Phật Học Vấn Đáp Loại Biên

佛學問答類編

Phần 6

Lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam giải đáp

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản in của Lư Bỉnh Nam Lăo Cư Sĩ Toàn Tập Biên Tập Ủy Viên Hội, Đài Loan, 2007)

Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang

 

      * Hỏi: Một, theo Phật pháp nói, mỗi vị Phật xuất thế có ba thời kỳ là Chánh Pháp, Tượng Pháp, Mạt Pháp. Cuối thời Mạt Pháp, kinh điển bị diệt hoàn toàn, cớ sao trong thời đại của Phật Thích Ca vẫn c̣n có di giáo của Phật Ca Diếp? (Tôi thấy kinh Tứ Thập Nhị Chương có câu “sa-môn đêm tụng kinh Di Giáo của Phật Ca Diếp”). Hai, dựa theo lời giải thích trong sách Thái Hư Toàn Tập: “Pháp của Ca Diếp Phật, vốn đă diệt hoàn toàn, nhưng Phật Thích Ca do đại trí nên có thể hiểu rơ, truyền giáo pháp ấy cho sa-môn”. Lại c̣n giải thích: “Trong thời Phật Ca Diếp, Phật Thích Ca là Hộ Minh Bồ Tát. Đến khi Phật Ca Diếp diệt độ, Thích Ca thành Phật, nên Phật Thích Ca có thể truyền thừa di giáo của Phật Ca Diếp”. Chiếu theo lời giải thích của Thái Hư đại sư th́ có đúng hay không? (Phương Minh hỏi)

 

      Đáp: Hai câu hỏi này thuộc về cùng một chuyện, chẳng cần phải nói tách ra. Lời giải thích của Thái Hư đại sư làm sao có thể sai được? Ông lại uổng công rủ ḷng hỏi tôi, tức là bỏ lôi âm[1] để cầu tiếng trống ếch vậy!

 

      * Hỏi: Theo như kinh Phật dạy, Phật Phật đạo đồng, quá khứ chư Phật nói như vậy, hiện tại Phật nói như vậy, vị lai Phật cũng nói như vậy. Đă là “đạo đồng”, cần ǵ Phật Thích Ca lại tốn công trùng tuyên di giáo của Phật Ca Diếp? Nay đă trùng tuyên là v́ dụng ư nào? Xin hăy đáp cặn kẽ! (Phương Minh hỏi)

 

      Đáp: Đạo đă tương đồng mà pháp được nói cũng chẳng có hai đường. Nếu khác nhau, làm sao có thể là “cùng một đạo” cho được? Nhưng vị Phật trước đă diệt độ, vị Phật sau thị hiện, trong khoảng thời gian đó, năm tháng, kiếp số lâu dài, kinh điển của vị Phật trước đă chẳng c̣n trong cơi đời, vị Phật sau thị hiện nhằm tuyên nói pháp ấy. Nếu không, Ngài đến cơi này để làm ǵ? Giả sử vị Phật sau đến cơi này, chẳng nói ra, ai biết trước kia đă từng có Phật và vị Phật ấy đă từng thuyết pháp?

 

      * Hỏi: Các loài thai, noăn, thấp, hóa trong Diêm Phù Đề sanh sôi chẳng dứt, chẳng biết thiên tiên và loài quỷ trong cơi âm có chuyện sanh dục hay không? (Cát Hiểu Phàm hỏi)

 

      Đáp: Ba đường thiên, tiên, quỷ đều chưa thoát luân hồi, báo hết đều chết. Hễ đă có chết, liền có sanh.

 

      * Hỏi: Trong cơi âm, trừ địa ngục, ngạ quỷ ra, c̣n có những chỗ cư trụ của các loài quỷ thông thường hay không? (Cát Hiểu Phàm hỏi)

 

      Đáp: Gọi là “âm gian” hay “dương gian” là những danh xưng phát xuất từ quan điểm sai lầm của ngoại đạo do chẳng hiểu chân tướng của hai thứ thế gian (hữu t́nh thế gian và khí thế gian). Trên thực tế, thế gian chia ra sáu đường, ngạ quỷ đạo và địa ngục đạo đều là một trong các đường ấy. Quỷ có nhiều loại, địa ngục có nhiều tên, xin hăy tham khảo biểu đồ trong phần phụ lục tác phẩm Di Đà Kinh Trích Chú vụng về của tôi sẽ biết đại lược.

 

      * Hỏi: Trong sách Kỹ Lộ Chỉ Quy nói Thích Ca Mâu Ni Phật kể từ năm thứ hai mươi sáu đời Châu Chiêu Vương cho đến nay là hai ngàn chín trăm bảy mươi tám năm và Phật lịch ghi trên quư tạp chí là hai ngàn năm trăm mười bốn. Lại chép Thích Ca Mâu Ni mười chín tuổi xuất gia, ba mươi tuổi thành đạo. Dựa theo sách Phật Giáo Thánh Điển dịch từ tiếng Nhật th́ đức Phật kết hôn lúc mười chín tuổi, lại sống trong vương cung mười năm rồi mới xuất gia, ba mươi lăm tuổi thành đạo. Chưa biết bên nào đúng, nên căn cứ theo bên nào? Xin hăy chỉ dạy ḥng thỏa ḷng mong! (Diệp Thiên Hộ hỏi)

 

      Đáp: Vấn đề này tranh chấp đă lâu, rốt cuộc vẫn chưa có kết luận nhất định. Các nhà khảo cứu đă viết nhiều về điều này, mỗi người đều có lập luận chứng tỏ ḿnh đúng. V́ lịch Ấn Độ và lịch Trung Quốc rất khó phù hợp, ngay như lịch Trung Quốc giữa Tam Đại (Hạ, Thương, Châu) cũng khác nhau, nhưng [sự kiện] Thích Tôn sanh trước thời Khổng Tử và Lăo Tử th́ không ai dị nghị. Người xưa phần nhiều ngả theo thuyết [đức Phật giáng sanh vào] thời Châu Chiêu Vương [cách nay] hơn hai ngàn chín trăm năm. Thuyết [Phật giáng sanh cách đây] hơn hai ngàn năm trăm năm do dựa theo bộ Chúng Thánh Điểm Kư để tính toán, người hiện thời phần nhiều tuân theo. C̣n như độ tuổi xuất gia, thành đạo, Trung A Hàm, Tăng Nhất A Hàm, kinh Niết Bàn, kinh Bổn Hạnh Tập đều nói là hai mươi chín tuổi, khổ hạnh sáu năm, đến ba mươi lăm tuổi thành Phật, chứ không phải riêng bộ Thánh Điển của người Nhật chủ trương như vậy. Đối với thời điểm từ khi đức Phật giáng sanh cho đến hiện thời, tôi theo thuyết sau. Đối với độ tuổi [đức Phật] xuất gia, thành đạo, tôi tuân theo các kinh như A Hàm v.v... Tuy nhiên, kẻ hèn này chẳng thông hiểu lịch số, chỉ chọn lựa theo kiến giải của riêng ḿnh, thật sự chẳng dám chủ trương thuyết nào là đúng!

 

      * Hỏi: Hai bên Quán Thế Âm Bồ Tát là Thiện Tài và Long Nữ, có phải là Long Nữ trong kinh Pháp Hoa và Thiện Tài trong kinh Hoa Nghiêm như đức Phật đă nói hay không? Hay là c̣n có căn cứ nào khác, xin hăy dạy cặn kẽ! (Một độc giả ở Sư Sơn hỏi)

 

      Đáp: Như kẻ hèn này biết th́ cũng là như vậy. Dẫu có thuyết khác, tôi lấy hai kinh ấy làm căn cứ cũng chẳng sai lầm.

 

      * Hỏi: Hải đăng[2] thắp trước bàn Phật, trong nội địa hoàn toàn dùng dầu đậu nành hoặc dầu đậu phụng, chén đèn cũng được thay bằng một cái đĩa thủy tinh tṛn để h́nh dung biển cả, ngày đêm thường tỏa sáng. Loại hải đăng trong tỉnh này (Đài Loan) đều dùng dầu hôi, thắp bằng hai loại dầu trên đây rất ít, rốt cuộc loại dầu nào mới đúng pháp? Xin hăy dạy cho! (Một độc giả ở Sư Sơn hỏi)

 

      Đáp: Hải đăng trong nội địa thông thường dùng hương du (tức dầu mè), c̣n chẳng dùng đến đầu đậu nành, dầu đậu phụng v.v... Cúng Phật tuyệt đối chẳng dùng dầu hôi, Đài Loan do thiếu dầu mè nên có thể dùng dầu đậu nành, dầu đậu phụng; bởi lẽ, dầu hỏa quá nhiều bồ hóng, chẳng dùng th́ tốt hơn!

 

      * Hỏi: Kinh điển nhà Phật nói: Đă xuất gia, buông xuống vạn duyên, chẳng c̣n quan niệm tục gia, tên họ cơi tục cũng thay đổi, cớ sao trong tỉnh chúng ta (Đài Loan), người xuất gia phần lớn tuy đă xuất gia, xuống tóc, mặc hải thanh, nhưng chưa thọ Cụ Túc Giới, vẫn dùng tên họ ngoài đời. Có người chân đi giày theo kiểu thế gian, bên trong mặc quần áo thế tục, bên ngoài đắp tổ y (ca-sa), y bảy điều, hoặc y năm điều, nếu bỏ áo bên ngoài ra, sẽ chẳng khác ǵ kẻ tục gia? (Nhan Triệu Văn hỏi)

      Đáp: Người đời nay cạo tóc chẳng thể đoan quyết họ là người xuất gia. Nếu đối với người chính thức xuất gia th́ c̣n có thể thảo luận những điều ông vừa hỏi. Nếu không, chẳng thể bàn luận được!

 

      * Hỏi: Nay tôi muốn phát tâm xuống tóc, nhập thất nhằm giải thoát túc nghiệp và chướng nạn trong hiện tại, tu làm bạn lữ trong cơi sen, thoát khỏi nỗi khổ luân hồi trong sáu nẻo, chưa biết phải nên xin vào chùa và gia nhập hàng ngũ Tăng Già như thế nào? Chưa chắc các vị đại đức tăng già và chúng thường trụ các chốn bảo sát[3] hiện thời có chịu thâu nhận làm đồ đệ hay không? Kiên quyết cầu sám hối, suy nghĩ lẩn thẩn, [chẳng biết] vị thầy hữu duyên trụ tại ngôi chùa cổ nào? (Nhan Triệu Văn hỏi)

     

      Đáp: Xuất gia là chuyện khó khăn nhất, có lẽ nên tạm thời nhẫn nại làm kẻ tại gia th́ hơn. Nếu đến lúc cơ duyên chín muồi, sẽ lại bàn định vẫn chẳng muộn!

 

      * Hỏi: Trong địa ngục, Địa Tạng Bồ Tát dùng phương pháp ǵ để độ chúng sanh. Có phải là hiện thân Bồ Tát độ chúng sanh? Chúng sanh được Ngài hóa độ sẽ sanh về nơi đâu? (ẩn danh hỏi)

 

      Đáp: Giáo hóa tương ứng với căn cơ, há có pháp nhất định? Tùy loại hóa thân, càng chớ nên chấp trước! Các chúng sanh được Ngài hóa độ sẽ văng sanh phương nào cũng phải xét coi nghiệp lực nặng hay nhẹ để quyết định đi vào đường nào. Như tù nhân trong thế gian, chợt được đại xá, trong ấy, sẽ chia ra nhiều đẳng cấp, có kẻ được giảm h́nh phạt mấy phần, có kẻ được nhanh chóng thoát ṿng tù tội, có kẻ trước kia làm quan lại, do phạm tội bị giam, lần này được ân xá, lại được phục hồi chức cũ, đủ mọi t́nh cảnh, sao có thể nói là cùng một giuộc được?

 

      * Hỏi: Nay xin cụ hăy nói đại lược phạm vi của người tại gia học Phật? (Lă Thuận Vận hỏi)

 

      Đáp: Chỉ nói theo phương diện học tập và nghiên cứu giáo nghĩa th́ tại gia hay xuất gia trọn chẳng có phạm vi. Nếu luận về lễ nghi và thọ giới, ắt có sự phân cách giữa xuất gia và tại gia.

 

      * Hỏi: Kinh dạy: “Sanh Phật bất nhị” (chúng sanh và Phật chẳng hai), cớ sao có các nẻo thiên đường, địa ngục, lục đạo? (Lă Thuận Vận hỏi)

 

      Đáp: Phật và chúng sanh đều là tánh này. Mê gọi là chúng sanh, cho nên có lục đạo. Đại giác gọi là Phật, nên trọn đủ tịnh đức. Do tánh là một nên nói “bất nhị”, do mê hay giác nên sẽ bị nghiệp lôi dẫn vào các nẻo khác nhau.

 

      * Hỏi: V́ sao Phổ Hiền hạnh nguyện được tôn là “nhập đức chi môn” (cửa nẻo để chứng nhập đức hạnh)? Xét ra có sự thù thắng như thế nào? (Lă Thuận Vận hỏi)

 

      Đáp: Hạnh nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát tột bậc rộng lớn, nên gọi là Đại Hạnh Nguyện Vương. Học Phật quư ở chỗ phát Bồ Đề tâm, nên phải lấy hạnh nguyện của Bồ Tát làm khuôn mẫu. Có sự thù thắng như thế nào th́ chẳng thể bằng vài lời mà nói trọn được, ông nên đọc phẩm Hạnh Nguyện của kinh Hoa Nghiêm th́ mới biết.

 

      * Hỏi: Tứ Y Pháp do kim khẩu của đức Phật nói ra, trong ấy có dạy “nương theo kinh liễu nghĩa, đừng nương theo kinh chẳng liễu nghĩa”, nhưng chẳng chỉ rơ kinh điển nào? V́ trong Giáo chia thành các tông, mỗi tông đề cao một số kinh nào đó là liễu nghĩa, rốt cuộc theo ư Phật, kinh nào mới là liễu nghĩa? (Lă Thuận Vận hỏi)

 

      Đáp: Liễu nghĩa là giảng rơ thật nghĩa rốt ráo, có thể làm cho chúng sanh nương theo đó chứng Vô Thượng Chánh Giác. Nếu chẳng như vậy, sẽ chẳng phải là liễu nghĩa. [Kinh liễu nghĩa] cũng chẳng giới hạn trong tông nào! Bởi lẽ, mỗi tông có kinh điển riêng để y cứ, nương theo đó mà quy nguyên (trở về nguồn cội). Hễ quy nguyên bèn là chân thật; nhưng cũng có chút phân biệt! Nói theo Đại Thừa th́ Tiểu Thừa được coi là bất liễu nghĩa. Nói theo Tiểu Thừa, tiểu quả nhân thiên được coi là bất liễu nghĩa.

 

      * Hỏi: Lúc Vô Trước Bồ Tát nhập quán tại nước A Du Xà (Ayodhyā), mọi người thấy Di Lặc Bồ Tát hiện thân, đích thân đọc ra kinh Thập Thất Địa, có thật là Di Lặc Bồ Tát đến nước ấy giảng kinh, hay là do tác dụng nào mà thành? (Lă Thuận Vận hỏi)

 

      Đáp: Phật, Bồ Tát thị hiện, nếu nghi là giả th́ lời lẽ trong kinh không ǵ chẳng đáng nghi. Có cảm ắt ứng, đó là tác dụng, tức là do tác dụng ấy mà thành.

 

      * Hỏi: Trí Giả đại sư là hóa thân của Phật Thích Ca, nếu lời ấy là thật, ắt phải có thể đến đi tự do, chẳng tổn hại mảy may. Cớ sao, lúc lâm chung Ngài nói: “Nếu ta chẳng lănh chúng, ắt tịnh sáu căn. Do tổn ḿnh, lợi người, chỉ chứng Ngũ Phẩm”? Xét theo ư nghĩa của câu nói ấy, tợ hồ trở ngại cái tâm lănh chúng (Bồ Đề tâm) của người đời sau! Sợ rằng người đời sau [nghe nói như vậy] đều chẳng muốn lănh chúng, trở thành một kẻ chỉ lo tự độ, là mầm cháy, hạt lép, có phải như vậy hay là không? (Lại Đống Lương hỏi)

 

      Đáp: Câu hỏi này chia thành ba đoạn [để trả lời]:

      1. Nói một vị thầy nào đó là hóa thân của một vị Phật nào đó, có hai nghĩa:

      a. Mang ư nghĩa suy tôn nên sánh ví như vậy.

      b. Thành Sở Tác Trí của Phật vô lượng biến hóa, dùng trí quang đă biến hóa ấy để gia bị một vị sư nào đó th́ vị sư ấy trở thành hóa thân của vị Phật đó.

      2. “Chẳng lănh chúng” không phải là “chẳng hoằng pháp, độ chúng sanh”. Lănh chúng cố nhiên là độ chúng sanh, nhưng độ chúng sanh cũng chẳng chỉ giới hạn trong một pháp lănh chúng!

      3. Nói “chỉ chứng Ngũ Phẩm” là đáp lời hỏi của kẻ khác. Nếu nói theo sự thật, v́ Sư lănh chúng, nhưng công quả [thành tựu] có sớm hay trễ, sợ người đời sẽ nghi dẫu Sư tinh tấn như thế mà chỉ chứng Ngũ Phẩm, [vậy th́] kẻ chưa bằng Sư vẫn chưa nắm chắc [sẽ thành tựu]. [Sư trả lời như vậy với] dụng ư nhằm ngăn ngừa kẻ khác nguội lạnh tấm ḷng. Đă muốn trên cầu Phật quả, ắt phải độ chúng sanh. Căn cơ to lớn, thành tựu trễ tràng là lẽ tất nhiên. Nếu là kẻ tự lo giải thoát cho riêng ḿnh, quả vị tột bậc sẽ là La Hán, tam đức chẳng tṛn, bậc đại tâm chúng sanh quyết chẳng mong chóng thành tiểu quả.

 

      * Hỏi: Quán Âm hiện thời chính là Chánh Pháp Minh Như Lai trong quá khứ, trong thời kỳ nào Ngài sửa danh xưng thành Bồ Tát và nguyên nhân là như thế nào? (Giang Ấn Thủy hỏi)

 

      Đáp: Chánh Pháp Minh Như Lai đổi danh xưng thành Bồ Tát trong nhiều kiếp trước xa xôi, chẳng có cách nào tính toán thời kỳ ấy được! Nếu hiểu gượng ép th́ có thể nói “đến nay là mười kiếp”. Phỏng theo đó, Ngài đổi thành Bồ Tát chẳng thể sau mười kiếp được! Bản dịch kinh Thiên Thủ Thiên Nhăn Đại Bi Tâm Đà La Ni của ngài Già Phạm Đạt Ma có đoạn: “Dĩ ư quá khứ vô lượng kiếp trung, dĩ tác Phật cánh, hiệu Chánh Pháp Minh Như Lai” (trong vô lượng kiếp quá khứ, Ngài đă thành Phật, hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai). Đại từ nguyện lực, an lạc chúng sanh, nên thị hiện làm Bồ Tát, đấy là nguyên nhân.

 

* Hỏi: Cổ đức nói Trí Giả đại sư là hậu thân của Phật Thích Ca, nay th́ tổ sư Ấn Quang là hóa thân của Đại Thế Chí Bồ Tát. Đấy là tán thán đức hạnh của hai vị đại sư có thể sánh như Thích Ca, Thế Chí, hay là hai vị đại sư thật sự là Phật, Bồ Tát nương theo nguyện độ sanh, giáng thức nhập phàm vậy? (Giang Ấn Thủy hỏi)

 

Đáp: Đối với ư nghĩa hóa thân, hăy nên xem câu trả lời cư sĩ Lại Đống Lương trong trang trước. Ở đây, lại mở rộng hơn:

1. Phật, Bồ Tát ứng theo sự cảm triệu của chúng sanh, dùng trí quang tạm thời hóa hiện thân h́nh, như người lâm chung, hóa Phật đến đón, và hết thảy các tướng tùy thời hóa hiện (chẳng hạn cuộc trong loài người) nhằm lợi ích chúng sanh.

2. Sanh mạng của hữu t́nh chúng sanh nói chung do ba đầu mối tinh cha, huyết mẹ, thần thức hợp thành (c̣n có những thứ khác nữa). Nếu Phật, Bồ Tát dùng một phần trí quang và tinh huyết hợp thành thai, đấy cũng chính là hóa thân.

3. Bậc Địa Tiền Bồ Tát nhập thai, có thể nói là “thác chuyển” (chuyển đổi từ thân này sang thân khác, nương gá vào thân mới)[4]. Nếu là Phật và Đẳng Giác, chỉ là Đại Viên Kính Trí, há c̣n có thể nói là “thác chuyển”?

 

* Hỏi: Nếu Phật, Bồ Tát hóa thân th́ hai vị đại sư khi tại thế chẳng giống lũ phàm phu chúng ta. Các Ngài trọn chẳng tích lũy mảy may ác nghiệp trong vô lượng kiếp và chẳng có ba thứ nghiệp chướng như vô minh v.v..., là bậc đại thánh nhập phàm, trở thành một phàm phu, từ lúc ra khỏi thai mẹ cho đến khi dự vào hàng sa-môn trong khoảng thời gian ngắn nhất, nghiệp chướng mê hoặc chẳng c̣n mấy, tu đạo há chẳng phải là dễ thành tựu hay sao? (Giang Ấn Thủy hỏi)

 

Đáp: Lai lịch của hai vị đại sư tôi chẳng thể suy lường, ư nghĩa của hóa thân đă được nêu bày như trên. Nếu là Phật, Bồ Tát ứng thế, trọn chẳng phải là thác chuyển, cũng chẳng bị [mê khi] “cách Ấm”. Như tám tướng thành đạo của đức Thích Tôn, chẳng qua thị hiện giống như phàm phu, há c̣n có nghiệp chướng ǵ nữa, thành tựu dễ dàng!

* Hỏi: Sau khi các Ngài tịch diệt, thần thức phải trở về hợp nhất với Pháp Thân vốn có của Phật, Bồ Tát, [như vậy th́] trong cơi Phật, lẽ ra chẳng nên có Trí Giả Bồ Tát, Ấn Quang Bồ Tát? (Giang Ấn Thủy hỏi)

 

Đáp: [Phật, Bồ Tát dùng] một phần trí quang [kết hợp tinh huyết của cha mẹ để] nhập thai th́ sau khi tịch diệt, có thể nói là ứng hiện huyễn thân ǵ đó. C̣n phân quang gia bị một người nào đó (tức là Phật, Bồ Tát dùng một phần trí quang để gia bị một hành nhân khiến cho người ấy có trí huệ và đức năng giống như các Ngài) th́ tự nhiên vẫn có thức tướng của người ấy!

 

* Hỏi: Đức Thích Tôn vừa chuyển pháp luân, liền nêu ra Tứ Đế; du hành thuyết pháp, nhiều phen xiển phát ư nghĩa Tứ Đế. Lúc nhập Niết Bàn, vẫn ân cần gạn hỏi các đệ tử đă hiểu rơ Tứ Đế hay chưa? V́ sao đức Phật chú trọng Tứ Đế như vậy? (Châu Bang Đạo hỏi)

 

      Đáp: Tứ Đế là hai tầng nhân quả thế gian và xuất thế gian. Nói chung, hết thảy Phật pháp chẳng qua nhằm làm cho chúng sanh chuyển mê thành ngộ, làm sao có thể vượt ra ngoài lư Tứ Đế cho được? Hơn nữa, Tứ Đế tuy một, mà có Sanh Diệt, Vô Tác[5] v.v... cho nên nói khác biệt!

 

      * Hỏi: Phước đức và phước báo vốn là bất liễu nghĩa, chẳng phải là nghĩa tối thắng, chẳng phải là nghĩa rốt ráo, nhưng trong kinh đă nhiều lần nói đến. Phẩm Tùy Hỷ Công Đức của kinh Pháp Hoa c̣n nói thẳng thừng là “nhân thiên phước báo”. V́ hướng dẫn hết thảy phàm chúng tin tưởng, ngưỡng mộ Phật pháp, khuyến khích phàm nhân tận lực hành thiện nghiệp; lại c̣n v́ hoằng dương Phật pháp, [để chúng sanh] khỏi bị ảnh hưởng bởi các tôn giáo khác, tôi trộm nghĩ chẳng ngại giảng bàn [phước báo], chẳng cần phải nói phước báo thuộc về phàm thừa, coi nhẹ, hạ thấp nó. Cũng v́ lư do ấy mà đức Thế Tôn thuyết pháp, đă hạ thấp những ư nghĩa từ Hoa Nghiêm, Phạm Vơng xuống thành [các ư nghĩa trong các kinh] Đề Vị, A Hàm đấy chăng? (Châu Bang Đạo hỏi)

 

      Đáp: Ngũ thừa thuyết pháp đều v́ khế cơ, vốn chẳng bỏ nhân thiên. Những điều cư sĩ đă nói đáng nên chấp nhận!

 

      * Hỏi: Khi đức Thích Tôn thuyết pháp, trừ các đệ tử ra, chư Phật cũng đến tham dự đông đảo. Trong kinh Lăng Nghiêm chép: Quán Thế Âm Bồ Tát là một trong hai mươi lăm vị đệ tử [của Phật Thích Ca]. Kinh Duy Ma Cật nói Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát là thầy của bảy đức Phật. Thích Tôn và các vị Phật có quan hệ ra sao? Ngôi vị như thế nào? Ai trước? Ai sau? Ai là thầy? Ai là tṛ? Trong tâm tôi đầy ắp nghi hoặc, xin hăy dạy những nét chánh yếu! (Châu Bang Đạo hỏi)

     

      Đáp: Chư Phật b́nh đẳng, chẳng cần phải phân chia ngôi thứ, gượng ép sắp xếp như trong Thế Đế. Nếu từng là đệ tử của quá khứ Phật, như Thích Tôn và Nhiên Đăng Phật, Di Đà và Thế Tự Tại Vương Phật, sẽ có quan hệ thầy tṛ. Chư Phật tham dự pháp hội, phần lớn trụ trong Định, chẳng chia ngôi vị thứ tự đầu hay cuối. Trong quá khứ, ngài Văn Thù Sư Lợi tuy là thầy của bảy đức Phật, nhưng trong thời đức Thích Tôn, Ngài hiện làm Bồ Tát, địa vị thuộc vào hàng đệ tử.

     

      * Hỏi: Ngủ gà ngủ gật là bệnh tâm thần hay bệnh nơi nhục thể? Có cách nào trị tận gốc hay không? (Lại Đống Lương hỏi)

 

      Đáp: Hành tŕ mà ngủ gà ngủ gật tức là tâm sở Hôn Trầm, có liên hệ đến mặt tinh thần lẫn thân thể. Ngoài lúc tụng niệm công khóa, hăy nên tán tŕ danh hiệu Phật cho nhiều, vọng niệm ít dấy lên, luôn luôn sám hối; cách này có thể trị được chứng hôn trầm phát sanh từ thân thể. Ngoài ra, dùng hai tay chà tai, lấy khăn thấm nước lạnh lau mặt, lớn tiếng niệm Phật. Nếu con ma ngủ vẫn chẳng rời đi, liền đứng dậy lễ Phật, hoặc nhiễu Phật, thực hiện [những cách này] ngay trong khóa niệm cũng được!

