Phật Học Vấn Đáp Loại Biên

Quyển Hạ

佛學問答類編

Phần 3

Lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam giải đáp

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản in của Lư Bỉnh Nam Lăo Cư Sĩ Toàn Tập Biên Tập Ủy Viên Hội,

Đài Loan, 2007)

Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang

VIII. Duy Thức

 

          * Hỏi: Hết thảy chúng sanh sau khi đă chết có linh hồn hay không? (Trí Ấn hỏi)

 

          Đáp: Trong nhà Phật, linh hồn được gọi “thần thức” (神識), do Chân Như bản tánh bất giác biến thành. Hết thảy chúng sanh, hễ thức đến bèn sanh, thức đi bèn chết. Bát Thức Tụng[1] có câu: “Khứ hậu, lai tiên, tác chủ công” ([thức thứ tám] đi sau (rời thân xác sau cùng), đến trước (khi đầu thai, thức thứ tám nhập thai đầu tiên), làm ông chủ).

 

          * Hỏi: Hết thảy chúng sanh sau khi đă chết, có phải là do nghiệp lực dẫn dắt linh hồn đi luân hồi trong lục đạo hay không? (Trí Dẫn hỏi)

 

          Đáp: Thần thức luân chuyển trong lục đạo, chính là do nghiệp lực dẫn dắt khiến thành ra như vậy. Đó gọi là “vạn ban đới bất khứ, duy hữu nghiệp tùy thân” (muôn thứ chẳng mang được, chỉ có nghiệp theo thân). Lại nói: “Dẫn măn năng chiêu nghiệp lực khiên” (Do dẫn nghiệp và măn nghiệp mà chiêu cảm nghiệp lực dẫn dắt [thần thức] đi đầu thai).

 

          * Hỏi: Tôi không tin trên thế giới có quỷ thần tồn tại, đúng hay không? (Trí Dẫn hỏi)

 

          Đáp: Quỷ thần là một đường trong lục đạo, do linh hồn chuyển thành. Đă thừa nhận linh hồn, nhưng chẳng thừa nhận quỷ thần, giống như đă thừa nhận có khinh khí (hydrogen) và dưỡng khí (oxygen), nhưng chẳng thừa nhận có nước!

 

          * Hỏi: Có những giáo đồ vẫn tin vào thuyết “linh hồn ĺa khỏi xác liền đến đầu thai nơi khác, biến thành lợn, thành chó”, có đúng hay không? (Trí Dẫn hỏi)

 

          Đáp: “Linh hồn ĺa khỏi xác” là ư nói thần thức rời khỏi [nhục thân]. “Biến thành lợn, chó” tức là nói đến luân hồi sanh tử. Hăy tham cứu lời đáp cho hai câu trước, [sẽ thấy] lư này hiển nhiên.

 

          * Hỏi: Khởi đầu, linh hồn do đâu mà có? Phật giáo nói đến luật nhân quả, vậy th́ cái nhân tạo thành linh hồn là ở chỗ nào? V́ sao nhân loại hoặc hết thảy các động vật chỉ có tăng, chẳng có giảm? (Tạ Ngọc Bích hỏi)

 

          Đáp: Kẻ sơ học chẳng thể hiểu vấn đề này. Đệ tử của Khổng Tử có đến ba ngàn vị hiền triết, [thế mà] Khổng Tử c̣n chẳng giảng nói, có thể thấy là điều này khó thể nói rơ được! Linh hồn chính là do Tánh bị mê chuyển thành. Nay trước hết, tôi nói đến Tánh. Tánh theo chiều dọc tột cùng ba đời, chẳng có khởi đầu, không có kết thúc, theo chiều ngang trọn khắp tám phương, vô biên, vô tận. Tánh thể (bản thể của Tánh) vốn là Không, gặp duyên bèn khởi. Hiểu rơ điều này, sẽ biết Tánh chẳng đến, chẳng đi, chẳng tăng, chẳng giảm! Ông dựa theo sự tăng giảm của động vật để hỏi, tức là chỉ thấy trong cơi này. Nếu suy tưởng tận hư không khắp pháp giới, sẽ tự có thể liễu giải.

 

          * Hỏi: Linh hồn của chúng sanh (thần thức) sanh sản như thế nào? Có phải là do Thượng Đế sáng tạo, hay là từ một linh tánh gốc sanh ra hay không? (Trường Tinh hỏi)

 

          Đáp: Chẳng có khởi đầu, không có kết thúc, pháp có tánh chất vốn là như thế. Do một niệm bất giác, biến thành vô minh. Đó là từ giác chuyển thành mê, từ trí chuyển thành thức. Người ngoài Phật giáo gọi thức là “linh hồn”. Nay tôi dùng điện ảnh để tỷ dụ. Phim ảnh ví như Tánh, ánh sáng chẳng có h́nh tướng, từ ống kính chiếu ra, bất quá là tịch tịch chiếu chiếu đó thôi. Trên phim có các h́nh ảnh, núi, sông, đại địa, nam, nữ, ẩm thực, [luồng sáng rọi qua phim] từ ống kính chiếu ra, sẽ tạo thành muôn mối huyễn tượng (h́nh tượng hư huyễn) lăng xăng chẳng yên vậy!

 

          * Hỏi: Thần thức thuộc về bộ phận nào của chúng sanh? Ở trong đầu, hay trong ngực? Hay ở nơi chân? (Trường Tinh hỏi)

 

          Đáp: Theo tục truyền hoặc cách nói xưa kia, sẽ là ở tim. Theo các thuyết mới là ở tại năo, các nhà y học lại cho là hồn ở gan, hết sức không thống nhất! Thật ra, đối với chuyện này, hễ nói theo phương diện to lớn th́ [thần thức] bao trùm cả sáu phương, hễ nói là nhỏ th́ lui ẩn sâu kín, chẳng bị hạn định bởi phạm vi nào!

 

          * Hỏi: Thần thức và giả thể[2] có cùng h́nh dạng hay không? (Trường Tinh hỏi)

 

          Đáp: Thần thức vốn vô h́nh, từ ư tưởng chuyển biến mà trở thành có tướng. Cái thân trong mộng chính là do thần thức chuyển biến theo ư tưởng [mà h́nh thành]. Nay tôi nêu một tỷ dụ để nói rơ: Bản chất của vàng là không có h́nh tướng ǵ cả, nhưng làm thành b́nh, khay, thoa, xuyến đều là do ư con người, chẳng phải h́nh tướng vốn có của vàng là b́nh, khay, thoa, xuyến!

 

          * Hỏi: Sau khi thân thể con người chết đi, hồn thần sẽ theo cửa nào để thoát ra? (Trường Tinh hỏi)

 

          Đáp: Suốt đời tạo nghiệp, chủng tử chín muồi, sẽ tiến đến đường nào th́ [hồn thần] sẽ từ bộ phận ấy thoát ra, mỗi đường khác biệt! Thánh quả từ đỉnh đầu, thiên đạo từ trán, nhân đạo từ ngực, ngạ quỷ từ bụng, súc sanh từ đầu gối, địa ngục từ bàn chân.

 

          * Hỏi: Người sau khi đă chết, linh hồn người ấy chưa tới Tây Phương, mà cũng chưa chyển sanh tử (chưa đầu thai sang một thân khác), có phải là sẽ sống trong cơi Âm hay không? (Trường Tinh hỏi)

 

          Đáp: Nếu [người đă chết] chẳng phải là học nhân Tịnh nghiệp, chẳng phải là bậc hành giả [trọn đủ] tín nguyện, sẽ không thể nào đến Tây Phương được! Âm Ty (陰司) chính là danh xưng để gọi hai chốn quỷ đạo và địa ngục. Xét theo chỗ cư trụ của chúng sanh, có tất cả sáu đường. Đi vào [một đường nào] th́ gọi là “sanh”, thoát khỏi [đường đó] th́ gọi là “tử”. Hai chữ “sanh tử” chẳng phải chỉ để nói về nhân gian. Phàm chúng sanh chết trong đường nào, hễ c̣n chưa sanh vào đường nào đó, th́ gọi là “thân Trung Hữu”. Thời gian thọ mạng ấy, ngắn th́ trong một cái khảy ngón tay, dài th́ có thể là bốn mươi chín ngày, sẽ tùy thuộc nghiệp lực của người ấy mà [sanh vào đường nào] trong lục đạo. Thế tục nói “người chết thành quỷ”, tức là [vào trong] Âm Ty, chính là v́ chẳng hiểu rơ cặn kẽ thứ tự vậy!

 

          * Hỏi: Linh hồn của người đă chết sẽ đi về đâu? Người đời có thể biết hay không? (Trường Tinh hỏi)

         

          Đáp: Người đời từng nghiên cứu Phật học, do thăm ḍ chỗ bị lạnh đi cuối cùng trên thân người chết để biết [người ấy sẽ sanh vào đường nào]. Đó là dựa theo Thánh Ngôn Lượng vậy. Người tu đắc Thiên Nhăn Thông cũng quán biết. Đấy là dựa theo phương diện thần thức [để phán định chỗ sẽ sanh về của người đă khuất]. Nếu là phàm phu th́ sẽ chẳng thể biết được!

 

          * Hỏi: A Lại Da Thức có phải là linh hồn của chúng ta hay không? Nó có phải là sống măi, bất diệt hay chăng? (Lư Vĩnh Mậu hỏi)

 

          Đáp: Bản tánh bị chướng ngại bởi Hoặc bèn gọi là A Lại Da (Ālaya-vijñāna), ngoại đạo gọi nó là “linh hồn”. [Ông đă] lầm tưởng nó là bản thể, lại càng lầm lạc tưởng nó “sống măi, bất diệt”, lạc đề càng lúc càng xa. Phá Hoặc rốt ráo, hiển lộ rỗng rang bản tánh, sẽ gọi là “chuyển Thức thành Trí”. Hoặc (, phiền năo) có thể phá, Thức có thể chuyển, có ǵ để nói là “bất diệt”?

 

          * Hỏi: Tông Duy Thức bảo: “Nhất thiết pháp chủng tử giai tàng đệ bát Lại Da thức trung” (Chủng tử của hết thảy các pháp đều được chứa đựng trong thức thứ tám tức A Lại Da Thức), nhưng tôi chẳng biết chủng tử của chính thức thứ tám sẽ được cất giữ ở chỗ nào? (Phương Minh hỏi)

 

          Đáp: Biển dung nạp nước từ trăm sông, thử hỏi, nước của biển sẽ được dung nạp ở nơi đâu?

 

          * Hỏi: A Lại Da Thức ở chỗ nào trên thân? (Dư Trí Hải hỏi)

 

          Đáp: Thức ấy không thứ ǵ to lớn chẳng bao trùm, không thứ vi tế nào chẳng gồm trọn, hoàn toàn chẳng hạn cuộc trong một chỗ nào!

 

          * Hỏi: A Lại Da Thức là thức “vô danh tạp nhiễm”, nó và Chân Như là một hay là hai? (Điền Thiến Quân hỏi)

 

          Đáp: Chân Như do có tạp nhiễm, nên mới gọi là Thức. Như nước do gió xoáy mà dao động, bèn gọi là “cuộn sóng”. Nước và sóng cuộn lên là một mà chẳng phải là một; tuy nói là hai, nhưng chẳng phải là hai!

 

          * Hỏi: A Lại Da Thức có thể tồn tại độc lập hay không? (Điền Thiến Quân hỏi)

 

          Đáp: Đă nói rơ trong lời đáp trước! Hăy thử nghĩ, sóng có thể ĺa nước để tồn tại độc lập hay chăng?

 

          * Hỏi: Tam giới duy thức, vạn pháp duy tâm, thức và tâm có ǵ khác biệt? (Quách Liên Hoa hỏi)

 

          Đáp: Nếu hiểu theo mặt chữ th́ [tâm và thức] đều là tĩnh từ. “Tâm” là nói đến Bổn Giác chân tánh. “Thức” là nói tới cái vọng tâm sau khi bị nhiễm. Nếu xét theo từ ngữ để giải thích, chúng đều là động từ. Thức có nghĩa là phân biệt, tâm là ư niệm.

 

          * Hỏi: Đức Phật dạy “tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”, phân biệt tâm và thức như thế nào? (Trương Khánh Chúc hỏi)

 

          Đáp: Trong kinh, tâm và thức có lúc là một chuyện được gọi bằng hai tên, như nói “tám thức”, lại nói “tám Tâm Vương”. Có lúc mỗi chuyện có tên riêng biệt, như thức thứ tám, tức A Lại Da, được gọi là Tâm, thức thứ bảy tức Mạt Na được gọi là Ư, sáu thức trước đều gọi chung là Thức. Nay “duy tâm, duy thức” như ông đă hỏi chính là cách biến hóa theo lối tu từ trong cách hành văn, thật ra là một chuyện được gọi bằng hai tên vậy!

 

          * Hỏi: Phân biệt Mạt Na Thức và A Lại Da Thức như thế nào? (Từ Công Khởi hỏi)

 

          Đáp: A Lại Da có tác dụng bao hàm và dị thục[3], Mạt Na có tác dụng chấp Ngă và không ngừng suy lường. Đấy chính là sự khác biệt.

 

          * Hỏi: Xin hỏi là đối với chữ Ư (ư thức, ư niệm, ư chí, ư tưởng, ư cảnh, ư địa, tâm ư v.v...), dựa theo tám thức trong Duy Thức Luận, nó thuộc loại nào? T́nh h́nh phát sanh của nó khởi đầu như thế nào? (Tạ Nguyên Phủ hỏi)

 

          Đáp: Hai thức thứ sáu và thứ bảy đều gọi là Ư. Thức thứ sáu đứt, nối phân biệt, thức thứ bảy th́ chấp Ngă vĩnh viễn. Đó là chỗ khác biệt về tánh chất. Đối với bảy thứ ư được xếp vào dấu ngoặc trong câu hỏi, trừ loại thứ nhất, thứ hai và thứ bảy ra, cần phải chiếu theo tánh chất vừa nêu trên để phân định nó thuộc loại thức nào. Như ư chí, ư cảnh, ư địa đều thuộc loại Quyết Định Tư (suy nghĩ để quyết định). Nếu ư tưởng chẳng có tạo tác, sẽ thuộc loại Thẩm Lự Tư (suy nghĩ để xét đoán, thẩm định). Nếu toan tính tạo tác, sẽ thuộc loại Động Phát Tư (suy nghĩ nhằm dấy lên hành động). Tức là cả bốn thứ ấy đều thuộc về thức thứ sáu.

 

          * Hỏi: Người sau khi đă chết, hai thức thứ bảy và thứ tám có c̣n tiếp tục tồn tại hay không? Hay là cùng với sáu thức trước đồng thời tan diệt theo xác thân? Nếu tan diệt, ắt hết thảy đều tận, lấy ǵ để nói là luân hồi nữa? (Từ Công Khởi hỏi)

 

          Đáp: Người đă chết, cái bất diệt chỉ có thức thứ tám! Cái để xả thân này, nhập thân kia chính là thức này (thức thứ tám). [Bát Thức Quy Củ] Tụng đă nói [về đặc tánh của thức thứ tám như sau]: “Thọ huân tŕ chủng căn thân khí, khứ hậu, tiên lai, tác chủ công” (Tiếp nhận, huân tập, ǵn giữ các thứ căn, thân; đi sau, đến trước, làm ông chủ).

 

          * Hỏi: Con người sau khi đă chết, có lẽ là linh hồn bất diệt, có khi làm quỷ, có khi làm thần, có phải cũng là do thức thần thứ tám, hay là c̣n có một thức thần nào khác? Thức thần thuộc loại thức nào? (Tạ Nguyên Phủ hỏi)

 

          Đáp: Thức tứ tám “đến trước, đi sau”, đấy chính là cái thức ḥa hợp với vô minh, ngoại đạo gọi nó là “linh hồn” trọn chẳng phải là sự định luận chánh xác. Dùng ư nghĩa “thức thứ tám đến trước, đi sau” để suy lường, có lẽ họ đă suy luận theo kiểu nuốt trộng quả táo vậy!

 

          * Hỏi: Niết Bàn Chân Như Phật Tánh có phải là một loại thức hay không? Hay là có một danh xưng đặc thù nào khác? Nó có phải là thức thứ chín hay không? (Tạ Nguyên Phủ hỏi)

 

          Đáp: Danh từ Chân Như không phải chỉ bao hàm một nghĩa, nhưng đều nhằm biểu thị ư nghĩa “chẳng thể nói” (chẳng thể giải thích, diễn tả được). Thức thứ chín c̣n gọi là Am Ma La, cũng là tên gọi khác của Chân Như vậy.

 

          * Hỏi: Phật giáo có thừa nhận thuyết “linh hồn” và có quỷ hay không? Xét theo cách nói của Thái Hư đại sư, “hết thảy duy thức, không có ǵ để gọi là ‘linh hồn’! Càng không có ǵ để gọi là quỷ!” Tôi chưa hiểu rốt ráo, xin hăy dạy cho! (Từ Công Khởi hỏi)

         

          Đáp: “Linh hồn” chính là thần thức! Quỷ là một đường trong lục đạo. Phật giáo thừa nhận có h́nh tướng ấy. C̣n như ông trích dẫn lời Thái Hư đại sư để biện luận, e rằng đă hiểu lầm. Người ghi chép đă ở chung với ngài Thái Hư suốt mười năm, hoàn toàn chẳng nghe Ngài nói như vậy, chẳng biết cư sĩ đă dựa vào đâu để nói [như thế]. Nếu như điều đó là do đọc từ Thái Hư Di Tập, xin hăy xem chung với những đoạn văn trước và sau đó th́ mới hiểu [chánh xác] ư Ngài được!

 

          * Hỏi: Nếu muốn nghiên cứu về duyên khởi của nghiệp cảm, duyên khởi của Lại Da, duyên khởi của Chân Như, duyên khởi của pháp giới, sáu đại duyên khởi, và duyên khởi của các pháp, hăy nên đọc kinh luận nào? (Hoàng Ḥe Đ́nh hỏi)

 

          Đáp: Để nghiên cứu những điều ấy, chẳng thể không đọc kinh Hoa Nghiêm và Thành Duy Thức Luận, nhưng hàng sơ học chẳng thể tiếp nhận nổi. Có quyển sách Pháp Giới Duyên Khởi Lược Thuật do cư sĩ Cung Vân Bá ở Kim Lăng biên soạn, đơn giản mà dễ hiểu, ông có thể xem trước!

 

          * Hỏi: Thần thức có số lượng vô hạn, và chúng thường tăng giảm là v́ cớ nào? (Thành Dương hỏi)

 

          Đáp: Nay tôi nêu một tỷ dụ. Thử xem nước trong biển cả, hễ gió to th́ hoa sóng vỡ tung tóe. Khi gió nhẹ th́ sóng gợn lăn tăn, bọt nước dập dềnh mà thôi. Dẫu sóng hay bọt có nhiều đến mấy đi nữa, nước biển thật sự chẳng có tăng hay giảm!

