Phật Học Vấn Đáp Loại Biên

Quyển Trung

佛學問答類編

Phần 3

Lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam giải đáp

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản in của Lư Bỉnh Nam Lăo Cư Sĩ Toàn Tập Biên Tập Ủy Viên Hội, Đài Loan, 2007)

Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang

 

          * Hỏi: Gần nhà tôi có những người tự xưng là tin Phật, bảo tôi họ đều là Phật tử kiền thành, bảo tôi phải theo đạo của họ, nói hiện thời là thời kỳ Dương chi đó, khiến tôi nghi hoặc. Xin cư sĩ hăy trả lời công khai trên báo Bồ Đề Thụ! (Lư Thanh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Kinh điển Phật giáo, mười hai bộ loại của Tam Tạng, các chùa, các thư viện đều có tàng trữ. Trong hiện thời, xem kinh hoàn toàn chẳng khó! Nếu muốn học Phật, hăy nên tra duyệt nơi các chùa và thư viện. Những kẻ ở vùng phụ cận của các hạ đại khái là bọn Nhất Quán Đạo, hoặc là đồ chúng tà vạy của Bạch Liên Giáo, ăn nói chẳng ra thể thống ǵ, hoàn toàn chẳng có học vấn, chẳng thông hiểu Phật giáo mảy may nào! Chẳng cần phải nghi hoặc! [Những lời lẽ họ nói] muôn phần chẳng đáng tin!

 

          * Hỏi: Sát sanh thật sự là chuyện chẳng tốt lành ư? Cơ Đốc Giáo nói [các loài động vật] đều do Thượng Đế tạo ra cho con người ăn. Nói theo kiểu ấy, sát sanh hoàn toàn chẳng phải là chuyện không thể được! Chẳng biết v́ sao nhà Phật lại nói mâu thuẫn với Cơ Đốc Giáo? (Lư Thanh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Sát sanh hại mạng, khiến cho động vật chảy máu, chịu khổ. Nếu đó là chuyện tốt lành, từ xưa tới nay, những bậc thánh nhân, vua hiền của Trung Hoa đều chuộng phóng sanh, cứu vớt sanh vật. [Những chuyện ấy] đă được ghi chép trong lịch sử, chẳng phải chỉ có một chuyện, vậy th́ họ đều làm chuyện xấu xa ư? Thiện, ác, đúng, sai, minh bạch, rơ ràng, bậc trí hiểu rành rẽ, kẻ ngu điên đảo! Phật giáo đại từ đại bi, b́nh đẳng cứu độ, mỗi giáo đều hành theo điều ḿnh cho là đúng, chẳng cần phải cố ép cho giống với các tôn giáo khác. Hơn nữa, cột báo này chỉ bàn về Phật lư, nhất loạt chẳng phê b́nh các tôn giáo khác, thảy đều cung kính trọn khắp, [ngơ hầu] chẳng nẩy sanh chuyện thị phi!

 

          * Hỏi: Thường nghe nói Tam Giáo Hợp Nhất, hoặc Ngũ Giáo Hợp Nhất. Nói theo kiểu như vậy, các tôn giáo trên toàn thể thế giới đều là một ư? Mục đích cuối cùng đều là sanh lên trời ư? (Lư Thanh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Văn hóa Trung Hoa chủ trương giữ ḷng kính, ḷng thành. Từ xưa tuy nói “tam giáo hợp nhất”, chẳng qua là theo ư nghĩa “dung ḥa học thuyết, đôi bên kính trọng lẫn nhau”. C̣n nói “ngũ giáo hợp nhất” là nói sau khi các tôn giáo mới được du nhập gần đây là đạo Hồi và Gia Tô. Các tôn giáo đối thoại với nhau, một bầu ḥa khí; người tu đạo, theo đúng lẽ th́ phải là như vậy. Bàn theo phương diện giáo nghĩa, xử thế, khuyến thiện, những chỗ tương đồng rất nhiều, nhưng [xét theo] công phu tu luyện tâm tánh bên trong, cũng như chỗ quy túc cuối cùng, mỗi giáo đều bất đồng. Đối với điểm này, những tu sĩ của các tôn giáo, nếu là kẻ nghe ít, công phu tu tập nông cạn, c̣n chẳng biết nguyên do, [huống hồ] kẻ bên ngoài lấy ǵ để bàn luận cơ chứ?

 

          * Hỏi: Cơ Đốc giáo nói “người tin theo [Chúa] sẽ được cứu”, như vậy th́ đúng là một pháp môn quá thuận tiện. Chẳng biết Phật giáo có pháp phương tiện như vậy hay chăng? (Xét ra, Phật giáo phải tŕ giới, ăn chay, Cơ Đốc giáo th́ khỏi [phải cực nhọc như vậy], chỉ cần tin Chúa là được rồi!) (Lư Thanh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Trong điều trước, tôi đă thanh minh: “Cột báo này chỉ bàn luận Phật lư, chẳng phê b́nh tôn giáo khác”, nhưng Phật giáo tự có phương tiện của Phật giáo. Đối với pháp môn phương tiện nhất [trong Phật giáo], công phu bên ngoài chỉ là: Chẳng phạm các điều giết, trộm, tà dâm, chẳng cần phải ăn chay! Công phu bên trong chỉ là quét sạch hết thảy loạn tưởng trong tâm, chỉ giữ bốn chữ “A Di Đà Phật”, bèn có thể sanh về thế giới Cực Lạc, bất sanh, bất diệt, thù thắng hơn sanh lên cơi trời ngàn ngàn vạn lần v́ trên cơi trời hăy c̣n sanh tử!

 

          * Hỏi: Nho gia có nói “duy thượng trí, hạ ngu bất di” (chỉ có bậc thượng trí và kẻ hạ ngu là chẳng đổi dời). Vị đại đệ tử của đức Phật là ngài Châu Lợi Bàn Đà Già thoạt đầu đối với ba chữ Nam Mô Phật c̣n niệm chẳng xong, đúng là hạng ngu xuẩn tột bậc, nhưng cuối cùng, Ngài chứng quả, thành A La Hán. Lại có vị thầy trông coi hương đăng nọ, do ngừa nến bị hư mốc bèn đem phơi, đến nỗi nến chảy tan hết, chỉ trơ lại bấc (tim đèn), tức là kẻ chẳng hiểu sự lư quá đáng. Về sau, nghiễm nhiên có thể giảng kinh cho pháp sư Đế Nhàn (xem chi tiết trong bộ Ảnh Trần Hồi Ức Lục của pháp sư Đàm Hư). Cơi đời gọi Ngài là Sái Chúc Sư (曬爥師, ông sư phơi nến). Hai vị ấy đều là từ hạ ngu mà trở thành hiền thánh tăng, như vậy th́ luận điệu “hạ ngu bất di” của Nho gia đă bị nhà Phật đánh đổ. Sự thật trong ấy là như thế nào? [Đó có phải là] “Nho nói Nho hữu lư, Phật nói Phật hữu lư” hay chăng? (Hùng Thanh Tuấn hỏi)

         

Đáp: Đọc sách của bất cứ nhà nào, cũng đều phải hiểu trọn vẹn toàn thể! Chớ nên từ một câu bèn coi là lời khẳng định. V́ lời lẽ ấy do một sự hoặc lư nào đó mà phát khởi, [sở dĩ] có sự khác biệt do đối ứng với mỗi người, mỗi sự, lại c̣n có các pháp “quyền, thật, chủ, khách”. Nếu chẳng biện định những khía cạnh ấy, sẽ phần nhiều là “chấp vào từ, mà hại nghĩa”. Khổng Tử nói: “Cổ chi ngu dă trực, kim chi ngu dă trá nhi dĩ hỹ” (Thời cổ th́ ngu mà chất trực, thời nay th́ đă ngu lại c̣n gian trá). Lại nói: “Cử trực thác cuồng” (Đề bạt người chánh trực, vứt bỏ kẻ cuồng vọng). Lại nói “hữu trực” (bạn bè ngay thẳng)[1]. Ngài lại c̣n khen ngợi Nhan Uyên giống như ngu, lại ca ngợi Ninh Vũ Tử[2] ngu chẳng ai bằng, hễ giữ được cái tâm chánh trực, sẽ giữ được đạo. Nhà Phật cũng nói: “Trực tâm thị đạo tràng” (Trực tâm là đạo tràng). Gộp lại để xét, hai bên há có mâu thuẫn ư? C̣n đối với lẽ “bất di” (chẳng dời), Nho giáo nói “thủ tử thiện đạo” (chọn cái chết để giữ lấy đạo lành), Phật dạy: “Bát phong bất động” (Tám gió chẳng động). Nho th́ “thiết nghiễn, ma xuyên” (nghiền sắt, mài thủng), Phật th́ “tọa phá bồ đoàn” (ngồi nát bồ đoàn), đường lối của hai nhà chưa hề chẳng nhất trí! Đối với ngài Bàn Đà Già và vị sư phơi nến như ông đă nêu, hai vị ấy sở dĩ thành tựu, điều trọng yếu là do chánh trực và [chí hướng] chẳng đổi dời, chứ không phải v́ họ tối tăm và ngu trá vậy!

 

* Hỏi: Trong tỉnh này, có một vị hành giả khổ tu trong núi, giữa trưa ăn một bữa, suốt mười chín năm đều như một ngày, tự nói “đă hiểu thông suốt Phật đạo, mở Phật nhăn”. Xét ra, tợ hồ Phật nhăn chính là cảnh giới của Phật. Cớ sao vị hành giả ấy tự xưng là đă mở mang Phật nhăn? (Hà Dĩ Cố hỏi)

 

Đáp: Mỗi ngày ăn một bữa, bèn gọi là “quá Ngọ chẳng ăn”; trong giới của nhà Phật, có giới điều ấy. Hàng tỳ-kheo và người tại gia đă thọ Bồ Tát giới tŕ ngọ rất đông, hoàn toàn chẳng có ǵ là thù thắng, đặc biệt! Nói tới Phật nhăn, trong Ngũ Nhăn, chỉ riêng ḿnh đức Phật là có Phật nhăn. Đối với bốn loại mắt của người, trời, và Thanh Văn, Bồ Tát, [đức Phật] đều có đầy đủ, chẳng thiếu sót. Do mười thứ Trí Lực, Như Lai cũng thấy thấu triệt. Đây là tôi đă dựa theo sách Đại Thừa Nghĩa Chương để trả lời. [Đối với] vị hành nhân như lời ông hỏi, tôi tránh né chẳng bàn đến!

 

* Hỏi: Theo như vị hành giả ấy đă nói: “Khi tọa thiền trơ trọi trên đỉnh núi, thường thấy trong hư không có Bồ Tát dùng nước kim hoa gột rửa thân tôi. Lại thường thấy trong hư không, kim đồng hướng về tôi lễ trăm lạy. Rồi có các thứ chim ngậm các thứ hoa đỏ có cuống dài rẩy lên đầu và quanh khắp thân tôi. Bao nhiêu là con sóc thường xúm lại trên cành cây nơi tôi ngồi, chạy nhảy qua lại, hướng đến tôi ngồi đi nhiễu theo chiều bên phải giống như nhiễu Phật vậy. Lại c̣n có một lần, khi tôi nhập thâm định, một con rắn xanh to lớn khoanh tṛn trước ṭa, dường như nó có học Thiền, hoàn toàn chưa hề làm hại tôi”. Vị hành giả ấy tự xưng là đă “thông suốt thiền pháp rộng răi. Đối với cảnh giới của trăm ngàn ức tam-muội không ǵ chẳng biết. Quả vị Thập Địa cũng đều đă chứng”. Đơn giản là cảnh giới ấy chẳng khác ǵ Phật! Vị ấy có phải là một vị Phật mới xuất thế hay chăng? Kính xin hăy dạy cho! (Hà Dĩ Cố hỏi)

 

Đáp: Quả vị Thập Địa vẫn chưa phải là Phật, vẫn c̣n thuộc vào địa vị đang tu tập. Đối với Tạng, Thông, Biệt, Viên, dùng ngay Tạng Giáo để luận: [Để chứng đắc] Phật quả [trong Tạng Giáo], vẫn phải phát khởi ba mươi bốn tâm vô lậu chân thật, nhanh chóng đoạn tập khí Kiến Tư Hoặc, trải qua ba A-tăng-kỳ kiếp, lợi ích vô biên chúng sanh mới ḥng thành [Phật quả ấy]. Đức Thích Ca [tu khổ hạnh] suốt sáu năm tại Ấn Độ, chính là một lần thị hiện dấu vết trong hơn tám ngàn lần thị hiện [trong thế giới Sa Bà], chẳng phải là chỉ trong một đời này mà thành Phật đâu nhé! Đấy là dựa theo kinh giáo để phân tích sự khác biệt giữa Thập Địa và Phật. Đối với vị hành nhân mà ông đă hỏi, tôi tránh né, chẳng bàn đến!

 

* Hỏi: Vị hành giả ấy tự xưng là lúc hai mươi mốt tuổi, tu Tứ Thiền Bát Định, biết chuyện trong hai mươi tám tầng trời, Tây Phương Cực Lạc thế giới cũng đều trông thấy, hoàn toàn có thể biết trước nhân quả ba đời. Sau khi đại giác vào năm Dân Quốc 41 (1952), Ngài tùy duyên thuyết pháp, tùy theo căn cơ mà thí giáo phù hợp. Tiếc là kẻ tri âm th́ ít, thậm chí chính những người tu đạo lại gây khó khăn, bị người ta vu báng, khinh miệt, bị người ta bài bác v.v... Tôi trộm nghĩ rằng: Đă là bậc đại giác, cớ sao vẫn bị kẻ khác khinh miệt, bài xích? Xin hăy dạy cho! (Hà Dĩ Cố hỏi)

 

Đáp: Đức Phật ứng thế, quyền biến thị hiện thành tựu ngay trong một đời. Xét theo kinh dạy, Phật luôn thị hiện tám tướng thành đạo. Đức Thích Ca là một chứng cớ vậy. Đức Phật ứng thế, ắt khế hợp nhân duyên, tự nhiên có bát bộ hộ pháp, ngàn muôn phần chẳng có lẽ nào thị hiện suông! Đây cũng là tôi dựa theo câu hỏi, theo đúng giáo pháp mà đáp. Đối với vị hành nhân trong lời hỏi, tôi tránh né chẳng bàn đến!

Nói thêm, tôi phát tâm và do năng lực của chính ḿnh, chỉ nhằm giới thiệu bước đầu tiên cho người chưa biết đường lối, đa phần bàn luận, nghiên cứu theo phương diện giáo lư. Hễ có ai hỏi đến những hành trạng của cá nhân nào đó, đều tránh né chẳng bàn luận. Nếu có thể biết công phu của người ta đạt đến cảnh giới nào, đấy chính là trí huệ thập lực của Phật, chẳng phải là chuyện của phàm phu! Đối với người mà ông đă hỏi, có phải là đích thân trông thấy, hay chỉ là nghe đồn? Nếu chẳng phải là đích thân trông thấy, hăy gác lại đừng bàn nữa, đừng dẫn khởi thị phi! Hơn nữa, thánh biết phàm, chứ phàm chẳng biết thánh, người trí biết kẻ ngu, kẻ ngu chẳng biết người trí. Người ấy đă là Phật, tức là bậc trí, tại hạ là hạng phàm phu sát đất, cũng là kẻ ngu si, làm sao dám “phận dưới mà ḍ lường bậc trên”, tự chuốc lấy lầm lạc, xằng bậy! V́ thế, chẳng bàn tới!

 

* Hỏi: Tôi đọc kinh Địa Tạng có hai chỗ không hiểu, xin hăy giải thích, chỉ dạy. Trong phẩm thứ nhất, Đao Lợi Thiên Cung Thần Thông, đức Phật nói thọ mạng của Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai là bốn trăm ngàn vạn ức A-tăng-kỳ kiếp. Trong phẩm thứ tư, Diêm Phù Chúng Sanh Nghiệp Cảm, đức Phật nói thọ mạng của Nhất Thiết Trí Thành Tựu Như Lai là sáu vạn kiếp, thọ mạng của Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai là bốn mươi kiếp. Văn bối biết Báo Thân của Phật cố nhiên là hạn chế về thọ mạng, Pháp Thân rốt cuộc cũng có hạn lượng về tuổi thọ, lại c̣n dài ngắn khác nhau ư? Lại c̣n sau khi đă hết tuổi thọ, có phải là Phật vẫn đọa luân hồi? Nếu không, sau khi đă hết tuổi thọ, sẽ lại đi về đâu? Nếu thọ mạng của Phật cũng có ngằn hạn, [vậy th́] có khác ǵ chúng sanh trong lục đạo? Chỉ là tuổi thọ dài lâu hơn mà thôi! (Trần Anh Thụ hỏi)

 

          Đáp: Thân sau khi đă thành Phật sẽ chẳng giống phàm phu. Ngay như thân phàm phu cũng có sự khác biệt như cả kiếp và trong một sát-na, dài ngắn trọn chẳng nhất loạt giống hệt như nhau! Bất quá đều là có sống chết mà thôi! Phật có ba thân: Một là Pháp Thân chẳng có tướng, không khởi đầu, không kết thúc. Hai là Báo Thân tướng hảo trang nghiêm, có khởi đầu, chẳng có kết thúc, chỉ v́ độ chúng sanh mà hiển hoặc ẩn. Ba là Ứng Hóa Thân, tướng trạng chẳng phải chỉ có một, có khởi đầu, có kết thúc, cho nên có dài hay ngắn. Thân này v́ độ chúng sanh mà trong một kiếp-ba (kiếp) nào đó, bèn đến một cơi nào đó, hiện h́nh tướng nào đó. Duyên đến th́ bèn dường như là có sanh, duyên hết th́ dường như qua đời, diệt độ. Thân Ứng Hóa ấy do Pháp Thân phân ra, chẳng phải là thật sự có sanh tử.

 

          * Hỏi: Trong phẩm thứ mười ba, tức phẩm Chúc Lụy Nhân Thiên, câu thứ mười chín từ dưới đếm lên, “nhĩ thời thập phương nhất thiết chư lai” (khi ấy, hết thảy các những vị đến từ mười phương), cho đến “bất khả thuyết, bất khả thuyết chư Phật Như Lai”, nên hiểu chữ “chư lai” (諸來) theo nghĩa nào? Nếu bảo là “chư Phật Như Lai” th́ do trong phần kinh văn sau đó đă đề cập, dường như phạm lỗi trùng lặp, có phải là do lỗi ấn loát hay không? (Trần Anh Thụ hỏi)

 

          Đáp: “Nhất thiết chư lai”: “Nhất thiết” (hết thảy) là nói theo quả địa, tức là [nói đến] Phật và các vị Bồ Tát, chẳng nói đến cơi nước. “Chư lai” là nói theo cơi nước, [ư nói] những vị [tham dự pháp hội ấy] đă đến từ các nơi nhiều như số vi trần trong mười phương cơi nước, chẳng nói đến quả vị. Văn lư rất nghiêm ngặt, chẳng phải là nói “chư Phật Như Lai” mà cũng chẳng phải là lỗi lầm ấn loát! Hăy suy nghĩ sẽ tự thông hiểu.

 

* Hỏi: Tôi đọc bài văn Châu Dương Huệ Khanh Cư Sĩ Sự Lược (đại lược về hành trạng của cư sĩ Châu Dương Huệ Khanh) do ông Châu Bang Đạo viết. Trong ấy có nói khi Dương cư sĩ[3] sanh Tây bèn thị hiện mắc bệnh ung thư. Dương cư sĩ thờ Phật thành kính và tu tŕ nghiêm cẩn (đối với các thứ thụy tướng, đều có thể dẫn chứng), cớ sao vẫn tạo thành căn bệnh ngặt nghèo như vậy? Nếu bảo là do định nghiệp, nhưng trong bài Sự Lược có nói bà đă dùng Đại Bi Thủy chữa trị vô số người bị bệnh ung thư, bệnh phổi v.v… Cớ sao đối với nghiệp của kẻ khác, cư sĩ có thể dùng Đại Bi Thủy để hóa giải, mà rốt cuộc đối với nghiệp của cư sĩ, Phật pháp trọn chẳng thể hóa giải? Hơn nữa, trong bài Sự Lược c̣n nói khi cư sĩ tụng kinh, ngọn đèn [thắp trên bàn Phật] bèn kết xá-lợi, chẳng biết xá-lợi ấy có phải là cùng chất liệu với xá-lợi thu được sau khi hỏa thiêu nhục thân hay không? Đối với những điều đă nói trên đây, chẳng phải là tôi dám nghi Phật, báng bổ bậc hiền đức, mà là do văn bối học vấn chưa bồi dưỡng đủ, tri kiến hữu hạn, riêng mang ư nguyện tùy theo thời nghi mà hoằng dương Phật pháp, bản thân đă chẳng biết, chẳng thể kịp thời thưa hỏi bậc minh sư đại đức. Nếu có người nêu ra những điều nghi hoặc ấy để chất vấn, ắt sẽ ngó sững, chẳng có lời lẽ ǵ đối đáp. Do vậy, dám xin hướng về Ngài thưa hỏi! (Trần Anh Thụ hỏi)

 

          Đáp: Lời hỏi này gồm ba chuyện, hăy nên tách ra để đáp.

          1) Một là thờ Phật thành kính, cớ sao vẫn tạo thành căn bệnh ngặt nghèo? Hễ là nhân th́ phải đợi duyên để chín muồi, khi đă chín muồi bèn gọi là quả. Nhân có xưa và nay, một đời, nhiều đời khác nhau. Kẻ chẳng có Túc Mạng Thông không sao biết được! V́ thế, nay có kẻ ác mà rốt cuộc phú quư, chết già. Hoặc là có người lành, rốt cuộc nghèo khổ, chết yểu ngang xương, [những chuyện ấy] đều là do [nhân duyên trong] đời trước đă chín muồi. Nếu người tu hành, khi chưa đoạn Kiến Hoặc và Tư Hoặc, ắt là phải báo đền nhân xưa th́ mới được giải thoát. Lục Tổ gặp giặc, từng nói: “Ta nợ tiền, chứ chẳng nợ mạng ngươi”. V́ thế, Ngài bị hao tổn tiền tài, chẳng bị tổn thương tánh mạng. Thánh tăng An Thế Cao đă từng giải thoát, nhập thai hai lượt để đến Trung Hoa đền mạng. Ngay như trong Nho gia, đệ tử của Khổng Tử là Nhan Uyên và Nhiễm Bá Ngưu[4] đều là những bậc đức hạnh cao cả, được xếp vào hàng Tứ Khoa[5], [thế mà] một vị bất hạnh đoản mạng, một vị mắc bệnh ngặt nghèo. Chẳng đoạn Hoặc, quả ắt chín muồi!

          2) Hai là nghi nước đă gia tŕ bằng chú Đại Bi có thể trị lành bệnh của người khác, chẳng thể trị lành bệnh của chính ḿnh. Sự chẳng phải là như vậy! Người tu hành chưa đoạn Hoặc, hay là bậc tiểu thánh đă chứng quả, sức thần thông và công đức đều có chừng hạn. Giải khổ cho người khác hay cho chính ḿnh, có lúc hữu hiệu, có khi vô hiệu, hoàn toàn chẳng phải là nhất định! Gặp kẻ nhân chưa chín muồi để tạo thành quả, bèn [có thể giải nghiệp cho kẻ ấy] hữu hiệu. Gặp kẻ nhân đă chín muồi tạo thành quả, bèn vô hiệu. Ví như viên đạn nằm sẵn trong khẩu súng, tuy đă gieo cái nhân giết chóc, nhưng chưa lẩy c̣, vẫn có thể giải trừ. Nếu đă lẩy c̣, đạn đă ra khỏi miệng súng, tức là đă trở thành quả, chẳng thể làm ǵ được! Ngay như ngài Mục Kiền Liên thần thông bậc nhất, chẳng thể cứu mẹ mắc nạn ĺa khỏi kiếp ngạ quỷ miệng bốc lửa! Ngài giấu ba ngàn người họ Thích trong bát [để tránh nạn tàn sát của vua Tỳ Lưu Ly], họ đều hóa thành máu. Đấy đều là những chứng cớ vậy. V́ thế, người có trí bèn sám hối từ cái nhân. Duyên đă chín muồi thành quả, chỉ [đành] rên siết suông để chịu đựng mà thôi.

          3) Ba là sự khác biệt giữa xá-lợi kết nơi đèn và xá-lợi do hỏa thiêu nhục thân. Cư sĩ Huệ Khanh có được hai thứ xá-lợi, kẻ hèn này đều đích thân trông thấy. Tướng trạng có lớn, nhỏ sai khác, c̣n chất liệu có giống nhau hay không, tôi chẳng biết. Bởi lẽ, những chuyện như vậy trọn chẳng phải là thường có, lại chẳng dám không giữ ḷng cung kính để làm theo thế tục giao cho các thứ xét nghiệm hóa học. V́ thế, chẳng tiện để tự suy lường xằng bậy, nhưng biết và không biết dường như cũng chẳng cần thiết!

 

          * Hỏi: Trước kia, tôi từng nghe thầy nói: “Ly niệm linh tri th́ mới là chân tâm. Hễ có phân biệt th́ đều là t́nh thức”. Người tu đạo muốn chuyển phàm thành trí, c̣n có thể dốc sức nơi tư duy hay không? (Vương Chí Hiền hỏi)

           

          Đáp: Tu đạo ắt phải trải qua ba giai đoạn Văn, Tư, Tu. Ba điều ấy đều thuộc về phạm trù Giải và Hạnh, chính là nhân địa. Đă có nhân, ắt mong có quả, ắt phải chứng th́ mới là quả địa. Tư duy là Giải trong nhân địa. “Linh tri” là chứng nơi quả địa.

 

          * Hỏi: Đối với tài năng của con người, mỗi người có sở trường riêng. Chúng ta tu học rốt cuộc là ứng dụng sở trường, hay tận lực uốn nắn sở đoản? Nếu chỉ dùng sở trường, sợ rằng khó thể viên măn đức! Nếu chỉ uốn nắn sở đoản, lại sợ khó thể thành tựu? (Vương Chí Hiền hỏi)

 

          Đáp: Vấn đề này nên có hai nghĩa:

          1) Một là sở trường hay sở đoản là nói về khả năng chuyên biệt nơi thân tâm.

          2) Hai là sở trường và sở đoản là nói tới sự mong cầu nơi đạo hoặc tài nghệ.

          Nói theo phía thân tâm, hăy nên dùng sở trường. Phàm đối với chỗ vận dụng, tâm ắt phải chuyên chú. Nếu tâm thường chuyên chú, hiện thời nói là “tập trung”, kinh dạy “chế tâm nhất xứ”, hễ “nhất xứ” sẽ thật sự thông đạt, tức là “tâm thông”. Tâm là vua. Thật sự đă thông, trăm thể sẽ tùy thuận cái tâm, không ǵ chẳng viên măn! Nói theo phía đạo và tài nghệ, cũng nên vận dụng sở trường, nhưng hăy nên chọn lựa kèm theo [những điều khác] để tham khảo. Tham khảo th́ dùng cách đa văn; đó gọi là “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”. Vận dụng sở trường là thâm nhập một môn, sẽ bỗng dưng mở mang rạng ngời. Đó gọi là “một kinh đă thông, các kinh đều thông”.

 

          * Hỏi: Hành Bồ Tát đạo th́ pháp thế gian và xuất thế gian đều nên học tập. Học pháp xuất thế gian cố nhiên là có lợi cho những đời sau. Nếu học pháp thế gian, có phải là v́ lợi ích cho đời kế tiếp? (Vương Chí Hiền hỏi)

 

          Đáp: Pháp thế gian hay xuất thế gian là lời phương tiện dành cho hàng sơ cơ chọn lựa pháp. Thật ra, Lư và Sự của pháp thế gian và xuất thế gian cốt yếu ở nơi tâm, chẳng phải ở nơi pháp. Kẻ ngu đọc kinh Pháp Hoa và Niết Bàn chỉ được phước báo; bậc trí đốt tượng Phật, giết mèo, không ǵ chẳng phải là Bát Nhă! Câu hỏi này có thể áp dụng cho hàng Bồ Tát, mà cũng lại có thể áp dụng cho đời sau. Chẳng biết là ông hỏi về loại thứ nhất, hay loại thứ hai. Nếu nói đến hạng thứ nhất th́ chính là hỏi về đời sau của hàng Bồ Tát. Nếu nói đến hạng thứ hai th́ chính là nói đến đời sau của người học pháp xuất thế. Trước hết, nói về hạnh Bồ Tát. Bồ Tát chẳng sợ sanh tử, chẳng nhập Niết Bàn, lợi hành, đồng sự, thiện xảo nhiếp độ. Chẳng hiểu pháp thế gian, làm sao có thể phá Trần Sa Hoặc? Phật pháp ở trong thế gian, làm sao có thể ĺa thế gian để cầu Bồ Đề cho được? Lại nói tới chuyện chỉ học pháp xuất thế gian, Nhị Thừa cũng là xuất thế, vĩnh viễn trụ trong Niết Bàn, hoàn toàn chẳng có đời sau. Pháp thế gian chẳng có lợi đối với họ!

 

* Hỏi: Ngày Hai Mươi Mốt tháng Hai là thánh đản của Phổ Hiền Bồ Tát. Ngày Hai Mươi Mốt tháng Hai do căn cứ vào đâu mà có? Những người học Phật thường là chẳng biết lịch sử xuất sanh của Phổ Hiền Bồ Tát. Lại c̣n [mong hiểu biết] lịch sử của ngày mồng Bốn tháng Tư, tức là ngày thánh đản của Văn Thù Bồ Tát. Lại c̣n [mong biết rơ] nguồn gốc ngày thánh đản của Dược Sư Phật là từ chỗ nào mà ra? Cho đến hiện thời đă có lịch sử bao lâu? Có phải là các Phật giáo đồ trên thế giới đều khánh chúc ngày khánh đản của Dược Sư Phật vào ngày Ba Mươi tháng Chín hay không? (một độc giả ở Đào Viên hỏi)

 

          Đáp: Ông nêu ra ba câu hỏi có tánh chất tương đồng, cho nên tôi gộp lại để đáp, ông sẽ tự hiểu toàn bộ. Chư Phật, Bồ Tát đản sanh và chứng quả đều từ nhiều kiếp trước. Trên địa cầu, kể từ khi có lịch sử ghi chép sự việc, lâu nhất chẳng thể hơn năm ngàn năm! Trong năm ngàn năm lịch sử ấy, lịch pháp xét theo chiều ngang lẫn chiều dọc, phần nhiều bất đồng, vẫn là khó ḷng có được một tiêu chuẩn. Nếu muốn dùng những sách vở đă có sau này để suy đoán những chuyện xa xưa khi chưa có sách vở, khó thể nói xác quyết được! Hơn nữa, những ngày trong các tháng Hai, tháng Tư, tháng Chín v.v… trong lời hỏi chính là căn cứ theo Âm Lịch hiện thời của Trung Hoa, chứ thời cổ hoàn toàn chẳng giống hệt như vậy. Ngoại quốc cũng chẳng giống như vậy. Những điều ông đă nêu, bất quá là đối với người Trung Hoa trong thời cận đại, tùy tiện dựa vào một sự kiện nào đó, để chọn một ngày kỷ niệm một vị Phật hay một vị Bồ Tát nào đó mà thôi. Sự th́ cần phải thành tâm, chớ nên câu nệ h́nh tích!

 

          * Hỏi: Sau khi đệ tử đă tin Phật, chẳng lạy thần thổ địa. Do có người hỏi tôi: “V́ sao các ông sống trong nhà cửa, mà chẳng lạy thần thổ địa vậy?” Chẳng biết phải nên trả lời họ ra sao? (Lư Khoan Quán hỏi)

 

          Đáp: Đối với những lời lẽ [bắt bẻ] rỗi hơi, tạp nhạp, chẳng cần phải trích dẫn kinh điển để bàn luận. Nếu bất đắc dĩ th́ có thể nói: “Niệm Phật tâm bèn tịnh. Tâm tịnh, ắt đất yên”. Hoặc nói: “Nơi thờ Phật, cát thần (thiện thần) hộ pháp. Chỉ quan trọng là thành kính, chẳng cần phải chọn lựa cuộc đất”.

 

          * Hỏi: Lại nữa, đệ tử từ sau khi tin Phật, đối với hết thảy thần quỷ đều chẳng lễ bái. Có người bảo tôi: “Đời này ông có thể nắm chắc văng sanh Tây Phương hay không? Nếu chẳng được văng sanh, đời sau sẽ chẳng có thần quỷ nào để nương cậy!” Xin thầy khai thị. (Lư Khoan Quán hỏi)

 

          Đáp: Tuy trong đời này chẳng văng sanh Tây Phương, cũng được hết thảy chư Phật hộ pháp, đều được bất thoái nơi Bồ Đề. Gặp duyên bèn tiếp tục tu, rốt cuộc về cơi sen, chẳng cần nương cậy quỷ thần để rồi đến nỗi nẩy sanh ma chướng.

 

          * Hỏi: Đức Phật nói hết thảy tứ sanh, [kể cả] những loài ngọ ngoạy có linh tánh (côn trùng, tiểu động vật) đều có Phật Tánh, vậy th́ hết thảy những kư sinh trùng ở trong thân thể con người đều có Phật Tánh ư? (Trần Trí Minh hỏi)

 

          Đáp: Phàm là các động vật có sanh mạng, đều có tánh và duyên ḥa hợp. Vô tánh sẽ chẳng sanh. Hễ có tánh đều là giác, [đó là] truy tới tận nguồn cội. Những loài kư sinh trên thân người há ra ngoài lệ ấy ư?

 

          * Hỏi: Giác tánh và phách của người sau khi đă chết có cùng thuận theo duyên mà đến một nơi nào đó hay không? (Trần Trí Minh hỏi)

 

          Đáp: Phật học chẳng nói đến chữ “phách” (); đấy chính là danh từ trong văn học Trung Hoa, là một danh từ thuộc về vật lư. Câu “nhân sanh thỉ hóa viết Phách” (cái hóa hiện ban đầu trong cuộc đời con người được gọi là Phách) trong Tả Truyện, có ư nói: “Phách chính là thân thể”. Lại nói: “Phụ h́nh chi linh viết Phách, phụ khí chi thần viết Hồn” (Sự linh thông nương dựa vào h́nh tướng được gọi là Phách, cái thần nương tựa vào khí th́ gọi là Hồn). Phật học nói Tánh do bất giác bèn biến thành Thức. Tánh và Thức là một chuyện. Giác và hiểu rơ th́ là bản tánh, tối tăm và mê hoặc th́ là thần thức. Thần thức như vừa mới nói chính là cái được ngoại giáo gọi là “linh hồn”. Chữ Phách được nhắc tới trong thư hỏi, nếu nói theo kiểu thế tục, sẽ là có “ba hồn, bảy phách”, [thế gian nói như vậy là v́] chẳng biết [hồn và phách là] do tánh và thức chuyển biến đó thôi!

 

          * Hỏi: Người sau khi ngừng thở, giác tánh thuận theo nghiệp mà luân chuyển trong sáu nẻo, nhưng ngoài [lục đạo] ra, c̣n có riêng một loài quỷ sống trong cơi âm đó chăng? (Trần Trí Minh hỏi)

 

          Đáp: Quỷ là một loài trong lục đạo, há có phải là một loài riêng [ở ngoài lục đạo]? Thân chúng sanh vừa mới chết, thần thức chưa chuyển sang đường khác, kinh Dịch gọi [thần thức ấy] là “du hồn” (遊魂, cái hồn bềnh bồng), nhà Phật gọi nó là “thân Trung Ấm”. Thời gian để nó đầu thai trong sáu đường, ngắn th́ như một cái khảy ngón tay, dài th́ bốn mươi chín ngày. Lúc đó, chẳng gọi là Quỷ. Qua giai đoạn ấy, lại có hiện tướng như trong đời trước, th́ mới là đă thuộc vào quỷ đạo. Nếu đầu thai trong năm đường khác, h́nh tướng trong đời trước bèn tiêu mất.

 

          * Hỏi: Báo Bồ Đề Thụ số một trăm chín mươi mốt đăng bài giảng Đoạn Nghi Sanh Tín của pháp sư Bạch Thánh, cuối bài có dẫn chuyện “chó vua Nghiêu cắn vua Thuấn”, tôi cảm thấy rất lạ lùng, mới mẻ, v́ chỉ biết chuyện “chó của Đạo Chích cắn vua Nghiêu”“chó của vua Kiệt cắn vua Nghiêu”, nên cũng viết thư hỏi. Thầy Bạch Thánh trả lời có những câu như: “Phát xuất từ câu trả lời của ḥa thượng Đại Điên đối với Hàn Dũ. Có một ngày, họ Hàn ở chùa Linh Sơn tại Triều Châu, gặp ngài Đại Điên. Ngài Đại Điên hỏi ‘Kinh Phật có chỗ nào chẳng đúng? Ông đă xem bao nhiêu bộ kinh?’ Họ Hàn chẳng thể đáp được. Ngài Đại Điên bèn châm chọc: ‘Chó của vua Nghiêu cắn vua Thuấn’. Đó là xuất xứ của điển cố ấy, tôi cũng chẳng tra cứu cặn kẽ”. Cụ là bậc thông suốt rộng răi cả hai giáo Nho lẫn Phật, mong hăy chỉ dạy cho. Nếu không, tức là để tiếp dẫn Hàn Văn Công (Hàn Dũ) quay về với Phật mà ngài Đại Điên tạm thời bịa ra lời ấy? (Hùng Thanh Tuấn hỏi)

 

          Đáp: Cư sĩ hỏi xuất xứ của câu “chó vua Nghiêu cắn vua Thuấn” trong lời châm chọc ông Hàn của ngài Đại Điên, lại nói “nếu không, tức là ngài Đại Điên bịa ra hay không”. Tôi trộm biết cổ nhân thốt lời trào phúng, đa phần là do thấy cảnh sanh t́nh, hoặc là giả lập ra cảnh nhằm gởi gắm [tâm ư]. Chỉ nên dùng tâm để thấu hiểu tâm, khơi gợi giác ngộ, chẳng bắt buộc là phải thật sự có chuyện ấy! “Duật bạng tương tranh” (Con diệc và con trai tranh chấp với nhau), “hạc triệt chi phụ” (con cá diếc trong vũng nước cạn của vệt bánh xe)[6], những thí dụ như vậy chẳng thể kể xiết! Người nêu thí dụ, phần nhiều là đặt chuyện, há riêng ngài Đại Điên? Ngay như “chó của Đạo Chích cắn vua Nghiêu”“chó của vua Kiệt cắn vua Nghiêu” há chẳng phải là đặt chuyện ư? Đạo Chích và vua Nghiêu, vua Nghiêu và vua Kiệt đâu có đồng thời! Chó đời sau làm sao có thể cắn người thuộc đời trước cho được? Trào phúng mà c̣n đ̣i khảo cứu nỗi ǵ?

 

          * Hỏi: Có người khách nghi ngờ Lục Tổ Đàn Kinh, lại c̣n trộm kèm thêm ư kiến của chính ḿnh như sau: Hoàng Mai Thiền Tông Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn đại sư là một vị thánh giả, chấn hưng rạng rỡ tông phong, pháp lực vô biên, chẳng cần phải đợi thưa bày mới biết. Khi Lục Tổ Huệ Năng từ Tân Châu ở Lănh Nam xa xôi đến tham bái, trong giây phút đối đáp, Ngũ Tổ biết Lục Tổ là bậc căn khí đại lợi, do thấy đồ chúng vây quanh, Tổ chẳng nói ǵ nữa, sai [ngài Huệ Năng] đi giă gạo trong pḥng xay xát. Tám tháng sau, Hoằng Nhẫn đại sư một hôm bỗng thấy ngài Huệ Năng, bảo rằng: “Ta nghĩ tri kiến của ngươi có thể dùng được, sợ rằng sẽ có kẻ ác hại ngươi, cho nên chẳng nói với ngươi. Ngươi có biết hay không?” Đáp rằng: “Đệ tử cũng biết ư thầy, chẳng dám đến trước tiền điện để kẻ khác khỏi biết”. Trong đạo tràng thần thánh trang nghiêm, v́ sao chẳng tránh khỏi có kẻ ác muốn làm hại tánh mạng của người khác? Đương nhiên chẳng phải là do Ngũ Tổ giáo hóa chẳng đủ! Đấy là điều thứ nhất khiến cho người ta mờ mịt, ngơ ngác! (Hùng Thanh Tuấn hỏi)

 

          Đáp: Đạo tràng công khai, người hiền, kẻ ngu cùng tụ tập, Phật pháp từ bi b́nh đẳng, làm sao có thể cự tuyệt kẻ khác đến học? Rồng rắn hỗn tạp, hóa độ có khó, dễ. Kẻ chẳng đoạn Hoặc, có lúc nẩy sanh ác niệm. Trong đạo tràng của đức Thế Tôn, c̣n có Xa Nặc và Đề Bà Đạt Đa, há chỉ ḿnh Ngũ Tổ [gặp phải cảnh ngộ ấy]? Đó chẳng phải là giáo hóa không đủ, mà là kẻ mê sâu biến đổi thành thiện lương quá chậm chạp!

