Phật Học Vấn
Đáp Loại Biên
Quyển Hạ
佛學問答類編
Phần 1
Lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam giải đáp
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ
tử Như Ḥa
(theo bản in của Lư Bỉnh Nam Lăo
Cư Sĩ Toàn Tập Biên Tập Ủy Viên Hội,
Đài Loan, 2007)
Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang
VII. Tu Tŕ
* Hỏi: Tông
chỉ tu đạo rốt ráo là như thế nào? (Phan Quốc Vinh hỏi)
Đáp: Phàm phu
mê hoặc, điên đảo, làm nhiều chuyện sai trái;
tu đạo nhằm mong siêu phàm nhập thánh. Thánh ắt thấu
triệt vạn pháp, mọi hành động đều lành.
[Quả báo] nhỏ th́ cũng là thân tâm an khang, có thể đạt
được phước báo nhân thiên, rốt cuộc có
thể liễu thoát sanh tử, bất sanh, bất diệt.
* Hỏi: Thủ
tục quy y là như thế nào? (Trương
Xuân Huyên hỏi)
Đáp: Kê khai
đầy đủ trích yếu lư lịch, chuẩn bị
cúng dường (tiền bao nhiêu tùy sức), tự hướng
về pháp sư thỉnh cầu. Nếu đường sá
xa xôi chẳng tiện, cũng có thể viết thư
để phương tiện quy y.
* Hỏi: Trong
ba điều tham Thiền, niệm Phật, và quán tưởng
tŕ chú, cách nào là tốt đẹp? Cách nào dễ tu? Nếu
như lúc tu theo một tông nào đó, hăy nên xem những sách vở
nào và cách tu như thế nào? (Trương
Xuân Huyên hỏi)
Đáp: Bốn
điều[1] như
ông vừa nêu, cố nhiên đều nên có sư thừa. Chỉ
riêng một pháp Niệm Phật, tự ḿnh đọc sách
cũng có thể thông hiểu. Nay đang nhằm thời kỳ
Mạt Pháp, căn tánh con người chậm lụt, kém cỏi,
do tự lực mà thành công, phần nhiều chẳng dễ
làm được! Tịnh Độ kiêm nhờ vào Phật
lực; do vậy nói là “vạn
người tu, vạn người đến”. Nay tôi biếu
ông mấy loại sách nhỏ về Tịnh Độ, rất
mong ông trước hết hăy tham khảo [những sách ấy].
* Hỏi: Người
học Phật đối với phương diện tinh
tấn có sự biểu hiện ǵ? (Hoàng Phụng Minh hỏi)
Đáp: Đối
với mọi việc đều thấy thấy suốt,
nhẫn nại, buông xuống, đấy là biểu hiện
của sự tinh tấn. Đi, đứng, ngồi, nằm,
chẳng ĺa những điều ấy, đó cũng là biểu
hiện của sự tinh tấn.
* Hỏi: Đối
với pháp môn tu hành, như thế nào là tu tập căn bản?
(Phan Diệu Huyền hỏi)
Đáp: Đoạn
Hoặc chứng Chân là tu tập căn bản.
* Hỏi: Kiến
đạo rồi mới tu đạo, chẳng thấy lại
tu ở chỗ nào? (Lư Thanh Mộc
hỏi)
Đáp: Như
người mài đao, ắt trước hết phải nắm
được đao trong tay th́ mới có thể mài. Nếu
c̣n chưa biết đao ở chỗ nào, thử hỏi
mài cái nỗi ǵ?
* Hỏi: Cái Thể
của đạo vốn là chẳng tu; nếu khởi tâm
tu đạo, sẽ tu ǵ vậy? (Lư Thanh Mộc hỏi)
Đáp: Như
gương có chất bẩn, muốn cho nó tỏa sáng bèn
mài. “Mài” là mài bỏ chất
bẩn ấy, chẳng phải là mài để loại bỏ
sự tỏa sáng!
* Hỏi: Tinh
thần của người ăn chay niệm Phật và tinh
thần của người niệm Phật chẳng ăn
chay có phân biệt ǵ chăng? (Châu
Ấu hỏi)
Đáp: Người
ăn chay đạm bạc, lắng tịnh, tinh thần
sáng suốt, khí thông thuận. Người không ăn chay
khác biệt ở chỗ này!
* Hỏi: Bà bầu
có thể đến tự viện lễ Phật hay không? (Vương Tinh Linh hỏi)
Đáp: Đến
chùa lễ Phật chẳng trở ngại ǵ, nhưng đối
với miếu thờ nhiều thần, có đắp tượng
thần h́nh dạng hung ác, chớ nên đến, mà cũng
chớ nên nh́n ngắm!
* Hỏi: Bà bầu
có thể tụng niệm công khóa sáng tối hay không? Nếu
chẳng thể, như vậy th́ chẳng phải là bị
gián đoạn hay sao? (Vương
Tinh Linh hỏi)
Đáp: Có thể
tụng niệm hai khóa, chớ nên gián đoạn. Có thai mà
có thể niệm Phật, trai giới, có liên quan đến
chuyện di truyền, thai giáo, chắc chắn sẽ sanh
con hiền lương.
* Hỏi: Nhà
nghèo nàn, chỗ ở chỉ có một gian pḥng, lại thường
có trẻ nhỏ vương văi phân tiểu, thờ tượng
Phật trong căn nhà ấy có đánh mất cung kính hay
không? (Lư Sĩ Nhân hỏi)
Đáp: Nên thờ
tượng Phật nho nhỏ, dùng màn vải che lại, hoặc
chẳng thờ tượng, hướng về phía Tây làm
lễ th́ cũng được!
* Hỏi: Đang
trong khóa tụng, nếu bạn bè có chuyện gấp đến
hỏi, có thể ngưng tụng giữa chừng hay không?
Khi lại tụng tiếp, hăy nên tụng từ khoảng
giữa [đang bị dang dở], hay nên tụng lại từ
đầu? (Trang Khánh Hiền hỏi)
Đáp: Đang
trong khóa tụng, nếu có khách đến, có thể tạm
ngừng, khách đi rồi, tiếp tục tụng cũng
được.
* Hỏi: Trong
thơ của La Trạng Nguyên có câu: “Hữu nhân vấn ngă tu hành lộ, vân tại thanh
sơn, nguyệt tại thiên” (Có người hỏi nẻo
tu hành, mây trên núi biếc, trăng treo lưng trời) có
nghĩa là ǵ? (Châu Ấu hỏi)
Đáp: Hành
không chấp trước, tâm chẳng vướng mắc,
như mây dồn khỏi núi, như trăng xoay trên trời.
* Hỏi: Người
có tâm sân khuể có thể bị đọa địa ngục,
kẻ tham dục có thể đọa ngạ quỷ, kẻ
ghen tỵ tức là súc sanh. Những điều vừa nói ấy
có thể biểu hiện thành t́nh huống [cụ thể]
trong hiện thời hay không? (Quán
Thành hỏi)
Đáp: Kẻ
sân khuể thường có dáng vẻ hung bạo, tức là
tướng địa ngục. Kẻ tham dục, mắt
nh́n trân trối, cong lưng, miệng chảy nước miếng
long tong, đấy chính là tướng ngạ quỷ. Kẻ
ghen tỵ chẳng thể đoàn kết, chỉ mong cầu
lợi ích riêng tư, tức là tướng súc sanh. Nghiệp
phát khởi từ tâm, hiện thành tướng nơi diện
mạo, người có trí thoạt nh́n bèn biết rơ.
* Hỏi: Ăn
chay trường, niệm Phật, chí nguyện văng sanh, tuổi
đă ngoài bốn mươi, nhưng trong hoàn cảnh chẳng
đặng đừng, đạo vợ chồng chẳng
thể đoạn tuyệt, có chướng ngại đối
với phương diện tu tŕ hay không? (Trịnh Lan Tôn hỏi)
Đáp: Vốn
chẳng phải là tà dâm, chẳng phạm giới luật.
Do không con mà cầu con, nhưng cũng nên có chừng mực.
Trong khi ấy, hăy nên nghĩ đang làm chuyện ô uế.
Sau khi xong chuyện, hăy nên sanh ḷng hổ thẹn, tâm chẳng
vấn vương chuyện ấy, sẽ chẳng trở
ngại văng sanh!
* Hỏi: Kẻ
thường dấy ḷng sân hận, có cách nào để sửa
đổi tập khí ấy? (Ngụy
Bách Huân hỏi)
Đáp: Hăy nên
hành Từ Bi Quán, tu Nhẫn Nhục Độ.
* Hỏi: Nói “Thiền Tịnh song tu” là
như thế nào? Ngoài niệm Phật ra, mỗi ngày
tĩnh tọa một hai tiếng đồng hồ có
được hay không? (Trịnh
Lan Tôn hỏi)
Đáp: Tịnh
Tông kể từ tổ sư Liên Tŕ về sau, phần nhiều
chỉ tŕ danh hiệu, không cần xen tạp những pháp
khác. Tĩnh tọa mấy tiếng đồng hồ vẫn
được, chỉ sợ thân tĩnh mà cái tâm chẳng
tĩnh đó thôi! Nếu có thể trong tâm thầm tŕ Phật
hiệu, khiến cho [Phật hiệu] miên mật không ngừng
th́ tốt lắm. Chẳng thể giải thích Thiền bằng
một lời được, tạm thời không trả
lời!
* Hỏi: Có lúc
nổi lên ác niệm đối với người khác,
nhưng liền trừ diệt ngay, chẳng để cho
ư niệm thứ hai dấy lên. Như thế th́ có tội
nghiệp hay không? (Lư Vĩnh Mậu
hỏi)
Đáp: Chẳng
sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm! Hễ [ác
niệm] dấy lên bèn sám hối ngay, đấy chính là cảnh
giới tốt đẹp. Nếu ác tâm đă mất, tội
cũng chẳng c̣n!
* Hỏi: Chuyên
tu huệ mà không tu phước, có thể thành Phật hay
không? (Vô Danh Thị hỏi)
Đáp: Phật
là bậc phước huệ lưỡng túc tôn, sao lại
tu lệch về một thứ?
* Hỏi: Kể
từ sau khi tôi quy y Tam Bảo, trong tâm lư đích xác là có phản
ứng rơ rệt. Gần đây, đối với lúc ăn
thịt, tâm t́nh kinh sợ, miệng chẳng dám ăn,
nhưng sống trong quân đội, chẳng có cách nào dứt
hẳn không dùng! Đối với hiện tượng này,
rốt cuộc nên làm như thế nào? (Vu Lỗ hỏi)
Đáp: Đấy
chính là Bồ Đề tâm tăng trưởng. Trong lúc bất
đắc dĩ, có thể ăn rau bên cạnh thịt. Nếu
không có rau dưa, có thể chan nước. Nếu chẳng
có nước nhiều, đành phải ăn thịt, có thể
thầm niệm Phật cho nó (con vật bị ta ăn thịt)
ḥng trọn hết ḷng ta. Sống trong đoàn thể, chẳng
thể tự chủ, đức Phật có chế định
ngũ tịnh nhục, có thể tạm tùy duyên vậy!
* Hỏi: Tín nữ
chưa nghe ư nghĩa “quy y có lợi ích như thế nào?” (Thái Trị hỏi)
Đáp: Quy y Phật
chẳng đọa địa ngục, quy y Pháp chẳng
đọa ngạ quỷ, quy y Tăng chẳng đọa
súc sanh. Đấy là lợi ích, lại c̣n bắt đầu
là đệ tử chánh thức của Phật môn.
* Hỏi: Chẳng
phải là người xuất gia, có thể truyền trao Tam
Quy Y cho kẻ khác hay không? Phương pháp ấy lại như
thế nào? (Lư Vĩnh Mậu hỏi)
Đáp: Tam Quy Y
là Phật, Pháp, Tăng. Kẻ tại gia chẳng phải
là Tăng Bảo, sao lại tiếm việt? C̣n nói ǵ đến
cách thức nữa chứ!
* Hỏi: “Tu
Bát Nhă hạnh” nghĩa là như thế nào? (Lâm Thánh Côn hỏi)
Đáp: Bát Nhă
là tên gọi chung của Chân Trí, Quyền Trí, và Nhất Thiết
Trí. Để tu Bát Nhă, hoặc là nương theo một vị
danh sư để tham cứu; hoặc nếu không có thầy,
bèn tự t́m ṭi trong kinh điển, nương theo đó
để tu, ngộ Tướng Không, Không Không, mà Bất Không
cũng là không, sẽ gọi là Bát Nhă hạnh.
* Hỏi: Phát
đại Bồ Đề tâm, tức là Đại Thừa,
thực hiện từ đâu? (Lữ
Chánh Lương hỏi)
Đáp: Phổ
độ chúng sanh, tận lực đoạn phiền năo, học
rộng răi các giáo pháp, mong thành Phật đạo, đấy
gọi là Tứ Hoằng Thệ Nguyện. Bố Thí, Tŕ Giới,
Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định, Bát Nhă, gọi
là Lục Ba La Mật. Hai pháp môn kể trên đều gọi
là “phát Bồ Đề tâm”.
Có thể chọn một pháp để bắt đầu,
nhưng nội dung của chúng đều rất hết sức
vi tế, ắt phải tham khảo kinh điển, sách vở,
hoặc cậy người khác giảng giải th́ mới
có thể hiểu rơ được!
* Hỏi: Người
nhà đông đúc, nhưng bản thân tôi mong xuất gia tu
hành, như vậy th́ có tội đối với gia quyến
hay không? (Lưu Mộc Vinh hỏi)
Đáp: Nếu
có ư nguyện phổ độ chúng sanh, có thể làm chuyện
phổ độ chúng sanh (người nhà cũng là chúng sanh),
xuất gia làm thầy trời người, há c̣n có tội
ǵ? Nếu chỉ chuyên v́ sự thanh tịnh của riêng
ḿnh mà xuất gia, phải được người nhà
đồng ư th́ mới phù hợp luật nghĩa.
* Hỏi: Người
học Phật tu đến hoàn cảnh và tŕnh độ như
thế nào th́ mới có thể gọi là Chứng? (Trí Lương hỏi)
Đáp: “Chứng” là nói tới các thứ
quả vị, cảnh giới chẳng đồng nhất,
nhưng cách tu lại có đủ thứ môn loại. Làm sao
có thể bằng một lời mà nói khái quát được?
* Hỏi: Chúng
ta chẳng thể không ngủ, nhưng chiếu theo Phật
lư, ngủ là một món trong ngũ dục. Hễ ngủ sẽ
bất giác, tức là hôn trầm. Người học Phật
cần phải như thế nào th́ mới có thể tránh khỏi
hôn trầm? (Trí Lương hỏi)
Đáp: Ăn
ít, đoạn dục, tâm chẳng phan duyên, thân thể không
quá mệt mỏi, hôn trầm sẽ tự diệt.
* Hỏi: Phương
pháp để tu bốn tông Luật, Giáo, Thiền, Mật
là như thế nào? (Vô Danh Thị
hỏi)
Đáp: Chuyện
này chẳng thể giải thích bằng mấy câu
được! Điều cốt yếu chẳng ngoài “nỗ lực đoạn Hoặc,
minh tâm kiến tánh”. Ba tông Luật, Giáo, Thiền là
như thế đó. Nếu lại do hai lực (tự lực
và Phật lực) cảm giao, sẽ đới nghiệp văng
sanh, Tịnh Tông là như vậy đó. Mật có bao nhiêu loại,
chuyện này hết sức phức tạp, có thể nói là
có pháp môn tự lực, mà cũng có pháp môn nhị lực vậy!
* Hỏi: Phật
tử có thể hút thuốc, uống rượu, xem diễn
tuồng hay không? (Trang Khánh Hiền
hỏi)
Đáp: Nói
nghiêm ngặt, đệ tử Phật dốc chí tu hành, những
chuyện ấy đều sanh chướng ngại,
đương nhiên là cấm chỉ. Nếu nói khoan dung, đối
với kẻ chỉ có ḷng tín ngưỡng, chưa thọ
Tam Quy, Ngũ Giới, chưa phát tâm tu tŕ, có lẽ sẽ có
thể phương tiện.
* Hỏi: Phụ
nữ đa số ăn chay vào sáng sớm là do ư nghĩa
ǵ? Có thể đạt tới mục đích ǵ? (Ngô Diệu Vinh hỏi)
Đáp: Đây
là một tục lệ mang tánh chất địa
phương, dụng ư và mục đích [của chuyện ăn
chay vào sáng sớm] chưa thấy [giảng giải] trong
kinh truyện, khó thể trích dẫn để trả lời
được! Nhưng ăn chay một bữa, chẳng
cần quan tâm dụng ư và mục đích là như thế
nào, nói chung là từ bi kiêng giết, cũng sẽ tự có
công đức.
* Hỏi: Nếu
có Phật tử dâm dục hừng hực, hăy nên dùng pháp
phương tiện nào để dạy người ấy
ĺa dục? (Trạch Mạnh
Thu hỏi)
Đáp: Chuyện
này phải tách ra để nói. Nếu chẳng có mục
tiêu, tự ư nổi dâm, hăy nghĩ: Lửa dục vừa bốc
lên đă là cái nhân của địa ngục, hoặc
nghĩ tới địa ngục hỏa thành, hoặc
tưởng địa ngục nhiệt thỉ (熱屎, phân nóng), dục ấy sẽ
diệt. Nếu có mục tiêu, hăy nên hành Bất Tịnh
Quán, hoặc nghĩ người lớn tuổi hơn là mẹ,
nghĩ kẻ nhỏ tuổi hơn như con. [Nếu là]
người chưa đánh mất nhân tánh, sẽ tự dứt
ḷng tà vạy!
* Hỏi: Trước
kia, tôi có nghe đại pháp sư nói “quy y Phật chẳng đọa địa ngục”, chẳng biết thật
sự là như thế nào? (Trần
Thượng Dạ hỏi)
Đáp: Chỉ
cần niệm nào cũng đều chẳng vọng, chẳng
trái nguyện ấy, quyết định chẳng đọa
lạc!
* Hỏi: Người
tuổi tác đă ngoài bốn mươi tuổi mới quay
đầu quy y Tam Bảo, có phải là quá muộn hay không? (Chiến Giác Lực hỏi)
Đáp: Nhà tối
ngàn năm, vừa đem đèn vào, lập tức sáng bừng.
Chỉ cần chịu tinh tấn, có chi là muộn?
* Hỏi: Người
tu hành vi phạm giới luật, lúc lâm chung phải đọa
tam đồ, sẽ có lúc thoát ra hay không? (Thang Thiện Phước hỏi)
Đáp: Tu hành
th́ cần phải xét xem người ấy có nghiệp hữu
lậu hay vô lậu, và công phu sâu hay cạn. Phạm giới
th́ cần phải xét xem đă phạm tội nhẹ hay nặng.
Ắt phải cân nhắc đôi đàng rồi mới có thể
nói là đọa hay không! Dẫu bị đọa, trong khoảnh
khắc chịu xong quả báo ấy, sẽ có lúc chủng
tử thiện dấy lên hiện hành, tự nhiên siêu thăng!
* Hỏi: Kẻ
tại gia ăn chay theo phương tiện, vẫn
chưa phải là khó. Nếu người xuất gia ra ngoài
gặp phải cá, thịt, chỉ đành ăn cá, thịt.
T́nh h́nh như vậy vốn là chuyện thường có, có
gây trở ngại cho sự tu hành hay không? (Huệ Lâm hỏi)
Đáp: Nếu
chính ḿnh chẳng muốn ăn đồ mặn, gặp
t́nh h́nh như vậy, lại sợ chủ nhân tốn tiền
lo liệu thức ăn khác, có thể phương tiện
ăn rau bên cạnh thịt.
* Hỏi: Nhà Phật
có cho phép nuôi gia súc kiếm lời hay không? (Thí Vạn Tấn hỏi)
Đáp: Nuôi gia súc,
chẳng tránh khỏi cuối cùng là một đao. V́ thế,
nuôi gia súc kiếm lời giống như chuẩn bị sát
sanh! Cái chết của gia súc chính là do ta thúc đẩy. Có nên
hay không ư? Chẳng nên! Chẳng thể khuyên dụ
được!
* Hỏi: Tu
đạo tuy ư chí kiên cố, vẫn chẳng thể khắc
phục hoàn cảnh kém ác đến nỗi bỏ dở nửa
chừng, rốt cuộc văn hồi bằng cách nào? (Phan Quốc Vinh hỏi)
Đáp: Nếu
ư chí thật sự có thể kiên cố, tức là “tám gió thổi chẳng động”,
c̣n sợ hoàn cảnh ǵ? Đó gọi là “điên bái tất ư thị, tạo thứ tất
ư thị” (trong khi bị vùi dập vẫn là như vậy,
trong khi gặp chuyện cấp bách đe đọa, vẫn
là như vậy)[2].
* Hỏi: Người
tu hành trong tự viện các nơi, rất nhiều kẻ
chẳng niệm Phật, mà cũng chẳng tọa Thiền.
Rốt cuộc họ có được giải thoát hay
không? Nếu chẳng liễu sanh tử, chẳng biết sẽ
đọa làm báo thân nào? (Thang
Thiện Phước hỏi)
Đáp: Chẳng
có Thiền, chẳng có Tịnh, trong Tứ Liệu Giản
của Vĩnh Minh đại sư đă sớm có giáo huấn
rành rành, chẳng cần phải rườm lời nữa!
Chẳng cầu giải thoát, lấy ǵ để được
giải thoát? Nếu hỏi về báo thân trong đời
sau của những kẻ ấy, chỉ đành xem nghiệp
nào chín trước đó thôi!
* Hỏi: Ngoài
công khóa sáng tối ra, buổi tối nằm ngủ trên
giường, thuận miệng niệm kinh chú th́ có mắc
tội hay không? (Vương Minh
hỏi)
Đáp: Lúc sắp
ch́m vào giấc ngủ, hoặc ở trong mộng, bất
giác niệm ra tiếng, đấy là do sức mạnh của
công phu thuần thục. Nếu cố ư lười biếng,
nằm trên giường tŕ tụng th́ mới mắc tội
lỗi vô lễ, chẳng cung kính.
* Hỏi: Tôi
nghe nói công khóa của tại gia cư sĩ chẳng cần
(lại c̣n là chẳng thể) tŕ tụng chú Lăng Nghiêm là
v́ cớ ǵ? (Trần Vĩ Anh hỏi)
Đáp: Chú ấy
gồm năm hội quá dài, hai chúng tại gia do bận rộn
việc đời, thời gian tŕ tụng ngắn ngủi,
chẳng cần phải thêm [bài chú ấy] vào công khóa để
tụng tŕ, chưa hề là “chẳng thể”! Nếu nói “lại
c̣n chẳng thể”, có phải là [ư nói] dẫu tụng vẫn
chẳng có thành tựu, hay là chẳng cho phép tụng? Nếu
là điều trước, chính ḿnh thành tâm cầu mong, há có
lẽ nào không thành tựu? Nếu là điều sau, tôi
chưa hề nghe thấy có sự hạn chế ấy!
* Hỏi: Pháp Tịnh
Tông của chúng ta lấy tŕ kinh Di Đà, xưng danh hiệu
Phật làm gốc, nhưng kể từ khi tôi học Phật
tới nay, đă là một năm lẻ ba hoặc bốn
tháng, luôn luôn là chẳng thể tinh tấn, nay tính đổi
khóa sáng thành tụng kinh Kim Cang và niệm Phật. Cách tụng
kinh ấy là như thế nào? (Trần
Táo hỏi)
Đáp: Nếu
chẳng thể đọc tụng kinh Kim Cang, chẳng cần
phải tốn công chuốc thêm chuyện! Nếu trong tâm
ưa thích kinh ấy, tức là khế cơ, chẳng ngại
tụng tŕ nhằm định cái tâm. Vẫn là phải sau
khi đă định, bèn lấy tŕ danh làm chủ yếu. Cách
tụng kinh Kim Cang là có thể mỗi lần đọc
toàn bộ quyển kinh th́ tốt nhất. Nếu chẳng
thể, có thể chia thành hai ngày để đọc hết,
hoặc ba bốn ngày cũng được. Nếu dựa
theo ba mươi hai phần để tụng ba
mươi hai lượt, thời gian quá ngắn, sợ chẳng
thể đắc Định. Nhưng khóa tối vẫn lấy
tụng kinh Di Đà làm chánh yếu, bởi kinh ấy chính
là kinh cơ sở của Tịnh Tông vậy!
* Hỏi: Tôi vốn
thành tâm ăn chay trong sáu ngày trai, thánh đản của
chư Phật, Bồ Tát, cũng như vào những ngày kỷ
niệm. Đă thế, vào hôm trước mỗi ngày trai
trên đây, ắt đều rửa ráy tất cả dụng
cụ, chén, bát sạch sẽ, nhằm biểu lộ ḷng
thành. Sau đấy, v́ để khỏi phiền phức
(tôi sống một ḿnh), ở nhà th́ đổi sang ăn
chay trường, ra ngoài bèn tùy duyên, nhưng trong
tương lai, hoàn cảnh sống chuyển biến (sống
chung với nhiều người), vẫn chỉ ăn chay
sáu ngày, có gây trở ngại cho công đức hay trái phạm
ǵ chăng? (Châu Huệ Tiền
hỏi)
Đáp: Đă
ăn chay trường, tức là cái tâm đại bi đă phát
khởi vậy. Đấy chính là Bồ Đề nẩy
mầm, có lẽ chớ nên thoái chuyển, tự chôn vùi công
đức. Ra ngoài làm việc, hoặc phải thù tạc,
có thể ăn rau bên cạnh thịt. Ngay như thịt
đựng trong bát, đĩa, tất nhiên là có rau cải
kèm theo, chỉ nhặt rau mà ăn, chẳng cần cố kỵ
nước canh, hoặc bát, đĩa chẳng thanh khiết.
Đấy cũng là pháp đại phương tiện vậy!
* Hỏi: Giả
sử trong khi tụng kinh, người trong nhà căi lộn,
khi ấy nên làm như thế nào? Có phải ngưng tụng
để tránh cho họ mắc phải tội lỗi, hay
cứ một mực tụng cho xong? (Tín Huệ hỏi)
Đáp: Sự
không nhất định. Nếu trong nhà bỗng dưng căi
lộn, có thể tạm ngừng công khóa để ra giải
quyết. Nếu họ thường căi cọ, chỉ
đành mặc họ, ai làm chuyện nấy mà thôi!
* Hỏi: Trong
công khóa hằng ngày, tôi đọc tụng kinh Địa Tạng.
Do kinh văn quá dài, chẳng thể đọc toàn bộ
trong một lúc được, có thể chia thành từng quyển
để đọc tụng hay không? (V́ kinh Địa Tạng
chia thành ba quyển thượng, trung, hạ). (Trần Thánh Âm hỏi)
Đáp: Đối
với các bộ kinh điển lớn, vốn có cách chia
thành từng phần để tụng. Kinh này đă chia
thành ba quyển, [cho nên] chia ra để cung kính tụng,
chưa hề chẳng được! Nếu chính ḿnh quá bận
rộn, chỉ đành làm như thế. Nếu không có chuyện
ǵ mà kéo ra như vậy, sẽ là lười nhác, chẳng
bằng tụng xong trong một ngày sẽ tốt hơn!
* Hỏi: Tôi muốn
tin Phật, mong quy y Tam Bảo, nên hướng về ai
để quy y? Quy y ở chỗ nào? Chi phí tốn bao nhiêu?
Xin hăy giải thích thủ tục và tŕnh tự quy y như
thế nào? (Kha Văn Hùng hỏi)
Đáp: Chuyện
này nếu có người giới thiệu, sẽ dễ
dàng hơn! Nếu xưa nay có duyên với một vị
pháp sư nào đó, hoặc là thỉnh cầu quy y ở chùa
chiền thuộc địa phương đang cư trú,
hoặc chùa chiền gần đó, có lẽ sẽ đỡ
mất công hơn! Nhưng cần phải nhận rơ vị
ấy có phải là tỳ-kheo xuất gia thật sự hay
không. Nếu lầm lẫn quy y theo ngoại đạo,
đâm ra sẽ đọa lạc. Nếu hết thảy
đều chẳng liễu giải, tệ xă có thể lo
liệu giùm. Thật ra, hoàn toàn chẳng có chi phí ǵ, hăy cứ
như nguyện mà cúng dường vị thầy [truyền
trao] quy y, tùy sức [cúng dường] nhằm biểu lộ
tấm ḷng mà thôi. Nếu chẳng có tài lực, chỉ cần
thành tâm, tuy chẳng cúng dường, cũng chẳng phải
là không được! Thủ tục th́ bất quá là hướng
về pháp sư đảnh lễ, cung kính nghe khai thị,
[pháp sư] đặt pháp danh, phát điệp quy y. Nếu
thân chẳng tự do, đường sá xa xôi, có thể viết
thư thỉnh cầu quy y, cũng có thể phương
tiện chấp thuận.