 

          * Hỏi: Cái năng biến (chủ thể thực hiện hành vi chuyển biến) thứ hai là Mạt Na Thức, được dịch là Ư, nh́n từ bề ngoài dường như lẫn lộn với thức thứ sáu. Có cách dịch nào khác hay chăng? Sách [Duy Thức] Tam Thập Tụng đă nói “tư lượng vi tánh tướng” (suy lường làm tánh tướng), sao không dịch là Tư Lượng? (Hao Thạch hỏi)

 

          Đáp: Biện định cặn kẽ điều này sẽ rất dài ḍng, nay tôi chọn cách nói đại lược! Để đặt tên tám thức, sẽ dựa theo bốn loại: Dựa theo căn, dựa theo thức, nói đến sự tương ứng, và công năng. Năm thức trước dựa theo sắc căn để đặt tên. Thức thứ sáu dựa theo [tác dụng] phát khởi của thức thứ bảy để đặt tên. Thức thứ bảy được đặt tên theo sự tương ứng. Thức thứ tám được đặt tên dựa theo công năng. Thức thứ bảy nếu nói theo văn nghĩa đầy đủ, phải gọi là Hất-rị-sắt-trá-da Mạt-na (Hristtraya-manas-vijñāna), cơi này (Trung Hoa) dịch là Nhiễm Ô Ư. Nhiễm Ô là nói tới ngă tham, ngă sân, ngă kiến, ngă mạn, bốn thứ Hoặc ấy thường có! Chữ Ư diễn tả nó thường xuyên xét đoán, suy lường, so đo, coi thức thứ tám là Ngă. Các tụng luận đều gọi nó là Mạt Na, hoặc là Ư, chính là v́ nói đại lược, chẳng hề lẫn lộn với tên gọi của thức thứ sáu (Ư Thức). Nếu đổi cách dịch thành Tư Lượng, vậy th́ thức thứ sáu lúc nào mà chẳng tư lượng? Giải thích ư nghĩa kiểu đó sẽ trở thành không rơ ràng, đánh mất tinh túy vậy!

 

          * Hỏi: Người đă chết chỉ có thức thứ tám là bất diệt, như vậy th́ bảy thức kia có phải là lại từ thức thứ tám sanh ra hay không? Lại xin chỉ dạy những sách để học Duy Thức có mấy loại! (Tạ Nguyên Phủ hỏi)

 

          Đáp: Tam tế, lục thô vốn đă chín muồi! Bất quá, sau khi [thức thứ tám] đă nhập thai, lại nương vào Thắng Nghĩa Căn[4] để hiển lộ tác dụng ấy. Đối với sách vở để nghiên cứu về chuyện này, trước hết, hăy nên xem Bách Pháp Minh Môn Luận và Bát Thức Quy Củ Tụng.

 

          * Hỏi: Trong bộ Phật Học Khái Luận do Thái Hư đại sư biên soạn, có đoạn: “Phàm là pháp do nhân duyên sanh ra th́ nó cũng chính là pháp sanh từ chủng tử trong A Lại Da. V́ thế, hết thảy các pháp được sanh bởi nhân duyên, mà nhân duyên lại chính là hết thảy các pháp”. Đối với điều này, tôi chẳng biết A Lại Da có phải là sanh bởi nhân duyên hay không? (Quách Bổn Vân hỏi)

 

          Đáp: Thức ấy chính là Như Lai Tạng, có cả hai phần là nhiễm và tịnh. Thể của nó là Chân Như, vốn chẳng có sanh diệt. Nay do bị nhiễm hoặc huân tập tịnh khác biệt, nên có sanh diệt. V́ thế gọi là nghiệp thức, có tên là A Lại Da. Cái bị nhiễm, cái bị huân đều là duyên sanh.

 

          * Hỏi: A Lại Da Thức c̣n gọi là Tạng Thức, hết thảy các chủng tử đều chứa trong ấy. Sau khi con người chết đi, sẽ mang theo nó cùng chuyển sanh. V́ thế, tánh t́nh của đứa bé mới sanh ra là tốt hay xấu lẽ ra phải giống như trong đời trước. Nhưng sự thật chẳng phải là như vậy! Ta cũng thường thấy tánh t́nh của đứa bé mới sanh ra là tốt hay xấu phần nhiều giống như cha mẹ ruột, thế tục thường nói là “tánh di truyền”. [Như vậy là] chủng tử của đời trước đă mất công dụng hay chăng? Hay là nó chưa chín muồi? (Trọng Chí Anh hỏi)

 

          Đáp: A Lại Da luân hồi trải qua bao kiếp, những chủng tử thiện và ác tàng trữ trong ấy số đến vô lượng. Khá nhiều chủng tử thiện và chủng tử ác đều là ngàn muôn sai khác, hoàn toàn chẳng nhất loạt giống nhau. Trong Tánh Phần (tức A Lại Da) của cha mẹ có chứa đựng tập khí (tức chủng tử), tuy có tác dụng di truyền, nhưng cần phải là do chủng tử nào đó trong thần thức của thai nhi phù hợp với tập khí của cha mẹ bèn có sức mạnh, nay gặp tập khí của cha mẹ làm Tăng Thượng Duyên, khiến cho chủng tử ấy hiện hành. [Do vậy], sau khi [đứa trẻ ấy] được sanh ra, tánh của nó mới giống cha mẹ; v́ thế gọi là “di truyền”. Nếu chủng tử được chứa trong thần thức của thai nhi phần nhiều chẳng tương đồng với cha mẹ, [tánh t́nh của đứa trẻ] cũng không bị di truyền. Người hiền như vua Thuấn, vua Vũ, kẻ chẳng ra ǵ như Quản, Sái[5], chính là những thí dụ cụ thể vậy!

 

          * Hỏi: Các pháp vô ngă, chỉ có A Lại Da Thức được xếp vào loại bất sanh bất diệt th́ chẳng gọi là Ngă đấy chăng? (Lư Vĩnh Mậu hỏi)

 

          Đáp: A Lại Da chính là cái thức tạp nhiễm vô minh, sao lại nói là “bất sanh, bất diệt” cho được? C̣n như đối với chữ Ngă, vốn có phần hạn, chẳng thể luận định nhất loạt được. Phàm phu chẳng hiểu rơ Chân Như, mê chấp có Ngă, đấy là điên đảo. Nhị Thừa trầm trệ nơi Không, mê chấp vô ngă, cũng là điên đảo.

 

          * Hỏi: Trong sách có nói “A Lại Da Thức, sanh th́ đến trước, chết bèn đi sau, là ông chủ của chúng ta”. Xét theo lời khai thị trong báo Bồ Đề Thụ số hai mươi, “ông chủ” ấy cũng có thể chuyển, chẳng phải là tồn tại măi măi. Vậy th́ bản thể để hứng chịu sự báo ứng trong ba đời sẽ là ai? Cái bản thể ấy chẳng phải là một thứ tồn tại vĩnh viễn bất diệt ư? Có thể gọi nó là Chân Ngă hay không? (Lư Vĩnh Mậu hỏi)

 

          Đáp: Chân Như bản tánh bất sanh bất diệt, có thể gọi nó là Chân Ngă. Khi nó [bị trùm lấp trong] vô minh th́ gọi là Thức, chính là đối tượng hứng chịu báo ứng ba đời vậy.

 

          * Hỏi: Thức thần nhập thai là khi nữ nhân thọ thai bèn nhập, hay là khi sắp sanh th́ nó mới nhập? (Trương Khánh Chúc hỏi)

 

          Đáp: Cả hai trường hợp ấy đều có. Trường hợp trước là phổ biến nhất. Trường hợp sau là bậc đại đức chẳng hứng chịu nỗi khổ trong thai ngục. Trước đó, có một thức khác thay thế nhập thai, chờ cho đến khi sắp sanh, [thức thần của bậc đại đức] sẽ đến thay thế!

 

          * Hỏi: Sau khi một người đă chết, A Lại Da Thức thường ở [lại trong thân xác người ấy] đến mấy giờ sau, khi thân thể đă lạnh mới thoát ra. Những chúng sanh khác (chẳng phải là người) có phải cũng giống như vậy hay không? (Lâu Vĩnh Dự hỏi)

 

          Đáp: Cần phải xét theo [từng trường hợp] xả ấm sớm hay trễ để luận, dường như là không đồng nhất.

 

          * Hỏi: Có người cho rằng thuyết Lại Da duyên khởi của Duy Thức Luận viên măn hơn thuyết Chân Như duyên khởi của Khởi Tín Luận. Nhân giả nghĩ như thế nào, xin dạy rơ cho! (Chung Quân Lương hỏi)

 

          Đáp: Đấy cũng là “người nhân thấy là nhân, người trí thấy là trí”. Chỉ là trong các bộ luận của Duy Thức, do chuyên nghiên cứu về Thức, cho nên nói tường tận. Khởi Tín Luận nói về cả Tánh lẫn Tướng, có thể là lời lẽ giản lược hơn! Nhưng Khởi Tín Luận nói về cái tâm, lập ra hai môn Chân Như và Sanh Diệt, trong lời hỏi của ông nói đến Chân Như duyên khởi, dường như là văn từ đă bị thiếu sót vậy!

 

          * Hỏi: Duy Thức Học nói về Nhị Không (Nhân Không và Pháp Không), đă lập ra Thắng Nghĩa Vô Tánh. Xét tới những điều luận định trong kinh văn [Duy Thức], cố nhiên chẳng có ǵ không suông sẻ, nhưng Phật lư thường nói “hết thảy các pháp tuy huyễn, vẫn có Pháp Tánh”, [như vậy là] thuyết trước và thuyết sau dường như mâu thuẫn! Hăy nên giải thích như thế nào th́ mới là viên dung? (La Đức Chương hỏi)

 

          Đáp: Tánh có nghĩa là Thể. Ngă và Pháp đều không có thật thể; v́ thế nói là Thắng Nghĩa Vô Tánh. Nói cách khác, nó chính là Chân Không Pháp Tánh, c̣n gọi là Viên Thành Thật Tánh. Tánh Không ấy có hai nghĩa “bất biến” và “tùy duyên”. “Bất biến” là chuyện thuộc về Chân Không; “tùy duyên” là nó nương vào pháp khác, dấy khởi huyễn tướng của hết thảy các pháp hữu vi. V́ thế nói: “Hết thảy các pháp tuy huyễn, vẫn có Pháp Tánh”. “Pháp Tánh” [trong câu ấy] là nói đến Chân Không Pháp Tánh, đồng nghĩa khác tên với Thắng Nghĩa Vô Tánh.

 

          * Hỏi: “Oán” là một trong mười tập nhân (習因, cái nhân của tập khí) trong kinh Lăng Nghiêm (xem quyển tám của kinh Lăng Nghiêm), chính là một tâm pháp trọng yếu. “Ưu” là một trong năm tâm pháp như Khổ v.v… Do Hỷ và Xả thuộc vào mười một thiện tâm, Ưu phải nên xếp vào phiền năo Tâm Sở. Nhưng tôi thấy Thái Hư đại sư khi giảng giải Bách Pháp của Duy Thức cớ sao lại chẳng bàn đến hai Tâm Sở là Ưu và Oán. Nếu xét theo những điều Ngài đă luận định, chẳng phải là các món Tâm Sở trong Duy Thức đă tàn khuyết, chẳng đầy đủ mất rồi! (La Đức Chương hỏi)

 

          Đáp: Oán và Ưu thuộc về Tâm Sở Hữu Pháp. Trong [tiểu loại] năm pháp Biến Hành [của Tâm Sở], có Thọ Tâm Sở. Thọ có năm thứ (khổ, lạc, ưu, hỷ, xả); do vậy, Ưu đă được gộp trong ấy. Trong Tùy Phiền Năo có nói tới ba món Tâm Sở là Phẫn, Hận và Năo, [như vậy là] Oán đă được gộp vào đó. Tâm chẳng ngưng nghỉ trong sát-na nào, có chỗ nào chẳng tồn tại. Nếu mỗi thứ đều viết ra, sẽ rườm rà khôn xiết! V́ thế, văn lẫn nghĩa phải chọn [cách nói theo lối] quy nạp, lời lẽ tuy đơn giản, ư nghĩa không ǵ chẳng trọn đủ!

 

          * Hỏi: Trong phần đầu, nơi chương Hành Do của Đàn Kinh có chép: “Hà kỳ tự tánh bổn tự thanh tịnh” (nào ngờ tự tánh vốn sẵn thanh tịnh); sau đó, trong chương Phó Chúc lại chép: “Tự tánh năng hàm tàng vạn pháp, danh Hàm Tàng Thức” (Tự tánh có thể chứa đựng muôn pháp, gọi là Hàm Tàng Thức). Hàm Tàng Thức chính là A Lại Da Thức, là chân vọng ḥa hợp. Cớ sao hai đằng lại nói về Tự Tánh khác nhau? Há chẳng phải là điều trước nhằm nói Thể của nó vốn tự thanh tịnh, điều sau nhằm nói nó có tác dụng chứa đựng muôn pháp đấy chăng? (Chung Quán Tĩnh hỏi)

 

          Đáp: “Chân” là Bổn Giác, “vọng” là do bất giác mà có vô minh. Như vàng ở trong quặng, tuy vàng và cát lẫn lộn, thật ra, vàng là vàng, cát là cát. Đấy là chỗ hoàn toàn chẳng mâu thuẫn giữa chân vọng ḥa hợp và tánh vốn thanh tịnh. Nói “hàm tàng” (chứa đựng, cất giữ) là nói về Dụng của nó, đúng như ông đă nói.

 

          * Hỏi: Thiền Tông trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật. Nếu nói theo đó, hiểu nghĩa theo mặt văn tự, “kiến tánh” chính là thấy Lại Da của chính ḿnh. Thấy Lại Da, sẽ có thể thành Phật. Như vậy th́ như trong Bát Thức Quy Củ Tụng [đă nói], phải thuộc vào địa vị trước khi đạt tới Bất Động Địa th́ mới xả hàm tàng, đă đạt Kim Cang Đạo rồi mới hết dị thục! Nói theo kiểu ấy, sẽ là như thế nào? Đệ tử nghi điều này, kính xin hăy từ bi khai thị! (Chung Quán Tĩnh hỏi)

 

          Đáp: Tánh là tên gọi của Thể, Lại Da là tên gọi của Dụng. Như “kiểm bồn” (臉盆, cái chậu rửa mặt), vốn là cái chậu, tức là nói đến Thể của nó. Gọi là nó là “kiểm bồn” tức là nói đến Dụng (công dụng, tác dụng) vậy. Khi rửa mặt, có thể gọi nó là “kiểm bồn”. Nhưng sau khi đổ nước đi, chẳng rửa mặt, vẫn có thể gọi là “kiểm bồn”. Ngộ lư này, sẽ chẳng nghi ngờ chuyện gọi lẫn lộn giữa Tánh và Lại Da! Nhưng cổ nhân thường nói “kiến tánh thành Phật”, e rằng rất hiếm nghe nói “kiến Lại Da thành Phật” vậy!

 

          * Hỏi: Chữ Hành trong “Vô Minh duyên Hành” của Thập Nhị Nhân Duyên ở phía trước Danh Sắc, [Vô Minh] vẫn chưa có h́nh sắc, làm sao có thể tạo tác Hành cho được? Xin hăy khai thị. (Phật Văn hỏi)

 

          Đáp: Pháp có Sắc pháp và Tâm pháp sai khác, Hành có Sắc khởi và Tâm khởi. Hành trong “Vô Minh duyên Hành” chính là do tâm pháp dấy lên, chẳng phải là Hành thuộc về bảy chi thân và khẩu[6] vậy. Nhưng tâm lại chia thành Năng và Sở, Hành lại thuộc về Tâm Sở Pháp!

 

          * Hỏi: Mỗi thức trong tám thức đều có bốn phần, chẳng biết Kiến Phần của thức thứ tám là ǵ? Tướng Phần của thức thứ tám là ǵ? Tự Chứng Phần của thức thứ tám là ǵ? Chứng Tự Chứng Phần của thức thứ tám là ǵ? Kiến Phần của thức thứ năm, thứ sáu và thứ bảy là ǵ? Cho đến Chứng Tự Chứng Phần của thức thứ năm, thứ sáu và thứ bảy là ǵ? (Khâu Bỉnh Huy hỏi)

 

          Đáp: Câu hỏi này rất rắc rối. V́ sao chẳng hỏi về các thức thứ nhất, thứ hai, thứ ba, và thứ tư? Nếu nói là đối với bốn phần của thức thứ nhất cho đến thứ tư đều đă hiểu rơ, sẽ có thể dùng cách loại suy[7] để hiểu bốn thức sau. Hỏi kiểu ấy, trả lời sẽ đơn giản, thế nhưng ông lại muốn biết bốn phần của bốn thức sau. Xét ra, dường như ông vẫn chưa hiểu rơ ư nghĩa của bốn phần! Đă là khó trả lời, lại c̣n do sự hiểu biết về tám thức của bọn sơ cơ chúng ta, chỉ có thể hiểu đến thức thứ sáu, chứ thức thứ bảy và thứ tám khá xa vời. Nếu luận về bốn phần [của chúng], há càng chẳng khó hơn ư? Nhưng ông đă hỏi về thức thứ tám, chỉ đành miễn cưỡng [trả lời] qua loa cho xong trách nhiệm! Tướng Phần của thức thứ tám là hết thảy các chủng tử. Kiến Phần của nó là thức thứ bảy. Có thể nhận biết thức thứ bảy là Kiến Phần của thức thứ tám th́ gọi là Tự Chứng Phần. Do vậy, lại khởi lên tác dụng có thể duyên, chứng thực Tự Chứng Phần nhận biết “thức thứ bảy là Kiến Phần của thức thứ tám” không sai lầm, đó gọi là Chứng Tự Chứng Phần. Những điều khác có thể phỏng theo lệ này!

 

          * Hỏi: Để tám thức chuyển thành bốn trí, hăy nên dùng phương pháp nào? Tốt nhất là [xin cụ] hăy chỉ ra phương pháp nào có dấu tích có thể t́m được, ḥng dễ thực hiện! (Lại Đống Lương hỏi)

 

          Đáp: Siêng tu Bát Chánh Đạo và Lục Ba La Mật, sẽ có thể chuyển Thức thành Trí. Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng sẽ có thể chuyển Thành Sở Tác Trí. Chánh Tư Duy, Chánh Tinh Tấn có thể chuyển Diệu Quán Sát Trí. Chánh Kiến và Chánh Niệm có thể chuyển B́nh Đẳng Tánh Trí. Chánh Định có thể chuyển Đại Viên Kính Trí. Thí Độ và Giới Độ tương ứng với Thành Sở Tác, Tấn Độ tương ứng Diệu Quán Sát. Nhẫn Độ tương ứng B́nh Đẳng Tánh. Thiền Độ và Trí Độ tương ứng Đại Viên Kính. Hơn nữa, ba mươi bảy phẩm trợ đạo đều giúp chuyển biến thức. Tứ Chánh Cần, Ngũ Căn, và Ngũ Lực có thể chuyển năm thức đầu, Thất Bồ Đề có thể chuyển thức thứ sáu. Tứ Niệm Trụ có thể chuyển thức thứ bảy. Tứ Thần Túc và Bát Chánh Đạo có thể giúp chuyển thức thứ tám.