 

          * Hỏi: Cho đến khi những câu kệ “Bồ Đề bổn vô thụ, minh kính diệc phi đài, bổn lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai” (Bồ Đề chẳng phải cây, gương sáng chẳng phải đài, vốn chẳng có một vật, chỗ nào nhuốm bụi trần) kinh động đại chúng, Ngũ Tổ thấy mọi người kinh ngạc, lạ lùng, sợ có kẻ sẽ tổn hại [Lục Tổ] (chứng minh đạo tràng Hoàng Mai Đông Sơn có kẻ ác ẩn nấp đă lâu), bèn xóa đi, vờ như [Lục Tổ] cũng chưa kiến tánh. Ngày hôm sau, [Ngũ Tổ] ngầm đến pḥng giă gạo, hỏi ḍ “gạo đă giă sạch hay chưa?”, dùng gậy chống gơ lên đầu chày ba lượt rồi bỏ đi. Ngài Huệ Năng hiểu ư, canh ba vào thất của Ngũ Tổ. Ngũ Tổ dùng ca-sa che kín xung quanh, chẳng cho kẻ khác thấy. V́ sao chẳng chánh đại quang minh dạy bảo? Đấy là điều thứ hai khiến cho người ta mờ mịt, ngơ ngác! (Hùng Thanh Tuấn hỏi)

 

          Đáp: Cư sĩ đă đọc nhiều sách Nho, há chẳng biết lời giáo huấn “cử nhất ngung, bất dĩ tam ngung phản, tắc bất phục dă” (nêu ra một góc mà chẳng thể suy ra ba góc kia th́ chẳng dạy nữa) ư? Nhà Phật đối với kẻ hạ căn chẳng dạy pháp bậc thượng. Do họ đă chẳng thể nghe lọt tai, khai ngộ, mà ngược lại c̣n tăng thêm mê hoặc. Như kẻ mù từ lọt ḷng chẳng biết sữa trắng là như thế nào, lần lượt [đối với các thí dụ] vỏ ốc, gạo, tuyết, chim hạc, tầng tầng lầm lạc[7]. Thấy lầm, đâm ra hại ḿnh; nói lầm, lại hại người khác. Tử Lộ hỏi về chuyện quỷ thần, lại hỏi về cái chết, Khổng Tử đều chẳng đáp, cũng chẳng phải là không quang minh ư? Xét theo lẽ đó, há có thể trách móc Ngũ Tổ?

 

          * Hỏi: Ngũ Tổ giảng kinh Kim Cang [cho Lục Tổ], đến câu “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, Huệ Năng đại ngộ “hết thảy vạn pháp chẳng ĺa tự tánh”, bèn thốt lời khải thỉnh. Ngũ Tổ biết Ngài đă ngộ tự tánh, cuối cùng c̣n nói “canh ba tiếp nhận pháp, chẳng có ai biết”. Đại pháp cớ sao lại truyền dạy riêng tư? Đó là chuyện khiến cho người ta ngơ ngác, mờ mịt thứ ba! (Hùng Thanh Tuấn hỏi)

 

          Đáp: Cái học tột bậc chẳng phải là bạ ai cũng truyền! Sự thật là v́ sợ [truyền dạy] cho kẻ chẳng thể tiếp nhận, sẽ trở thành đem sai lầm truyền dạy sai lầm, đâm ra gây hại cho lẽ chân, vốn là v́ hoằng đạo, lại trở thành kẻ giặc phá đạo! Xin hăy đọc câu “Sâm hồ! Ngô đạo, nhất dĩ quán chi. Tăng Tử viết dụy. Tử xuất, môn nhân vấn viết: ‘Hà vị dă?’ Tăng Tử viết: Phu tử chi đạo, trung thứ nhi dĩ hỹ” ([Khổng Tử bảo]: “Này Tăng Sâm! Đạo của ta chỉ dùng là một tư tưởng cơ bản để quán triệt từ đầu đến cuối”. Tăng Tử thưa: “Vâng!” Khổng Tử bước ra, các môn đệ hỏi: “Thầy nói nghĩa là sao?” Tăng Tử đáp: “Đạo của thầy là trung thực, khoan dung mà thôi”). Có thể thấu hiểu ư ấy, sẽ có thể cởi gỡ nỗi hiểu lầm!

 

          *Hỏi: Bèn truyền Đốn Giáo và y bát [cho Huệ Năng], trở thành vị tổ thứ sáu, bảo: “Ngươi hăy đi cho mau, sợ sẽ có kẻ hại ngươi”, cớ sao trong hội của Ngũ Tổ lại dung chứa hàng đệ tử có đức hạnh bại hoại, mà chẳng thanh trừ? Đấy chính là điều thứ tư khiến cho người ta ngơ ngác, mờ mịt! (Hùng Thanh Tuấn hỏi)

         

Đáp: Đức Thế Tôn đến cơi này chuyên v́ độ chúng sanh. Nói “độ” chính là từ bi cứu độ. V́ thế, đối với kẻ tánh ác, khó độ, chỉ đành mặc tẫn[8], đợi cho kẻ ấy dần dần cải hóa. Thanh trừ chính là đă đánh mất ḷng từ bi! Ngũ Tổ được truyền thừa y bát của đức Phật, cũng tôn trọng ư chỉ ấy. Tuy có kẻ xấu, vẫn chẳng bỏ họ. Ví như cha mẹ, có con cái tối tăm, ương bướng, chỉ đành nhẫn nại dạy bảo. Đó gọi là “trụ nơi ḷng Từ”.

 

* Hỏi: Ngũ Tổ đưa Huệ Năng đến trạm chuyển thư Cửu Giang. Sau khi quay về, mấy hôm chẳng thượng đường. Ngài đáp lời hỏi của đại chúng rằng: “Y bát đă về Nam rồi”. Đại chúng mới biết Huệ Năng được truyền pháp, mấy trăm người đuổi theo đến vùng Đại Dữu[9], muốn đoạt y bát. Vi- tăng Huệ Minh ỷ mạnh vọt lên trước đuổi kịp. Lục Tổ ném y bát xuống, Huệ Minh bèn chộp lấy, nhưng chẳng nhấc lên được, tợ hồ y bát ấy chỉ có bậc đại đức xứng đáng làm tổ sư mới có thể được truyền. Thuở ấy, cớ sao Ngũ Tổ lại quá đỗi phập phồng lo sợ sẽ có kẻ tranh đoạt hại mạng [Lục Tổ] vậy? Đấy chính chuyện thứ năm khiến cho người ta ngơ ngác, mờ mịt! (Hùng Thanh Tuấn hỏi)

 

          Đáp: Y bát vốn chẳng đáng lo, đáng lo là lo cho người bị kẻ khác ganh ghét đó thôi! Danh vị, tước lộc trong thế gian, cũng là ai có phận nấy, tuy rốt cuộc là sẽ có một người đạt được, nhưng đâu có ngăn được muôn người dấy lên tranh giành? Kẻ chưa đoạn Hoặc, chính là phàm phu, xử sự điên đảo là chuyện thường t́nh. Chấm dứt loạn lạc, dứt tuyệt tranh chấp, chính là trách nhiệm của bậc trí. Cách xử trí của Ngũ Tổ rất thích đáng!

 

* Hỏi: Trong thiên Tử Hăn thứ chín của sách Luận Ngữ, [đối với câu nói] “Tử hăn ngôn lợi, dữ mạng, dữ nhân” (Khổng Tử ít nói lợi, hoặc tán đồng mạng và nhân), Châu Hy đă dẫn lời Tŕnh Tử nói: “Tính đến lợi bèn hại nghĩa, lư của mạng nhỏ nhiệm, đạo của nhân to tát, đều những điều ít được phu tử nhắc tới”. Thanh Tuấn cố nhiên đă biết “kiến lợi tư nghĩa” (trông thấy lợi lộc bèn nghĩ đến đạo nghĩa). Khổng Tử ít nói đến lợi là chuyện đương nhiên, [nhưng Ngài lại nói] “bất tri mạng, vô dĩ vi quân tử dă” (chẳng biết mạng th́ chẳng được coi là quân tử), tức là Ngài chủ trương đề xướng mạng mạnh mẽ nhất; sao lại bảo là lăo nhân gia ít nói đến mạng? “Giảng đạo đức, thuyết nhân nghĩa”, Nho gia tột bậc coi trọng nhân đạo, [thế mà sách Luận Ngữ] nói “Khổng Tử ít nói đến ḷng nhân”, Thanh Tuấn càng ngơ ngác, chẳng hiểu! Cụ là bậc thánh giả coi trọng cả Nho lẫn Phật, dám xin cụ hăy tiện dịp chỉ dạy giải quyết mối nghi, ḥng tháo gỡ chỗ bế tắc, chẳng c̣n ǵ chân thành mong mỏi hơn! (Hùng Thanh Tuấn hỏi)

 

          Đáp: “Sanh tử hữu mạng, phú quư tại thiên” (Sanh tử có mạng, phú quư do trời), “vong chi mạng hỹ phù” (chẳng có lẽ nào lại như vậy, đó là số mạng vậy)[10], “úy thiên mạng” (sợ mạng trời) v.v… [Những lời lẽ ấy] có ǵ chẳng phải là nói đến mạng! “Lư nhân vi mỹ” (Hàng xóm có ḷng nhân là điều tốt đẹp), “nhân giả an nhân, trí giả lợi nhân” (người có ḷng nhân an trụ nơi nhân, người trí tăng trưởng ḷng nhân), “cẩu chí ư nhân, vô ác dă” (nếu dốc chí nơi nhân th́ sẽ chẳng có điều ác) v.v… có bao giờ chẳng phải là nói đến ḷng nhân? Mạng và nhân thường thấy [nhắc đến] trong sáu kinh, càng là chẳng thể kể xiết! Nhưng đối với hai điều ấy, Khổng Tử ít nói đến, “hăn” () là ít nói đến mà thôi, chẳng phải là tuyệt đối không nhắc đến. Bởi lẽ, hai điều ấy, lư vi tế, nghĩa to lớn, kẻ b́nh thường chẳng thể liễu ngộ, do cơ duyên chẳng khế hợp, nên ít nói tới. Đó gọi là “đối với kẻ từ bậc trung trở xuống, chẳng thể nói chuyện thuộc bậc thượng. Đối với kẻ hạ căn, chẳng nói pháp thuộc bậc thượng”. Nghĩa lư trong nhà Phật cũng như thế, đối với kẻ hạ căn, trọn chẳng nói pháp dành cho bậc thượng!

 

          * Hỏi: Gia mẫu đă bảy mươi tám tuổi, là một người niệm Phật kiền thành. Năm nay, trong tháng Năm, chợt sanh ra nhọt độc nơi ngực, thân thể suy yếu. Người nhà thấy cụ như vậy, cho là “tin Phật mà chẳng được che chở”, có hai người đă bỏ ăn chay, nhưng gia mẫu niệm Phật chẳng ngă ḷng! Cho đến nửa tháng trước, ban đêm mộng thấy Quán Âm Bồ Tát v́ cụ mổ nhọt. Sau đấy, tự nhiên nhọt vỡ mủ, chảy máu, thân thể b́nh phục như cũ. Hai kẻ ngă ḷng có phải là bị gia mẫu làm hại hay chăng? Xin thầy chỉ dạy. (Lư Vĩnh Cẩm hỏi)

 

          Đáp: Học Phật quư tại hạnh giải tương ứng. Nếu chẳng thể tự hiểu, hễ gặp chuyện, hăy nên thỉnh giáo thiện tri thức. Bọn họ thấy người niệm Phật sanh bệnh, tín tâm tự lui sụt, bỏ ăn chay, tức là đă phạm lỗi vô trí, chẳng hiểu đạo lư, mà cũng là do thiện căn nông cạn gây nên. Họ chẳng hiểu nhân quả ba đời, [quả báo] chuyển đổi từ nặng thành nhẹ để tiêu trừ, tức là kẻ ngu si, đáng thương tột bậc! Lệnh từ có thể chịu đựng bệnh khổ, ḷng tin kiên cường, chẳng lui sụt. V́ thế, cụ được cảm ứng, đáng kính tột bậc! Chuyện thiện hay ác là do khởi niệm. Bọn họ tự dấy lên sự hiểu lầm, phá giới, bỏ ăn chay, lệnh từ hoàn toàn chẳng dấy lên ư niệm xúi giục họ, há có tội ǵ?

 

          * Hỏi: Hậu học đọc phần luận định về “vô ngă” trong quyển hai của bộ sách Những Lời Dạy Của Đức Phật, [thấy tác giả] phủ định thuyết “linh hồn, thần thức”, đối với chuyện này, hậu học hết sức nghi hoặc! Kính thỉnh đại sư hăy chẳng tiếc sức, dựa theo chân lư, rủ ḷng giải thích, mong mỏi lắm thay! Nếu chẳng có thần ngă, chẳng có linh hồn, vậy th́ Phật, thần, quỷ, luân hồi, chuyển thế, thuyết nhân quả làm sao có thể thành lập? Văng sanh Cực Lạc và luân hồi lục đạo lại thành lập như thế nào? Năm trăm đời làm vị tiên nhân nhẫn nhục như trong kinh Kim Cang đă nói lại thành lập như thế nào? Nếu chẳng có linh hồn và thần thức, mà chẳng phải là nói tới “đoạn diệt” th́ lại nói như thế nào? Xét theo chân lư, rốt ráo là như thế nào? Kính xin cụ rủ ḷng chấp thuận nương theo kinh Phật và chân lư để giải đáp cho. Mong mỏi lắm thay! (Dương Trí Duyệt hỏi)

 

          Đáp: Cuốn sách Những Lời Dạy Của Đức Phật do cư sĩ đă đọc, kẻ hèn này chưa hề xem tới, chẳng biết nội dung. Xét theo tên gọi, có lẽ đó là tác phẩm của người hiện thời. Nếu nương theo kinh giáo để học Phật, vốn có pháp tứ y. Thứ nhất là “y pháp, bất y nhân”, có nghĩa là đối với các nghĩa lư, ắt phải nương theo kinh giáo. Từ bậc Đẳng Giác trở xuống, hễ nói điều ǵ mâu thuẫn với kinh Phật th́ chẳng đáng để tuân theo. Những điều khác như “con chó không có Phật Tánh”, “Phật đến giết Phật”, “một chữ Phật, ta chẳng muốn nghe”, đều là những lời lẽ phương tiện thuộc Quyền Trí nhằm tháo gỡ trói buộc, nhằm ứng hợp căn cơ [của đối tượng được giáo hóa khi ấy], cho nên có những phương cách riêng biệt, chẳng phải là cách hoằng giáo thông thường. Nói “thần thức” hoặc “linh hồn”, đều là một sự mà có hai danh xưng. Bản tánh dấy động, bị mê th́ gọi là Thức. Đă trở thành thức, bèn hư vọng phân biệt, lưu chuyển huyễn biến, cho nên có núi, sông, đại địa, sáu đường, chín hữu. Do vậy, các kinh luận đều dạy “chuyển thức thành trí”. Nếu không có thức, cần ǵ nói “chuyển”? Bộ Duyên Sanh Luận cũng như tông Duy Thức luôn nói đến “huyễn hữu”, trái ngược với điều ấy chính là “ngoan không” (cái Không trơ trơ, rỗng tuếch). Nếu đạt đến Chủng Trí đă viên măn, nói Không hoặc nói Hữu đều là hư luận! Hăy thử suy nghĩ ư nghĩa “Sắc chính là Không, Không chính là Sắc”. Hai câu ấy chính là lời nói tổng quát của các pháp, lệch về Không hay lệch về Hữu, sẽ đều là sai lầm. Nghĩa lư Không như Phật đă nói chính là nói theo Thể và Lư chân thật; nói Hữu tức là nói theo phương diện sự tướng hư giả. Hăy nên biết Thể và Tướng chẳng hai, Sự và Lư chính là lẫn nhau, Không và Hữu chẳng ĺa. V́ thế, nói Như Lai Tạng là “không”, hoặc nói là “bất không”, hoặc nói là “không bất không”. Ư nghĩa trong kinh là như vậy, đó gọi là “Nhất Thừa bất nhị”. Tuy nói như vậy, ắt phải nghiên cứu kinh cho nhiều th́ mới có thể hiểu được.

 

          * Hỏi: Trong chương thứ sáu của sách ấy, lại c̣n phủ định “tự ngă”, “cá ngă” (cái ngă của mỗi cá nhân) và “thần ngă” v.v… cũng xin dạy cho! (Dương Trí Duyệt hỏi)

         

Đáp: Vô Ngă chính là giáo nghĩa của đức Thế Tôn, chẳng thể thảo luận. Trong Tứ Niệm Trụ đă nói “quán pháp vô ngă”, các kinh như Kim Cang, Viên Giác đều nói “vô ngă tướng”, nhưng Duy Thức lại nói “năm pháp, ba tự tánh, nhân, pháp nhị vô ngă” v.v… đấy chính là Vô Ngă được nói trong kinh Phật, chẳng thể kể xiết! Nếu hiểu lư “vạn pháp do duyên sanh”, sẽ tự hiểu rơ vô ngă. Nhưng cũng có ngoại lệ, “thường, lạc, ngă, tịnh”! Phàm phu chấp Hữu, gọi là “tứ điên đảo”, Nhị Thừa chấp Vô, cũng là điên đảo. Ấy là v́ khi đạt đến Niết Bàn rốt ráo, bản tánh viên minh, bốn pháp “thường, lạc, ngă, tịnh” mới hiển lộ, mới biết bốn pháp ấy đều là Tánh Đức. V́ thế, nơi Phật, [bốn điều ấy] được gọi là “tứ tịnh đức”.

 

* Hỏi: Trong nhà, trước kia đă thờ mấy vị Vương Gia[11], và [h́nh tượng của] mấy vị Bồ Tát chẳng trang nghiêm, muốn đổi sang thờ tượng [Tây Phương] Tam Thánh th́ nên xử lư [những h́nh tượng cũ] như thế nào? Tặng cho người khác, sợ họ chẳng tiếp nhận! (Chánh Phạm đồng học hỏi)

 

Đáp: Hăy t́m cách thương lượng với những miếu thờ nhiều vị thần, để đưa vào bày trong miếu. Sau khi đă thương lượng thỏa đáng, hăy sắm sửa hương, nến, cúng dường tiễn đưa. Người học Phật hăy nên b́nh đẳng, cung kính, nhưng chớ nên tin và thờ phụng tạp loạn mà thôi! Nếu đền miếu chẳng bằng ḷng thâu nhận, có thể cúng họ một ít tiền hương đèn, có lẽ họ sẽ chịu thâu nhận. Đấy cũng là điều hăy nên làm để trọn hết t́nh người. Nếu chẳng thể thu xếp ổn thỏa, hăy t́m một chỗ sạch sẽ trong pḥng trống để đặt vào, dùng vật dụng che lại, hoặc cất giữ trong rương sạch để khi nào có dịp sẽ tặng cho người khác.

 

* Hỏi: Đối với khóa lễ sáng tối thông thường, nếu ra ngoài, t́nh h́nh chẳng thích hợp, lại nên làm như thế nào? (Chánh Phạm đồng học hỏi)

 

Đáp: Chẳng cần phải câu nệ h́nh thức, chỉ thầm niệm trong tâm để cầu định. Đi, đứng, ngồi, nằm, tùy duyên tán tŕ. Phật pháp viên dung, phương tiện thiện xảo, xét theo cơ duyên để làm, chỉ là chẳng nên gián đoạn mà thôi!

 

* Hỏi: Tôi cảm thấy nhà cửa có âm khí. Năm trước, một thầy bói nói người ở trong căn nhà ấy th́ những người bề trên cũng qua đời. Tuy là lời lẽ của ngoại đạo, nhưng tinh thần của đệ bị uy hiếp rất lớn. Xin sư huynh thưa hỏi giùm thầy xem nên làm như thế nào? Bởi lẽ, gia phụ đă khuất núi hơn một năm rồi! (Chánh Phạm đồng học hỏi)

 

Đáp: “Âm khí” như ông đă nói chẳng biết là chỉ điều ǵ? Có phải là ngôi nhà ấy chẳng đủ ánh sáng mặt trời hay chăng? Hay là cảm thấy h́nh thể cong lệch, nhỏ hẹp? Đối với hai chuyện ấy, đều có thể kêu thợ sửa đổi một đôi chỗ, ḥng dẹp nỗi lầm lạc về mặt thế tục, khiến cho [nhà cửa] sáng sủa, thoáng đăng. Nếu bảo là “có người đă qua đời” [chứng tỏ âm khí nặng nề], lời ấy khó thông! Trong nhà nào mà chẳng có người mất? Đó gọi là sống ở đó, già ở đó, hát cười ở đó, không ǵ chẳng tốt lành. Tuy vậy, thuật Phong Thủy Địa Lư lưu hành đă lâu, tuy tin hay không tùy người, nhưng họa phước xác thực là do tâm! “Tích thiện th́ điều tốt lành có thừa. Nhân lành, quả lành”, bậc thánh hiền trong đạo Nho, đạo Phật, đều nói như thế. Cứ tin suông Phong Thủy, chẳng bằng thấu đạt lẽ ấy!

 

* Hỏi: Nói theo pháp, Kiếp có tăng giảm kiếp. Tuổi thọ của con người cứ mỗi trăm năm sẽ tăng hay giảm một tuổi. Nay nhằm lúc giảm kiếp, do từ xưa tới nay, Trung Hoa đă có hơn năm ngàn năm lịch sử, chiếu theo đó để suy đoán, tuổi thọ của con người hiện thời phải nên là khoảng chừng năm mươi mấy tuổi. Đối với chuyện này, chẳng biết đại đức giải thích như thế nào? (Chiêm Đức Nguyên hỏi)

 

Đáp: Khởi điểm của kiếp tăng giảm hoàn toàn chẳng thể chiếu theo một vùng hoặc một nước để nói được, mà chính là nói đến chuyện tính toán xét theo toàn thể đại thiên thế giới. Tăng đến cực hạn là tám vạn bốn ngàn tuổi bèn ngưng, giảm đến cực hạn là mười tuổi bèn thôi. [Chu kỳ] một tăng một giảm đạt đến hai mức cực hạn ấy th́ gọi là một tiểu kiếp. Lại cần nên biết: Nói “tám vạn bốn ngàn” hoàn toàn chẳng phải là nói đến số lượng trong một tiểu kiếp, mà là nói về tuổi thọ của con người, tṛn số ấy th́ thôi. Lại phải nên biết: Đấy bất quá là mượn một chuyện để lũy tính số lượng thời gian trong một tiểu kiếp, chứ người và trời trường thọ, vẫn có trường hợp thọ hơn con số ấy. Để tính số lượng của tiểu kiếp, trừ [cách tính theo] cơ số một tăng một giảm hai mươi năm ra, thật sự có mười sáu vạn bảy ngàn chín trăm tám mươi mốt trăm năm (16.798.100 năm). Đối với thọ mạng của người hiện thời, có người dựa theo tuổi thọ b́nh quân để tính, [sẽ thấy trung b́nh] con người chỉ sống được bốn mươi năm; nếu nói theo sự thấy nghe th́ có thể nói là bảy mươi tuổi. Truy ngược về trước đến thời Hoàng Đế, theo sử sách ghi chép, vào thời ấy, phần nhiều sống hơn một trăm hai mươi tuổi, phù hợp với thuyết trăm năm giảm một tuổi. Nhưng đấy cũng là cách tính toán ước lược, hoàn toàn chẳng phải là ai nấy đều thọ đúng bảy mươi tuổi được!

 

* Hỏi: Hết thảy các sắc tướng như mộng, huyễn, bọt, bóng. Vậy th́ ắt trước hết phải là có người, rồi sau đấy mới có mộng. Ắt là trước hết phải có tướng, sau đấy, cảnh mới hiện bóng. Suy đến rốt cùng, tuy là hư vọng, thoạt tiên phải là do điều ǵ đó mà sanh. Có phải là trước hết ắt phải có nhân, sau đấy mới sanh ra quả (tướng)? Nhưng vô thỉ tối sơ, có nhân như thế nào? Như ắt trước hết phải có cha mẹ, sau đấy mới sanh ra con, đời đời truyền nhau mà trở thành đông đảo. Chỉ hỏi cặp cha mẹ thuở ban sơ do đâu mà có? Do nguyên nhân nào? (Chiêm Đức Nguyên hỏi)

 

Đáp: Đối với chuyện vô thỉ vô chung (không có khởi đầu, không có kết thúc), có tướng th́ là “thiên” (thiên nhiên), không có tướng th́ là tánh, đều chẳng phải là do tạo tác mà có. “Thiên” “thiên nhiên”, tánh th́ nói là “pháp nhĩ như thị” (pháp vốn là như thế), Nho gia nói mông lung: “Thiên mạng chi vị tánh” (Mạng trời gọi là tánh), các nhà (các học thuyết, các tôn giáo) nghiên cứu vấn đề này rất nhiều. Lăo Tử nói: “Nhất sanh nhị, nhị sanh tam, tam sanh vạn vật” (Một sanh ra hai, hai sanh ra ba, ba sanh ra vạn vật). Kinh Dịch nói Thái Cực, lại nói đến Thái Nhất, Thái Tố và Thái Dịch[12]. Đối với những thứ “thiên nhiên, pháp nhĩ, Thái Cực, Thái Nhất, Thái Dịch” v.v… như vừa nêu, không ǵ chẳng nhằm nói đến tánh lư vô thỉ vô chung vô tướng. Tánh sáng suốt, bất động. Hễ động bèn mê, biến thành thức. Thức sanh ra Kiến Phần. Kiến Phần huyễn biến Tướng Phần, sanh ra Tứ Đại, Ngũ Uẩn, phối hợp lẫn nhau, h́nh thành các tướng. Nếu cứ muốn vặn hỏi cha mẹ thuở ban sơ, [xin trả lời] đó chính là hai phần, tức Kiến Phần và Tướng Phần. Nói “tối sơ” chẳng phải là tối sơ [tuyệt đối], chẳng qua là tối sơ trong một giai đoạn mà thôi!

 

* Hỏi: Xin hỏi: Trong Phật pháp nói “vạn pháp vô thường”, chẳng sai, nhưng chúng ta lại nói “lạc” là hư vọng, là một thứ Hoại Khổ, vậy th́ Khổ là chân thật. Nói như vậy, Khổ lẽ ra phải là thường, v́ nó là chân thật! Lại nữa, Khổ cũng nên bao gồm trong vạn pháp. Như thế, chẳng phải là mâu thuẫn với luật “vạn pháp vô thường” ư? Khổ có phải là pháp thế gian duy nhất thuộc về tuyệt đối trong các pháp thế gian hay không? Lại nữa, “lạc” trong cơi Tịnh Độ Cực Lạc của A Di Đà Phật có phải là tuyệt đối hay không? Có khác biệt ǵ với Lạc trong bốn tịnh đức “thường, lạc, ngă, tịnh” của Phật hay không? (Trương Nguyệt Anh hỏi)

 

Đáp: Vô thường là sanh diệt. Khổ mà nói là thật, tức là nói đối ứng với hư vọng; bảo Khổ là “chân” chính là nói đối ứng với giả, chẳng phải là chân thật bất biến như Chân Như Thật Tướng. Khổ cũng là vô thường, do sanh sanh diệt diệt mà chẳng có lúc nào ngưng. Do nó liên tục, [khiến cho người ta lầm tưởng] nó dường như là thường. Trước đó, tôi đă nói là tương đối, cho nên chẳng mâu thuẫn với luật vô thường. Lạc trong thế giới Cực Lạc và lạc trong “thường, lạc, ngă, tịnh” của Phật là “đạo đồng, chẳng sai khác”. Lạc của chúng sanh th́ tùy theo sở chứng [của mỗi cá nhân] mà sai khác, nhưng cái lạc ấy chính là do đức Phật Quyền Trí phương tiện mượn lạc để thuyết pháp, ngơ hầu [người nghe sẽ tu tập] ḥng đạt tới cơi Thường Tịch. Nói đến Thường và Tịch mà chẳng phải là tuyệt đối th́ là ǵ vậy?

 

* Hỏi: Trứng gà và gà rốt cuộc thứ nào có trước? (Quách Hương Lan hỏi)

 

Đáp: Vạn pháp do nhân duyên sanh. Nhân duyên: Điện tử, các thứ nguyên tố, bẩm thọ thiên địa và Âm Dương mà biến hóa ra. Duyên của gà đă chín muồi bèn sanh ra gà, duyên của trứng đă chín muồi bèn sanh ra trứng, tức là “không có gà cũng có thể sanh ra trứng; dẫu không có trứng, vẫn có thể sanh ra gà”. Gà sanh trứng, trứng nở ra gà, chính là sự biến diễn về sau, nếu dùng sức người th́ cũng có thể thay đổi được!

 

* Hỏi: Loài người do đâu mà có? V́ sao có nam nữ phân biệt? (Quách Hương Lan hỏi)

 

Đáp: Tánh là “pháp nhĩ” (pháp vốn là như thế đó), hễ mê bèn biến thành thức. Sau đó, có ba tế tướng và sáu thô tướng, người và vật sanh ra. Trời đất có khí Âm Dương, thực vật do cảm [hai khí ấy] mà hóa thành nhị đực, nhị cái, thần thức có cứng cỏi hoặc mềm mỏng, bảy loại t́nh cảm, động vật cảm sanh nam tánh và nữ tánh.

 

* Hỏi: V́ sao nam có thể mọc râu ria, mà nữ chẳng thể? (Quách Hương Lan hỏi)

 

Đáp: Đừng bàn chuyện hư luận! Chỗ khác biệt giữa nam và nữ rất nhiều, dẫu nói đến vạn lời, cũng khó thể hết được! Há có phải riêng chuyện râu ria thôi ư?

 

* Hỏi: Tôi từng đọc thấy trong kinh điển có một đoạn kinh văn về chuyện “long nữ bảy tuổi thành Phật”, nhưng chẳng biết v́ sao cô ta không đầu thai làm người, mà lại vào thai rồng? Trong đời quá khứ, cô ta đă có công đức và thiện căn như thế nào mà ngay trong đời này bèn có thể thành Phật nhanh chóng dường ấy? Có người suốt mấy đời thọ giới, dụng công, vẫn chẳng thể thành tựu trong một đời. V́ sao cô ta có thể thành Phật đơn giản ngần ấy? (Vương Chánh Ngôn hỏi)

 

Đáp: Ngài đă hỏi về long nữ, tức là do đọc kinh Pháp Hoa mà biết. Kinh văn chẳng nói đến chuyện ông đă hỏi, kẻ hèn này do đâu mà biết được? Trong mục vấn đáp này, hễ những chỗ có liên quan đến kinh điển, nếu kinh có nói th́ vâng theo đó để đáp. Nếu không, ai dám làm ra vẻ thông minh xằng bậy? Nếu chẳng thể hiểu, có thể t́m từ các bản chú giải kinh điển. Tôi nhớ người xưa từng đối với vấn đề này mà bảo là [long nữ] do tư lương trong nhiều kiếp, nay thành Phật, bất quá là thị hiện h́nh tích đó thôi! Lại c̣n nói “ba A-tăng-kỳ và sát-na cùng thuộc trong một niệm”. Đối với cách nói trước th́ c̣n có thể hiểu rơ, chứ đối với cách nói sau, kẻ sơ học chẳng thể hiểu được! C̣n như hỏi v́ sao cô ta đầu thai làm rồng, chưa thấy [có vị tổ sư đại đức nào] chú giải, cho nên tôi chẳng đáp. Đối với tuổi [của long nữ] như Ngài đă viết, e là viết sai, tôi nhớ có lẽ là tám tuổi, mong hăy tự tra duyệt trong kinh.

 

* Hỏi: Từng thấy trong các chỉ dạy về Phật lư có nói: Khi con người chết đi, trong ṿng bảy ngày, hoặc bốn mươi chín ngày bèn luân chuyển. V́ sao có người do gia đ́nh chẳng yên ổn, bèn cầu thần, xem bói, được phán rằng là do linh hồn tổ tông quấy phá. Chiếu theo lời chỉ dạy của thần để xem xét, rốt cuộc có thể thuận thảo, an ninh. Đó là do nguyên nhân nào? Có phải là do linh hồn ấy không có cách nào luân chuyển? Khẩn cầu cụ hăy giải thích, chỉ dạy! (Vương Chánh Ngôn hỏi)

 

Đáp: Câu hỏi này có hai nghĩa:

1) Một, nếu là do tổ tông nhà ấy quấy rối, ắt là họ đă lọt vào quỷ đạo, v́ trong bốn mươi chín ngày là thân Trung Ấm. Sau đó, nếu có thể đến nhà ấy, đă chẳng c̣n là Trung Ấm, mà cũng chẳng thuộc các đường trời, người, Tu La, súc sanh, địa ngục v.v… Chỉ có quỷ mới có chuyện ấy.

2) Hai, cầu thần, xem bói, những lời chỉ dạy của bọn họ có đáng tin cậy hay không, kẻ hèn này là người ngoài cuộc, chẳng dám sỗ sàng đoán định. C̣n như nhà ấy có đúng là bị quỷ khuấy phá hay chăng, hoặc ngờ là mê tín, đều chưa thể biết được. Dẫu thật sự có quỷ, quỷ đó có phải là tổ tông của họ hay không, hay là do dă quỷ giả vờ mạo danh, tợ hồ chẳng phải là kẻ b́nh phàm mà có thể biết rơ được! Do chẳng biết, nên chẳng nói bừa!

 

Hỏi: Văn nhân xưa nay đối với những kẻ tin Phật phần nhiều gọi họ là “nịnh Phật”. Qua việc tra duyệt [tự điển] Từ Nguyên[13], [xét thấy chữ] Nịnh [có ư nghĩa như sau]: (1) Nịnh () có nghĩa là tài năng. Như nói tự khiêm bèn thưa là “bất nịnh” (不佞, kẻ bất tài). (2) Khéo bợ đỡ, nhạy miệng. Luận Ngữ [có chép lời Khổng Tử]: “Khéo biện bác, áp đảo người khác, nịnh nọt để làm ǵ”[14]. C̣n có những điều mục giải thích từ ngữ như “nịnh nhân” v.v… Nhân sĩ ngoài Phật giáo dùng chữ “nịnh Phật” để gọi kẻ tin Phật, có phải là ngụ ư châm biếm hay không? Lại nữa trong bài phú của Vương Tích (xem trong Từ Nguyên) có viết: “Giới phi nịnh Phật, trai phi mị đạo” (Giữ giới chẳng phải là nịnh bợ Phật, ăn chay chẳng phải là siểm mị đạo). Tôi cũng chẳng hiểu rơ ư nghĩa hai câu ấy, kính xin cụ từ bi khai thị cho! (Vạn Gia Hâm hỏi)

 

Đáp: Đối với chữ Nịnh, ông Châu Khảo Đ́nh từng viết: “Cổ nhân nói Nịnh chỉ có nghĩa là mồm mép tép nhảy, đời sau mới dùng chữ Siểm (, nịnh hót, bợ đỡ) để giải thích”. Theo đó, Nịnh có nghĩa là mồm miệng nhanh nhảu. Sách Thuyết Văn [Giải Tự] của ông Hứa (Hứa Thận) giảng: “Dĩ xảo kỹ thủ duyệt ư nhân” (Dùng sự khéo léo để làm đẹp ḷng người khác). “Thủ duyệt” (取悅) đă bao hàm ư nghĩa siểm nịnh, thuần túy là từ ngữ châm biếm. Chứ mồm mép nhanh nhảu cũng chẳng có ư nghĩa châm biếm. Khổng Tử chẳng chuộng kẻ ăn nói khéo léo, khéo quan sát sắc mặt. Đối với học thuyết và tư tưởng, mỗi người có ư kiến riêng, chẳng tránh khỏi có chuyện tranh chấp môn hộ. Nhưng ai nấy đều có những điều họ tự cho là đúng, tự cho là sai, chẳng có ǵ là lạ! Hễ là chúng sanh bèn có phân biệt, chẳng riêng ǵ chuyện “đạo khác nhau, chẳng thể cùng bàn định được”. Dẫu là đồng đạo, mà vẫn có sự công kích lẫn nhau. Mạnh Tử chê Dương Tử và Mặc Tử là sai, Tuân Tử chê Mạnh Tử. Khổng Tử tán thưởng Lăo Đam (Lăo Tử), nhưng Hàn Xương Lê (Hàn Dũ) chê trách Lăo Tử, đề cao Mặc Tử. Họ Hàn và họ Liễu[15] do văn chương mà kết bạn, Lư Cao v́ văn chương mà tôn họ Hàn làm thầy, họ Hàn báng Phật, nhưng ông Liễu và ông Lư đều sùng Phật. Những trường hợp như vậy nhiều lắm, chẳng thể kể xiết. Người đời sau hễ thấy người khác tín Phật mà tṛng thêm chữ Nịnh, đều là có ư châm biếm. Câu văn của ông Vương Tích lại có một ư nghĩa khác, [tức là] mang ư nghĩa biện hộ cho trai giới. Nho gia cúng tế, ắt phải trai giới, nhằm biểu lộ ḷng thành kính, chẳng phải là bợ đỡ. Nếu bảo trai giới xuất phát từ sự bợ đỡ, Phật Thích Ca cũng tŕ trai giữ giới, Ngài bợ đỡ ai? Những lời lẽ xằng bậy đủ rối loạn tâm người ta. Do ḷng người rối ren, mê hoặc, cho nên thiên hạ rối loạn.

 

* Hỏi: Có một vị đồng tu chẳng hiểu Phật lư, đă nói: “Khi người ta c̣n sống tin Phật, cầu sung sướng về mặt tinh thần th́ c̣n được. Sau khi đă chết, các tế bào trong năo đều chẳng c̣n tri giác, làm sao có thể biết là cuộc sống trong thế giới Cực Lạc thoải mái?” Đệ tử giải thích với người ấy: Tri giác chẳng phải là tác dụng của tế bào năo, mà là sáu căn và sáu trần đối ứng với nhau, trung gian bèn phát sanh sáu thức. Tri giác chính là tác dụng của thức. Như người mới chết, căn cứ trên chứng minh từ y học, trong ṿng bảy tiếng đồng hồ, các tế bào hoàn toàn chẳng khác ǵ lúc sống, v́ sao chẳng có tri giác? Khi ngủ nghê, các tế bào chưa hoại, thế mà cũng vô tri giác. Người sau khi đă chết, các tế bào hư nát, thần thức bất diệt, đấy cũng chính là “năng lực bất diệt” như các nhà khoa học đă nói. Sau khi đă chết, hết thảy đều biết. Thần thức và tế bào năo giống như bóng đèn điện và điện. Bóng đă hư, dẫu có điện, cũng chẳng sáng. Bóng đèn [dẫu c̣n tốt] mà chẳng có điện th́ cũng không sáng. Cụ có thể giải thích chuyện này hay không? (Vạn Gia Hâm hỏi)

         

Đáp: Những điều ông đă nói và thí dụ đă dùng đều hết sức tốt đẹp. Đối phương có nghe lọt tai hay không, cũng là có nhân duyên. Xét theo phía người đó, luận định về nghiệp lực, chướng nhẹ bèn có thể tin, nghiệp nặng sẽ chẳng thể! Xét theo phía quư cư sĩ để luận định duyên phận với người ấy, dường như là xưa kia chẳng có duyên phận, nay hăy mau kết duyên phận. Ngài Xá Lợi Phất từng độ dân chúng khó giáo hóa trong một thành v́ trong đời trước Ngài đă cứu một tổ ong. Vị tỳ-kheo X… thuyết pháp, thính chúng toàn là hạng thiếu niên, v́ hai mươi năm trước, Sư đă thí gạo cho một bầy chim. Vạn pháp do nhân duyên sanh, quư cư sĩ có thể tin tưởng hay chăng?

 

* Hỏi: Lư hương ngẫu nhiên bốc cháy (nói theo tiếng Đài Loan là “phát lô”, 發爐), t́nh h́nh ấy có phải là một thứ điềm báo? Có đáng tin hay không? Gần đây, hàng xóm [của tôi] bị “phát lô”, từng gặp chuyện bất hạnh. Đó có phải là mê tín hay không? (Tạ Minh Châu hỏi)

 

Đáp: Phong khí ấy chính là một tập tục của một vùng, kẻ hèn này xưa nay chưa nghe nói tới. Do vậy, chẳng tiện chen lời bàn luận. C̣n như cát hay hung, tệ ư cho rằng tại người, chẳng tại lư hương. Nếu thật sự tu đức, dẫu hung cũng có thể hóa thành an. Chẳng tu đức lại làm chuyện hung bạo, dẫu gặp cát cũng có thể biến thành họa.

