngay trong lúc tôi bước vào từ phía Tây của điện thờ, khi ấy, trong tâm rỗng rang dị thường, chẳng nghĩ ngợi ǵ cả, lại chợt thấy một cái “tôi” từ xa xa đă đến trước tượng Phật. Lần này, trong những người cùng đi có ông Thái tuổi hăy c̣n trẻ, hết sức kinh ngạc kêu lên: “V́ sao đằng trước lại có một ông Triệu khác!” Tôi giả vờ như không nghe. Trong số các bạn, c̣n có ông họ Đặng cũng trông thấy, đều lấy làm lạ. Lại nữa, mấy năm gần đây, tôi bất ngờ đến tham bái Địa Tạng Vương, mỗi lần ắt đều là như vậy. Do trong báo chí gần đây nhất có đăng tải sở ngộ của một vị đại đức nọ giống hệt như sở ngộ của tôi, học tṛ ông ấy giải thích là thầy ḿnh có thể thấy được bản lai diện mục. Tôi chẳng phải là kẻ mẫn tiệp, do thường gặp chuyện ấy, nên đặc biệt ghi lại để xin chỉ dạy! (Triệu Siêu hỏi)

 

          Đáp: Ba câu hỏi một, hai, ba, thuộc về cùng một chuyện, nên có thể gộp lại để đáp. Tam thân là Pháp, Báo, Ứng. Pháp Thân vô tướng, chẳng có thân để có thể thấy được! Báo Thân là thân hiện ra sau khi đă chứng quả, là tướng trang nghiêm tự tha thọ dụng. Ứng Thân cũng do Pháp Thân phân ra, chuyên v́ độ sanh mà thị hiện. Danh xưng tuy có ba, nhưng thật ra đều là do Pháp Thân khởi tác dụng. Ngoài ra, nếu có thần thông th́ cũng có thể phân hóa một thân thành nhiều thân. Nói đến một thân hay nhiều thân, đại lược là như vậy. Chuẩn theo những điều trên đây để luận định, những điều cư sĩ nhiều lần trông thấy chẳng dính dáng ǵ đến ba thân Pháp, Báo, Ứng! Nếu xét theo một khía cạnh, đấy chính là Phật, Bồ Tát khuyên dụ. Nếu xét theo một phương diện khác để luận định, th́ chuyện đó chẳng cần phải suy xét. Kinh dạy: “Phàm những ǵ có tướng đều là hư vọng”. Huống chi những điều ông đă trông thấy toàn là huyễn vọng, há c̣n chấp trước măi! C̣n như ông X… nói là “bản lai diện mục”, càng là chuyện chẳng ăn nhập ǵ với nhau, đúng là hư luận! Cuối cùng, tôi trịnh trọng thưa mấy lời: Hăy nên gạt bỏ chuyện ấy khỏi tâm! Nếu chuyện ấy vẫn cứ thường hiện, chắc chắn sẽ sanh ra chướng ngại!

 

* Hỏi: Có người hỏi: “Các ông dạy người khác niệm Phật, mỗi ngày phải có công khóa cố định, và cũng có tán niệm. Điều ấy có nghĩa là ǵ? Có lợi ích ǵ?” Đáp: “Phật như cha mẹ, chúng sanh như con đỏ. Con có nỗi buồn rầu, sẽ khóc lóc, cha mẹ vừa nghe tiếng khóc, từ tâm chẳng nỡ, bèn ôm lấy, gạt lệ. Không chỉ là như thế, thậm chí c̣n dùng lá vàng để dỗ cho nín khóc[9], khiến cho con cái hoan hỷ, trong tương lai có chỗ nương về”. Họ lại hỏi: “Vậy th́ hằng ngày niệm Phật, sẽ giống như hằng ngày khóc quấy cha mẹ. Như vậy th́ bậc làm cha mẹ chẳng chán ghét, khiến cho con phải câm tiếng [khóc mếu] ư?” Đến nước đó, tôi chẳng thể đáp được nữa! (Triều Tân Ban hỏi)

           

          Đáp: Ba cơi như nhà lửa, chúng sanh ở trong ấy, chính là ở trong chỗ nguy nan, kêu gào cầu cứu, cha mẹ há chẳng lo lắng? Nếu con chưa thoát hiểm, kêu gào suốt trăm năm, cha mẹ chỉ có lo âu, há lẽ nào chán ghét? Nếu chán ghét, tức là đă vứt bỏ con cái. Cha mẹ trong cơi đời há có ai nỡ ḷng như thế ư?

 

          * Hỏi: Bậc cao tăng đời Lương giảng kinh đến chỗ huyền diệu, có thể khiến cho đá cứng gật đầu, lại c̣n khiến cho hoa trời rơi tán loạn trên mặt đất, thật sự có chuyện ấy hay sao? Hay là nói theo kiểu ca tụng? Đá cũng là vật vô t́nh, làm sao có thể gật đầu? Xin hăy dạy cho! (Triều Tân Ban hỏi)

 

          Đáp: Há chẳng nghe “chúng sanh đều có Phật tánh, vạn vật đều có pháp tánh” ư? Hữu t́nh và vô t́nh không chỉ là có thể nghe, mà cũng có thể nói. Ngũ Trần thuyết pháp, đá nghe giảng gật đầu, [chính là] “duy tâm sở tạo”, có chi lạ lùng? Nếu chẳng cảm thông, làm sao đạt “đồng viên Chủng Trí” cho được?

 

          * Hỏi: Tiến sĩ Tưởng Mộng Lân là bậc đại cư sĩ tinh thông cả Phật lẫn Nho có nói: “Kinh điển Tiểu Thừa là do sau khi đức Phật đă diệt độ, đoàn thể trưởng lăo kết tập. Câu đầu tiên bèn ghi là ‘như thị ngă văn’, [ư nói] đều là ‘đích thân nghe đức Phật nói như thế’, chẳng sai lầm. C̣n như kinh điển Đại Thừa là sau khi đức Phật đă diệt độ năm trăm năm, các vị đệ tử được đức Phật đích thân dạy dỗ đă nhập Niết Bàn rồi mới phát triển, không kinh nào do các đệ tử được đức Phật đích thân giáo hóa [thuật lại], mà hoặc là mượn danh nghĩa cổ nhân để người hiện thời diễn nói, hoàn toàn chẳng phải là ‘như thị ngă văn’ thật sự”! Khảo cứu kiểu đó có đúng hay không? (Lại Đống Lương hỏi).

         

          Đáp: Thấy là nhân, hay thấy là trí[10], từ xưa đă là như vậy. Vấn đề này chỉ là tranh luận giữa Đại Thừa và Tiểu Thừa, giữa Có và Không. Dẫu là do đệ tử truyền lại, phát triển thành Đại Thừa, th́ người truyền thừa ấy ắt cũng có sư thừa, thầy đương nhiên là có thầy của thầy. Nói “ngă văn” th́ vẫn là nói truy ngược lại đến người đích truyền trong hàng đệ tử được đức Phật đích thân dạy dỗ, sao lại lầm tưởng “ngă” chính là người hiện thời tự xưng!

 

          * Hỏi: La Hầu La rốt cuộc là sanh trước khi thái tử [Tất Đạt Đa] xuất gia, hay là đức Phật đă xuất gia rồi [La Hầu La] mới được sanh ra? (Lại Đống Lương hỏi).

         

          Đáp: Chuyện xưa xa vời, thường có tranh luận. Hăy nên căn cứ theo chánh kinh, đó gọi là “y pháp, bất y nhân”. Nếu hai kinh nói sai khác, hăy tạm thời giữ cả hai thuyết. Đối với những điều thiếu sót chứng cứ, tồn nghi, hăy nên nói năng dè dặt để khỏi trở thành luông tuồng, lầm lẫn! Ắt phải đợi đến khi có văn bản chứng cứ rành rẽ th́ mới có thể quyết đoán. Nếu không, dẫu có thể nói, nhưng do thiếu chứng cớ, [người khác] chẳng tin! Khổng Tử là bậc đại thánh, đối với việc trị học[11] mà c̣n như thế, chúng ta là những kẻ nghe ít, biết kém, chớ nên biết một mà bỏ sót hai vậy!

 

* Hỏi: Căn cứ theo lư “hết thảy duy tâm tạo”, dường như là địa ngục ở ngay trong tâm mỗi chúng sanh làm ác, khi nghiệp báo chín muồi, ắt sẽ từ tự tánh hiện ra địa ngục. Lại nữa, dường như kinh Địa Tạng có nói: “Phật bảo Địa Tạng Bồ Tát: Nếu có những chúng sanh làm ác sắp đọa địa ngục, khi đến trước cửa ngục, mà nếu nhớ được một danh hiệu Phật, hoặc danh hiệu Bồ Tát, hoặc một bài kệ, hoặc một câu, sẽ liền ứng hiện thân tướng, địa ngục tan nát, khiến cho chúng sanh được hưởng niềm vui Niết Bàn” (câu chữ kinh văn trong đoạn trên đây tôi nhớ không rơ ràng cho lắm. Nếu có sai lầm, xin hăy dung thứ). Xin hăy khai thị: Địa ngục ở trong cái tâm của chúng sanh làm ác ư? Hay là có địa ngục cố định tồn tại? (Tiên Thuần Hiền hỏi)

 

          Đáp: Đừng hiểu lầm “tâm lượng” là tâm tạng (trái tim). Tâm tạng chỉ ở trong ṿng gang tấc mà thôi. Cái tâm được nói trong kinh rộng lớn không ngằn hạn, không chỉ là Thái Dương Hệ được bao gồm trong tâm, mà hệ đại Ngân Hà cũng chẳng vượt ra ngoài. Hiểu rơ điều này, chớ nên tưởng tâm ở trong thân. Chẳng cần hỏi địa ngục xa hay gần, nói chung, đều chẳng ra ngoài cái tâm! Tâm, Phật, chúng sanh ba thứ chẳng sai biệt; sâm la vạn tượng đều do tâm tạo thành. Thiện tâm hiện thiện cảnh, ác tâm hiện ác cảnh. Tâm tịnh hiện cơi tịnh, tâm nhơ uế hiện cơi nhơ uế. Tự làm, tự chịu, Sự Lư chẳng sai sót! Như tự ngồi trong lửa, tự thiêu thân ḿnh! Tự gieo ḿnh xuống biển, thân tự chết đuối vậy!

 

          * Hỏi: Xét theo thứ tự của mười pháp giới, A Tu La ở sau nhân pháp giới, nhưng A Tu La có thần thông, có thể chiến đấu với Đế Thích. Người b́nh phàm sau khi đă chết, muốn sanh lên trời vẫn chưa thể được! [Như vậy th́] dường như loài người vẫn tu tŕ không tốt đẹp bằng A Tu La. V́ sao xếp loài người ở trước A Tu La? (Tiên Thuần Hiền hỏi)

 

          Đáp: A Tu La th́ trong trời, người, súc sanh, quỷ đều có. [A Tu La thuộc về] thiên đạo, có y báo giống như chư thiên, [c̣n A Tu La thuộc] những loài khác đều [có y báo] tùy theo từng loài, làm sao có thể trội hơn loài người cho được? Nay dùng Tu La thuộc thiên đạo để bàn luận th́ họ có chánh báo xấu ác, luôn dấy ḷng sân khuể. Do xấu ác, nên chuốc lấy quả báo bất kính, do sân khuể bèn gieo nhân đọa lạc. Đánh nhau với chư thiên, chính là nỗi đau khổ ngay trong đời này. Chiến tranh hung tàn, nguy ngập, có ǵ đáng hâm mộ ư?

 

          * Hỏi: Tiên sinh Lương Thật Thu từng nói: “Do họ (người tu hành tại gia và xuất gia) tham Thiền, tu Giáo, phước huệ song tu, tôi không hoài nghi họ có thể chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn ngay trong đời này, kiếp này. Nhưng sau khi đă ĺa khỏi đời này, kiếp này, sẽ có thể văng sanh Tịnh Độ hay không, tôi rất hoài nghi. Tịnh Độ giống như những cơi thiên đường khác do con người miêu tả, chưa chắc đă tồn tại! Nếu nó tồn tại, chỉ là ở trong tâm chúng ta”. Lời lẽ này được những kẻ theo học [với ông Lương] tán đồng, “Tịnh Độ tồn tại trong tâm”“vạn pháp do tâm tạo”. Cơi Tịnh Độ Tây Phương Cực Lạc thế giới có thật sự tồn tại hay không? Cảnh ấy tồn tại, nhưng là giả tướng, chẳng phải là thật thể. Có người nói Tây Phương Cực Lạc thế giới là thật sự có, điều ấy do chính đức Phật nói, há Phật thốt lời gạt người ư? Nói kiểu ấy là do đối với người tin tưởng bèn nói như vậy, chứ đối với kẻ không tin, đương nhiên chẳng cần nhiều lời! Nhưng v́ sao mà thấy là thật sự có? Nếu là thật sự có, tức là “tồn tại trong tâm” như kẻ theo học với ông Lương đă luận định lắm nỗi sai lầm! Khẩn khoản mong cụ khai thị! (Thái Vinh Hoa hỏi)

 

          Đáp: Lương tiên sinh hoài nghi sự tồn tại của Tịnh Độ, [cho rằng] “nếu tồn tại th́ ở trong tâm”. Hàng học giả nghiên cứu, khi chẳng nắm được điều trọng yếu, có hoài nghi cũng chẳng sao! Nói là “ở trong tâm”, đủ thấy là đang nghiên cứu, chưa đạt được kết quả! Mà em tôi[12] nói “vạn pháp do tâm tạo”, tức là đă thừa nhận sự tồn tại. Lời lẽ này các bậc hiền triết xưa nay đều cùng nói, chẳng thể thay đổi. Nhưng lại đưa ra vấn đề “giả tướng”“thật thể”, tức là đối với lư Thật Tướng, chưa hiểu biết triệt để, cũng như đối với lư Tịnh Độ cũng hăy c̣n có ngăn ngại. V́ thế, chẳng dám dùng lời lẽ khẳng định! Nay tôi giải thích như sau: Tông chỉ của Thật Tướng là “vô tướng, vô bất tướng”, tức là ư nghĩa như Tâm Kinh đă nói: “Không chính là Sắc, Sắc chính là Không”. C̣n như Tịnh Độ tồn tại hay không, có thể nương vào kinh điển để giải quyết. Tây Phương Tịnh Độ có bốn tướng, tức là Đồng Cư, Phương Tiện, Thật Báo và Tịch Quang. Cơi sau cùng (Tịch Quang) là Thật Thể, ba cơi trước (Đồng Cư, Phương Tiện, Thật Báo) là Diệu Tướng. Bốn cơi thật sự là một, chỉ là do [mức độ] tu chứng [sai biệt] mà hiện ra [cảnh giới] sâu hay cạn khác nhau. Lại nữa, nói “tồn tại trong tâm” cũng chẳng sai, chỉ có điều tâm ở nơi đâu, tâm là vật ǵ, lượng của nó lớn hay nhỏ, chỉ sợ Lương tiên sinh và học tṛ của ông ta đều chẳng biết. Nếu trước hết, hăy đọc kinh Lăng Nghiêm một lượt, mới chẳng đến nỗi hiểu lầm từ ngữ “tồn tại trong tâm”.

 

          * Hỏi: Phẩm Nghi Vấn của Đàn Kinh có những câu: “Người mê niệm Phật cầu sanh về cơi đó, người ngộ tự tịnh tâm ḿnh”, “sứ quân chỉ hành Thập Thiện, cần ǵ phải nguyện văng sanh”, “kẻ phàm ngu chẳng hiểu tự tánh, chẳng biết Tịnh Độ ở trong thân, nguyện Đông, nguyện Tây. Người ngộ th́ ở nơi đâu cũng đều là như nhau”. Những lời lẽ trên đây dường như mâu thuẫn với chuyện “Tín, Nguyện, Hạnh, phát nguyện văng sanh của Tịnh Tông”. Tuy nói “Thiền và Tịnh bất đồng”, nhưng chỉ hành Thập Thiện th́ chỉ đạt được phước báo trong thiên đạo, c̣n phát nguyện văng sanh có thể vượt thoát luân hồi. Phát nguyện sanh Tây há có thể là chuyện của kẻ ngu mê ư? Chưa hiểu rơ các nghĩa ấy, xin hăy giải quyết mối nghi ngờ! (Lư Liên Giai hỏi)

 

          Đáp: Kinh văn nhà Phật vốn chia thành liễu nghĩa và bất liễu nghĩa. Ngữ lục của tổ sư càng có nhiều cách nói chân thật và nói phương tiện như vậy. Ắt phải làm như vậy, đều là do thời tiết, căn khí các thứ bất đồng, cho nên cách nói chợt là Đông, chợt là Tây! Ví như bệnh có ngàn loại, thuốc cũng có ngàn toa. [Đối với bệnh chứng], hư th́ bổ, thật th́ tả, nhiệt th́ thanh, hàn bèn ôn. Thuốc chẳng có tốt hay xấu, phù hợp căn bệnh th́ là thuốc tốt. Đối với người nên “bổ”, chẳng ngại chê trách thuốc dành để “tả”. Đối với người nên “thanh”, chẳng ngại chê bai thuốc “ôn”. Như Đạt Ma tổ sư bảo: “Kẻ học theo ta liền vào địa ngục, kẻ báng ta bèn thăng thiên đường”. Thử hỏi, nếu báng bổ tổ sư, sẽ thăng lên thiên đường ư? Hiểu rơ lẽ này, mấy câu trong Đàn Kinh chính là những lời lẽ v́ người (tức là v́ căn cơ của kẻ vấn pháp), v́ thời tiết [mà nói như thế]. Nói “đọc kinh cầu viên giải” chính là v́ lẽ này!

 

          * Hỏi: Bỉ nhân là cư sĩ, do chẳng thuận tiện ăn chay, nên hằng ngày thường ăn thịt, cá, chẳng biết sau khi chết đi, sẽ có kết oán nhân quả hay không? Nếu có kết oán nhân quả, mỗi ngày mua chút thịt lợn bán ngoài chợ, chẳng biết linh tánh [của con lợn ấy] ở nơi chân hay đùi, hoặc là ở nơi đầu, hoặc là ở nơi thịt được xẻ, hoặc là ở nơi gan, hoặc là ở nơi phổi? Nhưng sắc thân của tôi trong tương lai chắc chắn sẽ mục nát, chẳng biết là [khi đó, c̣n có thân thể nào đă từng] ăn con vật ấy hay không, chẳng biết là có mắc nhân quả kết oán hay không? Xin hăy giải trừ nỗi nghi lự. (Diệp Đặc Hoa hỏi)

         

          Đáp: Phật v́ kẻ sơ cơ mới học, chưa phát tâm từ bi, khó trừ thói quen ăn thịt, cho nên lập ra phương tiện, cho phép họ ăn tam tịnh nhục. Tức là [thịt của những con vật] không nghe, không thấy chúng bị giết, chẳng v́ ta mà giết [th́ được phép ăn]. Đợi đến khi hạnh và giải đă tiến bộ, sẽ tự đoạn tuyệt chẳng ăn nữa! Con vật bị xẻ thành từng mảnh nhỏ, thần thức đă sớm rời khỏi, nhưng nỗi oán hận do bị giết đă ghim sâu vào ư niệm của nó, cái nghiệp nhân quả giết hại tánh mạng đă thành lập! Oan oan tương báo, thiếu nợ, đền nợ, chưa hề sai sót! Kẻ đồ tể là người trực tiếp giết, người ăn là kẻ gián tiếp giết. Kẻ đồ tể và người ăn có lúc lần lượt là chủ động và bị động, nhân duyên phức tạp, mỗi người phải chịu trách nhiệm. Cổ nhân có câu: “Ăn chay một ngày, chuyện sát sanh trong thiên hạ chẳng có phần của ta”. Lời lẽ đơn giản, ư vị thâm trường! Hăy từ câu ấy mà giải quyết nỗi nghi!

 

* Hỏi: Nho gia nói “trí trung ḥa tắc thiên địa vạn vật dục” (đạt tới trung và ḥa th́ thiên địa và vạn vật sanh thành)[13], Phật giáo nói “do một niệm vô minh, sanh khởi núi, sông, đại địa”. Đều là duyên khởi của thế giới, nhưng Nho gia coi trung ḥa là khuôn mẫu tu dưỡng tột bậc, Phật giáo coi vô minh là căn bản của phiền năo, hai thuyết nói như thế nào th́ mới có thể viên dung, vô ngại? (Chung Quân Lương hỏi)

 

          Đáp: “Vô minh sanh khởi núi, sông, đại địa” của nhà Phật chính là nói: Do chẳng giữ lấy chân tánh mà vọng tướng (tướng hư vọng) huyễn hiện. “Trung và Ḥa có thể giữ yên trời đất, sanh thành vạn vật” chính là nói đến chuyện tiết chế t́nh thức đúng mức, bao dung vạn vật. Nhà Phật nói như vậy th́ giống như là nói từ khi đang khỏe mạnh cho đến lúc phát bệnh. Nho gia nói kiểu ấy, giống như thầy thuốc chẩn bệnh nói đến chuyện điều dưỡng. Hai thuyết ấy do sự bất đồng, thời bất đồng, chẳng cần phải gượng ép kết hợp. Nói chung, lời lẽ của hết thảy các vị thánh nhân có Thật, có Quyền, do thời tiết, do căn cơ, nhằm nói với một người nào đó trong một đời nào đó, vẫn chẳng thể viên dung trọn khắp. Như nhà Phật nói “con chó có Phật tánh” hay “con chó chẳng có Phật tánh”, nhà Nho nói “văn tư hành chi” (nghe rồi hành theo), “như chi hà văn tư hành chi” (nghe như thế nào bèn hành theo như thế đó) v.v… Huống chi đối với cái học sai khác, thời sai khác, mà cứ ắt mong sao chỗ nào cũng đều dung hợp, tất nhiên là khó thể làm được. Muốn dung hợp Nho và Phật, chỉ chọn lấy những điểm đại cương là được rồi!

 

          * Hỏi: Kinh có ghi “vạn pháp quy nhất tâm” là như thế nào? Mặt khác lại nói “ly pháp (vật) vô tâm”, xin hăy giải trừ nghi vấn! (Châu Di Quân hỏi)

 

          Đáp: “Vạn pháp duy tâm” có nghĩa là “vạn pháp đều do tâm hiện”. Như vậy th́ pháp chính là tâm, tâm chính là pháp, tâm và pháp tuy hai mà một. “Ly pháp vô tâm” nghĩa là: Có thể ngộ các pháp đều là không, cho nên tâm cũng chẳng thể được!

 

          * Hỏi: Tu Quán trong các tông của Phật giáo, mỗi nhà mỗi vẻ, thật là phức tạp. Tuy mục tiêu của các tông là nhất trí, nhưng chỉ có cách tu của Thiền Tông là giống như pháp ngộ đạo giải thoát trong thời đức Phật (tĩnh tọa là pháp của Thiền Tông). Suy xét như vậy, có phải là cách tu của Thiền Tông là kế thừa trực tiếp, lư tưởng nhất hay không? Nhưng tại Đài Loan, Tịnh Độ Tông chiếm đại đa số, có phải là biểu thị cách tu này thích hợp nhất hay chăng? Xin hăy giải tỏa nỗi nghi vấn, khiến cho những tín đồ chưa thuộc về bất cứ tông phái nào sẽ hiểu rơ, cũng như giới thiệu pháp tu này. (Châu Di Quân hỏi)

 

          Đáp: Tám vạn bốn ngàn pháp môn, quy nạp thành Thiền, Tịnh, Mật, Luật, Giáo, đều là kế thừa trực tiếp, là lư tưởng nhất. Do đức Phật lập ra, đó là “trực hệ”. Ĺa Phật để nói, chính là ma đạo. [Nói đến] “lư tưởng” th́ chẳng có tiêu chuẩn, v́ đối với Giáp là lư tưởng, chưa chắc đă là lư tưởng đối với Ất. Là lư tưởng đối với những người như Bính, Đinh, Nhâm, Quư v.v… cũng giống như thế! Đức Phật nói nhiều môn nhằm ứng khắp các căn cơ. Khế hợp căn cơ của ai th́ sẽ là vị thuốc tốt lành đối với người đó, chẳng thể đoán trước [pháp nào] thích hợp nhất. Nếu Ngài muốn học Phật, ắt phải cầu tri thức khai thị. Nếu không, trước hết, hăy xem những sách nhập môn sơ khởi, đă có đôi chút nhận thức rồi, sẽ biết chọn lựa pháp môn nào để tu!

 

          * Hỏi: “Giác hạnh viên măn” chỉ là nói đến chuyện độ hết những chúng sanh căn cơ đă chín muồi trong một thời kỳ, đó chỉ là sự hiểu biết được kiến lập dựa trên những dấu vết nơi mặt Sự. Xin hăy xem khi đức Thế Tôn nhập diệt, hăy c̣n có nhiều chúng sanh trong các nước khác chưa nghe Phật pháp đó thôi! Nếu gộp Bổn và Tích lại để nói, thật ra, đức Phật chưa từng trụ Niết Bàn, v́ chúng sanh vĩnh viễn chẳng thể cùng tận! (Thái Vinh Hoa hỏi)

 

          Đáp: Chúng sanh sanh sanh diệt diệt, liên miên bất tận, nhưng chia thành từng thời kỳ, mỗi thời sai biệt. V́ thế, quá khứ, hiện tại, vị lai, vạn vật cũng chẳng nhất trí, hoàn toàn chẳng phải là sanh th́ cùng sanh, diệt bèn cùng diệt. Như cây kết quả, trọn chẳng giống nhau, có cây kết quả một năm cả bốn mùa. Có cây kết quả mỗi năm một lần, hoặc mấy năm một lần. Ngay trong mỗi thời điểm kết quả, quả bèn có lớn, nhỏ, tốt, xấu chẳng đều! Trời th́ xoay vần Xuân, Hạ, Thu, Đông, nắng, gió, mưa, sương, đại công vô tư, b́nh đẳng thí khắp. Do vậy, quả trổ suốt bốn mùa và quả trổ mỗi năm bèn được thành thục. Quả mấy năm mới trổ cũng cậy vào sự sanh thành, tưới tắm ấy. Từ Xuân tới Đông, công sanh thành dưỡng dục của trời trong một giai đoạn đă viên măn, chỉ là xoay vần liên miên chẳng ngớt, giáp ṿng lại trở về khởi đầu. Người được thành tựu trong thời đức Phật giống như quả trổ suốt bốn mùa hoặc mỗi năm. Người chưa được thành tựu trong thuở ấy, ví như quả mấy năm mới trổ. Kẻ chưa nghe Phật pháp ví như cây mới nẩy mầm. Phật nhập Niết Bàn, ví như tiết Đông. Phật chẳng trụ Niết Bàn ví như [bốn mùa trong trời đất] vận hành liên miên chẳng ngớt. Suy ngẫm kỹ lưỡng tỷ dụ này, nỗi nghi sẽ được giải quyết!