         

          * Hỏi: Sau khi chúng ta chết, thức thứ tám bị nghiệp lực lôi dắt, đến đầu thai trước. Khi nó thấy cha mẹ trong tương lai giao cấu mà sanh tâm tham ái, sẽ đầu thai vào đó. Ngu ư cho rằng nam nữ trong thế gian giao cấu trong cùng một lúc chẳng biết là bao nhiêu, nhất là vào ban đêm. Có phải là trong lúc ấy, thức thứ tám chỉ có thể trông thấy chuyện t́nh ái của cha mẹ trong tương lai, hay là nó cũng thấy chuyện t́nh dục giao cấu của những người khác để tùy ư chọn lựa (Đương nhiên là nó không thể làm chủ, nhưng đối với chuyện này, rốt cuộc đức Phật dạy như thế nào?) (Hồ Chánh Lâm hỏi)

 

          Đáp: [Xét ra], để thức thứ tám [nhận biết] cha mẹ trong tương lai th́ nghiệp lực và nhân quả của đối phương đều có quan hệ. Khi nhập thai, nó chỉ hướng về nơi hữu duyên mà nhiễm đắm, cho nên có thể đầu thai vào đó. Đây vốn là một thứ điên đảo, làm sao [thức thứ tám] có thể làm chủ để chọn lựa được!

 

          * Hỏi: Trong bốn phần của Duy Thức, Tự Chứng Phần là cái Thể để Kiến Phần và Tướng Phần nương vào (dựa theo sách Khởi Tín Luận Giảng Nghĩa do tiên sinh Phạm Cổ Nông biên soạn), nó phải là A Lại Da Thức. Vậy th́ Chứng Tự Chứng Phần lại là thứ ǵ vậy? (Chung Quân Lương hỏi)

 

          Đáp: Muốn nói rơ ư này, tôi tính đáp bằng cách nói gộp lại, có lẽ sẽ rơ ràng hơn. Cả bốn phần đều thuộc vào nhất tâm, bất quá chia thành hai loại lớn là “Tự Thể, Tâm Vương, Năng Duyên”“Khởi Dụng, Tâm Sở, Sở Duyên”. Kiến Phần thuộc ba loại đầu, Tướng Phần thuộc ba loại sau. Ngoài ra, khởi lên tác dụng năng duyên khác, lấy Kiến Phần làm [đối tượng để] duyên theo, th́ gọi là Tự Chứng Phần. Lại khởi lên một tác dụng năng duyên khác nữa, lấy Tự Chứng Phần làm sở duyên (đối tượng để duyên), gọi là Chứng Tự Chứng Phần. Nhưng Chứng Tự Chứng Phần vẫn là do Tự Chứng Phần khởi lên, bất quá có thể nói là: Đối với chuyện tinh xác, bèn cầu t́m cái tinh xác hơn. Chứ thật ra, nó (Chứng Tự Chứng Phần) lấy Tự Chứng Phần làm chủ thể. Duyên theo Kiến Phần trước đó, hay duyên theo Chứng Tự Chứng Phần trong phần sau, đều là tác dụng của nó (Tự Chứng Phần). Tự Chứng Phần ví như kết quả của phép nhân trong Toán Học, c̣n Chứng Tự Chứng Phần ví như “khí cửu pháp” (棄九法, nine-test algorithm)[8], hai đằng có thể chứng lẫn nhau.

 

          * Hỏi: Giải thích bốn chữ “Tâm Vương, Tâm Sở” như Duy Thức Luận đă nói như thế nào? Kẻ sơ học chỗ hiểu, chỗ không, xin hăy dạy cho! Cũng như xin hăy dùng những thí dụ cụ thể [để giảng giải], ngơ hầu [người nghe] được hiểu rơ ràng, rành rẽ! (Trọng Chí Anh hỏi)

 

          Đáp: Tâm được gọi là Vương, v́ Vương là người đứng đầu một đất nước, làm chúa tể hết thảy. Tâm cũng giống như thế. Chữ Sở () vốn là nói tắt của hai chữ sở hữu” (所有), nghĩa là trong tâm có đến mấy chục loại tư tưởng thiện và ác. Do rắc rối, chẳng tiện nói cặn kẽ được, nên nói là “sở hữu”. Nay tôi nêu thí dụ để chỉ rơ: Như đóng vai tṛ chủ chốt có tác dụng chủ yếu phát ra hiệu lệnh th́ đó là [đặc tánh] của Vương, nên ví tâm như Vương. Mạng lệnh đă phát ra ấy, sẽ có đủ mọi tác dụng khác biệt giáng họa, gieo phước cho nhân dân, nên sánh ví [những tác dụng ấy] như những thứ sở hữu sai khác của tâm. V́ thế, gọi là Sở Hữu.

 

          * Hỏi: Duy Thức Tam Thập Tụng chú giải về Vô Minh như sau: “Si mê vi tánh, phiền năo sở y vi nghiệp” (Si mê làm tánh, là chỗ để phiền năo nương tựa vào mà tạo ra nghiệp). Điều này có nghĩa là phiền năo nương vào si mê mà sanh khởi, phiền năo nương vào mê để trụ. Si mê là lữ quán, phiền năo là lữ khách. Hủy phá cái lữ quán ấy, lữ khách sẽ chẳng đến ở trong ấy được nữa! Hiểu như vậy có đúng hay không? (Hao Thạch hỏi)

 

          Đáp: Trong cách hiểu của ông về chỗ nương tựa của phiền năo, đối với chuyện “mà sanh”, “mà trụ”, trong phần sau lại dùng lữ quán để tỷ dụ si mê th́ hơi thiếu viên dung. V́ lữ quán chỉ có thể nói là “an trụ lữ khách”, chứ không thể nói nó “sanh ra lữ khách” được!

 

          * Hỏi: Khi tĩnh tọa th́ thô niệm chẳng dấy lên, nhưng vẫn dường như rất vi tế nhận biết chúng. Sự nhận biết ấy có phải là do thức thứ sáu tức ư thức phân biệt? Hay là do sự so đo của Tầm Tư? (Chung Quân Lương hỏi)

 

          Đáp: Vẫn là thức thứ sáu.

 

          * Hỏi: Phân biệt giữa Diệu Quán Sát Trí và Ư Thức như thế nào? (Trí Lương hỏi)

 

          Đáp: Gọi là Thức vào lúc vọng, gọi là Trí khi nó đă chuyển thành chân!

 

          * Hỏi: Thầy thường nói: “Người sau khi đă chết, sẽ phải đầu thai chuyển sanh trong ṿng bốn mươi chín ngày”, nhưng có người chết đă rất lâu, hoặc chết không lâu lắm, có thể thường xuyên đến báo mộng cho con cháu hoặc thân hữu. Giải thích chuyện này như thế nào? (Có khi họ chỉ điểm điều thiện, có lúc chỉ điểm điều ác). (Khoan Trạm hỏi)

 

          Đáp: “Đầu thai” là nói chung về lục đạo. Đă lâu ngày mà lại nằm mộng thấy người ấy, có hai lẽ:

          1) Một là người nằm mộng đă có ấn tượng về người đă khuất ấy trong thức điền, nay [ấn tượng ấy] dấy lên hiện hành, bèn hiện thành tướng. Như nhiều năm trước từng đến chơi quả núi nào đó, nay bỗng mộng thấy, hoàn toàn chẳng phải là quả núi ấy có thể đến báo mộng, mà thật sự là do tác dụng từ ư thức của chính ḿnh.
          2) Hai là [người đă khuất] đă sanh vào quỷ đạo, hễ có dịp bèn tiếp xúc người c̣n sống.

 

          * Hỏi: Linh hồn và thân Trung Ấm có ǵ khác biệt? Nhưng người niệm Phật khi lâm chung, linh hồn sẽ văng sanh, hay là thân Trung Ấm văng sanh? (Huệ Hương hỏi)

 

          Đáp: Trung Ấm c̣n gọi là Trung Hữu. Hàm ư: Đă chết ở nơi đây, chưa sanh sang nơi kia, trong khoảng giữa ấy bèn có cái thân. Gọi nó là “linh hồn” chính là thuận theo thói thường của thế tục, cũng chẳng phải là không thể được! Nhưng người văng sanh Tây Phương bất quá là trong khoảnh khắc co duỗi cánh tay, hoàn toàn chẳng có [giai đoạn] trung gian. Chỉ có thể nói là “thần thức văng sanh”, chẳng thể nói là “thân Trung Ấm văng sanh” được. Nhưng cũng có khi thân Trung Ấm văng sanh, nhưng đấy là chuyện trong trăm ngàn trường hợp mới có đôi ba trường hợp!

 

          * Hỏi: Pháp sư Khuy Cơ đời trước là một người tu Diệt Tận Định từ lúc Phật Ca Diếp nhập diệt cho đến đời Đường, hết sức may mắn gặp nhân duyên pháp sư Huyền Trang đi thỉnh kinh, bèn chuyển thế đầu thai tại Trung Hoa. Mười sáu tuổi, Sư đỗ Trạng Nguyên. Trong khoảng thời gian ấy, Sư mê hoặc nơi lạc thú hư giả. Tu hành đă lâu như vậy, mà c̣n bị mê khi cách ấm; đấy có phải là v́ trong lúc tu học, thần thức đă từng đầu thai trong lục đạo đó chăng? Giả sử chẳng đi đầu thai, trong khi nhập Định, thần thức sẽ đến nơi đâu? (Diệu Căn hỏi)

 

          Đáp: Bậc Bồ Tát tu Đại Thừa, nếu đă chứng từ Thất Địa trở lên, khi nhập thai mới chẳng bị mê khi cách ấm. Trong thời gian tu Định, thần thức ở trong Định. Định có nghĩa là bất động, chẳng đến, chẳng đi, có thể dài, có thể ngắn. Động c̣n chưa phải là Định, huống hồ là [khi đă] vào trong lục đạo.

 

          * Hỏi: Khi chưa có trời, đất, khi chưa có Phật, nhằm thời đại hỗn độn sơ khai, bổn thần của chúng ta từ đâu hóa ra? (Vương Tích Kỳ hỏi)

 

          Đáp: Phật Đà chính là tánh Bổn Giác, há kinh chẳng nói “bất sanh, bất diệt, bất tăng, bất giảm” đó ư ? V́ thế nói là từ “vô thỉ” đến nay, pháp vốn là như thế. Hiểu điều này, đối với Phật, sẽ chẳng thể nói là khởi đầu hay kết thúc, làm sao có thể nói là “khi chưa có Phật được”? “Bổn thần của ta” chính là do bản tánh biến hiện vô minh; đấy chính là chỗ phát sanh của nó. Trong lời hỏi, ông c̣n chèn thêm câu “khi chưa có trời đất”, rơ ràng là đă tưởng lầm “thần” (thần thức) là do trời đất mà có! Cần phải biết trời và đất có “thành, trụ, hoại, không”, giác tánh thường trụ như như!

 

          * Hỏi: Đức Phật nói “trong đời chúng ta, trước khi được cha mẹ sanh ra, đă có một điểm bổn thần”. V́ sao Đạo giáo nói: “Khi con người muốn được sanh ra đời, trước hết phải do Nam Đẩu chủ hồn, Bắc Đẩu chủ phách, th́ mới có thể ra đời”? Đấy chẳng phải là một cách nói rất mâu thuẫn hay không? (Vương Tích Kỳ hỏi)

 

          Đáp: Câu hỏi này được chia thành hai đoạn. Đối với đoạn trước, hăy nghiền ngẫm câu giải đáp cho phần trước, sẽ có thể hiểu rơ. Câu sau chính là kiểu nói bất liễu nghĩa trong tôn giáo khác, mâu thuẫn với kinh Phật, có ǵ là lạ lùng?

         

          * Hỏi: Đạt đến quả vị Bồ Tát th́ có thần thức hay không? Bồ Tát có thể trụ mấy kiếp? A La Hán có thể trụ mấy kiếp? Một kiếp là như thế nào? Một kiếp là mấy ngàn năm? (Vương Tích Kỳ hỏi)

 

          Đáp: Pháp Tánh vốn giác, do dấy lên vô minh mà biến thành bất giác. Khi bất giác, bèn gọi là “thức thần”. Từ sự giác ngộ ban đầu bèn dần dần tùy phần giác, tức là Bồ Tát. Giác ngộ có sâu hay cạn; v́ thế, quả địa Bồ Tát cũng có cao hay thấp. Đă chưa thể là toàn giác, cho nên có thể nói là “có thức thần”. Ắt phải đạt tới địa vị Phật, đoạn hết căn bản vô minh, được gọi là Cứu Cánh Giác, thức thần sẽ chuyển thành Pháp Tánh. Nói tới kiếp số có thể trụ th́ mỗi mỗi đều thuận theo nguyện [của từng vị], chẳng thể nói nhất định được! Đối với kiếp số, xin tra tự điển, hoặc tra trong phần trước của sách Phật Học Vấn Đáp!

 

          * Hỏi: Nhân loại của chúng ta h́nh thành như thế nào? Tiến hóa như thế nào? (Vương Tích Kỳ hỏi)

 

          Đáp: Nói đơn giản, thần thức là vô minh, c̣n gọi là Hoặc (). Vọng khởi phân biệt, vọng khởi chân tướng. Do Hoặc tạo nghiệp, bèn có thiện ác sáu đường! Nhân loại chính là vọng tướng do nương theo thiện nghiệp. Chẳng biết ông nói “tiến hóa” nhằm nói đến điều ǵ, cho nên không đáp!

 

          * Hỏi: Xin cụ giải thích luân hồi là đạo lư như thế nào? (Vương Tích Kỳ hỏi)

 

          Đáp: Thần thức chẳng thể chuyển thành trí (Pháp Tánh), sẽ chẳng thể tránh khỏi luân hồi. Tạo nghiệp chia thành thiện hay ác, [v́ thế có] thăng trầm trong lục đạo. Chúng sanh thiện ác hỗn tạp; v́ thế, hiện cảnh có ch́m nổi ngàn muôn biến hóa, đại khái là như thế. Biết được một điều, sẽ biết khái lược những điều c̣n lại!

 

          * Hỏi: Những chuyện cảm ứng đối với xương khô xưa nay rất nhiều. Nếu con người sau khi đă chết, thần thức bị nghiệp lực lôi dẫn luân hồi trong lục đạo, thế tục nói là “sống chẳng biết hồn, chết chẳng biết xác”, v́ lẽ ǵ xương khô có thể cảm ứng? (Hồng Hoàn hỏi)

 

          Đáp: Xương khô cảm ứng chỉ hạn cuộc [trong trường hợp] người đă chết sanh vào quỷ đạo, v́ quỷ có tiểu thông (小通, thần thông nho nhỏ), lại chấp trước Thân Kiến; do vậy, ngẫu nhiên có sự tương cảm, hoàn toàn chẳng phải là chuyện thường có. Cũng có khi là những thứ tà quái giả mạo dựa vào!

 

          * Hỏi: Hôm nay có một người hỏi tôi về ba hồn bảy phách, rốt cuộc phải trả lời như thế nào? (Lư Tú Xuân nói)

 

          Đáp: “Hồn phách” (魂魄) chính là khái niệm ở ngoài Phật giáo, là thuyết của các nhà khác. Trong Nho gia, nó mang ư nghĩa “tinh thần”. Tả Truyện có nói “hóa phách, sanh phách”, kinh Dịch có đoạn văn nói về Hồn. Người chú giải cho rằng: “Linh dựa vào thân th́ gọi là Phách, linh dựa vào khí th́ gọi là Hồn”. Y học lại nói: Gan chứa hồn, phổi chứa phách. Họ cũng chủ trương đó là một loại linh khí. Chỉ có trong các sách như Băo Phác Tử[9], Nội Cảnh Kinh[10] v.v… của Đạo gia xác thực là có ghi chép “ba hồn, bảy phách”. Ngoài ra, c̣n nhiều thuyết khác nữa. Đă chẳng phải là [giáo nghĩa] do nhà Phật nói, rảnh đâu để biện định đúng, sai! Nhà Phật nói đến Tánh; hễ mê, [Tánh sẽ] biến thành Thức. Chữ Thức này được các nhà (các giáo, các trường phái triết học) và các ngoại đạo gọi là “linh hồn”. Nhưng thức do mê càng sâu hơn, từ một lại chia thành tám. Thuyết này rất vi tế, chẳng thể giải nói với cư sĩ bằng vài câu được!

 

          * Hỏi: Con người hoài thai mười tháng mới sanh, thần thức đến đầu thai là lúc mới cấn thai bèn vào trong thai, hay là khi sắp sanh mới đến đầu thai? (Dư B́nh hỏi)

 

          Đáp: Cả hai loại đều có. Lúc mới cấn thai, [thần thức] nhập thai là lẽ thông thường. Khi sắp sanh mới đầu thai là trước đó đă có một thần thức thay thế ở trong thai ngục, để đợi thần thức ấy đến thay thế [khi sắp sanh].

 

          * Hỏi: Trung Ấm c̣n có Căn (phù trần) hay không? Nếu có, ắt sẽ chẳng nên lại có các căn nơi sắc thân hư giả ḥng ứng với thấy, nghe, hay, biết v.v… Tôi thấy những kẻ mù, điếc bị mất sự thấy, nghe ngoại cảnh, có thể nói là Trung Ấm có thức mà chẳng có căn hay không? (Hồ Chánh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Đă nói Trung Ấm, tức là có thân, vậy th́ các phù trần căn đều có. Thân chính là một trong các căn! [Từ ngữ] “sắc thân” không phải chuyên để chỉ một loại thai sanh! Đối với tứ sanh đều có thể nói là Sắc. Lại cần phải biết tác dụng “thấy, nghe, hay, biết” chẳng thuộc vào phù trần căn, những căn ấy bất quá làm trợ duyên. Sức mạnh chủ yếu là từ các tịnh sắc căn!

 

          * Hỏi: Thân Trung Hữu có thật hay không? Nếu có, Tướng và Thể của nó là như thế nào? Lại nữa, trước khi đầu thai, nó nương vào ǵ để trụ? (Trần Như Đức hỏi)

 

          Đáp: Hai chữ “có thật”, nói theo học lư, muôn pháp đều là Không, do nhân duyên mà sanh ra tướng ấy. Thân Trung Hữu cũng chẳng phải là ngoại lệ. H́nh tướng của nó giống như con người, nhưng nhỏ hơn, hành động th́ có đứng thẳng, nằm ngang… đủ mọi thứ khác nhau. Kinh Trung Ấm nói [về thân này] rất tường tận. Trước khi đầu thai, nó nương vào Thức để trụ.

 

          * Hỏi: A Lại Da Thức nương vào Chân Như, [mà Chân Như] chẳng có đến đi, vậy th́ “gởi thể chất nơi đài sen” là chuyện như thế nào? (Trần Như Đức hỏi)

 

          Đáp: Cổ đức có mấy câu như “sanh th́ quyết định sanh, đi th́ thật sự chẳng đi”, “đi th́ quyết định đi, sanh th́ thật sự chẳng sanh” có thể nói rơ [chuyện này]. Nếu chẳng lănh ngộ, hăy thử nghĩ: A Lại Da đă có thể gởi thân trong lục đạo, lẽ nào chẳng thể gởi thân nơi cơi sen?

 

          * Hỏi: Khí giới (khí thế gian, thế giới) thành, trụ, hoại, không (thoạt đầu là mờ mịt, tối tăm, vũ trụ hư huyễn, hoàn toàn chẳng có ǵ. Trải qua một thời gian dài ấp ủ, từ Vô Cực sanh ra Thái Cực, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, vô số sinh vật cư ngụ, tuần hoàn trong ấy), làm sao có thể nói “chỉ là do Thức hiện”? Lại nữa, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng là ǵ? (Trần Như Đức hỏi)

 

          Đáp: Chẳng có thức phân biệt, ai biết nó thành, trụ, hoại, không? Lưỡng Nghi là trời đất, Tứ Tượng là Thái Âm, Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương. Thuyết ấy phát xuất từ kinh Dịch của Nho gia.

