Phật Học Vấn Đáp Loại Biên

Quyển Hạ

佛學問答類編

Phần 1

Lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam giải đáp

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản in của Lư Bỉnh Nam Lăo Cư Sĩ Toàn Tập Biên Tập Ủy Viên Hội,

Đài Loan, 2007)

Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang

 

VII. Tu Tŕ

 

          * Hỏi: Tông chỉ tu đạo rốt ráo là như thế nào? (Phan Quốc Vinh hỏi)

 

          Đáp: Phàm phu mê hoặc, điên đảo, làm nhiều chuyện sai trái; tu đạo nhằm mong siêu phàm nhập thánh. Thánh ắt thấu triệt vạn pháp, mọi hành động đều lành. [Quả báo] nhỏ th́ cũng là thân tâm an khang, có thể đạt được phước báo nhân thiên, rốt cuộc có thể liễu thoát sanh tử, bất sanh, bất diệt.

 

          * Hỏi: Thủ tục quy y là như thế nào? (Trương Xuân Huyên hỏi)

 

          Đáp: Kê khai đầy đủ trích yếu lư lịch, chuẩn bị cúng dường (tiền bao nhiêu tùy sức), tự hướng về pháp sư thỉnh cầu. Nếu đường sá xa xôi chẳng tiện, cũng có thể viết thư để phương tiện quy y.

 

          * Hỏi: Trong ba điều tham Thiền, niệm Phật, và quán tưởng tŕ chú, cách nào là tốt đẹp? Cách nào dễ tu? Nếu như lúc tu theo một tông nào đó, hăy nên xem những sách vở nào và cách tu như thế nào? (Trương Xuân Huyên hỏi)

 

          Đáp: Bốn điều[1] như ông vừa nêu, cố nhiên đều nên có sư thừa. Chỉ riêng một pháp Niệm Phật, tự ḿnh đọc sách cũng có thể thông hiểu. Nay đang nhằm thời kỳ Mạt Pháp, căn tánh con người chậm lụt, kém cỏi, do tự lực mà thành công, phần nhiều chẳng dễ làm được! Tịnh Độ kiêm nhờ vào Phật lực; do vậy nói là “vạn người tu, vạn người đến”. Nay tôi biếu ông mấy loại sách nhỏ về Tịnh Độ, rất mong ông trước hết hăy tham khảo [những sách ấy].

 

          * Hỏi: Người học Phật đối với phương diện tinh tấn có sự biểu hiện ǵ? (Hoàng Phụng Minh hỏi)

          Đáp: Đối với mọi việc đều thấy thấy suốt, nhẫn nại, buông xuống, đấy là biểu hiện của sự tinh tấn. Đi, đứng, ngồi, nằm, chẳng ĺa những điều ấy, đó cũng là biểu hiện của sự tinh tấn.

 

          * Hỏi: Đối với pháp môn tu hành, như thế nào là tu tập căn bản? (Phan Diệu Huyền hỏi)

 

          Đáp: Đoạn Hoặc chứng Chân là tu tập căn bản.

 

          * Hỏi: Kiến đạo rồi mới tu đạo, chẳng thấy lại tu ở chỗ nào? (Lư Thanh Mộc hỏi)

 

          Đáp: Như người mài đao, ắt trước hết phải nắm được đao trong tay th́ mới có thể mài. Nếu c̣n chưa biết đao ở chỗ nào, thử hỏi mài cái nỗi ǵ?

 

          * Hỏi: Cái Thể của đạo vốn là chẳng tu; nếu khởi tâm tu đạo, sẽ tu ǵ vậy? (Lư Thanh Mộc hỏi)

 

          Đáp: Như gương có chất bẩn, muốn cho nó tỏa sáng bèn mài. “Mài” là mài bỏ chất bẩn ấy, chẳng phải là mài để loại bỏ sự tỏa sáng!

 

          * Hỏi: Tinh thần của người ăn chay niệm Phật và tinh thần của người niệm Phật chẳng ăn chay có phân biệt ǵ chăng? (Châu Ấu hỏi)

 

          Đáp: Người ăn chay đạm bạc, lắng tịnh, tinh thần sáng suốt, khí thông thuận. Người không ăn chay khác biệt ở chỗ này!

 

          * Hỏi: Bà bầu có thể đến tự viện lễ Phật hay không? (Vương Tinh Linh hỏi)

 

          Đáp: Đến chùa lễ Phật chẳng trở ngại ǵ, nhưng đối với miếu thờ nhiều thần, có đắp tượng thần h́nh dạng hung ác, chớ nên đến, mà cũng chớ nên nh́n ngắm!

 

          * Hỏi: Bà bầu có thể tụng niệm công khóa sáng tối hay không? Nếu chẳng thể, như vậy th́ chẳng phải là bị gián đoạn hay sao? (Vương Tinh Linh hỏi)

 

          Đáp: Có thể tụng niệm hai khóa, chớ nên gián đoạn. Có thai mà có thể niệm Phật, trai giới, có liên quan đến chuyện di truyền, thai giáo, chắc chắn sẽ sanh con hiền lương.

 

          * Hỏi: Nhà nghèo nàn, chỗ ở chỉ có một gian pḥng, lại thường có trẻ nhỏ vương văi phân tiểu, thờ tượng Phật trong căn nhà ấy có đánh mất cung kính hay không? (Lư Sĩ Nhân hỏi)

 

          Đáp: Nên thờ tượng Phật nho nhỏ, dùng màn vải che lại, hoặc chẳng thờ tượng, hướng về phía Tây làm lễ th́ cũng được!

 

          * Hỏi: Đang trong khóa tụng, nếu bạn bè có chuyện gấp đến hỏi, có thể ngưng tụng giữa chừng hay không? Khi lại tụng tiếp, hăy nên tụng từ khoảng giữa [đang bị dang dở], hay nên tụng lại từ đầu? (Trang Khánh Hiền hỏi)

 

          Đáp: Đang trong khóa tụng, nếu có khách đến, có thể tạm ngừng, khách đi rồi, tiếp tục tụng cũng được.

 

          * Hỏi: Trong thơ của La Trạng Nguyên có câu: “Hữu nhân vấn ngă tu hành lộ, vân tại thanh sơn, nguyệt tại thiên” (Có người hỏi nẻo tu hành, mây trên núi biếc, trăng treo lưng trời) có nghĩa là ǵ? (Châu Ấu hỏi)

 

          Đáp: Hành không chấp trước, tâm chẳng vướng mắc, như mây dồn khỏi núi, như trăng xoay trên trời.

 

          * Hỏi: Người có tâm sân khuể có thể bị đọa địa ngục, kẻ tham dục có thể đọa ngạ quỷ, kẻ ghen tỵ tức là súc sanh. Những điều vừa nói ấy có thể biểu hiện thành t́nh huống [cụ thể] trong hiện thời hay không? (Quán Thành hỏi)

 

          Đáp: Kẻ sân khuể thường có dáng vẻ hung bạo, tức là tướng địa ngục. Kẻ tham dục, mắt nh́n trân trối, cong lưng, miệng chảy nước miếng long tong, đấy chính là tướng ngạ quỷ. Kẻ ghen tỵ chẳng thể đoàn kết, chỉ mong cầu lợi ích riêng tư, tức là tướng súc sanh. Nghiệp phát khởi từ tâm, hiện thành tướng nơi diện mạo, người có trí thoạt nh́n bèn biết rơ.

 

          * Hỏi: Ăn chay trường, niệm Phật, chí nguyện văng sanh, tuổi đă ngoài bốn mươi, nhưng trong hoàn cảnh chẳng đặng đừng, đạo vợ chồng chẳng thể đoạn tuyệt, có chướng ngại đối với phương diện tu tŕ hay không? (Trịnh Lan Tôn hỏi)

 

          Đáp: Vốn chẳng phải là tà dâm, chẳng phạm giới luật. Do không con mà cầu con, nhưng cũng nên có chừng mực. Trong khi ấy, hăy nên nghĩ đang làm chuyện ô uế. Sau khi xong chuyện, hăy nên sanh ḷng hổ thẹn, tâm chẳng vấn vương chuyện ấy, sẽ chẳng trở ngại văng sanh!

 

          * Hỏi: Kẻ thường dấy ḷng sân hận, có cách nào để sửa đổi tập khí ấy? (Ngụy Bách Huân hỏi)

 

          Đáp: Hăy nên hành Từ Bi Quán, tu Nhẫn Nhục Độ.

 

          * Hỏi: Nói “Thiền Tịnh song tu” là như thế nào? Ngoài niệm Phật ra, mỗi ngày tĩnh tọa một hai tiếng đồng hồ có được hay không? (Trịnh Lan Tôn hỏi)

 

          Đáp: Tịnh Tông kể từ tổ sư Liên Tŕ về sau, phần nhiều chỉ tŕ danh hiệu, không cần xen tạp những pháp khác. Tĩnh tọa mấy tiếng đồng hồ vẫn được, chỉ sợ thân tĩnh mà cái tâm chẳng tĩnh đó thôi! Nếu có thể trong tâm thầm tŕ Phật hiệu, khiến cho [Phật hiệu] miên mật không ngừng th́ tốt lắm. Chẳng thể giải thích Thiền bằng một lời được, tạm thời không trả lời!

 

          * Hỏi: Có lúc nổi lên ác niệm đối với người khác, nhưng liền trừ diệt ngay, chẳng để cho ư niệm thứ hai dấy lên. Như thế th́ có tội nghiệp hay không? (Lư Vĩnh Mậu hỏi)

 

          Đáp: Chẳng sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm! Hễ [ác niệm] dấy lên bèn sám hối ngay, đấy chính là cảnh giới tốt đẹp. Nếu ác tâm đă mất, tội cũng chẳng c̣n!

 

          * Hỏi: Chuyên tu huệ mà không tu phước, có thể thành Phật hay không? (Vô Danh Thị hỏi)

 

          Đáp: Phật là bậc phước huệ lưỡng túc tôn, sao lại tu lệch về một thứ?

 

          * Hỏi: Kể từ sau khi tôi quy y Tam Bảo, trong tâm lư đích xác là có phản ứng rơ rệt. Gần đây, đối với lúc ăn thịt, tâm t́nh kinh sợ, miệng chẳng dám ăn, nhưng sống trong quân đội, chẳng có cách nào dứt hẳn không dùng! Đối với hiện tượng này, rốt cuộc nên làm như thế nào? (Vu Lỗ hỏi)

 

          Đáp: Đấy chính là Bồ Đề tâm tăng trưởng. Trong lúc bất đắc dĩ, có thể ăn rau bên cạnh thịt. Nếu không có rau dưa, có thể chan nước. Nếu chẳng có nước nhiều, đành phải ăn thịt, có thể thầm niệm Phật cho nó (con vật bị ta ăn thịt) ḥng trọn hết ḷng ta. Sống trong đoàn thể, chẳng thể tự chủ, đức Phật có chế định ngũ tịnh nhục, có thể tạm tùy duyên vậy!

 

          * Hỏi: Tín nữ chưa nghe ư nghĩa “quy y có lợi ích như thế nào?” (Thái Trị hỏi)

 

          Đáp: Quy y Phật chẳng đọa địa ngục, quy y Pháp chẳng đọa ngạ quỷ, quy y Tăng chẳng đọa súc sanh. Đấy là lợi ích, lại c̣n bắt đầu là đệ tử chánh thức của Phật môn.

 

          * Hỏi: Chẳng phải là người xuất gia, có thể truyền trao Tam Quy Y cho kẻ khác hay không? Phương pháp ấy lại như thế nào? (Lư Vĩnh Mậu hỏi)

 

          Đáp: Tam Quy Y là Phật, Pháp, Tăng. Kẻ tại gia chẳng phải là Tăng Bảo, sao lại tiếm việt? C̣n nói ǵ đến cách thức nữa chứ!

 

          * Hỏi: “Tu Bát Nhă hạnh” nghĩa là như thế nào? (Lâm Thánh Côn hỏi)

 

          Đáp: Bát Nhă là tên gọi chung của Chân Trí, Quyền Trí, và Nhất Thiết Trí. Để tu Bát Nhă, hoặc là nương theo một vị danh sư để tham cứu; hoặc nếu không có thầy, bèn tự t́m ṭi trong kinh điển, nương theo đó để tu, ngộ Tướng Không, Không Không, mà Bất Không cũng là không, sẽ gọi là Bát Nhă hạnh.

 

          * Hỏi: Phát đại Bồ Đề tâm, tức là Đại Thừa, thực hiện từ đâu? (Lữ Chánh Lương hỏi)

 

          Đáp: Phổ độ chúng sanh, tận lực đoạn phiền năo, học rộng răi các giáo pháp, mong thành Phật đạo, đấy gọi là Tứ Hoằng Thệ Nguyện. Bố Thí, Tŕ Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định, Bát Nhă, gọi là Lục Ba La Mật. Hai pháp môn kể trên đều gọi là “phát Bồ Đề tâm”. Có thể chọn một pháp để bắt đầu, nhưng nội dung của chúng đều rất hết sức vi tế, ắt phải tham khảo kinh điển, sách vở, hoặc cậy người khác giảng giải th́ mới có thể hiểu rơ được!

 

          * Hỏi: Người nhà đông đúc, nhưng bản thân tôi mong xuất gia tu hành, như vậy th́ có tội đối với gia quyến hay không? (Lưu Mộc Vinh hỏi)

 

          Đáp: Nếu có ư nguyện phổ độ chúng sanh, có thể làm chuyện phổ độ chúng sanh (người nhà cũng là chúng sanh), xuất gia làm thầy trời người, há c̣n có tội ǵ? Nếu chỉ chuyên v́ sự thanh tịnh của riêng ḿnh mà xuất gia, phải được người nhà đồng ư th́ mới phù hợp luật nghĩa.

 

          * Hỏi: Người học Phật tu đến hoàn cảnh và tŕnh độ như thế nào th́ mới có thể gọi là Chứng? (Trí Lương hỏi)

 

          Đáp: “Chứng” là nói tới các thứ quả vị, cảnh giới chẳng đồng nhất, nhưng cách tu lại có đủ thứ môn loại. Làm sao có thể bằng một lời mà nói khái quát được?

 

          * Hỏi: Chúng ta chẳng thể không ngủ, nhưng chiếu theo Phật lư, ngủ là một món trong ngũ dục. Hễ ngủ sẽ bất giác, tức là hôn trầm. Người học Phật cần phải như thế nào th́ mới có thể tránh khỏi hôn trầm? (Trí Lương hỏi)

 

          Đáp: Ăn ít, đoạn dục, tâm chẳng phan duyên, thân thể không quá mệt mỏi, hôn trầm sẽ tự diệt.

 

          * Hỏi: Phương pháp để tu bốn tông Luật, Giáo, Thiền, Mật là như thế nào? (Vô Danh Thị hỏi)

 

          Đáp: Chuyện này chẳng thể giải thích bằng mấy câu được! Điều cốt yếu chẳng ngoài “nỗ lực đoạn Hoặc, minh tâm kiến tánh”. Ba tông Luật, Giáo, Thiền là như thế đó. Nếu lại do hai lực (tự lực và Phật lực) cảm giao, sẽ đới nghiệp văng sanh, Tịnh Tông là như vậy đó. Mật có bao nhiêu loại, chuyện này hết sức phức tạp, có thể nói là có pháp môn tự lực, mà cũng có pháp môn nhị lực vậy!

 

          * Hỏi: Phật tử có thể hút thuốc, uống rượu, xem diễn tuồng hay không? (Trang Khánh Hiền hỏi)

 

          Đáp: Nói nghiêm ngặt, đệ tử Phật dốc chí tu hành, những chuyện ấy đều sanh chướng ngại, đương nhiên là cấm chỉ. Nếu nói khoan dung, đối với kẻ chỉ có ḷng tín ngưỡng, chưa thọ Tam Quy, Ngũ Giới, chưa phát tâm tu tŕ, có lẽ sẽ có thể phương tiện.

 

          * Hỏi: Phụ nữ đa số ăn chay vào sáng sớm là do ư nghĩa ǵ? Có thể đạt tới mục đích ǵ? (Ngô Diệu Vinh hỏi)

 

          Đáp: Đây là một tục lệ mang tánh chất địa phương, dụng ư và mục đích [của chuyện ăn chay vào sáng sớm] chưa thấy [giảng giải] trong kinh truyện, khó thể trích dẫn để trả lời được! Nhưng ăn chay một bữa, chẳng cần quan tâm dụng ư và mục đích là như thế nào, nói chung là từ bi kiêng giết, cũng sẽ tự có công đức.

 

          * Hỏi: Nếu có Phật tử dâm dục hừng hực, hăy nên dùng pháp phương tiện nào để dạy người ấy ĺa dục? (Trạch Mạnh Thu hỏi)

 

          Đáp: Chuyện này phải tách ra để nói. Nếu chẳng có mục tiêu, tự ư nổi dâm, hăy nghĩ: Lửa dục vừa bốc lên đă là cái nhân của địa ngục, hoặc nghĩ tới địa ngục hỏa thành, hoặc tưởng địa ngục nhiệt thỉ (熱屎, phân nóng), dục ấy sẽ diệt. Nếu có mục tiêu, hăy nên hành Bất Tịnh Quán, hoặc nghĩ người lớn tuổi hơn là mẹ, nghĩ kẻ nhỏ tuổi hơn như con. [Nếu là] người chưa đánh mất nhân tánh, sẽ tự dứt ḷng tà vạy!

 

          * Hỏi: Trước kia, tôi có nghe đại pháp sư nói “quy y Phật chẳng đọa địa ngục”, chẳng biết thật sự là như thế nào? (Trần Thượng Dạ hỏi)

 

          Đáp: Chỉ cần niệm nào cũng đều chẳng vọng, chẳng trái nguyện ấy, quyết định chẳng đọa lạc!

 

          * Hỏi: Người tuổi tác đă ngoài bốn mươi tuổi mới quay đầu quy y Tam Bảo, có phải là quá muộn hay không? (Chiến Giác Lực hỏi)

 

          Đáp: Nhà tối ngàn năm, vừa đem đèn vào, lập tức sáng bừng. Chỉ cần chịu tinh tấn, có chi là muộn?

 

          * Hỏi: Người tu hành vi phạm giới luật, lúc lâm chung phải đọa tam đồ, sẽ có lúc thoát ra hay không? (Thang Thiện Phước hỏi)

 

          Đáp: Tu hành th́ cần phải xét xem người ấy có nghiệp hữu lậu hay vô lậu, và công phu sâu hay cạn. Phạm giới th́ cần phải xét xem đă phạm tội nhẹ hay nặng. Ắt phải cân nhắc đôi đàng rồi mới có thể nói là đọa hay không! Dẫu bị đọa, trong khoảnh khắc chịu xong quả báo ấy, sẽ có lúc chủng tử thiện dấy lên hiện hành, tự nhiên siêu thăng!

 

          * Hỏi: Kẻ tại gia ăn chay theo phương tiện, vẫn chưa phải là khó. Nếu người xuất gia ra ngoài gặp phải cá, thịt, chỉ đành ăn cá, thịt. T́nh h́nh như vậy vốn là chuyện thường có, có gây trở ngại cho sự tu hành hay không? (Huệ Lâm hỏi)

 

          Đáp: Nếu chính ḿnh chẳng muốn ăn đồ mặn, gặp t́nh h́nh như vậy, lại sợ chủ nhân tốn tiền lo liệu thức ăn khác, có thể phương tiện ăn rau bên cạnh thịt.

 

          * Hỏi: Nhà Phật có cho phép nuôi gia súc kiếm lời hay không? (Thí Vạn Tấn hỏi)

 

          Đáp: Nuôi gia súc, chẳng tránh khỏi cuối cùng là một đao. V́ thế, nuôi gia súc kiếm lời giống như chuẩn bị sát sanh! Cái chết của gia súc chính là do ta thúc đẩy. Có nên hay không ư? Chẳng nên! Chẳng thể khuyên dụ được!

 

          * Hỏi: Tu đạo tuy ư chí kiên cố, vẫn chẳng thể khắc phục hoàn cảnh kém ác đến nỗi bỏ dở nửa chừng, rốt cuộc văn hồi bằng cách nào? (Phan Quốc Vinh hỏi)

 

          Đáp: Nếu ư chí thật sự có thể kiên cố, tức là “tám gió thổi chẳng động”, c̣n sợ hoàn cảnh ǵ? Đó gọi là “điên bái tất ư thị, tạo thứ tất ư thị” (trong khi bị vùi dập vẫn là như vậy, trong khi gặp chuyện cấp bách đe đọa, vẫn là như vậy)[2].

 

          * Hỏi: Người tu hành trong tự viện các nơi, rất nhiều kẻ chẳng niệm Phật, mà cũng chẳng tọa Thiền. Rốt cuộc họ có được giải thoát hay không? Nếu chẳng liễu sanh tử, chẳng biết sẽ đọa làm báo thân nào? (Thang Thiện Phước hỏi)

 

          Đáp: Chẳng có Thiền, chẳng có Tịnh, trong Tứ Liệu Giản của Vĩnh Minh đại sư đă sớm có giáo huấn rành rành, chẳng cần phải rườm lời nữa! Chẳng cầu giải thoát, lấy ǵ để được giải thoát? Nếu hỏi về báo thân trong đời sau của những kẻ ấy, chỉ đành xem nghiệp nào chín trước đó thôi!

 

          * Hỏi: Ngoài công khóa sáng tối ra, buổi tối nằm ngủ trên giường, thuận miệng niệm kinh chú th́ có mắc tội hay không? (Vương Minh hỏi)

 

          Đáp: Lúc sắp ch́m vào giấc ngủ, hoặc ở trong mộng, bất giác niệm ra tiếng, đấy là do sức mạnh của công phu thuần thục. Nếu cố ư lười biếng, nằm trên giường tŕ tụng th́ mới mắc tội lỗi vô lễ, chẳng cung kính.

 

          * Hỏi: Tôi nghe nói công khóa của tại gia cư sĩ chẳng cần (lại c̣n là chẳng thể) tŕ tụng chú Lăng Nghiêm là v́ cớ ǵ? (Trần Vĩ Anh hỏi)

 

          Đáp: Chú ấy gồm năm hội quá dài, hai chúng tại gia do bận rộn việc đời, thời gian tŕ tụng ngắn ngủi, chẳng cần phải thêm [bài chú ấy] vào công khóa để tụng tŕ, chưa hề là “chẳng thể”! Nếu nói “lại c̣n chẳng thể”, có phải là [ư nói] dẫu tụng vẫn chẳng có thành tựu, hay là chẳng cho phép tụng? Nếu là điều trước, chính ḿnh thành tâm cầu mong, há có lẽ nào không thành tựu? Nếu là điều sau, tôi chưa hề nghe thấy có sự hạn chế ấy!

 

          * Hỏi: Pháp Tịnh Tông của chúng ta lấy tŕ kinh Di Đà, xưng danh hiệu Phật làm gốc, nhưng kể từ khi tôi học Phật tới nay, đă là một năm lẻ ba hoặc bốn tháng, luôn luôn là chẳng thể tinh tấn, nay tính đổi khóa sáng thành tụng kinh Kim Cang và niệm Phật. Cách tụng kinh ấy là như thế nào? (Trần Táo hỏi)

 

          Đáp: Nếu chẳng thể đọc tụng kinh Kim Cang, chẳng cần phải tốn công chuốc thêm chuyện! Nếu trong tâm ưa thích kinh ấy, tức là khế cơ, chẳng ngại tụng tŕ nhằm định cái tâm. Vẫn là phải sau khi đă định, bèn lấy tŕ danh làm chủ yếu. Cách tụng kinh Kim Cang là có thể mỗi lần đọc toàn bộ quyển kinh th́ tốt nhất. Nếu chẳng thể, có thể chia thành hai ngày để đọc hết, hoặc ba bốn ngày cũng được. Nếu dựa theo ba mươi hai phần để tụng ba mươi hai lượt, thời gian quá ngắn, sợ chẳng thể đắc Định. Nhưng khóa tối vẫn lấy tụng kinh Di Đà làm chánh yếu, bởi kinh ấy chính là kinh cơ sở của Tịnh Tông vậy!

 

          * Hỏi: Tôi vốn thành tâm ăn chay trong sáu ngày trai, thánh đản của chư Phật, Bồ Tát, cũng như vào những ngày kỷ niệm. Đă thế, vào hôm trước mỗi ngày trai trên đây, ắt đều rửa ráy tất cả dụng cụ, chén, bát sạch sẽ, nhằm biểu lộ ḷng thành. Sau đấy, v́ để khỏi phiền phức (tôi sống một ḿnh), ở nhà th́ đổi sang ăn chay trường, ra ngoài bèn tùy duyên, nhưng trong tương lai, hoàn cảnh sống chuyển biến (sống chung với nhiều người), vẫn chỉ ăn chay sáu ngày, có gây trở ngại cho công đức hay trái phạm ǵ chăng? (Châu Huệ Tiền hỏi)

 

          Đáp: Đă ăn chay trường, tức là cái tâm đại bi đă phát khởi vậy. Đấy chính là Bồ Đề nẩy mầm, có lẽ chớ nên thoái chuyển, tự chôn vùi công đức. Ra ngoài làm việc, hoặc phải thù tạc, có thể ăn rau bên cạnh thịt. Ngay như thịt đựng trong bát, đĩa, tất nhiên là có rau cải kèm theo, chỉ nhặt rau mà ăn, chẳng cần cố kỵ nước canh, hoặc bát, đĩa chẳng thanh khiết. Đấy cũng là pháp đại phương tiện vậy!

 

          * Hỏi: Giả sử trong khi tụng kinh, người trong nhà căi lộn, khi ấy nên làm như thế nào? Có phải ngưng tụng để tránh cho họ mắc phải tội lỗi, hay cứ một mực tụng cho xong? (Tín Huệ hỏi)

 

          Đáp: Sự không nhất định. Nếu trong nhà bỗng dưng căi lộn, có thể tạm ngừng công khóa để ra giải quyết. Nếu họ thường căi cọ, chỉ đành mặc họ, ai làm chuyện nấy mà thôi!

 

          * Hỏi: Trong công khóa hằng ngày, tôi đọc tụng kinh Địa Tạng. Do kinh văn quá dài, chẳng thể đọc toàn bộ trong một lúc được, có thể chia thành từng quyển để đọc tụng hay không? (V́ kinh Địa Tạng chia thành ba quyển thượng, trung, hạ). (Trần Thánh Âm hỏi)

 

          Đáp: Đối với các bộ kinh điển lớn, vốn có cách chia thành từng phần để tụng. Kinh này đă chia thành ba quyển, [cho nên] chia ra để cung kính tụng, chưa hề chẳng được! Nếu chính ḿnh quá bận rộn, chỉ đành làm như thế. Nếu không có chuyện ǵ mà kéo ra như vậy, sẽ là lười nhác, chẳng bằng tụng xong trong một ngày sẽ tốt hơn!

 

          * Hỏi: Tôi muốn tin Phật, mong quy y Tam Bảo, nên hướng về ai để quy y? Quy y ở chỗ nào? Chi phí tốn bao nhiêu? Xin hăy giải thích thủ tục và tŕnh tự quy y như thế nào? (Kha Văn Hùng hỏi)

 

          Đáp: Chuyện này nếu có người giới thiệu, sẽ dễ dàng hơn! Nếu xưa nay có duyên với một vị pháp sư nào đó, hoặc là thỉnh cầu quy y ở chùa chiền thuộc địa phương đang cư trú, hoặc chùa chiền gần đó, có lẽ sẽ đỡ mất công hơn! Nhưng cần phải nhận rơ vị ấy có phải là tỳ-kheo xuất gia thật sự hay không. Nếu lầm lẫn quy y theo ngoại đạo, đâm ra sẽ đọa lạc. Nếu hết thảy đều chẳng liễu giải, tệ xă có thể lo liệu giùm. Thật ra, hoàn toàn chẳng có chi phí ǵ, hăy cứ như nguyện mà cúng dường vị thầy [truyền trao] quy y, tùy sức [cúng dường] nhằm biểu lộ tấm ḷng mà thôi. Nếu chẳng có tài lực, chỉ cần thành tâm, tuy chẳng cúng dường, cũng chẳng phải là không được! Thủ tục th́ bất quá là hướng về pháp sư đảnh lễ, cung kính nghe khai thị, [pháp sư] đặt pháp danh, phát điệp quy y. Nếu thân chẳng tự do, đường sá xa xôi, có thể viết thư thỉnh cầu quy y, cũng có thể phương tiện chấp thuận.

