Phật Học
Vấn Đáp Loại Biên
Quyển Trung
佛學問答類編
Phần 3
Lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam giải
đáp
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
(theo bản in của Lư Bỉnh Nam Lăo
Cư Sĩ Toàn Tập Biên Tập Ủy Viên Hội, Đài
Loan, 2007)
Giảo chánh: Đức Phong và Huệ
Trang
*
Hỏi: Gần nhà tôi có những người tự xưng
là tin Phật, bảo tôi họ đều là Phật tử
kiền thành, bảo tôi phải theo đạo của họ,
nói hiện thời là thời kỳ Dương chi đó,
khiến tôi nghi hoặc. Xin cư sĩ hăy trả lời
công khai trên báo Bồ Đề Thụ! (Lư Thanh Lâm hỏi)
Đáp:
Kinh điển Phật giáo, mười hai bộ loại của
Tam Tạng, các chùa, các thư viện đều có tàng trữ.
Trong hiện thời, xem kinh hoàn toàn chẳng khó! Nếu muốn
học Phật, hăy nên tra duyệt nơi các chùa và thư viện.
Những kẻ ở vùng phụ cận của các hạ
đại khái là bọn Nhất Quán Đạo, hoặc là
đồ chúng tà vạy của Bạch Liên Giáo, ăn nói chẳng
ra thể thống ǵ, hoàn toàn chẳng có học vấn, chẳng
thông hiểu Phật giáo mảy may nào! Chẳng cần phải
nghi hoặc! [Những lời lẽ họ nói] muôn phần
chẳng đáng tin!
*
Hỏi: Sát sanh thật sự là chuyện chẳng tốt
lành ư? Cơ Đốc Giáo nói [các loài động vật]
đều do Thượng Đế tạo ra cho con người
ăn. Nói theo kiểu ấy, sát sanh hoàn toàn chẳng phải
là chuyện không thể được! Chẳng biết v́
sao nhà Phật lại nói mâu thuẫn với Cơ Đốc
Giáo? (Lư Thanh Lâm hỏi)
Đáp:
Sát sanh hại mạng, khiến cho động vật chảy
máu, chịu khổ. Nếu đó là chuyện tốt lành, từ
xưa tới nay, những bậc thánh nhân, vua hiền của
Trung Hoa đều chuộng phóng sanh, cứu vớt sanh vật.
[Những chuyện ấy] đă được ghi chép trong
lịch sử, chẳng phải chỉ có một chuyện,
vậy th́ họ đều làm chuyện xấu xa ư? Thiện,
ác, đúng, sai, minh bạch, rơ ràng, bậc trí hiểu rành rẽ,
kẻ ngu điên đảo! Phật giáo đại từ
đại bi, b́nh đẳng cứu độ, mỗi giáo
đều hành theo điều ḿnh cho là đúng, chẳng cần
phải cố ép cho giống với các tôn giáo khác. Hơn nữa,
cột báo này chỉ bàn về Phật lư, nhất loạt
chẳng phê b́nh các tôn giáo khác, thảy đều cung kính trọn
khắp, [ngơ hầu] chẳng nẩy sanh chuyện thị
phi!
*
Hỏi: Thường nghe nói Tam Giáo Hợp Nhất, hoặc
Ngũ Giáo Hợp Nhất. Nói theo kiểu như vậy, các
tôn giáo trên toàn thể thế giới đều là một
ư? Mục đích cuối cùng đều là sanh lên trời
ư? (Lư Thanh Lâm hỏi)
Đáp:
Văn hóa Trung Hoa chủ trương giữ ḷng kính, ḷng
thành. Từ xưa tuy nói “tam
giáo hợp nhất”, chẳng qua là theo ư nghĩa “dung ḥa
học thuyết, đôi bên kính trọng lẫn nhau”. C̣n nói “ngũ giáo hợp nhất” là nói
sau khi các tôn giáo mới được du nhập gần
đây là đạo Hồi và Gia Tô. Các tôn giáo đối thoại
với nhau, một bầu ḥa khí; người tu đạo,
theo đúng lẽ th́ phải là như vậy. Bàn theo
phương diện giáo nghĩa, xử thế, khuyến
thiện, những chỗ tương đồng rất
nhiều, nhưng [xét theo] công phu tu luyện tâm tánh bên trong,
cũng như chỗ quy túc cuối cùng, mỗi giáo đều
bất đồng. Đối với điểm này, những
tu sĩ của các tôn giáo, nếu là kẻ nghe ít, công phu tu tập
nông cạn, c̣n chẳng biết nguyên do, [huống hồ] kẻ
bên ngoài lấy ǵ để bàn luận cơ chứ?
*
Hỏi: Cơ Đốc giáo nói “người tin theo [Chúa] sẽ
được cứu”, như vậy th́ đúng là một
pháp môn quá thuận tiện. Chẳng biết Phật giáo có
pháp phương tiện như vậy hay chăng? (Xét ra, Phật
giáo phải tŕ giới, ăn chay, Cơ Đốc giáo th́
khỏi [phải cực nhọc như vậy], chỉ cần
tin Chúa là được rồi!) (Lư Thanh Lâm hỏi)
Đáp:
Trong điều trước, tôi đă thanh minh: “Cột báo
này chỉ bàn luận Phật lư, chẳng phê b́nh tôn giáo khác”,
nhưng Phật giáo tự có phương tiện của Phật
giáo. Đối với pháp môn phương tiện nhất
[trong Phật giáo], công phu bên ngoài chỉ là: Chẳng phạm
các điều giết, trộm, tà dâm, chẳng cần phải
ăn chay! Công phu bên trong chỉ là quét sạch hết thảy
loạn tưởng trong tâm, chỉ giữ bốn chữ “A Di Đà Phật”, bèn có thể
sanh về thế giới Cực Lạc, bất sanh, bất
diệt, thù thắng hơn sanh lên cơi trời ngàn ngàn vạn
lần v́ trên cơi trời hăy c̣n sanh tử!
*
Hỏi: Nho gia có nói “duy thượng
trí, hạ ngu bất di” (chỉ có bậc thượng
trí và kẻ hạ ngu là chẳng đổi dời). Vị
đại đệ tử của đức Phật là
ngài Châu Lợi Bàn Đà Già thoạt đầu đối với
ba chữ Nam Mô Phật c̣n niệm chẳng xong, đúng là hạng
ngu xuẩn tột bậc, nhưng cuối cùng, Ngài chứng
quả, thành A La Hán. Lại có vị thầy trông coi
hương đăng nọ, do ngừa nến bị
hư mốc bèn đem phơi, đến nỗi nến chảy
tan hết, chỉ trơ lại bấc (tim đèn), tức
là kẻ chẳng hiểu sự lư quá đáng. Về sau,
nghiễm nhiên có thể giảng kinh cho pháp sư Đế
Nhàn (xem chi tiết trong bộ Ảnh Trần Hồi Ức
Lục của pháp sư Đàm Hư). Cơi đời gọi
Ngài là Sái Chúc Sư (曬爥師, ông sư phơi nến).
Hai vị ấy đều là từ hạ ngu mà trở
thành hiền thánh tăng, như vậy th́ luận điệu
“hạ ngu bất di” của
Nho gia đă bị nhà Phật đánh đổ. Sự thật
trong ấy là như thế nào? [Đó có phải là] “Nho nói Nho hữu lư, Phật nói Phật
hữu lư” hay chăng? (Hùng
Thanh Tuấn hỏi)
Đáp:
Đọc sách của bất cứ nhà nào, cũng đều
phải hiểu trọn vẹn toàn thể! Chớ nên từ
một câu bèn coi là lời khẳng định. V́ lời lẽ
ấy do một sự hoặc lư nào đó mà phát khởi, [sở
dĩ] có sự khác biệt do đối ứng với mỗi
người, mỗi sự, lại c̣n có các pháp “quyền,
thật, chủ, khách”. Nếu chẳng biện định
những khía cạnh ấy, sẽ phần nhiều là “chấp
vào từ, mà hại nghĩa”. Khổng Tử nói: “Cổ chi ngu dă trực, kim chi ngu
dă trá nhi dĩ hỹ” (Thời cổ th́ ngu mà chất trực,
thời nay th́ đă ngu lại c̣n gian trá). Lại nói: “Cử trực thác cuồng” (Đề
bạt người chánh trực, vứt bỏ kẻ cuồng
vọng). Lại nói “hữu trực” (bạn bè
ngay thẳng)[1]. Ngài lại
c̣n khen ngợi Nhan Uyên giống như ngu, lại ca ngợi
Ninh Vũ Tử[2] ngu chẳng
ai bằng, hễ giữ được cái tâm chánh trực,
sẽ giữ được đạo. Nhà Phật
cũng nói: “Trực tâm thị
đạo tràng” (Trực tâm là đạo tràng). Gộp lại
để xét, hai bên há có mâu thuẫn ư? C̣n đối với
lẽ “bất di” (chẳng
dời), Nho giáo nói “thủ tử
thiện đạo” (chọn cái chết để giữ
lấy đạo lành), Phật dạy: “Bát phong bất động” (Tám gió chẳng động).
Nho th́ “thiết nghiễn, ma xuyên”
(nghiền sắt, mài thủng), Phật th́ “tọa phá bồ đoàn” (ngồi
nát bồ đoàn), đường lối của hai nhà
chưa hề chẳng nhất trí! Đối với ngài
Bàn Đà Già và vị sư phơi nến như ông đă
nêu, hai vị ấy sở dĩ thành tựu, điều trọng
yếu là do chánh trực và [chí hướng] chẳng đổi
dời, chứ không phải v́ họ tối tăm và ngu trá
vậy!
* Hỏi:
Trong tỉnh này, có một vị hành giả khổ tu trong
núi, giữa trưa ăn một bữa, suốt mười
chín năm đều như một ngày, tự nói “đă hiểu thông suốt Phật
đạo, mở Phật nhăn”. Xét ra, tợ hồ Phật
nhăn chính là cảnh giới của Phật. Cớ sao vị
hành giả ấy tự xưng là đă mở mang Phật
nhăn? (Hà Dĩ Cố hỏi)
Đáp: Mỗi
ngày ăn một bữa, bèn gọi là “quá Ngọ chẳng ăn”; trong giới của nhà
Phật, có giới điều ấy. Hàng tỳ-kheo và
người tại gia đă thọ Bồ Tát giới tŕ ngọ
rất đông, hoàn toàn chẳng có ǵ là thù thắng, đặc
biệt! Nói tới Phật nhăn, trong Ngũ Nhăn, chỉ riêng
ḿnh đức Phật là có Phật nhăn. Đối với
bốn loại mắt của người, trời, và Thanh
Văn, Bồ Tát, [đức Phật] đều có đầy
đủ, chẳng thiếu sót. Do mười thứ Trí Lực,
Như Lai cũng thấy thấu triệt. Đây là tôi
đă dựa theo sách Đại Thừa Nghĩa
Chương để trả lời. [Đối với]
vị hành nhân như lời ông hỏi, tôi tránh né chẳng
bàn đến!
* Hỏi:
Theo như vị hành giả ấy đă nói: “Khi tọa thiền
trơ trọi trên đỉnh núi, thường thấy
trong hư không có Bồ Tát dùng nước kim hoa gột rửa
thân tôi. Lại thường thấy trong hư không, kim
đồng hướng về tôi lễ trăm lạy. Rồi
có các thứ chim ngậm các thứ hoa đỏ có cuống
dài rẩy lên đầu và quanh khắp thân tôi. Bao nhiêu là con
sóc thường xúm lại trên cành cây nơi tôi ngồi, chạy
nhảy qua lại, hướng đến tôi ngồi
đi nhiễu theo chiều bên phải giống như nhiễu
Phật vậy. Lại c̣n có một lần, khi tôi nhập
thâm định, một con rắn xanh to lớn khoanh tṛn
trước ṭa, dường như nó có học Thiền,
hoàn toàn chưa hề làm hại tôi”. Vị hành giả ấy
tự xưng là đă “thông suốt thiền pháp rộng răi.
Đối với cảnh giới của trăm ngàn ức
tam-muội không ǵ chẳng biết. Quả vị Thập
Địa cũng đều đă chứng”. Đơn giản
là cảnh giới ấy chẳng khác ǵ Phật! Vị ấy
có phải là một vị Phật mới xuất thế
hay chăng? Kính xin hăy dạy cho! (Hà
Dĩ Cố hỏi)
Đáp:
Quả vị Thập Địa vẫn chưa phải là
Phật, vẫn c̣n thuộc vào địa vị đang tu
tập. Đối với Tạng, Thông, Biệt, Viên, dùng
ngay Tạng Giáo để luận: [Để chứng
đắc] Phật quả [trong Tạng Giáo], vẫn phải
phát khởi ba mươi bốn tâm vô lậu chân thật,
nhanh chóng đoạn tập khí Kiến Tư Hoặc, trải
qua ba A-tăng-kỳ kiếp, lợi ích vô biên chúng sanh mới
ḥng thành [Phật quả ấy]. Đức Thích Ca [tu khổ
hạnh] suốt sáu năm tại Ấn Độ, chính là
một lần thị hiện dấu vết trong hơn tám
ngàn lần thị hiện [trong thế giới Sa Bà], chẳng
phải là chỉ trong một đời này mà thành Phật
đâu nhé! Đấy là dựa theo kinh giáo để phân
tích sự khác biệt giữa Thập Địa và Phật.
Đối với vị hành nhân mà ông đă hỏi, tôi tránh
né, chẳng bàn đến!
* Hỏi:
Vị hành giả ấy tự xưng là lúc hai mươi mốt
tuổi, tu Tứ Thiền Bát Định, biết chuyện
trong hai mươi tám tầng trời, Tây Phương Cực
Lạc thế giới cũng đều trông thấy, hoàn
toàn có thể biết trước nhân quả ba đời.
Sau khi đại giác vào năm Dân Quốc 41 (1952), Ngài tùy
duyên thuyết pháp, tùy theo căn cơ mà thí giáo phù hợp.
Tiếc là kẻ tri âm th́ ít, thậm chí chính những người
tu đạo lại gây khó khăn, bị người ta vu
báng, khinh miệt, bị người ta bài bác v.v... Tôi trộm
nghĩ rằng: Đă là bậc đại giác, cớ sao vẫn
bị kẻ khác khinh miệt, bài xích? Xin hăy dạy cho! (Hà Dĩ Cố hỏi)
Đáp:
Đức Phật ứng thế, quyền biến thị
hiện thành tựu ngay trong một đời. Xét theo kinh dạy,
Phật luôn thị hiện tám tướng thành đạo.
Đức Thích Ca là một chứng cớ vậy. Đức
Phật ứng thế, ắt khế hợp nhân duyên, tự
nhiên có bát bộ hộ pháp, ngàn muôn phần chẳng có lẽ
nào thị hiện suông! Đây cũng là tôi dựa theo câu hỏi,
theo đúng giáo pháp mà đáp. Đối với vị hành
nhân trong lời hỏi, tôi tránh né chẳng bàn đến!
Nói thêm,
tôi phát tâm và do năng lực của chính ḿnh, chỉ nhằm
giới thiệu bước đầu tiên cho người
chưa biết đường lối, đa phần bàn luận,
nghiên cứu theo phương diện giáo lư. Hễ có ai hỏi
đến những hành trạng của cá nhân nào đó,
đều tránh né chẳng bàn luận. Nếu có thể biết
công phu của người ta đạt đến cảnh
giới nào, đấy chính là trí huệ thập lực của
Phật, chẳng phải là chuyện của phàm phu! Đối
với người mà ông đă hỏi, có phải là đích
thân trông thấy, hay chỉ là nghe đồn? Nếu chẳng
phải là đích thân trông thấy, hăy gác lại đừng
bàn nữa, đừng dẫn khởi thị phi! Hơn nữa,
thánh biết phàm, chứ phàm chẳng biết thánh, người
trí biết kẻ ngu, kẻ ngu chẳng biết người
trí. Người ấy đă là Phật,
tức là bậc trí, tại hạ là hạng phàm phu sát
đất, cũng là kẻ ngu si, làm sao dám “phận dưới
mà ḍ lường bậc trên”, tự chuốc lấy lầm
lạc, xằng bậy! V́ thế, chẳng bàn tới!
* Hỏi:
Tôi đọc kinh Địa Tạng có hai chỗ không hiểu,
xin hăy giải thích, chỉ dạy. Trong phẩm thứ nhất,
Đao Lợi Thiên Cung Thần Thông, đức Phật nói
thọ mạng của Giác Hoa Định Tự Tại
Vương Như Lai là bốn trăm ngàn vạn ức
A-tăng-kỳ kiếp. Trong phẩm thứ tư, Diêm Phù
Chúng Sanh Nghiệp Cảm, đức Phật nói thọ mạng
của Nhất Thiết Trí Thành Tựu Như Lai là sáu vạn
kiếp, thọ mạng của Thanh Tịnh Liên Hoa Mục
Như Lai là bốn mươi kiếp. Văn bối biết
Báo Thân của Phật cố nhiên là hạn chế về thọ
mạng, Pháp Thân rốt cuộc cũng có hạn lượng
về tuổi thọ, lại c̣n dài ngắn khác nhau ư? Lại
c̣n sau khi đă hết tuổi thọ, có phải là Phật
vẫn đọa luân hồi? Nếu không, sau khi đă hết
tuổi thọ, sẽ lại đi về đâu? Nếu
thọ mạng của Phật cũng có ngằn hạn, [vậy
th́] có khác ǵ chúng sanh trong lục đạo? Chỉ là tuổi
thọ dài lâu hơn mà thôi! (Trần
Anh Thụ hỏi)
Đáp:
Thân sau khi đă thành Phật sẽ chẳng giống phàm
phu. Ngay như thân phàm phu cũng có sự khác biệt như
cả kiếp và trong một sát-na, dài ngắn trọn chẳng
nhất loạt giống hệt như nhau! Bất quá đều
là có sống chết mà thôi! Phật có ba thân: Một là Pháp
Thân chẳng có tướng, không khởi đầu, không kết
thúc. Hai là Báo Thân tướng hảo trang nghiêm, có khởi
đầu, chẳng có kết thúc, chỉ v́ độ chúng
sanh mà hiển hoặc ẩn. Ba là Ứng Hóa Thân, tướng
trạng chẳng phải chỉ có một, có khởi đầu,
có kết thúc, cho nên có dài hay ngắn. Thân này v́ độ
chúng sanh mà trong một kiếp-ba (kiếp) nào đó, bèn
đến một cơi nào đó, hiện h́nh tướng nào
đó. Duyên đến th́ bèn dường như là có sanh,
duyên hết th́ dường như qua đời, diệt độ.
Thân Ứng Hóa ấy do Pháp Thân phân ra, chẳng phải là thật
sự có sanh tử.
*
Hỏi: Trong phẩm thứ mười ba, tức phẩm Chúc
Lụy Nhân Thiên, câu thứ mười chín từ dưới
đếm lên, “nhĩ thời
thập phương nhất thiết chư lai” (khi ấy,
hết thảy các những vị đến từ mười
phương), cho đến “bất
khả thuyết, bất khả thuyết chư Phật
Như Lai”, nên hiểu chữ “chư
lai” (諸來) theo nghĩa nào? Nếu
bảo là “chư Phật
Như Lai” th́ do trong phần kinh văn sau đó đă
đề cập, dường như phạm lỗi trùng lặp,
có phải là do lỗi ấn loát hay không? (Trần Anh Thụ hỏi)
Đáp:
“Nhất thiết chư lai”:
“Nhất thiết” (hết thảy) là nói theo quả
địa, tức là [nói đến] Phật và các vị Bồ
Tát, chẳng nói đến cơi nước. “Chư lai” là nói theo cơi nước, [ư nói] những
vị [tham dự pháp hội ấy] đă đến từ
các nơi nhiều như số vi trần trong mười
phương cơi nước, chẳng nói đến quả
vị. Văn lư rất nghiêm ngặt, chẳng phải là
nói “chư Phật Như Lai”
mà cũng chẳng phải là lỗi lầm ấn loát! Hăy
suy nghĩ sẽ tự thông hiểu.
* Hỏi:
Tôi đọc bài văn Châu Dương Huệ Khanh Cư
Sĩ Sự Lược (đại lược về hành
trạng của cư sĩ Châu Dương Huệ Khanh) do
ông Châu Bang Đạo viết. Trong ấy có nói khi
Dương cư sĩ[3] sanh Tây
bèn thị hiện mắc bệnh ung thư. Dương
cư sĩ thờ Phật thành kính và tu tŕ nghiêm cẩn (đối
với các thứ thụy tướng, đều có thể
dẫn chứng), cớ sao vẫn tạo thành căn bệnh
ngặt nghèo như vậy? Nếu bảo là do định
nghiệp, nhưng trong bài Sự Lược có nói bà đă
dùng Đại Bi Thủy chữa trị vô số người
bị bệnh ung thư, bệnh phổi v.v… Cớ sao
đối với nghiệp của kẻ khác, cư sĩ
có thể dùng Đại Bi Thủy để hóa giải, mà
rốt cuộc đối với nghiệp của cư
sĩ, Phật pháp trọn chẳng thể hóa giải?
Hơn nữa, trong bài Sự Lược c̣n nói khi cư
sĩ tụng kinh, ngọn đèn [thắp trên bàn Phật]
bèn kết xá-lợi, chẳng biết xá-lợi ấy có phải
là cùng chất liệu với xá-lợi thu được
sau khi hỏa thiêu nhục thân hay không? Đối với những
điều đă nói trên đây, chẳng phải là tôi dám
nghi Phật, báng bổ bậc hiền đức, mà là do
văn bối học vấn chưa bồi dưỡng đủ,
tri kiến hữu hạn, riêng mang ư nguyện tùy theo thời
nghi mà hoằng dương Phật pháp, bản thân đă chẳng
biết, chẳng thể kịp thời thưa hỏi bậc
minh sư đại đức. Nếu có người nêu
ra những điều nghi hoặc ấy để chất
vấn, ắt sẽ ngó sững, chẳng có lời lẽ
ǵ đối đáp. Do vậy, dám xin hướng về
Ngài thưa hỏi! (Trần Anh
Thụ hỏi)
Đáp:
Lời hỏi này gồm ba chuyện, hăy nên tách ra để
đáp.
1)
Một là thờ Phật thành kính, cớ sao vẫn tạo
thành căn bệnh ngặt nghèo? Hễ là nhân th́ phải
đợi duyên để chín muồi, khi đă chín muồi
bèn gọi là quả. Nhân có xưa và nay, một đời,
nhiều đời khác nhau. Kẻ chẳng có Túc Mạng
Thông không sao biết được! V́ thế, nay có kẻ
ác mà rốt cuộc phú quư, chết già. Hoặc là có người
lành, rốt cuộc nghèo khổ, chết yểu ngang
xương, [những chuyện ấy] đều là do [nhân
duyên trong] đời trước đă chín muồi. Nếu
người tu hành, khi chưa đoạn Kiến Hoặc
và Tư Hoặc, ắt là phải báo đền nhân xưa
th́ mới được giải thoát. Lục Tổ gặp
giặc, từng nói: “Ta nợ
tiền, chứ chẳng nợ mạng ngươi”. V́
thế, Ngài bị hao tổn tiền tài, chẳng bị tổn
thương tánh mạng. Thánh tăng An Thế Cao đă từng
giải thoát, nhập thai hai lượt để đến
Trung Hoa đền mạng. Ngay như trong Nho gia, đệ
tử của Khổng Tử là Nhan Uyên và Nhiễm Bá
Ngưu[4]
đều là những bậc đức hạnh cao cả,
được xếp vào hàng Tứ Khoa[5], [thế
mà] một vị bất hạnh đoản mạng, một
vị mắc bệnh ngặt nghèo. Chẳng đoạn Hoặc,
quả ắt chín muồi!
2)
Hai là nghi nước đă gia tŕ bằng chú Đại Bi có
thể trị lành bệnh của người khác, chẳng
thể trị lành bệnh của chính ḿnh. Sự chẳng
phải là như vậy! Người tu hành chưa đoạn
Hoặc, hay là bậc tiểu thánh đă chứng quả, sức
thần thông và công đức đều có chừng hạn.
Giải khổ cho người khác hay cho chính ḿnh, có lúc hữu
hiệu, có khi vô hiệu, hoàn toàn chẳng phải là nhất
định! Gặp kẻ nhân chưa chín muồi để
tạo thành quả, bèn [có thể giải nghiệp cho kẻ
ấy] hữu hiệu. Gặp kẻ nhân đă chín muồi
tạo thành quả, bèn vô hiệu. Ví như viên đạn nằm
sẵn trong khẩu súng, tuy đă gieo cái nhân giết chóc,
nhưng chưa lẩy c̣, vẫn có thể giải trừ.
Nếu đă lẩy c̣, đạn đă ra khỏi miệng
súng, tức là đă trở thành quả, chẳng thể làm
ǵ được! Ngay như ngài Mục Kiền Liên thần
thông bậc nhất, chẳng thể cứu mẹ mắc
nạn ĺa khỏi kiếp ngạ quỷ miệng bốc lửa!
Ngài giấu ba ngàn người họ Thích trong bát [để
tránh nạn tàn sát của vua Tỳ
Lưu Ly], họ đều hóa thành máu. Đấy đều
là những chứng cớ vậy. V́ thế, người
có trí bèn sám hối từ cái nhân. Duyên đă chín muồi thành
quả, chỉ [đành] rên siết suông để chịu
đựng mà thôi.
3) Ba là sự khác biệt giữa xá-lợi kết
nơi đèn và xá-lợi do hỏa thiêu nhục thân. Cư
sĩ Huệ Khanh có được hai thứ xá-lợi, kẻ
hèn này đều đích thân trông thấy. Tướng trạng
có lớn, nhỏ sai khác, c̣n chất liệu có giống nhau
hay không, tôi chẳng biết. Bởi lẽ, những chuyện
như vậy trọn chẳng phải là thường có, lại
chẳng dám không giữ ḷng cung kính để làm theo thế
tục giao cho các thứ xét nghiệm hóa học. V́ thế,
chẳng tiện để tự suy lường xằng bậy,
nhưng biết và không biết dường như cũng
chẳng cần thiết!
*
Hỏi: Trước kia, tôi từng nghe thầy nói: “Ly niệm linh tri th́ mới là
chân tâm. Hễ có phân biệt th́ đều là t́nh thức”. Người
tu đạo muốn chuyển phàm thành trí, c̣n có thể dốc
sức nơi tư duy hay không? (Vương
Chí Hiền hỏi)
Đáp:
Tu đạo ắt phải trải qua ba giai đoạn
Văn, Tư, Tu. Ba điều ấy đều thuộc về
phạm trù Giải và Hạnh, chính là nhân địa. Đă
có nhân, ắt mong có quả, ắt phải chứng th́ mới
là quả địa. Tư duy là Giải trong nhân địa.
“Linh tri” là chứng nơi quả
địa.
*
Hỏi: Đối với tài năng của con người,
mỗi người có sở trường riêng. Chúng ta tu học
rốt cuộc là ứng dụng sở trường, hay tận
lực uốn nắn sở đoản? Nếu chỉ
dùng sở trường, sợ rằng khó thể viên măn
đức! Nếu chỉ uốn nắn sở đoản,
lại sợ khó thể thành tựu? (Vương Chí Hiền hỏi)
Đáp:
Vấn đề này nên có hai nghĩa:
1)
Một là sở trường hay sở đoản là nói về
khả năng chuyên biệt nơi thân tâm.
2)
Hai là sở trường và sở đoản là nói tới
sự mong cầu nơi đạo hoặc tài nghệ.
Nói
theo phía thân tâm, hăy nên dùng sở trường. Phàm đối
với chỗ vận dụng, tâm ắt phải chuyên chú. Nếu
tâm thường chuyên chú, hiện thời nói là “tập
trung”, kinh dạy “chế tâm nhất
xứ”, hễ “nhất xứ” sẽ thật
sự thông đạt, tức là “tâm
thông”. Tâm là vua. Thật sự đă thông, trăm thể
sẽ tùy thuận cái tâm, không ǵ chẳng viên măn! Nói theo phía
đạo và tài nghệ, cũng nên vận dụng sở
trường, nhưng hăy nên chọn lựa kèm theo [những
điều khác] để tham khảo. Tham khảo th́ dùng
cách đa văn; đó gọi là “pháp
môn vô lượng thệ nguyện học”. Vận dụng
sở trường là thâm nhập một môn, sẽ bỗng
dưng mở mang rạng ngời. Đó gọi là “một kinh đă thông, các kinh
đều thông”.
*
Hỏi: Hành Bồ Tát đạo th́ pháp thế gian và xuất
thế gian đều nên học tập. Học pháp xuất
thế gian cố nhiên là có lợi cho những đời
sau. Nếu học pháp thế gian, có phải là v́ lợi ích
cho đời kế tiếp?
(Vương Chí Hiền hỏi)
Đáp:
Pháp thế gian hay xuất thế gian là lời phương
tiện dành cho hàng sơ cơ chọn lựa pháp. Thật
ra, Lư và Sự của pháp thế gian và xuất thế gian cốt
yếu ở nơi tâm, chẳng phải ở nơi pháp. Kẻ
ngu đọc kinh Pháp Hoa và Niết Bàn chỉ được
phước báo; bậc trí đốt tượng Phật,
giết mèo, không ǵ chẳng phải là Bát Nhă! Câu hỏi này
có thể áp dụng cho hàng Bồ Tát, mà cũng lại có thể
áp dụng cho đời sau. Chẳng biết là ông hỏi về
loại thứ nhất, hay loại thứ hai. Nếu nói
đến hạng thứ nhất th́ chính là hỏi về
đời sau của hàng Bồ Tát. Nếu nói đến hạng
thứ hai th́ chính là nói đến đời sau của
người học pháp xuất thế. Trước hết,
nói về hạnh Bồ Tát. Bồ Tát chẳng sợ sanh tử,
chẳng nhập Niết Bàn, lợi hành, đồng sự,
thiện xảo nhiếp độ. Chẳng hiểu pháp thế
gian, làm sao có thể phá Trần Sa Hoặc? Phật pháp ở
trong thế gian, làm sao có thể ĺa thế gian để cầu
Bồ Đề cho được? Lại nói tới chuyện
chỉ học pháp xuất thế gian, Nhị Thừa
cũng là xuất thế, vĩnh viễn trụ trong Niết
Bàn, hoàn toàn chẳng có đời sau. Pháp thế gian chẳng
có lợi đối với họ!
* Hỏi:
Ngày Hai Mươi Mốt tháng Hai là thánh đản của
Phổ Hiền Bồ Tát. Ngày Hai Mươi Mốt tháng Hai
do căn cứ vào đâu mà có? Những người học
Phật thường là chẳng biết lịch sử xuất
sanh của Phổ Hiền Bồ Tát. Lại c̣n [mong hiểu
biết] lịch sử của ngày mồng Bốn tháng
Tư, tức là ngày thánh đản của Văn Thù Bồ
Tát. Lại c̣n [mong biết rơ] nguồn gốc ngày thánh đản
của Dược Sư Phật là từ chỗ nào mà ra?
Cho đến hiện thời đă có lịch sử bao
lâu? Có phải là các Phật giáo đồ trên thế giới
đều khánh chúc ngày khánh đản của Dược
Sư Phật vào ngày Ba Mươi tháng Chín hay không? (một độc giả ở
Đào Viên hỏi)
Đáp:
Ông nêu ra ba câu hỏi có tánh chất tương đồng,
cho nên tôi gộp lại để đáp, ông sẽ tự
hiểu toàn bộ. Chư Phật, Bồ Tát đản sanh
và chứng quả đều từ nhiều kiếp
trước. Trên địa cầu, kể từ khi có lịch
sử ghi chép sự việc, lâu nhất chẳng thể
hơn năm ngàn năm! Trong năm ngàn năm lịch sử
ấy, lịch pháp xét theo chiều ngang lẫn chiều dọc,
phần nhiều bất đồng, vẫn là khó ḷng có
được một tiêu chuẩn. Nếu muốn dùng những
sách vở đă có sau này để suy đoán những chuyện
xa xưa khi chưa có sách vở, khó thể nói xác quyết
được! Hơn nữa, những ngày trong các tháng Hai,
tháng Tư, tháng Chín v.v… trong lời hỏi chính là căn cứ
theo Âm Lịch hiện thời của Trung Hoa, chứ thời
cổ hoàn toàn chẳng giống hệt như vậy. Ngoại
quốc cũng chẳng giống như vậy. Những
điều ông đă nêu, bất quá là đối với
người Trung Hoa trong thời cận đại, tùy tiện
dựa vào một sự kiện nào đó, để chọn
một ngày kỷ niệm một vị Phật hay một
vị Bồ Tát nào đó mà thôi. Sự th́ cần phải
thành tâm, chớ nên câu nệ h́nh tích!
*
Hỏi: Sau khi đệ tử đă tin Phật, chẳng lạy
thần thổ địa. Do có người hỏi tôi: “V́
sao các ông sống trong nhà cửa, mà chẳng lạy thần
thổ địa vậy?” Chẳng biết phải nên trả
lời họ ra sao? (Lư Khoan Quán
hỏi)
Đáp:
Đối với những lời lẽ [bắt bẻ] rỗi
hơi, tạp nhạp, chẳng cần phải trích dẫn
kinh điển để bàn luận. Nếu bất đắc
dĩ th́ có thể nói: “Niệm
Phật tâm bèn tịnh. Tâm tịnh, ắt đất yên”.
Hoặc nói: “Nơi thờ Phật, cát thần (thiện thần)
hộ pháp. Chỉ quan trọng là thành kính, chẳng cần
phải chọn lựa cuộc đất”.
*
Hỏi: Lại nữa, đệ tử từ sau khi tin Phật,
đối với hết thảy thần quỷ đều
chẳng lễ bái. Có người bảo tôi: “Đời
này ông có thể nắm chắc văng sanh Tây Phương hay
không? Nếu chẳng được văng sanh, đời sau
sẽ chẳng có thần quỷ nào để nương
cậy!” Xin thầy khai thị. (Lư
Khoan Quán hỏi)
Đáp:
Tuy trong đời này chẳng văng sanh Tây Phương,
cũng được hết thảy chư Phật hộ
pháp, đều được bất thoái nơi Bồ
Đề. Gặp duyên bèn tiếp tục tu, rốt cuộc
về cơi sen, chẳng cần nương cậy quỷ thần
để rồi đến nỗi nẩy sanh ma chướng.
*
Hỏi: Đức Phật nói hết thảy tứ sanh, [kể
cả] những loài ngọ ngoạy có linh tánh (côn trùng, tiểu
động vật) đều có Phật Tánh, vậy th́ hết
thảy những kư sinh trùng ở trong thân thể con người
đều có Phật Tánh ư? (Trần
Trí Minh hỏi)
Đáp:
Phàm là các động vật có sanh mạng, đều có
tánh và duyên ḥa hợp. Vô tánh sẽ chẳng sanh. Hễ có
tánh đều là giác, [đó là] truy tới tận nguồn
cội. Những loài kư sinh trên thân người há ra ngoài lệ
ấy ư?
*
Hỏi: Giác tánh và phách của người sau khi đă chết
có cùng thuận theo duyên mà đến một nơi nào đó
hay không? (Trần Trí Minh hỏi)
Đáp:
Phật học chẳng nói đến chữ “phách” (魄); đấy
chính là danh từ trong văn học Trung Hoa, là một danh từ
thuộc về vật lư. Câu “nhân
sanh thỉ hóa viết Phách” (cái hóa hiện ban đầu
trong cuộc đời con người được gọi
là Phách) trong Tả Truyện, có ư nói: “Phách chính là thân thể”. Lại nói: “Phụ h́nh chi linh viết Phách,
phụ khí chi thần viết Hồn” (Sự linh thông
nương dựa vào h́nh tướng được gọi
là Phách, cái thần nương tựa vào khí th́ gọi là Hồn).
Phật học nói Tánh do bất giác bèn biến thành Thức.
Tánh và Thức là một chuyện. Giác và hiểu rơ th́ là bản
tánh, tối tăm và mê hoặc th́ là thần thức. Thần
thức như vừa mới nói chính là cái được
ngoại giáo gọi là “linh hồn”.
Chữ Phách được nhắc tới trong thư hỏi,
nếu nói theo kiểu thế tục, sẽ là có “ba hồn, bảy phách”, [thế
gian nói như vậy là v́] chẳng biết [hồn và phách
là] do tánh và thức chuyển biến đó thôi!
*
Hỏi: Người sau khi ngừng thở, giác tánh thuận
theo nghiệp mà luân chuyển trong sáu nẻo, nhưng ngoài [lục
đạo] ra, c̣n có riêng một loài quỷ sống trong cơi
âm đó chăng? (Trần Trí
Minh hỏi)
Đáp:
Quỷ là một loài trong lục đạo, há có phải là
một loài riêng [ở ngoài lục đạo]? Thân chúng sanh
vừa mới chết, thần thức chưa chuyển
sang đường khác, kinh Dịch gọi [thần thức
ấy] là “du hồn” (遊魂, cái hồn
bềnh bồng), nhà Phật gọi nó là “thân Trung Ấm”. Thời gian để nó đầu
thai trong sáu đường, ngắn th́ như một cái khảy
ngón tay, dài th́ bốn mươi chín ngày. Lúc đó, chẳng
gọi là Quỷ. Qua giai đoạn ấy, lại có hiện
tướng như trong đời trước, th́ mới là
đă thuộc vào quỷ đạo. Nếu đầu thai
trong năm đường khác, h́nh tướng trong đời
trước bèn tiêu mất.
*
Hỏi: Báo Bồ Đề Thụ số một trăm
chín mươi mốt đăng bài giảng Đoạn
Nghi Sanh Tín của pháp sư Bạch Thánh, cuối bài có dẫn
chuyện “chó vua Nghiêu cắn
vua Thuấn”, tôi cảm thấy rất lạ lùng, mới
mẻ, v́ chỉ biết chuyện “chó của Đạo Chích cắn vua Nghiêu” và “chó của vua Kiệt cắn vua
Nghiêu”, nên cũng viết thư hỏi. Thầy Bạch
Thánh trả lời có những câu như: “Phát xuất từ câu trả lời của ḥa
thượng Đại Điên đối với Hàn
Dũ. Có một ngày, họ Hàn ở chùa Linh Sơn tại
Triều Châu, gặp ngài Đại Điên. Ngài Đại
Điên hỏi ‘Kinh Phật có chỗ nào chẳng đúng?
Ông đă xem bao nhiêu bộ kinh?’ Họ Hàn chẳng thể
đáp được. Ngài Đại Điên bèn châm chọc:
‘Chó của vua Nghiêu cắn vua Thuấn’. Đó là xuất xứ
của điển cố ấy, tôi cũng chẳng tra cứu
cặn kẽ”. Cụ là bậc thông suốt rộng răi
cả hai giáo Nho lẫn Phật, mong hăy chỉ dạy cho. Nếu
không, tức là để tiếp dẫn Hàn Văn Công (Hàn
Dũ) quay về với Phật mà ngài Đại Điên tạm
thời bịa ra lời ấy? (Hùng
Thanh Tuấn hỏi)
Đáp:
Cư sĩ hỏi xuất xứ của câu “chó vua Nghiêu cắn vua Thuấn” trong
lời châm chọc ông Hàn của ngài Đại Điên, lại
nói “nếu không, tức là ngài
Đại Điên bịa ra hay không”. Tôi trộm biết
cổ nhân thốt lời trào phúng, đa phần là do thấy
cảnh sanh t́nh, hoặc là giả lập ra cảnh nhằm
gởi gắm [tâm ư]. Chỉ nên dùng tâm để thấu hiểu
tâm, khơi gợi giác ngộ, chẳng bắt buộc là phải
thật sự có chuyện ấy! “Duật bạng tương tranh” (Con diệc và
con trai tranh chấp với nhau), “hạc
triệt chi phụ” (con cá diếc trong vũng nước
cạn của vệt bánh xe)[6],
những thí dụ như vậy chẳng thể kể xiết!
Người nêu thí dụ, phần nhiều là đặt
chuyện, há riêng ngài Đại Điên? Ngay như “chó của Đạo Chích cắn
vua Nghiêu” và “chó của vua Kiệt
cắn vua Nghiêu” há chẳng phải là đặt chuyện
ư? Đạo Chích và vua Nghiêu, vua Nghiêu và vua Kiệt
đâu có đồng thời! Chó đời sau làm sao có thể
cắn người thuộc đời trước cho
được? Trào phúng mà c̣n đ̣i khảo cứu nỗi
ǵ?
*
Hỏi: Có người khách nghi ngờ Lục Tổ Đàn
Kinh, lại c̣n trộm kèm thêm ư kiến của chính ḿnh
như sau: Hoàng Mai Thiền Tông Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn
đại sư là một vị thánh giả, chấn
hưng rạng rỡ tông phong, pháp lực vô biên, chẳng cần
phải đợi thưa bày mới biết. Khi Lục Tổ
Huệ Năng từ Tân Châu ở Lănh Nam xa xôi đến
tham bái, trong giây phút đối đáp, Ngũ Tổ biết
Lục Tổ là bậc căn khí đại lợi, do thấy
đồ chúng vây quanh, Tổ chẳng nói ǵ nữa, sai [ngài
Huệ Năng] đi giă gạo trong pḥng xay xát. Tám tháng sau,
Hoằng Nhẫn đại sư một hôm bỗng thấy
ngài Huệ Năng, bảo rằng: “Ta nghĩ tri kiến của
ngươi có thể dùng được, sợ rằng sẽ
có kẻ ác hại ngươi, cho nên chẳng nói với
ngươi. Ngươi có biết hay không?” Đáp rằng:
“Đệ tử cũng biết ư thầy, chẳng dám
đến trước tiền điện để kẻ
khác khỏi biết”. Trong đạo tràng thần thánh trang
nghiêm, v́ sao chẳng tránh khỏi có kẻ ác muốn làm hại
tánh mạng của người khác? Đương nhiên chẳng
phải là do Ngũ Tổ giáo hóa chẳng đủ! Đấy
là điều thứ nhất khiến cho người ta mờ
mịt, ngơ ngác! (Hùng Thanh Tuấn
hỏi)
Đáp:
Đạo tràng công khai, người hiền, kẻ ngu cùng
tụ tập, Phật pháp từ bi b́nh đẳng, làm sao
có thể cự tuyệt kẻ khác đến học? Rồng
rắn hỗn tạp, hóa độ có khó, dễ. Kẻ chẳng
đoạn Hoặc, có lúc nẩy sanh ác niệm. Trong đạo
tràng của đức Thế Tôn, c̣n có Xa Nặc và Đề
Bà Đạt Đa, há chỉ ḿnh Ngũ Tổ [gặp phải
cảnh ngộ ấy]? Đó chẳng phải là giáo hóa
không đủ, mà là kẻ mê sâu biến đổi thành thiện
lương quá chậm chạp!