 

          * Hỏi: Chuyển tám thức thành bốn trí, gộp bốn trí thành ba thân. Mấy thức hợp thành một trí? Mấy thức trở thành một trí riêng biệt? (Tiêu Thiệu Hinh hỏi)

 

          Đáp: Năm thức trước (nhăn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân thức) cùng chuyển thành Thành Sở Tác Trí, riêng thức thứ sáu chuyển thành Diệu Quán Sát Trí, riêng thức thứ bảy chuyển thành B́nh Đẳng Tánh Trí, riêng thức thứ tám chuyển thành Đại Viên Kính Trí.

 

          * Hỏi: Gộp bốn trí thành ba thân th́ mấy trí hợp thành một thân? Mấy trí riêng ḿnh tạo thành một thân? (Tiêu Thiệu Hinh hỏi)

 

          Đáp: Thành Sở Tác và Diệu Quán hợp thành Hóa Thân, riêng một ḿnh B́nh Đẳng Tánh thành Báo Thân, riêng Đại Viên Kính thành Pháp Thân.

 

          * Hỏi: Xét về nguồn gốc, chủng tử là khởi đầu hay là vốn có? Chủng tử hữu lậu là khởi đầu ư? Chủng tử vô lậu là vốn có ư? (Lâm Hỏa Thọ hỏi)

 

          Đáp: “Chủng tử” là từ ngữ mang tánh chất tỷ dụ nói về công năng, chẳng phải là thật sự có vật thể! Các vị thuộc tông Duy Thức đă chia chủng tử thành hai loại. Thức thứ tám từ vô thỉ vốn là như vậy, nên gọi là Bổn Hữu Chủng Tử (chủng tử vốn sẵn có). Do các thứ tập khí về sau in vào trong thức thứ tám, nên gọi là Tân Huân Chủng Tử (chủng tử mới huân tập), có thể nói chúng chính là Thỉ Khởi Chủng Tử (chủng tử vừa mới bắt đầu). Chẳng cần biết là hữu lậu hay vô lậu, hai loại Bổn Hữu và Tân Huân thảy đều bao gồm [tất cả các chủng tử].

 

          * Hỏi: A Lại Da Thức (Tánh) đă là tuần hoàn chẳng ngừng, v́ sao thường là trong lúc bị ngất xỉu, bèn mất đi tri giác. Nếu là như vậy, há chẳng phải A Lại Da Thức bị đoạn diệt một lần ư? (Trương Cung hỏi)

 

          Đáp: Nay tôi dùng con mắt để tỷ dụ. Trong nơi quang minh thanh tịnh, đúng như cái Thể của bản tánh, [đối với] hết thảy [các sự vật, con mắt] đều có thể chiếu soi (thấy rơ ràng), đều biết được chân tướng [của các sự vật ấy]. Khi con mắt bị viêm nhiễm, sẽ kèm nhèm, giống như A Lại Da, mắt nh́n vào [các sự vật] sẽ bị biến huyễn, chẳng thấy được chân tướng của vạn vật. Khi nhắm mắt, hoặc khi ngủ, đă là mắt chẳng soi thấy, nhưng đó chỉ là trong khi ấy, [mắt] chẳng khởi [tác dụng] chiếu soi, quyết chẳng phải là mắt bị đoạn diệt. Tham cứu điều này, sẽ biết [v́ sao A Lại Da trong khi ngất xỉu chẳng phải là bị đoạn diệt].

 

          * Hỏi: Đức Phật dạy, “hết thảy các động vật đều có Phật Tánh”. Đă có Phật Tánh, sẽ có linh thức. Lại nói: Quán một chén nước, [thấy trong ấy có] tám vạn bốn ngàn trùng. Các nhà khoa học hiện thời dùng kính hiển vi để soi, quả nhiên chẳng sai! Có kẻ hỏi: - Chén nước ấy đổ ụp xuống đất th́ linh thức của khá nhiều loài trùng ấy c̣n có hay không? Giả sử là có linh thức, v́ sao một chén nước mà có thể biến thành nhiều [thần thức] ngần ấy? (Giang A Ngọc hỏi)

 

          Đáp: Thần thức vô h́nh, kư thác nơi cái thân hữu h́nh. Đă thừa nhận chén nước có thân của tám vạn bốn ngàn trùng, sao lại nghi hoặc tám vạn bốn ngàn trùng có thần thức? Chẳng thấy thần thức [của các con trùng] ở trong chén là nhiều, sao lại ngược ngạo lo thần thức khi đổ chén nước xuống đất là nhiều? Nước hắt xuống đất, thân trùng tự chết, thần thức của nó lại kư thác [trong một thân khác], lư ấy cũng hết sức rơ rệt. Hăy nên biết: Trong hư không giới, trong một sát-na, có bất khả thuyết hằng hà sa số chúng sanh noăn, thai, thấp, hóa chết, mà cũng có bất khả thuyết hằng hà sa số chúng sanh noăn, thai, thấp, hóa được sanh ra. Bỏ thân chỗ này, đầu thai vào chỗ kia, chuyện này cũng chẳng khó hiểu!

 

          * Hỏi: Có người hỏi: “Đă có linh thức, nay bất luận nhân loại hay động vật đều đă tăng thêm nhiều ngần ấy, rốt cuộc là đến từ chỗ nào?” Đệ tử đáp: “Từ những địa cầu trải qua giai đoạn thành, trụ, hoại không”. Đúng không? (Giang A Ngọc hỏi)

 

          Đáp: Ông trả lời như vậy đương nhiên là hợp lư, nhưng c̣n thiếu sự phân tích. Hăy nên biết: Hư không vô tận, số lượng đại thiên thế giới cũng là vô tận. Thần thức chẳng bị hạn chế bởi không gian. Khi thế giới này thuộc giai đoạn Thành và Trụ, thần thức từ những thế giới thuộc giai đoạn Hoại và Không sẽ nhóm họp đến đây. Khi thế giới này thuộc giai đoạn Hoại và Không, thần thức lại hướng đến thác sanh trong những thế giới thuộc giai đoạn Thành và Trụ. Hiểu rơ lư này, sẽ biết khi thế giới này tăng thêm [các loài chúng sanh] chính là thế giới khác đang trong thời giảm. Ngược lại th́ cũng là như thế.

 

          * Hỏi: Thai nhi là do gộp ba thứ tinh cha, huyết mẹ và thần thức sẵn có mà thành, nhưng tôi xét theo những điều được ghi chép trong các công án: Chết ở nơi kia, sanh ở nơi này, lại là cùng năm, cùng tháng, cùng ngày. Chiếu theo đó để suy lường, mẹ hoài thai phải mất mười tháng mới có thể sanh nở, tôi cảm thấy điều này rất mâu thuẫn! Thần thức là do đâu mà có? (Giang A Ngọc hỏi)

 

          Đáp: Do ba thứ là tinh cha, huyết mẹ, thần thức hợp thành, ở trong bào thai cũng có thời gian nhất định; đấy chính là lẽ thông thường! Có trường hợp khi sắp sanh bèn thấy có người vào thai, ắt phải là trước hết đă có một thần thức khác thay thế ở trong thai, đợi đến khi thần thức của người [thật sự sẽ thác sanh] tới sẽ thay thế, [thần thức có sẵn trong thai bèn rời đi]. Chuyện này có hai trường hợp:

          1) V́ người đại phước sẽ đến đầu thai mà có một cái thức khác thay thế để hứng chịu nỗi khổ thai ngục.

          2) V́ muốn chỉ bày quả báo cho kẻ khác, do có sự quyền biến nên có thể biến hiện như vậy.

 

          * Hỏi: Thi thần[11] đă diệt, v́ sao nguyên thần và thức thần chẳng phân tán? V́ sao lại biết đầu thai chuyển thế? (Phan Chấn Bang hỏi)

 

          Đáp: Cái thuyết “tam thần” chính là lời lẽ của bọn ngoại đạo! Hăy gác lại đó, chẳng bàn tới. Ở đây, chỉ luận định về thức thần. Thức thần chính là pháp sanh diệt bị nghiệp lực dẫn dắt đi đầu thai; khi ấy, chính ḿnh hoàn toàn chẳng thể chủ trương được!

         

          * Hỏi: Trong kinh Phật có nói: “Người sau khi đă chết, trong ṿng bốn mươi chín ngày, sẽ thuận theo nghiệp lực của mỗi người để đầu thai vào một đường [nào đó]. C̣n có một loại là cơ duyên đầu thai chưa chín muồi, thường phiêu du trong hư không giới, không có nơi để nương tựa”. Nhưng tôi thường nghe nói: “Nơi mộ địa, có phát hiện tướng trạng kỳ quái”. Đấy có phải là do người đó khi c̣n sống, chấp trước sắc thân quá mức, đến nỗi linh hồn cứ quẩn quanh nơi thân xác, chẳng rời ĺa, cho nên mới có tướng ấy xuất hiện đó chăng? (Tạ Trí Viễn hỏi)

 

          Đáp: Trong bốn mươi chín ngày th́ gọi là thân Trung Hữu. Sau thời gian ấy mà phiêu du trên hư không, hoặc hiện h́nh tướng kỳ lạ, th́ đă là thân trong quỷ đạo rồi! Lại c̣n nương náu, luyến tiếc nơi phần mộ, tất nhiên là do tà chấp Thân Kiến gây nên.

 

          * Hỏi: Cái thuyết “người sau khi đă chết bốn mươi chín ngày mới đầu thai” có phải là xuất phát từ kinh Phật hay không? Nhưng thế tục phần nhiều truyền tụng: Ngay khi chết, trong sát-na tắt hơi liền đầu thai. Bao nhiêu chuyện chép về sự chuyển sanh đều ghi như thế! (Lê Minh Thời hỏi)

 

          Đáp: [Điều này] được chép trong kinh Trung Ấm. Thời gian đầu thai ngắn th́ là trong một sát-na, dài th́ là bốn mươi chín ngày.

 

          * Hỏi: Phàm phu dùng thần thức để đầu thai. Nếu Phật, Bồ Tát nương theo nguyện, sẽ chẳng dùng thần thức để đầu thai, chưa biết [các Ngài] dùng ǵ để nhập thai? (Ngô Minh Côn hỏi)

 

          Đáp: Tánh bị mê th́ gọi là Thức; thức đă giác th́ gọi là Trí. Thức bị nghiệp lôi dắt, hết thảy chẳng được tự tại. V́ thế, có chuyện sanh tử ứng theo cái nhân mà nhập thai, xuất thai! Bồ Tát có rất nhiều đẳng cấp, v́ các Ngài là tùy phần giác, chưa phải là rốt ráo. Từ Thất Địa trở xuống, do hăy c̣n có thức, nên khi nương theo nguyện nhập thai, những vị nào có thể hóa thân bèn dùng hóa thân để nhập. Nếu không, dùng Như Lai Tạng gồm cả trí và thức để nhập. Nếu là Phật hoặc bậc Đẳng Giác, do đều đă chuyển Thức thành Đại Viên Kính Trí, Pháp Thân bất động, hóa thân vô lượng, bèn dùng những thứ ấy để nhập. Cứ dựa theo chuyện hóa điểu diễn nói pháp âm trong kinh A Di Đà, sẽ có thể biết!

 

          * Hỏi: Thần thức của tứ sanh, tức thai, noăn, thấp, hóa, là giống như nhau, hay là có lớn nhỏ phân biệt? Ví như trong loài súc sanh, thân của hổ, sư tử, voi to lớn, mạnh mẽ như vậy, c̣n h́nh dạng thân thể của kiến, các loài tiểu trùng nhỏ yếu như vậy, thần thức của chúng vẫn giống hệt như nhau ư? (Hồng Hoàn hỏi)

 

          Đáp: Bản tánh như nhau, thần thức chẳng đồng nhất, do nhiễm Cái[12] sâu hay cạn mà mỗi người mỗi khác. Nếu luận định lớn hay nhỏ, [thần thức của bất cứ ai] sẽ đều là theo chiều dọc tột cùng, theo chiều ngang trùm khắp, không ǵ lớn có thể vượt ra ngoài, chẳng bị hạn cuộc bởi thân h́nh lớn hay nhỏ. C̣n như hổ, sư tử, voi to lớn, mạnh mẽ, kiến, các loài trùng nhỏ nhoi, yếu đuối đều là chuyện liên can đến thân h́nh và thể lực, chứ thần thức chẳng v́ vậy mà bị tăng hay giảm!

 

          * Hỏi: Có phải là chúng sanh do bị nghiệp lực lôi dắt, sau khi kết thúc cuộc sống nơi Báo Thân (sau khi đă chết), ắt sẽ phải đi vào địa ngục một chuyến? Cái chỉ huy chúng sanh đi thọ báo chính là nghiệp hay là thức thứ tám? Chúng sanh thọ báo chủ động đến đó hay là do bị động? Nếu là chủ động, nhất định sẽ hướng đến lợi, tránh né hại. Nếu là bị động, sao lại có thể nhận biết hoặc t́m được đối tượng để trả báo trong Hằng hà sa số chúng sanh? (Mạc Ngă Hư hỏi)

 

          Đáp: Chẳng thoát khỏi lục đạo luân hồi, ắt sẽ có thể bị đọa địa ngục. Như người ở trong nhà, đối với bốn góc, ắt phải đi qua toàn thể các góc ấy vài lượt. Thức thứ tám là chủ nhân ông (ông chủ). Nghiệp lực là chủng tử chứa đựng trong thức thứ tám, dấy lên hiện hành. Sức mạnh của nghiệp ấy ví như sợi thừng có thể lôi kéo thức thứ tám thăng trầm trong lục đạo. Đấy là chánh nhân của nó, oan gia báo thù chẳng qua là ngoại duyên mà thôi!

 

          * Hỏi: Khoa học cận đại hưng thịnh, hết thảy nguyên lư và nguyên tắc [do khoa học đề xướng nếu] dựa theo kinh để nói, sẽ là thức thứ sáu lầm lạc dấy lên phân biệt, hoàn toàn chẳng phải là tuyệt đối. Nhưng áp dụng [những nguyên lư và nguyên tắc ấy] vào thực dụng, sẽ có văn minh vật chất, như học nguyên lư của Toán cao cấp, sẽ có thể đo lường núi cao, nước sâu, tinh tú, lại c̣n chẳng sai sót mảy may! Hiệu quả như thế mà vẫn gọi là hư vọng ư? (Tống Thụy Tích hỏi)

 

          Đáp: “Vọng” là nói về mê hoặc, vọng niệm và vọng cảnh ở bên ngoài. Cảnh đă là không thật, cứ lắm cách so đo, đấy chính là dùng vọng để duyên vọng! Núi cao, nước sâu, vốn là vọng cảnh, dẫu dùng Toán học đo lường chẳng sai mảy may, bất quá là hành vi dựa theo trật tự trong cái tâm so đo đó thôi!

         

          * Hỏi: Chúng sanh chết đi, bất diệt, ai nấy đều do những nghiệp thiện ác đă tạo mà luân hồi trong sáu đường, nhưng từ vô thỉ tới nay, thần thức của mỗi chúng sanh ấy có bị tăng hay giảm hay chăng? Nếu bảo là chẳng tăng giảm, vậy th́ tu hành đạt tới địa vị Phật, Bồ Tát, chẳng đọa trong luân hồi, rơ ràng là Giảm! Sinh vật tăng trưởng đông đảo không ngừng, số lượng tăng gia ắt phải là theo cấp số nhân; rơ ràng là tăng! Nếu nói là có tăng giảm, vậy th́ tăng là do đâu mà đến, giảm th́ sẽ đi về đâu? (Trương Kiếm Phân hỏi)

 

          Đáp: Chuyện này cũng có thể mượn không khí để tỷ dụ. Không khí do [nhiệt độ] nóng, lạnh mà lưu động không ngừng. Trong luồng không khí lưu động ấy, dựng một vạn căn nhà, trong mỗi căn nhà đều có không khí. Nếu giảm bớt một ngàn căn, có thể nói là giảm bớt không khí trong một ngàn căn nhà hay không? Nếu lại dựng thêm mười vạn căn nhà, cũng chẳng thể nói là lại tăng thêm không khí từ mười vạn căn nhà! Thức của chúng sanh giống như không khí trong nhà, có thơm, thối, lạnh, nóng sai khác. Từ nhà Giáp chuyển sang nhà Ất, từ nhà Ất chuyển qua nhà Bính, xoay vần không ngừng. Không khí trong vô lượng vô biên đại thiên thế giới từ chỗ này chuyển qua chỗ kia. Đă biết sự rộng lớn của hư không, vấn đề tăng giảm đă được giải quyết! Tánh của Phật, Bồ Tát ví như không khí vốn sẵn có ở ngoài nhà, đă không có thơm, thối khác biệt, mà cũng không bị tác động bởi sự nóng, lạnh!

 

          * Hỏi: Trong giấc mộng, Tần Mục Công[13] được Bảo phu nhân (trĩ kê tinh, 雉雞精, chim trĩ tu thành yêu quái) dẫn lên chơi thiên cung. Sau đấy, do vua thờ phụng [Bảo phu nhân] mà giành được nghiệp Bá. Đến tuổi già, được Tiêu Sử và Lộng Ngọc[14] dẫn lên chơi cung Quảng Hàn (cung trăng), bị bệnh mà mất. Đấy có phải là tà ma yêu quái làm lộng hay chăng? (Trí Huyễn hỏi)

 

          Đáp: Có lẽ Tiêu Sử là một phương sĩ[15], bảo hắn ta là ma tà, cũng chẳng phải là không được!

 

          * Hỏi: Tề Hoàn Công giữa ban ngày trông thấy Du Nhi và Ủy Xà. Du Nhi từ lời ca của Quản Di Ngô mà hiện h́nh. Ủy Xà là quỷ hiện h́nh từ một cái chằm[16] lớn. Đấy có phải là hiện tượng từ trong tâm thức, hay là điềm báo nhà vua sẽ đạt nghiệp Bá mà hiện ra cho thấy? (Trí Huyễn hỏi)

 

          Đáp: “Vạn pháp duy tâm” là lời nói theo Thật Đế, “điềm báo” là nói theo Tục Đế.

 

          * Hỏi: Tấn Cảnh Công mắc bệnh, cầu thầy thuốc nước Tần là Cao Hoăn chữa trị. Thầy thuốc chưa đến, vua mộng thấy hai đứa trẻ thương lượng để trốn tránh danh y th́ phải núp vào cao hoang[17]. Đến khi thầy thuốc tới, chẩn bệnh xong bèn nói: “Bệnh đă nhập cao hoang, chẳng thể chữa được!” Phù hợp giấc mộng! Như thế th́ đó là hiện tượng từ tâm thức cảm nhận bệnh t́nh, hay là thật sự có bệnh quỷ sợ danh y [mà trốn tránh] đấy chăng? (Trí Huyễn hỏi)

 

          Đáp: Tuy có bệnh quỷ, cũng chỉ là do thức hiện ra.

 

          * Hỏi: Đường Minh Hoàng[18] lên chơi cung trăng là do huyễn thuật của tiên gia. Đấy có phải là hiện tượng tâm thức hay không? (Trí Huyễn hỏi)

 

          Đáp: Cố nhiên là huyễn thuật của phương sĩ. Nếu chẳng có vọng thức, cũng chẳng thể tương ứng để hiện được!