 

* Hỏi: Người sau khi đă chết, hỏa thiêu có xá-lợi, có phải là do xương và tủy kết thành hay không? Tôi từng nghe có kẻ nói người chẳng kết hôn th́ mới có [xá-lợi], nhưng ngày hôm qua, tôi thấy một vị nữ nhân chưa từng kết hôn, sau khi hỏa thiêu chẳng thấy có hạt xá-lợi. Cũng có nói: Phải là người thường tĩnh tọa, có công phu định lực th́ mới có [xá-lợi]. Xin hỏi phải là như thế nào th́ mới có xá-lợi tử? (Tạ Minh Châu hỏi)

 

Đáp: Quư cư sĩ tu pháp nào, kẻ hèn này hết sức mờ mịt. Tâm ông mong cầu chỉ là sau khi chết có xá-lợi, hay là c̣n có điều chi khác? Nói “tĩnh tọa” th́ cũng chẳng biết là tĩnh tọa theo kiểu nào? Xét kỹ những câu hỏi sáu, tám, chín, mười, đều là chuyện chẳng liên can, mà cũng chẳng phải là chuyện của chính ḿnh! Những thứ vọng tâm rong ruổi bên ngoài như vậy, sẽ có hại to lớn cho đạo. Không ǵ bằng thâu hồi cái tâm, thật thà niệm Phật, may ra có thể thành tựu. Nếu không, dẫu có thể vạn sự đều biết, nhưng chẳng có mảy may hữu dụng ǵ đối với sanh tử!

 

* Hỏi: Bọn chúng ta khi chẳng nghĩ thiện bèn nghĩ ác, dùng cái tâm nào để độ chúng sanh? (Dịch Tri Lương hỏi)

 

Đáp: Học và khởi tác dụng, chia thành tự hành và hóa tha (hóa độ người khác). Đấy chính là [nói theo phương diện] sự tướng, lại c̣n có nghĩa lư:

1) Luận theo sự tướng, hóa tha phải nên do cơ duyên thúc đẩy. Há có phải chỉ là tư duy điều lành, nói lời lành, nghĩ ác bèn nói lời ác? Lại cần phải lợi hành, đồng sự, vận dụng Quyền Trí.

2) Luận theo nghĩa lư, đối với tự tánh phiền năo và tự tánh chúng sanh, càng phải nên độ trước. Chẳng nghĩ tới thiện ác, chính là chánh niệm phân minh, đấy chính là độ tự tánh chúng sanh, vận dụng Thật Trí. Hơn nữa, vào đời Đường, Trừng Quán đại sư đă nói: “Khi tự tu Lục Độ, chính là lúc độ chúng sanh. Đấy cũng là ư nghĩa của bản kinh này”. Hăy nên suy nghĩ sâu xa!

 

* Hỏi: Khi chúng ta chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác như vậy, có phải là một chữ Tịch “buông xuống vạn duyên, chẳng sanh một niệm” hay không? Dường như vẫn c̣n thiếu một chữ Chiếu, làm sao có thể gọi là Thượng Thượng Thiền cho được? (Dịch Lương Tri hỏi)

 

Đáp: Có thể chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, đấy chính là Tịch. Lúc biết như vậy, há chẳng phải là Chiếu ư? Tịch là Tịch, Chiếu là Chiếu, chính ngay trong khi đó, sẽ là Tịch mà chẳng phải là Tịch, là Chiếu mà chẳng phải là Chiếu, chính là Tịch và Chiếu cùng dung hội, há chẳng phải là cảnh giới thượng thượng ư?

 

* Hỏi: 1. Theo sách Pháp Giới Đồ Chú Giải, Nam Thiệm Bộ Châu có h́nh chữ Điền (), Bắc Cù Lô Châu có h́nh vuông, Đông Thắng Thần Châu h́nh bán nguyệt, nhưng khoa học chứng minh các tinh cầu trong vũ trụ đều là h́nh cầu. Có phải là mỗi châu đều do nhiều tinh cầu hợp thành mà có tên hay chăng?

          2. Biển nước mặn chỉ rộng hơn bảy trăm vạn dặm, cho nên địa cầu cách núi Thiết Vy cũng chẳng xa, v́ sao nhục nhăn chẳng trông thấy? (Hỏa Tinh (Mars) cách địa cầu bảy ngàn vạn dặm, nhục nhăn có thể trông thấy, hỏa tiễn cũng có thể đến đó). Núi Tu Di to hơn Hỏa Tinh mấy trăm lần, mà cũng gần [địa cầu] hơn Hỏa Tinh, v́ sao chẳng thấy, hỏa tiễn chẳng thể đến được?

          3. [Theo kinh Phật], mặt trời và mặt trăng xoay quanh sườn núi Tu Di, nhưng khoa học chứng minh mặt trăng và địa cầu xoay quanh mặt trời, có thể thấy là địa cầu cũng theo mặt trời mà xoay quanh núi Tu Di. Xin hỏi có phải là ba đại châu khác cũng đang xoay chuyển hay không? Lớp lang ngoài ŕa của một đơn vị thế giới [như vừa mới nêu trên đây] có phải là do đức Phật nói ra hay không? Nói trong kinh điển nào? (Lâu Vĩnh Dự hỏi)

 

Đáp: Tôi gộp chung ba câu hỏi lại để đáp. Đại Thừa Phật pháp hoặc nói Thật Tướng, hoặc nói Nhất Chân pháp giới v.v… đều là “Thể không, Tướng giả. Tâm tạo vạn pháp, Tướng do Thể sanh”, đều là cùng một nguyên tắc. Đó là điều thứ nhất. Tướng đă là huyễn vọng, làm sao có h́nh dáng nhất định cho được? Kinh Hoa Nghiêm có nói hết thảy thế giới, hữu vi vật chất, hữu vi quang ảnh, nhưng hữu vi chúng sanh chẳng trông thấy, hoặc thấy mà chẳng nh́n ra thực chất của nó. Như bốn loài trời, người, quỷ, cá nh́n nước, sẽ [trông thấy] thành bốn loại khác nhau, chớ nên chấp trước. Đó là điều thứ hai. Khi đức Phật thuyết pháp, có những lời chân thật, như thật, chẳng vọng, chẳng khác, có lời lẽ là phương tiện nói quyền biến, có lời lẽ tùy thuận thế tục. V́ thế, Không, Hữu, lớn, nhỏ, thiên, viên, pháp thế gian và xuất thế gian, liễu nghĩa, bất liễu nghĩa, [đều là do] quán sát căn cơ để chọn lựa lời nói [cho phù hợp]. Chớ nên không biết phương tiện. Đó là điều thứ ba. Thế giới an lập, những thứ được nói như Tu Di, Thiết Vy, bốn đại châu, tám biển, rốt cuộc ở chỗ nào, kẻ mắt thịt c̣n chẳng thể xác định, huống hồ là nói tới h́nh tượng [của những thứ ấy] ư? Chúng ta sống trong Diêm Phù Đề, phạm vi hạn lượng như thế nào, nay c̣n chẳng biết, mà lại nói đến những chuyện vượt ra ngoài, tôi cảm thấy [làm như vậy] chính là chuyên chú học nơi cành nhánh! Đối với những trạng huống ấy, kinh điển Đại Thừa chỉ nói đại khái. Những lời lẽ chi tiết, đa phần chép trong kinh A Hàm, A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận, và Pháp Uyển Châu Lâm, học nhân chỉ nghe như thế, có lẽ hăy nên có cách nh́n sống động, đừng câu nệ th́ hay hơn!

 

* Hỏi: Thế giới kể từ khi chưa có sanh vật cho đến khi có sanh vật xuất hiện, trong thời kỳ ấy, nhân loại phát sanh như thế nào? Thiên Chúa Giáo nói [nhân loại] là do Á Đương và Hạ Oa (Adam và Eva) sanh ra. Nói theo cách thông thường, sẽ là do loài vượn tiến hóa mà thành; vậy th́ thoạt đầu loài vượn ấy lại do đâu mà có? (Cư sĩ ẩn danh hỏi)

 

Đáp: Lư chân chánh là vô thỉ vô chung (chẳng có khởi đầu, chẳng có kết thúc). Đă là vô thỉ, vô chung, cho nên chẳng có trước sau. Chân Không là Tánh, Giả Hữu gọi là Tướng. Không huyễn hóa Tướng, cho nên có vạn vật. Con người là một loài trong vạn vật. Nhân duyên huyễn hữu, sanh diệt vô thường, chẳng phải là chân thật. Đối với những cách nói khác, tôi chẳng thể hiểu. Nếu bảo là do Á Đương và Hạ Oa khởi nguồn tạo ra con người, vậy th́ Á Đương và Hạ Oa có phải là người hay không? Nếu họ là người th́ là đă có người, làm sao có thể bảo là khởi nguồn? Nếu nói là do khỉ vượn tiến hóa, lại thử hỏi khỉ vượn do đâu mà có?

 

* Hỏi: Nhất Quán Đạo nói xằng hiện thời là thời kỳ Hồng Dương, do Phật Di Lặc chưởng quản thiên bàn, xin hỏi: Căn cứ theo lời dạy của đức Thế Tôn, Di Lặc Bồ Tát cần phải mất bao lâu nữa mới hạ sanh? (Cư sĩ ẩn danh hỏi)

 

Đáp: Những ǵ tại hạ biết đều có kinh điển làm căn cứ. Phàm đối với những lời rao truyền, đồn đại, ngụ ngôn, giả ngữ thôn ngôn[16], nhất loạt chẳng muốn miễn cưỡng biện giải. Người học Phật hăy nên dựa theo kinh Phật, người học Nho hăy dựa theo kinh sử. Những ǵ quư cư sĩ đă hỏi và hai điều này đều là vô căn cứ, chẳng muốn nói tới!

 

          * Hỏi: Theo sách Ám Lộ Minh Đăng ghi chép, hiện thời đang là Trụ Kiếp trong Hiền Kiếp, đức Thế Tôn là vị Phật xuất thế trong tiểu kiếp thứ chín của Trụ Kiếp này. Tới tiểu kiếp thứ mười, Phật Di Lặc mới hạ sanh, thành Phật dưới cội cây Long Hoa trong vườn hoa. Nhưng sách ấy lại nói: Phật Di Lặc ắt là phải sau khi pháp tạng của Phật Thích Ca đă diệt mất năm mươi sáu ức vạn năm th́ Ngài mới hạ sanh. Dùng thời gian kể từ tiểu kiếp thứ chín đến tiểu kiếp thứ mười để tính, thời gian cách biệt chẳng thể dài đến năm mươi sáu ức vạn năm. V́ một tiểu kiếp tối đa cũng chỉ là một ngàn sáu trăm tám mươi vạn năm. Theo cách tính hiện thời, một ức là một vạn vạn, do đó, năm mươi sáu ức vạn năm ước chừng phải là thời gian thuộc bốn đại kiếp. V́ thế, học nhân hoài nghi tiểu kiếp thứ mười (chỉ Trụ Kiếp trong Hiền Kiếp) chẳng thể nào có chuyện Phật Di Lặc hạ sanh trong cơi Diêm Phù Đề! Thứ hai, xưa kia Phật Thích Ca nói năm mươi sáu ức, có thể là coi mười vạn là một ức, chẳng giống như một ức được nói trong hiện thời (tức vạn vạn là một ức)? Nếu chẳng phải như vậy, Ức như đức Thế Tôn đă nói ước chừng bằng bao nhiêu trong hiện tại? Thứ ba, lại có một thuyết nói Phật Di Lặc thành đạo vào hơn tám trăm tám mươi vạn sáu ngàn năm sau. Đối với cách nói như vậy, nên giải thích ra thế nào? (Thái Tĩnh Hiền hỏi)

 

          Đáp: Những câu hỏi một, hai, ba đều thuộc về pháp môn tính toán, cho nên tôi gộp lại để trả lời, v́ tánh chất [của những câu hỏi ấy] chẳng khác nhau. Theo người Hoa, con số Ức thường được giải thích là tên gọi khác của mười vạn. Tra duyệt các sách chú giải đời Tùy, chữ Ức có khi được hiểu là một trăm vạn, hoặc là một ngàn vạn khác nhau. Tra cứu sách Du Già Lược Toản chép về con số Ức, Tây Phương (tức Ấn Độ) có bốn cách nói: Một là mười vạn, hai là trăm vạn, ba là ngàn vạn, bốn là vạn vạn. Chiếu theo cách tính toán đối với chữ ấy, Trung Hoa và Tây Phương đă khác nhau, giữa Trung Hoa với nhau cũng có sự bất đồng [tùy theo từng triều đại], giữa Tây Phương với nhau cũng có sự bất đồng. Trong t́nh huống bất đồng to lớn ấy, [t́m hiểu chánh xác con số Ức được nói theo kiểu nào] khá là khó khăn! Đối với các kinh luận được dịch sang tiếng Hán, như Du Già Hiển Dương [Thánh Giáo Luận] chủ yếu coi một trăm vạn là một ức, kinh Hoa Nghiêm chủ yếu coi một ngàn vạn là một ức, Trí Độ Luận chủ trương mười vạn là một ức. Tức là cổ đại đức cũng chẳng nhất trí. Đối với chữ này, vẫn chưa thể khảo sát được tiêu chuẩn, làm sao có thể nói tổng số năm Di Lặc Phật sẽ giáng sanh? Huống hồ tính toán lại là một loại [học vấn] trí huệ. Loại học vấn ấy chính là sở đoản b́nh sinh của kẻ hèn này. Nếu con số đến hàng vạn, sẽ [cảm thấy] váng đầu nhức óc, tính toán chẳng rơ ràng! Đối với chuyện phức tạp như thế, càng chẳng dám mon men! Kẻ chẳng mẫn tiệp này kính thưa rơ [cùng ông như thế đó].

 

          * Hỏi: Hiện thời có những nhóm người thuộc Áp Đản giáo, ngụy xưng là Phật giáo, đôi khi mạ lỵ Phật giáo. Xin hỏi họ có phạm tội lỗi hay không? Đối với kẻ phạm tội ấy, chẳng biết kinh Phật ghi chép như thế nào? (Lâm Bá Tu hỏi)

 

Đáp: Ngụy Phật giáo, dẫu miệng chẳng chửi bới Phật giáo, hành vi cũng là phá hoại Phật giáo, tội ấy đă trọn đủ. Tội báng Tam Bảo thuộc về Ngũ Nghịch, đọa trong địa ngục Vô Gián, kinh điển Đại, Tiểu Thừa ghi chép khác nhau, lư ấy phức tạp khó nói, biết đại lược là được rồi!

 

* Hỏi: Áp Đản giáo, c̣n gọi là Nhất Quán Đạo, có phải là một chi phái Phật giáo hay chăng? (Lâm Bá Tu hỏi)

 

Đáp: Phật giáo có kinh điển chánh thức. Kinh điển ấy do ai nói, ai kết tập, ai truyền đến Trung Hoa, ai phiên dịch, rành rành có thể khảo cứu, chứng cứ xác đáng. Lại c̣n có nguyên tắc “y pháp, bất y nhân”. Có đức Phật nói kinh, có kinh do đức Phật nói, có tăng sĩ y giáo phụng hành th́ mới là Phật giáo thật sự. Người có học vấn trong thế gian vừa trông thấy bèn có thể phân biệt, kẻ chẳng đọc sách nhiều mới bị họ lừa phỉnh. Những cái gọi là Nhất Quán Đạo này nọ, thật sự chẳng có mảy may nào liên quan với Phật giáo!

 

* Hỏi: Nghe có kẻ bảo kinh điển Phật giáo có thật, giả, [vậy th́] phân biệt thật giả như thế nào? Chẳng hạn như đối với kinh Thái Âm, kinh Thái Dương, tôi thật sự hoài nghi tánh chất đáng tin cậy của chúng! Chẳng biết [những kinh ấy] có phải là do đức Phật Thích Ca nói ra hay không? (Lâm Bá Tu hỏi)

 

Đáp: Kinh Phật lưu truyền trong cơi đời, đại thể th́ như đă nói rơ trong phần trước. Hiện thời, trong tỉnh này (Đài Loan), phần nhiều các chùa miếu có toàn bộ Đại Tạng, chẳng khó tra duyệt! Hễ trong Đại Tạng mà có th́ là chân kinh, nếu chẳng có trong Đại Tạng th́ là ngụy! Những thứ Thái Âm, Thái Dương v.v… như ông đă nói đều chẳng phải là kinh Phật.

 

          * Hỏi: Kẻ hèn này tiếp cận Phật giáo đă mười mấy năm, lưu luyến chẳng bỏ, nhưng khổ v́ trong tám nạn, chẳng được minh sư chỉ dạy. Lại c̣n bị tai điếc, không có cách nào nghe pháp, chỉ có đọc kinh điển lung tung, cầu sao có thể ngộ giải bản thể. Có lúc chẳng cảm thấy ngày tháng như thế nào, chỉ là chẳng được mấy chốc lại quên mất, nay cảm thấy rất vô vị. Gần đây, do đọc bộ Phật Kinh Tập Dịch, trong ấy, có Thiên Phật Nhân Duyên Kinh. Đọc xong, chẳng cảm thấy thoải mái cho lắm. Ngu tôi cho rằng ngàn đức Phật ứng thế, nếu nói một đoạn nhân duyên là đă đủ để thành lập, cớ sao lại nói sáu bảy đoạn? Cũng có lẽ là do đức Thế Tôn thích nói nhiều như vậy, chẳng trách kinh Phật nhiều ngần ấy! Tôi nghĩ Như Lai là bậc chân ngữ, thật ngữ, sao lại có vấn đề? Hơn nữa, trong kinh Phật có nói, hướng về Tam Bảo bố thí, sẽ có công đức như thế nào, nhưng nếu dùng vật dụng của tăng chúng, sẽ có tội lỗi như thế nào, ngu tôi lại cảm thấy bất b́nh! Theo đúng lẽ, người khác phải hướng về ta bố thí, ta chẳng cho người khác dùng đến, nói theo Lư chẳng suông! Ngu tôi viết những câu thẳng thắn này, chẳng phải là cố ư phản đối Phật giáo; vẫn mong cụ hăy nương theo lư để đáp, ngơ hầu có thể giải quyết nghi t́nh, hồi phục tín ngưỡng! (Hồng Triều Nguyên ở Thảo Truân hỏi)

 

          Đáp: Thư hỏi của quư cư sĩ đă trần thuật trạng huống của chính ḿnh, có điều do dùng chữ chẳng rơ ràng, tôi chẳng thể hiểu rơ ư nghĩa. Đối với những chỗ chất vấn, nay tôi chia ra [từng phần] để trả lời ḥng dễ so sánh.

          1) Một, trong đoạn trần thuật t́nh huống của chính ḿnh, [cư sĩ đă viết] “chỉ có điều ở trong tám nạn, chẳng có minh sư chỉ dạy”. “Tám nạn” chính là tám thứ nạn gây chướng ngại pháp. Có phải là ông nói ḿnh chẳng hiểu ư nghĩa tám nạn? Hay là hỏi về chuyện chẳng thể thoát khỏi tám nạn ấy? Do chưa nói rơ, tôi chẳng dám tự tiện đáp lời. “Lại do tai điếc, chẳng thể nghe kinh”, đấy chính là một trong tám nạn. “Chỉ có cách xem kinh điển lung tung, cầu sao giải ngộ bản thể”: Phàm cầu bất cứ học vấn nào, đều phải tuân theo thứ tự. Ví như trèo lên lầu, ắt cần phải theo từng bậc cầu thang mà bước lên. Nếu bước loạn xạ, chẳng thể lên lầu được. Lại nữa, không có người nói Phật pháp, ắt cần phải xem chú giải của cổ đức. Nếu nương theo Ngă Chấp và Ngă Kiến, chắc chắn là chẳng có khi nào giải ngộ!

          2) Hai là sử dụng chữ chẳng rơ, tôi chẳng hiểu ư nghĩa. Đối với bộ Phật Kinh Tập Dịch, tại hạ học vấn nông cạn, chưa hề xem qua, cho nên lướt qua chẳng bàn tới. “Đọc Thiên Phật Nhân Duyên Kinh xong, cảm thấy chẳng thoải mái cho lắm”, “cớ sao nói sáu bảy đoạn, cũng có lẽ đức Thế Tôn thích nói nhiều như vậy”, quư cư sĩ dùng ba chữ “sáu bảy đoạn” để chỉ điều ǵ? Ư nghĩa thiếu rơ rệt, chẳng dám đáp bừa.

          3) Ba là chất vấn: “Kinh Phật nói hướng về Tam Bảo bố thí, sẽ có công đức như thế nào, nhưng nếu dùng vật dụng của Tăng chúng, bèn có tội lỗi như thế nào, tôi lại bất b́nh”. Vấn đề này nói th́ đơn giản, nhưng nghĩ ra th́ phức tạp, ắt phải tĩnh tâm lănh hội mới ḥng lư giải.

          a) Chuyện bố thí và sử dụng khác biệt to lớn. Cần phải xét rơ mạch văn, phân tích sự việc rơ ràng. Bố thí là do bên Giáp thiếu thốn, bên Ất bèn tặng cho. “Sử dụng” là chính ḿnh chẳng thiếu thốn, mà lấy vật thuộc về tăng chúng làm của riêng ḿnh. Hăy nên biết: Tăng chúng chẳng kinh doanh, những vật họ dùng đều do mười phương cúng thí. Người tại gia có nghề nghiệp chánh đáng, lẽ nào xâm phạm vật dụng của họ?

          b) Tăng chúng hoàn toàn chẳng phải là không hành tài thí, như bệnh viện Phật giáo tại các nơi ở Nam Dương chữa bệnh miễn phí, Trí Quang học hiệu, Từ Hàng học hiệu ở Đài Bắc, cùng quỹ từ thiện cứu trợ tai nạn ở Hoa Liên v.v… báo chí đăng tải khá nhiều, ai bảo tăng sĩ chẳng được phép hướng ra ngoài bố thí? Bất quá [những lời dạy về xâm phạm tài vật thường trụ] chính là khuyến cáo những kẻ có nghề nghiệp, có thu nhập, chớ nên xâm phạm, tổn hại người chẳng làm ăn! Những nghĩa khác hăy c̣n nhiều, do quư cư sĩ chẳng thích nói nhiều, cho nên tôi kính đáp một ít nghĩa mà thôi!

          c) Bốn là nói kèm thêm, quư cư sĩ nói “tiếp nhận Phật giáo mười mấy năm, lưu luyến chẳng bỏ”, tức là có thiện căn, tiếc là chưa gặp bậc tri thức chỉ dẫn, cho nên có lắm nỗi hiểu lầm. Kính tặng vài tập sách mỏng, mong hăy xem đọc trước, khi có hứng thú, sẽ lại gởi thư!

 

* Hai câu hỏi của cư sĩ Lư Thanh Lâm ở Đào Viên

 

1. Hỏi: Mục sư (Cơ Đốc giáo) nói “tất cả động vật đều là do Thượng Đế tạo ra để làm thức ăn cho nhân loại, đáng nên ăn”. Chẳng biết Phật giáo v́ sao luôn kiêng giết, phóng sanh? Hai đằng xung đột lẫn nhau, chẳng biết ai đúng? Đối với chuyện này, Phật giáo có cách nh́n như thế nào?

 

Đáp: Mỗi tôn giáo có giáo lư của riêng ḿnh, mỗi bên tin vào giáo pháp của ḿnh, mỗi bên hành đạo theo kiểu của ḿnh, mỗi bên tự cho là đúng, chẳng cần phải ép cho giống nhau, mà cũng chẳng cần phải cố ư khác biệt! Tuy chẳng thể suy nghĩ giống nhau, cũng chớ nên công kích lẫn nhau, ḥng khỏi gây nên đầu mối tranh chấp, có hại cho sự an định chung. Nếu chẳng nói tới tôn giáo khác, chuyên bàn về Phật giáo, đối với ư nghĩa của chuyện kiêng giết, phóng sanh, nói đơn giản theo Lư, sẽ là “điều ǵ chính ḿnh chẳng mong muốn, chớ làm cho người khác”. Ham sống, sợ chết, loài vật có t́nh cảm giống hệt như ta. Tông chỉ to tát của Phật giáo là “từ bi, b́nh đẳng”. Kiêng giết nhằm chẳng hại chúng nó, phóng sanh là cứu vớt chúng nó. Nếu nói đến chuyện ấy, sẽ phức tạp khó thể nói trọn. [Nói theo] luân hồi, [ta và các con vật] từng là thân quyến của nhau. [Nói theo] nhân quả, sẽ là đời sau phải báo đền trở lại!

 

2. Hỏi: Tôi mong tin Phật, chẳng biết có cần phải ăn chay hay không? Nhập môn từ chỗ nào? Có cần phải rửa tội giống như Cơ Đốc giáo hay không? Tu hành thường ngày ra sao?

 

          Đáp: Nếu Ngài chân tâm học Phật, có thể viết thư gởi cho tôi địa chỉ và số nhà cặn kẽ, tôi nguyện sẽ tặng sách nhập môn. Trước hết là những sách nông cạn, sau đó, sẽ gởi sách sâu hơn. Nếu muốn ăn chay, công đức càng lớn. Đă chẳng thiếu nợ mạng, lại có thể giữ đúng phép vệ sinh, sống lâu. Chẳng thể lập tức kiêng ăn thịt, th́ cũng có cách thực hiện dễ hơn. Trước hết, ăn ba loại tịnh nhục: Một là [thịt của những con vật] chẳng chuyên v́ ta ăn mà giết, hai là chẳng ăn thịt con vật ta đích thân thấy nó bị giết, ba là chẳng ăn thịt con vật lúc nó bị giết, ta nghe tiếng nó kêu gào đau xót. Kế đó là mỗi tháng có sáu ngày chay, [trong những ngày ấy], tam tịnh nhục cũng chẳng ăn. Tiến hơn nữa là mỗi tháng có mười ngày chay, từ sáu ngày trở thành mười ngày chẳng ăn thịt. Sau đấy, thiện căn tăng trưởng, sẽ tự nhiên phát tâm ăn chay trường.

 

* Ba câu hỏi của nhóm cư sĩ Giản Văn Hùng ở Đào Viên

 

1. Hỏi: Chúng tôi đều đă gia nhập Phật giáo, vị “điểm truyền sư” cũng điểm đạo cho chúng tôi. Xin hỏi địa vị “điểm truyền sư” trong Phật giáo là như thế nào? V́ sao hễ được “điểm” sẽ có thể đắc đạo?

 

Đáp: Xem chung cả ba câu hỏi, biết ngay là chư vị đă gia nhập Áp Đản giáo. Về căn bản, giáo ấy chẳng liên quan ǵ với Phật giáo. Xét ra, hết thảy các tà giáo trong nước ta từ trước đến nay, do làm chuyện chẳng chánh đáng, chẳng dám thật sự lộ mặt. Phần nhiều, chúng mượn dùng chiêu bài Phật giáo; thật ra là “treo đầu dê, bán thịt chó”. Trong Phật giáo, hoàn toàn chẳng có điểm truyền sư! Bọn họ điểm truyền cái giống ǵ? Chẳng qua là lời lẽ yêu mị, lừa bịp mọi người, ḥng gạt tiền và làm chuyện thương phong bại tục mà thôi!

 

2. Hỏi: Vị điểm truyền sư dạy chúng tôi năm chữ “Vô Thái Phật Di Lặc” chẳng thể nói với kẻ khác. Chẳng biết năm chữ ấy v́ sao chẳng thể nói được? Lại dạy chúng tôi phải ăn chay, nhưng có thể ăn trứng gà?

 

Đáp: Năm chữ “Vô Thái Phật Di Lặc” rơ ràng là lôi Đông, kéo Tây. Đó là lời nói nhảm của kẻ vô tri, sao có thể coi là người có học vấn cho được? Họ lại nói đến chuyện ăn chay, nhưng ăn trứng vịt, chuyện như vậy báo chí đă từng đăng tải nhiều lượt. Phàm những ai đọc báo, không ai chẳng biết! Các ông đă là người Hoa, chẳng lẽ chưa từng thấy chùa miếu? Gia nhập Phật giáo, hăy nên hướng về ḥa thượng xuất gia để quy y. Đă đi lầm đường, hăy nên gấp rút quay đầu. Nếu bọn họ chẳng mạo nhận là Phật giáo đồ, tôi cũng chẳng rảnh đâu mà quản chuyện rỗi hơi!

 

3. Hỏi: Vị điểm truyền sư nói hiện thời là thời kỳ Bạch Dương, Phật Thích Ca thoái vị, Phật Di Lặc kế vị, tam giáo hợp nhất, chẳng biết là ư nghĩa ǵ?

 

Đáp: Những lời như “điểm truyền sư nói hiện thời là thời kỳ Bạch Dương, Phật Thích Ca thoái vị” rơ ràng là phản đối đức Thế Tôn, làm sao có thể nói họ là Phật giáo cho được? Xét ra, phái Bạch Dương chính là do Hàn Sơn Đồng thuộc Bạch Liên giáo tạo ra vào triều đại nhà Nguyên. Sau đấy, Vương Sâm vào đời Minh, Từ Hồng Nho vào đời Thanh đều là dư đảng của hắn, xưng là học được tà thuật của “yêu hồ” (夭狐, hồ ly tinh, cáo thành tinh), nhóm họp quần chúng mưu toan làm phản. Tuy về sau đều bị tiễu trừ, [nhưng dư đảng của chúng] vẫn cứ dây dưa chẳng dứt. Những kẻ [v́ tà đạo ấy] mà tan nhà, mất mạng, chẳng thể kể xiết! Lại hỏi “tam giáo hợp nhất có ư nghĩa ǵ”, bọn chúng dối gạt kẻ ngu, bịa chuyện rêu rao, có ai rảnh rỗi để nghe lời bọn nói mớ trong mộng!

 

* Bốn câu hỏi của cư sĩ Hoàng Kim Nguyên ở Đài Bắc

 

1. Hỏi: Hậu học tính lấy Tịnh Độ làm chủ, Thiền làm phụ. Nhưng sau khi đă nhất tâm bất loạn nơi Thiền (tức là Thiền Định), sẽ lại khế hợp với Tịnh như thế nào? Tôi cho rằng: Nếu Thiền Định hoàn toàn chẳng ngộ, chấp trước nhất tâm Tịnh Độ, sẽ là chướng đạo đối với ngộ. Nhằm cầu ngộ cảnh (cảnh ấy như thế nào vẫn phải thận trọng), có phải là hăy nên hành theo đơn độc một lối, dẹp sạch cái tâm Tịnh Độ, rỗng không cái Có để đạt đến “không cả cái Không”, ḥng cầu Tịnh Độ nơi tự tâm để cầu ngộ cảnh? Nhưng tôi lo ngại sâu xa: Nếu khi chưa đắc ngộ, chợt ấm cảnh hiện tiền, có phải là vẫn chưa thoát khỏi lục đạo? Nếu đúng là như thế, há chẳng oan uổng ư?

 

          Đáp: Thiền và Tịnh sau khi đă quy nguyên (trở về nguồn cội), vốn chẳng khác nhau. Khi khởi tu, bèn có chỗ bất đồng. Tuy có kẻ Thiền Tịnh song tu có thể thành tựu, nhưng trong trăm người, chưa được một hai! Phần nhiều là cả hai môn đều hỏng. Do chẳng hiểu giáo lư, nên chẳng thể viên dung, đến nỗi “chẳng Thiền, chẳng Tịnh”, phí uổng thời gian! Nếu chúng ta chẳng có minh sư, lại chẳng chịu công phu thiết thực, chỉ tu một môn c̣n sợ chẳng kịp, pháp c̣n chẳng hợp, huống hồ thoát khỏi lục đạo! Dốc cạn ḷng thành kính khuyên, mong hăy lượng thứ. Như ngài đă nói những câu như “nhất tâm bất loạn”, “không cái Không”, những điều ấy đều là cảnh giới của bậc đă thấu đạt đến nơi đến chốn, chẳng phải là hàng sơ học mà ḥng nói được, biết được! Nếu học Thiền, ắt cần phải có nhiều lượt ngộ, lại cầu chứng đắc. Học Tịnh chẳng cần phải cầu ngộ, chỉ cần chế ngự phiền hoặc là ổn thỏa rồi!

 

          2. Hỏi: Học Phật có cần phải quy y (cần phải làm theo nghi thức)? Nếu do thành tâm mà tự giới, tự định, có phải vẫn là đồ đệ của Phật hay không? Do trước mắt, hậu học bị điếc, có pháp phương tiện nào để quy y hay chăng? Hay là có thể nhờ vào cách tự thệ quy y? Cách tự thệ quy y như thế nào? Xuất phát từ tạng nào? (xét ra, tôi từng thấy trong lược truyện của ngài Hư Vân có câu “tự thệ thọ giới”).

 

          Đáp: Là đệ tử Phật, hăy nên quy y th́ hay hơn. Nếu do phương tiện, cũng có thể tự thệ thọ giới. Có thể t́m một cuốn nghi thức quy y, chiếu theo pháp để cung kính tự thực hiện. Nếu tâm có nghi, vẫn nên cầu pháp sư quy y, sẽ ổn thỏa hơn. Mắt có thể đọc chữ th́ tai điếc có trở ngại ǵ?

 

          3. Hỏi: Xin lăo cư sĩ có thể giới thiệu cho tôi vị thiện tri thức nào gần thành phố Đài Bắc để tôi thân cận, thưa hỏi hay không?

 

          Đáp: Điều này hơi khó khăn. Do tai điếc, sợ rằng khó tṛ chuyện. Đối phương có chịu làm chuyện ấy hay không, tôi cũng chẳng dám chắc! Tôi có ư kiến vụng về là ông hăy xem sách cho nhiều, sẽ giống như gặp thiện tri thức. Nếu ông đồng ư, tại hạ có thể kính tặng mấy cuốn sách sơ cơ.

 

          4. Hỏi: Hậu học năm nay tuổi ngoài đời là hai mươi tám tuổi, thấy thế sự vô thường, lại c̣n nghĩ lập gia đ́nh sẽ gây chướng đạo. Tuy không nhất định xuống tóc, nhưng chẳng mong kết hôn, chỉ mong suốt đời phụng cầu Phật đạo ḥng có thể tự lợi, lợi tha th́ mới thỏa ḷng.

 

          Đáp: Người tại gia học Phật chẳng muốn kết hôn có thể tùy ư cầu chuyện hợp với ư ḿnh. Đối với chuyện chướng đạo, là do chẳng hiểu Phật lư, hoặc gánh trách nhiệm nhân quả, chẳng thể tinh tấn, dẫu chẳng kết hôn, cũng sanh chướng ngại nơi đạo. Do bận bịu, chẳng thể viết thư hồi đáp, tôi xin gởi trả bưu phiếu.

 

* Ba câu hỏi của cư sĩ Trần Thiêm Đinh ở Nghi Lan

 

1. Hỏi: Nơi trang hai mươi chín của sách Kim Sơn Hoạt Phật Thần Dị Lục có nói Hoạt Phật đốt tiền Văng Sanh. Tiền Văng Sanh ấy do ai chế ra? Có phải là niệm Văng Sanh Chú vào đó hay không? Ngoài bố thí quỷ thần ra, c̣n có thể dùng để đốt cho tổ tiên đă khuất th́ sẽ có hiệu quả giống hệt hay chăng? Nếu đốt [tiền Văng Sanh] th́ có hạn lượng hay không? Trong ngày giỗ của người đă khuất, có thể dùng [tiền Văng Sanh] để đốt thay cho tiền giấy vàng mă một lần? Sau đó, hằng năm vẫn cứ đốt cho họ giống hệt như thế, sẽ chẳng có trở ngại ǵ ư?

 

Đáp: Chú Văng Sanh chính là pháp môn để người tŕ kinh niệm tụng giúp cho vong nhân sanh về thế giới Cực Lạc, hiệu quả là do thành tâm niệm tụng. Người đời sau dùng [nguyên văn bài chú bằng] tiếng Phạn in lên giấy, lại xếp chú ngữ thành h́nh tṛn, chẳng biết do ai đề xướng “phần hóa” (đốt), lầm lẫn gọi là “tiền Văng Sanh”! Xét ra, trong Mật Tông có phương cách in chú văn trên vải, đắp trên thân người chết, gọi là “mền Đà La Ni” (mền Quang Minh), hoặc in lên giấy, treo trong nhà để mong bảo vệ nhà cửa, tránh hung hiểm, [người đời] bèn lầm lẫn coi là tiền giấy để thiêu! Nhưng đốt thành tro, tung bay khắp nơi, khiến cho chú văn rớt vào chỗ bất tịnh, rất chẳng thích đáng! Cổ đức từng khuyên cấm ngặt, vẫn là chẳng đốt th́ hay hơn!

 

2. Hỏi: Năm nay, mọi người cử hành Vu Lan Bồn Hội vào ngày Rằm tháng Bảy trước ngôi miếu ở vùng tôi, đa số cúng bằng những con vật để nguyên con [chỉ cạo lông, mổ ruột], lại chẳng lễ thỉnh ḥa thượng tới làm lễ Phóng Diệm Khẩu, vậy th́ ư? Nếu như dùng tiền Văng Sanh thay thế cho tiền giấy, vàng bạc để đốt, và dùng các loại trái cây, cơm gạo thay thế những con vật để lễ bái th́ hiệu quả sẽ cực tốt phải không?

 

Đáp: Trong điều trước, tôi đă giải thích: [Những tờ giấy in] Văng Sanh Chú chẳng phải là tiền, chớ nên thiêu để tro bay lung tung đến nỗi ô uế. Nhưng trong hội Vu Lan Bồn mà sát sanh để cúng thần, vốn là việc làm của thế tục, rất trái nghịch Phật pháp. Đốt giấy tiền, vàng mă v.v… có thể thuận theo thói tục, dùng trái cây, cơm gạo để cúng, hết sức chánh đáng!

 

3. Hỏi: Cải tiến như thế sẽ phù hợp Phật giáo, là một biện pháp tốt đẹp nhất, lại c̣n giảm thiểu tai nạn, đúng không?

 

Đáp: Trong điều trước tôi đă nói rơ, hăy nên đề xướng, cải cách. Huống chi chánh phủ đă có mệnh lệnh khuyến cáo rơ ràng, hoàn toàn do mọi người phụng hành!

 

* Câu hỏi của cư sĩ Trương Thiêm Trạch ở Đạm Thủy

 

          Hỏi: Bản thể của Phật, chúng sanh và vạn tượng trong vũ trụ là tánh Không. Tánh Không ấy có phải là có chỗ xuất phát, hay cũng là tự nhiên mà có? Nếu bảo là có chỗ xuất phát, tánh Không vô sanh, vô diệt, lặng trong, tịch tĩnh, lẽ ra phải là tự nhiên mà có. Nếu nói nó tự nhiên mà có, chúng sanh sở dĩ luân hồi trong lục đạo là v́ thoạt ban sơ bất giác, chợt động tâm, nhanh chóng dấy lên căn, thân, lưu chuyển theo nghiệp. Nếu là như vậy, bản tánh của chúng sanh thuần là do từ một tánh Không lưu xuất, tức là có khởi thỉ. Kinh thường nói “vô thỉ vô minh”, cái “vô thỉ” ấy chính là một con số chẳng có hạn chế, nhưng nếu xét theo những điều trên đây, dường như là có một cái khởi thỉ. Hơn nữa, chúng sanh trước khi khởi tâm động niệm, vốn là tánh Không thuần nhất, tức là Chân Như bản tánh chẳng khác Phật. V́ sao vốn là Phật, mà Phật là bậc giải thoát đại tự tại, lẽ ra chẳng thể dấy lên vọng niệm, [thế mà] ngay lập tức dấy lên căn thân, chịu đựng sự đau khổ luân hồi trong ức vạn kiếp? Sau đấy, lại phải cậy vào các phương pháp tu tŕ để phục hồi lư thể Chân Như, [cho nên] lại dường như có một kết thúc. Có khởi đầu, có kết thúc, hai thứ tương đối, cho nên chẳng thể giải thích chân lư vũ trụ và nhân sinh một cách viên dung vô ngại được! Học nhân chẳng thấu hiểu lư này, xin thầy hăy khai thị.

