Phật
Học Vấn Đáp Loại Biên
佛學問答類編
Phần 2
Lăo cư sĩ Lư Bỉnh
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
(theo bản in của Lư Bỉnh Nam Lăo
Cư Sĩ Toàn Tập Biên Tập Ủy Viên Hội, Đài
Loan, 2007)
Giảo duyệt:
Huệ Trang và Đức Phong
*
Hỏi: Theo báo Bồ Đề Thụ kỳ thứ chín, điều
thứ mười trong Châu Tử Biện Dị Lục có
một câu nói về linh quỷ, chẳng biết nghĩa là
ǵ? (Ngô Diệu Vinh hỏi)
Đáp:
Trong lục đạo chúng sanh có quỷ đạo, tức
là như thế tục hay nói: “Người
chết thành quỷ”, có loài quỷ thông minh có thần thông,
nên gọi là “linh quỷ”.
*
Hỏi: Nói “phước báo thiên”
là chỉ chư thiên trong Dục Giới hay là Sắc Giới
Thiên? (La Đức Chương
hỏi)
Đáp: Chỉ chung tam giới, do
phước khác với huệ. Nếu là người có trí
huệ, sẽ vượt khỏi tam giới.
* Hỏi: Niệm Phật có thể
văng sanh, lại c̣n có thể tu bất cứ lúc nào, bất
cứ chỗ nào, bất luận nhàn rỗi hay bận bịu.
Như vậy th́ Phật giáo chẳng cần đến Tăng
đoàn, [Tăng đoàn] chỉ tốn hao nhiều tiền
tài của thí chủ mà thôi! Nếu người xuất gia
làm chuyện hoằng pháp th́ kẻ tại gia cũng có thể
hoằng pháp. Nếu người xuất gia chẳng hoằng
pháp, há chẳng phải là đâm ra mắc tội ư? (Lư Vĩnh Bạch hỏi)
Đáp: Đoạn trước
[trong câu hỏi của ông] ư nghĩa chẳng rơ ràng, nên chẳng
thể đáp được. Trong đoạn sau, [đối
với câu hỏi] người xuất gia chẳng hoằng
pháp v.v... có thể phỏng theo ư nghĩa quở trách bậc
hiền giả để có thể nói là vị ấy chẳng
phát đại tâm mà thôi!
* Hỏi: V́ sao cư sĩ chẳng
thể cho người khác quy y? Cư sĩ hữu đức,
hữu học, há chẳng tôn quư, thù thắng hơn kẻ
xuất gia vô đức, vô học ư? V́ sao cư sĩ hữu
đức hữu học vẫn phải hướng về
kẻ xuất gia vô đức, vô học đảnh lễ?
(Lư Vĩnh Bạch hỏi)
Đáp:
Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo nhất thể, đấy là
nghĩa lư nhất định trong Phật giáo. Tăng là tiếng
gọi chung cả tập đoàn tỳ-kheo, chứ không chỉ
một ai. Lời dạy của Phật được giữ
trong kinh, Tăng đoàn có trách nhiệm lưu truyền
kinh. [Phật, Pháp, Tăng] như ba chân của cái đỉnh,
khuyết một chẳng thể được. “Quy y Tăng” là quy y Tăng đoàn,
chứ không phải là bái một ai đó làm thầy! Cư
sĩ chẳng thuộc vào đó, nên chẳng có tư cách
quy y cho người khác. Nay tôi lập ra một thí dụ để
giảng rơ: Trường học có hiệu trưởng, có
giảng nghĩa (những nghĩa lư được giảng
dạy), có đông đảo giáo sư. Học sinh vào trường,
ắt cần phải nương theo ba thứ trên đây để
học hành th́ mới được ghi vào hồ sơ. Nếu
kẻ ấy học ở ngoài trường ấy, theo người
khác học giảng nghĩa, mà xưng là đă học từ
trường ấy ra th́ có được hay chăng? C̣n
như đảnh lễ người xuất gia th́ cũng
là [đảnh lễ] toàn thể Tam Bảo, trọn chẳng
phải là chuyên kính trọng một người nào. Túc hạ
nói người xuất gia vô đức, vô học, cố
nhiên là có người như vậy, nhưng chẳng thể
bảo toàn bộ Tăng đoàn đều là như thế.
Cư sĩ hữu đức, hữu học, chẳng thể
bảo là không có ai, nhưng hiện thời hăy xét coi, có ai được
như Duy Ma Cật, Nguyệt Thượng Nữ, Lưu Di
Dân, Lôi Thứ Tông, Phó Huyền Phong, Bàng Đạo Huyền
chư hiền?
*
Hỏi: Chúng sanh phiền năo chưa đoạn, khi được
Phật tiếp dẫn tới thế giới Cực Lạc,
nếu tập khí ác trước kia lại khởi lên, sẽ
làm ác, há Tịnh Độ chẳng bị quậy lung tung
thành đời ác Ngũ Trược ư? Chúng sanh do gây tạo
vô thỉ vô minh đến nỗi luân hồi trong sáu nẻo
không ngơi, huống chi tập khí ác trùng trùng? (Lư Vĩnh Bạch hỏi)
Đáp: Tâm vốn chẳng sanh,
do cảnh mà có, các pháp do duyên sanh. Hăy thử nh́n xem cảnh
duyên nơi Cực Lạc giống như thế nào, sẽ
biết lời hỏi ấy thuần là hư luận!
* Hỏi: Đệ tử Phật
áo mũ đơn sơ, giản dị, chẳng đeo anh
lạc. Phẩm Phổ Môn có chép: Vô Tận Ư Bồ Tát cởi
chuỗi anh lạc kết bằng các thứ bảo châu đeo
trên cổ đem tặng [Quán Thế Âm Bồ Tát]. Bồ Tát
là bậc tiên giác học Phật, trên thân đeo chuỗi anh
lạc, nghĩa là sao? (Cung
Văn Thái hỏi)
Đáp: Người học Phật
c̣n tu nhân, hết thảy đều giản dị, sơ sài,
chỉ sợ phương hại đạo tâm, nên phải
tận lực tránh né trần nhiễm. Bồ Tát nơi quả
địa, măn phận nhị nghiêm (phước trí vẹn
toàn), trọn đủ trăm phước, [các thứ
trang nghiêm] tự nhiên hiện ra; như tỳ-kheo thời đức
Phật râu tóc tự rụng, ca-sa đắp trên thân. Phật
và Chuyển Luân Thánh Vương đều trọn đủ
ba mươi hai tướng, đó là phước báo. Đó
là lư do thứ nhất. Bồ Tát là đại phước
điền, v́ từ bi, thường nhận cúng dường.
Đó là lư do thứ hai.
* Hỏi: Thái Tử Tất Đạt
Đa giáng sanh trong vương cung xứ Ca Tỳ La Vệ ở
Trung Ấn Độ. Nơi trang ba mươi của bộ
Viên Anh Pháp Sư Giảng Diễn Tập, luận về Phật
giáo và nhân sinh đă viết: “Phật
là bậc đại giác ngộ, giáng sanh trong nước Ca
Duy Vệ của Trung Ấn Độ, làm Hoàng Thái Tử...” Ca Duy Vệ và Ca Tỳ La Vệ
là hai nước ư? (Cung
Văn Thái hỏi)
Đáp: Đấy là dịch âm
khác nhau, như A Bệ Bạt Trí và A Duy Việt Trí, A Tu La và
A Tố Lạc... Những trường hợp như vậy
rất nhiều, chẳng có ǵ là lạ. Hiện thời cũng
chẳng thiếu ǵ chuyện ấy. Như Trung Quốc dịch
tên hai nước Đức và Nga là Đức Ư Chí
(Deutschland) và Nga La Tư (
* Hỏi: Các tôn giáo đều
là khuyến thiện, pháp luật chấp thuận tự do
tín ngưỡng. Tôi nghĩ bất luận học một
tôn giáo nào cũng đều là học lấy sự tốt
lành, nhưng các tôn giáo công kích lẫn nhau, hành động như
thế có thể coi là thiện ư? Nếu dựa vào nói suông
để khuyên kẻ khác học theo điều thiện,
chính ḿnh bất thiện, có phải là có chút mâu thuẫn hay
không? (Một độc giả
tại Hoa Liên hỏi)
Đáp: Tuy các tôn giáo đều
khuyến thiện, Phật giáo tự có tánh chất đặc
biệt, tức là chú trọng liễu sanh thoát tử, các tôn
giáo khác chưa thể triệt để, điều này ắt
phải nghiên cứu giáo nghĩa sâu xa rồi so sánh mới biết
được. Nếu nói là học điều tốt, chẳng
phải là nói phạm vi của tôn giáo chỉ hạn chế
trong việc trở thành người tốt ư? Nếu
biết suy lường, [sẽ nhận biết] Phật
giáo chẳng phải chỉ có vậy mà thôi. Nói đến
chuyện công kích th́ chính là vấn đề giữa con người
với nhau, chẳng phải là giáo nghĩa như thế,
nhưng Phật giáo từ xưa luôn chịu đựng công
kích, chẳng hề tự ḿnh khởi xướng [chuyện
công kích kẻ khác]. Nay tuy tranh biện với kẻ khác, cũng
là do một số ít người kém sức nhẫn nại,
nên chống lại mà thôi. V́ tính cách hộ pháp mà chẳng thể
không có người như vậy, mâu thuẫn há phải tại
ta ư?
* Hỏi: Kinh điển Phật
giáo chữ đă kỳ quái, mà lời văn lại khó hiểu.
Hiện thời vẫn giữ phương pháp cũ kỹ,
chẳng biết thay đổi cho tốt đẹp hơn;
do vậy, sức truyền giáo chẳng sánh bằng đạo
Chúa. Tại hạ [phê phán như vậy] vẫn là do hảo
ư, sao không nghĩ cách dịch cho kinh văn thông tục hơn
một chút, khiến cho người khác vừa xem liền
hiểu ngay! (Một độc
giả tại Hoa Liên hỏi)
Đáp: Thế tục có tục
học, thánh có thánh học, thánh có thể bao gồm tục,
nhưng tục chẳng thể gồm thâu thánh. Tuy vậy,
trọn chẳng phải là không thể [lănh hội thánh học],
ắt phải tinh tấn cầu học, tuân theo thứ tự,
có thể dần dần nâng cao tŕnh độ. Giống như
nhà trường trong thế tục, có Tiểu Học,
Sơ Trung, Cao Trung, Đại Chuyên v.v..., chẳng thể
nhảy lớp được! Hoặc như đối với
văn học thế tục, kẻ ít thông đạt, dẫu
đọc sách của Khổng Tử cũng chẳng thể
hiểu, huống là kinh Phật ư? Nếu như dạy
cho người ấy kinh văn thông tục, hễ nghe liền
dễ hiểu, đấy chính là khiến cho kẻ căn
tánh kém hèn chẳng thể tiến nhập cao sâu. Xin hăy coi các
thứ bảo quyển[1] và loan thi (thơ
giáng cơ) của các thiện đường đều là
vừa thông tục, vừa khuyến thiện, nhất là
xem các truyện Tây Du Kư, Phong Thần Bảng v.v... càng cảm
thấy thông tục, mà cũng có thể cảnh tỉnh cơi
đời, nhưng có ǵ dính dáng tới đạo đâu! C̣n
như nói phiên dịch kinh sách, [điều này chưa thể
tiến hành là v́] lư do tuyệt đối chẳng
đơn giản, chẳng phải là có thể giải quyết
trong vài câu! Xin hăy xem bản dịch Tứ Thư sang Bạch
Thoại của Giang Hy Trương, trăm nỗi sai lầm,
đă sớm bị kẻ hiểu biết chê trách. Thế đế
mà c̣n như thế, th́ cũng có thể biết thánh đế
như thế nào!
* Hỏi: Ngày Hai Mươi Bốn
tháng Chạp theo tục lệ là ngày tiễn thần, chẳng
biết có ư nghĩa ǵ? (Liên hữu
thuộc ban Triều Tân hỏi)
Đáp: Ngày hôm ấy tống tiễn
chư thần, chính là một diễn biến khác [của cổ
tục] ở nơi đây. Theo cổ tục Trung Quốc,
ngày hôm ấy là ngày tiễn ông Táo, chẳng dính líu ǵ đến
Phật học, cho nên chẳng cần phải bàn luận
nhiều!
* Hỏi: Đại Thế Chí Bồ
Tát là vị Bồ Tát nào? Tu thành tựu địa vị Bồ
Tát nào? Đạo tràng ở đâu? Nhiệm vụ của
Ngài như thế nào? (Trần Thánh
Âm hỏi)
Đáp: Tứ sanh lục phàm
trong mười pháp giới đều từng xoay vần
nhiều kiếp, trong kinh cũng chẳng ghi chép trọn hết
tên họ của từng người [trong các đời quá
khứ] được. Những người được
ghi chép đều là mấy vị đă quen nghe đến,
biết đến, nhưng [kinh điển] cũng chỉ
[chép] mấy đời có liên quan tới cái quả trong hiện
tại. Hiểu rơ điều này, ắt sẽ biết các
vị đều tu tập nhiều kiếp. Ở đây nêu
lên một vị, quả thật e rằng đă sót cả
vạn, đâm ra chẳng hay lắm. Đạo tràng của
vị Bồ Tát này hiện ở Tây Phương Cực Lạc
thế giới, Ngài cùng Quán Thế Âm Bồ Tát phù tá A Di
Đà Phật, thực hiện nhiệm vụ tiếp dẫn
chúng sanh văng sanh Cực Lạc.
* Hỏi: Các thành viên trong gia đ́nh
do cá tánh, chí hướng, yêu thích đều khác nhau, đến
nỗi cảm t́nh giữa đôi bên ngày càng xấu kém, tinh
thần bị đè nén trong một thời gian dài. Nếu
tranh luận, ắt sẽ phạm khẩu nghiệp. Nếu
không, trong tâm chẳng thể ḱm nén sự phẫn nộ.
Trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh có nói: “Thường
niệm cung kính Quán Thế Âm Bồ Tát liền được
ĺa sân”, tôi cũng thường tuân lời Bồ Tát thực
hành nhưng vô hiệu! Xin hỏi có phải là v́ bản thân
nghiệp nặng, nên Bồ Tát chưa thể cảm ứng
hay không? Đối với cảnh ngộ như vừa mới
tŕnh bày, nên dùng thái độ nào để ứng phó? (Trần Thánh Âm hỏi)
Đáp: Tuy cư
sĩ đă học Phật, nhưng đọc mấy câu hỏi,
sợ rằng cư sĩ chỉ biết Sự, chưa hiểu
Lư! Tám nỗi khổ trong đời người, trong ấy
có hai thứ là chán ghét mà phải gặp gỡ và yêu thương
phải chia ĺa, trong gia đ́nh cảm nhận nỗi khổ
ấy nặng nề nhất. Nếu hiểu Lư, sẽ chiếu
phá giả tướng, thấy mọi thứ đều b́nh
đẳng, không khổ, không sướng. Dẫu trong nhất
thời, chưa thể đạt đến cảnh giới
ấy, cũng nên quán trừu tượng: Quyến thuộc
chẳng hợp ư kiến, thường dấy lên xung đột,
sẽ có thể giảm nhẹ nỗi khổ do yêu thương
mà phải chia ĺa, vừa khéo để cắt đứt vướng
mắc, chuyên tâm tu hành, đó là chuyển đổi chướng
ngại, biến nó thành Tăng Thượng Duyên. C̣n như
niệm thánh hiệu không có hiệu quả, là do phiền năo
ma trong tự tánh nặng nề, sức Tam Bảo trong tự
tánh quá nhẹ, liền biết hai phần nhiễm và tịnh
trong tự tánh đang tranh hùng với nhau. Hễ mê th́ nhiễm
chướng ngại tịnh, hễ giác khởi lên th́ tịnh
chế ngự nhiễm. Nhiễm chướng ngại tịnh
là “pháp nhược, ma cường” (pháp yếu, ma mạnh);
tịnh chế phục nhiễm là đạo thắng, ma lùi.
Mấu chốt là sức giác chiếu có đủ hay không?
* Hỏi: Niệm Phật muốn
giải thoát sanh tử, thoát khỏi nỗi khổ luân hồi
trong lục đạo, v́ sao chỉ có rất ít người
có thể liễu ngộ đời trước, c̣n đại
đa số đều chẳng biết ǵ, tôi chưa hiểu
đạo lư này! (Huệ Diệu
hỏi)
Đáp: Điều này thuộc
về vấn đề tri thức của mỗi người,
như Nho sĩ trong cơi đời đọc câu “du hồn vi biến”[2] trong Châu Dịch
và câu “vị tri sanh, yên tri tử”
(chưa biết rơ sống, làm sao biết chết) trong Luận
Ngữ, Tả Truyện chép Bành Sanh hóa thành lợn, Sử Kư
chép Như Ư là chó v.v... liền ngộ con người có đời
trước. Kẻ học Phật đắc Túc Mạng
Thông, biết đời trước, hoặc hiểu sâu xa
Phật lư cũng tin có đời trước chẳng phải
là hư huyễn, nhưng giữa biển người, bậc
kiệt xuất nói chung như “lông phượng, vảy lân”,
những kẻ không biết [đông đảo như thế]
có ǵ là lạ?
*
Hỏi: Hư không vô cùng, đại thiên vô tận, Phật
giáo cũng thế, nhưng vị Thỉ Giác tối sơ đă
nương vào đâu mà giác, [giác ấy] có phải là vô thỉ
hay không? (Lư Học Thi hỏi)
Đáp: Muốn biết Thỉ
Giác, ắt trước hết phải biết Thỉ Mê. Nếu
tiên sinh có thể biết rơ Thỉ Mê, sẽ tự hiểu
rơ Thỉ Giác do nương vào đâu mà giác. Cuối cùng, [tiên
sinh] lại nêu ra câu chất vấn: “Có phải là vô thỉ
hay không?” Trong ư của Ngài có nỗi nghi vấn này, dường
như có chỗ tự mâu thuẫn với chính ḿnh. Trong phần
trên, chẳng phải là tôi đă nói: “Để biết về
giác, ắt trước hết phải biết về mê”. Kẻ
hèn này học ít, chỉ nghe nói “vô minh” (mê) có “vô thỉ”, lại
nghe nói có Bổn Giác; xét kỹ, chữ Bổn cũng chứa
đựng ư nghĩa “vô thỉ”. Xin hăy gộp [những điều
trên đây] để xem xét, chắc nỗi nghi của tiên
sinh sẽ tiêu tan!
* Hỏi: Đức Phật dùng
chánh pháp để đánh thức quần mê, nếu chín mươi
chín chúng sanh đă chứng Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác th́ một chúng sanh cuối cùng có thể chứng
đắc hay không? (V́ chữ Phật dịch ra là “tự
giác, giác tha, giác hành viên măn”. Dựa theo nghĩa này để
giải thích th́ chúng sanh cuối cùng có thể tự giác, nhưng
không có giác tha và giác hạnh viên măn!) (Lư Học Thi hỏi)
Đáp: Đối với những
kinh kẻ hèn này đă được đọc, được
nghe, chỉ biết đến những lời như “hư
không vô tận, thế giới vô tận, chúng sanh vô tận”
v.v... hễ biết bèn có thể dựa theo kinh để kính
cẩn đáp lời. Nếu bàn đến câu hỏi về
một chúng sanh cuối cùng, há chẳng phải là hư luận,
chẳng phải là giả thiết ư? Tôi vốn chẳng
thể đáp, nhưng lại sợ chẳng nhắc đến
sẽ thiếu cung kính, chỉ đành vượt khỏi
phạm vi [hiểu biết của chính ḿnh] mà nói bừa:
“Chúng sanh cuối cùng” nghĩa là chỉ c̣n sót lại một
chúng sanh ấy, sau đó sẽ chẳng c̣n sanh nữa, nên một
chúng sanh c̣n sót lại ấy ắt sẽ nghiệp tận,
t́nh không, cho nên mới có thể chẳng
sanh. Nếu không, vẫn c̣n sanh, chẳng thể nói là “tối
hậu”. Nếu chúng sanh ấy nghiệp tận t́nh không, chẳng
c̣n đầu thai, có thể nói là “tối hậu”, cũng ắt
trước hết phải độ chúng sanh, rồi
mới chứng quả ấy. Dẫu không có chúng sanh nào khác
để độ, th́ vẫn c̣n chúng sanh trong tự tánh để
độ, vậy là tự độ và độ tha, không
nghĩa nào chẳng viên!
* Hỏi: Đối với những
người chẳng thâu liễm hành vi, chẳng ra tăng,
chẳng ra tục, có thể gửi thư cảnh cáo hay chăng?
