Phật Học Vấn Đáp

Loại Biên

Quyển Hạ

佛學問答類編

Phần 4

Lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam giải đáp

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản in của Lư Bỉnh Nam Lăo Cư Sĩ Toàn Tập Biên Tập Ủy Viên Hội,

Đài Loan, 2007)

Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang

IX. Thiền Quán

 

          * Hỏi: Tham Thiền giải thích như thế nào? (Trịnh Đôn hỏi)

 

          Đáp: Thiền nghĩa là Tĩnh Lự, cần phải thực hiện bằng tham cứu; v́ thế nói là “tham Thiền”. Chuyện này ắt phải có minh sư truyền dạy, chẳng thể tự ḿnh nghĩ như thế nào bèn làm như thế ấy được!

 

          * Hỏi: Để nghiên cứu, học hỏi Thiền Tông th́ làm như thế nào? Căn cứ trên những kinh điển nào? (Hứa Tái Hưng hỏi)

 

          Đáp: Bước đầu là đọc sách, hăy nên xem bộ Vĩnh Gia Thiền Tông Tập, Chứng Đạo Ca, Tiểu Chỉ Quán; sau đó, tiến nhập Lục Tổ Đàn Kinh.

 

          * Hỏi: Tinh thần thống nhất và Thiền Định có ǵ khác nhau? (Lâm Liễu Lâm hỏi)

 

          Đáp: Phàm chuyên tâm nơi một chuyện, chẳng cần biết là chánh hay tà, đều có thể nói là “tinh thần thống nhất”. Thiền Định dịch sang tiếng Hán là Tĩnh Lự (靜慮), chính là cảnh giới buông xuống muôn duyên, chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, lặng lẽ mà nhận biết rơ ràng!

 

          * Hỏi: Tọa Thiền và tĩnh tọa (tôi thực hành theo Nhân Thị Tử Tĩnh Tọa Pháp Tục Biên đă mười năm) có ǵ khác nhau? Công hiệu của mỗi pháp là như thế nào? (Châu Huệ Tiền hỏi)

 

          Đáp: Tọa Thiền chính là ngồi để tham Thiền. Thật ra, “tham” chẳng nhất định phải giới hạn nơi ngồi! Ngồi mà chẳng tham, chẳng quán, cũng chẳng thể nói là Thiền được! C̣n như cách tĩnh tọa của Nhân Thị Tử[1] trước sau có chỗ bất đồng. Phần trước th́ chấp trước Thân Kiến, lấy chuyện sống lâu, kéo dài tuổi thọ làm mục tiêu. Đấy chính là công phu của ngoại đạo! Phần sau th́ là đổi thành chỗ quy thú “sửa vọng, chứng Chân”. Đấy chính là công phu nhà Phật vậy!

 

          * Hỏi: Ở chỗ của tệ nhân có người học Tĩnh, hễ tĩnh lặng một hai khắc bèn có thể biết chuyện trong mấy ngày hôm sau. Chẳng biết đấy có phải là công phu Thiền Định hay không? (Hồng Vinh Bảo hỏi)

 

          Đáp: Ông ấy tu loại tĩnh tọa nào, hạnh nghiệp như thế nào, khi chưa hiểu rơ, [tôi sẽ] chẳng dám hấp tấp phê b́nh. Nếu khen ngợi chẳng đúng lư, sợ rằng sẽ khiến cho người nghe lầm lạc. Chê bai chẳng đúng lẽ, sợ sẽ tự chuốc lấy tội lỗi!

 

          * Hỏi: Có phải là tọa Thiền coi “vô niệm, vô tưởng” là hay khéo, hay là trong tâm phải suy nghĩ chuyện ǵ đó? (Lư Vĩnh Mậu hỏi)

 

          Đáp: Thiền tuy có thể ngồi, nhưng không nhất định cứ hễ tĩnh tọa bèn là Thiền! Điều ông đă hỏi sau đó không rơ ràng! “Vô niệm, vô tưởng” cư sĩ chẳng làm được! Nếu miễn cưỡng làm, cũng trở thành thất niệm và Ngoan Không! “Suy nghĩ, so đo chuyện ǵ đó” chính là điều cư sĩ vĩnh viễn chẳng ngừng làm. Nếu lại cố ư làm thêm nữa [trong khi tĩnh tọa], sẽ càng tăng thêm điệu cử và tán loạn. Ông và kẻ hèn này đă giao du nhiều năm, tôi suy lường đại lược căn khí, ắt là ông muốn học Thiền, tôi có thể tùy thuận thưa với ông: Có một câu thoại đầu chính là hồng danh sáu chữ, chỉ nên tŕ niệm, chớ nên xen tạp tham cứu, đừng dấy lên nghi t́nh, cứ thẳng thừng gánh vác, trong mười hai thời, một mực cắn chặt, ngộ hay không ngộ, dẫu chết chẳng buông lung, sẽ chẳng khó ǵ tro nguội nổ đậu[2], thấu hiểu đôi phần. Nếu gặp kẻ khác bảo “đấy là Tịnh, chẳng phải là Thiền”, chớ nên tin họ, khiến cho vọng càng tăng trưởng! Phải biết người đó là kẻ chấp trước một bề, đă chẳng hiểu Thiền mà cũng chẳng hiểu Tịnh!

 

          * Hỏi: Tọa Thiền tưởng Phật th́ có thể gặp nguy hiểm bị ma dựa hay không? (Tín Huệ hỏi)

 

          Đáp: Để hành tŕ Thiền pháp cũng có nhiều loại. Điều này cần phải xét chính ḿnh tu theo loại nào, được truyền dạy loại nào, cách tu tương ứng với những điều được truyền dạy, cảnh tương ứng với pháp tu tập [hay không]. Nếu có trái nghịch, bất luận tưởng Phật hay không, đều có thể bị ma dựa sanh bệnh! Hơn nữa, Thiền không chỉ là ngồi (tĩnh tọa). Chuyện này cần phải được tri thức chỉ dạy th́ sẽ ổn thỏa, tốt đẹp hơn. Chớ nên âm thầm ṃ mẫm!

 

          * Hỏi: Ngồi Thiền đúng là khó thể ngồi lâu được, có thể dùng phương pháp khác để thay thế hay không? Như ngồi trên ghế, dựa lưng vào tường, hoặc nhập Định trong khi ngủ? (Dương Thiên Nguyên hỏi)

 

          Đáp: Ngồi là ngồi, Thiền là Thiền, tọa Thiền là tọa Thiền, ắt đều phải cầu bậc minh sư chỉ dạy, chẳng thể đóng cửa chế xe! Nếu tự làm xằng, sợ gặp phải cảnh ma! “Định trong khi ngủ” ư? Ngủ là một loại ma, làm sao có thể gọi là Định cho được?

 

          * Hỏi: Thần Tú đại sư chứng quả vị nào? Phật hiệu của Ngài xưng là ǵ? Muôn phần mong thầy đăng lời chỉ dạy trên báo! (Trần Thượng Dạ hỏi)

 

          Đáp: Kẻ hèn này chỉ là hạng học theo lối kư vấn[3], chưa nghe có ai nói về cảnh giới của đại sư, cho nên chẳng dám đoán xằng!

 

          * Hỏi: Lục Tổ của Thiền Tông không biết chữ, đương nhiên là chẳng có sự tu dưỡng về văn học, làm sao có thể nói bài kệ “Bồ Đề bổn vô thụ…” (Bồ Đề chẳng phải là cây) cho được! (Trương Cung hỏi)

 

          Đáp: Cư sĩ chẳng nghe nói có Vô Sư Trí và Tự Nhiên Trí ư?

 

          * Hỏi: Nếu khi tham Thiền chẳng thể liễu thoát sanh tử, có phải là mỗi đời sẽ tăng tấn cao hơn hay không? (Chung Quán Tĩnh hỏi)

 

          Đáp: Cố nhiên là mỗi đời một tăng tấn cao hơn, nhưng khi nhập thai, do bị mê khi cách ấm, [cho nên phải là] có gặp duyên th́ túc huệ mới có thể sanh khởi để lại bắt đầu tu hành.

 

          * Hỏi: Tham Thiền và tĩnh tọa có phải là hai thứ khác nhau hay chăng? (Hoàng Hàm hỏi)

 

          Đáp: Tham Thiền có lúc tĩnh tọa, nhưng chỉ tĩnh tọa sẽ hoàn toàn chẳng phải là Thiền! Huống hồ tọa mà chẳng thể tĩnh ư? Thời cổ, Thiền pháp chú trọng quán tâm; hiện thời, đa số chọn cách tham thoại đầu. Cách này ắt phải có minh sư chỉ điểm, chẳng thể tu mù luyện đui được!

 

          * Hỏi: Có người nói: Thiền và Tịnh vốn là một pháp, chỉ có điều công phu tu tập khác nhau! “Phương tiện có nhiều môn, trở về nguồn chẳng hai”, nhưng tham Thiền vốn là chỉ thẳng nguồn tâm, mổ xẻ cái tâm để kiến tánh, [do vậy sẽ] đạt được tam-muội nhanh chóng hơn niệm Phật, đúng không? (Chung Quán Tĩnh hỏi)

 

          Đáp: Xưa kia, Thiền quán tâm, nay tham thoại đầu, đại lược giống như pháp Tịnh. Chỗ bất đồng nơi hành tŕ là tham và niệm. Hơn nữa, một đằng cầu đoạn Hoặc, minh tâm kiến tánh; một đằng nguyện đới nghiệp văng sanh chứng quả. C̣n như nói pháp nào sẽ đắc tam-muội nhanh chóng hơn, vẫn thuộc về vấn đề công phu vậy!

 

          * Hỏi: Dốc hết công sức siêng gắng tham Thiền, mấy năm sẽ có thể đắc đạo? (Lưu Học Trung hỏi)

 

          Đáp: “Đạo” là nói về điều ǵ? Có phải là nói đến Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác hay chăng? Nếu đúng là như vậy, hiếm người ngay lập tức thành tựu. Đa số là phải trải qua ba đại A-tăng-kỳ kiếp, c̣n như “dốc hết công sức siêng năng như thế nào? Ngồi như thế nào? Thiền là như thế nào?” vốn chẳng phải do đôi ba câu trong cột báo này mà có thể nói rơ được! Ắt trước hết phải nương cậy bậc tông tượng để học theo!

 

          * Hỏi: Chỉ Quán và Lục Diệu Môn[4] của Thiên Thai có phải là pháp tu tŕ của Thiền Tông hay không? Thiền Định do các tông tu tập và cách tọa Thiền của Thiền Tông là khác nhau hay giống nhau? (Hoàng Ḥe Đ́nh hỏi)

 

          Đáp: Một là từ chữ “Thiên Thai” cho tới “pháp tru tŕ”, Thiền pháp đă có đủ loại, há có thể nhất loạt dùng Chỉ Quán và Lục Diệu để bó buộc ư? Bất quá, xét theo Lư th́ có chỗ tương thông. Hai là từ chữ “các tông” cho đến “khác nhau hay giống nhau”: Mở đầu chẳng phải là như nhau, v́ nếu đă là như nhau, cần ǵ phải chia thành các tông? Quy kết th́ hoàn toàn chẳng có sự khác biệt, v́ nếu khác biệt, sẽ không gọi là liễu nghĩa được! Đó gọi là “về nguồn chẳng hai nẻo, phương tiện có nhiều môn”!

          Nói thêm, đang nhằm thời Mạt Pháp, khó cầu minh sư! Nếu tự tu tập, vẫn phải theo đúng thứ tự từ cạn tiến tới sâu th́ mới có nhập xứ. Nói tới giáo tướng th́ [sau khi đă] có thể hiểu đại khái, hăy [xem xét] căn khí của chính ḿnh có thể lănh hội, chứng nghiệm như thế nào rồi mới hỏi han đạo lư nơi pháp môn viên đốn, vẫn chẳng trễ! Nếu cứ vượt cấp để tiến, e rằng sẽ chẳng đạt được ǵ! Kính dâng [tri kiến] hèn mọn [như thế đó].

 

          * Hỏi: Đọc sách Thiền Thoại do cư sĩ Phương Luân trước tác, tôi biết Tông Môn Thiền “tâm pháp duy nhất, hễ thấu triệt một, sẽ liễu đạt cả trăm”, chẳng nói đến chuyện “luyện tinh, hóa khí” chi cả! C̣n như khi ngồi th́ những hiện tượng nơi thân thể như “khinh an”, “khí huyết lưu động”,nơi xương sống có một luồng khí nóng xông thẳng lên đỉnh đầu” cũng đều chẳng màng tới! Tông Môn Thiền là như thế, chẳng biết là có pháp Thiền nào khác chuyên môn tu luyện khí mạch hay chăng? (Thường Khôi Sanh hỏi)

 

          Đáp: Thiền dịch sang tiếng Hán, sẽ có nghĩa là Tĩnh Lự, ư chỉ là “đoạn Hoặc, chứng Chân”. Tuy có ngồi xếp bằng, điều ḥa hơi thở, bất quá là để khinh an nhập Định, quyết chẳng có những chuyện như luyện tinh, luyện khí! Thiền pháp tuy nhiều, nhưng xuất thế gian Thiền đều giống như nhau!

 

          * Hỏi: Trong sách Thiền Thoại do cư sĩ Phương Luân trước tác có nói Như Lai Thiền chú trọng gạt bỏ sự vụ thế tục, tĩnh tọa quán tâm, “như điều ḥa cái tâm, điều ḥa hơi thở, “hô hấp dài ngắn v.v… đều có quy củ nhất định”. Không biết Như Lai Thiền có phải là tu luyện khí mạch hay không? (Thường Khôi Sanh hỏi)

 

          Đáp: Nếu đă thấu hiểu tường tận lời đáp cho câu trước, câu hỏi này cũng được giải quyết! Có điều đối với những câu như chỉ gạt bỏ sự vụ thế tục, tĩnh tọa quán tâm” v.v… chớ nên suy đoán ư nghĩa theo mặt văn tự. Nếu cư sĩ muốn hiểu rơ, đă có những sách như Vĩnh Gia Thiền Tông Tập và Tiểu Chỉ Quán v.v… Hăy nên xem đọc và nghiên cứu trước th́ mới có đôi chút nhận thức [chánh xác về Thiền].