 

          * Hỏi: Thánh nhân không nằm mộng và như như bất động; trong nhà Phật có [những cảnh giới] tương tự hay không? (Trí Huyễn hỏi)

 

          Đáp: Tŕnh độ của thánh nhân cũng có tầng cấp khác biệt. Như như bất động cố nhiên là không nằm mộng; nhưng nếu chỉ không nằm mộng, chẳng thể bộp chộp nói là “đă chứng như như bất động”.

 

          * Hỏi: Con người được phú bẩm thánh, hiền, trí, ngu, tầm thường, kém cỏi sai khác, mà cũng thọ báo giàu sang, nghèo hèn, thọ, yểu bất đồng! C̣n những chúng sanh khác, tức là chỉ nói về loài hữu t́nh, ắt có thai, noăn, thấp, hóa, các loài chim thú dưới nước, trên đất, đủ loại sai biệt. Nếu duyên theo tối sơ vô minh, sẽ thành ra lưu chuyển trong sanh tử. Đệ Nhất Chân Như Thật Tướng ắt có tất cả các loại thể chất bất đồng. Giống như kim loại nhiễm điện, gỗ bốc cháy thành lửa, cái được gọi là “vô minh” cũng là mỗi pháp đều bất đồng, ví như chớp, như lửa, cho nên mới h́nh thành hết thảy muôn h́nh muôn sắc trong thế gian.

          Kế đó, h́nh tướng của chúng sanh bất đồng, nếu đều là do tự nghiệp tạo thành, ắt sẽ thoạt đầu đều là vô minh. Nếu tạo thiện nghiệp, lẽ ra nên ứng với thiện nghiệp. Nếu tạo ác nghiệp, lẽ ra nên ứng với ác nghiệp, cớ sao có phân biệt?

          Thứ ba, nếu xét theo cách nói trong Duy Thức Luận: “Vô minh huân chủng tử, chủng tử nhiễm hiện hành” th́ tối sơ vô minh nếu có hai đằng là thiện và ác, do huân tập, kẻ nhiễm thiện trải qua nhiều kiếp, ắt sẽ có thể thành Phật, kẻ nhiễm ác ắt sẽ đến nỗi đọa ngày càng sâu hơn, ch́m xuống địa ngục. [Như vậy th́] lẽ ra chỉ nên có hai đường là thánh và địa ngục, sao lại chia thành trời, người, A Tu La, súc sanh, ngạ quỷ, cũng chẳng đến nỗi có chuyện “người chết thành dê, dê chết thành người”, ăn nuốt lẫn nhau!

          Thứ tư, nếu tối sơ Chân Như Thật Tướng giống như một tấm vải trắng. Vô minh giống như cái ṿ nhuộm có các màu nhuộm, do bị nhuộm sai khác mà chia thành các màu. Nếu chiếu theo cách nói trong nhà Thiền, “hết thảy chỉ do tâm tạo”, kẻ thoạt đầu tạo ra màu nhuộm và cái ṿ nhuộm là ai? Kính xin dạy rơ cho! (Tưởng Nam Hải hỏi)

 

          Đáp: Câu hỏi này có tất cả bốn đoạn, hăy nên nói phân biệt.

          1) Đoạn đầu tiên, đối với câu “tối sơ vô minh”, Phật học chỉ nói “vô thỉ vô minh”, chẳng nói “tối sơ” (最初, ban đầu, trước hết). Bởi lẽ, khởi đầu c̣n chưa thể nói được, huống là trước hết! Xin hăy tùy tiện lấy một vật, t́m kiếm thuở ban đầu của nó, cứ một mực liên tục truy ngược lên, chắc chắn là khó thể t́m đến lúc ban đầu của nó. Kẻ b́nh phàm nói “ban đầu” thật ra chỉ là khởi đầu của một giai đoạn mà thôi! Đối với câu “Chân Như Thật Tướng ắt có các thứ thể chất bất đồng”, Chân Như Thật Tướng hoàn toàn chẳng có cái Thể bất đồng! [Chỉ là] do nhiễm có sâu hay cạn, lưu chuyển có tiến hay thoái, mà h́nh thành vạn loại!

          2) Đoạn kế tiếp, “hăy nên tương ứng với thiện hoặc ác, v́ sao có phân biệt”. Thiện tánh và ác tánh đều có nghiệp [tương ứng với] ba phẩm thượng, trung, hạ. Hoặc là có khi thoạt đầu thiện, cuối cùng là ác, hoặc thoạt đầu là ác, cuối cùng là thiện. Hơn nữa, khi vô minh dấy lên hiện hành, càng cần phải xem xét hoàn cảnh, duyên phận h́nh thành thiện duyên hay là ác duyên, tự nhiên là sai lệch muôn ngàn, chẳng thể nào nhất trí được!

          3) Đoạn thứ ba, đối với câu “hăy chỉ nên có hai đường thánh và địa ngục”, nói thô thiển, hai nghiệp thiện và ác có thượng, trung, hạ. Nếu phân chia cặn kẽ, sẽ có nhiều loại cấp bậc. Cái nhân đă phức tạp như vậy, há cái quả chỉ đơn giản có hai đường ư? Hơn nữa, trong thánh giới cũng có Tứ Quả Thanh Văn, Bồ Tát cũng có năm mươi hai quả bất đồng. Địa ngục cũng có [các loại] căn bản, cận biên, cô độc v.v…. nhiều loại. Như vậy là dù chỉ nói trong hai đường [thánh đạo và địa ngục], cũng chẳng thể nói nhất loạt giống hệt như nhau.

          4) Đoạn thứ tư, đă nói là “hết thảy chỉ do tâm tạo”, sao lại hỏi ai tạo tác? Xin hăy tự tham cứu!

 

          * Hỏi: Vị pháp sư X… trong tác phẩm chú giải bộ luận nọ về Bát Thức, nơi phần biểu đồ về Ư Thức, đă chia Độc Đầu Ư Thức thành bốn loại là định vị, tán vị, mộng vị, loạn ư vị, nhưng học nhân đọc bộ Giảng Lục do Thái Hư đại sư biên soạn [nhằm chú giải bộ luận ấy], thấy Ngài chỉ nói Độc Đầu Ư Thức chia thành ba loại là định vị, tán vị, và mộng vị, hoàn toàn chẳng có loạn ư vị! Trong tác phẩm ấy, vị pháp sư X… đă thêm một loại là “loạn ư vị” vào Độc Đầu Ư Thức, chẳng biết đă căn cứ vào đâu? Lại nữa, nơi trang mười tám của sách ấy, vị pháp sư X… cho rằng “lâm chung chiêu cảm thụy tướng, diện kiến Phật Di Đà, đài vàng nghênh tiếp cũng là một thứ tương tự như loạn ư thuộc vào địa vị loạn ư của Độc Đầu Ư Thức!” Đối với điều này, học nhân khăng khăng chẳng cho là đúng. V́ sao? Độc Đầu Ư Thức chính là ư thức chẳng sanh khởi cùng với năm thức trước. Thế nhưng hành nhân Tịnh Tông khi lâm chung, mắt thấy Phật Di Đà đến đón, tức là ư thức sáng suốt do Nhăn Thức và Ư Thức cùng kết hợp. Sao lại bảo là Độc Đầu Ư Thức thuộc về địa vị Loạn Ư cho được? Tai nghe thiên nhạc vang rền hư không, cũng là Nhĩ Thức kết hợp với Ư Thức sáng suốt, đều chẳng thể nói là Độc Đầu Ư Thức! Nay vị pháp sư X… cho rằng thụy tướng khi lâm chung của hàng nhân Tịnh Tông chính là Độc Đầu Ư Thức trong địa vị Loạn Ư, dường như rất sai lầm! Hơn nữa, Độc Đầu Ư Thức thuộc địa vị Loạn Ư nhằm nói về một thứ bệnh tinh thần do thần kinh thác loạn [gây nên], nay vị pháp sư X… nói lâm chung thấy Phật Di Đà dường như là loạn ư, chẳng khác ǵ nói hành nhân Tịnh Tông lâm chung thấy Phật Di Đà chẳng qua là một thứ tương tự như thần kinh thác loạn do bệnh tinh thần mà thôi! Há chẳng phải là sai lầm ư? (Nghiêu Trạch hỏi)

 

          Đáp: Nói thụy tướng lúc lâm chung là ư thức th́ cũng chẳng phải là không được, v́ người văng sanh đa số là đới nghiệp. Bảo đó là “loạn vị”, có lẽ nói đến tông khác v́ chẳng tương ứng vậy. Nếu bảo là Tịnh tông th́ kẻ hèn này đọc kinh rất ít, chưa từng nghe qua! Chỉ biết kinh Tiểu Bổn nói “nhất tâm bất loạn”, “tâm bất điên đảo”, thánh chúng hiện tiền, và Quán Kinh nói chín phẩm văng sanh, đều là do thuộc định vị mà đạt được. Nếu có ai nói kiểu khác, ắt phải cầu bậc tôn túc trong Tịnh Tông dạy bảo. Muốn biết đường dưới núi, phải hỏi bậc từng trải!

 

          * Hỏi: Duy Thức Tông tu tŕ như thế nào, cũng như khi lâm chung sẽ quy túc như thế nào? Có phải cũng sanh về thế giới Cực Lạc hay không? (Cố Phượng Anh hỏi)

 

          Đáp: Tu tŕ trong Duy Thức chỉ là tác quán, nói ra sẽ cực kỳ phức tạp! Trước hết, phải hiểu rơ lư “năm pháp, ba tự tánh”. Ba tự tánh là Biến Kế Sở Chấp, Y Tha Khởi và Viên Thành Thật. Ba tánh ấy có ư nghĩa như thế nào, ở đây không thể nói chi tiết được! Bất quá, giới thiệu tên gọi, nêu ra thứ tự của chúng mà thôi! Hành giả dùng ba tánh ấy để quán từ cạn tiến đến sâu, có tất cả năm tầng:

          1) Một là “khiển hư tồn thật” (bỏ cái hư, giữ lại cái thật). Đấy chính là cách quán do so sánh giữa hư và thật.

          2) Hai là “xả lạm lưu thuần”. Đấy chính là cách quán nhằm đối chiếu giữa tâm và cảnh.

          3) Ba là “nhiếp mạt quy bổn” (gom ngọn về gốc). Đấy chính là cách quán đối chiếu giữa Thể và Dụng.

          4) Bốn là “ẩn liệt hiển thắng” (ẩn cái kém, hiển lộ cái thù thắng); đây chính là phép Quán đối chiếu Tâm Sở.

          5) Năm là “khiển tướng quy tánh” (bỏ tướng trở về tánh). Đây chính là phép Quán đối chiếu giữa Lư và Sự. Đến đây là đă đạt đến tột cùng.

          Bốn tầng đầu nhằm trừ bỏ Biến Kế Sở Chấp, ḥng quay về Y Tha Khởi Quán. Tầng cuối là phép Quán nhằm trừ bỏ Y Tha Khởi, chứng đắc Viên Thành Thật. Viên Thành là tên gọi khác của Chân Như; cũng chính là Đại Viên Kính Trí. Kẻ nguyện sanh Cực Lạc, hồi hướng [phát nguyện văng sanh], sẽ sanh về đó. Nếu không, sẽ chẳng sanh!

 

          * Hỏi: Tai bị điếc chẳng nghe được chính là v́ tai có bệnh, nhưng khi chúng ta ngủ, tai vẫn tốt đẹp, chẳng có bệnh tật ǵ, v́ sao cũng chẳng nghe thấy âm thanh? (Tŕ Huệ Lâm hỏi)

 

          Đáp: Tai là Căn, nghe là Thức. Căn và Thức đều có chủng tử chứa trong A Lại Da. Chủng tử có công năng tĩnh chỉ (ngưng lặng) và hiện hành (khởi lên tác dụng) sai khác. Âm thanh là Tướng Phần, “nghe” là Kiến Phần. Kiến Phần duyên Tướng Phần, ắt Thức sẽ nương theo Căn mà phan duyên. Bất luận nghe hay nh́n v.v… đều cần phải nhờ vào duyên để dẫn khởi chủng tử của Thức. Căn và Chủng (chủng tử) nương vào nhau th́ [thức] mới dấy lên hiện hành, có thể nghe, có thể thấy. Nếu chẳng có duyên, nó sẽ tĩnh chỉ, ắt chẳng thấy, chẳng nghe. Trong khi ngủ, duyên tuyệt, Thức chẳng nương vào Căn, cho nên chẳng thể nghe!

 

          * Hỏi: Thầy thường bảo chúng con “làm chuyện tốt phải là tam luân thể không, chẳng lưu lại bóng dáng”. Nếu có kẻ chuyên làm chuyện xấu, chẳng biết hổ thẹn, ví như giáo đồ Âu Tây nói: “Súc vật do Chúa tạo ra để chuyên dành cho con người ăn”. Bọn họ giết ăn, tâm chẳng có mảy may áy náy; như vậy th́ dường như chưa in bóng dáng vào trong thức thứ tám, có tội lỗi hay không? (Bạch Trương Văn Thích hỏi)

 

          Đáp: Tam luân thể không chính là một pháp nhằm không chấp tướng. Bọn ta nghe và tu pháp này bất quá là công phu bước đầu. Trong khi ấy, vẫn là miễn cưỡng mà hành, vẫn in bóng dáng [trong A Lại Da Thức]. Hành đă lâu, công phu sâu dầy, như gương soi vật, hễ vật đối trước gương liền hiện h́nh tướng. Dời vật đi, sẽ chẳng c̣n [h́nh bóng trong gương] nữa. Đạt đến cảnh giới này, mới thật sự là Thể không. Ngoại đạo chẳng hiểu Tánh Thể, chưa nghe pháp “Không, vô tướng”, nhất cử nhất động đều in dấu chủng tử! Sát sanh ăn thịt, trong tâm chẳng có mảy may áy náy, chính là mê hoặc, chẳng biết tội phước, không phải là Tánh Thể chẳng nhiễm Chân Không! Đối tượng của hành động ấy có các thứ gia súc, có các thứ huyết nhục, có các thứ đao chặt, nấu, nướng, có đủ mọi mùi vị, có đủ thứ tham đắm vị ngon, mê muội các thứ nhân quả. Đối tượng và tâm niệm luôn tương ứng với nhiễm đắm, sao lại nói là “chẳng in bóng dáng trong ruộng thức thứ tám” cho được?

 

          * Hỏi: Vô ư hoặc gián tiếp phạm tội lỗi, nhưng chính ḿnh chẳng biết, v́ sao bóng dáng lại có thể in vào trong thức thứ tám? (Bạch Trương Văn Thích hỏi)

 

          Đáp: Vô ư tạo tác, có thể là chưa phân biệt tội phước, nhưng đối với chuyện tạo tác nơi ba nghiệp, há có thể nào chẳng biết? Hễ biết tức là có niệm, hễ có niệm liền in bóng dáng. Nhưng hết thảy các tạo tác tự có tánh thiện, tánh ác. Thiện, ác ở trong sự, sự ở trong niệm, niệm in vào thức điền, thử nghĩ xem: Thiện và ác sẽ trụ ở chỗ nào? Bất quá là do hữu ư hay vô ư, tội cũng chia thành hữu lực và vô lực. Khi nó dấy lên hiện hành, sẽ có nhẹ hay nặng khác biệt!

 

          * Hỏi: Giải thích “sáu trần duyên ảnh” như thế nào? (Châu Ấu hỏi)

 

          Đáp: Năm thức nhăn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, căn hướng ra ngoài phan duyên, bóng dáng của năm trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc) bèn in vào ruộng thức, gọi là Nội Pháp Trần. Nhưng ư thức hướng vào trong “duyên ảnh” (ư thức duyên theo bóng dáng của năm trần trong ruộng thức), so đo, phân biệt, liên tục khắp ba đời, Hoặc nghiệp hừng hực. Hăy nên biết Thức vốn huyễn vọng, do Căn và Trần mà khởi lên. Nếu ĺa Căn và Trần, cũng chẳng có Thức! Phàm phu chẳng liễu giải tự tâm, lầm tưởng ư thức là tâm tướng của chính ḿnh, nên gọi là “sáu trần duyên ảnh”.

 

          * Hỏi: Độc Đầu Ư Thức có nghĩa là ǵ (Châu Ấu hỏi)

 

          Đáp: Trong tám thức, ư thức có sức lớn, có thể duyên theo năm thức trước ở bên ngoài nó, nên gọi là Ngũ Câu Ư Thức (ư thức ḥa hợp với năm thức trước). Khi nó có năng lực duyên một ḿnh Nội Pháp Trần th́ lại gọi là Độc Đầu Ư Thức.

 

          * Hỏi: Cội nguồn nhân duyên của Thức là ǵ? (Trần Thái Thụ hỏi)

 

          Đáp: Tánh mê là Thức. Mê chính là nhân duyên của Thức.

 

          * Hỏi: Theo Bát Thức Quy Củ Tụng Thích Luận, Sắc Căn là Tăng Thượng Duyên, Sắc Trần được chú giải là Sở Duyên Duyên. Khi Căn và Trần tiếp xúc với nhau, sẽ sanh ra Kiến Phần và Tướng Phần của Thức. Nói cách khác, cảnh đă được trông thấy chính là do Thức biến, chẳng phải là cảnh thuộc về sắc trần! Vậy th́ sắc trần cảnh chẳng phải là do Thức biến ra, chuyện này há chẳng phải đă mâu thuẫn với đạo lư “vạn pháp chỉ là do Thức biến” ư? (Ngô Mậu Tùng hỏi)

 

          Đáp: Thức và vạn pháp là một, không hai, như nước và sóng, [chỉ là] tướng khác nhau mà thôi. Đă nói là có tám thức, như cây có rễ, thân, cành; thức thứ tám là rễ, thức thứ bảy là thân, thức thứ sáu và năm thức trước là cành. Tuy tên gọi có tám, nhưng thật sự là từ một mà biến ra bảy. Thức thứ tám chứa đựng hết thảy chủng tử, biến hiện căn, thân, khí giới. Nói “vạn pháp duy thức” nhằm giải thích về tướng trạng của Căn và Thức. Thức thứ sáu tức Ư Thức chủ tŕ sự phân biệt, từ năm căn trước duyên với trần mà dấy lên, khởi hiện Kiến Phần và Tướng Phần. Hai phần Kiến và Tướng chính là Dụng của Thức. Nếu Căn chẳng duyên Trần, năm thức trước sẽ chẳng khởi tác dụng. Tuy chẳng dấy lên tác dụng, chẳng phải là không có năm thức trước. Nói “Căn và Trần tiếp xúc bèn sanh ra Thức” chính là nhằm giải thích tướng trạng cành nhánh của Thức vậy!

 

          * Hỏi: Xin dạy đại lược về đạo lư “tâm tạo cảnh”! (Ngô Mậu Tùng hỏi)

 

          Đáp: Khó thể bằng vài câu mà giải quyết lư “tâm tạo cảnh giới” được! Kinh điển của hai tông Tánh và Tướng không ǵ chẳng nhằm nói về chuyện này. Nếu muốn nói đại lược, kẻ hèn này chẳng thể tóm tắt những điểm trọng yếu. Bất đắc dĩ, xin hăy suy nghĩ kỹ lời đáp cho câu trước, sẽ có thể ngộ đại khái chuyện này!

