Phật Học Vấn
Đáp Loại Biên
佛學問答類編
Phần
6
Lăo cư sĩ Lư Bỉnh
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
(theo bản in của Lư Bỉnh Nam Lăo
Cư Sĩ Toàn Tập Biên Tập Ủy Viên Hội, Đài
Loan, 2007)
Giảo chánh: Đức Phong và Huệ
Trang
* Hỏi: Một, theo Phật pháp nói,
mỗi vị Phật xuất thế có ba thời kỳ là
Chánh Pháp, Tượng Pháp, Mạt Pháp. Cuối thời Mạt
Pháp, kinh điển bị diệt hoàn toàn, cớ sao trong thời
đại của Phật Thích Ca vẫn c̣n có di giáo của
Phật Ca Diếp? (Tôi thấy kinh Tứ Thập Nhị Chương
có câu “sa-môn đêm tụng kinh
Di Giáo của Phật Ca Diếp”). Hai, dựa theo lời
giải thích trong sách Thái Hư Toàn Tập: “Pháp của Ca Diếp Phật, vốn đă diệt hoàn
toàn, nhưng Phật Thích Ca do đại trí nên có thể hiểu
rơ, truyền giáo pháp ấy cho sa-môn”. Lại c̣n giải
thích: “Trong thời Phật Ca Diếp,
Phật Thích Ca là Hộ Minh Bồ Tát. Đến khi Phật
Ca Diếp diệt độ, Thích Ca thành Phật, nên Phật
Thích Ca có thể truyền thừa di giáo của Phật Ca
Diếp”. Chiếu theo lời giải thích của Thái Hư
đại sư th́ có đúng hay không? (Phương Minh hỏi)
Đáp: Hai câu hỏi này thuộc về cùng một
chuyện, chẳng cần phải nói tách ra. Lời giải
thích của Thái Hư đại sư làm sao có thể sai được?
Ông lại uổng công rủ ḷng hỏi tôi, tức là bỏ
lôi âm[1] để cầu tiếng
trống ếch vậy!
* Hỏi: Theo như kinh Phật dạy, Phật Phật đạo đồng,
quá khứ chư Phật nói như vậy, hiện tại Phật
nói như vậy, vị lai Phật cũng nói như vậy.
Đă là “đạo đồng”, cần ǵ Phật Thích Ca lại
tốn công trùng tuyên di giáo của Phật Ca Diếp? Nay đă
trùng tuyên là v́ dụng ư nào? Xin hăy đáp cặn kẽ! (Phương
Minh hỏi)
Đáp: Đạo
đă tương đồng mà pháp được nói cũng
chẳng có hai đường. Nếu khác nhau, làm sao có thể
là “cùng một đạo” cho được? Nhưng vị
Phật trước đă diệt độ, vị Phật
sau thị hiện, trong khoảng thời gian đó, năm
tháng, kiếp số lâu dài, kinh điển của vị Phật
trước đă chẳng c̣n trong cơi đời, vị Phật
sau thị hiện nhằm tuyên nói pháp ấy. Nếu không,
Ngài đến cơi này để làm ǵ? Giả sử vị Phật
sau đến cơi này, chẳng nói ra, ai biết trước
kia đă từng có Phật và vị Phật ấy đă từng
thuyết pháp?
* Hỏi:
Các loài thai, noăn, thấp, hóa trong Diêm Phù Đề sanh sôi chẳng
dứt, chẳng biết thiên tiên và loài quỷ trong cơi âm có
chuyện sanh dục hay không? (Cát
Hiểu Phàm hỏi)
Đáp:
Ba đường thiên, tiên, quỷ đều chưa thoát luân
hồi, báo hết đều chết. Hễ đă có chết,
liền có sanh.
* Hỏi:
Trong cơi âm, trừ địa ngục, ngạ quỷ ra, c̣n
có những chỗ cư trụ của các loài quỷ thông
thường hay không? (Cát Hiểu
Phàm hỏi)
Đáp: Gọi
là “âm gian” hay “dương gian” là những danh xưng phát xuất
từ quan điểm sai lầm của ngoại đạo
do chẳng hiểu chân tướng của hai thứ thế
gian (hữu t́nh thế gian và khí thế gian). Trên thực tế,
thế gian chia ra sáu đường, ngạ quỷ đạo
và địa ngục đạo đều là một trong các
đường ấy. Quỷ có nhiều loại, địa
ngục có nhiều tên, xin hăy tham khảo biểu đồ
trong phần phụ lục tác phẩm Di Đà Kinh Trích Chú vụng
về của tôi sẽ biết đại lược.
* Hỏi:
Trong sách Kỹ Lộ Chỉ Quy nói Thích Ca Mâu Ni Phật kể
từ năm thứ hai mươi sáu đời Châu Chiêu Vương
cho đến nay là hai ngàn chín trăm bảy mươi tám
năm và Phật lịch ghi trên quư tạp chí là hai ngàn năm
trăm mười bốn. Lại chép Thích Ca Mâu Ni mười
chín tuổi xuất gia, ba mươi tuổi thành đạo.
Dựa theo sách Phật Giáo Thánh Điển dịch từ
tiếng Nhật th́ đức Phật kết hôn lúc mười
chín tuổi, lại sống trong vương cung mười
năm rồi mới xuất gia, ba mươi lăm tuổi
thành đạo. Chưa biết bên nào đúng, nên căn cứ
theo bên nào? Xin hăy chỉ dạy ḥng thỏa ḷng mong! (Diệp Thiên Hộ hỏi)
Đáp: Vấn
đề này tranh chấp đă lâu, rốt cuộc vẫn
chưa có kết luận nhất định. Các nhà khảo
cứu đă viết nhiều về điều này, mỗi
người đều có lập luận chứng tỏ ḿnh
đúng. V́ lịch Ấn Độ và lịch Trung Quốc
rất khó phù hợp, ngay như lịch Trung Quốc giữa
Tam Đại (Hạ, Thương, Châu) cũng khác nhau, nhưng
[sự kiện] Thích Tôn sanh trước thời Khổng Tử
và Lăo Tử th́ không ai dị nghị. Người xưa phần
nhiều ngả theo thuyết [đức Phật giáng sanh vào]
thời Châu Chiêu Vương [cách nay] hơn hai ngàn chín trăm
năm. Thuyết [Phật giáng sanh cách đây] hơn hai ngàn
năm trăm năm do dựa theo bộ Chúng Thánh Điểm
Kư để tính toán, người hiện thời phần
nhiều tuân theo. C̣n như độ tuổi xuất gia, thành
đạo, Trung A Hàm, Tăng Nhất A Hàm, kinh Niết Bàn,
kinh Bổn Hạnh Tập đều nói là hai mươi chín
tuổi, khổ hạnh sáu năm, đến ba mươi
lăm tuổi thành Phật, chứ không phải riêng bộ
Thánh Điển của người Nhật chủ trương
như vậy. Đối với thời điểm từ
khi đức Phật giáng sanh cho đến hiện thời,
tôi theo thuyết sau. Đối với độ tuổi [đức
Phật] xuất gia, thành đạo, tôi tuân theo các kinh như
A Hàm v.v... Tuy nhiên, kẻ hèn này chẳng thông hiểu lịch
số, chỉ chọn lựa theo kiến giải của
riêng ḿnh, thật sự chẳng dám chủ trương thuyết
nào là đúng!
* Hỏi:
Hai bên Quán Thế Âm Bồ Tát là Thiện Tài và Long Nữ, có
phải là Long Nữ trong kinh Pháp Hoa và Thiện Tài trong kinh Hoa
Nghiêm như đức Phật đă nói hay không? Hay là c̣n có
căn cứ nào khác, xin hăy dạy cặn kẽ! (Một độc giả ở
Sư Sơn hỏi)
Đáp:
Như kẻ hèn này biết th́ cũng là như vậy. Dẫu
có thuyết khác, tôi lấy hai kinh ấy làm căn cứ cũng
chẳng sai lầm.
* Hỏi:
Hải đăng[2] thắp
trước bàn Phật, trong nội địa hoàn toàn dùng dầu
đậu nành hoặc dầu đậu phụng, chén đèn
cũng được thay bằng một cái đĩa thủy
tinh tṛn để h́nh dung biển cả, ngày đêm thường
tỏa sáng. Loại hải đăng trong tỉnh này (Đài
Loan) đều dùng dầu hôi, thắp bằng hai loại dầu
trên đây rất ít, rốt cuộc loại dầu nào mới
đúng pháp? Xin hăy dạy cho! (Một
độc giả ở Sư Sơn hỏi)
Đáp: Hải
đăng trong nội địa thông thường dùng hương
du (tức dầu mè), c̣n chẳng dùng đến đầu
đậu nành, dầu đậu phụng v.v... Cúng Phật
tuyệt đối chẳng dùng dầu hôi, Đài Loan do thiếu
dầu mè nên có thể dùng dầu đậu nành, dầu đậu
phụng; bởi lẽ, dầu hỏa quá nhiều bồ hóng,
chẳng dùng th́ tốt hơn!
* Hỏi:
Kinh điển nhà Phật nói: Đă xuất gia, buông xuống
vạn duyên, chẳng c̣n quan niệm tục gia, tên họ cơi
tục cũng thay đổi, cớ sao trong tỉnh chúng ta
(Đài Loan), người xuất gia phần lớn tuy đă
xuất gia, xuống tóc, mặc hải thanh, nhưng chưa
thọ Cụ Túc Giới, vẫn dùng tên họ ngoài đời.
Có người chân đi giày theo kiểu thế gian, bên trong
mặc quần áo thế tục, bên ngoài đắp tổ
y (ca-sa), y bảy điều, hoặc y năm điều, nếu
bỏ áo bên ngoài ra, sẽ chẳng khác ǵ kẻ tục gia? (Nhan Triệu Văn hỏi)
Đáp: Người
đời nay cạo tóc chẳng thể đoan quyết họ
là người xuất gia. Nếu đối với người
chính thức xuất gia th́ c̣n có thể thảo luận những
điều ông vừa hỏi. Nếu không, chẳng thể
bàn luận được!
* Hỏi:
Nay tôi muốn phát tâm xuống tóc, nhập thất nhằm giải
thoát túc nghiệp và chướng nạn trong hiện tại,
tu làm bạn lữ trong cơi sen, thoát khỏi nỗi khổ luân
hồi trong sáu nẻo, chưa biết phải nên xin vào chùa
và gia nhập hàng ngũ Tăng Già như thế nào? Chưa
chắc các vị đại đức tăng già và chúng thường
trụ các chốn bảo sát[3] hiện thời có chịu thâu nhận làm
đồ đệ hay không? Kiên quyết cầu sám hối,
suy nghĩ lẩn thẩn, [chẳng biết] vị thầy
hữu duyên trụ tại ngôi chùa cổ nào? (Nhan Triệu Văn hỏi)
Đáp: Xuất
gia là chuyện khó khăn nhất, có lẽ nên tạm thời
nhẫn nại làm kẻ tại gia th́ hơn. Nếu đến
lúc cơ duyên chín muồi, sẽ lại bàn định vẫn
chẳng muộn!
* Hỏi:
Trong địa ngục, Địa Tạng Bồ Tát dùng phương
pháp ǵ để độ chúng sanh. Có phải là hiện thân
Bồ Tát độ chúng sanh? Chúng sanh được Ngài hóa
độ sẽ sanh về nơi đâu? (ẩn danh hỏi)
Đáp:
Giáo hóa tương ứng với căn cơ, há có pháp nhất
định? Tùy loại hóa thân, càng chớ nên chấp trước!
Các chúng sanh được Ngài hóa độ sẽ văng sanh
phương nào cũng phải xét coi nghiệp lực nặng
hay nhẹ để quyết định đi vào đường
nào. Như tù nhân trong thế gian, chợt được đại
xá, trong ấy, sẽ chia ra nhiều đẳng cấp, có
kẻ được giảm h́nh phạt mấy phần,
có kẻ được nhanh chóng thoát
ṿng tù tội, có kẻ trước kia làm quan lại, do phạm
tội bị giam, lần này được ân xá, lại
được phục hồi chức cũ, đủ mọi
t́nh cảnh, sao có thể nói là cùng một giuộc được?
* Hỏi:
Nay xin cụ hăy nói đại lược phạm vi của
người tại gia học Phật? (Lă Thuận Vận hỏi)
Đáp: Chỉ
nói theo phương diện học tập và nghiên cứu giáo
nghĩa th́ tại gia hay xuất gia trọn chẳng có phạm
vi. Nếu luận về lễ nghi và thọ giới, ắt
có sự phân cách giữa xuất gia và tại gia.
* Hỏi:
Kinh dạy: “Sanh Phật bất
nhị” (chúng sanh và Phật chẳng hai), cớ sao có các
nẻo thiên đường, địa ngục, lục
đạo? (Lă Thuận Vận
hỏi)
Đáp: Phật
và chúng sanh đều là tánh này. Mê gọi là chúng sanh, cho nên có
lục đạo. Đại giác gọi là Phật, nên trọn
đủ tịnh đức. Do tánh là một nên nói “bất
nhị”, do mê hay giác nên sẽ bị nghiệp lôi dẫn vào
các nẻo khác nhau.
* Hỏi:
V́ sao Phổ Hiền hạnh nguyện được tôn là
“nhập đức chi môn”
(cửa nẻo để chứng nhập đức hạnh)?
Xét ra có sự thù thắng như thế nào? (Lă Thuận Vận hỏi)
Đáp: Hạnh
nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát tột bậc rộng
lớn, nên gọi là Đại Hạnh Nguyện Vương.
Học Phật quư ở chỗ phát Bồ Đề tâm, nên
phải lấy hạnh nguyện của
Bồ Tát làm khuôn mẫu. Có sự thù thắng như thế
nào th́ chẳng thể bằng vài lời mà nói trọn
được, ông nên đọc phẩm Hạnh Nguyện
của kinh Hoa Nghiêm th́ mới biết.
*
Hỏi: Tứ Y Pháp do kim khẩu của đức Phật
nói ra, trong ấy có dạy “nương
theo kinh liễu nghĩa, đừng nương theo kinh chẳng
liễu nghĩa”, nhưng chẳng chỉ rơ kinh điển
nào? V́ trong Giáo chia thành các tông, mỗi
tông đề cao một số kinh nào đó là liễu nghĩa,
rốt cuộc theo ư Phật, kinh nào mới là liễu nghĩa?
(Lă Thuận Vận hỏi)
Đáp: Liễu
nghĩa là giảng rơ thật nghĩa rốt ráo, có thể
làm cho chúng sanh nương theo đó chứng Vô Thượng
Chánh Giác. Nếu chẳng như vậy, sẽ chẳng phải
là liễu nghĩa. [Kinh liễu nghĩa] cũng chẳng giới
hạn trong tông nào! Bởi lẽ, mỗi tông có kinh điển
riêng để y cứ, nương theo đó mà quy nguyên (trở
về nguồn cội). Hễ quy nguyên bèn là chân thật; nhưng
cũng có chút phân biệt! Nói theo Đại Thừa th́ Tiểu
Thừa được coi là bất liễu nghĩa. Nói
theo Tiểu Thừa, tiểu quả nhân thiên được
coi là bất liễu nghĩa.
* Hỏi:
Lúc Vô Trước Bồ Tát nhập quán tại nước
A Du Xà (Ayodhyā), mọi người thấy Di Lặc Bồ
Tát hiện thân, đích thân đọc ra kinh Thập Thất
Địa, có thật là Di Lặc Bồ Tát đến nước
ấy giảng kinh, hay là do tác dụng nào mà thành? (Lă Thuận Vận hỏi)
Đáp: Phật,
Bồ Tát thị hiện, nếu nghi là giả th́ lời lẽ
trong kinh không ǵ chẳng đáng nghi. Có cảm ắt ứng,
đó là tác dụng, tức là do tác dụng ấy mà thành.
* Hỏi:
Trí Giả đại sư là hóa thân của Phật Thích Ca,
nếu lời ấy là thật, ắt phải có thể đến
đi tự do, chẳng tổn hại mảy may. Cớ
sao, lúc lâm chung Ngài nói: “Nếu
ta chẳng lănh chúng, ắt tịnh sáu căn. Do tổn ḿnh,
lợi người, chỉ chứng Ngũ Phẩm”? Xét
theo ư nghĩa của câu nói ấy, tợ hồ trở ngại
cái tâm lănh chúng (Bồ Đề tâm) của người
đời sau! Sợ rằng người đời sau
[nghe nói như vậy] đều chẳng muốn lănh chúng,
trở thành một kẻ chỉ lo tự độ, là mầm
cháy, hạt lép, có phải như vậy hay là không? (Lại Đống Lương hỏi)
Đáp: Câu
hỏi này chia thành ba đoạn [để trả lời]:
1. Nói một
vị thầy nào đó là hóa thân của một vị Phật
nào đó, có hai nghĩa:
a. Mang ư
nghĩa suy tôn nên sánh ví như vậy.
b. Thành Sở
Tác Trí của Phật vô lượng biến hóa, dùng trí quang
đă biến hóa ấy để gia bị một vị sư
nào đó th́ vị sư ấy trở thành hóa thân của vị
Phật đó.
2. “Chẳng
lănh chúng” không phải là “chẳng hoằng pháp, độ chúng
sanh”. Lănh chúng cố nhiên là độ chúng sanh, nhưng độ
chúng sanh cũng chẳng chỉ giới hạn trong một
pháp lănh chúng!
3. Nói “chỉ chứng Ngũ Phẩm”
là đáp lời hỏi của kẻ khác. Nếu nói theo sự
thật, v́ Sư lănh chúng, nhưng công quả [thành tựu]
có sớm hay trễ, sợ người đời sẽ nghi
dẫu Sư tinh tấn như thế mà chỉ chứng Ngũ
Phẩm, [vậy th́] kẻ chưa bằng Sư vẫn chưa
nắm chắc [sẽ thành tựu]. [Sư trả lời như
vậy với] dụng ư nhằm ngăn ngừa kẻ khác
nguội lạnh tấm ḷng. Đă muốn trên cầu Phật
quả, ắt phải độ chúng sanh. Căn cơ to lớn,
thành tựu trễ tràng là lẽ tất nhiên. Nếu là kẻ
tự lo giải thoát cho riêng ḿnh, quả vị tột bậc
sẽ là La Hán, tam đức chẳng tṛn, bậc đại
tâm chúng sanh quyết chẳng mong chóng thành tiểu quả.
* Hỏi:
Quán Âm hiện thời chính là Chánh Pháp Minh Như Lai trong quá
khứ, trong thời kỳ nào Ngài sửa danh xưng thành Bồ
Tát và nguyên nhân là như thế nào? (Giang Ấn Thủy hỏi)
Đáp: Chánh
Pháp Minh Như Lai đổi danh xưng thành Bồ Tát trong
nhiều kiếp trước xa xôi, chẳng có cách nào tính toán
thời kỳ ấy được! Nếu hiểu gượng
ép th́ có thể nói “đến nay là mười kiếp”. Phỏng
theo đó, Ngài đổi thành Bồ Tát chẳng thể sau
mười kiếp được! Bản dịch kinh Thiên
Thủ Thiên Nhăn Đại Bi Tâm Đà La Ni của ngài Già Phạm
Đạt Ma có đoạn: “Dĩ
ư quá khứ vô lượng kiếp trung, dĩ tác Phật
cánh, hiệu Chánh Pháp Minh Như Lai” (trong vô lượng
kiếp quá khứ, Ngài đă thành Phật, hiệu là Chánh Pháp
Minh Như Lai). Đại từ nguyện lực, an lạc
chúng sanh, nên thị hiện làm Bồ Tát, đấy là nguyên
nhân.
* Hỏi: Cổ đức
nói Trí Giả đại sư là hậu thân của Phật
Thích Ca, nay th́ tổ sư Ấn Quang là hóa thân của Đại
Thế Chí Bồ Tát. Đấy là tán thán đức hạnh
của hai vị đại sư có thể sánh như Thích
Ca, Thế Chí, hay là hai vị đại sư thật sự
là Phật, Bồ Tát nương theo nguyện độ
sanh, giáng thức nhập phàm vậy? (Giang Ấn Thủy hỏi)
Đáp: Đối với
ư nghĩa hóa thân, hăy nên xem câu trả lời cư sĩ Lại
Đống Lương trong trang trước. Ở đây,
lại mở rộng hơn:
1. Phật, Bồ Tát ứng
theo sự cảm triệu của chúng sanh, dùng trí quang tạm
thời hóa hiện thân h́nh, như người lâm chung, hóa Phật
đến đón, và hết thảy các tướng tùy thời
hóa hiện (chẳng hạn cuộc trong loài người)
nhằm lợi ích chúng sanh.
2. Sanh mạng của hữu
t́nh chúng sanh nói chung do ba đầu mối tinh cha, huyết
mẹ, thần thức hợp thành (c̣n có những thứ
khác nữa). Nếu Phật, Bồ Tát dùng một phần trí
quang và tinh huyết hợp thành thai, đấy cũng chính
là hóa thân.
3. Bậc Địa Tiền
Bồ Tát nhập thai, có thể nói là “thác chuyển” (chuyển đổi từ thân này
sang thân khác, nương gá vào thân mới)[4]. Nếu là Phật và Đẳng Giác, chỉ
là Đại Viên Kính Trí, há c̣n có thể nói là “thác chuyển”?
* Hỏi: Nếu Phật,
Bồ Tát hóa thân th́ hai vị đại sư khi tại thế
chẳng giống lũ phàm phu chúng ta. Các Ngài trọn chẳng
tích lũy mảy may ác nghiệp trong vô lượng kiếp
và chẳng có ba thứ nghiệp chướng như vô minh v.v...,
là bậc đại thánh nhập phàm, trở thành một phàm
phu, từ lúc ra khỏi thai mẹ cho đến khi dự vào
hàng sa-môn trong khoảng thời gian ngắn nhất, nghiệp
chướng mê hoặc chẳng c̣n mấy, tu đạo há
chẳng phải là dễ thành tựu hay sao? (Giang Ấn Thủy hỏi)
Đáp: Lai lịch của
hai vị đại sư tôi chẳng thể suy lường,
ư nghĩa của hóa thân đă được nêu bày như
trên. Nếu là Phật, Bồ Tát ứng thế, trọn chẳng
phải là thác chuyển, cũng chẳng bị [mê khi] “cách Ấm”.
Như tám tướng thành đạo của đức Thích
Tôn, chẳng qua thị hiện giống như phàm phu, há c̣n
có nghiệp chướng ǵ nữa, thành tựu dễ dàng!
* Hỏi: Sau
khi các Ngài tịch diệt, thần
thức phải trở về hợp nhất với Pháp
Thân vốn có của Phật, Bồ Tát, [như vậy th́]
trong cơi Phật, lẽ ra chẳng nên có Trí Giả Bồ
Tát, Ấn Quang Bồ Tát? (Giang Ấn
Thủy hỏi)
Đáp: [Phật, Bồ
Tát dùng] một phần trí quang [kết hợp tinh huyết
của cha mẹ để] nhập thai th́ sau khi tịch diệt,
có thể nói là ứng hiện huyễn thân ǵ đó. C̣n phân
quang gia bị một người nào đó (tức là Phật,
Bồ Tát dùng một phần trí quang để gia bị một
hành nhân khiến cho người ấy có trí huệ và đức
năng giống như các Ngài) th́ tự nhiên vẫn có thức
tướng của người ấy!
* Hỏi: Đức Thích
Tôn vừa chuyển pháp luân, liền nêu ra Tứ Đế;
du hành thuyết pháp, nhiều phen xiển phát ư nghĩa Tứ
Đế. Lúc nhập Niết Bàn, vẫn ân cần gạn
hỏi các đệ tử đă hiểu rơ Tứ Đế
hay chưa? V́ sao đức Phật chú trọng Tứ Đế
như vậy? (Châu Bang Đạo
hỏi)
Đáp: Tứ
Đế là hai tầng nhân quả thế gian và xuất thế
gian. Nói chung, hết thảy Phật pháp chẳng qua nhằm
làm cho chúng sanh chuyển mê thành ngộ, làm sao có thể vượt
ra ngoài lư Tứ Đế cho được? Hơn nữa,
Tứ Đế tuy một, mà có Sanh Diệt, Vô Tác[5] v.v...
cho nên nói khác biệt!
* Hỏi:
Phước đức và phước báo vốn là bất
liễu nghĩa, chẳng phải là nghĩa tối thắng,
chẳng phải là nghĩa rốt ráo, nhưng trong kinh đă
nhiều lần nói đến. Phẩm Tùy Hỷ Công Đức
của kinh Pháp Hoa c̣n nói thẳng thừng là “nhân thiên phước báo”. V́ hướng dẫn hết
thảy phàm chúng tin tưởng, ngưỡng mộ Phật
pháp, khuyến khích phàm nhân tận lực hành thiện nghiệp;
lại c̣n v́ hoằng dương Phật pháp, [để chúng
sanh] khỏi bị ảnh hưởng bởi các tôn giáo khác,
tôi trộm nghĩ chẳng ngại giảng bàn [phước
báo], chẳng cần phải nói phước báo thuộc về
phàm thừa, coi nhẹ, hạ thấp nó. Cũng v́ lư do ấy
mà đức Thế Tôn thuyết pháp, đă hạ thấp
những ư nghĩa từ Hoa Nghiêm, Phạm Vơng xuống thành
[các ư nghĩa trong các kinh] Đề Vị, A Hàm đấy
chăng? (Châu Bang Đạo hỏi)
Đáp:
Ngũ thừa thuyết pháp đều v́ khế cơ, vốn
chẳng bỏ nhân thiên. Những điều cư sĩ đă
nói đáng nên chấp nhận!