 

          * Hỏi: Bậc đại đức trong Thiền Tông có nói: “Một chữ Phật ta không thích nghe”. Nói kiểu ấy có khác ǵ Ngoan Không hoặc Tổn Diệt Chấp? Dẫu người nói hoàn toàn chẳng có ư nói đến Ngoan Không, nếu như kẻ hậu học do chẳng hiểu ư này, sẽ lầm lạc lọt vào nẻo Ngoan Không, há chẳng phải tột bậc nguy hiểm ư? (Nghiêu Trạch hỏi)

 

          Đáp: Cách nói này nhằm đối ứng hành giả trong Tông Môn. Nhà Thiền chú trọng đơn đao trực nhập, chỉ ra tâm tánh, nhưng chuyện này cần đến ngộ và chứng, chẳng thể bàn luận suông được! Hai chữ Chân Như cũng là danh tướng nơi văn tự, như nói “lửa chẳng phải là lửa” vậy! Hành giả c̣n lưu lại một chữ Phật, tức là c̣n xen lẫn danh tướng; lầm chừng hào, ly, sai lạc ngàn dặm! V́ thế, nói “ngôn ngữ dứt bặt, tâm hành xứ diệt”. Nếu nói lời này với kẻ b́nh phàm, tức là thầy thuốc vụng về dùng sai thuốc mất rồi!

 

          * Hỏi: Thiền Tông coi trọng nghi, bảo “tiểu nghi, tiểu ngộ; đại nghi, đại ngộ. Chẳng nghi, chẳng ngộ”. Tu Tịnh đ̣i hỏi “tin sâu, nguyện thiết”. Nếu như lúc Thiền Tịnh song tu th́ phải dụng tâm như thế nào? (Chung Quân Lương hỏi)

 

          Đáp: Thiền cầu khai ngộ; để ngộ, phải dựa vào tham cứu. Chẳng nghi th́ làm sao có thể tham cứu cho được? Tịnh cầu văng sanh; được văng sanh là do niệm chuyên nhất. Chẳng tin làm sao chịu niệm? Nếu là người tu Thiền kiêm Tịnh, tâm khai, Hoặc đoạn, ắt sẽ sanh trong Thượng Phẩm. Biết “sanh th́ quyết định sanh”, đấy là do vận dụng ḷng tin vậy. Nhưng làm thế nào để tâm khai? Chính là khi vấp phải vật ǵ hay đụng tường, bèn ṃ t́m lỗ mũi. Đấy chính là vận dụng ḷng nghi. Mỗi đằng vận dụng sai khác, hoàn toàn chẳng mâu thuẫn.

 

          * Hỏi: Thiền là từ vô tướng để nhập, Tịnh từ hữu tướng để nhập. Chỉ cần có thể nhập, quan tâm hữu tướng hay vô tướng để làm ǵ? Nhưng chúng sanh đời Mạt Pháp vọng tưởng, chấp trước quá sâu, bước đầu đều dùng hữu tướng để nhập, tức là pháp Tham Thoại Đầu của Thiền Tông. Cư sĩ Phương Luân sánh ví là “dùng độc trị độc”, cũng có thể nói là từ hữu tướng mà nhập. Luận định như vậy có đúng hay không? (Lâu Vĩnh Dự hỏi)

 

          Đáp: Cách nh́n ấy cũng khá lắm!

 

          * Hỏi: Đối với các phương diện trong Thiền như Ngoan Không, chấp tướng, không rớt vào biên tế (tức là chẳng chấp Có, mà cũng chẳng chấp Không), xin hăy dạy cặn kẽ về ba điều ấy! (Tạ Nguyên Phủ hỏi)

 

          Đáp: Cái Thể của Chân Không do các duyên mà khởi lên hữu tướng. Hữu tướng như huyễn, vẫn là thể Không. Đấy chính là Trung Đế nơi Không Hữu bất nhị. Chẳng thấu đạt nghĩa này, bảo “hết thảy đều Không”, chẳng hạn như bài bác, bảo là chẳng có nhân quả, chẳng có Niết Bàn. Đấy chính là Không Kiến tối tăm, trơ trơ. Nếu chấp trước hết thảy là thật sự có, chẳng liễu đạt tánh Không, tức là Hữu Kiến chấp trước giả tướng. Hai loại ấy đều gọi là “rớt vào biên tế”. Tuy nói như thế, nếu chẳng đổ công dốc sức một phen, sẽ chẳng thể lănh hội cảnh giới này!

 

          * Hỏi: Sự tu chứng trong Thiền Tông là chẳng trải qua từng tầng cấp, trực tiếp thấu nhập Như Lai địa. V́ sao tọa Thiền c̣n có bốn giai đoạn Thiền? (Hoàng Ḥe Đ́nh hỏi)

 

          Đáp: Thiền chia thành thế gian Thiền và xuất thế gian Thiền. Xuất thế gian Thiền lại chia thành Như Lai Thiền và Tổ Sư Thiền. Có loại theo thứ tự, có loại không theo thứ tự là do căn cơ của chúng sanh có Tiểu, Đại, lợi, độn sai khác! V́ thế, Giáo có Tiểu, Đại, Tiệm, Đốn, Thiên, Viên khác biệt. Ứng cơ thuyết pháp ví như lương y dựa theo bệnh để cho thuốc, chẳng thể dùng thuốc bừa băi được! Cư sĩ nói “chẳng theo tầng cấp, trực tiếp thấu nhập Như Lai địa”, đó là chuyện của bậc lợi căn đốn siêu, hoàn toàn chẳng phải là kẻ nào học Thiền cũng đều có thể nhất loạt [tu tập] như vậy được!

 

          * Hỏi: Thiền Tông niệm câu Thoại Đầu “kẻ kéo xác chết là ai?” Đấy là nói báo thân Tứ Đại là xác chết, cái Ngă chân thật v́ nó mà bươn chải, v́ nó mà khổ hay lạc, v́ nó mà ngày ăn ba bữa v.v… Do vậy, bèn nghĩ là “lôi kéo xác chết” đấy chăng? Có thể coi Tứ Đại là bóng đèn điện, coi Chân Ngă như điện, có thể có cùng một nghĩa với “Không tức là Sắc, Sắc tức là Không” hay chăng? (Nhan Khoan Văn hỏi)

 

          Đáp: “Kẻ lôi kéo xác chết là ai?”: Phàm là Thoại Đầu th́ phải tham, chớ nên giảng! Trọng tâm trong câu ấy là chữ Ai! Cư sĩ nói “cái Ngă chân thật”, kẻ hèn này xin hỏi, “cái Ngă chân thật” là thứ ǵ vậy? Chưa hướng về đó để dụng tâm, cho nên tiếp đó mới nói lắm câu thừa thăi như vậy!

 

          * Hỏi: Sơ Thiền trong nhập Thiền Định là Ly Sanh Hỷ Lạc Định, Nhị Thiền là Định Sanh Hỷ Lạc Định, Tam Thiền là Ly Hỷ Diệu Lạc Định. Dám hỏi ĺa ǵ để sanh ra ǵ, mong hăy giải thích cặn kẽ! (Diệp Thiên Hộ hỏi)

 

          Đáp: Dục Giới, Sắc Giới, Không Giới (Vô Sắc Giới) có tất cả hai mươi tám tầng trời, lại chia hai mươi tám tầng trời thành chín địa. Tức là sáu tầng trời thuộc Dục Giới là một địa, Tứ Thiền của Sắc Giới là bốn địa, [bốn tầng trời của] Không Giới là bốn địa. Sơ Thiền Ly Sanh Hỷ Lạc Định, Ly là ĺa khỏi các nỗi khổ trong Dục Giới, Sanh là sanh về cơi Sơ Thiền, Hỷ Lạc là đạt được hai thứ thọ dụng ấy. Nhị Thiền Định Sanh Hỷ Lạc, nghĩa là sự hỷ lạc phát sanh từ tâm thức do Thiền Định. Tam Thiền Ly Hỷ Diệu Lạc, nghĩa là từ địa vị này đă ĺa khỏi sự thô hỷ của Nhị Thiền, trụ trong lạc thọ thù thắng nhiệm mầu.

 

          * Hỏi: Phật giáo nói Văn Huệ, Tư Huệ, Tu Huệ, xin hỏi kẻ hành giả không biết một chữ (thất học), nếu do thật thà tu hành (các pháp môn như niệm Phật, tham Thiền v.v…), sau khi đạt được Tu Huệ, cũng có thể rộng nói pháp yếu hay chăng? Lục Tổ Huệ Năng đại sư chưa từng học hành, cảnh giới sau khi Ngài khai ngộ rốt cuộc là như thế nào? Xét theo Lục Tổ Đàn Kinh, tuy Ngài ngộ tánh rất cao, nhưng chưa bàn đến giáo điển, danh tướng, Văn Tự Bát Nhă của Ngài như thế nào? (Chân Tàm Quư hỏi)

 

          Đáp: Cư sĩ nghi người biết chữ và không biết chữ sau khi cùng khai ngộ, cảnh giới bất đồng; điều này cần phải xét xem tŕnh độ giác ngộ như thế nào? Nếu tŕnh độ như nhau, thử hỏi một cân bông và một cân sắt, cái nào nặng, cái nào nhẹ? Phương pháp trong nhà Thiền chính là chỉ thẳng vào tâm người, chẳng câu nệ văn tự, chẳng phải là thật sự không hiểu văn tự! Nếu muốn biết Văn Tự Bát Nhă của Lục Tổ, [thử hỏi] các bài kệ trong Đàn Kinh bọn ta có thể thay đổi một chữ hay không?

 

          * Hỏi: Tôi thường đọc Pháp Bảo Đàn Kinh của Lục Tổ đại sư. Nơi trang thứ bảy trong phẩm Tự, [có chép] bài kệ truyền trao y bát của Ngũ Tổ là: “Hữu t́nh lai hạ chủng, nhân địa quả hoàn sanh, vô t́nh diệc vô chủng, vô tánh diệc vô sanh” (Gieo chủng tử hữu t́nh, nhân với quả lại sanh. Vô t́nh, không chủng tử, vô tánh cũng vô sanh), tôi luôn cảm thấy mờ mịt không rơ đầu mối. Đă thỉnh vấn nhiều vị, mỗi vị trả lời một kiểu khác nhau! Chỉ mong viên âm rộng ban mưa pháp trọn khắp. V́ thế, đặc biệt khẩn khoản thỉnh cầu, mong sao cụ không chê tôi là kẻ hạ căn, ngu muội, ban tặng lời giải thích tường tận ngơ hầu tháo gỡ cái nút chặn bế tắc! (Ngô Trứ hỏi)

 

          Đáp: Đây là chuyện chẳng thể giải thích dựa theo văn tự được. Cư sĩ chẳng hiểu, tôi cũng không hiểu. Nếu tôi giảng giải, chắc chắn sẽ bị tổ sư quở trách. Dẫu đến hỏi Ngũ Tổ, chắc chắn Ngũ Tổ cũng chẳng nói với ta! Chuyện như thế này chẳng thể khăng khăng nói theo một khuôn khổ cứng ngắc được! Xin hăy xem bài kệ “Bồ Đề minh kính”, Ngũ Tổ khen ngợi bài kệ do thượng tọa Thần Tú viết là: “Nương theo bài kệ này để tu, sẽ chẳng đọa ác đạo, có đại lợi ích”. Đối với bài kệ của Lục Tổ, Ngài lại chê ngược: “Vẫn chưa kiến tánh!” Đại chúng đều ngỡ đúng là như vậy. Chuyện này chỉ có thể hỏi hiểu hay không hiểu, quyết chẳng phải là một vấn đề [có thể] giảng giải được! Kính xin cư sĩ trước hết hăy nghiền ngẫm Phật Pháp Đạo Luận. Muốn học Thiền, ắt phải cầu minh sư, chẳng phải là tự ḿnh âm thầm ṃ mẫm! Muốn xem sách, trước hết hăy xem Vĩnh Gia Thiền Tông Tập, Chứng Đạo Ca v.v… Nếu tu Tịnh th́ không có thầy vẫn được, hăy nên xem trước bộ Long Thư Tịnh Độ Văn. Muốn lên cao, phải [bắt đầu từ] chỗ thấp; muốn đi xa, phải bắt đầu từ chỗ gần. Nếu vượt cấp, phần nhiều sẽ là tốn sức, uổng công!

 

          * Hỏi: Tôi xem thấy hai câu, “thấy núi chẳng phải là núi, thấy nước chẳng phải là nước”. Sau đó lại thấy nói “thấy núi vẫn là núi, thấy nước vẫn là nước”. Tra trong Phật Học Từ Điển, cũng chẳng thấy [giảng giải hai kiểu nói ấy], rốt cuộc phải hiểu như thế nào? (Lưu Học Trung hỏi)

 

          Đáp: Những câu ấy đều là Thiền ngữ, chỉ có thể tham, chẳng thể giảng! Lại c̣n cốt sao tùy cơ ứng biến, chớ nên câu nệ, chấp chặt một bề được! Nay do tùy thuận, gắng gượng giải thích [như sau]: “Thấy núi chẳng phải là núi, thấy nước chẳng phải là nước” chính là từ ngay nơi tướng mà ĺa tướng. “Thấy núi vẫn là núi, thấy nước vẫn là nước” tức chẳng phải là “chính là”, [mà cũng] chẳng ĺa! Điều này giống như dạy trẻ vỡ ḷng trong nhà trường chốn làng quê mà thôi! Nếu cư sĩ tu tập đạo này, trước hết, hăy nên tham phỏng thiện tri thức th́ mới có chỗ nhập. Nếu âm thầm ṃ mẫm, tầm chương trích cú, chỉ sợ là vô ích, có hại!

