Phật Học Vấn Đáp Loại Biên

Quyển Trung

佛學問答類編

Phần 4

Lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam giải đáp

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản in của Lư Bỉnh Nam Lăo Cư Sĩ Toàn Tập Biên Tập Ủy Viên Hội, Đài Loan, 2007)

Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang

 

* Hỏi: Bỉ nhân ngẫu nhiên xem một số báo Bồ Đề Thụ. Xem xong, có vài câu hỏi viết trong trang sau. Kính xin hăy giải đáp bằng thư tín. (Lâm tiên sinh hỏi)

         

          Đáp: Đối với mục vấn đáp trong tạp chí của tệ xă, ngoại trừ những câu hỏi thuộc về công phu bí mật cá nhân, nhằm hữu ích cho mọi người, [mọi câu hỏi] đều được nhất loạt [phúc đáp] công khai. Hơn nữa, do hạn chế bởi thời gian và nhân lực, khó thể viết thư trả lời từng người một được! Tôi đă thanh minh nhiều lần, chẳng thể vâng theo lời dặn ḍ của tiên sinh, chỉ có thể công bố bằng cách giấu tên mà thôi!

 

          * Hỏi: Chẳng tin Phật giáo th́ sẽ có kết cuộc như thế nào? Trước khi Thích Ca Mâu Ni Phật sáng lập Phật giáo, sẽ lại biện định như thế nào? (Lâm tiên sinh hỏi)

 

          Đáp: Phật là giác, tức là dùng trí huệ để giác chiếu hết thảy chân tướng của vũ trụ và nhân sinh, chẳng bị mê hoặc trói buộc, cái tâm chẳng cảm nhận sai lầm, lời lẽ chẳng điên đảo, thân chẳng làm xằng bậy mà thôi! Người tin Phật học điều này. Kẻ chẳng tin, không học những điều này! Trước Thích Ca Thế Tôn, đă sớm có Phật pháp; không chỉ là ngàn vị Phật hay vạn vị Phật. Ví như thái dương mọc ở đằng Đông, lặn ở đằng Tây là một thời kỳ [xuất thế] của một vị Phật. Ban đêm ví như thời kỳ chẳng có Phật; nhưng mặt trời mọc, lặn chẳng có lúc ngừng nghỉ, Phật xuất hiện trong cơi đời cũng giống như vậy đó!

 

* Hỏi: Nơi trang hai mươi bốn trong kỳ chín mươi sáu của báo Bồ Đề Thụ, có nói: “Vạn vật trong vũ trụ do các duyên ḥa hợp mà sanh”, v́ sao? Muỗi hút máu người, có phải là v́ muỗi mà sanh ra người? Lại nữa, giữa mặt trời và trái đất có khoảng cách nhất định. Nếu [khoảng cách ấy] quá gần, chúng ta nhất định là sẽ bị thiêu chết! Nếu mặt trời xa xôi, sẽ bị chết cóng. Đấy có phải là do các duyên ḥa hợp mà sanh ra hay không? (Lâm tiên sinh hỏi)

         

Đáp: Xét giọng điệu trong lời văn của tiên sinh, dường như đă hiểu lầm chữ Duyên. Nay tôi sẽ giải thích đại lược. Duyên () có nghĩa là “cơ hội”. Nếu cơ hội ấy khế hợp nguyên nhân nào đó, sẽ phát sanh một loại sự vật nào đó. Chẳng khế hợp, sẽ chẳng phát sanh. V́ thế nói: Chư pháp nhân duyên sanh” (Các pháp sanh bởi nhân duyên). Muỗi hút máu người, đúng là do duyên hợp. Nếu chỉ có muỗi, há có máu người? Hoặc chỉ có người, máu do đâu bị hút? [Ông bảo] “v́ muỗi mà sanh ra người”, câu hỏi này đă lạc đề rất xa, xin thứ lỗi chẳng đáp cho khỏi rườm rà. Nếu có nỗi nghi nào gần giống như vậy, chẳng ngại sẽ nêu câu hỏi khác. Khoảng cách giữa địa cầu và mặt trời chẳng gần, chẳng xa, chúng ta đă chẳng chết cóng, mà cũng chẳng bị thiêu chết, đúng là do các duyên ḥa hợp. Nếu duyên chẳng khế hợp, đương nhiên sẽ bị chết v́ lạnh hay chết v́ nóng, chuyện này há c̣n ngờ chi?

 

* Hỏi: Nơi trang hai mươi bốn trong số báo chín mươi sáu, tiên sinh Trần Tán Tường bàn về tánh bác ái trong Phật giáo, đă nói: “Phật giáo không chỉ là yêu trọn khắp nhân loại, mà c̣n yêu thương hết thảy động vật”. Nếu những loài như muỗi, rắn độc cũng chẳng giết, vậy th́ nhân loại sẽ sanh tồn bằng cách nào? Giết muỗi và rắn độc có coi là phạm tội hay không? (Lâm tiên sinh hỏi)

 

          Đáp: Chuyện này đặc biệt chia thành Lư và Sự để nói:

1) Một, nói theo Lư, mỗi loài sanh vật đều có sanh mạng riêng. Loài nào cũng đều ham sống, sợ chết. Con người là như thế, mà súc vật cũng là như thế. Trong cái nh́n của nhà Phật, chúng sanh b́nh đẳng. Theo tư tưởng của Nho gia, vạn vật cùng sanh tồn, chẳng làm hại lẫn nhau. Người giết súc sanh, [nếu coi đó] chẳng phải là tội ác, [vậy th́] súc sanh giết người cũng chẳng phải là tội ác chớ ǵ? Nếu bảo con người mạnh mẽ, linh thông, súc sanh yếu ớt, tối dạ, lẽ đương nhiên là con người tồn tại, súc sanh phải chết. Thử hỏi: Người Âu Mỹ có vũ khí nguyên tử, tức là họ mạnh mẽ, c̣n người ở Phi Châu và Úc Châu chẳng có vũ khí nguyên tử, tức là yếu ớt; lẽ đương nhiên chỉ có người Âu Mỹ tồn tại, giết sạch hết người ở Phi Châu và Úc Châu ư?

2) Hai, nói theo Sự. Nếu bảo muỗi và rắn có thể giết người, do chúng đến giết ta, ta do pḥng vệ, vẫn phải giết chúng, [điều này] xét theo t́nh vẫn c̣n suông sẻ! Chứ nếu nói “để tính kế ngăn ngừa trước, ắt phải t́m giết chúng trước”; vậy th́ như báo chí hiện thời đăng tải, trong giới thanh niên có lúc giết người, xe hơi có lúc đụng chết người, hăy nên lập tức tính kế dự pḥng, t́m bọn thanh niên giết sạch đi, t́m xe hơi phá hủy hết sạch ư?

 

          * Hỏi: Trong Phật giáo, tôi thường thấy nhân loại tự dùng gỗ để làm h́nh tượng chi đó, bảo đấy là vị thần nào đó. Sau đó, lễ bái. Đấy chẳng phải là mê tín ư? Lại nữa, nếu có thiên tai phát sanh, vị Phật nào đó bị đốt cháy hoặc bị tổn hoại, há chẳng phải là chính ḿnh c̣n khó bảo toàn, làm sao có thể bảo vệ người khác cho được? (Lâm tiên sinh hỏi)

 

          Đáp: Đối với câu hỏi này, vào mấy năm trước, tạp chí này đă giải đáp tường tận. Tôi tính chẳng trả lời, nhưng v́ tiên sinh hùng hổ chê trách, nên bèn cẩn trọng giải thích. Nhân loại dùng gỗ làm tượng thần, mỗi dân tộc có cách nói riêng, trọn chẳng phải là hoàn toàn thuộc về Phật giáo, tại hạ chẳng tiện bàn luận tràn lan. Nay chỉ bàn về chuyện dùng gỗ làm tượng Phật. Bất quá, [tạo tượng] để biểu trưng, thật sự chẳng phải là cầu tượng gỗ ấy che chở con người. Như di tượng của Tổng Lư, hoặc mộc chủ (bài vị) trong các gia đ́nh Trung Hoa, bia đá trước mộ, quốc kỳ của quốc gia v.v… Những thứ ấy có lúc bị thiêu hủy hoặc tổn hại, bản thân chúng đă khó thể bảo tồn, làm sao có thể che chở con người? Hướng về những thứ ấy lễ bái, há cũng chẳng phải là mê tín ư?

 

* Hỏi: Đệ tử đă quy y Tam Bảo, c̣n chưa thọ giới, v́ sau khi đă thọ giới, cần phải tuyệt đối vâng giữ giới điều, chẳng thể không suy xét cẩn thận. Ví như giới sát, tông chỉ vốn đặt nền tảng trên ḷng Từ. Nếu nói “chúng sanh đều có Phật tánh”, những loài trùng có hại như muỗi, ruồi v.v… cũng có thể thành Phật, tôi ôm ḷng hoài nghi sâu xa. Con người là “vạn vật chi linh”, niệm Phật mà có thể niệm tới mức nhất tâm bất loạn, vẫn cần phải hành các pháp trợ tu. Nếu tu những pháp môn khác, càng khó đạt thành tựu. Những loài trùng có hại như ruồi, muỗi v.v… đă chẳng thể nghe pháp, lại chẳng gắng sức tu hành. Nếu bảo [thân ruồi, muỗi] là báo thân của chúng trong hiện tại, nhưng do chúng chẳng biết tu phước, đời sau làm sao tốt đẹp hơn đời hiện tại cho được? Lại nữa, nếu đối với những loài trùng gây hại ấy, cũng dùng nguyên tắc “lợi sanh” để bảo vệ chúng, bao nhiêu năm sau, nhân loại sẽ bị đào thải, [thế giới này sẽ] trở thành thế giới của loài trùng có hại mất rồi! Đệ tử kiến văn ít ỏi, chỉ v́ từ những kinh sách thường xem, chỉ thấy khi đức Phật thuyết pháp, có đại chúng thuộc ngũ thừa tham dự, nhưng chưa thấy những loài trùng có hại như muỗi, ruồi v.v… nghe giảng! Do vậy, nẩy sanh nghi vấn (kinh Kim Cang tuy có câu “nhược noăn sanh...” (hoặc là thai sanh), đấy có thể là một cách nói giả định đó chăng?) (Mạnh Hiếu Quang hỏi)

          Đáp: Cư sĩ đă biết “giới sát” có cơ sở là ḷng Từ. Ruồi, muỗi là báo thân, đă đọa làm súc sanh, lại chẳng có cơ hội nghe pháp giải thoát. Đó là điều bất hạnh nhất trong các nỗi bất hạnh, càng thêm đáng thương! Ngược ngạo giết chúng, khác nào [thấy kẻ khác] đă bị té giếng c̣n quăng đá xuống? Người học Phật hăy nên hiểu ư nghĩa “b́nh đẳng”. Con người coi muỗi, ruồi là loài trùng có hại, các động vật há chẳng coi con người là loài trùng gây hại to lớn ư? V́ đối với các loài sanh bằng thai, bằng trứng, bằng hơi ẩm, hoặc hóa sanh, dẫu chẳng tổn hại con người, người ta vẫn chẳng lúc nào không t́m trăm phương ngàn kế giết hại! Ai là kẻ gây hại to lớn hoặc nhỏ nhoi, có thể suy ra được! Nếu bảo sau bao nhiêu năm nữa, [địa cầu] sẽ trở thành thế giới của loài trùng gây hại, đối với những câu hỏi như vậy, trong quá khứ, chúng tôi đă giải thích nhiều lần. Mong hăy tra duyệt trong sách Phật Học Vấn Đáp Loại Biên, sẽ biết.

 

          * Hỏi: Có người nhờ tôi hỏi: “Nếu người trong thiên hạ tuyệt dục, một trăm năm sau, sẽ chẳng c̣n nhân loại nữa, làm như thế nào đây?” (Châu Huệ Đức hỏi)

 

          Đáp: Chẳng hề có chuyện như đă hỏi! [Bởi lẽ], ai có thể khiến cho người trong thiên hạ thảy đều tuyệt dục hết? Nghĩ kỹ ư người hỏi, [sẽ thấy] chẳng ngoài [dụng ư] báng Phật và bào chữa dục vọng mà thôi! Do có lắm nỗi hiểu lầm, cho nên mới có câu hỏi ấy. Người tu theo Phật giáo, chia thành tứ chúng xuất gia và tại gia. Người xuất gia làm thầy, giới luật nghiêm ngặt, họ chiếm thiểu số, chẳng bị bận ḷng bởi vợ con và tài sản, chuyên môn “thượng hoằng, hạ hóa” (trên hoằng dương chánh pháp, dưới hóa độ chúng sanh), giới luật chế định đoạn dục. Hàng tại gia làm đệ tử, giới luật khoan dung hơn, chiếm đa số. Mỗi người hành theo chánh nghiệp (nghề nghiệp chánh đáng) để duy tŕ gia đ́nh, tùy duyên tự hành, hóa tha, được phép kết hôn. Người hỏi chẳng hiểu rơ, tưởng lầm “hễ học Phật, bèn đồng loạt đoạn dục”, nêu ra chuyện nhân loại tuyệt diệt, dùng chuyện đó để công kích. Kẻ hèn này cũng muốn nêu câu hỏi ngược lại, xin hăy trả lời! Lo lắng nhân loại bị tuyệt diệt, chắc là trước hết bắt nguồn từ tự thân. Thử hỏi: Hằng ngày dục t́nh phóng túng, thân có thường tồn tại hay không? Nếu nói “v́ mong lưu lại thế hệ mai sau”, [vậy th́] lưu lại thế hệ mai sau có v́ dân tộc, quốc gia hay không? Xin trước hết hăy nghĩ xem chính ḿnh đối với dân tộc và quốc gia như thế nào? Nếu đùn đẩy trách nhiệm cho đời sau xa xôi, đó sẽ là chuyện xa vời vậy! Nói sâu hơn nữa, cái thật sự khiến cho con người tuyệt diệt trong hiện thời chính là bom nguyên tử, sao chẳng lo âu chuyện đó?

 

          * Hỏi: Có người nhờ tôi hỏi: “Trâu có thể cày ruộng, chó có thể canh chừng ban đêm, cố nhiên là hăy nên thương xót chúng. C̣n lợn, dê chẳng làm được ǵ, chẳng ăn thịt chúng nó, có ích chi đâu?” (Châu Huệ Đức hỏi)

 

          Đáp: Lông lợn để xuất khẩu, lông dê dùng để dệt áo, dệt thảm. Chúng đă nuôi con người, lại c̣n sanh lợi, thật sự là có đại ân, lại chẳng có chút tội nào! Giết đi là bất nghĩa, ăn thịt chúng là bất nhân. Nếu viện cớ “v́ chẳng có mà năng lực ǵ, đáng nên giết để ăn”, vậy th́ người tàn phế, người già cả, kẻ đui, điếc, câm, ngọng, những kẻ ăn mày, lưu manh v.v… sao không nhất loạt giết để ăn vậy?

 

          * Hỏi: Nho gia của Trung Hoa khẳng định nhân sinh, khẳng định giá trị sanh mạng và luân lư đạo hiếu, [đó chính là điều] mỗi xă hội phải nên tiếp nhận, thế mà Phật giáo phản đối! Trong sách Luân Lư Học Đại Cương do ông Tạ Ấu Vĩ biên soạn, có phê b́nh như thế này: “Địa vị của chữ Hiếu trong văn hóa Trung Hoa có thể nói là hoàn toàn khẳng định giá trị của sanh mạng. Đấy là thái độ nhân sinh căn bản nhất của người Trung Hoa, hết sức khác biệt thái độ nhân sinh trong Phật giáo Ấn Độ! Phật giáo coi sanh mạng xét theo bản chất là ác, đầy dẫy đau khổ và tội ác, tức là bản thân sanh mạng trở thành vật vô giá trị, chẳng cần coi trọng, cũng chẳng cần phải yêu thương, bảo vệ. V́ thế, thái độ nhân sinh của Phật giáo chính là phủ định sanh mạng, phủ định giá trị của sanh mạng! Phật giáo chủ trương vượt thoát biển sanh tử, chẳng coi trọng cuộc sống thường ngày của nhân loại, càng chẳng coi trọng quan hệ nam nữ của nhân loại, mà coi chuyện tu hành, xuất thế, làm ḥa thượng là cảnh giới cao nhất của con người, chính là v́ xuất phát từ thái độ phủ định giá trị của sanh mạng mà ra! Nhưng nói theo luân lư học, thái độ ấy là sai lầm! Luân lư học ắt cần phải khẳng định giá trị của đời người. Chẳng khẳng định giá trị của đời người, chúng ta sẽ chẳng cần phải bàn đến luân lư, bàn đến đạo làm người chi nữa! Bàn đến đạo làm người, tức là khẳng định làm người có giá trị, cũng tức là khẳng định sanh mạng có giá trị. Chủ trương và hành vi thực tế của Phật giáo cũng mâu thuẫn. Bởi lẽ, nếu sanh mạng thật sự vô giá trị, vậy th́ hành vi đáng nên có sẽ là tự sát. Chẳng tự sát mà phải tu hành, phải làm ḥa thượng, chuyện này khẳng định giá trị của sanh mạng. Bởi lẽ, ngươi chẳng sanh tồn, tức là chẳng có sanh mạng, há ngươi có thể tu hành ư? Ngươi có thể làm ḥa thượng được chăng? Ai nấy đều làm ḥa thượng, cuộc sống ḥa thượng của ngươi lại có thể duy tŕ được chăng? Có thể thấy là từ hành vi trong thực tế của Phật giáo, giá trị của sanh mạng vẫn được khẳng định!” (Trần Nhất Sĩ hỏi)

 

          Đáp: Bọn chúng ta chính v́ học hỏi mà đàm thoại. Hễ thảo luận, phải nên căn cứ theo sách vở để nói thẳng thừng, nhưng nói thẳng thừng, sợ sẽ thiếu uyển chuyển, mong Ngài và Tạ tiên sinh đều rộng lượng dung thứ. Trong đoạn bàn luận này của Tạ tiên sinh, điều đáng chú ư nhất là nêu ra sự thật th́ ít, mà phê b́nh th́ nhiều! Ít sự thật, nhiều phê b́nh, lời phê b́nh ấy càng giống như bắn tên chẳng có mục đích! Tôi chia ra đại lược để trả lời như sau:

1) Ông Tạ nói: “Chữ hiếu trong văn hóa Trung Hoa và Phật giáo cực bất đồng” (điều này thuộc loại phê b́nh). Tôi giải đáp: Cực bất đồng chính là cực tương phản. So sánh cặn kẽ kinh điển của hai giáo Nho và Phật, chưa thấy chỗ nào tương phản. Chỉ có một chuyện khác biệt là đối với chuyện truy viễn (追遠, tưởng nhớ người đă khuất, tưởng nhớ cội nguồn), Nho coi trọng cúng tế, Phật coi trọng siêu độ mà thôi.

2) Ông Tạ nói: “Phật giáo coi bản chất của sanh mạng thuộc về tội ác (đây là phê b́nh), là đầy ắp đau khổ” (đây là sự thật). Tôi giải thích: Cách nh́n của kinh Phật đối với nhân sinh là như những câu sau đây: “Thân người khó được”, “phước báo trong cơi trời người”, “nhân thiên thiện đạo”, “nhân thiên tiểu quả” v.v… Khó có như thế nào, và phước thiện tiểu quả là như thế nào, đều có ngôn luận, ở đây tôi chẳng rườm lời [trích dẫn]. Trong nhà Phật, chẳng có những lư lẽ như trong lời phê b́nh của ông Tạ. Nói tới chuyện đau khổ, kinh Phật bảo: “Quán thọ là khổ”, chính là nói kẻ hưởng thụ là khổ, chưa hề nói chuyện ǵ cũng đều là khổ. Nhưng cũng là đối với hàng sơ cơ và Tiểu Thừa [mà nói điều này] để làm phương tiện điều phục, đoạn dục, cũng giống như nghĩa lư “mưu cầu đạo, chẳng mưu cầu ăn uống” của Nho gia. Nếu đạt tới Đại Thừa, hết thảy đều b́nh đẳng, chẳng có ǵ là khổ hay lạc!

3) Ông Tạ nói: Phật giáo chủ trương vượt thoát biển sanh tử (đây là sự thật), chẳng coi trọng cuộc sống hằng ngày của nhân loại (thuộc loại phê b́nh). Tôi giải thích: Hễ là tôn giáo, nghĩa lư chung là đều cầu một chỗ quy túc tối hậu, tức là thần hồn bất sanh, bất tử. Phật giáo cũng chẳng phải là ngoại lệ. Cái gọi là “thần hồn” chính là cái Thể biến ra sanh tử. Kinh Dịch bảo: “Tinh khí là vật, cái hồn bềnh bồng là biến”, nhưng Phật giáo chủ trương Tánh, chứ không phải thần hồn, chỉ có Tánh là thường c̣n! Chẳng thể giải thích lư này bằng vài câu được, tạm thời chẳng bàn đến. Đối với cuộc sống hằng ngày, không biết [ông Tạ và ông] nói đến điều ǵ? Ao rượu, rừng thịt, tiệc tùng, ca múa thường xuyên chính là cuộc sống của Kiệt, Trụ! Mỗi ngày ăn uống tốn tới mười vạn đồng, trướng gấm che rợp mười dặm, chính là cuộc sống của Hà Tăng, Thạch Sùng! Đêm Ba Lê (Paris) cuồng hoan, phấn hồng, rượu xanh chốn Hảo Lai Ổ (Hollywood) chính là cuộc sống được đề cao thành mode của người hiện thời! Cuộc sống trong nhà Phật là “ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh”, “một ngày chẳng làm, ngày ấy chẳng ăn”, “chẳng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện” mà thôi!

4) Ông Tạ nói: “Nhất là không coi trọng quan hệ nam nữ của nhân loại. Coi xuất thế, làm ḥa thượng chính là cảnh giới cao nhất trong đời người” (điều này thuộc về phê b́nh). Tôi giải thích: Chế độ trong Phật giáo chia thành chúng xuất gia và chúng tại gia. Chúng xuất gia làm thầy, chuyên môn tu học, dạy người khác, ắt phải buông xuống hết thảy, ngơ hầu chẳng bị hệ lụy bởi vật chất. V́ thế, chẳng chứa chấp vợ con, tài sản. Chúng tại gia làm đệ tử, chú trọng tự lập, tùy duyên, tùy phần dạy dỗ người khác. Đối với chuyện ăn uống, nam nữ, do đạo đức và phép nước chẳng hạn chế [cho nên Phật pháp chẳng ngăn cấm], chỉ có điều chẳng được phép tà dâm. “Tà dâm” là dan díu với kẻ khác chẳng phải là vợ hay chồng!

5) Ông Tạ nói: “Thái độ phủ định giá trị của sanh mạng ấy, nói theo luân lư học, chính là sai lầm” (đây là phê b́nh). Tôi giải thích: Giới luật nhà Phật, đối với sanh mạng của động vật, chẳng cần biết là lớn hay nhỏ, đều nhất loạt thương cảm và yêu thương, che chở. Đối với sanh mạng của con người, sự yêu thương, che chở ấy càng cần ǵ phải bàn nữa? [Nhà Phật] lại c̣n có giới điều cấm ngặt tự sát. Tạ tiên sinh bảo “Phật giáo phủ định giá trị của sanh mạng” là đă rơi vào hiểu lầm, vu hăm. C̣n như bảo “nói theo luân lư” th́ chính là một cách nói sai lầm! V́ luân lư chính là nguyên lư đạo đức của nhân loại. Hễ nhắc tới từ ngữ này, hết sức chẳng đơn giản. Nay tôi trước hết bàn về đạo đức; sau đó, sẽ luận về nguyên lư đạo đức. Xét ra, chương sách Khúc Lễ có câu: “Thái thượng quư đức, kỳ thứ vụ thi báo” (Vào thời Tam Hoàng Ngũ Đế, quư trọng đức. Đời sau đó, bèn chú trọng “hễ được ban cho vật ǵ bèn báo đáp”). Trong lời chú sớ, [đă giảng rằng]: “Tam Hoàng hành đạo, Ngũ Đế hành đức, Tam Vương hành nhân, Ngũ Bá hành nghĩa, cẩu tương ky mỵ, thị chi vi lễ” (Tam Hoàng hành đạo, Ngũ Đế hành đức, Tam Vương hành nhân, Ngũ Bá[1] hành nghĩa, nếu dùng những điều ấy để ràng buộc th́ gọi là lễ). Thiên sách Trung Dung trong bộ Lễ Kư có câu: “Suất tánh chi vị đạo” (Tuân theo tánh th́ gọi là đạo), tức là nói “cội nguồn của đạo” được gọi là Tánh. Từ tánh cho tới lễ, theo thứ tự thấp dần mà chia thành sáu loại (tánh, đạo, đức, nhân, nghĩa, lễ). Nói theo chánh văn, đức thuộc về ba hạnh đứng đầu, dẫu ban bố mà chẳng cầu báo đáp. Đấy là giải thích nguyên lư đạo đức ở mức độ nông cạn. Phật vô duyên từ bi hỷ xả, không chỉ là chẳng tiếp nhận sự báo đáp, mà tâm c̣n chẳng chấp tướng. [Sở dĩ ông Tạ có lời lẽ bài xích Phật pháp] là do hiểu lầm luân lư, [chẳng biết rơ luân lư] như thế nào mới là chánh xác!

6) Trong một đoạn lớn sau đó, ông Tạ bảo “hành vi trên thực tế của Phật giáo cũng là mâu thuẫn” (đấy là phê b́nh). Tôi giải thích: Đoạn sau này vẫn thuộc về nghĩa lư trong đoạn trước, chẳng cần phải trả lời cặn kẽ! [Sở dĩ có] cái gọi là “mâu thuẫn” là do Tạ tiên sinh chưa hề nghiên cứu kinh Phật, [cho nên] có nhiều nỗi hiểu lầm. Do vậy, chê bai Phật học là mâu thuẫn. C̣n đối với hai chữ “tu hành”, nếu có thể liễu giải, sẽ chẳng thốt ra những lời lẽ trên đây! Nay tôi giải thích đại lược ḥng tháo gỡ mối nghi ấy. Nay tôi vẫn lấy luân lư làm căn cứ, tức là dùng sáu cấp bậc “tánh, đạo, đức, nhân, nghĩa, lễ” như đă nói trên đây: “Tu” chính là từ đức mà truy cầu hướng thượng, nhằm hiểu rơ bản thể của nó. “Hành” là từ đức hướng xuống dưới mà thúc đẩy, khiến cho đại chúng được lợi ích. Đối với những lời lẽ chê bai khác, hăy gộp chung với những lời giải thích trên đây để xem xét, sẽ có thể giải trừ được!

 

          * Hỏi: Con người giữ luân thường, chẳng thể vứt bỏ chữ Hiếu. Ḥa thượng xuất gia, chẳng ở nhà phụng dưỡng cha mẹ; đấy là chẳng đúng. Sách Luân Lư Học Đại Cương viết như thế này: “Tuy Phật giáo Ấn Độ Phật chủ trương từ bi, nhưng ḷng từ bi ấy chẳng phải là ḷng từ bi khẳng định giá trị của sanh mạng, mà là ḷng từ bi phủ định giá trị của sanh mạng! Giá trị của sanh mạng bị phủ định, tự nhiên là giá trị của gia đ́nh cũng bị phủ định, kéo theo đó, giá trị của xă hội cũng tất nhiên bị phủ định! V́ thế, nhân sinh Phật giáo lợi dụng sự trốn tránh xă hội, coi chuyện vào núi tu hành là mục tiêu. Dẫu Phật có chí cứu đời, nhưng cái chí ấy rốt cuộc lại khiến cho con người vượt thoát xă hội, chẳng khiến cho con người thành tựu xă hội. Nhưng nếu chẳng có xă hội tồn tại, ḥa thượng lại có thể tu hành như thế nào? Để khẳng định sự tồn tại trong xă hội, chúng ta lại ắt cần phải tiếp nhận luân lư về hiếu”. Tôi thấy lời này đúng lắm! (Trần Nhất Sĩ hỏi)

 

          Đáp: Tại hạ chưa từng đọc quyển Luân Lư Học Đại Cương của Tạ tiên sinh. Đại khái, các hạ cũng chẳng nghiên cứu kinh Phật; v́ thế, biểu lộ sự đồng t́nh sâu xa. Ông chẳng biết đoạn này cũng là sự phê phán do hiểu lầm, giống như [nội dung] bài biểu can vua đừng rước xương Phật của Hàn Xương Lê (Hàn Dũ), chỉ là [kẻ mù] sờ voi mà thôi! Nhưng ai có chí nấy, yêu ghét tự do, chớ nên thấy ngọc trai tưởng là ngọc bích, chỉ hươu bảo là ngựa. Do đó, tôi cũng tách [những điều cật vấn] ra để trả lời như sau:

 1) Ông Tạ nói: “Nhưng ḷng từ bi ấy chẳng phải là ḷng từ bi khẳng định giá trị của sanh mạng, mà là ḷng từ bi phủ định giá trị của sanh mạng” (đây là phê b́nh). Tôi giải thích: “Từ” () nghĩa là ban sự an lạc cho đối phương, “Bi” () nghĩa là dẹp khổ cho đối phương. Vật có sanh mạng th́ mới gọi là “đối phương”. Nếu chẳng có, sẽ là như hư không giới, hư không giới th́ có khổ hay lạc ǵ? Hướng về đó để ban bố ḷng Từ, thực hiện bằng cách nào đây? Thật sự khó thể giải thích được! Nếu xét theo ḷng từ bi đối với đối phương trong Phật lư, trong Lục Độ, điều đầu tiên được coi trọng là bố thí, tức là ba món tài, pháp, vô úy bố thí, há có loại nào thực hiện ngoài những vật có sanh mạng ư?

2) Ông Tạ nói: “Tự nhiên giá trị của gia đ́nh cũng bị phủ định. Kéo theo đó, giá trị của xă hội cũng tất nhiên bị phủ định” (đây là lời phê b́nh). Tôi giải đáp: Đối với mối nghi về gia đ́nh, trong phần thứ tư của lời đáp thứ nhất, tôi đă giải thích rơ ràng, chẳng cần phải rườm lời nữa. C̣n như nói xă hội tất nhiên cũng bị liệt vào loại phủ định, “tất nhiên cũng bị” là từ ngữ biểu thị sự nghi ngờ, giống như từ ngữ “há cần có”. Trong các kinh thuộc Đại Tạng, đều có những kinh chuyên dạy về sự bảo vệ quốc gia, giữ ǵn trật tự trong gia đ́nh, danh mục chẳng phải chỉ là một quyển. Sự thật đều có, chẳng cần biện bác cho nhiều! Bởi lẽ, đức Phật thuyết pháp, trước hết là xem xét đối phương: Gặp cha bèn nói về ḷng Từ, gặp con nói về ḷng hiếu, cho nên có Ngũ Thừa sai khác, tức là nhân, thiên, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát. Những lời lẽ nói về gia đ́nh, quốc gia v.v… đều được ghi chép trong những kinh điển dạy về nhân thừa. Chẳng t́m trong loại ấy, có khác nào đến tiệm bán vải để mua dầu, muối!

3) Ông Tạ nói: “Do vậy, nhân sinh trong Phật giáo là lợi dụng sự trốn tránh xă hội, lấy chuyện vào núi tu hành làm mục tiêu” (đấy vừa là sự thật, vừa là hiểu lầm). Tôi giải thích: Căn khí của con người vàn muôn sai khác! Có người chuộng tĩnh, có kẻ ưa động, và lợi ḿnh, lợi người khác biệt. Dùng chuyện “tánh là thiện, do huân tập mà khác xa nhau” để luận, [con người ai nấy] đều có cái tâm riêng tư “tổn người, lợi ḿnh”. Đức Phật chỉ v́ sửa đổi thói ác ấy, bèn thuận theo tánh ưa động hay tĩnh của con người mà nói hai thừa là Đại Thừa và Tiểu Thừa. Cũng có kinh dành cho người trốn lánh trong núi sâu, tức là Tiểu Thừa. [Giáo pháp dành cho] người ở trong triều đ́nh hoặc nơi thị tứ chính là Đại Thừa. Những trường hợp được mọi người biết đến như thay kẻ khác nhảy vào hầm lửa, thay người khác vào địa ngục, đều được chép trong kinh điển Đại Thừa. Những bậc hiền tướng các đời như Vương Đạo, Tạ An đời Tấn, Pḥng Huyền Linh, Đỗ Như Hối đời Đường, Phạm Trọng Yêm, Tư Mă Quang, Lữ Mông Chánh đời Tống, Thoát Thoát đời Nguyên v.v… Các bậc danh tướng như Quách Tử Nghi, Mạnh Củng, Thích Kế Quang v.v… đều tin Phật sâu xa, là những bậc đại nho ở kinh đô, càng khó thể kể trọn. Há có chuyện trốn tránh xă hội ư?

4) Ông Tạ nói: “Nhưng chí cứu đời ấy khiến cho người ta vượt thoát xă hội, chẳng khiến cho con người thành tựu xă hội” (đây là phê b́nh). Tôi giải đáp: Các tôn giáo đều dự bị chỗ quy túc tối hậu. “Tối hậu” chính là thần hồn sau khi chết [sẽ đi về đâu]. Trong lời giải đáp cho câu hỏi trước, tôi đă có giải thích. Phật giáo nói “siêu” tức là nói theo kiểu thế tục “từ tam đồ siêu thăng làm người, hoặc từ người siêu thăng lên trời”. Nói với người học Phật, sẽ là “chuyển thức thành trí”. Đều chẳng phải là nói nhục thân hiện tại ẩn lánh trong chốn núi rừng là “siêu”! Đàn Kinh dạy: “Phật pháp trong thế gian, chẳng ĺa thế gian giác”, tức là tu cái nhân ở ngay trong xă hội, thần thức chuyển đổi siêu xuất, trở thành quả. Chớ nên hiểu lầm, đảo ngược cái quả thành nhân! Nếu nói tới chuyện thành tựu xă hội, “thành tựu” chính là khiến cho [xă hội] có trật tự, lớp lang, lại c̣n an lạc. Nước ta là một xă hội theo kiểu nhân luân: Con người tụ tập thành gia đ́nh, gia đ́nh tụ hợp thành đất nước, thành xă hội, ắt phải tu thân, tề gia. Gia đă tề, nước bèn b́nh trị. Kinh Phật dùng giới để tu thân. Cách tổ chức trong tùng lâm (giống như trong một gia tộc) đă được bậc đại nho (tôi quên mất tên) ca ngợi là “lễ nhạc chi tồn, thân tu hỹ, gia tề hỹ” (lễ và nhạc được duy tŕ, thân đă tu, nhà đă yên). Khổng Tử nói: “Duy hiếu hữu vu huynh đệ, hề kỳ vị vi chánh” (Chỉ có hiếu thảo và ḥa thuận cùng với anh em, đấy chính là thực hiện sự cai trị chánh đáng vậy), nhưng [ông Tạ] lại ngược ngạo chê trách là “chẳng thành tựu xă hội”, đúng là chưa suy nghĩ [chín chắn] vậy!

5) Ông Tạ nói: “Nhưng để khẳng định sự tồn tại của xă hội, chúng ta phải tiếp nhận luân lư về chữ Hiếu” (đấy là phê b́nh). Tôi giải thích: Tạ tiên sinh khẳng định hiếu và xă hội liên quan mật thiết, chẳng thể tách rời. Hễ chẳng thành tựu xă hội, sẽ là bất hiếu. Đối với chuyện xă hội, trong mục thứ tư [trên đây], tôi đă giải thích rơ ràng, chẳng cần rườm lời nữa! Hiếu Kinh của Nho gia, trong phần Khai Tông nhằm giảng rơ ư nghĩa, đă nói: “Thân thể phát phu, thọ chi phụ mẫu, bất cảm hủy thương, hiếu chi thỉ dă. Lập thân hành đạo, dương danh ư hậu thế, dĩ hiển phụ mẫu, hiếu chi chung dă” (Da, tóc nơi thân thể được nhận lănh từ cha mẹ, chẳng dám tổn hại, đó là khởi đầu của ḷng hiếu. Lập thân hành đạo, nêu danh cho đời sau, khiến cho cha mẹ nở mày nở mặt, đó là chung cục của ḷng hiếu). Đức Phật dạy bảo muôn đời, là thầy của trời và người, độ chúng sanh vô lượng, được toàn thể cơi đời tôn kính, ngưỡng mộ. Phàm những ai thờ Phật, đều biết tên họ cha mẹ đức Phật, đó là rạng danh cha mẹ, há có ai hơn được ư? Lại nữa, hành đạo hiếu, có thiên tử, chư hầu, các quan khanh đại phu, nho sĩ, thứ dân v.v… khác nhau, mỗi người đều có ḷng hiếu, có đạo riêng, hoặc nói, hoặc bàn đều chẳng đơn giản.

Nói thêm: Trong lời hỏi của Ngài có đến mấy điều, đều là viện dẫn từ sách Luân Lư Học Đại Cương của Tạ tiên sinh, lời lẽ quá rườm rà, nhưng ư nghĩa chỉ là như thế, cho nên tôi chỉ đáp hai câu hỏi, cũng có thể suy ra [lời giải đáp] cho những câu khác. Do “đất” dành cho cột báo này hữu hạn, chẳng có cách nào đăng tải trọn hết. Hơn nữa, đối với chuyện thuộc về tôn giáo, tin hay không, tự do! Chẳng hiểu nội dung tức là thuộc về mê, báng bổ cũng chẳng phải là trí. Huống hồ tại hạ tánh t́nh chậm chạp, há chịu tranh luận với người khác? Những điều này nhằm trả lời những câu hỏi của Ngài, chẳng phải là vô duyên vô cớ hướng về người khác sanh sự!

 

* Hỏi: Hiện thời, tôi là một tín đồ Cơ Đốc giáo. Do thường thấy trong các loại tạp chí hoặc nguyệt san của Phật giáo và Cơ Đốc [có đăng tải những bài viết] công kích lẫn nhau. Điều đáng tiếc nuối nhất là mấy vị pháp sư và cư sĩ Phật giáo hung tợn chửi bới Cơ Đốc giáo tin vào Chúa, cũng như nhục mạ Kinh Thánh, khiến cho tôi nghiên cứu đạo lư Phật giáo. Theo sự nghiên cứu của chính tôi, Phật giáo đích xác là cao thượng, sâu xa. Thoạt đầu, tôi cứ ngỡ Phật giáo là tôn giáo chí thượng cao sâu nhất trong cơi đời, Cơ Đốc giáo bất quá thuộc địa vị thứ hai mà thôi! Nhưng kinh Phật số lượng quá nhiều, nội dung toàn nói những chuyện kỳ quặc, mâu thuẫn chồng chất, khiến cho tôi chẳng có cách nào tin Phật được! (Trần Chí Đồng hỏi)

 

          Đáp: Phật giáo hung tợn chửi bới Cơ Đốc giáo ư? Xét theo lẽ “đạo này chẳng báng bổ đạo kia”, xét theo nghĩa “các tôn giáo có t́nh hữu nghị liên kết”, thảy đều chẳng nên làm, nhưng xin ông hăy chỉ ra bằng chứng. Nếu xét đến nguyên nhân, cứ như tại hạ được biết, toàn là quư giáo mở màn chửi bới trước tiên, Phật giáo vặn hỏi ngược lại. Như tại Đài Loan, vào mười mấy năm trước, quư giáo tung ra các loại h́nh vẽ, hoặc truyền đơn vẽ ḥa thượng niệm kinh và Khổng, Lăo v.v… đều chẳng thể cứu người đọa lạc, chỉ có thập tự giá mới có thể siêu thoát! Lại tổ chức những đội quân nhạc, thổi kèn đánh trống ầm ĩ, tấn công vào các chùa Phật trong vùng B́nh Đông để truyền giáo. Đấy là khởi điểm của chuyện gây hấn tại Đài Loan. Nhưng sau khi chuyện ấy qua đi, đôi bên đều an ổn, vô sự. Sau mười năm, các hạ đột ngột viết thư gởi tới, nhục mạ kinh Phật có nội dung toàn nói chuyện quái đản, kỳ dị, mâu thuẫn trăm đường! Nếu tôi mời ông chỉ ra để cùng nhau biện luận, chắc là ông sẽ lại đổ hô tôi khinh miệt quư giáo! Các ông lại c̣n in tập sách nhỏ có tựa đề là Tăng Lữ Tín Chúa Kư (kư sự về những nhà sư tin Chúa), hùng hổ chửi bới. Nếu Phật tử sưu tầm tài liệu, cũng viết thành sách Gia Đồ Quy Phật Kư (kư sự về tín đồ đạo Gia Tô quy y Phật), há chẳng phải là lại công kích lẫn nhau ư? Xét chuyện trước, nghiệm chuyện nay, sẽ biết là tín đồ Phật giáo sanh sự, hay là quư giáo sanh sự vậy? Mong hăy tự xét!