Nhưng cảnh cáo đối phương, chẳng tránh khỏi
tạo khẩu nghiệp; nhưng tạo khẩu nghiệp
chỉ là một người, nếu đối phương
biết lỗi ắt sửa, sẽ duy tŕ, bảo vệ được
danh dự Phật giáo cho đại chúng. Khẩu nghiệp
ấy sẽ chứa đựng trong thức thứ tám,
hay sẽ do đối phương hối cải mà băng
tiêu? (Nhan Phật Triệu hỏi)
Đáp: Đầy dẫy trong
thiên hạ đều là như vậy, dường như
chẳng thể cảnh cáo xiết! Cổ nhân chẳng nắm
giữ địa vị, chẳng mưu tính đến sự
cai trị, mà c̣n phân chia kẻ nào có thể nói, kẻ nào chẳng
thể nói! Cư sĩ tuy sẵn nhiệt tâm, nhưng nếu
chẳng phải là quan hệ bạn bè thân thiết, chớ
nên đụng chạm để rồi chuốc oán. C̣n đối
với câu hỏi về khẩu nghiệp, vốn là chuyện
lo nghĩ quá đáng! Phàm lợi lạc chúng sanh, dẫu quở
trách, mắng chửi, vẫn là thiện nghiệp. Hại
chúng sanh, dù là cung kính, khen ngợi, vẫn là ác nghiệp!
* Hỏi: Trong sách do đàn cầu
cơ ở tỉnh nhà [lưu truyền], có những bài do Thích
Ca Mâu Ni Phật, Tây Phương Giáo Chủ và chư vị Bồ
Tát v.v... mười phương ba đời chư Phật
đến giáng bút, có chuyện ấy hay chăng? (Trần Kiện Hưng hỏi)
Đáp: Có trường hợp là
do kẻ hầu cơ bịa đặt [những bài giáng bút
ấy] để dối đời! Có trường hợp
do linh quỷ mạo danh gạt người. Tuy nói là giả
mạo danh nghĩa, rốt cuộc vẫn là khuyến thiện,
nhưng lời lẽ quê kệch, hoang đường, quả
thật có thể gây trở ngại cho chánh tín của người
khác, có lợi ích nhỏ nhặt cho những vùng quê mùa hẻo
lánh, nhưng có hại lớn cho chánh đạo!
*
Hỏi: Tôi vốn là loan sanh (thanh đồng chuyên pḥ cơ),
nay đă quy y Tam Bảo làm đệ tử Phật, chẳng
đến loan đường (điện cầu cơ)
có bị các thần khiển trách hay chăng? Nếu lại
làm loan sanh th́ có phù hợp với giới điều quy y hay
không? (Trần Kiện Hưng hỏi)
Đáp: Thoạt đầu, thọ
Tam Quy, được gọi là Phiên Tà Tam Quy, có nghĩa là cải
tà quy chánh. Phật là thầy của trời người, là
đấng được cả tam giới tôn quư; ai dám
khiển trách đệ tử Phật? Giới đầu
tiên trong Tam Quy là “quy y Phật, chẳng
c̣n quy y thiên ma ngoại đạo”. Nếu lại làm loan
sanh, rành rành là phạm quy giới, đánh mất tư cách đệ
tử Tam Bảo!
*
Hỏi: Chuyên ở nhà xem kinh sách và niệm Phật có được
hay không? (Trần Kiện Hưng
hỏi)
Đáp: Phật pháp viên dung,
phương tiện tùy duyên, lẽ nào chẳng được!
Chỉ có thành tâm là điều kiện bậc nhất, những
thứ khác đều là phụ thuộc!
* Hỏi: Học Phật v́ lẽ
ǵ? Mục đích là như thế nào? Có đệ tử Phật
bảo tôi là v́ liễu thoát sanh tử, giải thoát lục
đạo luân hồi, tôi nghĩ đó là cảnh giới
xuất thế, nhưng phàm nhân chúng sanh nhập thế phải
nên làm ǵ để đạt đến cảnh giới ấy?
(Hoặc là thấy thấu suốt sanh tử, hay là sống
chết thuận theo tự nhiên) (Kỷ
Vũ hỏi)
Đáp: Nhập thế th́ hăy nên
“đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện,
hiếu, đễ, trung, tín, chớ để thiếu sót”.
Đấy là kiềm chế bản thân. Tiến hơn nữa
là Lục Độ, Tứ Nhiếp, phương tiện
thiện xảo, rộng độ chúng sanh vượt sang
bờ kia. Đó là lợi tha. Hai điều vừa nêu trên đây
đều là đạo phải làm trong học Phật nhập
thế. Hiểu rơ chuyện này, sẽ biết xuất thế
dễ, mà nhập thế khó. Hơn nữa, hiểu Phật
lư th́ mới có thể thấy thấu suốt sanh tử. Đă
học Phật, ắt sẽ chẳng phó mặc sanh tử
cho tự nhiên.
* Hỏi: Đối với giới
tà dâm trong Ngũ Giới, có đệ tử Phật bảo
tôi, thường quán tưởng [kẻ mà ta khởi lên dâm
niệm] là thân nhân, sẽ tự giữ được. Tôi
là thanh niên ba mươi mấy tuổi chưa kết hôn, lại
làm việc giữa cả đống chúng sanh, bên ngoài bị
lời dâm, tiếng tà dẫn dụ, bên trong có những xung
động sinh lư, huống chi sống
trong vùng á nhiệt đới[3], tôi không
có cảnh giới học Phật khá, tuy quán tưởng là
người thân, vẫn chẳng thể khắc chế ma
chướng. Tự biết đời trước nghiệp
nặng, xin hăy chỉ dạy phương pháp, khó nhất
là khống chế về mặt sinh lư! (Kỷ Vũ hỏi)
Đáp: Người tại gia vốn
được phép chánh dâm trong hôn nhân, cần ǵ phải
chuyên nghĩ đến tà dâm? Dẫu chẳng học Phật
mà phạm tà dâm th́ cũng chẳng được đạo
đức lẫn pháp luật chấp thuận, lại c̣n
bị báo ứng nhân quả chi phối. Cầu khoái lạc
chỉ trong chốc lát, chịu khổ ngàn kiếp, người
thật sự thông minh sẽ tự có thể khống chế.
Người ta nói “quán tưởng là người thân”, chẳng
qua là một phương pháp! Nếu dùng loại thuốc ấy
chẳng được, hăy nên đổi loại thuốc
khác, có thể chọn cách quán năm thứ bất tịnh
để hành, thử xem như thế nào.
Chú
thích:
Ngũ Bất Tịnh Quán là:
1.
Chủng tử bất tịnh: Thân này lấy nghiệp
đă kết trong quá khứ làm mầm mống, hiện nay
lấy tinh huyết của cha mẹ làm mầm mống.
2.
Trụ xứ bất tịnh: Ở trong thai mẹ là chỗ
bất tịnh.
3.
Tự tướng bất tịnh: Thân này có chín lỗ, thường
tuôn chảy đờm, nước mắt, đại tiểu
tiện, các thứ bất tịnh.
4.
Tự thể bất tịnh: Thân do ba mươi sáu vật
bất tịnh[4] hợp
thành.
5.
Chung cánh bất tịnh: Thân này đă chết, đem chôn tan
thành đất, trùng ăn vào thải ra phân, hỏa thiêu biến
thành tro. Truy t́m đến rốt ráo, chẳng có một
tướng thanh tịnh nào!
* Hỏi: Xin hăy chỉ dạy
những sách vở căn bản nói về phương pháp
tŕ giới và nhân quả thần thông trong Phật giáo. (Kỷ Vũ hỏi)
Đáp: Người mới học
đọc về giới th́ có sách Ngũ Giới Tướng
Kinh Tiên Yếu[5] dễ hiểu
nhất. Sách nhân quả nhiều đến nỗi chẳng
thể kể xiết, chắc là những nơi lưu thông
kinh Phật đều có, nhưng viết bằng Văn Ngôn
hay Bạch Thoại khác nhau, cần phải do chính ḿnh chọn
lựa. Có hai cuốn Thọ Khang Bảo Giám và Dục Hải
Hồi Cuồng đều nói về cái hại do phạm lỗi
tà dâm, hăy nên chọn đọc trước. Sách ấy là
thuốc chữa căn bệnh của tiên sinh vậy!
* Hỏi: Trong Ấn Quang Pháp Sư
Văn Sao có nói: “Nếu kẻ
nào trung tiện, xông thấu Tam Bảo, có thể bị
đọa làm gịi trong nhà xí” (xem trang chín mươi hai sách
[Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao] Tinh Hoa Lục). Nếu khi
chúng ta đeo đội huy chương có h́nh Phật hay mật
chú, ở chung với người khác, trong ấy có người
trung tiện, xông trúng huy chương có h́nh Phật hay pháp bảo
trên thân chúng ta, kẻ nào sẽ mắc tội? (Huệ Khang hỏi)
Đáp: Tội ở nơi hữu
tâm tạo tác, ta đeo huy chương có h́nh Phật hay mật
chú, người ấy làm sao có thể biết được?
Hễ có chuyện như vậy, chúng ta nên tránh né để
đôi bên chẳng phạm lỗi! Nhưng kẻ hèn này cho
rằng những vật như huy chương có h́nh Phật
hoặc mật chú chớ nên đeo thường xuyên, v́ người
tại gia, ở trong nhà phần nhiều bất tịnh, đấy
cũng là khinh nhờn, hoặc lỡ quên đeo luôn vào nhà xí,
sẽ thành bất kính!
* Hỏi: Trong nhà tôi không có Phật
đường thích đáng, trong khi niệm công khóa mỗi
sáng trong pḥng, nhằm lúc người nhà cầm bô nước
tiểu đi qua cửa, mùi hôi thường xông vào tận
pḥng tôi, ai sẽ bị mắc lỗi? (Huệ Khang hỏi)
Đáp: Người học Phật
cần phải có trí huệ và từ bi, đă sợ uế
vật xông thấu Phật th́ hăy nên phương tiện thiện
xảo, dựa theo t́nh h́nh mà t́m cách. Người ấy cầm
bô nước tiểu đi ngang qua cửa, chẳng bước
vào pḥng, sao không làm một tấm màn vải, treo ở cửa
pḥng để ngăn chặn? Ông lại nhiều lượt
hỏi tội thuộc về ai, dẫu thuộc về người
khác, nhưng người ấy tạo tội hoàn toàn do ta,
ta yên ḷng được sao?
* Hỏi: Nếu bị quỷ
thần khuấy nhiễu thân tâm, sẽ có hiện tượng
ǵ? (Huệ Khang hỏi)
Đáp: Cũng chẳng nhất
định, v́ tội nghiệp có lớn nhỏ, oán độc
có cạn hay sâu, nên hiện tượng ngàn muôn sai biệt,
cũng chẳng phải là một trạng thái!
* Hỏi: Tôi kể từ khi bị
bệnh tới nay, mỗi ngày thường thấy vật
ǵ đó trong suốt bay quanh, trong ngực lại c̣n như
có vật ǵ lấp đầy, ép chặt, chẳng thể
thoải mái. Nếu lúc niệm Phật ra tiếng th́ càng nặng
hơn, dường như có người dùng bàn tay đè lên
vậy. Khi ngủ, cũng từng mộng thấy có vật
ǵ đó tay cầm đao muốn đâm tôi, nhưng tôi nhanh
nhẹn chạy tránh khỏi, rốt cuộc bị nó đâm
trúng lưng và hông, khi tỉnh giấc mới biết là do bắp
thịt co rút. Có lúc cũng mộng thấy đang ăn ǵ đó,
tôi chẳng biết có phải là ngạ quỷ hay chăng?
B́nh thường, tôi cảm thấy tâm thần u ám, buồn
bực, rởn da gà, lại c̣n thường sanh tâm kinh hăi,
sân hận, ngờ vực. Đối với t́nh h́nh như
trên, mong lăo cư sĩ ấn chứng có phải tôi bị
bệnh do quỷ khuấy phá hay chăng? Nên chữa trị
như thế nào? (Huệ Khang
hỏi)
Đáp: T́nh trạng bệnh tật
như ông đă nói, cũng sợ rằng là do oan nghiệt đời
trước, hăy nên một mặt kiếm bác sĩ giỏi
để chẩn đoán, chữa trị; một mặt nên
cầu cao tăng, sám hối, thọ giới, chí tâm niệm
Phật, hồi hướng trọn khắp, sẽ có thể
hóa hung thành cát.
* Hỏi: Nếu người lúc
đi ngủ, liền bất tỉnh nhân sự, ngẫu nhiên
được lay gọi trong lúc ấy sẽ tỉnh lại,
đây là do nguyên cớ nào? (Hà Khôn
Mậu hỏi)
Đáp: Sự thấy, nghe, hay, biết,
hết thảy động tác của con người hoàn toàn
cậy vào lục căn và lục thức phan duyên lẫn
nhau, liên lạc với nhau mà sanh khởi. Ở đây, tôi dùng
đồng hồ để tỷ dụ, ư thức như
dây cót (dây thiều), năm thức trước giống như
các bánh xe răng cưa điều khiển kim giờ v.v...
Khi ngủ giống như ngưng chạy, “ngưng chạy”
để tạm nghỉ, nhưng sức thúc đẩy của
dây cót trọn chẳng mất đi, tỉnh lại giống
như lên dây cót cho “đồng hồ chết” khiến cho
nó lại chạy. Sức thúc đẩy của dây cót phát
ra, các bánh xe răng cưa điều khiển kim giờ đều
khởi tác dụng. Đây là giảng theo thế tục, nếu
sau này ông nghiên cứu Duy Thức sẽ hiểu rơ chân
nghĩa.
* Hỏi: Lúc trời đất
hỗn độn, những thần thức (linh hồn) chưa
tu đến cơi Phật có thể tồn tại hay chăng,
hay là bị diệt vong? Đệ tử đă biết thần
thức đến được Phật độ sẽ
có thể tồn tại, nhưng nếu người chưa
thể sanh về cơi Phật, lấy thế giới Sa Bà
để so sánh, hễ gặp khi thế giới hỗn độn,
nếu thần thức của người đă chết vẫn
tồn tại th́ thần thức ấy phải tới nơi
nào? (Hà Khôn Mậu hỏi)
Đáp: Cư sĩ thấy các
ngôi sao trong hư không hay chăng? Số lượng của
chúng có thể cùng tận hay chăng? Nếu chẳng thể
biết trọn hết số lượng các ngôi sao, th́ cũng
chẳng thể biết trọn hết số lượng
các thế giới, nhưng vô lượng thế giới
quả thật là thành, trụ, hoại, không chẳng ngừng.
“Hoại, không” như hỗn độn, như trong biển
sóng ṃi cuộn lên, tan mất chẳng nhất định.
Thần thức chẳng ở trong thế giới này, ắt
trụ trong thế giới khác, đâu phải lo không có chỗ
nương gá! Nhưng một câu “hay là bị diệt vong”
[trong lời hỏi của ông] lầm lẫn quá đỗi!
Phải biết: Nếu có chuyện tiện nghi như thế,
địa ngục há chẳng phải là uổng công lập
ra hay chăng?
* Hỏi: Quỷ đạo là một
trong tam ác đạo, cũng chính là một nẻo [luân hồi]
hứng chịu ác báo do gieo nhân ác, v́ sao quỷ đạo c̣n
có sức thần thông, có thể vận dụng thần thông
ấy để biến hóa, gây họa, tạo phước
cho người đời trên dương gian, đó là do lẽ
nào? (Phương Phấn Thanh hỏi)
Đáp: Tuy thuộc ác đạo,
nhưng quả báo chẳng giống nhau, như súc sanh tuy thuộc
về ác đạo, c̣n có lân, phượng, rùa, rồng là
những con vật thiêng. Quỷ loại rất nhiều, [những
con quỷ] thuộc về loại quỷ trong cơi trời Tứ
Vương, và loài quỷ đa tài[6] thuộc
quỷ đạo, sẽ có nhiều thần thông. Trong số
ấy, có kẻ do quả báo mà đạt được,
cũng có loài do sinh lư mà có thần thông. Chuyện họa phước
trong chốn nhân gian là do quỷ quan thi hành sự quyền
biến, hoặc do báo ân v.v...
* Hỏi: Tôi thấy gần đây
ở Hương Cảng ấn hành tượng Địa
Tạng Bồ Tát mười phần tinh xảo, trang
nghiêm, nên cung kính thỉnh về thờ. [Trong tượng vẽ
ấy], chầu hai bên Bồ Tát, bên trái là một cụ già
râu dài, bên phải là một tỳ-kheo trẻ tuổi, họ
là ai vậy? (Trạch Mạnh
Thu hỏi)
Đáp: Tượng Địa
Tạng Bồ Tát thường được thờ phổ
biến ở Trung Quốc chính là h́nh của một vị tỳ-kheo
Cao Ly đời Đường. Vị tỳ-kheo ấy đến
núi Cửu Hoa, được Mân Công thí đất, cúng
dường, con trai ông ta bèn được Ngài thế độ
xuất gia, pháp danh là Đạo Minh. Trong bức tượng
do Hương Cảng in, vị tỳ-kheo bên phải là tôn
giả Đạo Minh, cụ già bên trái là Mân Công.
* Hỏi: Tôi có một người
bạn chuyên xem tướng để kiếm sống. Một
hôm, người bạn ấy đến nhà, vừa vào cửa
liền nói: “Cửa nhà này hướng về phía Bạch Hổ[7], chủ phá tài”,
tôi không đáp. Sau đấy, tôi nghĩ lời ấy chẳng
thể tin, v́ có Phật, Bồ Tát hiện diện, sẽ
không có ǵ bất lợi, đúng chăng? (Trạch Mạnh Thu hỏi )
Đáp: Thuật Âm Dương Ngũ
Hành sanh khắc hạn cuộc trong chốn phàm tục. Đệ
tử Phật hăy tuân theo lời dạy trong kinh, tin sâu nhân
quả. Làm lành, dẫu ở cuộc đất xấu, đất
cũng chuyển thành tốt; làm điều bất thiện,
dẫu ở cuộc đất tốt lành, đất cũng
chuyển thành hung. Thử xem, từ xưa, những kẻ
quyền quư nhưng gian tà, tội lỗi, đối với
nơi họ sống, há lẽ nào chẳng chọn chỗ
tốt lành, nhưng tới khi tội ác đă ngập đầu,
vẫn chẳng tránh khỏi cảnh nhà tan người mất,
đấy là do liên quan đến nhân quả hay là do cuộc
đất tốt xấu vậy?
* Hỏi: Người già tu tập
ở nhà bị quấy nhiễu, đến nỗi phải
xin vào chùa ở để tu, nếu kiếp này chẳng liễu
ngộ, có bị mang lông đội sừng đền nợ
hay chăng? (Phan Chấn Bang hỏi)
Đáp: Ở trong chùa, bỏ tiền
cúng dường, hoặc tự lo ăn uống; nếu không
mắc nợ, có ǵ phải trả?
* Hỏi: Cha mẹ không biết
chữ, hằng ngày niệm Phật theo đồng hồ
chẳng gián đoạn, nhưng tôi làm con em trong khóa tụng
sáng tối, nguyện hồi hướng cho cha mẹ, chẳng
biết bài văn hồi hướng như thế nào? (Mong
thầy viết một bài văn riêng) (Phan Chấn Bang hỏi)
Đáp: Dùng bài văn hồi hướng
tám câu, mỗi câu năm chữ[8], thay đổi
mấy chữ trở thành bốn câu là được rồi,
kính cẩn nghĩ như thế này: “Nguyện dĩ thử công đức, thượng
báo phụ mẫu ân, tận thử nhất Báo Thân, văng sanh Cực
Lạc quốc” (nguyện đem công đức này, hồi
hướng ân cha mẹ, hết một báo thân này, văng sanh cơi
Cực Lạc).
* Hỏi: Cúng dường Địa
Tạng dùng hương, hoa, y phục, thức ăn, các thứ
ngoạn cụ. “Các món ngoạn
cụ dùng cúng dường Bồ Tát” có ư nghĩa như
thế nào? (Lại Đống
Lương hỏi)
Đáp: Phàm những vật chẳng
thuộc đồ dùng trong sinh hoạt thường ngày, như
hết thảy các món cúng dường thanh tịnh để
trang hoàng đều có thể gọi là “ngoạn cụ”. Những món như chuông, đỉnh,
tranh chữ, tranh vẽ, đồ điêu khắc bằng
kim loại hay đá, châu ngọc cũng đều là “ngoạn
cụ”. Các thứ tràng, phan, lưới, luân, pháp loa trong nhà
chùa, hoa, hương cũng đều là “ngoạn cụ”.
* Hỏi: Ví như người tên
Giáp thấy do tiễn biệt người tên Ất mà sát
sanh, bèn khởi ḷng thương xót, điều ấy có công
đức hay chăng? Công đức to chừng nào? (Trần Lâm Châu hỏi)
Đáp: Tâm khởi lên thương
xót là ư thiện, một hạt giống tốt lành, đương
nhiên có công đức, nhiều hay ít cũng tùy thuộc sự
phát tâm lớn hay nhỏ, há có thể đoán sẵn được
ư?