 

          * Hỏi: Tôi vừa mới đọc bộ Kim Cang Cú Dị Tri do tiên sinh Vương Trạch Sanh ở Bồng Lai chú giải, sau phần Tự, ông ta có ghép thêm hai bài kệ vào sau đó. Đối với câu năm và câu sáu trong bài kệ thứ hai, tôi không hiểu rơ áo nghĩa. Nay tôi sao lục toàn bộ bài kệ: “Dục ngộ Chân Như thử tối chân, hà phiền biệt lộ xuất mê tân, tam tâm trừ hậu vô sanh diệt, tứ tướng không thời mẫn ái sân, thúy trúc hoàng hoa tham tịnh lư, khê thanh sơn sắc kiến Thiền thân. Tu tri chỉ thượng giai tao phách, độc diệu linh quang thỉ thoát trần” (Muốn ngộ Chân Như lẽ tối chân, há phiền lối khác thoát bờ mê. Ba tâm trừ sạch, không sanh diệt. Bốn tướng rỗng rồi dứt ái, sân. Tre biếc, hoa vàng, tham lư tịnh. Tiếng khe, sắc núi, thấy Thiền thân. Sách vở biết chăng toàn cặn bă, linh quang riêng chiếu thoát căn trần). Nghiên cứu mấy lần, trọn chẳng hiểu hai câu ấy. Về sau, t́m trong bộ [tự điển] Từ Nguyên, trong mục giảng về chữ Hoàng, có một đoạn chú thích về “hoàng hoa túy trúc” như sau: “Theo Chỉ Nguyệt Lục, Hoa Nghiêm tọa chủ hỏi ḥa thượng Đại Châu: ‘Thiền sư! V́ cớ ǵ chẳng chấp thuận trúc xanh biêng biếc đều là Pháp Thân, hoa vàng rợp đất không ǵ chẳng phải là ngọc Bát Nhă?’ Đáp: Pháp Thân không có h́nh tướng, ứng theo trúc biếc mà thành h́nh. Bát Nhă vô tri, ứng với hoa vàng mà hiển tướng. Chẳng phải là hoa vàng trúc biếc mà có Bát Nhă Pháp Thân”. [Như vậy là] điển cố “thúy trúc hoàng hoa” (trúc biếc, hoa vàng) được chép trong Chỉ Nguyệt Lục, nhưng bốn chữ “khê thanh sơn sắc” (tiếng nước chảy trong khe suối, màu núi) chẳng t́m thấy xuất xứ. Chẳng biết bốn chữ ấy có điển cố hay không? Đấy là điều nghi thứ nhất. Tuy “thúy trúc hoàng hoa” được chép trong Chỉ Nguyệt Lục, nhưng tôi chẳng hiểu rơ ư nghĩa câu hỏi của Hoa Nghiêm tọa chủ và lời đáp của ḥa thượng Đại Châu! Đấy là điều nghi thứ hai. C̣n như “thúy trúc hoàng hoa tham tịnh lư, khê thanh sơn sắc kiến Thiền thân”, mười bốn chữ ấy rốt cuộc giảng giải điều ǵ? Đấy là điều nghi thứ ba! Lại xin cụ đặc biệt dạy rơ hai chữ “tham”“kiến”. (Không ghi tên người hỏi)

 

          Đáp: Tô Đông Pha có câu thơ: “Khê thanh tiện thị quảng trường thiệt, sơn sắc vô phi thanh tịnh thân” (Tiếng suối chính là lưỡi rộng dài, sắc non đều là thân thanh tịnh). Đấy là xuất xứ của điều nghi thứ nhất. Bát Nhă Pháp Thân chính là Chân Như, vi diệu rất sâu, chỉ có tự tham mới biết, chẳng thể giảng giải giùm người khác được! Trúc biếc, hoa vàng, không ǵ là lấy ngay sự việc trước mắt để nêu tỷ dụ. Nếu câu nệ, sẽ thành lạc đề vạn dặm. Ḥa thượng Đại Châu chẳng chấp thuận đó là Bát Nhă Pháp Thân, đúng là đă gỡ niêm[5] cởi trói. Nếu vẫn chấp trước lời ấy, sẽ lại là “vấn vít trong giấy”[6]. Cũng có người hỏi ḥa thượng Đại Châu: “Bát Nhă là ǵ?” Ngài Đại Châu đáp: “Có ǵ chẳng phải là Bát Nhă?” Có thể thấy là lời lẽ chẳng nhất định. Nếu cư sĩ mong thấu hiểu, cần phải đổ công dốc sức nơi Thiền học một phen th́ mới được! Chẳng thể cầu t́m nơi chú giải hoặc lời giảng! Đấy là giải đáp cho nỗi nghi thứ hai. Thứ ba, đối với nghi vấn về hai chữ “tham”“kiến”. Tham là dụng tâm nghiên cứu, Kiến chính là bỗng dưng có chỗ phát hiện. Hơn nữa, bước đầu học Phật, chớ nên bộp chộp xem kinh Kim Cang, tiến theo lối nhảy vượt cấp, sợ rằng khó thể lănh ngộ! Không chi bằng trước hết đọc bản chú giải ba kinh của ngài Ngẫu Ích ḥng nhận biết đại khái; sau đấy, xem đọc Phương Đẳng, Bát Nhă, ắt sẽ vào được cửa, đăng đường nhập thất. Học theo thứ tự th́ mới chẳng ù ù cạc cạc!

 

          * Hỏi: Trong Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh Thiển Giải Chú Giải có nói, lúc đức Phật mới thành Chánh Giác, đă than rằng: “Lạ thay! Lạ thay! Chúng sanh trong đại địa, không ai chẳng có đủ trí huệ và đức tướng của Như Lai!” Thiền sư Vân Môn nói: “Như trong khi ta đang ngồi, hăy nên một gậy đập chết quăng cho chó ăn, cốt sao thiên hạ thái b́nh!” Lại nói: “Một chữ Phật ta chẳng thích nghe!” Xin hăy dạy cho! (Long Văn Thái hỏi)

 

          Đáp: Những lời ấy đều là cơ phong[7] của bậc tông tượng trong nhà Thiền, chuyên nhằm tháo niêm cởi trói cho đối phương. Hễ hiểu sẽ thấu hiểu; nếu chẳng hiểu, sẽ là không hiểu! Nếu giải thích, [giải thích kiểu nào] cũng chẳng phải là bổn ư, lạc đề vạn dặm so với chữ Ngộ! Phải biết Tông Môn dạy người khác th́ chẳng thể t́m ṭi trong văn tự được. Nếu có thể giảng giải là xong chuyện, cổ nhân cần ǵ phải khổ công ngồi nát bảy cái bồ đoàn? Cư sĩ chưa học tập đạo này, tạm thời hăy gác lại sẽ tốt hơn!

 

          * Hỏi: Kinh Kim Cang dạy: “Phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng. Nếu thấy các tướng chẳng phải là tướng, chính là thấy Như Lai”. Dùng pháp Quán ấy để quán Ngũ Uẩn các dục, tâm được giải thoát. Khi chúng ta vào vực sâu, đi trên băng mỏng, chẳng biết nên dùng pháp nào để quán? (Hồ Chánh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Vực sâu và băng cũng là duyên khởi giả tướng; đă không có thực thể, tự nhiên là hư vọng. Đấy là phép Không Quán trong Tam Quán. Suy ngẫm câu hỏi, dường như c̣n có hàm ư chưa nêu rơ. Do v́ chưa hỏi rơ, cố nhiên[người đáp] chẳng thể múa may chót lưỡi được!

 

          * Hỏi: Trong Định thấy ngũ dục, lục trần; cố nhiên, chẳng thể gọi là Chánh Định. Nếu thấy Phật tướng, có thể gọi là Chánh Định hay không? (Hứa Viêm Đôn hỏi)

 

          Đáp: Trong nhà Tịnh th́ được, đối với nhà Thiền sẽ chẳng thể, v́ không tương ứng!

 

          * Hỏi: Do tư tưởng của học nhân ngả về Tướng Tông và Tịnh Tông; v́ thế, trong quá khứ ở nội địa, thích đọc các trước tác của những bậc đại đức như Phạm Cổ Nông, Vương Ân Dương… nhưng đối với ngôn luận của một số các vị đại đức trong Thiền Tông, thường cảm thấy chẳng phù hợp, ngay như những vị như ông X… học nhân cũng coi họ như là ma. Thấy những ngôn luận của nhóm người ấy đâm ra khiến cho lui mất tín tâm, biết làm như thế nào? Vẫn xin bậc đại đức dạy cho! (Nghiêu Trạch hỏi)

 

          Đáp: Thiền ngữ có kiểu “thanh Đông kích Tây” (dương Đông kích Tây), người học [Thiền] cũng có kẻ thuộc loại chồn hoang, hành Thiền suông ngoài miệng. Nếu chẳng biện định rồng rắn rơ ràng, tự nhiên là sẽ gặp phải cảnh băn khoăn nơi ngơ rẽ! Ông có ư chê bai Thiền, đấy cũng là chấp trước! Phải biết Thiền và Tịnh đều nhằm truy cầu một chuyện. Bất quá Thiền như đốt đuốc t́m đường, Tịnh như ngồi xe lên đường. Chỉ có điều, thời Mạt Pháp, kẻ độn căn mà có thể thật sự t́m được đường thoát ra, rốt cuộc được mấy kẻ? Đa phần là chẳng hiểu rơ đại sự, khăng khăng lo đấu vơ mồm cùng kẻ khác, cứ lầm lạc lôi những câu cơ phong do tổ sư [thốt ra nhằm] khế hợp căn cơ của đối tượng được hóa độ trong khi ấy để khăng khăng chém loạn xạ nơi thân những kẻ b́nh phàm, chẳng thấu hiểu ư tổ sư, [thế mà] cũng học đ̣i quở mắng. Chê những kẻ như vậy là ma hoàn toàn chẳng có lỗi, nhưng nếu đối với Thiền học mà nhất loạt coi là ma, tức là trước hết ma đă ngồi sẵn trong tâm chính ḿnh mất rồi!

 

          * Hỏi: Khi tĩnh tọa, có cần phải sau khi nhắm mắt, bèn dùng mắt quán mũi, quán miệng, quán tâm, quán cho tới đan điền, trong ngực thầm niệm Phật hiệu, c̣n tâm chỉ là lắng tai nghe? (Phan Tư Húc hỏi)

 

          Đáp: Cũng có thể như vậy!

 

          * Hỏi: Khi tĩnh tọa hoặc trong bốn oai nghi, đôi lúc bụng dưới nóng lên, chưa chắc đă là chuyện b́nh thường phải không? (Bàng Càn Thiện hỏi)

 

          Đáp: Tĩnh tọa có khi do chú tâm nơi đan điền, sẽ có hiện tượng bụng dưới nóng lên. Nếu đi, đứng, nằm nếu không chú tâm, làm sao có thể có chuyện đó cho được? Sợ là có nguyên nhân chi khác, chỉ kính dâng một lời: Nếu thật sự học Phật, hăy dựa theo phương pháp của nhà Phật, hoặc Thiền, hoặc Tịnh, chọn lấy một pháp để chuyên tu. Ngàn muôn phần đừng nên xen tạp những thuyết sai lầm của ngoại đạo. Nếu lầm lạc tin theo, không chỉ là chẳng thể đắc Định, Huệ, ngay cả cái thân hư giả này cũng sẽ đổ bệnh!

 

          * Hỏi: Phật pháp [chủ trương] “hết thảy do duyên sanh”. Xin hỏi trong khi tĩnh tọa, bỗng sanh một niệm, cái duyên của sự sanh khởi ấy do đâu mà có? (Chung Quán Tĩnh hỏi)

 

          Đáp: Thức thứ bảy luôn suy nghĩ, cân nhắc không ngừng. Hễ loạn th́ chẳng nhận biết; khi tĩnh, sẽ nhận biết!

 

          * Hỏi: Khi tọa Thiền đến lúc tĩnh tịch, nếu đánh mất giác và chiếu, sẽ bị bệnh ma ngủ. Trong khi ngủ, vẫn tỉnh bơ không hay, không biết, gần như chẳng khác cái thây đang c̣n sống! Cảnh giới trong hiện tượng ấy cũng thuộc về Ngoan Không ư? (Tạ Nguyên Phủ hỏi)

 

          Đáp: Ngoan Không là nói đến sự lầm lạc nơi tri kiến, chẳng liên quan ǵ đến ma ngủ cả!

 

          * Hỏi: Khi tĩnh tọa đến lúc cực tĩnh, chẳng chấp Không, chẳng chấp Có, chỉ vô h́nh trung mà bất giác kèm thêm đôi chút giác chiếu, có phù hợp với Trung Đế Quán hay không? (Tạ Nguyên Phủ hỏi)

 

          Đáp: Từ Tịch và Chiếu cùng dung hợp mà lănh hội. Tự ḿnh uống nước, chẳng cần phải hỏi ai khác là lạnh hay nóng!

 

          * Hỏi: Toàn thể Không là Ngoan Không, hơi có chấp trước tướng hữu vi, có phải là Trung Đế ở giữa Hữu và Vô, Không và Thật đó chăng? (Tạ Nguyên Phủ hỏi)

 

          Đáp: Không và Hữu được nói trong kinh tự có giới tuyến. Cư sĩ xen lẫn Vô Thật vào đó, tự rắc cát vào mắt! Khi chẳng hiểu “Không chính là Sắc, Sắc chính là Không”, sẽ chẳng hiểu rơ Trung Đế. Thử nghĩ, Sắc chính là Không, Không chính là Sắc, lấy đâu ra chỗ nào là trung gian?

 

          * Hỏi: Cái Thể của Chân Không vẫn là Thể Không. Đối với cái Trung Đế “Không Hữu bất nhị” ấy, nay xin hăy chỉ dạy Không Hữu Bất Nhị Trung Đế Quán. Đáng nên giải thích như thế nào? Cũng như dạy cho biết phải tham khảo sách nào về Trung Đế Quán (cần phải có những sách [được viết] trong thời gần đây giải thích tường tận th́ tôi đọc mới hiểu rơ được)? (Tạ Nguyên Phủ hỏi)

 

          Đáp: Đế và Quán là hai chuyện! Cần phải hiểu rơ Đế, sau đấy mới tác Quán. Hiểu Đế sai lầm, chỉ càng tăng thêm tà kiến. Tác quán sai lầm, sẽ lập tức chuốc lấy ma chướng. Bàn đến vấn đề này, trước hết, ắt phải thấu triệt pháp “Không Hữu bất nhị” là như thế nào? Sau đấy mới có thể bàn luận đến Trung được. Muốn hiểu tường tận Không và Hữu, cần phải t́m cầu kinh điển của Tánh Tông lẫn Tướng Tông. Để hiểu tường tận Trung th́ có Trung Quán Luận và Thỉ Chung Tâm Yếu, nhưng kẻ mới học đều chẳng thể liễu giải những sách ấy! Đạo học vấn chẳng thể vượt cấp được! Học Phật cũng thế, nếu chẳng trọn đủ thường thức Phật học, cứ bộp chộp bàn đến Tam Đế, Tam Quán, dẫu nói hết sức nông cạn, hết sức cặn kẽ, sợ rằng người nghe vẫn cứ như điếc, như câm. Nếu hỏi đến đường tắt, đối với bốn câu “Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc, Sắc chính là Không, Không chính là Sắc” trong Tâm Kinh, hăy t́m cầu bậc minh sư, đổ công nhọc nhằn nghiên cứu suốt ba năm, sẽ lănh hội chút phần.

 

          * Hỏi: Đối với phương pháp quán tâm, nếu chẳng quán đúng phương pháp, sẽ khiến cho- tâm hỏa hừng hực bốc lên thiêu đốt, thường là bị mất mạng. Xin hỏi phương pháp quán tâm như thế nào để tránh khỏi khuyết điểm ấy? (Tạ Nguyên Phủ hỏi)

 

          Đáp: Tôi sợ rằng đấy là do tu theo pháp Quán của ngoại đạo mà nên nỗi! Để tu Quán, trước hết nên cầu t́m bậc minh sư, tu tập bằng Chỉ Quán th́ sẽ ổn thỏa!

