Phật
Học Vấn Đáp Loại Biên
佛學問答類編
Phần 5
Lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam giải
đáp
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
(theo bản in của Lư Bỉnh Nam Lăo
Cư Sĩ Toàn Tập Biên Tập Ủy Viên Hội, Đài
Loan, 2007)
Giảo chánh: Đức Phong và Huệ
Trang
* Hỏi: Đồng nghiệp khăng khăng
lôi kéo tôi đi nghe giảng đạo, về mặt t́nh
cảm giao tiếp, so ra họ thành công hơn nhà Phật. Phật
giáo nói “từ bi, phổ độ chúng sanh” quả thật
rất hay, nhưng lạnh lùng, rất ít thấy tác dụng
có sức mạnh, hiệu quả ở chỗ nào. Bọn
họ hướng lên hư không, khóc lóc cầu nguyện quá
ư giả dối, đây là nói về đạo Gia Tô. Về
phương diện giảng đạo, họ nói cũng
rất có lư, mọi sự dường như có một vị
tổng chủ tể, chẳng biết có đúng hay không? (Lưu Thiên Càn hỏi)
Đáp: Phật giáo lạnh
lùng, chẳng phải là giáo nghĩa của Phật như
vậy, đấy là do người tu đạo có
động thái sai lầm, chỉ có thể trách người,
chẳng thể trách giáo. Phiền cư sĩ t́m một cuốn
Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm tặng cho người
bạn, [người ấy] sẽ biết tinh thần thật
sự của nhà Phật, đừng v́ con người sai
lầm mà đổ lỗi cho giáo. Lại bàn đến
chuyện thấy họ khóc lóc cầu nguyện nhiệt thành,
đấy là cách nh́n của mỗi người khác nhau, Khổng
Tử v́ đạo, chiếu ngồi chẳng kịp ấm,
nghe nhạc Thiều[1] ba tháng, chẳng biết
đến mùi thịt, lo cho thiên hạ, lo cho nhân dân, có thể
nói là tột bậc. Nhan Hồi v́ đạo, nằm gối
đầu lên cánh tay trong hẻm nghèo, cơm giỏ, nước
bầu, đáng gọi là chuyên dốc; đều chưa từng
nghe nói Khổng Tử, Nhan Hồi đặt ra kỳ hạn
nhất định để gào to, khóc lớn, như chôn người
thân, như cuồng, như điên! Mừng, giận, buồn,
vui chưa từng để lộ, đó gọi là Trung. Những
điều tỏ lộ đều chừng mực, vừa
phải, đó gọi là Ḥa. Đấy là nói về đạo.
[Đối với chuyện] định kỳ nhóm họp
để khóc lóc dữ dội, tôi từng thấy trong phần
tang lễ của sách Lễ Kư [có chép như thế], chứ
không có chuyện họp nhau khóc lóc trái lễ, tôi câu nệ về
mặt oai nghi, chẳng dám cẩu thả giống như họ
được!
* Hỏi: Mặt trời, mặt trăng, tinh tú
đều có quỹ đạo riêng, chẳng va chạm
nhau, tỏa ánh sáng xuống địa cầu, khiến nhân
loại được sống yên vui, những thứ để
ăn đều có, đạo Gia Tô nói có một đấng
chủ tể [sắp đặt những chuyện ấy]
(bất quá nh́n theo khoa học, những ǵ thích nghi sẽ tồn
tại, chẳng thích nghi sẽ có kết quả trái ngược),
dùng hai câu trên đây để kết luận có đúng hay
không? (Lưu Thiên Càn hỏi)
Đáp: Các tinh cầu thoạt đầu chẳng
phải là không va chạm, sau này khi va chạm đến lúc
có khoảng cách kha khá th́ mỗi tinh cầu tự giữ lấy
sự vận hành của riêng ḿnh. Mỗi tinh cầu đều
có sức hút, do sức hút, đôi bên giữ được
khoảng cách. C̣n như tỏa ánh sáng xuống địa cầu;
thật ra, không chỉ riêng hậu đăi địa cầu,
mà phần lớn ánh sáng của các tinh cầu là do phản
chiếu ánh sáng từ mặt trời. Trong thái dương
hệ có vô lượng tinh cầu đều có ánh sáng. Đă
chẳng chuyên v́ chúng ta, th́ cũng có thể nói là không có
đấng chủ tể. Họ viện vào trời để
nói, tôi lấy đất để sánh ví. Trong cánh rừng
to um tùm, trăm ngàn vạn cây, mỗi cây tự giữ lấy
khoảng cách, giống như chẳng xâm phạm lẫn
nhau, nhưng thoạt đầu cũng là vô lượng mầm
nhỏ đâm lên tua tủa, trải qua sự đào thải
của tự nhiên, trở thành có độ dầy mỏng
hợp lư như hiện thời, điều ḥa khí hậu,
có tác dụng lợi ích khiến cho dân chúng ấm no, há có một
đấng chủ tể? Nếu cứ nói mọi sự đều
có chủ tể th́ con người cũng là tiểu thiên địa,
mỗi ngày tiểu tiện, đại tiện cũng ắt
phải có người làm chủ tể ư? Nhưng đă
là “không ǵ chẳng có chủ” th́ vị chủ của đấng
chủ tể ấy sẽ là như thế nào? Nói theo thế
gian, đó là lư tự nhiên của muôn h́nh tượng. Nói
theo Phật pháp, là do nghiệp lực và tâm thức biến
hiện mà thôi!
* Hỏi: Đạo Gia Tô nói: “Ai nấy có hai
tai, hai lỗ mũi, đă có cái để sử dụng, lại
c̣n cái để chuẩn bị, kẻo chẳng may bị
hư mất th́ c̣n có cái để thay thế; miệng chỉ
có một cái là đủ rồi. Ai cũng giống như
vậy, trọn chẳng phải v́ vẻ mỹ quan, mà v́ cần
thiết nên lập ra như thế. Mọi người
đều giống như từ cùng một công xưởng
chế ra hàng loạt, há chẳng có một đấng chủ
tể ư?” Chỉ một câu hỏi của ông Cát đă
khiến tôi luôn suy nghĩ, ngay đang lúc tiểu tiện
hay đại tiện vẫn luôn suy nghĩ. Ông Cát hiện đang
phục vụ trong Không Quân, làm chủ nhiệm trường
trung ương phiên dịch điện báo của liên đội
Không Quân. Đối với hai câu hỏi trên đây, kẻ
ngu này sợ trả lời chẳng trọn vẹn, uổng
phí lời lẽ, nên đặc biệt kính xin thầy từ
bi phương tiện giải đáp, ngơ hầu kể lại
với ngu hữu ḥng tháo gỡ vướng mắc? (Lưu Thiên Càn hỏi)
Đáp: Tôn giáo nào có kinh điển của tôn giáo
đó, học thuyết nào có sách vở của học thuyết
đó. Dựa vào đó để dẫn chứng cũng chẳng
phải là không được, chứ dựa vào những ǵ
chính ḿnh đang có [để biện luận] th́ chẳng thích
hợp! Chi thể của động vật, bẩm sinh mỗi
loài mỗi khác. Nhà động vật ấy bảo “nếu
chẳng phải là như thế, sẽ chẳng thể
sanh”, nhưng chưa chắc [những điều ấy] đă
cho thấy có một vị chủ tể. Thử hỏi đang
trong lúc hai phái giao hợp, nếu có chủ tể trong ấy,
v́ sao lại xếp đặt [có những con vật] có một
trăm chi? Xin hăy coi một hạt đào gieo xuống đất,
chẳng đầy mấy năm mà thân tím, cành biếc, lá
xanh, hoa đỏ, quả thơm mọng ngọt, lắm nỗi
biến hóa, cũng là v́ vị chủ tể đến [sắp
đặt] hay sao? C̣n như nói tai, mũi phải có đôi để
chuyên dự pḥng khi bất hạnh, lại càng chẳng phù
hợp sự thật! Trên th́ lưỡi chỉ có một
cái, dưới th́ cơ quan sinh dục và hậu môn cũng
chỉ có một, chẳng có cái dự bị để pḥng
khi bị hư ư? Phàm đối với những lời
trẻ nít giống như đang mê man ấy, nếu ngỡ
đó là đại đạo th́ cũng là chấp nhận
cái “đạo” của họ mất rồi!
* Hỏi: Sanh vào trời
Đâu Suất, khi phước báo đă hết, có c̣n bị
đọa xuống hay chăng? (Cao
Thiêm Đinh hỏi)
Đáp: Đâu
Suất có nội viện và ngoại giới sai khác. Nội
viện là chỗ ở của thánh nhân, là nơi ở dự
bị của bậc sẽ hạ sanh thành Phật, thanh
tịnh trang nghiêm, khác với chư thiên hưởng lạc
trong cơi Dục. Chỉ có bậc thành tựu, tùy duyên hạ
sanh là trọn chẳng đọa lạc. Ngoài viện ấy
là chỗ ở các vị phàm thiên, tự nhiên khi phước
báo đă hết sẽ phải luân hồi.
* Hỏi:
Mồng Tám tháng Tư là thánh đản của Thích Ca Văn
Phật, đấy có phải là Thích Ca Mâu Ni Phật hay không?
Nếu phải th́ theo quốc lịch, mồng Tám tháng Tư
là lễ tắm Phật, lại là vị Phật nào vậy?
Nếu cũng là Phật Thích Ca th́ sao ngày kỷ niệm thánh
đản các vị Phật, Bồ Tát khác đều dùng nông
lịch[2], sao riêng lễ tắm Phật lại dùng
quốc lịch? (Châu Huệ
Tiền hỏi)
Đáp: Đây
chẳng phải là câu hỏi về Phật
lư, và cũng chẳng mang tánh chất quy định nghiêm
ngặt, mà thuộc về tác dụng tâm lư sanh khởi của
phàm nhân đối với lịch pháp. Tâm lư con người
bất nhất, cho nên có hiện tượng sai biệt
ấy.
* Hỏi:
Mồng Bốn tháng Tư là ngày thánh đản của Văn
Thù Bồ Tát (báo Trung Ương ghi: Tại Di Lặc Nội
Viện, pháp sư Đạo An mở pháp hội tán lễ
Phật [vào ngày ấy]. Báo Bồ Đề
Thụ số tám mươi chín cũng có nói Văn Thù
Bồ Tát là Phổ Kiến Như Lai[3]). Nếu Văn Thù Bồ Tát đă thành Phật
th́ thành Phật vào năm nào, tháng nào, căn cứ theo kinh nào?
(Châu Huệ Tiền hỏi)
Đáp: Thánh
đản Bồ Tát dùng pháp để cúng dường, bất
cứ kinh Phật nào cũng đều có thể phúng tụng,
dẫu làm Phật sự cho trời người, cũng có
cùng một lư này, trọn chẳng hạn chế phải đối
trước Bồ Tát, tụng kinh về Bồ Tát, chứ
đối với trời người th́ phải tụng
kinh về trời người. C̣n đối với đoạn
văn được đăng trong báo Bồ Đề
Thụ do chẳng nêu rơ trang nào, chẳng dễ ǵ kiểm
tra được, xin lượng thứ chẳng đáp.
* Hỏi:
Tại hai ngôi chùa lớn là Viên Thông và Long Sơn ở Đài
Bắc, đều thờ bên trái là Văn Thù, bên phải là
Phổ Hiền, Quán Thế Âm Bồ Tát ngồi chính giữa.
Nếu Văn Thù Bồ Tát là Phổ Kiến Như Lai
Phật, c̣n Quán Âm chưa thành Phật th́ cách xếp đặt
ngôi vị trong hai ngôi chùa lớn Viên Thông và Long Sơn dường
như thiếu thỏa đáng? (Châu
Huệ Tiền hỏi)
Đáp: Quán
Âm là cổ Phật hóa thân, giống như trong lời đáp
cho câu hỏi trước đă nói. Đối với
vấn đề sắp đặt ngôi vị thờ Phật,
Bồ Tát, chẳng ngoài lư do mỗi chùa tu tŕ pháp môn như
thế nào mà sai khác. Nếu là tông Hoa Nghiêm bèn thờ Thích Tôn,
Văn Thù, Phổ Hiền, Tịnh Độ Tông bèn thờ
Di Đà, Quán Âm, Thế Chí; thông thường cũng có nhiều
nơi thờ Thích Tôn, Đông Dược Sư, Tây Di Đà.
Thật ra, Phật Phật đạo đồng, thứ
tự sắp đặt chẳng qua là đề cao vị
Bổn Tôn của một pháp nào đó, chẳng phải là
không được! Chùa Viên Thông thờ Quán Âm ngồi giữa,
chắc là trong các vị thánh của hội Lăng Nghiêm, pháp
Viên Thông của ngài Quán Âm là cùng tột. Hoặc Quán Âm thật
sự là cổ Phật từ thế giới khác ứng hiện,
Văn Thù thị hiện trong thế giới Sa Bà, là vị
phụ tá bên phải của đức Thích Ca, được
gọi là Pháp Vương Tử, nếu cùng được
thờ [chung một ṭa] th́ cũng nên tôn trọng Quán Âm. Hoặc
là c̣n cách giải thích khác, nhưng kẻ hèn này kém cỏi, chưa
nghe biết căn cứ, chẳng thể thuận theo thói
tục để nói bừa được!
* Hỏi:
V́ sao có người nói chẳng có Diêm Vương, lại có
người nói có, rốt cuộc là có hay không? (Dương Thiên Nguyên hỏi)
Đáp: Trước
mọi lời lẽ rối tung, hăy nên chiết trung, dựa
theo lời của thánh nhân. Kinh Phật nói có Diêm Vương,
kẻ hèn này tuân theo thánh ngôn, chủ trương có Diêm Vương.
Đó gọi là “y pháp, bất y
nhân”.
* Hỏi: Có
người nói thời Mạt Pháp cũng là lúc đại
kiếp sắp xảy ra, v́ sao vậy? (Dương Thiên Nguyên hỏi)
Đáp: Thời
Mạt Pháp, chánh trí hôn mê, tham dục càng dữ dội. Kẻ
chẳng hiểu Phật pháp, dám trái nghịch nhân quả,
tạo nhiều tội nghiệp, khiến cho ác quả mau
chóng thành tựu, tự nhiên kiếp họa xảy đến.
Nếu có kẻ muốn làm lành, lúc ấy lại có lắm ác
ma, trà trộn trong thế gian, giả danh Phật giáo, bịa
đặt tà thuyết, thiết lập hắc giáo, dối
gạt kẻ ngu, khiến họ lầm lạc đi vào ngơ
rẽ, ngỡ báng Phật là tin Phật, cầu thiện, đâm
ra thành ác, cầu thăng lên, lại ngược ngạo bị
đọa lạc, lúc b́nh thường th́ lừa gạt tiền
của, hễ có dịp bèn dấy loạn, nên tự nhiên
kiếp họa xảy ra!
* Hỏi: Có những kẻ
chuyên thích dùng đạo lư to lớn để giáo huấn người
khác, nhưng chẳng kiểm điểm hành vi của chính
ḿnh, [có phải là] kẻ ấy có tội, sau này sẽ hứng
chịu quả báo chẳng tốt đẹp đấy chăng?
(Dương Thiên Nguyên hỏi)
Đáp: Dùng
đạo lư to lớn để giáo huấn kẻ khác là
khẩu nghiệp thiện, sẽ có công đức, nhưng
chẳng kiểm điểm hành vi của chính ḿnh, tức
là thân nghiệp ác, sẽ có tội lỗi. Thiện có thiện
báo, ác có ác báo.
* Hỏi:
Nghe nói kẻ mệnh bạc, thể chất yếu đuối,
lắm bệnh, quy y Phật môn, hoặc xuất gia, sẽ
có thể chuyển biến vận mạng, thân thể tráng
kiện, săn chắc, đấy là lời nói khuyến dụ
để truyền giáo hay là thật sự có đạo lư
ấy? (Kỷ Vũ hỏi)
Đáp: Tuy
chẳng đơn giản như thế, nhưng thật
sự có lư do. Sinh hoạt, ăn uống trong chùa miếu có
thứ tự, làm lụng, nghỉ ngơi đều có giờ
giấc, cuộc sống có kỷ luật, tự nhiên ít
bệnh. Nếu thật sự là người hiểu giáo lư,
tu tŕ chí thành, càng chẳng cần phải nói nữa. Do [giới
luật nhà chùa ràng buộc] ngăn ngừa tiêm nhiễm
ngũ dục lục trần, nội tinh chẳng dao động,
vọng niệm chẳng khởi lên, tự nhiên tâm an, chẳng
tạo giết, trộm, dâm, dối, chẳng gây tạo ương
họa mới, sẽ có thể xa ĺa ác báo, tự nhiên thân thư
thái, ít bệnh, tâm an. Thân đă thư thái, cơ thể sẽ
chuyển yếu thành mạnh.
* Hỏi:
Trong thế giới Sa Bà này, giết, trộm, dâm, dối, mạnh
ăn thịt yếu, đâu đâu cũng thấy, nhưng
người học Phật phải “đừng làm các điều
ác, vâng hành các điều thiện”, trước khi thành Phật,
nội tâm dấy lên mâu thuẫn với hoàn cảnh hiện
thực, làm cách nào để khắc chế và thoát khỏi?
(Kỷ Vũ hỏi)
Đáp: “Đừng làm các điều ác,
vâng hành các điều thiện” vận dụng trong thế
giới Sa Bà mới phù hợp. Nếu sanh sang thế
giới Cực Lạc, hoặc sanh trong Đâu Suất Nội
Viện, [những nơi ấy] đều là chỗ thanh
tịnh, trang nghiêm, là nơi ở của các vị thượng
thiện nhân, vốn chẳng có ác duyên, c̣n nói ǵ đến
chuyện “đừng làm các
điều ác” nữa? Thuần là thiện nghiệp, c̣n
nói ǵ đến chuyện “vâng
hành các điều thiện”. Lại nữa, hai câu “đừng làm các điều ác,
vâng hành các điều thiện” chính là khuôn phép khi chưa
thành Phật. Nếu đă thành Phật, vô minh đă hết,
há c̣n có điều ác nào chưa từng đoạn, giác đă
đến mức rốt ráo, há c̣n điều thiện nào
chưa phụng hành trọn đủ? Tâm dấy lên mâu
thuẫn, chính là v́ tin tưởng chẳng vững vàng, ư
chí bạc nhược. Kẻ học Phật chẳng đắm
vào ô nhiễm như người thường, phải thấy
thấu suốt hết thảy huyễn vọng, có thể
đoạn cái khó đoạn, có thể hành điều khó
hành. Đấy chính là cách khắc chế, mà cũng là cách để
thoát khỏi.
* Hỏi:
Tŕnh độ học Phật của tôi như thế nào?
(Có thể học ghép vào lớp Một, lớp Hai Tiểu
Học hay chăng) (Kỷ
Vũ hỏi)
Đáp: Tỉnh
Đài Loan từ trước đến giờ không có trường
chuyên dạy Phật học, mà lớp học cũng chẳng
nghiêm ngặt như các cấp lớp trong học vấn thế
gian; v́ thế, chẳng có cái gọi là “ghép lớp”[4]. Nếu có chí nơi đạo này, cần
phải xét hoàn cảnh cá nhân, hoặc chuyên môn, hoặc tùy
phần, chỉ mở kinh ra đọc sẽ có ích, nói
chung là chẳng luống uổng. Hễ có nghi hăy hướng
về bậc thiện tri thức, hỏi nhiều, nghe nhiều,
lâu dần cũng có thành tựu.
* Hỏi: Tâm Kinh có những chữ Tát
Đỏa, Bát Nhă, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, xin hăy
dạy cách đọc (chú âm)[5]? (Vưu Thái
Hoa hỏi)
Đáp: Tát
Đỏa đọc là ěㄙㄚ˙ㄉㄨㄛ˙)ě
* Hỏi: Quy y hết
thảy tăng, có phải là xin thọ quy y với hết
thảy các pháp sư, hay có nghĩa là tôn kính? (Vưu Thái Hoa hỏi)
Đáp:
Tam Bảo đạo đồng, chẳng phân giới hạn.
Mười phương Tam Bảo đều là một Tam
Bảo. Quy y Tăng là quy y trọn khắp mười phương
Tăng, chẳng phải là đệ tử của riêng một
ai, nên nói là “quy y hết thảy Tăng”. Chẳng qua, kính cẩn
hướng về một vị Tăng, quyền biến
[coi vị Tăng ấy] đại diện toàn bộ chư
Tăng truyền trao quy y mà thôi; trọn chẳng phải là
hướng về vô lượng vô biên pháp sư, xin đều
được lănh thọ quy giới từ mỗi vị!
* Hỏi:
Tam Tạng kinh điển là do một ḿnh Huyền Trang
đại sư dịch, hoặc do các vị cao tăng khác
chung sức phiên dịch mà thành? (Đường
Quế Lan hỏi)
Đáp:
Tam Tạng mênh mông, chẳng phải là một người dịch,
cũng chẳng phải là dịch cùng một lúc. Đă thế
một kinh lại có nhiều người phiên dịch. Pháp
sư Huyền Trang đời Đường chẳng qua
dịch nhiều và tinh xác hơn các vị dịch giả
khác, hành tŕnh thỉnh kinh của Ngài càng khổ sở hơn
nữa!
* Hỏi:
Diêu Tần Tam Tạng pháp sư Cưu Ma La Thập có phải
là Huyền Trang đại sư hay không? Hay là một vị
cao tăng khác? (Đường
Quế Lan hỏi)
Đáp: Ngài
Cưu Ma La Thập là người đời Diêu Tần thuở
mười sáu nước[6] cuối đời Tấn. Ngài Huyền
Trang là người đời Đường, triều đại
khác nhau, sao lại lầm lẫn là cùng một người?
* Hỏi:
Có phải Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ
Môn Phẩm gọi tắt là kinh Pháp Hoa hay không? (Đường Quế Lan
hỏi)
Đáp: Cũng
chẳng phải là không thể gọi tắt như thế,
nhưng thiếu viên măn. Bởi lẽ, nội dung kinh Pháp
Hoa có tất cả hai mươi tám phẩm. Phẩm Phổ
Môn là một trong số đó. Nếu chỉ là một phẩm
mà gọi bằng tên gọi của toàn thể sẽ giống
như rặng Tung Nhạc có ba mươi sáu ngọn, nhưng
chỉ gọi một ngọn là Tung Sơn th́ cũng chẳng
phải là không được, nhưng ư nghĩa chẳng
viên măn vậy!
* Hỏi:
Có người giải thích “tiêu
nha, bại chủng” (mầm cháy, hạt giống hư
lép) là lời thí dụ cho sự liễu thoát sanh tử, đúng
là lời lẽ tốt đẹp, chẳng phải là
lời quở trách, lại c̣n lời lẽ hay khéo muôn
đời! Hiểu như vậy có đúng hay không? Nếu
không, há Phật lại đành ḷng có lời lẽ mắng
chửi người khác dữ dằn như thế? (Ngô Minh Côn hỏi)
Đáp: Hiểu
chẳng đúng! Chữ Nha (芽) và
Chủng (種) trong câu
ấy chính là “đạo
chủng” (hạt giống đạo) và “giác nha” (mầm giác), cứ xét theo ngữ khí sẽ
biết, quyết chẳng phải là dùng Nha và Chủng để
nói về phiền năo vô minh. Phải xét theo văn cảnh
th́ mới chẳng hiểu lầm ư nghĩa. Từ ngữ
ấy nói rơ: Do kẻ ấy chẳng truyền Bồ
Đề đại đạo, nên giống như mầm
bị cháy khô, hạt giống mục nát, đến nỗi
Bồ Đề đại đạo cũng do kẻ ấy
mà bị đoạn dứt. Cho nên mới có lời than thở
cảm khái ấy, chẳng phải là lời lẽ ác nghiệt,
mắng chửi độc địa. Nếu hiểu là liễu
sanh thoát tử th́ Phật và Bồ Tát đều đă liễu
thoát sanh tử, sao chẳng đều gọi là “tiêu nha, bại chủng”?
* Hỏi:
Phật giáo đồ thờ tượng Phật in trên giấy,
do túng ngặt, chẳng thể lồng gương để
bảo vệ, lâu ngày bụi bặm, cũ kỹ chẳng kham,
lại c̣n rách nát, thiếu vẻ tôn nghiêm, đổi lấy
tượng mới, th́ tượng cũ nên xử lư ra
sao? Hỏa thiêu có được hay không? (Lâm Cẩm Sanh hỏi)
Đáp: Tượng
Phật phủ bụi, cũ kỹ, có thể hỏa thiêu,
nhưng phải chọn chỗ đất sạch để
hỏa thiêu. Thiêu xong, bỏ tro xuống chỗ có ḍng chảy
sạch sẽ là tốt nhất. Nếu không, cũng nên chọn
chỗ sạch sẽ trong rừng núi để chôn. Nói
chung, khỏi bị ô uế là được!
* Hỏi:
Nho gia có câu “bất hiếu
hữu tam, vô hậu vi đại” (Bất hiếu có ba điều,
không có hậu duệ là lớn nhất). Nếu là người
xuất gia, chẳng phải là vô hậu ư? Xin hỏi “hữu tam” là ba thứ như
thế nào? [Xin chỉ dạy] để làm [tài liệu]
tham khảo cũng rất nên! (Châu
Ấu hỏi)
Đáp:
Pháp thế gian và xuất thế gian có xu hướng
bất đồng, tự nhiên quan điểm khác biệt.