*
Hỏi: Cho đến khi những câu kệ “Bồ Đề bổn vô thụ, minh kính diệc
phi đài, bổn lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần
ai” (Bồ Đề chẳng phải cây, gương
sáng chẳng phải đài, vốn chẳng có một vật,
chỗ nào nhuốm bụi trần) kinh động đại
chúng, Ngũ Tổ thấy mọi người kinh ngạc,
lạ lùng, sợ có kẻ sẽ tổn hại [Lục Tổ]
(chứng minh đạo tràng Hoàng Mai Đông Sơn có kẻ
ác ẩn nấp đă lâu), bèn xóa đi, vờ như [Lục
Tổ] cũng chưa kiến tánh. Ngày hôm sau, [Ngũ Tổ]
ngầm đến pḥng giă gạo, hỏi ḍ “gạo đă giă sạch hay
chưa?”, dùng gậy chống gơ lên đầu chày ba
lượt rồi bỏ đi. Ngài Huệ Năng hiểu
ư, canh ba vào thất của Ngũ Tổ. Ngũ Tổ dùng
ca-sa che kín xung quanh, chẳng cho kẻ khác thấy. V́ sao chẳng
chánh đại quang minh dạy bảo? Đấy là điều
thứ hai khiến cho người ta mờ mịt, ngơ
ngác! (Hùng Thanh Tuấn hỏi)
Đáp:
Cư sĩ đă đọc nhiều sách Nho, há chẳng biết
lời giáo huấn “cử nhất
ngung, bất dĩ tam ngung phản, tắc bất phục
dă” (nêu ra một góc mà chẳng thể suy ra ba góc kia th́ chẳng
dạy nữa) ư? Nhà Phật đối với kẻ hạ
căn chẳng dạy pháp bậc thượng. Do họ
đă chẳng thể nghe lọt tai, khai ngộ, mà ngược
lại c̣n tăng thêm mê hoặc. Như kẻ mù từ lọt
ḷng chẳng biết sữa trắng là như thế nào, lần
lượt [đối với các thí dụ] vỏ ốc,
gạo, tuyết, chim hạc, tầng tầng lầm lạc[7].
Thấy lầm, đâm ra hại ḿnh; nói lầm, lại hại
người khác. Tử Lộ hỏi về chuyện quỷ
thần, lại hỏi về cái chết, Khổng Tử
đều chẳng đáp, cũng chẳng phải là không
quang minh ư? Xét theo lẽ đó, há có thể trách móc
Ngũ Tổ?
*
Hỏi: Ngũ Tổ giảng kinh Kim Cang [cho Lục Tổ],
đến câu “ưng vô sở
trụ nhi sanh kỳ tâm”, Huệ Năng đại ngộ
“hết thảy vạn pháp chẳng
ĺa tự tánh”, bèn thốt lời khải thỉnh.
Ngũ Tổ biết Ngài đă ngộ tự tánh, cuối
cùng c̣n nói “canh ba tiếp nhận
pháp, chẳng có ai biết”. Đại pháp cớ sao lại
truyền dạy riêng tư? Đó là chuyện khiến cho
người ta ngơ ngác, mờ mịt thứ ba! (Hùng Thanh Tuấn hỏi)
Đáp:
Cái học tột bậc chẳng phải là bạ ai
cũng truyền! Sự thật là v́ sợ [truyền dạy]
cho kẻ chẳng thể tiếp nhận, sẽ trở
thành đem sai lầm truyền dạy sai lầm, đâm ra
gây hại cho lẽ chân, vốn là v́ hoằng đạo, lại
trở thành kẻ giặc phá đạo! Xin hăy đọc
câu “Sâm hồ! Ngô đạo, nhất
dĩ quán chi. Tăng Tử viết dụy. Tử xuất,
môn nhân vấn viết: ‘Hà vị dă?’ Tăng Tử viết:
Phu tử chi đạo, trung thứ nhi dĩ hỹ” ([Khổng
Tử bảo]: “Này Tăng Sâm! Đạo của ta chỉ
dùng là một tư tưởng cơ bản để quán
triệt từ đầu đến cuối”. Tăng Tử
thưa: “Vâng!” Khổng Tử bước ra, các môn đệ
hỏi: “Thầy nói nghĩa là sao?” Tăng Tử đáp:
“Đạo của thầy là trung thực, khoan dung mà thôi”).
Có thể thấu hiểu ư ấy, sẽ có thể cởi
gỡ nỗi hiểu lầm!
*Hỏi:
Bèn truyền Đốn Giáo và y bát [cho Huệ Năng], trở
thành vị tổ thứ sáu, bảo: “Ngươi hăy đi cho mau, sợ sẽ có kẻ hại
ngươi”, cớ sao trong hội của Ngũ Tổ
lại dung chứa hàng đệ tử có đức hạnh
bại hoại, mà chẳng thanh trừ? Đấy chính là
điều thứ tư khiến cho người ta ngơ
ngác, mờ mịt! (Hùng Thanh Tuấn
hỏi)
Đáp:
Đức Thế Tôn đến cơi này chuyên v́ độ
chúng sanh. Nói “độ” chính
là từ bi cứu độ. V́ thế, đối với
kẻ tánh ác, khó độ, chỉ đành mặc tẫn[8],
đợi cho kẻ ấy dần dần cải hóa. Thanh
trừ chính là đă đánh mất ḷng từ bi! Ngũ Tổ
được truyền thừa y bát của đức Phật,
cũng tôn trọng ư chỉ ấy. Tuy có kẻ xấu, vẫn
chẳng bỏ họ. Ví như cha mẹ, có con cái tối
tăm, ương bướng, chỉ đành nhẫn nại
dạy bảo. Đó gọi là “trụ nơi ḷng Từ”.
* Hỏi:
Ngũ Tổ đưa Huệ Năng đến trạm
chuyển thư Cửu Giang. Sau khi quay về, mấy hôm chẳng
thượng đường. Ngài đáp lời hỏi của
đại chúng rằng: “Y bát
đă về Nam rồi”. Đại chúng mới biết
Huệ Năng được truyền pháp, mấy trăm
người đuổi theo đến vùng Đại Dữu[9],
muốn đoạt y bát. Vi- tăng Huệ Minh ỷ mạnh
vọt lên trước đuổi kịp. Lục Tổ
ném y bát xuống, Huệ Minh bèn chộp lấy, nhưng chẳng
nhấc lên được, tợ hồ y bát ấy chỉ
có bậc đại đức xứng đáng làm tổ
sư mới có thể được truyền. Thuở ấy,
cớ sao Ngũ Tổ lại quá đỗi phập phồng
lo sợ sẽ có kẻ tranh đoạt hại mạng [Lục
Tổ] vậy? Đấy chính chuyện thứ năm khiến
cho người ta ngơ ngác, mờ mịt! (Hùng Thanh Tuấn hỏi)
Đáp:
Y bát vốn chẳng đáng lo, đáng lo là lo cho người
bị kẻ khác ganh ghét đó thôi! Danh vị, tước lộc
trong thế gian, cũng là ai có phận nấy, tuy rốt cuộc
là sẽ có một người đạt được, nhưng
đâu có ngăn được muôn người dấy lên
tranh giành? Kẻ chưa đoạn Hoặc, chính là phàm phu,
xử sự điên đảo là chuyện thường
t́nh. Chấm dứt loạn lạc, dứt tuyệt tranh chấp,
chính là trách nhiệm của bậc trí. Cách xử trí của
Ngũ Tổ rất thích đáng!
* Hỏi:
Trong thiên Tử Hăn thứ chín của sách Luận Ngữ,
[đối với câu nói] “Tử
hăn ngôn lợi, dữ mạng, dữ nhân” (Khổng Tử
ít nói lợi, hoặc tán đồng mạng và nhân), Châu Hy
đă dẫn lời Tŕnh Tử nói: “Tính đến lợi bèn hại nghĩa, lư của mạng
nhỏ nhiệm, đạo của nhân to tát, đều những
điều ít được phu tử nhắc tới”.
Thanh Tuấn cố nhiên đă biết “kiến lợi tư nghĩa” (trông thấy lợi
lộc bèn nghĩ đến đạo nghĩa). Khổng
Tử ít nói đến lợi là chuyện đương
nhiên, [nhưng Ngài lại nói] “bất
tri mạng, vô dĩ vi quân tử dă” (chẳng biết mạng
th́ chẳng được coi là quân tử), tức là Ngài
chủ trương đề xướng mạng mạnh
mẽ nhất; sao lại bảo là lăo nhân gia ít nói đến
mạng? “Giảng đạo
đức, thuyết nhân nghĩa”, Nho gia tột bậc
coi trọng nhân đạo, [thế mà sách Luận Ngữ] nói “Khổng
Tử ít nói đến ḷng nhân”, Thanh Tuấn càng ngơ
ngác, chẳng hiểu! Cụ là bậc thánh giả coi trọng
cả Nho lẫn Phật, dám xin cụ hăy tiện dịp chỉ
dạy giải quyết mối nghi, ḥng tháo gỡ chỗ bế
tắc, chẳng c̣n ǵ chân thành mong mỏi hơn! (Hùng Thanh Tuấn hỏi)
Đáp: “Sanh tử hữu mạng, phú quư
tại thiên” (Sanh tử có mạng, phú quư do trời), “vong chi mạng hỹ phù” (chẳng
có lẽ nào lại như vậy, đó là số mạng vậy)[10], “úy thiên mạng” (sợ mạng
trời) v.v… [Những lời lẽ ấy] có ǵ chẳng phải
là nói đến mạng! “Lư
nhân vi mỹ” (Hàng xóm có ḷng nhân là điều tốt
đẹp), “nhân giả an nhân,
trí giả lợi nhân” (người có ḷng nhân an trụ
nơi nhân, người trí tăng trưởng ḷng nhân), “cẩu chí ư nhân, vô ác dă” (nếu
dốc chí nơi nhân th́ sẽ chẳng có điều ác)
v.v… có bao giờ chẳng phải là nói đến ḷng nhân? Mạng
và nhân thường thấy [nhắc đến] trong sáu
kinh, càng là chẳng thể kể xiết! Nhưng đối
với hai điều ấy, Khổng Tử ít nói đến,
“hăn” (罕) là ít nói đến mà thôi,
chẳng phải là tuyệt đối không nhắc đến.
Bởi lẽ, hai điều ấy, lư vi tế, nghĩa to
lớn, kẻ b́nh thường chẳng thể liễu ngộ,
do cơ duyên chẳng khế hợp, nên ít nói tới. Đó
gọi là “đối với kẻ từ bậc trung trở
xuống, chẳng thể nói chuyện thuộc bậc
thượng. Đối với kẻ hạ căn, chẳng
nói pháp thuộc bậc thượng”. Nghĩa lư trong nhà Phật
cũng như thế, đối với kẻ hạ
căn, trọn chẳng nói pháp dành cho bậc thượng!
*
Hỏi: Gia mẫu đă bảy mươi tám tuổi, là một
người niệm Phật kiền thành. Năm nay, trong
tháng Năm, chợt sanh ra nhọt độc nơi ngực,
thân thể suy yếu. Người nhà thấy cụ như
vậy, cho là “tin Phật mà chẳng được che chở”,
có hai người đă bỏ ăn chay, nhưng gia mẫu
niệm Phật chẳng ngă ḷng! Cho đến nửa tháng
trước, ban đêm mộng thấy Quán Âm Bồ Tát v́ cụ
mổ nhọt. Sau đấy, tự nhiên nhọt vỡ mủ,
chảy máu, thân thể b́nh phục như cũ. Hai kẻ
ngă ḷng có phải là bị gia mẫu làm hại hay chăng?
Xin thầy chỉ dạy. (Lư
Vĩnh Cẩm hỏi)
Đáp:
Học Phật quư tại hạnh giải tương ứng.
Nếu chẳng thể tự hiểu, hễ gặp chuyện,
hăy nên thỉnh giáo thiện tri thức. Bọn họ thấy
người niệm Phật sanh bệnh, tín tâm tự lui sụt,
bỏ ăn chay, tức là đă phạm lỗi vô trí, chẳng
hiểu đạo lư, mà cũng là do thiện căn nông cạn
gây nên. Họ chẳng hiểu nhân quả ba đời, [quả
báo] chuyển đổi từ nặng thành nhẹ để
tiêu trừ, tức là kẻ ngu si, đáng thương tột
bậc! Lệnh từ có thể chịu đựng bệnh
khổ, ḷng tin kiên cường, chẳng lui sụt. V́ thế,
cụ được cảm ứng, đáng kính tột bậc!
Chuyện thiện hay ác là do khởi niệm. Bọn họ
tự dấy lên sự hiểu lầm, phá giới, bỏ
ăn chay, lệnh từ hoàn toàn chẳng dấy lên ư niệm
xúi giục họ, há có tội ǵ?
*
Hỏi: Hậu học đọc phần luận định
về “vô ngă” trong quyển
hai của bộ sách Những Lời Dạy Của Đức
Phật, [thấy tác giả] phủ định thuyết “linh hồn, thần thức”,
đối với chuyện này, hậu học hết sức
nghi hoặc! Kính thỉnh đại sư hăy chẳng tiếc
sức, dựa theo chân lư, rủ ḷng giải thích, mong mỏi
lắm thay! Nếu chẳng có thần ngă, chẳng có linh hồn,
vậy th́ Phật, thần, quỷ, luân hồi, chuyển
thế, thuyết nhân quả làm sao có thể thành lập?
Văng sanh Cực Lạc và luân hồi lục đạo lại
thành lập như thế nào? Năm trăm đời làm vị
tiên nhân nhẫn nhục như trong kinh Kim Cang đă nói lại
thành lập như thế nào? Nếu chẳng có linh hồn
và thần thức, mà chẳng phải là nói tới “đoạn
diệt” th́ lại nói như thế nào? Xét theo chân lư, rốt
ráo là như thế nào? Kính xin cụ rủ ḷng chấp thuận
nương theo kinh Phật và chân lư để giải
đáp cho. Mong mỏi lắm thay! (Dương Trí Duyệt hỏi)
Đáp:
Cuốn sách Những Lời Dạy Của Đức Phật
do cư sĩ đă đọc, kẻ hèn này chưa hề
xem tới, chẳng biết nội dung. Xét theo tên gọi,
có lẽ đó là tác phẩm của người hiện thời.
Nếu nương theo kinh giáo để học Phật, vốn
có pháp tứ y. Thứ nhất là “y
pháp, bất y nhân”, có nghĩa là đối với các
nghĩa lư, ắt phải nương theo kinh giáo. Từ bậc
Đẳng Giác trở xuống, hễ nói điều ǵ mâu
thuẫn với kinh Phật th́ chẳng đáng để
tuân theo. Những điều khác như “con chó không có Phật Tánh”, “Phật đến giết Phật”, “một chữ Phật, ta chẳng
muốn nghe”, đều là những lời lẽ
phương tiện thuộc Quyền Trí nhằm tháo gỡ
trói buộc, nhằm ứng hợp căn cơ [của
đối tượng được giáo hóa khi ấy],
cho nên có những phương cách riêng biệt, chẳng phải
là cách hoằng giáo thông thường. Nói “thần thức”
hoặc “linh hồn”, đều là một sự mà có hai
danh xưng. Bản tánh dấy động, bị mê th́ gọi
là Thức. Đă trở thành thức, bèn hư vọng phân
biệt, lưu chuyển huyễn biến, cho nên có núi, sông,
đại địa, sáu đường, chín hữu. Do vậy,
các kinh luận đều dạy “chuyển thức thành trí”. Nếu không có thức,
cần ǵ nói “chuyển”? Bộ
Duyên Sanh Luận cũng như tông Duy Thức luôn nói đến
“huyễn hữu”, trái
ngược với điều ấy chính là “ngoan không” (cái Không trơ
trơ, rỗng tuếch). Nếu đạt đến Chủng
Trí đă viên măn, nói Không hoặc nói Hữu đều là hư
luận! Hăy thử suy nghĩ ư nghĩa “Sắc chính là Không, Không chính là Sắc”. Hai câu ấy
chính là lời nói tổng quát của các pháp, lệch về
Không hay lệch về Hữu, sẽ đều là sai lầm.
Nghĩa lư Không như Phật đă nói chính là nói theo Thể
và Lư chân thật; nói Hữu tức là nói theo phương diện
sự tướng hư giả. Hăy nên biết Thể và
Tướng chẳng hai, Sự và Lư chính là lẫn nhau, Không
và Hữu chẳng ĺa. V́ thế, nói Như Lai Tạng là
“không”, hoặc nói là “bất không”, hoặc nói là “không bất
không”. Ư nghĩa trong kinh là như vậy, đó gọi là “Nhất Thừa bất nhị”.
Tuy nói như vậy, ắt phải nghiên cứu kinh cho nhiều
th́ mới có thể hiểu được.
*
Hỏi: Trong chương thứ sáu của sách ấy, lại
c̣n phủ định “tự
ngă”, “cá ngă” (cái ngă của
mỗi cá nhân) và “thần ngă”
v.v… cũng xin dạy cho! (Dương
Trí Duyệt hỏi)
Đáp: Vô Ngă
chính là giáo nghĩa của đức Thế Tôn, chẳng thể
thảo luận. Trong Tứ Niệm Trụ đă nói “quán pháp vô ngă”, các kinh như
Kim Cang, Viên Giác đều nói “vô
ngă tướng”, nhưng Duy Thức lại nói “năm pháp, ba tự tánh, nhân, pháp
nhị vô ngă” v.v… đấy chính là Vô Ngă được
nói trong kinh Phật, chẳng thể kể xiết! Nếu
hiểu lư “vạn pháp do duyên
sanh”, sẽ tự hiểu rơ vô ngă. Nhưng cũng có ngoại
lệ, “thường, lạc,
ngă, tịnh”! Phàm phu chấp Hữu, gọi là “tứ điên đảo”, Nhị
Thừa chấp Vô, cũng là điên đảo. Ấy là v́
khi đạt đến Niết Bàn rốt ráo, bản tánh
viên minh, bốn pháp “thường,
lạc, ngă, tịnh” mới hiển lộ, mới biết
bốn pháp ấy đều là Tánh Đức. V́ thế,
nơi Phật, [bốn điều ấy] được
gọi là “tứ tịnh đức”.
* Hỏi:
Trong nhà, trước kia đă thờ mấy vị
Vương Gia[11],
và [h́nh tượng của] mấy vị Bồ Tát chẳng
trang nghiêm, muốn đổi sang thờ tượng [Tây
Phương] Tam Thánh th́ nên xử lư [những h́nh tượng
cũ] như thế nào? Tặng cho người khác, sợ
họ chẳng tiếp nhận!
(Chánh Phạm đồng học hỏi)
Đáp:
Hăy t́m cách thương lượng với những miếu
thờ nhiều vị thần, để đưa vào bày
trong miếu. Sau khi đă thương lượng thỏa
đáng, hăy sắm sửa hương, nến, cúng dường
tiễn đưa. Người học Phật hăy nên b́nh
đẳng, cung kính, nhưng chớ nên tin và thờ phụng
tạp loạn mà thôi! Nếu đền miếu chẳng bằng
ḷng thâu nhận, có thể cúng họ một ít tiền
hương đèn, có lẽ họ sẽ chịu thâu nhận.
Đấy cũng là điều hăy nên làm để trọn
hết t́nh người. Nếu chẳng thể thu xếp ổn
thỏa, hăy t́m một chỗ sạch sẽ trong pḥng trống
để đặt vào, dùng vật dụng che lại, hoặc
cất giữ trong rương sạch để khi nào có dịp
sẽ tặng cho người khác.
* Hỏi:
Đối với khóa lễ sáng tối thông thường,
nếu ra ngoài, t́nh h́nh chẳng thích hợp, lại nên làm
như thế nào? (Chánh Phạm
đồng học hỏi)
Đáp:
Chẳng cần phải câu nệ h́nh thức, chỉ thầm
niệm trong tâm để cầu định. Đi, đứng,
ngồi, nằm, tùy duyên tán tŕ. Phật pháp viên dung,
phương tiện thiện xảo, xét theo cơ duyên để
làm, chỉ là chẳng nên gián đoạn mà thôi!
* Hỏi:
Tôi cảm thấy nhà cửa có âm khí. Năm trước, một
thầy bói nói người ở trong căn nhà ấy th́ những
người bề trên cũng qua đời. Tuy là lời lẽ
của ngoại đạo, nhưng tinh thần của
đệ bị uy hiếp rất lớn. Xin sư huynh
thưa hỏi giùm thầy xem nên làm như thế nào? Bởi
lẽ, gia phụ đă khuất núi hơn một năm rồi!
(Chánh Phạm đồng học
hỏi)
Đáp: “Âm khí” như ông đă nói chẳng
biết là chỉ điều ǵ? Có phải là ngôi nhà ấy
chẳng đủ ánh sáng mặt trời hay chăng? Hay là
cảm thấy h́nh thể cong lệch, nhỏ hẹp?
Đối với hai chuyện ấy, đều có thể
kêu thợ sửa đổi một đôi chỗ, ḥng dẹp
nỗi lầm lạc về mặt thế tục, khiến
cho [nhà cửa] sáng sủa, thoáng đăng. Nếu bảo là
“có người đă qua đời” [chứng tỏ âm khí nặng
nề], lời ấy khó thông! Trong nhà nào mà chẳng có
người mất? Đó gọi là sống ở đó,
già ở đó, hát cười ở đó, không ǵ chẳng
tốt lành. Tuy vậy, thuật Phong Thủy Địa Lư
lưu hành đă lâu, tuy tin hay không tùy người, nhưng họa
phước xác thực là do tâm! “Tích
thiện th́ điều tốt lành có thừa. Nhân lành, quả
lành”, bậc thánh hiền trong đạo Nho, đạo
Phật, đều nói như thế. Cứ tin suông Phong Thủy,
chẳng bằng thấu đạt lẽ ấy!
* Hỏi:
Nói theo pháp, Kiếp có tăng giảm kiếp. Tuổi thọ
của con người cứ mỗi trăm năm sẽ
tăng hay giảm một tuổi. Nay nhằm lúc giảm kiếp,
do từ xưa tới nay, Trung Hoa đă có hơn năm ngàn
năm lịch sử, chiếu theo đó để suy
đoán, tuổi thọ của con người hiện thời
phải nên là khoảng chừng năm mươi mấy tuổi.
Đối với chuyện này, chẳng biết đại
đức giải thích như thế nào? (Chiêm Đức Nguyên hỏi)
Đáp:
Khởi điểm của kiếp tăng giảm hoàn toàn
chẳng thể chiếu theo một vùng hoặc một
nước để nói được, mà chính là nói đến
chuyện tính toán xét theo toàn thể đại thiên thế
giới. Tăng đến cực hạn là tám vạn bốn
ngàn tuổi bèn ngưng, giảm đến cực hạn
là mười tuổi bèn thôi. [Chu kỳ] một tăng một
giảm đạt đến hai mức cực hạn ấy
th́ gọi là một tiểu kiếp. Lại cần nên biết:
Nói “tám vạn bốn ngàn” hoàn
toàn chẳng phải là nói đến số lượng
trong một tiểu kiếp, mà là nói về tuổi thọ
của con người, tṛn số ấy th́ thôi. Lại phải
nên biết: Đấy bất quá là mượn một chuyện
để lũy tính số lượng thời gian trong một
tiểu kiếp, chứ người và trời trường
thọ, vẫn có trường hợp thọ hơn con số
ấy. Để tính số lượng của tiểu kiếp,
trừ [cách tính theo] cơ số một tăng một giảm
hai mươi năm ra, thật sự có mười sáu vạn
bảy ngàn chín trăm tám mươi mốt
trăm năm (16.798.100 năm). Đối với thọ mạng
của người hiện thời, có người dựa
theo tuổi thọ b́nh quân để tính, [sẽ thấy
trung b́nh] con người chỉ sống được bốn
mươi năm; nếu nói theo sự thấy nghe th́ có thể
nói là bảy mươi tuổi. Truy ngược về
trước đến thời Hoàng Đế, theo sử sách
ghi chép, vào thời ấy, phần nhiều sống hơn một
trăm hai mươi tuổi, phù hợp với thuyết
trăm năm giảm một tuổi. Nhưng đấy
cũng là cách tính toán ước lược, hoàn toàn chẳng
phải là ai nấy đều thọ đúng bảy
mươi tuổi được!
* Hỏi:
Hết thảy các sắc tướng như mộng, huyễn,
bọt, bóng. Vậy th́ ắt trước hết phải
là có người, rồi sau đấy mới có mộng. Ắt
là trước hết phải có tướng, sau đấy,
cảnh mới hiện bóng. Suy đến rốt cùng, tuy là
hư vọng, thoạt tiên phải là do điều ǵ
đó mà sanh. Có phải là trước hết ắt phải
có nhân, sau đấy mới sanh ra quả (tướng)?
Nhưng vô thỉ tối sơ, có nhân như thế nào?
Như ắt trước hết phải có cha mẹ, sau
đấy mới sanh ra con, đời đời truyền
nhau mà trở thành đông đảo. Chỉ hỏi cặp
cha mẹ thuở ban sơ do đâu mà có? Do nguyên nhân nào? (Chiêm Đức Nguyên hỏi)
Đáp:
Đối với chuyện vô thỉ vô chung (không có khởi
đầu, không có kết thúc), có tướng th́ là “thiên” (thiên nhiên), không có tướng
th́ là tánh, đều chẳng phải là do tạo tác mà có. “Thiên” là “thiên nhiên”, tánh th́ nói là “pháp
nhĩ như thị” (pháp vốn là như thế), Nho
gia nói mông lung: “Thiên mạng chi
vị tánh” (Mạng trời gọi là tánh), các nhà (các học
thuyết, các tôn giáo) nghiên cứu vấn đề này rất
nhiều. Lăo Tử nói: “Nhất
sanh nhị, nhị sanh tam, tam sanh vạn vật” (Một
sanh ra hai, hai sanh ra ba, ba sanh ra vạn vật). Kinh Dịch
nói Thái Cực, lại nói đến Thái Nhất, Thái Tố
và Thái Dịch[12].
Đối với những thứ “thiên nhiên, pháp nhĩ, Thái Cực, Thái Nhất, Thái Dịch”
v.v… như vừa nêu, không ǵ chẳng nhằm nói đến
tánh lư vô thỉ vô chung vô tướng. Tánh sáng suốt, bất
động. Hễ động bèn mê, biến thành thức.
Thức sanh ra Kiến Phần. Kiến Phần huyễn biến
Tướng Phần, sanh ra Tứ Đại, Ngũ Uẩn,
phối hợp lẫn nhau, h́nh thành các tướng. Nếu cứ muốn vặn hỏi cha mẹ
thuở ban sơ, [xin trả lời] đó chính là hai phần,
tức Kiến Phần và Tướng Phần. Nói “tối sơ” chẳng phải
là tối sơ [tuyệt đối], chẳng qua là tối
sơ trong một giai đoạn mà thôi!
* Hỏi:
Xin hỏi: Trong Phật pháp nói “vạn
pháp vô thường”, chẳng sai, nhưng chúng ta lại
nói “lạc” là hư vọng,
là một thứ Hoại Khổ, vậy th́ Khổ là chân thật.
Nói như vậy, Khổ lẽ ra phải là thường,
v́ nó là chân thật! Lại nữa, Khổ cũng nên bao gồm
trong vạn pháp. Như thế, chẳng phải là mâu thuẫn
với luật “vạn pháp vô
thường” ư? Khổ có phải là pháp thế gian
duy nhất thuộc về tuyệt đối trong các pháp
thế gian hay không? Lại nữa, “lạc” trong cơi Tịnh Độ Cực Lạc
của A Di Đà Phật có phải là tuyệt đối
hay không? Có khác biệt ǵ với Lạc trong bốn tịnh
đức “thường, lạc,
ngă, tịnh” của Phật hay không? (Trương Nguyệt Anh hỏi)
Đáp:
Vô thường là sanh diệt. Khổ mà nói là thật, tức
là nói đối ứng với hư vọng; bảo Khổ
là “chân” chính là nói đối ứng với giả, chẳng
phải là chân thật bất biến như Chân Như Thật
Tướng. Khổ cũng là vô thường, do sanh sanh diệt
diệt mà chẳng có lúc nào ngưng. Do nó liên tục, [khiến
cho người ta lầm tưởng] nó dường
như là thường. Trước đó, tôi đă nói là
tương đối, cho nên chẳng mâu thuẫn với
luật vô thường. Lạc trong thế giới Cực
Lạc và lạc trong “thường,
lạc, ngă, tịnh” của Phật là “đạo đồng, chẳng sai khác”. Lạc của
chúng sanh th́ tùy theo sở chứng [của mỗi cá nhân] mà sai
khác, nhưng cái lạc ấy chính là do đức Phật
Quyền Trí phương tiện mượn lạc để
thuyết pháp, ngơ hầu [người nghe sẽ tu tập]
ḥng đạt tới cơi Thường Tịch. Nói đến
Thường và Tịch mà chẳng phải là tuyệt đối
th́ là ǵ vậy?
* Hỏi:
Trứng gà và gà rốt cuộc thứ nào có trước? (Quách Hương Lan hỏi)
Đáp: Vạn
pháp do nhân duyên sanh. Nhân duyên: Điện tử, các thứ
nguyên tố, bẩm thọ thiên địa và Âm Dương
mà biến hóa ra. Duyên của gà đă chín muồi bèn sanh ra
gà, duyên của trứng đă chín muồi bèn sanh ra trứng,
tức là “không có gà cũng có thể sanh ra trứng; dẫu
không có trứng, vẫn có thể sanh ra gà”. Gà sanh trứng,
trứng nở ra gà, chính là sự biến diễn về
sau, nếu dùng sức người th́ cũng có thể thay
đổi được!
* Hỏi:
Loài người do đâu mà có? V́ sao có nam nữ phân biệt?
(Quách Hương Lan hỏi)
Đáp:
Tánh là “pháp nhĩ” (pháp vốn
là như thế đó), hễ mê bèn biến thành thức.
Sau đó, có ba tế tướng và sáu thô tướng,
người và vật sanh ra. Trời đất có khí Âm
Dương, thực vật do cảm [hai khí ấy] mà hóa
thành nhị đực, nhị cái, thần thức có cứng
cỏi hoặc mềm mỏng, bảy loại t́nh cảm,
động vật cảm sanh nam tánh và nữ tánh.
* Hỏi:
V́ sao nam có thể mọc râu ria, mà nữ chẳng thể? (Quách Hương Lan hỏi)
Đáp:
Đừng bàn chuyện hư luận! Chỗ khác biệt giữa
nam và nữ rất nhiều, dẫu nói đến vạn lời,
cũng khó thể hết được! Há có phải riêng
chuyện râu ria thôi ư?
* Hỏi:
Tôi từng đọc thấy trong kinh điển có một
đoạn kinh văn về chuyện “long nữ bảy tuổi thành Phật”, nhưng
chẳng biết v́ sao cô ta không đầu thai làm người,
mà lại vào thai rồng? Trong đời quá khứ, cô ta
đă có công đức và thiện căn như thế nào
mà ngay trong đời này bèn có thể thành Phật nhanh chóng
dường ấy? Có người suốt mấy đời
thọ giới, dụng công, vẫn chẳng thể thành tựu
trong một đời. V́ sao cô ta có thể thành Phật
đơn giản ngần ấy? (Vương Chánh Ngôn hỏi)
Đáp:
Ngài đă hỏi về long nữ, tức là do đọc
kinh Pháp Hoa mà biết. Kinh văn chẳng nói đến chuyện
ông đă hỏi, kẻ hèn này do đâu mà biết được?
Trong mục vấn đáp này, hễ những chỗ có liên
quan đến kinh điển, nếu kinh có nói th́ vâng theo
đó để đáp. Nếu không, ai dám làm ra vẻ thông
minh xằng bậy? Nếu chẳng thể hiểu, có thể
t́m từ các bản chú giải kinh điển. Tôi nhớ
người xưa từng đối với vấn đề
này mà bảo là [long nữ] do tư lương trong nhiều
kiếp, nay thành Phật, bất quá là thị hiện h́nh
tích đó thôi! Lại c̣n nói “ba A-tăng-kỳ và sát-na cùng
thuộc trong một niệm”. Đối với cách nói
trước th́ c̣n có thể hiểu rơ, chứ đối với
cách nói sau, kẻ sơ học chẳng thể hiểu
được! C̣n như hỏi v́ sao cô ta đầu thai
làm rồng, chưa thấy [có vị tổ sư đại
đức nào] chú giải, cho nên tôi chẳng đáp. Đối
với tuổi [của long nữ] như Ngài đă viết,
e là viết sai, tôi nhớ có lẽ là tám tuổi, mong hăy tự
tra duyệt trong kinh.
* Hỏi:
Từng thấy trong các chỉ dạy về Phật lư có
nói: Khi con người chết đi, trong ṿng bảy ngày, hoặc
bốn mươi chín ngày bèn luân chuyển. V́ sao có người
do gia đ́nh chẳng yên ổn, bèn cầu thần, xem bói,
được phán rằng là do linh hồn tổ tông quấy
phá. Chiếu theo lời chỉ dạy của thần để
xem xét, rốt cuộc có thể thuận thảo, an ninh.
Đó là do nguyên nhân nào? Có phải là do linh hồn ấy
không có cách nào luân chuyển? Khẩn cầu cụ hăy giải
thích, chỉ dạy! (Vương
Chánh Ngôn hỏi)
Đáp: Câu hỏi này có hai nghĩa:
1)
Một, nếu là do tổ tông nhà ấy quấy rối, ắt
là họ đă lọt vào quỷ đạo, v́ trong bốn
mươi chín ngày là thân Trung Ấm. Sau đó, nếu có thể
đến nhà ấy, đă chẳng c̣n là Trung Ấm, mà
cũng chẳng thuộc các đường trời,
người, Tu La, súc sanh, địa ngục v.v… Chỉ có
quỷ mới
có chuyện ấy.
2) Hai, cầu
thần, xem bói, những lời chỉ dạy của bọn
họ có đáng tin cậy hay không, kẻ hèn này là người
ngoài cuộc, chẳng dám sỗ sàng đoán định. C̣n
như nhà ấy có đúng là bị quỷ
khuấy phá hay chăng, hoặc ngờ là mê tín, đều chưa
thể biết được. Dẫu thật sự có quỷ,
quỷ đó có phải là tổ tông của họ hay không,
hay là do dă quỷ giả vờ mạo danh, tợ hồ chẳng
phải là kẻ b́nh phàm mà có thể biết rơ được!
Do chẳng biết, nên chẳng nói bừa!
Hỏi:
Văn nhân xưa nay đối với những kẻ tin Phật
phần nhiều gọi họ là “nịnh Phật”. Qua việc tra duyệt [tự
điển] Từ Nguyên[13],
[xét thấy chữ] Nịnh [có ư nghĩa như sau]: (1) Nịnh
(佞) có
nghĩa là tài năng. Như nói tự khiêm bèn thưa là “bất nịnh” (不佞, kẻ
bất tài). (2) Khéo bợ đỡ, nhạy miệng. Luận
Ngữ [có chép lời Khổng Tử]: “Khéo biện bác, áp đảo người khác, nịnh
nọt để làm ǵ”[14].
C̣n có những điều mục giải thích từ ngữ
như “nịnh nhân” v.v… Nhân
sĩ ngoài Phật giáo dùng chữ “nịnh Phật” để gọi kẻ tin Phật,
có phải là ngụ ư châm biếm hay không? Lại nữa
trong bài phú của Vương Tích (xem trong Từ Nguyên) có viết:
“Giới phi nịnh Phật,
trai phi mị đạo” (Giữ giới chẳng phải
là nịnh bợ Phật, ăn chay chẳng phải là siểm
mị đạo). Tôi cũng chẳng hiểu rơ ư nghĩa
hai câu ấy, kính xin cụ từ bi khai thị cho! (Vạn Gia Hâm hỏi)
Đáp:
Đối với chữ Nịnh, ông Châu Khảo Đ́nh từng
viết: “Cổ nhân nói Nịnh
chỉ có nghĩa là mồm mép tép nhảy, đời sau mới
dùng chữ Siểm (諂, nịnh
hót, bợ đỡ) để giải thích”. Theo
đó, Nịnh có nghĩa là mồm miệng nhanh nhảu.
Sách Thuyết Văn [Giải Tự] của ông Hứa (Hứa
Thận) giảng: “Dĩ xảo
kỹ thủ duyệt ư nhân” (Dùng sự khéo léo để
làm đẹp ḷng người khác). “Thủ duyệt” (取悅) đă
bao hàm ư nghĩa siểm nịnh, thuần túy là từ ngữ
châm biếm. Chứ mồm mép nhanh nhảu cũng chẳng
có ư nghĩa châm biếm. Khổng Tử chẳng chuộng
kẻ ăn nói khéo léo, khéo quan sát sắc mặt. Đối
với học thuyết và tư tưởng, mỗi
người có ư kiến riêng, chẳng tránh khỏi có chuyện
tranh chấp môn hộ. Nhưng ai nấy đều có những
điều họ tự cho là đúng, tự cho là sai, chẳng
có ǵ là lạ! Hễ là chúng sanh bèn có phân biệt, chẳng
riêng ǵ chuyện “đạo
khác nhau, chẳng thể cùng bàn định được”.
Dẫu là đồng đạo, mà vẫn có sự công kích
lẫn nhau. Mạnh Tử chê Dương Tử và Mặc Tử
là sai, Tuân Tử chê Mạnh Tử. Khổng Tử tán
thưởng Lăo Đam (Lăo Tử), nhưng Hàn Xương
Lê (Hàn Dũ) chê trách Lăo Tử, đề cao Mặc Tử.
Họ Hàn và họ Liễu[15] do
văn chương mà kết bạn, Lư Cao v́ văn
chương mà tôn họ Hàn làm thầy, họ Hàn báng Phật,
nhưng ông Liễu và ông Lư đều sùng Phật. Những
trường hợp như vậy nhiều lắm, chẳng
thể kể xiết. Người đời sau hễ thấy
người khác tín Phật mà tṛng thêm chữ Nịnh, đều
là có ư châm biếm. Câu văn của ông Vương Tích lại
có một ư nghĩa khác, [tức là] mang ư nghĩa biện hộ
cho trai giới. Nho gia cúng tế, ắt phải trai giới,
nhằm biểu lộ ḷng thành kính, chẳng phải là bợ
đỡ. Nếu bảo trai giới xuất phát từ sự
bợ đỡ, Phật Thích Ca cũng tŕ trai giữ giới,
Ngài bợ đỡ ai? Những lời lẽ xằng bậy
đủ rối loạn tâm người ta. Do ḷng người
rối ren, mê hoặc, cho nên thiên hạ rối loạn.
* Hỏi:
Có một vị đồng tu chẳng hiểu Phật lư,
đă nói: “Khi người ta c̣n sống tin Phật, cầu
sung sướng về mặt tinh thần th́ c̣n được.
Sau khi đă chết, các tế bào trong năo đều chẳng
c̣n tri giác, làm sao có thể biết là cuộc sống trong thế
giới Cực Lạc thoải mái?” Đệ tử giải
thích với người ấy: Tri giác chẳng phải là
tác dụng của tế bào năo, mà là sáu căn và sáu trần
đối ứng với nhau, trung gian bèn phát sanh sáu thức.
Tri giác chính là tác dụng của thức. Như người
mới chết, căn cứ trên chứng minh từ y học,
trong ṿng bảy tiếng đồng hồ, các tế bào
hoàn toàn chẳng khác ǵ lúc sống, v́ sao chẳng có tri giác?
Khi ngủ nghê, các tế bào chưa hoại, thế mà
cũng vô tri giác. Người sau khi đă chết, các tế
bào hư nát, thần thức bất diệt, đấy
cũng chính là “năng lực bất
diệt” như các nhà khoa học đă nói. Sau khi đă chết,
hết thảy đều biết. Thần thức và tế
bào năo giống như bóng đèn điện và điện.
Bóng đă hư, dẫu có điện, cũng chẳng sáng.
Bóng đèn [dẫu c̣n tốt] mà chẳng có điện th́ cũng
không sáng. Cụ có thể giải thích chuyện này hay không? (Vạn Gia Hâm hỏi)
Đáp:
Những điều ông đă nói và thí dụ đă dùng đều
hết sức tốt đẹp. Đối phương
có nghe lọt tai hay không, cũng là có nhân duyên. Xét theo phía
người đó, luận định về nghiệp lực,
chướng nhẹ bèn có thể tin, nghiệp nặng sẽ
chẳng thể! Xét theo phía quư cư sĩ để luận
định duyên phận với người ấy, dường
như là xưa kia chẳng có duyên phận, nay hăy mau kết
duyên phận. Ngài Xá Lợi Phất từng độ dân
chúng khó giáo hóa trong một thành v́ trong đời trước
Ngài đă cứu một tổ ong. Vị tỳ-kheo X… thuyết
pháp, thính chúng toàn là hạng thiếu niên, v́ hai mươi
năm trước, Sư đă thí gạo cho một bầy
chim. Vạn pháp do nhân duyên sanh, quư cư sĩ có thể tin
tưởng hay chăng?