 

      * Hỏi: Phàm phu Bồ Tát phải thường chẳng rời Phật, nhẫn lực thành tựu mới kham ở trong tam giới, ở trong đời ác cứu chúng sanh khổ (lời của Trí Giả đại sư). Trí Độ Luận lại nói: “Phàm phu đầy dẫy triền phược có tâm đại bi, nguyện sanh trong đời ác cứu khổ chúng sanh, chẳng có lẽ ấy!” Lại nói: “Ví như có hai người, mỗi người đều có thân quyến bị ch́m trong nước, một người do nóng ḷng, lao thẳng vào nước cứu, v́ thiếu sức phương tiện, nên đôi bên cùng bị chết đuối”. Đoạn văn ấy há chẳng phải là khác biệt rất lớn với tông chỉ “khuyên phát Bồ Đề tâm, chí tại lợi người khác, làm cho khắp hết thảy chúng sanh ĺa khổ được vui” ư? Nếu chẳng hóa độ chúng sanh, tức là kẻ chỉ cầu giải thoát cho riêng ḿnh, là mầm cháy, hạt lép th́ làm sao được? (Lại Đống Lương hỏi)

 

      Đáp: Bồ Đề tâm là thượng cầu hạ hóa, trí lẫn bi cùng vận dụng. Nếu chẳng cầu trí, chỉ nghĩ cứu kẻ khác, đôi bên đều chẳng thành tựu! Lời Luận hay lời Tổ [dạy như vậy] là v́ sợ người ta chấp lệch vào một phía, chẳng có ích ǵ cho thực tế! Cứu người khác cần phải có các thứ phương pháp. Nếu không có phương pháp, làm sao có thể cứu người khác? Ví như chính ḿnh là thầy thuốc th́ mới có thể chữa bệnh cho kẻ khác. Nếu chẳng có thầy thuốc, thấy người khác bệnh khổ, khuyên kẻ ấy t́m thầy chữa trị th́ cũng là bi tâm, trọn chẳng phải là không được! Bọn học nhân chúng ta nay khuyên người khác quy y Phật đạo, học Phật, niệm Phật cũng v́ lẽ đó! Các đoạn văn như ông đă nêu ra trên đây chỉ là nói với kẻ phàm phu đầy dẫy triền phược chưa thể cứu người khác, trọn chẳng phải là cấm khuyên người khác cầu cứu. Điều này có ǵ là trái nghịch với Bồ Đề tâm?

 

    * Hỏi: Khi xướng tán có xoang điệu và không có xoang điệu th́ công đức có sai biệt hay không? (Huệ Lâm hỏi)

 

      Đáp: Chỉ cần cung kính th́ công đức ngang nhau.

 

      * Hỏi: Muốn t́m lợi ích thật sự nơi Phật pháp, cần phải cầu từ cung kính, xin hăy chỉ dạy cung kính là như thế nào? (Châu Huệ Đức hỏi)

 

      Đáp: Cung là tâm giữ ḷng thành, Kính là biểu hiện ra ngoài, chẳng cần biết là thượng cầu hay hạ hóa, đều chẳng cẩu thả chút nào!

 

      * Hỏi: Người lúc mạng chung, mặc y phục như thế nào là thích đáng? (Châu Huệ Đức hỏi)

 

      Đáp: Người học Phật nên mặc áo hải thanh, nhưng cũng chớ nên quá câu nệ, chỉ cần không mặc các thứ tơ lụa là được rồi!

 

      * Hỏi: Khi Thích Ca Mâu Ni Phật vào địa ngục độ chúng sanh, Ngài có biết ḿnh chính là Phật hay chăng? (Châu Huệ Đức hỏi)

 

      Đáp: Giác hạnh viên măn mới gọi là Phật. Đă nói là “viên măn” th́ chẳng c̣n mê nữa, c̣n như vào trong các đường để độ chúng sanh, đều là thần thông du hư. Pháp Thân bất động, chẳng giống như phàm phu đầu thai bị mê khi cách ấm.

 

      * Hỏi: Hễ mất thân người, vạn kiếp khó trở lại được. V́ sao thân người quư báu như thế, nếu có thể sanh lên thiên đường, hết thảy khổ năo sẽ giảm đi hơn phân nửa. Nếu muốn niệm Phật cầu sanh Tây Phương, chẳng phải là dễ hơn mấy ngàn vạn lần ư? Cớ sao hưởng hết phước trời, sẽ đâm ra đọa lạc vậy? (Huệ Đức hỏi)

 

     Đáp: Trên trời vui nhiều, khổ ít, quả thật chẳng dễ tu! Vui nhiều ắt sẽ tham chấp, chẳng bỏ được; ít khổ nên đạo tâm chẳng sanh. Hăy thử nh́n người đời, những nhà có cao lương mỹ vị, có mấy kẻ giác ngộ sanh tử vô thường, sanh khởi đạo tâm? Họ gần như chỉ biết sáng vui, chiều sướng, sống một ngày kể là một ngày, phú quư nhỏ tí ti, ngắn ngủi mà c̣n mê đắm, huống hồ sự vui to lớn trên cơi trời! Kính khuyên cư sĩ: Chớ nên sanh lên trời, đừng sanh lên trời!

 

      * Hỏi: Thích Ca Thế Tôn đă thành Phật từ nhiều kiếp, nương theo nguyện mà xuất thế, nên chẳng mê khi cách ấm, cớ sao nói vào ngày mồng Tám tháng Chạp, Ngài thấy sao Mai mới đại ngộ? (Huệ Quán hỏi)

 

      Đáp: Tám tướng thành đạo đều là giả thị hiện, [đức Phật] thị hiện [những tướng ấy] nhằm làm khuôn mẫu dạy người đời sau thứ tự trong tu hành. Thấy sao Mai chứng đạo là một trong các hạnh thị hiện ấy; chẳng phải là đến lúc đó Ngài mới ngộ!

 

      * Hỏi: Các tượng Phật, Bồ Tát vẽ hay khắc được thờ trong các tự viện và trong các gia đ́nh hiện thời, nếu nh́n ngắm bằng mắt phàm, [sẽ thấy] dường như đa số là thân phụ nữ, nhưng theo kinh điển, rơ ràng là trong cơi Phật Tây Phương chẳng có nữ nhân. Vẽ khắc thành thân phụ nữ là do nguyên nhân nào? (Hoàng Quảng Tâm hỏi)

 

      Đáp: Bồ Tát có h́nh tượng tại gia và xuất gia. Tượng để tóc, đeo anh lạc là tượng tại gia Bồ Tát, trọn chẳng phải là thân nữ! Cũng có vị cố ư thị hiện thân nữ, tức là Quán Âm tùy loại hóa thân vậy!

      * Hỏi: Đối với tượng Phật ắt phải cung kính, nhưng tượng Phật bị dính bụi bặm, dùng phương pháp nào để trừ bỏ mà chẳng phạm tội vô lễ? (Lâm Mộng Đinh hỏi)

 

      Đáp: Dành riêng chổi sạch, khăn sạch để lau dọn bụi bặm cho tượng Phật, đó là cung kính.

 

      * Hỏi: Đời người đă có gia đ́nh, không thể nào chẳng v́ điều kiện ăn, mặc, cư ngụ thấp nhất mà lao tâm, lao lực, phục vụ xă hội, càng chẳng thể không cầu toàn đại ngă và tiểu ngă mà nhọc nhằn thân tâm, có thể nói là không lúc nào, không chỗ nào, không ǵ chẳng vướng mắc, dấy động căn, trần, ư thức. Đă thế, văn bối tánh t́nh cứng cỏi, thẳng thắn, hễ gặp chuyện bất b́nh, nếu chẳng có cách nào rút đao tương trợ, ắt tâm sẽ bực bội, phiền muộn khá lâu. Gặp chuyện đáng thương xót, ắt ḷng áy náy một thời gian dài! Biết rơ đó là đại chướng ngại cho việc cầu giải thoát, nhưng tích tập quá sâu, thường chẳng mong như vậy, nhưng biết rơ mà vẫn cố phạm, kính xin cụ hăy dạy phương tiện giải thoát! (Tưởng Nam Hải hỏi)

 

      Đáp: Phần này nên chia thành ba đoạn để trả lời:

1. Hết thảy lợi dưỡng trong đời người gọi là y báo, đều có số phận nhất định, tận hết sức ta, nhưng c̣n phụ thuộc vào nó (số phận), hăy dùng nhân quả để xét lẽ được - mất, ắt sẽ giảm thiểu các lỗi lầm trong hành động.

2. Gặp chuyện bất b́nh, hăy coi [những kẻ đó] như quyến thuộc, ắt tâm phẫn nộ tự lặng. Nếu nghĩ kẻ cậy mạnh hiếp yếu rốt cuộc sẽ gặp ác báo, ắt tâm thương xót nẩy sanh, sẽ có thể giải trừ những mối vướng mắc khó giải quyết, ắt mọi người vui vẻ, càng tốt lành hơn. Rút đao tương trợ, càng tăng thêm tranh chấp, bực bội, phiền muộn trong ḷng, tự chuốc phiền năo, đối với ḿnh lẫn người, đều chẳng có lợi ích.

3. Gặp chuyện đáng thương xót, trong ḷng xót xa, đó là ḷng đại bi lưu lộ, chính là gan ruột Bồ Tát, hăy nên giúp đỡ đối phương tùy theo khả năng để được an ḷng.

 

      * Hỏi: Phật học rất sâu, dẫu là giai cấp trí thức vẫn thấy khó hiểu, khó nói, huống là lũ chúng ta ít học, bất tài, có cách ǵ để khai trí huệ hay không? Tôi cho rằng nên đề xướng cách thức Tán Ca[6] để Phật giáo phổ cập trong đại chúng, so với phương pháp niệm Phật, niệm kinh cũ kỹ sẽ dễ dàng hơn, và cảm thấy thú vị hơn, có nên hay chăng? (Lă Chánh Lương hỏi)

 

      Đáp: Dùng Tán Ca để tăng thêm hứng thú, dẫn dắt người khác học Phật, đích xác là chuyện tất yếu, Phật giáo chưa hề chẳng dùng đến cách ấy. Trong các bộ đại kinh như Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Vô Lượng Thọ v.v... có rất nhiều kệ tụng, đều có thể phổ thành các bài hát có nhịp điệu để sau đấy dùng làm công khóa. Dâng hương có bài Hương Tán, và c̣n có các thứ Phật Tán, lại có các bài tán kỳ đảo, hồi hướng, Du Già, Diệm Khẩu, ca kệ rất nhiều, đều nhằm tăng hứng thú cho tăng nhân mà đặt ra. C̣n đối với việc niệm Phật, niệm kinh, vốn chẳng thuộc ư nghĩa dẫn dụ, niệm Phật thuộc về nội tu chuyên công, niệm kinh mới có thể liễu giải giáo lư. Đấy chính là vấn đề căn bản thuộc về nghiên cứu và thực hành. Ca tán giống như âm nhạc trong tuồng hát, kinh Phật giống như ca từ trong vở hát, hai thứ đều chẳng thể bỏ được!

 

      * Hỏi: Thoạt đầu, Thích Ca Mâu Ni Phật vốn là phàm nhân, v́ sao Ngài biết có Tây Phương Tịnh Độ? Lại c̣n biết phương pháp tu Phật để tu thành Phật? Có phải là xưa kia Ngài cũng tu một tông trong năm tông? Những vấn đề giống như vậy cần phải đọc từ sách nào, có thể t́m được hay không? (Lưu Định Xí hỏi)

 

      Đáp: Thích Tôn đă thành Phật từ nhiều kiếp lâu xa, v́ độ chúng sanh trong cơi Sa Bà mà thị hiện nơi đây; do vậy, hết thảy đều biết. Hơn nữa, tất cả kinh giáo đều được nói sau khi Ngài đă thị hiện tướng thành đạo, c̣n nghi chi nữa? Ông có thể tham khảo sách viết về sự tích ứng hóa của Thích Ca Mâu Ni Phật (tức cuốn Thích Ca Truyện do pháp sư Đạt Hư của Đài Loan viết theo lối văn vần, tuy đơn giản [nhưng đọc sách ấy] cũng có thể biết đại khái).

 

      * Hỏi: Tràng hạt (xâu chuỗi) có tác dụng ǵ, bao nhiêu hạt, chia làm mấy thứ, phải tự làm hay có thể mua? (Lưu Định Xí hỏi)

 

      Đáp: Tràng hạt dùng để tŕ tụng, các kinh ghi chép có những điểm giống nhau và khác nhau. Về số lượng [các hạt], nói chung có thể chia thành chín loại:

1. Một ngàn lẻ tám mươi hạt, biểu thị mười giới, mỗi giới có một trăm lẻ tám pháp tướng.

2. Một trăm lẻ tám hạt, biểu thị một trăm lẻ tám phiền năo hay một trăm lẻ tám vị tôn giả v.v...

3. Năm mươi bốn hạt, biểu thị năm mươi bốn địa vị của người tu[7].

4. Bốn mươi hai hạt, biểu thị Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, Diệu Giác [tổng cộng] bốn mươi hai cấp quả vị.

5. Hai mươi bảy hạt, biểu thị hai mươi bảy địa vị thánh hiền thuộc Thanh Văn Thừa[8].

6. Hai mươi mốt hạt, biểu thị Thập Địa vốn sẵn có, Thập Địa do tu được, và Phật quả.

7. Mười bốn hạt biểu thị mười bốn nhẫn[9].

8. Ba mươi sáu hạt, chính là một phần ba của một trăm lẻ tám hạt.

9. Mười tám hạt, chính là một nửa của ba mươi sáu hạt.

Hai loại này mang theo tiện lợi, trọn chẳng có ư nghĩa ǵ. Trong các thứ [tràng hạt] kể trên, học nhân trong nội địa Trung Quốc chỉ chọn loại hai thứ là một trăm lẻ tám hạt và mười tám hạt. Các loại kia, người học Phật tại Nhật vẫn c̣n tiếp tục sử dụng.

 

      * Hỏi: Tứ Đại Kim Cang như cơi đời thường nói có địa vị như thế nào? V́ sao phải dùng con số bốn? (Uông tiên sinh hỏi)

 

      Đáp: Chẳng biết ông nói Tứ Đại Kim Cang theo nghĩa nào? Có phải là bốn vị trong Thiên Vương Điện hay không? Tượng thờ trong ấy, chính giữa là Di Lặc, bên cạnh là bốn vị thiên vương, có lẽ người đời thường gọi các Ngài là Kim Cang. Nếu [ông hỏi] về các vị này, bèn đáp rằng: Đây chính là tầng trời thứ nhất, chia thành bốn phương, mỗi phương đều có một vị vua thường hộ tŕ Phật pháp. Do vậy, mới có số bốn. Địa vị của họ thấp hơn Tam Thập Tam Thiên.

 

      * Hỏi: Thiên vương có tất cả bao nhiêu vị? Có phải là trong ba mươi ba cơi trời mỗi cơi đều có người chủ tŕ? (Uông tiên sinh hỏi)

 

      Đáp: Mỗi thế giới có hai mươi tám tầng trời; thế giới vô lượng, nên thiên vương cũng khó thể tính đếm. Tam Thập Tam Thiên là tầng trời thứ hai, tức Đao Lợi thiên, là nơi Đế Thích ngự, tục gọi vị này là Ngọc Hoàng Đại Đế. Bốn phương cơi trời ấy xếp theo hàng ngang, mỗi phương có tám cơi trời, [kể cả cơi trời chính giữa của Đế Thích], gộp chung thành ba mươi ba cơi trời. Mỗi cơi có thiên chúa. Nếu lấy chế độ phân chia đất nước tại Trung Quốc vào thời cổ để sánh ví sẽ dễ hiểu. Đế Thích giống như thiên tử đời Châu, các vị trời khác giống như vua các nước chư hầu.

 

      * Hỏi: Phật giáo đối với nghi thức cưới, tang là như thế nào? (Trầm Hàn Sơ hỏi)

 

      Đáp: Lễ tiết cưới xin và ma chay thuận theo tập tục địa phương, Phật giáo đồ trọn chẳng có ǵ đặc biệt. Bất quá tang lễ của người xuất gia có chế định đặc biệt, chẳng giống thế tục. Người tại gia không bị sự hạn chế này, nhưng cũng có một hạn chế nhỏ, như hôn lễ bèn hướng về Phật kính lễ, thỉnh người có đức để chứng hôn, thuyết giới chẳng tà dâm. Tang lễ chẳng noi theo cách cầu siêu, cúng bái của ngoại đạo, chẳng làm hết thảy những chuyện mê tín như cầu thần quỷ, đốt giấy tiền, vàng bạc v.v... C̣n chuyện đăi khách th́ chẳng cần biết là hôn lễ hay tang ma đều nên dùng cỗ chay, răn cấm nhà bếp không được sát sanh. Nếu v́ hoàn cảnh không áp dụng được th́ cũng nên dùng năm thứ tịnh nhục (tức là không thấy giết, chẳng nghe tiếng giết, chẳng v́ ta mà giết, con thú tự chết, thịt do chim ăn c̣n sót lại).

 

      * Hỏi: Dạng thức tự viện các nơi tại Đài Loan phần lớn khác với nội địa, có phải là giáo nghĩa cũng sai khác như thế hay chăng? (Trầm Hàn Sơ hỏi)

 

      Đáp: Cùng là Phật giáo, kinh nghĩa chẳng hai! Chẳng qua là nghi thức và phương pháp tu tŕ có liên quan đến phong tục địa phương, nên có khác với nội địa đôi chút mà thôi!

 

      * Hỏi: Nguyên nhân khiến công đức niệm thánh hiệu Địa Tạng Bồ Tát vượt trội vạn lần công đức niệm danh hiệu các vị Bồ Tát là như thế nào? (Trầm Hàn Sơ hỏi)

 

      Đáp: Ông có thể tham khảo, đọc Địa Tạng Thập Luân Kinh[10] và Bổn Nguyện Kinh, trong ấy chép tường tận các thứ công đức do Bồ Tát đă phát nguyện nhiều kiếp, có thể nói là đối với lịch sử của Địa Tạng Bồ Tát, cột báo này phân lượng hữu hạn, chẳng thể nào trích dẫn các đoạn kinh văn ấy.

 

      * Hỏi: Trong học thuyết Phệ Đà (Vedas) của Ấn Độ giáo vốn có Nhân Minh (Hetu-vidyā), không chỉ được coi là học thuyết tối cao thuở ấy, mà trong hiện đại cũng được coi là lư luận hợp thời đại nhất, có thể thấy giáo chủ của Ấn Độ giáo đương nhiên có thành tựu vô ngại, nhưng tôi chẳng hiểu Ngài chứng quả vị nào? Gia Tô giáo là một tôn giáo lớn trên thế giới, vẫn chẳng thấy Gia Tô (Jesus) sáng tác một học thuyết cao sâu dường ấy, nhưng lại ngược ngạo phát triển nhanh chóng hơn Ấn Độ giáo, lại chẳng thể chứng minh Gia Tô có thành tựu, cớ sao biết ông ta là trời? (Trí Hùng hỏi)

 

      Đáp: Tôn giáo Ấn Độ thờ Phạm Thiên, Phạm Thiên (Brahma) thành tựu nơi Sắc Giới. Phật lư vừa xuất hiện, như mặt trời treo giữa không trung, lửa đuốc tự tắt. Đấy là nguyên nhân khiến cho Ấn Độ giáo chẳng hưng thịnh. Đạo Gia Tô thịnh hành ở Âu Châu, do chưa xuất hiện những tôn giáo khác cạnh tranh với họ, lại gặp các nước cường thịnh, hướng ra bên ngoài làm thực dân. Đạo Gia Tô nhờ vào sức các nước để phát triển rộng răi ra ngoài. Đấy là nguyên nhân khiến họ phát triển. Tôn giáo ấy sùng bái trời, mong sanh lên thiên đường, giáo đồ có thành tựu hay không, người ngoài chẳng thể biết được!

 

      * Hỏi: Các thứ kinh điển đều xưng tán chính ḿnh có công đức to lớn, giống như tục ngữ của chúng ta có câu: “Lại đầu nhi tử tự kỷ đích hảo” (kẻ chốc đầu tự khen ḿnh đẹp), có phải là có khuyết điểm trong ấy hay không? (Duy Bảo hỏi)

 

      Đáp: Như Lai thuyết giáo, vốn để độ sanh, khế lư và khế cơ, đối phương tự có thể ngộ chứng, đó là công đức to lớn. Như thầy thuốc trị bệnh, quan sát, chẩn đoán [biết bệnh nhân mắc phải chứng bệnh] hư, thực, hàn, nhiệt, cắt thuốc bổ, tả, ôn, lương[11], trị hết bệnh th́ toa thuốc ấy tốt lành, khen ngợi mấy câu: “Toa thuốc này thật hay quá”, như vậy th́ có khuyết điểm ǵ hay chăng?

 

* Hỏi: Vợ chồng, mẹ con, có kẻ nói là do nhân duyên kiếp trước, có kẻ nói là oán thù kiếp trước, rốt cuộc thuyết nào là đúng? (Lâm Huệ Lan hỏi)

 

      Đáp: Nhân duyên vốn có hai tánh thiện và ác. Oán thù tất nhiên là ác nhân duyên, ngược lại là thiện nhân duyên, nhưng nhân duyên do tâm tạo, nên có thể do tâm xoay chuyển. V́ thế, giữa người trong gia đ́nh mà có yêu ghét, sẽ có lúc cũng nẩy sanh biến hóa.

 

      * Hỏi: Hiền Kiếp có một ngàn đức Phật xuất thế, tôi có thể biết danh hiệu từ vị Phật thứ nhất đến vị thứ một ngàn hay không? (Liêu Nhất Tân hỏi)

     

      Đáp: Vị đầu tiên tên là Câu Lưu Tôn Phật (Krakucchanda Buddha), vị thứ tư chính là Thích Ca Mâu Ni Phật, vị cuối cùng là Lâu Chí Phật (Rucika Buddha), danh hiệu cả ngàn, làm sao nêu trọn hết được? Có ba loại kinh cùng mang tên Thiên Phật Danh Kinh, ông có thể tham khảo. “Ba thứ kinh” [nói về] danh hiệu của chư Phật trong Quá Khứ Trang Nghiêm (Vyūha kalpa), Hiện Tại Hiền Kiếp (Bhadra kalpa), và Vị Lai Tinh Tú Kiếp (Naksatra kalpa).

 

      * Hỏi: Phải đến năm mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm sau, Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật mới giáng sanh, số năm ấy tính từ lúc nào? (Liêu Nhất Tân hỏi)

 

      Đáp: Tính từ sau khi Thích Ca Phật nhập Niết Bàn.

 

      * Hỏi: Hiện thời tôi bị chứng nhịp tim không ổn định, cầu đức Phật từ bi nào sẽ có thể tránh khỏi tai nạn ấy? (Phan Quốc Vinh hỏi)

 

      Đáp: Niệm Nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát cho nhiều sẽ có thể hết khổ.

 

      * Hỏi: Dùng pháp nào để khuyên khắp chúng sanh trong biển khổ quay đầu là bờ? (Phan Quốc Vinh hỏi)

 

      Đáp: Điều ấy cần phải ứng cơ thuyết pháp, trọn chẳng có h́nh thái [nhất định]. Nếu đối với người chẳng có thành kiến th́ nói lẽ nhân quả, khuyên họ niệm Phật th́ cũng rất tốt đẹp.

 

      * Hỏi: Tây Du Kư ai nấy đều biết, xin hỏi Đường Tăng và Tôn Hành Giả, Trư Bát Giới v.v... có bằng chứng ǵ để tra cứu hay không? (Vương Giới Nhất hỏi)

 

      Đáp: Trong Tây Du Kư chỉ có pháp sư Huyền Trang đời Đường là một nhân vật tiếng tăm lừng lẫy trong lịch sử, những kẻ khác đều là nhân vật ngụ ngôn trong tiểu thuyết.

 

      * Hỏi: Câu nói “buông dao đồ tể xuống, lập tức thành Phật” (tức là nói: Một niệm thanh tịnh, tâm chẳng chấp trước, chẳng cần biết quá khứ có thiện căn hay không) nay đă trở thành câu khẩu đầu thiền của tăng lẫn tục; nhưng kinh Di Đà dạy: “Chẳng thể do chút ít thiện căn, phước đức, nhân duyên mà được sanh về cơi ấy”; và dựa theo Phật lư trong điều thứ hai về thí dụ sáu nút thắt trong kinh Lăng Nghiêm để luận, buông dao đồ tể xuống cố nhiên có thể thành Phật, nhưng phải cậy vào tu tập, chẳng phải là ngay lập tức thành Phật. Có kẻ nói những điều đă nói trên đây thuộc về Tiệm Giáo, chứ nói theo Đốn Giáo sẽ có thể ngay lập tức thành Phật. Trong kinh Lăng Nghiêm có nói: “Lư tắc đốn ngộ, Sự phi đốn trừ” (về Lư th́ có thể đốn ngộ, nhưng về Sự chẳng thể đốn trừ). Dựa theo đó để giải thích th́ [nói “buông dao đồ tể xuống, lập tức thành Phật”] chính là đốn Lư, chẳng phải là đốn Sự. Lại luận theo phía A La Hán và Bồ Tát, ngay trong lúc buông dao đồ tể xuống, tâm niệm thanh tịnh, nhưng vẫn phải trải qua nhiều kiếp tu hành mới có thể thành Phật. Nếu không cậy vào tu tập, tâm tịnh tức Phật, sẽ chẳng thể kiến lập những giả danh như A La Hán, Bồ Tát. Huống chi Phật Thích Ca thị hiện cũng phải tĩnh tọa sáu năm dưới cội Bồ Đề mới khai ngộ thành đạo. Gă đồ tể ấy do may mắn ǵ mà chẳng cần phải nhờ vào tu tập, nhất niệm thanh tịnh bèn lập tức thành Phật, [mọi phiền năo] tích tập từ vô thỉ đều chẳng hiện hành, dù nhân hay quả đều thật sự khiến cho người ta mê hoặc? Câu “buông dao đồ tể xuống, lập tức thành Phật” rốt cuộc là chuyện cổ tích trong dân gian, chẳng hề có mảy may chứng cứ thật sự, mê người, rối ḿnh ư? Hay là có kinh Phật để tra cứu? Xin hăy giải thích để được nghe chánh pháp! (La Đức Chương hỏi)

 

      Đáp: Ở đây có nhân thành và quả thành sai khác. Nếu nhiều kiếp tu tŕ, chưa triệt ngộ, vừa nghe tiếng Phật, bèn đốn ngộ Vô Sanh, đó là quả thành. Nghe một, ngộ cả trăm, ngay lập tức gánh vác, vĩnh viễn chẳng lui sụt, đó là nhân thành. Đốn thật sự do Tiệm mà có, như ăn mấy tấm bánh, tuy do ăn tấm cuối cùng bèn no, quả thật phải nhờ vào mấy tấm bánh trước đó!