Pháp thế gian coi cúng tế, chưng thường[7] v.v... để báo đáp ân đức tổ
tiên là hiếu. Điều ấy được gọi là “thận chung truy viễn”[8], hễ không có hậu duệ, ắt huyết
thực[9] chấm
dứt. Pháp xuất thế coi chứng đạo, đắc
thần thông v.v... để độ người đă
khuất siêu thoát là hiếu. Điều này được
gọi là “cửu tổ siêu
thăng” (tổ tông chín đời siêu thăng). Có đạo
quan trọng hơn có hậu duệ. Vả nữa, người
xuất gia cũng chẳng nhất thiết là không có hậu
duệ. Không có hậu duệ chỉ là người xuất
gia từ lúc thơ ấu (đồng chân xuất gia). C̣n
như Nho gia nói “bất hiếu
hữu tam” th́ tra cứu sẽ là ba mối “a ư khúc tùng, hăm thân bất
nghĩa” (chẳng hiểu ư để làm vui ḷng cha mẹ,
thường trái nghịch, khiến cho cha mẹ mang tiếng
bất nghĩa), “gia bần
thân lăo, bất vi lộc sĩ” (nhà nghèo, cha mẹ già, không
có nghề nghiệp ổn định hoặc công danh để
đem lại no ấm cho cha mẹ), “vô thú, vô tử, tuyệt tiên tổ tự” (chẳng
cưới vợ, không có con cái, đến nỗi không có nối
tiếp ḍng giống).
* Hỏi:
Tôi tuy là đệ tử Tam Bảo, nhưng con cái vẫn
tuân theo thói đời. V́ nhà cửa hư dột, tính sửa
chữa, vật liệu cũng đă chuẩn bị đầy
đủ, chẳng thể chần chừ, nhưng trong nhà
có một đứa con gái đang mang thai, người nhà bảo
nó “động thổ sợ có hại cho thai”. Nó lại
sanh năm Ngựa, năm nay sanh nở chẳng được
tốt lắm. V́ thế, hiện thời tiến thoái lưỡng
nan, xin cụ hăy từ bi chỉ dạy mấy câu, khiến
cho chúng tôi có thể an tâm động thổ? (Trần Từ Dung hỏi)
Đáp: Chỗ
ở khởi sự xây cất lớn sợ sẽ có chấn
động; v́ thế, thai phụ hăy nên lánh đi. Nếu
việc xây cất quá cần kíp, có thể chuyển thai phụ
sang nơi khác rồi mới xây cất sẽ chẳng trở
ngại ǵ. Đấy là biện pháp vẹn toàn đôi đàng.
C̣n như người sanh năm Ngựa, năm nay sẽ
khó sanh, đó là [lời đoán định] xuất phát từ
thuật Âm Dương Ngũ Hành, hễ tin bèn có, chẳng
tin sẽ chẳng có! Người có đức sẽ vượt
qua. Kẻ thiếu đức có thể bị trở ngại.
Cư sĩ có thể khuyên cô ta lúc thảnh thơi hăy niệm
thánh hiệu Quán Âm, lại c̣n hành kiêng giết, phóng sanh, chắc
chắn mẹ con sẽ được b́nh yên!
* Hỏi:
Tôi nghĩ vũ trụ có luật tự nhiên, tạm gọi
nó là “luật tự nhiên”. Luật tự nhiên bao gồm sự
sanh khởi của vũ trụ, sự sanh diệt của
vạn vật, cho đến Phật bất sanh bất
diệt đều do luật tự nhiên trong vũ trụ sai
khiến. Vũ trụ có nghĩa là vô lượng tam thiên
đại thiên thế giới. Vạn vật có nghĩa là
hữu t́nh chúng sanh và vô t́nh khí thế giới. (Lưu Định Nhất hỏi)
Đáp: Trước
khi trả lời thư của cư sĩ Lưu Định
Nhất, tôi phải tŕnh bày mấy lời cho dễ nói. Bởi
những điều nói trong thư ông thiên về chuyện huyền
hư lại quá rộng, nếu ắt phải giải thích
cặn kẽ, cố nhiên chẳng phải là chuyện có thể
nói trong vài câu được, nhưng sợ ông hoài nghi nên tôi
biện định. Phật học và triết học có một
điểm khác biệt lớn, tức là triết học dựa
vào suy tư trừu tượng, Phật học từ thể
nghiệm mà có. Phật học cũng có điểm khác biệt
với khoa học, khoa học chấp trước “có, không,
hư, thật” trong hiện tiền, c̣n Phật học viên
thông, chẳng chấp trước một thời điểm,
một hiện tượng. Đối với hai chữ Tự
Nhiên, nếu hiểu là một khái niệm trong Phật học
th́ cũng chẳng phải là không được, nhưng nếu
toàn bộ đều quy về tự nhiên th́ không được!
Phật học nói “Như Như Chân Không”, do duyên sanh mà có.
* Hỏi:
Luật tự nhiên trong vũ trụ có trước Phật,
chỉ có Phật là triệt để thấu hiểu luật
tự nhiên, c̣n những kẻ khác chẳng thông đạt rốt
ráo, Phật cũng do nương theo luật tự nhiên
trong vũ trụ mà thành Phật? (Lưu Định Nhất hỏi)
Đáp: Đối
với chuyện này, xin hăy đọc kỹ câu trả lời
trên đây.
* Hỏi:
Phật là sản phẩm tối hậu viên măn nhất, cao
nhất của luật tự nhiên trong vũ trụ. Phật
chẳng có danh xưng, gọi là Phật th́ đă là chẳng
có ư nghĩa viên măn, Phật là muôn điều đều rỗng
rang, muôn điều đều có, không ǵ chẳng thể, mà
cũng chẳng thể làm được điều nào! (Lưu Định Nhất
hỏi)
Đáp: Nói
phương tiện th́ hết vô minh là Phật, chẳng
qua là trở về cái chân thật vốn có mà thôi, trọn
chẳng phải là sản phẩm tối hậu! Đối
với những điều khác [như ông đă nói] th́ hữu
danh là Quyền, vô danh là Thật; nhưng nếu không có Thật,
làm sao có thể nói là Quyền? Nếu không có Quyền, làm
sao có thể hiển Thật? Phật pháp nói Có hay nói Không đều
nhằm phá chấp trừ bệnh mà lập. Nếu không có
nhân mà đột nhiên nói Có hay Không th́ sẽ là không có đích
ngắm mà vẫn buông tên vậy!
* Hỏi:
Sau khi Thích Ca Mâu Ni Phật giáng sanh, cơi đời biết có
Phật, nhưng cơi đời trước đó cũng có
Phật, chỉ là con người chẳng biết đó thôi,
hay tuy biết nhưng chẳng gọi là Phật? (Lưu Định Nhất
hỏi)
Đáp:
Kinh dạy “mười
phương ba đời hết thảy chư Phật”.
Đă nói là ba đời th́ trước trước, sau sau,
trần sa lại c̣n có trần sa Phật. C̣n như nói chẳng
gọi Phật là Phật, đó là thuộc về vấn
đề danh tướng! Đă nói là biết th́ gọi Như
Lai, hay Minh Hạnh Túc v.v... đều tùy thuộc mười
phương để nói, trên thực tế vẫn là như
nhau mà thôi!
* Hỏi:
Pháp do Thích Ca Mâu Ni Phật nói được gọi là Phật
pháp, nhưng thế gian trước đó đă có Phật pháp,
chẳng gọi là Phật pháp, Phật pháp là luật tự
nhiên trong vũ trụ. (Lưu
Định Nhất hỏi).
Đáp: Trừ
câu luật tự nhiên ra, những điều khác có thể
xem câu trả lời trong phần trước.
* Hỏi:
Phật pháp không ngằn, không mé, v́ vũ trụ không ngằn,
không mé, pháp do đấng Thích Ca đă nói khi Ngài trụ thế
có thể là đă trọn chẳng giảng toàn bộ luật
tự nhiên trong vũ trụ. (Lưu
Định Nhất hỏi).
Đáp: Kinh
Phật có nói: Công đức khen ngợi một đức
Phật, nhiều kiếp c̣n nói chẳng trọn, làm sao
trong bốn mươi chín năm đức Phật có thể
nói trọn hết các pháp nhiều như số vi trần? Nhưng
hăy chớ nên câu nệ, như nhét núi Tu Di vào trong hạt cải,
đă nhét được núi th́ cỏ, cây, đất, đá,
chim, thú, rồng, rắn, mây, ráng, suối, thác, vàng, bạc,
trân bảo, há chẳng bao gồm trong ấy ư? Hiểu
rơ điều này, bảo là đức Thế Tôn đă nói
trọn hết thảy các pháp cũng chẳng phải là không
được!
* Hỏi:
Khoa học của người đời là một bộ
phận của luật tự nhiên trong vũ trụ. Phật
pháp bao gồm khoa học; v́ thế, Phật pháp là khoa học.
Nhưng khoa học hiện tại vẫn c̣n rất kém cỏi,
khoa học càng phát triển, Phật pháp càng rạng rỡ,
đúng không? (Lưu Định
Nhất hỏi)
Đáp: “Khoa
học càng phát triển, Phật pháp càng rạng rỡ”, kẻ
hèn này tán đồng lời ấy.
Hỏi: Phật
pháp không bờ, không mé, nhưng cũng chẳng thể chuyên
cậy vào h́nh thức của Phật giáo để tiếp
tục hoằng dương. Phật pháp ở một mức
độ khá cao sẽ chẳng thể dùng ngôn ngữ, văn
tự để h́nh dung. Phật pháp cũng có thể dùng
phương thức vượt ra ngoài kinh Phật
để độ sanh rộng lớn. Ngoài Tam Tạng mười
hai bộ kinh ra, khí giới (thế giới) này đă c̣n có
thể có Phật pháp th́ các thế giới khác cũng phải
nên có những loại Phật pháp khác. (Lưu Định Nhất hỏi)
Đáp: H́nh
thức của Phật giáo chính là nghi tiết, như thường
nói “ba ngàn oai nghi, tám vạn
tế hạnh”, chưa thể nào bỏ được.
Nói đến chuyện hoằng pháp, trọn chẳng phải
là chuyên cậy vào những thứ ấy. Tứ Nhiếp, Lục
Độ, các thứ phương tiện, há có h́nh thức
nhất định; chủ yếu là phải khế hợp
căn cơ của mọi người! Chỉ cần khế
lư lẫn khế cơ, ngũ dục, lục trần đều
là công cụ để hoằng pháp, nhưng cũng có người
ưa thích h́nh thức của Phật giáo, há có thể gạt
bỏ chẳng dùng ư? C̣n như ông nói dùng các phương
pháp ngoài kinh Phật để độ sanh trên một mức
độ rộng lớn, tôi chẳng biết ông nói những
phương pháp vượt ra ngoài kinh Phật nhằm chỉ
điều ǵ. Nếu có thể dùng phương pháp vượt
ra ngoài kinh điển mà độ chúng sanh về nẻo giác
th́ cũng chẳng phải là không được. Nếu dùng
phương pháp vượt ngoài kinh điển mà dẫn
chúng sanh hướng ra ngoài kinh th́ phương pháp ấy liên
can ǵ với Phật pháp? [Ông nói]: “Đời khác phải có
Phật pháp khác”, [đúng là] đời khác có Phật khác, bèn
có Phật pháp, nhưng Phật Phật đạo đồng,
trọn chẳng thể nói là khác được! Nếu khác,
sẽ chẳng phải là Phật pháp! Như trăng tṛn ngày
Rằm tháng Giêng và trăng ngày Rằm tháng Hai, tháng Ba cho đến
trăng Rằm tháng Mười Một, Mười Hai, không
ǵ chẳng đều tṛn đầy. Nếu có lúc nào mặt
trăng biến đổi thành h́nh tam giác sẽ là t́nh trạng
kỳ quái, bất thường vậy!
* Hỏi:
Chẳng biết chữ, chẳng biết đến kinh cũng
có thể thành Phật. Nghiên cứu thông suốt kinh sách thế
gian và Phật giáo cũng chẳng nhất định sẽ
có thể thành Phật. [Như vậy th́] chẳng phải là
Phật giáo đồ bèn có thể thành Phật, ai ai cũng
có thể thành Phật. Nhưng cần phải mong sớm ĺa
khỏi nỗi khổ luân hồi, hay là phát tâm niệm
Phật sẽ chắc ăn hơn? Pháp môn Tịnh
Độ thù thắng, nhưng niệm Phật (念佛) khác với niệm Phật (唸佛) ư? (Lưu
Định Nhất hỏi)
Đáp: “Chẳng
biết đến kinh cũng có thể thành Phật”, kinh là
pháp lư giác ngộ, chẳng cầu giác làm sao có thể thành
chánh giác? “Nghiên cứu kinh chẳng nhất định sẽ
có thể thành Phật”, đây là cái lỗi kể chuyện
ăn, đếm của báu. “Chẳng phải là Phật giáo
đồ cũng có thể thành Phật”, tụng lời Phật,
hành theo giáo pháp của Phật th́ là tín đồ nhà Phật.
Chẳng tin lời Phật, làm chuyện trái nghịch, sẽ
chẳng phải là tín đồ nhà Phật. Nếu trái nghịch
Phật, chính là đă trái nghịch giác, xuôi theo trần lao mà
có thể thành Phật, hóa ra trồng đậu mà được
dưa ư? “Niệm Phật khác với niệm Phật”,
niệm (念) thuộc
ư nghiệp, c̣n niệm (唸)
thuộc về khẩu nghiệp. Học Phật là tam nghiệp
thanh tịnh, sao lại giữ lấy một điều
(tức khẩu nghiệp), bỏ sót hai điều kia (thân
nghiệp và ư nghiệp)!
* Hỏi:
Con người chẳng dễ ǵ biết rơ căn nguyên (hoặc
c̣n gọi là căn khí) của chính ḿnh, tức là [chẳng
biết rơ] đời quá khứ như thế nào, bản
thân ḿnh vốn là như thế nào, cho đến thoạt đầu
từ đâu mà tới? Người ta hay nói “trở về
quê nhà”, quê nhà của con người ở nơi đâu? (Lưu Định Nhất
hỏi)
Đáp:
Tu đắc Túc Mạng Thông sẽ biết đời quá
khứ. “Người ta hay nói trở về quê nhà”, “người”
[ở đây] là nói tới phàm phu hay thánh nhân? Phàm phu tâm tánh mê
hoặc, điên đảo, lời họ nói chẳng đáng
để noi theo! Xét theo học Lư để nói, hồng trần,
ba cơi, vô minh đều gọi là nhà, đều phải giải
thoát. Nói phương tiện th́ Chân Như bổn tánh giả
gọi là “quê nhà”. Muốn trở về nhà th́ chỉ có một
ḿnh đức Phật triệt để hiểu biết
Chân Như, phàm phu chẳng liễu giải mảy may!
* Hỏi: Thành Phật là
như thế nào? Thành người là như thế nào? Thành
ma quỷ như thế nào? Tuy đều tuân theo luật tự
nhiên trong vũ trụ mà thành, nhưng v́ sao mà thành, tôi chẳng
thể hiểu! (Lưu
Định Nhất hỏi).
Đáp: Phật
là do đoạn hết Kiến Tư, Trần Sa, vô minh,
tự hành, giác tha, giác hạnh viên măn mà thành. Người do
thiện ác hỗn tạp, nghiệp lực dẫn dắt đầu
thai, thọ báo. Ma là mê đắm các thứ dục, chẳng
nghĩ đến giải thoát, nên bị đọa lạc.
Qua lời đáp ở đây liền biết [những cảnh
giới ấy] đều chẳng phải là tự nhiên vậy!
Nói thêm:
Qua lời lẽ của cư sĩ, xét thấy vẫn c̣n
tôn sùng Phật. Hăy nên biết “Phật
pháp vô nhân thuyết, tuy trí mạc năng giải” (Phật
pháp không có người giảng nói, dẫu là kẻ có trí vẫn
chẳng thể hiểu). Nếu cậy vào suy nghĩ cá nhân
để ḍ lường Phật pháp, đúng là dùng bầu để
đong biển, dẫu có trí huệ như Ái Nhân Tư Thản
(Einstein) mà chẳng nghiên cứu sâu xa th́ vẫn chẳng thể
hiểu được! Câu nói “học
nhi bất tư tắc vơng, tư nhi bất học tắc
đăi” (học mà chẳng nghĩ sẽ lầm loạn,
nghĩ mà chẳng học th́ nguy lắm thay!) của Khổng
Tử đúng là danh ngôn. Mong quư cư sĩ hăy tham phỏng
bậc cao tăng, đọc kỹ kinh điển nhà Phật,
mấy năm sau sẽ đạt được lợi lạc.
* Hỏi:
Pháp vận của Phật chia thành Chánh Pháp một ngàn năm,
Tượng Pháp một ngàn năm, Mạt Pháp một vạn
năm là tính từ khi nào? Chánh Pháp, Tượng Pháp và Mạt
Pháp khác nhau ra sao? (Khoan Châu hỏi)
Đáp: Ông
đă rộng ḷng hỏi về khởi điểm để
phân chia từng thời kỳ trong Phật pháp th́ [câu trả
lời] là tính từ lúc Phật diệt độ. Chánh có
nghĩa là chân xác, pháp nghi chưa thay đổi, có giáo, có hành,
chứng quả vừa dễ lại nhiều. Tượng
(像) có nghĩa là tương tự, đạo
dần dần sai ngoa, chứng quả khó khăn lại ít ỏi.
Mạt (末) nghĩa là suy vi,
có giáo, thiếu hành, chứng quả đă càng khó mà lại c̣n
ít ỏi.
* Hỏi:
Trước khi Thích Ca Thế Tôn giáng sanh, pháp vận là ǵ,
chúng sanh có Phật pháp để học hay chăng? (Khoan Châu hỏi)
Đáp:
Trước khi Thích Tôn giáng sanh, lúc ấy trọn chẳng
có Phật pháp. Bởi lẽ, pháp của đức Phật
trước Ngài sau khi đă trải qua các thời kỳ Chánh
Pháp, Tượng Pháp, Mạt Pháp, pháp như mặt trời
đă lặn, nên gọi là thời Diệt Pháp, ư nói vũ
trụ rất tối tăm, chúng sanh chẳng thấy quang
minh, chẳng nghe Phật pháp.
* Hỏi: Cơi nước
của Thích Ca Mâu Ni Phật ở phương nào, có tên là thế
giới ǵ? (Thái Thế Phương
hỏi)
Đáp: Chính
là phương này, có tên là thế giới Sa Bà.
* Hỏi: Vi Đà có phải
là thiên thần hay không, v́ sao Ngài vũ trang toàn thân? (Thái Thế Phương hỏi)
Đáp: Vi
Đà[10] tuy hiện tướng thiên thần, nhưng
Ngài cũng là Bồ Tát v́ hộ tŕ Phật pháp mà hóa hiện.
* Hỏi:
Căn cứ theo sách Phật đă chép, kinh Tiểu Thừa
là do sau khi đức Phật diệt độ, các môn đồ
đă dựa vào trí nhớ của người nghe để
rút ra những điểm chánh yếu mà soạn thành. Lại
sau khi đức Phật đă diệt độ mấy trăm
năm, đối với những kinh điển mới
nhằm thích ứng với trào lưu thời đại, các
vị đại đức xác định chúng phù hợp
với bổn ư đức Phật bèn biên soạn thành kinh Đại
Thừa, mỗi bộ đều dùng câu “như thị ngă văn, nhất thời Phật
tại mỗ xứ thuyết pháp” (tôi nghe như thế
này, một thời đức Phật ngự tại chỗ
nào đó để thuyết pháp) để quy về Phật.
Do vậy, xét ra, kinh Đại Thừa chẳng do đức
Phật nói; tức là các vị Phật, Bồ Tát đă nói
trong kinh [Đại Thừa] chưa chắc đă là những
vị có thật! (Thái Thế
Phương hỏi)
Đáp: Cư
sĩ nói “sách Phật” là nói đến
những kinh sách do chính đức Phật nói đó chăng?
Hay là nói đến những tác phẩm do các vị Bồ
Tát trần thuật ư chỉ của Phật bèn soạn thành
luận đấy chăng? Hay là nói đến những sách
khảo cổ do các bậc danh sĩ thế trí biện thông
trước tác? Giới tuyến chẳng rơ ràng, chẳng
tránh khỏi nghi ngờ! Đối với hai loại sách
trước, tôi chẳng dám phản kinh, ĺa đạo,
khinh nhục lời lẽ của bậc thánh nhân, để
rồi dám bàn định xằng bậy! Nếu cư sĩ
nói đến loại sách sau cùng th́ cái trí và học vấn
của những kẻ ấy vẫn chưa thể vượt
trội các vị hiền nhân La Thập, Huyền Trang, tôi thật
sự chẳng dám tin tưởng! Đă chẳng tin lời
họ, ắt chẳng cần phải thảo luận nữa,
nhưng chẳng thể nào không kính cẩn thưa cùng quư cư
sĩ: Đối với người sơ cơ, các thứ
học vấn vẫn chưa trọn đủ, mà trước
hết đă phỉ báng Đại Thừa, sợ rằng
sẽ chẳng có nền tảng phước huệ. Ông có
biết hai vị Thiên Thân và Vô Trước hay chăng? Xin hăy
tra đọc, nghiên cứu sách vở để [lấy hai
Ngài ấy] làm gương th́ may mắn lắm thay!
* Hỏi:
Có phải là trong tam thiên đại thiên thế giới có vô
số thế giới Sa Bà, Đao Lợi Thiên v.v... hay không?
(Thái Thế Phương
hỏi)
Đáp: Đao
Lợi Thiên là một cơi trời trong một đơn vị
thế giới. Một ngàn đơn vị thế
giới gọi là một tiểu thiên, một ngàn tiểu
thiên gọi là trung thiên, một ngàn trung thiên gọi là đại
thiên. Tính toán một đại thiên như vậy, tự
nhiên trong ấy sẽ có một số lớn các tầng trời
Đao Lợi.
* Hỏi:
Sách Phật có nói lúc lâm chung, nếu là kẻ ác phải đọa
địa ngục, sẽ thấy binh sĩ cầm đao,
khiên, mâu, kích, dây trói vây kín v.v... không biết binh sĩ do người
ở phương nào sai đến? (Thái Thế Phương hỏi)
Đáp: Điều
này cũng rất khó nói, bởi Phật pháp giảng
luận chú trọng khế cơ nhưng chẳng trái Lư. Kẻ
sơ học chỉ nên tin tưởng chuyện ấy là được
rồi. Đối với người đă thâm nhập, tự
nhiên sẽ nói kèm thêm Lư với họ. Sự và Lư cùng viên
dung bèn thuộc về chân tướng. Đối với câu
hỏi này, đáp theo mặt Sự th́ [những binh sĩ ấy]
do vua Diêm La sai đến, c̣n nói theo Lư th́ do tự tâm biến
hiện.
* Hỏi:
Theo rất nhiều người nói, mấy tháng trước,
chùa X... khi tổ chức truyền Ngũ Giới, [người
xin thọ giới] phải ở chùa ấy năm ngày (ban
ngày lẫn ban đêm đều phải ở nơi ấy,
chẳng được rời khỏi), do đó, những
người làm công chức, giáo viên, hoặc thợ thuyền
ăn lương công nhật không có cách nào thực hiện
được. Xin hỏi làm như vậy có ổn thỏa,
thích đáng hay không? Hay là c̣n có phương pháp khác ứng
phó giản tiện hơn? Xin hăy phiền ban lời chỉ
dạy. (Liêu Tăng Long
hỏi)
Đáp: Đấy
cũng là ư thận trọng. Đối với người
do t́nh h́nh đặc biệt chẳng thể tham gia dài ngày
th́ trước đó phải nói rơ, thỉnh cầu [nhà chùa]
phương tiện cũng chẳng phải là không được!
Nhưng [người thọ giới] chẳng nói th́ ai có thể
biết người nào bận bịu hay rảnh rỗi; v́
thế, chẳng tránh khỏi có chuyện trở ngại.
* Hỏi:
Kim Cang Khoa Nghi Bảo Quyển có phải là kinh sách Phật
giáo hay không? Nếu chẳng phải, sẽ là tả
đạo, xin hăy chỉ dạy rơ nguyên do? (Phương Tích Hoa hỏi)
Đáp: Kim
Cang Khoa Nghi Bảo Quyển chính là đem các phần của
kinh Kim Cang thêm vào kệ tụng cùng với những lời
cơ phong, dùng pháp khí tấu lên, xướng niệm, nhằm
nghe cho sướng tai, là sách dùng trong ứng phó kinh sám Phật
sự. Cố nhiên người thật sự cầu mong tu
tŕ và nghiên cứu kinh giáo chẳng cần đọc tụng
[sách ấy]. Nhưng những kệ tụng và khai thị
thêm vào, phần nhiều trích từ ngữ lục nhà Thiền,
chắc là do người tinh thông Phật lư biên soạn, nên
vẫn chẳng phải là sách vở của tả đạo.
* Hỏi:
Liên quan đến những câu chuyện trong tác phẩm Thế
Tôn Thị Hiện Đồng Nhân Pháp (bản in lần đầu
vào tháng Mười Một năm Dân Quốc 12 (1923), do Thượng
Hải Y Học Thư Cục xuất bản, không rơ tác giả)
và sách Tam Tạng Pháp Số (quyển thứ hai) trích theo Thụy
Ứng Kinh và Phiên Dịch Danh Nghĩa th́ kinh nói Thái Tử cưới
ba phi tử vào năm mười bảy tuổi nhằm thị
hiện giống với phàm nhân. Một phi tử là Địch
Di, tiếng Phạn là Địch Di, tiếng Hán là Minh Phi Nữ,
cha tên là trưởng giả Thủy Quang. Ngày sanh người
con gái ấy, mặt trời sắp lặn, ánh chiều tà
chiếu vào nhà sáng rực, nên đặt tên là Địch
Di, đấy là phi tử thứ nhất của Thái Tử.
Phi tử thứ hai là Da Thâu, tiếng Phạn là Da Thâu Đà
La, tiếng Hán là Mỹ Sắc, là phi tử thứ hai của
Thái Tử, tức mẹ của La Hầu La. Cha tên là trưởng
giả Di Thí. Phi tử thứ ba là Lộc Dă, Lộc Dă là phi
tử thứ ba của Thái Tử. Cha tên là Thích trưởng
giả. Những chuyện như thế, kiểm trong bộ
Thích Ca Mâu Ni Phật Truyện của pháp sư Tinh Vân và theo
Thích Thị Gia Phổ th́ Da Thâu Đà La là công chúa của đại
vương Thiện Giác, thuộc bộ tộc Câu Lợi,
chúa thành Thiên Tư. So sánh giữa hai phương diện, khó thể
biện định rơ thuyết nào đúng, thuyết nào sai.