* Hỏi:
Lư hương ngẫu nhiên bốc cháy (nói theo tiếng
Đài Loan là “phát lô”, 發爐), t́nh
h́nh ấy có phải là một thứ điềm báo? Có
đáng tin hay không? Gần đây, hàng xóm [của tôi] bị “phát lô”, từng gặp chuyện
bất hạnh. Đó có phải là mê tín hay không? (Tạ Minh Châu hỏi)
Đáp:
Phong khí ấy chính là một tập tục của một
vùng, kẻ hèn này xưa nay chưa nghe nói tới. Do vậy,
chẳng tiện chen lời bàn luận. C̣n như cát hay
hung, tệ ư cho rằng tại người, chẳng tại
lư hương. Nếu thật sự tu đức, dẫu
hung cũng có thể hóa thành an. Chẳng tu đức lại
làm chuyện hung bạo, dẫu gặp cát cũng có thể
biến thành họa.
* Hỏi:
Người sau khi đă chết, hỏa thiêu có xá-lợi,
có phải là do xương và tủy kết thành hay không? Tôi
từng nghe có kẻ nói người chẳng kết hôn th́
mới có [xá-lợi], nhưng ngày hôm qua, tôi thấy một
vị nữ nhân chưa từng kết hôn, sau khi hỏa
thiêu chẳng thấy có hạt xá-lợi. Cũng có nói: Phải
là người thường tĩnh tọa, có công phu định
lực th́ mới có [xá-lợi]. Xin hỏi phải là như
thế nào th́ mới có xá-lợi tử? (Tạ Minh Châu hỏi)
Đáp:
Quư cư sĩ tu pháp nào, kẻ hèn này hết sức mờ
mịt. Tâm ông mong cầu chỉ là sau khi chết có xá-lợi,
hay là c̣n có điều chi khác? Nói “tĩnh
tọa” th́ cũng chẳng biết là tĩnh tọa theo
kiểu nào? Xét kỹ những câu hỏi sáu, tám, chín, mười,
đều là chuyện chẳng liên can, mà cũng chẳng
phải là chuyện của chính ḿnh! Những thứ vọng
tâm rong ruổi bên ngoài như vậy, sẽ có hại to lớn
cho đạo. Không ǵ bằng thâu hồi cái tâm, thật thà
niệm Phật, may ra có thể thành tựu. Nếu không, dẫu
có thể vạn sự đều biết, nhưng chẳng
có mảy may hữu dụng ǵ đối với sanh tử!
* Hỏi:
Bọn chúng ta khi chẳng nghĩ thiện
bèn nghĩ ác, dùng cái tâm nào để độ chúng sanh? (Dịch Tri Lương hỏi)
Đáp: Học
và khởi tác dụng, chia thành tự hành và hóa tha (hóa độ
người khác). Đấy chính là [nói theo phương diện]
sự tướng, lại c̣n có nghĩa lư:
1) Luận
theo sự tướng, hóa tha phải nên do cơ duyên thúc
đẩy. Há có phải chỉ là tư duy điều lành,
nói lời lành, nghĩ ác bèn nói lời ác? Lại cần phải
lợi hành, đồng sự, vận dụng Quyền Trí.
2) Luận
theo nghĩa lư, đối với tự tánh phiền năo và tự
tánh chúng sanh, càng phải nên độ trước. Chẳng
nghĩ tới thiện ác, chính là chánh niệm phân minh, đấy
chính là độ tự tánh chúng sanh, vận dụng Thật
Trí. Hơn nữa, vào đời Đường, Trừng
Quán đại sư đă nói: “Khi
tự tu Lục Độ, chính là lúc độ chúng sanh.
Đấy cũng là ư nghĩa của bản kinh này”. Hăy
nên suy nghĩ sâu xa!
* Hỏi:
Khi chúng ta chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác như
vậy, có phải là một chữ Tịch “buông xuống vạn duyên, chẳng sanh một
niệm” hay không? Dường như vẫn c̣n thiếu một
chữ Chiếu, làm sao có thể gọi là Thượng
Thượng Thiền cho được? (Dịch Lương Tri hỏi)
Đáp:
Có thể chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác,
đấy chính là Tịch. Lúc biết như vậy, há chẳng
phải là Chiếu ư? Tịch là Tịch, Chiếu là Chiếu,
chính ngay trong khi đó, sẽ là Tịch mà chẳng phải
là Tịch, là Chiếu mà chẳng phải là Chiếu, chính
là Tịch và Chiếu cùng dung hội, há chẳng phải là
cảnh giới thượng thượng ư?
* Hỏi:
1. Theo sách Pháp Giới Đồ Chú Giải, Nam Thiệm Bộ
Châu có h́nh chữ Điền (田), Bắc
Cù Lô Châu có h́nh vuông, Đông Thắng
Thần Châu h́nh bán nguyệt, nhưng khoa học chứng
minh các tinh cầu trong vũ trụ đều là h́nh cầu.
Có phải là mỗi châu đều do nhiều tinh cầu hợp
thành mà có tên hay chăng?
2.
Biển nước mặn chỉ rộng hơn bảy
trăm vạn dặm, cho nên địa cầu cách núi Thiết
Vy cũng chẳng xa, v́ sao nhục nhăn chẳng trông thấy?
(Hỏa Tinh (Mars) cách địa cầu bảy ngàn vạn dặm,
nhục nhăn có thể trông thấy, hỏa tiễn cũng
có thể đến đó). Núi Tu Di to hơn Hỏa Tinh mấy
trăm lần, mà cũng gần [địa cầu] hơn
Hỏa Tinh, v́ sao chẳng thấy, hỏa tiễn chẳng
thể đến được?
3.
[Theo kinh Phật], mặt trời và mặt trăng xoay quanh
sườn núi Tu Di, nhưng khoa học chứng minh mặt
trăng và địa cầu xoay quanh mặt trời, có thể
thấy là địa cầu cũng theo mặt trời mà
xoay quanh núi Tu Di. Xin hỏi có phải là ba đại châu
khác cũng đang xoay chuyển hay không? Lớp lang ngoài ŕa
của một đơn vị thế giới [như vừa
mới nêu trên đây] có phải là do đức Phật nói
ra hay không? Nói trong kinh điển nào? (Lâu Vĩnh Dự hỏi)
Đáp:
Tôi gộp chung ba câu hỏi lại để đáp. Đại
Thừa Phật pháp hoặc nói Thật Tướng, hoặc
nói Nhất Chân pháp giới v.v… đều là “Thể không, Tướng giả. Tâm tạo vạn
pháp, Tướng do Thể sanh”, đều là cùng một
nguyên tắc. Đó là điều thứ nhất. Tướng
đă là huyễn vọng, làm sao có h́nh dáng nhất định
cho được? Kinh Hoa Nghiêm có nói hết thảy thế
giới, hữu vi vật chất, hữu vi quang ảnh,
nhưng hữu vi chúng sanh chẳng trông thấy, hoặc thấy
mà chẳng nh́n ra thực chất của nó. Như bốn
loài trời, người, quỷ, cá nh́n nước, sẽ
[trông thấy] thành bốn loại khác nhau, chớ nên chấp
trước. Đó là điều thứ hai. Khi đức
Phật thuyết pháp, có những lời chân thật,
như thật, chẳng vọng, chẳng khác, có lời lẽ
là phương tiện nói quyền biến, có lời lẽ
tùy thuận thế tục. V́ thế, Không, Hữu, lớn,
nhỏ, thiên, viên, pháp thế gian và xuất thế gian, liễu
nghĩa, bất liễu nghĩa, [đều là do] quán sát
căn cơ để chọn lựa lời nói [cho phù hợp].
Chớ nên không biết phương tiện. Đó là điều
thứ ba. Thế giới an lập, những thứ
được nói như Tu Di, Thiết Vy, bốn đại
châu, tám biển, rốt cuộc ở chỗ nào, kẻ mắt
thịt c̣n chẳng thể xác định, huống hồ
là nói tới h́nh tượng [của những thứ ấy]
ư? Chúng ta sống trong Diêm Phù Đề, phạm vi hạn
lượng như thế nào, nay c̣n chẳng biết, mà lại
nói đến những chuyện vượt ra ngoài, tôi cảm
thấy [làm như vậy] chính là chuyên chú học nơi cành
nhánh! Đối với những trạng huống ấy,
kinh điển Đại Thừa chỉ nói đại
khái. Những lời lẽ chi tiết, đa phần chép
trong kinh A Hàm, A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận, và Pháp Uyển
Châu Lâm, học nhân chỉ nghe như thế, có lẽ hăy nên
có cách nh́n sống động, đừng câu nệ th́ hay
hơn!
* Hỏi:
Thế giới kể từ khi chưa có sanh vật cho
đến khi có sanh vật xuất hiện, trong thời kỳ
ấy, nhân loại phát sanh như thế nào? Thiên Chúa Giáo nói
[nhân loại] là do Á Đương và Hạ Oa (Adam và Eva)
sanh ra. Nói theo cách thông thường, sẽ là do loài vượn
tiến hóa mà thành; vậy th́ thoạt đầu loài vượn
ấy lại do đâu mà có? (Cư
sĩ ẩn danh hỏi)
Đáp:
Lư chân chánh là vô thỉ vô chung (chẳng có khởi đầu,
chẳng có kết thúc). Đă là vô thỉ, vô chung, cho nên chẳng
có trước sau. Chân Không là Tánh, Giả Hữu gọi là
Tướng. Không huyễn hóa Tướng, cho nên có vạn
vật. Con người là một loài trong vạn vật.
Nhân duyên huyễn hữu, sanh diệt vô thường, chẳng
phải là chân thật. Đối với những cách nói
khác, tôi chẳng thể hiểu. Nếu bảo là do Á
Đương và Hạ Oa khởi nguồn tạo ra con
người, vậy th́ Á Đương và Hạ Oa có phải
là người hay không? Nếu họ là người th́ là
đă có người, làm sao có thể bảo là khởi nguồn?
Nếu nói là do khỉ vượn tiến hóa, lại thử
hỏi khỉ vượn do đâu mà có?
* Hỏi:
Nhất Quán Đạo nói xằng hiện thời là thời
kỳ Hồng Dương, do Phật Di Lặc chưởng
quản thiên bàn, xin hỏi: Căn cứ theo lời dạy
của đức Thế Tôn, Di Lặc Bồ Tát cần phải
mất bao lâu nữa mới hạ sanh? (Cư sĩ ẩn danh hỏi)
Đáp:
Những ǵ tại hạ biết đều có kinh điển
làm căn cứ. Phàm đối với những lời rao
truyền, đồn đại, ngụ ngôn, giả ngữ
thôn ngôn[16], nhất
loạt chẳng muốn miễn cưỡng biện giải.
Người học Phật hăy nên dựa theo kinh Phật,
người học Nho hăy dựa theo kinh sử. Những ǵ
quư cư sĩ đă hỏi và hai điều này đều
là vô căn cứ, chẳng muốn nói tới!
*
Hỏi: Theo sách Ám Lộ Minh Đăng ghi chép, hiện thời
đang là Trụ Kiếp trong Hiền Kiếp, đức
Thế Tôn là vị Phật xuất thế trong tiểu kiếp
thứ chín của Trụ Kiếp này. Tới tiểu kiếp
thứ mười, Phật Di Lặc mới hạ sanh,
thành Phật dưới cội cây Long Hoa trong vườn
hoa. Nhưng sách ấy lại nói: Phật Di Lặc ắt
là phải sau khi pháp tạng của Phật Thích Ca đă diệt
mất năm mươi sáu ức vạn năm th́ Ngài mới
hạ sanh. Dùng thời gian kể từ tiểu kiếp thứ
chín đến tiểu kiếp thứ mười để
tính, thời gian cách biệt chẳng thể dài đến
năm mươi sáu ức vạn năm. V́ một tiểu
kiếp tối đa cũng chỉ là một ngàn sáu
trăm tám mươi vạn năm. Theo cách tính hiện thời,
một ức là một vạn vạn, do đó, năm
mươi sáu ức vạn năm ước chừng phải
là thời gian thuộc bốn đại kiếp. V́ thế,
học nhân hoài nghi tiểu kiếp thứ mười (chỉ
Trụ Kiếp trong Hiền Kiếp) chẳng thể nào có
chuyện Phật Di Lặc hạ sanh trong cơi Diêm Phù Đề!
Thứ hai, xưa kia Phật Thích Ca nói năm mươi sáu
ức, có thể là coi mười vạn là một ức,
chẳng giống như một ức được nói
trong hiện thời (tức vạn vạn là một ức)?
Nếu chẳng phải như vậy, Ức như đức
Thế Tôn đă nói ước chừng bằng bao nhiêu trong
hiện tại? Thứ ba, lại có một thuyết nói Phật
Di Lặc thành đạo vào hơn tám trăm tám mươi
vạn sáu ngàn năm sau. Đối với cách nói như vậy,
nên giải thích ra thế nào? (Thái
Tĩnh Hiền hỏi)
Đáp:
Những câu hỏi một, hai, ba đều thuộc về
pháp môn tính toán, cho nên tôi gộp lại để trả lời,
v́ tánh chất [của những câu hỏi ấy] chẳng
khác nhau. Theo người Hoa, con số Ức thường
được giải thích là tên gọi khác của mười
vạn. Tra duyệt các sách chú giải đời Tùy, chữ
Ức có khi được hiểu là một trăm vạn,
hoặc là một ngàn vạn khác nhau. Tra cứu sách Du Già
Lược Toản chép về con số Ức, Tây
Phương (tức Ấn Độ) có bốn cách nói: Một
là mười vạn, hai là trăm vạn, ba là ngàn vạn,
bốn là vạn vạn. Chiếu theo cách tính toán đối
với chữ ấy, Trung Hoa và Tây Phương đă khác
nhau, giữa Trung Hoa với nhau cũng có sự bất
đồng [tùy theo từng triều đại], giữa
Tây Phương với nhau cũng có sự bất đồng.
Trong t́nh huống bất đồng to lớn ấy, [t́m hiểu
chánh xác con số Ức được nói theo kiểu nào]
khá là khó khăn! Đối với các kinh luận được
dịch sang tiếng Hán, như Du Già Hiển Dương
[Thánh Giáo Luận] chủ yếu coi một trăm vạn
là một ức, kinh Hoa Nghiêm chủ yếu coi một ngàn vạn
là một ức, Trí Độ Luận chủ trương
mười vạn là một ức. Tức là cổ đại
đức cũng chẳng nhất trí. Đối với
chữ này, vẫn chưa thể khảo sát được
tiêu chuẩn, làm sao có thể nói tổng số năm Di Lặc
Phật sẽ giáng sanh? Huống hồ tính toán lại là một
loại [học vấn] trí huệ. Loại học vấn ấy
chính là sở đoản b́nh sinh của kẻ hèn này. Nếu
con số đến hàng vạn, sẽ [cảm thấy]
váng đầu nhức óc, tính toán chẳng rơ ràng! Đối
với chuyện phức tạp như thế, càng chẳng
dám mon men! Kẻ chẳng mẫn tiệp này kính thưa rơ
[cùng ông như thế đó].
*
Hỏi: Hiện thời có những nhóm người thuộc
Áp Đản giáo, ngụy xưng là Phật giáo, đôi khi mạ
lỵ Phật giáo. Xin hỏi họ có phạm tội lỗi
hay không? Đối với kẻ phạm tội ấy, chẳng
biết kinh Phật ghi chép như thế nào? (Lâm Bá Tu hỏi)
Đáp:
Ngụy Phật giáo, dẫu miệng chẳng chửi bới
Phật giáo, hành vi cũng là phá hoại Phật giáo, tội
ấy đă trọn đủ. Tội báng Tam Bảo thuộc
về Ngũ Nghịch, đọa trong địa ngục
Vô Gián, kinh điển Đại, Tiểu Thừa ghi chép
khác nhau, lư ấy phức tạp khó nói, biết đại
lược là được rồi!
* Hỏi:
Áp Đản giáo, c̣n gọi là Nhất Quán Đạo, có phải
là một chi phái Phật giáo hay chăng? (Lâm Bá Tu hỏi)
Đáp:
Phật giáo có kinh điển chánh thức. Kinh điển ấy
do ai nói, ai kết tập, ai truyền đến Trung Hoa, ai
phiên dịch, rành rành có thể khảo cứu, chứng cứ
xác đáng. Lại c̣n có nguyên tắc “y pháp, bất y nhân”. Có đức Phật nói kinh,
có kinh do đức Phật nói, có tăng sĩ y giáo phụng
hành th́ mới là Phật giáo thật sự. Người có
học vấn trong thế gian vừa trông thấy bèn có thể
phân biệt, kẻ chẳng đọc sách nhiều mới
bị họ lừa phỉnh. Những cái gọi là Nhất
Quán Đạo này nọ, thật sự chẳng có mảy
may nào liên quan với Phật giáo!
* Hỏi:
Nghe có kẻ bảo kinh điển Phật giáo có thật,
giả, [vậy th́] phân biệt thật giả như thế nào? Chẳng hạn như
đối với kinh Thái Âm, kinh Thái Dương, tôi thật
sự hoài nghi tánh chất đáng tin cậy của chúng! Chẳng
biết [những kinh ấy] có phải là do đức Phật
Thích Ca nói ra hay không? (Lâm Bá Tu hỏi)
Đáp:
Kinh Phật lưu truyền trong cơi đời, đại
thể th́ như đă nói rơ trong phần trước. Hiện
thời, trong tỉnh này (Đài Loan), phần nhiều các chùa
miếu có toàn bộ Đại Tạng, chẳng khó tra duyệt!
Hễ trong Đại Tạng mà có th́ là chân kinh, nếu chẳng
có trong Đại Tạng th́ là ngụy! Những thứ
Thái Âm, Thái Dương v.v… như ông đă nói đều chẳng
phải là kinh Phật.
* Hỏi: Kẻ hèn này tiếp cận Phật
giáo đă mười mấy năm, lưu luyến chẳng
bỏ, nhưng khổ v́ trong tám nạn, chẳng được
minh sư chỉ dạy. Lại c̣n bị tai điếc,
không có cách nào nghe pháp, chỉ có đọc kinh điển
lung tung, cầu sao có thể ngộ giải bản thể.
Có lúc chẳng cảm thấy ngày tháng như thế nào, chỉ
là chẳng được mấy chốc lại quên mất,
nay cảm thấy rất vô vị. Gần đây, do đọc
bộ Phật Kinh Tập Dịch, trong ấy, có Thiên Phật
Nhân Duyên Kinh. Đọc xong, chẳng cảm thấy thoải
mái cho lắm. Ngu tôi cho rằng ngàn đức Phật ứng
thế, nếu nói một đoạn nhân duyên là đă đủ
để thành lập, cớ sao lại nói sáu bảy đoạn?
Cũng có lẽ là do đức Thế Tôn thích nói nhiều
như vậy, chẳng trách kinh Phật nhiều ngần ấy!
Tôi nghĩ Như Lai là bậc chân ngữ, thật ngữ,
sao lại có vấn đề? Hơn nữa, trong kinh Phật
có nói, hướng về Tam Bảo bố thí, sẽ có công
đức như thế nào, nhưng nếu dùng vật dụng
của tăng chúng, sẽ có tội lỗi như thế
nào, ngu tôi lại cảm thấy bất b́nh! Theo đúng lẽ,
người khác phải hướng về ta bố thí, ta
chẳng cho người khác dùng đến, nói theo Lư chẳng
suông! Ngu tôi viết những câu thẳng thắn này, chẳng
phải là cố ư phản đối Phật giáo; vẫn
mong cụ hăy nương theo lư để đáp, ngơ hầu
có thể giải quyết nghi t́nh, hồi phục tín
ngưỡng! (Hồng Triều
Nguyên ở Thảo
Truân hỏi)
Đáp:
Thư hỏi của quư cư sĩ đă trần thuật
trạng huống của chính ḿnh, có điều do dùng chữ
chẳng rơ ràng, tôi chẳng thể hiểu rơ ư nghĩa.
Đối với những chỗ chất vấn, nay tôi
chia ra [từng phần] để trả lời ḥng dễ
so sánh.
1)
Một, trong đoạn trần thuật t́nh huống của
chính ḿnh, [cư sĩ đă viết] “chỉ có điều ở trong tám nạn, chẳng
có minh sư chỉ dạy”. “Tám nạn” chính là tám thứ
nạn gây chướng ngại pháp. Có phải là ông nói ḿnh
chẳng hiểu ư nghĩa tám nạn? Hay là hỏi về
chuyện chẳng thể thoát khỏi tám nạn ấy? Do
chưa nói rơ, tôi chẳng dám tự tiện đáp lời. “Lại do tai điếc, chẳng
thể nghe kinh”, đấy chính là một trong tám nạn.
“Chỉ có cách xem kinh điển
lung tung, cầu sao giải ngộ bản thể”: Phàm cầu
bất cứ học vấn nào, đều phải tuân theo
thứ tự. Ví như trèo lên lầu, ắt cần phải
theo từng bậc cầu thang mà bước lên. Nếu
bước loạn xạ, chẳng thể lên lầu
được. Lại nữa, không có người nói Phật
pháp, ắt cần phải xem chú giải của cổ
đức. Nếu nương theo Ngă Chấp và Ngă Kiến,
chắc chắn là chẳng có khi nào giải ngộ!
2)
Hai là sử dụng chữ chẳng rơ, tôi chẳng hiểu
ư nghĩa. Đối với bộ Phật Kinh Tập Dịch,
tại hạ học vấn nông cạn, chưa hề xem
qua, cho nên lướt qua chẳng bàn tới. “Đọc Thiên Phật Nhân Duyên
Kinh xong, cảm thấy chẳng thoải mái cho lắm”,
“cớ sao nói sáu bảy đoạn,
cũng có lẽ đức Thế Tôn thích nói nhiều
như vậy”, quư cư sĩ dùng ba chữ “sáu bảy đoạn” để
chỉ điều ǵ? Ư nghĩa thiếu rơ rệt, chẳng
dám đáp bừa.
3)
Ba là chất vấn: “Kinh Phật
nói hướng về Tam Bảo bố thí, sẽ có công
đức như thế nào, nhưng nếu dùng vật dụng
của Tăng chúng, bèn có tội lỗi như thế nào,
tôi lại bất b́nh”. Vấn đề này nói th́
đơn giản, nhưng nghĩ ra th́ phức tạp, ắt
phải tĩnh tâm lănh hội mới ḥng lư giải.
a)
Chuyện bố thí và sử dụng khác biệt to lớn.
Cần phải xét rơ mạch văn, phân tích sự việc
rơ ràng. Bố thí là do bên Giáp thiếu thốn, bên Ất bèn tặng
cho. “Sử dụng” là chính ḿnh chẳng thiếu thốn, mà
lấy vật thuộc về tăng chúng làm của riêng
ḿnh. Hăy nên biết: Tăng chúng chẳng kinh doanh, những vật
họ dùng đều do mười phương cúng thí.
Người tại gia có nghề nghiệp chánh đáng, lẽ
nào xâm phạm vật dụng của họ?
b)
Tăng chúng hoàn toàn chẳng phải là không hành tài thí,
như bệnh viện Phật giáo tại các nơi ở
Nam Dương chữa bệnh miễn phí, Trí Quang học
hiệu, Từ Hàng học hiệu ở Đài Bắc, cùng
quỹ từ thiện cứu trợ tai nạn ở Hoa
Liên v.v… báo chí đăng tải khá nhiều, ai bảo
tăng sĩ chẳng được phép hướng ra
ngoài bố thí? Bất quá [những lời dạy về xâm
phạm tài vật thường trụ] chính là khuyến cáo
những kẻ có nghề nghiệp, có thu nhập, chớ
nên xâm phạm, tổn hại người chẳng làm ăn!
Những nghĩa khác hăy c̣n nhiều, do quư cư sĩ chẳng
thích nói nhiều, cho nên tôi kính đáp một ít nghĩa mà
thôi!
c)
Bốn là nói kèm thêm, quư cư sĩ nói “tiếp nhận Phật giáo mười mấy
năm, lưu luyến chẳng bỏ”, tức là có thiện
căn, tiếc là chưa gặp bậc tri thức chỉ
dẫn, cho nên có lắm nỗi hiểu lầm. Kính tặng
vài tập sách mỏng, mong hăy xem đọc trước,
khi có hứng thú, sẽ lại gởi thư!
* Hai câu hỏi của
cư sĩ Lư Thanh Lâm ở Đào Viên
1. Hỏi:
Mục sư (Cơ Đốc giáo) nói “tất cả động
vật đều là do Thượng Đế tạo ra
để làm thức ăn cho nhân loại, đáng nên ăn”.
Chẳng biết Phật giáo v́ sao luôn kiêng giết, phóng
sanh? Hai đằng xung đột lẫn nhau, chẳng biết
ai đúng? Đối với chuyện này, Phật giáo có
cách nh́n như thế nào?
Đáp: Mỗi
tôn giáo có giáo lư của riêng ḿnh, mỗi bên tin vào giáo pháp của
ḿnh, mỗi bên hành đạo theo kiểu của ḿnh, mỗi
bên tự cho là đúng, chẳng cần phải ép cho giống
nhau, mà cũng chẳng cần phải cố ư khác biệt!
Tuy chẳng thể suy nghĩ giống nhau, cũng chớ
nên công kích lẫn nhau, ḥng khỏi gây nên đầu mối
tranh chấp, có hại cho sự an định chung. Nếu
chẳng nói tới tôn giáo khác, chuyên bàn về Phật giáo,
đối với ư nghĩa của chuyện kiêng giết,
phóng sanh, nói đơn giản theo Lư, sẽ là “điều ǵ chính ḿnh chẳng mong
muốn, chớ làm cho người khác”. Ham sống, sợ
chết, loài vật có t́nh cảm giống hệt như ta.
Tông chỉ to tát của Phật giáo là “từ bi, b́nh đẳng”.
Kiêng giết nhằm chẳng hại chúng nó, phóng sanh là cứu
vớt chúng nó. Nếu nói đến chuyện ấy, sẽ
phức tạp khó thể nói trọn. [Nói theo] luân hồi,
[ta và các con vật] từng là thân quyến của nhau. [Nói
theo] nhân quả, sẽ là đời sau phải báo đền
trở lại!
2. Hỏi:
Tôi mong tin Phật, chẳng biết có cần phải ăn
chay hay không? Nhập môn từ chỗ nào? Có cần phải
rửa tội giống như Cơ Đốc giáo hay không?
Tu hành thường ngày ra sao?
Đáp:
Nếu Ngài chân tâm học Phật, có thể viết thư
gởi cho tôi địa chỉ và số nhà cặn kẽ,
tôi nguyện sẽ tặng sách nhập môn. Trước hết
là những sách nông cạn, sau đó, sẽ gởi sách sâu
hơn. Nếu muốn ăn chay, công đức càng lớn.
Đă chẳng thiếu nợ mạng, lại có thể giữ
đúng phép vệ sinh, sống lâu. Chẳng thể lập tức
kiêng ăn thịt, th́ cũng có cách thực hiện dễ
hơn. Trước hết, ăn ba loại tịnh nhục:
Một là [thịt của những con vật] chẳng
chuyên v́ ta ăn mà giết, hai là chẳng ăn thịt con vật
ta đích thân thấy nó bị giết, ba là chẳng ăn
thịt con vật lúc nó bị giết, ta nghe tiếng nó kêu
gào đau xót. Kế đó là mỗi tháng có sáu ngày chay, [trong
những ngày ấy], tam tịnh nhục cũng chẳng
ăn. Tiến hơn nữa là mỗi tháng có mười
ngày chay, từ sáu ngày trở thành mười ngày chẳng
ăn thịt. Sau đấy, thiện căn tăng trưởng,
sẽ tự nhiên phát tâm ăn chay trường.
* Ba câu hỏi của nhóm
cư sĩ Giản Văn Hùng ở Đào Viên
1. Hỏi:
Chúng tôi đều đă gia nhập Phật giáo, vị
“điểm truyền sư” cũng điểm đạo
cho chúng tôi. Xin hỏi địa vị “điểm truyền
sư” trong Phật giáo là như thế nào? V́ sao hễ
được “điểm” sẽ có thể đắc
đạo?
Đáp:
Xem chung cả ba câu hỏi, biết ngay là chư vị
đă gia nhập Áp Đản giáo. Về căn bản,
giáo ấy chẳng liên quan ǵ với Phật giáo. Xét ra, hết
thảy các tà giáo trong nước ta từ trước
đến nay, do làm chuyện chẳng chánh đáng, chẳng
dám thật sự lộ mặt. Phần nhiều, chúng
mượn dùng chiêu bài Phật giáo; thật ra là “treo đầu dê, bán thịt chó”.
Trong Phật giáo, hoàn toàn chẳng có điểm truyền
sư! Bọn họ điểm truyền cái giống ǵ? Chẳng
qua là lời lẽ yêu mị, lừa bịp mọi người,
ḥng gạt tiền và làm chuyện thương phong bại
tục mà thôi!
2. Hỏi:
Vị điểm truyền sư dạy chúng tôi năm chữ
“Vô Thái Phật Di Lặc” chẳng
thể nói với kẻ khác. Chẳng biết năm chữ
ấy v́ sao chẳng thể nói được? Lại dạy
chúng tôi phải ăn chay, nhưng có thể ăn trứng
gà?
Đáp:
Năm chữ “Vô Thái Phật Di
Lặc” rơ ràng là lôi Đông, kéo Tây. Đó là lời nói nhảm
của kẻ vô tri, sao có thể coi là người có học
vấn cho được? Họ lại nói đến chuyện
ăn chay, nhưng ăn trứng vịt, chuyện như vậy
báo chí đă từng đăng tải nhiều lượt.
Phàm những ai đọc báo, không ai chẳng biết! Các ông đă là người Hoa, chẳng
lẽ chưa từng thấy chùa miếu? Gia nhập Phật
giáo, hăy nên hướng về ḥa thượng xuất gia để
quy y. Đă đi lầm đường, hăy nên gấp rút
quay đầu. Nếu bọn họ chẳng mạo nhận
là Phật giáo đồ, tôi cũng chẳng rảnh đâu
mà quản chuyện rỗi hơi!
3. Hỏi:
Vị điểm truyền sư nói hiện thời là thời
kỳ Bạch Dương, Phật Thích Ca thoái vị, Phật
Di Lặc kế vị, tam giáo hợp nhất, chẳng biết
là ư nghĩa ǵ?
Đáp:
Những lời như “điểm truyền sư nói hiện
thời là thời kỳ Bạch Dương, Phật Thích
Ca thoái vị” rơ ràng là phản đối đức Thế
Tôn, làm sao có thể nói họ là Phật giáo cho được?
Xét ra, phái Bạch Dương chính là do Hàn Sơn Đồng
thuộc Bạch Liên giáo tạo ra vào triều đại nhà
Nguyên. Sau đấy, Vương Sâm vào đời Minh, Từ
Hồng Nho vào đời Thanh đều là dư đảng
của hắn, xưng là học được tà thuật
của “yêu hồ” (夭狐, hồ
ly tinh, cáo thành tinh), nhóm họp quần chúng mưu toan làm phản.
Tuy về sau đều bị tiễu trừ, [nhưng dư
đảng của chúng] vẫn cứ dây dưa chẳng dứt.
Những kẻ [v́ tà đạo ấy] mà tan nhà, mất mạng,
chẳng thể kể xiết! Lại hỏi “tam giáo hợp
nhất có ư nghĩa ǵ”, bọn chúng dối gạt kẻ
ngu, bịa chuyện rêu rao, có ai rảnh rỗi để
nghe lời bọn nói mớ trong mộng!
* Bốn câu hỏi của
cư sĩ Hoàng Kim Nguyên ở Đài Bắc
1. Hỏi: Hậu học tính lấy
Tịnh Độ làm chủ, Thiền làm phụ. Nhưng
sau khi đă nhất tâm bất loạn nơi Thiền (tức
là Thiền Định), sẽ lại khế hợp với
Tịnh như thế nào? Tôi cho rằng: Nếu Thiền
Định hoàn toàn chẳng ngộ, chấp trước nhất
tâm Tịnh Độ, sẽ là chướng đạo
đối với ngộ. Nhằm cầu ngộ cảnh
(cảnh ấy như thế nào vẫn phải thận trọng),
có phải là hăy nên hành theo đơn độc một lối,
dẹp sạch cái tâm Tịnh Độ, rỗng không cái Có
để đạt đến “không cả cái Không”, ḥng cầu
Tịnh Độ nơi tự tâm để cầu ngộ
cảnh? Nhưng tôi lo ngại sâu xa: Nếu khi chưa đắc
ngộ, chợt ấm cảnh hiện tiền, có phải
là vẫn chưa thoát khỏi lục đạo? Nếu
đúng là như thế, há chẳng oan uổng ư?
Đáp:
Thiền và Tịnh sau khi đă quy nguyên (trở về nguồn
cội), vốn chẳng khác nhau. Khi khởi tu, bèn có chỗ
bất đồng. Tuy có kẻ Thiền Tịnh song tu có thể
thành tựu, nhưng trong trăm người, chưa
được một hai! Phần nhiều là cả hai môn
đều hỏng. Do chẳng hiểu giáo lư, nên chẳng
thể viên dung, đến nỗi “chẳng Thiền, chẳng
Tịnh”, phí uổng thời gian! Nếu chúng ta chẳng có
minh sư, lại chẳng chịu công phu thiết thực,
chỉ tu một môn c̣n sợ chẳng kịp, pháp c̣n chẳng
hợp, huống hồ thoát khỏi lục đạo! Dốc
cạn ḷng thành kính khuyên, mong hăy lượng thứ. Như
ngài đă nói những câu như “nhất
tâm bất loạn”, “không cái
Không”, những điều ấy đều là cảnh
giới của bậc đă thấu đạt đến
nơi đến chốn, chẳng phải
là hàng sơ học mà ḥng nói được, biết
được! Nếu học Thiền, ắt cần phải
có nhiều lượt ngộ, lại cầu chứng
đắc. Học Tịnh chẳng cần phải cầu
ngộ, chỉ cần chế ngự phiền hoặc
là ổn thỏa rồi!
2.
Hỏi: Học Phật có cần phải quy y (cần phải
làm theo nghi thức)? Nếu do thành tâm mà tự giới, tự
định, có phải vẫn là đồ đệ của
Phật hay không? Do trước mắt, hậu học bị
điếc, có pháp phương tiện nào để quy y
hay chăng? Hay là có thể nhờ vào cách tự thệ quy y?
Cách tự thệ quy y như thế nào? Xuất phát từ
tạng nào? (xét ra, tôi từng thấy trong lược truyện
của ngài Hư Vân có câu “tự
thệ thọ giới”).
Đáp:
Là đệ tử Phật, hăy nên quy y th́ hay hơn. Nếu
do phương tiện, cũng có thể tự thệ thọ
giới. Có thể t́m một cuốn nghi thức quy y, chiếu
theo pháp để cung kính tự thực hiện. Nếu tâm
có nghi, vẫn nên cầu pháp sư quy y, sẽ ổn thỏa
hơn. Mắt có thể đọc chữ th́ tai điếc
có trở ngại ǵ?
3.
Hỏi: Xin lăo cư sĩ có thể giới thiệu cho tôi
vị thiện tri thức nào gần thành phố Đài Bắc
để tôi thân cận, thưa hỏi hay không?
Đáp:
Điều này hơi khó khăn. Do tai điếc, sợ rằng
khó tṛ chuyện. Đối
phương có chịu làm chuyện ấy hay không, tôi
cũng chẳng dám chắc! Tôi có ư kiến vụng về
là ông hăy xem sách cho nhiều, sẽ giống như gặp
thiện tri thức. Nếu ông đồng ư, tại hạ
có thể kính tặng mấy cuốn sách sơ cơ.
4.
Hỏi: Hậu học năm nay tuổi ngoài đời là
hai mươi tám tuổi, thấy thế sự vô thường,
lại c̣n nghĩ lập gia đ́nh sẽ gây chướng
đạo. Tuy không nhất định xuống tóc,
nhưng chẳng mong kết hôn, chỉ mong suốt đời
phụng cầu Phật đạo ḥng có thể tự lợi,
lợi tha th́ mới thỏa ḷng.
Đáp:
Người tại gia học Phật chẳng muốn kết
hôn có thể tùy ư cầu chuyện hợp với ư ḿnh.
Đối với chuyện chướng đạo, là do
chẳng hiểu Phật lư, hoặc gánh trách nhiệm nhân quả,
chẳng thể tinh tấn, dẫu chẳng kết hôn,
cũng sanh chướng ngại nơi đạo. Do bận
bịu, chẳng thể viết thư hồi đáp, tôi xin
gởi trả bưu phiếu.
* Ba câu hỏi của
cư sĩ Trần Thiêm Đinh ở Nghi Lan
1. Hỏi:
Nơi trang hai mươi chín của sách Kim Sơn Hoạt
Phật Thần Dị Lục có nói Hoạt Phật đốt
tiền Văng Sanh. Tiền Văng Sanh ấy do ai chế ra? Có phải
là niệm Văng Sanh Chú vào đó hay không? Ngoài bố thí quỷ
thần ra, c̣n có thể dùng để đốt cho tổ
tiên đă khuất th́ sẽ có hiệu quả giống hệt
hay chăng? Nếu đốt [tiền Văng Sanh] th́ có hạn
lượng hay không? Trong ngày giỗ của người
đă khuất, có thể dùng [tiền Văng Sanh] để
đốt thay cho tiền giấy vàng mă một lần? Sau
đó, hằng năm vẫn cứ đốt cho họ giống
hệt như thế, sẽ chẳng có trở ngại ǵ ư?
Đáp:
Chú Văng Sanh chính là pháp môn để người tŕ kinh niệm
tụng giúp cho vong nhân sanh về thế giới Cực Lạc,
hiệu quả là do thành tâm niệm tụng. Người
đời sau dùng [nguyên văn bài chú bằng] tiếng Phạn
in lên giấy, lại xếp chú ngữ thành h́nh tṛn, chẳng
biết do ai đề xướng “phần hóa” (đốt), lầm lẫn gọi là
“tiền Văng Sanh”! Xét ra, trong
Mật Tông có phương cách in chú văn trên vải, đắp
trên thân người chết, gọi là “mền Đà La Ni” (mền Quang Minh), hoặc in lên
giấy, treo trong nhà để mong bảo vệ nhà cửa,
tránh hung hiểm, [người đời] bèn lầm lẫn
coi là tiền giấy để thiêu! Nhưng đốt
thành tro, tung bay khắp nơi, khiến cho chú văn rớt
vào chỗ bất tịnh, rất chẳng thích đáng! Cổ
đức từng khuyên cấm ngặt, vẫn là chẳng
đốt th́ hay hơn!
2. Hỏi:
Năm nay, mọi người cử hành Vu
Lan Bồn Hội vào ngày Rằm tháng Bảy trước
ngôi miếu ở vùng tôi, đa số cúng bằng những
con vật để nguyên con [chỉ cạo lông, mổ ruột],
lại chẳng lễ thỉnh ḥa thượng tới làm
lễ Phóng Diệm Khẩu, vậy th́ ư? Nếu
như dùng tiền Văng Sanh thay thế cho tiền giấy,
vàng bạc để đốt, và dùng các loại trái cây,
cơm gạo thay thế những con vật để lễ
bái th́ hiệu quả sẽ cực tốt phải không?
Đáp:
Trong điều trước, tôi đă giải thích: [Những
tờ giấy in] Văng Sanh Chú chẳng phải là tiền, chớ
nên thiêu để tro bay lung tung đến nỗi ô uế.
Nhưng trong hội Vu Lan Bồn mà sát sanh để cúng thần,
vốn là việc làm của thế tục, rất trái nghịch
Phật pháp. Đốt giấy tiền, vàng mă v.v… có thể
thuận theo thói tục, dùng trái cây, cơm gạo để
cúng, hết sức chánh đáng!
3. Hỏi:
Cải tiến như thế sẽ phù hợp Phật giáo,
là một biện pháp tốt đẹp nhất, lại c̣n
giảm thiểu tai nạn, đúng không?
Đáp:
Trong điều trước tôi đă nói rơ, hăy nên đề
xướng, cải cách. Huống chi chánh phủ đă có mệnh
lệnh khuyến cáo rơ ràng, hoàn toàn do mọi người phụng
hành!
* Câu hỏi của cư
sĩ Trương Thiêm Trạch ở Đạm Thủy
Hỏi:
Bản thể của Phật, chúng sanh và vạn tượng
trong vũ trụ là tánh Không. Tánh Không ấy có phải là có
chỗ xuất phát, hay cũng là tự nhiên mà có? Nếu bảo
là có chỗ xuất phát, tánh Không vô sanh, vô diệt, lặng
trong, tịch tĩnh, lẽ ra phải là tự nhiên mà có. Nếu
nói nó tự nhiên mà có, chúng sanh sở dĩ luân hồi trong lục
đạo là v́ thoạt ban sơ bất giác, chợt động
tâm, nhanh chóng dấy lên căn, thân, lưu chuyển theo nghiệp.
Nếu là như vậy, bản tánh của chúng sanh thuần
là do từ một tánh Không lưu xuất, tức là có khởi
thỉ. Kinh thường nói “vô
thỉ vô minh”, cái “vô thỉ”
ấy chính là một con số chẳng có hạn chế,
nhưng nếu xét theo những điều trên đây,
dường như là có một cái khởi thỉ. Hơn nữa,
chúng sanh trước khi khởi tâm động niệm, vốn
là tánh Không thuần nhất, tức là Chân Như bản tánh
chẳng khác Phật. V́ sao vốn là Phật, mà Phật là bậc
giải thoát đại tự tại, lẽ ra chẳng thể
dấy lên vọng niệm, [thế mà] ngay lập tức dấy
lên căn thân, chịu đựng sự đau khổ luân
hồi trong ức vạn kiếp? Sau đấy, lại phải
cậy vào các phương pháp tu tŕ để phục hồi
lư thể Chân Như, [cho nên] lại dường như có một
kết thúc. Có khởi đầu, có kết thúc, hai thứ
tương đối, cho nên chẳng thể giải thích
chân lư vũ trụ và nhân sinh một cách viên dung vô ngại
được! Học nhân chẳng thấu hiểu lư này,
xin thầy hăy khai thị.
Đáp:
Hễ là học vấn, bèn có sơ bộ và có căn bản.
