Phật Học Vấn Đáp Loại Biên
Quyển Trung
佛學問答類編
Phần 4
Lăo cư sĩ
Lư Bỉnh
Chuyển ngữ:
Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
(theo bản in của
Lư Bỉnh Nam Lăo Cư Sĩ Toàn Tập Biên Tập Ủy
Viên Hội, Đài Loan, 2007)
Giảo chánh:
Đức Phong và Huệ Trang
* Hỏi: Bỉ
nhân ngẫu nhiên xem một số báo Bồ Đề Thụ.
Xem xong, có vài câu hỏi viết trong trang sau. Kính xin hăy giải
đáp bằng thư tín. (Lâm
tiên sinh hỏi)
Đáp:
Đối với mục vấn đáp trong tạp chí của
tệ xă, ngoại trừ những câu hỏi thuộc về
công phu bí mật cá nhân, nhằm hữu ích cho mọi người,
[mọi câu hỏi] đều được nhất loạt
[phúc đáp] công khai. Hơn nữa, do hạn chế bởi
thời gian và nhân lực, khó thể viết thư trả
lời từng người một được! Tôi
đă thanh minh nhiều lần, chẳng thể vâng theo lời
dặn ḍ của tiên sinh, chỉ có thể công bố bằng
cách giấu tên mà thôi!
*
Hỏi: Chẳng tin Phật giáo th́ sẽ có kết cuộc
như thế nào? Trước khi Thích Ca Mâu Ni Phật sáng lập
Phật giáo, sẽ lại biện định như thế
nào? (Lâm tiên sinh hỏi)
Đáp:
Phật là giác, tức là dùng trí huệ để giác chiếu
hết thảy chân tướng của vũ trụ và nhân
sinh, chẳng bị mê hoặc trói buộc, cái tâm chẳng cảm
nhận sai lầm, lời lẽ chẳng điên đảo,
thân chẳng làm xằng bậy mà thôi! Người tin Phật
học điều này. Kẻ chẳng tin, không học những
điều này! Trước Thích Ca Thế Tôn, đă sớm
có Phật pháp; không chỉ là ngàn vị Phật hay vạn vị
Phật. Ví như thái dương mọc ở đằng
Đông, lặn ở đằng Tây là một thời kỳ
[xuất thế] của một vị Phật. Ban đêm ví
như thời kỳ chẳng có Phật; nhưng mặt trời
mọc, lặn chẳng có lúc ngừng nghỉ, Phật xuất
hiện trong cơi đời cũng giống như vậy
đó!
* Hỏi: Nơi
trang hai mươi bốn trong kỳ chín mươi sáu của
báo Bồ Đề Thụ, có nói: “Vạn vật trong vũ trụ do các duyên ḥa hợp
mà sanh”, v́ sao? Muỗi hút máu người, có phải là v́
muỗi mà sanh ra người? Lại nữa, giữa mặt
trời và trái đất có khoảng cách nhất định.
Nếu [khoảng cách ấy] quá gần, chúng ta nhất
định là sẽ bị thiêu chết! Nếu mặt trời
xa xôi, sẽ bị chết cóng. Đấy có phải là do
các duyên ḥa hợp mà sanh ra hay không? (Lâm tiên sinh hỏi)
Đáp: Xét giọng
điệu trong lời văn của tiên sinh, dường
như đă hiểu lầm chữ Duyên. Nay tôi sẽ giải
thích đại lược. Duyên (緣) có nghĩa là “cơ hội”.
Nếu cơ hội ấy khế hợp nguyên nhân nào đó,
sẽ phát sanh một loại sự vật nào đó. Chẳng
khế hợp, sẽ chẳng phát sanh. V́ thế nói: “
* Hỏi: Nơi
trang hai mươi bốn trong số báo chín mươi sáu,
tiên sinh Trần Tán Tường bàn về tánh bác ái trong Phật
giáo, đă nói: “Phật giáo không
chỉ là yêu trọn khắp nhân loại, mà c̣n yêu
thương hết thảy động vật”. Nếu
những loài như muỗi, rắn độc cũng chẳng
giết, vậy th́ nhân loại sẽ sanh tồn bằng
cách nào? Giết muỗi và rắn độc có coi là phạm
tội hay không? (Lâm tiên sinh hỏi)
Đáp:
Chuyện này đặc biệt chia thành Lư và Sự để
nói:
1) Một, nói
theo Lư, mỗi loài sanh vật đều có sanh mạng riêng.
Loài nào cũng đều ham sống, sợ chết. Con
người là như thế, mà súc vật cũng là như
thế. Trong cái nh́n của nhà Phật, chúng sanh b́nh đẳng.
Theo tư tưởng của Nho gia, vạn vật cùng sanh
tồn, chẳng làm hại lẫn nhau. Người giết
súc sanh, [nếu coi đó] chẳng phải là tội ác, [vậy
th́] súc sanh giết người cũng chẳng phải là tội
ác chớ ǵ? Nếu bảo con người mạnh mẽ,
linh thông, súc sanh yếu ớt, tối dạ, lẽ
đương nhiên là con người tồn tại, súc
sanh phải chết. Thử hỏi: Người Âu Mỹ
có vũ khí nguyên tử, tức là họ mạnh mẽ, c̣n người
ở Phi Châu và Úc Châu chẳng có vũ khí nguyên tử, tức
là yếu ớt; lẽ đương nhiên chỉ có
người Âu Mỹ tồn tại, giết sạch hết
người ở Phi Châu và Úc Châu ư?
2) Hai, nói theo Sự.
Nếu bảo muỗi và rắn có thể giết người,
do chúng đến giết ta, ta do pḥng vệ, vẫn phải
giết chúng, [điều này] xét theo t́nh vẫn c̣n suông sẻ!
Chứ nếu nói “để tính kế ngăn ngừa
trước, ắt phải t́m giết chúng trước”; vậy
th́ như báo chí hiện thời đăng tải, trong giới
thanh niên có lúc giết người, xe hơi có lúc đụng
chết người, hăy nên lập tức tính kế dự
pḥng, t́m bọn thanh niên giết sạch đi, t́m xe hơi
phá hủy hết sạch ư?
*
Hỏi: Trong Phật giáo, tôi thường thấy nhân loại
tự dùng gỗ để làm h́nh tượng chi đó, bảo
đấy là vị thần nào đó. Sau đó, lễ bái.
Đấy chẳng phải là mê tín ư? Lại nữa, nếu
có thiên tai phát sanh, vị Phật nào đó bị đốt
cháy hoặc bị tổn hoại, há chẳng phải là
chính ḿnh c̣n khó bảo toàn, làm sao có thể bảo vệ
người khác cho được? (Lâm tiên sinh hỏi)
Đáp:
Đối với câu hỏi này, vào mấy năm trước,
tạp chí này đă giải đáp tường tận. Tôi
tính chẳng trả lời, nhưng v́ tiên sinh hùng hổ chê
trách, nên bèn cẩn trọng giải thích. Nhân loại dùng gỗ
làm tượng thần, mỗi dân tộc có cách nói riêng, trọn
chẳng phải là hoàn toàn thuộc về Phật giáo, tại
hạ chẳng tiện bàn luận tràn lan. Nay chỉ bàn về
chuyện dùng gỗ làm tượng Phật. Bất quá, [tạo
tượng] để biểu trưng, thật sự chẳng
phải là cầu tượng gỗ ấy che chở con
người. Như di tượng của Tổng Lư, hoặc
mộc chủ (bài vị) trong các gia đ́nh Trung Hoa, bia
đá trước mộ, quốc kỳ của quốc gia
v.v… Những thứ ấy có lúc bị thiêu hủy hoặc
tổn hại, bản thân chúng đă khó thể bảo tồn,
làm sao có thể che chở con người? Hướng về
những thứ ấy lễ bái, há cũng chẳng phải
là mê tín ư?
* Hỏi: Đệ
tử đă quy y Tam Bảo, c̣n chưa thọ giới, v́
sau khi đă thọ giới, cần phải tuyệt đối
vâng giữ giới điều, chẳng thể không suy xét
cẩn thận. Ví như giới sát, tông chỉ vốn đặt
nền tảng trên ḷng Từ. Nếu nói “chúng sanh đều có Phật tánh”, những loài
trùng có hại như muỗi, ruồi v.v… cũng có thể
thành Phật, tôi ôm ḷng hoài nghi sâu xa. Con người là “vạn vật chi linh”, niệm
Phật mà có thể niệm tới mức nhất tâm bất
loạn, vẫn cần phải hành các pháp trợ tu. Nếu
tu những pháp môn khác, càng khó đạt thành tựu. Những
loài trùng có hại như ruồi, muỗi v.v… đă chẳng
thể nghe pháp, lại chẳng gắng sức tu hành. Nếu
bảo [thân ruồi, muỗi] là báo thân của chúng trong hiện
tại, nhưng do chúng chẳng biết tu phước,
đời sau làm sao tốt đẹp hơn đời hiện
tại cho được? Lại nữa, nếu đối
với những loài trùng gây hại ấy, cũng dùng nguyên
tắc “lợi sanh” để bảo vệ chúng, bao nhiêu
năm sau, nhân loại sẽ bị đào thải, [thế
giới này sẽ] trở thành thế giới của loài
trùng có hại mất rồi! Đệ tử kiến
văn ít ỏi, chỉ v́ từ những kinh sách thường
xem, chỉ thấy khi đức Phật thuyết pháp, có
đại chúng thuộc ngũ thừa tham dự, nhưng chưa
thấy những loài trùng có hại như muỗi, ruồi
v.v… nghe giảng! Do vậy, nẩy sanh nghi vấn (kinh Kim
Cang tuy có câu “nhược noăn
sanh...” (hoặc là thai sanh), đấy có thể là một
cách nói giả định đó chăng?) (Mạnh Hiếu Quang hỏi)
Đáp:
Cư sĩ đă biết “giới
sát” có cơ sở là ḷng Từ. Ruồi, muỗi là báo
thân, đă đọa làm súc sanh, lại chẳng có cơ hội
nghe pháp giải thoát. Đó là điều bất hạnh nhất
trong các nỗi bất hạnh, càng thêm đáng thương!
Ngược ngạo giết chúng, khác nào [thấy kẻ khác]
đă bị té giếng c̣n quăng đá xuống? Người
học Phật hăy nên hiểu ư nghĩa “b́nh đẳng”.
Con người coi muỗi, ruồi là loài trùng có hại, các
động vật há chẳng coi con người là loài trùng
gây hại to lớn ư? V́ đối với các loài sanh bằng
thai, bằng trứng, bằng hơi ẩm, hoặc hóa
sanh, dẫu chẳng tổn hại con người, người
ta vẫn chẳng lúc nào không t́m trăm phương ngàn kế
giết hại! Ai là kẻ gây hại to lớn hoặc nhỏ
nhoi, có thể suy ra được! Nếu bảo sau bao
nhiêu năm nữa, [địa cầu] sẽ trở thành
thế giới của loài trùng gây hại, đối với
những câu hỏi như vậy, trong quá khứ, chúng tôi
đă giải thích nhiều lần. Mong hăy tra duyệt trong
sách Phật Học Vấn Đáp Loại Biên, sẽ biết.
*
Hỏi: Có người nhờ tôi hỏi: “Nếu người
trong thiên hạ tuyệt dục, một trăm năm sau, sẽ
chẳng c̣n nhân loại nữa, làm như thế nào đây?”
(Châu Huệ Đức hỏi)
Đáp:
Chẳng hề có chuyện như đă hỏi! [Bởi lẽ],
ai có thể khiến cho người trong thiên hạ thảy
đều tuyệt dục hết? Nghĩ kỹ ư người
hỏi, [sẽ thấy] chẳng ngoài [dụng ư] báng Phật
và bào chữa dục vọng mà thôi! Do có lắm nỗi hiểu
lầm, cho nên mới có câu hỏi ấy. Người tu
theo Phật giáo, chia thành tứ chúng xuất gia và tại gia.
Người xuất gia làm thầy, giới luật nghiêm ngặt,
họ chiếm thiểu số, chẳng bị bận ḷng
bởi vợ con và tài sản, chuyên môn “thượng hoằng, hạ hóa” (trên hoằng
dương chánh pháp, dưới hóa độ chúng sanh), giới
luật chế định đoạn dục. Hàng tại
gia làm đệ tử, giới luật khoan dung hơn, chiếm
đa số. Mỗi người hành theo chánh nghiệp (nghề
nghiệp chánh đáng) để duy tŕ gia đ́nh, tùy duyên tự
hành, hóa tha, được phép kết hôn. Người hỏi
chẳng hiểu rơ, tưởng lầm “hễ học Phật,
bèn đồng loạt đoạn dục”, nêu ra chuyện
nhân loại tuyệt diệt, dùng
chuyện đó để công kích. Kẻ hèn này cũng muốn
nêu câu hỏi ngược lại, xin hăy trả lời! Lo lắng
nhân loại bị tuyệt diệt, chắc là trước
hết bắt nguồn từ tự thân. Thử hỏi: Hằng
ngày dục t́nh phóng túng, thân có thường tồn tại
hay không? Nếu nói “v́ mong lưu lại thế hệ mai sau”,
[vậy th́] lưu lại thế hệ mai sau có v́ dân tộc,
quốc gia hay không? Xin trước hết hăy nghĩ xem
chính ḿnh đối với dân tộc và quốc gia như thế
nào? Nếu đùn đẩy trách nhiệm cho đời sau
xa xôi, đó sẽ là chuyện xa vời vậy! Nói sâu
hơn nữa, cái thật sự khiến cho con người
tuyệt diệt trong hiện thời chính là bom nguyên tử,
sao chẳng lo âu chuyện đó?
*
Hỏi: Có người nhờ tôi hỏi: “Trâu có thể cày
ruộng, chó có thể canh chừng ban đêm, cố nhiên là
hăy nên thương xót chúng. C̣n lợn, dê chẳng làm
được ǵ, chẳng ăn thịt chúng nó, có ích chi
đâu?” (Châu Huệ Đức
hỏi)
Đáp:
Lông lợn để xuất khẩu, lông dê dùng để
dệt áo, dệt thảm. Chúng đă nuôi con người, lại
c̣n sanh lợi, thật sự là có đại ân, lại chẳng
có chút tội nào! Giết đi là bất nghĩa, ăn thịt
chúng là bất nhân. Nếu viện cớ “v́ chẳng có mà
năng lực ǵ, đáng nên giết để ăn”, vậy
th́ người tàn phế, người già cả, kẻ
đui, điếc, câm, ngọng, những kẻ ăn mày,
lưu manh v.v… sao không nhất loạt giết để
ăn vậy?
*
Hỏi: Nho gia của Trung Hoa khẳng định nhân sinh, khẳng
định giá trị sanh mạng và luân lư đạo hiếu,
[đó chính là điều] mỗi xă hội phải nên tiếp
nhận, thế mà Phật giáo phản đối! Trong sách
Luân Lư Học Đại Cương do ông Tạ Ấu
Vĩ biên soạn, có phê b́nh như thế này: “Địa vị
của chữ Hiếu trong văn hóa Trung Hoa có thể nói là
hoàn toàn khẳng định giá trị của sanh mạng.
Đấy là thái độ nhân sinh căn bản nhất của
người Trung Hoa, hết sức khác biệt thái độ
nhân sinh trong Phật giáo Ấn Độ! Phật giáo coi
sanh mạng xét theo bản chất là ác, đầy dẫy
đau khổ và tội ác, tức là bản thân sanh mạng
trở thành vật vô giá trị, chẳng cần coi trọng,
cũng chẳng cần phải yêu thương, bảo vệ.
V́ thế, thái độ nhân sinh của Phật giáo chính là
phủ định sanh mạng, phủ định giá trị
của sanh mạng! Phật giáo chủ trương vượt
thoát biển sanh tử, chẳng coi trọng cuộc sống
thường ngày của nhân loại, càng chẳng coi trọng
quan hệ nam nữ của nhân loại, mà coi chuyện tu
hành, xuất thế, làm ḥa thượng là cảnh giới
cao nhất của con người, chính là v́ xuất phát từ
thái độ phủ định giá trị của sanh mạng
mà ra! Nhưng nói theo luân lư học, thái độ ấy là sai
lầm! Luân lư học ắt cần phải khẳng định
giá trị của đời người. Chẳng khẳng
định giá trị của đời người, chúng
ta sẽ chẳng cần phải bàn đến luân lư, bàn
đến đạo làm người chi nữa! Bàn đến
đạo làm người, tức là khẳng định
làm người có giá trị, cũng tức là khẳng
định sanh mạng có giá trị. Chủ trương và
hành vi thực tế của Phật giáo cũng mâu thuẫn.
Bởi lẽ, nếu sanh mạng thật sự vô giá trị,
vậy th́ hành vi đáng nên có sẽ là tự sát. Chẳng tự
sát mà phải tu hành, phải làm ḥa thượng, chuyện
này khẳng định giá trị của sanh mạng. Bởi
lẽ, ngươi chẳng sanh tồn, tức là chẳng
có sanh mạng, há ngươi có thể tu hành ư?
Ngươi có thể làm ḥa thượng được
chăng? Ai nấy đều làm ḥa thượng, cuộc sống
ḥa thượng của ngươi lại có thể duy tŕ được
chăng? Có thể thấy là từ hành vi trong thực tế
của Phật giáo, giá trị của sanh mạng vẫn
được khẳng định!” (Trần Nhất Sĩ hỏi)
Đáp:
Bọn chúng ta chính v́ học hỏi mà đàm thoại. Hễ
thảo luận, phải nên căn cứ theo sách vở
để nói thẳng thừng, nhưng nói thẳng thừng,
sợ sẽ thiếu uyển chuyển, mong Ngài và Tạ
tiên sinh đều rộng lượng dung thứ. Trong
đoạn bàn luận này của Tạ tiên sinh, điều
đáng chú ư nhất là nêu ra sự thật th́ ít, mà phê b́nh
th́ nhiều! Ít sự thật, nhiều phê b́nh, lời phê
b́nh ấy càng giống như bắn tên chẳng có mục
đích! Tôi chia ra đại lược để trả lời
như sau:
1) Ông Tạ nói:
“Chữ hiếu trong văn hóa Trung Hoa và Phật giáo cực
bất đồng” (điều này thuộc loại phê
b́nh). Tôi giải đáp: Cực bất đồng chính là cực
tương phản. So sánh cặn kẽ kinh điển của
hai giáo Nho và Phật, chưa thấy chỗ nào tương
phản. Chỉ có một chuyện khác biệt là đối
với chuyện truy viễn (追遠, tưởng nhớ người
đă khuất, tưởng nhớ cội nguồn), Nho coi
trọng cúng tế, Phật coi trọng siêu độ mà
thôi.
2) Ông Tạ nói: “Phật
giáo coi bản chất của sanh mạng thuộc về tội
ác (đây là phê b́nh), là đầy ắp đau khổ” (đây
là sự thật). Tôi giải thích: Cách nh́n của kinh Phật
đối với nhân sinh là như những câu sau đây: “Thân người khó được”, “phước báo trong cơi trời
người”, “nhân thiên thiện
đạo”, “nhân thiên tiểu
quả” v.v… Khó có như thế nào, và phước thiện
tiểu quả là như thế nào, đều có ngôn luận,
ở đây tôi chẳng rườm lời [trích dẫn].
Trong nhà Phật, chẳng có những lư lẽ như trong lời
phê b́nh của ông Tạ. Nói tới chuyện đau khổ,
kinh Phật bảo: “Quán thọ
là khổ”, chính là nói kẻ hưởng thụ là khổ,
chưa hề nói chuyện ǵ cũng đều là khổ.
Nhưng cũng là đối với hàng sơ cơ và Tiểu
Thừa [mà nói điều này] để làm phương tiện
điều phục, đoạn dục, cũng giống
như nghĩa lư “mưu cầu
đạo, chẳng mưu cầu ăn uống” của
Nho gia. Nếu đạt tới Đại Thừa, hết
thảy đều b́nh đẳng, chẳng có ǵ là khổ
hay lạc!
3) Ông Tạ nói: Phật
giáo chủ trương vượt thoát biển sanh tử
(đây là sự thật), chẳng coi trọng cuộc sống
hằng ngày của nhân loại (thuộc loại phê b́nh).
Tôi giải thích: Hễ là tôn giáo, nghĩa lư chung là đều
cầu một chỗ quy túc tối hậu, tức là thần
hồn bất sanh, bất tử. Phật giáo cũng chẳng
phải là ngoại lệ. Cái gọi là “thần hồn” chính là cái Thể biến ra sanh tử.
Kinh Dịch bảo: “Tinh khí là vật,
cái hồn bềnh bồng là biến”, nhưng Phật giáo chủ trương Tánh, chứ
không phải thần hồn, chỉ có Tánh là thường
c̣n! Chẳng thể giải thích lư này bằng vài câu
được, tạm thời chẳng bàn đến. Đối
với cuộc sống hằng ngày, không biết [ông Tạ
và ông] nói đến điều ǵ? Ao rượu, rừng
thịt, tiệc tùng, ca múa thường xuyên chính là cuộc
sống của Kiệt, Trụ! Mỗi ngày ăn uống tốn
tới mười vạn đồng, trướng gấm
che rợp mười dặm, chính là cuộc sống của
Hà Tăng, Thạch Sùng! Đêm Ba Lê (Paris) cuồng hoan, phấn
hồng, rượu xanh chốn Hảo Lai Ổ (Hollywood)
chính là cuộc sống được đề cao thành
mode của người hiện thời! Cuộc sống
trong nhà Phật là “ba ngàn oai nghi,
tám vạn tế hạnh”,
“một ngày chẳng làm, ngày ấy chẳng ăn”, “chẳng làm các điều ác,
vâng làm các điều thiện” mà thôi!
4) Ông Tạ nói: “Nhất
là không coi trọng quan hệ nam nữ của nhân loại.
Coi xuất thế, làm ḥa thượng chính là cảnh giới
cao nhất trong đời người” (điều này thuộc
về phê b́nh). Tôi giải thích: Chế độ trong Phật
giáo chia thành chúng xuất gia và chúng tại gia. Chúng xuất
gia làm thầy, chuyên môn tu học, dạy người khác, ắt
phải buông xuống hết thảy, ngơ hầu chẳng bị
hệ lụy bởi vật chất. V́ thế, chẳng chứa
chấp vợ con, tài sản. Chúng tại gia làm đệ tử,
chú trọng tự lập, tùy duyên, tùy phần dạy dỗ
người khác. Đối với chuyện ăn uống,
nam nữ, do đạo đức và phép nước chẳng
hạn chế [cho nên Phật pháp chẳng ngăn cấm],
chỉ có điều chẳng được phép tà dâm. “Tà dâm” là dan díu với kẻ
khác chẳng phải là vợ hay chồng!
5) Ông Tạ nói: “Thái
độ phủ định giá trị của sanh mạng
ấy, nói theo luân lư học, chính là sai lầm” (đây là phê
b́nh). Tôi giải thích: Giới luật nhà Phật, đối
với sanh mạng của động vật, chẳng cần
biết là lớn hay nhỏ, đều nhất loạt
thương cảm và yêu thương, che chở. Đối
với sanh mạng của con người, sự yêu
thương, che chở ấy càng cần ǵ phải bàn nữa?
[Nhà Phật] lại c̣n có giới điều cấm ngặt
tự sát. Tạ tiên sinh bảo “Phật giáo phủ định
giá trị của sanh mạng” là đă rơi vào hiểu lầm,
vu hăm. C̣n như bảo “nói theo luân lư” th́ chính là một cách
nói sai lầm! V́ luân lư chính là nguyên lư đạo đức
của nhân loại. Hễ nhắc tới từ ngữ
này, hết sức chẳng đơn giản. Nay tôi trước
hết bàn về đạo đức; sau đó, sẽ luận
về nguyên lư đạo đức. Xét ra, chương sách
Khúc Lễ có câu: “Thái thượng
quư đức, kỳ thứ vụ thi báo” (Vào thời
Tam Hoàng Ngũ Đế, quư trọng đức. Đời
sau đó, bèn chú trọng “hễ được ban cho vật
ǵ bèn báo đáp”). Trong lời chú sớ, [đă giảng rằng]:
“Tam Hoàng hành đạo, Ngũ
Đế hành đức, Tam Vương hành nhân, Ngũ Bá
hành nghĩa, cẩu tương ky mỵ, thị chi vi lễ”
(Tam Hoàng hành đạo, Ngũ Đế hành đức, Tam
Vương hành nhân, Ngũ Bá[1] hành
nghĩa, nếu dùng những điều ấy để ràng
buộc th́ gọi là lễ). Thiên sách Trung Dung trong bộ Lễ
Kư có câu: “Suất tánh chi vị
đạo” (Tuân theo tánh th́ gọi là đạo), tức
là nói “cội nguồn của đạo” được gọi
là Tánh. Từ tánh cho tới lễ, theo thứ tự thấp
dần mà chia thành sáu loại (tánh, đạo, đức,
nhân, nghĩa, lễ). Nói theo chánh văn, đức thuộc
về ba hạnh đứng đầu, dẫu ban bố
mà chẳng cầu báo đáp. Đấy là giải thích
nguyên lư đạo đức ở mức độ nông cạn.
Phật vô duyên từ bi hỷ xả, không chỉ là chẳng
tiếp nhận sự báo đáp, mà tâm c̣n chẳng chấp
tướng. [Sở dĩ ông Tạ có lời lẽ bài xích
Phật pháp] là do hiểu lầm luân lư, [chẳng biết rơ
luân lư] như thế nào mới là chánh xác!
6) Trong một
đoạn lớn sau đó, ông Tạ bảo “hành vi trên thực
tế của Phật giáo cũng là mâu thuẫn” (đấy
là phê b́nh). Tôi giải thích: Đoạn sau này vẫn thuộc
về nghĩa lư trong đoạn trước, chẳng cần
phải trả lời cặn kẽ! [Sở dĩ có] cái gọi
là “mâu thuẫn” là do Tạ tiên sinh chưa hề nghiên cứu
kinh Phật, [cho nên] có nhiều nỗi hiểu lầm. Do vậy,
chê bai Phật học là mâu thuẫn. C̣n đối với
hai chữ “tu hành”, nếu có thể liễu giải, sẽ
chẳng thốt ra những lời lẽ trên đây! Nay tôi
giải thích đại lược ḥng tháo gỡ mối
nghi ấy. Nay tôi vẫn lấy luân lư làm căn cứ, tức
là dùng sáu cấp bậc “tánh, đạo, đức, nhân,
nghĩa, lễ” như đă nói trên đây: “Tu” chính là từ
đức mà truy cầu hướng thượng, nhằm
hiểu rơ bản thể của nó. “Hành” là từ đức
hướng xuống dưới mà thúc đẩy, khiến
cho đại chúng được lợi ích. Đối với
những lời lẽ chê bai khác, hăy gộp chung với những
lời giải thích trên đây để xem xét, sẽ có thể
giải trừ được!
*
Hỏi: Con người giữ luân thường, chẳng
thể vứt bỏ chữ Hiếu. Ḥa thượng xuất
gia, chẳng ở nhà phụng dưỡng cha mẹ; đấy
là chẳng đúng. Sách Luân Lư Học Đại Cương
viết như thế này: “Tuy Phật giáo Ấn Độ Phật
chủ trương từ bi, nhưng ḷng từ bi ấy chẳng
phải là ḷng từ bi khẳng định giá trị của
sanh mạng, mà là ḷng từ bi phủ định giá trị
của sanh mạng! Giá trị của sanh mạng bị phủ
định, tự nhiên là giá trị của gia đ́nh
cũng bị phủ định, kéo theo đó, giá trị của
xă hội cũng tất nhiên bị phủ định! V́
thế, nhân sinh Phật giáo lợi dụng sự trốn tránh xă hội, coi chuyện
vào núi tu hành là mục tiêu. Dẫu Phật có chí cứu đời,
nhưng cái chí ấy rốt cuộc lại khiến cho con
người vượt thoát xă hội, chẳng khiến
cho con người thành tựu xă hội. Nhưng nếu chẳng
có xă hội tồn tại, ḥa thượng lại có thể
tu hành như thế nào? Để khẳng định sự
tồn tại trong xă hội, chúng ta lại ắt cần
phải tiếp nhận luân lư về hiếu”. Tôi thấy lời
này đúng lắm! (Trần Nhất
Sĩ hỏi)
Đáp:
Tại hạ chưa từng đọc quyển Luân Lư Học
Đại Cương của Tạ tiên sinh. Đại
khái, các hạ cũng chẳng nghiên cứu kinh Phật; v́
thế, biểu lộ sự đồng t́nh sâu xa. Ông chẳng
biết đoạn này cũng là sự phê phán do hiểu lầm,
giống như [nội dung] bài biểu can vua đừng
rước xương Phật của Hàn Xương Lê
(Hàn Dũ), chỉ là [kẻ mù] sờ voi mà thôi! Nhưng ai
có chí nấy, yêu ghét tự do, chớ nên thấy ngọc
trai tưởng là ngọc bích, chỉ hươu bảo là
ngựa. Do đó, tôi cũng tách [những điều cật
vấn] ra để trả lời như sau:
1) Ông Tạ nói: “Nhưng ḷng từ
bi ấy chẳng phải là ḷng từ bi khẳng định
giá trị của sanh mạng, mà là ḷng từ bi phủ
định giá trị của sanh mạng” (đây là phê b́nh).
Tôi giải thích: “Từ” (慈) nghĩa là ban sự an lạc
cho đối phương, “Bi”
(悲) nghĩa là dẹp
khổ cho đối phương. Vật có sanh mạng th́
mới gọi là “đối phương”. Nếu chẳng
có, sẽ là như hư không giới, hư không giới th́
có khổ hay lạc ǵ? Hướng về đó để
ban bố ḷng Từ, thực hiện bằng cách nào đây?
Thật sự khó thể giải thích được! Nếu
xét theo ḷng từ bi đối với đối
phương trong Phật lư, trong Lục Độ, điều
đầu tiên được coi trọng là bố thí, tức
là ba món tài, pháp, vô úy bố thí, há có loại nào thực hiện
ngoài những vật có sanh mạng ư?
2) Ông Tạ nói: “Tự
nhiên giá trị của gia đ́nh cũng bị phủ định.
Kéo theo đó, giá trị của xă hội cũng tất
nhiên bị phủ định” (đây là lời phê b́nh). Tôi
giải đáp: Đối với mối nghi về gia
đ́nh, trong phần thứ tư của lời đáp thứ
nhất, tôi đă giải thích rơ ràng, chẳng cần phải
rườm lời nữa. C̣n như nói xă hội tất
nhiên cũng bị liệt vào loại phủ định, “tất nhiên cũng bị” là
từ ngữ biểu thị sự nghi ngờ, giống
như từ ngữ “há cần
có”. Trong các kinh thuộc Đại Tạng, đều
có những kinh chuyên dạy về sự bảo vệ quốc
gia, giữ ǵn trật tự trong gia đ́nh, danh mục chẳng
phải chỉ là một quyển. Sự thật đều
có, chẳng cần biện bác cho nhiều! Bởi lẽ,
đức Phật thuyết pháp, trước hết là xem
xét đối phương: Gặp cha bèn nói về ḷng Từ,
gặp con nói về ḷng hiếu, cho nên có Ngũ Thừa sai
khác, tức là nhân, thiên, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát. Những
lời lẽ nói về gia đ́nh, quốc gia v.v… đều
được ghi chép trong những kinh điển dạy
về nhân thừa. Chẳng t́m trong loại ấy, có khác
nào đến tiệm bán vải để mua dầu, muối!
3) Ông Tạ nói: “Do
vậy, nhân sinh trong Phật giáo là lợi dụng sự trốn
tránh xă hội, lấy chuyện vào núi tu hành làm mục tiêu”
(đấy vừa là sự thật, vừa là hiểu lầm).
Tôi giải thích: Căn khí của con người vàn muôn sai
khác! Có người chuộng tĩnh, có kẻ ưa động,
và lợi ḿnh, lợi người khác biệt. Dùng chuyện
“tánh là thiện, do huân tập
mà khác xa nhau” để luận, [con người ai nấy]
đều có cái tâm riêng tư “tổn người, lợi
ḿnh”. Đức Phật chỉ v́ sửa đổi thói ác ấy,
bèn thuận theo tánh ưa động hay tĩnh của con
người mà nói hai thừa là Đại Thừa và Tiểu
Thừa. Cũng có kinh dành cho người trốn lánh trong
núi sâu, tức là Tiểu Thừa. [Giáo pháp dành cho] người
ở trong triều đ́nh hoặc nơi thị tứ
chính là Đại Thừa. Những trường hợp
được mọi người biết đến
như thay kẻ khác nhảy vào hầm lửa, thay người
khác vào địa ngục, đều được chép
trong kinh điển Đại Thừa. Những bậc hiền
tướng các đời như Vương Đạo, Tạ
An đời Tấn, Pḥng Huyền Linh, Đỗ Như Hối
đời Đường, Phạm Trọng Yêm, Tư Mă
Quang, Lữ Mông Chánh đời Tống, Thoát Thoát đời
Nguyên v.v… Các bậc danh tướng như Quách Tử Nghi, Mạnh
Củng, Thích Kế Quang v.v… đều tin Phật sâu xa, là
những bậc đại nho ở kinh đô, càng khó thể
kể trọn. Há có chuyện trốn
tránh xă hội ư?
4) Ông Tạ nói: “Nhưng
chí cứu đời ấy khiến cho người ta
vượt thoát xă hội, chẳng khiến cho con người
thành tựu xă hội” (đây là phê b́nh). Tôi giải đáp:
Các tôn giáo đều dự bị chỗ quy túc tối hậu.
“Tối hậu” chính là thần
hồn sau khi chết [sẽ đi về đâu]. Trong lời
giải đáp cho câu hỏi trước, tôi đă có giải
thích. Phật giáo nói “siêu” tức
là nói theo kiểu thế tục “từ
tam đồ siêu thăng làm người, hoặc từ
người siêu thăng lên trời”. Nói với người
học Phật, sẽ là “chuyển
thức thành trí”. Đều chẳng phải là nói nhục
thân hiện tại ẩn lánh trong chốn núi rừng là “siêu”! Đàn Kinh dạy: “Phật pháp trong thế gian, chẳng
ĺa thế gian giác”, tức là tu cái nhân ở ngay trong xă hội,
thần thức chuyển đổi siêu xuất, trở thành
quả. Chớ nên hiểu lầm, đảo ngược
cái quả thành nhân! Nếu nói tới chuyện thành tựu
xă hội, “thành tựu” chính
là khiến cho [xă hội] có trật tự, lớp lang, lại
c̣n an lạc. Nước ta là một xă hội theo kiểu nhân
luân: Con người tụ tập thành gia đ́nh, gia
đ́nh tụ hợp thành đất nước, thành xă hội,
ắt phải tu thân, tề gia. Gia đă tề, nước
bèn b́nh trị. Kinh Phật dùng giới để tu thân. Cách
tổ chức trong tùng lâm (giống như trong một gia tộc)
đă được bậc đại nho (tôi quên mất
tên) ca ngợi là “lễ nhạc
chi tồn, thân tu hỹ, gia tề hỹ” (lễ và nhạc
được duy tŕ, thân đă tu, nhà đă yên). Khổng Tử
nói: “Duy hiếu hữu vu huynh
đệ, hề kỳ vị vi chánh” (Chỉ có hiếu
thảo và ḥa thuận cùng với anh em, đấy chính là thực
hiện sự cai trị chánh đáng vậy), nhưng [ông Tạ]
lại ngược ngạo chê trách là “chẳng thành tựu
xă hội”, đúng là chưa suy nghĩ [chín chắn] vậy!
5) Ông Tạ nói: “Nhưng
để khẳng định sự tồn tại của
xă hội, chúng ta phải tiếp nhận luân lư về chữ
Hiếu” (đấy là phê b́nh). Tôi giải thích: Tạ tiên
sinh khẳng định hiếu và xă hội liên quan mật
thiết, chẳng thể tách rời. Hễ chẳng thành tựu
xă hội, sẽ là bất hiếu. Đối với chuyện
xă hội, trong mục thứ tư [trên đây], tôi đă giải
thích rơ ràng, chẳng cần rườm lời nữa! Hiếu
Kinh của Nho gia, trong phần Khai Tông nhằm giảng rơ ư
nghĩa, đă nói: “Thân thể
phát phu, thọ chi phụ mẫu, bất cảm hủy
thương, hiếu chi thỉ dă. Lập thân hành đạo,
dương danh ư hậu thế, dĩ hiển phụ mẫu,
hiếu chi chung dă” (Da, tóc nơi thân thể được
nhận lănh từ cha mẹ, chẳng dám tổn hại,
đó là khởi đầu của ḷng hiếu. Lập thân
hành đạo, nêu danh cho đời sau, khiến cho cha mẹ
nở mày nở mặt, đó là chung cục của ḷng hiếu).
Đức Phật dạy bảo muôn đời, là thầy
của trời và người, độ chúng sanh vô lượng,
được toàn thể cơi đời tôn kính, ngưỡng
mộ. Phàm những ai thờ Phật, đều biết
tên họ cha mẹ đức Phật, đó là rạng danh
cha mẹ, há có ai hơn được ư? Lại nữa,
hành đạo hiếu, có thiên tử, chư hầu, các quan
khanh đại phu, nho sĩ, thứ dân v.v… khác nhau, mỗi
người đều có ḷng hiếu, có đạo riêng, hoặc
nói, hoặc bàn đều chẳng đơn giản.
Nói thêm: Trong lời
hỏi của Ngài có đến mấy điều, đều
là viện dẫn từ sách Luân Lư Học Đại Cương
của Tạ tiên sinh, lời lẽ quá rườm rà,
nhưng ư nghĩa chỉ là như thế, cho nên tôi chỉ
đáp hai câu hỏi, cũng có thể suy ra [lời giải
đáp] cho những câu khác. Do “đất” dành cho cột báo
này hữu hạn, chẳng có cách nào đăng tải trọn
hết. Hơn nữa, đối với chuyện thuộc
về tôn giáo, tin hay không, tự do! Chẳng hiểu nội
dung tức là thuộc về mê, báng bổ cũng chẳng
phải là trí. Huống hồ tại hạ tánh t́nh chậm
chạp, há chịu tranh luận với người khác? Những
điều này nhằm trả lời những câu hỏi của
Ngài, chẳng phải là vô duyên vô cớ hướng về
người khác sanh sự!
* Hỏi: Hiện
thời, tôi là một tín đồ Cơ Đốc giáo. Do
thường thấy trong các loại tạp chí hoặc nguyệt
san của Phật giáo và Cơ Đốc [có đăng tải
những bài viết] công kích lẫn nhau. Điều đáng
tiếc nuối nhất là mấy vị pháp sư và cư
sĩ Phật giáo hung tợn chửi bới Cơ Đốc
giáo tin vào Chúa, cũng như nhục mạ Kinh Thánh, khiến
cho tôi nghiên cứu đạo lư Phật giáo. Theo sự
nghiên cứu của chính tôi, Phật giáo đích xác là cao
thượng, sâu xa. Thoạt đầu, tôi cứ ngỡ
Phật giáo là tôn giáo chí thượng cao sâu nhất trong cơi
đời, Cơ Đốc giáo bất quá thuộc địa
vị thứ hai mà thôi! Nhưng kinh Phật số lượng
quá nhiều, nội dung toàn nói những chuyện kỳ quặc,
mâu thuẫn chồng chất, khiến cho tôi chẳng có cách
nào tin Phật được! (Trần
Chí Đồng hỏi)
Đáp:
Phật giáo hung tợn chửi bới Cơ Đốc giáo
ư? Xét theo lẽ “đạo này chẳng báng bổ đạo
kia”, xét theo nghĩa “các tôn giáo có t́nh hữu nghị liên kết”,
thảy đều chẳng nên làm, nhưng xin ông hăy chỉ
ra bằng chứng. Nếu xét đến nguyên nhân, cứ
như tại hạ được biết, toàn là quư giáo mở
màn chửi bới trước tiên, Phật giáo vặn hỏi
ngược lại. Như tại Đài Loan, vào mười
mấy năm trước, quư giáo tung ra các loại h́nh vẽ,
hoặc truyền đơn vẽ ḥa thượng niệm
kinh và Khổng, Lăo v.v… đều chẳng thể cứu
người đọa lạc, chỉ có thập tự giá
mới có thể siêu thoát! Lại tổ chức những
đội quân nhạc, thổi kèn đánh trống ầm
ĩ, tấn công vào các chùa Phật trong vùng B́nh Đông để
truyền giáo. Đấy là khởi điểm của chuyện
gây hấn tại Đài Loan. Nhưng sau khi chuyện ấy
qua đi, đôi bên đều an ổn, vô sự. Sau mười
năm, các hạ đột ngột viết thư gởi tới,
nhục mạ kinh Phật có nội dung toàn nói chuyện quái
đản, kỳ dị, mâu thuẫn trăm đường!
Nếu tôi mời ông chỉ ra để cùng nhau biện luận,
chắc là ông sẽ lại đổ hô tôi khinh miệt quư
giáo! Các ông lại c̣n in tập sách nhỏ có tựa đề
là Tăng Lữ Tín Chúa Kư (kư sự về những nhà sư
tin Chúa), hùng hổ chửi bới. Nếu Phật tử
sưu tầm tài liệu, cũng viết thành sách Gia Đồ
Quy Phật Kư (kư sự về tín đồ đạo Gia Tô
quy y Phật), há chẳng phải là lại công kích lẫn
nhau ư? Xét chuyện trước, nghiệm chuyện nay,
sẽ biết là tín đồ Phật giáo sanh sự, hay là
quư giáo sanh sự vậy? Mong hăy tự xét!