 

* Hỏi: Đă nói đức Thế Tôn nhập diệt (tức Niết Bàn), lại nói “thật ra, chưa từng trụ Niết Bàn”, có phải là lời lẽ mâu thuẫn hay không? (Thái Vinh Hoa hỏi)

         

Đáp:   “Phật nhập diệt”, nghĩa là thanh tịnh, tịch diệt, chính là một hóa thân tạm diệt, vẫn lại có thể ứng cơ thị hiện, bất quá là chỗ ứng hiện có tám phương khác nhau. Tuy hóa thân đă diệt nơi đất Giáp, lại hiện hóa thân nơi đất Ất. Nh́n từ một góc độ, dường như có trụ Niết Bàn; nh́n theo toàn thể, quả thật chẳng trụ Niết Bàn!

 

* Hỏi: Nếu nói “chỉ là nói đến việc độ hết chúng sanh căn cơ chín muồi trong một thời kỳ”, th́ “một thời kỳ” ấy có phải là nói thành Phật trong mỗi thời kỳ riêng biệt, nói chung là chưa thành Phật! V́ cho đến nay, chúng sanh chưa độ hết, tức là giác tha chưa thể viên măn, cho nên chưa thể thành Phật! V́ thế, nh́n chung, chỉ được coi là Bồ Tát, nhưng trong mỗi thời kỳ khác nhau th́ mới có thể gọi là Phật! Cho đến nay, chúng sanh chưa độ hết, từ đầu đến cuối, tôi vẫn chưa ngộ [v́ sao] Phật có thể giác hạnh viên măn? Kinh Phật Di Giáo có nói: “Kẻ đáng được độ đều đă độ hết, đối với kẻ chưa được độ th́ đă tạo nhân duyên đắc độ”. Dùng câu này để chú giải “giác hạnh viên măn” của đức Phật há chẳng phải là càng ổn thỏa, thích đáng hơn ư? (Thái Vinh Hoa hỏi)

 

Đáp: Đem lời dạy trong kinh Phật Di Giáo tham chiếu với lời đáp thứ nhất th́ câu hỏi này sẽ không c̣n có ư nghĩa chi nữa. Giác hạnh viên măn, Lư như thế, Sự như thế.

 

* Hỏi: Kinh luận ghi chép, đất bằng phẳng bất động, mặt trời nhiễu quanh sườn núi Tu Di, bốn đại châu ngày đêm tương phản. Nương theo lư luận này, hai nước Trung Hoa và Mỹ cùng thuộc Nam Thiệm Bộ Châu, ngày đêm phải giống nhau, nhưng sự thật là tương phản. Hăy nên hiểu thông suốt như thế nào? (Hàn Thúc Ḥa hỏi)

 

          Đáp: A) Nói quán triệt th́ đức Phật nói khế hợp các căn cơ, có khi là lời chân thật, có khi là lời tùy thuận. “Lời tùy thuận” tức là nói theo những điều đă quen nhận biết của từng loài chúng sanh. Một là “đất bất động, mặt trời xoay quanh núi [Tu Di]” v.v… tợ hồ nói là đại địa bằng phẳng! Hai là như kinh Lăng Nghiêm lại có câu: “Quán cơi Diêm Phù như quán quả Am Ma La trong ḷng bàn tay”, tức là nói quả đất h́nh cầu. Hơn nữa, vô tận thế giới, mỗi thế giới đều có mười phương. Mỗi thế giới đă có trên dưới th́ hoàn toàn chẳng phải là một mực bằng phẳng. Bất luận là vuông hay tṛn, mỗi cơi đều có sáu phía. Chẳng đối diện mặt trời th́ là đêm, đối diện mặt trời th́ là ngày. Trung Hoa và nước Mỹ tuy thuộc cùng một châu (châu Nam Diêm Phù Đề), nhưng do có đối diện hay không đối diện mặt trời, mà tự nhiên có ngày và đêm khác nhau. Nói theo thuyết trước [tức thuyết đại địa bất động, mặt trời xoay quanh núi Tu Di] khó thể phù hợp [kiến thức] hiện thời; nói theo kiểu sau sẽ thông suốt.

B) Chẳng quán triệt ư nghĩa: “Hết thảy chỉ do tâm tạo”, “phàm những ǵ có tướng đều là hư vọng”, “trong mộng rành rành phô sáu nẻo, giác rồi ba cơi rỗng toang hoang”. Xét những lời trên đây, hết thảy sắc tướng đều do nghiệp thức của chúng sanh biến hiện, vốn chẳng phải là chân thật. Cùng là một sự mà Giáp, Ất, Bính, Đinh, mỗi người thấy mỗi khác. Như trời, người, rồng, quỷ thấy nước khác nhau. Đối với cùng một lư mà kiến giải cũng khác. Như đối với cha mẹ đă già, con cái ở Trung Hoa coi chuyện kính trọng, phụng dưỡng là hiếu thảo, nhưng các dân tộc chưa khai hóa ở Phi Châu cho rằng: Giết cha mẹ đi để họ khỏi khổ sở v́ tuổi già chính là hiếu thuận! Châu tỏa ánh sáng chẳng có màu, nhưng người ta thấy nhiều màu. Cứ coi [màu sắc ḿnh trông thấy] là màu sắc thật sự, sẽ trở thành Pháp Chấp.

C) Nêu thí dụ về lời lẽ tùy thuận: Đức Phật chia [căn cơ của chúng sanh] thành năm thừa để thuyết pháp. Đối với phàm phu bèn nói Có, đối với Nhị Thừa bèn nói Không, đối với hàng Đại Thừa nói “chẳng phải Có, chẳng phải Không, Sắc và Không bất nhị”. Các nhà khoa học biết địa cầu tự xoay quanh nó một ṿng là một ngày một đêm, hoàn toàn chẳng phải là mặt trời mọc lên ở phương Đông, lặn mất ở phương Tây, nhưng đối với buổi sáng, họ vẫn nói là “mặt trời mọc ở phương Đông”, đối với buổi chiều cũng nói là “mặt trời lặn ở phương Tây”. Nếu mỗi câu đều nói sự thật, chẳng tùy thuận, hễ mở miệng ra sẽ dấy lên tranh luận, chẳng thể dẫn dụ, d́u dắt người khác được!

 

 * Hỏi: Phật và chúng sanh là một Thể. Một Thể là nói đến điều ǵ? Một Thể phân giải như thế nào? (Thái Vinh Hoa hỏi)

 

          Đáp: Thể là Bổn, Bổn chính là tâm. Giác là Phật, mê là chúng sanh, đều do cái tâm này. Giác và mê tuy khác, tâm chẳng biến đổi. Cái tâm ấy chẳng v́ khi mê mà cấu (nhơ uế, phiền năo) giảm, không do khi giác mà tịnh được tăng. Điều đó gọi là “một Thể”. Kinh nói: “Tâm, Phật, chúng sanh, cả ba chẳng sai biệt”, ư nghĩa chính là như thế đó.

 

          * Hỏi: Phật giáo một mực nhắc tới danh từ “vô thỉ”, nhưng tuy có danh từ Vô Thỉ, chẳng biết dùng vật ǵ để lập thành tướng trạng của vô thỉ? (Đông Cầm hỏi)

 

          Đáp: Một bầu hư không ở trên đầu, xin hỏi cư sĩ cho biết nó khởi đầu từ lúc nào. Hiện thời, nhồi trái banh [cho nẩy lên, rơi xuống], lại xin chỉ ra, đâu là điểm khởi đầu của nó? Quan sát hai điều ấy, [sẽ thấy] chúng đều là tướng vô thỉ.

 

          * Hỏi: Cơ Đốc giáo chủ trương trời đất là do Thượng Đế sáng tạo, nhưng Phật giáo nói là “đă có từ vô thỉ”. Do vậy, phải giải thích rơ ràng [quan điểm của] Phật giáo về sự khởi đầu của trời đất như thế nào? Hai chữ Vô Thỉ được giải thích như thế nào? (Đông Cầm hỏi)

 

          Đáp: Đối với chuyện Cơ Đốc giáo nói trời đất được sáng tạo như thế nào, do cung kính lẫn nhau, nên tránh né, chẳng bàn tới. Nhưng Phật giáo hoàn toàn chẳng nói: “Trời ở trên đầu ta, đất dưới chân ta đă có từ vô thỉ”. Chỉ nói hết thảy những ǵ có tướng, sẽ thành, trụ, hoại, không, tuần hoàn không ngơi! Nói Vô Thỉ chính là nói tới Chân Như bản tánh.

 

          * Hỏi: Giả sử là sau khi đă có trời đất th́ thứ ǵ được tạo lập trước hết? (Đông Cầm hỏi)

         

Đáp: Xét theo Sự, chẳng phải là nhất loạt như nhau. Lư có muôn mối, có khi phát khởi trước, phát khởi sau, mà cũng có khi đồng thời phát khởi. Nếu cứ ắt phải luôn chia thành trước sau, th́ Sự và Lư đều chẳng thật. Phật học gọi điều đó là Pháp Chấp. Triết học Trung Hoa có nói: “Một sanh ra hai, hai sanh ra ba, ba sanh ra vạn vật”. Xin hăy suy nghĩ, một và hai th́ đương nhiên là có trước hay sau. Nói là “hai”, bèn có hai cái một, xin hỏi cái “một” nào có trước, cái “một” nào có sau? Lại dùng vật để làm tỷ dụ, con người có hai mắt, tay, chân, thử hỏi: Sau khi đă kết thành thai, mắt trái hay là mắt phải có trước? Tay và chân đều có mười ngón, lại hỏi ngón nào có trước?

 

* Hỏi: Kể từ sau khi có chư Phật và chúng sanh, vị Phật nào là thỉ tổ tu thành Phật trước hết? Và chúng sanh nào đầu thai trước hết? (Đông Cầm hỏi)

 

Đáp: “Kể từ sau khi có chư Phật và chúng sanh” th́ vị Phật kể từ khi ấy chính là vị đă tu thành Phật trước hết, và chúng sanh kể từ khi ấy cũng là chúng sanh đầu thai trước hết. Đối với danh hiệu Phật, xin hăy tra duyệt bộ kinh Vạn Phật Danh (trong tay tại hạ hiện thời không có kinh này). Nếu kinh không chép th́ tại hạ là người đang sống vào năm Dân Quốc 54 (1965), tự nhiên sẽ chẳng biết chuyện thuộc về trần điểm kiếp trước!

 

* Hỏi: Có phải là trong số chư Phật, Bồ Tát của Phật giáo, chẳng có một vị nào thành Phật đầu tiên trước giáo chủ của Nhất Quán Đạo (Áp Đản Giáo)? Nếu chẳng phải là như vậy, sao các thầy truyền đạo của Nhất Quán Đạo nói đức Phật là giáo chủ của Phật giáo mà c̣n phải tôn giáo chủ của họ làm thầy? Đạo lư là như thế nào? (Đông Cầm hỏi)

         

Đáp: Sự tích và kinh điển của Phật giáo rạng ngời trên thế giới, chói lọi xưa nay. Lịch sử trong nước và ngoại quốc đều ghi chép rất tường tận. Há có phải là nói suông, chẳng có bằng chứng, mù quáng bịa chuyện! Giáo chủ của Áp Đản Giáo[14] là ai, có kinh điển ǵ? Các quốc gia văn minh trên địa cầu đều có lịch sử, sao chẳng thấy nhắc tới hắn một chữ? Nếu cứ mặc t́nh thuận miệng nói xằng, sẽ có thể lừa phỉnh những bà cụ vùng quê! Hợm hĩnh, tự phụ, khoe khoang tự đại[15], thật ra là tiếng rên rỉ phơi bày sự vô minh của họ đó thôi!

 

* Hỏi: Thế giới Cực Lạc có ba mươi sáu vạn ức mười một vạn chín ngàn năm trăm vị đồng danh đồng hiệu A Di Đà Phật. Điều đó có phải là “một vị là chân Phật, c̣n những vị kia đều là hóa Phật” hay không? (Lại Đống Lương hỏi)

 

Đáp: Đấy là pháp phương tiện nơi sự tu tŕ, chẳng phải là cái học thuộc về sách vở khảo cứu. Hễ dính đến phân biệt, loạn tâm liền dấy lên, sẽ đánh mất tông chỉ vốn có, trở thành hư luận. Ông đă có nghi vấn như thế, tôi chẳng thể nào không nói. Thuyết ấy gồm có hai nghĩa:

1) Một, trong mười phương đều có hằng sa cơi Phật, Tây Phương cũng thế. Pháp này (tức là nói “có hơn ba mươi sáu vạn ức vị Phật đồng danh” như trên) chỉ nói Tây Phương, chẳng khẳng định đấy chính là cơi Cực Lạc trong kinh Tiểu Bổn. Xét ra, kinh Tiểu Bổn nói trong ba phương Nam, Bắc và phương trên đều có Phật hiệu là Diệm Kiên, phương Tây lại có Vô Lượng Thọ Phật, tức là cùng tên, nhưng mỗi vị là một vị Phật riêng ngự trong các cơi khác nhau.

2) Hai, ba kinh Tịnh Độ nói rất nhiều về hóa Phật vô số, như trong bài kệ Tán Phật đă xưng tụng: “Quang trung hóa Phật vô số ức”. Ba mươi sáu vạn ức vẫn là một số nhỏ ít, nếu hiểu là nói theo kinh Tiểu Bổn th́ cũng chẳng phải là không được! Lại nữa, hữu tướng là Báo Thân và Hóa Thân, Pháp Thân vô tướng, ba thân có cùng một Thể, có ǵ chẳng phải là thật?

 

* Hỏi: Nếu thật sự có nhiều A Di Đà Phật như vậy, chẳng biết các Ngài có phải là cùng nhân, cùng quả, cùng phát ra bốn mươi tám nguyện rồi tu thành công hay không? Nếu chẳng phải là như vậy, làm sao có thể đồng hiệu cho được! (Lại Đống Lương hỏi)

         

Đáp: Dựa theo kinh Tiểu Bổn để nói, một vị Phật hóa ra nhiều thân, tuy nhiều vẫn là một; [xét theo] nhân quả và nguyện lực, há có thể nói là hai? Nếu là ở trong các cơi khác, tuy chưa thấy kinh văn nói về nhân và quả, có thể là chưa chắc các Ngài đă [có nhân, quả, nguyện lực] hoàn toàn đồng nhất. Chẳng thể cho là danh hiệu đồng nhất th́ mọi sự bèn giống hệt! Những vị có cùng tên trong lịch sử xưa nay chẳng thể kể xiết! Rơ rệt là ông Mạnh Tử người đất Trâu là nam, bà Ngô Mạnh Tử là nữ[16], viên thái giám Mạnh Tử chẳng phải là nam, chẳng phải là nữ. Tên giống nhau mà sự có giống nhau hay chăng?

 

* Hỏi: Nếu là như vậy, trời chẳng có hai mặt trời, dân chẳng có hai vua. Vậy th́ vị nào do tỳ-kheo Pháp Tạng tu thành đấng giáo chủ ở Tây Phương? Hay là mỗi vị đều là giáo chủ? (Lại Đống Lương hỏi)

 

Đáp: Vị Phật trong thế giới Cực Lạc là do ngài Pháp Tạng tu thành, những vị Phật khác chẳng phải! Những vị ở trong các cơi khác sẽ là giáo chủ trong cơi ấy. Trong Cực Lạc, bất luận là Pháp Thân, Báo Thân hay Hóa Thân, [đều là] một Thể, đều là chủ, như ngọc tỷ[17] của đế vương xưa kia đóng dấu vạn trang chiếu chỉ, người nào nhận được, cũng đều tuân theo phụng hành. Cố nhiên là do một cái ấn mà ban hành vạn tờ chiếu, mà cũng là vạn tờ chiếu chỉ đều do một cái ấn in vào.

 

* Hỏi: Có người hỏi: Người trong thế gian này niệm Phật, nơi ao bảy báu trong Tây Phương Cực Lạc thế giới liền sanh một đóa hoa sen, đích xác là có sự thật này hay chăng? Tôi đáp: “Đích xác là do đức Phật nói, chẳng sai”. Nhưng người ấy muốn tôi nêu ra chứng cớ bằng những chuyện có thể cảm nhận được trong hiện tại, tôi không biết giải đáp như thế nào? (Đồng Thụy Châu hỏi)

 

          Đáp: Không có cách nào để chứng minh cho người đó, v́ chuyện này chẳng phải là Hiện Lượng, mà thuộc về Thánh Giáo Lượng, phàm phu chẳng thể hiểu được! Sách chép chuyện núi đồng sụp ở phía Đông, chuông ngân tại Lạc Dương ở phía Tây, khóc trúc bèn nẩy gị măng, nghĩ đến cá chợt suối phun ra[18], không ǵ chẳng phải là những tướng do cảm ứng đạo giao hiện ra. Nếu coi những điều ghi chép trong sách cổ là chẳng thật, xuất phát từ sự bịa đặt, th́ chuyện [các nhà khoa học] phát hiện: Hễ mặt trời có vết đen, luồng sóng điện trên địa cầu liền nẩy sanh biến hóa, máy trắc nghiệm tâm lư vừa mới phát minh có thể phán định lời người ta nói là thật hay giả, cũng không ǵ chẳng phải là một cảm, một ứng đó thôi! Đọc sách nhiều, thấy sự việc rộng răi, tự nhiên sẽ chẳng nghĩ lạc đà là ngựa bị phù lưng!

 

          * Hỏi: Trong kinh, tôi thường thấy câu “từ vô thỉ tới nay”, mỗi chuyện của chúng ta đều có khởi đầu, v́ sao là vô thỉ? (Lâm Diệu Đường hỏi)

 

          Đáp: Khởi đầu của mỗi sự thuộc về một phần nào đó của pháp hữu vi và hiện tướng (tướng hiện ra) trong một giai đoạn nào đó, chẳng phải là theo chiều ngang bèn trọn khắp, theo chiều dọc bèn tột cùng, chẳng phải là khởi thỉ của không gian và thời gian. Kinh Phật nói đến “vô thỉ” phần nhiều là nói đến chân tánh vô vi, chẳng giống bất cứ chuyện nào thuộc về hữu vi. Muốn t́m khởi đầu của một bộ phận và một giai đoạn th́ cũng chẳng thể được!

 

          * Hỏi: Đầu năo, ư, tâm, ba thứ ấy chẳng dễ tách bạch. Phàm là người niệm Phật trong mười hai thời, chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác (tức là “tư vô tà” (思無邪, chẳng nghĩ đến điều tà vạy) của Nho gia), giống như một trang giấy trắng chẳng có mảy may ô nhiễm. Như vậy là đầu óc chẳng nghĩ đến sự việc, hoặc là ư niệm thanh tịnh, hay là tác dụng của cái tâm bất động? (Châu Tinh Nguyên hỏi)

 

          Đáp: Phật nói “tâm ư”, đó chính là nói đến tinh linh hư thể vô h́nh; đầu năo là một bộ máy vật chất, hai đằng khác nhau, chẳng có cách nào nhiếp hợp. Nếu nói “chẳng dễ tách ĺa” th́ hết sức chẳng phải là như thế! Như máy móc và điện lực rơ ràng là hai chuyện, [nhưng] chẳng có điện lực, máy móc làm sao hoạt động? “Tư vô tà” chính là lời tán thán tông chỉ của kinh Thi gồm ba trăm bài thơ, chẳng phải là nói đến tâm. Hai câu “chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác” trong công phu nhà Thiền là nói đến chuyện tĩnh lự vô niệm. Cả hai điều này đều thuộc loại vô thưởng vô phạt [đối với công phu niệm Phật], chẳng có liên quan chi hết! Lại nữa, quư cư sĩ học Phật, hăy nên bắt tay vào việc xem sách Phật. Nếu không, sai lầm bằng hào ly, lầm lạc ngàn dặm!

 

* Hỏi: Bạn tôi là ông X… hỏi: Sanh tử luân hồi là chuyện xa xôi, mờ mịt, có ǵ để chứng tỏ hay không? (Vương Chí Hiền hỏi)

 

          Đáp: Chuyện chưa thể đích thân thấy nghe rất nhiều, không chỉ là chuyện thuộc về luân hồi. Tri thức của mỗi cá nhân hữu hạn; do sức ḿnh chẳng thể đạt đến, bèn bảo là chẳng có, th́ chẳng khác con trùng mùa Hạ chẳng tin có tuyết, kẻ mù chẳng tin có tinh tú! Có điều ǵ không biết th́ hoặc từ học lư mà t́m ṭi, hoặc t́m chứng cớ trong kinh sử để tin tưởng, hoặc vâng theo lời dạy của thánh nhân bèn chẳng nghi ngờ. Học lư nói: “Năng lực bất diệt”, thần thức chính là năng lực. Bất diệt bèn có chỗ nương gởi, bỏ chỗ này, ắt nương vào chỗ kia. Đó là một chứng cớ. Kinh sử th́ như kinh Dịch nói: “Du hồn vi biến” (Cái hồn bềnh bồng biến hóa). Phần Truyện [của kinh Dịch] có câu: “Quỷ do cầu thực” (Quỷ c̣n cầu cái ăn). Sử th́ [những chuyện] như Bành Sanh làm heo, Như Ư làm chó[19] v.v… chẳng thể kể trọn! Đó là chứng cớ thứ hai. Thánh ngôn th́ như Khổng Tử nói đến “trời”, nói đến “quỷ thần”, rất nhiều điều như thế. Đó là chứng cớ thứ ba. Sách thế gian c̣n là như vậy, kinh Phật càng ghi chép rơ ràng, minh bạch hơn! Nếu mạt sát hết thảy, cứ ắt phải cầu đích thân mắt thấy tai nghe, thử hỏi: Ông bạn X… ấy hai mươi năm trước c̣n mang thân tướng của một đứa bé con, nhưng tôi chưa thấy cho nên khó tin được, hăy xin ông ta lấy thân tướng đứa bé con ra làm chứng. Hoặc là ông bạn X… ấy đêm từng nằm mộng, cũng xin hăy ĺa khỏi ba điều trên đây (học lư, kinh sử và lời lẽ của thánh nhân) để nêu ra chứng cớ!

 

          * Hỏi: Tôi vừa đọc quư tạp chí số một trăm năm mươi, có đăng tải câu hỏi trong phần Phật Học Vấn Đáp về chuyện nuôi chim. Lời đáp là không thể nuôi v.v… Bỉ nhân cũng muốn làm nghề ấy, nhưng cho đến nay, vẫn chẳng dám vội vàng thực hiện. Nay tôi có một vài ư kiến quê kệch như sau: Nếu bảo là chim bị nhốt trong lồng, đánh mất tự do, nhưng nó sanh ra ở đấy, chết ở đấy, dường như cũng chẳng tổn hại cho lắm. Nếu là chim do bắt được từ bẫy rập ngoài thiên nhiên th́ chẳng luận định giống như vậy được! C̣n như [các loài động vật] được thả trong vườn phóng sanh hoặc ao phóng sanh, (v́ sao không thả chúng vào các nơi trời cao biển rộng), có phải là cũng có tội ngang ngửa hay chăng? Giải thích như thế có thích đáng hay không? (Trịnh Mạc Thúy Quỳnh hỏi)

 

          Đáp: Những con vật được nuôi trong vườn phóng sanh phần nhiều là đang chờ người cắt mổ, nấu nướng. Do cái tâm cứu sống, bèn chuộc lấy cho chúng được sống. So với chuyện v́ mưu lợi mà giam cầm chúng nó, làm sao có thể đánh đồng tánh chất cho được? Hơn nữa, [thiết lập] vườn hay ao phóng sanh, là v́ không có chỗ có nước gần đó, hoặc là do mực nước nông cạn, chẳng tiện đem thả các loài cá, sợ chúng lại bị bắt nữa, thật sự là v́ bất đắc dĩ mà tạm làm như vậy, chẳng phải là cố ư giam cầm chúng. Những loài gà, vịt, lợn, dê v.v… đều thuộc loại gia súc, thử nghĩ xem: Nếu thả chúng th́ phải thả ở chỗ nào? Chỉ có nhốt tại đó, chờ cho chúng nó hết tuổi thọ. Chim có thể bay cao, trốn xa, cho nên trong vườn phóng sanh, chưa hề thấy nhốt chim. Phàm đối với mọi việc, phải cầu nơi lư, lư cầu nơi tâm, chân tướng rạng ngời, chẳng phải là có thể tranh biện suông ngoài miệng!