* Hỏi:
Khi đức Thích Tôn thuyết pháp, trừ các đệ tử
ra, chư Phật cũng đến tham dự đông đảo.
Trong kinh Lăng Nghiêm chép: Quán Thế Âm Bồ Tát là một
trong hai mươi lăm vị đệ tử [của Phật
Thích Ca]. Kinh Duy Ma Cật nói Văn Thù Sư Lợi Bồ
Tát là thầy của bảy đức Phật. Thích Tôn và các
vị Phật có quan hệ ra sao? Ngôi vị như thế nào?
Ai trước? Ai sau? Ai là thầy? Ai là tṛ? Trong tâm tôi đầy
ắp nghi hoặc, xin hăy dạy những nét chánh yếu! (Châu Bang Đạo hỏi)
Đáp: Chư
Phật b́nh đẳng, chẳng cần phải phân chia ngôi
thứ, gượng ép sắp xếp như trong Thế Đế.
Nếu từng là đệ tử của quá khứ Phật,
như Thích Tôn và Nhiên Đăng Phật, Di Đà và Thế
Tự Tại Vương Phật, sẽ có quan hệ thầy
tṛ. Chư Phật tham dự pháp hội, phần lớn trụ
trong Định, chẳng chia ngôi vị thứ tự đầu
hay cuối. Trong quá khứ, ngài Văn Thù Sư Lợi tuy là
thầy của bảy đức Phật, nhưng trong thời
đức Thích Tôn, Ngài hiện làm Bồ Tát, địa vị
thuộc vào hàng đệ tử.
* Hỏi:
Ngủ gà ngủ gật là bệnh tâm thần hay bệnh nơi
nhục thể? Có cách nào trị tận gốc hay không? (Lại Đống Lương hỏi)
Đáp: Hành
tŕ mà ngủ gà ngủ gật tức là tâm sở Hôn Trầm,
có liên hệ đến mặt tinh thần lẫn thân thể.
Ngoài lúc tụng niệm công khóa, hăy nên tán tŕ danh hiệu Phật
cho nhiều, vọng niệm ít dấy lên, luôn luôn sám hối;
cách này có thể trị được chứng hôn trầm
phát sanh từ thân thể. Ngoài ra, dùng hai tay chà tai, lấy khăn
thấm nước lạnh lau mặt, lớn tiếng niệm
Phật. Nếu con ma ngủ vẫn chẳng rời đi,
liền đứng dậy lễ Phật, hoặc nhiễu
Phật, thực hiện [những cách này] ngay trong khóa niệm
cũng được!
* Hỏi:
Phàm phu Bồ Tát phải thường chẳng rời Phật,
nhẫn lực thành tựu mới kham ở trong tam giới,
ở trong đời ác cứu chúng sanh khổ (lời của
Trí Giả đại sư). Trí Độ Luận lại nói:
“Phàm phu đầy dẫy triền
phược có tâm đại bi, nguyện sanh trong đời
ác cứu khổ chúng sanh, chẳng có lẽ ấy!” Lại
nói: “Ví như có hai người,
mỗi người đều có thân quyến bị ch́m
trong nước, một người do nóng ḷng, lao thẳng
vào nước cứu, v́ thiếu sức phương tiện,
nên đôi bên cùng bị chết đuối”. Đoạn
văn ấy há chẳng phải là khác biệt rất lớn
với tông chỉ “khuyên phát Bồ
Đề tâm, chí tại lợi người khác, làm cho khắp
hết thảy chúng sanh ĺa khổ được vui” ư?
Nếu chẳng hóa độ chúng sanh, tức là kẻ chỉ
cầu giải thoát cho riêng ḿnh, là mầm cháy, hạt lép th́
làm sao được? (Lại
Đống Lương hỏi)
Đáp: Bồ
Đề tâm là thượng cầu hạ hóa, trí lẫn bi
cùng vận dụng. Nếu chẳng cầu trí, chỉ nghĩ
cứu kẻ khác, đôi bên đều chẳng thành tựu!
Lời Luận hay lời Tổ [dạy như vậy] là v́
sợ người ta chấp lệch vào một phía, chẳng
có ích ǵ cho thực tế! Cứu người khác cần phải
có các thứ phương pháp. Nếu không có phương pháp,
làm sao có thể cứu người khác? Ví như chính ḿnh là
thầy thuốc th́ mới có thể chữa bệnh cho kẻ
khác. Nếu chẳng có thầy thuốc, thấy người
khác bệnh khổ, khuyên kẻ ấy t́m thầy chữa
trị th́ cũng là bi tâm, trọn chẳng phải là không được!
Bọn học nhân chúng ta nay khuyên người khác quy y Phật
đạo, học Phật, niệm Phật cũng v́ lẽ
đó! Các đoạn văn như ông đă nêu ra trên đây
chỉ là nói với kẻ phàm phu đầy dẫy triền
phược chưa thể cứu người khác, trọn
chẳng phải là cấm khuyên người khác cầu cứu.
Điều này có ǵ là trái nghịch với Bồ Đề
tâm?
* Hỏi: Khi
xướng tán có xoang điệu và không có xoang điệu
th́ công đức có sai biệt hay không? (Huệ Lâm hỏi)
Đáp: Chỉ
cần cung kính th́ công đức ngang nhau.
* Hỏi:
Muốn t́m lợi ích thật sự nơi Phật pháp, cần
phải cầu từ cung kính, xin hăy chỉ dạy cung kính là
như thế nào? (Châu Huệ Đức
hỏi)
Đáp:
Cung là tâm giữ ḷng thành, Kính là biểu hiện ra ngoài, chẳng
cần biết là thượng cầu hay hạ hóa, đều
chẳng cẩu thả chút nào!
* Hỏi:
Người lúc mạng chung, mặc y phục như thế
nào là thích đáng? (Châu Huệ
Đức hỏi)
Đáp: Người
học Phật nên mặc áo hải thanh, nhưng cũng chớ
nên quá câu nệ, chỉ cần không mặc các thứ tơ
lụa là được rồi!
* Hỏi:
Khi Thích Ca Mâu Ni Phật vào địa ngục độ
chúng sanh, Ngài có biết ḿnh chính là Phật hay chăng? (Châu Huệ Đức hỏi)
Đáp: Giác
hạnh viên măn mới gọi là Phật. Đă nói là “viên măn”
th́ chẳng c̣n mê nữa, c̣n như vào trong các đường
để độ chúng sanh, đều là thần thông du hư.
Pháp Thân bất động, chẳng giống như phàm phu
đầu thai bị mê khi cách ấm.
* Hỏi:
Hễ mất thân người, vạn kiếp khó trở lại
được. V́ sao thân người quư báu như thế, nếu
có thể sanh lên thiên đường, hết thảy khổ
năo sẽ giảm đi hơn phân nửa. Nếu muốn
niệm Phật cầu sanh Tây Phương, chẳng phải
là dễ hơn mấy ngàn vạn lần ư? Cớ sao hưởng
hết phước trời, sẽ đâm ra đọa lạc
vậy? (Huệ Đức hỏi)
Đáp: Trên
trời vui nhiều, khổ ít, quả thật chẳng dễ
tu! Vui nhiều ắt sẽ tham chấp, chẳng bỏ được;
ít khổ nên đạo tâm chẳng sanh. Hăy thử nh́n người
đời, những nhà có cao lương mỹ vị, có mấy
kẻ giác ngộ sanh tử vô thường, sanh khởi đạo
tâm? Họ gần như chỉ biết sáng vui, chiều sướng,
sống một ngày kể là một ngày, phú quư nhỏ tí ti,
ngắn ngủi mà c̣n mê đắm, huống hồ sự
vui to lớn trên cơi trời! Kính khuyên cư sĩ: Chớ nên
sanh lên trời, đừng sanh lên trời!
* Hỏi:
Thích Ca Thế Tôn đă thành Phật từ nhiều kiếp,
nương theo nguyện mà xuất thế, nên chẳng mê
khi cách ấm, cớ sao nói vào ngày mồng Tám tháng Chạp,
Ngài thấy sao Mai mới đại ngộ? (Huệ Quán hỏi)
Đáp: Tám
tướng thành đạo đều là giả thị hiện,
[đức Phật] thị hiện [những tướng ấy]
nhằm làm khuôn mẫu dạy người đời sau thứ
tự trong tu hành. Thấy sao Mai chứng đạo là một
trong các hạnh thị hiện ấy; chẳng phải là đến
lúc đó Ngài mới ngộ!
* Hỏi:
Các tượng Phật, Bồ Tát vẽ hay khắc được
thờ trong các tự viện và trong các gia đ́nh hiện
thời, nếu nh́n ngắm bằng mắt phàm, [sẽ thấy]
dường như đa số là thân phụ nữ, nhưng
theo kinh điển, rơ ràng là trong cơi Phật Tây Phương
chẳng có nữ nhân. Vẽ khắc thành thân phụ nữ
là do nguyên nhân nào? (Hoàng Quảng
Tâm hỏi)
Đáp: Bồ
Tát có h́nh tượng tại gia và xuất gia. Tượng để
tóc, đeo anh lạc là tượng tại gia Bồ Tát, trọn
chẳng phải là thân nữ! Cũng có vị cố ư thị
hiện thân nữ, tức là Quán Âm tùy loại hóa thân vậy!
* Hỏi:
Đối với tượng Phật ắt phải cung
kính, nhưng tượng Phật bị dính bụi bặm,
dùng phương pháp nào để trừ bỏ mà chẳng
phạm tội vô lễ? (Lâm Mộng
Đinh hỏi)
Đáp: Dành
riêng chổi sạch, khăn sạch để lau dọn bụi
bặm cho tượng Phật, đó là cung kính.
* Hỏi:
Đời người đă có gia đ́nh, không thể nào
chẳng v́ điều kiện ăn, mặc, cư ngụ
thấp nhất mà lao tâm, lao lực, phục vụ xă hội,
càng chẳng thể không cầu toàn đại ngă và tiểu
ngă mà nhọc nhằn thân tâm, có thể nói là không lúc nào, không
chỗ nào, không ǵ chẳng vướng mắc, dấy động
căn, trần, ư thức. Đă thế, văn bối tánh t́nh
cứng cỏi, thẳng thắn, hễ gặp chuyện bất
b́nh, nếu chẳng có cách nào rút đao tương trợ,
ắt tâm sẽ bực bội, phiền muộn khá lâu. Gặp
chuyện đáng thương xót, ắt ḷng áy náy một thời
gian dài! Biết rơ đó là đại chướng ngại cho
việc cầu giải thoát, nhưng tích tập quá sâu,
thường chẳng mong như vậy, nhưng biết rơ
mà vẫn cố phạm, kính xin cụ hăy dạy phương
tiện giải thoát! (Tưởng
Đáp: Phần
này nên chia thành ba đoạn để trả lời:
1. Hết thảy lợi
dưỡng trong đời người gọi là y báo,
đều có số phận nhất định, tận hết
sức ta, nhưng c̣n phụ thuộc vào nó (số phận),
hăy dùng nhân quả để xét lẽ được - mất,
ắt sẽ giảm thiểu các lỗi lầm trong hành động.
2. Gặp chuyện bất
b́nh, hăy coi [những kẻ đó] như quyến thuộc, ắt
tâm phẫn nộ tự lặng. Nếu nghĩ kẻ cậy
mạnh hiếp yếu rốt cuộc sẽ gặp ác báo,
ắt tâm thương xót nẩy sanh, sẽ có thể giải
trừ những mối vướng mắc khó giải quyết,
ắt mọi người vui vẻ, càng tốt lành hơn.
Rút đao tương trợ, càng tăng thêm tranh chấp, bực
bội, phiền muộn trong ḷng, tự chuốc phiền
năo, đối với ḿnh lẫn người, đều
chẳng có lợi ích.
3. Gặp chuyện đáng
thương xót, trong ḷng xót xa, đó là ḷng đại bi lưu
lộ, chính là gan ruột Bồ Tát, hăy nên giúp đỡ đối
phương tùy theo khả năng để được
an ḷng.
* Hỏi:
Phật học rất sâu, dẫu là giai cấp trí thức
vẫn thấy khó hiểu, khó nói, huống là lũ chúng ta ít
học, bất tài, có cách ǵ để khai trí huệ hay không?
Tôi cho rằng nên đề xướng cách thức Tán Ca[6] để Phật giáo phổ cập trong
đại chúng, so với phương pháp niệm Phật,
niệm kinh cũ kỹ sẽ dễ dàng hơn, và cảm
thấy thú vị hơn, có nên hay chăng? (Lă Chánh Lương hỏi)
Đáp: Dùng
Tán Ca để tăng thêm hứng thú, dẫn dắt người
khác học Phật, đích xác là chuyện tất yếu, Phật
giáo chưa hề chẳng dùng đến cách ấy. Trong các
bộ đại kinh như Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Vô Lượng
Thọ v.v... có rất nhiều kệ tụng, đều có
thể phổ thành các bài hát có nhịp điệu để
sau đấy dùng làm công khóa. Dâng hương có bài Hương
Tán, và c̣n có các thứ Phật Tán, lại có các bài tán kỳ
đảo, hồi hướng, Du Già, Diệm Khẩu, ca kệ
rất nhiều, đều nhằm tăng hứng thú cho tăng
nhân mà đặt ra. C̣n đối với việc niệm Phật,
niệm kinh, vốn chẳng thuộc ư nghĩa dẫn dụ,
niệm Phật thuộc về nội tu chuyên công, niệm
kinh mới có thể liễu giải giáo lư. Đấy chính
là vấn đề căn bản thuộc về nghiên cứu
và thực hành. Ca tán giống như âm nhạc trong tuồng
hát, kinh Phật giống như ca từ trong vở hát, hai
thứ đều chẳng thể bỏ được!
* Hỏi:
Thoạt đầu, Thích Ca Mâu Ni Phật vốn là phàm nhân, v́
sao Ngài biết có Tây Phương Tịnh Độ? Lại
c̣n biết phương pháp tu Phật để tu thành Phật?
Có phải là xưa kia Ngài cũng tu một tông trong năm tông?
Những vấn đề giống như vậy cần phải
đọc từ sách nào, có thể t́m được hay không?
(Lưu Định Xí hỏi)
Đáp: Thích
Tôn đă thành Phật từ nhiều kiếp lâu xa, v́ độ
chúng sanh trong cơi Sa Bà mà thị hiện nơi đây; do vậy,
hết thảy đều biết. Hơn nữa, tất cả
kinh giáo đều được nói sau khi Ngài đă thị
hiện tướng thành đạo, c̣n nghi chi nữa? Ông có
thể tham khảo sách viết về sự tích ứng hóa
của Thích Ca Mâu Ni Phật (tức cuốn Thích Ca Truyện
do pháp sư Đạt Hư của Đài Loan viết theo
lối văn vần, tuy đơn giản [nhưng đọc
sách ấy] cũng có thể biết đại khái).
* Hỏi:
Tràng hạt (xâu chuỗi) có tác dụng ǵ, bao nhiêu hạt,
chia làm mấy thứ, phải tự làm hay có thể mua? (Lưu Định Xí hỏi)
Đáp:
Tràng hạt dùng để tŕ tụng, các kinh ghi chép có những
điểm giống nhau và khác nhau. Về số lượng
[các hạt], nói chung có thể chia thành chín loại:
1. Một ngàn lẻ tám
mươi hạt, biểu thị mười giới, mỗi
giới có một trăm lẻ tám pháp tướng.
2. Một trăm lẻ
tám hạt, biểu thị một trăm lẻ tám phiền
năo hay một trăm lẻ tám vị tôn giả v.v...
3. Năm mươi bốn
hạt, biểu thị năm mươi bốn địa
vị của người tu[7].
4. Bốn mươi
hai hạt, biểu thị Thập Trụ, Thập Hạnh,
Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng
Giác, Diệu Giác [tổng cộng] bốn mươi hai cấp
quả vị.
5. Hai mươi bảy
hạt, biểu thị hai mươi bảy địa vị
thánh hiền thuộc Thanh Văn Thừa[8].
6. Hai mươi mốt
hạt, biểu thị Thập Địa vốn sẵn có,
Thập Địa do tu được, và Phật quả.
7. Mười bốn hạt
biểu thị mười bốn nhẫn[9].
8. Ba mươi sáu hạt,
chính là một phần ba của một trăm lẻ tám hạt.
9. Mười tám hạt,
chính là một nửa của ba mươi sáu hạt.
Hai loại này mang theo
tiện lợi, trọn chẳng có ư nghĩa ǵ. Trong các thứ
[tràng hạt] kể trên, học nhân trong nội địa Trung
Quốc chỉ chọn loại hai thứ là một trăm
lẻ tám hạt và mười tám hạt. Các loại kia, người
học Phật tại Nhật vẫn c̣n tiếp tục sử
dụng.
* Hỏi:
Tứ Đại Kim Cang như cơi đời thường
nói có địa vị như thế nào? V́ sao phải dùng
con số bốn? (Uông tiên sinh hỏi)
Đáp: Chẳng
biết ông nói Tứ Đại Kim Cang theo nghĩa nào? Có phải
là bốn vị trong Thiên Vương Điện hay không? Tượng
thờ trong ấy, chính giữa là Di Lặc, bên cạnh là bốn
vị thiên vương, có lẽ người đời thường
gọi các Ngài là Kim Cang. Nếu [ông hỏi] về các vị
này, bèn đáp rằng: Đây chính là tầng trời thứ
nhất, chia thành bốn phương, mỗi phương đều
có một vị vua thường hộ tŕ Phật pháp. Do vậy,
mới có số bốn. Địa vị của họ thấp
hơn Tam Thập Tam Thiên.
* Hỏi:
Thiên vương có tất cả bao nhiêu vị? Có phải là
trong ba mươi ba cơi trời mỗi cơi đều có người
chủ tŕ? (Uông tiên sinh hỏi)
Đáp: Mỗi
thế giới có hai mươi tám tầng trời; thế
giới vô lượng, nên thiên vương cũng khó thể
tính đếm. Tam Thập Tam Thiên là tầng trời thứ
hai, tức Đao Lợi thiên, là nơi Đế Thích ngự,
tục gọi vị này là Ngọc Hoàng Đại Đế.
Bốn phương cơi trời ấy xếp theo hàng ngang, mỗi
phương có tám cơi trời, [kể cả cơi trời chính
giữa của Đế Thích], gộp chung thành ba mươi
ba cơi trời. Mỗi cơi có thiên chúa. Nếu lấy chế độ
phân chia đất nước tại Trung Quốc vào thời
cổ để sánh ví sẽ dễ hiểu. Đế Thích
giống như thiên tử đời Châu, các vị trời
khác giống như vua các nước chư hầu.
* Hỏi:
Phật giáo đối với nghi thức cưới, tang là
như thế nào? (Trầm Hàn Sơ
hỏi)
Đáp: Lễ
tiết cưới xin và ma chay thuận theo tập tục địa
phương, Phật giáo đồ trọn chẳng có ǵ
đặc biệt. Bất quá tang lễ của người
xuất gia có chế định đặc biệt, chẳng
giống thế tục. Người tại gia không bị sự
hạn chế này, nhưng cũng có một hạn chế
nhỏ, như hôn lễ bèn hướng về Phật kính
lễ, thỉnh người có đức để chứng
hôn, thuyết giới chẳng tà dâm. Tang lễ chẳng noi
theo cách cầu siêu, cúng bái của ngoại đạo, chẳng
làm hết thảy những chuyện mê tín như cầu thần
quỷ, đốt giấy tiền, vàng bạc v.v... C̣n chuyện
đăi khách th́ chẳng cần biết là hôn lễ hay tang ma
đều nên dùng cỗ chay, răn cấm nhà bếp không được
sát sanh. Nếu v́ hoàn cảnh không áp dụng được
th́ cũng nên dùng năm thứ tịnh nhục (tức là
không thấy giết, chẳng nghe tiếng giết, chẳng
v́ ta mà giết, con thú tự chết, thịt do chim ăn c̣n
sót lại).
* Hỏi:
Dạng thức tự viện các nơi tại Đài Loan
phần lớn khác với nội địa, có phải là
giáo nghĩa cũng sai khác như thế hay chăng? (Trầm Hàn Sơ hỏi)
Đáp: Cùng
là Phật giáo, kinh nghĩa chẳng hai! Chẳng qua là nghi thức
và phương pháp tu tŕ có liên quan đến phong tục địa
phương, nên có khác với nội địa đôi chút
mà thôi!
* Hỏi:
Nguyên nhân khiến công đức niệm thánh hiệu Địa
Tạng Bồ Tát vượt trội vạn lần công
đức niệm danh hiệu các vị Bồ Tát là như
thế nào? (Trầm Hàn Sơ hỏi)
Đáp: Ông
có thể tham khảo, đọc Địa Tạng Thập
Luân Kinh[10] và Bổn Nguyện Kinh, trong ấy chép tường
tận các thứ công đức do Bồ Tát đă phát nguyện
nhiều kiếp, có thể nói là đối với lịch
sử của Địa Tạng Bồ Tát, cột báo này phân
lượng hữu hạn, chẳng thể nào trích dẫn
các đoạn kinh văn ấy.
* Hỏi:
Trong học thuyết Phệ Đà (Vedas) của Ấn Độ
giáo vốn có Nhân Minh (Hetu-vidyā), không chỉ được
coi là học thuyết tối cao thuở ấy, mà trong hiện
đại cũng được coi là lư luận hợp thời
đại nhất, có thể thấy giáo chủ của Ấn
Độ giáo đương nhiên có thành tựu vô ngại,
nhưng tôi chẳng hiểu Ngài chứng quả vị nào?
Gia Tô giáo là một tôn giáo lớn trên thế giới, vẫn
chẳng thấy Gia Tô (Jesus) sáng tác một học thuyết
cao sâu dường ấy, nhưng lại ngược ngạo
phát triển nhanh chóng hơn Ấn Độ giáo, lại chẳng
thể chứng minh Gia Tô có thành tựu, cớ sao biết ông
ta là trời? (Trí Hùng hỏi)
Đáp: Tôn
giáo Ấn Độ thờ Phạm Thiên, Phạm Thiên
(Brahma) thành tựu nơi Sắc Giới. Phật lư vừa
xuất hiện, như mặt trời treo giữa không
trung, lửa đuốc tự tắt. Đấy là nguyên
nhân khiến cho Ấn Độ giáo chẳng hưng thịnh.
Đạo Gia Tô thịnh hành ở Âu Châu, do chưa xuất
hiện những tôn giáo khác cạnh tranh với họ, lại
gặp các nước cường thịnh, hướng ra
bên ngoài làm thực dân. Đạo Gia Tô nhờ vào sức các
nước để phát triển rộng răi ra ngoài. Đấy
là nguyên nhân khiến họ phát triển. Tôn giáo ấy sùng bái
trời, mong sanh lên thiên đường, giáo đồ có thành
tựu hay không, người ngoài chẳng thể biết được!
* Hỏi:
Các thứ kinh điển đều xưng tán chính ḿnh có công
đức to lớn, giống như tục ngữ của
chúng ta có câu: “Lại đầu
nhi tử tự kỷ đích hảo” (kẻ chốc đầu
tự khen ḿnh đẹp), có phải là có khuyết điểm
trong ấy hay không? (Duy Bảo
hỏi)
Đáp:
Như Lai thuyết giáo, vốn để độ sanh, khế
lư và khế cơ, đối phương tự có thể ngộ
chứng, đó là công đức to lớn. Như thầy
thuốc trị bệnh, quan sát, chẩn đoán [biết bệnh
nhân mắc phải chứng bệnh] hư, thực, hàn, nhiệt,
cắt thuốc bổ, tả, ôn, lương[11], trị hết bệnh th́ toa thuốc ấy
tốt lành, khen ngợi mấy câu: “Toa thuốc này thật
hay quá”, như vậy th́ có khuyết điểm ǵ hay chăng?
* Hỏi: Vợ chồng,
mẹ con, có kẻ nói là do nhân duyên kiếp trước, có
kẻ nói là oán thù kiếp trước, rốt cuộc thuyết
nào là đúng? (Lâm Huệ Lan hỏi)
Đáp: Nhân
duyên vốn có hai tánh thiện và ác. Oán thù tất nhiên là ác
nhân duyên, ngược lại là thiện nhân duyên, nhưng nhân
duyên do tâm tạo, nên có thể do tâm xoay chuyển. V́ thế,
giữa người trong gia đ́nh mà có yêu ghét, sẽ có lúc
cũng nẩy sanh biến hóa.