* Hỏi: Sau
khi quy y, có phải là hằng ngày cần phải đến
giáo đường hay không? Thời gian đến giáo
đường là như thế nào? (Kha Văn Hùng hỏi)
Đáp: Hễ
rảnh rang th́ có thể đến thân cận, không rảnh
rỗi th́ tự học tại nhà. Hết thảy đều
phương tiện, hoàn toàn chẳng bó buộc! Tục ngữ
có câu: “Sư phụ dẫn vào cửa, tu hành do cá nhân” là
nói về ư này vậy!
* Hỏi: Đồ
đệ quy y Phật có thể ở tại gia hay không? (tuân
thủ hết thảy quy củ dành cho người tại
gia trong nhà Phật)? (Kha Văn
Hùng hỏi)
Đáp: Đệ
tử đức Phật chia thành xuất gia và tại gia
sai khác. Kẻ xuất gia không được chứa chấp
vợ con, cất giữ tài sản! Luận theo giới tướng,
sẽ có sa-di và tỳ-kheo khác nhau, ắt phải ở trong
chùa chiền. Kẻ tại gia chẳng ngại có vợ con,
tài sản, được gọi là “cư sĩ”, cho phép sống
ở nhà. Mỗi đằng đều có quy chế định
sẵn, chớ nên lẫn lộn!
* Hỏi: Người
tin tưởng thọ quy y th́ thoạt đầu là phải
ăn chay trước, hay là tu hành trước? (Trang Khánh Hiền hỏi)
Đáp: Tu tŕ và
ăn chay đều cùng tiến hành là tốt nhất! Nếu
như chưa thể, trước hết hăy gắng tu tŕ,
dần dần rồi sẽ ăn chay. Bởi lẽ, người
tu tŕ ắt phải cầu hiểu lư. Nếu đă thật
sự hiểu Phật lư, sẽ chẳng có ai c̣n dám ăn
nuốt thịt của chúng sanh, chiêu kết oan trái nữa.
Tuy nói như vậy, chớ nên câu nệ, cũng nên xét xem
căn tánh của người quy y là như thế nào để
quyết định thứ tự trước sau, nhưng
nếu cả hai điều ấy đều chẳng làm,
tức là quy y giả dối vậy!
* Hỏi: Để
Phật hóa gia đ́nh th́ phải dùng phương pháp ǵ
để thực hiện? (Trang
Khánh Hiền hỏi)
Đáp: Lấy
thân làm gương, hoàn toàn chẳng có phương pháp nào
khác! Không chỉ là lạy Phật, niệm Phật là chuyện
phải nên làm, mà c̣n phải biểu hiện bằng ba nghiệp
thân, khẩu, ư, khiến cho người nhà thành tâm hoan hỷ,
tin phục, gia đ́nh sẽ ngấm ngầm được
Phật hóa.
* Hỏi: Ḷng tín
ngưỡng do cái tâm kiền thành. Nếu tâm kiền thành
tin tưởng, ngưỡng mộ Phật pháp, nhưng
chưa thọ Tam Quy Y, Ngũ Giới theo nghi thức, có
được coi là giáo đồ, được Phật
gia hộ hay không? Nếu đă thọ Tam Quy, Ngũ Giới,
mà tâm lại chưa thể kiền thành th́ là như thế
nào? (Kỷ Vũ hỏi)
Đáp: Tin
tưởng, ngưỡng mộ chỉ có thể nói là tâm kính
trọng học theo, y giáo phụng hành th́ mới gọi là “giáo đồ”. Kẻ đă
phụng hành, dẫu chưa cử hành nghi thức Tam Quy,
Ngũ Giới, vẫn có thể gọi là giáo đồ,
đă được Phật gia hộ. C̣n đối với
chuyện ông sanh ḷng nghi đối với những kẻ
đă thọ Tam Quy, Ngũ Giới, nhưng chẳng kiền
thành; đấy là những kẻ giả dối ngoài mặt,
trong tâm chẳng có [ḷng tin thật sự], chính là “lừa ḿnh, dối người”,
lại c̣n là hạng dối Phật, lừa Tổ, sợ
chẳng đạt được lợi ích! Nhưng tín
tâm có thật, giả sai khác. Nếu đă thật sự
tin tưởng, há có kẻ nào chẳng ôm ḷng chân thành, hoan hỷ,
tin phục, quy y, thọ giới ư?
* Hỏi: Do
hoàn cảnh chi phối, tính chia căn nhà nhỏ tí thành chỗ
thờ Phật và nơi ăn ngủ. Chỗ thờ Phật
chỉ cách giường nằm một tấm màn vải, sức
lực đơn bạc, tâm thanh tịnh thờ phụng,
có phạm lỗi đối với Phật hay chăng? Xin
hăy chỉ dạy! (Nhan Phật
Triệu)
Đáp: Do chẳng
đủ sức, nên chẳng phải là cố ư khinh nhờn,
[v́ thế], chẳng phạm lỗi! C̣n như cúng dường
cũng không coi trọng vật chất. Kinh đă dạy
coi trọng pháp, há sức lực đơn bạc có gây trở
ngại ǵ ư?
* Hỏi: Người
học Phật tới khi lâm chung, hỏa táng chẳng có
xá-lợi, phải như thế nào th́ mới đoan quyết
là đă sanh về Tây Phương hay chưa? (Hoàng Phụng Minh hỏi)
Đáp: Để
trả lời câu hỏi này, trước hết, phải
minh định rơ ràng giới tuyến. Người học
Phật ắt phải tu Tịnh th́ mới có hy vọng
sanh về Tây Phương. Tu những pháp khác, sẽ có những
quả khác, chẳng phải là đều sanh về Tây
Phương! Nay tôi chỉ bàn định theo người
tu Tịnh. Sau khi đă mất, hỏa thiêu thâu được
xá-lợi, chính là một thụy tướng, c̣n phải trắc
nghiệm những điều khác, chẳng phải là dựa
theo một điều là đủ! Nếu [người ấy]
tự thấy, người khác cũng thấy, tự ḿnh
nghe, người khác cũng nghe, Phật hiện tướng,
hiện hoa sen, mùi thơm, ánh sáng, âm nhạc, hoặc dựa
trên chỗ lạnh đi sau cùng, chớ nên nhất quyết
câu nệ xá-lợi. Trong Lư Sơn Liên Xă, tổ sư Huệ
Viễn và đại sĩ Lưu Dật Dân đều là
những bậc đại thành tựu, đều chẳng
thấy [sử sách chép] họ lưu xá-lợi sau khi hỏa
thiêu. [Truyện chép về] Đàm Loan đại sư, chỉ
ghi là nghe tiếng tơ trúc (tiếng âm nhạc) [khi Ngài lâm
chung]. [Truyện kư về] tổ sư Thiếu Khang chỉ
ghi Ngài niệm Phật một tiếng, trong miệng bay ra
một tượng Phật, cũng chẳng nói đến
xá-lợi.
* Hỏi: Người
c̣n ḷng dục, chẳng đoạn chánh dâm, có văng sanh Tây
Phương hay không? Đây là nói về hàng cư sĩ. (Hoàng Phụng Minh hỏi)
Đáp: Khi dục
cảnh hiện hữu, hăy phát ḷng hổ thẹn to lớn.
Dục cảnh qua đi, tâm như tro tàn, thường
nghĩ ĺa cảnh, hết sức ngăn ngừa chẳng
để dục tâm sanh khởi. Người có thể làm
như thế, chẳng trở ngại văng sanh
* Hỏi: Chẳng
thể ăn chay trường (nhưng ăn chay buổi
sáng và giữ Thập Trai), hằng ngày lễ Phật, tụng
kinh, có công đức hay không? (Trần
Thánh Âm hỏi)
Đáp: Tŕ trai
một ngày, thiên hạ sát sanh chẳng có phần ta, huống
là giữ Lục Trai? Lại c̣n hằng ngày lễ Phật,
tụng kinh, há có thể nói là không có công đức? Nhưng
chớ nên đạt được một tí công đức
đă coi là đủ, hăy nên luôn luôn làm cho công đức
càng nhiều, càng rộng hơn th́ mới là bậc trí! V́ bọn
ta từ vô thỉ tới nay đă chất chứa tội
nghiệp chẳng biết to bằng mấy quả núi Tu
Di! Làm một tí công đức, sợ chẳng thể chống
lại tội nghiệp được! Do vậy, hăy nên dũng
mănh tinh tấn đập tan núi tội.
* Hỏi:
Đă là một đệ tử Phật môn, vào lúc tụng
niệm công khóa mỗi ngày, thắp nhang chẳng chiếu
theo nghi thức hoặc quy định trong Phật giáo, cứ
thuận theo ư ḿnh mà thắp hai hay bốn nén nhang, có đúng
hay không? (Hành Ngọc hỏi)
Đáp: Đối
với các phương pháp tu tập của các tông, và những
điều do lịch đại tổ sư ấn định,
hăy nên tuân thủ. C̣n đối với chuyện
hương đèn nhiều hay ít, ắt phải tùy thuộc
vào sức mỗi người. Cốt sao giữ ḷng thành,
chẳng cần câu nệ h́nh tích!
* Hỏi: Chẳng
thể ĺa cái gọi là Đạo chừng một khoảnh
khắc, lại như gà ấp trứng, hễ mất
hơi ấm, trứng chẳng nở được. Kể
từ khi tôi quy y Tam Bảo [đến nay] đă là hai
năm, từng tập tham Thiền, thỉnh thoảng cũng
niệm Phật. Lại do hoàn cảnh công việc bận bịu
gây trở ngại, đến nỗi lười nhác, bỏ
mất, như thế th́ có phải là chẳng có phần đối
với Phật pháp hay không? (Trịnh
Trường Lâm hỏi)
Đáp: Chẳng
có phần nơi Phật pháp, sẽ chẳng có duyên quy y.
Đây là v́ tâm sanh tử chẳng tha thiết, đích xác là phạm
lỗi giải đăi. Nếu thật sự hiểu rơ giáo
lư, sẽ càng thêm tin sâu, sẽ tự có phương tiện
thiện xảo, t́m lúc rảnh rỗi trong khi bận rộn
để tụng niệm vậy.
* Hỏi: Tôi vốn
thích tham Thiền, nhưng pháp môn ấy chính là chuyện của
kẻ lợi căn; chứ kẻ ngu tối, chậm lụt
như tôi, sợ chẳng có duyên phận! Hơn nữa, tôi
ở trong hoàn cảnh rất tạp loạn, trong t́nh huống
ấy, hăy nên chọn lựa dứt khoát môn nào? (Trịnh Trường Lâm hỏi)
Đáp: Phật
pháp tuy nói là nhiều môn, nhưng sửa tánh tu tâm, chẳng
ngoài Thiền và Tịnh. Thiền không chỉ là kẻ độn
căn khó khế nhập, kẻ lợi căn cũng cần
phải tham phỏng bậc tông tượng, chẳng thể
“đóng cửa chế xe” mà
thành được! Dẫu tu Tịnh, cũng cần phải
hiểu lư rành rẽ, phân minh. Nếu không, sợ sẽ nẩy
sanh lầm lạc. Để khởi sự, hăy nên xem những
tập sách nhỏ có tánh chất gợi ư, hướng dẫn,
như Kỹ Lộ Chỉ Quy, Sơ Cơ Tịnh Nghiệp
Chỉ Nam… để hiểu đôi chút về đường
nẻo, sau đấy lại xem kinh điển th́ mới
chẳng bị ngăn ngại.
* Hỏi: Phát
khởi tâm nguyện Bồ Đề, và hồi hướng
các công đức đă làm, như thế nào th́ mới phù hợp
nghi quy? (Trịnh Trường Lâm
hỏi)
Đáp: Đă
có bài văn [phát nguyện] và nghi thức do cổ nhân chế
định, chỉ cần có tâm thành, y theo đó mà làm là
được rồi!
* Hỏi: Công
khóa mỗi ngày cần phải ấn định thời
gian để thực hiện thường hằng, chẳng
thể gián đoạn, nhưng tôi làm công việc thời
gian không nhất định, trong hai mươi bốn tiếng
đồng hồ, chẳng biết khi nào sẽ cần
đến thợ. Trong t́nh h́nh ấy, hăy nên ấn định
công khóa ra sao? (Trịnh Trường
Lâm hỏi)
Đáp: Ấn
định khóa tụng sáng tối là được rồi!
Ngoài công khóa ra, đi, đứng, ngồi nằm, đều
có thể hành tŕ. Ngày nào đó bị gọi đi làm, có thể
tụng niệm trước hay sau khi làm việc, cũng chẳng
phải là không được. Nhưng chẳng thể nào
mỗi sáng đều có việc phải làm. Nếu thật
sự là có, sẽ có giờ giấc nhất định, sẽ
càng dễ ấn định phù hợp hơn.
* Hỏi: Sám hối
tội ác, ngoại trừ sám hối trong nội tâm ra, có phải
là c̣n nên đối trước pháp ṭa của Tam Bảo để
thưa bày? Nếu cần phải làm như thế, kính xin
cụ hăy phê duyệt, sửa chữa bản nháp bài văn
sám hối gởi kèm theo thư này. (Trịnh Trường Lâm hỏi)
Đáp: Đối
trước Tam Bảo [phát lộ sám hối] là chuyện
đúng pháp. Sám hối chú trọng tấm ḷng chân thật,
thành kính, chứ không do văn chương bóng bẩy.
Văn từ rườm rà, nghi thức cho lắm, chẳng
bằng chất phác, mộc mạc, thành khẩn. Tôi gởi
trả lại bản thảo bài văn của ông.
* Hỏi: Kẻ
mới nghiên cứu Phật học, hăy nhập môn từ chỗ
nào th́ sẽ nhanh chóng hơn? Có những loại kinh điển
nào có thể khiến cho người mới học Phật
dễ hiểu, xin hăy nêu ra, có được hay chăng? (Tiêu Kim Vinh hỏi)
Đáp: Câu hỏi
này thật hay, nhưng tôn ư như thế nào, tôi vẫn phải
thỉnh giáo! V́ Phật học và học Phật sai khác
đôi chút. Phật học chính là học vấn, c̣n học
Phật là hành tŕ. Nếu nhằm nghiên cứu học vấn,
kẻ hèn này nông cạn, quê kệch, chẳng dám bàn xằng!
Nếu hỏi về hành tŕ, tôi biết có pháp môn Tịnh
Độ nhanh chóng và thiết yếu nhất. Nếu là kẻ
mới học, trước hết hăy nên xem những quyển
sách mỏng nhập môn như Sơ Cơ Tịnh Nghiệp
Chỉ Nam, Kỹ Lộ Chỉ Quy, Long Thư Tịnh Độ
Văn, Khuyến Tu Niệm Phật Pháp Môn v.v… Ấn tượng
đă sâu, sau đấy mới tiến lên xem ba kinh Tịnh
Độ.
* Hỏi: Kẻ
làm nghề đồ tể và kẻ làm nghề buôn bán sanh
vật (và gia tộc của họ) có thể tin Phật hay
không? Sau khi đă quy y, có cần phải đổi nghề
hay không? (Trang Khánh Hiền hỏi)
Đáp: Đức
Phật đại từ đại bi, phổ độ
chúng sanh. Càng là kẻ ác, th́ càng phải độ! Kẻ
đồ tể quy y, có ǵ là chẳng được! Chỉ
có điều, đă quy y Phật, ắt phải tuân theo chế
định của Phật, ắt sẽ tự buông dao mổ
xuống!
* Hỏi: Bọn
chúng sanh chúng ta tâm lẫn ư đều nhiễm ô, phải tu
dưỡng như thế nào th́ cái tâm mới có thể trở
thành thanh tịnh? (Lô Thục Trân
hỏi)
Đáp: Đức
Phật nói tám vạn bốn ngàn pháp môn, đều nhằm
thanh tịnh cái tâm. Cư sĩ tu pháp môn Tịnh Độ,
tức là pháp tối yếu nhất. Há chẳng thường
nghe: “Thanh châu gieo vào nước
đục, nước đục chẳng thể không
trong! Phật hiệu gieo vào loạn tâm, loạn tâm chẳng
thể không là Phật” ư?
* Hỏi: Thái Tử
Tất Đạt Đa (Siddhārtha) nh́n sao Mai bèn ngộ đạo, và tôn giả
Đại Ca Diếp thấy [đức Phật] cầm
hoa bèn mỉm cười, có cùng một lư hay không? (Lại Viên hỏi)
Đáp: Không lư
nào chẳng đồng, chỉ có động cơ
(motivation) và ngộ cảnh trong mỗi trường hợp
là khác nhau!
* Hỏi: Hậu
học đọc sách Xuất Khổ Phi Hàng (chiếc phi
thuyền thoát khổ) thấy nói: “Người tại gia khi tập tĩnh tọa, nếu
ngồi đơn già (bán già) th́ đùi phải đặt
trên đùi trái, tay phải chồng lên trên tay trái” [Viết
như vậy] có phải là sai lầm hay không? Hay là đùi trái
đùi phải tùy ư đặt phía nào lên trên cũng
được? (Triệu Trạch
Vũ hỏi)
Đáp: Đặt
phía phải lên trên là Hàng Ma Tọa, phía trái lên trên sẽ là
Cát Tường Tọa. Đặt [đùi và tay] bên trái hay bên
phải lên trên đều được!
* Hỏi: Nếu
có người tâm thường niệm thánh hiệu của
Phật, Bồ Tát, lại gần bên thân họ, thường
nhận thấy lỗ chân lông có ánh sáng xuất hiện, rốt
cuộc người ấy tu dưỡng đến mức
độ nào? Sau khi Niết Bàn, sẽ đắc quả
ǵ? (Ông Minh Đạo hỏi)
Đáp: Đă
nói là niệm thánh hiệu, đấy chính là tu dưỡng
như thế đó. Về sau, sẽ đắc quả ǵ,
lúc này vẫn c̣n chưa xác định được!
* Hỏi: Các
chi thể trên thân mạt học trầm trệ, yếu ớt,
mỗi đêm nằm mộng rất nhiều! Có
phương pháp ǵ để có khắc phục mộng mị,
xin thầy chỉ dạy! (Ông
Minh Đạo hỏi)
Đáp: Thường
ngày tu tập công phu ǵ, vẫn phải thêm siêng gắng
nơi công phu ấy. Đă thế, khi sắp ngủ, hăy dấy
lên chánh niệm, sẽ có thể bớt mộng!
* Hỏi: Mạt
học mỗi sáng sớm đầu óc choáng váng như kẻ
say rượu. Ngủ không đủ giấc cũng bị
như thế, tự cảm thấy sẽ bị loạn
trí. Chẳng biết có phương pháp ǵ để giải
cứu thói ngủ mê mệt và đầu óc choáng váng hay
không? (Ông Minh Đạo hỏi)
Đáp: Chuyện
này liên quan đến vấn đề sinh lư. Nếu công
phu tu tập thích hợp, cũng có thể hết bệnh!
* Hỏi:
Trước kia, mạt học ở Đài Bắc do sống
trong đoàn thể, chưa thể tŕ trai. Nay được
thầy Trân Diệu, Trụ Tŕ chùa Quán Âm ở Trung Doanh thuộc
vùng Ma Đậu mời làm thầy dạy học buổi
tối tại tệ tự, rất thỏa thích được
măn nguyện. Chỉ sợ sau này lại phải sống
nơi khác, bị hoàn cảnh bức bách, đến nỗi
không có cách nào ăn chay suốt đời. Tới khi
đó, có phải là có hại cho đạo nghiệp hay
không? (Nhan Khoan Văn hỏi)
Đáp: Tŕ trai
là ư nguyện của cá nhân, há do nơi chốn? Nếu do
hoàn cảnh mà chuyển biến, tức là chính ḿnh chẳng
có chí. Kẻ chẳng có chí, làm sao thành tựu cho được?
* Hỏi: Về
phương diện tinh tấn, do tệ nhân chẳng có học
thức mảy may, lại bẩm sanh căn tánh ngu độn,
mà cũng hoàn toàn chẳng có trí nhớ, tuy siêng đọc, bất
quá chỉ tăng thêm tín nguyện mà thôi! Hoàn toàn chẳng
nói đến chuyện cầu mong điều ǵ! (V́ vừa
đọc xong liền quên ngay). Do vậy, đối với
trọng điểm t́m đọc trong Phật học,
đối với chuyện lănh hội lư Không, cho rằng
những thứ khác đều là thừa thăi, chẳng phù hợp
với nhu cầu của tôi. Điều này có thể coi là
tinh tấn hay không? (Chương
Phổ Minh hỏi)
Đáp: Kẻ
sơ học làm sao có thể “thấu hiểu lư Không” cho
được? Ông nói “những thứ khác đều là thừa
thăi” tức là sai lầm mất rồi! Phật pháp như
biển, voi to và muỗi bé đều được phép uống,
mỗi loài đều tận hết sức ḿnh mà thôi! Muỗi
uống tuy ít, chẳng thể chê trách biển rộng lớn,
thừa mứa! Nói đến chuyện tinh tấn, chẳng
hạn cuộc trong một môn hay nhiều môn, chỉ nên đối
với pháp tu tập của chính ḿnh, chẳng thoái chuyển
mảy may, đă siêng năng lại càng chăm chỉ
hơn. Đấy chính là tinh tấn!
* Hỏi: Học
tṛ do hoàn cảnh gia đ́nh bất tiện, chẳng thể
treo tượng Phật để cầu nguyện, lễ
bái, tụng kinh. Chỉ đành vào lúc sáng sớm ở trên
giường (trước khi rửa ráy, súc miệng), ngồi
xếp bằng thầm niệm A Di Đà Phật mười
mấy câu. Thái độ như thế có làm nhục Phật,
nhục Tổ hay chăng? (Đàm
Hồng Bân hỏi)
Đáp: Phật
pháp viên dung, không điều ǵ chẳng thể, chỉ cốt
sao thành tâm, sẽ chẳng phải là khinh nhờn!
* Hỏi: Tôi không
có cách nào tŕ trai, nhưng hai thời công khóa sáng tối đều
giữ như thường. Nhưng gần đây, chẳng
biết v́ sao, nếu thấy đồ hôi tanh, tâm rất
kinh hăi, khó thể nuốt xuống. V́ thế, những ngày
gần đây, nếu thấy đồ tanh tưởi, chỉ
ăn rau bên cạnh thịt, hoặc có lúc hoàn toàn chẳng
có rau, bèn thầm niệm Phật hiệu mấy chục tiếng,
quán tưởng Phật Đà tiếp dẫn thần thức
của những chúng sanh ấy văng sanh Tây Phương. Làm
như thế chẳng biết có thỏa đáng hay
chăng? (Nhan Văn Bộc hỏi)
Đáp: Sức
từ bi phương tiện hết sức thỏa
đáng!
* Hỏi: Học
tṛ là một kẻ tin Phật kiền thành, hiềm rằng
căn cơ Quốc Học cạn cợt, mỏng manh, mở
kinh điển ra xem, chẳng biết kinh nói ǵ! Làm sao có thể
học Phật? Bắt đầu từ chỗ nào, rất
mong mỏi thầy chỉ dạy! (Đàm Hồng Bân hỏi)
Đáp: Học
Phật chú trọng hạnh giải tương ứng. “Giải” là thấu hiểu
nghĩa lư, “Hành” là tu
phương pháp ấy. Nếu nhất thời chẳng thể
liễu giải, cũng nên thực hành pháp ấy. Nếu
có thể hành thành tựu, sẽ tự có thể tâm khai
đắc giải. Cư sĩ hăy nên chuyên chú khởi sự
từ pháp môn Niệm Phật, lại xem những bản
kinh Tịnh Độ có chú giải, lâu dần sẽ tự
thọ dụng!
* Hỏi: Người
tu Đại Thừa có phải là đạt tới Sơ
Địa th́ mới có thể giải thoát Phần Đoạn
sanh tử hay không? (La Đức
Chương hỏi)
Đáp: Xét theo
giáo nghĩa của tông Thiên Thai, Biệt Giáo th́ từ Thất
Trụ trở lên, Viên Giáo th́ từ Thất Tín cho đến
Sơ Trụ đều đă đoạn.
* Hỏi: Trong
khóa tụng mỗi ngày, chúng tôi niệm một biến kinh
Di Đà, Tam Quy Y xong, lại niệm Phổ Môn nối tiếp,
có cần đọc bài Hương Tán lần nữa hay
không? (Khoan Quán hỏi)
Đáp: Tự
tu trong gia đ́nh, nếu công phu ngắn ngủi, ít ỏi
(ư nói “mới khởi sự tu tập”), chẳng cần phải
phiền phức như thế. Nếu hành tŕ đă lâu, kẻ
hèn này cũng chẳng tiện khuyên nên giảm thiểu. Chỉ
nên thay đổi thứ tự đôi chút là được.
Khởi đầu bèn niệm bài Hương Tán, tiếp
đó là niệm kinh Di Đà và phẩm Phổ Môn, lại thêm
niệm Phật. Sau đó, niệm bài văn Hồi Hướng,
cuối cùng là niệm Tam Quy Y.
* Hỏi: Hồi
hướng th́ thông thường là “nguyện dĩ thử công đức, trang nghiêm Phật
Tịnh Độ” (nguyện dùng công đức này, trang
nghiêm Phật Tịnh Độ), nhưng có người nói
“thập phương tam thế
Phật, A Di Đà đệ nhất” là đại hồi
hướng. Xin hỏi thầy, bài nào mới là đúng? (Khoan Quán hỏi)
Đáp: Hai bài
đều đúng, tùy ư chọn bài nào cũng được.
Chớ nên tùy tiện biến đổi!
* Hỏi: Lúc
thông thường, tụng niệm công khóa, chúng ta đều
hồi hướng cho lục đạo chúng sanh, chẳng
biết niệm từ điều nào? (Khoan Quán hỏi)
Đáp: Trong bài
hồi hướng gồm tám câu, có hai câu: “Thượng báo tứ trọng ân, hạ tế tam
đồ khổ” đă bao gồm trọn hết!
* Hỏi: Tại
chùa Linh Sơn, khi giảng kinh Pháp Hoa, thầy có nói hằng
hà sa số chư Phật ở sáu phương như trong
kinh Di Đà [đă dạy] hiện đến trước
mặt, chúng ta đều chẳng thể cúng dường.
Nhưng tôi nghe thầy nói, khi niệm phần sáu
phương Phật [trong kinh Di Đà], phải quán tưởng
sáu phương hằng hà sa số chư Phật đều
hiện đến trước mắt chúng ta, ngoài chuyện
phổ quang minh chiếu ra, dùng phương pháp ǵ để
cúng dường?
Đáp: Dùng tam
nghiệp cung kính để cúng dường là được
rồi.
* Hỏi: Vợ
của hậu học có lúc đến chùa, hễ nghe có
người niệm kinh, hoặc là chính ḿnh học niệm,
nội tâm đều cảm thấy từng đợt
chua xót muốn khóc, duyên cớ là như thế nào? (Nhan Khoan Văn hỏi)
Đáp: Lệnh chánh[3] có
thiện căn từ xưa, vừa nghe Phật âm, sẽ
bị cảm động sâu xa, xúc động thấu tới
tánh, bất giác ứa lệ. Chuyện này giống như
đứa con lưu lạc quê người, bỗng nghe thấy
tên cha mẹ, tưởng nhớ cha mẹ tột cùng, sẽ
thường tuôn lệ!
* Hỏi: “Một niệm mười pháp
giới” là dấy lên ư niệm nào để phù hợp pháp
giới nào? (Châu Ấu hỏi)
Đáp: Đáp
tách bạch từng điều, sẽ rất rườm
rà, đành nói đại lược! Niệm mười ác
bèn hợp với các pháp giới thuộc tam đồ, niệm
Thập Thiện sẽ phù hợp thiên giới, niệm Tứ
Đế là Thanh Văn giới, niệm mười hai nhân
duyên là Duyên Giác giới, niệm lục độ vạn hạnh
sẽ là Bồ Tát giới, niệm vô duyên từ bi là Phật
pháp giới. Trong việc niệm Phật của Tịnh
Tông, bao hàm rất nhiều nghĩa; trong ấy, có ư nghĩa
niệm Thật Tướng của Phật. V́ thế biết
pháp môn Niệm Phật chính là pháp môn đốn siêu trực
nhập vậy!
* Hỏi: V́ sao
tin Phật th́ sẽ nhất định quy y với người
xuất gia? (Có kinh luận nào để làm căn cứ) (Trần Tâm Nguyện hỏi)
Đáp: Người
xuất gia được gọi là Tăng Bảo. Phật,
Pháp, Tăng Tam Bảo nhất thể; v́ thế, ắt phải
quy y người xuất gia hiện tướng tỳ-kheo.
Kinh luật phần nhiều có ghi chép. Phẩm Quy Y Tam Bảo
trong kinh Lục Ba La Mật Đa nói rơ ràng nhất!
* Hỏi: Kẻ
mắc bệnh th́ niệm Phật Dược Sư như
thế nào? (Hà Vĩnh Đinh hỏi)
Đáp: Tâm chí
thành xưng niệm là được rồi, chẳng cần
chú trọng nghi thức.
* Hỏi: Người
học Phật cần phải “bị ma khảo” như thế
nào? (Hà Vĩnh Đinh hỏi)
Đáp: Có lẽ
tôn ư muốn hỏi: Người học Phật khi gặp
ma chướng, hăy nên xử trí như thế nào? Nếu
đúng như tôi đoán th́ có thể là trong các pháp Thiền,
Tịnh, Mật, Luật, lúc b́nh thời tu pháp nào, dùng ngay
pháp ấy để cầu Định. Do công năng của
Định lực, mới có thể khử ma!