 

          Đáp: Hễ là học vấn, bèn có sơ bộ và có căn bản. Những điều ông đă hỏi thuộc về căn bản, kẻ sơ học chẳng thể hiểu được. Người học [Thiền] ngồi rách mấy cái bồ đoàn, ngài Triệu Châu tám mươi tuổi c̣n hành cước, Nhị Tổ đứng trong tuyết, chặt cánh tay v.v… đều là do vấn đề này! Ông mới mon men học Phật ba năm, vẫn chưa đạt đến một nửa [số năm] tổ Đạt Ma ngồi nh́n vách, muốn tri kiến thấu triệt rốt ráo, sẽ là chuyện khó thể đạt được! Thuở Phật Thích Ca tại thế, tuy phương tiện cao minh, vẫn chẳng thể khiến cho người ta hoàn thành ngay những ǵ cần phải tu tập, chẳng thọ thân sau nữa! Chưa nghe nói có ai có thể ngay lập tức thành Phật, huống hồ nay đang thời Mạt Pháp chẳng có Phật ư? Đức Phật dạy “tín, giải, hành, chứng”, tín nương vào trí để lập. Ḷng tin của chúng ta thật sự giống như sợi lông vũ [chao liệng] trong gió; v́ thế, hành lẫn giải đều chẳng đủ. Muốn cầu Chứng, há có thể làm được ư? Câu hỏi của ông thuộc về chuyện sau khi đă đoạn căn bản vô minh; hiện thời mà bàn đến th́ hăy c̣n quá sớm! Chỉ nên giữ lấy một môn Hành, do hành sẽ giải, mới có chỗ tiến nhập. Nếu chẳng có Giới và Định, làm sao có thể khai Huệ cho được? Khổng Tử cũng nói: “Ngô thường chung nhật bất thực, chung dạ bất tẩm, dĩ tư vô ích, bất như học dă” (Ta thường suốt ngày chẳng ăn, suốt đêm chẳng ngủ để suy nghĩ vô ích, chẳng bằng học vậy). Quốc Phụ Tôn Trung Sơn cũng nói: “Biết khó, hành dễ”. Nếu thật sự hành, lâu sau sẽ không ǵ chẳng biết. Ở đây, tôi lại chọn những điều quan trọng trong lời hỏi để tạm nói đại khái.

          1) Một, “Thể là tánh Không”, Không chẳng đến, chẳng đi, vô sanh, vô diệt, vô thỉ, vô chung.

2) Hai, “vô thỉ vô minh”. Nói “vô thỉ” hết sức phù hợp nhân quả. Nếu nói “hữu thỉ” (có khởi đầu), sẽ hết sức trái nghịch lư nhân quả. Như đối với các pháp trong hiện tại, đều có nhân duyên trước đó. Nhân duyên trước đó lại có nhân duyên trước đó nữa. Cứ truy ngược như vậy, chẳng thể đạt được cái nguyên thủy. Nếu chấp mê chẳng ngộ, chỉ nói “vô thỉ”, “vô thỉ” ấy chính là có cái khởi đầu trong một giai đoạn mà thôi! Vô minh chính là Chân Như. Ví như băng chính là nước, nhưng khi nói khế cơ, mỗi thứ đều có phương tiện. Sự thanh tịnh vốn sẵn có và vô minh nguyên thủy cũng chính là “Sắc tức là Không, Không chính là Sắc”.

3) Ba, “vốn sẵn là Phật”, Phật có sáu loại khác nhau, xét theo Lư là một, nơi Sự bèn có sáu. Nếu giải thích [tỉ mỉ], sẽ quá rắc rối, mong ông tự tra cứu thuyết Lục Tức Phật sẽ hiểu rơ.

4) Bốn, tánh có Tánh Đức, c̣n có Tu Đức. Phật Thích Ca là Cứu Cánh Phật, cũng là do tu hành mà thành tựu.

 

* Ba câu hỏi của tiên sinh Khưu Vũ Hùng ở Đào Viên

 

1. Hỏi: Cả nhà tệ nhân đều là tín đồ Nhất Quán Đạo (tức Áp Đản giáo). Do xem tin tức và báo chí đăng tải, [mới biết] giáo ấy hoàn toàn chẳng phải là Phật giáo, mà là tà giáo, dùng lời lẽ tà mị để mê hoặc quần chúng. Nay nguyện bỏ tà quy chánh, nêu ra mấy câu hỏi, xin hăy chỉ giáo. Thứ nhất, đối với Phật đường do điểm truyền sư xếp đặt cho gia đ́nh chúng tôi, phía trước thắp một cây nến trắng, nói hiện thời là thời kỳ Bạch Dương, thuộc về màu trắng. Từ nay trở đi, nên xử trí Phật đường ấy như thế nào, hủy bỏ ư? Hay là sửa chữa, đổi mới?

 

Đáp: Biết sai ắt sửa, nghe điều thiện bèn thay đổi có đại thiện căn, tôi hết sức khâm phục. Đối với hết thảy h́nh thức do giáo ấy sắp đặt trong quư phủ, hăy nên nhất loạt hủy bỏ. Tượng thờ và sách vở tuy là thứ mạo danh, [nhưng trong ấy] nhất định là có xen tạp mấy câu kinh Phật hoặc giáo huấn của Khổng Tử. Sách th́ nên thiêu hủy, đem tro chôn nơi đất sạch. Tượng thờ th́ đem bỏ trong hang hốc trong núi sâu, hoặc bỏ xuống sông biển để cầu tâm tịnh. Có ḷng hướng về Phật th́ thờ tượng Phật khác, chánh thức cầu pháp sư truyền giới, quy y Tam Bảo.

 

2. Hỏi: Trước kia, khi gia nhập tà giáo, đă từng phát ác thệ: “Trái nghịch giáo ấy, hoặc đem năm chữ Vô Thái Phật Di Lặc nói ra ngoài, sẽ bị trời tru đất diệt”. Từ nay trở đi, chẳng c̣n tham gia tổ chức của họ nữa, có bị trời phạt hay chăng?

 

Đáp: “Ác thệ” của giáo ấy vốn là tṛ lừa dối! Nếu bỏ tà theo Phật, lời thề ấy tự nhiên bị tiêu diệt. Nếu muốn “chẳng nói hai lời” th́ hăy nên đối trước Phật, sám hối bỏ lời thề ấy, có thể nói là “đến, đi minh bạch”. Ngàn muôn phần đừng ôm ḷng hoảng sợ! Trời đất đại công vô tư, càng chẳng thể thuận ḷng bọn tà, trọn chẳng có lẽ nào bỗng dưng hại người! Là đệ tử Phật, chân tâm tu đạo, chắc chắn sẽ có thiên, long, hộ pháp, làm sao bị khiển trách cho được?

 

3. Hỏi: Vị điểm truyền sư đă trao cho chúng tôi những kinh điển để xem như kinh Thái Dương, kinh Thái Âm, các sách về các loại đạo này nọ, hăy nên hủy đi, hay là xử lư như thế nào?

 

          Đáp: Đối với câu hỏi này, có thể tham khảo lời đáp cho câu thứ nhất, tôi đă nói rơ ràng: Nhất loạt đốt đi, đem tro chôn nơi đất sạch. Nếu gần đó có chỗ sông hay đầm sạch v.v… cũng có thể bỏ vào trong nước. Đấy chẳng phải là kính trọng giáo đó, mà thật ra là v́ trong sách của bọn chúng, toàn là lôi Đông, kéo Tây, xen lẫn các lời kinh của chánh giáo. Lại v́ kính tiếc giấy có in chữ, cũng bất đắc dĩ là “ném chuột, sợ bể đồ”!

 

* Bốn câu hỏi của cư sĩ Cao Vạn Phương ở Cơ Long

 

          1. Hỏi: Phật giáo lấy từ bi làm gốc, chủ trương chẳng sát sanh. Đại Thừa Phật pháp lại dùng Lục Độ vạn hạnh [để làm tiêu chuẩn ứng xử] cho hành vi nơi thân và tâm, măi cho đến khi tự giác, giác tha, hoàn thành Bồ Tát hạnh vĩ đại. Bành Hồ là một hải đảo, chín mươi chín phần trăm dân chúng trên đảo sống bằng nghề đánh cá. Nói cách khác, ngư dân mỗi ngày đều phải giết chết hàng ngàn, hàng vạn sanh mạng! Nếu một vị hành Bồ Tát đạo sống trong hoàn cảnh ấy, hăy nên dùng thái độ ǵ để cư xử với ngư dân, lại c̣n tự độ, độ tha?

 

          Đáp: Quư cư sĩ phát tâm, tôi khá bội phục. Đă hành Bồ Tát đạo, đối với chúng sanh, hăy nhất loạt thấy là b́nh đẳng. Dẫu là gă đồ tể, hay người đánh cá, hoặc kẻ săn thú, đều là do mê muội bản tánh, khởi Hoặc tạo nghiệp, chẳng tin nhân quả, giống như những kẻ tạo những nghiệp bất chánh đáng khác. Hăy nên cư xử ḥa thuận, tốt lành [đối với họ]. Hễ có cơ hội, bèn mềm mỏng khuyên nhủ. Nhưng họ sống ở đó, do hoàn cảnh sinh hoạt, nếu thiểu số làm nghề đánh cá th́ c̣n dễ có cách thay đổi, nay đến chín mươi chín phần trăm th́ đă trở thành vấn đề chánh trị mất rồi! Chỉ có độ được kẻ nào hay kẻ ấy, độ được mười người th́ độ mười người, tùy duyên chẳng chán, ai nấy trọn hết đạo của ḿnh mà thôi!

 

          2. Hỏi: Tôi thường xem sách Phật, [nhận thấy] trong ư kiến và lư luận của các tông, đều coi tông của chính ḿnh là quư, lại c̣n tận lực bài xích các tông khác. Chẳng hạn như trong Pháp Bảo Đàn Kinh của Thiền Tông, Lục Tổ có nói: “Người phương Đông tạo tội, niệm Phật cầu sanh Tây Phương. Người phương Tây tạo tội niệm Phật cầu sanh cơi nào?” Lại như: “Sứ quân chỉ hành Thập Thiện, cần ǵ phải nguyện văng sanh?” rơ ràng là bài xích Tịnh Tông!

         

          Đáp: Kinh Phật đều là do đức Phật nói, há có mâu thuẫn? Chia thành các tông là do các vị tổ đời sau, mỗi vị có phương tiện riêng. Trong thời kỳ Mạt Pháp, căn tánh của con người tŕ độn, kém cỏi; tổ sư độ người, nhằm khiến cho họ chuyên nhất, cho nên có sự thiện xảo “coi trọng tông ḿnh, bài xích tông khác”. Chẳng phải là thật sự bài xích “lời đức Phật nói chẳng phải là liễu nghĩa!” Kẻ hậu học nông cạn, chẳng hiểu [ư chỉ sâu xa ấy], chỉ lo tranh chấp môn hộ, là két học nói, chỉ tạo thành tội báng pháp. Thử hỏi “người sanh Tây Phương”, “sanh” là đă đoạn Hoặc, đều là thiện nhân, làm sao có thể tạo tội nữa? Lại nữa, “chỉ hành Thập Thiện, cần ǵ phải nguyện văng sanh?” th́ cũng có thể nói là “chỉ hành Thập Thiện, cần ǵ phải tham Thiền?” Lục Tổ là thánh nhân, há chẳng biết điều này? Đáng tiếc là người đời sau nghe một, chẳng biết suy ra ba, chỉ là két học nói mà thôi!

 

          3. Hỏi: Tịnh Độ Tông cũng có những lời lẽ dường như bài xích các tông khác. Chẳng hạn như “những tông khác tu hành phải trải qua ba đại A-tăng-kỳ kiếp th́ mới có thể thành Phật, nhưng c̣n có thể bị đọa lạc. Tịnh Độ Tông chỉ cậy vào tín, nguyện, tŕ danh niệm Phật, bèn có thể đới nghiệp văng sanh, thẳng cho đến khi hoàn thành Phật quả, chẳng lo bị đọa lạc”. Nhưng Giáo Tông (Giáo Hạ) bèn nói: “Tu hành trong Tịnh Độ một trăm năm, chẳng bằng tu đạo một ngày trong thế giới Sa Bà”.

 

Đáp: Ba đại A-tăng-kỳ kiếp thành Phật chính là do các kinh đă nói. Đoạn Hoặc th́ cần phải đoạn Kiến Hoặc, Tư Hoặc, Trần Sa Hoặc, và nguyên phẩm vô minh (căn bản vô minh, sanh tướng vô minh), trải qua các địa vị Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, Diệu Giác. Đấy chẳng phải là lời lẽ bài xích [các tông khác] của Tịnh Tông. Đới nghiệp văng sanh chính là thoát ly lục đạo. C̣n như nói “măi cho đến khi hoàn thành Phật quả” tức là ở trong cơi ấy (cơi Cực Lạc), vẫn cần phải tu hành một thời gian. Ngược lại, bên Giáo Tông nói: “Tu hành trong Tịnh Độ một trăm năm, chẳng bằng tu hành một ngày trong thế giới Sa Bà” chính là nhằm cổ vũ, khích lệ người học đạo trong thế giới Sa Bà, mà cũng là lời chân thật. Ấy là v́ Sa Bà có Hoặc, có khổ, cho nên mới có Bồ Đề; Tịnh Độ ít Hoặc, chẳng có khổ, cho nên ít có duyên để dấy lên sự giác ngộ. Nếu nơi nào đó chẳng có duyên “giết, trộm, dâm”, mà nói là “ta có thể giữ giới” th́ chính là do không có cơ duyên tạo tác! Nếu xứ nào đầy dẫy các duyên giết, trộm, dâm, dẫu bị dẫn dụ mà chẳng phạm, th́ mới là “thật sự giữ giới”. Gần là có thể chế ngự Hoặc, lâu xa th́ có thể đoạn Hoặc. Nếu hiểu lời ấy là lời lẽ chê trách Tịnh Độ, lại là lầm lẫn quá to lớn!

 

4. Hỏi: Xin hỏi là có Phật pháp nào khác? Có giáo điển nào chẳng thiên lệch hay không? Tức là các giáo điển chẳng bài xích các tông phái, lại có thể dung nạp các tông phái, đối với các tôn giáo đều công bằng, chân thực. Nếu như có, xin hăy giới thiệu mấy quyển?

 

Đáp: Các kinh chỉ có Ngũ Thừa theo thứ tự, nhưng chẳng hề bài xích lẫn nhau. Kẻ bài xích tức là kẻ vướng vào Pháp Chấp. Ông có lời hỏi “dung nạp các tông”, chính là v́ chẳng hiểu ư nghĩa “Sự Lư vô ngại”. Nếu sau khi đă thâm nhập, sẽ tự chẳng khởi nghi. Nếu cầu t́m một Phật pháp khác ở ngoài các tạng, sẽ là gặp ngũ cốc mà chẳng ăn, toan t́m bánh vẽ cho đỡ đói. Lại như bị bệnh, gặp được thuốc hay mà chẳng uống, ngược ngạo cầu rượu Trấm, cổ độc!

 

* Năm câu hỏi của cư sĩ Ngô Nhị Lang ở Đài Bắc

 

          1. Hỏi: Có rất nhiều người đang truyền giáo, bí mật truyền v́ sợ cảnh sát biết. Người truyền giáo nói “Phật Thích Ca đă nghỉ hưu, chẳng quản sự nữa, nay do Phật Di Lặc đang chưởng quản thiên bàn”. Xin hỏi trong danh từ Phật học có từ ngữ “chưởng quản thiên bàn” hay không?

 

          Đáp: Những tôn giáo được pháp luật nước ta thừa nhận, chẳng cấm đoán, mà c̣n bảo vệ, là do căn cứ trên những điều kiện sau đây: Một là trong lịch sử ắt có người ấy (vị giáo chủ sáng lập), hai là có điển tịch (kinh điển, sách vở) chánh thức, ba là chẳng dùng những lời lẽ quái đản mê hoặc quần chúng, gây hại cho sự an ninh chung. Phật, Đạo, Hồi, Gia Tô v.v… đều phù hợp những điều kiện trên đây. Nếu không, sẽ là tà thuyết loạn thế, đem lại tai họa mất nước hại dân. Như bọn giặc Hoàng Cân[17], Bạch Liên giáo, Bát Quái giáo[18], Hồng Đăng Chiếu v.v… là những thí dụ hiển nhiên, làm sao chẳng thể ngừa trước tai hoạn cho được? Hết thảy các tà môn ngoại đạo tại Trung Hoa tự biết là hèn tệ, cho nên trộm lấy [các giáo nghĩa từ] kinh Phật và kinh của Đạo giáo, cũng như kinh sách của Nho gia, một chữ, nửa câu, lắp ghép lung tung thành ngụy kinh. Thực chất là giảng giải chẳng thông, ngược ngạo bảo là “bí mật chân truyền”. Nay đang nhằm lúc văn hóa chông chênh, nên chúng nó dễ dàng mê hoặc quần chúng ngu tối! Những thứ như “Phật Thích Ca nghỉ hưu, Di Lặc chưởng quản thiên bàn” v.v… chính là lời lẽ của bọn mắc bệnh thần kinh giảng sách, bà già mộng xuân ọ ẹ. Hễ nói đến cần phải súc miệng ba ngày, người nghe cũng nên rửa tai mười bữa!

 

          2. Hỏi: Thuở tại thế, Phật Thích Ca có dự ngôn Ngài sẽ nghỉ hưu hay chăng? Có dự ngôn ai sẽ thay Ngài tiếp nhận “thiên bàn” hay chăng?

 

          Đáp: Tam Tạng của Phật giáo, các chùa ở Đài Loan đều có, lại c̣n có Phật học từ điển, chưa hề nghe nói tới hai chữ “thiên bàn”! Nhưng lũ tà giáo như bọn họ há chỉ có hai chữ “thiên bàn” mà thôi! Có ai rỗi hơi để nói lư với kẻ đang nói mớ trong mộng?

 

          3. Hỏi: [Chúng nó nói] “hiện nay đang là thời kỳ Bạch Dương”, chẳng biết phát xuất từ kinh điển nào? Chẳng biết nên giải thích Bạch Dương như thế nào?

 

          Đáp: Nghe người khảo cứu nói: Bạch Dương chính là một phái riêng trong Bạch Liên giáo. Xem ghi chép trong tập sách nhỏ Ám Lộ Minh Đăng, Bạch Dương bất quá tên của một người mà thôi. Bạch Liên giáo được sáng lập vào thời đại nhà Nguyên, giáo đồ nhiều lần tạo phản, nhiều lượt bị diệt trừ, trong lịch sử đích xác là có chuyện ấy. Thật sự là chẳng có liên quan ǵ với Phật giáo, chớ nên hiểu lầm!

 

          4. Hỏi: V́ sao họ truyền giáo lại sợ cảnh sát biết? Đă bị cảnh sát biết th́ người truyền giáo bảo là “ma khảo”, nói như thế có đúng hay không?

 

          Đáp: Cảnh sát có chức trách duy tŕ trị an. Hễ có chuyện tụ hội bí mật, ắt có nam nữ tập thể qua lại, lẽ nào cảnh sát chẳng ḍ xét? Hai chữ “ma khảo” chính là lời nói ngầm của bọn chúng, vốn là tùy tiện gán bừa, có chỗ nào là đúng?

 

          5. Hỏi: Dựa vào đâu mà Phật Di Lặc tiếp nhận “thiên bàn”? Phát xuất từ kinh điển nào của nhà Phật?

 

          Đáp: Chúng nó dùng lời lẽ yêu mị để mê hoặc đại chúng. Trong câu đáp thứ nhất và thứ ba, tôi đă nói rơ, [những kiểu nói như vậy] toàn là lời lẽ bịa đặt, gán ghép quàng xiên! Xem kỹ đoạn văn trong phần trước, sẽ có thể suy ra mà biết, chẳng cần phải hỏi tỉ mỉ lặp đi lặp lại, lăng phí thời gian!

 

* Câu hỏi của cư sĩ Mao Nhược Hư ở Nhật Bản

 

          * Hỏi: Phật pháp chủ trương “không”, hết thảy đều là Không. Nhân không, mà pháp cũng không. Kinh Kim Cang và Tâm Kinh chính là tiêu biểu. Nhưng mặt khác lại chủ trương Có, kinh Di Đà, phẩm Phổ Môn chính là tiêu biểu. Hai đằng mâu thuẫn, dung ḥa như thế nào để chẳng sanh khởi [hoài nghi] chi nữa?

 

          Đáp: Phật pháp nói Có, nói Không, đều chia thành sâu, cạn, quyền, thật, đại, tiểu, thiên, viên, hết sức khó hiểu. Kẻ sơ học chỉ có thể tiếp nhận những điều nông cạn, tiểu, thiên. Nếu chẳng nói theo thứ lớp, chắc chắn sẽ chẳng có chỗ tiến nhập, lại c̣n tăng thêm nghi hoặc, đâm ra dẫn đến t́nh cảnh trong đường rẽ lại sanh thêm ngơ rẽ. Có lẽ túc hạ đă từng đọc Tâm Kinh, trong ấy chẳng nói “Sắc tức là Không, Không tức là Sắc” hay sao? Đấy chính là Trung Đạo liễu nghĩa. Nếu học Bát Nhă, hiểu sâu xa Tánh và Tướng, [sẽ thấy] Không và Hữu có bao giờ mâu thuẫn? Giáo nghĩa trong kinh Kim Cang phần nhiều là “xả tướng nói tánh”, giáo nghĩa của kinh Di Đà phần nhiều là “ẩn tánh hiển tướng”. Nếu ĺa tứ cú[19], hiểu rơ Biệt và Viên, Pháp Chấp sẽ tự phá, sẽ biết vạn pháp giống hệt như nhau!

 

* Năm câu hỏi của cư sĩ Trương Nghĩa Hùng tại Đài Nam

 

1. Hỏi: Nay tôi có mấy điểm nghi vấn, xin hăy chẳng tiếc sức chỉ dạy. Tệ nhân có một người bạn là giáo đồ nhà Phật, cũng là độc giả của tờ Bồ Đề Thụ, nhưng tệ nhân thuộc về Nam Phủ Tỉnh Cung Xă Thánh Hóa Đường, từng được Thượng Thương Ngọc Hoàng Thượng Đế truyền lệnh “chọn môn sanh”. Người trong Thánh Hóa Đường vâng mạng giữ các chức như Chánh Cơ Sanh, Lục Loan Sanh, Xướng Loan, Chánh Phó Đường Chủ, Hầu Giá Sanh v.v… Lập ra viện cầu cơ, luyện tập trọn khắp cơ linh, vời thỉnh thánh, thần, tiên, Phật thuộc tam sơn, ngũ nhạc[20] giáng phàm, ngự xuống đàn tràng, giáng hạ điện đường, vận chuyển cơ bút, vâng theo ngọc chỉ của Ngọc Hoàng Thượng Đế soạn ra sách Lương Duyên Bảo Phiệt. [Những bài cơ bút trong ấy] đều là do thánh, thần, tiên, Phật từ tam sơn ngũ nhạc vâng chỉ giáng hạ, chuyển cơ bút tạo thành. Nay tôi sợ người bạn lầm tưởng những bài ấy là ngoại đạo.

 

          Đáp: Sợ trời kính thần xưa nay tại Trung Hoa đă thành tập quán, phong tục, nhưng có chánh quy và mê tín sai khác! Hành theo lẽ chánh th́ được, làm theo thói mê sẽ có hại! Chánh là ǵ? Chánh là kính sợ, biết thiên thần xét soi, [cho nên] đoan chánh cái tâm, chẳng dám làm chút chuyện ác nào. Mê là ǵ? Nịnh nọt cầu phước, làm chuyện hư ngụy, xằng bậy, ỷ vào thần thánh chẳng tự lập. Văn hóa Trung Hoa do Khổng Tử tổng hợp hoàn thiện, Ngài thường nói: “Kính quỷ thần nhi viễn chi” (Kính quỷ thần, nhưng tránh xa). Lại nói: “Thiên đạo viễn, nhân đạo nhĩ” (Đạo trời xa, đạo người gần). Ngài chỉ dạy con người giữ ḷng kính sợ, sửa ác hướng thiện mà thôi. V́ thế, bèn có giáo huấn “làm lành giáng điều tốt lành, làm ác giáng tai ương”. Các đàn cầu cơ tuy khuyên người ta làm lành, nhưng do chẳng biết tâm tánh, những hành vi thường chẳng ngoài những chuyện sức mạnh quái đản, thần thánh lộn tùng phèo, tự nhiên thuộc về ngoại đạo!

 

          2. Hỏi: Có phải là Phật, Bồ Tát, tôn giả có thể giáng cơ xoay chuyển cơ bút hay không? Trong sách Lương Duyên Bảo Phiệt, toàn là [những lời dạy] của tiên, Phật, như bát tiên, Tây Phương Tĩnh Tu Viện Tế Công Hoạt Phật, Thích Ca Như Lai Phật v.v… giáng bút.

         

          Đáp: Chuyện giáng cơ đa số là do các linh quỷ mạo danh tạo ra. Không chỉ là Phật, Bồ Tát chẳng giáng lâm, [ngay cả] Ngọc Hoàng Thượng Đế cũng chẳng thể nghe theo quư đường hô hoán! Tôi nêu một thí dụ có thể giác ngộ. Xin quư đường hăy viết thư cho Tổng Thống [bảo ông ta] đến tṛ chuyện. Hăy làm thử xem có được hay không? Nếu các hạ có tâm học Phật, hăy nên vứt bỏ chuyện này. Nếu chẳng có tâm học Phật, tệ nhân bèn ngậm miệng, chẳng nói chi nữa!

 

          3. Hỏi: Có phải là trong Phật giáo có những vị như Tây Phương Chí Công Bồ Tát và Thiên Trúc Quốc Lôi Âm Tự Phổ Hiền tôn giả?

 

          Đáp: Trong Phật giáo có Chí Công Bồ Tát, cũng có Phổ Hiền Bồ Tát, nhưng các Ngài chẳng giáng đàn cầu cơ, giở tṛ thần quỷ!

 

4. Hỏi: Trong Lương Duyên Bảo Phiệt, Đông Phương A Súc Bệ Phật giáng bút nói “học thánh, học Phật, học Đạo, tam giáo cùng một lư, chẳng phân giáo nào, đều là chánh môn. Tuy là bề ngoài cây phân nhiều nhánh, nhưng vốn do cùng một cội sanh ra”. Đúng không?

 

Đáp: Chuyện thiên thần giáng cơ đă là [linh quỷ] giả mạo, sách Lương Duyên Bảo Phiệt do bọn chúng soạn ra, há đáng để luận định? C̣n như nói “tam giáo đồng nhất, khuyên kẻ khác làm lành”, tuy có mấy phần tương đồng, kết quả khác biệt to lớn.

 

5. Hỏi: Tệ nhân được người bạn khuyên can, mong trở thành một Phật giáo đồ chánh tín, chẳng biết có thể ban tặng sách nào ḥng tu học hay không?

 

Đáp: Tam Tạng của Phật giáo, mênh mông như khói trên mặt biển, có ai mà chẳng biết, nhưng hàng sơ học khó hiểu. Tôi kính tặng mấy loại sách mỏng nhập môn nông cạn để tạm làm tấm bia chỉ đường vậy!

 

* Ba câu hỏi của cư sĩ Lâm Chấn Nam ở Đào Viên

 

1. Hỏi: Trong các thần đàn tại Đài Loan, thần, Phật, tiên, quỷ quái ở chung lộn xộn một chỗ. Chiêu bài bề ngoài là hội viên, hội đoàn hoặc đoàn thể Đạo giáo. Tiên sinh học thức uyên bác, đối với lịch sử Trung Hoa cũng có bản lănh kha khá, xin hỏi Đạo giáo chân chánh là ǵ? Thế nào là Đạo giáo nguyên thủy của Trung Hoa?

 

          Đáp: Mấy năm qua, tôi vấn đáp chỉ hạn cuộc trong những người sơ cơ học Phật. Do Phật học có phạm vi quá rộng, lại do có quá nhiều ngoại đạo ăn cắp kinh Phật, mạo nhận là những điều họ có sẵn, dùng ngụy rối loạn chân, tự hại, hại người! Có người gởi thư hỏi, bất quá chỉ vẽ cho họ đi theo đường chánh mà thôi. C̣n như chuyện thuộc về giáo khác, trước nay nhất loạt tránh né chẳng bàn đến, v́ mỗi giáo có nội dung riêng. Do chẳng biết tường tận, chẳng tiện bàn xằng, dẫn đến t́nh trạng nẩy sanh thị phi. Các hạ hỏi “Đạo giáo chân thật”, chẳng biết các phái [trong Đạo giáo] rất nhiều, chỉ ra một phái nào là chân, [tức là gián tiếp bảo] những phái c̣n lại là giả. Lại hỏi về Đạo giáo nguyên thủy; đối với nguyên thủy của nhân loại cho tới nay vẫn tranh biện chẳng rơ, huống hồ nói đến một giáo nào đó ư? Các hạ cứ muốn khảo cứu, hăy hướng về hội Đạo giáo mà hỏi, sẽ ổn thỏa hơn!

 

          2. Hỏi: Người sáng lập Đạo giáo là ai? Họ căn cứ trên kinh điển nào? Mục tiêu chung cực của họ là ǵ? Là thành tiên hay thành thần?

 

          Đáp: Sách vở ghi chép chẳng tường tận. Có người chủ trương [Đạo giáo] là do Trương Đạo Lăng đời Đông Hán [sáng lập]. Kinh điển phần nhiều giống như các sách của chư tử trong Nho gia, như các bộ Lăo Tử, Trang Tử v.v… mọi người đều cùng biết, nhưng Ngọc Hoàng Kinh là sáng tạo riêng của họ. Mục tiêu của họ là thăng thiên thành tiên.

 

          3 Hỏi: Hai chữ “đắc đạo” và “đạo” giải thích như thế nào? Rất nhiều đồng bào Đài Loan vô tri bị điểm truyền sư điểm đạo, vênh vang tự mừng rỡ, hướng về kẻ khác khoe khoang là đă đắc đạo, dường như là đă thành tiên, thành tổ vậy! Căn cứ theo văn hóa Trung Hoa th́ “đắc đạo” là ǵ?

 

          Đáp: Một chữ Đạo khó nói lắm! Tam giáo cửu lưu, mỗi phái đều có đạo của họ. Khổng Tử bảo: “Đạo bất đồng, bất tương vi mưu” (Đạo chẳng đồng, chẳng thể bàn tính với nhau được), có thể thấy: Đúng với đằng này, th́ là sai với đằng kia! Chẳng biết các hạ muốn hỏi đạo nào! Lại nói đến “điểm truyền sư và văn hóa Trung Hoa luận về đắc đạo”, những chuyện quái lạ ấy, tôi nhất loạt chẳng muốn nghe, làm sao có kiên nhẫn để nói đến cho được? Chuyện ấy chính là nỗi bất hạnh của quốc gia, xuất hiện một nhóm yêu ma quỷ quái nhiễu loạn xă hội mà thôi!

 

III. Chất nạn (質難, chất vấn)

 

* Hỏi: Vũ trụ quan của Phật giáo là như thế nào? (Hà Nhật Trung hỏi)

 

          Đáp: Nói “vũ trụ” th́ cũng như nói “thế giới”, tức là chỉ không gian và thời gian. Không gian là y báo, tức là chỗ để chúng sanh nương gá, thời gian là giai đoạn để nhân duyên dấy lên, mất đi, tụ, tán. Chúng sanh có sanh, trụ, dị, diệt; thế giới có thành, trụ, hoại, không. Tuy nói là “chớp, sương, bọt, bóng”, hoàn toàn chẳng có thật thể. Trong sự biến hiện chẳng ngừng, chúng sanh phàm phu chẳng tránh khỏi cảm thấy khổ, lạc, ưu, hỷ. Cố nhiên Phật pháp là Chân Tế (真際), nhưng v́ an lạc phàm chúng, hoàn toàn chẳng bỏ Giả Đế, cho nên cũng luôn luôn nhấn mạnh lợi lạc bằng phương tiện.

 

* Hỏi: Đối với thế giới hiện tiền, Phật giáo nên gánh vác sứ mạng nào? (Hà Nhật Trung hỏi)

 

          Đáp: Thế giới hiện thời một mực loạn lạc. Cái nhân xa là do ác nghiệp cảm vời, nguyên nhân gần là do chẳng hiểu chân lư, luôn luôn ích kỷ. Nếu có thể thấu triệt “tự tha bất nhị, vật (tất cả các loài chúng sanh) và ta b́nh đẳng”, ắt nguồn họa tự trong sạch, có thể khiến cho chúng sanh từ bi b́nh đẳng, chánh tri, chánh giác. Nếu bỏ Phật th́ ai [có thể gánh vác trọng trách ấy]?

 

* Hỏi: Hơn một trăm năm qua, Phật giáo Trung Hoa dần dần đi xuống, điều ấy có ảnh hưởng như thế nào? Muốn chấn hưng Phật giáo Trung Hoa, ngoài cơ sở “h́nh nhi thượng học”[21], hăy nên có những điều lấy bỏ nào? (Hà Nhật Trung hỏi)

         

Đáp: Phật giáo Trung Hoa suy yếu, gây ảnh hưởng là đức hạnh của dân chúng hạ thấp, sự đoàn kết bị giảm bớt. Đối với vấn đề chấn hưng, cố nhiên là có liên quan đến phước báo của chúng sanh. Nếu có bậc đại sĩ hoằng nguyện, giới và thừa đều tốt đẹp, thật sự chịu hành trọn sáu độ, cùng vận dụng bốn món b́nh đẳng, th́ cũng chẳng phải là không thể đảm đương trọng trách văn hồi chánh pháp. Bỏ điều này để chấp theo những đường lối khác, tức là chú trọng nơi đằng ngọn vậy!

 

* Hỏi: Muốn cho Trung Hoa cường thịnh, hăy nên làm ǵ trước? (Hà Nhật Trung hỏi)

 

          Đáp: Chuyên mục này chẳng bàn về chánh trị, nhưng dân là cội gốc của đất nước. Gốc mạnh th́ nước mạnh. Chuộng đạo nghĩa, ít coi trọng lợi lộc, đại công vô tư chính là những điều cần phải quan tâm trước hết trong chuyện làm cho dân mạnh.

 

* Hỏi: Vận mạng của đạo Gia Tô tại Trung Hoa sẽ như thế nào? (Hà Nhật Trung hỏi)

 

          Đáp: Lá rơi, hoa rụng, anh nên nhớ; khi ấy, văn hóa Trung Hoa sẽ phục hưng.

 

          * Hỏi: Vô thỉ vô minh và “hỏi một mà chẳng biết đến ba” phân biệt như thế nào? Kẻ thật sự truy cầu chân lư, cứ hỏi han, hoài nghi, th́ có mắc tội lỗi hay không? V́ sao chẳng đáp? Dẫu đáp th́ phần nhiều là biện hộ cho những chỗ sở đoản, ngơ hầu những điều do chính ḿnh đă nói được viên măn, chẳng đáp đúng câu hỏi, [như vậy] th́ có thể khiến cho người khác thật sự đẹp ḷng, khân phục hay chăng? Đấy có phải là thái độ nên có của bậc đại đức hoằng dương chánh pháp hay không? (Đoàn Thụ Nghĩa hỏi)

 

          Đáp: Vô thỉ vô minh là nói Chân Như bản tánh tuy sẵn có quang minh, nhưng không thể nói rơ thời điểm khởi đầu [khi bản tánh bị] nhiễm trần cấu, che lấp quang minh, cho nên nói là “vô thỉ vô minh”. “Hỏi một mà chẳng biết đến ba” th́ gọi là Trần Sa Hoặc, cố nhiên là vô minh. Dẫu hỏi một mà có thể biết đến ba đi nữa, vẫn là vô minh. Bởi lẽ, những ǵ đă biết phần nhiều là hư vọng, phân biệt, chính là do vô minh dấy lên tác dụng vậy! C̣n như do truy cầu chân lư, hoặc do nghi hoặc bèn hỏi han, chẳng có tội lỗi ǵ. Chỉ có điều hoặc là do câu hỏi thiếu lớp lang, hoặc là v́ người bị hỏi không biết, cho nên chẳng thể trả lời, bèn chẳng đáp. Nay ông trách người đáp biện hộ cho sở đoản ḥng lời nói của chính ḿnh có vẻ viên thông, và đáp chẳng đúng lời hỏi v.v… Do ông chưa thể chỉ ra sự thật, kẻ hèn này cũng chẳng dám đường đột phê b́nh vậy!

 

          * Hỏi: Địa cầu mà chúng ta cư trụ ở chỗ nào trong Nam Thiệm Bộ Châu? Trong những châu khác, tức là trong ba đại châu kia, c̣n có địa cầu hay không? Có phải là cũng vận hành quanh mặt trời hay không? Có nhân loại và những loài động vật thuộc súc sanh đạo giống hệt [như trong địa cầu của chúng ta] hay không? (Đoàn Thụ Nghĩa hỏi)

 

          Đáp: Địa cầu chính là Nam Thiệm Bộ Châu, các châu khác thuộc về những tinh cầu khác. Một đơn vị thế giới có bốn đại châu. Một châu đă xoay quanh mặt trời, ba châu kia cũng xoay vần giống hệt. Không chỉ là ba châu trong thế giới này có loài người. Theo như kinh Phật dạy “thế giới vô tận, chúng sanh vô tận”, [đương nhiên là] trong những thế giới khác cũng có loài người giống như vậy. Lời này tự nhiên khiến cho người ta hoài nghi. Do tiên sinh đă sùng bái khoa học, nay tôi xin dẫn lời một nhà khoa học để nghiên cứu, thảo luận. Chủ nhiệm khoa Thiên Văn Học của trường đại học quốc lập Gia Lư Phước Lợi Á Châu, Hoa Kỳ (California State University) là Áo Đặc Sử Đặc Lao Phu (Otto Struve)[22] đă nói: “Hệ Ngân Hà có khoảng một ngàn ức tinh cầu, trong đó có khoảng một trăm ức hành tinh tự xoay quanh nó. Trong số đó, có mười ức hành tinh có sinh vật. Tối thiểu là có từ một trăm cho đến một ngàn vạn hành tinh có những động vật có trí lực cực cao giống như nhân loại trên địa cầu”. Đấy chính là khoa học ăn khớp với kinh Phật, nhưng cũng có chỗ chẳng phù hợp. [Đối với những điều đó], hăy nên bàn luận riêng.

 

* Hỏi: Trong những tiểu thế giới khác, các tầng trời, núi Tu Di, các đại châu, các biển, địa cầu, có phải là giống hệt như vậy, cũng cao như vậy hay không? Có phải là Đao Lợi Thiên tức Tam Thập Tam Thiên trong những tiểu thế giới khác cũng giống như thế? Giả thiết là vô lượng tiểu thế giới đều giống như đơn vị thế giới này, đại thế giới sắp đặt chỉnh tề, trật tự rạch ṛi như thế, chẳng lẽ không có ai lập kế hoạch, an bài, làm sao có thể kỳ diệu tự nhiên dường ấy? Tây Thiên cố nhiên là có A Di Đà Phật tạo ra, c̣n vũ trụ chẳng có ai tạo, cớ sao h́nh thành? Đối với sự bí ẩn trong vũ trụ, đức Phật là bậc giác ngộ, v́ lẽ nào chẳng giải đáp tỉ mỉ viên măn? (Đoàn Thụ Nghĩa hỏi)

 

          Đáp: Thế giới chia thành tiểu, trung, đại, tức là thế giới vô lượng. Chẳng giả định như thế, sẽ chẳng dễ nói. Như để đếm tiền bèn nói một, mười, trăm, ngàn, vạn, ức, triệu, cũng là giả định cho dễ tính toán. Há cứ ắt phải lấy lớn, nhỏ, xa, gần để làm hạn định đo lường? Nay tôi lấy ngay người Hoa làm thí dụ, chẳng nói là nhiều đến bốn vạn vạn, há có thể nói là ai nấy đều nhất loạt cao, thấp, béo, gầy, đẹp, xấu giống nhau? Nếu cứ chấp là thế giới đều rạch ṛi giống hệt như nhau, có một người nào đó làm chủ để an bài, xin hỏi trong số bốn vạn vạn người ấy, mỗi người đều có ngũ tạng lục phủ, tứ chi, tứ thể[23], thật sự là do ai chủ tŕ, an bài vậy?