 

          * Hỏi: Sau khi quy y, có phải là hằng ngày cần phải đến giáo đường hay không? Thời gian đến giáo đường là như thế nào? (Kha Văn Hùng hỏi)

 

          Đáp: Hễ rảnh rang th́ có thể đến thân cận, không rảnh rỗi th́ tự học tại nhà. Hết thảy đều phương tiện, hoàn toàn chẳng bó buộc! Tục ngữ có câu: “Sư phụ dẫn vào cửa, tu hành do cá nhân” là nói về ư này vậy!

 

          * Hỏi: Đồ đệ quy y Phật có thể ở tại gia hay không? (tuân thủ hết thảy quy củ dành cho người tại gia trong nhà Phật)? (Kha Văn Hùng hỏi)

 

          Đáp: Đệ tử đức Phật chia thành xuất gia và tại gia sai khác. Kẻ xuất gia không được chứa chấp vợ con, cất giữ tài sản! Luận theo giới tướng, sẽ có sa-di và tỳ-kheo khác nhau, ắt phải ở trong chùa chiền. Kẻ tại gia chẳng ngại có vợ con, tài sản, được gọi là “cư sĩ”, cho phép sống ở nhà. Mỗi đằng đều có quy chế định sẵn, chớ nên lẫn lộn!

 

          * Hỏi: Người tin tưởng thọ quy y th́ thoạt đầu là phải ăn chay trước, hay là tu hành trước? (Trang Khánh Hiền hỏi)

 

          Đáp: Tu tŕ và ăn chay đều cùng tiến hành là tốt nhất! Nếu như chưa thể, trước hết hăy gắng tu tŕ, dần dần rồi sẽ ăn chay. Bởi lẽ, người tu tŕ ắt phải cầu hiểu lư. Nếu đă thật sự hiểu Phật lư, sẽ chẳng có ai c̣n dám ăn nuốt thịt của chúng sanh, chiêu kết oan trái nữa. Tuy nói như vậy, chớ nên câu nệ, cũng nên xét xem căn tánh của người quy y là như thế nào để quyết định thứ tự trước sau, nhưng nếu cả hai điều ấy đều chẳng làm, tức là quy y giả dối vậy!

 

          * Hỏi: Để Phật hóa gia đ́nh th́ phải dùng phương pháp ǵ để thực hiện? (Trang Khánh Hiền hỏi)

 

          Đáp: Lấy thân làm gương, hoàn toàn chẳng có phương pháp nào khác! Không chỉ là lạy Phật, niệm Phật là chuyện phải nên làm, mà c̣n phải biểu hiện bằng ba nghiệp thân, khẩu, ư, khiến cho người nhà thành tâm hoan hỷ, tin phục, gia đ́nh sẽ ngấm ngầm được Phật hóa.

 

          * Hỏi: Ḷng tín ngưỡng do cái tâm kiền thành. Nếu tâm kiền thành tin tưởng, ngưỡng mộ Phật pháp, nhưng chưa thọ Tam Quy Y, Ngũ Giới theo nghi thức, có được coi là giáo đồ, được Phật gia hộ hay không? Nếu đă thọ Tam Quy, Ngũ Giới, mà tâm lại chưa thể kiền thành th́ là như thế nào? (Kỷ Vũ hỏi)

 

          Đáp: Tin tưởng, ngưỡng mộ chỉ có thể nói là tâm kính trọng học theo, y giáo phụng hành th́ mới gọi là “giáo đồ”. Kẻ đă phụng hành, dẫu chưa cử hành nghi thức Tam Quy, Ngũ Giới, vẫn có thể gọi là giáo đồ, đă được Phật gia hộ. C̣n đối với chuyện ông sanh ḷng nghi đối với những kẻ đă thọ Tam Quy, Ngũ Giới, nhưng chẳng kiền thành; đấy là những kẻ giả dối ngoài mặt, trong tâm chẳng có [ḷng tin thật sự], chính là “lừa ḿnh, dối người”, lại c̣n là hạng dối Phật, lừa Tổ, sợ chẳng đạt được lợi ích! Nhưng tín tâm có thật, giả sai khác. Nếu đă thật sự tin tưởng, há có kẻ nào chẳng ôm ḷng chân thành, hoan hỷ, tin phục, quy y, thọ giới ư?

 

          * Hỏi: Do hoàn cảnh chi phối, tính chia căn nhà nhỏ tí thành chỗ thờ Phật và nơi ăn ngủ. Chỗ thờ Phật chỉ cách giường nằm một tấm màn vải, sức lực đơn bạc, tâm thanh tịnh thờ phụng, có phạm lỗi đối với Phật hay chăng? Xin hăy chỉ dạy! (Nhan Phật Triệu)

 

          Đáp: Do chẳng đủ sức, nên chẳng phải là cố ư khinh nhờn, [v́ thế], chẳng phạm lỗi! C̣n như cúng dường cũng không coi trọng vật chất. Kinh đă dạy coi trọng pháp, há sức lực đơn bạc có gây trở ngại ǵ ư?

 

          * Hỏi: Người học Phật tới khi lâm chung, hỏa táng chẳng có xá-lợi, phải như thế nào th́ mới đoan quyết là đă sanh về Tây Phương hay chưa? (Hoàng Phụng Minh hỏi)

 

          Đáp: Để trả lời câu hỏi này, trước hết, phải minh định rơ ràng giới tuyến. Người học Phật ắt phải tu Tịnh th́ mới có hy vọng sanh về Tây Phương. Tu những pháp khác, sẽ có những quả khác, chẳng phải là đều sanh về Tây Phương! Nay tôi chỉ bàn định theo người tu Tịnh. Sau khi đă mất, hỏa thiêu thâu được xá-lợi, chính là một thụy tướng, c̣n phải trắc nghiệm những điều khác, chẳng phải là dựa theo một điều là đủ! Nếu [người ấy] tự thấy, người khác cũng thấy, tự ḿnh nghe, người khác cũng nghe, Phật hiện tướng, hiện hoa sen, mùi thơm, ánh sáng, âm nhạc, hoặc dựa trên chỗ lạnh đi sau cùng, chớ nên nhất quyết câu nệ xá-lợi. Trong Lư Sơn Liên Xă, tổ sư Huệ Viễn và đại sĩ Lưu Dật Dân đều là những bậc đại thành tựu, đều chẳng thấy [sử sách chép] họ lưu xá-lợi sau khi hỏa thiêu. [Truyện chép về] Đàm Loan đại sư, chỉ ghi là nghe tiếng tơ trúc (tiếng âm nhạc) [khi Ngài lâm chung]. [Truyện kư về] tổ sư Thiếu Khang chỉ ghi Ngài niệm Phật một tiếng, trong miệng bay ra một tượng Phật, cũng chẳng nói đến xá-lợi.

 

          * Hỏi: Người c̣n ḷng dục, chẳng đoạn chánh dâm, có văng sanh Tây Phương hay không? Đây là nói về hàng cư sĩ. (Hoàng Phụng Minh hỏi)

 

          Đáp: Khi dục cảnh hiện hữu, hăy phát ḷng hổ thẹn to lớn. Dục cảnh qua đi, tâm như tro tàn, thường nghĩ ĺa cảnh, hết sức ngăn ngừa chẳng để dục tâm sanh khởi. Người có thể làm như thế, chẳng trở ngại văng sanh

 

          * Hỏi: Chẳng thể ăn chay trường (nhưng ăn chay buổi sáng và giữ Thập Trai), hằng ngày lễ Phật, tụng kinh, có công đức hay không? (Trần Thánh Âm hỏi)

 

          Đáp: Tŕ trai một ngày, thiên hạ sát sanh chẳng có phần ta, huống là giữ Lục Trai? Lại c̣n hằng ngày lễ Phật, tụng kinh, há có thể nói là không có công đức? Nhưng chớ nên đạt được một tí công đức đă coi là đủ, hăy nên luôn luôn làm cho công đức càng nhiều, càng rộng hơn th́ mới là bậc trí! V́ bọn ta từ vô thỉ tới nay đă chất chứa tội nghiệp chẳng biết to bằng mấy quả núi Tu Di! Làm một tí công đức, sợ chẳng thể chống lại tội nghiệp được! Do vậy, hăy nên dũng mănh tinh tấn đập tan núi tội.

 

          * Hỏi: Đă là một đệ tử Phật môn, vào lúc tụng niệm công khóa mỗi ngày, thắp nhang chẳng chiếu theo nghi thức hoặc quy định trong Phật giáo, cứ thuận theo ư ḿnh mà thắp hai hay bốn nén nhang, có đúng hay không? (Hành Ngọc hỏi)

 

          Đáp: Đối với các phương pháp tu tập của các tông, và những điều do lịch đại tổ sư ấn định, hăy nên tuân thủ. C̣n đối với chuyện hương đèn nhiều hay ít, ắt phải tùy thuộc vào sức mỗi người. Cốt sao giữ ḷng thành, chẳng cần câu nệ h́nh tích!

 

          * Hỏi: Chẳng thể ĺa cái gọi là Đạo chừng một khoảnh khắc, lại như gà ấp trứng, hễ mất hơi ấm, trứng chẳng nở được. Kể từ khi tôi quy y Tam Bảo [đến nay] đă là hai năm, từng tập tham Thiền, thỉnh thoảng cũng niệm Phật. Lại do hoàn cảnh công việc bận bịu gây trở ngại, đến nỗi lười nhác, bỏ mất, như thế th́ có phải là chẳng có phần đối với Phật pháp hay không? (Trịnh Trường Lâm hỏi)

 

          Đáp: Chẳng có phần nơi Phật pháp, sẽ chẳng có duyên quy y. Đây là v́ tâm sanh tử chẳng tha thiết, đích xác là phạm lỗi giải đăi. Nếu thật sự hiểu rơ giáo lư, sẽ càng thêm tin sâu, sẽ tự có phương tiện thiện xảo, t́m lúc rảnh rỗi trong khi bận rộn để tụng niệm vậy.

 

          * Hỏi: Tôi vốn thích tham Thiền, nhưng pháp môn ấy chính là chuyện của kẻ lợi căn; chứ kẻ ngu tối, chậm lụt như tôi, sợ chẳng có duyên phận! Hơn nữa, tôi ở trong hoàn cảnh rất tạp loạn, trong t́nh huống ấy, hăy nên chọn lựa dứt khoát môn nào? (Trịnh Trường Lâm hỏi)

 

          Đáp: Phật pháp tuy nói là nhiều môn, nhưng sửa tánh tu tâm, chẳng ngoài Thiền và Tịnh. Thiền không chỉ là kẻ độn căn khó khế nhập, kẻ lợi căn cũng cần phải tham phỏng bậc tông tượng, chẳng thể “đóng cửa chế xe” mà thành được! Dẫu tu Tịnh, cũng cần phải hiểu lư rành rẽ, phân minh. Nếu không, sợ sẽ nẩy sanh lầm lạc. Để khởi sự, hăy nên xem những tập sách nhỏ có tánh chất gợi ư, hướng dẫn, như Kỹ Lộ Chỉ Quy, Sơ Cơ Tịnh Nghiệp Chỉ Nam… để hiểu đôi chút về đường nẻo, sau đấy lại xem kinh điển th́ mới chẳng bị ngăn ngại.

 

          * Hỏi: Phát khởi tâm nguyện Bồ Đề, và hồi hướng các công đức đă làm, như thế nào th́ mới phù hợp nghi quy? (Trịnh Trường Lâm hỏi)

 

          Đáp: Đă có bài văn [phát nguyện] và nghi thức do cổ nhân chế định, chỉ cần có tâm thành, y theo đó mà làm là được rồi!

 

          * Hỏi: Công khóa mỗi ngày cần phải ấn định thời gian để thực hiện thường hằng, chẳng thể gián đoạn, nhưng tôi làm công việc thời gian không nhất định, trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ, chẳng biết khi nào sẽ cần đến thợ. Trong t́nh h́nh ấy, hăy nên ấn định công khóa ra sao? (Trịnh Trường Lâm hỏi)

 

          Đáp: Ấn định khóa tụng sáng tối là được rồi! Ngoài công khóa ra, đi, đứng, ngồi nằm, đều có thể hành tŕ. Ngày nào đó bị gọi đi làm, có thể tụng niệm trước hay sau khi làm việc, cũng chẳng phải là không được. Nhưng chẳng thể nào mỗi sáng đều có việc phải làm. Nếu thật sự là có, sẽ có giờ giấc nhất định, sẽ càng dễ ấn định phù hợp hơn.

 

          * Hỏi: Sám hối tội ác, ngoại trừ sám hối trong nội tâm ra, có phải là c̣n nên đối trước pháp ṭa của Tam Bảo để thưa bày? Nếu cần phải làm như thế, kính xin cụ hăy phê duyệt, sửa chữa bản nháp bài văn sám hối gởi kèm theo thư này. (Trịnh Trường Lâm hỏi)

 

          Đáp: Đối trước Tam Bảo [phát lộ sám hối] là chuyện đúng pháp. Sám hối chú trọng tấm ḷng chân thật, thành kính, chứ không do văn chương bóng bẩy. Văn từ rườm rà, nghi thức cho lắm, chẳng bằng chất phác, mộc mạc, thành khẩn. Tôi gởi trả lại bản thảo bài văn của ông.

 

          * Hỏi: Kẻ mới nghiên cứu Phật học, hăy nhập môn từ chỗ nào th́ sẽ nhanh chóng hơn? Có những loại kinh điển nào có thể khiến cho người mới học Phật dễ hiểu, xin hăy nêu ra, có được hay chăng? (Tiêu Kim Vinh hỏi)

 

          Đáp: Câu hỏi này thật hay, nhưng tôn ư như thế nào, tôi vẫn phải thỉnh giáo! V́ Phật học và học Phật sai khác đôi chút. Phật học chính là học vấn, c̣n học Phật là hành tŕ. Nếu nhằm nghiên cứu học vấn, kẻ hèn này nông cạn, quê kệch, chẳng dám bàn xằng! Nếu hỏi về hành tŕ, tôi biết có pháp môn Tịnh Độ nhanh chóng và thiết yếu nhất. Nếu là kẻ mới học, trước hết hăy nên xem những quyển sách mỏng nhập môn như Sơ Cơ Tịnh Nghiệp Chỉ Nam, Kỹ Lộ Chỉ Quy, Long Thư Tịnh Độ Văn, Khuyến Tu Niệm Phật Pháp Môn v.v… Ấn tượng đă sâu, sau đấy mới tiến lên xem ba kinh Tịnh Độ.

 

          * Hỏi: Kẻ làm nghề đồ tể và kẻ làm nghề buôn bán sanh vật (và gia tộc của họ) có thể tin Phật hay không? Sau khi đă quy y, có cần phải đổi nghề hay không? (Trang Khánh Hiền hỏi)

 

          Đáp: Đức Phật đại từ đại bi, phổ độ chúng sanh. Càng là kẻ ác, th́ càng phải độ! Kẻ đồ tể quy y, có ǵ là chẳng được! Chỉ có điều, đă quy y Phật, ắt phải tuân theo chế định của Phật, ắt sẽ tự buông dao mổ xuống!

 

          * Hỏi: Bọn chúng sanh chúng ta tâm lẫn ư đều nhiễm ô, phải tu dưỡng như thế nào th́ cái tâm mới có thể trở thành thanh tịnh? (Lô Thục Trân hỏi)

 

          Đáp: Đức Phật nói tám vạn bốn ngàn pháp môn, đều nhằm thanh tịnh cái tâm. Cư sĩ tu pháp môn Tịnh Độ, tức là pháp tối yếu nhất. Há chẳng thường nghe: “Thanh châu gieo vào nước đục, nước đục chẳng thể không trong! Phật hiệu gieo vào loạn tâm, loạn tâm chẳng thể không là Phật” ư?

 

          * Hỏi: Thái Tử Tất Đạt Đa (Siddhārtha) nh́n sao Mai bèn ngộ đạo, và tôn giả Đại Ca Diếp thấy [đức Phật] cầm hoa bèn mỉm cười, có cùng một lư hay không? (Lại Viên hỏi)

 

          Đáp: Không lư nào chẳng đồng, chỉ có động cơ (motivation) và ngộ cảnh trong mỗi trường hợp là khác nhau!

 

          * Hỏi: Hậu học đọc sách Xuất Khổ Phi Hàng (chiếc phi thuyền thoát khổ) thấy nói: “Người tại gia khi tập tĩnh tọa, nếu ngồi đơn già (bán già) th́ đùi phải đặt trên đùi trái, tay phải chồng lên trên tay trái” [Viết như vậy] có phải là sai lầm hay không? Hay là đùi trái đùi phải tùy ư đặt phía nào lên trên cũng được? (Triệu Trạch Vũ hỏi)

 

          Đáp: Đặt phía phải lên trên là Hàng Ma Tọa, phía trái lên trên sẽ là Cát Tường Tọa. Đặt [đùi và tay] bên trái hay bên phải lên trên đều được!

 

          * Hỏi: Nếu có người tâm thường niệm thánh hiệu của Phật, Bồ Tát, lại gần bên thân họ, thường nhận thấy lỗ chân lông có ánh sáng xuất hiện, rốt cuộc người ấy tu dưỡng đến mức độ nào? Sau khi Niết Bàn, sẽ đắc quả ǵ? (Ông Minh Đạo hỏi)

 

          Đáp: Đă nói là niệm thánh hiệu, đấy chính là tu dưỡng như thế đó. Về sau, sẽ đắc quả ǵ, lúc này vẫn c̣n chưa xác định được!

 

          * Hỏi: Các chi thể trên thân mạt học trầm trệ, yếu ớt, mỗi đêm nằm mộng rất nhiều! Có phương pháp ǵ để có khắc phục mộng mị, xin thầy chỉ dạy! (Ông Minh Đạo hỏi)

 

          Đáp: Thường ngày tu tập công phu ǵ, vẫn phải thêm siêng gắng nơi công phu ấy. Đă thế, khi sắp ngủ, hăy dấy lên chánh niệm, sẽ có thể bớt mộng!

 

          * Hỏi: Mạt học mỗi sáng sớm đầu óc choáng váng như kẻ say rượu. Ngủ không đủ giấc cũng bị như thế, tự cảm thấy sẽ bị loạn trí. Chẳng biết có phương pháp ǵ để giải cứu thói ngủ mê mệt và đầu óc choáng váng hay không? (Ông Minh Đạo hỏi)

 

          Đáp: Chuyện này liên quan đến vấn đề sinh lư. Nếu công phu tu tập thích hợp, cũng có thể hết bệnh!

 

          * Hỏi: Trước kia, mạt học ở Đài Bắc do sống trong đoàn thể, chưa thể tŕ trai. Nay được thầy Trân Diệu, Trụ Tŕ chùa Quán Âm ở Trung Doanh thuộc vùng Ma Đậu mời làm thầy dạy học buổi tối tại tệ tự, rất thỏa thích được măn nguyện. Chỉ sợ sau này lại phải sống nơi khác, bị hoàn cảnh bức bách, đến nỗi không có cách nào ăn chay suốt đời. Tới khi đó, có phải là có hại cho đạo nghiệp hay không? (Nhan Khoan Văn hỏi)

 

          Đáp: Tŕ trai là ư nguyện của cá nhân, há do nơi chốn? Nếu do hoàn cảnh mà chuyển biến, tức là chính ḿnh chẳng có chí. Kẻ chẳng có chí, làm sao thành tựu cho được?

 

          * Hỏi: Về phương diện tinh tấn, do tệ nhân chẳng có học thức mảy may, lại bẩm sanh căn tánh ngu độn, mà cũng hoàn toàn chẳng có trí nhớ, tuy siêng đọc, bất quá chỉ tăng thêm tín nguyện mà thôi! Hoàn toàn chẳng nói đến chuyện cầu mong điều ǵ! (V́ vừa đọc xong liền quên ngay). Do vậy, đối với trọng điểm t́m đọc trong Phật học, đối với chuyện lănh hội lư Không, cho rằng những thứ khác đều là thừa thăi, chẳng phù hợp với nhu cầu của tôi. Điều này có thể coi là tinh tấn hay không? (Chương Phổ Minh hỏi)

 

          Đáp: Kẻ sơ học làm sao có thể “thấu hiểu lư Không” cho được? Ông nói “những thứ khác đều là thừa thăi” tức là sai lầm mất rồi! Phật pháp như biển, voi to và muỗi bé đều được phép uống, mỗi loài đều tận hết sức ḿnh mà thôi! Muỗi uống tuy ít, chẳng thể chê trách biển rộng lớn, thừa mứa! Nói đến chuyện tinh tấn, chẳng hạn cuộc trong một môn hay nhiều môn, chỉ nên đối với pháp tu tập của chính ḿnh, chẳng thoái chuyển mảy may, đă siêng năng lại càng chăm chỉ hơn. Đấy chính là tinh tấn!

 

          * Hỏi: Học tṛ do hoàn cảnh gia đ́nh bất tiện, chẳng thể treo tượng Phật để cầu nguyện, lễ bái, tụng kinh. Chỉ đành vào lúc sáng sớm ở trên giường (trước khi rửa ráy, súc miệng), ngồi xếp bằng thầm niệm A Di Đà Phật mười mấy câu. Thái độ như thế có làm nhục Phật, nhục Tổ hay chăng? (Đàm Hồng Bân hỏi)

 

          Đáp: Phật pháp viên dung, không điều ǵ chẳng thể, chỉ cốt sao thành tâm, sẽ chẳng phải là khinh nhờn!

 

          * Hỏi: Tôi không có cách nào tŕ trai, nhưng hai thời công khóa sáng tối đều giữ như thường. Nhưng gần đây, chẳng biết v́ sao, nếu thấy đồ hôi tanh, tâm rất kinh hăi, khó thể nuốt xuống. V́ thế, những ngày gần đây, nếu thấy đồ tanh tưởi, chỉ ăn rau bên cạnh thịt, hoặc có lúc hoàn toàn chẳng có rau, bèn thầm niệm Phật hiệu mấy chục tiếng, quán tưởng Phật Đà tiếp dẫn thần thức của những chúng sanh ấy văng sanh Tây Phương. Làm như thế chẳng biết có thỏa đáng hay chăng? (Nhan Văn Bộc hỏi)

 

          Đáp: Sức từ bi phương tiện hết sức thỏa đáng!

 

          * Hỏi: Học tṛ là một kẻ tin Phật kiền thành, hiềm rằng căn cơ Quốc Học cạn cợt, mỏng manh, mở kinh điển ra xem, chẳng biết kinh nói ǵ! Làm sao có thể học Phật? Bắt đầu từ chỗ nào, rất mong mỏi thầy chỉ dạy! (Đàm Hồng Bân hỏi)

 

          Đáp: Học Phật chú trọng hạnh giải tương ứng. “Giải” là thấu hiểu nghĩa lư, “Hành” là tu phương pháp ấy. Nếu nhất thời chẳng thể liễu giải, cũng nên thực hành pháp ấy. Nếu có thể hành thành tựu, sẽ tự có thể tâm khai đắc giải. Cư sĩ hăy nên chuyên chú khởi sự từ pháp môn Niệm Phật, lại xem những bản kinh Tịnh Độ có chú giải, lâu dần sẽ tự thọ dụng!

 

          * Hỏi: Người tu Đại Thừa có phải là đạt tới Sơ Địa th́ mới có thể giải thoát Phần Đoạn sanh tử hay không? (La Đức Chương hỏi)

 

          Đáp: Xét theo giáo nghĩa của tông Thiên Thai, Biệt Giáo th́ từ Thất Trụ trở lên, Viên Giáo th́ từ Thất Tín cho đến Sơ Trụ đều đă đoạn.

 

          * Hỏi: Trong khóa tụng mỗi ngày, chúng tôi niệm một biến kinh Di Đà, Tam Quy Y xong, lại niệm Phổ Môn nối tiếp, có cần đọc bài Hương Tán lần nữa hay không? (Khoan Quán hỏi)

 

          Đáp: Tự tu trong gia đ́nh, nếu công phu ngắn ngủi, ít ỏi (ư nói “mới khởi sự tu tập”), chẳng cần phải phiền phức như thế. Nếu hành tŕ đă lâu, kẻ hèn này cũng chẳng tiện khuyên nên giảm thiểu. Chỉ nên thay đổi thứ tự đôi chút là được. Khởi đầu bèn niệm bài Hương Tán, tiếp đó là niệm kinh Di Đà và phẩm Phổ Môn, lại thêm niệm Phật. Sau đó, niệm bài văn Hồi Hướng, cuối cùng là niệm Tam Quy Y.

 

          * Hỏi: Hồi hướng th́ thông thường là “nguyện dĩ thử công đức, trang nghiêm Phật Tịnh Độ” (nguyện dùng công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ), nhưng có người nói “thập phương tam thế Phật, A Di Đà đệ nhất” là đại hồi hướng. Xin hỏi thầy, bài nào mới là đúng? (Khoan Quán hỏi)

 

          Đáp: Hai bài đều đúng, tùy ư chọn bài nào cũng được. Chớ nên tùy tiện biến đổi!

 

          * Hỏi: Lúc thông thường, tụng niệm công khóa, chúng ta đều hồi hướng cho lục đạo chúng sanh, chẳng biết niệm từ điều nào? (Khoan Quán hỏi)

 

          Đáp: Trong bài hồi hướng gồm tám câu, có hai câu: “Thượng báo tứ trọng ân, hạ tế tam đồ khổ” đă bao gồm trọn hết!

 

          * Hỏi: Tại chùa Linh Sơn, khi giảng kinh Pháp Hoa, thầy có nói hằng hà sa số chư Phật ở sáu phương như trong kinh Di Đà [đă dạy] hiện đến trước mặt, chúng ta đều chẳng thể cúng dường. Nhưng tôi nghe thầy nói, khi niệm phần sáu phương Phật [trong kinh Di Đà], phải quán tưởng sáu phương hằng hà sa số chư Phật đều hiện đến trước mắt chúng ta, ngoài chuyện phổ quang minh chiếu ra, dùng phương pháp ǵ để cúng dường?

 

          Đáp: Dùng tam nghiệp cung kính để cúng dường là được rồi.

 

          * Hỏi: Vợ của hậu học có lúc đến chùa, hễ nghe có người niệm kinh, hoặc là chính ḿnh học niệm, nội tâm đều cảm thấy từng đợt chua xót muốn khóc, duyên cớ là như thế nào? (Nhan Khoan Văn hỏi)

 

          Đáp: Lệnh chánh[3] có thiện căn từ xưa, vừa nghe Phật âm, sẽ bị cảm động sâu xa, xúc động thấu tới tánh, bất giác ứa lệ. Chuyện này giống như đứa con lưu lạc quê người, bỗng nghe thấy tên cha mẹ, tưởng nhớ cha mẹ tột cùng, sẽ thường tuôn lệ!

 

          * Hỏi: “Một niệm mười pháp giới” là dấy lên ư niệm nào để phù hợp pháp giới nào? (Châu Ấu hỏi)

 

          Đáp: Đáp tách bạch từng điều, sẽ rất rườm rà, đành nói đại lược! Niệm mười ác bèn hợp với các pháp giới thuộc tam đồ, niệm Thập Thiện sẽ phù hợp thiên giới, niệm Tứ Đế là Thanh Văn giới, niệm mười hai nhân duyên là Duyên Giác giới, niệm lục độ vạn hạnh sẽ là Bồ Tát giới, niệm vô duyên từ bi là Phật pháp giới. Trong việc niệm Phật của Tịnh Tông, bao hàm rất nhiều nghĩa; trong ấy, có ư nghĩa niệm Thật Tướng của Phật. V́ thế biết pháp môn Niệm Phật chính là pháp môn đốn siêu trực nhập vậy!

 

          * Hỏi: V́ sao tin Phật th́ sẽ nhất định quy y với người xuất gia? (Có kinh luận nào để làm căn cứ) (Trần Tâm Nguyện hỏi)

 

          Đáp: Người xuất gia được gọi là Tăng Bảo. Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo nhất thể; v́ thế, ắt phải quy y người xuất gia hiện tướng tỳ-kheo. Kinh luật phần nhiều có ghi chép. Phẩm Quy Y Tam Bảo trong kinh Lục Ba La Mật Đa nói rơ ràng nhất!

 

          * Hỏi: Kẻ mắc bệnh th́ niệm Phật Dược Sư như thế nào? (Hà Vĩnh Đinh hỏi)

 

          Đáp: Tâm chí thành xưng niệm là được rồi, chẳng cần chú trọng nghi thức.