 

          * Hỏi: Lần trước tôi đă gởi thư hỏi mười điều, trong ấy có câu “khi tĩnh tọa, trong khi tĩnh, bỗng có niệm dấy lên là do duyên cớ nào?” Tôi nghĩ đó là do Thân Nhân Duyên trong bốn duyên, chẳng biết có thỏa đáng hay không? (Chung Quán Tĩnh hỏi)

 

          Đáp: Thân Nhân Duyên là do nhiễm chủng tử dấy lên hiện hành, đương nhiên là niệm khởi. Khi các căn tiếp xúc ngoại cảnh, cũng sẽ dấy lên vọng niệm.

 

          * Hỏi: Có phải là ngồi kiết già tĩnh tọa sẽ có công đức to hơn ngồi bán già hay không? [Ngồi kiết già] thâu nhiếp vọng niệm dễ hơn, và có hiệu quả tăng cường sức khỏe to hơn? Hai cách ngồi có chỗ nào khác biệt? Xin hăy dạy cho! (Hoàng Hàm hỏi)

 

          Đáp: Nếu luận theo công đức, chỉ là do định lực như thế nào, chẳng dính dáng ǵ đến kiết già hay bán già! Có thể thâm nhập Định, vọng niệm tự dứt. Vọng niệm thường dứt, ắt tâm thần yên tịnh, thân thể cũng do đó mà khỏe mạnh. Định thuộc bề trong, ngồi xếp bằng là bên ngoài. Nếu luận định theo sinh lư và khí huyết, ngồi kiết già cân bằng hơn bán già mà thôi!

 

          * Hỏi: Học nhân hết sức thích tĩnh tọa, lại cảm thấy rất hứng thú, muốn t́m một pháp Thiền tinh vi, nhưng càng đọc nhiều sách, càng cảm thấy khó hiểu, như “chiếu cố thoại đầu” là ǵ? Ǵ là “người niệm Phật là ai”? Tôi như lạc vào trong đám sương mù rộng năm dặm. Đó gọi là “đêm dài lắm mộng”, tiêu điểm chẳng ngoài thâu thập tạp niệm. Tôi tính mặc kệ hết thảy, chuyên tâm tấn công vọng ma (ma vọng niệm), ḥng đạt đến diệt vọng mới thôi. Như thế chắc là hết thảy nan đề ắt được giải quyết dễ dàng. [Nghĩ như vậy] có thích đáng hay không, xin hăy dạy cho! (Hoàng Hàm hỏi)

 

          Đáp: Tiên sinh tự có phương pháp tấn công vọng ma [cho đến khi] diệt vọng mới thôi ư? “Chiếu cố thoại đầu”, “kẻ niệm Phật là ai” đều là những phương pháp để đoạn vọng trong Thiền Tông. [Nếu] chẳng có người chỉ điểm, sẽ đọa trong đám sương mù rộng năm dặm. Nếu muốn nghiên cứu, mong tiên sinh trước hết hăy xem những tập sách nhỏ về Phật học, ḥng biết đại lược đường nẻo, sau đấy thật sự dụng công th́ mới có thọ dụng.

 

          * Hỏi: Tôi có người bạn tu tập tĩnh tọa, gần đây trong khi tĩnh tọa, bỗng dưng mồ hôi đẫm lưng, chẳng biết duyên cớ như thế nào? Người bạn ấy lại nói khi công phu tĩnh tọa đă luyện thuần thục, tuy lúc nắng gắt, đi dưới ánh mặt trời vẫn chẳng đổ mồ hôi. Chẳng biết người tọa Thiền trong Phật môn cũng có bàn đến công phu ấy hay chăng? (Hồ Chánh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Công phu nhập Định trong Phật môn có rất nhiều tầng cấp, há chỉ là “cũng bàn đến” mà thôi ư?

 

          * Hỏi: Trong công án “Nam Tuyền chém mèo”, động cơ (motivation) thật sự của ngài Nam Tuyền khi chém con mèo là ǵ? Ngài Triệu Châu đội giày lên đầu bỏ đi, lại nhằm biểu thị điều ǵ? (Trần Bỉnh Lâm hỏi)

 

          Đáp: V́ mọi người trong cả hai đường[8] đều chẳng nói được, nên [ngài Nam Tuyền] chém mèo để khơi gợi. Sau đấy, người có thể nói được. V́ thế, đội giày để ấn chứng. Người nói được chỉ có một người, cư sĩ và kẻ hèn này đều chẳng phải là vị ấy. Nếu nói ra (diễn giải ư nghĩa của công án này), sẽ là kẻ si nói chuyện mộng. Nếu nghe, sẽ là con nai đuổi theo vệt nắng gợn[9], đều chẳng có lẽ ấy!

 

          * Hỏi: Theo sách Ngũ Đăng Hội Nguyên quyển năm, trong phần nói về pháp tự của thiền sư Thạch Đầu Hy Thiên, tức thiền sư Dược Sơn Duy Nghiễm, có chép: “Hỏi: ‘Học nhân có điều nghi, xin Sư giải quyết’. Sư bảo: ‘Đợi đến lúc thượng đường, ta sẽ giải quyết cho Xà Lê’. Đến tối, Sư thượng đường, đại chúng tụ tập. Sư bảo: ‘Vị thượng tọa xin được giải quyết nỗi nghi trong ngày hôm nay ở đâu rồi?’ Vị Tăng ấy đứng tách rời khỏi đại chúng. Sư bước xuống Thiền sàng, tóm chặt vị ấy, nói: ‘Đại chúng! Ông Tăng này có điều nghi’, đẩy ông ta một cái, liền quay về phương trượng”. V́ sao ngài Dược Sơn phải đẩy vị Tăng ấy? Ngài Dược Sơn có giải quyết nỗi nghi cho vị Tăng ấy hay không? Nếu chẳng [giải quyết nỗi nghi], sao ngài Dược Sơn lại nói “đợi đến lúc thượng đường sẽ giải quyết nỗi nghi cho Xà Lê”? (Trần Bỉnh Lâm hỏi)

         

          Đáp: “Vị Tăng ấy có nỗi nghi”, “liền đẩy một cái, quay về phương trượng” chính là giải quyết nỗi nghi cho vị ấy. Chẳng qua ông và tôi không hiểu, đa số mọi người cũng không hiểu.

          Nói thêm, nếu cư sĩ có ư định tu Thiền, trước hết, hăy đọc nhuần nhuyễn các sách như Vĩnh Gia Thiền Tông, Chứng Đạo Ca, Đàn Kinh… để có chút tâm đắc. Rồi lại cầu chân tham thật ngộ, khi ấy, dùng các bộ ngữ lục cổ đức để làm công cụ tháo niêm cởi trói, tự nhiên sẽ thấy núi là núi, thấy nước là nước.

 

          * Hỏi: Phẩm Cơ Duyên của Lục Tổ Đàn Kinh có chép: “Một vị Tăng hỏi Sư: ‘Người nào đạt được ư chỉ của Hoàng Mai?’ Sư đáp: ‘Người hiểu Phật pháp sẽ đạt được’. Ông Tăng hỏi: ‘Ḥa thượng có đạt được hay không?’ Sư đáp: - Ta không hiểu Phật pháp”. V́ lẽ ǵ Lục Tổ nói “ta không hiểu Phật pháp”? (Trần Bỉnh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Trong Tông Môn dạy người, phần nhiều chú trọng phù hợp căn cơ, khiến cho họ tự ngộ, chứ không giải thích. Do người nghe sẽ có hiểu và không hiểu sai khác, tâm ngộ mới là thật sự của chính ḿnh. Do vậy, chẳng thể chú giải các bộ ngữ lục của nhà Thiền! Những lời nói ấy đều là do xét theo người, xét theo sự, xét theo thời, khế cơ mà thốt ra. Có khi hỏi một vấn đề mà đáp nhiều cách, có khi hỏi nhiều cách mà đáp một kiểu. Có khi hỏi Đông mà đáp Tây, đáp bằng cách không trả lời, hoặc quơ gậy đập, hoặc quát to, đủ mọi lẽ lạ lùng, đặc biệt, không ǵ chẳng phải là thiện xảo. Đó gọi là “dùng tâm truyền tâm”, kẻ ngoài cuộc chưa đại ngộ, tự nhiên là như điếc, như câm. Nay ông hỏi “Sư đáp: - Ta không hiểu Phật pháp”; đấy là một loại khải thị. Khi ấy, Lục Tổ đă chẳng giải thích, nay cớ sao lại bảo tôi giải thích?

 

          * Hỏi: Trong Vân Môn Sơn Chí có nói “tham minh thoại đầu[10] được tùy tiện đưa ra”. Câu thoại đầu ấy khiến cho người học minh tâm. Cách này chính là phương pháp dùng một niệm để ngưng dứt trăm niệm, phương pháp ấy có giống với cách niệm Phật ḥng nhất tâm bất loạn trong Tịnh Tông hay không? (Hứa Trí Thuần hỏi)

 

          Đáp: Thiền Tông thoạt đầu vốn quán tâm, do cách này khó hành, về sau, diễn biến thành tham thoại đầu, người hiện thời phần nhiều hành theo cách này! Ư này so với niệm Phật ḥng dứt vọng, xét theo đại thể th́ giống nhau, chỉ có điều một đằng th́ tham, một đằng th́ niệm. Một đằng dấy ḷng tin cầu sanh, một đằng th́ khởi nghi đoạn Hoặc, đó là chỗ khác biệt nho nhỏ. V́ thế, cổ đức nói: “Thiền và Tịnh như cùng một tay, bất quá là ḷng bàn tay và lưng bàn tay mà thôi!”

 

          * Hỏi: Lục Tổ Đàn Kinh chép: “Người phương Đông tạo tội, niệm Phật cầu sanh Tây Phương. Người phương Tây tạo tội, niệm Phật cầu sanh về cơi nào?” Phần kinh văn sau đó hoàn toàn chẳng nói tới biện pháp, xin hỏi người phương Tây tạo tội sẽ có pháp ǵ? (Trạch Sanh hỏi)

 

          Đáp: Đàn Kinh là yếu quyết của tổ sư nhằm dạy người ta đơn đao trực nhập, chỉ tâm kiến tánh, ắt phải đọc chung với [những phần kinh văn] trước và sau đó th́ mới hiểu rơ ngữ khí của câu này. Tổ sư Tông Môn dạy người ấy kiến tánh, mà người ấy thiên trọng niệm Phật cầu sanh, tức là “chân đạp hai thuyền”, chẳng đúng với pháp này. V́ thế, Tổ dùng lời phương tiện quở trách, khiến cho người học nương theo pháp chuyên nhất. Nếu thật sự tưởng người trong cơi Cực Lạc tạo tội, sẽ chẳng khỏi là kẻ chấp chặt ngây ngốc! Như nói “uống trà đi”[11] mà thật sự uống trà, [hoặc nói] “khai ngộ vào năm con lừa”, ông liền thật sự đợi đến năm con lừa. Đấy chính là bức bách tổ sư phải nh́n vách vậy!

 

          * Hỏi: “Biên chép” cũng có thể là một pháp Chỉ Quán hay không? (Ngô Mậu Tùng hỏi)

 

          Đáp: Biên chép hơi gần giống Chỉ Quán, chẳng thể chính là Chỉ Quán được. Do thân tâm chẳng rong ruổi bên ngoài, nên nói là “hơi gần giống”. Thân tâm vẫn phải khởi động, nên nói “chẳng thể chính là”. C̣n như nói đi, đứng, nằm, ngồi chẳng ĺa điều ấy, gánh nước, chở củi, không ǵ chẳng phải là đạo, đều là chuyện [của những vị] công phu đă đến nơi đến chốn, chứ kẻ sơ học chẳng có phần!

 

          * Hỏi: Hành giả Thiền Tông khai ngộ bèn chứng quả vị ǵ? Có phải là dựa theo phát tâm lớn hay nhỏ mà định hay không? (Lư Minh Dương hỏi)

 

          Đáp: Mỗi người một công phu, ai nấy có cảnh giới riêng, há có thể bằng một lời để nói nhất loạt được ư?

 

          * Hỏi: Hiện thời, ở Đài Loan có mấy vị Tam Tạng pháp sư, và mấy vị thiền sư đă khai ngộ? Điều thứ hai là loại [pháp sư] nào sẽ có đạo hạnh sâu hơn, công đức lớn hơn? (Lư Minh Dương hỏi)

 

          Đáp: Kẻ hèn này lẩn quẩn một xó, chẳng ra ngoài giao tế, chẳng dám nói bừa, kẻo đến nỗi nêu ra một người, bỏ sót cả vạn. C̣n nói đến những vị khai ngộ, phàm phu mắt thịt càng chẳng thể biết. Thiền, Tạng mỗi đằng có chỗ độc đáo riêng, kẻ hèn này là gă ngoài ŕa, làm sao dám giả mạo là bậc thông gia để lầm lạc hư luận!

 

          * Hỏi: Bài minh cảnh sách khắc trên chuông trong đạo tràng mở đầu bằng [bài kệ]: “Bồ Đề bổn vô thụ, minh kính diệc phi đài, bổn lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai” (Bồ Đề chẳng phải cây, gương sáng chẳng phải đài, vốn chẳng có một vật, chỗ nào nhuốm bụi trần). Giải thích như thế nào? (Trần Đăng Phùng hỏi)

 

          Đáp: Kẻ sơ học chớ nên hỏi bài kệ này! Hễ hiểu lầm đôi chút, sẽ rơi vào Ngoan Không. Hơn nữa, nay đang là thời tôn sùng vật chất, nếu chẳng thể viên giải, sẽ càng tăng thêm Đoạn Kiến tà vạy cho kẻ khác!

 

          * Hỏi: Tọa Thiền có phải là quán tưởng? Nhập Định có phải là từ quán tưởng mà có hay không? Quán tưởng và huyễn tưởng có ǵ khác nhau? (Thái Thế Phương hỏi)

 

          Đáp: Thiền là Tĩnh Lự, có thể là ngồi, có thể không ngồi; chẳng phải chuyên tĩnh tọa bèn là Thiền! Quán tưởng là một pháp môn khác. Thiền có khi cũng quán, nhưng chẳng phải quán tưởng chính là Thiền. C̣n [như những lời ông] bàn về nguồn cội của Định và Quán càng thuộc loại suy đoán chủ quan. Phương pháp quán tưởng có ích cho Định, công phu nhập Định cũng giúp cho Quán. Nói chung là hai pháp có tác dụng hỗ trợ mà thôi. Quán tưởng và huyễn tưởng tuy danh từ khác nhau, nhưng thật ra đều xuất phát từ tưởng. Bất quá một đằng (quán tưởng) là phương tiện, một đằng (huyễn tưởng) là vọng niệm. Phương tiện là do nương theo Thánh Ngôn Lượng, có pháp tắc nhất định, được gọi là Chánh Quán, có thể do Quyền mà chứng Thật. Vọng niệm xuất phát từ ḷng mong cầu, từ nghiệp thức tham đắm cảnh, gọi là Tà Quán, có thể là sẽ do Hoặc mà chuốc lấy ma!