* Hỏi: V́ sao nhân loại có nam
nữ khác biệt, lại xảo hợp mang thai sanh nở
con cái, sao chẳng hóa sanh? (Lư Học
Thi hỏi)
Đáp: Vạn pháp do nhân duyên sanh,
có nhân và duyên của người nam bèn hiện thân nam, có nhân
và duyên của người nữ bèn hiện thân nữ. Trời
đất chia ra âm dương, nhị hoa cũng có đực
và cái, không ǵ chẳng phải do nhân duyên. Bậc hiền triết
thế gian cũng có các thuyết như vô cực, thái cực,
lưỡng nghi, tứ tượng v.v... biến hóa, có cùng
một lẽ với thuyết duyên sanh. Nhân loại do dâm dục,
nhục thể ḥa hợp, nên có thai sanh. Cơi trời trong Dục
Giới tuy dâm dục, nhưng chẳng chung đụng thể
xác, nên hóa sanh. Sắc Giới Thiên chẳng dâm dục, nên cũng
là hóa sanh. Noăn, thai, thấp, hóa, mỗi loài vốn đều
có nhân duyên!
* Hỏi: Có phải là hết thảy
các quỷ thần đều có Ngũ Thông? Nếu như vậy,
v́ sao họ chẳng thể tự độ hoặc độ
tha, mà phải cần pháp sư (siêu độ)? (Mạc Ngă Hư hỏi)
Đáp: Sức thần thông của
quỷ thần, có đến mấy thứ, hoàn toàn chẳng
nhất định. Lại c̣n có lớn hay nhỏ sai khác!
Phải biết: Chuyện “độ” lại c̣n có “siêu thăng”
và “xuất thế” khác biệt, nhưng đối với
hai thứ ấy, sức Ngũ Thông chẳng thể thực
hiện! Vẫn là do nghiệp lực làm chủ thể, ác
nghiệp đọa tam đồ, hữu lậu thiện bèn
sanh trong cơi trời người. Nếu luận định
về xuất thế, chỉ có Phật pháp; v́ thế, ắt
phải cậy vào pháp sư. Dẫu cho lục đạo
thăng trầm trong thế gian, sau khi đă đọa, trước
lúc thiện chủng tử khởi hiện hành, giống như
té xuống vực sâu, ắt phải cậy vào thuyền bè
mới có thể thoát ra. Phật pháp là chiếc bè báu, pháp ấy
có sức chuyển nghiệp, nên nỗi khổ hiện tiền
cũng phải cậy vào Phật pháp để giải
thoát.
* Hỏi: Ngài Mục Liên cứu
mẹ có phải là nhờ vào tâm lực của các vị đại
Bồ Tát hay chăng? V́ sao tâm có sức mạnh ấy? Từ
nơi nào phát ra? Phát ra như thế nào? Xe hay thuyền có thể
di động theo ư muốn là do ngoại lực thúc đẩy,
tâm thật sự có sức tự thúc đẩy ư? Mẹ
ngài Mục Liên do nghiệp chướng đă tiêu trừ (sau
khi nghiệp chướng giảm nhẹ) mà được
cứu đấy chăng? Chúng sanh có thể đới
nghiệp văng sanh, nhưng nghiệp được mang theo
trong ư thức, hay là mang theo ở nơi đâu? V́ sao tŕ chú,
niệm Phật có thể tiêu nghiệp? Tiêu như thế nào?
(Mạc Ngă Hư hỏi)
Đáp: Câu hỏi này được
chia thành năm đoạn, cần phải chia ra để
đáp.
1.
Phàm là động vật sẽ có tâm (tâm ấy không phải
là quả tim, mà chính là nói tới “linh giác”). Có tâm bèn khởi
niệm, khởi niệm liền có chuyện tạo tác nơi
ba chỗ thân, khẩu, ư. Chuyện được tạo tác
có lớn, nhỏ, mạnh, yếu, lâu dài, tạm thời,
các thứ khác nhau, đó là mức độ biểu hiện
của tâm lực. Nho gia cũng nói tới tâm lực, họ
từng nói: “Tâm bất tại
yên, thị nhi bất kiến, thính nhi bất văn, thực
nhi bất tri kỳ vị” (Chẳng chú tâm th́ nh́n chẳng
thấy, nghe chẳng lọt tai, ăn chẳng biết mùi
vị). Hăy thử nghĩ: Thấy, nghe, phân biệt mùi vị
là chuyện hết sức nhỏ nhặt, mà vẫn là tác dụng
của tâm, huống ǵ những chuyện lớn hơn!
2.
Ngài lại lấy xe và thuyền để tỷ dụ cái
tâm, kẻ hèn này cho rằng tỷ dụ ấy chẳng thích
đáng lắm, v́ động lực có chủ động và
bị động khác nhau! Xe và thuyền bất quá là vật
thể bị động, chỉ có thể sánh với thân
và miệng của con người, nhưng thân và miệng hoạt
động là do tâm; như xe và thuyền hoạt động
cũng có kẻ làm chủ, kẻ làm chủ ấy mới
có thể ví như tâm!
3.
Chuyện mẹ của tôn giả Mục Liên “tội tiêu,
được cứu” chép trong kinh Vu Lan Bồn. Nếu chẳng
tin kinh, chẳng c̣n ǵ để nói nữa!
4.
Văng sanh là thức thứ tám. Thức này c̣n có tên là Hàm Tàng Thức,
hết thảy các chủng tử thiện ác đều chứa
trong ấy, giống như cuốn phim nhựa: Ảnh chẳng
ĺa khỏi phim!
5.
Tôi cũng dùng tỷ dụ để nói rơ cùng Ngài: Tủ lạnh
đóng băng cứng, mà dùng tay sờ soạng, ắt cóng
tay, buốt da. Nếu dùng khí nóng thổi vào tủ lạnh
thường xuyên, thử hỏi bên trong tủ có đóng băng
cứng được hay chăng?
*
Hỏi: Kinh Kim Cang, trong phần thứ mười bảy
tức phần Cứu Cánh Vô Ngă có câu “danh nhất thiết pháp” (gọi là hết thảy
các pháp), pháp được nói trong phần trước là Phật
pháp, đoạn giữa nói “pháp” chẳng phải là hết thảy
các pháp, đoạn sau lại nói “cố
danh nhất thiết pháp” (nên gọi là hết thảy các
pháp). Ba đoạn ấy trước hết là “là”, rồi
“chẳng là”, sau đấy lại “là”, chẳng biết đấy
có phải là nói lời phương tiện hay chăng? (Nhan Văn Bạo hỏi)
Đáp:
Ngă Kiến là chướng ngại lớn nhất trong việc
cầu giác ngộ, trước hết ắt phải phá trừ,
nhưng Ngă lại chia thành hai thứ là Nhân Ngă và Pháp Ngă, đều
phải nên phá trừ. Mấy câu ấy mang ư nghĩa phá chấp
trước Ngă và Pháp.
*
Hỏi: Có sư X... là trụ tŕ chùa Y... tại làng Z... nhằm
tuyên dương Phật giáo, thỉnh hai vị cư sĩ
Giáp và Ất ở trong điện Tam Bảo chùa ấy, phát
nguyện độ chúng sanh, chiêu sinh miễn phí, lập lớp
học buổi tối nhằm mục đích khuyến thiện.
Về sau, hai vị cư sĩ ấy giữ nghiêm ngặt
nguyện trước, chẳng nhận của học sinh
mảy may nào, nhưng vị trụ tŕ X... thấy chẳng
thể kiếm lợi từ học sinh bèn khởi ác ư, muốn
đuổi hai vị cư sĩ đi xa. Nhưng hai vị
cư sĩ ấy do chính ông ta mời đến, nay lại
bảo họ trở về, khởi xướng do ông ta mà
phản đối cũng do ông ta, chẳng biết ai đúng,
ai sai, kết quả về sau của ba người ấy
như thế nào, kính xin khai thị? (Nhan Văn Bạo hỏi)
Đáp:
Chẳng cần luận định đúng hay sai! Về
sau sẽ tự có nhân quả, nhưng giữa khách và chủ
đă có định sẵn ranh giới, chủ đă chẳng
muốn giữ, sao khách cứ phải khiên cưỡng ở
lại?
*
Hỏi: Sau đấy, chuyện này khiến cho nhân sĩ nơi
ấy bất măn, liền can thiệp với trụ tŕ, bắt
ông ta giữ hai vị cư sĩ sống vĩnh viễn
trong chùa ấy, mở cuộc họp quyết định
lo riêng cơm nước cho hai vị cư sĩ, [các nhu cầu]
trong cuộc sống thường ngày do người chủ
quản nơi ấy phụ trách cung cấp, trụ tŕ cũng
đồng ư; nhưng thành toàn cho cư sĩ tại gia là
do yêu cầu của nơi ấy, cho nên trong chùa lại chia
ra ăn uống riêng rẽ, chẳng biết hai vị cư
sĩ ấy có vi phạm Thanh Quy của chùa miếu hay không?
(Nhan Văn Bạo hỏi)
Đáp:
Chẳng ăn cơm nhà chùa, nên chẳng phạm Thanh Quy; nhưng
cần ǵ mà phải làm chuyện oán ghét mà cứ phải gặp
gỡ ấy!
*
Hỏi: Nhưng cư sĩ Giáp là một người khách
cô độc từ làng khác, nếu bây giờ bị đuổi
đi, sẽ không có nhà để trở về, không chốn
nương thân, do t́nh thế bức bách, bất đắc
dĩ nhân sĩ nơi ấy phải chèo kéo, lưu lại,
tạm thời ở trong chùa ấy, nhưng cư sĩ Giáp
lại sợ sau này trụ tŕ chẳng vui ḷng, nên đă cậy
bạn bè khắp nơi xin ở nhờ chỗ nọ. Nếu
may ra thành tựu, khi ấy, sẽ rời nơi đây sang
đó. Chẳng biết vị cư sĩ này có trái nghịch
tấm ḷng phát nguyện và phạm tội vọng ngữ
do đă nhận lời lúc được người nơi
ấy chèo kéo hay chăng? (Nhan
Văn Bạo hỏi)
Đáp:
Duyên hợp th́ ở, duyên hết th́ đi. Con người có
sanh, trụ, dị, diệt, thế giới có thành, trụ,
hoại, không; há có pháp nào thường hằng?
*
Hỏi: Đệ tử có thể thờ h́nh của Vân Công
thượng nhân và Địa Tạng Bồ Tát trong cùng một
khung h́nh hay chăng? (Nhan Phật
Triệu hỏi)
Đáp:
Thờ riêng ra th́ hay hơn! Nếu do vị trí hạn chế,
dẫu thờ trong cùng một khung kiếng, phải đặt
thánh tượng Địa Tạng Bồ Tát ở phía trên.
*
Hỏi: Khi cư sĩ hướng về tỳ-kheo-ni đảnh
lễ, nên xưng hô ra sao? (Nhan Phật
Triệu hỏi)
Đáp: Cũng gọi là pháp
sư, chẳng cần khởi phân biệt.
* Hỏi: Nếu ngẫu nhiên gặp
những vị đại cư sĩ Phật giáo trọn đời
hộ pháp như Phương Luân, Niệm Sanh v.v... hướng
về họ đảnh lễ, nên xưng hô như thế
nào? (Nhan Phật Triệu hỏi)
Đáp: Người cao tuổi
gọi là lăo cư sĩ, người ngang tuổi th́ gọi
là đại cư sĩ.
* Hỏi: Tăng Bảo hiện
thời, đang lúc cá rồng hỗn tạp, cớ sao những
vị được gọi là đại cư sĩ trong
Phật giáo chẳng phát động phong trào “kính Tăng”,
khiến cho người trọn đủ tư cách Tăng
Bảo được nâng cao địa vị. Có ganh đua,
chọn lọc th́ mới có thể đạt đến mục
tiêu tuyển chọn, nhằm gạt bỏ những con quỷ
làm kinh sám tăng chẳng ra tăng, tục chẳng ra tục,
chấp Lư, hay những gă có vợ con, luôn mưu lợi cho
tương lai cá nhân. Nếu có thể chọn lựa bất
cứ vị nào cũng đầy đủ tư cách Tăng
Bảo chẳng vướng mắc th́ giáo phong mới được
nâng cao. Nếu không, phong khí sẽ ngày càng bại hoại! (Nhan Phật Triệu hỏi)
Đáp: Sống ở
nơi đây, trong thời này, cần phải mở rộng
tầm mắt, nhận biết hoàn cảnh, so sánh sự phát
triển của Phật giáo và các tôn giáo khác th́ [Phật giáo]
đă trở thành lạc hậu, hăy nên nhẫn nại, đoàn
kết, chớ nên tạo nên chuyện phân hóa nữa. Kẻ
làm kinh sám để kiếm sống, quả thật chẳng
phải là [theo đúng] đại đạo, nhưng vẫn
chẳng thuộc vào năm thứ tà mạng. Há có biết
giáo pháp của chúng ta gặp hoạn nạn to lớn chẳng
do các tôn giáo ngoại lai [gây ra], mà là do mấy tôn giáo vốn
có trong nước đều mượn chiêu bài Phật giáo,
bí mật hoạt động, tín đồ Phật giáo thiếu
chánh tri kiến, đa số bỏ cái này chạy theo cái
kia. V́ thế, trước mắt, hăy nên t́m cách cứu văn,
chớ nên xua cá xuống vực sâu[9]!
* Hỏi: Câu “Phạm âm, hải triều âm” trong phẩm Phổ
Môn chỉ sóng biển tại núi Phổ Đà, hay là nói Phật
pháp phổ biến như hải triều? (Nhan Văn Bạo hỏi)
Đáp: Phạm Âm là âm thanh thanh
tịnh, vô nhiễm; Hải Triều Âm là thuyết pháp khế
cơ, giống như hải triều [lên xuống đúng
giờ] chẳng lỗi hẹn. Triều Âm Động của
Phổ Đà sơn là dựa theo kinh, chứ không phải là
kinh văn mượn cảnh Phổ Đà để nói!
*
Hỏi: Có người nói “Xá Lợi
Tử” trong Tâm Kinh là ngài Xá Lợi Phất đệ tử
trí huệ bậc nhất của đức Phật, có người
nói là xá-lợi sau khi đức Phật nhập Niết Bàn
lưu lại! Rốt cuộc là thuyết trước đúng
hay thuyết sau đúng? (Nhan Văn
Bạo hỏi).
Đáp: “Xá Lợi Tử” tuy có hai cách giải thích trước
và sau như trên, nhưng Xá Lợi Tử được nhắc
đến trong Tâm Kinh là tên người.
* Hỏi: Như Lai khởi lên
pháp hạnh thanh tịnh khi tu nhân, nếu Bồ Tát ở giữa
đại chúng, khởi tâm thanh tịnh, làm thế nào để
xa ĺa các bệnh, nghĩa ấy như thế nào? (Phan Diệu Huyền hỏi)
Đáp: [Ông nói điều trên đây]
phát xuất từ kinh nào, chưa từng chỉ rơ, không cách
nào tra khảo, chẳng thể đáp bừa!
* Hỏi: Muốn dạo trong biển
đại tịch diệt của Như Lai, làm thế nào để
có thể đoạn căn bản luân hồi? Trong các nẻo
luân hồi, có mấy chủng tánh, tu Phật Bồ Đề
có mấy thứ khác nhau? Nghĩa ấy ra sao? (Phan Diệu Huyền hỏi)
Đáp: Chưa thể hiểu rơ
tôn ư, nên tạm thời chẳng đáp, xin hăy tha thứ.
* Hỏi: Đức Phật nói
chẳng trụ trong hết thảy trụ, khi có hết thảy
các cảnh giới xảy đến, chẳng thể giữ
lấy. Con người hiện thời nói niệm Phật
rất giống như Đại Thừa, [đó là do] vị
tổ sư đời thứ mấy nói, hay là người
ta thuận theo thời đại đă nói? (Phan Diệu Huyền hỏi)
Đáp: Tôi cũng chẳng thể
liễu giải tôn ư trong câu hỏi này, nên chẳng đáp bừa!
* Hỏi: Nghe nói bên Mỹ có một
đứa con nhà giàu, mẹ hắn có tài sản thật lớn,
hắn mong sớm có ngày được hưởng, nên chẳng
tiếc hết thảy, giết chết mẹ. Hắn có đáng
bị phán tội tử h́nh hay không? Nếu bị kết tội
tử h́nh, giết hắn đi th́ có phạm giới hay không?
(Nói theo quan điểm Phật giáo) (liên hữu thuộc ban Liên Vân hỏi)
Đáp: Chấp hành thưởng
phạt thuộc về vấn đề chính trị. Giáo hóa,
hướng dẫn ḷng người là vấn
đề giáo dục và tôn giáo, mỗi phương diện
có quyền hạn riêng, chớ nên trộn lẫn lại
để bàn định. Chính trị có các thứ pháp quy, tuân
theo đó mà hành th́ chính là tuân thủ phép nước. Kẻ
phạm pháp bị phán tội tử h́nh là do pháp luật buộc
tội chết, chứ không phải do quan ṭa khiến cho hắn
bị chết, giống như kẻ tạo ác vào địa
ngục, là do nghiệp lực lôi dắt, quả thật
chẳng phải do thần hay quỷ sai sử. Xét về lập
trường Phật giáo, há có dị nghị!
* Hỏi: Kinh dạy “nan hành đạo dị thành Phật,
dị hành đạo nan thành Phật” (đạo khó hành
dễ thành Phật, đạo dễ hành khó thành Phật),
xin hỏi nan hành đạo là ǵ, dị hành đạo là ǵ?
(Chung Quán Tĩnh hỏi)
Đáp: Trong lời hỏi này, sợ
là đă chép sai câu nói, hay là bịa đặt, xin hăy cho biết
[câu ấy] xuất phát từ kinh nào, tôi sẽ lại kính cẩn
trả lời để khỏi phạm lỗi!
* Hỏi: Tệ nhân có một
chuyện lạ lùng! Có một khúc hát đă quên khuấy từ
lâu, nay muốn hát khúc ấy, nhưng đă hoàn toàn không c̣n dấu
vết hay ấn tượng để có thể t́m lại,
từ đầu đến cuối không có cách nào nghĩ
ra, nhưng về sau, đang trong lúc lơ mơ nửa thức,
nửa ngủ, chợt buột miệng hát ra, đúng là mầu
nhiệm chẳng thể nghĩ bàn! Trước lúc ngủ,
v́ sao có huyễn giác? (Chương
Phổ Minh hỏi)
Đáp: Phàm có một ư niệm, hay
một chuyện ǵ, đều có một bóng dáng được
ghi trong thức điền thứ tám, điều ấy được
gọi là “chủng tử”. Đă có chủng tử, hễ
gặp duyên sẽ khởi hiện hành, thế tục thường
gọi là “phản ảnh”. Tuy ông nghĩ chẳng ra ca khúc ấy,
nhưng nó thật sự ẩn tàng trong thức, chợt khởi
hiện hành, nên tự nhiên có thể buột miệng hát ra.
* Hỏi: Lúc đức Thế
Tôn giáng sanh, có một vị Bà La Môn tên là A Tư Đà
(Asita) tiên nhân được phụ vương của Phật
cho xem tướng Thái Tử. Lại nữa, theo kinh Kim
Cang, trưởng lăo Tu Bồ Đề lúc sanh ra, cha mẹ
cũng mời một thầy tướng số đến
gieo một quẻ, bói được một quẻ tốt,
cho nên Ngài có một tên là Thiện Cát (Thiện Cát là từ dịch
nghĩa của danh xưng Tu Bồ Đề mà biết), nên
hiểu lư ấy như thế nào, xin chỉ dạy! (Trần Tuyền Lâm hỏi)
Đáp: Đức Thế Tôn giáng
thế, xuất gia, chứng đạo, trải một thời
gian ba mươi năm, mới thuyết pháp độ chúng
sanh nên có Phật giáo. A Tư Đà tiên nhân xem tướng là
chuyện trước khi lập giáo ba mươi năm.
Chuyện ấy đối với Phật giáo có ǵ đáng
ngại! Tu Bồ Đề theo Phật làm đệ tử,
cũng là lúc đă trưởng thành, những chuyện trước
khi Ngài quy y Phật môn chẳng liên quan ǵ đến Phật
giáo!