 

          * Hỏi: Người học Phật cần phải “bị ma khảo” như thế nào? (Hà Vĩnh Đinh hỏi)

 

          Đáp: Có lẽ tôn ư muốn hỏi: Người học Phật khi gặp ma chướng, hăy nên xử trí như thế nào? Nếu đúng như tôi đoán th́ có thể là trong các pháp Thiền, Tịnh, Mật, Luật, lúc b́nh thời tu pháp nào, dùng ngay pháp ấy để cầu Định. Do công năng của Định lực, mới có thể khử ma!

 

          * Hỏi: Lục Độ lấy Nhẫn Nhục làm đầu. Như khi ta bị người khác cố ư làm nhục, bèn chẳng khởi quán tưởng (mặc kệ chẳng quan tâm), hoặc dấy niệm phân tích tâm niệm của người ấy rồi nghĩ tưởng thương xót. Cách nào sẽ có công đức lớn nhất? (Lê Minh Thời hỏi)

 

          Đáp: Rỗng rang chẳng tiếp nhận chính là cảnh giới của Thanh Văn và Duyên Giác. Thương xót, hóa độ kẻ đó chính là hạnh nguyện của Bồ Tát.

 

          * Hỏi: Điều thứ hai trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện là “phiền năo vô tận thệ nguyện đoạn”, đoạn như thế nào? (Táo Tử hỏi)

 

          Đáp: Hiểu sâu lư Tứ Đế, liễu ngộ Nhân Không và Pháp Không. Đấy là đoạn từ Giải. Nhất tâm niệm Phật, ngăn chống chẳng cho trần dục[4] xâm phạm ta. Đấy là đoạn từ Hành vậy. Nếu là giải hành tương ứng, ắt sẽ là hai thanh gươm cùng múa tít lên, cái sức đoạn trừ [phiền năo] sẽ càng được tăng thêm!

 

          * Hỏi: Trong bộ Phật Học Thường Thức Khóa Bổn do đại đức biên soạn, nơi phần bốn của chương Thất Bồ Đề Phần, tức là Trừ Giác Phần, có nói: “Ắt phải đoạn trừ phiền năo, nhưng phiền năo và Bồ Đề chẳng phải một, chẳng phải hai, chớ nên lầm lạc tổn giảm Bồ Đề”. Điều này rất khó hiểu! (Táo Tử hỏi)

 

          Đáp: Khi mê chuyện ǵ, liền gọi là phiền năo; từ mê chuyển thành giác, tức là Bồ Đề. Đấy chính là nghĩa “phiền năo và Bồ Đề chẳng phải hai, chẳng phải một” vậy! Tâm có phiền năo, sẽ chẳng khinh an. Phiền năo là do phan duyên lục trần mà sanh. Giữ cho cái tâm chẳng duyên hết thảy, sẽ được khinh an, đó gọi là Trừ. Nhưng phát tâm “thượng cầu, hạ hóa” cũng là phan duyên; kẻ sơ cơ chẳng thể ĺa tướng, cũng chẳng tránh khỏi v́ đấy mà sanh phiền năo! Nếu tâm chán mệt, thoái chuyển, chính là “tổn Bồ Đề” vậy!

 

          * Hỏi: Tôi thường nghe câu nói: “Vô công, nội quả nan thành” (Chẳng đổ công dốc sức, cái quả trong nội tâm khó thành tựu). Nếu chẳng có tiền, chẳng có sức, lấy đâu ra công? Tuy đạt đến cảnh giới rất sâu, có khác ǵ vô dụng? (Hoàng Hàm hỏi)

 

          Đáp: Có tiền bất quá là có công bố thí mà thôi, nhưng ba nghiệp thanh tịnh, Lục Độ đều hành, lợi ích chúng sanh, vốn có muôn mối. Há có nên v́ chẳng có tiền mà bỏ các điều lành khác ư? Thấy kẻ khác khốn khó, bị tai ách, bèn tận hết thân lực giúp đỡ, đó là cái công nơi thân. Khuyên kẻ khác dứt ác làm lành, học Phật, niệm Phật, chính là công nơi miệng. Thấy kẻ khác đạt được điều ǵ, tâm ta hoan hỷ. Thấy kẻ khác mất mát, tâm ta thương xót, đó là công nơi ư. Sao lại bảo “chẳng có tiền, sẽ chẳng thể làm công đức” vậy?

 

          * Hỏi: Tôi đă nghiêm túc tŕ trai niệm Phật, nhưng chưa quy y, thọ giới, có thích đáng hay không? (Vô Danh Thị hỏi)

 

          Đáp: Bất luận quy y hay thọ giới, đều là đối trước Phật, phát khởi chân nguyện, biểu thị tiếp nhận hết thảy giáo huấn, răn dạy. Tự phát nguyện hay dạy người khác, đều có một loại sức mạnh chẳng thể nghĩ bàn, có thể tăng cường tinh tấn, đạt thành tựu.

 

          * Hỏi: Đối với công khóa sáng tối, do chẳng thuận tiện như mọi người, xin hăy chỉ dạy cách tu tŕ giản dị, và tŕnh tự hành tŕ đơn giản! (Vô Danh Thị hỏi)

 

          Đáp: Xin cho biết tên họ và địa chỉ, bổn xă có thể gởi tặng mấy tập sách nhỏ nhập môn.

 

          * Hỏi: Phiền năo do động mà sanh. Nước trong ao tĩnh lặng; hễ động bèn gợn sóng. Bồ Tát v́ độ chúng sanh, nguyện ứng hiện trong mười phương. Chúng sanh khó độ, vẫn thường gặp kẻ ương bướng, ngu độn hủy báng, đả kích, Bồ Tát có phiền năo hay không? Xin được nghe cách trừ phiền năo! (Lê Minh Thời hỏi)

 

          Đáp: Bồ Tát có rất nhiều đẳng cấp, tŕnh độ chẳng đồng nhất. Giống như thầy thuốc trong cơi đời, mỗi người có tŕnh độ khác biệt. Nếu là bậc Bồ Tát đă đoạn Kiến Tư và Trần Sa Hoặc, sẽ chẳng khởi phiền năo đối với chúng sanh.

 

          * Hỏi: Gần đây, tệ nhân mới quy y Tam Bảo, chính ḿnh phát nguyện ăn chay bữa sáng. Xin hăy dạy cho biết: Ăn chay buổi sáng th́ tiêu chuẩn thời gian tính từ mấy giờ cho đến mấy giờ? Lấy từ sáng sớm thức dậy cho đến mười một giờ sáng làm hạn, có được hay không? (Vương Gia Thanh hỏi)

 

          Đáp: Ăn chay buổi sáng, tự ấn định thời gian, cũng chẳng phải là không được. Nhưng hăy nên biết ư nghĩa của việc ăn chay: Đối với chính ḿnh là chú trọng vệ sinh, đối với kẻ khác là bảo toàn sanh mạng loài vật. Nếu là kẻ do tập khí tích tụ, khó thể sửa đổi, chẳng ngại ǵ tận hết sức giảm thiểu thịt, ắt sẽ có lợi ích nho nhỏ về mặt vệ sinh. Có thể ăn năm thứ tịnh nhục th́ cũng là bảo toàn sanh mạng loài vật một cách tiêu cực vậy!

 

          * Hỏi: Xin chỉ dạy về ư nghĩa và phương pháp tu tŕ của mỗi tông trong tám tông Phật giáo? (Dư B́nh hỏi)

 

          Đáp: Nói [chi tiết] sẽ rất rườm rà, nhưng đều chẳng ngoài ba pháp Thiền, Tịnh, Mật!

 

          * Hỏi: Kẻ nghèo túng do bị hạn chế bởi tiền bạc và thời gian, không có duyên thọ Tam Quy, Ngũ Giới, nhưng thành tâm niệm Phật, công đức của người ấy có phải là giống như đă thọ Tam Quy, Ngũ Giới hay không? (Lư Sĩ Nhân hỏi)

 

          Đáp: Thành tâm niệm Phật, đúng pháp tu tŕ, cố nhiên là có công đức, nhưng cũng chớ nên xem nhẹ nghi thức! Tâm có thể an trụ, có thể chẳng thoái chuyển, nhưng quy y thọ giới, phát xuất từ ḷng chí thành, hoàn toàn chẳng cần phải tốn tiền!

 

          * Hỏi: Lại nữa, trước công khóa buổi sáng và sau công khóa buổi tối mỗi ngày, tôi đều lễ Tam Bảo. Hiện thời, trước khóa sáng, tôi tạm dùng phần Mười Hai Cách Lạy Của Cư Sĩ Dương Nhân Sơn như đă được trích dẫn trong bài Từ Hàng Thập Huấn Thuật Nghĩa. Tụng khóa tối xong, bèn tạm tuân theo quy định “nhất tâm đảnh lễ” nơi trang mười ở cuối bài Đại Hồi Hướng dành cho ngày cử hành niệm Phật của Linh Nham Niệm Tụng Nghi Quy, có ổn thỏa hay không? Nếu chưa thỏa đáng, khẩn cầu cụ hăy ấn định cho! (cư sĩ Đại Khoan hỏi)

 

          Đáp: Công khóa hăy nên đơn giản, thuần thục. Đương nhiên là cũng nên lượng định thời gian và hoàn cảnh của cá nhân để châm chước tăng giảm. Đối với hai cách đă nêu, nếu cảm thấy thoải mái, chẳng bị bức bách, sẽ là hoàn toàn chẳng có ǵ không thỏa đáng, bởi hai cách ấy đều do cổ đại đức ấn định.

 

          * Hỏi: Nếu có những Phật tử bị ngồi tù, chẳng nghe chánh pháp, ở chung với kẻ tà. Người như thế tu Huệ bằng cách nào? (Trạch Mạnh Thu hỏi)

 

          Đáp: Đă nói là “Phật tử”, đương nhiên là nói về người đă từng học Phật, là người trước đó đă từng nghe chánh pháp rồi, chỉ lo chính ḿnh chẳng tinh tấn mà thôi! Ông chẳng nghe nói “hoa sen mọc từ bùn mà chẳng nhuốm bẩn” ư? Tuy có kẻ tà, làm sao có thể trở ngại người ấy tu tâm cho được? Hơn nữa, hiện thời chế độ nhà tù có các thiết bị giáo huấn, cho phép đọc sách Phật, lại c̣n có thể thỉnh pháp sư vào thuyết pháp trong tù. Nếu thật sự cầu tu Huệ, há có khó khăn ǵ?

 

          * Hỏi: Giải thích “bế quan” như thế nào? (Trạch Mạnh Thu hỏi)

 

          Đáp: Hành giả do trần thế rối ren, chẳng thể đắc Định, bèn ở một ḿnh trong một cái thất, đóng chặt cửa, nhằm đoạn tuyệt với bên ngoài. Ở trong ấy để chuyên tâm nơi một chuyện. Trong điều trước, ông đă nói đến chuyện Phật tử mắc phải nạn tù, nếu người ấy chân tâm hướng về đạo, sẽ có thể lợi dụng cảnh tù đày, coi như phương tiện để bế quan vậy!

 

          * Hỏi: Người câm điếc tu Huệ như thế nào? (Trạch Mạnh Thu hỏi)

 

          Đáp: Ḷa, điếc, ngọng, câm, được gọi là một trong tám nạn, chính là v́ những kẻ ấy khó nghe Phật pháp. Nếu có bậc đại tâm Bồ Tát chịu phát ḷng từ bi, t́m cách dẫn dụ những người như vậy thường đến viếng chùa, khiến cho họ trông thấy tượng Phật, học lễ bái, phát tâm hoan hỷ, ắt sẽ sanh thiện căn. Lại c̣n chọn cách dạy học từ các trường dành cho người câm điếc, mù ḷa, hướng dẫn họ niệm sáu chữ hồng danh, thâu thập những sách vở, tranh ảnh về cơi Cực Lạc và địa ngục, chỉ dạy họ về sự khổ, lạc, khiến cho họ dấy ḷng yêu thích, ngưỡng mộ, cũng như sanh ư niệm kinh sợ, huệ sẽ phát sanh.

 

          * Hỏi: Đối với khóa tụng mỗi ngày của người tại gia, khóa sáng, khóa tối hăy nên cử hành vào lúc nào là thích hợp? Lại nữa, nên tụng công khóa trước khi dùng cơm, hay sau khi dùng cơm? (Trang Khánh Hiền hỏi)

 

          Đáp: Tụng khóa sớm sau khi thức dậy, rửa ráy xong. Tụng khóa tối vào lúc mặt trời lặn. Nhưng người tại gia có thể là công việc bận bịu, thời gian chẳng được tự do, cũng chẳng ngại tụng niệm trước khi ngủ vậy.

 

          * Hỏi: Nếu trong khóa tụng, tụng lầm th́ có trở ngại ǵ hay không? Hơn nữa, tụng lầm th́ có phương pháp nào để bổ cứu hay không? (Trang Khánh Hiền hỏi)

 

          Đáp: Hễ niệm sai, hăy nên đứng dậy lễ bái, sám hối, bắt đầu tụng lại. Nói “bắt đầu tụng lại” tức là bắt đầu kể từ chỗ bị lầm. Nếu tụng kinh bị lầm th́ tụng lại một lượt kinh khác, tụng chú lầm th́ tụng lại biến chú ấy!

 

          * Hỏi: Tuy có bản hoài hóa độ chúng sanh, nhưng chúng sanh cứng cỏi, khó độ; như vậy th́ hăy nên dùng phương pháp nào để khuyên dụ họ, khiến cho họ tin tưởng sâu xa? (Tiêu Huệ Tâm hỏi)

         

          Đáp: Về phía chính ḿnh, cần phải có học vấn phong phú, chắc thật, khéo léo quan sát căn cơ, rồi lại vận dụng Tứ Nhiếp, Lục Độ. Nhưng đối phương cũng cần phải là kẻ nghiệp nhẹ, chướng cạn, hai duyên ḥa hợp th́ mới có thể tin nhận.

 

          * Hỏi: Đệ tử mới nhập Phật môn, đối với giáo nghĩa của Phật giáo, vẫn c̣n mờ mịt không biết, xin hăy dạy cho ư nghĩa chánh yếu! (Trương A Hỷ hỏi)

 

          Đáp: Chúng sanh có nỗi khổ đă định sẵn là sanh, lăo, bệnh, tử. Lại có nỗi khổ tăng thượng là thiên tai, nhân họa, cũng như nỗi khổ luân hồi sau khi mạng chung. Phật pháp thảy đều có thể giải trừ [những nỗi khổ ấy]; nhưng sự giải trừ ấy, không chỉ chuyên v́ chính ḿnh, mà phải là cùng vô lượng chúng sanh, b́nh đẳng giải trừ. Đấy chính là ư nghĩa chánh yếu trong Phật giáo vậy!

 

          * Hỏi: Có một vị đồng tu mới (tin Phật chưa lâu), có một chiều nọ, ở ngoại thành, thấy trên hư không có hai ba hạt kim quang. Sau đấy, hóa thành một vị Phật kim sắc giống như đức Thích Tôn ở trên không trung. V́ sao người ấy có thể trông thấy, c̣n người tu hành đă lâu, rất muốn thấy, cớ sao chẳng thể trông thấy? (Cố Phượng Anh hỏi)

 

          Đáp: Người tu Tịnh hăy nên cầu tịnh niệm tiếp nối, tri kiến chánh xác. Hễ trông thấy cảnh tượng ǵ, bèn có thể biện định chân, vọng. Chẳng trông thấy, vẫn là cảnh giới tốt đẹp. Nếu những điều vị đồng tu ấy trông thấy là chẳng hư vọng, chắc là do túc căn sâu dầy, tập khí nhiễm đắm trần lao ít, cho nên có thể trong một thời gian ngắn mà cảm được thụy tướng ấy!

 

          * Hỏi: Tu hành trong Sa Bà tiến tiến lùi lùi. Xin hỏi: Nếu người trọn đủ Định và Huệ, dẫu chưa văng sanh, có c̣n thoái chuyển hay không? (Huệ Đức hỏi)

         

          Đáp: Trọn đủ Định, Huệ, [xét về] mức độ có Đại Thừa và Tiểu Thừa sai khác! Trong Đại Thừa, cũng chia thành Trụ, Hạnh, Hướng, Địa. Người thật sự trọn đủ viên măn, chỉ có ḿnh đức Phật mà thôi. Bất Thoái lại chia thành ba loại là Vị, Hạnh, Niệm, phối hợp với bốn cấp Trụ, Hạnh, Hướng, Địa, nói ra sẽ hết sức phức tạp. Chỉ có người văng sanh Tây Phương là đều đắc ba thứ Bất Thoái, đúng là hy hữu, lạ lùng, đặc biệt! [Tịnh Độ] Thập Nghi Luận đă giảng giải [chuyện ấy] rất tường tận. Nếu ở trong thế giới Sa Bà, nhằm thời kỳ Mạt Pháp, [mong đạt được] Định và Huệ trọn đủ, há dễ dàng ư? Hành nhân dẫu có Định, Huệ, gặp tám gió mà có thể bất thoái, chưa chắc đă có trọn cả ba thứ [Bất Thoái]! Dẫu có người như vậy đi nữa, cũng chẳng phải là bọn ta vậy!

 

          * Hỏi: Học thức của tôi quá nông cạn, chuyện đời lại nhiều. Trong cuộc sống hằng ngày, muôn cảnh xúm nhau chen lẫn, đúng là “tâm có thừa, nhưng chẳng đủ sức”. Chính ḿnh thật sự là chẳng dám bỏ lỡ thời gian, nhưng v́ pháp yếu, ma mạnh, công phu chưa được thành tựu. Già cả nếu bệnh tật, bệnh rồi chết, rất sợ lại rơi vào luân hồi, đúng là bị thua thiệt to lớn! Do vậy, hôm nay ngoài công khóa ra, xin thầy lại chỉ dạy tường tận phương pháp dụng công? (Huệ Đức hỏi)

 

          Đáp: Tịnh Độ đă là đại đạo đặc biệt dễ hành ở ngoài tám vạn bốn ngàn pháp môn; những pháp môn c̣n lại đều là pháp khó hành. Phương pháp dụng công ngoài công khóa có thể nói tường tận th́ chính là ngoài niệm Phật ra, lại là niệm Phật nhiều hơn mà thôi!

 

          * Hỏi: Kinh Pháp Hoa, kinh Hoa Nghiêm, kinh Lăng Nghiêm v.v… đều do kim khẩu của đức Như Lai nói ra. Kẻ mới học Phật do ḷng tín ngưỡng, chắc thật, kiên cố, dùng kinh văn làm chuẩn mực, người học ấy có phạm lỗi lầm hay không? (Tạ Phổ Dương hỏi)

 

          Đáp: Y giáo phụng hành là lẽ đương nhiên, có ǵ là lầm lỗi? Nhưng các kinh như ông đă nêu, nghĩa lư sâu thăm thẳm, quả thật chẳng phải là hàng sơ học mà có thể hiểu được! Đă chẳng hiểu, làm sao có thể dùng làm chuẩn tắc? Có lẽ, ông nên thỉnh một vị pháp sư giới hạnh trang nghiêm truyền dạy th́ tốt hơn!

 

          * Hỏi: Học nhân thường là đối với hai khóa sáng tối, sáng th́ cúng cơm, chiều th́ cúng nước trong ([kèm thêm] một miếng bánh). Từ sau khi tham gia Phật Thất, đă học biết Mông Sơn Thí Thực, tính thêm Mông Sơn Thí Thực vào mỗi tối có được hay chăng? (Lâm Trường Thanh hỏi)

 

          Đáp: Nếu thời gian cho phép, có ǵ là không được?

 

          * Hỏi: Học nhân có lúc tụng niệm văn khóa vào bảy giờ tối, có khi bận bịu công việc, kéo dài đến mười giờ, có trở ngại cho chuyện phóng Mông Sơn hay không? (Lâm Trường Thanh hỏi)

 

          Đáp: Thời gian sớm hay trễ là do bất đắc dĩ, có thể quyền biến.

 

          * Hỏi: Trong nhà học nhân có lập một tiểu Phật đường, công khóa sáng tối hằng ngày, nhưng vẫn chưa thọ giới, công đức lợi tha có bị sai kém đôi chút hay không? (Lâm Trường Thanh hỏi)

 

          Đáp: Thọ giới cố nhiên là tốt đẹp, nhưng khi c̣n chưa thọ giới, đối với hết thảy công khóa, chỉ cầu muôn phần thành kính, công đức sẽ to lớn. Cổ đức nói: “Phật pháp cầu từ ḷng cung kính”. Có một phần cung kính, sẽ được một phần công đức. Muôn phần cung kính, sẽ được muôn phần công đức. Ngược lại, tâm chẳng thành kính, dẫu đă thọ giới, vẫn là hư giả bề ngoài.

 

          * Hỏi: Có phải là “phóng Mông Sơn” nhất định phải làm mỗi ngày, chẳng gián đoạn? Hay là chỉ trong ngày mồng Một, Rằm, thêm vào lễ phóng Mông Sơn cũng được? V́ các gia đ́nh tín đồ Phật giáo trong tỉnh này đọc những [bài chú như] Phá Địa Ngục, Chiêu Quỷ Hồn[5], trong tâm chẳng tránh khỏi hoảng sợ (sợ dẫn quỷ vào nhà); do vậy, chẳng dám tùy tiện. Xin thầy dạy cho! (Lâm Trường Thanh hỏi)

 

          Đáp: Chuyện này hăy nên châm chước, lượng định theo thời gian của cá nhân để ấn định, bất luận là mỗi tháng, hay mồng Một, ngày Rằm, cốt sao phải có tiêu chuẩn nhất định. Chớ nên cao hứng bèn làm, không vui sẽ chẳng làm! Phàm tu pháp th́ phải có thứ tự, phải có cái tâm thường hằng. Nếu không, sẽ là chẳng thành kính. Đă phóng Mông Sơn, lại sợ dẫn quỷ vào nhà, tức là Lư và Sự mâu thuẫn! Thử hỏi: Đă phát thiệp mời khách, lại sợ khách đến, lư giải hành vi ấy như thế nào đây?

 

          * Hỏi: Có người nói: “Ai tu nấy đắc”. Xét như vậy, sẽ là cha tu cha đắc, con tu con đắc. V́ sao có kẻ bảo: “Một đứa con thành Phật, tổ tông chín đời được siêu thoát”. Nói như vậy sẽ chẳng viên dung, hay là có [ư nghĩa] uyên áo, mầu nhiệm nào khác đấy chăng? (Nhan Khoan Văn hỏi)

 

          Đáp: “Đắc” là đạt được đạo quả. “Siêu thoát” là từ đường dưới vượt lên đường trên, hoàn toàn chẳng tùy thuộc vào người tu tŕ, cũng giống như chứng đạo. Nhưng do c̣n có nghiệp lực nhẹ, nặng khác biệt, và c̣n có sự khác biệt giữa siêu độ kèm theo và siêu độ do làm công đức khác. Sự Lư phức tạp, chẳng thể gộp chung lại để nói. Như mẹ của tôn giả Đại Mục Kiền Liên thuộc trường hợp “do nghiệp lực quá nặng, chẳng thể siêu độ kèm theo” được!

 

          * Hỏi: Trong lúc miệng niệm Phật hiệu, tay lần tràng hạt, nghe nói hễ lần tới hạt hồ lô (tức hạt khởi đầu và kết thúc của chuỗi tràng hạt), phải lần ngược lại, chẳng thể lướt qua hạt thứ nhất. Nếu bỏ qua hạt ấy, cứ lần tiếp (giống như bánh xe xoay không ngừng), sẽ có tội. Nói kiểu ấy có đúng hay không? Giải thích theo ư nghĩa rốt ráo là như thế nào? (Dương Thừa Quang)

 

          Đáp: Lần chuỗi tới hạt hồ lô, ắt phải lần ngược lại là v́ hạt hồ lô chẳng thuộc trong các hạt của chuỗi tràng, lại c̣n v́ hạt hồ lô thắt chặt, chẳng có chỗ dây nào thừa ra, chẳng dễ lần qua. Nếu lần ngược lại, sẽ có chỗ trống để lần nơi dây chuỗi. C̣n nói “có tội” th́ tôi chưa nghe nói.

 

          * Hỏi: Làm theo cách nào th́ mới có thể ngộ hết thảy các pháp, đạt đến chẳng có Ngă Chấp, chẳng có Pháp Chấp, đạt được nghĩa “chúng sanh là không, vạn pháp đều không”? (Lâm Thánh Côn hỏi)

 

          Đáp: Chuyện này ắt cần phải trước hết là nghe Phật pháp; sau đấy, nghiên cứu, liễu giải giáo nghĩa, rồi lại dựa theo những ǵ đă nghe, đă nghiên cứu để tu tập. Khi đă đạt tới giải hạnh tương ứng, sẽ có thể phá chấp, thấu đạt lẽ Không vậy!

 

          * Hỏi: Trong tám vạn bốn ngàn pháp môn của Phật pháp, có pháp tu trước, ngộ sau, có pháp ngộ trước tu sau, giữa hai loại ấy, loại nào thù thắng? Hay là các pháp b́nh đẳng, chẳng có hay thấp, tùy thuộc căn khí của mỗi người mà luận định? (Chung Quân Lương hỏi)

 

          Đáp: Các pháp b́nh đẳng, nói “tùy thuộc căn khí” là đúng!

 

          * Hỏi: Phật pháp lấy từ bi, nhẫn nhục làm đầu. Nếu bị lăng nhục khó kham, vẫn phải nhẫn nại hứng chịu. Như vậy là phải học theo kẻ ngu, người gỗ, thậm chí bị đánh đập cỡ nào cũng không biết. Nếu không, sẽ chẳng được coi là tín đồ nhà Phật, đúng không? (Quán Thành hỏi)

 

          Đáp: Bị lăng nhục khó kham mà có thể bao dung, mới gọi là nhẫn thật sự. Tâm kẻ ngu tham sân hừng hực, thân thể người gỗ chẳng có cảm giác, há có thể sánh bằng? Người có thể thật sự nhẫn, tâm chẳng có tham, sân, thân thể chẳng chai ĺ, chính là v́ thương xót đối phương mà chẳng trả đũa. Đấy là hạnh của bậc đại đức đại trí, do có thể bao dung mà làm như kẻ ngu. Nhẫn Nhục chính là một độ trong Lục Độ, là pháp tu tập của hàng Bồ Tát. Hễ gặp chuyện, ắt phải dùng Lục Độ gộp lại để quan sát. Nếu có giặc xâm phạm quốc gia, giặc giết cha mẹ, ắt phải ra tay chế ngự, thực hiện Vô Thí Bố Úy, pḥng vệ có hạn độ nhất định, cũng chẳng hại đến ư nghĩa Nhẫn Nhục.

 

          * Hỏi: Tôi đă gia nhập Thiên Tiên Đạo hơn ba mươi năm. Vào mùa Đông năm ngoái, chuyển sang theo Phật giáo, mẹ con cùng quy y Tam Bảo, bản thân tôi đă thọ Ngũ Giới. Chẳng biết chuyện ấy có hợp lư hay không? Có phải là phạm pháp hay không? Tôi một mực thành tâm thờ phụng Quán Âm Bồ Tát đă hơn ba mươi năm, nhưng không biết niệm Quán Âm Phổ Môn Phẩm. Chỉ có mồng Một, ngày Rằm bèn niệm chú Đại Bi, kinh Kim Cang và kinh Quan Đế, kinh Tam Quan. (Lôi cư sĩ hỏi)

 

          Đáp: Thiên Tiên Đạo chính là một loại tà môn ngoại đạo, bỏ nó để theo Phật chính là “cải tà quy chánh”, tột bậc hợp lư! Nếu chẳng như vậy th́ mới là “phạm pháp”. Phạm pháp là vi phạm pháp lệnh của quốc gia, v́ loại tà giáo ấy dùng những lời lẽ ma mị dối gạt đại chúng, tổ chức bí mật, đă bị quốc pháp cấm ngặt từ lâu. Kẻ nào may mắn chẳng bị cảnh sát phát hiện bắt bớ, sau này, ắt cũng bị cơi Âm tru lục! Những thứ ông đă niệm như kinh Kim Cang và chú Đại Bi đều là kinh Phật, c̣n các kinh Quan Đế và kinh Tam Quan là do người đời sau ngụy tạo. Người đă quy y Phật pháp đừng nên niệm những kinh ấy nữa!