* Hỏi:
Hiền Kiếp có một ngàn đức Phật xuất thế,
tôi có thể biết danh hiệu từ vị Phật thứ
nhất đến vị thứ một ngàn hay không? (Liêu Nhất Tân hỏi)
Đáp: Vị
đầu tiên tên là Câu Lưu Tôn Phật (Krakucchanda Buddha), vị thứ tư chính là Thích Ca
Mâu Ni Phật, vị cuối cùng là Lâu Chí Phật (Rucika
Buddha), danh hiệu cả ngàn, làm sao nêu trọn hết
được? Có ba loại kinh cùng mang tên Thiên Phật Danh
Kinh, ông có thể tham khảo. “Ba thứ kinh” [nói về] danh
hiệu của chư Phật trong Quá Khứ Trang Nghiêm (Vyūha kalpa), Hiện Tại
Hiền Kiếp (Bhadra kalpa), và Vị Lai Tinh Tú Kiếp
(Naksatra kalpa).
* Hỏi:
Phải đến năm mươi sáu ức bảy ngàn vạn
năm sau, Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật
mới giáng sanh, số năm ấy tính từ lúc nào? (Liêu Nhất Tân hỏi)
Đáp: Tính
từ sau khi Thích Ca Phật nhập Niết Bàn.
* Hỏi:
Hiện thời tôi bị chứng nhịp tim không ổn định,
cầu đức Phật từ bi nào sẽ có thể tránh
khỏi tai nạn ấy? (Phan
Quốc Vinh hỏi)
Đáp:
Niệm
* Hỏi:
Dùng pháp nào để khuyên khắp chúng sanh trong biển khổ
quay đầu là bờ? (Phan Quốc
Vinh hỏi)
Đáp: Điều
ấy cần phải ứng cơ thuyết pháp, trọn
chẳng có h́nh thái [nhất định]. Nếu đối
với người chẳng có thành kiến th́ nói lẽ nhân
quả, khuyên họ niệm Phật th́ cũng rất tốt
đẹp.
* Hỏi:
Tây Du Kư ai nấy đều biết, xin hỏi Đường
Tăng và Tôn Hành Giả, Trư Bát Giới v.v... có bằng
chứng ǵ để tra cứu hay không? (Vương Giới Nhất hỏi)
Đáp: Trong
Tây Du Kư chỉ có pháp sư Huyền Trang đời Đường
là một nhân vật tiếng tăm lừng lẫy trong lịch
sử, những kẻ khác đều là nhân vật ngụ
ngôn trong tiểu thuyết.
* Hỏi:
Câu nói “buông dao đồ tể
xuống, lập tức thành Phật” (tức là nói: Một
niệm thanh tịnh, tâm chẳng chấp trước, chẳng
cần biết quá khứ có thiện căn hay không) nay đă
trở thành câu khẩu đầu thiền của tăng lẫn
tục; nhưng kinh Di Đà dạy: “Chẳng thể do chút ít thiện căn, phước
đức, nhân duyên mà được sanh về cơi ấy”;
và dựa theo Phật lư trong điều thứ hai về thí
dụ sáu nút thắt trong kinh Lăng Nghiêm để luận,
buông dao đồ tể xuống cố nhiên có thể thành Phật,
nhưng phải cậy vào tu tập, chẳng phải là
ngay lập tức thành Phật. Có kẻ nói những điều
đă nói trên đây thuộc về Tiệm Giáo, chứ nói
theo Đốn Giáo sẽ có thể ngay lập tức thành Phật.
Trong kinh Lăng Nghiêm có nói: “Lư tắc
đốn ngộ, Sự phi đốn trừ” (về
Lư th́ có thể đốn ngộ, nhưng về Sự chẳng
thể đốn trừ). Dựa theo đó để giải
thích th́ [nói “buông dao đồ tể xuống, lập tức
thành Phật”] chính là đốn Lư, chẳng phải là đốn
Sự. Lại luận theo phía A La Hán và Bồ Tát, ngay trong lúc
buông dao đồ tể xuống, tâm niệm thanh tịnh,
nhưng vẫn phải trải qua nhiều kiếp tu hành mới
có thể thành Phật. Nếu không cậy vào tu tập, tâm
tịnh tức Phật, sẽ chẳng thể kiến lập
những giả danh như A La Hán, Bồ Tát. Huống chi Phật
Thích Ca thị hiện cũng phải tĩnh tọa sáu năm
dưới cội Bồ Đề mới khai ngộ thành
đạo. Gă đồ tể ấy do may mắn ǵ mà chẳng
cần phải nhờ vào tu tập, nhất niệm thanh tịnh
bèn lập tức thành Phật, [mọi phiền năo] tích tập
từ vô thỉ đều chẳng hiện hành, dù nhân hay
quả đều thật sự khiến cho người ta
mê hoặc? Câu “buông dao đồ
tể xuống, lập tức thành Phật” rốt cuộc
là chuyện cổ tích trong dân gian, chẳng hề có mảy
may chứng cứ thật sự, mê người, rối
ḿnh ư? Hay là có kinh Phật để tra cứu? Xin hăy giải
thích để được nghe chánh pháp! (La Đức Chương hỏi)
Đáp: Ở
đây có nhân thành và quả thành sai khác. Nếu nhiều kiếp
tu tŕ, chưa triệt ngộ, vừa nghe tiếng Phật,
bèn đốn ngộ Vô Sanh, đó là quả thành. Nghe một,
ngộ cả trăm, ngay lập tức gánh vác, vĩnh viễn
chẳng lui sụt, đó là nhân thành. Đốn thật sự
do Tiệm mà có, như ăn mấy tấm bánh, tuy do ăn
tấm cuối cùng bèn no, quả thật phải nhờ vào
mấy tấm bánh trước đó!
* Hỏi: Hẹ, tỏi,
hành đều là thực vật, thế tục bảo
chúng là đồ mặn, chẳng phải đồ chay, có
nghĩa như thế nào? (Ngô Diệu
Vinh hỏi)
Đáp: Thực
vật có mùi hôi thối th́ gọi là Huân (hăng nồng). Nếu
là động vật th́ gọi là Tinh (tanh tưởi). Xin
ông hăy xem chữ Huân (葷) thuộc
bộ Thảo, chữ Tinh (腥)
thuộc bộ Nhục, sẽ có thể hiểu ư nghĩa
của những chữ ấy.
Hỏi: Đối
với bệnh phổi, những năm gần đây do
khoa học phát triển, qua nghiên cứu ta biết có vi khuẩn
gây bệnh. Tây Y công nhận vi khuẩn có sanh mạng, chúng
nhờ vào huyết khí trong thân thể con người để
sanh sôi nẩy nở ngàn vạn. Chúng sanh nở càng nhiều
th́ bệnh phổi càng nguy ngập, lâu ngày có thể khiến
cho người bệnh bị chết, gây tổn thất
to lớn cho con người, có thể tiêu diệt chúng hay
chăng? Như những năm gần đây đă phát minh
thuốc chuyên trị bệnh phổi như Liên Mi Tố (Streptomycin)
v.v... có thể tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh, điều
này có phải là phạm giới sát sanh hay không? Tội ấy
thuộc về người phát minh hay thầy thuốc? (Ngô Lượng Huy hỏi)
Đáp: Gặp
hổ ăn thịt người, vung khí giới giết hổ
cứu người là do ḷng nhân từ bị khích động
trong nhất thời. Chuyện ngăn chặn kẻ cường
bạo và chuyện khinh nhờn kẻ ngu si, yếu đuối
nên đánh cá ăn thịt, động cơ (motivation) khác
nhau! Hiểu rơ điều ấy th́ vấn đề này sẽ
tự có thể giải quyết!
* Hỏi:
Người ăn chay trường hoặc Ưu Bà Tắc
có thể mua ái quốc tưởng khoán (công khố phiếu
ái quốc)[12] hay không? (Lư Vĩnh
Mậu hỏi)
Đáp: Đó
là chánh sách kinh tế của quốc gia, quốc dân có nghĩa
vụ ủng hộ. Đă chẳng phạm giới th́ có ǵ
là không được!
* Hỏi:
Đối với chuyện quy y Tam Bảo, lúc đối
trước Phật, chánh thức quy y th́ có phải ăn
chay hay không? Đồng thời có nhất định phải
bái sư hay không? Nếu phải bái sư, ắt cần phải
có cao tăng, chẳng biết cao tăng ở nơi nào? Hiện
thời, cao tăng từ Đại Lục ở Đài
Loan tuy đông, hiềm rằng ngôn ngữ chẳng thông, chẳng
thể triệt để thông hiểu những điều
họ chỉ dạy, làm như thế nào mới nên? Quy y Phật
và Pháp th́ đệ đă hiểu rơ, nhưng quy y Tăng có nhất
định phải bái sư hay không? Hay là c̣n có cách nào khác (Ngô Luân Bỉnh hỏi)
Đáp:
Cao tăng gốc người Đài Loan rất đông, xin
thứ lỗi v́ khó thể nêu tên từng vị, quê quán ở
nơi đâu! Có thể đến thẳng chỗ vị ấy
xin quy y, hoặc cũng có thể gởi thư xin quy y. Sau
khi quy y Tam Bảo có thể ăn chay th́ công đức mới
thù thắng. Dẫu chưa thể ăn chay, vẫn phải
kiêng giết, hăy nên ăn năm thứ tịnh nhục!
* Hỏi: Cơ duyên sát hại,
tai vạ chiến tranh to lớn [trong hiện thời], trước
kia chưa hề có! Nhằm lúc chiến tranh sôi nổi chưa
ngưng dứt, văn bối thân là quân nhân, nghĩ giáo hóa chỉ
có thể độ bậc thượng trí sơ giác, nhưng
nóng ḷng muốn cứu tai kiếp mênh mông trước mắt,
không thể nào chẳng dùng giết chóc để ngăn chặn
giết chóc, tuy thuộc vấn đề chữa trị đằng
ngọn, nhưng như thường nói: “Chẳng trừ bỏ cái ác, cái tốt lành làm sao yên ổn
được?” Chẳng biết có trái nghịch tông chỉ
nhà Phật hay không? (Tưởng
Đáp:
Thân làm quân nhân, mang chức trách bảo vệ đất nước,
che chở nhân dân, ngăn chặn kẻ khinh nhờn, dứt
trừ kẻ tàn bạo, cũng giống như hàng ma, cũng
là ban sự vô úy (không sợ hăi) cho chúng sanh, nhưng phải
lấy chuyện tiêu diệt sức chiến đấu của
đối phương làm điều chánh yếu, chớ
nên lạm sát.
* Hỏi:
Có kẻ đă quy y Tam Bảo nhưng chẳng ăn chay, và
người đă ăn chay nhưng chưa quy y rất nhiều,
những người ấy có thể gọi là kẻ chánh
tín hay không? (Lă Chánh Lương
hỏi)
Đáp: Đă
quy y Tam Bảo nhưng chưa thể ăn chay tức là tín
và hạnh chưa thể hợp nhất. Có thể tập
tành ăn ba thứ tịnh nhục để rồi dần
dần dứt hẳn. Nếu chỉ ăn chay, nhưng chẳng
quy y, sẽ chẳng thể nói là chánh tín, v́ các loại ngoại
đạo cũng có nhiều kẻ ăn chay.
* Hỏi: Phật giáo lấy
từ bi làm mục đích, chẳng giết chóc, chẳng bá
quyền, chiếm đoạt nước khác. Trước
kia, tôi đọc quư báo thấy nói vũ lực chớ nên
vượt ngoài mức độ tự pḥng vệ mà thôi,
bất cứ người nào trên thế giới đều
có nghĩa vụ tham gia quân dịch trong nước ấy.
Nếu là Phật giáo đồ, sanh nhằm nước xâm
lược, bị điều động vào đoàn quân xâm
lược, trong hoàn cảnh ấy nên xử lư ra sao? (Hồng Dật Thông hỏi)
Đáp: Chỉ có phục
tùng mạng lệnh, nghiêm ngặt đề pḥng lạm sát,
chuyện này giống như bị sai làm đao phủ, tuy
giết người, nhưng là nghĩa vụ thuộc về
chức trách, nhiệm vụ, chính ḿnh trọn chẳng gánh
tội sát nhân. Nếu đặc biệt làm cho kẻ bị
giết chóc đau khổ hơn th́ pháp luật chẳng cho
phép.
* Hỏi: Chuyên làm điều từ
thiện, ngăn ngừa cái thân chẳng giết chóc, răn
dè cái tâm chẳng tham lam, nhưng chẳng niệm Phật mà
cũng chẳng quy y Phật, lại c̣n chẳng sùng phụng
thiên thần, các tôn giáo, th́ cũng có thể thành chánh quả
hay không? (Hồng Dật Thông hỏi)
Đáp: Sẽ đạt
được tiểu quả nhân thiên chẳng rốt ráo!
* Hỏi:
Khi tán thán người ta, nếu thốt lời quá sự
thật th́ có phạm tội vọng ngữ hay không? (Duy Bảo hỏi)
Đáp: Đó
là một loại vọng ngữ! Đối với những
ǵ chính ḿnh đă biết, tùy ư tăng thêm, lời lẽ khoe
khoang, tô vẽ phù phiếm, giả dối, danh chẳng hợp
thực.
* Hỏi:
Đức Phật coi sát giới là trọng. Không chỉ chẳng
giết, mà c̣n phải phóng sanh. Nước ta nay sắp gặp
nạn đói kém, hăy nên lập cách tăng thêm sản lượng
(ắt phải trừ trùng rầy phá hoại mùa màng) để
cứu giúp. Nếu châu chấu bay đến, phải làm như
thế nào? Lại nữa, da dẻ mắc bệnh ghẻ
gúm, khiến cho toàn thân ngứa ngáy, nguyên nhân gây ngứa là v́
trên da có rất nhiều con ghẻ hoặc kư sinh trùng hoạt
động mà ra. Nếu chẳng dùng thuốc sát trùng để
trị chúng, không chỉ chính ḿnh chẳng lành bệnh, mà c̣n
có thể truyền nhiễm người khác. Nếu muốn
trị lành, ắt sẽ giết chết vô số sinh linh như
những con ghẻ, nên làm như thế nào? Lại c̣n các
sinh linh khác như vi khuẩn có tánh truyền nhiễm có hại
cho nhân loại, ngoài cách dùng thuốc giết chúng ra, chẳng
biết có phương cách mầu nhiệm nào để tránh
né hay không? Nếu gặp lúc bệnh dịch dữ dội
hoành hành, tẩy trùng rau dưa ắt giết hại vô số
sinh linh, há chẳng phải là phạm đại sát giới
ư? (Liêu Nhất Tân hỏi)
Đáp: Chuyện
này nên dự pḥng trước khi sự việc phát sanh là phương
pháp tốt nhất (như thường giặt quần áo
sẽ chẳng sanh rận rệp, trừ bỏ nước
dơ [ứ đọng] sẽ chẳng sanh muỗi ṃng, chẳng
quăng thực phẩm xuống đất để tránh
trùng kiến khỏi tụ tập vân vân). Nếu đă phát
sanh, mà có thể bỏ ḿnh thí cho chúng th́ hăy chịu đựng.
Nếu không, hăy lập cách để đuổi chúng đi,
hoặc cầu Phật gia bị khiến cho chúng tự bỏ
đi. Hăy chú trọng cách nào chính ḿnh có thể làm được
th́ tâm sẽ yên.
* Hỏi:
Từ thuở hai mươi tuổi, tệ nhân tự
động ăn chay. Kể từ khi sống trong quân ngũ
từ năm ngoái, bắt đầu ăn những thứ
chẳng phải là đồ chay thuần khiết, có cách nào
bù đắp tội ấy hay không? (Phan Quốc Vinh hỏi)
Đáp: Giữ
tâm ăn chay, tất nhiên là nhân từ. Dẫu chẳng thể
thuần khiết, cũng chẳng trở ngại ǵ! Cổ
đức gặp lúc bất đắc dĩ, vẫn có trường
hợp phải ăn rau bên cạnh thịt, nhưng chớ
nên tham vị, mượn mùi vị thịt để nấu
rau vậy!
* Hỏi: Tôi thường nghe người
học Phật nói: “Hết thảy
trong thế giới rốt ráo đều là Không”. Lại
theo Vật Lư Học, năng lượng và vật chất
của mọi thứ trong thế giới là bất diệt.
Như vậy th́ có mâu thuẫn hay không? Điều này đối
với tôi thật sự khó hiểu, kính mong cụ giảng
rơ! (Lư Xuân Phát hỏi)
Đáp: Phật
học nói “hết thảy
đều Không” là nói phàm những ǵ có h́nh tướng đều
do các duyên ḥa hợp, trọn chẳng có tự thể, chẳng
phải là nói “tiêu diệt”, v́ chúng vốn chẳng sanh, làm
sao nói là diệt cho được! “Vật chất” như
các nhà Vật Lư học nói cũng chỉ là giả tướng
do duyên hợp, vẫn chưa phải là tự thể!
* Hỏi:
Năm nay giữa trưa lễ Khất Xảo[13], Bất Huệ tĩnh tọa, ngẫu
nhiên cảm đại đức[14] hiện trước mặt, trước
sau được vô số Phật, Bồ Tát, thần làm hộ
pháp sư. Chắc là đại đức đă sớm tự
giác, đúng không? Xin hăy chỉ dạy! (Triệu Siêu hỏi)
Đáp: Đấy
là cảnh giới của chính đại đức[15], kẻ hèn này phiền năo chưa trừ,
chẳng biết mảy may. Chỉ dựa theo kinh Vô Lượng
Thọ để suy xét th́ phàm là người niệm Phật,
A Di Đà Phật thường phóng quang chiếu soi, nhiếp
thọ người ấy, trong quang minh hóa Phật, Bồ
Tát vô lượng, vô biên. Kẻ hèn này cũng là một chúng
sanh niệm Phật, đương nhiên giống những người
niệm Phật khác, cùng được Phật gia bị,
nên có lẽ có chuyện ấy. Chuyện ấy đủ để
chứng tỏ kinh dạy chẳng dối vậy!
* Hỏi:
Về chuyện phát âm khi tŕ tụng, có cần phải niệm
từng chữ rơ ràng hay không? Nói là “rơ ràng” chắc là bao gồm
cả chuyện phát âm phải chính xác, nhưng phải dựa
theo âm đọc nào mới là phù hợp yêu cầu? Có phải
là dùng tiếng Ba Lợi (Pali) làm tiêu chuẩn hay không? Nếu
đúng như vậy, dám hỏi đạo Gia Tô và Cơ Đốc
được tín phụng trong cơi đời có cần phải
thông hiểu tiếng Dĩ Sắc Liệt (
Đáp: Lời
Ngài bàn cực đúng, người Tần đọc theo âm
Tần, người Việt đọc theo âm Việt, trên
thực tế đă là như vậy từ lâu, chỉ cần
có sư thừa là được rồi! Chỉ có điều
người Tần đọc sai âm tiếng Tần, người
Việt đọc sai âm tiếng Việt th́ phải nên sửa
chữa [cho đúng]. C̣n nếu có người chẳng cần
biết có sư thừa hay không, cứ sửa giùm người
ta th́ cũng là hảo ư, chỉ có thể nói là chấp trước,
chẳng thể bài xích họ là ngoại đạo!
* Hỏi:
Trong phần trả lời cho câu hỏi của cư sĩ
Trần Giang Ái, đại đức đă chỉ đề
cao điều tốt lành của tiên sinh Âu Dương Tu
khi sửa chữa bộ Tân Đường Thư[17], cực hay! C̣n như tác giả bộ Tây
Du Kư dường như đă trọn hết nỗi khổ
tâm, dùng ngôn ngữ thông tục để mô tả quá tŕnh thỉnh
kinh gian khổ của pháp sư Huyền Trang (hết thảy
địa phương và những sản vật nơi đó
cho đến nay vẫn c̣n có thể chỉ ra đích xác),
diễn dịch thành loại tiểu thuyết chương
hồi, với dụng ư phổ biến thâm nhập dân
gian, ai nấy đều hay biết, dẫu kẻ nghèo hèn
chẳng biết chữ cũng có thể liễu giải. Đấy
chẳng phải là khiến cho những kẻ b́nh phàm cũng
chẳng quên công tích vĩ đại của pháp sư Huyền
Trang đó ư? Nếu dùng cách hành văn theo lối biên soạn
Sử Kư, tạo thành bộ luận to lớn, nếu chẳng
phải là bậc đại nho sẽ chẳng dễ ǵ thông
hiểu được! Huống chi Phật pháp gặp ách
nạn Tam Vũ, sợ lại gặp ách nạn Tam Văn
hoặc Ngũ Tứ[18] th́ pháp sư Huyền Trang ắt sẽ
bị đả đảo giống như Khổng gia điếm!
Có phải hay không? (Triệu
Siêu hỏi)
Đáp: Đấy
là cách nh́n của đại đức, nói đúng ra, cũng
chẳng phải là không đúng. Thật ra, bộ tiểu
thuyết Tây Du Kư trọn chẳng ghi sự thật, mượn
chuyện ngài Huyền Trang cầu kinh để đùa bỡn
bút mực, phô diễn những chuyện ngụ ngôn mà thôi!
Huyền Trang đại sư có viết bộ Đại Đường
Tây Vực Kư, trọn chẳng có những sự tích của
Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Hồng Hài Nhi, Ngưu Ma
Vương v.v...
* Hỏi:
Theo đại chúng xướng niệm và lễ Phật,
có người gièm pha là diễn tuồng trước Phật,
vậy th́ phải làm sao th́ mới có thể lễ bái đúng
pháp, phù hợp thật tướng trang nghiêm? (Khoan Hữu hỏi)
Đáp:
Thật sự trọn ḷng thành, đó là đúng pháp; chẳng
mất quy củ, đó là đúng lễ nghi. Kẻ khác nói này
nói nọ là quyền tự do của họ. Chúng ta chỉ
tự xét ḷng ḿnh, khi lễ tán có chân thành hay không mà thôi? Nếu
giống như những kẻ làm kinh sám, chẳng để
tâm vào đó, hời hợt cho xong chuyện, chuốc lấy
sự cười chê của kẻ khác, ta cũng chẳng
có cách nào che lấp được!
* Hỏi:
Lễ Vu Lan, Phật giáo đồ dâng cúng trăm món cúng
dường Tam Bảo, tu pháp lễ sám, báo trọng ân của
Phật và cầu siêu tiên linh, bố thí chúng sanh trong quỷ
đạo, đối với chuyện có nên đốt giấy
tiền, vàng mă hay không, chưa thể luận định dứt
khoát. Dựa theo kinh điển Tiểu Thừa đă từng
ghi chép chuyện đốt giấy tiền, vàng bạc nhằm
thỏa măn tham niệm của chúng sanh trong quỷ đạo.
[Có người bảo] có thể thật sự bố thí một
số quỷ [bằng cách đốt giấy tiền, vàng
bạc], chẳng biết thuyết ấy phát xuất từ
kinh điển nào? Xin hăy dạy cặn kẽ! Nói theo lập
trường của Phật giáo đồ, nên phế trừ
hoặc đề xướng đốt giấy tiền,
vàng bạc? (Khoan Hữu hỏi)
Đáp:
Thật ra, pháp này chẳng do Phật giáo lập ra! Phát xuất
từ kinh điển nào, kẻ hèn này chẳng hề mảy
may nhận biết! Luận theo “vạn pháp duy tâm”, bố thí
các quỷ đạo, tự nhiên có tác dụng. Luận theo
sự quán tưởng của Mật Tông, tuy chẳng đốt
tiền giấy, vàng bạc, vẫn có thể biến hiện
hết thảy. Nhưng xét theo phương diện nghiệp
lực của loài quỷ, họ có thể sử dụng
hay không? Xét thấy mẹ của tôn giả Mục Liên chẳng
thể tiếp nhận thức ăn [do ngài Mục Liên dâng
lên], ta có thể suy luận được. Như vậy
th́ cầu siêu tổ tiên, bố thí quỷ đạo, tốt
nhất là hăy nên dùng Phật pháp!
* Hỏi:
Thường nghe nói người bị chết đột
ngột (chỉ kẻ bị chết mà không có thân quyến
bên cạnh), thường là khi thân quyến t́m đến nơi,
liền có hiện tượng mũi người chết ứa
máu là v́ nguyên nhân nào? Phật học giải thích như thế
nào? (Lâm Tề Viêm hỏi)
Đáp: Có
lẽ là ngẫu nhiên. Nếu không th́ t́nh trạng quỷ thần
thiên sai vạn biệt, nói chung, chẳng ngoài lư do có sự
chiêu cảm bên ngoài mà có hiện tượng ấy. Người
chết đột ngột mang nỗi hờn oán muốn bày
tỏ, lại c̣n chấp trước sắc thân, bỗng
gặp thân thuộc, cố nhiên là đồng khí tương
cảm, tinh thần tác động đến thi thể, nên
mới có t́nh trạng đặc trưng ấy!
* Hỏi:
Tôi nhớ số báo Bồ Đề Thụ nào đó có đăng
bài “Linh quang của sinh vật
theo như tôi thấy”, những người thuộc giới
nghiên cứu đối với vấn đề ấy phần
nhiều chưa thể tin tưởng, đều là v́ nghe
thấy những điều chưa hề nghe. Chẳng biết
chuyện ấy có thể t́m căn cứ lư luận trong
kinh Phật hay không? (Lâm Tề
Viêm hỏi)
Đáp: Phàm
phu trí huệ hữu hạn, chuyện trong vũ trụ nhiều
như cát, bụi, những điều họ chưa nghe đâu
phải chỉ có như vậy! Nhưng điều ấy
cũng chẳng phải là kỳ dị cho lắm, động
vật có nhiều chất lân (phosphorus), nên phần nhiều
có ánh sáng. Lá cây tỏa ánh sáng, hoa cũng có ánh sáng. Các loài khoáng
vật như vàng, ngọc, nước v.v... cũng đều
có ánh sáng, sao lại riêng nghi loài người? Nếu nói những
loài khác có ánh sáng đều có thể thấy được,
c̣n ánh sáng của con người chưa thể trông thấy
nên chẳng tin, thử hỏi con người sống trong
không khí, mắt trọn chẳng thấy không khí, chắc chắn
chẳng thể nói là trước mắt chẳng có không khí!