Do trong hiện thời đang là lúc tà giáo, ngoại
đạo hưng thịnh, Phật giáo đồ chánh tín chúng
ta có trách nhiệm hộ giáo trọng đại, cầu xin
bậc đại sĩ hăy chỉ giáo về những bộ
sách tường thuật sự tích ấy. (Phương Tích Hoa hỏi)
Đáp: Điều
này thuộc về ngành khảo cứu học, chắc là đôi
bên đều có căn cứ, quyết chẳng phải là
tùy tiện nói này, nói nọ. Trong lời hỏi của Ngài đă
dẫn chứng kinh Thụy Ứng, tức là đă có một
chứng cứ, c̣n thuyết của pháp sư Tinh Vân ắt
cũng có kinh để làm chứng. Như chuyện đức
Phật xuất gia vào tuổi nào, các kinh ghi chép khác nhau, xét đến
nguyên nhân sai khác ở chỗ nào, cho đến hiện thời
năm tháng đă lâu xa, mờ mịt, chắc là có một
thuyết bị sai lệch. Nếu xét coi ai đúng, ai sai, cần
phải là bậc học giả tinh thông lịch sử, phổ
hệ, so sánh, suy lường th́ mới ḥng gần đúng
với sự thật. Nếu chẳng thể khảo sát dựa
trên lịch sử, mà bảo là đúng, hay phán định là
sai, đều chưa đủ sức thuyết phục!
Kẻ hèn này chẳng thông hiểu lịch sử Ấn Độ,
nên chẳng thể trả lời câu hỏi do Ngài đă rộng
ḷng hỏi tới. Xin hăy rộng dung.
* Hỏi:
Như Tịnh Độ phải Tin, tham Thiền phải
Nghi, như “phiền năo tức Bồ Đề”, lại
bảo “niệm Phật sanh sang thế giới Cực
Lạc”, đức Phật lại nói: “Phải thường trụ địa ngục, trang
nghiêm địa ngục”. Những câu ấy trong các sách
vở Phật học khá mâu thuẫn, dễ khiến cho kẻ
mới học mê hoặc, xin hăy giải thích. (Cố Canh Đồng hỏi)
Đáp: Chúng
sanh có tám vạn bốn ngàn bệnh, Phật có tám vạn
bốn ngàn pháp, pháp giống như thuốc. Bệnh đă
khác nhau, thuốc làm sao giống nhau cho được? Cần
phải biết, nhân sâm, hoàng kỳ[11] là vị thuốc tốt, có thể trị
bệnh. Hồng phàn[12], bạch tỳ[13], độc thạch[14] cũng có thể trị bệnh. Dùng đúng
bệnh th́ hồng phàn, bạch tỳ chính là tiên đơn;
dùng sai, nhân sâm, hoàng kỳ cũng thành giết người.
Thuốc cần phải đúng với chứng bệnh, pháp
cần phải khế cơ. Hiểu rơ điều này, sẽ
biết Phật pháp trọn chẳng mâu thuẫn. “Phiền năo tức Bồ
Đề” nhằm nói với kẻ đă thấu hiểu
sâu xa lẽ đạo, “thường
trụ địa ngục” nhằm nói với bậc đă
chứng nhập. Kẻ mới học, c̣n chưa hiểu
rơ giáo tướng rơ ràng, làm sao có thể tránh khỏi mê hoặc?
Chỉ cần chịu cầu tiến, lâu ngày sẽ tự
hiểu rành rẽ. C̣n như Tịnh phải Tín, Thiền
phải Nghi, ở đây tôi nêu một thí dụ. Ví như có
người từ Đài Nam muốn đến miền
Trung, phải đi theo hướng Bắc. Kẻ từ Đài
Bắc muốn xuống miền Trung, phải theo hướng
Nam. Đều đến Đài Trung, nhưng kẻ Nam người
Bắc theo phương hướng khác nhau, do điểm
khởi đầu [khác nhau] mà thành ra như thế, nhưng
cùng đạt tới một chỗ, đó gọi là “quy nguyên vô nhị lộ, phương
tiện hữu đa môn” (trở về nguồn chẳng
hai đường, phương tiện có nhiều môn) vậy!
* Hỏi:
Người học Phật giống như chơi cờ vây[15], có phải là tâm động sát cơ (dấy
lên ư niệm giết chóc), tham giành phần thắng hay không?
(Cố Canh Đồng hỏi)
Đáp: Sát
cơ hay chẳng phải là sát cơ, hăy khoan bàn tới. Cái
tâm chơi cờ vây là chơi cờ, chẳng dính dáng ǵ đến
chuyện tham chiếu thoại đầu hay tịnh
niệm tiếp nối!
* Hỏi:
Trong lịch sử Phật giáo, đối với những
sự tích tán trợ khiến quốc gia xă hội hưng
thịnh, xin hăy nêu một hai điều, có những sách vở
nào để tham khảo hay chăng? (Cố Canh Đồng hỏi)
Đáp: Chuyện
này chẳng thể nói vài câu là xong được! Bất đắc
dĩ, chia thành bản chất và sự kiện để nói.
Trước hết, nói về bản chất, kinh luật
răn dạy tín đồ bốn đầu mối lớn:
“Nhất, bất vi quốc
chế; nhị, bất lậu quốc thuế; tam, bất
báng quốc chúa; tứ, bất tác quốc tặc” (Một
là chẳng trái phạm luật lệ quốc gia, hai là chẳng
trốn thuế nước nhà, ba là chẳng hủy báng người
cầm đầu đất nước, bốn là chẳng
làm kẻ phản bội đất nước). Đấy
chính là sự tán trợ đối với quốc gia. Ông Hà
Thượng Chi[16] thời Nam Triều đă tâu với Tống
Văn Đế: “Làng quê
một trăm nhà, có mười người tŕ Ngũ Giới,
ắt mười người giữ vẹn luân thường,
cẩn trọng; một ấp ngàn nhà, trăm người giữ
Thập Thiện, ắt trăm người ḥa thuận. Ǵn
giữ nề nếp giáo hóa ấy trọn khắp thiên
hạ, ắt ức ngàn kẻ an cư[17],
người có ḷng nhân trăm vạn. Có thể hành một
điều thiện là trừ một điều ác.
Trừ một điều ác là dứt một h́nh phạt.
Một h́nh phạt chấm dứt nơi một nhà sẽ
trở thành vạn h́nh phạt chấm dứt trong cả
nước; noi theo đó, có thể ngồi yên hưởng
thái b́nh”. Đấy là sự
tán trợ đối với xă hội vậy. Nếu
luận về những sự kiện th́ chánh sử lẫn
dă sử [ghi chép] chẳng thể kể xiết. Muốn t́m
những nét chánh yếu th́ có thể tham khảo bộ sách Lịch
Sử Cảm Ứng Thống Kư.
* Hỏi:
Anh tôi là cư sĩ Trác Trí Lập vào mùa Xuân năm Dân Quốc
11 (1922) sau khi quy với tổ Ấn Quang bèn niệm Phật,
làm lành hết sức nỗ lực, tinh thần tu hành khăng
khăng chẳng mệt mỏi trải suốt ba mươi
mấy năm, rất được tổ Ấn Quang lúc sanh
tiền coi trọng. Công phu tu tập tinh chuyên, tuy chẳng
bằng các vị cao tăng xuất gia hiện thời, nhưng
so với các tại gia cư sĩ niệm Phật, chắc
là chẳng đến nỗi thua ai, mong mỏi sâu xa “Di Đà chẳng phụ kẻ
tu hành”. Tiếc là mùa Đông năm ngoái, lúc anh tôi đă về
Tây tại Đại Lục, không cách nào tránh khỏi chữ
Bệnh, lại c̣n lúc lâm chung, thần thức hơi rơi
vào trạng thái hôn mê, trọn chẳng lưu lại tuyệt
bút hay di ngôn, t́nh h́nh ấy có phải là công phu tu hành hằng
ngày chưa đủ, hay là do oan nghiệt
đời trước nặng nề? (Trác Trung Chấn hỏi)
Đáp: Không
bệnh mà mất, há có được mấy ai? Tổ sư
các tông từ xưa vẫn có vị thị hiện mắc
bệnh [lúc lâm chung], điều ấy trọn chẳng trở
ngại sự thành tựu. C̣n chuyện lâm chung nói kệ, cũng
chẳng phải là chuyện cần thiết, bắt buộc.
Chẳng bàn tới cổ nhân, ngay cả các vị cao tăng
cận đại như tổ Ấn Quang, Đế Nhàn
đại sư, Thái Hư đại sư v.v... lúc viên
tịch đều chẳng nói kệ, có ǵ đáng tiếc
hận đâu?
* Hỏi:
Thực vật có phải là hữu t́nh hay không? Cây trinh nữ
(mắc cỡ) có tri giác, cỏ bắt ruồi có thể dẫn
dụ côn trùng để nuốt mất, dường như
chẳng khác ǵ động vật. Nếu chúng thuộc về
loài hữu t́nh th́ ăn chay và ăn mặn có phải là bỏ
trâu ăn dê, xa ĺa bếp núc[18] đó chăng? (Hà Bác Nguyên hỏi)
Đáp: Cây
xấu hổ và loài cỏ bắt ruồi đều chẳng
phải là hữu t́nh. Chữ “t́nh”
chỉ tâm trạng biến đổi, như mừng, giận,
buồn, vui v.v... Cây xấu hổ, cỏ bắt ruồi, bất
quá là loài có cảm xúc nhạy bén nhất trong các loại thực
vật, điều này vẫn thuộc về quan hệ vật
lư. Những thứ giống như vậy rất nhiều:
Dùng móng tay găi lên cây tử vi, nó bèn run rẩy, chăng giây thừng
lên cây ngân hạnh nó bèn trút lá, rượu cao lương có
thể khiến cho tú cầu bị héo, khói dầu cây Đồng
có thể khiến hoa quế rụng. Lá chuối nẩy có
thể khiến sấm động, rau Quyết[19] mọc khiến vượn kêu gào. Không
chỉ như vậy, khoáng vật cũng phần nhiều
như thế, như hổ phách hút hạt cải, nam châm hút
sắt v.v... há chúng đều là hữu t́nh hay chăng?
* Hỏi:
Từ Ca Diếp Phật cho tới khi Thích Ca Mâu Ni Phật
xuất thế thành Phật, trong thời gian ấy, v́ sao
nhân loại lại phải khởi đầu từ thời
đại nguyên thủy, chẳng lẽ văn minh nhân loại
do niên đại đă lâu bèn thụt lùi ư? (Quách Gia Ninh hỏi)
Đáp: Đức
Phật ứng thế, trọn chẳng nhất định
phải bắt đầu từ thời đại nguyên
thủy. Lấy ngay Thích Ca Như Lai để nói, Ngài giáng
sanh tại Thiên Trúc, chính nhằm lúc cơi đời hưng thịnh,
mà tại Trung Quốc ở phương Đông, nhằm đời
nhà Châu, cũng gặp lúc văn hóa rạng rỡ, sao lại
lầm lạc cho là nhân loại lại phải khởi đầu
từ thời đại nguyên thủy? Đối với
câu hỏi c̣n lại, “chẳng lẽ văn minh nhân loại
do niên đại đă lâu bèn thụt lùi ư”? Hăy nên biết:
Văn minh chẳng phải chỉ có một loại, thứ
nào cũng đều như vậy; như đạo đức,
chánh trị, nghệ thuật, công nghiệp v.v... đều
là văn minh; nhưng chúng vốn là thứ này tiến, thứ
kia lùi, thứ kia tiến, thứ này thụt lùi, đó là
sự thật. Văn minh có lúc thoái hóa, có chi hiếm hoi, lạ
lùng? Thử nêu ra [một thí dụ] để giảng rơ, nước
ta thời cổ coi Thương là hạng bét trong bốn hạng
dân chúng (sĩ, nông, công, thương), họ khá bị coi thường,
nhưng năm mươi năm trước, thương
nhân giao dịch, chỉ cậy vào một lời, đă chẳng
có khế ước, mà cũng chẳng có biên nhận, nhưng
trọn chẳng có sai lầm mảy may nào! Những giai cấp
kia như Sĩ, Nông, Công cao hơn họ, càng chẳng
phải bàn nữa! Đấy là văn minh đạo
đức, c̣n hiện thời th́ sao? Đầu thời
Tam Đại, người cày nhường ruộng, kẻ
đi đường nhường lối, trở thành cơi đời
yên vui, ngục tù trống không, đấy là văn minh chánh
trị cao nhất, c̣n hiện thời th́ sao? Văn
chương của Tả, Quốc, Ban, Mă[20], chữ viết của Trứu, Tư,
Chung, Vương[21], tài vẽ của Cố, Ngô, Tào, Hàn, hậu
thế phỏng theo, ai đạt được cái thần
của họ? Đấy là văn minh nghệ thuật, c̣n
nay th́ sao? Văn minh hiện thời bất quá là chỉ thuộc
khía cạnh công nghiệp mà thôi, chỉ có bề ngoài là phồn
thịnh, tạm thời thấy là khả quan đó thôi! Há
nên chỉ thấy một mặt, coi thường những
điều khác! Cư sĩ nghi nó bị thoái hóa, tôi cho
rằng chẳng phải chỉ là thoái hóa, mà c̣n đang
bị hủy diệt. Hễ có hủy diệt sẽ có
sự tái lập từ khởi đầu!
*
Hỏi: Trong tương lai, khi Di Lặc Bồ Tát giáng
thế thành Phật, trên không trung, hỏa tiễn sẽ là công
cụ giao thông rất nhanh chóng, hay là đến lúc đó,
vẫn phải tái diễn từ nguyên thủy, nhưng
trong lúc ấy mới chỉ là kiếp thứ mười
trong Trụ Kiếp, c̣n cách Hoại Kiếp rất xa? (Quách Gia Ninh hỏi).
Đáp: Lúc
Phật giáng thế, chẳng nhất định là lại
bắt đầu từ nguyên thủy như trong phần
trên đă tŕnh bày. Ở đây, ông lại nêu ra câu hỏi
về hỏa tiễn trên không trung, tuy chẳng nói rơ,
nhưng tôi trộm nghĩ ông coi đó là văn minh tiến
hóa, chẳng phải là lại khởi đầu từ
nguyên thủy. Ở đây, tạm thời chẳng bàn
đến kiếp số, để khỏi sa vào lắm
ngơ rẽ, chỉ nói đến chuyện quá tŕnh tiến
hóa lại tái diễn. Phải biết khi văn minh
tiến hóa đến mức có bom khinh khí (H-bomb) th́ quá tŕnh
tiến hóa bắt đầu từ nguyên thủy lại
tái diễn. Đă nghĩ là sự thường th́ cũng
nên biết đến sự biến hóa của nó, hai
mắt cần phải sáng suốt vậy!
* Hỏi:
Khi chúng sanh chưa phát sanh luân hồi th́ diện mục như
thế nào? Do lẽ nào mà sanh khởi luân hồi? Tự tánh
vốn thanh tịnh, do nhân duyên nào mà đọa lạc luân
hồi? Trong tương lai, đă thoát ly luân hồi rồi
th́ c̣n có thể bị đọa lạc nữa hay không? (Lâm Hỏa Thọ hỏi)
Đáp: Bổn
lai diện mục thanh tịnh bất động, vô
thể, vô tướng. Nhất niệm bất giác bèn sanh
huyễn hữu, do mê nên vọng động, bèn có luân
hồi. Bổn lai diện mục ấy ví như vàng c̣n
trong quặng, chẳng tránh khỏi bị cát bụi phủ
lấp. Nếu trải qua tu tŕ, đoạn Hoặc,
chứng Chân, vượt thoát luân hồi, sẽ giống như
vàng được nung luyện thành các món vật, chẳng
c̣n bị phủ lấp bởi cát bụi, nên chẳng bị
đọa lạc.
* Hỏi:
Khi con người thọ mười tuổi th́ c̣n có nam nữ
hay chăng? Hiện thời con người thọ bao nhiêu
tuổi? Có phải là giảm kiếp hay chăng? (Lâm Hỏa Thọ hỏi)
Đáp: Khi
con người thọ mười tuổi th́ t́nh trạng
sinh lư của họ khi ấy khác với hiện thời.
Chẳng thể dùng cách nh́n hiện thời để định
lượng thời của họ được! Chẳng
thấy gia súc như gà, lợn, chưa đầy hai năm
đă có thể sanh nở, trùng mùa Hạ được mấy
tuần đă có thể sanh nở, há c̣n nghi nữa ư? Hiện
thời là giảm kiếp, thọ một trăm tuổi.
* Hỏi:
Hiện thời, nhục thân của Địa Tạng Vương
Bồ Tát vẫn c̣n ở tại Cửu Hoa Sơn phải
không? Nhục thân là hóa thân, đúng không? Trong lịch sử
có ghi chép Ngài xuất sanh vào triều đại nào và tại
nơi nào hay chăng? (Lâm
Hỏa Thọ hỏi)
Đáp: Nhục
thân tại Cửu Hoa Sơn là vị tỳ-kheo Cao Ly đời
Đường, là hóa thân của Bồ Tát, đến nay vẫn
c̣n, được chép tường tận trong Cửu Hoa Sơn
Chí. Ông nói đến “lịch sử” th́ là nói đến lịch
sử Trung Quốc, lịch sử Trung Quốc theo thói quen
chú trọng ghi chép [t́nh h́nh] quốc gia hưng vong và những
sự kiện chánh trị, quân sự, đối với những
chuyện khác phần nhiều chẳng thâu thập. Biên soạn
sách vở cũng thường noi theo lệ ấy.
* Hỏi:
Xin hỏi điểm giống nhau và khác nhau giữa tam giáo
Nho, Đạo, Thích, ḥng tránh khỏi cái thuyết nói bừa
tam giáo hợp nhất của người đời! (Lâm Hỏa Thọ hỏi)
Đáp: Nghĩa
lư trong giáo điển của tam giáo đều mênh mang như
khói trên mặt biển, sách biện luận của cổ
nhân cũng đầy ắp tận nóc. Cột báo này ba chữ
đôi ḍng làm sao có thể bàn thấu triệt? Chẳng làm
ǵ khác hơn là hăy đọc Tam Giáo B́nh Tâm Luận, Hộ
Pháp Luận[22], sẽ có để nắm được
đại cương.
* Hỏi: Một vị
liên hữu ăn chay trường thường ham ngủ
(có phải là ma vương đang nhiễu loạn bà ta hay
không), thường tán chuyện gẫu. Đối với hai
chuyện này, dùng cách nào để độ bà ta liễu
thoát sanh tử? (Tín Huệ
hỏi)
Đáp: Thích ngủ là tâm
hôn trầm, nói nhiều là tâm tán loạn, hai thứ ấy đều
là bệnh. Bớt ngủ chẳng phải là trong một lúc
liền có thể làm được, c̣n như ít nói th́ chính
ḿnh phải nghĩ cách. Phương cách khuyên lơn cần
phải xét đến gốc bệnh của mỗi người
để trị, không có cách nhất định nào, mà cũng
chẳng có lời lẽ nhất định nào!
* Hỏi: Có phải là Phật
giáo chớ nên xin xăm và bói quẻ hay không? V́ sao trong các chùa
miếu đều có vậy? (Tín
Huệ hỏi)
Đáp: Theo
nguyên tắc th́ trong Phật giáo chẳng nên có chuyện ấy,
nhưng trong các chùa phần nhiều đều có bày biện
là do [tập quán] đă lâu, khó thể trách ai, trong tương
lai, [chuyện này] sẽ dần dần tự tiêu diệt vậy!
* Hỏi:
Thích Ca Mâu Ni Phật Niết Bàn có bao nhiêu hạt xá-lợi? (Tín Huệ hỏi)
Đáp: Kinh
Niết Bàn nói [xá-lợi] được chia thành tám phần,
chẳng nói có bao nhiêu viên. Kinh Xử Thai chép chia thành ba phần,
Thiên Đế lấy một phần, Long Vương lấy
một phần, c̣n lại chia thành tám phần, cũng không
nói số hạt. Về sau, vua A Dục tạo tháp, lấy
những hạt do vua A Xà Thế đă chôn, lại c̣n lấy
các hạt xá-lợi từ sáu chỗ mà nhà vua đă chôn, tạo
ra tám vạn bốn ngàn cái tháp, mỗi tháp đựng một
hạt xá-lợi. Đấy là đoạn văn ghi chép về
số lượng. C̣n có ghi chép số lượng tường
tận hơn hay không, tôi kiến thức kém cỏi nên chẳng
biết!
* Hỏi:
Có người nói: Hễ cầu cảm ứng th́ hết
thảy đều là mê tín, kẻ ấy có ư nghĩ phá sạch
phẩm Phổ Môn, Tịnh Độ, Mật Tông v.v... (Điền Đức Căn
hỏi)
Đáp: Phơi
nắng ắt nóng, uống băng ắt lạnh, [đấy
là] thân có cảm, có ứng. Nghe khen th́ vui, nghe chê bèn giận,
[đấy là] tâm có cảm, có ứng. Đó là kiến thức
thông thường, sao lại bảo là mê tín? Nếu ngay cả
kiến thức thông thường ấy cũng chẳng có
th́ mới là mê vậy. Nếu dùng quan hệ giữa con người
với nhau để sánh ví, “kính
nhân giả, nhân hằng kính chi” (kính người th́ người
khác sẽ luôn kính trọng ta). Được người khác
nhờ cậy, ắt sẽ tận hết sức lo toan,
chẳng phải là một đằng cảm, một đằng
ứng ư? Người ấy nếu chẳng thừa nhận
Phật tồn tại th́ chẳng cần nói chi nữa! Nếu
không, người c̣n có ứng, lẽ đâu Phật
chẳng thể ứng ư? Thành Thang cầu đảo nơi
rừng dâu mà trời đổ mưa trọn khắp, bà
Trưng Tại[23] cầu đảo nơi núi Ni mà sanh được
Khổng Tử, Văn Vương cho Vũ Vương ba năm
tuổi thọ, Tống Cảnh cảm sao Huỳnh Hoặc
lùi ba lượt[24], các thứ cảm ứng đều chép
trong kinh sử, nếu nói Tam Tạng lẫn Tứ Khố [Toàn
Thư] đều chẳng đáng tin th́ tuy tôi có nói ǵ đi
nữa, há đáng tin tưởng ư?
* Hỏi:
Nếu Phật tánh tách ĺa nhục thể, con người bèn
chết. Nếu chẳng tách ĺa, thân thể Tứ Đại
chẳng bị mục nát, [có phải là] kẻ ấy ngỡ
thần thức là Phật tánh [hay chăng]! (Điền Đức Căn hỏi)
Đáp: Lời
kẻ ấy nói vẫn chẳng trái lư, Phật tánh và thần
thức chẳng qua giống như mặt trời và bóng nắng.
Bóng nắng đă dời khỏi nơi đây, tức là mặt
trời cũng đă dời đi!
* Hỏi:
Đă chết th́ Phật Tánh tách rời thân thể. Nếu
chẳng tách rời, ta ăn thịt gà, vịt, Phật Tánh
cũng bị nuốt vào bụng ư? (Điền Đức Căn hỏi)
Đáp:
Chưa rơ ư câu hỏi này. Chắc là nói loài gà, vịt đều
có Phật Tánh, ăn gà, vịt v.v... th́ ngay cả Phật Tánh
của chúng cũng bị nuốt vào bụng. Nếu có ư nói
như vậy th́ trước hết tôi hỏi ngược
lại, kẻ ấy đă thừa nhận loài vật chết,
Phật Tánh bèn tách ĺa, chẳng biết kẻ ấy ăn
gà vịt v.v... bằng cách ăn tươi nuốt sống
trọn con, hay là giết nó chết, nấu, nướng rồi
mới ăn? Chắc là kẻ ấy sẽ ú ớ! Dẫu
là nuốt sống, trong thân kẻ ấy có tám vạn bốn
ngàn lỗ chân lông, làm sao Phật Tánh có thể ở trong bụng
được? Dẫu hoàn toàn dùng sơn bịt kín tám lỗ
lớn trên dưới thân và các lỗ chân thông toàn thân, chỉ
chừa lại một cái miệng, nuốt sống gà vịt,
dặn trước người khác, đợi khi nuốt
sống xong, ngay cả miệng cũng dùng sơn bịt kín
lại, tưởng như thế th́ Phật Tánh của gà,
vịt, chắc sẽ phải ở trong thân, nào biết Phật
Tánh như Kim Cang, không thứ ǵ cứng rắn có thể phá
được, vẫn giống như không!
* Hỏi:
Trong kinh Địa Tạng, Địa Tạng Bồ Tát
bạch Phật: “Con
được Phật phó chúc cho tới khi A Dật Đa thành
Phật, phổ thí hóa độ chúng sanh trong địa
ngục”. Như vậy là sau khi đức Bổ Xứ
Phật ra đời, sự hóa độ của ngài Địa
Tạng sẽ kết thúc ư? Hay là nguyện lực của
đức Thích Ca Văn Phật được đặt
giới hạn [trong khoảng thời gian kể từ khi Phật
Thích Ca ứng thế] cho tới lúc đức Từ Thị
(Di Lặc Tôn Phật) ra đời? Hiểu theo kiểu nào
th́ cũng dường như đều mang ư nghĩa trái
nghịch với thệ nguyện vô biên, xin hăy khai thị ư
nghĩa rốt ráo! (Cảnh Trường
Thọ hỏi)
Đáp: Thế
giới vô tận, chúng sanh vô tận, nguyện hạnh độ
chúng sanh của Phật, Bồ Tát cũng vô tận; đó là
nguyên tắc. Khi Phật xuất hiện, chúng sanh có căn
cơ đắc độ khá nhiều. Lúc cơi đời không
có Phật, chúng sanh có căn cơ đọa lạc khá nhiều,
nhưng sau khi đức Thích Tôn diệt độ, đức
Từ Thị chưa ra đời, nhằm lúc cơi đời
không có Phật, trong kinh, đức Phật đă phó chúc Địa
Tạng [cứu độ chúng sanh], điều ấy ở
ngoài bổn nguyện của ngài Địa Tạng, tức
là Ngài được đặc biệt giao thêm trách nhiệm
khác, trọn chẳng ảnh hưởng tới bổn
nguyện của Ngài. Thích Tôn ứng hóa, chuẩn theo nguyên
tắc trên đây, vốn cũng là vô tận. V́ thế, cho
đến nay, đă có hơn tám ngàn lần [Phật Thích Ca
giáng sanh trong cơi Sa Bà]. Trước đă là như vậy, ắt
có thể suy ra sau này [Ngài cũng sẽ lại giáng sanh]. Khi
ngài Từ Thị xuất hiện trong nhân gian, thệ nguyện
ứng hóa trong lần này của đấng Thích Tôn giống
như đă kết thúc, lần sau sẽ lại bắt đầu.