* Hỏi: Lục
Độ lấy Nhẫn Nhục làm đầu. Như khi
ta bị người khác cố ư làm nhục, bèn chẳng khởi
quán tưởng (mặc kệ chẳng quan tâm), hoặc dấy
niệm phân tích tâm niệm của người ấy rồi
nghĩ tưởng thương xót. Cách nào sẽ có công
đức lớn nhất? (Lê
Minh Thời hỏi)
Đáp: Rỗng
rang chẳng tiếp nhận chính là cảnh giới của
Thanh Văn và Duyên Giác. Thương xót, hóa độ kẻ đó
chính là hạnh nguyện của Bồ Tát.
* Hỏi: Điều
thứ hai trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện là “phiền năo vô tận thệ nguyện
đoạn”, đoạn như thế nào? (Táo Tử hỏi)
Đáp: Hiểu
sâu lư Tứ Đế, liễu ngộ Nhân Không và Pháp Không. Đấy
là đoạn từ Giải. Nhất tâm niệm Phật, ngăn
chống chẳng cho trần dục[4] xâm
phạm ta. Đấy là đoạn từ Hành vậy. Nếu
là giải hành tương ứng, ắt sẽ là hai thanh
gươm cùng múa tít lên, cái sức đoạn trừ [phiền
năo] sẽ càng được tăng thêm!
* Hỏi: Trong
bộ Phật Học Thường Thức Khóa Bổn do
đại đức biên soạn, nơi phần bốn của
chương Thất Bồ Đề Phần, tức là Trừ
Giác Phần, có nói: “Ắt phải
đoạn trừ phiền năo, nhưng phiền năo và Bồ
Đề chẳng phải một, chẳng phải hai, chớ
nên lầm lạc tổn giảm Bồ Đề”.
Điều này rất khó hiểu! (Táo Tử hỏi)
Đáp: Khi mê
chuyện ǵ, liền gọi là phiền năo; từ mê chuyển
thành giác, tức là Bồ Đề. Đấy chính là
nghĩa “phiền năo và Bồ
Đề chẳng phải hai, chẳng phải một”
vậy! Tâm có phiền năo, sẽ chẳng khinh an. Phiền
năo là do phan duyên lục trần mà sanh. Giữ cho cái tâm chẳng
duyên hết thảy, sẽ được khinh an, đó gọi
là Trừ. Nhưng phát tâm “thượng
cầu, hạ hóa” cũng là phan duyên; kẻ sơ cơ
chẳng thể ĺa tướng, cũng chẳng tránh khỏi
v́ đấy mà sanh phiền năo! Nếu tâm chán mệt, thoái
chuyển, chính là “tổn Bồ
Đề” vậy!
* Hỏi: Tôi
thường nghe câu nói: “Vô công,
nội quả nan thành” (Chẳng đổ công dốc sức,
cái quả trong nội tâm khó thành tựu). Nếu chẳng
có tiền, chẳng có sức, lấy đâu ra công? Tuy đạt
đến cảnh giới rất sâu, có khác ǵ vô dụng? (Hoàng Hàm hỏi)
Đáp: Có tiền
bất quá là có công bố thí mà thôi, nhưng ba nghiệp thanh
tịnh, Lục Độ đều hành, lợi ích chúng sanh,
vốn có muôn mối. Há có nên v́ chẳng có tiền mà bỏ
các điều lành khác ư? Thấy kẻ khác khốn khó,
bị tai ách, bèn tận hết thân lực giúp đỡ,
đó là cái công nơi thân. Khuyên kẻ khác dứt ác làm lành, học
Phật, niệm Phật, chính là công nơi miệng. Thấy
kẻ khác đạt được điều ǵ, tâm ta
hoan hỷ. Thấy kẻ khác mất mát, tâm ta thương
xót, đó là công nơi ư. Sao lại bảo “chẳng có tiền,
sẽ chẳng thể làm công đức” vậy?
* Hỏi: Tôi đă
nghiêm túc tŕ trai niệm Phật, nhưng chưa quy y, thọ
giới, có thích đáng hay không? (Vô
Danh Thị hỏi)
Đáp: Bất
luận quy y hay thọ giới, đều là đối
trước Phật, phát khởi chân nguyện, biểu thị
tiếp nhận hết thảy giáo huấn, răn dạy.
Tự phát nguyện hay dạy người khác, đều
có một loại sức mạnh chẳng thể nghĩ
bàn, có thể tăng cường tinh tấn, đạt thành
tựu.
* Hỏi: Đối
với công khóa sáng tối, do chẳng thuận tiện
như mọi người, xin hăy chỉ dạy cách tu tŕ giản
dị, và tŕnh tự hành tŕ đơn giản! (Vô Danh Thị hỏi)
Đáp: Xin cho
biết tên họ và địa chỉ, bổn xă có thể
gởi tặng mấy tập sách nhỏ nhập môn.
* Hỏi: Phiền năo do động mà sanh.
Nước trong ao tĩnh lặng; hễ động bèn gợn
sóng. Bồ Tát v́ độ chúng sanh, nguyện ứng hiện
trong mười phương. Chúng sanh khó độ, vẫn
thường gặp kẻ ương bướng, ngu
độn hủy báng, đả kích, Bồ Tát có phiền
năo hay không? Xin được nghe cách trừ phiền năo! (Lê Minh Thời hỏi)
Đáp: Bồ
Tát có rất nhiều đẳng cấp, tŕnh độ chẳng
đồng nhất. Giống như thầy thuốc trong
cơi đời, mỗi người có tŕnh độ khác biệt.
Nếu là bậc Bồ Tát đă đoạn Kiến Tư
và Trần Sa Hoặc, sẽ chẳng khởi phiền năo
đối với chúng sanh.
* Hỏi: Gần
đây, tệ nhân mới quy y Tam Bảo, chính ḿnh phát nguyện
ăn chay bữa sáng. Xin hăy dạy cho biết: Ăn chay buổi
sáng th́ tiêu chuẩn thời gian tính từ mấy giờ cho
đến mấy giờ? Lấy từ sáng sớm thức
dậy cho đến mười một giờ sáng làm hạn,
có được hay không? (Vương
Gia Thanh hỏi)
Đáp: Ăn chay buổi sáng,
tự ấn định thời gian, cũng chẳng phải
là không được. Nhưng hăy nên biết ư nghĩa của
việc ăn chay: Đối với chính ḿnh là chú trọng
vệ sinh, đối với kẻ khác là bảo toàn sanh mạng
loài vật. Nếu là kẻ do tập khí tích tụ, khó thể
sửa đổi, chẳng ngại ǵ tận hết sức
giảm thiểu thịt, ắt sẽ có lợi ích nho nhỏ
về mặt vệ sinh. Có thể ăn năm thứ tịnh
nhục th́ cũng là bảo toàn sanh mạng loài vật một
cách tiêu cực vậy!
* Hỏi: Xin chỉ dạy về
ư nghĩa và phương pháp tu tŕ của mỗi tông trong tám
tông Phật giáo? (Dư B́nh hỏi)
Đáp: Nói [chi
tiết] sẽ rất rườm rà, nhưng đều chẳng
ngoài ba pháp Thiền, Tịnh, Mật!
* Hỏi: Kẻ
nghèo túng do bị hạn chế bởi tiền bạc và thời
gian, không có duyên thọ Tam Quy, Ngũ Giới, nhưng thành
tâm niệm Phật, công đức của người ấy
có phải là giống như đă thọ Tam Quy, Ngũ Giới
hay không? (Lư Sĩ Nhân hỏi)
Đáp: Thành tâm
niệm Phật, đúng pháp tu tŕ, cố nhiên là có công đức,
nhưng cũng chớ nên xem nhẹ nghi thức! Tâm có thể
an trụ, có thể chẳng thoái chuyển, nhưng quy y thọ
giới, phát xuất từ ḷng chí thành, hoàn toàn chẳng cần
phải tốn tiền!
* Hỏi: Lại
nữa, trước công khóa buổi sáng và sau công khóa buổi
tối mỗi ngày, tôi đều lễ Tam Bảo. Hiện
thời, trước khóa sáng, tôi tạm dùng phần Mười
Hai Cách Lạy Của Cư Sĩ Dương Nhân Sơn như
đă được trích dẫn trong bài Từ Hàng Thập
Huấn Thuật Nghĩa. Tụng khóa tối xong, bèn tạm
tuân theo quy định “nhất
tâm đảnh lễ” nơi trang mười ở cuối
bài Đại Hồi Hướng dành cho ngày cử hành niệm
Phật của Linh Nham Niệm Tụng Nghi Quy, có ổn thỏa
hay không? Nếu chưa thỏa đáng, khẩn cầu cụ
hăy ấn định cho! (cư
sĩ Đại Khoan hỏi)
Đáp: Công khóa
hăy nên đơn giản, thuần thục. Đương
nhiên là cũng nên lượng định thời gian và hoàn
cảnh của cá nhân để châm chước tăng giảm.
Đối với hai cách đă nêu, nếu cảm thấy
thoải mái, chẳng bị bức bách, sẽ là hoàn toàn chẳng
có ǵ không thỏa đáng, bởi hai cách ấy đều do
cổ đại đức ấn định.
* Hỏi: Nếu
có những Phật tử bị ngồi tù, chẳng nghe
chánh pháp, ở chung với kẻ tà. Người như thế
tu Huệ bằng cách nào? (Trạch
Mạnh Thu hỏi)
Đáp: Đă
nói là “Phật tử”,
đương nhiên là nói về người đă từng
học Phật, là người trước đó đă từng
nghe chánh pháp rồi, chỉ lo chính ḿnh chẳng tinh tấn mà
thôi! Ông chẳng nghe nói “hoa sen mọc từ bùn mà chẳng
nhuốm bẩn” ư? Tuy có kẻ tà, làm sao có thể trở
ngại người ấy tu tâm cho được? Hơn
nữa, hiện thời chế độ nhà tù có các thiết
bị giáo huấn, cho phép đọc sách Phật, lại
c̣n có thể thỉnh pháp sư vào thuyết pháp trong tù. Nếu
thật sự cầu tu Huệ, há có khó khăn ǵ?
* Hỏi: Giải
thích “bế quan” như thế nào? (Trạch Mạnh Thu hỏi)
Đáp: Hành giả
do trần thế rối ren, chẳng thể đắc
Định, bèn ở một ḿnh trong một cái thất,
đóng chặt cửa, nhằm đoạn tuyệt với
bên ngoài. Ở trong ấy để chuyên tâm nơi một
chuyện. Trong điều trước, ông đă nói đến
chuyện Phật tử mắc phải nạn tù, nếu
người ấy chân tâm hướng về đạo, sẽ
có thể lợi dụng cảnh tù đày, coi như
phương tiện để bế quan vậy!
* Hỏi: Người
câm điếc tu Huệ như thế nào? (Trạch Mạnh Thu hỏi)
Đáp: Ḷa, điếc,
ngọng, câm, được gọi là một trong tám nạn,
chính là v́ những kẻ ấy khó nghe Phật pháp. Nếu
có bậc đại tâm Bồ Tát chịu phát ḷng từ bi,
t́m cách dẫn dụ những người như vậy
thường đến viếng chùa, khiến cho họ trông
thấy tượng Phật, học lễ bái, phát tâm hoan hỷ,
ắt sẽ sanh thiện căn. Lại c̣n chọn cách dạy
học từ các trường dành cho người câm điếc,
mù ḷa, hướng dẫn họ niệm sáu chữ hồng
danh, thâu thập những sách vở, tranh ảnh về cơi Cực
Lạc và địa ngục, chỉ dạy họ về sự
khổ, lạc, khiến cho họ dấy ḷng yêu thích, ngưỡng
mộ, cũng như sanh ư niệm kinh sợ, huệ sẽ
phát sanh.
* Hỏi: Đối
với khóa tụng mỗi ngày của người tại
gia, khóa sáng, khóa tối hăy nên cử hành vào lúc nào là thích hợp?
Lại nữa, nên tụng công khóa trước khi dùng
cơm, hay sau khi dùng cơm? (Trang
Khánh Hiền hỏi)
Đáp: Tụng
khóa sớm sau khi thức dậy, rửa ráy xong. Tụng khóa
tối vào lúc mặt trời lặn. Nhưng người tại
gia có thể là công việc bận bịu, thời gian chẳng
được tự do, cũng chẳng ngại tụng
niệm trước khi ngủ vậy.
* Hỏi: Nếu
trong khóa tụng, tụng lầm th́ có trở ngại ǵ hay
không? Hơn nữa, tụng lầm th́ có phương pháp
nào để bổ cứu hay không? (Trang Khánh Hiền hỏi)
Đáp: Hễ
niệm sai, hăy nên đứng dậy lễ bái, sám hối, bắt
đầu tụng lại. Nói “bắt đầu tụng lại”
tức là bắt đầu kể từ chỗ bị lầm.
Nếu tụng kinh bị lầm th́ tụng lại một
lượt kinh khác, tụng chú lầm th́ tụng lại biến
chú ấy!
* Hỏi: Tuy có
bản hoài hóa độ chúng sanh, nhưng chúng sanh cứng cỏi,
khó độ; như vậy th́ hăy nên dùng phương pháp
nào để khuyên dụ họ, khiến cho họ tin
tưởng sâu xa? (Tiêu Huệ
Tâm hỏi)
Đáp: Về phía
chính ḿnh, cần phải có học vấn phong phú, chắc
thật, khéo léo quan sát căn cơ, rồi lại vận dụng
Tứ Nhiếp, Lục Độ. Nhưng đối
phương cũng cần phải là kẻ nghiệp nhẹ,
chướng cạn, hai duyên ḥa hợp th́ mới có thể
tin nhận.
* Hỏi: Đệ
tử mới nhập Phật môn, đối với giáo
nghĩa của Phật giáo, vẫn c̣n mờ mịt không biết,
xin hăy dạy cho ư nghĩa chánh yếu! (Trương A Hỷ hỏi)
Đáp: Chúng sanh
có nỗi khổ đă định sẵn là sanh, lăo, bệnh,
tử. Lại có nỗi khổ tăng thượng là thiên
tai, nhân họa, cũng như nỗi khổ luân hồi sau
khi mạng chung. Phật pháp thảy đều có thể giải
trừ [những nỗi khổ ấy]; nhưng sự giải
trừ ấy, không chỉ chuyên v́ chính ḿnh, mà phải là cùng
vô lượng chúng sanh, b́nh đẳng giải trừ.
Đấy chính là ư nghĩa chánh yếu trong Phật giáo vậy!
* Hỏi: Có một
vị đồng tu mới (tin Phật chưa lâu), có một
chiều nọ, ở ngoại thành, thấy trên hư không
có hai ba hạt kim quang. Sau đấy, hóa thành một vị
Phật kim sắc giống như đức Thích Tôn ở
trên không trung. V́ sao người ấy có thể trông thấy,
c̣n người tu hành đă lâu, rất muốn thấy, cớ
sao chẳng thể trông thấy? (Cố
Phượng Anh hỏi)
Đáp: Người
tu Tịnh hăy nên cầu tịnh niệm tiếp nối, tri
kiến chánh xác. Hễ trông thấy cảnh tượng ǵ,
bèn có thể biện định chân, vọng. Chẳng trông
thấy, vẫn là cảnh giới tốt đẹp. Nếu
những điều vị đồng tu ấy trông thấy
là chẳng hư vọng, chắc là do túc căn sâu dầy,
tập khí nhiễm đắm trần lao ít, cho nên có thể
trong một thời gian ngắn mà cảm được thụy
tướng ấy!
* Hỏi: Tu
hành trong Sa Bà tiến tiến lùi lùi. Xin hỏi: Nếu
người trọn đủ Định và Huệ, dẫu
chưa văng sanh, có c̣n thoái chuyển hay không? (Huệ Đức hỏi)
Đáp: Trọn
đủ Định, Huệ, [xét về] mức độ
có Đại Thừa và Tiểu Thừa sai khác! Trong Đại
Thừa, cũng chia thành Trụ, Hạnh, Hướng,
Địa. Người thật sự trọn đủ
viên măn, chỉ có ḿnh đức Phật mà thôi. Bất Thoái
lại chia thành ba loại là Vị, Hạnh, Niệm, phối
hợp với bốn cấp Trụ, Hạnh, Hướng,
Địa, nói ra sẽ hết sức phức tạp. Chỉ
có người văng sanh Tây Phương là đều đắc
ba thứ Bất Thoái, đúng là hy hữu, lạ lùng, đặc
biệt! [Tịnh Độ] Thập Nghi Luận đă giảng
giải [chuyện ấy] rất tường tận. Nếu
ở trong thế giới Sa Bà, nhằm thời kỳ Mạt
Pháp, [mong đạt được] Định và Huệ
trọn đủ, há dễ dàng ư? Hành nhân dẫu có
Định, Huệ, gặp tám gió mà có thể bất thoái,
chưa chắc đă có trọn cả ba thứ [Bất
Thoái]! Dẫu có người như vậy đi nữa,
cũng chẳng phải là bọn ta vậy!
* Hỏi: Học
thức của tôi quá nông cạn, chuyện đời lại
nhiều. Trong cuộc sống hằng ngày, muôn cảnh xúm
nhau chen lẫn, đúng là “tâm có thừa, nhưng chẳng
đủ sức”. Chính ḿnh thật sự là chẳng dám bỏ
lỡ thời gian, nhưng v́ pháp yếu, ma mạnh, công phu
chưa được thành tựu. Già cả nếu bệnh
tật, bệnh rồi chết, rất sợ lại
rơi vào luân hồi, đúng là bị thua thiệt to lớn!
Do vậy, hôm nay ngoài công khóa ra, xin thầy lại chỉ dạy
tường tận phương pháp dụng công? (Huệ Đức hỏi)
Đáp: Tịnh
Độ đă là đại đạo đặc biệt
dễ hành ở ngoài tám vạn bốn ngàn pháp môn; những
pháp môn c̣n lại đều là pháp khó hành. Phương pháp dụng
công ngoài công khóa có thể nói tường tận th́ chính là
ngoài niệm Phật ra, lại là niệm Phật nhiều
hơn mà thôi!
* Hỏi: Kinh Pháp
Hoa, kinh Hoa Nghiêm, kinh Lăng Nghiêm v.v… đều do kim khẩu
của đức Như Lai nói ra. Kẻ mới học Phật
do ḷng tín ngưỡng, chắc thật, kiên cố, dùng kinh
văn làm chuẩn mực, người học ấy có phạm
lỗi lầm hay không? (Tạ Phổ
Dương hỏi)
Đáp: Y giáo phụng
hành là lẽ đương nhiên, có ǵ là lầm lỗi? Nhưng
các kinh như ông đă nêu, nghĩa lư sâu thăm thẳm, quả
thật chẳng phải là hàng sơ học mà có thể hiểu
được! Đă chẳng hiểu, làm sao có thể dùng
làm chuẩn tắc? Có lẽ, ông nên thỉnh một vị pháp
sư giới hạnh trang nghiêm truyền dạy th́ tốt
hơn!
* Hỏi: Học
nhân thường là đối với hai khóa sáng tối,
sáng th́ cúng cơm, chiều th́ cúng nước trong ([kèm thêm] một
miếng bánh). Từ sau khi tham gia Phật Thất, đă học
biết Mông Sơn Thí Thực, tính thêm Mông Sơn Thí Thực
vào mỗi tối có được hay chăng? (Lâm Trường Thanh hỏi)
Đáp: Nếu
thời gian cho phép, có ǵ là không được?
* Hỏi: Học
nhân có lúc tụng niệm văn khóa vào bảy giờ tối, có
khi bận bịu công việc, kéo dài đến mười
giờ, có trở ngại cho chuyện phóng Mông Sơn hay
không? (Lâm Trường Thanh hỏi)
Đáp: Thời
gian sớm hay trễ là do bất đắc dĩ, có thể
quyền biến.
* Hỏi: Trong
nhà học nhân có lập một tiểu Phật đường,
công khóa sáng tối hằng ngày, nhưng vẫn chưa thọ
giới, công đức lợi tha có bị sai kém đôi chút
hay không? (Lâm Trường Thanh hỏi)
Đáp: Thọ
giới cố nhiên là tốt đẹp, nhưng khi c̣n
chưa thọ giới, đối với hết thảy
công khóa, chỉ cầu muôn phần thành kính, công đức
sẽ to lớn. Cổ đức nói: “Phật pháp cầu từ ḷng cung kính”. Có một
phần cung kính, sẽ được một phần công
đức. Muôn phần cung kính, sẽ được muôn
phần công đức. Ngược lại, tâm chẳng
thành kính, dẫu đă thọ giới, vẫn là hư giả
bề ngoài.
* Hỏi: Có phải
là “phóng Mông Sơn” nhất
định phải làm mỗi ngày, chẳng gián đoạn?
Hay là chỉ trong ngày mồng Một, Rằm, thêm vào lễ
phóng Mông Sơn cũng được? V́ các gia đ́nh tín
đồ Phật giáo trong tỉnh này đọc những
[bài chú như] Phá Địa Ngục, Chiêu Quỷ Hồn[5],
trong tâm chẳng tránh khỏi hoảng sợ (sợ dẫn
quỷ vào nhà); do vậy, chẳng dám tùy tiện. Xin thầy
dạy cho! (Lâm Trường
Thanh hỏi)
Đáp: Chuyện
này hăy nên châm chước, lượng định theo thời
gian của cá nhân để ấn định, bất luận
là mỗi tháng, hay mồng Một, ngày Rằm, cốt sao phải
có tiêu chuẩn nhất định. Chớ nên cao hứng
bèn làm, không vui sẽ chẳng làm! Phàm tu pháp th́ phải có thứ
tự, phải có cái tâm thường hằng. Nếu không,
sẽ là chẳng thành kính. Đă phóng Mông Sơn, lại sợ
dẫn quỷ vào nhà, tức là Lư và Sự mâu thuẫn! Thử
hỏi: Đă phát thiệp mời khách, lại sợ khách
đến, lư giải hành vi ấy như thế nào đây?
* Hỏi: Có
người nói: “Ai tu nấy
đắc”. Xét như vậy, sẽ là cha tu cha đắc,
con tu con đắc. V́ sao có kẻ bảo: “Một đứa con thành Phật, tổ tông chín
đời được siêu thoát”. Nói như vậy sẽ
chẳng viên dung, hay là có [ư nghĩa] uyên áo, mầu nhiệm
nào khác đấy chăng? (Nhan
Khoan Văn hỏi)
Đáp: “Đắc” là đạt
được đạo quả. “Siêu thoát” là từ đường dưới
vượt lên đường trên, hoàn toàn chẳng tùy thuộc
vào người tu tŕ, cũng giống như chứng đạo.
Nhưng do c̣n có nghiệp lực nhẹ, nặng khác biệt,
và c̣n có sự khác biệt giữa siêu độ kèm theo và siêu
độ do làm công đức khác. Sự Lư phức tạp,
chẳng thể gộp chung lại để nói. Như mẹ
của tôn giả Đại Mục Kiền Liên thuộc
trường hợp “do nghiệp lực quá nặng, chẳng
thể siêu độ kèm theo” được!
* Hỏi: Trong
lúc miệng niệm Phật hiệu, tay lần tràng hạt,
nghe nói hễ lần tới hạt hồ lô (tức hạt
khởi đầu và kết thúc của chuỗi tràng hạt),
phải lần ngược lại, chẳng thể lướt
qua hạt thứ nhất. Nếu bỏ qua hạt ấy,
cứ lần tiếp (giống như bánh xe xoay không ngừng),
sẽ có tội. Nói kiểu ấy có đúng hay không? Giải
thích theo ư nghĩa rốt ráo là như thế nào? (Dương Thừa Quang)
Đáp: Lần
chuỗi tới hạt hồ lô, ắt phải lần
ngược lại là v́ hạt hồ lô chẳng thuộc
trong các hạt của chuỗi tràng, lại c̣n v́ hạt hồ
lô thắt chặt, chẳng có chỗ dây nào thừa ra, chẳng
dễ lần qua. Nếu lần ngược lại, sẽ
có chỗ trống để lần nơi dây chuỗi. C̣n
nói “có tội” th́ tôi chưa nghe nói.
* Hỏi: Làm
theo cách nào th́ mới có thể ngộ hết thảy các
pháp, đạt đến chẳng có Ngă Chấp, chẳng
có Pháp Chấp, đạt được nghĩa “chúng sanh là không, vạn pháp đều
không”? (Lâm Thánh Côn hỏi)
Đáp: Chuyện
này ắt cần phải trước hết là nghe Phật
pháp; sau đấy, nghiên cứu, liễu giải giáo
nghĩa, rồi lại dựa theo những ǵ đă nghe,
đă nghiên cứu để tu tập. Khi đă đạt
tới giải hạnh tương ứng, sẽ có thể
phá chấp, thấu đạt lẽ Không vậy!
* Hỏi: Trong tám
vạn bốn ngàn pháp môn của Phật pháp, có pháp tu
trước, ngộ sau, có pháp ngộ trước tu sau, giữa
hai loại ấy, loại nào thù thắng? Hay là các pháp b́nh
đẳng, chẳng có hay thấp, tùy thuộc căn khí của
mỗi người mà luận định? (Chung Quân Lương hỏi)
Đáp: Các pháp b́nh
đẳng, nói “tùy thuộc
căn khí” là đúng!
* Hỏi: Phật
pháp lấy từ bi, nhẫn nhục làm đầu. Nếu
bị lăng nhục khó kham, vẫn phải nhẫn nại
hứng chịu. Như vậy là phải học theo kẻ
ngu, người gỗ, thậm chí bị đánh đập
cỡ nào cũng không biết. Nếu không, sẽ chẳng
được coi là tín đồ nhà Phật, đúng không? (Quán Thành hỏi)
Đáp: Bị
lăng nhục khó kham mà có thể bao dung, mới gọi là
nhẫn thật sự. Tâm kẻ ngu tham sân hừng hực,
thân thể người gỗ chẳng có cảm giác, há có
thể sánh bằng? Người có thể thật sự nhẫn,
tâm chẳng có tham, sân, thân thể chẳng chai ĺ, chính là v́
thương xót đối phương mà chẳng trả
đũa. Đấy là hạnh của bậc đại
đức đại trí, do có thể bao dung mà làm như kẻ
ngu. Nhẫn Nhục chính là một độ trong Lục
Độ, là pháp tu tập của hàng Bồ Tát. Hễ gặp
chuyện, ắt phải dùng Lục Độ gộp lại
để quan sát. Nếu có giặc xâm phạm quốc gia,
giặc giết cha mẹ, ắt phải ra tay chế ngự,
thực hiện Vô Thí Bố Úy, pḥng vệ có hạn độ
nhất định, cũng chẳng hại đến ư
nghĩa Nhẫn Nhục.
* Hỏi: Tôi
đă gia nhập Thiên Tiên Đạo hơn ba mươi
năm. Vào mùa Đông năm ngoái, chuyển sang theo Phật
giáo, mẹ con cùng quy y Tam Bảo, bản thân tôi đă thọ
Ngũ Giới. Chẳng biết chuyện ấy có hợp
lư hay không? Có phải là phạm pháp hay không? Tôi một mực
thành tâm thờ phụng Quán Âm Bồ Tát đă hơn ba
mươi năm, nhưng không biết niệm Quán Âm Phổ
Môn Phẩm. Chỉ có mồng Một, ngày Rằm bèn niệm
chú Đại Bi, kinh Kim Cang và kinh Quan Đế, kinh Tam Quan.
(Lôi cư sĩ hỏi)
Đáp: Thiên Tiên
Đạo chính là một loại tà môn ngoại đạo,
bỏ nó để theo Phật chính là “cải tà quy chánh”, tột
bậc hợp lư! Nếu chẳng như vậy th́ mới
là “phạm pháp”. Phạm pháp là vi phạm pháp lệnh của
quốc gia, v́ loại tà giáo ấy dùng những lời lẽ
ma mị dối gạt đại chúng, tổ chức bí mật,
đă bị quốc pháp cấm ngặt từ lâu. Kẻ
nào may mắn chẳng bị cảnh sát phát hiện bắt
bớ, sau này, ắt cũng bị cơi Âm tru lục! Những
thứ ông đă niệm như kinh Kim Cang và chú Đại
Bi đều là kinh Phật, c̣n các kinh Quan Đế và kinh
Tam Quan là do người đời sau ngụy tạo.
Người đă quy y Phật pháp đừng nên niệm
những kinh ấy nữa!
* Hỏi: Kể
từ sau khi quy y, hằng ngày, buổi sáng tôi tŕ một bộ
kinh Kim Cang, mười biến chú Đại Bi, hai biến
phẩm Phổ Môn, ngoài ra là thánh hiệu Thích Ca Mâu Ni Phật,
Quán Thế Âm Bồ Tát, nam-mô Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư
Phật, và nam-mô Địa Tạng Bồ Tát, các Phật hiệu.