Nếu cứ phải lấy kinh Phật làm căn cứ
th́ những chỗ kinh ghi chép về quang minh của Phật,
Bồ Tát, gần như kinh nào cũng đều có, như
hạng quang (quang minh tỏa ra từ cổ), thân quang (quang
minh tỏa ra khắp thân) v.v... hoặc có lúc phóng quang từ
đỉnh đầu đến chân th́ càng chẳng thể
kể xiết được!
* Hỏi:
Nghe nói người thuộc các vùng như Tứ Xuyên v.v...
chết th́ trong ṿng bảy ngày, phần nhiều có chuyện
Hồi Sát[19], liền bày hương án trong căn pḥng
mà người chết đă ở trong lúc c̣n sống, rải
tro hương dưới đất. Theo báo cáo đáng tin
tưởng th́ tro bếp có thể in dấu chân người
chết. Nh́n theo đó, hiển nhiên là quỷ hồn tồn
tại! Nhưng theo những điều đă viết trong
bài “Linh quang của sinh vật
theo như tôi thấy”, quỷ hồn chẳng có thể
tích, giống như là khí mà chẳng phải là khí, có thể
nói là hầu như không có trọng lượng. Đối
chứng hai chuyện này, thấy rơ có mâu thuẫn! Đối
với hiện tượng rải tro in dấu chân trong tục
Hồi Sát trên đây, kiến giải theo Phật học là
như thế nào? (Lâm Tề
Viêm hỏi)
Đáp: Ông
đột nhiên nêu ra chuyện trọng lượng để
thảo luận ḥng cố t́m mâu thuẫn. [Linh hồn người
chết] có trọng lượng hay không, kẻ hèn này chẳng
biết hóa nghiệm, chẳng tiện đáp bừa! Nhưng
quỷ có thể biến hiện thành thể chất động
vật, trong sử kư Trung Quốc ghi chép rất nhiều.
Như Đỗ Bá bắn Châu Tuyên Vương[20], cụ già kết cỏ ngáng chân Đỗ
Hồi[21], chẳng phải là càng rơ rệt hơn
chuyện Hồi Sát ở Tứ Xuyên ư?
* Hỏi: Tôi thường
nghe nói ở các vùng như Tứ Xuyên v.v..., nếu có ai chết
nơi đất khách, nhưng nhà nghèo hèn, thường do đạo
sĩ làm phép dẫn xác chết[22] tự đi về quê (chuyện này đă
có người đích thân trông thấy). Theo khoa học, chẳng
có cách nào lư giải chuyện ấy, c̣n Phật học giải
thích ra sao? (Lâm Tề Viêm hỏi)
Đáp: Đây
là một loại huyễn thuật của ngoại đạo
giống như thuật thôi miên của Tây Dương có thể
khiến thân người lơ lửng trên không; hoặc
khoa Chúc Do[23] của Trung Quốc thay đổi vị
trí của vết thương. Nếu có người coi những
chuyện ấy là kỳ lạ th́ chúng đều là tác dụng
của tinh thần, trọn chẳng phải là chánh đạo.
Phật pháp có Nhất Thiết Trí, làm sao có thể chẳng
hiểu những điều ấy cho được? Những
chuyện ấy hèn kém, chẳng đáng để bàn tới!
* Hỏi:
Thiên đường nói trong Phật giáo và thiên đường
của đạo Gia Tô có ǵ khác nhau? (Đồng Tâm hỏi)
Đáp: Thiên
được nói trong Phật giáo rất phức tạp!
Do Phật có ngũ nhăn, những điều Ngài thấy rất
rộng, nên nói cũng rất phức tạp. Ở đây,
tôi chỉ lấy một đại thiên thế giới để
nói, theo chiều dọc có hai mươi tám tầng thiên
đường. Theo chiều ngang có bốn trăm bốn
mươi ức thiên đường. Nhưng đại
thiên thế giới vô lượng vô biên, h́nh trạng của
mỗi thiên đường khác nhau. Thiên đường
trong đạo Gia Tô rốt cuộc là nói về loại thiên
đường nào, kẻ hèn này chưa hề lănh giáo từ
họ, nên chẳng thể cưỡng nói là giống nhau
hay khác nhau được.
* Hỏi:
V́ sao đức Phật giáng thế cũng phải biến
thành một người, lại c̣n phải giống như
con người, trải qua học hành rồi mới biết
tạo lợi lạc cho người khác, hay là sanh ra đă
biết ngay? (vô danh hỏi)
Đáp: Phật
có ba thân, thân giáng thế là ứng thân. Do phổ độ
chúng sanh, lại v́ hiện thân đồng loại sẽ dễ
cảm hóa, nên nơi nơi chốn chốn, hóa thân trong từng
loài. Trong lục đạo, đường nào Ngài cũng
hiện thân. C̣n nói tới chuyện Ngài phải học rồi
mới biết, làm lợi lạc cho chúng sanh v.v... đấy
đều là cố ư thị hiện khuôn mẫu “Phật cũng
do học mà thành tựu”, trọn chẳng phải là ngẫu
nhiên, [nhằm chỉ rơ] chúng sanh đều có phần, hễ
chịu học th́ sẽ có thể tự chứng!
* Hỏi:
Phật muốn độ người, chỉ cần có những
thứ hiển linh giống như kỳ tích tại Phổ
Đà, hoặc sử dụng thái độ và phương
pháp cứu đời giống như Tế Công Hoạt Phật,
công hiệu đạt được sẽ cao hơn phương
thức đă nói trong phần trước rất nhiều!
(vô danh hỏi)
Đáp: Phật
độ chúng sanh, cốt yếu do các thứ phương
pháp và giáo lư khiến cho chúng sanh hành theo đó, tự tu, tự
chứng. C̣n như kỳ tích ở Phổ Đà, các hành vi
của Tế Công, bất quá là một loại tuyên truyền,
khiến cho kẻ chưa tin dấy lên ḷng tin mà thôi. Dẫu
tin tưởng, nhưng thiếu giải, hạnh, chứng,
làm sao đắc độ cho được?
* Hỏi:
Bắc Câu Lô Châu trừ con người phải chết ra,
chẳng gặp khổ năo, tai hại, họa hoạn, đúng
không? (Vô danh
hỏi)
Đáp: C̣n
có họa hoạn nào khổ hơn cái chết? Chết rồi
có nỗi khổ nào lớn hơn đọa trong tam đồ?
* Hỏi:
Đời trước (tổ tiên) đă thờ cúng môn khẩu
công, sàng mẫu, phổ độ công, địa cơ chủ[24], đối với những vị thần
trên đây nên xử lư như thế nào? (Vưu Thái Hoa hỏi)
Đáp: Họ
cũng là chúng sanh, lắm nỗi khổ năo, Phật tử
hăy nên b́nh đẳng thương xót. Hăy nên t́m một thần
miếu, đem [bài vị, tượng thờ của họ]
gởi đến thờ trong ấy. Lúc đưa đi nên
niệm Phật cho nhiều, cầu cho họ siêu thăng.
Sau đấy, cũng chẳng ngại ǵ mà dựa theo thời
tiết, cúng cho họ hương, hoa, trái cây, thức ăn,
tụng niệm Phật hiệu cho họ. Như thế là
đă hợp với ư nghĩa phổ độ trong Phật
pháp, mà c̣n hợp với t́nh cảm người đời!
* Hỏi:
Cúng tổ tiên chẳng đốt giấy vàng bạc có được
hay không? (Vưu Thái Hoa hỏi)
Đáp: Nếu
tổ tông đang ở trong quỷ đạo, có lẽ cần
đến. Nhưng nếu thuộc trong đường khác,
ắt sẽ chẳng cần. Nhằm báo ân tổ tiên, nếu
có thể kiền thành tụng niệm kinh lạy Phật,
hoặc làm các thứ thiện sự như in kinh, phóng sanh v.v...
để hồi hướng, sẽ có lợi ích lớn
nhất!
* Hỏi:
Nếu là đệ tử Phật đă thọ Tam Quy, Ngũ
Giới, lại theo một đạo nào đó th́ có tội
lỗi hay không? Chẳng biết giáo chủ của đạo
nào đó cũng mắc tội hay chăng? (Tam Mộc hỏi)
Đáp: Hủy
hoại giới, chia thành bốn loại “thất, phá, xuyên,
tạp”. Kẻ bỏ Phật quy ma là thất giới, tội
cao nhất! Nhưng kẻ thất giới v́ có người
khác xúi giục, dụ dỗ, mê hoặc th́ kẻ xúi giục,
dụ dỗ, mê hoặc cũng là chánh phạm, lẽ đâu
vô tội!
* Hỏi:
Thế tục đối trước miếu thờ đều
vái lạy, chẳng lạy th́ có bị họ (thần) khiển
trách hay không? (Ẩn danh hỏi)
Đáp: Chánh
trực vô tư nên gọi là Thần, há v́ kẻ khác chẳng
lạy bèn khiển trách họ? Đối với chuyện
vái lạy, cũng nên phân giải. Đi đường gặp
tượng thần, hoặc có việc phải đến
miếu thờ thần, trông thấy bèn lạy, đó là lễ.
Nếu chuyên đến cúng bái, bợ đỡ thần, tức
là đa sự. Luận theo thế pháp, Khổng Tử c̣n nói:
“Phi kỳ quỷ nhi tế chi,
siểm dă” (chẳng phải là tổ tiên của ḿnh mà cúng
bái tức là siểm nịnh)[25], “kính quỷ
thần nhi viễn chi” (kính trọng quỷ thần nhưng
chẳng gần gũi họ), huống hồ kẻ đă
quy y Tam Bảo!
* Hỏi:
Trước nay lễ Phật, chẳng có tam sanh[26], tửu lễ, [kẻ khác] nói là bất
kính, nay bảo bọn họ cúng trái cây thanh khiết, há chẳng
bị người ta chê cười ư? (Ẩn danh hỏi)
Đáp:
Chỉ hỏi chính ḿnh làm đúng hay không, c̣n những kẻ
chẳng hiểu biết, chê cười, có giá trị ǵ? Con
vẹt biết nói cười đại bàng bay cao, tham
quan, trọc phú cười viên quan thanh liêm thanh bần. Đại
bàng sợ cười sẽ chẳng thể bay, viên quan
thanh liêm sợ cười bèn tham ô ư? Lăo Tử nói: “Hạ sĩ văn đạo,
đại tiếu chi, bất tiếu bất túc vi đạo”
(kẻ căn cơ bậc hạ nghe nói đến đạo
bèn cười to, họ chẳng cười th́ chẳng đáng
gọi là đạo), Ngài đă sớm nói toạc ra với
bọn họ rồi!
* Hỏi:
Chư Phật, Bồ Tát ứng theo sự cơ cảm của
chúng sanh, hiện thân ứng hóa số đến vô lượng,
trong tam đồ lục đạo, phân biệt cứu khổ.
Chuẩn theo đó, tôn giáo của phương Tây đương
nhiên cũng là những pháp môn do bậc Đại Quyền
Bồ Tát tùy cơ thị hiện, nhưng kinh điển
của họ nói trừ Thượng Đế là vị Chúa
thật duy nhất ra, những vị khác đều là ma quỷ.
Về căn bản, đă phủ nhận có Phật, dường
như rơ ràng là thuộc về ma thuyết, nhưng cả cơi
đời xúm xít tin theo, chư Phật có thiêng v́ sao để
mặc cho các tà thuyết ấy hoành hành lưu truyền? (Âu Dương Mạn hỏi)
Đáp: Câu
hỏi này có thể chia thành ba đoạn:
1. Nói tới pháp môn thị
hiện, phàm những thứ được gọi là “tôn
giáo”, trọn chẳng phải đều nhất loạt là
đại quyền thị hiện. Tu La từng nói ngũ
niệm trụ, Điều Đạt (Đề Bà Đạt
Đa) cũng xưng là vị Phật mới. Hơn chín mươi
thứ ngoại đạo tại Ấn Độ, Hoàng Cân
và Bạch Liên v.v... tại Trung Quốc há đều có thể
coi là quyền hiện được ư? Lại c̣n phải
xét đạo ấy nếu giống với Phật th́ là đại
quyền ứng hóa. Nếu khác th́ chẳng phải! Điều
này cần phải xét theo hành vi [để kết luận],
chẳng thể luận định suông được! C̣n
như bảo họ là ma, chớ nên vội vă kết luận,
chẳng cần biết là phương cách [truyền đạo,
cải đạo] của họ cứng rắn hay mềm
mỏng, chỉ cần đạo nào có thể làm hại
thân người hoặc huệ mạng th́ đều là lũ
chúng nó (ma) cả! Đát Kỷ, Bao Tự[27] chưa hề ăn người, nhưng
đă thật sự khiến nhà Ân, nhà Châu vong quốc. Tự
Tại Thiên chưa từng ăn người, chuyên chướng
ngại chúng sanh giải thoát. Hăy nên hết sức chú ư chỗ
này!
2. C̣n chuyện họ
phủ nhận Phật th́ đạo bất đồng chẳng
thể bàn bạc với nhau, có ǵ là lạ? Theo giáo nghĩa
nhà Phật, hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh.
Nh́n bằng tâm Phật, sẽ thấy hết thảy đều
là Phật. Tống Nho như Tŕnh Tử c̣n thấy thánh hiền
đầy đường, điều này cũng cho thấy
khí tượng của Nho gia. Đạo Gia Tô nói hết thảy
những vị khác đều là ma, họ có cách nh́n của
riêng ḿnh.
3. Nói tới chuyện
tà thuyết hoành hành, người ta xúm xít tin theo là lẽ tất
nhiên. Ông chẳng nghe ư nghĩa “ca khúc tao nhă và ca khúc thông tục”[28] hay chăng?
Lại chẳng nghe Tượng[29] thường
hại vua Thuấn, mà vua Thuấn lại phong đất
cho Tượng ư? Như thế mới là vua Thuấn!
* Hỏi:
Hội Hồng Vạn Tự[30] sùng phụng Chí Thánh Tiên Thiên Lăo Tổ, bịa
chuyện vị này giáng sanh trong thế gian từ sáu vạn
năm trước, giáo chủ của ngũ giáo đều
là đệ tử của ông ta, nguồn cội lập
thuyết của họ đều phát xuất từ
đàn cầu cơ. Tôi ngầm quan sát thấy thiện tín
trong hội phần nhiều chẳng hiểu lư cho lắm,
chỉ là những kẻ ưa thích cầu phước. Họ
treo chiêu bài Ngũ Giáo Hợp Nhất, nhưng đối với
bất cứ giáo nào cũng đều chẳng thông, nhưng
chánh phủ chuẩn bị cấp giấy phép cho họ và
công nhận họ là đoàn thể tôn giáo hợp pháp, chưa
nghe nói người thuộc các tôn giáo chính thức chỉ
trích họ là v́ lẽ nào? (Âu
Dương Mạn hỏi)
Đáp: Hội
ấy chia thành hai viện là Đạo Viện và Từ Viện.
Những chuyện do Từ Viện làm cũng rất đáng
khen, nói chung là tốt đẹp hơn ngoại tộc nhờ
vào chút ân huệ nhỏ nhoi để tiến hành xâm lược.
Nói đến chuyện chỉ trích th́ luận theo nhà Phật,
giáo nghĩa của chính ḿnh c̣n chưa [đủ thời
gian] để tỏ bày, rảnh đâu để nói chuyện
khác?
* Hỏi:
Có người nói: Bước vào pḥng sản phụ, trở
ra mà chẳng thanh tịnh thân tâm sẽ chẳng được
phép vào đại điện, chuyện này có lư do ǵ hay chăng?
(Kha Tiên Giang hỏi)
Đáp:
Chắc là do sản pḥng chẳng sạch sẽ. Nếu đổi
mũ, thay áo, tắm gội rồi mới vào Phật điện
th́ càng cung kính hơn!
* Hỏi:
Đạo trong thiên hạ, các giáo quá nhiều, đạo nào
là tả đạo? Đạo nào là bàng môn? Tu đạo nào
sẽ có thể thành công? (Phan Quốc
Vinh hỏi)
Đáp: Phật
giáo có triết lư tối cao, giáo nghĩa tinh vi, sâu thẳm,
lại c̣n có lịch sử lâu đời, có ảnh hưởng
sâu rộng, chí thượng, chí chánh trong các tôn giáo. Đạo
giáo, Bà La Môn, Thiên Chúa, Gia Tô, Hồi Hồi v.v... tuy phạm vi
nhỏ hẹp hơn Phật giáo, nhưng đều được
pháp luật thừa nhận là tôn giáo chánh đáng. Những
“tôn giáo” khác đều là trộm lấy những học
thuyết từ các tôn giáo trên đây, pha trộn lung tung, bịa
đặt các danh xưng, lên đồng, vẽ bùa, [vận
dụng các thuật] viên quang[31] trấn áp, giả thần, giả quỷ,
đa số là các chi phái của Bạch Liên giáo, toàn là bàng
môn tả đạo, muôn vàn chớ nên học! Nếu hỏi
đến chuyện thật sự có thể thành công hay không
th́ triệt để rốt ráo chỉ có Phật pháp!
* Hỏi:
Có kẻ nói: Chúng ta sát sanh ăn thịt nhằm cứu độ
chúng sanh khỏi phải chịu khổ trong súc sanh, ác đạo,
một đao giết chúng ḥng tránh cho chúng khỏi tiếp
tục chịu khổ nữa! Lăo cư sĩ nghĩ lời
ấy có đúng hay không? (Một
độc giả hỏi)
Đáp: Gịi
tửa trong hầm phân chịu khổ nhất, kẻ ấy
có chịu phát tâm từ bi ăn thật nhiều gịi để
cứu độ chúng hay không? Đức Phật chế định
“đèn phải có bóng chụp”, “nước phải dùng vải
lọc” ḥng khỏi tổn thương sanh mạng loài vật.
Nếu coi sát sanh là cứu độ, vậy th́ hành vi của
đức Thế Tôn há chẳng phải là tàn bạo, bất
nhân ư?
* Hỏi:
Nghe nói có nơi giáo đồ (chẳng biết là Phật giáo
hay là tôn giáo khác), trước khi sát sanh bèn tŕ chú mấy biến
cho con vật sẽ bị giết rồi mới giết,
bảo là đă siêu độ nó văng sanh, vấn đề này
có đáng tin cậy hay không? (Một
độc giả hỏi)
Đáp: Chú
của kẻ ấy linh hay không tôi chẳng biết rơ, nên
chẳng thể đáp được!
* Hỏi:
Thành tựu của người xuất gia học Phật và
tại gia học Phật có phân biệt cao, thấp, lớn,
nhỏ hay không? Ai hơn? Ai kém? Nếu người xuất
gia ngày một đông dần th́ vấn đề ăn, mặc,
sinh hoạt của người xuất gia phải do một
số ít kẻ chưa xuất gia giải quyết, há chẳng
phải là mong chính ḿnh siêu thăng, tăng thêm gánh nặng
cho người khác ư? Mỗi cá nhân nhận lănh rất
nhiều ân huệ từ đất nước, cha mẹ,
sư trưởng, bầu bạn v.v... người xuất
gia khiến cho tổ tông thiếu người cúng quải,
không có con cháu, chẳng thể hầu hạ, quây quần bên
cha mẹ lúc họ c̣n sống, chỉ làm họ tăng thêm
bi thương, há chẳng phải là phụ bạc ân đức
ư? (Lưu Định Xí hỏi)
Đáp: Xuất
gia tu tŕ cao siêu hơn tại gia, nhưng phải phát tâm trên
cầu Phật đạo, dưới độ chúng sanh, làm
thầy trời người, ngơ hầu cửu hữu đều
được lợi ích, bốn ân đều nhờ vào đó
mà được cứu vớt. Đấy chính là phương
pháp báo ân triệt để nhất. Đă xuất gia th́ phải
làm thầy trời người, ví như giáo viên trong trường
học, chúng sanh ví như học tṛ, người học ngành
sư phạm tuy đông, quyết chẳng phải lo thừa
thầy! Nếu trách móc là tăng thêm gánh nặng cho người
khác, chẳng thể hầu hạ, quây quần bên cha mẹ,
khiến tổ tông thiếu người cúng quải, thử
hỏi kẻ làm quan lại hiến thân cho nước nhà, người
làm quân nhân liều ḿnh nơi biên cương, chiến trường,
ông đều trách họ là phụ bạc ân đức cha
mẹ ư? Nếu xuất gia chỉ nhằm hưởng
thanh nhàn, hoặc nhằm giải thoát cho riêng ḿnh, trên chẳng
cầu thành Phật, dưới chẳng độ chúng
sanh, cũng chẳng phải là không thể quở trách họ!
Ở đây, vẫn cần phải phân biệt [từng trường
hợp cụ thể] để lập luận!
* Hỏi:
Theo thuyết luân hồi, con người chết rồi có
thể chuyển sanh hay chăng? Nếu các động vật
trên thế giới chết đi đều có thể chuyển
sanh, cớ sao con người hiện thời đông hơn
thời cổ? (Lâm Tây Hiên hỏi)
Đáp: Sinh
vật càng sanh sôi càng đông đúc, điều ấy thuộc
về quan hệ sinh lư. Hiện thời, không chỉ nhân loại
đông đúc mà những động vật khác cũng nhiều.
Thử nêu một trường hợp: Cứ vài chục năm,
nhân loại gặp nạn binh đao một lần, thống
kê dân số [cho thấy] nếu chẳng dưỡng sức
mấy chục năm, sẽ chẳng thể khôi phục. Lợn,
dê, gà, vịt, cá, tôm, hằng ngày bị giết chóc rất
nhiều, vẫn chẳng thấy ít đi, đó là chứng
cớ rơ ràng. Xét kỹ lời hỏi, dường như đă
hiểu lầm “con người chết đi, chuyển
sanh vẫn là người, loài vật chết đi, chuyển
sanh vẫn là loài vật”. Cần nên biết: Luân hồi là
nói lần lượt ra vào sáu đường (trời, người,
Tu La, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục), quyết chẳng
phải là người vẫn thường làm người,
súc sanh thường làm súc sanh. Nếu hiểu rơ thần thức
(tục gọi là linh hồn) quẩn quanh trong sáu đường,
dẫu một đường chợt đông, một đường
chợt ít, [th́ cũng] giống như sóng cuồng trong biển
cả, chợt cuốn về phương Đông, bỗng
đổ ào về hướng Tây, chuyện này cũng chẳng
hiếm lạ cho lắm!
* Hỏi:
Có người xin xăm ở đền miếu th́ chuyện
họ hỏi có phù hợp lời dạy trong quẻ xăm
hay không? Nếu phù hợp là do lư do nào? (Lâm Tây Hiên hỏi)
Đáp: Đây
chẳng phải là quy cách trong nhà Phật, chẳng tiện
giải đáp!
* Hỏi:
Mười tông của Phật giáo, mỗi tông đều lập
môn hộ, khinh thường lẫn nhau, có phải là Pháp Chấp
hay Ngă Chấp hay không? (Quản
Tân Bàn hỏi)
Đáp: Các
hành vi ấy cũng có thể nói là Ngă Chấp
và Pháp Chấp, nhưng tổ sư các tông và những vị
đại đức thật sự có học vấn
cũng v́ ngăn ngừa đời sau dụng công học
tập chẳng chuyên nhất mà cố ư chê trách tông khác.
Do đó là phương tiện nên chẳng thể coi là hai
thứ chấp được!
* Hỏi:
Sách Kỹ Lộ Chỉ Quy viết: “Ngọc Hoàng Đại Đế đến khi
hưởng hết phước trời, vẫn chẳng
thể nào không chết. Sau khi chết, vẫn có thể vào
trong súc sanh đạo chịu tội”. Xét ra, Ngọc
Hoàng đại đế tuy thuộc lục đạo luân
hồi, há chẳng phải do đời đời kiếp
kiếp sở hành hợp với đạo trời, tích
công lũy đức, nên được hưởng quả
vị chí tôn nơi thiên đường, sanh trong thiên đường,
há c̣n tạo ác nhân đáng đọa trong súc sanh đạo?
Lời ấy có căn cứ hay không? Hay là lời lẽ nhằm
cảnh tỉnh chúng sanh? (Giang Ấn
Thủy hỏi)
Đáp: Thiên
đạo đă thuộc vào lục phàm, chưa từng đoạn
Hoặc. Hoặc chưa đoạn bèn là cái nhân tam đồ.
Khi hưởng hết phước, đương nhiên
đọa lạc, trọn chẳng phải do cái nhân mới
đă tạo trong cơi trời mà ra. Nói tới chuyện hưởng
thụ quả báo nơi cơi trời, [ông bảo] “do đời
đời kiếp kiếp sở hành hợp với thiên
đạo”, cũng chẳng phải hoàn toàn là như vậy.