 

* Hỏi: Rốt cuộc Phật giáo là hữu thần luận hay vô thần luận? (Trần Chí Đồng hỏi)

 

Đáp: Sách vở Phật giáo thật nhiều, nhưng chẳng có cái được gọi là “luận thuyết”. Xem xét thấu hiểu chúng sanh, quy nạp thành sáu loại, quỷ là một loại trong ấy. Xét ra, chữ Quỷ có nghĩa là “linh” vậy. Có chức vụ th́ gọi là Thần, c̣n thông thường gọi là Quỷ. [Phật giáo] thừa nhận trên cơi trời có quỷ thần, dưới đất cũng có quỷ thần, chẳng nói là không có!

 

* Hỏi: Thế giới này đẹp đẽ ngần ấy, Phật giáo thấy nó chẳng thanh tịnh! (Trần Chí Đồng hỏi)

 

Đáp: Trong câu thứ nhất, do so sánh với điều ǵ mà nói là “đẹp đẽ”? Nếu chẳng so sánh th́ chữ Mỹ (đẹp đẽ) chẳng có cơ sở! Câu thứ hai là chửi bới Phật giáo, tại hạ chẳng tranh biện với ông!

 

* Hỏi: V́ sao mỗi bộ kinh Phật chẳng có danh tánh của tác giả và niên đại [trước tác]? Có thể khẳng định là đáng tin cậy hay chăng? (Trần Chí Đồng hỏi)

 

Đáp: Mở đầu mỗi bộ kinh, đều có sáu thứ chứng minh. Chắc là các hạ chẳng nghiên cứu văn học cho lắm, cho nên xem mà chẳng hiểu! Câu cuối cùng “có thể khẳng định là đáng tin cậy hay không” chính là lời lẽ gièm chê, tôi cũng chẳng biện luận với các hạ!

 

* Hỏi: Sơ khởi, Phật giáo cũng chẳng cho phép thờ ngẫu tượng, nhưng Phật giáo hiện thời lại lạy lục ngẫu tượng! (Trần Chí Đồng hỏi)

 

Đáp: Quư giáo có lạy ngẫu tượng hay không? Trong ḷng tại hạ có câu nói ấy, nhưng miệng chẳng muốn nói ra! Đối với việc lạy ngẫu tượng, Phật giáo vừa lạy, mà cũng chẳng lạy, trọn chẳng nhất định! C̣n như câu “sơ khởi, chẳng cho phép lạy”, tại hạ đọc kinh quá ít, vẫn chưa từng phát hiện câu ấy.

 

* Hỏi: Phật giáo thấy chúng sanh là b́nh đẳng, nhân loại hăy nên thương xót sanh mạng của động vật, phải nên bảo vệ, chớ nên tàn hại chúng. Nhưng Phật giáo tuy thương tiếc sanh mạng động vật, đối với đồng loại “vạn vật chi linh” lại thường giở tṛ nhục mạ, tranh đấu! (Trần Chí Đồng hỏi)

 

Đáp: Lời lẽ này của các hạ đích thị là Phật lư, chẳng sai! “Phật thấy chúng sanh b́nh đẳng”. Ông lại nói “Phật giáo thương tiếc động vật, đối với đồng loại ‘vạn vật chi linh’ lại thường giở tṛ nhục mạ, tranh đấu”. Câu “đồng loại vạn vật chi linh” chẳng biết nói về điều ǵ, hay là nói tới người thuộc về quư giáo? Trong phần trước, tôi cũng đă nói rồi: Nếu có ǵ chửi bới, đều là những lời vặn hỏi ngược lại, hoàn toàn chẳng phải là [Phật giáo] chủ động [gây hấn], [công kích, miệt thị người khác], [những thói công kích, vu cáo, miệt thị tôn giáo khác] lại chẳng phải là nghĩa lư được chấp thuận trong Phật giáo.

 

* Hỏi: Chỗ quy túc của Phật giáo là Niết Bàn. Một, sau khi đă tiến nhập Niết Bàn, rốt cuộc có c̣n tồn tại cái Ta hay không? Hai, phàm những ai tin Phật đều có thể nắm chắc sẽ tiến nhập Niết Bàn hay không? Ba, nghe nói để tiến nhập Niết Bàn, chỉ có Tăng-già, nương theo pháp tu hành sẽ tự đạt được an lạc, chẳng biết phải đạt tới tŕnh độ nào? (Trần Chí Đồng hỏi)

 

          Đáp: Vạn sự thành tựu đều do công phu. Nếu bảo chẳng tu tŕ mà lại đạt được kết quả, đó chính là lời lẽ dối trá, chẳng phù hợp lư luận. Niết Bàn là “thường, lạc, ngă, tịnh”, “bất sanh, bất diệt”, “trí cùng tột vũ trụ”, “Dụng bao trùm hư không”. Để tiến nhập Niết Bàn, chẳng phân biệt là tăng hay tục! Niết Bàn chia thành bốn loại[2], đoạn Hoặc chia thành ba loại[3]. Đoạn Hoặc là tu nhân, Niết Bàn là chứng quả. Nhân có sâu hay cạn, quả có cao hay thấp!

 

* Hỏi: Nghe nói luật nhân quả của Phật giáo thoát thai từ Bà-la-môn giáo, có thật hay không? Phật giáo nói “nhân quả ba đời”, có đáng tin hay chăng? Những cái nhân do mỗi người trong cơi đời đă từng gieo trong đời trước có chứng cớ ǵ để chứng thực nó tồn tại? (Trần Chí Đồng hỏi)

 

Đáp: Nhân là khởi nguyên của sự lư, quả là kết thúc của sự lư. Chẳng phải do bất cứ ai tạo ra, mà do tự nhiên thúc đẩy, càng chẳng thuộc về bất cứ giáo nào! Muôn sự, muôn lư đều có khởi nguyên, có ǵ là lạ lùng đáng để nghi vấn?

 

* Hỏi: Vô Ngă trong giáo nghĩa căn bản của Phật giáo có phải là đă chứng thực “nhân loại có linh hồn” hay không? (Trần Chí Đồng hỏi)

 

          Đáp: Các hạ đă tự nói chính ḿnh đă xem khá nhiều sách Phật, há chẳng thể hiểu giáo nghĩa Vô Ngă? Nói tới “linh hồn” th́ Phật giáo gọi nó là “thần thức”, chỉ là danh từ khác biệt mà thôi!

 

          * Hỏi: Niệm kinh, bái sám, lấy ǵ để chứng thực vong hồn có thể siêu độ? Trong cái nh́n thô vụng của tôi: V́ cái nhân do con người đă gieo khi c̣n sống (tức nghiệp lực), sau khi đă chết bèn mang theo, [siêu độ] làm sao có thể có hiệu quả cho được? Há chẳng phải là Phật giáo phá hoại luật nhân quả ư? (Trần Chí Đồng hỏi)

 

          Đáp: Đoạn nghị luận này rất chánh xác! Phật giáo niệm kinh độ vong, có kẻ được lợi ích, có kẻ chẳng đạt được lợi ích. Nay luận định đại lược theo phía người đạt được lợi ích, người tụng kinh ắt phải cảm vời vong hồn, khiến cho [vong linh ấy] tâm khai, nghiệp diệt, th́ mới có thể giải thoát. Nhưng để cảm vời và tâm khai, ắt phải có đủ mọi điều kiện, chẳng phải là bằng mấy lời bèn có thể [tŕnh bày] trọn hết được!

 

          * Hỏi: Phật giáo có tin là nhân loại có tội hay không? Nếu là có, [vậy th́] làm lành, tích lũy công đức như thế nào? Làm lành há chẳng phải là bổn phận hăy nên làm của con người đó ư? (Trần Chí Đồng hỏi)

 

          Đáp: Kinh Phật nói Nam Diêm Phù Đề chúng sanh, cử chỉ động niệm, vô bất thị nghiệp, vô bất thị tội” (Chúng sanh trong Nam Diêm Phù Đề, cử chỉ, dấy lên ư niệm, không ǵ chẳng phải là nghiệp, không ǵ chẳng phải là tội). Đấy là sự thật, hăy suy xét sẽ tự biết. Làm lành là bổn phận của con người, hăy nên ra sức làm, có ai bảo là chẳng đúng!

         

Ghi thêm: Tôi viết mấy câu hỏi, hoàn toàn chẳng phải là coi thường Phật giáo, mà chính là tôn trọng, bội phục. Bất quá tôi chẳng thờ phụng nhiều thần, chỉ thờ phụng một vị thần hoàn toàn sống động, là đấng chúa tể sáng tạo và cai quản toàn bộ vạn vật trong vũ trụ (Thượng Đế).

 

          Trả lời câu ghi thêm: Câu “chẳng thờ phụng nhiều thần” dường như nghi ngờ Phật giáo là đa thần giáo. Thật ra, Phật giáo tuy thừa nhận có thần, do ư nghĩa b́nh đẳng, bèn nhất loạt cung kính, hoàn toàn chẳng sùng phụng. Tôi kính cẩn nhận lấy ba quyển sách do ông đă tặng là “Thánh Kinh có phải là do Chúa mặc khải hay không?”, “Jesus có phải là con của Chúa hay không?” và “Rốt cuộc có Chúa hay không?”, cám ơn!

 

          * Hỏi: Lời giải đáp dành cho ba câu hỏi của bỉ nhân trong mục Phật Học Vấn Đáp lại khiến cho tôi thất vọng, tiền bối luôn luôn chẳng chịu nói lời thật, cứ bảo văn bối tự tra cứu kinh Phật. Như vậy th́ cũng tốt, khiến cho văn bối do vậy mà có cảm hứng, vào Chủ Nhật tuần trước, đă viết bài kư trần thuật cảm hứng gần hai ngàn chữ. Khéo sao lại nhận được hai cuốn sách của Cơ Đốc Giáo, trong ấy có cuốn “Chúng ta v́ hiểu rơ Phúc Âm”, trong ấy có những lời liên quan đến những chuyện văn bối đă đề cập và phản ứng. Do vậy, hôm nay lại viết riêng thư này dâng lên cụ. (Trần Chí Đồng hỏi)

 

          Đáp: T́nh nghĩa của ngài đối với tại hạ có thể nói là “cao thấu tầng mây”, chẳng tiếc thời gian, gởi bức thư dài đến mấy ngàn chữ! Lại tặng sách mấy lượt, khắc ghi, cảm kích muôn phần! Tại hạ cùng Ngài vấn đáp không phải chỉ một lần. Thoạt đầu, tôi nghĩ ngài là người không theo tôn giáo; v́ thế, mỗi lần trả lời, đều nêu lên những điều tốt lành trong Phật giáo, những mong khuyên ngài tiến nhập Phật môn. Kế đó, Ngài thường dùng những ngôn luận trong đạo Gia Tô để vặn hỏi, lại nhận ra ngài vẫn đang quẩn quanh nơi ngơ rẽ, cho nên vẫn dựa theo lư để đáp, mong ngài sẽ tự chọn lựa. Về sau, biết Ngài là một tín đồ đạo Gia Tô thuần túy, cho nên dẫu có hỏi cũng chẳng đáp. Kể từ khi có sách Phật tồn tại, mặc cho người ta nghiên cứu, khen chê tùy tiện. Tại hạ là người chấp bút cho mục Phật Học Vấn Đáp nhằm làm thềm bậc [tiến nhập] cho hàng sơ cơ học Phật, chẳng nhằm tranh luận đúng sai với các giáo khác! Hơn nữa, Phật lư viên măn, có thứ lớp đối ứng từng căn cơ, ắt phải tốn thời gian [học tập, tu luyện] lâu dài th́ mới có thể triệt ngộ. Như trong sách V́ Hiểu Phúc Âm đă phê b́nh Khổ trong Tứ Đế, đúng là chẳng biết niềm vui tịch diệt! Gộp chung bốn chữ [của Tứ Đế mà ông cũng như tác giả sách ấy] c̣n chưa thấy rơ ràng, huống hồ Tứ Đế nếu phân loại theo tŕnh độ của người học, sẽ có Sanh Diệt, Vô Sanh, Vô Lượng và Vô Tác, há dễ nói ư?

 

          * Hỏi: Đối với cuốn sách Chúng Ta V́ Hiểu Phúc Âm, xin tiền bối đợi mấy ngày nữa, tôi sẽ gởi cho Ngài tham khảo, sẽ biết giáo nào đặt bút công kích tôn giáo khác trước! (Trần Chí Đồng hỏi)

 

Đáp: Đối với chuyện Phật giáo và Gia Tô giáo công kích lẫn nhau, rốt cuộc là ai khởi xướng trước tiên? Giáp nói Ất đầu têu, Ất bảo Giáp mở màn. Đúng là giống như tranh luận “gà có trước” hay “trứng có trước!” Chuyện đă qua cho qua luôn, Khổng Tử cũng nói: “Kư văng bất cữu” (Đă qua th́ chẳng có lỗi nữa). Tại hạ hoàn toàn chẳng viết văn, soạn sách bài bác Tân Cựu Ước, chửi bới Gia Tô. Ngài gởi thư, tặng sách, lại lầm lạc ăn nói sai lầm, hủy báng Phật giáo, hiện tại là như vậy đó, há cần phải nói chuyện xa xưa ư?

 

          * Hỏi: V́ sao văn bối phải nghiên cứu Phật giáo? Nguyên nhân là như thế này: Tam giáo Phật, Nho, Đạo lẫn lộn, khiến cho tôi chẳng biết rơ phải tin theo giáo nào th́ mới được coi là tín đồ Phật giáo! Thoạt đầu, văn bối tham dự nghe giảng đạo lư của Cơ Đốc giáo chẳng phải là v́ thành tâm mà tới [nghe], chỉ mong mỏi kiếm được một món tiền, học một chút tiếng Anh là được rồi. Nào ngờ thất bại, v́ lúc đó tôi là một kẻ mù chữ (chỉ biết hai trăm mấy chục chữ Hán), làm sao có thể học Anh văn để kiếm tiền cho được? Sau đấy, chẳng biết cớ sao chính ḿnh chẳng tin vào Gia Tô (Jesus) lại khuyên người khác tin theo tôn giáo của Âu Tây. Thuở đó, gặp phải t́nh cảnh bị người khác chê cười, lúc ấy, v́ thể diện, tôi rất cố chấp, mặt dày, không ngừng tranh luận cùng họ. Sau đấy, gặp phải tín đồ Phật giáo có chút kiến thức về Kinh Thánh giúp sức cho họ, do [chính ḿnh đối với] chân lư của Cơ Đốc giáo chỉ nghe ba bốn lượt, chẳng chống lại họ được; nhưng khi họ chẳng có cách nào trả lời những đạo lư do tôi hỏi, bèn có thái độ hết sức bất hảo, dùng những lời lẽ châm chọc, mắng nhiếc, cậy vào miệng lưỡi ḥng bịt tai trộm chuông vậy! Tôi vốn chẳng mong nghiên cứu Phật giáo, nhưng v́ thường gặp mấy tín đồ Phật giáo từ vùng khác dùng thái độ khoét mắt lột da để châm chích, nhiếc mắng người khác. Do vậy, một mặt v́ mong biết ḿnh, biết người, một mặt nhằm ứng phó chuyện công kích dữ dằn của những Phật giáo đồ thường gặp (tôi hoàn toàn chẳng nói mỗi vị tín đồ Phật giáo đều chửi bới người khác như vậy). Những câu tiền bối khuyên bảo văn bối như “đă tin theo Cơ Đốc giáo, cần ǵ phải hỏi tới Phật giáo”… là do căn cứ trên phản ứng của tôi như vậy. Có thể là kinh Phật “nghe lỏm nói ṃ, ngụy kinh phần nhiều là sai”. Đă thế, Phật giáo ghi chép lịch sử, có những người chẳng phải là nhân vật lịch sử, chưa từng sống trên đời! (Trần Chí Đồng hỏi)

 

          Đáp: [Ông viết] “kinh Phật là nghe lỏm, nói ṃ, lịch sử được ghi chép trong kinh Phật toàn là những nhân vật phi lịch sử”, những ǵ là nghe lỏm? Những ǵ là nói ṃ? Ai ghi chép lịch sử? Ai chẳng phải là nhân vật trong lịch sử? Ngài đă sớm có thành kiến; do vậy, tại hạ chỉ đành thỉnh ông hăy tự t́m đọc lấy. Khổng Tử nói: “Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri” (Biết th́ nói là biết, không biết cứ nói là không biết). Hăy nhắc lại lời ấy ba lượt!

 

          * Hỏi: Thoạt đầu, tôi cho rằng Ngài trả lời những câu hỏi do tôi đă nêu ra, chắc là v́ mong hướng dẫn tôi từ cái tâm [ngưỡng mộ] Phật giáo, sẽ nương cậy, tin tưởng Phật giáo. Nếu không, pháp sư Minh Bổn đă không giới thiệu Ngài với tôi. Nào ngờ khiến cho tôi vốn là một tín đồ Cơ Đốc giáo hữu danh vô thực, hiểu được phần nào chân tướng của hai giáo Cơ Đốc và Phật giáo (tôi vốn muốn cảnh tỉnh tiền bối mấy câu, nhưng đúng như Ngài đă nói: “Nếu tại hạ nói ra, lại sợ sẽ dẫn khởi đầu mối tranh luận. Hăy dung thứ cho tôi chẳng bàn tới”) (Trần Chí Đồng hỏi)

 

          Đáp: Tại hạ biết Ngài là tín đồ đạo Gia Tô, bèn chẳng thể vô sự mà sanh sự, cứ g̣ ép khuyên lơn, cưỡng lôi kéo được! C̣n như Ngài nói là “tín đồ Cơ Đốc giáo hữu danh vô thực, tạm hiểu đại lược chân tướng của hai giáo Cơ Đốc và Phật giáo”. Rơ ràng là tin sâu xa Cơ Đốc giáo, cứ khăng khăng nói là “hữu danh vô thực”, đấy chính là lời lẽ dối người! Nếu ông nói chính ḿnh đă hiểu rơ chân diện mục nơi tôn giáo của chính ḿnh, tôi chẳng dám nói là không. Nhưng nếu bảo “đă hiểu rơ chân tướng của Phật giáo”, chưa khỏi đă nói sai mất rồi! Thật ra, đối với ngài mà nói, Phật giáo có công phu trong và ngoài. Tạm thời, chẳng bàn tới công phu bên trong, đối với công phu bên ngoài th́ Tam Tạng mênh mông như biển khói, Tứ Quả La Hán trọn đủ thần thông vẫn chưa thể hiểu biết [trọn vẹn]. Nếu bọn chúng ta hiểu rơ “chân tướng”, sợ rằng phải đợi tới năm con lừa!

 

* Hỏi: Như tôi đă từng hướng về Ngài thỉnh giáo “Phật giáo rốt cuộc là hữu thần luận hay vô thần luận”, có khi bảo chẳng có thần, cũng có lúc nói “chẳng coi trọng quỷ thần”, nhưng Ngài đă nói là “có thần” (tức là nói về quỷ thần. Nếu tôi đem đoạn văn trả lời của Ngài cho các vị pháp sư và cư sĩ có chủ trương bất đồng phân tích, phê b́nh, chỉ sợ Ngài chẳng đẹp ư) (Trần Chí Đồng hỏi)

 

          Đáp: Cá nhân ăn nói th́ cá nhân phải chịu trách nhiệm! Ngôn ngữ, danh tự, chỉ là phù hiệu, có lẽ nguyên tắc là một, nhưng cách nói khác nhau. Như người Đài Nam hỏi người Đài Trung ở phương nào, người hiểu biết sẽ nói: “Ở phương Bắc”. Người Đài Bắc hỏi Đài Trung ở chỗ nào, người hiểu biết sẽ nói: “Ở phương Nam”. Tại Trung Hoa, lúc chánh ngọ là ban ngày, tại nước Mỹ là nửa đêm. Những lời nói trên đây đều chẳng sai! So sánh, phê b́nh, há có chuyện chẳng thỏa ư!

 

* Hỏi: Thưa Ngài, về sau này, tôi chẳng c̣n quấy nhiễu làm phiền nữa. Hễ có chỗ nào nghi hoặc đối với Phật giáo, bèn thỉnh giáo để trừ nghi. Tôi đă dùng các sách như Nghiên Cứu Phật Học, Cung Thiên Dân Văn Tập của mục sư Cung Thiên Dân[4] để làm tài liệu tham khảo. (Trần Chí Đồng hỏi)

 

Đáp: Chẳng phải là tại hạ sợ phiền phức, mà là sợ “thị phi”. Có người học Phật do nghi ngờ bèn chất vấn, bèn trả lời theo những ǵ ḿnh đă biết. Nếu giải đáp chẳng cặn kẽ, c̣n có thể gặp mặt tṛ chuyện. Nếu do tôn giáo khác nhau, vô duyên cớ t́m cách gây hấn, tôi sẽ chiếu theo thông lệ chẳng quan tâm tới. Tôi đoán ṃ: Ngài nhiều lần đối xử nồng hậu với tôi, chắc là có ư muốn khuyên tại hạ bỏ Phật theo đạo Gia Tô. Dẫu chưa nhận lễ, t́nh chẳng thể mất được! Có một lời kính khuyên: Nghiên cứu học hỏi th́ phải chân thật, mới khỏi vướng lắm mỗi chê cười. Tin và chẳng tin lại là một vấn đề khác. Cung mục sư (ông Cung Thiên Dân) đă chẳng phải là tín đồ Phật giáo, làm sao có thể nhận thức Phật học? Sách do ông ta viết chẳng cần biết là tán thán hay hủy báng, chắc chắn là có nhiều chỗ chẳng đúng! Nếu là tín đồ Phật giáo mà chẳng có Giới, Định, Huệ, hễ mở miệng ra th́ cũng đều là sai lầm, huống hồ những kẻ ở ngoài giáo ư? Hiểu lầm ư nghĩa trong lời văn, giống như đọc suông văn tự, chuốc lấy lắm nỗi cười chê, tự bộc lộ sự hèn kém [của chính ḿnh].

 

          * Hỏi: Khi trả lời những câu hỏi của tôi, ông thường có những lời lẽ như thế này: “Trong tâm tại hạ có những lời mà miệng chẳng muốn nói”, “nếu tại hạ nói ra, sợ rằng sẽ dấy lên đầu mối tranh chấp”. Tôi đă gởi cho ông sách “Chúng ta v́ hiểu rơ Phúc Âm”, [sách ấy] đă nói thay cho ông rồi. Đấy chẳng phải là tôi đă sớm liệu định giùm ông đó ư? (Trần Chí Đồng hỏi)

 

          Đáp: Ngài đă có thể dự liệu sự việc từ sớm, đúng là thông minh hơn người! Nếu bàn luận kinh Phật, mà dùng triết học, khoa học, hoặc tôn giáo [để lập luận] th́ mỗi lănh vực có lập trường khá riêng biệt, chẳng phải là dùng những lời lẽ lầm lạc, hoặc cách hiểu biết cong quẹo mà ḥng phá hoại được. Những lời lẽ cay nghiệt, lan man, thừa thăi trong sách V́ Hiểu Rơ Phúc Âm đầy ắp phẫn hận, ganh ghét, làm sao có thể [phát biểu] thay cho tại hạ được? Tại hạ chẳng dám chửi người khác, mà cũng chẳng thể chửi người khác được!

 

          * Hỏi: Xét theo một phương diện, có thể thấy là ông đă có nghiên cứu và nhận thức kha khá đối với Kinh Thánh. Xin ông hăy trả lời ba câu sau đây:

1)    Ông có biết v́ sao ông có thể sống trên cơi đời hay không?

2)    Giải thích hai chữ Cơ Đốc (Christ) như thế nào?

3)    Hai chữ Gia Tô (Jesus) có nghĩa là ǵ?

Tốt xấu ǵ th́ tôi cũng dùng những điều đó để tham khảo ḥng biết kiến thức có giống nhau hay không? (Trần Chí Đồng hỏi)

 

Đáp: Tôi chỉ biết sơ sài, hoàn toàn chẳng nghiên cứu kha khá. Đối với câu trả lời cho ba câu hỏi ấy, tại hạ ngu xuẩn, sao dám đấu trí cùng Ngài! Ắt là bất đắc dĩ, chỉ đành nói: “Như thế, như thế, vẫn là như thế”, “không biết, không biết, vẫn là không biết”!

Nói thêm: Thư gởi đến quá dài, chỉ có thể chọn ra những điều chánh yếu để trả lời.

 

* Hỏi: Trong vũ trụ này, nếu chẳng có một vị chân thần quản lư, tôi nghĩ nhân loại sẽ chẳng có cách nào sống thêm một phút nào cả! (Trần Chí Đồng hỏi)

 

Đáp: Chẳng phải là tôi không tin “vũ trụ có thần quản lư”, nhưng thần chẳng phải là một vị! Ngay như lấy vị trời cao nhất để luận, chưa chắc [vị trời cao nhất] đă là Đức Chúa Cha Gia Tô như các hạ tín ngưỡng! Trong kinh truyện của thánh hiền Trung Hoa, phần lớn đă được trước tác từ hơn hai ngàn năm trước, nội dung hoàn toàn chẳng có chữ Gia Tô! Nếu chẳng tin tưởng, xin cứ tra cứu trong mười ba bộ kinh và hai mươi bốn bộ sử của Nho gia, sẽ biết [nhận định ấy] chẳng hư dối! Nếu xét theo kinh Phật, Thiên Đế nhiều như cát sông Hằng, cũng không thấy nhắc đến Gia Tô. Chỉ có Đại Tự Tại Thiên (Maheśvara)[5] tự xưng là có thể sáng tạo muôn vật, nhưng ông ta vẫn là phàm phu, chẳng thể liễu sanh tử! Căn cứ theo những điều vừa nêu, tại hạ hoàn toàn chẳng thuộc kẻ phản đối những thuyết về trời và thần, nhưng Thiên Đế đă nhiều dường ấy, các tinh cầu trong hệ Ngân Hà lại chẳng thể tính đếm, Thiên Đế của địa cầu rốt cuộc là ai, vẫn chưa có căn cứ xác đáng! Quyết chẳng thể do lập luận riêng tư của một nhà mà gạt bỏ kinh điển của đa số chẳng thèm hỏi tới! Đối với vấn đề sống sót, thánh nhân bảo: “Thiên tác nghiệt, do khả vi. Tự tác nghiệt, bất khả hoán” (Trời gây ra sự ác nghiệt, c̣n có thể chống đỡ, chứ tự ḿnh gây ra điều ác nghiệt, chẳng thể trốn tránh được). Tại hạ tin tưởng sâu xa lời ấy!

 

* Hỏi: Nói tới công phu bên trong và bản lănh, họ đều chẳng trốn được. “Xét theo định mạng, ai nấy đều phải chết. Sau khi đă chết, sẽ bị phán xét” (tiết hai mươi bảy trong chương mười sách Thư gởi người Hy Bá Lai[6]). Do vậy, họ cũng giống hệt như những kẻ b́nh phàm, chẳng có phân biệt! (Trần Chí Đồng hỏi)

 

Đáp: Trước đây, đă có nhắc tới “nội công” (công phu tu tập trong tâm), “minh Minh Đức” (làm sáng tỏ cái đức sáng), và “chuyển thức thành trí”, đó là những công phu sâu xa trong Nho gia và Phật giáo. Kẻ chẳng nhập môn, chẳng biết mảy may, nhưng [những điều ấy] hoàn toàn chẳng phải là bí mật, [mà là] chẳng kinh nghiệm th́ sẽ chẳng biết. Đối với vấn đề Chết, [câu kinh Thánh như ông đă dẫn] nói là “đều như nhau”, có thể thấy là tin theo Gia Tô th́ cũng chẳng tránh khỏi cái chết! Nói tới “chuyện phán xét” th́ là phán xét điều thiện, lẽ ác của con người? Hay là phán xét người ấy lúc sống có tin vào Gia Tô hay không? Nếu là điều sau th́ làm sao nói “chánh trực, vô tư gọi là thần” cho được? Bậc trí phán xét kẻ ngu si? Hay kẻ ngu si phán xét bậc trí? Nếu thuộc vào điều sau, tức là cũng như Đạo Chích quở trách Khổng Tử, c̣n nói ǵ được nữa?

 

* Hỏi: Chỉ có “người tin vào đức Chúa Con (Gia Tô) mới được sống đời đời, kẻ chẳng tin đức Chúa Con (Gia Tô) sẽ chẳng thể sống đời đời. Sự giận dữ kinh khủng của Thượng Đế thường giáng xuống thân kẻ đó” [trích từ] Phúc Âm của Ước Hàn[7], chương ba, tiết ba mươi sáu. (Trần Chí Đồng hỏi)

 

Đáp: Tại hạ hết sức bội phục tinh thần truyền giáo của các hạ, đă lâu rồi mà vẫn chẳng biến đổi! Lại cảm tạ mối thân t́nh sâu đậm đối với tại hạ, đă lâu ngày mà vẫn chẳng thay đổi. Hận chẳng thể cắt đuốc nơi song cửa phía Tây[8], tṛ chuyện thỏa thích suốt cả một đêm để khuyên ông bỏ đạo Gia Tô học Phật, ḥng báo đáp ân dầy đă rủ ḷng nghĩ tới suốt cả năm qua! Muôn phần hổ thẹn, muôn phần tạ lỗi! Nhưng đối với câu hỏi này, tôi có hai điểm nghi ngờ, ắt cần phải nói rơ. “Sống đời đời” là nhục thân [sống đời đời] ư? Trong điều trước, [ông đă dẫn kinh Thánh] nói “người nào cũng đều phải chết”, tợ hồ bị mâu thuẫn [với điều này]. Nếu bảo là linh hồn [sống đời đời] th́ trong tương lai, tại hạ chẳng có linh hồn, sẽ chẳng có ǵ để gọi là “sống”! Xin ông hăy hết sức an tâm, cám ơn! Nếu Thượng Đế giận dữ kinh khủng đối với tại hạ, hiện thời chỉ đáp lại bằng ḷng khiêm tốn, [dẫu Ngài] lửa giận vạn trượng th́ [tại hạ] cũng chỉ nín hơi, cung kính mà thôi! Nếu đến mai sau, chẳng có linh hồn, sự giận dữ của Thượng Đế sẽ chẳng có ǵ để giáng xuống. Lại cảm ơn, xin ông hăy an ḷng!

 

* Hỏi: Xin ông hăy đọc kỹ cuốn Khổng Tử Và Gia Tô, [để nhận biết] rốt cuộc là có Chúa hay không? (Trần Chí Đồng hỏi)

 

Đáp: Tại hạ và các hạ đă hỏi đáp suốt một năm; từ đầu tới cuối, tôi chưa hề nói “chẳng có thần”, sao ông lại chóng quên như thế? Nhưng thần là thần, tôi là tôi. Khổng Tử nói: “Kính quỷ thần nhi viễn chi” (Kính trọng quỷ thần, nhưng cách xa), thái độ là như thế. Hơn nữa, sách của Khổng Tử tôi đă đọc từ bé, tuy trí nhớ kém cỏi, nhưng đích xác là đă đổ công mười năm, đọc trọn khắp mười ba kinh. Đối với Tân Ước và Cựu Ước, cũng bỏ ra mấy ngày để đọc một lượt, nhưng sách “Khổng Tử Và Gia Tô” tôi chưa hề xem tới. Nghĩ tới hai câu cổ thi: “Tằng kinh thương hải nan vi thủy” (Từng đi qua biển sâu, chẳng thấy chỗ nào khác đáng coi là nước), “ngũ nhạc quy lai bất khán sơn” (từ ngũ nhạc trở lại, chẳng thấy núi non nào khác nữa). [Do vậy], chẳng đọc những loại sách nhỏ tầm thường ấy, cũng chẳng có ǵ đáng tiếc nuối! C̣n như cuốn Tịch Thắng Ma Truyện[9] do ông ban tặng, chỉ đành nhận lấy, cất kỹ trên kệ. Nếu nói tới đạo lư của Trung Hoa, phải tặng lễ vật trở lại, nhưng kinh Phật quyển nào cũng sâu, dẫu đậu tiến sĩ vẫn chưa hiểu được! Nếu gởi tặng các hạ, sợ chẳng thể đọc nổi. V́ thế, đành chịu thiếu lễ, xin hăy dung thứ!

 

* Hỏi: Vạn vật đều có Phật tánh, nhưng Phật tượng trưng cho sự hoàn mỹ. Tội ác trên thế giới đều xuất phát từ mê, nhưng cái nhân khởi nguồn của mê chính là vô minh. Vô minh có từ vô thỉ, đấy chính là “hết thảy đều chẳng hoàn mỹ!” V́ sao vốn là hoàn mỹ mà có thể sanh ra những thứ chẳng hoàn mỹ? Có người ví Phật tánh như vàng (vàng ở trong cát, hoặc vàng ở trong quặng), cần phải trải qua nung luyện th́ sau đấy mới có vàng ṛng, nhưng câu hỏi của tôi là: Trong cái vốn sẵn hoàn mỹ, hoàn toàn, về căn bản, chẳng thể nào có những thứ khác chẳng tinh thuần được! (Pháp sư Hoằng Quang hỏi)

 

          Đáp: Phật tánh vốn chia thành hai phần nhiễm và tịnh. Tuy có hai phần, bản chất của hai thứ ấy chồng chéo nhau, hoàn toàn chẳng phải là không dung thông. Ngài tỷ dụ như vàng trong quặng, vàng lẫn cát, chính là tướng chồng chéo vậy. Ḥa hợp như nước và sữa, khăng khít như keo với sơn. Đấy chính là tướng dung thông lẫn nhau. Bổn giác Phật tánh tịnh và nhiễm vấn vít, cho nên dấy lên vô minh, sanh chướng. Phật tánh thuộc về cứu cánh giác th́ đoạn nhiễm, giữ tịnh, cho nên thuần là quang minh tự tại.

 

          * Hỏi: Cái gọi là “vô minh” chính là sự vô minh do chẳng biết nguyên nhân khởi nguồn? Hay là sự vô minh do ương bướng chấp trước chẳng ngộ? (pháp sư Hoằng Quang hỏi)

 

          Đáp: Gọi là “vô minh” tức là bất giác. Đă là bất giác, há chỉ là hai điều “đối với mọi chuyện chẳng biết nguyên nhân” và “ương bướng chấp trước” mà thôi!

 

          * Hỏi: Đạt đến cảnh giới ngộ đạo, có phải là hết thảy các nghiệp đều hoàn toàn tiêu mất hay không? (pháp sư Hoằng Quang hỏi)

         

          Đáp: Ngộ có tiểu ngộ và đại ngộ, tức là ngộ có thiếu giác (少覺) và đại giác. Hết thảy các nghiệp đều tiêu mất chính là cảnh giới của bậc đại giác. Người mới giác ngộ, hoặc giác ngộ được vài phần th́ nghiệp sẽ tiêu giảm mà thôi, chưa thể nói là hoàn toàn [tiêu mất] được!

 

          * Hỏi: Luật nhân quả là “sau khi đă có nguyên nhân th́ mới có kết quả”, hoặc là “từ kết quả suy ngược lại nguyên nhân”. Nếu là như điều trước, bất luận nguyên nhân ấy được bắt nguồn từ vô thỉ, hoặc là như thế nào đi nữa, vào lúc bắt đầu sớm nhất, nói chung là luôn có một khởi điểm. Nguyên nhân vào lúc đó sẽ là đơn thuần nhất, cớ sao chẳng giải quyết vào lúc đó, mà cứ kéo dài cho đến thời gian về sau? Nếu là như trường hợp sau, sẽ nguy hiểm, v́ cùng một kết quả, có thể là do rất nhiều nguyên nhân dẫn khởi. Người về sau làm sao phán đoán chánh xác kết quả nào là do nguyên nhân tất nhiên nào? (pháp sư Hoằng Quang hỏi)

 

          Đáp: Nhân và quả: Nhân là khởi nguồn của sự, quả là kết quả của sự. Quyết chẳng có lẽ nào “quả không xuất phát từ nhân”! Nhưng nhân có rơ rệt hay ẩn nhiệm. Rơ rệt th́ dễ biết, ẩn nhiệm sẽ khó thấy. Như lúc mới chớm bệnh, đă biết t́m cách chữa trị, tức là thấy rơ ràng. Kẻ chẳng tin có quả, cũng chẳng tự thâu liễm, dẫu sau khi kết quả [đă h́nh thành], người ấy vẫn chẳng biết tới nhân. Do vô minh sâu dầy chướng lấp, khiến thành ra như vậy! Như tù nhân trong nhà ngục, tuy đă có người ba bốn lượt vào tù ra khám, nhưng kẻ đó tuy gánh chịu cái quả mà vẫn chẳng ăn năn. Lư nhân quả hết sức phức tạp, như vạn tượng biến hóa, ngàn muôn phần sai khác, chẳng dễ biết thấu triệt được! Nói đại khái, kẻ biết cái nhân bèn dừng th́ là bậc thượng thượng. Kẻ thấy quả bèn nghĩ đến nhân, chính là bậc trung thượng. Kẻ biết những ǵ ḿnh đang hứng chịu chính là quả, tức là bậc trung. Kẻ đă hứng chịu quả mà vẫn nghĩ “chẳng có nhân” th́ là bậc hạ. Kẻ hứng chịu quả mà chẳng biết đó là quả th́ là hạng hạ hạ!

 

          * Hỏi: Đối với những sự tích được viện dẫn trong bộ Niệm Phật Kiến Văn Kư, v́ sao không ghi chép cặn kẽ địa chỉ của những người đă trải qua kinh nghiệm ấy? (pháp sư Hoằng Quang hỏi)

 

          Đáp: Mỗi người trước tác đều có cách suy nghĩ riêng, mỗi điều được ghi chép đều có những trọng điểm riêng. Do sách ấy chẳng phải là do tại hạ viết, cho nên chẳng biết nguyên nhân!

 

          * Hỏi: Sáu câu chuyện đầu trong sách ấy, có nói: “Phật vốn là bậc y vương có thể trị tuyệt chứng” (trang mười bảy), có thể tra ra địa chỉ [của những bệnh nhân đó] hay không? Theo cách nói trong y học hiện đại, sau khi đă lành bệnh ung thư, lại phải trải qua năm năm th́ mới có thể chẩn đoán là đă hết bệnh. Có phải là bà cụ ấy đă lành bệnh hơn năm năm hay chăng? Có phải là hiện thời vẫn mạnh khỏe hay không? (pháp sư Hoằng Quang hỏi)

 

          Đáp: Sách ấy tôi đă đọc sơ qua, nên chẳng thể ghi nhớ [rành rẽ]. Đối với chứng bệnh ung thư của bà cụ ấy và người chẩn đoán, trị liệu như pháp sư đă nêu, có phải là [người ấy] được Phật đích thân đến bên giường chữa trị hay không? Nếu Phật chẳng đến mà nay hướng về đức Phật trách hỏi th́ khác nào Trương Tam giết người, bèn bắt Lư Tứ bồi thường hay không?

 

          * Hỏi: Có một lần, có một người bạn v́ đứa con mắc chứng bệnh tâm thần phân liệt ở mức độ nhẹ, ước hẹn cùng tôi đến Đài Trung ḥng trước sau bái phỏng thầy Lư và cư sĩ Lâm Khán Trị. Cụ Lư và bà ta đều nói là do nghiệp từ đời trước dẫn khởi, khó thể điều trị, tợ hồ rất tiêu cực. Nói theo y học hiện đại, chứng ung thư gan đă ăn sâu vào nội tạng sẽ khó trị hơn chứng bệnh tinh thần ở mức độ nhẹ rất nhiều. Cớ sao ông ta và bà ta đều chẳng tích cực chữa trị người bệnh ấy? (pháp sư Hoằng Quang hỏi)

 

          Đáp: “Thầy Lư” là nói đến ai vậy? Có phải là nói tới tại hạ hay không? Tệ xứ khách đông, lắm việc, chuyện đă qua rồi, chẳng thể nhớ trọn hết, nhưng tại hạ chẳng thể chữa bệnh thần kinh. Đă không có năng lực ấy, sẽ chẳng thể nói là có thái độ tiêu cực hay tích cực đối với người bệnh được! Xin hăy rộng dung! C̣n như cư sĩ Lâm Khán Trị trả lời người bệnh như thế nào, tại hạ chẳng biết nội dung, sẽ chẳng có cách nào chơ mồm vào được!