Khóa tối th́ tụng kinh Di Đà hai biến, kèm thêm Phật
hiệu. Sáng chiều đều niệm liên tục, vẫn
chẳng gián đoạn. Hiện thời, do thân thể trẻ
nhỏ bị bệnh dây dưa, phải tạm đ́nh kinh
Kim Cang, chuyển sang niệm kinh Địa Tạng, chẳng
biết có được hay không? (Lôi cư sĩ hỏi)
Đáp: Những
thứ ông đă tụng niệm đều là kinh Phật.
Cố nhiên là chẳng có ǵ không nên! Trong nhà có việc cấp
bách, ngẫu nhiên ngừng một thứ th́ cũng là
phương tiện. Nhưng ông tu tập rất tạp,
chẳng có mục tiêu; sau này, chỉ đạt được
phước báo thế gian, chẳng thể chứng chánh quả!
* Hỏi: Tôi
thường nghĩ trong quá khứ đă chịu hết thảy
những nỗi khổ to lớn nơi thân tâm, chẳng
được tự do, may mắn có duyên gặp gỡ Phật
pháp, là con đường thoát ra để đạt
được tương lai cao nhất trong đời
người. Theo đúng pháp tu hành những giáo huấn của
đức Phật, sẽ có thể chứng quả vị.
Quả chia thành các cấp bậc: Thanh Văn, Duyên Giác, La
Hán, Bồ Tát v.v… Tu hành trong Sa Bà, nếu chứng các quả
vị ấy, ai có thể phán đoán hành giả đă chứng
quả, [bởi lẽ], đạo quả vô h́nh vô tướng
để có thể trông thấy! (Châu Huệ Đức hỏi)
Đáp: Ví
như uống nước, lạnh, nóng tự biết.
Người khác chứng quả, cũng có thể nhận
biết qua những điều kiện kèm theo, tức là những
biểu hiện thần thông. Hoặc là khi xả báo có các
thứ thụy tướng.
* Hỏi: Phát
tâm học Phật, ắt cần phải quy y Tam Bảo,
nhưng ở trong vùng núi non chẳng có Tăng Bảo (pháp
sư ḥa thượng), thường ở trong miếu
đối trước tượng Quán Thế Âm Bồ
Tát, lại có kinh sách (tức là Pháp Bảo), đối
trước ảnh chụp của đại pháp sư
Chương Gia hoặc ảnh chụp của bất cứ
vị đại pháp sư nào, trong khóa tụng xướng
“quy y Tam Bảo”, có hữu
hiệu hay chăng? Đời sau tối thiểu là chẳng
mắc nạn đọa vào tam ác đạo, đúng không? (Ôn Văn Thụy hỏi)
Đáp: Điều
này cũng thuộc về pháp phương tiện, hễ thành
tâm, sẽ có công đức. Đă học niệm Phật, sẽ
tránh khỏi tam đồ. Nếu cư sĩ chịu quy y
Tam Bảo, có thể viết sơ yếu lư lịch, bổn
xă nguyện sẽ giới thiệu giùm. Quy y khác với thọ
giới, chỉ gởi thơ xin quy y th́ cũng dung thông!
* Hỏi: Khoảng
hai mươi học hữu (bạn bè học Phật, đạo
hữu) đồng nguyện của chúng tôi thường
xuyên ở trong chùa (ở dưới bệ thờ Quán Âm Bồ
Tát) tụng kinh, lễ Phật, nhiễu Phật, do không có
pháp sư lănh đạo, cho nên đại khái có bao nhiêu nỗi
sai lầm hoặc không theo đúng thứ tự, có bị tổn
thất công đức hay không? (Ôn
Văn Thụy hỏi)
Đáp: Nhiễu
Phật hăy nên đi theo bên phải của mỗi người,
xoay ṿng theo chiều bên phải, như mặt trời mọc
đằng Đông, chuyển sang phía Nam rồi lặn
đằng Tây. Chẳng hiểu quy củ, chỉ cầu
chân thành, sẽ chẳng mất công đức.
* Hỏi: Chính
ḿnh có tiền bạc để dựng chùa thờ Phật,
lập bệnh viện, mở trường học mong lợi
ích chúng sanh rộng khắp. Đấy là Đại Thừa
Phật pháp. Giả sử chẳng có tài lực như vậy,
hết thảy đều chẳng làm được, c̣n
có cách nào để tu hành Đại Thừa? (Lữ Chánh Lương hỏi)
Đáp: Lợi
ích chúng sanh chính là khiến cho họ ĺa khổ, được
vui. Chúng sanh có hai thứ là sanh mạng và huệ mạng.
Châu cấp, giúp đỡ người nghèo khổ, cứu
vớt [nạn nhân và] dẹp trừ tai nạn; đấy
là lợi lạc sanh mạng của người khác. Khuyến
hóa họ sửa ác hướng thiện, quy y Phật pháp,
niệm Phật sanh Tây, chính là độ huệ mạng của
người ấy. Nếu phát tâm làm những sự nghiệp
đó, có tiền tài cố nhiên là dễ dàng thực hiện.
Chẳng có tiền của, hăy ra sức. Kẻ già yếu
có thể bỏ ra khẩu lực (tận lực khuyên nhủ,
kiên nhẫn khuyến hóa). Dẫu khẩu lực vô hiệu,
tâm lực cũng phải phát triển đến mười
hai vạn phần, thời thời khắc khắc dạy
kẻ khác chẳng lui sụt. Đấy đều là hành
pháp Đại Thừa.
* Hỏi: Trong
sách Phật giáo có nói: “Nếu
có những kẻ thấy h́nh tướng của Phật, Bồ
Tát, đấy đều là ma hiển hiện, chớ nên
chấp cảnh”. Vậy th́ xưa kia tổ sư Tỉnh
Am, thiền sư Triệt Ngộ, thượng nhân Pháp
Nhiên trông thấy h́nh tượng Phật, Bồ Tát, đó
cũng là những cảnh do ma hiển hiện ư? Ma có
bao nhiêu loại? (Lư Vĩnh Mậu
hỏi)
Đáp: Phương
pháp tu tŕ vốn có nhiều loại. Mỗi pháp có đường
lối riêng, chẳng thể hỗn tạp được!
Nếu như tham Thiền, bỗng tượng Phật hiện
ra, tức là chẳng hợp với điều ta vốn
đang tham cứu. V́ thế, nói là “ma”. Nếu là kẻ niệm
Phật, vốn cầu thấy Phật, khi tượng Phật
hiện ra, chính là cảm ứng, chẳng thể nói là ma!
C̣n như ông hỏi về chủng loại của ma, các
kinh ghi chép cũng chẳng giống nhau. Có bốn loại,
năm loại, hoặc mười loại khác nhau,
nhưng kinh Lăng Nghiêm chia Ngũ Ấm thành năm
mươi loại là cặn kẽ nhất!
* Hỏi: Tôi tội
nghiệp sâu nặng, thân tâm hứng chịu vô lượng
nỗi khổ sở chẳng thể nói trọn! Kể từ
khi học Phật đến nay, hiện thời tinh thần
có chỗ gởi gắm, nhưng v́ sự nghiệp trói buộc,
cuộc sống bức bách, thời gian để nghiên cứu
Phật lư rất ít. Đối với chuyện thuyết
pháp độ sanh thông thường, tôi thấy có hai loại:
Một loại là tuy thuyết pháp, nhưng chẳng thực
hành. Loại thứ hai là tuy chẳng thể thuyết pháp,
nhưng có thực hành. Trong hai loại ấy, loại nào
được gọi là lợi ích đối với việc
tu hành? (Huệ Đức hỏi)
Đáp: Được
lợi ích nơi Phật pháp, cốt yếu là thực hành.
Nếu có thể thực hành, đấy chính là dùng thân để
thuyết pháp, đẹp đẽ cả đôi đàng! Kẻ
chỉ nói mà chẳng thực hành, không chỉ là giống
như kể chuyện ăn sẽ chẳng no; bản thân
đă chẳng hành, làm sao có thể khiến cho kẻ khác
tin tưởng cho được? Vô ích cả đôi đàng!
* Hỏi: Nghiên
cứu Phật giáo, hăy nên khởi sự từ chỗ
nào? Làm một tín đồ nhà Phật, cần phải có những
điều kiện ǵ? Phải làm những thủ tục
nào? Và tuân thủ những giới luật
nào? Tôi đóng quân tại tiền đồn ở hải
ngoại, theo đuổi công tác chống Cộng, chống
Nga, chẳng tránh khỏi có những chỗ trái nghịch Phật
pháp, có phạm giới luật của Phật giáo hay không? (Bạch Vân Tiều hỏi)
Đáp: Sơ
cơ xem sách, chớ nên nghiên cứu kinh điển trước,
do Lư sâu xa khó thể hiểu. Hơn nữa, Văn Ngôn và Bạch
Thoại c̣n là vấn đề kế tiếp. Xin trước
hết hăy ở tại Hương Cảng, nghiền ngẫm,
xem đọc hai quyển sách Phật Pháp Đạo Luận
và Học Phật Thiển Thuyết Tam Chủng Hợp
Biên. Sau khi đă hiểu rơ đại khái rồi, lại tiến
tới nghiên cứu, t́m ṭi trong kinh luận, sẽ dễ nhập
môn. Điều kiện và thủ tục là trước hết
thọ Tam Quy, sau đó cầu Ngũ Giới, sau đấy
thọ Bồ Tát Giới. Ngoài chuyện ấy ra, c̣n phải
tu tŕ một loại pháp môn ḥng làm chỗ quy túc cuối
cùng. Hoặc tham Thiền, hoặc niệm Phật, hoặc
quán tưởng, tŕ chú, đều nên cầu minh sư chỉ
dạy để khỏi đâm quàng ngơ rẽ! C̣n như ông
nói đến chuyện phản Cộng, kháng Nga là phạm
giới nhà Phật, tức là đă hiểu lầm rất
lớn. Trừ bạo an lương, giải cứu kẻ
bị treo ngược, chính là tinh thần đại vô úy,
vô úy bố thí của nhà Phật. Ông chẳng thấy một
vạn bốn ngàn nghĩa sĩ do chống Cộng mà đến
Đài Loan, trong số ấy, tín đồ Phật giáo chiếm
quá nửa, đang tích trữ lương thảo, rèn quân
để đợi ngày phản công ư?
* Hỏi: Tu Giới,
Định, Huệ có thể đắc thần thông. V́ sao
cận đại Tăng, tục tu hành rất nhiều mà
chẳng nghe thấy nói có ai đắc? Nếu đă có, cớ
sao chẳng tuyên dương để tạo niềm tin cho
chúng sanh, cũng như nhiếp hóa, dẫn dắt chúng sanh tiến
nhập Phật đạo? Chỉ dùng lời lẽ “như người uống
nước, nóng lạnh tự biết” để giấu
kín, há chẳng phải là đă trái nghịch ư chỉ công
khai của Phật pháp ư? (Phan
Tư Húc hỏi)
Đáp: Đắc
thần thông mà khoe khoang, sẽ dễ bị ma dựa, lại
c̣n dễ bị mất đi! Dẫu chẳng như thế,
cũng là chuyện ắt gây ra kinh động rất lớn.
Thuở tại thế, đức Phật đă cấm
đệ tử phô bày thần thông với phàm phu. Chuyện
ngài Tân Đầu Lô Phả La Đọa chính là một
trường hợp. C̣n như ông nói “tuyên dương, nhiếp
hóa chúng sanh” th́ chỉ nên diễn nói khiến cho họ ngộ
nhập tri kiến của Phật. Kẻ do hâm mộ thần
thông bèn học Phật, tức là cái nhân [của việc học
Phật] chẳng chánh đáng. Đức Thích Tôn chẳng dạy
[thần thông] cho Điều Đạt (Đề Bà Đạt
Đa) lại là một tấm gương cho chuyện này.
* Hỏi: Tôi trộm
cho rằng: Chỗ khó thực hiện nhất đối với
người học Phật là ĺa phân biệt Năng Sở.
Bất luận Niệm Phật hoặc Thiền Định,
Chỉ Quán, hễ chẳng chấp một chỗ, sẽ
rơi vào tương đối, nương vào pháp th́ sẽ
bị pháp trói buộc, khó mong chứng đắc mau chóng! Ĺa
pháp th́ sẽ bị nghiệp chuyển dời, thoạt ch́m,
thoạt nổi! Tự thẹn ngu độn, kém cỏi, dẫu
gặp minh sư, chẳng thể vừa nghe dạy bèn
đốn ngộ, nhưng tánh tham khó dứt, dám thỉnh thầy
rủ ḷng đại từ bi, khai thị vô thượng
diệu đế, mong sẽ có thể lănh ngộ một hai
phần, cũng như khiến cho những độc giả
báo Bồ Đề Thụ đều được thấm
nhuần pháp vũ, đạt được lợi ích
nơi pháp, hết sức mong cầu! (Tưởng Nam Hải hỏi)
Đáp: Hạnh
môn tuy gồm nhiều loại, chẳng ngoài hai môn là Thiền
và Tịnh. Đối với tầng cấp tu tŕ, cần
phải chia làm hai loại là nhân địa và quả địa.
Đă chia thành Thiền và Tịnh, chỗ để khởi
sự thực hiện ắt phải khác nhau. Đă chia
thành nhân và quả, đương nhiên phải phán định
tác dụng sai khác. Tất nhiên, trước hết phải
biện định rơ ràng điều này, mới chẳng
đến nỗi lầm đường lạc nẻo. “Ĺa Năng Sở, vô phân biệt,
không chấp trước” v.v… chính là tông chỉ
được đề cao trong nhà Thiền. “Chẳng ngại ưa thích hay
chán nhàm, chấp tướng” v.v… chính là phép quyền biến,
xảo diệu của nhà Tịnh. “Nương theo pháp” chính là quy củ chánh đáng
nơi nhân địa. “Xả
pháp” là đă triệt chứng nơi quả địa.
Nói tới chuyện dứt ḷng tham, há dễ dàng ư? V́ nó
đứng đầu Tam Độc, chẳng trải qua một
phen khổ công, chế phục nó c̣n chưa được,
rảnh đâu để nói đến chuyện diệt
nó! Nhưng các phương pháp để dứt diệt nó
như Bất Tịnh Quán, Vô Sanh Quán v.v… rất nhiều,
khó thể kể trọn. Nếu đă tu Thiền, hoặc
tu Tịnh, cớ ǵ lại bỏ pháp này để cầu
pháp khác? Để rồi từ đó, lắm nỗi rối
ren! Phải biết: Thuần thục một pháp chính là
gươm trí huệ Kim Cang, chẳng ma nào không diệt
được!
* Hỏi: Tôi mới
vừa quy y Tam Bảo, nhưng phát tâm Đại Thừa, Thiền
Tịnh song tu. Giả sử tu suốt cả đời,
mà Sở Tri Chướng và Phiền Năo Chướng
chưa hết, có phải là vẫn thọ Phần Đoạn
sanh tử trong Dục Giới, tiếp tục tu hành măi cho đến
[khi được] tự tại mới thôi? Hay là mạng
chung bèn sanh về Tây, lại tu cho đến [khi chứng
đắc] viên giác? (La Đức
Chương hỏi)
Đáp: Thiền
cậy vào tự lực, ắt cần phải đoạn
Hoặc. Khi chưa đoạn Hoặc, vẫn cần Phần
Đoạn sanh tử. Tịnh nhờ cậy Phật lực
và tự lực, mong cầu đới nghiệp văng sanh. “Đới nghiệp” là do
chưa thể đoạn Hoặc! Cổ nhân hễ là Thiền
Tịnh song tu, đều riêng phát trọng nguyện văng
sanh. Nếu không, cần ǵ phải kiêm tu Tịnh? Cư
sĩ tu tập, nếu phát nguyện lấy Tịnh Độ
làm phép tu chủ yếu, coi Thiền là phụ trợ,
đương nhiên là khi xả báo, sẽ sanh về Tây, nhất
sanh bổ xứ.
* Hỏi: Đệ
tử của Thích Tôn rất đông, nếu có kẻ ghen
ghét người hiền năng, hoặc tham danh lợi,
ḷng ngầm chứa ám tiễn toan hại kẻ khác, thường
dẻo mồm giả vờ kính phục Thích Tôn, người
trong lúc bất giác, bị kẻ ấy làm hại, [sẽ là]
chẳng biết số lượng. Hạng người
như thế có thể thành tựu hay không? (Quán Thành hỏi)
Đáp: Thích Tôn
[trọn đủ] Ngũ Nhăn, Lục Thông, há có thể bị
kẻ khác bưng bít ư? Nói theo mức độ thấp
hơn, người tu đạo Bồ Tát vốn thuộc
về loại người vận dụng cả Bi lẫn
Trí. Trí có thể xét rơ vạn sự, Bi có thể
thương xót trọn khắp quần mê. Lời lẽ
sàm báng [dẫu khéo léo] như thế nào đi nữa,
cũng khó lọt tai! Dẫu là kẻ ác thật sự, [Bồ
Tát] vẫn dùng cái tâm từ bi, b́nh đẳng, mong cho kẻ
ác ấy xót xa cải hối, huống hồ là đối
với người chẳng phải là kẻ ác mà bị
sàm báng ư? Như vậy th́ dẫu có kẻ ngọt miệng,
ám tiễn, những thủ đoạn của kẻ ấy
chỉ phí uổng mà thôi, quyết chẳng có lẽ nào
người khác bị thầy đối xử không công bằng!
Nếu hỏi những kẻ [xảo trá] ấy có thành tựu
hay không, cần phải xét xem họ có hối cải hay
không để luận định!
* Hỏi: Nếu
thế gian chẳng có ngũ dục, lục trần, đoạn
sạch phiền năo, [cảnh giới] trước mắt
bèn có thể gọi là Tây Phương Cực Lạc. Nếu
không, sẽ giống như đang chịu khổ trong
địa ngục. Có đúng như thế hay không? Xin hăy dạy
tường tận! (Quán Thành hỏi)
Đáp: Xét theo
Lư, có thể nói như vậy. Luận theo Sự, ắt Cực
Lạc và địa ngục đều có thật. Kinh
đă giáo huấn rạng ngời, hoàn toàn chẳng phải
là từ ngữ tỷ dụ giả định vậy!
* Hỏi: Có một
vị tỳ-kheo-ni phát tâm đốt ba mươi hai nén
nhang trên đỉnh đầu, lại muốn đốt
ngón tay, bế quan bốn năm. Lăo pháp sư Đạo
Nguyên khuyên bà ta tạm thời đừng đốt ngón
tay. Sau khi lăo pháp sư rời khỏi, ni sư ấy bèn cắt
đứt hai ngón tay rồi bế quan, bỗng bị ma dựa,
t́nh trạng giống như bị điên. Lăo pháp sư nói
về nguyên nhân bị ma dựa như sau: “Một là chẳng hiểu rơ lư, hai là hành tinh tấn
quá gấp rút, vội vàng, như dây đàn quá căng sẽ
đứt; ba là do túc oán khiến cho tu hành bị trở ngại”.
Hậu học nghĩ người có đại tâm như
thế, ắt cảm thiên, long, thiện thần, Phật,
Bồ Tát hộ tŕ, v́ sao bị ma dựa? (Chân Tàm Quư hỏi)
Đáp: Huấn
thị của lăo pháp sư Đạo Nguyên rất tường
tận, há c̣n ngờ chi? Tu hành có rất nhiều điều
kiện, phát đại tâm là điều thứ nhất. Nếu
những điều kiện khác chẳng đúng pháp, làm sao
Phật, Bồ Tát có thể giúp sức được? Giống
như nấu cát mong thành cơm, đă chẳng phải là
cái nhân mà coi là nhân mất rồi! Tuy Phật, Bồ Tát sẵn
ḷng Từ, há có thể giúp đỡ những chuyện quái
đản, gây kinh hăi cho thế tục như vậy ư?
Đấy chính là thâm ư trong câu giáo huấn “chẳng hiểu rơ lư” vậy! Nếu cắt ngón
tay, bế quan liền được Phật gia hộ,
đạt thành tựu, người trong thiện hạ sẽ
đều cắt ngón tay, bế quan để thành Phật
cả rồi! Vậy th́ Thanh Văn c̣n phải qua lại
cơi trời người bảy lượt, Bồ Tát [tu
hành] ba đại A-tăng-kỳ, há chẳng phải là
đa sự ư? Đấy chính là ư nghĩa của lời
giáo huấn “hành tinh tấn quá
gấp rút, vội vàng”. Hơn nữa, đối với
huấn thị của pháp sư, chẳng thèm nghe theo, tin
tưởng, nay bị ma dựa, có thể đổ lỗi
cho pháp sư hay sao? Nếu nói là “chẳng thể”, kinh Phật
sáng vằng vặc, đă sớm có giáo huấn từ
trước, tự ḿnh làm quấy, sao trách Phật
được?
* Hỏi: Nói tới
chuyện “chẳng hiểu rơ
Lư”, nhà Phật thường nói “tu Huệ là do từ thật
tu, tận lực hành tŕ mà dẫn phát”. Ông Vương Dương
Minh cũng thường bảo: “Biết
tới chỗ tột cùng, đó là Hành. Hành đến mức
chuyên dốc, chắc thật, gọi là Biết”. Nhà Phật
cũng khuyên hành giả, “chỉ
cần có thể y giáo phụng hành, ắt sẽ có ngày rỗng
rang thấu suốt”. Có thể thấy là đă hành rồi
sau đó mới biết, đấy mới là chân trí huệ
vậy! (Chân Tàm Quư hỏi)
Đáp: Trong
đoạn cao luận này, cư sĩ cho rằng vị ni
sư ấy hiểu biết tột cùng, hành chuyên dốc,
chắc thật, y giáo phụng hành, đă hiểu rơ lư lẽ
ư? Xin luận định đại khái [chuyện này]! Nói
đến Huệ, chính là do từ Giới đắc Định,
từ Định khai Huệ. Nói tới chuyên dốc, chắc
thật, “chuyên dốc” là thuần
thành, chẳng hư ngụy, “chắc
thật” là chẳng giả dối, chẳng lầm lạc.
Y giáo phụng hành là tuân theo khuôn phép để làm. Người
ấy chưa thể đắc Định, làm sao có Huệ
cho được? Chẳng có chánh tri kiến, há có thể
nói là “không lầm lạc”? Lời dạy của pháp sư,
ư nghĩa vốn xuất phát từ kinh điển, thế
mà chẳng chịu nghe theo, tin tưởng, sao có thể gọi
là “y giáo phụng hành”? Bảo là “chẳng
hiểu rơ lư lẽ”, [quả thật] không sai vậy!
* Hỏi: Thiền
Tông chỉ cậy vào tự lực, nên có kẻ bị ma dựa.
Bế quan hành pháp môn Quán Âm, tức là lễ bái Bồ Tát,
xưng danh hiệu Ngài. Chuyện này thuộc về tự
lực lẫn tha lực cùng nhiếp thọ chẳng bỏ,
lẽ ra chẳng nên có chuyện [ma dựa] này? (Chân Tàm Quư hỏi)
Đáp: Đă
không có định lực, cho nên vẫn thuộc về b́nh
phàm. Hành hạnh tinh tấn theo kiểu bộp chộp, lại
chẳng vâng theo lời dạy, lỗi lầm càng to! Do chẳng
phù hợp với pháp, tự nhiên là chẳng thể cảm
ứng, sao c̣n có chuyện nhiếp thọ cho được?
Hơn nữa, các môn được tu trong Phật pháp
đều thuộc loại nhị lực, bất quá là coi
trọng hay xem nhẹ khác biệt mà thôi!
* Hỏi: Gần
đây, tôi nghe có người nói một vị cư sĩ
tu tŕ đă hơn hai mươi mấy năm, đă đắc
Tha Tâm Thông, lại c̣n có thể xuất hồn dạo
chơi các nơi. Đột nhiên đổi sang tin theo
đạo Cơ Đốc, chẳng biết là v́ chẳng
hiểu Phật lư sâu xa, hay là do tu tŕ chẳng đắc pháp?
(Hứa Nguy Văn hỏi)
Đáp: Tuy
người ấy đă tu hai mươi mấy năm, chắc
là thuộc loại tu mù luyện đui, hoàn toàn chẳng có
sư thừa. Chắc chắn là chẳng liễu giải giáo
nghĩa, mà cũng chẳng có công phu chân thật! Sợ là
c̣n hỗn tạp ngoại đạo. Những cái gọi
là “xuất hồn dạo
chơi, Tha Tâm Thông” v.v… có lẽ là ma cảnh, v́ kẻ ấy
chưa đắc Định, làm sao phát khởi thần
thông cho được? Xét thấy kẻ ấy trái nghịch
Tam Quy, có thể biết là chưa hề trừ khử mảy
may phiền năo nào. Do vậy, tôi phán đoán kẻ ấy c̣n
chưa đắc Định!
* Hỏi: Khi niệm
Phật, trong tâm dường như có vật ǵ bằng bông
chặn nghẽn. Khi nhận biết, tâm bèn tán loạn, hăy
nên niệm như thế nào? Xin hăy khai thị! (Nhan Quư Nghiệp hỏi)
Đáp: Phương
pháp Tŕ Danh Niệm Phật có niệm lớn tiếng, niệm
nhỏ tiếng, kim cang tŕ, niệm thầm trong tâm v.v… các
thứ khác nhau. Nếu trong tâm bế tắc, hoặc thấy
pháp nào đó chẳng thích hợp, hăy nên đổi sang pháp
khác!
* Hỏi: Trong
kinh Lăng Nghiêm, Văn Thù Bồ Tát đă dùng kệ trả
lời đức Phật: “Thử
phương chân giáo thể, thanh tịnh tại âm văn, dục
thủ Tam-ma-đề, thật dĩ văn trung nhập”
(Chân giáo thể phương này, thanh tịnh do nghe tiếng,
muốn chứng đắc tam-muội, thật nên dùng pháp
Nghe). Khẩn cầu cụ khai thị hai điều: Một
là pháp yếu để do cái Nghe mà nhập [tam-muội]; hai
là trong khi mới Nghe, thực hiện công phu “nhập lưu chiếu tánh” như
thế nào? (Lư Vân Tiêu hỏi)
Đáp: Sáu thức
duyên theo bên ngoài, chẳng ngừng trong một sát-na nào.
Người trong cơi Diêm Phù Đề có Nhĩ Căn nhạy
bén nhất, thức (Nhĩ Thức) cũng vậy. “Văn” (聞) là nghe, tức là Nhĩ Thức khởi tác dụng,
chỉ cần điều phục Nhĩ Thức, sẽ có
thể đắc tam-muội. Đấy cũng là pháp
phương tiện khiến cho [hành giả] hướng vào
trong để nghe Tánh, chẳng để cho [cái tâm] duyên
theo bên ngoài nữa. “Nghe theo bên
trong” tức là thâu nhiếp Nhĩ Căn [do nghe thanh trần
bên ngoài] để lắng ḷng nghe âm thanh của tâm tánh. Nói
theo Lư, sẽ là như “phản
văn, văn tự tánh” (xoay cái Nghe lại để
nghe nơi tự tánh). Nói theo Sự, sẽ là “tâm niệm, tâm nghe” trong pháp
môn Niệm Phật, đều là những pháp ḥng do cái Nghe
mà tiến nhập lẽ trọng yếu vậy! Hai điều
ông đă hỏi tuy từ ngữ khác nhau, nhưng ư nghĩa
giống nhau. V́ thế, tôi chẳng tách ra để đáp.
* Hỏi: Như
đă nói “tu hành chớ nên tạp
tu”, nếu hành xong mỗi môn bèn hồi hướng, sau
đấy mới tu một pháp môn khác, tu xong bèn hồi
hướng, có được hay không? Như buổi sáng,
tụng khóa sáng xong bèn hồi hướng, lại
nương theo tâm yếu đă nói trong câu hỏi thứ nhất
để tu tập pháp Chuẩn Đề Chú, có phải là
tạp tu hay không? (Quách Vô Cấu
hỏi)
Đáp: Thứ
tự trong Phật pháp là “tín, giải, hành, chứng”. Giải
thuộc về phương diện nghiên cứu Giáo. Hành là
thật tu. Giải môn th́ Tam Tạng mười hai bộ
đều là nó. Hành môn tuy nhiều, có thể dùng bốn
pháp Thiền, Tịnh, Luật, Mật để nói khái
quát. Nhưng bốn pháp ấy, trong mỗi pháp cũng đều
có những hạng mục nhỏ hơn, cho nên nói ra sẽ
là rất nhiều. Tuy nói như thế, thật ra Giải
là nhằm nói rơ Hành, Hành nhằm thực hiện Giải. Chúng
nương tựa lẫn nhau để tiến, ḥng có thể
chứng đắc. Chỉ có điều, đối với
Giải và Hành, đều nên thận trọng cầu minh
sư chỉ dạy. Đối với những môn học
vấn này, chẳng thể đóng cửa chế xe! Nếu
nói theo Hành, ắt là phải đối với bốn pháp
(Thiền, Tịnh, Luật, Mật), lượng định
căn khí cá nhân để chọn lấy một pháp ḥng tu
tập. Đó gọi là Chuyên. Nếu thoắt Thiền, thoắt
Tịnh, bỗng Luật, chợt Mật, chân đạp
hai thuyền, sẽ gọi là Tạp. Nay tôi thấy trong câu
hỏi này, có lắm nỗi hiểu lầm, xin trước
hết hăy lập vững mục tiêu, sau đấy mới
có thể nói đến chuyện Chuyên hay Tạp được!