Những điều ông đă hỏi thuộc về căn
bản, kẻ sơ học chẳng thể hiểu
được. Người học [Thiền] ngồi rách
mấy cái bồ đoàn, ngài Triệu Châu tám mươi tuổi
c̣n hành cước, Nhị Tổ đứng trong tuyết,
chặt cánh tay v.v… đều là do vấn đề này! Ông
mới mon men học Phật ba năm, vẫn chưa đạt
đến một nửa [số năm] tổ Đạt
Ma ngồi nh́n vách, muốn tri kiến thấu triệt rốt
ráo, sẽ là chuyện khó thể đạt được!
Thuở Phật Thích Ca tại thế, tuy phương tiện
cao minh, vẫn chẳng thể khiến cho người ta
hoàn thành ngay những ǵ cần phải tu tập, chẳng
thọ thân sau nữa! Chưa nghe nói có ai có thể ngay lập
tức thành Phật, huống hồ nay đang thời Mạt
Pháp chẳng có Phật ư? Đức Phật dạy “tín, giải, hành, chứng”,
tín nương vào trí để lập. Ḷng tin của chúng
ta thật sự giống như sợi lông vũ [chao liệng]
trong gió; v́ thế, hành lẫn giải đều chẳng
đủ. Muốn cầu Chứng, há có thể làm
được ư? Câu hỏi của ông thuộc về
chuyện sau khi đă đoạn căn bản vô minh; hiện
thời mà bàn đến th́ hăy c̣n quá sớm! Chỉ nên giữ
lấy một môn Hành, do hành sẽ giải, mới có chỗ
tiến nhập. Nếu chẳng có Giới và Định,
làm sao có thể khai Huệ cho được? Khổng Tử
cũng nói: “Ngô thường
chung nhật bất thực, chung dạ bất tẩm,
dĩ tư vô ích, bất như học dă” (Ta thường
suốt ngày chẳng ăn, suốt đêm chẳng ngủ
để suy nghĩ vô ích, chẳng bằng học vậy).
Quốc Phụ Tôn Trung Sơn cũng nói: “Biết khó, hành dễ”. Nếu thật sự
hành, lâu sau sẽ không ǵ chẳng biết. Ở đây, tôi lại
chọn những điều quan trọng trong lời hỏi
để tạm nói đại khái.
1)
Một, “Thể là tánh Không”,
Không chẳng đến, chẳng đi, vô sanh, vô diệt,
vô thỉ, vô chung.
2) Hai, “vô thỉ vô minh”. Nói “vô thỉ”
hết sức phù hợp nhân quả. Nếu nói “hữu thỉ”
(có khởi đầu), sẽ hết sức trái nghịch
lư nhân quả. Như đối với các pháp trong hiện
tại, đều có nhân duyên trước đó. Nhân duyên
trước đó lại có nhân duyên trước đó nữa.
Cứ truy ngược như vậy, chẳng thể đạt
được cái nguyên thủy. Nếu chấp mê chẳng
ngộ, chỉ nói “vô thỉ”, “vô thỉ” ấy chính là có
cái khởi đầu trong một giai đoạn mà thôi! Vô
minh chính là Chân Như. Ví như băng chính là nước,
nhưng khi nói khế cơ, mỗi thứ đều có
phương tiện. Sự thanh tịnh vốn sẵn có
và vô minh nguyên thủy cũng chính là “Sắc tức là Không, Không chính là Sắc”.
3) Ba, “vốn sẵn là Phật”, Phật
có sáu loại khác nhau, xét theo Lư là một, nơi Sự bèn có
sáu. Nếu giải thích [tỉ mỉ], sẽ quá rắc rối,
mong ông tự tra cứu thuyết Lục Tức Phật sẽ
hiểu rơ.
4)
Bốn, tánh có Tánh Đức, c̣n có Tu Đức. Phật
Thích Ca là Cứu Cánh Phật, cũng là do tu hành mà thành tựu.
* Ba câu hỏi của tiên
sinh Khưu Vũ Hùng ở Đào Viên
1. Hỏi:
Cả nhà tệ nhân đều là tín đồ Nhất Quán
Đạo (tức Áp Đản giáo). Do xem tin tức và báo
chí đăng tải, [mới biết] giáo ấy hoàn toàn chẳng
phải là Phật giáo, mà là tà giáo, dùng lời lẽ tà mị
để mê hoặc quần chúng. Nay nguyện bỏ tà quy
chánh, nêu ra mấy câu hỏi, xin hăy chỉ giáo. Thứ nhất,
đối với Phật đường do điểm
truyền sư xếp đặt cho gia đ́nh chúng tôi, phía
trước thắp một cây nến trắng, nói hiện
thời là thời kỳ Bạch Dương, thuộc về
màu trắng. Từ nay trở đi, nên xử trí Phật
đường ấy như thế nào, hủy bỏ
ư? Hay là sửa chữa, đổi mới?
Đáp:
Biết sai ắt sửa, nghe điều thiện bèn thay
đổi có đại thiện căn, tôi hết sức
khâm phục. Đối với hết thảy h́nh thức
do giáo ấy sắp đặt trong quư phủ, hăy nên nhất
loạt hủy bỏ. Tượng thờ và sách vở tuy
là thứ mạo danh, [nhưng trong ấy] nhất định
là có xen tạp mấy câu kinh Phật hoặc giáo huấn của
Khổng Tử. Sách th́ nên thiêu hủy, đem tro chôn nơi
đất sạch. Tượng thờ th́ đem bỏ
trong hang hốc trong núi sâu, hoặc bỏ xuống sông biển
để cầu tâm tịnh. Có ḷng hướng về Phật
th́ thờ tượng Phật khác, chánh thức cầu pháp
sư truyền giới, quy y Tam Bảo.
2. Hỏi:
Trước kia, khi gia nhập tà giáo, đă từng phát ác thệ:
“Trái nghịch giáo ấy, hoặc đem năm chữ Vô
Thái Phật Di Lặc nói ra ngoài, sẽ bị
trời tru đất diệt”. Từ nay trở đi, chẳng
c̣n tham gia tổ chức của họ nữa, có bị trời
phạt hay chăng?
Đáp: “Ác thệ” của giáo ấy vốn
là tṛ lừa dối! Nếu bỏ tà theo Phật, lời thề
ấy tự nhiên bị tiêu diệt. Nếu muốn “chẳng
nói hai lời” th́ hăy nên đối trước Phật, sám
hối bỏ lời thề ấy, có thể nói là “đến,
đi minh bạch”. Ngàn muôn phần đừng ôm ḷng hoảng
sợ! Trời đất đại công vô tư, càng chẳng
thể thuận ḷng bọn tà, trọn chẳng có lẽ nào
bỗng dưng hại người! Là đệ tử Phật,
chân tâm tu đạo, chắc chắn sẽ có thiên, long, hộ
pháp, làm sao bị khiển trách cho được?
3. Hỏi:
Vị điểm truyền sư đă trao cho chúng tôi những
kinh điển để xem như kinh Thái Dương, kinh
Thái Âm, các sách về các loại đạo này nọ, hăy nên
hủy đi, hay là xử lư như thế nào?
Đáp:
Đối với câu hỏi này, có thể tham khảo lời
đáp cho câu thứ nhất, tôi đă nói rơ ràng: Nhất loạt
đốt đi, đem tro chôn nơi đất sạch. Nếu
gần đó có chỗ sông hay đầm sạch v.v…
cũng có thể bỏ vào trong nước. Đấy chẳng
phải là kính trọng giáo đó, mà thật ra là v́ trong sách
của bọn chúng, toàn là lôi Đông, kéo Tây, xen lẫn các lời
kinh của chánh giáo. Lại v́ kính tiếc giấy có in chữ,
cũng bất đắc dĩ là “ném chuột, sợ bể
đồ”!
* Bốn câu hỏi của
cư sĩ Cao Vạn Phương ở Cơ Long
1.
Hỏi: Phật giáo lấy từ bi làm gốc, chủ
trương chẳng sát sanh. Đại Thừa Phật
pháp lại dùng Lục Độ vạn hạnh [để
làm tiêu chuẩn ứng xử] cho hành vi nơi thân và tâm, măi
cho đến khi tự giác, giác tha, hoàn thành Bồ Tát hạnh
vĩ đại. Bành Hồ là một hải đảo,
chín mươi chín phần trăm dân chúng trên đảo sống
bằng nghề đánh cá. Nói cách khác, ngư dân mỗi ngày
đều phải giết chết hàng ngàn, hàng vạn sanh
mạng! Nếu một vị hành Bồ Tát đạo sống
trong hoàn cảnh ấy, hăy nên dùng thái độ ǵ để
cư xử với ngư dân, lại c̣n tự độ,
độ tha?
Đáp:
Quư cư sĩ phát tâm, tôi khá bội phục. Đă hành Bồ
Tát đạo, đối với chúng sanh, hăy nhất loạt
thấy là b́nh đẳng. Dẫu là gă đồ tể, hay
người đánh cá, hoặc kẻ săn thú, đều
là do mê muội bản tánh, khởi Hoặc tạo nghiệp,
chẳng tin nhân quả, giống như những kẻ tạo
những nghiệp bất chánh đáng khác. Hăy nên cư xử
ḥa thuận, tốt lành [đối với họ]. Hễ
có cơ hội, bèn mềm mỏng khuyên nhủ. Nhưng họ
sống ở đó, do hoàn cảnh sinh hoạt, nếu thiểu
số làm nghề đánh cá th́ c̣n dễ có cách thay đổi,
nay đến chín mươi chín phần trăm th́ đă trở
thành vấn đề chánh trị mất rồi! Chỉ có
độ được kẻ nào hay kẻ ấy, độ
được mười người th́ độ mười
người, tùy duyên chẳng chán, ai nấy trọn hết
đạo của ḿnh mà thôi!
2.
Hỏi: Tôi thường xem sách Phật, [nhận thấy]
trong ư kiến và lư luận của các tông, đều coi tông
của chính ḿnh là quư, lại c̣n tận lực bài xích các
tông khác. Chẳng hạn như trong Pháp Bảo Đàn Kinh của
Thiền Tông, Lục Tổ có nói: “Người phương Đông tạo tội, niệm
Phật cầu sanh Tây Phương. Người
phương Tây tạo tội niệm Phật cầu sanh
cơi nào?” Lại như: “Sứ
quân chỉ hành Thập Thiện, cần ǵ phải nguyện
văng sanh?” rơ ràng là bài xích Tịnh Tông!
Đáp:
Kinh Phật đều là do đức Phật nói, há có mâu
thuẫn? Chia thành các tông là do các vị tổ đời
sau, mỗi vị có phương tiện riêng. Trong thời
kỳ Mạt Pháp, căn tánh của con người tŕ
độn, kém cỏi; tổ sư độ người,
nhằm khiến cho họ chuyên nhất, cho nên có sự thiện
xảo “coi trọng tông ḿnh, bài xích tông khác”. Chẳng phải
là thật sự bài xích “lời đức Phật nói chẳng
phải là liễu nghĩa!” Kẻ hậu học nông cạn,
chẳng hiểu [ư chỉ sâu xa ấy], chỉ lo tranh chấp
môn hộ, là két học nói, chỉ tạo thành tội báng
pháp. Thử hỏi “người
sanh Tây Phương”, “sanh”
là đă đoạn Hoặc, đều là thiện nhân, làm
sao có thể tạo tội nữa? Lại nữa, “chỉ hành Thập Thiện, cần
ǵ phải nguyện văng sanh?” th́ cũng có thể nói là “chỉ hành Thập Thiện, cần
ǵ phải tham Thiền?” Lục Tổ là thánh nhân, há chẳng
biết điều này? Đáng tiếc là người đời
sau nghe một, chẳng biết suy ra ba,
chỉ là két học nói mà thôi!
3. Hỏi: Tịnh Độ Tông cũng có những
lời lẽ dường như bài xích các tông khác. Chẳng
hạn như “những tông khác
tu hành phải trải qua ba đại A-tăng-kỳ kiếp
th́ mới có thể thành Phật, nhưng c̣n có thể bị
đọa lạc. Tịnh Độ Tông chỉ cậy vào
tín, nguyện, tŕ danh
niệm Phật, bèn có thể đới nghiệp văng sanh,
thẳng cho đến khi hoàn thành Phật quả, chẳng
lo bị đọa lạc”. Nhưng Giáo Tông (Giáo Hạ)
bèn nói: “Tu hành trong Tịnh Độ
một trăm năm, chẳng bằng tu đạo một
ngày trong thế giới Sa Bà”.
Đáp:
Ba đại A-tăng-kỳ kiếp thành Phật chính là do
các kinh đă nói. Đoạn Hoặc th́ cần phải
đoạn Kiến Hoặc, Tư Hoặc, Trần Sa Hoặc,
và nguyên phẩm vô minh (căn bản vô minh, sanh tướng
vô minh), trải qua các địa vị Thập Trụ, Thập
Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa,
Đẳng Giác, Diệu Giác. Đấy chẳng phải là
lời lẽ bài xích [các tông khác] của Tịnh Tông. Đới
nghiệp văng sanh chính là thoát ly lục đạo. C̣n như
nói “măi cho đến khi hoàn thành Phật quả” tức là ở
trong cơi ấy (cơi Cực Lạc), vẫn cần phải tu
hành một thời gian. Ngược lại, bên Giáo Tông nói: “Tu hành trong Tịnh Độ một
trăm năm, chẳng bằng tu hành một ngày trong thế
giới Sa Bà” chính là nhằm cổ vũ, khích lệ
người học đạo trong thế giới Sa Bà, mà
cũng là lời chân thật. Ấy là v́ Sa Bà có Hoặc, có
khổ, cho nên mới có Bồ Đề; Tịnh Độ
ít Hoặc, chẳng có khổ, cho nên ít có duyên để dấy
lên sự giác ngộ. Nếu nơi nào đó chẳng có
duyên “giết, trộm, dâm”, mà nói là “ta có thể giữ giới”
th́ chính là do không có cơ duyên tạo tác! Nếu xứ nào
đầy dẫy các duyên giết, trộm, dâm, dẫu bị
dẫn dụ mà chẳng phạm, th́ mới là “thật sự
giữ giới”. Gần là có thể chế ngự Hoặc,
lâu xa th́ có thể đoạn Hoặc. Nếu hiểu lời
ấy là lời lẽ chê trách Tịnh Độ, lại là
lầm lẫn quá to lớn!
4. Hỏi:
Xin hỏi là có Phật pháp nào khác? Có giáo điển nào chẳng
thiên lệch hay không? Tức là các giáo điển chẳng
bài xích các tông phái, lại có thể dung nạp các tông phái,
đối với các tôn giáo đều công bằng, chân thực.
Nếu như có, xin hăy giới thiệu mấy quyển?
Đáp:
Các kinh chỉ có Ngũ Thừa theo thứ tự, nhưng
chẳng hề bài xích lẫn nhau. Kẻ bài xích tức là kẻ
vướng vào Pháp Chấp. Ông có lời hỏi “dung nạp các tông”, chính là v́
chẳng hiểu ư nghĩa “Sự
Lư vô ngại”. Nếu sau khi đă thâm nhập, sẽ tự
chẳng khởi nghi. Nếu cầu t́m một Phật pháp
khác ở ngoài các tạng, sẽ là gặp ngũ cốc mà
chẳng ăn, toan t́m bánh vẽ cho đỡ đói. Lại
như bị bệnh, gặp được thuốc hay mà
chẳng uống, ngược ngạo cầu rượu
Trấm, cổ độc!
* Năm câu hỏi của
cư sĩ Ngô Nhị Lang ở Đài Bắc
1.
Hỏi: Có rất nhiều người đang truyền
giáo, bí mật truyền v́ sợ cảnh sát biết. Người
truyền giáo nói “Phật Thích Ca đă nghỉ hưu, chẳng
quản sự nữa, nay do Phật Di Lặc đang
chưởng quản thiên bàn”. Xin hỏi trong danh từ Phật
học có từ ngữ “chưởng
quản thiên bàn” hay không?
Đáp:
Những tôn giáo được pháp luật nước ta thừa
nhận, chẳng cấm đoán, mà c̣n bảo vệ, là do
căn cứ trên những điều kiện sau đây: Một
là trong lịch sử ắt có người ấy (vị
giáo chủ sáng lập), hai là có điển tịch (kinh điển,
sách vở) chánh thức, ba là chẳng dùng những lời lẽ
quái đản mê hoặc quần chúng, gây hại cho sự
an ninh chung. Phật, Đạo, Hồi, Gia Tô v.v… đều
phù hợp những điều kiện trên đây. Nếu
không, sẽ là tà thuyết loạn thế, đem lại tai
họa mất nước hại dân. Như bọn giặc
Hoàng Cân[17], Bạch
Liên giáo, Bát Quái giáo[18],
Hồng Đăng Chiếu v.v… là những thí dụ hiển
nhiên, làm sao chẳng thể ngừa trước tai hoạn
cho được? Hết thảy các tà môn ngoại đạo
tại Trung Hoa tự biết là hèn tệ, cho nên trộm lấy
[các giáo nghĩa từ] kinh Phật và kinh của Đạo
giáo, cũng như kinh sách của Nho gia, một chữ, nửa
câu, lắp ghép lung tung thành ngụy kinh. Thực chất là
giảng giải chẳng thông, ngược ngạo bảo
là “bí mật chân truyền”. Nay đang nhằm lúc văn hóa
chông chênh, nên chúng nó dễ dàng mê hoặc quần chúng ngu tối!
Những thứ như “Phật
Thích Ca nghỉ hưu, Di Lặc chưởng quản thiên
bàn” v.v… chính là lời lẽ của bọn mắc bệnh
thần kinh giảng sách, bà già mộng xuân ọ ẹ. Hễ
nói đến cần phải súc miệng ba ngày, người
nghe cũng nên rửa tai mười bữa!
2.
Hỏi: Thuở tại thế, Phật Thích Ca có dự ngôn
Ngài sẽ nghỉ hưu hay chăng? Có dự ngôn ai sẽ
thay Ngài tiếp nhận “thiên
bàn” hay chăng?
Đáp:
Tam Tạng của Phật giáo, các chùa ở Đài Loan đều
có, lại c̣n có Phật học từ điển, chưa hề
nghe nói tới hai chữ “thiên
bàn”! Nhưng lũ tà giáo như bọn họ há chỉ
có hai chữ “thiên bàn” mà thôi!
Có ai rỗi hơi để nói lư với kẻ đang nói
mớ trong mộng?
3.
Hỏi: [Chúng nó nói] “hiện nay đang là thời kỳ Bạch
Dương”, chẳng biết phát xuất từ kinh điển
nào? Chẳng biết nên giải thích Bạch Dương
như thế nào?
Đáp:
Nghe người khảo cứu nói: Bạch Dương
chính là một phái riêng trong Bạch Liên giáo. Xem ghi chép trong tập
sách nhỏ Ám Lộ Minh Đăng, Bạch Dương bất
quá tên của một người mà thôi. Bạch Liên giáo
được sáng lập vào thời đại nhà Nguyên,
giáo đồ nhiều lần tạo phản, nhiều
lượt bị diệt trừ, trong lịch sử
đích xác là có chuyện ấy. Thật sự là chẳng
có liên quan ǵ với Phật giáo, chớ nên hiểu lầm!
4.
Hỏi: V́ sao họ truyền giáo lại sợ cảnh sát biết?
Đă bị cảnh sát biết th́ người truyền giáo
bảo là “ma khảo”, nói như thế có đúng hay không?
Đáp:
Cảnh sát có chức trách duy tŕ trị an. Hễ có chuyện
tụ hội bí mật, ắt có nam nữ tập thể
qua lại, lẽ nào cảnh sát chẳng ḍ xét? Hai chữ “ma khảo” chính là lời nói
ngầm của bọn chúng, vốn là tùy tiện gán bừa,
có chỗ nào là đúng?
5.
Hỏi: Dựa vào đâu mà Phật Di Lặc tiếp nhận
“thiên bàn”? Phát xuất từ kinh điển nào của nhà Phật?
Đáp:
Chúng nó dùng lời lẽ yêu mị để mê hoặc
đại chúng. Trong câu đáp thứ nhất và thứ ba,
tôi đă nói rơ, [những kiểu nói như vậy] toàn là lời
lẽ bịa đặt, gán ghép quàng xiên! Xem kỹ đoạn
văn trong phần trước, sẽ có thể suy ra mà biết,
chẳng cần phải hỏi tỉ mỉ lặp đi
lặp lại, lăng phí thời gian!
* Câu hỏi của cư
sĩ Mao Nhược Hư ở Nhật Bản
*
Hỏi: Phật pháp chủ trương “không”, hết thảy
đều là Không. Nhân không, mà pháp cũng không. Kinh Kim Cang và
Tâm Kinh chính là tiêu biểu. Nhưng mặt khác lại chủ
trương Có, kinh Di Đà, phẩm Phổ Môn chính là tiêu biểu.
Hai đằng mâu thuẫn, dung ḥa như thế nào để
chẳng sanh khởi [hoài nghi] chi nữa?
Đáp:
Phật pháp nói Có, nói Không, đều chia thành sâu, cạn,
quyền, thật, đại, tiểu, thiên, viên, hết sức
khó hiểu. Kẻ sơ học chỉ có thể tiếp nhận
những điều nông cạn, tiểu, thiên. Nếu chẳng
nói theo thứ lớp, chắc chắn sẽ chẳng có chỗ
tiến nhập, lại c̣n tăng thêm nghi hoặc, đâm
ra dẫn đến t́nh cảnh trong đường rẽ
lại sanh thêm ngơ rẽ. Có lẽ túc hạ đă từng đọc
Tâm Kinh, trong ấy chẳng nói “Sắc
tức là Không, Không tức là Sắc” hay sao? Đấy
chính là Trung Đạo liễu nghĩa. Nếu học Bát
Nhă, hiểu sâu xa Tánh và Tướng, [sẽ thấy] Không và
Hữu có bao giờ mâu thuẫn? Giáo nghĩa trong kinh Kim Cang
phần nhiều là “xả tướng nói tánh”, giáo nghĩa
của kinh Di Đà phần nhiều là “ẩn tánh hiển
tướng”. Nếu ĺa tứ cú[19],
hiểu rơ Biệt và Viên, Pháp Chấp sẽ tự phá, sẽ
biết vạn pháp giống hệt như nhau!
* Năm câu hỏi của
cư sĩ Trương Nghĩa Hùng tại Đài Nam
1. Hỏi:
Nay tôi có mấy điểm nghi vấn, xin hăy chẳng tiếc
sức chỉ dạy. Tệ nhân có một người bạn
là giáo đồ nhà Phật, cũng là độc giả của
tờ Bồ Đề Thụ, nhưng tệ nhân thuộc
về Nam Phủ Tỉnh Cung Xă Thánh Hóa Đường, từng
được Thượng Thương Ngọc Hoàng
Thượng Đế truyền lệnh “chọn môn sanh”. Người trong Thánh Hóa
Đường vâng mạng giữ các chức như Chánh
Cơ Sanh, Lục Loan Sanh, Xướng Loan, Chánh Phó
Đường Chủ, Hầu Giá Sanh v.v… Lập ra viện
cầu cơ, luyện tập trọn khắp cơ linh, vời
thỉnh thánh, thần, tiên, Phật thuộc tam sơn,
ngũ nhạc[20]
giáng phàm, ngự xuống đàn tràng, giáng hạ điện
đường, vận chuyển cơ bút, vâng theo ngọc
chỉ của Ngọc Hoàng Thượng Đế soạn
ra sách Lương Duyên Bảo Phiệt. [Những bài cơ
bút trong ấy] đều là do thánh, thần, tiên, Phật từ
tam sơn ngũ nhạc vâng chỉ giáng hạ, chuyển
cơ bút tạo thành. Nay tôi sợ người bạn lầm
tưởng những bài ấy là ngoại đạo.
Đáp:
Sợ trời kính thần xưa nay tại Trung Hoa đă
thành tập quán, phong tục, nhưng có chánh quy và mê tín sai
khác! Hành theo lẽ chánh th́ được, làm theo thói mê sẽ
có hại! Chánh là ǵ? Chánh là kính sợ, biết thiên thần
xét soi, [cho nên] đoan chánh cái tâm, chẳng dám làm chút chuyện
ác nào. Mê là ǵ? Nịnh nọt cầu phước, làm chuyện
hư ngụy, xằng bậy, ỷ vào thần thánh chẳng
tự lập. Văn hóa Trung Hoa do Khổng Tử tổng hợp
hoàn thiện, Ngài thường nói: “Kính quỷ thần nhi viễn chi” (Kính quỷ thần,
nhưng tránh xa). Lại nói: “Thiên
đạo viễn, nhân đạo nhĩ” (Đạo trời
xa, đạo người gần). Ngài chỉ dạy con
người giữ ḷng kính sợ, sửa ác hướng
thiện mà thôi. V́ thế, bèn có giáo huấn “làm lành giáng điều tốt lành, làm ác giáng tai
ương”. Các đàn cầu cơ tuy khuyên người
ta làm lành, nhưng do chẳng biết tâm tánh, những hành vi
thường chẳng ngoài những chuyện sức mạnh
quái đản, thần thánh lộn tùng phèo, tự nhiên thuộc
về ngoại đạo!
2.
Hỏi: Có phải là Phật, Bồ Tát, tôn giả có thể
giáng cơ xoay chuyển cơ bút hay không? Trong sách
Lương Duyên Bảo Phiệt, toàn là [những lời dạy]
của tiên, Phật, như bát tiên, Tây Phương Tĩnh
Tu Viện Tế Công Hoạt Phật, Thích Ca Như Lai Phật
v.v… giáng bút.
Đáp:
Chuyện giáng cơ đa số là do các linh quỷ mạo
danh tạo ra. Không chỉ là Phật, Bồ Tát chẳng
giáng lâm, [ngay cả] Ngọc Hoàng Thượng Đế
cũng chẳng thể nghe theo quư đường hô hoán!
Tôi nêu một thí dụ có thể giác ngộ. Xin quư
đường hăy viết thư cho Tổng Thống [bảo
ông ta] đến tṛ chuyện. Hăy làm thử xem có được
hay không? Nếu các hạ có tâm học Phật, hăy nên vứt
bỏ chuyện này. Nếu chẳng có tâm học Phật, tệ
nhân bèn ngậm miệng, chẳng nói chi nữa!
3.
Hỏi: Có phải là trong Phật giáo có những vị
như Tây Phương Chí Công Bồ Tát và Thiên Trúc Quốc
Lôi Âm Tự Phổ Hiền tôn giả?
Đáp:
Trong Phật giáo có Chí Công Bồ Tát, cũng có Phổ Hiền
Bồ Tát, nhưng các Ngài chẳng giáng đàn cầu cơ,
giở tṛ thần quỷ!
4. Hỏi:
Trong Lương Duyên Bảo Phiệt, Đông Phương A
Súc Bệ Phật giáng bút nói “học thánh, học Phật, học
Đạo, tam giáo cùng một lư, chẳng phân giáo nào, đều
là chánh môn. Tuy là bề ngoài cây phân nhiều nhánh, nhưng vốn
do cùng một cội sanh ra”. Đúng không?
Đáp:
Chuyện thiên thần giáng cơ đă là [linh quỷ] giả
mạo, sách Lương Duyên Bảo Phiệt do bọn chúng
soạn ra, há đáng để luận định? C̣n
như nói “tam giáo đồng nhất, khuyên kẻ khác làm
lành”, tuy có mấy phần tương đồng, kết
quả khác biệt to lớn.
5. Hỏi:
Tệ nhân được người bạn khuyên can, mong
trở thành một Phật giáo đồ chánh tín, chẳng
biết có thể ban tặng sách nào ḥng tu học hay không?
Đáp:
Tam Tạng của Phật giáo, mênh mông như khói trên mặt
biển, có ai mà chẳng biết, nhưng hàng sơ học
khó hiểu. Tôi kính tặng mấy loại sách mỏng nhập
môn nông cạn để tạm làm tấm bia chỉ
đường vậy!
* Ba câu hỏi của
cư sĩ Lâm Chấn Nam ở Đào Viên
1. Hỏi:
Trong các thần đàn tại Đài Loan, thần, Phật,
tiên, quỷ quái ở chung lộn xộn một chỗ.
Chiêu bài bề ngoài là hội viên, hội đoàn hoặc
đoàn thể Đạo giáo. Tiên sinh học thức uyên
bác, đối với lịch sử Trung Hoa cũng có bản
lănh kha khá, xin hỏi Đạo giáo chân chánh là ǵ? Thế nào
là Đạo giáo nguyên thủy của Trung Hoa?
Đáp:
Mấy năm qua, tôi vấn đáp chỉ hạn cuộc
trong những người sơ cơ học Phật. Do Phật
học có phạm vi quá rộng, lại do có quá nhiều ngoại
đạo ăn cắp kinh Phật, mạo nhận là những
điều họ có sẵn, dùng ngụy rối loạn
chân, tự hại, hại người! Có người gởi
thư hỏi, bất quá chỉ vẽ cho họ đi theo
đường chánh mà thôi. C̣n như chuyện thuộc về
giáo khác, trước nay nhất loạt tránh né chẳng bàn
đến, v́ mỗi giáo có nội dung riêng. Do chẳng biết
tường tận, chẳng tiện bàn xằng, dẫn
đến t́nh trạng nẩy sanh thị phi. Các hạ hỏi
“Đạo giáo chân thật”,
chẳng biết các phái [trong Đạo giáo] rất nhiều,
chỉ ra một phái nào là chân, [tức là gián tiếp bảo]
những phái c̣n lại là giả. Lại hỏi về
Đạo giáo nguyên thủy; đối với nguyên thủy
của nhân loại cho tới nay vẫn tranh biện chẳng
rơ, huống hồ nói đến một giáo nào đó ư?
Các hạ cứ muốn khảo cứu, hăy hướng về
hội Đạo giáo mà hỏi, sẽ ổn thỏa
hơn!
2.
Hỏi: Người sáng lập Đạo giáo là ai? Họ
căn cứ trên kinh điển nào? Mục tiêu chung cực
của họ là ǵ? Là thành tiên hay thành thần?
Đáp:
Sách vở ghi chép chẳng tường tận. Có người
chủ trương [Đạo giáo] là do Trương Đạo
Lăng đời Đông Hán [sáng lập]. Kinh điển
phần nhiều giống như các sách của chư tử
trong Nho gia, như các bộ Lăo Tử, Trang Tử v.v… mọi
người đều cùng biết, nhưng Ngọc Hoàng
Kinh là sáng tạo riêng của họ. Mục tiêu của họ
là thăng thiên thành tiên.
3
Hỏi: Hai chữ “đắc đạo” và “đạo” giải
thích như thế nào? Rất nhiều đồng bào
Đài Loan vô tri bị điểm truyền sư điểm
đạo, vênh vang tự mừng rỡ, hướng về
kẻ khác khoe khoang là đă đắc đạo, dường
như là đă thành tiên, thành tổ vậy! Căn cứ
theo văn hóa Trung Hoa th́ “đắc đạo” là ǵ?
Đáp:
Một chữ Đạo khó nói lắm! Tam giáo cửu
lưu, mỗi phái đều có đạo của họ.
Khổng Tử bảo: “Đạo
bất đồng, bất tương vi mưu” (Đạo
chẳng đồng, chẳng thể bàn tính với nhau
được), có thể thấy: Đúng với đằng
này, th́ là sai với đằng kia! Chẳng biết các hạ
muốn hỏi đạo nào! Lại nói đến “điểm
truyền sư và văn hóa Trung Hoa luận về đắc
đạo”, những chuyện quái lạ ấy, tôi nhất
loạt chẳng muốn nghe, làm sao có kiên nhẫn để
nói đến cho được? Chuyện ấy chính là nỗi
bất hạnh của quốc gia, xuất hiện một
nhóm yêu ma quỷ quái nhiễu loạn xă hội mà thôi!
III.
Chất nạn (質難, chất vấn)
* Hỏi:
Vũ trụ quan của Phật giáo là như thế nào? (Hà Nhật Trung hỏi)
Đáp:
Nói “vũ trụ” th́ cũng như nói “thế giới”, tức
là chỉ không gian và thời gian. Không gian là y báo, tức là
chỗ để chúng sanh nương gá, thời gian là giai
đoạn để nhân duyên dấy lên, mất đi, tụ,
tán. Chúng sanh có sanh, trụ, dị, diệt; thế giới
có thành, trụ, hoại, không. Tuy nói là “chớp, sương, bọt, bóng”, hoàn toàn chẳng
có thật thể. Trong sự biến hiện chẳng ngừng,
chúng sanh phàm phu chẳng tránh khỏi cảm
thấy khổ, lạc, ưu, hỷ. Cố nhiên Phật
pháp là Chân Tế (真際),
nhưng v́ an lạc phàm chúng, hoàn toàn chẳng bỏ Giả
Đế, cho nên cũng luôn luôn nhấn mạnh lợi
lạc bằng phương tiện.
* Hỏi:
Đối với thế giới hiện tiền, Phật
giáo nên gánh vác sứ mạng nào? (Hà
Nhật Trung hỏi)
Đáp:
Thế giới hiện thời một mực loạn lạc.
Cái nhân xa là do ác nghiệp cảm vời, nguyên nhân gần là
do chẳng hiểu chân lư, luôn luôn ích kỷ. Nếu có thể
thấu triệt “tự tha bất nhị, vật (tất
cả các loài chúng sanh) và ta b́nh đẳng”, ắt nguồn
họa tự trong sạch, có thể khiến cho chúng sanh từ
bi b́nh đẳng, chánh tri, chánh giác. Nếu bỏ Phật
th́ ai [có thể gánh vác trọng trách ấy]?
* Hỏi:
Hơn một trăm năm qua, Phật giáo Trung Hoa dần
dần đi xuống, điều ấy có ảnh hưởng
như thế nào? Muốn chấn hưng Phật giáo Trung
Hoa, ngoài cơ sở “h́nh nhi
thượng học”[21],
hăy nên có những điều lấy bỏ nào? (Hà Nhật Trung hỏi)
Đáp:
Phật giáo Trung Hoa suy yếu, gây ảnh hưởng là
đức hạnh của dân chúng hạ thấp, sự
đoàn kết bị giảm bớt. Đối với vấn
đề chấn hưng, cố nhiên là có liên quan đến
phước báo của chúng sanh. Nếu có bậc đại
sĩ hoằng nguyện, giới và thừa đều tốt
đẹp, thật sự chịu hành trọn sáu độ,
cùng vận dụng bốn món b́nh đẳng, th́ cũng chẳng
phải là không thể đảm đương trọng
trách văn hồi chánh pháp. Bỏ điều này để chấp
theo những đường lối khác, tức là chú trọng
nơi đằng ngọn vậy!
* Hỏi:
Muốn cho Trung Hoa cường thịnh, hăy nên làm ǵ trước?
(Hà Nhật Trung hỏi)
Đáp:
Chuyên mục này chẳng bàn về chánh trị, nhưng dân
là cội gốc của đất nước. Gốc mạnh
th́ nước mạnh. Chuộng đạo nghĩa, ít coi
trọng lợi lộc, đại công vô tư chính là những
điều cần phải quan tâm trước hết trong
chuyện làm cho dân mạnh.
* Hỏi:
Vận mạng của đạo Gia Tô tại Trung Hoa sẽ
như thế nào? (Hà Nhật
Trung hỏi)
Đáp:
Lá rơi, hoa rụng, anh nên nhớ; khi ấy, văn hóa Trung
Hoa sẽ phục hưng.
*
Hỏi: Vô thỉ vô minh và “hỏi một mà chẳng biết
đến ba” phân biệt như thế nào? Kẻ thật
sự truy cầu chân lư, cứ hỏi han, hoài nghi, th́ có mắc
tội lỗi hay không? V́ sao chẳng đáp? Dẫu đáp
th́ phần nhiều là biện hộ cho những chỗ sở
đoản, ngơ hầu những điều do chính ḿnh
đă nói được viên măn, chẳng đáp đúng câu hỏi,
[như vậy] th́ có thể khiến cho người khác thật
sự đẹp ḷng, khân phục hay chăng? Đấy có
phải là thái độ nên có của bậc đại
đức hoằng dương chánh pháp hay không? (Đoàn Thụ Nghĩa hỏi)
Đáp:
Vô thỉ vô minh là nói Chân Như bản tánh tuy sẵn có quang
minh, nhưng không thể nói rơ thời điểm khởi đầu
[khi bản tánh bị] nhiễm trần cấu, che lấp
quang minh, cho nên nói là “vô thỉ
vô minh”. “Hỏi một mà chẳng
biết đến ba” th́ gọi là Trần Sa Hoặc, cố
nhiên là vô minh. Dẫu hỏi một mà có thể biết
đến ba đi nữa, vẫn là vô minh. Bởi lẽ,
những ǵ đă biết phần nhiều là hư vọng,
phân biệt, chính là do vô minh dấy lên tác dụng vậy!
C̣n như do truy cầu chân lư, hoặc do nghi hoặc bèn hỏi
han, chẳng có tội lỗi ǵ. Chỉ có điều hoặc
là do câu hỏi thiếu lớp lang, hoặc là v́ người
bị hỏi không biết, cho nên chẳng thể trả lời,
bèn chẳng đáp. Nay ông trách người đáp biện hộ
cho sở đoản ḥng lời nói của chính ḿnh có vẻ
viên thông, và đáp chẳng đúng lời hỏi v.v… Do ông
chưa thể chỉ ra sự thật, kẻ hèn này
cũng chẳng dám đường đột phê b́nh vậy!
*
Hỏi: Địa cầu mà chúng ta cư trụ ở chỗ
nào trong Nam Thiệm Bộ Châu? Trong những châu khác, tức
là trong ba đại châu kia, c̣n có địa cầu hay không?
Có phải là cũng vận hành quanh mặt trời hay không?
Có nhân loại và những loài động vật thuộc
súc sanh đạo giống hệt [như trong địa cầu
của chúng ta] hay không? (Đoàn
Thụ Nghĩa hỏi)
Đáp:
Địa cầu chính là Nam Thiệm Bộ Châu, các châu khác
thuộc về những tinh cầu khác. Một đơn vị
thế giới có bốn đại châu. Một châu đă
xoay quanh mặt trời, ba châu kia cũng xoay vần giống
hệt. Không chỉ là ba châu trong thế giới này có loài người.
Theo như kinh Phật dạy “thế
giới vô tận, chúng sanh vô tận”, [đương
nhiên là] trong những thế giới khác cũng có loài người
giống như vậy. Lời này tự nhiên khiến cho
người ta hoài nghi. Do tiên sinh đă sùng bái khoa học,
nay tôi xin dẫn lời một nhà khoa học để
nghiên cứu, thảo luận. Chủ nhiệm khoa Thiên
Văn Học của trường đại học quốc
lập Gia Lư Phước Lợi Á Châu, Hoa Kỳ (California
State University) là Áo Đặc Sử Đặc Lao Phu (Otto
Struve)[22]
đă nói: “Hệ Ngân Hà có khoảng
một ngàn ức tinh cầu, trong đó có khoảng một
trăm ức hành tinh tự xoay quanh nó. Trong số đó, có
mười ức hành tinh có sinh vật. Tối thiểu là có
từ một trăm cho đến một ngàn vạn hành
tinh có những động vật có trí lực cực cao giống
như nhân loại trên địa cầu”. Đấy
chính là khoa học ăn khớp với kinh Phật,
nhưng cũng có chỗ chẳng phù hợp. [Đối với
những điều đó], hăy nên bàn luận riêng.
* Hỏi:
Trong những tiểu thế giới khác, các tầng trời,
núi Tu Di, các đại châu, các biển, địa cầu, có
phải là giống hệt như vậy, cũng cao như
vậy hay không? Có phải là Đao Lợi Thiên tức Tam Thập
Tam Thiên trong những tiểu thế giới khác cũng giống
như thế? Giả thiết là vô
lượng tiểu thế giới đều giống
như đơn vị thế giới này, đại thế
giới sắp đặt chỉnh tề, trật tự rạch
ṛi như thế, chẳng lẽ không có ai lập kế hoạch,
an bài, làm sao có thể kỳ diệu tự nhiên dường
ấy? Tây Thiên cố nhiên là có A Di Đà Phật tạo ra,
c̣n vũ trụ chẳng có ai tạo, cớ sao h́nh thành? Đối
với sự bí ẩn trong vũ trụ, đức Phật
là bậc giác ngộ, v́ lẽ nào chẳng giải đáp tỉ
mỉ viên măn? (Đoàn Thụ
Nghĩa hỏi)
Đáp:
Thế giới chia thành tiểu, trung, đại, tức là
thế giới vô lượng. Chẳng giả định
như thế, sẽ chẳng dễ nói. Như để
đếm tiền bèn nói một, mười, trăm, ngàn,
vạn, ức, triệu, cũng là giả định cho dễ
tính toán. Há cứ ắt phải lấy lớn, nhỏ, xa,
gần để làm hạn định đo lường?
Nay tôi lấy ngay người Hoa làm thí dụ, chẳng nói
là nhiều đến bốn vạn vạn, há có thể
nói là ai nấy đều nhất loạt cao, thấp, béo,
gầy, đẹp, xấu giống nhau? Nếu cứ chấp
là thế giới đều rạch ṛi giống hệt
như nhau, có một người nào đó làm chủ để
an bài, xin hỏi trong số bốn vạn vạn người
ấy, mỗi người đều có ngũ tạng lục
phủ, tứ chi, tứ thể[23],
thật sự là do ai chủ tŕ, an bài vậy?
*
Hỏi: Các nhà khoa học nói mặt trăng xoay quanh địa
cầu, địa cầu lại xoay quanh mặt trời,
mặt trời lại xoay quanh sao Ngang (昂, Pleiades),
sao Ngang lại xoay quanh một tinh tú chẳng biết tên.
Tinh tú chẳng biết tên lại xoay quanh một tinh tú chẳng
biết tên khác. Trong toàn thể vũ trụ giới như
vậy, mỗi tinh tú không biết tên lại dẫn dắt
một hành tinh chuyển động không ngừng theo một
quỹ đạo nhất định, chẳng va chạm
lẫn nhau, há chẳng kỳ diệu ư? Là do sức của
ai?
Trừ Vô Sắc Giới Thiên như đức Phật
đă nói ra, có phải chư thiên thuộc Sắc Giới
trong các cơi chính là bản thể của các hành tinh hay không? Nếu
chẳng phải vậy, v́ sao không thấy được?