 

          * Hỏi: Kể từ sau khi quy y, hằng ngày, buổi sáng tôi tŕ một bộ kinh Kim Cang, mười biến chú Đại Bi, hai biến phẩm Phổ Môn, ngoài ra là thánh hiệu Thích Ca Mâu Ni Phật, Quán Thế Âm Bồ Tát, nam-mô Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật, và nam-mô Địa Tạng Bồ Tát, các Phật hiệu. Khóa tối th́ tụng kinh Di Đà hai biến, kèm thêm Phật hiệu. Sáng chiều đều niệm liên tục, vẫn chẳng gián đoạn. Hiện thời, do thân thể trẻ nhỏ bị bệnh dây dưa, phải tạm đ́nh kinh Kim Cang, chuyển sang niệm kinh Địa Tạng, chẳng biết có được hay không? (Lôi cư sĩ hỏi)

 

          Đáp: Những thứ ông đă tụng niệm đều là kinh Phật. Cố nhiên là chẳng có ǵ không nên! Trong nhà có việc cấp bách, ngẫu nhiên ngừng một thứ th́ cũng là phương tiện. Nhưng ông tu tập rất tạp, chẳng có mục tiêu; sau này, chỉ đạt được phước báo thế gian, chẳng thể chứng chánh quả!

 

          * Hỏi: Tôi thường nghĩ trong quá khứ đă chịu hết thảy những nỗi khổ to lớn nơi thân tâm, chẳng được tự do, may mắn có duyên gặp gỡ Phật pháp, là con đường thoát ra để đạt được tương lai cao nhất trong đời người. Theo đúng pháp tu hành những giáo huấn của đức Phật, sẽ có thể chứng quả vị. Quả chia thành các cấp bậc: Thanh Văn, Duyên Giác, La Hán, Bồ Tát v.v… Tu hành trong Sa Bà, nếu chứng các quả vị ấy, ai có thể phán đoán hành giả đă chứng quả, [bởi lẽ], đạo quả vô h́nh vô tướng để có thể trông thấy! (Châu Huệ Đức hỏi)

 

          Đáp: Ví như uống nước, lạnh, nóng tự biết. Người khác chứng quả, cũng có thể nhận biết qua những điều kiện kèm theo, tức là những biểu hiện thần thông. Hoặc là khi xả báo có các thứ thụy tướng.

         

          * Hỏi: Phát tâm học Phật, ắt cần phải quy y Tam Bảo, nhưng ở trong vùng núi non chẳng có Tăng Bảo (pháp sư ḥa thượng), thường ở trong miếu đối trước tượng Quán Thế Âm Bồ Tát, lại có kinh sách (tức là Pháp Bảo), đối trước ảnh chụp của đại pháp sư Chương Gia hoặc ảnh chụp của bất cứ vị đại pháp sư nào, trong khóa tụng xướng “quy y Tam Bảo”, có hữu hiệu hay chăng? Đời sau tối thiểu là chẳng mắc nạn đọa vào tam ác đạo, đúng không? (Ôn Văn Thụy hỏi)

 

          Đáp: Điều này cũng thuộc về pháp phương tiện, hễ thành tâm, sẽ có công đức. Đă học niệm Phật, sẽ tránh khỏi tam đồ. Nếu cư sĩ chịu quy y Tam Bảo, có thể viết sơ yếu lư lịch, bổn xă nguyện sẽ giới thiệu giùm. Quy y khác với thọ giới, chỉ gởi thơ xin quy y th́ cũng dung thông!

 

          * Hỏi: Khoảng hai mươi học hữu (bạn bè học Phật, đạo hữu) đồng nguyện của chúng tôi thường xuyên ở trong chùa (ở dưới bệ thờ Quán Âm Bồ Tát) tụng kinh, lễ Phật, nhiễu Phật, do không có pháp sư lănh đạo, cho nên đại khái có bao nhiêu nỗi sai lầm hoặc không theo đúng thứ tự, có bị tổn thất công đức hay không? (Ôn Văn Thụy hỏi)

 

          Đáp: Nhiễu Phật hăy nên đi theo bên phải của mỗi người, xoay ṿng theo chiều bên phải, như mặt trời mọc đằng Đông, chuyển sang phía Nam rồi lặn đằng Tây. Chẳng hiểu quy củ, chỉ cầu chân thành, sẽ chẳng mất công đức.

 

          * Hỏi: Chính ḿnh có tiền bạc để dựng chùa thờ Phật, lập bệnh viện, mở trường học mong lợi ích chúng sanh rộng khắp. Đấy là Đại Thừa Phật pháp. Giả sử chẳng có tài lực như vậy, hết thảy đều chẳng làm được, c̣n có cách nào để tu hành Đại Thừa? (Lữ Chánh Lương hỏi)

 

          Đáp: Lợi ích chúng sanh chính là khiến cho họ ĺa khổ, được vui. Chúng sanh có hai thứ là sanh mạng và huệ mạng. Châu cấp, giúp đỡ người nghèo khổ, cứu vớt [nạn nhân và] dẹp trừ tai nạn; đấy là lợi lạc sanh mạng của người khác. Khuyến hóa họ sửa ác hướng thiện, quy y Phật pháp, niệm Phật sanh Tây, chính là độ huệ mạng của người ấy. Nếu phát tâm làm những sự nghiệp đó, có tiền tài cố nhiên là dễ dàng thực hiện. Chẳng có tiền của, hăy ra sức. Kẻ già yếu có thể bỏ ra khẩu lực (tận lực khuyên nhủ, kiên nhẫn khuyến hóa). Dẫu khẩu lực vô hiệu, tâm lực cũng phải phát triển đến mười hai vạn phần, thời thời khắc khắc dạy kẻ khác chẳng lui sụt. Đấy đều là hành pháp Đại Thừa.

 

          * Hỏi: Trong sách Phật giáo có nói: “Nếu có những kẻ thấy h́nh tướng của Phật, Bồ Tát, đấy đều là ma hiển hiện, chớ nên chấp cảnh”. Vậy th́ xưa kia tổ sư Tỉnh Am, thiền sư Triệt Ngộ, thượng nhân Pháp Nhiên trông thấy h́nh tượng Phật, Bồ Tát, đó cũng là những cảnh do ma hiển hiện ư? Ma có bao nhiêu loại? (Lư Vĩnh Mậu hỏi)

 

          Đáp: Phương pháp tu tŕ vốn có nhiều loại. Mỗi pháp có đường lối riêng, chẳng thể hỗn tạp được! Nếu như tham Thiền, bỗng tượng Phật hiện ra, tức là chẳng hợp với điều ta vốn đang tham cứu. V́ thế, nói là “ma”. Nếu là kẻ niệm Phật, vốn cầu thấy Phật, khi tượng Phật hiện ra, chính là cảm ứng, chẳng thể nói là ma! C̣n như ông hỏi về chủng loại của ma, các kinh ghi chép cũng chẳng giống nhau. Có bốn loại, năm loại, hoặc mười loại khác nhau, nhưng kinh Lăng Nghiêm chia Ngũ Ấm thành năm mươi loại là cặn kẽ nhất!

 

          * Hỏi: Tôi tội nghiệp sâu nặng, thân tâm hứng chịu vô lượng nỗi khổ sở chẳng thể nói trọn! Kể từ khi học Phật đến nay, hiện thời tinh thần có chỗ gởi gắm, nhưng v́ sự nghiệp trói buộc, cuộc sống bức bách, thời gian để nghiên cứu Phật lư rất ít. Đối với chuyện thuyết pháp độ sanh thông thường, tôi thấy có hai loại: Một loại là tuy thuyết pháp, nhưng chẳng thực hành. Loại thứ hai là tuy chẳng thể thuyết pháp, nhưng có thực hành. Trong hai loại ấy, loại nào được gọi là lợi ích đối với việc tu hành? (Huệ Đức hỏi)

 

          Đáp: Được lợi ích nơi Phật pháp, cốt yếu là thực hành. Nếu có thể thực hành, đấy chính là dùng thân để thuyết pháp, đẹp đẽ cả đôi đàng! Kẻ chỉ nói mà chẳng thực hành, không chỉ là giống như kể chuyện ăn sẽ chẳng no; bản thân đă chẳng hành, làm sao có thể khiến cho kẻ khác tin tưởng cho được? Vô ích cả đôi đàng!

 

          * Hỏi: Nghiên cứu Phật giáo, hăy nên khởi sự từ chỗ nào? Làm một tín đồ nhà Phật, cần phải có những điều kiện ǵ? Phải làm những thủ tục nào? Và tuân thủ những giới luật nào? Tôi đóng quân tại tiền đồn ở hải ngoại, theo đuổi công tác chống Cộng, chống Nga, chẳng tránh khỏi có những chỗ trái nghịch Phật pháp, có phạm giới luật của Phật giáo hay không? (Bạch Vân Tiều hỏi)

 

          Đáp: Sơ cơ xem sách, chớ nên nghiên cứu kinh điển trước, do Lư sâu xa khó thể hiểu. Hơn nữa, Văn Ngôn và Bạch Thoại c̣n là vấn đề kế tiếp. Xin trước hết hăy ở tại Hương Cảng, nghiền ngẫm, xem đọc hai quyển sách Phật Pháp Đạo Luận và Học Phật Thiển Thuyết Tam Chủng Hợp Biên. Sau khi đă hiểu rơ đại khái rồi, lại tiến tới nghiên cứu, t́m ṭi trong kinh luận, sẽ dễ nhập môn. Điều kiện và thủ tục là trước hết thọ Tam Quy, sau đó cầu Ngũ Giới, sau đấy thọ Bồ Tát Giới. Ngoài chuyện ấy ra, c̣n phải tu tŕ một loại pháp môn ḥng làm chỗ quy túc cuối cùng. Hoặc tham Thiền, hoặc niệm Phật, hoặc quán tưởng, tŕ chú, đều nên cầu minh sư chỉ dạy để khỏi đâm quàng ngơ rẽ! C̣n như ông nói đến chuyện phản Cộng, kháng Nga là phạm giới nhà Phật, tức là đă hiểu lầm rất lớn. Trừ bạo an lương, giải cứu kẻ bị treo ngược, chính là tinh thần đại vô úy, vô úy bố thí của nhà Phật. Ông chẳng thấy một vạn bốn ngàn nghĩa sĩ do chống Cộng mà đến Đài Loan, trong số ấy, tín đồ Phật giáo chiếm quá nửa, đang tích trữ lương thảo, rèn quân để đợi ngày phản công ư?

 

          * Hỏi: Tu Giới, Định, Huệ có thể đắc thần thông. V́ sao cận đại Tăng, tục tu hành rất nhiều mà chẳng nghe thấy nói có ai đắc? Nếu đă có, cớ sao chẳng tuyên dương để tạo niềm tin cho chúng sanh, cũng như nhiếp hóa, dẫn dắt chúng sanh tiến nhập Phật đạo? Chỉ dùng lời lẽ “như người uống nước, nóng lạnh tự biết” để giấu kín, há chẳng phải là đă trái nghịch ư chỉ công khai của Phật pháp ư? (Phan Tư Húc hỏi)

 

          Đáp: Đắc thần thông mà khoe khoang, sẽ dễ bị ma dựa, lại c̣n dễ bị mất đi! Dẫu chẳng như thế, cũng là chuyện ắt gây ra kinh động rất lớn. Thuở tại thế, đức Phật đă cấm đệ tử phô bày thần thông với phàm phu. Chuyện ngài Tân Đầu Lô Phả La Đọa chính là một trường hợp. C̣n như ông nói “tuyên dương, nhiếp hóa chúng sanh” th́ chỉ nên diễn nói khiến cho họ ngộ nhập tri kiến của Phật. Kẻ do hâm mộ thần thông bèn học Phật, tức là cái nhân [của việc học Phật] chẳng chánh đáng. Đức Thích Tôn chẳng dạy [thần thông] cho Điều Đạt (Đề Bà Đạt Đa) lại là một tấm gương cho chuyện này.

 

          * Hỏi: Tôi trộm cho rằng: Chỗ khó thực hiện nhất đối với người học Phật là ĺa phân biệt Năng Sở. Bất luận Niệm Phật hoặc Thiền Định, Chỉ Quán, hễ chẳng chấp một chỗ, sẽ rơi vào tương đối, nương vào pháp th́ sẽ bị pháp trói buộc, khó mong chứng đắc mau chóng! Ĺa pháp th́ sẽ bị nghiệp chuyển dời, thoạt ch́m, thoạt nổi! Tự thẹn ngu độn, kém cỏi, dẫu gặp minh sư, chẳng thể vừa nghe dạy bèn đốn ngộ, nhưng tánh tham khó dứt, dám thỉnh thầy rủ ḷng đại từ bi, khai thị vô thượng diệu đế, mong sẽ có thể lănh ngộ một hai phần, cũng như khiến cho những độc giả báo Bồ Đề Thụ đều được thấm nhuần pháp vũ, đạt được lợi ích nơi pháp, hết sức mong cầu! (Tưởng Nam Hải hỏi)

         

          Đáp: Hạnh môn tuy gồm nhiều loại, chẳng ngoài hai môn là Thiền và Tịnh. Đối với tầng cấp tu tŕ, cần phải chia làm hai loại là nhân địa và quả địa. Đă chia thành Thiền và Tịnh, chỗ để khởi sự thực hiện ắt phải khác nhau. Đă chia thành nhân và quả, đương nhiên phải phán định tác dụng sai khác. Tất nhiên, trước hết phải biện định rơ ràng điều này, mới chẳng đến nỗi lầm đường lạc nẻo. “Ĺa Năng Sở, vô phân biệt, không chấp trước” v.v… chính là tông chỉ được đề cao trong nhà Thiền. “Chẳng ngại ưa thích hay chán nhàm, chấp tướng” v.v… chính là phép quyền biến, xảo diệu của nhà Tịnh. “Nương theo pháp” chính là quy củ chánh đáng nơi nhân địa. “Xả pháp” là đă triệt chứng nơi quả địa. Nói tới chuyện dứt ḷng tham, há dễ dàng ư? V́ nó đứng đầu Tam Độc, chẳng trải qua một phen khổ công, chế phục nó c̣n chưa được, rảnh đâu để nói đến chuyện diệt nó! Nhưng các phương pháp để dứt diệt nó như Bất Tịnh Quán, Vô Sanh Quán v.v… rất nhiều, khó thể kể trọn. Nếu đă tu Thiền, hoặc tu Tịnh, cớ ǵ lại bỏ pháp này để cầu pháp khác? Để rồi từ đó, lắm nỗi rối ren! Phải biết: Thuần thục một pháp chính là gươm trí huệ Kim Cang, chẳng ma nào không diệt được!

 

          * Hỏi: Tôi mới vừa quy y Tam Bảo, nhưng phát tâm Đại Thừa, Thiền Tịnh song tu. Giả sử tu suốt cả đời, mà Sở Tri Chướng và Phiền Năo Chướng chưa hết, có phải là vẫn thọ Phần Đoạn sanh tử trong Dục Giới, tiếp tục tu hành măi cho đến [khi được] tự tại mới thôi? Hay là mạng chung bèn sanh về Tây, lại tu cho đến [khi chứng đắc] viên giác? (La Đức Chương hỏi)

 

          Đáp: Thiền cậy vào tự lực, ắt cần phải đoạn Hoặc. Khi chưa đoạn Hoặc, vẫn cần Phần Đoạn sanh tử. Tịnh nhờ cậy Phật lực và tự lực, mong cầu đới nghiệp văng sanh. “Đới nghiệp” là do chưa thể đoạn Hoặc! Cổ nhân hễ là Thiền Tịnh song tu, đều riêng phát trọng nguyện văng sanh. Nếu không, cần ǵ phải kiêm tu Tịnh? Cư sĩ tu tập, nếu phát nguyện lấy Tịnh Độ làm phép tu chủ yếu, coi Thiền là phụ trợ, đương nhiên là khi xả báo, sẽ sanh về Tây, nhất sanh bổ xứ.

 

          * Hỏi: Đệ tử của Thích Tôn rất đông, nếu có kẻ ghen ghét người hiền năng, hoặc tham danh lợi, ḷng ngầm chứa ám tiễn toan hại kẻ khác, thường dẻo mồm giả vờ kính phục Thích Tôn, người trong lúc bất giác, bị kẻ ấy làm hại, [sẽ là] chẳng biết số lượng. Hạng người như thế có thể thành tựu hay không? (Quán Thành hỏi)

 

          Đáp: Thích Tôn [trọn đủ] Ngũ Nhăn, Lục Thông, há có thể bị kẻ khác bưng bít ư? Nói theo mức độ thấp hơn, người tu đạo Bồ Tát vốn thuộc về loại người vận dụng cả Bi lẫn Trí. Trí có thể xét rơ vạn sự, Bi có thể thương xót trọn khắp quần mê. Lời lẽ sàm báng [dẫu khéo léo] như thế nào đi nữa, cũng khó lọt tai! Dẫu là kẻ ác thật sự, [Bồ Tát] vẫn dùng cái tâm từ bi, b́nh đẳng, mong cho kẻ ác ấy xót xa cải hối, huống hồ là đối với người chẳng phải là kẻ ác mà bị sàm báng ư? Như vậy th́ dẫu có kẻ ngọt miệng, ám tiễn, những thủ đoạn của kẻ ấy chỉ phí uổng mà thôi, quyết chẳng có lẽ nào người khác bị thầy đối xử không công bằng! Nếu hỏi những kẻ [xảo trá] ấy có thành tựu hay không, cần phải xét xem họ có hối cải hay không để luận định!

 

          * Hỏi: Nếu thế gian chẳng có ngũ dục, lục trần, đoạn sạch phiền năo, [cảnh giới] trước mắt bèn có thể gọi là Tây Phương Cực Lạc. Nếu không, sẽ giống như đang chịu khổ trong địa ngục. Có đúng như thế hay không? Xin hăy dạy tường tận! (Quán Thành hỏi)

 

          Đáp: Xét theo Lư, có thể nói như vậy. Luận theo Sự, ắt Cực Lạc và địa ngục đều có thật. Kinh đă giáo huấn rạng ngời, hoàn toàn chẳng phải là từ ngữ tỷ dụ giả định vậy!

 

          * Hỏi: Có một vị tỳ-kheo-ni phát tâm đốt ba mươi hai nén nhang trên đỉnh đầu, lại muốn đốt ngón tay, bế quan bốn năm. Lăo pháp sư Đạo Nguyên khuyên bà ta tạm thời đừng đốt ngón tay. Sau khi lăo pháp sư rời khỏi, ni sư ấy bèn cắt đứt hai ngón tay rồi bế quan, bỗng bị ma dựa, t́nh trạng giống như bị điên. Lăo pháp sư nói về nguyên nhân bị ma dựa như sau: “Một là chẳng hiểu rơ lư, hai là hành tinh tấn quá gấp rút, vội vàng, như dây đàn quá căng sẽ đứt; ba là do túc oán khiến cho tu hành bị trở ngại”. Hậu học nghĩ người có đại tâm như thế, ắt cảm thiên, long, thiện thần, Phật, Bồ Tát hộ tŕ, v́ sao bị ma dựa? (Chân Tàm Quư hỏi)

 

          Đáp: Huấn thị của lăo pháp sư Đạo Nguyên rất tường tận, há c̣n ngờ chi? Tu hành có rất nhiều điều kiện, phát đại tâm là điều thứ nhất. Nếu những điều kiện khác chẳng đúng pháp, làm sao Phật, Bồ Tát có thể giúp sức được? Giống như nấu cát mong thành cơm, đă chẳng phải là cái nhân mà coi là nhân mất rồi! Tuy Phật, Bồ Tát sẵn ḷng Từ, há có thể giúp đỡ những chuyện quái đản, gây kinh hăi cho thế tục như vậy ư? Đấy chính là thâm ư trong câu giáo huấn “chẳng hiểu rơ lư” vậy! Nếu cắt ngón tay, bế quan liền được Phật gia hộ, đạt thành tựu, người trong thiện hạ sẽ đều cắt ngón tay, bế quan để thành Phật cả rồi! Vậy th́ Thanh Văn c̣n phải qua lại cơi trời người bảy lượt, Bồ Tát [tu hành] ba đại A-tăng-kỳ, há chẳng phải là đa sự ư? Đấy chính là ư nghĩa của lời giáo huấn “hành tinh tấn quá gấp rút, vội vàng”. Hơn nữa, đối với huấn thị của pháp sư, chẳng thèm nghe theo, tin tưởng, nay bị ma dựa, có thể đổ lỗi cho pháp sư hay sao? Nếu nói là “chẳng thể”, kinh Phật sáng vằng vặc, đă sớm có giáo huấn từ trước, tự ḿnh làm quấy, sao trách Phật được?

 

          * Hỏi: Nói tới chuyện “chẳng hiểu rơ Lư”, nhà Phật thường nói “tu Huệ là do từ thật tu, tận lực hành tŕ mà dẫn phát”. Ông Vương Dương Minh cũng thường bảo: “Biết tới chỗ tột cùng, đó là Hành. Hành đến mức chuyên dốc, chắc thật, gọi là Biết”. Nhà Phật cũng khuyên hành giả, “chỉ cần có thể y giáo phụng hành, ắt sẽ có ngày rỗng rang thấu suốt”. Có thể thấy là đă hành rồi sau đó mới biết, đấy mới là chân trí huệ vậy! (Chân Tàm Quư hỏi)

 

          Đáp: Trong đoạn cao luận này, cư sĩ cho rằng vị ni sư ấy hiểu biết tột cùng, hành chuyên dốc, chắc thật, y giáo phụng hành, đă hiểu rơ lư lẽ ư? Xin luận định đại khái [chuyện này]! Nói đến Huệ, chính là do từ Giới đắc Định, từ Định khai Huệ. Nói tới chuyên dốc, chắc thật, “chuyên dốc” là thuần thành, chẳng hư ngụy, “chắc thật” là chẳng giả dối, chẳng lầm lạc. Y giáo phụng hành là tuân theo khuôn phép để làm. Người ấy chưa thể đắc Định, làm sao có Huệ cho được? Chẳng có chánh tri kiến, há có thể nói là “không lầm lạc”? Lời dạy của pháp sư, ư nghĩa vốn xuất phát từ kinh điển, thế mà chẳng chịu nghe theo, tin tưởng, sao có thể gọi là “y giáo phụng hành”? Bảo là “chẳng hiểu rơ lư lẽ”, [quả thật] không sai vậy!

 

          * Hỏi: Thiền Tông chỉ cậy vào tự lực, nên có kẻ bị ma dựa. Bế quan hành pháp môn Quán Âm, tức là lễ bái Bồ Tát, xưng danh hiệu Ngài. Chuyện này thuộc về tự lực lẫn tha lực cùng nhiếp thọ chẳng bỏ, lẽ ra chẳng nên có chuyện [ma dựa] này? (Chân Tàm Quư hỏi)

 

          Đáp: Đă không có định lực, cho nên vẫn thuộc về b́nh phàm. Hành hạnh tinh tấn theo kiểu bộp chộp, lại chẳng vâng theo lời dạy, lỗi lầm càng to! Do chẳng phù hợp với pháp, tự nhiên là chẳng thể cảm ứng, sao c̣n có chuyện nhiếp thọ cho được? Hơn nữa, các môn được tu trong Phật pháp đều thuộc loại nhị lực, bất quá là coi trọng hay xem nhẹ khác biệt mà thôi!

 

          * Hỏi: Gần đây, tôi nghe có người nói một vị cư sĩ tu tŕ đă hơn hai mươi mấy năm, đă đắc Tha Tâm Thông, lại c̣n có thể xuất hồn dạo chơi các nơi. Đột nhiên đổi sang tin theo đạo Cơ Đốc, chẳng biết là v́ chẳng hiểu Phật lư sâu xa, hay là do tu tŕ chẳng đắc pháp? (Hứa Nguy Văn hỏi)

 

          Đáp: Tuy người ấy đă tu hai mươi mấy năm, chắc là thuộc loại tu mù luyện đui, hoàn toàn chẳng có sư thừa. Chắc chắn là chẳng liễu giải giáo nghĩa, mà cũng chẳng có công phu chân thật! Sợ là c̣n hỗn tạp ngoại đạo. Những cái gọi là “xuất hồn dạo chơi, Tha Tâm Thông” v.v… có lẽ là ma cảnh, v́ kẻ ấy chưa đắc Định, làm sao phát khởi thần thông cho được? Xét thấy kẻ ấy trái nghịch Tam Quy, có thể biết là chưa hề trừ khử mảy may phiền năo nào. Do vậy, tôi phán đoán kẻ ấy c̣n chưa đắc Định!

 

          * Hỏi: Khi niệm Phật, trong tâm dường như có vật ǵ bằng bông chặn nghẽn. Khi nhận biết, tâm bèn tán loạn, hăy nên niệm như thế nào? Xin hăy khai thị! (Nhan Quư Nghiệp hỏi)

 

          Đáp: Phương pháp Tŕ Danh Niệm Phật có niệm lớn tiếng, niệm nhỏ tiếng, kim cang tŕ, niệm thầm trong tâm v.v… các thứ khác nhau. Nếu trong tâm bế tắc, hoặc thấy pháp nào đó chẳng thích hợp, hăy nên đổi sang pháp khác!

 

          * Hỏi: Trong kinh Lăng Nghiêm, Văn Thù Bồ Tát đă dùng kệ trả lời đức Phật: “Thử phương chân giáo thể, thanh tịnh tại âm văn, dục thủ Tam-ma-đề, thật dĩ văn trung nhập” (Chân giáo thể phương này, thanh tịnh do nghe tiếng, muốn chứng đắc tam-muội, thật nên dùng pháp Nghe). Khẩn cầu cụ khai thị hai điều: Một là pháp yếu để do cái Nghe mà nhập [tam-muội]; hai là trong khi mới Nghe, thực hiện công phu “nhập lưu chiếu tánh” như thế nào? (Lư Vân Tiêu hỏi)

 

          Đáp: Sáu thức duyên theo bên ngoài, chẳng ngừng trong một sát-na nào. Người trong cơi Diêm Phù Đề có Nhĩ Căn nhạy bén nhất, thức (Nhĩ Thức) cũng vậy. “Văn” () là nghe, tức là Nhĩ Thức khởi tác dụng, chỉ cần điều phục Nhĩ Thức, sẽ có thể đắc tam-muội. Đấy cũng là pháp phương tiện khiến cho [hành giả] hướng vào trong để nghe Tánh, chẳng để cho [cái tâm] duyên theo bên ngoài nữa. “Nghe theo bên trong” tức là thâu nhiếp Nhĩ Căn [do nghe thanh trần bên ngoài] để lắng ḷng nghe âm thanh của tâm tánh. Nói theo Lư, sẽ là như “phản văn, văn tự tánh” (xoay cái Nghe lại để nghe nơi tự tánh). Nói theo Sự, sẽ là “tâm niệm, tâm nghe” trong pháp môn Niệm Phật, đều là những pháp ḥng do cái Nghe mà tiến nhập lẽ trọng yếu vậy! Hai điều ông đă hỏi tuy từ ngữ khác nhau, nhưng ư nghĩa giống nhau. V́ thế, tôi chẳng tách ra để đáp.

 

          * Hỏi: Như đă nói “tu hành chớ nên tạp tu”, nếu hành xong mỗi môn bèn hồi hướng, sau đấy mới tu một pháp môn khác, tu xong bèn hồi hướng, có được hay không? Như buổi sáng, tụng khóa sáng xong bèn hồi hướng, lại nương theo tâm yếu đă nói trong câu hỏi thứ nhất để tu tập pháp Chuẩn Đề Chú, có phải là tạp tu hay không? (Quách Vô Cấu hỏi)

 

          Đáp: Thứ tự trong Phật pháp là “tín, giải, hành, chứng”. Giải thuộc về phương diện nghiên cứu Giáo. Hành là thật tu. Giải môn th́ Tam Tạng mười hai bộ đều là nó. Hành môn tuy nhiều, có thể dùng bốn pháp Thiền, Tịnh, Luật, Mật để nói khái quát. Nhưng bốn pháp ấy, trong mỗi pháp cũng đều có những hạng mục nhỏ hơn, cho nên nói ra sẽ là rất nhiều. Tuy nói như thế, thật ra Giải là nhằm nói rơ Hành, Hành nhằm thực hiện Giải. Chúng nương tựa lẫn nhau để tiến, ḥng có thể chứng đắc. Chỉ có điều, đối với Giải và Hành, đều nên thận trọng cầu minh sư chỉ dạy. Đối với những môn học vấn này, chẳng thể đóng cửa chế xe! Nếu nói theo Hành, ắt là phải đối với bốn pháp (Thiền, Tịnh, Luật, Mật), lượng định căn khí cá nhân để chọn lấy một pháp ḥng tu tập. Đó gọi là Chuyên. Nếu thoắt Thiền, thoắt Tịnh, bỗng Luật, chợt Mật, chân đạp hai thuyền, sẽ gọi là Tạp. Nay tôi thấy trong câu hỏi này, có lắm nỗi hiểu lầm, xin trước hết hăy lập vững mục tiêu, sau đấy mới có thể nói đến chuyện Chuyên hay Tạp được!