* Hỏi: Rốt
cuộc Phật giáo là hữu thần luận hay vô thần
luận? (Trần Chí Đồng
hỏi)
Đáp: Sách vở
Phật giáo thật nhiều, nhưng chẳng có cái
được gọi là “luận
thuyết”. Xem xét thấu hiểu chúng sanh, quy nạp
thành sáu loại, quỷ là một loại trong ấy. Xét ra,
chữ Quỷ có nghĩa là “linh”
vậy. Có chức vụ th́ gọi là Thần, c̣n thông
thường gọi là Quỷ. [Phật giáo] thừa nhận
trên cơi trời có quỷ thần, dưới đất
cũng có quỷ thần, chẳng nói là không có!
* Hỏi: Thế
giới này đẹp đẽ ngần ấy, Phật
giáo thấy nó chẳng thanh tịnh! (Trần Chí Đồng hỏi)
Đáp: Trong câu
thứ nhất, do so sánh với điều ǵ mà nói là “đẹp
đẽ”? Nếu chẳng so sánh th́ chữ Mỹ (đẹp
đẽ) chẳng có cơ sở! Câu thứ hai là chửi
bới Phật giáo, tại hạ chẳng tranh biện với
ông!
* Hỏi: V́ sao mỗi
bộ kinh Phật chẳng có danh tánh của tác giả và
niên đại [trước tác]? Có thể khẳng định
là đáng tin cậy hay chăng? (Trần
Chí Đồng hỏi)
Đáp: Mở
đầu mỗi bộ kinh, đều có sáu thứ chứng
minh. Chắc là các hạ chẳng nghiên cứu văn học
cho lắm, cho nên xem mà chẳng hiểu! Câu cuối cùng “có
thể khẳng định là đáng tin cậy hay không” chính
là lời lẽ gièm chê, tôi cũng chẳng biện luận
với các hạ!
* Hỏi: Sơ
khởi, Phật giáo cũng chẳng cho phép thờ ngẫu
tượng, nhưng Phật giáo hiện thời lại lạy
lục ngẫu tượng! (Trần
Chí Đồng hỏi)
Đáp: Quư giáo có
lạy ngẫu tượng hay không? Trong ḷng tại hạ
có câu nói ấy, nhưng miệng chẳng muốn nói ra!
Đối với việc lạy ngẫu tượng, Phật
giáo vừa lạy, mà cũng chẳng lạy, trọn chẳng
nhất định! C̣n như câu “sơ khởi, chẳng cho phép lạy”, tại hạ
đọc kinh quá ít, vẫn chưa từng phát hiện câu ấy.
* Hỏi: Phật
giáo thấy chúng sanh là b́nh đẳng, nhân loại hăy nên
thương xót sanh mạng của động vật, phải
nên bảo vệ, chớ nên tàn hại chúng. Nhưng Phật
giáo tuy thương tiếc sanh mạng động vật,
đối với đồng loại “vạn vật chi linh” lại thường giở
tṛ nhục mạ, tranh đấu! (Trần Chí Đồng hỏi)
Đáp: Lời lẽ
này của các hạ đích thị là Phật lư, chẳng
sai! “Phật thấy chúng sanh
b́nh đẳng”. Ông lại nói “Phật giáo thương tiếc động vật,
đối với đồng loại ‘vạn vật chi
linh’ lại thường giở tṛ nhục mạ, tranh
đấu”. Câu “đồng
loại vạn vật chi linh” chẳng biết nói về
điều ǵ, hay là nói tới người thuộc về
quư giáo? Trong phần trước, tôi cũng đă nói rồi:
Nếu có ǵ chửi bới, đều là những lời vặn
hỏi ngược lại, hoàn toàn chẳng phải là [Phật
giáo] chủ động [gây hấn], [công kích, miệt thị
người khác], [những thói công kích, vu cáo, miệt thị
tôn giáo khác] lại chẳng phải là nghĩa lư được
chấp thuận trong Phật giáo.
* Hỏi: Chỗ
quy túc của Phật giáo là Niết Bàn. Một, sau khi đă
tiến nhập Niết Bàn, rốt cuộc có c̣n tồn tại
cái Ta hay không? Hai, phàm những ai tin Phật đều có thể
nắm chắc sẽ tiến nhập Niết Bàn hay không?
Ba, nghe nói để tiến nhập Niết Bàn, chỉ có Tăng-già,
nương theo pháp tu hành sẽ tự đạt được
an lạc, chẳng biết phải đạt tới tŕnh
độ nào? (Trần Chí Đồng
hỏi)
Đáp:
Vạn sự thành tựu đều do công phu. Nếu bảo
chẳng tu tŕ mà lại đạt được kết
quả, đó chính là lời lẽ dối trá, chẳng phù hợp
lư luận. Niết Bàn là “thường,
lạc, ngă, tịnh”, “bất
sanh, bất diệt”, “trí
cùng tột vũ trụ”, “Dụng
bao trùm hư không”. Để tiến nhập Niết
Bàn, chẳng phân biệt là tăng hay tục! Niết Bàn chia
thành bốn loại[2], đoạn
Hoặc chia thành ba loại[3].
Đoạn Hoặc là tu nhân, Niết Bàn là chứng quả.
Nhân có sâu hay cạn, quả có cao hay thấp!
* Hỏi: Nghe nói
luật nhân quả của Phật giáo thoát thai từ
Bà-la-môn giáo, có thật hay không? Phật giáo nói “nhân quả ba
đời”, có đáng tin hay chăng? Những cái nhân do mỗi
người trong cơi đời đă từng gieo trong đời
trước có chứng cớ ǵ để chứng thực
nó tồn tại? (Trần Chí
Đồng hỏi)
Đáp: Nhân là khởi
nguyên của sự lư, quả là kết thúc của sự
lư. Chẳng phải do bất cứ ai tạo ra, mà do tự
nhiên thúc đẩy, càng chẳng thuộc về bất cứ
giáo nào! Muôn sự, muôn lư đều có khởi nguyên, có ǵ là
lạ lùng đáng để nghi vấn?
* Hỏi: Vô Ngă
trong giáo nghĩa căn bản của Phật giáo có phải
là đă chứng thực “nhân loại có linh hồn” hay không?
(Trần Chí Đồng hỏi)
Đáp: Các hạ đă tự
nói chính ḿnh đă xem khá nhiều sách Phật, há chẳng thể
hiểu giáo nghĩa Vô Ngă? Nói tới “linh hồn” th́ Phật
giáo gọi nó là “thần thức”, chỉ là danh từ khác
biệt mà thôi!
*
Hỏi: Niệm kinh, bái sám, lấy ǵ để chứng thực
vong hồn có thể siêu độ? Trong cái nh́n thô vụng của
tôi: V́ cái nhân do con người đă gieo khi c̣n sống (tức
nghiệp lực), sau khi đă chết bèn mang theo, [siêu độ]
làm sao có thể có hiệu quả cho được? Há chẳng
phải là Phật giáo phá hoại luật nhân quả ư? (Trần Chí Đồng hỏi)
Đáp:
Đoạn nghị luận này rất chánh xác! Phật giáo
niệm kinh độ vong, có kẻ được lợi
ích, có kẻ chẳng đạt được lợi ích.
Nay luận định đại lược theo phía
người đạt được lợi ích, người
tụng kinh ắt phải cảm vời vong hồn, khiến
cho [vong linh ấy] tâm khai, nghiệp diệt, th́ mới có thể
giải thoát. Nhưng để cảm vời và tâm khai, ắt
phải có đủ mọi điều kiện, chẳng
phải là bằng mấy lời bèn có thể [tŕnh bày] trọn
hết được!
*
Hỏi: Phật giáo có tin là nhân loại có tội hay không? Nếu
là có, [vậy th́] làm lành, tích lũy công đức như thế
nào? Làm lành há chẳng phải là bổn phận hăy nên làm của
con người đó ư? (Trần
Chí Đồng hỏi)
Đáp:
Kinh Phật nói “
Ghi thêm: Tôi viết mấy
câu hỏi, hoàn toàn chẳng phải là coi thường Phật
giáo, mà chính là tôn trọng, bội phục. Bất quá tôi chẳng
thờ phụng nhiều thần, chỉ thờ phụng một
vị thần hoàn toàn sống động, là đấng
chúa tể sáng tạo và cai quản toàn bộ vạn vật
trong vũ trụ (Thượng Đế).
Trả
lời câu ghi thêm: Câu “chẳng
thờ phụng nhiều thần” dường như nghi
ngờ Phật giáo là đa thần giáo. Thật ra, Phật
giáo tuy thừa nhận có thần, do ư nghĩa b́nh đẳng,
bèn nhất loạt cung kính, hoàn toàn chẳng sùng phụng. Tôi
kính cẩn nhận lấy ba quyển sách do ông đă tặng
là “Thánh Kinh có phải là do Chúa mặc khải hay không?”,
“Jesus có phải là con của Chúa hay không?” và “Rốt cuộc
có Chúa hay không?”, cám ơn!
*
Hỏi: Lời giải đáp dành cho ba câu hỏi của bỉ
nhân trong mục Phật Học Vấn Đáp lại khiến
cho tôi thất vọng, tiền bối luôn luôn chẳng chịu
nói lời thật, cứ bảo văn bối tự tra cứu
kinh Phật. Như vậy th́ cũng tốt, khiến cho
văn bối do vậy mà có cảm hứng, vào Chủ Nhật
tuần trước, đă viết bài kư trần thuật cảm
hứng gần hai ngàn chữ. Khéo sao lại nhận
được hai cuốn sách của Cơ Đốc Giáo,
trong ấy có cuốn “Chúng ta v́ hiểu rơ Phúc Âm”, trong ấy
có những lời liên quan đến những chuyện văn
bối đă đề cập và phản ứng. Do vậy,
hôm nay lại viết riêng thư này dâng lên cụ. (Trần Chí Đồng hỏi)
Đáp:
T́nh nghĩa của ngài đối với tại hạ có
thể nói là “cao thấu tầng mây”, chẳng tiếc thời
gian, gởi bức thư dài đến mấy ngàn chữ!
Lại tặng sách mấy lượt, khắc ghi, cảm
kích muôn phần! Tại hạ cùng Ngài vấn đáp không phải
chỉ một lần. Thoạt đầu, tôi nghĩ ngài
là người không theo tôn giáo; v́ thế, mỗi lần trả
lời, đều nêu lên những điều tốt lành
trong Phật giáo, những mong khuyên ngài tiến nhập Phật
môn. Kế đó, Ngài thường dùng những ngôn luận
trong đạo Gia Tô để vặn hỏi, lại nhận
ra ngài vẫn đang quẩn quanh nơi ngơ rẽ, cho nên vẫn
dựa theo lư để đáp, mong ngài sẽ tự chọn
lựa. Về sau, biết Ngài là một tín đồ đạo
Gia Tô thuần túy, cho nên dẫu có hỏi cũng chẳng
đáp. Kể từ khi có sách Phật tồn tại, mặc
cho người ta nghiên cứu, khen chê tùy tiện. Tại hạ
là người chấp bút cho mục Phật Học Vấn
Đáp nhằm làm thềm bậc [tiến nhập] cho hàng
sơ cơ học Phật, chẳng nhằm tranh luận
đúng sai với các giáo khác! Hơn nữa, Phật lư viên
măn, có thứ lớp đối ứng từng căn
cơ, ắt phải tốn thời gian [học tập, tu
luyện] lâu dài th́ mới có thể triệt ngộ. Như
trong sách V́ Hiểu Phúc Âm đă phê b́nh Khổ trong Tứ
Đế, đúng là chẳng biết niềm vui tịch diệt!
Gộp chung bốn chữ [của Tứ Đế mà ông cũng
như tác giả sách ấy] c̣n chưa thấy rơ ràng, huống
hồ Tứ Đế nếu phân loại theo tŕnh độ
của người học, sẽ có Sanh Diệt, Vô Sanh, Vô
Lượng và Vô Tác, há dễ nói ư?
*
Hỏi: Đối với cuốn sách Chúng Ta V́ Hiểu Phúc
Âm, xin tiền bối đợi mấy ngày nữa, tôi sẽ
gởi cho Ngài tham khảo, sẽ biết giáo nào đặt
bút công kích tôn giáo khác trước! (Trần Chí Đồng hỏi)
Đáp: Đối
với chuyện Phật giáo và Gia Tô giáo công kích lẫn nhau,
rốt cuộc là ai khởi xướng trước tiên? Giáp
nói Ất đầu têu, Ất bảo Giáp mở màn. Đúng
là giống như tranh luận “gà có trước” hay “trứng
có trước!” Chuyện đă qua cho qua luôn, Khổng Tử
cũng nói: “Kư văng bất cữu”
(Đă qua th́ chẳng có lỗi nữa). Tại hạ hoàn
toàn chẳng viết văn, soạn sách bài bác Tân Cựu
Ước, chửi bới Gia Tô. Ngài gởi thư, tặng
sách, lại lầm lạc ăn nói sai lầm, hủy báng
Phật giáo, hiện tại là như vậy đó, há cần
phải nói chuyện xa xưa ư?
*
Hỏi: V́ sao văn bối phải nghiên cứu Phật giáo? Nguyên
nhân là như thế này: Tam giáo Phật, Nho, Đạo lẫn
lộn, khiến cho tôi chẳng biết rơ phải tin theo
giáo nào th́ mới được coi là tín đồ Phật
giáo! Thoạt đầu, văn bối tham dự nghe giảng
đạo lư của Cơ Đốc giáo chẳng phải
là v́ thành tâm mà tới [nghe], chỉ mong mỏi kiếm
được một món tiền, học một chút tiếng
Anh là được rồi. Nào ngờ thất bại, v́
lúc đó tôi là một kẻ mù chữ (chỉ biết hai
trăm mấy chục chữ Hán), làm sao có thể học
Anh văn để kiếm tiền cho được? Sau
đấy, chẳng biết cớ sao chính ḿnh chẳng tin
vào Gia Tô (Jesus) lại khuyên người khác tin theo tôn giáo của
Âu Tây. Thuở đó, gặp phải t́nh cảnh bị
người khác chê cười, lúc ấy, v́ thể diện,
tôi rất cố chấp, mặt dày, không ngừng tranh luận
cùng họ. Sau đấy, gặp phải tín đồ Phật
giáo có chút kiến thức về Kinh Thánh giúp sức cho họ,
do [chính ḿnh đối với] chân lư của Cơ Đốc
giáo chỉ nghe ba bốn lượt, chẳng chống lại
họ được; nhưng khi họ chẳng có cách nào
trả lời những đạo lư do tôi hỏi, bèn có thái
độ hết sức bất hảo, dùng những lời
lẽ châm chọc, mắng nhiếc, cậy vào miệng
lưỡi ḥng bịt tai trộm chuông vậy! Tôi vốn
chẳng mong nghiên cứu Phật giáo, nhưng v́ thường
gặp mấy tín đồ Phật giáo từ vùng khác dùng
thái độ khoét mắt lột da để châm chích, nhiếc
mắng người khác. Do vậy, một mặt v́ mong biết
ḿnh, biết người, một mặt nhằm ứng phó
chuyện công kích dữ dằn của những Phật giáo
đồ thường gặp (tôi hoàn toàn chẳng nói mỗi
vị tín đồ Phật giáo đều chửi bới
người khác như vậy). Những câu tiền bối
khuyên bảo văn bối như “đă tin theo Cơ Đốc
giáo, cần ǵ phải hỏi tới Phật giáo”… là do
căn cứ trên phản ứng của tôi như vậy.
Có thể là kinh Phật “nghe lỏm nói ṃ, ngụy kinh phần
nhiều là sai”. Đă thế, Phật giáo ghi chép lịch sử,
có những người chẳng phải là nhân vật lịch
sử, chưa từng sống trên đời! (Trần Chí Đồng hỏi)
Đáp:
[Ông viết] “kinh Phật là nghe lỏm, nói ṃ, lịch sử
được ghi chép trong kinh Phật toàn là những nhân vật
phi lịch sử”, những ǵ là nghe lỏm? Những ǵ là
nói ṃ? Ai ghi chép lịch sử? Ai chẳng phải là nhân vật
trong lịch sử? Ngài đă sớm có thành kiến; do vậy,
tại hạ chỉ đành thỉnh ông hăy tự t́m đọc
lấy. Khổng Tử nói: “Tri
chi vi tri chi, bất tri vi bất tri” (Biết th́ nói là biết,
không biết cứ nói là không biết). Hăy nhắc lại lời
ấy ba lượt!
*
Hỏi: Thoạt đầu, tôi cho rằng Ngài trả lời
những câu hỏi do tôi đă nêu ra, chắc là v́ mong hướng
dẫn tôi từ cái tâm [ngưỡng mộ] Phật giáo, sẽ
nương cậy, tin tưởng Phật giáo. Nếu
không, pháp sư Minh Bổn đă không giới thiệu Ngài với
tôi. Nào ngờ khiến cho tôi vốn là một tín đồ
Cơ Đốc giáo hữu danh vô thực, hiểu được
phần nào chân tướng của hai giáo Cơ Đốc
và Phật giáo (tôi vốn muốn cảnh tỉnh tiền bối
mấy câu, nhưng đúng như Ngài đă nói: “Nếu tại
hạ nói ra, lại sợ sẽ dẫn khởi đầu
mối tranh luận. Hăy dung thứ cho tôi chẳng bàn tới”)
(Trần Chí Đồng hỏi)
Đáp:
Tại hạ biết Ngài là tín đồ đạo Gia Tô,
bèn chẳng thể vô sự mà sanh sự, cứ g̣ ép khuyên lơn,
cưỡng lôi kéo được! C̣n như Ngài nói là “tín
đồ Cơ Đốc giáo hữu danh vô thực, tạm
hiểu đại lược chân tướng của hai
giáo Cơ Đốc và Phật giáo”. Rơ ràng là tin sâu xa Cơ
Đốc giáo, cứ khăng khăng nói là “hữu danh vô
thực”, đấy chính là lời lẽ dối người!
Nếu ông nói chính ḿnh đă hiểu rơ chân diện mục
nơi tôn giáo của chính ḿnh, tôi chẳng dám nói là không.
Nhưng nếu bảo “đă hiểu rơ chân tướng của
Phật giáo”, chưa khỏi đă nói sai mất rồi! Thật
ra, đối với ngài mà nói, Phật giáo có công phu trong và
ngoài. Tạm thời, chẳng bàn tới công phu bên trong,
đối với công phu bên ngoài th́ Tam Tạng mênh mông
như biển khói, Tứ Quả La Hán trọn đủ thần
thông vẫn chưa thể hiểu biết [trọn vẹn].
Nếu bọn chúng ta hiểu rơ “chân tướng”, sợ rằng
phải đợi tới năm con lừa!
* Hỏi: Như
tôi đă từng hướng về Ngài thỉnh giáo “Phật
giáo rốt cuộc là hữu thần luận hay vô thần
luận”, có khi bảo chẳng có thần, cũng có lúc nói
“chẳng coi trọng quỷ thần”, nhưng Ngài đă nói
là “có thần” (tức là nói về quỷ thần. Nếu
tôi đem đoạn văn trả lời của Ngài cho
các vị pháp sư và cư sĩ có chủ trương bất
đồng phân tích, phê b́nh, chỉ sợ Ngài chẳng đẹp
ư) (Trần Chí Đồng hỏi)
Đáp:
Cá nhân ăn nói th́ cá nhân phải chịu trách nhiệm! Ngôn
ngữ, danh tự, chỉ là phù hiệu, có lẽ nguyên tắc
là một, nhưng cách nói khác nhau. Như người Đài
* Hỏi: Thưa
Ngài, về sau này, tôi chẳng c̣n quấy nhiễu làm phiền
nữa. Hễ có chỗ nào nghi hoặc đối với
Phật giáo, bèn thỉnh giáo để trừ nghi. Tôi đă
dùng các sách như Nghiên Cứu Phật Học, Cung Thiên Dân
Văn Tập của mục sư Cung Thiên Dân[4]
để làm tài liệu tham khảo. (Trần Chí Đồng hỏi)
Đáp: Chẳng
phải là tại hạ sợ phiền phức, mà là sợ
“thị phi”. Có người học Phật do nghi ngờ bèn
chất vấn, bèn trả lời theo những ǵ ḿnh đă
biết. Nếu giải đáp chẳng cặn kẽ, c̣n có
thể gặp mặt tṛ chuyện. Nếu do tôn giáo khác
nhau, vô duyên cớ t́m cách gây hấn, tôi sẽ chiếu theo
thông lệ chẳng quan tâm tới. Tôi đoán ṃ: Ngài nhiều
lần đối xử nồng hậu với tôi, chắc
là có ư muốn khuyên tại hạ bỏ Phật theo đạo
Gia Tô. Dẫu chưa nhận lễ, t́nh chẳng thể mất
được! Có một lời kính khuyên: Nghiên cứu học
hỏi th́ phải chân thật, mới khỏi vướng
lắm mỗi chê cười. Tin và chẳng tin lại là một
vấn đề khác. Cung mục sư (ông Cung Thiên Dân) đă
chẳng phải là tín đồ Phật giáo, làm sao có thể
nhận thức Phật học? Sách do ông ta viết chẳng
cần biết là tán thán hay hủy báng, chắc chắn là
có nhiều chỗ chẳng đúng! Nếu là tín đồ
Phật giáo mà chẳng có Giới, Định, Huệ, hễ
mở miệng ra th́ cũng đều là sai lầm, huống
hồ những kẻ ở ngoài giáo ư? Hiểu lầm ư
nghĩa trong lời văn, giống như đọc suông
văn tự, chuốc lấy lắm nỗi cười
chê, tự bộc lộ sự hèn kém [của chính ḿnh].
*
Hỏi: Khi trả lời những câu hỏi của tôi, ông
thường có những lời lẽ như thế này:
“Trong tâm tại hạ có những lời mà miệng chẳng
muốn nói”, “nếu tại hạ nói ra, sợ rằng sẽ
dấy lên đầu mối tranh chấp”. Tôi đă gởi
cho ông sách “Chúng ta v́ hiểu rơ Phúc Âm”, [sách ấy] đă nói
thay cho ông rồi. Đấy chẳng phải là tôi đă sớm
liệu định giùm ông đó ư? (Trần Chí Đồng hỏi)
Đáp:
Ngài đă có thể dự liệu sự việc từ sớm,
đúng là thông minh hơn người! Nếu bàn luận
kinh Phật, mà dùng triết học, khoa học, hoặc tôn
giáo [để lập luận] th́ mỗi lănh vực có lập
trường khá riêng biệt, chẳng phải là dùng những
lời lẽ lầm lạc, hoặc cách hiểu biết
cong quẹo mà ḥng phá hoại được. Những lời
lẽ cay nghiệt, lan man, thừa thăi trong sách V́ Hiểu Rơ
Phúc Âm đầy ắp phẫn hận, ganh ghét, làm sao có thể
[phát biểu] thay cho tại hạ được? Tại hạ
chẳng dám chửi người khác, mà cũng chẳng thể
chửi người khác được!
*
Hỏi: Xét theo một phương diện, có thể thấy
là ông đă có nghiên cứu và nhận thức kha khá đối
với Kinh Thánh. Xin ông hăy trả lời ba câu sau đây:
1) Ông có biết v́
sao ông có thể sống trên cơi đời hay không?
2) Giải thích hai
chữ Cơ Đốc (Christ) như thế nào?
3) Hai chữ Gia Tô (Jesus)
có nghĩa là ǵ?
Tốt xấu
ǵ th́ tôi cũng dùng những điều đó để tham
khảo ḥng biết kiến thức có giống nhau hay không?
(Trần Chí Đồng hỏi)
Đáp: Tôi chỉ
biết sơ sài, hoàn toàn chẳng nghiên cứu kha khá. Đối
với câu trả lời cho ba câu hỏi ấy, tại hạ
ngu xuẩn, sao dám đấu trí cùng Ngài! Ắt là bất
đắc dĩ, chỉ đành nói: “Như thế, như
thế, vẫn là như thế”, “không biết, không biết,
vẫn là không biết”!
Nói thêm: Thư gởi
đến quá dài, chỉ có thể chọn ra những
điều chánh yếu để trả lời.
* Hỏi: Trong
vũ trụ này, nếu chẳng có một vị chân thần
quản lư, tôi nghĩ nhân loại sẽ chẳng có cách nào sống
thêm một phút nào cả! (Trần
Chí Đồng hỏi)
Đáp: Chẳng
phải là tôi không tin “vũ trụ có thần quản lư”,
nhưng thần chẳng phải là một vị! Ngay
như lấy vị trời cao nhất để luận,
chưa chắc [vị trời cao nhất] đă là Đức
Chúa Cha Gia Tô như các hạ tín ngưỡng! Trong kinh truyện
của thánh hiền Trung Hoa, phần lớn đă được
trước tác từ hơn hai ngàn năm trước, nội
dung hoàn toàn chẳng có chữ Gia Tô! Nếu chẳng tin
tưởng, xin cứ tra cứu trong mười ba bộ
kinh và hai mươi bốn bộ sử của Nho gia, sẽ
biết [nhận định ấy] chẳng hư dối!
Nếu xét theo kinh Phật, Thiên Đế nhiều như
cát sông Hằng, cũng không thấy nhắc đến Gia
Tô. Chỉ có Đại Tự Tại Thiên (Maheśvara)[5] tự xưng là
có thể sáng tạo muôn vật, nhưng ông ta vẫn là phàm
phu, chẳng thể liễu sanh tử! Căn cứ theo những
điều vừa nêu, tại hạ hoàn toàn chẳng thuộc
kẻ phản đối những thuyết về trời
và thần, nhưng Thiên Đế đă nhiều dường
ấy, các tinh cầu trong hệ Ngân Hà lại chẳng thể
tính đếm, Thiên Đế của địa cầu rốt
cuộc là ai, vẫn chưa có căn cứ xác đáng! Quyết
chẳng thể do lập luận riêng tư của một
nhà mà gạt bỏ kinh điển của đa số chẳng
thèm hỏi tới! Đối với vấn đề sống
sót, thánh nhân bảo: “Thiên tác
nghiệt, do khả vi. Tự tác nghiệt, bất khả
hoán” (Trời gây ra sự ác nghiệt, c̣n có thể chống
đỡ, chứ tự ḿnh gây ra điều ác nghiệt,
chẳng thể trốn tránh được). Tại hạ
tin tưởng sâu xa lời ấy!
* Hỏi: Nói tới
công phu bên trong và bản lănh, họ đều chẳng trốn
được. “Xét theo định
mạng, ai nấy đều phải chết. Sau khi đă
chết, sẽ bị phán xét” (tiết hai mươi bảy
trong chương mười sách Thư gởi người
Hy Bá Lai[6]).
Do vậy, họ cũng giống hệt như những kẻ
b́nh phàm, chẳng có phân biệt! (Trần
Chí Đồng hỏi)
Đáp: Trước
đây, đă có nhắc tới “nội
công” (công phu tu tập trong tâm), “minh Minh Đức” (làm sáng tỏ cái đức
sáng), và “chuyển thức thành
trí”, đó là những công phu sâu xa trong Nho gia và Phật
giáo. Kẻ chẳng nhập môn, chẳng biết mảy
may, nhưng [những điều ấy] hoàn toàn chẳng phải
là bí mật, [mà là] chẳng kinh nghiệm th́ sẽ chẳng
biết. Đối với vấn đề Chết, [câu
kinh Thánh như ông đă dẫn] nói là “đều như
nhau”, có thể thấy là tin theo Gia Tô th́ cũng chẳng
tránh khỏi cái chết! Nói tới “chuyện phán xét” th́ là
phán xét điều thiện, lẽ ác của con người?
Hay là phán xét người
ấy lúc sống có tin vào Gia Tô hay không? Nếu là điều
sau th́ làm sao nói “chánh trực, vô
tư gọi là thần” cho được? Bậc trí
phán xét kẻ ngu si? Hay kẻ ngu si phán xét bậc trí? Nếu
thuộc vào điều sau, tức là cũng như Đạo
Chích quở trách Khổng Tử, c̣n nói ǵ được nữa?
* Hỏi: Chỉ
có “người tin vào đức
Chúa Con (Gia Tô) mới được sống đời
đời, kẻ chẳng tin đức Chúa Con (Gia Tô) sẽ
chẳng thể sống đời đời. Sự giận
dữ kinh khủng của Thượng Đế thường
giáng xuống thân kẻ đó” [trích từ] Phúc Âm của
Ước Hàn[7], chương ba, tiết
ba mươi sáu. (Trần Chí
Đồng hỏi)
Đáp: Tại hạ
hết sức bội phục tinh thần truyền giáo của
các hạ, đă lâu rồi mà vẫn chẳng biến đổi!
Lại cảm tạ mối thân t́nh sâu đậm đối
với tại hạ, đă lâu ngày mà vẫn chẳng thay
đổi. Hận chẳng thể cắt đuốc
nơi song cửa phía Tây[8],
tṛ chuyện thỏa thích suốt cả một đêm để
khuyên ông bỏ đạo Gia Tô học Phật, ḥng báo
đáp ân dầy đă rủ ḷng nghĩ tới suốt cả
năm qua! Muôn phần hổ thẹn, muôn phần tạ lỗi!
Nhưng đối với câu hỏi này, tôi có hai điểm
nghi ngờ, ắt cần phải nói rơ. “Sống đời đời” là nhục thân [sống
đời đời] ư? Trong điều trước,
[ông đă dẫn kinh Thánh] nói “người nào cũng đều
phải chết”, tợ hồ bị mâu thuẫn [với điều
này]. Nếu bảo là linh hồn [sống đời đời]
th́ trong tương lai, tại hạ chẳng có linh hồn,
sẽ chẳng có ǵ để gọi là “sống”! Xin ông hăy
hết sức an tâm, cám ơn! Nếu Thượng Đế
giận dữ kinh khủng đối với tại hạ,
hiện thời chỉ đáp lại bằng ḷng khiêm tốn,
[dẫu Ngài] lửa giận vạn trượng th́ [tại
hạ] cũng chỉ nín hơi, cung kính mà thôi! Nếu đến
mai sau, chẳng có linh hồn, sự giận dữ của
Thượng Đế sẽ chẳng có ǵ để giáng
xuống. Lại cảm ơn, xin ông hăy an ḷng!
* Hỏi: Xin ông
hăy đọc kỹ cuốn Khổng Tử Và Gia Tô, [để
nhận biết] rốt cuộc là có Chúa hay không? (Trần Chí Đồng hỏi)
Đáp: Tại hạ
và các hạ đă hỏi đáp suốt một năm; từ
đầu tới cuối, tôi chưa hề nói “chẳng có
thần”, sao ông lại chóng quên như thế? Nhưng thần
là thần, tôi là tôi. Khổng Tử nói: “Kính quỷ thần nhi viễn chi” (Kính trọng quỷ
thần, nhưng cách xa), thái độ là như thế. Hơn
nữa, sách của Khổng Tử tôi đă đọc từ
bé, tuy trí nhớ kém cỏi, nhưng đích xác là đă đổ
công mười năm, đọc trọn khắp mười
ba kinh. Đối với Tân Ước và Cựu Ước,
cũng bỏ ra mấy ngày để đọc một
lượt, nhưng sách “Khổng Tử Và Gia Tô” tôi chưa
hề xem tới. Nghĩ tới hai câu cổ thi: “Tằng kinh thương hải
nan vi thủy” (Từng đi qua biển sâu, chẳng thấy
chỗ nào khác đáng coi là nước), “ngũ nhạc quy lai bất khán sơn” (từ ngũ
nhạc trở lại, chẳng thấy núi non nào khác nữa).
[Do vậy], chẳng đọc những loại sách nhỏ
tầm thường ấy, cũng chẳng có ǵ đáng tiếc
nuối! C̣n như cuốn Tịch Thắng Ma Truyện[9] do
ông ban tặng, chỉ đành nhận lấy, cất kỹ
trên kệ. Nếu nói tới đạo lư của Trung Hoa, phải
tặng lễ vật trở lại, nhưng kinh Phật
quyển nào cũng sâu, dẫu đậu tiến sĩ vẫn
chưa hiểu được! Nếu gởi tặng các hạ,
sợ chẳng thể đọc nổi. V́ thế,
đành chịu thiếu lễ, xin hăy dung thứ!
* Hỏi: Vạn
vật đều có Phật tánh, nhưng Phật tượng
trưng cho sự hoàn mỹ. Tội ác trên thế giới
đều xuất phát từ mê, nhưng cái nhân khởi nguồn
của mê chính là vô minh. Vô minh có từ vô thỉ, đấy
chính là “hết thảy đều chẳng hoàn mỹ!” V́
sao vốn là hoàn mỹ mà có thể sanh ra những thứ chẳng
hoàn mỹ? Có người ví Phật tánh như vàng (vàng ở
trong cát, hoặc vàng ở trong quặng), cần phải trải
qua nung luyện th́ sau đấy mới có vàng ṛng, nhưng
câu hỏi của tôi là: Trong cái vốn sẵn hoàn mỹ,
hoàn toàn, về căn bản, chẳng thể nào có những
thứ khác chẳng tinh thuần được! (Pháp sư Hoằng Quang hỏi)
Đáp:
Phật tánh vốn chia thành hai phần nhiễm và tịnh. Tuy
có hai phần, bản chất của hai thứ ấy chồng
chéo nhau, hoàn toàn chẳng phải là không dung thông. Ngài tỷ
dụ như vàng trong quặng, vàng lẫn cát, chính là tướng
chồng chéo vậy. Ḥa hợp như nước và sữa,
khăng khít như keo với sơn. Đấy chính là
tướng dung thông lẫn nhau. Bổn giác Phật tánh tịnh
và nhiễm vấn vít, cho nên dấy lên vô minh, sanh chướng.
Phật tánh thuộc về cứu cánh giác th́ đoạn
nhiễm, giữ tịnh, cho nên thuần là quang minh tự tại.
*
Hỏi: Cái gọi là “vô minh” chính là sự vô minh do chẳng
biết nguyên nhân khởi nguồn? Hay là sự vô minh do
ương bướng chấp trước chẳng ngộ?
(pháp sư Hoằng Quang hỏi)
Đáp:
Gọi là “vô minh” tức là bất giác. Đă là bất giác,
há chỉ là hai điều “đối với mọi chuyện
chẳng biết nguyên nhân” và “ương bướng chấp
trước” mà thôi!
*
Hỏi: Đạt đến cảnh giới ngộ đạo,
có phải là hết thảy các nghiệp đều hoàn toàn
tiêu mất hay không? (pháp sư
Hoằng Quang hỏi)
Đáp:
Ngộ có tiểu ngộ và đại ngộ, tức là ngộ
có thiếu giác (少覺) và đại
giác. Hết thảy các nghiệp đều tiêu mất chính
là cảnh giới của bậc đại giác. Người
mới giác ngộ, hoặc giác ngộ được vài phần
th́ nghiệp sẽ tiêu giảm mà thôi, chưa thể nói là
hoàn toàn [tiêu mất] được!
*
Hỏi: Luật nhân quả là “sau khi đă có nguyên nhân th́ mới
có kết quả”, hoặc là “từ kết quả suy
ngược lại nguyên nhân”. Nếu là như điều
trước, bất luận nguyên nhân ấy được
bắt nguồn từ vô thỉ, hoặc là như thế
nào đi nữa, vào lúc bắt đầu sớm nhất,
nói chung là luôn có một khởi điểm. Nguyên nhân vào lúc
đó sẽ là đơn thuần nhất, cớ sao chẳng
giải quyết vào lúc đó, mà cứ kéo dài cho đến
thời gian về sau? Nếu là như trường hợp
sau, sẽ nguy hiểm, v́ cùng một kết quả, có thể
là do rất nhiều nguyên nhân dẫn khởi. Người
về sau làm sao phán đoán chánh xác kết quả nào là do
nguyên nhân tất nhiên nào? (pháp
sư Hoằng Quang hỏi)
Đáp:
Nhân và quả: Nhân là khởi nguồn của sự, quả
là kết quả của sự. Quyết chẳng có lẽ
nào “quả không xuất phát từ nhân”! Nhưng nhân có rơ rệt
hay ẩn nhiệm. Rơ rệt th́ dễ biết, ẩn nhiệm
sẽ khó thấy. Như lúc mới chớm bệnh, đă
biết t́m cách chữa trị, tức là thấy rơ ràng. Kẻ
chẳng tin có quả, cũng chẳng tự thâu liễm, dẫu
sau khi kết quả [đă h́nh thành], người ấy vẫn
chẳng biết tới nhân. Do vô minh sâu dầy chướng
lấp, khiến thành ra như vậy! Như tù nhân trong nhà
ngục, tuy đă có người ba bốn lượt vào tù
ra khám, nhưng kẻ đó tuy gánh chịu cái quả mà vẫn
chẳng ăn năn. Lư nhân quả hết sức phức
tạp, như vạn tượng biến hóa, ngàn muôn phần
sai khác, chẳng dễ biết thấu triệt được!
Nói đại khái, kẻ biết cái nhân bèn dừng th́ là bậc
thượng thượng. Kẻ thấy quả bèn
nghĩ đến nhân, chính là bậc trung thượng. Kẻ
biết những ǵ ḿnh đang hứng chịu chính là quả,
tức là bậc trung. Kẻ đă hứng chịu quả
mà vẫn nghĩ “chẳng có nhân” th́ là bậc hạ. Kẻ
hứng chịu quả mà chẳng biết đó là quả
th́ là hạng hạ hạ!
*
Hỏi: Đối với những sự tích được
viện dẫn trong bộ Niệm Phật Kiến Văn
Kư, v́ sao không ghi chép cặn kẽ địa chỉ của
những người đă trải qua kinh nghiệm ấy?
(pháp sư Hoằng Quang hỏi)
Đáp:
Mỗi người trước tác đều có cách suy
nghĩ riêng, mỗi điều được ghi chép đều
có những trọng điểm riêng. Do sách ấy chẳng
phải là do tại hạ viết, cho nên chẳng biết
nguyên nhân!
*
Hỏi: Sáu câu chuyện đầu trong sách ấy, có nói: “Phật vốn là bậc y
vương có thể trị tuyệt chứng” (trang
mười bảy), có thể tra ra địa chỉ [của
những bệnh nhân đó] hay không? Theo cách nói trong y học
hiện đại, sau khi đă lành bệnh ung thư, lại
phải trải qua năm năm th́ mới có thể chẩn
đoán là đă hết bệnh. Có phải là bà cụ ấy
đă lành bệnh hơn năm năm hay chăng? Có phải
là hiện thời vẫn mạnh khỏe hay không? (pháp sư Hoằng Quang hỏi)
Đáp:
Sách ấy tôi đă đọc sơ qua, nên chẳng thể
ghi nhớ [rành rẽ]. Đối với chứng bệnh
ung thư của bà cụ ấy và người chẩn
đoán, trị liệu như pháp sư đă nêu, có phải
là [người ấy] được Phật đích thân đến
bên giường chữa trị hay không? Nếu Phật chẳng
đến mà nay hướng về đức Phật trách
hỏi th́ khác nào Trương Tam giết người, bèn bắt
Lư Tứ bồi thường hay không?
*
Hỏi: Có một lần, có một người bạn v́
đứa con mắc chứng bệnh tâm thần phân liệt
ở mức độ nhẹ, ước hẹn cùng tôi
đến Đài Trung ḥng trước sau bái phỏng thầy
Lư và cư sĩ Lâm Khán Trị. Cụ Lư và bà ta đều
nói là do nghiệp từ đời trước dẫn khởi,
khó thể điều trị, tợ hồ rất tiêu cực.
Nói theo y học hiện đại, chứng ung thư gan
đă ăn sâu vào nội tạng sẽ khó trị hơn chứng
bệnh tinh thần ở mức độ nhẹ rất
nhiều. Cớ sao ông ta và bà ta đều chẳng tích cực
chữa trị người bệnh ấy? (pháp sư Hoằng Quang hỏi)
Đáp:
“Thầy Lư” là nói đến ai vậy? Có phải là nói tới
tại hạ hay không? Tệ xứ khách đông, lắm việc,
chuyện đă qua rồi, chẳng thể nhớ trọn
hết, nhưng tại hạ chẳng thể chữa bệnh
thần kinh. Đă không có năng lực ấy, sẽ chẳng
thể nói là có thái độ tiêu cực hay tích cực đối
với người bệnh được! Xin hăy rộng
dung! C̣n như cư sĩ Lâm Khán Trị trả lời
người bệnh như thế nào, tại hạ chẳng
biết nội dung, sẽ chẳng có cách nào chơ mồm vào
được!
*
Hỏi: Nơi trang năm mươi mốt của sách ấy,
[có viết]: “Nếu tuổi thọ
chưa hết, sẽ có thể giảm nhẹ bệnh khổ.