Chúng sanh có thể nhất niệm, nhất hạnh hợp
với thiên đạo, ắt cũng được hưởng
báo sanh lên trời. Đó gọi là “nhân như thế nào, quả như thế ấy”.
Thuyết trong Kỹ Lộ Chỉ Quy phát xuất từ Pháp
Cú Tỷ Dụ Kinh.
* Hỏi:
Thuở Phật tại thế thuyết pháp, các vị Bồ
Tát Văn Thù, Phổ Hiền, A Dật Đa, Vô Tận Ư v.v...
cùng xuất thế ứng hóa với Phật tại Ấn
Độ, hay là hóa thân đến? (Chung Đào hỏi)
Đáp: Văn
Thù Bồ Tát sanh trong nhà bà-la-môn Phạm Đức ở tụ
lạc Đa La nước Xá Vệ. A Dật Đa Bồ
Tát sanh tại Nam Ấn Độ. Theo kinh Pháp Hoa, Phổ Hiền
Bồ Tát từ cơi nước của Bảo Oai Đức
Vương Phật ở phương Đông đến đây.
Theo kinh Đại Tập, Vô Tận Ư Bồ Tát từ cơi nước
Bất Thuấn của Phổ Hiền Như Lai ở phương
Đông đến đây. Theo đó th́ có vị xuất thế
tại Ấn Độ, mà cũng có vị hóa thân đến
nhóm họp.
* Hỏi:
Đức Phật giảng kinh Kim Cang chẳng chấp tướng,
những điều Ngài dạy trong kinh Di Đà đều
là chấp tướng. Phân biệt như thế nào? (Chung Đào hỏi)
Đáp: Kinh
Di Đà thích hợp khắp ba căn, thoạt đầu
chẳng phá tướng, v́ sơ cơ chẳng dễ phá tướng,
nên chẳng ngại phương tiện thiện xảo,
tu tập theo lối chấp tướng, trọn chẳng
phải là dạy [chúng sanh] chấp tướng. Mở đầu,
kinh liền nói từ phương Tây, kế đó là rộng
nói sáu trần v.v... đó là chỗ chấp tướng.
Kinh Kim Cang nói thẳng vào Chân Như nên chú trọng phá tướng.
Trong kinh có nói: Phàm những ǵ có tướng đều là
hư vọng, đó là chỗ hoàn toàn khẳng định “hết thảy tướng
đều là không”.
* Hỏi:
Người tu đạo thật sự có thể thành Phật
hay không? Sau khi thành Phật, rốt cuộc trụ nơi đâu?
Có thể cho người đời đến du lịch
tham quan cơi Phật hay không? Có phải là xưa kia có thể
tu thành Phật, hiện thời do khoa học quá phát triển,
nên chẳng c̣n có Phật nữa? V́ thế, người học
Phật hiện thời vô cùng ít! (Trần Chí Nghiệp hỏi)
Đáp:
Chẳng thể thành Phật th́ c̣n ai tu tập nữa! Tận
hư không đều là cơi Phật vạn hoa trang nghiêm, chỉ
v́ quả báo bất đồng, nên chẳng thể trông thấy.
Nhưng muốn đến chơi cơi Phật cũng chẳng
phải là không thể, chỉ cần dự bị tư lương,
hành lư, xin hăy lấy Thập Lục Quán Kinh, t́m hỏi minh sư
dạy cho cách tu, hoặc nương theo kinh Tiểu Di Đà,
bế quan niệm Phật, định kỳ hạn cầu
chứng, sẽ tự được như nguyện. Như
ông nói khoa học phát triển, chẳng c̣n có Phật nữa,
ư nghĩa không rơ ràng, không có cách nào trả lời cặn kẽ
được! Chỉ có thể trả lời mấy câu
theo kiểu nuốt trộng quả táo, khoa học phần
nhiều thuộc về nghiên cứu vật chất, thành Phật
thuộc về tu dưỡng tâm tánh, bất luận khoa học
phát triển đến một vạn vạn lần hay mấy
ngàn vạn lần, chẳng hề trở ngại người
có chí tu dưỡng tâm tánh.
* Hỏi: Đao Lợi
thiên vương là vào thời Phật Ca Diếp có ba mươi
ba người nữ tạo tháp nên được phước
quả; vậy th́ trước thời Phật Ca Diếp
chẳng có Đao Lợi Thiên ư? (Trí Vinh hỏi)
Đáp: Thiên
vương là thân hữu t́nh, Đao Lợi Thiên là khí thế
gian. Thiên vương làm chủ khí thế gian phải có thời
hạn, cũng giống như trưởng quan của các
cơ quan trong nhân gian, người này nghỉ, bổ nhiệm
người khác. Hiểu lẽ ấy th́ trước khi
[những người ấy] tạo tháp đắc quả
báo làm thiên vương, đă có Đao Lợi khí thế gian
từ lâu!
* Hỏi:
Từ bi và yêu thương tương tự, nhưng thật
sự khác nhau, sai một ly, lạc cả ngàn dặm, xin
nghe chỉ dạy! (Trí Lương
hỏi)
Đáp: Từ
bi là tác dụng của lư trí, yêu thương là tác dụng t́nh
cảm. Ái có phân biệt, c̣n Từ th́ b́nh đẳng.
* Hỏi:
Đối với chuyện Địa Tạng Vương
Bồ Tát nói danh hiệu, tội báo và ác báo của các địa
ngục, có vua Diêm La chủ tŕ và cai quản địa ngục
hay không? Phật pháp có thể tiêu trừ tội nghiệp, dường
như chẳng có quyền cai quản đó chăng? (Hao Thạch hỏi)
Đáp: Cai
quản thuộc về vấn đề cai trị, vận
dụng quyền lực. Phật, Bồ Tát đối với
hết thảy chúng sanh chỉ lo giáo hóa độ thoát, trọn
chẳng làm lănh tụ chánh trị. Địa Tạng Bồ
Tát bi nguyện rộng lớn, muốn độ trọn hết
chúng sanh trong địa ngục nên thường vào địa
ngục giáo hóa, trọn chẳng dính líu đến chuyện
cai quản của vua Diêm La.
* Hỏi:
Nếu Địa Tạng Bồ Tát cai quản Diêm Vương,
Địa Tạng Bồ Tát là cổ Phật tái lai, giáng
sanh làm Thái Tử nước Cao Ly vào đời Đường.
Khi Địa Tạng Bồ Tát chưa xuất thế, vua
Diêm La do vị Phật, Bồ Tát nào cai quản? (Hao Thạch hỏi)
Đáp: Có
thể xem sự tích Địa Tạng Bồ Tát trong Địa
Tạng Bổn Nguyện Kinh do Thích Ca Mâu Ni Phật giảng
trên cung trời Đao Lợi. Trọn chẳng phải là từ
đời Đường mới có Địa Tạng. Thái
Tử nước Cao Ly trụ tích tại núi Cửu Hoa như
đă được truyền tụng chính là ứng thân của
Bồ Tát. Về sau, tạo tượng đều tạc
đắp theo h́nh tượng Ngài đă thị hiện tại
núi Cửu Hoa, giống như người hiện thời
dựa theo h́nh tượng Bố Đại ḥa thượng
đời Tống để đắp nặn tượng
Di Lặc vậy!
* Hỏi:
Đức Phật dạy những quan niệm cơ bản
nhằm khơi gợi ḷng tin nơi con người, tợ
hồ thuyết luân hồi chỉ nhằm chứng minh luân
hồi là có thật, trước mắt vẫn chưa có phương
pháp để thí nghiệm cụ thể. Nếu có th́ hết
thảy mọi người sẽ sợ nhân quả, sợ
báo ứng, ắt chẳng dám công khai làm ác. Chẳng biết
trong tương lai khoa học ngày càng tiến bộ, có thể
có cách nào giải quyết vấn đề này hay không? Hơn
nữa, địa ngục hiện tướng cũng do tâm
tạo, như vậy th́ vĩnh viễn chẳng thể nào
dùng thí nghiệm để chứng thực. Đúng không? (Trương Kiếm Phân hỏi)
Đáp: Ông
có thể coi phần trả lời câu hỏi của Liêu tiên
sinh về Tam Lượng (Hiện Lượng, Tỷ Lượng,
Thánh Ngôn Lượng) trong phần trước. Đức Phật
nói các sự đều từ thể nghiệm, chẳng giống
như các nhà triết học suy tưởng huyền hoặc.
Nếu ai đạt đến công phu đúng mức sẽ
có thể tự thể nghiệm. Chẳng qua như mặt
trời và mặt trăng tuy có ánh sáng, vẫn chẳng thể
khiến cho người mù trông thấy đó thôi! Tương
lai khoa học phát triển, chưa chắc đă có những
phương cách thí nghiệm!
* Hỏi: Những bậc
thánh hiền, anh hùng, hào kiệt xưa nay như Khổng, Mạnh,
Văn, Sử[32] v.v...
sau khi mất cũng phải luân hồi ư? Hay là chẳng
bị? Đức Phật lại nói con người sau khi
mất, trong bốn mươi chín ngày, thân Trung Ấm sẽ
thác sanh, đầu thai, nhưng tương truyền người
sau khi chết sẽ làm quỷ, có những trường hợp
suốt mấy chục năm hay trăm năm vẫn tồn
tại? Loại quỷ hồn ấy có phải là vẫn nương
gá thân Trung Ấm, hay là đă trải qua một phen luân chuyển?
(Trương Kiếm Phân hỏi)
Đáp: Cảnh
giới của Khổng Tử ta chẳng thể lường
được. Các cao túc của Khổng Tử thuở ấy
c̣n nói tánh của phu tử và thiên đạo chẳng thể
nghe [mà ḥng hiểu thấu]! Những vị hiền triết,
anh hùng, hào kiệt khác thuộc về thiện nghiệp hữu
lậu có quả báo phù hợp nhân thiên, đương nhiên
chưa vượt khỏi luân hồi. Quỷ là một
trong lục đạo, trải qua giai đoạn Trung Ấm
có tiểu thần thông, có thể nhớ kiếp trước,
do Ngă Chấp ràng buộc nên vẫn hiện tướng giống
như lúc sống.
* Hỏi: Mười
phương chư Phật, Bồ Tát, không vị nào chẳng
độ chúng sanh hằng ngày, lẽ ra chúng sanh (kể cả
nhân loại) phải nên dần dần giảm bớt! Cớ
sao ngược lại kể từ khi có lịch sử đến
nay, chúng sanh trong thế giới ngày càng đông hơn? (Lại Đống Lương hỏi)
Đáp: Dùng
lục đạo để luận, mắt người chỉ
thấy con người và loài vật mà thôi. Trong bốn đường
kia có thiện và ác: Chư thiên đến cơi này làm người
hay làm súc sanh tức là đọa, từ quỷ hay địa
ngục đến đây làm người hay súc sanh là siêu! Đắc
độ lại có ngũ thừa sai khác, trọn chẳng
phải hễ siêu bèn đều thành thánh! Những vị thành
thánh mà [chúng ta] mắt thấy, tai nghe chưa đến mười
người, trăm người, c̣n những kẻ đọa
lạc hay siêu thăng trong bốn đường sanh vào cơi
này, há chỉ ngàn vạn? Đó là nguyên nhân tăng nhiều!
Lại luận theo vô lượng thế giới trong hư
không vô tận, sự hơn kém trong ấy vô cùng khác biệt.
Chúng sanh trong các cơi do nghiệp lực lôi kéo, lần lượt
siêu thăng hay đọa lạc trong các thế giới, đấy
là nguyên nhân khiến [nhân số] chẳng giảm. Thử nêu
một thí dụ: Quốc gia đặt ra h́nh luật, vốn
có những h́nh phạt xử phạt theo thời hạn,
hoặc xử phạt chẳng hạn định (đặt
ra h́nh phạt nhưng không quy định thời gian), tù nhân
bị giam trong ngục, tuy có những gă họ Triệu, Tiền,
Tôn, Lư v.v... được phóng thích hay măn hạn tù được
thả, nhưng từ ngoài ngục lại có những gă họ
Châu, Ngô, Trịnh, Vương điền vào. Nh́n vào lệ ấy
sẽ hiểu rơ!
* Hỏi:
Ngày mồng Tám tháng Tư các chùa tắm Phật, đă nói
Pháp Thân của đức Thế Tôn chẳng nhiễm mảy
trần, cần ǵ phải có người hầu Ngài tắm
rửa? (Lâm Mộng Đinh hỏi)
Đáp: Đúng
như ông nói, Pháp Thân vô tướng, tắm để làm ǵ?
Đây chẳng qua là đệ tử đời sau nhớ
tưởng tích xưa, mượn nghi thức ấy nhằm
biểu thị ḷng cung kính mà thôi.
* Hỏi:
Hàn Dũ bài xích Phật dữ dội nhất, nhưng nghe
nói cuối cùng tin Phật, lăo cư sĩ có biết chuyện
này hay không? (Liêu tiên sinh hỏi)
Đáp: Có
chuyện ấy. Có lá thư của Hàn tiên sinh gởi cho ḥa
thượng Đại Điên để làm bằng chứng;
nhưng Hàn tiên sinh là người trong chốn danh lợi, dẫu
tin Phật vẫn là găi ngứa ngoài giày!
* Hỏi:
Những vị thần như Ma Tổ, Quan Đế, Thành
Hoàng có thuộc về A Tu La đạo hay không? Hay thuộc
về thiên đạo? Người đời sát sanh tế
thần, tội lỗi sát sanh ấy sẽ quy về thần
hứng chịu hay con người hứng chịu? (Duy Bảo hỏi)
Đáp:
Chẳng có tài liệu lịch sử để khảo cứu
[hành trạng của] Ma Tổ, nhưng theo lời đồn
đại, bà ta chuyên cứu người mắc nạn
trên sông, trên biển, tích tập nhiều công lao tốt lành.
Quan Đế đề cao, ưa chuộng trung nghĩa, v́
nước hy sinh. Sách Phật Tổ Thống Kỷ có chép Ngài
từng xin thọ giới với Trí Giả đại
sư, nay trong các chùa phần nhiều thờ Ngài làm thần
Hộ Pháp Già Lam, hai vị ấy thuộc về thiên đạo.
Thành Hoàng vốn chẳng phải là một người nhất
định nào. Vào thời đại đế
vương trước kia, [triều đ́nh thường]
đặc biệt phong cho vị X... nào đó chết
đi làm thần Thành Hoàng quản trị phủ, huyện
v.v... có lẽ họ là loại quỷ có oai đức, có
phước báo. Sát sanh cúng thần, tội do người cúng
gánh chịu, v́ thần trọn chẳng đ̣i hỏi
người ta cúng thịt cho ăn. Nhưng các sách cũng
ghi chép chuyện thần nhân đa số nhận huyết
thực đến nỗi khó bề siêu thăng, bất quá
là tội nhẹ hơn kẻ cúng thần mà thôi! Có thể
thấy là sát sanh cúng thần, thần lẫn người
đều chẳng được lợi ích.
* Hỏi:
Thưa Lư lăo tiên sinh, đọc phần Phật Học Vấn
Đáp của cụ trong kỳ trước, khiến cho
chúng tôi là những kẻ vừa mới tin tưởng Phật
giáo, giống như trong bóng tối có được một
ngọn đèn sáng, khắc phục sai lầm! Đúng là vừa
cảm kích vừa hoan hỷ! Nay tôi cũng có mấy vấn
đề, ghi ra trong thư này để xin cụ chỉ
giáo! Tại Đài Loan chúng ta, tuy người tin Phật
giáo rất nhiều, nhưng quá nửa cũng tin Ma Tổ,
Thành Hoàng, hoặc Thiên Đế (Ngọc Hoàng Thượng
Đế) v.v... thuộc về thần đạo. Trong các
gia đ́nh, tuy phần lớn thờ Quán Âm Bồ Tát,
nhưng lại bày tượng Thánh Mẫu, Thổ Địa
ngang hàng. Tôi c̣n nghe nói ở trấn Thanh Thủy có miếu
Quán Âm, vào mỗi dịp thánh đản Quán Âm trong các tháng
Hai, tháng Sáu, tháng Chín, cả trấn đại khai sát giới,
náo nhiệt như tế Thành Hoàng. Xin hỏi lăo cư
sĩ, những tín đồ ấy cũng có thể gọi
là Phật giáo đồ hay chăng? Đă tin Phật giáo, c̣n
có thể lễ bái thần quỷ hay chăng? Sau này, họ
thật sự sanh lên trời ư? Hay là sanh về Tây? Đối
với những nơi như miếu Quán Âm tại trấn
Thanh Thủy, chúng ta phải dùng phương pháp ǵ để
ngăn họ đừng sát sanh cúng tế Bồ Tát? (Đàm Dật Dân hỏi)
Đáp: Lời
ngài hỏi nên chia thành năm đoạn để trả
lời:
1. Tin Phật kiêm thêm
tin Thành Hoàng, Ma Tổ, Thiên Đế, trong nhà thờ cả
Quán Âm lẫn Mă Tổ, tức là đa thần giáo, trọn
chẳng phải là người tin Phật thuần túy.
2. Miếu Quán Âm ở
trấn Thanh Thủy sát sanh cúng bái Quán Âm, đă phạm giới
nhà Phật, vô cùng sai lầm! Quyết chẳng thể xưng
là Phật giáo đồ, chỉ có thể coi là những kẻ
chẳng hiểu giáo lư, kính Phật mà thôi!
3. Sau khi đă tin Phật,
vẫn c̣n lễ lạy quỷ thần, vẫn chẳng phải
là không được. Do theo giáo nghĩa nhà Phật, chúng
sanh b́nh đẳng, nhưng chỉ giới hạn trong việc
lạy, chẳng qua là tỏ vẻ lễ độ đối
với họ mà thôi. Nếu vẫn quy y tín phụng tức
là lầm lẫn lớn! (Ông Châu An Sĩ gặp miếu thờ
thần, bèn đối trước thần niệm Phật,
chúc vị thần ấy sớm quy hướng Tam Bảo,
tu Tịnh Độ văng sanh, cách ấy rất hay).
4. Sanh về Tây có phương
pháp sanh Tây, trọn chẳng phải là mỗi Phật giáo đồ
đều có thể sanh Tây. Thăng thiên cũng có điều
kiện thăng thiên, trọn chẳng phải là thờ trời,
lạy thần, bèn có thể thăng thiên.
5. Đối với
chuyện miếu Quán Âm ở trấn Thanh Thủy sát sanh cúng
tế Bồ Tát, chỉ có thể cậy vào Phật tử
phát đại tâm đến đó khuyến thiện, khiến
cho họ hiểu lư, ăn năn tội lỗi!
* Hỏi: Chỉ nghe nói
dùng hương, hoa cúng dường Phật, Bồ Tát, chưa
nghe nói dùng nến để cúng dường. Xin hỏi thắp
nến cúng Phật có ư nghĩa như thế nào? (Trần Phật Tử hỏi)
Đáp: Trong các thứ vật cúng vốn có
đèn sáng, nhằm biểu thị trí huệ quang minh, bất
quá thắp nến thay cho ư nghĩa đèn sáng.
*
Hỏi: Phẩm Phổ Môn có nói: “Thiết
phục hữu nhân, nhược hữu tội, nhược
vô tội, nữu giới già tỏa, kiểm hệ kỳ
thân, xưng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát danh giả, giai
tất đoạn hoại, tức đắc giải thoát”
(Nếu có người dù có tội hay vô tội, bị gông,
cùm, xiềng, xích trói buộc tấm thân, do xưng niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, thảy
đều găy nát, liền được giải thoát). Những
lời ấy càng đáng nghi! Nếu là vô tội th́ do bị
oan uổng, được thoát tội th́ xét theo t́nh cũng
chấp nhận được. Chứ nếu là kẻ có
tội, cũng chỉ cần niệm danh hiệu Ngài liền
được giải thoát, đấy chẳng phải là
Bồ Tát cổ vũ, khích lệ chúng sanh phạm tội ư?
V́ hễ phạm tội, chỉ cần xưng niệm danh
hiệu Bồ Tát liền được giải thoát! Xin hăy
dạy cho biết rốt cuộc chuyện này là như thế
nào? (Từ Phước hỏi)
Đáp: Cổ
nhân có kệ rằng: “Tội
nhược khởi thời, tương tâm sám. Tâm nhược
vong thời, tội diệc vong. Tâm vong tội diệt
lưỡng câu không. Thị tắc danh vi chân sám hối” (Nếu
lúc tội khởi, đem tâm sám. Tâm đă mất rồi, tội
cũng tiêu. Tâm vong, tội mất, thảy đều không.
Điều đó gọi là chân sám hối). Tŕ danh tới mức
toàn bộ vọng niệm đều tiêu th́ mới gọi
là nhất tâm. Theo bài kệ, “vọng
tiêu” tức là sám hối, Bồ Tát rủ ḷng Từ, cho
kẻ ấy được sửa lỗi, giống như
pháp luật ân xá. Sau đấy, nếu chẳng sửa chữa,
chừa lỗi, đối với những tội nghiệp
c̣n sót lại, hễ gặp duyên th́ vẫn bị khổ
báo. Ân xá đă chẳng phải là cổ vũ, khích lệ phạm
tội, sám hối được cứu, không ǵ chẳng hợp
lư!
* Hỏi:
Tôi được Chương Gia đại sư đề
tặng bốn chữ “đạo
sùng tướng trang” chẳng biết v́ [ca ngợi] đức
Phật mà ghi như vậy, hay v́ người học Phật
mà đề, chẳng thể lẫn lộn được,
xin hăy phân biệt, giải đáp (một kiều bào ở Đàn Đảo[33])
Đáp: 1.
Giải đáp [nếu bốn chữ ấy] đề nơi
tượng Phật: “Đạo
sùng”: Đạo (道) là đạo
quả đă chứng, Sùng (崇) có
nghĩa là tối cao. Nay tôi giải thích sơ lược
những ư nghĩa bao hàm trong ấy: Những động thể
(tục gọi là động vật) có linh tri trong không gian
được chia thành mười phạm vi, gọi là “thập
pháp giới”. Trong thập pháp giới, lại chia thành hai loại
là tứ thánh và lục phàm. Thánh nhân là Phật,
Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn; phàm phu là thiên, nhân, A Tu La, súc
sanh, ngạ quỷ, địa ngục. Trong mười pháp
giới, từ A Tu La trở xuống, chẳng thể nói
đến đạo ǵ! Người và trời tính ra là
phàm phu, đạo quả nhỏ nhoi. Thanh Văn và Duyên Giác
được coi là thánh đạo quả Nhị Thừa
hay Tam Thừa. Bồ Tát là đại đạo quả, Phật
là cực đạo quả chí cao vô thượng, nên ca ngợi
là Đạo Sùng (ghi chú: Thanh Văn và Duyên Giác là La Hán). “Tướng trang”: Tướng
(相) là tướng mạo, c̣n gọi là h́nh
tướng. Trang (莊) là nói tắt
hai chữ “trang nghiêm”. Trang có
nghĩa là đoan trang, Nghiêm (嚴) là oai nghi chỉnh tề. Nói gộp lại,
[“tướng trang”] là diệu
tướng trang nghiêm. Do tướng mạo đức Phật
khác với chúng sanh, nh́n vào tượng Phật trong chùa miếu
mới hiểu được. Phật có ba mươi hai tướng
đặc biệt, như đỉnh đầu có nhục
kế, tóc cuộn tṛn trôn ốc theo chiều bên phải, giữa
hai mày có bạch hào cuộn tṛn giống như viên châu (thường
gọi là “Phật đảnh
châu”), có bốn mươi cái răng, trước ngực
có chữ Vạn v.v... quá nhiều chẳng thể nêu trọn
hết. Do đức Phật có những thứ h́nh tướng
kỳ diệu ấy để tự trang nghiêm nên gọi
là “tướng trang”.
2. Giải
đáp [nếu bốn chữ ấy] đề tặng người
học Phật: “Đạo sùng”
đă là đồ đệ đức Phật, ắt học
đạo lư của Phật. Đạo do người ấy
tu tập, đương nhiên là chí cao vô thượng, bất
quá so với Phật chỉ khác biệt ở chỗ đức
Phật đă tu, đă chứng đạo ấy. “Tướng trang”: Người
đă học Phật, đương nhiên tâm hâm mộ Phật,
hết thảy ngôn hạnh, cử động, ắt sẽ
trọn đủ quy củ, chừng mực. Tuy chẳng có
ba mươi hai tướng, nhưng thần t́nh, thái độ
nhất định rất trang nghiêm, có thể làm cho người
khác vừa trông thấy liền sanh ḷng kính trọng.
* Hỏi:
“Kiếp” có mấy thứ?
Mỗi thứ kiếp có thời gian khác biệt ra sao? Ví như
Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Định trải qua tám
vạn đại kiếp vẫn đọa luân hồi, từ
Sơ Địa tới Thất Địa phải mất
hai đại kiếp. Hai loại kiếp này mỗi loại
bao lâu? (La Đức Chương
hỏi)
Đáp: Đối
với cách tính Kiếp, các kinh luận hơi khác nhau, tên gọi
cũng nhiều, như: Tiểu, trung, đại, một dặm,
vạn lư, bàn thạch, giới tử, A-tăng-kỳ v.v...