 

          * Hỏi: Các nhà khoa học nói mặt trăng xoay quanh địa cầu, địa cầu lại xoay quanh mặt trời, mặt trời lại xoay quanh sao Ngang (, Pleiades), sao Ngang lại xoay quanh một tinh tú chẳng biết tên. Tinh tú chẳng biết tên lại xoay quanh một tinh tú chẳng biết tên khác. Trong toàn thể vũ trụ giới như vậy, mỗi tinh tú không biết tên lại dẫn dắt một hành tinh chuyển động không ngừng theo một quỹ đạo nhất định, chẳng va chạm lẫn nhau, há chẳng kỳ diệu ư? Là do sức của ai? Trừ Vô Sắc Giới Thiên như đức Phật đă nói ra, có phải chư thiên thuộc Sắc Giới trong các cơi chính là bản thể của các hành tinh hay không? Nếu chẳng phải vậy, v́ sao không thấy được? Xét ra, khoa học hiện tại tiến bộ, dùng viễn vọng kính và kiến thức thiên văn đều có thể quan sát thấy cảnh quan các thiên thể, hành tinh vận hành vĩ đại như thế, cớ sao chẳng trông thấy trong tiểu thế giới của chúng ta, [các đại châu] xoay quanh núi Đại Tu Di và núi Tiểu Thiết Vy? Đi đến tận bờ mé của vũ trụ, há có phong luân và thủy luân nâng đỡ một tiểu thế giới ư? (Đoàn Thụ Nghĩa hỏi)

 

          Đáp: Câu hỏi này có ba ư nghĩa:

- Một là các tinh tú chẳng va đụng lẫn nhau là do sức của ai?

- Hai, chư thiên Sắc Giới trong các cơi là bản thể của các hành tinh.

- Ba là [nh́n vào] viễn vọng kính, chẳng thấy trong vũ trụ có phong luân và thủy luân nâng đỡ.

Tiên sinh đă hiểu rơ khoa học, ắt biết giữa các ngôi sao đều có sức hấp dẫn. Hai lực hấp dẫn lẫn nhau, ắt sanh ra khoảng cách, cho nên chúng chẳng va đụng nhau, đó là điều thứ nhất.

Thiên có địa cư và không cư[24] sai khác. Sắc Giới thuộc về không cư, chẳng nương cậy tinh cầu. Đó là điều thứ hai.

“Phong” chỉ không khí, “Thủy” chỉ hơi nước, Luân () phải hiểu là vành đai bao quanh. Nói gộp lại, sẽ là trong hoàn cảnh của khí thế gian, có hai khí thể gió và nước. Nếu cứ chấp trước dùng viễn vọng kính để t́m chúng có h́nh dáng tṛn xoe như bánh xe, tức là do [chấp trước] từ ngữ mà hại nghĩa vậy. Đó là điều thứ ba.

 

* Hỏi: Lúc địa cầu này thành lập vào thuở sơ kiếp, nhục thể của cặp nam nữ nguyên thủy đến sống trên địa cầu này vào lúc tối sơ rốt cuộc là do như thế nào mà có? Xét theo kinh Phật giải thích, đời người được tiếp tục bởi mười hai nhân duyên. V́ Chân Như thức tạng dấy lên một niệm vô minh, chân thức bị xen lẫn cấu trược vọng niệm, chân và vọng ḥa hợp thành tám thức, A Lại Da Thức, từ vô thỉ tới nay, chúng là cái nhân của sự tương tục (liên tục, nối tiếp). Có nhân mà chẳng có duyên, sẽ chẳng sanh. “Duyên” chính là hai giọt tinh cha huyết mẹ trắng đỏ ḥa hợp, hoàn thành hai mươi hai căn, tức là nhân loại hiện thời. Nói như vậy th́ chẳng [tŕnh bày] rơ ràng khi địa cầu này được thành lập vào thuở kiếp sơ, cặp cha mẹ đầu tiên làm duyên cho nhục thân [của nhân loại về sau] là do đâu mà có? Hoặc là h́nh thành như thế nào? Đă là có sự thật ấy, v́ sao chẳng biết đến nguồn gốc? Đă chẳng biết cặp cha mẹ đầu tiên làm duyên do đâu mà có, cái nhân lại do đâu mà có duyên khởi, làm sao lại có thể chuyên chê trách câu đố “Gia Tô tạo ra con người” [là không hợp lư] cho được? Nếu không, chính ḿnh đă nắm được chân lư, cớ sao chẳng nói ra? Giấu diếm để làm ǵ? (Đoàn Thụ Nghĩa hỏi)

 

          Đáp: Đối với đoạn cao luận này, tôi chia thành bốn nghĩa:

1. Nhục thể của cặp nam nữ tối sơ trong cơi này do như thế nào mà có?

2. Nhục thể của cặp cha mẹ đầu tiên là do đâu mà có?

3. Đă có sự thật, v́ sao chẳng biết nguồn gốc?

4. Đă là chân lư, v́ sao chẳng nói ra?

Xin hăy xem lời giải đáp cho cư sĩ Hà Mậu Khôn, sẽ tự hiểu nghĩa đầu tiên. Nếu như nghi chuyện “các duyên ḥa hợp hóa sanh động vật”, thử hỏi: Nếu thân người lâu ngày không tắm gội, quần áo chẳng giặt giũ, bỗng nhiên sanh ra trùng, hoặc b́nh dấm nếu chẳng đậy kín, bèn sanh gịi trùng. Nếu đă sanh, không chỉ là sanh một đôi [trùng]! [Do đó], câu hỏi thứ nhất mà ông đă rủ ḷng hỏi tới khó thể thành lập. Chuyện này đă giải thích thêm cho nghĩa thứ nhất, mà c̣n giải thích nghĩa thứ hai. Đức Phật thuyết pháp hơn ba trăm hội, trăm ngàn vạn lời, đối với những điều chánh yếu [cho việc giải thoát], bèn mong [giảng nói] sao cho hết sức tường tận; đối với những điều phụ thuộc, Ngài chỉ nhắc tới những điểm trọng yếu trong đó, chẳng rườm lời. “Vạn pháp do duyên sanh” chính là lời khẳng định. Sanh tướng (tướng sanh trưởng) của nhân loại, há có thể ra ngoài lệ này! Há có thể vu báng [đức Phật] không biết! Chuyện này có thể dùng để giải thích ư nghĩa thứ ba. Nếu cứ khăng khăng muốn biết những điểm vụn vặt, trách móc [đức Phật] chẳng nói đến nhục thể ban sơ (cái thân xác thịt của cặp nam nữ đầu tiên trong thế giới). Thật ra, đối với những kinh do đức Phật đă nói, được truyền đến nước ta, bất quá chỉ có mấy phần, làm sao biết là trong những phần kinh tại Ấn Độ chưa được dịch [sang tiếng Hán] chẳng có những lời cặn kẽ ấy? Chỉ xét theo một phần thấy biết hẹp ḥi nơi nước ta để đoan quyết kinh Phật chẳng nói [những chi tiết ấy], dường như là [đă phạm lỗi vũ đoán] quá sớm!

 

          * Hỏi: Đức Phật là bậc giác ngộ chân lư trong mười pháp giới của vũ trụ, tự nhiên là không ǵ chẳng biết, những ǵ Ngài biết th́ không ǵ chẳng cùng tận. Chuyện ấy có thật hay không? Tôi đọc [sách vở nhà Phật] thấy [những người giảng giải Phật giáo thường khoe Phật giáo là] “khoa học của khoa học”, cớ sao chẳng biết địa cầu xoay quanh mặt trời? Cớ sao chẳng nói trên những hành tinh khác đều có những thứ ǵ? V́ sao các hành tinh vận hành chẳng ngừng? Đă chẳng hiểu biết pháp tự nhiên, có thể thấy là Chánh Đẳng Chánh Giác có vấn đề! Nếu [đức Phật] có nói, [những điều ấy được] ghi chép trong kinh điển nào, chương nào để tiện xem đọc và học tập? Giả sử những điều ấy tự nhiên có lời giải thích viên măn, phù hợp với các phát hiện khoa học, tôi nghĩ là thế giới sẽ chẳng cách thuở thái b́nh quá xa! Lo ǵ chẳng thể lật đổ duy vật luận của chủ nghĩa Cộng Sản! (Đoàn Thụ Nghĩa hỏi)

 

          Đáp: Thế giới có nhiều loại học thuật, mỗi ngành học thuật đều có chuyên biệt. Bất quá, bậc đại thánh đối với chuyên, bèn kiêm thêm phổ quát. Tuy nói là “kiêm thêm phổ quát”, nhưng khi hoằng dương, ắt coi trọng những vấn đề chánh yếu, lược đi những điều [vụn vặt] khác. Khổng Tử chủ trương nhân từ, coi trọng đức, tự nói đối với chuyện quân lữ, Ngài chưa từng học. Thế gian chưa từng v́ chuyện này mà chê bai Khổng Tử. Thật ra, chẳng phải là Khổng Tử không biết dụng binh, như hội Giáp Cốc[25], đọa tam đô[26], đều là những chứng cớ hiển nhiên, chỉ là [Khổng Tử dạy đạo] chẳng nói xen tạp đó thôi! Đức Phật v́ một đại sự nhân duyên, mà xuất hiện trong cơi đời, đó là điều chuyên nhất của Ngài. Hễ có hỏi đến, Ngài bèn đáp, há lẽ nào có thể “chẳng gơ mà kêu lung tung” ư? Tiên sinh v́ chuyện giả tướng (tướng hư giả) của vũ trụ mà chê trách đức Phật chẳng nói, tức là đă rớt vào thiên kiến! Thật ra, trong kinh Phật đă từng nói đến thế giới và chúng sanh, cả hai đằng đều là vô tận. Đối với bậc trí, hễ nêu ra một, bèn có thể suy ra ba. Ông lại trách Phật chẳng nói “tinh cầu xoay chuyển”, nay tôi nêu một thí dụ. Người đầu bếp nổi tiếng nấu cá đăi khách, chỉ nói con cá này hoặc kho[27], hoặc hấp, làm sao có thể nói cặn kẽ [phân lượng] dầu, muối, gừng, dấm [sử dụng như thế nào]! Đối với hai chữ Chánh Giác, tác phong của Chánh chẳng phải là như vậy (như cách ông hiểu về Chánh Giác)! Nếu [Chánh Giác mà hiểu] đúng như kiểu ông nói, sẽ thật sự là “thố giác” (hiểu biết sai lầm). Điều đó thường được nói là “trong mộng rành rành phô sáu nẻo, giác rồi ba cơi rỗng toang hoang”. Ông lại nói “Phật pháp phù hợp khoa học, cơi đời sẽ chuyển thành thái b́nh”, tôi nói “khoa học phù hợp Phật pháp th́ [thế gian] mới chuyển thành thái b́nh”. Đấy cũng là “người nhân thấy là nhân, người trí thấy là trí”, chẳng ngại mỗi người khác biệt!

 

          * Hỏi: Trong toàn thể vũ trụ hải, có sát trần thế giới[28], sự thành, trụ, hoại, không của chúng có xảy ra cùng thời gian hay không? Từ kiếp mới thành cho đến Không kiếp, cụ có thể mô tả giản lược t́nh h́nh các điều phước hoặc tai họa trong từng thời kiếp hay không? Con người lại có thể thật sự từ mười tuổi tăng tới tám vạn bốn ngàn tuổi hay không? Hay đó chỉ là phương pháp giả định để tính toán mỗi kiếp? Nếu là sự thật, con người có thể sống đến tám vạn bốn ngàn tuổi, v́ lẽ ǵ người thuộc thời đại thượng cổ xưa kia thọ mạng lâu dài, trí huệ cao, thế mà vẫn sống trong hang núi nơi chốn hoang dă, ăn lông, uống máu? V́ sao họ chẳng biết phát minh đèn điện, xe lửa v.v… (Đoàn Thụ Nghĩa hỏi)

 

          Đáp: 1. Xin hỏi cây cối trên một quả núi có trổ hoa đồng thời hay không? Hoa nở trên cùng một cây, [kết thành quả], quả có chín cùng một lúc hay chăng? Nếu quan sát hiểu rơ, ắt sẽ tự ngộ lư này.

2. Một bộ lịch sử c̣n chẳng phải là do một người hoàn thành. Toàn bộ hai mươi lăm bộ sử mà hạn cuộc do một người viết ra, có lẽ là có người có tài như thế, nhưng tôi chẳng phải là người như vậy.

3. Ví như ve sầu chẳng biết xuân thu, loài phù du chỉ biết sớm tối. Nếu bảo cho chúng nó biết đời người sống tới trăm năm, chắc chắn chúng nó sẽ hoài nghi, mà cũng chẳng có cách nào chứng minh cho chúng [thông hiểu] được!

4. Đèn điện, xe lửa chính là sự tiến hóa vật chất trong sự tiến hóa trí huệ, cũng là sự diễn biến tích lũy trăm ngàn năm, là do tài liệu của đa số mọi người mà thành. Sự hiểu biết này có liên quan đến sự tích lũy lâu dài, rộng răi. Nếu chẳng nghĩ tích lũy lâu dài là đúng, hăy thử lấy một đứa trẻ mười tuổi chẳng được dạy dỗ, hăy xem thử: Đối với vật chất, nó có phát minh được ǵ hay không? Huống chi trí huệ không phải chỉ là một loại, mà lại có thể căn cứ vào một thứ để coi thường những thứ khác ư?

 

          * Hỏi: Vạn vật thuộc hữu vi pháp giới trong vũ trụ đều do điện cực Âm Dương mà có. Xin hỏi điện cực Âm Dương lại do đâu mà có? Nếu Phật giáo đúng là chân lư, v́ sao chẳng thể giải đáp viên măn lai lịch chân thật của những sự vật ấy? V́ sao địa cầu có thể tự xoay chuyển? Là do sức của thần ư? Hay là trong kinh Phật có lời giải thích hợp lư nào khác? (Đoàn Thụ Nghĩa hỏi)

 

            Đáp: 1. Kẻ hèn này chưa học thông suốt “Âm Dương điện cực”, cho nên chẳng thể phân tích theo từng điều mục để bàn luận. Nếu nói tới vạn hữu, Lư được nói trong Phật pháp sẽ là “hết thảy duy tâm”. Nói theo Sự sẽ là “các duyên ḥa hợp”, lại bảo là “pháp nhĩ như thị” (pháp vốn là như thế đó), nêu ra “vô thỉ”. Ba câu ấy tột cùng viên măn, chẳng có lời lẽ nào có thể thù thắng hơn, thân thiết hơn được nữa! Đối với ba câu ấy, tiên sinh hăy nên liễu giải sâu xa, thiết thực; sau đấy, tra duyệt khắp “vạn hữu văn khố”, hễ có thể t́m ra một một lời nào thấu triệt, thù thắng hơn ba câu ấy, sẽ không ngại chỉ trích Phật pháp lần nữa!

2. Địa cầu xoay chuyển cũng là do các duyên ḥa hợp mà thành, chẳng phải là do có sức thần [điều khiển], như máu luân lưu trong thân thể con người, có nguồn gốc là do các duyên, há có vị thần nào làm chủ chuyện này?

 

          * Hỏi: Trong sách Liên Bang Tiêu Tức, có vẽ một tiểu thế giới cơ sở trong tam thiên đại thiên thế giới, rốt cuộc có đúng hay không? Nếu chưa đúng, phải nên là như thế nào? Xin hăy nêu ra một h́nh vẽ chính xác về một tiểu thế giới. Phật pháp đă là chân lư của vũ trụ, ắt phải nên tận hết sức phô bày cho người ta thấy, v́ sao lại giấu kín chân lư trong rương? Thậm chí chỉ có thể siêu độ cho người khác, chẳng thể lập bày phương cách cho người sống? Hăy gởi bài viết cho báo chí, chớ nên đóng cửa chế xe! Trong thời đại hiện tại, v́ sao chẳng dùng văn Bạch Thoại để giải thích những điều nghi ngờ cho rơ ràng, khiến cho người ta liễu giải Phật pháp? Có ai trên thế giới chẳng đang truy cầu chân lư? Giả sử Phật giáo là chân lư, há có ai chẳng tin Phật? Sự đại loạn trong hiện thời rốt cuộc là ai phải nên gánh vác trách nhiệm? (Đoàn Thụ Nghĩa hỏi)

 

          Đáp: 1. Những h́nh vẽ ấy chẳng phải do đức Phật vẽ ra, bất quá là do người đời sau nêu đại lược tương tự, khiến cho người khác nh́n vào đồ h́nh có thể hiểu ư nghĩa mà thôi. Nếu cầu rất giống như thật, ắt cần phải suy lường! Hăy thử nghĩ, bọn phàm phu chúng ta theo chiều ngang để đến một tinh cầu khác c̣n chưa thể được, huống là nhiều tinh cầu! Theo chiều dọc th́ cơi trời Tứ Vương c̣n chưa thể đến được, huống hồ nói đến trời Sơ Thiền. Chỉ nên tin vào kinh, đừng nên câu nệ h́nh vẽ.

2. Tam Tạng kinh điển dịch sang tiếng Hán gần như đă có khoảng hơn chín ngàn quyển, đă sớm được công khai lưu hành trong cơi đời, há có lẽ nào “giấu kín trong rương”? Đức Phật v́ lưu thông pháp nghĩa, thường nói “biên chép, tụng tŕ, giảng giải v.v… đều có công đức”, lại c̣n cực lực đề xướng lưu thông. Đó là chứng cứ. Chỉ có thể nói là “chân lư ẩn trong kinh”, chẳng thể nói là “giấu trong rương!” Chẳng vào biển cả, ngược ngạo bảo “biển cả chẳng có nước”, há có phải là chánh luận hay chăng?

3. Kinh để siêu độ người chết là loại nào? Kinh dành để nói cho người sống là loại nào? Ắt phải xem xét đối chiếu mới biết! Chớ nên thấy tăng sĩ ứng phó kinh sám, bèn nói khẳng định “toàn bộ kinh Phật là để siêu độ người chết!”

4. Đông th́ Nhật Bản, Triều Tiên, Nam th́ Thái, Việt, Miến, Giản (Cambodia), Tây th́ các quốc gia văn minh Âu Mỹ, bất luận thư viện hay tư gia của hàng học giả đều có cả đống kinh Phật. Thậm chí có chỗ c̣n nhiều hơn người Hoa, há nên vu vạ là “đóng cửa chế xe”?

5. Kinh Phật có Văn Ngôn, có Bạch Thoại, bất quá là chẳng viết bằng ngôn ngữ địa phương cận đại. Nhưng chân lư hay chẳng chân lư, lại càng chẳng do Bạch Thoại và Văn Ngôn! Tứ Thư Ngũ Kinh viết bằng Văn Ngôn, Thủy Hử và Hồng Lâu Mộng viết bằng Bạch Thoại, há có thể nói Thủy Hử và Hồng Lâu Mộng là chân lư, c̣n Tứ Thư Ngũ Kinh là tà thuyết ư?

6. Trách nhiệm của nông nỗi đại loạn hiện thời là do kẻ trong tâm giữ ư niệm tham, sân, si, mạn, thân hành giết, trộm, dâm, dối gánh vác!

 

          * Hỏi: Trong sách Liên Bang Tiêu Tức có nói: Thuở kiếp sơ, thỉ tổ của con người từ Quang Âm Thiên bay xuống. Do họ tham ăn chất béo trên mặt đất, mà thể chất dần dần nặng nề, chẳng thể bay lên được. Do ăn uống, cho nên có thóc, gạo v.v… Sau đấy, hóa thành chúng sanh. Trong ấy, c̣n có rất nhiều điểm nghi vấn. Thử hỏi: Cách nói như vậy có khác ǵ cách nói mê tín “Gia Tô tạo ra chúng sanh?” [Thuyết ấy] phát xuất từ kinh điển nào trong kinh Phật? Người từ cơi trời Quang Âm Thiên là hạng có phước báo, cớ sao lại phải giáng hạ để chịu khổ? Đă chịu khổ, v́ sao lại chẳng thể bay trở về [Quang Âm Thiên]? Đă hóa thành chúng sanh, v́ sao không thể hóa ra những tốt đẹp? Mà hóa ra vi khuẩn, ruồi, nhặng, gịi trùng v.v… Há chẳng phải là tàn nhẫn, vô nhân đạo ư? Lại do ai khiến họ bay xuống nơi đây? Có phải là trong mỗi kiếp, lúc khí thế giới mới thành lập, [động vật h́nh thành] đều là do người từ trời Quang Âm bay đến? Nếu như [chư thiên từ] Quang Âm Thiên chẳng bay xuống, trên địa cầu này sẽ chẳng có động vật ư? Chẳng phải là đức Phật nói pháp giới này là pháp giới hữu lậu ư? Địa cầu vào thuở Hoại Không, cớ sao người trên Quang Âm vẫn c̣n tồn tại? Người trên Quang Âm Thiên lại do từ đâu bay đến để làm thỉ tổ [của các vị trời ấy]? Chuyện này có hợp với Phật lư hay không? Giả sử thuyết này có sai lầm, tác giả [sách ấy] là pháp sư Bổn Tế, có phải là đại pháp sư đối với Phật lư dám khởi vọng ngữ đó chăng? (Đoàn Thụ Nghĩa hỏi)

 

          Đáp: 1. Người từ cơi trời Quang Âm giáng xuống là từ cơi kia đến cơi này. Gia Tô tạo ra con người là bắt đầu chế tạo nhân loại, cũng giống như trong thần thoại Trung Hoa, [Nữ Oa] dùng đất vàng (đất bùn từ Hoàng Hà) nặn thành người. Phân biệt giữa hai đằng dễ thấy.

2. Tâm lư chúng sanh vô thường, trong mỗi sát-na, biến đổi muôn vàn! V́ sao Quang Âm Thiên bay xuống, chỉ họ mới biết! Ví như sự kiến thiết nơi Âu Mỹ vốn là hưởng thụ phồn hoa cực độ, sao họ cứ khăng khăng thám hiểm Nam Cực, tự hứng chịu khổ sở?

3. Biến thành tốt hay xấu là do nghiệp lực chi phối. Tàn nhẫn là do chính ḿnh tạo ra, chẳng phải là do ai khác thêm vào!

4. Thuở kiếp mới thành lập, có phải đều là do người từ trời Quang Âm giáng xuống hay không, chưa thấy kinh văn [dạy rơ như vậy], chẳng dám nói bừa. Hăy dựa theo lư để suy, chớ nên suy luận cứng ngắc như thế. Ví như tết Nguyên Đán năm trước, người đầu tiên đến chúc Tết là Vương Giáp, Nguyên Đán năm nay, người đầu tiên đến chúc Tết chưa chắc vẫn là Vương Giáp.

5. Quang Âm Thiên ở trên, địa cầu ở dưới (nói cao hay thấp là nói giả định). Địa cầu ở hạ giới hư hoại, chẳng trở ngại Quang Âm ở thượng giới. Nhưng đến lúc tam tai, Tứ Thiền đều hoại, há riêng ḿnh Quang Âm mà thôi!

6. Thân h́nh của [chư thiên trong] Quang Âm Thiên là hóa sanh, thần thức như ánh chớp, có thể tới trọn khắp đại thiên. Hễ gặp duyên [nơi đâu], bèn có thể đến đó.

7. Pháp sư Bổn Tế không chỉ tinh thông Phật lư. Trước khi xuất gia, Ngài cũng là bậc đại nho, là bậc đại gia trong văn phái Đồng Thành[29] thời cổ, nói điều ǵ đều có căn cứ.

 

          * Hỏi: Chân Như thức tạng vốn thanh tịnh, chẳng nhiễm một pháp, v́ sao bỗng dấy lên một niệm hư vọng nguyên thủy vô minh? (Đoàn Thụ Nghĩa hỏi)

 

          Đáp: Pháp Chân Như chính là tột đỉnh cao nhất trong Phật học. Đức Phật dạy người khác, vốn do quan sát căn khí và tŕnh độ [của họ], bèn chia thành năm thừa để nói. Nếu không giống như thầy thuốc chẳng xem xét cội nguồn căn bệnh, cứ một mực dùng những thuốc quư giá, không chỉ là chẳng thể lành bệnh, trái lại c̣n gây hại. Chẳng phải do lỗi của thuốc, mà là lỗi dùng sai! Đối với lời hỏi của quư cư sĩ, chỉ đành thưa đáp đại lược. Trong lúc chưa thể liễu ngộ vấn đề ấy, xin đừng dùng lời giải đáp của kẻ hèn này để làm phương tiện tranh luận cùng người khác, rất sợ khiến cho người ta hiểu lầm, hoặc chuốc lấy nỗi chướng ngại báng pháp! “Vốn thanh tịnh, bất nhiễm” là nói cái Thể của Chân Như chẳng bị hết thảy biến đổi, hoặc tổn hoại, chứ chẳng phải là không bị hết thảy chướng ngại, ngăn lấp. Bọn phàm phu chúng ta mê hoặc, điên đảo, chính là Chân Như bị phiền năo che lấp, ngăn chướng. Đối với bốn chữ “nguyên thủy vô minh”, kinh Phật phần nhiều dùng chữ “vô thỉ vô minh”, hàm ư không thể nói tới sự khởi đầu của nó. Lời ấy là chân lư. Nếu nói có khởi đầu, tức là đă phá hoại nguyên tắc nhân quả. Chân Như lại có vô thỉ vô minh, ví như vàng ắt ở trong quặng. “Bỗng dấy lên một niệm hư vọng” kinh Phật bảo là “một niệm bất giác bèn có vô minh”, đó là lời lẽ phương tiện nhằm tiếp dẫn người đến học, khiến cho người nghe dễ hiểu. Nhưng “một niệm” ấy cũng thuộc về vô thỉ. Nếu cho rằng “bỗng dưng khởi lên một niệm” chính là “bắt đầu” th́ lại mâu thuẫn với nguyên tắc mất rồi!

 

          * Hỏi: Sau khi đă dấy lên một niệm nguyên thủy vô minh, tŕnh tự h́nh thành lần lượt núi, sông, đại địa là như thế nào? (Đoàn Thụ Nghĩa hỏi)

 

          Đáp: Núi, sông, đại địa hoàn toàn chẳng phải là chân thật, mà là do các duyên ḥa hợp, hiện ra giả tướng. Như người nước Sở thấy mây như ngựa, người nước Triệu thấy mây như trâu, người nước Tần thấy mây như mỹ nhân, thi nhân Đỗ Phủ đời Đường bảo mây như tấm áo vá hoặc con chó xanh[30], có ǵ là chân thật! Nhưng núi, sông, đại địa, đối với chúng sanh trong chín giới, có kẻ thấy, có kẻ chẳng thấy; dẫu thấy, cũng chẳng nhất loạt thấy là núi, sông, đại địa. Do những cảnh ấy vẫn là do tâm tạo, v́ vọng tâm chẳng đồng nhất, cho nên cũng thấy khác nhau.

 

          * Hỏi: Trong quỷ ma có thiên ma v.v… Xin hỏi: Người hành Thập Thiện mới có phước báo thăng thiên, cớ sao có chuyện sanh lên trời để làm ác? Nếu làm ác, v́ sao có thể thăng thiên? Ma vương có các thứ thần thông to lớn, v́ sao chẳng hiểu rơ nhân quả Phật pháp để học Phật, cứ làm ác để rồi phải chịu nhân quả báo ứng? (Đoàn Thụ Nghĩa hỏi)

 

          Đáp: Thiện chia thành hữu lậu và vô lậu sai khác. Hai pháp hữu lậu và vô lậu bao hàm ư nghĩa rất sâu; ở đây, chẳng thể thêm thắt nhiều chuyện râu ria để giải thích tường tận. Ở chỗ này, tôi nói đại lược khái quát: Điều thiện do đoạn Kiến Hoặc và Tư Hoặc th́ là vô lậu thiện. Điều thiện mà chẳng đoạn Nhị Hoặc th́ gọi là hữu lậu thiện. Thân trong hai mươi tám tầng trời đều có trọn đủ Kiến Tư nhị Hoặc; v́ thế, kẻ tạo thiện hữu lậu bèn sanh về đó. Kẻ Hoặc nhẹ th́ dễ học Phật, kẻ Hoặc nặng sẽ khó thể học Phật. Đối với sự phú quư nhỏ nhoi trong thế gian mà c̣n có giáo huấn: “Kẻ phú quư khó học đạo”. Thiên ma đại phú, chẳng chuộng Phật pháp, có ǵ quái lạ ư? Hễ có Hoặc bèn tạo nghiệp, tạo nghiệp bèn thọ báo; huống hồ c̣n có Hoặc mang theo từ bao nhiêu kiếp ư? V́ lẽ này, hai mươi tám tầng trời đều chẳng ĺa khỏi luân hồi, thiên ma hưởng hết phước trời sẽ đọa lạc, há có ngoại lệ?

 

          * Hỏi: Hăy nên giải thích “thần” như thế nào? Trong kinh Phật, có rất nhiều thần, ví như thần cây, thần đất, thần sông ng̣i, thần núi non, thần mặt trời, mặt trăng, giới thần[31], thiện thần, ác thần v.v… là do đâu mà có? Họ có thọ mạng bao lâu? Ở chỗ nào? Ăn những ǵ? Không ăn những ǵ? Lại nói “người tu đức chánh trực sẽ làm thần”, v́ sao có thần thuộc loại hung ác tà thần? Quan Công trọn chẳng tu hành, cũng chẳng học Phật, v́ sao có thể thành thần? Thần chết đi có nhân quả ǵ? Lại nói thần là tinh khí của trời đất, do v́ lẽ ǵ mà tinh khí có thể thành thần? Xét theo Duy Thức Luận trong Phật học th́ thuộc về thức nào? (Đoàn Thụ Nghĩa hỏi)

 

          Đáp: 1. Chữ Thần () ở đây là nói tới những người có chức trách trong quỷ đạo và thiên đạo. Thần sống trong lục đạo, thăng giáng qua lại, tuần hoàn tới lui, há có nhất định? Đến từ nơi nào, ở lại nơi đâu, thọ mạng muôn ngàn sai khác, hoàn toàn chẳng nhất loạt giống nhau, làm sao có thể kể trọn cho được? Ở trong Dục Giới, đương nhiên là có ăn uống. Người giữ chức trách thưởng thiện và vô minh nhẹ th́ gọi là “thiện thần”. Kẻ giữ chức trách phạt ác và vô minh nặng nề th́ gọi là “ác thần”.

2. Quan Công thành thần chính là do thiện quả của ḷng trung nghĩa khi c̣n sống. Tiên sinh bảo “chưa học Phật làm sao có thể thành thần”, chính là hết sức hiểu lầm! Thành thần chính là phàm phu trong lục đạo, chẳng do học Phật mà đạt được. Thành Phật chính là bậc thánh nhân đă vượt ngoài tam giới, ắt phải do học Phật th́ mới thành.

3. Tinh khí là thần, và những vị thần giữ chức trách như trong phần trên đă nói có ư nghĩa khác biệt đôi chút. “Thần” [trong cách nói “tinh khí là thần”] chính là tinh khí tụ tập, tức là cái được gọi là “do các duyên sanh ra”. Hăy thử nói mùi thơm của cây hoa mộc tê do đâu mà có? Hương ấy được coi là thức nào? Xin hăy tham cứu!

 

* Hỏi: Trong loài ma quỷ có thiên ma v.v… Xin hỏi người hành Thập Thiện mới có thể đạt được phước báo thăng thiên, há có chuyện lên trời làm ác? Đă làm ác, v́ sao có thể thăng thiên? Ma vương có các thứ đại thần thông, v́ sao không biết nhân quả trong Phật pháp để học Phật? Ma làm ác có phải chịu báo ứng nhân quả hay chăng? (Đoàn Thụ Nghĩa hỏi)[32]

 

          Đáp: Kẻ làm thiện mà mong quả báo phú quư, hưởng dục, th́ là hữu lậu thiện. Loại chúng sanh này chẳng hiểu Phật đạo, lại chẳng muốn nghe [giảng về đạo pháp], đó gọi là “kẻ phú quư khó học đạo”, do họ mê đắm trần dục! Lục dục thiên hưởng lạc thù thắng, chẳng nghĩ tới chuyện giải thoát, hết sức có thể chướng đạo. Hăy nên hiểu “ma” là chướng, ư nói “chướng ngại Phật đạo” vậy!

 

          * Hỏi: Phật học đối với duyên khởi của vũ trụ: 1. V́ sao vũ trụ có sinh vật và con người? 2. Nếu là do nhân duyên sanh, duyên do đâu mà có? Tỷ như cái b́nh rỗng đậy nắp lại, để ở trong nhà chẳng động đến nó, dẫu qua trăm ngàn năm, cũng chẳng thấy có vật ǵ! Trong b́nh, vốn là rỗng không, v́ sao có vật? Nếu nói là có vật, há chẳng phải từ Không mà sanh ra Có ư? Kết luận của vấn đề này là khởi nguyên của vạn vật và nhân sinh trong vũ trụ rốt cuộc là do đâu mà có? (Lư Duy Kiệt hỏi)

 

          Đáp: Trong không trung, vốn có nguyên tử dày đặc. Nếu b́nh chẳng đậy thật chặt, lọt vào một ít không khí, sẽ có thể sanh ra vật. Hễ có một, bèn có thể sanh ra hai, sanh ra ba. Hễ có ba, bèn hóa hiện muôn loài. Đấy vẫn là lư “các duyên ḥa hợp mà sanh”. Nếu ông hoài nghi “duyên sanh”, [vậy th́] có thể nói đó là do pháp nào khác hay chăng? Kẻ hèn này cũng mong được nghe!

 

          * Hỏi: Chúng sanh từ vô thỉ tới nay đă có ba độc tham, sân, si. 1. Nếu chẳng có ba độc ấy, c̣n có điều ǵ tồn tại? 2. Từ vô thỉ, nếu chẳng có tham, sân, si, sẽ là diện mạo như thế nào? 3. Vô thỉ lại do đâu mà có? Kết luận của vấn đề này là: Hễ vô thỉ bèn vô chung; trong ấy, há có thể nói là đại địa thành, trụ, hoại, không ư? (Lư Duy Kiệt hỏi)

 

          Đáp: Vốn chẳng có một vật, nói đến diện mạo chi nữa? Vô thỉ chẳng phải là vật, làm sao có thể thêm vào. “Hễ vô thỉ bèn vô chung”, lời này đúng lắm, nhưng thành, trụ, hoại, không cũng giống như kinh Dịch đă nói từ sau chữ Trinh bèn bắt đầu chữ Nguyên[33], hoàn toàn chẳng phải là “sau khi đă Không, sẽ chẳng có Thành nữa”, mà là tuần hoàn chẳng ngớt, cho nên là vô thỉ vô chung.

 

          * Hỏi: Nếu trong kinh luận có pháp nào thù thắng hơn Niết Bàn, tôi cũng nói pháp ấy như mộng, như huyễn 1. Niết Bàn tịch tĩnh, bất sanh, bất diệt, há chẳng phải là tro tàn? Tro tàn th́ đương nhiên là vĩnh viễn chẳng thể bốc cháy nữa, há chẳng phải là vô t́nh, vô t́nh đến nỗi c̣n thua tảng đá? 2. Vừa nói “chẳng trụ Niết Bàn, cái tên Niết Bàn c̣n chẳng thể được”, vừa nói “Niết Bàn thường lạc”, há chẳng phải là mâu thuẫn ư? (Lư Duy Kiệt hỏi)

 

          Đáp: Học Phật phải nên theo thứ tự, giống như học thuật toán (Algorithm) vậy. Ắt là phải tuân theo các phép tính cộng, trừ, nhân, chia để tiến tuần tự. Nếu vừa học bèn nói tới phép Vi Tích Phân (Differential and Integral Calculus), người học ắt khó thể tiếp nhận. Lư Niết Bàn giống như phép Vi Tích Phân trong thuật toán, chẳng phải là [vừa mới chập chững học một vài phép Toán cơ bản bèn] có thể hiểu ngay. Cư sĩ bảo “Niết Bàn tịch tĩnh, bất sanh, bất diệt, giống như tro tàn, tảng đá”. Thật ra, tro và đá có sanh, có diệt, hoàn toàn chẳng phải là tịch tĩnh! Niết Bàn là Niết Bàn, chẳng có vật ǵ có thể sánh ví được, nay chỉ có thể giải thích đại lược ư nghĩa “bất sanh, bất diệt” ḥng tháo gỡ những điều hiểu lầm. “Bất sanh” là nói nó vốn thường, “bất diệt” là nói nó vĩnh viễn tồn tại, làm sao có thể nói là nó chết cứng cho được? V́ nó vốn thường, vĩnh viễn tồn tại, cho nên bảo là thường lạc, há có mâu thuẫn ư?

 

          * Hỏi: Chúng sanh trong đại địa đều có Phật tánh, mà cũng chính là vị lai chư Phật. 1. Mùa Đông tiết trời lạnh lẽo, sinh vật tử vong, chẳng sanh sôi. Mùa Hạ ấm áp, sinh vật đông đảo. Há chẳng phải là chúng sanh do khí nóng mà sanh, hoàn toàn chẳng phải là do Phật Tánh ư? V́ sao Phật Tánh chẳng chống nổi khí hậu? 2. Đức Phật xuất sanh trên địa cầu này hơn hai ngàn năm nhằm độ thoát chúng sanh. Vậy th́ hễ có thêm một vị Phật, tức là bớt đi một chúng sanh. V́ sao cho đến hiện thời, dân số thế giới gia tăng không ngừng, động vật cũng tăng nhiều, giảm ít, có phải là chứng tỏ [đức Phật] hoàn toàn chưa độ thoát chúng sanh nào hay chăng? Kết luận của vấn đề này là: Bồ Tát phát nguyện, nếu c̣n một chúng sanh chưa đắc độ, thề chẳng giữ lấy Chánh Giác. Chúng sanh chỉ có tăng không ngừng, khi nào th́ sẽ có thể độ hết? (Lư Duy Kiệt hỏi)

 

          Đáp: Phật tánh chẳng phải là khí hậu! Xin hỏi cư sĩ có thể suy tưởng, điều đó có phải là do khí hậu hay không? “Thế giới” như cư sĩ đă nói, dường như là nói về địa cầu, bất quá [địa cầu] là một phần trong vô lượng thế giới, là một phần trong ức vạn phần. [Cư sĩ] chỉ biết chúng sanh tăng ở nơi đây, chẳng biết chúng sanh ở nơi khác giảm đi. Nhưng tăng hay giảm cũng là hiện tượng ngẫu nhiên, như sóng trong nước, chợt có lúc cuộn về hướng Đông, [có lúc] lại xô về phía Tây. Ắt phải nh́n toàn thể biển cả để luận. Các kinh ghi chép có hằng sa chư Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, làm sao có thể nói là chẳng độ một chúng sanh nào? Hăy nên biết: Hư không vô tận, thế giới vô tận, chúng sanh vô tận, Bồ Tát độ chúng sanh cũng là vô tận.

 

          * Hỏi: Đời người vốn là huyễn ảnh, giống như hoa Đàm trong giấc mộng, sớm muộn ǵ rốt cuộc cũng biến diệt! (1) Hết thảy các pháp, hết thảy sự vật vốn đều là mộng, huyễn, bọt, bóng; giết người há chẳng phải là giống như mộng hay chăng? Ví như tối nay, tôi nghĩ tôi sống trên đời này, chẳng thành tựu một chuyện ǵ, chịu đựng các nỗi khổ nghèo túng, bệnh hoạn, cuối cùng lại phải chết. Chết rồi sẽ mục nát giống như cây cỏ. Tôi nghĩ vốn đă là mộng huyễn, tôi cũng chẳng sợ bất cứ thứ ǵ như thiên đường, địa ngục! V́ dùng Vô Ngă để quán, cầm dao giết chết kẻ khác, chỉ là tôi đă phạm vào quốc pháp, tôi thấy kẻ chấp pháp vâng lệnh chặt đầu tôi, nhưng tôi do quán Vô Ngă bèn chẳng sợ. Há chẳng phải là chuyện ǵ cũng đều có thể làm ư? (2) Kết luận của vấn đề này là: Có sanh, ắt có tử. Sau khi đă chết, sẽ như thế nào, ai cũng chẳng thể biết! V́ chỉ chết một lần. Nếu nói là do nhân quả chi phối, thử hỏi, nước Mỹ ném bom nguyên tử xuống Nhật Bản, số dân chúng bị tử vong tới hai mươi vạn không chừng! Số lượng các sinh vật [bị tổn hại v́ hai quả bom ấy] cũng chẳng có cách nào thống kê được! Lúc mới phát minh ra bom nguyên tử cũng chỉ có đôi ba người! Dùng loại vũ khí do đôi ba người phát minh để giết chết hằng sa chúng sanh, há chẳng phải là thiên đạo vô tri ư? (Lư Duy Kiệt hỏi)

 

          Đáp: “Mộng, huyễn, bọt, bóng” là nguyên tắc, phạm pháp thọ h́nh là quá tŕnh. Ví như thân người, có sanh, ắt có tử. Tử là nguyên tắc, giai đoạn từ sau khi sanh ra cho đến trước khi chết đi chính là quá tŕnh. Không thể v́ đă có tử, bèn mặc kệ hết thảy những ǵ trong khoảng trung gian, yên lặng chờ chết! Hoặc là làm càn, làm quấy, tự t́m lấy cơ hội để chết! Nếu có ai trách móc, bèn nói: “Con người sớm muộn ǵ cũng chết ngắc!” Lại nữa, Phật pháp giống như y dược, ứng theo căn bệnh mà ban bố. Chúng sanh bị ba độc làm hại, cho nên nói “mộng huyễn” để phá trừ. Giống như xem phim ảnh, tuy có món ăn ngon quư, nhà cửa xa hoa, cũng chẳng chạy theo đó, v́ biết những thứ ấy là huyễn. Cư sĩ ngược ngạo viện vào cái huyễn ấy để mong giết người, tức là dùng thuốc sai trái! Hăy nên biết ư nghĩa của Vô Ngă. Thật sự là chẳng có ngă, làm sao có ba độc cho được? Chẳng có ba độc, làm sao có thể giết người ư? Ông lại nói: “Phát minh ra bom nguyên tử, giết hại hằng sa chúng sanh, thiên đạo vô tri”, cũng là hiểu lầm! Hễ có nhân bèn có quả, ba đời bù qua sớt lại, chưa hề sai sót. Phải nghiên cứu lư ở trong ấy th́ mới hiểu được!