Nếu như tuổi thọ sắp hết, sẽ cậy
vào sức công đức của khóa tụng niệm Phật
ấy mà văng sanh Tây Phương”. Chuyện này tợ hồ
nói theo kiểu “bệnh có thể lành, mà cũng có thể chẳng
lành, mà cũng có thể chết”. Nói xuôi nói ngược kiểu
nào cũng được, viện vào tuổi thọ để
giũ bỏ trách nhiệm! (pháp
sư Hoằng Quang hỏi)
Đáp: “Tuổi thọ” chính
là thọ mạng trong một thế giới nào đó, thông
thường là một con số. Như một ngày có hai
mươi bốn giờ, một năm có hơn ba trăm
sáu mươi ngày, chỉ có thể biến hóa nho nhỏ,
chẳng thể biến đổi lớn lao. “Biến hóa
nho nhỏ”: Nói theo mỗi ngày th́ mùa Xuân và mùa Thu ngày và đêm
bằng nhau, mùa Hạ ngày dài đêm ngắn, mùa Đông
đêm dài ngày ngắn. “Chẳng thể biến đổi
to lớn”: Nói chung là mỗi ngày có hai mươi bốn giờ!
Dùng năm [trong Âm lịch] để nói th́ trong mười
hai tháng, có tháng hai mươi chín ngày, có tháng ba mươi
ngày, lại c̣n nhuận thêm một tháng. Đấy đều
là biến hóa nho nhỏ, nhưng kết cục của một
năm vẫn là [trái đất] xoay quanh mặt trời một
ṿng, đấy là “chẳng thể biến đổi to lớn”.
Nếu muốn chẳng bị chi phối bởi những
con số đă ấn định ấy, cũng cần phải
có cách đặc biệt, như con phù du sáng sống, tối
chết, rùa và hạc đều sống lâu đến ngàn
năm. Nếu chẳng hiểu lư ấy, chẳng hành đạo
ấy, cứ muốn hy vọng riêng tư, biến đổi
quy luật thường hằng trong vũ trụ, há có thể
được ư? Há có thể thành công ư?
*
Hỏi: Đă là có thể lành bệnh, cớ sao trong thế
gian có người chết vậy? (Ví như đă thiêu chết
rồi sau đó sống lại, đă bị xe lửa nghiền
chết, sau đó sống lại, hoặc là băo tố
ngưng dứt trong chớp mắt). Cớ sao trong sách chẳng
chép những kinh nghiệm siêu tự nhiên? (pháp sư Hoằng Quang hỏi)
Đáp: Những kinh nghiệm
siêu tự nhiên trong kinh luận rất nhiều, là chuyện
sau khi đă chứng quả. Chuyện thuộc về lục
thông, tai mắt phàm phu chẳng thể nhận biết
được! Như Bồ Tát bị kẻ khác cắt
đứt chân tay, trong một cái khảy ngón tay, có thể
ngay lập tức hồi phục nguyên vẹn. Đức Phật
điểm ngón chân lên mặt đất, lập tức hiện
cảnh bảy báu trang nghiêm. Thất của ngài Duy Ma nhỏ
như cái đấu, có thể chứa ba vạn hai ngàn ṭa
sư tử, mỗi ṭa cao tám vạn bốn ngàn do-tuần.
Bảy hạt cải nhỏ tí có thể mở cửa tháp
hết sức kiên cố[10].
Hội Pháp Hoa suốt một ngàn năm vẫn ở
trước mắt. Mười vạn ức cơi Phật,
qua lại trong khoảng bữa ăn v.v… Những chuyện
vừa nêu đại lược trên đây đều là
siêu tự nhiên. Ắt phải có người siêu tự
nhiên th́ mới có thể hiểu chuyện siêu tự nhiên. Tại
hạ chẳng phải là người siêu tự nhiên. Pháp sư
ở nơi xa mất công hỏi tới, hỏi đạo
nhằm kẻ mù mất rồi!
* Hỏi: Trong
vũ trụ có quỷ thần ư? Làm sao biết
được? (lược
đi những câu hỏi kèm theo) (Lâm cư sĩ hỏi)
Đáp:
Trước khi trả lời, tôi xin nói rơ, những câu hỏi
của quư tiên sinh không có lớp lang rành mạch, lại c̣n có
nhiều câu không rơ nghĩa, nên chỉ chọn lựa [những
câu hỏi có ư nghĩa rơ rệt] để trả lời,
xin hăy dung thứ!
Trong
vũ trụ có quỷ thần, người hiện thời
có kẻ trông thấy, kinh sách ghi chép nhiều lắm. Đức
Phật và Khổng Tử đều nói có [quỷ thần].
Căn cứ trên ba điều ấy, kẻ hèn tin [quỷ
thần] là có. “Quỷ” vốn
là một từ ngữ chuyên dụng để chỉ một
loại trong sáu đường, “thiên”
cũng là một từ ngữ chuyên dụng để chỉ
một loại trong sáu đường. “Thần” chính là từ ngữ tỏ ư ca ngợi
trời, người, quỷ và súc sanh, văn tự hết
sức rơ ràng. Tiên sinh bảo người ta thường
ăn nói hồ đồ, đấy là vấn đề
thuộc về tŕnh độ. Tuy chỉ hươu bảo
là ngựa, thấy lạc đà bèn gọi nó là ngựa gù
lưng, [những cách nói sai lầm ấy] quyết chẳng
thể đại diện cho học thuật được!
Do hai câu hỏi kế đó ư nghĩa chẳng rơ ràng, xin thứ
lỗi chẳng đáp!
*
Hỏi: Làm thế nào để biết người ta có thần
thức? Tôi gởi kèm theo chương đầu của
sách Nhân Quả Luân Hồi Trừng Tín Lục (ghi chép những
chứng cớ đáng tin cậy về nhân quả luân hồi)
do Thụy Thành Thư Cục xuất bản, [trong ấy]
có nói các nhà khoa học cho rằng thân thể con người
do bảy mươi lăm nguyên tố hợp thành,
nhưng cho đến nay, vẫn chưa thể có chuyện
con người tạo ra con người. Ngu tôi cho rằng
vật chất nơi thân thể con người và những
vật chất thông thường dường như là khác
nhau, [chẳng hạn như] chất sắt nơi thân
người và chất sắt [trong thiên nhiên] khác nhau! (Lâm cư sĩ hỏi)
Đáp:
Tiên sinh có thể hỏi, có thể nghe; kẻ hèn này có thể
xem, có thể đáp. Đấy là năng lực của thần
thức, chính v́ vậy mà biết. Trong đoạn sau
đó, [tiên sinh] bảo vật chất nơi thân thể con
người và những vật chất thông thường
khác nhau. “Vật chất thông
thường” là thứ ǵ trong động vật, thực
vật và khoáng vật? Do tiên sinh chẳng nêu rơ, nên chẳng
thể đáp!
*
Hỏi: V́ sao có Chân Như bản tánh? Nó lại do đâu mà
có? Sanh sản như thế nào? Đối với câu giải
đáp thứ tư thuộc phần luận về tâm tánh
trong sách Phật Học Vấn Đáp Loại Biên của
quư xă, nơi trang một trăm bảy mươi ba của
quyển hạ, tôi đọc mà không hiểu. Đă có Chân
Như bản tánh, v́ sao bị đọa lạc, chịu
khổ trong luân hồi? Nếu chẳng có Chân Như bản
tánh, cũng chẳng thể có chúng sanh, tức là chẳng
có cái gọi là khổ (tức là nói tới chúng ta). Tôi
chưa đọc sách bàn về vấn đề này! (Lâm cư sĩ hỏi)
Đáp:
“Đọc không hiểu câu giải đáp thứ tư
trong Phật Học Vấn Đáp Loại Biên”, tiên sinh
chưa từng nghiên cứu môn học ấy, xem không hiểu
là lẽ đương nhiên! Lại nói “chưa xem sách bàn về
vấn đề này”, sao không xem thử?
*
Hỏi: Trong lời tựa tự viết cho tác phẩm
Nghiên Cứu So Sánh Giữa Phật Pháp và Khoa Học, ông
Vương Quư Đồng cho biết có người hỏi
“có Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo hay không?” [Tôi đọc
thấy] khó hiểu, xin hăy giải thích. (Lâm cư sĩ hỏi)
Đáp:
Đoạn viết về “có người hỏi có Phật,
Pháp, Tăng Tam Bảo hay không?” chỉ là hỏi “có hay không”
mà thôi, hoàn toàn chẳng khó hiểu! Tiên sinh đột nhiên
nói là khó, kẻ hèn này chẳng hiểu rơ ư ông, đúng là biến
thành khó khăn!
*
Hỏi:
Đáp:
Mê là chúng sanh, giác chính là Phật. Như thế đó! Như
thế đó! Nếu hỏi “người giác ngộ đầu
tiên v́ sao có thể giác”, kẻ hèn này dùng cách hỏi ngược
lại để đáp: Đêm nay mọi người
đều ngủ, ắt có người thức đầu
tiên. Xin tiên sinh giải thích v́ sao [người ấy] có thể
tỉnh?
*
Hỏi: Xin giải thích ư nghĩa “vô thỉ”. Chúng sanh từ
vô thỉ tới nay sanh sản, vũ trụ h́nh thành v.v…
[như thế nào]? (Lâm cư
sĩ hỏi)
Đáp:
“Vô thỉ” là chẳng có cách
nào suy ra chỗ khởi đầu. Khởi thủy của
hết thảy sự vật chính là kết quả. Trước
quả, ắt phải có nhân. Do có nhân, nên có cái quả ấy,
cho nên [cái quả ấy] chẳng phải là khởi đầu.
Đối với những lời lẽ ấy, nếu
chưa từng nghiên cứu các môn khoa học, triết học
và Phật học, sẽ chẳng có cách nào liễu giải.
Đối với những đề mục to lớn trong
đoạn kế tiếp, cần phải viết một
bài dài, cột báo này hữu hạn, chẳng thể
đăng tải. Nếu đọc kinh Phật cho nhiều,
sẽ tự nhiên hiểu rơ!
* Hỏi: Kiền
thành niệm thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, bất luận
tai ách, khổ nạn ǵ cũng đều có thể được
cứu. Khi sáu vạn người họ Thích sắp gặp
nạn, cớ sao đức Thích Tôn chẳng dạy họ
ai nấy kiền thành niệm Quán Thế Âm Bồ Tát để
thoát nạn? (Lương Trung Lập
hỏi)
Đáp: Bồ
Tát cứu khổ là v́ ḷng Bi, ví như thầy thuốc trị
bệnh, chính là do ḷng nhân, nhưng bệnh có nặng, nhẹ,
và bệnh chẳng trị được khác nhau. Lương
y vận dụng y thuật, [đối với các bệnh
nhân] đều chữa trị, c̣n như lành bệnh hay
không, hoặc sống, hay chết, lương y chỉ trọn
hết toàn bộ năng lực, c̣n [bệnh nhân] sống,
chết, lành bệnh hay không, chủ yếu là do bệnh
t́nh và nhân quả. Nếu [những nhân tố ấy] đă
chín muồi, Phật cũng đành bó tay, nói chi là Bồ
Tát! Muốn khiến cho xương trắng sanh thịt, từ
xưa đến nay, chưa từng nghe thấy! Sáu vạn
người họ Thích, đức Phật chẳng thể
cứu, thế mà dạy họ niệm Quán Âm, chưa khỏi
là hư luận!
* Hỏi: Nếu
nói “định nghiệp khó
tránh”, v́ thế, sáu vạn người họ Thích chẳng
có cách nào thoát khỏi tai nạn, nhưng vua Tịnh Phạn,
A Nan, La Hầu La v.v… há cũng chẳng phải là người
họ Thích đó ư? Sao lại có thể đứng riêng
ngoài số đó được? (Lương Trung Lập hỏi)
Đáp:
Số người họ Thích há chỉ là sáu vạn? Những
vị như vua Tịnh Phạn v.v… tuy mang họ Thích, chẳng
thuộc trong số sáu vạn người ấy, chẳng
hứng chịu quả báo ấy, có chi lạ lùng?
*
Hỏi: Một ngày nọ, tôi đọc bài văn Quán Tâm của
Châu Tử (Châu Hy), phân tích lời văn để xét lại
ḿnh, trực tiếp thăm ḍ cội gốc th́ cũng thấy
sáng tỏ. Văn từ trong bài viết ấy đă sử
dụng Phật lư, nhưng ông Châu lại viết: “Cái học
của họ Thích là dùng tâm cầu tâm, dùng tâm để sai
khiến tâm, như miệng cắn miệng, như mắt
nh́n mắt, xét theo sự vận dụng th́ vừa nguy hiểm,
vừa bức bách. Xét theo đường lối th́ vừa
hiểm trở, vừa bế tắc! Lư rỗng tuếch,
t́nh thế ngược ngạo! Ấy là v́ tuy lời lẽ
dường như là có phần tương tự, nhưng
trong thực tế, chẳng giống như vậy”. Do ông
ta nói như vậy th́ sự khác biệt giữa Nho và Phật
cũng đă rơ ràng rồi! (Vương
Thắng Xương hỏi)
Đáp:
Châu Tử là Tống Nho. Trước đó, c̣n có Hán Nho. Giữa
hai học phái Hán và Tống, có nhiều điều khác biệt.
Những vị hiền nhân thân cận Khổng Tử có thể
nói là “đích phái” (phái truyền
thừa thuộc ḍng đích), [thế mà] hăy c̣n có quân tử
nho và tiểu nhân nho khác nhau. Nếu cứ nghĩ những
người được gọi là nhà Nho đều
đạt được học vấn cội gốc của
Khổng Tử, kẻ hèn này nông cạn, quê kệch, chẳng
dám cẩu thả nghe theo! Hữu Tử[11] ăn
nói tương tự như Khổng Tử, nhưng thật
ra chẳng thể hiểu biết Khổng Tử trọn
vẹn. Khổng Tử sau lễ đại tường[12],
đánh đàn cầm chẳng thành điệu. Hữu Tử
sau lễ đại tường, đi giày bằng tơ bện,
đeo giải mũ bằng lụa trắng, bị kẻ
khác chê cười là vượt lễ! Người ta khen
Tử Cống là người hiền như Khổng Tử,
nhưng Tử Cống bảo: “Tánh
của phu tử như đạo trời, chẳng thể
nghe được!” Tăng Sâm có thể nắm bắt
toàn bộ đạo của Khổng Tử, thế mà nói: “Táng dục nhược bần,
tử dục tốc hủ” (Mong sao sau khi mất chức
sẽ mau chóng nghèo khổ, chết rồi mong sao chóng hư
nát)[13], [tức
là] hoàn toàn chẳng thấu đạt ư của Khổng Tử.
Nếu bảo Nho học theo kiểu Tống Nho vượt
trỗi mấy vị trên đây, chẳng thể nào không
nghi ngờ! C̣n như nói “phản
thân tự cầu” (quay trở lại cầu nơi chính
ḿnh) mà chẳng dụng tâm, tôi cũng chẳng dám nói. Nếu
nói nhiều hơn nữa, sẽ vướng vào tội hủy
báng! C̣n nói tới “sự giống nhau hay khác nhau” [giữa
Nho và Phật], hết thảy mọi sự, đều có
giống nhau hay khác nhau. Nước và lửa khác nhau, từ
trong nước hiện ra lửa, từ trong lửa sanh ra
nước, chính là giống nhau. Âm và Dương khác biệt,
trong Dương có Âm, trong Âm có Dương, chính là chỗ
tương đồng. Nho và Phật có những điểm
tương đồng và khác biệt, cũng giống
như vậy đó. Vạn vật sanh thành nhờ vào cả
mưa lẫn nắng, nếu bỏ một thứ này, chỉ
dùng thứ kia, vạn vật sẽ chẳng thể thành tựu
được!
*
Hỏi: Lư Học của Châu Tử là quyền biến nhằm
thích ứng với đa số. Cái học ấy ắt chẳng
đến nỗi thua kém Phật, đức của ông ta ắt
chẳng đến nỗi báng Phật, nhưng ông ta thốt
ra lời ấy th́ Nho và Phật nhất định là có chỗ
chẳng hợp nhau về căn bản. Người ta
thường nói “Nho và Phật tương
thông”, nhưng đối với chỗ khác nhau, họ đă
bỏ sót vậy. Hoặc lại có người viết những
bài ngắn để biện định sự khác biệt
th́ lại là suy nghĩ chẳng tinh tường, đọc
sách chẳng sâu, chẳng đáng bàn tới! (Vương Thắng Xương hỏi)
Đáp:
Biện định về chỗ tương đồng
và khác biệt, trong điều trước, tôi đă nói rồi!
Chuyên t́m chỗ khác biệt th́ cũng rất hiển nhiên.
Cái học của Khổng Tử chuyên nói về thế
gian, tức là [nói những chuyện] thuộc hiện tại,
sau khi được sanh ra và trước khi chết đi.
Đối với hai lúc trước và sau đó, Ngài chẳng
hề nói tới. V́ thế, bảo: “Vị tri sanh, yên tri tử” (Sống c̣n chưa biết,
làm sao biết [chuyện sau khi đă] chết). Nhưng
đối với chuyện thiên mạng, tâm tánh, thần hồn
v.v… hoàn toàn chẳng phải là Ngài không biết, nhưng do
con người chẳng dễ thấu hiểu, cho nên Khổng
Tử đều ít nói tới. Đức Phật v́ một
đại sự nhân duyên mà đến thế gian này, chuyên
nói lẽ xuất thế. Đối với chuyện liễu
sanh thoát tử, Ngài chẳng ngại nói tường tận!
Nhằm độ người thế gian, chẳng ĺa thế
gian để giác ngộ, nên nói kèm thêm hai đường
nhân thiên, cho nên gọi là “ngũ
thừa thuyết pháp”. Chỗ khác biệt giữa Nho và
Phật là như thế mà thôi! C̣n như ông nói “chẳng thua kém, chẳng báng”,
bất quá là tâm lư đề cao. Tuy nghiên cứu mà chẳng
hiểu chánh xác, sẽ là qua loa. Có ư niệm bài xích th́ là
báng! Báng bổ là v́ tri kiến môn hộ sâu đậm! Không
chỉ là Nho và Phật báng bổ lẫn nhau, mà Nho cũng
báng Nho, Phật cũng báng Phật, kéo dài đă lâu, chẳng
phải chỉ là một người như thế mà thôi!
*
Hỏi: Nhưng từ đầu, học tṛ đă có ư niệm:
Về căn bản, Nho và Phật vốn ắt có lư khác biệt,
chẳng thể tương thông. Nếu có thể tương
thông, ắt sẽ trở thành lời lẽ của cùng một
nhà, làm sao có thể tách thành hai cho được? (Vương Thắng Xương
hỏi)
Đáp:
Nói đến chỗ tương đồng và dị biệt
th́ trong lời đáp thứ hai đă có nói rồi! Thấy
tương đồng th́ là một nhà; tuy là cùng một nhà,
mà có cày cấy, canh cửi, nấu nướng, may vá khác biệt.
Thấy là dị biệt th́ bài xích [kẻ chẳng giống
ḿnh] là dị đoan. Tuy dị đoan, nhưng có cùng con
đường sanh, lăo, bệnh, tử. Theo cái thấy thô
vụng của tôi, chẳng cần phải gượng ép
cho giống nhau. Những chỗ giống nhau, sẽ tự
giống nhau, chẳng thể dùng miệng lưỡi [ngụy
biện] để biến chúng thành tương đồng
được. Những điều khác biệt th́ tự
chúng khác biệt, chẳng thể miễn cưỡng sửa
đổi cho chúng khác biệt được. Mặt trời,
mặt trăng sáng ngời trên trời, mưa nắng thuận
theo thời tiết, núi sông bị giới hạn nơi
đất, nhưng đều hữu ích cho muôn vật!
*
Hỏi: Nếu dùng định tĩnh để luận
định, sách Trung Dung của Nho gia nói đích xác nhất.
Sau khi đă định, bèn có thể tĩnh. Sau khi đă
tĩnh, sẽ có thể an. Sau khi đă an, sẽ có thể
suy niệm. Sau khi suy niệm, sẽ đạt được.
Nhà Phật bảo “dùng tĩnh để cầu định”,
tức là bộp chộp nói “học Phật chỉ cần
đạt được một chữ Định, sẽ
thọ dụng bất tận”. Gộp những điều
này lại, sẽ thấy chỗ khác biệt giữa Nho và
Phật. Ắt phải tách ra để hiểu rơ th́ sau
đấy mới tránh khỏi lẫn lộn giữa ngọc
trai và mắt cá! (Vương Thắng
Xương hỏi)
Đáp:
Đừng hiểu chữ “nhất”
là một. Chữ Nhất nói theo mỗi giáo, sẽ có tác dụng
khác nhau. Định trong sách Đại Học và Định
trong Phật pháp tuy cùng mặt chữ, nhưng xét theo pháp, sẽ
khác biệt to lớn. Định trong Đại Học là
“biết rồi an trụ nơi chí thiện, chẳng để
thoái chuyển về sau”. An trụ trong ấy, tâm chẳng
tán loạn, phập phều, chao đảo, dần dần
hướng đến “tịnh, an”. Do suy niệm [từ
“tịnh, an”] mà có sở đắc. Định của nhà
Phật chính là sau khi đă tĩnh lự, chẳng dấy một
niệm, tịch mà có thể chiếu, chiếu mà vẫn là
tịch, chính là cảnh giới đoạn Hoặc, phát
sanh thần thông, vượt thoát căn trần, chủng
loại rất nhiều, phương pháp chẳng chỉ
có một. Hễ thành tựu, sẽ liễu thoát sanh tử,
bất sanh, bất diệt. Cho nên nói là “thọ dụng bất tận”. Đấy chính là
mặt chữ giống nhau, nhưng sự việc khác nhau!
* Hỏi: Cụ
đến hoằng đạo lần này, tôi rất kính
ngưỡng, hoan nghênh, nhưng hiện thời “ứng vận” khác nhau, thiên
đạo chịu sự chi phối của sự ứng
vận ấy. Lăo Mẫu[14] từ
bi, sai Di Lặc tổ sư giáng phàm, thay thế, kế tục
Phật Thích Ca hóa độ chúng sanh, thâu tóm trọn vẹn
thời mạt kiếp. V́ thế, Phật Thích Ca chẳng
có quyền hạn, bèn từ chức. Chúng sanh tuy tin Ngài, cũng
chẳng có cách nào được cứu! Ví như mấy vị
huyện trưởng nhậm chức tại các huyện, khi
đang giữ chức bèn có thể tiếp nhận sự
vụ của dân chúng, nhưng các vị huyện trưởng
tiền nhiệm có quyền xử lư sự vụ của
dân chúng hay không? Có thể thấy được sự khác
biệt giữa người đang đảm nhiệm chức
vụ và người đă thôi giữ chức! Vị huyện
trưởng đă bị băi chức th́ cũng vẫn y
như cũ, vẫn được dân chúng tôn kính y hệt.
Phật Thích Ca tuy chẳng c̣n đang giữ chức, ta vẫn
tôn kính Ngài. Trước mắt, đa số người
trong huyện Gia Nghĩa đều quy nhập đại
đạo Nhất Quán, tín ngưỡng sự giáo hóa của
thánh nhân trong ngũ giáo, nhằm xúc tiến thế giới
đại đồng, chẳng thiên vị bất cứ
giáo nào! Thánh nhân của ngũ giáo đều do Lăo Mẫu từ
bi sai họ hạ phàm để hóa độ, chẳng có
giáo môn nào tốt hay xấu! Hiện thời, mọi người
cần phải ngộ nguyên lư ấy, nhân loại quyết
sẽ chẳng có tranh chấp, chẳng c̣n có chiến tranh,
thế giới mới có thể cùng tồn tại ḥa b́nh.
Do tôi có quan điểm tín ngưỡng như thế, xin
ông hăy công khai trả lời là tôi có sai lầm hay không? (Phương Nhất Đạo
hỏi)
Đáp: Có lẽ
Ngài đọc sách chẳng nhiều, cho nên kiến thức
chẳng rộng! Câu hỏi của Ngài có ư ǵ, tại hạ
chẳng rơ! V́ thế, chẳng tiện vâng mạng trả
lời. Nếu là đàm đạo, do đạo khác nhau,
chẳng thể bàn luận với nhau, chẳng có lời
nào để trao đổi được! Nếu là truyền
đạo, kính xin hăy t́m kẻ hữu duyên khác. Tôi ngoài Phật
ra, chẳng cầu chi hết! Nếu là hỏi han “tôi có sai
lầm hay không”, tôi có thể đáp lời: Sai lầm quá
đỗi! Nhưng Ngài lại không nêu rơ địa chỉ,
nên cũng chẳng có cách nào tiếp xúc. Chắc là do thành kiến
quá sâu, có lẽ cũng sẽ uổng lời phí sức! Nay
tôi để sẵn một cuốn Ám Lộ Minh
Đăng, ông có thể dùng danh nghĩa Phương Nhất
Đạo để hướng về tờ nguyệt
san Bồ Đề Thụ nhận về đọc. Tin
hay không th́ ai nấy đều đă trọn hết đạo
của ḿnh rồi.
* Hỏi: Cổ
thư Trung Hoa nói Đường Minh Hoàng lên chơi cung
trăng, Thường Nga (Hằng Nga) trốn lên mặt
trăng. Kinh Phật lại nói có nhật cung thiên tử và
nguyệt cung thiên tử. Hiện thời, khoa học phát
triển, các nước Mỹ, Nga đều thăm ḍ nguyệt
cầu, thấy chẳng có sinh vật nào. Họ có chụp
h́nh làm bằng chứng. Không lâu sau, nước Mỹ đổ
bộ nguyệt cầu, tôi sợ rằng sau này những
điều được nói trong cổ thư Trung Hoa và
kinh Phật sẽ chẳng thể thành lập được!
(Trương Nhất Giám hỏi)
Đáp: Thường
Nga trốn lên cung trăng, Minh Hoàng du nguyệt điện,
đều là chuyện thuộc loại bút kư, tiểu thuyết,
chẳng phải là văn hiến chánh đáng, bất quá là
những loại văn tự nhằm giải trí đó
thôi! Tạm thời chẳng nói đến. Mỹ và Nga
thăm ḍ nguyệt cầu, đối với t́nh huống
hiện trạng thu được, do chỉ là [t́nh huống
trong] trong nhất thời, cũng chẳng đủ để
làm bằng chứng, v́ hiện nay, họ chỉ [thăm
ḍ] một nửa phần mặt trăng. Nếu người
từ tinh cầu khác đến thăm ḍ địa cầu,
chỉ thấy Nam Bắc Cực, liền nói địa cầu
thuần là băng, tự lầm lẫn! Tiên sinh đă tin
khoa học, có từng nghe chủ nhiệm khoa Thiên Văn của
Gia Lư Phước Lợi Á Châu Lập Đại Học (
* Hỏi: Sùng bái
ngẫu tượng, lại biết rơ đó chỉ là một
bức tượng, v́ sao c̣n phải đốt
hương, thờ phụng? (Sơ
học xă đoàn hỏi)
Đáp: Dùng ngẫu
tượng để tượng trưng cho một
người nào đó. Khổng Tử nói: “Tế như tại” (Cúng tế như [người
đă khuất] hăy c̣n sống). Lại nói “như tại kỳ thượng” (giống như
[người đă khuất] vẫn c̣n đó), vẫn là mang
ư nghĩa “nhờ vào đó để quán tưởng, dẫn
khởi cảm ứng đạo giao”. Để tượng
trưng, không bắt buộc phải là ngẫu tượng,
mà cũng có khi bày mũ áo, hoặc viết [tên họ lên]
bài vị bằng gỗ, đều nhằm dẫn khởi
sự quán cảm, tâm giao cảm với thần, mang ư
nghĩa thấu triệt sâu xa. Hăy nên biết vạn pháp duy
tâm, coi tượng là thật th́ tượng bèn là thật.
Coi người là tượng, người bèn là tượng.
Hăy thử nghĩ: Cờ của quốc gia, mộ phần
trong nghĩa trang, đoạn phim về quốc ca
được chiếu trong rạp chiếu phim, há chẳng
phải cũng là giống như ngẫu tượng mà
thôi! Biết rơ nó là một tấm vải, hoặc một
khối đất, hay một bức ảnh suông, v́ sao vẫn
hướng về chúng tỏ ḷng tôn kính? Lư và Sự là một,
sao lại nghĩ thành hai đường?
* Hỏi: Mê tín lạc
hậu, lạy Phật van vái phù hộ cho chính ḿnh. Kẻ
ác cũng lạy Phật, có phải là cũng được
phù hộ hay không? (Sơ học
xă đoàn hỏi)
Đáp: Phật
pháp b́nh đẳng, nhất loạt hóa độ, chẳng
phân thiện, ác, tấn, thoái. Hễ có cảm, bèn có ứng,
như hai tấm gương đều sáng, có thể chiếu
rọi lẫn nhau, liền được gia bị. Chẳng
có cảm, sẽ không ứng. [Ví như] hai tấm
gương, một trong sáng, một dơ bẩn, chẳng
thể chiếu lẫn nhau, sẽ chẳng có cách nào
được gia bị. Kẻ làm lành và sám hối, tâm bèn
sáng rơ, hiển hiện. Kẻ làm ác mà chẳng hối cải,
tâm bị nhuốm dơ. Người tâm sáng bèn có thể cảm,
người tâm nhơ chẳng thể cảm. Điều
then chốt là như vậy, chẳng phải chỉ là mê
tín.
* Hỏi: Kẻ
lạc hậu so với thời đại, thậm chí phủ
nhận sự thật khoa học, như kiêng sát sanh, ăn
chay v.v… (Sơ học xă đoàn
hỏi)
Đáp: Kẻ lạc
hậu so với thời đại, có nhiều t́nh h́nh khác
biệt, hăy nên luận định riêng biệt. Kẻ phủ
nhận sự thật khoa học, đương nhiên chẳng
phải là người thông đạt, nhưng học khoa
học mà chẳng thể thông hiểu những ǵ ngoài khoa học
th́ cũng chẳng phải là kẻ thông đạt. Do sau
đó, quư vị đột ngột đề cập những
chuyện như kiêng giết, ăn chay v.v… Những chuyện
ấy chẳng dính dáng ǵ đến [thái độ] phủ
nhận khoa học! Nếu bảo [kiêng giết, ăn chay]
chẳng phù hợp thời đại th́ cũng chẳng
đúng. Đối với cái gọi là “hợp thời đại” ngày nay, phần nhiều
chịu ảnh hưởng theo phong tục Âu Mỹ [coi đó
là hợp thời]. Từ năm 1822 trở đi, do nghị
viên nước Anh là ông Mă Đinh Thị (Richard Martin)[15] đề
xướng, không chỉ là kiêng giết, mà tiến hơn nữa,
các nước văn minh đều bảo vệ động
vật. Chỉ riêng hội bảo vệ động vật
tại các nước Âu Mỹ, đă có hơn một ngàn
sáu trăm nơi. Các nước Đông Tây tham gia, chẳng
thể kể xiết! Đối với chuyện ăn
chay, tại các nước Âu Mỹ đều có hội
ăn chay. Những hội ấy phát xuất từ nền
tảng từ thiện. Gần đây, họ c̣n quan tâm
đến phép vệ sinh: Để ngăn ngừa gia
tăng lượng mỡ trong thân thể và chứng xơ
cứng mạch máu, đều khuyên kiêng ăn mỡ động
vật. Những chuyện ấy đều là sự thật,
ai nấy đều biết. Thuở trước, khoa học
chẳng phát triển, ăn lông, uống máu; hiện thời,
khoa học phát triển, [đề xướng, cổ vũ]
ăn chay ḥng kéo dài tuổi thọ.
* Hỏi:
Cũng có kẻ lập chùa miếu để kiếm sống,
tụ tập đại chúng để thâu gom tiền tài
hay không? (Sơ học xă
đoàn hỏi)
Đáp: Chuyện
đă lâu ngày bèn nẩy sanh thói tệ, từ xưa đến
nay đều là như thế, nhưng thiện, ác, chân, ngụy
đều do con người nắm giữ. Đă là chẳng
do pháp, th́ cũng chẳng do chùa miếu. Đời Châu,
Thành Vương và Khang Vương ở nơi đất
Cảo[16] mà đất nước
yên b́nh, U Vương, Lệ Vương sống nơi
đất Cảo mà đất nước loạn lạc.
Như vậy th́ b́nh trị hay loạn lạc là do con
người, chẳng phải do đất Cảo. Văn
Thiên Tường và Sử Khả Pháp[17]
đọc sách thánh hiền, đều có thể vị quốc
vong thân, Vương Măng[18]
và Tào Tháo cũng đọc sách thánh hiền mà đều
dám giết vua, đoạt nước. Do vậy, trung hay
gian là do con người, chẳng do kinh sách!
* Hỏi: Bảo
vệ người chết, chẳng bảo vệ người
sống, niệm kinh siêu độ vong hồn, lễ nghi
ưu tiên cho người đă chết. Thật ra, nếu
dựa theo nhân quả luân hồi để nói, sẽ là “đậy nắp ḥm rồi mới
luận định”. Cái nhân trong đời này sẽ bao
gồm cái nhân từ mấy đời trước, quyết
định sẵn sự diễn biến của một cá
nhân. V́ thế, lễ nghi chú trọng người đă khuất
chỉ là những thứ sáo rỗng được bày ra
đó thôi! (Sơ học xă
đoàn hỏi)
Đáp: Phật
giáo b́nh đẳng, phổ độ lục đạo. Phật
pháp vô biên, có thể độ lục đạo. Vạn hữu
trong vũ trụ muôn vàn sai khác, pháp môn vô lượng, [dẫu
dùng] hằng sa [để tính đếm, vẫn] khó trọn
hết! Hoàn toàn chẳng có quy định “bảo vệ
người chết, chẳng bảo vệ người sống”.
Siêu độ vong linh chẳng qua là một chuyện, chẳng
thể thấy một cái vằn con báo, bèn bảo toàn thể
là con báo được! C̣n như luận định
“đă định sẵn sự diễn biến của một
cá nhân”, lư luận Phật giáo chẳng hề nói như vậy.
Phật học bảo “vạn
pháp vô thường, đều là sanh diệt, tâm có thể
tạo, tâm có thể chuyển”. Tạo ra, xoay chuyển,
há có nhất định. Thật sự là khi đă định,
có thể khiến cho nó chuyển. Khi đă chuyển, lại
có thể khiến cho nó định!
* Hỏi: Người
xuất gia chỉ v́ phàm trần khó độ (ư nói những
kẻ thất bại xét theo thuyết tiến hóa: Chỉ những
động vật nào thích ứng trong cuộc cạnh tranh
theo sự chọn lọc tự nhiên th́ mới sanh tồn),
bèn muốn cậy vào sự tu hành để hưởng
phước. Có thể nói họ là những kẻ trốn
lánh hiện thực, tự giữ ḿnh bằng thái độ
tiêu cực. (Sơ học xă
đoàn hỏi)
Đáp: Gần
đây, người ta chỉ biết đến luận
thuyết đào thải tàn khốc diễn ra trong thiên nhiên
do Đạt Thị (Charles Darwin) đề xướng, nhưng
có ai cũng biết đến bài minh đề cao ḷng Từ,
che chở động vật của ông Trương Tử
Dân hay không? V́ sao tôn sùng thuyết của Đạt Thị
mà lại quên lăng bài minh của ông Trương, chẳng phải
là học hành lệch lạc hay sao? Tạm thời chẳng
bàn đến chuyện này! Người xuất gia cũng
là người, tư tưởng của nhiều người
th́ làm sao có thể nhất trí cho được? Có kẻ tự
hưởng thanh phước, có người chuyên tu khổ
hạnh, có người v́ tự độ, có người
v́ độ kẻ khác, chẳng thể nói khẳng định
theo kiểu ấy được! Lại nói đến
chuyện tiêu cực và tích cực, vấn đề lại
càng nhiều hơn! Tiêu cực đối với chuyện
tranh quyền đoạt lợi, hay là đối với
chuyện lợi nước tạo phước cho dân
cũng tiêu cực? Hai loại tiêu cực ấy có tánh chất
khác nhau. Thuộc về loại trước th́ chẳng có
lỗi ǵ, thuộc về loại sau th́ là sai trái. Há có nên
trách mắng luông tuồng, chẳng phân đen trắng mảy
may ư?
* Hỏi: Hàng
thanh niên học Phật càng cảm thấy Phật học
chẳng có ǵ liên quan đến chính ḿnh! Nếu tin theo Phật,
sẽ rớt vào loại yếm thế. Đă vậy,
ăn chay khó lắm! (Sơ học
xă đoàn hỏi)
Đáp: Phật
học chính là cái học nhằm cầu chánh tri chánh kiến.
Câu hỏi này thuộc loại hiểu lầm. Hiểu lầm
chính là v́ cảm nhận sai lầm vậy. Cầu tri giác
như thế nào chính là [nhận biết chánh xác] chân tướng
của nhân sinh và vũ trụ. “Nhân
sinh” là nói tới những chuyện thuộc về sanh mạng
của bọn ta, “vũ trụ”
chỉ những chuyện thuộc về hoàn cảnh cư
trụ của ta. Hai điều ấy đều chẳng
biết, há chẳng phải là cả một đời hồ
đồ? Người thanh niên đối với sanh, lăo,
bệnh, tử, có quan hệ hay không? Đối với hoàn
cảnh thuận hay nghịch, có quan hệ hay không? Xin hăy
suy nghĩ cặn kẽ mấy ngày, rồi sẽ buông lời
quyết định. Nếu bảo là “yếm thế”, cần
phải nêu ra sự thật: Rượu chè trai gái là yếm
thế, thất t́nh tự sát là yếm thế, chẳng học,
chẳng làm ǵ, chính là yếm thế! Học Phật th́ phải
giới luật tinh nghiêm, chánh tâm, tu thân. Học Phật phải
hiến thân cho đại chúng, chẳng chết trong tay
đàn bà. Học Phật phải “địa ngục chẳng trống, thề chẳng
thành Phật”. Các hạ chẳng hiểu rơ nội dung,
cho nên tôi nói là “hiểu lầm”. Đối với chuyện
ăn chay, khi chưa thọ giới, hoàn toàn chẳng phải
là quy định mang tánh chất cứng ngắc, chỉ
nên tùy phần chẳng giết là được rồi!
* Hỏi: Báo Bồ
Đề Thụ số hai trăm hai mươi, trong mục
Phật Học Vấn Đáp có một vấn đề
như thế này: “Quan Vân Trường thuộc thời
đại Tam Quốc, có người nói ông ta là…” Trả lời:
“V́ nước giết địch,
hộ pháp, hàng ma, chẳng giống như chuyện sát nhân
thông thường. Giết địch là trung. Hàng ma là nhân.
Đại trung, đại nhân, hộ quốc, hộ pháp,
há chẳng phải là Bồ Tát ư?” Thấy lời
đáp ấy, xác thực là khiến cho tôi bất an. Chẳng
lẽ bậc bác học như Lư cư sĩ, rốt cuộc
chẳng hiểu “bất cứ h́nh thức bạo lực
nào, bất luận viện cớ nào, đều tuyệt
đối trái nghịch giáo giới của Phật”, “Phật
giáo đề xướng, tuyên dương ḥa b́nh, chẳng
bạo lực, lại c̣n là phúc âm để cứu đời...
Trong Phật giáo chẳng có cái ǵ có thể gọi là cuộc
chiến chánh nghĩa! Đấy chỉ là một tên gọi
được hư ngụy chế tạo ra, lại c̣n
được tuyên truyền, để trở thành lời
lẽ và lư do bào chữa cho sự ghét hận, tàn khốc, bạo
ngược, và sự tàn sát với quy mô to lớn mà thôi! Ai
quyết định chánh nghĩa và bất chánh nghĩa? Thắng
lợi của kẻ cường đại là chánh
nghĩa, thất bại của kẻ nhược tiểu
là bất nghĩa! Chiến tranh của chúng ta vĩnh viễn
là chánh nghĩa, chiến tranh của các ngươi vĩnh
viễn là bất nghĩa. Phật giáo hoàn toàn chẳng tiếp
nhận luận điểm như thế ấy”. “Cừu
hận vĩnh viễn chẳng thể hóa giải cừu hận,
chỉ có nhân ái là có thể hóa giải cừu hận. Đấy
mới là chí lư vĩnh hằng”. Những câu trên đây đều
dẫn từ sách Khải Thị Của Đức Phật
do tiên sinh Cố Pháp Nghiêm biên soạn. Lại có thể tham
duyệt các trang một trăm ba mươi chín, một
trăm bốn mươi, và một trăm bốn
mươi mốt, chẳng cần phải trích dẫn. V́
sao Lư cư sĩ nói “giết
địch là trung”… Chẳng lẽ “địch” chính là ma quỷ, chúng cũng chẳng
phải là nhân loại ư? (Dẫu chúng nó là ma quỷ
đi nữa, đức Phật cũng chẳng chủ
trương giết. Tối đa là hàng phục mà thôi!) A
Di Đà Phật! (Trong khi tôi viết lá thư này, trong ḷng đúng
là hoảng hốt, kinh sợ), bởi lẽ, vứt bỏ
ḷng Bi th́ toàn thể Phật giáo cũng tiêu luôn rồi! Nêu
đơn giản mấy điều này để răn
Lư cư sĩ! (Hoàng Tuấn
Khôi hỏi)
Đáp: Đối
với cao luận của các hạ, tôi chia thành năm phần
để kính đáp:
1) Từ “bất cứ h́nh thức nào”
cho đến “hoàn toàn trái nghịch
giáo giới của Phật” là đoạn thứ nhất.