* Hỏi: Ma Ha là lớn nhất,
Ma Ha Đại Pháp Vương là Ma Ha to lớn bao gồm cả
càn khôn và vũ trụ ư? Coi tâm này là trời, trời cao
chẳng có cực hạn, nhưng tâm vượt khỏi
trời. Đất dày chẳng thể lường, nhưng
tâm vượt hơn đất, tâm to lớn bao trùm thái hư,
tâm lớn lao thay! Xin hăy chỉ dạy, trong hai đại
nguyện ấy, nguyện nào là lớn? (Lư Thanh Mộc hỏi)
Đáp: Kinh dạy: “Đương tri hư không,
sanh nhữ tâm nội, do như phiến vân, điểm thái
thanh lư, huống chư thế giới, tại hư không da?” (Hăy nên biết, hư không
sanh trong tâm ông giống như một vầng mây điểm
giữa trời xanh, huống hồ các thế giới ở
trong hư không ư?). Ngài nói đến trời, đất,
bất quá là một phần ngàn vạn của tam thiên đại
thiên thế giới, sao lại cho là lớn. Nếu đem
trời đất so với tâm th́ có khác nào một bọt
sóng trong biển cả!
* Hỏi: Xét theo cổ lệ của
nước ta, có các thứ tôn giáo khác nhau, đối với
người thế tục, mỗi khi trong nhà có tang sự
hay hỷ sự, ắt phải mời thầy Kham Dư[10] đến xem xét
địa lư, trạch nhật, tức là chọn lựa giờ
hên, ngày tốt, cho đúng lẽ tương h́nh,
tương khắc[11] nhằm đón
hên, tránh dữ v.v... Gần đây, tôi quy y Tam Bảo, trở
thành tín đồ Phật giáo, đối với Phật lư
cũng chưa nghiên cứu, trong bụng mười phần
nghi ngờ, lo lắng; bởi lẽ, giáo đồ Phật
giáo chúng ta cũng nên tuân thủ ba điều trên đây hay
chăng? (Dương Kim Toàn hỏi).
Đáp: Những chuyện như
xem Địa Lư, chọn ngày v.v... đều thuộc về
bói toán cát hung. Phật giáo đồ mà làm nghề ấy sẽ
gọi là “tà mạng”, kẻ tin những chuyện ấy gọi
là “tà tín”. Phật giáo đồ hăy nên tuân theo lư trí, đối
với chuyện hướng lành, tránh dữ, hăy cầu nơi
nhân quả, sẽ ngàn vạn phần chuẩn xác, chẳng
cần phải noi theo thói tục.
* Hỏi: Chẳng biết giáo
chủ nguyên thủy của các thầy chọn ngày và thầy
Địa Lư tên họ là ǵ? [Câu hỏi] thứ hai là từ
cổ đến nay đă bao nhiêu năm? (Dương Kim Toàn hỏi)
Đáp: Thuật này đâu phải
là tôn giáo, làm sao có giáo chủ được! Bất quá, loại
kỹ thuật này phần nhiều thoát thai từ thuyết
Bát Quái, Âm Dương, Ngũ Hành. Ắt bọn họ sẽ
nêu tên một vị là tổ sư, nhưng phần lớn
là gán ghép, hoặc bịa ra, kẻ hèn này chưa từng thân
cận họ, nên chẳng biết họ tôn sùng ai!
* Hỏi: Quyết định
tu theo một hạnh môn nào, phải quy y với pháp sư
thuộc tông ấy để mong được chỉ ra
chỗ mê mờ, nhưng tôi quy y với ḥa thượng Quảng
Khâm của Thiền Tông, nếu tu Tịnh Độ, có cần
phải quy y lại với pháp sư trong Tịnh Tông hay chăng?
(Trịnh Trường Lâm hỏi)
Đáp: Quy y Tăng là quy y Tăng
đoàn, hết thảy các vị Tăng đều là thầy
ta, không cần phải quy y lại. Nếu học pháp môn,
hướng tới các vị đại đức thuộc
một tông chuyên môn [tu tập pháp môn ấy] giữ lễ đệ
tử để thỉnh giáo, như Khổng Tử thông thạo
lục nghệ[12], thầy của
Ngài cũng nhiều ngần ấy!
* Hỏi: Khi tôi thọ giới,
mặc quân phục đứng trước mọi người
là v́ tập khí thế tục chưa trừ, lại v́ người
niệm kinh cho tôi là một vị ni sư nên cảm thấy
rất bất an, tâm cũng thiếu chí thành, quy y như vậy
có phải là vô hiệu hay chăng, hoặc là đâm ra c̣n có
tội? (Trịnh Trường
Lâm hỏi)
Đáp: Chuyện đă là quá khứ,
dẫu hối chẳng làm được ǵ, nay chỉ c̣n
cách đối trước Phật chí thành sám hối mà thôi!
* Hỏi: Phật tử do hoàn cảnh
bức bách, phải ăn năm thứ tịnh nhục đến
nỗi đâm ngán khó nuốt xuống được. Dẫu
ăn rau bên cạnh thịt cũng thế, phải nên làm
như thế nào? (Trạch Mạnh
Thu hỏi)
Đáp: Chỉ có rau xanh là được
rồi, điều này cần ǵ phải bàn định nữa?
* Hỏi: Đệ[13] đọc
cuốn Nam Hải Phổ Đà Sơn Truyền Kỳ Dị
Văn Lục do pháp sư Chử Vân ở Phượng Sơn
Phật Giáo Liên Xă trước tác, thấy những điều
nói về sự linh cảm của đức Đại Bi
Quán Thế Âm khiến cho kẻ khác nghiêm túc dấy ḷng cung
kính. Như vậy th́ có phải là thánh tượng Quán Thế
Âm Bồ Tát được thờ bởi các Thiền tự
thông thường khác và các cư sĩ niệm Phật đều
chẳng linh cảm bằng Quán Âm Bồ Tát tại đại
đạo tràng Phổ Đà Sơn? (Trác Trung Chấn hỏi)
Đáp: Bồ Tát linh ứng là
do tâm cảm; nếu có thể chí thành, ở đâu cũng
linh cả!
* Hỏi: Ngoài các cơi Phật trong
mười phương, có các cơi Phật khác hay chăng?
Trong mười phương chư Phật, Bồ Tát, địa
vị Phật chẳng có cao thấp, vị Phật nào thành
Phật sớm nhất? Và A Di Đà Phật có phải là địa
vị cao nhất trong mười phương chư Phật
hay không? Lại nữa, có phải là trong mỗi câu chú Đại
Bi đều có thánh hiệu Bồ Tát? (Trác Trung Chấn hỏi)
Đáp: Đă nói là “mười phương”, ắt
trọn khắp chiều dọc lẫn chiều ngang, làm
sao c̣n có ǵ ở ngoài được nữa? Nói tới Phật
th́ Phật Phật đạo đồng, nói tới Bồ
Tát th́ có bốn mươi hai cấp sai khác. Ở đây, dùng
mặt trăng để tỷ dụ, từ mùng Một tới
Mười Bốn đều ví như Bồ Tát, ánh sáng mặt
trăng mỗi hôm mỗi khác. C̣n ngày Rằm ví như đức
Phật, trăng đêm Rằm tháng Giêng, tháng Hai, tháng Ba cho đến
tháng Chạp, không ǵ chẳng giống nhau. Lời kệ xưng
tán “A Di Đà đệ nhất”
nhằm ca ngợi thệ nguyện của Ngài. Chú Đại
Bi thuộc về Chân Ngôn, theo cổ lệ chẳng được
phép phiên dịch. Đối với bản chú giải [chú Đại
Bi] bằng h́nh vẽ (thường gọi là Đại Bi
Xuất Tượng) được lưu hành trong thế
gian, do kẻ hèn này học thức nông cạn, chẳng hiểu
Phạn văn, nhưng luôn cảm thấy hoài nghi. Chẳng
hạn như trong bài chú, câu “sa
bà ha” (svāhā) rất nhiều, nhưng
mỗi câu “sa bà ha” lại được
giảng khác nhau, sao lại có chuyện chữ giống
nhau, âm giống nhau, mà rốt cuộc lại phân biệt
nhiều đến thế? Cư sĩ hỏi điều
này, xin thứ lỗi, tôi chẳng thể đáp được!
* Hỏi: Xứ Ấn Độ
kể từ sau khi Phật Thích Ca thành Phật, đă trở
thành thánh địa khởi nguồn của Phật giáo toàn
thế giới, vậy th́ trước khi Phật Thích Ca thành
Phật, trong các quốc gia khác có Phật giáo tồn tại
hay chăng? (Trác Trung Chấn hỏi)
Đáp: Pháp vận của Phật,
gồm bốn thời kỳ lớn: Chánh, Tượng, Mạt,
Diệt. Trong thế giới này, trước đó tuy có Phật
pháp, nhưng sau khi pháp diệt, Thích Ca Thế Tôn mới giáng
thế. Nói như vậy, có thể nói là trước khi Thích
Ca Như Lai giáng thế, các nước hoàn toàn chẳng có Phật
giáo.
* Hỏi: Liên Tông kể từ Sơ
Tổ Viễn Công đại sư (tổ Huệ Viễn)
cho tới Ấn Công đại sư (tổ Ấn Quang)
viên tịch, tính tới vị tổ thứ mười ba chỉ
có mười ba vị. Tổ sư hai tông Thiền và Mật,
tính đến hiện tại có bao nhiêu vị? (Trác Trung Chấn hỏi)
Đáp: Thiền kể từ
ngài Đạt
Ma từ Tây Phương sang [Trung Hoa], trở thành Đông Độ
Sơ Tổ, sau khi truyền tới Ngũ Tổ, bèn chia thành
hai phái Nam Bắc. Phái phương Bắc chẳng phân chia,
phương
* Hỏi: Ma Vương Ba Tuần
đạt được phước ma ra sao? Khi phước
ma đă hết, có đọa tam ác đạo hay không? Sau
khi Ba Tuần đọa lạc, có phải là do ma con, ma cháu
nối ngôi làm ma vương giống như Nhất Sanh Bổ
Xứ được nói trong kinh A Di Đà hay không? (Trương Bảo Hành hỏi)
Đáp: Ma vương báo tận,
tự nhiên đọa lạc. C̣n như nói ma con, ma cháu kế
vị, tuy chưa thấy kinh văn [nói như vậy], nhưng
tôi nghĩ là chuyện đương nhiên.
* Hỏi: Địa ngục
trong Phật giáo là nói tới nơi nào? Có phải là duy tâm sở
tạo hay không? (Trương Bảo
Hành hỏi)
Đáp: Trong kinh có nói dưới
chân núi Thiết Vy và dưới đất v..v... đều
là những chỗ có đại địa ngục; trong núi,
ngoài đồng trống đều có, đấy là tiểu
địa ngục cô độc!
* Hỏi: Trong Phật giáo, hai chúng
xuất gia chẳng ăn các thứ thịt, nói là v́ chúng sanh
đều là cha mẹ trong nhiều đời nhiều kiếp
quá khứ, và là chư Phật vị lai, nên chẳng nhẫn
tâm ăn thịt chúng sanh, nhưng trong kinh điển có nói
chư thiên khi hưởng hết phước báo trong cơi trời,
có lúc đọa làm gỗ, đá, kim loại, đất. Vậy
th́ trong các thứ rau dưa cũng có chúng sanh bị đọa,
nếu hai chúng xuất gia ăn rau dưa, há chẳng phải
là phạm giới ư? (Trương
Bảo Hành hỏi)
Đáp: Hưởng hết phước
trời, đọa lạc trong các đường thấp
hơn, đó là chuyện thường nghe nói. C̣n như hóa làm
gỗ, đá, kẻ hèn này xem kinh quá ít, chưa hề thấy,
chỉ để đó chẳng bàn tới, chờ bậc
thông gia [giải đáp]. Hàng xuất gia ăn các thứ rau,
phải cẩn thận gột sạch các loài trùng nhỏ.
Thời cổ chưa có nước máy, những thứ để
uống phải dùng vải lọc, suy ra cũng biết! Nhưng
hạnh kiêng giết cũng chỉ là dốc hết tâm lực
[thực hiện], dốc hết sức tránh né, nhằm trọn
hết ḷng từ bi của ta. Nếu thân tâm chẳng làm được,
chỉ đành thuận theo, như hít thở và đi lại,
không ǵ chẳng sát sanh! Lỗi do vô tâm đă nặng nề
lắm rồi; v́ thế, càng chớ nên cố t́nh giết
chóc!
* Hỏi: Trong quá tŕnh địa
cầu thành, trụ, hoại, không, trong thời kỳ hoại,
lục đạo chúng sanh đều tới nơi nào? Kinh
lại nói phía dưới Tứ Thiền Thiên đều bị
phong tai, hỏa tai, thủy tai gây hại, vậy th́ trong quá
tŕnh Không, Tứ Thiền Thiên vẫn tồn tại như
cũ, hay cũng bị bại hoại? (Trương Bảo Hành hỏi)
Đáp: Thân chúng sanh trong Tứ
Thiền có sanh tử, thế giới có thành, hoại; nhưng
thế giới hoại chẳng bắt buộc phải trải
qua ba tai nạn ấy, đến lúc, nó sẽ tự tiêu diệt,
giống như nhà bằng gỗ bị cháy. Nước, lửa,
gió cố nhiên có thể hoại [tam thiên đại thiên thế
giới]. Dẫu chẳng trải qua những tai nạn ấy,
lâu ngày, nó sẽ tự hư nát.
* Hỏi: Trong khóa tụng sáng tối,
có câu Nam Mô Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát và Nam Mô
Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ Tát, hai vị Bồ
Tát ấy là ai vậy? (Trương
Bảo Hành hỏi)
Đáp: Kẻ ít
học này chưa thấy bản khóa tụng ấy, chỉ
có thể dùng sự để luận sự mà thôi! Nhật
Quang và Nguyệt Quang là danh tự, giống như tên của
người ta là X... hay Y... Nói chung, hai vị Bồ Tát ấy
là “hiếp sĩ”[17] (Bồ
Tát trợ thủ thân thiết) của Đông Phương
Dược Sư Như Lai, giống như Tây Phương
Di Đà Như Lai có hai vị hiếp sĩ là Quán Âm và Thế
Chí.
* Hỏi: Giải hạ, kết
hạ [nghĩa là ǵ?] Bùa là [thứ thường được
sử dụng bởi] Đạo gia, nhà Phật có bùa hay chăng?
(Hoàng Bá Kính hỏi)
Đáp: Đây là quy chế Tăng
chúng tới mùa Hạ bèn an cư, bắt đầu từ ngày
Mười Sáu tháng Tư tới chín mươi ngày mới
xong. Khi bắt đầu th́ gọi là Kết, khi kết thúc
gọi là Giải. Cũng có lệ an cư bắt đầu
từ ngày Mười Sáu tháng Năm, hoặc từ đầu
tháng Tư hoặc tháng Năm, cho nên có ba thứ an cư khác
nhau. Chưa hề nghe nói tới “bùa” trong nhà Phật. Hơn
nữa, cư sĩ đă nói chính ḿnh đă thỉnh Phật
Học Từ Điển, mà vẫn không thể tra được.
Thật ra, chẳng phải vậy, những điều đă
hỏi trên đây, trong Phật Học Từ Điển đều
có ghi chép tường tận. V́ thế, tôi trả lời đơn
giản. Nếu muốn biết chi tiết, xin hăy tự tra!
* Hỏi: Tôi vừa đọc
lời tựa của bộ Trạm Sơn Văn Sao[18] thấy có đoạn:
“...Ngoài trần lao của pháp
thế gian, c̣n dính thêm trần lao trong Phật pháp”. Tôi tợ
hồ có cảm, nhưng chưa thật sự hiểu rơ
nghĩa rộng và nghĩa hẹp của “trần lao trong Phật
pháp” (Lâm Trường Thanh hỏi)
Đáp: Những thứ như Văn
Sao, phần nhiều là lời lẽ cảm kích, trọn chẳng
giống như lời giáo huấn trong kinh, chẳng cần
phải đối với câu nào cũng coi như là mực
thước về Phật lư. Huống chi lời lẽ ấy
được ghi trong lời tựa, càng chẳng cần phải
đổ công sức t́m ṭi. Ở đây, tôi bỏ qua lời
tựa, chỉ giải nghĩa bốn chữ “Phật pháp trần lao” là được
rồi! Phật pháp chỉ là Nhất Thừa, không hai, cũng
chẳng ba. Phàm những ǵ ở ngoài Nhất Thừa đều
là trần lao, đấy là nghĩa rộng. Hương, đèn,
củi, gạo, kinh sám, pháp hội, nhận lời mời đi
cúng kiếng, trai tăng, tiếp đăi họ Trương,
đưa tiễn họ Vương, không ǵ chẳng phải
là trần lao, đều có thể nói chúng là [trần lao hiểu
theo] nghĩa hẹp.
* Hỏi: Cổ nhân nói: “Vạn ác, dâm đứng đầu,
chư thiện, hiếu làm đầu”, nhưng gia cảnh
bần hàn đến nỗi phải bất hiếu, khiến
cho song thân ngậm oán về với đất, nên làm như
thế nào mới tốt? (Phan Chấn
Bang hỏi)
Đáp: Trọn hết đạo
hiếu không do giàu hay nghèo, cốt sao tận tâm tận lực
mà thôi! Cha mẹ đă khuất bóng, muốn báo đại ân,
chỉ có làm Phật sự mà thôi!
* Hỏi: Sau khi phản tỉnh,
đau đớn sửa đổi những sai trái trước
đây, hằng ngày tích lũy công đức, giúp kẻ khó
khăn, nâng đỡ người gặp nguy hiểm, đối
với người khác chẳng dối gạt, thấy điều
ác bèn bực tức, vâng làm các điều thiện v.v... có
thể bù đắp cái tội bất hiếu hay chăng? (Phan Chấn Bang hỏi)
Đáp: Phản tỉnh bèn sửa
ác, tu lành, cố nhiên là rất tốt đẹp. Nếu có
thể đem những điều lành
đă làm, đối trước Phật, hồi hướng
cho song thân, khiến cho cha mẹ siêu thăng, há chỉ tiêu
tội, mà c̣n có công đức rất to!
* Hỏi: Cổ nhân nói “thiên tử có mười bốn
hồn, những kẻ khác đều là ba hồn bảy
phách”[19],
nhưng thiên tử cũng thuộc trong phạm vi lục đạo,
sao lại có nhiều hồn hơn vậy? (Phan Chấn Bang hỏi)
Đáp: Điều
này chẳng do kinh nói, [toàn là thế tục] nói láo mà chơi,
nghe láo chơi đó thôi!
* Hỏi: Con người sống
trong dương gian, có ba vị thần ở trong cùng một
thân, một trăm năm sau, thi thần tận diệt,
nguyên thần và thức thần đă chuyển thế, sao
lại có quỷ khuấy phá? (Phan
Chấn Bang hỏi)
Đáp: Tam thần cũng là lời
lẽ bịa đặt của ngoại đạo, Phật
giáo chỉ thừa nhận vô minh là thức
thần mà thôi! Thức thần chuyển thế, vốn
chia ra lục đạo, chuyển vào cơi trời người
th́ gọi là trời người, chuyển vào quỷ, súc
sanh th́ là quỷ, súc sanh. Người đời lẫn lộn
giữa thức thần và quỷ, lầm rồi!
* Hỏi: Đức Phật nói
“tam xa” là xe
dê, xe nai và xe ngựa[20], phân biệt
ra sao? (Tiêu Thiệu Thanh hỏi)
Đáp: Dựa theo ba loại xe ấy
lớn nhỏ khác nhau, ví như Phật pháp có Đại,
Trung, Tiểu Thừa.
* Hỏi: V́ lẽ ǵ các đồng
tu ở Trung Thổ mỗi dịp mồng Một, ngày Rằm
bèn siêng tu, ăn chay khá đông? (Trạch
Mạnh Thu hỏi)
Đáp: Chắc là v́ đơn
giản, dễ nhớ.
* Hỏi: Đệ tử từ
lúc sáu tuổi, em trai ba tuổi, mẹ hai mắt bị mù, hoàn
cảnh gia đ́nh lại túng quẫn, hai anh em con đời
này tội nghiệp sâu nặng, thuở bé lắm bệnh, mẹ
đi lại bất tiện, vẫn phải v́ con giặt
giũ, sắc thuốc, chịu đựng hết mọi
nỗi gian khổ, chăm bẵm cho con thành người, vất
vả gấp trăm lần người thường, phải
tận hết hiếu đạo mới báo đáp được
muôn một, nhưng mẹ đă về Tây, mỗi khi nhớ
tới công lao chăm bẵm, nuôi dưỡng, ḷng đau như
đốt, phải làm như thế nào mới ḥng bù đắp
ân dưỡng dục? (Vương
Văn Toàn hỏi)
Đáp: Nói theo pháp thế gian, phải
ngẩng lên không thẹn với trời, cúi xuống chẳng
hổ với người, v́ đất nước tận
trung, đối với chức vụ trọn hết nghĩa,
làm một người hoàn toàn chánh trực, nhằm rạng
danh cha mẹ. Nói theo pháp xuất thế, mỗi ngày tụng
kinh, hoặc là niệm Phật, đem công đức ấy
hồi hướng cho người đă khuất, khiến
họ được siêu thăng Tịnh Độ. Nếu
có thể làm được hai chuyện ấy, sẽ thật
sự là báo ân, mà cha mẹ cũng thật sự được
lợi ích vậy!