 

          * Hỏi: Tôi có một người bạn ở chung, đă ngoài bốn mươi tuổi, tin sâu Phật pháp, đă thọ Tam Quy, Ngũ Giới một năm rồi. Gần đây, lại ăn chay trường. Bà ta rất phát tâm, mỗi dịp Phật đản, bèn đốt hương, thắp đèn cúng dường Phật. Tuy quy y không lâu, nhưng rất có hứng thú niệm kinh, niệm Phật, tŕ chú, dũng mănh, tinh tấn, công khóa sáng tối chưa từng gián đoạn. Khóa sáng tŕ chú Đại Bi bao nhiêu biến không nhất định, kinh Kim Cang, phẩm Phổ Môn, Đại Sám Hối Văn mỗi thứ một bộ, lại tŕ thánh hiệu Quán Âm mười phút. Khóa tối th́ một bộ kinh Di Đà, thánh hiệu A Di Đà Phật, Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, mỗi thánh hiệu đều tŕ năm phút. Hằng ngày, đi, đứng, nằm, ngồi, chẳng ĺa Phật hiệu. Công khóa sáng tối c̣n niệm thêm mười vị Phật. Mỗi lần niệm [danh hiệu] một vị Phật, đều lễ một lạy. Lễ xong, hồi hướng cho hết thảy chúng sanh trong pháp giới nghiệp chướng tiêu trừ, văng sanh Cực Lạc, sớm thành Phật đạo. Sau đấy mới lại hồi hướng cho chính ḿnh, tu hành vô chướng ngại, được tŕ tịnh giới, oán thân sớm được giải thoát. Hễ rảnh rỗi th́ lại luân lưu niệm các kinh Địa Tạng, Dược Sư, Phổ Hiền v.v… Bà ta tu như vậy, phát nguyện như vậy, có đúng hay không? (Trần cư sĩ hỏi)

 

          Đáp: Bà ta tu tập không tránh khỏi quá phức tạp! Nhưng phát nguyện hết sức chánh xác, lại c̣n đem những công đức đă làm hồi hướng cho chúng sanh. Đó là Bồ Đề đại tâm, hết sức tốt lành!

 

          * Hỏi: Chỉ có điều tôi thấy người bạn ấy đă phát nguyện công đức, nhưng chẳng thấy hiệu lực! Ngược lại, bà ta thường bị đứa con gây nên những chuyện thương tâm. Lại thấy bà ta đối trước Phật niệm kinh, khóc lóc, thường oán thán đời trước chẳng tốt, nay bị oán gia vùi dập, cố sớm tu hành cho kịp, mong thoát ĺa nỗi khổ sanh tử. Phát nguyện như vậy, có hợp với lư tưởng hay không? Đến lúc lâm chung, có thể được Phật, Bồ Tát tiếp dẫn sanh về Tây Phương hay không? Hiện thời, người nhà đều phản đối, nói bà ta ngu si, ảo tưởng, đă phát nguyện công đức nhiều như vậy, mà đứa con chẳng sửa đổi thành tốt đẹp hơn, khác nào chẳng có quả báo ǵ cả! Nhưng bà ta vững ḷng, chẳng thay đổi, chẳng bị bên ngoài lay động, chỉ nhẫn nại tu hành. Bất quá, có lúc chẳng nhịn được đứa con, mẹ con lại căi lộn ầm ĩ một phen, khiến cho những người sống chung như chúng tôi chẳng được an tĩnh. Đáng thương bà ta tu hành niệm Phật, nhưng lại hứng chịu nỗi thống khổ này, chẳng có lúc nào được yên vui! Đúng là nghiệp chướng sâu nặng. Chẳng biết niệm kinh ǵ và niệm như thế nào th́ mới có thể tiêu trừ nghiệp chướng ấy? Cầu xin minh sư khai thị, chỉ dạy, khiến cho bà bạn giải trừ phiền năo, thoát ĺa nỗi đau khổ về tinh thần? (Trần cư sĩ hỏi)

 

          Đáp: Niệm Phật hồi hướng chúng sanh chính là cái nhân cực thiện; người nhà và con cái náo động vô lư, chính là ác quả. Tiên sinh nói “do thiện nhân mà ngược ngạo chuốc phải ác quả, chẳng hợp lẽ nhân quả”, đấy chính là hết sức hiểu lầm! Hiện thời, lệnh hữu đang hứng chịu cái quả Oán Tắng Hội (chán ghét mà cứ phải gặp gỡ), chẳng phải là do cái nhân niệm Phật trong hiện thời. Do cái nhân niệm Phật hiện thời, sẽ có lạc quả trong tương lai. Gieo đậu được đậu, trọn chẳng có chuyện gieo đậu mà được dưa! Nếu hỏi về chuyện tiêu trừ tội chướng, không ǵ bằng thánh hiệu Di Đà. Kinh dạy: “Chí tâm niệm một câu A Di Đà Phật, có thể tiêu trọng tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử”. Chỉ có điều, từ kiếp số nhiều như bụi trần đến nay, giả sử các ác nghiệp đă tạo mà có h́nh tướng, hư không khó thể chứa đựng nổi! V́ vậy, tu hành trong thời gian ngắn ngủi, chẳng thể tiêu trừ hết được! Nếu cứ một mực bất thoái, sanh về Tây Phương, ắt sẽ do một việc mà giải quyết hết mọi chuyện, chẳng giống như kẻ chuyên cầu phước báo, chỉ được an vui đôi chút trong một thời gian ngắn ngủi, sau đấy vẫn phải chịu khổ vô cùng trong lục đạo. Hơn nữa, người tu hành lấy khổ làm thầy. Hăy khéo nhờ vào nỗi bức bách ấy để thường khởi ḷng chán ĺa, đấy sẽ là Tăng Thượng Duyên để sanh về Tây Phương! Lại c̣n nên biết: Chịu khổ một phần, sẽ tiêu nghiệp một phần. Chẳng có nỗi khổ nhỏ này, có lẽ sẽ sanh ra đại chướng nạn. Chuyện này biết đâu chính là “báo nặng chuyển thành nhẹ”. Tầm nh́n chớ nên quá hẹp, coi thường sự đại tiện nghi này!

 

          * Hỏi: Hiện thời, học nhân ở nhà, mỗi ngày đều có khóa tụng sáng tối. Chỉ v́ thân thể mắc bệnh khí suyễn, thường hay ho hắng trong lúc tụng niệm, lại c̣n khạc đàm răi mười mấy lần, có phải là phạm tội bất kính đối với Phật hay không? (Diệp Di Dung hỏi)

 

          Đáp: Ho hen, khạc đàm, chớ nên hướng về Phật. Hăy chuẩn bị sẵn một cái bồn, xoay ḿnh khạc đàm vào đó. Tụng xong, ngay lập tức dọn sạch, cốt sao trước Phật luôn thanh khiết, sẽ không bị tội lỗi!         

 

          * Hỏi: Học nhân trong công khóa sáng tối ở nhà, khi chỉ có một người tụng, có lúc dùng đĩa hay băng thâu âm tiếng tụng kinh để niệm giúp. Đối với hai phương thức ấy, công đức do dùng sức người để niệm lớn hơn, hay công đức do dùng đĩa thâu âm niệm sẽ lớn hơn? (Diệp Di Dung hỏi)

         

          Đáp: Tự niệm là nhiếp tự tâm. Nghe tiếng là hướng ra ngoài phan duyên. Tu tập lâu ngày bằng cách tự nhiếp, ắt tâm sẽ đạt tới bất loạn. Hướng ra ngoài để tu tập lâu ngày, ắt tâm khó quy về Định. C̣n như dùng âm thanh làm Phật sự, trợ niệm khi lâm chung, cũng là mượn những duyên khác để nhắc nhở [người sắp mất dấy khởi] tự niệm. Nếu chỉ cậy vào những thứ đó, tức là sẽ không có chính ḿnh vậy!

 

          * Hỏi: Bắt đầu từ năm Dân Quốc 48 (1959), tôi thờ phụng tượng Phật Tam Thánh (được định duyệt bởi báo Bồ Đề Thụ), và trong công khóa sáng tối, ngoài việc thực hiện những mục được quy định trong trang tám sách Kỹ Lộ Chỉ Quy ra, c̣n lễ bái Phật Dược Sư, Địa Tạng Vương Bồ Tát, mỗi vị ba lạy. Tính chung công khóa sáng tối, mỗi khóa lễ ba mươi bốn lạy. Lại c̣n hành pháp Thập Niệm, kế đó là tĩnh tọa hành theo pháp Chỉ Quán hai mươi phút, niệm thánh hiệu Nam-mô A Di Đà Phật năm ngàn câu. Trải qua một năm, từng nhận thấy cảnh giới tốt đẹp mấy lượt, lại c̣n chiếu theo cảnh giới hiện thực để làm một bài kệ bốn câu như sau: “Nhất thiết giai thị giả, duy hữu Di Đà chân, Tây Phương an lạc độ, biến địa thị hoàng kim” (Hết thảy đều là giả, chỉ Di Đà là thật, cơi an lạc Tây Phương, vàng ṛng trải khắp đất) (xin hăy phê b́nh). Do vậy, sau đấy, tôi từng nói với người khác: “Đời này tôi tu thành A La Hán vẫn chưa măn ư, lại c̣n sanh về Tây Phương nhất định là chẳng bị trở ngại”. Từ đó trở đi, đă hơn nửa năm, chẳng có mảy may cảnh giới nào, đấy có phải là v́ phạm tội lỗi ngă mạn đó chăng? (Châu Tinh Nguyên hỏi)

 

          Đáp: Chúng ta là sơ cơ, chẳng hiểu rơ giáo lư, chỉ nên thật thà nương theo [giáo huấn của cổ đức] để tu tập, đừng nên làm xằng, cũng chớ nên hướng về kẻ khác khoe khoang. Nếu đối với người sơ phát tâm [nhằm tiếp độ họ], chẳng ngại quyền xảo tuyên dương, nhưng phải đúng với thực lực. Nếu chưa chứng mà bảo là chứng, ăn nói sai lầm, tức là đại vọng ngữ, quyết chẳng thể được! Nhưng niệm Phật coi trọng cầu nhất tâm, chẳng phải là mong mỏi cảnh giới. Nếu cứ mong cầu hiện cảnh, tâm sẽ phan duyên, chẳng thể nhất tâm được!

 

          * Hỏi: Vào tháng Giêng năm Dân Quốc 50 (1961), tôi tham gia phân đoàn Trung Lịch của Đài Bắc Liên Hữu Niệm Phật Đoàn. Mỗi tháng, ngoài việc tham gia niệm Phật cùng đoàn thể theo quy định, công khóa sáng tối của mỗi người cũng có sửa đổi đôi chút. Khóa sáng th́ ngoài việc hành theo hạng mục sẵn có ra, sau khi niệm ba biến chú Văng Sanh, Di Dà Tán, rồi niệm thánh hiệu ba ngàn câu, Hồi Hướng, Sám Hối, Tam Quy Y, lại niệm thánh hiệu Quán Thế Âm một ngàn câu, tiếp đó, niệm Tâm Kinh, chú Đại Bi, mỗi thứ một biến. Khóa tối th́ ngoài việc chẳng niệm theo pháp Thập Niệm và Tĩnh Tọa ra, những điều khác đều giống như khóa sáng! (Châu Tinh Nguyên hỏi)

 

          Đáp: Công khóa như ông đă ấn định, nói chung vẫn thỏa đáng. Chỉ có điều, pháp môn Tịnh Độ lấy việc chuyên niệm thánh hiệu làm Chánh Hạnh, những điều khác đều là phụ trợ. Từ nay trở đi, chẳng cần phải xen tạp những pháp khác, v́ sợ khách sẽ đoạt chủ. Nếu có thời gian rảnh rỗi, hăy nên tăng thêm tŕ danh.

 

          * Hỏi: Nói “niệm Phật chẳng trở ngại công việc, công việc chẳng trở ngại niệm Phật”, v́ sao tôi làm việc hoặc xem sách sẽ chẳng thể niệm Phật? Nhất định là phải dốc hết tinh thần để thực hiện th́ mới có thể làm việc chẳng sai lầm. Nếu xem sách, ắt lại phải dốc toàn bộ tinh thần chú ư mới có thể biết sách chép về chuyện ǵ. Nếu muốn trong tâm niệm Phật, tay làm việc hoặc xem sách, sẽ chẳng biết thực hiện bằng cách nào? Nếu xem sách [trong tâm thầm niệm], sẽ chẳng đọc được một chữ nào! Chưa thể cùng làm hai thứ được! Xin chỉ dạy làm như thế nào th́ tôi mới có thể niệm Phật chẳng trở ngại công việc, công việc chẳng trở ngại niệm Phật? (Lâm Tú Diễm hỏi)

 

          Đáp: Niệm Phật là một thứ tư lương để dưỡng huệ mạng, ví như thức ăn là một thứ tư lương để dưỡng thân mạng. Chưa hề nghe nói ăn uống gây trở ngại cho công việc, [vậy th́] niệm Phật làm sao có thể trở ngại công việc? Hằng ngày, cần phải ăn ba lượt, niệm Phật sáng tối hai thời, ngoài lúc ăn uống và niệm Phật ra, chắc chắn là sẽ có thời gian để làm việc. Cũng nên biết công việc trong thế tục nhằm dụng tâm mưu tính cho chuyện ăn uống; có thể chuyển đổi ư niệm, hành giả làm việc là để giúp cho niệm Phật. Giữ tấm ḷng như thế, ắt niệm Phật sẽ chẳng trở ngại công việc. Nếu làm việc tay chân, trong tâm thầm niệm Phật, sẽ chẳng bị trở ngại. Đọc sách hoặc làm việc đ̣i hỏi phải suy nghĩ, tính toán, do tâm khó thể vận dụng vào hai việc cùng một lúc được, vẫn giữ tấm ḷng như đă nói trên đây mà thôi!

 

          * Hỏi: Xin thầy khai thị: Khi thầy giảng Lăng Nghiêm vào ngày Mười Ba tháng Mười, đă dạy “miệng niệm, tai nghe”, “tâm (ư) niệm, tinh thần nghe”, [cũng như] nội dung và phương pháp của ba loại niệm Phật. Có phải là niệm Phật mà đích xác có thể giữ sao cho chẳng hôn trầm, chẳng tán loạn (kể cả niệm theo lối Kim Cang tŕ), th́ gọi là “miệng niệm, tai nghe”? Lại có phải là đạt tới cảnh “tịnh niệm tiếp nối” th́ mới đích xác là “tâm (ư) niệm, tinh thần nghe”? Đạt tới “nhiếp trọn sáu căn” th́ cũng chính là dùng một căn nào đó để niệm Phật “vốn là một cái thể tinh thuần, sáng suốt, mà chia thành sáu thứ ḥa hợp” th́ mới đích xác là “tâm niệm, tâm nghe” hay chăng? (Đỗ Bỉnh Tỷ hỏi)

 

          Đáp: Nói “tâm niệm, tinh thần nghe” tức là ông đă nhớ lầm. Thật ra là “thần niệm, thần nghe”. Ba câu gồm mười hai chữ ấy chính là giáo huấn của cổ đại đức, có thứ tự, “thần niệm, thần nghe” là cuối cùng. Cảnh ấy chính là “vô niệm mà niệm”, cao tột nhất. Bọn chúng ta là kẻ sơ cơ, chỉ có thể làm được “miệng niệm, tai nghe” th́ cũng hết sức khá rồi. Nhưng ba thứ ấy chỉ là pháp để hành tŕ ḥng cầu nhất tâm, c̣n chuyện có hôn trầm hoặc tán loạn hay không, chính là thuộc về cảnh giới. Cảnh giới như thế nào, chẳng thể chỉ dựa vào một ḿnh phương pháp được! Vẫn cần phải tùy thuộc công phu như thế nào mà thôi, chẳng liên quan ǵ đến đoạn văn sau đó!

 

          * Hỏi: Niệm Phật cầu nhất tâm, cần phải dùng ba thứ luân chuyển, có người nói: “Đấy là do tâm tưởng, miệng niệm, tai nghe”. Có người nói [ba thứ luân chuyển] là một câu chia thành ba đoạn (Nam-mô do tâm khởi, A Di là khẩu niệm, Đà Phật là tai nghe). Xin hỏi thuyết nào là đúng? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

          Đáp: “Tam luân chuyển” là dùng tâm, miệng, tai ba nơi làm Luân, xoay vần sáu chữ hồng danh giáp ṿng rồi trở lại từ đầu. Có kẻ chia một câu [thánh hiệu] thành ba đoạn, sai lầm quá đỗi! Nam-mô dùng tâm khởi c̣n chưa thể được, A Di dùng miệng, chẳng dùng tâm, sẽ chẳng tương ứng! Đà Phật dùng tai, chẳng dùng miệng và tâm, âm thanh do đâu mà phát ra được? Không có âm thanh th́ nghe cái ǵ đây? Hơn nữa, cắt Phật hiệu thành ba đoạn, có lẽ cũng là quá sức bất kính!

 

          * Hỏi: Hành pháp Ban Châu tam-muội như thế nào? (Ngô Mậu Tùng hỏi)

 

          Đáp: Pháp này cũng là Tŕ Danh Niệm Phật, chỉ là định kỳ chẳng thể nghỉ ngơi mà thôi. Ban Châu dịch là Phật Lập, cũng dịch là Thường Hành Đạo. Ngắn th́ lấy bảy ngày làm hạn; thông thường lấy chín mươi ngày làm kỳ hạn. Luận theo bảy ngày, chắc chắn chẳng phải là như Phật Thất lưu hành trong hiện thời: Mỗi ngày, ấn định [niệm Phật] mấy cây hương. Những lúc khác th́ tán gẫu chuyện nhảm, tạp nhạp không ngớt. Pháp này ắt phải ba nghiệp tương ứng, liên tiếp, không gián đoạn. Pháp này được nói tường tận trong kinh Ban Châu Tam Muội, chẳng phải là hàng sơ học mà có thể hỏi han cặn kẽ được!

 

          * Hỏi: Tâm tạo địa ngục, ắt lâm chung, tướng địa ngục hiện. Tâm tạo Phật quốc, lâm chung, ắt tướng Phật quốc hiện. Người niệm Phật lâm chung được Phật tiếp dẫn. Theo như kinh nói: “Niệm Phật từ một ngày cho tới bảy ngày, nhất tâm bất loạn liền được văng sanh”, nhưng người tu hành hoặc là mấy tháng hay mấy năm, thậm chí mấy chục năm, vẫn chẳng thể đạt đến nhất tâm bất loạn là v́ sao? Có cách nào hay không? (Châu Huệ Đức hỏi)

 

          Đáp: Tu tŕ nhiều năm mà chẳng đắc nhất tâm là do buông lung, giải đăi, chẳng tinh tấn. Tất nhiên là do t́nh cảm thế tục nồng đậm, chẳng có [ư niệm] xuất thế thiết tha. Nhất tâm bất loạn, chính là “tâm tạo Phật quốc”. T́nh cảm thế tục nồng đậm, tức là “tâm tạo địa ngục”. Tạo Phật, hay tạo địa ngục, chẳng ngoài chính ḿnh, chẳng thuận theo giáo huấn trong kinh, lỗi quy về ai? Nếu hỏi cách bổ cứu, vẫn là niệm cho nhiều! Đối với chuyện Đông hay, Tây dở, đúng, sai, chỉ buông xuống, buông xuống ngay lập tức. Dẫu chẳng đắc nhất tâm, cũng phải niệm đạt đến một chữ Thục (, thuần thuộc). Đó gọi là “dẫu ngươi bận rộn như tên bắn, tâm vẫn chẳng ĺa A Di Đà”. Do thói quen, sẽ trở thành tự nhiên, lâm chung được trợ niệm, tâm nguyện văng sanh, liền được văng sanh.

 

          * Hỏi: Bà chủ trong gia đ́nh có khi bận bịu nhiều việc, đối với công khóa sáng tối đă ấn định, trong lúc vội vàng, tất bật, bèn niệm vội vàng cho xong. So với lúc bận bịu, chẳng tụng niệm công khóa đă ấn định, mà vừa niệm Phật, vừa làm việc, lúc niệm, tâm như nước lặng, thân chẳng mệt mỏi. Xin hỏi giữa hai đằng, cách nào sẽ hữu ích? (Bạch Trương Văn Thích hỏi).

 

          Đáp: Ư nghĩa niệm Phật là nhằm cầu Định. Đừng v́ bận bịu mà qua quít cho xong, [nếu làm qua quít], sẽ đắc lực ít ỏi. Có thể trong lúc sáng tối, chọn cách niệm mười hơi. Tuy thời gian chẳng đầy ba phút, nhưng sẽ có ba phút là Định th́ cũng tốt. Ngoài ra, vừa làm việc, vừa trong tâm niệm Phật, nếu tâm đạt tới mức như nước lặng, thân chẳng mệt mỏi, cũng là công phu thượng đẳng, hết sức tốt lành!

 

          * Hỏi: Niệm Phật đă lâu mà chẳng đắc lực, Kim Cang Kinh Giảng Nghĩa cũng chưa đọc xong. Thầy tôi nói: “Học Phật tu tŕ, phải sao cho có tinh thần hân hoan th́ mới được”. Lời danh ngôn chí lư ấy chẳng phải là chuyện dễ dàng! (Lư Liên Giai hỏi)

 

          Đáp: Khổng Tử nói: “Học nhi bất tư tắc vơng, tư nhi bất học tắc đăi” (Chỉ học mà chẳng suy nghĩ, sẽ mê mờ, chẳng đạt được ǵ. Chỉ suy lường chẳng học, sẽ mệt mỏi tinh thần vô ích). Xét theo những lời ông đă hỏi gần đây, phần nhiều là bàn về tánh. Loại vấn đề này, lư tột bậc huyền diệu. Xét thấy lời hỏi của ông chỉ riêng chú trọng phương diện “độc tư” (chỉ suy nghĩ); v́ thế, chẳng tránh khỏi gặp khó khăn. Nếu đọc thấu triệt từ đầu đến đuôi bộ Kim Cang Kinh Giảng Nghĩa, rồi lại đổ sức học, tôi nghĩ là sẽ đổ công sức ít, mà thành tựu gấp bội. Sức giải ngộ đă tăng, sẽ tự đạt được sức mạnh của hạnh Niệm Phật vậy!

         

          * Hỏi: Kẻ mù tu Kim Cang Chiếu Minh tam-muội có thể bù đắp khuyết điểm mù ḷa, chẳng biết cách tu như thế nào? (Chung Vân Xương hỏi)

 

          Đáp: Đấy chính là thần thông, chẳng phải là chuyện thông thường! Thần thông có “báo đắc” (do quả báo mà có) và “tu đắc” (do tu tập mà đạt được). Điều ông đă hỏi thuộc về loại do tu mà đạt được. Để đắc thần thông, cần phải đoạn Hoặc. Pháp này thuộc loại bậc nhất trong Thiên Nhăn Thông. Tại hạ chưa đoạn nổi một món Hoặc nào, chẳng thông một căn nào. Ngay như đối với môn Kim Cang Chiếu Minh tam-muội, chỉ biết cái tên, c̣n cách tu như thế nào, chưa từng gặp thầy! Cớ sao cư sĩ hỏi đạo nơi kẻ mù? Nói thêm một lời, chỉ cầu thành tâm, sẽ được tiêu nghiệp, đừng dấy lên ḷng mong ngóng quá phận! Đời này “pháp yếu, ma mạnh, chánh ít, tà nhiều”, nếu dính vào những chuyện kỳ dị, sợ sẽ chuốc lấy chướng ngại!

 

          * Hỏi: Hai pháp tu Quán và Tŕ Danh b́nh đẳng, nhưng có phải là tác dụng khác nhau hay không? (Vương cư sĩ hỏi)

 

          Đáp: Đă nói là hai pháp, tự nhiên là tác dụng có sai khác. Tuy tác dụng có sai khác, hễ trở về Thể, đều là một. Đó gọi là “quy nguyên vô nhị lộ, phương tiện hữu đa môn” (về nguồn chẳng hai nẻo, phương tiện có nhiều môn). Nói pháp là b́nh đẳng, phần nhiều là nói theo quả địa. [Nói] pháp có dễ hay khó chính là nói đến chỗ học. Đă biết là b́nh đẳng, cũng cần phải hiểu rơ sự khó, dễ. Phép tu Quán và Tŕ Danh mỗi đằng cần có căn khí riêng, [phải thông hiểu căn khí của từng pháp tương ứng], ngơ hầu chẳng sai lệch!

 

          * Hỏi: Người niệm Phật kiêm tu phát tâm (quán tâm) nói là hoàn toàn chẳng khó. Niệm Phật chẳng phải là cầu nhất tâm bất loạn ư? (Một mực chẳng quán tâm th́ sẽ do đâu mà biết nhất tâm bất loạn), nhưng người đời phần nhiều coi trọng tŕ danh, coi nhẹ quán tâm. Nếu là như vậy, chỉ tŕ danh mà chẳng kiêm quán tâm, sẽ chẳng đắc nhất tâm bất loạn đấy chăng? (Vương cư sĩ hỏi)

 

          Đáp: [Ông nói đến chuyện] phát tâm và quán tâm đều là hiểu lầm! Trong lời đáp thứ nhất, tôi đă nói đại lược. Cư sĩ chưa tu tập Tịnh Độ, cho nên chẳng hiểu nội dung của Tịnh pháp. Cách dụng công trong nhà Tịnh có bốn pháp, Tŕ Danh là một trong số ấy. Thật Tướng (quán tâm) là một pháp khác nữa. Ai nấy đều tùy theo căn khí [của chính ḿnh mà] chọn [pháp thích hợp] để tu, chớ nên ham cao chuộng xa! Hơn nữa, chẳng thể đồng thời vận dụng hai pháp ấy. V́ thế, tuy tu Tịnh Độ, mà chẳng biết thật sự tu tập đúng pháp, cũng sẽ chẳng hiểu rơ! Đấy chính là Phật pháp nói sâu bèn là sâu, nói là cạn, sẽ là cạn. C̣n như ông nói “người ta khinh rẻ quán tâm, phần nhiều coi trọng tŕ danh” lại là một điều hiểu lầm nữa! Theo như tôi biết, chẳng giống như vậy! Đă sợ quán tâm, làm sao tŕ danh cho được? Tŕ danh để đắc nhất tâm là pháp được dạy trong kinh A Di Đà. [Nếu bảo] đức Phật nói sai lầm, c̣n ai [đáng tin] để có thể tuân theo nữa đây? Cái tâm chẳng nhất, toàn là do công phu. Điều này phải là do đă tu tập rồi mới biết, chẳng phải là bàn suông, nghĩ suông mà có thể hiểu rành rẽ được! Lại lấy quán tâm để luận, cao th́ cao đấy, cho đến hiện thời, Thiền gia vẫn chọn cách tham thoại đầu, có thể tưởng tượng [pháp quán tâm] khó khăn đến cỡ nào! Đấy chính là lời dạy bảo của Hư Vân đại sư. Nếu ắt cứ buộc kẻ tu Tịnh đều nhất loạt phải quán tâm, sẽ đánh mất diệu dụng “thích hợp khắp ba căn”. Đấy nào có phải là dụng ư của đức Phật khi mở ra pháp này ư?