 

          * Hỏi: Chư Tổ của Thiền gia đa số dạy người ta ĺa tâm ư thức để tham, nhưng kẻ chưa kiến tánh làm sao có thể ĺa tâm ư thức cho được? Có thể ĺa tâm ư thức để tham, há chẳng phải là đă kiến tánh ư? (Khiết Viên hỏi)

 

          Đáp: Thiền gia đơn đao trực nhập, trọn chẳng t́m cành vặt lá. Ĺa tâm ư thức chính là nẻo chánh, “tham” là dụng công. Đấy là nhân địa. Nếu giác cái tâm này, sẽ nhanh chóng ĺa khỏi. Nếu giác là ư thức, cũng lại rời ĺa, rốt cuộc đạt đến mức “ĺa cái chẳng thể ĺa”, cũng là “tham cái chẳng thể tham”. Đă đạt đến địa vị ấy, c̣n nói ǵ nữa? Có bao giờ dạy người ta sau khi đă ĺa tâm ư thức rồi mới tham, mới học cách tham cứu ban đầu?

         

          * Hỏi: Lục Tổ đại sư nói: “Tâm địa hàm chư chủng, phổ vũ tất giai manh” (Tâm địa chứa đựng các chủng tử, mưa trọn khắp khiến cho chúng đều nẩy mầm). Ư chỉ như thế nào, xin hăy giải thích! (Hoàng Mễ Điền hỏi)

 

          Đáp: Chữ “tâm địa” chỉ thức thứ tám, tức Hàm Tàng Thức. “Chư chủng” là nói tới đạo và các cái nhân thiện hay ác. “Vũ” (mưa) là tỷ dụ “gặp các duyên”. “Manh” (, nẩy mầm) là nói [nhân gặp duyên] sẽ dấy lên hiện hành, giống như thực vật nẩy mầm, sau đấy bèn kết quả.

 

          * Hỏi: Trong bộ Tiểu Chỉ Quán có khẩu quyết trị bệnh gồm sáu chữ (xuy (), hô (), hy (), ha (), hư (), thẩn ())[12]. Nghe nói Đạo gia cũng có pháp ấy, chẳng biết nguồn gốc của sáu chữ là như thế nào? (Chung Khiết Viên hỏi)

 

          Đáp: Do trao đổi văn hóa, học hỏi lẫn nhau, đôi bên đều cùng có, nhưng sự việc chẳng phải chỉ là như vậy! Nhưng sáu chữ là do đôi bên học hỏi lẫn nhau, hoặc vô t́nh đồng nhất, tôi học cạn chẳng thể khảo cứu nguyên do được!

 

          * Hỏi: Trong Đàn Kinh có nói: “Kẻ chẳng do Thiền Định mà được giải thoát th́ chẳng có ai cả!” Nếu không có Thiền Định sẽ chẳng thể giải thoát, vậy th́ Phật giáo cần phải đặc biệt nồng nhiệt khen tặng Thiền Tông chứ? Kẻ ngu mê này xin cụ hăy cởi gỡ mối nghi. Đạo là do tâm ngộ, há có phải là do ngồi ư? Nói kiểu ấy cũng nhằm chỉ ra sự cần thiết của Thiền Định ư? (Diệp Đặc Hoa hỏi)


          Đáp: Đại cương của Phật pháp là “do Giới sanh Định, từ Định khai Huệ”. Đấy là Tam Vô Lậu Học, là đạo giải thoát. Thiền dịch là Tĩnh Lự. Bất luận Thiền, Tịnh, Luật, Mật, những pháp tu ấy đều nhằm cầu Định, đều có thể gọi là Thiền Định. Chẳng có Định th́ do đâu mà tĩnh được? Chẳng tĩnh, do đâu mà có Huệ? Chẳng Định, chẳng Huệ, lấy ǵ để giải thoát? Cư sĩ hiểu Thiền là tĩnh tọa, hết sức sai lầm, nhưng để cầu tĩnh th́ dùng tĩnh tọa
cố nhiên sẽ dễ nhập, hoàn toàn chẳng phải là hễ tĩnh tọa tức là Thiền đâu nhé!

 

          * Hỏi: Trong lời chú giải Đàn Kinh có nói: “Phạm vương đến Linh Sơn dâng đóa hoa Ba La kim sắc cúng Phật, thỉnh Phật v́ đại chúng thuyết pháp. Đức Thế Tôn thăng ṭa, cầm cành hoa giơ lên cho đại chúng xem. Người, trời trăm vạn, chỉ riêng ngài Đại Ca Diếp lộ vẻ mỉm cười. Đức Thế Tôn bảo: - Ta có pháp môn vi diệu chánh pháp nhăn tàng Niết Bàn diệu tâm thật tướng vô tướng, chẳng lập văn tự, truyền riêng ngoài giáo, phó chúc y bát cho Đại Ca Diếp”. Đối với đoạn văn trên đây, tôi không biết diệu pháp do đức Phật giơ cành hoa cho đại chúng trông thấy, lại c̣n chẳng lập văn tự, truyền riêng ngoài giáo. Xin phiền cụ cởi gỡ nỗi nghi lự! (Diệp Đặc Hoa hỏi)

 

          Đáp: Đức Phật chỉ giơ cành hoa, ngài Ca Diếp chỉ cười, lại chẳng lập văn tự. Rành rành là ngôn ngữ dứt bặt, cư sĩ bảo kẻ hèn này giải thích? Sao không trách ông cụ Thích Ca chẳng nói rơ ràng?

 

          * Hỏi: Kinh Kim Cang chép: “Đức Phật nói Bát Nhă Ba La Mật, tức chẳng phải là Bát Nhă Ba La Mật”, xin phiền cụ chú giải. (Diệp Đặc Hoa hỏi)

 

          Đáp: Xin hỏi cư sĩ, miệng nói chữ Hỏa (lửa) th́ nó có thể đốt cháy vật hay không? Nói Thủy (nước), nó có thể giải khát hay không? Nếu chẳng thể, tức là “nói lửa chẳng phải là lửa, nói nước chẳng phải là nước”. Hơn nữa, câu chữ trong kinh đều là tiếp nối ư trước, dẫn khởi ư sau; nếu chú giải hợp lẽ, ắt sẽ nói đến chỗ liên quan. Đối với người chẳng nghiên cứu kinh Kim Cang, quyết chẳng thể bằng vài câu mà nói rơ được!

 

          * Hỏi: Nghe nói Lục Tổ không biết chữ, đương nhiên là chẳng thể xem kinh điển, lại theo đám thợ săn sống bằng nghề săn bắn suốt mười lăm năm. Xin hăy giải trừ nghi hoặc đối với những câu hỏi dưới đây:

          1) Chẳng biết chữ làm sao có thể làm tổ sư?

          2) Săn bắn là sát sanh, có phạm giới hay không?

          3) Ngài thuộc về tông nào?

          4) Ngài là thân phận cư sĩ hay thân phận xuất gia?

          5) Lục Tổ Đàn Kinh là kinh ǵ? (Châu Di Quân hỏi)

 

          Đáp: Lục Tổ thoạt đầu chẳng biết chữ, sau khi đă ngộ, hết thảy đều thông. Không chỉ là biết chữ, mà c̣n có thể làm kệ, viết văn. Nếu chẳng thông Tông, thông Giáo, làm sao có thể kế thừa pháp thống? Thoạt đầu, Ngài ở chung với bọn thợ săn, hoàn toàn chẳng phải là tự ḿnh săn bắn. Đôi khi phải canh lưới cho bọn thợ săn, bèn mở lưới cho các con thú [sa bẫy] thoát ra. Chưa thấy [sách vở] chép chuyện Ngài săn bắn, chớ nên hiểu lầm! Tổ sư thoạt đầu là cư sĩ, về sau đă xuất gia. Nếu chẳng xuất gia, làm sao có thể kế thừa y bát? Lục Tổ chính là vị tổ sư đời thứ sáu của Thiền Tông. Nội dung của Lục Tổ Đàn Kinh đều là những lời lẽ giăi bày Thiền ngộ (sự giác ngộ trong nhà Thiền), kẻ sơ học chẳng thể biết được!

 

          Hỏi: Xét đến mối quan hệ giữa Kiến Tư Hoặc, Trần Sa Hoặc, căn bản vô minh và Không Giả Trung Tam Quán, cổ nhân bảo: “Tiểu nghi sẽ tiểu ngộ, trung nghi th́ trung ngộ, đại nghi ắt đại ngộ. Nếu chẳng nghi sẽ chẳng ngộ”, đạo lư có tương tự hay không? (Trương Thụy Lương hỏi)

 

          Đáp: Không Quán sâu có thể đoạn Kiến Tư, Giả Quán sâu có thể đoạn Trần Sa, Trung Quán sâu có thể đoạn căn bản vô minh. Có nghi bèn tham, do khởi tham bèn ngộ. Ngộ là do tham (tham cứu), tham do nghi mà dấy lên. V́ thế, nói như vậy. Nguyên tắc trong Phật pháp là mỗi pháp có liên quan với nhau; nhằm mục đích [giảng nói] rơ ràng, phần nhiều đều là mỗi pháp lập thành một khoa riêng. Như thân người, bên ngoài có ngũ quan, bách chi; bên trong có ngũ tạng, lục phủ. Tuy trong và ngoài chẳng giống nhau, nhưng chúng có liên quan với nhau.

 

          * Hỏi: Tu pháp môn Chỉ Quán, nếu dụng công quá mănh liệt nơi Chỉ, có phải là sẽ sanh ra những điều tệ hại. Nếu là kẻ bị huyết áp quá cao, trong khi tĩnh tọa, thường tập trung ư tưởng nơi đan điền, có phải là sẽ gây ra chứng ngứa hậu môn hay không? (Ngô Nhậm Huy hỏi)

 

          Đáp: Chỉ Quán cần phải Tịch và Chiếu cùng viên dung. Chỉ nhiều Quán ít sẽ hôn trầm. Quán nhiều Chỉ ít sẽ điệu cử (lao chao, xáo động). Nếu chẳng đúng pháp, sẽ nẩy sanh rất nhiều điều tệ hại, sẽ chẳng tránh được phát sanh bệnh tật! Ngài nên thỉnh giáo lăo tăng, hoặc đọc kỹ bộ Tiểu Chỉ Quán ḥng thể nghiệm.

 

          * Hỏi: Công án của Thiền môn quá nhiều điều khó hiểu, hoặc do chẳng phải là căn cơ, chỉ nh́n vào bề ngoài để nói, sẽ khó hiểu được chỗ áo diệu! Chỉ là do có người phê b́nh hàm ư trong công án bị ẩn kín, khuất lấp, người hỏi kẻ đáp đôi bên đều chẳng đạt được ǵ! [Theo người ấy, công án] chú trọng khiến sao cho [lời hỏi, lời đáp] chẳng có bờ mé, càng kỳ quái càng hay! Bất quá, trong lời hỏi cũng có ngoại lệ. Như thiền sư Triệu Châu Chân Tế Tùng Thẩm thuở bé làm sa-di, theo thầy đến tham bái thiền sư Nam Tuyền Phổ Nguyện. Ngài Phổ Nguyện nằm ngủ trong phương trượng, thấy ngài Tùng Thẩm tới, bèn hỏi: “Ngươi từ đâu đến?” Tùng Thẩm đáp: “Từ Thụy Tượng Viện đến”. Phổ Nguyện hỏi: “C̣n thấy thụy tượng (瑞像, h́nh tượng tốt lành) ư?” Ngài Tùng Thẩm đáp: “Tuy chẳng thấy thụy tượng, nhưng thấy Như Lai nằm!” Phổ Nguyện vui mừng đến nỗi ngồi dậy, hỏi: “Ngươi là sa-di có chủ, hay là sa-di vô chủ?” Đáp: “Hữu chủ sa-di”. Hỏi: “Ai là chủ của ngươi?” Đáp: “Đầu Xuân khí trời c̣n lạnh, kính chúc thân thể ḥa thượng đứng ngồi vạn phước!” (ư nói: Ngài là chủ của tôi). Phổ Nguyện gọi một vị tăng quản sự đến, dặn ḍ hăy đặc biệt đăi ngộ chú sa-di ấy. Sau này, Tùng Thẩm trở thành pháp tử của Phổ Nguyện, là một vị thiền sư rất có danh tiếng, địa vị. Từ công án trên đây, có thể thấy ngữ ư của ngài Tùng Thẩm hết sức bợ đỡ, đúng là một loại thủ đoạn để tranh giành làm pháp tử. Tuy muốn nói “chẳng tranh danh đoạt lợi”, há có được chăng? Những kẻ chỉ cho là Thiền học cao thâm, đề cao công án, chẳng dám chơ miệng [phê phán] mảy may, cũng là kẻ đáng thương xót vậy! (Lư Liên Giai hỏi)

 

          Đáp: Người phê b́nh chưa nghiên cứu Thiền học, làm sao có thể buông tuồng thốt lời cao luận? Ông cũng chưa học đạo ấy, không ǵ bằng phải theo học [trong nhà Thiền, có thông hiểu rồi mới có tư cách bàn luận được], ắt phải học mới biết. Chuyện này muôn ngàn sai khác, lời nói [trong nhà Thiền] có lúc rơ rệt, có lúc ẩn kín, nhằm chuyên nói với người tham cứu, chẳng phải là để nói với mọi người. Chuyện như ông đă nêu, chính là ngài Phổ Nguyện thấy ngài Triệu Châu lợi căn, bèn ưa thích muốn thâu nạp, muốn thành tựu cho Triệu Châu. Ông quở trách [ngài Triệu Châu] là “ưa bợ đỡ, tranh giành danh lợi”, sai mất rồi!

 

          * Hỏi: Vọng niệm chẳng sanh là Thiền, ngồi thấy bản tánh là Định. Vọng niệm là ǵ? Như dấy lên thiện niệm th́ có phải cũng là vọng niệm hay không? (Đặng Chí Tây hỏi)

 

          Đáp: Diệu minh giác tánh, tịch mà thường chiếu, chiếu mà thường tịch, như như bất động. Động chính là vọng, niệm đều là vọng, bất quá ác là tà niệm, Thiền là chánh niệm mà thôi; nhưng Thiền lại chia thành hữu lậu và vô lậu sai khác. Dùng vô lậu chánh niệm để trừ khử, thay thế tà niệm; lâu ngày, tà sẽ mất, chánh c̣n lại. Đó là nhờ vào sự thiện xảo mà tiến bộ, lại có thể đạt đến vô niệm mà hiểu rơ, tức là tịch chiếu chân tâm vậy.