 

          * Hỏi: Có thể thành Phật đạo quả hay không? Một mai học Phật, dốc hết sức lực cả đời, bỏ danh lợi, phú quư, dẫu tu thành công th́ có lợi ích ǵ? (Vương Chí Hiền hỏi)

 

          Đáp: Thích Ca, Di Đà, hằng sa chư Phật, chẳng tu mà thành là do trời sanh ư? Hay là tu chẳng thành? Người trước đă thành, lẽ đâu người sau chẳng thành? Nếu hỏi đến chỗ lợi ích th́ nhân là “phá mê, khai ngộ”, quả là “ĺa khổ, được vui”. Ngộ th́ ngôn hạnh, cử chỉ có chuẩn mực. Mê th́ sống say, chết mộng, điên đảo, lầm loạn. Lạc là thường, lạc, ngă, tịnh, thần thông tự tại, khổ th́ sanh, lăo, bệnh, tử, lục đạo luân hồi. Hễ nói [chi tiết] sẽ là chẳng có ngằn hạn, tôi tin là cần phải đọc nhiều sách để sau khi đă khai phát trí huệ th́ mới thấu hiểu được!

 

          * Hỏi: Tệ nhân cho rằng các thuyết “nhân quả báo ứng”, “nghiệp lực lôi kéo” và “tam thế” trong Phật giáo nếu xét về phía những kẻ thế tục như chúng ta mà nói th́ đúng là có hại to lớn hơn là có ích! V́ sao đời trước làm ác, đă chịu khổ trong địa ngục, cớ ǵ đời này vẫn phải chịu những quả báo đă “định sẵn” như nghèo khổ, chiến tranh, oán cừu, mất mát trong luyến ái v.v…? Do vậy, những chuyện ấy đúng là khiến cho những kẻ nỗ lực làm lành mà vẫn chẳng thể thay đổi ách vận, sanh ḷng thoái chuyển, hối hận. Lại c̣n xen lẫn tiêu chuẩn “tạo một phần thiện nhân, được một phần thiện quả”, khiến cho kẻ b́nh phàm thường nghĩ “làm người lành, chẳng nhất định đều có quả báo tốt”. Gây rối quan niệm đúng sai, chúng ta cũng thường thấy có những trường hợp, như cuộc đại thảm sát ở Nam Kinh[20], hoặc “Dương Châu thập nhật”[21]. Chẳng lẽ những người bị giết đều là kẻ làm ác (trong số ấy có rất nhiều trẻ con). Chúng ta cũng lại thường thấy người nào đó chỉ làm chuyện thiện lương, bỗng gặp tai họa ngang trái v.v… khiến cho kẻ khác ngơ ngác! (Thái Tổ Thiên hỏi)

 

          Đáp: Câu hỏi lần này có bốn tầng ư nghĩa, xin tách ra để đáp.

1) Tiên sinh tự thừa nhận là người ngoài đời, đương nhiên là có lắm nỗi hiểu lầm. Những thuyết “nhân quả báo ứng”, “nghiệp lực dẫn dắt”, “ba đời” chính là các hiện tượng nhân duyên tụ tán nhất định của vạn hữu trong vũ trụ, chẳng phải là bất luận do kẻ nào tạo ra, lại càng chẳng phải do Phật tạo ra. Bất quá, kẻ khác chẳng nói tường tận, c̣n Phật giáo quan sát rơ ràng mà thôi. Nếu có ai cho là tai hại, hay hữu ích, nói khách sáo sẽ là “người nhân thấy là nhân, người trí thấy là trí”, mỗi người [nhận thấy] khác nhau. Nói lời chân thật, sẽ đều là mê hoặc, lầm loạn, nhận thức chẳng rơ ràng, buông lời điên đảo đó thôi, chẳng dính dáng ǵ đến Phật!

2) Tiên sinh nói tới những quả báo phải chịu trong đời này, đối với chuyện “mất mát trong luyến ái” là nói tới sự tan vỡ trong t́nh vợ chồng? Hay là sự thất t́nh trong tà dâm? Ư nghĩa lời hỏi chẳng rơ ràng, nên tôi loại ra, chẳng bàn tới. Xin nói về những điều khác. Nay tôi hỏi ngược lại, Xuân ấm, Hạ nóng, Thu mát, Đông lạnh, ai nấy đều biết. Theo nông lịch (âm lịch), tháng Tư, Năm, Sáu là Hạ, tháng Mười, Mười Một, Mười Hai là Đông. Tới tháng Bảy mùa Thu, trời phải nên mát mẻ, v́ sao vẫn nóng nực? Tới tháng Giêng mùa Xuân, trời lẽ ra phải ấm áp, cớ sao vẫn lạnh? Hai giờ chiều ban ngày là lúc nóng nhất, v́ sao chẳng phải là buổi sáng? Ban đêm, lúc hai giờ đêm lạnh nhất, v́ sao chẳng phải là trước giờ Tư? Nếu tiên sinh chẳng thể giải thích, tôi lại đặt ra một câu hỏi khác: Kẻ bị pháp luật phạt tù vài năm, do hối cải được phóng thích, v́ sao vẫn bị tước đoạt quyền công dân mấy năm? Há chẳng phải là khiến cho người đă hối cải sanh ḷng oán hận ư? Hiểu rơ điều này, sẽ biết điều những điều kia!

3) Theo phong tục Trung Hoa, hiếu đứng đầu các điều thiện. Nếu đứa con có hiếu trộm cắp, pháp luật có thể v́ kẻ ấy có hiếu mà chẳng xử tội trộm cắp hay sao? Thiện quy về thiện báo, ác quy về ác báo, chuyện nào quy về chuyện nấy, mới gọi là chẳng rối loạn, có tiêu chuẩn.

4) Cần phải quán khắp hạnh trong ba đời và sức lôi kéo của nghiệp lực. Hạnh có chân, ngụy, sức có mạnh, yếu, t́nh thế hết sức phức tạp, nhưng chẳng sai sót mảy may. Nếu nói với tiên sinh, [ắt là nói suốt] mười ngày khó hết được. Nay dùng lời của bậc thánh nhân trong thế gian để giải đáp. Kinh Thư có các giáo huấn “tích thiện, tích ác, dư khánh, dư ương”, xin hăy nghiềm ngẫm kỹ hai chữ Tích (tích lũy) và Dư (thừa sót). Lại tham cứu lư nóng lạnh trong bốn mùa, chắc là có thể ngộ được!

 

* Hỏi: Lại nữa, có phải là Phật giáo chưởng quản toàn thế giới hay không? Nếu là như vậy, vậy th́ có phải là ở nước Nga, tại Nhật Bản, hoặc những nước khác, có những kẻ cừu hận chúng ta. Nếu là như vậy, một ngày nào đó, nhất định sẽ phát sanh chiến tranh. Nếu binh sĩ của họ giết đồng bào của chúng ta (giả sử là có oán cừu với những binh sĩ đó), có phải là cứ trơ mắt nh́n, mặc cho họ giết chóc, hay là sẽ cứu vớt? Như vậy há chẳng phải là khiến cho người ta có quan niệm “vô tổ quốc, vô đồng bào” đó chăng? (Thái Tổ Thiên hỏi)

 

Đáp: Ông nói rơ “cừu nhân” là người nước khác đến giết đồng bào ta, hai câu này vẫn c̣n có thể đọc và hiểu được. Kế đó, chợt nói “mặc t́nh cho họ giết, hay là cứu vớt”. Tiếp đó, nói: “Như thế th́ há chẳng phải khiến cho người ta có quan niệm vô tổ quốc, vô đồng bào”, có phải là tiên sinh nói “để mặc cho họ giết, sẽ khiến cho người ta có quan niệm vô tổ quốc, vô đồng bào”? Hay là nói “tiến ra cứu giúp tức là có quan niệm vô tổ quốc, vô đồng bào” vậy? Lời lẽ lẫn lộn, chẳng tách bạch, tôi chẳng thể đáp bừa được! Nhưng vừa mở đầu câu hỏi này bèn chất vấn “Phật giáo có phải là chưởng quản toàn thế giới hay không?” Không ǵ chẳng phải là tiên sinh cho rằng kẻ sát nhân, kẻ mắt thấy sát nhân, hoặc là kẻ cứu người đều là do Phật thao túng ư? Nếu đúng là ư ấy, chẳng khác nào [lư luận] vùng núi trong sao Diêm Vương (Pluto) phát sanh lũ lụt là do những kẻ ôm ḷng oán hận ở Đài Trung nhảy mũi gây nên, chưa khỏi là lời lẽ quá mức hoạt kê vậy!

 

* Hỏi: Phật giáo nói quyến thuộc tụ hội, bạn bèn chơi với nhau của mỗi người, đều là do báo ân hay báo cừu. Vậy th́ do Tướng Mạng Học, chúng ta sẽ biết cá nhân ḿnh cùng với cha mẹ, hoặc anh em trai, hoặc chị em gái trong gia đ́nh, đă định sẵn là báo đền oán cừu. Há chẳng phải là đáng buồn ư? Há chẳng phải là trái nghịch đạo hiếu đễ của Nho gia ư? V́ thế, tôi cho rằng các thuyết “nhân quả báo ứng, nghiệp lực dắt dẫn, ba đời” thật sự gây hại cho người khác chẳng cạn! V́ sao chẳng ở trong địa ngục chịu khổ trọn hết là đă xong xuôi? Nếu chỉ có một đời này, chẳng có đời quá khứ, chẳng có đời vị lai, mọi người chỉ giữ đạo và lời dạy của tiên vương, gieo một hạt đậu bèn được một hạt đậu, trồng một gốc dưa bèn được một gốc dưa, chẳng có mảy may lừa dối, há chẳng phải là rất tốt ư? V́ thế, tôi hối hận sâu xa là đă biết một chút Phật học (cũng có thể là tôi học không đủ, nhưng đă chẳng dám tiến thêm bước nữa). (Thái Tổ Thiên hỏi)

 

          Đáp: Câu hỏi này cũng chia thành từng đoạn để trả lời.

1) Tiên sinh đă nói “quyến thuộc đều là ân, cừu” chính là chủ trương của Phật giáo, lại nói do tướng mạng mà biết. Rốt cuộc là trong hai đằng, ai chịu trách nhiệm nói năng? Lại nói “do là báo cừu, há chẳng phải là đáng buồn ư?” Trước đó đă nói ân và cừu, nay v́ sao lại gạt bỏ chữ Ân? Biết trước là oán cừu, cố nhiên là đáng buồn; biết trước là báo ân, há chẳng đáng vui ư? Hai chữ “định sẵn” không biết là nói đằng nào định sẵn? Hay là lại đổ thừa đức Phật đă định sẵn vậy? Ông bỗng dưng nói: “Trái nghịch đạo hiếu đễ của Nho gia”, đức Phật dạy người ta giết cha, giết anh ư? Nếu chẳng có chuyện đó th́ là trái nghịch chuyện ǵ thế?

2) Nhắc lại “nhân quả báo ứng, nghiệp lực dắt dẫn, ba đời thật sự hại người chẳng cạn”, tiên sinh đă dẫn thuyết của Nho gia, tự nhiên là tinh thông sách Nho. Thử hỏi: “Tác thiện giáng chi bách tường, tác bất thiện giáng chi bách ương” (Làm lành, trăm điều lành giáng xuống; làm điều bất thiện, trăm nỗi tai ương giáng xuống), có nói mâu thuẫn với nhân quả hay chăng? “Tự tác nghiệt, bất khả hoán” (Tự làm bậy, chẳng thể trốn lánh) có phải là nói trái nghịch với “nghiệp dẫn dắt” hay không? “Cầu đảo nơi núi Ni” mà sanh ra Khổng Tử. “Du hồn vi biến” (Cái hồn bềnh bồng biến hóa), “công tử Bành Sanh biến thành lợn” có nói trái nghịch với ba đời hay không? Ở đây, bất quá tôi nêu đại lược một phần [trong sách Nho] đó thôi!

3) Tiên sinh chỉ thích có một đời, chẳng cần đến quá khứ, vị lai, chỉ là ưa thích suông, chẳng phù hợp sự thật. Hai mươi bốn bộ sử của Nho gia đă ghi chép đời trước, đời sau nhiều lắm. Khoa học hiện thời lại nói năng lực bất diệt! Tiên sinh tin Nho, cho là Phật trái nghịch Nho, lại tự nguyện thọ tội trong địa ngục là xong! Thử hỏi: Đă chẳng tin vào tương lai, lấy ai đọa địa ngục? Há chẳng phải là ăn nói tự mâu thuẫn?

4) “Giữ đạo của tiên vương và lời tiên vương nói như vậy”, “gieo một hạt đậu được một đậu”, “gieo một gốc dưa được một gốc dưa, chẳng sai sót mảy may”, xin hỏi các tỷ dụ gieo đậu, trồng dưa là do vị tiên vương nào đă nói, xin hăy tra cứu cặn kẽ để bảo ban cho rơ ràng!

5) “Hối hận sâu xa v́ đă biết Phật học”, “tôi đă không thể tiến thêm bước nữa”. Chuyện này giống như uống nước, nghe nói trong nước có trùng, ăn rau nghe nói có thuốc trừ sâu, bỗng sanh ḷng hối hận, liền nghĩ sau này chẳng nghe nói tới đạo vệ sinh nữa!

 

* Hỏi: Lần trước tệ nhân thưa hỏi mấy điều, v́ sao trong mục Phật Học Vấn Đáp lại đăng tên cha tôi là Thái Sùng Kỳ vậy? Có phải là hoài nghi chữ viết của tệ nhân chăng? Hay là do tệ nhân tuổi c̣n trẻ, chẳng đáng dự vào chuyện thưa hỏi? (Thái Tổ Thiên hỏi)

 

Đáp: Điều này lại càng kỳ lạ! Tại hạ và tiên sinh chưa từng gặp gỡ! Tiên sinh là người như thế nào, tôi c̣n chưa biết rơ tên họ, làm sao có thể biết đại danh của lệnh tôn? Tại hạ đă chẳng lắm chuyện điều tra, mà quả thật cũng chẳng có thần thông, thay đổi tên gọi, chắc chắn chẳng phải là do Phật làm! Vẫn xin ông hăy tự tra, xin đừng trách móc [chúng tôi] lầm lẫn!

 

          * Hỏi: Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh có bốn câu: “Không chẳng khác Sắc, Sắc chẳng khác Không, Không chính là Sắc, Sắc chính là Không”. Không và Sắc rơ ràng là hai chuyện, sao lại nói là “chẳng khác”. Nghĩ kỹ hai chữ “chẳng khác” có thể là mang ư nghĩa tương tự th́ c̣n có thể nghĩ đại khái như thế. Kế đó lại nói “chính là”, tức là lời lẽ khẳng định, khó thể liễu giải. Hy vọng cụ có thể dùng phương pháp khoa học để nói rơ. (Học giả X... ở Mỹ hỏi)

 

          Đáp: Sự có lớp lang, Lư đúng như thật. Đó là khoa học. Đối với văn tự trong kinh Phật, c̣n chia thành khoa phán, lư luận phân tích chi ly mọi lẽ, bản thân Phật pháp đă mang tánh chất khoa học. Chẳng cần phải gọt chân cho vừa giày, khiên cưỡng thêm thắt, đâm ra là “lấy rương, trả châu”. Nay tôi sẽ tách ra thành bốn điều để đáp.

1) Một, “Sắc chẳng khác Không”: Mắt có thể thấy sắc thể, cái nhỏ nhất là như hạt bụi trên lông con thỏ (Thố Mao Trần, Śaśa-raja), cũng là do các vi trần hợp thành. Nếu từ trên, dưới, bốn phía và trung gian, tách ra thành bảy phần, [th́ một phần ấy] được gọi là Thủy Trần (Ap-raja), ư nói là có thể lẫn vào trong nước. Lại chia [hạt bụi đó] thành bảy phần, th́ gọi là Kim Trần (Loha-raja), ư nói có thể lọt vào trong các thứ bằng kim loại. Lại chia thành bảy phần, gọi là Cực Vi (Aṇu), c̣n gọi là Lân Hư, Hư () là rỗng không. Lại chia thành bảy phần gọi là Cực Vi Chi Vi (Paramāṇu), vừa chẳng thấy được, vừa không thể chia nhỏ hơn nữa. Chia đến tột cùng th́ thành Không. Sắc đă là tích tụ, nên vốn chẳng có thật thể. V́ thế nói là “Sắc chẳng khác Không”.

2) Hai là “Không chẳng khác Sắc”: Cực Vi Chi Vi rỗng không, chẳng thể thấy, nên có thể gọi là Không, nhưng Cực Vi Chi Vi có tướng Không nếu dấy động tụ tập, lại có thể từ Cực Vi lần lượt hợp thành Kim Trần, Thủy Trần, Thố Mao Trần, đấy chính là Không có thể huyễn biến tướng, nên nói là “Không chẳng khác Sắc”. Tổng kết, khi xét soi Sắc bèn thấy được Không, chẳng cần phải là lúc chia chẻ [mới thấy được]. Ngược lại, khi xét soi Không bèn thấy Sắc, chẳng cần phải là tích tụ [mới nhận biết]. Đó là giải thích theo Tục Đế.

3) Ba, “Sắc chính là Không”: Tánh vốn là Không, do vô minh mà khởi lên ba tế tướng. Một là do động bèn thành Nghiệp Tướng, hai là Năng Kiến Tướng, ba là Cảnh Giới Tướng. Giác tánh là Không, cảnh tướng là Sắc, nhưng cảnh sắc thật sự là tánh Không vọng huyễn. V́ thế, “Sắc chính là Không”.

4) Bốn, “Không chính là Sắc”: Chân Như tùy duyên bất biến, có thể thuận theo vô minh, dấy lên vọng pháp (pháp hư vọng) trong chín pháp giới. Lại như gương sáng có thể hiện muôn h́nh tượng, nhưng vạn pháp chẳng phải là do từ bên ngoài mà có, do Chân Không mà có Diệu Hữu. V́ thế nói “Không chính là Sắc”. Tổng kết, đây là dùng Chân Đế để giải thích.

Tức là bốn câu ấy chuyên dùng để chú giải hai pháp sắc và tâm trong Ngũ Uẩn. Người giải thích những câu này thật nhiều, bất quá là theo một cách mà thôi!

 

          * Hỏi: Chữ Ngă trong câu đầu tiên của các bộ kinh sách nhà Phật, tức câu “như thị ngă văn”, nhằm chỉ tôn giả A Nan. Nhưng lấy kinh Hoa Nghiêm để nói, kinh ấy chính là do trong ṿng sáu mươi ngày sau khi đức Phật thành đạo, Ngài bèn đối trước hàng Pháp Thân đại sĩ giảng giải. Lúc đó, ngài A Nan c̣n chưa xuất gia, huống hồ là đă dự vào địa vị Pháp Thân ư? Chữ Ngă trong kinh ấy có phải vẫn là nói đến tôn giả A Nan, hay là nói đến một vị nào khác? Xin hăy khai thị. (Hồ Chánh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Ngài A Nan lúc mới làm thị giả của đức Phật, đă có mấy điều thỉnh cầu. Trong ấy, có một điều là đối với những kinh đức Phật đă nói trước đó, xin hăy thuật lại [cho tôn giả được nghe]. V́ thế, kinh Hoa Nghiêm tuy nói trước khi ngài A Nan xuất gia, nhưng do có nhân duyên [thỉnh cầu trùng tuyên] ấy, vẫn có thể bảo là “như thị ngă văn”. Chuyện này trong kinh có chép, nhưng nhất thời tôi quên mất là phát xuất từ chỗ nào.

 

          * Hỏi: Nghe nói Thiện Đạo đại sư rớt xuống vách đá mà chết. Nếu đúng là như vậy, Ngài có thể sanh về Tây Phương hay không? (Lư Định Siêu hỏi)

 

          Đáp: Đấy chính là đại sư thị hiện tướng khác biệt. Kẻ chẳng hiểu giáo nghĩa, sẽ chẳng biết nguyên do. Đại sư đă chẳng phải là chết ngang trái giống như phàm phu, cần ǵ phải đa nghi!

 

          * Hỏi: Có một người b́nh thời niệm Phật, niệm đạt đến mức chánh niệm, trước kia đă từng phát nguyện văng sanh. Nhưng có một lần, khi ông ta đến ngă tư đường, người đă đông, xe cộ lại nhiều, chợt trong một sát-na căng thẳng, rất đáng tiếc, đă đánh mất chánh niệm trong một sát-na ấy. Nếu chẳng may, ông ta chết trong lúc ấy, xin hỏi là người ấy có thể văng sanh hay không? (Thái Lân Định hỏi)

 

          Đáp: Khi gặp nguy hiểm, lúc tột cùng căng thẳng, người công phu giỏi càng đề khởi chánh niệm, dẫu gặp chuyện bất hạnh vẫn có thể văng sanh. Thật ra, người công phu tiến bộ, tội sẽ diệt, nên chẳng dễ ǵ gặp tai họa ngang trái! Đối với chuyện ông vừa hỏi, chánh niệm đă mất, nếu vẫn chưa xả thọ th́ có lẽ c̣n có cách. Nếu xả thọ khi ấy, chẳng có hy vọng văng sanh!

 

          * Hỏi: Thích Ca Mâu Ni Phật lên cơi trời Đao Lợi để thuyết pháp cho mẹ, có mang theo một ngàn hai trăm năm mươi vị đại đệ tử hay không? (Trương Tán Độ hỏi)

         

          Đáp: Tra duyệt kinh Địa Tạng Bổn Nguyện, chẳng thấy chép chuyện này. Chẳng biết dịch ư như thế nào; v́ thế, khiến cho người ta sanh nghi. Các vị giảng giải phần nhiều chẳng nói tới chuyện này, là v́ chẳng đa sự [bỏ công biện bác những chuyện không quan trọng] ở ngoài chánh văn. Xét theo kinh Tăng Nhất A Hàm ghi chép lời Đế Thích nói: “Chư Phật đều thăng lên trời Đao Lợi v́ mẹ thuyết pháp, Như Lai cũng nên v́ thánh mẫu thuyết pháp”. Do vậy, đức Như Lai và một ngàn vị tỳ-kheo ở nước An Đạt La, bên thành Khúc Nữ, thăng lên trời Đao Lợi, v́ mẹ thuyết pháp ḥng báo ân sanh thành. Kinh A Hàm tuy có chép như vậy, nhưng nói là một ngàn vị tỳ-kheo. Có phải những vị đó chính là một ngàn hai trăm năm mươi vị thuộc nhóm Tam Ca Diếp[22] hay không? Số lượng tuy hơi khác, nhưng những điều tương tự như vậy có thể dùng để tham khảo.

 

* Hỏi: Khi thảo luận về sự tồn tại của bản tánh, thầy từng nêu thí dụ “như xe chạy bằng xăng”, lại nêu một sự để chứng minh: “Như người khi chết, thân xác tuy vẫn c̣n, nhưng chẳng c̣n có hành vi của người sống” nhằm minh xác có bản tánh tồn tại. Tuy vậy, học tṛ cho rằng: Người đă chết, ắt là có cơ năng của bộ phận nào đó trên thân thể bị tổn hoại, như xe găy trục ắt cũng chẳng thể chạy được, chưa chắc đă là v́ không có xăng mà chẳng thể chạy! V́ thế, hoàn toàn chẳng thể tuyệt đối chứng minh sự tồn tại của bản tánh. Hay là trước hết ắt cũng phải miễn cưỡng tin chuyện này ư? (Dương Côn Sanh hỏi)

 

Đáp: Thí dụ bất quá nêu ra đại lược phảng phất, chẳng thể nào hoàn toàn phù hợp khít khao được. Chỉ là thấy khói bèn biết là lửa, thấy sương bèn biết băng mà thôi. Trước đây, tôi đă nêu tỷ dụ xăng thúc đẩy xe chạy, lời lẽ đơn giản, ư trọn đủ. Nếu nói tỉ mỉ th́ thật sự chẳng phải là do xăng có thể đẩy xe chạy, mà là do hơi xăng vận hành. Nếu một bộ phận nào trên xe bị hỏng hóc, hơi xăng sẽ chẳng thể phát sanh [tác dụng thúc đẩy xe chạy]. Nếu bộ phận trọng yếu nào đó trên thân người bị hư hoại, hơi ấm và thần thức cũng chẳng thể nương gá [xác thân ấy]. Nhưng xe đă hư, cố nhiên là xe bất động. Máy móc của xe hoàn chỉnh (không hỏng hóc ǵ) mà chẳng có hơi xăng thúc đẩy, làm sao chuyển động được! Ví như các chi thể của người ta tuy toàn vẹn, nhưng chẳng có thần thức và hơi ấm, cũng chẳng thể sống sót. Sự việc phải nh́n theo toàn bộ, chớ nên chấp trước một bề!

 

* Hỏi: Thầy nói: “Nghiên cứu Phật học th́ trước hết cần phải tăng cường tín tâm, sau đấy mới có thể hiểu. Nếu mong hiểu trước rồi sau đó mới tin th́ sẽ vĩnh viễn chẳng có [ḷng tin]. Khi đă có Tín, do công phu nơi Giải, sẽ khai Nhất Thiết Trí, Đạo Chủng Trí, Nhất Thiết Chủng Trí”. Cố nhiên câu này chẳng sai, nhưng học tṛ nghĩ: Trước khi hiểu một loại học vấn nào, mà cứ ép ḷng tin tưởng, sẽ chẳng có cách nào dùng thái độ khách quan để nghiên cứu nó, dễ bị hăm trong khuôn khổ “phục tùng quyền uy”! Do vậy, đối với Phật học, hăy nên trước hết là dùng thái độ khách quan để cầu liễu giải, sau đó mới tin. Nếu không, ḷng tin sẽ chẳng có ư nghĩa chi cả! Xin thầy hăy dạy bảo những điều [thắc mắc] trên đây! (Hoàng Tuấn Kiệt hỏi)

 

          Đáp: Tín có tinh, thô, Giải có sâu, cạn. Trước hết đă tin, đó chính là Thô Tín, kế đó là Giải, tức khởi sự nghiên cứu. Phàm đối với hết thảy sự vật, nếu chẳng có mảy may tin tưởng, làm sao nghiên cứu cho được? Đă chịu nghiên cứu, ắt phải có mấy phần tín tâm. Lấy chuyện học vấn để tỷ dụ, thấy bút bèn tin là có thể dùng bút để viết chữ, bèn bắt đầu cầm bút tập luyện [viết chữ]. Thấy chữ cái bèn tin là có thể biền âm[23], bèn bắt đầu luyện tập đọc. Thoạt trông thấy bút, hoặc trông thấy chữ cái, tin là có thể viết, có thể tách âm, tức là tin vào Sự, chẳng phải là tin vào Lư. V́ thế, nói là Thô Tín. Người mới học Phật, tin Phật lư tinh tường, sâu xa, là chuyện chẳng dối gạt người khác mà thôi, chẳng phải là phục tùng quyền uy. “Phục tùng” [trong học Phật] chính là phụng tŕ, chính là chuyện sau khi đă hiểu sâu, ḷng tin tinh tường!