* Hỏi: Trong thời Kháng Chiến,
em trai tôi bị quân Nhật cưỡng ép làm lao dịch cho
quân đội Nhật tại các nơi như Phi Luật Tân
v.v... cho tới khi Kháng Chiến kết thúc, các nơi đồn
đăi đồng bào Đài Loan bị tử thương ở
phương Nam rất nhiều, ḷng mẹ xót con tha thiết,
bèn bày hương án ngoài trời, lập nguyện: Nếu
em tôi được b́nh an trở về, sẽ mổ lợn,
dê, thuê đoàn hát tuồng về diễn để tạ ơn
Thiên Đế, nhưng đệ tử nay đă quy y Tam Bảo,
chẳng nỡ giết mổ sanh linh nữa, hát tuồng để
tạ ơn thần th́ chánh phủ chẳng cho phép lăng phí [như
vậy], phải làm như thế nào th́ mới có thể hoàn
thành nguyện lớn của mẹ tôi? (Vương Văn Toàn hỏi)
Đáp: V́ cầu
cho quyến thuộc của chính ḿnh đoàn viên bèn phát nguyện
sát sanh và diễn tuồng để đền ơn thần
th́ một là vi phạm chế định của Phật,
hai là trái nghịch mệnh lệnh của chánh phủ, [cả
hai điều ấy] đều có chỗ chẳng hợp
lẽ. Cổ nhân nói “mệnh lệnh
trong lúc loạn có thể chẳng tuân theo”, cư sĩ đă
quy y Tam Bảo, hăy nên tuân theo Phật pháp, đối trước
Phật sám hối, đổi chuyện ấy thành [như
thế này]: Nếu có nhiều tiền th́ cứu trợ kẻ
nghèo; nếu ít tiền th́ phóng sanh, so ra sẽ là điều
lành chân thật hơn!
* Hỏi: Trong Liễu Phàm Tứ
Huấn có nói trời, đất, quỷ thần xét soi tường
tận tội ác của con người, đối với
tội nặng sẽ giáng xuống trăm nỗi tai ương,
họa hại, điều ấy có giống với nghiệp
báo như đức Phật đă nói hay chăng? (Tiêu Kim Vinh hỏi)
Đáp: Trời, đất, quỷ
thần xét soi và nghiệp báo trọn chẳng có ǵ không thông.
Ví như trong thế gian, ṭa án, trại giam tuy khắc nghiệt,
nhưng bị tra hỏi, bị xử phạt, vẫn do chính
ḿnh tạo ra. Càng phải nên biết ṭa án, nhà tù vẫn là
do con người tạo ra; trời, đất, quỷ thần
do tâm tạo ra.
* Hỏi: Tôi nhiều lần thấy
chùa miếu ở Đài Loan thờ chung thần với Phật,
có đúng pháp hay chăng? Có trái nghịch giáo nghĩa Phật
giáo hay chăng? (Chiêm Dưỡng
hỏi)
Đáp: Nói tới tôn giáo th́ phải
có tín ngưỡng nhất định. Tạp loạn sẽ
chẳng hợp với điều ḿnh tôn sùng, sự tu học
sẽ chẳng có thành tựu. Ví như chân đạp lên
hai chiếc thuyền, thuyền tách ra, sẽ rơi xuống
nước! Có đạo nhân giữ miếu thờ thần,
về sau thờ thêm Phật, tức là dần dần giác
ngộ. Có tăng ni ở trong chùa Phật, về sau thờ
thêm thần, tức là dần dần chuyển thành mê. Nếu
muốn đúng pháp, ắt trước hết phải hiểu
lư.
* Hỏi: Người xuất
gia ở trong thần miếu, mặc y phục của người
xuất gia, cũng đă thọ giới th́ có phải là Tăng
Bảo hay không? (Chiêm Dưỡng
hỏi)
Đáp: Xuất gia, thọ giới,
tức là Tăng Bảo. Nếu trước đó đă sống
trong miếu, có thể tạm thời an thân nơi ấy.
Nếu sau khi xuất gia mới ở miếu th́ là kẻ
chẳng hiểu lư!
* Hỏi: Phật giáo đồ
có nên tôn kính thần hay không? (như Ma Tổ, Quan Đế,
Tiên Công v.v...) (Chiêm Dưỡng
hỏi)
Đáp: Chúng sanh b́nh đẳng,
đều là quyến thuộc trong quá khứ, là chư Phật
trong vị lai, hăy nên nhất loạt cung kính, đấy là
hạnh của Thường Bất Khinh Bồ Tát; nhưng
cung kính và thờ phụng rất khác biệt, vàn muôn phần
chớ nên lẫn lộn. Như đối với nguyên thủ
của nước ḿnh, chính ḿnh phải phơi gan trải
mật, ủng hộ, phụng sự; đối với nguyên
thủ của quốc gia khác, chỉ nên cung kính trọn lễ
mà thôi! Hiểu rơ điều này, tín đồ nhà Phật đối
với Phật và chư thần sẽ có chừng mực vậy!
* Hỏi: Thần cũng làm nhiều
chuyện cứu thế, có bằng với Bồ Tát hay chăng?
(Chiêm Dưỡng hỏi)
Đáp: Bồ Tát là tiếng Phạn,
dịch sang tiếng Hán là Giác. Không chỉ cứu thân mạng
của con người, mà c̣n dạy người ta minh tâm
kiến tánh, đại giác, đại ngộ, chứng quả
rốt ráo. Thần chỉ có năng lực cứu vớt
thân xác, chẳng thể độ chúng sanh giải thoát luân
hồi, cho nên chẳng thể gọi là Bồ Tát.
* Hỏi: Có những vị thần
cảm ứng c̣n linh hơn Phật, Bồ Tát, há thần
thông của Phật, Bồ Tát chẳng bằng thần ư?
Người b́nh thường tin Phật đa số là v́ lành
bệnh. Nếu niệm kinh, niệm Phật giùm họ, phần
nhiều chẳng được nhanh chóng bằng dùng chú
thuật của thần giáo! (Chiêm
Dưỡng hỏi)
Đáp: Linh ứng do tâm chí thành
cảm nên. Tâm đối với thần chuyên tinh, sẽ cảm
thần linh ứng, tâm đối với Phật chuyên tinh,
ắt cảm Phật linh ứng. Đối với hai câu
hỏi do cư sĩ đă nêu, đều là do người
ấy có duyên sâu với thần, có duyên cạn với Phật,
nên cảm ứng có chậm hay nhanh. Nay tôi nêu một tỷ
dụ, xe ba bánh ở đầu phố, cuối ngơ, vẫy
tay liền chạy tới, xe mô tô ắt phải ra giữa
đường gọi, nhưng ai nấy đều có xe.
Nếu đồng thời cùng lái đi, coi thử xe nào tới
trước?
* Hỏi: Phật pháp nói mười
phương ba đời, vậy “mười phương”
chỉ những phương nào? Lại nữa, cư sĩ
tu hành tại gia sáng tối thường nên tụng kinh nào
và thánh hiệu Phật, Bồ Tát bao nhiêu câu th́ mới hợp
với tiêu chuẩn tu hành? (Trác
cư sĩ hỏi)
Đáp: Bốn phương, bốn
góc và trên, dưới, hợp thành mười phương.
Tại gia cư sĩ, các việc bề bộn, cơ hội
tham phỏng ít oi, tu pháp môn Tịnh Độ sẽ thuận
tiện. Nên tụng kinh A Di Đà, đối với Phật
hiệu nên tŕ sáu chữ hồng danh. Tại các chỗ lưu
thông kinh Phật tại Đài Loan đều có cuốn Kỹ
Lộ Chỉ Quy (chỉ dẫn nơi ngơ rẽ), hăy nên dùng
để tham khảo.
* Hỏi: Trong [tựa đề]
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh và câu “tŕ
trung liên hoa đại như xa luân” (trong ao hoa sen to
như bánh xe), chữ Hoa (華) đọc là Hoa (花), sao không viết thẳng là chữ Hoa (花), người
chép kinh thuở ấy rốt cuộc có dụng ư ǵ? (Trác cư sĩ hỏi)
Đáp: Hoa (華) là chữ cổ, sách cổ
thường dùng; những kinh đọc trong hiện thời
đa số được dịch vào thời Tấn - Ngụy,
cho nên vẫn tuân theo cách viết ấy!
* Hỏi: Đối với câu
Nam-mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ
Tát, người niệm Phật tại nội địa
(Hoa Lục) đều đổi cách đọc chữ Bi (悲) giống
như chữ Bôi (杯), nhưng người niệm Phật ở nơi
đây (Đài Loan) đa số đọc đúng âm chữ
Bi, rốt cuộc âm đọc nào mới là chuẩn xác? (Trác cư sĩ hỏi)
Đáp: Chữ này chẳng cần
phải câu nệ, đọc theo giọng từng vùng đều
được!
* Hỏi: Người đời
vào sinh nhật, dùng món chay cúng Phật là được rồi,
nhưng có người nói: Nhất định phải thỉnh
ḥa thượng xuất gia đến tụng kinh, lạy ông
trời, như vậy có đúng hay không? (Chiêm Kim Chi hỏi)
Đáp: Sanh là một trong mười
hai nhân duyên lưu chuyển, thuộc vào hai Đế Khổ
và Tập, vốn chẳng đáng vui, nhưng từ đời
Đường trở đi, mới lưu hành [tập quán
ăn mừng sinh nhật], trở thành phong khí thịnh hành.
Tuân theo thói tục mừng thọ, cúng Phật là tốt đẹp,
c̣n lạy Ngọc Hoàng chớ nên làm! Đă chẳng phải
là chế định của đức Phật, lại chẳng
phải là cổ lễ, chẳng cần phải nghe theo,
tin tưởng lời lẽ của người đời,
thêm một chuyện chẳng bằng bớt đi một
chuyện!
* Hỏi: Người xuất
gia có bệnh cũng cầu Ngọc Hoàng, cầu trường
thọ, cầu b́nh an, chẳng biết có hợp với Phật
pháp hay chăng? (Chiêm Kim Chi hỏi)
Đáp: Kẻ ấy chắc chắn
chẳng phải là người xuất gia chân chánh, thật
sự tu tŕ, chẳng biết thọ mạng và b́nh an không
do trời nắm quyền. Dẫu có nói là sám hối, kỳ
đảo, đệ tử Phật cũng nên đối
trước Phật để thực hiện.
*
Hỏi: Xin hỏi danh xưng của chư thiên? Thuộc về
cơi nào? Tuổi thọ ra sao? Tương ứng với bao
nhiêu năm trong tuổi thọ con người? Vua của
chư thiên được xưng hô ra sao? (Diệu Nguyên hỏi)
Đáp: Nói đại lược,
có hai mươi tám tầng trời, sáu tầng dưới
cùng gọi là Dục Giới, mười tám tầng giữa
gọi là Sắc Giới, bốn tầng trên gọi là Vô Sắc
Giới. Mỗi tầng đều có tên riêng, tầng có thọ
mạng thấp nhất là năm trăm tuổi, theo cách tính
năm mươi năm trong nhân gian là một ngày một đêm
trên cơi trời, lên mỗi tầng cao hơn cứ tính theo cách
ấy. Tên các cơi trời có thể thấy trong khắp các kinh.
Muốn [tra cứu] đơn giản, hăy kiểm xem trong một
cuốn kinh A Di Đà có kèm theo ghi chú, tra trong phần [giảng
về] Tự phần cũng sẽ tự hiểu rơ.
*
Hỏi: Vua trời của Thiên Chúa Giáo, Cơ Đốc Giáo,
Hồi Giáo và các ngoại đạo v.v... thuộc về cơi
trời nào? (Diệu Nguyên hỏi)
Đáp: Hai mươi tám tầng
trời chia thành tam giới, trong [phần trả lời
cho] câu hỏi thứ nhất tôi đă nói rơ. Xét theo Phật
lư để nói, có thể tu mười thứ thiện
nghiệp, sẽ thăng lên Dục Giới Thiên, có công phu Thiền
Định mới sanh vào hai cơi trời Sắc Giới và Vô
Sắc Giới. Kẻ hèn này chẳng biết công hạnh đă
tu của các tôn giáo và ngoại đạo ấy, nên chẳng
có cách nào nói được sự thăng giáng của họ.
*
Hỏi: Địa cầu có tuổi thọ là bao nhiêu? Nay đang
nhằm thời kỳ nào? Sau này, c̣n thời kỳ nào nữa?
Chừng bao nhiêu năm? (Diệu
Nguyên hỏi)
Đáp:
Tôi từng nghe các nhà khoa học bàn định, địa
cầu là vật được mặt trời phun ra, tuổi
thọ của mặt trời đến nay đă có lịch
sử sáu mươi ức năm. Dựa theo điều này
để luận định, tuổi thọ của địa
cầu phải ít hơn mặt trời. Hiện thời nhằm
thời kỳ Trụ, trong tương lai sẽ là thời
kỳ Hoại. Tôi chẳng hiểu ư câu cuối, xin thứ
lỗi chẳng thể kính đáp. Hơn nữa, chuyên mục
này được lập ra dành cho hàng sơ cơ chưa
liễu giải Phật lư, câu hỏi ấy đă vượt
ra ngoài phạm vi [của chuyên mục này], theo lệ chẳng
đáp, chúng tôi tạm chấp nhận một lần này!
* Hỏi: Địa cầu
vào thuở đầu có thời đại Băng Hà, có thời
đại Khủng Long, đấy là do nguyên nhân nào? (Có nhiều
người cho rằng trời tạo ra con người,
phải trải qua mấy lần thất bại là lẽ đương
nhiên. Xin hỏi lăo cư sĩ, nguyên nhân căn bản có phải
là như vậy hay không). Nói đến địa ngục
phải chăng là nói đến trạng thái trong thời kỳ
ấy (Diệu Nguyên hỏi)
Đáp: Hai chữ “nguyên
nhân” là đối với kết quả, truy t́m đối
tượng, trong ấy bao gồm điều đă được
nhắc tới “thất bại là chuyện phải có, là nguyên
nhân căn bản”. Đă nói là thất bại, làm sao có kết
quả thành tựu? Có nhiều người có nhận thức
rất khác với kẻ hèn này, giải thích ư nghĩa của
từ ngữ c̣n khác nhau, học lư sẽ không có cách nào nghiên
cứu, thảo luận! Nếu hỏi về địa
ngục th́ xin tra trong kinh Phật (kinh Địa Tạng và
Lương Hoàng Sám đều có ghi chép), chớ nên sờ soạng
trong tối tăm. Tôi chỉ dùng lời nói của Khổng
Tử để kính khuyên. Khổng Tử là thánh nhân mà c̣n nói:
“Ngô thường chung nhật bất
thực, chung dạ bất tẩm, dĩ tư, vô ích, bất
như học dă” (Ta thường suốt ngày chẳng ăn,
suốt đêm chẳng ngủ để suy nghĩ, vô ích,
chẳng bằng học). Bàn luận lung tung với mọi
người chẳng bằng đọc sách!
* Hỏi: Ngoại trừ
Tây Phương Cực Lạc thế giới, mười
phương vô lượng cơi Phật cũng giống
như Sa Bà chia thành tam giới ư? (Diệu
Nguyên hỏi)
Đáp: Một
đại thiên thế giới có tam giới, thế giới
vô lượng vô biên, tam giới cũng vô lượng vô
biên.
* Hỏi: Có người
cho rằng trên địa cầu c̣n có sanh mạng th́ chẳng
về Tây Phương Tịnh Độ cũng chẳng
sao! Có người cho rằng pháp môn Tịnh Độ là một
loại chánh sách dành cho dân ngu, v́ ngu phu ngu phụ có thể
tu pháp này. Có người nói tu hành tại Sa Bà là được
rồi, chẳng có nơi nào là Tây Phương Tịnh
Độ, v́ Phật, Tổ cũng nói: “Cơi Phật cũng
là huyễn, chẳng thật”, cho nên chẳng cần văng sanh
Tây Phương, văng sanh cơi Phật trong tự tâm là được
rồi; bởi “tâm tịnh, cơi Phật sẽ tịnh”. Những
ư kiến đă ghi như trên đây có phải là đúng đắn
vẹn mười hay chăng? Nếu không đúng, xin lại
giải thích một phen! (Diệu Nguyên hỏi)
Đáp: Có
thể chia thành ba đoạn để đáp.
1. Địa ngục
cũng có sanh mạng cực dài, bằng ḷng ở măi trong ấy
th́ cũng chẳng có ǵ là không được!
2. Tam Tạng kinh điển,
đâu đâu cũng chỉ về Tịnh Độ, tôi không
nghĩ toàn là chánh sách ngu dân, nhưng tôi chẳng biết cụ
già Thích Ca làm cho chúng sanh ngu mê để mong cầu điều
ǵ? Cổ nhân tu Tịnh Độ có Văn Thù, Phổ Hiền,
Mă Minh, Long Thọ, chư đại Bồ Tát. Trung Quốc
có Huệ Viễn, Trí Giả, Vĩnh Minh, Liên Tŕ, chư tổ.
Lịch đại danh thần, danh nho, có Bạch Cư Dị,
Tô Đông Pha, Văn Ngạn Bác, Lữ Mông Chánh, Viên Hoằng
Đạo, Bành Xích Mộc (Bành Tế Thanh), đâu chỉ vài
ngàn người! Nếu bảo những vị ấy là ngu
phu ngu phụ th́ muốn chửi ai là ngu phu ngu phụ, chắc
chắn họ là bậc đại thánh nhân trí huệ vô
thượng! Đáng tiếc là chúng sanh phước bạc,
chưa hề thân cận họ.
3. Tự tâm là ǵ, quả
thật kẻ hèn này vẫn chưa biết, vẫn chưa
hiểu, chẳng dám nói là đúng hay sai. Chẳng thà xin [ông
hăy] hỏi vị thiện tri thức đă thốt ra [những
lời ấy] dạy rơ [tự tâm] là vuông, tṛn, dài, ngắn,
xanh, hồng, đỏ, trắng [như thế nào] để
mọi người đại triệt, đại ngộ!
* Hỏi:
Tệ nhân biết chữ Hán sơ sài; do vậy, đối
với khóa tụng niệm sáng tối, khó tránh khỏi đọc
sai, hoặc có chỗ phát âm chẳng chuẩn. Những điều
này có chỗ thiếu lễ kính, hoặc mắc tội lỗi
hay chăng? (Lư Mộc Tuyền
hỏi)
Đáp: Hăy
nên cầu người đă từng học Phật ở
nơi ấy dạy truyền khẩu cho ông, sẽ ổn
thỏa!
* Hỏi:
Trong kinh, những chữ lạ, hiếm thấy rất nhiều,
trong từ điển thông thường cũng khó t́m thấy,
chẳng biết có từ điển về cách phát âm trong
kinh sách để tham chiếu hay không? (Lư Mộc Tuyền hỏi)
Đáp:
Chữ trong kinh th́ c̣n có thể tra trong tự điển được,
chứ chữ dùng trong thần chú phần nhiều chẳng
ghi trong ấy. Nếu nói đến chuyện học chú, bất
luận có nhận biết mặt chữ hay không, theo lệ,
nên cầu thầy Mật Tông truyền dạy!
* Hỏi:
Trong cuốn Phật Môn Tất Bị Khóa Tụng có hai đoạn
kinh tụng niệm sáng tối, chẳng hạn như khóa
tụng buổi sáng từ trang hai đến trang ba mươi
lăm, các trang đều phải niệm hết, hoặc
là tụng một phần cũng được? Nếu tụng
một phần cũng được, trong khóa tụng sáng
tối nên dùng phần nào? (Lư Mộc
Tuyền hỏi)
Đáp: Sách
ấy vốn là khoa mục phải đọc của các khóa
tụng trong chùa chiền, người tại gia chẳng cần
phải phiền phức như thế, có thể chọn đọc
những phần trọng yếu. Nếu chẳng thể tự
quyết định, nay tôi sẽ gởi riêng cho ông một
cuốn sách nhỏ có hướng dẫn cách tụng niệm
đơn giản, hăy chiếu theo đó để làm th́ sẽ
ổn thỏa.
* Hỏi:
Danh mục và chủng loại kinh sách rất nhiều, mỗi
ngày luân lưu tụng niệm có được hay chăng?
(Lư Mộc Tuyền hỏi)
Đáp: Nhật
tụng chuyên chọn lấy một, hai thứ để làm
công khóa tu tŕ nhất định, dùng nhiều thứ sẽ
rối loạn. Nghiên cứu th́ chẳng hạn định
số lượng, nhưng vẫn phải lấy “có thể
tiếp nhận hay không” làm chuẩn.