* Hỏi: Tôi có
một người bạn ở chung, đă ngoài bốn
mươi tuổi, tin sâu Phật pháp, đă thọ Tam Quy, Ngũ
Giới một năm rồi. Gần đây, lại ăn
chay trường. Bà ta rất phát tâm, mỗi dịp Phật
đản, bèn đốt hương, thắp đèn cúng
dường Phật. Tuy quy y không lâu, nhưng rất có hứng
thú niệm kinh, niệm Phật, tŕ chú, dũng mănh, tinh tấn,
công khóa sáng tối chưa từng gián đoạn. Khóa sáng
tŕ chú Đại Bi bao nhiêu biến không nhất định,
kinh Kim Cang, phẩm Phổ Môn, Đại Sám Hối Văn
mỗi thứ một bộ, lại tŕ thánh hiệu Quán Âm
mười phút. Khóa tối th́ một bộ kinh Di Đà,
thánh hiệu A Di Đà Phật, Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại
Thế Chí Bồ Tát, mỗi thánh hiệu đều tŕ
năm phút. Hằng ngày, đi, đứng, nằm, ngồi,
chẳng ĺa Phật hiệu. Công khóa sáng tối c̣n niệm
thêm mười vị Phật. Mỗi lần niệm [danh
hiệu] một vị Phật, đều lễ một lạy.
Lễ xong, hồi hướng cho hết thảy chúng sanh
trong pháp giới nghiệp chướng tiêu trừ, văng sanh Cực
Lạc, sớm thành Phật đạo. Sau đấy mới
lại hồi hướng cho chính ḿnh, tu hành vô chướng
ngại, được tŕ tịnh giới, oán thân sớm
được giải thoát. Hễ rảnh rỗi th́ lại
luân lưu niệm các kinh Địa Tạng, Dược Sư,
Phổ Hiền v.v… Bà ta tu như vậy, phát nguyện
như vậy, có đúng hay không? (Trần
cư sĩ hỏi)
Đáp: Bà ta tu
tập không tránh khỏi quá phức tạp! Nhưng phát nguyện
hết sức chánh xác, lại c̣n đem những công đức
đă làm hồi hướng cho chúng sanh. Đó là Bồ
Đề đại tâm, hết sức tốt lành!
* Hỏi: Chỉ
có điều tôi thấy người bạn ấy đă
phát nguyện công đức, nhưng chẳng thấy hiệu
lực! Ngược lại, bà ta thường bị đứa
con gây nên những chuyện thương tâm. Lại thấy
bà ta đối trước Phật niệm kinh, khóc lóc,
thường oán thán đời trước chẳng tốt,
nay bị oán gia vùi dập, cố sớm tu hành cho kịp,
mong thoát ĺa nỗi khổ sanh tử. Phát nguyện như vậy,
có hợp với lư tưởng hay không? Đến lúc lâm
chung, có thể được Phật, Bồ Tát tiếp dẫn
sanh về Tây Phương hay không? Hiện thời, người
nhà đều phản đối, nói bà ta ngu si, ảo
tưởng, đă phát nguyện công đức nhiều
như vậy, mà đứa con chẳng sửa đổi
thành tốt đẹp hơn, khác nào chẳng có quả báo ǵ cả!
Nhưng bà ta vững ḷng, chẳng thay đổi, chẳng
bị bên ngoài lay động, chỉ nhẫn nại tu hành.
Bất quá, có lúc chẳng nhịn được đứa
con, mẹ con lại căi lộn ầm ĩ một phen, khiến
cho những người sống chung như chúng tôi chẳng
được an tĩnh. Đáng thương bà ta tu hành niệm
Phật, nhưng lại hứng chịu nỗi thống khổ
này, chẳng có lúc nào được yên vui! Đúng là nghiệp
chướng sâu nặng. Chẳng biết niệm kinh ǵ và
niệm như thế nào th́ mới có thể tiêu trừ nghiệp
chướng ấy? Cầu xin minh sư khai thị, chỉ
dạy, khiến cho bà bạn giải trừ phiền năo,
thoát ĺa nỗi đau khổ về tinh thần? (Trần cư sĩ hỏi)
Đáp: Niệm
Phật hồi hướng chúng sanh chính là cái nhân cực
thiện; người nhà và con cái náo động vô lư, chính
là ác quả. Tiên sinh nói “do thiện nhân mà ngược ngạo
chuốc phải ác quả, chẳng hợp lẽ nhân quả”,
đấy chính là hết sức hiểu lầm! Hiện thời,
lệnh hữu đang hứng chịu cái quả Oán Tắng
Hội (chán ghét mà cứ phải gặp gỡ), chẳng phải
là do cái nhân niệm Phật trong hiện thời. Do cái nhân
niệm Phật hiện thời, sẽ có lạc quả
trong tương lai. Gieo đậu được đậu,
trọn chẳng có chuyện gieo đậu mà được
dưa! Nếu hỏi về chuyện tiêu trừ tội
chướng, không ǵ bằng thánh hiệu Di Đà. Kinh dạy:
“Chí tâm niệm một câu A Di
Đà Phật, có thể tiêu trọng tội trong tám
mươi ức kiếp sanh tử”. Chỉ có điều,
từ kiếp số nhiều như bụi trần đến
nay, giả sử các ác nghiệp đă tạo mà có h́nh
tướng, hư không khó thể chứa đựng nổi!
V́ vậy, tu hành trong thời gian ngắn ngủi, chẳng
thể tiêu trừ hết được! Nếu cứ một
mực bất thoái, sanh về Tây Phương, ắt sẽ
do một việc mà giải quyết hết mọi chuyện,
chẳng giống như kẻ chuyên cầu phước báo,
chỉ được an vui đôi chút trong một thời
gian ngắn ngủi, sau đấy vẫn phải chịu
khổ vô cùng trong lục đạo. Hơn nữa, người
tu hành lấy khổ làm thầy. Hăy khéo nhờ vào nỗi bức
bách ấy để thường khởi ḷng chán ĺa, đấy
sẽ là Tăng Thượng Duyên để sanh về Tây
Phương! Lại c̣n nên biết: Chịu khổ một
phần, sẽ tiêu nghiệp một phần. Chẳng có nỗi
khổ nhỏ này, có lẽ sẽ sanh ra đại chướng
nạn. Chuyện này biết đâu chính là “báo nặng chuyển thành nhẹ”. Tầm nh́n chớ
nên quá hẹp, coi thường sự đại tiện
nghi này!
* Hỏi: Hiện
thời, học nhân ở nhà, mỗi ngày đều có khóa tụng
sáng tối. Chỉ v́ thân thể mắc bệnh khí suyễn,
thường hay ho hắng trong lúc tụng niệm, lại
c̣n khạc đàm răi mười mấy lần, có phải
là phạm tội bất kính đối với Phật hay
không? (Diệp Di Dung hỏi)
Đáp: Ho hen, khạc
đàm, chớ nên hướng về Phật. Hăy chuẩn bị
sẵn một cái bồn, xoay ḿnh khạc đàm vào đó. Tụng
xong, ngay lập tức dọn sạch, cốt sao trước
Phật luôn thanh khiết, sẽ không bị tội lỗi!
*
Hỏi: Học nhân trong công khóa sáng tối ở nhà, khi chỉ
có một người tụng, có lúc dùng đĩa hay
băng thâu âm tiếng tụng kinh để niệm giúp.
Đối với hai phương thức ấy, công đức
do dùng sức người để niệm lớn hơn,
hay công đức do dùng đĩa thâu âm niệm sẽ lớn
hơn? (Diệp Di Dung hỏi)
Đáp: Tự
niệm là nhiếp tự tâm. Nghe tiếng là hướng ra
ngoài phan duyên. Tu tập lâu ngày bằng cách tự nhiếp, ắt
tâm sẽ đạt tới bất loạn. Hướng ra
ngoài để tu tập lâu ngày, ắt tâm khó quy về Định.
C̣n như dùng âm thanh làm Phật sự, trợ niệm khi
lâm chung, cũng là mượn những duyên khác để nhắc
nhở [người sắp mất dấy khởi] tự
niệm. Nếu chỉ cậy vào những thứ đó, tức
là sẽ không có chính ḿnh vậy!
* Hỏi: Bắt
đầu từ năm Dân Quốc 48 (1959), tôi thờ phụng
tượng Phật Tam Thánh (được định duyệt
bởi báo Bồ Đề Thụ), và trong công khóa sáng tối,
ngoài việc thực hiện những mục được
quy định trong trang tám sách Kỹ Lộ Chỉ Quy ra, c̣n
lễ bái Phật Dược Sư, Địa Tạng
Vương Bồ Tát, mỗi vị ba lạy. Tính chung công
khóa sáng tối, mỗi khóa lễ ba mươi bốn lạy.
Lại c̣n hành pháp Thập Niệm, kế đó là tĩnh tọa
hành theo pháp Chỉ Quán hai mươi phút, niệm thánh hiệu
Nam-mô A Di Đà Phật năm ngàn câu. Trải qua một
năm, từng nhận thấy cảnh giới tốt
đẹp mấy lượt, lại c̣n chiếu theo cảnh
giới hiện thực để làm một bài kệ bốn
câu như sau: “Nhất thiết
giai thị giả, duy hữu Di Đà chân, Tây Phương
an lạc độ, biến địa thị hoàng kim”
(Hết thảy đều là giả, chỉ Di Đà là thật,
cơi an lạc Tây Phương, vàng ṛng trải khắp đất)
(xin hăy phê b́nh). Do vậy, sau đấy, tôi từng nói với
người khác: “Đời này tôi tu thành A La Hán vẫn
chưa măn ư, lại c̣n sanh về Tây Phương nhất
định là chẳng bị trở ngại”. Từ đó
trở đi, đă hơn nửa năm, chẳng có mảy
may cảnh giới nào, đấy có phải là v́ phạm tội
lỗi ngă mạn đó chăng? (Châu
Tinh Nguyên hỏi)
Đáp: Chúng ta
là sơ cơ, chẳng hiểu rơ giáo lư, chỉ nên thật
thà nương theo [giáo huấn của cổ đức]
để tu tập, đừng nên làm xằng, cũng chớ
nên hướng về kẻ khác khoe khoang. Nếu đối
với người sơ phát tâm [nhằm tiếp độ
họ], chẳng ngại quyền xảo tuyên dương,
nhưng phải đúng với thực lực. Nếu
chưa chứng mà bảo là chứng, ăn nói sai lầm, tức
là đại vọng ngữ, quyết chẳng thể
được! Nhưng niệm Phật coi trọng cầu
nhất tâm, chẳng phải là mong mỏi cảnh giới.
Nếu cứ mong cầu hiện cảnh, tâm sẽ phan
duyên, chẳng thể nhất tâm được!
* Hỏi: Vào
tháng Giêng năm Dân Quốc 50 (1961), tôi tham gia phân đoàn
Trung Lịch của Đài Bắc Liên Hữu Niệm Phật
Đoàn. Mỗi tháng, ngoài việc tham gia niệm Phật
cùng đoàn thể theo quy định, công khóa sáng tối của
mỗi người cũng có sửa đổi đôi chút.
Khóa sáng th́ ngoài việc hành theo hạng mục sẵn có ra,
sau khi niệm ba biến chú Văng Sanh, Di Dà Tán, rồi niệm
thánh hiệu ba ngàn câu, Hồi Hướng, Sám Hối, Tam
Quy Y, lại niệm thánh hiệu Quán Thế Âm một ngàn
câu, tiếp đó, niệm Tâm Kinh, chú Đại Bi, mỗi
thứ một biến. Khóa tối th́ ngoài việc chẳng
niệm theo pháp Thập Niệm và Tĩnh Tọa ra, những
điều khác đều giống như khóa sáng! (Châu Tinh Nguyên hỏi)
Đáp: Công khóa
như ông đă ấn định, nói chung vẫn thỏa
đáng. Chỉ có điều, pháp môn Tịnh Độ lấy
việc chuyên niệm thánh hiệu làm Chánh Hạnh, những
điều khác đều là phụ trợ. Từ nay trở
đi, chẳng cần phải xen tạp những pháp khác,
v́ sợ khách sẽ đoạt chủ. Nếu có thời
gian rảnh rỗi, hăy nên tăng thêm tŕ danh.
* Hỏi: Nói “niệm
Phật chẳng trở ngại công việc, công việc chẳng
trở ngại niệm Phật”, v́ sao tôi làm việc hoặc
xem sách sẽ chẳng thể niệm Phật? Nhất
định là phải dốc hết tinh thần để
thực hiện th́ mới có thể làm việc chẳng sai
lầm. Nếu xem sách, ắt lại phải dốc toàn bộ
tinh thần chú ư mới có thể biết sách chép về chuyện
ǵ. Nếu muốn trong tâm niệm Phật, tay làm việc hoặc
xem sách, sẽ chẳng biết thực hiện bằng cách
nào? Nếu xem sách [trong tâm thầm niệm], sẽ chẳng
đọc được một chữ nào! Chưa thể
cùng làm hai thứ được! Xin chỉ dạy làm
như thế nào th́ tôi mới có thể niệm Phật chẳng
trở ngại công việc, công việc chẳng trở ngại
niệm Phật? (Lâm Tú Diễm
hỏi)
Đáp: Niệm
Phật là một thứ tư lương để dưỡng
huệ mạng, ví như thức ăn là một thứ
tư lương để dưỡng thân mạng.
Chưa hề nghe nói ăn uống gây trở ngại cho
công việc, [vậy th́] niệm Phật làm sao có thể trở
ngại công việc? Hằng ngày, cần phải ăn ba
lượt, niệm Phật sáng tối hai thời, ngoài lúc
ăn uống và niệm Phật ra, chắc chắn là sẽ
có thời gian để làm việc. Cũng nên biết công
việc trong thế tục nhằm dụng tâm mưu tính
cho chuyện ăn uống; có thể chuyển đổi ư
niệm, hành giả làm việc là để giúp cho niệm Phật.
Giữ tấm ḷng như thế, ắt niệm Phật sẽ
chẳng trở ngại công việc. Nếu làm việc tay
chân, trong tâm thầm niệm Phật, sẽ chẳng bị
trở ngại. Đọc sách hoặc làm việc đ̣i hỏi
phải suy nghĩ, tính toán, do tâm khó thể vận dụng
vào hai việc cùng một lúc được, vẫn giữ
tấm ḷng như đă nói trên đây mà thôi!
* Hỏi: Xin thầy
khai thị: Khi thầy giảng Lăng Nghiêm vào ngày Mười
Ba tháng Mười, đă dạy “miệng
niệm, tai nghe”, “tâm (ư) niệm,
tinh thần nghe”, [cũng như] nội dung và
phương pháp của ba loại niệm Phật. Có phải
là niệm Phật mà đích xác có thể giữ sao cho chẳng
hôn trầm, chẳng tán loạn (kể cả niệm theo lối
Kim Cang tŕ), th́ gọi là “miệng
niệm, tai nghe”? Lại có phải là đạt tới
cảnh “tịnh niệm tiếp
nối” th́ mới đích xác là “tâm (ư) niệm, tinh thần nghe”? Đạt tới
“nhiếp trọn sáu căn”
th́ cũng chính là dùng một căn nào đó để niệm
Phật “vốn là một cái thể
tinh thuần, sáng suốt, mà chia thành sáu thứ ḥa hợp”
th́ mới đích xác là “tâm niệm,
tâm nghe” hay chăng? (Đỗ
Bỉnh Tỷ hỏi)
Đáp: Nói “tâm niệm, tinh thần nghe” tức
là ông đă nhớ lầm. Thật ra là “thần niệm, thần nghe”. Ba câu gồm mười
hai chữ ấy chính là giáo huấn của cổ đại
đức, có thứ tự, “thần
niệm, thần nghe” là cuối cùng. Cảnh ấy chính
là “vô niệm mà niệm”, cao
tột nhất. Bọn chúng ta là kẻ sơ cơ, chỉ
có thể làm được “miệng
niệm, tai nghe” th́ cũng hết sức khá rồi.
Nhưng ba thứ ấy chỉ là pháp để hành tŕ ḥng
cầu nhất tâm, c̣n chuyện có hôn trầm hoặc tán loạn
hay không, chính là thuộc về cảnh giới. Cảnh giới
như thế nào, chẳng thể chỉ dựa vào một
ḿnh phương pháp được! Vẫn cần phải
tùy thuộc công phu như thế nào mà thôi, chẳng liên quan
ǵ đến đoạn văn sau đó!
* Hỏi: Niệm
Phật cầu nhất tâm, cần phải dùng ba thứ luân
chuyển, có người nói: “Đấy là do tâm tưởng,
miệng niệm, tai nghe”. Có người nói [ba thứ luân
chuyển] là một câu chia thành ba đoạn (Nam-mô do tâm khởi,
A Di là khẩu niệm, Đà Phật là tai nghe). Xin hỏi
thuyết nào là đúng? (Giang
Khoan Ngọc hỏi)
Đáp: “Tam luân chuyển” là dùng tâm, miệng,
tai ba nơi làm Luân, xoay vần sáu chữ hồng danh giáp
ṿng rồi trở lại từ đầu. Có kẻ chia một
câu [thánh hiệu] thành ba đoạn, sai lầm quá đỗi!
Nam-mô dùng tâm khởi c̣n chưa thể được, A Di
dùng miệng, chẳng dùng tâm, sẽ chẳng tương ứng!
Đà Phật dùng tai, chẳng dùng miệng và tâm, âm thanh do
đâu mà phát ra được? Không có âm thanh th́ nghe cái ǵ
đây? Hơn nữa, cắt Phật hiệu thành ba đoạn,
có lẽ cũng là quá sức bất kính!
* Hỏi: Hành
pháp Ban Châu tam-muội như thế nào? (Ngô Mậu Tùng hỏi)
Đáp: Pháp này
cũng là Tŕ Danh Niệm Phật, chỉ là định kỳ
chẳng thể nghỉ ngơi mà thôi. Ban Châu dịch là Phật
Lập, cũng dịch là Thường Hành Đạo. Ngắn
th́ lấy bảy ngày làm hạn; thông thường lấy
chín mươi ngày làm kỳ hạn. Luận theo bảy
ngày, chắc chắn chẳng phải là như Phật Thất
lưu hành trong hiện thời: Mỗi ngày, ấn định
[niệm Phật] mấy cây hương. Những lúc khác th́
tán gẫu chuyện nhảm, tạp nhạp không ngớt.
Pháp này ắt phải ba nghiệp tương ứng, liên tiếp,
không gián đoạn. Pháp này được nói tường
tận trong kinh Ban Châu Tam Muội, chẳng phải là hàng
sơ học mà có thể hỏi han cặn kẽ được!
* Hỏi: Tâm tạo
địa ngục, ắt lâm chung, tướng địa
ngục hiện. Tâm tạo Phật quốc, lâm chung, ắt
tướng Phật quốc hiện. Người niệm
Phật lâm chung được Phật tiếp dẫn. Theo
như kinh nói: “Niệm Phật
từ một ngày cho tới bảy ngày, nhất tâm bất loạn
liền được văng sanh”, nhưng người tu
hành hoặc là mấy tháng hay mấy năm, thậm chí mấy
chục năm, vẫn chẳng thể đạt đến
nhất tâm bất loạn là v́ sao? Có cách nào hay không? (Châu Huệ Đức hỏi)
Đáp: Tu tŕ
nhiều năm mà chẳng đắc nhất tâm là do buông
lung, giải đăi, chẳng tinh tấn. Tất nhiên là do t́nh
cảm thế tục nồng đậm, chẳng có [ư niệm]
xuất thế thiết tha. Nhất tâm bất loạn,
chính là “tâm tạo Phật quốc”.
T́nh cảm thế tục nồng đậm, tức là “tâm tạo địa ngục”.
Tạo Phật, hay tạo địa ngục, chẳng
ngoài chính ḿnh, chẳng thuận theo giáo huấn trong kinh, lỗi
quy về ai? Nếu hỏi cách bổ cứu, vẫn là niệm
cho nhiều! Đối với chuyện Đông hay, Tây dở,
đúng, sai, chỉ buông xuống, buông xuống ngay lập tức.
Dẫu chẳng đắc nhất tâm, cũng phải niệm
đạt đến một chữ Thục (熟, thuần thuộc). Đó gọi là “dẫu ngươi bận rộn
như tên bắn, tâm vẫn chẳng ĺa A Di Đà”. Do thói
quen, sẽ trở thành tự nhiên, lâm chung được trợ
niệm, tâm nguyện văng sanh, liền được văng
sanh.
* Hỏi: Bà chủ
trong gia đ́nh có khi bận bịu nhiều việc, đối
với công khóa sáng tối đă ấn định, trong lúc
vội vàng, tất bật, bèn niệm vội vàng cho xong. So
với lúc bận bịu, chẳng tụng niệm công khóa
đă ấn định, mà vừa niệm Phật, vừa
làm việc, lúc niệm, tâm như nước lặng, thân
chẳng mệt mỏi. Xin hỏi giữa hai đằng,
cách nào sẽ hữu ích? (Bạch
Trương Văn Thích hỏi).
Đáp: Ư
nghĩa niệm Phật là nhằm cầu Định.
Đừng v́ bận bịu mà qua quít cho xong, [nếu làm qua
quít], sẽ đắc lực ít ỏi. Có thể trong lúc
sáng tối, chọn cách niệm mười hơi. Tuy thời
gian chẳng đầy ba phút, nhưng sẽ có ba phút là
Định th́ cũng tốt. Ngoài ra, vừa làm việc, vừa
trong tâm niệm Phật, nếu tâm đạt tới mức
như nước lặng, thân chẳng mệt mỏi,
cũng là công phu thượng đẳng, hết sức tốt
lành!
* Hỏi: Niệm
Phật đă lâu mà chẳng đắc lực, Kim Cang Kinh
Giảng Nghĩa cũng chưa đọc xong. Thầy tôi
nói: “Học Phật tu tŕ, phải
sao cho có tinh thần hân hoan th́ mới được”. Lời
danh ngôn chí lư ấy chẳng phải là chuyện dễ dàng!
(Lư Liên Giai hỏi)
Đáp: Khổng
Tử nói: “Học nhi bất
tư tắc vơng, tư nhi bất học tắc đăi”
(Chỉ học mà chẳng suy nghĩ, sẽ mê mờ, chẳng
đạt được ǵ. Chỉ suy lường chẳng
học, sẽ mệt mỏi tinh thần vô ích). Xét theo những
lời ông đă hỏi gần đây, phần nhiều là
bàn về tánh. Loại vấn đề này, lư tột bậc
huyền diệu. Xét thấy lời hỏi của ông chỉ
riêng chú trọng phương diện “độc tư” (chỉ suy nghĩ); v́ thế,
chẳng tránh khỏi gặp khó khăn. Nếu đọc
thấu triệt từ đầu đến đuôi bộ
Kim Cang Kinh Giảng Nghĩa, rồi lại đổ sức
học, tôi nghĩ là sẽ đổ công sức ít, mà thành
tựu gấp bội. Sức giải ngộ đă
tăng, sẽ tự đạt được sức mạnh
của hạnh Niệm Phật vậy!
* Hỏi: Kẻ
mù tu Kim Cang Chiếu Minh tam-muội có thể bù đắp
khuyết điểm mù ḷa, chẳng biết cách tu như thế
nào? (Chung Vân Xương hỏi)
Đáp: Đấy
chính là thần thông, chẳng phải là chuyện thông
thường! Thần thông có “báo
đắc” (do quả báo mà có) và “tu đắc” (do tu tập mà đạt được).
Điều ông đă hỏi thuộc về loại do tu mà
đạt được. Để đắc thần
thông, cần phải đoạn Hoặc. Pháp này thuộc loại
bậc nhất trong Thiên Nhăn Thông. Tại hạ chưa
đoạn nổi một món Hoặc nào, chẳng thông một
căn nào. Ngay như đối với môn Kim Cang Chiếu
Minh tam-muội, chỉ biết cái tên, c̣n cách tu như thế
nào, chưa từng gặp thầy! Cớ sao cư sĩ hỏi
đạo nơi kẻ mù? Nói thêm một lời, chỉ cầu
thành tâm, sẽ được tiêu nghiệp, đừng dấy
lên ḷng mong ngóng quá phận! Đời này “pháp yếu, ma mạnh, chánh ít, tà nhiều”, nếu
dính vào những chuyện kỳ dị, sợ sẽ chuốc
lấy chướng ngại!
* Hỏi: Hai
pháp tu Quán và Tŕ Danh b́nh đẳng, nhưng có phải là tác
dụng khác nhau hay không? (Vương
cư sĩ hỏi)
Đáp: Đă
nói là hai pháp, tự nhiên là tác dụng có sai khác. Tuy tác dụng
có sai khác, hễ trở về Thể, đều là một.
Đó gọi là “quy nguyên vô nhị
lộ, phương tiện hữu đa môn” (về nguồn
chẳng hai nẻo, phương tiện có nhiều môn). Nói
pháp là b́nh đẳng, phần nhiều là nói theo quả
địa. [Nói] pháp có dễ hay khó chính là nói đến chỗ
học. Đă biết là b́nh đẳng, cũng cần phải
hiểu rơ sự khó, dễ. Phép tu Quán và Tŕ Danh mỗi đằng
cần có căn khí riêng, [phải thông hiểu căn khí của
từng pháp tương ứng], ngơ hầu chẳng sai lệch!
* Hỏi:
Người niệm Phật kiêm tu phát tâm (quán tâm) nói là hoàn
toàn chẳng khó. Niệm Phật chẳng phải là cầu
nhất tâm bất loạn ư? (Một mực chẳng quán
tâm th́ sẽ do đâu mà biết nhất tâm bất loạn),
nhưng người đời phần nhiều coi trọng
tŕ danh, coi nhẹ quán tâm. Nếu là như vậy, chỉ
tŕ danh mà chẳng kiêm quán tâm, sẽ chẳng đắc nhất
tâm bất loạn đấy chăng? (Vương cư sĩ hỏi)
Đáp: [Ông nói
đến chuyện] phát tâm và quán tâm đều là hiểu
lầm! Trong lời đáp thứ nhất, tôi đă nói
đại lược. Cư sĩ chưa tu tập Tịnh
Độ, cho nên chẳng hiểu nội dung của Tịnh
pháp. Cách dụng công trong nhà Tịnh có bốn pháp, Tŕ Danh là
một trong số ấy. Thật Tướng (quán tâm) là một
pháp khác nữa. Ai nấy đều tùy theo căn khí [của
chính ḿnh mà] chọn [pháp thích hợp] để tu, chớ
nên ham cao chuộng xa! Hơn nữa, chẳng thể đồng
thời vận dụng hai pháp ấy. V́ thế, tuy tu Tịnh
Độ, mà chẳng biết thật sự tu tập
đúng pháp, cũng sẽ chẳng hiểu rơ! Đấy
chính là Phật pháp nói sâu bèn là sâu, nói là cạn, sẽ là cạn.
C̣n như ông nói “người ta khinh rẻ quán tâm, phần
nhiều coi trọng tŕ danh” lại là một điều hiểu
lầm nữa! Theo như tôi biết, chẳng giống
như vậy! Đă sợ quán tâm, làm sao tŕ danh cho
được? Tŕ danh để đắc nhất tâm là
pháp được dạy trong kinh A Di Đà. [Nếu bảo]
đức Phật nói sai lầm, c̣n ai [đáng tin] để
có thể tuân theo nữa đây? Cái tâm chẳng nhất, toàn
là do công phu. Điều này phải là do đă tu tập rồi
mới biết, chẳng phải là bàn suông, nghĩ suông mà
có thể hiểu rành rẽ được! Lại lấy
quán tâm để luận, cao th́ cao đấy, cho đến
hiện thời, Thiền gia vẫn chọn cách tham thoại
đầu, có thể tưởng tượng [pháp quán tâm]
khó khăn đến cỡ nào! Đấy chính là lời dạy
bảo của Hư Vân đại sư. Nếu ắt cứ
buộc kẻ tu Tịnh đều nhất loạt phải
quán tâm, sẽ đánh mất diệu dụng “thích hợp khắp ba căn”.
Đấy nào có phải là dụng ư của đức Phật
khi mở ra pháp này ư?
* Hỏi: Từ
nay trở đi, đối với chuyện tu tŕ, tôi tính lấy
niệm Phật làm chánh, pháp Thiền làm trợ. Trong quá khứ,
buổi sáng tham Thiền, buổi chiều th́ kinh hành hoặc
tụng kinh. Nay tôi muốn sửa thành sáng sớm tĩnh tọa,
giữa trưa niệm Phật, tối tụng kinh Kim Cang,
những lúc khác bèn tùy duyên niệm Phật hiệu trong tâm,
hoặc tham Thiền. Chẳng biết có thỏa đáng hay
chăng? (Khiết Viên hỏi)
Đáp: Dụng
công trong Thiền pháp, xét về đại thể th́ có hai.