 

          * Hỏi: Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức. Tâm và thức xét theo đạo lư có ǵ khác biệt? (Lại Khoan Châu hỏi)

 

          Đáp: “Tam giới duy tâm” là nói về Năng, “vạn pháp duy thức” là nói đến Sở. Nói về Năng có nghĩa là Thể dấy lên ư niệm. Nói đến Sở chính là nói đến cảnh phân biệt. Thật ra, mỗi câu trong hai câu này nói đến một điều, nhưng [xét theo] ư nghĩa của tâm và thức, dường như là nói đến cùng một chuyện. Nếu bỏ qua điều ấy để nói theo Pháp Tướng th́ tâm là thức thứ tám, tức A Lại Da, Thức là sáu thức trước do tiếp xúc với Trần. Như vậy th́ tâm và thức khác nhau!

 

          * Hỏi: Xin hỏi sau khi toàn thân bị gây mê th́ thức ở chỗ nào? Trong thức thứ tám có thể in dấu bóng dáng hay không? V́ sao mà in dấu? (Từ Phương hỏi)

 

          Đáp: Thức đợi duyên để dấy lên. Chẳng có duyên đưa đến, [thức] sẽ không khởi. Khi gây mê, các căn tạm mất tác dụng, thức ẩn tàng, chẳng dấy lên mà thôi! Công năng của thức thứ tám là chứa đựng. Thức nương vào căn, đợi duyên để dấy lên. Khi gây mê, sự cảm thụ nơi các căn tạm thời bị mất công năng, thức do chẳng có duyên bèn ẩn tàng, không dấy lên. Hơn nữa, công dụng của thức thứ tám vốn là chứa đựng, thức thứ bảy phan duyên hết thảy, đều thuộc về tư tưởng. Tư tưởng có tập khí, cho nên sẽ in dấu vào đó. Nói theo ngôn ngữ hiện thời, sẽ là “ấn tượng”. Ấn tượng sâu hay cạn tùy thuộc kư ức ngắn ngủi hay lâu dài. Biết điều này, suy ra điều kia, đều là cùng một lư!

 

          * Hỏi: Ban ngày có những suy tưởng, ban đêm bèn nằm mơ. Khi mơ, có phải là thần thức đến nơi đó hay không? (Trương Khoan Tâm hỏi)

 

          Đáp: Thần thức chính là tâm lượng, không thứ ǵ to lớn mà ḥng lọt ra ngoài, các thứ sự vật đều được bao hàm trong ấy. Khi ngủ nghê, nằm mộng, chính là do chủng tử dấy lên hiện hành. Do [những cảnh trong mộng] là hiện tượng của thức, cho nên thức hoàn toàn chẳng đến, chẳng đi. Nói “sáu trần duyên ảnh” th́ mộng là một đầu mối.

 

          * Hỏi: Nhưng có khi ngủ suốt đêm cho đến khi trời sáng chẳng nằm mộng, chẳng biết khi ấy thần thức ở chỗ nào? (Trương Khoan Tâm hỏi)

 

          Đáp: Đối với cái được gọi là “thần thức”, hăy nên biết nó có Thể và Dụng. Thể của nó chính là vọng tâm sau khi đă mê; Dụng chính là tâm khởi phân biệt. Khi tỉnh, do phan duyên vọng niệm, lúc ngủ bèn mộng tưởng điên đảo. Phàm những chuyện này đều thuộc về tác dụng của Thức; nhưng Dụng lại chia thành Phục và Khởi. “Phục” là do không có duyên bèn ẩn náu. Tuy là Phục, chẳng phải không có công năng tác dụng. “Khởi” là nương theo duyên mà dấy lên. Tuy dấy lên, vẫn thuộc về “Thể vốn là Không”. Nay tôi nêu một tỷ dụ cho dễ hiểu. Chuông và dùi nương vào nhau, sau đó sẽ phát ra tiếng. [Tuy] nghe tiếng loong coong, thật ra chẳng có Thể. Dùi và chuông chẳng nương vào nhau, sẽ chẳng phát ra tiếng, thường là lặng lẽ, trọn chẳng phải là không thể phát ra tiếng. Nếu hiểu rơ điều này, ắt sẽ biết mộng là do Thức khởi tác dụng. Không có mộng, tức là tác dụng của Thức bị ẩn tàng!

 

          * Hỏi: Hai thức thứ sáu và thứ bảy, nếu có niệm khởi (tức là và suy tưởng), [vậy th́] thức nào trước, thức nào sau? Hay là cùng dấy lên một lúc? Hay là xét theo thức thứ sáu, hễ tưởng th́ thức thứ sáu sẽ khởi trước? Nếu xét theo thức thứ bảy th́ thức thứ bảy khởi trước? Nói chung, vừa bắt đầu tưởng th́ thức nào trước, thức nào sau? Hay là chẳng có trước sau? (Thái Vinh Hoa hỏi)

 

          Đáp: Thức thứ bảy đă được gọi là “hằng tư lượng” (thường suy lường), cho nên nó liên tục chẳng ngừng. Thức này chính là từ Tướng Phần của căn bản vô minh biến ra. Do vậy, nó lại tiếp nhận thức thứ sáu, mà công dụng của thức thứ sáu chủ yếu là phân biệt, lúc khởi, lúc diệt. Giữa hai đằng, một đằng luôn nghĩ nhớ, một đằng th́ có lúc đứt đoạn, có lúc tiếp nối, do vậy, chẳng có cách nào so sánh trước sau! Nếu cứ phải tách bạch th́ trước là biến thành thức thứ bảy, sau đó biến ra thức thứ sáu. Cái được biến trước sẽ khởi niệm trước, cái được biến sau sẽ khởi niệm sau!

 

          * Hỏi: “Sắc pháp sanh khởi cần phải có hai duyên là nhân duyên và tăng thượng duyên”, v́ sao? “Tâm pháp ắt trọn đủ bốn duyên”, v́ sao? (Thái Vinh Hoa hỏi)

 

          Đáp: Tâm pháp là tám thức. Các thức sanh khởi ắt phải nương vào chủng tử. V́ thế, cần đến nhân duyên. Tâm và Tâm Sở liên tục, chẳng gián đoạn. Hễ đoạn sẽ chẳng sanh, hễ sanh th́ chẳng đoạn. V́ thế có Vô Gián Duyên. Sự duyên lự (緣慮)[19] của Thức nương cậy Thức làm tự cảnh để sanh khởi, lại c̣n duyên lự vào tự cảnh ấy, nên gọi là Sở Duyên Duyên. Nương vào sự giúp đỡ của các pháp khác để có thể bài trừ chướng ngại khiến cho thức được an ổn sanh khởi. V́ thế, cần phải có đến mấy thứ. Do đó, gọi là Tăng Thượng. Bốn duyên ấy có tánh chất liên kết, hễ thiếu một duyên, sẽ bị gián đoạn, chẳng sanh. Sắc tuy là Tướng Phần do Tâm và Tâm Sở biến ra, đă có tướng, sẽ có thể luận định theo từng giai đoạn, tức là tự thành một nhân. Lại dùng thức để nương vào đó làm duyên th́ sẽ hiện ra.

 

          * Hỏi: Người bị bệnh tâm thần phân liệt gây tạo các nghiệp, hoặc hữu ư hay vô t́nh, hoặc thiện hay ác, trong tương lai gặp duyên, [chủng tử của các nghiệp ấy] có dấy lên hiện hành hay không? (Lữu Mậu Thịnh hỏi)

 

          Đáp: “Dấy lên hiện hành” là nói về các chủng tử trong ruộng tám thức. Chủng tử ấy được chia thành đă gieo trong đời này hay đời trước; hễ gặp duyên bèn dấy lên. Hành vi của người bệnh tâm thần cũng có lúc chợt tỉnh táo, chợt mê loạn, tương tự người say rượu, chẳng phải hoàn toàn tri giác, mà cũng chẳng phải là hoàn toàn không có tri giác! Hành vi khi tỉnh là hữu ư, tự nhiên là có ấn tượng trong ruộng thức. Khi mê bèn điên cuồng, cho nên là vô ư, có thể chẳng gieo ấn tượng vào trong ruộng thức. “Ấn tượng” chính là chủng tử, hễ gặp duyên bèn dấy lên hiện hành. Chẳng có chủng tử, há có ǵ để hiện hành? Đây chỉ là nói về trạng huống trong khi bị bệnh. Nếu [xét đến] khi chưa bị bệnh và những [chủng tử] câu sanh[20], th́ chủng tử hiện hành đều đă được định sẵn.

 

          * Hỏi: B́nh thường, chúng ta ăn cơm, giặt áo, những hành vi ấy đều thuộc loại vô kư (không thiện, không ác), nhưng loài trùng nọ ăn loài trùng kia là v́ bụng đói nên mới ăn, chuyện này thuộc loại vô kư hay hữu kư? (Thái Lân Định hỏi)

 

          Đáp: Khi trùng ăn trùng, nó đă có ư định sẵn, cho nên ắt phải có tâm mong làm được, sát niệm đầy ắp, cho nên thuộc về hữu kư. Nếu mèo mù gặp chuột chết th́ là vô kư. Chúng ta ăn cơm, giặt áo cũng chẳng thể nhất loạt nói là “vô kư”. Ăn uống là ham muốn to lớn, giặt áo tưởng nhớ người đang viễn chinh[21], sự lư muôn mối, khó thể nói quyết định bằng một lời được!

 

          * Hỏi: Người ta mỗi khi nằm mộng trông thấy các sự vật, lúc tỉnh giấc [cảm thấy] thứ ǵ cũng giống hệt như thật. Thật ra, chúng ta biết cảnh ấy là huyễn hữu, nhưng chẳng biết trong thức thứ bảy và thức thứ tám của chúng ta có tác dụng khiến cho chủng tử chuyển hướng, nẩy mầm hay không? Nó lại c̣n có mối quan hệ như thế nào đối với nhân quả? (Khưu Thanh Tuyền hỏi)

 

          Đáp: Tuy thuộc huyễn mộng, có lúc sẽ lưu lại chủng tử, tức là tùy theo mộng cảnh mạnh mẽ hay yếu ớt mà đoán định là có chủng tử hay không. Chủng tử có sức mạnh th́ gặp duyên cũng có thể nẩy mầm. “Nẩy mầm” là ví như cảnh trong mộng lại tái hiện. Nghe có người bảo: Huyễn mộng không có sức, thuộc loại vô kư, chẳng thể kết quả. V́ mộng thuộc về tướng cảnh giới, nếu chẳng trải qua sự tiếp nối liên tục, chấp thủ, kế danh tự (so đo danh tự), khởi nghiệp v.v… sẽ không sanh ra cái quả Hệ Khổ được!

 

          * Hỏi: Chẳng biết mà phạm th́ không có tội nghiệp, bởi chẳng có chủng tử ác gieo vào trong tâm điền thức thứ tám. Lư ấy có đích xác hay không? Ngoại đạo báng Phật, trong tâm họ tự nghĩ là họ đang phát ngôn về chân lư, là đại thiện sự, trong tâm họ có in dấu chủng tử ác hay chăng? (Giản Tông Tu hỏi)

 

          Đáp: Chẳng biết thiện ác mà có ư niệm làm, tức là đă có chủng tử. Có ư niệm làm th́ sẽ có cái để duyên vào, duyên trần[22] chính là nhiễm. Ngoại đạo báng Phật, ắt có sân tâm thị phi! Báng Phật th́ đủ thấy là tri kiến bất chánh, là tà kiến trong Kiến Hoặc. Do khởi Hoặc mà tạo khẩu nghiệp, Ngă Chấp và Pháp Chấp đều nẩy sanh chướng, há chẳng phải là đă gieo chủng tử vào trong ruộng thức của người ấy ư?

 

          * Hỏi: Có phải là từ vô thỉ tới nay, Phật Tánh đă bị nhiễm vô minh? Hay là trước hết có Phật Tánh vắng lặng bất động, sau đấy mới bỗng dưng nhiễm vô minh? Phật pháp siêu việt thời gian và không gian, nếu câu trả lời là điều sau th́ đúng là chẳng thể hiểu được! (Giản Tông Tu hỏi)

 

          Đáp: Phật Tánh và vô minh đều nói là đă có từ vô thỉ. “Vô thỉ” là chẳng thể nói tới khởi đầu của nó được! Dẫu nói “Phật Tánh vắng lặng bất động đột nhiên nhiễm vô minh” th́ nhiễm từ khi nào, chẳng thể nói đến tột cùng được, cho nên vẫn nói là “vô thỉ”!

 

          * Hỏi: Từ thức thứ tám suy tới thức thứ nhất đều toàn là vô minh, nhưng sự tồn tại khách quan của vũ trụ là thật hay giả? Hơn nữa, đối với sự tồn tại khách quan của vũ trụ, không ǵ chẳng khiến cho tôi có cảm giác nó là một vật thật sự, nhưng vũ trụ v́ sao có thể khiến cho tôi nẩy sanh cảm giác, lại c̣n [nghĩ] nó là một vật thật sự! (Ngô Thương Sanh hỏi).

 

          Đáp: Vũ () là không gian, Trụ () là thời gian. Hai thứ ấy đều chẳng phải là vật chất, bất quá chúng bao trùm vạn vật. Những thứ ấy làm cảnh, tâm ta khởi niệm, phần nhiều là do cảnh dẫn khởi, v́ thế nói là “khiến cho ta nẩy sanh cảm giác”.

 

          * Hỏi: “Hết thảy chỉ do tâm tạo”, có phải là câu nói ấy có nghĩa là khi tâm chưa động, vũ trụ chẳng có vạn vật? Nếu chẳng có vạn vật, vậy th́ v́ sao bản tánh lại bị nhiễm vô minh bởi vật ở bên ngoài? (học tṛ X… hỏi)

 

          Đáp: Vô minh chia thành vô thỉ vô minh, sau đấy có thêm tăng thượng vô minh v.v… Vô thỉ vô minh là từ vô thỉ một niệm bất giác, tự dấy lên vô minh. Bất giác th́ gọi là vô minh, chẳng phải là từ bên ngoài tới! Như người mệt mỏi buồn ngủ, sự buồn ngủ ấy do mệt mỏi sanh ra, chẳng phải do từ bên ngoài đưa tới! Sau đấy là tăng thượng vô minh, tức là kể từ tam tế, lục thô trở đi, huyễn xuất vạn hữu, vừa mới đối cảnh lại tăng thêm vô minh, như hiện thời đối với sáu trần lại dấy ḷng yêu ghét vậy!

 

          * Hỏi: Bản tánh bị mê bèn biến thành thức, chia thành bốn nhóm, gọi chung là tám thức. Hết thảy các động tác của chúng sanh đều là tác dụng của tám thức. Lại nói tám thức cũng chẳng có, v́ niệm nào cũng đều sanh diệt. Nói như vậy, trong khoảng sát-na khi niệm trước diệt, niệm sau chưa sanh, có khôi phục bản tánh hay không? (Tiên Thuần Hiền hỏi)

 

          Đáp: Vọng niệm do vô minh sanh ra. Hai chữ Sanh Diệt chính là Tổng Tướng, thật ra Sanh và Diệt mỗi thứ đều có bốn tướng, liên tục không ngừng. Đă biết là “sanh, trụ, dị, diệt” liên tục, bèn ngộ “trụ, dị, diệt, sanh” liên tục. Đó gọi là “đá banh trong nước xiết, ào ào không ngừng chảy”. Dẫu trong sát-na ngoại tướng c̣n chưa sanh, thật sự chẳng có sát-na nào để bảy thức c̣n chưa sanh! Dẫu có sát-na bảy thức c̣n chưa sanh, Năng và Sở của Sanh đều là vô minh. Cái vô minh ấy chưa đoạn, lấy ǵ để khôi phục bản tánh?

 

          * Hỏi: Trong lục đạo, có phải là chỉ có con người mới có thể tạo ra cái nhân? Xin hăy nói rơ cặn kẽ! (Ngô Văn Dũng hỏi)

 

          Đáp: Lục đạo đều là phàm phu, đều là có t́nh thức. Tự nhiên là khởi tâm động niệm sẽ khởi Hoặc tạo nghiệp. Khởi Hoặc chính là cái nhân để tạo nghiệp, tạo nghiệp là cái nhân để hứng chịu cái quả. Trời, quỷ, địa ngục tuy chưa từng thấy, súc sanh là Hiện Lượng, đă biết được một điều, sẽ có thể suy ra những điều khác. Bất quá là có sai biệt đôi chút mà thôi! Súc sanh có tham, sân, si, tạo giết, trộm, dâm, đấy chính là cái nhân ác. Quạ mớm mồi cho cha mẹ già là hiếu, chó canh suốt đêm là trung, chim én mớm mồi cho chim non là Từ, đấy là những cái nhân lành!

 

          * Hỏi: Tự Chứng Phần và Chứng Tự Chứng Phần chứng lẫn nhau như thế nào? (Giản Tấn Thổ hỏi)

 

          Đáp: Ở đây, tôi lập ra tỷ dụ để nói rơ. Như trên là một h́nh chữ C, dưới là một h́nh chữ C xếp chồng đâu mặt với nhau [theo chiều dọc], thử hỏi chỗ bị khuyết trong hai h́nh chữ C ấy sẽ ở đâu? Hăy nên xem xét kỹ. Xét kỹ, sẽ thấy chỗ khuyết nơi chữ C trên là ở ngay nơi chỗ khuyết của chữ C dưới. Chỗ khuyết của chữ C phía dưới ở ngay trong chữ [C nằm ở] trên. Đấy là chuyện có thể chứng minh bằng mắt! Nói theo mắt, mắt ví như Tự Chứng Phần. Mắt có thể quan sát lầm hay không, ắt phải quan sát kỹ từ h́nh hai chữ C trên đây. Nếu mắt chẳng lầm, nói theo phía h́nh của hai chữ, hai h́nh ấy ví như Chứng Tự Chứng Phần. Đấy chính là ư nghĩa chúng có thể chứng lẫn nhau, chẳng cần phải t́m ṭi chi khác!

 

          * Hỏi: Đă là trước có thức, rồi sau đấy có muôn pháp, đấy có phải cũng chính là vạn pháp duy thức? (Trần Thục Anh hỏi)

 

          Đáp: Nói theo Phật pháp, sẽ là liễu giác chân tướng của vạn pháp. Vạn pháp có mối quan hệ hỗ tương! Mỗi mỗi đều có sự khác biệt. Nếu dùng ngôn ngữ để giải thích, ắt phải xét theo nhân duyên để định. V́ thế, mỗi điều có từ ngữ khác nhau. [Do đó nói] “vạn pháp duy thức, vạn pháp đều là Không, vạn pháp như một, vạn pháp vô thường” v.v… chẳng thể nêu trọn. Nếu chấp vào một thứ, sẽ bị bắt bẻ. Nếu nh́n viên dung, vấn đề sẽ ít đi. Nay tôi đáp lời hỏi, thức cũng là pháp. Nói theo văn tự, nói thức là trước hay pháp là trước, không ǵ chẳng thể. Nếu dựa theo “vạn pháp nhất như” để nói, sẽ lại chẳng có trước sau!