 

          * Hỏi: Hàng xóm cạnh nhà bỉ nhân là một xưởng mộc. Có lần, một đứa học việc do lấy ni tấc sai lầm, cưa hư nát gỗ, bị ông chủ chửi ầm lên: “Đồ vật là chết, con người là sống, v́ sao mày cưa trật?” Lại c̣n quật cho một trận đau điếng. Sau này, đứa học tṛ ấy thành nghề, lỗi lạc hơn người. Xin hỏi câu chửi ấy có phải là có ư vị Thiền trong ấy hay không? (Trương Cẩm Xương hỏi)

 

          Đáp: “Đồ vật là chết, con người là sống” chính là lời lẽ thông tục, được sử dụng rất rộng răi, mười người đă có chín người biết, chẳng có ǵ lạ lùng, đặc biệt, làm sao có thiền vị cho được? Chẳng cần phải lôi Đông kéo Tây, cho họ Lư đội mũ họ Trương! Nhưng thật ra, Thiền không có lời lẽ nhất định, cốt sao khế hợp căn cơ trong khi ấy. V́ thế, “ba cân gai”, “que cứt khô” v.v… đều có thể lay động căn cơ khiến cho [người được chỉ điểm] ngộ đạo. Lời lẽ thông tục của ông chủ ấy nếu phát xuất từ miệng thiền sư sẽ có thiền vị. Lọt vào tai người học Thiền, cũng là thiền vị. Thiền hay không Thiền, thật sự chẳng do lời nói, mà là do người!

 

          * Hỏi: “Đạo chẳng chia cao thấp”, cái đạo vừa được nói ấy có mấy loại? (Trương Cẩm Xương hỏi)

 

          Đáp: Nói ít th́ chỉ có một, không hai, cũng chẳng ba. Nói nhiều th́ hằng sa khó thể sánh ví. [Bởi lẽ], phá Hoặc nhiều như cát bụi, đạo cũng nhiều như cát bụi. Cát bụi có bao nhiêu? Nếu ông biết con số chánh xác, sẽ hiểu rơ con số chánh xác của đạo! Hiểu rơ lẽ này, trước hết đừng hỏi đạo, mà hăy tính số lượng cát bụi!

 

          * Hỏi: Bậc đầy thẩm quyền về Thiền học là tiến sĩ Linh Mộc Đại Chuyết[13] của Nhật Bản vừa mới qua đời rất gần đây có phải là người đă ngộ đạo hay không? (Trương Cẩm Xương hỏi)

 

          Đáp: Tôi chẳng phải là Linh Mộc Đại Chuyết, làm sao biết Linh Mộc Đại Chuyết đă ngộ đạo hay chưa!

 

          * Hỏi: Gần đây, bỉ nhân thấy một kẻ say, thi hứng tràn trề bèn làm một bài thơ thô thiển, xin thầy hăy chỉ giáo. Thơ rằng: “Lập thân phan động ư thần phiêu, xuất ngôn loạn ngữ tâm sổ diêu, thế đạo lễ nghĩa thất cương thường, thiên tải tài dự bôi trung tiêu” (tạm dịch: Dáng người chao đảo, ư lêu bêu, nói năng lộn xộn, tâm phập phều, lễ nghĩa cương thường đều mất hết, danh tài muôn thuở chén rượu tiêu).

 

          Đáp: Gă say làm thơ, ông hướng về tôi hỏi han chuyện ǵ? Xin ông hăy nói rơ điều ấy, tôi mới tiện mở miệng thưa tŕnh được. Có phải là muốn tôi chú giải cho bài thơ ấy đó chăng? V́ sau bài thơ ấy, ông đánh dấu hỏi, cho nên tôi mới có nghi vấn như thế. Nếu đúng như vậy, vậy là chẳng khỏi đa sự mất rồi! Gă say là người mắc tật say sưa, làm thơ chính là tiếng rên siết. Nếu ông bảo tôi chú giải bài thơ ấy, chẳng biết câu thứ hai chính là tự chú giải, chẳng cần đợi ai khác. Nếu là hỏi cách trị bệnh ghiền rượu, đợi cho đến khi ông ta chẳng làm thơ nữa, bệnh ấy tự dứt, chẳng cần phải bận ḷng!

 

          * Hỏi: Xét theo phương diện sinh lư, tọa Thiền nhập Định th́ trước hết có cần phải đả thông hai mạch Âm Dương, tức là hai mạch Nhâm và Đốc như Đạo gia đă nói. “Có thể nhập Định” th́ có phải là cảnh giới Sơ Thiền hay không? (Vương Siêu Nhất hỏi)

 

          Đáp: Thiền pháp là tĩnh lự quán tâm; hiện thời, đa số đổi thành tham thoại đầu, nhưng đều là “chẳng có Ngă”, huống hồ sắc thân! Hai mạch Nhâm và Đốc chính là vật trong sắc thân. Nếu chấp tướng nơi ấy, mong đả thông chúng, đấy chính là bốn tướng ngă nhân! Thiền chẳng dùng chuyện này! Có thể nhập Định th́ là tu nhân, “Sơ Thiền” là tu quả.

 

          * Hỏi: Lục Tổ Đàn Kinh ghi Huệ Năng lánh nạn bèn đến Tứ Hội ở chung với đám thợ săn mười lăm năm, nhưng Ngài đều thả hết những con thú do thợ săn bắt được! Bọn thợ săn đâu có chịu để cho Lục Tổ làm như thế mà sống với họ suốt mười lăm năm? (Bổn Như hỏi)

 

          Đáp: Xét ra, Đàn Kinh chép: “Thời dữ lạp nhân thuyết pháp, lạp nhân thường linh thủ vơng, mỗi kiến sanh mạng tận phóng chi” (Ngài tùy thời thuyết pháp cho các thợ săn. Thợ săn thường sai Ngài giữ lưới, hễ thấy có sinh vật [sa bẫy], Ngài đều thả hết). Đối với mạch văn trong đoạn này, cần phải khéo hiểu: Căng lưới bắt thú ở đây tức là căng lưới trống không trên mặt đất, đợi thú sa vào. Lục Tổ canh lưới khi thợ săn [có việc] phải đi ra ngoài, lúc ấy chính là lưới trống (không có con vật nào sa lưới). Khi bọn thợ săn đi rồi, nếu có con thú nào mắc lưới, Tổ liền thả đi, chẳng phải là thợ săn đă bắt được thú, Tổ đều thả hết. Hơn nữa, do Tổ thường thuyết pháp cho bọn thợ săn, khi họ đi khỏi mà không bắt được thú, cũng không trách móc Lục Tổ chẳng tận tâm!

 

          * Hỏi: Vào khoảng tháng Mười Một năm ngoái, có một hôm, tôi lên tầng hai, khi tôi vừa bước vào pḥng khách, bỗng dưng dường như có một luồng sáng xuyên vào óc tôi. Thật sự là một sát-na kỳ diệu, trong chớp mắt ấy, phảng phất biến tôi thành một người khác hẳn, dường như từ trong một cái kén kín bưng, xé toạc kén chui ra. Trong tâm bỗng có sự liễu ngộ, biết cuộc đời ngắn ngủi, tạm bợ, hồng trần chẳng phải là chốn để cư trụ lâu dài, hăy c̣n có một tự ngă thật sự tồn tại, [ư niệm ấy] dấy lên ngay trong sát-na ấy. Tôi tích cực ưa thích tham Thiền, tĩnh tọa. Xin hỏi hiện tượng ấy là do nguyên nhân nào? (Phạm Hinh Hữu hỏi)

 

          Đáp: Có lẽ trong đời trước Ngài là một người tu học Phật môn, do có công phu định lực từ đời trước, đời này, nó bỗng dấy lên hiện hành. Nói tới tham Thiền, tĩnh tọa, chẳng đơn giản đâu nhé, nếu chẳng hiểu giáo lư, lại chẳng cầu minh sư, âm thầm ṃ mẫm, sợ rằng chẳng thích đáng vậy!

 

          * Hỏi: Tôi một mực giữ liên tục công phu tham Thiền tĩnh tọa khoảng hai tuần. Có một hôm, vào khoảng giờ Dậu, nhằm lúc đang tĩnh tọa ḥng quét sạch ư niệm, bỗng dưng dấy một niệm. Do niệm ấy chưa tận, bỗng nhiên phảng phất cảm thấy tôi từ một chỗ rất xa quay lại. Vừa quay về thế giới này, lập tức ngửi thấy một mùi hương lạ nồng nàn (mùi hương thanh khiết) tràn ngập chung quanh tôi và toàn thể căn pḥng. Từ đấy, bất luận tôi ở trong pḥng vệ sinh tắm gội, luồng mùi thơm ấy luôn một mực tồn tại. Điều áo diệu nhất là hễ xem kinh Kim Cang, dường như vừa chạm vào mắt bèn hiểu rơ. Hằng ngày vào mỗi tối, tôi thường giải nói kinh Kim Cang cho mẹ tôi nghe, ánh đèn neon sẽ liên tục lập ḷe rất nhiều lần (nguồn điện hoàn toàn không bị hư hại). Xin hỏi chuyện ấy rốt cuộc là do nguyên nhân nào? (Phạm Hinh Hữu hỏi)

 

          Đáp: Kinh Kim Cang nếu không có sư thừa, mà có thể vừa đọc bèn hiểu rơ, lại có thể v́ người khác giải nói, nếu chẳng hiểu lầm, cảnh ấy kẻ hèn này chẳng thể bén gót được, mà cũng chẳng biết. Cần phải cầu bậc đại đức hữu đắc hữu chứng ấn chứng cho! Nếu chưa được ấn chứng bởi bậc cao minh, cứ tự cho là đúng, sợ rằng sẽ sanh ra chướng ngại.

 

          * Hỏi: Do chẳng tham Thiền, tĩnh tọa liên tục, đáng tiếc là hiện tượng ấy đến nay đă hoàn toàn chẳng tồn tại. Bất quá, hằng ngày đôi lúc tôi vẫn có thể ngửi thấy mùi hương lạ. Năm nay, tôi đă hai mươi hai tuổi, tuy thích Phật pháp, nhưng bản lănh rất nông cạn. Xin hỏi cụ, tôi nên đọc và nghiên cứu những thứ sách Phật nào th́ sẽ có hữu ích to lớn cho tôi? (Phạm Hinh Hữu hỏi)

 

          Đáp: Đă có thể vừa xem kinh Kim Cang bèn hiểu rơ, hăy nghiên cứu kinh Kim Cang là được rồi. Cổ nhân tuy nói: “Chẳng cần xem chú giải”, chính là nói với bậc đă hiểu rơ giáo tướng. Nếu c̣n chưa hiểu rơ đại ư của Phật pháp, đóng cửa chế xe, sợ là sẽ có lắm nỗi hiểu lầm. Kính tặng hai loại sách mỏng. Để lên cao, ắt phải khởi sự từ chỗ thấp vậy!

 

          * Hỏi: Như Lai Thiền và Tổ Sư Thiền có ǵ phân biệt? (Dịch Tri Lương hỏi)

 

          Đáp: Do nương theo kinh, hay nương vào giáo để tu tŕ [mà có sự khác biệt]. Hành nhân trước đời Đường phần nhiều đều tu Như Lai Thiền. Kể từ khi tổ Đạt Ma từ phương Tây sang, chẳng lập văn tự, chỉ tâm ngộ tánh, bèn gọi là Tổ Sư Thiền. Nói “Như Lai” là v́ tuân theo pháp của đức Thế Tôn. Nói Tổ Sư là tuân theo pháp do Tổ Đạt Ma truyền dạy. Đấy cũng là do người đời cưỡng phân chia ḥng dễ nói, dễ bàn mà thôi! Thật ra là khế cơ dạy người, hoàn toàn chẳng câu nệ một pháp! Cách vận dụng của tổ Đạt Ma đă được đức Thế Tôn sớm sử dụng rồi!

 

          * Hỏi: Phẩm thứ sáu, tức phẩm Sám Hối của Lục Tổ Đàn Kinh có chép: “Tự tâm quy y tự tánh, chính là quy y chân Phật”. Tôi trộm nghĩ rằng: Dấy lên ư niệm chính là tâm, buông xuống ư niệm chính là tánh, cũng chính là như Thiền giả đă nói: “Phóng hạ tiện thị” (Hễ buông xuống th́ chính là nó), càng thêm tinh tấn Thiền Định, chẳng biết đi theo con đường này có thể thông suốt hay chăng? (Lưu Trung Nhất hỏi)

 

          Đáp: Dấy lên, buông xuống đều là quá tŕnh nơi nhân địa (trong khi tu nhân). “Buông xuống” là buông xuống vọng niệm. “Dấy khởi” là khởi lên chánh niệm. Ḥa thượng Đại Châu đáp lời người khác [hỏi về] “vô niệm” như sau: “Vô niệm là chẳng có vọng niệm, chẳng phải là không có chánh niệm”. Đấy là Tịch lẫn Chiếu đều viên dung. Nếu có thể Tịch mà thường Chiếu, Chiếu mà thường Tịch, sẽ là Thiền Định, sẽ là tinh tấn.

 

          * Hỏi: Gần đây, tôi đọc thấy phần Khám Nghiệm trong bộ Trúc Song Tùy Bút của Liên Tŕ đại sư có viết: Một vị Tăng được hỏi: “Ư của tổ sư từ phương Tây qua [Trung Hoa] là như thế nào?” Vị Tăng đáp: “Thần tiền tửu đài bàn” (Cái khay đựng rượu cúng trước tượng thần). Lại [hỏi], một vị Tăng bỗng bị xô xuống nước, hăy mau hỏi Ngưu Đầu khi chưa gặp Tứ Tổ th́ như thế nào? Tăng đáp: “Thân cước tại súc cước lư” (Duỗi chân nơi co chân). Trong cái nh́n của kẻ học cạn như chúng tôi, dường như đáp chẳng trúng câu hỏi, đầu trâu chẳng khớp với mơm ngựa đấy ư? Quả thật chẳng thể hiểu được. Tôi toan xin đại sư ban lời giải thích ư nghĩa theo cách Ngài nghĩ! (Cao Chiêm hỏi)

 

          Đáp: Những lời cơ phong được chép trong ngữ lục nhà Thiền, đa phần là lời khám nghiệm công phu, hoàn toàn chẳng nhằm giảng kinh, thuyết pháp, dạy bảo hàng sơ học! Các lời lẽ ấy trọn chẳng tuân theo lư luận thông thường, nhằm khích động căn cơ của một người nào đó mà thốt ra. Công phu đến nơi đến chốn sẽ hiểu rơ. Công phu chưa đến nơi, sẽ khó khế nhập được. V́ thế, những câu nói giữa Giáp và Ất, Bính nghe chẳng hiểu, Bính biết trả lời Ất, chứ chẳng thể trả lời Giáp. Nếu biết ư ấy, đối với lời hỏi của quư cư sĩ, không chỉ là kẻ hèn này chẳng thể gượng ép giải thích được, dẫu vị Tăng thuở ấy hăy c̣n [tại thế], cũng chẳng thể giải thích cho cư sĩ được! Quư cư sĩ phát tâm học Phật, sẽ có sách dành cho kẻ sơ học. Nếu học tham Thiền, ắt phải cầu sư thừa!