Xét ra, khoa học hiện tại tiến bộ, dùng viễn
vọng kính và kiến thức thiên văn đều có thể
quan sát thấy cảnh quan các thiên thể, hành tinh vận
hành vĩ đại như thế, cớ sao chẳng trông
thấy trong tiểu thế giới của chúng ta, [các đại
châu] xoay quanh núi Đại Tu Di và núi Tiểu Thiết Vy? Đi
đến tận bờ mé của vũ trụ, há có phong
luân và thủy luân nâng đỡ một tiểu thế giới
ư? (Đoàn Thụ Nghĩa hỏi)
Đáp:
Câu hỏi này có ba ư nghĩa:
- Một
là các tinh tú chẳng va đụng lẫn nhau là do sức của
ai?
- Hai,
chư thiên Sắc Giới trong các cơi là bản thể của
các hành tinh.
- Ba là [nh́n
vào] viễn vọng kính, chẳng thấy trong vũ trụ
có phong luân và thủy luân nâng đỡ.
Tiên sinh
đă hiểu rơ khoa học, ắt biết giữa các ngôi
sao đều có sức hấp dẫn. Hai lực hấp dẫn
lẫn nhau, ắt sanh ra khoảng cách, cho nên chúng chẳng
va đụng nhau, đó là điều thứ nhất.
Thiên có
địa cư và không cư[24]
sai khác. Sắc Giới thuộc về không cư, chẳng
nương cậy tinh cầu. Đó là điều thứ
hai.
“Phong” chỉ không khí, “Thủy” chỉ hơi nước,
Luân (輪) phải
hiểu là vành đai bao quanh. Nói gộp lại, sẽ là
trong hoàn cảnh của khí thế gian, có hai khí thể gió và
nước. Nếu cứ chấp trước dùng viễn
vọng kính để t́m chúng có h́nh dáng tṛn xoe như bánh xe,
tức là do [chấp trước] từ ngữ mà hại
nghĩa vậy. Đó là điều thứ ba.
* Hỏi:
Lúc địa cầu này thành lập vào thuở sơ kiếp,
nhục thể của cặp nam nữ nguyên thủy đến
sống trên địa cầu này vào lúc tối sơ rốt
cuộc là do như thế nào mà có? Xét theo kinh Phật giải
thích, đời người được tiếp tục
bởi mười hai nhân duyên. V́ Chân Như thức tạng
dấy lên một niệm vô minh, chân thức bị xen lẫn
cấu trược vọng niệm, chân và vọng ḥa hợp
thành tám thức, A Lại Da Thức, từ vô thỉ tới
nay, chúng là cái nhân của sự tương tục (liên tục,
nối tiếp). Có nhân mà chẳng có duyên, sẽ chẳng
sanh. “Duyên” chính là hai giọt
tinh cha huyết mẹ trắng đỏ ḥa hợp, hoàn
thành hai mươi hai căn, tức là nhân loại hiện
thời. Nói như vậy th́ chẳng [tŕnh bày] rơ ràng khi
địa cầu này được thành lập vào thuở
kiếp sơ, cặp cha mẹ đầu tiên làm duyên cho nhục
thân [của nhân loại về sau] là do đâu mà có? Hoặc
là h́nh thành như thế nào? Đă là có sự thật ấy,
v́ sao chẳng biết đến nguồn gốc? Đă chẳng
biết cặp cha mẹ đầu tiên làm duyên do đâu mà
có, cái nhân lại do đâu mà có duyên khởi, làm sao lại có
thể chuyên chê trách câu đố “Gia Tô tạo ra con người” [là không hợp lư]
cho được? Nếu không, chính ḿnh đă nắm
được chân lư, cớ sao chẳng nói ra? Giấu diếm
để làm ǵ? (Đoàn Thụ
Nghĩa hỏi)
Đáp:
Đối với đoạn cao luận này, tôi chia thành bốn
nghĩa:
1. Nhục
thể của cặp nam nữ tối sơ trong cơi này do
như thế nào mà có?
2. Nhục
thể của cặp cha mẹ đầu tiên là do đâu
mà có?
3. Đă
có sự thật, v́ sao chẳng biết nguồn gốc?
4. Đă
là chân lư, v́ sao chẳng nói ra?
Xin hăy xem
lời giải đáp cho cư sĩ Hà Mậu Khôn, sẽ tự
hiểu nghĩa đầu tiên. Nếu như nghi chuyện
“các duyên ḥa hợp hóa sanh động vật”, thử hỏi:
Nếu thân người lâu ngày không tắm gội, quần
áo chẳng giặt giũ, bỗng nhiên sanh ra trùng, hoặc
b́nh dấm nếu chẳng đậy kín, bèn sanh gịi trùng. Nếu
đă sanh, không chỉ là sanh một đôi [trùng]! [Do đó],
câu hỏi thứ nhất mà ông đă rủ ḷng hỏi tới
khó thể thành lập. Chuyện này đă giải thích thêm
cho nghĩa thứ nhất, mà c̣n giải thích nghĩa thứ
hai. Đức Phật thuyết pháp hơn ba trăm hội,
trăm ngàn vạn lời, đối với những
điều chánh yếu [cho việc giải thoát], bèn mong [giảng
nói] sao cho hết sức tường tận; đối với
những điều phụ thuộc, Ngài chỉ nhắc tới
những điểm trọng yếu trong đó, chẳng
rườm lời. “Vạn
pháp do duyên sanh” chính là lời khẳng định. Sanh
tướng (tướng sanh trưởng) của nhân loại,
há có thể ra ngoài lệ này! Há có thể vu báng [đức
Phật] không biết! Chuyện này có thể dùng để
giải thích ư nghĩa thứ ba. Nếu cứ khăng
khăng muốn biết những điểm vụn vặt,
trách móc [đức Phật] chẳng nói đến nhục
thể ban sơ (cái thân xác thịt của cặp nam nữ
đầu tiên trong thế giới). Thật ra, đối
với những kinh do đức Phật đă nói,
được truyền đến nước ta, bất
quá chỉ có mấy phần, làm sao biết là trong những
phần kinh tại Ấn Độ chưa được
dịch [sang tiếng Hán] chẳng có những lời cặn
kẽ ấy? Chỉ xét theo một phần thấy biết
hẹp ḥi nơi nước ta để đoan quyết
kinh Phật chẳng nói [những chi tiết ấy], dường
như là [đă phạm lỗi vũ đoán] quá sớm!
*
Hỏi: Đức Phật là bậc giác ngộ chân lư trong
mười pháp giới của vũ trụ, tự nhiên là
không ǵ chẳng biết, những ǵ Ngài biết th́ không ǵ chẳng
cùng tận. Chuyện ấy có thật hay không? Tôi đọc
[sách vở nhà Phật] thấy [những người giảng
giải Phật giáo thường khoe Phật giáo là] “khoa học của khoa học”,
cớ sao chẳng biết địa cầu xoay quanh mặt
trời? Cớ sao chẳng nói trên những hành tinh khác đều
có những thứ ǵ? V́ sao các hành tinh vận hành chẳng ngừng?
Đă chẳng hiểu biết pháp tự nhiên, có thể thấy
là Chánh Đẳng Chánh Giác có vấn đề! Nếu [đức
Phật] có nói, [những điều ấy được]
ghi chép trong kinh điển nào, chương nào để tiện
xem đọc và học tập? Giả sử những
điều ấy tự nhiên có lời giải thích viên măn,
phù hợp với các phát hiện khoa học, tôi nghĩ là thế
giới sẽ chẳng cách thuở thái b́nh quá xa! Lo ǵ chẳng
thể lật đổ duy vật luận của chủ
nghĩa Cộng Sản! (Đoàn
Thụ Nghĩa hỏi)
Đáp:
Thế giới có nhiều loại học thuật, mỗi
ngành học thuật đều có chuyên biệt. Bất quá,
bậc đại thánh đối với chuyên, bèn kiêm thêm
phổ quát. Tuy nói là “kiêm thêm phổ
quát”, nhưng khi hoằng dương, ắt coi trọng
những vấn đề chánh yếu, lược đi những
điều [vụn vặt] khác. Khổng Tử chủ
trương nhân từ, coi trọng đức, tự nói
đối với chuyện quân lữ, Ngài chưa từng
học. Thế gian chưa từng v́ chuyện này mà chê bai
Khổng Tử. Thật ra, chẳng phải là Khổng Tử
không biết dụng binh, như hội Giáp Cốc[25],
đọa tam đô[26],
đều là những chứng cớ hiển nhiên, chỉ
là [Khổng Tử dạy đạo] chẳng nói xen tạp
đó thôi! Đức Phật v́ một đại sự
nhân duyên, mà xuất hiện trong cơi đời, đó là
điều chuyên nhất của Ngài. Hễ có hỏi đến,
Ngài bèn đáp, há lẽ nào có thể “chẳng gơ mà kêu lung
tung” ư? Tiên sinh v́ chuyện giả tướng (tướng
hư giả) của vũ trụ mà chê trách đức Phật
chẳng nói, tức là đă rớt vào thiên kiến! Thật
ra, trong kinh Phật đă từng nói đến thế giới
và chúng sanh, cả hai đằng đều là vô tận.
Đối với bậc trí, hễ nêu ra một, bèn có thể
suy ra ba. Ông lại trách Phật chẳng nói “tinh cầu xoay
chuyển”, nay tôi nêu một thí dụ. Người đầu
bếp nổi tiếng nấu cá đăi khách, chỉ nói con
cá này hoặc kho[27],
hoặc hấp, làm sao có thể nói cặn kẽ [phân lượng]
dầu, muối, gừng, dấm [sử dụng như thế
nào]! Đối với hai chữ Chánh Giác, tác phong của
Chánh chẳng phải là như vậy (như cách ông hiểu
về Chánh Giác)! Nếu [Chánh Giác mà hiểu] đúng như
kiểu ông nói, sẽ thật sự là “thố giác” (hiểu biết sai lầm). Điều
đó thường được nói là “trong mộng rành rành phô sáu nẻo, giác rồi ba cơi rỗng
toang hoang”. Ông lại nói “Phật pháp phù hợp khoa học,
cơi đời sẽ chuyển thành thái b́nh”, tôi nói “khoa học
phù hợp Phật pháp th́ [thế gian] mới chuyển thành
thái b́nh”. Đấy cũng là “người
nhân thấy là nhân, người trí thấy là trí”, chẳng
ngại mỗi người khác biệt!
*
Hỏi: Trong toàn thể vũ trụ hải, có sát trần
thế giới[28],
sự thành, trụ, hoại, không của chúng có xảy ra
cùng thời gian hay không? Từ kiếp mới thành cho đến
Không kiếp, cụ có thể mô tả giản lược
t́nh h́nh các điều phước hoặc tai họa trong từng
thời kiếp hay không? Con người lại có thể thật
sự từ mười tuổi tăng tới tám vạn
bốn ngàn tuổi hay không? Hay đó chỉ là phương
pháp giả định để tính toán mỗi kiếp? Nếu
là sự thật, con người có thể sống đến
tám vạn bốn ngàn tuổi, v́ lẽ ǵ người thuộc
thời đại thượng cổ xưa kia thọ mạng
lâu dài, trí huệ cao, thế mà vẫn sống trong hang núi
nơi chốn hoang dă, ăn lông, uống máu? V́ sao họ chẳng
biết phát minh đèn điện, xe lửa v.v… (Đoàn Thụ Nghĩa hỏi)
Đáp:
1. Xin hỏi cây cối trên một quả núi có trổ hoa
đồng thời hay không? Hoa nở trên cùng một cây, [kết
thành quả], quả có chín cùng một lúc hay chăng? Nếu
quan sát hiểu rơ, ắt sẽ tự ngộ lư này.
2. Một
bộ lịch sử c̣n chẳng phải là do một
người hoàn thành. Toàn bộ hai mươi lăm bộ
sử mà hạn cuộc do một người viết ra, có
lẽ là có người có tài như thế, nhưng tôi chẳng
phải là người như vậy.
3. Ví
như ve sầu chẳng biết xuân thu, loài phù du chỉ biết
sớm tối. Nếu bảo cho chúng nó biết đời
người sống tới trăm năm, chắc chắn
chúng nó sẽ hoài nghi, mà cũng chẳng có cách nào chứng
minh cho chúng [thông hiểu] được!
4. Đèn
điện, xe lửa chính là sự tiến hóa vật chất
trong sự tiến hóa trí huệ, cũng là sự diễn
biến tích lũy trăm ngàn năm, là do tài liệu của
đa số mọi người mà thành. Sự hiểu biết
này có liên quan đến sự tích lũy lâu dài, rộng răi.
Nếu chẳng nghĩ tích lũy lâu dài là đúng, hăy thử
lấy một đứa trẻ mười tuổi chẳng
được dạy dỗ, hăy xem thử: Đối với
vật chất, nó có phát minh được ǵ hay không? Huống
chi trí huệ không phải chỉ là một loại, mà lại
có thể căn cứ vào một thứ để coi
thường những thứ khác ư?
*
Hỏi: Vạn vật thuộc hữu vi pháp giới trong
vũ trụ đều do điện cực Âm
Dương mà có. Xin hỏi điện cực Âm
Dương lại do đâu mà có? Nếu Phật giáo
đúng là chân lư, v́ sao chẳng thể giải đáp viên măn
lai lịch chân thật của những sự vật ấy?
V́ sao địa cầu có thể tự
xoay chuyển? Là do sức của thần ư? Hay là trong
kinh Phật có lời giải thích hợp lư nào khác? (Đoàn Thụ Nghĩa hỏi)
Đáp:
1. Kẻ hèn này chưa học thông suốt “Âm Dương điện cực”, cho nên chẳng
thể phân tích theo từng điều mục để bàn
luận. Nếu nói tới vạn hữu, Lư được
nói trong Phật pháp sẽ là “hết
thảy duy tâm”. Nói theo Sự sẽ là “các duyên ḥa hợp”, lại bảo là “pháp nhĩ như thị” (pháp
vốn là như thế đó), nêu ra “vô thỉ”. Ba câu ấy tột cùng viên măn, chẳng
có lời lẽ nào có thể thù thắng hơn, thân thiết
hơn được nữa! Đối với ba câu ấy,
tiên sinh hăy nên liễu giải sâu xa, thiết thực; sau
đấy, tra duyệt khắp “vạn hữu văn khố”,
hễ có thể t́m ra một một lời nào thấu triệt,
thù thắng hơn ba câu ấy, sẽ không ngại chỉ
trích Phật pháp lần nữa!
2. Địa
cầu xoay chuyển cũng là do các duyên ḥa hợp mà thành,
chẳng phải là do có sức thần [điều khiển],
như máu luân lưu trong thân thể con người, có nguồn
gốc là do các duyên, há có vị thần nào làm chủ chuyện
này?
*
Hỏi: Trong sách Liên Bang Tiêu Tức, có vẽ một tiểu
thế giới cơ sở trong tam thiên đại thiên thế
giới, rốt cuộc có đúng hay không? Nếu chưa
đúng, phải nên là như thế nào? Xin hăy nêu ra một
h́nh vẽ chính xác về một tiểu thế giới. Phật
pháp đă là chân lư của vũ trụ, ắt phải nên tận
hết sức phô bày cho người ta thấy, v́ sao lại
giấu kín chân lư trong rương? Thậm chí chỉ có thể
siêu độ cho người khác, chẳng thể lập
bày phương cách cho người sống? Hăy gởi bài viết
cho báo chí, chớ nên đóng cửa chế xe! Trong thời
đại hiện tại, v́ sao chẳng dùng văn Bạch
Thoại để giải thích những điều nghi ngờ
cho rơ ràng, khiến cho người ta liễu giải Phật
pháp? Có ai trên thế giới chẳng đang truy cầu chân
lư? Giả sử Phật giáo là chân lư, há có ai chẳng tin Phật?
Sự đại loạn trong hiện thời rốt cuộc
là ai phải nên gánh vác trách nhiệm? (Đoàn Thụ Nghĩa hỏi)
Đáp:
1. Những h́nh vẽ ấy chẳng phải do đức
Phật vẽ ra, bất quá là do người đời sau
nêu đại lược tương tự, khiến cho
người khác nh́n vào đồ h́nh có thể hiểu ư
nghĩa mà thôi. Nếu cầu rất giống như thật,
ắt cần phải suy lường! Hăy thử nghĩ, bọn
phàm phu chúng ta theo chiều ngang để đến một
tinh cầu khác c̣n chưa thể được, huống
là nhiều tinh cầu! Theo chiều dọc th́ cơi trời Tứ
Vương c̣n chưa thể đến được, huống
hồ nói đến trời Sơ Thiền. Chỉ nên tin
vào kinh, đừng nên câu nệ h́nh vẽ.
2. Tam Tạng
kinh điển dịch sang tiếng Hán gần như đă
có khoảng hơn chín ngàn quyển, đă sớm được
công khai lưu hành trong cơi đời, há có lẽ nào “giấu
kín trong rương”? Đức Phật v́ lưu thông pháp
nghĩa, thường nói “biên
chép, tụng tŕ, giảng giải v.v… đều có công đức”,
lại c̣n cực lực đề xướng lưu
thông. Đó là chứng cứ. Chỉ có thể nói là “chân lư ẩn
trong kinh”, chẳng thể nói là “giấu trong rương!”
Chẳng vào biển cả, ngược ngạo bảo “biển
cả chẳng có nước”, há có phải là chánh luận hay
chăng?
3. Kinh
để siêu độ người chết là loại nào?
Kinh dành để nói cho người sống là loại nào? Ắt
phải xem xét đối chiếu mới biết! Chớ
nên thấy tăng sĩ ứng phó kinh sám, bèn nói khẳng
định “toàn bộ kinh Phật là để siêu độ
người chết!”
4.
Đông th́ Nhật Bản, Triều Tiên, Nam th́ Thái, Việt,
Miến, Giản (Cambodia), Tây th́ các quốc gia văn minh Âu
Mỹ, bất luận thư viện hay tư gia của
hàng học giả đều có cả đống kinh Phật.
Thậm chí có chỗ c̣n nhiều hơn người Hoa, há nên
vu vạ là “đóng cửa chế xe”?
5. Kinh Phật
có Văn Ngôn, có Bạch Thoại, bất quá là chẳng viết
bằng ngôn ngữ địa phương cận đại.
Nhưng chân lư hay chẳng chân lư, lại càng chẳng do Bạch
Thoại và Văn Ngôn! Tứ Thư Ngũ Kinh viết bằng
Văn Ngôn, Thủy Hử và Hồng Lâu Mộng viết bằng
Bạch Thoại, há có thể nói Thủy Hử và Hồng
Lâu Mộng là chân lư, c̣n Tứ Thư Ngũ Kinh là tà thuyết
ư?
6. Trách
nhiệm của nông nỗi đại loạn hiện thời
là do kẻ trong tâm giữ ư niệm tham, sân, si, mạn, thân
hành giết, trộm, dâm, dối gánh vác!
*
Hỏi: Trong sách Liên Bang Tiêu Tức có nói: Thuở kiếp
sơ, thỉ tổ của con người từ Quang Âm
Thiên bay xuống. Do họ tham ăn chất béo trên mặt
đất, mà thể chất dần dần nặng nề,
chẳng thể bay lên được. Do ăn uống, cho
nên có thóc, gạo v.v… Sau đấy, hóa thành chúng sanh. Trong ấy,
c̣n có rất nhiều điểm nghi vấn. Thử hỏi:
Cách nói như vậy có khác ǵ cách nói mê tín “Gia Tô tạo ra chúng sanh?” [Thuyết ấy] phát xuất
từ kinh điển nào trong kinh Phật? Người từ
cơi trời Quang Âm Thiên là hạng có phước báo, cớ
sao lại phải giáng hạ để chịu khổ?
Đă chịu khổ, v́ sao lại chẳng thể bay trở
về [Quang Âm Thiên]? Đă hóa thành chúng sanh, v́ sao không thể
hóa ra những tốt đẹp? Mà hóa ra vi khuẩn, ruồi,
nhặng, gịi trùng v.v… Há chẳng phải là tàn nhẫn, vô
nhân đạo ư? Lại do ai khiến họ bay xuống
nơi đây? Có phải là trong mỗi kiếp, lúc khí thế
giới mới thành lập, [động vật h́nh thành]
đều là do người từ trời Quang Âm bay đến?
Nếu như [chư thiên từ] Quang Âm
Thiên chẳng bay xuống, trên địa cầu này sẽ
chẳng có động vật ư? Chẳng phải là
đức Phật nói pháp giới này là pháp giới hữu
lậu ư? Địa cầu vào thuở Hoại Không, cớ
sao người trên Quang Âm vẫn c̣n tồn tại?
Người trên Quang Âm Thiên lại do từ đâu bay đến
để làm thỉ tổ [của các vị trời ấy]?
Chuyện này có hợp với Phật lư hay không? Giả sử
thuyết này có sai lầm, tác giả [sách ấy] là pháp
sư Bổn Tế, có phải là đại pháp sư đối
với Phật lư dám khởi vọng ngữ đó chăng?
(Đoàn Thụ Nghĩa hỏi)
Đáp:
1. Người từ cơi trời Quang Âm giáng xuống là từ
cơi kia đến cơi này. Gia Tô tạo ra con người là bắt
đầu chế tạo nhân loại, cũng giống
như trong thần thoại Trung Hoa, [Nữ Oa] dùng đất
vàng (đất bùn từ Hoàng Hà) nặn thành người.
Phân biệt giữa hai đằng dễ thấy.
2. Tâm lư
chúng sanh vô thường, trong mỗi sát-na, biến đổi
muôn vàn! V́ sao Quang Âm Thiên bay xuống, chỉ họ mới
biết! Ví như sự kiến thiết nơi Âu Mỹ vốn
là hưởng thụ phồn hoa cực độ, sao họ
cứ khăng khăng thám hiểm Nam Cực, tự hứng
chịu khổ sở?
3. Biến
thành tốt hay xấu là do nghiệp lực chi phối. Tàn
nhẫn là do chính ḿnh tạo ra, chẳng phải là do ai khác
thêm vào!
4. Thuở
kiếp mới thành lập, có phải đều là do
người từ trời Quang Âm giáng xuống hay không,
chưa thấy kinh văn [dạy rơ như vậy], chẳng
dám nói bừa. Hăy dựa theo lư để suy, chớ nên suy
luận cứng ngắc như thế. Ví như tết
Nguyên Đán năm trước, người đầu tiên
đến chúc Tết là Vương Giáp, Nguyên Đán năm
nay, người đầu tiên đến chúc Tết
chưa chắc vẫn là Vương Giáp.
5. Quang Âm
Thiên ở trên, địa cầu ở dưới (nói cao
hay thấp là nói giả định). Địa cầu ở
hạ giới hư hoại, chẳng trở ngại Quang
Âm ở thượng giới. Nhưng đến lúc tam tai,
Tứ Thiền đều hoại, há riêng ḿnh Quang Âm mà thôi!
6. Thân
h́nh của [chư thiên trong] Quang Âm Thiên là hóa sanh, thần thức
như ánh chớp, có thể tới trọn khắp đại
thiên. Hễ gặp duyên [nơi đâu], bèn có thể đến
đó.
7. Pháp
sư Bổn Tế không chỉ tinh thông Phật lư. Trước
khi xuất gia, Ngài cũng là bậc đại nho, là bậc
đại gia trong văn phái Đồng Thành[29]
thời cổ, nói điều ǵ đều có căn cứ.
*
Hỏi: Chân Như thức tạng vốn thanh tịnh, chẳng
nhiễm một pháp, v́ sao bỗng dấy lên một niệm
hư vọng nguyên thủy vô minh? (Đoàn Thụ Nghĩa hỏi)
Đáp:
Pháp Chân Như chính là tột đỉnh cao nhất trong Phật
học. Đức Phật dạy người khác, vốn
do quan sát căn khí và tŕnh độ [của họ], bèn chia
thành năm thừa để nói. Nếu không giống
như thầy thuốc chẳng xem xét cội nguồn
căn bệnh, cứ một mực dùng những thuốc
quư giá, không chỉ là chẳng thể lành bệnh, trái lại
c̣n gây hại. Chẳng phải do lỗi của thuốc,
mà là lỗi dùng sai! Đối với lời hỏi của
quư cư sĩ, chỉ đành thưa đáp đại
lược. Trong lúc chưa thể liễu ngộ vấn
đề ấy, xin đừng dùng lời giải đáp
của kẻ hèn này để làm phương tiện tranh
luận cùng người khác, rất sợ khiến cho
người ta hiểu lầm, hoặc chuốc lấy nỗi
chướng ngại báng pháp! “Vốn
thanh tịnh, bất nhiễm” là nói cái Thể của
Chân Như chẳng bị hết thảy biến đổi,
hoặc tổn hoại, chứ chẳng phải là không bị
hết thảy chướng ngại, ngăn lấp. Bọn
phàm phu chúng ta mê hoặc, điên đảo, chính là Chân
Như bị phiền năo che lấp, ngăn chướng.
Đối với bốn chữ “nguyên thủy vô minh”, kinh Phật phần nhiều
dùng chữ “vô thỉ vô minh”,
hàm ư không thể nói tới sự khởi đầu của
nó. Lời ấy là chân lư. Nếu nói có khởi đầu,
tức là đă phá hoại nguyên tắc nhân quả. Chân
Như lại có vô thỉ vô minh, ví như vàng ắt ở
trong quặng. “Bỗng dấy
lên một niệm hư vọng” kinh Phật bảo là “một niệm bất giác bèn có
vô minh”, đó là lời lẽ phương tiện nhằm
tiếp dẫn người đến học, khiến cho
người nghe dễ hiểu. Nhưng “một niệm” ấy cũng thuộc về vô
thỉ. Nếu cho rằng “bỗng
dưng khởi lên một niệm” chính là “bắt đầu”
th́ lại mâu thuẫn với nguyên tắc mất rồi!
*
Hỏi: Sau khi đă dấy lên một niệm nguyên thủy
vô minh, tŕnh tự h́nh thành lần lượt núi, sông, đại
địa là như thế nào? (Đoàn
Thụ Nghĩa hỏi)
Đáp:
Núi, sông, đại địa hoàn toàn chẳng phải là
chân thật, mà là do các duyên ḥa hợp, hiện ra giả
tướng. Như người nước Sở thấy
mây như ngựa, người nước Triệu thấy
mây như trâu, người nước Tần thấy mây
như mỹ nhân, thi nhân Đỗ Phủ đời
Đường bảo mây như tấm áo vá hoặc con chó
xanh[30],
có ǵ là chân thật! Nhưng núi, sông, đại địa,
đối với chúng sanh trong chín giới, có kẻ thấy,
có kẻ chẳng thấy; dẫu thấy, cũng chẳng
nhất loạt thấy là núi, sông, đại địa.
Do những cảnh ấy vẫn là do tâm tạo, v́ vọng
tâm chẳng đồng nhất, cho nên cũng thấy khác
nhau.
*
Hỏi: Trong quỷ ma có thiên ma v.v… Xin hỏi: Người
hành Thập Thiện mới có phước báo thăng thiên,
cớ sao có chuyện sanh lên trời để làm ác? Nếu
làm ác, v́ sao có thể thăng thiên? Ma vương có các thứ
thần thông to lớn, v́ sao chẳng hiểu rơ nhân quả
Phật pháp để học Phật, cứ làm ác để
rồi phải chịu nhân quả báo ứng? (Đoàn Thụ Nghĩa hỏi)
Đáp: Thiện chia thành hữu lậu và vô
lậu sai khác. Hai pháp hữu lậu và vô lậu bao hàm ư
nghĩa rất sâu; ở đây, chẳng thể thêm thắt
nhiều chuyện râu ria để giải thích tường tận.
Ở chỗ này, tôi nói đại lược khái quát:
Điều thiện do đoạn Kiến Hoặc và Tư
Hoặc th́ là vô lậu thiện. Điều thiện mà chẳng
đoạn Nhị Hoặc th́ gọi là hữu lậu thiện.
Thân trong hai mươi tám tầng trời đều có trọn
đủ Kiến Tư nhị Hoặc; v́ thế, kẻ tạo
thiện hữu lậu bèn sanh về đó. Kẻ Hoặc
nhẹ th́ dễ học Phật, kẻ Hoặc nặng sẽ
khó thể học Phật. Đối với sự phú quư
nhỏ nhoi trong thế gian mà c̣n có giáo huấn: “Kẻ phú quư khó học đạo”.
Thiên ma đại phú, chẳng chuộng Phật pháp, có ǵ quái
lạ ư? Hễ có Hoặc bèn tạo nghiệp, tạo
nghiệp bèn thọ báo; huống hồ c̣n có Hoặc mang
theo từ bao nhiêu kiếp ư? V́ lẽ này, hai mươi
tám tầng trời đều chẳng ĺa khỏi luân hồi,
thiên ma hưởng hết phước trời sẽ đọa
lạc, há có ngoại lệ?
*
Hỏi: Hăy nên giải thích “thần”
như thế nào? Trong kinh Phật, có rất nhiều thần,
ví như thần cây, thần đất, thần sông ng̣i, thần
núi non, thần mặt trời, mặt trăng, giới thần[31],
thiện thần, ác thần v.v… là do đâu mà có? Họ có thọ
mạng bao lâu? Ở chỗ nào? Ăn những ǵ? Không
ăn những ǵ? Lại nói “người tu đức chánh
trực sẽ làm thần”, v́ sao có thần thuộc loại
hung ác tà thần? Quan Công trọn chẳng tu hành, cũng chẳng
học Phật, v́ sao có thể thành thần? Thần chết
đi có nhân quả ǵ? Lại nói thần là tinh khí của trời
đất, do v́ lẽ ǵ mà tinh khí có thể thành thần?
Xét theo Duy Thức Luận trong Phật học th́ thuộc về
thức nào? (Đoàn Thụ
Nghĩa hỏi)
Đáp:
1. Chữ Thần (神) ở
đây là nói tới những người có chức trách
trong quỷ đạo và thiên đạo. Thần sống
trong lục đạo, thăng giáng qua lại, tuần hoàn
tới lui, há có nhất định? Đến từ
nơi nào, ở lại nơi đâu, thọ mạng muôn
ngàn sai khác, hoàn toàn chẳng nhất loạt giống nhau,
làm sao có thể kể trọn cho được? Ở trong
Dục Giới, đương nhiên là có ăn uống.
Người giữ chức trách thưởng thiện và vô
minh nhẹ th́ gọi là “thiện thần”. Kẻ giữ chức
trách phạt ác và vô minh nặng nề th́ gọi là “ác thần”.
2. Quan
Công thành thần chính là do thiện quả của ḷng trung
nghĩa khi c̣n sống. Tiên sinh bảo “chưa học Phật
làm sao có thể thành thần”, chính là hết sức hiểu
lầm! Thành thần chính là phàm phu trong lục đạo,
chẳng do học Phật mà đạt được.
Thành Phật chính là bậc thánh nhân đă vượt ngoài
tam giới, ắt phải do học Phật th́ mới
thành.
3. Tinh khí
là thần, và những vị thần giữ chức trách
như trong phần trên đă nói có ư nghĩa khác biệt
đôi chút. “Thần” [trong cách
nói “tinh khí là thần”] chính là tinh khí tụ tập, tức
là cái được gọi là “do
các duyên sanh ra”. Hăy thử nói mùi thơm của cây hoa mộc
tê do đâu mà có? Hương ấy được coi là thức
nào? Xin hăy tham cứu!
* Hỏi:
Trong loài ma quỷ có thiên ma v.v… Xin hỏi người hành Thập
Thiện mới có thể đạt được phước
báo thăng thiên, há có chuyện lên trời làm ác? Đă làm ác,
v́ sao có thể thăng thiên? Ma vương có các thứ đại
thần thông, v́ sao không biết nhân quả trong Phật pháp
để học Phật? Ma làm ác có phải chịu báo ứng
nhân quả hay chăng? (Đoàn
Thụ Nghĩa hỏi)[32]
Đáp:
Kẻ làm thiện mà mong quả báo phú quư, hưởng dục,
th́ là hữu lậu thiện. Loại chúng sanh này chẳng
hiểu Phật đạo, lại chẳng muốn nghe [giảng
về đạo pháp], đó gọi là “kẻ phú quư khó học đạo”, do họ mê đắm
trần dục! Lục dục thiên hưởng lạc thù
thắng, chẳng nghĩ tới chuyện giải thoát, hết
sức có thể chướng đạo. Hăy nên hiểu “ma” là chướng, ư nói “chướng ngại Phật
đạo” vậy!
*
Hỏi: Phật học đối với duyên khởi của
vũ trụ: 1. V́ sao vũ trụ có sinh vật và con
người? 2. Nếu là do nhân duyên sanh, duyên do đâu mà có?
Tỷ như cái b́nh rỗng đậy nắp lại,
để ở trong nhà chẳng động đến nó,
dẫu qua trăm ngàn năm, cũng chẳng thấy có vật
ǵ! Trong b́nh, vốn là rỗng không, v́ sao có vật? Nếu
nói là có vật, há chẳng phải từ Không mà sanh ra Có
ư? Kết luận của vấn đề này là khởi
nguyên của vạn vật và nhân sinh trong vũ trụ rốt
cuộc là do đâu mà có? (Lư Duy
Kiệt hỏi)
Đáp:
Trong không trung, vốn có nguyên tử dày đặc. Nếu
b́nh chẳng đậy thật chặt, lọt vào một
ít không khí, sẽ có thể sanh ra vật. Hễ có một,
bèn có thể sanh ra hai, sanh ra ba. Hễ có ba, bèn hóa hiện
muôn loài. Đấy vẫn là lư “các
duyên ḥa hợp mà sanh”. Nếu ông hoài nghi “duyên sanh”, [vậy
th́] có thể nói đó là do pháp nào khác hay chăng? Kẻ hèn
này cũng mong được nghe!
*
Hỏi: Chúng sanh từ vô thỉ tới nay đă có ba độc
tham, sân, si. 1. Nếu chẳng có ba độc ấy, c̣n có điều
ǵ tồn tại? 2. Từ vô thỉ, nếu chẳng có
tham, sân, si, sẽ là diện mạo như thế nào? 3. Vô
thỉ lại do đâu mà có? Kết luận của vấn
đề này là: Hễ vô thỉ bèn vô chung; trong ấy, há có
thể nói là đại địa thành, trụ, hoại,
không ư? (Lư Duy Kiệt hỏi)
Đáp:
Vốn chẳng có một vật, nói đến diện mạo
chi nữa? Vô thỉ chẳng phải là vật, làm sao có thể
thêm vào. “Hễ vô thỉ bèn vô chung”, lời này đúng lắm,
nhưng thành, trụ, hoại, không cũng giống như
kinh Dịch đă nói từ sau chữ Trinh bèn bắt đầu
chữ Nguyên[33], hoàn
toàn chẳng phải là “sau khi đă Không, sẽ chẳng có Thành
nữa”, mà là tuần hoàn chẳng ngớt, cho nên là vô thỉ
vô chung.
*
Hỏi: Nếu trong kinh luận có pháp nào thù thắng hơn
Niết Bàn, tôi cũng nói pháp ấy như mộng, như
huyễn 1. Niết Bàn tịch tĩnh, bất sanh, bất
diệt, há chẳng phải là tro tàn? Tro tàn th́
đương nhiên là vĩnh viễn chẳng thể bốc
cháy nữa, há chẳng phải là vô t́nh, vô t́nh đến nỗi
c̣n thua tảng đá? 2. Vừa nói “chẳng trụ Niết Bàn, cái tên Niết Bàn c̣n chẳng
thể được”, vừa nói “Niết Bàn thường lạc”, há chẳng phải
là mâu thuẫn ư? (Lư Duy Kiệt
hỏi)
Đáp:
Học Phật phải nên theo thứ tự, giống
như học thuật toán (Algorithm) vậy. Ắt là phải
tuân theo các phép tính cộng, trừ, nhân, chia để tiến
tuần tự. Nếu vừa học bèn nói tới phép Vi
Tích Phân (Differential and Integral Calculus), người học ắt
khó thể tiếp nhận. Lư Niết Bàn giống như
phép Vi Tích Phân trong thuật toán, chẳng phải là [vừa mới
chập chững học một vài phép Toán cơ bản bèn]
có thể hiểu ngay. Cư sĩ bảo “Niết Bàn tịch
tĩnh, bất sanh, bất diệt, giống như tro tàn,
tảng đá”. Thật ra, tro và đá có sanh, có diệt, hoàn
toàn chẳng phải là tịch tĩnh! Niết Bàn là Niết
Bàn, chẳng có vật ǵ có thể sánh ví được, nay
chỉ có thể giải thích đại lược ư
nghĩa “bất sanh, bất diệt” ḥng tháo gỡ những
điều hiểu lầm. “Bất
sanh” là nói nó vốn thường, “bất diệt” là nói nó vĩnh viễn tồn tại,
làm sao có thể nói là nó chết cứng cho được?
V́ nó vốn thường, vĩnh viễn tồn tại,
cho nên bảo là thường lạc, há có mâu thuẫn ư?
*
Hỏi: Chúng sanh trong đại địa đều có Phật
tánh, mà cũng chính là vị lai chư Phật. 1. Mùa Đông
tiết trời lạnh lẽo, sinh vật tử vong, chẳng
sanh sôi. Mùa Hạ ấm áp, sinh vật đông đảo. Há
chẳng phải là chúng sanh do khí nóng mà sanh, hoàn toàn chẳng
phải là do Phật Tánh ư? V́ sao Phật Tánh chẳng chống
nổi khí hậu? 2. Đức Phật xuất sanh trên
địa cầu này hơn hai ngàn năm nhằm độ
thoát chúng sanh. Vậy th́ hễ có thêm một vị Phật,
tức là bớt đi một chúng sanh. V́ sao cho đến
hiện thời, dân số thế giới gia tăng không ngừng,
động vật cũng tăng nhiều, giảm ít, có phải
là chứng tỏ [đức Phật] hoàn toàn chưa độ
thoát chúng sanh nào hay chăng? Kết luận của vấn
đề này là: Bồ Tát phát nguyện, nếu c̣n một
chúng sanh chưa đắc độ, thề chẳng giữ
lấy Chánh Giác. Chúng sanh chỉ có tăng không ngừng, khi
nào th́ sẽ có thể độ hết? (Lư Duy Kiệt hỏi)
Đáp:
Phật tánh chẳng phải là khí hậu! Xin hỏi cư
sĩ có thể suy tưởng, điều đó có phải
là do khí hậu hay không? “Thế giới” như cư sĩ
đă nói, dường như là nói về địa cầu,
bất quá [địa cầu] là một phần trong vô
lượng thế giới, là một phần trong ức vạn
phần. [Cư sĩ] chỉ biết chúng sanh tăng ở
nơi đây, chẳng biết chúng sanh ở nơi khác giảm
đi. Nhưng tăng hay giảm cũng là hiện tượng
ngẫu nhiên, như sóng trong nước, chợt có lúc cuộn
về hướng Đông, [có lúc] lại xô về phía Tây. Ắt
phải nh́n toàn thể biển cả để luận.
Các kinh ghi chép có hằng sa chư Phật, Bồ Tát, Thanh
Văn, Duyên Giác, làm sao có thể nói là chẳng độ một
chúng sanh nào? Hăy nên biết: Hư không vô tận, thế giới
vô tận, chúng sanh vô tận, Bồ Tát độ chúng sanh
cũng là vô tận.
*
Hỏi: Đời người vốn là huyễn ảnh,
giống như hoa Đàm trong giấc mộng, sớm muộn
ǵ rốt cuộc cũng biến diệt! (1) Hết thảy
các pháp, hết thảy sự vật vốn đều là mộng,
huyễn, bọt, bóng; giết người há chẳng phải
là giống như mộng hay chăng? Ví như tối nay,
tôi nghĩ tôi sống trên đời này, chẳng thành tựu
một chuyện ǵ, chịu đựng các nỗi khổ
nghèo túng, bệnh hoạn, cuối cùng lại phải chết.
Chết rồi sẽ mục nát giống
như cây cỏ. Tôi nghĩ vốn đă là mộng huyễn,
tôi cũng chẳng sợ bất cứ thứ ǵ như
thiên đường, địa ngục! V́ dùng Vô Ngă để
quán, cầm dao giết chết kẻ khác, chỉ là
tôi đă phạm vào quốc pháp, tôi thấy kẻ chấp
pháp vâng lệnh chặt đầu tôi, nhưng tôi do quán Vô
Ngă bèn chẳng sợ. Há chẳng phải là chuyện ǵ
cũng đều có thể làm ư? (2) Kết luận của
vấn đề này là: Có sanh, ắt có tử. Sau khi đă
chết, sẽ như thế nào, ai cũng chẳng thể
biết! V́ chỉ chết một lần. Nếu nói là do
nhân quả chi phối, thử hỏi, nước Mỹ
ném bom nguyên tử xuống Nhật Bản, số dân chúng bị
tử vong tới hai mươi vạn không chừng! Số
lượng các sinh vật [bị tổn hại v́ hai quả
bom ấy] cũng chẳng có cách nào thống kê được!
Lúc mới phát minh ra bom nguyên tử cũng chỉ có đôi
ba người! Dùng loại vũ khí do đôi ba người
phát minh để giết chết hằng sa chúng sanh, há chẳng
phải là thiên đạo vô tri ư? (Lư Duy Kiệt hỏi)
Đáp:
“Mộng, huyễn, bọt,
bóng” là nguyên tắc, phạm pháp thọ h́nh là quá tŕnh. Ví
như thân người, có sanh, ắt có tử. Tử là
nguyên tắc, giai đoạn từ sau khi sanh ra cho đến
trước khi chết đi chính là quá tŕnh. Không thể v́
đă có tử, bèn mặc kệ hết thảy những ǵ
trong khoảng trung gian, yên lặng chờ chết! Hoặc
là làm càn, làm quấy, tự t́m lấy cơ hội để
chết! Nếu có ai trách móc, bèn nói: “Con người sớm
muộn ǵ cũng chết ngắc!” Lại nữa, Phật
pháp giống như y dược, ứng theo căn bệnh
mà ban bố. Chúng sanh bị ba độc làm hại, cho nên
nói “mộng huyễn” để
phá trừ. Giống như xem phim ảnh, tuy có món ăn ngon
quư, nhà cửa xa hoa, cũng chẳng chạy theo đó, v́ biết
những thứ ấy là huyễn. Cư sĩ ngược
ngạo viện vào cái huyễn ấy để mong giết
người, tức là dùng thuốc sai trái! Hăy nên biết ư
nghĩa của Vô Ngă. Thật sự là chẳng có ngă, làm sao có ba độc cho được? Chẳng
có ba độc, làm sao có thể giết người ư?