 

          * Hỏi: Nơi trang năm mươi mốt của sách ấy, [có viết]: “Nếu tuổi thọ chưa hết, sẽ có thể giảm nhẹ bệnh khổ. Nếu như tuổi thọ sắp hết, sẽ cậy vào sức công đức của khóa tụng niệm Phật ấy mà văng sanh Tây Phương”. Chuyện này tợ hồ nói theo kiểu “bệnh có thể lành, mà cũng có thể chẳng lành, mà cũng có thể chết”. Nói xuôi nói ngược kiểu nào cũng được, viện vào tuổi thọ để giũ bỏ trách nhiệm! (pháp sư Hoằng Quang hỏi)

 

          Đáp: “Tuổi thọ” chính là thọ mạng trong một thế giới nào đó, thông thường là một con số. Như một ngày có hai mươi bốn giờ, một năm có hơn ba trăm sáu mươi ngày, chỉ có thể biến hóa nho nhỏ, chẳng thể biến đổi lớn lao. “Biến hóa nho nhỏ”: Nói theo mỗi ngày th́ mùa Xuân và mùa Thu ngày và đêm bằng nhau, mùa Hạ ngày dài đêm ngắn, mùa Đông đêm dài ngày ngắn. “Chẳng thể biến đổi to lớn”: Nói chung là mỗi ngày có hai mươi bốn giờ! Dùng năm [trong Âm lịch] để nói th́ trong mười hai tháng, có tháng hai mươi chín ngày, có tháng ba mươi ngày, lại c̣n nhuận thêm một tháng. Đấy đều là biến hóa nho nhỏ, nhưng kết cục của một năm vẫn là [trái đất] xoay quanh mặt trời một ṿng, đấy là “chẳng thể biến đổi to lớn”. Nếu muốn chẳng bị chi phối bởi những con số đă ấn định ấy, cũng cần phải có cách đặc biệt, như con phù du sáng sống, tối chết, rùa và hạc đều sống lâu đến ngàn năm. Nếu chẳng hiểu lư ấy, chẳng hành đạo ấy, cứ muốn hy vọng riêng tư, biến đổi quy luật thường hằng trong vũ trụ, há có thể được ư? Há có thể thành công ư?

 

          * Hỏi: Đă là có thể lành bệnh, cớ sao trong thế gian có người chết vậy? (Ví như đă thiêu chết rồi sau đó sống lại, đă bị xe lửa nghiền chết, sau đó sống lại, hoặc là băo tố ngưng dứt trong chớp mắt). Cớ sao trong sách chẳng chép những kinh nghiệm siêu tự nhiên? (pháp sư Hoằng Quang hỏi)

 

          Đáp: Những kinh nghiệm siêu tự nhiên trong kinh luận rất nhiều, là chuyện sau khi đă chứng quả. Chuyện thuộc về lục thông, tai mắt phàm phu chẳng thể nhận biết được! Như Bồ Tát bị kẻ khác cắt đứt chân tay, trong một cái khảy ngón tay, có thể ngay lập tức hồi phục nguyên vẹn. Đức Phật điểm ngón chân lên mặt đất, lập tức hiện cảnh bảy báu trang nghiêm. Thất của ngài Duy Ma nhỏ như cái đấu, có thể chứa ba vạn hai ngàn ṭa sư tử, mỗi ṭa cao tám vạn bốn ngàn do-tuần. Bảy hạt cải nhỏ tí có thể mở cửa tháp hết sức kiên cố[10]. Hội Pháp Hoa suốt một ngàn năm vẫn ở trước mắt. Mười vạn ức cơi Phật, qua lại trong khoảng bữa ăn v.v… Những chuyện vừa nêu đại lược trên đây đều là siêu tự nhiên. Ắt phải có người siêu tự nhiên th́ mới có thể hiểu chuyện siêu tự nhiên. Tại hạ chẳng phải là người siêu tự nhiên. Pháp sư ở nơi xa mất công hỏi tới, hỏi đạo nhằm kẻ mù mất rồi!

 

* Hỏi: Trong vũ trụ có quỷ thần ư? Làm sao biết được? (lược đi những câu hỏi kèm theo) (Lâm cư sĩ hỏi)

 

          Đáp: Trước khi trả lời, tôi xin nói rơ, những câu hỏi của quư tiên sinh không có lớp lang rành mạch, lại c̣n có nhiều câu không rơ nghĩa, nên chỉ chọn lựa [những câu hỏi có ư nghĩa rơ rệt] để trả lời, xin hăy dung thứ!

          Trong vũ trụ có quỷ thần, người hiện thời có kẻ trông thấy, kinh sách ghi chép nhiều lắm. Đức Phật và Khổng Tử đều nói có [quỷ thần]. Căn cứ trên ba điều ấy, kẻ hèn tin [quỷ thần] là có. “Quỷ” vốn là một từ ngữ chuyên dụng để chỉ một loại trong sáu đường, “thiên” cũng là một từ ngữ chuyên dụng để chỉ một loại trong sáu đường. “Thần” chính là từ ngữ tỏ ư ca ngợi trời, người, quỷ và súc sanh, văn tự hết sức rơ ràng. Tiên sinh bảo người ta thường ăn nói hồ đồ, đấy là vấn đề thuộc về tŕnh độ. Tuy chỉ hươu bảo là ngựa, thấy lạc đà bèn gọi nó là ngựa gù lưng, [những cách nói sai lầm ấy] quyết chẳng thể đại diện cho học thuật được! Do hai câu hỏi kế đó ư nghĩa chẳng rơ ràng, xin thứ lỗi chẳng đáp!

 

          * Hỏi: Làm thế nào để biết người ta có thần thức? Tôi gởi kèm theo chương đầu của sách Nhân Quả Luân Hồi Trừng Tín Lục (ghi chép những chứng cớ đáng tin cậy về nhân quả luân hồi) do Thụy Thành Thư Cục xuất bản, [trong ấy] có nói các nhà khoa học cho rằng thân thể con người do bảy mươi lăm nguyên tố hợp thành, nhưng cho đến nay, vẫn chưa thể có chuyện con người tạo ra con người. Ngu tôi cho rằng vật chất nơi thân thể con người và những vật chất thông thường dường như là khác nhau, [chẳng hạn như] chất sắt nơi thân người và chất sắt [trong thiên nhiên] khác nhau! (Lâm cư sĩ hỏi)

         

          Đáp: Tiên sinh có thể hỏi, có thể nghe; kẻ hèn này có thể xem, có thể đáp. Đấy là năng lực của thần thức, chính v́ vậy mà biết. Trong đoạn sau đó, [tiên sinh] bảo vật chất nơi thân thể con người và những vật chất thông thường khác nhau. “Vật chất thông thường” là thứ ǵ trong động vật, thực vật và khoáng vật? Do tiên sinh chẳng nêu rơ, nên chẳng thể đáp!

 

          * Hỏi: V́ sao có Chân Như bản tánh? Nó lại do đâu mà có? Sanh sản như thế nào? Đối với câu giải đáp thứ tư thuộc phần luận về tâm tánh trong sách Phật Học Vấn Đáp Loại Biên của quư xă, nơi trang một trăm bảy mươi ba của quyển hạ, tôi đọc mà không hiểu. Đă có Chân Như bản tánh, v́ sao bị đọa lạc, chịu khổ trong luân hồi? Nếu chẳng có Chân Như bản tánh, cũng chẳng thể có chúng sanh, tức là chẳng có cái gọi là khổ (tức là nói tới chúng ta). Tôi chưa đọc sách bàn về vấn đề này! (Lâm cư sĩ hỏi)

 

          Đáp: “Đọc không hiểu câu giải đáp thứ tư trong Phật Học Vấn Đáp Loại Biên”, tiên sinh chưa từng nghiên cứu môn học ấy, xem không hiểu là lẽ đương nhiên! Lại nói “chưa xem sách bàn về vấn đề này”, sao không xem thử?

 

          * Hỏi: Trong lời tựa tự viết cho tác phẩm Nghiên Cứu So Sánh Giữa Phật Pháp và Khoa Học, ông Vương Quư Đồng cho biết có người hỏi “có Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo hay không?” [Tôi đọc thấy] khó hiểu, xin hăy giải thích. (Lâm cư sĩ hỏi)

 

          Đáp: Đoạn viết về “có người hỏi có Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo hay không?” chỉ là hỏi “có hay không” mà thôi, hoàn toàn chẳng khó hiểu! Tiên sinh đột nhiên nói là khó, kẻ hèn này chẳng hiểu rơ ư ông, đúng là biến thành khó khăn!

 

          * Hỏi: Chư Phật có phải là chúng sanh đă giác ngộ? Suy ra, chúng sanh luôn đọa lạc, từ vô thỉ đến nay, có người giác ngộ đầu tiên, sự giác ngộ ấy rất khó, v́ sao có thể giác? Thành Phật là như thế nào? (Lâm cư sĩ hỏi)

         

          Đáp: Mê là chúng sanh, giác chính là Phật. Như thế đó! Như thế đó! Nếu hỏi “người giác ngộ đầu tiên v́ sao có thể giác”, kẻ hèn này dùng cách hỏi ngược lại để đáp: Đêm nay mọi người đều ngủ, ắt có người thức đầu tiên. Xin tiên sinh giải thích v́ sao [người ấy] có thể tỉnh?

 

          * Hỏi: Xin giải thích ư nghĩa “vô thỉ”. Chúng sanh từ vô thỉ tới nay sanh sản, vũ trụ h́nh thành v.v… [như thế nào]? (Lâm cư sĩ hỏi)

 

          Đáp: “Vô thỉ” là chẳng có cách nào suy ra chỗ khởi đầu. Khởi thủy của hết thảy sự vật chính là kết quả. Trước quả, ắt phải có nhân. Do có nhân, nên có cái quả ấy, cho nên [cái quả ấy] chẳng phải là khởi đầu. Đối với những lời lẽ ấy, nếu chưa từng nghiên cứu các môn khoa học, triết học và Phật học, sẽ chẳng có cách nào liễu giải. Đối với những đề mục to lớn trong đoạn kế tiếp, cần phải viết một bài dài, cột báo này hữu hạn, chẳng thể đăng tải. Nếu đọc kinh Phật cho nhiều, sẽ tự nhiên hiểu rơ!

 

* Hỏi: Kiền thành niệm thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, bất luận tai ách, khổ nạn ǵ cũng đều có thể được cứu. Khi sáu vạn người họ Thích sắp gặp nạn, cớ sao đức Thích Tôn chẳng dạy họ ai nấy kiền thành niệm Quán Thế Âm Bồ Tát để thoát nạn? (Lương Trung Lập hỏi)      

 

Đáp: Bồ Tát cứu khổ là v́ ḷng Bi, ví như thầy thuốc trị bệnh, chính là do ḷng nhân, nhưng bệnh có nặng, nhẹ, và bệnh chẳng trị được khác nhau. Lương y vận dụng y thuật, [đối với các bệnh nhân] đều chữa trị, c̣n như lành bệnh hay không, hoặc sống, hay chết, lương y chỉ trọn hết toàn bộ năng lực, c̣n [bệnh nhân] sống, chết, lành bệnh hay không, chủ yếu là do bệnh t́nh và nhân quả. Nếu [những nhân tố ấy] đă chín muồi, Phật cũng đành bó tay, nói chi là Bồ Tát! Muốn khiến cho xương trắng sanh thịt, từ xưa đến nay, chưa từng nghe thấy! Sáu vạn người họ Thích, đức Phật chẳng thể cứu, thế mà dạy họ niệm Quán Âm, chưa khỏi là hư luận!

 

* Hỏi: Nếu nói “định nghiệp khó tránh”, v́ thế, sáu vạn người họ Thích chẳng có cách nào thoát khỏi tai nạn, nhưng vua Tịnh Phạn, A Nan, La Hầu La v.v… há cũng chẳng phải là người họ Thích đó ư? Sao lại có thể đứng riêng ngoài số đó được? (Lương Trung Lập hỏi)

 

          Đáp: Số người họ Thích há chỉ là sáu vạn? Những vị như vua Tịnh Phạn v.v… tuy mang họ Thích, chẳng thuộc trong số sáu vạn người ấy, chẳng hứng chịu quả báo ấy, có chi lạ lùng?

 

          * Hỏi: Một ngày nọ, tôi đọc bài văn Quán Tâm của Châu Tử (Châu Hy), phân tích lời văn để xét lại ḿnh, trực tiếp thăm ḍ cội gốc th́ cũng thấy sáng tỏ. Văn từ trong bài viết ấy đă sử dụng Phật lư, nhưng ông Châu lại viết: “Cái học của họ Thích là dùng tâm cầu tâm, dùng tâm để sai khiến tâm, như miệng cắn miệng, như mắt nh́n mắt, xét theo sự vận dụng th́ vừa nguy hiểm, vừa bức bách. Xét theo đường lối th́ vừa hiểm trở, vừa bế tắc! Lư rỗng tuếch, t́nh thế ngược ngạo! Ấy là v́ tuy lời lẽ dường như là có phần tương tự, nhưng trong thực tế, chẳng giống như vậy”. Do ông ta nói như vậy th́ sự khác biệt giữa Nho và Phật cũng đă rơ ràng rồi! (Vương Thắng Xương hỏi)

 

          Đáp: Châu Tử là Tống Nho. Trước đó, c̣n có Hán Nho. Giữa hai học phái Hán và Tống, có nhiều điều khác biệt. Những vị hiền nhân thân cận Khổng Tử có thể nói là “đích phái” (phái truyền thừa thuộc ḍng đích), [thế mà] hăy c̣n có quân tử nho và tiểu nhân nho khác nhau. Nếu cứ nghĩ những người được gọi là nhà Nho đều đạt được học vấn cội gốc của Khổng Tử, kẻ hèn này nông cạn, quê kệch, chẳng dám cẩu thả nghe theo! Hữu Tử[11] ăn nói tương tự như Khổng Tử, nhưng thật ra chẳng thể hiểu biết Khổng Tử trọn vẹn. Khổng Tử sau lễ đại tường[12], đánh đàn cầm chẳng thành điệu. Hữu Tử sau lễ đại tường, đi giày bằng tơ bện, đeo giải mũ bằng lụa trắng, bị kẻ khác chê cười là vượt lễ! Người ta khen Tử Cống là người hiền như Khổng Tử, nhưng Tử Cống bảo: “Tánh của phu tử như đạo trời, chẳng thể nghe được!” Tăng Sâm có thể nắm bắt toàn bộ đạo của Khổng Tử, thế mà nói: “Táng dục nhược bần, tử dục tốc hủ” (Mong sao sau khi mất chức sẽ mau chóng nghèo khổ, chết rồi mong sao chóng hư nát)[13], [tức là] hoàn toàn chẳng thấu đạt ư của Khổng Tử. Nếu bảo Nho học theo kiểu Tống Nho vượt trỗi mấy vị trên đây, chẳng thể nào không nghi ngờ! C̣n như nói “phản thân tự cầu” (quay trở lại cầu nơi chính ḿnh) mà chẳng dụng tâm, tôi cũng chẳng dám nói. Nếu nói nhiều hơn nữa, sẽ vướng vào tội hủy báng! C̣n nói tới “sự giống nhau hay khác nhau” [giữa Nho và Phật], hết thảy mọi sự, đều có giống nhau hay khác nhau. Nước và lửa khác nhau, từ trong nước hiện ra lửa, từ trong lửa sanh ra nước, chính là giống nhau. Âm và Dương khác biệt, trong Dương có Âm, trong Âm có Dương, chính là chỗ tương đồng. Nho và Phật có những điểm tương đồng và khác biệt, cũng giống như vậy đó. Vạn vật sanh thành nhờ vào cả mưa lẫn nắng, nếu bỏ một thứ này, chỉ dùng thứ kia, vạn vật sẽ chẳng thể thành tựu được!

 

          * Hỏi: Lư Học của Châu Tử là quyền biến nhằm thích ứng với đa số. Cái học ấy ắt chẳng đến nỗi thua kém Phật, đức của ông ta ắt chẳng đến nỗi báng Phật, nhưng ông ta thốt ra lời ấy th́ Nho và Phật nhất định là có chỗ chẳng hợp nhau về căn bản. Người ta thường nói “Nho và Phật tương thông”, nhưng đối với chỗ khác nhau, họ đă bỏ sót vậy. Hoặc lại có người viết những bài ngắn để biện định sự khác biệt th́ lại là suy nghĩ chẳng tinh tường, đọc sách chẳng sâu, chẳng đáng bàn tới! (Vương Thắng Xương hỏi)

 

          Đáp: Biện định về chỗ tương đồng và khác biệt, trong điều trước, tôi đă nói rồi! Chuyên t́m chỗ khác biệt th́ cũng rất hiển nhiên. Cái học của Khổng Tử chuyên nói về thế gian, tức là [nói những chuyện] thuộc hiện tại, sau khi được sanh ra và trước khi chết đi. Đối với hai lúc trước và sau đó, Ngài chẳng hề nói tới. V́ thế, bảo: “Vị tri sanh, yên tri tử” (Sống c̣n chưa biết, làm sao biết [chuyện sau khi đă] chết). Nhưng đối với chuyện thiên mạng, tâm tánh, thần hồn v.v… hoàn toàn chẳng phải là Ngài không biết, nhưng do con người chẳng dễ thấu hiểu, cho nên Khổng Tử đều ít nói tới. Đức Phật v́ một đại sự nhân duyên mà đến thế gian này, chuyên nói lẽ xuất thế. Đối với chuyện liễu sanh thoát tử, Ngài chẳng ngại nói tường tận! Nhằm độ người thế gian, chẳng ĺa thế gian để giác ngộ, nên nói kèm thêm hai đường nhân thiên, cho nên gọi là “ngũ thừa thuyết pháp”. Chỗ khác biệt giữa Nho và Phật là như thế mà thôi! C̣n như ông nói “chẳng thua kém, chẳng báng”, bất quá là tâm lư đề cao. Tuy nghiên cứu mà chẳng hiểu chánh xác, sẽ là qua loa. Có ư niệm bài xích th́ là báng! Báng bổ là v́ tri kiến môn hộ sâu đậm! Không chỉ là Nho và Phật báng bổ lẫn nhau, mà Nho cũng báng Nho, Phật cũng báng Phật, kéo dài đă lâu, chẳng phải chỉ là một người như thế mà thôi!

 

          * Hỏi: Nhưng từ đầu, học tṛ đă có ư niệm: Về căn bản, Nho và Phật vốn ắt có lư khác biệt, chẳng thể tương thông. Nếu có thể tương thông, ắt sẽ trở thành lời lẽ của cùng một nhà, làm sao có thể tách thành hai cho được? (Vương Thắng Xương hỏi)

 

          Đáp: Nói đến chỗ tương đồng và dị biệt th́ trong lời đáp thứ hai đă có nói rồi! Thấy tương đồng th́ là một nhà; tuy là cùng một nhà, mà có cày cấy, canh cửi, nấu nướng, may vá khác biệt. Thấy là dị biệt th́ bài xích [kẻ chẳng giống ḿnh] là dị đoan. Tuy dị đoan, nhưng có cùng con đường sanh, lăo, bệnh, tử. Theo cái thấy thô vụng của tôi, chẳng cần phải gượng ép cho giống nhau. Những chỗ giống nhau, sẽ tự giống nhau, chẳng thể dùng miệng lưỡi [ngụy biện] để biến chúng thành tương đồng được. Những điều khác biệt th́ tự chúng khác biệt, chẳng thể miễn cưỡng sửa đổi cho chúng khác biệt được. Mặt trời, mặt trăng sáng ngời trên trời, mưa nắng thuận theo thời tiết, núi sông bị giới hạn nơi đất, nhưng đều hữu ích cho muôn vật!

 

          * Hỏi: Nếu dùng định tĩnh để luận định, sách Trung Dung của Nho gia nói đích xác nhất. Sau khi đă định, bèn có thể tĩnh. Sau khi đă tĩnh, sẽ có thể an. Sau khi đă an, sẽ có thể suy niệm. Sau khi suy niệm, sẽ đạt được. Nhà Phật bảo “dùng tĩnh để cầu định”, tức là bộp chộp nói “học Phật chỉ cần đạt được một chữ Định, sẽ thọ dụng bất tận”. Gộp những điều này lại, sẽ thấy chỗ khác biệt giữa Nho và Phật. Ắt phải tách ra để hiểu rơ th́ sau đấy mới tránh khỏi lẫn lộn giữa ngọc trai và mắt cá! (Vương Thắng Xương hỏi)

 

          Đáp: Đừng hiểu chữ “nhất” là một. Chữ Nhất nói theo mỗi giáo, sẽ có tác dụng khác nhau. Định trong sách Đại Học và Định trong Phật pháp tuy cùng mặt chữ, nhưng xét theo pháp, sẽ khác biệt to lớn. Định trong Đại Học là “biết rồi an trụ nơi chí thiện, chẳng để thoái chuyển về sau”. An trụ trong ấy, tâm chẳng tán loạn, phập phều, chao đảo, dần dần hướng đến “tịnh, an”. Do suy niệm [từ “tịnh, an”] mà có sở đắc. Định của nhà Phật chính là sau khi đă tĩnh lự, chẳng dấy một niệm, tịch mà có thể chiếu, chiếu mà vẫn là tịch, chính là cảnh giới đoạn Hoặc, phát sanh thần thông, vượt thoát căn trần, chủng loại rất nhiều, phương pháp chẳng chỉ có một. Hễ thành tựu, sẽ liễu thoát sanh tử, bất sanh, bất diệt. Cho nên nói là “thọ dụng bất tận”. Đấy chính là mặt chữ giống nhau, nhưng sự việc khác nhau!

 

* Hỏi: Cụ đến hoằng đạo lần này, tôi rất kính ngưỡng, hoan nghênh, nhưng hiện thời “ứng vận” khác nhau, thiên đạo chịu sự chi phối của sự ứng vận ấy. Lăo Mẫu[14] từ bi, sai Di Lặc tổ sư giáng phàm, thay thế, kế tục Phật Thích Ca hóa độ chúng sanh, thâu tóm trọn vẹn thời mạt kiếp. V́ thế, Phật Thích Ca chẳng có quyền hạn, bèn từ chức. Chúng sanh tuy tin Ngài, cũng chẳng có cách nào được cứu! Ví như mấy vị huyện trưởng nhậm chức tại các huyện, khi đang giữ chức bèn có thể tiếp nhận sự vụ của dân chúng, nhưng các vị huyện trưởng tiền nhiệm có quyền xử lư sự vụ của dân chúng hay không? Có thể thấy được sự khác biệt giữa người đang đảm nhiệm chức vụ và người đă thôi giữ chức! Vị huyện trưởng đă bị băi chức th́ cũng vẫn y như cũ, vẫn được dân chúng tôn kính y hệt. Phật Thích Ca tuy chẳng c̣n đang giữ chức, ta vẫn tôn kính Ngài. Trước mắt, đa số người trong huyện Gia Nghĩa đều quy nhập đại đạo Nhất Quán, tín ngưỡng sự giáo hóa của thánh nhân trong ngũ giáo, nhằm xúc tiến thế giới đại đồng, chẳng thiên vị bất cứ giáo nào! Thánh nhân của ngũ giáo đều do Lăo Mẫu từ bi sai họ hạ phàm để hóa độ, chẳng có giáo môn nào tốt hay xấu! Hiện thời, mọi người cần phải ngộ nguyên lư ấy, nhân loại quyết sẽ chẳng có tranh chấp, chẳng c̣n có chiến tranh, thế giới mới có thể cùng tồn tại ḥa b́nh. Do tôi có quan điểm tín ngưỡng như thế, xin ông hăy công khai trả lời là tôi có sai lầm hay không? (Phương Nhất Đạo hỏi)

 

Đáp: Có lẽ Ngài đọc sách chẳng nhiều, cho nên kiến thức chẳng rộng! Câu hỏi của Ngài có ư ǵ, tại hạ chẳng rơ! V́ thế, chẳng tiện vâng mạng trả lời. Nếu là đàm đạo, do đạo khác nhau, chẳng thể bàn luận với nhau, chẳng có lời nào để trao đổi được! Nếu là truyền đạo, kính xin hăy t́m kẻ hữu duyên khác. Tôi ngoài Phật ra, chẳng cầu chi hết! Nếu là hỏi han “tôi có sai lầm hay không”, tôi có thể đáp lời: Sai lầm quá đỗi! Nhưng Ngài lại không nêu rơ địa chỉ, nên cũng chẳng có cách nào tiếp xúc. Chắc là do thành kiến quá sâu, có lẽ cũng sẽ uổng lời phí sức! Nay tôi để sẵn một cuốn Ám Lộ Minh Đăng, ông có thể dùng danh nghĩa Phương Nhất Đạo để hướng về tờ nguyệt san Bồ Đề Thụ nhận về đọc. Tin hay không th́ ai nấy đều đă trọn hết đạo của ḿnh rồi.

 

* Hỏi: Cổ thư Trung Hoa nói Đường Minh Hoàng lên chơi cung trăng, Thường Nga (Hằng Nga) trốn lên mặt trăng. Kinh Phật lại nói có nhật cung thiên tử và nguyệt cung thiên tử. Hiện thời, khoa học phát triển, các nước Mỹ, Nga đều thăm ḍ nguyệt cầu, thấy chẳng có sinh vật nào. Họ có chụp h́nh làm bằng chứng. Không lâu sau, nước Mỹ đổ bộ nguyệt cầu, tôi sợ rằng sau này những điều được nói trong cổ thư Trung Hoa và kinh Phật sẽ chẳng thể thành lập được! (Trương Nhất Giám hỏi)

 

Đáp: Thường Nga trốn lên cung trăng, Minh Hoàng du nguyệt điện, đều là chuyện thuộc loại bút kư, tiểu thuyết, chẳng phải là văn hiến chánh đáng, bất quá là những loại văn tự nhằm giải trí đó thôi! Tạm thời chẳng nói đến. Mỹ và Nga thăm ḍ nguyệt cầu, đối với t́nh huống hiện trạng thu được, do chỉ là [t́nh huống trong] trong nhất thời, cũng chẳng đủ để làm bằng chứng, v́ hiện nay, họ chỉ [thăm ḍ] một nửa phần mặt trăng. Nếu người từ tinh cầu khác đến thăm ḍ địa cầu, chỉ thấy Nam Bắc Cực, liền nói địa cầu thuần là băng, tự lầm lẫn! Tiên sinh đă tin khoa học, có từng nghe chủ nhiệm khoa Thiên Văn của Gia Lư Phước Lợi Á Châu Lập Đại Học (California State University) của Mỹ là tiên sinh Áo Đặc Sử Đặc Lao Phu (Otto Struve) nói: Trong hệ Ngân Hà, có tất cả mấy trăm hành tinh. Trên mỗi hành tinh, đều có động vật có trí huệ cư trụ, gọi là “người vũ trụ”. Ông ta lại nói: Trong toàn thể hệ Ngân Hà, ước chừng có một ngàn ức tinh cầu. Trong số đó, có chừng một trăm ức [tinh cầu] có hành tinh vây quanh. Trong số đó, có mười ức hành tinh có sinh vật. Tối thiểu là có từ một trăm cho đến một ngàn hành tinh có sinh vật có trí lực cực cao giống như nhân loại trên địa cầu. “Nhật nguyệt thiên tử” trong kinh Phật cũng giống như [người ngoài vũ trụ như] tiên sinh Áo Đặc Sử Đặc Lao Phu đă nói. Trước khi người khác chứng thực, tạm thời khó thể thốt lời phủ nhận được!

 

* Hỏi: Sùng bái ngẫu tượng, lại biết rơ đó chỉ là một bức tượng, v́ sao c̣n phải đốt hương, thờ phụng? (Sơ học xă đoàn hỏi)

 

Đáp: Dùng ngẫu tượng để tượng trưng cho một người nào đó. Khổng Tử nói: “Tế như tại” (Cúng tế như [người đă khuất] hăy c̣n sống). Lại nói “như tại kỳ thượng” (giống như [người đă khuất] vẫn c̣n đó), vẫn là mang ư nghĩa “nhờ vào đó để quán tưởng, dẫn khởi cảm ứng đạo giao”. Để tượng trưng, không bắt buộc phải là ngẫu tượng, mà cũng có khi bày mũ áo, hoặc viết [tên họ lên] bài vị bằng gỗ, đều nhằm dẫn khởi sự quán cảm, tâm giao cảm với thần, mang ư nghĩa thấu triệt sâu xa. Hăy nên biết vạn pháp duy tâm, coi tượng là thật th́ tượng bèn là thật. Coi người là tượng, người bèn là tượng. Hăy thử nghĩ: Cờ của quốc gia, mộ phần trong nghĩa trang, đoạn phim về quốc ca được chiếu trong rạp chiếu phim, há chẳng phải cũng là giống như ngẫu tượng mà thôi! Biết rơ nó là một tấm vải, hoặc một khối đất, hay một bức ảnh suông, v́ sao vẫn hướng về chúng tỏ ḷng tôn kính? Lư và Sự là một, sao lại nghĩ thành hai đường?

 

* Hỏi: Mê tín lạc hậu, lạy Phật van vái phù hộ cho chính ḿnh. Kẻ ác cũng lạy Phật, có phải là cũng được phù hộ hay không? (Sơ học xă đoàn hỏi)

 

Đáp: Phật pháp b́nh đẳng, nhất loạt hóa độ, chẳng phân thiện, ác, tấn, thoái. Hễ có cảm, bèn có ứng, như hai tấm gương đều sáng, có thể chiếu rọi lẫn nhau, liền được gia bị. Chẳng có cảm, sẽ không ứng. [Ví như] hai tấm gương, một trong sáng, một dơ bẩn, chẳng thể chiếu lẫn nhau, sẽ chẳng có cách nào được gia bị. Kẻ làm lành và sám hối, tâm bèn sáng rơ, hiển hiện. Kẻ làm ác mà chẳng hối cải, tâm bị nhuốm dơ. Người tâm sáng bèn có thể cảm, người tâm nhơ chẳng thể cảm. Điều then chốt là như vậy, chẳng phải chỉ là mê tín.

 

* Hỏi: Kẻ lạc hậu so với thời đại, thậm chí phủ nhận sự thật khoa học, như kiêng sát sanh, ăn chay v.v… (Sơ học xă đoàn hỏi)

 

Đáp: Kẻ lạc hậu so với thời đại, có nhiều t́nh h́nh khác biệt, hăy nên luận định riêng biệt. Kẻ phủ nhận sự thật khoa học, đương nhiên chẳng phải là người thông đạt, nhưng học khoa học mà chẳng thể thông hiểu những ǵ ngoài khoa học th́ cũng chẳng phải là kẻ thông đạt. Do sau đó, quư vị đột ngột đề cập những chuyện như kiêng giết, ăn chay v.v… Những chuyện ấy chẳng dính dáng ǵ đến [thái độ] phủ nhận khoa học! Nếu bảo [kiêng giết, ăn chay] chẳng phù hợp thời đại th́ cũng chẳng đúng. Đối với cái gọi là “hợp thời đại” ngày nay, phần nhiều chịu ảnh hưởng theo phong tục Âu Mỹ [coi đó là hợp thời]. Từ năm 1822 trở đi, do nghị viên nước Anh là ông Mă Đinh Thị (Richard Martin)[15] đề xướng, không chỉ là kiêng giết, mà tiến hơn nữa, các nước văn minh đều bảo vệ động vật. Chỉ riêng hội bảo vệ động vật tại các nước Âu Mỹ, đă có hơn một ngàn sáu trăm nơi. Các nước Đông Tây tham gia, chẳng thể kể xiết! Đối với chuyện ăn chay, tại các nước Âu Mỹ đều có hội ăn chay. Những hội ấy phát xuất từ nền tảng từ thiện. Gần đây, họ c̣n quan tâm đến phép vệ sinh: Để ngăn ngừa gia tăng lượng mỡ trong thân thể và chứng xơ cứng mạch máu, đều khuyên kiêng ăn mỡ động vật. Những chuyện ấy đều là sự thật, ai nấy đều biết. Thuở trước, khoa học chẳng phát triển, ăn lông, uống máu; hiện thời, khoa học phát triển, [đề xướng, cổ vũ] ăn chay ḥng kéo dài tuổi thọ.

 

* Hỏi: Cũng có kẻ lập chùa miếu để kiếm sống, tụ tập đại chúng để thâu gom tiền tài hay không? (Sơ học xă đoàn hỏi)

 

Đáp: Chuyện đă lâu ngày bèn nẩy sanh thói tệ, từ xưa đến nay đều là như thế, nhưng thiện, ác, chân, ngụy đều do con người nắm giữ. Đă là chẳng do pháp, th́ cũng chẳng do chùa miếu. Đời Châu, Thành Vương và Khang Vương ở nơi đất Cảo[16] mà đất nước yên b́nh, U Vương, Lệ Vương sống nơi đất Cảo mà đất nước loạn lạc. Như vậy th́ b́nh trị hay loạn lạc là do con người, chẳng phải do đất Cảo. Văn Thiên Tường và Sử Khả Pháp[17] đọc sách thánh hiền, đều có thể vị quốc vong thân, Vương Măng[18] và Tào Tháo cũng đọc sách thánh hiền mà đều dám giết vua, đoạt nước. Do vậy, trung hay gian là do con người, chẳng do kinh sách!

 

* Hỏi: Bảo vệ người chết, chẳng bảo vệ người sống, niệm kinh siêu độ vong hồn, lễ nghi ưu tiên cho người đă chết. Thật ra, nếu dựa theo nhân quả luân hồi để nói, sẽ là “đậy nắp ḥm rồi mới luận định”. Cái nhân trong đời này sẽ bao gồm cái nhân từ mấy đời trước, quyết định sẵn sự diễn biến của một cá nhân. V́ thế, lễ nghi chú trọng người đă khuất chỉ là những thứ sáo rỗng được bày ra đó thôi! (Sơ học xă đoàn hỏi)

 

Đáp: Phật giáo b́nh đẳng, phổ độ lục đạo. Phật pháp vô biên, có thể độ lục đạo. Vạn hữu trong vũ trụ muôn vàn sai khác, pháp môn vô lượng, [dẫu dùng] hằng sa [để tính đếm, vẫn] khó trọn hết! Hoàn toàn chẳng có quy định “bảo vệ người chết, chẳng bảo vệ người sống”. Siêu độ vong linh chẳng qua là một chuyện, chẳng thể thấy một cái vằn con báo, bèn bảo toàn thể là con báo được! C̣n như luận định “đă định sẵn sự diễn biến của một cá nhân”, lư luận Phật giáo chẳng hề nói như vậy. Phật học bảo “vạn pháp vô thường, đều là sanh diệt, tâm có thể tạo, tâm có thể chuyển”. Tạo ra, xoay chuyển, há có nhất định. Thật sự là khi đă định, có thể khiến cho nó chuyển. Khi đă chuyển, lại có thể khiến cho nó định!

 

* Hỏi: Người xuất gia chỉ v́ phàm trần khó độ (ư nói những kẻ thất bại xét theo thuyết tiến hóa: Chỉ những động vật nào thích ứng trong cuộc cạnh tranh theo sự chọn lọc tự nhiên th́ mới sanh tồn), bèn muốn cậy vào sự tu hành để hưởng phước. Có thể nói họ là những kẻ trốn lánh hiện thực, tự giữ ḿnh bằng thái độ tiêu cực. (Sơ học xă đoàn hỏi)

 

Đáp: Gần đây, người ta chỉ biết đến luận thuyết đào thải tàn khốc diễn ra trong thiên nhiên do Đạt Thị (Charles Darwin) đề xướng, nhưng có ai cũng biết đến bài minh đề cao ḷng Từ, che chở động vật của ông Trương Tử Dân hay không? V́ sao tôn sùng thuyết của Đạt Thị mà lại quên lăng bài minh của ông Trương, chẳng phải là học hành lệch lạc hay sao? Tạm thời chẳng bàn đến chuyện này! Người xuất gia cũng là người, tư tưởng của nhiều người th́ làm sao có thể nhất trí cho được? Có kẻ tự hưởng thanh phước, có người chuyên tu khổ hạnh, có người v́ tự độ, có người v́ độ kẻ khác, chẳng thể nói khẳng định theo kiểu ấy được! Lại nói đến chuyện tiêu cực và tích cực, vấn đề lại càng nhiều hơn! Tiêu cực đối với chuyện tranh quyền đoạt lợi, hay là đối với chuyện lợi nước tạo phước cho dân cũng tiêu cực? Hai loại tiêu cực ấy có tánh chất khác nhau. Thuộc về loại trước th́ chẳng có lỗi ǵ, thuộc về loại sau th́ là sai trái. Há có nên trách mắng luông tuồng, chẳng phân đen trắng mảy may ư?

 

* Hỏi: Hàng thanh niên học Phật càng cảm thấy Phật học chẳng có ǵ liên quan đến chính ḿnh! Nếu tin theo Phật, sẽ rớt vào loại yếm thế. Đă vậy, ăn chay khó lắm! (Sơ học xă đoàn hỏi)

 

Đáp: Phật học chính là cái học nhằm cầu chánh tri chánh kiến. Câu hỏi này thuộc loại hiểu lầm. Hiểu lầm chính là v́ cảm nhận sai lầm vậy. Cầu tri giác như thế nào chính là [nhận biết chánh xác] chân tướng của nhân sinh và vũ trụ. “Nhân sinh” là nói tới những chuyện thuộc về sanh mạng của bọn ta, “vũ trụ” chỉ những chuyện thuộc về hoàn cảnh cư trụ của ta. Hai điều ấy đều chẳng biết, há chẳng phải là cả một đời hồ đồ? Người thanh niên đối với sanh, lăo, bệnh, tử, có quan hệ hay không? Đối với hoàn cảnh thuận hay nghịch, có quan hệ hay không? Xin hăy suy nghĩ cặn kẽ mấy ngày, rồi sẽ buông lời quyết định. Nếu bảo là “yếm thế”, cần phải nêu ra sự thật: Rượu chè trai gái là yếm thế, thất t́nh tự sát là yếm thế, chẳng học, chẳng làm ǵ, chính là yếm thế! Học Phật th́ phải giới luật tinh nghiêm, chánh tâm, tu thân. Học Phật phải hiến thân cho đại chúng, chẳng chết trong tay đàn bà. Học Phật phải “địa ngục chẳng trống, thề chẳng thành Phật”. Các hạ chẳng hiểu rơ nội dung, cho nên tôi nói là “hiểu lầm”. Đối với chuyện ăn chay, khi chưa thọ giới, hoàn toàn chẳng phải là quy định mang tánh chất cứng ngắc, chỉ nên tùy phần chẳng giết là được rồi!