* Hỏi:
Ngày tháng trên cơi trời và nhân gian dài ngắn khác nhau, người
tu hành “tŕ ngọ” (không ăn sau giờ Ngọ) v́ sợ ngạ
quỷ nghe tiếng chén đĩa sẽ bị lửa đói
thiêu đốt nên chẳng nỡ ăn. Chư thiên ăn vào
sáng sớm, ngạ quỷ ăn vào buổi chiều. Nếu
là như vậy th́ dường như ngày đêm trên cơi trời
và trong đường ngạ quỷ giống như trong
nhân gian. Nên giải thích điều này như thế nào? (Cảnh Trường Thọ
hỏi)
Đáp:
Trong kinh đă dạy rơ thời gian dài ngắn [khác biệt]
giữa cơi trời, cơi người và cơi quỷ, nên chẳng
cần phải nói nữa. Nếu tính năm mươi năm
trong nhân gian là một ngày trong cơi trời và quỷ (đây là
giả định, trời có nhiều tầng, quỷ có
nhiều loại. Trời càng lên cao, quỷ càng xuống thấp,
tính ra tuổi thọ càng dài), nhưng chẳng nói sáng tối,
cũng chẳng nói mỗi ngày ăn
mấy bữa? Ba bữa, hay là đến trăm bữa,
hoặc mấy ngàn bữa, đều chẳng thể
biết. Như tại Nam Cực và Bắc Cực của
địa cầu, nửa năm là ngày, nửa năm là
đêm, giống như một năm chỉ có một ngày,
há có thể coi là cùng một giuộc với cuộc
sống ở phần giữa địa cầu ư? Cho
rằng ở nơi ấy mỗi ngày ăn ba bữa,
tức là một năm chỉ ăn ba bữa, tôi nghĩ chẳng
phải là như vậy! Trụ xứ của quỷ
là Ngũ Thú Tạp Cư[25] trong Dục Giới, sự sáng tối
trong cảnh ấy chắc là thuận theo ngày đêm của
con người, bất luận ăn bao nhiêu bữa đều
lấy sự sáng tối trong Dục Giới để làm
hạn. Quá Ngọ chẳng ăn, chẳng khuyết thiên đạo,
nên hăy để lại đó, chẳng bàn tới nữa.
* Hỏi:
Thích Ca Thế Tôn là một vị Phật trong Hiền Kiếp,
từ lúc thị hiện sanh trong vương cung đến
khi diệt độ và cho tới khi ngài Từ Thị ra
đời, làm giáo chủ thế giới Sa Bà. Sau đấy,
các vị Phật [kế tiếp] sẽ lần lượt
giáng thế. Có phải là kinh giáo của đức Thế Tôn sẽ giống như các vị
cổ Phật trong quá
khứ cũng bị diệt mất chẳng
c̣n hay chăng? (Cảnh Trường
Thọ hỏi)
Đáp: Khi
đức Phật sau ứng thế, giáo điển của
đức Phật trước đă chẳng c̣n; bởi lẽ,
kiếp số xa xôi, hang hốc biến thành g̣ đống,
biển xanh biến thành ruộng dâu, thảy đều lắm
nỗi đổi thay, quyển vàng, b́a nhạt[26], đă nương nhờ khí thế
gian, làm sao có thể chẳng bị biến mất theo? Phật
pháp gọi lúc ấy là thời kỳ Diệt Pháp, chư Phật
do từ bi nên lại ứng thế. Nhưng Phật Phật
đạo đồng, nên đức Phật sau vẫn dạy
cùng một đạo như đức Phật trước
đă nói.
* Hỏi:
Trong lúc thấy súc sanh bị giết chóc khổ sở, có
thể thành tâm niệm Phật hoặc niệm chú cho chúng
hay không? Chú Chuẩn Đề có phải là chú Văng Sanh hay không?
(Trần Thánh Âm hỏi)
Đáp: Niệm
Phật và niệm chú để hồi hướng cho chúng
sanh bị giết hại đều có công đức. Đă
nói là “thành tâm”, ắt có cảm ứng. Chú Chuẩn Đề
và chú Văng Sanh chính là hai thứ pháp môn [khác nhau], trọn chẳng
phải là một chú có hai tên.
*
Hỏi: Đối với kinh điển tụng niệm
mỗi ngày, theo như người già nói, phải dùng
hồng châu (châu sa) chấm lên giấy vàng để ǵn
giữ, để dự bị sau này về Tây
Phương sẽ có thể dùng, giống như tích
trữ một chút tiền của. Cách nghĩ ấy có
phải là mê tín hay không? Hay là một thứ thường
được gọi là “lộ
dẫn” (giấy thông hành), đó có phải là giấy
chứng minh thân phận trong cơi âm hay không? (Trần Thánh Âm hỏi)
Đáp: Lời
người già nói ấy chỉ là lời phương
tiện trong thế tục nhằm khích lệ kẻ sơ
cơ khiến họ chẳng thoái chuyển đó thôi,
cũng chẳng phải là không thể làm theo! Thật ra,
niệm Phật do đă phát cái tâm ấy, tiếng [niệm
Phật] và ư niệm ấy lại in vào tâm, tâm liền là
một trang giấy vàng (trang kinh), tiếng niệm và ư
niệm bèn là một chấm son khoanh vào đó, tự nhiên
sẽ có kư hiệu, tự nhiên sẽ tích trữ. Giấy
thông hành là vật tùy thuộc phong tục của từng
nơi, mỗi nơi có chỗ c̣n dùng, có chỗ chẳng
c̣n, chẳng thuộc về lănh vực Phật học, nên
có thể chẳng cần bàn tới!
* Hỏi:
Tín đồ nhà Phật đă quy y nếu đối với
giáo lư có tâm đắc th́ có thể xưng là pháp sư hay
không? Xưng là pháp sư th́ cũng có thể thâu nhận
đệ tử hay không? Tín đồ quy y Phật có vật
ǵ để làm tiêu kư hay không (tức là có vật ǵ chứng
tỏ thân phận giáo đồ nhà Phật)? Có thể hưởng
nhận sự ưu đăi trong chùa chiền Phật giáo hay
không (như mượn sách đọc miễn phí, ở
trong các tự viện miễn phí)? (Kha Văn Hùng hỏi)
Đáp: Câu
hỏi này cần phải chia thành từng điều để
trả lời.
1. Pháp sư có năm cách
nói. Nói theo Lư, hễ hợp điều kiện bèn có thể
gọi là pháp sư. Nhưng xét theo Sự để nói, hai
chữ “pháp sư” đă sớm trở thành tiếng để
dành riêng gọi bậc xuất gia, nhằm tránh kẻ tục
lạm dự vào hàng tăng chúng, nên kẻ tại gia chẳng
thể dùng.
2. Nếu đă tinh thông
nghĩa lư trong kinh, có người đến xin dạy th́ thu
nhận đồ đệ để dạy dỗ cũng
chẳng phải là không được, nhưng quyết chẳng
được cho người khác quy y, lạm quyền đặt
pháp danh; bởi pháp quy y là quy chế chuyên biệt của Tam
Bảo.
3. Quy y có điệp,
thọ giới có điệp, đều là tiêu kư.
4. Mượn kinh từ
nhà chùa để đọc, chưa hề phải trả
tiền, nhưng cư ngụ trong chùa th́ không được
phép. Nếu kẻ quy y đều ở trong chùa, mỗi chùa
đều chẳng thể chứa xuể. Hơn nữa,
oai nghi, quy chế dành cho tăng tục khác nhau, đôi bên đều
bất tiện, nhưng nếu là người được
mời mọc, hay ủy thác để lo liệu công việc
trong nhà chùa th́ là ngoại lệ.
* Hỏi:
Quy tắc quản lư đối với mỗi tự viện
tại các nơi là như thế nào? (Kha Văn Hùng hỏi)
Đáp: Mỗi
người có cách nh́n khác nhau, chẳng thể luận định
nhất loạt được!
* Hỏi:
Kinh Phương Quảng nói đến năm thứ Pháp
Thân, một là Tướng Pháp Thân, hai là Công Đức Pháp
Thân, ba là Pháp Tánh Pháp Thân, bốn là Ứng Hóa Pháp Thân, năm
là Hư Không Pháp Thân, thân nào là thân của chính ḿnh? (Tiêu Thiệu Hinh hỏi)
Đáp: Mặt
trời gồm có luân tướng (mặt trời thật
sự), quang minh, nhiệt độ, xin thử hỏi, thứ
nào là bản thể của mặt trời?
* Hỏi:
Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân, thọ
tŕ, đọc tụng kinh này, nếu bị kẻ khác khinh
rẻ, là người ấy đời trước đă
tạo tội nghiệp đáng đọa ác đạo, do
đời này bị kẻ khác khinh rẻ, nên các tội
nghiệp đă tạo trong đời trước liền
bị tiêu diệt, sẽ đắc A Nậu Đa La Tam Miểu
Tam Bồ Đề, nghĩa ấy như thế nào? (Tiêu Thiệu Hinh hỏi)
Đáp: Đấy
là nghĩa “báo nặng chuyển thành nhẹ, mau chứng Bồ
Đề”.
* Hỏi:
Kinh Niết Bàn dạy: “Định
đa huệ thiểu, bất ly vô minh; định
thiểu huệ đa, tăng thượng tà kiến;
định huệ đẳng dụng, tức danh giải
thoát” (Định nhiều, huệ ít, chẳng ĺa vô minh.
Định ít, huệ nhiều, tăng thêm tà kiến. Định
huệ vận dụng quân bằng, liền gọi là giải
thoát), nghĩa ấy như thế nào? (Tiêu Thiệu Hinh hỏi)
Đáp: Định
nhiều, huệ ít, giống như trâu sắt kéo cày, chẳng
có linh giác. Huệ nhiều, định ít, như đuốc
trước gió, chẳng thể soi vật. V́ thế đều
chẳng thể thành tựu. Hễ định lẫn huệ
đều sâu th́ mới chứng Niết Bàn.
* Hỏi:
Hai mươi lăm Hữu là ǵ? Ư nghĩa như thế nào?
(Tiêu Thiệu Hinh hỏi)
Đáp: Nói
trong giới hạn tam giới, tức là chúng sanh trong hai mươi
lăm chỗ, đều có thọ quả báo, nên gọi là
Hữu. Các loại ấy chính là bốn đường ác
(A Tu La, súc sanh, ngạ quỷ và địa ngục) trong Dục
Giới, bốn châu, Lục Dục Thiên, Tứ Thiền
trong Sắc Giới, Đại Phạm Thiên, Tịnh Cư
Thiên, Vô Tưởng Thiên, Tứ Không Thiên trong Vô Sắc Giới.
* Hỏi:
Hôm trước, kẻ ngu này gặp một vị tín đồ
nói ăn chay trường vô dụng, bởi lẽ, trong vũ
trụ, qua lại trong không khí luôn có những vật mang tánh
huyết nhục, hơi hướng tanh tưởi rất
nhiều, nên ăn chay vô dụng. Như đến nhà bếp,
gặp người ta đang nấu đồ mặn, cũng
có nhiều hơi hướng huyết nhục. Hoặc là đến
chỗ chợ bán thịt cá, sẽ bị hơi tanh tưởi
bám vào, nên ăn chay trường vô dụng. Người tại
gia học Phật nếu vào nhà bếp đang nấu đồ
mặn và đến chỗ chợ bán cá thịt là điều
chẳng thể nào tránh khỏi được; v́ vậy,
chớ nên phát tâm ăn chay trường. Người ấy
nói xong, thân tâm tôi bất an. Thế nào mới thật
sự là thanh tịnh, trường trai? (Trương Minh Phước hỏi)
Đáp: Ư
nghĩa chủ yếu của việc ăn chay trường
là né tránh sát sanh, đấy là biện pháp rốt ráo
để quán triệt chủ nghĩa từ bi. Không khí thanh
tịnh hay không, đối với chuyện vệ sinh cố
nhiên phải chú ư, nhưng đó là vấn đề cành lá.
Nếu v́ chẳng thể tránh khỏi không khí tanh hôi bèn chẳng
nên ăn chay, thử hỏi nhân loại tử vong là điều
chẳng thể tránh khỏi, nếu lỡ bị bệnh,
cũng chẳng nên chữa trị ư? Có thể nói “con
người rốt cuộc cũng chết, chớ nên phát
tâm uống thuốc men” hay chăng?
* Hỏi:
Đức Thế Tôn sanh ra bèn một tay chỉ lên trời,
một tay chỉ xuống đất, đi trọn bảy
bước, tự nói “thiên
thượng thiên hạ, duy ngă độc tôn”, kẻ ngu
này có hai điểm nghi vấn: Đức Thế Tôn vừa
ra đời bèn có thể nói năng ư? Đức Thế
Tôn đại từ bi, chẳng có kiêu mạn, cớ sao tự
nói “duy ngă độc tôn”? (Lư Hàm Vinh hỏi)
Đáp: Sanh
ra bèn có thể nói, sách Trung Quốc cũng có ghi chép. Chữ
Ngă chỉ bản lai diện mục, c̣n có ǵ tôn quư hơn nó
nữa? Ai nấy đều có, ai nấy đều tôn quư,
b́nh đẳng, đức Phật nói toạc ra nhằm
khai tông, giảng rơ nghĩa cho con người, ông lại hiểu
lầm là kiêu mạn, chẳng hiểu ư Ngài!
* Hỏi: Kinh sách của
Phật giáo Nhật Bản toàn là văn tự tiếng Hán,
nhưng gần ba mươi năm qua, họ lợi dụng
phương pháp khoa học, chỉnh lư kinh Phật rất
có hệ thống, khiến người ta nh́n vào thấy có
lớp lang rạch ṛi, khiến cho mọi người có hứng
thú xem kinh. Lẽ ra, toàn bộ kinh điển trong Tam Tạng
phải phỏng theo phương pháp khoa học chỉnh lư
lần nữa khiến cho người đời sau nghiên
cứu, xem đọc kinh Phật bèn có thể phát huy to lớn.
(Tạ Nguyên Phủ hỏi)
Đáp:
Kinh Phật được người Nhật chỉnh lư
có phải là chỉnh lư mục lục, hay là sửa đổi
kinh văn? Hay là cắt vụn ra để biên soạn thành
bản khác, cũng như chọn lựa phương pháp khoa
học nào? Cư sĩ chẳng nói rơ, kẻ hèn này chẳng
dám đáp bừa!
* Hỏi:
Tôi nghĩ chuyện nằm mộng là thật, chẳng giả,
chẳng phải là hư vọng. Tôi nhớ năm Dân Quốc
36 (1947), lúc ở Bắc B́nh, Thiên Tân, đă nằm mộng
hai lần. Có một lần, trước lúc trời sáng, đang
trong khi ngủ say, mộng thấy lúc trời sắp hoàng hôn,
tôi đi về phía trước, bỗng nh́n lại phía sau,
cách tôi chừng ba mươi mét có một người nữ
mặc âu phục màu trắng, tuổi chừng ba mươi
hay hai mươi mấy, phong thái khá nhă nhặn, duyên dáng, cũng
đi cùng hướng với tôi trên đường, từ
đầu đến cuối giữ nguyên khoảng cách vốn
có. Sau khi tôi nhận ra, bèn xoay ḿnh tiến lên trước,
chẳng quan tâm đến nữa, cho đến khi tôi tỉnh
giấc mộng mới biết đó là mộng. Sau này, tôi ở
thành phố Đường Sơn, cả nhà là tín đồ
đạo Cơ Đốc, ở trong nhà họ, tôi kể
lại giấc mộng, họ bảo đó là do Gia Tô
(Jesus) [thác mộng], nhưng tôi phán
đoán rồi luôn nhấn mạnh, đấy là Quán
Thế Âm Bồ Tát trong rừng trúc tía đă che chở
tôi. Kết quả là người tán thành lời tôi chiếm
chín mươi phần trăm trở lên.
Chẳng rơ tôn ư như thế nào, xin hăy
phiền giải thích. (Lư Thánh
Quỳnh hỏi)
Đáp: Cảnh
do tâm tạo, tướng đều hư vọng, huống
hồ mộng huyễn lại càng [hư vọng] rơ rệt
ư? Ông đă tự nói là Quán Âm th́ hăy coi như là Quán Âm, vẫn
hợp lư! Lại hướng về kẻ si khác kể lể,
tức là chuốc lấy phiền; người khác sẽ khăng
khăng tranh thủ chiếm lấy chuyện trong mộng
của người ta, kẻ khuấy động chính là ḿnh.
So ra, tự ḿnh nằm mộng nói chuyện mộng, chẳng
phải là đă ở trong mộng lại c̣n mộng nữa
ư? Kẻ hèn này chưa tỉnh giấc mộng lớn,
giả sử có trả lời th́ cũng là trong mộng nói
chuyện mộng!
* Hỏi:
C̣n có một lần, nhằm buổi đường cùng mờ
mịt, trong tâm vô cùng khó chịu, ở Lưu Ly Hà[27] nằm mộng, nhớ như thế này,
tôi ở vùng đồng bằng dưới chân một quả
núi, cách núi mấy trăm mét, có hai con đường dẫn
lên núi, giống như h́nh chiếc kéo. Phía Chánh Bắc có chỗ
núi lơm xuống, phía Đông Bắc cũng thế. Kết quả
là không đi theo phía chánh Bắc, mà tiến đến chỗ
núi lơm ở phía Đông Bắc, trèo lên tới chỗ miệng
núi lơm bèn ngừng lại, ngay lúc đó tỉnh mộng, mới
biết là mộng. Ngày hôm sau trong đầu nghĩ đi
nghĩ lại chuyện nằm mộng, quả quyết đi
theo hướng Đông Bắc như đă thấy trong giấc
mộng, vừa để t́m việc, vừa thăm bạn,
ông có biết sao không? Kết quả là vừa đến đó liền nghe
tin tốt, ngay hôm ra đi ấy bèn có việc, há chẳng
phải là lạ lùng hay sao? (Lư Thánh Quỳnh hỏi)
Đáp: Chuyện con
nai ở dưới lá chuối[28], chẳng có ǵ là lạ!
* Hỏi:
C̣n có một lần nằm mộng là khi đồn trú tại
tiểu đảo Mai Sơn thuộc quần đảo Châu
Sơn[29],
mộng thấy một quả núi, thế núi gập ghềnh,
chỉ có một con đường, dưới núi có khe suối
nhỏ, tôi ngồi trên một chiếc xe
hơi chạy từ trên xuống dưới, lúc sắp
quẹo chạy ra hướng đường cái, tôi
bảo tài xế: “Đến chỗ rộng răi trên đường
cái, xin hăy chạy nhanh hơn”, nhưng người tài xế
ấy chưa lái đến đường cái đă tăng
tốc, kết quả là xe lọt xuống suối, chẳng
thể xoay trở được, may là tôi chưa bị thương,
liền tỉnh giấc. Đến ngày hôm sau, sau khi thức
dậy, gặp ai cũng kể giấc mộng ấy, họ
đều nói không sao. Chiều hôm ấy, khắp đảo
ấy tràn ngập chiến thuyền. Sáng sớm ngày hôm sau,
toàn bộ [chiến thuyền] rút về đảo Lục
Hoành, tôi từ đầu đến cuối kể giấc
mộng với người khác, [cho rằng] điều ấy
cho thấy tôi chẳng thể trở về Mai Sơn, mà cũng
chẳng thể ra đi được nữa. Nào ngờ
bị hỏa pháo của kẻ địch uy hiếp phải
triệt thoái khỏi Mai Sơn, kết quả là bọn giặc
gian ác nghiễm nhiên chiếm lănh Mai Sơn. (Lư Thánh Quỳnh hỏi)
Đáp: Kinh
sử tuy có nói đến mộng mị, nhưng sự vẫn
phải do người làm, Nếu cứ dựa dẫm vào giấc
mộng để rồi tùy ư buông xuôi, khác nào thói tệ
nghe lời, tin tưởng bọn tướng số! Như
Khổng Tử mộng thấy Châu Công, người tu Tịnh
Độ mộng thấy Phật Di Đà, đều là do
chủng tử chánh niệm dấy lên hiện hành, là dấu
chỉ công phu thành thục, khác xa kẻ mộng huyễn điên
đảo!
Nói thêm: Kính
khuyên cư sĩ hăy chú trọng nghiên cứu học lư; chứ
nếu vẫn ưa chuộng chuyện lạ lùng, huyền
hoặc, e rằng sẽ đi vào ngơ rẽ!
* Hỏi:
Từ khi phát tâm đến nay, điều nguyện nhỏ
nhặt nào cũng được thỏa, đại nguyện
trong tương lai rồi cũng được thỏa
hay chăng? (Chiến Giác
Lực hỏi)
Đáp: Nếu
thật sự là nguyện chánh đáng, bất luận lớn
hay nhỏ đều được viên măn.
* Hỏi: Trống đánh
trong chùa miếu, da bịt trống quả thật là da trâu.
Dẫu chẳng phải là da trâu th́ cũng là da chúng sanh. Sanh mạng của chúng sanh
đă kết thúc rất lâu, da c̣n sót lại, vẫn bị
chúng ta gơ mỗi ngày, dường như trong ḷng có chút bất
an. Có phải là khi tụng kinh, niệm Phật cũng có thể
tế độ hồn phách của chúng được giải
thoát văng sanh hay chăng? (Chiến
Giác Lực hỏi)
Đáp: Trong
chùa dùng da chúng sanh bịt trống, [tiếng trống] thường
ḥa nhịp với âm điệu tụng kinh, âm thanh phát ra, trở
thành [một phần của] tiếng [tụng niệm] kinh
kệ, có thể khiến cho người nghe hoan hỷ, phát
tâm học Phật. Đă có công đức độ sanh th́
thần thức [những chúng sanh có] bộ da ấy sẽ
có thể nhờ vào đó mà siêu thăng. Nếu không, da ấy
bị người ta đem làm giầy, bị chà đạp,
hoặc làm yên ngựa để người ta ngồi cưỡi
ngựa, so với đem bịt trống trong nhà chùa, quư trọng
hay khinh rẻ khác nhau rất xa!
* Hỏi:
Nến thắp trước Phật điện thật ra
cũng làm bằng mỡ ḅ, hoặc mỡ của những
chúng sanh khác. Sanh mạng của chúng đă chết, chúng ta lại
đem mỡ chúng nó đốt lên, trong tâm cũng bất
an. Có phải cũng là cũng dùng thần lực của Phật
pháp để cứu vớt chúng hay chăng? (Chiến Giác Lực hỏi)
Đáp: Cùng
một lư với lời đáp cho câu hỏi trước.
Phật chế định dùng đèn sáng hay nến là v́ lễ
nghi thế gian ưa chuộng, nhưng trong nội địa
đă sớm có người phát minh loại nến chế
bằng dầu thực vật lưu hành đă lâu, chẳng
biết ở tỉnh này th́ như thế nào?
* Hỏi:
Chim ưng trong sinh hoạt hằng ngày chỉ có cách sát hại
tánh mạng [những con vật khác], trọn chẳng c̣n làm
thế nào khác được! Tôi là người niệm Phật,
lấy chuyện cứu vớt chúng sanh trọn khắp làm
mục đích. Nếu mắt thấy chim ưng vồ mồi,
tánh mạng chúng sanh bị nguy ngập, chúng tôi trông thấy
ắt xua đuổi chim ưng, cứu mạng chúng sanh. Thường
là mỗi khi như vậy, chúng sanh được sống
sót đều vui vẻ. Từ đầu đến cuối,
chim ưng chẳng có cái ăn, mạng sống nguy ngập,
khổ chẳng thể nói nổi! Làm thế nào để
có thể măn chúng sanh nguyện? (Chiến
Giác Lực hỏi)
Đáp: Mắt
thấy tánh mạng chúng sanh nguy cấp, ra tay cứu vớt,
là do tâm từ bi thúc đẩy. Chỉ cầu tâm an trong một
lúc, c̣n tính toán như thế nào sau này cho kẻ gia hại,
quả thật sức ta chẳng thể làm được!
Nếu muốn triệt để vẹn toàn cho đôi bên,
mỗi ngày có thể treo thịt trên cây cho chim ưng khỏi
đói ḷng cũng được. Có thể làm được
hay không? Ở đây tôi nêu một thí dụ, lúc thấy kẻ
khác đang vùng vẫy trong lúc bị hăm hiếp, hay bị cướp
đoạt, ắt ta sẽ thông cảm [với người
bị hại], ra tay giúp đỡ, giải cứu, không cần
phải lo cho kẻ toan hăm hiếp, trộm cướp chẳng
được thỏa dục, há có phải lo kẻ ấy
chẳng có được vợ, chẳng có ăn ư?