Ông lại nói: “Phát minh ra bom nguyên tử, giết hại hằng
sa chúng sanh, thiên đạo vô tri”, cũng là hiểu lầm!
Hễ có nhân bèn có quả, ba đời bù qua sớt lại,
chưa hề sai sót. Phải nghiên cứu lư ở trong ấy
th́ mới hiểu được!
*
Hỏi: Đời người do nhân quả chi phối.
Đă nói “tam thế nhân quả”,
kiếp này nghèo túng là do kiếp trước chẳng tu
phước đến nỗi chịu khổ, xin hỏi:
1. Quân nhân bất luận là sĩ quan hay binh sĩ đều
nghèo túng, bị đăi ngộ bạc bẽo. Xin hỏi có
phải là mấy chục vạn người ấy đều
do kiếp trước chẳng tu phước hay sao? 2. Kẻ
giàu có lắm tiền, chính là do tham ô mà có, cũng là do
phước báo của kẻ ấy hay chăng? Nếu chẳng
tham ô, tám chín phần mười những kẻ giàu có ở
Đại Lục đều bị bị bọn giặc Cộng
giết hại, phước báo kiểu ấy chẳng phải
là quá mức bất công ư? 3. Kết luận của vấn
đề này là: Giàu có là do kiếp trước tu được,
đời này chẳng cần phải nhọc nhằn kiếm
sống! Có thể chịu khổ, có trí huệ,
đương nhiên là có thể kiếm tiền, sao lại
nói là do đời trước tu được, há chẳng
phải là mâu thuẫn ư? (Lư
Duy Kiệt hỏi)
Đáp:
Phàm phu làm lành, đa phần chẳng thuần tịnh,
đại đa số là công ít, tư nhiều. Động
cơ (motivation) để làm lành th́ hoặc là v́ danh lợi,
hoặc là v́ địa vị, hoặc là v́ đủ mọi
thứ mong cầu; t́m một kẻ vô duyên từ bi, chẳng
chấp tướng mảy may th́ hiếm hoi lắm! V́ thế,
việc làm có khi thoạt đầu là lành, cuối cùng là
ác, hoặc có khi thoạt đầu là ác, cuối cùng là lành,
hoặc có lúc thiện, có lúc ác, hoặc thiện ác lẫn lộn.
Cái nhân phức tạp như thế, cho nên quả đạt
được cũng phức tạp. Lại nói “do đời
trước đă tu, [đời này] chẳng cần vất
vả, nhọc nhằn”, [tức là] chẳng biết nhân quả
chín muồi hoàn toàn là nhờ vào sức của duyên, thường
nói là “vô duyên chẳng sanh” vậy!
Như một hạt dưa, tuy có thể kết thành
dưa, nếu chẳng có nước, đất, gió, ánh
sáng mặt trời v.v… làm duyên, chỉ đặt trong ḷng bàn
tay, cũng chẳng thể đột nhiên kết thành quả
được! Vận dụng trí năng chính là duyên. Chỉ
có một điều: Nếu chẳng có nhân, tuy có trí
năng, cũng chẳng thể kiếm được tiền!
Tục ngữ có câu: “Bách xảo
bách năng, hoàn thị thọ cùng” (Trăm nghề khéo,
trăm thứ tài năng, vẫn chịu nghèo túng). Đă hiểu
rơ điều này, há c̣n có mâu thuẫn ư?
*
Hỏi: Trung Hoa có Lăo Tử, Trang Tử, Khổng, Mạnh,
Dương Châu, Hoài Nam, Mặc Tử, Tuân Tử, Hàn Phi Tử,
Châu Tử, lại c̣n có Phật học, tức là: 1. Học
vấn của Trung Hoa vượt trỗi
bất cứ quốc gia nào, nhất là cái học về
nhân luân, v́ sao chỉ sanh ra gian thần, tặc tử?
2. Ví như hàng sĩ đại phu, bậc nho giả, suốt
ngày lặng thinh, thờ ơ, lạnh nhạt, chẳng chịu
tiếp nhận bất cứ văn hóa ngoại lai mới
mẻ nào, miệng nói chuyện thơ văn nhân nghĩa,
tâm thật sự độc địa như rắn rết.
Nếu đối với chuyện nhân nghĩa, chính ḿnh chẳng
có nhân nghĩa, mà dạy người khác nhân nghĩa. Đối
với đạo đức, chính ḿnh vô đạo đức,
dạy người ta đạo đức. Đối với
pháp lệnh, chính ḿnh chẳng tuân thủ pháp luật, mà dạy
người ta vâng giữ pháp. Cáo già xảo quyệt, vét mỡ
dân, uống máu lính! Do v́ như thế mà cho đến hiện
thời, [Trung Hoa] trở thành một quốc gia lạc hậu
nhất, đáng thương nhất trên thế giới.
Tín đồ Phật giáo vô cảm t́nh, chẳng có học vấn,
thậm chí chẳng thiếu kẻ là cáo già xảo quyệt.
Như vậy th́ tin Nho, tin Phật, có ích ǵ đâu? Chẳng
thà tin vào chính ḿnh, có năng lực bèn hưởng nhiều,
chẳng có khả năng th́ thôi! (Lư Duy Kiệt hỏi)
Đáp:
Lăo, Trang, Khổng, Mạnh, Phật v.v… đều dạy kẻ
khác làm lành, chẳng hề dạy người ta làm gian thần
tặc tử. Đó là do con người chẳng tiếp
nhận [giáo huấn], chẳng phải là lỗi của các
vị thánh hiền. C̣n như ông nói “chẳng tiếp nhận
bất cứ văn hóa ngoại lai mới mẻ nào”, tôi chẳng
biết ông nói tới loại nào? Các loại phim ảnh toàn
chuyện giết, trộm, dâm, âm nhạc ủy mị, nam
nữ khiêu vũ, xe hơi, cao ốc xây theo kiểu Âu Tây,
tiệc tùng xa xỉ, nam th́ mặc Âu phục, giày da, nữ
bèn hở ngực, hở đùi, máy bay, đại pháo, bom
nguyên tử v.v… đều là văn hóa mới ngoại lai,
có ǵ là chưa tiếp nhận? Phật tử chẳng có cảm
t́nh, chẳng có học vấn, cáo già giảo quyệt, tức
là v́ chẳng tuân thủ lời dạy của Phật mà
ra, chẳng phải là do kinh điển dạy như vậy.
“Tin chính ḿnh”: Chẳng biết chính ḿnh là hạng người
như thế nào? Nếu là hạng đầy ắp tham,
sân, si, mạn, nghi, mà tin vào [chính ḿnh], sợ rằng biểu
hiện ra c̣n quá hành vi của lũ gian thần tặc tử,
cáo già giảo quyệt. Cuối cùng, ông lại nói đến
chuyện hưởng thụ, chẳng biết con người
sở dĩ trở thành gian thần, tặc tử, cáo già
giảo quyệt, cũng chính là v́ sự hưởng thụ
bức bách vậy!
* Hỏi:
Nhà Phật chủ trương khô cạn ái dục: 1. Dâm là
giới đứng đầu. Thử hỏi chư tử
của Trung Hoa chẳng có vợ con ư? Đức Phật
chẳng có vợ con ư? Đạo Khổng nói ăn uống
và nữ nhân trọng yếu như nhau. Chẳng nên chơi
bời nữ sắc, người tuổi tác đă cao nói
như vậy th́ c̣n có thể chấp nhận, chứ kẻ
thanh niên trừ người xuất gia ra, mong đoạn
chuyện dâm, thật sự là chẳng thể nào, do v́ nhu cầu
sinh lư! Lương tri phán quyết, chẳng phải là do tâm
lư quấy nhiễu ư? Ví như cây đào tới mùa Xuân tất
nhiên trổ hoa, kết quả. Nếu muốn cho nó chẳng
trổ hoa, trừ phi chặt nó đi! 2. Kết luận của
vấn đề này là nam nhân chớ nên cùng nữ sắc
chơi bời. Nếu không, chẳng thể tu hành thành Phật,
tánh dục và sinh lư chẳng có quan hệ! (Lư Duy Kiệt hỏi)
Đáp:
“Nam nữ đoạn dâm” nhằm nói với người thật
sự v́ liễu sanh tử. Đối với kẻ tại
gia, chỉ dạy kiêng tà dâm. Tà dâm có nghĩa là “chẳng phải
vợ chồng mà hành dâm”, hoàn toàn chẳng ngăn cấm vợ
chồng chánh thức chung đụng. Điều kiện
để thành Phật rất nhiều, hoàn toàn chẳng phải
là chỉ đoạn dâm dục. Nếu đơn giản
như thế, ai nấy đều có thể thành Phật cả
rồi!
Nói
thêm, nh́n chung tám câu hỏi, biết cư sĩ là kẻ bất
măn đối với t́nh trạng hiện thời. V́ thế,
đối với chư Phật, thánh hiền, đều
có những lời lẽ rẻ rúng. C̣n như đọc
sách Phật, không ǵ chẳng nhằm suy nghĩ t́m được
đường ra, nhưng lại đọc với cái tâm
ngạo mạn, chê trách, làm sao có thể đạt
được lợi ích? E rằng càng tăng thêm lầm
lỗi! Kính khuyên cư sĩ, nếu thật sự có ḷng
hướng về đạo, chẳng ngại trước
hết hăy buông kinh Phật xuống, hăy nghiền ngẫm
sách Liễu Phàm Tứ Huấn, sao cho sau khi tạm có tín tâm,
rồi lại xem kinh Phật, may ra cảnh giới có tiến
triển vậy!
*
Hỏi: Tôi nghĩ Tây Phương Cực Lạc thế giới
là một Ô Thác Bang (cơi lư tưởng, Utopia)[34].
Nếu không, có sự thật ǵ để chứng tỏ? (Khưu Bát hỏi)
Đáp:
Trong mặt trăng có núi lửa, trong Hỏa Tinh có người,
tôi cũng cho rằng là chuyện không thể có được!
Nếu nói dùng viễn vọng kính để làm bằng cớ,
tôi nói mắt của Thích Ca Mâu Ni Phật chính là viễn vọng
kính. Đừng nói thế giới Cực Lạc ở
ngoài mười vạn ức cơi Phật là rất gần,
rất to, dẫu là những hạt mưa ở ngoài hằng
sa thế giới, đức Phật cũng biết trọn
hết có bao nhiêu giọt. Nếu nói chính ḿnh chẳng thấy
bèn không thừa nhận, cách nh́n ấy tợ hồ quá lệch
lạc! Do mắt kiến chẳng thấy con người,
chẳng thể nói là không có con người! Ông Giáp ban
đêm nằm mơ, ông Ất hoàn toàn chẳng thấy,
cũng chẳng thể nói “ông Giáp không nằm mộng”!
* Hỏi:
Niệm Phật có lợi ích ǵ? Có người nói: “Niệm
Phật có thể làm cho quốc thái, dân an”, như vậy
th́ cả nước trên dưới nhất trí niệm Phật
là được rồi, như thế th́ sẽ có thể
tiêu diệt tà ác ư? Nếu có thể, tôi chẳng cần
phải làm chi hết! (Khưu
Bát hỏi)
Đáp:
Phật học vốn là một thứ văn hóa. Niệm
Phật nói theo phạm vi nhỏ, sẽ có thể trừ tà
niệm, chánh tâm thuật, khai trí huệ. Tà niệm dứt,
tự nhiên chẳng gây hại cho xă hội. Tâm thuật
chánh đáng bèn có thể đại công vô tư. Trí huệ
mở mang th́ mới hiểu rơ Sự Lư. Những người
ấy hễ lập hội ắt sẽ công chánh, tham gia
chánh trường ắt sẽ liêm khiết, chấp pháp ắt
sáng suốt, đi lính ắt dũng cảm. Nếu là
như vậy, há lẽ nào chẳng phải là khiến cho
quốc thái dân an ư? Nếu không, tâm thuật chẳng
đoan chánh, lại có vũ khí nhạy bén nhất, tới
khi gặp t́nh h́nh lợi hại then chốt, sẽ ngả
theo hướng nào? Họ sẽ làm giặc, làm gián điệp,
làm Hán gian, đủ mọi nỗi hoa dạng, chỉ sợ
đều làm trọn hết! Phải biết tổ chức
trong một quốc gia là do các thứ cơ cấu kết
hợp thành, chỉ dựa vào văn hóa, cố nhiên là chẳng
thể tiêu diệt tà ác! Nhưng nếu phế trừ hết
thảy văn hóa, chỉ dựa vào vơ lực, cũng sợ
là làm chẳng được!
* Hỏi:
Đối với người xuất gia, nên xưng hô tôn
kính như thế nào? (Khưu
Bát hỏi)
Đáp:
“Pháp sư” hoặc “đại ḥa thượng” đều
là những cách xưng hô tôn kính.
*
Hỏi: Pháp sư và cư sĩ giải thích như thế
nào? Có phải đều là các từ ngữ để tôn
xưng ḥa thượng hay không? (Khưu
Bát hỏi)
Đáp:
“Pháp sư” là người
thông hiểu Phật pháp. Dựa theo ư nghĩa trong kinh, bất
cứ ai có thể thọ tŕ, đọc tụng, giải
nói, biên chép kinh, th́ đều có thể gọi [bằng danh
xưng ấy]. Về sau, trở thành tiếng để
chuyên gọi người xuất gia. “Cư sĩ” là người tại gia học Phật,
chẳng thể dùng để gọi ḥa thượng.
*
Hỏi: Phật giáo có cách nh́n như thế nào đối với
nhân sinh? (Khưu Bát hỏi)
Đáp:
Nói “cách nh́n” tức là nói tới
quan niệm của một cá nhân. Nhà Phật chú trọng thực
tế, nói lời chân thật, chẳng có ǵ gọi là ư kiến
cá nhân, cho nên không thể nói tới “cách nh́n” được!
Nhà Phật thấy đích thị là do ḷng người mê hoặc,
điên đảo; v́ thế, hành vi phần nhiều là tạo
tác ác nghiệp, kết quả là luôn chuốc lấy những
nỗi thống khổ. Nhà Phật thương xót người
đời lắm nỗi sai lầm, nên đặc biệt
chỉ ra các thứ quy củ chánh đáng, khiến cho hết
thảy chúng sanh ĺa khổ được vui mà thôi. Những
quy củ, pháp tắc ấy chẳng ngoài dụng ư mong cho
tâm tánh khải phát trí huệ, giác ngộ triệt để,
đối với hành vi th́ “đừng
làm các điều ác, vâng làm các điều lành”, kết
quả là sẽ giải quyết hết thảy các nỗi
đau khổ, trả lại cho ta tự do vốn sẵn
có!
*
Hỏi: Đối với vũ trụ, lại giải
thích như thế nào? (Khưu
Bát hỏi)
Đáp:
Chuyện này chẳng phải chỉ do vài câu mà có thể hiểu
được. Nhà Phật thấy vũ trụ vô lượng
vô biên, chẳng phải như người đời ngồi
đáy giếng nh́n trời, chỉ biết có một thế
giới này, mà [nhận biết] có vô
lượng vô biên thế giới, đều do “các duyên ḥa
hợp” mà giả có. Thật ra, chúng cũng chẳng
ra ngoài tâm lượng của chúng ta.
*
Hỏi: V́ sao người xuất gia phải ăn chay? Lại
v́ sao chẳng lấy vợ? (Khưu
Bát hỏi)
Đáp:
Giáo nghĩa của nhà Phật là từ bi, b́nh đẳng, chẳng dùng huyết lệ của
kẻ khác để tự ḿnh hưởng lạc, cho nên
kiêng sát sanh, cho nên ăn chay. Có vợ bèn trở thành gia
đ́nh, có vợ sẽ có con cái, lại cần phải có
ruộng, kiếm nhà, đó gọi là nỗi mệt mỏi
do có gia đ́nh. Đă nói là “xuất gia”, tức là vứt bỏ
hết thảy, đem thân cống hiến cho đạo, chuyên
làm chuyện hoằng pháp lợi sanh, giống như
binh lính ra trận, chẳng thể mang vợ theo. Đấy
vẫn là nói theo kiểu thế tục. Nếu mong lập
chí thành Phật, ắt phải đoạn dâm dục.
*
Hỏi: Có người nói Phật giáo là tiêu cực, yếm
thế, mê tín, ăn bám, tuyệt chủng. Đối với
những điều ấy, đối đáp biện luận
như thế nào? (Khưu Bát hỏi)
Đáp:
Đối với kẻ ở ngoài cửa chẳng hiểu
Phật pháp, tùy tiện nói năng bậy bạ, có thể
cười cho qua chuyện. Người thế tục
đối với kẻ liều mạng truy cầu
thăng quan phát tài, ăn uống, nam nữ, ai nấy đều
ca ngợi kẻ đó là bậc anh hùng hào kiệt chẳng
tiêu cực, chẳng yếm thế. Đối với kẻ
chẳng sợ nhân quả, dám làm chuyện thương
thiên hại lư, và dùng hết mọi phương pháp và mánh
khóe ḥng ngang ngược cướp đoạt tiền bạc,
[mọi người] lại ca tụng kẻ đó là hợp
thời, chẳng mê tín, chẳng ăn bám! Nhà Phật tuyệt
đối cấm ngặt những hành vi ấy, cho nên
thường là những kẻ mê man tiền bạc thấy
vậy đâm ra cảm thấy kỳ quái, liền tùy tiện
gán ghép những từ ngữ nhục mạ. Tiên sinh bảo
tôi đối đáp, biện bác, tôi thấy chẳng cần.
Tôi chỉ xin nêu ra mấy điều giáo nghĩa để
tham khảo, sẽ có thể hiểu rơ. Trong phẩm Hạnh
Nguyện của kinh Hoa Nghiêm có nói đại lược: “Tất cả các chúng sanh trong
mười phương sát hải tận pháp giới,
hư không giới, các thứ sai biệt, tôi đều tùy
thuận họ mà thực hiện các thứ thừa sự,
các thứ cúng dường, như kính cha mẹ, sư
trưởng, cho đến Như Lai, chẳng sai khác ǵ.
Đối với kẻ bệnh khổ, sẽ làm
lương y, chỉ đường
chánh cho kẻ lạc đường, làm quang minh trong
đêm tối, khiến cho kẻ nghèo cùng được
kho tàng. Hư không giới cùng tận, chúng sanh giới cùng tận,
sự tùy thuận của tôi chẳng có cùng tận. Thân, ngữ,
ư nghiệp, chẳng hề chán mệt”. Lại nói: “Tất cả công đức,
nguyện khiến cho chúng sanh thường được
an lạc, ác pháp chẳng thành, thiện nghiệp thành tựu.
Đối với khổ quả chiêu cảm do họ tích tập
nghiệp ác, tôi đều chịu thay, khiến cho họ được
giải thoát, thành tựu Bồ Đề”. Đấy
là một giáo nghĩa trong vạn phần, thử xem có phải
là tiêu cực, chán đời hay không? Nhà Phật chủ
trương minh tâm kiến tánh, duy ngă (chân tánh) độc
tôn, chẳng sùng bái quỷ, chẳng sùng bái thần, lại
càng chẳng sùng bái bất cứ một vị thiên đế
nào! Nếu nói Phật giáo là mê tín, xin hỏi có tôn giáo nào
không mê tín? Ḥa thượng nghèo khó gánh vác đại trách nhiệm
phổ độ nhân thiên, giữa trưa chỉ ăn một
bữa, bèn chửi họ là ăn bám! Xin hỏi trừ nông
phu và công nhân là trực tiếp sanh lợi ra, những
người thuộc vào các thành phần đảng phái,
chánh khách, quân đội, giáo chức, thương nhân, [do
không trực tiếp sản xuất, đều là ăn
bám], thảy đều chẳng được ăn uống
ư? Phật giáo giáo đồ vốn chia thành hai loại
là xuất gia và tại gia. Đối với hàng tại
gia, trọn chẳng cấm lấy vợ, làm sao có thể
nói đến chuyện tuyệt chủng cho được?
*
Hỏi: Rốt cuộc, Phật giáo cống hiến ǵ cho
quốc gia xă hội? (Khưu
Bát hỏi)
Đáp:
Vào thời đại Ngũ Hồ Thập Lục Quốc
cuối đời Tấn, [giới cầm quyền] ham chuộng
tàn sát. Nhờ vào Phật giáo tuyên truyền [từ bi],
đă cứu được chẳng ít mạng người.
Đời Đường, oai thế khuất phục tứ
di, làm Thiên Khả Hăn[35].
Nhật Bản tại hải ngoại xa xôi cũng sang
Trung Hoa du học, quá nửa là nhờ sức mạnh giáo
hóa của Phật giáo. Đời Minh, [triều đ́nh] sai
sử tiểu vương tử Yêm Đáp[36], vùng
Tây Bắc hướng về Trung Nguyên. Đời Thanh,
biên cương Mông Tạng được củng cố,
không ǵ chẳng phải là cống hiến của Phật
giáo! Phải nên biết: Cội rễ của quốc gia là
dân, tinh túy của dân tộc chính là văn hóa. Phật giáo tại
Trung Hoa đă thâm nhập dân gian, thường nói là “gia gia Quán Âm, hộ hộ Di
Đà” (nhà nhà Quán Âm, nhà nhà Di Đà). Tín ngưỡng thống
nhất, nhờ vào đó, tinh thần đoàn kết. Phàm là
kẻ làm chánh trị đều hiểu rơ lẽ này! Trung
Hoa kể từ năm Giáp Ngọ (1894)[37]
trở đi, sau mỗi lần chiến bại là một lần
kư kết những điều ước bất b́nh đẳng,
trong ấy luôn có điều khoản về quyền tự
do truyền giáo, dụng ư chính là phân hóa sự đoàn kết,
mang tánh chất khiến choTrung Hoa tự sát dần dần.
Hiểu rơ lư này, bèn liễu giải sự cống hiến
của Phật giáo đối với quốc gia.
*
Hỏi: Gần đây, Phật giáo đồ thường
tự khoe Phật giáo hoàn toàn chẳng mê tín, nhưng vẫn
suốt ngày xếp hàng trước thần tượng bằng
gỗ, bằng đất, hướng về đó đốt
hương, lễ bái, cầu nguyện. Thử hỏi những
ngẫu tượng bằng đất, bằng gỗ ấy
có linh hồn hay không? Nếu [ngẫu tượng bằng]
gỗ đất mà có linh hồn th́ là do ai ban cho nó? Nếu
chẳng có linh hồn mà cứ hướng về đó cầu
nguyện, há chẳng phải là mê tín hay chăng? (Chân Lư hỏi)
Đáp:
Nhà Phật thấy chân lư, do sử dụng chánh trí mà thể
nghiệm, hoàn toàn chẳng trông cậy vào thần thánh ban cấp,
giống như hai cộng thêm ba thành năm. Bậc trí vừa
nh́n bèn biết ngay, kẻ mê tự nhiên không hiểu! Trung
Hoa có câu tục ngữ: “Chẳng
đọc sách của nhà nào, chẳng biết chữ của
nhà đó”. Chẳng nghiên cứu, dẫu có nghe cũng chẳng
tin. Tôi chỉ nói tổng quát một câu, Phật giáo tuyệt
đối chẳng mê tín. Phật giáo thờ phụng thần
tượng là có thâm ư. Nếu tiên sinh đă mang ư châm chọc,
tôi cũng chẳng cần phải phí lời! Xin hỏi
trong đạo Thiên Chúa, thờ tượng Mă Lợi Á
(Maria), Gia Tô giáo sùng bái thánh giá, mọi nhà tại Trung Hoa thờ
mộc chủ (bài vị tổ tiên), quốc gia lễ quốc
kỳ, những thứ ấy đều có linh hồn hay
chăng? Trong cái thân do Tứ Đại giả hợp của
tiên sinh, linh hồn là do ai ban cho? Người nhân thấy là
nhân, người trí thấy là trí, chỉ sợ chính tiên
sinh tâm mê, cho nên nh́n mọi chuyện dưới gầm trời
cũng cũng chẳng khỏi không mê!
*
Hỏi: Phật giáo cứ xoen xoét là từ bi, lại nói cứu
độ chúng sanh. Xin hỏi: Trong xă hội, đối với
những sự nghiệp từ thiện, sự nghiệp
công ích, [Phật giáo] làm được mấy chỗ? Tôi
chỉ thấy ḥa thượng hướng về người
khác hóa duyên? (Chân Lư hỏi)
Đáp:
Hai chữ “hóa duyên”, giảng
giải sẽ rất tốn công. Chúng ta có thể nói theo
cách hiểu của thế tục, mọi người thấy
ḥa thượng hướng về kẻ khác xin tiền
bèn gọi là “hóa duyên”. Nói
như vậy, “hóa duyên” chính
là xin tiền. Xin tiên sinh gương sáng treo cao: Trong xă hội,
[những kẻ] duỗi tay ra, sử dụng phương
cách cứng rắn hoặc mềm mỏng, hoặc rơ rệt,
hoặc âm thầm, hướng về kẻ khác xin tiền,
đâu phải chỉ là nhiều như cát sông Hằng? Chỉ
sợ không phải chỉ là thiểu số các ḥa thượng
[xin tiền]! Làm sự nghiệp từ thiện, tôi tôn trọng
mười ức vạn phần, chỉ tiếc là tín
đồ Phật giáo nghèo túng, chẳng có nhiều tiền
của, chỗ nào cũng đều lạc hậu, mười
vạn ức phần có lỗi!
*
Hỏi: Trong quốc gia hiện thời, quân sự là chuyện
bậc nhất. Suốt ngày gơ mơ, thỉnh chuông, gơ khánh, có
thể cứu quốc hay không? Theo như tôi thấy, dộng
mơ, khua chuông, phang khánh chẳng phải là hành vi cứu quốc?
(Chân Lư hỏi)
Đáp:
Hiện thời, quân sự là bậc nhất, ai có thể
phủ nhận? Nhưng như tôi thấy, cũng đang cần
tinh thần cứu thế của Đại Thừa Phật
giáo để phấn chấn sĩ khí, khiến cho cả
nước trên dưới tâm đức nhất trí, hoàn
thành đại nghiệp phục hưng. Trong lịch sử,
các sự tích Phật giáo đă hiệp trợ quốc gia
và dân tộc huy hoàng, đời nào cũng đều có. Chẳng
đọc lịch sử Trung Hoa, sẽ chẳng biết
được. Tông chỉ chánh yếu của Phật giáo
chẳng phải là chuyên gơ mơ, đánh khánh! Xin hỏi: Trong
nhà trường, kéo quốc kỳ, hạ quốc kỳ,
hát quốc ca, các tôn giáo khác cũng hát các bài tán tụng, chẳng
lẽ trong nhà trường [chỉ là] chuyên học hát quốc
ca, giáo nghĩa của các tôn giáo khác chỉ là ngâm xướng
những bài thơ ca ngợi ư?
*
Hỏi: Khổng thánh nhân của Trung Hoa cũng tin vào trời,
thường nói “hoạch tội
ư thiên, vô sở đảo” (mắc tội với trời,
không thể cầu xin được). Trong sách của Ngài
lại nói: “Nhữ vô nhị
tâm, Thượng Đế lâm nhữ” (Ngươi chẳng
hai ḷng, Thượng Đế sẽ đến chỗ
ngươi). Phật có thể vượt trỗi trời
ư? (Chân Lư hỏi)
Đáp:
Tiên sinh kể ra vẫn là người thông minh, “thiên” là phàm phu trong lục
đạo, Phật là xuất thế thánh nhân, thật sự
vượt ngoài phạm vi của trời, độc lập
tự tôn. Không chỉ là vượt trỗi, mà c̣n là thầy
của chư thiên (“thiên” chắc chắn chẳng phải
là một vị, nên nói là “chư
thiên”). Đức Phật giảng kinh các nơi, Thượng
Đế c̣n đến phụng dưỡng hộ pháp.
Xin tiên sinh xem đọc kinh Phật, tự nhiên sẽ hiểu
rơ. Kinh Phật gần như là đă có hơn hai ngàn năm
lịch sử, những kinh ấy chẳng phải v́ đối
phó với tiên sinh mà tôi tạo ra kinh mới. Chúng ta biện
luận Phật và trời, c̣n chưa nói rơ ràng, xin hăy tạm
đừng lôi kéo Khổng Tử để rồi đâm
quàng lối rẽ!
*
Hỏi: Xin ông hăy hợp Cơ Đốc giáo, Khổng giáo,
Phật giáo, Hồi giáo, Đạo giáo lại để so
sánh đơn giản đôi chút, xem rốt cuộc giáo nào
là chân lư? Xin ông hăy nói lời thật. (Chân Lư hỏi)
Đáp:
Tôi không có đại học vấn như vậy, cũng
chẳng dám làm xằng như vậy. Chưa từng nghiên
cứu sâu xa các giáo và kinh điển của họ, làm sao
có thể tùy tiện phát biểu nghị luận?
*
Hỏi: V́ sao người đă chết phải siêu độ?
Người chết khi c̣n sống làm ác, càn quấy, chỉ
nhờ vào siêu độ bèn có thể sanh về Tây ư?
Như thế th́ mọi người chẳng ngại làm
ác, làm càn! Bởi lẽ, chết đi, chỉ cần một
phen siêu độ là liễu sanh tử, há chẳng phải
là quá tiện nghi ư? (Chân Lư hỏi)
Đáp:
Trong kinh điển Tịnh Độ, chỉ nói niệm
Phật tu phước, cầu sanh Tây Phương, chẳng
nói “sau khi đă chết, hễ siêu độ bèn dự vào
phẩm sen”. Bất quá oai đức của Phật pháp chẳng
thể nghĩ bàn! Làm Phật sự, cố nhiên là thiện
sự, do nhân lành, sẽ kết quả lành. Đă v́ người
chết mà làm thiện sự, người chết sẽ
được hưởng mấy phần thiện quả.
Như kinh Địa Tạng đă dạy: “Sau khi mạng chung, quyến thuộc lớn nhỏ
v́ người ấy làm chuyện phước lợi, hết
thảy thánh sự, trong bảy phần [công đức,
người đă mất] bèn được hưởng một
phần, người sống được tự lợi
sáu phần công đức”. Đấy hoàn toàn chẳng
phải là liễu sanh tử, mà cũng chẳng thể nói
là chiếm tiện nghi!
*
Hỏi: Xin xăm, xem bói, có phải là mê tín hay không? Tro
hương, nước tụng chú chữa bệnh hữu
hiệu hay không? Nếu người ta uống vào chết
ngắc, có phải là Phật giáo sát nhân hay chăng? (Hoài Nghi hỏi)
Đáp:
Phật giáo quở trách chuyện xem tướng luận
cát hung là tà mạng. Trong chùa để ống xăm, chẳng
biết bắt nguồn từ khi nào (nhà Phật tuy có kinh
Chiêm Sát[38]
nhưng [kinh ấy là] chân hay ngụy, cho đến nay vẫn
tranh luận chưa dứt). Chuyện này giống như ở
trấn X… người ta dùng huyết nhục để
cúng Quán Âm. Trên thực tế, Quán Âm hoàn toàn chẳng dạy
họ cúng thịt cá. Tro hương và nước tụng
chú vốn chẳng có độc chất, làm sao có thể
gây độc chết người? Không khỏi là nói quá
đáng! Nếu hỏi “chữa bệnh hữu hiệu hay
không” th́ cũng chẳng nhất định. Xin hỏi
Bàn-ni-tây-lâm (penicillin) và thuốc đặc hiệu X… chữa
bệnh có luôn hữu hiệu hay chăng? Nếu bảo là
luôn hữu hiệu, lẽ ra trên đời, sẽ chẳng
có ai chết cả!
*
Hỏi: Đốt giấy tiền vàng bạc có ư nghĩa
ǵ? Đă đọa vào địa ngục thọ khổ,
làm sao c̣n có thể sử dụng những tiền giấy,
vàng bạc ấy? (Hoài Nghi hỏi)
Đáp:
Đấy là phong tục Trung Hoa, trong kinh Phật hoàn toàn chẳng
đề xướng! Đối với chuyện
Trương Tam làm, tiên sinh chỉ trích Lư Tứ, Lư Tứ chỉ
đành thưa một câu: “Xin thứ lỗi, không biết!”
*
Hỏi: Khổng Tử là thánh nhân, v́ sao Ngài chẳng chủ
trương kiêng giết? Chúng ta tế Khổng Tử
cũng giết tam sanh[39],
há chẳng mắc tội lỗi ư? (Hoài Nghi hỏi)
Đáp:
Khổng Tử có bao giờ chẳng chủ trương
kiêng giết? Sách Nho hăy c̣n ghi chép nhiều. Trong Luận Ngữ,
có nói “điếu nhi bất
cương” (thả câu, chứ không lưới cá), “dặc bất xạ túc” (chẳng
bắn những con chim đang đậu). Lễ Kư chép chuyện đi săn mà không quây ṿng vây, chẳng
bắt cả bầy, chẳng giết con vật đang mang
thai, chẳng lật tổ. Lại nói “chư hầu nếu không có duyên cớ, chẳng giết
ḅ. Hàng đại phu nếu chẳng có duyên cớ, chẳng
giết dê. Sĩ phu vô duyên cớ, chẳng giết chó, lợn”.
Những chuyện hạn chế giống như vậy, chẳng
thể kể xiết. Bất quá Khổng Tử là
thánh nhân thế gian, chỉ thuận theo pháp thế gian dùng
ḷng nhân từ để làm phương tiện hạn chế.
Chẳng như đức Thích Ca Thế Tôn là bậc thánh
nhân xuất thế, nói thẳng thừng nhân quả ba đời,
chủ trương cấm tuyệt mà
thôi! Nhưng đức Thế Tôn đối với kẻ
sơ học, cũng cho phép ăn ngũ tịnh nhục (năm
thứ tịnh nhục), cũng chẳng phải là không nói
phương tiện. Sát sanh tế Khổng Tử, trước
kia là lễ chế, nay th́ chẳng có quy định. Cứ
tiếp tục làm theo tập tục, dường như là
chẳng nên!
Ghi thêm: Thượng cổ ăn lông, uống
máu, tiến hóa thành gieo trồng, ăn ngũ cốc,
nhưng v́ tập khí ăn thịt đă quá sâu, trong nhất
thời, chẳng thể thay đổi toàn bộ. Nhưng
tiên thánh Trung Hoa cũng từng cảm nhận “kẻ mạnh
ăn thịt kẻ yếu” là hành vi tàn nhẫn. Trong lễ
chế vào hai đời Hạ và Ân, đă sớm quy định:
Những thứ săn bắt nơi ruộng, nơi đầm,
chuyên để cho khách đến dự cúng tế dùng. Tức
là đă có ư nghĩa cấm chỉ lạm sát. C̣n như ông
hỏi v́ sao Khổng Tử chẳng cấm giết ư?
Ngoài câu trả lời trong đoạn văn trên đây, c̣n
có thuyết nữa. Nhà Nho đời Hán là Trịnh Khang
Thành chú giải Lễ Kư, từng bảo: “Khổng Tử tuy có thánh đức, chẳng dám sửa
đổi pháp của tiên vương”. Chính Khổng Tử
cũng nói bản thân chỉ thuật lại chứ không
sáng tác. Đó chính là tiêu chuẩn trị học của Khổng
Tử.
* Hỏi:
Ngài Đơn Hà thiêu Phật, c̣n mắc tội lỗi hay
không? (Tam Tam hỏi)
(Xét ra, thư gởi đến kư tên là Tam
Tam, thật sự chẳng biết là tiền tam tam, hay hậu
tam tam?[40]
Là pháp sư, hay là tiên sinh cư sĩ, khiến cho tôi chẳng
có cách nào xưng hô! Bỗng nhớ tới một đoạn
trong Du Già Diệm Khẩu có bài kệ Thán Khô Lâu, mở
đầu bằng câu: “Tạc nhật hoang giao khứ ngoạn
du, ngộ kiến nhất cá đại đức khô lâu” (Ngày
hôm qua đi chơi nơi vùng đất hoang, chợt gặp
một vị đại đức đầu lâu), tôi liền
có cách. Đối với đầu lâu, là thân thể của
nam hay nữ, chẳng thể biện định được.
Lại c̣n làm sao có thể từ đó mà phân tích là pháp
sư, hay cư sĩ tiên sinh? Do đó, dùng hai chữ “đại
đức” để ca ngợi mơ hồ, khá là viên dung.
Tôi dựa theo lệ ấy, để gọi vị này là
đại đức, cũng là theo ư “truyền thuật,
chẳng sáng tác”).
Đáp:
Công đức lần ấy c̣n không có chỗ để an
trụ, huống hồ luận định những điều
khác. Tôi muốn hỏi ngược lại một câu, đại
đức thấy Phật bị thiêu đă hiểu hay
chưa?
* Hỏi:
Quán Kinh nói: “Tâm này làm Phật”.
Ngài Hoàng Bá nói: “Bất khả
dĩ tâm cánh cầu ư tâm” (Chẳng thể dùng tâm
để cầu nơi tâm). Nghe lời bên Đông hay là nghe
lời bên Tây mới đúng? (Tam
Tam hỏi)
Đáp:
Ngài cưỡng phân đen trắng, tôi chẳng biện
định Đông, Tây.
* Hỏi:
Cảnh Tịnh Độ như thế nào? (Tam Tam hỏi)
Đáp:
Đă hỏi cảnh th́ chỉ cần biết hướng
ra ngoài để hỏi, cần ǵ phải lôi Tịnh Độ
vào?
* Hỏi:
Kinh dạy: “Cúng dường
trăm ngàn chư Phật, chẳng bằng cúng dường
một bậc vô tâm đạo nhân”, hiểu như thế
nào? (Tam Tam hỏi)
Đáp:
Đại đức rảnh rỗi, quản nhiều chuyện
quá!
* Hỏi:
Nghe người ta nói: “Duy Thức chẳng liễu
nghĩa, Bát Nhă quá mơ hồ”. Đấy là lời phỉ
báng lẫn nhau, hay là lời chân thật? Xin hăy nói đại
lược về chỗ hơn kém giữa hai tông. (Tam Tam hỏi)
Đáp:
Có thể chuyển tám thức thành bốn trí, chẳng thể
nói là bất liễu nghĩa. Chém đứt những thứ
dây leo quấn quíu, chẳng vướng mắc mảy may,
c̣n nói là mơ hồ nỗi ǵ? Các pháp b́nh đẳng, cứ
khăng khăng ép tôi nêu chỗ hơn kém, tôi và đại
đức trọn chẳng có oán cừu, sao lại khổ
sở lôi kéo tôi tạo tội báng pháp?
* Hỏi:
Bên Giáo nói “Hoa Nghiêm là vua của các kinh”, bên Tịnh lại
nói “kinh A Di Đà là chỗ chỉ quy của các kinh”, xin hăy
nêu một phần tinh hoa nhất của hai kinh! (Tam Tam hỏi)
Đáp:
Từng nghe bậc cổ đức là cư sĩ
Dương Nhân Sơn có nói hai câu: “Giáo tuân Hiền Thủ, pháp thượng Di Đà”
(về Giáo th́ học theo Hoa Nghiêm, về pháp th́ hành theo kinh
Di Đà), câu này ư vị lắm! Nhất là trong kinh A Hàm
đă nhiều lần ca ngợi kinh do đức Phật
đă nói: “Sơ diệu, trung
diệu, cánh diệc diệu” (Phần đầu mầu
nhiệm, phần giữa mầu nhiệm, phần kết
thúc cũng mầu nhiệm), (do chẳng có sách trong tay, nên
chẳng biết có phải là chữ Cánh hay không, cần phải
tra cứu thêm). Theo đó, trong tâm kẻ hèn này, hễ thuộc
về kinh Phật, toàn thể đều là tinh hoa. Đó gọi
là “ví như ăn mật, chính
giữa hay chung quanh đều ngọt”, làm sao có thể
chỉ một hoặc chỉ hai cho được!
* Hỏi:
Đối với tứ hành tướng của Đạo
Đế trong Tứ Đế, nhất thời tôi không nhớ
ra, trong từ điển cũng chẳng thấy chép, mong
bảo ban cho! (Tam Tam hỏi)
Đáp:
Đạo như hành xuất.
* Hỏi:
Tám vạn bốn ngàn phiền năo, tôi nghĩ con số này giống
như “nhất niệm tam thiên”,
ắt là có số mục tích lũy dần mà thành, chứ
không phải là một thành ngữ thông dụng, có đúng
hay không? (Tam Tam hỏi)
Đáp:
Thập Sử phối hợp lẫn nhau thành một
trăm (10x10), trải qua mười pháp giới thành một
ngàn (100x10=1.000). Thân khẩu gồm bảy chi nghiệp, hợp
thành bảy ngàn (1.000x7), do [phối ứng với] ba đời
cộng thành hai muôn một ngàn (7.000x3=21.000). Mỗi Hoặc
trong bốn Hoặc “si, kiến, mạn, ái” của Mạt
Na Thức có đủ hai muôn một ngàn ấy, kết hợp
thành con số tám vạn bốn ngàn pháp (4x21.000=84.000).
*
Hỏi: Hiện tại là thời đại khoa học, Phật
pháp có thể cứu nước, cứu dân hay chăng? Tuy
Phật pháp giảng đến nỗi hoa trời rơi
tán loạn, tôi không tin là có thể hữu hiệu bằng sử
dụng bom nguyên tử? (Lương
Quyền Thạch hỏi)
Đáp:
Tôi chẳng hiểu cao kiến trong tôn ư về chuyện cứu
quốc và phạm trù khoa học. Đành phải phỏng
đoán theo ngữ khí, thay ngài phỏng đoán lời ấy.