 

* Hỏi: Báo Bồ Đề Thụ số hai trăm hai mươi, trong mục Phật Học Vấn Đáp có một vấn đề như thế này: “Quan Vân Trường thuộc thời đại Tam Quốc, có người nói ông ta là…” Trả lời: “V́ nước giết địch, hộ pháp, hàng ma, chẳng giống như chuyện sát nhân thông thường. Giết địch là trung. Hàng ma là nhân. Đại trung, đại nhân, hộ quốc, hộ pháp, há chẳng phải là Bồ Tát ư?” Thấy lời đáp ấy, xác thực là khiến cho tôi bất an. Chẳng lẽ bậc bác học như Lư cư sĩ, rốt cuộc chẳng hiểu “bất cứ h́nh thức bạo lực nào, bất luận viện cớ nào, đều tuyệt đối trái nghịch giáo giới của Phật”, “Phật giáo đề xướng, tuyên dương ḥa b́nh, chẳng bạo lực, lại c̣n là phúc âm để cứu đời... Trong Phật giáo chẳng có cái ǵ có thể gọi là cuộc chiến chánh nghĩa! Đấy chỉ là một tên gọi được hư ngụy chế tạo ra, lại c̣n được tuyên truyền, để trở thành lời lẽ và lư do bào chữa cho sự ghét hận, tàn khốc, bạo ngược, và sự tàn sát với quy mô to lớn mà thôi! Ai quyết định chánh nghĩa và bất chánh nghĩa? Thắng lợi của kẻ cường đại là chánh nghĩa, thất bại của kẻ nhược tiểu là bất nghĩa! Chiến tranh của chúng ta vĩnh viễn là chánh nghĩa, chiến tranh của các ngươi vĩnh viễn là bất nghĩa. Phật giáo hoàn toàn chẳng tiếp nhận luận điểm như thế ấy”. “Cừu hận vĩnh viễn chẳng thể hóa giải cừu hận, chỉ có nhân ái là có thể hóa giải cừu hận. Đấy mới là chí lư vĩnh hằng”. Những câu trên đây đều dẫn từ sách Khải Thị Của Đức Phật do tiên sinh Cố Pháp Nghiêm biên soạn. Lại có thể tham duyệt các trang một trăm ba mươi chín, một trăm bốn mươi, và một trăm bốn mươi mốt, chẳng cần phải trích dẫn. V́ sao Lư cư sĩ nói “giết địch là trung”… Chẳng lẽ “địch” chính là ma quỷ, chúng cũng chẳng phải là nhân loại ư? (Dẫu chúng nó là ma quỷ đi nữa, đức Phật cũng chẳng chủ trương giết. Tối đa là hàng phục mà thôi!) A Di Đà Phật! (Trong khi tôi viết lá thư này, trong ḷng đúng là hoảng hốt, kinh sợ), bởi lẽ, vứt bỏ ḷng Bi th́ toàn thể Phật giáo cũng tiêu luôn rồi! Nêu đơn giản mấy điều này để răn Lư cư sĩ! (Hoàng Tuấn Khôi hỏi)

 

Đáp: Đối với cao luận của các hạ, tôi chia thành năm phần để kính đáp:

1) Từ “bất cứ h́nh thức nào” cho đến “hoàn toàn trái nghịch giáo giới của Phật” là đoạn thứ nhất. Đọc xong, đủ thấy các hạ nặng ḷng từ bi, hết sức bội phục, nhưng pháp thế gian phần nhiều quen thói phân biệt, pháp xuất thế gian hết sức chú trọng vô phân biệt. Đối với phân biệt, mỗi người có lập trường riêng. Các lập trường xét theo nguyên tắc đều quy về một, nhưng phương cách thực hiện khác nhau. Dùng chính trị và tôn giáo để luận, tuy đều v́ lợi ích chúng sanh, nhưng chính trị th́ nắm quyền cai trị, thực hành sự thưởng phạt. Từ Nghiêu, Thuấn cho đến Châu, Khổng đều là bậc thánh nhân, vua Nghiêu giết Tứ Hung[19], vua Thuấn lập ra ngũ h́nh[20], Thành Thang và Châu Vũ Vương làm cách mạng (lật đổ Kiệt, Trụ), vua Châu giết Quản, Sái[21], Khổng Tử giết Thiếu Chánh Măo. Những vị ấy đều là bất đắc dĩ mà giết, chẳng phải là viện cớ che đậy ḷng riêng tư. Tôn giáo chỉ nói rơ nhân quả do chính ḿnh phải gánh chịu, khuyên dạy cải ác, chẳng có quyền cưỡng chế. Ai nấy có trách nhiệm riêng, ai nấy có tác dụng riêng. Không có tôn giáo, sẽ chẳng thể cải hóa cái tâm. Không có chính trị, sẽ chẳng thể bảo vệ tôn giáo. Đó là điều nên biện định thứ nhất.

2) Thứ hai, cao luận từ “Phật giáo đề xướng, tuyên dương hoà b́nh, chẳng tàn bạo” cho đến “Phật giáo hoàn toàn chẳng tiếp nhận luận điểm như thế ấy” là đoạn thứ hai. Phật giáo đề xướng ḥa b́nh, chẳng phải là ngăn cấm bạo lực. V́ có sức hàng phục th́ chẳng giết, do [kẻ ấy] đă bị hàng phục rồi, cần ǵ phải giết nữa? Cầm bát hàng phục rồng, hóa ra sư tử để hàng phục voi, hàng ma dưới cội cây, là lúc chứng Bồ Đề. Giết giặc, giết địch, pḥng vệ để ngăn cấm bạo lực, chẳng phải là không được phép. Nếu chẳng cho phép tự pḥng vệ, cần ǵ có Chấp Kim Cang Thần và Vi Đà vũ trang, Hộ Pháp Già Lam v.v… Đó là điều nên biện định thứ hai.

3) Thứ ba, Quan Công lúc c̣n sống hoàn toàn chưa quy y Phật. Ông ta v́ hộ quốc mà giết địch, chính là hành vi thuộc về chánh trị trong thế gian, chẳng thể dùng giới luật nhà Phật để ràng buộc được! Thấy là nhân, hay thấy là trí, cố nhiên chẳng thể bàn luận nhất định được, nhưng Phật coi trọng sám hối, oán thân đều độ, thiện ác đều nhiếp. Xưa vua Ca Lợi từng cắt chặt thân thể đức Thế Tôn; vị La Hán Kiều Trần Như trong đời này chính là vua Ca Lợi thuở trước. Lại nữa, trong hội Niết Bàn, gă đồ tể [Quảng Ngạch] buông dao mổ xuống, ngay lập tức thành Phật. Anh linh của Quan Công hộ tŕ pháp của đại sư Trí Giả, nên được gọi là Bồ Tát. Cân nhắc những điều vừa nêu trên đây, có lẽ nào đuổi ông ra ra khỏi cửa? Bồ Tát là “giác hữu t́nh”, lẽ đâu chẳng chấp thuận dạy cho người khác giác ngộ? Luận điểm như vậy phát xuất từ Phật giáo, kẻ hèn này chẳng gánh trách nhiệm. Đó là điều nên biện định thứ ba.

4) Thứ tư, luận định ấy (những điều luận định về từ bi, chống chiến tranh trong lời hỏi) lại càng là chí lư danh ngôn, nhưng cần phải đừng giữ thành kiến, hăy nhất loạt b́nh đẳng. Các hạ đối với chuyện Quan Công giết người khi c̣n sống, ông ta đă chẳng phải là giáo đồ nhà Phật, lại là vơ tướng, chủ nhân do ông ta phụng sự (Lưu Bị) lại bị Tào Tháo áp bức. Quan Công mang chức trách con nhà vơ, mà ép ông ta chẳng bảo vệ chủ ḿnh, chẳng kháng cự địch nhân, nói theo pháp thế gian, ông ta thờ vua chẳng dốc sức ḿnh, làm người chẳng trọn hết ḷng trung, sợ rằng công luận sẽ chẳng chấp thuận! Dẫu các hạ có tư tưởng cao siêu, vạch ra Quan Công là kẻ tội lỗi, nhưng ông ta đă đứt đầu hy sinh, chết đă nhiều năm, thần hồn đă sám hối, quy Phật; sao không dùng sự nhân ái hóa giải để khoan dung vậy?

5) Thứ năm, luận định về Sự, hăy nên phân định giới tuyến rơ rệt. Xét theo pháp thế gian, người nhà vơ chẳng học Phật pháp, kháng địch và giết địch là chức trách của kẻ ấy. Tận hết trách nhiệm th́ gọi là trung, chẳng tận hết trách nhiệm th́ gọi là “bất trung”. Đó là công luận trong thế gian, kẻ hèn này chẳng qua học sao nói vậy mà thôi! Pháp xuất thế gian chẳng vậy! Nếu ḥa thượng xuất gia phạm tội sát, không chỉ là giết người, dẫu giết dế, kiến, chim, thú, cũng là phá giới, đều là đă đánh mất luật nghi. Trong pháp thế gian, kẻ địch đều gọi là “giặc”, pháp xuất thế gian th́ đầu, mắt, tủy, năo đều có thể xả cho kẻ địch. Đấy là do những điều đă học và lập trường khác nhau. Tôi lại đặc biệt thanh minh: Nói Quan Công là trung, xem trong các sách sử, đều gọi ông ta là Hộ Pháp. Xem những ghi chép trong sách vở nhà Phật, nhà chùa đắp tượng ông ta chẳng phải là trong hiện thời, đều chẳng phải do kẻ hèn này đề xướng. Chứng cứ xác thực rành rành, nếu có điều kinh sợ, xin hăy hướng về những người ấy mà lư luận, kẻ hèn này bất quá được hỏi tới, bèn dựa theo những ǵ chính ḿnh đă biết để trả lời! Toàn thể Phật giáo chẳng thể v́ một ḿnh Quan Công mà tiêu vong, đấy cũng là điều có thể nói dứt khoát. Đó là điều đáng nên biện định thứ năm.

 

* Hỏi: Rất nhiều sách ca ngợi Phật pháp được lưu thông, trong ấy, nêu ra rất nhiều chuyện phát sanh trong đời trước hoặc chuyện thuộc đời sau, khiến cho những kẻ b́nh phàm khó thể tin phục! Dường như rơ ràng là quá huyễn hoặc, kỳ lạ, có phải là trừ phi tu đến mức độ có con mắt trí huệ ra, những kẻ b́nh phàm vĩnh viễn chẳng có cách nào thấy những chuyện thần kỳ như thế? Bản thân chẳng trông thấy mà tin tưởng, đó có phải là niềm tin mù quáng hay không? Trong những người đang sống trên cơi đời, có ai từng luyện thành con mắt trí huệ hay không? (Lưu Văn Tường hỏi)

 

Đáp: Có thể lư giải th́ sẽ chẳng phải là huyền hoặc, lạ lùng, chứ nh́n vào chuyện trước mắt [mà chẳng lư giải], sẽ cảm thấy lạ lùng, huyền hoặc. Ví như ai nấy đều có cao tổ (ông cố), tằng tổ (ông sơ), đấy đều là những chuyện thuở trước, nhưng ta chưa từng thấy, hoàn toàn chẳng phải là không có! Nếu cưới vợ, sanh con, con lại cưới vợ sanh cháu, cho đến chắt, chút, đều là chuyện thuộc sau này, cũng chẳng thể thấy được, nhưng hoàn toàn chẳng phải là không có! Tôi nghĩ bất cứ người nào, sống trong hiện thời, mong thấy trên là ông cố, dưới là chắt, chút, sợ là khó thể làm được! Nếu con người tin là ông cố và cháu, chắt, đó có phải là tin tưởng mù quáng hay không? Phải biết ngày hôm nay là do ngày hôm qua biến thành, ngày mai do ngày hôm nay biến thành. Nếu chẳng tin tưởng, hăy hỏi ông Ái Nhân Tư Thản (Einstein)!

 

* Năm câu hỏi của Ngô tiên sinh ở Đào Viên

 

          1) Hỏi: Đối với tín đồ Cơ Đốc, tổ tiên của chúng ta là Á Đương và Hạ Oa (Adam và Eva). Chẳng biết tổ tiên của tín đồ Phật giáo là ai?

 

          Đáp: Trước khi đáp, xin đặc biệt thanh minh: Trong thư ngài tự xưng là Ngô tiên sinh, có thể nói là “tự tôn, tự quư”. Lại nói là hỏi đáp về Phật học, nhưng xem chung năm câu hỏi, hoàn toàn chẳng phải là Phật học! Chẳng qua là không giữ bổn phận, ở không rảnh rang khó thể chịu nổi, vô sự mà khuấy động sóng gió đó thôi! Tiên sinh đă rủ ḷng hỏi tới, chỉ đành trả lời riêng cho cá nhân tiên sinh, chẳng dám bàn leo giáo nghĩa của quư giáo, ḥng tránh khỏi những điều thiếu sót cung kính, thất lễ vậy.

          Con người có tổ tiên của dân tộc, tôn giáo có vị tổ sáng lập giáo. Con người chẳng phải là vừa lọt ḷng đă đều theo tôn giáo, cần phải phân định rơ ràng! Nay trước hết nói đến tổ tiên của dân tộc Trung Hoa:

a. (Theo Ngự Lăm Từ Chỉnh Tam Ngũ Lịch Nghị), trời đất hỗn độn như trứng gà, Bàn Cổ ở trong đó một vạn tám ngàn năm, tách rời trời đất rồi Bàn Cổ sống trong đó.

b. (Theo Thuật Dị Kư), Bàn Cổ là tổ của thiên địa, vạn vật.

c. (Theo Lộ Sử), trời đất và thuở ban sơ, có Hỗn Độn Thị xuất hiện sắp xếp cơi đời. Hỗn Độn chính là Bàn Cổ.

Đấy chính là thần linh hóa sanh, hoàn toàn chẳng phải là do nam nữ ô uế giao hợp mà xuất hiện vậy. Lại nói đến tổ của Phật giáo. (Theo phẩm Thọ Lượng trong kinh Pháp Hoa), mài nát năm trăm vạn ức na-do-tha A-tăng-kỳ tam thiên đại thiên thế giới thành vi trần. Cứ đi qua năm trăm ngàn vạn ức na-do-tha A-tăng-kỳ cơi nước, mới đặt xuống một hạt vi trần. [Đặt như thế] cho đến hết số bụi đó, đối với những thế giới đă đi qua, đều nghiền nát thành vi trần, [dùng số lượng vi trần ấy] để sánh ví ḥng nêu rơ [thời gian] Thích Ca Như Lai đă thành Phật lâu xa [dường nào]. Quư tiên sinh tuy là người Hoa, sợ rằng c̣n có những điều chưa được nghe, quên mất lễ chế, nguồn gốc tổ tiên[22], huống chi điển tịch cũng chẳng biết!

 

2) Hỏi: Hết thảy động vật đều do Gia Ḥa Hoa (Jehovah) sáng tạo để làm thực phẩm cho con người. Phật giáo ăn chay có phải là cô phụ hảo ư của Thượng Đế hay không?

 

Đáp: Theo văn hóa Trung Hoa, “kiến kỳ sanh, bất nhẫn kiến kỳ tử. Văn kỳ thanh, bất nhẫn thực kỳ nhục” (thấy nó sống, chẳng nỡ thấy nó chết; nghe tiếng nó, chẳng nỡ ăn thịt nó). Đấy là cái tâm nhân từ yêu thương loài vật. Đối với Phật giáo, chúng sanh b́nh đẳng. Không chỉ là chẳng nỡ thấy giết, nghe tiếng, mà c̣n suy từ ḿnh nghĩ đến kẻ khác, giải cứu cho nó. Nếu nói “sáng tạo vạn vật để làm thức ăn cho con người”, th́ cũng có thể nói “sáng tạo con người để làm thức ăn cho muỗi, bọ chét, rệp, rận” ư?

 

3) Hỏi: Phật giáo đồ (bao gồm cả tín đồ Đạo giáo) đều sùng bái ngẫu tượng. Đấy chính là điều mà tín đồ Cơ Đốc giáo coi là chuyện không đúng. Phật giáo hăy nên giải thích như thế nào?

 

Đáp: Trung Hoa vào thời cổ không có ngẫu tượng, dùng người làm thần thi[23] để tế, mang ư nghĩa hiếu thảo, tưởng nhớ cội nguồn, hàng thất phu chẳng biết đến nghĩa ấy! Về sau, do chẳng thuận tiện, bèn diễn biến thành mộc chủ (bài vị khắc tên tuổi bằng gỗ) hoặc tạc tượng, mang ư nghĩa “trông thấy h́nh tượng, bèn nghĩ đến người”, [cảm nhận] như người ấy vẫn c̣n quanh quẩn. Phật giáo thoạt đầu chẳng có tượng, cũng là diễn biến về sau, [tạc tượng] nhằm thể hiện ư nghĩa “ngắm nh́n chẳng quên, ḥng chánh tâm ư, chẳng tán loạn”. Quư tiên sinh chẳng coi [những thứ ấy] ra ǵ, đó là chuyện thuộc về tánh t́nh bẩm sanh của cá nhân. Tôi từng nghe nói có kẻ cha mẹ đă chết mà chẳng thèm chôn, huống hồ là đối với gỗ khắc, giấy vẽ [mà coi trọng] ư? Văn hóa Trung Hoa chẳng phải là như vậy, thấy thư từ của cha mẹ, thân hữu, c̣n vái lạy rồi mới đọc. Kéo quốc kỳ lên, ắt đứng nghiêm, hoặc cúi gập ḿnh, nhằm biểu hiện ḷng kính trọng trong tự tâm. Ôi! Lễ nghĩa của dân tộc là như thế đó, những xứ di địch bèn coi là sai!

 

4) Hỏi: Kinh Thánh ghi chép rất nhiều: Do chẳng tin chúa Gia Tô và Thượng Đế Gia Ḥa Hoa, bèn bị Thượng Đế Gia Ḥa Hoa dùng ôn dịch, hồng thủy (lũ lụt) giết chết chẳng thể đếm xiết. Khuyên các ngươi hăy nên thay đổi tín ngưỡng, tin theo Chúa Gia Ḥa Hoa. Nếu không, Chúa Gia Ḥa Hoa dấy ḷng phẫn nộ, các ngươi chỉ có một con đường chết đứ đừ!

         

Đáp: Sự hiểu biết của quư tiên sinh sao mà nông cạn thế? Tại hạ nghĩ Gia Ḥa Hoa quyết chẳng như thế! Thông minh chánh trực th́ gọi là “thần”. Há có [hạng thần thánh chánh trực nào] thấy người kính trọng bèn hoan hỷ, thấy kẻ chẳng thân cận bèn tuôn nước lũ, giáng ôn dịch giết chết? Lại c̣n giết chóc chẳng thể đếm xiết! Nếu thật sự là như vậy, làm sao gọi là chánh trực cho được? Sợ rằng quư tiên sinh chẳng hiểu rơ giáo lư; v́ thế, lớn mật nhục mạ Gia Tô. Ông lại khuyên chúng tôi đổi sang tin Gia Tô. Nếu không, Gia Tô phẫn nộ, chỉ có một con đường chết ngắc, ăn nói kiểu ǵ thế? Lại tự xưng là “tiên sinh”, gọi kẻ khác là “các ngươi” đúng là tự đề cao ḿnh, khinh rẻ người khác, sở học khác nhau!

 

          5) Hỏi: Đối với sự phán xét cuối cùng của Cơ Đốc giáo, Phật giáo có cách nh́n ra sao?

         

Đáp: Quư tiên sinh là tín đồ Gia Tô giáo, tự vâng theo quy luật của Gia Tô giáo, sẽ chịu sự phán xét cuối cùng của ông ta, tôi hoàn toàn chẳng dị nghị. Chúng tôi là giáo đồ Phật giáo, đă sớm quy y Tam Bảo, sẽ nương theo thuyền Từ, vượt lên bến giác. Kinh Phật đă chép, đức Phật là thầy của trời và người, là bậc tôn quư duy nhất trong ba cơi, chúng tôi là nhân dân của Ngài. Bất cứ tôn giáo nào đều có hệ thống riêng, quư giáo chẳng có pháp quyền trị phạt kẻ ngoài giáo, há có thể vượt khỏi phạm vi ư?

 

IV. Nhân quả

 

          * Hỏi: V́ duyên cớ nào mà Thích Ca Mâu Ni Phật lại đến thế giới Sa Bà? (Huệ Quư hỏi)

 

          Đáp: Đức Thế Tôn v́ một đại sự nhân duyên mà xuất hiện trong cơi đời, kinh đă nói hết sức rơ ràng. “Đại sự” ấy chính là nói đến đại sự sanh tử của chúng sanh vậy!

 

          * Hỏi: Luật nhân quả của Phật giáo dường như mâu thuẫn hiện thực? (Khưu Bát hỏi)

 

          Đáp: Nhân là khởi đầu, quả là kết thúc, c̣n có chuyện ǵ chẳng phù hợp hiện thực?

 

          * Hỏi: Nay có Giáp giết Ất, đó là nhân hay là quả? Có căn cứ nào để có thể biết được hay không? (Hoàng Hàm hỏi)

 

          Đáp: Ở nơi Giáp là nhân. Trước kia, vô duyên cớ mà giết, cho nên tạo nhân. Trước kia, do có duyên cớ mà giết, vẫn là tạo nhân. Do kẻ bị giết, chẳng hiểu rơ tiền duyên, vẫn ôm ḷng oán hận. Có oán, ắt sẽ nghĩ tới chuyện báo thù. V́ thế, vẫn nói là nhân, bất quá là cái nhân trong cái quả mà thôi! Sau khi đă có nhân, ắt phải có quả! Nơi Ất bèn nói là quả. Do nợ mạng của Giáp, nên phải đền trả; v́ thế, thọ quả. Tuy chẳng nợ mạng Giáp, nhưng trong ấy do có những nhân khác, dựa vào những điều đó mà chịu quả báo. Cho nên vẫn nói là quả, nhưng trong quả đă bao gồm nhân, sợ rằng hễ gặp duyên, sẽ lại tạo nhân! Oán oán truy t́m như thế, chẳng có lúc nào xong. Do vậy, Phật pháp coi trọng giác ngộ, xả oán để giải trừ vậy!

 

          * Hỏi: Chẳng tin Phật mà cũng chẳng tin có thần, hạng người như thế, kết quả là có quả báo ǵ? (Triều Tân Ban liên hữu hỏi)

 

          Đáp: Ngă Chấp quá nặng, ngu si quá nặng. Chấp nặng, si nặng, đó gọi là Nhị Hoặc. Đă dấy Hoặc, sẽ chẳng tránh khỏi tạo nghiệp. Đă tạo nghiệp, chẳng tránh khỏi thọ báo. Tạo nghiệp ǵ, sẽ thọ báo nấy, chẳng thể đoán định trước được!

 

          * Hỏi: Tín ngưỡng và ngộ đạo v́ sao chẳng thể hợp nhất? (Trương Thanh Cẩm hỏi)

 

          Đáp: Tín ngưỡng là nhân, ngộ đạo là quả. Đă ngộ rồi bèn tu, sau khi đă tu bèn chứng. Tu và chứng lại là một thứ nhân quả. Hợp nhất chính là tu nhân để cầu quả vậy!

 

          * Hỏi: “Định nghiệp chẳng thể chuyển”, đối với người học Phật th́ câu này nghĩa là “có thể chuyển định nghiệp” hay “chẳng thể chuyển định nghiệp”? (Quách Liên Hoa hỏi)

 

          Đáp: Tâm người học Phật chẳng giống phàm phu, sửa lỗi cũ, tu tập từ đây, há lẽ nào nghiệp lực chẳng chuyển? Kệ rằng: “Tội nhược khởi thời, tương tâm sám. Tâm nhược vong thời, tội diệc vong” (Như khi tội khởi, dùng tâm sám. Khi tâm đă mất, tội cũng tiêu). Kinh viết: “Thọ tŕ, đọc tụng kinh này, nếu bị kẻ khác khinh rẻ, tức là kẻ trong đời trước đă tạo tội nghiệp, đáng đọa ác đạo, do [trong đời này] bị người đời khinh rẻ, nên tội nghiệp đă tạo trong đời trước bị tiêu diệt”. Trước là tiêu trừ, sau là chuyển thành nhẹ. Những điều này đều chứng tỏ do học Phật mà chuyển nghiệp vậy!

 

          * Hỏi: Chuyển Luân Thánh Vương là vị vua chấp chưởng, quản trị luân hồi ư? (Thí Hảo Học hỏi)

 

          Đáp: Trong hư không, thế giới vô lượng, nhằm thuận tiện nói năng, bèn giả định có phạm vi cỡ nào đó, như lấy Tứ Thiên Hạ (tứ đại châu) làm một đơn vị thế giới. Chuyển Luân Thánh Vương có vị quản lănh từ một thiên hạ cho đến tứ thiên hạ, nên dùng những chữ Kim, Ngân, Đồng, Thiết để gọi tên. Họ hoàn toàn chẳng phải là những vị vua chưởng quản sanh tử luân hồi.

 

          * Hỏi: Có phải là trong vũ trụ chỉ có một vị vua chưởng quản luân hồi hay không? (Thí Hiếu Học hỏi)

 

          Đáp: Câu hỏi này chắc là nói đến vị thần chuyên môn chưởng quản sanh tử luân hồi. Xét theo sự sanh tử luân hồi của chúng sanh, nói chung là do nghiệp lực là cái nhân chủ yếu, thật sự chẳng thuộc quyền cai quản của Thập Điện Diêm La Vương trong địa ngục. Nhưng ư người hỏi chắc là muốn hiểu rơ vị Diêm La Vương ấy là một hay nhiều, tôi cũng chỉ trả lời điều này: Thế giới đă là vô lượng, Diêm La cũng là vô lượng.

 

          * Hỏi: Có phải là chúng sanh trong một thế giới sẽ hạn cuộc luân hồi trong thế giới ấy hay không? (Thí Hiếu Học hỏi)

 

          Đáp: Thần thức của chúng sanh nhập thai, thật sự chẳng giới hạn trong một thế giới. Trọn hết mười phương đều có thể tiến vào.

 

          * Hỏi: Đối với chuyện sanh sanh tử tử của hữu t́nh chúng sanh, Phật giáo nói là “do vô minh nên trải qua luân hồi” mà ra, chẳng biết giải thích như thế nào đối với chuyện sống chết của vô t́nh chúng sanh (như cỏ cây chẳng hạn)? (Thí Hiếu Học hỏi)

 

          Đáp: Muôn pháp hễ duyên hợp bèn sanh, duyên tận bèn diệt. Động vật ngoài sắc thân ra, c̣n có thần thức (t́nh). V́ thế, khởi vô minh. Khoáng vật và thực vật chẳng có thần thức, chỉ là giả tướng do nhân duyên sanh diệt mà thôi!

 

          * Hỏi: A Tu La là quả báo do đă tạo nhân ǵ? (Huệ Đức hỏi)

 

          Đáp: Tu La chia thành bốn giới thiên, nhân, quỷ, súc. Đối với những Tu La thuộc về thiên giới th́ cái nhân là hạ phẩm Thập Thiện.

 

          * Hỏi: Nghe giảng kinh, thấy nói là “người sau khi đă chết, chậm nhất là bốn mươi chín ngày sẽ có thể chuyển sanh”. Cớ sao có hạng người bị kẻ khác hại chết, đă một năm hoặc nhiều năm, vẫn hiện h́nh ảnh như khi c̣n sống để trả oán? (Huệ Lâm hỏi)

 

          Đáp: Nói “trong ṿng bốn mươi chín ngày có thể chuyển sanh” là nói về thân Trung Ấm, tức là khi c̣n chưa [đầu thai] vào trong lục đạo. [Chết đă] một năm hoặc nhiều năm, mà vẫn hiện thân như khi c̣n sống, chính là đă lọt vào quỷ đạo rồi!

 

          * Hỏi: Đức Phật nói lục đạo luân hồi, [chuyện này] đă được nhiều sự thật chứng minh, chẳng thể hoài nghi nữa! Nhưng luân hồi lục đạo, ắt chẳng thể chọn lựa tự do. Tức là con người sau khi đă chết, nơi chốn sẽ chuyển sanh về vẫn phải tùy thuộc vào nghiệp nặng, nhẹ, lớn, nhỏ mà thọ sanh tương ứng, hay là ngẫu nhiên tương hợp? Hay là trong chốn âm thầm bèn có pháp luật quản chế? Học tṛ đọc sách quá ít, chẳng thể hiểu rơ, xin hăy dạy cho! (Trọng Chí Anh hỏi)

 

          Đáp: Trong ba điều ông đă nêu, điều thứ nhất là đúng.

 

          * Hỏi: Từ xưa đến nay, người đời phần nhiều nói nhân quả báo ứng là thật. Nếu nhân quả báo ứng là thật, tức là “tự làm, tự chịu”, nhưng người đời lại có chẳng ít kẻ hỏi thần, cậy Phật, hoặc lạy sao Đẩu[24], cầu cho nguyên thần mạnh mẽ, hưng vượng, hoặc cầu bù đắp vận mạng, hoặc siêu bạt vong linh v.v… Nói theo nhân quả báo ứng, những chuyện ấy có thể nào phát sanh hiệu lực hay không? (Thí Thủy Các hỏi)

 

          Đáp: Trồng đậu được đậu, trồng dưa được dưa, đích xác chẳng dối! Đúng là tự làm, tự chịu. Chỉ có điều người đời hỏi thần, lạy Đẩu, khẩn cầu nguyên thần sẽ được mạnh mẽ, hưng vượng, hoặc cầu bù đắp vận mạng, đều là hư vọng, chẳng có ích ǵ cho thực tế! Nếu chân tâm phát lộ sám hối, dứt ác, hướng thiện, quả thật cũng có thể hóa hung hiểm thành tốt lành. Đấy vẫn là nhân quả vậy! C̣n như siêu bạt vong linh, nếu thật sự trai giới chí thành, trong bảy phần [công đức], người chết có thể được hưởng một phần. Nếu làm dối trá cho xong chuyện, sẽ là vô ích!

 

          * Hỏi: Đối với chuyện “trồng đậu được đậu, gieo dưa được dưa”, có người nói: “Mạng như thế nào cũng được, cứ vâng chịu quả báo của nghiệp lực”, vô h́nh trung dưỡng thành thói xấu giải đăi, chẳng nghĩ đến chuyện tinh tấn, rốt cuộc trở thành kẻ vô dụng. Như vậy th́ có phải cũng là quả báo hay không? (Hứa Viêm Đôn hỏi)

 

          Đáp: Nghiệp do tâm tạo, mà cũng do tâm chuyển. Có thể chuyển th́ có thể thay đổi quả báo, hoặc là giảm bớt mấy phần. Nếu không, sẽ là bị nghiệp trói buộc, hứng chịu quả báo. Cam tâm lười biếng, chẳng nghĩ tinh tấn, đó cũng là cái nhân. Rốt cuộc, trở thành kẻ vô dụng, tất nhiên là quả. Há chẳng phải đều là do chính ḿnh chuốc lấy? Đó gọi là “phàm phu mặc t́nh chịu mạng, bậc trí tạo mạng”. Cần phải rất chú trọng chỗ này!

 

          * Hỏi: Tôi làm nhân viên kỹ thuật ấn loát, khéo sao gặp một Phật tử đem một cuốn khóa tụng tới cậy in, nhưng do tôi chịu trách nhiệm kiểm chữ, thấy chữ ch́[25] chẳng đủ, chẳng dám nhận lănh, bảo người ấy đến in ở chỗ khác, nhưng chính ḿnh là Phật giáo đồ, rất thẹn chẳng có đủ vật liệu, đến nỗi chẳng thể thực hiện thiện sự ấy, chẳng biết có phạm tội lỗi hay không? (Nhan Khoan Văn hỏi)

         

          Đáp: Đó là do chẳng đủ sức, không phải là chẳng làm, chẳng có tội lỗi ǵ!

 

* Hỏi: Từ xưa đến nay, tự, viện, am, đường đều do Tăng Già chủ tŕ, đàn-việt hộ pháp, nhưng hiện thời, ngôi chùa nọ ở Đài Bắc là một ngôi chùa to nổi tiếng, v́ sao do một người có danh vọng ngoài đời chủ tŕ, những tăng sĩ chưa thọ giới sống ở trong chùa, sáng tối khua chuông, gióng trống, ngược ngạo mỗi tháng nhận tiền lương từ kẻ thế tục có danh vọng ấy? Quả thật chẳng hợp lư, xưa nay chưa hề có lệ ấy! Mong đại đức chỉ dạy một hai điều! (Nhan Khoan Văn hỏi)

 

          Đáp: Đấy là hiện tượng đặc biệt trong Phật giáo Đài Loan, mỗi người ắt sẽ tự chịu trách nhiệm nhân quả, chưa hề sai lầm! Chỉ có điều là chẳng có bậc đại lực để uốn nắn, khiến cho chuyện này cứ lằng nhằng măi, chẳng giải quyết được. Đấy cũng là chuyện đáng buồn thương vậy!

 

          * Hỏi: Tâm điền của người xuất gia đă biến thành từ bi. Mỗi ngày sáng tối tụng niệm các chú Lăng Nghiêm, Đại Bi, há chẳng phải là gặp hung hiểm cũng có thể hóa thành tốt lành? Nhưng theo các báo ở Hương Cảng đều đăng tải: Gần đây, Tăng-già thuộc các tự viện ở Đại Lục bị giặc Cộng truy diệt, tàn sát. Người tu hành cũng bị đứt đầu dưới đao của bọn giặc đỏ, cớ sao Phật, Bồ Tát chẳng phát tâm khiến cho hết thảy những người gặp hung hiểm đều hóa thành cát tường? (Nhan Khoan Văn hỏi)

 

          Đáp: Người xuất gia chưa chắc đă hoàn toàn có tâm từ bi. Tụng kinh chú cũng chưa chắc là toàn bộ đều có ḷng chân thành. Đối với nhân quả, ắt cần phải theo chiều dọc, xét cả ba đời, theo chiều ngang, xét theo cộng nghiệp, hết sức chẳng đơn thuần! Phật và ma thịnh hay suy, đầu mối là do đức hạnh của tín đồ nhà Phật tiến hay lùi! Cư sĩ chỉ biết kẻ bên ngoài phá hoại Phật pháp, chẳng biết tín đồ nhà Phật phá hoại Phật pháp. Vật hư nát bèn sanh ra trùng, ấy là có nguyên do. Nhưng ở trong hoàn cảnh này, phải hết sức tỉnh ngộ, đừng ôm ḷng oán hận suông Bồ Tát chẳng có ḷng Từ.

 

          * Hỏi: Tục ngữ có câu: “Đời này nếu nhận tiền bạc của người khác mà chẳng thể hoàn trả, sẽ phải trả nợ trong đời sau”. Nếu là như vậy, đời này nhận sự bố thí của người khác, há chẳng phải là đời sau sẽ làm chó, ngựa để đền nợ ư? (Thiện Nhân hỏi)

 

          Đáp: “Nhận”“thiếu” có phân biệt đôi chút. Ví như người ta tặng tiền cho, chẳng cần phải trả lại. Bố thí thuộc loại tặng cho. Sau khi nhận lấy, chỉ cầu thượng hoằng, hạ hóa, ngày càng thêm tinh tấn, hết thảy công đức thảy đều hồi hướng trọn khắp cho thí chủ, ắt sẽ chẳng phạm lỗi. Nếu sau khi đă nhận, bèn biếng nhác, buông lung, chẳng cầu đạo, sợ rằng sẽ bị nguy hiểm!

 

          * Hỏi: Niệm Phật kèm thêm Tín, Nguyện, Hạnh trọn đủ, mong văng sanh Cực Lạc. Nếu đời này nhận tiền tài của người khác, chẳng biết có thể văng sanh hay không? Hay là lại vẫn luân hồi trong lục đạo để đền nợ cho người ta? (Thiện Nhân hỏi)

 

          Đáp: Nếu niệm Phật mà trọn đủ Tín, Nguyện, Hạnh, sẽ quyết định văng sanh, há cần phải đa nghi? Đối với những nghĩa khác, hăy nghiền ngẫm những câu đă đáp trước đó, sẽ tự hiểu.

 

          * Hỏi: Tôi đọc kinh Phật, đối với pháp vi diệu thường chẳng thể thấu hiểu rốt ráo, nhưng thích bàn chuyện nhân quả báo ứng, chẳng biết có loại sách chuyên biệt này hay không? (Sa Nhậm hỏi)

 

          Đáp: Kinh Hiền Ngu Nhân Duyên, sách Kinh Luật Dị Tướng, Pháp Cú Thí Dụ Kinh, Lịch Sử Cảm Ứng Thống Kỷ v.v… đều thuộc loại bàn luận nhân quả. Ngoài ra, c̣n có bộ sách An Sĩ Toàn Thư, nội dung bao gồm Sự lẫn Lư, khá phù hợp sơ cơ.

 

          * Hỏi: Nếu nói “các duyên ḥa hợp” th́ “nhân nhiều, quả một”. Nói “hễ mê bèn có các tướng”, như cậy th́ lại là “nhân một, quả nhiều”. Nói “trồng dưa được dưa”, như thế th́ là “một nhân, một quả”. Nói “dưa chín, kết hạt” như thế tức là “hạt chính là quả”. Nói “gieo hạt thành dưa”, như thế th́ “hạt lại là nhân”. Rốt cuộc, nhân nhân, quả quả, đúng đúng, sai sai, mong cư sĩ dạy rơ cho! (Ngô Tiệp Hán hỏi)

 

          Đáp: Khi nhân kết quả, do duyên làm môi giới, nhân cũng gọi là duyên. Chỉ có một loại là thân nhân duyên, các duyên khác đều có tác dụng thúc đẩy cái nhân [chánh yếu ấy] sanh ra quả, [cho nên] đều chẳng thể gọi là nhân. Điều nghi thứ nhất chính là sai lầm v́ không phân định rơ giới tuyến giữa nhân và duyên. “Hễ mê bèn có các tướng”, đối với điều này, cần phải lập tỷ dụ để giải thích: Ví như người mắc bệnh quáng mắt, đó là nhân, sẽ có cái quả là nh́n vào một ngọn đèn, liền thấy có nhiều đèn! Đấy vẫn là “một nhân, một quả”. [Dẫu trông thấy] nhiều đèn, chỉ có thể luận định là một quả. Bởi lẽ, một ngọn đèn là một tổng tướng chân thật, nhiều ngọn đèn là một vọng tổng tướng. Con mắt mắc bệnh trông thấy nhiều ngọn đèn, đó chính là một vọng tổng tướng. V́ thế, vẫn nói là một quả. Đối với điều nghi thứ hai, vẫn là hiểu lầm do chưa hiểu tổng tướng. Nhân quả vốn có tánh chất liên hoàn, xin hăy nghiên cứu mười hai nhân duyên, sẽ tự biết. Tánh chất liên hoàn chính là nhân trở thành quả, quả vẫn bao gồm nhân. Gieo hạt (tức chủng tử) xuống đất chính là nhân, kết thành dưa là quả. Trong dưa chứa đựng hạt, tức vẫn là nhân. Đối với điều nghi thứ ba, chính là do đă hiểu lầm hạt là quả vậy!

 

          * Hỏi: Tu điều lành ǵ sẽ sanh trong ba thiện đạo? Tu nhân ǵ sẽ đọa trong ba ác đạo? Tu nhân ǵ sẽ là bốn loại thai, noăn, thấp, hóa? (Xuân Yến hỏi)

 

          Đáp: T́nh h́nh này cực kỳ phức tạp: Có thuần thiện, có thuần ác, có thiện kiêm ác, có ác kiêm thiện, có thiện nhiều mà ác ít, có ác nhiều mà thiện ít. Nghiệp đă là thiên sai vạn biệt, báo sẽ tự bù qua, sớt lại, biến đổi nhiều lẽ, thật sự là chẳng thể bằng vài câu mà có thể nói trọn hết được! Nói theo đại thể, tạo nghiệp Thập Thiện, do ba phẩm thượng, trung, hạ, mà chia ra sanh trong ba thiện đạo. Do tạo mười ác nghiệp, cũng chia thành ba phẩm thượng, trung, hạ, tức là cái nhân sanh trong ba ác đạo. Đối với bốn cách sanh noăn, thai, thấp, hóa, lục đạo đều có. Đối với thiện báo và ác báo, hăy nên lấy lục đạo làm chuẩn, chớ nên dựa theo cách sanh để luận!

 

          * Hỏi: Dùng nhân quả ba đời để luận, cái quả vị lai trong súc sanh đạo là do gieo cái nhân trong đời hiện tại như thế nào? Như các loài lợn, ngỗng, khỉ, trùng v.v… (Phan Tư Húc hỏi)

 

          Đáp: Nghiệp nhân chia thành ba loại thân, khẩu, ư. Những nghiệp nhân ấy lại do tham, sân, si nơi ư chủ động. Hết thảy ư thức của súc sanh chẳng ngoài tham, sân, si, một niệm [bao hàm] mười pháp giới, sao lại có thể nói là “chẳng tạo nhân?” Tuy miệng chúng chẳng thốt nên lời, nhưng đối với chuyện giết, trộm, dâm nơi thân chúng, nếu quan sát kỹ càng, sẽ hiểu rơ phân minh, sao lại có thể nói là chẳng tạo nhân cho được?

 

          * Hỏi: Thấp sanh và hóa sanh trong loài súc sanh và vi khuẩn v.v… có phải cũng là từ trong sanh tử luân hồi mà có hay không? (Quế Dẫn Hạnh hỏi)

 

          Đáp: Hễ thuộc hữu t́nh phàm loại, đều có luân hồi. Vi khuẩn là thực vật, chẳng thuộc trong phạm vi ấy.

 

          * Hỏi: Súc sanh số lượng nhiều hơn loài người vạn vạn lần. Nếu con người chuyển sanh vào súc sanh đạo, th́ một người có thể biến thành nhiều súc sanh? Hay là một người chỉ có thể biến thành một súc sanh? (Quế Dẫn Hạnh hỏi)

 

          Đáp: Chỉ luận theo đường súc sanh, một thần thức bèn nương gởi một thân là chuyện thường nghe. Nếu có thuyết nào khác, tôi vẫn chưa biết. Riêng tôi phỏng đoán ư người hỏi, có lẽ là nghi “súc vật nhiều mà người th́ ít. Nếu cứ một người là một thân, lấy đâu ra súc vật nhiều ngần ấy?” Phải biết: Những kẻ biến thành súc sanh bao gồm trọn lục đạo. Huống hồ súc sanh sanh sanh tử tử, có những con vật trải qua nhiều đại kiếp vẫn chẳng thể thoát khỏi loài súc sanh [mà chính ḿnh đă đầu thai] ư?