Đọc xong, đủ thấy các hạ nặng ḷng từ
bi, hết sức bội phục, nhưng pháp thế gian phần
nhiều quen thói phân biệt, pháp xuất thế gian hết
sức chú trọng vô phân biệt. Đối với phân biệt,
mỗi người có lập trường riêng. Các lập
trường xét theo nguyên tắc đều quy về một,
nhưng phương cách thực hiện khác nhau. Dùng chính trị
và tôn giáo để luận, tuy đều v́ lợi ích chúng
sanh, nhưng chính trị th́ nắm quyền cai trị, thực
hành sự thưởng phạt. Từ Nghiêu, Thuấn cho
đến Châu, Khổng đều là bậc thánh nhân, vua
Nghiêu giết Tứ Hung[19],
vua Thuấn lập ra ngũ h́nh[20],
Thành Thang và Châu Vũ Vương làm cách mạng (lật đổ
Kiệt, Trụ), vua Châu giết Quản, Sái[21],
Khổng Tử giết Thiếu Chánh Măo. Những vị ấy
đều là bất đắc dĩ mà giết, chẳng
phải là viện cớ che đậy ḷng riêng tư. Tôn
giáo chỉ nói rơ nhân quả do chính ḿnh phải gánh chịu,
khuyên dạy cải ác, chẳng có quyền cưỡng chế.
Ai nấy có trách nhiệm riêng, ai nấy có tác dụng riêng.
Không có tôn giáo, sẽ chẳng thể cải hóa cái tâm. Không
có chính trị, sẽ chẳng thể bảo vệ tôn giáo.
Đó là điều nên biện định thứ nhất.
2) Thứ hai, cao
luận từ “Phật giáo
đề xướng, tuyên dương hoà b́nh, chẳng tàn
bạo” cho đến “Phật
giáo hoàn toàn chẳng tiếp nhận luận điểm như
thế ấy” là đoạn thứ hai. Phật giáo
đề xướng ḥa b́nh, chẳng phải là ngăn cấm
bạo lực. V́ có sức hàng phục th́ chẳng giết,
do [kẻ ấy] đă bị hàng phục rồi, cần ǵ
phải giết nữa? Cầm bát hàng phục rồng, hóa
ra sư tử để hàng phục voi, hàng ma dưới
cội cây, là lúc chứng Bồ Đề. Giết giặc,
giết địch, pḥng vệ để ngăn cấm bạo
lực, chẳng phải là không được phép. Nếu
chẳng cho phép tự pḥng vệ, cần ǵ có Chấp Kim
Cang Thần và Vi Đà vũ trang, Hộ Pháp Già Lam v.v… Đó
là điều nên biện định thứ hai.
3) Thứ ba, Quan
Công lúc c̣n sống hoàn toàn chưa quy y Phật. Ông ta v́ hộ
quốc mà giết địch, chính là hành vi thuộc về
chánh trị trong thế gian, chẳng thể dùng giới luật
nhà Phật để ràng buộc được! Thấy
là nhân, hay thấy là trí, cố nhiên chẳng thể bàn luận
nhất định được, nhưng Phật coi trọng
sám hối, oán thân đều độ, thiện ác đều
nhiếp. Xưa vua Ca Lợi từng cắt chặt thân thể
đức Thế Tôn; vị La Hán Kiều Trần Như trong
đời này chính là vua Ca Lợi thuở trước. Lại
nữa, trong hội Niết Bàn, gă đồ tể [Quảng
Ngạch] buông dao mổ xuống, ngay lập tức thành Phật.
Anh linh của Quan Công hộ tŕ pháp của đại sư
Trí Giả, nên được gọi là Bồ Tát. Cân nhắc
những điều vừa nêu trên đây, có lẽ nào
đuổi ông ra ra khỏi cửa? Bồ Tát là “giác hữu t́nh”, lẽ đâu
chẳng chấp thuận dạy cho người khác giác ngộ?
Luận điểm như vậy phát xuất từ Phật
giáo, kẻ hèn này chẳng gánh trách nhiệm. Đó là điều
nên biện định thứ ba.
4) Thứ tư,
luận định ấy (những điều luận định
về từ bi, chống chiến tranh trong lời hỏi) lại
càng là chí lư danh ngôn, nhưng cần phải đừng giữ
thành kiến, hăy nhất loạt b́nh đẳng. Các hạ
đối với chuyện Quan Công giết người khi
c̣n sống, ông ta đă chẳng phải là giáo đồ nhà
Phật, lại là vơ tướng, chủ nhân do ông ta phụng
sự (Lưu Bị) lại bị Tào Tháo áp bức. Quan
Công mang chức trách con nhà vơ, mà ép ông ta chẳng bảo vệ
chủ ḿnh, chẳng kháng cự địch nhân, nói theo pháp
thế gian, ông ta thờ vua chẳng dốc sức ḿnh, làm
người chẳng trọn hết ḷng trung, sợ rằng
công luận sẽ chẳng chấp thuận! Dẫu các hạ
có tư tưởng cao siêu, vạch ra Quan Công là kẻ tội
lỗi, nhưng ông ta đă đứt đầu hy sinh, chết
đă nhiều năm, thần hồn đă sám hối, quy
Phật; sao không dùng sự nhân ái hóa giải để khoan
dung vậy?
5) Thứ
năm, luận định về Sự, hăy nên phân định
giới tuyến rơ rệt. Xét theo pháp thế gian, người
nhà vơ chẳng học Phật pháp, kháng địch và giết
địch là chức trách của kẻ ấy. Tận hết
trách nhiệm th́ gọi là trung, chẳng tận hết trách
nhiệm th́ gọi là “bất trung”. Đó là công luận
trong thế gian, kẻ hèn này chẳng qua học sao nói vậy
mà thôi! Pháp xuất thế gian chẳng vậy! Nếu ḥa
thượng xuất gia phạm tội sát, không chỉ là
giết người, dẫu giết dế, kiến, chim,
thú, cũng là phá giới, đều là đă đánh mất
luật nghi. Trong pháp thế gian, kẻ địch đều
gọi là “giặc”, pháp xuất
thế gian th́ đầu, mắt, tủy, năo đều có
thể xả cho kẻ địch. Đấy là do những
điều đă học và lập trường khác nhau. Tôi
lại đặc biệt thanh minh: Nói Quan Công là trung, xem
trong các sách sử, đều gọi ông ta là Hộ Pháp. Xem
những ghi chép trong sách vở nhà Phật, nhà chùa đắp
tượng ông ta chẳng phải là trong hiện thời,
đều chẳng phải do kẻ hèn này đề xướng.
Chứng cứ xác thực rành rành, nếu có điều
kinh sợ, xin hăy hướng về những người ấy
mà lư luận, kẻ hèn này bất quá được hỏi
tới, bèn dựa theo những ǵ chính ḿnh đă biết để
trả lời! Toàn thể Phật giáo chẳng thể v́ một
ḿnh Quan Công mà tiêu vong, đấy cũng là điều có thể
nói dứt khoát. Đó là điều đáng nên biện định
thứ năm.
* Hỏi: Rất
nhiều sách ca ngợi Phật pháp được lưu
thông, trong ấy, nêu ra rất nhiều chuyện phát sanh
trong đời trước hoặc chuyện thuộc
đời sau, khiến cho những kẻ b́nh phàm khó thể
tin phục! Dường như rơ ràng là quá huyễn hoặc,
kỳ lạ, có phải là trừ phi tu đến mức độ
có con mắt trí huệ ra, những kẻ b́nh phàm vĩnh viễn
chẳng có cách nào thấy những chuyện thần kỳ
như thế? Bản thân chẳng trông thấy mà tin tưởng,
đó có phải là niềm tin mù quáng hay không? Trong những
người đang sống trên cơi đời, có ai từng
luyện thành con mắt trí huệ hay không? (Lưu Văn Tường hỏi)
Đáp: Có thể
lư giải th́ sẽ chẳng phải là huyền hoặc, lạ
lùng, chứ nh́n vào chuyện trước mắt [mà chẳng
lư giải], sẽ cảm thấy lạ lùng, huyền hoặc.
Ví như ai nấy đều có cao tổ (ông cố), tằng
tổ (ông sơ), đấy đều là những chuyện
thuở trước, nhưng ta chưa từng thấy,
hoàn toàn chẳng phải là không có! Nếu cưới vợ,
sanh con, con lại cưới vợ sanh cháu, cho đến
chắt, chút, đều là chuyện thuộc sau này, cũng
chẳng thể thấy được, nhưng hoàn toàn chẳng
phải là không có! Tôi nghĩ bất cứ người nào,
sống trong hiện thời, mong thấy trên là ông cố,
dưới là chắt, chút, sợ là khó thể làm được!
Nếu con người tin là ông cố và cháu, chắt, đó
có phải là tin tưởng mù quáng hay không? Phải biết
ngày hôm nay là do ngày hôm qua biến thành, ngày mai do ngày hôm nay biến
thành. Nếu chẳng tin tưởng, hăy hỏi ông Ái Nhân
Tư Thản (Einstein)!
* Năm câu hỏi của Ngô tiên
sinh ở Đào Viên
1) Hỏi: Đối với
tín đồ Cơ Đốc, tổ tiên của chúng ta là Á
Đương và Hạ Oa (Adam và Eva). Chẳng biết tổ
tiên của tín đồ Phật giáo là ai?
Đáp:
Trước khi đáp, xin đặc biệt thanh minh: Trong
thư ngài tự xưng là Ngô tiên sinh, có thể nói là “tự tôn, tự quư”. Lại
nói là hỏi đáp về Phật học, nhưng xem chung
năm câu hỏi, hoàn toàn chẳng phải là Phật học!
Chẳng qua là không giữ bổn phận, ở không rảnh
rang khó thể chịu nổi, vô sự mà khuấy động
sóng gió đó thôi! Tiên sinh đă rủ ḷng hỏi tới, chỉ
đành trả lời riêng cho cá nhân tiên sinh, chẳng dám bàn
leo giáo nghĩa của quư giáo, ḥng tránh khỏi những
điều thiếu sót cung kính, thất lễ vậy.
Con
người có tổ tiên của dân tộc, tôn giáo có vị
tổ sáng lập giáo. Con người chẳng phải là vừa
lọt ḷng đă đều theo tôn giáo, cần phải phân
định rơ ràng! Nay trước hết nói đến tổ
tiên của dân tộc Trung Hoa:
a. (Theo Ngự
Lăm Từ Chỉnh Tam Ngũ Lịch Nghị), trời đất
hỗn độn như trứng gà, Bàn Cổ ở trong
đó một vạn tám ngàn năm, tách rời trời đất
rồi Bàn Cổ sống trong đó.
b. (Theo Thuật
Dị Kư), Bàn Cổ là tổ của thiên địa, vạn
vật.
c. (Theo Lộ Sử),
trời đất và thuở ban sơ, có Hỗn Độn
Thị xuất hiện sắp xếp cơi đời. Hỗn
Độn chính là Bàn Cổ.
Đấy chính
là thần linh hóa sanh, hoàn toàn chẳng phải là do nam nữ
ô uế giao hợp mà xuất hiện vậy. Lại nói
đến tổ của Phật giáo. (Theo phẩm Thọ
Lượng trong kinh Pháp Hoa), mài nát năm trăm vạn ức
na-do-tha A-tăng-kỳ tam thiên đại thiên thế giới
thành vi trần. Cứ đi qua năm trăm ngàn vạn ức
na-do-tha A-tăng-kỳ cơi nước, mới đặt xuống
một hạt vi trần. [Đặt như thế] cho
đến hết số bụi đó, đối với
những thế giới đă đi qua, đều nghiền
nát thành vi trần, [dùng số lượng vi trần ấy]
để sánh ví ḥng nêu rơ [thời gian] Thích Ca Như Lai
đă thành Phật lâu xa [dường nào]. Quư tiên sinh tuy là
người Hoa, sợ rằng c̣n có những điều
chưa được nghe, quên mất lễ chế, nguồn
gốc tổ tiên[22],
huống chi điển tịch cũng chẳng biết!
2) Hỏi: Hết
thảy động vật đều do Gia Ḥa Hoa (Jehovah)
sáng tạo để làm thực phẩm cho con người.
Phật giáo ăn chay có phải là cô phụ hảo ư của
Thượng Đế hay không?
Đáp: Theo
văn hóa Trung Hoa, “kiến kỳ
sanh, bất nhẫn kiến kỳ tử. Văn kỳ
thanh, bất nhẫn thực kỳ nhục” (thấy nó
sống, chẳng nỡ thấy nó chết; nghe tiếng nó,
chẳng nỡ ăn thịt nó). Đấy là cái tâm nhân từ
yêu thương loài vật. Đối với Phật giáo,
chúng sanh b́nh đẳng. Không chỉ là chẳng nỡ thấy
giết, nghe tiếng, mà c̣n suy từ ḿnh nghĩ đến
kẻ khác, giải cứu cho nó. Nếu nói “sáng tạo vạn
vật để làm thức ăn cho con người”, th́
cũng có thể nói “sáng tạo con người để
làm thức ăn cho muỗi, bọ chét, rệp, rận”
ư?
3) Hỏi: Phật
giáo đồ (bao gồm cả tín đồ Đạo
giáo) đều sùng bái ngẫu tượng. Đấy chính
là điều mà tín đồ Cơ Đốc giáo coi là chuyện
không đúng. Phật giáo hăy nên giải thích như thế
nào?
Đáp: Trung Hoa
vào thời cổ không có ngẫu tượng, dùng người
làm thần thi[23]
để tế, mang ư nghĩa hiếu thảo, tưởng
nhớ cội nguồn, hàng thất phu chẳng biết
đến nghĩa ấy! Về sau, do chẳng thuận tiện,
bèn diễn biến thành mộc chủ (bài vị khắc
tên tuổi bằng gỗ) hoặc tạc tượng, mang
ư nghĩa “trông thấy h́nh tượng, bèn nghĩ đến
người”, [cảm nhận] như người ấy vẫn
c̣n quanh quẩn. Phật giáo thoạt đầu chẳng có
tượng, cũng là diễn biến về sau, [tạc
tượng] nhằm thể hiện ư nghĩa “ngắm nh́n
chẳng quên, ḥng chánh tâm ư, chẳng tán loạn”. Quư tiên sinh
chẳng coi [những thứ ấy] ra ǵ, đó là chuyện
thuộc về tánh t́nh bẩm sanh của cá nhân. Tôi từng
nghe nói có kẻ cha mẹ đă chết mà chẳng thèm chôn,
huống hồ là đối với gỗ khắc, giấy
vẽ [mà coi trọng] ư? Văn hóa Trung Hoa chẳng phải
là như vậy, thấy thư từ của cha mẹ,
thân hữu, c̣n vái lạy rồi mới đọc. Kéo quốc
kỳ lên, ắt đứng nghiêm, hoặc cúi gập ḿnh,
nhằm biểu hiện ḷng kính trọng trong tự tâm. Ôi!
Lễ nghĩa của dân tộc là như thế đó, những
xứ di địch bèn coi là sai!
4) Hỏi: Kinh
Thánh ghi chép rất nhiều: Do chẳng tin chúa Gia Tô và
Thượng Đế Gia Ḥa Hoa, bèn bị Thượng
Đế Gia Ḥa Hoa dùng ôn dịch, hồng thủy (lũ lụt)
giết chết chẳng thể đếm xiết. Khuyên
các ngươi hăy nên thay đổi tín ngưỡng, tin theo
Chúa Gia Ḥa Hoa. Nếu không, Chúa Gia Ḥa Hoa dấy ḷng phẫn nộ,
các ngươi chỉ có một con đường chết
đứ đừ!
Đáp: Sự hiểu
biết của quư tiên sinh sao mà nông cạn thế? Tại hạ
nghĩ Gia Ḥa Hoa quyết chẳng như thế! Thông minh
chánh trực th́ gọi là “thần”.
Há có [hạng thần thánh chánh trực nào] thấy người
kính trọng bèn hoan hỷ, thấy kẻ chẳng thân cận
bèn tuôn nước lũ, giáng ôn dịch giết chết? Lại
c̣n giết chóc chẳng thể đếm xiết! Nếu
thật sự là như vậy, làm sao gọi là chánh trực
cho được? Sợ rằng quư tiên sinh chẳng hiểu
rơ giáo lư; v́ thế, lớn mật nhục mạ Gia Tô. Ông lại
khuyên chúng tôi đổi sang tin Gia Tô. Nếu không, Gia Tô phẫn
nộ, chỉ có một con đường chết ngắc,
ăn nói kiểu ǵ thế? Lại tự xưng là “tiên sinh”,
gọi kẻ khác là “các ngươi” đúng là tự đề
cao ḿnh, khinh rẻ người khác, sở học khác nhau!
5)
Hỏi: Đối với sự phán xét cuối cùng của
Cơ Đốc giáo, Phật giáo có cách nh́n ra sao?
Đáp: Quư tiên
sinh là tín đồ Gia Tô giáo, tự vâng theo quy luật của
Gia Tô giáo, sẽ chịu sự phán xét cuối cùng của ông
ta, tôi hoàn toàn chẳng dị nghị. Chúng tôi là giáo đồ
Phật giáo, đă sớm quy y Tam Bảo, sẽ
nương theo thuyền Từ, vượt lên bến giác.
Kinh Phật đă chép, đức Phật là thầy của
trời và người, là bậc tôn quư duy nhất trong ba
cơi, chúng tôi là nhân dân của Ngài. Bất cứ tôn giáo nào
đều có hệ thống riêng, quư giáo chẳng có pháp quyền
trị phạt kẻ ngoài giáo, há có thể vượt khỏi
phạm vi ư?
IV. Nhân quả
*
Hỏi: V́ duyên cớ nào mà Thích Ca Mâu Ni Phật lại đến
thế giới Sa Bà? (Huệ
Quư hỏi)
Đáp:
Đức Thế Tôn v́ một đại sự nhân duyên mà
xuất hiện trong cơi đời, kinh đă nói hết sức
rơ ràng. “Đại sự” ấy
chính là nói đến đại sự sanh tử của
chúng sanh vậy!
*
Hỏi: Luật nhân quả của Phật giáo dường
như mâu thuẫn hiện thực? (Khưu Bát hỏi)
Đáp:
Nhân là khởi đầu, quả là kết thúc, c̣n có chuyện
ǵ chẳng phù hợp hiện thực?
*
Hỏi: Nay có Giáp giết Ất, đó là nhân hay là quả? Có
căn cứ nào để có thể biết được
hay không? (Hoàng Hàm hỏi)
Đáp:
Ở nơi Giáp là nhân. Trước kia, vô duyên cớ mà giết,
cho nên tạo nhân. Trước kia, do có duyên cớ mà giết,
vẫn là tạo nhân. Do kẻ bị giết, chẳng hiểu
rơ tiền duyên, vẫn ôm ḷng oán hận. Có oán, ắt sẽ
nghĩ tới chuyện báo thù. V́ thế, vẫn nói là nhân,
bất quá là cái nhân trong cái quả mà thôi! Sau khi đă có nhân,
ắt phải có quả! Nơi Ất bèn nói là quả. Do nợ
mạng của Giáp, nên phải đền trả; v́ thế,
thọ quả. Tuy chẳng nợ mạng Giáp, nhưng trong
ấy do có những nhân khác, dựa vào những điều
đó mà chịu quả báo. Cho nên vẫn nói là quả,
nhưng trong quả đă bao gồm nhân, sợ rằng hễ
gặp duyên, sẽ lại tạo nhân! Oán oán truy t́m như
thế, chẳng có lúc nào xong. Do vậy, Phật pháp coi trọng
giác ngộ, xả oán để giải trừ vậy!
*
Hỏi: Chẳng tin Phật mà cũng chẳng tin có thần,
hạng người như thế, kết quả là có quả
báo ǵ? (Triều Tân Ban liên hữu
hỏi)
Đáp:
Ngă Chấp quá nặng, ngu si quá nặng. Chấp nặng, si
nặng, đó gọi là Nhị Hoặc. Đă dấy Hoặc,
sẽ chẳng tránh khỏi tạo nghiệp. Đă tạo
nghiệp, chẳng tránh khỏi thọ báo. Tạo nghiệp
ǵ, sẽ thọ báo nấy, chẳng thể đoán định
trước được!
*
Hỏi: Tín ngưỡng và ngộ đạo v́ sao chẳng
thể hợp nhất? (Trương
Thanh Cẩm hỏi)
Đáp:
Tín ngưỡng là nhân, ngộ đạo là quả. Đă
ngộ rồi bèn tu, sau khi đă tu bèn chứng. Tu và chứng
lại là một thứ nhân quả. Hợp nhất chính là
tu nhân để cầu quả vậy!
*
Hỏi: “Định nghiệp chẳng
thể chuyển”, đối với người học
Phật th́ câu này nghĩa là “có thể chuyển định
nghiệp” hay “chẳng thể chuyển định nghiệp”?
(Quách Liên Hoa hỏi)
Đáp:
Tâm người học Phật chẳng giống phàm phu, sửa
lỗi cũ, tu tập từ đây, há lẽ nào nghiệp
lực chẳng chuyển? Kệ rằng: “Tội nhược khởi thời, tương tâm
sám. Tâm nhược vong thời, tội diệc vong” (Như
khi tội khởi, dùng tâm sám. Khi tâm đă mất, tội
cũng tiêu). Kinh viết: “Thọ
tŕ, đọc tụng kinh này, nếu bị kẻ khác khinh
rẻ, tức là kẻ trong đời trước đă tạo
tội nghiệp, đáng đọa ác đạo, do [trong đời
này] bị người đời khinh rẻ, nên tội
nghiệp đă tạo trong đời trước bị
tiêu diệt”. Trước là tiêu trừ, sau là chuyển
thành nhẹ. Những điều này đều chứng tỏ
do học Phật mà chuyển nghiệp vậy!
*
Hỏi: Chuyển Luân Thánh Vương là vị vua chấp
chưởng, quản trị luân hồi ư? (Thí Hảo Học hỏi)
Đáp:
Trong hư không, thế giới vô lượng, nhằm thuận
tiện nói năng, bèn giả định có phạm vi cỡ
nào đó, như lấy Tứ Thiên Hạ (tứ đại
châu) làm một đơn vị thế giới. Chuyển Luân
Thánh Vương có vị quản lănh từ một thiên hạ
cho đến tứ thiên hạ, nên dùng những chữ Kim,
Ngân, Đồng, Thiết để gọi tên. Họ hoàn
toàn chẳng phải là những vị vua chưởng quản
sanh tử luân hồi.
*
Hỏi: Có phải là trong vũ trụ chỉ có một vị
vua chưởng quản luân hồi hay không? (Thí Hiếu Học hỏi)
Đáp:
Câu hỏi này chắc là nói đến vị thần chuyên
môn chưởng quản sanh tử luân hồi. Xét theo sự
sanh tử luân hồi của chúng sanh, nói chung là do nghiệp
lực là cái nhân chủ yếu, thật sự chẳng thuộc
quyền cai quản của Thập Điện Diêm La
Vương trong địa ngục. Nhưng ư người
hỏi chắc là muốn hiểu rơ vị Diêm La
Vương ấy là một hay nhiều, tôi cũng chỉ
trả lời điều này: Thế giới đă là vô
lượng, Diêm La cũng là vô lượng.
*
Hỏi: Có phải là chúng sanh trong một thế giới sẽ
hạn cuộc luân hồi trong thế giới ấy hay
không? (Thí Hiếu Học hỏi)
Đáp:
Thần thức của chúng sanh nhập thai, thật sự
chẳng giới hạn trong một thế giới. Trọn
hết mười phương đều có thể tiến
vào.
*
Hỏi: Đối với chuyện sanh sanh tử tử của
hữu t́nh chúng sanh, Phật giáo nói là “do vô minh nên trải qua luân hồi” mà ra, chẳng
biết giải thích như thế nào đối với
chuyện sống chết của vô t́nh chúng sanh (như cỏ
cây chẳng hạn)? (Thí Hiếu
Học hỏi)
Đáp:
Muôn pháp hễ duyên hợp bèn sanh, duyên tận bèn diệt.
Động vật ngoài sắc thân ra, c̣n có thần thức
(t́nh). V́ thế, khởi vô minh. Khoáng vật và thực vật
chẳng có thần thức, chỉ là giả tướng
do nhân duyên sanh diệt mà thôi!
*
Hỏi: A Tu La là quả báo do đă tạo nhân ǵ? (Huệ Đức hỏi)
Đáp:
Tu La chia thành bốn giới thiên, nhân, quỷ, súc. Đối
với những Tu La thuộc về thiên giới th́ cái nhân
là hạ phẩm Thập Thiện.
*
Hỏi: Nghe giảng kinh, thấy nói là “người sau khi
đă chết, chậm nhất là bốn mươi chín ngày
sẽ có thể chuyển sanh”. Cớ sao có hạng người
bị kẻ khác hại chết, đă một năm hoặc
nhiều năm, vẫn hiện h́nh ảnh như khi c̣n sống
để trả oán? (Huệ
Lâm hỏi)
Đáp:
Nói “trong ṿng bốn mươi chín ngày có thể chuyển
sanh” là nói về thân Trung Ấm, tức là khi c̣n chưa [đầu
thai] vào trong lục đạo. [Chết đă] một
năm hoặc nhiều năm, mà vẫn hiện thân như
khi c̣n sống, chính là đă lọt vào quỷ đạo rồi!
*
Hỏi: Đức Phật nói lục đạo luân hồi,
[chuyện này] đă được nhiều sự thật
chứng minh, chẳng thể hoài nghi nữa! Nhưng luân hồi
lục đạo, ắt chẳng thể chọn lựa tự
do. Tức là con người sau khi đă chết, nơi chốn
sẽ chuyển sanh về vẫn phải tùy thuộc vào
nghiệp nặng, nhẹ, lớn, nhỏ mà thọ sanh
tương ứng, hay là ngẫu nhiên tương hợp? Hay
là trong chốn âm thầm bèn có pháp luật quản chế?
Học tṛ đọc sách quá ít, chẳng thể hiểu rơ,
xin hăy dạy cho! (Trọng Chí
Anh hỏi)
Đáp:
Trong ba điều ông đă nêu, điều thứ nhất là
đúng.
*
Hỏi: Từ xưa đến nay, người đời
phần nhiều nói nhân quả báo ứng là thật. Nếu
nhân quả báo ứng là thật, tức là “tự làm, tự chịu”, nhưng người
đời lại có chẳng ít kẻ hỏi thần, cậy
Phật, hoặc lạy sao Đẩu[24],
cầu cho nguyên thần mạnh mẽ, hưng vượng,
hoặc cầu bù đắp vận mạng, hoặc siêu bạt
vong linh v.v… Nói theo nhân quả báo ứng, những chuyện ấy
có thể nào phát sanh hiệu lực hay không? (Thí Thủy Các hỏi)
Đáp:
Trồng đậu được đậu, trồng
dưa được dưa, đích xác chẳng dối!
Đúng là tự làm, tự chịu. Chỉ có điều
người đời hỏi thần, lạy Đẩu,
khẩn cầu nguyên thần sẽ được mạnh
mẽ, hưng vượng, hoặc cầu bù đắp vận
mạng, đều là hư vọng, chẳng có ích ǵ cho thực
tế! Nếu chân tâm phát lộ sám hối, dứt ác, hướng
thiện, quả thật cũng có thể hóa hung hiểm
thành tốt lành. Đấy vẫn là nhân quả vậy! C̣n
như siêu bạt vong linh, nếu thật sự trai giới
chí thành, trong bảy phần [công đức], người
chết có thể được hưởng một phần.
Nếu làm dối trá cho xong chuyện, sẽ là vô ích!
*
Hỏi: Đối với chuyện “trồng đậu được đậu, gieo
dưa được dưa”, có người nói: “Mạng
như thế nào cũng được, cứ vâng chịu
quả báo của nghiệp lực”, vô h́nh trung dưỡng
thành thói xấu giải đăi, chẳng nghĩ đến
chuyện tinh tấn, rốt cuộc trở thành kẻ vô dụng.
Như vậy th́ có phải cũng là quả báo hay không? (Hứa Viêm Đôn hỏi)
Đáp:
Nghiệp do tâm tạo, mà cũng do tâm chuyển. Có thể
chuyển th́ có thể thay đổi quả báo, hoặc là
giảm bớt mấy phần. Nếu không, sẽ là bị
nghiệp trói buộc, hứng chịu quả báo.
*
Hỏi: Tôi làm nhân viên kỹ thuật ấn loát, khéo sao gặp
một Phật tử đem một cuốn khóa tụng tới
cậy in, nhưng do tôi chịu trách nhiệm kiểm chữ,
thấy chữ ch́[25]
chẳng đủ, chẳng dám nhận lănh, bảo người
ấy đến in ở chỗ khác, nhưng chính ḿnh là Phật
giáo đồ, rất thẹn chẳng có đủ vật
liệu, đến nỗi chẳng thể thực hiện
thiện sự ấy, chẳng biết có phạm tội lỗi
hay không? (Nhan Khoan Văn hỏi)
Đáp:
Đó là do chẳng đủ sức, không phải là chẳng
làm, chẳng có tội lỗi ǵ!
* Hỏi: Từ
xưa đến nay, tự, viện, am, đường đều
do Tăng Già chủ tŕ, đàn-việt hộ pháp, nhưng
hiện thời, ngôi chùa nọ ở Đài Bắc là một
ngôi chùa to nổi tiếng, v́ sao do một người có
danh vọng ngoài đời chủ tŕ, những tăng
sĩ chưa thọ giới sống ở trong chùa, sáng tối
khua chuông, gióng trống, ngược ngạo mỗi tháng nhận
tiền lương từ kẻ thế tục có danh vọng
ấy? Quả thật chẳng hợp lư, xưa nay chưa
hề có lệ ấy! Mong đại đức chỉ dạy
một hai điều! (Nhan
Khoan Văn hỏi)
Đáp: Đấy là hiện
tượng đặc biệt trong Phật giáo Đài Loan,
mỗi người ắt sẽ tự chịu trách nhiệm
nhân quả, chưa hề sai lầm! Chỉ có điều là
chẳng có bậc đại lực để uốn nắn,
khiến cho chuyện này cứ lằng nhằng măi, chẳng
giải quyết được. Đấy cũng là chuyện
đáng buồn thương vậy!
*
Hỏi: Tâm điền của người xuất gia
đă biến thành từ bi. Mỗi ngày sáng tối tụng
niệm các chú Lăng Nghiêm, Đại Bi, há chẳng phải
là gặp hung hiểm cũng có thể hóa thành tốt lành? Nhưng
theo các báo ở Hương Cảng đều đăng tải:
Gần đây, Tăng-già thuộc các tự viện ở
Đại Lục bị giặc Cộng truy diệt, tàn
sát. Người tu hành cũng bị đứt đầu
dưới đao của bọn giặc đỏ, cớ
sao Phật, Bồ Tát chẳng phát tâm khiến cho hết thảy
những người gặp hung hiểm đều hóa thành
cát tường? (Nhan Khoan Văn
hỏi)
Đáp:
Người xuất gia chưa chắc đă hoàn toàn có tâm từ
bi. Tụng kinh chú cũng chưa chắc là toàn bộ đều
có ḷng chân thành. Đối với nhân quả, ắt cần
phải theo chiều dọc, xét cả ba đời, theo chiều
ngang, xét theo cộng nghiệp, hết sức chẳng
đơn thuần! Phật và ma thịnh hay suy, đầu
mối là do đức hạnh của tín đồ nhà Phật
tiến hay lùi! Cư sĩ chỉ biết kẻ bên ngoài phá
hoại Phật pháp, chẳng biết tín đồ nhà Phật
phá hoại Phật pháp. Vật hư nát bèn sanh ra trùng, ấy
là có nguyên do. Nhưng ở trong hoàn cảnh này, phải hết
sức tỉnh ngộ, đừng ôm ḷng oán hận suông Bồ
Tát chẳng có ḷng Từ.
*
Hỏi: Tục ngữ có câu:
“Đời này nếu nhận tiền bạc của
người khác mà chẳng thể hoàn trả, sẽ phải
trả nợ trong đời sau”. Nếu là như vậy,
đời này nhận sự bố thí của người
khác, há chẳng phải là đời sau sẽ làm chó, ngựa
để đền nợ ư? (Thiện Nhân hỏi)
Đáp:
“Nhận” và “thiếu” có phân biệt đôi chút. Ví như
người ta tặng tiền cho, chẳng cần phải
trả lại. Bố thí thuộc loại tặng cho. Sau
khi nhận lấy, chỉ cầu thượng hoằng, hạ
hóa, ngày càng thêm tinh tấn, hết thảy công đức thảy
đều hồi hướng trọn khắp cho thí chủ,
ắt sẽ chẳng phạm lỗi. Nếu sau khi đă
nhận, bèn biếng nhác, buông lung, chẳng cầu đạo,
sợ rằng sẽ bị nguy hiểm!
*
Hỏi: Niệm Phật kèm thêm Tín, Nguyện, Hạnh trọn
đủ, mong văng sanh Cực Lạc. Nếu đời này
nhận tiền tài của người khác, chẳng biết
có thể văng sanh hay không? Hay là lại vẫn luân hồi
trong lục đạo để đền nợ cho
người ta? (Thiện Nhân hỏi)
Đáp:
Nếu niệm Phật mà trọn đủ Tín, Nguyện,
Hạnh, sẽ quyết định văng sanh, há cần phải
đa nghi? Đối với những nghĩa khác, hăy nghiền
ngẫm những câu đă đáp trước đó, sẽ
tự hiểu.
*
Hỏi: Tôi đọc kinh Phật, đối với pháp vi
diệu thường chẳng thể thấu hiểu rốt
ráo, nhưng thích bàn chuyện nhân quả báo ứng, chẳng
biết có loại sách chuyên biệt này hay không? (Sa Nhậm hỏi)
Đáp:
Kinh Hiền Ngu Nhân Duyên, sách Kinh Luật Dị Tướng,
Pháp Cú Thí Dụ Kinh, Lịch Sử Cảm Ứng Thống
Kỷ v.v… đều thuộc loại bàn luận nhân quả.
Ngoài ra, c̣n có bộ sách An Sĩ Toàn Thư, nội dung bao gồm
Sự lẫn Lư, khá phù hợp sơ cơ.
*
Hỏi: Nếu nói “các duyên ḥa hợp” th́ “nhân nhiều, quả
một”. Nói “hễ mê bèn có các tướng”, như cậy
th́ lại là “nhân một, quả nhiều”. Nói “trồng
dưa được dưa”, như thế th́ là “một
nhân, một quả”. Nói “dưa chín, kết hạt” như
thế tức là “hạt chính là quả”. Nói “gieo hạt
thành dưa”, như thế th́ “hạt lại là nhân”. Rốt
cuộc, nhân nhân, quả quả, đúng đúng, sai sai, mong
cư sĩ dạy rơ cho! (Ngô Tiệp
Hán hỏi)
Đáp:
Khi nhân kết quả, do duyên làm môi giới, nhân cũng gọi
là duyên. Chỉ có một loại là thân nhân duyên, các duyên khác
đều có tác dụng thúc đẩy cái nhân [chánh yếu ấy]
sanh ra quả, [cho nên] đều chẳng thể gọi là
nhân. Điều nghi thứ nhất chính là sai lầm v́ không
phân định rơ giới tuyến giữa nhân và duyên. “Hễ mê bèn có các tướng”,
đối với điều này, cần phải lập tỷ
dụ để giải thích: Ví như người mắc
bệnh quáng mắt, đó là nhân, sẽ có cái quả là nh́n
vào một ngọn đèn, liền thấy có nhiều đèn!
Đấy vẫn là “một nhân, một quả”. [Dẫu trông
thấy] nhiều đèn, chỉ có thể luận định
là một quả. Bởi lẽ, một ngọn đèn là một
tổng tướng chân thật, nhiều ngọn đèn là
một vọng tổng tướng. Con mắt mắc bệnh
trông thấy nhiều ngọn đèn, đó chính là một vọng
tổng tướng. V́ thế, vẫn nói là một quả.
Đối với điều nghi thứ hai, vẫn là hiểu
lầm do chưa hiểu tổng tướng. Nhân quả vốn
có tánh chất liên hoàn, xin hăy nghiên cứu mười hai nhân
duyên, sẽ tự biết. Tánh chất liên hoàn chính là nhân trở
thành quả, quả vẫn bao gồm nhân. Gieo hạt (tức
chủng tử) xuống đất chính là nhân, kết thành
dưa là quả. Trong dưa chứa đựng hạt, tức
vẫn là nhân. Đối với điều nghi thứ ba,
chính là do đă hiểu lầm hạt là quả vậy!
*
Hỏi: Tu điều lành ǵ sẽ sanh trong ba thiện đạo?
Tu nhân ǵ sẽ đọa trong ba ác đạo? Tu nhân ǵ sẽ
là bốn loại thai, noăn, thấp, hóa? (Xuân Yến hỏi)
Đáp:
T́nh h́nh này cực kỳ phức tạp: Có thuần thiện,
có thuần ác, có thiện kiêm ác, có ác kiêm thiện, có thiện
nhiều mà ác ít, có ác nhiều mà thiện ít. Nghiệp đă
là thiên sai vạn biệt, báo sẽ tự bù qua, sớt lại,
biến đổi nhiều lẽ, thật sự là chẳng
thể bằng vài câu mà có thể nói trọn hết được!
Nói theo đại thể, tạo nghiệp Thập Thiện,
do ba phẩm thượng, trung, hạ, mà chia ra sanh trong ba
thiện đạo. Do tạo mười ác nghiệp,
cũng chia thành ba phẩm thượng, trung, hạ, tức
là cái nhân sanh trong ba ác đạo. Đối với bốn
cách sanh noăn, thai, thấp, hóa, lục đạo đều
có. Đối với thiện báo và ác báo, hăy nên lấy lục
đạo làm chuẩn, chớ nên dựa theo cách sanh để
luận!
*
Hỏi: Dùng nhân quả ba đời để luận, cái
quả vị lai trong súc sanh đạo là do gieo cái nhân trong
đời hiện tại như thế nào? Như các loài lợn,
ngỗng, khỉ, trùng v.v… (Phan Tư
Húc hỏi)
Đáp:
Nghiệp nhân chia thành ba loại thân, khẩu, ư. Những
nghiệp nhân ấy lại do tham, sân, si nơi ư chủ
động. Hết thảy ư thức của súc sanh chẳng
ngoài tham, sân, si, một niệm [bao hàm] mười pháp giới,
sao lại có thể nói là “chẳng tạo nhân?” Tuy miệng
chúng chẳng thốt nên lời, nhưng đối với
chuyện giết, trộm, dâm nơi thân chúng, nếu quan
sát kỹ càng, sẽ hiểu rơ phân minh, sao lại có thể
nói là chẳng tạo nhân cho được?
*
Hỏi: Thấp sanh và hóa sanh trong loài súc sanh và vi khuẩn v.v…
có phải cũng là từ trong sanh tử luân hồi mà có
hay không? (Quế Dẫn Hạnh
hỏi)
Đáp:
Hễ thuộc hữu t́nh phàm loại, đều có luân hồi.
Vi khuẩn là thực vật, chẳng thuộc trong phạm
vi ấy.
*
Hỏi: Súc sanh số lượng nhiều hơn loài
người vạn vạn lần. Nếu con người
chuyển sanh vào súc sanh đạo, th́ một người
có thể biến thành nhiều súc sanh? Hay là một người
chỉ có thể biến thành một súc sanh? (Quế Dẫn Hạnh hỏi)
Đáp:
Chỉ luận theo đường súc sanh, một thần
thức bèn nương gởi một thân là chuyện
thường nghe. Nếu có thuyết nào khác, tôi vẫn
chưa biết. Riêng tôi phỏng đoán ư người hỏi,
có lẽ là nghi “súc vật nhiều mà người th́ ít. Nếu
cứ một người là một thân, lấy đâu ra
súc vật nhiều ngần ấy?” Phải biết: Những
kẻ biến thành súc sanh bao gồm trọn lục đạo.
Huống hồ súc sanh sanh sanh tử tử, có những con vật
trải qua nhiều đại kiếp vẫn chẳng thể
thoát khỏi loài súc sanh [mà chính ḿnh đă đầu thai]
ư?
*
Hỏi: Nhân quả vĩnh viễn chẳng tiêu diệt, thiện
ác chẳng thể tiêu trừ lẫn nhau. V́ sao trong Lâm Chung
Tam Yếu (ba điều trọng yếu lúc lâm chung), Ấn
Quang đại sư lại bảo: “Nghiệp lực phàm phu do niệm Phật, nghiệp
sẽ tiêu diệt”? (Quế
Dẫn Hạnh hỏi)
Đáp:
“Nhân quả chẳng tiêu diệt”
chính là nói nó chẳng tự tiêu diệt. Há chỉ có vậy
mà thôi, nó cũng chẳng tự sanh. Trước hết, ắt
phải hiểu rơ lư “chẳng
tự” th́ mới có thể bàn đến vấn đề
này! “Nhân” là nói tới “thân nhân” (cái nhân trực tiếp
sanh ra cái quả), “quả”
là nói tới “tập quả”
(quả do huân tập mà tạo thành). Giữa hai thứ ấy,
có một thứ then chốt quan trọng, gọi là “duyên”. Duyên ấy có sức tăng
thượng, cái nhân bèn sanh khởi, giống như hạt
giống trên mặt đất gặp nước, sẽ
có thể nẩy mầm. Chẳng gặp được sức
tăng thượng ấy, hạt giống vẫn ẩn
trong đất. V́ thế, nói là “chẳng
diệt”. Nếu duyên có sức tổn giảm, cái nhân sẽ
bị biến hoại, như hạt giống trên mặt
đất gặp vôi, acid nitric v.v… sẽ dần dần
hư nát. Chẳng gặp sức tổn giảm ấy, hạt
giống vẫn ẩn trong đất, nên nói là “chẳng diệt”. Niệm Phật
thật sự là cái duyên gây tổn giảm cho nhân ác, có thể
khiến cho chủng tử ác bị hư nát. V́ thế, nói
là “tiêu diệt”, lư chẳng mâu
thuẫn! Lại hăy nên biết: Đấy chính là do duyên
chuyển biến thành phần của nó, quyết chẳng
phải là thiện và ác chống đối, tiêu trừ lẫn
nhau!