 

          * Hỏi: Điều kiện để một người sở dĩ làm người là do có đủ các cơ quan cảm giác, tức là sáu thức thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm nhận. Tác dụng của sáu thức không có ǵ là thiện hay ác. Hơn nữa là do trời sanh, trọn chẳng phải là vô minh khiến thành như vậy. V́ vậy, muôn pháp duy thức có thể thành lập, trọn chẳng cần phải dùng mê để giải thích. (Trương Ngân Phú hỏi)

 

          Đáp: Tư tưởng rất cao, nhưng lớp lang chẳng có thứ tự, chỉ có thể nói phân tích.

          1) “Tác dụng của sáu thức không có ǵ là thiện hay ác”: Xét theo pháp thế gian để luận: “Phi lễ chớ nh́n, phi lễ chớ nghe, phi lễ chớ nói, phi lễ chớ làm”. Đấy chính là coi sáu thức phi lễ là ác. “Thị tư minh, thính tư thông, sắc tư ôn, mạo tư cung” (nh́n cho thấu suốt, nghe cho thông tỏ, vẻ mặt ôn ḥa, dáng vẻ cung kính). Đấy là nói sáu thức phải nghĩ về thiện, chẳng thể nói là “không có thiện, ác”. Dựa theo pháp xuất thế gian để luận, bản tánh giác minh là trí, b́nh đẳng giống hệt như nhau là thiện. Vô minh biến thành thức, hư vọng phân biệt là ác. Tham, sân, si là thức khởi tác dụng, nên gọi là ác. Giới, Định, Huệ là trí khởi tác dụng, nên gọi là thiện. Do vậy, siêng tu Giới, Định, Huệ, dứt diệt tham, sân, si để cầu chuyển thức thành trí. Nhưng thức th́ chẳng thiện, tánh th́ chẳng ác.

          2) Nói đến tác dụng của sáu thức, “do trời sanh mà có, trọn chẳng phải là do vô minh khiến thành ra như vậy”. Chẳng biết thức chính là vô minh, vô minh chính là mê. Mê là vọng động!

 

          * Hỏi: Đă nói “vạn pháp duy thức”, vậy th́ cảnh chẳng phải là thật sự có. Cớ sao c̣n có tánh cảnh, đới chất cảnh và độc ảnh cảnh sai khác? (Vương Chí Hiền hỏi)

 

          Đáp: Những điều được nói trong Duy Thức phần nhiều thuộc về Tướng Phần. Phàm là muốn biểu đạt, ắt phải nhờ vào danh từ, phương tiện tùy thuận, không thể nào chẳng làm như vậy! Nói là Tánh nhằm biểu thị thực tại. Thực tại ở đây chính là cái được gọi là “h́nh sắc” trong hiện thực, cùng tiếp xúc với Căn và Thức, mà cũng là danh tướng giả định chung. Bất luận trước hay sau, chỉ luận về tướng trong hiện tiền để nói, cố nhiên phạm vi của nó chẳng phải là tánh thường trụ bất biến. Biết điều này, sẽ hiểu đới chất và độc ảnh[23] khác với h́nh sắc thật sự, chẳng thể không biện định.

 

          * Hỏi: Đối với thuyết duy tâm và duy vật, giới khoa học và giới triết học xúm nhau tranh căi đă lâu, cho đến nay chẳng đạt được một kết luận quyết định. Tṛ thường nghe thầy nói: “Nếu đức Phật trả lời vấn đề ấy, sẽ đáp là duy tâm, hoặc là duy vật, hoặc cả hai đằng đều đúng, hoặc cả hai đằng đều hoàn toàn sai”. V́ sao đức Phật chẳng nói nhất định, có phải là v́:

          1) Pháp tánh vốn là Không.

          2) Phật đă ĺa các Kiến.

          3) Nếu chúng sanh chấp vật là có thật, sẽ bị các vật ràng buộc, [cho nên] hết thảy đều duy vật!   

          4) Nếu liễu ngộ vật chẳng phải là thật sự có, sẽ chẳng bị nó hạn chế. V́ thế, hết thảy đều duy tâm.

          5) Do sở chứng của chúng sanh khác nhau, nên tùy theo mỗi đối tượng, đức Phật trả lời khác nhau! (Vương Chí Hiền hỏi)

 

          Đáp: Duy tâm và duy vật vĩnh viễn không có kết luận xác định được! Bởi lẽ, cả hai đằng đều là Biến Kế Chấp của phàm phu. Bất cứ chuyện nào, lư nào, cũng đều có kết luận nhất định, nhưng chỉ có Phật với Phật, tâm đồng, trí đồng là chẳng luận định khác nhau! Cần phải biết Tánh và Tướng vốn thuộc cùng một Thể, như nước và tánh ướt, ướt là tánh của nước, nước là tướng của ướt. Vật là huyễn tướng của tâm, tâm là Tánh Thể của vật. Duy tâm và duy vật chính là Biến Kế Chấp. Là tâm, hay là vật, chẳng phải tâm, chẳng phải vật, đó là Viên Thành Thật. Những nghĩa như ông đă tŕnh bày, đại lược chẳng sai, chỉ thiếu tường tận mà thôi!

 

          * Hỏi: Cách đoạn thức thức bảy là như thế nào? (Lê Vận Tiêu hỏi)

 

          Đáp: Thức thứ bảy là căn bản của Ngă Chấp, phức tạp, sâu thẳm. Tŕnh tự tu hành th́ trước hết là Tứ Niệm Trụ, tức là dạy “quán pháp vô ngă”, hăy nên giác như vậy. Tuy có thể thâm nhập Đại Thừa, vẫn là đoạn Ngă trước hết! Cầu sao chẳng chấp tướng, Ngă Tướng đứng đầu, quy nạp muôn pháp thành năm món, nói chung là nhằm trừ Ngă. V́ thế, nói “năm pháp, ba tự tánh, nhân pháp hai vô ngă”. Chỉ cần có thể ngộ Vô Ngă, đấy chính là tu tập nhằm đoạn trừ thức thứ bảy. Nhưng tu là tu, đoạn là đoạn, nếu chuyển biến thức thứ bảy, sẽ thành B́nh Đẳng Tánh Trí, quả vị đă thành. Mong hăy dốc sức nơi Vô Ngă.

 

          * Hỏi: Đối với chuyện “xả, xuất” (xả ly, thoát rời [nhục thân]) của tám thức, kinh tụng có nói: “Đảnh thánh, nhăn sanh thiên, nhân tâm, ngạ quỷ phúc, bàng sanh tất cái ly, địa ngục cước bản xuất” ([hơi nóng lạnh đi sau cùng] ở đỉnh đầu sẽ là thánh, ở mắt sẽ sanh lên trời, ở tim sẽ sanh làm người, ở bụng sẽ làm ngạ quỷ, loài súc sanh th́ [hơi nóng] sẽ lạnh đi sau cùng ở đầu gối, địa ngục th́ sẽ từ bàn chân [lạnh đi sau cùng]). Theo Du Già Luận th́: “Thiện nghiệp tùng hạ lănh, ác nghiệp tùng thượng lănh, nhị giai chí vu tâm, nhất xứ đồng thời xả” (thiện nghiệp th́ [khi mất, thân thể sẽ] từ phía dưới lạnh dần lên trên. Ác nghiệp th́ hơi lạnh từ trên dồn xuống. Trong cả hai trường hợp đều là lạnh đến tim th́ sẽ đồng thời xả thức tại một chỗ). Hai thuyết ấy có tương đồng hay không? (Chung Quân Lương hỏi)

 

          Đáp: Bài kệ trước và bài kệ sau có chủ trương bất đồng. Xuất và Xả có ư nghĩa khác nhau. Xuất và Xả đều là nói về chỗ nó rời ĺa. Bài kệ trước đă nêu rơ ràng chủ trương [thần thức] do sáu chỗ mà rời ĺa [xác thân khi mạng chung], bài kệ sau chủ trương [cơ thể lạnh dần] trên xuống hay từ dưới lên đều gom về tim để rời ĺa, rơ ràng là khác nhau. Biết chuyện này hay không, dường như cũng chẳng quan trọng. Bởi lẽ, [thần thức] đă rời đi, dẫu là bất thiện, cũng chẳng làm ǵ được! Nếu cứ ắt t́m một thuyết để vâng theo, đương nhiên là bỏ luận, theo kinh!

 

          * Hỏi: Trong những người học Duy Thức cận đại, có kẻ dựa vào lư duyên khởi để kiến lập Duy Thức Tông, hoặc ước theo lư duyên sanh để kiến lập Pháp Tướng Tông. Nhưng cũng có người chủ trương Pháp Tướng bao gồm Duy Thức, Duy Thức cũng được gộp trong Pháp Tướng. Những người phản đối bèn lập thành hai tông, nay chúng tôi học Duy Thức, hăy nên dựa theo thuyết nào? (Chung Quân Lương hỏi)

 

          Đáp: Hai đằng có tên gọi khác nhau, nhưng sự thật là một. Nói Duy Thức là kiến lập dựa theo Năng, nói Pháp Tướng là kiến lập theo Sở. Năng ắt phải duyên Sở, Sở ắt phải nương tựa Năng. Những người chủ trương [Pháp Tướng và Duy Thức] là hai tông là v́ phân tích pháp. Người chủ trương chúng là một chính là v́ đă gộp chung lại để luận định. Thật ra, đă nói đến Thức th́ chẳng thể ĺa Tướng. Nói đến Tướng cũng chẳng ĺa Thức. Chúng là một, không hai, chẳng phải một, chẳng phải hai.

 

          * Hỏi: Thức thứ tám có tên là Hàm Tàng, chứa đựng các chủng tử dẫn khởi hiện hành, nhưng hiện hành muôn mối, chủng loại trải qua các đời đều đổi mới. V́ thế, chủng tử cũng trải qua các đời mà bất đồng. Dựa theo chủng tử và hiện hành để luận định, có phải là chủng tử trải qua các đời đều tích tụ, tăng thêm hay không? (Ẩn Danh Thị hỏi)

 

          Đáp: Một ư niệm là một hạt chủng tử. Mỗi chủng tử gieo vào trong ruộng thức từ xưa tới nay, niệm niệm chẳng dứt. Chủng tử tích lũy. Đă là tích lũy th́ sẽ là tích tụ, tăng thêm!

         

          * Hỏi: Trong năm mươi mốt món Tâm Sở của Bách Pháp Minh Môn Luận đă lập ra năm mươi mốt món Tâm Sở, trong đó, có hai mươi sáu Bất Thiện Tâm Sở, Thiện Tâm Sở chỉ có mười một món. Tôi trộm nghĩ thiện và bất thiện là nói tương đối. Bất Thiện Tâm Sở đă có hai mươi sáu món, vậy th́ tương phản của chúng là Thiện Tâm Sở lẽ ra cũng phải nên có hai mươi sáu món, nhưng trong Luận chỉ lập ra mười một món. Nguyên do là đâu? (Lư Liên Giai hỏi)

 

          Đáp: Thiện tương phản với ác, ác là tương phản của thiện, số lượng phải nên bằng nhau. Kiến giải ấy rất đúng. Nhưng những điều được nêu trong Tâm Sở chẳng hề trái nghịch nguyên tắc này! Phiền Năo và Tùy Phiền Năo là ác, mỗi món đều tương phản với thiện, nhưng đối với thiện chỉ nói mười một món, ác gồm hai mươi sáu món. Ác đă được gọi là Căn Bản, bao gồm Tiểu Tùy, Trung Tùy và Đại Tùy, chính là do từ căn bản mà phân tích tỉ mỉ hơn, cho nên số lượng tăng nhiều hơn. Thật ra, đều là tương ứng khít khao với thiện! Nay tôi thử nêu ra như sau: Trong thiện có sáu món Tín, Tàm, Quư, Vô Tham, Vô Sân, Vô Si, tương ứng khít khao với sáu món ác, tức Bất Tín, Vô Tàm, Vô Quư trong Tùy Phiền Năo và Tham, Sân, Si trong Căn Bản Phiền Năo. Năm món Cần, Khinh An, Bất Phóng Dật, Hành Xả, Bất Hại trong thiện [tâm sở pháp] tương ứng khít khao với năm món Giải Đăi, Hôn Trầm, Phóng Dật, Điệu Cử, Hại của Tùy Phiền Năo. Đấy là nêu đại lược những món dễ thấy, c̣n đối với những món khác, hễ gộp lại, sẽ là không món nào chẳng tương ứng với mười một điều thiện. Nghiên cứu kỹ sẽ tự biết.

         

          * Hỏi: Tâm lư sợ hăi, hoảng hốt (Tâm Sở) người ta thường luôn có. V́ sao trong Bách Pháp Minh Môn chẳng hề nhắc tới chuyện này? (Lư Liên Giai hỏi)

 

          Đáp: Há chỉ có chuyện ấy! Yêu, ghét, bi, hỷ, ưu, sầu v.v… đều tương phản với Khinh An, chẳng thể kể trọn! Bách Pháp là nói quy nạp muôn pháp. Đă là quy nạp, ắt phải chọn những điều đơn giản, trọng yếu. Phàm những [cảm giác như ông đă nêu] đều thuộc về Thọ. Trong năm món Biến Hành đă bao gồm trọn hết [những cảm nhận ấy].

 

          * Hỏi: Chúng ta có thể cảm nhận, nhận biết thức thứ sáu, c̣n đối với hai thức thứ bảy và thứ tám th́ thường nhân có thể thấy được hay không? (Trương Khoát Nhiên hỏi)

 

          Đáp: Những điều thường nhân không biết, há chỉ có thức thứ bảy và thứ tám! Ngay như đối với thức thứ sáu đă nói trước đó, sợ rằng cũng chẳng hiểu rơ ràng cho mấy. V́ đối với hai chuyện Thức và Căn, A La Hán c̣n chẳng thể phân biệt rạch ṛi, huống hồ kẻ b́nh phàm ư? “Thường nhân” là phàm phu. Trí của phàm phu làm sao có thể vượt trỗi bậc thánh đă đoạn hết Tư Hoặc!

         

          * Hỏi: “Kiến tánh” có phải là nói “đă thấy thức thứ tám” hay chăng? (Trương Khoát Nhiên hỏi)

 

          Đáp: Trong điều trước đă có nói về Thể của thức thứ tám. C̣n chưa thể biết, làm sao có thể thấy cho được? Dẫu có thấy, cũng chẳng phải là kiến tánh, v́ đó là thấy thức mà thôi; huống chi chẳng thể thấy. Đối với chuyện kiến tánh, không phải là ai cũng đều hễ thấy bèn thấy toàn bộ. Đạo lư rất nhiều, nói đơn giản sẽ là “đoạn Hoặc, chứng trí” th́ mới là kiến tánh. Đấy là nói theo công phu tu tập, chẳng phải là điều có thể giải quyết bằng ngôn ngữ hay văn tự cho được!

 

          * Hỏi: Nếu năm thức trước và thức thứ tám đều là Hiện Lượng, v́ sao lại tách biệt mối quan hệ giữa chúng? (Trương Khoát Nhiên hỏi)

 

          Đáp: Lời hỏi đơn giản, giải đáp rất phiền phức. Chẳng cần phải đi ṿng quanh, cứ lấy ngay Hiện Lượng của tám thức để so sánh mà nói, càng lại cần phải nói rơ mối quan hệ giữa chúng với nhau. Những điều ấy đă được viết trong bộ Bát Thức Quy Củ Tụng, hoặc các bản chú giải là Nhị Thập, Tam Thập Duy Thức Tụng. Tại hạ chưa phát tâm theo đuổi sự nghiệp viết sớ sao, xin thứ lỗi, khó thể vâng lệnh trả lời được. Nếu quư cư sĩ muốn học Duy Thức, tôi có thể giới thiệu danh mục của những sách sơ cấp. Một là Bát Thức Quy Củ Tụng, hai là Tướng Tông Cương Yếu của Mai đại sĩ (Mai Quang Hy), sẽ có thể hiểu đại khái đôi chút. Tiến hơn nữa, lại đọc Thành Duy Thức Luận Thuật Kư, sẽ tiến nhập cảnh giới cao sâu hơn.

 

          * Hỏi: Nơi trang giáp tư của Duy Thức [Giản Giới], “nhất, nhị, tam biến”phải chính là Dị Thục Đẳng Biến trong câu “thử năng biến duy tam” (cái có thể biến ấy chỉ có ba món) của bộ Tam Thập Tụng hay không? Biểu đồ ấy có phải đă căn cứ trên Tam Thập Tụng, hay là do tổng hợp từ các thức trong các bài tụng! (Hứa cư sĩ ở Mă Lai hỏi)

 

          Đáp: Duy Thức là một tông chuyên biệt trong Phật học, mênh mông khó nói. Duy Thức Giản Giới chỉ là một cái bọt nổi bé tí trong biển cả Duy Thức Học. Đặt tên là Giản Giới, bất quá là giới thiệu sơ lược bên ngoài, khiến cho [người đọc] biết có thuyết ấy mà thôi! Đă chẳng phải là căn cứ trên Tam Thập Tụng, càng chẳng thể nói là tổng hợp được, nhưng cũng chẳng thể ĺa thánh ngôn để nói bừa được!

 

          * Hỏi: Đối với bốn phần của Tâm Sở, xin hăy giải thích một lượt! (Tổ thứ tư trong khóa học Phật pháp dành cho sinh viên trường đại học hoặc chuyên nghiệp hỏi).

 

          Đáp: “Tâm” là nói đến cái niệm được dấy lên. Sở là nói đến cái cảnh tương đối. “Bốn phần” nghĩa là hai thứ ấy (Năng và Sở) có bốn loại tác dụng.

          1) Hễ niệm khởi, xét theo Sự hay Lư đều gọi là Kiến Phần, tức là sự kiến giải trong tự tâm.

          2) Đă thấy, ắt phải có đối tượng [để thấy]. Đối tượng ấy chính là Tướng Phần.

          3) Cái tướng của năng kiến và sở kiến có chánh xác hay không, ắt phải cậy vào tâm lư để chứng minh, đó gọi là Tự Chứng Phần.

          4) Cái sự tự chứng ấy có sai lầm hay không, lại phải ở ngoài Tự Chứng Phần, chứng thực thêm một phen nữa, đó gọi là Chứng Tự Chứng Phần.

 

          * Hỏi: Tánh Tông và Tướng Tông viên dung như thế nào? (Tổ thứ tư trong khóa học dành cho sinh viên trường đại học hoặc chuyên nghiệp).

         

          Đáp: Hết thảy sự vật ắt phải có bản thể. Thể được gọi là Tánh. Thể ắt phải có h́nh tướng, cái h́nh tướng ấy gọi là Tướng. Tánh là Thể của Tướng, Tướng là h́nh của Tánh. Phàm phu chấp tướng chẳng biết Tánh, kẻ thiên Không chấp Tánh bỏ Tướng. V́ thế, cái vốn viên dung [trở thành] chẳng viên dung. Sắc và Không chẳng hai, nhưng kẻ ấy chỉ có một con mắt nên thành ra thấy một bên.