         

          * Hỏi: Từ nay trở đi, đối với chuyện tu tŕ, tôi tính lấy niệm Phật làm chánh, pháp Thiền làm trợ. Trong quá khứ, buổi sáng tham Thiền, buổi chiều th́ kinh hành hoặc tụng kinh. Nay tôi muốn sửa thành sáng sớm tĩnh tọa, giữa trưa niệm Phật, tối tụng kinh Kim Cang, những lúc khác bèn tùy duyên niệm Phật hiệu trong tâm, hoặc tham Thiền. Chẳng biết có thỏa đáng hay chăng? (Khiết Viên hỏi)

 

          Đáp: Dụng công trong Thiền pháp, xét về đại thể th́ có hai. Cách phổ biến nhất, những người học Phật đều biết, một là quán tâm, gần đây phần nhiều chẳng dùng. Hai là tham thoại đầu, hiện thời phổ biến nhất. Nay nói đến pháp sau, pháp ấy (tham thoại đầu) chú trọng khởi nghi (dấy lên nghi t́nh), giữ chắc câu thoại đầu, tham cứu [câu thoại đầu ấy] để cầu ngộ. Trong mười hai thời, chẳng ĺa câu ấy. Tịnh cũng có nhiều pháp, nay chuộng tŕ danh, cũng là chuyên tâm một chuyện, chẳng xen tạp những thứ khác. Nếu cư sĩ lấy Tịnh Độ làm chủ, Thiền pháp làm trợ, hăy nên chọn cách quán tâm của nhà Thiền. Nếu dùng cách thoại đầu, sợ rằng sẽ nhiễu loạn nhất tâm của Tịnh, đó gọi là “chẳng Thiền, chẳng Tịnh”, hai môn đều chẳng có! Trong công khóa sớm tối, hăy nên biến chuyển đôi chút sao cho phù hợp. Cách dễ nhất là khóa sáng tụng kinh Kim Cang, tụng xong, ngồi niệm Phật, quán tâm. Tối tụng Di Đà. Tụng xong, ắt tĩnh tọa niệm Phật, hoặc kinh hành nhiễu Phật, hoặc tùy duyên tán tŕ đều được!

 

          * Hỏi: Tu Đầu Đà là pháp tu như thế nào? (Trần Quán Nhân hỏi)

 

          Đáp: Đầu Đà (Dhuta) hoàn toàn chẳng phải là pháp môn để tu, khác hẳn! Đấy chính là những điều kiện để kiềm chế bản thân, đặc biệt siêng khổ. Những điều kiện ấy gồm có mười hai điều, đều là những chuyện khắc kỷ đối với phương diện cơm, áo, cư trụ, chẳng phải là chuyện hàng tại gia có thể làm được!

 

          * Hỏi: Niệm diệt chuyển nhập trạng thái giống như trầm trệ, mơ màng, giống như ngủ mà chẳng phải là ngủ. V́ sao phát sanh t́nh h́nh ấy? (Lư Vân Tiêu hỏi)

 

          Đáp: “Niệm diệt” chính là chánh niệm tiêu mất, c̣n gọi là “thất niệm”, chính là một thứ Tùy Phiền Năo. Ngủ là một thứ trong Ngũ Dục. Trầm trệ, mơ màng chính là “hôn trầm”, cũng là một loại Tùy Phiền Năo. Nguyên nhân của những điều trên đây đều là do vô minh tác quái!

 

          * Hỏi: Như thế nào sẽ có thể khiến cho trước khi niệm dấy lên, hoặc sau khi nó đă diệt, sẽ tiến nhập linh minh bất muội, dần dần trở thành cảnh giới “tự như”? (Lư Vân Tiêu hỏi)

 

          Đáp: Vọng niệm dâng trào, sanh diệt trong từng sát-na. Đó gọi là “cấp thủy đả cầu tử, niệm niệm bất đ́nh lưu” (nước xiết, chơi đá bóng, niệm niệm chẳng ngừng lại). Trong ấy, sẽ có cái Vị Khởi (chưa dấy lên) và Diệt Hậu (sau khi đă diệt). Hăy nên biết lũ sơ cơ như bọn ta, nếu có thể tu tŕ đúng pháp, ngay trong lúc niệm tương ứng với pháp, [sẽ biết] đấy là tin tức của linh minh bất muội vậy!

 

          * Hỏi: Đệ tử quy y đă hơn một năm, từng phát tâm chuyên dốc tu hành Tịnh nghiệp, chỉ có điều tập khí khó sửa, qua loa, lười nhác đă thành tánh! Đến nỗi công khóa sáng tối nhiều lần tu tập, nhiều lần phế trừ. Tu tŕ chỉ có mười mấy ngày, nỗi niềm phiền muội, bực bội trong tâm vô duyên cớ nẩy sanh, đến nỗi công khóa hằng ngày đ́nh đốn, thân tâm cũng lập tức thảnh thơi! Bỏ luống mười mấy ngày, lại phát tâm kiền thành tu hành, lại nẩy sanh hiện tượng như thế. Lại có khi c̣n tệ hơn nữa, mỗi khi thân cận vị thầy quy y, hoặc một đồng tu quen biết khác, tất nhiên là tánh t́nh cáu gắt, phiền năo nhanh chóng nẩy sanh, khiến [đôi bên] phải giă biệt trong sự không vui! Cách mấy ngày sau, lại mong thân cận, kết quả lại bày ra t́nh thế y hệt như lần trước. Mỗi lần sau chuyện ấy, đều sanh ḷng hổ thẹn lớn lao, nhưng hễ gặp chuyện, lại chẳng thể khắc chế. Hai thứ ác tánh trên đây tuần hoàn, mỗi năm thử nhiều lượt, đều thấy chẳng sai! Có phải là do ác nghiệp đời trước trói buộc, kiếp này chẳng được giải thoát? (Khi phiền năo dấy lên, từng tự kinh sợ, gạt bỏ muôn duyên, cố giữ vững sáu chữ hồng danh, nhưng vô hiệu). Xin thầy ban cho phương pháp giải cứu! (Trần Nghiệp Thâm hỏi)

 

          Đáp: Đă nói là phát tâm chuyên dốc tu Tịnh nghiệp, tự chuyên công dốc sức nơi lục tự hồng danh, nhiều lượt do ngoại duyên mà luống bỏ, tức là ma chướng. Chuyện này có lẽ là do oán đối nhiều kiếp khiến thành ra như vậy. Lục tự hồng danh, vốn như thuốc A Già Đà, không bệnh nào chẳng chữa lành. Nếu đổi sang tu pháp khác, tức là phá Tịnh vậy! Người thật sự học Phật, hăy nên biết nghĩa lư “khó đoạn mà có thể đoạn”, “khó hành mà có thể hành”. Đă phát nguyện, đừng thay đổi ước nguyện tha thiết lúc ban đầu, ắt phải nhẫn nại thực hiện. Có thể là trước khi tụng niệm công khóa, trước hết, hăy nên chí tâm sám hối, tụng ba lượt bài kệ bốn câu “xưa kia trót tạo các ác nghiệp…” Khi nẩy sanh chướng ngại, lúc sắp thực hiện công khóa, hăy hướng về họ (cừu gia oán đối nhiều đời) hồi hướng. Phàm tụng niệm công khóa xong xuôi, cũng v́ họ mà hồi hướng như vậy. Như thế th́ sẽ có thể giải oán, tiêu chướng!

 

          * Hỏi: Đệ tử chẳng cầu đời này phước, thọ, mạnh khỏe, b́nh yên, lại chẳng có quyến thuộc, nên càng chẳng cầu gia đ́nh của chính ḿnh b́nh an. Chỉ mong Tịnh nghiệp có ngày thành tựu, sớm có ngày văng sanh, chỉ tŕ lục tự hồng danh có được hay không? Có người khuyên tôi phải tụng niệm thánh hiệu Quán Âm, thánh hiệu Địa Tạng, c̣n khuyên tôi phải tŕ tụng kinh Địa Tạng, niệm Tâm Kinh, niệm chú Đại Bi. Lại c̣n bảo tôi sáng tối phải lạy bốn mươi tám lạy. Đệ tử cảm thấy như vậy quá rườm rà. Nếu không làm như thế, có phải là nghiệp chướng chẳng thể tiêu, Tịnh nghiệp chẳng dễ thành hay không? Có chướng ngại văng sanh hay không? (Trần Nghiệp Thâm hỏi)

 

          Đáp: Cổ đức bảo: “Văng sanh hay không, chỉ là do có tín nguyện hay không? Phẩm sen cao hay thấp, hoàn toàn cậy vào tŕ danh nhiều hay ít”. Nếu cầu hiểu giáo, ắt sẽ nên là “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”. Nếu nói đến chuyện hành tŕ, hăy nên chuyên tu, đó gọi là “đơn đao trực nhập, duy tinh, duy nhất” (chỉ mang theo một lưỡi đao tiến thẳng vào, cốt sao tinh ṛng chuyên nhất). Cư sĩ đă tu tŕ danh, hăy nên tuân theo giáo huấn trong kinh Di Đà. Đấy chính là quy củ chánh đáng “y pháp, bất y nhân”, muôn vàn phần chớ nên băn khoăn nhiều lẽ, chính ḿnh chẳng có chủ trương!

         

          * Hỏi: Tôi nghe một vị thầy nọ nói: Các đệ tử Phật môn hiện thời phần nhiều là “hoằng pháp có thừa, tu tŕ chẳng đủ”. Đệ tử cũng cảm thấy gần giống như vậy. V́ thế, chỉ cầu niệm Phật tại nhà, chẳng muốn tham gia Phật Thất, Hoan Nghênh Hội, Liên Nghị Hội, hoặc bất cứ pháp hội kỷ niệm này nọ. Như thế có thẹn với hai chữ “hộ pháp” hay không? Lại nữa, hàng hóa bán dọc đường có nhiều thứ giả mạo, hàng thật giá thật sẽ chẳng cần phải rao mời, người cần sẽ tự biết cách t́m. Thái độ hoằng pháp lợi sanh như vậy có nên hay không? (Trần Nghiệp Thâm hỏi)

 

          Đáp: Lời của vị thầy ấy tuy đă thấu triệt căn bệnh hiện thời, nhưng lời lẽ hăy c̣n khách sáo lắm, tức là câu “hoằng pháp có thừa”! Hai chữ “có thừa” ấy, ai dám đảm đương? Cư sĩ muốn trước hết niệm Phật ở nhà, chẳng hỏi đến chuyện bên ngoài, chẳng thể nói là sai. Ấy là v́ để khuyên người khác, chính ḿnh ắt phải tu trước! Để uốn nắn người khác, trước hết ắt phải uốn nắn chính ḿnh. Kẻ sơ cơ chẳng hiểu rơ giáo tướng, tận lực cầu tu học, chẳng dấy khởi thái độ dễ dăi, sẽ có thể xa ĺa lỗi họa vậy!

 

          * Hỏi: Khi tụng kinh, trong nhà có người đang căi lộn, khi ấy, nên làm như thế nào? Phải ngưng tụng, hay tụng cho xong? (Lâm Chánh Khảo hỏi)

 

          Đáp: Nếu tâm có thể định, bất động, chẳng ngại tụng xong rồi mới nói. Nếu như chẳng thể, đành phải tạm ngừng, đứng lên giải quyết, sau đấy lại tụng khóa khác.

 

          * Hỏi: Văn sanh sống trong đoàn thể, hằng ngày ở cùng trong một đội ngũ với mọi người, chuyện tu hành cảm thấy rất bất tiện. V́ thế, công khóa sáng tối hằng ngày (tụng kinh, niệm Phật) đều lợi dụng lúc tản bộ để hành. Tu tŕ như vậy chẳng biết có công đức hay không? Xin hăy chỉ dạy! (Liêu Thanh Hoa hỏi)

 

          Đáp: Pháp tu trong khi đi, đứng, ngồi, đều chẳng có ǵ là không được! Chỉ có điều là trong tâm phải định. Nếu tâm chẳng định, bất cứ phương thức nào cũng đều là chỉ có h́nh thức suông, tuy là có phước, chẳng có huệ!

 

          * Hỏi: Trong số báo một trăm mười ba, trong phần trả lời câu hỏi của cư sĩ Ngô Minh An có nói: “Như kẻ tu Tịnh tŕ chú Văng Sanh, chính là do bậc cổ đức trong Tịnh Tông đă ấn định, chẳng có ǵ là không được. Nếu xen tạp những pháp khác, ắt sẽ bị ảnh hưởng”. Hiện thời, hội niệm Phật các nơi có khóa bổn cộng tu (nghi thức cộng tu), trong ấy có chú Đại Bi và mười bài tiểu chú; chẳng biết là tụng những chú như vậy có bị ảnh hưởng hay là không? Kính xin khai thị? (Liêu Thanh Hoa hỏi)

 

          Đáp: Những nghi thức khóa tụng như vậy do cổ đức ấn định, bất luận tông nào, phần nhiều đều hành như vậy. Đấy chính là khóa tụng thông dụng trong các tự viện. Ngoài khóa tụng trong chánh điện ra, các tông c̣n có những lúc chuyên tâm dụng công, hoặc những lúc chuyên tu, chẳng thể xen tạp những pháp khác. Cư sĩ Ngô Minh An thuộc hàng tại gia, sợ bận bịu chuyện thế tục, có thể chuyên tŕ Phật hiệu và chú Văng Sanh thường hằng chẳng lui sụt, đă là tột bậc khó có! Trước kia, tôi nói “bị ảnh hưởng” nhằm ngăn ngừa tạp loạn, chẳng có thứ tự, sáng ba, chiều bốn mà thôi! Chớ v́ từ mà hại nghĩa vậy!

 

          * Hỏi: Tôi thường mong đến Phật đường học tu hành, nhưng v́ [luôn luôn có] các việc cần phải làm. Hễ muốn rời nhà, liền có chuyện khác quấy nhiễu, ngăn trở. Đấy là do tôi nghiệp chướng nặng nề, hay là do duyên thế tục bất tận, hay là v́ chẳng có thiện căn? Chỉ có điều tôi đă ăn chay từ lúc mười mấy tuổi rồi, đến nay đă ăn chay ba mươi mấy năm rồi! (Lâm Tú Diễm hỏi)

 

          Đáp: Phụ nữ bị việc nhà trói buộc, tu hành ở nhà sẽ tốt đẹp hơn. Trong nhà, chọn chỗ thanh khiết, treo một bức h́nh Phật, bày một ḷ hương, chẳng cần đánh khánh, gơ mơ, ấn định công khóa niệm Phật, sẽ là chân tu. Thân chẳng làm chuyện giết, trộm, dâm, miệng chẳng nói chuyện thị, phi, hay, dở, giữ tấm ḷng tốt, bỏ ác niệm. Đấy chính là Phật tử thật sự.

 

          * Hỏi: Tôi mới học tĩnh tọa, tập trung tinh thần vào xương sống để ràng buộc cái vọng tâm. Xin hỏi [làm như vậy] có trái nghịch đạo Chỉ Quán hay không? Hậu học chướng sâu, huệ cạn, sợ rớt hầm sụp hố; do vậy, mạo muội thỉnh giáo, ngưỡng vọng từ bi chỉ điểm th́ vạn phần may mắn lắm thay! (Hoàng Thanh Vinh hỏi)

 

          Đáp: Có cách tĩnh tọa theo nhà Phật, mà cũng có cách theo ngoại giáo. Ngoại giáo là như thủy hỏa giao cấu[6], đả thông các mạch Nhâm và Đốc[7], chọn khiếu v.v… danh mục rất nhiều, chẳng thể kể trọn. Đấy đều là những công phu chấp tướng; do vậy, [những kẻ hành theo những công phu ấy] mắc bệnh rất nhiều. Cư sĩ nói “tinh thần tập trung tại xương sống”, lâu ngày e rằng mạch lạc[8] ở những chỗ khác sẽ đến nỗi chẳng thông suốt, sẽ thành bệnh! Nhà Phật có quyển sách tên là Tiểu Chỉ Quán, muốn tĩnh tọa có thể tham khảo sách ấy. Nếu bị hạn chế về thời gian, chẳng thể hành tŕ đúng pháp, chỉ ngồi kết già[9], thầm niệm thánh hiệu Di Đà, hoặc miệng niệm, tai nghe, hoặc tâm niệm, tâm nghe, không chỉ là thân tâm thoải mái, mà c̣n chính là đại đạo Bồ Đề.

 

          * Hỏi: Vào mười ngày trai, đệ tử bèn niệm kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, nhưng chỗ ở là pḥng ốc thuê trên lầu của người ta, chủ lại cho người khác thuê nữa. Căn pḥng đệ tử ở chỉ rộng bằng bốn chiếc chiếu. V́ hoàn cảnh hữu hạn, nên vị trí thờ tượng Tây Phương Tam Thánh ở ngay lối đi chung, trước bàn Phật chừng hai ba mét về phía dưới là cầu thang, chính là lối ra vào chung, chẳng hề thuận tiện. V́ thế, khi đọc kinh chẳng thể niệm trước Phật, mà đọc trong pḥng riêng, tuy biết pḥng ở không thanh khiết, chẳng biết phải như thế nào th́ mới nên? (Trí Sanh hỏi)

 

          Đáp: Phật pháp viên dung, cốt yếu là ḷng thành kính. Thuê nhà để ở, làm sao có thể chỗ nào cũng thuận theo ḷng muốn được! Thờ Phật ở một chỗ, đến chỗ khác để tụng kinh, chỉ cần giữ ḷng thành, hoàn toàn chẳng có ǵ là không được! Người bận bịu, chẳng ở chỗ yên tĩnh, th́ thành thị, thôn làng, nhà trong ngơ hẻm, đi, đứng, ngồi, nằm đều là đạo tràng.

 

          * Hỏi: Mỗi lần tập tĩnh tọa, học nhân dốc hết tinh thần vào hơi thở, liền cảm thấy choáng váng và trong bụng chẳng thoải mái, chưa biết là v́ lẽ ǵ? (Thái Thế Phương hỏi)

 

          Đáp: Tĩnh tọa, sổ tức cũng đều có đường lối riêng. Chẳng hành đúng pháp, sẽ thường sanh bệnh, càng không nên thưa hỏi ngoại đạo, đâm ra chuốc phải sai lầm to lớn! Từ nay trở đi, khi tĩnh tọa, hăy đổi sang cách nhất tâm niệm Phật, thử xem như thế nào!

 

          * Hỏi: Đệ tử Phật cầu pháp mà chẳng gặp, có nên tu tập pháp Thiền Định của ngoại đạo để làm công phu định lực phụ trợ hay không? (Thái Thế Phương hỏi)

 

          Đáp: Ư niệm ấy quá sai lầm! Cư sĩ đă chánh thức quy y Tam Bảo, hăy nên chiếu theo Tam Quy, Ngũ Giới để hành xử. Nói đến Quy Y Pháp chính là cho đến hết thọ mạng, chẳng c̣n quy y điển tịch ngoại đạo nữa. Hễ trái nghịch giới ấy, sẽ đánh mất tư cách đệ tử Tam Bảo. Huống hồ pháp của ngoại đạo đều là ở ngoài tâm, hết sức trái nghịch nẻo giác. Sai chừng hào ly, lầm lạc ngàn dặm! Hễ cư sĩ dấy lên ư niệm ấy, đă đủ để chiêu cảm ma. Nếu chẳng thống thiết sám hối, chắc chắn sẽ bị nhiều chướng ngại. Nay tôi bảo rơ cùng cư sĩ, đối với các câu hỏi thứ hai và thứ tư, nói đến chuyện tĩnh tọa, sổ tức, Thiền Na, quán tưởng v.v… ngay cả câu hỏi về tŕ chú, nếu chẳng gặp minh sư, rất sợ sẽ phí uổng công sức, tu mù luyện đui, đều là chủng tử của lục đạo. Nhưng cũng cần phải xem xét, suy nghĩ thêm về căn khí và cơ duyên của cá nhân, nghe theo lời khuyên của kẻ hèn này, không ǵ bằng chuyên tu niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ, xem ra ổn thỏa hơn! Nếu hữu ư tu pháp này (pháp môn Tịnh Độ), bổn xă sẽ kính biếu các sách về pháp này. Tuy chẳng có thầy đích thân truyền dạy, nhưng thành tín hành tŕ, vạn người tu, vạn người văng sanh!

 

          * Hỏi: Khi tĩnh tọa, an định cái tâm như thế nào? (Lư Trưởng Mậu hỏi)

 

          Đáp: Sổ Tức, Tác Quán, niệm Phật, đều có thể khiến cho vọng niệm chẳng dấy lên, nhưng dùng niệm Phật sẽ là hữu hiệu nhất. Tức là dùng một câu “nam-mô A Di Đà Phật”, trong tâm nghĩ tưởng rơ ràng, miệng niệm rơ ràng, dùng tai nghe rơ ràng, khiến cho ba chỗ (tâm, miệng, tai) tuần hoàn, giáp ṿng bèn trở lại từ đầu, chẳng bỏ lỡ tiếng nào, chẳng bỏ sót chữ nào. Lâu ngày chầy tháng, tự nhiên vọng tâm tiêu mất! Ắt cũng cần phải hành tŕ trong một thời gian kha khá! Đó gọi là công phu. Nếu gấp rút mong cầu, sẽ đâm ra chẳng thể tĩnh nổi!

 

          * Hỏi: Khi nào hành tĩnh tọa là thích hợp nhất? (Lư Trưởng Mậu hỏi)

         

          Đáp: Bọn tại gia chúng ta chẳng tránh khỏi hằng ngày bị chuyện thế tục quấy nhiễu. Thời gian để tĩnh tọa, niệm Phật tốt nhất là vào rạng đông, lúc mọi người chưa thức dậy, ban đêm th́ là khi mọi người đă ngủ. Không ǵ chẳng nhằm chọn lúc yên tĩnh, chẳng bị quấy nhiễu. Nếu chính ḿnh có thể làm chủ ở nơi cư trú, có thể sáng tối bế môn để hành, căn dặn người nhà đừng căi cọ, gây lộn, ắt sẽ chẳng phải đợi người nhà chưa thức dậy, hoặc đă ngủ!

 

          * Hỏi: Nếu sau khi tĩnh tọa, xương gân nhức mỏi, có pháp nào để điều ḥa, uống thuốc, hoặc nghỉ ngơi hay không? (Lư Trưởng Mậu hỏi)

 

          Đáp: Lúc mới tập tĩnh tọa, chẳng tránh khỏi có hiện tượng này, hăy nên đổi chân, hoặc ngưng tĩnh tọa để hoạt động đều được cả! Đối với mọi chuyện, hăy nên tiến dần dần, lâu ngày sẽ trở thành tự nhiên. Chớ nên uống thuốc xằng bậy đến nỗi đổ bệnh!

 

          * Hỏi: Làm thế nào để tiêu trừ nỗi hoảng sợ khi bước vào tĩnh tọa? (Lư Trưởng Mậu hỏi)

 

          Đáp: Bước vào tĩnh tọa th́ có ǵ mà hoảng sợ? Có phải là v́ có xen tạp pháp ngoại đạo? Nếu có những chuyện như quán khiếu, thổ nạp, giáng linh[10] v.v… hăy nên cấp tốc bỏ đi! Học Phật, hăy nên dựa theo các pháp môn trong nhà Phật, chọn lấy một pháp để tu. Cũng có nhiều phương pháp tĩnh tọa, nhưng không có người chỉ điểm, hoặc lầm lạc nghe theo kẻ vô tri, không chỉ là vô ích, mà sợ c̣n chuốc lấy tổn hại! Cư sĩ có tâm hướng về đạo, chẳng bằng chuyên tu Tịnh Độ, thật thà niệm Phật, sẽ thành tựu ổn thỏa!

 

          * Hỏi: Tu Tây Phương Tịnh Độ, nếu cùng tu cả Hiển lẫn Mật có bị trở ngại hay không? (Lâm Chánh Khảo hỏi)

 

          Đáp: Tu hai pháp có tánh chất tương đồng, sẽ có thể kiêm tu. Thật ra, Phật pháp chỉ có Nhất Thừa, v́ căn khí của chúng sanh [khác biệt] mà nói ra nhiều thứ. Đấy là phương tiện. Nói “do tánh chất có thể kiêm” chính là nói theo phương tiện quyền thừa, chứ xét theo Chân Như thực tế, chẳng có ǵ là đồng hay dị! Nếu muốn kiêm tu Hiển và Mật, cũng chỉ có cách nương theo tiêu chuẩn này.

 

          * Hỏi: Trong bức thư của Hám Sơn đại sư gởi cho Đổng Trí Quang trích từ sách Tịnh Tông Pháp Yếu, có đoạn viết: “Nếu học nhân tập khí sâu nặng, công phu giác chiếu nông cạn, hăy nên cậy vào tâm ấn của Phật để ngầm phá, hăy nên trong hai thời khóa sáng tối tụng thêm chú Ngă Vô Vi Tâm là tâm chú do đức Phật đă nói để làm trợ hạnh. Ví như kẻ giặc khó phá, cần phải thỉnh gươm Thượng Phương[11] để giết chết”. Chẳng biết chú ấy có phải là nói đến chú Văng Sanh hay không? Xin hăy chỉ giáo cho th́ may mắn lắm thay! (Hoàng Thanh Vinh hỏi)

 

          Đáp: Phật và tổ sư dạy kẻ khác, đều thuận theo căn cơ mà thí giáo. V́ thế, có kiểu nói “tám vạn bốn ngàn [pháp môn]”. Căn cơ nhiều, tức là bệnh nhiều, pháp cũng phải nhiều! Nếu có thể hiểu rơ giáo tướng, pháp nào cũng đều có thể viên dung, có thể “một nhập vào vạn, vạn có thể quy về một”, sẽ chẳng cần phải nhất định tụng tâm chú Ngă Vô Vi; bởi lẽ, “sống” chẳng bằng “chín”[12]. Nếu có thể thuộc ḷng một chú, chú ấy chính là vạn đức, vạn năng, do thuần thục sẽ dễ cảm ứng, c̣n “sống sít” sẽ khó thể cảm ứng! Vô vi tâm chú không phải là chú Văng Sanh!

 

          * Hỏi: Bất luận là xướng tán, niệm kinh, hay niệm Phật, tôi đều cảm thấy trung khí (tức luồng khí nơi vùng ngực và bụng) chẳng thông thuận, có phải là do không đúng pháp, hay là do ma chướng, nghiệp chướng? (Lương Minh Tượng hỏi)

 

          Đáp: Xướng tán có vận, điệu, phách, nhịp. [Xướng tán] không đúng cách, ắt sẽ bị tắc khí! Cách này ắt cần phải xin người khác dạy bảo, luyện tập lâu ngày. Niệm kinh hoặc niệm Phật, hăy nên niệm khẽ tiếng, hoặc là niệm thầm, ắt trung khí chẳng bị ảnh hưởng. Nhưng khi niệm, nói chung là nên ḥa hoăn, khiến cho [nhịp điệu] không cấp bách, không rề rà, khí điều ḥa, tâm yên tịnh, th́ mới có thể nhập Định được!

 

          * Hỏi: Niệm Phật th́ có thể niệm thầm, nhưng kệ tán hoặc kinh chú có thể niệm thầm ư? (Lương Minh Tượng hỏi)

 

          Đáp: Nếu cùng tụng niệm công khóa với đại chúng, ắt phải đọc kệ tán ra tiếng. Nếu không đọc ra tiếng, ắt sẽ thành khinh mạn, giải đăi! Nếu ở trong nhà, tự ḿnh tụng niệm công khóa, hết thảy đều niệm thầm vẫn chẳng phải là không được!

 

          * Hỏi: Học tṛ phát tâm noi theo điều thiện, sửa lỗi, tính phỏng theo tiên sinh Liễu Phàm, trước hết là đối trước Phật sám hối, tiếp tục hành bao nhiêu thiện sự để giúp cho thiện duyên, có được hay chăng? Tôi có soạn một bài văn có tên là Phật Tiền Sám Hối Thư (thư đối trước Phật sám hối), dâng lên thầy kèm theo thư, xin thầy hăy xem qua. Học tṛ là một gă lỗ măng, trước nay chẳng hề viết văn, trong ấy nhất định có nhiều chỗ chẳng thông suốt, chẳng thỏa đáng, vẫn mong thầy phủ chánh! (La Kiếm Nhân hỏi)

 

          Đáp: Có thể phát tâm sám hối, chính là chánh tri chánh kiến. Chịu làm thiện sự, chính là mong thành thánh, thành hiền. Nhân gian chính là đường lành trong lục đạo, lại c̣n là trung tâm trong Tam Tài, ắt phải lập chí như vậy th́ mới chẳng thẹn làm người. C̣n đối với thư Sám Hối do ông biên soạn, tôi đă gởi lá thư khác để phúc đáp.