 

* Hỏi: Hẹ, tỏi, hành đều là thực vật, thế tục bảo chúng là đồ mặn, chẳng phải đồ chay, có nghĩa như thế nào? (Ngô Diệu Vinh hỏi)

 

      Đáp: Thực vật có mùi hôi thối th́ gọi là Huân (hăng nồng). Nếu là động vật th́ gọi là Tinh (tanh tưởi). Xin ông hăy xem chữ Huân () thuộc bộ Thảo, chữ Tinh () thuộc bộ Nhục, sẽ có thể hiểu ư nghĩa của những chữ ấy.

 

      Hỏi: Đối với bệnh phổi, những năm gần đây do khoa học phát triển, qua nghiên cứu ta biết có vi khuẩn gây bệnh. Tây Y công nhận vi khuẩn có sanh mạng, chúng nhờ vào huyết khí trong thân thể con người để sanh sôi nẩy nở ngàn vạn. Chúng sanh nở càng nhiều th́ bệnh phổi càng nguy ngập, lâu ngày có thể khiến cho người bệnh bị chết, gây tổn thất to lớn cho con người, có thể tiêu diệt chúng hay chăng? Như những năm gần đây đă phát minh thuốc chuyên trị bệnh phổi như Liên Mi Tố (Streptomycin) v.v... có thể tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh, điều này có phải là phạm giới sát sanh hay không? Tội ấy thuộc về người phát minh hay thầy thuốc? (Ngô Lượng Huy hỏi)

 

      Đáp: Gặp hổ ăn thịt người, vung khí giới giết hổ cứu người là do ḷng nhân từ bị khích động trong nhất thời. Chuyện ngăn chặn kẻ cường bạo và chuyện khinh nhờn kẻ ngu si, yếu đuối nên đánh cá ăn thịt, động cơ (motivation) khác nhau! Hiểu rơ điều ấy th́ vấn đề này sẽ tự có thể giải quyết!

 

      * Hỏi: Người ăn chay trường hoặc Ưu Bà Tắc có thể mua ái quốc tưởng khoán (công khố phiếu ái quốc)[12] hay không? (Lư Vĩnh Mậu hỏi)

 

      Đáp: Đó là chánh sách kinh tế của quốc gia, quốc dân có nghĩa vụ ủng hộ. Đă chẳng phạm giới th́ có ǵ là không được!

 

      * Hỏi: Đối với chuyện quy y Tam Bảo, lúc đối trước Phật, chánh thức quy y th́ có phải ăn chay hay không? Đồng thời có nhất định phải bái sư hay không? Nếu phải bái sư, ắt cần phải có cao tăng, chẳng biết cao tăng ở nơi nào? Hiện thời, cao tăng từ Đại Lục ở Đài Loan tuy đông, hiềm rằng ngôn ngữ chẳng thông, chẳng thể triệt để thông hiểu những điều họ chỉ dạy, làm như thế nào mới nên? Quy y Phật và Pháp th́ đệ đă hiểu rơ, nhưng quy y Tăng có nhất định phải bái sư hay không? Hay là c̣n có cách nào khác (Ngô Luân Bỉnh hỏi)

 

      Đáp: Cao tăng gốc người Đài Loan rất đông, xin thứ lỗi v́ khó thể nêu tên từng vị, quê quán ở nơi đâu! Có thể đến thẳng chỗ vị ấy xin quy y, hoặc cũng có thể gởi thư xin quy y. Sau khi quy y Tam Bảo có thể ăn chay th́ công đức mới thù thắng. Dẫu chưa thể ăn chay, vẫn phải kiêng giết, hăy nên ăn năm thứ tịnh nhục!

 

      * Hỏi: Cơ duyên sát hại, tai vạ chiến tranh to lớn [trong hiện thời], trước kia chưa hề có! Nhằm lúc chiến tranh sôi nổi chưa ngưng dứt, văn bối thân là quân nhân, nghĩ giáo hóa chỉ có thể độ bậc thượng trí sơ giác, nhưng nóng ḷng muốn cứu tai kiếp mênh mông trước mắt, không thể nào chẳng dùng giết chóc để ngăn chặn giết chóc, tuy thuộc vấn đề chữa trị đằng ngọn, nhưng như thường nói: “Chẳng trừ bỏ cái ác, cái tốt lành làm sao yên ổn được?” Chẳng biết có trái nghịch tông chỉ nhà Phật hay không? (Tưởng Nam Hải hỏi)

 

      Đáp: Thân làm quân nhân, mang chức trách bảo vệ đất nước, che chở nhân dân, ngăn chặn kẻ khinh nhờn, dứt trừ kẻ tàn bạo, cũng giống như hàng ma, cũng là ban sự vô úy (không sợ hăi) cho chúng sanh, nhưng phải lấy chuyện tiêu diệt sức chiến đấu của đối phương làm điều chánh yếu, chớ nên lạm sát.

 

      * Hỏi: Có kẻ đă quy y Tam Bảo nhưng chẳng ăn chay, và người đă ăn chay nhưng chưa quy y rất nhiều, những người ấy có thể gọi là kẻ chánh tín hay không? (Lă Chánh Lương hỏi)

 

      Đáp: Đă quy y Tam Bảo nhưng chưa thể ăn chay tức là tín và hạnh chưa thể hợp nhất. Có thể tập tành ăn ba thứ tịnh nhục để rồi dần dần dứt hẳn. Nếu chỉ ăn chay, nhưng chẳng quy y, sẽ chẳng thể nói là chánh tín, v́ các loại ngoại đạo cũng có nhiều kẻ ăn chay.

 

* Hỏi: Phật giáo lấy từ bi làm mục đích, chẳng giết chóc, chẳng bá quyền, chiếm đoạt nước khác. Trước kia, tôi đọc quư báo thấy nói vũ lực chớ nên vượt ngoài mức độ tự pḥng vệ mà thôi, bất cứ người nào trên thế giới đều có nghĩa vụ tham gia quân dịch trong nước ấy. Nếu là Phật giáo đồ, sanh nhằm nước xâm lược, bị điều động vào đoàn quân xâm lược, trong hoàn cảnh ấy nên xử lư ra sao? (Hồng Dật Thông hỏi)

     

Đáp: Chỉ có phục tùng mạng lệnh, nghiêm ngặt đề pḥng lạm sát, chuyện này giống như bị sai làm đao phủ, tuy giết người, nhưng là nghĩa vụ thuộc về chức trách, nhiệm vụ, chính ḿnh trọn chẳng gánh tội sát nhân. Nếu đặc biệt làm cho kẻ bị giết chóc đau khổ hơn th́ pháp luật chẳng cho phép.

 

 * Hỏi: Chuyên làm điều từ thiện, ngăn ngừa cái thân chẳng giết chóc, răn dè cái tâm chẳng tham lam, nhưng chẳng niệm Phật mà cũng chẳng quy y Phật, lại c̣n chẳng sùng phụng thiên thần, các tôn giáo, th́ cũng có thể thành chánh quả hay không? (Hồng Dật Thông hỏi)

 

Đáp: Sẽ đạt được tiểu quả nhân thiên chẳng rốt ráo!

 

      * Hỏi: Khi tán thán người ta, nếu thốt lời quá sự thật th́ có phạm tội vọng ngữ hay không? (Duy Bảo hỏi)

 

      Đáp: Đó là một loại vọng ngữ! Đối với những ǵ chính ḿnh đă biết, tùy ư tăng thêm, lời lẽ khoe khoang, tô vẽ phù phiếm, giả dối, danh chẳng hợp thực.

 

      * Hỏi: Đức Phật coi sát giới là trọng. Không chỉ chẳng giết, mà c̣n phải phóng sanh. Nước ta nay sắp gặp nạn đói kém, hăy nên lập cách tăng thêm sản lượng (ắt phải trừ trùng rầy phá hoại mùa màng) để cứu giúp. Nếu châu chấu bay đến, phải làm như thế nào? Lại nữa, da dẻ mắc bệnh ghẻ gúm, khiến cho toàn thân ngứa ngáy, nguyên nhân gây ngứa là v́ trên da có rất nhiều con ghẻ hoặc kư sinh trùng hoạt động mà ra. Nếu chẳng dùng thuốc sát trùng để trị chúng, không chỉ chính ḿnh chẳng lành bệnh, mà c̣n có thể truyền nhiễm người khác. Nếu muốn trị lành, ắt sẽ giết chết vô số sinh linh như những con ghẻ, nên làm như thế nào? Lại c̣n các sinh linh khác như vi khuẩn có tánh truyền nhiễm có hại cho nhân loại, ngoài cách dùng thuốc giết chúng ra, chẳng biết có phương cách mầu nhiệm nào để tránh né hay không? Nếu gặp lúc bệnh dịch dữ dội hoành hành, tẩy trùng rau dưa ắt giết hại vô số sinh linh, há chẳng phải là phạm đại sát giới ư? (Liêu Nhất Tân hỏi)

 

      Đáp: Chuyện này nên dự pḥng trước khi sự việc phát sanh là phương pháp tốt nhất (như thường giặt quần áo sẽ chẳng sanh rận rệp, trừ bỏ nước dơ [ứ đọng] sẽ chẳng sanh muỗi ṃng, chẳng quăng thực phẩm xuống đất để tránh trùng kiến khỏi tụ tập vân vân). Nếu đă phát sanh, mà có thể bỏ ḿnh thí cho chúng th́ hăy chịu đựng. Nếu không, hăy lập cách để đuổi chúng đi, hoặc cầu Phật gia bị khiến cho chúng tự bỏ đi. Hăy chú trọng cách nào chính ḿnh có thể làm được th́ tâm sẽ yên.

 

      * Hỏi: Từ thuở hai mươi tuổi, tệ nhân tự động ăn chay. Kể từ khi sống trong quân ngũ từ năm ngoái, bắt đầu ăn những thứ chẳng phải là đồ chay thuần khiết, có cách nào bù đắp tội ấy hay không? (Phan Quốc Vinh hỏi)

 

      Đáp: Giữ tâm ăn chay, tất nhiên là nhân từ. Dẫu chẳng thể thuần khiết, cũng chẳng trở ngại ǵ! Cổ đức gặp lúc bất đắc dĩ, vẫn có trường hợp phải ăn rau bên cạnh thịt, nhưng chớ nên tham vị, mượn mùi vị thịt để nấu rau vậy!

 

 * Hỏi: Tôi thường nghe người học Phật nói: “Hết thảy trong thế giới rốt ráo đều là Không”. Lại theo Vật Lư Học, năng lượng và vật chất của mọi thứ trong thế giới là bất diệt. Như vậy th́ có mâu thuẫn hay không? Điều này đối với tôi thật sự khó hiểu, kính mong cụ giảng rơ! (Lư Xuân Phát hỏi)

 

      Đáp: Phật học nói “hết thảy đều Không” là nói phàm những ǵ có h́nh tướng đều do các duyên ḥa hợp, trọn chẳng có tự thể, chẳng phải là nói “tiêu diệt”, v́ chúng vốn chẳng sanh, làm sao nói là diệt cho được! “Vật chất” như các nhà Vật Lư học nói cũng chỉ là giả tướng do duyên hợp, vẫn chưa phải là tự thể!

 

      * Hỏi: Năm nay giữa trưa lễ Khất Xảo[13], Bất Huệ tĩnh tọa, ngẫu nhiên cảm đại đức[14] hiện trước mặt, trước sau được vô số Phật, Bồ Tát, thần làm hộ pháp sư. Chắc là đại đức đă sớm tự giác, đúng không? Xin hăy chỉ dạy! (Triệu Siêu hỏi)

 

      Đáp: Đấy là cảnh giới của chính đại đức[15], kẻ hèn này phiền năo chưa trừ, chẳng biết mảy may. Chỉ dựa theo kinh Vô Lượng Thọ để suy xét th́ phàm là người niệm Phật, A Di Đà Phật thường phóng quang chiếu soi, nhiếp thọ người ấy, trong quang minh hóa Phật, Bồ Tát vô lượng, vô biên. Kẻ hèn này cũng là một chúng sanh niệm Phật, đương nhiên giống những người niệm Phật khác, cùng được Phật gia bị, nên có lẽ có chuyện ấy. Chuyện ấy đủ để chứng tỏ kinh dạy chẳng dối vậy!

 

      * Hỏi: Về chuyện phát âm khi tŕ tụng, có cần phải niệm từng chữ rơ ràng hay không? Nói là “rơ ràng” chắc là bao gồm cả chuyện phát âm phải chính xác, nhưng phải dựa theo âm đọc nào mới là phù hợp yêu cầu? Có phải là dùng tiếng Ba Lợi (Pali) làm tiêu chuẩn hay không? Nếu đúng như vậy, dám hỏi đạo Gia Tô và Cơ Đốc được tín phụng trong cơi đời có cần phải thông hiểu tiếng Dĩ Sắc Liệt (Israel, Do Thái) trước hay không? Phàm đọc Kinh Thánh hay cầu nguyện, ắt phải dùng tiếng Do Thái để làm tiêu chuẩn ư? Chưa hẳn là như vậy. Bất Huệ nghĩ kinh Phật vốn được dịch sang tiếng Hán th́ người đất Tần (Thiểm Tây) tŕ tụng, ắt thuận theo âm Tần, người Việt tŕ tụng, ắt thuận theo âm Việt, làm như thế cũng chưa chắc đă trái lư! Mục đích của chúng ta là tŕ tụng, tŕ tụng chỉ cần kiền thành, trọn chẳng phải là nghiên cứu âm vận học, cần ǵ phải tính toán chi li cách đọc một số câu chữ? Lại do chẳng hiểu rơ, bèn hỏi thầy cách đọc chính xác (nếu vị thầy được hỏi là người Hải Nam, sẽ đọc theo âm Hải Nam, nếu là người Tây Khang, sẽ đọc theo âm Tây Khang. V́ thế chúng ta tu đạo, hăy nên có con mắt ngỗng chúa[16], chớ nên tùy tiện hỏi đạo nơi kẻ ḷa để rồi chính ḿnh bị lầm lạc). Mong hăy khai thị để tin tưởng vĩnh viễn chẳng nghi ngờ, từ đầu đến cuối khăng khăng tuân phụng, chẳng c̣n đem những điều được truyền dạy đi chất vấn người khác, hoặc do so đo mà ôm ḷng lấy bỏ, tổn hại người khác, phạm tội lỗi lớn lao. Như sau này, [nếu kẻ nào] cứ xằng bậy thay đổi [cách đọc] của người khác, chẳng quan tâm người ta trước đó có sư thừa hay không, cứ lầm lạc sửa đổi giùm người khác, đó có phải là chủng tánh ngoại đạo hay không? (Triệu Siêu hỏi)

 

      Đáp: Lời Ngài bàn cực đúng, người Tần đọc theo âm Tần, người Việt đọc theo âm Việt, trên thực tế đă là như vậy từ lâu, chỉ cần có sư thừa là được rồi! Chỉ có điều người Tần đọc sai âm tiếng Tần, người Việt đọc sai âm tiếng Việt th́ phải nên sửa chữa [cho đúng]. C̣n nếu có người chẳng cần biết có sư thừa hay không, cứ sửa giùm người ta th́ cũng là hảo ư, chỉ có thể nói là chấp trước, chẳng thể bài xích họ là ngoại đạo!

 

      * Hỏi: Trong phần trả lời cho câu hỏi của cư sĩ Trần Giang Ái, đại đức đă chỉ đề cao điều tốt lành của tiên sinh Âu Dương Tu khi sửa chữa bộ Tân Đường Thư[17], cực hay! C̣n như tác giả bộ Tây Du Kư dường như đă trọn hết nỗi khổ tâm, dùng ngôn ngữ thông tục để mô tả quá tŕnh thỉnh kinh gian khổ của pháp sư Huyền Trang (hết thảy địa phương và những sản vật nơi đó cho đến nay vẫn c̣n có thể chỉ ra đích xác), diễn dịch thành loại tiểu thuyết chương hồi, với dụng ư phổ biến thâm nhập dân gian, ai nấy đều hay biết, dẫu kẻ nghèo hèn chẳng biết chữ cũng có thể liễu giải. Đấy chẳng phải là khiến cho những kẻ b́nh phàm cũng chẳng quên công tích vĩ đại của pháp sư Huyền Trang đó ư? Nếu dùng cách hành văn theo lối biên soạn Sử Kư, tạo thành bộ luận to lớn, nếu chẳng phải là bậc đại nho sẽ chẳng dễ ǵ thông hiểu được! Huống chi Phật pháp gặp ách nạn Tam Vũ, sợ lại gặp ách nạn Tam Văn hoặc Ngũ Tứ[18] th́ pháp sư Huyền Trang ắt sẽ bị đả đảo giống như Khổng gia điếm! Có phải hay không? (Triệu Siêu hỏi)

      Đáp: Đấy là cách nh́n của đại đức, nói đúng ra, cũng chẳng phải là không đúng. Thật ra, bộ tiểu thuyết Tây Du Kư trọn chẳng ghi sự thật, mượn chuyện ngài Huyền Trang cầu kinh để đùa bỡn bút mực, phô diễn những chuyện ngụ ngôn mà thôi! Huyền Trang đại sư có viết bộ Đại Đường Tây Vực Kư, trọn chẳng có những sự tích của Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Hồng Hài Nhi, Ngưu Ma Vương v.v...

 

      * Hỏi: Theo đại chúng xướng niệm và lễ Phật, có người gièm pha là diễn tuồng trước Phật, vậy th́ phải làm sao th́ mới có thể lễ bái đúng pháp, phù hợp thật tướng trang nghiêm? (Khoan Hữu hỏi)

 

      Đáp: Thật sự trọn ḷng thành, đó là đúng pháp; chẳng mất quy củ, đó là đúng lễ nghi. Kẻ khác nói này nói nọ là quyền tự do của họ. Chúng ta chỉ tự xét ḷng ḿnh, khi lễ tán có chân thành hay không mà thôi? Nếu giống như những kẻ làm kinh sám, chẳng để tâm vào đó, hời hợt cho xong chuyện, chuốc lấy sự cười chê của kẻ khác, ta cũng chẳng có cách nào che lấp được!

 

      * Hỏi: Lễ Vu Lan, Phật giáo đồ dâng cúng trăm món cúng dường Tam Bảo, tu pháp lễ sám, báo trọng ân của Phật và cầu siêu tiên linh, bố thí chúng sanh trong quỷ đạo, đối với chuyện có nên đốt giấy tiền, vàng mă hay không, chưa thể luận định dứt khoát. Dựa theo kinh điển Tiểu Thừa đă từng ghi chép chuyện đốt giấy tiền, vàng bạc nhằm thỏa măn tham niệm của chúng sanh trong quỷ đạo. [Có người bảo] có thể thật sự bố thí một số quỷ [bằng cách đốt giấy tiền, vàng bạc], chẳng biết thuyết ấy phát xuất từ kinh điển nào? Xin hăy dạy cặn kẽ! Nói theo lập trường của Phật giáo đồ, nên phế trừ hoặc đề xướng đốt giấy tiền, vàng bạc? (Khoan Hữu hỏi)

 

      Đáp: Thật ra, pháp này chẳng do Phật giáo lập ra! Phát xuất từ kinh điển nào, kẻ hèn này chẳng hề mảy may nhận biết! Luận theo “vạn pháp duy tâm”, bố thí các quỷ đạo, tự nhiên có tác dụng. Luận theo sự quán tưởng của Mật Tông, tuy chẳng đốt tiền giấy, vàng bạc, vẫn có thể biến hiện hết thảy. Nhưng xét theo phương diện nghiệp lực của loài quỷ, họ có thể sử dụng hay không? Xét thấy mẹ của tôn giả Mục Liên chẳng thể tiếp nhận thức ăn [do ngài Mục Liên dâng lên], ta có thể suy luận được. Như vậy th́ cầu siêu tổ tiên, bố thí quỷ đạo, tốt nhất là hăy nên dùng Phật pháp!

 

      * Hỏi: Thường nghe nói người bị chết đột ngột (chỉ kẻ bị chết mà không có thân quyến bên cạnh), thường là khi thân quyến t́m đến nơi, liền có hiện tượng mũi người chết ứa máu là v́ nguyên nhân nào? Phật học giải thích như thế nào? (Lâm Tề Viêm hỏi)

 

      Đáp: Có lẽ là ngẫu nhiên. Nếu không th́ t́nh trạng quỷ thần thiên sai vạn biệt, nói chung, chẳng ngoài lư do có sự chiêu cảm bên ngoài mà có hiện tượng ấy. Người chết đột ngột mang nỗi hờn oán muốn bày tỏ, lại c̣n chấp trước sắc thân, bỗng gặp thân thuộc, cố nhiên là đồng khí tương cảm, tinh thần tác động đến thi thể, nên mới có t́nh trạng đặc trưng ấy!

 

      * Hỏi: Tôi nhớ số báo Bồ Đề Thụ nào đó có đăng bài “Linh quang của sinh vật theo như tôi thấy”, những người thuộc giới nghiên cứu đối với vấn đề ấy phần nhiều chưa thể tin tưởng, đều là v́ nghe thấy những điều chưa hề nghe. Chẳng biết chuyện ấy có thể t́m căn cứ lư luận trong kinh Phật hay không? (Lâm Tề Viêm hỏi)

 

      Đáp: Phàm phu trí huệ hữu hạn, chuyện trong vũ trụ nhiều như cát, bụi, những điều họ chưa nghe đâu phải chỉ có như vậy! Nhưng điều ấy cũng chẳng phải là kỳ dị cho lắm, động vật có nhiều chất lân (phosphorus), nên phần nhiều có ánh sáng. Lá cây tỏa ánh sáng, hoa cũng có ánh sáng. Các loài khoáng vật như vàng, ngọc, nước v.v... cũng đều có ánh sáng, sao lại riêng nghi loài người? Nếu nói những loài khác có ánh sáng đều có thể thấy được, c̣n ánh sáng của con người chưa thể trông thấy nên chẳng tin, thử hỏi con người sống trong không khí, mắt trọn chẳng thấy không khí, chắc chắn chẳng thể nói là trước mắt chẳng có không khí! Nếu cứ phải lấy kinh Phật làm căn cứ th́ những chỗ kinh ghi chép về quang minh của Phật, Bồ Tát, gần như kinh nào cũng đều có, như hạng quang (quang minh tỏa ra từ cổ), thân quang (quang minh tỏa ra khắp thân) v.v... hoặc có lúc phóng quang từ đỉnh đầu đến chân th́ càng chẳng thể kể xiết được!

 

      * Hỏi: Nghe nói người thuộc các vùng như Tứ Xuyên v.v... chết th́ trong ṿng bảy ngày, phần nhiều có chuyện Hồi Sát[19], liền bày hương án trong căn pḥng mà người chết đă ở trong lúc c̣n sống, rải tro hương dưới đất. Theo báo cáo đáng tin tưởng th́ tro bếp có thể in dấu chân người chết. Nh́n theo đó, hiển nhiên là quỷ hồn tồn tại! Nhưng theo những điều đă viết trong bài “Linh quang của sinh vật theo như tôi thấy”, quỷ hồn chẳng có thể tích, giống như là khí mà chẳng phải là khí, có thể nói là hầu như không có trọng lượng. Đối chứng hai chuyện này, thấy rơ có mâu thuẫn! Đối với hiện tượng rải tro in dấu chân trong tục Hồi Sát trên đây, kiến giải theo Phật học là như thế nào? (Lâm Tề Viêm hỏi)

 

      Đáp: Ông đột nhiên nêu ra chuyện trọng lượng để thảo luận ḥng cố t́m mâu thuẫn. [Linh hồn người chết] có trọng lượng hay không, kẻ hèn này chẳng biết hóa nghiệm, chẳng tiện đáp bừa! Nhưng quỷ có thể biến hiện thành thể chất động vật, trong sử kư Trung Quốc ghi chép rất nhiều. Như Đỗ Bá bắn Châu Tuyên Vương[20], cụ già kết cỏ ngáng chân Đỗ Hồi[21], chẳng phải là càng rơ rệt hơn chuyện Hồi Sát ở Tứ Xuyên ư?

 

* Hỏi: Tôi thường nghe nói ở các vùng như Tứ Xuyên v.v..., nếu có ai chết nơi đất khách, nhưng nhà nghèo hèn, thường do đạo sĩ làm phép dẫn xác chết[22] tự đi về quê (chuyện này đă có người đích thân trông thấy). Theo khoa học, chẳng có cách nào lư giải chuyện ấy, c̣n Phật học giải thích ra sao? (Lâm Tề Viêm hỏi)

 

      Đáp: Đây là một loại huyễn thuật của ngoại đạo giống như thuật thôi miên của Tây Dương có thể khiến thân người lơ lửng trên không; hoặc khoa Chúc Do[23] của Trung Quốc thay đổi vị trí của vết thương. Nếu có người coi những chuyện ấy là kỳ lạ th́ chúng đều là tác dụng của tinh thần, trọn chẳng phải là chánh đạo. Phật pháp có Nhất Thiết Trí, làm sao có thể chẳng hiểu những điều ấy cho được? Những chuyện ấy hèn kém, chẳng đáng để bàn tới!

 

      * Hỏi: Thiên đường nói trong Phật giáo và thiên đường của đạo Gia Tô có ǵ khác nhau? (Đồng Tâm hỏi)

 

      Đáp: Thiên được nói trong Phật giáo rất phức tạp! Do Phật có ngũ nhăn, những điều Ngài thấy rất rộng, nên nói cũng rất phức tạp. Ở đây, tôi chỉ lấy một đại thiên thế giới để nói, theo chiều dọc có hai mươi tám tầng thiên đường. Theo chiều ngang có bốn trăm bốn mươi ức thiên đường. Nhưng đại thiên thế giới vô lượng vô biên, h́nh trạng của mỗi thiên đường khác nhau. Thiên đường trong đạo Gia Tô rốt cuộc là nói về loại thiên đường nào, kẻ hèn này chưa hề lănh giáo từ họ, nên chẳng thể cưỡng nói là giống nhau hay khác nhau được.

 

      * Hỏi: V́ sao đức Phật giáng thế cũng phải biến thành một người, lại c̣n phải giống như con người, trải qua học hành rồi mới biết tạo lợi lạc cho người khác, hay là sanh ra đă biết ngay? (vô danh hỏi)

 

      Đáp: Phật có ba thân, thân giáng thế là ứng thân. Do phổ độ chúng sanh, lại v́ hiện thân đồng loại sẽ dễ cảm hóa, nên nơi nơi chốn chốn, hóa thân trong từng loài. Trong lục đạo, đường nào Ngài cũng hiện thân. C̣n nói tới chuyện Ngài phải học rồi mới biết, làm lợi lạc cho chúng sanh v.v... đấy đều là cố ư thị hiện khuôn mẫu “Phật cũng do học mà thành tựu”, trọn chẳng phải là ngẫu nhiên, [nhằm chỉ rơ] chúng sanh đều có phần, hễ chịu học th́ sẽ có thể tự chứng!