 

          * Hỏi: Tôi vừa mới đọc Duy Thức Tân Tải Hiệt Vựng, [trong ấy có đoạn]: “Hỏi: V́ sao biết căn thân là đối tượng được biến, được duyên của thức thứ tám? Đă nói nó là do thức biến, chúng ta sau khi chết đi, thức đă ĺa thân, cớ sao cái xác thân ấy vẫn c̣n đó? Đáp: Hăy nên biết, đối với “biến” của chủng tử trong A Lại Da, vốn có hai loại: Một là Cộng Biến Chủng, hai là Bất Cộng Biến Chủng. Do Bất Cộng Tướng biến nên thức ĺa khỏi th́ thi hài cũng nên phải dời theo. Do Cộng Tướng biến, nên khi thức ĺa thân, tuy tự thức là cái duy tŕ căn thân ấy đă rời ĺa, nhưng các thức khác cùng duy tŕ cái thân ấy vẫn c̣n, cho nên [kẻ đó] đă chết rồi mà người khác vẫn trông thấy thi hài của kẻ đó”. Đối với phần vấn đáp như đă dẫn trên đây, tôi chẳng hiểu ư nghĩa Cộng Biến và Bất Cộng Biến, cũng như Bất Cộng Tướng và Cộng Tướng cho lắm. Xin hăy chỉ dạy! (Trần Thụy Quang hỏi)

 

          Đáp: “Tướng” là nói đến tướng trạng của muôn pháp, tức là cái thường được nói là “hiện tướng”. Cộng Tướng là tướng chung, Bất Cộng Tướng là tự tướng riêng biệt của từng pháp. Tướng trạng của các pháp đều có hai loại là Cộng Tướng và Bất Cộng Tướng. Ví như chúng sanh được chia thành thai, noăn, thấp, hóa khác nhau, đấy chính là tự tướng bất cộng của mỗi chúng sanh, nhưng “sanh, trụ, dị, diệt” không ai chẳng như vậy. Đấy chính là cộng tướng tương đồng! Suy tới hài nhi ở trong thai, tuy có màu vàng, trắng, đỏ, nâu, đen khác nhau, nhưng đầu tṛn chân vuông chính là Cộng Tướng. Loài thú có bốn chân, đi ngang, đấy chính là Cộng Tướng của chúng, nhưng ngựa, trâu, dê, chó, mỗi loài lại có tự tướng Bất Cộng. Cộng Biến là nghiệp lực chung của chúng sanh, biến hiện thành cảnh giới chung khắp. Như kẻ do nghiệp cảm vời được làm thân người, sẽ thấy vật được kết hợp bởi khinh khí và dưỡng khí là nước. Loài có vảy do nghiệp cảm mà có thân cá, ba ba, sẽ thấy nước như khói. Ngạ quỷ do nghiệp cảm thành thân ngạ quỷ, thấy nước là lửa. Đấy là do nghiệp cảm chung mà biến hiện thành cảnh giới chung. Đối với Bất Cộng Biến th́ ngay trong lời hỏi đă có nói, chẳng cần phải rườm lời giải thích nữa.

          Phật Học Vấn Đáp Loại Biên

Quyển Hạ

Phần 3 hết

 



[1] Bát Thức Tụng là tên gọi tắt của Bát Thức Quy Củ Tụng là một tác phẩm ngắn do ngài Huyền Trang biên soạn, gồm mười hai bài tụng, tức bốn mươi tám câu nhằm giải thích các khái niệm cơ bản của Duy Thức về tám thức.

[2] “Giả thể” ở đây là nói đến thân xác hiện tại.

[3] Dị Thục (異熟) có nghĩa là quả chín muồi khác thời điểm hoặc có tánh chất khác với nhân. Thông thường, quả chín muồi không đồng thời với nhân, hoặc quả có tánh chất thiện hay ác, trong khi nhân có thể là vô kư th́ gọi là Dị Thục Quả. A Lại Da Thức chứa đựng chủng tử, đó là nhân, chúng ta phải đợi các duyên hiện hữu th́ mới có thể chín muồi, kết thành quả. V́ thế, nói A Lại Da Thức có công năng Dị Thục.

[4] Thắng Nghĩa Căn (勝義根), c̣n gọi là Tịnh Sắc Căn (淨色). Năm căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) có hai loại: Phù Trần Căn (浮塵根) và Thắng Nghĩa Căn. Các căn này thường được gọi chung là Sắc Căn (v́ nó có sắc chất, tức là có h́nh dáng, vật chất cụ thể). Phù Trần Căn là phần vật chất cụ thể, chẳng hạn Phù Trần Căn của Nhăn Căn là tṛng mắt, mí mắt, dây thần kinh, điểm vàng (yellow spot, macular), điểm mù (blind spot, scotoma) v.v… Thắng Nghĩa Căn chính là phần sắc pháp không thể thấy được, nó có tác dụng sanh khởi thức khi Phù Trần Căn tiếp xúc với sáu trần.

[5] Quản, Sái chính là Quản Thúc Độ và Sái Thúc Tiên. Hai người này tên thật là Cơ Tiên và Cơ Độ, là em cùng mẹ với Châu Vũ Vương (Cơ Phát). Sau khi Châu Vũ Vương diệt Trụ, đă phong cho con vua Trụ là Vũ Canh tiếp tục cai trị đất Triều Ca. Để giám sát, Châu Vũ Vương chia vùng quanh Triều Ca cho em trai là Cơ Xứ, Cơ Tiên và Cơ Độ lập nước chư hầu. Do gọi tên theo đất phong mà Sử Trung Hoa thường gọi họ là Hoắc Thúc Xứ, Quản Thúc Tiên và Sái Thúc Độ (Hoắc, Quản, Sái là đất phong, Thúc có nghĩa là em trai của cha). Khi Châu Vũ Vương chết, con là Châu Thành Vương (Cơ Tụng) c̣n bé, Châu Công Đán nhiếp chánh, ba người này đă nghe theo lời xúi giục của Vũ Canh, khởi binh chống lại nhà Châu, Sử gọi là Tam Giám Chi Loạn. Ở đây, cụ Lư có ư nói vua Thuấn, vua Vũ là những bậc đại hiền nhưng cha của họ là những người hung bạo, nhất là Cổ Tẩu (cha vua Thuấn) hung tợn, độc đoán, đối xử tàn nhẫn với con ruột, thậm chí chỉ mong giết hại vua Thuấn. Châu Văn Vương (Cơ Xương) được coi là bậc thánh quân hiền đức, nhưng con ông là Quản Thúc Độ, Sái Thúc Tiên lại là kẻ bội bạc, bất hiếu. Do vậy, nói “do di truyền th́ tánh t́nh của con phải giống như cha mẹ” sẽ không hợp lư!

[6] Bảy chi thân và khẩu, tức là “thân tam, khẩu tứ” nghĩa là thân giết, trộm, dâm, miệng nói dối, nói đôi chiều, nói thêu dệt và ác khẩu.

[7] Loại suy (類推, Analogy), c̣n gọi là Loại Tỷ (類比) là một cách suy luận dựa theo sự giống nhau của các sinh vật. Nói thô thiển, nếu A và B có đa số những thuộc tánh giống nhau th́ chúng phải có toàn bộ thuộc tánh giống nhau. Chẳng hạn như sắt bị nung nóng th́ giăn ra, như vậy, đồng cũng là kim loại, khi nung nóng, cũng sẽ bị giăn ra.

[8] “Khí cửu pháp” chính là cách t́m số dư sau khi đă chia một số cho 9. Chẳng hạn, 21 chia cho 9 th́ thương số (quotient, kết quả của phép chia) là 2, số dư (division remainder) là 3, v́ 21=9x2+3. Trong trường hợp này, 21 được gọi là số bị chia (dividend), 9 là số chia (divisor). Toán Học thường gọi kiểu chia này là Euclidean Division (ta thường dịch là “phép chia c̣n dư”). Để t́m số dư trong cách chia này, thuật toán đơn giản là cộng các chữ số với nhau. Chẳng hạn để t́m số dư trong phép chia 21 cho 9, ta chỉ cần cộng các chữ số lại. Nếu kết quả vẫn lớn hơn 9, lại cộng các chữ số trong kết quả lần nữa. Tiếp tục làm như thế cho đến khi nào kết quả nhỏ hơn 9; đó sẽ là số dư cần t́m. Chẳng hạn như muốn t́m số dư khi chia 21 cho 9, ta cộng 2 với 1 sẽ được 3. Đó là kết quả cần t́m. Một thí dụ khác, t́m số dư của 13589 khi chia cho 9, th́ kết quả là 1+3+5+8+9=26. Do kết quả lớn hơn 9, lại cộng 2 và 6 với nhau, số dư cuối cùng sẽ là 8.

[9] Băo Phác Tử là tác phẩm của Cát Hồng (283-343). Ông này có tên tự là Trĩ Xuyên, hiệu là Băo Phác Tử, c̣n được gọi là Cát Tiên Ông, người xứ Cú Dung, Đan Dương (nay thuộc tỉnh Giang Tô). Cát Hồng là một Âm Dương gia, kiêm y gia, hóa học gia, thuật sĩ luyện đan sống vào đời Đông Tấn. Ông theo học luyện đan với Trịnh Huyền, trước tác khá nhiều, trong đó quan trọng nhất là hai bộ sách Băo Phác Tử và Trửu Hậu Phương. Trửu Hậu Phương là một bộ sách thuốc khá nổi danh, c̣n Băo Phác Tử chứa đựng quan niệm của ông về thuật luyện đan, cũng như những khái niệm về dưỡng sinh ḥng được trường sinh của Đạo giáo. Phần Nội Thiên trong ấy được nghiên cứu nhiều v́ nó chứa đựng khá lớn các quan niệm căn bản của huyền học Đạo giáo, cũng như thuật tu tiên, Ngoại Thiên c̣n chứa đựng những tư tưởng về Nho gia, đối nhân xử thế, các quan điểm về chính trị và xă hội v.v…

[10] Nội Cảnh Kinh có tên gọi đầy đủ là Thái Thượng Hoàng Đ́nh Nội Cảnh Ngọc Kinh, tương truyền do Phù Tang Đại Đế Chân Quân ban cho Dương Cốc Thần Vương Cảnh Lâm chân nhân, ông này truyền cho Ngụy Hoa Tồn. Đây là một bộ kinh giảng về cách tu Nội Đan luyện tinh khí thần. Bộ kinh này được coi là kinh điển trọng yếu của các phái Thượng Thanh và Thiên Sư Đạo của Đạo giáo. Bộ kinh này được Đạo gia tôn sùng đến nỗi có những truyền thuyết, nhất là trong các bộ truyện Tàu như Phong Thần chẳng hạn, có những mẫu chuyện như những cây cổ thụ hoặc những con vật do nghe các đạo sĩ tụng kinh Huỳnh Đ́nh (đọc trại của chữ Hoàng Đ́nh) bèn có thể hóa thành h́nh người, tác quái.

[11] Thi thần (尸神) c̣n gọi là Tam Thi (c̣n gọi là Tam Trùng, Tam Bành, Tam Thi Thần, hoặc Tam Độc) là một khái niệm do Đạo giáo đặt ra. Theo đó, trong cơ thể con người có đến ba Đơn Điền, mỗi nơi đều có một vị thần cư ngụ trong ấy. Thượng Thi tên là Bành Cứ, thích chưng diện, đỏm đáng; Trung Thi là Bành Chất, thích các vị ngon, Hạ Thi là Bành Kiêu, chuộng dâm dục. Khi con người chết đi, Tam Thi sẽ ĺa khỏi thân thể, hóa thành trạng thái bồng bềnh vô định, có h́nh tượng giống như con người, nên gọi là Quỷ. Sách Vân Cấp Thất Thiên giảng: “Con người sau khi chết đi, hồn lên trời, phách xuống đất, chỉ có Tam Thi là bồng bềnh, nên gọi là Quỷ”. Những loài quỷ này phiêu đăng, thấy ở đâu có cúng tế bèn đến hưởng, vào ngày Quư Hợi mỗi tháng, sẽ lên trời tâu tội lỗi của người đời (có thuyết nói dẫu chưa chết, thần Tam Thi trong thân hằng tháng sẽ lên Thiên Đ́nh báo cáo công và tội của người làm chủ cái xác thân đó). Kẻ phạm tội to lớn sẽ bị đoạt mất tuổi thọ (chết ngang xương), kẻ phạm lỗi nhẹ sẽ giảm thọ. V́ thế, người tu Tiên phải khử Tam Thi bằng cách sống đạm bạc, di dưỡng tinh thần, tận lực giảm thiểu tham dục.

[12] “Cái” () ở đây có nghĩa là che lấp. Cái là tên gọi khác của phiền năo.

[13] Tần Mục Công, tên thật là Doanh Nhậm Hảo, là vua thứ mười bốn nước Tấn thời Chiến Quốc. Ông là người đă đưa nước Tần từ vị trí một nước phụ dung lên địa vị bá chủ thời Xuân Thu Chiến Quốc. Ông trọng dụng những bậc hiền tài nổi tiếng như Bách Lư Hề, Kiển Thúc. Ông diệt hai nước Ngu và Quắc, chinh phạt Tây Nhung, khiến cho hai mươi tiểu quốc quy phục nước Tần.

[14] Lộng Ngọc là con gái của Tần Mục Công, thích thổi tiêu. Tương truyền khi nàng được sinh ra, có một viên ngọc kèm theo, nên mới đặt tên là Lộng Ngọc. Nước Tần có Tiêu Sử giỏi thổi tiêu, soạn ra khúc nhạc Loan Phụng nổi tiếng cả nước. Vua gả Lộng Ngọc cho Tiêu Sử. Dân gian đồn hai vợ chồng thành tiên, bay lên trời.

[15] Phương sĩ (方士) nghĩa là người tinh thông phương thuật. Phương thuật là từ ngữ chỉ các pháp tắc biểu diễn huyền thuật, bao gồm phép luyện đan, điểm đá hóa vàng, bùa chú, trừ tà, cầu đảo, siêu độ, áp vong, cầu cơ, quán linh v.v…

[16] Nguyên văn “trạch” () là vùng đất thấp chứa đầy nước. Trạch có thể sâu như hồ, nhưng thường là không có bờ mé rơ ràng như hồ, có thể là có nhiều chỗ śnh lầy, nhiều lau lách.

[17] Thời cổ, gọi lớp mỡ vùng chót đỉnh của tim là Cao (), chỗ giữa hoành cách mô và tim gọi là Hoang(). Trung Y cho rằng thuốc không thể thấu tới vùng Cao Hoang.

[18] Đường Minh Hoàng (685) là tên gọi khác của Đường Huyền Tông, tên thật là Lư Long Cơ. Ông đă liên kết với công chúa Thái B́nh (con gái Vũ Tắc Thiên) triệt bè lũ Vi hoàng hậu, tôn Lư Đán lên ngôi, tức Đường Duệ Tông. Do đó, ông được phong làm B́nh Vương rồi được sách phong làm Hoàng Thái Tử. Ông đă dẹp tan tàn dư của Vũ Tắc Thiên và họ Vi, chú trọng phát triển kinh tế, văn hóa, xă hội, mở ra thời thịnh trị Khai Nguyên suốt ba mươi năm, nên thường được gọi là Minh Hoàng. Cuối đời, do say mê Dương Thái Chân (Dương Quư Phi), tin vào thuật trường sinh của bọn đạo sĩ, bỏ bê triều chánh, trọng dụng lũ gian thần như Lư Lâm Phủ, Dương Quốc Trung v.v…, đuổi các đại thần trung trực. Vua do nghe lời sàm tấu bèn giáng ba người con ruột tức hoàng tử Lư Anh, Lư Dao và Lư Cư làm dân thường, đày họ sang Nhương Châu. Không lâu sau, vua ra lệnh ép ba hoàng tử phải tự sát ở Lam Điền! Trong cuộc phản loạn của An Lộc Sơn, ông phải trốn chạy khỏi kinh thành. Con trai ông là thái tử Lư Hanh xưng đế, tức Đường Túc Tông. Sau khi loạn An Lộc Sơn dẹp yên, ông bị triều thần ép phải lên làm Thái Thượng Hoàng, mất hết quyền lực và bị hoạn quan Lư Phụ Quốc áp chế cho đến khi chết.

[19] Duyên Lự là một thuật ngữ để chỉ tác dụng nhận biết của thức. Duyên là nương vào một đối tượng nào đó, Lự là sanh khởi tác dụng nhận biết, cảm nhận v.v… Chẳng hạn, khi nhăn căn thấy sắc như mắt nh́n thấy một bông hoa, sẽ gọi là mắt “duyên” vào bông hoa ấy, phát sanh Lự tức là sự nhận biết bông hoa ấy có h́nh dáng, màu sắc như thế nào, có mùi thơm hay không… Sau đó nẩy sanh những ư kiến như yêu, ghét, khen, chê… Quá tŕnh cảm nhận của tâm thức ấy được gọi chung là Duyên Lự.

[20] “Câu sanh” (俱生) là sanh ra đă có, ư nói những chủng tử của các nghiệp trong đời quá khứ.

[21] Nguyên văn “đảo y vị viễn chinh”. “Đảo y” (搗衣) là lối giặt giũ của người xưa, muốn cho áo sạch thường ngâm nước một lúc, sau đó dùng chày đập, rồi ṿ xát cho sạch những chỗ dơ. Câu này dựa theo ư một bài thơ của Lư Bạch: “Trường An nhất phiến nguyệt, vạn hộ đảo y thanh, thu phong xuy bất tận, tổng thị ngọc quan t́nh, hà nhật b́nh hồ lỗ, lương nhân băi viễn chinh” (Trường An trăng sáng rọi, tiếng giặt áo muôn nhà, gió thu thổi chẳng ngớt, nhớ hoài ải Ngọc Môn, ngày nào yên bóng giặc, chồng em thôi viễn chinh). Ở đây cụ Lư có ư nói, dẫu làm chuyện đơn giản như giặt áo, cái tâm khi ấy chưa chắc đă không thiện, không ác, ví như người phụ nữ trong bài thơ trên đây, giặt áo mà cứ miên man nhớ đến chồng phải chinh chiến phương xa, mong cho giặc Hồ mau bị dẹp yên, tức là đă có tâm phân biệt, yêu ghét rồi! Do vậy, không phải là cái tâm vô kư.

[22] Duyên Trần: Trần cảnh để tâm thức duyên vào, chẳng hạn mắt nh́n thấy một bông hoa khởi lên ư niệm đẹp hay xấu th́ bông hoa ấy chính là sắc trần để nhăn thức duyên theo, nên nó được gọi là Duyên Trần.

[23] Có thể hiểu thô thiển như thế này: Đới Chất (帯質) là cảnh giới được nhận thức thông qua cái tâm thức chủ quan, nó chỉ c̣n có chút phần giống như thực tại, chứ không thật sự đúng với thực tại. Chẳng hạn, khi ta đeo kính đen, sẽ thấy mọi vật xung quanh đều nhợt nhạt, đen đúa, hoặc ủ dột. Những h́nh ảnh đó có thể gọi là “đới chất cảnh”, c̣n những vật trong hiện thực chưa bị biến dạng qua cặp kính đen sẽ gọi là “tánh cảnh”. Hoặc trong khi tâm ta đă ghét hay có thành kiến với một người nào, dù người đó cười tươi tắn, chân thành với ta, ta vẫn thấy nụ cười ấy giả dối, hoặc khinh thị, hoặc xấc xược, hoặc ngạo mạn v.v… H́nh ảnh nụ cười đă bị vặn vẹo bởi thành kiến của ta chính là Đới Chất Cảnh.

Độc Ảnh Cảnh (獨影境) là cảnh giới do năng lực phân biệt mạnh mẽ của ư thức biến hiện, không có bản chất thật sự. Nó chỉ là ảnh tượng đơn độc được biến hiện do sự suy diễn của ư thức chủ quan.