* Hỏi:
Tệ nhân thân thể chẳng khỏe, bác sĩ chẩn đoán
“sáng dậy phải ăn một cái trứng gà”; nếu ăn
trứng th́ có phải là phạm giới hay chăng? (Lư Mộc Tuyền hỏi)
Đáp:
Trứng có sanh mạng, ăn vào sẽ là sát sanh, nhưng mỗi
ngày phải ăn, tức là giết nhiều lắm! Thân thể
chẳng khỏe sẽ có loại thuốc chánh đáng. Nói đến
thuốc bổ th́ có nhiều loại thuốc vitamin dạng
viên, có thể hỏi bác sĩ chẩn đoán để châm
chước sử dụng. Lại nữa, dược phẩm
Trung, Tây Y chế thành thuốc bổ loại viên há phải
chỉ có mấy trăm loại? Cần ǵ cứ nhất
định phải ăn trứng gà?
* Hỏi:
Sát sanh để tế thần có tội chướng hay
không? Chẳng do chính ḿnh ra tay giết th́ như thế nào? (Lư Mộc Tuyền hỏi)
Đáp: Sát
sanh là ác nghiệp, lẽ đâu vô tội? Tế thần nhằm
cầu phước, nguyên nhân đă là ác, lẽ nào được
phước? Hơn nữa, vị thần thông minh, chánh trực,
ắt chẳng hưởng [đồ huyết nhục hiến
tế ấy]. Nếu thần hưởng, sẽ chia sẻ
tội với kẻ giết. Ngay cả trong trường
hợp chẳng do chính tay ta giết, nghi là vô tội, xin hỏi
vụ án thê thảm Trương Xương Niên được
báo chí đăng tải gần đây, Uông Chấn trọn
chẳng ra tay, nhưng họ Uông có tội hay vô tội vậy?
* Hỏi:
Trong sách Kỹ Lộ Chỉ Quy, trang hai mươi, trong điều
thứ nhất có những câu như “nói tới cung kính Bồ
Tát th́ Bồ Tát tâm rất từ bi, chuyên giúp Phật độ
thoát chúng sanh”, và trang bốn mươi tám, điều thứ
nhất là “đâu đâu cũng có chuyện cầu cơ,
phù loan, kẻ giáng đàn chẳng phải là tiên th́ cũng
là Phật, xét coi giáo huấn của bọn họ có đáng
tin cậy hay chăng?” Lời đáp là: “Các đàn cầu cơ
ở các nơi quá nửa là do loài quỷ có linh khí, giả
mạo danh hiệu tiên, Phật để giáng đàn” v.v...
Nói như vậy th́ ngoài Phật, Bồ Tát trong tự viện
đáng nên cung kính ra, tượng Quán Thế Âm Bồ Tát bằng
gỗ khắc được người ta thờ phụng,
lễ kính cũng có thể giáng đàn chỉ dạy, những
vị Bồ Tát như vậy có nên cung kính hay chăng? Đấy
chẳng phải là loài quỷ có linh khí mạo nhận danh
nghĩa Đại Sĩ ư? (Dương
Văn Ngọc hỏi)
Đáp: Cúng
dường, cung kính là một chuyện; cầu cơ, phù
loan là một chuyện khác, chớ nên nói nhập nhằng!
Thờ phụng, cung kính, trọn chẳng phân biệt là chùa
miếu hay gia đ́nh, đều có công đức, hoặc
ngấm ngầm, hoặc rơ rệt, đều có thể cảm
ứng. Đây là lẽ thường về mặt Sự và
Lư. Cầu cơ, phù loan, xét về h́nh tích giống như đồng
cốt, bất luận trong chùa chiền hay trong gia đ́nh đều
do linh quỷ mạo danh, thuộc loại mê tín, làm càn, nên người
trí chẳng chấp nhận!
* Hỏi:
Do người học thường đến chùa chiền
lễ Phật, xem Tứ Thập Nhị Phẩm Nhân Quả
Kinh khuyên tu pháp môn Niệm Phật. Trong những sách Phật
khác, chẳng thấy nói đến sự tích của Quan Thánh
Đế Quân, cớ sao chùa chiền thờ tượng gỗ
của Quan Thánh Đế Quân, vị này chẳng phải là
Phật, mà cũng chẳng phải là Bồ Tát, cũng chẳng
phải là thần kỳ, v́ sao phải thờ ông ta? (Dương Văn Ngọc hỏi)
Đáp: Tứ
Thập Nhị Phẩm Nhân Quả Kinh là tiểu thuyết,
tuy nội dung chẳng báng Phật, nhưng nói chung toàn là những
lời lẽ thiếu chứng cớ. Kể từ sau thời
Tùy - Đường, Quan Thánh Đế Quân đă được
thờ như một vị thần Già Lam hộ pháp truyền
măi tới nay, giống như thờ Vi Đà Bồ Tát vậy.
* Hỏi:
Trước đây, do nhà chùa tặng cho kẻ học đạo
một trang Phương Pháp Niệm Phật Tại Gia và
[những điều được nói trong] trang ba
mươi bảy và ba mươi tám sách Kỹ Lộ Chỉ
Quy phù hợp với Phương Pháp Niệm Phật Tại
Gia, nhưng ngoài tâm niệm Phật hiệu như vậy
ra, có c̣n phải học Thiền Định hay không? Nếu
là tại gia niệm Phật, ngoài các giới “giết, trộm,
dâm, tham, sân, si” phải giữ ra, c̣n phải giữ giới
nào nữa? (Dương Văn Ngọc
hỏi)
Đáp: Niệm
Phật thuộc về Tịnh Tông; nếu có thể trọn
đủ ba món Tín, Nguyện, Hạnh, chắc chắn có thành
tựu, không cần phải học Thiền. Bởi lẽ,
Thiền mà chẳng gặp minh sư, ṃ mẫm trong tăm
tối, tốn sức mà chẳng đạt được
ǵ. Nếu tŕ Phật hiệu đến nhất tâm bất
loạn, đó là Thiền Định. Tự giữ giới
nơi tam thân nghiệp và tam ư nghiệp cố nhiên có công
đức, nói chung, chẳng bằng cầu thầy chính thức
trao truyền giới pháp sẽ hợp lẽ. Hơn nữa,
c̣n thật sự hiểu giới tướng.
* Hỏi:
Dựa theo tính toán của cư sĩ Giang Vị Nông trong
Kim Cang Kinh Giảng Nghĩa, số năm trong một kiếp
là mười ba ức bốn ngàn mấy vạn năm. Lại
nữa, trong Hiền Kiếp sẽ có một ngàn vị Phật
xuất thế, nhưng chỉ có thời gian cách biệt
giữa hai vị Phật Thích Ca và Di Lặc lâu tới năm
mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm. Sự sai khác
như vậy khiến cho kẻ khác khá khó hiểu! (Hồ Chánh Lâm hỏi)
Đáp: Kiếp
chia thành ba thứ tiểu, trung, và đại; cách tính toán
trong các kinh luận cũng không nhất trí. Theo Trí Độ
Luận, cứ một chu kỳ tăng giảm (tức là
tuổi thọ con người từ mười tuổi,
mỗi một trăm năm tăng thêm một tuổi, cho
tới khi thọ tám vạn bốn ngàn tuổi là cực hạn;
lại giảm như thế đến khi chỉ c̣n mười
tuổi bèn không giảm nữa) là một tiểu kiếp,
hai mươi tiểu kiếp là một trung kiếp, bốn
trung kiếp là một đại kiếp. Cách tính của
Giang cư sĩ là cách tính theo tiểu kiếp. Lại nữa,
[thời gian] ngài Di Lặc cách đức Thích Ca, tuy nói là hơn
năm mươi sáu ức năm, nhưng trọn chẳng
phải là thời gian cách biệt giữa vị Phật xuất
thế trước và vị Phật xuất thế sau luôn
luôn là như vậy!
* Hỏi:
Đối với công đức thọ tŕ, đọc tụng
kinh Kim Cang, trong kinh ấy, đức Thế Tôn thường
nói: “Ngă ư Nhiên Đăng Phật
tiền đắc trị... vô không quá giả” (ta ở
trước đức Phật Nhiên Đăng được
gặp gỡ... chẳng để luống uổng). Công
đức ấy chẳng bằng một phần ngàn vạn
ức công đức tŕ tụng, vậy th́ có phải là chư
Phật trước đức Thế Tôn [Thích Ca Mâu Ni Phật]
chẳng nói kinh này hay không? Nếu chẳng vậy, đức
Thế Tôn sẽ khỏi phải khổ sở tu nhiều
kiếp? (Hồ Chánh Lâm hỏi)
Đáp: Tuy
các đức Phật trước đó có kinh điển giống
như vậy, nhưng c̣n khác biệt ở chỗ có gặp
gỡ hay không, đấy là lư do thứ nhất. Hiện thời,
kinh Kim Cang há chẳng phải là phổ biến ư? Nhưng
kẻ chẳng gặp, chẳng nghe, làm sao tính nổi số
lượng? Tuy tụng tŕ có nhiều công đức, vẫn
là thiên trọng tu phước; nếu nói đến chuyện
thành Phật th́ vẫn phải nên tu Huệ, đoạn Hoặc;
đấy là lư do thứ hai. Thử xem trong hiện thời
chẳng thiếu người tụng kinh Kim Cang, nhưng
ngay lập tức thành Phật, rốt cuộc được
mấy ai?
* Hỏi:
Thành Phật ắt phải tự giác, giác tha, giác hành viên
măn, loại công phu ấy thuần túy thuộc về nội
chứng; nhưng xét ra, tŕnh độ giác ngộ của Bồ
Tát so với sự giác ngộ của Phật th́ một đằng
cạn, một đằng sâu, thế mà Quán Âm đă được
xưng tụng là “cổ Phật
hóa hiện”, cớ sao phải nhất định lui xuống
địa vị Bồ Tát, măi cho đến tương
lai sẽ kế tục địa vị A Di Đà Phật?
Học nhân ngu si, quả thật khó hiểu được
ư này! (Hồ Chánh Lâm hỏi)
Đáp: Đấy
đều là phương tiện thiện xảo, là tướng
thị hiện độ sanh. Như đức Thế Tôn vốn
đă thành Phật từ rất lâu, nhưng vẫn đến
cơi này, hiện tám tướng thành đạo. Hăy nên biết
những điều ấy đều là dùng thân làm gương,
nhằm dẫn dụ con người tấn tu. Nếu hiểu
rơ Quán Âm Như Lai không chỉ thị hiện làm Bồ Tát, mà
c̣n thị hiện làm Thanh Văn, Duyên Giác, cho đến trời,
rồng, tám bộ v.v... ba mươi hai tướng, sẽ
chẳng nghi ngờ chuyện này nữa!
* Hỏi:
Lúc công việc rảnh rỗi, bèn hoằng dương Phật
pháp, các bạn đồng nghiệp phần nhiều chẳng
tin, nhưng cũng chẳng báng bổ. Có phải là kẻ
hoằng dương đức hạnh lẫn học vấn
cạn mỏng, chẳng có sức chiêu cảm, hay là do cái
nhân của các đồng nghiệp với Phật chưa
chín muồi, mong bậc đại đức ban cho phương
thức tốt đẹp để lợi khắp những
kẻ chấp trước! (Nhan
Điền hỏi)
Đáp: Ứng
cơ thuyết giáo (giảng giải giáo pháp phù hợp căn
cơ của người nghe), vốn chẳng phải là chuyện
dễ. Bất luận đối phương tiếp nhận
hay không, đối với họ, đă gieo một hạt
giống; đối với ta, tăng thêm một phần
công đức, đôi bên đều được lợi
ích. Đă chịu phát đại tâm ấy, đó là Bồ
Tát, hăy nên tận hết sức ḿnh, học rộng pháp môn,
khuyến hóa người khác, chẳng chán, chẳng nhọc,
tŕ lâu ngày, thường hằng, sẽ tự đạt được
hiệu quả kỳ diệu!
* Hỏi:
Đức Phật dạy chỗ nào cũng đều có
thể là đạo tràng. Tôi hễ thuận tiện bèn nói
nhân quả, có kẻ nghe xong bèn biện luận, bài bác: “Thuyết
ấy chẳng hiện thực, do cổ nhân đặt ra để
khuyên đời”, nên nêu chứng cứ nào để phá tâm
mê ấy? Xin hăy trả lời! (Nhan
Điền hỏi)
Đáp: Nêu
chứng cứ bằng chuyện xưa, không ǵ chẳng dựa
theo kinh sách, nhưng đă không tin kinh sách, có thể tin những
chuyện đăng tải trên báo chí hiện thời hay chăng?
Khắp nơi đều là nhân quả, tiếc là chẳng
giác ngộ. Không tin tưởng sách cổ, báo chí đăng
tải cũng chẳng ngộ, chỉ đành đợi tới
khi đích thân [kẻ ấy] trải qua cảnh ấy, may
ra sẽ tin tưởng! Tuy thân đă từng trải mà vẫn
chẳng tin, dẫu Phật xuất thế, sợ cũng
chẳng thể cứu kẻ ấy được! Kẻ
hèn này càng không thể làm ǵ được!
* Hỏi:
Trong các đồng nghiệp, có một kẻ tàn phế nửa
người, lại ngược ngạo bảo mọi người
đừng tin Phật pháp, công khai đối trước
hàng Cận Sự Nam chánh tín hung hăng chửi bới Phật,
Bồ Tát ầm ĩ, khiến người nghe rởn da gà,
có nên tranh luận với người ấy, hay là xót thương
gă đó nghiệp chướng sâu nặng, để mặc
hắn sanh diệt theo nghiệp lực, chẳng đôi co
với hắn? (Nhan Điền
hỏi)
Đáp: Đừng
bận tâm đến hắn để đôi bên khỏi
chuốc lấy phiền năo, ai đi đường nấy,
mỗi người có nhân quả riêng.
* Hỏi:
Đệ tử Phật vào pḥng đỡ đẻ của
vợ, rồi vào chùa Phật thờ Tam Bảo để lễ
Phật, chẳng biết có phạm lỗi hay không? Nếu
theo luận lư Đạo Giáo th́ vào pḥng sanh là nơi ô uế,
chẳng thanh tịnh, đời sau sẽ mắc quả báo
do tội chướng! (Lư Thanh
Thủy hỏi)
Đáp: Sau
khi vào pḥng sanh, lại muốn về chùa lễ Phật, có
thể tắm gội, hễ tâm chân thành, thân sẽ trong sạch.
* Hỏi:
Nếu là cư sĩ, do hoàn cảnh gia đ́nh, chưa quy y
Phật môn, nhưng chiếu theo giới luật nhà Phật
để tu tŕ, không biết công đức có giống như
đă quy y hay chăng? (Lư Thanh
Thủy hỏi)
Đáp: Đừng
nên lẫn lộn giữa quy y và tu tŕ; nhưng đă tin thờ
Phật, hăy nên quy y th́ mới hợp Lư và Sự. Chỉ tu
tŕ, chẳng quy y, tuy có công đức, nhưng thiếu sư
thừa. Nếu tin thờ mà thiếu thành kính, công đức
sẽ ít. Nếu quy y mà chẳng tu tŕ, hoặc giải
đăi chẳng tiến bộ, cũng chẳng được
nhiều công đức.
* Hỏi:
Tại gia cư sĩ lúc mới học, nghiên cứu nông cạn,
mỗi ngày tụng kinh, trong một ngàn chữ, ước
chừng có một chữ đọc sai, sau đấy lại
tụng đúng, chưa biết có tội lỗi hay chăng?
(Lư Thanh Thủy hỏi)
Đáp: Lầm
mà biết sửa, chẳng có ǵ tốt lành hơn!
* Hỏi:
Sau khi hết thảy chúng sanh cùng lên Liên Bang, họ có tâm tấn
tu vô thượng, tiếp tục tu tŕ hay không? Trừ lúc
tu tŕ ra, sống lâu mà trọn chẳng tịch mịch, chán
ngán, buồn bă ư? Sống đă lâu bèn lại trở vào lục
đạo hay chăng? Nếu là có, hết thảy hữu
t́nh sẽ đều là “trí nhập
ngu, ngu nhập trí” lưu chuyển chẳng có kỳ hạn,
như vậy th́ đối với hết thảy chúng sanh
và chính ḿnh, đức Phật có ích lợi chi đâu? Thành Phật
có tác dụng ǵ? Nếu nỗ lực tu hành, đến cuối
cùng đạt được kết quả ǵ? (Mạc Ngă Hư hỏi)
Đáp: Chán
tịch mịch là vọng t́nh lưu chuyển, tán loạn,
qua lại trong sáu đường, bị nghiệp lực lôi
dẫn luân chuyển. Tu tŕ là tu đến mức “nghiệp
tận, t́nh không”. Đến cảnh giới ấy, Tịch
và Chiếu cùng viên dung, đắc đại tự tại,
đấy là kết quả chân thật. Nghiệp đă tận,
làm sao có thể vào lục đạo (nương theo bổn
nguyện [trở vào lục đạo] độ chúng sanh
chẳng thuộc lệ ấy)? T́nh thức đă rỗng
không, làm sao có thể chán nhàm tịch mịch được?
Chỉ v́ tu đến mức “nghiệp tận, t́nh không”
trong cơi này khá khó, sanh về Liên Bang dễ tu hơn. Lư khó dễ
đă được chép tường tận trong các kinh luận
Tịnh Độ, ở đây, chẳng thể do mấy
lời bèn có thể nói trọn hết được!
* Hỏi:
Xưa kia, tôi đă nghe “nhân quả
ba đời chẳng sai sót mảy may” tức là nói sau mấy
đời rồi mới thọ báo, hoặc sau mấy kiếp
rồi mới thọ báo, dám hỏi thế gian này có khả
năng vĩnh viễn an ninh, ḥa b́nh hay không? Đợi tới
khi Di Lặc tôn giả giáng sanh, trong lúc ấy, có chúng sanh thọ
ác báo hay không? Chiến tranh, án mạng có phát sanh hay không? Nếu
không, th́ do nguyên nhân nào? (Mạc
Ngă Hư hỏi)
Đáp: Đối
với câu hỏi này, nếu nói nông cạn sẽ chẳng viên
măn, nói sâu sẽ khó hiểu, ở đây tôi chọn cách nói
chiết trung. Chỉ có Tịnh Độ của Phật là
vĩnh viễn an ninh. Cơi này có tên là Sa Bà, do cộng nghiệp
của chúng sanh ác tâm hiển hiện, vốn vô thường,
ắt phải trải qua các giai đoạn thành, trụ,
hoại, không. Trên thế giới chẳng thể vĩnh viễn
thường hằng, lẽ đâu có an ninh vĩnh viễn?
Dẫu cho tới khi ngài Di Lặc giáng sanh, bất quá là hiện
tượng tốt đẹp hơn thời Mạt Pháp chút
ít mà thôi. Ngũ Nghịch, Thập Ác vẫn phát sanh y như
cũ, thành, trụ, hoại, không vẫn lưu chuyển như
cũ. Nếu thiên hạ thái b́nh, Phật Di Lặc tội
ǵ phải đến cơi này!
* Hỏi:
Nghe nói có Lăo Mẫu Giáo[21], c̣n gọi là Di Lặc Phật Giáo, đồ
chúng miệng chỉ niệm “Lăo
Mẫu từ bi, Lăo Mẫu từ bi”. Theo như họ nói,
[tu hành theo đạo của họ mới] có quả vị,
chẳng coi chư Phật, Bồ Tát trong Thích Giáo ra ǵ, đó
là do duyên cớ nào? Xin chỉ dạy! (Nhan Điền hỏi)
Đáp: Kẻ
nghiệp chướng sâu, tâm tánh cũng rất mê hoặc.
Rất đỗi mê hoặc nên thị phi điên đảo,
kẻ ấy tự nhiên dễ nhập tà ma. Nghiệp nặng,
chướng sâu chính là nhân; mê hoặc, điên đảo chính
là duyên.
* Hỏi:
Những kẻ truyền đạo của bọn họ
(Lăo Mẫu Giáo) đều tự xưng là “tiến nhân” (người giới thiệu, tiến
cử), nắm giữ cơ cấu chung trong đạo. Họ
cũng nói: Thích Giáo là Hồng Kỳ, c̣n bọn họ là Bạch
Kỳ, chỗ nào cũng có giáo đồ. Cớ sao hội
Phật giáo nơi đó chẳng làm cho họ quay về nẻo
chánh, cứ để cho họ xằng bậy tự tôn, tự
đại? (Nhan Điền hỏi)
Đáp: Phật
giáo công khai giảng diễn, chỉ sợ chúng sanh chẳng
phân tà, chánh, chẳng qua kẻ mê hoặc sâu, giống hệt
như kẻ bệnh tật đă lậm đến cao
hoang, hết thuốc chữa đó thôi! Chẳng phải là
hội Phật giáo không khuyên dạy, chỉ là không có cách nào
khởi tử hồi sanh!