 

          * Hỏi: Con người dùng tư tưởng tạo ra vạn vật, nhưng tư tưởng của con người là tự có hay sao? Nói cách khác, có phải là con người tự có Phật Tánh hay không? Hay là nó được tạo ra? Hay là do một phương pháp nào khác mà có? (Du Tường Châu hỏi)

 

          Đáp: Tư tưởng và Phật Tánh thuần là hai sự kiện. Tư tưởng chính là vọng niệm, chẳng phải là do nhân duyên sanh, cũng chẳng phải là tự nhiên mà có, chắc chắn là chẳng chân thật, nó dường như là có, mà thật ra là không. Phật Tánh th́ pháp vốn là như thế (pháp nhĩ như thị), cũng chẳng phải do nhân duyên sanh, chẳng phải là tự nhiên có, chân không bất không, dường như chẳng có, mà thật sự là có.

 

          * Hỏi: Trong kinh Tam Thế Nhân Quả có nói: “Kim sanh thổ huyết vị hà nhân, tiền thế ngật nhục khứ niệm kinh” (Đời này hộc máu do nhân nào? Đời trước ăn thịt rồi niệm kinh). Nếu là như vậy, người ăn thịt đều chẳng thể niệm kinh ư? Nếu không [cứ ăn thịt và niệm kinh], đời sau ắt sẽ mắc quả báo thổ huyết ư? (Ngô Minh An hỏi)

         

Đáp: Tụng kinh ắt phải thành kính th́ mới có công đức. Kẻ ăn thịt chẳng thanh khiết, chẳng từ bi, ắt là chẳng thành kính, công đức ít ỏi. Nhưng toàn thể tấm ḷng vẫn là hướng thiện, chẳng thể hoàn toàn vứt bỏ. Nếu do tập khí mà chẳng thể ăn chay, hăy nên ăn ba thứ tịnh nhục, đấy cũng là phương tiện, sẽ sanh ra công đức. Nhưng Tam Thế Nhân Quả Kinh là sách ngụy tạo, hoàn toàn chẳng phải là kinh Phật, chớ nên tín phụng!

 

* Hỏi: Trong Phật Thuyết Thọ Sanh Kinh có nói: Chúng sanh trong cơi Nam Diêm Phù Đề, khi sắp chuyển sanh (đầu thai), đều mượn từ minh ty  chẳng ít tiền Thọ Sanh, đời này ắt cần phải đền trả. Nếu không, sẽ đọa nhập tam đồ, có đúng hay không? Nếu chuyện ấy là thật, cách đền trả là như thế nào, học nhân không biết, xin hăy khai thị! (Ngô Minh An hỏi)

         

          Đáp: Thọ Sanh Kinh cũng là sách ngụy tạo, càng chẳng đáng tin! Chuyện mượn tiền minh ty nói trong ấy chẳng có mảy may đạo lư nào! Đó đều là hành vi của những kẻ hiếu sự mượn chuyện này để gạt gẫm tiền bạc! Nếu quư cư sĩ muốn niệm kinh, hăy niệm A Di Đà Kinh và Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm, lại niệm nhiều thánh hiệu A Di Đà Phật, sau này sẽ có thể sanh về thế giới Cực Lạc.

 

          * Hỏi: Có người nói: “Người đời phần nhiều tán tâm niệm Phật”, nhưng cũng may là tán tâm niệm Phật. Nếu không, đi cũng là Di Đà, ngồi cũng là Di Đà, ngủ cũng là Di Đà; đấy chẳng phải là gần như kẻ bị thần kinh thác loạn ư? Thử coi kẻ nhớ con thành cuồng trong cơi đời chính là do một ḷng nghĩ đến con mà ra! Niệm Phật đến nỗi bị ma dựa, lư này cũng giống như thế! Há chẳng phải là do chủng tử trong tám thức điền dấy động, chẳng thể giằn ép đó ư? Không chừng thuyết ấy là do Ba Tuần nói đó chăng? (Lư Liên Giai hỏi)

 

          Đáp: Kẻ chẳng học Phật, hoặc không phải là Phật giáo đồ, bèn có cách suy nghĩ như thế ấy, vốn chẳng có ǵ là lạ! Nếu là người thuộc Phật giáo mà thốt lời ấy, chính là tà kiến, đúng là ma Ba Tuần nói vậy! Dùng Tu Đức để luận định, chỉ có Giới, Định, Huệ là tột cùng, do Định mà đạt. Ắt phải ngưng dứt vọng niệm tán loạn th́ mới có thể đắc Định. Chỉ th́ ắt phải nương vào Quán. Chỉ là Tịch, Quán là Chiếu, Tịch Chiếu cùng dung hội, bèn đắc Chánh Định. Đi, đứng, ngồi, nằm, niệm luôn chuyên nhất; đó là Chỉ. Buộc tâm nơi thánh hiệu Di Đà là Quán. Như nước trong lặng bèn có thể chiếu, như đuốc chẳng có gió bèn có thể soi sáng. Kẻ được gọi là “thần kinh thác loạn” chẳng liên quan ǵ đến chuyện này! “Thác” () là trong đường rẽ lại có nhiều đường rẽ, “loạn” () là lăng xăng, chẳng có thứ tự. Băng và tro khác nhau, Định và loạn khác biệt vời vợi! Ông lại dùng chuyện “nhớ con thành cuồng” để sánh ví Chỉ Quán. Kẻ nhớ con trong ḷng trầm uất, lâu ngày tự thành bệnh. Chỉ Quán là trong ḷng điềm tĩnh, lâu ngày được khinh an. Những điều này đều do kẻ chẳng thấu đạt sự lư thốt lời tùy tiện! Kinh Thư có câu: “Duy tinh, duy nhất, doăn chấp quyết trung” (Chỉ có chuyên ṛng, chuyên nhất cái tâm th́ mới có thể nắm được trung đạo). Kinh dạy: “Chế tâm nhất xứ, vô sự bất biện” (Tâm chế ngự vào một chỗ, không chuyện ǵ chẳng làm được). Tôi cũng nêu một tỷ dụ, dùng gương tập trung [ánh mặt trời] vào một chỗ th́ mới có thể lấy lửa. Phải nh́n chăm chú th́ mới có thể xỏ kim. Tập trung ánh sáng hoặc ánh mắt chính là Định, chẳng phải là cuồng loạn. C̣n như kẻ bị ma dựa, chính là v́ công phu chẳng thuần, tán loạn mà ra, nhất định chẳng phải là do điềm tĩnh, an định vậy.

 

          * Hỏi: Có người bạn hỏi: “Số lượng sinh vật trên địa cầu tăng theo thời gian. Lấy nhân loại để luận định, như dân số nước ta trước kia nói là bốn ức bảy ngàn năm trăm vạn, nay th́ nói đă lên tới hơn sáu ức, há có phải các thần thức từ hơn bốn ức có thể tăng lên sáu ức ư? Nếu nói họ từ phương khác đến, phương khác cách xa diệu vợi, ngay cả cái tên Nam Thiệm Bộ Châu cũng chưa từng nghe nói tới, làm sao có thể bị lôi kéo [những kẻ ấy đầu thai] đến nơi đây? Nếu Tam Bảo ở những phương khác hưng thịnh, họ sẽ biết Sa Bà khổ sở, sẽ chẳng có tâm mong sanh vào [Sa Bà]! Dẫu là luân hồi trong lục đạo, họ cũng nên ở trong vùng phụ cận [của cơi ḿnh đang thọ sanh trước đó], là nơi có hoàn cảnh vốn đă quen thuộc gần gũi, sao lại chẳng ngại phiền phức để đến nơi xa xôi là thế giới Sa Bà vậy thay? Nói gộp chung, cái được gọi là ‘thần thức’ đă có thể tăng từ bốn ức lên sáu ức, tức là chẳng phải là cái tánh ‘tuy bị ô nhiễm từ vô thỉ tới nay, nhưng bất sanh, bất diệt, chẳng tăng, chẳng giảm’. V́ thế, biết là cái thuyết thức tánh đúng là hư vọng!” Tôi đáp: “Thần thức luân hồi ẩn nhiệm, sâu thẳm khó biết, như sóng trong biển cả, lúc nhiều, lúc ít. Khi sóng nhiều, nước chưa hề tăng; khi sóng ít, nước chưa hề giảm! Chân Tế như nước, chẳng giảm, chẳng tăng; chuyện trong cơi tục như sóng, muôn vàn biến hóa. Suy nghĩ kỹ, sẽ có thể hiểu rơ lư này”. Người bạn nói: “Ông dùng cái Lư trừu tượng để phủ nhận cái Sự cụ thể, đúng là khó thể khiến cho người khác vui vẻ tin phục. Lư nếu là chân lư, ắt chẳng trở ngại Sự!” Ông ta hỏi: “Xin dùng chuyện gia tăng nhân số để thuyết minh cái Lư gia tăng có được hay chăng?” Tôi nín lặng, chẳng đáp được, hăy nên làm như thế nào? (Lư Liên Giai hỏi)

 

          Đáp: Câu hỏi này, quy nạp lại sẽ chia thành ba điểm. Một là nỗi nghi về sự tăng giảm. Hai là nghi về sự xa gần. Ba là nghi về tỷ dụ. Trước hết nói về tỷ dụ. Nêu ra tỷ dụ nhằm dễ hiểu, đỡ rườm lời lư luận. Tỷ dụ nhằm [khiến cho người nghe] sẽ ngộ. Nếu tỷ dụ là trừu tượng, chẳng phải là sự thật, như kinh Thi có câu: “Như thiết, như tha, như trác, như ma” (Như gọt, như cắt, như giũa, như mài), chẳng phải là khi có thể dụng công thiết tha, bèn gọi chuyện ấy là “đạo học” ư? V́ thế, câu hỏi này mang tánh chất nghiên cứu. Trong Nho học, ba ngàn vị đệ tử c̣n chưa nghe hiểu thấu suốt Tánh Học của Khổng Tử. Trong Phật học, càng là “ngôn ngữ dứt bặt”. Trừ tỷ dụ ra, hễ mở miệng bèn trật. Tại hạ đáp câu hỏi này, cũng chỉ có cách sử dụng tỷ dụ:

1) Một, đối với nỗi nghi tăng giảm. Nói đến tánh th́ trước hết, hăy nên hiểu tánh ở chỗ nào. Tánh như hư không, không ǵ to lớn mà có thể vượt thoát ra ngoài tánh được. Đă là không thể thoát ra ngoài, tự nhiên là chẳng tăng, chẳng giảm. Xin hỏi: Trên địa cầu, dựng một căn nhà th́ có không khí trong một nhà. Dựng trăm ngàn căn, sẽ có không khí trong trăm ngàn căn. Nếu xây cất cho đến mức trọn khắp toàn cầu, cũng là nhà nhà đều có không khí. Thử nghĩ xem không khí có tăng giảm hay chăng?

2) Hai là đối với điều nghi về xa gần. Trước hết, cần phải hiểu về lực hấp dẫn[24]. Trong Thái Dương Hệ, các tinh cầu đủ mọi kích thước, tuy có xa gần, nhưng giữa chúng có lực hấp dẫn liên kết. Mặt trăng gần quả đất, hễ trăng tṛn th́ biển nổi sóng. Mặt trời cách xa trái đất, nhưng hễ trên mặt trời có vết đen th́ sóng điện trên địa cầu cũng nẩy sanh biến hóa. Địa cầu cách xa mặt trời, cần ǵ phải quản chuyện ở chốn xa xôi? Đấy là mối quan hệ về lực hấp dẫn, chẳng bị hạn định bởi xa hay gần!

3) Ba, đối với mối nghi về thí dụ. Thí dụ vốn là trừu tượng. Thí dụ của ông xét theo Lư và Sự đều vô ngại. Tánh ắt cụ thể, nhưng chẳng phải là chân thật. Thử xem những điều Mạnh Tử, Tuân Tử, Cáo Tử, Dương Tử đă nói, không ǵ chẳng phải là thí dụ. Tạm thời chẳng nói đến điều chất vấn ấy (điều chất vấn của người bạn ông), hăy nói đến chuyện hổ thẹn, tột cùng là vật ǵ? Ông Vương Dương Minh chỉ lấy chuyện đỏ mặt để h́nh dung [sự hổ thẹn], nhưng đỏ là đỏ, hổ thẹn là hổ thẹn, rốt cuộc chẳng phải là cùng một chuyện! Nếu cứ đ̣i phải là cụ thể, trừ phi là tự chứng [th́ mới có thể tự nhận biết rơ ràng].

 

          * Hỏi: Nếu chẳng đắc thiên đạo, vẫn khó thoát khỏi nỗi khổ luân hồi. Nói như vậy, có thể thấy là cơi trời đă thoát luân hồi, sao lại xếp [cơi trời] vào trong sáu nẻo luân hồi? Xin hăy dạy cho! (Vương Tác Cát hỏi)

         

          Đáp: Do ông hỏi về Phật pháp, nên tôi chỉ căn cứ theo kinh Phật để thưa tŕnh. Theo kinh Phật, trong lục phàm, chư thiên vẫn đang luân hồi! Kinh điển Đại, Tiểu Thừa đều nói như vậy. Ngoại đạo chẳng hiểu nghĩa này, giải nói lầm lạc. Chuyện này chính là “ăn trộm áo nhà vua, khoác mặc xộc xệch”, dối ḿnh, lừa người, chẳng có mảy may ư nghĩa ǵ!

 

          * Hỏi: Thầy phản đối chuyện dịch kinh văn [từ Văn Ngôn] sang văn Bạch Thoại, học tṛ rất cảm phục! Nhưng trong tâm học tṛ có nghi vấn: Chúng ta đă chẳng thể dịch kinh văn thành Bạch Thoại, đương nhiên là chẳng thể dịch sang tiếng Anh. Như vậy th́ trước mắt, làm thế nào để hoằng dương Phật giáo tại các nước Tây phương? (Giản Tông Tu hỏi)

 

          Đáp: Đây là hiểu lầm! Đối với sự nghiệp dịch kinh, lấy các vị cổ đức dịch kinh [từ tiếng Phạn] sang tiếng Hán để luận định: Một là văn lư Phạn và Hán đều tinh thông; hai là đă thông suốt trọn khắp ư chỉ của Tam Tạng, chẳng v́ thiên mà hại viên; ba là [các vị cổ đức dịch kinh đều là] người tu chân thật, đă đắc, đă chứng, tâm khế hợp đạo, dùng từ ngữ chẳng khiến cho ư nghĩa bị sai lạc. Nếu [hội đủ các phẩm đức] như thế th́ dịch [kinh Phật] sang Văn Ngôn, hay dịch sang văn Bạch Thoại, dịch sang tiếng Anh, dịch sang tiếng Nhật, không ǵ là chẳng được! Tiếc là cơ duyên của chúng sanh Âu Mỹ chưa chín muồi, lại chẳng có những vị hiền giả như La Thập, Thật Xoa [Nan Đà], Huyền Trang v.v… ứng thế để làm sự nghiệp này!

 

          * Hỏi: Cha tôi thân thể chẳng khỏe, đi hỏi thầy đồng về t́nh trạng an nguy. Thầy đồng nói cha tôi có vong hồn và âm hỏa quấy nhiễu, chẳng biết v́ sao gặp phải ma quái như vậy? (Trần Tín Tam hỏi)

 

          Đáp: Thầy đồng hiện thời chẳng như thầy đồng thuở xưa, toàn là bọn giang hồ lường gạt kiếm cơm, lời lẽ há đáng tin tưởng ư? Cư sĩ đă tin Phật pháp, lại ôm ḷng hiếu thảo, không ǵ bằng một mặt t́m kiếm thầy thuốc giỏi, trước hết là tận hết sức người, một mặt là niệm Phật, tụng kinh, cầu Phật gia bị. Nói “niệm Phật, tụng kinh” chính là nói tinh thành tự thực hiện, chẳng phải là đánh trống, khua chập chơa, thổi sáo, gảy đàn, rùm beng bề ngoài! Ngoài ra, hoặc là phóng sanh, hoặc là in kinh, lượng sức để làm. Phật lực, công đức, y thuật, chuyên tâm đều trọn hết, chắc là sẽ có cảm ứng.

 

          * Hỏi: Trần Tĩnh Cô, Tô Phu Nhân và Nhất Phẩm Phu Nhân có phải là thần minh chân chánh hay không? (Trần Tín Tam hỏi)

         

Đáp: Chẳng thấy kinh truyện, chẳng thấy có vị thần nào [được nói tên như thế], sao đáng để luận định cho được?

 

* Hỏi: Dựa theo lời nói th́ ba vị thần minh ấy cũng có thỉnh Ngọc Hoàng Đại Đế giáng chỉ đến tuần tra nhà cửa tôi, có biện pháp nào hay chăng? (Trần Tín Tam hỏi)

 

Đáp: Thiên hạ rộng lớn, Ngọc Hoàng tôn quư, cớ sao lại đến tuần tra một ḿnh quư phủ? Đúng là chuyện kỳ quái! “Dựa theo lời nói” là dựa theo lời nói của ai? Chắc là lời lẽ của bọn đồng cốt nhảm nhí mượn chuyện ấy để lừa tiền! Chẳng có chuyện ǵ mà lại bới ra chuyện rắc rối, chẳng có tà mà cầu tà, là lỗi của ai vậy? Biện pháp chỉ ở nơi chính ḿnh mà thôi!

 

* Hỏi: Cha mẹ tôi mê muội Đạo giáo quá lố, tạ chỉ[25], cải vận, bù đắp vận mạng, giết lợn cúng ông trời, làm cả đống chuyện hồ đồ, trọn chẳng có hiệu quả ǵ. V́ thế, tôi đă nhiều lần can gián, nhưng chẳng lọt tai, mong hăy giải quyết cho tôi! (Trần Tín Tam hỏi)

 

Đáp: Chỉ có chính cư sĩ trước hết hăy hiểu rơ tà và chánh, sau đó dùng lời lẽ mềm mỏng chỉ điểm, khiến cho song thân cải tà, quy chánh. Trước hết, hăy lánh xa bọn đồng cốt quái đản. Trong tâm chẳng có quỷ, quỷ cũng chẳng đến. Trong tâm có quỷ, quỷ bèn dựa thân, gia đ́nh rất tốt đẹp cũng biến thành ổ quỷ!

 

* Hỏi: Anh tôi ngă bệnh, bệnh t́nh hết sức nghiêm trọng, uống thuốc vô hiệu, cũng đi hỏi Thánh Mẫu, Đại Đế, họ bảo rơ là có một nữ vong hồn lẩn quẩn bên thân anh tôi, muốn kết hôn với anh; sau đấy, [vong hồn ấy] tiếp nhận sự cúng bái. Thế nhưng một vong hồn hoàn toàn chẳng quen biết, chẳng biết v́ sao lại tới nhiễu loạn anh tôi? (Trần Tín Tam hỏi)

 

Đáp: Dường như cư sĩ cũng tin vào chuyện yêu vọng ấy! Cả nhà là như thế, chẳng trách những lời lẽ yêu mị đă in vào tâm, quỷ ảnh đầy cửa. Đại khái là những lời lẽ quỷ ma ấy cũng do bọn đồng cốt quàng xiên bịa đặt! Nay tôi bảo rơ, chẳng có vong hồn nào nhiễu loạn quư phủ. Cái gây nhiễu loạn chính là tự tâm nhiễu loạn. Nếu chịu hạ quyết tâm, coi Trần Tĩnh Cô, Tô Phu Nhân, Nhất Phẩm Phu Nhân, Thánh Mẫu, Đại Đế đều giống như lũ đồng cốt quàng xiên, nhất loạt đuổi sạch khỏi cửa, hết thảy sẽ b́nh an!

 

          * Hỏi: Các kinh Phật đều là do các vị đệ tử Phật kết tập, ghi chép tạo thành. Nhưng thời gian kết tập lần thứ hai, lần thứ ba đă cách lúc đức Phật diệt độ quá xa, thế th́ người kết tập hoàn toàn chưa đích thân nghe đức Thế Tôn thuyết pháp, làm sao có thể ghi chép, thuật lại cho được? (Vương Huyễn Minh hỏi)

 

          Đáp: Cái học của cổ nhân đều có sư thừa, đệ tử có người được truyền lần thứ hai, truyền lần thứ ba, cho nên có khảo cứu và tư thục[26]. Lưu truyền cổ thư, đại để là như vậy. Thử dùng kinh sách của nước ta để tỷ dụ, sẽ suy ra chẳng khó khăn ǵ! Châu Công nghĩ tưởng tam vương[27], Khổng Tử truyền thuật lời dạy của Nghiêu, Thuấn. Châu Công và tam vương, Khổng Tử và Nghiêu Thuấn đều cách biệt rất xa, v́ sao có thể cùng nghĩ tưởng và truyền thuật được? Đó là một lẽ. Cuộc chiến giữa Hoàng Đế và Xi Vưu[28], khuôn phép thời Tam Đại, đều cách đời Hán hơn một ngàn năm, một chuyện được chép trong Sử Kư Tư Mă Thiên, một chuyện là do chính miệng Phục Sanh[29] kể lại. Dùng chuyện này để suy ra lẽ kia, há c̣n ngờ ư?

 

          * Hỏi: Kinh nói: “Từ vô thỉ đến nay…” dường như là v́ số kiếp xa xôi nhiều như cát sông Hằng, chẳng có cách nào để h́nh dung, bèn dùng chữ “vô thỉ” để thay thế. Nếu bạn bè thuộc tôn giáo khác cật vấn trước tất cả kiếp số sẽ lại là diện mạo như thế nào? V́ thế, chữ “vô thỉ” thật sự là khó thể diễn tả viên măn. Văn bối đă suy nghĩ trăm lượt, vẫn chẳng hiểu được! (Vương Huyễn Như hỏi)

 

          Đáp: “Vô thỉ” là không có khởi đầu, chính là từ ngữ chân thật, là từ ngữ khoa học. Hễ nói “có khởi đầu”, tức là từ ngữ thuộc một giai đoạn, chính là từ ngữ nói phương tiện. Cư sĩ “suy nghĩ trăm lượt chẳng hiểu”, nghĩ ngàn lượt chắc sẽ hiểu! Kẻ theo tôn giáo khác chất vấn th́ cũng có khi dễ đáp, cũng có lúc khó đáp! Người trí có cái nh́n giống nhau, triết học và khoa học đều có thể dùng để giải thích. [Gặp phải trường hợp] người nghe có kiến giải chấp trước mà trích dẫn kinh điển, chỉ càng tăng thêm mê hoặc cho họ! Đến nông nỗi ấy, chẳng ngại bàn định bằng phương tiện: Đă biết “vô thỉ” th́ hăy lại nên biết có “vô chung”. Đối với hai thứ ấy, có thể hiểu được một thứ, sẽ thông hiểu trọn hết. Trong toán học có con số “bất tận” (số vô cực, ∞), xin hỏi “bất tận” là kết thúc ư? Lại nói theo phương tiện, khởi đầu th́ tướng là không, lại truy cầu trước cái Không ấy, bèn đáp là tướng biến hoại. Lại truy đến trước khi hoại th́ sẽ đáp là tướng ngưng trụ. Lại truy đến trước khi có tướng ngưng trụ, th́ lời đáp là tướng sanh thành. Lại truy đến trước khi có tướng sanh thành, bèn đáp là tướng không. Đó là cách giải thích nông cạn về vô thỉ vô chung. Biết chuyện này, sẽ có thể ngộ Vô Sanh.

 

          * Hỏi: Vị Phật đầu tiên trước tất cả kiếp số là vị nào? (Vương Huyễn Như hỏi)

 

          Đáp: Đối với từ ngữ “trước kiếp số”, tại hạ phải nói là “từ ngày hôm nay trở đi”, nếu biết ngày hôm nay là ngày nào [trong ḍng thời gian vô tận] th́ mới có thể nói chắc “kiếp số” là thời nào! Nếu xét theo cách tính toán, ắt phải có vị trí nhất định th́ mới dễ nói là trước hay sau, [đă có trước hay sau nhất định th́] đối với đầu mối to lớn này, không ǵ là chẳng thể trả lời! Nếu chẳng hỏi như thế, chỉ đành nói là: Trước khi có kiếp số, vẫn là có kiếp số. Như thế th́ kiếp số này đến kiếp số kia, suy măi cho đến vô thỉ, c̣n chẳng biết là thời nào, làm sao có thể nói tới vị Phật đầu tiên cho được!