 

          * Hỏi: Nhân quả vĩnh viễn chẳng tiêu diệt, thiện ác chẳng thể tiêu trừ lẫn nhau. V́ sao trong Lâm Chung Tam Yếu (ba điều trọng yếu lúc lâm chung), Ấn Quang đại sư lại bảo: “Nghiệp lực phàm phu do niệm Phật, nghiệp sẽ tiêu diệt”? (Quế Dẫn Hạnh hỏi)

 

          Đáp: “Nhân quả chẳng tiêu diệt” chính là nói nó chẳng tự tiêu diệt. Há chỉ có vậy mà thôi, nó cũng chẳng tự sanh. Trước hết, ắt phải hiểu rơ lư “chẳng tự” th́ mới có thể bàn đến vấn đề này! “Nhân” là nói tới “thân nhân” (cái nhân trực tiếp sanh ra cái quả), “quả” là nói tới “tập quả” (quả do huân tập mà tạo thành). Giữa hai thứ ấy, có một thứ then chốt quan trọng, gọi là “duyên”. Duyên ấy có sức tăng thượng, cái nhân bèn sanh khởi, giống như hạt giống trên mặt đất gặp nước, sẽ có thể nẩy mầm. Chẳng gặp được sức tăng thượng ấy, hạt giống vẫn ẩn trong đất. V́ thế, nói là “chẳng diệt”. Nếu duyên có sức tổn giảm, cái nhân sẽ bị biến hoại, như hạt giống trên mặt đất gặp vôi, acid nitric v.v… sẽ dần dần hư nát. Chẳng gặp sức tổn giảm ấy, hạt giống vẫn ẩn trong đất, nên nói là “chẳng diệt”. Niệm Phật thật sự là cái duyên gây tổn giảm cho nhân ác, có thể khiến cho chủng tử ác bị hư nát. V́ thế, nói là “tiêu diệt”, lư chẳng mâu thuẫn! Lại hăy nên biết: Đấy chính là do duyên chuyển biến thành phần của nó, quyết chẳng phải là thiện và ác chống đối, tiêu trừ lẫn nhau!

 

* Hỏi: Tôi làm loan sanh[26] ở Thánh Đế Điện. Về sau, vị đường chủ chọn tôi làm giảng sanh. Nay tôi được nghe Phật lư, mai sau sẽ có thể đạt được thiện quả hay không? (Ngô Ương hỏi)

         

Đáp: Loan sanh giảng thiện thư, tức là điều thiện thế gian, chỉ có thể giữ được thân người. Học Phật là đại sự nghiệp siêu phàm nhập thánh, đạt được cái quả rốt cuộc bằng với chư Phật. So sánh giữa hai đằng, sai biệt một trời một vực vậy!

 

          * Hỏi: Tháng Bảy mở cửa địa ngục, xá tội vong nhân, có phải là sẽ khiến cho các anh em thân thiết [đă khuất] được ăn [những vật cúng] hay không? Hay là họ đă luân hồi chuyển thế mất rồi? (Chân Nguyệt hỏi)

 

          Đáp: Đây là một thứ tục truyền trong xă hội, chẳng đáng tin theo. Thật ra, người ta mượn ngày ấy để tụ họp náo nhiệt, ăn no đẫy một bữa rượu thịt say sưa đó thôi!

 

          * Hỏi: Kinh Pháp Hoa nói Phật Thích Ca đă thành Phật từ vô lượng kiếp trước. V́ sao trong các kinh khác phần nhiều nói: Trong nhiều đời trước, đấng Thích Tôn từng làm tiên nhân, phàm phu, hoặc đọa địa ngục, hoặc làm súc sanh v.v…? Đă thành Phật mà c̣n bị đọa lạc ư? (Bạch Vĩnh Cư hỏi)

 

          Đáp: Vô lượng kiếp cố nhiên là nói đến chuyện lâu xa. “Nhiều đời” hoàn toàn chẳng phải là nói gần đây, chớ nên hiểu lầm văn nghĩa! C̣n như nói [tiền thân đức Phật] từng làm tiên nhân v.v… đều là nói tới chuyện trước khi Ngài thành Phật. Há có chuyện sau khi đă thành Phật, lại làm đủ mọi hạng chúng sanh? Như hơn hai ngàn năm trước, Ngài làm Thái Tử nước Ca Tỳ La th́ chính là hóa thân của Ngài vậy!

 

          * Hỏi: Trong Phật giáo, cứ vào tháng Bảy, sẽ thỉnh Tăng thí phóng Du Già Diệm Khẩu. Có người v́ báo ân cha mẹ, lại c̣n cúng bái kèm theo, như bày linh vị, sắm sửa quần áo, rương tráp bằng giấy, đồ ăn thức uống v.v…để cúng quải tổ tiên. Quỷ tử vong đă khuất có thật sự nhận lănh [những thứ cúng quải ấy] hay không? (Dương Thừa Quang hỏi)

 

          Đáp: Xét theo kinh Vu Lan Bồn, ngày Rằm tháng Bảy chính là ngày hoàn tất khóa kết hạ, chư Phật hoan hỷ, cúng dường Tam Bảo có thể siêu tiến cha mẹ bảy đời. Người đời sau mở rộng ḷng bi, thương xót những cô hồn không con, không cháu, không có ai siêu tiến, bèn làm lễ Diệm Khẩu, hành thí thực. Đó đều là diễn biến [về sau]. C̣n như sắm sửa áo, rương v.v… bằng giấy, đều chẳng phải là do kinh dạy. Nếu tổ tiên sanh trong quỷ đạo, sẽ có thể lănh nhận [những thứ đó]. Nếu ở trong các đường khác, há cần những thứ ấy ư?

 

          * Hỏi: Nếu chúng ta biết niệm kinh, bèn chẳng thỉnh tăng và mua sắm các vật trên đây, cũng chẳng lập linh vị, mà chính ḿnh đơn độc ăn chay, kiền thiền chí thành tụng kinh, lễ sám, lại sám hối thay cho người thân đă khuất, thay cho họ niệm Phật cầu sanh Tây Phương. Hiệu quả ấy so với cách làm trong câu hỏi thứ nhất, sẽ có công đức như thế nào? (Dương Thừa Quang hỏi)

 

          Đáp: Thỉnh tăng cầu siêu cho vong, ắt phải [thỉnh] bậc đại đức giới lẫn học vấn đều tôn quư. Do trọn đủ oai nghi, thân tâm thanh tịnh, cho nên dễ đạt được cảm ứng. Nếu không, thật sự chẳng bằng con cháu của chính người ấy trai giới, kiền thành lễ tụng, so ra sẽ hữu ích hơn!

 

          * Hỏi: Trước kia, nghe nói lũ lụt, động đất, đói kém, hạn hán…. các thứ thiên tai chủ yếu là do ư chỉ của Ngọc Hoàng. Muốn tiêu diệt hay muốn cho tồn tại, đều là quyền bính của Ngọc Hoàng. Vậy th́ ai nấy đều tôn kính Ngọc Hoàng để cầu phước trong hiện tiền, có đúng hay không? (Lư Tuấn hỏi)

         

Đáp: Ngọc Hoàng là một vị chánh thần trên cơi trời, thông minh, vô tư. Dẫu có quyền bính, Ngài quyết chẳng v́ hỷ nộ mà lạm dụng [quyền lực ấy]. Chúng sanh gặp tai nạn, có thể thoát khỏi hay không, hoàn toàn là do nghiệp lực thiện hay ác của mỗi người. Bất quá vị thần có quyền sẽ thưởng phạt theo nghiệp. Kẻ tạo ác kính thần, thần c̣n chẳng hưởng, huống c̣n giáng phước ư?

 

          * Hỏi: Thường có kẻ bàn luận, bảo: “Con người và súc vật chết đi chính là kết thúc một đời, hoàn toàn chẳng có chuyện địa ngục, luân hồi! Không ǵ chẳng phải là truyền thuyết của người xưa. Nếu xác thực là có luân hồi, từ xưa đến nay, đă có người nào t́m được bằng chứng?” (Lư Tuấn hỏi)

         

          Đáp: Đối với các sự lư do đức Phật đă nói, phần nhiều phải thể nghiệm. Có những điều chẳng phải là do thăm ḍ và thí nghiệm hóa học mà có thể t́m ra được. Như đêm qua tôi nằm mộng, tôi biết, tôi nói đích xác chẳng phải là hư cấu, nhưng đúng là người khác chẳng có cách nào thăm ḍ, hoặc xét nghiệm bằng phương pháp hóa học được! V́ thế, khi chẳng thể dùng hai thứ Hiện Lượng và Tỷ Lượng để t́m được, chỉ có thể tin tưởng, ngưỡng mộ nhân cách mà tuân theo Thánh Ngôn Lượng. Xét ra, thuyết địa ngục thật sự được chép trong kinh Phật, hăy nên tin tưởng. Nếu cứ ắt phải chính ḿnh đích thân từng trải rồi mới có thể tin tưởng, [nói như thế, khác nào bảo]: “Tôi chẳng tin có nước Mỹ trên cơi đời. Tuy người khác từng sang đó chơi, tôi thật sự chưa đi, cho nên chẳng tin tưởng”. Đối với thuyết “hoàn toàn chẳng có địa ngục”, người khác không tin, chỉ đành mặc họ. Nếu họ đến chất vấn cư sĩ, có thể hướng về họ, hỏi ngược lại: “Ông có thường chào tạm biệt hay không? Ông có đích thân thấy đối tượng của cái chào tạm biệt hay không?”

 

          * Hỏi: Khi phụ nữ mang thai, linh tánh có nhập thai hay không? Hay là cho đến khi lọt ḷng, [linh tánh] mới bắt đầu tiến nhập? Nói theo “sanh khổ” th́ [linh tánh] đă nhập từ trong thai, đúng không? (Chung Lâm Chiêu hỏi)

 

          Đáp: Linh tánh, tinh cha, huyết mẹ, ba thứ ḥa hợp th́ mới có thể tạo thành thai. Đó là lẽ thông thường. Cũng có khi sắp sanh ra, một linh tánh khác đến đoạt xá, đó là trường hợp đặc biệt.

 

          * Hỏi: Con người hoặc súc sanh, các loài trùng, khi chết, sẽ tự động do nghiệp báo mà lại chuyển sanh, hay là mỗi mỗi đều có quỷ thần dẫn đường đến chỗ sẽ sanh về? (Chung Lâm Chiêu hỏi)

 

          Đáp: Nghiệp lực là cái nhân chủ yếu. Đôi khi có quỷ thần dẫn đường th́ cũng là do nghiệp lực cảm vời.

 

          * Hỏi: Nếu con người chết đi, ắt bị Diêm Vương tra hỏi, trải qua phán quyết để chuyển sanh. Đối với hết thảy chúng sanh, đương nhiên là ắt cũng phải [bị Diêm Vương tra hỏi, phán quyết] giống hệt như nhau th́ mới là hợp lư. Nhưng trên là đến các vị trong cơi trời, dưới là tới các loài trùng như muỗi, ruồi, như các loài trùng mà mắt chẳng thể trông thấy, các loại trùng cực nhỏ trong nước hoặc trong hư không [số lượng chẳng có ngằn hạn]. Nếu [thảy đều bị tra hỏi, phán quyết] như vậy, rốt cuộc có bao nhiêu vị Diêm Vương để làm chuyện thẩm vấn, phán quyết? (Chung Lâm Chiêu hỏi)

         

Đáp: Cố nhiên chúng sanh trong lục đạo là vô lượng, các loài trong địa ngục cũng rất đông đảo, nhưng Diêm La cũng chẳng phải là một vị. Trong kinh có ghi chép [chuyện ấy]!

 

          * Hỏi: Theo truyền thuyết, Nam Đẩu Tinh Quân chủ sanh, Bắc Đẩu Tinh Quân chủ tử. Lại nói: “Người đă chết, ắt bị Diêm La Vương phán quyết chuyển sanh”. Rốt cuộc điều nào là đúng? Đích xác là có t́nh h́nh ấy hay không? (Chung Lâm Chiêu hỏi)

 

          Đáp: “Đẩu Tinh chủ sanh tử, Diêm La phán quyết chuyển sanh”, phần nhiều phát xuất từ các bút kư khuyến thiện. Kinh Phật thường nói “sanh tử, luân hồi là do nghiệp lực dẫn dắt, nhân quả báo đền”. Dẫu có chỗ nói đến Diêm La, địa ngục, cũng chỉ là nói vua Diêm La chủ tŕ sự vụ trong địa ngục, c̣n tội nhân siêu thăng hay đọa lạc là do nghiệp lực của chính họ lôi dẫn vậy!

         

          * Hỏi: Nhân loại sống trong cơi đời, có thể toan tính một phương pháp mầu nhiệm nào ḥng có thể tránh khỏi hết thảy khổ năo và tai hại để đạt được cuộc sống an tĩnh hay không? Nếu người khác bỗng dưng lăng nhục nghiêm trọng, tôi có nên tận lực chống trả hay không? Tới lúc tranh đấu, có thể gây tổn thương cho sanh mạng của người khác hay không? (Tăng Đồng Đức hỏi)

 

          Đáp: Hoàn cảnh nhân sinh thuận hay nghịch đều do nhân quả xa gần chi phối. Đối với các nỗi khổ năo, tai hại đang phải hứng chịu, nếu hiện tại chẳng tạo cái nhân ác, cũng có thể giảm sức trợ duyên, lại c̣n có thể tránh khỏi chúng sẽ phát sanh trong tương lai. Bị người khác ngang ngược lăng nhục, hăy nên xét lại ḿnh: Chắc chắn là có nguyên nhân khiến cho [chính ḿnh] phải chuốc lấy sự lăng nhục, hăy nên tự sám hối! Há có nên tranh đấu cùng kẻ khác, khiến cho oán thù càng thêm sâu đậm hơn? Nói tới chuyện tổn thương sanh mạng người ta, càng là tư tưởng sai lầm! Kẻ giết người, quốc gia luôn có h́nh phạt, há chẳng biết ư?

 

          * Hỏi: Có người chưa cưới vợ, cũng chưa từng phạm tội với dâm nữ, nhưng có lúc dục hỏa thiêu đốt, chẳng thể tự kiềm chế, thường phạm thủ dâm, có cách nào trị chứng bệnh này? Chuyện này có phạm tội giống như mua dâm hay không? Trong tương lai, sẽ thọ báo như thế nào? (Phan Ngọc Tuyền hỏi)

 

          Đáp: So với chuyện phạm dâm cùng nữ nhân th́ tội tánh nhẹ hơn, v́ chưa làm hại đối phương. Dâm đứng đầu các điều ác. Phạm tội bằng ư, phạm tội bằng thân và tay. Tập khí dâm ấy càng huân tập càng sâu, niệm niệm ở trong tám thức điền. Trong tương lai, chủng tử dâm (tập khí) dấy lên hiện hành, dẫn dắt thần thức đọa lạc trong tam đồ (súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục). Ngay như trong hiện tại, trong khi làm những việc ấy, trong chốn âm thầm cũng có quỷ thần trông thấy. Đă biết chung quanh luôn có người trông thấy, làm chuyện ấy há chẳng xấu hổ ư? Dẫu chẳng hiểu Phật lư, há chẳng nghe Tăng Tử nói: “Thập mục sở thị, thập thủ sở chỉ” (Mười mắt nh́n vào, mười tay chỉ vào) ư?

 

          * Hỏi: Chúng sanh đều có Phật Tánh, chỉ v́ một niệm bất giác (vô minh), mà từ vô thỉ cho tới nay, sanh tử luân hồi chịu hết mọi nỗi khổ. Một niệm bất giác ấy do đâu mà có? (Tống Thụy Tích hỏi)

 

          Đáp: Vạn pháp do nhân duyên sanh, há chuyện này là ngoại lệ?

 

          * Hỏi: Súc sanh là huyết đồ, tham sân tranh đoạt, ăn nuốt lẫn nhau. Lại c̣n ngu si dị thường, khó nghe Phật pháp. Dẫu tới lúc chẳng có cùng tận, cũng khó ĺa khỏi tam đồ. Kinh nói “dê chết làm người”, giải thích như thế nào? (Tống Thụy Tích hỏi)

         

Đáp: Chúng sanh từ nhiều kiếp cho tới nay, cứ một lần tạo nghiệp là một hạt chủng tử được gieo trong thức điền. Số lượng há chỉ là ức vạn? Trong ấy, thiện lẫn ác đều có. Khi lâm chung, chủng tử dấy lên hiện hành, sẽ dẫn dắt nhập thai, thọ báo. Báo của chủng tử ấy đă hết, một chủng tử khác lại dấy lên hiện hành, bèn thọ một thân khác. Cư sĩ chỉ biết đời này tạo nghiệp, đời sau thọ báo, chẳng biết ư nghĩa thức điền chứa đựng trọn khắp, cho nên nghi ngờ!

 

          * Hỏi: Kẻ ác tâm sau khi đă chết, linh hồn nhất định vào địa ngục chịu xử phạt. Đối với linh hồn th́ dùng h́nh cụ ǵ? (Kha Tiên Giang hỏi)

 

          Đáp: Xin xem kinh Địa Tạng Bổn Nguyện sẽ tự biết, chẳng phải là do vài lời bèn có thể nói cặn kẽ được!

 

          * Hỏi: Nữ nhân sắp sanh nở, có người đau khổ chẳng chịu nổi, đă mấy ngày mà khó sanh, những người chăm sóc ở bên cạnh đều niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát ra tiếng, chắc chắc là chẳng cần đến công phu một khắc bèn sanh nở an lành. Đó là sự thật ư? Hiện thời có chuyện thực nghiệm của người nào để dẫn chứng hay không? (Kha Tiên Giang hỏi)

 

          Đáp: Kẻ tâm thành sẽ có cảm ứng, người sanh nghi bèn không! Nếu cầu dẫn chứng, người tôi quen biết, chưa chắc tiên sinh đă biết, dẫn ra vô ích!

 

          * Hỏi: Lần trước hỏi về cái nhân của A Tu La, cụ đáp là hạ Thập Thiện, nhưng Thập Thiện cao thấp phân giải như thế nào? (Châu Huệ Đức hỏi)

 

          Đáp: Hai chữ “thiện, ác” đều có cấp bậc, cho nên bèn chia thành thượng và hạ. Dùng một điều “chẳng giết” để luận. Nếu chẳng giết người th́ là thiện. Nếu mở rộng cái tâm ấy, cho đến chẳng giết trâu, chó, lợn, dê, gà, vịt, cá, tôm, sẽ càng thiện hơn. Nếu lại cho đến đối với hết thảy đều chẳng giết, sát tâm mất sạch, sẽ chính là thượng thượng thiện. Nếu tâm lượng hữu hạn, thời gian ngắn ngủi, thực hiện chẳng trọn khắp, sẽ là điều thiện nhỏ. Ngược lại, tâm lượng vô hạn, [thực hiện] lâu dài chẳng ngừng, thực hiện trọn khắp, sẽ là điều thiện to lớn.

 

          * Hỏi: Trong kinh Phật có nói thiên đường, địa ngục, thật sự có hay không? Thiên đường và địa ngục ở ngoài địa cầu, hay là ở trong địa cầu? (Kha Tiên Giang hỏi)

 

          Đáp: Đă nói là “thiên đường”, đương nhiên là ở ngoài địa cầu. Đă nói là địa ngục, càng là ở trong địa cầu. Tiên sinh có thể tra duyệt những phần trước. Những vấn đề như vậy đă nói nhiều lượt rồi.

 

          * Hỏi: Sanh làm ác quỷ, tạo ác. Sau khi báo hết, sẽ phải thọ ác báo hay không? (Thái Thế Phương hỏi)

 

          Đáp: Làm lành có thiện báo, ác có ác báo. Đấy là luật nhân quả nhất định, c̣n nghi ngờ chi nữa!

 

          * Hỏi: Trong cuốn Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Thoại, chương mười bảy, tiết thứ nhất, chủ trương “Phật giáo chẳng có quỷ”. Nhưng báo Bồ Đề Thụ kỳ số mười, trong bài Bàn Về Quỷ lại nói “Phật giáo chủ trương có quỷ” (bất luận pháp thế gian hay xuất thế gian), rốt cuộc là như thế nào? (Diệp Khánh Xuân hỏi)

 

          Đáp: Sách Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Thoại chủ trương “Phật giáo không có quỷ” chẳng phải là do tờ báo này đăng tải. Học vấn trong thiên hạ nhiều lắm, kẻ hèn này chẳng thể biết hết được, xin hăy hỏi bậc thông gia. (Người biên tập nhận định: “Gần đây, tôi có nhận được cuốn Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Giảng Thoại, tác giả là pháp sư Trúc Ma, gởi tặng mấy bản sách ấy. Tôi đọc trọn khắp, hoàn toàn chẳng thấy chủ trương “không có quỷ”. Tác giả chỉ phủ định giá trị của quỷ thần mà thôi! Mà chỉ là ở cuối bài văn ấy đă từng nhắc nhở độc giả chú ư, nay tôi trích lục nguyên văn như sau: “Chẳng qua ở đây mọi người phải chú ư, khi chúng ta c̣n chưa chứng đắc cảnh giới vô tướng tuyệt đối ấy, vẫn là thật sự có chuyện quỷ thần, nhân quả, quyết chẳng thể tùy tiện phủ nhận”).

 

          * Hỏi: Kinh Nhân Quả nói: Lương Vũ Đế kiếp trước là một tiều phu, Hy Thị sau khi chết bèn chuyển sanh thành một con măng xà to. Vậy th́ căn cứ vào đâu để nói “Lương Vũ Đế đích xác là do gă tiều phu chuyển sanh, Hy Thị sau khi chết đă đích xác chuyển sanh thành một con măng xà to”? (Nếu nói là căn cứ theo kinh Nhân Quả, nhà tiểu thuyết có thể viết bừa băi. V́ thế, nếu nói “căn cứ theo kinh Nhân Quả”, sẽ chẳng hợp lư vậy). (Diệp Khánh Xuân hỏi)

 

          Đáp: Những chuyện như Lương đế, Hy hậu v.v… đều xuất hiện sau thời Thích Tôn. V́ thế, kinh Phật chẳng ghi chép. Tin hay không tin, tùy thuộc kiến giải của cá nhân. Nhưng dùng Tỷ Lượng để luận th́ chuyện ấy cũng hoàn toàn chẳng phải là vô lư! Kinh A Hàm chép nhiều chuyện đời trước của đức Thích Tôn, như [xả thân] cho cọp ăn, [cắt thịt] cho chim ưng ăn. Sử sách trong thế gian từng chép ông Cổn [cha vua Đại Vũ] chết biến thành gấu, Bành Sanh hóa thành lợn v.v… Cố nhiên là chẳng thể tin vào tiểu thuyết, nhưng kinh sử há chẳng đáng tin tưởng ư?

 

          * Hỏi: Mỗi khi nghe kẻ khác bàn nói thủ đoạn hung tàn, độc địa, t́nh tiết thê thảm, hoặc nghe tiếng người khác khóc, thịt khắp thân tôi căng cứng, ứa lệ đầm đ́a, là do nguyên nhân nào? (Vu Lỗ hỏi)

 

          Đáp: Đấy cũng là hiện tượng thiện tâm tăng trưởng. “Cái tâm trắc ẩn, ai nấy đều có” như nhà Nho đă nói, “đồng thể đại bi” như nhà Phật đă nói, đều rất gần với [hiện tượng ấy].

 

          * Hỏi: Mỗi đêm nằm mộng, thường thấy người chú đă chết và mấy vị huynh trưởng cùng bạn bè đă khuất, có lúc chẳng tṛ chuyện, có khi nói chuyện rất lâu. Thậm chí ngồi quanh nhau ăn uống. Loại mộng ảnh ấy có ư nghĩa ǵ? (Vu Lỗ hỏi)

         

Đáp: Mộng là do tác dụng của ư thức. Phan duyên sáu trần, đều ghi lại h́nh ảnh, đó gọi là “ngày suy nghĩ ǵ, đêm nằm mộng thấy”, nhưng mộng đều là hư vọng, chẳng thật, hoàn toàn chẳng dính líu ǵ đến cát hay hung! Nếu ngoài những lúc bận bịu công việc, có thể nhiếp tâm niệm Phật, khiến cho ư niệm quy nhất, sẽ chẳng có những chuyện ấy!

 

          Hỏi: 1) Thường nghe nói có tám đại tiên nhân, nhưng tên họ các Ngài là ǵ? Đồng thời kinh Phật nói “thanh hư diệu cảnh có đại nạn, kim tiên có đủ cách thiên biến vạn hóa” v.v… nhưng kinh Phật nói trời đất vẫn bị kiếp số chi phối, các vị tiên ấy có bị kiếp nạn hay chăng? Đồng thời, các vị tán tiên là do phàm nhân tu thành, hiện thời, họ là linh hồn hay là nhục thân?

2) Giặc Cộng sẽ hoành hành tại Đại Lục đến khi nào? (Phan Chấn Bang hỏi)

 

          Đáp: Đối với hai câu hỏi trên đây, hai điều ấy đều chẳng thuộc vào phạm vi Phật học, chẳng tiện phúc đáp!

 

          * Hỏi: Trong cơi này, thường nói: “Nếu một người tu hành chẳng nên thân, khi chết sẽ đọa làm súc sanh”. Nhưng nếu vẫn là rồng hay phượng th́ sao? Giải quyết [vấn nạn ấy] như thế nào? (Phan Chấn Bang hỏi)

 

          Đáp: Rồng, phượng bất quá là những loài có linh tánh trong súc sanh đạo, hoàn toàn chẳng quư bằng người! Hăy thử nghĩ xem: Ong, kiến đều có vua, nhưng [những vua ong, vua kiến ấy] có cao quư bằng kẻ b́nh dân trong nhân loại hay chăng?

 

          * Hỏi: Trong thế gian nghe nói có chuyện những đứa trẻ từ mười tuổi trở xuống, sau khi đă chết, thác sanh vào nhà khác, v́ sao nó vẫn có thể nhận biết cha mẹ đời trước. Rốt cuộc là do cái nhân nào? (Phan Chấn Bang hỏi)

 

          Đáp: Đấy là chuyện ngẫu nhiên, hoàn toàn chẳng phải là thường có!

 

          * Hỏi: Tất cả những người tinh trung báo quốc trong thế gian, người hoằng hóa trong thế gian, chỉ dạy điều thiện, nhưng chưa thể làm những điều đại thiện như khuyên [người khác] tiêu xài tiết kiệm, bác ái đối với người khác, giúp đỡ người nghèo và kẻ cô quạnh, đến khắp nơi cứu đời, lập công, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện v.v… Rốt cuộc sẽ có quả báo tốt lành nào trước mắt? (Phan Chấn Bang hỏi)

 

          Đáp: Địa vị, tài lộc, tiếng tăm, thọ mạng, bốn điều ấy là những quả báo tốt lành trong thế gian, nhưng đối với nguyên nhân và quả báo, ắt phải luận theo ba đời, v́ nhân có lớn hay nhỏ, quả có trễ hay sớm. Có kẻ trước là thiện sau là ác, có kẻ trước là ác mà nay là thiện, có kẻ thiện ác hỗn tạp, nhưng trong sự hỗn tạp lại có thiện lớn ác nhỏ và thiện nhỏ ác lớn khác biệt. V́ thế, cần phải gộp tất cả lại để xét chung. Nếu ắt cầu quả báo tốt lành ngay trước mắt, th́ trong bốn thứ trên đây, quả báo về Danh phần nhiều sẽ có thể ngay lập tức thành tựu.

 

          * Hỏi: Trong thế gian, chẳng tránh khỏi có kẻ ngỗ nghịch. Nhưng kẻ thông minh, lại đọc sách Khổng, Mạnh, đối với hết thảy thiện ác đă hiểu sâu xa, đối với đại nghĩa đều đă thông hiểu, cớ sao tâm chẳng tuân hành? Trước là ngỗ nghịch đối với cha mẹ, sau là chẳng ḥa hợp cùng bạn hữu, tự khoe chính ḿnh hiền đức, hành vi tự cao, tự đại, xun xoe người quyền thế, ức hiếp kẻ có địa vị thấp bé. Nữ nhân th́ chẳng hiếu thảo với bố mẹ chồng, chẳng tuân giữ Tam Tùng, Tứ Đức, do sợ nhà chồng nghèo khó bèn từ hôn, bắt nạt người nghèo, mến chuộng kẻ giàu, đủ mọi hạnh ngỗ ngược. Đối với hạng người này, phân biệt hiền ngu như thế nào? (Phan Chấn Bang hỏi)

 

          Đáp: Hiền hay ngu chẳng do “đọc sách, thông minh” và “không đọc sách, không thông minh” để phân định. Hăy nên phân biệt từ hai đường thiện và ác vậy!

 

          * Hỏi: Thế gian chẳng tránh khỏi có những kẻ tội ác to lớn cùng cực như giết người, phóng hỏa, dùng thuốc giả, hoặc ma thuật hại người, chặn đường cướp giật. Có kẻ bố cưỡng gian con gái, con dâu, có kẻ đă già mà c̣n gian dâm với trẻ nít v.v... Ngoại trừ bọn tham quan ô lại, và những tội vặt vănh như tư thông, ăn nằm bừa băi, ăn trộm chó ra, những kẻ phạm mười thứ đại trọng tội trên đây, nếu về sau, tội ác bị phát hiện, sẽ sa lưới, bị pháp luật dương gian tuyên cáo tử h́nh để răn đại chúng. Sau đấy, hồn chúng nó đến cơi âm có được xá miễn lỗi cũ hay không? (Phan Chấn Bang hỏi)

 

          Đáp: Những tội như ông đă kể trong phần trước, cố nhiên là to tát; đối với những tội được kể sau đó, cần phải xét tới kết quả và mức độ tạo thành tội phạm để phán định là nhẹ hay nặng, chẳng thể vội vàng bảo là nhỏ nhoi được! Đối với vấn đề luật pháp thế gian, cũng cần phải xem mức độ của tội ấy. Bởi lẽ, h́nh phạt nghiêm trọng nhất trong luật thế gian bất quá là chấp hành án tử h́nh. Nhưng cổ nhân có nói “có chết cũng chẳng đủ đền tội”, lại nói “tội đáng chết hơn muôn lần”. Lại tra duyệt kinh điển, thấy chép [trong cơi Âm] có lập ra địa ngục Vô Gián. Suy từ những điều này, bèn biết: [Những kẻ tội nhân ấy], dẫu chịu pháp luật dương gian [hành h́nh], nhưng khi tội tánh chưa tiêu diệt, vẫn chẳng khỏi bị cơi âm tru lục!

 

          * Hỏi: Kinh Phật nói có ba mươi hai tầng trời, nhưng có giới tuyến hay không? Lại thường nghe nói trong cơi Âm có mười điện, trong mỗi điện đều có địa ngục v.v… nhưng đấy có phải là tổng quản của mười tám tầng địa ngục hay không? Đồng thời, trong sách Cố Sự Quỳnh Lâm[27], đối với phần chép về Thích, Đạo, quỷ thần, có chép chuyện các ông Hàn Cầm Hổ, Khấu Lai sau khi đă chết bèn làm vua Diêm La trong chốn âm ty v.v… Rốt cuộc là do cái nhân nào? (Phan Chấn Bang hỏi)

 

          Đáp: Kinh Phật chỉ nói có hai mươi tám tầng trời! Chỉ có tầng trời thứ hai tên là Đao Lợi Thiên (Trāyastriṃśa), dịch nghĩa thành Tam Thập Tam Thiên. Tức là nói trong tầng trời ấy, xét theo chiều ngang, có nhiều cơi trời như thế, chẳng phải là [tính đếm] số tầng trời trên và dưới vậy. Ông hỏi về chuyện tổng quản địa ngục, ư nghĩa chẳng rơ ràng, chẳng tiện đáp bừa! Các ông Hàn, Khấu v.v… làm vua cơi âm, chính là hạng quỷ có oai đức. Ấy là v́ con người chẳng hiểu Phật lư, lại thiếu công phu tu dưỡng của Nho gia, khởi tâm động niệm, ắt sẽ là thiện ác hỗn tạp, niệm niệm đều là chủng tử sanh tử. Sử sách chép chuyện hai ông ấy, chỉ chép về công tích và ngôn hạnh. Nếu nói theo tâm niệm, sẽ không có cách nào biết được. Cư sĩ hỏi về cái nhân, kẻ hèn này chẳng có căn cứ nào để trả lời!

 

          * Hỏi: Phật giáo nói “nhân quả ba đời”, Phật tử mắc bệnh, mời thầy thuốc [chẩn bệnh], uống thuốc. Có phải là uổng công hay chăng? (Chi Thế Vinh hỏi)

 

          Đáp: Mọi sự tạo tác đều là nhân. Hễ có tạo tác, ắt có kết quả. Tuy không thể ngay lập tức biến đổi cái nhân trước đó, nhưng cũng có thể trở thành hai thứ tăng thượng duyên là tổn hại hay tăng ích. Kết quả về sau cũng sẽ phát sanh biến hóa. Có bệnh, mời thầy thuốc [chẩn bệnh] và uống thuốc, chính là một loại tăng thượng duyên, sao lại bảo là uổng công cho được?

         

* Hỏi: Đức Phật dạy: “Hễ có nhân, ắt có quả. Nếu chẳng gieo nhân, ắt chẳng có quả”. Đấy có phải vô sanh vô diệt bèn vượt thoát nhân quả? Như thế th́ dường như “nhân quả” cai quản hết thảy. Như vậy th́ “nhân quả vốn có là do ai phát khởi”? Câu hỏi này chẳng phải là đối với những cái nhân do con người, hoặc do chúng sanh phát khởi, bèn đạt được cái quả, mà là [thắc mắc] người định đoạt nhân quả từ thuở đầu tiên là ai? Hay là trước khi có nhân quả, bèn có một người nào đó chế định nhân quả? (Chi Thế Vinh hỏi)

 

          Đáp: Vạn pháp hiện ra tướng đều là do các duyên ḥa hợp. Nhân đợi duyên mà khởi, quả đợi duyên mà sanh. Thiên biến vạn hóa, chẳng thể nói rạch ṛi được! Chẳng thể nói là “vốn có”, chẳng thể nói do ai phát khởi, chẳng thể nói trước đó bèn có ai chế định! Thử hỏi: Hơi nước gặp lạnh bèn đọng thành nước, nước gặp lạnh bèn kết thành băng, băng gặp nhiệt bèn tan thành nước, nước gặp nhiệt bèn bốc thành hơi, đều là nhân quả. Xét xem, [những hiện tượng ấy] do ǵ mà vốn có? Chúng do ai phát khởi? Có ai chế định hay không?

 

          * Hỏi: Đức Phật nói kinh Tam Thế Nhân Quả, có đoạn nói: “Kim sanh thổ huyết vi hà nhân, tiền thế thực nhục khứ niệm kinh” (Đời này hộc máu, nhân ǵ vậy? Đời trước ăn thịt rồi niệm kinh). Như vậy th́ người chẳng ăn chay trường mà tụng kinh, sẽ mắc phải kết quả chẳng tốt lành ư? (Lư Vĩnh hỏi)

         

          Đáp: Sợ rằng kinh ấy là ngụy kinh! Tuy chưa thấy sách ấy, nhưng xét theo ngữ khí, [cảm thấy] chẳng phải [đấy chẳng phải là kinh Phật thật sự]!

 

* Hỏi: Có một vị nữ tín đồ sống trong tự viện, tu hành hơn ba mươi năm, gần đây đă gặp phải tai nạn xe cộ mà văng sanh. Khi c̣n sống, bà ta phẩm hạnh tốt đẹp, kiền thành lạy Phật, và làm Phật sự, đúng là rất đáng tiếc! Đấy là do nguyên nhân nào? (Trang Khánh Hiền hỏi)

 

          Đáp: Phải gộp chung ba đời để xét nhân quả. Có bù qua, sớt lại, có hiện báo, sanh báo, và hậu báo[28] sai khác. Ấy là v́ quả đă chín muồi, do sức của nó lớn hay nhỏ, bèn trở thành trễ hay sớm khác nhau. Như Khổng Tử và Nhan Uyên đều là thánh nhân, đức Khổng chôn con, ông Nhan rốt cuộc đoản mạng, Tào Tháo và Tư Mă Chiêu[29] đều là những kẻ đại nghịch soán ngôi, giết vua, thế mà con cháu họ đoạt được thiên hạ, chẳng thể dùng những chuyện này để luận định khi ấy mà ḥng biết được! Huống hồ c̣n có những cơ duyên nhỏ nhiệm, tang ma, chết chóc chưa phải là họa, mà phú quư cũng chẳng phải là phước!

 

* Hỏi: Trong các tín đồ, có một bộ phận con cái bất hiếu, ngỗ nghịch, cha mẹ khuyên giải chẳng nghe, phải dùng phương pháp ǵ để cải thiện? (Trang Khánh Hiền hỏi)

 

          Đáp: Đấy cũng là nhân quả trong đời trước. Nhân duyên giữa cha và con vốn có báo ân, báo oán, trả nợ, đ̣i nợ sai khác. Đối với những chuyện này, chỉ đành “cảnh nghịch xảy đến bèn ưng chịu”. Hăy nên nhờ người nào đó thường giải thích nhân quả cho người ta, để họ biết “oán nên giải, chẳng nên kết”. Danh phận trong thế gian đă định, cũng cần phải trọn hết niềm ḥa thuận luân thường. Nếu không, sẽ kết thành điều ác về sau!

 

          * Hỏi: Tôi thường thấy khi người ta chê cười một ai, hoặc chê cười chuyện ǵ, thường lắc đầu, chép miệng, hô lên bốn chữ “A Di Đà Phật”. Thử hỏi: Do tập khí ấy mà [bốn chữ danh hiệu] liền vào trong ruộng tám thức, kết thành cái quả trong tương lai sẽ là thiện hay ác? (Lâu Vĩnh Dự hỏi)

 

          Đáp: Đấy là hai nghiệp miệng và ư biểu hiện sai khác. Mang ḷng chê cười, tức là ư ác! Bốn chữ danh tướng chính là khẩu thiện. Tuy đồng thời khởi lên, vẫn chia thành hai loại thiện và ác, tự nhiên mỗi đằng đều nhận được cái quả riêng biệt.

 

* Hỏi: Trong lúc giảng diễn, nói đến các sự thật về nhân quả báo ứng, thính chúng chất vấn tại chỗ: “Phật có ḷng từ bi, đối với kẻ vô t́nh phạm tội một lần, cớ sao chẳng dung thứ?” (Tiêu Huệ Tâm hỏi)

 

          Đáp: Tạo nghiệp thọ báo chính là “trồng đậu được đậu, trồng dưa được dưa”, là lẽ tự nhiên, hoàn toàn chẳng phải là do đức Phật trừng phạt! Chuyện này giống như ăn uống chẳng điều độ, thức ngủ chẳng đúng thời, liền ươm thành bệnh tật. Mời thầy thuốc đến khám bệnh, thầy thuốc sẽ chuyên trị bệnh. Chớ nên hiểu lầm căn bệnh ấy là do thầy thuốc gây ra! Phật chỉ dẹp khổ, ban vui, há có lẽ nào chẳng dung thứ?

 

* Hỏi: Tôi tin là sự lư lục đạo luân hồi và tam thế nhân quả ắt có bằng chứng. Vợ tôi đời này là người từ thiện, nhưng lại chuốc lấy quả báo đoản mạng, chết ngang xương. Cái nhân là do trong đời trước đă rộng tạo sát nghiệp, quả báo đă chín muồi. Kiếp này đến nỗi gặp cảnh ngộ lâm chung, quả báo hiện tiền, đủ mọi nỗi điên đảo, sai lầm, ôm nỗi oan ức khuất lấp mà chết, [xét theo lẽ] thường t́nh, đúng là chẳng thể lư giải được! Chỉ có điều khi cô ta lâm chung, đau khổ dữ dội; hiềm rằng, lúc ấy, học nhân vẫn c̣n chưa nghe Phật pháp, tới khi cô ta tắt hơi, bèn đau khổ, khóc rống, lay gọi. Do thần thức của người chết chưa ĺa khỏi xác thân, do bị vỗ động, ắt sẽ có tâm sân hoặc ái, sẽ lại cảm vời ác báo trong tam đồ. (Đổng Di Nguyên hỏi)

 

          Đáp: Lâm chung khởi sân hoặc khởi ái, quá nửa là đọa lạc. Kẻ chẳng hiểu rơ Phật pháp, nói chung, đều bị mắc hại bởi chuyện này.