Ở đây, tôi ghi lại cách tính thông thường. Con người
thọ mười tuổi, cứ mỗi một trăm năm
sẽ tăng thêm một tuổi, tăng tới tám vạn
bốn ngàn tuổi mới ngừng, lại giống như
trước giảm dần, giảm tới mười tuổi
bèn ngưng. Thời gian hết một chu kỳ tăng giảm
như vậy là một tiểu kiếp. Gộp hai
mươi tiểu kiếp là một trung kiếp. Gộp bốn
trung kiếp là một đại kiếp. A-tăng-kỳ:
Mười vạn là một ức, mười ức là một
triệu, mười triệu là một kinh, mười
kinh là một cai, đó là một tổng số. Tổng số
ấy lại cứ tăng gấp bội như thế,
cuối cùng tăng lên đến một trăm hai
mươi lần th́ là một A-tăng-kỳ. Những con
số khác khó thể nói trọn. [Thời gian] Bồ Tát
thành Phật được nói theo con số A-tăng-kỳ
này. Từ Thập Trụ tới khi chứng Thập Hồi
Hướng phải mất một A-tăng-kỳ, từ
Sơ Địa tới khi chứng Thất Địa phải
mất một A-tăng-kỳ, từ Thất Địa tới
khi chứng Đẳng Giác, phải mất một A-tăng-kỳ.
* Hỏi:
Thập Tín, Thập Hạnh, Thập Trụ, Thập Hồi
Hướng, Thập Địa, có nội dung như thế
nào? (La Đức Chương
hỏi)
Đáp: Những
địa vị này thuộc về các giai đoạn chứng
quả theo thứ tự trong Bồ Tát hạnh, cộng thêm
Đẳng Giác và Diệu Giác, tổng cộng là năm mươi
hai thứ. Đẳng Giác và Diệu Giác là Bổ Xứ Phật.
Năm mươi hai cấp ấy, mỗi cấp có danh tự,
dẫu cũng có thể lược giải, nhưng vẫn
rất rườm rà! Nếu hỏi đến nội dung
th́ cũng chỉ nói được những điều nông
cạn mà thôi! Nếu bàn tới chuyện tu, chứng, hướng
đến, đắc quả, xuất nhập th́ chẳng
thể nào nói trong vài câu được!
* Hỏi:
Danh hiệu Thích Ca Mâu Ni Phật là dịch âm hay c̣n có ư nghĩa
nào khác? Lúc tại gia từng nghe có người nói danh hiệu
ấy có nghĩa là “cứu thế từ bi”, có đúng hay
không? C̣n Bồ Tát th́ sao? Tam Bảo có phải là Phật, Pháp,
Tăng Bảo? Mỗi điều giải thích ra sao? (Khâu Cao Tú hỏi)
Đáp: Là
dịch âm, có nghĩa là Năng Nhân Tịch Mặc. Bồ
Tát cũng là dịch âm, nghĩa là Giác Hữu T́nh. Thích Ca Mâu
Ni Phật và mười phương tam thế Phật đều
gọi là Phật Bảo; hết thảy kinh luật do đức
Phật Thích Ca đă nói đều gọi là Pháp Bảo; các
vị tỳ-kheo xuất gia, trọn đủ sáu thứ ḥa
hợp bèn gọi là Tăng Bảo.
* Hỏi:
Phật giáo nói đến tự do, b́nh đẳng, bác ái khớp
với ba câu khẩu hiệu của cách mạng Pháp, ư nghĩa
khác biệt như thế nào? Xin hăy giải thích! (Đồng Tâm hỏi)
Đáp:
Phật giáo nói giải thoát hoặc tự tại, chẳng
nói tự do. Nói đại từ đại bi, chẳng nói
bác ái. C̣n như danh từ b́nh đẳng tuy giống nhau,
phạm vi cũng khác. Nói tổng quát, khẩu hiệu của
cách mạng Pháp chỉ là vấn đề chánh trị. Những
điều nói trong Phật học là dựa trên Thật Tướng
của các pháp để phương tiện lập danh; đó
là chỗ khác biệt! Nhưng chánh trị cũng chẳng
ra ngoài vạn pháp, trong con số vạn ấy cũng mấy
ly giống nhau.
* Hỏi:
Kinh Phật nói Chánh Pháp, Tượng Pháp, Mạt Pháp, xin hăy
giải thích! (Đồng Tâm hỏi)
Đáp: Trong
năm trăm năm sau khi đức Phật nhập diệt,
pháp nghi chưa thay đổi, có giáo, có hạnh, có nhiều
người chứng đắc chánh quả, nên gọi là
thời kỳ Chánh Pháp. Trong một ngàn năm sau đó, đạo
pháp biến đổi sai ngoa, tuy có giáo, hạnh, nhưng chỉ
tương tự mà thôi, nên gọi là thời kỳ Tượng
Pháp. Lại một vạn năm sau đó, như mặt trời
lặn xuống phương Tây, chỉ sót lại những
ánh sáng yếu ớt cuối cùng, dẫu giáo có nhiều, nhưng
không có hạnh, nên gọi là thời kỳ Mạt Pháp.
* Hỏi:
Tôi tra chữ Nội Viện trong cuốn Từ Uyển[34] của Nhật Bản thấy nói: “Nội bộ của trời
Đâu Suất, là chỗ ở của Di Lặc Bồ Tát”,
hai chữ Đâu Suất giải thích như thế nào? (Đồng Tâm hỏi)
Đáp: Đâu
Suất (Tushita) dịch là Diệu Túc, ư nói: Cơi trời ấy
hưởng thụ ngũ dục diệu lạc, đều
có thể biết vừa đủ.
* Hỏi:
“Cường đạo cướp của người giàu
giúp người nghèo, do duyên cớ chẳng liễu giải
Ngă Không và Pháp Không, nên cũng chẳng thể coi là đại
từ đại bi”, nên hiểu như thế nào? (Đồng Tâm hỏi)
Đáp: Tâm
chẳng phan duyên hết thảy, b́nh đẳng ban cho sự
vui cho chúng sanh như thế, đó là đại từ. Dẹp
nỗi khổ cho hết thảy chúng sanh là đại bi. Nói
“cứu giúp người nghèo” đương nhiên là chuyện
tốt, nhưng cướp của người giàu th́ rất
chẳng nên, bởi nhà Phật bố thí chú trọng tịnh
tài, cướp đoạt để bố thí và chuyện
này (đại từ đại bi) rất khác biệt!
* Hỏi:
Hai chúng tại gia từng thọ Ngũ Giới, đối
với ngày giỗ của bậc tôn trưởng, cha mẹ
đă khuất và sinh nhật của cha mẹ đang c̣n sống
trong các ngày kỷ niệm ấy, sau khi tán lễ Phật
để hồi hướng, có nên vẫn đắp mạn
y, cầm ngọa cụ, hướng về linh vị của
tôn trưởng, cha mẹ, hoặc đối trước
cha mẹ hiện đang c̣n sống đảnh lễ, chúc
phước hay không? (Khoan Thiện
hỏi)
Đáp: Hướng
về cha mẹ đă khuất hay hiện c̣n để đảnh
lễ, chúc phước là bổn phận của người
làm con, rất đáng nên làm. Chỉ có điều chớ nên
đắp mạn y, cầm ngọa cụ, v́ y và ngọa cụ
là thứ được coi trọng trong nhà Phật, chuyên
dùng để mặc và sử dụng khi lễ Tam Bảo và
tu pháp, chớ nên lạm dụng!
* Hỏi:
“Chư hành vô thường, vạn
pháp vô ngă”. Giải thích ư nghĩa được bao hàm
trong hai câu ấy như thế nào? (Trương Khoan Tâm hỏi)
Đáp: “Chư hành” chỉ hết thảy
các pháp hữu vi, “vô thường”
nghĩa là đổi dời, biến hóa, chẳng vĩnh hằng.
“Vạn pháp” là hết thảy
sự lư, “vô ngă” là không có chủ
thể, tức là các duyên ḥa hợp nên mới có sự lư này!
* Hỏi:
Ngă Chấp và Pháp Chấp, trong sách vở Phật học thường
thấy hai danh từ ấy, ư nghĩa như thế nào? (Huệ Hương hỏi)
Đáp: Thân
người do Tứ Đại giả hợp, trọn chẳng
có chủ thể, chấp trước kiên cố thân này là bản
thể của ta, gọi là Ngă Chấp. Các pháp do nhân duyên sanh,
hoặc nhằm [thuận tiện] sử dụng mà giả
lập ra. Cứ cố chấp chúng là thật th́ gọi là
Pháp Chấp. Ở đây, sợ kẻ sơ cơ hiểu
lầm, chỉ dùng thí dụ để giải thích Pháp Chấp.
Thân có bệnh cần phải dùng thuốc chữa trị,
tâm có những thói tệ th́ cần phải có pháp trừ khử.
Nếu bệnh đă khỏi mà vẫn uống thuốc,
thuốc sẽ trở thành bệnh. Thói tệ đă trừ
hết, pháp liền trở thành thói tệ; nhưng bọn
ta sơ cơ, những thói tệ trong tâm quá sâu dầy, cũng
là lúc cần phải có chánh pháp, chớ nên viện cớ Pháp
Chấp để lười nhác, buông lung, chẳng biết
hổ thẹn!
* Hỏi:
Kiếp Trược và Kiến Trược trong Ngũ Trược
Ác Thế nên giảng như thế nào, tôi vẫn chưa rơ?
(Huệ Chiêu hỏi)
Đáp: Kiếp
(Kalpa) có thể giảng là Thời Phần, có tăng hay giảm
sai khác. Lúc kiếp tăng th́ tuổi thọ con người
tăng lên, cao đến tám vạn bốn ngàn tuổi. Lúc
kiếp giảm th́ tuổi thọ con người giảm
theo, thấp nhất là mười tuổi. Lúc giảm đến
hai vạn tuổi chính là lúc trược loạn. Kiến có
năm thứ, đều là trược cấu (bẩn thỉu),
chẳng rơ ràng, tức Thân Kiến, Biên Kiến, Giới Thủ,
Kiến Thủ và Tà Kiến.
* Hỏi:
Trong thế giới Sa Bà này, Quán Thế Âm Bồ Tát hiện
ba mươi hai ứng thân tầm thanh cứu khổ, trong
Tây Phương Tam Thánh cũng có Quán Âm Bồ Tát, hai vị
này là một hay khác nhau? (Huệ
Thuyên hỏi)
Đáp: Là
một. Kinh Pháp Hoa chép: “Du thử
Sa Bà thế giới” (dạo trong thế giới Sa Bà). Hiển
hiện nơi Tây Phương là Báo Thân, c̣n thị hiện trong
cơi này chính là Ứng Thân của Ngài.
* Hỏi:
Giác hạnh viên măn mới có thể thành Phật; giác là tự
giác, hạnh là độ tha, giống như Thích Ca Mâu Ni Phật.
Khoan nói tới những chúng sanh mai sau chưa được
Ngài hóa độ, ngay trong lúc Ngài nhập Niết Bàn, vẫn
có những kẻ chưa tin Phật, làm sao có thể nói là “phổ
độ chúng sanh, giác hạnh viên măn”? (Huệ Thuyên hỏi)
Đáp: Phật
độ chúng sanh, trọn chẳng phải chỉ độ
một lần! Do thế giới vô lượng, chúng sanh vô
lượng, nghiệp lực lôi kéo khiến họ chết
đây, sanh kia, chết kia, sanh đây, chẳng có lúc nào ngơi!
Phật ứng hóa hiện thân trong thế gian cũng chẳng
có lúc nào ngơi, như Thích Tôn đến Sa Bà lần này đă
hơn tám ngàn lần. Nói “viên măn” nghĩa là chúng sanh căn cơ
chín muồi trong một thời kỳ đă độ trọn
hết. Giống như một cây có ngàn quả, sống, chín
khác nhau, ắt phải hái theo từng lúc. Bữa nay chín năm
mươi trái, ắt bẻ lấy năm mươi trái;
ngày mai chín trăm trái, lại hái một trăm. Hôm nay và ngày
mai mỗi lần hái đều có thể bảo người
khác: “Trái nên hái, đă hái hết rồi!”
* Hỏi:
Người đầu óc nhanh lẹ trong thế tục được
khen là kẻ thông minh, nhưng nhà Phật chỉ nói trí huệ,
chẳng nói tới thông minh, vậy th́ trí huệ và thông minh
khác nhau ở chỗ nào? (Khoan
Châu hỏi)
Đáp: Đối
với muôn sự, muôn lư, có thể thật sự quan sát chánh
đáng và quyết đoán, đó là trí huệ. Đầu óc
nhanh nhạy, mẫn tiệp, nhưng nếu bị tư dục
bít chặt, lấy bỏ chẳng chánh đáng th́ là thông
minh. Đó là nói đại lược, nếu nói cặn kẽ,
sẽ rất tốn công.
* Hỏi:
Hai chữ “Nam-mô” nghĩa là ǵ? (Huệ
Lượng hỏi)
Đáp: Đây
là hai chữ đọc theo âm tiếng Phạn, dịch sang
nghĩa tiếng Hán là quy y, kính lễ, xin cứu độ
v.v...
* Hỏi:
“Vô ngă” giải thích như thế
nào? Tu dưỡng ra sao? Đối với những chuyện
chính ḿnh làm, giữ thái độ coi như không có ǵ, chẳng
nghĩ là chính ḿnh tồn tại, cũng có thể nói là Vô
Ngă hay chăng? (Vương Quưnh
Như hỏi)
Đáp: Chữ
Ngă nên hiểu là chủ tể. Thân người do Tứ Đại
giả hợp kết thành, thật sự chẳng có chủ
thể, nên nói là Nhân Vô Ngă. Hết thảy sự vật đều
do các duyên ḥa hợp, hiện ra giả tướng, đều
chẳng có chủ thể, nên gọi là Pháp Vô Ngă. Những điều
cư sĩ đă nêu [trong câu hỏi] chính là giải đăi
và phóng dật, là căn bệnh lớn nhất cần phải
tránh đối với người học Phật!
* Hỏi:
Đứng đầu trong tứ tướng là Ngă Tướng.
Phàm là người tu tŕ phải trừ bỏ tướng
này trước tiên; nhưng trong kinh luận đôi khi cũng
có nhắc tới chữ Ngă, như các chữ Ngă trong “duy ngă độc tôn”, và “thường, lạc, ngă, tịnh”
nên giải thích ra sao? (Triệu
Vĩnh Siêu hỏi)
Đáp: Nói
đến phạm trù chữ Ngă th́ có thể chia thành ba:
1. Thứ nhất là ngă
kiến, ngă mạn, ngă danh. Những thứ này hai tà, một
giả, phàm phu điên đảo, chấp trước gọi
đó là Ngă.
2. Thứ hai, ngươi,
ta, đây, kia, tùy thuận thế tục ḥng nói năng khỏi
lộn xộn, nên phương tiện nói Ngă.
3. Thứ ba là hiển
hiện trọn vẹn Pháp Tánh, phơi bày toàn bộ tịnh
đức. Pháp Tánh tịnh đức, gọi quyền biến
là Chân Ngă. Đây là ngôn ngữ dứt bặt, chẳng thể
nói mà cứ cưỡng gọi nên bảo là Ngă. Hai chữ
Ngă trong “duy ngă độc tôn”
và “thường, lạc, ngă, tịnh”
thuộc về phạm trù thứ ba.
* Hỏi:
Xin hỏi hai chữ Bát Nhă (般若) nên đọc như thế nào? Có thể đọc
theo âm gốc[35]
của nó hay không? Theo pháp sư Bân Tông trong phần Phàm Lệ
của cuốn Bát Nhă Tâm Kinh Yếu Thích th́ phải nên đọc
là Bát Nhạ (鉢惹), nhưng
theo một cư sĩ ở chùa Thiện Đạo,
Đài Bắc th́ chẳng phải như vậy, phải
đọc là âm này nọ, người ấy đọc
theo giọng Quảng Đông[36],
nghe chẳng rơ ràng cho lắm, không biết nên theo ai, xin hăy
chỉ dạy. (Trọng Chí Anh
hỏi)
Đáp:
Hai chữ này đều là âm tiếng Phạn, nếu cầu
chuẩn xác, ắt phải học Phạn văn! Lănh thổ
Trung Quốc rộng lớn, ngữ âm phức tạp, địa
phương cách nhau một trăm dặm, giọng nói đă
khác nhau. Âm đọc cũng sai khác, làm sao có thể nói là Giáp
đúng, Ất sai. Chúng ta chẳng biết Phạn văn, âm
đọc nên thuận theo đa số, chỉ cần giữ
ḷng thành mà thôi! Ngay như đọc Bát Nhạ, âm đọc
của người Nam kẻ Bắc cũng chẳng hoàn toàn
giống nhau, chẳng thể tranh chấp là đúng hay sai. Ở
đây, tôi dựa theo giọng đọc hầu như tương
đồng của nhiều người từ các nơi khác
nhau, đặc biệt dùng lối Chú Âm Tự Mẫu để
ghi ra. Chữ Bát (鉢) có âm đọc
là Bo (ㄅ), Nhạ (惹) đọc là
(ㄖㄜˇ), ngơ
hầu gần với cách đọc [như pháp sư Bân
Tông đă nói].
* Hỏi:
Theo trang ba mươi sáu trong bài Bồ Đề Tâm Ảnh
Nhân Sanh th́ có sáu pháp vô vi, chẳng biết danh xưng của
chúng như thế nào? Không có cách nào tra cứu, chẳng biết
pháp Bát Nhă có phải là một trong các pháp vô vi hay không? Xin hăy
chỉ dạy danh xưng của chúng. Nếu được,
xin hăy nói rơ hơn? (Trọng Chí
Anh hỏi)
Đáp: Đấy
là nói về sáu pháp vô vi trong Bách Pháp Minh Môn Luận, tên của
chúng là hư không vô vi, trạch diệt vô vi, phi trạch diệt
vô vi, bất động vô vi, tưởng thọ diệt vô
vi và Chân Như vô vi. Nếu muốn nói rơ, sẽ phải tốn
công viết một bài dài.
* Hỏi:
Có người nói chẳng thể chuyển định nghiệp,
c̣n bất định nghiệp có thể chuyển được,
xin hỏi định nghiệp là thế nào? Bất định
nghiệp là như thế nào? (Chung
Quân Lương hỏi)
Đáp: Gieo
nhân có sức mạnh, lại gặp Tăng Thượng Duyên,
khiến cho cái nhân đă chín, tạo thành quả, đó là định
nghiệp. Nếu không, sẽ là bất định nghiệp.
* Hỏi: Đại Thừa
Khẩn Na La Vương Bồ Tát[37] có phải
là vị thường được gọi là Diêm La Vương
hay không? (Chung Lâm Chiêu hỏi)
Đáp:
Khẩn Na La là thần ca nhạc [của Đế Thích Thiên],
chẳng phải là Diêm La Vương!
* Hỏi: Tôi chẳng
hiểu Lục Nhập trong mười hai nhân duyên, xin hăy
chỉ dạy cặn kẽ! (Huệ
Đức hỏi)
Đáp: Lục
Nhập chính là Lục Căn. Căn là nói về Thể của
chúng, c̣n Nhập là nói tới Dụng; có nghĩa là chúng là những
cơ quan có thể tiếp nhận, thâu nhập Lục Trần.
* Hỏi: Cơi Phương
Tiện Hữu Dư đă đoạn Kiến Tư nhị
hoặc, chưa đoạn Trần Sa và Vô Minh, đă đạt
được cảnh giới La Hán, nhưng tôi chưa hiểu
hai chữ Hữu Dư. (Huệ
Đức hỏi)
Đáp: Trần
Sa và Vô Minh chưa đoạn th́ gọi là Hữu Dư.
* Hỏi:
Hai chữ Cù Đàm trong kinh Tạp A Hàm nên giải thích như
thế nào? Tứ Nhiếp là nhiếp bốn điều nào?
(Phan Ngọc Tuyền hỏi)
Đáp: Chữ
Cù Đàm có mấy cách giảng, cư sĩ hỏi về người
hay là hỏi họ đức Phật? Tứ Nhiếp là bố
thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự.
* Hỏi:
Tên gọi của Đại Thừa Thập Nhị Bộ
Kinh là ǵ, xin hăy chỉ dạy! (Trịnh
Lan Tôn hỏi)
Đáp: Thập
Nhị Bộ chẳng phải là số lượng kinh
điển, mà là trong Tam Tạng kinh văn có mười
hai loại thể tài, có thể tham khảo trong phần trước
có ghi chép tường tận.
* Hỏi:
Nhất Thiết Trí và Nhất Thiết Chủng Trí giống
nhau hay khác nhau? C̣n có diệu trí huệ và chân trí diệu huệ,
đó là danh xưng chung của Phật Trí, hay là có chỗ
khác nhau, xin chỉ dạy! (Tiêu
Huệ Tâm hỏi)
Đáp: Biết
hết thảy các pháp là Không, gọi là Nhất Thiết Trí;
Thanh Văn, Duyên Giác chứng đắc trí này. Đạo
pháp của chư Phật, Đạo Chủng Trí của Bồ
Tát, Nhất Thiết Trí của Thanh Văn, Duyên Giác đều
có thể chiếu kiến Thật Tướng, trọn đủ
các thứ trí ấy th́ gọi Nhất Thiết Chủng Trí,
Phật chứng đắc trí này. Chân Trí là do đối ứng
với Quyền Trí mà nói. Diệu trí huệ và diệu huệ,
bất quá là từ ngữ tán thán trí huệ mà thôi, đó là
sự khác biệt!
* Hỏi:
Ngũ Ấm Xí Thịnh nghe rất khó hiểu, [kinh Phật
lại] c̣n nói nó là vấn đề căn bản của bảy
nỗi khổ trước đó, càng chẳng rơ ràng cho lắm,
xin hăy dùng lời lẽ đơn giản để giải
thích có được hay không? (Huệ
Tâm hỏi)
Đáp:
Thuật ngữ này vốn vô cùng phức tạp, nếu muốn
giải nói đơn giản th́ cũng chẳng phải là
không được! Nếu do giải nói đơn giản
mà có thể hiểu rơ tường tận, sợ chẳng
phải là chuyện dễ. Ở đây tôi thử giảng
giải như sau: “Đó là nói về giả (Sắc) thân và
cái tâm vọng thức, luôn luôn bị (Thọ) hoàn cảnh bức
bách và dụ hoặc, bèn nghĩ (Tưởng) tới phân biệt,
gạt bỏ, hay tham nhiễm. Cái nhân là giả thân, vọng
tâm, giống như ḍng điện (Hành), không ngừng tạo
tác, phát sanh biến hóa trong từng sát-na. Lại giống như
lửa mạnh, càng cháy càng hừng hực, chẳng thể
ngăn dứt. Đă có cái nhân như thế, nên mới có cái
quả là bảy nỗi khổ trước đó. Sắc,
Thọ, Tưởng, Hành, Thức trong câu này gọi chung là
Ngũ Ấm”.
* Hỏi:
Trong phần thứ chín của kinh Kim Cang có nói: “Thế Tôn tắc bất thuyết
Tu Bồ Đề thị nhạo A Lan Na hạnh giả”
(đức Thế Tôn chẳng nói Tu Bồ Đề ưa
thích hạnh A Lan Na), xin hăy khai thị về “nhạo A Lan Na”! (Trại Mạnh Thu hỏi)
Đáp: Đấy
là tiếng Phạn, dịch nghĩa là Vô Tránh Thanh (không có tiếng
tranh chấp), Tịch Tĩnh, Ư Lạc Xứ (nơi tâm ư
vui vẻ), Viễn Ly Xứ v.v... tức là nơi tự viện.
* Hỏi: La Hán vốn vô
lượng vô biên. Theo như kinh nói, Thường Tùy Chúng có
đến một ngàn hai trăm năm mươi vị đều
là Đại A La Hán. V́ sao lại nói có mười tám vị
La Hán? Danh hiệu của mười tám vị La Hán là như
thế nào? Sự tích của họ ra sao? Căn cứ vào đâu
để tạc tượng? (Trại
Mạnh Thu hỏi)
Đáp: Có
một cuốn sách tên là Pháp Trụ Kư, trong ấy chép mười
sáu vị tôn giả, vâng lời sắc truyền của đức
Phật, vĩnh viễn trụ trong cơi này hóa độ chúng
sanh. Người đời sau đă thêm một vị tôn
giả trùng lặp vào, cũng như thêm vào đó tôn giả
Ca Diếp[38], trọn chẳng nhất trí. Đấy
là nguồn gốc của mười tám vị La Hán. Do vậy,
trong chùa có lập tượng các Ngài.
* Hỏi:
Trong lời tán thán Bổn Sư Thích Ca có câu: “Nhân thiên giáo chủ tam loại hóa
thân”, đó là ba loại hóa thân nào? (Hề Tử Vi hỏi)
Đáp: Phật
vốn trọn đủ ba thân Pháp, Báo, Ứng, nếu chỉ
nói ba loại hóa thân, chắc là nói Thắng Ứng Thân có vô
lượng tướng hảo, Liệt Ứng Thân ba mươi
hai tướng, và các thứ hóa thân trong năm đường.