 

          * Hỏi: Dụng công “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” như thế nào? (Lâm Tăng Hạo Sơn hỏi)

 

          Đáp: Đối với muôn pháp đều chẳng chấp tướng, chỉ dạy chánh niệm phân minh. “Chánh niệm” là nếu như học Thiền th́ Tham (tham Thiền) là chánh niệm. Nếu học Tịnh th́ niệm [Phật] chính là chánh niệm. Dụng công như vậy, dụng công là nhân, cầu mong cái quả nào, thử hỏi có thể hiểu hay chăng? Nếu chẳng có sư thừa, cứ tu mù luyện đui, phải đề pḥng v́ e rằng sẽ có ma sự!

 

          * Hỏi: Chẳng phải là hữu tướng, chẳng phải là vô tướng, chẳng phải là có tướng, chẳng phải là không có tướng, cho đến nhất hiệp tướng, hạ thủ công phu như thế nào? (Lâm Tăng Hạo Sơn hỏi)

 

          Đáp: Đấy là lư luận, chẳng phải là công phu. Nếu nói đến lư này mà chẳng hiểu, đấy là v́ chưa từng nghiên cứu kinh, phải nghiên cứu kinh! Đổ công dốc sức một phen, sẽ có thể liễu giải. Sau khi đă liễu giải, chắc là có thể chẳng chấp tướng, dùng những điều ấy để giúp đỡ, cũng chưa biết chừng!

 

          * Hỏi: Thế nào là “phá bổn tham”? Sau khi đă phá, lại tu hành cao hơn như thế nào? Lại nữa, câu cuối cùng nên hiểu như thế nào? Xin hăy nói cặn kẽ th́ may mắn lắm thay! (Trương Khoát Nhiên hỏi)

 

          Đáp: Luận định câu hỏi này, vốn là chẳng thể đáp. Nếu đáp, cũng nên nói theo bổn phận. Có thể tŕ danh đến mức đắc nhất tâm bất loạn chính là “phá bổn tham”. Nếu nói “tham” là chuyện [tham cứu] của nhà Thiền, tôi trộm nghe bậc đại đức Thiền gia bảo: Đoạn Nhị Hoặc chính là “phá bổn tham”. Lại hỏi đến chuyện tiến hành, chính là phá Trần Sa! “Nói cặn kẽ th́ may mắn lắm thay”, Thiền gia chỉ cho phép tham, chẳng chuộng nói! Hơn nữa, kẻ hèn này chẳng hiểu Thiền, nói c̣n chẳng thể, huống là tường tận ư!

 

          * Hỏi: Phật Tổ giơ cành hoa, Ca Diếp mỉm cười. Rốt cuộc Phật Tổ truyền ǵ cho ngài Ca Diếp? (Tŕnh Sâm Thụ hỏi)

 

          Đáp: Khi Phật Tổ giơ cành hoa, số người hiện diện há chỉ một người? Những bậc cao túc đông nghẹt, chỉ riêng ngài Ca Diếp cười, những kẻ khác chẳng biết. Có thể suy ra mà biết: Tại hạ là hạng phàm phu sát đất, chưa đích thân phụng sự Phật, những vị cao túc hiện diện tại đó c̣n chưa biết được; kẻ chẳng hiện diện làm sao biết Ngài truyền điều ǵ? Đối với Phật pháp, chẳng thể giả vờ thông minh, cũng chẳng thể vượt cấp mà tiến được!

 

          * Hỏi: Vị Tăng hỏi ngài Động Sơn “Phật là như thế nào?” Ngài Động Sơn đáp: “Ba cân gai”. Vị Tăng hỏi ngài Triệu Châu: “Tổ sư từ phương Tây đến đây (Trung Hoa) là v́ ư ǵ?” Triệu Châu đáp: “Cây bách ở trước sân”. Do hết thảy các pháp là Phật pháp, vạn pháp chính là chân lư của Phật, v́ thế ngoài “ba cân gai”“cây bách ở trước sân” ra, lấy bất cứ vật ǵ đều có thể đáp ư? Ví như “đại địa núi sông, một cục đá” v.v… (Tŕnh Sâm Thụ hỏi)

 

          Đáp: Sách Thiền Tông như Chỉ Nguyệt Lục, Ngũ Đăng Hội Nguyên v.v… đều là [những sách ghi chép] cái nhân bí mật của tổ sư nhằm thích ứng với căn cơ [của người đến tham phỏng] mà khơi gợi sự giác ngộ nơi hàng hậu học, chính là để nói với những người đă học Phật nhiều năm, tham cứu đă sâu. Kẻ ở ngoài ŕa không có thầy, chẳng từng học, hoặc kẻ chấp chặt một bề chẳng hiểu tham cứu mà đọc những loại sách ấy, giống như những đứa học tṛ trong vườn trẻ đi học Vi Tích Phân, không chỉ là chẳng hiểu chút ǵ, mà sợ rằng c̣n khiến cho thân thể sanh bệnh! Quư cư sĩ mới nghe mấy câu như “hết thảy các pháp đều là Phật pháp, vạn pháp chính là chân lư của Phật” bèn nghĩ “thứ ǵ cũng đều có thể sử dụng để đáp”, nói thật thà, nếu phàm phu làm như vậy, chính là nghiệp Vô Gián địa ngục! Sơ Tổ nói: “Kẻ học theo ta sẽ đọa địa ngục, kẻ báng ta sẽ lên thiên đường”. Ông có thể ngẫm nghĩ hay chăng? Kính khuyên trước hết hăy nên cầu minh sư, trước hết hăy nên dốc sức từ chỗ sơ cấp. Tại hạ do ḷng thương đau đáu, lại nói tḥng thêm một câu, Phật pháp có quyền, thật, chiết, nhiếp[14], hễ vận dụng sai, sẽ chẳng được đâu nhé!

 

          * Hỏi: Rốt cuộc con chó có Phật Tánh hay không? (Tŕnh Sâm Thụ hỏi)

 

          Đáp: Quư cư sĩ đă thích cơ phong, cuối cùng, chúng ta cũng bắt chước nhăn mày[15]. Hăy tạm gác lại Phật Tánh chẳng bàn, xin hăy hạ ngay một câu chuyển ngữ: Con chó rốt cuộc là có hay không có?

 

          * Hỏi: Triệt ngộ trong Thiền Tông có phải là do tư duy mà đạt được hay không? (Vương Tâm Phổ hỏi)

 

          Đáp: Thiền trong hiện thời chú trọng tham cứu thoại đầu, phải dấy lên một câu, luôn luôn quán chiếu. Cổ đức dạy “tham th́ cần phải ĺa tâm ư thức, giống như tư duy mà thật ra chẳng phải là tư duy, v́ tư duy có phân biệt”. Nếu nói đến triệt ngộ, đấy chính là công phu tham cứu.

 

          * Hỏi: Nh́n vào công án Nam Tuyền chém mèo, “minh tâm kiến tánh” có phải là nhằm chú trọng dạy cứu giúp, che chở chúng sanh hay không? (Vương Tâm Phổ hỏi)

 

          Đáp: Chém mèo là v́ khiến cho một học nhân ngộ chứng. Học nhân ấy ngộ chứng th́ chém mèo mới có ư nghĩa. Kẻ đó chẳng ngộ, mà cứ lầm lạc chém mèo, sẽ là thật sự có tội lỗi. Nếu có thể khiến cho một người ngộ chứng, sẽ giống như cứu vô lượng chúng sanh, con mèo ấy được dùng như một công cụ để thuyết pháp, đương nhiên là ngay cả nó cũng được độ. Nhưng ngài Nam Tuyền dùng thủ đoạn ấy, chưa từng chẳng phải là quyền xảo phương tiện; kẻ khác chẳng phải là Nam Tuyền, chẳng thể viện vào đó để làm tiền lệ được! Huống chi trong phần sau công án ấy, có khá nhiều chuyện cần phải biện định. Như nói ngài Nam Tuyền chém mèo, bất quá là Ngài nói suông đằng miệng, giơ tay làm tư thế mà thôi, hoàn toàn chẳng phải là dùng đao chém phăng! Ví như A La Hán có tên gọi là Sát Tặc, chỉ là nói ngụ ư, há có phải là mỗi vị La Hán ắt đều là tay nhiễm máu tanh ư?

 

          * Hỏi: Đàn Kinh có cần phải chú thích, giảng giải hay không? V́ đấy chính là tổ sư ư, hễ đă hiểu th́ không cần phải chú thích, giảng giải. Chẳng hiểu th́ dù có chú thích, giảng giải, cũng vô dụng! Ư bỉ nhân cho rằng chú thích, giảng giải có thể nói đại lược chương cú, không ǵ chẳng nhằm giúp [người đọc] lănh hội ư chỉ của tổ sư, có đúng hay không? Lại có khi [có những người chú giải] dùng lời Phật để chứng minh lời Tổ, có nên đọc những loại giảng nghĩa theo kiểu ấy hay không? (Vương Tâm Phổ hỏi)

 

          Đáp: Chú giải những chuyện được tường thuật trong Đàn Kinh th́ chẳng có trở ngại ǵ! Những chỗ đàm luận, phần nhiều là cơ phong. Nếu chẳng hiểu ư trong ấy, chú giải bằng cách nào? C̣n như ông nói “chú thích, giảng giải có thể nói đại lược chương cú, không ǵ chẳng nhằm giúp [người đọc] lănh hội ư chỉ của tổ sư”, tệ ư cho rằng: Đối với kẻ chẳng hiểu, khỏi cần mở miệng. Sai chừng hào ly, lạc đi ngàn dặm. Lại nói: “Vọng văn sanh nghĩa, tam thế Phật oan” (Dựa theo văn tự để suy đoán ư nghĩa, ba đời chư Phật bị oan uổng). Chuyển lầm một chữ gây hại cho hàng hậu học, lại c̣n vướng nhân quả, vẫn là chớ nên ham nhiều chuyện! Có quyển sách Tâm Đăng Lục đă phạm phải lỗi ấy. Đối với câu hỏi trong đoạn sau, chẳng biết là ông nói về sách nào, chẳng dám đường đột phán đoán! Nếu đều là [những tác phẩm được viết dựa trên] cái học có nền tảng, chỉ cần khế lư, có lẽ cũng chẳng có ǵ là không được!

 

          * Hỏi: Gần đây, con cung kính đọc tác phẩm Phật Học Thường Thức Khóa Bổn của cụ. Trong ấy có một đoạn con chưa thể hiểu rơ, tức là phần nói về Chánh Kiến trong Bát Chánh Đạo: “Chánh Kiến: Trong Tứ Đế, mỗi Đế đều có bốn hành tướng quán, hợp thành mười sáu hành quán, gọi là Vô Lậu Hành Quán (rất rườm rà nên chẳng nói rơ). Có thể tu những phép Quán ấy, kiến giải mới là chánh xác”. Đệ tử đọc đến đây, chẳng dám nhọc ḷng thầy sao lục gởi cho, mà chỉ khẩn cầu thầy chỉ ra chỗ nào trong kinh Phật, quyển thứ mấy, trang số mấy, xin hăy dạy cho, để con tiện nương theo kinh mà tu hành! (Vương Thể Nhân hỏi)

 

          Đáp: Tu Hành Kiến Đạo, Phần Chân Kiến Đạo, Dữ Tướng Kiến Đạo, Đắc Tướng Kiến Đạo, lại c̣n Tu Quán Phi An Lập Đế. Tu pháp này có ba giai đoạn: Một là trí loại bỏ các giả duyên hữu t́nh, hai là trí trừ khử giả duyên nơi các pháp, hai trí này được gọi là Pháp Trí. Thứ ba là trí trừ khử giả duyên nơi hết thảy các pháp hữu t́nh, trí này được gọi là Loại Trí. Lại c̣n hành hai phép Quán về Thắng Nghĩa Đế và Thế Tục Đế. Luận định theo Tứ Đế Khổ, Tập, Diệt, Đạo, mỗi Đế đều có Pháp Trí và Loại Trí, tức là Tứ Đế hợp thành tám phẩm. Đối với mỗi phẩm, trước hết là thành tựu Nhẫn pháp; sau đó là thành tựu Trí pháp, gộp chung với Pháp Trí và Loại Trí trước đó, tổng cộng là mười sáu tâm. Sau khi đă tu thành tựu các thứ Pháp Trí Nhẫn như vừa mới nêu, liền chứng Pháp Trí. Do Pháp Trí mà chứng Loại Trí Nhẫn, do Loại Trí Nhẫn mà chứng Loại Trí. Tứ Đế Khổ, Tập, Diệt, Đạo, mỗi Đế đều đắc bốn hạnh ấy. V́ thế gọi là Mười Sáu Hành Tướng. Đấy bất quá chỉ là do ông hỏi nên đáp đại lược. Sự tột bậc phức tạp, pháp này được chép trong kinh Trung A Hàm, Câu Xá Luận v.v… nhưng cũng có thể thấy rải rác trong các kinh. Mong ông trước hết hăy tra Phật Học Từ Điển, tham khảo hai điều Tứ Đế và Kiến Đạo, sẽ biết những điểm chánh yếu. Xem thư hỏi của cư sĩ, nh́n vào nét chữ, ḍng chữ, có thể thấy là do ḷng thành mà hỏi đạo, hết sức khâm phục. Kính thưa một lời, sách Phật Học Thường Thức Khóa Bổn chỉ là một loại giới thiệu đơn giản, cần nên biết, pháp có khó dễ! Cổ đức đă có lời răn: Nay đang thời Mạt Pháp, để tu tập có thể thành tựu th́ chỉ đành cậy vào Tịnh Độ, thực hiện dễ, thành công cao, thâu tóm toàn bộ lợi căn và độn căn. Có thầy dạy th́ tốt, không có thầy cũng có thể thành tựu! Nay tôi biếu tặng ông ba tập sách nông cạn, xin đừng v́ thấy chúng là dễ dàng mà coi thường vậy!