 

* Hỏi: Quán Thế Âm Bồ Tát thuộc địa vị Hậu Bổ Phật trong cơi Cực Lạc. Nếu một mai, Ngài dự vào địa vị Phật, A Di Đà Phật sẽ đi về đâu? Vô Lượng Thọ và Vô Lượng Quang chẳng phải là không thể thành lập ư? (Vương Huyễn Như hỏi)

 

          Đáp: Do v́ như vậy, chẳng trụ Niết Bàn, tùy loại hóa thân trong hằng sa thế giới, rộng độ chúng sanh, chợt hiện, chợt ẩn, từ xứ Giáp tới xứ Ất, từ châu này sang châu kia, hoàn toàn chẳng phải là sanh tử, chớ nên hiểu lầm!

 

* Hỏi: Để chứng quả La Hán, c̣n phải trải qua bảy lần sanh tử trong cơi trời và nhân gian; các vị như Đại Mục Kiền Liên, Xá Lợi Phất, Tu Bồ Đề v.v… chỉ trong ṿng mấy chục năm làm sao có thể chứng quả La Hán? (Tŕ Huệ Sâm hỏi)

 

          Đáp: Lời hỏi của cư sĩ sâu xa, thiết tha như thế, ắt đă  biết thời gian để thành Phật lâu xa, phải mất tới ba A-tăng-kỳ kiếp. Thử nghĩ Thích Ca Thế Tôn ở trong cơi Sa Bà này chỉ hơn tám mươi năm mà thôi, quả thật là đă thành Phật, cớ sao chẳng trải qua ba A-tăng-kỳ kiếp? Chắc là ông có thể tự đáp. Đă có thể biết đấng Thích Tôn do duyên cớ nào mà chẳng trải qua ba A-tăng-kỳ kiếp, như vậy th́ đối với hai vị Mục Kiền Liên và Xá Lợi Phất, [v́ sao] chẳng trải qua bảy phen qua lại trong đường trời người, suy ra sẽ biết, cần ǵ phải mất công hỏi han chi nữa?

 

          * Hỏi: Để tham gia pháp hội và nghe kinh, có thể nói dối cha mẹ được không? (v́ gia cảnh chẳng cho phép học Phật) (Trịnh Chí Tây hỏi)

 

          Đáp: Nếu chưa chánh thức thọ giới, sẽ có thể tự thông đạt quyền biến. Nếu đă thật sự thọ, v́ duyên cớ nghe kinh mà nói dối để lừa cha mẹ, tức là thân làm lành, chẳng phải là tạo ác. Có thể đối trước Phật, chí thành cầu đảo sám hối, xả một giới ấy, vẫn nghiêm túc giữ ǵn các giới khác. Dẫu xả một giới vọng ngữ ấy, tuy là xả, cũng chớ nên gặp chuyện bèn tùy tiện lừa dối. Do cầu pháp mà xả, chính là ư thiện; nhưng v́ chuyện khác mà nói dối th́ vẫn là ác!

 

          * Hỏi: “Bách giới thiên như” nghĩa là trong mỗi một giới có mười giới, nhưng như trong Phật pháp giới [chẳng hạn], há có các giới địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh v.v… ư? Xin hăy giải trừ nỗi nghi! (Trịnh Chí Tây hỏi)

 

          Đáp: Pháp giới nếu nói riêng biệt sẽ là hằng sa khó lường. Nói tổng quát th́ chỉ có một. “Tâm, Phật, chúng sanh, ba thứ chẳng sai biệt”, “mười phương ba đời Phật, cùng chung một Pháp Thân”. Quán như thế, nếu nói tách biệt th́ là mười pháp giới, nói tổng quát th́ chỉ là một! Nhưng tuy nói là một, Phật tự là Phật, phàm tự là phàm. Lư như thế cực kỳ vi diệu, chỉ nói đại khái; hễ nói tường tận, sẽ là vạn lời chẳng trọn! Lại nói đến chuyện này (chuyện được nêu ra trong câu hỏi), đối với cơi đại thiên Sa Bà này, thế giới chẳng phải là pháp giới của Thích Ca Thế Tôn ư? Cơi đại thiên Sa Bà này có lục đạo hay không? Phải nên biết: Hễ có niệm bèn có giới; chẳng có niệm th́ không có giới.

 

          * Hỏi: Tại gia nữ cư sĩ sau khi văng sanh có thể tới cơi Cực Lạc hay không? Nếu được tới đó, sẽ chuyển sanh thành thân nam tử, sanh về Tịnh Độ ư? Có căn cứ ǵ hay không? (Tăng Khải Nguyên hỏi)

 

          Đáp: Nói “văng sanh” tức là sanh vào Cực Lạc. Người học Phật cần phải hiểu rơ Phật lư, Phật lư được chép đầy đủ trong kinh Phật. Kinh A Di Đà nói rành rành “thiện nam tử, thiện nữ nhân chấp tŕ danh hiệu, nhất tâm bất loạn, đều được văng sanh Cực Lạc”. Hoàn toàn chẳng nói: Nam sanh Cực Lạc, nữ chẳng sanh Cực Lạc! Kính xin giới thiệu cho ông mấy tập sách nhỏ như sau: Học Phật Thiển Thuyết, Phật Pháp Đạo Luận, Kỹ Lộ Chỉ Quy, Sơ Cơ Tịnh Nghiệp Chỉ Nam. Đọc kỹ mỗi sách đôi ba lượt, sẽ có thể biết đại lược đường nẻo, chẳng đến nỗi hiểu sai lầm!

 

          * Hỏi: Cổ đức nói: “Chỉ trừ sạch phàm t́nh, chứ không có thánh giải nào khác”, cảnh giới này và quan niệm Đoạn Kiến “người đă chết giống như đèn tắt” có ǵ khác nhau? (Tiên Thuần Hiền hỏi)

 

          Đáp: Đứng đầu trong phàm t́nh là ư niệm ghét, thương, phân biệt. Đoạn Kiến vẫn là vọng niệm phân biệt. Vọng niệm chính là phàm t́nh. Cổ đức nói “trừ sạch phàm t́nh”, c̣n Đoạn Kiến như cư sĩ đă nói lại là phát khởi phàm t́nh, há chẳng phải là bất đồng như băng và tro ư?

 

          * Hỏi: Đối với duyên cớ do đọc kinh Phật mà có cảm ứng, có người bảo đấy là sự linh nghiệm của Phật, như những điều được nói trong các sách chép chuyện cảm ứng, có người bảo: Khi niệm kinh, do ức chế quá lố, hoặc mong hàng phục vọng niệm, hoặc mong mỏi quá lố, tự nhiên sẽ dẫn khởi sức mạnh trái nghịch có tác dụng chống lại [sự đè nén ấy]; đấy chính là một hiện tượng sinh lư. Nếu nói theo cách sau, Phật giáo há có nên giới thiệu Quán Thế Âm Cảm Ứng Lục, biên soạn, ấn hành Niệm Phật Kiến Văn Kư, khiến cho người niệm Phật nẩy sanh vọng niệm? Nếu chiếu theo cách nói trước, lời giải thích trong bộ Lăng Nghiêm Kinh Đại Nghĩa Kim Thích do tiên sinh Nam Hoài Cẩn biên soạn há chẳng phải là sai lầm ư? Giữa hai đằng, ai sai, ai đúng? (Hác Truyền Sâm hỏi)

 

          Đáp: Hai thuyết trước và sau đều có Lư, gộp chung lại để xem th́ đúng, chấp trước một thuyết bèn sai! Ví như đối với một vật, cần phải xét đến bảy phía: Bên ngoài là sáu phương, bên trong là trung tâm. Biết một mà chẳng biết hai, biết ngoài mà chẳng biết trong, th́ gọi là cái thấy lệch lạc, chẳng phải là chân tướng. Người học Phật y pháp, bất y nhân. Kinh chép “ngũ nhăn, lục thông”, đă là có “thông”, sao lại chẳng linh? Đó là điều khiến cho thuyết trước không có ǵ đáng nghi vậy! Kinh nói “hết thảy chỉ do tâm tạo”, biết điều này th́ có chuyện ǵ chẳng phải là tác dụng của tâm? Nếu chẳng hàng phục vọng niệm, há có cảm ứng? Đây chính là điều khiến cho thuyết sau chẳng thể phủ nhận được! Cổ đức có tỷ dụ, tâm như nước, Phật như trăng, trăng vốn in bóng nơi nước. Nếu nước đục ngầu, xao động, trăng chẳng thể hiện. Nếu nước trong lặng, trăng hiện rơ ràng. Nhưng đối với hai thuyết này, cần phải là người tinh thông Phật lư th́ mới nói năng đúng lư. Nếu không, sẽ là tựa hồ đúng, mà thật ra sai bét! Sai chỉ hào ly, lầm lạc ngàn dặm!

 

          * Hỏi: Đệ tử do ít tṛ chuyện cùng người khác, chỉ có suy nghĩ trong ḷng, nhưng sau khi tai bị điếc, trong ư niệm mới có tướng của âm thanh, cảm thấy nhiều khi ở trong đầu, đă ngủ rồi mà vẫn mộng mị hồ đồ không ngớt. Lại c̣n vào lúc tỉnh giấc buổi sáng, [nhận thấy] những điều c̣n sót lại trong mộng và ư niệm rất rơ rệt ở trong đầu. V́ thế, các nhà y học chủ trương năo chủ quản tri giác, suy tư. Gần đây, đệ tử cảm thấy ư niệm thật ra là tác dụng của năo, mà năo cũng là bản thể ư của ư niệm, há c̣n có bản tánh ư? [Nhà Phật có nói] “do tánh mê là niệm, lại nói mê và ngộ tuy khác, nhưng Thể của chúng chẳng hai. Ư niệm chính là bản tánh, ư niệm là tác dụng của bản tánh sau khi đă mê”, do lập ra các kiểu nói như vậy, đến nỗi [người nghe] nẩy sanh nghi ngờ. Xin hăy chỉ điểm cho kẻ mê. (Hồng Triều Nguyên hỏi)

 

          Đáp: Bản tánh tịch tĩnh quang minh, do một niệm bất giác mà có vô minh, nên gọi là mê. Mê th́ vọng niệm chẳng ngừng. Những ǵ giới y khoa đă biết chính là sinh lư, c̣n cái học về tâm tánh chẳng phải là chuyện họ hiểu biết được! Niệm bắt nguồn từ vọng, vọng bắt nguồn từ mê, mê bắt nguồn từ vô minh, vô minh bắt nguồn từ bất giác, bất giác vốn thuộc về giác tánh. Cách nói “niệm là tác dụng của bản tánh” trong lời hỏi tuy chưa thông đạt, nhưng xét theo những điều vừa giải thích trên đây th́ ư nghĩa cũng chẳng xa!

 

          * Hỏi: Gần đây, các nhà y học nói: “Nguyên tử có khả năng phân giải và dung hợp, vạn vật có lư tương sanh, tương khắc”. Dựa theo thuyết đó, thuyết “vạn pháp do duyên sanh” của nhà Phật rất rơ rệt. Đầu năo đúng là duyên sanh, ư niệm cũng là duyên sanh, không ǵ chẳng phải là huyễn hóa, chẳng đáng để bận tâm! Đoạn ư niệm th́ rành rẽ, rơ ràng là “không ǵ chẳng phải là một niệm bất sanh”, toàn thể hiện ra ư? Nhưng nếu chỉ là như thế th́ chẳng khỏi là quá cứng ngắc, chẳng thể vận dụng [linh hoạt], v́ Dụng chính là động niệm, động niệm chính là huyễn. Người ta chẳng thể suốt đời luôn tĩnh lặng, chẳng thể vĩnh viễn là một niệm chẳng sanh, muốn thường giữ măi chẳng mất, đúng là chẳng thể nào được! Đúng không? (Hồng Triều Nguyên hỏi)

         

Đáp: Luận điệu này vừa minh bạch, vừa chẳng minh bạch. Hăy nên biết Sự và Lư có chân và huyễn. Chân chỉ là một tánh, huyễn là vô lượng các pháp. Các pháp do nhân duyên huyễn sanh, tánh chẳng phải là nhân duyên. Tánh vốn tịch, bất biến, các pháp ứng mà tùy duyên. Tịch mà bất biến, tức là “một niệm bất sanh”. Bất sanh bèn bất diệt; cho nên nói là “chân thường”. Ứng mà tùy duyên, tức là chẳng khởi niệm mà tùy duyên, chẳng nghe hai câu “bất biến tùy duyên”“tùy duyên bất biến” đó ư? Đă là tùy duyên th́ làm sao cứng ngắc cho được? Những điều nghi ngờ của cư sĩ phần nhiều là chuyện chẳng thể có được, đều thuộc về cảnh giới phàm phu. Nếu đạt đến cảnh giới thánh nhân, chẳng có ǵ là có thể hay không thể! Tâm chiếu mà tịch, tịch mà chiếu, suốt ngày bất biến mà là suốt ngày tùy duyên, suốt ngày tùy duyên mà suốt ngày bất biến!

 

          * Hỏi: Khoa học gia hiện thời sắp đặt chân lên mặt trăng, họ tin tưởng sẽ hoàn thành [chuyện đó] trước năm 1970. Họ không ngừng thăm ḍ, chụp ảnh nguyệt cầu, phát hiện nơi nơi đều là nham thạch của núi lửa, chẳng thấy cỏ, cây, sinh vật. Đối với tinh cầu, họ từng dùng phi thuyền Venus số 4 để tiến hành thăm ḍ Kim Tinh, phát hiện nhiệt độ trên Kim Tinh cao hơn hai trăm độ (chẳng biết là hai trăm hay bốn trăm v́ tôi đă quên mất), và nói nhiệt độ cao như vậy th́ sinh vật chẳng thể sống sót! Lỡ mai sau họ lên đó, chứng thực chẳng có sinh vật, vậy th́ đối với những tinh cầu khác, tôi nghĩ cũng chẳng phải là ngoại lệ. Do đức Phật nói “quốc độ vô tận”, sợ rằng cũng chẳng thông! Không ǵ chẳng phải là [trong toàn thể vũ trụ] chỉ có địa cầu [là có sự sống]. Nếu đă là như vậy, làm sao có Tịnh Độ cho được? Cho nên chuyên niệm Tịnh Độ xét theo Sự, quả thật là quá sức mờ mịt! Trong lời tựa cho cuốn Di Đà Kinh Bạch Thoại Giải Thích do cư sĩ Hoàng Trí Hải diễn thuật có viết: “Ôi! Đạo vốn vô ngôn, nhưng chẳng nói th́ không hiển lộ được. Kinh này là do đức Phật ta bất đắc dĩ nói ra”. Coi ư nghĩa thật sự của Tịnh Độ là một thứ pháp môn phương tiện nhằm giác ngộ, ẩn kín trong ấy, chứ không có sự thật để niệm th́ cũng rơ rệt vậy. Tôi nghĩ ắt là đức Phật quyền biến chỉ ra một cảnh, nhằm khiến cho người đời nay buộc ḷng nơi đó, tâm chẳng tán loạn, ḥng chứng bản tánh như như. Đại đức nghĩ như thế nào? (Hồng Triều Nguyên hỏi)

 

          Đáp: Lập luận này sai lầm to lớn! Phật pháp tuy có Quyền và Thật; nhằm dễ dàng diễn nói, nên nói phân tích (tức là nói Quyền và Thật rạch ṛi). Vận dụng th́ thiện xảo, có lập, có phế, có khai, có hiển; thật ra, vạn pháp như một, há có Quyền hay Thật? Nhưng nghĩa Như của pháp, Lư sâu tột cùng, [nếu chỉ diễn giải bằng] dăm ba lời, sẽ chẳng thể hiểu rơ! Nay tôi xin thưa tŕnh nông cạn nhất ḥng trừ khử sự chấp trước lệch lạc! Kinh nói tới thế giới th́ có ba loại: Một là hữu t́nh thế gian, tức là thân tướng của phàm phu; hai là khí thế gian, tức là núi, sông, đại địa, thực vật, khoáng vật; ba là chánh giác thế gian, tức là Phật Tánh và Phật độ. Mặt trăng là khí thế gian. Cực Lạc là chánh giác thế gian. Mặt trăng qua ngàn vạn lần thăm ḍ, chỉ thấy được một nửa, vẫn c̣n mơ hồ, mờ mịt! Dùng [những điều hiểu biết sơ khởi ấy] để suy đoán [t́nh h́nh của] các ngôi sao trong Ngân Hà, chẳng khỏi là vơ đoán! Dẫu nói là đă thăm ḍ toàn bộ các tinh cầu thuộc cùng một tinh vân, thấy chúng chẳng khác ǵ nhau, chúng vẫn là khí thế gian! Chẳng thể dựa vào đó để bàn luận chánh giác Cực Lạc được! Có thể tuân theo lời tôi đă nói hay không? Thưa rằng, cũng có thể, mà cũng không thể. Đối với kẻ chẳng hiểu tâm pháp th́ có thể nói như vậy. Đối với người đă hiểu rơ tâm pháp, vẫn dùng nghĩa Như của các pháp để đáp.

 

          * Hỏi: Do thân thể là huyễn hóa, cần phải cậy vào dinh dưỡng để duy tŕ sự sống. Ăn thịt có thể duy tŕ cơ thể, ăn chay cũng có thể duy tŕ, nhưng nông dân ở vùng quê đều ăn những thứ rau trồng trọt trong ruộng vườn và những thứ thịt. Nếu chỉ ăn mấy loại thực phẩm trong vườn, sợ là chẳng đủ chất dinh dưỡng cần thiết. V́ thế, hy vọng những Phật giáo đồ tiên tiến hăy sưu tập tài liệu, biên soạn một quyển sách dạy nấu món chay. Nếu một món có tới mấy tên gọi, hăy đều nên ghi rơ, v́ phần lớn người ta sợ ăn chay là do nghĩ [thực phẩm chay] chẳng có đủ chất dinh dưỡng. Tôi thể chất yếu đuối, muốn ăn chay, nhưng người nhà không chấp thuận! (Hồng Triều Nguyên hỏi)

 

          Đáp: Ăn thịt là tập khí nhiều đời; thật ra, dinh dưỡng chẳng bằng đồ chay. Sách Nội Kinh[30] của Trung Y (y học Trung Hoa) có nói: “Dân sống ở ven sông biển ở phương Đông ăn cá, khiến cho người ta bị nhiệt, sinh bệnh ghẻ chốc”. Người phương Tây ăn nhiều chất béo, sanh bệnh bên trong [nội tạng]. Ở phương Tây, để đề pḥng chứng xơ cứng động mạch, phải kiêng ăn mỡ động vật. Đối với chuyện ăn chay trong nhà Phật, các vị cao tăng xưa nay nhiều vị thọ từ tám mươi cho tới hơn trăm tuổi; đă thế, sáu căn chẳng suy. Tại lưu vực Hoàng Hà ở Trung Hoa, dân ở vùng quê, mỗi năm trong ba ngày lễ tết mới ăn thịt một lần, đều thọ hơn kẻ ăn thịt sống ở thành thị, lại c̣n khỏe mạnh, ít bệnh. Sự thật đều có, chẳng phải là lư tưởng suông! C̣n như những sách nghiên cứu chất vitamin chứa trong thực vật, và những sách dạy nấu món chay trong những năm qua đă được xuất bản thật nhiều! Nếu họ chẳng tin th́ làm sao được nữa? Hơn nữa, ở Âu Tây, những người nói đến cách sống lành mạnh có lập hội ăn chay. Trong những người chẳng phải là Phật tử ở Trung Hoa, cũng có nhiều tổ chức giống như vậy. Những điều vừa nêu trên đây đều là nói theo phương diện dưỡng sinh. Nếu nói theo lẽ từ bi, nếu như chẳng thể đè nén thói ham muốn ăn uống được, th́ ba hay năm loại tịnh nhục[31] có thể giải trừ nỗi tham ăn vậy!

         

* Hỏi: Có người nói: Hết thảy kinh điển đều do đức Phật nói ra, sao lại phải đối trước đức Phật niệm kinh? Đă là do đức Phật nói, cớ sao hằng ngày lại tụng kinh cho Phật nghe vậy?

         

Đáp: Chuyện này có hai nghĩa:

1) Một là người học tự tu, Phật là Bổn Sư, đệ tử ở trước Phật dụng công, chí thành, cung kính, bèn dễ thành tựu.

2) Hai, kinh Phật chính là quá khứ vô ương số chư Phật đều nói những kinh ấy, hoàn toàn chẳng phải là lời lẽ của một đức Phật. Kinh là Pháp Bảo, quư báu nhất trong các của báu. Đối trước Phật cúng dường trăm thứ báu, diệu vị, hương, đèn, hoa, nước, tràng phan, chuỗi hoa, lọng, đều là những vật thế tục, ắt phải dùng kinh pháp để cúng dường th́ mới là trọn vẹn các thứ quư báu!

 

          * Hỏi: Trong khi thái tử Tất Đạt Đa giáng sanh, mặt đất bỗng hiện ra bảy đóa hoa sen. Ngài một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, chân bước trên hoa sen, nói: “Thiên thượng, thiên hạ, duy ngă độc tôn”. Có người hỏi: V́ sao vừa sanh ra liền có thể đi và biết nói? “Thiên thượng, thiên hạ, duy ngă độc tôn” nghĩa là ǵ? (Cố Phượng Anh hỏi)

 

          Đáp: Sanh ra liền biết nói, sử sách ghi chép nhiều lắm, huống hồ đức Thế Tôn thị hiện giáng sanh, biểu thị điềm lạ. “Duy ngă độc tôn” là xét theo sự biểu thị. Ngài là bậc Đạo Sư của ba đời, chẳng phải là tôn quư hay sao? Xét theo đạo, [Ngă trong câu nói ấy chính là] ngă tánh chân thật. [Nói như vậy] nhằm dạy chúng sanh nhận biết bản tánh, chân thường, bất biến, có thể sanh ra vạn pháp, những thứ khác đều là hư vọng, chỉ có điều này (Chân Ngă) là độc tôn.

 

          * Hỏi: Bài kệ tụng trong phẩm Phổ Môn có câu: “Chú trớ chư độc dược, sở dục hại thân giả, niệm bỉ Quán Âm lực, hoàn trước ư bổn nhân” (Nguyền rủa, các thuốc độc, những mong toan hại thân, do sức niệm Quán Âm, trở ngược kẻ làm hại). Cách làm như thế có phải là thương tổn ḷng Từ hay chăng? Đối phương dùng thuốc độc gây hại, tuy chúng ta niệm thánh hiệu được [Bồ Tát] cứu giúp, nhưng thuốc độc ấy hại ngược lại đối phương; như thế th́ chẳng phải là quá sức đánh mất tông chỉ từ bi hay không? (Bổn Như hỏi)

 

          Đáp: Ông Tô Đông Pha đời Tống từng có nỗi hoài nghi này, bèn tự tiện sửa kinh, đă bị cổ đức quở trách. Ấy là v́ ư nghĩa chủ yếu trong câu “hoàn trước ư bổn nhân” hoàn toàn chẳng phải là người bị nguyền rủa, hạ độc bèn báo thù [kẻ gây hại], cũng chẳng phải là do Quán Âm gieo hại xuống thân người [làm ác] đó, mà là như kinh Tứ Thập Nhị Chương có dạy: “Tử dĩ lễ tùng nhân, kỳ nhân bất nạp, lễ quy tử hồ? Đối viết: Quy hỹ” (Ông đem lễ vật tặng cho người ta, người ấy chẳng nhận, lễ vật có trở lại nơi ông hay không? Thưa: Trở lại ạ!) Có cùng ư nghĩa này!

 

          * Hỏi: Giáo sư Trương Trừng Cơ[32] viết tác phẩm “Phật pháp là ǵ”, trong sách ấy có câu: “Tịnh Độ liễu nghĩa trong Phật pháp có thể là phương Tây, mà cũng có thể ở phương Đông, mà cũng có thể ở ngay trong thế giới này”. Trong kinh Duy Ma Cật có nói: “Tâm tịnh ắt cơi nước tịnh. Ông có thể tự tịnh cái tâm th́ cơi này chính là Tịnh Độ”. Điều này có mâu thuẫn với nơi chốn được nói trong kinh A Di Đà hay không? (Trần Đại Hùng hỏi)

 

          Đáp: Hai chữ Tịnh Độ dùng để chỉ chung các cơi Phật thanh tịnh. Tịnh Độ được nói trong các kinh, mỗi cơi có tánh chất khác nhau. Nếu gượng quy nạp lại, sẽ đến mười thứ. Nói là phương Tây hay phương Đông, hoặc nói theo kinh Duy Ma, hoặc kinh Di Đà, bèn có những cơi khác nhau, ư nghĩa đều chẳng tương đồng. Hiện ra cái nhân khác nhau, Tướng và Dụng cũng đều khác biệt. Đă là Tướng và Dụng khác biệt, chẳng có ǵ đáng gọi là xung đột! Nếu mong hiểu rơ ư nghĩa này, do Tam Tạng mênh mông, khi [bản thân ông] c̣n đang học hành trong nhà trường, chẳng dễ ǵ có thời gian [nghiên cứu Tam Tạng cặn kẽ]. Có thể là trước hết, hăy chọn bộ Tây Phương Hợp Luận của ông Viên Trung Lang để xem một lượt, tuy chẳng thể thông tỏ triệt để, cũng đủ để thấy được phần nào, ngơ hầu chẳng nghi Đông, ngờ Tây, mờ mịt, chẳng có đầu mối!