 

          * Hỏi: Trong trang thư khác, tôi có đính kèm mật chú. Chúng ta tu tŕ pháp môn Tịnh Độ, ngoài niệm Phật ra, có thể thêm chú vào để tŕ tụng hay không? (Vương Thanh Hán hỏi)

 

          Đáp: Bài chú như ông đă đính kèm có tên là Lục Tự Đại Minh, đấy chính là pháp môn tŕ tụng phổ biến của người Tây Tạng học Phật, đă được lưu hành từ lâu tại Trung Thổ. Người học Phật cần phải có Giải và Hành, Giải có thể chọn nhiều lối, Hành hăy nên chuyên nhất. Chú ấy thuộc về Hành môn, niệm Phật cũng là Hành môn. Tu một môn c̣n khó đạt nhất tâm, tu hai môn càng khó quy nhất! Huống chi lúc lâm chung, đối với lục tự hồng danh, phần nhiều c̣n khó thể nhớ trọn! Nếu thêm vào nhiều pháp, sẽ càng thêm khó khăn. Đấy chẳng phải là pháp nào cao hay thấp, mà thật ra, [chính là v́] coi [thâm nhập] một pháp là quư. Nếu tâm cư sĩ khế hợp chú ấy, hăy nên tŕ tụng thêm ngoài công khóa, nhưng vẫn lấy hồi hướng sanh Tây làm mục đích. Muôn vàn phần đừng noi theo những điều tuyên truyền, cầu hết thảy các sự vui trong thế gian. Nếu không, sợ rằng tâm sẽ khó thể rời đôi ngả!

 

          * Hỏi: Nếu lúc niệm Phật mà chẳng có vọng niệm, nhưng khi không niệm th́ lại có vọng niệm, có được coi là nhất tâm hay không? (Khiết Viên hỏi)

 

          Đáp: Khi niệm chẳng có tạp, vọng, đó là nhất tâm. Không niệm lại khởi vọng niệm, đấy chính là vọng niệm. Chuyện này giống như nhập Định là Thiền, xuất Định chẳng có ǵ là tương tự. Đấy chính là công phu chẳng thể thành phiến, nhưng có thể “hễ vọng dấy lên, bèn nhận biết” th́ cũng được!

 

          * Hỏi: Trong quá khứ, tôi từng được A Xà Lê quán đảnh, truyền trao Mật pháp. Hiện thời tu tŕ pháp tŕ danh niệm Phật, nếu kiêm tŕ mật chú, chẳng biết có phụ trợ cho Tịnh nghiệp hay không? Chẳng biết có trái nghịch giáo huấn “chuyên tu” của cổ đức hay không? (Khiết Viên hỏi)

 

          Đáp: Mật pháp có chủng loại chẳng đồng nhất, cũng giống như Thiền, Tịnh, Giáo, Luật trong Hiển giáo vậy. Nếu chỉ luận định riêng về Tịnh Độ, th́ có các cơi Tịnh Độ của Di Đà, Di Lặc, Dược Sư, Quán Âm khác nhau. Nếu trái nghịch nhau, th́ cả hai đằng đều bị tổn hại. Cư sĩ xưa kia đă thọ tŕ Mật pháp, nếu pháp ấy chẳng mâu thuẫn với Tây Phương Tịnh Độ, [sẽ có thể] kiêm tu, cùng hồi hướng về Tịnh. Nếu trái nghịch, chỉ có cách chọn lấy một pháp để hành!

 

          * Hỏi: Có người nói: “Thiền Tịnh song tu, ví như tay trái vẽ h́nh vuông, tay phải vẽ h́nh tṛn, cả hai đều chẳng thành! Hăy tu theo thứ tự, từ Thiền nhập Tịnh, hoặc từ Tịnh mà hiểu Thiền”. Cách nói ấy có đúng hay không? (Khiết Viên hỏi)

 

          Đáp: Trở về nguồn, chẳng có hai đường, phương tiện có nhiều cửa. Đấy chính là luận định khuôn vàng thước ngọc chẳng thay đổi được! Kẻ tu nhân sơ cơ t́m cửa vào, ắt chọn một môn. Hễ chứng quả, sẽ đều là khôi phục tánh, đều cần phải có trí huệ viên măn. Hễ song tu, ắt hai môn sẽ phá lẫn nhau; tu theo thứ tự, sẽ có thể song dung. Từ Thiền nhập Tịnh, sẽ có thể liễu Phần Đoạn trong đời này. Do Tịnh mà hiểu Thiền, sẽ có thể sanh vào cơi Tịch Quang. Nhưng nhập Tịnh hay hiểu Thiền, mỗi đằng cũng đều có Sự, Lư, hoàn toàn chẳng phải là ai cũng có thể làm được. Hễ sai lầm đôi chút, sẽ lầm lạc cả ngàn dặm!

 

          * Hỏi: Trong bán nguyệt san Từ Quang, có đăng tải bài viết về niệm Phật “tŕ danh và quán tưởng có hiệu quả giúp nhau thành tựu”, trong khi thực hành công khóa sáng tối, đệ tử hễ lạy Phật bèn quán tưởng tượng Tây Phương Tam Thánh, niệm Phật bèn quán tưởng đóa sen trắng, tự ngồi trên ấy để tŕ danh niệm Phật. Trải hơn một tháng, cảm thấy tŕ danh [theo kiểu đó] chẳng xác thực bằng tŕ danh đơn độc, nhưng hô hấp sâu nhẹ, thoải mái hơn! (Tiên Thuần Hiền hỏi)

 

          Đáp: Làm như thế cũng chẳng phải là không được!

 

          * Hỏi: Trước khi thọ giới, mạt học lấy niệm Quán Thế Âm Bồ Tát làm chủ, chờ đến sau khi thọ giới, sẽ lấy tŕ niệm A Di Đà Phật làm chủ, có được hay không? Niệm Phật tam-muội là ǵ? (Lưu Tự Nhậm hỏi)

 

          Đáp: Niệm Quán Âm hay niệm Di Đà, chẳng phân biệt là trước hay sau khi thọ giới, mà phải do chí nguyện như thế nào để định. Nếu cầu các chuyện trong thế gian, đức Quán Âm ban nhiều phương tiện; v́ thế, trong phẩm Phổ Môn đă kể ra nhiều chuyện. Nếu cầu xuất thế chứng quả, liễu thoát sanh tử, kinh Di Đà dạy niệm Phật Di Đà văng sanh. Mọi chuyện ắt đều phải y giáo phụng hành th́ mới là phù hợp pháp. Thoạt đầu, do căn cơ là như thế, hăy nên hiểu như thế. Sau đấy, nếu là sau khi đă hiểu rơ giáo tướng, hiểu lư viên dung, ắt sẽ không ǵ là chẳng thể! Lại nữa, Tam-muội dịch sang tiếng Hán là Chánh Định. “Chánh” là chẳng sai lầm. Định là chẳng loạn. Niệm Phật tam-muội tức là niệm Phật đạt tới nhất tâm bất loạn.

 

          * Hỏi: “Giáo tuân Bát Nhă, hành tại Di Đà”, có phải là Thiền Tịnh song tu hay không? (Lại Đống Lương hỏi)

 

          Đáp: Pháp môn liễu nghĩa, không ǵ chẳng phải là Bát Nhă. Thật nghĩa của các hạnh, không ǵ có thể ĺa Bát Nhă. Bát Nhă chính là cái nguồn để quy về vậy. Đấy chính là cửa ngơ để người hành Chỉ Quán, tham Thiền, niệm Phật vào được nguồn. Nói theo Giáo, Tánh Đức của Thiền và Tịnh là duy nhất. Nói theo Hành, pháp tu Thiền và Tịnh là hai. Hai câu ấy có nghĩa là “cầu hiểu rơ nghĩa lư Bát Nhă, vẫn dùng niệm Phật để cầu văng sanh”. Hành Thật Tướng Niệm Phật trong Tịnh môn hoặc nhà Thiền tuy tham cứu mà vẫn kiêm cầu văng sanh th́ mới là Thiền Tịnh song tu.

 

          * Hỏi: Tệ nhân mỗi khi tụng niệm công khóa và xem kinh Phật, thần thức cảm thấy hết sức buồn ngủ, là v́ cớ ǵ? (Hoàng Vĩnh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Chuyện này gọi là “hôn trầm”, là một thứ Phiền Năo Chướng, cần phải siêng năng sám hối.

 

          * Hỏi: Nếu chẳng tŕ trai, nhưng hằng ngày tụng khóa tối, có phải là công đức cực ít hay không? Tụng công khóa mỗi đêm th́ phải súc miệng đúng không? (Hoàng Vĩnh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Tŕ trai sẽ có công đức tŕ trai, khóa tụng có công đức của khóa tụng. Tŕ trai tịnh hay bất tịnh, công đức sẽ khác nhau. Khóa tụng thành kính hay không, công đức cũng khác nhau! Chỉ tŕ trai th́ là một loại công đức, khóa tụng kiêm tŕ trai chính là hai thứ công đức. Một là ít, hai th́ nhiều! Khóa tụng thành kính, tŕ trai thanh tịnh, sẽ là công đức bậc thượng. Thành kính nhưng chẳng tịnh, hoặc tịnh chẳng thành kính, sẽ là công đức bậc trung. Cả hai đằng đều chẳng thành kính, chẳng thanh tịnh, công đức sẽ là bậc hạ. Đánh răng để giữ cho miệng thanh tịnh, chẳng cần biết là khóa tụng sáng hay tối, nếu dùng tâm tịnh để niệm khóa tụng, công đức cũng là cả hai đằng đều trọng.

 

          * Hỏi: Trong khóa tụng niệm Phật hiệu, chỉ mở mắt ba phần, là có ư nghĩa ǵ? (Hoàng Vĩnh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Mắt không thấy Sắc, tâm có thể tịnh. Mắt mở ba phần, chẳng nh́n xa hơn nửa thước để chẳng rong ruổi bên ngoài, sẽ dễ đắc tam-muội.

 

          * Hỏi: Cầu tĩnh như thế nào? Hạ thủ công phu từ bước đầu như thế nào? Xin hăy nói rơ tường tận. Nếu có sách vở về cách tu tĩnh, xin hăy tặng cho, có được hay không? (Hoằng Tông Sư hỏi)

 

          Đáp: Đại nghĩa trong Phật pháp chính là Giới, Định, Huệ. Ba điều ấy cũng có thứ tự, trước hết cần phải tŕ Giới. Từ Giới sanh Định, từ Định sanh Huệ. Hễ Huệ đă sanh, sẽ có công năng to lớn. Cầu tĩnh cũng thế. Tĩnh là công năng sau khi đă có Giới. Nếu có thể răn dè lục căn chẳng để nhiễm sáu trần, lâu ngày, tự nhiên là tâm sẽ tĩnh. Tĩnh lại là điều kiện trước hết ắt phải có của Định. Đă tĩnh lại càng tĩnh hơn, tự nhiên sẽ đắc Định. Chỉ chuộng nhiễm, và chẳng tĩnh, sẽ đều sanh ra vọng tâm. Ắt cần phải chế ngự cái vọng tâm ấy, khiến cho nó chẳng dấy lên. Đă dấy lên, hăy giữ cho nó (vọng tâm ấy) chẳng tiếp tục th́ sẽ có thể tĩnh; nhưng để chế ngự vọng tâm, cũng ắt phải có pháp. Pháp thuận tiện nhất mà lại có công đức, không ǵ bằng niệm Phật.

 

* Hỏi: Sáu căn chẳng tịnh, thoạt đầu nên tu như thế nào? (Thái Lân Định hỏi)

 

Đáp: Cư sĩ hỏi câu này, chắc là chưa hiểu nghĩa “căn tịnh”! Nay trước hết tôi nói đại lược. Lục căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư. “Tịnh” là chẳng nhiễm sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Nếu cư sĩ cầu lục căn tịnh, có thể học chẳng chấp trước tướng của lục trần, há kẻ sơ học có thể làm chuyện này ư? Nếu chịu chân tâm học Phật, trước hết hăy tu Thập Thiện, lâu ngày thuần thục, căn cũng có thể tịnh. Nói Thập Thiện chính là thân chẳng giết, trộm, tà dâm, miệng chẳng nói dối, ác khẩu, nói đôi chiều, nói thêu dệt, ư chẳng khởi xan tham, sân khuể, ngu si… Xin hăy thử làm xem như thế nào?

 

* Hỏi: Trước khi niệm Phật, có nên quán tưởng Giả Đế để cầu khẩn thiết hay không? (Vương Tâm Phổ hỏi)

 

Đáp: Trước hết tác Quán để cầu Định cũng chẳng phải là không được. Nhưng điều được quán là ǵ, ắt phải là chẳng trái nghịch giáo tướng, v́ Quán cũng đóng vai tṛ trọng yếu, chẳng thể không cẩn thận!

 

* Hỏi: Trong sách Tịnh Độ Tam Yếu Thuật Nghĩa có nói: “Muốn cầu nhất tâm bất loạn th́ phải bế quan một trăm hai mươi ngày”. Phụ nữ nghiệp chướng sâu nặng, phải lo liệu mọi sự vụ trong gia đ́nh, chẳng thể thực hành [bế quan] th́ phải làm như thế nào? (Lâm Khoan Tu hỏi)

 

          Đáp: Kẻ tại gia b́nh phàm chẳng thể làm chuyện ấy được! Dẫu là người xuất gia, nếu chẳng có lương thực và có người hộ quan trông nom, cũng chẳng dễ ǵ thực hiện được. Pháp có pháp duyên, người th́ có duyên nơi người, chẳng thể miễn cưỡng! Nhưng trong công khóa sáng tối thành kính, khi làm việc mà chẳng cần phải suy nghĩ, trong tâm bèn niệm Phật chẳng ngừng, huân tập lâu ngày, khiến cho chỗ sống sít biến thành chín muồi, chỗ chín muồi biến thành sống sít, [chỉ cần] dốc sức đôi chút, sẽ thành nhất tâm. Mười niệm văng sanh chính là dốc sức một chút vậy.

 

          * Hỏi: Người tu pháp môn Tịnh Độ, mỗi dịp gặp pháp hội của các vị Phật, Bồ Tát khác, sau khi đă đọc tụng các kinh điển khác, [trong ngày hôm ấy] đối với công khóa tu Tịnh, có nhất định phải tụng niệm nữa hay không? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

          Đáp: Phật Phật đạo đồng, pháp pháp lư đồng. Đấy là xét theo Lư, [nói theo] Sự th́ có sai khác. “Đồng” nghĩa là một đạo trở về nguồn, đó là [nói theo] quả. “Khác” là có nhiều thứ phương tiện, đấy là [nói theo] nhân. Nhân ắt có chỗ chuyên chú th́ thoạt đầu là tán loạn rồi sẽ thống nhất. Hễ là một, sẽ là diệu môn để đạt đạo. Nếu là hai, ắt sẽ là từ đường rẽ sanh thêm ngơ rẽ. Trong Tông Môn có phương tiện “niệm Phật bèn súc miệng”; đối với Tịnh môn, há chọn cách tu xen tạp để thay thế tư lương ư? Khi gặp các pháp hội tụng tŕ khác, chỉ coi như là ngẫu nhiên dùng thức ăn vặt, c̣n chánh nghiệp của bổn môn chính là những bữa cơm chính thường ngày!

 

          * Hỏi: Khi đệ tử niệm Phật, thường dễ sanh vọng niệm. Do chính ḿnh muốn tăng cường sức chú ư, bèn nhắm mắt, lắng đọng ư tưởng. Khi ấy, đối với sự thấy, nghe ngoại cảnh, có thể khống chế đôi chút, nhưng lâu sau bèn nhận thấy quá căng thẳng, thân thể chẳng thoải mái! Có thể dùng cách ấy hoặc là có phương pháp nào khác khiến cho vọng niệm chẳng dễ phát sanh? (Tiên Thuần Hiền hỏi)

 

          Đáp: Cuồng tâm nhiều kiếp giống như vượn hoang, [mong] lập tức hàng phục, há có thể làm được ư? Nếu cưỡng ép ức chế nó, có thể sanh ra bệnh khác. Hăy nên biết: Chánh và vọng là hai niệm, tịnh và nhiễm là hai đường. Tâm như người đi đường, cần phải noi theo đường lối. Vọng niệm dẫu nhiều, chẳng quan tâm đến nó, hăy dấy khởi chánh niệm, như vào chỗ hiểm trở phải chụp nắm dây thừng, [đó là chỗ] muôn vách dốc, ngàn khe, trong ḷng chẳng lơ đăng chút nào, tâm luôn chăm chú nắm chặt dây thừng, sẽ chẳng bị rơi xuống!

 

          * Hỏi: Phật là đấng Thiên Nhân Sư, lễ Phật nên dùng cách ngũ thể đầu địa (năm vóc gieo sát đất). Lễ tổ tiên nên dùng cách lễ nào cho hợp lư, thích đáng? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

          Đáp: Lễ tổ th́ dùng cách lễ của nước ḿnh là được rồi. Nếu tổ tiên khi c̣n sống đă từng học Phật, thọ giới, cũng chẳng ngại chọn dùng cách lễ trong nhà Phật. Thử xem cách người học Phật trong hiện thời lạy tỳ-kheo chính là cách lễ “tiếp túc” (lễ quỳ mọp xuống, ngửa ḷng bàn tay lên, dường như dùng hai bàn tay lót dưới chân Phật). Chuyện này vốn chẳng có vấn đề ǵ, nhưng tại gia cư sĩ lạy nhau, cũng dùng cách lễ ấy, cho nên đối với tổ tiên chọn dùng cách lễ ấy, có lẽ cũng chẳng phải là không được!

 

          * Hỏi: “Làm lành hoằng pháp” là chuyện nên làm của Phật giáo đồ, người tu pháp Đại Thừa ắt cần phải “tam luân thể không”, nhưng đệ tử nếu gặp lúc “làm lành hoằng pháp”, sẽ tự cảm thấy trong tâm hết sức vui sướng, nhưng chẳng mong cầu quả báo. Như thế có phải là chấp tướng hay chăng? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

          Đáp: Chuyện này tuy là chấp tướng, mà cũng là pháp hỷ, tŕnh độ công phu sẽ tiến dần dần. Trong Tứ Vô Lượng Tâm có chữ Hỷ, từ nay về sau, nếu có thể chuyển từ “tự hỷ” (chính ḿnh vui sướng khi có dịp làm lành) thành “hỷ tha” (vui sướng khi người khác làm lành), sẽ lại tiến bộ hơn! Biết là chấp tướng, đấy là do tập khí sai khiến, sẽ chẳng khó đạt tới “niệm mà vô niệm, làm mà không làm”!

 

          * Hỏi: Từng nghe lăo ân sư nói: “Thường ngày chính ḿnh niệm Phật là nhân, khi lâm chung chính ḿnh có thể niệm là duyên, người trợ niệm cũng là duyên. Văng sanh Tây Phương là quả”. Giả sử, người nằm trên giường bệnh đă lâu ngày, có khi ngay cả sự niệm Phật của chính ḿnh cũng quên bẵng, lúc lâm chung, chỉ có trợ niệm khiến cho Phật hiệu chẳng dứt, niệm cho tới khi người ấy mạng chung. Như thế th́ có thể tương ứng với Phật, đạt được cái quả “được Phật tiếp dẫn văng sanh” hay không? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

          Đáp: Trợ niệm là giúp cho người bệnh niệm Phật. Người bệnh tuy miệng chẳng thể niệm được, nhưng tâm có thể niệm th́ vẫn được giao cảm. Đấy vẫn là nhân, duyên, quả. Nếu người bệnh chẳng có cái tâm ấy, chỉ có trợ niệm, bất quá là tiêu mấy phần tội chướng, sợ là chẳng thể được Phật đến tiếp dẫn!

 

          * Hỏi: Niệm Phật cần phải cầu nhất tâm bất loạn th́ mới có thể “phản vọng quy chân”. Đệ tử thường là khi bắt đầu niệm Phật, thoạt đầu cảm thấy hết sức tán loạn, niệm được chốc lát, bỗng dưng giống như cảnh giới thay đổi, cảm thấy thân tâm hết sức nhẹ nhơm, thong dong. Như thế có phải là hơi thấy được bản tánh đấy chăng? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

          Đáp: Đấy là vọng tưởng dần dần trong lặng, tất nhiên là hiện tượng khinh an tốt lành. Nếu bảo là “kiến tánh” th́ thật ra hăy c̣n xa lắm!

 

          * Hỏi: Khi tụng khóa tối, thường cảm thấy hôn trầm, buồn ngủ, có thể là ngủ trước [khi tụng khóa tối] một chốc, hay là thừa dịp ấy mà rèn giũa tập khí? (Vương Chí Hiền hỏi)

 

          Đáp: Hai căn bệnh hôn trầm và điệu cử, hầu như ai cũng đều có! Nếu sắp tụng công khóa, trước đó, ngủ trong chốc lát cũng chẳng phải là không được! Nhưng ngủ dậy, tụng niệm công khóa mà có thể thanh tỉnh, an tĩnh, sẽ chẳng trở ngại. Nếu sau khi đă ngủ, tụng niệm công khóa vẫn bị hôn trầm, ắt là có ngủ trước vẫn vô ích! Chẳng bằng đứng lên lạy Phật, hoặc dùng khăn lạnh lau mặt, hoặc hai tay chà sát lỗ tai, hoặc quỳ thẳng phúng tụng, đều có thể trừ khử hôn trầm.

 

          * Hỏi: Gần đây, khi tôi niệm Phật, thường cảm thấy có vật nhẹ như bông vải phủ trên đầu, nguyên nhân là như thế nào? (Vương Chí Hiền hỏi)

 

          Đáp: Điều này cũng chẳng phải là tốt đẹp. Đấy chính là hiện tượng cho thấy tâm tư hôn trầm, mê muội, hoặc là do thân thể chẳng khỏe, hoặc là do thần kinh nơi năo có chướng ngại! Hăy nên trong khi lên khóa tụng, chọn phương pháp đi nhiễu cho nhiều, giảm bớt thời gian ngồi xếp bằng. Lại c̣n đến bệnh viện khám xem có bệnh trạng phát sanh hay không, chớ nên chỉ đổ lỗi cho chuyện ngồi tụng!

 

          * Hỏi: Hiện thời, tôi nghe kinh Lăng Nghiêm, mới biết công phu thật sự trong Phật pháp, toàn là phải tự tham, tự ngộ, dẫu cho chí thân như cha con, thầy tṛ, đều chẳng thể thay thế cho nhau, cũng chẳng phải là như nghề khéo trong pháp thế gian mà ḥng truyền dạy được! Tu hành trong thế giới Sa Bà này, tiến tiến, lùi lùi, thời gian chẳng đợi ai, lầm lạc quá nửa cuộc đời, khi nào sẽ có thể liễu sanh thoát tử? (Châu Huệ Đức hỏi)

 

          Đáp: Đối với chuyện này, ắt phải tinh tấn, hoàn toàn chẳng có cách nào khác! Cổ nhân nói: “Ông tu ông đắc, bà tu bà đắc, chẳng tu chẳng đắc”. Lại nói: “Người nào ăn cơm kẻ ấy no, đại sự sanh tử mỗi người tự liễu”. Lời lẽ tuy thông tục, nhưng ư nghĩa thấu triệt xuyên suốt!

 

          * Hỏi: Khi thầm niệm Phật hiệu, tôi dùng chuyện quan sát lục tự Phật hiệu để định cái tâm. Tôi thường dùng cách quan sát Phật hiệu, lại c̣n thầm niệm Phật hiệu, [cho đến khi] niệm nào cũng chỉ biết có ḿnh Phật, bèn thôi quan sát, một mực niệm Phật, nhưng có lúc vọng niệm lại dấy lên, bèn vội vă dùng cách quan sát, vẫn tiếp tục niệm. Cách này có nẩy sanh chướng ngại hay không? (Tạ Ấu hỏi)

 

          Đáp: Quan sát Phật hiệu cũng là phương pháp để thâu hồi cái tâm, vận dụng lấy bỏ vào tŕ danh hết sức hợp lư. Điều mong cầu chỉ là nhất tâm, cách được sử dụng là quán và niệm dường như khác nhau đôi chút, nhưng trọng điểm đều là lục tự hồng danh, vẫn là “các pháp quy nhất”. Hành như thế, chắc chắn chẳng có chướng ngại!

 

          * Hỏi: Tu Bát Nhă cùng với tŕ danh th́ cách tu là như thế nào? (Lại Đống Lương hỏi)

 

          Đáp: Pháp môn trong nhà Phật đều là Bát Nhă! Bởi lẽ, hễ thuộc về Phật pháp, không ǵ chẳng nhằm cầu giác. Giác là Thức dần dần chuyển thành Trí. Trí huệ chính là Bát Nhă vậy! Hơn nữa, bất cứ pháp môn nào cũng đều coi trọng hành và giải tương ứng, người tu Tịnh Độ há có ngoại lệ ư? Giải là nương theo Bát Nhă, ngộ sâu xa Thật Tướng; Hành là coi trọng Di Đà, tịnh niệm tiếp nối. Đấy là phương pháp để tu gộp chung hai đằng vậy!

 

          * Hỏi: Tŕ hai công khóa sáng tối, có phải chiếu theo thời gian nhất định hay không? Nếu nhằm lúc khóa sáng mà sự việc bận bịu trễ tràng đến tận trưa, có thể tụng bù khóa sáng hay không? Nếu nhằm lúc khóa tối, do bận bịu tới giờ Tư ban đêm, có thể tụng bù khóa tối hay không? Xin thầy giải trừ nỗi nghi này! (Thái Lân Định hỏi)

 

          Đáp: Ngẫu nhiên làm th́ vẫn c̣n được, chứ thường xuyên như thế, dường như là thiếu thành kính. Vả nữa, người tu đạo cuộc sống chú trọng có kỷ luật. Vô kỷ luật sẽ khiến cho cái tâm chẳng định, mà đạo cũng khó đi vào nề nếp được!

 

          * Hỏi: Trong nhà thờ Phật Dược Sư, Quán Thế Âm, Địa Tạng Bồ Tát, mỗi ngày đối với công khóa sáng tối, tôi dùng máy thâu âm để phát ra khóa tụng, v́ tôi chẳng biết niệm kinh, dùng máy thâu âm có được hay không? (Vương Quách Vận Đoan hỏi)

 

          Đáp: Đối với hai công khóa sáng tối, mở máy thâu âm để phát ra hai khóa tụng, cung kính lắng nghe th́ cũng có công đức, hoàn toàn chẳng có ǵ không nên! Nhưng chính ḿnh chẳng biết tụng kinh, có thể học niệm thánh hiệu Di Đà, cầu sanh Tây Phương, mong có chỗ quy túc th́ mới là người có trí.

 

          * Hỏi: Mỗi sáng tối đều mở máy thâu âm niệm kinh, chính ḿnh cũng niệm Phật hiệu mười câu, có được hay không? Kính xin dạy bảo, tôi ăn chay buổi sáng đă mười mấy năm, lại mỗi dịp gặp ngày thánh đản của Phật, Bồ Tát đều ăn chay. Bất quá vẫn chưa quy y! (Vương Quách Vận Đoan hỏi)

 

          Đáp: Sáng tối niệm Phật mười câu, cố nhiên là đă gieo thiện căn, sao không tăng lên tới một trăm lẻ tám câu? Thời gian chỉ bất quá ba bốn phút, công đức càng to hơn. Nhưng khi niệm Phật, chớ nên xen tạp với máy thâu âm, hoặc là niệm trước đó, hoặc là sau đó, đều chẳng có ǵ là không được. Nếu đồng thời vừa mở máy thâu âm vừa niệm Phật, tâm bị phân tán, công đức sẽ nhỏ nhoi. Ăn chay vào ngày thánh đản của Phật, Bồ Tát rất tốt! Nếu có thể mỗi tháng ăn chay sáu ngày, càng tốt hơn. Nếu chẳng thể, có thể ăn chay vào hai ngày mồng Một và Rằm, ắt phước huệ sẽ dần dần tăng thêm.

 

          * Hỏi: Hiện thời người ta tu tŕ pháp môn nào nhiều nhất? (Nghiêm Minh hỏi)

 

          Đáp: Nay đang thời Mạt Pháp, có thể thích hợp khắp ba căn, thâu nhiếp toàn bộ lợi căn và độn căn, chắc chắn chỉ có riêng ḿnh pháp môn Tịnh Độ, nhưng người xuất gia trong khóa tụng mỗi ngày, phần nhiều niệm thêm thánh hiệu Di Đà. Kẻ tại gia do bận bịu việc thế tục, Tịnh Tông đă đơn giản mà lại dễ hành, cho nên có đến bảy tám phần trong mười phần hành tŕ pháp môn này. Theo như sự xem xét tăm tối của tôi đối với xu thế hiện thời, có lẽ tu Tịnh là đông nhất!