Có lẽ tôn ư cho rằng để cứu quốc và cứu
dân, cần phải có khoa học, mà khoa học ắt giới
hạn trong khoa học tự nhiên, kỹ thuật cơ giới,
bom nguyên tử. Nếu thật sự chủ trương
như vậy, tất cả các chế độ lập
pháp, khảo thí, tư pháp, giám sát, giáo dục, y học, nông
nghiệp, văn học, nghệ thuật, kế toán v.v… đều
chẳng phải là khoa học kỹ thuật tự nhiên,
cơ giới, nguyên tử, đều nhất loạt chẳng
thể cứu quốc cứu dân! Sao lại riêng chê trách
trách Phật học? Nhưng đối với lời hỏi
theo tôn ư, tôi cũng có điểm nghi ngờ. Chẳng biết
chữ Cứu phải hiểu là “muốn cho người
ta sống” hay “khiến cho người ta chết”? Nếu
muốn cho người ta sống, tôi cũng chẳng tin sử
dụng bom nguyên tử sẽ hữu hiệu hơn Phật
học!
*
Hỏi: Ấn Độ là nơi phát nguyên của Phật
giáo, nhưng rốt cuộc đến nỗi bị vong quốc
bao nhiêu năm! Tại Trung Hoa, Lương Vũ Đế
tôn sùng Phật pháp nhất, cũng là quậy đến nỗi
nước tan, thân chết. Do những sự thật ấy,
chứng tỏ Phật pháp chẳng có tác dụng trị quốc!
(Lương Quyền Thạch
hỏi)
Đáp: Đối với những vấn
đề trong quốc gia, vốn là do nhiều thứ
cơ cấu phối hợp, chẳng phải là chỉ dựa
vào một bộ phận nào đó để thúc đẩy.
Nếu Lương Vũ Đế chẳng chịu trái lời
minh ước, chẳng thâu nạp Hầu Cảnh, há có ách
nạn tại Đài Thành? Mà chuyện bội ước,
thâu nạp kẻ phản loạn, rốt cuộc có quan hệ
ǵ với Phật giáo? Điều này đúng là như may vá
làm hỏng xiêm y, lại hỏi tội nơi thân kẻ
nấu bếp! Tiên sinh đă cho là Phật giáo có hại cho
đất nước, lại đọc thông thuộc lịch
sử, [ắt hẳn phải biết] như Hán Minh Đế
và Đường Thái Tông đều rất sùng Phật
pháp, quốc oai vang dội nơi xa, hiếm có khắp cả
xưa nay. Các vua Hoài Đế và Mẫn Đế[41]
nhà Tấn, Huy Tông và Khâm Tông nhà Tống đều chẳng
thờ Phật, v́ sao cũng gặp cảnh vong quốc? Lại
c̣n bị cầm tù, để lại nỗi nhục cho Hán
tộc, [cớ sao ông cố ư] tránh né chẳng bàn tới? Phật
học vốn chẳng phải là chánh trị, nhưng
cũng chẳng phải là không liên quan đến chuyện
trị đạo! Đời Minh, tiểu vương tử
Yêm Đáp chịu để hoàng đế [nhà Minh] sai khiến;
đời Thanh, biên cương Mông Tạng phần nhiều
cậy vào sức của Phật giáo mà hướng về
Trung Nguyên. Cự tuyệt, bài xích Phật giáo là vô dụng
đối với chuyện trị quốc, cũng chẳng
phải là lời luận định chánh xác. C̣n như vấn
đề Ấn Độ, xin hăy tham duyệt trong phần
trước đă có vấn đáp!
* Hỏi:
Kẻ chẳng hăm hại người khác, chẳng mong cầu
tài lợi trái phận, làm sao có thể làm chuyện xấu
xa cho được? Phật học chuyên nhấn mạnh
cầu phước, cầu thọ, cầu trong kiếp này
chưa đủ, lại c̣n cầu đời sau. Bề
ngoài tuy nói là thanh tịnh tịch diệt, thật ra là tham
dục càng to hơn nữa! (Lương
Quyền Thạch hỏi)
Đáp:
Đức Phật thuyết pháp, soi xét căn khí của
đối phương để chia thành năm thừa.
Thấp nhất là căn khí nhân thiên, do tri kiến của hạng
người này bất quá là phước thọ trong đời
sau. Nếu nói Đệ Nhất Nghĩa Đế với
họ, chẳng khác ǵ nói chuyện băng tuyết với
con trùng mùa Hè. V́ phương tiện, trong kinh điển Tiểu
Thừa, ngẫu nhiên nhắc tới, nhưng không ǵ chẳng
lấy việc đoạn tham, sân, si làm chỗ chỉ quy,
bèn bị vu báng là đại tham! Hiểu lầm quá sức!
*
Hỏi: Hiếu đứng đầu muôn điều thiện,
đức Phật chẳng tuân lời cha, lén trốn khỏi
nhà, dường như hiếu đạo bị thiếu
sót! Tuy nói là do tâm hạnh từ bi, rốt cuộc chẳng
bù đắp nổi vấn đề [khiếm khuyết]
nơi điều thiện đứng đầu, đúng
không? (Lương Quyền Thạch
hỏi)
Đáp:
Bá Di và Thúc Tề[42]
trái nghịch lệnh cha, bỏ nước trốn xa, vua
Thuấn chưa thưa tŕnh [cha mẹ] mà đă lấy vợ[43],
Ôn Kiệu[44] cắt
áo ra đi, đều là quyền biến để đạt
thành tựu to lớn, đều được người
khác ca ngợi. Đức Phật v́ đại sự nhân
duyên mà xuất hiện trong cơi đời, thị hiện
tám tướng để răn dạy đại chúng, lại
càng chẳng giống như công nghiệp nhỏ nhoi trong thế
gian. Nhưng sau khi thành đạo, Ngài trở về nước,
thăm cha, hóa độ mọi người bằng lẽ
xuất yếu, độ cha siêu thoát. Giáo ấy được
[khắp cơi] đại thiên [thế giới] tôn kính, ngưỡng
mộ, hiếu đến tột cùng, há c̣n có ai vượt
trỗi được ư?
Nói thêm, cột
báo này vốn v́ những người cùng hàng sơ cơ có
những nghi vấn mà đặt ra, hoàn toàn chẳng phải
là dùng để tranh biện. Những câu hỏi của
Lương tiên sinh toàn là những lời lẽ chê trách, mắng
nhiếc, vốn chẳng nên đáp. Nhưng Phật pháp
như chiên đàn, chạm vào đỉnh đầu hay bôi
vào chân đều nhuốm mùi thơm. Nay vốn v́ do
nghĩa này mà dấy ḷng từ mẫn, mong khơi gợi
cái tâm. Sau này, hễ có chất vấn kiểu này, nhằm
tránh tranh chấp lời lẽ khiến tổn thương
t́nh cảm, hăy dung thứ cho tôi chẳng trả lời!
*
Hỏi: Chân nghĩa của Phật giáo là “tứ đại đều Không”, quét sạch
sành sanh mảy may tơ tóc dục vọng trong đáy ḷng. Một
người Phật tử chân chánh, ắt phải đạt
tới sáu căn thanh tịnh. Xin hỏi: Nếu con người
chẳng có dục vọng, làm sao có thể thúc đẩy
nhân loại và cuộc sống trong xă hội tiến bộ?
Phật giáo dùng cách ǵ để giải thích? Làm thế nào
để khiến cho nhân loại mưu cầu tiến bộ?
(Bạch Tồn Thành hỏi)
Đáp:
Căn khí của nhân loại bất đồng, dục vọng
mỗi người mỗi khác. KhổngTử san định
kinh Thi, hiệu đính kinh Lễ, [Ngài nói] “quân tử chẳng có thời khắc nào trái nghịch
ḷng nhân, sáng nghe đạo, tối chết cũng
được”[45]. Nhan Uyên ăn cơm trong giỏ,
uống nước trong bầu, khoanh tay để gối
đầu, yên vui trong ấy. Đấy là họ lấy
chuyện mưu cầu chánh đạo làm điều ham muốn.
Đại Vũ [cần mẫn trị thủy] chẳng
nghỉ ngơi giây phút nào, chân tay chai sần, ở trong cung
điện xoàng xĩnh, chẳng quan tâm đến chuyện
ăn uống; đấy là lấy công nghiệp làm điều
ham muốn. Bọn Thạch Sùng, Hà Tăng[46]
gái đẹp dập d́u[47],
mỗi ngày ăn uống tốn kém cả vạn đồng,
trên là chẳng quan tâm đến vua, dưới là chẳng
làm lợi cho dân chúng; đấy chính là coi thanh, sắc, vật
chất, lợi lộc là điều ham muốn. Người
mưu cầu đạo, coi rẻ công nghiệp, như Hứa
Do nghe vua Nghiêu nhường ngôi bèn rửa tai. Kẻ cầu
công nghiệp, coi rẻ thanh, sắc, vật chất, lợi
lộc, cho nên có Dương Chấn từ chối vàng[48].
Dục vọng của người hiện thời thấp
kém nhất, tức là thanh, sắc, lợi lộc, tiền
bạc. [Thay v́] nói với cuộc sống của họ tiến
bộ, chẳng thà nói với họ về chuyện đạo
đức suy thoái, gây nên ảnh hưởng là mai sau sẽ
có tai nạn to lớn. Dục vọng thấp kém có hại
như thế đó, thánh hiền hào kiệt thế gian mà
c̣n hiểu rơ, gạt bỏ, huống là Phật pháp ư?
*
Hỏi: Thanh niên học Phật, tâm quét sạch rỗng
không, chẳng có dục vọng tồn tại, chẳng phải
là đă đánh mất chí tiến thủ, tiền đồ
bị lầm lỡ hay chăng? Tinh thần chỉ giữ
lấy chuyện “tự độ,
độ tha”, thiên trọng một mặt tinh thần,
đối với cuộc sống hiện thực có ích chi
đâu? (Bạch Tồn Thành hỏi)
Đáp:
Phát tâm tiến thủ nơi đại đạo và công
nghiệp, chính là chỗ đạt lên cao của bậc
quân tử. Phát tâm tiến thủ nơi thanh, sắc, lợi
lộc, vật chất, chính là đạt đến chỗ
thấp kém của phường tiểu nhân. Nếu nói tới
cuộc sống, hăy nên luận định những điều
tất yếu, đừng nói đến chuyện buông thả
dục vọng, mong cầu xa hoa quá phận! Học Phật
chẳng phải là hoàn toàn không nói đến
cuộc sống, mà chính là chớ nên buông thả dục vọng!
Hăy nên biết: Kẻ dốc sức mong cầu hưởng
thụ, c̣n chẳng có phần làm tôi trung, con hiếu trong thế
gian; đối với đại pháp xuất thế gian,
liễu sanh thoát tử, càng chẳng có phần.
Nhưng trong nhà Phật có sự đại hưởng thụ,
ắt phải buông xuống những ǵ nắm níu trong tay
th́ mới có thể đạt được thứ khác.
Nói thông tục là chẳng thể “bắt cá hai tay”.
*
Hỏi: Gần đây nhất, những
người thanh niên trong nước ta đoạt giải
Nặc Bối Nhĩ (Nobel) như ông Lư v.v… nếu trong tâm họ
chẳng ôm giữ dục vọng, há có thành tựu như
hiện thời? (Bạch Tồn
Thành hỏi)
Đáp:
Trong lời đáp cho câu thứ nhất, tôi cũng đă từng
phân tích. Dục vọng của nhân loại, mỗi người
khác nhau. Cố nhiên là ông Lư có thành tựu, chẳng lẽ bảo
vua Đại Vũ chẳng có thành tựu hay chăng? Có thể
bảo là Khổng Tử chẳng có thành tựu ư? Ví
như người lên núi, ắt phải học nắm vịn;
người vào biển, ắt phải học bơi lội,
mỗi người đều có thành tựu. Giả sử
bắt kẻ trèo núi nắm bắt trong biển, người
lội biển bơi lội trên núi, có thể thành tựu
hay chăng? Học Phật bèn có dục vọng và
đường lối để học Phật, phát tài
th́ có dục vọng và phương cách để phát tài.
Ông thấy ông Lư phát tài bèn hâm mộ, xin mở rộng nghĩa
ấy, đáng tiếc là sự phát tài của ông Lư chính là [sự
thành tựu] nhỏ nhoi, b́nh phàm, chẳng thể lâu bền,
chẳng biết nhà Phật có đại thánh tài, lấy chẳng
cạn, dùng bất tận vậy!
*
Hỏi: Tôi nghe nói Phật pháp có thể dùng để giải
đáp hết thảy vấn đề,
tôi rất tin tưởng. Nhưng có người hỏi
tôi, gà có trước, hay trứng có trước, tôi không thể
trả lời. Xin hỏi: Nói như thế nào th́ mới là
đúng? (Thái Hiệt hỏi)
Đáp:
Đối với những câu hỏi cố ư căn vặn,
tôi đă sớm thanh minh nhất loạt chẳng đáp,
nay do tùy thuận, phá lệ [mà trả lời] một lần.
Kẻ hèn này nêu một thí dụ để ông có thể hiểu
rơ. Thử hỏi là phụ nữ có trước, hay là kinh
nguyệt có trước? Tự nhiên là có phụ nữ
trước! Do kinh nguyệt xuất phát từ thân người
nữ, nhưng chỉ có ḿnh kinh nguyệt, quyết chẳng
thể sanh con đẻ cái. Hiểu rơ điều này, bèn có
thể nói: Có gà trước rồi sau đó có trứng. V́
trứng do gà mái sanh ra, [trứng] đúng là giống như
kinh nguyệt của gà vậy. Cần phải biết: Chỉ
có ḿnh trứng, mà nếu chẳng có cồ của gà trống,
cũng chẳng thể nở thành gà con! Trứng suông (trứng
không có cồ) đă chẳng thể sanh ra gà, mà gà mái vẫn
có thể sanh ra trứng. Do vậy, nói là gà có trước.
Sau này, nếu gặp kẻ vẫn giở tṛ hư luận
như thế, hăy tránh xa, chẳng cần phải so đo
hơn thua với hắn!
*
Hỏi: Lại có người mắt thấy mấy con kiến
trên bệ cửa sổ, bỗng cất tiếng hỏi:
“Kiêng giết cố nhiên là tốt lắm, nhưng nếu
có kẻ cầm dao đến hại ta, nếu chẳng thể
trốn tránh th́ có thể giết kẻ đó hay chăng?” (Thái Hiệt hỏi)
Đáp:
Trước hết chớ bàn đến chuyện “Hạng Trang múa kiếm, ư ở
Bái Công”[49]. Chỉ đáp thẳng vào
ngay câu hỏi ấy là được rồi! Nh́n thấy
danh, bèn nghĩ đến nghĩa, “giới sát” chính là kiêng giết. Nhưng căn
tánh của chúng sanh chẳng đồng nhất, tâm lư mỗi
người khác biệt, cho nên h́nh thành đủ mọi lẽ
sai biệt. Đối với bậc Đại Bồ Tát,
chẳng có tướng nhân ngă, lại c̣n là đồng thể
đại bi, dẫu có kẻ côn đồ hung bạo gia hại,
tâm sân lẫn tâm sợ hăi đều chẳng có, làm sao có cử
chỉ phản kháng, giết chết kẻ ấy cho
được! Nếu phàm phu được tiếp nhận
sự giáo dục rất tốt đẹp, chỉ làm chuyện
pḥng vệ chánh đáng, chẳng đánh trả lại. Kẻ
kém hơn, tuy đánh trả lại, nhưng chỉ là
ngăn chặn sự tấn công của kẻ ấy, hoặc
tiêu trừ vũ lực của kẻ đó. Tuy đánh trả
lại, nhưng chẳng vượt quá mức độ cần
thiết. Kém hơn nữa là đánh trả lại khiến
cho kẻ đó chết ngắc. Kém cỏi nhất là hạng
người “tiên phát chế
nhân” (ra tay trước để khống chế kẻ
khác), ta chẳng bị tổn hại tí nào, đă khiến
cho kẻ đó bỏ mạng. Đối với những
điều đă nêu trên đây, đủ để xét xem
cái tâm nhân từ đă được củng cố sâu xa
hay hời hợt vậy. Nếu đă chịu học “kiêng giết”, hăy nên vâng theo lời
Phật dạy, thoạt đầu là tin mấy phần
bèn hành mấy phần, tiến hơn nữa là biết mấy
phần bèn hành mấy phần. Lại tiến hơn nữa,
sẽ là nghe mấy phần bèn gắng sức hành mấy
phần, ngơ hầu chẳng đánh mất những
phương tiện dẫn dắt ḥng đạt tới
chỗ thành thánh, thành hiền!
*
Hỏi: Xin dung thứ những lời lẽ chẳng cung
kính của tôi. Ở trong nhân gian, những mong thấu đạt
cùng tận thiên lư và t́nh người, nhưng t́nh người
c̣n chưa thể tự biết, làm sao biết thiên lư cho được?
Trời chỉ có đạo mà chẳng có lư, Lư là do con
người sáng tác, c̣n đạo là lẽ tự nhiên trong
vũ trụ. Như “tu thân, tề
gia, trị quốc, b́nh thiên hạ”, đấy chính là lư
trong nhân gian. Lại như mặt trời, mặt trăng
vận hành, gió mây biến hóa v.v… đấy là do đạo
khiến thành ra như vậy. Tiên sinh chớ nên có cái nh́n
theo kiểu [chấp trước] môn hộ! Nho giáo, Đạo
giáo, Cơ Đốc giáo, Hồi giáo đều là do Khổng
Tử, Lăo Tử, Cơ Địa Gia (Jesus Christ), Mục
Hăn Mặc Đức (Mahomed), chư vị “hậu thiên Phật” phương tiện giáo hóa.
Đối với các tông trong Phật giáo, lại càng chớ
nên có môn hộ khác biệt. Đệ tử các giáo tu hành,
không ǵ là chẳng tiếp nhận “linh âm” từ cơi trên, cảm ứng với Phật,
ḥng đạt được duyên lực của Phật.
Chỉ đáng tiếc là hiểu biết ít ỏi! Hễ
tĩnh th́ quang thuần, định th́ quang thăng. Chẳng
định, chẳng tĩnh, tạp niệm nẩy sanh
như rừng, th́ Guou[50]
cũng nặng, mà ma cũng sâu, huệ môn linh quang cũng
xa vời vậy! (Tiêu tiên sinh hỏi)
Đáp:
Kẻ hèn này học cạn, chưa thể thấy
được trọng tâm trong câu hỏi của Ngài. V́ thế,
chẳng thể vâng mạng đáp lời được!
Chỉ biết tiên sinh trách tôi có tri kiến môn hộ. Kẻ
hèn này là Phật tử, giải đáp Phật học,
đương nhiên là “y pháp, bất
y nhân”, tuân theo Thánh Ngôn Lượng. Đấy chính là
tuân theo chí hướng, chẳng phải là tri kiến môn hộ!
Tiên sinh nói đệ tử của Nho, Đạo, Gia Tô, Hồi
không ai là chẳng tiếp nhận “linh âm” từ cơi trên, tương ứng với Phật.
Tạm thời chẳng bàn đến hai chữ “linh âm”. Nếu chỉ nói tới
chuyện “tương ứng với Phật”, trong Viên Giáo
của nhà Phật cố nhiên là có lư ấy. Nói theo
phương diện h́nh tích, sự tướng, bèn chẳng
có đạo ấy. Đó gọi là “hào ly và ngàn dặm, chẳng thể sai lầm”. Năm
giáo ấy, mỗi giáo đều có tông chỉ trọng yếu
riêng, mỗi giáo đều có đường lối riêng.
Ví như từ Đài Loan du hành, có người sang Nhật
Bản, có kẻ tới Đại Lục, có người
sang Phi Luật Tân, có ngưười tới Úc Đại Lợi
Á (Australia). Phương hướng chia thành Đông, Nam,
Tây, Bắc, hành tŕnh bèn có đường bộ, đường
biển, đường hàng không. Nếu chẳng định
chắc chắn mục tiêu, chuẩn bị hành lư ổn thỏa,
như vốn muốn sang Nhật Bản, lại theo các lối
hướng về Tây để tiến về Đại
Lục, hoặc theo phía Nam sang đảo Phi Luật Tân, hoặc
quành ngược sang Đông để qua châu Úc. Vào trong biển
lại ngược ngạo đ̣i ngồi xe, chẳng
đi máy bay mà ngồi thuyền, sẽ biết là không chỉ
là chẳng tới được Nhật Bản, mà đối
với bất cứ nơi đâu cũng đều chẳng
thể đến được! Hơn nữa, đọc
đoạn văn “tĩnh th́
quang thuần, định th́ quang thăng” của tiên
sinh, càng biết [những lập luận kiểu đó] chẳng
phải là Nho, chẳng phải là Phật, chẳng phải
là Đạo, chẳng phải là Gia Tô, chẳng phải là
Hồi! Một giáo c̣n chưa phải, lại c̣n toan dung hội
các giáo, há có lẽ ấy? Kẻ hèn này học Phật, nếu
phản đối kẻ khác học Nho, Đạo, Gia Tô,
Hồi, th́ mới là có tri kiến môn hộ. Nếu có
người nói đến Phật, mà xen tạp những thứ
tà vọng ĺa kinh phản đạo, chẳng có mảy may
căn cứ nào, bất đắc dĩ do bi tâm mà uốn
nắn cho đúng những sự lầm lạc ấy, há
có phải là tri kiến môn hộ ư?
*
Hỏi: Các ngươi chớ nên hiểu lầm. Trong kinh
chỉ nói Vô Lượng Phật giáng thế, hoàn toàn chẳng
nói Nam-mô A Di Đà Phật giáng sanh trong nhân gian! Cần phải
biết Vô Lượng Phật là một vị Phật khác
hẳn! Đại Vô Lượng Phật chính là Nam-mô A Di
Đà Phật. Đức Phật ta từ lúc có khởi
đầu cho đến nay, chưa hề giáng sanh trong bất
cứ xứ nào! Lại cần biết: Đức Phật
ta là vị tôn quư nhất trong vũ trụ. Ta thấy trong
mục Phật Học Vấn Đáp của báo Bồ Đề
Thụ số sáu mươi bảy, đối với bảy
câu hỏi của cư sĩ Tiêu Thiệu Hinh ở Đài
Trung, hỏi đă sai bét, mà đáp cũng trật tuốt
luốt! Ngoài ra, nhiều chỗ đều có những
điểm sai trật; hiện thời, chẳng tiện
bàn cặn kẽ! Trong tương lai, không lâu nữa
đâu, sẽ có người thăng đường thuyết
pháp rộng răi. Khi đó, ngươi sẽ tự biết.
Nhớ mấy năm trước, vị La Hán X… (chẳng
phải là vị La Hán tầm thường chứng Tứ
Quả tầm thường) đă muốn thuyết pháp cho
ngươi, thử thuyết cho ngươi một phen.
Đáng tiếc ngươi lại bỏ cơ hội cực
tốt ấy! Hăy khéo tu hành, hoằng pháp cho nhiều; trong
tương lai, may ra c̣n có cơ hội! (Tiêu tiên sinh hỏi)
Đáp:
Điều cốt yếu của chuyên mục này là chuyên
làm cố vấn cho người mới học Phật, chẳng
phải là hơn thua hay giỏi cùng người khác. Đối
với lời giải đáp, vốn có phạm vi, hễ
vượt ra ngoài [phạm vi ấy], sẽ chẳng trả
lời. Nhưng do có người hỏi mà chẳng trả
lời, sợ vướng tội thất lễ, nên
cũng có khi phá lệ nói dung thông. Nếu càng bàn, càng xa Phật
giáo, hoặc lời lẽ thất thường, và người
hỏi thần kinh thác loạn, bèn nhất loạt chẳng
đáp! V́ thế, ở đây, phải tuyên bố rơ. Ba lá
thư của tiên sinh, chẳng đề tên, chẳng có
địa chỉ, giọng điệu lại rất giống
như dạy đời, tông chỉ khiến cho người
nghe sững sờ! Trừ lần vấn đáp trước
ra, xin hăy suy nghĩ kỹ, có lẽ sẽ liễu giải,
nay tôi lại miễn cưỡng đáp một lần. Câu
hỏi này có thể chia thành mười tầng để thảo
luận:
- Một,
[ông quả quyết] “trong kinh chỉ nói Vô Lượng Phật
giáng thế”. Xin hỏi là kinh văn nào vậy? Kinh văn của
giáo nào?
- Hai,
“hoàn toàn chẳng nói A Di Đà Phật giáng sanh nhân gian”, do ai
đề ra lời nghị luận ấy, mà hướng
về kẻ hèn này ngược ngạo chất vấn là
như thế nào? Há chẳng phải là phóng tên trật
đích?
- Ba, “Vô
Lượng Phật chính là một vị Phật khác, Đại
Vô Lượng Phật chính là Nam-mô A Di Đà Phật”. Cố
nhiên là có những vị Phật đồng danh đồng
hiệu, nhưng lời dạy của ông phát xuất từ
kinh điển nào vậy?
- Bốn,
“đức Phật ta từ lúc có khởi đầu đến
nay, chưa hề giáng sanh trong bất cứ xứ nào!” Xét
theo hai chữ “hữu thỉ”
(có khởi đầu), biết ngay tiên sinh chắc chắn
chẳng phải là đệ tử Phật, mà cũng
chưa từng đọc kinh Phật, lại cũng chẳng
tin Phật giáo! Sợ rằng ông chắc chắn là phường
phụng hành ngoại đạo. Nếu đúng như tôi
đă nói, ắt mỗi người hành theo đạo
riêng, chẳng cần xâm phạm lẫn nhau!
- Năm,
“trong báo Bồ Đề Thụ số sáu mươi bảy,
cư sĩ Tiêu Thiệu Hinh hỏi bảy câu sai bét, mà
đáp cũng trật tuốt luốt”. Tiêu cư sĩ dựa
theo kinh để hỏi, kẻ hèn này dựa theo ư của
cổ đức để đáp, sai trật ở chỗ
nào?
- Sáu,
“ngoài ra, cũng có lắm chỗ chẳng đúng”. Cám ơn
ông chỉ giáo, kẻ hèn này học cạn, điều ấy
chẳng thể tránh khỏi. Nhưng đối với
tiên sinh mà chẳng nói như thế, th́ nói như thế nào
đây? Dùng lời của Kim Thánh Thán[51]
phê b́nh lục tài tử thư[52]
để thưa: “Văn nhân
xem [sáu bộ sách ấy] thấy là văn chương, kẻ
dâm xem [những sách ấy] bèn bảo là dâm vậy”.
- Bảy,
“trong tương lai, không lâu nữa đâu, sẽ có người
thăng đường thuyết pháp rộng răi cho đại
chúng. Khi đó, ngươi sẽ tự biết”. Chẳng
cần chờ tới tương lai! Tạm thời, hăy
suy nghĩ, sẽ thấy như thế nào? Chẳng hợp
với Nho, Thích, Đạo, Gia Tô, Hồi, th́ chính là “Di Lặc
Phật nay đang chưởng quản thiên bàn” đó
chăng?
- Tám, “mấy
năm trước vị La Hán X… (chẳng phải là La Hán tầm
thường chứng đắc quả tầm thường)
muốn thử thuyết pháp cho ngươi một phen”, có
thể nói là càng nói càng thành hư luận. Kẻ hèn này chẳng
mong tạo khẩu nghiệp, chỉ có thể bảo thẳng
cùng tiên sinh: “Vọng ngữ quá lố!”
- Chín,
“đáng tiếc là ngươi bỏ lỡ cơ hội cực
tốt ấy”, muôn vàn may mắn! Nhờ ơn Già Lam Bồ
Tát từ bi. Khi ấy, chắc là đă có một cây kim cang xử
[ngăn chặn].
- Mười,
“hăy khéo tu hành, hoằng pháp cho nhiều. Trong tương lai
may ra c̣n có cơ hội!” Lại cảm ơn tiên sinh giáo huấn,
kẻ hèn này rất tin lời ấy. Ngạn ngữ
xưa có câu: “Đạo cao một
thước, ma cao một trượng”, sợ là vẫn
có cơ hội!
*
Hỏi: Có người bảo: “Chúng ta đều là người
Hoa, do vậy, sùng bái cổ đại thánh hiền, trung thần,
nghĩa sĩ, hiếu tử v.v… của Trung Hoa th́ cũng
là lẽ đương nhiên! Huống chi nói theo Phật lư,
há họ cũng chẳng đều là những vị Phật
trong hằng hà sa số chư Phật ư? V́ sao những
kẻ xuất gia (một bộ phận) coi hành vi sùng bái
này là tà vạy (hành vi sùng bái chẳng phải là mê tín, chẳng
lăng phí)? Cách nh́n khinh dễ ấy chẳng lẽ cũng phù
hợp Phật lư, phù hợp hành vi của kẻ xuất
gia ư? Hăy nên đáp như thế nào? (Diệp Khánh Xuân hỏi)
Đáp:
Chỉ nói “chúng sanh đều
có Phật tánh”, chẳng nói “ngay nơi thân chúng sanh là Phật”.
Nhưng Phật tánh ấy lại chia thành uế và tịnh.
Khi tu đến mức thanh tịnh, mới là Phật. Phật
là giác, cũng chính là nói viên măn Nhất Thiết Chủng
Trí. Trong khi nhiễm, có các Hoặc ngăn chướng, mê
muội, bất giác, sao gọi là Phật cho được?
Đối với trung thần, hiếu tử v.v… luận
theo pháp thế gian, hạnh đă cực cao. Luận theo Phật
pháp, vẫn là bước đầu để tiến nhập
lẽ thiện. Nếu v́ chánh trị và phong tục xă hội
v.v… bèn thờ phụng, khiến cho người khác trông thấy,
suy nghĩ, rồi bắt chước làm theo, dưỡng
thành chánh khí cho xă hội, làm sao có thể dị nghị cho
được? Nếu thế tục mượn cớ
đó, để cầu cơ, hầu đồng, mong cầu
sử dụng thần quyền, giáng phước gieo họa
cho kẻ khác, hoặc cầu đại đạo xuất
thế, hy vọng bợ đỡ thần bèn có thể
đắc đạo thành Phật, tức là đă lầm
lạc vạn dặm! Phàm là người cầu xuất thế
thành Phật, sẽ dụng công nơi tâm tánh, dùng trung hiếu
làm trợ hạnh. Nếu thiếu sót trung hiếu, sẽ
chẳng có phần thành Phật. Kẻ hành pháp thế gian,
chỉ lo nịnh bợ các vị thần trung hiếu, chẳng
bắt chước hạnh của các Ngài, thần c̣n chẳng
thèm hưởng [sự cúng tế ấy], huống là giáng
phước ư? V́ thế, chuốc lấy tiếng chê
cười của người hiểu biết! Lời lẽ
ngu muội, mong hăy phân biệt, nghiền ngẫm!
*
Hỏi: Có người hỏi: “Các ông dạy người
ta tin Phật, chớ nên tin vào những vị thần khác.
Phật pháp nói tới sự b́nh đẳng; đă là b́nh
đẳng th́ có ǵ phân biệt, ai truyền đạo nấy,
cớ sao phản đối? Như vậy, há chẳng phải
là kẻ bán hoa tự khoe hoa thơm ư?” (Triều Tân Ban liên hữu hỏi)
Đáp: Một
chữ Tín xét theo phương diện tôn giáo, trong phạm
vi ấy có các thứ giải thích. Như đối với
một Sự, một Lư, hoặc tin là có, hoặc tin điều
ấy là đúng. Đó là một cách nói. Hoặc tín rồi
kính, hoặc tin tưởng phụng hành. Đó lại là một
cách nói nữa. Phật giáo đối với các vị thần
khác, tin họ là có, mà cũng tin và kính. Như các kinh thường
chép có thiên long bát bộ, kinh Địa Tạng chép có các vị
thần núi, sông, thảo mộc v.v… Kinh Lăng Nghiêm chép có
các loại trời và tiên nhân, các loại ma và quỷ
vương, tức là tin họ là có. Phật pháp nhất loại
cúng thí, siêu độ, tức là dùng ḷng cung kính, chỉ có
điều chẳng thờ phụng, quy y họ. Người
khác và ta cùng là chúng sanh phàm phu, chẳng thể tự giác
để độ thoát, thờ phụng vô ích, bất quá
là như Khổng Tử đă nói “kính nhi viễn chi”, chẳng phải là phản
đối. Hơn nữa, tu tŕ trong Phật pháp, quư ở
chỗ chuyên tinh. Nếu chân đạp hai thuyền, cuối
cùng ắt sẽ lọt xuống biển! Đó là phạm
vi của Tín có khu biệt, chớ nên hiểu lầm!
*
Hỏi: Có tôn giáo nọ hướng về chúng tôi hỏi:
“Chúng sanh từ đâu đến? Chết đi về
đâu?” Tôi sợ đáp trật, xin hăy chỉ dạy. (Lại A Lư hỏi)
Đáp:
Từ lục đạo mà đến, lại đi vào lục
đạo. Lục đạo chia thành trên là ba đường
thiện, dưới là ba đường ác. Nói chung, tuy
đến từ lục đạo, nói thật ra, sẽ
đi vào tam đồ.
Phật Học Vấn Đáp Loại
Biên
Quyển Trung
Phần 3 hết
[1] Đây là một câu nói trong sách
Luận Ngữ: “Ích giả tam
hữu, tổn giả tam hữu. Hữu trực, hữu
lượng, hữu đa văn, ích hỹ! Hữu
tiện tích, hữu thiện nhu, hữu tiện nịnh,
tổn hỹ” (Có ba loại bạn lợi ích, có ba
loại bạn tổn hại. Bạn chánh trực, bạn
ăn nói thành thật, bạn kiến thức rộng răi là
những loại bạn có ích. Bạn chuộng siểm trá,
bạn khéo mềm mỏng lấy ḷng nhưng không thành
thật, bạn thích nịnh bợ là những loại
bạn gây tổn hại).
[2] Ninh Vũ Tử tên thật là
Ninh Du, người nước Vệ, làm quan đến
chức Khanh Đại Phu, nổi tiếng về ḷng trung
thành, tuy có những việc ông ta làm bị coi là ngu trung.
[3] Tức là bà Dương Huệ
Khanh, do chồng bà là Châu Bang Đạo, người Hoa
thường ghép họ chồng vào trước tên thật,
nên gọi là Châu Dương Huệ Khanh.
[4] Nhan Uyên (521-481 trước Công
Nguyên), tên là Hồi, tự là Tử Uyên, nên thường
gọi là Nhan Uyên, được Khổng Tử coi là
đệ tử đắc ư nhất. Ông được
xếp đứng đầu trong bảy mươi hai môn
đệ của Khổng Tử. Nhan Uyên nổi tiếng
là nghèo khó, nhưng nêu gương an bần lạc
đạo. Khi ông mất, mới hai mươi chín
tuổi.
Nhiễm Bá Ngưu (544-? trước Công
Nguyên), tên là Canh, tự là Bá Ngưu, người
nước Lỗ. Ông được xếp vào hàng
Thập Triết (mười vị đại đệ tử
lỗi lạc của Khổng Tử, tức Nhan Hồi,
Mẫn Tử Khiên, Nhiễm Canh, Nhiễm Ung, Tể Ngă,
Đoan Mộc Tứ (Tử Cống), Nhiễm Cầu
(Tử Hữu), Trọng Do (Tử Lộ), Ngôn Yển
(Tử Du), Bốc Thương (Tử Hạ), và Tăng
Sâm). Đức hạnh của ông rất được
Khổng Tử coi trọng. Sách không chép rơ ông bị
bệnh ǵ, chỉ chép là khi đă bị bệnh, ông không
muốn gặp ai. Khi bệnh t́nh đă nguy ngập,
Khổng Tử đến thăm, tḥ tay qua cửa sổ
nắm tay ông, than thở mệnh trời khiến cho
người đức hạnh như thế mà bị bệnh
như thế. Có người nói ông bị bệnh cùi,
thực hư chẳng rơ như thế nào.
[5] Tứ Khoa là bốn
người đứng đầu trong hàng Thập
Triết được xếp về đức hạnh,
tức Nhan Uyên, Mẫn Tử Khiên, Nhiễm Canh và Nhiễm
Ung.
[6] Đây là chuyện ngụ ngôn.
Con trai há miệng ra, con diệc (một loại chim
giống như c̣ hay vạc) tḥ mỏ mổ, toan ăn
thịt con trai. Con trai bèn khép vỏ, kẹp chặt mỏ
con diệc. Đôi bên giằng co, cuối cùng bị một
ông chài bắt trọn.
Ngụ ngôn thứ hai xuất phát từ thiên
Ngoại Vật trong sách Trang Tử. Trang Châu nhà nghèo, túng
quẫn, đến vay thóc Giám Hà Hầu. Giám Hà Hầu
bảo: “Ờ! Chờ ta thu tiền thuế trong thái ấp
xong sẽ cho ông vay ba trăm đồng, được
không?” Trang Châu tức giận đáp: “Ngày hôm qua, tôi đi
đường, chợt nghe có tiếng gọi, nh́n vào
vết bánh xe lơm trên đường, thấy có con cá
diếc, hỏi nguyên cớ, nó đáp: ‘Tôi thuộc loài
thủy tộc ở Đông Hải, ông có thể dùng
một đấu nước để cứu sống tôi
hay không?’ Tôi đáp: ‘Được chớ! Chờ ta
xuống phương Nam du thuyết các nước Ngô
Việt xong, sẽ dẫn nước sông Tây Giang cứu sống
ngươi, được chăng?’ Con cá bực tức
nói: - Tôi đă gặp cảnh bất thường, không
chỗ nương cậy, nếu được một
đấu nước may ra c̣n toàn mạng. Ông nói như
vậy, chẳng biết tôi đă sớm thành con cá khô
ở ngoài chợ rồi”.
[7] Đây là một thí dụ trong
kinh Đại Bát Niết Bàn, đức Thế Tôn
mượn tỷ dụ này để nói rơ: Kẻ chưa
kiến tánh, dẫu giảng về Niết Bàn đến
đâu đi nữa, họ cũng không thể lănh hội
được. Như có người mù từ thuở
lọt ḷng, thắc mắc màu trắng của sữa là
như thế nào. Người đáp dùng các thí dụ
vỏ ốc, gạo, tuyết, chim hạc để
trả lời, người ấy lầm tưởng sắc
trắbg của sữa giống như tiếng thổi ốc,
hoặc mềm mịn như bột, hoặc lạnh
như tuyết, hoặc nhẹ như lông chim hạc, không
thể h́nh dung trắng là như thế nào?
[8] Mặc tẫn: Trừng
phạt bằng cách không nói với người đó, không
chỉ trích, không phê b́nh. Người phạm lỗi bị
cô lập trong đại chúng sẽ hối cải.
[9] Núi Đại Dữu c̣n
gọi là Tắc Thượng, Đài Lănh, Đông Kiều,
Mai Lănh v.v… là một rặng núi thuộc Ngũ Lănh ở
tỉnh Giang Tây. Tương truyền, vào thời Hán Vũ
Đế, có vị tướng quân họ Dữu lập
thành lũy pḥng ngự ở đây, nên núi có tên gọi
ấy.
[10] Câu này trích từ thiên Ung Dă trong
sách Luận Ngữ: “Bá Ngưu
hữu tật, tử vấn chi, tự dũ chấp
kỳ thủ viết: ‘Vong chi, mạng hỹ phù! Tư nhân
dă nhi hữu tư tật dă!” (Bá Ngưu bị bệnh,
Khổng Tử đến thăm, từ cửa sổ tḥ
tay vào, nắm tay Bá Ngưu, nói: “Vô lư thay! Đúng là số
mạng vậy! Người như vậy mà mắc
bệnh như vậy”). Chúng tôi dịch câu này theo cách
giải thích trong bộ Luận Ngữ Giảng Yếu của
cụ Lư Bỉnh Nam.
[11] Vương Gia (c̣n gọi là
Thiên Tuế Gia, Vương Gia Công, hoặc Đại Nhân)
là danh hiệu gọi các vị thần thánh theo tín
ngưỡng dân gian, đặc biệt thịnh hành
tại Hoa Nam (nhất là vùng Mân Nam) và Đài Loan.
Vương Gia vốn là danh xưng để gọi
những vị thân vương (họ hàng thân thích của
hoàng đế được phong tước vương,
hay những vị khai quốc công thần được
đặc cách phong vương). Theo Đạo Giáo,
Vương Gia là những vị thần được
Thượng Đế phái xuống quản lănh, tuần
tra một vùng, cầm cân nẩy mực trong cơi Âm. Những
vị thần này đôi khi bao gồm cả những nhân
vật lịch sử có thật như Quốc Tánh Gia
(Trịnh Thành Công, người trấn thủ Đài Loan chống
lại nhà Thanh khi nhà Minh bị diệt quốc), Nhạc
Vũ Mục Vương Gia (Nhạc Phi) v.v… Thông
thường, Vương Gia là những vị thần trông
coi ôn dịch như Ngũ Niên Thiên Tuế, thần núi (ví
dụ như Thanh Sơn Linh An Tôn Vương, tức
thần núi Thanh Sơn), Tây Tần Vương Gia (thần
bảo hộ cho diễn viên tuồng), Lăo Vương Gia
(Đường Minh Hoàng, cũng là tổ của tuồng
hát), Cửu Hoàng Đại Đế (tức chín ngôi sao
thuộc Bắc Đẩu), hoặc những người
không hiểu v́ sao được thờ như Phù
Vương Gia (tức Phù Kiên, vua nhà Tiền Tần thời
Ngũ Hồ Loạn Hoa) v.v…
[12] Thái Nhất (太一, hoặc
泰一) theo Dịch Kinh chính là tên
gọi khác của “nguyên khí”, tức bản thể của
vũ trụ. Từ Thái Nhất sanh thành trời
đất, duy tŕ nguyên tắc vận hành của vũ
trụ thường gọi là Đạo. Sách Lữ Thị
Xuân Thu, thiên Đại Lạc giảng: “Đạo giả dă, chí tinh dă, bất khả vi h́nh,
bất khả vi danh, cưỡng vi chi danh, vị chi Thái
Nhất” (Đạo là cái tinh túy tột cùng, chẳng
thể xác định h́nh tướng, chẳng thể
gọi tên, cưỡng đặt cho nó một cái tên là Thái
Nhất). Đừng lẫn lộn khái niệm với Thái
Nhất (hoặc Thái Ất) là tên một ngôi sao (tức
Bắc Cực Tinh) được Đạo giáo thần
thoại hóa thành một vị thần có danh hiệu là Thái
Ất Thiên Tôn (tức Đông Hoàng Đại Đế,
hoặc Hoàng Thiên Thượng Đế).