 

          * Hỏi: Đời người do nhân quả chi phối. Đă nói “tam thế nhân quả”, kiếp này nghèo túng là do kiếp trước chẳng tu phước đến nỗi chịu khổ, xin hỏi: 1. Quân nhân bất luận là sĩ quan hay binh sĩ đều nghèo túng, bị đăi ngộ bạc bẽo. Xin hỏi có phải là mấy chục vạn người ấy đều do kiếp trước chẳng tu phước hay sao? 2. Kẻ giàu có lắm tiền, chính là do tham ô mà có, cũng là do phước báo của kẻ ấy hay chăng? Nếu chẳng tham ô, tám chín phần mười những kẻ giàu có ở Đại Lục đều bị bị bọn giặc Cộng giết hại, phước báo kiểu ấy chẳng phải là quá mức bất công ư? 3. Kết luận của vấn đề này là: Giàu có là do kiếp trước tu được, đời này chẳng cần phải nhọc nhằn kiếm sống! Có thể chịu khổ, có trí huệ, đương nhiên là có thể kiếm tiền, sao lại nói là do đời trước tu được, há chẳng phải là mâu thuẫn ư? (Lư Duy Kiệt hỏi)

 

          Đáp: Phàm phu làm lành, đa phần chẳng thuần tịnh, đại đa số là công ít, tư nhiều. Động cơ (motivation) để làm lành th́ hoặc là v́ danh lợi, hoặc là v́ địa vị, hoặc là v́ đủ mọi thứ mong cầu; t́m một kẻ vô duyên từ bi, chẳng chấp tướng mảy may th́ hiếm hoi lắm! V́ thế, việc làm có khi thoạt đầu là lành, cuối cùng là ác, hoặc có khi thoạt đầu là ác, cuối cùng là lành, hoặc có lúc thiện, có lúc ác, hoặc thiện ác lẫn lộn. Cái nhân phức tạp như thế, cho nên quả đạt được cũng phức tạp. Lại nói “do đời trước đă tu, [đời này] chẳng cần vất vả, nhọc nhằn”, [tức là] chẳng biết nhân quả chín muồi hoàn toàn là nhờ vào sức của duyên, thường nói là “vô duyên chẳng sanh” vậy! Như một hạt dưa, tuy có thể kết thành dưa, nếu chẳng có nước, đất, gió, ánh sáng mặt trời v.v… làm duyên, chỉ đặt trong ḷng bàn tay, cũng chẳng thể đột nhiên kết thành quả được! Vận dụng trí năng chính là duyên. Chỉ có một điều: Nếu chẳng có nhân, tuy có trí năng, cũng chẳng thể kiếm được tiền! Tục ngữ có câu: “Bách xảo bách năng, hoàn thị thọ cùng” (Trăm nghề khéo, trăm thứ tài năng, vẫn chịu nghèo túng). Đă hiểu rơ điều này, há c̣n có mâu thuẫn ư?

 

          * Hỏi: Trung Hoa có Lăo Tử, Trang Tử, Khổng, Mạnh, Dương Châu, Hoài Nam, Mặc Tử, Tuân Tử, Hàn Phi Tử, Châu Tử, lại c̣n có Phật học, tức là: 1. Học vấn của Trung Hoa vượt trỗi bất cứ quốc gia nào, nhất là cái học về nhân luân, v́ sao chỉ sanh ra gian thần, tặc tử? 2. Ví như hàng sĩ đại phu, bậc nho giả, suốt ngày lặng thinh, thờ ơ, lạnh nhạt, chẳng chịu tiếp nhận bất cứ văn hóa ngoại lai mới mẻ nào, miệng nói chuyện thơ văn nhân nghĩa, tâm thật sự độc địa như rắn rết. Nếu đối với chuyện nhân nghĩa, chính ḿnh chẳng có nhân nghĩa, mà dạy người khác nhân nghĩa. Đối với đạo đức, chính ḿnh vô đạo đức, dạy người ta đạo đức. Đối với pháp lệnh, chính ḿnh chẳng tuân thủ pháp luật, mà dạy người ta vâng giữ pháp. Cáo già xảo quyệt, vét mỡ dân, uống máu lính! Do v́ như thế mà cho đến hiện thời, [Trung Hoa] trở thành một quốc gia lạc hậu nhất, đáng thương nhất trên thế giới. Tín đồ Phật giáo vô cảm t́nh, chẳng có học vấn, thậm chí chẳng thiếu kẻ là cáo già xảo quyệt. Như vậy th́ tin Nho, tin Phật, có ích ǵ đâu? Chẳng thà tin vào chính ḿnh, có năng lực bèn hưởng nhiều, chẳng có khả năng th́ thôi! (Lư Duy Kiệt hỏi)

 

          Đáp: Lăo, Trang, Khổng, Mạnh, Phật v.v… đều dạy kẻ khác làm lành, chẳng hề dạy người ta làm gian thần tặc tử. Đó là do con người chẳng tiếp nhận [giáo huấn], chẳng phải là lỗi của các vị thánh hiền. C̣n như ông nói “chẳng tiếp nhận bất cứ văn hóa ngoại lai mới mẻ nào”, tôi chẳng biết ông nói tới loại nào? Các loại phim ảnh toàn chuyện giết, trộm, dâm, âm nhạc ủy mị, nam nữ khiêu vũ, xe hơi, cao ốc xây theo kiểu Âu Tây, tiệc tùng xa xỉ, nam th́ mặc Âu phục, giày da, nữ bèn hở ngực, hở đùi, máy bay, đại pháo, bom nguyên tử v.v… đều là văn hóa mới ngoại lai, có ǵ là chưa tiếp nhận? Phật tử chẳng có cảm t́nh, chẳng có học vấn, cáo già giảo quyệt, tức là v́ chẳng tuân thủ lời dạy của Phật mà ra, chẳng phải là do kinh điển dạy như vậy. “Tin chính ḿnh”: Chẳng biết chính ḿnh là hạng người như thế nào? Nếu là hạng đầy ắp tham, sân, si, mạn, nghi, mà tin vào [chính ḿnh], sợ rằng biểu hiện ra c̣n quá hành vi của lũ gian thần tặc tử, cáo già giảo quyệt. Cuối cùng, ông lại nói đến chuyện hưởng thụ, chẳng biết con người sở dĩ trở thành gian thần, tặc tử, cáo già giảo quyệt, cũng chính là v́ sự hưởng thụ bức bách vậy!

 

* Hỏi: Nhà Phật chủ trương khô cạn ái dục: 1. Dâm là giới đứng đầu. Thử hỏi chư tử của Trung Hoa chẳng có vợ con ư? Đức Phật chẳng có vợ con ư? Đạo Khổng nói ăn uống và nữ nhân trọng yếu như nhau. Chẳng nên chơi bời nữ sắc, người tuổi tác đă cao nói như vậy th́ c̣n có thể chấp nhận, chứ kẻ thanh niên trừ người xuất gia ra, mong đoạn chuyện dâm, thật sự là chẳng thể nào, do v́ nhu cầu sinh lư! Lương tri phán quyết, chẳng phải là do tâm lư quấy nhiễu ư? Ví như cây đào tới mùa Xuân tất nhiên trổ hoa, kết quả. Nếu muốn cho nó chẳng trổ hoa, trừ phi chặt nó đi! 2. Kết luận của vấn đề này là nam nhân chớ nên cùng nữ sắc chơi bời. Nếu không, chẳng thể tu hành thành Phật, tánh dục và sinh lư chẳng có quan hệ! (Lư Duy Kiệt hỏi)

 

          Đáp: “Nam nữ đoạn dâm” nhằm nói với người thật sự v́ liễu sanh tử. Đối với kẻ tại gia, chỉ dạy kiêng tà dâm. Tà dâm có nghĩa là “chẳng phải vợ chồng mà hành dâm”, hoàn toàn chẳng ngăn cấm vợ chồng chánh thức chung đụng. Điều kiện để thành Phật rất nhiều, hoàn toàn chẳng phải là chỉ đoạn dâm dục. Nếu đơn giản như thế, ai nấy đều có thể thành Phật cả rồi!

          Nói thêm, nh́n chung tám câu hỏi, biết cư sĩ là kẻ bất măn đối với t́nh trạng hiện thời. V́ thế, đối với chư Phật, thánh hiền, đều có những lời lẽ rẻ rúng. C̣n như đọc sách Phật, không ǵ chẳng nhằm suy nghĩ t́m được đường ra, nhưng lại đọc với cái tâm ngạo mạn, chê trách, làm sao có thể đạt được lợi ích? E rằng càng tăng thêm lầm lỗi! Kính khuyên cư sĩ, nếu thật sự có ḷng hướng về đạo, chẳng ngại trước hết hăy buông kinh Phật xuống, hăy nghiền ngẫm sách Liễu Phàm Tứ Huấn, sao cho sau khi tạm có tín tâm, rồi lại xem kinh Phật, may ra cảnh giới có tiến triển vậy!

 

          * Hỏi: Tôi nghĩ Tây Phương Cực Lạc thế giới là một Ô Thác Bang (cơi lư tưởng, Utopia)[34]. Nếu không, có sự thật ǵ để chứng tỏ? (Khưu Bát hỏi)

 

          Đáp: Trong mặt trăng có núi lửa, trong Hỏa Tinh có người, tôi cũng cho rằng là chuyện không thể có được! Nếu nói dùng viễn vọng kính để làm bằng cớ, tôi nói mắt của Thích Ca Mâu Ni Phật chính là viễn vọng kính. Đừng nói thế giới Cực Lạc ở ngoài mười vạn ức cơi Phật là rất gần, rất to, dẫu là những hạt mưa ở ngoài hằng sa thế giới, đức Phật cũng biết trọn hết có bao nhiêu giọt. Nếu nói chính ḿnh chẳng thấy bèn không thừa nhận, cách nh́n ấy tợ hồ quá lệch lạc! Do mắt kiến chẳng thấy con người, chẳng thể nói là không có con người! Ông Giáp ban đêm nằm mơ, ông Ất hoàn toàn chẳng thấy, cũng chẳng thể nói “ông Giáp không nằm mộng”!

 

* Hỏi: Niệm Phật có lợi ích ǵ? Có người nói: “Niệm Phật có thể làm cho quốc thái, dân an”, như vậy th́ cả nước trên dưới nhất trí niệm Phật là được rồi, như thế th́ sẽ có thể tiêu diệt tà ác ư? Nếu có thể, tôi chẳng cần phải làm chi hết! (Khưu Bát hỏi)

 

          Đáp: Phật học vốn là một thứ văn hóa. Niệm Phật nói theo phạm vi nhỏ, sẽ có thể trừ tà niệm, chánh tâm thuật, khai trí huệ. Tà niệm dứt, tự nhiên chẳng gây hại cho xă hội. Tâm thuật chánh đáng bèn có thể đại công vô tư. Trí huệ mở mang th́ mới hiểu rơ Sự Lư. Những người ấy hễ lập hội ắt sẽ công chánh, tham gia chánh trường ắt sẽ liêm khiết, chấp pháp ắt sáng suốt, đi lính ắt dũng cảm. Nếu là như vậy, há lẽ nào chẳng phải là khiến cho quốc thái dân an ư? Nếu không, tâm thuật chẳng đoan chánh, lại có vũ khí nhạy bén nhất, tới khi gặp t́nh h́nh lợi hại then chốt, sẽ ngả theo hướng nào? Họ sẽ làm giặc, làm gián điệp, làm Hán gian, đủ mọi nỗi hoa dạng, chỉ sợ đều làm trọn hết! Phải biết tổ chức trong một quốc gia là do các thứ cơ cấu kết hợp thành, chỉ dựa vào văn hóa, cố nhiên là chẳng thể tiêu diệt tà ác! Nhưng nếu phế trừ hết thảy văn hóa, chỉ dựa vào vơ lực, cũng sợ là làm chẳng được!

 

* Hỏi: Đối với người xuất gia, nên xưng hô tôn kính như thế nào? (Khưu Bát hỏi)

 

          Đáp: “Pháp sư” hoặc “đại ḥa thượng” đều là những cách xưng hô tôn kính.

 

          * Hỏi: Pháp sư và cư sĩ giải thích như thế nào? Có phải đều là các từ ngữ để tôn xưng ḥa thượng hay không? (Khưu Bát hỏi)

 

          Đáp: “Pháp sư” là người thông hiểu Phật pháp. Dựa theo ư nghĩa trong kinh, bất cứ ai có thể thọ tŕ, đọc tụng, giải nói, biên chép kinh, th́ đều có thể gọi [bằng danh xưng ấy]. Về sau, trở thành tiếng để chuyên gọi người xuất gia. “Cư sĩ” là người tại gia học Phật, chẳng thể dùng để gọi ḥa thượng.

 

          * Hỏi: Phật giáo có cách nh́n như thế nào đối với nhân sinh? (Khưu Bát hỏi)

 

          Đáp: Nói “cách nh́n” tức là nói tới quan niệm của một cá nhân. Nhà Phật chú trọng thực tế, nói lời chân thật, chẳng có ǵ gọi là ư kiến cá nhân, cho nên không thể nói tới “cách nh́n” được! Nhà Phật thấy đích thị là do ḷng người mê hoặc, điên đảo; v́ thế, hành vi phần nhiều là tạo tác ác nghiệp, kết quả là luôn chuốc lấy những nỗi thống khổ. Nhà Phật thương xót người đời lắm nỗi sai lầm, nên đặc biệt chỉ ra các thứ quy củ chánh đáng, khiến cho hết thảy chúng sanh ĺa khổ được vui mà thôi. Những quy củ, pháp tắc ấy chẳng ngoài dụng ư mong cho tâm tánh khải phát trí huệ, giác ngộ triệt để, đối với hành vi th́ “đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành”, kết quả là sẽ giải quyết hết thảy các nỗi đau khổ, trả lại cho ta tự do vốn sẵn có!

 

          * Hỏi: Đối với vũ trụ, lại giải thích như thế nào? (Khưu Bát hỏi)

 

          Đáp: Chuyện này chẳng phải chỉ do vài câu mà có thể hiểu được. Nhà Phật thấy vũ trụ vô lượng vô biên, chẳng phải như người đời ngồi đáy giếng nh́n trời, chỉ biết có một thế giới này, mà [nhận biết] có vô lượng vô biên thế giới, đều do “các duyên ḥa hợp” mà giả có. Thật ra, chúng cũng chẳng ra ngoài tâm lượng của chúng ta.

 

          * Hỏi: V́ sao người xuất gia phải ăn chay? Lại v́ sao chẳng lấy vợ? (Khưu Bát hỏi)

         

Đáp: Giáo nghĩa của nhà Phật là từ bi, b́nh đẳng, chẳng dùng huyết lệ của kẻ khác để tự ḿnh hưởng lạc, cho nên kiêng sát sanh, cho nên ăn chay. Có vợ bèn trở thành gia đ́nh, có vợ sẽ có con cái, lại cần phải có ruộng, kiếm nhà, đó gọi là nỗi mệt mỏi do có gia đ́nh. Đă nói là “xuất gia”, tức là vứt bỏ hết thảy, đem thân cống hiến cho đạo, chuyên làm chuyện hoằng pháp lợi sanh, giống như binh lính ra trận, chẳng thể mang vợ theo. Đấy vẫn là nói theo kiểu thế tục. Nếu mong lập chí thành Phật, ắt phải đoạn dâm dục.

 

          * Hỏi: Có người nói Phật giáo là tiêu cực, yếm thế, mê tín, ăn bám, tuyệt chủng. Đối với những điều ấy, đối đáp biện luận như thế nào? (Khưu Bát hỏi)

 

          Đáp: Đối với kẻ ở ngoài cửa chẳng hiểu Phật pháp, tùy tiện nói năng bậy bạ, có thể cười cho qua chuyện. Người thế tục đối với kẻ liều mạng truy cầu thăng quan phát tài, ăn uống, nam nữ, ai nấy đều ca ngợi kẻ đó là bậc anh hùng hào kiệt chẳng tiêu cực, chẳng yếm thế. Đối với kẻ chẳng sợ nhân quả, dám làm chuyện thương thiên hại lư, và dùng hết mọi phương pháp và mánh khóe ḥng ngang ngược cướp đoạt tiền bạc, [mọi người] lại ca tụng kẻ đó là hợp thời, chẳng mê tín, chẳng ăn bám! Nhà Phật tuyệt đối cấm ngặt những hành vi ấy, cho nên thường là những kẻ mê man tiền bạc thấy vậy đâm ra cảm thấy kỳ quái, liền tùy tiện gán ghép những từ ngữ nhục mạ. Tiên sinh bảo tôi đối đáp, biện bác, tôi thấy chẳng cần. Tôi chỉ xin nêu ra mấy điều giáo nghĩa để tham khảo, sẽ có thể hiểu rơ. Trong phẩm Hạnh Nguyện của kinh Hoa Nghiêm có nói đại lược: “Tất cả các chúng sanh trong mười phương sát hải tận pháp giới, hư không giới, các thứ sai biệt, tôi đều tùy thuận họ mà thực hiện các thứ thừa sự, các thứ cúng dường, như kính cha mẹ, sư trưởng, cho đến Như Lai, chẳng sai khác ǵ. Đối với kẻ bệnh khổ, sẽ làm lương y, chỉ đường chánh cho kẻ lạc đường, làm quang minh trong đêm tối, khiến cho kẻ nghèo cùng được kho tàng. Hư không giới cùng tận, chúng sanh giới cùng tận, sự tùy thuận của tôi chẳng có cùng tận. Thân, ngữ, ư nghiệp, chẳng hề chán mệt”. Lại nói: “Tất cả công đức, nguyện khiến cho chúng sanh thường được an lạc, ác pháp chẳng thành, thiện nghiệp thành tựu. Đối với khổ quả chiêu cảm do họ tích tập nghiệp ác, tôi đều chịu thay, khiến cho họ được giải thoát, thành tựu Bồ Đề”. Đấy là một giáo nghĩa trong vạn phần, thử xem có phải là tiêu cực, chán đời hay không? Nhà Phật chủ trương minh tâm kiến tánh, duy ngă (chân tánh) độc tôn, chẳng sùng bái quỷ, chẳng sùng bái thần, lại càng chẳng sùng bái bất cứ một vị thiên đế nào! Nếu nói Phật giáo là mê tín, xin hỏi có tôn giáo nào không mê tín? Ḥa thượng nghèo khó gánh vác đại trách nhiệm phổ độ nhân thiên, giữa trưa chỉ ăn một bữa, bèn chửi họ là ăn bám! Xin hỏi trừ nông phu và công nhân là trực tiếp sanh lợi ra, những người thuộc vào các thành phần đảng phái, chánh khách, quân đội, giáo chức, thương nhân, [do không trực tiếp sản xuất, đều là ăn bám], thảy đều chẳng được ăn uống ư? Phật giáo giáo đồ vốn chia thành hai loại là xuất gia và tại gia. Đối với hàng tại gia, trọn chẳng cấm lấy vợ, làm sao có thể nói đến chuyện tuyệt chủng cho được?

 

          * Hỏi: Rốt cuộc, Phật giáo cống hiến ǵ cho quốc gia xă hội? (Khưu Bát hỏi)

 

          Đáp: Vào thời đại Ngũ Hồ Thập Lục Quốc cuối đời Tấn, [giới cầm quyền] ham chuộng tàn sát. Nhờ vào Phật giáo tuyên truyền [từ bi], đă cứu được chẳng ít mạng người. Đời Đường, oai thế khuất phục tứ di, làm Thiên Khả Hăn[35]. Nhật Bản tại hải ngoại xa xôi cũng sang Trung Hoa du học, quá nửa là nhờ sức mạnh giáo hóa của Phật giáo. Đời Minh, [triều đ́nh] sai sử tiểu vương tử Yêm Đáp[36], vùng Tây Bắc hướng về Trung Nguyên. Đời Thanh, biên cương Mông Tạng được củng cố, không ǵ chẳng phải là cống hiến của Phật giáo! Phải nên biết: Cội rễ của quốc gia là dân, tinh túy của dân tộc chính là văn hóa. Phật giáo tại Trung Hoa đă thâm nhập dân gian, thường nói là “gia gia Quán Âm, hộ hộ Di Đà” (nhà nhà Quán Âm, nhà nhà Di Đà). Tín ngưỡng thống nhất, nhờ vào đó, tinh thần đoàn kết. Phàm là kẻ làm chánh trị đều hiểu rơ lẽ này! Trung Hoa kể từ năm Giáp Ngọ (1894)[37] trở đi, sau mỗi lần chiến bại là một lần kư kết những điều ước bất b́nh đẳng, trong ấy luôn có điều khoản về quyền tự do truyền giáo, dụng ư chính là phân hóa sự đoàn kết, mang tánh chất khiến choTrung Hoa tự sát dần dần. Hiểu rơ lư này, bèn liễu giải sự cống hiến của Phật giáo đối với quốc gia.

 

          * Hỏi: Gần đây, Phật giáo đồ thường tự khoe Phật giáo hoàn toàn chẳng mê tín, nhưng vẫn suốt ngày xếp hàng trước thần tượng bằng gỗ, bằng đất, hướng về đó đốt hương, lễ bái, cầu nguyện. Thử hỏi những ngẫu tượng bằng đất, bằng gỗ ấy có linh hồn hay không? Nếu [ngẫu tượng bằng] gỗ đất mà có linh hồn th́ là do ai ban cho nó? Nếu chẳng có linh hồn mà cứ hướng về đó cầu nguyện, há chẳng phải là mê tín hay chăng? (Chân Lư hỏi)

 

          Đáp: Nhà Phật thấy chân lư, do sử dụng chánh trí mà thể nghiệm, hoàn toàn chẳng trông cậy vào thần thánh ban cấp, giống như hai cộng thêm ba thành năm. Bậc trí vừa nh́n bèn biết ngay, kẻ mê tự nhiên không hiểu! Trung Hoa có câu tục ngữ: “Chẳng đọc sách của nhà nào, chẳng biết chữ của nhà đó”. Chẳng nghiên cứu, dẫu có nghe cũng chẳng tin. Tôi chỉ nói tổng quát một câu, Phật giáo tuyệt đối chẳng mê tín. Phật giáo thờ phụng thần tượng là có thâm ư. Nếu tiên sinh đă mang ư châm chọc, tôi cũng chẳng cần phải phí lời! Xin hỏi trong đạo Thiên Chúa, thờ tượng Mă Lợi Á (Maria), Gia Tô giáo sùng bái thánh giá, mọi nhà tại Trung Hoa thờ mộc chủ (bài vị tổ tiên), quốc gia lễ quốc kỳ, những thứ ấy đều có linh hồn hay chăng? Trong cái thân do Tứ Đại giả hợp của tiên sinh, linh hồn là do ai ban cho? Người nhân thấy là nhân, người trí thấy là trí, chỉ sợ chính tiên sinh tâm mê, cho nên nh́n mọi chuyện dưới gầm trời cũng cũng chẳng khỏi không mê!

 

          * Hỏi: Phật giáo cứ xoen xoét là từ bi, lại nói cứu độ chúng sanh. Xin hỏi: Trong xă hội, đối với những sự nghiệp từ thiện, sự nghiệp công ích, [Phật giáo] làm được mấy chỗ? Tôi chỉ thấy ḥa thượng hướng về người khác hóa duyên? (Chân Lư hỏi)

 

          Đáp: Hai chữ “hóa duyên”, giảng giải sẽ rất tốn công. Chúng ta có thể nói theo cách hiểu của thế tục, mọi người thấy ḥa thượng hướng về kẻ khác xin tiền bèn gọi là “hóa duyên”. Nói như vậy, “hóa duyên” chính là xin tiền. Xin tiên sinh gương sáng treo cao: Trong xă hội, [những kẻ] duỗi tay ra, sử dụng phương cách cứng rắn hoặc mềm mỏng, hoặc rơ rệt, hoặc âm thầm, hướng về kẻ khác xin tiền, đâu phải chỉ là nhiều như cát sông Hằng? Chỉ sợ không phải chỉ là thiểu số các ḥa thượng [xin tiền]! Làm sự nghiệp từ thiện, tôi tôn trọng mười ức vạn phần, chỉ tiếc là tín đồ Phật giáo nghèo túng, chẳng có nhiều tiền của, chỗ nào cũng đều lạc hậu, mười vạn ức phần có lỗi!

 

          * Hỏi: Trong quốc gia hiện thời, quân sự là chuyện bậc nhất. Suốt ngày gơ mơ, thỉnh chuông, gơ khánh, có thể cứu quốc hay không? Theo như tôi thấy, dộng mơ, khua chuông, phang khánh chẳng phải là hành vi cứu quốc? (Chân Lư hỏi)

         

Đáp: Hiện thời, quân sự là bậc nhất, ai có thể phủ nhận? Nhưng như tôi thấy, cũng đang cần tinh thần cứu thế của Đại Thừa Phật giáo để phấn chấn sĩ khí, khiến cho cả nước trên dưới tâm đức nhất trí, hoàn thành đại nghiệp phục hưng. Trong lịch sử, các sự tích Phật giáo đă hiệp trợ quốc gia và dân tộc huy hoàng, đời nào cũng đều có. Chẳng đọc lịch sử Trung Hoa, sẽ chẳng biết được. Tông chỉ chánh yếu của Phật giáo chẳng phải là chuyên gơ mơ, đánh khánh! Xin hỏi: Trong nhà trường, kéo quốc kỳ, hạ quốc kỳ, hát quốc ca, các tôn giáo khác cũng hát các bài tán tụng, chẳng lẽ trong nhà trường [chỉ là] chuyên học hát quốc ca, giáo nghĩa của các tôn giáo khác chỉ là ngâm xướng những bài thơ ca ngợi ư?

 

          * Hỏi: Khổng thánh nhân của Trung Hoa cũng tin vào trời, thường nói “hoạch tội ư thiên, vô sở đảo” (mắc tội với trời, không thể cầu xin được). Trong sách của Ngài lại nói: “Nhữ vô nhị tâm, Thượng Đế lâm nhữ” (Ngươi chẳng hai ḷng, Thượng Đế sẽ đến chỗ ngươi). Phật có thể vượt trỗi trời ư? (Chân Lư hỏi)

 

          Đáp: Tiên sinh kể ra vẫn là người thông minh, “thiên” là phàm phu trong lục đạo, Phật là xuất thế thánh nhân, thật sự vượt ngoài phạm vi của trời, độc lập tự tôn. Không chỉ là vượt trỗi, mà c̣n là thầy của chư thiên (“thiên” chắc chắn chẳng phải là một vị, nên nói là “chư thiên”). Đức Phật giảng kinh các nơi, Thượng Đế c̣n đến phụng dưỡng hộ pháp. Xin tiên sinh xem đọc kinh Phật, tự nhiên sẽ hiểu rơ. Kinh Phật gần như là đă có hơn hai ngàn năm lịch sử, những kinh ấy chẳng phải v́ đối phó với tiên sinh mà tôi tạo ra kinh mới. Chúng ta biện luận Phật và trời, c̣n chưa nói rơ ràng, xin hăy tạm đừng lôi kéo Khổng Tử để rồi đâm quàng lối rẽ!

 

          * Hỏi: Xin ông hăy hợp Cơ Đốc giáo, Khổng giáo, Phật giáo, Hồi giáo, Đạo giáo lại để so sánh đơn giản đôi chút, xem rốt cuộc giáo nào là chân lư? Xin ông hăy nói lời thật. (Chân Lư hỏi)

         

Đáp: Tôi không có đại học vấn như vậy, cũng chẳng dám làm xằng như vậy. Chưa từng nghiên cứu sâu xa các giáo và kinh điển của họ, làm sao có thể tùy tiện phát biểu nghị luận?

 

          * Hỏi: V́ sao người đă chết phải siêu độ? Người chết khi c̣n sống làm ác, càn quấy, chỉ nhờ vào siêu độ bèn có thể sanh về Tây ư? Như thế th́ mọi người chẳng ngại làm ác, làm càn! Bởi lẽ, chết đi, chỉ cần một phen siêu độ là liễu sanh tử, há chẳng phải là quá tiện nghi ư? (Chân Lư hỏi)

 

          Đáp: Trong kinh điển Tịnh Độ, chỉ nói niệm Phật tu phước, cầu sanh Tây Phương, chẳng nói “sau khi đă chết, hễ siêu độ bèn dự vào phẩm sen”. Bất quá oai đức của Phật pháp chẳng thể nghĩ bàn! Làm Phật sự, cố nhiên là thiện sự, do nhân lành, sẽ kết quả lành. Đă v́ người chết mà làm thiện sự, người chết sẽ được hưởng mấy phần thiện quả. Như kinh Địa Tạng đă dạy: “Sau khi mạng chung, quyến thuộc lớn nhỏ v́ người ấy làm chuyện phước lợi, hết thảy thánh sự, trong bảy phần [công đức, người đă mất] bèn được hưởng một phần, người sống được tự lợi sáu phần công đức”. Đấy hoàn toàn chẳng phải là liễu sanh tử, mà cũng chẳng thể nói là chiếm tiện nghi!

 

          * Hỏi: Xin xăm, xem bói, có phải là mê tín hay không? Tro hương, nước tụng chú chữa bệnh hữu hiệu hay không? Nếu người ta uống vào chết ngắc, có phải là Phật giáo sát nhân hay chăng? (Hoài Nghi hỏi)

 

          Đáp: Phật giáo quở trách chuyện xem tướng luận cát hung là tà mạng. Trong chùa để ống xăm, chẳng biết bắt nguồn từ khi nào (nhà Phật tuy có kinh Chiêm Sát[38] nhưng [kinh ấy là] chân hay ngụy, cho đến nay vẫn tranh luận chưa dứt). Chuyện này giống như ở trấn X… người ta dùng huyết nhục để cúng Quán Âm. Trên thực tế, Quán Âm hoàn toàn chẳng dạy họ cúng thịt cá. Tro hương và nước tụng chú vốn chẳng có độc chất, làm sao có thể gây độc chết người? Không khỏi là nói quá đáng! Nếu hỏi “chữa bệnh hữu hiệu hay không” th́ cũng chẳng nhất định. Xin hỏi Bàn-ni-tây-lâm (penicillin) và thuốc đặc hiệu X… chữa bệnh có luôn hữu hiệu hay chăng? Nếu bảo là luôn hữu hiệu, lẽ ra trên đời, sẽ chẳng có ai chết cả!

 

          * Hỏi: Đốt giấy tiền vàng bạc có ư nghĩa ǵ? Đă đọa vào địa ngục thọ khổ, làm sao c̣n có thể sử dụng những tiền giấy, vàng bạc ấy? (Hoài Nghi hỏi)

 

          Đáp: Đấy là phong tục Trung Hoa, trong kinh Phật hoàn toàn chẳng đề xướng! Đối với chuyện Trương Tam làm, tiên sinh chỉ trích Lư Tứ, Lư Tứ chỉ đành thưa một câu: “Xin thứ lỗi, không biết!”

 

          * Hỏi: Khổng Tử là thánh nhân, v́ sao Ngài chẳng chủ trương kiêng giết? Chúng ta tế Khổng Tử cũng giết tam sanh[39], há chẳng mắc tội lỗi ư? (Hoài Nghi hỏi)

 

          Đáp: Khổng Tử có bao giờ chẳng chủ trương kiêng giết? Sách Nho hăy c̣n ghi chép nhiều. Trong Luận Ngữ, có nói “điếu nhi bất cương” (thả câu, chứ không lưới cá), “dặc bất xạ túc” (chẳng bắn những con chim đang đậu). Lễ Kư chép chuyện đi săn mà không quây ṿng vây, chẳng bắt cả bầy, chẳng giết con vật đang mang thai, chẳng lật tổ. Lại nói “chư hầu nếu không có duyên cớ, chẳng giết ḅ. Hàng đại phu nếu chẳng có duyên cớ, chẳng giết dê. Sĩ phu vô duyên cớ, chẳng giết chó, lợn”. Những chuyện hạn chế giống như vậy, chẳng thể kể xiết. Bất quá Khổng Tử là thánh nhân thế gian, chỉ thuận theo pháp thế gian dùng ḷng nhân từ để làm phương tiện hạn chế. Chẳng như đức Thích Ca Thế Tôn là bậc thánh nhân xuất thế, nói thẳng thừng nhân quả ba đời, chủ trương cấm tuyệt mà thôi! Nhưng đức Thế Tôn đối với kẻ sơ học, cũng cho phép ăn ngũ tịnh nhục (năm thứ tịnh nhục), cũng chẳng phải là không nói phương tiện. Sát sanh tế Khổng Tử, trước kia là lễ chế, nay th́ chẳng có quy định. Cứ tiếp tục làm theo tập tục, dường như là chẳng nên!

          Ghi thêm: Thượng cổ ăn lông, uống máu, tiến hóa thành gieo trồng, ăn ngũ cốc, nhưng v́ tập khí ăn thịt đă quá sâu, trong nhất thời, chẳng thể thay đổi toàn bộ. Nhưng tiên thánh Trung Hoa cũng từng cảm nhận “kẻ mạnh ăn thịt kẻ yếu” là hành vi tàn nhẫn. Trong lễ chế vào hai đời Hạ và Ân, đă sớm quy định: Những thứ săn bắt nơi ruộng, nơi đầm, chuyên để cho khách đến dự cúng tế dùng. Tức là đă có ư nghĩa cấm chỉ lạm sát. C̣n như ông hỏi v́ sao Khổng Tử chẳng cấm giết ư? Ngoài câu trả lời trong đoạn văn trên đây, c̣n có thuyết nữa. Nhà Nho đời Hán là Trịnh Khang Thành chú giải Lễ Kư, từng bảo: “Khổng Tử tuy có thánh đức, chẳng dám sửa đổi pháp của tiên vương”. Chính Khổng Tử cũng nói bản thân chỉ thuật lại chứ không sáng tác. Đó chính là tiêu chuẩn trị học của Khổng Tử.

 

* Hỏi: Ngài Đơn Hà thiêu Phật, c̣n mắc tội lỗi hay không? (Tam Tam hỏi)

         

(Xét ra, thư gởi đến kư tên là Tam Tam, thật sự chẳng biết là tiền tam tam, hay hậu tam tam?[40] Là pháp sư, hay là tiên sinh cư sĩ, khiến cho tôi chẳng có cách nào xưng hô! Bỗng nhớ tới một đoạn trong Du Già Diệm Khẩu có bài kệ Thán Khô Lâu, mở đầu bằng câu: “Tạc nhật hoang giao khứ ngoạn du, ngộ kiến nhất cá đại đức khô lâu” (Ngày hôm qua đi chơi nơi vùng đất hoang, chợt gặp một vị đại đức đầu lâu), tôi liền có cách. Đối với đầu lâu, là thân thể của nam hay nữ, chẳng thể biện định được. Lại c̣n làm sao có thể từ đó mà phân tích là pháp sư, hay cư sĩ tiên sinh? Do đó, dùng hai chữ “đại đức” để ca ngợi mơ hồ, khá là viên dung. Tôi dựa theo lệ ấy, để gọi vị này là đại đức, cũng là theo ư “truyền thuật, chẳng sáng tác”).

 

          Đáp: Công đức lần ấy c̣n không có chỗ để an trụ, huống hồ luận định những điều khác. Tôi muốn hỏi ngược lại một câu, đại đức thấy Phật bị thiêu đă hiểu hay chưa?

 

* Hỏi: Quán Kinh nói: “Tâm này làm Phật”. Ngài Hoàng Bá nói: “Bất khả dĩ tâm cánh cầu ư tâm” (Chẳng thể dùng tâm để cầu nơi tâm). Nghe lời bên Đông hay là nghe lời bên Tây mới đúng? (Tam Tam hỏi)

 

          Đáp: Ngài cưỡng phân đen trắng, tôi chẳng biện định Đông, Tây.

 

* Hỏi: Cảnh Tịnh Độ như thế nào? (Tam Tam hỏi)

 

          Đáp: Đă hỏi cảnh th́ chỉ cần biết hướng ra ngoài để hỏi, cần ǵ phải lôi Tịnh Độ vào?

 

* Hỏi: Kinh dạy: “Cúng dường trăm ngàn chư Phật, chẳng bằng cúng dường một bậc vô tâm đạo nhân”, hiểu như thế nào? (Tam Tam hỏi)

 

          Đáp: Đại đức rảnh rỗi, quản nhiều chuyện quá!

 

* Hỏi: Nghe người ta nói: “Duy Thức chẳng liễu nghĩa, Bát Nhă quá mơ hồ”. Đấy là lời phỉ báng lẫn nhau, hay là lời chân thật? Xin hăy nói đại lược về chỗ hơn kém giữa hai tông. (Tam Tam hỏi)

 

          Đáp: Có thể chuyển tám thức thành bốn trí, chẳng thể nói là bất liễu nghĩa. Chém đứt những thứ dây leo quấn quíu, chẳng vướng mắc mảy may, c̣n nói là mơ hồ nỗi ǵ? Các pháp b́nh đẳng, cứ khăng khăng ép tôi nêu chỗ hơn kém, tôi và đại đức trọn chẳng có oán cừu, sao lại khổ sở lôi kéo tôi tạo tội báng pháp?

 

* Hỏi: Bên Giáo nói “Hoa Nghiêm là vua của các kinh”, bên Tịnh lại nói “kinh A Di Đà là chỗ chỉ quy của các kinh”, xin hăy nêu một phần tinh hoa nhất của hai kinh! (Tam Tam hỏi)

 

          Đáp: Từng nghe bậc cổ đức là cư sĩ Dương Nhân Sơn có nói hai câu: “Giáo tuân Hiền Thủ, pháp thượng Di Đà” (về Giáo th́ học theo Hoa Nghiêm, về pháp th́ hành theo kinh Di Đà), câu này ư vị lắm! Nhất là trong kinh A Hàm đă nhiều lần ca ngợi kinh do đức Phật đă nói: “Sơ diệu, trung diệu, cánh diệc diệu” (Phần đầu mầu nhiệm, phần giữa mầu nhiệm, phần kết thúc cũng mầu nhiệm), (do chẳng có sách trong tay, nên chẳng biết có phải là chữ Cánh hay không, cần phải tra cứu thêm). Theo đó, trong tâm kẻ hèn này, hễ thuộc về kinh Phật, toàn thể đều là tinh hoa. Đó gọi là “ví như ăn mật, chính giữa hay chung quanh đều ngọt”, làm sao có thể chỉ một hoặc chỉ hai cho được!

 

* Hỏi: Đối với tứ hành tướng của Đạo Đế trong Tứ Đế, nhất thời tôi không nhớ ra, trong từ điển cũng chẳng thấy chép, mong bảo ban cho! (Tam Tam hỏi)

 

          Đáp: Đạo như hành xuất.

 

* Hỏi: Tám vạn bốn ngàn phiền năo, tôi nghĩ con số này giống như “nhất niệm tam thiên”, ắt là có số mục tích lũy dần mà thành, chứ không phải là một thành ngữ thông dụng, có đúng hay không? (Tam Tam hỏi)

 

          Đáp: Thập Sử phối hợp lẫn nhau thành một trăm (10x10), trải qua mười pháp giới thành một ngàn (100x10=1.000). Thân khẩu gồm bảy chi nghiệp, hợp thành bảy ngàn (1.000x7), do [phối ứng với] ba đời cộng thành hai muôn một ngàn (7.000x3=21.000). Mỗi Hoặc trong bốn Hoặc “si, kiến, mạn, ái” của Mạt Na Thức có đủ hai muôn một ngàn ấy, kết hợp thành con số tám vạn bốn ngàn pháp (4x21.000=84.000).