Cách phổ biến nhất, những người học Phật
đều biết, một là quán tâm, gần đây phần
nhiều chẳng dùng. Hai là tham thoại đầu, hiện
thời phổ biến nhất. Nay nói đến pháp sau,
pháp ấy (tham thoại đầu) chú trọng khởi nghi
(dấy lên nghi t́nh), giữ chắc câu thoại đầu,
tham cứu [câu thoại đầu ấy] để cầu
ngộ. Trong mười hai thời, chẳng ĺa câu ấy.
Tịnh cũng có nhiều pháp, nay chuộng tŕ danh, cũng là
chuyên tâm một chuyện, chẳng xen tạp những thứ
khác. Nếu cư sĩ lấy Tịnh Độ làm chủ,
Thiền pháp làm trợ, hăy nên chọn cách quán tâm của nhà Thiền.
Nếu dùng cách thoại đầu, sợ rằng sẽ
nhiễu loạn nhất tâm của Tịnh, đó gọi
là “chẳng Thiền, chẳng
Tịnh”, hai môn đều chẳng có! Trong công khóa sớm
tối, hăy nên biến chuyển đôi chút sao cho phù hợp.
Cách dễ nhất là khóa sáng tụng kinh Kim Cang, tụng xong,
ngồi niệm Phật, quán tâm. Tối tụng Di Đà. Tụng
xong, ắt tĩnh tọa niệm Phật, hoặc kinh hành
nhiễu Phật, hoặc tùy duyên tán tŕ đều
được!
* Hỏi: Tu
Đầu Đà là pháp tu như thế nào? (Trần Quán Nhân hỏi)
Đáp: Đầu
Đà (Dhuta) hoàn toàn chẳng phải là pháp môn để tu,
khác hẳn! Đấy chính là những điều kiện
để kiềm chế bản thân, đặc biệt
siêng khổ. Những điều kiện ấy gồm có
mười hai điều, đều là những chuyện
khắc kỷ đối với phương diện
cơm, áo, cư trụ, chẳng phải là chuyện hàng tại
gia có thể làm được!
* Hỏi: Niệm
diệt chuyển nhập trạng thái giống như trầm
trệ, mơ màng, giống như ngủ mà chẳng phải
là ngủ. V́ sao phát sanh t́nh h́nh ấy? (Lư Vân Tiêu hỏi)
Đáp: “Niệm
diệt” chính là chánh niệm tiêu mất, c̣n gọi là “thất
niệm”, chính là một thứ Tùy Phiền Năo. Ngủ là một
thứ trong Ngũ Dục. Trầm trệ, mơ màng chính là
“hôn trầm”, cũng là một loại Tùy Phiền Năo. Nguyên
nhân của những điều trên đây đều là do vô
minh tác quái!
* Hỏi: Như
thế nào sẽ có thể khiến cho trước khi niệm
dấy lên, hoặc sau khi nó đă diệt, sẽ tiến nhập
linh minh bất muội, dần dần trở thành cảnh
giới “tự như”? (Lư Vân Tiêu hỏi)
Đáp: Vọng niệm dâng
trào, sanh diệt trong từng sát-na. Đó gọi là “cấp thủy đả cầu
tử, niệm niệm bất đ́nh lưu” (nước
xiết, chơi đá bóng, niệm niệm chẳng ngừng
lại). Trong ấy, sẽ có cái Vị Khởi (chưa dấy
lên) và Diệt Hậu (sau khi đă diệt). Hăy nên biết
lũ sơ cơ như bọn ta, nếu có thể tu tŕ
đúng pháp, ngay trong lúc niệm tương ứng với
pháp, [sẽ biết] đấy là tin tức của linh minh
bất muội vậy!
* Hỏi: Đệ
tử quy y đă hơn một năm, từng phát tâm chuyên
dốc tu hành Tịnh nghiệp, chỉ có điều tập
khí khó sửa, qua loa, lười nhác đă thành tánh! Đến
nỗi công khóa sáng tối nhiều lần tu tập, nhiều
lần phế trừ. Tu tŕ chỉ có mười mấy
ngày, nỗi niềm phiền muội, bực bội trong
tâm vô duyên cớ nẩy sanh, đến nỗi công khóa hằng
ngày đ́nh đốn, thân tâm cũng lập tức thảnh
thơi! Bỏ luống mười mấy ngày, lại phát
tâm kiền thành tu hành, lại nẩy sanh hiện tượng
như thế. Lại có khi c̣n tệ hơn nữa, mỗi
khi thân cận vị thầy quy y, hoặc một đồng
tu quen biết khác, tất nhiên là tánh t́nh cáu gắt, phiền
năo nhanh chóng nẩy sanh, khiến [đôi bên] phải giă biệt
trong sự không vui! Cách mấy ngày sau, lại mong thân cận,
kết quả lại bày ra t́nh thế y hệt như lần
trước. Mỗi lần sau chuyện ấy, đều
sanh ḷng hổ thẹn lớn lao, nhưng hễ gặp chuyện,
lại chẳng thể khắc chế. Hai thứ ác tánh
trên đây tuần hoàn, mỗi năm thử nhiều lượt,
đều thấy chẳng sai! Có phải là do ác nghiệp đời
trước trói buộc, kiếp này chẳng được
giải thoát? (Khi phiền năo dấy lên, từng tự kinh
sợ, gạt bỏ muôn duyên, cố giữ vững sáu chữ
hồng danh, nhưng vô hiệu). Xin thầy ban cho
phương pháp giải cứu! (Trần
Nghiệp Thâm hỏi)
Đáp: Đă
nói là phát tâm chuyên dốc tu Tịnh nghiệp, tự chuyên
công dốc sức nơi lục tự hồng danh, nhiều
lượt do ngoại duyên mà luống bỏ, tức là ma
chướng. Chuyện này có lẽ là do oán đối nhiều
kiếp khiến thành ra như vậy. Lục tự hồng
danh, vốn như thuốc A Già Đà, không bệnh nào chẳng
chữa lành. Nếu đổi sang tu pháp khác, tức là phá Tịnh
vậy! Người thật sự học Phật, hăy nên
biết nghĩa lư “khó đoạn
mà có thể đoạn”,
“khó hành mà có thể hành”. Đă phát nguyện, đừng
thay đổi ước nguyện tha thiết lúc ban đầu,
ắt phải nhẫn nại thực hiện. Có thể là
trước khi tụng niệm công khóa, trước hết,
hăy nên chí tâm sám hối, tụng ba lượt bài kệ bốn
câu “xưa kia trót tạo các ác
nghiệp…” Khi nẩy sanh chướng ngại, lúc sắp
thực hiện công khóa, hăy hướng về họ (cừu
gia oán đối nhiều đời) hồi hướng.
Phàm tụng niệm công khóa xong xuôi, cũng v́ họ mà hồi
hướng như vậy. Như thế th́ sẽ có thể
giải oán, tiêu chướng!
* Hỏi: Đệ
tử chẳng cầu đời này phước, thọ,
mạnh khỏe, b́nh yên, lại chẳng có quyến thuộc,
nên càng chẳng cầu gia đ́nh của chính ḿnh b́nh an. Chỉ
mong Tịnh nghiệp có ngày thành tựu, sớm có ngày văng
sanh, chỉ tŕ lục tự hồng danh có được
hay không? Có người khuyên tôi phải tụng niệm
thánh hiệu Quán Âm, thánh hiệu Địa Tạng, c̣n
khuyên tôi phải tŕ tụng kinh Địa Tạng, niệm
Tâm Kinh, niệm chú Đại Bi. Lại c̣n bảo tôi sáng tối
phải lạy bốn mươi tám lạy. Đệ tử
cảm thấy như vậy quá rườm rà. Nếu không
làm như thế, có phải là nghiệp chướng chẳng
thể tiêu, Tịnh nghiệp chẳng dễ thành hay không?
Có chướng ngại văng sanh hay không? (Trần Nghiệp Thâm hỏi)
Đáp: Cổ đức
bảo: “Văng sanh hay không, chỉ
là do có tín nguyện hay không? Phẩm sen cao hay thấp, hoàn
toàn cậy vào tŕ danh nhiều hay ít”. Nếu cầu hiểu
giáo, ắt sẽ nên là “pháp môn
vô lượng thệ nguyện học”. Nếu nói đến
chuyện hành tŕ, hăy nên chuyên tu, đó gọi là “đơn đao trực nhập,
duy tinh, duy nhất” (chỉ mang theo một lưỡi
đao tiến thẳng vào, cốt sao tinh ṛng chuyên nhất).
Cư sĩ đă tu tŕ danh, hăy nên tuân theo giáo huấn trong
kinh Di Đà. Đấy chính là quy củ chánh đáng “y pháp, bất y nhân”, muôn vàn phần
chớ nên băn khoăn nhiều lẽ, chính ḿnh chẳng
có chủ trương!
* Hỏi: Tôi
nghe một vị thầy nọ nói: Các đệ tử Phật
môn hiện thời phần nhiều là “hoằng pháp có thừa, tu tŕ chẳng đủ”.
Đệ tử cũng cảm thấy gần giống như
vậy. V́ thế, chỉ cầu niệm Phật tại nhà,
chẳng muốn tham gia Phật Thất, Hoan Nghênh Hội,
Liên Nghị Hội, hoặc bất cứ pháp hội kỷ
niệm này nọ. Như thế có thẹn với hai chữ
“hộ pháp” hay không? Lại
nữa, hàng hóa bán dọc đường có nhiều thứ
giả mạo, hàng thật giá thật sẽ chẳng cần
phải rao mời, người cần sẽ tự biết
cách t́m. Thái độ hoằng pháp lợi sanh như vậy
có nên hay không? (Trần Nghiệp
Thâm hỏi)
Đáp: Lời của
vị thầy ấy tuy đă thấu triệt căn bệnh
hiện thời, nhưng lời lẽ hăy c̣n khách sáo lắm,
tức là câu “hoằng pháp có thừa”!
Hai chữ “có thừa” ấy,
ai dám đảm đương? Cư sĩ muốn trước
hết niệm Phật ở nhà, chẳng hỏi đến
chuyện bên ngoài, chẳng thể nói là sai. Ấy là v́ để
khuyên người khác, chính ḿnh ắt phải tu trước!
Để uốn nắn người khác, trước hết
ắt phải uốn nắn chính ḿnh. Kẻ sơ cơ chẳng
hiểu rơ giáo tướng, tận lực cầu tu học,
chẳng dấy khởi thái độ dễ dăi, sẽ có
thể xa ĺa lỗi họa vậy!
* Hỏi: Khi tụng
kinh, trong nhà có người đang căi lộn, khi ấy, nên
làm như thế nào? Phải ngưng tụng, hay tụng
cho xong? (Lâm Chánh Khảo hỏi)
Đáp: Nếu
tâm có thể định, bất động, chẳng ngại
tụng xong rồi mới nói. Nếu như chẳng thể,
đành phải tạm ngừng, đứng lên giải quyết,
sau đấy lại tụng khóa khác.
* Hỏi: Văn sanh sống trong đoàn thể, hằng ngày ở
cùng trong một đội ngũ với mọi người,
chuyện tu hành cảm thấy rất bất tiện. V́ thế,
công khóa sáng tối hằng ngày (tụng kinh, niệm Phật)
đều lợi dụng lúc tản bộ để hành.
Tu tŕ như vậy chẳng biết có công đức hay
không? Xin hăy chỉ dạy! (Liêu
Thanh Hoa hỏi)
Đáp: Pháp tu
trong khi đi, đứng, ngồi, đều chẳng có
ǵ là không được! Chỉ có điều là trong tâm phải
định. Nếu tâm chẳng định, bất cứ
phương thức nào cũng đều là chỉ có h́nh
thức suông, tuy là có phước, chẳng có huệ!
* Hỏi: Trong
số báo một trăm mười ba, trong phần trả
lời câu hỏi của cư sĩ Ngô Minh An có nói: “Như kẻ tu Tịnh tŕ chú
Văng Sanh, chính là do bậc cổ đức trong Tịnh Tông
đă ấn định, chẳng có ǵ là không được.
Nếu xen tạp những pháp khác, ắt sẽ bị ảnh
hưởng”. Hiện thời, hội niệm Phật
các nơi có khóa bổn cộng tu (nghi thức cộng tu),
trong ấy có chú Đại Bi và mười bài tiểu chú;
chẳng biết là tụng những chú như vậy có bị
ảnh hưởng hay là không? Kính xin khai thị? (Liêu Thanh Hoa hỏi)
Đáp: Những
nghi thức khóa tụng như vậy do cổ đức ấn
định, bất luận tông nào, phần nhiều đều
hành như vậy. Đấy chính là khóa tụng thông dụng
trong các tự viện. Ngoài khóa tụng trong chánh điện
ra, các tông c̣n có những lúc chuyên tâm dụng công, hoặc những
lúc chuyên tu, chẳng thể xen tạp những pháp khác.
Cư sĩ Ngô Minh An thuộc hàng tại gia, sợ bận
bịu chuyện thế tục, có thể chuyên tŕ Phật
hiệu và chú Văng Sanh thường hằng chẳng lui sụt,
đă là tột bậc khó có! Trước kia, tôi nói “bị ảnh hưởng” nhằm
ngăn ngừa tạp loạn, chẳng có thứ tự,
sáng ba, chiều bốn mà thôi! Chớ v́ từ mà hại
nghĩa vậy!
* Hỏi: Tôi
thường mong đến Phật đường học
tu hành, nhưng v́ [luôn luôn có] các việc cần phải làm.
Hễ muốn rời nhà, liền có chuyện khác quấy
nhiễu, ngăn trở. Đấy là do tôi nghiệp
chướng nặng nề, hay là do duyên thế tục bất
tận, hay là v́ chẳng có thiện căn? Chỉ có điều
tôi đă ăn chay từ lúc mười mấy tuổi rồi,
đến nay đă ăn chay ba mươi mấy năm rồi!
(Lâm Tú Diễm hỏi)
Đáp: Phụ
nữ bị việc nhà trói buộc, tu hành ở nhà sẽ
tốt đẹp hơn. Trong nhà, chọn chỗ thanh khiết,
treo một bức h́nh Phật, bày một ḷ hương, chẳng
cần đánh khánh, gơ mơ, ấn định công khóa niệm
Phật, sẽ là chân tu. Thân chẳng làm chuyện giết,
trộm, dâm, miệng chẳng nói chuyện thị, phi, hay,
dở, giữ tấm ḷng tốt, bỏ ác niệm. Đấy
chính là Phật tử thật sự.
* Hỏi: Tôi mới
học tĩnh tọa, tập trung tinh thần vào
xương sống để ràng buộc cái vọng tâm.
Xin hỏi [làm như vậy] có trái nghịch đạo Chỉ
Quán hay không? Hậu học chướng sâu, huệ cạn,
sợ rớt hầm sụp hố; do vậy, mạo muội
thỉnh giáo, ngưỡng vọng từ bi chỉ điểm
th́ vạn phần may mắn lắm thay! (Hoàng Thanh Vinh hỏi)
Đáp: Có cách
tĩnh tọa theo nhà Phật, mà cũng có cách theo ngoại
giáo. Ngoại giáo là như thủy hỏa giao cấu[6],
đả thông các mạch Nhâm và Đốc[7],
chọn khiếu v.v… danh mục rất nhiều, chẳng
thể kể trọn. Đấy đều là những
công phu chấp tướng; do vậy, [những kẻ hành
theo những công phu ấy] mắc bệnh rất nhiều.
Cư sĩ nói “tinh thần tập trung tại xương
sống”, lâu ngày e rằng mạch lạc[8] ở
những chỗ khác sẽ đến nỗi chẳng thông
suốt, sẽ thành bệnh! Nhà Phật có quyển sách tên
là Tiểu Chỉ Quán, muốn tĩnh tọa có thể tham
khảo sách ấy. Nếu bị hạn chế về thời
gian, chẳng thể hành tŕ đúng pháp, chỉ ngồi kết
già[9],
thầm niệm thánh hiệu Di Đà, hoặc miệng niệm,
tai nghe, hoặc tâm niệm, tâm nghe, không chỉ là thân tâm thoải
mái, mà c̣n chính là đại đạo Bồ Đề.
* Hỏi: Vào
mười ngày trai, đệ tử bèn niệm kinh Địa
Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, nhưng chỗ ở là
pḥng ốc thuê trên lầu của người ta, chủ lại
cho người khác thuê nữa. Căn pḥng đệ tử
ở chỉ rộng bằng bốn chiếc chiếu. V́ hoàn
cảnh hữu hạn, nên vị trí thờ tượng Tây
Phương Tam Thánh ở ngay lối đi chung, trước
bàn Phật chừng hai ba mét về phía dưới là cầu
thang, chính là lối ra vào chung, chẳng hề thuận tiện.
V́ thế, khi đọc kinh chẳng thể niệm trước
Phật, mà đọc trong pḥng riêng, tuy biết pḥng ở
không thanh khiết, chẳng biết phải như thế
nào th́ mới nên? (Trí Sanh hỏi)
Đáp: Phật
pháp viên dung, cốt yếu là ḷng thành kính. Thuê nhà để ở,
làm sao có thể chỗ nào cũng thuận theo ḷng muốn
được! Thờ Phật ở một chỗ, đến
chỗ khác để tụng kinh, chỉ cần giữ
ḷng thành, hoàn toàn chẳng có ǵ là không được! Người
bận bịu, chẳng ở chỗ yên tĩnh, th́ thành thị,
thôn làng, nhà trong ngơ hẻm, đi, đứng, ngồi, nằm
đều là đạo tràng.
* Hỏi: Mỗi
lần tập tĩnh tọa, học nhân dốc hết
tinh thần vào hơi thở, liền cảm thấy choáng
váng và trong bụng chẳng thoải mái, chưa biết là
v́ lẽ ǵ? (Thái Thế Phương
hỏi)
Đáp: Tĩnh
tọa, sổ tức cũng đều có đường
lối riêng. Chẳng hành đúng pháp, sẽ thường
sanh bệnh, càng không nên thưa hỏi ngoại đạo,
đâm ra chuốc phải sai lầm to lớn! Từ nay trở
đi, khi tĩnh tọa, hăy đổi sang cách nhất tâm
niệm Phật, thử xem như thế nào!
* Hỏi: Đệ
tử Phật cầu pháp mà chẳng gặp, có nên tu tập
pháp Thiền Định của ngoại đạo để
làm công phu định lực phụ trợ hay không? (Thái Thế Phương hỏi)
Đáp: Ư niệm
ấy quá sai lầm! Cư sĩ đă chánh thức quy y Tam
Bảo, hăy nên chiếu theo Tam Quy, Ngũ Giới để
hành xử. Nói đến Quy Y Pháp chính là cho đến hết
thọ mạng, chẳng c̣n quy y điển tịch ngoại
đạo nữa. Hễ trái nghịch giới ấy, sẽ
đánh mất tư cách đệ tử Tam Bảo. Huống
hồ pháp của ngoại đạo đều là ở
ngoài tâm, hết sức trái nghịch nẻo giác. Sai chừng
hào ly, lầm lạc ngàn dặm! Hễ cư sĩ dấy
lên ư niệm ấy, đă đủ để chiêu cảm
ma. Nếu chẳng thống thiết sám hối, chắc chắn
sẽ bị nhiều chướng ngại. Nay tôi bảo
rơ cùng cư sĩ, đối với các câu hỏi thứ
hai và thứ tư, nói đến chuyện tĩnh tọa, sổ
tức, Thiền Na, quán tưởng v.v… ngay cả câu hỏi
về tŕ chú, nếu chẳng gặp minh sư, rất sợ
sẽ phí uổng công sức, tu mù luyện đui, đều
là chủng tử của lục đạo. Nhưng
cũng cần phải xem xét, suy nghĩ thêm về căn
khí và cơ duyên của cá nhân, nghe theo lời khuyên của kẻ
hèn này, không ǵ bằng chuyên tu niệm Phật, cầu sanh Tịnh
Độ, xem ra ổn thỏa hơn! Nếu hữu ư tu
pháp này (pháp môn Tịnh Độ), bổn xă sẽ kính biếu
các sách về pháp này. Tuy chẳng có thầy đích thân truyền
dạy, nhưng thành tín hành tŕ, vạn người tu, vạn
người văng sanh!
* Hỏi: Khi
tĩnh tọa, an định cái tâm như thế nào? (Lư Trưởng Mậu hỏi)
Đáp: Sổ Tức,
Tác Quán, niệm Phật, đều có thể khiến cho vọng
niệm chẳng dấy lên, nhưng dùng niệm Phật sẽ
là hữu hiệu nhất. Tức là dùng một câu “nam-mô A Di Đà Phật”, trong
tâm nghĩ tưởng rơ ràng, miệng niệm rơ ràng, dùng
tai nghe rơ ràng, khiến cho ba chỗ (tâm, miệng, tai) tuần
hoàn, giáp ṿng bèn trở lại từ đầu, chẳng bỏ
lỡ tiếng nào, chẳng bỏ sót chữ nào. Lâu ngày chầy
tháng, tự nhiên vọng tâm tiêu mất! Ắt cũng cần
phải hành tŕ trong một thời gian kha khá! Đó gọi
là công phu. Nếu gấp rút mong cầu, sẽ đâm ra chẳng
thể tĩnh nổi!
* Hỏi: Khi
nào hành tĩnh tọa là thích hợp nhất? (Lư Trưởng Mậu hỏi)
Đáp: Bọn
tại gia chúng ta chẳng tránh khỏi hằng ngày bị
chuyện thế tục quấy nhiễu. Thời gian để
tĩnh tọa, niệm Phật tốt nhất là vào rạng
đông, lúc mọi người chưa thức dậy, ban
đêm th́ là khi mọi người đă ngủ. Không ǵ chẳng
nhằm chọn lúc yên tĩnh, chẳng bị quấy nhiễu.
Nếu chính ḿnh có thể làm chủ ở nơi cư trú,
có thể sáng tối bế môn để hành, căn dặn
người nhà đừng căi cọ, gây lộn, ắt sẽ
chẳng phải đợi người nhà chưa thức
dậy, hoặc đă ngủ!
* Hỏi: Nếu
sau khi tĩnh tọa, xương gân nhức mỏi, có pháp
nào để điều ḥa, uống thuốc, hoặc nghỉ
ngơi hay không? (Lư Trưởng
Mậu hỏi)
Đáp: Lúc mới
tập tĩnh tọa, chẳng tránh khỏi có hiện
tượng này, hăy nên đổi chân, hoặc ngưng
tĩnh tọa để hoạt động đều
được cả! Đối với mọi chuyện,
hăy nên tiến dần dần, lâu ngày sẽ trở thành tự
nhiên. Chớ nên uống thuốc xằng bậy đến
nỗi đổ bệnh!
* Hỏi: Làm thế
nào để tiêu trừ nỗi hoảng sợ khi bước
vào tĩnh tọa? (Lư Trưởng
Mậu hỏi)
Đáp: Bước
vào tĩnh tọa th́ có ǵ mà hoảng sợ? Có phải là v́
có xen tạp pháp ngoại đạo? Nếu có những chuyện
như quán khiếu, thổ nạp, giáng linh[10] v.v…
hăy nên cấp tốc bỏ đi! Học Phật, hăy nên dựa
theo các pháp môn trong nhà Phật, chọn lấy một pháp
để tu. Cũng có nhiều phương pháp tĩnh tọa,
nhưng không có người chỉ điểm, hoặc lầm
lạc nghe theo kẻ vô tri, không chỉ là vô ích, mà sợ c̣n
chuốc lấy tổn hại! Cư sĩ có tâm hướng
về đạo, chẳng bằng chuyên tu Tịnh Độ,
thật thà niệm Phật, sẽ thành tựu ổn thỏa!
* Hỏi: Tu Tây
Phương Tịnh Độ, nếu cùng tu cả Hiển
lẫn Mật có bị trở ngại hay không? (Lâm Chánh Khảo hỏi)
Đáp: Tu hai
pháp có tánh chất tương đồng, sẽ có thể
kiêm tu. Thật ra, Phật pháp chỉ có Nhất Thừa, v́
căn khí của chúng sanh [khác biệt] mà nói ra nhiều thứ.
Đấy là phương tiện. Nói “do tánh chất có thể kiêm” chính là nói theo
phương tiện quyền thừa, chứ xét theo Chân
Như thực tế, chẳng có ǵ là đồng hay dị!
Nếu muốn kiêm tu Hiển và Mật, cũng chỉ có
cách nương theo tiêu chuẩn này.
* Hỏi: Trong
bức thư của Hám Sơn đại sư gởi cho
Đổng Trí Quang trích từ sách Tịnh Tông Pháp Yếu,
có đoạn viết: “Nếu
học nhân tập khí sâu nặng, công phu giác chiếu nông cạn,
hăy nên cậy vào tâm ấn của Phật để ngầm
phá, hăy nên trong hai thời khóa sáng tối tụng thêm chú Ngă Vô
Vi Tâm là tâm chú do đức Phật đă nói để làm trợ
hạnh. Ví như kẻ giặc khó phá, cần phải thỉnh
gươm Thượng Phương[11]
để giết chết”. Chẳng biết chú ấy
có phải là nói đến chú Văng Sanh hay không? Xin hăy chỉ
giáo cho th́ may mắn lắm thay! (Hoàng
Thanh Vinh hỏi)
Đáp: Phật
và tổ sư dạy kẻ khác, đều thuận theo căn
cơ mà thí giáo. V́ thế, có kiểu nói “tám vạn bốn ngàn [pháp môn]”. Căn cơ nhiều,
tức là bệnh nhiều, pháp cũng phải nhiều! Nếu
có thể hiểu rơ giáo tướng, pháp nào cũng đều
có thể viên dung, có thể “một
nhập vào vạn, vạn có thể quy về một”, sẽ
chẳng cần phải nhất định tụng tâm chú Ngă
Vô Vi; bởi lẽ, “sống” chẳng bằng “chín”[12].
Nếu có thể thuộc ḷng một chú, chú ấy chính là vạn
đức, vạn năng, do thuần thục sẽ dễ
cảm ứng, c̣n “sống sít” sẽ khó thể cảm ứng!
Vô vi tâm chú không phải là chú Văng Sanh!
* Hỏi: Bất
luận là xướng tán, niệm kinh, hay niệm Phật,
tôi đều cảm thấy trung khí (tức luồng khí
nơi vùng ngực và bụng) chẳng thông thuận, có phải
là do không đúng pháp, hay là do ma chướng, nghiệp
chướng? (Lương Minh Tượng
hỏi)
Đáp: Xướng
tán có vận, điệu, phách, nhịp. [Xướng tán] không
đúng cách, ắt sẽ bị tắc khí! Cách này ắt cần
phải xin người khác dạy bảo, luyện tập
lâu ngày. Niệm kinh hoặc niệm Phật, hăy nên niệm
khẽ tiếng, hoặc là niệm thầm, ắt trung khí
chẳng bị ảnh hưởng. Nhưng khi niệm, nói
chung là nên ḥa hoăn, khiến cho [nhịp điệu] không cấp
bách, không rề rà, khí điều ḥa, tâm yên tịnh, th́ mới
có thể nhập Định được!
* Hỏi: Niệm
Phật th́ có thể niệm thầm, nhưng kệ tán hoặc
kinh chú có thể niệm thầm ư? (Lương Minh Tượng hỏi)
Đáp: Nếu
cùng tụng niệm công khóa với đại chúng, ắt
phải đọc kệ tán ra tiếng. Nếu không đọc
ra tiếng, ắt sẽ thành khinh mạn, giải đăi! Nếu
ở trong nhà, tự ḿnh tụng niệm công khóa, hết thảy
đều niệm thầm vẫn chẳng phải là không
được!
* Hỏi: Học
tṛ phát tâm noi theo điều thiện, sửa lỗi, tính phỏng
theo tiên sinh Liễu Phàm, trước hết là đối
trước Phật sám hối, tiếp tục hành bao nhiêu
thiện sự để giúp cho thiện duyên, có được
hay chăng? Tôi có soạn một bài văn có tên là Phật
Tiền Sám Hối Thư (thư đối trước Phật
sám hối), dâng lên thầy kèm theo thư, xin thầy hăy xem
qua. Học tṛ là một gă lỗ măng, trước nay chẳng
hề viết văn, trong ấy nhất định có nhiều
chỗ chẳng thông suốt, chẳng thỏa đáng, vẫn
mong thầy phủ chánh! (La Kiếm
Nhân hỏi)
Đáp: Có thể
phát tâm sám hối, chính là chánh tri chánh kiến. Chịu làm thiện
sự, chính là mong thành thánh, thành hiền. Nhân gian chính là
đường lành trong lục đạo, lại c̣n là
trung tâm trong Tam Tài, ắt phải lập chí như vậy
th́ mới chẳng thẹn làm người. C̣n đối với
thư Sám Hối do ông biên soạn, tôi đă gởi lá
thư khác để phúc đáp.