* Hỏi:
Nghe nói Chương Gia đại sư đă viên tịch là
bậc đại đức Thiền Tông, tệ nhân bái
Chương Gia đại sư làm thầy (tập thể
bái sư). Nếu xét theo cá tánh của tệ nhân mà nói, tự
cảm thấy nên tu Thiền Tông; nếu xét theo hoàn cảnh
để nói, nên tu Tịnh Độ Tông; chẳng biết
tôi nên làm như thế nào mới thỏa đáng? (Trương Duy Minh hỏi)
Đáp: Chương
Gia đại sư thật ra là Mật Tông. Nên biết quy
y là quy y Tăng đoàn. Trong Tăng đoàn ấy, các pháp đều
có đủ. Nếu luận về cách tu, pháp nào phù hợp
căn khí cá nhân cũng đều tốt đẹp. Cư
sĩ đă do hoàn cảnh đáng nên tu Tịnh Độ th́
hăy nên tu Tịnh Độ.
* Hỏi:
Bí mật của Thiền Tông là chẳng truyền cho người
khác, tệ nhân từng bái bậc đại đức trong
Thiền Tông là Chương Gia đại sư làm thầy,
có thể do điều kiện ấy mà hỏi đạo
với bậc đại đức trong Thiền Tông hay không?
(Trương Duy Minh hỏi)
Đáp: Thiền
Tông trọn không có thuyết “bí
mật chẳng truyền”, chớ hiểu lầm! Do tâm
tánh cùng một lối, hoàn toàn do tự ngộ, chẳng thể
dùng lời lẽ để truyền dạy được! Đó gọi là “ngôn ngữ đạo đoạn”
(dứt bặt ngôn ngữ). Cư sĩ toan hướng về
bậc đại đức Thiền Tông để hỏi
đạo, chưa hề chẳng phải là điều tốt
đẹp, nhưng Thiền đức là người như
thế nào, trước hết phải nhận biết!
* Hỏi:
Nếu tu Tịnh Độ Tông, mà nghiên cứu thêm Thiền
Tông để hiểu rơ lư, có phải là sẽ tinh tấn nhanh
hơn, lại c̣n khéo léo ở chỗ “nhất cử lưỡng tiện” hay chăng? (Trương Duy Minh hỏi)
Đáp: Bất
luận tu Thiền hay tu Tịnh, đều phải hiểu
lư. Nếu có thể thông hiểu sâu xa một pháp, sẽ tự
hiểu những pháp khác. Trộm bàn: Nay nhằm thời kỳ
Mạt Pháp, đang lúc căn tánh con người tŕ độn,
kém cỏi, tinh thông một thứ đă khó lắm, kiêm tu sợ
rằng càng khó hơn nữa!
* Hỏi:
Trong Bất Khả Tư Nghị Công Đức Lục có
ba đoạn nói về tŕnh tự, cách thức tu Tịnh
Độ; có phải là chọn ra bất cứ cách nào thích
hợp hoàn cảnh của chính ḿnh là được hay không?
Nếu sau khi đă làm xong cách thức tu tŕ theo thứ tự,
có thể tiếp tục tụng kinh điển hay không?
Kinh điển nào so ra thích đáng, xin hăy nêu ra! (Trương Duy Minh hỏi)
Đáp: Kinh
có nghiên cứu và đọc tụng sai khác, có thể tham khảo
nơi trang sáu mươi mốt, trong phần trả lời
câu hỏi của cư sĩ Thẩm Chung Ngũ, sẽ có
cống hiến. Cư sĩ đă tính tu Tịnh, trước
hết hăy nên đọc kinh điển Tịnh Độ.
Nếu chẳng thông hiểu pháp môn của chính ḿnh, mà đă
xem rộng các môn khác, sợ môn nào cũng đều chẳng
thành!
* Hỏi:
Có nên tự soạn bài văn hồi hướng phát nguyện
hay không? V́ bài do tôi tự soạn thuần xuất phát từ
tự tâm, cũng giống như lập thệ, giống
như là một bài tự truyện cá nhân, chẳng thể
nói dối được! (Trương
Duy Minh hỏi)
Đáp: Người
sơ cơ chưa hiểu rơ Phật lư, sợ phát nguyện
chẳng chánh đáng, hăy nên dựa theo [những bài văn hồi
hướng phát nguyện] do cổ đức đă định
sẽ tốt hơn. Sau này, [khi đă có] chánh tri chánh kiến
th́ cũng có thể tự soạn văn phát nguyện.
* Hỏi:
Tệ nhân rất muốn kiêng dứt đồ mặn, nhưng
thân thể lắm bệnh, suy nhược tới cùng cực
do thiếu dinh dưỡng. Nếu từ bỏ những
thứ như thịt, cá v.v... thân thể càng thêm suy nhược
hơn, trong t́nh h́nh này, có nên giữ tâm niệm tuy ăn mà
chẳng v́ tham vị ngon, khi ăn luôn giữ ḷng đại
bi hay chăng? (Trương Duy
Minh hỏi)
Đáp: Chẳng
ăn thịt, cơ thể suy nhược; đối với
vấn đề này, hiện tại vẫn chưa luận
định dứt khoát, chưa được giới y học
và khoa học khảo sát trong một thời gian dài, nên chẳng
dễ dàng nhanh chóng đưa ra lời quyết đoán được!
Cư sĩ vốn là kẻ sơ phát tâm, hết thảy tạm
thời thuận theo phương tiện cũng chẳng
phải là không được. Sau này, nếu tu học tiến
hơn, sẽ có thể tự giải quyết.
* Hỏi:
Chẳng biết là đối trước người chết
tụng kinh, lễ sám th́ là tụng cho người chết
nghe, hay tụng cho người sống nghe? (Trần Liên Sanh hỏi)
Đáp: Thật
ra câu hỏi “tụng cho ai nghe” chính là câu hỏi “tiêu [tội
chướng] cho ai”. Ví như có người sanh ghẻ, để
chữa trị, phải giải phẫu, chẳng phải
là vấn đề làm cho ai xem, mà là vấn đề chữa
trị cho ai!
* Hỏi:
Con người sau khi chết, chẳng biết là vẫn c̣n
đang ở linh tiền[22] hay là đă chuyển sanh theo tội nghiệp?
(Trần Liên Sanh hỏi)
Đáp: Sau
khi chết, trước khi vào lục đạo, sẽ có
Trung Ấm Thân, thân ấy có thể bị triệu vời
tới linh tiền, hoặc sau khi đă đọa quỷ đạo,
cũng có thể triệu vời tới linh tiền. Trừ
hai trường hợp này ra, sẽ chẳng thể triệu
vời được. Nhưng hai trường hợp này đều
có thọ mạng kha khá; nếu như thọ mạng đă
tận, sẽ có chỗ nương gá khác, chẳng thể
đến nữa!
* Hỏi:
Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh do vị Phật nào nói, và nói
ở chỗ nào? (Trần Liên
Sanh hỏi)
Đáp: Lời
kinh đă nói phân minh: Do Quán Tự Tại Bồ Tát nói trong
thời kỳ đức Phật giảng Bát Nhă, Ngài vâng mạng
nói ra. Kinh này có mấy bản dịch tiếng Hán, xem các bản
dịch thời Đường - Tống, như bản dịch
của các vị Pháp Nguyệt, Trí Huệ Luân, Pháp Thành, Thi Hộ
v.v... đều có những câu chữ [cho thấy kinh ấy
được nói] tại núi Linh Thứu thành Vương Xá.
* Hỏi:
Chẳng biết La Hầu La là do thần thông sanh ra hay do dâm
dục sanh ra? (Trịnh Nghĩa
Lăng hỏi)
Đáp: Lũ
phàm phu chúng ta hăy nên tuân theo những ǵ được kinh điển
xiển dương, truyền thuật, cổ đức đă
nói là “thần thông thị hiện”,
sao cứ phải nghi hoặc lắm nỗi? Nếu cứ
muốn cầu chứng thực, chỉ có cách thỉnh vấn
đức Thế Tôn, chứ lời những người khác
nói đều là suy đoán mà thôi!
* Hỏi:
Trong sách Phật ghi chép về tuổi tác lúc [thái tử] Tất
Đạt Đa xuất gia có hai thuyết: Một là Ngài xuất
gia năm mười chín tuổi, thuyết kia là năm hai
mươi chín tuổi, chẳng biết thuyết nào là đúng?
(Trịnh Nghĩa Lăng hỏi)
Đáp:
Hai thuyết ấy đều được chép trong kinh Phật,
nếu chúng ta chẳng có sự khảo cứu kha khá, chỉ
đành chấp nhận cả hai thuyết. Biết th́ nói
biết, không biết thưa không biết, chính là thái độ
của người học. Thử nghĩ những người
kết tập kinh điển đều là đệ tử
Phật, hoặc là người truyền lại, cách Phật
chưa xa, nếu có [chi tiết nào nói] hai cách khác nhau, làm sao
chúng ta có thể quyết đoán chính xác. Chẳng hạn như
năm tháng đức Phật giáng sanh, cho đến nay vẫn
tranh luận chưa ngớt, rảnh đâu để luận
định độ tuổi khi Ngài xuất gia!
* Hỏi:
Thuở Phật tại thế, thấy lũ kiến, mỉm
cười nói: “Bảy đức Phật đă xuất hiện
trên thế gian mà [bọn chúng] chưa thoát thân kiến”, nay
th́ đến chỗ nào cũng đều có kiến, có phải
chúng đều mang thân kiến từ quá khứ măi cho đến
nay đó chăng? Bổn tánh của chúng có bị giảm
thiểu hay chăng? (Hồng Hoàn
hỏi)
Đáp: Chưa
khai Thiên Nhăn, chẳng thể biết chuyện đời
trước được. Suy theo lư, trong số ấy ắt
có những con kiến từ trước thời thất Phật
[cho tới nay] vẫn chưa thoát thân kiến, chỉ có điều
chẳng thể khẳng định kiến ở bất
cứ nơi nào cũng đều đă mang thân kiến từ
thuở ấy. Những con kiến dẫu mang thân kiến từ
trước thời bảy đức Phật, xoay vần
đến nay, tánh cũng chẳng giảm; nhưng sợ
là ô nhiễm càng sâu, duyên giải thoát càng mờ mịt vậy!
* Hỏi:
Đức Thế Tôn lên cơi trời, vào cung rồng thuyết
pháp, đó là thần thức đến hay sắc thân đến,
c̣n như các đệ tử cùng đi theo [sẽ đến]
bằng cách nào? (Hồng Hoàn hỏi)
Đáp: Đức
Thế Tôn pháp lực vô biên, thần thức và sắc thân
đều có thể đến được, các vị đệ
tử đều là đại A La Hán, đều có thần
thông, nên đều có thể cùng đi.
* Hỏi:
Con người sau khi chết, đầu thai vào quỷ đạo,
sẽ có cha mẹ, anh em trai, chị em gái, lục thân quyến
thuộc? Hay là trơ trọi một ḿnh? (Hồng Hoàn hỏi)
Đáp:
Quỷ có thai, noăn, thấp, hóa tứ sanh. Trong những loài
quỷ thai sanh và noăn sanh, đương nhiên có quyến thuộc.
*
Hỏi: Học nhân có một người bạn học
pháp môn Tịnh Độ, sớm tối tụng niệm
công khóa kiền thành, và hằng ngày niệm Phật hiệu
hơn một vạn tiếng. Gần đây có người
chèo kéo học Kim Cang Đối Quyển, lại có người
bạn rủ rê nghiên cứu Phật pháp, ông ta hằng ngày
luyện tập giảng diễn để có thể hoằng pháp, chẳng biết học niệm
Kim Cang Đối Quyển là tốt, hay học Phật pháp
là tốt? (Hồng Hoàn hỏi)
Đáp: Học
Phật nhằm liễu sanh tử, quư ở chỗ giải
hành tương ứng, lại trọng ở chỗ tự
giác, giác tha, chẳng học Phật pháp, làm sao có thể hiểu?
Chẳng hiểu th́ làm sao có thể giác tha? Diễn giảng
Phật pháp đều đáng nên học. Niệm Phật là
hành, nhưng chớ nên cầu giải mà bỏ sót hành. C̣n về
Kim Cang Đối Quyển, đấy chính là một thứ
kinh sám ứng phó bên ngoài, người tại gia học thứ
ấy có ích ǵ đâu?
* Hỏi:
Trong sách Nhị Khóa Hợp Giải do Đài Loan Bồ Đề
Thư Cục xuất bản, nơi trang mười một,
trong đồ h́nh thứ nhất về Hoa Tạng, có nói tứ
châu chính là bốn địa cầu. Có đến bốn địa
cầu th́ cũng không phải là chẳng được,
nhưng theo sách ấy nói, địa cầu trôi nổi
trong bốn biển nước mặn, tợ hồ chẳng
phù hợp sự thật (bốn phía địa cầu là
không khí, chẳng phải là biển nước mặt), nên
giải thích như thế nào mới ḥng thông suốt, hợp
lư? (Trầm Chung Ngũ hỏi)
Đáp: Các
tướng thế giới vốn thuộc huyễn hóa, chẳng
thật, chẳng thường! “Chẳng thường” là thành,
trụ, hoại, không, đổi khác trong từng sát-na. “Chẳng
thật” là đều do tâm biến, chỉ có thức, chẳng
có cảnh. Căn cứ theo đó, bốn châu, biển nước
mặn đều vô sở hữu. Phàm những ǵ có tranh chấp,
thảy đều là hư luận, đó là Chân Đế. Nếu
nói theo Tục Đế, văn tự của cổ nhân giản
lược, lại qua phiên dịch, Lô sơn có thể bị
mất diện mục thật sự. Lại qua h́nh vẽ
của người đời sau, biến thành h́nh thức
cố định, khô cứng, [khiến người đọc]
càng thêm lạc trong mây mù. Lại do nhiều người chú
giải, mỗi vị chấp một lẽ, khiến cho người
ta càng hiểu sai lạc, nghi ngờ nhiều hơn. Ư kiến
hèn tệ của tôi cũng là đoán ṃ: Dường như
nói một châu là một quả địa cầu cũng chẳng
sao, biển nước mặn cũng không nhất thiết
phải ở ngoài địa cầu! Bởi “châu” chính là đất
liền ở giữa nước, có thể là đơn độc
hay hợp thành nhóm sai khác, như Đài Loan là ḥn đảo
đơn độc, nhưng Phi Luật Tân là quần đảo.
Diêm Phù Đề là một nhóm các châu, bao gồm các châu Á, Mỹ,
Âu, Úc, đều cùng được bao quanh bởi biển
nước mặn, phía dưới là phong luân, tức không
khí bao phủ hoàn cầu. Dường như đối với
những thuyết xưa nay, không có ǵ chẳng thích hợp!
* Hỏi: Nơi trang thứ chín mươi
bảy của sách Ấn Quang Đại Sư Gia Ngôn Lục
có nói: “Khi duyệt kinh, chớ
nên suy xét ư nghĩa của kinh”, nhưng khi dịch kinh Phật
từ tiếng Ấn Độ sang tiếng Hán, không ǵ chẳng
phải là suy xét sâu xa ư nghĩa kinh, lại c̣n cân nhắc từng
chữ. Nếu duyệt kinh chớ nên t́m hiểu, suy xét nghĩa
kinh, há chẳng phải là người dịch kinh đa sự
ư? (Trầm Chung Ngũ hỏi)
Đáp: Đối
với kinh, người học có các cách duyệt, đọc,
tụng và nghiên [khác biệt]. Duyệt là lặng lẽ xem,
đọc là đối trước quyển kinh đọc
ra tiếng, tụng là xếp kinh lại, đọc thuộc
ḷng, “nghiên” là suy xét tường tận nghĩa lư. Ba cách trước
đều nhằm cầu Định, cách cuối cùng nhằm
chuyên cầu Huệ, đều có giới hạn rạch ṛi.
Khi hành ba phương pháp trước mà nếu kèm thêm tư
duy, không chỉ Định chẳng thể thành, mà ngay cả
ba pháp ấy cũng đều chẳng thành! Hành một pháp
cuối cùng mà nếu kèm thêm những cách khác, cũng giống
như vậy! Lời của tổ Ấn Quang nói chẳng
phải là không được “nghiên kinh” (nghiên cứu nghĩa
lư của kinh), mà là khuyên chớ nên dùng các pháp loạn xạ!
* Hỏi:
Núi Tu Di nằm giữa bốn đại bộ châu, chỉ
đức Phật có thể thấy, hay là phàm phu tu hành cũng
có thể thấy, hay là núi Tu Di là một danh từ tỷ dụ?
(Dư B́nh hỏi)
Đáp: Lời
đức Phật nói có hiện lượng ngữ, tỷ
lượng ngữ, thí dụ ngữ, tùy thuận ngữ,
giả định ngữ. Kẻ hèn này mắt thịt, chẳng
thể chứng kiến núi ấy. Cư sĩ dựa theo
thánh ngôn lượng, liền tin chuyện ấy là thật
sự có, cũng chẳng mắc lỗi ǵ!
* Hỏi:
Có người hỏi một câu trong phẩm Phổ Môn: “Nhược hữu nữ nhân,
thiết dục cầu nam, lễ bái, cúng dường Quán
Thế Âm Bồ Tát, tiện sanh phước đức trí
huệ chi nam. Thiết dục cầu nữ, tiện sanh
đoan chánh hữu tướng chi nữ” (Nếu có nữ
nhân muốn cầu con trai, lễ bái, cúng dường Quán Thế
Âm Bồ Tát, liền sanh con trai phước đức, trí huệ.
Nếu muốn có con gái, liền sanh con gái đoan chánh, xinh đẹp),
đó là nói kẻ không con nếu cầu Bồ Tát sẽ có
thể sanh con. Nếu như trong mạng đă định
sẵn là vô con, vẫn có thể cầu được ư?
(Dư B́nh hỏi)
Đáp: Trong
mạng có con, sanh con trai hay con gái th́ đó là chuyện thuộc
khả năng của người ấy. Trong mạng không
có con mà có thể sanh con th́ mới là sức thần thông gia
bị của Bồ Tát.
* Hỏi:
Chân lư Phật giáo có phải là lấy tam pháp ấn làm đại
biểu. Nếu có thứ nào khác, xin đại đức
hăy dạy cặn kẽ! (Tức là chân lư của Gia Tô giáo (đạo
Thiên Chúa) ở chỗ nào)? (Kha Băng
hỏi)
Đáp: Tam
pháp ấn[23] chính là Tiểu Thừa, Đại Thừa
chỉ có một pháp ấn (tức Thật Tướng) mà
thôi! Chân lư chính là cái lư chẳng thể nào phá trừ được,
nên gọi là “bất khả
tư, bất khả nghị” (chẳng thể nói, chẳng
thể nghĩ). Ắt phải phá trừ hai chấp là Ngă
Chấp và Pháp Chấp th́ mới có thể thấy được.
[Những thứ ngôn luận] lao xao suốt ngày phần nhiều
thuộc vọng ngữ, trọn chẳng phải là chân lư.
Điều này chỉ dành nói với bậc trí, khó thể nói
với kẻ thông tục! Kẻ chẳng có Phật trí mà nói
đến chân lư th́ chỉ [nói được] một mảnh
vụn của chân lư mà thôi. Chân lư trong giáo pháp kia (Gia Tô giáo),
tôi chẳng biết!
* Hỏi:
Tam Tạng mười hai bộ kinh mỗi tạng có mấy
quyển? (Kha Băng hỏi)
Đáp: Tại
Trung Quốc, từ thời Tùy - Đường tới
nay, các đời đă thâu thập kinh điển [đưa
vào Đại Tạng Kinh] khác nhau, lại c̣n có các thứ
phiên bản, hoặc tăng, hoặc giảm, mà số quyển
của các phiên bản được thâu thập trong mỗi
đời cũng đều chẳng đồng nhất.
Nếu chia [theo từng triều đại] để nói,
sẽ rườm rà khôn xiết! Chỉ nói tới bản
cuối cùng do Tần Già Tinh Xá ấn hành[24], tổng số đă lên tới hơn tám
ngàn bốn trăm quyển! Nếu chia theo Tam Tạng để
nói, mỗi Tạng có bao nhiêu quyển, kẻ hèn này vô ư, chưa
thể kiểm tra. Ngay như Đại Tạng Kinh được
in ở Đài Bắc trong hiện thời, tuy ở ngay trước
mắt, mà xét coi mỗi Tạng có bao nhiêu quyển, quả
thật tôi cũng chưa hề để ư! Điều này
giống như đối với căn nhà kẻ hèn này đang
ở, có người hỏi: “Trên nóc nhà ông, ngói lợp có mấy
miếng? Kiếng gắn cửa sổ có mấy tấm?” Bèn trố mắt chẳng đáp được,
chỉ đành nói: “Để tôi coi lại rồi mới
thưa!”