* Hỏi:
Trong bài Hương Tán “Giới Định Chân Hương”
có câu “tích nhật Da Thâu miễn
nạn tiêu tai chướng”, bốn chữ “tích nhật Da Thâu” giải
thích như thế nào? (Hề Tử
Vi hỏi)
Đáp: Nên
hiểu “tích nhật” là “thời gian quá khứ”, Da Thâu
chỉ phu nhân lúc đức Thế Tôn c̣n là Thái Tử, bà ta
tên là Da Thâu Đà (Yasodharā).
* Hỏi:
Bài tán Phổ Hiền Bồ Tát có câu “thập nguyện đạo quy, kế Năng Nhân”
nên hiểu như thế nào? (Hề
Tử Vi hỏi)
Đáp: Trong
kinh Hoa Nghiêm có Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh Nguyện Phẩm
ghi chép Bồ Tát phát ra mười đại nguyện
vương dẫn chúng sanh văng sanh Cực Lạc. “Năng Nhân” là Phật Thích Ca,
“kế” (繼) là tiếp nối.
* Hỏi:
Ngũ Căn trong ba mươi bảy Bồ Đề phần
là Tín, Tấn, Niệm, Định, Huệ, Tứ Thần Túc
là Dục, Tấn, Niệm, Huệ, nên hiểu chữ Dục
ấy ra sao? Ư nghĩa của chữ Dục được
thay đổi để sử dụng như thế nào? (Hề Tử Vi hỏi)
Đáp:
Chữ Dục có nghĩa là đối với một sự
vật nào đó yêu thích rất sâu, lại c̣n có ư nghĩa “hết
sức mong muốn”. Ngũ Căn hiểu theo nghĩa hẹp
là Tứ Đế, hiểu theo nghĩa rộng là công dụng
của các pháp. Chữ Tứ trong Tứ Thần Túc chuyên chỉ
cách dụng công trong Thiền Định.
* Hỏi:
Trong lời hỏi lần trước về từ ngữ
Nhị Thập Ngũ Hữu, tôi đă được giảng
giải trong tam giới có hai mươi lăm loại quả
báo bất đồng. Sau khi cung kính đọc [lời giải
thích], vẫn c̣n có chút nghi ngờ, nay lại xin cụ hăy giải
thích các điều sau đây:
1. [Nói tới]
bốn đường ác trong Dục Giới, trừ địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh ra, đường c̣n lại
có phải là Tu La hay không?
2. Bốn
châu có phải là Đông Thắng Thần Châu, Nam Thiệm Bộ
Châu, Tây Ngưu Hóa Châu, và Bắc Câu Lô Châu?
3. Dục
Giới Lục Thiên có phải là Tứ Thiên Vương Thiên,
Đao Lợi Thiên, Dạ Ma Thiên, Đâu Suất Thiên, Hóa Lạc
Thiên và Tha Hóa Tự Tại Thiên? (Hề
Tử Vi hỏi)
Đáp: Các
danh từ được nêu trong điều một, hai, ba
đều đúng như ông đă nói.
* Hỏi:
Xin dạy ư nghĩa Bát Nhă? (Vương
Khả Tiêu hỏi)
Đáp: Dịch
sang tiếng Hán trí huệ, nhưng chữ này có nghĩa là trí
huệ vô thượng bậc nhất trong hết thảy các
trí huệ.
* Hỏi:
Thiên Đế trong kinh Phật và trong Pháp Giới An Lập
Đồ[39] là ai?
Có phải là chủ của đại thiên thế giới hay
không? Hay là Phật làm chủ? (Chi
Thế Vinh hỏi)
Đáp: Xét
ra tam giới gồm có tất cả hai mươi tám tầng
trời, đấy là một đại thiên thế giới
nói theo chiều dọc. Nếu nói theo chiều ngang th́ con số
sẽ nhiều hơn. Nay nói đơn giản theo chiều
dọc, tầng thấp nhất là Tứ Vương Thiên, có
bốn vị thiên vương. Tầng thứ hai là Đao
Lợi thiên, có ba mươi ba vị thiên đế. Lên cao
hơn có hai mươi sáu tầng trời, mỗi tầng đều
có một thiên đế. Thiên đế được nói
trong kinh Phật thuộc các chốn khác nhau, nếu hỏi
thiên đế là ai, cần phải xét xem cách nói nơi đoạn
kinh ấy là như thế nào th́ mới có thể biết là
nói tới vị thiên đế thuộc tầng trời nào!
* Hỏi:
Địa vị của Ma Hê Thủ La (Maheśhvara)[40] trong các đại chúng được nhắc
tới trong kinh Phật là như thế nào? Lai lịch ra
sao? (Chi Thế Vinh hỏi)
Đáp: Đây
là một vị thiên đế thuộc tầng cao nhất
trong Sắc Giới, tức tầng thứ hai mươi bốn
[trong hai mươi tám tầng trời], chính là Đại Tự
Tại Thiên, ngoại đạo Ấn Độ tín ngưỡng
vị này. Trong Phật tông có một phái gọi là Mật Tông,
họ bảo vị trời này là Ứng Thân của Đại
Nhật Như Lai, như thế mà thôi!
* Hỏi:
Ma Hê Thủ La đă sống trong Phạm Thiên, khi đại
thiên thế giới hủy diệt, Phạm Thiên cũng bị
hủy diệt, v́ sao riêng ông ta chẳng bị hủy diệt?
Khi đại thiên thế giới chưa h́nh thành, ông ta trụ
nơi đâu? (Chi Thế Vinh hỏi)
Đáp: Nếu
dựa theo Mật Tông để giải thích, ông ta là ứng
thân của Phật, nên có đến, có đi, có khởi đầu,
có kết thúc. Nếu chỉ luận theo [thân phận của]
vị trời này, khi thọ mạng một vạn sáu ngàn kiếp
đại kiếp đă hết, vẫn khó tránh khỏi cái
chết. Theo đó, dẫu thế giới chẳng hủy
diệt, ông ta cũng bị hủy diệt. Đại
thiên chẳng phải chỉ có một, nếu đại
thiên này chưa h́nh thành, thần thức của ông ta sẽ
trụ trong đại thiên khác.
* Hỏi:
Vị tổ thứ hai mươi tám là Bồ Đề Đạt
Ma v́ sao chẳng truyền đạo tại Thiên Trúc, do lư
do ǵ phải chuyển sang Đông Độ truyền pháp? (Lâm Lương Trụ hỏi)
Đáp: Chúng
sanh cơi kia phước báo đă mỏng, tà kiến tăng dần,
ngoại đạo ồ ạt dấy lên, Phật duyên sắp
hết. Cơi này từ đời Hán và Tấn đến nay,
vua và dân tín ngưỡng, căn cơ phần lớn là Đại
Thừa, người sang [Thiên Trúc] cầu pháp liên tiếp chẳng
nề hà gian nan, hiểm trở. Do vậy biết cơ duyên
hoằng dương rộng răi Phật pháp sẽ là bên Chấn
Đán (Trung Hoa), nên Ngài sang phương Đông. Nhưng đây
chỉ là cách nói theo tướng thế gian, nếu hướng
về Tông Môn mà hỏi “tổ
sư Tây lai ư” (tổ sư từ phương Tây đến
cơi này v́ ư ǵ), họ sẽ luận định kiểu khác!
* Hỏi:
Trong Phật học có nói tám vạn bốn ngàn pháp môn, nhưng
lại nói “Bất Nhị pháp môn”, đối với hai cách
nói như vậy về pháp môn, nên giảng giải ra sao? (Lâm Lương Trụ hỏi)
Đáp: Câu
hỏi này nên tách ra để trả lời:
1. Một là Thập Sử[41], trong mỗi Sử có đủ mười
Sử, nên lần lượt thành một trăm, trải
khắp mười pháp giới, mỗi giới có một
trăm Sử nên thành một ngàn. Thân và miệng gồm bảy
chi (giết, trộm, dâm, vọng ngữ, lưỡng thiệt,
ỷ ngữ, ác khẩu) [nhân với một ngàn] thành bảy
ngàn. Lại trải qua ba đời nên [bảy ngàn nhân với
ba] thành hai vạn một ngàn. Lại nữa, đa tham,
đa sân, đa si v.v... chia thành bốn tâm (tức tham, sân,
si, mạn), mỗi tâm có đủ hai vạn một ngàn, nên
thành tám vạn bốn ngàn trần lao; nhưng đối với
mỗi trần lao đều có pháp để đối trị
nên nói là tám vạn bốn ngàn pháp môn.
2. Hai là tám vạn bốn
ngàn pháp chẳng ra ngoài nhất tâm, có thể ngộ nhập
lư Nhất Thật b́nh đẳng, sẽ không có hết thảy
phân biệt, nên nói là Bất Nhị.
Điều trước
giống như một cây vạn lá ngàn cành, điều sau
giống như nói một cái cây cao sừng sững.
* Hỏi:
Người nhà bán gà, tệ nhân nghĩ gia súc không thể làm
thiện nhân ǵ, bèn đem một phần tiền bán gà dâng cúng
để xây dựng, sửa chữa Phật đường.
Tất cả công đức đều hồi hướng
về gia súc, không biết chúng nó có thể hưởng công
đức hay không? (Lư Vĩnh Mậu
hỏi)
Đáp: Thân
mạng cúng dường Tam Bảo, sẽ có công đức.
Chuyện này vốn là hành động bất đắc dĩ,
nhưng có thể nuôi lớn rồi phóng sanh th́ hay hơn. Cách
làm này cũng có thể gọi là phương tiện.
* Hỏi:
Dục và tham có ǵ sai khác? Phước đức và công
đức có ǵ khác biệt? (Lư
Vĩnh Mậu hỏi)
Đáp: Trong
kinh Phật, chữ Dục có hai nghĩa tốt và xấu:
- Bốn
thứ Thần Túc “Dục, Cần, Tâm, Quán”, cũng như trong
chuyện trao truyền giới, do duyên sự nên chẳng thể
đi ra ngoài được, bèn thực hiện những
chuyện như dữ dục, thọ dục, thuyết dục[42], và
Dục Vô Giảm[43] trong mười tám pháp bất cộng
v.v... đều dùng theo nghĩa tốt.
- Như dục nhiễm,
dục trần, dục ái v.v... đều là nghĩa xấu.
Chữ Tham là ác tâm sở,
là một thứ căn bản phiền năo, chỉ có ác, chẳng
có thiện. Giữa phước đức và công đức
th́ phước là báo về chính ḿnh, công là ích lợi cho cả
người khác, đó là sự sai biệt.
* Hỏi:
Chữ Pháp trong Lục Trần chỉ điều ǵ? Có mối
tương quan và tương ứng với điều ǵ?
(Phan Tư Húc hỏi)
Đáp: Vạn
sự, vạn lư đều có thể gọi là Pháp. Pháp
trong Lục Trần tương ứng với Ư. Đă nói
là Trần, tức là nói nó thuộc ngoại cảnh. Có thể
phân chia đại lược thành ba loại: Bản chất,
đới chất, và độc ảnh. Pháp được
nhận lấy bởi Ư chính là độc ảnh cảnh.
* Hỏi:
Chúng Thất Xoa Ma Na (Siksamana) trong thất chúng chỉ kẻ
nam, người nữ chưa thọ giới Ưu Bà Tắc,
đúng không? Hay là chỉ những bà già c̣n để tóc tu hành
trong chùa? (Nhan Khoan Văn hỏi)
Đáp: Thức
Xoa Ma Na là Sa-di-ni đă thọ mười tiểu giới,
học tập sáu pháp để chuẩn bị thọ năm
trăm đại giới [của tỳ-kheo-ni].
* Hỏi:
Tôi muốn quy y Phật môn th́ nên tiến hành những thủ
tục nào? (Đỗ Tự
Nhiên hỏi)
Đáp:
Viết một tờ ghi tên tuổi, lư lịch đơn
giản, hướng về tỳ-kheo Tăng thỉnh cầu
quy y, hoặc lượng sức cúng dường (có hay không
đều được), cách thức thực hiện hết
sức đơn giản, dễ dàng.
* Hỏi:
Khi chúng tại gia và chúng xuất gia có cùng một thầy th́
đôi bên xưng hô ra sao? Lại nữa, vị tỳ-kheo xuất
gia có vai vế cao hơn một đời (tức là có cùng
thầy với vị sư phụ của chính ḿnh) th́ tại
gia cư sĩ gọi vị đó là sư bá, nhưng nếu
tại gia cư sĩ có vai vế cao hơn th́ sẽ thuộc
địa vị sư bá của vị xuất gia tỳ-kheo?
Như thế th́ có hợp với quy chế nhà Phật hay
không? (Đỗ Tự Nhiên hỏi)
Đáp:
Người tại gia thuộc hàng ngoại hộ, tuy có cùng
thầy với tăng chúng, cũng chỉ là kẻ quy y, chẳng
phải là pháp tự (người kế tục pháp). Dẫu
kẻ xuất gia thuộc hàng văn bối đối với
ta tôn xưng như thế, người tại gia vẫn
phải giữ thân phận đệ tử. Như trong pháp
thế gian, Châu Vũ Vương tôn Thái Công Vọng[44] làm Thượng Phụ, vua Thái Giáp[45] nhà Thương
tôn Y Doăn làm Sư Bảo, nhưng Thái Công và Y Doăn vẫn giữ
thân phận thần tử (bầy tôi).
* Hỏi:
Phật giáo từ thời đại, niên hiệu nào truyền
đến thời Trung Hoa Dân Quốc? (Trang Khánh Hiền hỏi)
Đáp: Phật
giáo truyền đến Trung Quốc bắt đầu vào
lúc Mục Vương nhà Tây Châu gặp lại Tần Mục
Công, nhưng đấy đều là dă sử. Xét ra, trong phần
Thích Lăo Chí của Ngụy Thư[46] đă chép: “Hán
Vũ Nguyên Thú trung, Hung Nô Côn Tà vương lai hàng, hữu
kim nhân, đế dĩ vi đại thần, liệt ư
Cam Tuyền cung” (trong niên hiệu Nguyên Thú[47] thời Hán Vũ Đế, vua Hung Nô là
Côn Tà đến hàng, dâng tượng người vàng, vua Hán
nghĩ đó là tượng một vị thần lớn,
xếp vào cung Cam Tuyền). Trong lúc ấy cũng chỉ có
tượng Phật. Thời Hán Ai Đế, “Bác sĩ đệ tử Tần
Cảnh Hiến, thọ Đại Nhục Chi vương
sứ Y Tồn khẩu thọ Phù Đồ kinh” (Bác sĩ
đệ tử[48] Tần Cảnh Hiến được
sứ giả của vua nước Đại Nhục Chi
là Y Tồn truyền dạy kinh Phật bằng lối khẩu
truyền). Sau đó, Hán Minh Đế mộng thấy người
bằng vàng, đảnh có bạch quang, Phó Nghị [giải
mộng] người vàng ấy là Phật. Vua liền sai Thái
Âm và Tần Cảnh Hiến v.v... đi sứ Thiên Trúc, thỉnh
được kinh Tứ Thập Nhị Chương và tượng
Phật Thích Ca, người đời sau phần lớn
coi Phật giáo bắt đầu du nhập Trung Quốc vào
thời điểm này.
* Hỏi:
Có một tín đồ nhà Phật, quy y bái sư, lại c̣n
bái đến ba, bốn, năm vị là do ư nghĩa nào? Giả
sử vốn là một tín đồ quy y bái sư trong Thiền
Tông, sau đó lại theo pháp môn Tịnh Độ Tông, có cần
phải bái sư với một vị sư trong Tịnh
Độ Tông hay không? (Trang
Khánh Hiền hỏi)
Đáp: Xét
ra, quy y Tam Bảo, chữ Tăng được giải thích
có nghĩa là Chúng. Cho nên thật ra, quy y
Tăng là quy y hết thảy Tăng. Kẻ ấy nếu
chẳng cầu giới mà cũng chẳng cầu học,
chuyên quy y cho nhiều, nói chung đó là kẻ chẳng hiểu
Phật lư vậy!
* Hỏi:
Xưa kia ḥa thượng Nhật Bản chỉ nghiên cứu
Phật lư tu hành mà thôi, chẳng ăn chay, đương
nhiên kết hôn có con, có cháu, vốn có một thứ Phật
pháp như vậy ư? (Trang
Khánh Hiền hỏi)
Đáp: Nghe
người đă từng đến Nhật Bản, hiểu
rơ t́nh h́nh nói Phật pháp xứ ấy vốn học từ
Trung Quốc, nối tiếp nguồn gốc từ xứ Ấn,
kinh luật huy hoàng, há có hai lẽ? C̣n những chuyện như
ông đă nói vốn xảy ra sau thời Minh Trị[49], chỉ có một phần biến thái,
chẳng phải là tất cả đều như vậy.
* Hỏi:
Nghe nói người quy y Tam Bảo mới được
coi là Phật giáo đồ chân chánh, nhưng đức Phật
vốn dạy con người tự quy y Tam Bảo, hóa ra [tự
quy y như thế] chẳng được coi là Phật giáo
đồ ư? (Trần Vũ
Cát hỏi)
Đáp: Tự
Quy Y có nghĩa là chính ḿnh vui thích quy y, chẳng do bị bắt
buộc. Đă tự vui thích quy y Tam Bảo th́ ai bảo người
ấy chẳng phải là Phật giáo đồ? Nhưng
quy y có nghi thức và tự tánh sai khác! Nghi thức th́ cần
phải cầu thọ quy y nơi vị tỳ-kheo trọn
đủ giới, cử hành nghi thức trước Phật.
Tự tánh là hiểu rơ ư nghĩa Tam Bảo, biết tự
tánh vốn trọn đủ phẩm đức của Tam
Bảo, xoay về dụng công nơi tâm tánh. Nhưng hai loại
này chẳng thể tách ĺa, hễ tách ĺa th́ tuy gọi là đệ
tử Phật, nhưng thật ra đă khiếm khuyết
vậy.
* Hỏi:
Thuở Phật tại thế, hàng đệ tử như
các Đại Bồ Tát và A La Hán nghe pháp có ăn chay hay
không? (Đồ tể hỏi)
Đáp: Tín
đồ nhà Phật lấy ăn chay làm nguyên tắc. Đức
Phật cấm ăn thịt. [Điều này có thể] thấy
trong khắp các kinh, quá nhiều, khó thể nêu trọn. Có lúc
do thời thế, hoặc bị cuộc đất hạn
chế, thóc lúa, rau dưa chẳng mọc, được
phép ăn năm thứ tịnh nhục, điều này thuộc
về ngoại lệ. Vấn đề này hết sức
đơn giản, chớ nên nghi hoặc lắm nỗi! Giáo
nghĩa của nhà Phật là từ bi, b́nh đẳng; giết
kẻ khác để ăn thịt, há có từ bi? Hy sinh kẻ
khác để ta sanh trưởng, b́nh đẳng ở chỗ
nào? Nếu chấp trước đối với loài động
vật, cần phải giết chúng th́ ta mới nhờ vào
đó để sống sót, đó là kẻ mạnh ăn thịt
kẻ yếu, thuộc về học thuyết sanh tồn
bằng cách thích nghi, lư luận lệch lạc, chẳng viên
măn! Cư sĩ chẳng hỏi sâu hơn, nên kẻ hèn này cũng
chẳng rườm lời!
* Hỏi:
Nghe nói vị Hoạt Phật X... không ăn chay, có thật hay
không? V́ sao không ăn chay? Đài Loan không có rau dưa ư? (Đồ tể hỏi)
Đáp: Tông
phái Phật giáo không đồng nhất, nói chung chia ra thành
hai hệ Hiển và Mật. Mật ở Trung Quốc, phần
lớn truyền thừa tại các nơi như Mông Cổ,
Tây Tạng v.v... Các xứ ấy ngũ cốc, rau dưa rất
ít, theo tập tục vẫn ăn thịt; nhưng Mật
Tông ăn thịt đều dùng mật chú để gia
tŕ, có thể làm cho thần thức của chúng được
siêu thăng. Đây cũng là do hoàn cảnh có đủ mọi
nỗi ép buộc, là Quyền Trí thuộc về chuyện bất
đắc dĩ. Sư X.... là Kim Cang Thượng Sư của
Mật Tông, tại Đài Loan tuy rau dưa, hoa quả đầy
dẫy, Thượng Sư tự có biện pháp đặc
biệt, tín đồ Phật giáo thông thường chớ
nên bàn tán.
* Hỏi:
Phân biệt tà giáo, ngoại đạo và chánh giáo bằng cách
nào? (Đồ tể hỏi)
Đáp: Lư
chân, trí viên, chẳng thiên lệch, chẳng thay đổi, đại
công vô tư, đó là chánh giáo. Yêu ngôn, huyễn thuật, trái
nghịch tánh đức, lật đổ luân thường,
đó là tà giáo. Bỏ gốc chạy theo ngọn, chân ngụy
lẫn lộn, giống như đúng, nhưng thật ra là
sai, đó là ngoại đạo. Nhưng tà ngoại cũng
chẳng hề thừa nhận họ là tà ngoại, hào ly,
ngàn dặm trong ấy, cần phải do người đọc
sách hiểu lư, có con mắt sáng biện định.
* Hỏi: Hội Hồng Vạn Tự [rêu
rao] ngũ giáo đồng nguyên (năm tôn giáo cùng nguồn),
cũng có thể tuyên truyền, hóa độ thiện nam,
tín nữ, nên coi là tà giáo, ngoại đạo hay chánh giáo? (Đồ tể hỏi)
Đáp: Hồng
Vạn Tự chia thành hai loại là Đạo và Từ, sự
nghiệp từ thiện do họ thực hiện rất có
thành tích, thật đáng tán thán. C̣n nói về đạo th́
họ nói ngũ giáo đồng nguyên do có nỗi khổ tâm
riêng, sự thật quyết chẳng phải là như vậy.
* Hỏi:
Người học Phật nhằm dịp sinh nhật của
cha mẹ, muốn cúng Phật trước bàn Phật tại
nhà, chẳng biết phải tụng kinh ǵ? (Khoan Chiêu hỏi)
Đáp: Tụng
kinh Dược Sư là phổ biến nhất. Nếu tụng
kinh Vô Lượng Thọ hoặc tụng kinh Kim Cang cũng
đều thích hợp.
* Hỏi: Nếu khuyên người
khác học Phật, niệm Phật, mọi người đều
nói “tâm tốt là được rồi, chẳng hại đối
phương th́ là người tốt bậc nhất, cớ
ǵ cứ phải tin Phật?” Chẳng biết phải trả
lời đối phương như thế nào? (Khoan Trạm hỏi)
Đáp: Hết
thảy chúng sanh tham, sân, si đầy dẫy, làm sao có thể
khoe là tâm tốt cho được? Hằng ngày miệng nói
lời dối trá, thêu dệt v.v... Thân gây giết, trộm (chẳng
cho mà lấy), tà dâm v.v... làm sao có thể tự khen là người
tốt? Tin Phật chính là cầu giác ngộ; kẻ thốt
lời ấy, rơ ràng là một mực hồ đồ! Chẳng
học Phật làm sao có ngày nào thanh nhàn, tỉnh giác? Sự
mê hoặc, ngu si ấy cũng đáng buồn lắm thay!
* Hỏi:
Trong Phật học c̣n nói có quỷ, người thường
(kể cả tôi trong ấy), nghe nói đến quỷ ắt
tâm hoảng, gan lạnh, thứ tâm lư ấy dường như
bẩm sinh, nên làm cách nào để khỏi có tâm lư hoảng
sợ? (Vương Quưnh Như
hỏi)
Đáp: Quỷ
là một trong lục đạo chúng sanh, là kẻ bị đọa
trong tam đồ chịu khổ, người học Phật
hăy nên dấy ḷng thương xót, t́m cách siêu độ, chớ
nên sợ hăi. Nghe nói tới quỷ bèn hoảng sợ, cố
nhiên vốn là tập khí bẩm sinh, cố hữu, mà cũng
v́ thế tục tuyên truyền những chuyện đáng sợ
về quỷ.
Phật Học Vấn Đáp
Loại Biên
Phần 6 hết
[1] Lôi âm: Tiếng sấm rền. Âm thanh của
Phật khiến chúng sanh tỉnh ngộ, nên thường
được ví như tiếng sấm rền, thức tỉnh
những kẻ đang si mộng.
[2] Hải đăng c̣n gọi là Trường
Minh Đăng là một loại đèn thường dùng
để cúng Phật, đèn thường có h́nh một chiếc
bát lớn, đôi khi có chân, chứa rất nhiều dầu,
ở giữa chỉ thả một tim đèn để thắp
sáng suốt năm chẳng tắt. Loại đèn gọi
là butter lamp (dkarme) của Tây Tạng cũng thuộc loại
hải đăng.
[3] Bảo sát là ngôi chùa
báu, tiếng tôn xưng một ngôi chùa. Sát là gọi tắt
của chữ Sát Đa La (ksetra), Sát Đa La có nghĩa gốc
là cơi đất, lănh vực (nên c̣n dịch là sát độ),
về sau thường được dùng để chỉ
chùa miếu, tháp thờ Phật.