* Hỏi: Trong
trang thư khác, tôi có đính kèm mật chú. Chúng ta tu tŕ pháp
môn Tịnh Độ, ngoài niệm Phật ra, có thể thêm
chú vào để tŕ tụng hay không? (Vương Thanh Hán hỏi)
Đáp: Bài chú
như ông đă đính kèm có tên là Lục Tự Đại
Minh, đấy chính là pháp môn tŕ tụng phổ biến của
người Tây Tạng học Phật, đă được
lưu hành từ lâu tại Trung Thổ. Người học
Phật cần phải có Giải và Hành, Giải có thể
chọn nhiều lối, Hành hăy nên chuyên nhất. Chú ấy
thuộc về Hành môn, niệm Phật cũng là Hành môn. Tu
một môn c̣n khó đạt nhất tâm, tu hai môn càng khó quy nhất!
Huống chi lúc lâm chung, đối với lục tự hồng
danh, phần nhiều c̣n khó thể nhớ trọn! Nếu
thêm vào nhiều pháp, sẽ càng thêm khó khăn. Đấy chẳng
phải là pháp nào cao hay thấp, mà thật ra, [chính là v́] coi [thâm
nhập] một pháp là quư. Nếu tâm cư sĩ khế hợp
chú ấy, hăy nên tŕ tụng thêm ngoài công khóa, nhưng vẫn
lấy hồi hướng sanh Tây làm mục đích. Muôn vàn
phần đừng noi theo những điều tuyên truyền,
cầu hết thảy các sự vui trong thế gian. Nếu
không, sợ rằng tâm sẽ khó thể rời đôi ngả!
* Hỏi: Nếu
lúc niệm Phật mà chẳng có vọng niệm, nhưng khi
không niệm th́ lại có vọng niệm, có được
coi là nhất tâm hay không? (Khiết
Viên hỏi)
Đáp: Khi niệm
chẳng có tạp, vọng, đó là nhất tâm. Không niệm
lại khởi vọng niệm, đấy chính là vọng
niệm. Chuyện này giống như nhập Định là
Thiền, xuất Định chẳng có ǵ là tương tự.
Đấy chính là công phu chẳng thể thành phiến, nhưng
có thể “hễ vọng dấy lên, bèn nhận biết” th́
cũng được!
* Hỏi: Trong
quá khứ, tôi từng được A Xà Lê quán đảnh,
truyền trao Mật pháp. Hiện thời tu tŕ pháp tŕ danh niệm
Phật, nếu kiêm tŕ mật chú, chẳng biết có phụ
trợ cho Tịnh nghiệp hay không? Chẳng biết có trái
nghịch giáo huấn “chuyên tu”
của cổ đức hay không? (Khiết Viên hỏi)
Đáp: Mật
pháp có chủng loại chẳng đồng nhất,
cũng giống như Thiền, Tịnh, Giáo, Luật trong
Hiển giáo vậy. Nếu chỉ luận định riêng
về Tịnh Độ, th́ có các cơi Tịnh Độ của
Di Đà, Di Lặc, Dược Sư, Quán Âm khác nhau. Nếu
trái nghịch nhau, th́ cả hai đằng đều bị
tổn hại. Cư sĩ xưa kia đă thọ tŕ Mật
pháp, nếu pháp ấy chẳng mâu thuẫn với Tây
Phương Tịnh Độ, [sẽ có thể] kiêm tu,
cùng hồi hướng về Tịnh. Nếu trái nghịch,
chỉ có cách chọn lấy một pháp để hành!
* Hỏi: Có
người nói: “Thiền Tịnh
song tu, ví như tay trái vẽ h́nh vuông, tay phải vẽ h́nh
tṛn, cả hai đều chẳng thành! Hăy tu theo thứ tự,
từ Thiền nhập Tịnh, hoặc từ Tịnh mà
hiểu Thiền”. Cách nói ấy có đúng hay không? (Khiết Viên hỏi)
Đáp: Trở
về nguồn, chẳng có hai đường,
phương tiện có nhiều cửa. Đấy chính là
luận định khuôn vàng thước ngọc chẳng
thay đổi được! Kẻ tu nhân sơ cơ t́m
cửa vào, ắt chọn một môn. Hễ chứng quả,
sẽ đều là khôi phục tánh, đều cần phải
có trí huệ viên măn. Hễ song tu, ắt hai môn sẽ phá lẫn
nhau; tu theo thứ tự, sẽ có thể song dung. Từ Thiền
nhập Tịnh, sẽ có thể liễu Phần Đoạn
trong đời này. Do Tịnh mà hiểu Thiền, sẽ có
thể sanh vào cơi Tịch Quang. Nhưng nhập Tịnh hay
hiểu Thiền, mỗi đằng cũng đều có Sự,
Lư, hoàn toàn chẳng phải là ai cũng có thể làm
được. Hễ sai lầm đôi chút, sẽ lầm
lạc cả ngàn dặm!
* Hỏi: Trong
bán nguyệt san Từ Quang, có đăng tải bài viết
về niệm Phật “tŕ danh và quán tưởng có hiệu
quả giúp nhau thành tựu”, trong khi thực hành công khóa sáng
tối, đệ tử hễ lạy Phật bèn quán
tưởng tượng Tây Phương Tam Thánh, niệm Phật
bèn quán tưởng đóa sen trắng, tự ngồi trên ấy
để tŕ danh niệm Phật. Trải hơn một
tháng, cảm thấy tŕ danh [theo kiểu đó] chẳng xác
thực bằng tŕ danh đơn độc, nhưng hô hấp
sâu nhẹ, thoải mái hơn! (Tiên
Thuần Hiền hỏi)
Đáp: Làm
như thế cũng chẳng phải là không được!
* Hỏi: Trước
khi thọ giới, mạt học lấy niệm Quán Thế
Âm Bồ Tát làm chủ, chờ đến sau khi thọ giới,
sẽ lấy tŕ niệm A Di Đà Phật làm chủ, có được
hay không? Niệm Phật tam-muội là ǵ? (Lưu Tự Nhậm hỏi)
Đáp: Niệm
Quán Âm hay niệm Di Đà, chẳng phân biệt là trước
hay sau khi thọ giới, mà phải do chí nguyện như thế
nào để định. Nếu cầu các chuyện trong
thế gian, đức Quán Âm ban nhiều phương tiện;
v́ thế, trong phẩm Phổ Môn đă kể ra nhiều
chuyện. Nếu cầu xuất thế chứng quả, liễu
thoát sanh tử, kinh Di Đà dạy niệm Phật Di Đà
văng sanh. Mọi chuyện ắt đều phải y giáo phụng
hành th́ mới là phù hợp pháp. Thoạt đầu, do
căn cơ là như thế, hăy nên hiểu như thế.
Sau đấy, nếu là sau khi đă hiểu rơ giáo tướng,
hiểu lư viên dung, ắt sẽ không ǵ là chẳng thể! Lại
nữa, Tam-muội dịch sang tiếng Hán là Chánh Định.
“Chánh” là chẳng sai lầm.
Định là chẳng loạn. Niệm Phật tam-muội
tức là niệm Phật đạt tới nhất tâm bất
loạn.
* Hỏi: “Giáo tuân Bát Nhă, hành tại Di
Đà”, có phải là Thiền Tịnh song tu hay không? (Lại Đống Lương hỏi)
Đáp: Pháp môn
liễu nghĩa, không ǵ chẳng phải là Bát Nhă. Thật
nghĩa của các hạnh, không ǵ có thể ĺa Bát Nhă. Bát Nhă
chính là cái nguồn để quy về vậy. Đấy
chính là cửa ngơ để người hành Chỉ Quán, tham
Thiền, niệm Phật vào được nguồn. Nói
theo Giáo, Tánh Đức của Thiền và Tịnh là duy nhất.
Nói theo Hành, pháp tu Thiền và Tịnh là hai. Hai câu ấy có
nghĩa là “cầu hiểu rơ
nghĩa lư Bát Nhă, vẫn dùng niệm Phật để cầu
văng sanh”. Hành Thật Tướng Niệm Phật trong Tịnh
môn hoặc nhà Thiền tuy tham cứu mà vẫn kiêm cầu văng
sanh th́ mới là Thiền Tịnh song tu.
* Hỏi: Tệ
nhân mỗi khi tụng niệm công khóa và xem kinh Phật, thần
thức cảm thấy hết sức buồn ngủ, là v́
cớ ǵ? (Hoàng Vĩnh Lâm hỏi)
Đáp: Chuyện
này gọi là “hôn trầm”, là
một thứ Phiền Năo Chướng, cần phải
siêng năng sám hối.
* Hỏi: Nếu
chẳng tŕ trai, nhưng hằng ngày tụng khóa tối, có
phải là công đức cực ít hay không? Tụng công khóa
mỗi đêm th́ phải súc miệng đúng không? (Hoàng Vĩnh Lâm hỏi)
Đáp: Tŕ trai
sẽ có công đức tŕ trai, khóa tụng có công đức
của khóa tụng. Tŕ trai tịnh hay bất tịnh, công
đức sẽ khác nhau. Khóa tụng thành kính hay không, công
đức cũng khác nhau! Chỉ tŕ trai th́ là một loại
công đức, khóa tụng kiêm tŕ trai chính là hai thứ công
đức. Một là ít, hai th́ nhiều! Khóa tụng thành
kính, tŕ trai thanh tịnh, sẽ là công đức bậc
thượng. Thành kính nhưng chẳng tịnh, hoặc tịnh
chẳng thành kính, sẽ là công đức bậc trung. Cả
hai đằng đều chẳng thành kính, chẳng thanh tịnh,
công đức sẽ là bậc hạ. Đánh răng để
giữ cho miệng thanh tịnh, chẳng cần biết là
khóa tụng sáng hay tối, nếu dùng tâm tịnh để
niệm khóa tụng, công đức cũng là cả hai
đằng đều trọng.
* Hỏi: Trong khóa
tụng niệm Phật hiệu, chỉ mở mắt ba phần,
là có ư nghĩa ǵ? (Hoàng Vĩnh
Lâm hỏi)
Đáp: Mắt
không thấy Sắc, tâm có thể tịnh. Mắt mở ba
phần, chẳng nh́n xa hơn nửa thước để
chẳng rong ruổi bên ngoài, sẽ dễ đắc tam-muội.
* Hỏi: Cầu
tĩnh như thế nào? Hạ thủ công phu từ bước
đầu như thế nào? Xin hăy nói rơ tường tận.
Nếu có sách vở về cách tu tĩnh, xin hăy tặng cho,
có được hay không? (Hoằng
Tông Sư hỏi)
Đáp: Đại
nghĩa trong Phật pháp chính là Giới, Định, Huệ.
Ba điều ấy cũng có thứ tự, trước hết
cần phải tŕ Giới. Từ Giới sanh Định,
từ Định sanh Huệ. Hễ Huệ đă sanh, sẽ
có công năng to lớn. Cầu tĩnh cũng thế.
Tĩnh là công năng sau khi đă có Giới. Nếu có thể
răn dè lục căn chẳng để nhiễm sáu trần,
lâu ngày, tự nhiên là tâm sẽ tĩnh. Tĩnh lại là
điều kiện trước hết ắt phải có của
Định. Đă tĩnh lại càng tĩnh hơn, tự
nhiên sẽ đắc Định. Chỉ chuộng nhiễm,
và chẳng tĩnh, sẽ đều sanh ra vọng tâm. Ắt
cần phải chế ngự cái vọng tâm ấy, khiến
cho nó chẳng dấy lên. Đă dấy lên, hăy giữ cho nó
(vọng tâm ấy) chẳng tiếp tục th́ sẽ có thể
tĩnh; nhưng để chế ngự vọng tâm,
cũng ắt phải có pháp. Pháp thuận tiện nhất mà
lại có công đức, không ǵ bằng niệm Phật.
* Hỏi: Sáu căn chẳng tịnh, thoạt
đầu nên tu như thế nào? (Thái Lân Định hỏi)
Đáp: Cư sĩ hỏi câu này, chắc là
chưa hiểu nghĩa “căn tịnh”! Nay trước hết
tôi nói đại lược. Lục căn là mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân, ư. “Tịnh” là chẳng nhiễm sắc,
thanh, hương, vị, xúc, pháp. Nếu cư sĩ cầu
lục căn tịnh, có thể học chẳng chấp
trước tướng của lục trần, há kẻ
sơ học có thể làm chuyện này ư? Nếu chịu
chân tâm học Phật, trước hết hăy tu Thập Thiện,
lâu ngày thuần thục, căn cũng có thể tịnh.
Nói Thập Thiện chính là thân chẳng giết, trộm, tà
dâm, miệng chẳng nói dối, ác khẩu, nói đôi chiều,
nói thêu dệt, ư chẳng khởi xan tham, sân khuể, ngu si…
Xin hăy thử làm xem như thế nào?
* Hỏi: Trước khi niệm Phật, có nên
quán tưởng Giả Đế để cầu khẩn
thiết hay không? (Vương
Tâm Phổ hỏi)
Đáp: Trước hết tác Quán để cầu
Định cũng chẳng phải là không được.
Nhưng điều được quán là ǵ, ắt phải
là chẳng trái nghịch giáo tướng, v́ Quán cũng
đóng vai tṛ trọng yếu, chẳng thể không cẩn
thận!
* Hỏi: Trong sách Tịnh Độ Tam Yếu Thuật
Nghĩa có nói: “Muốn cầu nhất
tâm bất loạn th́ phải bế quan một trăm hai
mươi ngày”. Phụ nữ nghiệp chướng sâu
nặng, phải lo liệu mọi sự vụ trong gia
đ́nh, chẳng thể thực hành [bế quan] th́ phải
làm như thế nào? (Lâm Khoan Tu
hỏi)
Đáp: Kẻ
tại gia b́nh phàm chẳng thể làm chuyện ấy
được! Dẫu là người xuất gia, nếu
chẳng có lương thực và có người hộ quan
trông nom, cũng chẳng dễ ǵ thực hiện được.
Pháp có pháp duyên, người th́ có duyên nơi người, chẳng
thể miễn cưỡng! Nhưng trong công khóa sáng tối
thành kính, khi làm việc mà chẳng cần phải suy
nghĩ, trong tâm bèn niệm Phật chẳng ngừng, huân tập
lâu ngày, khiến cho chỗ sống sít biến thành chín muồi,
chỗ chín muồi biến thành sống sít, [chỉ cần]
dốc sức đôi chút, sẽ thành nhất tâm. Mười
niệm văng sanh chính là dốc sức một chút vậy.
* Hỏi: Người
tu pháp môn Tịnh Độ, mỗi dịp gặp pháp hội
của các vị Phật, Bồ Tát khác, sau khi đă đọc
tụng các kinh điển khác, [trong ngày hôm ấy] đối
với công khóa tu Tịnh, có nhất định phải tụng
niệm nữa hay không? (Giang Khoan
Ngọc hỏi)
Đáp: Phật
Phật đạo đồng, pháp pháp lư đồng. Đấy
là xét theo Lư, [nói theo] Sự th́ có sai khác. “Đồng”
nghĩa là một đạo trở về nguồn, đó
là [nói theo] quả. “Khác” là có nhiều thứ phương tiện,
đấy là [nói theo] nhân. Nhân ắt có chỗ chuyên chú th́ thoạt
đầu là tán loạn rồi sẽ thống nhất. Hễ
là một, sẽ là diệu môn để đạt đạo.
Nếu là hai, ắt sẽ là từ đường rẽ
sanh thêm ngơ rẽ. Trong Tông Môn có phương tiện “niệm Phật bèn súc miệng”;
đối với Tịnh môn, há chọn cách tu xen tạp
để thay thế tư lương ư? Khi gặp các
pháp hội tụng tŕ khác, chỉ coi như là ngẫu nhiên
dùng thức ăn vặt, c̣n chánh nghiệp của bổn
môn chính là những bữa cơm chính thường ngày!
* Hỏi: Khi
đệ tử niệm Phật, thường dễ sanh vọng
niệm. Do chính ḿnh muốn tăng cường sức chú
ư, bèn nhắm mắt, lắng đọng ư tưởng. Khi
ấy, đối với sự thấy, nghe ngoại cảnh,
có thể khống chế đôi chút, nhưng lâu sau bèn nhận
thấy quá căng thẳng, thân thể chẳng thoải
mái! Có thể dùng cách ấy hoặc là có phương pháp nào
khác khiến cho vọng niệm chẳng dễ phát sanh? (Tiên Thuần Hiền hỏi)
Đáp: Cuồng
tâm nhiều kiếp giống như vượn hoang, [mong] lập
tức hàng phục, há có thể làm được ư? Nếu
cưỡng ép ức chế nó, có thể sanh ra bệnh
khác. Hăy nên biết: Chánh và vọng là hai niệm, tịnh và
nhiễm là hai đường. Tâm như người đi
đường, cần phải noi theo đường lối.
Vọng niệm dẫu nhiều, chẳng quan tâm đến
nó, hăy dấy khởi chánh niệm, như vào chỗ hiểm
trở phải chụp nắm dây thừng, [đó là chỗ]
muôn vách dốc, ngàn khe, trong ḷng chẳng lơ đăng chút
nào, tâm luôn chăm chú nắm chặt dây thừng, sẽ chẳng
bị rơi xuống!
* Hỏi: Phật
là đấng Thiên Nhân Sư, lễ Phật nên dùng cách
ngũ thể đầu địa (năm vóc gieo sát đất).
Lễ tổ tiên nên dùng cách lễ nào cho hợp lư, thích
đáng? (Giang Khoan Ngọc hỏi)
Đáp: Lễ
tổ th́ dùng cách lễ của nước ḿnh là được
rồi. Nếu tổ tiên khi c̣n sống đă từng học
Phật, thọ giới, cũng chẳng ngại chọn dùng
cách lễ trong nhà Phật. Thử xem cách người học
Phật trong hiện thời lạy tỳ-kheo chính là cách lễ
“tiếp túc” (lễ quỳ
mọp xuống, ngửa ḷng bàn tay lên, dường như dùng
hai bàn tay lót dưới chân Phật). Chuyện này vốn chẳng
có vấn đề ǵ, nhưng tại gia cư sĩ lạy
nhau, cũng dùng cách lễ ấy, cho nên đối với tổ
tiên chọn dùng cách lễ ấy, có lẽ cũng chẳng
phải là không được!
* Hỏi: “Làm
lành hoằng pháp” là chuyện nên làm của Phật giáo đồ,
người tu pháp Đại Thừa ắt cần phải
“tam luân thể không”,
nhưng đệ tử nếu gặp lúc “làm lành hoằng
pháp”, sẽ tự cảm thấy trong tâm hết sức vui
sướng, nhưng chẳng mong cầu quả báo. Như
thế có phải là chấp tướng hay chăng? (Giang Khoan Ngọc hỏi)
Đáp: Chuyện
này tuy là chấp tướng, mà cũng là pháp hỷ, tŕnh
độ công phu sẽ tiến dần dần. Trong Tứ Vô
Lượng Tâm có chữ Hỷ, từ nay về sau, nếu
có thể chuyển từ “tự hỷ” (chính ḿnh vui sướng
khi có dịp làm lành) thành “hỷ tha” (vui sướng khi
người khác làm lành), sẽ lại tiến bộ
hơn! Biết là chấp tướng, đấy là do tập
khí sai khiến, sẽ chẳng khó đạt tới “niệm
mà vô niệm, làm mà không làm”!
* Hỏi: Từng
nghe lăo ân sư nói: “Thường
ngày chính ḿnh niệm Phật là nhân, khi lâm chung chính ḿnh có thể
niệm là duyên, người trợ niệm cũng là duyên.
Văng sanh Tây Phương là quả”.
Giả sử, người nằm trên giường bệnh
đă lâu ngày, có khi ngay cả sự niệm Phật của
chính ḿnh cũng quên bẵng, lúc lâm chung, chỉ có trợ niệm
khiến cho Phật hiệu chẳng dứt, niệm cho tới
khi người ấy mạng chung. Như thế th́ có thể
tương ứng với Phật, đạt được
cái quả “được Phật tiếp dẫn văng sanh”
hay không? (Giang Khoan Ngọc hỏi)
Đáp: Trợ
niệm là giúp cho người bệnh niệm Phật.
Người bệnh tuy miệng chẳng thể niệm
được, nhưng tâm có thể niệm th́ vẫn được
giao cảm. Đấy vẫn là nhân, duyên, quả. Nếu người
bệnh chẳng có cái tâm ấy, chỉ có trợ niệm,
bất quá là tiêu mấy phần tội chướng, sợ
là chẳng thể được Phật đến tiếp
dẫn!
* Hỏi: Niệm
Phật cần phải cầu nhất tâm bất loạn
th́ mới có thể “phản vọng
quy chân”. Đệ tử thường là khi bắt đầu
niệm Phật, thoạt đầu cảm thấy hết
sức tán loạn, niệm được chốc lát, bỗng
dưng giống như cảnh giới thay đổi, cảm
thấy thân tâm hết sức nhẹ nhơm, thong dong. Như thế
có phải là hơi thấy được bản tánh đấy
chăng? (Giang Khoan Ngọc hỏi)
Đáp: Đấy
là vọng tưởng dần dần trong lặng, tất
nhiên là hiện tượng khinh an tốt lành. Nếu bảo
là “kiến tánh” th́ thật ra hăy c̣n xa lắm!
* Hỏi: Khi tụng
khóa tối, thường cảm thấy hôn trầm, buồn
ngủ, có thể là ngủ trước [khi tụng khóa tối]
một chốc, hay là thừa dịp ấy mà rèn giũa tập
khí? (Vương Chí Hiền hỏi)
Đáp: Hai
căn bệnh hôn trầm và điệu cử, hầu
như ai cũng đều có! Nếu sắp tụng công
khóa, trước đó, ngủ trong chốc lát cũng chẳng
phải là không được! Nhưng ngủ dậy, tụng
niệm công khóa mà có thể thanh tỉnh, an tĩnh, sẽ
chẳng trở ngại. Nếu sau khi đă ngủ, tụng
niệm công khóa vẫn bị hôn trầm, ắt là có ngủ
trước vẫn vô ích! Chẳng bằng đứng lên lạy
Phật, hoặc dùng khăn lạnh lau mặt, hoặc hai
tay chà sát lỗ tai, hoặc quỳ thẳng phúng tụng,
đều có thể trừ khử hôn trầm.
* Hỏi: Gần
đây, khi tôi niệm Phật, thường cảm thấy
có vật nhẹ như bông vải phủ trên đầu, nguyên
nhân là như thế nào? (Vương
Chí Hiền hỏi)
Đáp: Điều
này cũng chẳng phải là tốt đẹp. Đấy
chính là hiện tượng cho thấy tâm tư hôn trầm,
mê muội, hoặc là do thân thể chẳng khỏe, hoặc
là do thần kinh nơi năo có chướng ngại! Hăy nên
trong khi lên khóa tụng, chọn phương pháp đi nhiễu
cho nhiều, giảm bớt thời gian ngồi xếp bằng.
Lại c̣n đến bệnh viện khám xem có bệnh trạng
phát sanh hay không, chớ nên chỉ đổ lỗi cho chuyện
ngồi tụng!
* Hỏi: Hiện
thời, tôi nghe kinh Lăng Nghiêm, mới biết công phu thật
sự trong Phật pháp, toàn là phải tự tham, tự ngộ,
dẫu cho chí thân như cha con, thầy tṛ, đều chẳng
thể thay thế cho nhau, cũng chẳng phải là như
nghề khéo trong pháp thế gian mà ḥng truyền dạy
được! Tu hành trong thế giới Sa Bà này, tiến
tiến, lùi lùi, thời gian chẳng đợi ai, lầm lạc
quá nửa cuộc đời, khi nào sẽ có thể liễu
sanh thoát tử? (Châu Huệ
Đức hỏi)
Đáp: Đối
với chuyện này, ắt phải tinh tấn, hoàn toàn chẳng
có cách nào khác! Cổ nhân nói: “Ông
tu ông đắc, bà tu bà đắc, chẳng tu chẳng
đắc”. Lại nói: “Người
nào ăn cơm kẻ ấy no, đại sự sanh tử
mỗi người tự liễu”. Lời lẽ tuy
thông tục, nhưng ư nghĩa thấu triệt xuyên suốt!
* Hỏi: Khi thầm
niệm Phật hiệu, tôi dùng chuyện quan sát lục tự
Phật hiệu để định cái tâm. Tôi thường
dùng cách quan sát Phật hiệu, lại c̣n thầm niệm Phật
hiệu, [cho đến khi] niệm nào cũng chỉ biết
có ḿnh Phật, bèn thôi quan sát, một mực niệm Phật,
nhưng có lúc vọng niệm lại dấy lên, bèn vội
vă dùng cách quan sát, vẫn tiếp tục niệm. Cách này có nẩy
sanh chướng ngại hay không? (Tạ Ấu hỏi)
Đáp: Quan sát Phật
hiệu cũng là phương pháp để thâu hồi cái
tâm, vận dụng lấy bỏ vào tŕ danh hết sức hợp
lư. Điều mong cầu chỉ là nhất tâm, cách
được sử dụng là quán và niệm dường
như khác nhau đôi chút, nhưng trọng điểm đều
là lục tự hồng danh, vẫn là “các pháp quy nhất”.
Hành như thế, chắc chắn chẳng có chướng
ngại!
* Hỏi: Tu Bát
Nhă cùng với tŕ danh th́ cách tu là như thế nào? (Lại Đống Lương hỏi)
Đáp: Pháp môn
trong nhà Phật đều là Bát Nhă! Bởi lẽ, hễ
thuộc về Phật pháp, không ǵ chẳng nhằm cầu
giác. Giác là Thức dần dần chuyển thành Trí. Trí huệ
chính là Bát Nhă vậy! Hơn nữa, bất cứ pháp môn nào
cũng đều coi trọng hành và giải tương ứng,
người tu Tịnh Độ há có ngoại lệ ư?
Giải là nương theo Bát Nhă, ngộ sâu xa Thật Tướng;
Hành là coi trọng Di Đà, tịnh niệm tiếp nối.
Đấy là phương pháp để tu gộp chung hai
đằng vậy!
* Hỏi: Tŕ
hai công khóa sáng tối, có phải chiếu theo thời gian nhất
định hay không? Nếu nhằm lúc khóa sáng mà sự việc
bận bịu trễ tràng đến tận trưa, có thể
tụng bù khóa sáng hay không? Nếu nhằm lúc khóa tối, do
bận bịu tới giờ Tư ban đêm, có thể tụng
bù khóa tối hay không? Xin thầy giải trừ nỗi nghi
này! (Thái Lân Định hỏi)
Đáp: Ngẫu
nhiên làm th́ vẫn c̣n được, chứ thường
xuyên như thế, dường như là thiếu thành kính. Vả
nữa, người tu đạo cuộc sống chú trọng
có kỷ luật. Vô kỷ luật sẽ khiến cho cái tâm
chẳng định, mà đạo cũng khó đi vào nề
nếp được!
* Hỏi: Trong
nhà thờ Phật Dược Sư, Quán Thế Âm, Địa
Tạng Bồ Tát, mỗi ngày đối với công khóa sáng
tối, tôi dùng máy thâu âm để phát ra khóa tụng, v́ tôi chẳng
biết niệm kinh, dùng máy thâu âm có được hay không?
(Vương Quách Vận
Đoan hỏi)
Đáp: Đối
với hai công khóa sáng tối, mở máy thâu âm để phát
ra hai khóa tụng, cung kính lắng nghe th́ cũng có công đức,
hoàn toàn chẳng có ǵ không nên! Nhưng chính ḿnh chẳng biết
tụng kinh, có thể học niệm thánh hiệu Di Đà,
cầu sanh Tây Phương, mong có chỗ quy túc th́ mới là
người có trí.
* Hỏi: Mỗi
sáng tối đều mở máy thâu âm niệm kinh, chính ḿnh
cũng niệm Phật hiệu mười câu, có được
hay không? Kính xin dạy bảo, tôi ăn chay buổi sáng
đă mười mấy năm, lại mỗi dịp gặp
ngày thánh đản của Phật, Bồ Tát đều
ăn chay. Bất quá vẫn chưa quy y! (Vương Quách Vận Đoan hỏi)
Đáp: Sáng tối
niệm Phật mười câu, cố nhiên là đă gieo thiện
căn, sao không tăng lên tới một trăm lẻ tám
câu? Thời gian chỉ bất quá ba bốn phút, công đức
càng to hơn. Nhưng khi niệm Phật, chớ nên xen tạp
với máy thâu âm, hoặc là niệm trước đó, hoặc
là sau đó, đều chẳng có ǵ là không được.
Nếu đồng thời vừa mở máy thâu âm vừa
niệm Phật, tâm bị phân tán, công đức sẽ nhỏ
nhoi. Ăn chay vào ngày thánh đản của Phật, Bồ
Tát rất tốt! Nếu có thể mỗi tháng ăn chay
sáu ngày, càng tốt hơn. Nếu chẳng thể, có thể
ăn chay vào hai ngày mồng Một và Rằm, ắt phước
huệ sẽ dần dần tăng thêm.
* Hỏi: Hiện
thời người ta tu tŕ pháp môn nào nhiều nhất? (Nghiêm Minh hỏi)
Đáp: Nay
đang thời Mạt Pháp, có thể thích hợp khắp ba
căn, thâu nhiếp toàn bộ lợi căn và độn
căn, chắc chắn chỉ có riêng ḿnh pháp môn Tịnh
Độ, nhưng người xuất gia trong khóa tụng
mỗi ngày, phần nhiều niệm thêm thánh hiệu Di
Đà. Kẻ tại gia do bận bịu việc thế tục,
Tịnh Tông đă đơn giản mà lại dễ hành,
cho nên có đến bảy tám phần trong mười phần
hành tŕ pháp môn này. Theo như sự xem xét tăm tối của
tôi đối với xu thế hiện thời, có lẽ tu
Tịnh là đông nhất!