 

      * Hỏi: Phật muốn độ người, chỉ cần có những thứ hiển linh giống như kỳ tích tại Phổ Đà, hoặc sử dụng thái độ và phương pháp cứu đời giống như Tế Công Hoạt Phật, công hiệu đạt được sẽ cao hơn phương thức đă nói trong phần trước rất nhiều! (vô danh hỏi)

 

      Đáp: Phật độ chúng sanh, cốt yếu do các thứ phương pháp và giáo lư khiến cho chúng sanh hành theo đó, tự tu, tự chứng. C̣n như kỳ tích ở Phổ Đà, các hành vi của Tế Công, bất quá là một loại tuyên truyền, khiến cho kẻ chưa tin dấy lên ḷng tin mà thôi. Dẫu tin tưởng, nhưng thiếu giải, hạnh, chứng, làm sao đắc độ cho được?

 

      * Hỏi: Bắc Câu Lô Châu trừ con người phải chết ra, chẳng gặp khổ năo, tai hại, họa hoạn, đúng không? (Vô danh hỏi)

 

    Đáp: C̣n có họa hoạn nào khổ hơn cái chết? Chết rồi có nỗi khổ nào lớn hơn đọa trong tam đồ?

 

      * Hỏi: Đời trước (tổ tiên) đă thờ cúng môn khẩu công, sàng mẫu, phổ độ công, địa cơ chủ[24], đối với những vị thần trên đây nên xử lư như thế nào? (Vưu Thái Hoa hỏi)

      Đáp: Họ cũng là chúng sanh, lắm nỗi khổ năo, Phật tử hăy nên b́nh đẳng thương xót. Hăy nên t́m một thần miếu, đem [bài vị, tượng thờ của họ] gởi đến thờ trong ấy. Lúc đưa đi nên niệm Phật cho nhiều, cầu cho họ siêu thăng. Sau đấy, cũng chẳng ngại ǵ mà dựa theo thời tiết, cúng cho họ hương, hoa, trái cây, thức ăn, tụng niệm Phật hiệu cho họ. Như thế là đă hợp với ư nghĩa phổ độ trong Phật pháp, mà c̣n hợp với t́nh cảm người đời!

 

      * Hỏi: Cúng tổ tiên chẳng đốt giấy vàng bạc có được hay không? (Vưu Thái Hoa hỏi)

 

      Đáp: Nếu tổ tông đang ở trong quỷ đạo, có lẽ cần đến. Nhưng nếu thuộc trong đường khác, ắt sẽ chẳng cần. Nhằm báo ân tổ tiên, nếu có thể kiền thành tụng niệm kinh lạy Phật, hoặc làm các thứ thiện sự như in kinh, phóng sanh v.v... để hồi hướng, sẽ có lợi ích lớn nhất!

 

      * Hỏi: Nếu là đệ tử Phật đă thọ Tam Quy, Ngũ Giới, lại theo một đạo nào đó th́ có tội lỗi hay không? Chẳng biết giáo chủ của đạo nào đó cũng mắc tội hay chăng? (Tam Mộc hỏi)

 

      Đáp: Hủy hoại giới, chia thành bốn loại “thất, phá, xuyên, tạp”. Kẻ bỏ Phật quy ma là thất giới, tội cao nhất! Nhưng kẻ thất giới v́ có người khác xúi giục, dụ dỗ, mê hoặc th́ kẻ xúi giục, dụ dỗ, mê hoặc cũng là chánh phạm, lẽ đâu vô tội!

 

      * Hỏi: Thế tục đối trước miếu thờ đều vái lạy, chẳng lạy th́ có bị họ (thần) khiển trách hay không? (Ẩn danh hỏi)

 

      Đáp: Chánh trực vô tư nên gọi là Thần, há v́ kẻ khác chẳng lạy bèn khiển trách họ? Đối với chuyện vái lạy, cũng nên phân giải. Đi đường gặp tượng thần, hoặc có việc phải đến miếu thờ thần, trông thấy bèn lạy, đó là lễ. Nếu chuyên đến cúng bái, bợ đỡ thần, tức là đa sự. Luận theo thế pháp, Khổng Tử c̣n nói: “Phi kỳ quỷ nhi tế chi, siểm dă” (chẳng phải là tổ tiên của ḿnh mà cúng bái tức là siểm nịnh)[25], “kính quỷ thần nhi viễn chi” (kính trọng quỷ thần nhưng chẳng gần gũi họ), huống hồ kẻ đă quy y Tam Bảo!

 

      * Hỏi: Trước nay lễ Phật, chẳng có tam sanh[26], tửu lễ, [kẻ khác] nói là bất kính, nay bảo bọn họ cúng trái cây thanh khiết, há chẳng bị người ta chê cười ư? (Ẩn danh hỏi)

 

      Đáp: Chỉ hỏi chính ḿnh làm đúng hay không, c̣n những kẻ chẳng hiểu biết, chê cười, có giá trị ǵ? Con vẹt biết nói cười đại bàng bay cao, tham quan, trọc phú cười viên quan thanh liêm thanh bần. Đại bàng sợ cười sẽ chẳng thể bay, viên quan thanh liêm sợ cười bèn tham ô ư? Lăo Tử nói: “Hạ sĩ văn đạo, đại tiếu chi, bất tiếu bất túc vi đạo” (kẻ căn cơ bậc hạ nghe nói đến đạo bèn cười to, họ chẳng cười th́ chẳng đáng gọi là đạo), Ngài đă sớm nói toạc ra với bọn họ rồi!

 

      * Hỏi: Chư Phật, Bồ Tát ứng theo sự cơ cảm của chúng sanh, hiện thân ứng hóa số đến vô lượng, trong tam đồ lục đạo, phân biệt cứu khổ. Chuẩn theo đó, tôn giáo của phương Tây đương nhiên cũng là những pháp môn do bậc Đại Quyền Bồ Tát tùy cơ thị hiện, nhưng kinh điển của họ nói trừ Thượng Đế là vị Chúa thật duy nhất ra, những vị khác đều là ma quỷ. Về căn bản, đă phủ nhận có Phật, dường như rơ ràng là thuộc về ma thuyết, nhưng cả cơi đời xúm xít tin theo, chư Phật có thiêng v́ sao để mặc cho các tà thuyết ấy hoành hành lưu truyền? (Âu Dương Mạn hỏi)

 

      Đáp: Câu hỏi này có thể chia thành ba đoạn:

1. Nói tới pháp môn thị hiện, phàm những thứ được gọi là “tôn giáo”, trọn chẳng phải đều nhất loạt là đại quyền thị hiện. Tu La từng nói ngũ niệm trụ, Điều Đạt (Đề Bà Đạt Đa) cũng xưng là vị Phật mới. Hơn chín mươi thứ ngoại đạo tại Ấn Độ, Hoàng Cân và Bạch Liên v.v... tại Trung Quốc há đều có thể coi là quyền hiện được ư? Lại c̣n phải xét đạo ấy nếu giống với Phật th́ là đại quyền ứng hóa. Nếu khác th́ chẳng phải! Điều này cần phải xét theo hành vi [để kết luận], chẳng thể luận định suông được! C̣n như bảo họ là ma, chớ nên vội vă kết luận, chẳng cần biết là phương cách [truyền đạo, cải đạo] của họ cứng rắn hay mềm mỏng, chỉ cần đạo nào có thể làm hại thân người hoặc huệ mạng th́ đều là lũ chúng nó (ma) cả! Đát Kỷ, Bao Tự[27] chưa hề ăn người, nhưng đă thật sự khiến nhà Ân, nhà Châu vong quốc. Tự Tại Thiên chưa từng ăn người, chuyên chướng ngại chúng sanh giải thoát. Hăy nên hết sức chú ư chỗ này!

2. C̣n chuyện họ phủ nhận Phật th́ đạo bất đồng chẳng thể bàn bạc với nhau, có ǵ là lạ? Theo giáo nghĩa nhà Phật, hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh. Nh́n bằng tâm Phật, sẽ thấy hết thảy đều là Phật. Tống Nho như Tŕnh Tử c̣n thấy thánh hiền đầy đường, điều này cũng cho thấy khí tượng của Nho gia. Đạo Gia Tô nói hết thảy những vị khác đều là ma, họ có cách nh́n của riêng ḿnh.

3. Nói tới chuyện tà thuyết hoành hành, người ta xúm xít tin theo là lẽ tất nhiên. Ông chẳng nghe ư nghĩa “ca khúc tao nhă và ca khúc thông tục”[28] hay chăng? Lại chẳng nghe Tượng[29] thường hại vua Thuấn, mà vua Thuấn lại phong đất cho Tượng ư? Như thế mới là vua Thuấn!

 

      * Hỏi: Hội Hồng Vạn Tự[30] sùng phụng Chí Thánh Tiên Thiên Lăo Tổ, bịa chuyện vị này giáng sanh trong thế gian từ sáu vạn năm trước, giáo chủ của ngũ giáo đều là đệ tử của ông ta, nguồn cội lập thuyết của họ đều phát xuất từ đàn cầu cơ. Tôi ngầm quan sát thấy thiện tín trong hội phần nhiều chẳng hiểu lư cho lắm, chỉ là những kẻ ưa thích cầu phước. Họ treo chiêu bài Ngũ Giáo Hợp Nhất, nhưng đối với bất cứ giáo nào cũng đều chẳng thông, nhưng chánh phủ chuẩn bị cấp giấy phép cho họ và công nhận họ là đoàn thể tôn giáo hợp pháp, chưa nghe nói người thuộc các tôn giáo chính thức chỉ trích họ là v́ lẽ nào? (Âu Dương Mạn hỏi)

 

      Đáp: Hội ấy chia thành hai viện là Đạo Viện và Từ Viện. Những chuyện do Từ Viện làm cũng rất đáng khen, nói chung là tốt đẹp hơn ngoại tộc nhờ vào chút ân huệ nhỏ nhoi để tiến hành xâm lược. Nói đến chuyện chỉ trích th́ luận theo nhà Phật, giáo nghĩa của chính ḿnh c̣n chưa [đủ thời gian] để tỏ bày, rảnh đâu để nói chuyện khác?

 

      * Hỏi: Có người nói: Bước vào pḥng sản phụ, trở ra mà chẳng thanh tịnh thân tâm sẽ chẳng được phép vào đại điện, chuyện này có lư do ǵ hay chăng? (Kha Tiên Giang hỏi)

 

      Đáp: Chắc là do sản pḥng chẳng sạch sẽ. Nếu đổi mũ, thay áo, tắm gội rồi mới vào Phật điện th́ càng cung kính hơn!

     

      * Hỏi: Đạo trong thiên hạ, các giáo quá nhiều, đạo nào là tả đạo? Đạo nào là bàng môn? Tu đạo nào sẽ có thể thành công? (Phan Quốc Vinh hỏi)

 

      Đáp: Phật giáo có triết lư tối cao, giáo nghĩa tinh vi, sâu thẳm, lại c̣n có lịch sử lâu đời, có ảnh hưởng sâu rộng, chí thượng, chí chánh trong các tôn giáo. Đạo giáo, Bà La Môn, Thiên Chúa, Gia Tô, Hồi Hồi v.v... tuy phạm vi nhỏ hẹp hơn Phật giáo, nhưng đều được pháp luật thừa nhận là tôn giáo chánh đáng. Những “tôn giáo” khác đều là trộm lấy những học thuyết từ các tôn giáo trên đây, pha trộn lung tung, bịa đặt các danh xưng, lên đồng, vẽ bùa, [vận dụng các thuật] viên quang[31] trấn áp, giả thần, giả quỷ, đa số là các chi phái của Bạch Liên giáo, toàn là bàng môn tả đạo, muôn vàn chớ nên học! Nếu hỏi đến chuyện thật sự có thể thành công hay không th́ triệt để rốt ráo chỉ có Phật pháp!

 

      * Hỏi: Có kẻ nói: Chúng ta sát sanh ăn thịt nhằm cứu độ chúng sanh khỏi phải chịu khổ trong súc sanh, ác đạo, một đao giết chúng ḥng tránh cho chúng khỏi tiếp tục chịu khổ nữa! Lăo cư sĩ nghĩ lời ấy có đúng hay không? (Một độc giả hỏi)

 

      Đáp: Gịi tửa trong hầm phân chịu khổ nhất, kẻ ấy có chịu phát tâm từ bi ăn thật nhiều gịi để cứu độ chúng hay không? Đức Phật chế định “đèn phải có bóng chụp”, “nước phải dùng vải lọc” ḥng khỏi tổn thương sanh mạng loài vật. Nếu coi sát sanh là cứu độ, vậy th́ hành vi của đức Thế Tôn há chẳng phải là tàn bạo, bất nhân ư?

 

      * Hỏi: Nghe nói có nơi giáo đồ (chẳng biết là Phật giáo hay là tôn giáo khác), trước khi sát sanh bèn tŕ chú mấy biến cho con vật sẽ bị giết rồi mới giết, bảo là đă siêu độ nó văng sanh, vấn đề này có đáng tin cậy hay không? (Một độc giả hỏi)

 

      Đáp: Chú của kẻ ấy linh hay không tôi chẳng biết rơ, nên chẳng thể đáp được!

 

      * Hỏi: Thành tựu của người xuất gia học Phật và tại gia học Phật có phân biệt cao, thấp, lớn, nhỏ hay không? Ai hơn? Ai kém? Nếu người xuất gia ngày một đông dần th́ vấn đề ăn, mặc, sinh hoạt của người xuất gia phải do một số ít kẻ chưa xuất gia giải quyết, há chẳng phải là mong chính ḿnh siêu thăng, tăng thêm gánh nặng cho người khác ư? Mỗi cá nhân nhận lănh rất nhiều ân huệ từ đất nước, cha mẹ, sư trưởng, bầu bạn v.v... người xuất gia khiến cho tổ tông thiếu người cúng quải, không có con cháu, chẳng thể hầu hạ, quây quần bên cha mẹ lúc họ c̣n sống, chỉ làm họ tăng thêm bi thương, há chẳng phải là phụ bạc ân đức ư? (Lưu Định Xí hỏi)

 

      Đáp: Xuất gia tu tŕ cao siêu hơn tại gia, nhưng phải phát tâm trên cầu Phật đạo, dưới độ chúng sanh, làm thầy trời người, ngơ hầu cửu hữu đều được lợi ích, bốn ân đều nhờ vào đó mà được cứu vớt. Đấy chính là phương pháp báo ân triệt để nhất. Đă xuất gia th́ phải làm thầy trời người, ví như giáo viên trong trường học, chúng sanh ví như học tṛ, người học ngành sư phạm tuy đông, quyết chẳng phải lo thừa thầy! Nếu trách móc là tăng thêm gánh nặng cho người khác, chẳng thể hầu hạ, quây quần bên cha mẹ, khiến tổ tông thiếu người cúng quải, thử hỏi kẻ làm quan lại hiến thân cho nước nhà, người làm quân nhân liều ḿnh nơi biên cương, chiến trường, ông đều trách họ là phụ bạc ân đức cha mẹ ư? Nếu xuất gia chỉ nhằm hưởng thanh nhàn, hoặc nhằm giải thoát cho riêng ḿnh, trên chẳng cầu thành Phật, dưới chẳng độ chúng sanh, cũng chẳng phải là không thể quở trách họ! Ở đây, vẫn cần phải phân biệt [từng trường hợp cụ thể] để lập luận!

      * Hỏi: Theo thuyết luân hồi, con người chết rồi có thể chuyển sanh hay chăng? Nếu các động vật trên thế giới chết đi đều có thể chuyển sanh, cớ sao con người hiện thời đông hơn thời cổ? (Lâm Tây Hiên hỏi)

 

      Đáp: Sinh vật càng sanh sôi càng đông đúc, điều ấy thuộc về quan hệ sinh lư. Hiện thời, không chỉ nhân loại đông đúc mà những động vật khác cũng nhiều. Thử nêu một trường hợp: Cứ vài chục năm, nhân loại gặp nạn binh đao một lần, thống kê dân số [cho thấy] nếu chẳng dưỡng sức mấy chục năm, sẽ chẳng thể khôi phục. Lợn, dê, gà, vịt, cá, tôm, hằng ngày bị giết chóc rất nhiều, vẫn chẳng thấy ít đi, đó là chứng cớ rơ ràng. Xét kỹ lời hỏi, dường như đă hiểu lầm “con người chết đi, chuyển sanh vẫn là người, loài vật chết đi, chuyển sanh vẫn là loài vật”. Cần nên biết: Luân hồi là nói lần lượt ra vào sáu đường (trời, người, Tu La, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục), quyết chẳng phải là người vẫn thường làm người, súc sanh thường làm súc sanh. Nếu hiểu rơ thần thức (tục gọi là linh hồn) quẩn quanh trong sáu đường, dẫu một đường chợt đông, một đường chợt ít, [th́ cũng] giống như sóng cuồng trong biển cả, chợt cuốn về phương Đông, bỗng đổ ào về hướng Tây, chuyện này cũng chẳng hiếm lạ cho lắm!

 

      * Hỏi: Có người xin xăm ở đền miếu th́ chuyện họ hỏi có phù hợp lời dạy trong quẻ xăm hay không? Nếu phù hợp là do lư do nào? (Lâm Tây Hiên hỏi)

 

      Đáp: Đây chẳng phải là quy cách trong nhà Phật, chẳng tiện giải đáp!

 

      * Hỏi: Mười tông của Phật giáo, mỗi tông đều lập môn hộ, khinh thường lẫn nhau, có phải là Pháp Chấp hay Ngă Chấp hay không? (Quản Tân Bàn hỏi)

 

      Đáp: Các hành vi ấy cũng có thể nói là Ngă Chấp và Pháp Chấp, nhưng tổ sư các tông và những vị đại đức thật sự có học vấn cũng v́ ngăn ngừa đời sau dụng công học tập chẳng chuyên nhất mà cố ư chê trách tông khác. Do đó là phương tiện nên chẳng thể coi là hai thứ chấp được!

 

      * Hỏi: Sách Kỹ Lộ Chỉ Quy viết: “Ngọc Hoàng Đại Đế đến khi hưởng hết phước trời, vẫn chẳng thể nào không chết. Sau khi chết, vẫn có thể vào trong súc sanh đạo chịu tội”. Xét ra, Ngọc Hoàng đại đế tuy thuộc lục đạo luân hồi, há chẳng phải do đời đời kiếp kiếp sở hành hợp với đạo trời, tích công lũy đức, nên được hưởng quả vị chí tôn nơi thiên đường, sanh trong thiên đường, há c̣n tạo ác nhân đáng đọa trong súc sanh đạo? Lời ấy có căn cứ hay không? Hay là lời lẽ nhằm cảnh tỉnh chúng sanh? (Giang Ấn Thủy hỏi)

 

      Đáp: Thiên đạo đă thuộc vào lục phàm, chưa từng đoạn Hoặc. Hoặc chưa đoạn bèn là cái nhân tam đồ. Khi hưởng hết phước, đương nhiên đọa lạc, trọn chẳng phải do cái nhân mới đă tạo trong cơi trời mà ra. Nói tới chuyện hưởng thụ quả báo nơi cơi trời, [ông bảo] “do đời đời kiếp kiếp sở hành hợp với thiên đạo”, cũng chẳng phải hoàn toàn là như vậy. Chúng sanh có thể nhất niệm, nhất hạnh hợp với thiên đạo, ắt cũng được hưởng báo sanh lên trời. Đó gọi là “nhân như thế nào, quả như thế ấy”. Thuyết trong Kỹ Lộ Chỉ Quy phát xuất từ Pháp Cú Tỷ Dụ Kinh.

 

      * Hỏi: Thuở Phật tại thế thuyết pháp, các vị Bồ Tát Văn Thù, Phổ Hiền, A Dật Đa, Vô Tận Ư v.v... cùng xuất thế ứng hóa với Phật tại Ấn Độ, hay là hóa thân đến? (Chung Đào hỏi)

 

      Đáp: Văn Thù Bồ Tát sanh trong nhà bà-la-môn Phạm Đức ở tụ lạc Đa La nước Xá Vệ. A Dật Đa Bồ Tát sanh tại Nam Ấn Độ. Theo kinh Pháp Hoa, Phổ Hiền Bồ Tát từ cơi nước của Bảo Oai Đức Vương Phật ở phương Đông đến đây. Theo kinh Đại Tập, Vô Tận Ư Bồ Tát từ cơi nước Bất Thuấn của Phổ Hiền Như Lai ở phương Đông đến đây. Theo đó th́ có vị xuất thế tại Ấn Độ, mà cũng có vị hóa thân đến nhóm họp.

 

      * Hỏi: Đức Phật giảng kinh Kim Cang chẳng chấp tướng, những điều Ngài dạy trong kinh Di Đà đều là chấp tướng. Phân biệt như thế nào? (Chung Đào hỏi)

 

      Đáp: Kinh Di Đà thích hợp khắp ba căn, thoạt đầu chẳng phá tướng, v́ sơ cơ chẳng dễ phá tướng, nên chẳng ngại phương tiện thiện xảo, tu tập theo lối chấp tướng, trọn chẳng phải là dạy [chúng sanh] chấp tướng. Mở đầu, kinh liền nói từ phương Tây, kế đó là rộng nói sáu trần v.v... đó là chỗ chấp tướng. Kinh Kim Cang nói thẳng vào Chân Như nên chú trọng phá tướng. Trong kinh có nói: Phàm những ǵ có tướng đều là hư vọng, đó là chỗ hoàn toàn khẳng định “hết thảy tướng đều là không”.

 

      * Hỏi: Người tu đạo thật sự có thể thành Phật hay không? Sau khi thành Phật, rốt cuộc trụ nơi đâu? Có thể cho người đời đến du lịch tham quan cơi Phật hay không? Có phải là xưa kia có thể tu thành Phật, hiện thời do khoa học quá phát triển, nên chẳng c̣n có Phật nữa? V́ thế, người học Phật hiện thời vô cùng ít! (Trần Chí Nghiệp hỏi)

      Đáp: Chẳng thể thành Phật th́ c̣n ai tu tập nữa! Tận hư không đều là cơi Phật vạn hoa trang nghiêm, chỉ v́ quả báo bất đồng, nên chẳng thể trông thấy. Nhưng muốn đến chơi cơi Phật cũng chẳng phải là không thể, chỉ cần dự bị tư lương, hành lư, xin hăy lấy Thập Lục Quán Kinh, t́m hỏi minh sư dạy cho cách tu, hoặc nương theo kinh Tiểu Di Đà, bế quan niệm Phật, định kỳ hạn cầu chứng, sẽ tự được như nguyện. Như ông nói khoa học phát triển, chẳng c̣n có Phật nữa, ư nghĩa không rơ ràng, không có cách nào trả lời cặn kẽ được! Chỉ có thể trả lời mấy câu theo kiểu nuốt trộng quả táo, khoa học phần nhiều thuộc về nghiên cứu vật chất, thành Phật thuộc về tu dưỡng tâm tánh, bất luận khoa học phát triển đến một vạn vạn lần hay mấy ngàn vạn lần, chẳng hề trở ngại người có chí tu dưỡng tâm tánh.

 

* Hỏi: Đao Lợi thiên vương là vào thời Phật Ca Diếp có ba mươi ba người nữ tạo tháp nên được phước quả; vậy th́ trước thời Phật Ca Diếp chẳng có Đao Lợi Thiên ư? (Trí Vinh hỏi)

 

      Đáp: Thiên vương là thân hữu t́nh, Đao Lợi Thiên là khí thế gian. Thiên vương làm chủ khí thế gian phải có thời hạn, cũng giống như trưởng quan của các cơ quan trong nhân gian, người này nghỉ, bổ nhiệm người khác. Hiểu lẽ ấy th́ trước khi [những người ấy] tạo tháp đắc quả báo làm thiên vương, đă có Đao Lợi khí thế gian từ lâu!

 

      * Hỏi: Từ bi và yêu thương tương tự, nhưng thật sự khác nhau, sai một ly, lạc cả ngàn dặm, xin nghe chỉ dạy! (Trí Lương hỏi)

 

      Đáp: Từ bi là tác dụng của lư trí, yêu thương là tác dụng t́nh cảm. Ái có phân biệt, c̣n Từ th́ b́nh đẳng.

 

      * Hỏi: Đối với chuyện Địa Tạng Vương Bồ Tát nói danh hiệu, tội báo và ác báo của các địa ngục, có vua Diêm La chủ tŕ và cai quản địa ngục hay không? Phật pháp có thể tiêu trừ tội nghiệp, dường như chẳng có quyền cai quản đó chăng? (Hao Thạch hỏi)

 

      Đáp: Cai quản thuộc về vấn đề cai trị, vận dụng quyền lực. Phật, Bồ Tát đối với hết thảy chúng sanh chỉ lo giáo hóa độ thoát, trọn chẳng làm lănh tụ chánh trị. Địa Tạng Bồ Tát bi nguyện rộng lớn, muốn độ trọn hết chúng sanh trong địa ngục nên thường vào địa ngục giáo hóa, trọn chẳng dính líu đến chuyện cai quản của vua Diêm La.

 

      * Hỏi: Nếu Địa Tạng Bồ Tát cai quản Diêm Vương, Địa Tạng Bồ Tát là cổ Phật tái lai, giáng sanh làm Thái Tử nước Cao Ly vào đời Đường. Khi Địa Tạng Bồ Tát chưa xuất thế, vua Diêm La do vị Phật, Bồ Tát nào cai quản? (Hao Thạch hỏi)

 

      Đáp: Có thể xem sự tích Địa Tạng Bồ Tát trong Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh do Thích Ca Mâu Ni Phật giảng trên cung trời Đao Lợi. Trọn chẳng phải là từ đời Đường mới có Địa Tạng. Thái Tử nước Cao Ly trụ tích tại núi Cửu Hoa như đă được truyền tụng chính là ứng thân của Bồ Tát. Về sau, tạo tượng đều tạc đắp theo h́nh tượng Ngài đă thị hiện tại núi Cửu Hoa, giống như người hiện thời dựa theo h́nh tượng Bố Đại ḥa thượng đời Tống để đắp nặn tượng Di Lặc vậy!