 

          * Hỏi: Trong tu tŕ có các thứ chướng dấy lên, hăy nên thực hiện các pháp hàng phục, tức tai v.v… nào? (Nghiêm Minh hỏi)

 

          Đáp: Chánh hạnh là một câu thánh hiệu Di Đà, có thể tiêu trọng tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử. Trợ hạnh th́ là kiêng giết, phóng sanh, sẽ có thể đạt được khí tường ḥa trong trời đất. Chánh hạnh nhằm vun bồi thiện căn, tiêu trọng tội. Trợ hạnh nhằm vun bồi phước đức, đạt được tường ḥa. Muốn trừ chướng ngại, có thể nói hai pháp ấy là vô thượng!

 

          * Hỏi: Nửa đêm chợt tỉnh giấc, bèn gấp gáp niệm Phật, chưa rửa mặt, súc miệng, vẫn c̣n mặc áo ngủ, có phạm lỗi hay không? (Vương Chí Hiền hỏi)

 

          Đáp: Tỉnh giấc liền niệm, tốt lắm. Nếu đợi rửa mặt, súc miệng, sẽ có thể khiến cho giác niệm ngay trong lúc ấy bị phân tán, mất đi. Nếu sợ bất kính, niệm thầm cũng được. Nếu có chuyện cấp bách, niệm lớn tiếng cũng chẳng trở ngại ǵ!

 

          * Hỏi: Khóa tụng sáng tối, vốn định niệm thánh hiệu Phật và kinh Di Đà. Gần đây, do đọc Quán Âm Linh Cảm Lục, bèn phát nguyện bái sám, sửa công khóa sáng tối thành niệm thánh hiệu Quán Âm, chú Đại Bi và Tâm Kinh, ngoài ra, đi, đứng, nằm, ngồi, vẫn niệm thánh hiệu Phật và thánh hiệu Quán Âm có được hay không? Khi tụng công khóa, chỉ có kính dâng trà [cúng Phật], có thiếu thành kính hay không? Có lúc phải làm tăng ca đến gần sáng, chẳng thể tụng niệm công khóa, cảm thấy nghiệp chướng sâu nặng, tự trái nguyện hạnh, chẳng thể như nguyện. Gặp t́nh h́nh ấy, dùng chuyện đi hoặc ngồi tŕ niệm thay cho tụng niệm công khóa, chưa thể chuyên yên tĩnh hành tŕ công khóa, có được hay không? (Thái Lân Định hỏi)

 

          Đáp: Đạo cốt giữ chuyên nhất. Bỗng dưng sửa đổi, nay sửa, mai sửa, đổi tới đổi lui, sợ [tu kiểu nào cũng] đều chẳng thành! Chỉ là cầu đạo có thể chuyên nhất, chuyên tinh, sẽ là pháp cúng dường. Đối với những vật khác, hăy lượng sức, lượng thời, [cúng dường bằng vật chất] đều là thứ yếu!

 

          * Hỏi: Văn học phát nguyện dành kỳ hạn mười năm để đọc toàn bộ Đại Tạng Kinh, sau đấy mới quy tâm hành tŕ, có hợp lư hay chăng? Kính xin chỉ dạy! (Bảo Tâm hỏi)

 

          Đáp: Phát tâm dành mười năm để duyệt Tạng, tất nhiên là chuyện tốt đẹp, nhưng nói “sau đấy mới hành tŕ”. Hai chữ “sau đấy” chẳng khỏi thiếu thỏa đáng đôi chút! Đạo học vấn là ở chỗ “tri hành hợp nhất”. Nghe rồi chẳng hành, th́ dẫu có nghe cũng chẳng thể hiểu sâu. Nếu tất nhiên là để sau đấy mới hành tŕ, ai dám bảo đảm trong kỳ hạn mười năm [sẽ đọc hiểu toàn bộ Đại Tạng Kinh]? Há chẳng phải là luống uổng cuộc đời này? Huống chi, cổ nhân đă huấn dụ: “Thiên nhật văn giáo, bất như nhất nhật tu đạo” (Nghe giáo ngàn ngày, chẳng bằng tu đạo một bữa), ắt là “hễ biết liền hành” th́ mới chẳng phí uổng thời gian vậy!

 

          * Hỏi: Công phu học Phật nên là thâm nhập một môn, nhưng lại có thuyết “Thiền Tịnh song tu”, lư ấy là như thế nào? (Ngô Nhậm Huy hỏi)

 

          Đáp: Thiền và Tịnh là hai pháp môn lớn, há có thể nói vài câu trọn hết được ư? Người thật sự biết Thiền mới biết Tịnh, người thật sự biết Tịnh cũng hiểu rơ Thiền. Thiền chú trọng đoạn Hoặc, vượt thoát tam giới theo chiều dọc. Tịnh có thể thể chế phục Hoặc, thoát khỏi tam giới theo chiều ngang. Một đằng tốn sức, một đằng ít tốn công. Tu Thiền kèm theo Tịnh, ổn thỏa, thích đáng, có tác dụng bổ trợ. Tu Tịnh mà kèm thêm Thiền, sợ rằng cả hai đằng chẳng ra ǵ! Hai loại ấy, về Lư th́ duy nhất, nhưng xét theo pháp tắc, mỗi đằng đều có phương tiện riêng!

 

          * Hỏi: Trong khi tĩnh tọa sáng tối, có thể ngẫu nhiên thêm vào một ít sức để nhíu hậu môn. Nhíu hậu môn có công hiệu đối trị chứng ngứa ngáy, hay là có tác dụng trái ngược? (Ngô Nhậm Huy hỏi)

 

          Đáp: Tĩnh tọa cốt ư nơi tĩnh lự. Nếu xen tạp những thứ khác, sẽ trái nghịch ư nghĩa, có sanh ra căn bệnh nào khác hay không, đều là không nhất định. Nhưng cách tĩnh tọa như ông nói là do ai chỉ điểm? Có kinh bổn nào [để làm căn cứ] hay không? Chớ nên không thận trọng! Nếu đóng cửa tạo xe, hoặc tiếp nhận cái học lệch lạc của ngoại đạo, phát sanh những điều tệ sẽ là chuyện thường có.

 

          * Hỏi: Tôi đă có công phu tu tập tĩnh tọa gần tám năm, đối với những sự biến hóa về mặt sinh lư đă phát sanh đều nhất nhất tiêu trừ, chỉ có điều hậu môn thường bị ngứa ngáy đă năm năm, chưa thấy tiêu trừ. Đă đi khám nghiệm chuyên khoa, nhưng họ chẳng t́m thấy bệnh tật ǵ, có thể đó là v́ “túc nghiệp chưa hết”, chẳng biết có phương tiện đối trị hay không? Đạt đến mức độ nào th́ mới có thể tiêu trừ? Hơn nữa, khi bị ngứa ngáy, có thể dùng thuốc ngoại khoa để khỏi ngứa hay không? (Ngô Nhậm Huy hỏi)

 

          Đáp: Căn bệnh ấy có phải v́ tĩnh tọa mà bị hay không, hay là vị bị tổn thương bởi khí lục dâm[13], vẫn khó thể đoán định được. Nhưng dùng cách trị liệu ngoại khoa có lẽ chẳng có ǵ là không được!

 

          * Hỏi: Ở trên xe lửa và trong công xưởng, niệm Phật ra tiếng (chỉ tự ḿnh nghe thấy), chẳng chắp tay, có phải là chẳng cung kính hay không? (Đồ Trinh Quang hỏi)

 

          Đáp: Phật pháp viên dung, nhưng cần phải thành kính, chỉ có điều thành và kính đều ở nơi tâm. Khi hoàn cảnh chẳng cho phép, sẽ chẳng chắp tay, trong tâm quán tưởng, sẽ giống như thật sự chắp tay. Nếu chẳng thành kính, tuy năm vóc gieo sát đất, cũng giống như trẻ con đùa bỡn, có công đức ǵ đâu?

 

          * Hỏi: Đối với chuyện niệm Phật, tụng chú, kinh dạy: Đúng pháp niệm bao nhiêu biến, công đức sẽ như thế này, như thế nọ. Tôi chỉ có ḷng thành, chẳng biết tiêu chuẩn “đúng pháp” là như thế nào! Chưa thể tụng niệm đúng pháp, tâm nghĩ “dẫu cho có lỗi, cũng cam tâm t́nh nguyện”, tâm tưởng “hễ có tu hành th́ sớm muộn ǵ cũng ắt được độ”. Nghĩ kiểu ấy có đúng hay không? (Nguyễn cư sĩ hỏi)

 

          Đáp: Niệm Phật nhiếp trọn sáu căn, tŕ chú tam mật tương ứng. Pháp nhiếp trọn sáu căn rất cao, chẳng dễ thực hiện, chỉ có thể phương tiện. Trước hết là thâu gom ba căn mắt, mũi, thân chẳng dùng, lại dùng ba căn kia để nhớ Phật, niệm Phật, nghe Phật. Tam Mật chính là ngồi xếp bằng kết ấn, miệng tŕ chú ngữ, tâm tưởng chữ chủng tử[14] v.v… chẳng để tán loạn, cả ba gom về một. Đại khái hai đằng (niệm Phật và tụng chú) “đúng pháp” là như thế đó. Niệm Phật th́ có thể tự ḿnh thể nghiệm, chú th́ ắt phải có thầy truyền dạy. Nếu chẳng thể làm theo đúng như vậy, chí thành chính là “đúng pháp”. Bậc hiền triết thời cổ đă nói: “Tinh thành sở cảm, kim thạch vị khai” (Do ḷng chân thành tinh ṛng cảm vời, vàng đá phải nứt), “thành giả, thiên chi đạo dă” (chân thành là đạo trời vậy). Chỉ tận hết ḷng thành, ắt sẽ có thể đắc độ!

                                                                                         

          * Hỏi: Niệm Phật, tụng chú, có lúc tự cảm thấy có thể khống chế cái tâm, tức là tâm có thể tĩnh, có thể chuyên, tự cảm thấy công phu có tiến bộ, nhưng có lúc trái ngược, là v́ lẽ nào? (Nguyễn cư sĩ hỏi)

 

          Đáp: Điều này thuộc loại “hữu hành vô giải, Định nhiều, Huệ ít” mà ra. Đă chẳng hiểu rơ Lư, nói tiến hay lùi đều là vọng tưởng, hoàn toàn chẳng chuẩn xác. Nhưng ngỡ là tiến, sẽ ngược ngạo tăng thêm cao mạn, chẳng bằng thường ôm ḷng hổ thẹn, ngơ hầu chẳng đến nỗi buông lung!

 

          * Hỏi: Niệm Phật, tụng chú, quư ở nhất tâm, đó gọi là “nhiếp tâm tĩnh niệm”. Nhưng chúng ta do đối trước các thứ cảm nhận, t́nh tự phức tạp trong cuộc sống hằng ngày mà niệm Phật. “Như thế này là tốt, như thế này là xấu”, hăy nên có cách nh́n như thế nào? Sửa chữa sai lầm như thế nào? Xin hăy chỉ dạy: (1) Có khi do cảm hoài thân thế, do t́nh tự bi phẫn chán ghét cơi tục mà niệm Phật. (2) Bị việc đời đả kích, mang nỗi niềm ủy khuất, chẳng tự giác mà dồn ép, phát ra câu niệm Phật. (3) Tâm t́nh phẫn nộ bèn niệm Phật. (4) Tâm t́nh hoảng sợ bèn niệm Phật. (5) Căi nhau với kẻ khác, chính ḿnh tức tối bèn niệm Phật. (6) Hoài niệm người đời trước hoặc thân nhân bèn niệm Phật, tuôn nước mắt. (7) Nghĩ tưởng sự sanh tử của chính ḿnh, niệm Phật đến nỗi tuôn lệ nóng đẫm tṛng, chẳng thể ngưng được! (8) Tưởng đến công đức của Phật, Bồ Tát, tự nghĩ ân ấy khó báo, chẳng tự giác niệm Phật đến nỗi lệ nóng tuôn trào chẳng ngừng. (9) Do cảm thán những kinh điển khác mà vô ư niệm Phật (giống như điều trên). (10) Trong mộng niệm Phật tới chảy nước mắt rồi tỉnh. (11) Trong mộng thấy ác thần bèn niệm chú Lục Tự Đại Minh, thần bèn lui, tỉnh giấc! (12) Gặp chuyện nguy cấp bất ngờ, như động đất, đụng xe, trong lúc cấp bách bèn vô t́nh niệm Phật. (13) Gặp dịp đặc biệt vui mừng (bất ngờ) như con cái thi đậu vào đại học v.v…, cảm động đến nỗi niệm Phật, có tâm t́nh cảm ơn Phật. (14) Gặp chuyện hết sức bất như ư, tâm t́nh thất vọng bèn niệm Phật. (15) Trẻ nhỏ học hành mong mai sau thi cử thuận lợi, dùng cái tâm khẩn cầu niệm Phật. (16) Có người đánh bạc, khẩn cầu thắng bạc, bèn niệm Phật. (17) Trong khi bệnh tật, hết sức khó thể chịu đựng, bèn lớn tiếng niệm Phật. Đấy là v́ muốn hết đau. (18) Trong khi ngủ mơ màng, cảm thấy có người niệm Phật bên tai. Hăy c̣n có những điều khác chẳng thể nêu trọn! Tổng kết những điều đă nêu trên đây đều là sự niệm Phật trong cuộc sống hằng ngày, nói chung là làm thế nào để chuyển biến việc niệm Phật do t́nh tự đặc thù thành niệm Phật bằng tĩnh niệm? Có lúc tôi thật sự có thể niệm Phật bằng tĩnh niệm th́ lại thường dễ bị hôn trầm, hăy nên dùng cách ǵ để trừ khử hôn trầm? (Nguyễn cư sĩ hỏi)

 

          Đáp: Pháp liễu sanh tử, tuy nói là “tám vạn, bốn ngàn”, từ rườm rà quy về đơn giản, chẳng ngoài ba loại Giới, Định, Huệ. Do việc đời phức tạp nên mới học Giới và Định để chế ngự. Sống trong cơi đời, ắt phải mưu sinh. Hễ mưu sinh, ắt có phiền loạn, nhưng bất luận kẻ nào cũng lại chẳng thể không mưu sinh. V́ thế, cổ nhân ấn định công khóa sáng tối ḥng hành tŕ để cầu có lúc Định, những lúc khác đều là tán loạn tụng tŕ. Huân tập lâu ngày, sẽ dưỡng thành “chuyện nào cũng là đạo”. Đấy chính là cái đạt được bởi Định. Từ đấy về sau, Sự chính là đạo, đạo chính là Sự. Gánh nước, khiêng củi, đói ăn, mệt ngủ, tâm chẳng mất chánh niệm, đều là đạo tràng. Mười tám chuyện như ông đă nêu sau đó đều là “chuyển phiền năo thành Bồ Đề”, rất tốt! Nhưng điều thứ mười sáu là “đánh bạc bèn niệm Phật cầu thắng” chính là tội lỗi. Cờ bạc gần giống như trộm cắp, đều là tham, thật sự là phạm giới luật, lại trông cậy vào Phật để tổn hại người khác, đấy lại là tà kiến vậy!

 

          * Hỏi: Niệm Phật th́ dùng điều nào trong “tâm, ư, thức”? (Nếu có hai điều) phân biệt như thế nào? Trong khi không mấp máy môi, niệm thầm, cần phải dùng sức mới niệm ra được, trong trường hợp này là dùng điều nào [trong tâm, ư, thức]? Không cần phải gắng sức để niệm, sẽ cảm thấy nhẹ nhơm, thoải mái hơn, nhưng phát ra âm thanh chậm chạp; trong trường hợp này, sử dụng điều nào? (Nói chung, tôi thầm nghĩ: Có hai thứ bất đồng trong cùng một niệm) (Lư Trí Trừng hỏi)

 

          Đáp: “Tâm” là nói đến thức thứ tám, “ư” là nói thức thứ bảy, “thức” là nói đến thức thứ sáu. Đấy là một cách hiểu; để đáp lời hỏi này, tôi chọn cách hiểu như vậy. Hăy nên biết: Có lúc thức thứ tám được gọi là Tâm (vọng tâm), có khi nó được gọi là Thức. Do v́ ngữ cảnh khác nhau, hăy để lại đó, chẳng bàn tới! Kẻ sơ cơ do ư thức phan duyên, dùng thức thứ sáu để niệm Phật. Tiến cao hơn là vô ngă, tức là thức thứ bảy niệm Phật. Thật Tướng vô niệm, chính là thức thứ tám niệm Phật. Nhưng năm thức trước phát động đều chẳng rời ư thức. Lại c̣n nhiễm và tịnh căn bản đều nương vào ư thức. Do vậy, dùng ư thức niệm Phật th́ cũng có chủng tử tồn tại trong thức thứ tám, tức là đều có mối quan hệ vậy. Mấp máy môi [niệm Phật] vẫn là do thức thứ sáu, v́ dùng Thân Thức để phụ trợ, cho nên đỡ tốn sức hơn!

 

          * Hỏi: Gần đây, tôi luôn cảm thấy ư niệm tà ác nhiều hơn lúc trước, chẳng biết là do một số lượng lớn chủng tử ác bộc phát vào lúc này, hay là do chính ḿnh dễ phát hiện [chủng tử ác] hơn so với quá khứ? Hay là do có nguyên nhân nào khác? (Lư Trí Trừng hỏi)

 

          Đáp: Hai đằng đều có! Chẳng cần nói nói đến những thứ khác. Nếu nói đến những thứ khác, tức là sẽ tạo nhiều nghiệp mới!

 

          * Hỏi: Trong những ư niệm tà ác ấy, có nhiều ư niệm hủy Phật báng Tăng xấu xa nhất, nói chung là chẳng thể ngăn những ư niệm ấy ùa ra. Càng sợ, chúng xuất hiện càng nhiều; càng thêm hỏng bét, đạt được hiệu quả trái ngược! Có lúc phải đến trước Phật sám hối một lát, mới hơi b́nh ổn. Chẳng biết Ngài có cách tốt lành nào để cứu tôi không? (Nếu không, cứ để măi như vậy lâu ngày, tội lỗi sẽ ngập trời). (Lư Trí Trừng hỏi)

 

          Đáp: Phật như chiên-đàn, đội lên đầu hay dùng chân giẫm đạp, đều nhiễm mùi hương, “nhiễm” chính là huân tập. Có lẽ trong nhiều đời, cư sĩ đă có cái nhân gièm báng Tam Bảo, [những cái nhân ấy] gieo vào thức điền, nay chúng nó dấy lên hiện hành, thiện ác giao tranh, bức chúng xuất hiện. Đừng quan tâm đến chúng, chỉ nên niệm Phật, tâm chỉ nương vào Phật, chúng sẽ tự diệt. Nếu sợ quỷ, quỷ sẽ càng đến dọa. Tiếng niệm Phật không ngừng, tuy chúng nhiều lần xuất hiện, cũng chẳng có tội lỗi ǵ!

 

          * Hỏi: Tôi từng thỉnh giáo người khác, họ bảo chấp trước một cảnh (trông thấy một vật) sẽ dẫn khởi ác niệm, chẳng dễ ngăn trở, đấy chính là thức thứ bảy giở tṛ tác quái. Chẳng biết [nói như vậy] có chánh xác hay không? (Lư Trí Trừng hỏi)

 

          Đáp: “Chấp trước một cảnh, chẳng dễ ngăn trở” chính là v́ chẳng dùng sức dũng mănh niệm Phật. Đấy chính là v́ “Phật yếu, ma mạnh”. Ông lại hỏi han thức thứ sáu, thức thứ bảy, tức là thêm dầu vào lửa, buông xả Phật hiệu chẳng niệm, cứ khăng khăng ṃ mẫm dây cà dây muống! Rành rành là hễ quay đầu, mọi chuyện đều xong, [thế mà] ngược ngạo đi theo ngơ rẽ, sẽ càng t́m thấy ngơ rẽ nhiều hơn! Đấy là quỷ t́m người, hay người t́m quỷ vậy?

 

          * Hỏi: Vào lúc nửa đêm, thân thể đă mệt mỏi tột bậc, rất mong ngủ một giấc, nhưng sau khi nhắm mắt, [trong đầu] có quá nhiều ư niệm hết sức chộn rộn, thoắt nghĩ đông, thoắt tưởng tây, khó thể ngăn dứt được! Chẳng biết là do thức nào đang tác quái? Điều phục như thế nào? (Lư Trí Trừng hỏi)

 

          Đáp: Chẳng cần quan tâm là thức nào! Sau khi cư sĩ đă biết, có trừ khử được thức ấy hay chăng? Chẳng xét lại ḿnh, cứ nh́n vào chỗ khác để trách móc, tức là bỏ gốc chuộng ngọn vậy!

 

          * Hỏi: Giảng kinh Lăng Nghiêm, giảng đến phương pháp hành tŕ của Quán Âm đại đạo sư, tôi nghe xong, thân tâm vui sướng. Sau khi nương theo cách ấy tu tŕ, vọng niệm dần dần ít đi, nhưng ấn tượng về “xoay cái Nghe để nghe tánh tự tánh” quá sâu, đệ tử đem chuyện ấy ứng dụng thành “xoay cái Nghe lại để nghe Di Đà”. Đối với chỗ này, mới ngộ lời thầy thường nói về lư “tự tánh Di Đà”, nhưng chính ḿnh lại nẩy sanh nỗi nghi: “Tự tánh Di Đà do chính ta niệm và Tây Phương Di Đà có phải là tương ứng hay không? Có phải là thiên về tự lực hay không?” Nếu thiên về tự lực, chuyện văng sanh sẽ có vấn đề, trong tâm cảm thấy hết sức bất an, lại c̣n chẳng hiểu rơ tự lực! (Tạ Ấu hỏi)

 

          Đáp: Chúng sanh và Phật cùng tánh, do mê hay ngộ mà sai khác. Tánh thể to lớn, theo chiều dọc tột cùng [ba đời], theo chiều ngang trọn khắp [mười phương]. Tây Phương Di Đà ở trong tánh ta, ta ở trong Sa Bà cũng thuộc trong tâm của Phật Di Đà. Nói đến tánh th́ là một, nói theo tướng th́ là hai. Nếu dùng tự tánh Di Đà để niệm Tây Phương Di Đà, sẽ dễ tương ứng nhất. Nếu dùng tự tánh phiền năo để niệm Tây Phương Di Đà, sự tương ứng đă bị sai lệch! Tự Phật niệm tha Phật, vẫn là cầu nhị lực.

 

          * Hỏi: Bái sám là một khóa mục trọng yếu trong Phật môn, cần phải luôn luôn thực hành, nhưng cách bái lại là như thế nào? (Khâu Thanh Tuyền hỏi)

 

          Đáp: Sám hối có Sự, có Lư. Bái là một pháp thuộc về Sự sám. Sự Sám là chiếu theo quy định trong các sám pháp để hành, cần phải thành kính, chẳng phải là dập đầu lia lịa như chày giă gạo mà thôi! Lư sám là sửa lỗi cũ, tu điều lành mới, chẳng dấy vọng niệm, đó gọi là “khi tội dấy lên đem tâm sám, tâm đă mất rồi tội cũng tiêu, tâm vong tội diệt thảy đều không, đó mới gọi là chân sám hối”.

Phật Học Vấn Đáp Loại Biên

Quyển Hạ, phần 1 hết

 

                           

 

 

                                                                                                   



[1] Người hỏi đă coi quán tưởng và tŕ chú là một chuyện, thật ra là hai pháp tu.

[2] Câu nói này dựa theo ư của một câu trong thiên Lư Nhân của sách Luận Ngữ: “Quân tử vô chung thực chi gian vi nhân, tạo thứ tất ư thị, điên bái tất ư thị” (Quân tử chẳng có lúc nào, dẫu ngắn ngủi như trong một bữa mà trái nghịch ḷng nhân, ngay khi bị t́nh cảnh cấp bách đe dọa vẫn giữ ḷng nhân như vậy, ngay khi bị vùi dập vẫn giữ ḷng nhân như vậy).

[3] Tiếng gọi nhằm tỏ vẻ tôn trọng vợ người khác.

[4] Các ư niệm tham muốn sanh khởi do căn tiếp xúc với trần th́ gọi là “trần dục”.

[5] Ư nói tới bài chú Phổ Triệu Thỉnh trong nghi thức Mông Sơn.

[6] C̣n gọi là “thủy hỏa kư tế”, đây là một thành ngữ xuất phát từ cách luyện nội đan của Đạo gia. Chương ba, phần Hành Tŕ của sách Vương Thị Thần Kỳ Đảo Bát Đoạn Cẩm đă giảng: “Chẳng cần động niệm ngồi xếp bằng, trước hết hăy tưởng tâm ta như búp sen chưa nở, giữa hai quả thận có một nguồn nước, tưởng phân minh trong tâm ta có một luồng khí màu đỏ (c̣n gọi là tâm hỏa), xông thẳng xuống nguồn nước giữa hai thận, sẽ thấy luồng khí nóng sôi sục giữa hai thận. Đó gọi là Thủy Hỏa giao cấu”.

[7] Mạch Nhâm là một mạch trọng yếu, được coi là nắm giữ ba mạch Âm ở chân và tay. Mạch Nhâm khởi từ huyệt Hội Âm đi theo chiều dọc qua giữa bụng ngực, giữa cổ, kết thúc ở huyệt Thừa Tương (ở dưới mắt), ṿng quanh miệng, gồm có hai mươi tám huyệt. Mạch Đốc thâu tóm các kinh Dương, gần như tương ứng với mạch Đốc. Mạch Đốc ở mặt sau thân thể, mạch Nhâm ở mặt trước.

[8] Mạch lạc c̣n gọi là kinh lạc là thuật ngữ trong Châm Cứu hoặc Nội Công Đạo Gia chỉ các đường khí huyết vận hành trong cơ thể. Đường chính gọi là Kinh, các nhánh gọi là Lạc. Họ chia kinh lạc trong cơ thể thành chánh kinh và kỳ kinh. Chánh kinh gồm mười hai sợi, tả hữu đối xứng, tức thủ túc tam âm kinh và thủ túc tam dương kinh. Kỳ kinh gồm tám sợi như đốc mạch, nhâm mạch, xung mạch… Châm Cứu và Y Học Trung Hoa cho rằng tác dụng chính của kinh lạc là lưu thông khí huyết, bồi dưỡng gân cốt và đảm bảo sự vận hành chánh xác của các cơ quan.

[9] Nguyên văn “kết phu” (結趺), tức là “kết già phu tọa” (結跏趺坐, ngồi xếp bằng, hai chân xếp chéo, ngửa ḷng bàn chân), thường bị gọi trại thành “ngồi kiết già”.

[10] Quán khiếu là chú tâm dồn chân khí vào một trong cửu khiếu (hai tai, hai mắt, hai mũi, miệng, hậu môn và lỗ sinh dục). Thổ nạp là các cách hít thở, điều khí, vận chuyển khí theo các kinh lạc. Giáng linh là các thuật giao tiếp với các linh quỷ hoặc các lực lượng siêu nhiên.

[11] Thượng Phương Kiếm, gọi đủ là Thượng Phương Bảo Kiếm là kiếm báu do ty Thượng Phương Lệnh thuộc Thiếu Phủ chế tạo. Thanh kiếm này biểu hiện oai quyền của hoàng đế, thường được ban cho các vị đại thần được quyền tiền trảm hậu tấu (chém trước rồi tâu sau) khi đi tuần tra, sát hạch các quan địa phương.

[12] “Sống” có nghĩa là c̣n xa lạ, chưa quen thuộc. “Chín” là đă quen, đă thông thạo.

[13] Sáu yếu tố thuộc về khí hậu có thể gây nên bệnh tật (lạnh, nắng, độ ẩm, độ khô, hỏa, gió) được gọi là “lục dâm”, hay “lục tà”.

[14] Chữ chủng tử (Bijia) chính là một chữ trọng yếu, được coi là chữ gốc để sanh ra toàn thể bài chú. Như các bài chú của A Di Đà Phật lấy chữ Hrih làm chủng tự.