* Hỏi:
Chúng sanh trong lục đạo sanh trưởng chẳng
ngoài bốn loại thai, noăn, thấp, hóa, chúng ta có thể
thấy những sinh vật trong hai loại thấp sanh và hóa
sanh hay không? Thế giới Cực Lạc liên hoa hóa sanh có
thuộc về hóa sanh hay không? Tu La, ngạ quỷ, địa
ngục và vi sinh vật, vi khuẩn thuộc loại nào
[trong tứ sanh]? Chư thiên trong Dục Giới đă có nam
nữ, phải thuộc loại thai sanh, c̣n Sắc Giới
có phải là hóa sanh hay không? Nếu đúng như vậy, họ
do vật ǵ hóa ra? (Lâu Vĩnh Dự
hỏi)
Đáp: Các
tiểu động vật trong nước và chỗ ẩm
thấp rất nhiều, phải dùng kính hiển vi mới
thấy được, quá nửa là chúng do hơi ẩm và
sức nóng mà sanh trưởng. Sách xưa chép cỏ mục
sanh đom đóm, chim sẻ vào trong nước ngập biến
thành ṣ, đấy chính là hóa sanh. Thế giới Cực
Lạc và thiên giới, địa ngục v.v... đều
là hóa sanh. Quỷ có loài sanh nở bằng bào thai; Tu La chia thành
bốn đường (noăn, thai, thấp, hóa), chẳng phải
chỉ có một cách sanh. Dục Thiên (cơi trời trong Dục
Giới) tuy có dâm dục, nhưng hoặc là cười, hoặc
là dùng mắt ngó nhau v.v... đă là hành dâm, không giống như
nhân gian phải kết hợp thể xác. Đă nói là hóa sanh
th́ đa số thuộc về tâm (trừ đom đóm, ṣ
v.v...); thử hỏi người trong giấc mộng có thân
là do sự vật nào hóa thành vậy?
* Hỏi:
Người ta nói đèn nến thắp trước Phật
chẳng được dùng miệng để thổi tắt,
ḥng khỏi bị thất lễ, đúng không? (Lâu Vĩnh Dự hỏi)
Đáp: Đấy
là lư do thứ nhất, ngoài ra c̣n mang ư nghĩa sợ tổn
hại sanh vật.
* Hỏi:
Tụng chú Bạch Y, thiêu hóa cho người đă mất, người
đă mất có nhận được hay không? (Lâm Thục Trinh hỏi)
Đáp: Phật
pháp duy tâm, chỉ mang ḷng hồi hướng, người đă
mất sẽ được lợi ích. Nếu [giữ tấm
ḷng ấy] mà thiêu hóa th́ cũng có ư nghĩa giống như hồi
hướng.
* Hỏi:
Trong kinh có những chữ không biết rơ nên tụng sai th́
có tội lỗi hay không? (Lâm
Thục Trinh hỏi)
Đáp: Đọc
kinh chớ nên hời hợt, bộp chộp. Nếu nghi chữ
ấy bị sai, phải liền xin người khác chỉ
bảo cách đọc đúng. Nếu chỉ mong đỡ
mất công, sẽ thành “đem lầm bù lỗi”, thiếu cung
kính, chẳng đạt được lợi ích!
* Hỏi:
Đối với văn bằng quy y của người quy
y đă mất, nên thiêu hóa hay đặt trên thân người
đă mất? (Lâm Thục Trinh
hỏi)
Đáp:
Tùy ư chọn một trong hai cách ấy đều được!
* Hỏi:
Trong phần thứ hai trong bài giảng Phật Pháp Cứu Đời
Giác Ngộ Con Người của Thái Hư đại
sư, có câu: “Nhân Sanh là nói
đến hết thảy các hữu t́nh chúng sanh thuộc
nhân loại và chẳng phải nhân loại”, nên giải
thích như thế nào? Tôi nghĩ giải thích theo nghĩa rộng
th́ đúng, nhưng ở tệ xứ có những người
đồng hàng thuần giải thích chữ “nhân sanh” theo nghĩa hẹp, đến
nỗi có nghi vấn. V́ thế, xin cụ hăy giải đáp!
(Lưu Trạch Trung hỏi)
Đáp:
Trong vũ trụ, đối với ba thứ vật thể
là động vật, thực vật và khoáng vật, nhà Phật
chia thành hai loại lớn là hữu t́nh (động vật)
và vô t́nh (thực vật và khoáng vật), ngàn muôn sai khác, khó
thể kể tên trọn hết. Dùng một chữ Nhân để
đại diện hết thảy loài hữu t́nh, dùng một
chữ Pháp để đại diện hết thảy loài
vô t́nh. Đấy đều là những từ ngữ học
thuật chuyên dụng. Lại nữa, thế giới nhân
sanh do các duyên tập hợp mà sanh khởi, duyên khởi vô tận,
nên có tương quan khắng khít với hữu t́nh trong toàn
thể pháp giới; v́ thế, gọi là “nhân sanh”. [Chữ
“nhân sanh”] ấy chẳng thể chỉ riêng một loài là
nhân loại được!
* Hỏi:
Pháp Thân của chư Phật trọn khắp hư không,
nên trụ xứ của Phật trọn chẳng có
giới hạn, nhưng Báo Thân của Thích Ca Mâu Ni Phật cũng
như Báo Thân của quá khứ Phật có trụ trong
Sắc Cứu Cánh Thiên hay không? (Hề
Tử Vi hỏi)
Đáp: Báo
Thân của Phật có khởi đầu, chẳng có
kết thúc. Đă nói là Báo Thân chẳng kết thúc th́
chẳng thuộc về quá khứ. Có cơi Tịnh để
Báo Thân cư trụ, trọn chẳng hạn cuộc trong
Sắc Cứu Cánh Thiên của tam giới.
*
Hỏi: Thế giới có bốn trung kiếp là thành,
trụ, hoại, không. Trong một trung kiếp có hai
mươi tiểu kiếp, vậy th́ kinh Phật có nói rơ
hiện tại thuộc tiểu kiếp thứ mấy
trong Trụ Kiếp hay không? (Hề
Tử Vi hỏi)
Đáp: Kinh
Phật thường nói quá khứ vô lượng kiếp,
suy từ trước kia bèn biết hiện tại, con
số ấy há có thể nói được ư?
*
Hỏi: Có hai người tỵ nạn chiến tranh
đến ở trong núi rừng, hoặc nơi hoang vu,
lương thực đă cạn, trong ấy có một
người chỉ c̣n [lương thực] vừa đúng
một bữa ăn. Nếu hai người cùng ăn
cũng chẳng thể đỡ đói. Lúc đó, nên làm
như thế nào? Giữ lại cho chính ḿnh ăn, hay chia
cho người kia ăn? (Trần
Ngọc B́nh hỏi)
Đáp: Cùng nhau chạy
loạn, phải nên giúp nhau trong cơn hoạn nạn,
sướng khổ cùng hưởng. Hai người chia
nhau thức ăn, tuy chẳng thể đỡ đói, nhưng
trọn hết t́nh, hợp lư, lại c̣n chẳng trái nghịch
tín nghĩa. Nếu ăn riêng ḿnh, nỡ ḷng thấy đồng
bạn chết đói, bất luận t́nh hay lư đều
chẳng hợp, c̣n sợ người kia sanh ác tâm gây hại,
cùng chết luôn! So với việc bội tín mà chết, sao
bằng trọn nghĩa mà chết?
* Hỏi: Phật giáo
suy vi là do tuyên truyền chẳng đủ, quá tiêu cực đối
với người nghe giảng, cần phải tăng tánh
tích cực thêm một bước nữa, khiến cho Phật
lư có thể hoằng dương, nên chọn lựa phương
pháp nào th́ mới ḥng hoằng giáo nhanh chóng? (Vương Khả Tiêu hỏi)
Đáp:
Trộm nghĩ tuyên truyền chưa đủ, vẫn là điều
thứ yếu. Người được gọi là tín đồ
Phật giáo, ắt trước hết phải trống ḷng
cầu học, tinh tấn thâm nhập, chánh tri, chánh
kiến, nghiêm tŕ giới luật, lấy thân làm gương
rồi mới theo đuổi việc tuyên truyền, tự
nhiên sẽ có sức hiệu quả to lớn, mạnh mẽ.
Nếu không, chính ḿnh chẳng học, tuyên truyền cho người
khác nỗi ǵ? Chính ḿnh thiếu đức, dạy người
khác tu hành sao được? Đó là vấn đề căn
bản, tuyên truyền thuộc vấn đề phương
pháp. Nếu căn bản đă lập, dẫu phương
pháp thiếu trọn vẹn, vẫn thu được nửa
phần hiệu quả!
* Hỏi:
V́ sao thánh nhân mới là chẳng chết? (Trần Vinh Tấn hỏi)
Đáp: Phật
là bậc thánh của các thánh, ắt chứng quả ấy,
nên mới đoạn hai thứ sanh tử.
* Hỏi:
Nếu Địa Tạng Vương Bồ Tát thành Phật
trước rồi mới độ chúng sanh trong địa
ngục, há chẳng phải là rất có sức mạnh; cớ
sao [Ngài phát thệ] “địa
ngục chẳng không, thề chẳng thành Phật”? (Lại Đống Lương
hỏi)
Đáp: Bồ Tát
thật sự đă chứng thành Phật quả, pháp
lực vô biên, cũng giống như Quán Âm tịnh thánh thả
chiếc bè Từ, chẳng chịu nhập Niết Bàn.
* Hỏi:
Xá-lợi vốn là xương Phật, cớ sao pháp sư
Liễu Nhiên ở Tô Châu lại được xá-lợi
sanh từ hoa đèn, nên giải thích ra sao? (Lại Đống Lương hỏi)
Đáp: Đấy
là do ḷng tinh thành cảm vời, nên Phật thị hiện.
Khi khắc ván bộ Long Thư Tịnh Độ Văn,
trong từng ḍng chữ cũng hiện xá-lợi, do cùng một
ư nghĩa này!
* Hỏi:
Gần đây, đạo cao một thước, ma cao một
trượng, dị giáo điên cuồng, hủy báng, chửi
bới Phật giáo, thấy Phật giáo nhu nhược, chẳng
có khả năng ǵ, toan muốn nuốt trọn, chắc là
[những kẻ ấy] thuộc loài La Sát hay A Tu La giáng thế
gây chướng nạn cho Thích tử. Ngu tôi nghĩ sao chẳng
sưu tập những truyền đơn ấy để
đưa ra trước hội nghị liên hiệp tôn giáo
nhằm b́nh luận, suy xét coi ai đúng, ai sai, nhằm răn
nhắc một số ít kẻ mê mộng trong tương
lai! (Cố Khoan Văn hỏi)
Đáp: Tôi
đă nhiều lượt tŕnh bày, thỉnh cầu trong hội
nghị liên hiệp các tôn giáo, nhưng đối phương
bướng bỉnh, u mê chẳng nghe, biết làm như thế
nào đây?
* Hỏi:
Từ năm mười tám, mười chín tuổi, tôi đă
nghiên cứu Phật học, nhưng chưa thể quy y, thọ
giới. Muốn quy y, nhưng do cha và hoàn cảnh bức bách,
lại nghĩ buôn bán có rất nhiều gian dối. Có người
nói “anh lừa tôi, tôi gạt anh, không gian dối chẳng thể
buôn bán được”, cho nên cha tôi chẳng thể đồng
ư [cho tôi quy y] (ông cụ chẳng tin Phật), tôi chẳng biết
làm như thế nào th́ mới nên? (Phương Quán Âm hỏi)
Đáp: Học
Phật là “nhất siêu trực nhập”, học theo thói gian
dối là đọa lạc. Nhân quả chín muồi mỗi
mỗi đều phải lănh chịu quả báo. Người
thật sự thông minh, chớ nên chỉ nh́n thấy chuyện
tạm bợ trước mắt. Buôn bán chẳng trở
ngại học Phật, buôn bán chẳng nhất thiết phải
học theo thói gian ngoa. Muốn tiền vốn sanh lợi
th́ hàng hóa phải chân thật, chẳng lừa dối trẻ
nhỏ, người già, dẫu một vốn vạn lời
cũng chẳng thể nói là gian! Quan Đại Phu nước
Việt là Phạm Lăi[30], cao đồ
của Khổng Tử là Tử Cống[31] đều theo đuổi thương
nghiệp, mỗi vị chẳng đánh mất tư cách của
bậc cao hiền, có thể lấy đó làm gương
soi ḿnh.
* Hỏi:
Chưa biết pháp sư Đế Nhàn lúc tuổi già bệnh
tật nghiêm trọng là v́ đâu? Pháp sư Đế Nhàn là
bậc trưởng lăo trong tông Thiên Thai, giảng kinh hơn
mấy chục năm, danh rền khắp nước, nhưng
lúc tuổi già, mắc phải bệnh ngặt, toàn thân chẳng
thể cử động, ăn uống, đại tiểu
tiện đều phải cậy người khác giúp đỡ.
Lúc tuổi già c̣n mắc phải khổ báo ấy! Pháp
sư Đế Nhàn giảng kinh độ chúng, công cũng
chẳng ít, và cũng là người có thể diện trong Phật
môn. Giả sử nghiệp chướng cũ sâu đậm,
Phật cũng phải gia bị, chẳng để cho người
khác hiểu lầm. Nếu không, kẻ hậu học sẽ
kinh nghi chẳng cạn! Cuối cùng, chẳng biết Ngài có
lành bệnh hoàn toàn hay không? (Lâm
Mộng Đinh hỏi)
Đáp: Huệ
mạng bất sanh, bất diệt, thân mạng ắt phải
suy yếu, phải chết. Phàm phu chỉ biết thân mạng,
đối với những chuyện chẳng có thường,
lạc, ngă, tịnh, chợt phát sanh ư tưởng hiếm
có, tăng thêm Thân Kiến, đấy chính là kiến giải
sai lầm hàng đầu trong các Kiến Hoặc. Chẳng
phá được cái ải ấy, khó mong làm cho huệ mạng
sống lại được! Đức Thích Ca nhập Niết
Bàn, thị hiện cánh tay đau nhức. Tôn giả Mục
Liên nhập diệt c̣n phải chịu ngoại đạo
gia hại, đều nhằm thuyết pháp “thân mạng vô
thường”. Đấy là lư do thứ nhất. Định
nghiệp khó tránh là lư do thứ hai. Nếu lo lắng kẻ
hậu học sanh nghi, thoái chuyển đạo tâm, chẳng
thấy cư sĩ Vương Long Thư đứng niệm
Phật qua đời, tổ sư Ấn Quang an tường
viên tịch ư? Vả nữa, pháp sư Đế Nhàn, tổ
sư Ấn Quang đều lưu lại rất nhiều
hạt xá-lợi, chứng tỏ huệ mạng đă thành
tựu. Đối với Sự nếu nh́n toàn diện, sẽ
sanh huệ giải; chỉ nh́n một mặt sẽ bị
vướng mắc, sanh ḷng nghi vậy!
* Hỏi:
Phật giáo tại Đài Loan rất hưng thịnh, có đại
pháp sư hoằng pháp lợi sanh, c̣n có đại cư sĩ
hộ tŕ Tam Bảo, chẳng biết khi giành lại Đại
Lục có c̣n được như thế hay không? (Thiệu Thanh và Chấn Bang
hỏi)
Đáp: Sự hoằng
pháp của Phật giáo tại Đại Lục từ xưa
đến nay trọn chẳng gián đoạn. Chỉ v́ đất
rộng, tuy có đến mấy chục nơi có kinh đàn
(nơi giảng kinh) nhưng rải khắp các tỉnh, nên
thưa thớt như sao sớm mai, chẳng khiến cho người
khác chú ư. Đài Loan chỉ là một tỉnh, bảy tám kinh
đàn, tụ tập một nơi; v́ thế, có vẻ rất
hưng thịnh. Pháp sư, cư sĩ hoằng pháp, hộ
pháp, chẳng hạn cuộc thời gian và nơi chốn.
Sau khi khôi phục Đại Lục, lẽ nào chẳng bằng?
* Hỏi: Đến lúc
độ sanh, các vị cao sư trong ngoài tỉnh ngàn năm
khó gặp gỡ sẽ cùng một lúc tụ tập, nên làm như
thế nào? (Toàn Chân hỏi)
Đáp: Tam Bảo giáng
lâm, chính là do phước huệ của chúng sanh cảm thành.
Đă nói là “ngàn năm khó gặp”, chớ nên bỏ lỡ dịp
này, hăy nhanh chóng quy y, vâng giữ lời dạy, phụng hành.
* Hỏi: Thích Ca Mâu Ni
Phật tu hành khá lâu dưới cội Bồ Đề mới
thành Vô Thượng Chánh Giác, trong thời gian ấy có ăn
uống hay không? Thiền Định có gián đoạn hay
chăng? (Thí Hiếu Học
hỏi)
Đáp: Khi thâm nhập
Thiền Định, chẳng cần ăn uống.
* Hỏi: Đối với
sự tuần hoàn trong lục đạo, xin hăy dẫn chứng
căn cứ triết lư để giải đáp. Do bạn
bè hỏi tới điều này, văn học do học Phật
nên biết thuyết nhân duyên quyết định là xác thực.
Chỉ v́ hiện thời là thời đại khoa học,
hết thảy đều nên dùng triết lư để làm căn
cứ giải đáp th́ mới ḥng khiến cho kẻ khác
tin tưởng. Trong kinh Phật, nhất định có giải
đáp khẳng định, xác thật về chuyện này,
nhưng văn học do nông cạn nên chẳng hay biết! (Tạ Vũ B́nh hỏi)
Đáp: Đối
với câu hỏi thay cho bạn Ngài, cần phải phân tích
thêm:
1. Một là khoa học
và triết học là hai sự kiện có tánh chất
bất đồng. Đối với kẻ tin khoa học
mà dùng triết học để trả lời, vẫn là
xoay càng xe về phương Nam mà toan đi về phương
Bắc!
2. Hai là Phật pháp có ư
nghĩa chân thật, chẳng thể hùa theo trào lưu mà biến
đổi bản chất. Nếu thích dùng triết lư để
giải đáp, [tức là] chẳng biết Phật học
chính là triết lư chí cao vô thượng. Bỏ điều
này để cầu những thứ triết học kém hơn,
há chẳng phải tụt xuống khỏi cây cao để
chui vào hang tối? Bạn Ngài có thật sự biết triết
học hay không?
3. Ba là những câu trong
triết học cổ đại của phương Đông
như câu “du hồn vi biến”
trong kinh Dịch, “cá Côn hóa làm
chim Bằng” của Trang Tử đều là nói về sự
luân hồi, bạn Ngài có chịu tin tưởng hay chăng?
4. Bốn là bất đắc
dĩ, có thể bỏ Lư để bàn Sự, nước
Anh là xứ khoa học lẫn triết học chẳng thua
ai, lại tin có quỷ nhất, lại c̣n có thể tṛ chuyện
cùng quỷ giữa ban ngày! Tôn giáo của Tây Dương càng
nói nhiều về thiên đường, địa ngục
hơn nữa, nhưng chẳng ai chê là trật! Nh́n chung, người
tầm thường cũng biết có bốn đường
trời, người, quỷ, địa ngục. Chỗ nào
cũng thấy súc sanh; do vậy, năm đường là
chuyện hiển nhiên, sao lại riêng nghi lục
đạo vậy?
* Hỏi: Thiền Định
và văng sanh, trên là có thể đạt trí huệ, dưới
là siêu thoát, nói kèm thêm th́ c̣n có những thứ như thần
thông v.v... Văn bối tu tập Thiền Định, đương
nhiên chủ yếu giải thích bằng Thiền, căn cứ
triết lư là Nhất Nguyên Luận, Nhị Nguyên Luận để
giải thích Con Người. Con người có cái tâm tư
duy (hoặc tinh thần), mà cũng có cái thân xương thịt,
nên Người là một, nhưng về h́nh tướng th́
dường như là hai. Căn cứ vào nguyên tử để
giải thích th́ cũng thế, trong nội bộ nguyên tử,
khi nó phóng xạ, toàn bộ bản thể bị hủy diệt,
bất cứ một bộ phận nào cũng chẳng thể
tồn tại. Do vậy, Thiền Định và văng sanh tợ
hồ chẳng phù hợp với La Tập (Logic, luận lư
học)! Kính xin hăy giải thích để trừ nghi hoặc!
(Tạ Vũ B́nh hỏi)
Đáp: “Thiền Định, văng sanh, trên là, dưới là,
Nhất Nguyên, Nhị Nguyên” chưa tránh khỏi [là những
lư luận] táp nham! Chúng đă chẳng phải là lẽ đương
nhiên, càng chẳng đáng dùng làm căn cứ! Học hành,
nghiên cứu kỵ nhất là rối ren, thiếu lớp
lang, gán ghép khiên cưỡng! Câu nói “tâm và cái thân xương
thịt là một người, nhưng về h́nh tướng
th́ có hai” chẳng rơ ràng. “Thiền Định, văng sanh” trọn
chẳng giống như nguyên tử phóng xạ; sao lại
nói là chẳng hợp lư luận? Nếu bảo khi tâm đạt
đến giác rốt ráo, giống như nguyên tử phóng xạ,
nào biết tâm chẳng phải là vật chất, làm sao bị
hủy diệt cho được? Nếu cứ chấp trước
phải phù hợp với nguyên tử phóng xạ, Thiền
gia có kệ rằng: “Giác
hậu không không vô đại thiên” (giác rồi ba cơi rỗng
toang hoang) rất gần với ư ấy!
Nói thêm: Kính khuyên cư
sĩ hăy tạm thời chẳng cần phải tập Thiền,
bởi thiếu sư thừa sẽ dễ đi vào ngơ rẽ.
Vẫn là học tập cách tŕ danh niệm Phật là ổn
thỏa, thích đáng hơn. Nếu cứ muốn tập Thiền,
trước hết phải tham học với một vị
minh sư!
* Hỏi:
Tôi chẳng hiểu do ư nghĩa nào mà đức Phật dạy
con người sau khi chết hăy nên chọn cách hỏa táng?
Xin hăy chỉ dạy! (Trần Thiện
Chí hỏi)
Đáp: Hoả
táng là một trong những cách mai táng của thế tục.
Sau khi đức Thế Tôn diệt độ, [các đồ
đệ] từng cử hành lễ trà-tỳ [kim thân của
Phật], nên các đồ đệ Phật đa số làm
theo. Nhưng mất rồi, hỏa táng, thật ra, chẳng
hạn cuộc trong giới tín đồ nhà Phật, mà Phật
giáo đồ sau khi mất cũng chẳng phải đều
chọn cách hỏa táng.
* Hỏi:
Gặp lúc phóng sanh, đối trước Phật, nên quy y
cho các động vật theo cách thức nào? (Thích Thường Chánh hỏi)
Đáp: Trong
cuốn khóa tụng có nghi thức phóng sanh. Nếu chẳng
thể học tập nhuần nhuyễn ngay được,
chỉ niệm chú Đại Bi một biến, hoặc chú
Văng Sanh ba biến, rồi niệm Tam Quy Y ba lượt. Phải
giữ ḷng thành th́ mới có cảm ứng.
* Hỏi:
Thanh Văn Niết Bàn và Đại Thừa Niết Bàn có ǵ
khác nhau? (Sa Nhâm hỏi)
Đáp: Như
Lai Tạng từ Thỉ Giác mà đạt đến Cứu
Cánh Giác, trí như tấm gương tṛn đầy, nên gọi
là Bát Nhă. Các chướng đều hết, đức
năng tỏ lộ toàn bộ, bèn gọi là Pháp Thân. Các khổ
đều ĺa, hai thứ sanh tử Phần Đoạn và
Biến Dịch đều giải quyết xong, bèn gọi
là Giải Thoát. Đấy là ba đức của Chân Như,
là Niết Bàn được chứng bởi Đại
Thừa. Nếu là Thanh Văn Niết Bàn th́ đối
với ba đức ấy, chỉ đạt được
một phần của đoạn đức Giải Thoát tức
là đoạn trừ Phần Đoạn sanh tử mà thôi.
* Hỏi:
Phật giáo đồ chưa thọ Ngũ Giới có thể
thay người khác cầu siêu cho người đă khuất
hay không? (Sa Nhâm hỏi)
Đáp: Nếu tâm trọn
đủ từ bi, chẳng ham danh lợi, đem điều
chính ḿnh hiểu biết để làm pháp thí cho người
khác th́ không ǵ là chẳng được. Người theo Tịnh
Độ trợ niệm cho kẻ khác cũng chính v́ lẽ
ấy. Bất quá, người đă thọ giới pháp lực
sẽ thù thắng hơn!
* Hỏi:
Tu hành phải đoạn Hoặc và ngạo mạn, tà kiến
v.v... V́ sao trong Phật môn rất nhiều hành giả
đều tự xưng chính ḿnh đạo cao, hoặc đă
đắc thần thông, hoặc vẽ bùa, làm phép vào nước,
chọn ngày, xem tướng v.v... Có phải là hành giả ấy
thật sự có sở đắc hay chăng? (Lư Thiện Trung hỏi)
Đáp: Tự
khen ngợi ḿnh là chẳng có đức. Nói ḿnh có thần
thông, e là vọng ngữ. Phù thủy, xem tướng đều
là tà mạng. Hành giả kiểu đó đă đi vào ngơ rẽ,
há có thể nói là “đă đạt” ư?
* Hỏi:
Đức Thế Tôn thần thông tự tại, Báo Thân có
thể trụ thế cả trăm năm hoặc ngàn năm,
cớ sao sau bốn mươi chín năm bèn nhập Niết
Bàn, chẳng độ chúng sanh nữa? (Lâm Phước Tu hỏi)
Đáp: Thời
hạn Phật thuyết pháp là bốn mươi chín năm,
chứ không phải là tuổi thọ của Ngài chỉ có
vậy! Cần biết Phật có ba thân, tức là Pháp Thân,
Báo Thân và Hóa Thân. Ở đây, tôi nêu một thí dụ. Pháp
Thân giống như mặt trời, Báo Thân giống như ánh
sáng tỏa từ mặt trời, Hóa Thân giống như h́nh
bóng chiếu xuống. Ba thứ ấy cũng là một. Pháp
Thân không khởi đầu, chẳng kết thúc, thường
hằng bất động. Hóa Thân có trăm ngàn vạn
ức, có khởi đầu, có kết thúc, giống như
h́nh bóng mặt trời thoạt Đông, thoạt Nam, thoạt
Tây, chợt có, bỗng không. Thân Thế Tôn đến trong cơi
này chính là Hóa Thân. V́ duyên hợp mà đến, duyên hết bèn
đi.