 

          * Hỏi: Ranh giới giữa con người và súc sanh có tiêu chuẩn nhất định hay không? Nếu trong những tinh cầu khác có động vật có trí huệ cao hơn con người th́ chúng thuộc đường nào trong sáu đường? (Trần Đại Hùng hỏi)

 

          Đáp: Dùng h́nh thể để luận, đầu trên, chân dưới, chính giữa là chân tay, đi thẳng, tay chuyên nắm, chân chuyên đi, da sáng sủa, mặc quần áo, thân sống trong nhà cửa trên đất liền. Dùng sự để luận th́ có luân thường, có tổ chức, có sự nghiệp, văn hóa, lễ, nhạc, chánh trị, h́nh phạt, nắm quyền khắc chế tự nhiên trong trời đất, chi phối vạn vật. Người như thế th́ là người [đúng nghĩa]; chẳng giống như vậy th́ gọi là súc vật. Giới hạn rơ ràng, tiêu chuẩn nhất định. Thân có thai, noăn, thấp, hóa, tâm chia thành hữu tưởng, hoặc vô tưởng, cảnh th́ hoặc là đất, nước, lửa, gió, hư không, chịu đựng khổ, vui, ưu, hỷ, xả. Xét đến chánh báo và y báo theo mặt Sự, lục đạo quy thành từng loại hiển nhiên. Chúng sanh trí huệ như nhau, nhưng phát triển theo mỗi phương diện khác biệt. [Chia thành] lục đạo là chia theo phương diện chánh báo và y báo, chẳng dùng trí huệ làm chuẩn!

 

          * Hỏi: Địa Tạng Bồ Tát đă đoạn căn bản vô minh hay chưa? “Địa ngục chẳng trống, thề chẳng thành Phật”. Sau khi đă thành Phật, đến độ chúng sanh trong địa ngục chẳng phải là nhanh chóng hơn ư? (Giản Tông Tu hỏi)

 

          Đáp: Vị Bồ Tát này là Đẳng Giác, Pháp Thân giải thoát, chẳng khác ǵ Phật, có toàn thể đức của Phật, [chỉ là] chẳng ở địa vị Phật mà thôi. Cũng giống như Quán Âm Bồ Tát, tâm đại bi tha thiết, chẳng vào cơi Tịnh Độ thanh tịnh, chuyên vào các pháp giới để độ chúng sanh.

 

          * Hỏi: Nếu có kẻ nói: Cơ Đốc giáo và Phật giáo đều có hệ thống độc lập riêng, chẳng thể gượng ép đem Thiên Đường nói trong Cơ Đốc giáo so sánh với chư thiên của Phật giáo được. Hăy nên trả lời ra sao? (Giản Tông Tu hỏi)

 

          Đáp: Phật nói tới “giới” th́ có Thể, Tướng, Dụng, có thành, trụ, hoại, không, nói chẳng sót tất cả [những ǵ tồn tại] trong không gian, chẳng sót những ǵ đă hiện trong thời gian. Giáo nghĩa của Cơ Đốc giáo tuy có hệ thống độc lập, nhưng Thiên Đường như họ đă nói chẳng thể vượt ngoài thời gian và không gian. Nhằm tỏ ư tôn trọng lẫn nhau, chẳng bàn đến chuyện hơn kém là được rồi, nhưng nếu nhất quyết đem Thiên Đường của Cơ Đốc giáo đặt ra ngoài không gian và thời gian, dường như là Lư lẫn Sự đều chẳng thể nói suông sẻ được! Nếu như Cơ Đốc giáo tự nói họ ở ngoài không gian và thời gian th́ điều đó chẳng dính dáng ǵ đến cơi trời được nói trong kinh Phật cả!

 

          * Hỏi: Một vị Phật giáo hóa một cơi Phật, tại sao Phật Thích Ca chỉ thuyết pháp trên địa cầu và thuyết pháp cho thiểu số chư thiên? Một cơi Phật có rất nhiều “địa cầu” và chư thiên, chẳng lẽ khi đức Phật giáng sanh trên quả địa cầu này, th́ cũng đồng thời giáng sanh giống hệt như vậy trên các quả địa cầu khác? (Giản Tông Tu hỏi)

 

          Đáp: Phật có ba thân, Pháp Thân duy nhất, tận khắp các hư không, hóa thân vô lượng trọn khắp pháp giới. Trên một quả địa cầu, c̣n không phải là chỉ có một ngàn vị Thích Ca; đối với đại thiên thế giới, ai bảo là không có Phật?

 

          * Hỏi: Nhiều chỗ trong kinh tạng nhấn mạnh “thỉnh Phật trụ thế, chẳng nhập Niết Bàn”, như A Di Đà Phật khi làm pháp tạng tỳ-kheo đă phát ra bốn mươi tám đại nguyện, có nói: “Chẳng được măn nguyện, thề chẳng thành Phật”. Vậy th́ Phật là giác, chính là đoạn Hoặc phá chướng, rốt cuộc đạt đến quả vị nơi cảnh giới Trung Đạo cùng tột, mong cầu tự độ, độ người khác, giác hạnh viên măn. [Để thực hiện những điều ấy], nếu chẳng phải là Phật, sẽ không được! Nếu bảo là “chẳng nhập Niết Bàn th́ mới có thể trụ thế nhiếp hóa quần sanh”, vậy th́ Phật quả há chẳng phải là bi nguyện tịch diệt, là cảnh tuyệt diệu vô vi biến hóa ư? Nếu vậy th́ “vô trụ Niết Bàn” lại nói như thế nào? (Du Tường Châu hỏi)

 

          Đáp: Một danh từ được chia ra thành chánh nghĩa và biệt nghĩa! Hai chữ ấy (Niết Bàn) có rất nhiều cách dịch, nghĩa được người ta biết đến phổ biến là Diệt. Chánh nghĩa của Diệt là giải thoát, diệt độ v.v… ư nói vĩnh viễn diệt mất đại hoạn (hoạn nạn to lớn), chứng quả viên măn. Nhưng khi mạng chung, thần thức rời khỏi [thân thể], cũng mượn danh từ này để nói là Diệt. Trong kinh, [hễ khi nào nói] “thỉnh Phật chẳng nhập Niết Bàn” nghĩa là [thỉnh cầu] đức Phật lưu thân mạng để tiếp tục trụ thế, chẳng phải là xin đức Phật đừng chứng quả. Hiểu nghĩa này, sẽ biết những nghĩa khác.

 

          * Hỏi: Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm có nói: “Nhược tŕ Quán Thế Âm Bồ Tát danh hiệu giả, thiết nhập đại hỏa, hỏa bất năng thiêu” (Nếu ai tŕ danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, dẫu vào trong lửa lớn, lửa chẳng thể thiêu), đối với nạn lụt lớn cũng như vậy, là do sức oai thần của Bồ Tát. Giả sử Bồ Tát có oai lực to lớn như vậy, cần ǵ đội cứu hỏa làm chi nữa? V́ giáo đồ nhà Phật có thể tùy tiện tiêu trừ hỏa tai (thủy tai) mà? Xin hăy chỉ dạy ư nghĩa trong kinh điển là như thế nào? (Châu Di Quân hỏi)

 

          Đáp: Các đầu mối trong thế gian cố nhiên là có thiên mạng và c̣n có nhân sự. Thiên mạng và nhân sự ứng hợp lẫn nhau làm duyên, hoặc là một điều sẽ vượt trội hơn [điều kia]. Niệm danh hiệu Quán Âm là nghe theo thiên mạng, lập đội cứu hỏa là trọn hết nhân sự. Nếu như tụng niệm thánh hiệu Quán Âm mà chẳng thể thành tâm, sẽ chẳng có cảm ứng, ắt phải cậy vào đội cứu hỏa để trọn hết sức người. Có lúc đội cứu hỏa cũng nẩy sanh chướng duyên, mất đi hiệu năng, càng lại phải cậy vào chân tâm sám hối, cầu nguyện, khẩn cầu Quán Âm. Người đọc sách chớ v́ văn mà hại nghĩa. Khổng Tử từng nói: “Chết sống có mạng”, nếu đă là như vậy, cần ǵ mở bệnh viện? Ngài lại nói: “Phú quư tại trời”, [vậy th́] hăy nên ngồi trong nhà chẳng làm ǵ, trời sẽ mưa tiền xuống ư? Nếu nói gần hơn nữa, nói theo Sự, các tiệm thuốc đều có thuốc đặc hiệu (thuốc có công dụng chữa bệnh đặc biệt), cần ǵ phải lập nhà quàn nữa ư?

 

          * Hỏi: Đức Phật xuất gia thành Phật quả, hoàn toàn chẳng bái bảy vị Nhiên Đăng Cổ Phật để được thọ kư, Phật pháp là do đức Phật tự ngộ, phát minh ra (thuở ấy, chỉ có một phần là ngoại đạo đổi sang tu Phật). Ngoại đạo trong hiện thời (Nhất Quán Đạo) có thuyết “lạy bảy vị Nhiên Đăng Cổ Phật”, bảo đó là những vị Phật có trước đức Phật. Đấy há chẳng phải là báng bổ đấng giáo chủ của Phật giáo ư? Nếu như bảy vị Nhiên Đăng Cổ Phật chẳng phải là ngoại lệ, tức là [các Ngài đều là] những vị do chúng sanh tu thành Phật, địa vị giáo chủ của đức Phật bèn có vấn đề ư? Xin hăy giải nghi, ư nghĩa thật sự của bảy vị Nhiên Đăng Cổ Phật là như thế nào? (Châu Di Quân hỏi)         

 

          Đáp: Các kinh ghi chép: Quá khứ là thời Trang Nghiêm Kiếp, hiện tại là thời Hiền Kiếp, Phật Thích Ca là vị Phật thứ tư trong Hiền Kiếp. Truy ngược lên bảy vị Phật trước Ngài th́ [những vị ấy] đă thuộc vào Trang Nghiêm Kiếp. Khi ấy, có Nhiên Đăng Phật, vào thuở đó, đức Phật Thích Ca từng được [Nhiên Đăng Phật] thọ kư. Hơn nữa, trong các kinh có ghi chép sự tích khác nhau về bảy đức Phật. Chuyện này được chép trong kinh văn, chẳng phải là bảy vị Nhiên Đăng Phật[33] như bọn ngoại đạo đă nói. Lời bọn chúng nói giống như một tỷ dụ trong kinh Bách Dụ: Ăn trộm áo vua, lôi Đông kéo Tây, điên đảo, lầm loạn[34], chẳng đáng một trận cười, chẳng đáng bàn tới! Hơn nữa, phàm là Phật th́ đều là chúng sanh tu thành, hoàn toàn chẳng có đạo lư “bẩm sanh đă là Phật!” Giáp tu, Giáp thành, Ất tu, Ất thành, chẳng tu chẳng thành!

 

* Hỏi: Hương Cảng Thánh Thư Công Hội (hội kinh thánh Hongkong) có xuất bản một cuốn sách về so sánh tôn giáo do tiên sinh Anh Nhă Các (James W. Inglis) viết, người dịch là tiên sinh Hàn Nhữ Lâm, nơi trang một trăm hai mươi bốn có đoạn: “Năm đức Phật tám mươi tuổi… có một người thợ rèn, mời Phật đến dùng cơm, trong bữa cơm ấy có thịt lợn rừng. Do vậy, đức Phật ngă bệnh”. Lại c̣n nói, trong lần ấy, sau khi ngă bệnh, đức Thế Tôn bèn chết. Đối với cách nói đức Phật do ăn thịt lợn rừng, ngă bệnh rồi chết, rốt cuộc là có chuyện ấy hay không? Hay là ngoại đạo ác ư bỗng dưng đặt chuyện? (Thượng Minh Công hỏi)

 

Đáp: Sự tích đức Phật nhập Niết Bàn được chép trong kinh Đại Niết Bàn, rạng rỡ trong cơi đời, nhưng chưa thấy chép [chuyện đó]. Do vậy, đó là lời bịa đặt, dẫu sách Âu Tây có ghi lời lẽ quê kệch ấy, cũng chẳng qua là những chuyện dă sử, hoang đường của Trung Hoa, hoặc chuyện ngụ ngôn Y Sách (Aesop)[35] của phương Tây dùng làm chuyện phiếm trong khi trà dư tửu hậu mà thôi! Há đáng để coi là sách vở nghiêm túc? Nếu ông tin vào lời đó, vậy th́ kinh Niết Bàn chẳng đáng tin tưởng ư? Hương Cảng Thánh Thư Hội do đạo Gia Tô lập ra, có cách nh́n thù địch đối với Phật giáo, có ư tưởng hủy nhục, hạ thấp, cho nên mới có chuyện ấy. Nhưng chắc cũng chẳng phải là họ tự bịa đặt, có lẽ là do trong tâm có thiên kiến, nên mới chọn lấy chuyện hạng bét dành cho trẻ nít để làm công cụ công kích người khác vậy!

 

* Hỏi: Vào đời Thanh, sau khi tín đồ Cơ Đốc giáo là Hồng Tú Toàn khởi sự, lập ra Thái B́nh Thiên Quốc, đă tiêu diệt thi, thư, kinh luận, những mong hủy diệt nền văn hóa Trung Hoa, chuẩn bị cho việc thay thế bằng văn hóa Cơ Đốc. Hai vị tướng Trung Hoa là Tăng và Hồ chính mắt thấy họ Hồng đă lộ mặt thật bèn đứng lên diệt Thái B́nh Thiên Quốc, đó có phải là sự thật hay không? (Thượng Minh Công hỏi)

 

          Đáp: Đó là chuyện [cách đây] đă gần một trăm năm. Sự tích và vật dụng thời ấy đến nay hăy c̣n. [Các bộ từ điển] Từ Nguyên và Từ Hải đều ghi chép. Sách giáo khoa trong nhà trường cũng phần nhiều ghi chép chuyện này. Trong những sách do ông Hồ và ông Tăng đă viết, càng [ghi chép sự kiện] tường tận hơn, có thể tra từ đó sẽ biết.

 

* Hỏi: “Nhân duyên” có phải là tự nhiên hay không? (Thượng Minh Công hỏi)

 

          Đáp: Tôi chưa hiểu ư cư sĩ trong câu hỏi này. Nếu ư ông hỏi là hết thảy các pháp là do nhân duyên tự nhiên hợp thành, chẳng phải do thần là đấng sáng tạo, th́ nói “nhân duyên tự nhiên” sẽ thông suốt.

 

          * Hỏi: Vị cư sĩ X… lầm lạc tin Nhất Quán Đạo là Phật giáo, và đă từng lập lời thề độc: “Nếu tôi trái phản Nhất Quán Đạo, nguyện sẽ bị sét đánh chết tươi”. Về sau, được Phật giáo đồ giải thích, bèn kiền thành niệm Phật, lễ Phật, tụng kinh, vẫn [lo ngại] có thể gặp phải ách vận ấy hay không? Lại nữa, người chỉ quy y, chứ không thể niệm Phật, lễ Phật, tụng kinh lại là như thế nào? (Ngô Minh An hỏi)

 

          Đáp: Khi người ấy thề thốt, người giám sát lời thề là ai? Kẻ chuyên trông coi việc sét đánh lại là kẻ nào? Nay tôi nêu ra một chuyện để hỏi ngược lại. Trẻ nhỏ khóc nhè ban đêm trong chốn làng quê, mẹ nó gạt rằng: “Tối đến mà khóc th́ khỉ sẽ xuất hiện”. Trẻ sợ, nín bặt. Điều này giống hệt như vậy đó. Nay ông X… bỏ ngụy hướng về chân, cải tà quy chánh, vẫn c̣n lo ngại về lời thề như trẻ nít đùa bỡn, gần giống như kẻ thoạt đầu phát thệ gia nhập bọn trộm cướp, về sau, sửa đổi tánh nết, đi học, bản thân đă làm quan lớn mà vẫn sợ lời thề thuở làm kẻ trộm cắp ư? Chuyện đă làm thuở xưa mới là hành vi trộm cướp. Nay đă quy Tam Bảo, giống như mong sẽ làm quan lớn vậy!

 

          * Hỏi: Chiếu theo Lư “Sắc chính là Không, Không chính là Sắc”, khí thế gian và linh hồn giới phải nên là chẳng hai, do đều cùng từ các duyên ḥa hợp mà sanh ra. Chúng sanh do nhờ vào Chân Như bản tánh mà sanh, nếu có thể đoạn hết vô minh, viên trí tịch chiếu, sẽ có thể thành Phật. Lư này hết sức rơ rệt. Chỉ nói Tây Phương Tịnh Độ là do A Di Đà Phật tạo thành, đúng là khiến cho người ta tốn công t́m hiểu [mà vẫn ngơ ngác]. V́ Phật cũng là người, nếu Ngài có thể sáng tạo vũ trụ, sẽ sanh ra hai thứ mâu thuẫn: Một, Tịnh Độ là do Phật đă tạo, ắt phải là do từ Phật mà có khởi đầu. Hễ có khởi đầu, ắt có kết thúc. Há chẳng phải là mâu thuẫn với thuyết vũ trụ vô thỉ vô chung ư? Hai là nói theo lư “hết thảy chỉ do tâm tạo”, vậy th́ Thượng Đế sao chẳng thể thường nương vào cái tâm ấy để tạo? Tạo lung tung như vậy, sẽ xuất hiện đa nguyên, trật tự ắt rối loạn, c̣n thành thế giới nữa ư? Kính mong hăy dùng “các pháp do duyên sanh”“hết thảy chỉ do tâm tạo” để phân tích? (Kim Á Đạc hỏi)

 

          Đáp: “Sắc chính là từ Không khởi”, cho đến “chúng sanh nương vào Chân Như bản tánh mà sanh”: Đối với những điều được nói trong đoạn này, Phật pháp chẳng nói như vậy. Bởi lẽ, Sắc là do duyên sanh, Chân Như bản tánh là vô sanh. Do trọng tâm của lời hỏi thuộc trong đoạn sau, nên điều này có thể lược đi [không đáp]!

[Đối với những điều sau đó], tôi đáp như sau:

1) Một, đối với câu hỏi “Tịnh Độ do đức Phật tạo ra”, kiến lập Tịnh Độ là để chuyên độ chúng sanh. Do căn khí của chúng sanh có sai khác, nên lời dạy có Quyền và Thật. Bậc thượng bèn ngộ Thật, trung và hạ căn tin Quyền. Sau khi đă tin Quyền, hễ ngộ bèn tiến nhập Thật, quyết chẳng phải là “chỉ biết nói Quyền, chẳng biết đến Thật”. Thật là ǵ? Tịch Quang Tịnh Độ. Đấy chính là pháp vô vi, vô tướng, vô thỉ, vô chung, Pháp Thân khế hợp, chẳng phải là tạo tác. Quyền là ǵ? Ba cơi Thật Báo, Phương Tiện, Đồng Cư. Đấy chính là pháp hữu vi, hữu tướng, có khởi đầu, có kết thúc, Báo Thân khế hợp, là pháp tạo tác. Chúng sanh trong nhiều kiếp mê hoặc đă sâu, hễ nói ra, họ sẽ rất khó hiểu rơ. V́ thế, trước hết là khai Quyền để hiển Thật.

2) Giải đáp cho vấn đề thứ hai “hết thảy chỉ do tâm tạo”. Hết thảy do tâm tạo chính là pháp hữu vi, hữu tướng, cũng do duyên sanh, thuần là sanh diệt. Thượng Đế có thể tạo, bọn ta cũng tạo, tức là núi, sông, đại địa trước mắt trong uế độ, và sâm la vạn tượng sanh diệt. Nhưng dẫu nói là tâm tạo, tâm sai biệt muôn vàn. Người tâm tịnh bèn tạo tịnh, người tâm uế bèn tạo uế. Đối với hai chữ tịnh và uế, trong kinh có tiêu chuẩn chắc chắn, chẳng phải là chuyên v́ nước trong mà bảo là tịnh, do phân thối mà bảo là uế. Thượng Đế và ta đều là phàm phu, tâm có vô minh, cho nên những ǵ tạo tác đều là uế ác, bất tịnh. Phật là bậc ba đức viên măn, là bậc thánh của các thánh, tâm tịnh như mặt trời, cho nên những ǵ Ngài đă tạo đều tịnh!

 

          * Hỏi: Kính nghe lời răn dạy, may mắn biết Phật pháp giải quyết triệt để hai vấn đề lớn là nhân sanh và vũ trụ, nhưng con người do đâu mà có, vũ trụ h́nh thành như thế nào? Xét theo Lư th́ nói “duyên sanh”, Sự th́ phức tạp. Đối với quá tŕnh trọng yếu này, tôi hết sức mong liễu giải. Nghe nói có bộ Hoa Nghiêm Nguyên Nhân Luận bảo “con người từ trời Quang Âm giáng xuống”. Nếu đúng là như vậy th́ càng mong được nghe tường tận về chuyện này. Các nhà khoa học bảo con người do tiến hóa mà có. Quá tŕnh là từ tế bào đơn, tế bào phức, sinh vật, rồi đến động vật, động vật bú sữa, khỉ vượn, vượn người, cuối cùng là [vượn người] tiến hóa thành người. Cơ Đốc giáo bảo [con người] là do Thượng Đế tạo ra. Đối với lư duyên sanh trong Phật giáo, tôi nghĩ chẳng phải là hai điều vừa nói trên đây! Nói cho tới cùng, con người h́nh thành như thế nào? Đối với quá tŕnh sanh tồn của con người (chẳng phải là tŕnh tự sinh lư mang thai), người đầu tiên trên địa cầu được h́nh thành như thế nào? (Thính chúng X… hỏi)

 

          Đáp: Nói tới khởi đầu của nhân loại, vẫn lấy duyên sanh làm chánh. Khoa học nói đến sự tiến hóa, v́ sao không thể nói đến nhiều yếu tố? Nếu nói đến nhiều yếu tố, tức là chưa hề trái nghịch nguyên tắc “duyên sanh”, cho nên phải chấp vào một sự tiến hóa, phớt lờ nhiều sự biến đổi. V́ thế, có giả thuyết lầm lạc “loài người từ loài vượn mà ra”. [Nếu nói] Thượng Đế tạo tác, cũng như là nói “tự nhiên mà có”, chính là lời lẽ do chẳng biết như thế nào [nên đành nói đại như vậy cho xong chuyện], cũng giống như là chẳng nói! Những điều ông hỏi chú trọng nơi kiếp nào bắt đầu có con người. Đă chẳng nói tới sinh lư, lại chẳng nói tới vô thỉ, th́ như kinh Hoa Nghiêm nói [con người thoạt đầu] từ trời Quang Âm giáng hạ, sẽ là chánh đáng. Nếu hỏi cặn kẽ về chuyện từ trời Quang Âm giáng xuống, th́ vẫn là nói đến duyên sanh, nhưng đối với vô thỉ và sinh lư, lại chẳng thể không nhắc đến!

 

* Hỏi: Quá tŕnh h́nh thành con người và vũ trụ là vấn đề tranh luận từ xưa tới nay. Do Khổng Tử chẳng nói, giới học thuật chỉ đành căn cứ theo thuyết của giới khoa học. Phật học là cái học có trí huệ cao nhất, ắt phải nói rơ tỉ mỉ, nhưng [kinh Phật] chỉ nhắc tới lư duyên sanh, khiến cho người ta chẳng dễ thấu hiểu. Nếu có kẻ phát tâm, có thể đem vấn đề này viết thành sách để tuyên dương, công đức to hơn núi Tu Di, Phật nhật tăng huy, lợi ích rất sâu! (Thính chúng X… hỏi)

 

          Đáp: Kinh Bát Nhă của nhà Phật giảng về Chân Không, Chân Như vô vi chẳng lập một pháp. Tông Duy Thức giảng về Diệu Hữu, duyên sanh khởi tướng, vạn pháp duy thức. Hai môn học này có cùng một Thể, một Tướng. Nếu có thể dung thông, sẽ hiểu rơ bí mật của vũ trụ và nhân sanh. C̣n như nói tới “duyên sanh”, hoàn toàn chẳng phải là lời lẽ mơ hồ, các kinh đều chứa đựng ư nghĩa này, và cũng có Duyên Sanh Luận là sách chuyên môn [giảng giải vấn đề này], nhưng sợ rằng người sơ cơ mới học Phật, đọc [sách ấy] sẽ chẳng hiểu! Ắt là phải đă có thường thức Phật học; sau khi đă có sự nhận thức kha khá, lại bắt tay vào nghiên cứu th́ mới chẳng thấy khó khăn!

 

          * Hỏi: Gần đây, có một tạp chí dịch thuật Phật giáo, trong ấy có những lời lẽ như: “A Di Đà Như Lai chính là do Phật Thích Ca trong năm mươi năm thuyết giáo đă giả thiết, miêu tả một tư thái”. Nh́n vào lời văn, suy ra ư nghĩa: Phủ định sự tồn tại thật sự của A Di Đà Như Lai. Trong tờ tạp chí ấy, có lời giới thiệu ca ngợi [bài viết ấy] của các vị đại đức chuyên về kinh giáo, khiến cho mạt học kinh hăi dị thường! Xin hăy giải thích, để mọi người vững vàng tín tâm. (Hậu học hỏi)

         

Đáp: Nguyên tác của những bài như vậy phần nhiều là chủ trương lầm lạc của các học giả Nhật Bản, chẳng phải là do đệ tử Tam Bảo tuân phụng thánh ngôn viết ra! Dịch giả chắc là chiếu theo nguyên văn. Hiện thời, cái thói cứ dịch ra rồi bảo người khác viết lời giới thiệu đă trở thành trào lưu; nhưng một bản dịch dài thọng, người viết lời giới thiệu chưa chắc đă xem hết! V́ thù tạc mà viết lời giới thiệu rồi thôi. Nguyên tác giả của bài viết ấy vốn có tâm báng pháp, nhưng người viết lời giới thiệu chẳng để ư tới!

 

          * Hỏi: Hồn và linh có ǵ khác biệt? (Hồ Mỹ Nguyệt hỏi)

 

          Đáp: Trong Phật giáo, hồn () được gọi là “thức thần” (識神), do bản tánh sau khi đă mê biến ra. Linh () là tác dụng do hồn phát khởi. Nay tôi nêu một thí dụ để giảng rơ: Như một tiếng chuông, cái chuông chính là Thể của chuông, tiếng chuông là do cái chuông phát khởi tác dụng.