* Hỏi: Tôi làm
loan sanh[26] ở Thánh Đế
Điện. Về sau, vị đường chủ chọn
tôi làm giảng sanh. Nay tôi được nghe Phật lư, mai
sau sẽ có thể đạt được thiện quả
hay không? (Ngô Ương hỏi)
Đáp: Loan sanh
giảng thiện thư, tức là điều thiện thế
gian, chỉ có thể giữ được thân người.
Học Phật là đại sự nghiệp siêu phàm nhập
thánh, đạt được cái quả rốt cuộc bằng
với chư Phật. So sánh giữa hai đằng, sai biệt
một trời một vực vậy!
*
Hỏi: Tháng Bảy mở cửa địa ngục, xá tội
vong nhân, có phải là sẽ khiến cho các anh em thân thiết
[đă khuất] được ăn [những vật cúng]
hay không? Hay là họ đă luân hồi chuyển thế mất
rồi? (Chân Nguyệt hỏi)
Đáp:
Đây là một thứ tục truyền trong xă hội, chẳng
đáng tin theo. Thật ra, người ta mượn ngày ấy
để tụ họp náo nhiệt, ăn no đẫy một
bữa rượu thịt say sưa đó thôi!
*
Hỏi: Kinh Pháp Hoa nói Phật Thích Ca đă thành Phật từ
vô lượng kiếp trước. V́ sao trong các kinh khác phần
nhiều nói: Trong nhiều đời trước, đấng
Thích Tôn từng làm tiên nhân, phàm phu, hoặc đọa địa
ngục, hoặc làm súc sanh v.v…? Đă thành Phật mà c̣n bị
đọa lạc ư? (Bạch
Vĩnh Cư hỏi)
Đáp:
Vô lượng kiếp cố nhiên là nói đến chuyện
lâu xa. “Nhiều đời”
hoàn toàn chẳng phải là nói gần đây, chớ nên hiểu
lầm văn nghĩa! C̣n như nói [tiền thân đức
Phật] từng làm tiên nhân v.v… đều là nói tới chuyện
trước khi Ngài thành Phật. Há có chuyện sau khi đă thành
Phật, lại làm đủ mọi hạng chúng sanh?
Như hơn hai ngàn năm trước, Ngài làm Thái Tử
nước Ca Tỳ La th́ chính là hóa thân của Ngài vậy!
*
Hỏi: Trong Phật giáo, cứ vào tháng Bảy, sẽ thỉnh
Tăng thí phóng Du Già Diệm Khẩu. Có người v́ báo ân
cha mẹ, lại c̣n cúng bái kèm theo, như bày linh vị, sắm
sửa quần áo, rương tráp bằng giấy, đồ
ăn thức uống v.v…để cúng quải tổ tiên. Quỷ
tử vong đă khuất có thật sự nhận lănh [những
thứ cúng quải ấy] hay không? (Dương Thừa Quang hỏi)
Đáp:
Xét theo kinh Vu Lan Bồn, ngày Rằm tháng Bảy chính là ngày
hoàn tất khóa kết hạ, chư Phật hoan hỷ, cúng
dường Tam Bảo có thể siêu tiến cha mẹ bảy
đời. Người đời sau mở rộng ḷng
bi, thương xót những cô hồn không con, không cháu, không có
ai siêu tiến, bèn làm lễ Diệm Khẩu, hành thí thực.
Đó đều là diễn biến [về sau]. C̣n như sắm
sửa áo, rương v.v… bằng giấy, đều chẳng
phải là do kinh dạy. Nếu tổ tiên sanh trong quỷ
đạo, sẽ có thể lănh nhận [những thứ đó].
Nếu ở trong các đường khác, há cần những
thứ ấy ư?
*
Hỏi: Nếu chúng ta biết niệm kinh, bèn chẳng thỉnh
tăng và mua sắm các vật trên đây, cũng chẳng lập
linh vị, mà chính ḿnh đơn độc ăn chay, kiền
thiền chí thành tụng kinh, lễ sám, lại sám hối
thay cho người thân đă khuất, thay cho họ niệm
Phật cầu sanh Tây Phương. Hiệu quả ấy
so với cách làm trong câu hỏi thứ nhất, sẽ có
công đức như thế nào? (Dương
Thừa Quang hỏi)
Đáp:
Thỉnh tăng cầu siêu cho vong, ắt phải [thỉnh]
bậc đại đức giới lẫn học vấn
đều tôn quư. Do trọn đủ oai nghi, thân tâm thanh tịnh,
cho nên dễ đạt được cảm ứng. Nếu
không, thật sự chẳng bằng con cháu của chính
người ấy trai giới, kiền thành lễ tụng,
so ra sẽ hữu ích hơn!
*
Hỏi: Trước kia, nghe nói lũ lụt, động
đất, đói kém, hạn hán…. các thứ thiên tai chủ
yếu là do ư chỉ của Ngọc Hoàng. Muốn tiêu diệt
hay muốn cho tồn tại, đều là quyền bính của
Ngọc Hoàng. Vậy th́ ai nấy đều tôn kính Ngọc
Hoàng để cầu phước trong hiện tiền, có
đúng hay không? (Lư Tuấn hỏi)
Đáp: Ngọc
Hoàng là một vị chánh thần trên cơi trời, thông minh,
vô tư. Dẫu có quyền bính, Ngài quyết chẳng v́ hỷ
nộ mà lạm dụng [quyền lực ấy]. Chúng sanh gặp
tai nạn, có thể thoát khỏi hay không, hoàn toàn là do nghiệp
lực thiện hay ác của mỗi người. Bất quá
vị thần có quyền sẽ thưởng phạt theo
nghiệp. Kẻ tạo ác kính thần, thần c̣n chẳng
hưởng, huống c̣n giáng phước ư?
*
Hỏi: Thường có kẻ bàn luận, bảo: “Con
người và súc vật chết đi chính là kết thúc một
đời, hoàn toàn chẳng có chuyện địa ngục,
luân hồi! Không ǵ chẳng phải là truyền thuyết của
người xưa. Nếu xác thực là có luân hồi, từ
xưa đến nay, đă có người nào t́m được
bằng chứng?” (Lư Tuấn hỏi)
Đáp:
Đối với các sự lư do đức Phật đă
nói, phần nhiều phải thể nghiệm. Có những
điều chẳng phải là do thăm ḍ và thí nghiệm
hóa học mà có thể t́m ra được. Như đêm
qua tôi nằm mộng, tôi biết, tôi nói đích xác chẳng
phải là hư cấu, nhưng đúng là người khác chẳng
có cách nào thăm ḍ, hoặc xét nghiệm bằng phương
pháp hóa học được! V́ thế, khi chẳng thể
dùng hai thứ Hiện Lượng và Tỷ Lượng để
t́m được, chỉ có thể tin tưởng, ngưỡng
mộ nhân cách mà tuân theo Thánh Ngôn Lượng. Xét ra, thuyết
địa ngục thật sự được chép trong
kinh Phật, hăy nên tin tưởng. Nếu cứ ắt phải
chính ḿnh đích thân từng trải rồi mới có thể
tin tưởng, [nói như thế, khác nào bảo]: “Tôi chẳng
tin có nước Mỹ trên cơi đời. Tuy người
khác từng sang đó chơi, tôi thật sự chưa
đi, cho nên chẳng tin tưởng”. Đối với
thuyết “hoàn toàn chẳng có địa ngục”, người
khác không tin, chỉ đành mặc họ. Nếu họ
đến chất vấn cư sĩ, có thể hướng
về họ, hỏi ngược lại: “Ông có thường
chào tạm biệt hay không? Ông có đích thân thấy đối
tượng của cái chào tạm biệt hay không?”
*
Hỏi: Khi phụ nữ mang thai, linh tánh có nhập thai hay
không? Hay là cho đến khi lọt ḷng, [linh tánh] mới bắt
đầu tiến nhập? Nói theo “sanh khổ” th́ [linh tánh] đă nhập từ trong
thai, đúng không? (Chung Lâm Chiêu hỏi)
Đáp:
Linh tánh, tinh cha, huyết mẹ, ba thứ ḥa hợp th́ mới
có thể tạo thành thai. Đó là lẽ thông thường.
Cũng có khi sắp sanh ra, một linh tánh khác đến
đoạt xá, đó là trường hợp đặc biệt.
*
Hỏi: Con người hoặc súc sanh, các loài trùng, khi chết,
sẽ tự động do nghiệp báo mà lại chuyển
sanh, hay là mỗi mỗi đều có quỷ thần dẫn
đường đến chỗ sẽ sanh về? (Chung Lâm Chiêu hỏi)
Đáp:
Nghiệp lực là cái nhân chủ yếu. Đôi khi có quỷ
thần dẫn đường th́ cũng là do nghiệp lực
cảm vời.
*
Hỏi: Nếu con người chết đi, ắt bị
Diêm Vương tra hỏi, trải qua phán quyết để
chuyển sanh. Đối với hết thảy chúng sanh,
đương nhiên là ắt cũng phải [bị Diêm
Vương tra hỏi, phán quyết] giống hệt như
nhau th́ mới là hợp lư. Nhưng trên là đến các vị
trong cơi trời, dưới là tới các loài trùng như muỗi,
ruồi, như các loài trùng mà mắt chẳng thể trông thấy,
các loại trùng cực nhỏ trong nước hoặc trong
hư không [số lượng chẳng có ngằn hạn]. Nếu
[thảy đều bị tra hỏi, phán quyết] như vậy,
rốt cuộc có bao nhiêu vị Diêm Vương để
làm chuyện thẩm vấn, phán quyết? (Chung Lâm Chiêu hỏi)
Đáp: Cố
nhiên chúng sanh trong lục đạo là vô lượng, các
loài trong địa ngục cũng rất đông đảo,
nhưng Diêm La cũng chẳng phải là một vị.
Trong kinh có ghi chép [chuyện ấy]!
*
Hỏi: Theo truyền thuyết,
Đáp:
“Đẩu Tinh chủ sanh tử,
Diêm La phán quyết chuyển sanh”, phần nhiều phát xuất
từ các bút kư khuyến thiện. Kinh Phật thường
nói “sanh tử, luân hồi là do
nghiệp lực dẫn dắt, nhân quả báo đền”.
Dẫu có chỗ nói đến Diêm La, địa ngục,
cũng chỉ là nói vua Diêm La chủ tŕ sự vụ trong
địa ngục, c̣n tội nhân siêu thăng hay đọa
lạc là do nghiệp lực của chính họ lôi dẫn vậy!
*
Hỏi: Nhân loại sống trong cơi đời, có thể
toan tính một phương pháp mầu nhiệm nào ḥng có thể
tránh khỏi hết thảy khổ năo và tai hại để
đạt được cuộc sống an tĩnh hay không?
Nếu người khác bỗng dưng lăng nhục
nghiêm trọng, tôi có nên tận lực chống trả hay không?
Tới lúc tranh đấu, có thể gây tổn thương
cho sanh mạng của người khác hay không? (Tăng Đồng Đức hỏi)
Đáp:
Hoàn cảnh nhân sinh thuận hay nghịch đều do nhân
quả xa gần chi phối. Đối với các nỗi
khổ năo, tai hại đang phải hứng chịu, nếu
hiện tại chẳng tạo cái nhân ác, cũng có thể
giảm sức trợ duyên, lại c̣n có thể tránh khỏi
chúng sẽ phát sanh trong tương lai. Bị người
khác ngang ngược lăng nhục, hăy nên xét lại ḿnh: Chắc
chắn là có nguyên nhân khiến cho [chính ḿnh] phải chuốc
lấy sự lăng nhục, hăy nên tự sám hối! Há có nên
tranh đấu cùng kẻ khác, khiến cho oán thù càng thêm sâu
đậm hơn? Nói tới chuyện tổn thương
sanh mạng người ta, càng là tư tưởng sai lầm!
Kẻ giết người, quốc gia luôn có h́nh phạt,
há chẳng biết ư?
*
Hỏi: Có người chưa cưới vợ, cũng
chưa từng phạm tội với dâm nữ, nhưng có
lúc dục hỏa thiêu đốt, chẳng thể tự kiềm
chế, thường phạm thủ dâm, có cách nào trị chứng
bệnh này? Chuyện này có phạm tội giống như
mua dâm hay không? Trong tương lai, sẽ thọ báo như
thế nào? (Phan Ngọc Tuyền
hỏi)
Đáp:
So với chuyện phạm dâm cùng nữ nhân th́ tội tánh
nhẹ hơn, v́ chưa làm hại đối phương.
Dâm đứng đầu các điều ác. Phạm tội
bằng ư, phạm tội bằng thân và tay. Tập khí dâm ấy
càng huân tập càng sâu, niệm niệm ở trong tám thức
điền. Trong tương lai, chủng tử dâm (tập
khí) dấy lên hiện hành, dẫn dắt thần thức
đọa lạc trong tam đồ (súc sanh, ngạ quỷ,
địa ngục). Ngay như trong hiện tại, trong khi
làm những việc ấy, trong chốn âm thầm cũng
có quỷ thần trông thấy. Đă biết chung quanh luôn
có người trông thấy, làm chuyện ấy há chẳng
xấu hổ ư? Dẫu chẳng hiểu Phật lư, há
chẳng nghe Tăng Tử nói: “Thập
mục sở thị, thập thủ sở chỉ” (Mười
mắt nh́n vào, mười tay chỉ vào) ư?
*
Hỏi: Chúng sanh đều có Phật Tánh, chỉ v́ một
niệm bất giác (vô minh), mà từ vô thỉ cho tới
nay, sanh tử luân hồi chịu hết mọi nỗi khổ.
Một niệm bất giác ấy do đâu mà có? (Tống Thụy Tích hỏi)
Đáp:
Vạn pháp do nhân duyên sanh, há chuyện này là ngoại lệ?
*
Hỏi: Súc sanh là huyết đồ, tham sân tranh đoạt,
ăn nuốt lẫn nhau. Lại c̣n ngu si dị thường,
khó nghe Phật pháp. Dẫu tới lúc chẳng có cùng tận,
cũng khó ĺa khỏi tam đồ. Kinh nói “dê chết làm người”, giải thích như thế
nào? (Tống Thụy Tích hỏi)
Đáp: Chúng sanh
từ nhiều kiếp cho tới nay, cứ một lần
tạo nghiệp là một hạt chủng tử được
gieo trong thức điền. Số lượng há chỉ
là ức vạn? Trong ấy, thiện lẫn ác đều
có. Khi lâm chung, chủng tử dấy lên hiện hành, sẽ
dẫn dắt nhập thai, thọ báo. Báo của chủng tử
ấy đă hết, một chủng tử khác lại dấy
lên hiện hành, bèn thọ một thân khác. Cư sĩ chỉ
biết đời này tạo nghiệp, đời sau thọ
báo, chẳng biết ư nghĩa thức điền chứa
đựng trọn khắp, cho nên nghi ngờ!
*
Hỏi: Kẻ ác tâm sau khi đă chết, linh hồn nhất
định vào địa ngục chịu xử phạt. Đối
với linh hồn th́ dùng h́nh cụ ǵ? (Kha Tiên Giang hỏi)
Đáp:
Xin xem kinh Địa Tạng Bổn Nguyện sẽ tự
biết, chẳng phải là do vài lời bèn có thể nói cặn
kẽ được!
*
Hỏi: Nữ nhân sắp sanh nở, có người đau
khổ chẳng chịu nổi, đă mấy ngày mà khó sanh,
những người chăm sóc ở bên cạnh đều
niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát ra tiếng, chắc
chắc là chẳng cần đến công phu một khắc
bèn sanh nở an lành. Đó là sự thật ư? Hiện thời
có chuyện thực nghiệm của người nào để
dẫn chứng hay không? (Kha
Tiên Giang hỏi)
Đáp:
Kẻ tâm thành sẽ có cảm ứng, người sanh nghi
bèn không! Nếu cầu dẫn chứng, người tôi quen
biết, chưa chắc tiên sinh đă biết, dẫn ra vô
ích!
*
Hỏi: Lần trước hỏi về cái nhân của A Tu
La, cụ đáp là hạ Thập Thiện, nhưng Thập
Thiện cao thấp phân giải như thế nào? (Châu Huệ Đức hỏi)
Đáp:
Hai chữ “thiện, ác” đều có cấp bậc, cho nên
bèn chia thành thượng và hạ. Dùng một điều
“chẳng giết” để luận. Nếu chẳng giết
người th́ là thiện. Nếu mở rộng cái tâm ấy,
cho đến chẳng giết trâu, chó, lợn, dê, gà, vịt,
cá, tôm, sẽ càng thiện hơn. Nếu lại cho đến
đối với hết thảy đều chẳng giết,
sát tâm mất sạch, sẽ chính là thượng thượng
thiện. Nếu tâm lượng hữu hạn, thời
gian ngắn ngủi, thực hiện chẳng trọn khắp,
sẽ là điều thiện nhỏ. Ngược lại, tâm
lượng vô hạn, [thực hiện] lâu dài chẳng ngừng,
thực hiện trọn khắp, sẽ là điều thiện
to lớn.
*
Hỏi: Trong kinh Phật có nói thiên đường, địa
ngục, thật sự có hay không? Thiên đường và
địa ngục ở ngoài địa cầu, hay là ở
trong địa cầu? (Kha Tiên
Giang hỏi)
Đáp:
Đă nói là “thiên đường”,
đương nhiên là ở ngoài địa cầu. Đă
nói là địa ngục, càng là ở trong địa cầu.
Tiên sinh có thể tra duyệt những phần trước.
Những vấn đề như vậy đă nói nhiều
lượt rồi.
*
Hỏi: Sanh làm ác quỷ, tạo ác. Sau khi báo hết, sẽ
phải thọ ác báo hay không? (Thái
Thế Phương hỏi)
Đáp:
Làm lành có thiện báo, ác có ác báo. Đấy là luật nhân quả
nhất định, c̣n nghi ngờ chi nữa!
*
Hỏi: Trong cuốn Địa Tạng Bồ Tát Bổn
Nguyện Kinh Giảng Thoại, chương mười bảy,
tiết thứ nhất, chủ trương “Phật giáo chẳng có quỷ”. Nhưng
báo Bồ Đề Thụ kỳ số mười, trong
bài Bàn Về Quỷ lại nói “Phật
giáo chủ trương có quỷ” (bất luận pháp thế
gian hay xuất thế gian), rốt cuộc là như thế
nào? (Diệp Khánh Xuân hỏi)
Đáp:
Sách Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng
Thoại chủ trương “Phật
giáo không có quỷ” chẳng phải là do tờ báo này
đăng tải. Học vấn trong thiên hạ nhiều
lắm, kẻ hèn này chẳng thể biết hết
được, xin hăy hỏi bậc thông gia. (Người
biên tập nhận định: “Gần đây, tôi có nhận
được cuốn Địa Tạng Bồ Tát Bổn
Nguyện Kinh Giảng Thoại, tác giả là pháp sư Trúc
Ma, gởi tặng mấy bản sách ấy. Tôi đọc
trọn khắp, hoàn toàn chẳng thấy chủ
trương “không có quỷ”. Tác giả chỉ phủ định
giá trị của quỷ thần mà thôi! Mà chỉ là ở cuối
bài văn ấy đă từng nhắc nhở độc giả
chú ư, nay tôi trích lục nguyên văn như sau: “Chẳng qua ở đây mọi
người phải chú ư, khi chúng ta c̣n chưa chứng
đắc cảnh giới vô tướng tuyệt đối
ấy, vẫn là thật sự có chuyện quỷ thần,
nhân quả, quyết chẳng thể tùy tiện phủ nhận”).
*
Hỏi: Kinh Nhân Quả nói: Lương Vũ Đế kiếp
trước là một tiều phu, Hy Thị sau khi chết bèn
chuyển sanh thành một con măng xà to. Vậy th́ căn cứ
vào đâu để nói “Lương Vũ Đế đích
xác là do gă tiều phu chuyển sanh, Hy Thị sau khi chết đă
đích xác chuyển sanh thành một con măng xà to”? (Nếu nói
là căn cứ theo kinh Nhân Quả, nhà tiểu thuyết có
thể viết bừa băi. V́ thế, nếu nói “căn cứ
theo kinh Nhân Quả”, sẽ chẳng hợp lư vậy). (Diệp Khánh Xuân hỏi)
Đáp:
Những chuyện như Lương đế, Hy hậu
v.v… đều xuất hiện sau thời Thích Tôn. V́ thế,
kinh Phật chẳng ghi chép. Tin hay không tin, tùy thuộc kiến
giải của cá nhân. Nhưng dùng Tỷ Lượng để
luận th́ chuyện ấy cũng hoàn toàn chẳng phải
là vô lư! Kinh A Hàm chép nhiều chuyện đời trước
của đức Thích Tôn, như [xả thân] cho cọp
ăn, [cắt thịt] cho chim ưng ăn. Sử sách trong
thế gian từng chép ông Cổn [cha vua Đại Vũ] chết
biến thành gấu, Bành Sanh hóa thành lợn v.v… Cố nhiên
là chẳng thể tin vào tiểu thuyết, nhưng kinh sử
há chẳng đáng tin tưởng ư?
*
Hỏi: Mỗi khi nghe kẻ khác bàn nói thủ đoạn
hung tàn, độc địa, t́nh tiết thê thảm, hoặc
nghe tiếng người khác khóc, thịt khắp thân tôi
căng cứng, ứa lệ đầm đ́a, là do nguyên
nhân nào? (Vu Lỗ hỏi)
Đáp:
Đấy cũng là hiện tượng thiện tâm
tăng trưởng. “Cái tâm trắc
ẩn, ai nấy đều có” như nhà Nho đă nói, “đồng thể đại
bi” như nhà Phật đă nói, đều rất gần
với [hiện tượng ấy].
*
Hỏi: Mỗi đêm nằm mộng, thường thấy
người chú đă chết và mấy vị huynh trưởng
cùng bạn bè đă khuất, có lúc chẳng tṛ chuyện, có
khi nói chuyện rất lâu. Thậm chí ngồi quanh nhau
ăn uống. Loại mộng ảnh ấy có ư nghĩa ǵ?
(Vu Lỗ hỏi)
Đáp: Mộng
là do tác dụng của ư thức. Phan duyên sáu trần, đều
ghi lại h́nh ảnh, đó gọi là “ngày suy nghĩ ǵ, đêm nằm mộng thấy”,
nhưng mộng đều là hư vọng, chẳng thật,
hoàn toàn chẳng dính líu ǵ đến cát hay hung! Nếu ngoài
những lúc bận bịu công việc, có thể nhiếp
tâm niệm Phật, khiến cho ư niệm quy nhất, sẽ
chẳng có những chuyện ấy!
Hỏi:
1) Thường nghe nói có tám đại tiên nhân, nhưng tên họ
các Ngài là ǵ? Đồng thời kinh Phật nói “thanh hư diệu cảnh có
đại nạn, kim tiên có đủ cách thiên biến vạn
hóa” v.v… nhưng kinh Phật nói trời đất vẫn
bị kiếp số chi phối, các vị tiên ấy có bị
kiếp nạn hay chăng? Đồng thời, các vị
tán tiên là do phàm nhân tu thành, hiện thời, họ là linh hồn
hay là nhục thân?
2) Giặc Cộng
sẽ hoành hành tại Đại Lục đến khi nào? (Phan Chấn Bang hỏi)
Đáp:
Đối với hai câu hỏi trên đây, hai điều ấy
đều chẳng thuộc vào phạm vi Phật học,
chẳng tiện phúc đáp!
*
Hỏi: Trong cơi này, thường nói: “Nếu một người
tu hành chẳng nên thân, khi chết sẽ đọa làm súc sanh”.
Nhưng nếu vẫn là rồng hay phượng th́ sao? Giải
quyết [vấn nạn ấy] như thế nào? (Phan Chấn Bang hỏi)
Đáp:
Rồng, phượng bất quá là những loài có linh tánh
trong súc sanh đạo, hoàn toàn chẳng quư bằng người!
Hăy thử nghĩ xem: Ong, kiến đều có vua, nhưng
[những vua ong, vua kiến ấy] có cao quư bằng kẻ
b́nh dân trong nhân loại hay chăng?
*
Hỏi: Trong thế gian nghe nói có chuyện những đứa
trẻ từ mười tuổi trở xuống, sau khi
đă chết, thác sanh vào nhà khác, v́ sao nó vẫn có thể nhận
biết cha mẹ đời trước. Rốt cuộc
là do cái nhân nào? (Phan Chấn Bang
hỏi)
Đáp:
Đấy là chuyện ngẫu nhiên, hoàn toàn chẳng phải
là thường có!
*
Hỏi: Tất cả những người tinh trung báo quốc
trong thế gian, người hoằng hóa trong thế gian, chỉ
dạy điều thiện, nhưng chưa thể làm những
điều đại thiện như khuyên [người
khác] tiêu xài tiết kiệm, bác ái đối với người
khác, giúp đỡ người nghèo và kẻ cô quạnh,
đến khắp nơi cứu đời, lập công,
đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện
v.v… Rốt cuộc sẽ có quả báo tốt lành nào trước
mắt? (Phan Chấn Bang hỏi)
Đáp:
Địa vị, tài lộc, tiếng tăm, thọ mạng,
bốn điều ấy là những quả báo tốt lành
trong thế gian, nhưng đối với nguyên nhân và quả
báo, ắt phải luận theo ba đời, v́ nhân có lớn
hay nhỏ, quả có trễ hay sớm. Có kẻ trước
là thiện sau là ác, có kẻ trước là ác mà nay là thiện,
có kẻ thiện ác hỗn tạp, nhưng trong sự hỗn
tạp lại có thiện lớn ác nhỏ và thiện nhỏ
ác lớn khác biệt. V́ thế, cần phải gộp tất
cả lại để xét chung. Nếu ắt cầu quả
báo tốt lành ngay trước mắt, th́ trong bốn thứ
trên đây, quả báo về Danh phần nhiều sẽ có
thể ngay lập tức thành tựu.
*
Hỏi: Trong thế gian, chẳng tránh khỏi có kẻ ngỗ
nghịch. Nhưng kẻ thông minh, lại đọc sách Khổng,
Mạnh, đối với hết thảy thiện ác
đă hiểu sâu xa, đối với đại nghĩa
đều đă thông hiểu, cớ sao tâm chẳng tuân hành?
Trước là ngỗ nghịch đối với cha mẹ, sau là chẳng ḥa hợp cùng bạn
hữu, tự khoe chính ḿnh hiền đức, hành vi tự
cao, tự đại, xun xoe người quyền thế, ức
hiếp kẻ có địa vị thấp bé. Nữ nhân th́
chẳng hiếu thảo với bố mẹ chồng, chẳng
tuân giữ Tam Tùng, Tứ Đức, do sợ nhà chồng
nghèo khó bèn từ hôn, bắt nạt người nghèo, mến
chuộng kẻ giàu, đủ mọi hạnh ngỗ
ngược. Đối với hạng người này,
phân biệt hiền ngu như thế nào? (Phan Chấn Bang hỏi)
Đáp:
Hiền hay ngu chẳng do “đọc sách, thông minh” và “không
đọc sách, không thông minh” để phân định. Hăy
nên phân biệt từ hai đường thiện và ác vậy!
*
Hỏi: Thế gian chẳng tránh khỏi có những kẻ
tội ác to lớn cùng cực như giết người,
phóng hỏa, dùng thuốc giả, hoặc ma thuật hại
người, chặn đường cướp giật.
Có kẻ bố cưỡng gian con gái, con dâu, có kẻ
đă già mà c̣n gian dâm với trẻ nít v.v... Ngoại trừ
bọn tham quan ô lại, và những tội vặt vănh
như tư thông, ăn nằm bừa băi, ăn trộm chó
ra, những kẻ phạm mười thứ đại trọng
tội trên đây, nếu về sau, tội ác bị phát hiện,
sẽ sa lưới, bị pháp luật dương gian
tuyên cáo tử h́nh để răn đại chúng. Sau đấy,
hồn chúng nó đến cơi âm có được xá miễn
lỗi cũ hay không? (Phan Chấn
Bang hỏi)
Đáp:
Những tội như ông đă kể trong phần trước,
cố nhiên là to tát; đối với những tội
được kể sau đó, cần phải xét tới kết
quả và mức độ tạo thành tội phạm
để phán định là nhẹ hay nặng, chẳng thể
vội vàng bảo là nhỏ nhoi được! Đối
với vấn đề luật pháp thế gian, cũng cần
phải xem mức độ của tội ấy. Bởi
lẽ, h́nh phạt nghiêm trọng nhất trong luật thế
gian bất quá là chấp hành án tử h́nh. Nhưng cổ
nhân có nói “có chết cũng chẳng
đủ đền tội”, lại nói “tội đáng chết hơn muôn lần”. Lại
tra duyệt kinh điển, thấy chép [trong cơi Âm] có lập
ra địa ngục Vô Gián. Suy từ những điều
này, bèn biết: [Những kẻ tội nhân ấy], dẫu chịu
pháp luật dương gian [hành h́nh], nhưng khi tội tánh
chưa tiêu diệt, vẫn chẳng khỏi bị cơi âm tru
lục!
*
Hỏi: Kinh Phật nói có ba mươi hai tầng trời,
nhưng có giới tuyến hay không? Lại thường
nghe nói trong cơi Âm có mười điện, trong mỗi
điện đều có địa ngục v.v… nhưng
đấy có phải là tổng quản của mười
tám tầng địa ngục hay không? Đồng thời,
trong sách Cố Sự Quỳnh Lâm[27],
đối với phần chép về Thích, Đạo, quỷ
thần, có chép chuyện các ông Hàn Cầm Hổ, Khấu Lai
sau khi đă chết bèn làm vua Diêm La trong chốn âm ty v.v… Rốt
cuộc là do cái nhân nào? (Phan Chấn
Bang hỏi)
Đáp:
Kinh Phật chỉ nói có hai mươi tám tầng trời!
Chỉ có tầng trời thứ hai tên là Đao Lợi
Thiên (Trāyastriṃśa), dịch nghĩa
thành Tam Thập Tam Thiên. Tức là nói trong tầng trời ấy,
xét theo chiều ngang, có nhiều cơi trời như thế,
chẳng phải là [tính đếm] số tầng trời
trên và dưới vậy. Ông hỏi về chuyện tổng
quản địa ngục, ư nghĩa chẳng rơ ràng, chẳng
tiện đáp bừa! Các ông Hàn, Khấu v.v… làm vua cơi âm,
chính là hạng quỷ có oai đức. Ấy là v́ con
người chẳng hiểu Phật lư, lại thiếu
công phu tu dưỡng của Nho gia, khởi tâm động
niệm, ắt sẽ là thiện ác hỗn tạp, niệm
niệm đều là chủng tử sanh tử. Sử sách
chép chuyện hai ông ấy, chỉ chép về công tích và ngôn hạnh.
Nếu nói theo tâm niệm, sẽ không có cách nào biết
được. Cư sĩ hỏi về cái nhân, kẻ hèn
này chẳng có căn cứ nào để trả lời!
*
Hỏi: Phật giáo nói “nhân quả ba đời”, Phật tử
mắc bệnh, mời thầy thuốc [chẩn bệnh],
uống thuốc. Có phải là uổng công hay chăng? (Chi Thế Vinh hỏi)
Đáp:
Mọi sự tạo tác đều là nhân. Hễ có tạo
tác, ắt có kết quả. Tuy không thể ngay lập tức
biến đổi cái nhân trước đó, nhưng
cũng có thể trở thành hai thứ tăng thượng
duyên là tổn hại hay tăng ích. Kết quả về
sau cũng sẽ phát sanh biến hóa. Có bệnh, mời thầy
thuốc [chẩn bệnh] và uống thuốc, chính là một
loại tăng thượng duyên, sao lại bảo là uổng
công cho được?
* Hỏi: Đức
Phật dạy: “Hễ có nhân, ắt có quả. Nếu chẳng
gieo nhân, ắt chẳng có quả”. Đấy có phải vô
sanh vô diệt bèn vượt thoát nhân quả? Như thế
th́ dường như “nhân quả” cai quản hết thảy.
Như vậy th́ “nhân quả vốn có là do ai phát khởi”?
Câu hỏi này chẳng phải là đối với những
cái nhân do con người, hoặc do chúng sanh phát khởi, bèn
đạt được cái quả, mà là [thắc mắc]
người định đoạt nhân quả từ thuở
đầu tiên là ai? Hay là trước khi có nhân quả, bèn
có một người nào đó chế định nhân quả?
(Chi Thế Vinh hỏi)
Đáp:
Vạn pháp hiện ra tướng đều là do các duyên ḥa
hợp. Nhân đợi duyên mà khởi, quả đợi
duyên mà sanh. Thiên biến vạn hóa, chẳng thể nói rạch
ṛi được! Chẳng thể nói là “vốn có”, chẳng thể nói do ai phát khởi, chẳng
thể nói trước đó bèn có ai chế định! Thử
hỏi: Hơi nước gặp lạnh bèn đọng
thành nước, nước gặp lạnh bèn kết thành
băng, băng gặp nhiệt bèn tan thành nước,
nước gặp nhiệt bèn bốc thành hơi, đều
là nhân quả. Xét xem, [những hiện tượng ấy] do
ǵ mà vốn có? Chúng do ai phát khởi? Có ai chế định
hay không?
*
Hỏi: Đức Phật nói kinh Tam Thế Nhân Quả, có
đoạn nói: “Kim sanh thổ
huyết vi hà nhân, tiền thế thực nhục khứ niệm
kinh” (Đời này hộc máu, nhân ǵ vậy? Đời
trước ăn thịt rồi niệm kinh). Như vậy
th́ người chẳng ăn chay trường mà tụng
kinh, sẽ mắc phải kết quả chẳng tốt
lành ư? (Lư Vĩnh hỏi)
Đáp:
Sợ rằng kinh ấy là ngụy kinh! Tuy chưa thấy
sách ấy, nhưng xét theo ngữ khí, [cảm thấy] chẳng
phải [đấy chẳng phải là kinh Phật thật
sự]!
* Hỏi: Có một
vị nữ tín đồ sống trong tự viện, tu
hành hơn ba mươi năm, gần đây đă gặp
phải tai nạn xe cộ mà văng sanh. Khi c̣n sống, bà ta phẩm
hạnh tốt đẹp, kiền thành lạy Phật, và
làm Phật sự, đúng là rất đáng tiếc! Đấy
là do nguyên nhân nào? (Trang Khánh Hiền
hỏi)
Đáp:
Phải gộp chung ba đời để xét nhân quả.
Có bù qua, sớt lại, có hiện báo, sanh báo, và hậu báo[28]
sai khác. Ấy là v́ quả đă chín muồi, do sức của
nó lớn hay nhỏ, bèn trở thành trễ hay sớm khác
nhau. Như Khổng Tử và Nhan Uyên đều là thánh nhân, đức
Khổng chôn con, ông Nhan rốt cuộc đoản mạng,
Tào Tháo và Tư Mă Chiêu[29]
đều là những kẻ đại nghịch soán ngôi,
giết vua, thế mà con cháu họ đoạt được
thiên hạ, chẳng thể dùng những chuyện này để
luận định khi ấy mà ḥng biết được!
Huống hồ c̣n có những cơ duyên nhỏ nhiệm,
tang ma, chết chóc chưa phải là họa, mà phú quư cũng
chẳng phải là phước!
* Hỏi: Trong
các tín đồ, có một bộ phận con cái bất hiếu,
ngỗ nghịch, cha mẹ khuyên giải chẳng nghe, phải
dùng phương pháp ǵ để cải thiện? (Trang Khánh Hiền hỏi)
Đáp:
Đấy cũng là nhân quả trong đời trước.
Nhân duyên giữa cha và con vốn có báo ân, báo oán, trả nợ,
đ̣i nợ sai khác. Đối với những chuyện
này, chỉ đành “cảnh nghịch xảy đến bèn
ưng chịu”. Hăy nên nhờ người nào đó thường
giải thích nhân quả cho người ta, để họ
biết “oán nên giải, chẳng nên kết”. Danh phận trong
thế gian đă định, cũng cần phải trọn
hết niềm ḥa thuận luân thường. Nếu không, sẽ
kết thành điều ác về sau!
*
Hỏi: Tôi thường thấy khi người ta chê cười
một ai, hoặc chê cười chuyện ǵ, thường
lắc đầu, chép miệng, hô lên bốn chữ “A Di Đà Phật”. Thử hỏi:
Do tập khí ấy mà [bốn chữ danh hiệu] liền vào
trong ruộng tám thức, kết thành cái quả trong
tương lai sẽ là thiện hay ác? (Lâu Vĩnh Dự hỏi)
Đáp:
Đấy là hai nghiệp miệng và ư biểu hiện sai
khác. Mang ḷng chê cười, tức là ư ác! Bốn chữ
danh tướng chính là khẩu thiện. Tuy đồng thời
khởi lên, vẫn chia thành hai loại thiện và ác, tự
nhiên mỗi đằng đều nhận được
cái quả riêng biệt.
* Hỏi: Trong
lúc giảng diễn, nói đến các sự thật về
nhân quả báo ứng, thính chúng chất vấn tại chỗ:
“Phật có ḷng từ bi, đối với kẻ vô t́nh phạm
tội một lần, cớ sao chẳng dung thứ?” (Tiêu Huệ Tâm hỏi)
Đáp:
Tạo nghiệp thọ báo chính là “trồng đậu được đậu, trồng
dưa được dưa”, là lẽ tự nhiên, hoàn
toàn chẳng phải là do đức Phật trừng phạt!
Chuyện này giống như ăn uống chẳng điều
độ, thức ngủ chẳng đúng thời, liền
ươm thành bệnh tật. Mời thầy thuốc
đến khám bệnh, thầy thuốc sẽ chuyên trị
bệnh. Chớ nên hiểu lầm căn bệnh ấy là
do thầy thuốc gây ra! Phật chỉ dẹp khổ, ban
vui, há có lẽ nào chẳng dung thứ?
* Hỏi: Tôi tin
là sự lư lục đạo luân hồi và tam thế nhân quả
ắt có bằng chứng. Vợ tôi đời này là người
từ thiện, nhưng lại chuốc lấy quả báo
đoản mạng, chết ngang xương. Cái nhân là do
trong đời trước đă rộng tạo sát nghiệp,
quả báo đă chín muồi. Kiếp này đến nỗi
gặp cảnh ngộ lâm chung, quả báo hiện tiền,
đủ mọi nỗi điên đảo, sai lầm, ôm nỗi
oan ức khuất lấp mà chết, [xét theo lẽ] thường
t́nh, đúng là chẳng thể lư giải được! Chỉ
có điều khi cô ta lâm chung, đau khổ dữ dội; hiềm
rằng, lúc ấy, học nhân vẫn c̣n chưa nghe Phật
pháp, tới khi cô ta tắt hơi, bèn đau khổ, khóc rống,
lay gọi. Do thần thức của người chết
chưa ĺa khỏi xác thân, do bị vỗ động, ắt
sẽ có tâm sân hoặc ái, sẽ lại cảm vời ác
báo trong tam đồ. (Đổng
Di Nguyên hỏi)
Đáp:
Lâm chung khởi sân hoặc khởi ái, quá nửa là đọa
lạc. Kẻ chẳng hiểu rơ Phật pháp, nói chung,
đều bị mắc hại bởi chuyện này.
*
Hỏi: Đă hai năm qua, âm thanh và dung mạo [cô ta] vẫn
thấy phảng phất, nẻo âm dương xa cách,
chưa từng có mảy may tin tức và nằm mộng thấy
cô ta. Có phải là cô ta c̣n đang chịu khổ trong địa
ngục đạo, chẳng được tự do ư?
Hay là đă chuyển sanh vào đường khác? Người
học Phật cố nhiên chẳng nên
chấp măi ái kiến để tăng thêm nhân quả cho
đời sau! Huống hồ mục đích rốt cùng
của Phật pháp chính là v́ liễu sanh thoát tử. Bất
quá, con người sau khi đă chết, sẽ chịu phán
xét sanh vào đường nào, và Phật sự công đức
như thế nào? Nếu được cụ trích dẫn
kinh luận chỉ bảo nẻo mê, chắc là cũng khiến
cho những kẻ sơ học Phật ưa thích mong
được nghe ḥng tăng trưởng tín căn vậy!
(Đổng Di Nguyên hỏi)
Đáp:
Chúng sanh sau khi đă chết, thời gian dài nhất là bốn
mươi chín ngày liền chuyển sanh, nhưng chẳng cần
biết là sanh trong đường nào, [hàng thân quyến] v́
người ấy làm Phật sự, người ấy
đều có thể được lợi ích. Những
kinh chỉ dạy chuyện này rất nhiều, chẳng thể
nêu trọn. Như kinh Địa Tạng Bổn Nguyện là
nói rơ ràng nhất. Các kinh luận khác như Lương Hoàng
Sám nói Hy Hậu có thể thoát thân măng xà, càng được
nhiều người trong cơi đời biết đến!