* Hỏi:
Tại gia học Phật đều gọi là cư sĩ,
nhưng nghe nói có người tự xưng cư sĩ, rốt
cuộc th́ có thể tự xưng hay chăng? (Tố Trinh hỏi)
Đáp: Có
thể tự xưng [là cư sĩ], thời cổ đă
có rất nhiều trường hợp như vậy.
* Hỏi:
Địa ngục giống như địa cầu, mặt
trăng? Trong tam thiên đại thiên thế giới, địa
ngục có “sắc thể” hiện thực hay không? Hay nó là
một thứ cảnh tượng huyền ảo, chẳng
phải là một tinh cầu có thể chất? (Tố Trinh hỏi)
Đáp: Xét
theo cơ cấu tổ chức của thế giới, chính
giữa là núi Tu Di, bảy rặng núi, tám cái biển vây
quanh. Rặng núi vây quanh ngoài cùng gọi là Thiết Vy Sơn.
Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện dạy: “Tam hải chi nội, thị
đại địa ngục, kỳ số bách thiên, các các
sai biệt” (trong ba cái biển là đại địa
ngục, số đến trăm ngàn, mỗi ngục đều
sai khác). Theo như các kinh ghi chép, đa số nói địa
ngục có thể gộp thành ba loại lớn:
- Một là “nhiệt địa
ngục”, ở dưới đáy biển Diêm Phù, có nhiều
tầng lớp.
- Hai là “hàn địa
ngục”, ở chân núi Thiết Vy.
- Ba là “biên địa
ngục”, rải rác trong núi, mé nước, đồng trống.
Theo đó, địa
ngục ở kề bên chân núi, đáy biển và rải rác
bốn phương, chẳng phải là có một tinh cầu
riêng. Phàm thứ ǵ hiện h́nh th́ gọi là sắc tướng.
Nếu hỏi là thật hay huyễn, kẻ sơ học
chẳng hiểu rơ giáo tướng, khó thể bàn về Lư,
chỉ có thể nói về Sự. Hăy thử nghĩ, đọa
địa ngục chịu khổ là thật, làm sao c̣n có thể
nói địa ngục là huyễn?
* Hỏi:
V́ sao quỷ luôn xuất hiện trên địa cầu chúng
ta vào ban đêm? Có phải là ban đêm địa cầu thuộc
về cơi Âm hay chăng? (Tố
Trinh hỏi)
Đáp: Quỷ
đạo là một cảnh giới riêng, không lúc nào chẳng
có, nhưng mắt kẻ tầm thường chẳng thể
trông thấy, trọn chẳng phải là ngày ẩn, đêm
hiện! Do ban đêm chẳng có ánh sáng mặt trời, [chỉ
có ánh sáng của] các ngôi sao. Đặc biệt là mắt con
người dễ nhận biết [quỷ vào ban đêm] hơn
ban ngày. Gọi cơi người là Dương Gian, gọi cơi
quỷ là Âm Gian là do ngoại đạo và thế tục đặt
tên như vậy, có ư nghĩa khác với chuyện địa
cầu tự xoay chuyển, hướng về mặt trời
gọi là ngày, ngược hướng với mặt trời
th́ gọi là đêm.
* Hỏi:
Thường nghe một bà cụ đồng đạo nói
“tam pḥng bất tấn” (chớ
nên vào ba loại pḥng). Một là pḥng của người mới
sanh chưa đầy tháng, đó là “huyết pḥng bất tấn”. Hai là pḥng của người
kết hôn chưa tṛn một tháng, đó là “huân pḥng bất tấn”. Ba là pḥng của người
chết chưa đầy một thất, tức là “tang pḥng bất tấn”. Chẳng
biết có lư do nào? Một Phật giáo đồ là bác sĩ
ngành phụ sản, mỗi ngày đều sáng tối thắp
hương, niệm kinh trong Phật đường, chỉ
đành đối với điều răn thứ nhất
không giữ v́ đó là công việc của chính ḿnh, có hợp
lư hay không? Ngẫu nhiên gặp lúc hàng xóm bối rối v́ sắp
sanh, có thể giúp đỡ hay không? Sau khi làm việc xong, có
nên chiếu theo thường lệ mà dâng hương, niệm
Phật hay chăng? (Lưu
Ngự Quân hỏi)
Đáp:
Thuyết “tam pḥng bất
tấn” nếu chẳng phải là lời đồn đại
thông tục th́ cũng là lời lẽ của ngoại đạo!
Đệ tử Phật v́ cứu độ chúng sanh, không
nơi nào chẳng có thể vào! Đệ tử Phật làm
việc trong ngành sản khoa, nếu giúp người khác
sanh nở, tốt nhất là hăy thầm niệm thánh hiệu
Quán Âm, cầu cho sản phụ mẹ lẫn con an toàn. Làm
việc xong, sau khi tắm rửa, liền có thể thắp
hương, niệm Phật, trọn chẳng có ǵ không thích
hợp!
* Hỏi:
Cúng dường trái cây trên bàn Phật có phải là Phật,
Bồ Tát đến huởng nhận hay chăng? [Trái cây] có
vỏ, có màng bọc th́ hưởng bằng cách nào? (Lưu Ngự Quân hỏi)
Đáp: Phật
quốc thanh tịnh, trang nghiêm, uế phẩm trong thế
giới trược ác quư báu nỗi ǵ mà đến hưởng
thụ. Bất quá chúng ta có ḷng thành trong sạch, Phật liền
chứng biết, ta đă gieo phước vậy. Như lúc
đức Thích Ca hành đạo, người đàn bà nghèo
dâng cúng tấm chăn dơ, đứa trẻ cúng dường
cát đất, đức Phật đều nhận lấy,
để họ gieo phước. Phật là vị vương
tử quư hiển, há cần đến tấm chăn và đất
ư? Chấp nhận ḷng thành của họ đó thôi!
* Hỏi:
Phụ nữ lúc có kinh bất tịnh, không biết có thể
làm những chuyện cúng dường như thắp hương,
lạy Phật, niệm Phật v.v... hay không? (Ngô Luân Bỉnh hỏi)
Đáp: Chuyện
này vốn do sinh lư khiến thành ra như thế, trọn chẳng
phải là cố ư bất tịnh. Chỉ cầu ư tịnh
bèn có thể chầu hầu Tam Bảo, chỉ nên lễ niệm
như thường lệ, chắc chắn chẳng có ǵ là
không hợp lẽ!
* Hỏi:
A Tu La có thiện và ác, chẳng biết thần th́ sao? Quỷ
th́ như thế nào? Thường trụ chỗ nào? Hoặc
là các vị thần cơi âm nhận sự cúng dường của
mọi người trong thế gian như Vương Gia,
Thành Hoàng, Pháp Chủ Công[32], Nhạc Đế[33], Ma Tổ[34], Phật Tổ, Quan Đế, Bảo
Sanh Đại Đế[35] v.v... là những vị thần thay trời
quản trị cơi đời? (Ngô
Luân Bỉnh hỏi)
Đáp: A
Tu La có bốn đường trời, người, súc
sanh, quỷ khác nhau. Nói sơ sài th́ sanh trong đường
nào sẽ trụ nơi đó. Nói cặn kẽ, y báo trong mỗi
đường sẽ rất khác nhau. Cùng sanh trong một đường,
mà trụ xứ c̣n rất khác biệt. A Tu La tuy là một
trong tám bộ hộ pháp, vẫn chưa nghe nói có ai thờ
phụng. C̣n như đoạn sau trong lời hỏi, đă
lẫn lộn giữa thần và Phật, những vị
thần thay trời quản trị cơi đời v.v... đều
là lời bịa đặt đồn nhảm, chẳng đáng
để tin theo!
* Hỏi:
Chẳng biết “nhân” trong “thiên nhân”[36] của
ba đường lành có phải là con người có thân xác
trong thế giới hay chăng? Hay là chư thiên trên cơi trời
mà nhục nhăn chẳng thể thấy được? (Ngô Luân Bỉnh hỏi)
Đáp: Thiên
đạo là hóa sanh, chẳng giống với thân xác của
người đời.
* Hỏi: Trong kinh nói “cúng dường Phật” phải
dùng chân châu, bảo bối, y phục v.v... để cúng
dường, hiện thời đúng là chuyện khó thể
làm được, chẳng biết cách cúng dường ra
sao? (Ngô Luân Bỉnh hỏi)
Đáp: “Thất bảo cúng Phật” là
nói đến vật quư báu tột bậc, chẳng phải
là bắt buộc phải dùng những thứ ấy rồi
mới là cúng Phật. Phải đọc kinh văn một
cách linh động.
* Hỏi:
Trong đời trước, đức Thích Tôn đă được
Nhiên Đăng Phật thọ kư thành Phật, đời này
v́ ứng thân độ sanh nên xuất hiện tại Ấn
Độ, phải nên trọn đủ thần thông, biết
rơ chính ḿnh là Phật, v́ sao lại nói “tu hành chín năm thành đạo”,
có ngụ ư ǵ? (Trí Hằng
hỏi)
Đáp: Tám
tướng thành đạo đều nhằm làm mẫu vậy!
* Hỏi: Lúc đức
Phật thuyết pháp, thường có các Bồ Tát nhiều
như cát sông Hằng từ phương khác đến
nghe, nhưng nơi chốn hữu hạn, làm sao có thể
dung nạp số lượng nhiều như vậy? (Vương Quyền hỏi)
Đáp: Nơi
chốn lớn hay nhỏ có thể biến hiện thuận
theo Phật lực, chẳng thể câu nệ theo lẽ thường
t́nh! Cư sĩ Duy Ma c̣n có thể hiện thần biến
khiến căn pḥng nhỏ tí dung nạp vô lượng ṭa
báu, huống là Phật lực? Nhưng tuy dung nạp đông
đảo đại chúng, quả thật cuộc đất
chẳng lớn hơn, nên gọi là Thần. Nếu chẳng
thể tin, xin lập một tỷ dụ: Tấm gương
vuông rộng một thước, dầy chẳng quá mấy
phân, đặt giữa đồng trống, núi cao ngàn tầm[37], nước xa trăm dặm đều
hiện bóng rành rành phân minh trong gương, mà gương cũng
chẳng hề lớn thêm!
* Hỏi:
Là đệ tử Phật môn có nên học tập thuật
xem tướng, coi số mạng, tánh danh học[38], thuật thôi miên hay không? (Đỗ Tự Nhiên hỏi)
Đáp: Những
thứ ấy đều là mê tín, chớ nên học tập.
Nếu trước đây do nghèo hèn, từng lấy đó
làm nghề để sống th́ chẳng ngại tạm thời
vẫn giữ như cũ.
* Hỏi: Kinh Kim Cang dạy:
“Ư thử kinh trung năi chí
thọ tŕ tứ cú kệ đẳng, vị tha nhân
thuyết nhi thử phước đức...” (Đối
với kinh này, thậm chí thọ tŕ một bài kệ bốn
câu, v́ người khác nói, th́ phước đức ấy...)
v.v..., đối với điều ấy, nếu chỉ
tự đọc tụng, chẳng v́ kẻ khác diễn
giảng, phước đức sẽ như thế nào? (Thiện Nhân hỏi)
Đáp: Tự
tụng là lợi ḿnh, diễn thuyết là lợi lạc người
khác. Lợi cả đôi đàng th́ phước rộng lớn,
lợi riêng ḿnh th́ phước đức hẹp ḥi.
* Hỏi: Thân là Ưu Bà
Tắc có thể v́ người khác tụng kinh, làm công
đức hay không? Đối với chuyện tụng
kinh, nếu nhận tiền do người ta biếu th́ có phạm
tội lỗi hay chăng? (Thiện
Nhân hỏi)
Đáp: Chẳng
được theo đuổi chuyện kinh sám! Nếu có t́nh
h́nh đặc biệt, v́ người khác làm công đức,
chẳng nhận tiền biếu xén th́ được!
* Hỏi:
Trong thế gian, nhân viên lo việc hộ tịch đến
mấy ngàn vạn, chỉ quản lư nhân loại mà đă bận
bịu đến nỗi chẳng được rơ ràng mười
phần. Diêm Vương chấp chưởng sổ sanh tử,
chỉ có mười vị mà phải cai quản tứ
sanh lục đạo trên toàn thế giới, làm sao có thể
cai quản phân minh được? (Thiện Nhân hỏi)
Đáp:
Nhân viên quản lư hộ tịch mấy ngàn vạn đều
là trực tiếp lo liệu, nhưng người quản
trị tổng quát chẳng qua vài người mà thôi. Diêm Vương
cũng là chức danh quản trị tổng quát, sao lại
nghi điều này?
* Hỏi:
Năm Dân Quốc 29 (1940), tôi theo quân đội đến
Lạc Dương, ngắm cảnh Long Môn Nhất Nhật
Tam Biến Sắc (Long Môn[39] một ngày ba lượt đổi mầu)
trong tám đại cảnh, thấy có mấy vạn tượng
Phật lớn nhỏ bằng đá, đó là kiến trúc
thời nào? Lại nữa, đầu tượng Phật
không tượng nào là chẳng bị khuyết mất một
nửa, do nguyên nhân nào? Xin hăy chỉ dạy! (Tống Minh Cung hỏi)
Đáp: Tượng
Phật tại Long Môn được tạo vào thời Nam
Bắc Triều[40] của Trung Quốc, vô cùng nổi tiếng
quư báu. Một ngày đổi màu ba lần là do núi ấy h́nh
thế chót vót, nước sông vờn quanh, [phản chiếu]
ánh mặt trời di chuyển lúc mờ, lúc tỏ mà ra. Tượng
Phật tàn khuyết do rất nhiều nguyên nhân, [tạm kể
th́] một là do những kẻ rập bia[41] để bán, mỗi lần rập bia
thường cố ư hủy hoại để người
rập bia sau họ chẳng có được h́nh ảnh vẹn
toàn, nhằm tăng giá trị bản rập của họ.
Hai là do khắc bằng đá nổi tiếng quư báu, những
gă buôn đồ cổ đập lấy đầu để
bán cho giới khảo cổ ngoại quốc.
* Hỏi:
Hai câu hỏi dưới đây hoàn toàn do mộng cảnh mà
có, nhưng là chuyện ngàn vạn phần chân xác, trọn
chẳng phải là bịa đặt vu vơ. Hai tháng trước,
tôi nghe tiên sinh Viên Kiến Huân giảng luận Phật pháp,
xiển dương chân lư Phật giáo, Tây Phương có nước
Cực Lạc, niệm thánh hiệu A Di Đà Phật lâu ngày
có thể văng sanh. Ông Viên lại dạy niệm Lục Tự
Đại Minh Chú có thể khai trí
huệ, có thể khiến bệnh được lành nhanh
chóng. Lúc đó, tệ nhân bèn kiền thành tụng niệm, đến
đêm thứ ba liền mộng thấy hai giấc
mộng sau đây: Một
là lúc sắp mộng, nằm trên giường liền
niệm thầm Nam-mô A Di Đà Phật, trong khi mơ màng liền
bước vào cảnh mộng, thấy trên núi có hai vị
ḥa thượng, ngồi đối diện nhau bàn về tâm.
Tệ nhân đến trước ḥa thượng, nghe nói
hai câu: “Tích nhật Tam Tạng
địa, kim thành Quảng Hàn cung” (Xưa kia
đất Tam Tạng, nay thành cung Quảng Hàn), nhưng hai
vị ḥa thượng ấy trọn chẳng nói chuyện
với tôi, mà hai vị đàm thoại đặc biệt nhiều,
tệ nhân nhớ chẳng rơ rồi dần dần tỉnh
giấc (khoảng mười hai giờ đêm), xin hăy chỉ
dạy! (Châu Văn Hiến
hỏi)
Đáp: Mộng
đều do kết tưởng mà thành, tức là do tập
khí phát khởi, hiện hành. Luận theo Lư, lúc tỉnh mộng
c̣n chưa phải là thật, th́ trong mộng càng hư vọng
hơn nữa! Nhưng hai nhà Nho và Phật đều có thuyết
giải mộng, nên chẳng ngại ǵ mà miễn cưỡng
giải thích, suy đoán. Điều này chứng tỏ cư
sĩ học Phật đắc lực. “Tam Tạng địa” chắc là nói đến Tạng
thức nay đă được kinh Phật huân tập, dần
dần có xu thế chuyển thành pháp tạng. “Quảng Hàn cung” là mặt trăng,
nhà Phật thường sánh ví Đại Viên Kính Trí như
mặt trăng, có lẽ là tạng thức nhờ sức
huân tu kinh Phật nên có hy vọng dần dần chuyển
thức thành trí. Tăng là một trong Tam Bảo, mộng thấy
sẽ là thụy tướng (tướng tốt lành), hoặc
là Bồ Tát hóa hiện để sách tấn, cũng chưa
biết chừng!
Hỏi:
Giấc mộng trước vừa tỉnh, chẳng biết
lại bước vào cảnh mộng vào lúc nào, địa
điểm là ở chỗ tôi ở, khi ấy có mười
mấy cô gái trẻ trước nay chưa hề quen biết,
vây quanh tôi, quấn lấy quấy nhiễu tôi, miệng thốt
lên những lời dâm tà chẳng hợp lễ nghĩa, chẳng
ra thể thống ǵ. Đáng sợ nhất là có một cô rốt
cuộc ôm chặt lấy tôi, cởi quần tôi ra, trong khi
ngàn cân treo sợi tóc ấy, trong tâm mạnh mẽ nhớ tới
“Om Mani Padme Hum” liền tụng
ra miệng, rất lạ lùng là mây tiêu, sương tan, chẳng
biết các cô gái biến đâu hết, lúc tỉnh giấc
toàn thân đẫm mồ hôi. Khi ấy là hai giờ bốn
mươi phút, cũng xin hăy giải thích. (Châu Văn Hiến hỏi)
Đáp: C̣n
có thể làm chủ trong mộng, chẳng bị nhiễm dục,
có thể tŕ chú để tự giữ ḿnh, đó là học
Phật đắc lực. Nếu có thể làm chủ trong
mộng, th́ khi tỉnh ắt sẽ làm chủ được.
Hết sức khâm phục!
* Hỏi:
Triết học gia Hy Lạp thời cổ nói vật chất
trong vũ trụ do bốn nguyên tố hợp thành, một
là nước, hai là lửa, ba là gió, bốn là đất,
giống như Tứ Đại của Phật giáo, nhưng
chẳng nói tới nguồn gốc của học thuyết
ấy. V́ thế, xin hỏi là học thuyết ấy từ
Ấn Độ truyền sang Hy Lạp hay từ Hy Lạp
truyền sang Ấn Độ, hay là ngẫu nhiên xảo hợp
mà giống nhau? (Diệp Khánh
Đào hỏi)
Đáp: Từ
Ấn Độ truyền sang Hy Lạp hay từ Hy Lạp
truyền sang Ấn Độ, chẳng có sách vở nào để
làm căn cứ, nên chẳng thể đáp tùy tiện. Hy Lạp
nói vật chất trong vũ trụ đều do bốn
nguyên tố ấy hợp thành, đều là những lời
lẽ lầm lẫn thể chất giả tạm là chân
thật. Đức Phật nói Tứ Đại là từ
ngữ tỷ dụ trừu tượng sống động,
hoạt bát, nên có thể nói là “ngẫu nhiên xảo hợp”,
nhưng nếu [xét theo] ư nghĩa giải thích [của Tứ
Đại và bốn nguyên tố] th́ chẳng hoàn toàn giống
nhau. Hơn nữa, Phật pháp chính là đạo được
truyền thừa bởi tam thế chư Phật, ắt sẽ
có học thuyết riêng. Tuy tùy thuận kiến giải thế
gian, ngẫu nhiên nói giống nhau, nhưng phần nhiều
là phương tiện, chứ xét đến chỗ rốt
ráo, vạn phần chẳng phải là chuyện thuộc về
tri kiến quen thuộc của con người.
* Hỏi: Khi đức
Thích Ca Thế Tôn xuất gia đă bái vị nào làm thầy?
Xin hăy dạy cho! (Hồ Viễn
Chí hỏi)
Đáp: Thích
Tôn từ nhiều kiếp đă sớm thành Phật
quả, đến [thế giới Sa Bà] này vốn nhằm
thị hiện để độ chúng sanh. Sau khi xuất
gia, những người Ngài đến tham phỏng đều
là ngoại đạo, nên Ngài nhất loạt bỏ đi
[chẳng học theo họ]. C̣n như nói tới chuyện
thành Phật trong đời này, Ngài trọn chẳng có sư
thừa.
* Hỏi:
Có người niệm Phật cầu sanh Tây Phương do
kiêng giết, ăn chay, chỉ là thường ăn trứng
gà. Nếu căn cứ vào chữ Nghiệt trong bài kệ “tá vấn binh đao tai, hà
thuật phương năng miễn, đề pḥng tam xan
thời, mạc thác oan nghiệt oản” (thử hỏi
nạn chiến tranh, cách nào mới thoát được? Hăy
ngừa trong ba bữa, đừng ăn thứ oan nghiệt)
th́ do không có máu, nước mắt, tiếng ai oán, nên dường
như có thể ăn trứng gà; nhưng chúng sanh có bốn
loại là noăn, thai, thấp, hóa, trứng gà là một trong bốn
loại chúng sanh, chẳng biết thuyết nào đúng, thuyết
nào sai? (Hồ Viễn Chí hỏi)
Đáp: Trứng
không có cồ, trong ấy không có mầm sống, nên có thể
phương tiện ăn được!
* Hỏi:
Ngoại giáo nói đến Thượng Đế th́ rốt
cuộc là vị thần nào? (Lâm
Liễu Lâm hỏi)
Đáp: Ngoại
đạo đông đảo, “Thượng Đế” đại
khái chỉ Thiên Đế. Các giáo khác phần nhiều cho rằng
chỉ có một tầng trời, họ cũng chẳng biết
đến các tên gọi Dục Giới, Sắc Giới, Vô
Sắc Giới. Đă có nhiều loại trời th́ số
lượng Thiên Đế quả thật không chỉ là mấy
ngàn vạn ức, bọn chúng ta chẳng thể định
rơ được, chỉ đành nói là trong mỗi tôn giáo,
tin vào vị trời, coi cơi lư tưởng là chỗ nào th́ sẽ
sùng phụng vị Thượng Đế nơi ấy mà
thôi!
* Hỏi:
Mạt học có chí hoằng pháp độ đời, hiềm
rằng học thức nông cạn, lại chẳng biết
nên bắt đầu nghiên cứu Phật học từ chỗ
nào? Nghiên cứu ra sao? Trong tay lại chẳng có rất nhiều
sách Phật học, hoặc những sách vở đang có chẳng
thích đáng, không biết phải làm như thế nào mới
nên? (Thiền và Tịnh chỉ có thể tự tu, để
hoằng dương cũng cần phải nghiên cứu trước).
(Quách Bổn Vân hỏi)
Đáp: Văn
Tư là Phật học, tu tŕ là học Phật, hai điều
ấy vốn chẳng thể tách rời. Tu mà chẳng học,
tức là người mù, ngựa đui, ắt nhiều lầm
lỗi. Học mà chẳng tu, tức là kể chuyện ăn,
đếm của báu, trở thành hư luận.
Hơn nữa, kẻ có học mà chẳng tu th́ cái học
ấy chẳng vững vàng, tự ḿnh c̣n không làm, làm sao có
thể dạy người khác cho được? Vạn
pháp sâm la đều do tâm tạo. Bài Khuyến Phát Bồ
Đề Tâm Văn của Tỉnh Am đại sư có câu:
“Tâm chân thật, ắt sự
là thật”. Do vậy biết: Không tu mà dạy người
khác cũng sẽ chẳng thành! Nếu nói tu hành th́ trong thời
Mạt Pháp, chỉ có Tịnh Độ dễ tu. Nếu nói
đến học th́ Thái Hư Đại Sư Toàn Thư
chính là văn khố dành cho kẻ sơ học. Thông hiểu
bộ sách ấy rồi mới đọc những kinh sách
khác sẽ thấy dễ hiểu.
* Hỏi:
Giáo đồ đạo Cơ Đốc truyền đạo,
thường nhục mạ Phật giáo, v́ sao chẳng dựa
trên lư để tranh biện cùng họ? [Nếu chẳng làm
như vậy], rơ ràng chẳng phải là lư của tự ḿnh
kém cỏi ư? (Lục
Phương Nghĩa hỏi)
Đáp: Tôi
c̣n chưa đích thân nghe, đích thân thấy. Nếu có chuyện
ấy, sợ rằng là lời lẽ của những kẻ
học thức nông cạn, vừa nhập đạo, khó
thể chê trách được! V́ kẻ ấy chẳng những
không hiểu Phật giáo, mà dường như đối với
giáo nghĩa Cơ Đốc giáo hắn cũng chẳng hiểu
rơ! Đó gọi là “ngửa mặt nhổ lên trời, vẫn
là tự ḿnh nhận lấy, trời chẳng nhổ xuống
người”, há có phải là kém lư?
* Hỏi:
Tôi nghĩ đến mấy năm trước, tại nội
địa có báo X... có một lần nhục mạ Hồi
giáo, giáo đồ Hồi giáo người ta đúng là nhiệt
tâm, phá tan ṭa soạn tờ báo ấy, lại c̣n kiện tụng
ra ṭa. Xảy ra chuyện ấy, cũng chẳng có ai dám lấn
hiếp Hồi giáo, v́ sao Phật giáo đồ chẳng có
dũng khí như vậy? (Lục
Phương Nghĩa hỏi)
Đáp: Phật
giáo vốn giữ ḷng bi mẫn, coi trọng hạnh Nhẫn
Nhục. Báng Phật pháp là tội hàng đầu, thậm
chí gấp vạn lần tội Thập Ác, Ngũ Nghịch,
đọa vào địa ngục A Tỳ. Nếu kiếp này
hết, lại chuyển sang địa ngục ở phương
khác, xoay vần trong các địa ngục như thế trăm
ngàn lần, mà đức Phật cũng chẳng huyền
kư khi nào [kẻ ấy] sẽ thoát ra, bởi báng chánh pháp là
giết hại huệ mạng của chúng sanh. Những người
ấy chỉ quan tâm lời dua nịnh cho sướng ư trước
mắt, chẳng biết đời sau tội báo vô cùng, rất
đáng thương xót! Ta chẳng thể độ họ,
đă phải buông bỏ, sao c̣n nỡ so đo với họ?