 

          * Hỏi: Cơ Đốc giáo nói: Trời, đất, người, vật đều do Gia Tô (Jesus) sáng tạo, [vậy th́] giáo chủ của Phật giáo là Thích Ca Mâu Ni Phật có phải là do Gia Tô sáng tạo hay không? (Hồ Mỹ Nguyệt hỏi)

         

          Đáp: Câu hỏi này quá nực cười! Thích Ca Mâu Ni Phật giáng thế, xét theo sự khảo cứu thời cổ là cách nay gần ba ngàn năm, theo thuyết mới cũng hơn hai ngàn năm trăm năm. Gia Tô giáng sanh cách nay chưa đến hai ngàn năm! Nếu theo thuyết cũ th́ Gia Tô sau Phật đến một ngàn năm, theo thuyết mới th́ Gia Tô sau Phật năm trăm năm. Nếu nói “Gia Tô tạo ra Thích Ca”, cũng giống như nói: “Trước hết đẻ ra chắt, sau đấy, do đứa chắt sanh bèn sanh ra ông cố!” Nói mớ trong mộng ư? Hay đúng là lời nói khi say xỉn? Chuyện hoạt kê lớn nhất trong thiên hạ!

 

          * Hỏi: Nếu nói theo cách nói của Phật giáo, người và vật do ai sáng tạo? Phật giáo coi trọng nhân duyên quán, nhân duyên ḥa hợp là do ai sáng lập? (Hồ Mỹ Nguyệt hỏi)

 

          Đáp: Đối với vấn đề này, quư cư sĩ học Phật chưa lâu, tuy tôi có nói, sợ rằng trong nhất thời cũng chẳng hiểu! Quyết chẳng thể nói “ai là người sáng tạo?”, “nhân duyên ḥa hợp là do ai sáng lập?” Nay chỉ trả lời câu hỏi về khởi đầu của loài người là được rồi. Thế giới vô tận, t́nh h́nh khác nhau, nhưng nói theo thế giới Sa Bà này, có bộ Hoa Nghiêm Nguyên Nhân Luận giảng rất tường tận. Hễ có cơ hội, hăy cậy người khác giảng giải th́ sẽ biết, chứ trong cột báo này chẳng có cách nào nói đầy đủ được!

 

          * Hỏi: Trong tam giới, vị Phật đầu tiên giải thoát như thế nào? Trước khi vị Phật đầu tiên xuất thế, ai dạy vị ấy pháp giải thoát? Nếu do tự lực mà có thể được giải thoát, th́ chúng sanh sớm muộn ǵ sẽ được giải thoát, chư Phật cần ǵ phải thuyết pháp? (Hầu Thu Đông hỏi)

 

          Đáp: Tánh tịnh vốn giác, do nhiễm mà mê, nhiễm và tịnh đều có sức mạnh, lần lượt tiêu trừ và tăng trưởng lẫn nhau[36]. Có thể khởi giác bèn nghĩ đến tu tập, do nghĩ đến tu tập bèn tu tŕ. Do giác bèn nghĩ tới tu, do nghĩ tới tu bèn càng thêm giác. Ngày ngày, năm năm, đời đời kiếp kiếp, tiếp nối chẳng dứt, giác đến rốt ráo, sẽ thành Phật. Người ấy tuy chưa được Phật dạy dỗ, nhưng đối với mỗi sự, mỗi người, đều coi là thầy, tu học trong trần sa kiếp, phá Trần Sa Hoặc, ai có thể làm như thế th́ người ấy có thể thành Phật. Sau khi đă thành Phật, lại đem kinh nghiệm tự chứng của chính ḿnh nói với đại chúng, bèn gọi là Kinh. Người đời sau nương theo đó để tu, dễ dàng hơn người trước. Đấy là nói đại lược đối với điều nghi vấn ông đă nêu ra. Nếu ngồi chờ trong nhà, [cứ nghĩ] sớm muộn ǵ cũng sẽ giải thoát, chẳng tu mà chứng, quyết chẳng có lẽ ấy!

 

* Hỏi: Thế gian có quỷ, nhưng trong thời đại khoa học hiện thời càng cảm thấy trong thế gian chẳng có quỷ. Rốt cuộc là có quỷ hay không? Nếu có, sao chưa hề thấy? (Châu Mẫn Hùng hỏi)

         

Đáp: Có phải là thời đại khoa học hay không, tạm thời chẳng hỏi tới, chỉ hỏi khoa học phát triển hay không? Kinh điển của thánh nhân, truyện của hiền nhân Trung Hoa đều chép rơ có quỷ thần. Các tôn giáo trên toàn cầu đều nói có quỷ thần. Hội khoa học Nhật Bản đặc biệt tin có Phật. Hội khoa học Âu Mỹ chủ yếu nói “có Gia Tô”. Muôn loại học thuyết đều chủ trương là có, riêng ḿnh khoa học nói là không. Đấy là một bằng chứng sắt đanh chứng tỏ khoa học chưa phát triển. Đă thế, chẳng phải là toàn thể các khoa học gia đều nói là không! Nếu nói “do chưa thấy quỷ” bèn chẳng thừa nhận là có, đấy là v́ thấy biết ít ỏi. Từ xưa tới nay, đă có rất nhiều người trông thấy quỷ thần. Nếu vẫn chất vấn, xin hăy hỏi người đă từng thấy [quỷ thần] giới thiệu cho biết! Thử hỏi Châu đồng học đă từng nằm mộng hay chưa? Nếu nói là có th́ xin cũng giới thiệu cho tôi xem [những cảnh ông đă từng mộng thấy]!

 

* Hỏi: Đối với người sau khi đă chứng từ quả vị A La Hán trở lên, vô lượng vô biên đại thiên thế giới, kể cả khí thế gian và hữu t́nh thế gian đều thuộc trong thế giới Cực Lạc, có đúng hay không? (Lại Ngân Ba hỏi)

 

Đáp: Thế giới Cực Lạc là chuyên nói về cơi Tịnh Độ của Phật Di Đà, ắt là phải phát tâm Đại Thừa Bồ Đề th́ mới được văng sanh. A La Hán là quả tột bậc trong Tiểu Thừa, vẫn hoàn toàn chẳng tương ứng với cơi Cực Lạc! Trong đoạn giữa, ông nói vô lượng đại thiên thuộc về Cực Lạc, ư nghĩa của lời nói chẳng rơ ràng, khó thể đáp bừa được!

 

          * Hỏi: Lời Phật nói có phải là hoàn toàn đúng hay không? Có thể nào nói sai hay chăng? (Lại Ngân Ba hỏi)

 

          Đáp: Phật là bậc thật ngữ, chân ngữ, như ngữ, chẳng vọng ngữ, chẳng nói lời dối gạt. Phật là bậc đại giác, chánh giác. Vọng ngữ là ăn nói hồ đồ. Há có bậc đại giác nào thốt lời hồ đồ? Ông đừng giữ ư niệm ấy! Do nghi hoặc sẽ chuốc lấy lỗi lầm!

 

          * Hỏi: Ma quấy nhiễu ta và ta tự quấy nhiễu là như nhau, đúng không? (Lại Ngân Ba hỏi)

         

Đáp: Ma chia thành nội và ngoại, đều do tự tâm cảm vời. Đă là do tự tâm cảm vời th́ bảo là “tự nhiễu”, muôn ngàn phần chánh xác!

 

          * Hỏi: Căn cứ câu “phàm những ǵ có tướng đều hư vọng”, những điều ta nghĩ, ta làm trước mắt, thậm chí niệm kinh, tọa thiền v.v… đều là hư vọng. Đúng hay không? Nếu là đúng, ta đọc kinh, học Phật chẳng phải là hư vọng ư? (Lại Ngân Ba hỏi)

         

Đáp: Phàm phu bất giác, khởi Hoặc tạo nghiệp, đó là t́nh trạng bệnh tật; niệm kinh, tọa Thiền chính là uống thuốc. Dùng thuốc để trừ bệnh, bệnh có thể lành, bệnh là hư vọng. Nếu bệnh chẳng c̣n mà vẫn uống thuốc, thuốc chính là bệnh, thuốc lại là hư vọng. Nếu đạt đến “bệnh lẫn thuốc cùng mất”, sẽ là chân thật. Nay vẫn c̣n đang bệnh th́ phải uống thuốc!

 

          * Hỏi: Nếu Quán Âm Bồ Tát và Thích Ca Mâu Ni Phật có thể thường thị hiện, trực tiếp cứu độ, giáo hóa chúng sanh, chúng sanh chẳng phải là càng dễ được cứu vớt, hóa độ hơn ư? V́ sao phải khiến cho chúng sanh chẳng trông thấy Phật, thường ch́m trong biển khổ, suy lường, ngờ vực? (Lại Ngân Ba hỏi)

         

Đáp: Phật và Bồ Tát đều hóa thân rất nhiều, như do lá rụng, hoa bay đều có thể ngộ đạo. Những chiếc lá rụng, những cánh hoa bay ấy đều là do Phật hóa thân, nhưng do chính ḿnh căn khí lợi hay độn mà ngộ hay không? Xưa kia, đức Thích Tôn ở tại nước Xá Vệ, rành rành là thân Phật hiện trong cơi đời, vậy mà người trong thành Xá Vệ, chỉ có một phần ba là tin tưởng, c̣n nói chi được nữa? Thân Phật, Bồ Tát, chẳng cơi nào, không lúc nào chẳng hiển hiện, chỉ là do chúng sanh hữu duyên hay vô duyên mà thôi!

 

          * Hỏi: Có những kẻ nói Phật giáo chia thành thời kỳ Hồng Dương, thời kỳ Thanh Dương, thời kỳ Bạch Dương, chẳng biết ư nghĩa là ǵ? Xuất phát từ loại kinh điển nào? Chẳng biết hiện thời thuộc thời kỳ Dương nào? (Lư Thanh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Hồng Dương, Bạch Dương, Thanh Dương v.v… chính cống là tàn dư ác nghiệt của bọn Bạch Liên Giáo. Bọn chúng trải các đời đều làm phản, mượn danh thần thánh để lừa phỉnh dân ngu, luôn bị quốc gia tiễu trừ. Có cuốn sách Ám Lộ Minh Đăng (đèn sáng trong đường tối) đă chép rất tường tận. Xin tặng một cuốn sách ḥng thấy được sự ngụy trang của chúng. Bọn chúng là lũ thất học vô thuật, đi lầm vào đường mê, giả mạo Phật giáo, đều là đợi bổ vào địa ngục!

 

          * Hỏi: Họ không chỉ nói hiện thời là Tam Kỳ Mạt Kiếp, mà c̣n nói Ngũ Giáo Hợp Nhất, thánh nhân trong ngũ giáo như thế này, thế nọ, chẳng biết [những điều ấy] xuất phát từ kinh điển nào? (Lư Thanh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Xét theo ngũ giáo như họ nói, chính là Nho, Thích, Đạo, Gia Tô và Hồi. Năm giáo ấy, mỗi giáo đều có giáo nghĩa riêng, có kinh điển riêng. Mỗi giáo đă có giáo nghĩa riêng cho nên chẳng thể hợp nhất. Mỗi giáo đều có kinh điển riêng, cho nên tùy thuộc quyền tự do của người tin theo giáo nào. Đôi bên công khai, mỗi giáo đều chẳng mạo nhận, mà trong kinh của cả năm giáo cũng đều chẳng có những lời lẽ yêu dị Bạch, Hồng, Thanh Dương chi cả!

 

          * Hỏi: Bọn họ nói hiện thời Phật Thích Ca đă thoái vị, Phật Di Lặc kế vị. Xin hỏi Phật Di Lặc là nhân vật như thế nào? Hăy nên xem kinh điển nào để liễu giải Phật Di Lặc? (Lư Thanh Lâm hỏi)

         

          Đáp: Chuyện này rơ ràng là bọn họ chẳng biết ǵ về Phật giáo! Cho nên mới bạo gan bịa đặt lời nói quái quỉ ấy, chẳng sợ tội báng pháp. Những giáo ấy chính là Bạch Dương Giáo, Hồng Dương Giáo, Thanh Dương Giáo, đều là bị pháp luật và quốc gia cấm chỉ! Cho nên, chúng nó Đông lôi, Tây kéo, đă mạo nhận là Phật giáo, trong tương lai, sẽ lựa gió mà bẻ bánh lái, Nho, Đạo, Hồi, Gia Tô v.v… đều có thể dùng làm chiêu bài cho chúng nó. Phật Di Lặc đích xác là được chép trong các kinh Phật, nhưng chẳng có mảy may liên quan ǵ đến Bạch, Hồng, Thanh Dương! Hăy nên lánh xa bọn chúng ḥng khỏi nhiễm tà khí!

 

          * Hỏi: Bất tài từ bé vâng theo sự giáo huấn trong gia đ́nh, theo đạo Nho, học y, nhưng đều chưa đạt đến cảnh giới trung chánh. Lúc bảy, tám tuổi, thưa với cha muốn bỏ cơi tục xuất gia, chẳng được thỏa ư. Mười mấy năm sau, tự đọc kinh điển của Thích và Đạo, nhưng đều chưa nắm được tông chỉ, hiểu những điều thô thiển bên ngoài. Sau khi đă tốt nghiệp trường trung học Khổng Giáo ở Bắc B́nh (Bắc Kinh), liền chuyển sang học khoa Cao Đẳng Sư Phạm. Trong thời gian ấy, tự tu tĩnh tọa, cũng chưa đạt được lợi ích thật sự. Sau khi đến Đài Loan, bèn theo học tại viện y học Quốc Pḥng, thường vào mỗi kỳ nghỉ Hè và Đông đều đến chùa Thập Phổ ở vùng phụ cận để nghe pháp, kết duyên với pháp sư Thánh Lưu. Sau đấy, do pháp sư Bạch Thánh bị bệnh, mời bất tài chẩn trị để chữa bệnh sạn thận (viên sỏi nhỏ đă theo đường tiểu thoát ra). Sau khi Sư đă lành bệnh, bèn kết duyên, quy y với Ngài, được tặng rất nhiều kinh điển, nên mới đạt được chánh tri, chánh kiến. Năm Dân Quốc 47 (1958), ở bệnh viện Tam Tổng, lại kết duyên với pháp sư Luật Hàng (do Sư bị bệnh), được khai thị rất nhiều, được lợi ích rất nhiều. (Mă Ngọc Lâm hỏi)

 

          Đáp: Sau khi tôi đă xem kỹ càng câu hỏi này, chỉ thấy tường thuật những chuyện [người hỏi] đă từng trải qua, hoàn toàn chẳng nêu ra nghi vấn. Đă chẳng có nghi vấn, lẽ ra chẳng cần phải đáp. Chỉ có điều trong ấy có hai câu có thể bàn bạc cùng ông. Tức là “do được tặng rất nhiều kinh điển, nên mới đạt được chánh tri, chánh kiến”. Hăy nên biết: Có nhiều kinh điển chỉ là chứa sách! Đọc rồi có thể hiểu, chỉ là cầu đạo. Giải có cạn hay sâu, biết có rộng và hẹp. Nghe một ngộ cả ngàn, vừa tiếp xúc bèn thông hiểu cặn kẽ th́ mới gọi là Đạt. Đó là ư nghĩa nông cạn của chữ Đạt! Ngộ Phật tri kiến, nhập Phật tri kiến, th́ mới đạt được chánh tri, chánh kiến. Cũng đừng nên dễ dăi nói đến chữ Chánh ấy!

 

          * Hỏi: Năm ngoái, tôi đọc kinh Kim Cang, vẫn chẳng thấu hiểu. Cho đến khi tới Phật đường ở vùng lân cận, thấy họ thờ phụng Ngũ Giáo Hợp Nhất Tiêu Xương Minh Phu Tử[37]. Chiếu theo chánh tri chánh kiến Phật giáo, biết họ là ngoại đạo chẳng c̣n ngờ nữa. Kế đó, xem kinh điển của họ, đa phần là tự soạn, chẳng ĺa Lăo Mẫu trên cơi trời, chín mươi hai nguyên linh! Tuy chẳng phải là Áp Đản Giáo, nhưng những kinh điển do họ trích dẫn phần nhiều giống như thế. Do bất tài đă có kinh nghiệm học Phật, thấy những chuyện đó, tự biết là ḿnh đă hỏi đạo nhằm kẻ mù! V́ thế, bất đắc dĩ, chỉ có quay lại cầu nơi chính ḿnh. Tháng Ba năm ngoái, trong khi tĩnh tọa, tự nghĩ: Như bất tài do có ḷng thành tin Phật; lẽ ra, Phật sớm nên hiển thị một số cảnh giới. Tôi nhớ lăo pháp sư Ấn Quang từng nói: “Xuất gia ba năm mà nếu chẳng cảm ứng thấy Phật, tôi liền đọa địa ngục”[38]. Tuy bất tài chưa từng làm tăng, nhưng nói theo sự thành tâm hướng Phật, cũng phải nên cho bất tài thấy những cảnh giới ấy th́ mới đúng chứ! Nghĩ xong bèn tĩnh tọa, chưa đầy một phút, bèn thấy một vị là họ hàng bên vợ đến trước mặt (rơ ràng như trong TV). Lúc ấy khoảng chừng bốn giờ rưỡi sáng. Ba giờ chiều hôm ấy, quả nhiên người ấy thật sự đến thảo xá ở Đài Bắc. Lần thứ hai là vào lúc sáng sớm tập Thái Cực Quyền, bỗng cảm thấy có người muốn kiếm tôi (tức là người bạn học tên Giả Khánh Bích). Ngay khi đó, bèn đến bệnh viện hỏi thăm ông ta. Ông ta nói: “Hôm qua là ngày Chủ Nhật, có người kiếm một vị làm bác sĩ trong nhà trường, chẳng biết ông có thời gian để làm thêm hay không?” Ngay khi đó, ông ta kiếm địa chỉ và số điện thoại của tôi nhưng đều chẳng thấy; do vậy, sốt ruột, “chẳng ngờ sáng nay ông tới hỏi tôi”… Hai chuyện trên đây bất quá là cảm ứng do học Phật, nhưng bất tài nghĩ rằng: Chắc cũng là Phật, Bồ Tát ắt biết, ắt thấy, cố ư hiển thị cho tôi. Đối với chuyện này, xin lăo cư sĩ hăy khai thị cho kẻ bất tài, mong thay! (Mă Ngọc Lâm hỏi)

 

          Đáp: Đối với câu hỏi này, có thể chọn ra bốn chỗ để đáp:

          1) “Phật nên ban cho cảnh giới”, chẳng biết ông mong cầu những cảnh giới như thế nào? Chân là thanh tịnh, tịch diệt; vọng là hết thảy tướng trạng. Hai điều ấy đều do tâm cảm. Chẳng có cảm, bèn không có ứng.

          2) “Tổ Ấn Quang từng nói, xuất gia ba năm, nếu chẳng có cảm ứng thấy Phật, ta liền đọa địa ngục”, ông chẳng nói rơ nghe được từ chỗ nào? Thấy từ chỗ nào? Nếu Văn Sao chép như vậy th́ phải xét theo nghĩa những câu văn trước và sau câu ấy. Nếu chỉ cắt lấy câu ấy, chẳng đặt trong ngữ cảnh, ắt sẽ hiểu lầm! Như đọc Luận Ngữ thấy câu “cư thượng bất khoan, vi lễ bất kính”[39], chẳng đọc những câu tiếp liền trước và sau câu đó, [sẽ nói Khổng Tử] dạy người ta làm ác ư?

          3) Hai chuyện về người thân bên vợ và ông bạn Giả Khánh Bích, chẳng qua là tâm con người giao cảm, [đều là chuyện] mộng, huyễn, bọt, bóng!

Phật Học Vấn Đáp Loại Biên

phần 14 hết



[1] Phạn điển: Các kinh điển cổ của Bà La Môn, như kinh Vedas chẳng hạn.

[2] A Pḥng (阿房) là cung điện do Tần Thủy Hoàng xây dựng sau khi diệt sáu nước, thống nhất Trung Nguyên. Cung điện này nằm trên sông Vị thuộc kinh đô Hàm Dương. Đây là một cung điện tráng lệ, to rộng, xa xỉ bậc nhất thời đó, phải mất gần ba năm mới xây xong, huy động đến hơn bảy mươi vạn công nhân. Nhưng theo các nhà nghiên cứu, cho đến khi Tần Thủy Hoàng chết, cung điện ấy vẫn chưa thật sự xây xong hoàn toàn. Cung A Pḥng có diện tích rộng hơn tám mươi ngàn mét vuông, nhưng khi Hạng Vũ diệt nhà Tần, đă đốt cháy cung điện này.

[3] Chín nhánh sông ở đây chính là chín chi lưu của Hoàng Hà.

[4] Lam Điền (藍田) là một huyện thuộc tỉnh Thiểm Tây, nổi tiếng về ngọc vào thời cổ.

[5] Đây là một câu chuyện trong kinh Duy Ma Cật. Do đại chúng thấy cơi Sa Bà nhơ uế, dấy tâm nghi lúc tu nhân, Phật Thích Ca Mâu Ni chẳng vận tâm thanh tịnh. Đức Phật dạy “cơi nước nhơ uế là do tâm đại chúng bất tịnh”. Liền đó, Ngài hiển thị thần lực, nhấn ngón chân xuống đất, đại chúng thấy toàn thể đại địa đều bằng vàng.

[6] Viên Trung Đạo (1570-1623), tự là Tiểu Tu, là văn hào đời Minh, quê ở huyện Công An, tỉnh Hồ Bắc. Ông là em của hai văn gia trứ danh Viên Tông Đạo và Viên Hoằng Đạo. Do ba anh em đều nức tiếng văn chương, nên họ có mỹ hiệu là Công An Tam Viên (ba ông Viên ở huyện Công An). Ông Viên Trung Đạo làm quan đến chức Lang Trung bộ Lại. Ba anh em ông sáng lập một trường phái văn học nổi tiếng thời ấy, mệnh danh là Công An Phái.

[7] Tám nạn (bát nạn) là tám hoàn cảnh sống gây chướng ngại khiến chúng sanh khó thể tu tập Bồ Đề, gồm địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, cơi trời Trường Thọ (tức Vô Tưởng Thiên), Bắc Câu Lô Châu (quá sung sướng không nghĩ tới tu tập), kẻ bị đui, điếc, câm, ngọng, kẻ Thế Trí Biện Thông và sanh ra trước Phật hay sau Phật (tức là sanh ra trước khi Phật giáng thế, hoặc sanh sau khi Phật pháp đă diệt).

[8] Đà Thành (佗城) là một trấn thuộc huyện Long Xuyên, thành phố Hà Nguyên, tỉnh Quảng Đông. Ở đây, vào thời Tần, Triệu Đà đă xây dựng cổ thành tại đây để làm tổng hành dinh cai trị miền Lănh Nam và Giao Châu thuở ấy.

[9] Đây là một tỷ dụ trong kinh Niết Bàn, chư Phật nhằm hóa độ chúng sanh bèn dùng mọi phương tiện dẫn dụ. Ví như trẻ khóc quấy, để dỗ cho trẻ nín khóc, bèn lấy chiếc lá đă vàng úa, bảo là vàng thật, trẻ tưởng thật, vui thích chơi với chiếc lá, nín khóc.

[10] Đây là câu thành ngữ “nhân giả kiến nhân, trí giả kiến trí” (người nhân thấy là nhân, người trí thấy là trí), ư nói: Tùy theo mỗi người mà có kiến giải khác nhau.

[11] “Trị học” (治學) là một thành ngữ có nghĩa là theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu học vấn với thái độ hết sức nghiêm túc, cẩn trọng.

[12] Đây là cụ Lư gọi người hỏi một cách thân mật.

[13] Đây là một câu trong sách Trung Dung, nguyên văn: “Hỷ nộ ai lạc chi vị phát, vị chi Trung; phát nhi giai trung tiết, vị chi Ḥa. Trung dă giả, thiên hạ chi đại bổn dă. Ḥa dă giả, thiên hạ chi đạt đạo dă. Trí trung Trung Ḥa, thiên địa vị yên, vạn vật dục yên” (Mừng, giận, buồn, vui chưa phát ra th́ gọi là Trung. Đă phát rồi mà có thể khắc chế đúng mức bèn gọi là Ḥa. Trung là cái gốc to lớn của trời đất. Ḥa là phương cách để đạt đến đạo trong thiên hạ. Đă đạt đến Trung và Ḥa th́ trời đất đúng mực, vạn vật sanh thành đúng lẽ). Chúng tôi dịch câu này theo cách giải thích của trang nhà Đại Phương Quảng.

[14] Nhất Quán Đạo chính là một trong các phái tà giáo phát sinh từ Bạch Liên Giáo, c̣n có những tên gọi như Nhất Quán Hưng Thiên Đại Đạo, Khổng Mạnh Thánh Đạo, Nhất Thánh Đạo, Nhất Môn Đạo v.v... Trong niên hiệu Thành Hóa (1465-1487) đời Minh, La Tư Phù đă dựa trên giáo nghĩa của Bạch Liên để canh cải, sáng lập La Giáo, chủ trương tín đồ tại gia tu hành, tuyên truyền ai cũng có thể giác ngộ bằng cách làm lành, không cần phải niệm Phật, tọa Thiền v.v… Đến niên hiệu Thuận Trị nhà Thanh, Hoàng Đức Huy lại tôn La Tư Phù làm tổ sư, vay mượn giáo nghĩa của La Tư Phù, pha trộn lung tung những tư tưởng của Nho giáo và Phật giáo và những điều mê tín trong dân gian, diễn giải theo kiểu tu tiên, luyện đan, lập ra Thanh Liên Giáo. Đến cuối đời Thanh, vào năm 1886, Lưu Thanh Hư là một trong những người theo Thanh Liên Giáo lại canh cải, đặt ra một đạo mới, lấy tên là Nhất Quán Đạo, tôn thờ Minh Minh Lăo Mẫu làm vị thần cao nhất, tự xưng ḿnh là Thiền Tông Chánh Truyền. Hắn tuyên bố Lục Tổ đă truyền bá sai lệch Phật pháp, rối loạn mối đạo Thiền, chỉ có tại gia đệ tử mới giữ được mối đạo chánh truyền, và Nhất Quán Đạo mới là Thiền Tông chân chánh. Do ở Đài Loan, Nhất Quán Đạo đề xướng ăn chay, đặc biệt là ăn trứng vịt, nên dân gian bèn gọi là Áp Đản Giáo (đạo trứng vịt). V́ giáo chủ Nhất Quán Đạo là Minh Minh Lăo Mẫu, mà danh xưng này chỉ xuất hiện từ thời La Tư Phù, nên cụ Lư mới nói “chẳng biết giáo chủ của Áp Đản Giáo là ai”.