* Hỏi: Trong
tu tŕ có các thứ chướng dấy lên, hăy nên thực hiện
các pháp hàng phục, tức tai v.v… nào? (Nghiêm Minh hỏi)
Đáp: Chánh hạnh
là một câu thánh hiệu Di Đà, có thể tiêu trọng tội
trong tám mươi ức kiếp sanh tử. Trợ hạnh
th́ là kiêng giết, phóng sanh, sẽ có thể đạt
được khí tường ḥa trong trời đất.
Chánh hạnh nhằm vun bồi thiện căn, tiêu trọng
tội. Trợ hạnh nhằm vun bồi phước
đức, đạt được tường ḥa. Muốn
trừ chướng ngại, có thể nói hai pháp ấy là
vô thượng!
* Hỏi: Nửa
đêm chợt tỉnh giấc, bèn gấp gáp niệm Phật,
chưa rửa mặt, súc miệng, vẫn c̣n mặc áo ngủ,
có phạm lỗi hay không? (Vương
Chí Hiền hỏi)
Đáp: Tỉnh
giấc liền niệm, tốt lắm. Nếu đợi
rửa mặt, súc miệng, sẽ có thể khiến cho
giác niệm ngay trong lúc ấy bị phân tán, mất đi. Nếu
sợ bất kính, niệm thầm cũng được.
Nếu có chuyện cấp bách, niệm lớn tiếng
cũng chẳng trở ngại ǵ!
* Hỏi: Khóa tụng
sáng tối, vốn định niệm thánh hiệu Phật
và kinh Di Đà. Gần đây, do đọc Quán Âm Linh Cảm
Lục, bèn phát nguyện bái sám, sửa công khóa sáng tối
thành niệm thánh hiệu Quán Âm, chú Đại Bi và Tâm Kinh,
ngoài ra, đi, đứng, nằm, ngồi, vẫn niệm
thánh hiệu Phật và thánh hiệu Quán Âm có được
hay không? Khi tụng công khóa, chỉ có kính dâng trà [cúng Phật],
có thiếu thành kính hay không? Có lúc phải làm tăng ca đến
gần sáng, chẳng thể tụng niệm công khóa, cảm
thấy nghiệp chướng sâu nặng, tự trái nguyện
hạnh, chẳng thể như nguyện. Gặp t́nh h́nh ấy,
dùng chuyện đi hoặc ngồi tŕ niệm thay cho tụng
niệm công khóa, chưa thể chuyên yên tĩnh hành tŕ công
khóa, có được hay không? (Thái
Lân Định hỏi)
Đáp: Đạo
cốt giữ chuyên nhất. Bỗng dưng sửa đổi,
nay sửa, mai sửa, đổi tới đổi lui, sợ
[tu kiểu nào cũng] đều chẳng thành! Chỉ là cầu
đạo có thể chuyên nhất, chuyên tinh, sẽ là pháp
cúng dường. Đối với những vật khác, hăy
lượng sức, lượng thời, [cúng dường
bằng vật chất] đều là thứ yếu!
* Hỏi: Văn học
phát nguyện dành kỳ hạn mười năm để
đọc toàn bộ Đại Tạng Kinh, sau đấy
mới quy tâm hành tŕ, có hợp lư hay chăng? Kính xin chỉ
dạy! (Bảo Tâm hỏi)
Đáp: Phát tâm
dành mười năm để duyệt Tạng, tất
nhiên là chuyện tốt đẹp, nhưng nói “sau đấy
mới hành tŕ”. Hai chữ “sau
đấy” chẳng khỏi thiếu thỏa đáng
đôi chút! Đạo học vấn là ở chỗ “tri hành hợp nhất”. Nghe rồi
chẳng hành, th́ dẫu có nghe cũng chẳng thể hiểu
sâu. Nếu tất nhiên là để sau đấy mới
hành tŕ, ai dám bảo đảm trong kỳ hạn mười
năm [sẽ đọc hiểu toàn bộ Đại Tạng
Kinh]? Há chẳng phải là luống uổng cuộc đời
này? Huống chi, cổ nhân đă huấn dụ: “Thiên nhật văn giáo, bất
như nhất nhật tu đạo” (Nghe giáo ngàn ngày, chẳng
bằng tu đạo một bữa), ắt là “hễ biết
liền hành” th́ mới chẳng phí uổng thời gian vậy!
* Hỏi: Công
phu học Phật nên là thâm nhập một môn, nhưng lại
có thuyết “Thiền Tịnh
song tu”, lư ấy là như thế nào? (Ngô Nhậm Huy hỏi)
Đáp: Thiền
và Tịnh là hai pháp môn lớn, há có thể nói vài câu trọn
hết được ư? Người thật sự biết
Thiền mới biết Tịnh, người thật sự
biết Tịnh cũng hiểu rơ Thiền. Thiền chú trọng
đoạn Hoặc, vượt thoát tam giới theo chiều
dọc. Tịnh có thể thể chế phục Hoặc,
thoát khỏi tam giới theo chiều ngang. Một đằng
tốn sức, một đằng ít tốn công. Tu Thiền
kèm theo Tịnh, ổn thỏa, thích đáng, có tác dụng bổ
trợ. Tu Tịnh mà kèm thêm Thiền, sợ rằng cả
hai đằng chẳng ra ǵ! Hai loại ấy, về Lư th́
duy nhất, nhưng xét theo pháp tắc, mỗi đằng đều
có phương tiện riêng!
* Hỏi: Trong
khi tĩnh tọa sáng tối, có thể ngẫu nhiên thêm vào
một ít sức để nhíu hậu môn. Nhíu hậu môn có
công hiệu đối trị chứng ngứa ngáy, hay là có
tác dụng trái ngược? (Ngô
Nhậm Huy hỏi)
Đáp: Tĩnh
tọa cốt ư nơi tĩnh lự. Nếu xen tạp những
thứ khác, sẽ trái nghịch ư nghĩa, có sanh ra căn bệnh
nào khác hay không, đều là không nhất định.
Nhưng cách tĩnh tọa như ông nói là do ai chỉ điểm?
Có kinh bổn nào [để làm căn cứ] hay không? Chớ
nên không thận trọng! Nếu đóng cửa tạo xe,
hoặc tiếp nhận cái học lệch lạc của
ngoại đạo, phát sanh những điều tệ sẽ
là chuyện thường có.
* Hỏi: Tôi
đă có công phu tu tập tĩnh tọa gần tám năm,
đối với những sự biến hóa về mặt
sinh lư đă phát sanh đều nhất nhất tiêu trừ,
chỉ có điều hậu môn thường bị ngứa
ngáy đă năm năm, chưa thấy tiêu trừ. Đă
đi khám nghiệm chuyên khoa, nhưng họ chẳng t́m thấy
bệnh tật ǵ, có thể đó là v́ “túc nghiệp chưa
hết”, chẳng biết có phương tiện đối
trị hay không? Đạt đến mức độ nào
th́ mới có thể tiêu trừ? Hơn nữa, khi bị ngứa
ngáy, có thể dùng thuốc ngoại khoa để khỏi
ngứa hay không? (Ngô Nhậm Huy
hỏi)
Đáp: Căn
bệnh ấy có phải v́ tĩnh tọa mà bị hay không,
hay là vị bị tổn thương bởi khí lục dâm[13],
vẫn khó thể đoán định được.
Nhưng dùng cách trị liệu ngoại khoa có lẽ chẳng
có ǵ là không được!
* Hỏi: Ở
trên xe lửa và trong công xưởng, niệm Phật ra tiếng
(chỉ tự ḿnh nghe thấy), chẳng chắp tay, có phải
là chẳng cung kính hay không? (Đồ
Trinh Quang hỏi)
Đáp: Phật
pháp viên dung, nhưng cần phải thành kính, chỉ có
điều thành và kính đều ở nơi tâm. Khi hoàn cảnh
chẳng cho phép, sẽ chẳng chắp tay, trong tâm quán
tưởng, sẽ giống như thật sự chắp
tay. Nếu chẳng thành kính, tuy năm vóc gieo sát đất,
cũng giống như trẻ con đùa bỡn, có công đức
ǵ đâu?
* Hỏi: Đối
với chuyện niệm Phật, tụng chú, kinh dạy:
Đúng pháp niệm bao nhiêu biến, công đức sẽ
như thế này, như thế nọ. Tôi chỉ có ḷng
thành, chẳng biết tiêu chuẩn “đúng pháp” là như thế
nào! Chưa thể tụng niệm đúng pháp, tâm nghĩ “dẫu
cho có lỗi, cũng cam tâm t́nh nguyện”, tâm tưởng “hễ
có tu hành th́ sớm muộn ǵ cũng ắt được
độ”. Nghĩ kiểu ấy có đúng hay không? (Nguyễn cư sĩ hỏi)
Đáp: Niệm
Phật nhiếp trọn sáu căn, tŕ chú tam mật
tương ứng. Pháp nhiếp trọn sáu căn rất
cao, chẳng dễ thực hiện, chỉ có thể
phương tiện. Trước hết là thâu gom ba căn
mắt, mũi, thân chẳng dùng, lại dùng ba căn kia
để nhớ Phật, niệm Phật, nghe Phật. Tam
Mật chính là ngồi xếp bằng kết ấn, miệng
tŕ chú ngữ, tâm tưởng chữ chủng tử[14]
v.v… chẳng để tán loạn, cả ba gom về một.
Đại khái hai đằng (niệm Phật và tụng
chú) “đúng pháp” là như thế đó. Niệm Phật th́
có thể tự ḿnh thể nghiệm, chú th́ ắt phải
có thầy truyền dạy. Nếu chẳng thể làm theo
đúng như vậy, chí thành chính là “đúng pháp”. Bậc hiền
triết thời cổ đă nói: “Tinh thành sở cảm, kim thạch vị khai” (Do
ḷng chân thành tinh ṛng cảm vời, vàng đá phải nứt),
“thành giả, thiên chi đạo
dă” (chân thành là đạo trời vậy). Chỉ tận
hết ḷng thành, ắt sẽ có thể đắc độ!
* Hỏi: Niệm
Phật, tụng chú, có lúc tự cảm thấy có thể
khống chế cái tâm, tức là tâm có thể tĩnh, có thể
chuyên, tự cảm thấy công phu có tiến bộ,
nhưng có lúc trái ngược, là v́ lẽ nào? (Nguyễn cư sĩ hỏi)
Đáp: Điều
này thuộc loại “hữu hành vô giải, Định nhiều,
Huệ ít” mà ra. Đă chẳng hiểu rơ Lư, nói tiến hay
lùi đều là vọng tưởng, hoàn toàn chẳng chuẩn
xác. Nhưng ngỡ là tiến, sẽ ngược ngạo
tăng thêm cao mạn, chẳng bằng thường ôm ḷng
hổ thẹn, ngơ hầu chẳng đến nỗi buông
lung!
* Hỏi: Niệm
Phật, tụng chú, quư ở nhất tâm, đó gọi là
“nhiếp tâm tĩnh niệm”. Nhưng chúng ta do đối
trước các thứ cảm nhận, t́nh tự phức tạp
trong cuộc sống hằng ngày mà niệm Phật. “Như
thế này là tốt, như thế này là xấu”, hăy nên có
cách nh́n như thế nào? Sửa chữa sai lầm như
thế nào? Xin hăy chỉ dạy: (1) Có khi do cảm hoài thân
thế, do t́nh tự bi phẫn chán ghét cơi tục mà niệm
Phật. (2) Bị việc đời đả kích, mang nỗi
niềm ủy khuất, chẳng tự giác mà dồn ép, phát
ra câu niệm Phật. (3) Tâm t́nh phẫn nộ bèn niệm Phật.
(4) Tâm t́nh hoảng sợ bèn niệm Phật. (5) Căi nhau với
kẻ khác, chính ḿnh tức tối bèn niệm Phật. (6) Hoài
niệm người đời trước hoặc thân nhân
bèn niệm Phật, tuôn nước mắt. (7) Nghĩ
tưởng sự sanh tử của chính ḿnh, niệm Phật
đến nỗi tuôn lệ nóng đẫm tṛng, chẳng
thể ngưng được! (8) Tưởng đến
công đức của Phật, Bồ Tát, tự nghĩ ân ấy
khó báo, chẳng tự giác niệm Phật đến nỗi
lệ nóng tuôn trào chẳng ngừng. (9) Do cảm thán những
kinh điển khác mà vô ư niệm Phật (giống như điều
trên). (10) Trong mộng niệm Phật tới chảy nước
mắt rồi tỉnh. (11) Trong mộng thấy ác thần
bèn niệm chú Lục Tự Đại Minh, thần bèn lui,
tỉnh giấc! (12) Gặp chuyện nguy cấp bất ngờ,
như động đất, đụng xe, trong lúc cấp
bách bèn vô t́nh niệm Phật. (13) Gặp dịp đặc
biệt vui mừng (bất ngờ) như con cái thi đậu
vào đại học v.v…, cảm động đến nỗi
niệm Phật, có tâm t́nh cảm ơn Phật. (14) Gặp
chuyện hết sức bất như ư, tâm t́nh thất vọng
bèn niệm Phật. (15) Trẻ nhỏ học hành mong mai sau
thi cử thuận lợi, dùng cái tâm khẩn cầu niệm
Phật. (16) Có người đánh bạc, khẩn cầu
thắng bạc, bèn niệm Phật. (17) Trong khi bệnh tật,
hết sức khó thể chịu đựng, bèn lớn tiếng
niệm Phật. Đấy là v́ muốn hết đau. (18)
Trong khi ngủ mơ màng, cảm thấy có người niệm
Phật bên tai. Hăy c̣n có những điều khác chẳng thể
nêu trọn! Tổng kết những điều đă nêu trên
đây đều là sự niệm Phật trong cuộc sống
hằng ngày, nói chung là làm thế nào để chuyển biến
việc niệm Phật do t́nh tự đặc thù thành niệm
Phật bằng tĩnh niệm? Có lúc tôi thật sự có
thể niệm Phật bằng tĩnh niệm th́ lại
thường dễ bị hôn trầm, hăy nên dùng cách ǵ để
trừ khử hôn trầm? (Nguyễn
cư sĩ hỏi)
Đáp: Pháp liễu
sanh tử, tuy nói là “tám vạn,
bốn ngàn”, từ rườm rà quy về đơn giản,
chẳng ngoài ba loại Giới, Định, Huệ. Do việc
đời phức tạp nên mới học Giới và Định
để chế ngự. Sống trong cơi đời, ắt
phải mưu sinh. Hễ mưu sinh, ắt có phiền loạn,
nhưng bất luận kẻ nào cũng lại chẳng thể
không mưu sinh. V́ thế, cổ nhân ấn định công
khóa sáng tối ḥng hành tŕ để cầu có lúc Định,
những lúc khác đều là tán loạn tụng tŕ. Huân tập
lâu ngày, sẽ dưỡng thành “chuyện nào cũng là đạo”.
Đấy chính là cái đạt được bởi Định.
Từ đấy về sau, Sự chính là đạo, đạo
chính là Sự. Gánh nước, khiêng củi, đói ăn, mệt
ngủ, tâm chẳng mất chánh niệm, đều là đạo
tràng. Mười tám chuyện như ông đă nêu sau đó đều
là “chuyển phiền năo thành Bồ Đề”, rất tốt!
Nhưng điều thứ mười sáu là “đánh bạc
bèn niệm Phật cầu thắng” chính là tội lỗi.
Cờ bạc gần giống như trộm cắp, đều
là tham, thật sự là phạm giới luật, lại trông
cậy vào Phật để tổn hại người khác,
đấy lại là tà kiến vậy!
* Hỏi: Niệm
Phật th́ dùng điều nào trong “tâm, ư, thức”? (Nếu có hai điều) phân biệt
như thế nào? Trong khi không mấp máy môi, niệm thầm,
cần phải dùng sức mới niệm ra được,
trong trường hợp này là dùng điều nào [trong tâm, ư,
thức]? Không cần phải gắng sức để niệm,
sẽ cảm thấy nhẹ nhơm, thoải mái hơn, nhưng
phát ra âm thanh chậm chạp; trong trường hợp này, sử
dụng điều nào? (Nói chung, tôi thầm nghĩ: Có hai thứ
bất đồng trong cùng một niệm) (Lư Trí Trừng hỏi)
Đáp: “Tâm” là
nói đến thức thứ tám, “ư” là nói thức thứ bảy,
“thức” là nói đến thức thứ sáu. Đấy là
một cách hiểu; để đáp lời hỏi này, tôi
chọn cách hiểu như vậy. Hăy nên biết: Có lúc thức
thứ tám được gọi là Tâm (vọng tâm), có khi nó
được gọi là Thức. Do v́ ngữ cảnh khác
nhau, hăy để lại đó, chẳng bàn tới! Kẻ
sơ cơ do ư thức phan duyên, dùng thức thứ sáu để
niệm Phật. Tiến cao hơn là vô ngă, tức là thức
thứ bảy niệm Phật. Thật Tướng vô niệm,
chính là thức thứ tám niệm Phật. Nhưng năm thức
trước phát động đều chẳng rời ư thức.
Lại c̣n nhiễm và tịnh căn bản đều nương
vào ư thức. Do vậy, dùng ư thức niệm Phật th́ cũng
có chủng tử tồn tại trong thức thứ tám, tức
là đều có mối quan hệ vậy. Mấp máy môi [niệm
Phật] vẫn là do thức thứ sáu, v́ dùng Thân Thức
để phụ trợ, cho nên đỡ tốn sức hơn!
* Hỏi: Gần
đây, tôi luôn cảm thấy ư niệm tà ác nhiều hơn
lúc trước, chẳng biết là do một số lượng
lớn chủng tử ác bộc phát vào lúc này, hay là do chính ḿnh
dễ phát hiện [chủng tử ác] hơn so với quá khứ?
Hay là do có nguyên nhân nào khác? (Lư
Trí Trừng hỏi)
Đáp: Hai
đằng đều có! Chẳng cần nói nói đến
những thứ khác. Nếu nói đến những thứ
khác, tức là sẽ tạo nhiều nghiệp mới!
* Hỏi: Trong
những ư niệm tà ác ấy, có nhiều ư niệm hủy Phật
báng Tăng xấu xa nhất, nói chung là chẳng thể ngăn
những ư niệm ấy ùa ra. Càng sợ, chúng xuất hiện
càng nhiều; càng thêm hỏng bét, đạt được
hiệu quả trái ngược! Có lúc phải đến
trước Phật sám hối một lát, mới hơi b́nh
ổn. Chẳng biết Ngài có cách tốt lành nào để
cứu tôi không? (Nếu không, cứ để măi như vậy
lâu ngày, tội lỗi sẽ ngập trời). (Lư Trí Trừng hỏi)
Đáp: Phật
như chiên-đàn, đội lên đầu hay dùng chân giẫm
đạp, đều nhiễm mùi hương, “nhiễm” chính là huân tập. Có
lẽ trong nhiều đời, cư sĩ đă có cái nhân
gièm báng Tam Bảo, [những cái nhân ấy] gieo vào thức điền,
nay chúng nó dấy lên hiện hành, thiện ác giao tranh, bức
chúng xuất hiện. Đừng quan tâm đến chúng, chỉ
nên niệm Phật, tâm chỉ nương vào Phật, chúng
sẽ tự diệt. Nếu sợ quỷ, quỷ sẽ
càng đến dọa. Tiếng niệm Phật không ngừng,
tuy chúng nhiều lần xuất hiện, cũng chẳng có
tội lỗi ǵ!
* Hỏi: Tôi từng
thỉnh giáo người khác, họ bảo chấp trước
một cảnh (trông thấy một vật) sẽ dẫn
khởi ác niệm, chẳng dễ ngăn trở, đấy
chính là thức thứ bảy giở tṛ tác quái. Chẳng biết
[nói như vậy] có chánh xác hay không? (Lư Trí Trừng hỏi)
Đáp: “Chấp
trước một cảnh, chẳng dễ ngăn trở”
chính là v́ chẳng dùng sức dũng mănh niệm Phật.
Đấy chính là v́ “Phật yếu, ma mạnh”. Ông lại
hỏi han thức thứ sáu, thức thứ bảy, tức
là thêm dầu vào lửa, buông xả Phật hiệu chẳng
niệm, cứ khăng khăng ṃ mẫm dây cà dây muống!
Rành rành là hễ quay đầu, mọi chuyện đều
xong, [thế mà] ngược ngạo đi theo ngơ rẽ, sẽ
càng t́m thấy ngơ rẽ nhiều hơn! Đấy là quỷ
t́m người, hay người t́m quỷ vậy?
* Hỏi: Vào lúc
nửa đêm, thân thể đă mệt mỏi tột bậc,
rất mong ngủ một giấc, nhưng sau khi nhắm mắt,
[trong đầu] có quá nhiều ư niệm hết sức chộn
rộn, thoắt nghĩ đông, thoắt tưởng tây,
khó thể ngăn dứt được! Chẳng biết
là do thức nào đang tác quái? Điều phục như thế
nào? (Lư Trí Trừng hỏi)
Đáp: Chẳng
cần quan tâm là thức nào! Sau khi cư sĩ đă biết,
có trừ khử được thức ấy hay chăng?
Chẳng xét lại ḿnh, cứ nh́n vào chỗ khác để
trách móc, tức là bỏ gốc chuộng ngọn vậy!
* Hỏi: Giảng
kinh Lăng Nghiêm, giảng đến phương pháp hành tŕ
của Quán Âm đại đạo sư, tôi nghe xong, thân tâm
vui sướng. Sau khi nương theo cách ấy tu tŕ, vọng
niệm dần dần ít đi, nhưng ấn tượng
về “xoay cái Nghe để
nghe tánh tự tánh” quá sâu, đệ tử đem chuyện
ấy ứng dụng thành “xoay
cái Nghe lại để nghe Di Đà”. Đối với
chỗ này, mới ngộ lời thầy thường nói về
lư “tự tánh Di Đà”, nhưng
chính ḿnh lại nẩy sanh nỗi nghi: “Tự tánh Di Đà do
chính ta niệm và Tây Phương Di Đà có phải là tương
ứng hay không? Có phải là thiên về tự lực hay
không?” Nếu thiên về tự lực, chuyện văng sanh sẽ
có vấn đề, trong tâm cảm thấy hết sức bất
an, lại c̣n chẳng hiểu rơ tự lực! (Tạ Ấu hỏi)
Đáp: Chúng
sanh và Phật cùng tánh, do mê hay ngộ mà sai khác. Tánh thể
to lớn, theo chiều dọc tột cùng [ba đời],
theo chiều ngang trọn khắp [mười
phương]. Tây Phương Di Đà ở trong tánh ta, ta ở
trong Sa Bà cũng thuộc trong tâm của Phật Di Đà. Nói
đến tánh th́ là một, nói theo tướng th́ là hai. Nếu
dùng tự tánh Di Đà để niệm Tây Phương Di
Đà, sẽ dễ tương ứng nhất. Nếu dùng
tự tánh phiền năo để niệm Tây Phương Di
Đà, sự tương ứng đă bị sai lệch! Tự
Phật niệm tha Phật, vẫn là cầu nhị lực.
* Hỏi: Bái sám là một khóa mục trọng
yếu trong Phật môn, cần phải luôn luôn thực hành,
nhưng cách bái lại là như thế nào? (Khâu Thanh Tuyền hỏi)
Đáp: Sám hối có Sự, có Lư. Bái là một
pháp thuộc về Sự sám. Sự Sám là chiếu theo quy định
trong các sám pháp để hành, cần phải thành kính, chẳng
phải là dập đầu lia lịa như chày giă gạo
mà thôi! Lư sám là sửa lỗi cũ, tu điều lành mới,
chẳng dấy vọng niệm, đó gọi là “khi tội dấy lên đem tâm
sám, tâm đă mất rồi tội cũng tiêu, tâm vong tội
diệt thảy đều không, đó mới gọi là chân
sám hối”.
Phật Học Vấn
Đáp Loại Biên
Quyển Hạ, phần
1 hết
[1] Người
hỏi đă coi quán tưởng và tŕ chú là một chuyện,
thật ra là hai pháp tu.
[2] Câu nói này dựa
theo ư của một câu trong thiên Lư Nhân của sách Luận Ngữ:
“Quân tử vô chung thực chi
gian vi nhân, tạo thứ tất ư thị,
điên bái tất ư thị”
(Quân tử chẳng có lúc nào, dẫu ngắn ngủi như
trong một bữa mà trái nghịch ḷng nhân, ngay khi bị
t́nh cảnh cấp bách đe dọa vẫn giữ ḷng nhân
như vậy, ngay khi bị vùi dập vẫn giữ
ḷng nhân như vậy).
[3] Tiếng gọi
nhằm tỏ vẻ tôn trọng vợ người khác.
[4] Các ư niệm
tham muốn sanh khởi do căn tiếp xúc với trần
th́ gọi là “trần dục”.
[5] Ư nói tới
bài chú Phổ Triệu Thỉnh trong nghi thức Mông Sơn.
[6] C̣n gọi là “thủy hỏa kư tế”,
đây là một thành ngữ xuất phát từ cách luyện
nội đan của Đạo gia. Chương ba, phần
Hành Tŕ của sách Vương Thị Thần Kỳ Đảo
Bát Đoạn Cẩm đă giảng: “Chẳng cần động
niệm ngồi xếp bằng, trước hết hăy
tưởng tâm ta như búp sen chưa nở, giữa hai quả
thận có một nguồn nước, tưởng phân minh
trong tâm ta có một luồng khí màu đỏ (c̣n gọi là
tâm hỏa), xông thẳng xuống nguồn nước giữa
hai thận, sẽ thấy luồng khí nóng sôi sục giữa
hai thận. Đó gọi là Thủy Hỏa giao cấu”.
[7] Mạch Nhâm
là một mạch trọng yếu, được coi là nắm
giữ ba mạch Âm ở chân và tay. Mạch Nhâm khởi từ
huyệt Hội Âm đi theo chiều dọc qua giữa bụng
ngực, giữa cổ, kết thúc ở huyệt Thừa
Tương (ở dưới mắt), ṿng quanh miệng, gồm
có hai mươi tám huyệt. Mạch Đốc thâu tóm các
kinh Dương, gần như tương ứng với mạch
Đốc. Mạch Đốc ở mặt sau thân thể,
mạch Nhâm ở mặt trước.
[8] Mạch lạc
c̣n gọi là kinh lạc là thuật ngữ trong Châm Cứu
hoặc Nội Công Đạo Gia chỉ các đường
khí huyết vận hành trong cơ thể. Đường
chính gọi là Kinh, các nhánh gọi là Lạc. Họ chia kinh lạc
trong cơ thể thành chánh kinh và kỳ kinh. Chánh kinh gồm
mười hai sợi, tả hữu đối xứng, tức
thủ túc tam âm kinh và thủ túc tam dương kinh. Kỳ
kinh gồm tám sợi như đốc mạch, nhâm mạch,
xung mạch… Châm Cứu và Y Học Trung Hoa cho rằng tác dụng
chính của kinh lạc là lưu thông khí huyết, bồi
dưỡng gân cốt và đảm bảo sự vận
hành chánh xác của các cơ quan.
[9] Nguyên văn “kết phu” (結趺), tức là “kết già phu tọa” (結跏趺坐, ngồi xếp
bằng, hai chân xếp chéo, ngửa ḷng bàn chân), thường
bị gọi trại thành “ngồi kiết già”.
[10] Quán khiếu
là chú tâm dồn chân khí vào một trong cửu khiếu (hai
tai, hai mắt, hai mũi, miệng, hậu môn và lỗ sinh dục).
Thổ nạp là các cách hít thở, điều khí, vận
chuyển khí theo các kinh lạc. Giáng linh là các thuật giao tiếp
với các linh quỷ hoặc các lực lượng siêu
nhiên.
[11] Thượng
Phương Kiếm, gọi đủ là Thượng
Phương Bảo Kiếm là kiếm báu do ty Thượng
Phương Lệnh thuộc Thiếu Phủ chế tạo.
Thanh kiếm này biểu hiện oai quyền của hoàng
đế, thường được ban cho các vị
đại thần được quyền tiền trảm
hậu tấu (chém trước rồi tâu sau) khi đi tuần
tra, sát hạch các quan địa phương.
[12] “Sống” có
nghĩa là c̣n xa lạ, chưa quen thuộc. “Chín” là đă
quen, đă thông thạo.
[13] Sáu yếu tố
thuộc về khí hậu có thể gây nên bệnh tật (lạnh,
nắng, độ ẩm, độ khô, hỏa, gió)
được gọi là “lục dâm”, hay “lục tà”.
[14] Chữ chủng
tử (Bijia) chính là một chữ trọng yếu,
được coi là chữ gốc để sanh ra toàn thể
bài chú. Như các bài chú của A Di Đà Phật lấy chữ
Hrih làm chủng tự.