 

      * Hỏi: Đức Phật dạy những quan niệm cơ bản nhằm khơi gợi ḷng tin nơi con người, tợ hồ thuyết luân hồi chỉ nhằm chứng minh luân hồi là có thật, trước mắt vẫn chưa có phương pháp để thí nghiệm cụ thể. Nếu có th́ hết thảy mọi người sẽ sợ nhân quả, sợ báo ứng, ắt chẳng dám công khai làm ác. Chẳng biết trong tương lai khoa học ngày càng tiến bộ, có thể có cách nào giải quyết vấn đề này hay không? Hơn nữa, địa ngục hiện tướng cũng do tâm tạo, như vậy th́ vĩnh viễn chẳng thể nào dùng thí nghiệm để chứng thực. Đúng không? (Trương Kiếm Phân hỏi)

 

      Đáp: Ông có thể coi phần trả lời câu hỏi của Liêu tiên sinh về Tam Lượng (Hiện Lượng, Tỷ Lượng, Thánh Ngôn Lượng) trong phần trước. Đức Phật nói các sự đều từ thể nghiệm, chẳng giống như các nhà triết học suy tưởng huyền hoặc. Nếu ai đạt đến công phu đúng mức sẽ có thể tự thể nghiệm. Chẳng qua như mặt trời và mặt trăng tuy có ánh sáng, vẫn chẳng thể khiến cho người mù trông thấy đó thôi! Tương lai khoa học phát triển, chưa chắc đă có những phương cách thí nghiệm!

 

* Hỏi: Những bậc thánh hiền, anh hùng, hào kiệt xưa nay như Khổng, Mạnh, Văn, Sử[32] v.v... sau khi mất cũng phải luân hồi ư? Hay là chẳng bị? Đức Phật lại nói con người sau khi mất, trong bốn mươi chín ngày, thân Trung Ấm sẽ thác sanh, đầu thai, nhưng tương truyền người sau khi chết sẽ làm quỷ, có những trường hợp suốt mấy chục năm hay trăm năm vẫn tồn tại? Loại quỷ hồn ấy có phải là vẫn nương gá thân Trung Ấm, hay là đă trải qua một phen luân chuyển? (Trương Kiếm Phân hỏi)

      Đáp: Cảnh giới của Khổng Tử ta chẳng thể lường được. Các cao túc của Khổng Tử thuở ấy c̣n nói tánh của phu tử và thiên đạo chẳng thể nghe [mà ḥng hiểu thấu]! Những vị hiền triết, anh hùng, hào kiệt khác thuộc về thiện nghiệp hữu lậu có quả báo phù hợp nhân thiên, đương nhiên chưa vượt khỏi luân hồi. Quỷ là một trong lục đạo, trải qua giai đoạn Trung Ấm có tiểu thần thông, có thể nhớ kiếp trước, do Ngă Chấp ràng buộc nên vẫn hiện tướng giống như lúc sống.

     

* Hỏi: Mười phương chư Phật, Bồ Tát, không vị nào chẳng độ chúng sanh hằng ngày, lẽ ra chúng sanh (kể cả nhân loại) phải nên dần dần giảm bớt! Cớ sao ngược lại kể từ khi có lịch sử đến nay, chúng sanh trong thế giới ngày càng đông hơn? (Lại Đống Lương hỏi)

 

      Đáp: Dùng lục đạo để luận, mắt người chỉ thấy con người và loài vật mà thôi. Trong bốn đường kia có thiện và ác: Chư thiên đến cơi này làm người hay làm súc sanh tức là đọa, từ quỷ hay địa ngục đến đây làm người hay súc sanh là siêu! Đắc độ lại có ngũ thừa sai khác, trọn chẳng phải hễ siêu bèn đều thành thánh! Những vị thành thánh mà [chúng ta] mắt thấy, tai nghe chưa đến mười người, trăm người, c̣n những kẻ đọa lạc hay siêu thăng trong bốn đường sanh vào cơi này, há chỉ ngàn vạn? Đó là nguyên nhân tăng nhiều! Lại luận theo vô lượng thế giới trong hư không vô tận, sự hơn kém trong ấy vô cùng khác biệt. Chúng sanh trong các cơi do nghiệp lực lôi kéo, lần lượt siêu thăng hay đọa lạc trong các thế giới, đấy là nguyên nhân khiến [nhân số] chẳng giảm. Thử nêu một thí dụ: Quốc gia đặt ra h́nh luật, vốn có những h́nh phạt xử phạt theo thời hạn, hoặc xử phạt chẳng hạn định (đặt ra h́nh phạt nhưng không quy định thời gian), tù nhân bị giam trong ngục, tuy có những gă họ Triệu, Tiền, Tôn, Lư v.v... được phóng thích hay măn hạn tù được thả, nhưng từ ngoài ngục lại có những gă họ Châu, Ngô, Trịnh, Vương điền vào. Nh́n vào lệ ấy sẽ hiểu rơ!

 

      * Hỏi: Ngày mồng Tám tháng Tư các chùa tắm Phật, đă nói Pháp Thân của đức Thế Tôn chẳng nhiễm mảy trần, cần ǵ phải có người hầu Ngài tắm rửa? (Lâm Mộng Đinh hỏi)

 

      Đáp: Đúng như ông nói, Pháp Thân vô tướng, tắm để làm ǵ? Đây chẳng qua là đệ tử đời sau nhớ tưởng tích xưa, mượn nghi thức ấy nhằm biểu thị ḷng cung kính mà thôi.

 

      * Hỏi: Hàn Dũ bài xích Phật dữ dội nhất, nhưng nghe nói cuối cùng tin Phật, lăo cư sĩ có biết chuyện này hay không? (Liêu tiên sinh hỏi)

      Đáp: Có chuyện ấy. Có lá thư của Hàn tiên sinh gởi cho ḥa thượng Đại Điên để làm bằng chứng; nhưng Hàn tiên sinh là người trong chốn danh lợi, dẫu tin Phật vẫn là găi ngứa ngoài giày!

 

      * Hỏi: Những vị thần như Ma Tổ, Quan Đế, Thành Hoàng có thuộc về A Tu La đạo hay không? Hay thuộc về thiên đạo? Người đời sát sanh tế thần, tội lỗi sát sanh ấy sẽ quy về thần hứng chịu hay con người hứng chịu? (Duy Bảo hỏi)

 

      Đáp: Chẳng có tài liệu lịch sử để khảo cứu [hành trạng của] Ma Tổ, nhưng theo lời đồn đại, bà ta chuyên cứu người mắc nạn trên sông, trên biển, tích tập nhiều công lao tốt lành. Quan Đế đề cao, ưa chuộng trung nghĩa, v́ nước hy sinh. Sách Phật Tổ Thống Kỷ có chép Ngài từng xin thọ giới với Trí Giả đại sư, nay trong các chùa phần nhiều thờ Ngài làm thần Hộ Pháp Già Lam, hai vị ấy thuộc về thiên đạo. Thành Hoàng vốn chẳng phải là một người nhất định nào. Vào thời đại đế vương trước kia, [triều đ́nh thường] đặc biệt phong cho vị X... nào đó chết đi làm thần Thành Hoàng quản trị phủ, huyện v.v... có lẽ họ là loại quỷ có oai đức, có phước báo. Sát sanh cúng thần, tội do người cúng gánh chịu, v́ thần trọn chẳng đ̣i hỏi người ta cúng thịt cho ăn. Nhưng các sách cũng ghi chép chuyện thần nhân đa số nhận huyết thực đến nỗi khó bề siêu thăng, bất quá là tội nhẹ hơn kẻ cúng thần mà thôi! Có thể thấy là sát sanh cúng thần, thần lẫn người đều chẳng được lợi ích.

 

      * Hỏi: Thưa Lư lăo tiên sinh, đọc phần Phật Học Vấn Đáp của cụ trong kỳ trước, khiến cho chúng tôi là những kẻ vừa mới tin tưởng Phật giáo, giống như trong bóng tối có được một ngọn đèn sáng, khắc phục sai lầm! Đúng là vừa cảm kích vừa hoan hỷ! Nay tôi cũng có mấy vấn đề, ghi ra trong thư này để xin cụ chỉ giáo! Tại Đài Loan chúng ta, tuy người tin Phật giáo rất nhiều, nhưng quá nửa cũng tin Ma Tổ, Thành Hoàng, hoặc Thiên Đế (Ngọc Hoàng Thượng Đế) v.v... thuộc về thần đạo. Trong các gia đ́nh, tuy phần lớn thờ Quán Âm Bồ Tát, nhưng lại bày tượng Thánh Mẫu, Thổ Địa ngang hàng. Tôi c̣n nghe nói ở trấn Thanh Thủy có miếu Quán Âm, vào mỗi dịp thánh đản Quán Âm trong các tháng Hai, tháng Sáu, tháng Chín, cả trấn đại khai sát giới, náo nhiệt như tế Thành Hoàng. Xin hỏi lăo cư sĩ, những tín đồ ấy cũng có thể gọi là Phật giáo đồ hay chăng? Đă tin Phật giáo, c̣n có thể lễ bái thần quỷ hay chăng? Sau này, họ thật sự sanh lên trời ư? Hay là sanh về Tây? Đối với những nơi như miếu Quán Âm tại trấn Thanh Thủy, chúng ta phải dùng phương pháp ǵ để ngăn họ đừng sát sanh cúng tế Bồ Tát? (Đàm Dật Dân hỏi)

      Đáp: Lời ngài hỏi nên chia thành năm đoạn để trả lời:

1. Tin Phật kiêm thêm tin Thành Hoàng, Ma Tổ, Thiên Đế, trong nhà thờ cả Quán Âm lẫn Mă Tổ, tức là đa thần giáo, trọn chẳng phải là người tin Phật thuần túy.

2. Miếu Quán Âm ở trấn Thanh Thủy sát sanh cúng bái Quán Âm, đă phạm giới nhà Phật, vô cùng sai lầm! Quyết chẳng thể xưng là Phật giáo đồ, chỉ có thể coi là những kẻ chẳng hiểu giáo lư, kính Phật mà thôi!

3. Sau khi đă tin Phật, vẫn c̣n lễ lạy quỷ thần, vẫn chẳng phải là không được. Do theo giáo nghĩa nhà Phật, chúng sanh b́nh đẳng, nhưng chỉ giới hạn trong việc lạy, chẳng qua là tỏ vẻ lễ độ đối với họ mà thôi. Nếu vẫn quy y tín phụng tức là lầm lẫn lớn! (Ông Châu An Sĩ gặp miếu thờ thần, bèn đối trước thần niệm Phật, chúc vị thần ấy sớm quy hướng Tam Bảo, tu Tịnh Độ văng sanh, cách ấy rất hay).

4. Sanh về Tây có phương pháp sanh Tây, trọn chẳng phải là mỗi Phật giáo đồ đều có thể sanh Tây. Thăng thiên cũng có điều kiện thăng thiên, trọn chẳng phải là thờ trời, lạy thần, bèn có thể thăng thiên.

5. Đối với chuyện miếu Quán Âm ở trấn Thanh Thủy sát sanh cúng tế Bồ Tát, chỉ có thể cậy vào Phật tử phát đại tâm đến đó khuyến thiện, khiến cho họ hiểu lư, ăn năn tội lỗi!

 

* Hỏi: Chỉ nghe nói dùng hương, hoa cúng dường Phật, Bồ Tát, chưa nghe nói dùng nến để cúng dường. Xin hỏi thắp nến cúng Phật có ư nghĩa như thế nào? (Trần Phật Tử hỏi)

 

      Đáp: Trong các thứ vật cúng vốn có đèn sáng, nhằm biểu thị trí huệ quang minh, bất quá thắp nến thay cho ư nghĩa đèn sáng.

 

      * Hỏi: Phẩm Phổ Môn có nói: “Thiết phục hữu nhân, nhược hữu tội, nhược vô tội, nữu giới già tỏa, kiểm hệ kỳ thân, xưng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát danh giả, giai tất đoạn hoại, tức đắc giải thoát” (Nếu có người dù có tội hay vô tội, bị gông, cùm, xiềng, xích trói buộc tấm thân, do xưng niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, thảy đều găy nát, liền được giải thoát). Những lời ấy càng đáng nghi! Nếu là vô tội th́ do bị oan uổng, được thoát tội th́ xét theo t́nh cũng chấp nhận được. Chứ nếu là kẻ có tội, cũng chỉ cần niệm danh hiệu Ngài liền được giải thoát, đấy chẳng phải là Bồ Tát cổ vũ, khích lệ chúng sanh phạm tội ư? V́ hễ phạm tội, chỉ cần xưng niệm danh hiệu Bồ Tát liền được giải thoát! Xin hăy dạy cho biết rốt cuộc chuyện này là như thế nào? (Từ Phước hỏi)

 

      Đáp: Cổ nhân có kệ rằng: “Tội nhược khởi thời, tương tâm sám. Tâm nhược vong thời, tội diệc vong. Tâm vong tội diệt lưỡng câu không. Thị tắc danh vi chân sám hối” (Nếu lúc tội khởi, đem tâm sám. Tâm đă mất rồi, tội cũng tiêu. Tâm vong, tội mất, thảy đều không. Điều đó gọi là chân sám hối). Tŕ danh tới mức toàn bộ vọng niệm đều tiêu th́ mới gọi là nhất tâm. Theo bài kệ, “vọng tiêu” tức là sám hối, Bồ Tát rủ ḷng Từ, cho kẻ ấy được sửa lỗi, giống như pháp luật ân xá. Sau đấy, nếu chẳng sửa chữa, chừa lỗi, đối với những tội nghiệp c̣n sót lại, hễ gặp duyên th́ vẫn bị khổ báo. Ân xá đă chẳng phải là cổ vũ, khích lệ phạm tội, sám hối được cứu, không ǵ chẳng hợp lư!

 

      * Hỏi: Tôi được Chương Gia đại sư đề tặng bốn chữ “đạo sùng tướng trang” chẳng biết v́ [ca ngợi] đức Phật mà ghi như vậy, hay v́ người học Phật mà đề, chẳng thể lẫn lộn được, xin hăy phân biệt, giải đáp (một kiều bào ở Đàn Đảo[33])

 

      Đáp: 1. Giải đáp [nếu bốn chữ ấy] đề nơi tượng Phật: “Đạo sùng”: Đạo () là đạo quả đă chứng, Sùng () có nghĩa là tối cao. Nay tôi giải thích sơ lược những ư nghĩa bao hàm trong ấy: Những động thể (tục gọi là động vật) có linh tri trong không gian được chia thành mười phạm vi, gọi là “thập pháp giới”. Trong thập pháp giới, lại chia thành hai loại là tứ thánh và lục phàm. Thánh nhân là Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn; phàm phu là thiên, nhân, A Tu La, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục. Trong mười pháp giới, từ A Tu La trở xuống, chẳng thể nói đến đạo ǵ! Người và trời tính ra là phàm phu, đạo quả nhỏ nhoi. Thanh Văn và Duyên Giác được coi là thánh đạo quả Nhị Thừa hay Tam Thừa. Bồ Tát là đại đạo quả, Phật là cực đạo quả chí cao vô thượng, nên ca ngợi là Đạo Sùng (ghi chú: Thanh Văn và Duyên Giác là La Hán). “Tướng trang”: Tướng () là tướng mạo, c̣n gọi là h́nh tướng. Trang () là nói tắt hai chữ “trang nghiêm”. Trang có nghĩa là đoan trang, Nghiêm () là oai nghi chỉnh tề. Nói gộp lại, [“tướng trang”] là diệu tướng trang nghiêm. Do tướng mạo đức Phật khác với chúng sanh, nh́n vào tượng Phật trong chùa miếu mới hiểu được. Phật có ba mươi hai tướng đặc biệt, như đỉnh đầu có nhục kế, tóc cuộn tṛn trôn ốc theo chiều bên phải, giữa hai mày có bạch hào cuộn tṛn giống như viên châu (thường gọi là “Phật đảnh châu”), có bốn mươi cái răng, trước ngực có chữ Vạn v.v... quá nhiều chẳng thể nêu trọn hết. Do đức Phật có những thứ h́nh tướng kỳ diệu ấy để tự trang nghiêm nên gọi là “tướng trang”.

      2. Giải đáp [nếu bốn chữ ấy] đề tặng người học Phật: “Đạo sùng” đă là đồ đệ đức Phật, ắt học đạo lư của Phật. Đạo do người ấy tu tập, đương nhiên là chí cao vô thượng, bất quá so với Phật chỉ khác biệt ở chỗ đức Phật đă tu, đă chứng đạo ấy. “Tướng trang”: Người đă học Phật, đương nhiên tâm hâm mộ Phật, hết thảy ngôn hạnh, cử động, ắt sẽ trọn đủ quy củ, chừng mực. Tuy chẳng có ba mươi hai tướng, nhưng thần t́nh, thái độ nhất định rất trang nghiêm, có thể làm cho người khác vừa trông thấy liền sanh ḷng kính trọng.

 

      * Hỏi: “Kiếp” có mấy thứ? Mỗi thứ kiếp có thời gian khác biệt ra sao? Ví như Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Định trải qua tám vạn đại kiếp vẫn đọa luân hồi, từ Sơ Địa tới Thất Địa phải mất hai đại kiếp. Hai loại kiếp này mỗi loại bao lâu? (La Đức Chương hỏi)

 

      Đáp: Đối với cách tính Kiếp, các kinh luận hơi khác nhau, tên gọi cũng nhiều, như: Tiểu, trung, đại, một dặm, vạn lư, bàn thạch, giới tử, A-tăng-kỳ v.v... Ở đây, tôi ghi lại cách tính thông thường. Con người thọ mười tuổi, cứ mỗi một trăm năm sẽ tăng thêm một tuổi, tăng tới tám vạn bốn ngàn tuổi mới ngừng, lại giống như trước giảm dần, giảm tới mười tuổi bèn ngưng. Thời gian hết một chu kỳ tăng giảm như vậy là một tiểu kiếp. Gộp hai mươi tiểu kiếp là một trung kiếp. Gộp bốn trung kiếp là một đại kiếp. A-tăng-kỳ: Mười vạn là một ức, mười ức là một triệu, mười triệu là một kinh, mười kinh là một cai, đó là một tổng số. Tổng số ấy lại cứ tăng gấp bội như thế, cuối cùng tăng lên đến một trăm hai mươi lần th́ là một A-tăng-kỳ. Những con số khác khó thể nói trọn. [Thời gian] Bồ Tát thành Phật được nói theo con số A-tăng-kỳ này. Từ Thập Trụ tới khi chứng Thập Hồi Hướng phải mất một A-tăng-kỳ, từ Sơ Địa tới khi chứng Thất Địa phải mất một A-tăng-kỳ, từ Thất Địa tới khi chứng Đẳng Giác, phải mất một A-tăng-kỳ.

 

      * Hỏi: Thập Tín, Thập Hạnh, Thập Trụ, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, có nội dung như thế nào? (La Đức Chương hỏi)

 

      Đáp: Những địa vị này thuộc về các giai đoạn chứng quả theo thứ tự trong Bồ Tát hạnh, cộng thêm Đẳng Giác và Diệu Giác, tổng cộng là năm mươi hai thứ. Đẳng Giác và Diệu Giác là Bổ Xứ Phật. Năm mươi hai cấp ấy, mỗi cấp có danh tự, dẫu cũng có thể lược giải, nhưng vẫn rất rườm rà! Nếu hỏi đến nội dung th́ cũng chỉ nói được những điều nông cạn mà thôi! Nếu bàn tới chuyện tu, chứng, hướng đến, đắc quả, xuất nhập th́ chẳng thể nào nói trong vài câu được!

      * Hỏi: Danh hiệu Thích Ca Mâu Ni Phật là dịch âm hay c̣n có ư nghĩa nào khác? Lúc tại gia từng nghe có người nói danh hiệu ấy có nghĩa là “cứu thế từ bi”, có đúng hay không? C̣n Bồ Tát th́ sao? Tam Bảo có phải là Phật, Pháp, Tăng Bảo? Mỗi điều giải thích ra sao? (Khâu Cao Tú hỏi)

 

      Đáp: Là dịch âm, có nghĩa là Năng Nhân Tịch Mặc. Bồ Tát cũng là dịch âm, nghĩa là Giác Hữu T́nh. Thích Ca Mâu Ni Phật và mười phương tam thế Phật đều gọi là Phật Bảo; hết thảy kinh luật do đức Phật Thích Ca đă nói đều gọi là Pháp Bảo; các vị tỳ-kheo xuất gia, trọn đủ sáu thứ ḥa hợp bèn gọi là Tăng Bảo.

 

      * Hỏi: Phật giáo nói đến tự do, b́nh đẳng, bác ái khớp với ba câu khẩu hiệu của cách mạng Pháp, ư nghĩa khác biệt như thế nào? Xin hăy giải thích! (Đồng Tâm hỏi)

 

      Đáp: Phật giáo nói giải thoát hoặc tự tại, chẳng nói tự do. Nói đại từ đại bi, chẳng nói bác ái. C̣n như danh từ b́nh đẳng tuy giống nhau, phạm vi cũng khác. Nói tổng quát, khẩu hiệu của cách mạng Pháp chỉ là vấn đề chánh trị. Những điều nói trong Phật học là dựa trên Thật Tướng của các pháp để phương tiện lập danh; đó là chỗ khác biệt! Nhưng chánh trị cũng chẳng ra ngoài vạn pháp, trong con số vạn ấy cũng mấy ly giống nhau.

 

      * Hỏi: Kinh Phật nói Chánh Pháp, Tượng Pháp, Mạt Pháp, xin hăy giải thích! (Đồng Tâm hỏi)

 

      Đáp: Trong năm trăm năm sau khi đức Phật nhập diệt, pháp nghi chưa thay đổi, có giáo, có hạnh, có nhiều người chứng đắc chánh quả, nên gọi là thời kỳ Chánh Pháp. Trong một ngàn năm sau đó, đạo pháp biến đổi sai ngoa, tuy có giáo, hạnh, nhưng chỉ tương tự mà thôi, nên gọi là thời kỳ Tượng Pháp. Lại một vạn năm sau đó, như mặt trời lặn xuống phương Tây, chỉ sót lại những ánh sáng yếu ớt cuối cùng, dẫu giáo có nhiều, nhưng không có hạnh, nên gọi là thời kỳ Mạt Pháp.

 

      * Hỏi: Tôi tra chữ Nội Viện trong cuốn Từ Uyển[34] của Nhật Bản thấy nói: “Nội bộ của trời Đâu Suất, là chỗ ở của Di Lặc Bồ Tát”, hai chữ Đâu Suất giải thích như thế nào? (Đồng Tâm hỏi)

      Đáp: Đâu Suất (Tushita) dịch là Diệu Túc, ư nói: Cơi trời ấy hưởng thụ ngũ dục diệu lạc, đều có thể biết vừa đủ.

 

      * Hỏi: “Cường đạo cướp của người giàu giúp người nghèo, do duyên cớ chẳng liễu giải Ngă Không và Pháp Không, nên cũng chẳng thể coi là đại từ đại bi”, nên hiểu như thế nào? (Đồng Tâm hỏi)

 

      Đáp: Tâm chẳng phan duyên hết thảy, b́nh đẳng ban cho sự vui cho chúng sanh như thế, đó là đại từ. Dẹp nỗi khổ cho hết thảy chúng sanh là đại bi. Nói “cứu giúp người nghèo” đương nhiên là chuyện tốt, nhưng cướp của người giàu th́ rất chẳng nên, bởi nhà Phật bố thí chú trọng tịnh tài, cướp đoạt để bố thí và chuyện này (đại từ đại bi) rất khác biệt!

 

      * Hỏi: Hai chúng tại gia từng thọ Ngũ Giới, đối với ngày giỗ của bậc tôn trưởng, cha mẹ đă khuất và sinh nhật của cha mẹ đang c̣n sống trong các ngày kỷ niệm ấy, sau khi tán lễ Phật để hồi hướng, có nên vẫn đắp mạn y, cầm ngọa cụ, hướng về linh vị của tôn trưởng, cha mẹ, hoặc đối trước cha mẹ hiện đang c̣n sống đảnh lễ, chúc phước hay không? (Khoan Thiện hỏi)

 

      Đáp: Hướng về cha mẹ đă khuất hay hiện c̣n để đảnh lễ, chúc phước là bổn phận của người làm con, rất đáng nên làm. Chỉ có điều chớ nên đắp mạn y, cầm ngọa cụ, v́ y và ngọa cụ là thứ được coi trọng trong nhà Phật, chuyên dùng để mặc và sử dụng khi lễ Tam Bảo và tu pháp, chớ nên lạm dụng!

 

      * Hỏi: “Chư hành vô thường, vạn pháp vô ngă”. Giải thích ư nghĩa được bao hàm trong hai câu ấy như thế nào? (Trương Khoan Tâm hỏi)

 

      Đáp: “Chư hành” chỉ hết thảy các pháp hữu vi, “vô thường” nghĩa là đổi dời, biến hóa, chẳng vĩnh hằng. “Vạn pháp” là hết thảy sự lư, “vô ngă” là không có chủ thể, tức là các duyên ḥa hợp nên mới có sự lư này!

 

      * Hỏi: Ngă Chấp và Pháp Chấp, trong sách vở Phật học thường thấy hai danh từ ấy, ư nghĩa như thế nào? (Huệ Hương hỏi)

 

      Đáp: Thân người do Tứ Đại giả hợp, trọn chẳng có chủ thể, chấp trước kiên cố thân này là bản thể của ta, gọi là Ngă Chấp. Các pháp do nhân duyên sanh, hoặc nhằm [thuận tiện] sử dụng mà giả lập ra. Cứ cố chấp chúng là thật th́ gọi là Pháp Chấp. Ở đây, sợ kẻ sơ cơ hiểu lầm, chỉ dùng thí dụ để giải thích Pháp Chấp. Thân có bệnh cần phải dùng thuốc chữa trị, tâm có những thói tệ th́ cần phải có pháp trừ khử. Nếu bệnh đă khỏi mà vẫn uống thuốc, thuốc sẽ trở thành bệnh. Thói tệ đă trừ hết, pháp liền trở thành thói tệ; nhưng bọn ta sơ cơ, những thói tệ trong tâm quá sâu dầy, cũng là lúc cần phải có chánh pháp, chớ nên viện cớ Pháp Chấp để lười nhác, buông lung, chẳng biết hổ thẹn!

 

      * Hỏi: Kiếp Trược và Kiến Trược trong Ngũ Trược Ác Thế nên giảng như thế nào, tôi vẫn chưa rơ? (Huệ Chiêu hỏi)

 

      Đáp: Kiếp (Kalpa) có thể giảng là Thời Phần, có tăng hay giảm sai khác. Lúc kiếp tăng th́ tuổi thọ con người tăng lên, cao đến tám vạn bốn ngàn tuổi. Lúc kiếp giảm th́ tuổi thọ con người giảm theo, thấp nhất là mười tuổi. Lúc giảm đến hai vạn tuổi chính là lúc trược loạn. Kiến có năm thứ, đều là trược cấu (bẩn thỉu), chẳng rơ ràng, tức Thân Kiến, Biên Kiến, Giới Thủ, Kiến Thủ và Tà Kiến.