 

          * Hỏi: Quá khứ, hiện tại, vị lai, điểm cái tâm nào? (Lâm Tăng Hạo Sơn hỏi)

 

          Đáp: Pháp trong nhà Thiền nhằm khơi gợi cho kẻ khác ngộ, lời lẽ phần nhiều nói chuyện này nhằm gởi gắm chuyện kia, ư ở ngoài lời, mỗi sự, mỗi căn cơ có sự khế hợp riêng. Kẻ khác chẳng liên quan nếu đa sự [t́m ṭi ư nghĩa] sẽ là vô ích. Hai người hỏi đáp trong khi ấy, vẫn là dùng tâm để hiểu, hoàn toàn chẳng giảng giải. Kẻ đời sau nói thay, sẽ là nói mớ trong mộng. E rằng Tăng cư sĩ[16] chưa học Thiền, chẳng biết tham khán (tham cứu, khán thoại đầu). Hỏi và đáp hai đằng đều là hư luận! Nay tôi miễn cưỡng hé lộ đôi chút tin tức, vẫn phải do bà tự tham cứu lấy! Ba tâm đă là đều chẳng thể được, lại hỏi điểm cái tâm nào, xin Tăng cư sĩ đến lúc t́m được cái tâm rồi lại điểm th́ sẽ là đúng!

 

          * Hỏi: Bốn chữ Lâm Tế Chánh Tông có phải là xưng danh của một bộ phận trong Thiền Tông hay không? (Trác Trung Chấn hỏi)

 

          Đáp: Thiền Tông kể từ tổ sư Đạt Ma truyền qua năm đời đến ngài Hoằng Nhẫn, trong hội của ngài Hoằng Nhẫn có hai đệ tử là Thần Tú và Huệ Năng. Thần Tú là tổ của Bắc Tông, Huệ Năng là tổ của Nam Tông. Kế thừa Bắc Tông chỉ có một phái, Nam Tông chia thành “ngũ gia” (năm chi phái) rồi “thất gia”[17] khác nhau. Ngũ Gia, một là Quy Ngưỡng Tông, hai là Lâm Tế Tông. Tổ của tông Lâm Tế là Nghĩa Huyền đại sư. Danh xưng Lâm Tế do đó mà có. Đấy chính là Nam Phái Thiền Tông. Do chẳng hỏi tới ba tông kia, nên tôi lược đi chẳng đáp.

 

          * Hỏi: Vị Sư nọ lúc thị tịch hỏi đệ tử của Ngài “một câu Phật hiệu rơi vào chỗ nào, hăy đáp cho mau!” Xin dạy cho! (Điền Quán Xác hỏi)

 

          Đáp: Đấy là chuyện giữa thầy tṛ họ, là chuyện đối đáp cơ phong. Ông và tôi là người ngoài, đều chẳng phải là đương cơ! Huống chi ông chưa từng tu Thiền, tại hạ cũng chẳng biết phù hợp căn cơ, đều nên ngậm miệng, bị dây leo trói chặt!

Phật Học Vấn Đáp Loại Biên

Quyển Hạ

Phần 4 hết

 



[1] Nhân Thị Tử là biệt hiệu của ông Tưởng Duy Kiều (1837-1958). Ông Tưởng có tên tự là Trúc Trang, hiệu là Nhân Thị Tử, người xứ Vũ Tấn thuộc tỉnh Giang Tô, là một triết gia, kiêm nhà giáo dục, cũng như một nhà dưỡng sinh. Ông đậu Hương Cống năm hai mươi tuổi. Do tiếp xúc với Tây Học đă nhiệt thành theo chủ trương cải tổ xă hội dưới thời vua Quang Tự, lập ra trường Ái Quốc Nữ Học dành cho phụ nữ, từng làm việc tại Thương Vụ Ấn Thư Quán, tham gia biên soạn bộ Tiểu Học Quốc Dân Giáo Khoa Thư vào năm 1903, cũng như biên soạn sách giáo khoa cho các cấp. Ông c̣n chủ biên bộ từ điển Từ Nguyên, từng làm việc tại Bộ Giáo Dục để phụ trợ Thái Nguyên Bồi, biên soạn quy chế giáo dục đầu thời Dân Quốc. Do quen biết ông Từ Úy Như, ông chú trọng t́m hiểu Phật giáo rồi trở thành một cư sĩ Phật giáo nhiệt thành, đặc biệt yêu thích Duy Thức. Ông đă kết bạn với các cư sĩ nổi tiếng thời đó như Diệp Cung Xước, Khoái Nhược Mộc, Mai Quang Hy, Hoàng Ấu Hy, Từ Úy Như và lập hội giảng kinh. Khi ngài Đế Nhàn giảng kinh Viên Giác tại hội quán Giang Tây ở Bắc Kinh vào năm 1918, ông đă cùng với Giang Vị Nông và Hoàng Ấu Hy bút kư bài giảng, chỉnh lư thành bộ Viên Giác Kinh Thân Văn Kư. Ông trước tác khá nhiều, nổi tiếng nhất là bộ Nhân Thị Tử Tĩnh Tọa Chánh Pháp Tục Biên và Nhân Thị Tử Tĩnh Tọa Vệ Sinh Thật Nghiệm Đàm. Ông c̣n dịch sang tiếng Hán bộ Cương Điền Thị Tĩnh Tọa Pháp do Cương Điền Hổ Thứ Lang người Nhật biên soạn.

[2] Nguyên văn “lănh hôi bộc đậu” (冷灰爆豆) là một thành ngữ có hai nghĩa: Một là làm chuyện phí công uổng sức v́ đậu vùi trong tro lạnh không thể nào bị nướng chín để nổ tung được. Hai là chuyện phát sinh bất ngờ. Ở đây, dùng theo nghĩa thứ hai, hàm ư bỗng đột ngột giác ngộ.

[3] Kư vấn (記問) là lối học hiểu do đọc sách, thưa hỏi người trước rồi ghi nhớ, biến thành kiến thức của chính ḿnh. Tức là cái học vấn bắt nguồn do học tập từ sách vở hoặc được giảng dạy, không phải là kiến thức do chính ḿnh đạt được từ sự suy niệm, thực chứng.

[4] Lục Diệu Môn là sáu trạng thái Thiền Quán, bao gồm Sổ Tức (theo dơi và đếm hơi thở để định tâm), Tùy Tức (theo dơi hơi thở, không đếm), Chỉ, Quán, Hoàn (trong khi quán hơi thở, nhận biết hơi thở không từ đâu đến, chẳng đi về đâu, nhân duyên ḥa hợp bèn có, nhân duyên ly tán là không, ĺa khỏi các huyễn tướng đối lập, trở về nguồn tâm), và Tịnh (xa ĺa mọi đối đăi, biết rơ các pháp chẳng thật, rốt ráo không có tự tánh, chẳng sanh tâm phân biệt, buông xuống mọi phân biệt. Ngay cả ư niệm buông xuống mọi phân biệt cũng buông xả, tâm lượng như hư không).

[5] Niêm () có nghĩa là dính mắc, dán dính, giống như “niêm phong” chẳng hạn. Thuở trước thư gởi đi thường dùng sáp gắn lên, rồi dùng dấu ấn cá nhân đóng vào để bảo đảm người khác không lén mở ra xem.

[6] Ư nói chấp trước văn tự, không thấu hiểu ư nghĩa thật sự của lời nói ấy.

[7] Cơ phong (機鋒) là những đối đáp giữa người đến tham vấn hoặc cầu ấn chứng và bậc thầy hóa độ trong nhà Thiền. “Cơ” là căn cơ, Phong là mũi nhọn của các vũ khí. Ư nói hỏi đáp phù hợp khít khao, sắc bén như khi giao đấu nhằm thúc đẩy sự khai ngộ nơi người đến hỏi, hoặc trắc nghiệm mức độ giác ngộ của người đến cầu ấn chứng.

[8] Đường ở đây là ṭa nhà lớn, đại chúng ở trong các dăy nhà hai bên phương trượng thất, gọi chung là Đông Đường và Tây Đường.

[9] Nguyên văn “dương diệm” (陽燄); đấy chính là những ảo ảnh, nhất là trên những vùng đồng trống, sa mạc. Ánh nắng gay gắt khiến cho lớp không khí gần mặt đất dao động, nh́n từ xa sẽ tưởng là chỗ đó có nước. Những con nai đang khát, cứ cắm đầu chạy theo những ảo ảnh ấy để kiếm nước cho đến khi gục ngă.

[10] Tham minh thoại đầu là một câu thoại đầu được thầy đưa ra cho học nhân tu Thiền tham cứu cho đến khi minh tâm kiến tánh. Chẳng hạn câu thường được nhắc đến trong nhà Thiền là “tiếng vỗ của một bàn tay”.

[11] Đây là một câu nói của ngài Triệu Châu Tùng Thẩm, khi có người đến tham phỏng, Ngài hỏi: “Thượng tọa đă từng đến nơi đây chưa?” Thưa chưa”, ngài Triệu Châu bảo: “Uống trà đi”. Một vị khác đến, Tổ lập lại câu hỏi ấy, người ấy thưa đă đến, Tổ bảo: “Uống trà đi”. Viện chủ thắc mắc: “Người chưa từng đến bảo uống trà c̣n được, chứ người đă từng đến v́ sao cũng dạy uống trà?” Ngài Triệu Châu gọi: “Viện chủ!” Viện chủ dạ, ngài Triệu Châu bảo: “Uống trà đi”. Công án này thường được gọi là “chén trà Triệu Châu”.

[12] Tiểu Chỉ Quán ở đây chính là sách Tu Tập Chỉ Quán Tọa Thiền Pháp Yếu của ngài Trí Khải (Trí Giả đại sư). Ngài dạy chỉ quán tâm tưởng, dùng sáu loại khí để trị bệnh. Sáu loại khí đó là sáu cách phát âm tương ứng để hít thở. Chẳng hạn chữ Hư th́ khẽ mím hai môi, lưỡi hơi thè ra cuộn lên ṿm miệng, hơi thở khẽ ma sát vào hai răng nanh trên và dưới để phát âm. Trong khi niệm chữ Hư, ngón cái đè nhẹ trên mặt đất, hai tay đặt ngang bụng dưới nhè nhẹ nâng lên, lưng bàn tay đối nhau, dần dần nâng tay lên cho ngang tầm vai, tách rời hai tay ra sao cho ḷng bàn tay chếch lên, hai mắt khẽ nhắm hờ, quán chiếu bên trong v.v…

[13] Vị này có tên gọi đầy đủ là Linh Mộc Đại Chuyết Trinh Thái Lang (Daisetsu Teitaro Suzuki, 鈴木大拙貞太郎,1870-1966), là một học giả nổi tiếng của Nhật Bản về Thiền. Ông là tác giả của nhiều bộ sách Thiền nổi tiếng, nổi danh nhất là bộ Thiền Luận (Zen Essays) đă được cụ Trúc Thiên dịch sang tiếng Việt. Ông vốn có tên là Suzuki Teitaro (Linh Mộc Trinh Thái Lang), vốn được nuôi dưỡng trong một gia đ́nh theo Tịnh Độ Chân Tông (Jodo Shinshu), nhưng khi trưởng thành, ông lại ham thích nghiên cứu Thiền khi đang theo học tại Đông Kinh Đại Học Đường, và được thiền sư Thích Tông Diễn (Soen Shaku), viện chủ Viên Giác Tự (Engaku-ji) ban pháp hiệu là Đại Chuyết (Daisetsu). Ông theo học nhiều năm với học giả Paul Carus và đă giúp Paul Carus dịch nhiều tác phẩm từ Hán văn sang Anh văn. Về sau, do ảnh hưởng của vợ là Beatrice Erskine Lane, ông gia nhập hội Thông Thiên Học (Theosophical Society Adyar) và là một thành viên tích cực của hội. Ông đi dạy Thiền và tư tưởng Đại Thừa ở nhiều nơi, từng được mời đến diễn giảng tại các đại học ở Mỹ và Anh. Cuối đời, ông có hứng thú sâu đậm với Tịnh Độ Chân Tông, dịch sang tiếng Anh tác phẩm Kyogyoshinsho (Hiển Tịnh Độ Chân Thật Chứng Văn Loại, tác phẩm phô diễn trọn vẹn chủ thuyết của Thân Loan, sáng tổ Tịnh Độ Chân Tông Nhật Bản). Tuy đi nhiều nơi diễn giảng về Tịnh Độ Chân Tông, ông không nỗ lực truyền bá Tịnh Độ Chân Tông cho người phương Tây v́ cho rằng Thiền thích hợp với người phương Tây hơn.

[14] “Chiết” là chiết phục, tức là những lời lẽ, biện pháp nhằm khuất phục thói xấu, hay đánh tan chấp trước, nghi vấn của một người nào đó, dẫn họ nhập đạo chân thật. “Nhiếp” là những phương tiện thiện xảo khiến người ấy tin phục, hành tŕ một pháp môn nào đó.

[15] “Bắt chước nhăn mày” (hiệu tần, 效顰) là một thành ngữ chỉ sự bắt chước vụng về, thô thiển. Tương truyền Tây Thi là mỹ nhân xứ Việt đẹp đến nỗi vua Ngô là Phù Sai mê mẩn, xây riêng một cung điện ở Cô Tô cho nàng ở. Nghe nói Tây Thi đẹp đến nỗi khi bị đau bụng, dẫu nhăn mặt, vẫn đẹp năo nùng. V́ thế, Trang Tử đă viết chuyện châm biếm: Hàng xóm của Tây Thi là Đông Thi nghe kể như vậy, cũng bắt chước nhăn mày đến nỗi hàng xóm sợ quá đóng chặt cửa không dám ra đường, c̣n chồng con của Đông Thi phải bỏ nhà trốn đi!

[16] Bà này họ Tăng, lấy chồng họ Lâm, nên thường ghép họ chồng vào tên thành Lâm Tăng Hạo Sơn.

[17] Ngũ gia chính là năm phái Thiền xuất phát từ các đồ tôn của tổ Huệ Năng, bao gồm Quy Ngưỡng, Lâm Tế, Tào Động, Vân Môn và Pháp Nhăn. Riêng tông Lâm Tế, kể từ sau đời thiền sư Thạch Sương Sở Viên, tông Lâm Tế bị tách thành hai chi phái là Dương Kỳ do thiền sư Dương Kỳ Phương Hội sáng lập và phái Hoàng Long do ngài Hoàng Long Huệ Nam sáng lập. Do vậy, gọi chung là Thiền môn Thất Tông.