*
Hỏi: Cái chết của cô ta chính là cái nhân, tức thân
nhân duyên khiến cho học nhân tu đạo. Suốt hai năm
qua, tôi ăn chay trường, niệm Phật, tụng kinh,
lễ sám và phóng sanh v.v... Ngoài việc cầu cho chính ḿnh văng
sanh Tịnh Độ ra, mỗi ngày đều hồi
hướng cho cô ta. Xin hỏi: Do nguyện lực của
tôi và sức từ bi của Phật, Bồ Tát, sau khi chết
đi, cô ta đọa nhập tam đồ, do công đức
này có hy vọng được siêu độ hay không? (Đổng Di Nguyên hỏi)
Đáp:
Kinh Phật oai lực cực đại. Hết thảy các
chướng đều có thể dẹp trừ, nhưng
khi tụng niệm, cần phải có ḷng thành th́ mới có
thể cảm ứng.
*
Hỏi: Xưa kia, Lỗ Hoàn Công chết trong xe, Chư Nhi
giữa đường gặp quỷ, Bành Sanh bị giết
oan bèn hóa thành lợn[30].
Có thể nói một đoạn nhân duyên ấy chính là hoa báo
của nhân quả hay không? (Dương
Tố Nguyệt hỏi)
Đáp:
Bành Sanh đă đọa vào tam đồ, tất nhiên là quả
báo. Chư Nhi bị giết, vẫn là hoa báo.
*
Hỏi: Tôi từng nghe vị đại pháp sư nói “chúng
sanh chẳng ĺa nhân quả”, nhưng nghe nhà học vấn
nói “hai chữ nhân quả quá ấu trĩ, hư vọng, chẳng
có”. Vậy th́ đức Phật răn dạy nhân quả
có tác dụng ǵ? Lại nữa, “Bồ Tát sợ nhân, chúng
sanh sợ quả”. Giữa lời lẽ của hai đằng,
hăy nên tin ai là xác đáng? (Vương
A Kim hỏi)
Đáp:
Nhân là khởi nguồn của Sự, quả là kết cục
của Sự. Đó là lư muôn đời, chẳng thể thay
đổi được! Dùng ba trạng thái của vật
thể để luận: Nước gặp lạnh bèn
đóng thành băng. Lạnh là nhân, băng là quả vậy.
Nước gặp sức nóng bèn bốc thành hơi; sức
nóng là nhân, hơi nước là quả vậy. Kinh điển
Nho gia có nói: “Hóa bột nhi nhập
giả, diệc bột nhi xuất” (Tài vật do chẳng
chánh đáng mà có được, th́ cũng sẽ bị kẻ
khác dùng thủ đoạn bất chánh đáng đoạt mất),
“tác thiện giáng bách tường,
tác bất thiện giáng chi bách ương” (làm lành, trăm
điều tốt lành giáng xuống. Làm điều chẳng
lành, trăm nỗi tai ương giáng xuống). Điều
trước là định lư trong khoa học, điều
sau là “pháp ngôn” (lời dạy đúng chân lư, là khuôn vàng thước
ngọc) của thánh nhân, có điều nào chẳng phải
là nhân quả? Nay có người chê bai nhân quả, bảo là
“quá ấu trĩ, hư vọng, chẳng có”, liền biết
học vấn của kẻ ấy là như thế nào?
Nhưng trong kinh điển do thánh hiền thế gian và xuất
thế gian trước tác, những điều tinh túy ấy
đă sớm được chói ngời nơi tai mắt mọi
người. Những kẻ học vấn kia, có cái học
vấn ǵ tân kỳ, sáng tạo độc đáo để
có thể áp đảo hết thảy thánh điển hay
chăng? Vẫn chưa trông thấy! Hăy nên tạm thời vâng
theo kinh điển của thánh hiền, chắc sẽ chẳng
đến nỗi lạc lối vậy.
*
Hỏi: Bất luận là do cái nhân nào, hễ giết
người đều phải đọa địa ngục
chịu khổ ư? Vậy th́ chiến sĩ v́ nước
th́ sao? (Liêu Ngọc Kiều hỏi)
Đáp:
Chuyện này cần phải xét tới động cơ
(motivation). Nghĩa vụ của chiến sĩ: Trên là bảo
vệ đất nước, bảo vệ nhân dân, ngăn
chống ngoại xâm, phù hợp với Vô Úy Thí của Bố
Thí Độ. Xét về ư là thiện, chẳng phải là ác.
Như hai vị Quan Công và Nhạc Phi, đều là thống
soái, trải qua nhiều trận chiến, há chẳng giết
người ư? Thế mà họ được cúng tế
ngàn năm, thường hiển hiện những sự
tích linh thiêng. Nếu tâm chẳng v́ nước, v́ dân, chuyên
ham hố giết chóc, tàn bạo quá lố, như hạng Bạch
Khởi, Tào Hàn[31],
sẽ chẳng tránh khỏi quả báo trong tam đồ.
Trong các bút kư nhân quả đă chép nhiều chuyện như
vậy!
*
Hỏi: Bồ Tát cứu người, không nhất định
là phải xưng danh rồi Ngài mới đến cứu.
Cũng có trường hợp tuy chưa xưng danh, mà Bồ
Tát cũng ắt đến cứu. Chỉ xét coi thân
người ấy nghiệp lực thiện hay ác như thế
nào mà thôi! Vả nữa, đối với hoàn cảnh
được cứu, có khi cần phải chuẩn bị
xếp đặt sẵn trước. Thời gian chuẩn
bị xếp đặt sẵn có trường hợp là trước
đó vào ngày, có khi trước đó vài năm, thậm chí
trước đó vài chục năm. Đấy là cảm
giác thường có của học nhân, tin sâu chẳng nghi.
Không biết bậc cao minh có nghĩ là hợp lư hay không? (Trọng Chí Anh hỏi)
Đáp:
Bồ Tát cứu chúng sanh được gọi là Ứng;
chúng sanh xưng danh chính là “cầu
cảm”. Như ấn nút cái chuông điện, khiến
cho mạch điện được nối, chuông sẽ
kêu. Chẳng ấn nút khiến cho mạch điện
được nối, chuông sẽ không kêu. C̣n như ông nói
“tuy chẳng xưng danh, Bồ Tát vẫn đến cứu”,
chính là v́ người ấy trước đó đă có ḷng tín
ngưỡng, cho nên khi đột ngột gặp nạn,
tuy miệng không nói, trong tâm đă sớm chứa sẵn chủng
tử, vẫn có lư cảm ứng. Nghiệp lực thiện
hay ác thuộc về quan hệ nhân quả, lư ấy cũng
được cảm vời. Nhưng cảm có lớn hay
nhỏ, nhanh hay chậm. Lại như gơ chuông: Gơ nhẹ,
chuông kêu nhẹ; gơ mạnh, chuông kêu to. Hiểu rơ điều
này, đối với chuyện xưng danh, chẳng thể
xem thường được! Đối với thuyết
“sắp xếp chuẩn bị sẵn”, chẳng phải là
như cư sĩ đă hiểu! Lư ấy một đằng
là tương ứng với cái nhân, một đằng là cậy
vào cái duyên vậy!
*
Hỏi: Có một người bạn đồng nghiệp
nói: Kẻ sát nhân trong kiếp này là do cái nhân trong kiếp
trước. Do trong kiếp trước, Giáp giết chết
Ất, cho nên kiếp này, Ất mới giết Giáp. V́ sao
đời trước Giáp giết Ất? Lại là do
đời trước đó nữa, Giáp đă giết Ất!
Cứ suy ngược về trước như vậy, khởi
đầu là ai giết ai? Trước khi khởi đầu
sự giết chóc, chẳng có cái nhân giết, cớ sao sanh
ra cái quả sát? Cứ suy tiếp về sau như vậy,
Giáp giết Ất, Ất giết Giáp, nhân quả kéo theo
nhau, làm thế nào để kết thúc? (Liễu Tử Kỳ hỏi)
Đáp:
Sự có tạo nhân và đền quả. Tạo nhân th́ gọi
là “tân ương”, c̣n đền
quả th́ gọi là “cựu
nghiệp”. Hai sự này đều luôn luôn cùng xảy ra.
Nói như ông X… [trong lời hỏi] chính là [chú trọng] “thù quả” (酬果, cái quả
để đền bồi), xem nhẹ “tạo nhân”. Thử hỏi: Bưu cục mỗi
ngày chuyển giao thư từ, há có thể toàn là thư trả
lời hay không? Chẳng phải là c̣n có khá nhiều thư
tín bắt đầu hỏi han hay chăng? Hiểu rơ
điều này, ắt sẽ giải quyết được
đoạn [thắc mắc] trước. Kinh dạy: “Giả sử ngàn vạn kiếp,
nghiệp đă tạo chẳng mất, khi nhân duyên hội
ngộ, vẫn tự thọ quả báo”. Đọc câu ấy
sẽ biết: Chẳng có lúc nào xong! Nhưng lại có một
bài kệ: “Thần Nông lưu hạ
nhất lạp cốc, cựu chủng lạc điền,
tân chủng thục. Thử trung dă hữu bất sanh giả,
chử tại oa lư tố hy phạn” (Thần Nông để
lại một hạt gạo, hạt cũ gieo trồng, hạt
mới chín, trong ấy cũng có hạt chẳng sanh, nấu
ở trong nồi thành cháo lỏng). Hiểu rơ điều
này, ắt sẽ giải quyết được đoạn
thắc mắc sau!
* Hỏi: Đối
với câu chuyện về cái nhân cũ của Tào Hàn: Ông ta
đă làm lợn th́ làm sao có trí huệ để hướng
về Lưu khảo quan kể rành mạch chuyện nhân quả
đời trước của chính ḿnh? Do duyên cớ nào mà
ông ta chẳng bị mê khi cách ấm? (Lữ Chánh Lương hỏi)
Đáp:
Những chuyện như thế này chẳng phát xuất từ
kinh Phật, đa số là được biên chép trong các
bút kư của văn nhân mặc khách, khó thể bị ràng buộc
bởi Phật lư. Nhưng Phật, Bồ Tát muốn hiển
thị nhân quả, cảnh tỉnh người đời,
sẽ dùng thần lực gia bị kẻ đó, quyền
biến thị hiện trong một chốc. Xét về sự,
cũng có nhiều trường hợp như thế, mà lư
không ǵ chẳng thông!
* Hỏi: Tánh di
truyền và nhân quả báo ứng khác nhau như thế nào?
Ví như con cháu của người thông minh cũng có lắm
kẻ thông minh, con cháu kẻ ác vẫn đa số nối
tiếp làm ác. Giải thích như thế nào? (Lữ Chánh Lương hỏi)
Đáp:
Hai đằng đều có những mối quan hệ
riêng, cũng có khi ḥa hợp, cũng có khi trái nghịch. Nhân
quả phức tạp, sự tướng đúng là thiên
sai vạn biệt, chẳng thể nói cứng ngắc như
ông đă nêu được. Cổ Tẩu có con là vua Đại
Thuấn, con ông Cổn là Đại Vũ, [Cổ Tẩu
và ông Cổn] là kẻ ác, chẳng nhất định sanh
ra con đều là kẻ ác. Chúa nhà Thục Hán thuở
trước là Lưu Bị, có con là A Đẩu (Lưu Thiện),
Tấn Vũ Đế Tư Mă Viêm có con là Huệ Đế
(Tư Mă Trung). Đó là những kẻ thông minh, không nhất
định sanh con đều là hạng thông minh!
*
Hỏi: Giả sử đời trước đă tạo
cái nhân ác, kiếp này bề ngoài tuy dễ coi, nhưng bên
trong nghiệp chướng tầng tầng. Đối với
những chuyện đă làm trong đời này, c̣n biết hướng
thiện, suốt mấy năm gần đây học Phật,
hằng ngày cầu Phật sám hối, có thể khiến
cho khổ báo trong lúc tuổi già giảm nhẹ hay không? (Khoan Nga hỏi)
Đáp:
Đúng như ông đă nói, có thể giảm nhẹ,
nhưng kẻ chẳng có thần thông, tuy được
giảm nhẹ mà cũng chẳng tự biết. Đợi
đến khi phải chịu báo nhẹ, lại ngược
ngạo ngờ vực sám hối chẳng linh! Đó là
căn bệnh chung của người trong cơi tục! Không
hiểu rơ điều này, thường bị lui sụt thiện
tâm, vứt bỏ công lao trước đó, đáng tiếc
thay!
*
Hỏi: Tục ngữ có câu: “Dục
tri thế thượng đao binh kiếp, thả thính
đồ môn dạ bán thanh” (Muốn biết chiến
tranh trong cơi thế, ḷ mổ hăy nghe tiếng nửa đêm).
Người Âu Mỹ giết súc vật c̣n dữ dội
hơn Trung Hoa, như tại
Đáp: Nhân quả
thông ba đời: Kẻ thọ báo chưa chắc đă
c̣n đang sống trong cơi đời hiện tại, lại
c̣n chẳng ở ngay chỗ ban đầu. Từ câu chuyện
vua Lưu Ly diệt họ Thích, có thể suy ra vậy!
*
Hỏi: Tục ngữ nói “thân
người khó được”, nhưng dấy tâm động
niệm nơi thân này đều là tội, ư tôi cho rằng:
Đâm ra chẳng bằng súc sanh suốt một đời
tạo tội khá ít. Nếu là thân người, do phá sạch
nhân lành trong đời trước, sẽ đọa nhập
ác đạo, đâm ra chẳng bằng súc sanh c̣n có thể
giữ được mấy năm. Cư sĩ nghĩ như
thế nào? (Hồ Chánh Lâm hỏi)
Đáp:
Thân người đáng quư là v́ dễ nghe Phật pháp, có thể
tu hành để được giải thoát. Súc sanh có thể
đúng pháp tu hành, có bao nhiêu trường hợp như vậy?
Cư sĩ nghĩ con người tạo tội nhiều,
chẳng bằng súc sanh tạo tội khá ít, cho nên hâm mộ
súc sanh. Ví như người ở trong xă hội, cơ hội
tạo tội khá nhiều, [cho rằng] kẻ bị cầm
tù, tống ngục, cái duyên tạo tội bèn ít, [do vậy],
v́ để khỏi tạo tội mà cam tâm vào trong ngục
ư? Ông lại nói súc sanh c̣n có thể giữ lại nhân
lành từ mấy kiếp trước, cho rằng “làm súc
sanh thù thắng hơn làm người”. Thử hỏi: Quả
báo của những nhân lành được lưu lại
đó là như thế nào? Xin hăy tham cứu kỹ! Phải
nên biết: Điều đại ác cố nhiên là do con
người làm, mà điều đại thiện cũng
là do con người tạo ra vậy!
*
Hỏi: Nếu bảo “thân người đáng quư ở chỗ
có thể nghe Phật pháp”, th́ những khu vực dă man chẳng
có duyên với Phật, kẻ xuẩn ngốc ngũ quan chẳng
đầy đủ, và kẻ thông minh nhưng chẳng tin
Phật, sẽ chẳng thể tu học Phật pháp. Rơ ràng
là những kẻ ấy đă phá hư nhân lành đời
trước. V́ sao trong kinh Địa Tạng Bổn Nguyện,
đức Phật đôi ba lượt khen ngợi Địa
Tạng Bồ Tát, hoặc nói do tu cái nhân lành, cho nên có thể
đạt được phước báo trong đường
trời người? (Hồ
Chánh Lâm hỏi)
Đáp:
Biên địa và mù, điếc, câm, ngọng, thế trí biện
thông, đều khiến cho việc nghe Phật pháp bị
chướng ngại. Hai loại sau được xếp
vào trong tám nạn. Đúng như ông đă nói, luống uổng
lần thọ thân này, đáng tiếc lắm! Đấy
cũng là do ác nhân duyên kết thành. Chỉ mong bậc đại
tâm Bồ Tát chẳng ngại gian nan, khốn khó,
thương xót cứu độ.
*
Hỏi: Lại nữa, nếu nói “thân người đáng quư”, ngoài việc có thể
tu học Phật pháp ra, c̣n có thể thỏa ư nơi
cơm áo, ăn ở, nhưng kẻ nghèo túng bị đói
lạnh bức bách trên cơi đời, chẳng thể biết
là bao nhiêu? Cuộc sống của họ thua xa chó, ngựa
của kẻ giàu có. Nếu nói “những người ấy
trong đời trước có cái nhân ác, kiếp này cần
phải đền trả”, v́ sao chẳng đọa trong
địa ngục, ngạ quỷ, hoặc làm chó, ngựa
v.v... cho nhà giàu có cũng được! Khăng khăng nói
“con người thuộc về một trong ba thiện đạo”,
nhưng lại ắt phải chịu khổ. Điều
này đúng là khó hiểu! (Hồ
Chánh Lâm hỏi)
Đáp:
Kinh văn thường có nói: Chúng sanh tội nặng, khi thời
gian thọ báo trong địa ngục đă hết, do các
điều thiện khác, bèn chuyển sanh làm người, vẫn
có “dư ác”, [cho nên] các
căn chẳng đầy đủ, nghèo túng, đủ
các nỗi suy vi. Tuy nói “tàn tật, nghèo khổ”, nhưng so với
các h́nh phạt vô gián trong chốn địa ngục th́
đă an nhàn hơn vạn lần! Nói “thiện đạo” là nói theo tổng tướng.
Lại nữa, báo chia thành hai loại là y báo và chánh báo. Chánh
báo là nói tới cái thân trong một đường nào
đó. Y báo là nói tới sự hưởng thụ đạt
được. Trong ấy, có chánh báo thiện mà y báo kém mỏng,
có khi chánh báo ác mà y báo sâu dầy. Lại có thiện dầy,
ác mỏng. Nhân đă ngàn phần sai khác, quả cũng muôn
vàn sai khác, mỗi thứ đều có lư rốt cùng ở trong
ấy. Nếu chuyên v́ hưởng thụ mà đành ḷng làm súc
sanh, có khác ǵ kẻ nghèo v́ mong cầu cơm áo mà bằng
ḷng bị giam trong nhà tù? Đấy là mỗi người có
một loại tư tưởng, mỗi người có cách
nh́n khác nhau vậy!
*
Hỏi: Sự tử vong của chúng sanh có xét theo nhân duyên
quả báo nhất định hay không (như tuổi thọ,
thiên tai, nhân họa v.v....)? Nếu
đúng như vậy, cớ ǵ có những chuyện chết
uổng mạng, oán cừu v.v... Bởi lẽ, họ sẽ
phải hứng lấy kết quả như thế, c̣n oán
thù ai nữa? (Hồ Chánh Lâm hỏi)
Đáp:
Đối với nhân, duyên, quả, hăy nên luận định
theo chiều dọc tột cùng ba đời, theo chiều
ngang trọn khắp mười phương, muôn ngàn sai khác,
hết sức phức tạp. Nếu có thể suy xét, t́m
hiểu như vậy, ắt sẽ thấy chẳng có ǵ gọi
là oan uổng! Nhưng Phật pháp nói theo Thật Tướng
và chú trọng giải thoát. Nói tới Thật Tướng,
biết chúng sanh do một niệm vô minh mà chuốc lấy
nhân quả, đó là chỗ đáng thương! Chuộng
giải thoát, cho nên chẳng cầu báo thù qua lại, từ
nay trở đi bèn buông bỏ. Nếu gặp kẻ chẳng
chịu buông tay, tức là đột nhiên gặp kẻ oán
ghét, cố nhiên đều có thể nói là “oan uổng”. Pháp
thế gian do chẳng thấy cái nhân, nhưng xót
thương cái quả, nên kêu to là oan uổng. Đối với
ư nghĩa “từ nay buông tay” cũng có điều phụ trợ,
tức là hữu ích cho cơi đời, chẳng phải là
gây hại cho cơi đời vậy!
*
Hỏi: Thân người trong lục đạo luân hồi có
thể nói là khó đạt được. Nhưng sanh làm
người Âu Mỹ, cuộc sống vật chất dồi
dào, so với thổ dân sống trên núi cao hoặc rừng rậm,
sự hưởng thụ trong ấy (cuộc sống)
đă cách biệt một trời một vực. Đối
với hiện tượng này, nh́n theo quan niệm nhà Phật,
sẽ phân biệt như thế nào? Lại nữa, sanh ở
nơi khoa học chẳng hưng thịnh như Á Châu,
Trung Đông, Phi Châu v.v... chẳng lẽ trong kiếp trước,
điều thiện của những người ấy
cũng chẳng đạt tới mức độ viên măn
ư? (Hồ Chánh Lâm hỏi)
Đáp:
Có được loại thân nào đó, đấy là chánh
báo. Hết thảy những sự hưởng thụ sau
khi đă đạt được thân ấy, gọi là y
báo. Chánh báo và y báo mỗi người đều khác nhau. Thân
có trí, ngu, đẹp, xấu, toàn vẹn, tàn khuyết, yểu,
thọ sai khác, tức là chánh báo cũng chẳng nhất
trí. Hưởng thụ có phú quư, bần tiện, cát, hung,
thuận, nghịch v.v... sai biệt, há đáng lấy làm lạ
ư? Đạt được thân và sự hưởng
thụ trong các đường khác cũng có nhiều thứ!
Những điều này thuần thuộc về nhân quả,
duyên làm thiện, làm ác, thường đều là chẳng
đơn thuần, có thiện nhiều ác ít biến đổi
lẫn nhau, hoặc thoạt đầu lành, rốt cuộc
ác, biến đổi lẫn nhau. T́nh nghiệp phức tạp;
do đó, hai thứ chánh báo và y báo cũng là muôn vàn sai khác!
*
Hỏi: Đối với nguồn cội của vô minh, giữa
“vô minh” và “hậu hữu”[32]
có mối quan hệ như thế nào? (Phó Ngu Chi hỏi)
Đáp:
Do một niệm bất giác, bèn có vô minh. V́ thế, biến
thành thần thức. Từ đấy trở đi, nhập
thai, xuất thai chẳng ĺa lục đạo, thường
có hậu hữu. Truy t́m ngược lại, [sẽ thấy]
đều là do vô minh làm nhân. Đấy chính là mối quan hệ
giữa chúng vậy!
*
Hỏi: Năm nay đứa con bé của tôi đi thi đại
học. Đêm trước ngày đăng kết quả,
[nó mộng thấy] có người gọi tên con tôi, bảo
sẽ đậu hạng mấy. Khi đăng kết quả,
thấy kém một bậc, chuyện này là v́ lẽ nào? (Kim Thiên Đạc hỏi)
Đáp:
Thành tích và quá tŕnh học tập, quan hệ thân phận,
cũng giống như chuyện đỗ đạt trong
khoa cử trước đây, đều do nhân quả mà
có. Con ông vốn do túc căn sâu dầy, cho nên cảm vời
biết trước, khiến cho nó biết: “Ngoài vật chất,
hăy c̣n có những điều khác tồn tại”. Hăy nên
lưu ư đôi chút về cái học tâm tánh, ngơ hầu hiển
hiện đức năng sẵn có.
*
Hỏi: V́ sao có người thân thể khỏe mạnh, có
người thân mang bệnh tật? V́ sao kẻ được
phú quư, người bị nghèo hèn? (Huệ Lượng hỏi)
Đáp:
Người đời trước có công đức kiêng
giết, sẽ được quả báo khỏe mạnh.
Kẻ có ác nghiệp sát sanh, sẽ bị quả báo lắm
bệnh. Kẻ đời trước có công đức bố
thí, nay đạt được quả báo phú quư. Kẻ có
ác nghiệp tham lam, trộm cắp, sẽ mắc quả
báo nghèo hèn.
*
Hỏi: Hết thảy chúng sanh sau khi chết già, có c̣n luận
định mười hai nhân quả hay không? (Trí Dẫn hỏi)
Đáp:
Chuyện này được gọi là Thập Nhị Nhân Duyên,
c̣n gọi là Thập Nhị Liên Hoàn, ư nói: Nhân thấu triệt
quả, quả bao gồm nhân, tuần hoàn chẳng ngừng.
Khởi đầu bằng vô minh, kết thúc bằng “già, chết, ưu, khổ, bi năo”,
ưu khổ bi năo lại chính là vô minh. Thân chúng sanh đă chết,
nhưng thức vẫn có ư niệm, như vậy th́ làm sao
thoát khỏi cái ṿng vây liên hoàn ấy?
*
Hỏi: Tệ nhân sống bằng nghề bán điểm
tâm, thường có ruồi nhặng rớt vào canh, trong tâm
chẳng nỡ, muốn đậy lại, lại thường
cần phải đun sôi. Xin chỉ dạy biện pháp nào
để pḥng ngừa và có cách nào giúp chúng siêu sanh. Trong
tương lai, có quan hệ ǵ đến nhân quả của
tệ nhân hay không? (Vương
Gia Thanh hỏi)
Đáp:
Đối với tiệm làm đồ điểm tâm, cần
phải lắp cửa lưới. Trước khi bắt
đầu làm [điểm tâm], hăy quét dọn cho sạch,
dùng chổi phủi đuổi hết ruồi nhặng,
đóng chặt cửa lưới rồi mới nổi lửa.
Một là có thể giữ trọn tánh mạng của các
loài vật, hai là cũng bảo đảm vệ sinh. Nếu
có ruồi nhặng ngẫu nhiên rớt lầm vào đó mà
chết, hăy niệm Phật hồi hướng cho nó, có
công đức to lớn. Đă trọn hết tấm ḷng,
th́ quan hệ trong tương lai cũng chẳng phải là
ác vậy!
*
Hỏi: Nương theo lư nhân quả báo ứng, hễ thiếu
mạng, thiếu tiền, hoặc thiếu t́nh, tuy nhiều
đời chẳng đền trả, nhưng thử lấy
chuyện thiếu mạng làm thí dụ. Trong đời quá
khứ, Giáp từng sát hại Ất, sau khi chuyển sanh,
Giáp sẽ bị Ất giết để đền nợ
cũ. Nhưng sau khi Ất chuyển sanh, trước khi Ất
tầm cừu đ̣i nợ đời trước, bỗng
gặp thiện tri thức điểm hóa, dứt bỏ ác
niệm. Như thế th́ Giáp sau khi chuyển sanh, đối
với chuyện nợ mạng trong đời trước,
có thể từ nay trở đi chẳng cần phải trả
hay không? Tức là do Ất tiêu trừ nỗi oán mà nghiệp
ấy cũng tiêu trừ hay chăng? Đó là điều thứ
nhất. Oan oan tương báo, vốn chẳng có lúc [giải
quyết xong], nhưng giết người đền mạng,
thiếu nợ đền tiền, cách đời báo oán rốt
cuộc là chuyện nên có trong nhân quả ư? Hay là một
trong một cách thức đ̣i nợ, vẫn thuộc về
chuyện tạo nên oan nghiệt? Đây là điều thứ
hai. (Tân Hán hỏi)
Đáp: Ất từ
bỏ oán cũ, món nợ Giáp thiếu Ất lập tức
bị tiêu diệt, nhưng nghiệp nhân của Giáp vẫn
tồn tại y như cũ. Bất quá, chẳng có quan hệ
ǵ với Ất nữa, chẳng do Ất làm duyên khiến
cho nó hiện hành. Nếu cầu tiêu diệt, Giáp vẫn cần
phải sám hối, sửa đổi. Đó gọi là “tâm mất, tội cũng mất”
vậy. Đấy là điều thứ nhất. Trong
chuyện đ̣i nợ cách đời, đó vẫn là tạo
nên oan nghiệt. Cho nên kẻ mê đối với oán càng kết
sâu hơn, kẻ trí đối với oán, biết cầu giải
thoát. Thật ra, duyên nghiệp do Hoặc khởi lên, trong
tám thức điền, tự nhiên gieo một chủng tử,
sẽ thành ác quả trong tương lai. V́ thế nói “đ̣i
nợ vẫn là tạo nên oan nghiệt”. Đấy là
điều thứ hai.
*
Hỏi: Đức Phật nói thần thánh cũng chẳng
thể xâm phạm luật nhân quả. Bất luận kẻ
nào cũng đều chẳng thể may mắn tránh khỏi
chẳng lănh nhận. Lời này dường như mâu thuẫn
với khoa học! Ví như tỉnh Đài Loan từ khi
quang phục[33] cho tới nay, tỷ
lệ sanh trưởng của dân cư từ năm Dân Quốc
ba mươi sáu (1947) là ba mươi tám phần ngàn, gia
tăng đến bốn mươi chín phần ngàn vào
năm Dân Quốc bốn mươi (1951). Tỷ lệ tử
vong từ mười bảy phần ngàn vào năm Dân Quốc
ba mươi sáu (1947) giảm thấp xuống mười
phần ngàn vào năm Dân Quốc bốn mươi (1951).
Đấy là sanh tăng nhiều hơn, tử giảm ít
đi, nói theo luật nhân quả th́ sẽ là như thế
nào? (Vô danh hỏi)
Đáp:
Thiết bị vệ sinh, kỹ thuật y dược đều
tiến bộ hơn trước, tự nhiên giảm thiểu
tử vong. Chuyện này hoàn toàn chẳng trái nghịch nhân quả!
Nếu suy nghĩ từ tâm thuật và thọ mạng, càng
phải nên: Theo chiều dọc, xét khắp cả ba đời,
theo chiều ngang, luận định hoàn cảnh, tổng
hợp lại, để bù qua, sớt lại. T́nh h́nh hết
sức chẳng đơn giản, chớ nên viện vào một
phương diện mà nhất loạt khái lược những
điều khác!
*
Hỏi: Quân nhân cách mạng hy sinh sanh mạng cá nhân, hiến
thân v́ nước, v́ phước lợi của quần
chúng mà nhọc nhằn, hăy nên có đức lớn “cứu
người, cứu đời”, nhưng quân nhân hiện thời
chẳng có quan niệm ấy. Tuy làm quân nhân, chỉ là bất
đắc dĩ mà làm. Người như vậy có công
đức hay không? Có thể được hưởng
phước báo trong đời sau hay không? (Vô danh hỏi)
Đáp: Cư
sĩ đă bàn đến nhân quả, đương nhiên
là biết lư “muốn uống
th́ phải đào giếng, muốn ăn th́ phải cày ruộng”.
Nói theo hiện tiền, có vất vả th́ mới
được tưởng thưởng. Nói theo mai sau, kẻ
gieo đức mới được hưởng phước.
Chức trách của quân nhân vốn là bảo vệ đất
nước và nhân dân, nhưng thân chẳng làm chuyện
như thế ấy, tâm chẳng nghĩ như thế ấy,
c̣n có công đức chi nữa? Đă chẳng có công đức,
há c̣n hỏi chuyện tương lai được ư?
*
Hỏi: Nói theo nhân quả, người đời trước
làm nhiều việc thiện, tu hành nhiều, đời này
phước báo lớn, trí huệ cao. Theo đúng lẽ, hăy
nên là người lành phần nhiều phú quư, thông minh. V́ sao
trong hiện tiền, tôi thấy kẻ phú quư phần nhiều
ngang ngược, lấn lướt, đầu óc toàn
mưu ma chước quỷ? Ngược lại, người
lành phần nhiều nghèo khổ, ngốc nghếch vậy?
(Lư Vĩnh Bạch hỏi)
Đáp:
Nghèo hay giàu là quả báo của chuyện thuộc về cái
nhân từ mấy đời trước. Tánh thiện hay
ác là tập khí bẩm sanh và do được huân nhiễm
trong đời hiện tại. Đó là điều thứ
nhất. Xét kỹ, sẽ thấy cũng có nhiều người
giàu từ thiện, cũng có lắm kẻ nghèo mà tánh t́nh
gian giảo, độc ác, không hoàn toàn là thiện hết
như trong lời hỏi đă nói. V́ thế, chẳng cần
phải biện luận. Đấy là điều thứ
hai.
*
Hỏi: Tham, sân, si, ái là cái nhân tạo ác. Nếu có thể
quán pháp là không (“pháp” là nói tới
vạn hữu trong vũ trụ). Các pháp đă là không, tức
là chẳng sanh tham, sân, si, ái. Tham, sân, si, ái chẳng sanh, tức
là có thể sanh tâm từ bi, xả ḿnh lợi người,
chẳng tạo cái nhân ác. Tham, sân, si, ái là cái nhân tạo ác.
Đă chẳng có nhân; sau đó, cũng sẽ không có quả.
Nếu quán như thế, có phải là cũng có thể liễu
thoát sanh tử hay chăng? (Nhan
Văn Bộc hỏi)
Đáp:
Chẳng tạo cái nhân ác, cố nhiên là tốt đẹp. Thiện
th́ cần phải là “tam luân thể
không”, từ bi cũng coi trọng vô duyên. Người như
thế đương nhiên là sẽ giải thoát, nhưng cảnh
giới này cực cao, hàng sơ học chẳng thể nào
thật sự thấu hiểu được!
*
Hỏi: Quy y Tam Bảo, có thể ĺa khổ được
vui, văng sanh Tây Phương. V́ sao có những người
trước khi quy y Tam Bảo, mọi sự như ư, gia
đạo hưng vượng, kể từ sau khi quy y Tam
Bảo, mọi sự chẳng được như
trước, gia đạo ngày càng suy yếu dần, c̣n có người
chẳng có con nối dơi! Nói theo nhà Phật là do nhân quả
báo ứng, nhưng chẳng biết những chuyện giống
như vậy là do nhân quả như thế nào? (Nhan Văn Bộc hỏi thay cho
người khác).
Đáp:
Nhân quả thông ba đời, chín muồi có sớm hay trễ.
Đấy là chánh tri, chánh kiến. Quy y Tam Bảo chỉ có
cái danh suông, chẳng thể sửa ác, hướng thiện,
th́ vẫn có nhiều tai họa xảy đến. Chuyện
này cũng là lẽ đương nhiên! Nếu bảo “quy
y Tam Bảo, tŕ giới tinh tấn chính là cái nhân khiến cho
[hành nhân] hứng chịu tai họa”, sẽ là kẻ đại
ngu si tà tri tà kiến! Hăy thử xem: Nghiêu, Thuấn là những
vị đại thánh, mà con cái đều chẳng ra ǵ. Bá
Di, Thúc Tề là những bậc đại hiền, thảy
đều mất nước, chết đói. Khổng Tử
từng chôn con, Bá Đạo lại không có con[34].
Nếu bảo đó là quả báo của bậc thánh hiền
nhân từ, chắc chắn phải ca ngợi Tào Tháo đoạt
nước làm vua, Tần Cối bán nước mà phú quư vậy!
Đối với kẻ thấy biết nông cạn,
điên đảo như thế, càng khó nói ǵ được
nữa!
*
Hỏi: Phật giáo nói “chúng
sanh thuận theo nghiệp chướng đầu thai, bất
luận kẻ nào cũng đều chẳng có cách nào
ngăn cản” (“bất luận
kẻ nào” là kể cả Phật ở trong ấy). Nếu
nghiệp chướng nặng nề, miệng niệm A Di
Đà, tay cầm dao phay chẳng tự tu, Phật cũng chẳng
có cách nào cứu kẻ ấy, nhưng v́ sao có thể cứu
mẹ ngài Mục Liên? Mẹ Ngài nghiệp chướng trầm
trọng, đọa lạc địa ngục. Mục Liên
tâm cứu mẹ thiết tha, cậy vào công đức và
nguyện lực của chư Phật, cứu được
mẹ sanh lên cơi trời. Cớ sao bà ta chẳng tùy thuận
nghiệp chướng đầu thai? Chuyện này có lẽ
chẳng hợp với luật nhân quả “tự làm, tự chịu”, chẳng lẽ trồng
đậu được dưa? Chư Phật từ bi, cớ
sao chẳng hiệp lực độ tất cả chúng
sanh đáng thương dưới gầm trời về Tây
Phương? Mẹ ngài Mục Liên là một trường hợp
[khả thi], vậy th́ đương nhiên là chúng ta cũng
có thể làm giống như vậy, lẽ đâu chẳng
được? (Tạ Bích Ngọc
hỏi)
Đáp:
Mẹ ngài Mục Liên đọa làm ngạ quỷ chính là do
cái nhân ác trong đời trước. Siêu thoát về thiên
đạo là do nhân lành lập hội Vu Lan Bồn bố
thí rộng khắp. Làm sao bảo là nhân quả chẳng hợp
cho được? Chư Phật độ chúng sanh, bất
quá như người cầm lái chèo thuyền, hành nhân ắt
phải lên thuyền th́ mới có thể lên bờ đối
diện. Thuyền ví như kinh giáo, chúng sanh chẳng y giáo
phụng hành, tự cam ḷng đọa lạc! Giống
như hành nhân chẳng muốn lên thuyền, [bèn ngạo
ngược] trách suông người cầm lái chẳng cặp
thuyền sát bờ đối diện vậy!
*
Hỏi: Tín đồ Phật giáo bài xích ḷng bác ái của
đạo Gia Tô đối với nhân loại là ích kỷ,
đó là ác, hay là thiện? Tín đồ Gia Tô coi sát sanh là thiện
sự, đương nhiên là ác, chẳng thiện. Luật
nhân quả của nhà Phật há chẳng là đă bị phá
hoại ư? (Chương Phổ
Minh hỏi)
Đáp:
Nói thăng thiên bèn thăng thiên, chuyện cũng chẳng dễ
dàng như vậy! Các giáo trong và ngoài nước, đâu phải
chỉ là mấy trăm, người phổ biến
cũng chẳng phải là một giáo. Nhân quả nào tự
có nhân quả nấy. Chưa khai Thiên Nhăn, chỉ biết chuyện
trước mắt, nói chung là hễ bàn tới ba đời
bèn mờ mịt vậy!
*
Hỏi: Người lành sanh ra con ác, người khỏe mạnh
sanh con yếu đuối, người hiền sanh sanh ra
đứa con ngu muội, là chuyện thường trông thấy.
Vậy là nhân quả chẳng tương ứng ư? (Trương Thanh Cẩm hỏi)
Đáp:
Nhân quả phải gộp cả ba đời để
xem xét. Cư sĩ có thể tự xem xét để thấy:
Trong cột báo này, tôi đă nhiều lần trả lời,
chẳng ít đâu nhé! Đối với những câu hỏi
như vậy, đều có ghi chép cặn kẽ. Nếu mặt
trời nung nóng băng mà băng càng đóng dầy, mưa
to rơi xuống đất mà đất càng khô khan th́ mới
có thể nói là “nhân quả chẳng tương ứng”.
*
Hỏi: Phật giáo thường nói đến nhân quả,
như mèo bắt chuột th́ cũng có thể nói là nhân quả
ư? Có phải là do đời trước chuột ăn
thịt mèo, cho nên đời này báo oán lẫn nhau? (Chiêm Kim Chi hỏi)
Đáp:
T́nh h́nh nhân quả vô cùng phức tạp, chẳng thể
nói cứng ngắc như thế được! Tuy mèo bắt
chuột, chẳng phải là con chuột nào cũng bị
mèo bắt! Con nào bị bắt là có nguyên nhân trong ấy.
Như người bị sét đánh, hoàn toàn chẳng phải
là do trong đời trước sấm từng bị
người ấy giết chết, mà cũng là do có nguyên
nhân khác trong ấy. Bất quá, nhờ vào đó để
làm cái duyên thọ báo.
*
Hỏi: Người bạn tôi hoàn toàn chẳng phải là
Phật tử, nhưng nhiều năm qua đă thờ phụng
Quán Thế Âm Bồ Tát. Lại c̣n mỗi đêm dâng
hương, kiền thành tụng Tâm Kinh, người ấy
hỏi hậu học: “Người chí tâm niệm Phật sẽ
được đới nghiệp sanh Tây, c̣n người
kính bái Quán Âm đại sĩ có kết quả như thế
nào?” (Triệu Trạch Vũ hỏi)
Đáp:
Đao có thể xẻ dưa, có thể cắt giấy, có
thể trồng rau, mà cũng có thể giết người,
công dụng chẳng đồng nhất! Phải xét từ
điểm xuất phát của cái tâm để định
cái quả. Xin hỏi quư hữu có nguyện lực như
thế nào?
*
Hỏi: Nói theo nhân quả, kẻ hay sát sanh, ắt mắc
ác quả. Có khi tôi thấy kẻ sống bằng nghề
giết lợn, giết dê có hoàn cảnh khá hơn người
tin Phật. Rốt cuộc là do cái nhân nào? (Trác Trung Chấn hỏi)
Đáp:
Nhân quả thông ba đời. Vấn đề này đă
được cột báo này trả lời nhiều lượt,
xin hăy tự tra duyệt để hiểu rơ.