 

      * Hỏi: Trong thế giới Sa Bà này, Quán Thế Âm Bồ Tát hiện ba mươi hai ứng thân tầm thanh cứu khổ, trong Tây Phương Tam Thánh cũng có Quán Âm Bồ Tát, hai vị này là một hay khác nhau? (Huệ Thuyên hỏi)

 

      Đáp: Là một. Kinh Pháp Hoa chép: “Du thử Sa Bà thế giới” (dạo trong thế giới Sa Bà). Hiển hiện nơi Tây Phương là Báo Thân, c̣n thị hiện trong cơi này chính là Ứng Thân của Ngài.

 

      * Hỏi: Giác hạnh viên măn mới có thể thành Phật; giác là tự giác, hạnh là độ tha, giống như Thích Ca Mâu Ni Phật. Khoan nói tới những chúng sanh mai sau chưa được Ngài hóa độ, ngay trong lúc Ngài nhập Niết Bàn, vẫn có những kẻ chưa tin Phật, làm sao có thể nói là “phổ độ chúng sanh, giác hạnh viên măn”? (Huệ Thuyên hỏi)

 

      Đáp: Phật độ chúng sanh, trọn chẳng phải chỉ độ một lần! Do thế giới vô lượng, chúng sanh vô lượng, nghiệp lực lôi kéo khiến họ chết đây, sanh kia, chết kia, sanh đây, chẳng có lúc nào ngơi! Phật ứng hóa hiện thân trong thế gian cũng chẳng có lúc nào ngơi, như Thích Tôn đến Sa Bà lần này đă hơn tám ngàn lần. Nói “viên măn” nghĩa là chúng sanh căn cơ chín muồi trong một thời kỳ đă độ trọn hết. Giống như một cây có ngàn quả, sống, chín khác nhau, ắt phải hái theo từng lúc. Bữa nay chín năm mươi trái, ắt bẻ lấy năm mươi trái; ngày mai chín trăm trái, lại hái một trăm. Hôm nay và ngày mai mỗi lần hái đều có thể bảo người khác: “Trái nên hái, đă hái hết rồi!”

 

      * Hỏi: Người đầu óc nhanh lẹ trong thế tục được khen là kẻ thông minh, nhưng nhà Phật chỉ nói trí huệ, chẳng nói tới thông minh, vậy th́ trí huệ và thông minh khác nhau ở chỗ nào? (Khoan Châu hỏi)

 

     Đáp: Đối với muôn sự, muôn lư, có thể thật sự quan sát chánh đáng và quyết đoán, đó là trí huệ. Đầu óc nhanh nhạy, mẫn tiệp, nhưng nếu bị tư dục bít chặt, lấy bỏ chẳng chánh đáng th́ là thông minh. Đó là nói đại lược, nếu nói cặn kẽ, sẽ rất tốn công.

 

      * Hỏi: Hai chữ “Nam-mô” nghĩa là ǵ? (Huệ Lượng hỏi)

 

      Đáp: Đây là hai chữ đọc theo âm tiếng Phạn, dịch sang nghĩa tiếng Hán là quy y, kính lễ, xin cứu độ v.v...

 

      * Hỏi: “Vô ngă” giải thích như thế nào? Tu dưỡng ra sao? Đối với những chuyện chính ḿnh làm, giữ thái độ coi như không có ǵ, chẳng nghĩ là chính ḿnh tồn tại, cũng có thể nói là Vô Ngă hay chăng? (Vương Quưnh Như hỏi)

 

      Đáp: Chữ Ngă nên hiểu là chủ tể. Thân người do Tứ Đại giả hợp kết thành, thật sự chẳng có chủ thể, nên nói là Nhân Vô Ngă. Hết thảy sự vật đều do các duyên ḥa hợp, hiện ra giả tướng, đều chẳng có chủ thể, nên gọi là Pháp Vô Ngă. Những điều cư sĩ đă nêu [trong câu hỏi] chính là giải đăi và phóng dật, là căn bệnh lớn nhất cần phải tránh đối với người học Phật!

 

      * Hỏi: Đứng đầu trong tứ tướng là Ngă Tướng. Phàm là người tu tŕ phải trừ bỏ tướng này trước tiên; nhưng trong kinh luận đôi khi cũng có nhắc tới chữ Ngă, như các chữ Ngă trong “duy ngă độc tôn”, và “thường, lạc, ngă, tịnh” nên giải thích ra sao? (Triệu Vĩnh Siêu hỏi)

 

      Đáp: Nói đến phạm trù chữ Ngă th́ có thể chia thành ba:

1. Thứ nhất là ngă kiến, ngă mạn, ngă danh. Những thứ này hai tà, một giả, phàm phu điên đảo, chấp trước gọi đó là Ngă.

2. Thứ hai, ngươi, ta, đây, kia, tùy thuận thế tục ḥng nói năng khỏi lộn xộn, nên phương tiện nói Ngă.

3. Thứ ba là hiển hiện trọn vẹn Pháp Tánh, phơi bày toàn bộ tịnh đức. Pháp Tánh tịnh đức, gọi quyền biến là Chân Ngă. Đây là ngôn ngữ dứt bặt, chẳng thể nói mà cứ cưỡng gọi nên bảo là Ngă. Hai chữ Ngă trong “duy ngă độc tôn”“thường, lạc, ngă, tịnh” thuộc về phạm trù thứ ba.

 

      * Hỏi: Xin hỏi hai chữ Bát Nhă (般若) nên đọc như thế nào? Có thể đọc theo âm gốc[35] của nó hay không? Theo pháp sư Bân Tông trong phần Phàm Lệ của cuốn Bát Nhă Tâm Kinh Yếu Thích th́ phải nên đọc là Bát Nhạ (鉢惹), nhưng theo một cư sĩ ở chùa Thiện Đạo, Đài Bắc th́ chẳng phải như vậy, phải đọc là âm này nọ, người ấy đọc theo giọng Quảng Đông[36], nghe chẳng rơ ràng cho lắm, không biết nên theo ai, xin hăy chỉ dạy. (Trọng Chí Anh hỏi)

 

      Đáp: Hai chữ này đều là âm tiếng Phạn, nếu cầu chuẩn xác, ắt phải học Phạn văn! Lănh thổ Trung Quốc rộng lớn, ngữ âm phức tạp, địa phương cách nhau một trăm dặm, giọng nói đă khác nhau. Âm đọc cũng sai khác, làm sao có thể nói là Giáp đúng, Ất sai. Chúng ta chẳng biết Phạn văn, âm đọc nên thuận theo đa số, chỉ cần giữ ḷng thành mà thôi! Ngay như đọc Bát Nhạ, âm đọc của người Nam kẻ Bắc cũng chẳng hoàn toàn giống nhau, chẳng thể tranh chấp là đúng hay sai. Ở đây, tôi dựa theo giọng đọc hầu như tương đồng của nhiều người từ các nơi khác nhau, đặc biệt dùng lối Chú Âm Tự Mẫu để ghi ra. Chữ Bát () có âm đọc là Bo (), Nhạ () đọc là (ㄖㄜˇ), ngơ hầu gần với cách đọc [như pháp sư Bân Tông đă nói].

 

      * Hỏi: Theo trang ba mươi sáu trong bài Bồ Đề Tâm Ảnh Nhân Sanh th́ có sáu pháp vô vi, chẳng biết danh xưng của chúng như thế nào? Không có cách nào tra cứu, chẳng biết pháp Bát Nhă có phải là một trong các pháp vô vi hay không? Xin hăy chỉ dạy danh xưng của chúng. Nếu được, xin hăy nói rơ hơn? (Trọng Chí Anh hỏi)

 

      Đáp: Đấy là nói về sáu pháp vô vi trong Bách Pháp Minh Môn Luận, tên của chúng là hư không vô vi, trạch diệt vô vi, phi trạch diệt vô vi, bất động vô vi, tưởng thọ diệt vô vi và Chân Như vô vi. Nếu muốn nói rơ, sẽ phải tốn công viết một bài dài.

 

      * Hỏi: Có người nói chẳng thể chuyển định nghiệp, c̣n bất định nghiệp có thể chuyển được, xin hỏi định nghiệp là thế nào? Bất định nghiệp là như thế nào? (Chung Quân Lương hỏi)

 

      Đáp: Gieo nhân có sức mạnh, lại gặp Tăng Thượng Duyên, khiến cho cái nhân đă chín, tạo thành quả, đó là định nghiệp. Nếu không, sẽ là bất định nghiệp.

 

* Hỏi: Đại Thừa Khẩn Na La Vương Bồ Tát[37] có phải là vị thường được gọi là Diêm La Vương hay không? (Chung Lâm Chiêu hỏi)

 

      Đáp: Khẩn Na La là thần ca nhạc [của Đế Thích Thiên], chẳng phải là Diêm La Vương!

 

* Hỏi: Tôi chẳng hiểu Lục Nhập trong mười hai nhân duyên, xin hăy chỉ dạy cặn kẽ! (Huệ Đức hỏi)

 

      Đáp: Lục Nhập chính là Lục Căn. Căn là nói về Thể của chúng, c̣n Nhập là nói tới Dụng; có nghĩa là chúng là những cơ quan có thể tiếp nhận, thâu nhập Lục Trần.

 

* Hỏi: Cơi Phương Tiện Hữu Dư đă đoạn Kiến Tư nhị hoặc, chưa đoạn Trần Sa và Vô Minh, đă đạt được cảnh giới La Hán, nhưng tôi chưa hiểu hai chữ Hữu Dư. (Huệ Đức hỏi)

 

      Đáp: Trần Sa và Vô Minh chưa đoạn th́ gọi là Hữu Dư.

 

      * Hỏi: Hai chữ Cù Đàm trong kinh Tạp A Hàm nên giải thích như thế nào? Tứ Nhiếp là nhiếp bốn điều nào? (Phan Ngọc Tuyền hỏi)

 

      Đáp: Chữ Cù Đàm có mấy cách giảng, cư sĩ hỏi về người hay là hỏi họ đức Phật? Tứ Nhiếp là bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự.

 

      * Hỏi: Tên gọi của Đại Thừa Thập Nhị Bộ Kinh là ǵ, xin hăy chỉ dạy! (Trịnh Lan Tôn hỏi)

 

      Đáp: Thập Nhị Bộ chẳng phải là số lượng kinh điển, mà là trong Tam Tạng kinh văn có mười hai loại thể tài, có thể tham khảo trong phần trước có ghi chép tường tận.

 

      * Hỏi: Nhất Thiết Trí và Nhất Thiết Chủng Trí giống nhau hay khác nhau? C̣n có diệu trí huệ và chân trí diệu huệ, đó là danh xưng chung của Phật Trí, hay là có chỗ khác nhau, xin chỉ dạy! (Tiêu Huệ Tâm hỏi)

 

      Đáp: Biết hết thảy các pháp là Không, gọi là Nhất Thiết Trí; Thanh Văn, Duyên Giác chứng đắc trí này. Đạo pháp của chư Phật, Đạo Chủng Trí của Bồ Tát, Nhất Thiết Trí của Thanh Văn, Duyên Giác đều có thể chiếu kiến Thật Tướng, trọn đủ các thứ trí ấy th́ gọi Nhất Thiết Chủng Trí, Phật chứng đắc trí này. Chân Trí là do đối ứng với Quyền Trí mà nói. Diệu trí huệ và diệu huệ, bất quá là từ ngữ tán thán trí huệ mà thôi, đó là sự khác biệt!

 

      * Hỏi: Ngũ Ấm Xí Thịnh nghe rất khó hiểu, [kinh Phật lại] c̣n nói nó là vấn đề căn bản của bảy nỗi khổ trước đó, càng chẳng rơ ràng cho lắm, xin hăy dùng lời lẽ đơn giản để giải thích có được hay không? (Huệ Tâm hỏi)

 

      Đáp: Thuật ngữ này vốn vô cùng phức tạp, nếu muốn giải nói đơn giản th́ cũng chẳng phải là không được! Nếu do giải nói đơn giản mà có thể hiểu rơ tường tận, sợ chẳng phải là chuyện dễ. Ở đây tôi thử giảng giải như sau: “Đó là nói về giả (Sắc) thân và cái tâm vọng thức, luôn luôn bị (Thọ) hoàn cảnh bức bách và dụ hoặc, bèn nghĩ (Tưởng) tới phân biệt, gạt bỏ, hay tham nhiễm. Cái nhân là giả thân, vọng tâm, giống như ḍng điện (Hành), không ngừng tạo tác, phát sanh biến hóa trong từng sát-na. Lại giống như lửa mạnh, càng cháy càng hừng hực, chẳng thể ngăn dứt. Đă có cái nhân như thế, nên mới có cái quả là bảy nỗi khổ trước đó. Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức trong câu này gọi chung là Ngũ Ấm”.

 

      * Hỏi: Trong phần thứ chín của kinh Kim Cang có nói: “Thế Tôn tắc bất thuyết Tu Bồ Đề thị nhạo A Lan Na hạnh giả” (đức Thế Tôn chẳng nói Tu Bồ Đề ưa thích hạnh A Lan Na), xin hăy khai thị về “nhạo A Lan Na”! (Trại Mạnh Thu hỏi)

 

      Đáp: Đấy là tiếng Phạn, dịch nghĩa là Vô Tránh Thanh (không có tiếng tranh chấp), Tịch Tĩnh, Ư Lạc Xứ (nơi tâm ư vui vẻ), Viễn Ly Xứ v.v... tức là nơi tự viện.

 

* Hỏi: La Hán vốn vô lượng vô biên. Theo như kinh nói, Thường Tùy Chúng có đến một ngàn hai trăm năm mươi vị đều là Đại A La Hán. V́ sao lại nói có mười tám vị La Hán? Danh hiệu của mười tám vị La Hán là như thế nào? Sự tích của họ ra sao? Căn cứ vào đâu để tạc tượng? (Trại Mạnh Thu hỏi)

 

      Đáp: Có một cuốn sách tên là Pháp Trụ Kư, trong ấy chép mười sáu vị tôn giả, vâng lời sắc truyền của đức Phật, vĩnh viễn trụ trong cơi này hóa độ chúng sanh. Người đời sau đă thêm một vị tôn giả trùng lặp vào, cũng như thêm vào đó tôn giả Ca Diếp[38], trọn chẳng nhất trí. Đấy là nguồn gốc của mười tám vị La Hán. Do vậy, trong chùa có lập tượng các Ngài.

 

      * Hỏi: Trong lời tán thán Bổn Sư Thích Ca có câu: “Nhân thiên giáo chủ tam loại hóa thân”, đó là ba loại hóa thân nào? (Hề Tử Vi hỏi)

 

      Đáp: Phật vốn trọn đủ ba thân Pháp, Báo, Ứng, nếu chỉ nói ba loại hóa thân, chắc là nói Thắng Ứng Thân có vô lượng tướng hảo, Liệt Ứng Thân ba mươi hai tướng, và các thứ hóa thân trong năm đường.

 

      * Hỏi: Trong bài Hương Tán “Giới Định Chân Hương” có câu “tích nhật Da Thâu miễn nạn tiêu tai chướng”, bốn chữ “tích nhật Da Thâu” giải thích như thế nào? (Hề Tử Vi hỏi)

 

      Đáp: Nên hiểu “tích nhật”“thời gian quá khứ”, Da Thâu chỉ phu nhân lúc đức Thế Tôn c̣n là Thái Tử, bà ta tên là Da Thâu Đà (Yasodharā).

 

      * Hỏi: Bài tán Phổ Hiền Bồ Tát có câu “thập nguyện đạo quy, kế Năng Nhân” nên hiểu như thế nào? (Hề Tử Vi hỏi)

 

      Đáp: Trong kinh Hoa Nghiêm có Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh Nguyện Phẩm ghi chép Bồ Tát phát ra mười đại nguyện vương dẫn chúng sanh văng sanh Cực Lạc. “Năng Nhân” là Phật Thích Ca, “kế” () là tiếp nối.

 

      * Hỏi: Ngũ Căn trong ba mươi bảy Bồ Đề phần là Tín, Tấn, Niệm, Định, Huệ, Tứ Thần Túc là Dục, Tấn, Niệm, Huệ, nên hiểu chữ Dục ấy ra sao? Ư nghĩa của chữ Dục được thay đổi để sử dụng như thế nào? (Hề Tử Vi hỏi)

 

      Đáp: Chữ Dục có nghĩa là đối với một sự vật nào đó yêu thích rất sâu, lại c̣n có ư nghĩa “hết sức mong muốn”. Ngũ Căn hiểu theo nghĩa hẹp là Tứ Đế, hiểu theo nghĩa rộng là công dụng của các pháp. Chữ Tứ trong Tứ Thần Túc chuyên chỉ cách dụng công trong Thiền Định.

 

      * Hỏi: Trong lời hỏi lần trước về từ ngữ Nhị Thập Ngũ Hữu, tôi đă được giảng giải trong tam giới có hai mươi lăm loại quả báo bất đồng. Sau khi cung kính đọc [lời giải thích], vẫn c̣n có chút nghi ngờ, nay lại xin cụ hăy giải thích các điều sau đây:

      1. [Nói tới] bốn đường ác trong Dục Giới, trừ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh ra, đường c̣n lại có phải là Tu La hay không?

      2. Bốn châu có phải là Đông Thắng Thần Châu, Nam Thiệm Bộ Châu, Tây Ngưu Hóa Châu, và Bắc Câu Lô Châu?

      3. Dục Giới Lục Thiên có phải là Tứ Thiên Vương Thiên, Đao Lợi Thiên, Dạ Ma Thiên, Đâu Suất Thiên, Hóa Lạc Thiên và Tha Hóa Tự Tại Thiên? (Hề Tử Vi hỏi)

 

      Đáp: Các danh từ được nêu trong điều một, hai, ba đều đúng như ông đă nói.

 

      * Hỏi: Xin dạy ư nghĩa Bát Nhă? (Vương Khả Tiêu hỏi)

 

      Đáp: Dịch sang tiếng Hán trí huệ, nhưng chữ này có nghĩa là trí huệ vô thượng bậc nhất trong hết thảy các trí huệ.

 

      * Hỏi: Thiên Đế trong kinh Phật và trong Pháp Giới An Lập Đồ[39] là ai? Có phải là chủ của đại thiên thế giới hay không? Hay là Phật làm chủ? (Chi Thế Vinh hỏi)

 

      Đáp: Xét ra tam giới gồm có tất cả hai mươi tám tầng trời, đấy là một đại thiên thế giới nói theo chiều dọc. Nếu nói theo chiều ngang th́ con số sẽ nhiều hơn. Nay nói đơn giản theo chiều dọc, tầng thấp nhất là Tứ Vương Thiên, có bốn vị thiên vương. Tầng thứ hai là Đao Lợi thiên, có ba mươi ba vị thiên đế. Lên cao hơn có hai mươi sáu tầng trời, mỗi tầng đều có một thiên đế. Thiên đế được nói trong kinh Phật thuộc các chốn khác nhau, nếu hỏi thiên đế là ai, cần phải xét xem cách nói nơi đoạn kinh ấy là như thế nào th́ mới có thể biết là nói tới vị thiên đế thuộc tầng trời nào!

 

      * Hỏi: Địa vị của Ma Hê Thủ La (Maheśhvara)[40] trong các đại chúng được nhắc tới trong kinh Phật là như thế nào? Lai lịch ra sao? (Chi Thế Vinh hỏi)

 

      Đáp: Đây là một vị thiên đế thuộc tầng cao nhất trong Sắc Giới, tức tầng thứ hai mươi bốn [trong hai mươi tám tầng trời], chính là Đại Tự Tại Thiên, ngoại đạo Ấn Độ tín ngưỡng vị này. Trong Phật tông có một phái gọi là Mật Tông, họ bảo vị trời này là Ứng Thân của Đại Nhật Như Lai, như thế mà thôi!

      * Hỏi: Ma Hê Thủ La đă sống trong Phạm Thiên, khi đại thiên thế giới hủy diệt, Phạm Thiên cũng bị hủy diệt, v́ sao riêng ông ta chẳng bị hủy diệt? Khi đại thiên thế giới chưa h́nh thành, ông ta trụ nơi đâu? (Chi Thế Vinh hỏi)

 

      Đáp: Nếu dựa theo Mật Tông để giải thích, ông ta là ứng thân của Phật, nên có đến, có đi, có khởi đầu, có kết thúc. Nếu chỉ luận theo [thân phận của] vị trời này, khi thọ mạng một vạn sáu ngàn kiếp đại kiếp đă hết, vẫn khó tránh khỏi cái chết. Theo đó, dẫu thế giới chẳng hủy diệt, ông ta cũng bị hủy diệt. Đại thiên chẳng phải chỉ có một, nếu đại thiên này chưa h́nh thành, thần thức của ông ta sẽ trụ trong đại thiên khác.

 

      * Hỏi: Vị tổ thứ hai mươi tám là Bồ Đề Đạt Ma v́ sao chẳng truyền đạo tại Thiên Trúc, do lư do ǵ phải chuyển sang Đông Độ truyền pháp? (Lâm Lương Trụ hỏi)

 

      Đáp: Chúng sanh cơi kia phước báo đă mỏng, tà kiến tăng dần, ngoại đạo ồ ạt dấy lên, Phật duyên sắp hết. Cơi này từ đời Hán và Tấn đến nay, vua và dân tín ngưỡng, căn cơ phần lớn là Đại Thừa, người sang [Thiên Trúc] cầu pháp liên tiếp chẳng nề hà gian nan, hiểm trở. Do vậy biết cơ duyên hoằng dương rộng răi Phật pháp sẽ là bên Chấn Đán (Trung Hoa), nên Ngài sang phương Đông. Nhưng đây chỉ là cách nói theo tướng thế gian, nếu hướng về Tông Môn mà hỏi “tổ sư Tây lai ư” (tổ sư từ phương Tây đến cơi này v́ ư ǵ), họ sẽ luận định kiểu khác!

 

      * Hỏi: Trong Phật học có nói tám vạn bốn ngàn pháp môn, nhưng lại nói “Bất Nhị pháp môn”, đối với hai cách nói như vậy về pháp môn, nên giảng giải ra sao? (Lâm Lương Trụ hỏi)

 

      Đáp: Câu hỏi này nên tách ra để trả lời:

1. Một là Thập Sử[41], trong mỗi Sử có đủ mười Sử, nên lần lượt thành một trăm, trải khắp mười pháp giới, mỗi giới có một trăm Sử nên thành một ngàn. Thân và miệng gồm bảy chi (giết, trộm, dâm, vọng ngữ, lưỡng thiệt, ỷ ngữ, ác khẩu) [nhân với một ngàn] thành bảy ngàn. Lại trải qua ba đời nên [bảy ngàn nhân với ba] thành hai vạn một ngàn. Lại nữa, đa tham, đa sân, đa si v.v... chia thành bốn tâm (tức tham, sân, si, mạn), mỗi tâm có đủ hai vạn một ngàn, nên thành tám vạn bốn ngàn trần lao; nhưng đối với mỗi trần lao đều có pháp để đối trị nên nói là tám vạn bốn ngàn pháp môn.

2. Hai là tám vạn bốn ngàn pháp chẳng ra ngoài nhất tâm, có thể ngộ nhập lư Nhất Thật b́nh đẳng, sẽ không có hết thảy phân biệt, nên nói là Bất Nhị.

Điều trước giống như một cây vạn lá ngàn cành, điều sau giống như nói một cái cây cao sừng sững.

 

      * Hỏi: Người nhà bán gà, tệ nhân nghĩ gia súc không thể làm thiện nhân ǵ, bèn đem một phần tiền bán gà dâng cúng để xây dựng, sửa chữa Phật đường. Tất cả công đức đều hồi hướng về gia súc, không biết chúng nó có thể hưởng công đức hay không? (Lư Vĩnh Mậu hỏi)

 

      Đáp: Thân mạng cúng dường Tam Bảo, sẽ có công đức. Chuyện này vốn là hành động bất đắc dĩ, nhưng có thể nuôi lớn rồi phóng sanh th́ hay hơn. Cách làm này cũng có thể gọi là phương tiện.

 

    * Hỏi: Dục và tham có ǵ sai khác? Phước đức và công đức có ǵ khác biệt? (Lư Vĩnh Mậu hỏi)

 

      Đáp: Trong kinh Phật, chữ Dục có hai nghĩa tốt và xấu:

- Bốn thứ Thần Túc “Dục, Cần, Tâm, Quán”, cũng như trong chuyện trao truyền giới, do duyên sự nên chẳng thể đi ra ngoài được, bèn thực hiện những chuyện như dữ dục, thọ dục, thuyết dục[42], và Dục Vô Giảm[43] trong mười tám pháp bất cộng v.v... đều dùng theo nghĩa tốt.

- Như dục nhiễm, dục trần, dục ái v.v... đều là nghĩa xấu.

Chữ Tham là ác tâm sở, là một thứ căn bản phiền năo, chỉ có ác, chẳng có thiện. Giữa phước đức và công đức th́ phước là báo về chính ḿnh, công là ích lợi cho cả người khác, đó là sự sai biệt.

 

      * Hỏi: Chữ Pháp trong Lục Trần chỉ điều ǵ? Có mối tương quan và tương ứng với điều ǵ? (Phan Tư Húc hỏi)

 

      Đáp: Vạn sự, vạn lư đều có thể gọi là Pháp. Pháp trong Lục Trần tương ứng với Ư. Đă nói là Trần, tức là nói nó thuộc ngoại cảnh. Có thể phân chia đại lược thành ba loại: Bản chất, đới chất, và độc ảnh. Pháp được nhận lấy bởi Ư chính là độc ảnh cảnh.

 

      * Hỏi: Chúng Thất Xoa Ma Na (Siksamana) trong thất chúng chỉ kẻ nam, người nữ chưa thọ giới Ưu Bà Tắc, đúng không? Hay là chỉ những bà già c̣n để tóc tu hành trong chùa? (Nhan Khoan Văn hỏi)

 

      Đáp: Thức Xoa Ma Na là Sa-di-ni đă thọ mười tiểu giới, học tập sáu pháp để chuẩn bị thọ năm trăm đại giới [của tỳ-kheo-ni].

 

      * Hỏi: Tôi muốn quy y Phật môn th́ nên tiến hành những thủ tục nào? (Đỗ Tự Nhiên hỏi)

 

      Đáp: Viết một tờ ghi tên tuổi, lư lịch đơn giản, hướng về tỳ-kheo Tăng thỉnh cầu quy y, hoặc lượng sức cúng dường (có hay không đều được), cách thức thực hiện hết sức đơn giản, dễ dàng.

 

      * Hỏi: Khi chúng tại gia và chúng xuất gia có cùng một thầy th́ đôi bên xưng hô ra sao? Lại nữa, vị tỳ-kheo xuất gia có vai vế cao hơn một đời (tức là có cùng thầy với vị sư phụ của chính ḿnh) th́ tại gia cư sĩ gọi vị đó là sư bá, nhưng nếu tại gia cư sĩ có vai vế cao hơn th́ sẽ thuộc địa vị sư bá của vị xuất gia tỳ-kheo? Như thế th́ có hợp với quy chế nhà Phật hay không? (Đỗ Tự Nhiên hỏi)

 

      Đáp: Người tại gia thuộc hàng ngoại hộ, tuy có cùng thầy với tăng chúng, cũng chỉ là kẻ quy y, chẳng phải là pháp tự (người kế tục pháp). Dẫu kẻ xuất gia thuộc hàng văn bối đối với ta tôn xưng như thế, người tại gia vẫn phải giữ thân phận đệ tử. Như trong pháp thế gian, Châu Vũ Vương tôn Thái Công Vọng[44] làm Thượng Phụ, vua Thái Giáp[45] nhà Thương tôn Y Doăn làm Sư Bảo, nhưng Thái Công và Y Doăn vẫn giữ thân phận thần tử (bầy tôi).