Trong triết học của Đạo Gia,
trước khi trời đất tách rời, trong vũ trụ
có cái được gọi là Tiên Thiên Ngũ Thái (Thái
Dịch, Thái Sơ, Thái Thỉ, Thái Tố và Thái Cực).
Thái Dịch (太易) là giai đoạn thứ
nhất trong quá tŕnh biến hóa vật chất, Âm
Dương c̣n chưa xuất hiện, hư không rộng
lớn, chưa có ánh sáng, chưa có h́nh trạng, mọi
vật đều c̣n lẫn lộn thành một khối,
tịch tĩnh vô h́nh. Thái Dịch chính là giai đoạn
tương ứng với Hỗn Độn Sơ Khai,
đă bắt đầu có Thần, nhưng Khí chưa
xuất hiện. Thái Tố (太素) là giai đoạn vật
chất đă thành h́nh, thường được gọi
là giai đoạn vật chất nguyên thủy. Tuy đă
h́nh thành, mỗi vật chưa có bản thể riêng
biệt như trong giai đoạn Thái Cực, v́ Âm
Dương vẫn chưa phân cực hoàn toàn.
[13] Từ Nguyên (辭源) là bộ từ điển (giải thích về
từ ngữ) được biên soạn vào năm Quang
Tự thứ ba mươi tư (1908), do Lục Nhĩ Khuê
chủ biên, chánh thức xuất bản vào năm 1915.
Năm 1931, lại xuất bản bộ Từ Nguyên
Tục Biên, sau đó gộp chung hai bộ thành Từ Nguyên
Chánh Tục Biên Hợp Đính Bổn. Trải qua nhiều
lần tu chỉnh và cập nhật, bản
được lưu hành hiện thời là bản hoàn
chỉnh năm 1988. Nội dung chủ yếu dựa theo
hai bộ Khang Hy Tự Điển và Kinh Tịch Toản
Cật.
[14] Câu này viết theo ư một
đoạn trong thiên Công Dă Trị sách Luận Ngữ: “Hoặc viết: ‘Ung dă, nhân nhi
bất nịnh’. Tử viết: ‘Yên dụng nịnh?
Ngự nhân dĩ khẩu cấp, lũ tắng ư nhân.
Bất tri kỳ nhân, yên dụng nịnh?” (Có
người nói: “Trọng Ung có ḷng nhân đức, nhưng
chẳng khéo nói”. Khổng Tử bảo: “Có tài nịnh
nọt để làm ǵ? Biện bác áp đảo
người khác càng dễ bị người ta chán ghét. Tôi
chẳng biết là ông ta có nhân đức xứng đáng
hay không, chứ khéo nịnh để làm ǵ?”)
[15] Liễu ở đây là Liễu
Tông Nguyên (773-819). Ông Liễu có tên tự là Tử Hậu,
người huyện Vĩnh Tế, tỉnh Sơn Tây, làm
quan đến chức Giám Sát Ngự Sử thời
Đường Đức Tông và Đường Thuận
Tông. Liễu Tông Nguyên đă cùng Vương Thúc Văn
tiến hành những cải cách về kinh tế, chính
trị, quân sự, dẹp bỏ nữ nhạc, trừng
trị tham quan, nhưng bị phe tham ô lật đổ,
phải bị giáng chức. Ông là một nhà văn, nhà
thơ nổi tiếng thuở đó, nhưng hiện
thời chỉ c̣n giữ được bộ Liễu Hà
Đông Tập chứa đựng một phần các
trước tác của ông.
[16] “Giả
ngữ thôn ngôn” là từ ngữ để chỉ
những lời lẽ vô căn cứ, nói xằng, bịa
đặt, hoặc nói chuyện hoang đường.
[17] Đây là một cuộc sách
động nông dân nổi loạn vào cuối thời Hán do
giáo phái Thái B́nh Đạo đề xướng vào
cuối đời Hán. Thủ lănh là bọn Trương
Giác, Trương Bảo, Trương Lương. Do
những người tham gia phản loạn chít khăn
vàng, nên gọi là loạn Hoàng Cân. Dưới thời Hán
Linh Đế, nhà vua tin dùng bọn hoạn quan, triều
chánh mục nát, quan lại tham ô, thuế má nặng nề,
dân chúng đói kém. Vào lúc đó, ba anh em Trương Giác
thuộc Ngụy Quận, Kư Châu (nay là huyện Hàm Đan,
tỉnh Hà Bắc) đă dùng bùa chú chữa bệnh do dân
chúng, nên được dân chúng tôn sùng là thần tiên
sống. Nhân đó, chúng bèn lập ra Thái B́nh Đạo,
đồ chúng tin theo đông đảo. Khắp các châu
Thanh, Dư, Kư, Kinh, Dương, Duyện, Dự đều
có tín đồ đạo này, tín chúng lên tới hơn
bốn chục vạn người. Trương Giác tự
xưng là Đại Hiền Lương Sư. Vào năm
184, nhằm năm Quang Ḥa thứ bảy đời Hán Linh
Đế, Trương Giác ước hẹn tín chúng
đồng loạt khởi nghĩa với khẩu
hiệu “trời xanh đă
chết, trời vàng sẽ lập, vào năm Giáp Tư, thiên
hạ đại cát”. Cuộc nội loạn kéo dài măi
đến hai mươi mốt năm sau mới dẹp
yên, khiến cho nhà Hán suy yếu trầm trọng, mở ra
thời kỳ Tam Quốc.
[18] Bát Quái Giáo là tà phái phản
loạn trong đời Thanh. Tà phái này c̣n có tên là Ngũ Huân
Đạo, Thâu Nguyên Giáo, hoặc Thanh Thủy Đạo do
Lưu Tá Thần (quê ở Đơn Huyện, tỉnh
Sơn Đông sáng chế). Lưu Tá Thần đă vay
mượn giáo nghĩa của La Giáo (một tà phái khác do La
Thanh sáng lập, về sau trở thành Nhất Quán
Đạo). Thuở trẻ, Lưu Tá Thần từng theo
Bạch Liên Giáo, rồi Hoàng Thiên Đạo. Về sau,
hắn tự lập môn hộ, sáng lập giáo phái mới
với danh xưng là Thâu Nguyên Giáo trong niên hiệu Khang Hy. Do
tín đồ dựa theo Bát Quái mà chia thành tám khu vực, nên
mới gọi là Bát Quái Giáo. Cũng giống như các tà
phái trước đó, họ Lưu vay mượn lung tung,
xuyên tạc giáo nghĩa của Nho và Phật, pha trộn
với cách tu tiên, hít thở luyện nội công, bùa chú,
yểm đảo của Đạo Giáo. Năm Càn Long 37
(1172), Vương Luân của Bát Quái Giáo lập ra chi phái
Thanh Thủy, tự xưng Đế, dấy loạn,
bị Hiệp Biện Đại Học Sĩ Thư Hách
Đức dẹp yên. Trong niên hiệu Gia Khánh, Lưu Công
lập ra chi phái Ly Quái Giáo, rồi Lâm Thanh lập ra chi phái
Thiên Lư Giáo. Ngày 15 tháng Chín, Lâm Thanh cấu kết với
bọn hoạn quan, dẫn hai trăm giáo chúng tấn công
Tử Cấm Thành. Vào năm đầu triều
Đạo Quang (1821), giáo chủ Bát Quái Giáo là Ngô Đắc
Vinh bị bắt, bị triều đ́nh xử tử. Mă
Vạn Lương lên làm giáo chủ. Đến đời
con Mă Vạn Lương là Mă Tấn Trung làm giáo chủ,
đă đổi tên đạo thành Minh Thiên Giáo, tôn Lưu
Công là “vua Nghiêu chuyển thế”.
Hồng Đăng Chiếu (đúng ra là
Hồng Đăng Tráo, 紅燈罩, tức chụp đèn
đỏ), là một tà phái tàn dư của Bạch Liên
Giáo, thường được biết với tên gọi
Nghĩa Ḥa Đoàn, hoặc Quyền Phỉ. Do họ
thường dùng đèn đỏ để làm hiệu
lệnh. Từ Hy Thái Hậu nghe lời sàm tấu của
lănh tụ bọn này, dùng họ để tấn công liên
quân tám nước Tây Phương. Lũ trai tráng của
Quyền Phỉ cởi trần, bôi mặt vằn vện,
nhảy loi choi, tay vung đèn đỏ, tay cầm đao,
niệm chú ầm ĩ, cùng nhau ném lồng đèn lên
trời, cứ nghĩ là giáo chủ của chúng sẽ giáng
lửa trời đốt sạch liên quân Âu Tây, nhưng
đèn rơi phịch xuống đất, cháy rụi,
chẳng thấy lửa trời ở đâu cả! Quân Âu
Tây sau cơn hoảng hốt trước một lũ mắc
bệnh thần kinh ấy, đă giương súng bắn.
Chỉ một loạt đạn đầu tiên, quân
Nghĩa Ḥa Đoàn tử thương như rạ, ùa nhau
tháo chạy như vịt.
[19] Tứ cú là Có, Không, Vừa Có
Vừa Không, Chẳng Phải Có Chẳng Phải Không.
[20] “Tam
sơn” có hai cách hiểu:
1) Một, chính là ba ngọn núi có phong
cảnh đẹp nhất Trung Hoa tức là Hoàng Sơn
(thuộc thành phố Hoàng Sơn, tỉnh An Huy), Lư
Sơn (thuộc thành phố Cửu Giang, tỉnh Giang Tây),
và Nhạn Đăng Sơn (thuộc thành phố Ôn Châu,
tỉnh Chiết Giang).
2) Hai, tam sơn chính là ba ngọn núi có chư
tiên ngự theo thần thoại của Đạo Giáo,
tức Bồng Lai, Doanh Châu và Phương Trượng.
Ngũ Nhạc là năm quả núi lớn
được coi là phân định ranh giới Trung Nguyên
gồm Thái Sơn (Đông Nhạc, thuộc huyện Thái An,
tỉnh Sơn Đông), Hành Sơn (Nam Nhạc, thuộc
thành phố Hành Dương, tỉnh Hồ Nam), Hoa Sơn
(Tây Nhạc, thuộc thành phố Vị Nam, tỉnh
Thiểm Tây), Hằng Sơn (Bắc Nhạc, c̣n gọi là
Thường Sơn, thuộc huyện Hồn Nguyên tỉnh
Sơn Tây) và Tung Sơn (Nam Nhạc, thuộc thành phố
Đăng Phong tỉnh Hà Nam).
[21] “H́nh nhi thượng học” (形而上學) có hai thứ ư nghĩa:
- Một
là cách nh́n sự vật dựa trên những yếu tố
cô lập, phiến diện, tĩnh lặng, biểu hiện
bề ngoài.
- Hai là một
ngành triết học dựa trên sự nghiên cứu hoàn toàn
cậy vào trực giác.
Đôi
khi chữ này cũng được dùng để dịch
khái niệm Metaphysics, tức một ngành triết học cổ
của Hy Lạp được hoàn thiện bởi
Aristotle.
[22] Otto Struve (1897-1963), tên
đầy đủ là Otto Lyudvigovich Struve, người
gốc Đức, nhưng sinh trưởng tại Ukraina.
Ông sinh trưởng trong một gia tộc lỗi lạc
về thiên văn học: Cha ông là Ludwig, ông nội là Otto
Wilhelm von Struve, ông cố là Friedrich George Wilheklm và bác là Karl
Hermann Struve đều là những nhà thiên văn học
lừng danh trong suốt hai thế kỷ. Ông tốt
nghiệp Cao Học tại đại học Kharkiv
(Ukraina), nói thông thạo tiếng Nga và Đức, và đă
theo cha nghiên cứu thiên văn từ lúc mới tám tuổi.
Năm 1920, để tránh né sự đàn áp của chính
quyền Bolshevik Liên Sô, ông thành công trốn thoát từ
Sevastopol sang Thổ Nhĩ Kỳ, sống nghèo khổ,
lưu lạc, chạy ăn từng bữa. Không kiếm
được việc tại Đức, ông viết
thư gởi giám đốc đài quan sát Yerkes tại
Wisconsin, và được giám đốc đài là Edwin Frost
tận t́nh giúp đỡ, bảo trợ sang Mỹ. Tuy
điều kiện sống rất cực nhọc, gặp
rất nhiều trở ngại v́ kém tiếng Anh, chỉ
trong năm tháng sau, ông đă khám phá ra một ngôi sao trong chùm
sao Gamma Ursae Minoris. Sau đó, lần lượt có những
cống hiến mới, và thành công bảo vị luận án
Tiến Sĩ tại đại học Chicago. Ông đă góp
phần sáng lập đài quan sát McDonald (tại núi Locke,
Texas, trực thuộc đại học Austin). Ông đă
bảo trợ và hướng dẫn nhiều sinh viên
trẻ, về sau đều trở thành những khoa
học gia nổi tiếng của Mỹ như Gerard Kuiper,
Gerhard Herzberg v.v… Sau cùng, ông chuyển về đại
học UC Berkley, dạy học và nghiên cứu tại đó
cho đến khi mất. Tuy bận rộn với nhiều
sự vụ, công tŕnh nghiên cứu của ông rất
đáng nể. Ông đă xuất bản chín trăm bài nghiên
cứu và viết nhiều đầu sách về thiên văn
học.
[23] “Ngũ
tạng” là tim, gan, tỳ (lá lách), phổi, thận, “lục phủ” là mật, bao
tử, ruột già, ruột non, tam tiêu và bàng quang (bọng
đái). Tứ thể chính là tứ chi (tức chân và tay), do
nói gộp chung cả hai danh xưng nên bảo là “tứ chi tứ thể”.
[24] “Thiên cư” là các cơi trời c̣n
dựa vào núi Tu Di, như trời Tứ Vương Thiên,
trời Đao Lợi, trời Đâu Suất v.v…
[25] Vào năm thứ mười
(501 trước Công Nguyên) đời Lỗ Định
Công, nước Lỗ và nước Tề kết minh
giảng ḥa. Lỗ Định Công (Cơ Tống) và Tề
Cảnh Công (Khương Chử Cữu) ước hẹn
hội kiến tại Giáp Cốc. Khổng Tử
đảm nhiệm việc tổ chức. Khổng Tử
tâu với vua Lỗ cho quan Tư Mă dẫn quân theo. Quan
đại phu nước Tề là Lê Di tâu với Tề
Cảnh Công: “Khổng Khâu
chỉ hiểu lễ nghi, chẳng có dũng khí. Nếu
chúa công sai người dùng vũ lực khống chế
Lỗ hầu, nhất định sẽ được như
nguyện”. Vua Tề nghe lời. Khi yến hội cho
tấu nhạc Đông Di, lại cho ba trăm quân Đông Di
giả làm nhạc công để bắt vua quan nước
Lỗ. Đến hôm yến hội, bọn nhạc công
đeo lông, đóng khố, cầm vũ khí xông lên đài,
Lỗ Định Công hoảng sợ. Khổng Tử
chắn trước Lỗ hầu, dùng lễ nghĩa
quở trách. Vua Tề cả thẹn, lại thêm có lời
tể tướng Án Anh tán thành, vua Tề bèn cho vũ
sĩ lui ra. Lê Di tức tối, dặn nhạc công nhảy
múa và hát bài Tệ Cẩu, múa hát những điệu dâm
loạn. Khổng Tử bảo những đứa
thất phu dám cợt nhă vua chư hầu, xin nhà vua sai quan
Tư Mă nước Tề trị chúng. Vua Tề làm thinh,
Khổng Tử bèn vẫy tay ra hiệu cho quan Tư Mă
nước Lỗ chém bay đầu hai đứa nhạc
trưởng, bọn nhạc công hoảng sợ chạy
trối chết. Vua quan nước Lỗ bỏ về. Án
Anh tâu với vua Tề: “Nước Tề đă thất
lễ với Lỗ, hăy dùng thành tâm để tạ
lỗi, trả lại ruộng đất ở Vấn
Dương cho nước Lỗ”. Vua Tề nghe theo.
[26] Tam Đô chính là thái ấp
của ba nhà quư tộc lũng đoạn triều chính
nước Lỗ thời ấy. Sử thường
gọi họ là Lỗ Tam Hoàn, tức Mạnh Tôn Thị,
Thúc Tôn Thị và Quư Tôn Thị. Tổ tiên của ba nhà quư
tộc này chính là con cháu của Lỗ Hoàn Công (Cơ Doăn).
Lỗ Hoàn Công có con trưởng là Cơ Khánh Phụ,
nhưng do Khánh Phụ không phải là con của chánh
thất, nên không được lập làm thế tử.
Chánh thất của Lỗ Hoàn Công sanh được ba
người con là Cơ Đồng (về sau làm vua,
tức Lỗ Trang Công), Cơ Nha (do là con thứ hai nên
thường gọi là Thúc Nha), và Cơ Hữu (do là con út
nên thường gọi là Quư Hữu). Khi Lỗ Trang Công lên
ngôi, đă phong cho cả ba người ấy làm khanh
đại phu, nắm quyền bính. Dần dần họ
h́nh thành ba thế lực lấn áp uy quyền vua, con cháu
họ tập ấm giữ quyền, Sử gọi chung là
Mạnh Tôn Thị (con cháu Khánh Phụ), Thúc Tôn Thị (con
cháu Thúc Nha), và Quư Tôn Thị (con cháu Quư Hữu). Khổng
Tử chủ trương dùng vũ lực triệt hạ
thái ấp, doanh trại của họ và tước
quyền quân sự của họ để tập trung
chính quyền về tay vua Lỗ, nhưng không thành công.
[27] “Kho”: Ở đây là tạm
dịch chữ “hồng thiêu”(紅燒), tức là một cách nấu
đồ ăn trên lửa riu riu, sao cho gia vị thấm
vào thực phẩm. Khi nấu xong, món ăn sẽ hơi có
sắc hồng, hoặc nâu sẫm. Cách này thường
được dùng để nấu cá, thịt, nhất là
những loại hải sản. Gia vị bao gồm
gừng tươi, tỏi, ớt đỏ, hành,
đường, tương, dấm v.v…
[28] Sát trần thế giới:
Thế giới có số lượng nhiều như các vi
trần trong một cơi Phật.
[29] Đồng Thành
(桐城) là một huyện thị ở cực
Nam tỉnh An Huy, trực thuộc thành phố Khánh An. Theo
sử sách này, nơi này đă được h́nh thành
từ thời nhà Hạ. Đồng Thành văn phái là
một trường phái văn học chuyên về tản
văn đời Thanh, được sáng lập bởi
Phương Bao (giáo sư Phương Đông Mỹ chính là
cháu đời mười sáu của Phương Bao.
Cụ Phương Đông Mỹ tên thật là Phương
Tuần, Đông Mỹ là tên tự). Vua Khang Hy rất tôn
kính Phương Bao, từng mời Phương Bao làm
cố vấn riêng trong thư viện nội cung của
ḿnh. Những người kế tục như Lưu
Đại Khôi và Diêu Năi đă đưa trường phái
này lên tới đỉnh cao, khiến cho tác phẩm của
họ được lưu truyền rất rộng răi.
V́ thế, Phương Bao, Lưu Đại Khôi và Diêu Năi
được tôn xưng là Đồng Thành Tam Tổ. Một
trong những người kế thừa nổi tiếng
của Diêu Năi là Phương Đông Thụ. Tư
tưởng chủ yếu của Phương Bao là “nghĩa pháp”, tức là dùng văn
chương để truyền đạt đạo
nghĩa, chủ yếu dựa theo quan điểm
đạo nghĩa của Châu Hy và Khổng Mạnh.
[30] Bài thơ Khả Thán (đáng
than) của Đỗ Phủ mở đầu bằng hai
câu “thiên thượng phù vân
như bạch y, tư tu cải biến như
thương cẩu” (天上浮雲如白衣,斯須改變如蒼狗) (trên trời mây nổi như
áo trắng, bỗng chốc biến thành con chó xanh).
[31] “Giới
thần” ở đây là những vị thiện thần
hộ tŕ giới đàn và những người chuyên tinh
giữ giới.
[32] Xét ra, ông Đoàn Thụ
Nghĩa hỏi câu này lặp lại hai lần, chỉ
sửa đổi từ ngữ hơi khác chút ít, nhưng
lời đáp của cụ Lư Bỉnh Nam khác nhau.
[33] Để giải thích quẻ
Càn, phần Thoán Từ của kinh Dịch giảng “Càn: Nguyên, hanh, lợi, trinh”.
Các nhà chú giải thường giảng như sau: Có sức
sáng tạo lớn lao là Nguyên, thông suốt và thuận
tiện là Hanh, lợi ích thích đáng là Lợi, ngay
thẳng và bền vững là Trinh. Cụ Lư Bỉnh Nam
đă mượn thứ tự của bốn chữ này
để diễn giải sự tuần hoàn vô tận.
[34] Utopia là một xứ lư
tưởng hoàn thiện ở Đại Tây Dương
được nêu ra trong tác phẩm Utopia của Thomas More.
Utopia được ghép bởi hai từ ngữ Ou (không có)
và Tópos (nơi chốn) trong tiếng Hy Lạp. Như
vậy, Utopia có nghĩa là “nơi không tồn tại”.
[35] Khả Hăn (Khan, Khaan, Khagan, Kağan, hoặc Qagan) vốn là
một tước hiệu trong tiếng Mông Cổ,
tương đương với “hoàng đế”. Về
sau, các sắc dân du mục khác cũng bắt chước
dùng theo, nhất là các sắc dân thuộc nhóm Turkic (như
Turkmen, Azerbaijan, Kamyk, Tatar, Kazakh…) Tuy vậy, danh xưng này
không do người Mông Cổ đặt ra, v́ theo sử kư,
khi chép về lịch sử của người Tiên Ty
(Xianbei), đă thấy Mộ Dung Ḥe được gọi
bằng danh xưng Khả Hăn, và các vua thuộc vương
triều Nhu Nhiên (Rouran) ở Tây Vực đă tự xưng
là Khả Hăn. Các Khả Hăn khi tỏ ư thuần phục hoàng
đế Trung Hoa, đă gọi vua Trung Hoa là Thiên Khả
Hăn.
[36] Yêm Đáp là cách người Hoa
phiên âm chữ Anda (1507-1582). Đó là tên thật của Altan
Khan (tên gọi đầy đủ là Borjigin Barsboladiin
Altan). Ông này là thủ lănh của bộ tộc Mông Cổ
Thổ Mặc Đặc (Tümed), là
cháu nội của Đạt Yên Khả Hăn (Dayan Khan),
tức là hậu duệ của Thành Cát Tư Hăn, thuộc
thị tộc Borjigin. Anda là một tù trưởng hùng
mạnh nhất, từng trấn áp, sát nhập các bộ
tộc Mông Cổ khác, trở thành người có lực
lượng hùng mạnh nhất vùng quan ngoại.
Để mua chuộc, hoàng đế Long Khánh (tức Minh
Mục Tông) đă phong cho Anda làm Thuận Nghĩa
Vương. Altan Khan đặc biệt mến chuộng
Sonam Gyatso (ông này về sau được tôn là Đại
Lai Lạt Ma đời thứ ba), nên đă cho xây dựng
tu viện Thegchen Chonkhor để nghênh tiếp Sonam Gyatso từ
Tây Tạng sang Mông Cổ hoằng pháp. Sonam Gyatso đă thành
công trong việc thuyết phục Altan Khan biến Phật
giáo Tây Tạng trở thành quốc giáo của Mông Cổ.
Để tăng cường mối liên minh, Sonam Gyatso
tuyên bố chính ḿnh là hóa thân của Drogon Chogyal Phagpa (quốc
sư Mông Cổ, tức là thầy của Hốt Tất
Liệt) và Altan Khan chính là hậu thân của Hốt Tất
Liệt (Kublai, Qubilai). Chính Altan đă ban tặng mỹ
hiệu Dalai (biển cả) cho Sonam Gyatso (danh xưng
Đạt Lai Lạt Ma bắt đầu có từ đây).
Sonam Gyatso đă tích cực khuyến cáo Altan ban hành chiếu
chỉ cấm cúng tế bằng sinh vật, phá hủy các
tượng thần, chấm dứt nạn hỏa thiêu
phụ nữ khi chồng họ đă chết, nghiêm
cấm tục lệ giết súc vật tưới máu cúng
tế, đồng thời chỉ đạo công tác
dịch Đại Tạng Kinh từ tiếng Tây Tạng
sang tiếng Mông Cổ.
[37] Kể từ ngày Một tháng Tám năm
Giáp Ngọ, Nhật Bản khởi sự gây chiến
với Trung Hoa, khiến cho các nước khác thừa
cơ uy hiếp chính quyền nhà Thanh, buộc Trung Hoa
phải kư nhiều hiệp ước bất b́nh
đẳng.
[38] Ngu ư cho rằng kinh Chiêm Sát
Thiện Ác Nghiệp Báo không thể là ngụy kinh v́
những điều giảng trong đó hoàn toàn tuân theo giáo
nghĩa Duy Thức, và kinh này được tổ Ngẫu
Ích chú giải nhiều lượt. Một bậc trí
huệ mênh mông như tổ Ngẫu Ích, chắc chắn
sẽ chẳng tốn công chú giải một bộ kinh
ngụy tạo. Hơn nữa, cách chiêm sát trong ấy không
nhằm tiên đoán vận mạng cát hung như các cách chiêm
đoán thông thường trong thế tục, mà nhằm
khuyến khích người học Phật nhận biết
nghiệp chướng của chính ḿnh nặng nề
đến đâu ḥng dốc sức tấn tu.
[39] Tam sanh (三牲) thường
bị đọc trại thành “tam xên” là những con vật
được sử dụng trong cúng tế theo lễ nghi
thời cổ, biểu thị ư nghĩa dâng lên thần
thánh, tổ tiên những thứ ngon nhất trong giới
động vật. Thông thường, tam sanh bao gồm ḅ,
dê, lợn. Đôi khi thay thế bằng chó, gà, vịt, hoặc
đôi khi bằng bất cứ ba món thịt nào đó (chẳng
hạn, thịt heo, cua và tôm). Lễ nghi Nho gia c̣n chia cỗ
bàn cúng tế thành Thái Lao (太牢) và Thiếu Lao (少牢). Theo đó, vào đời Châu, chỉ thiên tử mới
được phép dùng Thái Lao để cúng Thượng
Đế, Ngũ Đế, nhật, nguyệt. Trong cỗ
Thái Lao, dùng đến sáu động vật khác nhau. Khi
chư hầu lấn át thiên tử nhà Châu, bèn có quy định:
Thiên tử nhà Châu dùng cỗ bàn Thái Lao gồm chín cái đỉnh,
tám mâm, chín khay, hai mươi sáu loại đậu, trong khi
chư hầu chỉ dùng bảy đỉnh, bảy mâm,
mười sáu loại đậu v.v.. Về sau, Thái Lao
đơn giản hóa thành dùng ba con vật là trâu (ḅ), dê và lợn
để nguyên con (sau khi đă giết, mổ ruột và cạo
lông). Thiếu Lao chỉ dùng dê và lợn để cúng vốn
là quy định dành cho chư hầu và khanh đại phu.
Đạo Giáo lại quy định tam sanh là gà để
nguyên con không chặt thành miếng (có thể thay bằng vịt,
vẫn để nguyên con), một tảng thịt heo to, và
một con cá to có vảy. Cá có thể thay bằng mực ống
loại to, nhưng không được dùng mực trong cỗ
tế trời và chư thần cao cấp.
[40] Đây là một công án trong nhà
Thiền: Ḥa thượng Vô Trước từng gặp
Văn Thù Bồ Tát tại Ngũ Đài Sơn. Bồ Tát
hỏi Sư từ đâu đến, thưa: “Từ
phương Nam đến”. Bồ Tát lại hỏi:
“Phật giáo ở phương Nam được hộ tŕ
ra sao?” Sư thưa: “Thời Mạt Pháp không có ai giữ
giới luật”. Văn Thù Bồ Tát lại hỏi:
“Rốt cuộc có bao nhiêu tỳ-kheo?” Ḥa thượng Vô
Trước thưa: “Có khoảng từ ba trăm
đến năm trăm vị”. Sư lại hỏi
Bồ Tát: “T́nh huống ở phương Bắc như
thế nào? Bồ Tát đáp: “Thánh nhân, phàm phu đều có,
rồng rắn hỗn tạp ở chung với nhau”. Ḥa
thượng Vô Trước bèn hỏi: “Ở đây có bao
nhiêu vị tỳ-kheo?” Bồ Tát đáp: “Tiền tam tam, hậu tam tam”. Theo pháp sư Thánh
Nghiêm, câu nói ấy có nghĩa là trước và sau
đều từa tựa như nhau.
[41] Hoài Đế là danh xưng
thường dùng để gọi những vị vua
bị phế lập, bắt giam. Tấn Hoài Đế tên
thật là Tư Mă Xí, con trai thứ hai mươi lăm
của Tấn Vũ Đế (Tư Mă Viêm). Ông
được đưa lên làm vua sau khi hoàng thất nhà
Tấn nội loạn (sử thường gọi là
loạn bát vương), nhưng quyền hành thật
sự nằm trong tay quyền thần Tư Mă Việt. Khi
quân Ngũ Hồ tấn công Trung Nguyên, Thạch Lặc
tấn công kinh đô Lạc Dương nhà Tấn, Hoài
Đế bị bắt sống. Mùa Xuân năm 313, vua Hán
Triệu là Hán Liệt Tông (Lưu Thông) đăi tiệc sai
Hoài Đế rót rượu, các cựu thần nhà Tấn đều
ứa nước mắt khóc lóc, bị Lưu Thông giết
chết. Cùng năm đó, Hoài Đế bị Lưu Thông
hạ độc giết chết.
Tấn Mẫn Đế (Tư Mă Nghiệp) là cháu
gọi Tấn Hoài Đế bằng chú. Khi Hoài Đế
bị bắt, Tư Mă Nghiệp chạy thoát, trốn
về huyện Mật, nương cậy cậu là Tuân
Phiên. Sau khi cựu tướng nhà Tấn là Sách Lâm và
Giả Thất chiếm lại Trường An, bèn đón
Tư Mă Nghiệp về, tôn làm Thái Tử. Sau khi Hoài
Đế bị giết chết, Tư Mă Nghiệp
được Tư Mă Việt tôn lên làm vua. Năm 316,
tướng Hán Triệu là Lưu Diệu tấn công
Trường An. Cùng đường, Tấn Mẫn
Đế phải mang ấn tín ra ra hàng, bị giải về
bị B́nh Dương, bị vua Hán Triệu là Lưu Thông giáng
làm Hoài An Hầu. Về sau, cũng giống như Hoài
Đế, ông bị Lưu Thông giết chết.
[42] Bá Di họ Tử, thuộc
thị tộc Mặc Thai, là con trưởng của Á Vi vua
nước Cô Trúc. Ông có hai người em là Á Bằng và Thúc
Tề. Vua cha vốn định truyền ngôi cho Thúc
Tề, nhưng Thúc Tề cho rằng ngôi vua phải
truyền trưởng tử mới đúng luân
thường, Bá Di cũng chẳng muốn trái ư cha. Do
vậy, hai anh em trốn khỏi Cô Trúc, đến phía Tây,
sống nhờ đất nhà Châu. Khi Châu Vũ Vương
chinh phạt Trụ Vương của nhà Thương, Bá
Di và Thúc Tề tận lực can gián. Vũ Vương không
nghe, diệt nhà Thương. Hai người bất măn,
không ăn thóc nhà Châu, trốn vào ở ẩn trong núi
Thủ Dương (nay thuộc huyện Yển Sư,
tỉnh Hà Nam) là vùng núi hoang thuộc nhà Thương
trước kia, ăn vỏ cây, rau dại sống qua ngày.
Về sau, có người nói “tấc đất ngọn rau
nay đều thuộc về nhà Châu”, hai ông bèn nhịn
đói đến chết. Cô Trúc là một nước
nhỏ ở phía Bắc lănh thổ nhà Thương, nằm
bên bờ Bột Hải, bao gồm vùng đất nằm
giữa các huyện Đường Sơn, Hưng Thành,
Triều Dương, Cẩm Tây, thuộc tỉnh Liêu Ninh
hiện thời, tiếp giáp nước Yên và nuớc
Tề. Đến năm 660 trước Công Nguyên,
nước này bị liên quân Tề và Yên diệt quốc.
[43] Vua Nghiêu nghe tiếng vua
Thuấn hiền đức, bèn gọi đến hỏi
chuyện, nhường ngôi và gả con gái là Nga Hoàng và
Nữ Oanh. Khi đó, vua Thuấn chưa xin phép cha (Cổ
Tẩu) và mẹ kế.
[44] Theo Tấn Thư, Ôn Kiệu
vâng lệnh Lưu Côn xuống Giang Nam, dâng biểu khuyên
Tư Mă Duệ tức vị (lên ngôi lập ra nhà Tấn).
Khi sắp ra đi, mẹ là Thôi Thị ngăn cản, Ôn
Kiệu dứt áo ra đi. Về sau chữ “tuyệt cứ” (絕裾, dứt áo) được dùng
để chỉ thái độ kiên quyết, dứt khoát
chẳng nề hà mọi trở ngại.
[45] Nguyên văn “vô chung thực chi gian vi nhân, triêu văn đạo,
tịch tử khả hỹ” (無終食之間違仁,朝聞道夕死可矣) chúng tôi dịch câu này theo chú
giải của Khổng Dĩnh Đạt. Nhan Uyên nghèo
đến nỗi cơm phải đựng trong giỏ
tre, nước uống chứa trong quả bầu, không có
gối, phải co cánh tay để gối đầu.
[46] Hà Tăng (199-279) tự là
Dĩnh Khảo, người xứ Dương Hạ
nước Trần, lần lượt làm quan cho nhà Tào
Ngụy rồi đến nhà Tấn, từng giữ
chức Thái Tể dưới thời Tấn Vũ
Đế (Tư Mă Viêm). Ông này tính sống xa hoa, phung phí. Màn
trướng, quần áo, các thứ trang sức đều
dùng lụa gấm hạng tốt nhất, mỗi bữa
ăn đều sang và nhiều hơn bậc vương
hầu, chẳng kém ǵ hoàng đế. Ngay cả hoàng
đế khi tiếp khách, nếu không kịp chuẩn
bị đồ ăn, cứ sai người đến
nhà ông ta lấy về!
[47] Nguyên văn “phấn bạch đại lục” (粉白黛綠) vốn là một thành ngữ phiếm chỉ gái
đẹp, v́ thuở trước để trang điểm,
nữ nhân đánh phấn trắng, dùng “đại” (黛) là một thứ than đen để tô lông mày cho
đậm, ánh lên sắc xanh.
[48] Vào thời Đông Hán,
Dương Chấn làm quan Thái Thú, thanh khiết, liêm chánh.
Huyện lệnh Xương Ấp là Vương Mật do
được Dương Chấn tiến cử, bèn
nửa đêm mang mười cân vàng đến biếu
với niềm mong mỏi Dương Chấn sẽ nói
giúp thêm ḥng dễ tăng chức. Dương Chấn
cự tuyệt, Vương Mật dụ dỗ: “Nửa
đêm nhận vàng, có ai biết!” Dương Chấn
quở trách: “Trời biết,
đất biết, tôi biết, ông biết, làm sao tôi có
thể nhận thứ bất nghĩa này”. Từ
chuyện này có thành ngữ “khước
kim mộ dạ” (ban đêm chối vàng).
[49] Đây là một sự kiện
nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa thường
gọi là Hồng Môn Yến. Hồng Môn ở ngoài thành Hàm
Dương kinh đô nước Tần. Năm 206, Lưu
Bang vâng lệnh Sở Hoài Vương tấn công Quan Trung,
vượt ải Hàm Cốc, vua Tần là Doanh Tử Anh
đầu hàng. Hạng Vũ kéo quân đi sau, không chiếm
được Quan Trung, nên tức giận tấn công
Lưu Bang. Tướng Anh Bố của Hạng Vũ
đánh tan quân Lưu Bang, Lưu Bang phải kéo quân về
đóng ở Bái Thượng. Hạng Vũ nghe bộ
tướng của Lưu Bang là Tào Vô Thương mật
báo Lưu Bang chiếm đoạt ngân khố, chuẩn
bị tự lập làm vua, lại nghe Phạm Tăng phân
tích: “Lưu Bang là kẻ tham tài, háo sắc, nay vào Hàm
Dương không chiếm đoạt của cải của
bá quan và dân chúng, không bắt phụ nữ về hưởng
lạc, tức là giả nhân giả nghĩa để thu
phục nhân tâm, dă tâm chẳng nhỏ”. Do vậy, Hạng
Vũ kiên quyết diệt Lưu Bang, nghe theo kế
Phạm Tăng mời Lưu Bang đến dự tiệc
tại Hồng Môn để thừa cơ giết
chết. Hạng Bá là chú của Hạng Vũ, do thân quen với
Trương Lương, nên lẻn đến báo với
Trương Lương, bảo Lưu Bang hăy trốn
đi. Trương Lương đối đăi Hạng Bá
trọng hậu, giả vờ bận việc để
Hạng Bá ở một ḿnh trong thư pḥng. Hạng Bá
thấy thư giả mạo danh nghĩa Phạm Tăng
mật báo với quân Hán, bèn ngờ Phạm Tăng phản
bội Hạng Vũ. Nghe Hạng Bá báo lại, Hạng
Vũ đem ḷng nghi ngờ Phạm Tăng. V́ thế, trong
bữa tiệc, Phạm Tăng nhiều lần liếc
mắt ra hiệu cho Hạng Vũ phát lệnh sát hại
Lưu Bang, thậm chí ném chén ngọc làm hiệu ba lần,
Hạng Vũ vẫn do dự, không quyết. Lại
thấy Lưu Bang khúm núm, chịu lép, nịnh nọt Hạng
Vũ, tỏ dấu hiệu thần phục, cho nên
Hạng Vũ không nỡ giết. Không biết làm sao,
Phạm Tăng bèn bảo em họ Hạng Vũ là Hạng
Trang múa kiếm giúp vui, để giả vờ lỡ tay
đâm chết Lưu Bang (Bái Công). Thấy vậy, Hạng
Bá cũng xin góp vui rút kiếm đấu cùng Hạng Trang,
dùng thân ḿnh che chở Lưu Bang, khiến cho Hạng Trang
không sao hại được Bái Công. Trương
Lương lập tức rời bàn tiệc, báo tin cho
tướng quân Phàn Khoái biết. Phàn Khoái uy vũ, vào
trướng không sợ sệt, trừng mắt nh́n
Hạng Vũ, khiến cho Hạng Vũ kính phục,
gọi là ‘tráng sĩ’. Thừa cơ, Lưu Bang giả
vờ đi nhà xí rồi đào tẩu. Trương
Lương lại dâng lễ vật, khiến cho Hạng
Vũ mê đắm, quên khuấy chuyện phải giết
Lưu Bang.
[50] Chúng tôi chẳng biết ông Tiêu
này muốn nói điều ǵ qua chữ này, do nguyên văn
viết như vậy, nên cứ giữ như vậy!
[51] Kim Thánh Thán (1608-1661) vốn có
tên là Kim Nhân Thụy, tên cúng cơm là Kim Thái, tên tự là
Thánh Thán, thường tự xưng là Lặc Am pháp sư,
người xứ Tô Châu, là một nhà phê b́nh văn học
trứ danh cuối đời Minh, đầu đời
Thanh. Ông có thi tài lẫn văn tài mẫn tiệp, viết
chữ theo lối Thảo hết sức đẹp
đẽ và cuồng phóng. Tính t́nh khá kiêu ngạo, thích
học Phật, nhưng lại mê cầu cơ, tự coi
ḿnh là bậc tài tử. Lời phê b́nh của ông rất
đặc sắc, độc đáo, nên rất
được độc giả thuộc các nước
chịu ảnh hưởng Hán học ưa chuộng, t́m
đọc. Năm 1661, huyện lệnh huyện Ngô là
Nhậm Duy Sơ truy lùng những kẻ thiếu thuế,
đánh đập dân chúng tàn nhẫn, vét sạch kho dự
trữ ở Thường B́nh, khiến cho nhân sĩ Tô Châu
phẫn nộ. Đầu tháng Ba, Kim Thánh Thán và hơn
một trăm nhân sĩ tụ tập tại miếu
thờ Khổng Tử, mượn cớ truy niệm vua
Thuận Trị để đọc những bài văn mô
tả nỗi oán hận, tŕnh cáo trạng lên nha môn Tuần
Phủ Giang Tô là Châu Quốc Trị đ̣i băi chức
Nhậm Duy Sơ. Châu Quốc Trị do bao che cho Nhậm Duy
Sơ liền bắt giam mười một người,
tâu lên triều đ́nh là nho sĩ Tô Châu kháng thuế,
chống đối triều đ́nh. Kim Thánh Thán bị phán
tội cầm đầu, bị chặt đầu vào ngày
Bảy tháng Tám năm ấy. Trước khi bị chém
đầu, ông thản nhiên hướng về người
nhà, ngâm: “Liên tử tâm trung
khổ, lê nhi phúc nội toan” (Tim hạt sen vẫn
đắng, ruột quả lê vẫn chua). Cả nhà Kim Thánh
Thán bị sung công tài sản, người nhà bị đày
đi Măn Châu làm lính.
[52] Lục Tài Tử Thư (hay
gọi tắt là Lục Tài) là sáu tác phẩm văn học
được Kim Thánh Thán đánh giá là trác tuyệt trong
văn chương Trung Hoa. Theo thứ tự lần
lượt là sách Trang Tử của Trang Châu, Ly Tao của
Khuất Nguyên, thơ Đỗ Phủ, Thủy Hử
của Thi Nại Am, và Tây Sương Kư của Vương
Thực Phủ.