[15] Nguyên văn “Dạ Lang kiến Hán sứ”. Vào đời Hán, nước Dạ Lang (郎夜) ở vùng Quảng Tây và một phần lớn tỉnh Quư Châu hiện thời, giáp quận Ba Thục và hồ Động Đ́nh. Đây là một nước hùng mạnh nhất ngoài đất Hán, nên vua Dạ Lang rất tự phụ. Đời Hán Vũ Đế, Đường Mông vâng chỉ sang sứ Dạ Lang, dụ Dạ Lang Vương quy phục, biến Dạ Lang thành quận huyện của nhà Hán, Dạ Lang Vương ngạo nghễ hỏi: “Hán có to bằng ta hay không?” Điều này va chạm tính cách tự tôn của người Hán rất nặng, do vậy, đối với người Hán, thành ngữ “Dạ Lang kiến Hán sứ” được sử dụng với ư nghĩa “kiêu căng, hợm hĩnh, coi trời bằng vung!”

[16] Mạnh Tử đất Trâu chính là Mạnh Kha (372-289 trước Công Nguyên) là người kế thừa Khổng Tử, trung hưng Nho giáo. Do ông quê ở huyện Trâu nước Lỗ, nên đôi khi c̣n gọi là Trâu Mạnh Tử. Ông theo học với Tử Tư (cháu của Khổng Tử), lănh hội Nho giáo vượt trỗi các vị tiên hiền trong số Thất Thập Nhị Hiền (bảy mươi hai vị cao đồ của Khổng Tử), nên được tôn xưng là Á Thánh. Những ngôn luận của ông được chép thành bộ sách Mạnh Tử và sách này được xếp vào Tứ Thư của Trung Hoa.

Ngô Mạnh Tử là vợ của Lỗ Chiêu Công (Cơ Trù). Thời Chiến Quốc, vợ quư tộc thường được gọi tên theo nơi sanh trưởng, chứ ít khi nhắc đến tên thật. Bà Ngô Mạnh Tử vốn họ Cơ, sanh trưởng ở đất Ngô, nên thường được gọi là Ngô Cơ. Thuở ấy, phong tục nước Lỗ cấm những người cùng họ lấy nhau, nhưng Cơ Trù muốn lấy Ngô Cơ bèn đổi tên Ngô Cơ thành Ngô Mạnh Tử. Trong Luận Ngữ, thiên Thuật Nhi, có chép lời Khổng Tử chê trách chuyện này: “Ngô văn quân tử bất đảng, quân tử diệc đảng hồ? Quân thủ ư Ngô vị đồng tánh, vị chi Ngô Mạnh Tử, quân nhi tri lễ, thục bất tri lễ” (ta nghe nói quân tử chẳng kéo bè kết đảng, quân tử mà cũng kéo bè kết đảng ư? Nhà vua lấy bà Ngô, nhưng bà ta là người cùng họ, bèn đặt tên là Ngô Mạnh Tử. Vua mà biết lễ th́ c̣n ai mà không biết lễ nữa). Viên thái giám Mạnh Tử được nhắc đến trong bài thơ Hạng Bá thuộc chương Nhĩ Nhă của kinh Thi: “Tự nhân Mạnh Tử, vị tác thử thi” (thái giám Mạnh Tử, soạn bài thơ này).

[17] Ngọc tỷ (玉璽): Cái ấn của hoàng đế.

[18] Đây là hai tấm gương hiếu thảo trong Nhị Thập Tứ Hiếu:

MạnhTông (?-271), tự là Cung Vũ, sống vào đời Tam Quốc, từng giữ chức Tư Không trong chính quyền Đông Ngô. Theo Nhị Thập Tứ Hiếu, trời nhằm mùa Đông, mẹ ông ta bị bệnh, thèm ăn canh măng. Mạnh Tông không biết làm sao, bèn ôm gốc trúc khóc rống. Ḷng hiếu cảm trời đất, một gị măng bèn trồi lên. Ông lấy về nấu canh dâng mẹ, ăn xong, bệnh mẹ liền lành.

Khương Thi đời Đông Hán, người xứ Quảng Hán, tỉnh Tứ Xuyên. Mẹ thích uống nước sông Trường Giang và ăn cá, vợ chồng thường phải lặn lội ra sông bắt cá cho mẹ ăn tuy nhà cách sông đến sáu mươi dặm, tuy vất vả, họ không hề than văn. Về sau, chợt ngay bên cạnh nhà sanh ra con suối có vị nước giống hệt như nước sông Trường Giang; mỗi ngày từ dưới suối, hai con cá chép nhảy lên để vợ chồng làm chả cá cho mẹ ăn.

[19] Sử Kư Tư Mă Thiên, phần Lă Thái Hậu truyện có ghi: “Tam nguyệt trung, Lă Hậu phất, hoàn quá chức đạo, kiến vật như thương khuyển, cứ Cao Hậu dịch, hốt phất phục kiến. Bốc chi, vân Triệu vương Như Ư vị túy. Cao Hậu toại bệnh dịch thương” (Tháng Ba, Lă Hậu làm lễ trừ tà xong, trở về, qua vùng Chỉ Đạo, thấy một vật giống như con chó xanh ngồi chồm chỗm bên nách, chợt chẳng thấy nữa. Xem bói, thầy bói nói là hồn Triệu vương Như Ư quấy phá. Cao Hậu bèn bị bệnh ở nách rồi chết). Lă Thái Hậu (214-180 trước Công Nguyên) tên thật là Lă (Lữ) Trĩ, là vợ của Hán Cao Tổ (Lưu Bang) nên c̣n gọi là Cao Hậu. Tuy không được học hành nhiều, khi Lưu Bang lên làm vua, bà thể hiện tài năng cai trị, mưu mẹo quỷ quyệt, hiến kế giúp Hán Cao Tổ diệt Hàn Tín và các chư hầu, dần dần nắm quyền chi phối toàn thể triều đ́nh. Sau khi Lưu Bang chết, bà tận lực thao túng chính quyền nhà Hán, giết hại các công thần, tận dụng họ hàng của chính ḿnh để làm vây cánh, khiến cho nhà Hán gần như trở thành chính quyền của riêng Lă Hậu, vua Hán thuở đó (Hán Huệ Đế) chỉ c̣n là con rối trong tay bà. Triệu Vương Lưu Như Ư là con của Thích Cơ (sủng thiếp của Lưu Bang). Do say mê nhan sắc của Thích Cơ, Lưu Bang phong cho Lưu Như Ư làm Triệu vương, toan tước ngôi Thái Tử của Lưu Doanh (con trai Lă Hậu) để lập Như Ư làm thái tử. May nhờ Trương Lương hiến kế, dùng các vị hiền nhân khuyên giải, Lưu Bang mới bỏ ư định ấy. V́ thế, khi Lưu Bang chết, Lă Hậu đă trả thù Thích Cơ tàn nhẫn, chặt hết chân tay, rạch nát mặt, chọc tai, khoét mắt, quăng vào nhà xí cho sống lê la trong ấy, gọi là “nhân trệ” (con heo người). Đến khi Thích Cơ chết, bà lại c̣n sai người ném vào chum dấm đặc cho tan xác. Như Ư nhờ được Lưu Doanh (Hán Huệ Đế) che chở, nên Lă Hậu chưa thể hại được. Lă Hậu bèn t́m cách dụ Hán Huệ Đế rời cung, giết chết Như Ư.

[20] Đại thảm sát Nam Kinh là cuộc tàn sát và hăm hiếp tập thể với quy mô lớn do quân Nhật gây ra tại Nam Kinh. Cuộc tàn sát này xảy ra suốt sáu tuần lễ kể từ ngày Mười Ba tháng Mười Hai năm 1937, số người bị giết ước tính từ bốn chục ngàn người trở lên, và có thể lên tới ba trăm ngàn người. Do các tài liệu đă được sở t́nh báo Nhật tiêu hủy trước khi quân Nhật thua trận trong Thế Chiến thứ hai, các sử gia vẫn chưa thể biết đích xác con số nạn nhân. Kể từ tháng Tám năm 1937, sau cuộc chiến tranh đẫm máu ở Thượng Hải, với tổn thất nặng nề cho đôi bên, quân đội Nhật quyết định chuyển quân đoàn Mười sang tấn công Nam Kinh (thủ đô của Trung Hoa Dân Quốc thời đó). Thiên Hoàng Chiêu Ḥa (Showa Hirohito) thời ấy đă phê chuẩn cho quân đội Nhật ngừng tôn trọng quy định nhân đạo đối với tù nhân chiến tranh. Thống chế Tưởng Giới Thạch phải thiên đô chính quyền Trung Hoa Dân Quốc về Trùng Khánh, giao quyền chỉ huy Nam Kinh cho tướng Đường Sanh Trí. Nam Kinh nhanh chóng thất thủ trong ṿng bốn tháng sau đó, và để dập tan sự kháng cự, cũng như khuyến khích quân Nhật thêm hăng máu, các tướng lănh Nhật cho phép quân đội tự do tàn sát, hăm hiếp, cướp bóc. Thậm chí có những tṛ thi đua giữa hai sĩ quan Nhật xem ai có thể giết được một trăm người trong ṿng một ngày chỉ bằng một lưỡi gươm!

[21] “Dương Châu thập nhật” là cuộc đại tàn sát kéo dài suốt mười ngày tại Dương Châu sau khi quân Thanh hạ được thành Dương Châu vào ngày Hai Mươi tháng Năm năm 1645, tức năm Thuận Trị thứ hai nhà Thanh, dưới sự chỉ huy của Dự Thân Vương Đa Đạc (Dodo). Dương Châu khi đó là một địa điểm pḥng thủ kiên cường của chính quyền nhà Nam Minh chống lại quân Thanh dưới sự chỉ huy của Sử Khả Pháp. Quân Thanh đă dùng cả trọng pháo của Âu Tây để tấn công. Sau khi hạ được thành, quân Thanh bắt được Sử Khả Pháp và lăng tŕ thảm khốc. Bộ tướng của Sử Khả Pháp là Lưu Khải Cơ vẫn kiên cường thống lănh tàn quân và quân nghĩa dũng chống cự quân Thanh trên từng con phố, từng ngơ hẻm trong tuyệt vọng. Đa Đạc cho rằng tàn sát như thế vừa nâng cao sĩ khí quân Thanh, vừa trừng phạt quân dân thành Dương Châu, đồng thời răn đe mọi ư muốn kháng cự của quân Minh tại vùng Giang Nam.

[22] Tam Ca Diếp là ba vị đại đệ tử của Phật, vốn là ba anh em ruột, trước kia theo đạo thờ lửa, về sau được đức Phật hóa độ, đều dẫn đồ chúng về làm đệ tử Phật, tức là Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, Già Da Ca Diếp, và Nan Đề Ca Diếp.

[23] Biền âm (拼音, Pīnyīn, c̣n đọc là bính âm hoặc phanh âm) là cách ghi âm đọc chữ Hán theo giọng Quan Thoại bằng cách sử dụng mẫu tự La Tinh và bốn dấu chỉ thanh điệu (thừa kế từ cách Chú Âm Phù Hiệu). Hệ thống này được phát triển từ các nỗ lực sử dụng ghi âm đọc Quan Thoại trước đó, đặc biệt là cách ghi âm theo kiểu Sin Wenz (Tân Văn) do học viện Sô Viết Đông Phương ở Leningrad sáng chế (nhược điểm của Sin Wenz là không có phù hiệu ghi thanh điệu). Sau khi Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa thành lập, chánh quyền Hoa Lục đă đề ra dự án La Mă hóa tiếng Hán, hoặc tối thiểu là có một công cụ để dạy dân chúng học chữ Hán dễ hơn. Một trong những nhân vật lănh đạo chủ chốt của dự án này là Châu Hữu Quang (một nhà kinh tế đang làm việc tại Nữu Ước, hồi hương để làm giáo sư kinh tế tại Thượng Hải). Đề xuất Pīnyīn của ông Châu được chính quyền Hoa Lục chấp thuận vào năm 1958, sau đó, các nước như Đài Loan và Singapore cũng lần lượt áp dụng. Cho đến nay, Pīnyīn được coi là cách phiên âm tiêu chuẩn trong các từ điển tiếng Hán.

[24] Lực hấp dẫn (Hấp lực, vạn hữu dẫn lực, universal gravitation): Theo Vật Lư, giữa mọi vật có lực hấp dẫn chính là lực hút giữa các vật với nhau. Lực ấy có độ lớn tỷ lệ thuận với khối lượng của chúng và tỷ lệ nghịch với b́nh phương khoảng cách giữa chúng (F= (Gm1m2)/r2, trong đó, m1 m2 là khối lượng của hai vật tương tác, r là khoảng cách giữa chúng, G là hằng số hấp dẫn, tức là 6,6732x10-11 m3/kg.s2. Một thí dụ rơ rệt nhất là lực hấp dẫn tạo thành hiện tượng thủy triều trên địa cầu.

[25] Tạ chỉ (谢纸): Đây là một cổ lễ. Do thời cổ, người đến viếng đám tang thường mang theo giấy tiền, vàng bạc để phúng điếu; khi chôn cất xong xuôi, trưởng tử hoặc trưởng tôn (cháu đích tôn) phải đến nhà từng người phúng điếu để cám ơn, nên gọi là “tạ chỉ”. Thoạt đầu điều này chỉ có ư nghĩa biểu lộ ḷng biết ơn. Về sau, bọn đạo sĩ đồng cốt đă bịa đặt ra nhiều nghi thức rườm rà, cúng bái, yểm bùa ḥng xả xui cho những người đến viếng. Một h́nh thức nhẹ nhàng hơn của niềm mê tín này là khi đến viếng đám tang, tang gia người Hoa luôn để sẵn những phong bao màu đỏ, bên trong để một đồng tiền buộc chỉ đỏ, hoặc một vật ǵ màu đỏ như kẹo bọc giấy đỏ chẳng hạn. Ai đến phúng điếu, tang gia đều biếu người ta một phong bao đỏ để xả xui cho người ấy!

[26] Tư thục đệ tử là người học theo một vị thầy qua học từ trước tác hoặc giáo huấn của thầy để lại, do kính mến, bèn tự coi ḿnh là đệ tử của vị thầy ấy. Chẳng hạn như tổ Ngẫu Ích là tư thục đệ tử của tổ Liên Tŕ.

[27] “Tam vương” là ba vị vua khai sáng các triều đại của Trung Hoa, được coi là bậc thánh quân, tức những vị vua gương mẫu, hiền đức, hết ḷng v́ nước v́ dân. Đó là vua Đại Vũ nhà Hạ, vua Thương Thang nhà Thương và Châu Văn Vương nhà Châu.

[28] Xi Vưu là thủ lănh của bộ lạc Cửu Lê, là thỉ tổ của tộc Miêu. Hoàng Đế (Công Tôn Hiên Viên) là thủ lănh của Hán tộc. Cuộc chiến giữa Hoàng Đế và Xi Vưu chính là cuộc chiến tranh xâm lăng của người Hán nhằm chiếm vùng đất màu mỡ thuộc về Miêu tộc. Sau bại trận trong cuộc chiến Trác Lộc, Xi Vưu bị giết, tộc Cửu Lê bị Hán tộc dồn lên vùng núi cao, hiểm trở; trở thành dân tộc thiểu số tạiTrung Hoa, hoặc bị đồng hóa với Hán tộc. Tộc Cửu Lê sống ở lưu vực Trường Giang và Hán Thủy; do họ có chín bộ lạc, nên cổ sử gọi là Cửu Lê. Xi Vưu là đại tù trưởng của chín bộ tộc, Hoàng Đế cũng là tù trưởng, v́ cổ sử gọi ông ta là Cộng Chủ, tức là tù trưởng của liên minh các bộ lạc. Theo các nhà nghiên cứu, nhằm đề cao Hán tộc, cổ sử Trung Hoa đă mô tả Xi Vưu hết sức tệ hại.

[29] Phục Sanh (không rơ năm sanh và năm mất), tên là Thắng, tự là Tử Tiện, người xứ Tế Nam (có thuyết nói là Trâu B́nh), là một nhà kinh học (chuyên nghiên cứu kinh điển Nho gia) đời Tây Hán. Trước đó, ông từng giữ chức Kinh Học Bác Sĩ dưới thời Tần Thủy Hoàng, chuyên môn nghiên cứu Thượng Thư. Bộ Kim Văn Thượng Thư hiện đang lưu hành chính là công tŕnh nghiên cứu của ông. Khi Tần Thủy Hoàng đốt sách chôn học tṛ năm 213 trước Công Nguyên, Phục Sanh đă đem giấu Thượng Thư vào trong vách đất. Đến khi nhà Hán thành lập, ông đă lấy ra và truyền đạt, nhưng đă bị thất lạc mất mười thiên. Do nguyên văn Thượng Thư viết bằng chữ Tiểu Triện (là loại chữ thông dụng đời Tần), khi Phục Sanh lưu truyền Thượng Thư lại sử dụng chữ Lệ của thời Hán nên gọi là Kim Văn Thượng Thư. Do Thượng Thư ghi chép những điển chế, chiếu chỉ, mệnh lệnh thời Tam Đại, nên cụ Lư Bỉnh Nam nói “khuôn phép thời Tam Đại do chính miệng Phục Sanh thuật lại”.

[30] Tác phẩm này có tên gọi đầy đủ là Hoàng Đế Nội Kinh, được coi là tác phẩm lư luận về Đông Y sớm nhất. Theo truyền thuyết, tác phẩm này ghi chép lại cuộc thảo luận về y học giữa Hoàng Đế và Kỳ Bá, Lôi Công, Bá Cao, Thiếu Sư, Quỷ Du Khu, Thiếu Du v.v… (ngoại trừ Hoàng Đế, những người sau đều là những nhà danh y). Theo nghiên cứu, tác phẩm này chỉ có thể ra đời vào thời Chiến Quốc, thậm chí, có người cho là Nội Kinh không thể xuất hiện trước thời Tây Hán. Sách được chia thành hai phần là Tố Vấn (bao gồm những nguyên tắc lư luận căn bản của Trung Y và các phương pháp chẩn trị) và Linh Thư (chú trọng thảo luận chi tiết về phương pháp châm cứu)

[31] Ngũ tịnh nhục: Năm loại thịt được phép ăn, tức là thịt do chẳng chính mắt thấy con vật bị giết, chẳng nghe con vật v́ ta mà bị giết, chẳng hoài nghi v́ ta mà con vật ấy bị giết, thịt của chim thú tự chết, thịt do những con vật khác ăn bỏ sót lại.

[32] Trương Trừng Cơ (1920-1988) là nhà học giả Phật giáo chuyên nghiên cứu về Phật giáo Tây Tạng. Ông tinh thông tiếng Anh, tiếng Phạn và tiếng Tây Tạng, là một trong những vị cư sĩ tích cực truyền bá Phật giáo sang Mỹ. Năm 1935, khi mới mười lăm tuổi, ông quyết chí bỏ học, bế quan tại Lư Sơn để chuyên theo đuổi Phật học. Năm sau, ông tự sang Tây Tạng học Mật Tông. Do cha ông là ủy viên của Mông Tạng Ủy Viên Hội, nên đă sắp xếp ông tới chùa Tuyết Sơn núi Cống Cát, tôn lạt-ma Cống Cát (Bo Gangkar Rinpoche) làm thầy, học tập Phật giáo Tây Tạng theo tông phái Kargyupa. Năm 1947, nhận lời mời của ông Đàm Vân Sơn, hiệu trưởng trường Ấn Độ Quốc Tế Đại Học, ông sang Ấn Độ dạy học. Trong năm 1950, ông quen biết cư sĩ Trầm Gia Trinh tại Ấn Độ và nhanh chóng trở thành bạn bè thân thiết. Năm 1951, ông cùng vợ di cư sang Mỹ, dạy học tại viện Nghiên Cứu Xă Hội ở Nữu Ước. Trong thời gian đó, ông hết sức sốt sắng cùng cư sĩ Trầm Gia Trinh sáng lập hội Phật giáo Mỹ Quốc và tham gia công tŕnh kiến tạo Trang Nghiêm Tự rất lớn tại Nữu Ước.

[33] Do tà giáo Nhất Quán, Bạch Liên v.v… nghe lơm bơm có bảy vị Phật (thất Phật quá khứ), và đức Phật Thích Ca từng được Nhiên Đăng Phật thọ kư, chúng chẳng hiểu như thế nào, bèn nói bừa là “bảy vị Nhiên Đăng Phật”.

[34] Do áo nhà vua cầu kỳ phức tạp, dân đen không biết mặc như thế nào, nên kẻ trộm áo bèn buộc chồng, vắt chéo, xộc xệch, lôi thôi!

[35] Aesop (Aisōpos, 620-564 trước Công Nguyên) xuất thân là nô lệ từ tại thành phố Mesembira (có thuyết nói là thành phố Lydia, Phrygia hoặc Sardis), xứ Thrace của cổ Hy Lạp, được coi là tác giả của nhiều câu chuyện ngụ ngôn nổi tiếng. Câu chuyện nổi tiếng nhất là cái lưỡi, khi chủ nhân hỏi “bộ phận nào ngon nhất trên con cừu”, ông trả lời là cái lưỡi, và khi được hỏi phần nào dở nhất, ông cũng trả lời là cái lưỡi. Ông giải thích là cái lưỡi có thể nói lời hay tiếng đẹp, ca ngợi những điều đức hạnh, mà cái lưỡi cũng thốt lên những điều độc ác, châm chọc, ly gián, miệt thị v.v…

[36] Câu này hơi khó hiểu nên mạt nhân mạn phép vẽ rắn thêm chân như sau: “Nhiễm và tịnh lần lượt tiêu trừ và tăng trưởng lẫn nhau” có nghĩa là trừ được một phần nhiễm, sẽ tăng trưởng một phần tịnh. Tăng trưởng một phần nhiễm, tịnh sẽ giảm thiểu một phần.

[37] Tiêu Xương Minh (tên thật là Tiêu Thỉ, tự là Xương Minh, 1895-1943), quê ở Tứ Xuyên, là người sáng lập Thiên Đức Thánh Giáo, chủ trương Ngũ Giáo Hợp Nhất (tức là dung hợp những giáo lư của Nho, Thích, Đạo, Gia Tô và Hồi Giáo), không thờ thần tượng, chỉ thờ một tấm vải vàng tượng trưng cho sự thiên khải của Thượng Đế. Tuy nói là dung hợp ngũ giáo, cách tu tập do ông ta đề xướng chủ yếu là tập luyện Tiên Thiên Khí Công, tu luyện Tinh Khí Thần của Đạo gia, cũng như tập luyện cách loại bùa chú huyền bí, ma quái để trị bệnh hoặc ếm đối ḥng dễ lôi kéo tín đồ. Sau khi Tiêu Xương Minh mất, những đệ tử thân cận đă tuyên truyền ông văng sanh Phật quốc Chúng Hương Diệu, được “thiên phong” là Nhất Khí Tông Chủ, đạo hiệu là Vô H́nh Cổ Phật. Các đạo đường của Thiên Đức Giáo bèn thay tấm vải vàng bằng h́nh tượng ông. Từ tà phái này, lại nẩy sanh một chi phái là Thiên Đế Giáo, cũng vận dụng một loại Khí Công mệnh danh là Tiên Thiên Chưởng Quang để chữa bệnh. Họ cho rằng Đức Giáo là tôn giáo cổ nhất, bắt nguồn từ Phục Hy, được hưng khởi bởi Hoàng Đế, và h́nh thành quy chế, chuẩn mực dưới thời Nghiêu Thuấn. Các giáo chủ Nho, Thích, Đạo, Gia Tô, Hồi chỉ diễn giải một khía cạnh của Đức Giáo mà thôi. Tất cả kinh sách được lưu truyền trong tà giáo này đều là trước tác của Tiêu Xương Minh, mạo danh Phật giáo, như Phật Thuyết Minh Đạo Kinh, Phật Thuyết Đại Đồng Kinh, Thanh Phong Cổ Phật Chân Kinh v.v…

[38] Đây là một câu nói do ông Mă Ngọc Lâm bịa ra, tra trong khắp ba bộ Văn Sao (Chánh Biên, Tục Biên và Tam Biên), tổ Ấn Quang chưa bao giờ nói như vậy! Trong Ấn Quang Vĩnh Tư Lục, cũng không hề thấy các đệ tử thân cận Tổ có nói Tổ đă từng dạy như vậy!

[39] Đây là một câu trích trong thiên Bát Dật của Luận Ngữ: “Cư thượng bất khoan, vi lễ bất kính, lâm tang bất ai, ngô hà dĩ quán chi tai” (Kẻ ở địa vị cao mà thiếu khoan dung, chẳng nghiêm túc tuân thủ lễ, lo đám tang mà chẳng tỏ vẻ buồn rầu, ta làm sao nh́n kẻ đó vừa mắt cho được?)