 

          * Hỏi: Hiện tại là thời đại khoa học, Phật pháp có thể cứu nước, cứu dân hay chăng? Tuy Phật pháp giảng đến nỗi hoa trời rơi tán loạn, tôi không tin là có thể hữu hiệu bằng sử dụng bom nguyên tử? (Lương Quyền Thạch hỏi)

         

Đáp: Tôi chẳng hiểu cao kiến trong tôn ư về chuyện cứu quốc và phạm trù khoa học. Đành phải phỏng đoán theo ngữ khí, thay ngài phỏng đoán lời ấy. Có lẽ tôn ư cho rằng để cứu quốc và cứu dân, cần phải có khoa học, mà khoa học ắt giới hạn trong khoa học tự nhiên, kỹ thuật cơ giới, bom nguyên tử. Nếu thật sự chủ trương như vậy, tất cả các chế độ lập pháp, khảo thí, tư pháp, giám sát, giáo dục, y học, nông nghiệp, văn học, nghệ thuật, kế toán v.v… đều chẳng phải là khoa học kỹ thuật tự nhiên, cơ giới, nguyên tử, đều nhất loạt chẳng thể cứu quốc cứu dân! Sao lại riêng chê trách trách Phật học? Nhưng đối với lời hỏi theo tôn ư, tôi cũng có điểm nghi ngờ. Chẳng biết chữ Cứu phải hiểu là “muốn cho người ta sống” hay “khiến cho người ta chết”? Nếu muốn cho người ta sống, tôi cũng chẳng tin sử dụng bom nguyên tử sẽ hữu hiệu hơn Phật học!

 

          * Hỏi: Ấn Độ là nơi phát nguyên của Phật giáo, nhưng rốt cuộc đến nỗi bị vong quốc bao nhiêu năm! Tại Trung Hoa, Lương Vũ Đế tôn sùng Phật pháp nhất, cũng là quậy đến nỗi nước tan, thân chết. Do những sự thật ấy, chứng tỏ Phật pháp chẳng có tác dụng trị quốc! (Lương Quyền Thạch hỏi)

 

          Đáp: Đối với những vấn đề trong quốc gia, vốn là do nhiều thứ cơ cấu phối hợp, chẳng phải là chỉ dựa vào một bộ phận nào đó để thúc đẩy. Nếu Lương Vũ Đế chẳng chịu trái lời minh ước, chẳng thâu nạp Hầu Cảnh, há có ách nạn tại Đài Thành? Mà chuyện bội ước, thâu nạp kẻ phản loạn, rốt cuộc có quan hệ ǵ với Phật giáo? Điều này đúng là như may vá làm hỏng xiêm y, lại hỏi tội nơi thân kẻ nấu bếp! Tiên sinh đă cho là Phật giáo có hại cho đất nước, lại đọc thông thuộc lịch sử, [ắt hẳn phải biết] như Hán Minh Đế và Đường Thái Tông đều rất sùng Phật pháp, quốc oai vang dội nơi xa, hiếm có khắp cả xưa nay. Các vua Hoài Đế và Mẫn Đế[41] nhà Tấn, Huy Tông và Khâm Tông nhà Tống đều chẳng thờ Phật, v́ sao cũng gặp cảnh vong quốc? Lại c̣n bị cầm tù, để lại nỗi nhục cho Hán tộc, [cớ sao ông cố ư] tránh né chẳng bàn tới? Phật học vốn chẳng phải là chánh trị, nhưng cũng chẳng phải là không liên quan đến chuyện trị đạo! Đời Minh, tiểu vương tử Yêm Đáp chịu để hoàng đế [nhà Minh] sai khiến; đời Thanh, biên cương Mông Tạng phần nhiều cậy vào sức của Phật giáo mà hướng về Trung Nguyên. Cự tuyệt, bài xích Phật giáo là vô dụng đối với chuyện trị quốc, cũng chẳng phải là lời luận định chánh xác. C̣n như vấn đề Ấn Độ, xin hăy tham duyệt trong phần trước đă có vấn đáp!

         

* Hỏi: Kẻ chẳng hăm hại người khác, chẳng mong cầu tài lợi trái phận, làm sao có thể làm chuyện xấu xa cho được? Phật học chuyên nhấn mạnh cầu phước, cầu thọ, cầu trong kiếp này chưa đủ, lại c̣n cầu đời sau. Bề ngoài tuy nói là thanh tịnh tịch diệt, thật ra là tham dục càng to hơn nữa! (Lương Quyền Thạch hỏi)

 

          Đáp: Đức Phật thuyết pháp, soi xét căn khí của đối phương để chia thành năm thừa. Thấp nhất là căn khí nhân thiên, do tri kiến của hạng người này bất quá là phước thọ trong đời sau. Nếu nói Đệ Nhất Nghĩa Đế với họ, chẳng khác ǵ nói chuyện băng tuyết với con trùng mùa Hè. V́ phương tiện, trong kinh điển Tiểu Thừa, ngẫu nhiên nhắc tới, nhưng không ǵ chẳng lấy việc đoạn tham, sân, si làm chỗ chỉ quy, bèn bị vu báng là đại tham! Hiểu lầm quá sức!

 

          * Hỏi: Hiếu đứng đầu muôn điều thiện, đức Phật chẳng tuân lời cha, lén trốn khỏi nhà, dường như hiếu đạo bị thiếu sót! Tuy nói là do tâm hạnh từ bi, rốt cuộc chẳng bù đắp nổi vấn đề [khiếm khuyết] nơi điều thiện đứng đầu, đúng không? (Lương Quyền Thạch hỏi)

 

          Đáp: Bá Di và Thúc Tề[42] trái nghịch lệnh cha, bỏ nước trốn xa, vua Thuấn chưa thưa tŕnh [cha mẹ] mà đă lấy vợ[43], Ôn Kiệu[44] cắt áo ra đi, đều là quyền biến để đạt thành tựu to lớn, đều được người khác ca ngợi. Đức Phật v́ đại sự nhân duyên mà xuất hiện trong cơi đời, thị hiện tám tướng để răn dạy đại chúng, lại càng chẳng giống như công nghiệp nhỏ nhoi trong thế gian. Nhưng sau khi thành đạo, Ngài trở về nước, thăm cha, hóa độ mọi người bằng lẽ xuất yếu, độ cha siêu thoát. Giáo ấy được [khắp cơi] đại thiên [thế giới] tôn kính, ngưỡng mộ, hiếu đến tột cùng, há c̣n có ai vượt trỗi được ư?

Nói thêm, cột báo này vốn v́ những người cùng hàng sơ cơ có những nghi vấn mà đặt ra, hoàn toàn chẳng phải là dùng để tranh biện. Những câu hỏi của Lương tiên sinh toàn là những lời lẽ chê trách, mắng nhiếc, vốn chẳng nên đáp. Nhưng Phật pháp như chiên đàn, chạm vào đỉnh đầu hay bôi vào chân đều nhuốm mùi thơm. Nay vốn v́ do nghĩa này mà dấy ḷng từ mẫn, mong khơi gợi cái tâm. Sau này, hễ có chất vấn kiểu này, nhằm tránh tranh chấp lời lẽ khiến tổn thương t́nh cảm, hăy dung thứ cho tôi chẳng trả lời!

 

          * Hỏi: Chân nghĩa của Phật giáo là “tứ đại đều Không”, quét sạch sành sanh mảy may tơ tóc dục vọng trong đáy ḷng. Một người Phật tử chân chánh, ắt phải đạt tới sáu căn thanh tịnh. Xin hỏi: Nếu con người chẳng có dục vọng, làm sao có thể thúc đẩy nhân loại và cuộc sống trong xă hội tiến bộ? Phật giáo dùng cách ǵ để giải thích? Làm thế nào để khiến cho nhân loại mưu cầu tiến bộ? (Bạch Tồn Thành hỏi)

 

          Đáp: Căn khí của nhân loại bất đồng, dục vọng mỗi người mỗi khác. KhổngTử san định kinh Thi, hiệu đính kinh Lễ, [Ngài nói] “quân tử chẳng có thời khắc nào trái nghịch ḷng nhân, sáng nghe đạo, tối chết cũng được”[45]. Nhan Uyên ăn cơm trong giỏ, uống nước trong bầu, khoanh tay để gối đầu, yên vui trong ấy. Đấy là họ lấy chuyện mưu cầu chánh đạo làm điều ham muốn. Đại Vũ [cần mẫn trị thủy] chẳng nghỉ ngơi giây phút nào, chân tay chai sần, ở trong cung điện xoàng xĩnh, chẳng quan tâm đến chuyện ăn uống; đấy là lấy công nghiệp làm điều ham muốn. Bọn Thạch Sùng, Hà Tăng[46] gái đẹp dập d́u[47], mỗi ngày ăn uống tốn kém cả vạn đồng, trên là chẳng quan tâm đến vua, dưới là chẳng làm lợi cho dân chúng; đấy chính là coi thanh, sắc, vật chất, lợi lộc là điều ham muốn. Người mưu cầu đạo, coi rẻ công nghiệp, như Hứa Do nghe vua Nghiêu nhường ngôi bèn rửa tai. Kẻ cầu công nghiệp, coi rẻ thanh, sắc, vật chất, lợi lộc, cho nên có Dương Chấn từ chối vàng[48]. Dục vọng của người hiện thời thấp kém nhất, tức là thanh, sắc, lợi lộc, tiền bạc. [Thay v́] nói với cuộc sống của họ tiến bộ, chẳng thà nói với họ về chuyện đạo đức suy thoái, gây nên ảnh hưởng là mai sau sẽ có tai nạn to lớn. Dục vọng thấp kém có hại như thế đó, thánh hiền hào kiệt thế gian mà c̣n hiểu rơ, gạt bỏ, huống là Phật pháp ư?

 

          * Hỏi: Thanh niên học Phật, tâm quét sạch rỗng không, chẳng có dục vọng tồn tại, chẳng phải là đă đánh mất chí tiến thủ, tiền đồ bị lầm lỡ hay chăng? Tinh thần chỉ giữ lấy chuyện “tự độ, độ tha”, thiên trọng một mặt tinh thần, đối với cuộc sống hiện thực có ích chi đâu? (Bạch Tồn Thành hỏi)

 

          Đáp: Phát tâm tiến thủ nơi đại đạo và công nghiệp, chính là chỗ đạt lên cao của bậc quân tử. Phát tâm tiến thủ nơi thanh, sắc, lợi lộc, vật chất, chính là đạt đến chỗ thấp kém của phường tiểu nhân. Nếu nói tới cuộc sống, hăy nên luận định những điều tất yếu, đừng nói đến chuyện buông thả dục vọng, mong cầu xa hoa quá phận! Học Phật chẳng phải là hoàn toàn không nói đến cuộc sống, mà chính là chớ nên buông thả dục vọng! Hăy nên biết: Kẻ dốc sức mong cầu hưởng thụ, c̣n chẳng có phần làm tôi trung, con hiếu trong thế gian; đối với đại pháp xuất thế gian, liễu sanh thoát tử, càng chẳng có phần. Nhưng trong nhà Phật có sự đại hưởng thụ, ắt phải buông xuống những ǵ nắm níu trong tay th́ mới có thể đạt được thứ khác. Nói thông tục là chẳng thể “bắt cá hai tay”.

 

          * Hỏi: Gần đây nhất, những người thanh niên trong nước ta đoạt giải Nặc Bối Nhĩ (Nobel) như ông Lư v.v… nếu trong tâm họ chẳng ôm giữ dục vọng, há có thành tựu như hiện thời? (Bạch Tồn Thành hỏi)

 

          Đáp: Trong lời đáp cho câu thứ nhất, tôi cũng đă từng phân tích. Dục vọng của nhân loại, mỗi người khác nhau. Cố nhiên là ông Lư có thành tựu, chẳng lẽ bảo vua Đại Vũ chẳng có thành tựu hay chăng? Có thể bảo là Khổng Tử chẳng có thành tựu ư? Ví như người lên núi, ắt phải học nắm vịn; người vào biển, ắt phải học bơi lội, mỗi người đều có thành tựu. Giả sử bắt kẻ trèo núi nắm bắt trong biển, người lội biển bơi lội trên núi, có thể thành tựu hay chăng? Học Phật bèn có dục vọng và đường lối để học Phật, phát tài th́ có dục vọng và phương cách để phát tài. Ông thấy ông Lư phát tài bèn hâm mộ, xin mở rộng nghĩa ấy, đáng tiếc là sự phát tài của ông Lư chính là [sự thành tựu] nhỏ nhoi, b́nh phàm, chẳng thể lâu bền, chẳng biết nhà Phật có đại thánh tài, lấy chẳng cạn, dùng bất tận vậy!

 

          * Hỏi: Tôi nghe nói Phật pháp có thể dùng để giải đáp hết thảy vấn đề, tôi rất tin tưởng. Nhưng có người hỏi tôi, gà có trước, hay trứng có trước, tôi không thể trả lời. Xin hỏi: Nói như thế nào th́ mới là đúng? (Thái Hiệt hỏi)

 

          Đáp: Đối với những câu hỏi cố ư căn vặn, tôi đă sớm thanh minh nhất loạt chẳng đáp, nay do tùy thuận, phá lệ [mà trả lời] một lần. Kẻ hèn này nêu một thí dụ để ông có thể hiểu rơ. Thử hỏi là phụ nữ có trước, hay là kinh nguyệt có trước? Tự nhiên là có phụ nữ trước! Do kinh nguyệt xuất phát từ thân người nữ, nhưng chỉ có ḿnh kinh nguyệt, quyết chẳng thể sanh con đẻ cái. Hiểu rơ điều này, bèn có thể nói: Có gà trước rồi sau đó có trứng. V́ trứng do gà mái sanh ra, [trứng] đúng là giống như kinh nguyệt của gà vậy. Cần phải biết: Chỉ có ḿnh trứng, mà nếu chẳng có cồ của gà trống, cũng chẳng thể nở thành gà con! Trứng suông (trứng không có cồ) đă chẳng thể sanh ra gà, mà gà mái vẫn có thể sanh ra trứng. Do vậy, nói là gà có trước. Sau này, nếu gặp kẻ vẫn giở tṛ hư luận như thế, hăy tránh xa, chẳng cần phải so đo hơn thua với hắn!

 

          * Hỏi: Lại có người mắt thấy mấy con kiến trên bệ cửa sổ, bỗng cất tiếng hỏi: “Kiêng giết cố nhiên là tốt lắm, nhưng nếu có kẻ cầm dao đến hại ta, nếu chẳng thể trốn tránh th́ có thể giết kẻ đó hay chăng?” (Thái Hiệt hỏi)

 

          Đáp: Trước hết chớ bàn đến chuyện “Hạng Trang múa kiếm, ư ở Bái Công”[49]. Chỉ đáp thẳng vào ngay câu hỏi ấy là được rồi! Nh́n thấy danh, bèn nghĩ đến nghĩa, “giới sát” chính là kiêng giết. Nhưng căn tánh của chúng sanh chẳng đồng nhất, tâm lư mỗi người khác biệt, cho nên h́nh thành đủ mọi lẽ sai biệt. Đối với bậc Đại Bồ Tát, chẳng có tướng nhân ngă, lại c̣n là đồng thể đại bi, dẫu có kẻ côn đồ hung bạo gia hại, tâm sân lẫn tâm sợ hăi đều chẳng có, làm sao có cử chỉ phản kháng, giết chết kẻ ấy cho được! Nếu phàm phu được tiếp nhận sự giáo dục rất tốt đẹp, chỉ làm chuyện pḥng vệ chánh đáng, chẳng đánh trả lại. Kẻ kém hơn, tuy đánh trả lại, nhưng chỉ là ngăn chặn sự tấn công của kẻ ấy, hoặc tiêu trừ vũ lực của kẻ đó. Tuy đánh trả lại, nhưng chẳng vượt quá mức độ cần thiết. Kém hơn nữa là đánh trả lại khiến cho kẻ đó chết ngắc. Kém cỏi nhất là hạng người “tiên phát chế nhân” (ra tay trước để khống chế kẻ khác), ta chẳng bị tổn hại tí nào, đă khiến cho kẻ đó bỏ mạng. Đối với những điều đă nêu trên đây, đủ để xét xem cái tâm nhân từ đă được củng cố sâu xa hay hời hợt vậy. Nếu đă chịu học “kiêng giết”, hăy nên vâng theo lời Phật dạy, thoạt đầu là tin mấy phần bèn hành mấy phần, tiến hơn nữa là biết mấy phần bèn hành mấy phần. Lại tiến hơn nữa, sẽ là nghe mấy phần bèn gắng sức hành mấy phần, ngơ hầu chẳng đánh mất những phương tiện dẫn dắt ḥng đạt tới chỗ thành thánh, thành hiền!

 

          * Hỏi: Xin dung thứ những lời lẽ chẳng cung kính của tôi. Ở trong nhân gian, những mong thấu đạt cùng tận thiên lư và t́nh người, nhưng t́nh người c̣n chưa thể tự biết, làm sao biết thiên lư cho được? Trời chỉ có đạo mà chẳng có lư, Lư là do con người sáng tác, c̣n đạo là lẽ tự nhiên trong vũ trụ. Như “tu thân, tề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ”, đấy chính là lư trong nhân gian. Lại như mặt trời, mặt trăng vận hành, gió mây biến hóa v.v… đấy là do đạo khiến thành ra như vậy. Tiên sinh chớ nên có cái nh́n theo kiểu [chấp trước] môn hộ! Nho giáo, Đạo giáo, Cơ Đốc giáo, Hồi giáo đều là do Khổng Tử, Lăo Tử, Cơ Địa Gia (Jesus Christ), Mục Hăn Mặc Đức (Mahomed), chư vị “hậu thiên Phật” phương tiện giáo hóa. Đối với các tông trong Phật giáo, lại càng chớ nên có môn hộ khác biệt. Đệ tử các giáo tu hành, không ǵ là chẳng tiếp nhận “linh âm” từ cơi trên, cảm ứng với Phật, ḥng đạt được duyên lực của Phật. Chỉ đáng tiếc là hiểu biết ít ỏi! Hễ tĩnh th́ quang thuần, định th́ quang thăng. Chẳng định, chẳng tĩnh, tạp niệm nẩy sanh như rừng, th́ Guou[50] cũng nặng, mà ma cũng sâu, huệ môn linh quang cũng xa vời vậy! (Tiêu tiên sinh hỏi)

 

          Đáp: Kẻ hèn này học cạn, chưa thể thấy được trọng tâm trong câu hỏi của Ngài. V́ thế, chẳng thể vâng mạng đáp lời được! Chỉ biết tiên sinh trách tôi có tri kiến môn hộ. Kẻ hèn này là Phật tử, giải đáp Phật học, đương nhiên là “y pháp, bất y nhân”, tuân theo Thánh Ngôn Lượng. Đấy chính là tuân theo chí hướng, chẳng phải là tri kiến môn hộ! Tiên sinh nói đệ tử của Nho, Đạo, Gia Tô, Hồi không ai là chẳng tiếp nhận “linh âm” từ cơi trên, tương ứng với Phật. Tạm thời chẳng bàn đến hai chữ “linh âm”. Nếu chỉ nói tới chuyện “tương ứng với Phật”, trong Viên Giáo của nhà Phật cố nhiên là có lư ấy. Nói theo phương diện h́nh tích, sự tướng, bèn chẳng có đạo ấy. Đó gọi là “hào ly và ngàn dặm, chẳng thể sai lầm”. Năm giáo ấy, mỗi giáo đều có tông chỉ trọng yếu riêng, mỗi giáo đều có đường lối riêng. Ví như từ Đài Loan du hành, có người sang Nhật Bản, có kẻ tới Đại Lục, có người sang Phi Luật Tân, có ngưười tới Úc Đại Lợi Á (Australia). Phương hướng chia thành Đông, Nam, Tây, Bắc, hành tŕnh bèn có đường bộ, đường biển, đường hàng không. Nếu chẳng định chắc chắn mục tiêu, chuẩn bị hành lư ổn thỏa, như vốn muốn sang Nhật Bản, lại theo các lối hướng về Tây để tiến về Đại Lục, hoặc theo phía Nam sang đảo Phi Luật Tân, hoặc quành ngược sang Đông để qua châu Úc. Vào trong biển lại ngược ngạo đ̣i ngồi xe, chẳng đi máy bay mà ngồi thuyền, sẽ biết là không chỉ là chẳng tới được Nhật Bản, mà đối với bất cứ nơi đâu cũng đều chẳng thể đến được! Hơn nữa, đọc đoạn văn “tĩnh th́ quang thuần, định th́ quang thăng” của tiên sinh, càng biết [những lập luận kiểu đó] chẳng phải là Nho, chẳng phải là Phật, chẳng phải là Đạo, chẳng phải là Gia Tô, chẳng phải là Hồi! Một giáo c̣n chưa phải, lại c̣n toan dung hội các giáo, há có lẽ ấy? Kẻ hèn này học Phật, nếu phản đối kẻ khác học Nho, Đạo, Gia Tô, Hồi, th́ mới là có tri kiến môn hộ. Nếu có người nói đến Phật, mà xen tạp những thứ tà vọng ĺa kinh phản đạo, chẳng có mảy may căn cứ nào, bất đắc dĩ do bi tâm mà uốn nắn cho đúng những sự lầm lạc ấy, há có phải là tri kiến môn hộ ư?

 

          * Hỏi: Các ngươi chớ nên hiểu lầm. Trong kinh chỉ nói Vô Lượng Phật giáng thế, hoàn toàn chẳng nói Nam-mô A Di Đà Phật giáng sanh trong nhân gian! Cần phải biết Vô Lượng Phật là một vị Phật khác hẳn! Đại Vô Lượng Phật chính là Nam-mô A Di Đà Phật. Đức Phật ta từ lúc có khởi đầu cho đến nay, chưa hề giáng sanh trong bất cứ xứ nào! Lại cần biết: Đức Phật ta là vị tôn quư nhất trong vũ trụ. Ta thấy trong mục Phật Học Vấn Đáp của báo Bồ Đề Thụ số sáu mươi bảy, đối với bảy câu hỏi của cư sĩ Tiêu Thiệu Hinh ở Đài Trung, hỏi đă sai bét, mà đáp cũng trật tuốt luốt! Ngoài ra, nhiều chỗ đều có những điểm sai trật; hiện thời, chẳng tiện bàn cặn kẽ! Trong tương lai, không lâu nữa đâu, sẽ có người thăng đường thuyết pháp rộng răi. Khi đó, ngươi sẽ tự biết. Nhớ mấy năm trước, vị La Hán X… (chẳng phải là vị La Hán tầm thường chứng Tứ Quả tầm thường) đă muốn thuyết pháp cho ngươi, thử thuyết cho ngươi một phen. Đáng tiếc ngươi lại bỏ cơ hội cực tốt ấy! Hăy khéo tu hành, hoằng pháp cho nhiều; trong tương lai, may ra c̣n có cơ hội! (Tiêu tiên sinh hỏi)

 

          Đáp: Điều cốt yếu của chuyên mục này là chuyên làm cố vấn cho người mới học Phật, chẳng phải là hơn thua hay giỏi cùng người khác. Đối với lời giải đáp, vốn có phạm vi, hễ vượt ra ngoài [phạm vi ấy], sẽ chẳng trả lời. Nhưng do có người hỏi mà chẳng trả lời, sợ vướng tội thất lễ, nên cũng có khi phá lệ nói dung thông. Nếu càng bàn, càng xa Phật giáo, hoặc lời lẽ thất thường, và người hỏi thần kinh thác loạn, bèn nhất loạt chẳng đáp! V́ thế, ở đây, phải tuyên bố rơ. Ba lá thư của tiên sinh, chẳng đề tên, chẳng có địa chỉ, giọng điệu lại rất giống như dạy đời, tông chỉ khiến cho người nghe sững sờ! Trừ lần vấn đáp trước ra, xin hăy suy nghĩ kỹ, có lẽ sẽ liễu giải, nay tôi lại miễn cưỡng đáp một lần. Câu hỏi này có thể chia thành mười tầng để thảo luận:

- Một, [ông quả quyết] “trong kinh chỉ nói Vô Lượng Phật giáng thế”. Xin hỏi là kinh văn nào vậy? Kinh văn của giáo nào?

- Hai, “hoàn toàn chẳng nói A Di Đà Phật giáng sanh nhân gian”, do ai đề ra lời nghị luận ấy, mà hướng về kẻ hèn này ngược ngạo chất vấn là như thế nào? Há chẳng phải là phóng tên trật đích?

- Ba, “Vô Lượng Phật chính là một vị Phật khác, Đại Vô Lượng Phật chính là Nam-mô A Di Đà Phật”. Cố nhiên là có những vị Phật đồng danh đồng hiệu, nhưng lời dạy của ông phát xuất từ kinh điển nào vậy?

- Bốn, “đức Phật ta từ lúc có khởi đầu đến nay, chưa hề giáng sanh trong bất cứ xứ nào!” Xét theo hai chữ “hữu thỉ” (có khởi đầu), biết ngay tiên sinh chắc chắn chẳng phải là đệ tử Phật, mà cũng chưa từng đọc kinh Phật, lại cũng chẳng tin Phật giáo! Sợ rằng ông chắc chắn là phường phụng hành ngoại đạo. Nếu đúng như tôi đă nói, ắt mỗi người hành theo đạo riêng, chẳng cần xâm phạm lẫn nhau!

- Năm, “trong báo Bồ Đề Thụ số sáu mươi bảy, cư sĩ Tiêu Thiệu Hinh hỏi bảy câu sai bét, mà đáp cũng trật tuốt luốt”. Tiêu cư sĩ dựa theo kinh để hỏi, kẻ hèn này dựa theo ư của cổ đức để đáp, sai trật ở chỗ nào?

- Sáu, “ngoài ra, cũng có lắm chỗ chẳng đúng”. Cám ơn ông chỉ giáo, kẻ hèn này học cạn, điều ấy chẳng thể tránh khỏi. Nhưng đối với tiên sinh mà chẳng nói như thế, th́ nói như thế nào đây? Dùng lời của Kim Thánh Thán[51] phê b́nh lục tài tử thư[52] để thưa: “Văn nhân xem [sáu bộ sách ấy] thấy là văn chương, kẻ dâm xem [những sách ấy] bèn bảo là dâm vậy”.

- Bảy, “trong tương lai, không lâu nữa đâu, sẽ có người thăng đường thuyết pháp rộng răi cho đại chúng. Khi đó, ngươi sẽ tự biết”. Chẳng cần chờ tới tương lai! Tạm thời, hăy suy nghĩ, sẽ thấy như thế nào? Chẳng hợp với Nho, Thích, Đạo, Gia Tô, Hồi, th́ chính là “Di Lặc Phật nay đang chưởng quản thiên bàn” đó chăng?

- Tám, “mấy năm trước vị La Hán X… (chẳng phải là La Hán tầm thường chứng đắc quả tầm thường) muốn thử thuyết pháp cho ngươi một phen”, có thể nói là càng nói càng thành hư luận. Kẻ hèn này chẳng mong tạo khẩu nghiệp, chỉ có thể bảo thẳng cùng tiên sinh: “Vọng ngữ quá lố!”

- Chín, “đáng tiếc là ngươi bỏ lỡ cơ hội cực tốt ấy”, muôn vàn may mắn! Nhờ ơn Già Lam Bồ Tát từ bi. Khi ấy, chắc là đă có một cây kim cang xử [ngăn chặn].

- Mười, “hăy khéo tu hành, hoằng pháp cho nhiều. Trong tương lai may ra c̣n có cơ hội!” Lại cảm ơn tiên sinh giáo huấn, kẻ hèn này rất tin lời ấy. Ngạn ngữ xưa có câu: “Đạo cao một thước, ma cao một trượng”, sợ là vẫn có cơ hội!

 

          * Hỏi: Có người bảo: “Chúng ta đều là người Hoa, do vậy, sùng bái cổ đại thánh hiền, trung thần, nghĩa sĩ, hiếu tử v.v… của Trung Hoa th́ cũng là lẽ đương nhiên! Huống chi nói theo Phật lư, há họ cũng chẳng đều là những vị Phật trong hằng hà sa số chư Phật ư? V́ sao những kẻ xuất gia (một bộ phận) coi hành vi sùng bái này là tà vạy (hành vi sùng bái chẳng phải là mê tín, chẳng lăng phí)? Cách nh́n khinh dễ ấy chẳng lẽ cũng phù hợp Phật lư, phù hợp hành vi của kẻ xuất gia ư? Hăy nên đáp như thế nào? (Diệp Khánh Xuân hỏi)

 

          Đáp: Chỉ nói “chúng sanh đều có Phật tánh”, chẳng nói “ngay nơi thân chúng sanh là Phật”. Nhưng Phật tánh ấy lại chia thành uế và tịnh. Khi tu đến mức thanh tịnh, mới là Phật. Phật là giác, cũng chính là nói viên măn Nhất Thiết Chủng Trí. Trong khi nhiễm, có các Hoặc ngăn chướng, mê muội, bất giác, sao gọi là Phật cho được? Đối với trung thần, hiếu tử v.v… luận theo pháp thế gian, hạnh đă cực cao. Luận theo Phật pháp, vẫn là bước đầu để tiến nhập lẽ thiện. Nếu v́ chánh trị và phong tục xă hội v.v… bèn thờ phụng, khiến cho người khác trông thấy, suy nghĩ, rồi bắt chước làm theo, dưỡng thành chánh khí cho xă hội, làm sao có thể dị nghị cho được? Nếu thế tục mượn cớ đó, để cầu cơ, hầu đồng, mong cầu sử dụng thần quyền, giáng phước gieo họa cho kẻ khác, hoặc cầu đại đạo xuất thế, hy vọng bợ đỡ thần bèn có thể đắc đạo thành Phật, tức là đă lầm lạc vạn dặm! Phàm là người cầu xuất thế thành Phật, sẽ dụng công nơi tâm tánh, dùng trung hiếu làm trợ hạnh. Nếu thiếu sót trung hiếu, sẽ chẳng có phần thành Phật. Kẻ hành pháp thế gian, chỉ lo nịnh bợ các vị thần trung hiếu, chẳng bắt chước hạnh của các Ngài, thần c̣n chẳng thèm hưởng [sự cúng tế ấy], huống là giáng phước ư? V́ thế, chuốc lấy tiếng chê cười của người hiểu biết! Lời lẽ ngu muội, mong hăy phân biệt, nghiền ngẫm!

 

          * Hỏi: Có người hỏi: “Các ông dạy người ta tin Phật, chớ nên tin vào những vị thần khác. Phật pháp nói tới sự b́nh đẳng; đă là b́nh đẳng th́ có ǵ phân biệt, ai truyền đạo nấy, cớ sao phản đối? Như vậy, há chẳng phải là kẻ bán hoa tự khoe hoa thơm ư?” (Triều Tân Ban liên hữu hỏi)

         

Đáp: Một chữ Tín xét theo phương diện tôn giáo, trong phạm vi ấy có các thứ giải thích. Như đối với một Sự, một Lư, hoặc tin là có, hoặc tin điều ấy là đúng. Đó là một cách nói. Hoặc tín rồi kính, hoặc tin tưởng phụng hành. Đó lại là một cách nói nữa. Phật giáo đối với các vị thần khác, tin họ là có, mà cũng tin và kính. Như các kinh thường chép có thiên long bát bộ, kinh Địa Tạng chép có các vị thần núi, sông, thảo mộc v.v… Kinh Lăng Nghiêm chép có các loại trời và tiên nhân, các loại ma và quỷ vương, tức là tin họ là có. Phật pháp nhất loại cúng thí, siêu độ, tức là dùng ḷng cung kính, chỉ có điều chẳng thờ phụng, quy y họ. Người khác và ta cùng là chúng sanh phàm phu, chẳng thể tự giác để độ thoát, thờ phụng vô ích, bất quá là như Khổng Tử đă nói “kính nhi viễn chi”, chẳng phải là phản đối. Hơn nữa, tu tŕ trong Phật pháp, quư ở chỗ chuyên tinh. Nếu chân đạp hai thuyền, cuối cùng ắt sẽ lọt xuống biển! Đó là phạm vi của Tín có khu biệt, chớ nên hiểu lầm!

 

          * Hỏi: Có tôn giáo nọ hướng về chúng tôi hỏi: “Chúng sanh từ đâu đến? Chết đi về đâu?” Tôi sợ đáp trật, xin hăy chỉ dạy. (Lại A Lư hỏi)

 

          Đáp: Từ lục đạo mà đến, lại đi vào lục đạo. Lục đạo chia thành trên là ba đường thiện, dưới là ba đường ác. Nói chung, tuy đến từ lục đạo, nói thật ra, sẽ đi vào tam đồ.

            Phật Học Vấn Đáp Loại Biên

Quyển Trung

Phần 3 hết

 



[1] Đây là một câu nói trong sách Luận Ngữ: “Ích giả tam hữu, tổn giả tam hữu. Hữu trực, hữu lượng, hữu đa văn, ích hỹ! Hữu tiện tích, hữu thiện nhu, hữu tiện nịnh, tổn hỹ” (Có ba loại bạn lợi ích, có ba loại bạn tổn hại. Bạn chánh trực, bạn ăn nói thành thật, bạn kiến thức rộng răi là những loại bạn có ích. Bạn chuộng siểm trá, bạn khéo mềm mỏng lấy ḷng nhưng không thành thật, bạn thích nịnh bợ là những loại bạn gây tổn hại).

[2] Ninh Vũ Tử tên thật là Ninh Du, người nước Vệ, làm quan đến chức Khanh Đại Phu, nổi tiếng về ḷng trung thành, tuy có những việc ông ta làm bị coi là ngu trung.

[3] Tức là bà Dương Huệ Khanh, do chồng bà là Châu Bang Đạo, người Hoa thường ghép họ chồng vào trước tên thật, nên gọi là Châu Dương Huệ Khanh.

[4] Nhan Uyên (521-481 trước Công Nguyên), tên là Hồi, tự là Tử Uyên, nên thường gọi là Nhan Uyên, được Khổng Tử coi là đệ tử đắc ư nhất. Ông được xếp đứng đầu trong bảy mươi hai môn đệ của Khổng Tử. Nhan Uyên nổi tiếng là nghèo khó, nhưng nêu gương an bần lạc đạo. Khi ông mất, mới hai mươi chín tuổi.

Nhiễm Bá Ngưu (544-? trước Công Nguyên), tên là Canh, tự là Bá Ngưu, người nước Lỗ. Ông được xếp vào hàng Thập Triết (mười vị đại đệ tử lỗi lạc của Khổng Tử, tức Nhan Hồi, Mẫn Tử Khiên, Nhiễm Canh, Nhiễm Ung, Tể Ngă, Đoan Mộc Tứ (Tử Cống), Nhiễm Cầu (Tử Hữu), Trọng Do (Tử Lộ), Ngôn Yển (Tử Du), Bốc Thương (Tử Hạ), và Tăng Sâm). Đức hạnh của ông rất được Khổng Tử coi trọng. Sách không chép rơ ông bị bệnh ǵ, chỉ chép là khi đă bị bệnh, ông không muốn gặp ai. Khi bệnh t́nh đă nguy ngập, Khổng Tử đến thăm, tḥ tay qua cửa sổ nắm tay ông, than thở mệnh trời khiến cho người đức hạnh như thế mà bị bệnh như thế. Có người nói ông bị bệnh cùi, thực hư chẳng rơ như thế nào.

[5] Tứ Khoa là bốn người đứng đầu trong hàng Thập Triết được xếp về đức hạnh, tức Nhan Uyên, Mẫn Tử Khiên, Nhiễm Canh và Nhiễm Ung.

[6] Đây là chuyện ngụ ngôn. Con trai há miệng ra, con diệc (một loại chim giống như c̣ hay vạc) tḥ mỏ mổ, toan ăn thịt con trai. Con trai bèn khép vỏ, kẹp chặt mỏ con diệc. Đôi bên giằng co, cuối cùng bị một ông chài bắt trọn.

Ngụ ngôn thứ hai xuất phát từ thiên Ngoại Vật trong sách Trang Tử. Trang Châu nhà nghèo, túng quẫn, đến vay thóc Giám Hà Hầu. Giám Hà Hầu bảo: “Ờ! Chờ ta thu tiền thuế trong thái ấp xong sẽ cho ông vay ba trăm đồng, được không?” Trang Châu tức giận đáp: “Ngày hôm qua, tôi đi đường, chợt nghe có tiếng gọi, nh́n vào vết bánh xe lơm trên đường, thấy có con cá diếc, hỏi nguyên cớ, nó đáp: ‘Tôi thuộc loài thủy tộc ở Đông Hải, ông có thể dùng một đấu nước để cứu sống tôi hay không?’ Tôi đáp: ‘Được chớ! Chờ ta xuống phương Nam du thuyết các nước Ngô Việt xong, sẽ dẫn nước sông Tây Giang cứu sống ngươi, được chăng?’ Con cá bực tức nói: - Tôi đă gặp cảnh bất thường, không chỗ nương cậy, nếu được một đấu nước may ra c̣n toàn mạng. Ông nói như vậy, chẳng biết tôi đă sớm thành con cá khô ở ngoài chợ rồi”.

[7] Đây là một thí dụ trong kinh Đại Bát Niết Bàn, đức Thế Tôn mượn tỷ dụ này để nói rơ: Kẻ chưa kiến tánh, dẫu giảng về Niết Bàn đến đâu đi nữa, họ cũng không thể lănh hội được. Như có người mù từ thuở lọt ḷng, thắc mắc màu trắng của sữa là như thế nào. Người đáp dùng các thí dụ vỏ ốc, gạo, tuyết, chim hạc để trả lời, người ấy lầm tưởng sắc trắbg của sữa giống như tiếng thổi ốc, hoặc mềm mịn như bột, hoặc lạnh như tuyết, hoặc nhẹ như lông chim hạc, không thể h́nh dung trắng là như thế nào?

[8] Mặc tẫn: Trừng phạt bằng cách không nói với người đó, không chỉ trích, không phê b́nh. Người phạm lỗi bị cô lập trong đại chúng sẽ hối cải.

[9] Núi Đại Dữu c̣n gọi là Tắc Thượng, Đài Lănh, Đông Kiều, Mai Lănh v.v… là một rặng núi thuộc Ngũ Lănh ở tỉnh Giang Tây. Tương truyền, vào thời Hán Vũ Đế, có vị tướng quân họ Dữu lập thành lũy pḥng ngự ở đây, nên núi có tên gọi ấy.

[10] Câu này trích từ thiên Ung Dă trong sách Luận Ngữ: “Bá Ngưu hữu tật, tử vấn chi, tự dũ chấp kỳ thủ viết: ‘Vong chi, mạng hỹ phù! Tư nhân dă nhi hữu tư tật dă!” (Bá Ngưu bị bệnh, Khổng Tử đến thăm, từ cửa sổ tḥ tay vào, nắm tay Bá Ngưu, nói: “Vô lư thay! Đúng là số mạng vậy! Người như vậy mà mắc bệnh như vậy”). Chúng tôi dịch câu này theo cách giải thích trong bộ Luận Ngữ Giảng Yếu của cụ Lư Bỉnh Nam.

[11] Vương Gia (c̣n gọi là Thiên Tuế Gia, Vương Gia Công, hoặc Đại Nhân) là danh hiệu gọi các vị thần thánh theo tín ngưỡng dân gian, đặc biệt thịnh hành tại Hoa Nam (nhất là vùng Mân Nam) và Đài Loan. Vương Gia vốn là danh xưng để gọi những vị thân vương (họ hàng thân thích của hoàng đế được phong tước vương, hay những vị khai quốc công thần được đặc cách phong vương). Theo Đạo Giáo, Vương Gia là những vị thần được Thượng Đế phái xuống quản lănh, tuần tra một vùng, cầm cân nẩy mực trong cơi Âm. Những vị thần này đôi khi bao gồm cả những nhân vật lịch sử có thật như Quốc Tánh Gia (Trịnh Thành Công, người trấn thủ Đài Loan chống lại nhà Thanh khi nhà Minh bị diệt quốc), Nhạc Vũ Mục Vương Gia (Nhạc Phi) v.v… Thông thường, Vương Gia là những vị thần trông coi ôn dịch như Ngũ Niên Thiên Tuế, thần núi (ví dụ như Thanh Sơn Linh An Tôn Vương, tức thần núi Thanh Sơn), Tây Tần Vương Gia (thần bảo hộ cho diễn viên tuồng), Lăo Vương Gia (Đường Minh Hoàng, cũng là tổ của tuồng hát), Cửu Hoàng Đại Đế (tức chín ngôi sao thuộc Bắc Đẩu), hoặc những người không hiểu v́ sao được thờ như Phù Vương Gia (tức Phù Kiên, vua nhà Tiền Tần thời Ngũ Hồ Loạn Hoa) v.v…

[12] Thái Nhất (太一, hoặc ) theo Dịch Kinh chính là tên gọi khác của “nguyên khí”, tức bản thể của vũ trụ. Từ Thái Nhất sanh thành trời đất, duy tŕ nguyên tắc vận hành của vũ trụ thường gọi là Đạo. Sách Lữ Thị Xuân Thu, thiên Đại Lạc giảng: “Đạo giả dă, chí tinh dă, bất khả vi h́nh, bất khả vi danh, cưỡng vi chi danh, vị chi Thái Nhất” (Đạo là cái tinh túy tột cùng, chẳng thể xác định h́nh tướng, chẳng thể gọi tên, cưỡng đặt cho nó một cái tên là Thái Nhất). Đừng lẫn lộn khái niệm với Thái Nhất (hoặc Thái Ất) là tên một ngôi sao (tức Bắc Cực Tinh) được Đạo giáo thần thoại hóa thành một vị thần có danh hiệu là Thái Ất Thiên Tôn (tức Đông Hoàng Đại Đế, hoặc Hoàng Thiên Thượng Đế).