* Hỏi:
Nhằm hộ giáo, nào ngại học một chút tinh thần
thượng vơ? (Lục
Phương Nghĩa hỏi)
Đáp: Ông
chẳng thấy Thập Tự Quân[42] mười lần đổ máu ư?
Nhà Phật chẳng theo đuổi chuyện ấy, dẫu
ngay tại Trung Quốc, bị Đạo gia ganh ghét, khiến
xảy ra nạn Tam Vũ Diệt Pháp[43], bị Tống Nho phỉ báng, bài xích là
dị đoan, nhà Phật chẳng mảy may dùng lời ác đáp
trả, huống c̣n có những động tác khác. Do đấy
là ḷng từ bi, nên đó mới là điều vĩ đại
[của Phật giáo].
* Hỏi:
Trong số các pháp sư từ nội địa đến
Đài Loan, tính ra có mấy vị có tu tŕ, có học vấn
cao nhất? Tôi là kẻ đi sai đường, nay muốn
kết giao cùng vài vị, chẳng thể không cẩn thận,
xin cư sĩ hăy giới thiệu một hai vị cho tôi được
không? (Vương Đa
Tường hỏi)
Đáp: Phàm
là người xuất gia, tôi đều tôn là thầy, v́ họ
là Tăng Bảo. Nếu nói đến tu tŕ, học vấn,
nêu tên vị này, hay vị kia, đều tạo thành đầu
mối thị phi, mà thật sự cũng chẳng cần
phải giữ thành kiến ấy. Ngạn ngữ xưa có
câu: “Tam nhật bất
kiến, quát mục tương thị” (ba ngày không
gặp, phải nh́n bằng con mắt khác). Trong ṿng
thăng giáng, mỗi thời mỗi khác. Trong kinh vốn có
câu: “Y pháp, bất y nhân”, đấy
là tiêu chuẩn tốt nhất. Đại pháp sư nếu
ĺa kinh, phản đạo, hăy nên “kính nhi viễn chi”. Tiểu
sa-di một lời khế lư, cũng nên đảnh lễ
tin nhận.
* Hỏi:
Phật có ba thân, Pháp Thân trọn khắp hư không, mà trong
mười phương ba đời, số lại nhiều
ngần ấy, chúng sanh Sa Bà cũng đông, Phật đă là
đại từ đại bi, cớ sao tự tại hưởng
thụ trong hư không, chẳng nghĩ chúng sanh đang khổ
sở? Giả sử mỗi vị Phật độ được
mười người, c̣n lo ǵ chúng sanh Sa Bà ai nấy đều
chẳng thành Phật ư? Chuyện này rất khó hiểu!
(Song Mộc hỏi)
Đáp: Phật độ chúng
sanh, chẳng phải chỉ là thuyết pháp, thuyết pháp
dùng ngữ ngôn văn tự chỉ là một loại [trong
vô vàn cách độ sanh mà thôi]. Các trần khác như thanh, sắc
v.v... có thứ nào chẳng thuyết pháp. Như hoa rơi, lá
rụng, sắc núi, tiếng nước, nhân sự lưu
chuyển, mặt trời, mặt trăng vận hành, đều
là diệu đế (chân lư mầu nhiệm) được
diễn giảng bởi hư không Pháp Thân. Tiếc là chúng
sanh phần nhiều chẳng chú ư, tuy đức Thích Ca ứng
hóa lưu lại kinh giáo, há chẳng đồ sộ ư,
nhưng có mấy ai chịu nghe? Đấy là Phật thuyết
pháp chẳng gián đoạn, nhưng chúng sanh chẳng tiếp
nhận, sao lại ngược ngạo trách Phật?
* Hỏi: Tôn giả Đại Mục
Kiền Liên từng hiển lộ thần thông, nhưng Phật
chưa hề quở trách. V́ sao tôn giả Tân Đầu Lô
hiển thị thần thông, Phật liền quở trách? (Hứa Viêm Đôn hỏi)
Đáp:
Do tôn giả Tân Đầu Lô hướng về lũ phàm
phu khoe khoang chuyện kỳ dị, mà hiển lộ, khiến
cơi đời kinh hăi. Tôn giả Mục Liên v́ cứu ḍng họ
Thích, âm thầm vận dụng, phát xuất từ ḷng từ
bi. T́nh h́nh đôi bên khác nhau!
* Hỏi:
Học Phật há chẳng phải là tu đến công phu nhất
định liền có thể chứng Vô Sanh, nhập Niết
Bàn, v́ sao Phật quở trách tôn giả Tân Đầu Lô chẳng
cho phép nhập Niết Bàn, nên Ngài chẳng thể chứng
quả, là do lư do nào? (Hứa
Viêm Đôn hỏi)
Đáp: Từ
ngữ Niết Bàn được dịch bằng rất
nhiều danh từ, có khi dịch là Tịch Diệt. Tịch
nghĩa là ĺa phiền năo, Diệt nghĩa là dứt sanh tử.
Chứng là trọn hết cái nhân, Nhập là quả trọn
vẹn. Tôn giả tuy đă chứng Vô Sanh, nhưng chỉ
là nhân tận (trọn hết sự tu nhân), thân vẫn c̣n các
thứ khổ hữu lậu khác. [Nói Phật] chẳng cho [tôn
giả] nhập diệt tức là [tôn giả Tân Đầu
Lô] chưa thể viên măn quả Vô Dư.
* Hỏi:
Theo tập tục, tháng Bảy Âm lịch cúng tế tổ
tiên, hoặc niệm kinh, tụng chú để cầu siêu
độ. Chiếu theo nhà Phật để luận, tổ
tiên mất đă lâu, không chừng đă sanh làm người
hay trời, hoặc thành súc sanh, há chẳng phải là uổng
phí tâm thần ư? (Hứa Viêm
Đôn hỏi)
Đáp:
Theo kinh Vu Lan Bồn, ngày Rằm tháng Bảy là ngày Phật hoan
hỷ, tức là ngày Tăng Tự Tứ. Ngày hôm ấy cúng
dường Tam Bảo có thể siêu độ cha mẹ bảy
đời. Thế tục lấy tháng Bảy để cúng
tế tổ tiên là sai lầm. Nếu tổ tiên đọa
quỷ đạo, sẽ có thể đến hưởng.
Nếu ở trong ba đường trời, người,
súc sanh, cúng tế vô ích. Nếu niệm kinh, tụng chú đúng
pháp, xuất phát từ ḷng chí thành, ắt sẽ cảm ứng,
sẽ từ bậc hạ mà vượt lên bậc thượng,
chẳng giống như sắp dọn cỗ bàn cúng bái [tổ
tiên] suông!
* Hỏi:
Con người trong thế gian, bất luận là người
thông minh như thế nào, làm việc từ đầu đến
cuối đều thuộc cảnh mộng. Nếu lúc con người
hôn trầm, rơi vào giấc ngủ, chẳng phải là nằm
mộng trong mộng ư? (Trí Lương
hỏi)
Đáp: Cũng
có thể nói như vậy.
Hỏi: Khi
con người sắp mất, tâm thần tối tăm, ngừng
thở, thần thức chẳng biết về đâu, ở
trong một bầu u ám, theo gió dật dờ, bỗng nh́n thấy
xa xa có ánh sáng liền hướng đến đó; do vậy,
trầm luân trong lục đạo, chẳng có lúc hết khổ
(xem phần Sức Chung (giúp đỡ lúc lâm chung) trong sách Kính
Trung Kính). V́ sao tiến đến chỗ có ánh sáng bèn đọa,
v́ sao lục đạo có ánh sáng? Nếu đúng là như vậy
th́ Phật quang và ánh sáng lục đạo khác nhau như thế
nào? (Trí Lương hỏi)
Đáp: Một
tia sáng trong bóng tối là do nghiệp [đă tạo khiến
cho người vừa mất] đáng phải sanh vào chỗ
nào bèn cảm vời [chỗ ấy] phát ra [tia sáng đó]. Nếu
là Phật quang, sẽ trọn khắp các nơi chốn, trọn
chẳng có hắc ám.
* Hỏi:
Trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Phổ Môn Phẩm có nói “chư ác quỷ thượng
bất năng dĩ ác nhăn thị chi” (các ác quỷ c̣n chẳng
thể dùng mắt để ngó), các ác quỷ ấy thuộc
về đường nào trong lục đạo? (Lục Thiên Dưỡng hỏi)
Đáp:
Thuộc quỷ đạo.
* Hỏi:
Trong kinh Kim Cang có nói: “Nhược
dĩ sắc kiến ngă, dĩ âm thanh cầu ngă, thị
nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai”
(Nếu dùng sắc thấy ta, dùng âm thanh cầu ta, người
ấy hành tà đạo, chẳng thể thấy Như
Lai). Tŕnh bày đại lược phạm vi của tà đạo
th́ có tự viện nuôi mèo, nuôi lợn, há chẳng phải
là phạm sát giới ư? Trong tự viện lại để
thơ giải quẻ xăm, ống xăm, lại đặt
lư hương thờ Thiên Công (Thiên Đế, Ngọc
Hoàng), Môn Thần[44] v.v... há chẳng phải là ngoại
đạo ư? Chẳng do Phật giáo mà cứ hành, há chẳng
phải là hành tà đạo ư? Nếu là như vậy, tôi kính mong quư báo hăy xúc tiến
cải thiện. (Lục Thiên
Dưỡng hỏi)
Đáp: Tự
viện nuôi mèo, nuôi lợn, đặt thơ giải xăm,
cùng đặt lư hương thờ Thiên Công, Môn Thần
v.v... đều do họ chẳng thấu hiểu Phật pháp
mà nên nỗi. Tạp chí này đối với các thứ sai
lầm của Phật giáo đồ đă nhiều lần
lớn tiếng kêu gào, khuyến thiện tuy do người
khác, nhưng tiến lên vẫn phải cậy vào chính ḿnh.
C̣n như kinh Kim Cang nói “thị
nhân hành tà đạo”, thật ra chẳng phải là nói về
những điều ấy, bởi lẽ trong tâm bọn họ
(những kẻ nuôi mèo, lợn, giải xăm, thờ táp
nham thần thánh v.v...) chẳng có một tí ti đạo nào,
há có thể luận định tà hay chánh ư? Đoạn
kinh văn ấy nhằm nói với những người tu
hành chấp trước sắc tướng, chẳng xét đến
tự tâm; ư nói: Người ấy tuy biết cầu đạo,
nhưng tiếc rằng chẳng noi theo đường chánh.
Bài kệ ấy tuy mang lời lẽ quở trách, vẫn chưa
đủ để quở trách những kẻ mê man nuôi dưỡng
gia súc, bày tṛ xin xăm.
* Hỏi:
Hết thảy các pháp bất sanh, bất diệt, bất tăng,
bất giảm, cớ sao hết thảy các pháp hữu vi, hết
thảy chúng sanh nhiều hơn thời cổ? (Huệ Tánh hỏi)
Đáp: Nhiều
hay ít th́ phải gộp chung lục đạo và vô lượng
thế giới lại để nh́n, nơi này nhiều, có
thể nơi kia ít, như sóng biển, chợt cuốn về
Đông, lại xô về Tây. Tuy chợt Đông, chợt Tây,
nước biển quả thật chẳng tăng hay giảm.
Điều này có thể tham khảo phần trả lời
câu hỏi của Trương Kiếm Phân trong sách này.
* Hỏi:
Phàm nhân bất luận chuyện ǵ đều xin xăm tại
chùa miếu để xin giải quyết. Nếu tin Phật
cầu sanh về Tây Phương, mà tự tâm chẳng định
th́ cầu giải quyết như thế nào? (Huệ Tánh hỏi).
Đáp: Nếu
có thể tín tâm kiên cố, hăy nên y giáo phụng hành, cần
ǵ cứ phải cầu giải quyết nữa?
* Hỏi:
Nhiều người hỏi: Quan Công được thờ
tại Văn Hành Thánh Đế[45] Miếu
Từ chính là hộ pháp già lam chủ trong Phật giáo, có thể
lạy hay không? Xin hăy chỉ dạy! (Huệ Tánh hỏi)
Đáp: Đă
là hộ pháp của Phật giáo, đương nhiên phải
lạy! Nhưng liên quan đến chuyện này, những tín
đồ Phật giáo hiểu lầm khá nhiều, ở đây,
xin giải thích: Cần phải biết kính lễ và quy y, căn
bản là khác nhau. Quy y là tín phụng giáo pháp, một mực
nương cậy, trọn hết đời làm đệ
tử, chẳng sùng phụng giáo pháp nào khác! Kính lễ là chỉ
lễ phép đối với đối phương. Điều
này chẳng giới hạn trong ṿng trời, người,
thần, quỷ, mà đối với lục đạo
chúng sanh đều phải cung kính đối với họ.
Có Thường Bất Khinh Bồ Tát là như vậy đó.
Nhưng đối với người ta đă quy y, hăy nên
thường đến thân cận, cung phụng, c̣n đối
với chư thiên, thần, quỷ v.v... lúc gặp nhau bèn lễ
phép, không cần phải gần gũi, bợ đỡ họ.
Phật Học Hỏi Đáp
Loại Biên
Phần 5
hết
[1] Thiều Nhạc (韶樂) c̣n gọi là Thuấn Nhạc là một
loại cổ nhạc, tương truyền đă có
lịch sử năm ngàn năm. Theo Lă Thị Xuân Thu, vua
Thuấn sai một viên quan tên là Chất tu chỉnh các
loại nhạc Cửu Thiều, Đại Liệt,
Lục Anh nhằm tỏ rơ đức của nhà vua. Sau
đấy, ba triều đại Hạ, Thương, Châu
đều dùng nhạc Thiều làm nhạc tấu trong các
dịp điển lễ của quốc gia. Khi Châu Vũ
Vương diệt Trụ, đă phong cho Khương
Tử Nha (Khương Thượng) đất Doanh Khâu,
lập ra nước Tề, nhạc Thiều bèn
được truyền vào đất Tề. Nhạc
Thiều tại đất Tề đă hấp thụ trào
lưu nhạc tại địa phương, đạt
tới một mức độ cao hơn, chuyển
biến thành một thể loại đẹp đẽ,
tinh vi nhất thời ấy. Năm hai mươi lăm
đời Lỗ Chiêu Công (517 trước Công Nguyên),
Khổng Tử đến đất Tề, nghe nhạc
Thiều tại nhà Cao Chiêu Tử đă tán thưởng: “Bất đồ vi nhạc chí
vu tư! Học chi, tam nguyệt bất tri nhục vị”
(Nào ngờ nhạc đạt đến mức độ
ấy, học nhạc, ba tháng chẳng biết đến
mùi thịt).
[2] Kể từ mồng Một tháng Giêng
năm 1912, chánh quyền Trung Hoa Dân Quốc ban hành
đạo luật sử dụng dương lịch
(Gregorian Calendar) trong toàn quốc, gọi dương
lịch là Quốc Lịch, c̣n âm lịch truyền thống
gọi là Nông Lịch.
[3] Theo kinh Bảo Tích, Văn Thù Sư
Lợi Thọ Kư hội, Thích Ca Mâu Ni Phật thọ kư
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát sẽ thành Phật
hiệu là Phổ Kiến Như Lai. Theo đó, sau khi nghe
ngài Văn Thù Sư Lợi phát nguyện xong, do Sư Tử
Dũng Mănh Lôi Âm Bồ Tát khải thỉnh, đức
Phật bèn giảng: “Khi thành
Phật, Văn Thù Sư Lợi sẽ có hiệu là Phổ
Kiến, v́ sao có hiệu là Phổ Kiến? Do đức
Như Lai ấy hiện khắp trong vô lượng trăm
ngàn ức na-do-tha các cơi Phật trong mười
phương. Nếu các chúng sanh trông thấy đức
Phật ấy, nhất định sẽ đắc Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Tuy Phổ Kiến
Như Lai chưa thành Phật, nhưng trong hiện tại
và sau khi ta diệt độ, có ai nghe danh Phổ Kiến
Như Lai cũng đều nhất định đắc
Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, chỉ trừ
kẻ đă nhập địa vị Ly Sanh và kẻ tâm
hẹp ḥi, hèn kém”. Thật ra, đây cũng là thị
hiện v́ ngài Văn Thù Sư Lợi đă thành Phật
từ lâu xa trong quá khứ với danh hiệu khác.
[4] Khóa học mở được
nửa chừng, bèn xin dự vào lớp học ấy.
[5] Chú âm: Ghi âm đọc bằng các Chú Âm
Phù Hiệu (hay c̣n gọi Bopomofo theo âm đọc của bốn chữ đầu
trong bảng phù hiệu này), một hệ thống kư
hiệu gần giống như một bảng chữ cái
để ghi âm đọc chữ Hán theo âm Quan Thoại.
Hệ thống kư hiệu này do học giả Chương
Thái Viêm sáng chế (với danh xưng Chú Âm Tự Mẫu)
dựa theo những nét viết chính của chữ Hán. Sau
đó, Chú Âm Phù Hiệu được tu chỉnh bởi
ủy ban Độc Âm Thống Nhất Hội của
bộ giáo dục Trung Hóa Dân Quốc dưới sự lănh
đạo của Ngô Kính Hằng, và chính thức áp dụng
trên toàn quốc từ năm 1918, gồm 37 kư hiệu và
bốn dấu giọng. Hiện thời, cách này hầu
như không c̣n sử dụng tại Hoa Lục, đa
số dùng hệ thống phiên âm Pinyin tiện lợi
hơn. Chú Âm Phù Hiệu cũng c̣n được dùng
để ghi ngôn ngữ của một số sắc dân
thiểu số tại Đài Loan như Atayal, Seedig, Paiwan,
Tao v.v... .
[6] Thập Lục Quốc là một giai
đoạn lịch sử từ năm 304 đến 439
khi nhà Đông Tấn suy yếu,
các sắc dân không phải Hán
tộc thừa dịp từ biên ải vào chiếm Trung
Nguyên xưng đế. V́ phần lớn những triều
đại này do năm sắc dân thiểu số chính sáng
lập nên sử Trung Quốc thường gọi là Ngũ
Hồ Loạn Hoa. Mười sáu nước là Tiền
Triệu (do Lưu Uyên người Hung Nô sáng lập,
thoạt đầu xưng là Hán), Thành Hán (do Lư Hùng,
người Đê sáng lập), Tiền Lương (do
Trương Thật người Hán sáng lập), Hậu
Triệu (do Thạch Lặc người Yết sáng
lập), Tiền Yên (do Mộ Dung Hoảng người Tiên
Ty sáng lập), Tiền Tần (do Phù Kiến người
Đê sáng lập), Hậu Yên (do Mộ Dung Thùy, người
Tiên Ty sáng lập), Hậu Tần (do Diêu Trành
người Khương sáng lập), Tây Tần (do Khất
Phục Quốc Nhân người Tiên Ty sáng lập), Hậu
Lương (do Lữ Quang người Đê sáng lập),
Nam Lương (do Thốc Phát Ô Cô người Tiên Ty sáng
lập), Nam Yên (do Mộ Dung Đức người Tiên Ty
sáng lập), Tây Lương (do Lư Cảo người Hán sáng
lập), Bắc Lương (do Đoàn Nghiệp
người Hung Nô sáng lập), Hồ Hạ (do Hách Liên
Bột Bột người Hung Nô sáng lập), Bắc Yên (do
Mộ Dung Vân người Tiên Ty sáng lập). Ngài Cưu Ma La
Thập (344-413) và ngài Huyền Trang (596-664) chênh nhau
khoảng 250 năm.
[7] “Chưng
thường” có nghĩa gốc là cúng tế Xuân Thu
nhị kỳ, hiểu theo nghĩa rộng là cúng bái,
giỗ quải. Nói “chưng thường” là dựa theo ư
nghĩa tụ họp lại nấu nướng
đồ ăn (chưng) xong, bày lên cúng rồi ăn
uống với nhau (thường).
[8] Đây là một từ ngữ phát
xuất từ một câu nói của Khổng Tử trong
thiên Học Nhi sách Luận Ngữ: “Thận chung, truy viễn, dân đức quy hậu
hĩ”, có nghĩa là cha mẹ đă mất, bèn chôn
cất cẩn thận, kiền thành cúng tế để
tưởng niệm ân đức tổ tiên th́ đức
hạnh của dân chúng sẽ được bồi
đắp sâu dầy.
[9] Huyết thực: Là từ ngữ
chỉ sự cúng tế bằng đồ mặn. Do
cổ lệ thường cúng tế tổ tiên, thần
thánh bằng tam sanh (ba con vật, thường là dê, ḅ, heo)
mổ xong, cạo lông, để nguyên con trên bàn thờ nên
gọi là “huyết thực”.
[10] Vi Đà (Skanda) là hộ pháp Bồ Tát,
hóa thân làm một thần tướng của Nam
Phương Tăng Trưởng Thiên Vương, cầm
đầu ba mươi hai vị thần tướng, Ngài
c̣n được gọi là Vi Đà Thiên. Có thuyết nói
trong tương lai Ngài sẽ thành Phật, tức là Lâu Chí
Phật, vị Phật cuối cùng trong Hiền Kiếp.
[11] Hoàng Kỳ (astragali raxi, milky vetch) là
một loài thực vật thuộc họ Đậu. Do
thường mọc hoang tại Hoa Bắc, Nội Mông
Cổ, nên c̣n gọi là Bắc Kỳ. Theo Đông Y, bộ
phận dùng để làm thuốc là củ, có vị
ngọt, tánh hơi ấm, thường dùng để
chủ trị các chứng bệnh hư về tỳ và
phế.
[12] Hồng Phàn có công thức hóa học là K2Cr2O7
(potassium dichormate) là một chất hóa học đỏ
rực, hơi có màu cam, có tính oxide hóa rất mạnh,
thường dùng để thuộc da, tráng phim, và nhiều
ứng dụng khác, nó là chất độc, có thể gây
chết người.
[13] Bạch Tỳ là arsenic trioxide (As2O3),
có màu trắng không mùi, cực độc, chỉ cần
nuốt phải một lượng rất nhỏ
chừng 0,06 gram đă gây chết người.
[14] Độc thạch chính là tên gọi
một số các chất chứa arsenic (thạch tín)
dưới dạng khoáng.
[15] Cờ vây (dịch kỳ, vi kỳ) là
một loại cờ truyền thống của
người Hoa, được ưa chuộng hơn
cờ tướng (Tượng Kỳ) rất nhiều.
Quân cờ gồm hai màu đen và trắng, không khắc
chữ. Bàn cờ được chia thành 19
đường dọc và ngang tạo thành. Người
chơi cờ sử dụng các quân cờ để bao vây
đối thủ. Loại cờ này cũng
được phổ biến tại Đại Hàn
(với tên gọi baduk) và Nhật Bản (với tên
gọi Igo).
[16] Hà Thượng Chi (382-460), tự
Ngạn Đức, làm Thượng Thư Lệnh của
Tống Văn Đế thời Nam Triều.
[17] Nguyên văn “biên
hộ” (編戶) có nghĩa
là đăng kư tên trong hộ tịch thường trú
của một địa phương. Do khi nào đời
sống ổn định, chẳng loạn lạc, dân
chúng không phiêu bạt, sẽ xin nhập tịch, làng xă. Do
vậy, “an cư” c̣n gọi là “biên hộ”.
[18] Điển cố đến một câu
nói của Khổng Tử trong sách Lễ Kư: “Quân tử viễn bào trù, phàm hữu huyết khí,
phất thân tiễn dă” (quân tử xa lánh bếp núc, phàm
những loài có máu, chẳng đích thân động tới).
Trong sách Mạnh Tử, thiên Lương Huệ
Vương, Mạnh Tử đă giảng: “Kiến kỳ sanh, bất nhẫn kiến kỳ
tử, văn kỳ thanh, bất nhẫn thực kỳ
nhục, thị dĩ quân tử viễn bào trù dă”
(Thấy nó sống chẳng nỡ nh́n nó chết, nghe
tiếng nó kêu, chẳng nỡ ăn thịt nó, do vậy,
quân tử lánh xa bếp núc). Các nhà chú giải cho rằng
hễ bước vào bếp chẳng tránh đến
chuyện phải động dao thớt, sát hại chúng
sanh, khiến cho quân tử mất ḷng nhân từ, nên
phải tránh xa chuyện bếp núc.
[19] Quyết là một loài rau dại
thuộc loài Dương Xỉ, thường
được biết đến dưới tên gọi là
Common Brake hoặc Pteris Aquilina tại Hoa Kỳ, mọc
nơi tối tăm, ẩm thấp. Đôi khi có những
cây mọc cao đến hai ba feet là thường. Bộ
phận ăn được là lá non (thường gọi
là Quyết Thái), củ non của Quyết có thể ủ
làm bia hay ăn như một thứ rau sống. Lá già
thường được cắt nhỏ để
dồn nệm. Người Hoa cho rằng rau Quyết
thơm ngon, tôn xưng là Sơn Trân Chi Vương.
[20] Tả là Tả Truyện tức Tả
Thị Xuân Thu, là bộ sử
đầu tiên của Trung Hoa, do Tả Khâu Minh biên soạn,
chép về lịch sử nước Lỗ từ
đầu thời Lỗ Ẩn Công đến năm
hai mươi bảy đời Lỗ Ai Công, là một tác
phẩm quư để nghiên cứu về lịch sử
thời Tiên Tần (trước khi Tần Thủy Hoàng
thống nhất Trung Hoa).
Quốc chính là Quốc Ngữ c̣n gọi
là Xuân Thư Ngoại Truyện, chép về lịch sử,
nhân vật, sự tích của các nhân vật tại các
nước Châu, Lỗ, Tề, Tấn, Trịnh, Sở,
Ngô, Việt. Tương truyền bộ Sử này do
một vị quan mù của nước Lỗ, chuyên môn
kể và giảng lịch sử các nước thời
ấy, rất được Khổng Tử tán
thưởng. Hậu nhân gom góp những lời này biên
tập thành sách nên gọi là Ngữ, hoặc Quốc
Ngữ.