      * Hỏi: Phật giáo từ thời đại, niên hiệu nào truyền đến thời Trung Hoa Dân Quốc? (Trang Khánh Hiền hỏi)

 

      Đáp: Phật giáo truyền đến Trung Quốc bắt đầu vào lúc Mục Vương nhà Tây Châu gặp lại Tần Mục Công, nhưng đấy đều là dă sử. Xét ra, trong phần Thích Lăo Chí của Ngụy Thư[46] đă chép: “Hán Vũ Nguyên Thú trung, Hung Nô Côn Tà vương lai hàng, hữu kim nhân, đế dĩ vi đại thần, liệt ư Cam Tuyền cung” (trong niên hiệu Nguyên Thú[47] thời Hán Vũ Đế, vua Hung Nô là Côn Tà đến hàng, dâng tượng người vàng, vua Hán nghĩ đó là tượng một vị thần lớn, xếp vào cung Cam Tuyền). Trong lúc ấy cũng chỉ có tượng Phật. Thời Hán Ai Đế, “Bác sĩ đệ tử Tần Cảnh Hiến, thọ Đại Nhục Chi vương sứ Y Tồn khẩu thọ Phù Đồ kinh” (Bác sĩ đệ tử[48] Tần Cảnh Hiến được sứ giả của vua nước Đại Nhục Chi là Y Tồn truyền dạy kinh Phật bằng lối khẩu truyền). Sau đó, Hán Minh Đế mộng thấy người bằng vàng, đảnh có bạch quang, Phó Nghị [giải mộng] người vàng ấy là Phật. Vua liền sai Thái Âm và Tần Cảnh Hiến v.v... đi sứ Thiên Trúc, thỉnh được kinh Tứ Thập Nhị Chương và tượng Phật Thích Ca, người đời sau phần lớn coi Phật giáo bắt đầu du nhập Trung Quốc vào thời điểm này.

 

      * Hỏi: Có một tín đồ nhà Phật, quy y bái sư, lại c̣n bái đến ba, bốn, năm vị là do ư nghĩa nào? Giả sử vốn là một tín đồ quy y bái sư trong Thiền Tông, sau đó lại theo pháp môn Tịnh Độ Tông, có cần phải bái sư với một vị sư trong Tịnh Độ Tông hay không? (Trang Khánh Hiền hỏi)

 

      Đáp: Xét ra, quy y Tam Bảo, chữ Tăng được giải thích có nghĩa là Chúng. Cho nên thật ra, quy y Tăng là quy y hết thảy Tăng. Kẻ ấy nếu chẳng cầu giới mà cũng chẳng cầu học, chuyên quy y cho nhiều, nói chung đó là kẻ chẳng hiểu Phật lư vậy!

 

      * Hỏi: Xưa kia ḥa thượng Nhật Bản chỉ nghiên cứu Phật lư tu hành mà thôi, chẳng ăn chay, đương nhiên kết hôn có con, có cháu, vốn có một thứ Phật pháp như vậy ư? (Trang Khánh Hiền hỏi)

 

      Đáp: Nghe người đă từng đến Nhật Bản, hiểu rơ t́nh h́nh nói Phật pháp xứ ấy vốn học từ Trung Quốc, nối tiếp nguồn gốc từ xứ Ấn, kinh luật huy hoàng, há có hai lẽ? C̣n những chuyện như ông đă nói vốn xảy ra sau thời Minh Trị[49], chỉ có một phần biến thái, chẳng phải là tất cả đều như vậy.

      * Hỏi: Nghe nói người quy y Tam Bảo mới được coi là Phật giáo đồ chân chánh, nhưng đức Phật vốn dạy con người tự quy y Tam Bảo, hóa ra [tự quy y như thế] chẳng được coi là Phật giáo đồ ư? (Trần Vũ Cát hỏi)

 

      Đáp: Tự Quy Y có nghĩa là chính ḿnh vui thích quy y, chẳng do bị bắt buộc. Đă tự vui thích quy y Tam Bảo th́ ai bảo người ấy chẳng phải là Phật giáo đồ? Nhưng quy y có nghi thức và tự tánh sai khác! Nghi thức th́ cần phải cầu thọ quy y nơi vị tỳ-kheo trọn đủ giới, cử hành nghi thức trước Phật. Tự tánh là hiểu rơ ư nghĩa Tam Bảo, biết tự tánh vốn trọn đủ phẩm đức của Tam Bảo, xoay về dụng công nơi tâm tánh. Nhưng hai loại này chẳng thể tách ĺa, hễ tách ĺa th́ tuy gọi là đệ tử Phật, nhưng thật ra đă khiếm khuyết vậy.

 

      * Hỏi: Thuở Phật tại thế, hàng đệ tử như các Đại Bồ Tát và A La Hán nghe pháp có ăn chay hay không? (Đồ tể hỏi)

 

      Đáp: Tín đồ nhà Phật lấy ăn chay làm nguyên tắc. Đức Phật cấm ăn thịt. [Điều này có thể] thấy trong khắp các kinh, quá nhiều, khó thể nêu trọn. Có lúc do thời thế, hoặc bị cuộc đất hạn chế, thóc lúa, rau dưa chẳng mọc, được phép ăn năm thứ tịnh nhục, điều này thuộc về ngoại lệ. Vấn đề này hết sức đơn giản, chớ nên nghi hoặc lắm nỗi! Giáo nghĩa của nhà Phật là từ bi, b́nh đẳng; giết kẻ khác để ăn thịt, há có từ bi? Hy sinh kẻ khác để ta sanh trưởng, b́nh đẳng ở chỗ nào? Nếu chấp trước đối với loài động vật, cần phải giết chúng th́ ta mới nhờ vào đó để sống sót, đó là kẻ mạnh ăn thịt kẻ yếu, thuộc về học thuyết sanh tồn bằng cách thích nghi, lư luận lệch lạc, chẳng viên măn! Cư sĩ chẳng hỏi sâu hơn, nên kẻ hèn này cũng chẳng rườm lời!

 

      * Hỏi: Nghe nói vị Hoạt Phật X... không ăn chay, có thật hay không? V́ sao không ăn chay? Đài Loan không có rau dưa ư? (Đồ tể hỏi)

 

      Đáp: Tông phái Phật giáo không đồng nhất, nói chung chia ra thành hai hệ Hiển và Mật. Mật ở Trung Quốc, phần lớn truyền thừa tại các nơi như Mông Cổ, Tây Tạng v.v... Các xứ ấy ngũ cốc, rau dưa rất ít, theo tập tục vẫn ăn thịt; nhưng Mật Tông ăn thịt đều dùng mật chú để gia tŕ, có thể làm cho thần thức của chúng được siêu thăng. Đây cũng là do hoàn cảnh có đủ mọi nỗi ép buộc, là Quyền Trí thuộc về chuyện bất đắc dĩ. Sư X.... là Kim Cang Thượng Sư của Mật Tông, tại Đài Loan tuy rau dưa, hoa quả đầy dẫy, Thượng Sư tự có biện pháp đặc biệt, tín đồ Phật giáo thông thường chớ nên bàn tán.

 

      * Hỏi: Phân biệt tà giáo, ngoại đạo và chánh giáo bằng cách nào? (Đồ tể hỏi)

 

      Đáp: Lư chân, trí viên, chẳng thiên lệch, chẳng thay đổi, đại công vô tư, đó là chánh giáo. Yêu ngôn, huyễn thuật, trái nghịch tánh đức, lật đổ luân thường, đó là tà giáo. Bỏ gốc chạy theo ngọn, chân ngụy lẫn lộn, giống như đúng, nhưng thật ra là sai, đó là ngoại đạo. Nhưng tà ngoại cũng chẳng hề thừa nhận họ là tà ngoại, hào ly, ngàn dặm trong ấy, cần phải do người đọc sách hiểu lư, có con mắt sáng biện định.

 

      * Hỏi: Hội Hồng Vạn Tự [rêu rao] ngũ giáo đồng nguyên (năm tôn giáo cùng nguồn), cũng có thể tuyên truyền, hóa độ thiện nam, tín nữ, nên coi là tà giáo, ngoại đạo hay chánh giáo? (Đồ tể hỏi)

     

      Đáp: Hồng Vạn Tự chia thành hai loại là Đạo và Từ, sự nghiệp từ thiện do họ thực hiện rất có thành tích, thật đáng tán thán. C̣n nói về đạo th́ họ nói ngũ giáo đồng nguyên do có nỗi khổ tâm riêng, sự thật quyết chẳng phải là như vậy.

 

      * Hỏi: Người học Phật nhằm dịp sinh nhật của cha mẹ, muốn cúng Phật trước bàn Phật tại nhà, chẳng biết phải tụng kinh ǵ? (Khoan Chiêu hỏi)

 

      Đáp: Tụng kinh Dược Sư là phổ biến nhất. Nếu tụng kinh Vô Lượng Thọ hoặc tụng kinh Kim Cang cũng đều thích hợp.

 

* Hỏi: Nếu khuyên người khác học Phật, niệm Phật, mọi người đều nói “tâm tốt là được rồi, chẳng hại đối phương th́ là người tốt bậc nhất, cớ ǵ cứ phải tin Phật?” Chẳng biết phải trả lời đối phương như thế nào? (Khoan Trạm hỏi)

 

      Đáp: Hết thảy chúng sanh tham, sân, si đầy dẫy, làm sao có thể khoe là tâm tốt cho được? Hằng ngày miệng nói lời dối trá, thêu dệt v.v... Thân gây giết, trộm (chẳng cho mà lấy), tà dâm v.v... làm sao có thể tự khen là người tốt? Tin Phật chính là cầu giác ngộ; kẻ thốt lời ấy, rơ ràng là một mực hồ đồ! Chẳng học Phật làm sao có ngày nào thanh nhàn, tỉnh giác? Sự mê hoặc, ngu si ấy cũng đáng buồn lắm thay!

 

      * Hỏi: Trong Phật học c̣n nói có quỷ, người thường (kể cả tôi trong ấy), nghe nói đến quỷ ắt tâm hoảng, gan lạnh, thứ tâm lư ấy dường như bẩm sinh, nên làm cách nào để khỏi có tâm lư hoảng sợ? (Vương Quưnh Như hỏi)

 

      Đáp: Quỷ là một trong lục đạo chúng sanh, là kẻ bị đọa trong tam đồ chịu khổ, người học Phật hăy nên dấy ḷng thương xót, t́m cách siêu độ, chớ nên sợ hăi. Nghe nói tới quỷ bèn hoảng sợ, cố nhiên vốn là tập khí bẩm sinh, cố hữu, mà cũng v́ thế tục tuyên truyền những chuyện đáng sợ về quỷ.

 

Phật Học Vấn Đáp Loại Biên

Phần 6 hết



[1] Lôi âm: Tiếng sấm rền. Âm thanh của Phật khiến chúng sanh tỉnh ngộ, nên thường được ví như tiếng sấm rền, thức tỉnh những kẻ đang si mộng.

[2] Hải đăng c̣n gọi là Trường Minh Đăng là một loại đèn thường dùng để cúng Phật, đèn thường có h́nh một chiếc bát lớn, đôi khi có chân, chứa rất nhiều dầu, ở giữa chỉ thả một tim đèn để thắp sáng suốt năm chẳng tắt. Loại đèn gọi là butter lamp (dkarme) của Tây Tạng cũng thuộc loại hải đăng.

[3] Bảo sát là ngôi chùa báu, tiếng tôn xưng một ngôi chùa. Sát là gọi tắt của chữ Sát Đa La (ksetra), Sát Đa La có nghĩa gốc là cơi đất, lănh vực (nên c̣n dịch là sát độ), về sau thường được dùng để chỉ chùa miếu, tháp thờ Phật.

[4] Gọi là “thác chuyển” v́ chưa sử dụng chân tâm, chuyển thân vào cảnh nào vẫn c̣n phải dùng thần thức nhập thai. Trong khi bậc Đẳng Giác và Diệu Giác (Phật) hoàn toàn là chân tâm, có thể tùy ư thị hiện thọ sanh.

[5] Theo Tứ Giáo Nghi của tông Thiên Thai, có bốn loại Tứ Đế:

1. Tạng Giáo Sanh Diệt Tứ Đế giảng các pháp do nhân duyên sanh, có sanh, có diệt. Hàng Thanh Văn dùng Tích Không Quán (quán Không bằng cách chia chẻ, phân tích sự vật cho đến cuối cùng thấy được vạn pháp đều Không) để lănh hội Tứ Đế, chán nhàm sanh tử khổ, ưa cầu niềm vui Niết Bàn; v́ vậy gọi là Sanh Diệt.

2. Thông Giáo Vô Sanh Tứ Đế: Dùng Thể Không Quán (quán Không bằng cách trực tiếp thể nhập bản chất của Không, không qua phân tích), biết bản thể của Ngũ Ấm và các pháp chính là Không, như huyễn, như hóa, Khổ chẳng có tướng bức bách, Tập chẳng có tướng ḥa hợp, Diệt chẳng có tướng, Đạo chẳng có hai tướng, từ lư Chân Không, biết được Bất Không, chứng nhập Trung Đạo.

3. Biệt Giáo Vô Lượng Tứ Đế: Bồ Tát giáo hóa chúng sanh vô lượng, sử dụng pháp môn vô lượng, nên nói Khổ có vô lượng tướng, quả báo trong mười pháp giới bất đồng: Tập có vô lượng tướng, Ngũ Trụ Phiền Năo có vô lượng tướng v́ hằng sa pháp môn bất đồng; Diệt có vô lượng tướng v́ các Ba La Mật bất đồng vô biên v.v...

4. Viên Giáo Vô Tác Tứ Đế: Đại Thừa Bồ Tát quán trọn vẹn các pháp, mỗi Sự đều chính là Lư, chẳng có tạo tác, nên nói Ấm, Nhập đều Như, không có Khổ để bỏ, trần lao vốn thanh tịnh, không có Tập để trừ, không có Đạo để tu, sanh tử chính là Niết Bàn v.v...

[6] Ca ngợi, tán dương bằng âm nhạc.

[7] Năm mươi bốn địa vị là phàm phu, sơ phát tâm, Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, và Diệu Giác.

[8] Hai mươi bảy địa vị Thánh Hiền định nghĩa trong Tiểu Thừa rất phức tạp, ở đây, chỉ dùng thuyết của kinh A Hàm. Theo kinh Trung A Hàm, quyển ba mươi, có mười tám địa vị hữu học (hiền nhân) và chín địa vị vô học (thánh nhân). Hữu học là Tín Hạnh, Pháp Hạnh, Tín Giải Thoát, Kiến Đáo, Thân Chứng, Gia Gia, Nhất Chủng, Hướng Tu Đà Hoàn, Đắc Tu Đà Hoàn, Hướng Tư Đà Hàm, Đắc Tư Đà Hàm, Hướng A Na Hàm, Đắc A Na Hàm, Trung Bát Niết Bàn, Sanh Bát Niết Bàn, Hành Bát Niết Bàn, Vô Hành Bát Niết Bàn, Thượng Lưu Sắc Cứu Cánh. Vô Học gồm Tư Pháp, Thăng Tấn Pháp, Bất Động Pháp, Thoái Pháp, Bất Thoái Pháp, Hộ Pháp, Thật Trụ Pháp, Huệ Giải Thoát và Câu Giải Thoát.

[9] Đây là mười bốn pháp nhẫn theo kinh Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhă Ba La Mật Đa: Trụ, Hạnh, Hồi Hướng, Hoan Hỷ, Ly Cấu, Phóng Quang, Diệm Huệ, Nan Thắng, Hiện Tiền, Viễn Hành, Bất Động, Thiện Huệ, Pháp Vân và Chánh Giác Nhẫn.

[10] Kinh này có tên gọi đầy đủ là Đại Thừa Đại Tập Địa Tạng Thập Luân Kinh, do ngài Huyền Trang dịch, gồm tám phẩm, do Địa Tạng Bồ Tát khải thỉnh, đức Như Lai nói ra mười luân của Phật, tức mười pháp tu hành chánh yếu, đồng thời giảng về ngũ vô gián tội, bốn tội ác nghiệp căn bản v.v... Một bản dịch khác của kinh này là Đại Phương Quảng Thập Luận Kinh không rơ tên người dịch.

[11] Đây là những thuật ngữ trong Đông Y. Bệnh được chia làm bốn loại Hư, Thực, Hàn, Nhiệt. Để trị bệnh th́ bốn cách: Bổ để trị chứng Hư, Tả dùng để trị chứng Thực, Ôn để trị chứng Hàn, Lương để trị chứng Nhiệt. Có thể hiểu thô thiển Bổ là bù đắp khi cơ thể hư nhược, Tả là phát tán bớt những ǵ quá vượng. Một câu thiệu (khẩu quyết) chủ yếu trong Đông Y là “hư tắc bổ kỳ mẫu, thực tắc tả kỳ tử” (hư th́ bổ mẹ, thực th́ tả con). Chẳng hạn như Đông Y quan niệm Thận là Thủy, gan là Mộc. Do Thủy sanh Mộc nên thận là mẹ, gan là con. Nếu gan bị chứng hư nhược th́ không bổ gan mà chú trọng áp dụng thuốc để bổ thận. Biểu hiện của chứng gan hư nhược là mất ngủ, dễ đói, dễ no, mặt cảm thấy nóng bừng, mạch huyền mà tế, cách trị liệu là bổ thận thủy để tiêu hư hỏa nơi gan. Đối với Tả, th́ chẳng hạn gan là Mộc sanh tâm là Hỏa, do vậy, gan là mẹ, tâm là con. Nếu gan bị chứng bệnh thuộc về thực, bèn chẳng trực tiếp tả nơi gan, mà tả nơi tâm hỏa. Biểu hiện của gan bị bệnh thực là chóng mặt, nhức đầu, tai ù, tính t́nh nóng nảy, bộp chộp, eo hông đau nhức, mặt đỏ, mắt đỏ, nước tiểu vàng xuộm v.v...

[12] “Ái quốc tưởng khoán” là công khố phiếu phát hành từ năm 1950 đến năm 1980 tại Đài Loan, do ngân hàng quốc gia Đài Loan phát hành.

[13] Lễ Khất Xảo c̣n gọi là Thất Tịch, Thất Xảo, hay Thất Thư Đản, là một ngày lễ vào mồng Bảy tháng Bảy âm lịch, nhằm kỷ niệm Ngưu Lang và Chức Nữ. Đối với Trung Hoa hiện thời, ngày này cũng được coi là một dạng Valentine của riêng Trung Hoa. Do thuở xưa, phụ nữ chỉ có thể xuất giá, giúp chồng dạy con, đ̣i hỏi phải có tài nữ công gia chánh khéo léo, nên vào ngày ấy, phụ nữ (nhất là các cô chưa chồng) thường bày bánh, mứt, hoa quả khấn vái Ngưu Lang và Chức Nữ, cầu có được tài nghệ thủ công khéo léo và sẽ có mối nhân duyên tốt đẹp, nên lễ này gọi là Khất Xảo.

[14] Chỉ cụ Lư Bỉnh Nam.

[15] Cụ Lư Bỉnh Nam gọi ông Triệu Siêu là đại đức, tự xưng ḿnh là kẻ hèn.

[16] Theo truyền thuyết cổ Ấn Độ, mắt ngỗng chúa nhạy bén, ḥa nước với sữa, ngỗng chỉ uống sữa, chừa nước lại. V́ thế, kinh luận nhà Phật thường dùng mắt ngỗng chúa để tỷ dụ hàng Bồ Tát hay người trí huệ có mắt sáng, khéo phân biệt pháp yếu.

[17] Thật ra, Âu Dương Tu không sửa chữa Tân Đường Thư mà biên soạn một bộ sử mới về nhà Đường với sự cộng tác của Tống Kỳ, Phạm Trấn, Lă Hạ Khanh v.v... Bộ sử này gồm 225 quyển, chép các sự kiện từ thời Đường Cao Tổ (Lư Uyên) đến Đường Ai Đế Chiêu Tông (Lư Chúc). Trước đó đă có bộ Đường Thư do nhóm Lưu Hú biên soạn (về sau tác phẩm này gọi là Cựu Đường Thư), nhưng Tống Nhân Tông chê là “thứ tự rối ren, chép chi tiết hay đại lược không thích đáng, văn phong chẳng rơ ràng, thiếu sót sự kiện” nên sai nhóm Âu Dương Tu biên soạn một bộ sử mới. Do nhà vua truyền lệnh gạt bỏ những chuyện sấm vĩ, huyền dị, họ Âu vốn sẵn có ác cảm với Phật giáo bèn nhất loạt gạt bỏ những sự kiện dính dáng đến Phật giáo cũng như những phần chép về các vị cao tăng đại đức Phật giáo đương thời. Bộ sử này bị người đương thời và hậu nhân chê là tác giả đă để t́nh cảm riêng tư lấn át, không tŕnh bày sự kiện lịch sử khách quan, cũng như có những nhận định lệch lạc thiếu khảo chứng, đồng thời gạt bỏ rất nhiều sự kiện quan trọng. Ngô Chẩn viết bộ Tân Đường Thư Củ Mậu vạch ra bốn trăm sáu mươi điều sai lầm trong bộ Tân Đường Thư và phê phán rất nặng: “Chẳng biết cách biên soạn, chỉ noi theo ư thích của riêng ḿnh”.

[18] Ngũ Tứ là phong trào vận động của sinh viên, học sinh và công nhân Trung Hoa, nổ ra quyết liệt vào ngày Bốn tháng Năm năm 1919 nên gọi là phong trào Ngũ Tứ. Sau khi Đệ Nhất Thế Chiến kết thúc, trong hội nghị kư kết hiệp ước Versailles, khối Đồng Minh đă giao chủ quyền tỉnh Sơn Đông từ Đức cho Nhật Bản, chẳng cần đếm xỉa đến ư kiến của chính quyền Quốc Dân Đảng khiến quần chúng bất b́nh, dấy lên phong trào phản đối chính quyền Dân Quốc, quy kết Trung Hoa suy yếu là do hệ thống tư tưởng Khổng Mạnh và các tư tưởng cũ kỹ, lạc hậu khiến cho con người nô lệ, ươn hèn. Một cuộc biểu t́nh lớn tại Thiên An Môn đă nổ ra ngày Bốn tháng Năm năm 1919 với hơn ba ngàn sinh viên từ mười ba trường đại học, cũng như đ̣i xử tội ba nhân vật thân Nhật trong chính quyền thời ấy là Tào Nhữ Lâm, Lục Tông Dư, Chương Tông Trường. Phong trào bùng nổ khắp 22 tỉnh thành lớn và 150 thành phố của Trung Hoa như Thiên Tân, Thượng Hải, Nam Kinh v.v... khiến chính quyền Dân Quốc phải cách chức ba người nói trên và từ chối kư hiệp ước Versailles. Phong trào này đề xướng xóa bỏ tư tưởng cũ để noi theo trào lưu tiến bộ của Tây phương, đồng thời xóa bỏ Văn Ngôn, chủ trương dùng Bạch Thoại, cấm sử dụng sách Nho trong nhà trường, hạ bệ Khổng Tử với khẩu hiệu “đả đảo Khổng gia điếm” (đả đảo tiệm buôn họ Khổng).

[19] Hồi Sát (回煞), hoặc Hồi Sảnh (回眚) là một niềm tin xưa cũ của Trung Hoa, theo đó, trong ṿng bảy ngày sau khi chết, người chết sẽ được quỷ dẫn trở về thăm nhà. Nếu phạm trùng tang, trùng nhật, trùng nguyệt v.v... người chết sẽ bắt người thân chết theo. Để biết chính xác ngày nào th́ phải nhờ đạo sĩ tính toán. Tối hôm ấy, những người phạm tuổi phải lánh mặt kẻo người chết bắt đi, đồng thời phải cúng tế, trấn yểm để người chết không làm hại người sống.

[20] Đỗ Bá là hậu duệ của Đan Châu (con vua Thuấn), làm đại thần của Châu Tuyên Vương Cơ Tĩnh (?-782 trước Công Nguyên). Châu Tuyên Vương nghe nói phụ nữ có hại cho giang sơn nhà Châu bèn hạ lệnh bắt thật nhiều phụ nữ đem giết, ngay cả trẻ gái cũng giết sạch. Đỗ Bá can gián nhưng Châu Tuyên Vương không nghe, giết chết Đỗ Bá. Về sau, Châu Tuyên Vương mộng thấy bị Đỗ Bá bắn chết, kinh sợ, ngă bệnh rồi qua đời.

[21] Năm 597 trước Công Nguyên, Tần Hoàn Công sai Tuân Lâm Phụ làm nguyên soái tấn công nước Tấn, Ngụy Khỏa dẫn quân chống cự. Trong lúc giao chiến, có một cụ già cứ bện cỏ ngáng chân dũng tướng Đỗ Hồi của quân Tần. Đỗ Hồi vô ư ngă chổng kềnh, bị quân Tấn bắt sống, quân Tần đại bại. Đêm ấy Ngụy Khỏa nằm mộng thấy cụ già đến bảo: “Tôi là cha của nàng ái thiếp của cha tướng quân (Ngụy Thù)”. Lúc Ngụy Thù sắp chết đă dặn Ngụy Khỏa phải đem nàng ái thiếp bồi táng, nhưng Ngụy Khỏa nghĩ Ngụy Thù sắp chết nói sảng, nên không làm theo. V́ thế, cụ già hiện thân ngáng chân Đỗ Hồi để đền ơn.

[22] Chẳng biết chuyện này thật sự có hay không, nhưng xưa kia, người Trung Quốc quan niệm chết ở đâu đều phải đưa về quê an táng. Nếu nhà nghèo, chi phí hộ tống quan tài về quê rất tốn kém, nên mới có chuyện hay gởi quan tài quàn lại chùa hay đạo quán của đạo sĩ cho tới khi có tiền sẽ đưa về quê chôn cất. Có truyền thuyết cho rằng những người nghèo quá, không đủ tiền thuê thuyền, xe chở quan tài hay quàn tạm tại chùa, miếu, bèn nhờ đạo sĩ dùng thuốc Cương Thi Tán để giữ cho xác chết không hư, dán một lá bùa yểm mặt người chết, đạo sĩ đi trước lắc linh, xác chết sẽ nhảy ḷ c̣ theo nhịp linh để về đến nhà. Do truyền thuyết này mà phim ảnh Hồng Kông thường làm khá nhiều phim về cương thi (quỷ nhập tràng) nhảy ḷ c̣ truy đuổi người sống khi lá bùa yểm mặt bị bóc ra.