*
Hỏi: Ngài Huyền Trang đời Đường là vị
cao tăng thuở ấy, sau khi viên tịch, Ngài được
coi là vị Tổ nào? Lại nữa, Lương Vũ
Đế suốt đời thờ Phật, mắc quả
báo là nước vỡ nhà tan, chết ngang trái trong tay Hầu
Cảnh, chẳng khỏi là một khuyết điểm trọng
đại trong Phật giáo! Đó có phải là do cái nhân từ
trước hay không? Sau khi qua đời, Lương Vũ
Đế có được xếp vào hàng “tôn giả” hay
không? (Trác Trung Chấn hỏi)
Đáp: Cao túc của
ngài Huyền Trang là Khuy Cơ đại sư, chính là khai tổ
của Tướng Tông. Ngài Huyền Trang không được
xếp vào địa vị Tổ, v́ “tổ” chính là tổ của một tông. Ngài Huyền
Trang Tam Tạng đều tinh thông, chẳng thể hạn
cuộc trong một tông nào! Đối với sự thất
bại của Lương Vũ Đế, cũng chẳng
cần luận định cái nhân trước, mà chính là
trong khi ấy, nhà vua đă bội ước đối với
lân quốc, lại c̣n do tham đất mà thâu nạp kẻ
phản nghịch là Hầu Cảnh. Đă phạm sai lầm
to lớn, [cho nên] gặp phải quả báo ấy cũng là
chuyện tất nhiên! Nhưng Vũ Đế suốt một
đời hoằng pháp, hộ pháp, chủng tử công
đức tất nhiên là sung măn, sẽ có thành tựu lớn
nhất.
*
Hỏi: Gia huynh là Trác Trí Lập kể từ sau khi quy y Ấn
Quang đại sư, bèn niệm Phật và làm lành chẳng
tiếc sức thừa. Đối với chuyện kiêng giết,
phóng sanh, càng thêm nỗ lực. Ngày Mười Sáu tháng Ba
năm Dân Quốc mười chín (1930), nhằm ngày thánh
đản của Chuẩn Đề Bồ Tát, sanh
được một đứa con trai, dung mạo đẹp
đẽ, tánh t́nh thông minh, có tư thái hơn người,
đặt tên là Hiền Chuẩn. Gia huynh yêu quư như bảo
châu, thầm nghĩ “đứa con này hoàn toàn do Phật và Bồ
Tát ban cho”. Nó vừa được hai tuổi bèn chết yểu,
rốt cuộc gia huynh ôm nỗi đau Tây Hà[35].
Gia huynh nhớ con muốn phát cuồng, đối với
chuyện đời lẫn Phật pháp đều chểnh
mảng. Kể từ khi được thầy là tổ
sư Ấn Quang nghe tin, viết thư quở trách, mới
chấm dứt giai đoạn [cuồng trí] ấy. Người
niệm Phật đă được đứa con yêu rồi
nó lại bị chết non, đủ để chuốc lấy
kẻ tục phỉ báng Phật. Trời cao đă ban cho
người lành một đứa lân nhi[36],
cớ sao lại gây ra thảm kịch ấy, khiến cho người
ta chẳng hiểu thế nào? (Trác
Trung Chấn hỏi)
Đáp:
Tiền nhân hậu quả trong ấy chắc chắn là rất
phức tạp. Con chẳng ngoan hiền, quyết sẽ chẳng
đau ḷng. Nếu là người đắc Thiên Nhăn hoặc
Túc Mạng Thông, sẽ có thể hiểu tường tận
nguyên do. Hăy nên biết: Quyết chẳng phải là ngẫu
nhiên mà thành như vậy. Đối với nghị luận
của tục nhân, người hiểu biết sẽ bỏ
qua, chẳng màng tới, v́ đă nói là “tục nhân” chính là [nói tới] những kẻ chẳng
có trí huệ, ít hiểu biết. Họ chẳng báng Phật,
sẽ chẳng đủ để biểu hiện sự
thô lậu của họ.
*
Hỏi: Kinh Tứ Thập Nhị Chương nói: “Nhược nhân hữu quá, tự
giải tri phi, cải ác hành thiện, tội tự tiêu diệt”
(Nếu người có lỗi, tự hiểu biết là sai
trái, sửa đổi điều ác, hành điều lành, tội
tự tiêu diệt). Cớ sao ngài An Thế Cao c̣n phải
hai lần sang Trung Hoa để đền nợ mạng?
Ngài có thần thông, có tu hành, cớ sao chẳng tự tiêu diệt
[tội nghiệp]? (Tŕ Huệ Lâm
hỏi)
Đáp:
Sửa lỗi cũ, từ nay tu tập, tội tự tiêu
diệt, kinh dạy chẳng dối, nhưng cần phải
có thời gian. Kệ rằng: “Giả
sử trăm ngàn kiếp, nghiệp đă tạo chẳng
mất, khi nhân duyên hội hợp, quả báo vẫn tự
chịu”. Bài kệ này nói rơ: Hễ nghiệp chẳng mất,
ắt thọ báo. Nói ngược lại, hễ nghiệp
đă mất, sẽ chẳng thể báo. Ngài An Thế Cao tuy
biết túc mạng, dường như chưa đắc Lậu
Tận, hoặc là nghiệp vẫn chưa mất, mong trả
nợ xong cho nhanh, cho nên tự động t́m cầu để
đền nợ, mong sớm giải thoát, hoàn toàn chẳng
như bọn ta khi nghiệp nhân chín muồi, chẳng có
cách nào tránh né được!
*
Hỏi: Nếu kẻ khác chửi ta, ta chửi lại kẻ
đó là có tội. Nếu chẳng chửi lại, trong tâm
âm thầm ôm hận, bên nào mắc tội lớn hơn? (Tŕ Huệ Lâm hỏi)
Đáp: Chửi
lại là cả hai thứ ư và khẩu đều tạo ác
nghiệp. Không chỉ là về sau phải chịu khổ
báo, hiện tiền c̣n chuốc lấy họa ngoài thân. Ôm
ḷng hận, nổi sân, chính là tăng thượng căn bản
phiền năo, nhưng chẳng đến nỗi chuốc lấy
tai vạ ngoài thân. Cư sĩ đă đọc kinh Tứ
Thập Nhị Chương, sao không biết cái lư “tặng lễ chẳng nhận”[37] vậy?
Hiểu rơ lư ấy, đối với đối
phương, không chỉ là chẳng hận, mà ngược
lại c̣n nên khởi cái tâm bi mẫn nữa kia!
*
Hỏi: Đời trước hủy báng kẻ khác, đời
sau bị hứng chịu ngược lại. Đó là nhân,
quả, báo của chúng sanh. Thích Ca Mâu Ni Phật là bậc
thánh nhân xuất thế, hóa hiện phàm thể để
độ chúng sanh, tức là Ngài chẳng hủy báng kẻ
khác. V́ sao Thích Ca Mâu Ni Phật sau khi đă thành Phật, hăy
c̣n có kẻ hủy báng và gây thương tổn? (Trần Lâm Châu hỏi)
Đáp:
Cái nhân khiến cho gặp cảnh hủy báng chẳng phải
là một. Có trường hợp là do đền trả
nghiệp nhân trong đời trước, cũng có khi từ
trong hoàn cảnh hiện tại mà tạm thời cảm vời.
Hăy nên biết: Trong đời ác ngũ trược này, người
ta chuộng làm ác, trông thấy kẻ khác làm ác bèn chê cười,
chửi bới. Trông thấy kẻ khác tốt lành lại ghen
ghét, bèn hủy báng. Những điều ấy đă trở
thành thói quen thông thường. Đức Thế Tôn thành Phật,
đă sớm nghiệp tận, t́nh không, há có lẽ nào phải
đền bồi cái nhân! Kẻ báng bổ chính là do thói quen
của chính ḿnh mà khiến thành ra như vậy. Hai điều
này cũng có chỗ bất đồng:
1) Do đền
bù cái nhân bèn chịu hủy báng, cho nên có tổn hại.
2) Không có nhân mà bị
hủy báng, đâm ra càng bộ lộc rơ phẩm đức.
Huống hồ Phật
như hư không, bất biến trong hết thảy. Lại
c̣n có những bậc quyền hiện Bồ Tát tỏ lộ
thái độ ấy để đức Phật thừa
dịp thuyết pháp, như Đề Bà Đạt Đa
là một trường hợp vậy.
* Hỏi: “Quán thọ là khổ”, gia mẫu
ăn chay nhiều năm. Bà khá chịu tặng đồ vật
cho người khác, nhưng đối với hết thảy
quà biếu tặng của hàng xóm, bà chẳng tiếp nhận,
v́ sợ có “thọ nhân” (cái
nhân tiếp nhận), sẽ chuốc lấy “hoàn quả” (quả báo đền
trả), nhưng trong xă hội, sống như vậy sẽ
không được! Như thế nào th́ mới là tốt
đẹp? (Vưu Thái Hoa hỏi)
Đáp: Đối
với chữ Thọ (受: nhận lănh) trong
câu hỏi này, phạm vi hết sức rộng. Thọ chỉ
hết thảy các sự lănh nạp nơi thân và tâm. Như
đối với thân, sẽ là khổ lạc, xả. Đối
với tâm là ưu, hỷ, tức là những phân biệt dấy
lên khi tiếp xúc cảnh. Gọi chung là Khổ. Khổ và ưu
cố nhiên là khổ nhất trong các khổ, lạc và hỷ
cũng là những nỗi khổ v́ chúng ắt sẽ bị
hư hoại. Xả cũng là nỗi khổ v́ thường
chuyển dời, vô thường! Người có huệ lặng
lẽ quan sát mới biết. Lệnh đường chẳng
tiếp nhận tặng vật của người khác,
chính là một hạnh liêm khiết, cao thượng, hơi
khác với ư nghĩa ở trên đây. Do cụ tuổi già, lại
làm như thế đă lâu, chắc là mọi người
đều thông cảm, cũng chẳng có ǵ là không
được.
*
Hỏi: Lạt-ma Tây Tạng bị giặc Cộng giết
chết nhiều như thế. Trong số ấy, nhất
định có rất nhiều vị lạt-ma Tăng Bảo
đă chứng từ Sơ Quả cho đến Tứ Quả
A La Hán. Giết A La Hán, khiến cho thân họ chảy máu chính
là tội lỗi to lớn. Giặc Cộng bắn chết
Tăng Bảo nhiều ngần ấy, tội như Tu Di.
Nhưng những tên lính Cộng Sản vô tội bị bức
bách cũng mắc tội, có phải là do cộng nghiệp
báo ứng hay không? (Nhan Phật
Triệu hỏi)
Đáp:
Tự nhiên là cộng nghiệp, cộng báo, bất quá là có
nhẹ hay nặng khác biệt. Nhưng những kẻ bị
bắt buộc làm ác hạnh ấy, cũng là những kẻ
thuộc loại nghiệp nặng, chướng sâu, cho nên
đặc biệt gặp phải ác duyên này, lại gieo cái
nhân ác ấy! “Du hảo đức”
(Yêu chuộng đức) trong Ngũ Phước của thế
gian chính là nhân, chẳng phải là quả. Có thể thấy
làm thiện sự chính là hành vi của người có
phước huệ vậy!
*
Hỏi: Trong nạn lụt lớn ngày Tám tháng Bảy, rất
nhiều người bị chết đuối. Những
người v́ thiên tai mà chết ngang trái đó, có phải
là đều do nhân quả nghiệp báo hay không? Chẳng lẽ
tất cả những người chết đuối đều
là do nghiệp cảm chiêu vời ư? (Trần Thánh Âm hỏi)
Đáp:
Báo thông ba đời, chẳng thể chỉ luận khi ấy.
Đức Thế Tôn là người như thế nào, khi
vua Lưu Ly diệt họ Thích, Ngài c̣n thị hiện
tướng đau đầu, huống hồ bọn ta?
Chúng sanh mắc tai ách khi ấy, hăy tạm khoan bàn tới,
đừng kích thích tâm t́nh nữa! Hăy nên có ḷng bi mẫn đồng
thể, gởi gắm tấm ḷng ôn nhu, bỏ ra thân lực
và vật lực để chuyển vần nhanh chóng vậy!
*
Hỏi: Hiện thời có một hăng buôn, bạn cộng
tác kinh doanh rất đông, trong hăng thường ầm ĩ
v́ chuyện thất thoát tài vật. Trong tiệm, có một
người là tín đồ Phật giáo, toan vạch trần
tên họ của thủ phạm ra để người
khác khỏi bị liên lụy, nhưng lại chẳng muốn
làm người khác mất danh dự, sợ kẻ ấy sẽ
bị khai trừ, rốt cuộc là có công, hay có tội vậy?
Có vi phạm giới luật trong giáo hay không? (Hoàng Hàm hỏi)
Đáp:
Nhân viên trong tiệm đông đảo, chắc là người
biết chuyện ấy không chỉ là một người,
tự ḿnh cần ǵ phải đa sự? Đă biết kẻ
ấy ăn trộm, lại là đồng nghiệp, sao
không ngấm ngầm khuyên nhủ? Nếu nghĩ lời nói
chẳng đủ trọng lượng, vẫn nên giữ
im lặng là tốt nhất. Kẻ một thân tội ác đầu
sỏ như vậy, sẽ có ngày dấu tích ḷi ra.
* Hỏi: Nhân quả
thiện ác đều chẳng có lẽ nào khấu trừ,
tiêu diệt lẫn nhau, nhưng lại có chuyện làm lành
và tụng kinh tŕ chú bèn có thể tiêu tai giải nạn. V́
sao? Xin hăy chỉ dạy! (Hoàng
Hàm hỏi)
Đáp:
Khi cái nhân kết thành quả, ắt phải cậy vào duyên.
Chẳng có duyên, sẽ không kết thành quả. Như một
cái hạt đào là nhân, đất, nước, phân bón, ánh nắng,
không khí làm duyên, sau đấy mới có thể nẩy mầm,
phát triển thành cây, để rồi đơm hoa, kết
quả. Những thứ ấy thuộc loại tăng
thượng duyên. C̣n có những duyên gây chướng ngại,
như hột đào ấy chẳng gặp
các duyên như đất v.v..., trái lại bị bỏ ở
chỗ đá, sắt, khô khan v.v... lại chẳng có ánh nắng,
không khí, há không chỉ là chẳng kết quả, mà mầm
cũng chẳng do đâu nẩy sanh được!
Hai thứ duyên ấy áp dụng chung cho các nhân thiện, ác.
Tụng kinh, tŕ chú có thể tiêu tai v́ chúng chính là cái duyên gây
chướng ngại cho cái nhân ác.
*
Hỏi: Nạn lụt lớn vào ngày Bảy tháng Tám tại
tỉnh này gây ra tổn thất cùng tử vong không ít. Nói
theo nhà Phật, sẽ là do cộng nghiệp tạo thành, nhưng
có điều khiến cho nhiều người dấy lên
nghi vấn. Có người nói: “Trẻ thơ theo lẽ là
vô tội”. Có người nói: “Trùng hợp vậy! Đều
ở cùng một chỗ!” Có người nói: “Đó là thiên
tai”. Có người nói: “Nguyên nhân là do băo lốc thổi qua”.
Đủ mọi nỗi hoài nghi, chẳng biết điều
nào là đúng? (Giang Khoan Ngọc
hỏi)
Đáp:
Hết thảy mọi sự đều có các giai đoạn
“nhân, duyên, quả”. “Cộng nghiệp cảm vời” là
nguyên nhân, nhưng nhân cũng chẳng hạn cuộc ngay
trong đời này. Nói “trẻ thơ vô tội” tức là chẳng
hiểu lư này! Nói “trùng hợp vậy”, “thiên tai”, hoặc “băo
lốc quét qua”, đều là [nói tới] ngoại duyên. Coi
duyên là nhân, tức là vẫn mê muội đối với
lư. Nhân mà chẳng có duyên, sẽ không có kết quả. Duyên
không có nhân, sẽ không sanh. Do hạt đào chẳng gặp
đất, nước [phù hợp], sẽ chẳng thể
nào trưởng thành, kết quả. Có đất, nước
mà không gieo hạt đào, cũng chẳng thể đột
nhiên sanh ra cây đào được!
*
Hỏi: Mạt học trước khi gia nhập Phật
môn, đă coi pháp thế gian như huyễn mộng. Nay vừa
nghe chân lư Phật pháp, cảm thấy những điều
cảm nhận trước kia chẳng sai tí nào. Nay đối
với hết thảy sự vật, cảnh hiện trong
tâm dường như có, dường như không. Đối
với những chuyện như vậy, trước là do
cái nhân ra sao, sau là cảnh như thế nào? (Nhan Văn Bộc hỏi)
Đáp:
Đạm bạc trần duyên tức đă có tịnh nhân (cái
nhân thanh tịnh) từ trước. Nay hành Giả Quán,
chính là đạo tâm tăng trưởng cảnh giới.
*
Hỏi: Thuở Phật tại thế, khi vua Lưu Ly diệt
thị tộc Thích Ca, v́ sao đức Thế Tôn không hiển
lộ thần thông ngăn chặn ông ta? (Khoan Trạm hỏi)
Đáp:
Thần thông chẳng thể chống lại nhân quả,
trong phần trước đă nói rồi! Đối với
chuyện này, tôn giả Đại Mục Kiền Liên
cũng từng vận dụng thần thông cứu những
người họ Thích, kết quả vẫn là vô hiệu.
Đối với chuyện này, trước đó, cần phải
lập cách chuyển biến, như câu chuyện [Mục
Liên cứu mẹ] trong kinh Vu Lan Bồn đă nói, thần
thông làm sao có thể đắc lực cho được!
Nhân quả đáng sợ thay!
*
Hỏi: Vua Ca Lợi cắt chặt chi thể của Nhẫn
Nhục tiên nhân. Luận theo nhân quả, [nhà vua] phải
đọa địa ngục, cớ ǵ đời sau lại
ngược ngạo sanh làm Kiều Trần Như,
được đức Phật độ thoát vậy? (Cố Phượng Anh hỏi)
Đáp:
Khi Nhẫn Nhục tiên nhân bị chặt cắt, chưa chứng
đắc cực quả, cho nên [tội ác ấy] chẳng
giống như làm thân Phật chảy máu. Hơn nữa,
sau khi tiên nhân bị cắt chặt, tâm vua Ca Lợi đă hối
hận khôn cùng, quỳ thẳng, cầu sám hối. Tiên nhân đă
tiếp nhận sự sám hối ấy, lại phát đại
nguyện: “Đời sau được thành Bồ Đề,
sẽ độ người này trước”. Vị vua ấy
do sức chí tâm sám hối, do sức từ bi tiếp nhận
của tiên nhân, được nguyện lực của đức
Phật nhiếp thọ, đều là chẳng thể
nghĩ bàn! Cái nhân trước chỉ có một, cái nhân sau
có đến ba! Nhân trước yếu, nhân sau mạnh, ví
như đ̣i nợ, người nào mạnh sẽ lôi
đi trước!
*
Hỏi: Nhà Phật chủ trương nhân quả, trong luật
nhân quả, đối với các trường hợp “một
nhân, một quả”, “một nhân, nhiều quả”, và “nhiều
nhân, một quả”, dường như dễ kiếm
được sự vật để chứng minh. Chỉ
có trường hợp “có nhân, không có quả” và “có quả,
chẳng có nhân” khá là khó t́m được chứng cớ!
Chẳng biết là có những trường hợp ấy
hay không? (Hoàng Triều Hoa hỏi)
Đáp:
Theo nguyên tắc, hễ có nhân, ắt có quả; hễ có quả,
ắt có nhân. Đối với hai câu hỏi của ông,
nh́n theo pháp tương tự, dường như có sự
lư ấy. Thật ra, chẳng phải vậy!
1) “Có nhân, chẳng
có quả” là như có người sau khi gieo nhân đă lâu mà chẳng
gặp duyên, nhân ẩn kín, chẳng sanh. Nhân ắt phải
đợi có duyên mới dấy khởi. Ví như sau khi
đă gieo [hạt giống] xuống đất, tức là
đă có nhân, nhưng nếu chẳng gặp ánh nắng, không
khí, gió, mưa, cũng chẳng thể sanh, nhưng cái nhân
đă gieo ấy vẫn ẩn kín, chưa diệt, tạm
thời giống như không có quả. Lại có cái để
chuyển biến cái nhân ấy, khiến cho nó không có sức
để kết thành quả trọn vẹn. Duyên chia thành
hai loại Trợ và Chướng. Trợ duyên là ǵ? Tăng
thêm sức mạnh cho nhân. Chướng duyên là ǵ? Tổn diệt
sức mạnh của nhân. Nhân do gặp chướng duyên sẽ
chuyển biến, chẳng kết thành quả viên măn. Ví
như thuốc độc to bằng hạt đậu, bỏ
trong chén nước, có thể giết người. Nếu
bỏ trong năm đấu nước, tuy chất độc
tồn tại, nhưng sức nó chỉ có thể khiến
cho người ta ngă bệnh, chẳng thể giết
người! Điều này cũng giống như không có
quả.
2) “Có quả, chẳng
có nhân”: Nhân gặp duyên bèn kết quả, có tánh chất thời
gian. Càng cần phải luận định sức mạnh
của chính cái nhân là lớn hay nhỏ. Cho nên sẽ trải
qua ba đời quá khứ, hiện tại, tương lai,
t́nh h́nh ấy hết sức phức tạp. Ví như gieo một
hạt đậu, sau ba tháng bèn có thể kết quả, tức
là có thể ngay trong năm ấy, trông thấy nhân và quả.
Nếu trồng một hạt đào, ắt ba năm mới
kết quả, tức là khi thấy quả, chẳng thấy
cái nhân. Người trong hiện thời chẳng phải
là đại thiện, hoặc đại ác, mà được
hưởng phước to, phước lạ, là do cái nhân
trong đời quá khứ. Thật sự chẳng phải
là “có quả mà chẳng có nhân”!
*
Hỏi: Trong đời mỗi người, thiện ác hỗn
tạp, quả báo đạt được, rốt cuộc
thiện ác tách rời, đó có phải là do công và tội chống
đối nhau hay không? (Âu
Dương Mạn hỏi)
Đáp:
Trồng dưa được dưa, trồng đậu
được đậu, há có mâu thuẫn? Nhưng cái nhân
đă gieo kết thành quả, hoàn toàn nhờ vào sức của
duyên. Nếu sợ ác quả chín muồi, hăy làm nhiều việc
lành. Nhân ác chẳng gặp duyên ác, tự nhiên chẳng sanh.
Như gieo một hạt đậu, chẳng tưới
nước, lại khiến cho hoàn cảnh ấy trọn
chẳng có mảy may cơ hội sanh trưởng, hạt
đậu ấy lâu ngày cũng có thể bị hư nát.
*
Hỏi: Kinh nói “định nghiệp
khó tiêu, cộng nghiệp lại cũng khó chuyển”.
Dường như là cá nhân sám hối tội lỗi, tu thiện,
đại chúng hồi tâm trừ ác, quả đều chẳng
đủ để tiêu trừ họa ương, văn hồi
hạo kiếp (kiếp nạn to lớn mênh mông) ư? (Âu Dương Mạn hỏi)
Đáp:
“Định” là nếu như
dưa đă thành tựu, làm sao có thể tiêu? Chỉ có một
cách là tổn giảm mấy phần. Cộng nghiệp chẳng
phải là nghiệp do một người tạo ra. Cá nhân
sám hối, cá nhân được lợi ích, đó gọi là
“cộng trung bất cộng”.
Đại chúng hồi tâm trừ ác, chính là cộng nghiệp
cùng chuyển, tự có thể hóa điều hung ác thành cát tường,
nhưng sợ rằng đa số mọi người chẳng
thể giác ngộ như vậy!
*
Hỏi: Đức Phật nói thân Trung Ấm tối đa
là tồn tại bốn mươi chín ngày, bèn thọ hậu
hữu. Tôi trộm cho rằng chuyện này chỉ là nói với
những hạng chúng sanh b́nh thường. C̣n như những
vị được gọi là bậc thánh hiền anh triết,
trung thần, hiếu tử, chồng có nghĩa, vợ
trinh lương, hoặc những văn nhân, nghệ thuật
gia sáng tác rộng khắp, những người nổi tiếng
trong thế gian, lúc c̣n sống chẳng làm chuyện ác ǵ to
lớn, chết đi cũng có thể trải qua trăm
ngàn năm vẫn không đầu thai, hoặc chỉ sanh
lên cơi trời. Tuy vẫn chẳng ĺa lục đạo, rốt
cuộc cũng vượt trỗi nhân gian rất xa. Lại
nữa, từ nhân gian sanh lên cơi trời, đương
nhiên là thuộc loại hóa sanh trong tứ sanh. Chẳng biết
lời suy đoán này có đúng hay không? (Âu Dương Mạn hỏi)
Đáp:
Ra khỏi đường này, vào đường kia, gọi
là “lục đạo luân hồi”.
Trong lúc chưa thoát khỏi đường này, chưa nhập
vào đường kia, th́ gọi là Trung Ấm. Cố nhiên,
trong lúc đó, ngắn nhất là như đă nói “sanh lên thiên giới”, chẳng
phải là Trung Ấm. Thiên thuộc về thân hóa sanh. Bậc
thánh triết trung hiếu tức là người có thiện
nghiệp, tự có thể sanh về đó. Hàng văn nhân
sáng tác rộng khắp, tuy chẳng có lỗi ác, nhưng
chưa gieo cái nhân Thập Thiện để sanh thiên, làm
sao có thể có phần cho được?
*
Hỏi: Chúng sanh trong năm đường từ vô thỉ
tới nay, từ một bản thể thanh tịnh mà dấy
lên một vọng niệm. Do tương ứng với vô
minh, mà đọa lạc luân hồi. Chúng sanh trong năm
đường từ bản thể khởi Hoặc tạo
nghiệp, luân chuyển trong năm đường, họ
đă cùng vào năm đường với nhau ngay từ vô
thỉ, hay là từ vô thỉ cho tới nay bèn lục tục
kéo tới? Nếu cùng nhau đến từ vô thỉ, do
nguyện lực từ bi của Phật, Bồ Tát, rốt
cuộc sẽ có một ngày độ hết. Nếu lục
tục đến, th́ chúng sanh trong năm đường vừa
được độ, vừa sanh đến, rốt cuộc
là vô cùng tận! (La Đức Chương
hỏi)
Đáp:
Gió dần dần nổi lên mà tăng mạnh thành cuồng
phong, sóng dần dần trồi lên mà dâng cao! Cuồng phong,
sóng cao chẳng thể đột ngột tạo thành. Gió có
chỗ, có lúc tạm ngừng; sóng có lúc, có chỗ, tạm lặng.
Ngộ điều này, sẽ có thể hiểu điều
kia!
*
Hỏi: Luật nhân quả đă là “tự làm, tự chịu”, v́ sao siêu độ có
thể khiến cho nghiệp trái (nợ nần nơi nghiệp
chướng) của người đă khuất giảm nhẹ,
hoặc sanh lên cao hơn? Nếu thật vậy, sức ảnh
hưởng của siêu độ có ảnh hưởng tới
người khác! Do nguyên lư nào mà khiến thành ra như vậy?
(Trương Cung hỏi)
Đáp:
Đối với vấn đề này, t́nh h́nh phức tạp,
giảng giải hết sức tốn công. Nay tôi nêu tỷ
dụ ḥng có thể hiểu rơ. Một hạt dưa gieo xuống
đất là nhân. Sau đấy, nó nẩy mầm, dần dần
kết thành quả dưa th́ chính là quả. Không gieo hạt
dưa, làm sao có thể sanh mầm, kết quả? Đấy
chính là lư “tự làm (gieo nhân), tự chịu (quả)” vậy.
Nhưng giữa nhân (hạt dưa) và quả (trái dưa), ắt
có nhiều sự việc tồn tại, tức là gió, ánh
sáng mặt trời, mưa, sương v.v..., chúng được
gọi là Duyên. Đối với kết quả, duyên có hai
thứ sức mạnh là tăng thêm và tổn giảm.
Như mưa gió v.v… điều ḥa, ắt sẽ tăng
thêm kết quả ấy. Nếu [mưa gió] chẳng điều
ḥa, cũng có thể tiêu diệt hoặc tổn hại kết
quả ấy. Vậy th́ quả được tăng ích
hay tổn giảm, duyên chiếm quyền thao túng quá nửa!
Cậy vào Phật pháp để siêu độ cho người
khác chính là trợ duyên. Đấy chính là nguyên lư giảm
khinh.
* Hỏi: “Trồng dưa được
dưa, trồng đậu được đậu”
là một định luật nhân quả hết sức tỷ
lệ thuận. Cớ sao nhân quả trong Phật học lại
biến thành định luật nhân quả theo tỷ lệ
nghịch? Nếu vậy, đời trước đă gieo
chủng tử “giết người”, kiếp nầy vẫn
phải nên kết thành chủng tử “giết người”
th́ mới đúng. Cớ sao lại ngược ngạo kết
thành chủng tử “bị giết”? Xét theo tập tánh huân
nhiễm, sẽ giải thích như thế nào? Hơn nữa,
đời trước phú quư, kiếp này vẫn phải
nên phú quư, mới là đúng. Đúng như người thuộc
giống da trắng, đẻ ra con cũng là giống da trắng,
nay v́ sao người da trắng ngược ngạo đẻ
ra con là người da đen? Há chẳng phải là phá hoại
định luật ư? (Trương
Cung hỏi)
Đáp:
Lư “nhân quả” hết sức tinh vi. Nói đơn giản,
cũng bao gồm hai nghĩa biến hóa và phản ứng.
Những ǵ như tiên sinh đă nói, chính là gieo nhân vẫn là
nhân, gieo quả vẫn là quả, như vậy th́ chẳng
thể gọi là “nhân quả” được! Nhân quả là
từ cái nhân sẽ chiêu cảm cái quả. Ví như ăn
cơm là nhân, no bụng là quả. Thực phẩm chứa
đựng chất dinh dưỡng là nhân, thể phách nhờ
vào đó được sung măn là quả. Những điều
này đều chứa đựng lẽ biến hóa phản
ứng tự nhiên. Nếu theo như chủ trương
trong lời hỏi của ông, ăn cơm là nhân th́ đạt
được kết quả vẫn là ăn cơm. Tức
là trong khi ăn cơm, lại ăn cơm nữa, ăn
măi không thôi! Hoặc là ăn gạo, ăn rau, đại tiện
cũng nên bài tiết ra gạo và rau! Ông có biết trạng
thái của vật thể hay không? Chất hơi gặp lạnh
biến thành chất lỏng, chất lỏng gặp lạnh,
đông thành chất rắn. Chất rắn gặp nhiệt,
lại biến thành chất lỏng. Chất lỏng gặp
nhiệt lại biến thành hơi. Đó là sự thật
về phản ứng biến hóa trong nhân quả rơ rệt
nhất. Thế nhưng nhân quả cũng chẳng bắt
buộc phải nói xa xôi tới tận đời sau. Dẫu
lấy ngay đời hiện tại để luận,
sang quư như Tần Thủy Hoàng, giàu có như Thạch Sùng,
v́ sao chẳng thường quư, thường giàu? Nhà bị
giết, bị trộm, đối với kẻ gây nên chuyện
giết chóc, trộm cướp, [nạn nhân] sẽ có phản
ứng ǵ, cũng thể suy ra mà biết kết quả. Nếu
nói là huân tập chủng tử, điều này chẳng
trái nghịch học lư. Kẻ thích giết, thích trộm, mà
hưởng phú quư, trong tâm luôn có chủng tử như thế,
chỉ là chẳng gặp duyên, cho nên chẳng thể thành tựu
mà thôi! Hơn nữa, thuyết nhân quả chính là sự h́nh
thành tự nhiên của vạn sự, vạn lư, hoàn toàn chẳng
phải do một ḿnh nhà Phật nói như vậy! Bất
quá Phật học có thể bàn luận tinh vi chuyện này
mà thôi!
*
Hỏi: Đức Phật v́ từ bi độ chúng sanh,
v́ [chúng sanh] bệnh mà thí thuốc, có cầu ắt ứng.
Tôi thấy có khá nhiều người tin tưởng, bèn Phật
hóa gia đ́nh, sáng tối không ngừng dâng hương, tụng
kinh, niệm Phật. V́ sao đôi khi cũng có người
thân mắc bệnh nặng, thậm chí mất mạng.
Như thế há chẳng phải là dễ khiến cho kẻ
khác nẩy sanh hiểu lầm: “Đă là tín đồ nhà Phật,
v́ sao đâm ra mắc phải tai ương ấy? Do vậy,
Phật giáo suy bại ở chỗ này”. Giả sử đối
phương nói như vậy, hăy nên dùng lời nào để
giải đáp? Xin hăy chỉ dạy tường tận
chuyện này! (Dương Tố
Nguyệt hỏi)
Đáp:
Đại khái có hai nghĩa:
1) Đối với
kẻ có thể giúp được th́ giúp. Như đối
với kẻ đột ngột gặp họa ngang
xương, hễ thành tâm cầu nguyện, ắt sẽ ứng
[theo sự cơ cảm ấy] mà cứu vớt. Đó là tương
ứng với sự việc mà biến hiện. [Đối
với các trường hợp] chẳng thể giúp th́
đành thôi, như [trong trường hợp] tuổi thọ
đă hết, [người bệnh ấy] ắt phải xả
thân, dẫu có cầu cũng chẳng ứng (vẫn có ngoại
lệ), chẳng biến hiện theo sự. Đó là thuận
theo lẽ thường. Nếu chẳng thuận theo lẽ
thường, ắt sẽ rối loạn nhân quả vậy.
Đó là điều thứ nhất.
2) Hết thảy
các tai ương, nghịch cảnh, đều có cái nhân
trong quá khứ. Người niệm Phật mắc bệnh,
há chẳng biết: Do cái nhân ác trong đời trước,
đáng đọa lạc tam đồ, hoặc phải bỏ
mạng, nhưng v́ công đức niệm Phật, chỉ
mắc bệnh mà thôi! Đấy gọi là “báo nặng chuyển thành nhẹ”. C̣n như
người ấy bệnh đến nỗi chết th́ gọi
là “khảo chung mạng” (chết
tốt lành). Đấy là một trong ngũ phước,
đều chẳng phải là bất hạnh. Đó là điều
thứ hai.
Ngoài ra, c̣n có một
nghĩa nữa. Thử hỏi, trong thế gian, có kẻ
nào nhục thân chẳng chết hay không? Có thể thật sự
bất sanh bất diệt, chỉ có ḿnh đức Phật!
Bọn ta c̣n là sơ cơ, chẳng có mảy may sở chứng,
làm sao có thể bất tử cho được? Nếu cầu
nhục thân bất tử, lại là t́nh kiến điên
đảo, chẳng có lẽ ấy! Nếu cầu kéo dài
tuổi thọ, trong Phật pháp có pháp ấy, mà cũng có
nhiều chuyện như vậy.
*
Hỏi: Ông X... có người vợ hung tợn, chẳng hiếu
thảo với bố chồng, chẳng tôn trọng chồng,
cứ mắng nhiếc, càm ràm, chẳng có ngày nào yên! Khuyên bảo
đôi ba lượt, bà ta vẫn giữ nguyên thiên kiến ấy,
chẳng thấm thía mảy may, khiến cho người nhà
ngoài biện pháp kiên nhẫn, chẳng tranh căi cùng bà ta, khiến
cho bà ta càng mặc sức ăn nói bừa băi, cư xử
quá phận, chẳng có cách nào tưởng tượng
được! Bố chồng đă sớm quy y Phật
giáo, suốt ngày siêng năng tŕ niệm Phật hiệu chẳng
có chút gián đoạn. Ông X... tuy chưa quy y, nhưng cũng
sùng tín Phật giáo, thầm niệm Phật hiệu. Ông ta sẽ
được Phật ngấm ngầm gia hộ, khiến
cho bà vợ sửa đổi tánh t́nh đôi chút hay không? Vào
đời bà nội của ông X..., trong nhà có lập Phật
đường. Suốt đời cụ ăn chay niệm
Phật chẳng lười nhác, sửa cầu, lót
đường, hành bố thí rộng răi. Cớ sao đời
sau gặp phải ác vận ấy? Dẫu do phạm lỗi
nhân quả, ông X... tự chuốc lấy chuyện này, cớ
sao bố chồng cũng gặp phải nạn ấy? Có
phải cũng là do nhân quả gây nên hay chăng? Nói theo nhân
quả, chỉ dính líu đến bản thân, chứ đời
sau hoặc thế hệ sau nữa, cớ sao gặp phải
ương họa, liên lụy tới bậc trưởng
bối. Nếu thật sự là do nợ nần oan nghiệt
ràng buộc, ngôn hạnh của bà vợ ông X... trong hiện
thời sẽ là ngôn hạnh chánh đáng ứng với chuyện
đ̣i nợ oan nghiệt! Hay là sẽ có ảnh hưởng
đến mai sau trong cuộc đời này, hoặc cuộc
sống trong đời sau của bà ta? (Quế Hướng Nguyên hỏi)
Đáp:
Phàm chuyện đă thành, đều do các duyên ḥa hợp.
Đă là như vậy, mỗi quả bèn có nhiều nhân. Mỗi
người trong nhà ai nấy cũng đều ắt có
cái nhân chung với bà vợ hung hăn của ông X... Người
nhà tinh tấn tu tŕ, sẽ có thể giảm thiểu nghiệp
cũ. Có thể chịu đựng nỗi nhục là đă
trả nợ! Chẳng cần quan tâm bà vợ hung tợn ấy
có thay đổi tánh t́nh hay không. Nhưng khi nợ đă
đền xong, ắt sẽ có cảnh giới chuyển biến.
Chỉ nên tùy duyên tiêu cựu nghiệp, chớ nên tạo
thêm ương họa mới. Lại nữa, nhân quả có
tánh chất báo đền lẫn nhau, bà vợ hung hăn ấy
đời sau do có tập khí hung hăn, ắt cũng sẽ phải
hứng chịu quả báo ấy! Trong hiện thời, tuy
nói là “đ̣i nợ”, chắc là cũng phải có những hành
vi quá lố, sợ rằng: Do chỗ quá phận ấy,
trong đời này cũng mắc quả báo vậy!
*
Hỏi: Trong kỳ thứ ba của quư báo, trong bài Nhất
Linh Bất Muội, có câu: “Sau khi linh hồn của ta đă
ĺa khỏi xác thân, thân Trung Ấm chơi vơi như tiên
thuận theo gió nghiệp mà đi, biến thành con lợn nhỏ,
tâm như dao đâm. Sau bốn ngày tuyệt thực, lại
biến thành người...” Do những lời lẽ ấy,
tôi nẩy sanh nghi vấn như sau:
1)
Một, những kẻ ác khác cũng có thể tuyệt thực
theo cách ấy để lại được làm thân
người.
2)
Cớ sao chúng ta chẳng biết t́nh h́nh trong đời
trước?
3)
Có phải là lời cư sĩ X... có ẩn t́nh hay không? Xin
hăy nói rơ thêm một tầng nữa! (Lư Giác Ngũ hỏi)
Đáp:
1) Người ấy tuyệt thực mà chết là một
chuyện, ngẫu nhiên được làm thân người lại
là một chuyện khác. Chớ nên hiểu lầm: Hễ
tuyệt thực mà chết, sẽ có khả năng
được làm thân người!
2)
[Những người] có thể nhớ đời trước,
trong sử sách đích xác là có ghi chép, bất quá chỉ là
chuyện ngẫu nhiên. Sức kư ức ấy vốn có mạnh
hay yếu, hoàn toàn chẳng phải là đều giống như
nhau. Lấy ngay chuyện đọc sách để nói, có
người đọc một lượt đă có thể nhớ,
có người đọc mười lượt, vẫn
chưa thể nhớ. Lại dùng việc nhớ chuyện
thuở bé để luận, có người nhớ chuyện
từ sau năm tuổi, có người có thể nhớ
chuyện trước khi ba tuổi. Chuyện này tùy thuộc
tánh mê nặng hay nhẹ, sẽ ảnh hưởng đến
sức ghi nhớ có được mấy phần.
3)
Tạp chí này hoàn toàn chẳng biết sự “thác sanh” của ông X... Chỉ
căn cứ theo bài viết gởi tới để
đăng tải, có c̣n ẩn t́nh hay không, chúng tôi chẳng
tiện truy cầu.
* Hỏi: Trong
báo Bồ Đề Thụ số mười ba, đối
với câu hỏi thứ năm của cư sĩ Chung Lâm
Chiêu ở Đài Trung, lời dạy của cụ rất
đúng. C̣n như nói “khi sắp
sanh, có một linh tánh khác đến đoạt xá”,
đó là trường hợp đặc biệt v.v... Bất
Huệ chẳng ngại mạo muội, toan bắt chước
nối đuôi thêm, muôn phần xin hăy dung thứ! “Đoạt” (奪) được nói ở
đây, có lẽ chẳng phải là cậy thế hoành hành,
mặc t́nh thuận theo ḷng ham muốn, cưỡng đoạt
thân xác của kẻ khác! Nếu có [trường hợp
đoạt xá như vậy], ắt phải là có nhân duyên
đặc thù. Trong ngàn vạn người, chưa chắc
đă có trường hợp ngoại lệ như vậy
(chỉ trong thời kỳ biến loạn, rối ren là
dường như thường thấy). Một trăm phần
trăm, ắt phải thuộc về trường hợp
do v́ lẽ công [mà giáng phàm], lại c̣n chắc chắn xảy
ra trong gia đ́nh tích chứa điều thiện. Khi ấy,
ắt có Phật, Bồ Tát hộ tống tới tận
giường trong buồng riêng (dẫu là tại bệnh viện
cũng thế). Trước khi Phật, Bồ Tát
đưa đến, c̣n chưa giáng lâm, trong buồng sanh,
trước hết tỏ lộ ánh sáng lạ, khiến cho
hết thảy những u linh vây quanh thân sản phụ
tránh xa, nhằm nghiêm tịnh hoàn cảnh (do quyến luyến
hoặc quan tâm mà tổ tiên và các thân hữu phần nhiều
đến thủ hộ [sản phụ] suốt ngày
đêm chẳng xa ĺa). Sau khi Phật, Bồ Tát giáng xuống,
lập tức tỏa ra mùi hương lạ (để
khiết tịnh), nhạc trời tấu lên (để
chào mừng kẻ hạ phàm, nhưng chỉ có người
thanh tịnh mới nghe được). Những chuyện
này thuộc về lệ thường, chẳng có ǵ lạ
cả (kinh sử ghi chép hết thảy mọi chuyện
lúc Thích Tôn, Lục Tổ Huệ Năng, Gia Tô Cơ Đốc,
Văn Thiên Tường giáng thế, đều hết sức
đáng tin, bảo đảm mười phần xác thực).