* Hỏi: Kinh Tạng được kết
tập mấy lần? Mỗi lần cách thời đức
Phật nhập diệt bao nhiêu năm? (Kha Băng hỏi)
Đáp: Đại
khái, Tiểu Thừa [kết tập kinh điển] bốn
lần. Có lần kết tập ngay trong năm đức
Phật nhập diệt; có lần cách một trăm
năm, và có lần cách hai trăm, bốn
trăm, năm trăm năm. H́nh như Đại Thừa
kết tập một lần, sau khi đức Phật diệt
độ, đă kết tập trong bảy ngày bảy
đêm. Điều này dính dáng đến khảo cứu
học, ắt phải đối chiếu nhiều loại
sách, mới biết được đầu mối, cũng
chẳng phải là vấn đề [có thể tŕnh bày]
trong dăm ba câu! Trong Thái Hư Đại Sư Toàn Thư
có ghi chép cặn kẽ, có thể tra duyệt.
* Hỏi:
Phật giáo từ khi nào truyền vào Trung Quốc, đến
nay là bao nhiêu năm? (Kha Băng
hỏi)
Đáp: Sử
sách Trung Quốc ghi chép tường tận, không thể phủ
nhận, là từ thời Minh Đế (28-75) nhà Đông Hán;
nhưng những điều được ghi chép trong sách
khác, mỗi điều đều có chứng cứ. Như
theo Tây Nhung Truyện của bộ Ngụy Lược[25] và Liệt Tiên Truyện[26] của Lưu Hướng ghi chép th́
trong thời Thành Đế và Ai Đế nhà Tây Hán cũng
có kinh Phật. Lại nữa, thời Hán Vũ Đế,
Tỳ Tà Vương tới hàng, [vua Hán được dâng
tặng] vị thần ḿnh vàng[27], chuyện này lại thuộc đầu
thời Tây Hán. Theo Thập Di Kư[28] của Vương Gia, thời Yên Chiêu Vương,
đạo nhân nước Thân Độc[29] tới kinh đô nước Yên. [Sách ấy]
c̣n chép Tần Mục Công được [hiến tặng] tượng
đá. Nh́n vào những điều trên đây, mỗi chuyện
đều xảy ra trước [thời Hán Minh Đế].
Sách Liệt Tử lại chép thời Châu Mục Vương
có chuyện hóa nhân hiện đến. Đây là thuyết sớm
nhất về lúc đạo Phật truyền vào Trung Quốc.
Tóm lại, đều là t́m cầu nơi dấu vết.
Trung Quốc quen thói “trọng
tiền, khinh hậu”, tức là kẻ tôn sùng Phật ắt
muốn [đẩy thời điểm Phật giáo truyền
vào Trung Quốc] sớm hơn; kẻ ghét Phật ắt muốn
đẩy lùi [thời điểm ấy] chậm trễ hơn.
Trừ thuyết [Phật giáo truyền vào Trung Quốc vào thời]
Hán Minh Đế ra, những thuyết khác đều c̣n đang
tranh luận chưa ngă ngũ, kẻ hèn này chẳng giỏi
khảo sát chứng cứ, chỉ đem những điều
chính ḿnh đă biết để kính cẩn đáp lời mà
thôi.
Phật
Học Vấn Đáp Loại Biên
Phần 2
[1] Thiện đường: Các miếu thờ
hay điện thờ của dân gian, hay Đạo giáo, chủ
yếu là thờ cúng tạp nham thần thánh dân gian, thờ
kèm thêm Phật, Bồ Tát, thường làm chuyện phước
thiện như chẩn bệnh, phát thuốc miễn phí.
Nhiều khi mang tiếng là “thiện đường”
nhưng chỉ giới hạn phát chẩn mỗi năm
vài lần, chủ yếu lên đồng, cầu cơ, chữa
bệnh bằng bùa chú, tiến hành các lễ cầu an, siêu
độ, trấn yểm, rước xách, cúng tế của
Đạo giáo, hoặc do những kẻ hiếu sự bày
đặt ra các nghi thức phỏng theo Phật giáo như
trai đàn chẩn tế, thí thực v.v...
Bảo quyển: Các bản “kinh”
được tin là do Phật, Bồ Tát, tiên, thánh trao truyền
trong các đàn cầu cơ. Theo tổ Ấn Quang, trong nhà
Phật, không hề có kinh điển nào gọi là “bảo
quyển” và các vị “Phật, Bồ Tát” trong đàn cơ
đều là linh quỷ mạo danh. Loan thi là các bài thơ
do “thần tiên” giáng bút trong các đàn cầu cơ v́ cơ
bút có h́nh chim loan, nên c̣n gọi là loan bút. Người nâng
cơ bút cho viết thành chữ trên mâm cát sẽ gọi là
Thanh Đồng, Loan Sanh, hoặc Đồng Tử.
[2] Đây là một câu trong sách Châu Dịch:
“Tinh khí vi vật, du hồn vi
biến, thị cố tri hồn thần chi t́nh trạng”.
Theo giáo sư Từ Tỉnh Dân trong Độc Dịch Giản
Thuyết, câu này phải hiểu như thế này: Sanh mạng
của chúng ta được bắt đầu từ âm
dương giao hội của cha mẹ, thần thức
bèn nhập vào thai, nhờ vào tinh khí của cha mẹ mà thành
thân h́nh. Đó là “tinh khí vi vật”.
Khi thân thể già suy, chết đi, thần hồn mất
nơi nương náu, phải bềnh bồng nên gọi là
“du hồn”. Đến khi gặp
âm dương giao hội, cảm khí phận tương ứng
bèn nương gá vào thai, lại bắt đầu một
cuộc sống mới nên gọi là “du hồn vi biến”.
[3] Á nhiệt đới
(subtropical): Á nhiệt đới là vùng khí hậu chuyển
tiếp giữa nhiệt đới và ôn đới, thường
nằm giữa vĩ độ 23,5 và 40, thuộc Bắc
Bán Cầu lẫn Nam Bán Cầu.
[4] Ba mươi sáu món bất tịnh: Theo
Tam Tạng Pháp Số, quyển bốn mươi tám th́ ba
mươi sáu món bất tịnh được chia thành ba
loại: Ngoại tướng, thân khí và nội hàm. Mỗi
loại gồm mười hai món. Ngoại tướng gồm
là tóc, lông, móng, răng, ghèn, nước mắt, nước
miếng, đàm nhớt, phân, nước tiểu, ghét (hờm),
mồ hôi. Thân khí gồm da, da non, máu, thịt, gân, mạch,
xương, tủy, mỡ chài, mỡ sa, óc, màng bọc nội
tạng. Nội hàm gồm gan, mật ruột, bao tử, lá
lách, thận, tim, phổi, sanh tạng, thục tạng,
đàm đỏ, đàm trắng. Sanh tạng chính là phần
phía trên của bộ máy tiêu hóa, thục tạng là phần
phía dưới hệ thống tiêu hóa.
[5] Đây chính là tác phẩm Phật
Thuyết Ưu Bà Tắc Ngũ Giới Tướng Kinh Tiên Yếu, tức là tác phẩm chú giải
kinh Phật Thuyết Ưu Bà Tắc Ngũ Giới Tướng
Kinh của tổ Ngẫu Ích.
[6] Đa tài quỷ: Quỷ có phước
báo, được nhiều người cúng bái như vua
Diêm La, Thành Hoàng, Thổ Địa, Ma Tổ, quỷ
vương v.v... Nói chi tiết th́ Đa Tài Quỷ tuy thuộc
quỷ đạo, nhưng được ăn uống no
đủ, có thế lực, thần thông, chia thành ba loại
như sau:
1. Khí giả: chuyên ăn những thứ
vật cúng tế đă bỏ đi (như các đồ
cúng của người đời, giấy tiền vàng bạc
v.v...)
2. Thất giả: Ăn những vật
con người bỏ quên, để thất lạc.
3. Đại Thế: Có thế lực lớn,
có phước báo, được người đời
thờ phụng (như quỷ vương, Diêm La, Thành
Hoàng, các vị thần kỳ), hay có oai thế có thể
đoạt lấy vật thực ḿnh mong muốn như
các loài Dạ Xoa, La Sát v.v...
[7] Bạch Hổ chính là phương Tây,
tượng trưng cho mùa Xuân. Thuật Phong Thủy gọi
tên bốn phương theo bốn con vật linh, tức
Thanh Long (phương Đông), Huyền Vũ (phương
Bắc), Bạch Hổ (phương Tây) và Châu Tước
(phương
[8] Tức là bài “nguyện
dĩ thử công đức, trang nghiêm Phật Tịnh
Độ...” thường
dùng trong Tịnh Tông.
[9] Đây là thành ngữ “vị uyên khu ngư, vị tùng khu tước”
(xua cá xuống vực sâu, xua chim sẻ vào rừng rậm),
có nghĩa là do hành động bất cẩn đến nỗi
tạo thành t́nh cảnh khó khăn, lắm kẻ đối
địch.
[10] Nguyên văn “dư sư” tức là gọi
tắt của Kham Dư sư (堪舆師). Kham có nghĩa là cuộc đất nhô
cao lên, ngụ ư h́nh thế của đất, Dư xuất
phát từ chữ Thừa Dư có nghĩa xem xét h́nh thế
cuộc đất. Kham Dư chính là tên gọi khác của
Phong Thủy, Địa Lư hay Trạch Địa (chọn
đất).
[11] Tương h́nh, tương khắc c̣n
gọi là “tương sanh, tương khắc”, tức là
luận định về sự xung khắc hay phù hợp
theo quan điểm Ngũ Hành, chẳng hạn Mộc sanh Hỏa,
Hỏa sanh Thổ... nhưng Kim khắc Mộc, Mộc khắc
Thổ v.v... Hoặc Dần, Thân, Tỵ, Hợi là tứ
hành xung do hành của các tuổi này khắc nhau.
[12] Lục Nghệ là sáu tài năng bắt
buộc Nho sĩ phải thông thạo theo lệ cổ, tức
là Lễ, Nhạc, Xạ (bắn cung), Ngự (cỡi ngựa,
điều khiển xe ngựa, chiến xa), Thư (thư
pháp, hành văn, viết lách) và Số (tính toán, toán học).
[13] Ông Trác Chung Chấn coi ḿnh thuộc vai
sư đệ của cụ Lư, nên xưng là Đệ.
[14] Ngũ gia thất tông: C̣n gọi là “ngũ phái thất lưu”.
Ngũ phái là năm phái chính của Thiền Tông gồm Lâm Tế,
Tào Động, Quy Ngưỡng, Vân Môn và Pháp Nhăn. Từ tông
Lâm Tế, lại tách ra thành hai biệt tông là Dương Kỳ
và Hoàng Long, nên trở thành bảy tông tất cả.
[15] Ngũ Đăng Hội Nguyên là bộ
sử về Thiền Tông, gồm 20 quyển, do ngài Phổ
Tế chùa Linh Ẩn ở Hàng Châu biên tập trong niên hiệu
Thuần Hựu 12 (1252) đời Tống. Gọi là
Ngũ Đăng v́ sách lấy tài liệu từ năm bộ
truyền đăng lục trước đó là Cảnh
Đức Truyền Đăng Lục (do Đạo Nguyên
soạn), Thiên Thánh Quảng Đăng Lục (do Lư Tuân Úc soạn),
Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (do
Duy Bạch soạn), Liên Đăng Hội Yếu (do Ngộ
Minh soạn), và Gia Thái Phổ Đăng Lục (do Chánh Thọ
soạn).
[16] Đây là quan điểm về chư tổ
truyền thừa trong Chân Ngôn Tông (Cao Dă Sơn Đông Mật)
Nhật Bản. Tám vị tổ là Đại Nhật
Như Lai (Tỳ Lô Giá Na Phật), Kim Cang Tát Đỏa, Long
Mănh, Long Trí, Kim Cang Trí, Bất Không, Huệ Quả, và Không Hải
(Hoằng Pháp thượng sư). Như vậy theo quan
điểm này, chỉ có một vị tổ Trung Hoa là Huệ
Quả.
[17] Hiếp sĩ: Tiếng để gọi
vị trợ thủ thân thiết của Phật, thường
ở sát bên Phật. “Hiếp” (脅) là cái hông. Hiếp Sĩ là người ở
sát bên ḿnh, người theo ‘sát sườn’.
[18] Trạm Sơn Văn Sao là cuốn sách
nhỏ tập hợp hai mươi mốt bài viết của
pháp sư Đàm Hư giảng giải về các đề
tài thông thường như phá trừ mê tín, căn nguyên của
lục đạo luân hồi v.v...
[19] Tam hồn thất phách (có khi nói là “tam hồn
lục phách”) là một thuyết của Đạo giáo. Theo
đó, linh hồn của con người chia thành tam hồn
(thiên hồn, địa hồn, và nhân hồn; có thuyết
nói là thai quang, sảng linh và u t́nh. Có phái Đạo giáo lại
chủ trương tam hồn là chủ hồn, giác hồn,
sinh hồn). Theo đó, khi con người chết đi,
thiên hồn trở về cơi trời, thuộc về Vô Cực
bất sanh bất diệt. Nếu chưa tu đạo,
Thiên Hồn chẳng thể quy nguyên về Vô Cực, chỉ
tạm gởi ở cơi trời để đầu thai tiếp.
Địa hồn sẽ đọa địa ngục, hứng
chịu nhân quả báo ứng. Nhân hồn sau khi chết sẽ
quẩn quanh trong nhân gian (nên mới có chuyện u hồn báo
mộng, tác quái). Khi nào con người đi đầu
thai, tam hồn sẽ hội tụ trở lại trong xác
thân mới. Thất Phách chính là cái chủ tŕ thất t́nh (mừng,
giận, buồn, sợ, yêu, ghét, ham muốn) của con
người. Đạo giáo nói Thất Phách có tên là Thi Cẩu,
Phục Thỉ, Tước Ân, Thôn Tặc, Phi Độc,
Trừ Uế và Xú Phế.
[20] Nguyên văn “đại
bạch ngưu xa” (thường bị hiểu lầm
là “xe trâu trắng”). Theo chú giải của cổ đức,
nhất là như Ngẫu Ích đại sư trong Pháp Hoa Kinh
Luân Quán Hội Nghĩa đă nhấn mạnh, người Ấn
Độ gọi “ngựa” là bạch ngưu.
[21] Đây chính là tên gọi khác của Nhất
Quán Đạo. Do tà phái này thờ Vô Cực Lăo Mẫu nên gọi
là Lăo Mẫu Giáo. Vô Cực Lăo Mẫu (hay c̣n gọi là Vô Cực
Thiên Mẫu, Vô Cực Thánh Tổ, Minh Minh Thượng
Đế) do La Mộng Hồng (sáng tổ La Giáo) bịa ra
trong các bộ kinh do hắn ngụy tạo (gọi chung là
Ngũ Bộ Lục Sách) dựa theo quan niệm dân gian lâu
đời về một đấng thượng đế
sanh ra muôn loài thuở vũ trụ c̣n hỗn độn, do
sanh ra muôn loài nên được nữ hóa thành Lăo Mẫu. Theo
họ La, do vị này có trước khi có sự phân cách trời
đất, vũ trụ nên gọi là Vô
Cực. Do họ La ăn trộm giáo nghĩa nhà Phật, nhất
là giáo nghĩa Long Hoa Tam Hội, nên Nhất Quán Đạo
đặc biệt sùng bái Di Lặc Phật, bịa ra thế
giới có ba thời kỳ, nay đang bước vào thời
kỳ Bạch Dương, Long Hoa chuyển thế, Di Lặc
Phật chưởng quản thiên bàn, Thích Ca Phật đă
thoái vị v.v... nên đạo của họ c̣n tự gọi
đạo của ḿnh là Di Lặc Phật Giáo.
[22] Chữ “linh
tiền” thường chỉ bàn thờ người
đă khuất nói chung, hay bài vị, di ảnh v.v... nói riêng.
[23] Tam Pháp Ấn là các hành vô thường,
các pháp vô ngă, Niết Bàn tịch tĩnh.
[24] Bản này được gọi là Tần
Già Tinh Xá Hiệu Xan Đại Tạng Kinh, được
in từ năm 1909 đến năm 1903 do sư Tông Ngưỡng
(chùa Kim Sơn, Trấn Giang) chủ tŕ với sự giúp sức
của cụ Chương Thái Viêm, gồm 8.416 quyển,
chia thành 414 tập, gồm 1.916 bản kinh, và đây là bộ
kinh đầu tiên được in bằng phương
pháp in hiện đại nhất thời ấy, tức là
in theo lối sắp khuôn in bằng chữ ch́. Bản này dựa
trên Súc Loát Tạng của Nhật Bản, Gia Hưng Tạng
và Càn Long Đại Tạng. Tần Già Tinh Xá ở Thượng
Hải. Chi phí ấn hành do bà Liza Roos (vợ ông Silas Hardoon)
hiến cúng.
[25] Ngụy Lược là một bộ sử
về nước Ngụy thời Tam Quốc do quan Lang
Trung Ngư Hoạn soạn, gồm năm mươi quyển.
Sách này hiện thời đă thất truyền, chỉ c̣n
sót lại vài bài được trích dẫn trong các bộ Hậu
Hán Thư, Bắc Hộ Lục, Tam Quốc Chí, Pháp Uyển
Châu Lâm, và Thái B́nh Ngự Lăm. Tây Nhung là từ ngữ phiếm
chỉ các quốc gia hoặc bộ lạc sống ở
phía Tây Trung Nguyên trong thời Xuân Thu. Người Trung Hoa thuở
xưa tự coi ḿnh là văn minh nhất nên xưng là Hoa Hạ,
ngụ ư những ǵ tốt đẹp nhất đều
thuộc về họ, gọi các dân tộc chung quanh là Tứ
Di, và chia ra cách gọi như sau: “Rợ” ở phương
Bắc gọi là Địch, phía Tây gọi là Nhung, phía Nam gọi
là Man, phía Đông gọi là Di.
[26] Liệt Tiên Truyện là sách tổng hợp
những câu chuyện về bảy mươi vị thần
tiên đă được lưu hành trong dân gian từ thời
Tiên Tần, mở đầu bằng nhân vật Xích Tùng Tử
và kết thúc bằng Huyền Tục (sống vào thời
Hán Thành Đế). Lưu Hướng (77-6 trước Công
Nguyên) thuộc hoàng tộc nhà Hán, quê ở đất Bái.
Ông ta vốn có tên là Lưu Cánh Sanh, cháu bốn đời của
Lưu Giao (em trai Hán Cao Tổ Lưu Bang), làm quan tới chức
Tán Kỵ Gián Đại Phu, Cấp Sự Trung. Về sau,
do bị các hoạn quan như Hoằng Cung, Thạch Hiển
cấu kết sàm tấu, ông bị Hán Nguyên Đế hạ
ngục, chờ xử tử h́nh. Sau đấy, được
miễn tội chết, đuổi về làm dân thường.
Những trước tác nổi tiếng của ông là Biệt
Lục, Tân Tự, Thuyết Uyển, Liệt Nữ Truyện,
Hồng Phạm Ngũ Hành v.v... Lưu Hướng cũng tham
gia biên tập, giảo chánh Chiến Quốc Sách, Sở Từ
v.v...
[27] Do tượng Phật thường
được thếp vàng nên người Hán gọi Phật
là “kim thân thần” (vị thần
ḿnh vàng). Trong Ngụy Thư, phần Thích Khảo Chí đă
chép như sau: “Trong niên hiệu
Nguyên Thú đời Hán Vũ Đế, Hoắc Khứ Bệnh
đánh thắng Tỳ Tà Vương, thu được
người vàng, cao hơn cả trượng. Vua gọi
là Đại Thần, đặt ở cung Cam Tuyền,
đốt hương, lễ bái”.
[28] Thập Di Kư do Vương Gia (quê ở
An Dương, Lũng Tây) đời Tấn biên soạn, gồm
mười quyển, 220 thiên. Đúng như tên gọi, các
chương trong sách này đều không hoàn chỉnh. Tương
truyền khi Tần Thủy Hoàng diệt sáu nước, các
thư tịch, văn từ của hoàng tộc sáu nước
đă bị vứt bỏ vung văi, Vương Gia đă
đổ công sưu tập những bài văn c̣n sót lại
do dân gian lưu giữ, biên soạn thành tập sách này, chủ
yếu là những chuyện kỳ lạ từ thời Bào
Hy (Phục Hy), Thần Nông cho đến đời Đông
Tấn.
[29] Thân Độc c̣n viết là Thiên Đốc,
Hiền Đậu, Thiên Trúc, Tân Độ, Tín Độ
đều là cách phiên âm khác nhau của chữ Sindhu (tức
sông