 

          * Hỏi: Đă hai năm qua, âm thanh và dung mạo [cô ta] vẫn thấy phảng phất, nẻo âm dương xa cách, chưa từng có mảy may tin tức và nằm mộng thấy cô ta. Có phải là cô ta c̣n đang chịu khổ trong địa ngục đạo, chẳng được tự do ư? Hay là đă chuyển sanh vào đường khác? Người học Phật cố nhiên chẳng nên chấp măi ái kiến để tăng thêm nhân quả cho đời sau! Huống hồ mục đích rốt cùng của Phật pháp chính là v́ liễu sanh thoát tử. Bất quá, con người sau khi đă chết, sẽ chịu phán xét sanh vào đường nào, và Phật sự công đức như thế nào? Nếu được cụ trích dẫn kinh luận chỉ bảo nẻo mê, chắc là cũng khiến cho những kẻ sơ học Phật ưa thích mong được nghe ḥng tăng trưởng tín căn vậy! (Đổng Di Nguyên hỏi)

 

          Đáp: Chúng sanh sau khi đă chết, thời gian dài nhất là bốn mươi chín ngày liền chuyển sanh, nhưng chẳng cần biết là sanh trong đường nào, [hàng thân quyến] v́ người ấy làm Phật sự, người ấy đều có thể được lợi ích. Những kinh chỉ dạy chuyện này rất nhiều, chẳng thể nêu trọn. Như kinh Địa Tạng Bổn Nguyện là nói rơ ràng nhất. Các kinh luận khác như Lương Hoàng Sám nói Hy Hậu có thể thoát thân măng xà, càng được nhiều người trong cơi đời biết đến!

 

          * Hỏi: Cái chết của cô ta chính là cái nhân, tức thân nhân duyên khiến cho học nhân tu đạo. Suốt hai năm qua, tôi ăn chay trường, niệm Phật, tụng kinh, lễ sám và phóng sanh v.v... Ngoài việc cầu cho chính ḿnh văng sanh Tịnh Độ ra, mỗi ngày đều hồi hướng cho cô ta. Xin hỏi: Do nguyện lực của tôi và sức từ bi của Phật, Bồ Tát, sau khi chết đi, cô ta đọa nhập tam đồ, do công đức này có hy vọng được siêu độ hay không? (Đổng Di Nguyên hỏi)

 

          Đáp: Kinh Phật oai lực cực đại. Hết thảy các chướng đều có thể dẹp trừ, nhưng khi tụng niệm, cần phải có ḷng thành th́ mới có thể cảm ứng.

 

          * Hỏi: Xưa kia, Lỗ Hoàn Công chết trong xe, Chư Nhi giữa đường gặp quỷ, Bành Sanh bị giết oan bèn hóa thành lợn[30]. Có thể nói một đoạn nhân duyên ấy chính là hoa báo của nhân quả hay không? (Dương Tố Nguyệt hỏi)

 

          Đáp: Bành Sanh đă đọa vào tam đồ, tất nhiên là quả báo. Chư Nhi bị giết, vẫn là hoa báo.

 

          * Hỏi: Tôi từng nghe vị đại pháp sư nói “chúng sanh chẳng ĺa nhân quả”, nhưng nghe nhà học vấn nói “hai chữ nhân quả quá ấu trĩ, hư vọng, chẳng có”. Vậy th́ đức Phật răn dạy nhân quả có tác dụng ǵ? Lại nữa, “Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”. Giữa lời lẽ của hai đằng, hăy nên tin ai là xác đáng? (Vương A Kim hỏi)

 

          Đáp: Nhân là khởi nguồn của Sự, quả là kết cục của Sự. Đó là lư muôn đời, chẳng thể thay đổi được! Dùng ba trạng thái của vật thể để luận: Nước gặp lạnh bèn đóng thành băng. Lạnh là nhân, băng là quả vậy. Nước gặp sức nóng bèn bốc thành hơi; sức nóng là nhân, hơi nước là quả vậy. Kinh điển Nho gia có nói: “Hóa bột nhi nhập giả, diệc bột nhi xuất” (Tài vật do chẳng chánh đáng mà có được, th́ cũng sẽ bị kẻ khác dùng thủ đoạn bất chánh đáng đoạt mất), “tác thiện giáng bách tường, tác bất thiện giáng chi bách ương” (làm lành, trăm điều tốt lành giáng xuống. Làm điều chẳng lành, trăm nỗi tai ương giáng xuống). Điều trước là định lư trong khoa học, điều sau là “pháp ngôn” (lời dạy đúng chân lư, là khuôn vàng thước ngọc) của thánh nhân, có điều nào chẳng phải là nhân quả? Nay có người chê bai nhân quả, bảo là “quá ấu trĩ, hư vọng, chẳng có”, liền biết học vấn của kẻ ấy là như thế nào? Nhưng trong kinh điển do thánh hiền thế gian và xuất thế gian trước tác, những điều tinh túy ấy đă sớm được chói ngời nơi tai mắt mọi người. Những kẻ học vấn kia, có cái học vấn ǵ tân kỳ, sáng tạo độc đáo để có thể áp đảo hết thảy thánh điển hay chăng? Vẫn chưa trông thấy! Hăy nên tạm thời vâng theo kinh điển của thánh hiền, chắc sẽ chẳng đến nỗi lạc lối vậy.

 

          * Hỏi: Bất luận là do cái nhân nào, hễ giết người đều phải đọa địa ngục chịu khổ ư? Vậy th́ chiến sĩ v́ nước th́ sao? (Liêu Ngọc Kiều hỏi)

 

          Đáp: Chuyện này cần phải xét tới động cơ (motivation). Nghĩa vụ của chiến sĩ: Trên là bảo vệ đất nước, bảo vệ nhân dân, ngăn chống ngoại xâm, phù hợp với Vô Úy Thí của Bố Thí Độ. Xét về ư là thiện, chẳng phải là ác. Như hai vị Quan Công và Nhạc Phi, đều là thống soái, trải qua nhiều trận chiến, há chẳng giết người ư? Thế mà họ được cúng tế ngàn năm, thường hiển hiện những sự tích linh thiêng. Nếu tâm chẳng v́ nước, v́ dân, chuyên ham hố giết chóc, tàn bạo quá lố, như hạng Bạch Khởi, Tào Hàn[31], sẽ chẳng tránh khỏi quả báo trong tam đồ. Trong các bút kư nhân quả đă chép nhiều chuyện như vậy!

 

          * Hỏi: Bồ Tát cứu người, không nhất định là phải xưng danh rồi Ngài mới đến cứu. Cũng có trường hợp tuy chưa xưng danh, mà Bồ Tát cũng ắt đến cứu. Chỉ xét coi thân người ấy nghiệp lực thiện hay ác như thế nào mà thôi! Vả nữa, đối với hoàn cảnh được cứu, có khi cần phải chuẩn bị xếp đặt sẵn trước. Thời gian chuẩn bị xếp đặt sẵn có trường hợp là trước đó vào ngày, có khi trước đó vài năm, thậm chí trước đó vài chục năm. Đấy là cảm giác thường có của học nhân, tin sâu chẳng nghi. Không biết bậc cao minh có nghĩ là hợp lư hay không? (Trọng Chí Anh hỏi)

 

          Đáp: Bồ Tát cứu chúng sanh được gọi là Ứng; chúng sanh xưng danh chính là “cầu cảm”. Như ấn nút cái chuông điện, khiến cho mạch điện được nối, chuông sẽ kêu. Chẳng ấn nút khiến cho mạch điện được nối, chuông sẽ không kêu. C̣n như ông nói “tuy chẳng xưng danh, Bồ Tát vẫn đến cứu”, chính là v́ người ấy trước đó đă có ḷng tín ngưỡng, cho nên khi đột ngột gặp nạn, tuy miệng không nói, trong tâm đă sớm chứa sẵn chủng tử, vẫn có lư cảm ứng. Nghiệp lực thiện hay ác thuộc về quan hệ nhân quả, lư ấy cũng được cảm vời. Nhưng cảm có lớn hay nhỏ, nhanh hay chậm. Lại như gơ chuông: Gơ nhẹ, chuông kêu nhẹ; gơ mạnh, chuông kêu to. Hiểu rơ điều này, đối với chuyện xưng danh, chẳng thể xem thường được! Đối với thuyết “sắp xếp chuẩn bị sẵn”, chẳng phải là như cư sĩ đă hiểu! Lư ấy một đằng là tương ứng với cái nhân, một đằng là cậy vào cái duyên vậy!

 

          * Hỏi: Có một người bạn đồng nghiệp nói: Kẻ sát nhân trong kiếp này là do cái nhân trong kiếp trước. Do trong kiếp trước, Giáp giết chết Ất, cho nên kiếp này, Ất mới giết Giáp. V́ sao đời trước Giáp giết Ất? Lại là do đời trước đó nữa, Giáp đă giết Ất! Cứ suy ngược về trước như vậy, khởi đầu là ai giết ai? Trước khi khởi đầu sự giết chóc, chẳng có cái nhân giết, cớ sao sanh ra cái quả sát? Cứ suy tiếp về sau như vậy, Giáp giết Ất, Ất giết Giáp, nhân quả kéo theo nhau, làm thế nào để kết thúc? (Liễu Tử Kỳ hỏi)

 

          Đáp: Sự có tạo nhân và đền quả. Tạo nhân th́ gọi là “tân ương”, c̣n đền quả th́ gọi là “cựu nghiệp”. Hai sự này đều luôn luôn cùng xảy ra. Nói như ông X… [trong lời hỏi] chính là [chú trọng] “thù quả” (酬果, cái quả để đền bồi), xem nhẹ “tạo nhân”. Thử hỏi: Bưu cục mỗi ngày chuyển giao thư từ, há có thể toàn là thư trả lời hay không? Chẳng phải là c̣n có khá nhiều thư tín bắt đầu hỏi han hay chăng? Hiểu rơ điều này, ắt sẽ giải quyết được đoạn [thắc mắc] trước. Kinh dạy: “Giả sử ngàn vạn kiếp, nghiệp đă tạo chẳng mất, khi nhân duyên hội ngộ, vẫn tự thọ quả báo”. Đọc câu ấy sẽ biết: Chẳng có lúc nào xong! Nhưng lại có một bài kệ: “Thần Nông lưu hạ nhất lạp cốc, cựu chủng lạc điền, tân chủng thục. Thử trung dă hữu bất sanh giả, chử tại oa lư tố hy phạn” (Thần Nông để lại một hạt gạo, hạt cũ gieo trồng, hạt mới chín, trong ấy cũng có hạt chẳng sanh, nấu ở trong nồi thành cháo lỏng). Hiểu rơ điều này, ắt sẽ giải quyết được đoạn thắc mắc sau!

 

* Hỏi: Đối với câu chuyện về cái nhân cũ của Tào Hàn: Ông ta đă làm lợn th́ làm sao có trí huệ để hướng về Lưu khảo quan kể rành mạch chuyện nhân quả đời trước của chính ḿnh? Do duyên cớ nào mà ông ta chẳng bị mê khi cách ấm? (Lữ Chánh Lương hỏi)

 

          Đáp: Những chuyện như thế này chẳng phát xuất từ kinh Phật, đa số là được biên chép trong các bút kư của văn nhân mặc khách, khó thể bị ràng buộc bởi Phật lư. Nhưng Phật, Bồ Tát muốn hiển thị nhân quả, cảnh tỉnh người đời, sẽ dùng thần lực gia bị kẻ đó, quyền biến thị hiện trong một chốc. Xét về sự, cũng có nhiều trường hợp như thế, mà lư không ǵ chẳng thông!

 

* Hỏi: Tánh di truyền và nhân quả báo ứng khác nhau như thế nào? Ví như con cháu của người thông minh cũng có lắm kẻ thông minh, con cháu kẻ ác vẫn đa số nối tiếp làm ác. Giải thích như thế nào? (Lữ Chánh Lương hỏi)

 

          Đáp: Hai đằng đều có những mối quan hệ riêng, cũng có khi ḥa hợp, cũng có khi trái nghịch. Nhân quả phức tạp, sự tướng đúng là thiên sai vạn biệt, chẳng thể nói cứng ngắc như ông đă nêu được. Cổ Tẩu có con là vua Đại Thuấn, con ông Cổn là Đại Vũ, [Cổ Tẩu và ông Cổn] là kẻ ác, chẳng nhất định sanh ra con đều là kẻ ác. Chúa nhà Thục Hán thuở trước là Lưu Bị, có con là A Đẩu (Lưu Thiện), Tấn Vũ Đế Tư Mă Viêm có con là Huệ Đế (Tư Mă Trung). Đó là những kẻ thông minh, không nhất định sanh con đều là hạng thông minh!

 

          * Hỏi: Giả sử đời trước đă tạo cái nhân ác, kiếp này bề ngoài tuy dễ coi, nhưng bên trong nghiệp chướng tầng tầng. Đối với những chuyện đă làm trong đời này, c̣n biết hướng thiện, suốt mấy năm gần đây học Phật, hằng ngày cầu Phật sám hối, có thể khiến cho khổ báo trong lúc tuổi già giảm nhẹ hay không? (Khoan Nga hỏi)

 

          Đáp: Đúng như ông đă nói, có thể giảm nhẹ, nhưng kẻ chẳng có thần thông, tuy được giảm nhẹ mà cũng chẳng tự biết. Đợi đến khi phải chịu báo nhẹ, lại ngược ngạo ngờ vực sám hối chẳng linh! Đó là căn bệnh chung của người trong cơi tục! Không hiểu rơ điều này, thường bị lui sụt thiện tâm, vứt bỏ công lao trước đó, đáng tiếc thay!

 

          * Hỏi: Tục ngữ có câu: “Dục tri thế thượng đao binh kiếp, thả thính đồ môn dạ bán thanh” (Muốn biết chiến tranh trong cơi thế, ḷ mổ hăy nghe tiếng nửa đêm). Người Âu Mỹ giết súc vật c̣n dữ dội hơn Trung Hoa, như tại Chicago, Gia Nă Đại v.v… nhưng mà những xứ ấy vẫn cứ hưởng lạc như thường, v́ sao Trung Hoa lại gặp ác quả thê thảm, đau đớn dường ấy? (Hồ Chánh Lâm hỏi)

         

Đáp: Nhân quả thông ba đời: Kẻ thọ báo chưa chắc đă c̣n đang sống trong cơi đời hiện tại, lại c̣n chẳng ở ngay chỗ ban đầu. Từ câu chuyện vua Lưu Ly diệt họ Thích, có thể suy ra vậy!

 

          * Hỏi: Tục ngữ nói “thân người khó được”, nhưng dấy tâm động niệm nơi thân này đều là tội, ư tôi cho rằng: Đâm ra chẳng bằng súc sanh suốt một đời tạo tội khá ít. Nếu là thân người, do phá sạch nhân lành trong đời trước, sẽ đọa nhập ác đạo, đâm ra chẳng bằng súc sanh c̣n có thể giữ được mấy năm. Cư sĩ nghĩ như thế nào? (Hồ Chánh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Thân người đáng quư là v́ dễ nghe Phật pháp, có thể tu hành để được giải thoát. Súc sanh có thể đúng pháp tu hành, có bao nhiêu trường hợp như vậy? Cư sĩ nghĩ con người tạo tội nhiều, chẳng bằng súc sanh tạo tội khá ít, cho nên hâm mộ súc sanh. Ví như người ở trong xă hội, cơ hội tạo tội khá nhiều, [cho rằng] kẻ bị cầm tù, tống ngục, cái duyên tạo tội bèn ít, [do vậy], v́ để khỏi tạo tội mà cam tâm vào trong ngục ư? Ông lại nói súc sanh c̣n có thể giữ lại nhân lành từ mấy kiếp trước, cho rằng “làm súc sanh thù thắng hơn làm người”. Thử hỏi: Quả báo của những nhân lành được lưu lại đó là như thế nào? Xin hăy tham cứu kỹ! Phải nên biết: Điều đại ác cố nhiên là do con người làm, mà điều đại thiện cũng là do con người tạo ra vậy!

 

          * Hỏi: Nếu bảo “thân người đáng quư ở chỗ có thể nghe Phật pháp”, th́ những khu vực dă man chẳng có duyên với Phật, kẻ xuẩn ngốc ngũ quan chẳng đầy đủ, và kẻ thông minh nhưng chẳng tin Phật, sẽ chẳng thể tu học Phật pháp. Rơ ràng là những kẻ ấy đă phá hư nhân lành đời trước. V́ sao trong kinh Địa Tạng Bổn Nguyện, đức Phật đôi ba lượt khen ngợi Địa Tạng Bồ Tát, hoặc nói do tu cái nhân lành, cho nên có thể đạt được phước báo trong đường trời người? (Hồ Chánh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Biên địa và mù, điếc, câm, ngọng, thế trí biện thông, đều khiến cho việc nghe Phật pháp bị chướng ngại. Hai loại sau được xếp vào trong tám nạn. Đúng như ông đă nói, luống uổng lần thọ thân này, đáng tiếc lắm! Đấy cũng là do ác nhân duyên kết thành. Chỉ mong bậc đại tâm Bồ Tát chẳng ngại gian nan, khốn khó, thương xót cứu độ.

 

          * Hỏi: Lại nữa, nếu nói “thân người đáng quư”, ngoài việc có thể tu học Phật pháp ra, c̣n có thể thỏa ư nơi cơm áo, ăn ở, nhưng kẻ nghèo túng bị đói lạnh bức bách trên cơi đời, chẳng thể biết là bao nhiêu? Cuộc sống của họ thua xa chó, ngựa của kẻ giàu có. Nếu nói “những người ấy trong đời trước có cái nhân ác, kiếp này cần phải đền trả”, v́ sao chẳng đọa trong địa ngục, ngạ quỷ, hoặc làm chó, ngựa v.v... cho nhà giàu có cũng được! Khăng khăng nói “con người thuộc về một trong ba thiện đạo”, nhưng lại ắt phải chịu khổ. Điều này đúng là khó hiểu! (Hồ Chánh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Kinh văn thường có nói: Chúng sanh tội nặng, khi thời gian thọ báo trong địa ngục đă hết, do các điều thiện khác, bèn chuyển sanh làm người, vẫn có “dư ác”, [cho nên] các căn chẳng đầy đủ, nghèo túng, đủ các nỗi suy vi. Tuy nói “tàn tật, nghèo khổ”, nhưng so với các h́nh phạt vô gián trong chốn địa ngục th́ đă an nhàn hơn vạn lần! Nói “thiện đạo” là nói theo tổng tướng. Lại nữa, báo chia thành hai loại là y báo và chánh báo. Chánh báo là nói tới cái thân trong một đường nào đó. Y báo là nói tới sự hưởng thụ đạt được. Trong ấy, có chánh báo thiện mà y báo kém mỏng, có khi chánh báo ác mà y báo sâu dầy. Lại có thiện dầy, ác mỏng. Nhân đă ngàn phần sai khác, quả cũng muôn vàn sai khác, mỗi thứ đều có lư rốt cùng ở trong ấy. Nếu chuyên v́ hưởng thụ mà đành ḷng làm súc sanh, có khác ǵ kẻ nghèo v́ mong cầu cơm áo mà bằng ḷng bị giam trong nhà tù? Đấy là mỗi người có một loại tư tưởng, mỗi người có cách nh́n khác nhau vậy!

 

          * Hỏi: Sự tử vong của chúng sanh có xét theo nhân duyên quả báo nhất định hay không (như tuổi thọ, thiên tai, nhân họa v.v....)? Nếu đúng như vậy, cớ ǵ có những chuyện chết uổng mạng, oán cừu v.v... Bởi lẽ, họ sẽ phải hứng lấy kết quả như thế, c̣n oán thù ai nữa? (Hồ Chánh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Đối với nhân, duyên, quả, hăy nên luận định theo chiều dọc tột cùng ba đời, theo chiều ngang trọn khắp mười phương, muôn ngàn sai khác, hết sức phức tạp. Nếu có thể suy xét, t́m hiểu như vậy, ắt sẽ thấy chẳng có ǵ gọi là oan uổng! Nhưng Phật pháp nói theo Thật Tướng và chú trọng giải thoát. Nói tới Thật Tướng, biết chúng sanh do một niệm vô minh mà chuốc lấy nhân quả, đó là chỗ đáng thương! Chuộng giải thoát, cho nên chẳng cầu báo thù qua lại, từ nay trở đi bèn buông bỏ. Nếu gặp kẻ chẳng chịu buông tay, tức là đột nhiên gặp kẻ oán ghét, cố nhiên đều có thể nói là “oan uổng”. Pháp thế gian do chẳng thấy cái nhân, nhưng xót thương cái quả, nên kêu to là oan uổng. Đối với ư nghĩa “từ nay buông tay” cũng có điều phụ trợ, tức là hữu ích cho cơi đời, chẳng phải là gây hại cho cơi đời vậy!

 

          * Hỏi: Thân người trong lục đạo luân hồi có thể nói là khó đạt được. Nhưng sanh làm người Âu Mỹ, cuộc sống vật chất dồi dào, so với thổ dân sống trên núi cao hoặc rừng rậm, sự hưởng thụ trong ấy (cuộc sống) đă cách biệt một trời một vực. Đối với hiện tượng này, nh́n theo quan niệm nhà Phật, sẽ phân biệt như thế nào? Lại nữa, sanh ở nơi khoa học chẳng hưng thịnh như Á Châu, Trung Đông, Phi Châu v.v... chẳng lẽ trong kiếp trước, điều thiện của những người ấy cũng chẳng đạt tới mức độ viên măn ư? (Hồ Chánh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Có được loại thân nào đó, đấy là chánh báo. Hết thảy những sự hưởng thụ sau khi đă đạt được thân ấy, gọi là y báo. Chánh báo và y báo mỗi người đều khác nhau. Thân có trí, ngu, đẹp, xấu, toàn vẹn, tàn khuyết, yểu, thọ sai khác, tức là chánh báo cũng chẳng nhất trí. Hưởng thụ có phú quư, bần tiện, cát, hung, thuận, nghịch v.v... sai biệt, há đáng lấy làm lạ ư? Đạt được thân và sự hưởng thụ trong các đường khác cũng có nhiều thứ! Những điều này thuần thuộc về nhân quả, duyên làm thiện, làm ác, thường đều là chẳng đơn thuần, có thiện nhiều ác ít biến đổi lẫn nhau, hoặc thoạt đầu lành, rốt cuộc ác, biến đổi lẫn nhau. T́nh nghiệp phức tạp; do đó, hai thứ chánh báo và y báo cũng là muôn vàn sai khác!

          * Hỏi: Đối với nguồn cội của vô minh, giữa “vô minh”“hậu hữu”[32] có mối quan hệ như thế nào? (Phó Ngu Chi hỏi)

 

          Đáp: Do một niệm bất giác, bèn có vô minh. V́ thế, biến thành thần thức. Từ đấy trở đi, nhập thai, xuất thai chẳng ĺa lục đạo, thường có hậu hữu. Truy t́m ngược lại, [sẽ thấy] đều là do vô minh làm nhân. Đấy chính là mối quan hệ giữa chúng vậy!

 

          * Hỏi: Năm nay đứa con bé của tôi đi thi đại học. Đêm trước ngày đăng kết quả, [nó mộng thấy] có người gọi tên con tôi, bảo sẽ đậu hạng mấy. Khi đăng kết quả, thấy kém một bậc, chuyện này là v́ lẽ nào? (Kim Thiên Đạc hỏi)

 

          Đáp: Thành tích và quá tŕnh học tập, quan hệ thân phận, cũng giống như chuyện đỗ đạt trong khoa cử trước đây, đều do nhân quả mà có. Con ông vốn do túc căn sâu dầy, cho nên cảm vời biết trước, khiến cho nó biết: “Ngoài vật chất, hăy c̣n có những điều khác tồn tại”. Hăy nên lưu ư đôi chút về cái học tâm tánh, ngơ hầu hiển hiện đức năng sẵn có.

 

          * Hỏi: V́ sao có người thân thể khỏe mạnh, có người thân mang bệnh tật? V́ sao kẻ được phú quư, người bị nghèo hèn? (Huệ Lượng hỏi)

 

          Đáp: Người đời trước có công đức kiêng giết, sẽ được quả báo khỏe mạnh. Kẻ có ác nghiệp sát sanh, sẽ bị quả báo lắm bệnh. Kẻ đời trước có công đức bố thí, nay đạt được quả báo phú quư. Kẻ có ác nghiệp tham lam, trộm cắp, sẽ mắc quả báo nghèo hèn.

 

          * Hỏi: Hết thảy chúng sanh sau khi chết già, có c̣n luận định mười hai nhân quả hay không? (Trí Dẫn hỏi)

 

          Đáp: Chuyện này được gọi là Thập Nhị Nhân Duyên, c̣n gọi là Thập Nhị Liên Hoàn, ư nói: Nhân thấu triệt quả, quả bao gồm nhân, tuần hoàn chẳng ngừng. Khởi đầu bằng vô minh, kết thúc bằng “già, chết, ưu, khổ, bi năo”, ưu khổ bi năo lại chính là vô minh. Thân chúng sanh đă chết, nhưng thức vẫn có ư niệm, như vậy th́ làm sao thoát khỏi cái ṿng vây liên hoàn ấy?

 

          * Hỏi: Tệ nhân sống bằng nghề bán điểm tâm, thường có ruồi nhặng rớt vào canh, trong tâm chẳng nỡ, muốn đậy lại, lại thường cần phải đun sôi. Xin chỉ dạy biện pháp nào để pḥng ngừa và có cách nào giúp chúng siêu sanh. Trong tương lai, có quan hệ ǵ đến nhân quả của tệ nhân hay không? (Vương Gia Thanh hỏi)

 

          Đáp: Đối với tiệm làm đồ điểm tâm, cần phải lắp cửa lưới. Trước khi bắt đầu làm [điểm tâm], hăy quét dọn cho sạch, dùng chổi phủi đuổi hết ruồi nhặng, đóng chặt cửa lưới rồi mới nổi lửa. Một là có thể giữ trọn tánh mạng của các loài vật, hai là cũng bảo đảm vệ sinh. Nếu có ruồi nhặng ngẫu nhiên rớt lầm vào đó mà chết, hăy niệm Phật hồi hướng cho nó, có công đức to lớn. Đă trọn hết tấm ḷng, th́ quan hệ trong tương lai cũng chẳng phải là ác vậy!

 

          * Hỏi: Nương theo lư nhân quả báo ứng, hễ thiếu mạng, thiếu tiền, hoặc thiếu t́nh, tuy nhiều đời chẳng đền trả, nhưng thử lấy chuyện thiếu mạng làm thí dụ. Trong đời quá khứ, Giáp từng sát hại Ất, sau khi chuyển sanh, Giáp sẽ bị Ất giết để đền nợ cũ. Nhưng sau khi Ất chuyển sanh, trước khi Ất tầm cừu đ̣i nợ đời trước, bỗng gặp thiện tri thức điểm hóa, dứt bỏ ác niệm. Như thế th́ Giáp sau khi chuyển sanh, đối với chuyện nợ mạng trong đời trước, có thể từ nay trở đi chẳng cần phải trả hay không? Tức là do Ất tiêu trừ nỗi oán mà nghiệp ấy cũng tiêu trừ hay chăng? Đó là điều thứ nhất. Oan oan tương báo, vốn chẳng có lúc [giải quyết xong], nhưng giết người đền mạng, thiếu nợ đền tiền, cách đời báo oán rốt cuộc là chuyện nên có trong nhân quả ư? Hay là một trong một cách thức đ̣i nợ, vẫn thuộc về chuyện tạo nên oan nghiệt? Đây là điều thứ hai. (Tân Hán hỏi)

 

Đáp: Ất từ bỏ oán cũ, món nợ Giáp thiếu Ất lập tức bị tiêu diệt, nhưng nghiệp nhân của Giáp vẫn tồn tại y như cũ. Bất quá, chẳng có quan hệ ǵ với Ất nữa, chẳng do Ất làm duyên khiến cho nó hiện hành. Nếu cầu tiêu diệt, Giáp vẫn cần phải sám hối, sửa đổi. Đó gọi là “tâm mất, tội cũng mất” vậy. Đấy là điều thứ nhất. Trong chuyện đ̣i nợ cách đời, đó vẫn là tạo nên oan nghiệt. Cho nên kẻ mê đối với oán càng kết sâu hơn, kẻ trí đối với oán, biết cầu giải thoát. Thật ra, duyên nghiệp do Hoặc khởi lên, trong tám thức điền, tự nhiên gieo một chủng tử, sẽ thành ác quả trong tương lai. V́ thế nói “đ̣i nợ vẫn là tạo nên oan nghiệt”. Đấy là điều thứ hai.

 

          * Hỏi: Đức Phật nói thần thánh cũng chẳng thể xâm phạm luật nhân quả. Bất luận kẻ nào cũng đều chẳng thể may mắn tránh khỏi chẳng lănh nhận. Lời này dường như mâu thuẫn với khoa học! Ví như tỉnh Đài Loan từ khi quang phục[33] cho tới nay, tỷ lệ sanh trưởng của dân cư từ năm Dân Quốc ba mươi sáu (1947) là ba mươi tám phần ngàn, gia tăng đến bốn mươi chín phần ngàn vào năm Dân Quốc bốn mươi (1951). Tỷ lệ tử vong từ mười bảy phần ngàn vào năm Dân Quốc ba mươi sáu (1947) giảm thấp xuống mười phần ngàn vào năm Dân Quốc bốn mươi (1951). Đấy là sanh tăng nhiều hơn, tử giảm ít đi, nói theo luật nhân quả th́ sẽ là như thế nào? (Vô danh hỏi)

 

          Đáp: Thiết bị vệ sinh, kỹ thuật y dược đều tiến bộ hơn trước, tự nhiên giảm thiểu tử vong. Chuyện này hoàn toàn chẳng trái nghịch nhân quả! Nếu suy nghĩ từ tâm thuật và thọ mạng, càng phải nên: Theo chiều dọc, xét khắp cả ba đời, theo chiều ngang, luận định hoàn cảnh, tổng hợp lại, để bù qua, sớt lại. T́nh h́nh hết sức chẳng đơn giản, chớ nên viện vào một phương diện mà nhất loạt khái lược những điều khác!

 

          * Hỏi: Quân nhân cách mạng hy sinh sanh mạng cá nhân, hiến thân v́ nước, v́ phước lợi của quần chúng mà nhọc nhằn, hăy nên có đức lớn “cứu người, cứu đời”, nhưng quân nhân hiện thời chẳng có quan niệm ấy. Tuy làm quân nhân, chỉ là bất đắc dĩ mà làm. Người như vậy có công đức hay không? Có thể được hưởng phước báo trong đời sau hay không? (Vô danh hỏi)

         

Đáp: Cư sĩ đă bàn đến nhân quả, đương nhiên là biết lư “muốn uống th́ phải đào giếng, muốn ăn th́ phải cày ruộng”. Nói theo hiện tiền, có vất vả th́ mới được tưởng thưởng. Nói theo mai sau, kẻ gieo đức mới được hưởng phước. Chức trách của quân nhân vốn là bảo vệ đất nước và nhân dân, nhưng thân chẳng làm chuyện như thế ấy, tâm chẳng nghĩ như thế ấy, c̣n có công đức chi nữa? Đă chẳng có công đức, há c̣n hỏi chuyện tương lai được ư?

 

          * Hỏi: Nói theo nhân quả, người đời trước làm nhiều việc thiện, tu hành nhiều, đời này phước báo lớn, trí huệ cao. Theo đúng lẽ, hăy nên là người lành phần nhiều phú quư, thông minh. V́ sao trong hiện tiền, tôi thấy kẻ phú quư phần nhiều ngang ngược, lấn lướt, đầu óc toàn mưu ma chước quỷ? Ngược lại, người lành phần nhiều nghèo khổ, ngốc nghếch vậy? (Lư Vĩnh Bạch hỏi)

 

          Đáp: Nghèo hay giàu là quả báo của chuyện thuộc về cái nhân từ mấy đời trước. Tánh thiện hay ác là tập khí bẩm sanh và do được huân nhiễm trong đời hiện tại. Đó là điều thứ nhất. Xét kỹ, sẽ thấy cũng có nhiều người giàu từ thiện, cũng có lắm kẻ nghèo mà tánh t́nh gian giảo, độc ác, không hoàn toàn là thiện hết như trong lời hỏi đă nói. V́ thế, chẳng cần phải biện luận. Đấy là điều thứ hai.

 

          * Hỏi: Tham, sân, si, ái là cái nhân tạo ác. Nếu có thể quán pháp là không (“pháp” là nói tới vạn hữu trong vũ trụ). Các pháp đă là không, tức là chẳng sanh tham, sân, si, ái. Tham, sân, si, ái chẳng sanh, tức là có thể sanh tâm từ bi, xả ḿnh lợi người, chẳng tạo cái nhân ác. Tham, sân, si, ái là cái nhân tạo ác. Đă chẳng có nhân; sau đó, cũng sẽ không có quả. Nếu quán như thế, có phải là cũng có thể liễu thoát sanh tử hay chăng? (Nhan Văn Bộc hỏi)

 

          Đáp: Chẳng tạo cái nhân ác, cố nhiên là tốt đẹp. Thiện th́ cần phải là “tam luân thể không”, từ bi cũng coi trọng vô duyên. Người như thế đương nhiên là sẽ giải thoát, nhưng cảnh giới này cực cao, hàng sơ học chẳng thể nào thật sự thấu hiểu được!

 

          * Hỏi: Quy y Tam Bảo, có thể ĺa khổ được vui, văng sanh Tây Phương. V́ sao có những người trước khi quy y Tam Bảo, mọi sự như ư, gia đạo hưng vượng, kể từ sau khi quy y Tam Bảo, mọi sự chẳng được như trước, gia đạo ngày càng suy yếu dần, c̣n có người chẳng có con nối dơi! Nói theo nhà Phật là do nhân quả báo ứng, nhưng chẳng biết những chuyện giống như vậy là do nhân quả như thế nào? (Nhan Văn Bộc hỏi thay cho người khác).

 

          Đáp: Nhân quả thông ba đời, chín muồi có sớm hay trễ. Đấy là chánh tri, chánh kiến. Quy y Tam Bảo chỉ có cái danh suông, chẳng thể sửa ác, hướng thiện, th́ vẫn có nhiều tai họa xảy đến. Chuyện này cũng là lẽ đương nhiên! Nếu bảo “quy y Tam Bảo, tŕ giới tinh tấn chính là cái nhân khiến cho [hành nhân] hứng chịu tai họa”, sẽ là kẻ đại ngu si tà tri tà kiến! Hăy thử xem: Nghiêu, Thuấn là những vị đại thánh, mà con cái đều chẳng ra ǵ. Bá Di, Thúc Tề là những bậc đại hiền, thảy đều mất nước, chết đói. Khổng Tử từng chôn con, Bá Đạo lại không có con[34]. Nếu bảo đó là quả báo của bậc thánh hiền nhân từ, chắc chắn phải ca ngợi Tào Tháo đoạt nước làm vua, Tần Cối bán nước mà phú quư vậy! Đối với kẻ thấy biết nông cạn, điên đảo như thế, càng khó nói ǵ được nữa!

 

          * Hỏi: Phật giáo nói “chúng sanh thuận theo nghiệp chướng đầu thai, bất luận kẻ nào cũng đều chẳng có cách nào ngăn cản” (“bất luận kẻ nào” là kể cả Phật ở trong ấy). Nếu nghiệp chướng nặng nề, miệng niệm A Di Đà, tay cầm dao phay chẳng tự tu, Phật cũng chẳng có cách nào cứu kẻ ấy, nhưng v́ sao có thể cứu mẹ ngài Mục Liên? Mẹ Ngài nghiệp chướng trầm trọng, đọa lạc địa ngục. Mục Liên tâm cứu mẹ thiết tha, cậy vào công đức và nguyện lực của chư Phật, cứu được mẹ sanh lên cơi trời. Cớ sao bà ta chẳng tùy thuận nghiệp chướng đầu thai? Chuyện này có lẽ chẳng hợp với luật nhân quả “tự làm, tự chịu”, chẳng lẽ trồng đậu được dưa? Chư Phật từ bi, cớ sao chẳng hiệp lực độ tất cả chúng sanh đáng thương dưới gầm trời về Tây Phương? Mẹ ngài Mục Liên là một trường hợp [khả thi], vậy th́ đương nhiên là chúng ta cũng có thể làm giống như vậy, lẽ đâu chẳng được? (Tạ Bích Ngọc hỏi)

 

          Đáp: Mẹ ngài Mục Liên đọa làm ngạ quỷ chính là do cái nhân ác trong đời trước. Siêu thoát về thiên đạo là do nhân lành lập hội Vu Lan Bồn bố thí rộng khắp. Làm sao bảo là nhân quả chẳng hợp cho được? Chư Phật độ chúng sanh, bất quá như người cầm lái chèo thuyền, hành nhân ắt phải lên thuyền th́ mới có thể lên bờ đối diện. Thuyền ví như kinh giáo, chúng sanh chẳng y giáo phụng hành, tự cam ḷng đọa lạc! Giống như hành nhân chẳng muốn lên thuyền, [bèn ngạo ngược] trách suông người cầm lái chẳng cặp thuyền sát bờ đối diện vậy!

 

          * Hỏi: Tín đồ Phật giáo bài xích ḷng bác ái của đạo Gia Tô đối với nhân loại là ích kỷ, đó là ác, hay là thiện? Tín đồ Gia Tô coi sát sanh là thiện sự, đương nhiên là ác, chẳng thiện. Luật nhân quả của nhà Phật há chẳng là đă bị phá hoại ư? (Chương Phổ Minh hỏi)

 

          Đáp: Nói thăng thiên bèn thăng thiên, chuyện cũng chẳng dễ dàng như vậy! Các giáo trong và ngoài nước, đâu phải chỉ là mấy trăm, người phổ biến cũng chẳng phải là một giáo. Nhân quả nào tự có nhân quả nấy. Chưa khai Thiên Nhăn, chỉ biết chuyện trước mắt, nói chung là hễ bàn tới ba đời bèn mờ mịt vậy!

 

          * Hỏi: Người lành sanh ra con ác, người khỏe mạnh sanh con yếu đuối, người hiền sanh sanh ra đứa con ngu muội, là chuyện thường trông thấy. Vậy là nhân quả chẳng tương ứng ư? (Trương Thanh Cẩm hỏi)

 

          Đáp: Nhân quả phải gộp cả ba đời để xem xét. Cư sĩ có thể tự xem xét để thấy: Trong cột báo này, tôi đă nhiều lần trả lời, chẳng ít đâu nhé! Đối với những câu hỏi như vậy, đều có ghi chép cặn kẽ. Nếu mặt trời nung nóng băng mà băng càng đóng dầy, mưa to rơi xuống đất mà đất càng khô khan th́ mới có thể nói là “nhân quả chẳng tương ứng”.

 

          * Hỏi: Phật giáo thường nói đến nhân quả, như mèo bắt chuột th́ cũng có thể nói là nhân quả ư? Có phải là do đời trước chuột ăn thịt mèo, cho nên đời này báo oán lẫn nhau? (Chiêm Kim Chi hỏi)

 

          Đáp: T́nh h́nh nhân quả vô cùng phức tạp, chẳng thể nói cứng ngắc như thế được! Tuy mèo bắt chuột, chẳng phải là con chuột nào cũng bị mèo bắt! Con nào bị bắt là có nguyên nhân trong ấy. Như người bị sét đánh, hoàn toàn chẳng phải là do trong đời trước sấm từng bị người ấy giết chết, mà cũng là do có nguyên nhân khác trong ấy. Bất quá, nhờ vào đó để làm cái duyên thọ báo.

 

          * Hỏi: Người bạn tôi hoàn toàn chẳng phải là Phật tử, nhưng nhiều năm qua đă thờ phụng Quán Thế Âm Bồ Tát. Lại c̣n mỗi đêm dâng hương, kiền thành tụng Tâm Kinh, người ấy hỏi hậu học: “Người chí tâm niệm Phật sẽ được đới nghiệp sanh Tây, c̣n người kính bái Quán Âm đại sĩ có kết quả như thế nào?” (Triệu Trạch Vũ hỏi)

 

          Đáp: Đao có thể xẻ dưa, có thể cắt giấy, có thể trồng rau, mà cũng có thể giết người, công dụng chẳng đồng nhất! Phải xét từ điểm xuất phát của cái tâm để định cái quả. Xin hỏi quư hữu có nguyện lực như thế nào?