Cũng có khi gấp rút chẳng rảnh rang, v́ cần phải
[đầu thai để] báo đền cái quả. Trường
hợp này so với trường hợp giáng phàm v́ lẽ công
đă ít ỏi lại càng ít hơn. Nếu là như vậy,
ắt từ địa phủ sẽ có sai nha áp giải
[thần thức người thọ sanh] đến
nơi, khác biệt vời vợi một trời một vực!
Đến thời gian tiếp nhận sự thay thế, ngay
trong sát-na từ khi đỉnh thóp của đứa bé lộ
ra cho đến khi toàn bộ đầu nó ló ra khỏi thân
mẹ, Phật, Bồ Tát tới hộ tống sẽ ngay
lập tức khiến cho linh hồn vốn trụ trong
thai ấy ĺa khỏi thân thể đứa bé, linh hồn mới
do v́ lẽ công mà hạ phàm liền nhập vào thay thế. Sau
khi hoàn tất ổn thỏa, đứa bé ấy mới bắt
đầu lập tức khóc to. Linh hồn đă ĺa khỏi
thân đứa bé ấy, lập tức trở lại thành
đàn ông hay đàn bà như trong đời trước, hiện
ra tám đại h́nh thái (cười, khóc đều chẳng
giống nhau), vội vàng tạ Phật, theo vị thần
phụ trách khu vực ấy (như Thổ Địa hoặc
vị thần tuần tra củ soát), trước hết
là rời khỏi buồng sanh, trở về địa phủ,
lại t́m một báo thân mới, lại đợi quả
báo mới (linh hồn từng bị đoạt xá ắt sẽ
có phước báo). Đến đây, nhiệm vụ hộ
tống của Phật, Bồ Tát mới hoàn tất. Các Ngài
từ từ lùi ra, bay lên. Do vậy, sản phụ khi sắp
sanh, hăy nên buông xuống vấn đề sanh tử và hết
thảy những chuyện ngoài thân, kiên tŕ chánh niệm th́ mới
nên. Nếu có thể bỏ sạch luôn ư niệm “chánh niệm”
chẳng c̣n sót, sẽ càng tốt. Thống khổ sẽ tự
giảm, ắt chẳng có chuyện ngoài ư muốn, mà
[đau khổ] ắt cũng sẽ tiêu giảm theo. Có
đúng hay không? (Triệu Siêu hỏi)
Đáp:
“Đoạt” thuộc về
nhân quả, chẳng phải là ỷ mạnh, lời luận
định của ông cũng đúng, nhưng đối với
chuyện thai phụ sắp sanh, sẽ có Phật, Bồ
Tát hộ tống [linh hồn đến đoạt xá],
chưa chắc là đă có chuyện đó! Nếu sản phụ
cảm thấy khốn khổ, tụng tŕ thánh hiệu, do
Pháp Thân của Phật, Bồ Tát bất động, sẽ
có thể gia bị từ xa, khiến cho người ấy
được b́nh an.
Phật
Học Vấn Đáp Loại Biên
Quyển
Trung
Phần
4 hết
[1] Tam Hoàng là các vị thánh vương
thời thượng cổ theo huyền sử Trung Hoa, có
nhiều cách hiểu khác nhau:
1) Tam Hoàng là Phục Hy, Thần Nông và Nữ Oa (theo
quan điểm của Sử Kư).
2) Tam Hoàng là Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế
(sách Thượng Thư).
3) Tam Hoàng là Phục Hy, Thần Nông, Toại Nhân (theo
Thượng Thư Đại Truyện).
4) Tam Hoàng là Phục Hy, Thần Nông, và Chúc Dung (theo
Bạch Hổ Thông).
5) Tam Hoàng là Phục Hy, Thần Nông và Cộng Công (theo
Thông Giám Ngoại Kỷ).
Ngoài ra, cách hiểu thông thường nhất Tam Hoàng
là Thiên Hoàng, Địa Hoàng và Nhân Hoàng.
Ngũ Đế là năm vị thánh đế theo
huyền sử, cũng có nhiều cách hiểu như sau:
1) Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Khốc,
Đế Nghiêu, Đế Thuấn (theo Sử Kư,
Đại Đới Lễ Kư).
2) Thiếu Hạo, Chuyên Húc, Đế Khốc,
Đế Nghiêu, Đế Thuấn (theo Thượng
Thư, Bạch Hổ Thông).
3) Hoàng Đế, Bào Hy (Phục Hy), Thần Nông,
Nghiêu, Thuấn (theo Chiến Quốc Sách).
4) Hoàng Đế, Chuyên Húc, Thái Hạo, Thiếu
Hạo, Viêm Đế (theo Lễ Kư, Lă Thị Xuân Thu và Hoài
Nam Tử).
5) Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Khốc,
Đế Nghiêu, Thiếu Hạo (theo Tư Trị Thông
Giám).
Tam Vương là ba vị vua nổi tiếng hiền
đức sau thời huyền sử, tức Đại
Vũ nhà Hạ, Thành Thang nhà Thương và Vũ
Vương nhà Châu.
Ngũ Bá là các vua chư hầu có quyền lực
lớn nhất thời Xuân Thu Chiến Quốc,
thường thay mặt thiên tử nhà Châu hội minh
chư hầu (họp chư hầu lại để cùng
thề ước liên minh, tuân thủ các hiệp
ước), trừng phạt các nước không tuân
phục, thống trị Trung Nguyên, có thể hiểu theo
nhiều cách:
1) Ngũ Bá là Tề Hoàn Công (Khương Tiểu
Bạch), Tống Tương Công (Tử Tư Phủ),
Tấn Văn Công (Cơ Trùng Nhĩ), Sở Trang
Vương (Hùng Lữ) và Tần Mục Công (Doanh Nhậm
Hảo).
2) Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Sở Trang
Vương, Ngô Vương Phù Sai (Cơ Phù Sai) và Việt
Vương Câu Tiễn (Tự Câu Tiễn).
3) Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Sở Trang
Vương, Trịnh Trang Công (Cơ Ngụ Sanh) và Tần
Mục Công.
4) Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Sở Trang
Vương, Tần Mục Công và Việt Vương Câu
Tiễn.
5) Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Tống
Tương Công, Tần Mục Công và Ngô Vương Hạp
Lư.
6) Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Sở Trang
Vương, Ngô Vương Hạp Lư và Việt
Vương Câu Tiễn.
[2] Theo Duy Thức Học, Niết Bàn
được chia thành bốn loại: Bổn lai tự
tánh thanh tịnh Niết Bàn, Hữu Dư Y Niết Bàn, Vô
Dư Y Niết Bàn, và Vô Trụ Xứ Niết Bàn.
[3] Tức là đoạn Kiến Tư
Hoặc, đoạn Trần Sa Hoặc, và đoạn Vô
Minh Hoặc.
[4] Cung Thiên Dân sanh năm 1926 tại
Chiết Giang, theo đạo Tin Lành hệ phái Luther (tức
Lutheran Church, thường gọi là Tín Nghĩa Hội
hoặc Lộ Đức Tông trong tiếng Hán), tốt
nghiệp Hương Cảng Tín Nghĩa Hội Thần
Học Viện vào năm 1956, sau đó theo học Cử
Nhân và Thạc Sĩ về văn chương Phật giáo
tại đại học Đại Cốc của
Nhật Bản. Do nghiên cứu kinh Phật theo kiểu xem
đọc văn chương và biện luận theo
kiểu phân tích văn bản, những nhận định
của ông Cung về Phật giáo thường hoàn toàn
chẳng phải là chân diện mục của Phật giáo,
mà mang nặng tính chất thiên kiến.
[5] Ma Hê Thủ La Thiên (Đại Tự
Tại Thiên) là danh xưng khác của thần Thấp Bà
(Shiva) trong Ấn Độ Giáo.
[6] Hy
Bá Lai ở đây là dịch âm chữ Hebrews. Đây chính là
cuốn Espitle To The Hebrews trong Tân Ước (New Testament).
Sách này được coi là do thánh Phao Lồ (Paul)
trước tác (tuy vẫn có nhiều tranh luận ai mới
là tác giả thật sự). Đây là một bức thư
do gởi cho các tín hữu Thiên Chúa giáo người Do Thái
đang sống tại Jerusalem. Theo cách trích dẫn Kinh Thánh
truyền thống của Âu Tây, họ thường nêu tên
sách, đoạn nào (bản tiếng Hán gọi là
chương) và câu nào (“tiết”) trong đoạn đó.
Nếu viết theo kiểu tiếng Anh, [câu được
trích dẫn bởi ông Trần Chí Đồng] sẽ là Hebrews 10:27. Chúng tôi thắc mắc là ông
Trần Chí Đồng lấy từ đâu ra câu này,
bản tiếng Anh ghi câu 10:27 trong sách Hebrews là “but a terrifying expectation of judgment and
the fury of a fire which will consume the adversaries”. Bản
tiếng Việt của hội thánh Tin Lành dịch là “nhưng chỉ có sự
đợi chờ kinh khiếp về sự phán xét, và
lửa hừng sẽ đốt cháy kẻ bội
nghịch”.
[7] Đây là dịch nghĩa tên sách Gospel of
John trong Tân Ước, một trong bốn sách Phúc Âm mở
đầu Tân Ước (Matthew, Mark, Luke và John, Công Giáo thường
gọi những sách ấy là Phúc Âm Mát thêu, Phúc Âm Mác-cô, Phúc Âm
Luca và Phúc Âm Gioan). Tác giả sách này là thánh Gioan Tông
Đồ (John the Apostle). Thánh Gioan (theo cách phiên âm
thường dùng trong kinh sách Thiên Chúa Giáo Việt Nam),
gọi theo tiếng Aramaic là Yohanan Shliha, tiếng Do Thái là
Yohanan Ben Zavdai, và tên vị này được người
Hy Lạp phiên âm thành Ioannes. Do đó, người Hoa mới
phiên âm vị này thành Ước Hàn. Tiếng Aramaic là ngôn
ngữ được sử dụng phổ biến
tại vùng Israel thời chúa Jesus và được coi là
cội nguồn của các thứ tiếng Ả Rập và
Hebrew (tiếng Do Thái hiện đại) về sau. Bản
tiếng Anh ghi câu này là “he who believes in the Son has eternal life; but he who does not
obey the Son will not see life, but the wrath of God abides on him”.
[8] Nguyên văn “tiễn
chúc Tây song” (剪爥西窗) là một thành ngữ diễn tả
nỗi niềm thương nhớ bạn hữu, mong
được gặp gỡ, tṛ chuyện thỏa thích.
Thành ngữ này xuất phát từ câu thơ Dạ Vũ Kư Bắc
(đêm mưa gởi về phương Bắc) của Lư
Thương Ẩn đời Đường: “Hà đương cộng
tiễn Tây song chúc, khước thoại Ba Sơn dạ
vũ thời” (Khi nào sẽ cùng nhau dựa bên song
cửa phía Tây, cắt tim nến, để nói chuyện
suốt đêm, nhắc đến đêm mưa ở Ba
Sơn).
[9] Tịch Thắng Ma (1837-1896) là một
lănh tụ tín đồ Cơ Đốc tại Trung Hoa. Ông
là một nhà Nho, xuất thân tại Lâm Phần, tỉnh
Sơn Tây, không rơ tên thật là ǵ. Khi mục sư David Hill
mở cuộc thi viết văn tại Lâm Phần, bài
văn của ông đă khiến cho David Hill (mục sư
thuộc giáo hội Methodist) bội phục, bèn mời ông
dạy chữ Hán và làm người phiên dịch. Do vậy,
ông Tịch tin theo đạo Cơ Đốc và đổi
tên thành Tịch Thắng Ma. Ông Tịch đă chế ra bài
thuốc giúp cai nghiện thuốc phiện dựa trên kinh
nghiệm cai nghiện của chính ḿnh.
[10] Long Thọ Bồ Tát được Kim
Cang Thủ Bồ Tát truyền dạy chú Tỳ Lô Giá Na bèn
tŕ tụng vào bảy hạt cải, đem ném vào tháp
sắt kiên cố ở Nam Thiên Trúc. Cửa tháp bèn mở ra,
ngài Long Thọ đem các kinh sách Mật Tông lưu truyền
trong thế gian.
[11] Hữu Tử tên thật là Hữu
Nhược, tự là Tử Hữu, đôi khi c̣n gọi là
Tử Nhược, là một đệ tử tâm
đắc của Khổng Tử. Sau khi Khổng Tử
mất, do thấy ngôn từ và hành vi của Hữu Tử
khá giống thầy, các môn đệ tôn ông ta làm thầy.
[12] Theo Châu Lễ, Đại Tường (大祥) là lễ giỗ người mất
đă được hai năm. Sau lễ Đại
Tường, sẽ chọn một ngày để làm lễ
trừ bỏ tang phục không mặc nữa, chấm
dứt thời gian cư tang, thường gọi là lễ
Trừ Phục.
[13] Câu nói này trích từ chương Đàn
Cung của sách Lễ Kư: “Hữu
Tử vấn Tăng Tử viết: ‘Vấn táng ư phu
tử hồ?’ Viết: ‘Văn chi hỹ, táng dục
tốc bần, tử dục tốc hủ’. Hữu Tử
viết: ‘Thị phi quân tử chi ngôn dă’. Tăng Tử
viết: ‘Sâm dă văn chư phu tử dă’. Hữu Tử
hựu viết: ‘Thị phi quân tử chi ngôn dă’. Tăng
Tử viết: ‘Sâm dă dữ Tử Du văn chi’. Hữu
Tử viết: ‘Nhiên! Tắc phu tử hữu vi ngôn chi dă’.
Tăng Tử dĩ tư ngôn cáo ư Tử Du. Tử Du
viết: ‘Thậm tai! Hữu Tử chi ngôn tự phu tử
dă! Tích giả, phu tử cư ư Tống, kiến Hoàn
Tư Mă tự vi thạch quách, tam niên nhi
bất thành. Phu tử viết: ‘Nhược thị kỳ
mỵ dă, tử bất như tốc hủ nhi dũ dă.
Tử chi dục tốc hủ, vị Hoàn Tư Mă nhi ngôn.
Nam Cung Kính Thúc phản, tất đới ngọc nhi
triều, phu tử viết: ‘Nhược thị kỳ hóa
dă, táng bất như tốc bần chi dũ dă’. Táng chi
tốc bần, vị Kính Thúc ngôn chi dă” (Hữu Tử hỏi Tăng Tử:
‘Ông đă từng hỏi thầy về chuyện mất
chức quan hay chưa?’ Tăng Tử đáp: “Tôi đă nghe.
[Thầy nói] mong sao sau khi mất chức, sẽ mau chóng
nghèo cùng, mong sau sau khi chết đi, sẽ nhanh chóng mục
nát”. Hữu Tử bảo: “Đó chẳng phải là
lời nói của bậc quân tử”. Tăng Tử nói: “Sâm
tôi đă nghe từ chính nơi thầy”. Hữu Tử
lại bảo: “Đó chẳng phải là lời lẽ của
bậc quân tử”. Tăng Tử nói: “Tôi và Tử Du cùng nghe
nghe lời ấy”. Hữu Tử bảo: “Đúng vậy!
Nhưng thầy nói như vậy là có nguyên do”. Tăng
Tử kể lại lời ấy với Tử Du. Tử
Du bảo: “Rất đúng! Hữu Tử nói rất
giống như thầy nói. Xưa kia, thầy sang
nước Tống, thấy Hoàn Tư Mă tự làm cái quách
bằng đá cả ba năm vẫn chưa xong, thầy
bảo: ‘Xa xỉ như thế! Chẳng thà như
người ta chết rồi sẽ nhanh chóng mục nát th́
tốt hơn’. Bảo ‘chết rồi, mong sao chóng mục
nát’ là nói với Hoàn Tư Mă. Nam Cung Kính Thúc sau khi mất
chức, trở về nước Lỗ, nhất quyết
mang theo những vật bằng ngọc tới cầu
kiến quốc vương. Thầy nói: “Dùng tài vật
để làm [chuyện hối lộ] như thế,
chẳng thà sau khi mất chức, sẽ nhanh chóng trở
thành nghèo cùng th́ tốt hơn”. Nói “sau khi mất chức,
mong cho nhanh chóng nghèo cùng” là nói với Kính Thúc vậy).
[14] Lăo Mẫu nói ở đây chính là một
vị thần do Nhất Quán Đạo đặt ra, tức
là Vô Cực Lăo Mẫu, c̣n gọi là Vô Sanh Lăo Mẫu, Dục
Hóa Thánh Mẫu, hoặc Minh Minh Thượng Đế. Theo
họ đây là chủ tể tối cao của trời đất,
sanh thành muôn vật, chư thiên, thần thánh và chư Phật
đều do vị này sanh ra (sic!).
[15] Đại tá Richard Martin (1754-1834) là
một chính khách Ái Nhĩ Lan. Ông vận động chánh
quyền ngăn chặn sự đối xử tàn ác
với động vật. Ông trúng cử vào Hạ Viện
Ái Nhĩ Lan năm 1776. Sau khi chính quyền Vương Quốc
Anh giải tán quốc hội Ái Nhĩ Lan, buộc các
nghị viên phải gia nhập quốc hội Vương
Quốc Anh, ông được cử làm đại diện
cho quận Galway. Ông tích cực vận động cho
đạo luật giải phóng Công Giáo, tức là đ̣i
hỏi chính quyền Anh phải đối xử b́nh
đẳng với những người theo đạo Công
giáo (do chính quyền Anh theo Anh Quốc Giáo Phái (Anglican Church),
đàn áp người Công Giáo). Ông tích cực vận động
chống lại sự ngược đăi động
vật, nhất là chuyện đánh bẫy gấu và thi
đấu chó. Ông thành lập hội Society for the Prevention of
Cruelty to Animals (SPCA, hội ngăn chặn sự
ngược đăi động vật). Năm 1822, ông thành
công thuyết phục quốc hội Anh thông qua đạo
luật ngăn cấm đối xử tàn nhẫn
đối với gia súc như trâu, ḅ, cừu v.v…
thường được gọi là Cruel Treatment of Cattle
Act.
[16] Cảo Kinh (鎬京) là kinh đô của nhà Châu, hiện
thời c̣n di tích tại phía Bắc khu Trường An, thành
phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây. Thoạt đầu, Châu
Văn Vương thiên đô từ Kỹ Ấp tới
đất Phong, Châu Vũ Vương thiên đô từ
đất Phong sang đất Cảo. Tại đất
Cảo, Châu Thành Vương (Cơ Tụng) là con Châu Vũ
Vương (Cơ Phát), được Châu Công Đán (Cơ
Đán) pḥ tá, khởi đầu một triều
đại thịnh trị cho nhà Châu. Con Châu Thành
Vương là Khang Vương (Cơ Chiêu), được
Thiệu Công và Tất Công pḥ tá. Ông nghe lời can gián,
chăm lo việc nước. Suốt thời gian Châu Thành
Vương cai trị, chánh quyền nhà Châu không phải dùng
đến h́nh phạt.
Châu U Vương (Cơ Cung Niết) là vị vua
thứ mười hai của nhà Châu. Do say mê Bao Tự, U
Vương phế trừ chánh hậu và thái tử Nghi
Cữu. Nghi Cữu trốn sang nước Thân, cầu
cứu ông ngoại là Thân Hầu. Thân Hầu liền
mượn quân Khuyển Nhung tấn công Cảo Kinh,
lật đổ U Vương, đưa Nghi Cữu lên
ngôi, tức là Châu B́nh Vương.
Châu Lệ Vương (Cơ Hồ) là vị vua
thứ mười của nhà Châu, là một người hám
lợi, ham của, ham ăn chơi, sao nhăng chánh sự, u
mê, sống xa hoa, làm nhiều điều bạo
ngược, tin tưởng gă thầy đồng
nước Vệ, sai thám tử theo dơi các quan và giết
chết những người dám dị nghị. Năm 842
trước Công Nguyên, dân chúng nổi dậy. Lệ
Vương may mắn chạy thoát sang đất Trệ
(nay là thành phố Hoắc Châu, tỉnh Sơn Tây).
[17] Văn Thiên Tường (1236-1283), tên
thật là Văn Vân Tôn, tự là Thiên Tường, là
Thừa Tướng nhà Nam Tống dưới đời
vua Tống Cung Đế. Ông đă tận lực chống
lại quân Nguyên Mông cho đến khi nhà Nam Tống hoàn toàn
bị tiêu diệt. Khi bị đưa đến gặp
Hốt Tất Liệt, dẫu bị đánh đến găy
xương, ông vẫn không chịu khuất phục. Sau
suốt ba năm bị giam giữ và hành hạ, Văn Thiên
Tường vẫn không đầu hàng, vua chúa nhà Nguyên
đành phải xử tử ông. Bài Chánh Khí Ca của ông là
một tác phẩm tuyệt diệu về ḷng trung nghĩa.
Sử Khả Pháp (1601-1645), tự Hiến Chi,
người huyện Tường Phù (nay là thành phố Khai
Phong, tỉnh Hà Nam), giữ chức Binh Bộ Thượng
Thư dưới đời vua Sùng Trinh nhà Minh. Sau khi Lư
Tự Thành chiếm Bắc Kinh, mở đường cho
quân Thanh thừa cơ xâm chiếm Trung Nguyên, ông cùng các quan
lại lưu vong của nhà Minh tận lực chống
giữ quân Thanh. Cuối cùng, do chánh quyền nhà Minh chia
rẽ, vua u mê, quân Minh ngày càng suy yếu, ông vẫn kiên
cường pḥng thủ Dương Châu trước sự
tấn công dữ dội của Đa Đạc Vương.
Sau khi thành Dương Châu vỡ, ông cắt cổ tự
sát, nhưng không chết, bèn bắt con nuôi là Sử
Đức Ngụy giết ông, nhưng Đức Ngụy
không nỡ. Do vậy, cả hai cha con bị bắt
sống. Đa Đạc Vương lại khuyên hàng, ông
kiên quyết từ chối, nói những lời khẳng khái
khiến Đa Đạc giận dữ, sai hành h́nh ngay
lập tức, và mở ra cuộc thảm sát bá tánh
Dương Châu suốt mười ngày để thị
uy.
[18] Vương Măng có tên tự là Cự
Quân, vốn xuất thân trong một gia đ́nh quan lại
từ B́nh Lăng. Vương Măng có người cô là
Vương Chánh Quân làm hoàng hậu của Hán Nguyên Đế (Lưu Thích). Do đó, chú bác
của Vương Măng đều được phong
hầu. Khi người chú là Vương Phượng
đang nắm quyền lớn trong triều bị bệnh
nặng, Vương Măng tận t́nh chăm sóc, nên
trước khi mất, Vương Phượng đă ca
ngợi Vương Măng trước mặt Hán Thành
Đế và Vương Thái Hậu. V́ thế, Vương
Măng được chọn làm quan và tiến nhanh. Sau đó,
nhờ mưu mẹo, Vương Măng thao túng triều chánh,
khôn khéo đưa con gái vào cung làm hoàng hậu của Hán B́nh
Đế. Khi B́nh Đế bị bệnh, ông giả
vờ dâng sớ cầu trời xin chết thay giống
như Châu Công thuở trước, nhưng thật ra,
Vương Măng sai người mang rượu độc
dâng cho vua, khiến B́nh Đế chết tươi khi
mới mười lăm tuổi! Tiếp đó,
Vương Măng đưa Lưu Anh mới hai tuổi lên
làm vua, tức Nhũ Tử Anh. Sau đấy, thừa
cơ cướp ngôi nhà Hán, lập ra nhà Tân, nhưng Vương
Măng chỉ làm vua được mười sáu lăm th́
bị quân khởi loạn Lục Lâm và Xích Mi đánh
bại; cuối cùng, bị loạn quân bêu đầu
giữa chợ.
[19] Tứ Hung (四凶) chính là bốn hung thần dưới
thời Nghiêu - Thuấn. Có hai cách giải thích:
1) Theo Thượng Thư, Tứ Hung là chính là
Cộng Công (共工, c̣n gọi là Cung Công 龚工), Hoan Đâu (歡兜), Cổn (鯀, cha của vua Đại Vũ), và Tam Miêu
(三苗).
2)
Theo Tả Truyện, Tứ Hung là bốn con quái thú, con của
bốn nhân vật nổi tiếng, tức Hồn Đôn (渾敦, con của
Đế Hồng Thị), Cùng Kỳ (窮奇, con của Thiếu
Hạo Thị), Đào Ngột (檮杌, con của
Chuyên Húc), và Thao Thiết (饕餮, con cháu ḍng Tấn
Vân Thị).
Khi nói đến Tứ Hung, người ta
thường nghĩ đến bốn con quái thú theo
truyền thuyết thứ hai. Cộng Công là một vị
thủy thần, tánh t́nh hung bạo. Theo huyền thoại,
sau khi bại trận dưới tay thần lửa Chúc Dung
(có thuyết nói là đánh thua Chuyên Húc), Cộng Công giận
dữ, húc đổ núi Bất Châu, khiến cho trời
sụp, đất lệch, gây ra nạn lụt dữ
dội. Bà Nữ Oa phải cắt chân con rùa Đại Ngao
để làm cột chống, luyện đá vá trời.
[20] Ngũ H́nh (五刑) là năm h́nh phạt,
trải qua nhiều thời đại mà có h́nh thức khác
nhau. Vào thời Hán Văn Đế, ngũ h́nh là Mặc (墨, thích chữ bôi
mực trên mặt), Tỵ (劓, cắt
mũi), Nguyệt (刖, chặt chân), Cung (宮, thiến), và Đại
Tịch (大辟, tử h́nh). Từ
thời Tùy - Đường trở đi, Ngũ H́nh là Xuy
(笞, đánh bằng roi), Trượng (杖, đánh bằng
gậy to), Đồ (徒, phạt làm khổ
sai, sau khi bị đánh trượng và phạt tiền), Lưu
(流, đày đến nơi hoang vu, hẻo lánh), Tử
(死tội chết). Đối với phụ nữ phạm
tội th́ có năm h́nh phạt hơi khác: H́nh Thung (刑舂, phạt làm việc
trong xưởng xay lúa, giă gạo), Tản H́nh (拶刑, dùng bàn kẹp,
kẹp nát ngón tay), Trượng H́nh (杖刑, đánh bằng
gậy), Tứ Tử (賜死, bắt phải
tự tử) và Cung H́nh (宮刑, thiến).
[21] Sau khi dẹp nhà Thương, Châu Vũ
Vương đă chia đất Kinh Kỳ ra làm ba phần,
lập ra chế độ Tam Giám, phong cho ba người em
là Quản Thúc (Cơ Tiên, do được phong ở
đất Quản, và là em vua nên gọi là Quản Thúc), Sái
Thúc (Cơ Độ) và Hoắc Thúc (Cơ Xứ) làm vua những
xứ ấy để giám sát Vũ Canh (hậu duệ nhà
Thương, được phong đất Triều Ca).
Sau khi Châu Vũ Vương mất, do con là Châu Thành
Vương c̣n trẻ, chú là Châu Công Đán nhiếp chánh.
Quản Thúc, Sái Thúc và Vũ Canh liên kết, dụ dỗ
Hoắc Thúc cùng nổi loạn, toan cướp ngôi của
Châu Thành Vương. Châu Công Đán đánh bại họ,
giết chết Quản Thúc và Sái Thúc, đuổi Hoắc
Thúc về làm thứ dân.
[22] Đây là một thành
ngữ châm biếm kẻ quên nguồn cội, nguyên văn là
“số điển vong tổ” (數典忘祖). “Điển”
chỉ lễ chế, lịch sử. Thành ngữ này phát
xuất từ một câu chuyện trong Tả Truyện: Vào
năm Châu Cảnh Vương
thứ mười tám (527 trước Công Nguyên), quan
đại phu nước Tấn là Tịch Đàm sang
sứ nhà Châu. Trong yến tiệc, Châu Cảnh Vương
hỏi v́ sao nước Tấn đi sứ mà không mang theo
lễ vật? Tịch Đàm ngạo nghễ nói:
“Nước Tấn chưa từng nhận ân thưởng
nào từ vương thất, cớ ǵ phải tấn
cống lễ vật?” Vua Châu nói: “Ông quên rồi sao?
Đường Thúc tổ tiên của nước Tấn là
em trai của mẹ Châu Thành Vương, được
phong làm vua ở đất Tấn. Tổ tiên ông là Tôn Bá
Đại, trông coi điển tịch nước Tấn,
nên có họ là Tịch. Ông là người đời sau
của vị quan trông coi điển tịch, cớ sao quên
bẵng?” Tịch Đàm nín lặng. Châu Cảnh Công nói:
“Chỉ lo trông coi sách vở, quên mất tổ tông”.
[23] “Thần
thi” (神尸): Theo cổ lễ, trước khi
biết dùng tranh ảnh hay bài vị, khi tế thần,
người ta đặt một đứa bé lên ngai
để cho thần hay người đă khuất
nương vào đấy, gọi là “thần thi” rồi cúng tế.
[24] Lạy sao Đẩu (“bái Đẩu”)
tức là lập bài vị lạy Thất Tinh Diên Mạng,
như các vị tinh quân Tham Lang (Thiên Xu), Cự Môn (Thiên
Tuyền), Văn Khúc (Thiên Quyền) v.v... hoặc lạy
Đẩu Mẫu Nguyên Quân. Đẩu Mẫu Nguyên Quân (斗姥元君) là một vị nữ thần do
Đạo giáo đặt ra, dựa theo h́nh tượng Ma
Lợi Chi Thiên (Marici) trong Mật giáo của Phật giáo.
Đẩu Mẫu được coi là “mẹ của các
ngôi sao”, và Đạo giáo gọi vị này bằng các danh
xưng Đẩu Mẫu Thiên Tôn, Tiên Thiên Đạo
Mẫu Thiên Tôn, Bắc Đẩu Cửu Chân Thánh
Đức Thiên Hậu, hoặc Trung Thiên Phạm Khí
Đẩu Mẫu Nguyên Quân. Về sau, Đạo giáo đặt
ra bộ Ngọc Thanh Vô Thượng Linh Bảo Tự Nhiên
Bắc Đẩu Bổn Sanh Chân Kinh nói Đẩu Mẫu
vốn là ngọc phi Tử Quang phu nhân của Châu Ngự
Vương, sanh ra chín người con thánh. Trong số
đó, hai người con nổi tiếng nhất là Câu
Trần Đại Đế và Tử Vi Đại
Đế, bảy người c̣n lại chính là Bắc
Đẩu Thất Tinh, gọi chung là Cửu Hoàng
Đại Đế. Do vay mượn từ Phật giáo,
tượng Đẩu Mẫu có bốn đầu, ba
mắt, tám tay.
[25] “Chữ ch́” (duyên tự, 鉛字) là các chữ in đúc bằng kim
loại dùng trong kỹ thuật sắp chữ rời
bằng tay trước khi có thể in theo lối sắp
chữ bằng computer như hiện thời. Kỹ
thuật in chữ rời bằng các khuôn chữ kim
loại thật ra đă được sáng chế bởi
Tất Thăng từ đời Bắc Tống, nhưng
nhanh chóng bị loại trừ v́ quá tốn kém, do chưa
t́m được cách đúc khuôn chữ thuận tiện,
các chữ bằng kim loại thuở ấy cũng quá
nặng nề. V́ thế, lối in bằng cách khắc
nổi mỗi trang sách lên một tấm gỗ (in mộc
bản, woodblock printing) hoặc in thạch bản
(lithography) vẫn được ưa chuộng hơn. Cho
đến năm 1450, Johannes Guttenberg sáng chế kỹ
thuật in bằng chữ rời kim loại từ hỗn
hợp ch́, thiếc và antimony tạo nên khuôn chữ rẻ
và dễ dàng sử dụng khiến cho kỹ thuật này
nhanh chóng được phổ biến khắp thế
giới. Người Hoa gọi những chữ đúc theo
lối này là “duyên tự”
(chữ ch́).
[26] Loan sanh (鸞生) là người vịn cơ bút
để cầu tiên giáng cơ, phụ trách đẩy cho
cơ bút chạy. Do cơ bút thường có h́nh chim loan
khắc ở đầu, mỏ chim loan viết chữ lên
mâm cát, nên cầu cơ thường gọi là “phù loan” (扶鸞). Giảng sanh (講生) là người nh́n vào chữ viết
từ cơ bút đọc ra, rồi giảng giải ư
nghĩa khi cần thiết.
[27] Bộ sách này có tên gọi đầy
đủ là Ấu Học Cố Sự Quỳnh Lâm,
vốn là sách để dạy trẻ vỡ ḷng, do Tŕnh
Đăng Cát (tự Doăn Thăng), người xứ Tây
Xương biên soạn vào cuối đời Minh. Có
thuyết nói tác giả là tiến sĩ Khâu Tuấn biên
soạn trong niên hiệu Cảnh Thái đời Minh.
Thoạt đầu sách có tên là Thành Ngữ Khảo hoặc
Cố Sự Tầm Nguyên. Tới đời Thanh, tác
phẩm này được Trâu Thánh Mạch nhuận
sắc, tu chỉnh, tăng thêm chú thích, đổi tên thành
Ấu Học Quỳnh Lâm. Về sau đến thời Dân
Quốc, Phí Hữu Dung, Diệp Phổ Tôn và Thái Đông
Phiên lại tiến hành tăng bổ lần nữa. Tác
phẩm này dùng văn xuôi viết theo lối biền
ngẫu, câu cú đăng đối, dễ đọc,
dễ nhớ, nội dung bao hàm nhiều chủ đề
rất rộng, khiến cho người đọc thông
hiểu nguồn gốc của một số thành ngữ,
lại có tác dụng giáo dục nhân nghĩa, đạo
đức, nhân quả, thiện ác, nên rất
được coi trọng.
[28] Hiện báo: Quả báo sẽ phải
hứng chịu ngay trong đời hiện tại. Sanh báo:
quả báo sẽ hứng chịu trong đời kế
tiếp. Hậu báo: Quả báo sẽ hứng chịu trong
nhiều đời sau.
[29] Tư Mă Chiêu vốn là con của Tư
Mă Ư, cha của hoàng đế khai quốc nhà Tây Tấn
(Tư Mă Viêm); về sau được truy tôn là Tấn
Văn Đế. Ông này là quyền thần, khuynh loát
triều chính nhà Tào Ngụy. Năm Cam Lộ thứ hai (206)
vua Tào Ngụy là Cao Quư Hương Công (Tào Mạo) mưu
tính với Vương Thẩm, Vương Kinh,
Vương Nghiệp v.v... toan trừ diệt Tư Mă Chiêu.
Tư Mă Chiêu liền xua quân trấn áp. Người của
Tư Mă Chiêu là Giả Sung sai Thành Tề giết Tào Mạo.
Sau đấy, Tư Mă Chiêu kể tội Thành Tề,
giết sạch cả nhà ông ta, rồi lập Tào Hoán lên làm
Tào Ngụy Nguyên Đế. Sau đó, Tư Mă Chiêu ép vua
phải phong ông ta làm Tấn Vương, được
phép sử dụng cửu tích (nghi trượng dành cho hoàng
đế). Sau khi Tư Mă Chiêu chết chẳng bao lâu, con
trai ông ta là Tư Mă Viêm bèn phế lập Tào Hoán, giáng xuống
thành Trần Lưu Vương, xưng đế,
đổi quốc hiệu là Tấn.
[30] Lỗ Hoàn Công (tên là Cơ Doăn),
cưới Văn Khương là em gái Tề Tương
Công (Khương Chư Nhi). Tề Tương Công và Văn
Khương tư thông. Văn Khương thường
kiếm cớ, đ̣i chồng dẫn về nước
thăm nhà để hú hư cùng anh trai. Sợ Lỗ Hoàn Công
biết, Tề Tương Công bèn sai Công Tử Bành Sanh
đánh xe đưa vua Lỗ về nước, giữa
đường giết chết Hoàn Công. Sau đó, Tề
Tương Công vu cáo Bành Sanh tự ư giết Hoàn Công, xử
tử Bành Sanh. Năm 686 trước Công Nguyên, Tề
Tương Công ra ngoài đồng săn bắn, thấy có
một lợn rừng, tùy tùng đều nói đó là Công
Tử Bành Sanh. Tề Tương Công kinh sợ, bắn tên.
Con lợn ấy đứng thẳng lên như
người, kêu hộc lên ầm ĩ. Tề Tương
Công kinh hoảng, đánh rơi một chiếc giày. Sau
đó, bọn Liên Xưng và Quản Chí làm phản, truy
bắt vua. Do ḍ theo dấu chân chỉ có một chiếc
giày, họ bắt được Tề Tương Công,
giết chết, rồi tôn Công Tôn Vô Tri (em họ của
Tương Công) lên làm vua, tức Tề Hy Công.
[31] Bạch Khởi là danh tướng vô
địch của nước Tần thời Chiến
Quốc. Tổ tiên của ông vốn là người
nước Sở, họ Công Tôn, sau đến định
cư tại huyện My nước Tần, đổi
thành họ Bạch. Bạch Khởi say mê binh pháp, sống
trong quân doanh từ nhỏ nên rất thiện chiến. Ông
hiếu sát, năm 293 trước Công Nguyên, khi đánh
bại liên quân Hàn - Ngụy ở Y Khuyết, đă chém
hơn hai mươi bốn vạn thủ cấp! Ghê
rợn nhất là trong trận chiến Trường B́nh,
sau khi đánh bại Triệu Quát, bắt được bốn
mươi lăm vạn quân Triệu, Bạch Khởi
đă ra lệnh quân Tần dùng vải trắng buộc
đầu để phân biệt, cho hàng binh nước Triệu
ăn uống no say, rồi xua quân Tần tàn sát hàng binh
nước Triệu. Trong một đêm, bốn mươi
lăm vạn tù binh nước Triệu bị chém chết
sạch, thủ cấp thu nhặt xếp thành núi
Đầu Lâu!
Tào Hàn (924-992) là danh tướng khai quốc nhà
Bắc Tống (quê ở xứ Đại Danh, tỉnh Hà
Nam), lập nhiều công lớn, nhưng tàn sát rất
dữ khi chiến thắng địch quân. Ông này nhiều đời
bị đọa làm lợn. Có một kiếp đă cầu
cứu Lưu Khảo Quan bỏ tiền chuộc mạng
trước khi bị giết, và kể lại nhân duyên cũ.
Trong Ấn Quang Văn Sao, Tổ có nói đến chuyện
này.
[32] “Hậu hữu” là thân sau. Có khi nói cái
thân trước khi chết là tiền hữu, thân Trung
Ấm là trung hữu, thân sẽ thác sanh sau đó gọi là
hậu hữu.
[33] “Quang
phục” ở đây có nghĩa là Đài Loan giành
được độc lập, không c̣n là thuộc
địa của Nhật nữa.
[34] Bá Đạo là tên tự của
Đặng Du. Ông Đặng sống vào đời
Tấn, người xứ Tương Lăng. V́ tỵ
nạn chiến tranh trong cuộc biến loạn Vĩnh
Gia, ông dẫn con và cháu (con trai của người em đă
mất sớm) chạy loạn. Trong lúc nguy nan muôn phần,
không thể làm ǵ khác hơn, ông đành bỏ con, ôm cháu
chạy trốn. Về sau, ông suốt đời chẳng
có con. Những người biết chuyện, cảm
động, than thở: “Đạo
trời vô tri, khiến cho Bá Đạo chẳng có con”.
[35] Bốc Thương, tên tự là Tử
Hạ, nên c̣n gọi là Bốc Tử Hạ, là một Nho
gia nổi tiếng ở vùng Tây Hà nước Tấn,
từng theo học với Khổng Tử. Ông
được Ngụy Văn Hầu tôn làm thầy. Con ông
chết sớm. Ông khóc thương đến nỗi mù
mắt. Người đời sau dùng thành ngữ “Tây Hà chi thống” hoặc “băo thống Tây Hà” (ôm nỗi
đau Tây Hà) để diễn tả nỗi đau cha chôn
con.
[36] “Lân nhi”:
Do kỳ lân là một linh vật, dáng vẻ an tường,
vừa hiền lành như nai, vừa có vảy, oai nghiêm
như rồng, nên chữ “kỳ
lân” thường được dùng để sánh ví
bậc kiệt xuất. V́ vậy, chữ “lân nhi” hoặc “kỳ
lân nhi” được dùng như từ ngữ ca
ngợi đứa con tài hoa, tuấn kiệt của ai
đó. Có thuyết nói: Do mẹ Khổng Tử khi sắp
sanh ra ông, mộng thấy kỳ lân nhả ngọc, nên
cũng gọi những đứa con quư là “lân nhi”.
[37] Kinh Tứ Thập Nhị Chương
có nói: “Ví như người
khác tặng lễ vật cho ta, ta chẳng nhận th́
lễ vật vẫn thuộc về người ấy”.