Ban là Ban Cố, Mă là Tư Mă Thiên, hai
đại sử gia lừng danh. Ban Cố (32-92), tự
Mạnh Kiên, người xứ An Lăng (nay là Hàm
Dương, tỉnh Thiểm Tây), sống vào thời
Đông Hán. Mới lên chín tuổi đă nức tiếng
văn chương, mười sáu tuổi vào trường
Thái Học tại kinh đô, đọc rộng, hiểu
nhiều. Tác phẩm để đời của ông là
bộ Hán Thư. Trong quá tŕnh biên soạn, do bị vu cáo là
lén sửa chữa quốc sử, nên bị hạ ngục,
may nhờ em trai là Ban Siêu thân oan mới được
thả. Em gái của Ban Cố là Ban Chiêu cũng là một
nữ học giả, từng được triệu vào
cung dạy cung nữ học, người đời
gọi bà là Tào Đại Cô. Khi Ban Cố chưa soạn
xong Hán Thư nhưng v́ dính líu đến vụ án
Đậu Hiến phải tự sát, Hán Ḥa Đế
đă sai bà tiếp tục hoàn thành tác phẩm ấy.
[21] Trứu, Tư, Chung, Vương: Sử
Trứu là Thái Sử Quan thời Châu Tuyên Vương, không
rơ họ là Sử hay v́ làm quan mà gọi là Sử, Trứu là
tên. Hậu thế biết đến ông do Tư Mă Thiên
đă ca ngợi ông là người giỏi viết chữ,
đă chép hơn hai trăm bài văn theo lối chữ
Đại Triện. Lư Tư (280-208) trước Công Nguyên
là người xứ Thượng Sái, nước Sở,
là một nhà chính trị gia theo chủ trương Pháp
Trị. Thoạt đầu chỉ là thực khách của
Tướng Quốc nước Tần là Lă Bất Vi. Do
phân tích thế cục được Tần Vương
Doanh Chính (Tần Thủy Hoàng sau này) tán thưởng, dâng
kế sách liên hoành nên được phong làm quan
Trưởng Sử rồi dần dần ngoi lên
địa vị Khách Khanh. Sau khi thống nhất Trung
Nguyên, ông được phong làm Thừa Tướng, đă
khuyên Tần Thủy Hoàng đốt sách, chôn học tṛ,
thống nhất chữ viết Trung Hoa. Ông được
coi là người sáng chế lối chữ Tiểu
Triện.
Chung là Chung Diêu (151-230), tự Nguyên
Thường, một nhà thư pháp nổi tiếng thời
Ngụy, nổi tiếng về tài viết chữ Lệ và
Khải.
Vương Hy Chi (303-361), tự Dật
Thiếu, hiệu Đạm Trai, là một nhà thư pháp
nổi tiếng đời Đông Tấn, có mỹ
hiệu là Thư Thánh. Ông cũng tổng hợp những
nguyên lư về thư pháp viết thành các bộ sách Bút
Thế Luận và Dụng Bút Tặc. Tác phẩm nổi
tiếng nhất của ông là Lan Đ́nh Tập Tự,
được ca ngợi là đệ nhất thiên hạ
về lối chữ Hành.
[22] Tam Giáo B́nh Tâm Luận do Lưu Mật
soạn vào đời Nguyên, gồm hai quyển, mang ư
nghĩa so sánh sự rộng hẹp trong giáo nghĩa, giáo
thuyết, nhằm cực lực nêu bày những ưu
điểm của mỗi giáo, đồng thời
đả phá những quan điểm báng Phật hẹp
ḥi của Hàn Dũ, Phó Dịch và bọn Tống Nho như
Tŕnh Minh Đạo, Châu Hối Am, Trương Hoành Cừ
v.v...
Hộ Pháp Luận do cư sĩ Vô
Tận tức tể tướng Trương Thương
Anh biên soạn nhằm nêu lên những luận chứng
đả phá cách nh́n thiển cận về Phật giáo
của Âu Dương Tu, chỉ rơ Âu Dương Tu chẳng
hiểu ǵ về Phật giáo, chỉ máy móc nhắc lại
những lập luận của Tống Nho để bài
Phật.
[23] Trưng Tại chính là Nhan Trưng
Tại (568-535 trước Công Nguyên) là mẹ đẻ
của Khổng Tử, vợ lẽ của Khổng
Ngột (do Khổng Ngột có tên tự là Thúc Lương
nên thường gọi thành Thúc Lương Ngột).
Khổng Ngột trước đó đă lấy bà Thí
Thị chỉ đẻ được chín người
con gái. Cưới thiếp, sanh được một trai
tên là Bá Ni, chân lại có tật. Lại lấy bà Nhan
Trưng Tại, sanh ra Khổng Tử, lúc ấy, Thúc
Lương Ngột đă 72 tuổi.
[24] Đây là một câu chuyện
được chép trong Tả Truyện: Thời Tống
Cảnh Công, sao Huỳnh Hoặc
(Hỏa Tinh) đi vào khu vực của sao Tâm, vua sợ hăi,
triệu quan Thái Sử là Tử Vệ vào hỏi. Tử
Vệ nói: “Sao Huỳnh Hoặc là điềm trời
phạt, sao Tâm ứng với địa phận
nước Tống. Nhà vua sẽ bị họa, nhưng
có thể [dùng các cách cầu đảo] chuyển mối
họa ấy sang Tể Tướng”. Tống Cảnh Công
nói: “Tể Tướng là người giữ giềng
mối đất nước, nếu bị chết,
sẽ chẳng phải là điều tốt lành”. Tử
Vệ nói: “Cũng có thể chuyển mối họa ấy
sang dân”, Tề Cảnh Công đáp: “Dân chết th́ ta c̣n cai
trị ai? Thà để ta chết một ḿnh”. Tử
Vệ nói: “Cũng có thể biến thành mất mùa”.
Cảnh Công nói: “Dân đói, ắt chết! Làm vua mà muốn
giết dân để chính ḿnh được sống th́ c̣n
ai coi ta là vua nữa. Như vậy là mạng của ta
đă tận rồi, ông chẳng cần phải nói
nữa”. Tử Vệ quay lại lạy vua, thưa:
“Thần dám chúc mừng bệ hạ, trời cao nhưng
nghe rất rơ. Vua đă thốt ba câu tốt lành, ắt
trời sẽ thưởng ba lượt”. Đêm ấy,
sao Huỳnh Hoặc lùi khỏi sao Tâm ba tinh ṭa, vua sống
thêm hai mươi mốt năm. Tống Cảnh Công tên
thật là Tử Loan, con trai Tống Nguyên Công (Tử Tá, c̣n
có tên là Đầu Mạn), làm vua từ năm 516
đến năm 469 trước Công Nguyên. Nước
Tống thuộc huyện Thương Khâu, tỉnh Hà Nam
hiện thời. Khi Vũ Vương diệt Trụ
Vương, đă phong cho Vũ Canh (con trai Trụ
Vương) đất Ân để thờ phụng tổ
tiên nhà Thương. Sau khi Vũ Vương chết, Vũ
Canh đă liên kết với quư tộc nhà Châu toan lật
đổ Châu Công, bị Châu Công đánh bại, giết
chết. Châu Thành Vương bèn phong cho Vi Tử Khải
(anh của Trụ Vương) đất Thương Khâu,
lấy quốc hiệu là Tống. Nước Tống
truyền được 35 đời. Đến
đời Tống Khang Vương, tự xưng
vương, đi đánh các nước chung quanh,
đến năm 286 trước Công Nguyên, Tề Mẫn
Vương đem binh phạt Tống, tiêu diệt
nước này.
[25] Ngũ Thú Tạp
Cư: Do trong Dục Giới có sáu đường
(trời, người, quỷ, súc sanh, địa ngục
và A Tu La), nên gọi là Tạp Cư. Ở đây nói là
Ngũ Thú (năm đường) tức là tính gộp A Tu
La vào năm đường kia.
[26] Nguyên văn “tương
phiếu” (緗縹), Tương là màu vàng
nhạt, Phiếu là màu lam nhạt. Thời cổ có thói quen
dùng các loại vải hay lụa có hai màu này để
bọc b́a sách, nên chữ “tương
phiếu” thường dùng để chỉ sách vở
nói chung. Kinh Phật thường được gọi là
“hoàng quyển” v́ giấy chép kinh thường có màu vàng do
nhuộm chất hoàng liên hay nhuộm nghệ để
tránh mối mọt.
[27] Lưu Ly Hà là một tiểu trấn
thuộc Bắc Kinh, thuộc về khu Pḥng Sơn, nơi
đây nổi tiếng với di tích Lưu Ly Hà từ
thời Tây Châu. Đây là một khu mộ táng, cổ thành,
là một địa điểm khảo cổ
được coi là di sản quốc
gia của Trung Quốc.
[28] Nguyên văn “tiêu lộc chi sự”. Đây là một
điển tích trích từ sách Liệt Tử. Theo đó,
nước Trịnh có người đi đẵn
củi trong nơi đồng trống, gặp một con
nai lạc lối, bèn đuổi theo, giết chết,
sợ người khác trông thấy bèn đào hố
giấu xuống, phủ lá
chuối lên trên, vui sướng khôn cùng. Trong phút chốc,
bỗng quên khuấy ḿnh đă giấu ở đâu, bèn cho
là ḿnh nằm mộng. Do vậy, chữ “tiêu lộc” thường dùng để chỉ
mộng huyễn. Ở đây, cụ Lư Bỉnh Nam bảo
chuyện trong giấc mộng của ông Lư Thánh Quỳnh
chỉ là mộng huyễn ngẫu nhiên trùng hợp,
chẳng có căn cứ, hay ư nghĩa ǵ mà cứ phải
lẩn thẩn hỏi đi hỏi lại măi!
[29] Châu Sơn là một quần đảo
ở ngoài khơi tỉnh Chiết Giang có đến 1.390
ḥn đảo lớn nhỏ, trong ấy Châu Sơn
Đảo lớn nhất. Các ḥn đảo chính là
Định Hải, Đại Sơn, Châu Gia Tiêm, Lục
Hoành, Kim Đường v.v... Quần đảo này
được chia làm nhiều huyện, trong đó Phổ
Đà Sơn chiếm riêng một khu gọi Phổ Đà
Danh Thắng Khu.
[30] Phạm Lăi tự là Thiếu Bá, vốn
là người nước Sở, nhà nghèo hèn, nhưng
cực thông minh, học rộng, về sau, sang nước
Việt phù tá Câu Tiễn. Khi Phù Sai nước Ngô đánh
bại Câu Tiễn. Câu Tiễn phải sang làm tù binh
nước Ngô, Phạm Lăi đi theo, hiến kế, khuyên
Câu Tiễn chịu khổ nhục để chiếm ḷng
tin của Phù Sai để được thả về
nước, cùng với Văn Chủng thực hiện
những sách lược khiến nước Việt
cường thịnh. Lại lập kế dâng Tây Thi và
Trịnh Đán cho Phù Sai khiến Phù Sai ham mê tửu
sắc, xao nhăng chính sự, khiến Việt diệt Ngô
thành công. Sau khi thành công bèn từ quan, mang theo Tây Thi dong
buồm sang Tề, đổi tên là Chi Di Tử B́,
được vua Tề thỉnh làm Tướng Quốc.
Gượng làm Tướng Quốc ba năm, treo ấn
từ quan, phân tán hết tài sản, dời sang đất
Đào (nay thuộc huyện Định Đào tỉnh
Sơn Tây) đổi tên là Đào Châu Công, kinh doanh giàu to,
khiến dân chúng cả vùng cũng nhờ đó
được no ấm, nên mọi người tôn quư
gọi ông là Tài Thần, và được coi là ông tổ
của thương nhân Trung Hoa. Theo sử sách, ông là một
chính trị gia, tư tưởng gia mẫn tiệp, biên
soạn rất nhiều, nhưng đă thất lạc. Có
những tác phẩm như Đào Châu Công Sanh Ư Kinh là do
hậu nhân dựa theo những tư tưởng và nguyên
tắc kinh doanh của ông mà soạn thành.
[31] Tử Cống (520-446 trước Công
Nguyên) tên thật là Đoan Mộc Tứ, người
nước Vệ, tên tự là Tử Cống, là môn sinh
đắc ư của Khổng Tử, được xếp
vào hàng Thập Triết, giỏi biện luận, giỏi
kinh doanh, giải quyết công việc nhanh chóng, hiệu
quả. Tử Cống từng làm tướng cho hai
nước Lỗ và Vệ, thường qua lại buôn bán
giữa Lỗ và Tào, tài sản có đến cả ngàn
lạng vàng. Khi Khổng Tử mất, ông chưa về
kịp, về đến nơi, bèn bỏ mọi việc,
thủ tang bên mộ thầy suốt sáu năm. Sau này, khen
ngợi những ai có tài kinh doanh, người Hán hay dùng
từ ngữ Đoan Mộc Di Phong, ư nói đă kế
tục được tài nghệ của Tử Cống.
Tại Hoa Lục, có nơi c̣n coi thần Tài chính là Tử
Cống.
[32] Pháp Chủ Công (c̣n gọi là Thánh Quân Gia)
là tên gọi tắt của một vị thần trong
Đạo giáo thường được tôn sùng tại
Phước Kiến, Tuyền Châu, Đài Loan v.v... có danh
hiệu đầy đủ là Đô Thiên Đăng Ma Giám Lôi
Ngự Sử Trương Thánh Pháp Chủ Chân Quân. Vị
này vốn là một đạo sĩ có tên là Trương
Từ Quán, người huyện Vĩnh Xuân, tỉnh
Phước Kiến, theo truyền thuyết có thần
thông, có thể hàng phục yêu ma. Phái Lư Sơn của
đạo sĩ coi vị này là vị tướng
thống lănh Đông Doanh trong hộ pháp thần ngũ doanh
thần tướng.
[33] Nhạc Đế là gọi tắt
của Đông Nhạc Đại Đế (c̣n gọi là
Thái Sơn Phủ Quân), tức thần núi Thái Sơn,
tức vị thần chưởng quản cơi âm trong
Đạo giáo.
[34] Ma Tổ tức Thiên Hậu Nguyên Quân,
tức bà Lâm Mặc Nương, người đảo
Mỵ Châu, tỉnh Phước Kiến. Theo truyền
thuyết, bà có đạo thuật linh thông, từng trong
giấc mộng cứu cha và anh đang bị nạn trên
biển. Do bị mẹ đánh thức bất ngờ trong
lúc bà thi triển pháp thuật nên chỉ cứu
được cha. Bà được phong thần vào
thời Minh, trở thành vị thần chuyên bảo hộ
hàng hải và ngư dân. Thoạt đầu chỉ gọi
là Thiên Phi, danh xưng Thiên Hậu bắt nguồn từ
thánh hiệu Hộ Quốc Tỳ Dân Diệu Linh Chiêu
Ứng Nhân Từ Thiên Hậu do triều đ́nh sắc
phong vào năm Khang Hy 23 (1684). Các chỗ thờ cúng thường
được gọi là “chùa Bà” tại Việt Nam chính là
miếu thờ Thiên Hậu.
[35] Bảo Sanh Đại Đế là tên
một vị thần bảo hộ nghề y trong
Đạo giáo, được tôn sùng phổ biến
tại vùng Mân Nam, Đài Loan, c̣n gọi là Đại
Đạo Công, Ngô Chân Nhân, Hoa Kiều Công. Ông vốn có
tục danh là Ngô Thao (970-1036), vốn là một y sĩ, do lên
núi hái thuốc, trượt chân chết, nên hiển thánh.
Danh hiệu Bảo Sanh Đại Đế xuất phát
từ phong hiệu Ân Chủ Hạo Thiên Kim Khuyết
Ngự Sử Từ Tế Y Linh Diệu Đạo Chân Quân
Vạn Thọ Vô Cực Bảo Sanh Đại Đế do
triều đ́nh sắc phong năm Hồng Hy thứ năm
(1425) đời Minh Thần Tông.
[36] Ở đây, ông Ngô Bỉnh Luân đă
lầm lẫn giữa chữ “thiên nhân” với “nhân thiên”.
Khi nói “nhân thiên” th́ có nghĩa là người và trời, c̣n
“thiên nhân” có nghĩa là người trong cơi trời, tức
chư thiên, c̣n gọi là “thiên tử” (nam) và “thiên nữ”.
[37] Tầm là một đơn vị đo
lường thời cổ, bằng tám thước
(thước Tàu), tức bằng khoảng bốn
đến năm mét hiện thời. Sách Nhĩ Nhă
giảng: “Bốn thước
là một Nhận, hai Nhận là một Tầm”.
[38] Tánh Danh Học là một thuật bói toán
dựa trên cách đếm nét trong lối viết tiếng
Hán của tên họ để phối hợp với bát
tự của ngày, tháng, năm, giờ sanh để
luận đoán tốt xấu. Đôi khi c̣n dựa trên bát
tự để đổi tên cho mạng vận
được tốt hơn. Đôi khi c̣n đi xa hơn
bằng cách xem xét thêm thanh vận khi đọc để
phán định âm dương ngũ hành của cái tên.
Thuật bói toán này dựa trên lư thuyết Mai Hoa Dịch
Số trong cuốn Hoàng Cực Kinh Thế Thuật của
Thiệu Khang Tiết đời Tống.
[39] Long Môn Thạch Quật là một
quần thể kiến trúc Phật giáo nổi tiếng có
đến hơn 2.100 hang động, cách Lạc
Dương 12 km về phía Nam. Các hang động
được khắc lơm vào đá, rải khắp hai
quả núi Long Môn và Hương Sơn nằm hai bên sông Y
Thủy. Tính ra có đến hơn mười vạn
bức tượng, 3.600 tấm bia. Chữ khắc trên bia
được gọi là tuyệt phẩm của thư
pháp theo lối chữ Khải thời Ngụy. Long Môn
Thạch Quật được tiến hành điêu
khắc vào thời Thái Ḥa (477-499) của Ngụy Hiếu
Văn Đế nhà Bắc Ngụy. Công tŕnh này kéo dài măi
đến đời Minh mới chấm dứt, nhưng
các tượng Phật lớn nhất đều
được khắc vào thời Ngụy và
Đường. Long Môn Thạch Quật bị phá hoại
nghiêm trọng nhất vào thời Đường Vũ Tông
diệt Phật và thời đầu Dân Quốc khi các
tướng lănh quân phiệt nổi lên cát cứ.
[40] Nam Bắc Triều là giai đoạn
Trung Hoa bị chia nhỏ thành nhiều nước, đánh
nhau loạn xạ kể từ năm 420 đến năm
589, nối tiếp giai đoạn Thập Lục Quốc
và trước khi nhà Tùy thống nhất Trung Nguyên. Bắc
Triều gồm các nhà Bắc Ngụy (Thác Bạt Khuê sáng
lập), Đông Ngụy (Nguyên Thiện Kiến sáng
lập), Tây Ngụy (Nguyên Bảo Cự sáng lập),
Bắc Tề (Cao Dương sáng lập), Bắc Châu
(Vũ Văn Giác sáng lập). Bắc Triều kết thúc
khi Dương Kiên diệt Bắc Châu vào năm 581, lập
ra nhà Tùy. Nam Triều gồm các triều đại Nam Tống (do Lưu Dụ sáng lập), Nam
Tề (do Tiêu Đạo Thành sáng lập), Nam Lương (do
Tiêu Diễn tức Lương Vơ Đế sáng lập),
Trần (do Trần Bá Tiên sáng lập). Nam Triều kết
thúc khi Dương Kiên diệt nhà Trần năm 589. Do
Ngụy Hiếu Văn Đế (Thác Bạt Hoằng,
467-499) là hoàng đế thứ bảy của nhà Bắc
Ngụy khi dời kinh đô từ B́nh Thành (nay là thành
phố Đại Đồng, tỉnh Sơn Tây) về
Lạc Dương đă hạ lệnh kiến tạo Long
Môn Thạch Quật nên cụ Lư Bỉnh Nam mới nói Long
Môn được kiến tạo vào thời Nam Bắc
Triều.
[41] Rập bia là dùng giấy bôi than
đen, áp lên một tấm bia rồi chà mạnh cho nét
chữ nổi lên thành vệt trắng. Những bản
rập này thường được bán cho những
người thích luyện
thư pháp để họ mô phỏng theo hay nghiên cứu
để sáng tạo ra lối viết mới.
[42] Thập Tự Quân (Crusader) là quân
viễn chinh tuyển mộ từ quư tộc, tu sĩ
của châu Âu sang viễn chinh tại Trung Đông với hy
vọng giành lại quyền kiểm soát thánh địa
Jerusalem, ngăn chặn sự phá hoại các thánh
địa, cũng như cứu giúp những Cơ
Đốc hữu bị quân Hồi ngược đăi,
truy bức, do giáo hội Công giáo khởi xướng. Các
chiến binh được Giáo Hoàng ban quyền miễn xá
(plenary indulgence). Thập Tự Chinh kéo dài nhiều
đợt từ năm 1095 đến năm 1291. Thập
Tự Chinh bắt đầu bằng lời kêu gọi châu
Âu giúp đỡ chống lại sự xâm lăng của người
Thổ Seljuk của hoàng đế Alexios đệ nhất
của đế quốc Byzantine. Đáp lời, Giáo Hoàng
Urban đệ nhị (1035-1099) đă xướng suất
cuộc Thập Tự Chinh lần thứ nhất trong
hội nghị công đồng Clermont vào năm 1095, kêu
gọi các vương tôn, công tử Cơ Đốc hăy
mở cuộc thánh chiến chiếm lại vùng Đất
Thánh, cũng như chiếm giữ những địa
điểm quan trọng trên con đường hành
hương từ Âu Châu sang đất Thánh.
[43] Tam Vũ Diệt Pháp là ba lần pháp
nạn của Phật giáo Trung Hoa do ba hoàng đế cùng có
chữ Vũ trong danh hiệu, tức Ngụy Thái Vũ
Đế, Bắc Châu Vũ Đế và Đường
Vũ Tông. Ngụy Thái Vũ Đế diệt Phật do
đạo sĩ Khấu Chi Khiêm xúi giục. Cuộc
diệt Phật này kéo dài sáu năm từ năm Thái B́nh Chân
Quân thứ năm (444) đến khi nhà vua băng. Trong có
Khấu Chi Khiêm gièm báng, ngoài có quan tư đồ Thôi
Hạo hùa theo dâng sớ chém giết sa-môn
khắp thiên hạ, phá hủy kinh tượng nhà Phật
khắp nước. Bắc Châu Vũ Đế khởi
sự diệt Phật từ năm Kiến Đức
thứ ba (574) đến khi vua băng vào năm 578. Do
chiến tranh liên miên, vua mượn cớ cấm
đạo để giảm thiểu số người
xuất gia, cướp đoạt tiền của,
điền sản của nhà chùa. Cuộc diệt Phật
của Đường Vũ Tông (814-846) bắt đầu
từ năm Hội Xương thứ hai (842) cho
đến khi vua băng vào năm 846, nên sử c̣n gọi
cuộc diệt Phật này là Hội Xương Pháp
Nạn. Cuộc diệt Phật lần này do đạo
sĩ Triệu Quy Chân xúi giục cũng như tể
thần Lư Đức Dụ ra sức đàn áp Phật giáo.
Nguyên nhân sâu xa là Đường Vũ Tông muốn dùng
cớ diệt Phật để truy sát chú là Lư Thầm v́
Lư Thầm ẩn náu trong các chùa chiền. Đường
Vũ Tông (Lư Triền) vốn là em trai của
Đường Văn Tông. Khi Đường Văn
Tông chết, hoạn quan Cừu Sĩ Lương và Ngư
Hoằng Chí vốn đă thao túng triều chánh từ
trước, bèn phế thái tử Lư Thành Mỹ, đưa
Lư Triền lên ngôi. Lư Triền sợ Lư Thầm là
người có đức độ, bản thân nhà vua
lại không được ḷng dân, sợ hậu hoạn
về sau, nên nhiều lượt
mưu sát, khiến Lư Thầm phải trốn tránh trong dân
gian, được các tăng sĩ che chở. Truyền
thuyết nói có lúc Lư Thầm phải xuống tóc làm tăng
sĩ, pháp danh Quỳnh Tuấn tại chùa Hương Nghiêm
ở Chiết Giang. Do say mê thuật tu tiên, Đường
Vũ Tông uống trường thọ tiên đan do
Triệu Quy Chân bào chế, trúng độc, điên cuồng
trong mười ngày rồi chết, chỉ thọ ba
mươi hai tuổi! Triều thần tôn Lư Thầm lên
ngôi, tức là Đường Tuyên Tông.
[44] Môn Thần là thần giữ cửa,
thường làm tượng thờ hoặc vẽ h́nh trên
cửa chính với mục đích thủ hộ các
đạo quán, miếu mạo. Hai môn thần nổi
tiếng nhất là Thần Đồ và Uất Lũy;
hoặc các vị thần nổi tiếng trong Đạo
giáo như Vương Thiên Quân và Mă Thiên Quân, Phương
Bật và Phương Tướng, Tần Quỳnh và
Uất Tŕ Cung (hai danh tướng của Đường
Thái Tông), Triệu Vân (Triệu Tử Long) và Mă Siêu (hai danh
tướng nhà Thục Hán thời Tam Quốc), Ngụy
Trưng và Từ Mậu Công v.v...
[45] Văn Hành Thánh Đế là một tôn
hiệu của Nho gia đối với Quan Công. Do danh
hiệu này, Đạo giáo chủ trương có năm
vị Văn Xương (chuyên chủ thiện phạt ác
đối với khoa cử, công danh của mỗi
người). Năm vị Văn Xương là Văn
Xương Đế Quân, Khôi Tinh Tinh Quân, Châu Y Thần
Quân, Thuần Dương Đế Quân (Lữ Động
Tân), và Văn Hành Đế Quân. Quan Công cũng được
coi là một trong ba vị Phục Ma, tức Phục Ma Đại
Đế Quan Thánh Đế Quân, Đăng Ma Thiên Tôn Chân Vũ
Đế Quân, và Khu Ma Chân Quân Chung Quỳ Đế Quân.