 

          * Hỏi: Nói theo nhân quả, kẻ hay sát sanh, ắt mắc ác quả. Có khi tôi thấy kẻ sống bằng nghề giết lợn, giết dê có hoàn cảnh khá hơn người tin Phật. Rốt cuộc là do cái nhân nào? (Trác Trung Chấn hỏi)

 

          Đáp: Nhân quả thông ba đời. Vấn đề này đă được cột báo này trả lời nhiều lượt, xin hăy tự tra duyệt để hiểu rơ.

 

          * Hỏi: Ngài Huyền Trang đời Đường là vị cao tăng thuở ấy, sau khi viên tịch, Ngài được coi là vị Tổ nào? Lại nữa, Lương Vũ Đế suốt đời thờ Phật, mắc quả báo là nước vỡ nhà tan, chết ngang trái trong tay Hầu Cảnh, chẳng khỏi là một khuyết điểm trọng đại trong Phật giáo! Đó có phải là do cái nhân từ trước hay không? Sau khi qua đời, Lương Vũ Đế có được xếp vào hàng “tôn giả” hay không? (Trác Trung Chấn hỏi)

         

Đáp: Cao túc của ngài Huyền Trang là Khuy Cơ đại sư, chính là khai tổ của Tướng Tông. Ngài Huyền Trang không được xếp vào địa vị Tổ, v́ “tổ” chính là tổ của một tông. Ngài Huyền Trang Tam Tạng đều tinh thông, chẳng thể hạn cuộc trong một tông nào! Đối với sự thất bại của Lương Vũ Đế, cũng chẳng cần luận định cái nhân trước, mà chính là trong khi ấy, nhà vua đă bội ước đối với lân quốc, lại c̣n do tham đất mà thâu nạp kẻ phản nghịch là Hầu Cảnh. Đă phạm sai lầm to lớn, [cho nên] gặp phải quả báo ấy cũng là chuyện tất nhiên! Nhưng Vũ Đế suốt một đời hoằng pháp, hộ pháp, chủng tử công đức tất nhiên là sung măn, sẽ có thành tựu lớn nhất.

 

          * Hỏi: Gia huynh là Trác Trí Lập kể từ sau khi quy y Ấn Quang đại sư, bèn niệm Phật và làm lành chẳng tiếc sức thừa. Đối với chuyện kiêng giết, phóng sanh, càng thêm nỗ lực. Ngày Mười Sáu tháng Ba năm Dân Quốc mười chín (1930), nhằm ngày thánh đản của Chuẩn Đề Bồ Tát, sanh được một đứa con trai, dung mạo đẹp đẽ, tánh t́nh thông minh, có tư thái hơn người, đặt tên là Hiền Chuẩn. Gia huynh yêu quư như bảo châu, thầm nghĩ “đứa con này hoàn toàn do Phật và Bồ Tát ban cho”. Nó vừa được hai tuổi bèn chết yểu, rốt cuộc gia huynh ôm nỗi đau Tây Hà[35]. Gia huynh nhớ con muốn phát cuồng, đối với chuyện đời lẫn Phật pháp đều chểnh mảng. Kể từ khi được thầy là tổ sư Ấn Quang nghe tin, viết thư quở trách, mới chấm dứt giai đoạn [cuồng trí] ấy. Người niệm Phật đă được đứa con yêu rồi nó lại bị chết non, đủ để chuốc lấy kẻ tục phỉ báng Phật. Trời cao đă ban cho người lành một đứa lân nhi[36], cớ sao lại gây ra thảm kịch ấy, khiến cho người ta chẳng hiểu thế nào? (Trác Trung Chấn hỏi)

         

          Đáp: Tiền nhân hậu quả trong ấy chắc chắn là rất phức tạp. Con chẳng ngoan hiền, quyết sẽ chẳng đau ḷng. Nếu là người đắc Thiên Nhăn hoặc Túc Mạng Thông, sẽ có thể hiểu tường tận nguyên do. Hăy nên biết: Quyết chẳng phải là ngẫu nhiên mà thành như vậy. Đối với nghị luận của tục nhân, người hiểu biết sẽ bỏ qua, chẳng màng tới, v́ đă nói là “tục nhân” chính là [nói tới] những kẻ chẳng có trí huệ, ít hiểu biết. Họ chẳng báng Phật, sẽ chẳng đủ để biểu hiện sự thô lậu của họ.

 

          * Hỏi: Kinh Tứ Thập Nhị Chương nói: “Nhược nhân hữu quá, tự giải tri phi, cải ác hành thiện, tội tự tiêu diệt” (Nếu người có lỗi, tự hiểu biết là sai trái, sửa đổi điều ác, hành điều lành, tội tự tiêu diệt). Cớ sao ngài An Thế Cao c̣n phải hai lần sang Trung Hoa để đền nợ mạng? Ngài có thần thông, có tu hành, cớ sao chẳng tự tiêu diệt [tội nghiệp]? (Tŕ Huệ Lâm hỏi)

 

          Đáp: Sửa lỗi cũ, từ nay tu tập, tội tự tiêu diệt, kinh dạy chẳng dối, nhưng cần phải có thời gian. Kệ rằng: “Giả sử trăm ngàn kiếp, nghiệp đă tạo chẳng mất, khi nhân duyên hội hợp, quả báo vẫn tự chịu”. Bài kệ này nói rơ: Hễ nghiệp chẳng mất, ắt thọ báo. Nói ngược lại, hễ nghiệp đă mất, sẽ chẳng thể báo. Ngài An Thế Cao tuy biết túc mạng, dường như chưa đắc Lậu Tận, hoặc là nghiệp vẫn chưa mất, mong trả nợ xong cho nhanh, cho nên tự động t́m cầu để đền nợ, mong sớm giải thoát, hoàn toàn chẳng như bọn ta khi nghiệp nhân chín muồi, chẳng có cách nào tránh né được!

 

          * Hỏi: Nếu kẻ khác chửi ta, ta chửi lại kẻ đó là có tội. Nếu chẳng chửi lại, trong tâm âm thầm ôm hận, bên nào mắc tội lớn hơn? (Tŕ Huệ Lâm hỏi)

         

Đáp: Chửi lại là cả hai thứ ư và khẩu đều tạo ác nghiệp. Không chỉ là về sau phải chịu khổ báo, hiện tiền c̣n chuốc lấy họa ngoài thân. Ôm ḷng hận, nổi sân, chính là tăng thượng căn bản phiền năo, nhưng chẳng đến nỗi chuốc lấy tai vạ ngoài thân. Cư sĩ đă đọc kinh Tứ Thập Nhị Chương, sao không biết cái lư “tặng lễ chẳng nhận”[37] vậy? Hiểu rơ lư ấy, đối với đối phương, không chỉ là chẳng hận, mà ngược lại c̣n nên khởi cái tâm bi mẫn nữa kia!

 

          * Hỏi: Đời trước hủy báng kẻ khác, đời sau bị hứng chịu ngược lại. Đó là nhân, quả, báo của chúng sanh. Thích Ca Mâu Ni Phật là bậc thánh nhân xuất thế, hóa hiện phàm thể để độ chúng sanh, tức là Ngài chẳng hủy báng kẻ khác. V́ sao Thích Ca Mâu Ni Phật sau khi đă thành Phật, hăy c̣n có kẻ hủy báng và gây thương tổn? (Trần Lâm Châu hỏi)

 

          Đáp: Cái nhân khiến cho gặp cảnh hủy báng chẳng phải là một. Có trường hợp là do đền trả nghiệp nhân trong đời trước, cũng có khi từ trong hoàn cảnh hiện tại mà tạm thời cảm vời. Hăy nên biết: Trong đời ác ngũ trược này, người ta chuộng làm ác, trông thấy kẻ khác làm ác bèn chê cười, chửi bới. Trông thấy kẻ khác tốt lành lại ghen ghét, bèn hủy báng. Những điều ấy đă trở thành thói quen thông thường. Đức Thế Tôn thành Phật, đă sớm nghiệp tận, t́nh không, há có lẽ nào phải đền bồi cái nhân! Kẻ báng bổ chính là do thói quen của chính ḿnh mà khiến thành ra như vậy. Hai điều này cũng có chỗ bất đồng:

1) Do đền bù cái nhân bèn chịu hủy báng, cho nên có tổn hại.

2) Không có nhân mà bị hủy báng, đâm ra càng bộ lộc rơ phẩm đức.

Huống hồ Phật như hư không, bất biến trong hết thảy. Lại c̣n có những bậc quyền hiện Bồ Tát tỏ lộ thái độ ấy để đức Phật thừa dịp thuyết pháp, như Đề Bà Đạt Đa là một trường hợp vậy.

 

* Hỏi: “Quán thọ là khổ”, gia mẫu ăn chay nhiều năm. Bà khá chịu tặng đồ vật cho người khác, nhưng đối với hết thảy quà biếu tặng của hàng xóm, bà chẳng tiếp nhận, v́ sợ có “thọ nhân” (cái nhân tiếp nhận), sẽ chuốc lấy “hoàn quả” (quả báo đền trả), nhưng trong xă hội, sống như vậy sẽ không được! Như thế nào th́ mới là tốt đẹp? (Vưu Thái Hoa hỏi)

 

Đáp: Đối với chữ Thọ (: nhận lănh) trong câu hỏi này, phạm vi hết sức rộng. Thọ chỉ hết thảy các sự lănh nạp nơi thân và tâm. Như đối với thân, sẽ là khổ lạc, xả. Đối với tâm là ưu, hỷ, tức là những phân biệt dấy lên khi tiếp xúc cảnh. Gọi chung là Khổ. Khổ và ưu cố nhiên là khổ nhất trong các khổ, lạc và hỷ cũng là những nỗi khổ v́ chúng ắt sẽ bị hư hoại. Xả cũng là nỗi khổ v́ thường chuyển dời, vô thường! Người có huệ lặng lẽ quan sát mới biết. Lệnh đường chẳng tiếp nhận tặng vật của người khác, chính là một hạnh liêm khiết, cao thượng, hơi khác với ư nghĩa ở trên đây. Do cụ tuổi già, lại làm như thế đă lâu, chắc là mọi người đều thông cảm, cũng chẳng có ǵ là không được.

 

          * Hỏi: Lạt-ma Tây Tạng bị giặc Cộng giết chết nhiều như thế. Trong số ấy, nhất định có rất nhiều vị lạt-ma Tăng Bảo đă chứng từ Sơ Quả cho đến Tứ Quả A La Hán. Giết A La Hán, khiến cho thân họ chảy máu chính là tội lỗi to lớn. Giặc Cộng bắn chết Tăng Bảo nhiều ngần ấy, tội như Tu Di. Nhưng những tên lính Cộng Sản vô tội bị bức bách cũng mắc tội, có phải là do cộng nghiệp báo ứng hay không? (Nhan Phật Triệu hỏi)

 

          Đáp: Tự nhiên là cộng nghiệp, cộng báo, bất quá là có nhẹ hay nặng khác biệt. Nhưng những kẻ bị bắt buộc làm ác hạnh ấy, cũng là những kẻ thuộc loại nghiệp nặng, chướng sâu, cho nên đặc biệt gặp phải ác duyên này, lại gieo cái nhân ác ấy! “Du hảo đức” (Yêu chuộng đức) trong Ngũ Phước của thế gian chính là nhân, chẳng phải là quả. Có thể thấy làm thiện sự chính là hành vi của người có phước huệ vậy!

 

          * Hỏi: Trong nạn lụt lớn ngày Tám tháng Bảy, rất nhiều người bị chết đuối. Những người v́ thiên tai mà chết ngang trái đó, có phải là đều do nhân quả nghiệp báo hay không? Chẳng lẽ tất cả những người chết đuối đều là do nghiệp cảm chiêu vời ư? (Trần Thánh Âm hỏi)

 

          Đáp: Báo thông ba đời, chẳng thể chỉ luận khi ấy. Đức Thế Tôn là người như thế nào, khi vua Lưu Ly diệt họ Thích, Ngài c̣n thị hiện tướng đau đầu, huống hồ bọn ta? Chúng sanh mắc tai ách khi ấy, hăy tạm khoan bàn tới, đừng kích thích tâm t́nh nữa! Hăy nên có ḷng bi mẫn đồng thể, gởi gắm tấm ḷng ôn nhu, bỏ ra thân lực và vật lực để chuyển vần nhanh chóng vậy!

 

          * Hỏi: Hiện thời có một hăng buôn, bạn cộng tác kinh doanh rất đông, trong hăng thường ầm ĩ v́ chuyện thất thoát tài vật. Trong tiệm, có một người là tín đồ Phật giáo, toan vạch trần tên họ của thủ phạm ra để người khác khỏi bị liên lụy, nhưng lại chẳng muốn làm người khác mất danh dự, sợ kẻ ấy sẽ bị khai trừ, rốt cuộc là có công, hay có tội vậy? Có vi phạm giới luật trong giáo hay không? (Hoàng Hàm hỏi)

 

          Đáp: Nhân viên trong tiệm đông đảo, chắc là người biết chuyện ấy không chỉ là một người, tự ḿnh cần ǵ phải đa sự? Đă biết kẻ ấy ăn trộm, lại là đồng nghiệp, sao không ngấm ngầm khuyên nhủ? Nếu nghĩ lời nói chẳng đủ trọng lượng, vẫn nên giữ im lặng là tốt nhất. Kẻ một thân tội ác đầu sỏ như vậy, sẽ có ngày dấu tích ḷi ra.

 

* Hỏi: Nhân quả thiện ác đều chẳng có lẽ nào khấu trừ, tiêu diệt lẫn nhau, nhưng lại có chuyện làm lành và tụng kinh tŕ chú bèn có thể tiêu tai giải nạn. V́ sao? Xin hăy chỉ dạy! (Hoàng Hàm hỏi)

 

          Đáp: Khi cái nhân kết thành quả, ắt phải cậy vào duyên. Chẳng có duyên, sẽ không kết thành quả. Như một cái hạt đào là nhân, đất, nước, phân bón, ánh nắng, không khí làm duyên, sau đấy mới có thể nẩy mầm, phát triển thành cây, để rồi đơm hoa, kết quả. Những thứ ấy thuộc loại tăng thượng duyên. C̣n có những duyên gây chướng ngại, như hột đào ấy chẳng gặp các duyên như đất v.v..., trái lại bị bỏ ở chỗ đá, sắt, khô khan v.v... lại chẳng có ánh nắng, không khí, há không chỉ là chẳng kết quả, mà mầm cũng chẳng do đâu nẩy sanh được! Hai thứ duyên ấy áp dụng chung cho các nhân thiện, ác. Tụng kinh, tŕ chú có thể tiêu tai v́ chúng chính là cái duyên gây chướng ngại cho cái nhân ác.

 

          * Hỏi: Nạn lụt lớn vào ngày Bảy tháng Tám tại tỉnh này gây ra tổn thất cùng tử vong không ít. Nói theo nhà Phật, sẽ là do cộng nghiệp tạo thành, nhưng có điều khiến cho nhiều người dấy lên nghi vấn. Có người nói: “Trẻ thơ theo lẽ là vô tội”. Có người nói: “Trùng hợp vậy! Đều ở cùng một chỗ!” Có người nói: “Đó là thiên tai”. Có người nói: “Nguyên nhân là do băo lốc thổi qua”. Đủ mọi nỗi hoài nghi, chẳng biết điều nào là đúng? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

          Đáp: Hết thảy mọi sự đều có các giai đoạn “nhân, duyên, quả”. “Cộng nghiệp cảm vời” là nguyên nhân, nhưng nhân cũng chẳng hạn cuộc ngay trong đời này. Nói “trẻ thơ vô tội” tức là chẳng hiểu lư này! Nói “trùng hợp vậy”, “thiên tai”, hoặc “băo lốc quét qua”, đều là [nói tới] ngoại duyên. Coi duyên là nhân, tức là vẫn mê muội đối với lư. Nhân mà chẳng có duyên, sẽ không có kết quả. Duyên không có nhân, sẽ không sanh. Do hạt đào chẳng gặp đất, nước [phù hợp], sẽ chẳng thể nào trưởng thành, kết quả. Có đất, nước mà không gieo hạt đào, cũng chẳng thể đột nhiên sanh ra cây đào được!

 

          * Hỏi: Mạt học trước khi gia nhập Phật môn, đă coi pháp thế gian như huyễn mộng. Nay vừa nghe chân lư Phật pháp, cảm thấy những điều cảm nhận trước kia chẳng sai tí nào. Nay đối với hết thảy sự vật, cảnh hiện trong tâm dường như có, dường như không. Đối với những chuyện như vậy, trước là do cái nhân ra sao, sau là cảnh như thế nào? (Nhan Văn Bộc hỏi)

 

          Đáp: Đạm bạc trần duyên tức đă có tịnh nhân (cái nhân thanh tịnh) từ trước. Nay hành Giả Quán, chính là đạo tâm tăng trưởng cảnh giới.

 

          * Hỏi: Thuở Phật tại thế, khi vua Lưu Ly diệt thị tộc Thích Ca, v́ sao đức Thế Tôn không hiển lộ thần thông ngăn chặn ông ta? (Khoan Trạm hỏi)

 

          Đáp: Thần thông chẳng thể chống lại nhân quả, trong phần trước đă nói rồi! Đối với chuyện này, tôn giả Đại Mục Kiền Liên cũng từng vận dụng thần thông cứu những người họ Thích, kết quả vẫn là vô hiệu. Đối với chuyện này, trước đó, cần phải lập cách chuyển biến, như câu chuyện [Mục Liên cứu mẹ] trong kinh Vu Lan Bồn đă nói, thần thông làm sao có thể đắc lực cho được! Nhân quả đáng sợ thay!

 

          * Hỏi: Vua Ca Lợi cắt chặt chi thể của Nhẫn Nhục tiên nhân. Luận theo nhân quả, [nhà vua] phải đọa địa ngục, cớ ǵ đời sau lại ngược ngạo sanh làm Kiều Trần Như, được đức Phật độ thoát vậy? (Cố Phượng Anh hỏi)

 

          Đáp: Khi Nhẫn Nhục tiên nhân bị chặt cắt, chưa chứng đắc cực quả, cho nên [tội ác ấy] chẳng giống như làm thân Phật chảy máu. Hơn nữa, sau khi tiên nhân bị cắt chặt, tâm vua Ca Lợi đă hối hận khôn cùng, quỳ thẳng, cầu sám hối. Tiên nhân đă tiếp nhận sự sám hối ấy, lại phát đại nguyện: “Đời sau được thành Bồ Đề, sẽ độ người này trước”. Vị vua ấy do sức chí tâm sám hối, do sức từ bi tiếp nhận của tiên nhân, được nguyện lực của đức Phật nhiếp thọ, đều là chẳng thể nghĩ bàn! Cái nhân trước chỉ có một, cái nhân sau có đến ba! Nhân trước yếu, nhân sau mạnh, ví như đ̣i nợ, người nào mạnh sẽ lôi đi trước!

 

          * Hỏi: Nhà Phật chủ trương nhân quả, trong luật nhân quả, đối với các trường hợp “một nhân, một quả”, “một nhân, nhiều quả”, và “nhiều nhân, một quả”, dường như dễ kiếm được sự vật để chứng minh. Chỉ có trường hợp “có nhân, không có quả” và “có quả, chẳng có nhân” khá là khó t́m được chứng cớ! Chẳng biết là có những trường hợp ấy hay không? (Hoàng Triều Hoa hỏi)

 

          Đáp: Theo nguyên tắc, hễ có nhân, ắt có quả; hễ có quả, ắt có nhân. Đối với hai câu hỏi của ông, nh́n theo pháp tương tự, dường như có sự lư ấy. Thật ra, chẳng phải vậy!

1) “Có nhân, chẳng có quả” là như có người sau khi gieo nhân đă lâu mà chẳng gặp duyên, nhân ẩn kín, chẳng sanh. Nhân ắt phải đợi có duyên mới dấy khởi. Ví như sau khi đă gieo [hạt giống] xuống đất, tức là đă có nhân, nhưng nếu chẳng gặp ánh nắng, không khí, gió, mưa, cũng chẳng thể sanh, nhưng cái nhân đă gieo ấy vẫn ẩn kín, chưa diệt, tạm thời giống như không có quả. Lại có cái để chuyển biến cái nhân ấy, khiến cho nó không có sức để kết thành quả trọn vẹn. Duyên chia thành hai loại Trợ và Chướng. Trợ duyên là ǵ? Tăng thêm sức mạnh cho nhân. Chướng duyên là ǵ? Tổn diệt sức mạnh của nhân. Nhân do gặp chướng duyên sẽ chuyển biến, chẳng kết thành quả viên măn. Ví như thuốc độc to bằng hạt đậu, bỏ trong chén nước, có thể giết người. Nếu bỏ trong năm đấu nước, tuy chất độc tồn tại, nhưng sức nó chỉ có thể khiến cho người ta ngă bệnh, chẳng thể giết người! Điều này cũng giống như không có quả.

2) “Có quả, chẳng có nhân”: Nhân gặp duyên bèn kết quả, có tánh chất thời gian. Càng cần phải luận định sức mạnh của chính cái nhân là lớn hay nhỏ. Cho nên sẽ trải qua ba đời quá khứ, hiện tại, tương lai, t́nh h́nh ấy hết sức phức tạp. Ví như gieo một hạt đậu, sau ba tháng bèn có thể kết quả, tức là có thể ngay trong năm ấy, trông thấy nhân và quả. Nếu trồng một hạt đào, ắt ba năm mới kết quả, tức là khi thấy quả, chẳng thấy cái nhân. Người trong hiện thời chẳng phải là đại thiện, hoặc đại ác, mà được hưởng phước to, phước lạ, là do cái nhân trong đời quá khứ. Thật sự chẳng phải là “có quả mà chẳng có nhân”!

 

          * Hỏi: Trong đời mỗi người, thiện ác hỗn tạp, quả báo đạt được, rốt cuộc thiện ác tách rời, đó có phải là do công và tội chống đối nhau hay không? (Âu Dương Mạn hỏi)

 

          Đáp: Trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, há có mâu thuẫn? Nhưng cái nhân đă gieo kết thành quả, hoàn toàn nhờ vào sức của duyên. Nếu sợ ác quả chín muồi, hăy làm nhiều việc lành. Nhân ác chẳng gặp duyên ác, tự nhiên chẳng sanh. Như gieo một hạt đậu, chẳng tưới nước, lại khiến cho hoàn cảnh ấy trọn chẳng có mảy may cơ hội sanh trưởng, hạt đậu ấy lâu ngày cũng có thể bị hư nát.

 

          * Hỏi: Kinh nói “định nghiệp khó tiêu, cộng nghiệp lại cũng khó chuyển”. Dường như là cá nhân sám hối tội lỗi, tu thiện, đại chúng hồi tâm trừ ác, quả đều chẳng đủ để tiêu trừ họa ương, văn hồi hạo kiếp (kiếp nạn to lớn mênh mông) ư? (Âu Dương Mạn hỏi)

 

          Đáp: “Định” là nếu như dưa đă thành tựu, làm sao có thể tiêu? Chỉ có một cách là tổn giảm mấy phần. Cộng nghiệp chẳng phải là nghiệp do một người tạo ra. Cá nhân sám hối, cá nhân được lợi ích, đó gọi là “cộng trung bất cộng”. Đại chúng hồi tâm trừ ác, chính là cộng nghiệp cùng chuyển, tự có thể hóa điều hung ác thành cát tường, nhưng sợ rằng đa số mọi người chẳng thể giác ngộ như vậy!

 

          * Hỏi: Đức Phật nói thân Trung Ấm tối đa là tồn tại bốn mươi chín ngày, bèn thọ hậu hữu. Tôi trộm cho rằng chuyện này chỉ là nói với những hạng chúng sanh b́nh thường. C̣n như những vị được gọi là bậc thánh hiền anh triết, trung thần, hiếu tử, chồng có nghĩa, vợ trinh lương, hoặc những văn nhân, nghệ thuật gia sáng tác rộng khắp, những người nổi tiếng trong thế gian, lúc c̣n sống chẳng làm chuyện ác ǵ to lớn, chết đi cũng có thể trải qua trăm ngàn năm vẫn không đầu thai, hoặc chỉ sanh lên cơi trời. Tuy vẫn chẳng ĺa lục đạo, rốt cuộc cũng vượt trỗi nhân gian rất xa. Lại nữa, từ nhân gian sanh lên cơi trời, đương nhiên là thuộc loại hóa sanh trong tứ sanh. Chẳng biết lời suy đoán này có đúng hay không? (Âu Dương Mạn hỏi)

 

          Đáp: Ra khỏi đường này, vào đường kia, gọi là “lục đạo luân hồi”. Trong lúc chưa thoát khỏi đường này, chưa nhập vào đường kia, th́ gọi là Trung Ấm. Cố nhiên, trong lúc đó, ngắn nhất là như đă nói “sanh lên thiên giới”, chẳng phải là Trung Ấm. Thiên thuộc về thân hóa sanh. Bậc thánh triết trung hiếu tức là người có thiện nghiệp, tự có thể sanh về đó. Hàng văn nhân sáng tác rộng khắp, tuy chẳng có lỗi ác, nhưng chưa gieo cái nhân Thập Thiện để sanh thiên, làm sao có thể có phần cho được?

 

          * Hỏi: Chúng sanh trong năm đường từ vô thỉ tới nay, từ một bản thể thanh tịnh mà dấy lên một vọng niệm. Do tương ứng với vô minh, mà đọa lạc luân hồi. Chúng sanh trong năm đường từ bản thể khởi Hoặc tạo nghiệp, luân chuyển trong năm đường, họ đă cùng vào năm đường với nhau ngay từ vô thỉ, hay là từ vô thỉ cho tới nay bèn lục tục kéo tới? Nếu cùng nhau đến từ vô thỉ, do nguyện lực từ bi của Phật, Bồ Tát, rốt cuộc sẽ có một ngày độ hết. Nếu lục tục đến, th́ chúng sanh trong năm đường vừa được độ, vừa sanh đến, rốt cuộc là vô cùng tận! (La Đức Chương hỏi)

 

          Đáp: Gió dần dần nổi lên mà tăng mạnh thành cuồng phong, sóng dần dần trồi lên mà dâng cao! Cuồng phong, sóng cao chẳng thể đột ngột tạo thành. Gió có chỗ, có lúc tạm ngừng; sóng có lúc, có chỗ, tạm lặng. Ngộ điều này, sẽ có thể hiểu điều kia!

 

          * Hỏi: Luật nhân quả đă là “tự làm, tự chịu”, v́ sao siêu độ có thể khiến cho nghiệp trái (nợ nần nơi nghiệp chướng) của người đă khuất giảm nhẹ, hoặc sanh lên cao hơn? Nếu thật vậy, sức ảnh hưởng của siêu độ có ảnh hưởng tới người khác! Do nguyên lư nào mà khiến thành ra như vậy? (Trương Cung hỏi)

 

          Đáp: Đối với vấn đề này, t́nh h́nh phức tạp, giảng giải hết sức tốn công. Nay tôi nêu tỷ dụ ḥng có thể hiểu rơ. Một hạt dưa gieo xuống đất là nhân. Sau đấy, nó nẩy mầm, dần dần kết thành quả dưa th́ chính là quả. Không gieo hạt dưa, làm sao có thể sanh mầm, kết quả? Đấy chính là lư “tự làm (gieo nhân), tự chịu (quả)” vậy. Nhưng giữa nhân (hạt dưa) và quả (trái dưa), ắt có nhiều sự việc tồn tại, tức là gió, ánh sáng mặt trời, mưa, sương v.v..., chúng được gọi là Duyên. Đối với kết quả, duyên có hai thứ sức mạnh là tăng thêm và tổn giảm. Như mưa gió v.v… điều ḥa, ắt sẽ tăng thêm kết quả ấy. Nếu [mưa gió] chẳng điều ḥa, cũng có thể tiêu diệt hoặc tổn hại kết quả ấy. Vậy th́ quả được tăng ích hay tổn giảm, duyên chiếm quyền thao túng quá nửa! Cậy vào Phật pháp để siêu độ cho người khác chính là trợ duyên. Đấy chính là nguyên lư giảm khinh.

 

* Hỏi: “Trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu” là một định luật nhân quả hết sức tỷ lệ thuận. Cớ sao nhân quả trong Phật học lại biến thành định luật nhân quả theo tỷ lệ nghịch? Nếu vậy, đời trước đă gieo chủng tử “giết người”, kiếp nầy vẫn phải nên kết thành chủng tử “giết người” th́ mới đúng. Cớ sao lại ngược ngạo kết thành chủng tử “bị giết”? Xét theo tập tánh huân nhiễm, sẽ giải thích như thế nào? Hơn nữa, đời trước phú quư, kiếp này vẫn phải nên phú quư, mới là đúng. Đúng như người thuộc giống da trắng, đẻ ra con cũng là giống da trắng, nay v́ sao người da trắng ngược ngạo đẻ ra con là người da đen? Há chẳng phải là phá hoại định luật ư? (Trương Cung hỏi)

 

          Đáp: Lư “nhân quả” hết sức tinh vi. Nói đơn giản, cũng bao gồm hai nghĩa biến hóa và phản ứng. Những ǵ như tiên sinh đă nói, chính là gieo nhân vẫn là nhân, gieo quả vẫn là quả, như vậy th́ chẳng thể gọi là “nhân quả” được! Nhân quả là từ cái nhân sẽ chiêu cảm cái quả. Ví như ăn cơm là nhân, no bụng là quả. Thực phẩm chứa đựng chất dinh dưỡng là nhân, thể phách nhờ vào đó được sung măn là quả. Những điều này đều chứa đựng lẽ biến hóa phản ứng tự nhiên. Nếu theo như chủ trương trong lời hỏi của ông, ăn cơm là nhân th́ đạt được kết quả vẫn là ăn cơm. Tức là trong khi ăn cơm, lại ăn cơm nữa, ăn măi không thôi! Hoặc là ăn gạo, ăn rau, đại tiện cũng nên bài tiết ra gạo và rau! Ông có biết trạng thái của vật thể hay không? Chất hơi gặp lạnh biến thành chất lỏng, chất lỏng gặp lạnh, đông thành chất rắn. Chất rắn gặp nhiệt, lại biến thành chất lỏng. Chất lỏng gặp nhiệt lại biến thành hơi. Đó là sự thật về phản ứng biến hóa trong nhân quả rơ rệt nhất. Thế nhưng nhân quả cũng chẳng bắt buộc phải nói xa xôi tới tận đời sau. Dẫu lấy ngay đời hiện tại để luận, sang quư như Tần Thủy Hoàng, giàu có như Thạch Sùng, v́ sao chẳng thường quư, thường giàu? Nhà bị giết, bị trộm, đối với kẻ gây nên chuyện giết chóc, trộm cướp, [nạn nhân] sẽ có phản ứng ǵ, cũng thể suy ra mà biết kết quả. Nếu nói là huân tập chủng tử, điều này chẳng trái nghịch học lư. Kẻ thích giết, thích trộm, mà hưởng phú quư, trong tâm luôn có chủng tử như thế, chỉ là chẳng gặp duyên, cho nên chẳng thể thành tựu mà thôi! Hơn nữa, thuyết nhân quả chính là sự h́nh thành tự nhiên của vạn sự, vạn lư, hoàn toàn chẳng phải do một ḿnh nhà Phật nói như vậy! Bất quá Phật học có thể bàn luận tinh vi chuyện này mà thôi!

 

          * Hỏi: Đức Phật v́ từ bi độ chúng sanh, v́ [chúng sanh] bệnh mà thí thuốc, có cầu ắt ứng. Tôi thấy có khá nhiều người tin tưởng, bèn Phật hóa gia đ́nh, sáng tối không ngừng dâng hương, tụng kinh, niệm Phật. V́ sao đôi khi cũng có người thân mắc bệnh nặng, thậm chí mất mạng. Như thế há chẳng phải là dễ khiến cho kẻ khác nẩy sanh hiểu lầm: “Đă là tín đồ nhà Phật, v́ sao đâm ra mắc phải tai ương ấy? Do vậy, Phật giáo suy bại ở chỗ này”. Giả sử đối phương nói như vậy, hăy nên dùng lời nào để giải đáp? Xin hăy chỉ dạy tường tận chuyện này! (Dương Tố Nguyệt hỏi)

 

          Đáp: Đại khái có hai nghĩa:

1) Đối với kẻ có thể giúp được th́ giúp. Như đối với kẻ đột ngột gặp họa ngang xương, hễ thành tâm cầu nguyện, ắt sẽ ứng [theo sự cơ cảm ấy] mà cứu vớt. Đó là tương ứng với sự việc mà biến hiện. [Đối với các trường hợp] chẳng thể giúp th́ đành thôi, như [trong trường hợp] tuổi thọ đă hết, [người bệnh ấy] ắt phải xả thân, dẫu có cầu cũng chẳng ứng (vẫn có ngoại lệ), chẳng biến hiện theo sự. Đó là thuận theo lẽ thường. Nếu chẳng thuận theo lẽ thường, ắt sẽ rối loạn nhân quả vậy. Đó là điều thứ nhất.

2) Hết thảy các tai ương, nghịch cảnh, đều có cái nhân trong quá khứ. Người niệm Phật mắc bệnh, há chẳng biết: Do cái nhân ác trong đời trước, đáng đọa lạc tam đồ, hoặc phải bỏ mạng, nhưng v́ công đức niệm Phật, chỉ mắc bệnh mà thôi! Đấy gọi là “báo nặng chuyển thành nhẹ”. C̣n như người ấy bệnh đến nỗi chết th́ gọi là “khảo chung mạng” (chết tốt lành). Đấy là một trong ngũ phước, đều chẳng phải là bất hạnh. Đó là điều thứ hai.

Ngoài ra, c̣n có một nghĩa nữa. Thử hỏi, trong thế gian, có kẻ nào nhục thân chẳng chết hay không? Có thể thật sự bất sanh bất diệt, chỉ có ḿnh đức Phật! Bọn ta c̣n là sơ cơ, chẳng có mảy may sở chứng, làm sao có thể bất tử cho được? Nếu cầu nhục thân bất tử, lại là t́nh kiến điên đảo, chẳng có lẽ ấy! Nếu cầu kéo dài tuổi thọ, trong Phật pháp có pháp ấy, mà cũng có nhiều chuyện như vậy.

 

          * Hỏi: Ông X... có người vợ hung tợn, chẳng hiếu thảo với bố chồng, chẳng tôn trọng chồng, cứ mắng nhiếc, càm ràm, chẳng có ngày nào yên! Khuyên bảo đôi ba lượt, bà ta vẫn giữ nguyên thiên kiến ấy, chẳng thấm thía mảy may, khiến cho người nhà ngoài biện pháp kiên nhẫn, chẳng tranh căi cùng bà ta, khiến cho bà ta càng mặc sức ăn nói bừa băi, cư xử quá phận, chẳng có cách nào tưởng tượng được! Bố chồng đă sớm quy y Phật giáo, suốt ngày siêng năng tŕ niệm Phật hiệu chẳng có chút gián đoạn. Ông X... tuy chưa quy y, nhưng cũng sùng tín Phật giáo, thầm niệm Phật hiệu. Ông ta sẽ được Phật ngấm ngầm gia hộ, khiến cho bà vợ sửa đổi tánh t́nh đôi chút hay không? Vào đời bà nội của ông X..., trong nhà có lập Phật đường. Suốt đời cụ ăn chay niệm Phật chẳng lười nhác, sửa cầu, lót đường, hành bố thí rộng răi. Cớ sao đời sau gặp phải ác vận ấy? Dẫu do phạm lỗi nhân quả, ông X... tự chuốc lấy chuyện này, cớ sao bố chồng cũng gặp phải nạn ấy? Có phải cũng là do nhân quả gây nên hay chăng? Nói theo nhân quả, chỉ dính líu đến bản thân, chứ đời sau hoặc thế hệ sau nữa, cớ sao gặp phải ương họa, liên lụy tới bậc trưởng bối. Nếu thật sự là do nợ nần oan nghiệt ràng buộc, ngôn hạnh của bà vợ ông X... trong hiện thời sẽ là ngôn hạnh chánh đáng ứng với chuyện đ̣i nợ oan nghiệt! Hay là sẽ có ảnh hưởng đến mai sau trong cuộc đời này, hoặc cuộc sống trong đời sau của bà ta? (Quế Hướng Nguyên hỏi)

 

          Đáp: Phàm chuyện đă thành, đều do các duyên ḥa hợp. Đă là như vậy, mỗi quả bèn có nhiều nhân. Mỗi người trong nhà ai nấy cũng đều ắt có cái nhân chung với bà vợ hung hăn của ông X... Người nhà tinh tấn tu tŕ, sẽ có thể giảm thiểu nghiệp cũ. Có thể chịu đựng nỗi nhục là đă trả nợ! Chẳng cần quan tâm bà vợ hung tợn ấy có thay đổi tánh t́nh hay không. Nhưng khi nợ đă đền xong, ắt sẽ có cảnh giới chuyển biến. Chỉ nên tùy duyên tiêu cựu nghiệp, chớ nên tạo thêm ương họa mới. Lại nữa, nhân quả có tánh chất báo đền lẫn nhau, bà vợ hung hăn ấy đời sau do có tập khí hung hăn, ắt cũng sẽ phải hứng chịu quả báo ấy! Trong hiện thời, tuy nói là “đ̣i nợ”, chắc là cũng phải có những hành vi quá lố, sợ rằng: Do chỗ quá phận ấy, trong đời này cũng mắc quả báo vậy!

 

          * Hỏi: Trong kỳ thứ ba của quư báo, trong bài Nhất Linh Bất Muội, có câu: “Sau khi linh hồn của ta đă ĺa khỏi xác thân, thân Trung Ấm chơi vơi như tiên thuận theo gió nghiệp mà đi, biến thành con lợn nhỏ, tâm như dao đâm. Sau bốn ngày tuyệt thực, lại biến thành người...” Do những lời lẽ ấy, tôi nẩy sanh nghi vấn như sau:

          1) Một, những kẻ ác khác cũng có thể tuyệt thực theo cách ấy để lại được làm thân người.

          2) Cớ sao chúng ta chẳng biết t́nh h́nh trong đời trước?

          3) Có phải là lời cư sĩ X... có ẩn t́nh hay không? Xin hăy nói rơ thêm một tầng nữa! (Lư Giác Ngũ hỏi)

 

          Đáp: 1) Người ấy tuyệt thực mà chết là một chuyện, ngẫu nhiên được làm thân người lại là một chuyện khác. Chớ nên hiểu lầm: Hễ tuyệt thực mà chết, sẽ có khả năng được làm thân người!

          2) [Những người] có thể nhớ đời trước, trong sử sách đích xác là có ghi chép, bất quá chỉ là chuyện ngẫu nhiên. Sức kư ức ấy vốn có mạnh hay yếu, hoàn toàn chẳng phải là đều giống như nhau. Lấy ngay chuyện đọc sách để nói, có người đọc một lượt đă có thể nhớ, có người đọc mười lượt, vẫn chưa thể nhớ. Lại dùng việc nhớ chuyện thuở bé để luận, có người nhớ chuyện từ sau năm tuổi, có người có thể nhớ chuyện trước khi ba tuổi. Chuyện này tùy thuộc tánh mê nặng hay nhẹ, sẽ ảnh hưởng đến sức ghi nhớ có được mấy phần.

          3) Tạp chí này hoàn toàn chẳng biết sự “thác sanh” của ông X... Chỉ căn cứ theo bài viết gởi tới để đăng tải, có c̣n ẩn t́nh hay không, chúng tôi chẳng tiện truy cầu.