[23] Chúc Do (祝由) là một thứ ma thuật về y học của Trung Quốc cổ đại, chủ yếu là dùng phù chú để chữa bệnh. Theo các nhà nghiên cứu, Chúc có nghĩa là chú nguyện, Do là nguyên do. Thuật Chúc Do sử dụng rộng răi các phương pháp chữa mẹo, phù chú, kể cả ám thị tâm lư lẫn thôi miên để trị liệu. Thuật Chúc Do được chia thành mười ba khoa mục như Đại Phương Mạch, Chư Phong, Thai Sản, Nhăn Mục v.v... dựa theo cách phân loại các chứng bệnh. Không rơ thuật Chúc Do đă có từ thời nào, người Hoa vẫn tin thuật này do Hiên Viên Hoàng Đế chế ra.

[24] Môn Khẩu Công là thần trấn cửa chính của một ngôi nhà theo tín ngưỡng dân gian.

Sàng Mẫu là một vị nữ thần chuyên cai quản giường trong nhà theo tín ngưỡng của người Mân Nam (Phước Kiến). Vị nữ thần này chuyên bảo vệ trẻ con khỏi bệnh tật, ngăn ngừa ma quỷ quấy phá chúng. Có thuyết nói Sàng Mẫu chính là Bà Thư (người Việt thường gọi là Bà Mụ, số lượng dao động từ bốn đến mười hai vị), hoặc những nữ thần chuyên bảo vệ sanh nở và trẻ con (Chủ Sanh Nương Nương) như Thất Tinh Nương Nương, Lâm Thủy Phu Nhân v.v...

Phổ Độ Công chính là biến tướng của Tiêu Diện Đại Sĩ trong Đạo giáo. Theo Phật giáo, Tiêu Diện quỷ vương xuất hiện trước mặt ngài A Nan dưới h́nh dạng mặt bốc lửa, đau đớn dị thường, bảo A Nan ba ngày sau sẽ chết và đọa trong ngạ quỷ, A Nan kinh sợ cầu Phật cứu vớt, đức Phật dạy phương pháp thí thực, cúng dường Tam Bảo, dùng đà-la-ni gia tŕ vật cúng để thí cho chúng ngạ quỷ. Đây là nguồn gốc của các khoa nghi Mông Sơn, Du Già Diệm Khẩu và Thủy Lục Khoa Nghi trong Phật môn. Do Diệm Nhiên là Quán Thế Âm Bồ Tát hóa thân nên c̣n được gọi là Diệm Nhiên Đại Sĩ hay Tiêu Diện Đại Sĩ. Đạo giáo bèn lấy ngay h́nh tượng của Ngài, bịa đặt có một vị thần gọi là Tiêu Diện Đại Sĩ Vũ Lâm Giám Trai Phổ Độ Chân Quân là hóa thân của Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn, cai quản cơi âm, quản lănh hết thảy các quỷ thần cơi âm, trực thuộc quyền của Địa Quan Đại Đế và thường gọi là Phổ Độ Công hay Đại Sĩ Gia.

Địa Cơ Chủ (thần chủ nền đất) c̣n gọi là Địa Chủ Thần, Địa Chủ Công, Thổ Trạch Công v.v... là vị thần bảo hộ nhà cửa. Địa Cơ Chủ c̣n bao gồm vong linh, cô hồn trong một cuộc đất hoặc những chủ nhân đă khuất của căn nhà ḿnh đang ở. Có người c̣n cho rằng thần Thổ Địa, Long Thần, Vũ Di Vương (thần núi Vũ Di) cũng được xếp vào các vị Địa Cơ Chủ. Người Hoa tại vùng Hoa Nam thường thờ chung vị này trong một bài vị với thần Tài gần cửa ra vào với danh xưng Tiền Hậu Địa Chủ Tài Thần và Ngũ Phương Ngũ Thổ Long Thần để thờ Địa Cơ Chủ.

[25] Câu này trích từ sách Luận Ngữ, thiên Vi Chánh. Sách Lễ Kư Thế Pháp giảng: “Con người chết đi gọi là quỷ. ‘Phi kỳ quỷ’ tức là không phải tổ tiên của chính ḿnh, chẳng nên tế lễ mà cứ tế lễ, tức là hành vi siểm nịnh”.

[26] Tam sanh (三牲), theo nghĩa gốc, con vật để nuôi th́ gọi là Súc (), khi dùng riêng để cúng th́ gọi là Sanh (). Theo cổ lễ, để trọn ḷng hiếu kính, phải dùng ba loài động vật bày cỗ cúng, một thuộc loài phi cầm, một thuộc loài thú chạy, một thuộc loài có vảy. Về sau này, không hiểu sao thường dùng lợn, ḅ, dê để cúng (nhất là trong cỗ Thái Lao của nhà vua cúng Thái Miếu); có nơi chủ trương dùng ngựa, ḅ, dê là Tam Sanh. Tại miền Nam, chữ Tam Sanh thường hay bị đọc trại thành Tam Sên.

[27] Đát Kỷ (妲己, thường bị ghi sai thành Đắt Kỷ hoặc Đắc Kỷ) là sủng phi của Trụ Vương (tên thật là Tử Thọ, thụy hiệu là Đế Tân. Trụ Vương là thụy hiệu do nhà Châu đặt cho). Có thuyết nói Đát Kỷ là con gái của Tô Hộ (một viên quan của Trụ Vương), thuyết khác nói Đát Kỷ là công chúa của nước chư hầu Hữu Tô. Theo Sử Kư, sắc đẹp của Đát Kỷ hiếm thấy trên cơi đời, nhưng tính t́nh âm hiểm, dâm đăng, tàn độc, phong thái lả lơi, kiều mỵ say đắm ḷng người, bày ra đủ tṛ để thỏa măn thú ăn chơi bệnh hoạn, như từng ra lệnh cho ba ngàn cung nữ trần truồng múa hát cho họ coi, cũng như chế ra “tửu tŕ” để vừa bơi lộn trong ao rượu vừa uống thỏa thích. Tiểu thuyết Phong Thần Diễn Nghĩa đă tô vẽ Đát Kỷ là con hồ ly chín đuôi do bà Nữ Oa sai xuống phá nát cơ nghiệp nhà Ân Thương.

Bao Tự là người nước Bao, theo truyền thuyết là cô nhi, do một cung nữ đạp phải nước dăi rồng hoài thai đẻ ra, cho là yêu quái, đem vứt đi, được một thợ săn nước Bao đem về nuôi dưỡng, có sắc đẹp lộng lẫy nên được tuyển vào cung của Châu U Vương (năm 799 trước Công Nguyên), khiến Châu U Vương (Cơ Cung Niết) say đắm, xao nhăng chánh sự. Bao Tử trở thành sủng phi, sanh được một con trai tên là Bá Phục. Bao Tự ít cười, U Vương t́m đủ mọi cách lấy ḷng, nghe theo kế của Quắc Thạch Phụ nổi lửa Phong Hỏa Đài để triệu tập chư hầu tại Ly Sơn. Chư hầu tưởng giặc xâm lăng kinh thành, gióng trống dồn quân đến cứu, nào ngờ chẳng thấy ǵ phải tiu nghỉu lui binh, Bao Tự thấy cảnh ấy, bật cười khoái trá. Do ghen tuông, chánh cung hoàng hậu họ Thân thừa dịp U Vương đi săn, bèn dẫn các cung tần xông vào cung đánh đá Bao Tự đến nỗi sảy thai. Khi trở về, nghe tin, giận dữ, U Vương liền phế Thân Hậu và thái tử Nghi Cữu, đuổi ra khỏi cung, lập Bao Tự làm hoàng hậu, Bá Phục làm thái tử. Thân Hậu dẫn Nghi Cữu chạy về nước Thân (thuộc huyện Bắc Dương, tỉnh Hà Nam hiện thời) mách với cha, cha bà ta là Thân Hầu liền cấu kết với chư hầu các nước Tăng, Lă v.v… dẫn quân Khuyển Nhung tấn công Cảo Kinh. Khi ấy, Châu U Vương và Bao Tự vẫn đang dâm lạc, vua nghe tin chẳng lo lắng ǵ, sai người đốt lửa Phong Đài cầu cứu chư hầu, nhưng chư hầu tưởng vua đùa bỡn, không ai đến cứu. Quân Khuyển Nhung giết chết U Vương và Bá Phục, bắt Bao Tự đem đi chẳng biết kết cuộc ra sao. Cảo Kinh bị đốt cháy tan hoang, Cơ Nghi Cữu lên ngôi vua, tức Châu B́nh Vương phải dời kinh đô về Lạc Ấp (sau này là Lạc Dương), sử gọi nhà Châu từ thời Châu B́nh Vương trở đi là nhà Đông Châu.

[28] Nguyên văn “dương xuân bạch tuyết, hạ lư ba nhân”. “Hạ lư ba nhân” là từ ngữ chỉ những ca khúc thông tục quê mùa trong dân gian. Vào thời Chiến Quốc, Tống Ngọc là một danh nhân thuở ấy nói chuyện với vua Sở Tương Vương. Vua hỏi: “Nghe đồn có nhiều người nói xấu ông, chắc là ngôn hạnh của ông có lắm chỗ sai trái phải không?” Tống Ngọc thưa: “Xin đại vương thứ lỗi, cho phép thần kể một câu chuyện. Có một kẻ ca hát bên ngoài đến Dĩnh Đô, ở giữa chợ hát những ca khúc thông tục. Hát lên, có những kẻ ḥa giọng đến mấy ngàn người. Sau đó, đổi sang hát những ca khúc thông tục cao sang hơn, kẻ hát theo chỉ c̣n vài trăm. Đến khi hát những khúc cao siêu, hay tuyệt, ưu nhă như Dương Xuân Bạch Tuyết đ̣i hỏi phải có kỹ thuật diễn xướng rất cao, người có thể hát theo chỉ c̣n lơ thơ mấy người. Đấy chẳng phải là v́ ca khúc khó nghe, mà v́ khúc hát quá cao nhă, rất ít người ḥa giọng theo được. Cũng vậy, những kẻ phê b́nh thần là bọn b́nh phàm, dung tục, làm sao có thể hân thưởng, liễu giải thần là người như thế nào?” Do vậy, sau này từ ngữ “hạ lư ba nhân” trở thành từ ngữ phiếm chỉ những ǵ thông tục, hời hợt.

[29] Tượng là em cùng cha khác mẹ của vua Thuấn. Cha vua Thuấn là Cổ Tẩu, tánh t́nh hung bạo, mẹ Thuấn chết, Cổ Tẩu bèn lấy vợ kế đẻ ra Tượng. Cổ Tẩu, mẹ kế và Tượng thường hành hạ vua Thuấn, thậm chí nhiều lần mưu sát vua Thuấn. Từ rất nhỏ, vua Thuấn đă phải làm lụng vất vả để nuôi gia đ́nh. Vua Nghiêu nghe tiếng, truyền ngôi cho vua Thuấn.

[30] Hội Hồng Vạn Tự (the Red Swastika Society) là một tổ chức từ thiện mang danh xưng Phật giáo, họ dùng chữ Vạn để thay cho chữ Thập trong Hồng Thập Tự. Năm 1916, Ngô Phước Vĩnh (quê ở Tân Huyện, tỉnh Sơn Đông) sáng lập đạo viện, đề xướng hợp nhất ngũ giáo (Nho, Thích, Đạo, Hồi và Thiên Chúa Giáo). Đạo Viện thực chất là một chi phái của Tiên Thiên Đạo, tức tiền thân của Nhất Quán Đạo. Đến năm 1921, họ Ngô cùng với Tiền Năng Huấn, Đỗ Bỉnh Dần, Lư Giai Bạch xúc tiến tổ chức hội Hồng Vạn Tự tại Bắc Kinh. Hội được chính thức thành lập vào năm 1922 tại Tế Nam, thành lập các phân viện tại Thiên Tân, Bắc Kinh, Tế Ninh. Năm 1923, dời tổng hội về Bắc Kinh, hợp nhất với đạo viện thành hai cơ cấu song hành. Theo họ, chữ Hồng biểu thị tấm ḷng thiên chân của trẻ con, sáng ngời, trong vắt, chữ Vạn tượng trưng cát tường, như ư, đồng thời có nghĩa là tám phương bốn hướng, vận hành không ngừng.

[31] “Viên quang” là một loại pháp thuật phổ biến trong dân gian Trung Hoa. Người biểu diễn pháp thuật sẽ dùng một tấm gương tṛn, dùng vải hay giấy bọc lại, sau đó dùng dầu mè bôi lên tay giấy và tay rồi niệm chú, bảo hai đứa trẻ nh́n vào kiếng, nói ra những cảnh tượng chúng thấy trong đó. Họ dùng h́nh thức này để cầu tiên hỏi về chuyện đă xảy ra trong quá khứ hay trong tương lai, nhất là t́m tin tức của người mất tích. Thậm chí có kẻ dùng cách này để coi ḿnh có duyên theo học với vị thầy nào!

[32] Văn là Văn Thiên Tường, Sử là Sử Khả Pháp, hai vị này đều là những bậc danh Nho nổi tiếng thời Nam Tống, tận trung báo quốc.

[33] Đàn Đảo tức là quần đảo Hạ Uy Di (Hawaii). Tương truyền Honolulu xưa kia có nhiều cây đàn hương mọc hoang nên người Hoa gọi Honolulu là Đàn Hương Sơn và gọi quần đảo Hawaii là Đàn Đảo.

[34] Bộ sách này có tên gọi đầy đủ là Quảng Từ Uyển (Kōjien), bộ sách này thoạt đầu do học giả Tân Thôn Xuất (Shinmura Izuru) chủ biên, do nhà xuất bản Iwanami Shoten (Nham Pha Thư Điếm) phát hành lần đầu ngày 25 tháng Năm năm 1955, hiện thời đă được tái bản sáu lần, là một bách khoa từ điển rất đồ sộ, có hơn hai mươi ba vạn từ mục.

[35] Âm gốc tức âm dựa theo mặt chữ Hán th́ từ ngữ Bát Nhă sẽ đọc là Ban Nhược (Bān Rụ).

[36] Theo cách đọc chữ này của người Quảng Đông ở Việt Nam sẽ nghe từa tựa như Bón Dẹt, có người đọc nghe như là Bún Dề. Cách đọc của pháp sư Bân Tông hầu như rất phổ biến khi đọc chữ này theo âm Quan Thoại.

[37] Trong tự viện Trung Hoa thường thờ một vị thần hộ pháp ở trai đường, mặt xanh, tóc đỏ, tay cầm búa, đó là Đại Thánh Khẩn Na La Vương Bồ Tát, thường gọi là Giám Trai Sứ Giả. Theo pháp sư Ấn Thuận, vị này có trách nhiệm hộ liêu, trông nom nhà bếp, nhà kho, bảo vệ tài sản của nhà chùa. Theo Hà Nam Phủ Chí, tại chùa Thiếu Lâm vào niên hiệu Chí Chánh (1341-1370) đời Nguyên, có một vị tăng đầu bù, tóc rối, cởi trần, chân đất, chỉ quấn một cái quần, làm lụng trong bếp suốt mấy năm, chẳng biết pháp danh là ǵ. Khi giặc Hồng Cân xâm chiếm Dĩnh Châu, kéo đến cướp phá Thiếu Lâm, vị tăng ấy cầm một cây hỏa côn xông ra, biến thân cao hơn mười trượng, đứng ngất ngưởng như quả núi, giặc trông thấy kinh hăi rùng rùng bỏ chạy. Vị tăng hét lên: “Ta là Khẩn Na La Vương” rồi biến mất. Do vậy, Tăng chúng đắp tượng để thờ, tôn là thần Già Lam của Thiếu Lâm, tôn xưng Ngài là Giám Trai Sứ Giả, thờ ở trong trai đường. Trong Bách Trượng Tùng Lâm Thanh Quy Chứng Nghĩa Kư có ghi chép nghi Tế Táo vào ngày Hai Mươi Bốn tháng Sáu, Hai Mươi Bốn tháng Chạp và mồng Ba tháng Tám, đại chúng vân tập trước giờ Ngọ, gơ bang (mơ dài h́nh cá), đánh ba hồi trống, Trụ Tŕ đối trước bàn Giám Trai Sứ Giả niêm hương lễ bái. Trong nghi thức thù ân chúc tán của Thiền Môn mỗi nửa tháng cũng có bài tán Giám Trai Sứ Giả: “Giám Trai Sứ Giả, hỏa bộ oai thần, điều ḥa bách vị tiến duy hinh. Tai hao vĩnh vô xâm, hộ pháp an tăng, thanh chúng vĩnh mông ân. Nam-mô Hộ Pháp Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát”.

[38] Bộ Pháp Trụ Kư do tôn giả Khánh Hữu soạn. Trước đó, ngài Tân Đầu La được kể tên hai lần, nên đến thời Càn Long, các tôn đức đă khảo cứu kinh tạng và quy định mười tám vị La Hán là Tân Độ La Bạt La Đọa Xà (Pindola-bhara), Ca Nặc Ca Phạt Tha (Kanaka-vatsa), Ca Nặc Ca Bạt Ly Đọa Xà (Kanaka Bharadvaja), Tô Tần Đà (Suvinda), Nặc Cự La (Nakula), Bạt Đà La (Bhadra), Ca Lư Ca (Karika), Phạt Xà La Phất Đa La (Vajra-putra), Thú Bác Ca (Svaka), Bán Thác Ca (Panthaka), La Hỗ La (Rahula), Na Già Tê Na (Nagasena), Nhân Yết Đà (Ingata), Phạt Na Bà Tư (Vanavasin), A Thị Đa (Ajita), Chú Đồ Bán Thác Ca (Cuda-panthaka), Ca Sa Nha Ba (Kasyapa, tức ngài Ca Diếp), Nạp Đáp Mật Đáp Lạp (Maitreya, tức ngài Di Lặc).

[39] Pháp Giới An Lập Đồ là một bộ sách gồm ba quyển do pháp sư Nhân Triều soạn vào thời Vạn Lịch nhà Minh, có nội dung tŕnh bày về thế giới quan Phật giáo theo kinh Phật, bao gồm các đồ h́nh các thế giới (chẳng hạn h́nh vẽ Nam Thiệm Bộ Châu), các cơi cũng như những giải thích ngắn gọn về các duyên khởi như v́ sao có Hiền Kiếp v.v...

[40] Ma Hê Thủ La Thiên chính là một danh xưng khác của thần Thấp Bà (Shiva). Trong Mật Giáo vị này được gọi là Đại Hắc Thiên (Mahākāla), là thiên chúa của Sắc Cứu Cánh Thiên (Akanistha), và được coi là hóa thân của Đại Nhật Như Lai. Theo Ấn Độ Giáo, Shiva có nghĩa là đấng cát tường, hoặc thanh tịnh, tượng trưng cho sự hủy diệt và chuyển biến. Vị này c̣n có các danh xưng Mahādeva (Đại Thiên), hoặc Parameshwara (đấng tối thượng).

[41] Thập Sử (c̣n gọi là Thập Hoặc), tức là mười thứ căn bản phiền năo gồm tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến và giới cấm thủ kiến. Đây là triển khai của sáu căn bản phiền năo (tham, sân, si, mạn, nghi, bất chánh kiến), tức là bất chánh kiến tách ra thành năm thứ như thân kiến, biên kiến v.v... Do vậy, Thập Sử c̣n được gọi là Kiến Tư nhị hoặc, hay Kiến Tư phiền năo. Sử có nghĩa là sai khiến v́ chúng có tác dụng dẫn khởi con người tạo nghiệp, nẩy sanh vọng tưởng, phân biệt, chấp trước.

[42] Đây là những thuật ngữ dùng trong vấn đề truyền trao giới hoặc khi tăng chúng tụ tập tụng giới, yết-ma. Vị Tăng do bận chuyện ǵ khác chẳng đến tham dự đàn truyền giới hay bố-tát, yết-ma, bèn ủy thác một vị tỳ-kheo khác nói cho đại chúng biết ư kiến tán đồng hoặc điều mong mỏi của ḿnh th́ gọi là “thuyết dục”. Vị tăng nhận lời ủy thác gọi là “thọ dục”. Những điều được gởi gắm ấy được tuyên nói trước đại chúng th́ gọi là “dữ dục”.

[43] Dục Vô Giảm có nghĩa là mong muốn tế độ chúng sanh không chán đủ.

[44] Thái Công Vọng là hiệu của Khương Thượng (tự là Tử Nha), c̣n gọi là Khương Thái Công, Lă Vọng. Tổ tiên vốn họ Khương, dưới đời Ngu Thuấn do phù tá Đại Vũ trị thủy có công nên được phong ở đất Lă, nên chi họ này cũng gọi là Lă. Ông được Châu Văn Vương bái làm thầy với câu nói nổi tiếng: “Tự ngô tiên quân thái công viết: Đương hữu thánh nhân thích Châu, Châu dĩ hưng. Tử chân thị da? Ngô thái công vọng tử cửu hỹ” (thái công cha tôi đă nói: ‘Sẽ có thánh nhân phù tá nhà Châu hưng khởi. Đúng là Ngài đó chăng? Cha tôi mong mỏi Ngài đă lâu lắm rồi); v́ thế, người ta thường gọi Khương Thượng là Thái Công Vọng. Ông đă phù tá Châu Vũ Vương đánh thắng Trụ Vương, lập ra nhà Châu, được phong ở đất Tề.

[45] Thái Giáp tên thật là Tử Chí, c̣n được gọi là Tổ Giáp, là vua thứ tư của nhà Thương, cháu của Thương Thang, con Thái Đinh. Nhờ Y Doăn phù tá mà nhà Thương hùng mạnh, sau ba năm, vua tự cai trị, nhưng bạo sát bá tánh, Y Doăn phải đày vua ra biệt cung tại đất Động, sau khi vua cải hối, Y Doăn trao trả quyền bính, Thái Giáp trở thành một vị vua hiền lỗi lạc.

[46] Ngụy Thư là một trong hai mươi bốn bộ sử của Trung Hoa, do sử quan nhà Bắc Tề là Ngụy Thâu biên soạn, gồm 114 quyển, chép lịch sử của nước Bắc Ngụy kể từ thời Đạo Vũ Đế (Ngụy Thái Tổ Thác Bạt Khuê) đến khi Đông Ngụy Hiếu Tĩnh Đế (Nguyên Thiện Kiến) bị phế truất vào năm 550.

[47] Nguyên Thú là niên hiệu của Hán Vũ Đế (Lưu Triệt) từ năm 122 đến năm 117 trước Công Nguyên.

[48] Bác Sĩ Đệ Tử là sinh viên đang học tại trường Thái Học, vị thầy giảng dạy tại trường Thái Học gọi là Bác Sĩ nên những sinh viên đang học tại đó gọi là Bác Sĩ Đệ Tử. Sau khi học một thời gian, qua khảo hạch nếu đỗ đạt sẽ được bổ làm quan.

[49] Minh Trị (Meiji) là Thiên Hoàng thứ 122 của Nhật Bản, trị v́ từ năm 1867 đến năm 1912, có tên thật là Mutsuhito (Mục Nhân). Khi Minh Trị lên ngôi, thiên hoàng chỉ có hư vị, quyền hành nằm trong tay Mạc Phủ (Bakufu), kiểu giống vua Lê chúa Trịnh của Việt Nam. Lúc ấy, Nhật Bản theo chính sách bế quan tỏa cảng và quyền hành hoàn toàn nằm trong tay mạc phủ Đức Xuyên (Tokugawa). Trước đó, phó đề đốc M.C. Perry của hải quân Mỹ đă tấn công Nhật Bản, buộc Nhật phải chấm dứt chính sách ngăn cấm thương mại với phương Tây, buộc chính quyền Nhật kư một loạt hiệp ước bất b́nh đẳng với phương Tây. Năm 1867, khi lên ngôi, nhờ sự giúp đỡ của các lănh chúa và giai cấp tư sản, Minh Trị đă thành công ép buộc Đức Xuyên Khánh Hỷ (Tokugawa Keiki) từ bỏ ngôi Mạc Phủ và trao quyền lại cho nhà vua. Khi đă nắm được quyền lực thật sự, ông chủ trương cải tổ Nhật Bản theo hướng tư bản, Âu hóa, biến nước Nhật trở thành hùng cường, thậm chí đi theo chủ nghĩa quân phiệt. Sử thường gọi cuộc cải tổ ấy là Minh Trị Duy Tân (Meiji-ishin). Trong nỗ lực đề cao tinh thần dân tộc của Nhật Bản, chính quyền Nhật đă đề cao Thần Đạo (Shinto) mới là tôn giáo chính thống của Nhật Bản, đồng thời do giới tăng lữ Nhật có quan hệ quá mật thiết với Mạc Phủ trước đó, nên Phật giáo bị đàn áp, hạn chế dữ dội. Hơn nữa, Thần Đạo luôn đề cao vai tṛ “thần nhân” của Nhật Hoàng (theo đó, Nhật Hoàng được coi là con cháu trực hệ của Thái Dương Thần Nữ) rất có lợi cho vấn đề tập quyền và tôn sùng Nhật Hoàng tuyệt đối; trong khi Phật giáo chủ trương “tăng bất bái đế vương” nên càng gây ác cảm cho hoàng tộc. Nhà vua ra lệnh cấm không được thờ thần chung với Phật, cấm sử dụng pháp khí nhà Phật trong các thần xă (đền thờ thần), phá hủy nhà chùa. Tháng Tư năm 1781, chiếu chỉ buộc tăng ni ăn mặn, không được cạo đầu, phải kết hôn, không được dùng chữ Thích trước pháp danh và vẫn phải sử dụng tên ngoài đời. Măi cho đến cuối thời Minh Trị, các luật lệ và chỉ dụ hạn chế đạo Phật mới được băi bỏ. Tuy thế, nguồn gốc thoái hóa giới luật bắt nguồn xa hơn từ những người như Thân Loan (1173-1262) hoặc Nhật Liên (1222-1282) chủ trương sống đời tại gia vẫn có thể giải thoát, nhưng họ vẫn nhập nhằng, cạo đầu, ăn mặc như người tu, vẫn xưng là tăng sĩ, nên các tu sĩ thuộc Tịnh Độ Chân Tông và Nhật Liên Tông về sau lẽ ra chỉ là những tại gia cư sĩ vẫn được tôn xưng là đại sư và truyền giới thật sự như tăng chúng, thâu nhận đệ tử, khai tông lập phái dẫn đến t́nh trạng tăng tục lẫn lộn tại Nhật Bản. Các “ni sư” của Nhật Liên Tông uốn tóc, trang điểm như người thường, đi ra ngoài thậm chí đến dự hội nghị ni giới toàn thế giới hoàn toàn mặc âu phục, chỉ khi làm lễ mới mặc áo tràng, đắp y.