Trong triết học của Đạo Gia, trước khi trời đất tách rời, trong vũ trụ có cái được gọi là Tiên Thiên Ngũ Thái (Thái Dịch, Thái Sơ, Thái Thỉ, Thái Tố và Thái Cực). Thái Dịch (太易) là giai đoạn thứ nhất trong quá tŕnh biến hóa vật chất, Âm Dương c̣n chưa xuất hiện, hư không rộng lớn, chưa có ánh sáng, chưa có h́nh trạng, mọi vật đều c̣n lẫn lộn thành một khối, tịch tĩnh vô h́nh. Thái Dịch chính là giai đoạn tương ứng với Hỗn Độn Sơ Khai, đă bắt đầu có Thần, nhưng Khí chưa xuất hiện. Thái Tố (太素) là giai đoạn vật chất đă thành h́nh, thường được gọi là giai đoạn vật chất nguyên thủy. Tuy đă h́nh thành, mỗi vật chưa có bản thể riêng biệt như trong giai đoạn Thái Cực, v́ Âm Dương vẫn chưa phân cực hoàn toàn.

             

[13] Từ Nguyên (辭源) là bộ từ điển (giải thích về từ ngữ) được biên soạn vào năm Quang Tự thứ ba mươi tư (1908), do Lục Nhĩ Khuê chủ biên, chánh thức xuất bản vào năm 1915. Năm 1931, lại xuất bản bộ Từ Nguyên Tục Biên, sau đó gộp chung hai bộ thành Từ Nguyên Chánh Tục Biên Hợp Đính Bổn. Trải qua nhiều lần tu chỉnh và cập nhật, bản được lưu hành hiện thời là bản hoàn chỉnh năm 1988. Nội dung chủ yếu dựa theo hai bộ Khang Hy Tự Điển và Kinh Tịch Toản Cật.

[14] Câu này viết theo ư một đoạn trong thiên Công Dă Trị sách Luận Ngữ: “Hoặc viết: ‘Ung dă, nhân nhi bất nịnh’. Tử viết: ‘Yên dụng nịnh? Ngự nhân dĩ khẩu cấp, lũ tắng ư nhân. Bất tri kỳ nhân, yên dụng nịnh?” (Có người nói: “Trọng Ung có ḷng nhân đức, nhưng chẳng khéo nói”. Khổng Tử bảo: “Có tài nịnh nọt để làm ǵ? Biện bác áp đảo người khác càng dễ bị người ta chán ghét. Tôi chẳng biết là ông ta có nhân đức xứng đáng hay không, chứ khéo nịnh để làm ǵ?”)

[15] Liễu ở đây là Liễu Tông Nguyên (773-819). Ông Liễu có tên tự là Tử Hậu, người huyện Vĩnh Tế, tỉnh Sơn Tây, làm quan đến chức Giám Sát Ngự Sử thời Đường Đức Tông và Đường Thuận Tông. Liễu Tông Nguyên đă cùng Vương Thúc Văn tiến hành những cải cách về kinh tế, chính trị, quân sự, dẹp bỏ nữ nhạc, trừng trị tham quan, nhưng bị phe tham ô lật đổ, phải bị giáng chức. Ông là một nhà văn, nhà thơ nổi tiếng thuở đó, nhưng hiện thời chỉ c̣n giữ được bộ Liễu Hà Đông Tập chứa đựng một phần các trước tác của ông.

[16] “Giả ngữ thôn ngôn” là từ ngữ để chỉ những lời lẽ vô căn cứ, nói xằng, bịa đặt, hoặc nói chuyện hoang đường.

[17] Đây là một cuộc sách động nông dân nổi loạn vào cuối thời Hán do giáo phái Thái B́nh Đạo đề xướng vào cuối đời Hán. Thủ lănh là bọn Trương Giác, Trương Bảo, Trương Lương. Do những người tham gia phản loạn chít khăn vàng, nên gọi là loạn Hoàng Cân. Dưới thời Hán Linh Đế, nhà vua tin dùng bọn hoạn quan, triều chánh mục nát, quan lại tham ô, thuế má nặng nề, dân chúng đói kém. Vào lúc đó, ba anh em Trương Giác thuộc Ngụy Quận, Kư Châu (nay là huyện Hàm Đan, tỉnh Hà Bắc) đă dùng bùa chú chữa bệnh do dân chúng, nên được dân chúng tôn sùng là thần tiên sống. Nhân đó, chúng bèn lập ra Thái B́nh Đạo, đồ chúng tin theo đông đảo. Khắp các châu Thanh, Dư, Kư, Kinh, Dương, Duyện, Dự đều có tín đồ đạo này, tín chúng lên tới hơn bốn chục vạn người. Trương Giác tự xưng là Đại Hiền Lương Sư. Vào năm 184, nhằm năm Quang Ḥa thứ bảy đời Hán Linh Đế, Trương Giác ước hẹn tín chúng đồng loạt khởi nghĩa với khẩu hiệu “trời xanh đă chết, trời vàng sẽ lập, vào năm Giáp Tư, thiên hạ đại cát”. Cuộc nội loạn kéo dài măi đến hai mươi mốt năm sau mới dẹp yên, khiến cho nhà Hán suy yếu trầm trọng, mở ra thời kỳ Tam Quốc.

[18] Bát Quái Giáo là tà phái phản loạn trong đời Thanh. Tà phái này c̣n có tên là Ngũ Huân Đạo, Thâu Nguyên Giáo, hoặc Thanh Thủy Đạo do Lưu Tá Thần (quê ở Đơn Huyện, tỉnh Sơn Đông sáng chế). Lưu Tá Thần đă vay mượn giáo nghĩa của La Giáo (một tà phái khác do La Thanh sáng lập, về sau trở thành Nhất Quán Đạo). Thuở trẻ, Lưu Tá Thần từng theo Bạch Liên Giáo, rồi Hoàng Thiên Đạo. Về sau, hắn tự lập môn hộ, sáng lập giáo phái mới với danh xưng là Thâu Nguyên Giáo trong niên hiệu Khang Hy. Do tín đồ dựa theo Bát Quái mà chia thành tám khu vực, nên mới gọi là Bát Quái Giáo. Cũng giống như các tà phái trước đó, họ Lưu vay mượn lung tung, xuyên tạc giáo nghĩa của Nho và Phật, pha trộn với cách tu tiên, hít thở luyện nội công, bùa chú, yểm đảo của Đạo Giáo. Năm Càn Long 37 (1172), Vương Luân của Bát Quái Giáo lập ra chi phái Thanh Thủy, tự xưng Đế, dấy loạn, bị Hiệp Biện Đại Học Sĩ Thư Hách Đức dẹp yên. Trong niên hiệu Gia Khánh, Lưu Công lập ra chi phái Ly Quái Giáo, rồi Lâm Thanh lập ra chi phái Thiên Lư Giáo. Ngày 15 tháng Chín, Lâm Thanh cấu kết với bọn hoạn quan, dẫn hai trăm giáo chúng tấn công Tử Cấm Thành. Vào năm đầu triều Đạo Quang (1821), giáo chủ Bát Quái Giáo là Ngô Đắc Vinh bị bắt, bị triều đ́nh xử tử. Mă Vạn Lương lên làm giáo chủ. Đến đời con Mă Vạn Lương là Mă Tấn Trung làm giáo chủ, đă đổi tên đạo thành Minh Thiên Giáo, tôn Lưu Công là “vua Nghiêu chuyển thế”.

Hồng Đăng Chiếu (đúng ra là Hồng Đăng Tráo, 紅燈罩, tức chụp đèn đỏ), là một tà phái tàn dư của Bạch Liên Giáo, thường được biết với tên gọi Nghĩa Ḥa Đoàn, hoặc Quyền Phỉ. Do họ thường dùng đèn đỏ để làm hiệu lệnh. Từ Hy Thái Hậu nghe lời sàm tấu của lănh tụ bọn này, dùng họ để tấn công liên quân tám nước Tây Phương. Lũ trai tráng của Quyền Phỉ cởi trần, bôi mặt vằn vện, nhảy loi choi, tay vung đèn đỏ, tay cầm đao, niệm chú ầm ĩ, cùng nhau ném lồng đèn lên trời, cứ nghĩ là giáo chủ của chúng sẽ giáng lửa trời đốt sạch liên quân Âu Tây, nhưng đèn rơi phịch xuống đất, cháy rụi, chẳng thấy lửa trời ở đâu cả! Quân Âu Tây sau cơn hoảng hốt trước một lũ mắc bệnh thần kinh ấy, đă giương súng bắn. Chỉ một loạt đạn đầu tiên, quân Nghĩa Ḥa Đoàn tử thương như rạ, ùa nhau tháo chạy như vịt.

[19] Tứ cú là Có, Không, Vừa Có Vừa Không, Chẳng Phải Có Chẳng Phải Không.

[20] “Tam sơn” có hai cách hiểu:

1) Một, chính là ba ngọn núi có phong cảnh đẹp nhất Trung Hoa tức là Hoàng Sơn (thuộc thành phố Hoàng Sơn, tỉnh An Huy), Lư Sơn (thuộc thành phố Cửu Giang, tỉnh Giang Tây), và Nhạn Đăng Sơn (thuộc thành phố Ôn Châu, tỉnh Chiết Giang).

2) Hai, tam sơn chính là ba ngọn núi có chư tiên ngự theo thần thoại của Đạo Giáo, tức Bồng Lai, Doanh Châu và Phương Trượng.

Ngũ Nhạc là năm quả núi lớn được coi là phân định ranh giới Trung Nguyên gồm Thái Sơn (Đông Nhạc, thuộc huyện Thái An, tỉnh Sơn Đông), Hành Sơn (Nam Nhạc, thuộc thành phố Hành Dương, tỉnh Hồ Nam), Hoa Sơn (Tây Nhạc, thuộc thành phố Vị Nam, tỉnh Thiểm Tây), Hằng Sơn (Bắc Nhạc, c̣n gọi là Thường Sơn, thuộc huyện Hồn Nguyên tỉnh Sơn Tây) và Tung Sơn (Nam Nhạc, thuộc thành phố Đăng Phong tỉnh Hà Nam).

[21] “H́nh nhi thượng học” (形而上學) có hai thứ ư nghĩa:

- Một là cách nh́n sự vật dựa trên những yếu tố cô lập, phiến diện, tĩnh lặng, biểu hiện bề ngoài.

- Hai là một ngành triết học dựa trên sự nghiên cứu hoàn toàn cậy vào trực giác.

Đôi khi chữ này cũng được dùng để dịch khái niệm Metaphysics, tức một ngành triết học cổ của Hy Lạp được hoàn thiện bởi Aristotle.

[22] Otto Struve (1897-1963), tên đầy đủ là Otto Lyudvigovich Struve, người gốc Đức, nhưng sinh trưởng tại Ukraina. Ông sinh trưởng trong một gia tộc lỗi lạc về thiên văn học: Cha ông là Ludwig, ông nội là Otto Wilhelm von Struve, ông cố là Friedrich George Wilheklm và bác là Karl Hermann Struve đều là những nhà thiên văn học lừng danh trong suốt hai thế kỷ. Ông tốt nghiệp Cao Học tại đại học Kharkiv (Ukraina), nói thông thạo tiếng Nga và Đức, và đă theo cha nghiên cứu thiên văn từ lúc mới tám tuổi. Năm 1920, để tránh né sự đàn áp của chính quyền Bolshevik Liên Sô, ông thành công trốn thoát từ Sevastopol sang Thổ Nhĩ Kỳ, sống nghèo khổ, lưu lạc, chạy ăn từng bữa. Không kiếm được việc tại Đức, ông viết thư gởi giám đốc đài quan sát Yerkes tại Wisconsin, và được giám đốc đài là Edwin Frost tận t́nh giúp đỡ, bảo trợ sang Mỹ. Tuy điều kiện sống rất cực nhọc, gặp rất nhiều trở ngại v́ kém tiếng Anh, chỉ trong năm tháng sau, ông đă khám phá ra một ngôi sao trong chùm sao Gamma Ursae Minoris. Sau đó, lần lượt có những cống hiến mới, và thành công bảo vị luận án Tiến Sĩ tại đại học Chicago. Ông đă góp phần sáng lập đài quan sát McDonald (tại núi Locke, Texas, trực thuộc đại học Austin). Ông đă bảo trợ và hướng dẫn nhiều sinh viên trẻ, về sau đều trở thành những khoa học gia nổi tiếng của Mỹ như Gerard Kuiper, Gerhard Herzberg v.v… Sau cùng, ông chuyển về đại học UC Berkley, dạy học và nghiên cứu tại đó cho đến khi mất. Tuy bận rộn với nhiều sự vụ, công tŕnh nghiên cứu của ông rất đáng nể. Ông đă xuất bản chín trăm bài nghiên cứu và viết nhiều đầu sách về thiên văn học.

[23] “Ngũ tạng” là tim, gan, tỳ (lá lách), phổi, thận, “lục phủ” là mật, bao tử, ruột già, ruột non, tam tiêu và bàng quang (bọng đái). Tứ thể chính là tứ chi (tức chân và tay), do nói gộp chung cả hai danh xưng nên bảo là “tứ chi tứ thể”.

[24] “Thiên cư” là các cơi trời c̣n dựa vào núi Tu Di, như trời Tứ Vương Thiên, trời Đao Lợi, trời Đâu Suất v.v…

[25] Vào năm thứ mười (501 trước Công Nguyên) đời Lỗ Định Công, nước Lỗ và nước Tề kết minh giảng ḥa. Lỗ Định Công (Cơ Tống) và Tề Cảnh Công (Khương Chử Cữu) ước hẹn hội kiến tại Giáp Cốc. Khổng Tử đảm nhiệm việc tổ chức. Khổng Tử tâu với vua Lỗ cho quan Tư Mă dẫn quân theo. Quan đại phu nước Tề là Lê Di tâu với Tề Cảnh Công: “Khổng Khâu chỉ hiểu lễ nghi, chẳng có dũng khí. Nếu chúa công sai người dùng vũ lực khống chế Lỗ hầu, nhất định sẽ được như nguyện”. Vua Tề nghe lời. Khi yến hội cho tấu nhạc Đông Di, lại cho ba trăm quân Đông Di giả làm nhạc công để bắt vua quan nước Lỗ. Đến hôm yến hội, bọn nhạc công đeo lông, đóng khố, cầm vũ khí xông lên đài, Lỗ Định Công hoảng sợ. Khổng Tử chắn trước Lỗ hầu, dùng lễ nghĩa quở trách. Vua Tề cả thẹn, lại thêm có lời tể tướng Án Anh tán thành, vua Tề bèn cho vũ sĩ lui ra. Lê Di tức tối, dặn nhạc công nhảy múa và hát bài Tệ Cẩu, múa hát những điệu dâm loạn. Khổng Tử bảo những đứa thất phu dám cợt nhă vua chư hầu, xin nhà vua sai quan Tư Mă nước Tề trị chúng. Vua Tề làm thinh, Khổng Tử bèn vẫy tay ra hiệu cho quan Tư Mă nước Lỗ chém bay đầu hai đứa nhạc trưởng, bọn nhạc công hoảng sợ chạy trối chết. Vua quan nước Lỗ bỏ về. Án Anh tâu với vua Tề: “Nước Tề đă thất lễ với Lỗ, hăy dùng thành tâm để tạ lỗi, trả lại ruộng đất ở Vấn Dương cho nước Lỗ”. Vua Tề nghe theo.

[26] Tam Đô chính là thái ấp của ba nhà quư tộc lũng đoạn triều chính nước Lỗ thời ấy. Sử thường gọi họ là Lỗ Tam Hoàn, tức Mạnh Tôn Thị, Thúc Tôn Thị và Quư Tôn Thị. Tổ tiên của ba nhà quư tộc này chính là con cháu của Lỗ Hoàn Công (Cơ Doăn). Lỗ Hoàn Công có con trưởng là Cơ Khánh Phụ, nhưng do Khánh Phụ không phải là con của chánh thất, nên không được lập làm thế tử. Chánh thất của Lỗ Hoàn Công sanh được ba người con là Cơ Đồng (về sau làm vua, tức Lỗ Trang Công), Cơ Nha (do là con thứ hai nên thường gọi là Thúc Nha), và Cơ Hữu (do là con út nên thường gọi là Quư Hữu). Khi Lỗ Trang Công lên ngôi, đă phong cho cả ba người ấy làm khanh đại phu, nắm quyền bính. Dần dần họ h́nh thành ba thế lực lấn áp uy quyền vua, con cháu họ tập ấm giữ quyền, Sử gọi chung là Mạnh Tôn Thị (con cháu Khánh Phụ), Thúc Tôn Thị (con cháu Thúc Nha), và Quư Tôn Thị (con cháu Quư Hữu). Khổng Tử chủ trương dùng vũ lực triệt hạ thái ấp, doanh trại của họ và tước quyền quân sự của họ để tập trung chính quyền về tay vua Lỗ, nhưng không thành công.

[27] “Kho”: Ở đây là tạm dịch chữ “hồng thiêu”(紅燒), tức là một cách nấu đồ ăn trên lửa riu riu, sao cho gia vị thấm vào thực phẩm. Khi nấu xong, món ăn sẽ hơi có sắc hồng, hoặc nâu sẫm. Cách này thường được dùng để nấu cá, thịt, nhất là những loại hải sản. Gia vị bao gồm gừng tươi, tỏi, ớt đỏ, hành, đường, tương, dấm v.v…

[28] Sát trần thế giới: Thế giới có số lượng nhiều như các vi trần trong một cơi Phật.

[29] Đồng Thành (桐城) là một huyện thị ở cực Nam tỉnh An Huy, trực thuộc thành phố Khánh An. Theo sử sách này, nơi này đă được h́nh thành từ thời nhà Hạ. Đồng Thành văn phái là một trường phái văn học chuyên về tản văn đời Thanh, được sáng lập bởi Phương Bao (giáo sư Phương Đông Mỹ chính là cháu đời mười sáu của Phương Bao. Cụ Phương Đông Mỹ tên thật là Phương Tuần, Đông Mỹ là tên tự). Vua Khang Hy rất tôn kính Phương Bao, từng mời Phương Bao làm cố vấn riêng trong thư viện nội cung của ḿnh. Những người kế tục như Lưu Đại Khôi và Diêu Năi đă đưa trường phái này lên tới đỉnh cao, khiến cho tác phẩm của họ được lưu truyền rất rộng răi. V́ thế, Phương Bao, Lưu Đại Khôi và Diêu Năi được tôn xưng là Đồng Thành Tam Tổ. Một trong những người kế thừa nổi tiếng của Diêu Năi là Phương Đông Thụ. Tư tưởng chủ yếu của Phương Bao là “nghĩa pháp”, tức là dùng văn chương để truyền đạt đạo nghĩa, chủ yếu dựa theo quan điểm đạo nghĩa của Châu Hy và Khổng Mạnh.

[30] Bài thơ Khả Thán (đáng than) của Đỗ Phủ mở đầu bằng hai câu “thiên thượng phù vân như bạch y, tư tu cải biến như thương cẩu” (天上浮雲如白衣,斯須改變如蒼狗) (trên trời mây nổi như áo trắng, bỗng chốc biến thành con chó xanh).

[31] “Giới thần” ở đây là những vị thiện thần hộ tŕ giới đàn và những người chuyên tinh giữ giới.

[32] Xét ra, ông Đoàn Thụ Nghĩa hỏi câu này lặp lại hai lần, chỉ sửa đổi từ ngữ hơi khác chút ít, nhưng lời đáp của cụ Lư Bỉnh Nam khác nhau.

[33] Để giải thích quẻ Càn, phần Thoán Từ của kinh Dịch giảng “Càn: Nguyên, hanh, lợi, trinh”. Các nhà chú giải thường giảng như sau: Có sức sáng tạo lớn lao là Nguyên, thông suốt và thuận tiện là Hanh, lợi ích thích đáng là Lợi, ngay thẳng và bền vững là Trinh. Cụ Lư Bỉnh Nam đă mượn thứ tự của bốn chữ này để diễn giải sự tuần hoàn vô tận.

[34] Utopia là một xứ lư tưởng hoàn thiện ở Đại Tây Dương được nêu ra trong tác phẩm Utopia của Thomas More. Utopia được ghép bởi hai từ ngữ Ou (không có) và Tópos (nơi chốn) trong tiếng Hy Lạp. Như vậy, Utopia có nghĩa là “nơi không tồn tại”.

[35] Khả Hăn (Khan, Khaan, Khagan, Kağan, hoặc Qagan) vốn là một tước hiệu trong tiếng Mông Cổ, tương đương với “hoàng đế”. Về sau, các sắc dân du mục khác cũng bắt chước dùng theo, nhất là các sắc dân thuộc nhóm Turkic (như Turkmen, Azerbaijan, Kamyk, Tatar, Kazakh…) Tuy vậy, danh xưng này không do người Mông Cổ đặt ra, v́ theo sử kư, khi chép về lịch sử của người Tiên Ty (Xianbei), đă thấy Mộ Dung Ḥe được gọi bằng danh xưng Khả Hăn, và các vua thuộc vương triều Nhu Nhiên (Rouran) ở Tây Vực đă tự xưng là Khả Hăn. Các Khả Hăn khi tỏ ư thuần phục hoàng đế Trung Hoa, đă gọi vua Trung Hoa là Thiên Khả Hăn.

[36] Yêm Đáp là cách người Hoa phiên âm chữ Anda (1507-1582). Đó là tên thật của Altan Khan (tên gọi đầy đủ là Borjigin Barsboladiin Altan). Ông này là thủ lănh của bộ tộc Mông Cổ Thổ Mặc Đặc (Tümed), là cháu nội của Đạt Yên Khả Hăn (Dayan Khan), tức là hậu duệ của Thành Cát Tư Hăn, thuộc thị tộc Borjigin. Anda là một tù trưởng hùng mạnh nhất, từng trấn áp, sát nhập các bộ tộc Mông Cổ khác, trở thành người có lực lượng hùng mạnh nhất vùng quan ngoại. Để mua chuộc, hoàng đế Long Khánh (tức Minh Mục Tông) đă phong cho Anda làm Thuận Nghĩa Vương. Altan Khan đặc biệt mến chuộng Sonam Gyatso (ông này về sau được tôn là Đại Lai Lạt Ma đời thứ ba), nên đă cho xây dựng tu viện Thegchen Chonkhor để nghênh tiếp Sonam Gyatso từ Tây Tạng sang Mông Cổ hoằng pháp. Sonam Gyatso đă thành công trong việc thuyết phục Altan Khan biến Phật giáo Tây Tạng trở thành quốc giáo của Mông Cổ. Để tăng cường mối liên minh, Sonam Gyatso tuyên bố chính ḿnh là hóa thân của Drogon Chogyal Phagpa (quốc sư Mông Cổ, tức là thầy của Hốt Tất Liệt) và Altan Khan chính là hậu thân của Hốt Tất Liệt (Kublai, Qubilai). Chính Altan đă ban tặng mỹ hiệu Dalai (biển cả) cho Sonam Gyatso (danh xưng Đạt Lai Lạt Ma bắt đầu có từ đây). Sonam Gyatso đă tích cực khuyến cáo Altan ban hành chiếu chỉ cấm cúng tế bằng sinh vật, phá hủy các tượng thần, chấm dứt nạn hỏa thiêu phụ nữ khi chồng họ đă chết, nghiêm cấm tục lệ giết súc vật tưới máu cúng tế, đồng thời chỉ đạo công tác dịch Đại Tạng Kinh từ tiếng Tây Tạng sang tiếng Mông Cổ.

[37] Kể từ ngày Một tháng Tám năm Giáp Ngọ, Nhật Bản khởi sự gây chiến với Trung Hoa, khiến cho các nước khác thừa cơ uy hiếp chính quyền nhà Thanh, buộc Trung Hoa phải kư nhiều hiệp ước bất b́nh đẳng.

[38] Ngu ư cho rằng kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo không thể là ngụy kinh v́ những điều giảng trong đó hoàn toàn tuân theo giáo nghĩa Duy Thức, và kinh này được tổ Ngẫu Ích chú giải nhiều lượt. Một bậc trí huệ mênh mông như tổ Ngẫu Ích, chắc chắn sẽ chẳng tốn công chú giải một bộ kinh ngụy tạo. Hơn nữa, cách chiêm sát trong ấy không nhằm tiên đoán vận mạng cát hung như các cách chiêm đoán thông thường trong thế tục, mà nhằm khuyến khích người học Phật nhận biết nghiệp chướng của chính ḿnh nặng nề đến đâu ḥng dốc sức tấn tu.

[39] Tam sanh (三牲) thường bị đọc trại thành “tam xên” là những con vật được sử dụng trong cúng tế theo lễ nghi thời cổ, biểu thị ư nghĩa dâng lên thần thánh, tổ tiên những thứ ngon nhất trong giới động vật. Thông thường, tam sanh bao gồm ḅ, dê, lợn. Đôi khi thay thế bằng chó, gà, vịt, hoặc đôi khi bằng bất cứ ba món thịt nào đó (chẳng hạn, thịt heo, cua và tôm). Lễ nghi Nho gia c̣n chia cỗ bàn cúng tế thành Thái Lao (太牢) và Thiếu Lao (少牢). Theo đó, vào đời Châu, chỉ thiên tử mới được phép dùng Thái Lao để cúng Thượng Đế, Ngũ Đế, nhật, nguyệt. Trong cỗ Thái Lao, dùng đến sáu động vật khác nhau. Khi chư hầu lấn át thiên tử nhà Châu, bèn có quy định: Thiên tử nhà Châu dùng cỗ bàn Thái Lao gồm chín cái đỉnh, tám mâm, chín khay, hai mươi sáu loại đậu, trong khi chư hầu chỉ dùng bảy đỉnh, bảy mâm, mười sáu loại đậu v.v.. Về sau, Thái Lao đơn giản hóa thành dùng ba con vật là trâu (ḅ), dê và lợn để nguyên con (sau khi đă giết, mổ ruột và cạo lông). Thiếu Lao chỉ dùng dê và lợn để cúng vốn là quy định dành cho chư hầu và khanh đại phu. Đạo Giáo lại quy định tam sanh là gà để nguyên con không chặt thành miếng (có thể thay bằng vịt, vẫn để nguyên con), một tảng thịt heo to, và một con cá to có vảy. Cá có thể thay bằng mực ống loại to, nhưng không được dùng mực trong cỗ tế trời và chư thần cao cấp.

[40] Đây là một công án trong nhà Thiền: Ḥa thượng Vô Trước từng gặp Văn Thù Bồ Tát tại Ngũ Đài Sơn. Bồ Tát hỏi Sư từ đâu đến, thưa: “Từ phương Nam đến”. Bồ Tát lại hỏi: “Phật giáo ở phương Nam được hộ tŕ ra sao?” Sư thưa: “Thời Mạt Pháp không có ai giữ giới luật”. Văn Thù Bồ Tát lại hỏi: “Rốt cuộc có bao nhiêu tỳ-kheo?” Ḥa thượng Vô Trước thưa: “Có khoảng từ ba trăm đến năm trăm vị”. Sư lại hỏi Bồ Tát: “T́nh huống ở phương Bắc như thế nào? Bồ Tát đáp: “Thánh nhân, phàm phu đều có, rồng rắn hỗn tạp ở chung với nhau”. Ḥa thượng Vô Trước bèn hỏi: “Ở đây có bao nhiêu vị tỳ-kheo?” Bồ Tát đáp: “Tiền tam tam, hậu tam tam”. Theo pháp sư Thánh Nghiêm, câu nói ấy có nghĩa là trước và sau đều từa tựa như nhau.

[41] Hoài Đế là danh xưng thường dùng để gọi những vị vua bị phế lập, bắt giam. Tấn Hoài Đế tên thật là Tư Mă Xí, con trai thứ hai mươi lăm của Tấn Vũ Đế (Tư Mă Viêm). Ông được đưa lên làm vua sau khi hoàng thất nhà Tấn nội loạn (sử thường gọi là loạn bát vương), nhưng quyền hành thật sự nằm trong tay quyền thần Tư Mă Việt. Khi quân Ngũ Hồ tấn công Trung Nguyên, Thạch Lặc tấn công kinh đô Lạc Dương nhà Tấn, Hoài Đế bị bắt sống. Mùa Xuân năm 313, vua Hán Triệu là Hán Liệt Tông (Lưu Thông) đăi tiệc sai Hoài Đế rót rượu, các cựu thần nhà Tấn đều ứa nước mắt khóc lóc, bị Lưu Thông giết chết. Cùng năm đó, Hoài Đế bị Lưu Thông hạ độc giết chết.

Tấn Mẫn Đế (Tư Mă Nghiệp) là cháu gọi Tấn Hoài Đế bằng chú. Khi Hoài Đế bị bắt, Tư Mă Nghiệp chạy thoát, trốn về huyện Mật, nương cậy cậu là Tuân Phiên. Sau khi cựu tướng nhà Tấn là Sách Lâm và Giả Thất chiếm lại Trường An, bèn đón Tư Mă Nghiệp về, tôn làm Thái Tử. Sau khi Hoài Đế bị giết chết, Tư Mă Nghiệp được Tư Mă Việt tôn lên làm vua. Năm 316, tướng Hán Triệu là Lưu Diệu tấn công Trường An. Cùng đường, Tấn Mẫn Đế phải mang ấn tín ra ra hàng, bị giải về bị B́nh Dương, bị vua Hán Triệu là Lưu Thông giáng làm Hoài An Hầu. Về sau, cũng giống như Hoài Đế, ông bị Lưu Thông giết chết.

[42] Bá Di họ Tử, thuộc thị tộc Mặc Thai, là con trưởng của Á Vi vua nước Cô Trúc. Ông có hai người em là Á Bằng và Thúc Tề. Vua cha vốn định truyền ngôi cho Thúc Tề, nhưng Thúc Tề cho rằng ngôi vua phải truyền trưởng tử mới đúng luân thường, Bá Di cũng chẳng muốn trái ư cha. Do vậy, hai anh em trốn khỏi Cô Trúc, đến phía Tây, sống nhờ đất nhà Châu. Khi Châu Vũ Vương chinh phạt Trụ Vương của nhà Thương, Bá Di và Thúc Tề tận lực can gián. Vũ Vương không nghe, diệt nhà Thương. Hai người bất măn, không ăn thóc nhà Châu, trốn vào ở ẩn trong núi Thủ Dương (nay thuộc huyện Yển Sư, tỉnh Hà Nam) là vùng núi hoang thuộc nhà Thương trước kia, ăn vỏ cây, rau dại sống qua ngày. Về sau, có người nói “tấc đất ngọn rau nay đều thuộc về nhà Châu”, hai ông bèn nhịn đói đến chết. Cô Trúc là một nước nhỏ ở phía Bắc lănh thổ nhà Thương, nằm bên bờ Bột Hải, bao gồm vùng đất nằm giữa các huyện Đường Sơn, Hưng Thành, Triều Dương, Cẩm Tây, thuộc tỉnh Liêu Ninh hiện thời, tiếp giáp nước Yên và nuớc Tề. Đến năm 660 trước Công Nguyên, nước này bị liên quân Tề và Yên diệt quốc.

[43] Vua Nghiêu nghe tiếng vua Thuấn hiền đức, bèn gọi đến hỏi chuyện, nhường ngôi và gả con gái là Nga Hoàng và Nữ Oanh. Khi đó, vua Thuấn chưa xin phép cha (Cổ Tẩu) và mẹ kế.

[44] Theo Tấn Thư, Ôn Kiệu vâng lệnh Lưu Côn xuống Giang Nam, dâng biểu khuyên Tư Mă Duệ tức vị (lên ngôi lập ra nhà Tấn). Khi sắp ra đi, mẹ là Thôi Thị ngăn cản, Ôn Kiệu dứt áo ra đi. Về sau chữ “tuyệt cứ” (絕裾, dứt áo) được dùng để chỉ thái độ kiên quyết, dứt khoát chẳng nề hà mọi trở ngại.

[45] Nguyên văn “vô chung thực chi gian vi nhân, triêu văn đạo, tịch tử khả hỹ” (無終食之間違仁,朝聞道夕死可矣) chúng tôi dịch câu này theo chú giải của Khổng Dĩnh Đạt. Nhan Uyên nghèo đến nỗi cơm phải đựng trong giỏ tre, nước uống chứa trong quả bầu, không có gối, phải co cánh tay để gối đầu.

[46] Hà Tăng (199-279) tự là Dĩnh Khảo, người xứ Dương Hạ nước Trần, lần lượt làm quan cho nhà Tào Ngụy rồi đến nhà Tấn, từng giữ chức Thái Tể dưới thời Tấn Vũ Đế (Tư Mă Viêm). Ông này tính sống xa hoa, phung phí. Màn trướng, quần áo, các thứ trang sức đều dùng lụa gấm hạng tốt nhất, mỗi bữa ăn đều sang và nhiều hơn bậc vương hầu, chẳng kém ǵ hoàng đế. Ngay cả hoàng đế khi tiếp khách, nếu không kịp chuẩn bị đồ ăn, cứ sai người đến nhà ông ta lấy về!

[47] Nguyên văn “phấn bạch đại lục” (粉白黛綠) vốn là một thành ngữ phiếm chỉ gái đẹp, v́ thuở trước để trang điểm, nữ nhân đánh phấn trắng, dùng “đại” () là một thứ than đen để tô lông mày cho đậm, ánh lên sắc xanh.

[48] Vào thời Đông Hán, Dương Chấn làm quan Thái Thú, thanh khiết, liêm chánh. Huyện lệnh Xương Ấp là Vương Mật do được Dương Chấn tiến cử, bèn nửa đêm mang mười cân vàng đến biếu với niềm mong mỏi Dương Chấn sẽ nói giúp thêm ḥng dễ tăng chức. Dương Chấn cự tuyệt, Vương Mật dụ dỗ: “Nửa đêm nhận vàng, có ai biết!” Dương Chấn quở trách: “Trời biết, đất biết, tôi biết, ông biết, làm sao tôi có thể nhận thứ bất nghĩa này”. Từ chuyện này có thành ngữ “khước kim mộ dạ” (ban đêm chối vàng).

[49] Đây là một sự kiện nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa thường gọi là Hồng Môn Yến. Hồng Môn ở ngoài thành Hàm Dương kinh đô nước Tần. Năm 206, Lưu Bang vâng lệnh Sở Hoài Vương tấn công Quan Trung, vượt ải Hàm Cốc, vua Tần là Doanh Tử Anh đầu hàng. Hạng Vũ kéo quân đi sau, không chiếm được Quan Trung, nên tức giận tấn công Lưu Bang. Tướng Anh Bố của Hạng Vũ đánh tan quân Lưu Bang, Lưu Bang phải kéo quân về đóng ở Bái Thượng. Hạng Vũ nghe bộ tướng của Lưu Bang là Tào Vô Thương mật báo Lưu Bang chiếm đoạt ngân khố, chuẩn bị tự lập làm vua, lại nghe Phạm Tăng phân tích: “Lưu Bang là kẻ tham tài, háo sắc, nay vào Hàm Dương không chiếm đoạt của cải của bá quan và dân chúng, không bắt phụ nữ về hưởng lạc, tức là giả nhân giả nghĩa để thu phục nhân tâm, dă tâm chẳng nhỏ”. Do vậy, Hạng Vũ kiên quyết diệt Lưu Bang, nghe theo kế Phạm Tăng mời Lưu Bang đến dự tiệc tại Hồng Môn để thừa cơ giết chết. Hạng Bá là chú của Hạng Vũ, do thân quen với Trương Lương, nên lẻn đến báo với Trương Lương, bảo Lưu Bang hăy trốn đi. Trương Lương đối đăi Hạng Bá trọng hậu, giả vờ bận việc để Hạng Bá ở một ḿnh trong thư pḥng. Hạng Bá thấy thư giả mạo danh nghĩa Phạm Tăng mật báo với quân Hán, bèn ngờ Phạm Tăng phản bội Hạng Vũ. Nghe Hạng Bá báo lại, Hạng Vũ đem ḷng nghi ngờ Phạm Tăng. V́ thế, trong bữa tiệc, Phạm Tăng nhiều lần liếc mắt ra hiệu cho Hạng Vũ phát lệnh sát hại Lưu Bang, thậm chí ném chén ngọc làm hiệu ba lần, Hạng Vũ vẫn do dự, không quyết. Lại thấy Lưu Bang khúm núm, chịu lép, nịnh nọt Hạng Vũ, tỏ dấu hiệu thần phục, cho nên Hạng Vũ không nỡ giết. Không biết làm sao, Phạm Tăng bèn bảo em họ Hạng Vũ là Hạng Trang múa kiếm giúp vui, để giả vờ lỡ tay đâm chết Lưu Bang (Bái Công). Thấy vậy, Hạng Bá cũng xin góp vui rút kiếm đấu cùng Hạng Trang, dùng thân ḿnh che chở Lưu Bang, khiến cho Hạng Trang không sao hại được Bái Công. Trương Lương lập tức rời bàn tiệc, báo tin cho tướng quân Phàn Khoái biết. Phàn Khoái uy vũ, vào trướng không sợ sệt, trừng mắt nh́n Hạng Vũ, khiến cho Hạng Vũ kính phục, gọi là ‘tráng sĩ’. Thừa cơ, Lưu Bang giả vờ đi nhà xí rồi đào tẩu. Trương Lương lại dâng lễ vật, khiến cho Hạng Vũ mê đắm, quên khuấy chuyện phải giết Lưu Bang.

[50] Chúng tôi chẳng biết ông Tiêu này muốn nói điều ǵ qua chữ này, do nguyên văn viết như vậy, nên cứ giữ như vậy!

[51] Kim Thánh Thán (1608-1661) vốn có tên là Kim Nhân Thụy, tên cúng cơm là Kim Thái, tên tự là Thánh Thán, thường tự xưng là Lặc Am pháp sư, người xứ Tô Châu, là một nhà phê b́nh văn học trứ danh cuối đời Minh, đầu đời Thanh. Ông có thi tài lẫn văn tài mẫn tiệp, viết chữ theo lối Thảo hết sức đẹp đẽ và cuồng phóng. Tính t́nh khá kiêu ngạo, thích học Phật, nhưng lại mê cầu cơ, tự coi ḿnh là bậc tài tử. Lời phê b́nh của ông rất đặc sắc, độc đáo, nên rất được độc giả thuộc các nước chịu ảnh hưởng Hán học ưa chuộng, t́m đọc. Năm 1661, huyện lệnh huyện Ngô là Nhậm Duy Sơ truy lùng những kẻ thiếu thuế, đánh đập dân chúng tàn nhẫn, vét sạch kho dự trữ ở Thường B́nh, khiến cho nhân sĩ Tô Châu phẫn nộ. Đầu tháng Ba, Kim Thánh Thán và hơn một trăm nhân sĩ tụ tập tại miếu thờ Khổng Tử, mượn cớ truy niệm vua Thuận Trị để đọc những bài văn mô tả nỗi oán hận, tŕnh cáo trạng lên nha môn Tuần Phủ Giang Tô là Châu Quốc Trị đ̣i băi chức Nhậm Duy Sơ. Châu Quốc Trị do bao che cho Nhậm Duy Sơ liền bắt giam mười một người, tâu lên triều đ́nh là nho sĩ Tô Châu kháng thuế, chống đối triều đ́nh. Kim Thánh Thán bị phán tội cầm đầu, bị chặt đầu vào ngày Bảy tháng Tám năm ấy. Trước khi bị chém đầu, ông thản nhiên hướng về người nhà, ngâm: “Liên tử tâm trung khổ, lê nhi phúc nội toan” (Tim hạt sen vẫn đắng, ruột quả lê vẫn chua). Cả nhà Kim Thánh Thán bị sung công tài sản, người nhà bị đày đi Măn Châu làm lính.

[52] Lục Tài Tử Thư (hay gọi tắt là Lục Tài) là sáu tác phẩm văn học được Kim Thánh Thán đánh giá là trác tuyệt trong văn chương Trung Hoa. Theo thứ tự lần lượt là sách Trang Tử của Trang Châu, Ly Tao của Khuất Nguyên, thơ Đỗ Phủ, Thủy Hử của Thi Nại Am, và Tây Sương Kư của Vương Thực Phủ.