 

* Hỏi: Trong báo Bồ Đề Thụ số mười ba, đối với câu hỏi thứ năm của cư sĩ Chung Lâm Chiêu ở Đài Trung, lời dạy của cụ rất đúng. C̣n như nói “khi sắp sanh, có một linh tánh khác đến đoạt xá”, đó là trường hợp đặc biệt v.v... Bất Huệ chẳng ngại mạo muội, toan bắt chước nối đuôi thêm, muôn phần xin hăy dung thứ! “Đoạt” () được nói ở đây, có lẽ chẳng phải là cậy thế hoành hành, mặc t́nh thuận theo ḷng ham muốn, cưỡng đoạt thân xác của kẻ khác! Nếu có [trường hợp đoạt xá như vậy], ắt phải là có nhân duyên đặc thù. Trong ngàn vạn người, chưa chắc đă có trường hợp ngoại lệ như vậy (chỉ trong thời kỳ biến loạn, rối ren là dường như thường thấy). Một trăm phần trăm, ắt phải thuộc về trường hợp do v́ lẽ công [mà giáng phàm], lại c̣n chắc chắn xảy ra trong gia đ́nh tích chứa điều thiện. Khi ấy, ắt có Phật, Bồ Tát hộ tống tới tận giường trong buồng riêng (dẫu là tại bệnh viện cũng thế). Trước khi Phật, Bồ Tát đưa đến, c̣n chưa giáng lâm, trong buồng sanh, trước hết tỏ lộ ánh sáng lạ, khiến cho hết thảy những u linh vây quanh thân sản phụ tránh xa, nhằm nghiêm tịnh hoàn cảnh (do quyến luyến hoặc quan tâm mà tổ tiên và các thân hữu phần nhiều đến thủ hộ [sản phụ] suốt ngày đêm chẳng xa ĺa). Sau khi Phật, Bồ Tát giáng xuống, lập tức tỏa ra mùi hương lạ (để khiết tịnh), nhạc trời tấu lên (để chào mừng kẻ hạ phàm, nhưng chỉ có người thanh tịnh mới nghe được). Những chuyện này thuộc về lệ thường, chẳng có ǵ lạ cả (kinh sử ghi chép hết thảy mọi chuyện lúc Thích Tôn, Lục Tổ Huệ Năng, Gia Tô Cơ Đốc, Văn Thiên Tường giáng thế, đều hết sức đáng tin, bảo đảm mười phần xác thực). Cũng có khi gấp rút chẳng rảnh rang, v́ cần phải [đầu thai để] báo đền cái quả. Trường hợp này so với trường hợp giáng phàm v́ lẽ công đă ít ỏi lại càng ít hơn. Nếu là như vậy, ắt từ địa phủ sẽ có sai nha áp giải [thần thức người thọ sanh] đến nơi, khác biệt vời vợi một trời một vực! Đến thời gian tiếp nhận sự thay thế, ngay trong sát-na từ khi đỉnh thóp của đứa bé lộ ra cho đến khi toàn bộ đầu nó ló ra khỏi thân mẹ, Phật, Bồ Tát tới hộ tống sẽ ngay lập tức khiến cho linh hồn vốn trụ trong thai ấy ĺa khỏi thân thể đứa bé, linh hồn mới do v́ lẽ công mà hạ phàm liền nhập vào thay thế. Sau khi hoàn tất ổn thỏa, đứa bé ấy mới bắt đầu lập tức khóc to. Linh hồn đă ĺa khỏi thân đứa bé ấy, lập tức trở lại thành đàn ông hay đàn bà như trong đời trước, hiện ra tám đại h́nh thái (cười, khóc đều chẳng giống nhau), vội vàng tạ Phật, theo vị thần phụ trách khu vực ấy (như Thổ Địa hoặc vị thần tuần tra củ soát), trước hết là rời khỏi buồng sanh, trở về địa phủ, lại t́m một báo thân mới, lại đợi quả báo mới (linh hồn từng bị đoạt xá ắt sẽ có phước báo). Đến đây, nhiệm vụ hộ tống của Phật, Bồ Tát mới hoàn tất. Các Ngài từ từ lùi ra, bay lên. Do vậy, sản phụ khi sắp sanh, hăy nên buông xuống vấn đề sanh tử và hết thảy những chuyện ngoài thân, kiên tŕ chánh niệm th́ mới nên. Nếu có thể bỏ sạch luôn ư niệm “chánh niệm” chẳng c̣n sót, sẽ càng tốt. Thống khổ sẽ tự giảm, ắt chẳng có chuyện ngoài ư muốn, mà [đau khổ] ắt cũng sẽ tiêu giảm theo. Có đúng hay không? (Triệu Siêu hỏi)

 

          Đáp: “Đoạt” thuộc về nhân quả, chẳng phải là ỷ mạnh, lời luận định của ông cũng đúng, nhưng đối với chuyện thai phụ sắp sanh, sẽ có Phật, Bồ Tát hộ tống [linh hồn đến đoạt xá], chưa chắc là đă có chuyện đó! Nếu sản phụ cảm thấy khốn khổ, tụng tŕ thánh hiệu, do Pháp Thân của Phật, Bồ Tát bất động, sẽ có thể gia bị từ xa, khiến cho người ấy được b́nh an.

Phật Học Vấn Đáp Loại Biên

Quyển Trung

Phần 4 hết

 

           



[1] Tam Hoàng là các vị thánh vương thời thượng cổ theo huyền sử Trung Hoa, có nhiều cách hiểu khác nhau:

1) Tam Hoàng là Phục Hy, Thần Nông và Nữ Oa (theo quan điểm của Sử Kư).

2) Tam Hoàng là Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế (sách Thượng Thư).

3) Tam Hoàng là Phục Hy, Thần Nông, Toại Nhân (theo Thượng Thư Đại Truyện).

4) Tam Hoàng là Phục Hy, Thần Nông, và Chúc Dung (theo Bạch Hổ Thông).

5) Tam Hoàng là Phục Hy, Thần Nông và Cộng Công (theo Thông Giám Ngoại Kỷ).

Ngoài ra, cách hiểu thông thường nhất Tam Hoàng là Thiên Hoàng, Địa Hoàng và Nhân Hoàng.

Ngũ Đế là năm vị thánh đế theo huyền sử, cũng có nhiều cách hiểu như sau:

1) Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Khốc, Đế Nghiêu, Đế Thuấn (theo Sử Kư, Đại Đới Lễ Kư).

2) Thiếu Hạo, Chuyên Húc, Đế Khốc, Đế Nghiêu, Đế Thuấn (theo Thượng Thư, Bạch Hổ Thông).

3) Hoàng Đế, Bào Hy (Phục Hy), Thần Nông, Nghiêu, Thuấn (theo Chiến Quốc Sách).

4) Hoàng Đế, Chuyên Húc, Thái Hạo, Thiếu Hạo, Viêm Đế (theo Lễ Kư, Lă Thị Xuân Thu và Hoài Nam Tử).

5) Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Khốc, Đế Nghiêu, Thiếu Hạo (theo Tư Trị Thông Giám).

Tam Vương là ba vị vua nổi tiếng hiền đức sau thời huyền sử, tức Đại Vũ nhà Hạ, Thành Thang nhà Thương và Vũ Vương nhà Châu.

Ngũ Bá là các vua chư hầu có quyền lực lớn nhất thời Xuân Thu Chiến Quốc, thường thay mặt thiên tử nhà Châu hội minh chư hầu (họp chư hầu lại để cùng thề ước liên minh, tuân thủ các hiệp ước), trừng phạt các nước không tuân phục, thống trị Trung Nguyên, có thể hiểu theo nhiều cách:

1) Ngũ Bá là Tề Hoàn Công (Khương Tiểu Bạch), Tống Tương Công (Tử Tư Phủ), Tấn Văn Công (Cơ Trùng Nhĩ), Sở Trang Vương (Hùng Lữ) và Tần Mục Công (Doanh Nhậm Hảo).

2) Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Sở Trang Vương, Ngô Vương Phù Sai (Cơ Phù Sai) và Việt Vương Câu Tiễn (Tự Câu Tiễn).

3) Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Sở Trang Vương, Trịnh Trang Công (Cơ Ngụ Sanh) và Tần Mục Công.

4) Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Sở Trang Vương, Tần Mục Công và Việt Vương Câu Tiễn.

5) Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Tống Tương Công, Tần Mục Công và Ngô Vương Hạp Lư.

6) Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Sở Trang Vương, Ngô Vương Hạp Lư và Việt Vương Câu Tiễn.

 

 

 

[2] Theo Duy Thức Học, Niết Bàn được chia thành bốn loại: Bổn lai tự tánh thanh tịnh Niết Bàn, Hữu Dư Y Niết Bàn, Vô Dư Y Niết Bàn, và Vô Trụ Xứ Niết Bàn.

[3] Tức là đoạn Kiến Tư Hoặc, đoạn Trần Sa Hoặc, và đoạn Vô Minh Hoặc.

[4] Cung Thiên Dân sanh năm 1926 tại Chiết Giang, theo đạo Tin Lành hệ phái Luther (tức Lutheran Church, thường gọi là Tín Nghĩa Hội hoặc Lộ Đức Tông trong tiếng Hán), tốt nghiệp Hương Cảng Tín Nghĩa Hội Thần Học Viện vào năm 1956, sau đó theo học Cử Nhân và Thạc Sĩ về văn chương Phật giáo tại đại học Đại Cốc của Nhật Bản. Do nghiên cứu kinh Phật theo kiểu xem đọc văn chương và biện luận theo kiểu phân tích văn bản, những nhận định của ông Cung về Phật giáo thường hoàn toàn chẳng phải là chân diện mục của Phật giáo, mà mang nặng tính chất thiên kiến.

[5] Ma Hê Thủ La Thiên (Đại Tự Tại Thiên) là danh xưng khác của thần Thấp Bà (Shiva) trong Ấn Độ Giáo.

[6] Hy Bá Lai ở đây là dịch âm chữ Hebrews. Đây chính là cuốn Espitle To The Hebrews trong Tân Ước (New Testament). Sách này được coi là do thánh Phao Lồ (Paul) trước tác (tuy vẫn có nhiều tranh luận ai mới là tác giả thật sự). Đây là một bức thư do gởi cho các tín hữu Thiên Chúa giáo người Do Thái đang sống tại Jerusalem. Theo cách trích dẫn Kinh Thánh truyền thống của Âu Tây, họ thường nêu tên sách, đoạn nào (bản tiếng Hán gọi là chương) và câu nào (“tiết”) trong đoạn đó. Nếu viết theo kiểu tiếng Anh, [câu được trích dẫn bởi ông Trần Chí Đồng] sẽ là Hebrews 10:27. Chúng tôi thắc mắc là ông Trần Chí Đồng lấy từ đâu ra câu này, bản tiếng Anh ghi câu 10:27 trong sách Hebrews là but a terrifying expectation of judgment and the fury of a fire which will consume the adversaries”. Bản tiếng Việt của hội thánh Tin Lành dịch là nhưng chỉ có sự đợi chờ kinh khiếp về sự phán xét, và lửa hừng sẽ đốt cháy kẻ bội nghịch”.

[7] Đây là dịch nghĩa tên sách Gospel of John trong Tân Ước, một trong bốn sách Phúc Âm mở đầu Tân Ước (Matthew, Mark, Luke và John, Công Giáo thường gọi những sách ấy là Phúc Âm Mát thêu, Phúc Âm Mác-cô, Phúc Âm Luca và Phúc Âm Gioan). Tác giả sách này là thánh Gioan Tông Đồ (John the Apostle). Thánh Gioan (theo cách phiên âm thường dùng trong kinh sách Thiên Chúa Giáo Việt Nam), gọi theo tiếng Aramaic là Yohanan Shliha, tiếng Do Thái là Yohanan Ben Zavdai, và tên vị này được người Hy Lạp phiên âm thành Ioannes. Do đó, người Hoa mới phiên âm vị này thành Ước Hàn. Tiếng Aramaic là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến tại vùng Israel thời chúa Jesus và được coi là cội nguồn của các thứ tiếng Ả Rập và Hebrew (tiếng Do Thái hiện đại) về sau. Bản tiếng Anh ghi câu này là “he who believes in the Son has eternal life; but he who does not obey the Son will not see life, but the wrath of God abides on him”.

[8] Nguyên văn “tiễn chúc Tây song” (剪爥西窗) là một thành ngữ diễn tả nỗi niềm thương nhớ bạn hữu, mong được gặp gỡ, tṛ chuyện thỏa thích. Thành ngữ này xuất phát từ câu thơ Dạ Vũ Kư Bắc (đêm mưa gởi về phương Bắc) của Lư Thương Ẩn đời Đường: “Hà đương cộng tiễn Tây song chúc, khước thoại Ba Sơn dạ vũ thời” (Khi nào sẽ cùng nhau dựa bên song cửa phía Tây, cắt tim nến, để nói chuyện suốt đêm, nhắc đến đêm mưa ở Ba Sơn).

[9] Tịch Thắng Ma (1837-1896) là một lănh tụ tín đồ Cơ Đốc tại Trung Hoa. Ông là một nhà Nho, xuất thân tại Lâm Phần, tỉnh Sơn Tây, không rơ tên thật là ǵ. Khi mục sư David Hill mở cuộc thi viết văn tại Lâm Phần, bài văn của ông đă khiến cho David Hill (mục sư thuộc giáo hội Methodist) bội phục, bèn mời ông dạy chữ Hán và làm người phiên dịch. Do vậy, ông Tịch tin theo đạo Cơ Đốc và đổi tên thành Tịch Thắng Ma. Ông Tịch đă chế ra bài thuốc giúp cai nghiện thuốc phiện dựa trên kinh nghiệm cai nghiện của chính ḿnh.

[10] Long Thọ Bồ Tát được Kim Cang Thủ Bồ Tát truyền dạy chú Tỳ Lô Giá Na bèn tŕ tụng vào bảy hạt cải, đem ném vào tháp sắt kiên cố ở Nam Thiên Trúc. Cửa tháp bèn mở ra, ngài Long Thọ đem các kinh sách Mật Tông lưu truyền trong thế gian.

[11] Hữu Tử tên thật là Hữu Nhược, tự là Tử Hữu, đôi khi c̣n gọi là Tử Nhược, là một đệ tử tâm đắc của Khổng Tử. Sau khi Khổng Tử mất, do thấy ngôn từ và hành vi của Hữu Tử khá giống thầy, các môn đệ tôn ông ta làm thầy.

[12] Theo Châu Lễ, Đại Tường (大祥) là lễ giỗ người mất đă được hai năm. Sau lễ Đại Tường, sẽ chọn một ngày để làm lễ trừ bỏ tang phục không mặc nữa, chấm dứt thời gian cư tang, thường gọi là lễ Trừ Phục.

[13] Câu nói này trích từ chương Đàn Cung của sách Lễ Kư: “Hữu Tử vấn Tăng Tử viết: ‘Vấn táng ư phu tử hồ?’ Viết: ‘Văn chi hỹ, táng dục tốc bần, tử dục tốc hủ’. Hữu Tử viết: ‘Thị phi quân tử chi ngôn dă’. Tăng Tử viết: ‘Sâm dă văn chư phu tử dă’. Hữu Tử hựu viết: ‘Thị phi quân tử chi ngôn dă’. Tăng Tử viết: ‘Sâm dă dữ Tử Du văn chi’. Hữu Tử viết: ‘Nhiên! Tắc phu tử hữu vi ngôn chi dă’. Tăng Tử dĩ tư ngôn cáo ư Tử Du. Tử Du viết: ‘Thậm tai! Hữu Tử chi ngôn tự phu tử dă! Tích giả, phu tử cư ư Tống, kiến Hoàn Tư Mă tự vi thạch quách, tam niên nhi bất thành. Phu tử viết: ‘Nhược thị kỳ mỵ dă, tử bất như tốc hủ nhi dũ dă. Tử chi dục tốc hủ, vị Hoàn Tư Mă nhi ngôn. Nam Cung Kính Thúc phản, tất đới ngọc nhi triều, phu tử viết: ‘Nhược thị kỳ hóa dă, táng bất như tốc bần chi dũ dă’. Táng chi tốc bần, vị Kính Thúc ngôn chi dă” (Hữu Tử hỏi Tăng Tử: ‘Ông đă từng hỏi thầy về chuyện mất chức quan hay chưa?’ Tăng Tử đáp: “Tôi đă nghe. [Thầy nói] mong sao sau khi mất chức, sẽ mau chóng nghèo cùng, mong sau sau khi chết đi, sẽ nhanh chóng mục nát”. Hữu Tử bảo: “Đó chẳng phải là lời nói của bậc quân tử”. Tăng Tử nói: “Sâm tôi đă nghe từ chính nơi thầy”. Hữu Tử lại bảo: “Đó chẳng phải là lời lẽ của bậc quân tử”. Tăng Tử nói: “Tôi và Tử Du cùng nghe nghe lời ấy”. Hữu Tử bảo: “Đúng vậy! Nhưng thầy nói như vậy là có nguyên do”. Tăng Tử kể lại lời ấy với Tử Du. Tử Du bảo: “Rất đúng! Hữu Tử nói rất giống như thầy nói. Xưa kia, thầy sang nước Tống, thấy Hoàn Tư Mă tự làm cái quách bằng đá cả ba năm vẫn chưa xong, thầy bảo: ‘Xa xỉ như thế! Chẳng thà như người ta chết rồi sẽ nhanh chóng mục nát th́ tốt hơn’. Bảo ‘chết rồi, mong sao chóng mục nát’ là nói với Hoàn Tư Mă. Nam Cung Kính Thúc sau khi mất chức, trở về nước Lỗ, nhất quyết mang theo những vật bằng ngọc tới cầu kiến quốc vương. Thầy nói: “Dùng tài vật để làm [chuyện hối lộ] như thế, chẳng thà sau khi mất chức, sẽ nhanh chóng trở thành nghèo cùng th́ tốt hơn”. Nói “sau khi mất chức, mong cho nhanh chóng nghèo cùng” là nói với Kính Thúc vậy).

[14] Lăo Mẫu nói ở đây chính là một vị thần do Nhất Quán Đạo đặt ra, tức là Vô Cực Lăo Mẫu, c̣n gọi là Vô Sanh Lăo Mẫu, Dục Hóa Thánh Mẫu, hoặc Minh Minh Thượng Đế. Theo họ đây là chủ tể tối cao của trời đất, sanh thành muôn vật, chư thiên, thần thánh và chư Phật đều do vị này sanh ra (sic!).

[15] Đại tá Richard Martin (1754-1834) là một chính khách Ái Nhĩ Lan. Ông vận động chánh quyền ngăn chặn sự đối xử tàn ác với động vật. Ông trúng cử vào Hạ Viện Ái Nhĩ Lan năm 1776. Sau khi chính quyền Vương Quốc Anh giải tán quốc hội Ái Nhĩ Lan, buộc các nghị viên phải gia nhập quốc hội Vương Quốc Anh, ông được cử làm đại diện cho quận Galway. Ông tích cực vận động cho đạo luật giải phóng Công Giáo, tức là đ̣i hỏi chính quyền Anh phải đối xử b́nh đẳng với những người theo đạo Công giáo (do chính quyền Anh theo Anh Quốc Giáo Phái (Anglican Church), đàn áp người Công Giáo). Ông tích cực vận động chống lại sự ngược đăi động vật, nhất là chuyện đánh bẫy gấu và thi đấu chó. Ông thành lập hội Society for the Prevention of Cruelty to Animals (SPCA, hội ngăn chặn sự ngược đăi động vật). Năm 1822, ông thành công thuyết phục quốc hội Anh thông qua đạo luật ngăn cấm đối xử tàn nhẫn đối với gia súc như trâu, ḅ, cừu v.v… thường được gọi là Cruel Treatment of Cattle Act.

[16] Cảo Kinh (鎬京) là kinh đô của nhà Châu, hiện thời c̣n di tích tại phía Bắc khu Trường An, thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây. Thoạt đầu, Châu Văn Vương thiên đô từ Kỹ Ấp tới đất Phong, Châu Vũ Vương thiên đô từ đất Phong sang đất Cảo. Tại đất Cảo, Châu Thành Vương (Cơ Tụng) là con Châu Vũ Vương (Cơ Phát), được Châu Công Đán (Cơ Đán) pḥ tá, khởi đầu một triều đại thịnh trị cho nhà Châu. Con Châu Thành Vương là Khang Vương (Cơ Chiêu), được Thiệu Công và Tất Công pḥ tá. Ông nghe lời can gián, chăm lo việc nước. Suốt thời gian Châu Thành Vương cai trị, chánh quyền nhà Châu không phải dùng đến h́nh phạt.

Châu U Vương (Cơ Cung Niết) là vị vua thứ mười hai của nhà Châu. Do say mê Bao Tự, U Vương phế trừ chánh hậu và thái tử Nghi Cữu. Nghi Cữu trốn sang nước Thân, cầu cứu ông ngoại là Thân Hầu. Thân Hầu liền mượn quân Khuyển Nhung tấn công Cảo Kinh, lật đổ U Vương, đưa Nghi Cữu lên ngôi, tức là Châu B́nh Vương.

Châu Lệ Vương (Cơ Hồ) là vị vua thứ mười của nhà Châu, là một người hám lợi, ham của, ham ăn chơi, sao nhăng chánh sự, u mê, sống xa hoa, làm nhiều điều bạo ngược, tin tưởng gă thầy đồng nước Vệ, sai thám tử theo dơi các quan và giết chết những người dám dị nghị. Năm 842 trước Công Nguyên, dân chúng nổi dậy. Lệ Vương may mắn chạy thoát sang đất Trệ (nay là thành phố Hoắc Châu, tỉnh Sơn Tây).

[17] Văn Thiên Tường (1236-1283), tên thật là Văn Vân Tôn, tự là Thiên Tường, là Thừa Tướng nhà Nam Tống dưới đời vua Tống Cung Đế. Ông đă tận lực chống lại quân Nguyên Mông cho đến khi nhà Nam Tống hoàn toàn bị tiêu diệt. Khi bị đưa đến gặp Hốt Tất Liệt, dẫu bị đánh đến găy xương, ông vẫn không chịu khuất phục. Sau suốt ba năm bị giam giữ và hành hạ, Văn Thiên Tường vẫn không đầu hàng, vua chúa nhà Nguyên đành phải xử tử ông. Bài Chánh Khí Ca của ông là một tác phẩm tuyệt diệu về ḷng trung nghĩa.

Sử Khả Pháp (1601-1645), tự Hiến Chi, người huyện Tường Phù (nay là thành phố Khai Phong, tỉnh Hà Nam), giữ chức Binh Bộ Thượng Thư dưới đời vua Sùng Trinh nhà Minh. Sau khi Lư Tự Thành chiếm Bắc Kinh, mở đường cho quân Thanh thừa cơ xâm chiếm Trung Nguyên, ông cùng các quan lại lưu vong của nhà Minh tận lực chống giữ quân Thanh. Cuối cùng, do chánh quyền nhà Minh chia rẽ, vua u mê, quân Minh ngày càng suy yếu, ông vẫn kiên cường pḥng thủ Dương Châu trước sự tấn công dữ dội của Đa Đạc Vương. Sau khi thành Dương Châu vỡ, ông cắt cổ tự sát, nhưng không chết, bèn bắt con nuôi là Sử Đức Ngụy giết ông, nhưng Đức Ngụy không nỡ. Do vậy, cả hai cha con bị bắt sống. Đa Đạc Vương lại khuyên hàng, ông kiên quyết từ chối, nói những lời khẳng khái khiến Đa Đạc giận dữ, sai hành h́nh ngay lập tức, và mở ra cuộc thảm sát bá tánh Dương Châu suốt mười ngày để thị uy.

[18] Vương Măng có tên tự là Cự Quân, vốn xuất thân trong một gia đ́nh quan lại từ B́nh Lăng. Vương Măng có người cô là Vương Chánh Quân làm hoàng hậu của Hán Nguyên Đế (Lưu Thích). Do đó, chú bác của Vương Măng đều được phong hầu. Khi người chú là Vương Phượng đang nắm quyền lớn trong triều bị bệnh nặng, Vương Măng tận t́nh chăm sóc, nên trước khi mất, Vương Phượng đă ca ngợi Vương Măng trước mặt Hán Thành Đế và Vương Thái Hậu. V́ thế, Vương Măng được chọn làm quan và tiến nhanh. Sau đó, nhờ mưu mẹo, Vương Măng thao túng triều chánh, khôn khéo đưa con gái vào cung làm hoàng hậu của Hán B́nh Đế. Khi B́nh Đế bị bệnh, ông giả vờ dâng sớ cầu trời xin chết thay giống như Châu Công thuở trước, nhưng thật ra, Vương Măng sai người mang rượu độc dâng cho vua, khiến B́nh Đế chết tươi khi mới mười lăm tuổi! Tiếp đó, Vương Măng đưa Lưu Anh mới hai tuổi lên làm vua, tức Nhũ Tử Anh. Sau đấy, thừa cơ cướp ngôi nhà Hán, lập ra nhà Tân, nhưng Vương Măng chỉ làm vua được mười sáu lăm th́ bị quân khởi loạn Lục Lâm và Xích Mi đánh bại; cuối cùng, bị loạn quân bêu đầu giữa chợ.

[19] Tứ Hung (四凶) chính là bốn hung thần dưới thời Nghiêu - Thuấn. Có hai cách giải thích:

1) Theo Thượng Thư, Tứ Hung là chính là Cộng Công (共工, c̣n gọi là Cung Công 龚工), Hoan Đâu (歡兜), Cổn (, cha của vua Đại Vũ), và Tam Miêu (三苗).

2) Theo Tả Truyện, Tứ Hung là bốn con quái thú, con của bốn nhân vật nổi tiếng, tức Hồn Đôn (渾敦, con của Đế Hồng Thị), Cùng Kỳ (窮奇, con của Thiếu Hạo Thị), Đào Ngột (檮杌, con của Chuyên Húc), và Thao Thiết (饕餮, con cháu ḍng Tấn Vân Thị).

Khi nói đến Tứ Hung, người ta thường nghĩ đến bốn con quái thú theo truyền thuyết thứ hai. Cộng Công là một vị thủy thần, tánh t́nh hung bạo. Theo huyền thoại, sau khi bại trận dưới tay thần lửa Chúc Dung (có thuyết nói là đánh thua Chuyên Húc), Cộng Công giận dữ, húc đổ núi Bất Châu, khiến cho trời sụp, đất lệch, gây ra nạn lụt dữ dội. Bà Nữ Oa phải cắt chân con rùa Đại Ngao để làm cột chống, luyện đá vá trời.

[20] Ngũ H́nh (五刑) là năm h́nh phạt, trải qua nhiều thời đại mà có h́nh thức khác nhau. Vào thời Hán Văn Đế, ngũ h́nh là Mặc (, thích chữ bôi mực trên mặt), Tỵ (, cắt mũi), Nguyệt (, chặt chân), Cung (, thiến), và Đại Tịch (大辟, tử h́nh). Từ thời Tùy - Đường trở đi, Ngũ H́nh là Xuy (, đánh bằng roi), Trượng (, đánh bằng gậy to), Đồ (, phạt làm khổ sai, sau khi bị đánh trượng và phạt tiền), Lưu (, đày đến nơi hoang vu, hẻo lánh), Tử (tội chết). Đối với phụ nữ phạm tội th́ có năm h́nh phạt hơi khác: H́nh Thung (刑舂, phạt làm việc trong xưởng xay lúa, giă gạo), Tản H́nh (拶刑, dùng bàn kẹp, kẹp nát ngón tay), Trượng H́nh (杖刑, đánh bằng gậy), Tứ Tử (賜死, bắt phải tự tử) và Cung H́nh (宮刑, thiến).

[21] Sau khi dẹp nhà Thương, Châu Vũ Vương đă chia đất Kinh Kỳ ra làm ba phần, lập ra chế độ Tam Giám, phong cho ba người em là Quản Thúc (Cơ Tiên, do được phong ở đất Quản, và là em vua nên gọi là Quản Thúc), Sái Thúc (Cơ Độ) và Hoắc Thúc (Cơ Xứ) làm vua những xứ ấy để giám sát Vũ Canh (hậu duệ nhà Thương, được phong đất Triều Ca). Sau khi Châu Vũ Vương mất, do con là Châu Thành Vương c̣n trẻ, chú là Châu Công Đán nhiếp chánh. Quản Thúc, Sái Thúc và Vũ Canh liên kết, dụ dỗ Hoắc Thúc cùng nổi loạn, toan cướp ngôi của Châu Thành Vương. Châu Công Đán đánh bại họ, giết chết Quản Thúc và Sái Thúc, đuổi Hoắc Thúc về làm thứ dân.

[22] Đây là một thành ngữ châm biếm kẻ quên nguồn cội, nguyên văn là “số điển vong tổ” (數典忘祖). “Điển” chỉ lễ chế, lịch sử. Thành ngữ này phát xuất từ một câu chuyện trong Tả Truyện: Vào năm Châu Cảnh Vương thứ mười tám (527 trước Công Nguyên), quan đại phu nước Tấn là Tịch Đàm sang sứ nhà Châu. Trong yến tiệc, Châu Cảnh Vương hỏi v́ sao nước Tấn đi sứ mà không mang theo lễ vật? Tịch Đàm ngạo nghễ nói: “Nước Tấn chưa từng nhận ân thưởng nào từ vương thất, cớ ǵ phải tấn cống lễ vật?” Vua Châu nói: “Ông quên rồi sao? Đường Thúc tổ tiên của nước Tấn là em trai của mẹ Châu Thành Vương, được phong làm vua ở đất Tấn. Tổ tiên ông là Tôn Bá Đại, trông coi điển tịch nước Tấn, nên có họ là Tịch. Ông là người đời sau của vị quan trông coi điển tịch, cớ sao quên bẵng?” Tịch Đàm nín lặng. Châu Cảnh Công nói: “Chỉ lo trông coi sách vở, quên mất tổ tông”.

[23] “Thần thi” (神尸): Theo cổ lễ, trước khi biết dùng tranh ảnh hay bài vị, khi tế thần, người ta đặt một đứa bé lên ngai để cho thần hay người đă khuất nương vào đấy, gọi là “thần thi” rồi cúng tế.

[24] Lạy sao Đẩu (“bái Đẩu”) tức là lập bài vị lạy Thất Tinh Diên Mạng, như các vị tinh quân Tham Lang (Thiên Xu), Cự Môn (Thiên Tuyền), Văn Khúc (Thiên Quyền) v.v... hoặc lạy Đẩu Mẫu Nguyên Quân. Đẩu Mẫu Nguyên Quân (斗姥元君) là một vị nữ thần do Đạo giáo đặt ra, dựa theo h́nh tượng Ma Lợi Chi Thiên (Marici) trong Mật giáo của Phật giáo. Đẩu Mẫu được coi là “mẹ của các ngôi sao”, và Đạo giáo gọi vị này bằng các danh xưng Đẩu Mẫu Thiên Tôn, Tiên Thiên Đạo Mẫu Thiên Tôn, Bắc Đẩu Cửu Chân Thánh Đức Thiên Hậu, hoặc Trung Thiên Phạm Khí Đẩu Mẫu Nguyên Quân. Về sau, Đạo giáo đặt ra bộ Ngọc Thanh Vô Thượng Linh Bảo Tự Nhiên Bắc Đẩu Bổn Sanh Chân Kinh nói Đẩu Mẫu vốn là ngọc phi Tử Quang phu nhân của Châu Ngự Vương, sanh ra chín người con thánh. Trong số đó, hai người con nổi tiếng nhất là Câu Trần Đại Đế và Tử Vi Đại Đế, bảy người c̣n lại chính là Bắc Đẩu Thất Tinh, gọi chung là Cửu Hoàng Đại Đế. Do vay mượn từ Phật giáo, tượng Đẩu Mẫu có bốn đầu, ba mắt, tám tay.

[25] “Chữ ch́” (duyên tự, 鉛字) là các chữ in đúc bằng kim loại dùng trong kỹ thuật sắp chữ rời bằng tay trước khi có thể in theo lối sắp chữ bằng computer như hiện thời. Kỹ thuật in chữ rời bằng các khuôn chữ kim loại thật ra đă được sáng chế bởi Tất Thăng từ đời Bắc Tống, nhưng nhanh chóng bị loại trừ v́ quá tốn kém, do chưa t́m được cách đúc khuôn chữ thuận tiện, các chữ bằng kim loại thuở ấy cũng quá nặng nề. V́ thế, lối in bằng cách khắc nổi mỗi trang sách lên một tấm gỗ (in mộc bản, woodblock printing) hoặc in thạch bản (lithography) vẫn được ưa chuộng hơn. Cho đến năm 1450, Johannes Guttenberg sáng chế kỹ thuật in bằng chữ rời kim loại từ hỗn hợp ch́, thiếc và antimony tạo nên khuôn chữ rẻ và dễ dàng sử dụng khiến cho kỹ thuật này nhanh chóng được phổ biến khắp thế giới. Người Hoa gọi những chữ đúc theo lối này là “duyên tự” (chữ ch́).

[26] Loan sanh (鸞生) là người vịn cơ bút để cầu tiên giáng cơ, phụ trách đẩy cho cơ bút chạy. Do cơ bút thường có h́nh chim loan khắc ở đầu, mỏ chim loan viết chữ lên mâm cát, nên cầu cơ thường gọi là “phù loan” (扶鸞). Giảng sanh (講生) là người nh́n vào chữ viết từ cơ bút đọc ra, rồi giảng giải ư nghĩa khi cần thiết.

[27] Bộ sách này có tên gọi đầy đủ là Ấu Học Cố Sự Quỳnh Lâm, vốn là sách để dạy trẻ vỡ ḷng, do Tŕnh Đăng Cát (tự Doăn Thăng), người xứ Tây Xương biên soạn vào cuối đời Minh. Có thuyết nói tác giả là tiến sĩ Khâu Tuấn biên soạn trong niên hiệu Cảnh Thái đời Minh. Thoạt đầu sách có tên là Thành Ngữ Khảo hoặc Cố Sự Tầm Nguyên. Tới đời Thanh, tác phẩm này được Trâu Thánh Mạch nhuận sắc, tu chỉnh, tăng thêm chú thích, đổi tên thành Ấu Học Quỳnh Lâm. Về sau đến thời Dân Quốc, Phí Hữu Dung, Diệp Phổ Tôn và Thái Đông Phiên lại tiến hành tăng bổ lần nữa. Tác phẩm này dùng văn xuôi viết theo lối biền ngẫu, câu cú đăng đối, dễ đọc, dễ nhớ, nội dung bao hàm nhiều chủ đề rất rộng, khiến cho người đọc thông hiểu nguồn gốc của một số thành ngữ, lại có tác dụng giáo dục nhân nghĩa, đạo đức, nhân quả, thiện ác, nên rất được coi trọng.

[28] Hiện báo: Quả báo sẽ phải hứng chịu ngay trong đời hiện tại. Sanh báo: quả báo sẽ hứng chịu trong đời kế tiếp. Hậu báo: Quả báo sẽ hứng chịu trong nhiều đời sau.

[29] Tư Mă Chiêu vốn là con của Tư Mă Ư, cha của hoàng đế khai quốc nhà Tây Tấn (Tư Mă Viêm); về sau được truy tôn là Tấn Văn Đế. Ông này là quyền thần, khuynh loát triều chính nhà Tào Ngụy. Năm Cam Lộ thứ hai (206) vua Tào Ngụy là Cao Quư Hương Công (Tào Mạo) mưu tính với Vương Thẩm, Vương Kinh, Vương Nghiệp v.v... toan trừ diệt Tư Mă Chiêu. Tư Mă Chiêu liền xua quân trấn áp. Người của Tư Mă Chiêu là Giả Sung sai Thành Tề giết Tào Mạo. Sau đấy, Tư Mă Chiêu kể tội Thành Tề, giết sạch cả nhà ông ta, rồi lập Tào Hoán lên làm Tào Ngụy Nguyên Đế. Sau đó, Tư Mă Chiêu ép vua phải phong ông ta làm Tấn Vương, được phép sử dụng cửu tích (nghi trượng dành cho hoàng đế). Sau khi Tư Mă Chiêu chết chẳng bao lâu, con trai ông ta là Tư Mă Viêm bèn phế lập Tào Hoán, giáng xuống thành Trần Lưu Vương, xưng đế, đổi quốc hiệu là Tấn.

[30] Lỗ Hoàn Công (tên là Cơ Doăn), cưới Văn Khương là em gái Tề Tương Công (Khương Chư Nhi). Tề Tương Công và Văn Khương tư thông. Văn Khương thường kiếm cớ, đ̣i chồng dẫn về nước thăm nhà để hú hư cùng anh trai. Sợ Lỗ Hoàn Công biết, Tề Tương Công bèn sai Công Tử Bành Sanh đánh xe đưa vua Lỗ về nước, giữa đường giết chết Hoàn Công. Sau đó, Tề Tương Công vu cáo Bành Sanh tự ư giết Hoàn Công, xử tử Bành Sanh. Năm 686 trước Công Nguyên, Tề Tương Công ra ngoài đồng săn bắn, thấy có một lợn rừng, tùy tùng đều nói đó là Công Tử Bành Sanh. Tề Tương Công kinh sợ, bắn tên. Con lợn ấy đứng thẳng lên như người, kêu hộc lên ầm ĩ. Tề Tương Công kinh hoảng, đánh rơi một chiếc giày. Sau đó, bọn Liên Xưng và Quản Chí làm phản, truy bắt vua. Do ḍ theo dấu chân chỉ có một chiếc giày, họ bắt được Tề Tương Công, giết chết, rồi tôn Công Tôn Vô Tri (em họ của Tương Công) lên làm vua, tức Tề Hy Công.

[31] Bạch Khởi là danh tướng vô địch của nước Tần thời Chiến Quốc. Tổ tiên của ông vốn là người nước Sở, họ Công Tôn, sau đến định cư tại huyện My nước Tần, đổi thành họ Bạch. Bạch Khởi say mê binh pháp, sống trong quân doanh từ nhỏ nên rất thiện chiến. Ông hiếu sát, năm 293 trước Công Nguyên, khi đánh bại liên quân Hàn - Ngụy ở Y Khuyết, đă chém hơn hai mươi bốn vạn thủ cấp! Ghê rợn nhất là trong trận chiến Trường B́nh, sau khi đánh bại Triệu Quát, bắt được bốn mươi lăm vạn quân Triệu, Bạch Khởi đă ra lệnh quân Tần dùng vải trắng buộc đầu để phân biệt, cho hàng binh nước Triệu ăn uống no say, rồi xua quân Tần tàn sát hàng binh nước Triệu. Trong một đêm, bốn mươi lăm vạn tù binh nước Triệu bị chém chết sạch, thủ cấp thu nhặt xếp thành núi Đầu Lâu!

Tào Hàn (924-992) là danh tướng khai quốc nhà Bắc Tống (quê ở xứ Đại Danh, tỉnh Hà Nam), lập nhiều công lớn, nhưng tàn sát rất dữ khi chiến thắng địch quân. Ông này nhiều đời bị đọa làm lợn. Có một kiếp đă cầu cứu Lưu Khảo Quan bỏ tiền chuộc mạng trước khi bị giết, và kể lại nhân duyên cũ. Trong Ấn Quang Văn Sao, Tổ có nói đến chuyện này.

[32] “Hậu hữu” là thân sau. Có khi nói cái thân trước khi chết là tiền hữu, thân Trung Ấm là trung hữu, thân sẽ thác sanh sau đó gọi là hậu hữu.

[33] “Quang phục” ở đây có nghĩa là Đài Loan giành được độc lập, không c̣n là thuộc địa của Nhật nữa.

[34] Bá Đạo là tên tự của Đặng Du. Ông Đặng sống vào đời Tấn, người xứ Tương Lăng. V́ tỵ nạn chiến tranh trong cuộc biến loạn Vĩnh Gia, ông dẫn con và cháu (con trai của người em đă mất sớm) chạy loạn. Trong lúc nguy nan muôn phần, không thể làm ǵ khác hơn, ông đành bỏ con, ôm cháu chạy trốn. Về sau, ông suốt đời chẳng có con. Những người biết chuyện, cảm động, than thở: “Đạo trời vô tri, khiến cho Bá Đạo chẳng có con”.

[35] Bốc Thương, tên tự là Tử Hạ, nên c̣n gọi là Bốc Tử Hạ, là một Nho gia nổi tiếng ở vùng Tây Hà nước Tấn, từng theo học với Khổng Tử. Ông được Ngụy Văn Hầu tôn làm thầy. Con ông chết sớm. Ông khóc thương đến nỗi mù mắt. Người đời sau dùng thành ngữ “Tây Hà chi thống” hoặc “băo thống Tây Hà” (ôm nỗi đau Tây Hà) để diễn tả nỗi đau cha chôn con.

[36] “Lân nhi”: Do kỳ lân là một linh vật, dáng vẻ an tường, vừa hiền lành như nai, vừa có vảy, oai nghiêm như rồng, nên chữ “kỳ lân” thường được dùng để sánh ví bậc kiệt xuất. V́ vậy, chữ “lân nhi” hoặc “kỳ lân nhi” được dùng như từ ngữ ca ngợi đứa con tài hoa, tuấn kiệt của ai đó. Có thuyết nói: Do mẹ Khổng Tử khi sắp sanh ra ông, mộng thấy kỳ lân nhả ngọc, nên cũng gọi những đứa con quư là “lân nhi”.

[37] Kinh Tứ Thập Nhị Chương có nói: “Ví như người khác tặng lễ vật cho ta, ta chẳng nhận th́ lễ vật vẫn thuộc về người ấy”.