[4] Gọi là “thác chuyển” v́ chưa sử
dụng chân tâm, chuyển thân vào cảnh nào vẫn c̣n phải
dùng thần thức nhập thai. Trong khi bậc Đẳng
Giác và Diệu Giác (Phật) hoàn toàn là chân tâm, có thể tùy ư
thị hiện thọ sanh.
[5] Theo Tứ Giáo Nghi của tông Thiên Thai, có
bốn loại Tứ Đế:
1. Tạng Giáo Sanh Diệt Tứ Đế
giảng các pháp do nhân duyên sanh, có sanh, có diệt. Hàng Thanh
Văn dùng Tích Không Quán (quán Không bằng cách chia chẻ, phân
tích sự vật cho đến cuối cùng thấy
được vạn pháp đều Không) để lănh hội
Tứ Đế, chán nhàm sanh tử khổ, ưa cầu niềm
vui Niết Bàn; v́ vậy gọi là Sanh Diệt.
2. Thông Giáo Vô Sanh Tứ Đế: Dùng Thể
Không Quán (quán Không bằng cách trực tiếp thể nhập
bản chất của Không, không qua phân tích), biết bản
thể của Ngũ Ấm và các pháp chính là Không, như huyễn,
như hóa, Khổ chẳng có tướng bức bách, Tập
chẳng có tướng ḥa hợp, Diệt chẳng có
tướng, Đạo chẳng có hai tướng, từ
lư Chân Không, biết được Bất Không, chứng nhập
Trung Đạo.
3. Biệt Giáo Vô Lượng Tứ Đế:
Bồ Tát giáo hóa chúng sanh vô lượng, sử dụng pháp
môn vô lượng, nên nói Khổ có vô lượng tướng,
quả báo trong mười pháp giới bất đồng:
Tập có vô lượng tướng, Ngũ Trụ Phiền
Năo có vô lượng tướng v́ hằng sa pháp môn bất
đồng; Diệt có vô lượng tướng v́ các Ba
La Mật bất đồng vô biên v.v...
4. Viên Giáo Vô Tác Tứ Đế: Đại
Thừa Bồ Tát quán trọn vẹn các pháp, mỗi Sự
đều chính là Lư, chẳng có tạo tác, nên nói Ấm, Nhập
đều Như, không có Khổ để bỏ, trần
lao vốn thanh tịnh, không có Tập để trừ,
không có Đạo để tu, sanh tử chính là Niết Bàn
v.v...
[6] Ca ngợi, tán dương bằng âm nhạc.
[7] Năm mươi bốn địa vị
là phàm phu, sơ phát tâm, Thập Tín, Thập Trụ, Thập
Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa,
Đẳng Giác, và Diệu Giác.
[8] Hai mươi bảy địa vị
Thánh Hiền định nghĩa trong Tiểu Thừa rất
phức tạp, ở đây, chỉ dùng thuyết của
kinh A Hàm. Theo kinh Trung A Hàm, quyển ba mươi, có mười
tám địa vị hữu học (hiền nhân) và chín
địa vị vô học (thánh nhân). Hữu học là Tín Hạnh,
Pháp Hạnh, Tín Giải Thoát, Kiến Đáo, Thân Chứng,
Gia Gia, Nhất Chủng, Hướng Tu Đà Hoàn, Đắc
Tu Đà Hoàn, Hướng Tư Đà Hàm, Đắc Tư
Đà Hàm, Hướng A Na Hàm, Đắc A Na Hàm, Trung Bát Niết
Bàn, Sanh Bát Niết Bàn, Hành Bát Niết Bàn, Vô Hành Bát Niết
Bàn, Thượng Lưu Sắc Cứu Cánh. Vô Học gồm
Tư Pháp, Thăng Tấn Pháp, Bất Động Pháp, Thoái
Pháp, Bất Thoái Pháp, Hộ Pháp, Thật Trụ Pháp, Huệ
Giải Thoát và Câu Giải Thoát.
[9] Đây là mười bốn pháp nhẫn
theo kinh Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhă Ba La Mật
Đa: Trụ, Hạnh, Hồi Hướng, Hoan Hỷ, Ly Cấu,
Phóng Quang, Diệm Huệ, Nan Thắng, Hiện Tiền, Viễn
Hành, Bất Động, Thiện Huệ, Pháp Vân và Chánh Giác
Nhẫn.
[10] Kinh này có tên gọi đầy đủ
là Đại Thừa Đại Tập Địa Tạng
Thập Luân Kinh, do ngài Huyền Trang dịch, gồm tám phẩm,
do Địa Tạng Bồ Tát khải thỉnh, đức
Như Lai nói ra mười luân của Phật, tức
mười pháp tu hành chánh yếu, đồng thời giảng
về ngũ vô gián tội, bốn tội ác nghiệp
căn bản v.v... Một bản dịch khác của kinh
này là Đại Phương Quảng Thập Luận Kinh
không rơ tên người dịch.
[11] Đây là những thuật ngữ trong
Đông Y. Bệnh được chia làm bốn loại
Hư, Thực, Hàn, Nhiệt. Để trị bệnh th́ bốn
cách: Bổ để trị chứng Hư, Tả dùng
để trị chứng Thực, Ôn để trị chứng
Hàn, Lương để trị chứng Nhiệt. Có thể
hiểu thô thiển Bổ là bù đắp khi cơ thể
hư nhược, Tả là phát tán bớt những ǵ quá
vượng. Một câu thiệu (khẩu quyết) chủ
yếu trong Đông Y là “hư tắc
bổ kỳ mẫu, thực tắc tả kỳ tử”
(hư th́ bổ mẹ, thực th́ tả con). Chẳng hạn
như Đông Y quan niệm Thận là Thủy, gan là Mộc.
Do Thủy sanh Mộc nên thận là mẹ, gan là con. Nếu
gan bị chứng hư nhược th́ không bổ gan mà chú
trọng áp dụng thuốc để bổ thận. Biểu
hiện của chứng gan hư nhược là mất ngủ,
dễ đói, dễ no, mặt cảm thấy nóng bừng,
mạch huyền mà tế, cách trị liệu là bổ thận
thủy để tiêu hư hỏa nơi gan. Đối với
Tả, th́ chẳng hạn gan là Mộc sanh tâm là Hỏa, do
vậy, gan là mẹ, tâm là con. Nếu gan bị chứng bệnh
thuộc về thực, bèn chẳng trực tiếp tả
nơi gan, mà tả nơi tâm hỏa. Biểu hiện của
gan bị bệnh thực là chóng mặt, nhức đầu,
tai ù, tính t́nh nóng nảy, bộp chộp, eo hông đau nhức,
mặt đỏ, mắt đỏ, nước tiểu
vàng xuộm v.v...
[12] “Ái quốc tưởng khoán” là công khố
phiếu phát hành từ năm 1950 đến năm 1980 tại
Đài Loan, do ngân hàng quốc gia Đài Loan phát hành.
[13] Lễ Khất Xảo c̣n gọi là Thất
Tịch, Thất Xảo, hay Thất Thư Đản, là một
ngày lễ vào mồng Bảy tháng Bảy âm lịch, nhằm
kỷ niệm Ngưu Lang và Chức Nữ. Đối với
Trung Hoa hiện thời, ngày này cũng được coi là
một dạng Valentine của riêng Trung Hoa. Do thuở
xưa, phụ nữ chỉ có thể xuất giá, giúp chồng
dạy con, đ̣i hỏi phải có tài nữ công gia chánh
khéo léo, nên vào ngày ấy, phụ nữ (nhất là các cô
chưa chồng) thường bày bánh, mứt, hoa quả khấn
vái Ngưu Lang và Chức Nữ, cầu có được
tài nghệ thủ công khéo léo và sẽ có mối nhân duyên tốt
đẹp, nên lễ này gọi là Khất Xảo.
[14] Chỉ cụ Lư Bỉnh
[15] Cụ Lư Bỉnh
[16] Theo truyền thuyết cổ Ấn
Độ, mắt ngỗng chúa nhạy bén, ḥa nước với
sữa, ngỗng chỉ uống sữa, chừa nước
lại. V́ thế, kinh luận nhà Phật thường dùng
mắt ngỗng chúa để tỷ dụ hàng Bồ Tát
hay người trí huệ có mắt sáng, khéo phân biệt pháp
yếu.
[17] Thật ra, Âu Dương Tu không sửa
chữa Tân Đường Thư mà biên soạn một bộ
sử mới về nhà Đường với sự cộng
tác của Tống Kỳ, Phạm Trấn, Lă Hạ Khanh
v.v... Bộ sử này gồm 225 quyển, chép các sự kiện
từ thời Đường Cao Tổ (Lư Uyên) đến
Đường Ai Đế Chiêu Tông (Lư Chúc). Trước
đó đă có bộ Đường Thư do nhóm Lưu Hú
biên soạn (về sau tác phẩm này gọi là Cựu
Đường Thư), nhưng Tống Nhân Tông chê là “thứ tự rối ren, chép chi
tiết hay đại lược không thích đáng, văn
phong chẳng rơ ràng, thiếu sót sự kiện” nên sai
nhóm Âu Dương Tu biên soạn một bộ sử mới.
Do nhà vua truyền lệnh gạt bỏ những chuyện
sấm vĩ, huyền dị, họ Âu vốn sẵn có ác
cảm với Phật giáo bèn nhất loạt gạt bỏ
những sự kiện dính dáng đến Phật giáo
cũng như những phần chép về các vị cao
tăng đại đức Phật giáo đương thời.
Bộ sử này bị người đương thời
và hậu nhân chê là tác giả đă để t́nh cảm
riêng tư lấn át, không tŕnh bày sự
kiện lịch sử khách quan, cũng như có những nhận
định lệch lạc thiếu khảo chứng, đồng
thời gạt bỏ rất nhiều sự kiện quan trọng.
Ngô Chẩn viết bộ Tân Đường Thư Củ
Mậu vạch ra bốn trăm sáu mươi điều
sai lầm trong bộ Tân Đường Thư và phê phán rất
nặng: “Chẳng biết cách
biên soạn, chỉ noi theo ư thích của riêng ḿnh”.
[18] Ngũ Tứ là phong trào vận động
của sinh viên, học sinh và công nhân Trung Hoa, nổ ra quyết
liệt vào ngày Bốn tháng Năm năm 1919 nên gọi là
phong trào Ngũ Tứ. Sau khi Đệ Nhất Thế Chiến
kết thúc, trong hội nghị kư kết hiệp ước
Versailles, khối Đồng Minh đă giao chủ quyền
tỉnh Sơn Đông từ Đức cho Nhật Bản,
chẳng cần đếm xỉa đến ư kiến của
chính quyền Quốc Dân Đảng khiến quần chúng bất
b́nh, dấy lên phong trào phản đối chính quyền Dân
Quốc, quy kết Trung Hoa suy yếu là do hệ thống
tư tưởng Khổng Mạnh và các tư tưởng
cũ kỹ, lạc hậu khiến cho con người nô lệ,
ươn hèn. Một cuộc biểu t́nh lớn tại
Thiên An Môn đă nổ ra ngày Bốn tháng Năm năm 1919 với
hơn ba ngàn sinh viên từ mười ba trường đại
học, cũng như đ̣i xử tội ba nhân vật
thân Nhật trong chính quyền thời ấy là Tào Nhữ
Lâm, Lục Tông Dư, Chương Tông Trường. Phong
trào bùng nổ khắp 22 tỉnh thành lớn và 150 thành phố
của Trung Hoa như Thiên Tân, Thượng Hải, Nam Kinh
v.v... khiến chính quyền Dân Quốc phải cách chức
ba người nói trên và từ chối kư hiệp ước
[19] Hồi Sát (回煞), hoặc Hồi Sảnh (回眚) là một niềm tin xưa cũ của
Trung Hoa, theo đó, trong ṿng bảy ngày sau khi chết, người
chết sẽ được quỷ dẫn trở về
thăm nhà. Nếu phạm trùng tang, trùng nhật, trùng nguyệt
v.v... người chết sẽ bắt người thân chết
theo. Để biết chính xác ngày nào th́ phải nhờ
đạo sĩ tính toán. Tối hôm ấy, những người
phạm tuổi phải lánh mặt kẻo người chết
bắt đi, đồng thời phải cúng tế, trấn
yểm để người chết không làm hại
người sống.
[20] Đỗ Bá là hậu duệ của
Đan Châu (con vua Thuấn), làm đại thần của
Châu Tuyên Vương Cơ Tĩnh (?-782 trước Công
Nguyên). Châu Tuyên Vương nghe nói phụ nữ có hại
cho giang sơn nhà Châu bèn hạ lệnh bắt thật nhiều
phụ nữ đem giết, ngay cả trẻ gái cũng
giết sạch. Đỗ Bá can gián nhưng Châu Tuyên
Vương không nghe, giết chết Đỗ Bá. Về
sau, Châu Tuyên Vương mộng thấy bị Đỗ Bá
bắn chết, kinh sợ, ngă bệnh rồi qua đời.
[21] Năm 597 trước Công Nguyên, Tần
Hoàn Công sai Tuân Lâm Phụ làm nguyên soái tấn công nước
Tấn, Ngụy Khỏa dẫn quân chống cự. Trong lúc
giao chiến, có một cụ già cứ bện cỏ ngáng
chân dũng tướng Đỗ Hồi của quân Tần.
Đỗ Hồi vô ư ngă chổng kềnh, bị quân Tấn
bắt sống, quân Tần đại bại. Đêm ấy
Ngụy Khỏa nằm mộng thấy cụ già đến
bảo: “Tôi là cha của nàng ái thiếp của cha tướng
quân (Ngụy Thù)”. Lúc Ngụy Thù sắp chết đă dặn
Ngụy Khỏa phải đem nàng ái thiếp bồi táng,
nhưng Ngụy Khỏa nghĩ Ngụy Thù sắp chết
nói sảng, nên không làm theo. V́ thế, cụ già hiện thân
ngáng chân Đỗ Hồi để đền ơn.
[22] Chẳng biết chuyện này thật sự
có hay không, nhưng xưa kia, người Trung Quốc quan
niệm chết ở đâu đều phải đưa
về quê an táng. Nếu nhà nghèo, chi phí hộ tống quan tài
về quê rất tốn kém, nên mới có chuyện hay gởi
quan tài quàn lại chùa hay đạo quán của đạo
sĩ cho tới khi có tiền sẽ đưa về quê
chôn cất. Có truyền thuyết cho rằng những
người nghèo quá, không đủ tiền thuê thuyền,
xe chở quan tài hay quàn tạm tại chùa, miếu, bèn nhờ
đạo sĩ dùng thuốc Cương Thi Tán để
giữ cho xác chết không hư, dán một lá bùa yểm mặt
người chết, đạo sĩ đi trước lắc
linh, xác chết sẽ nhảy ḷ c̣ theo nhịp linh để
về đến nhà. Do truyền thuyết này mà phim ảnh
Hồng Kông thường làm khá nhiều phim về
cương thi (quỷ nhập tràng) nhảy ḷ c̣ truy đuổi
người sống khi lá bùa yểm mặt bị bóc ra.
[23] Chúc Do (祝由) là một thứ ma thuật về y học của
Trung Quốc cổ đại, chủ yếu là dùng phù chú
để chữa bệnh. Theo các nhà nghiên cứu, Chúc có
nghĩa là chú nguyện, Do là nguyên do. Thuật Chúc Do sử dụng
rộng răi các phương pháp chữa mẹo, phù chú, kể
cả ám thị tâm lư lẫn thôi miên để trị liệu.
Thuật Chúc Do được chia thành mười ba khoa mục
như Đại Phương Mạch, Chư Phong, Thai Sản,
Nhăn Mục v.v... dựa theo cách phân loại các chứng bệnh.
Không rơ thuật Chúc Do đă có từ thời nào, người
Hoa vẫn tin thuật này do Hiên Viên Hoàng Đế chế
ra.
[24] Môn Khẩu Công là thần trấn cửa
chính của một ngôi nhà theo tín ngưỡng dân gian.
Sàng Mẫu là một vị nữ thần
chuyên cai quản giường trong nhà theo tín ngưỡng của
người Mân
Phổ Độ Công chính là biến
tướng của Tiêu Diện Đại Sĩ trong Đạo
giáo. Theo Phật giáo, Tiêu Diện quỷ vương xuất
hiện trước mặt ngài A Nan dưới h́nh dạng
mặt bốc lửa, đau đớn dị thường,
bảo A Nan ba ngày sau sẽ chết và đọa trong ngạ
quỷ, A Nan kinh sợ cầu Phật cứu vớt, đức
Phật dạy phương pháp thí thực, cúng dường
Tam Bảo, dùng đà-la-ni gia tŕ vật cúng để thí cho
chúng ngạ quỷ. Đây là nguồn gốc của các khoa
nghi Mông Sơn, Du Già Diệm Khẩu và Thủy Lục Khoa
Nghi trong Phật môn. Do Diệm Nhiên là Quán Thế Âm Bồ
Tát hóa thân nên c̣n được gọi là Diệm Nhiên Đại
Sĩ hay Tiêu Diện Đại Sĩ. Đạo giáo bèn lấy
ngay h́nh tượng của Ngài, bịa đặt có một
vị thần gọi là Tiêu Diện Đại Sĩ Vũ
Lâm Giám Trai Phổ Độ Chân Quân là hóa thân của Thái Ất
Cứu Khổ Thiên Tôn, cai quản cơi âm, quản lănh hết
thảy các quỷ thần cơi âm, trực thuộc quyền
của Địa Quan Đại Đế và thường
gọi là Phổ Độ Công hay Đại Sĩ Gia.
Địa Cơ Chủ (thần chủ
nền đất) c̣n gọi là Địa Chủ Thần,
Địa Chủ Công, Thổ Trạch Công v.v... là vị thần
bảo hộ nhà cửa. Địa Cơ Chủ c̣n bao gồm
vong linh, cô hồn trong một cuộc đất hoặc những
chủ nhân đă khuất của căn nhà ḿnh đang ở.
Có người c̣n cho rằng thần Thổ Địa,
Long Thần, Vũ Di Vương (thần núi Vũ Di)
cũng được xếp vào các vị Địa
Cơ Chủ. Người Hoa tại vùng Hoa Nam thường
thờ chung vị này trong một bài vị với thần
Tài gần cửa ra vào với danh xưng Tiền Hậu
Địa Chủ Tài Thần và Ngũ Phương Ngũ
Thổ Long Thần để thờ Địa Cơ Chủ.
[25] Câu này trích từ sách Luận Ngữ,
thiên Vi Chánh. Sách Lễ Kư Thế Pháp giảng: “Con người
chết đi gọi là quỷ. ‘Phi kỳ quỷ’ tức
là không phải tổ tiên của chính ḿnh, chẳng nên tế
lễ mà cứ tế lễ, tức là hành vi siểm nịnh”.
[26]
Tam sanh (三牲),
theo nghĩa gốc, con vật để nuôi th́ gọi là
Súc (畜), khi dùng
riêng để cúng th́ gọi là Sanh (牲). Theo cổ lễ, để
trọn ḷng hiếu kính, phải dùng ba loài động vật
bày cỗ cúng, một thuộc loài phi cầm, một thuộc
loài thú chạy, một thuộc loài có vảy. Về sau này,
không hiểu sao thường dùng lợn, ḅ, dê để
cúng (nhất là trong cỗ Thái Lao của nhà vua cúng Thái Miếu);
có nơi chủ trương dùng ngựa, ḅ, dê là Tam Sanh. Tại
miền
[27] Đát Kỷ (妲己, thường bị ghi sai thành Đắt Kỷ hoặc
Đắc Kỷ) là sủng phi của Trụ
Vương (tên thật là Tử Thọ, thụy hiệu là
Đế Tân. Trụ Vương là thụy hiệu do nhà
Châu đặt cho). Có thuyết nói Đát Kỷ là con gái của
Tô Hộ (một viên quan của Trụ Vương), thuyết
khác nói Đát Kỷ là công chúa của nước chư hầu
Hữu Tô. Theo Sử Kư, sắc đẹp của Đát Kỷ
hiếm thấy trên cơi đời, nhưng tính t́nh âm hiểm,
dâm đăng, tàn độc, phong thái lả lơi, kiều mỵ
say đắm ḷng người, bày ra đủ tṛ để
thỏa măn thú ăn chơi bệnh hoạn, như từng
ra lệnh cho ba ngàn cung nữ trần truồng múa hát cho họ
coi, cũng như chế ra “tửu tŕ” để vừa
bơi lộn trong ao rượu vừa uống thỏa
thích. Tiểu thuyết Phong Thần Diễn Nghĩa đă
tô vẽ Đát Kỷ là con hồ ly chín đuôi do bà Nữ
Oa sai xuống phá nát cơ nghiệp nhà Ân Thương.
Bao Tự là người nước Bao,
theo truyền thuyết là cô nhi, do một cung nữ đạp
phải nước dăi rồng hoài thai đẻ ra, cho là
yêu quái, đem vứt đi, được một thợ
săn nước Bao đem về nuôi dưỡng, có sắc
đẹp lộng lẫy nên được tuyển vào
cung của Châu U Vương (năm 799 trước Công
Nguyên), khiến Châu U Vương (Cơ Cung Niết) say
đắm, xao nhăng chánh sự. Bao Tử trở thành sủng
phi, sanh được một con trai tên là Bá Phục. Bao Tự
ít cười, U Vương t́m đủ mọi cách lấy
ḷng, nghe theo kế của Quắc Thạch Phụ nổi lửa
Phong Hỏa Đài để triệu tập chư hầu
tại Ly Sơn. Chư hầu tưởng giặc xâm
lăng kinh thành, gióng trống dồn quân đến cứu,
nào ngờ chẳng thấy ǵ phải tiu nghỉu lui binh,
Bao Tự thấy cảnh ấy, bật cười khoái
trá. Do ghen tuông, chánh cung hoàng hậu họ Thân thừa dịp
U Vương đi săn, bèn dẫn các cung tần xông vào
cung đánh đá Bao Tự đến nỗi sảy thai.
Khi trở về, nghe tin, giận dữ, U Vương liền
phế Thân Hậu và thái tử Nghi Cữu, đuổi ra khỏi
cung, lập Bao Tự làm hoàng hậu, Bá Phục làm thái tử.
Thân Hậu dẫn Nghi Cữu chạy về nước
Thân (thuộc huyện Bắc Dương, tỉnh Hà
[28] Nguyên văn “dương
xuân bạch tuyết, hạ lư ba nhân”. “Hạ lư ba nhân” là từ ngữ chỉ những
ca khúc thông tục quê mùa trong dân gian. Vào thời Chiến Quốc,
Tống Ngọc là một danh nhân thuở ấy nói chuyện
với vua Sở Tương Vương. Vua hỏi: “Nghe
đồn có nhiều người nói xấu ông, chắc là
ngôn hạnh của ông có lắm chỗ sai trái phải
không?” Tống Ngọc thưa: “Xin đại
vương thứ lỗi, cho phép thần kể một câu
chuyện. Có một kẻ ca hát bên ngoài đến Dĩnh
Đô, ở giữa chợ hát những ca khúc thông tục.
Hát lên, có những kẻ ḥa giọng đến mấy ngàn
người. Sau đó, đổi sang hát những ca
khúc thông tục cao sang hơn, kẻ hát theo chỉ c̣n vài
trăm. Đến khi hát những khúc cao siêu, hay tuyệt,
ưu nhă như Dương Xuân Bạch Tuyết đ̣i hỏi
phải có kỹ thuật diễn xướng rất cao,
người có thể hát theo chỉ c̣n lơ thơ mấy
người. Đấy chẳng phải là v́ ca khúc khó nghe,
mà v́ khúc hát quá cao nhă, rất ít người ḥa giọng theo
được. Cũng vậy, những kẻ phê b́nh thần
là bọn b́nh phàm, dung tục, làm sao có thể hân thưởng,
liễu giải thần là người như thế nào?”
Do vậy, sau này từ ngữ “hạ lư ba nhân” trở thành
từ ngữ phiếm chỉ những ǵ thông tục, hời
hợt.
[29] Tượng là em cùng cha khác mẹ của
vua Thuấn. Cha vua Thuấn là Cổ Tẩu, tánh t́nh hung bạo,
mẹ Thuấn chết, Cổ Tẩu bèn lấy vợ kế
đẻ ra Tượng. Cổ Tẩu, mẹ kế và
Tượng thường hành hạ vua Thuấn, thậm
chí nhiều lần mưu sát vua Thuấn. Từ rất nhỏ,
vua Thuấn đă phải làm lụng vất vả để
nuôi gia đ́nh. Vua Nghiêu nghe tiếng, truyền ngôi cho vua Thuấn.
[30] Hội Hồng Vạn Tự (the Red
Swastika Society) là một tổ chức từ thiện mang
danh xưng Phật giáo, họ dùng chữ Vạn để
thay cho chữ Thập trong Hồng Thập Tự. Năm
1916, Ngô Phước Vĩnh (quê ở Tân Huyện, tỉnh
Sơn Đông) sáng lập đạo viện, đề
xướng hợp nhất ngũ giáo (Nho, Thích, Đạo,
Hồi và Thiên Chúa Giáo). Đạo Viện thực chất
là một chi phái của Tiên Thiên Đạo, tức tiền
thân của Nhất Quán Đạo. Đến năm 1921, họ
Ngô cùng với Tiền Năng Huấn, Đỗ Bỉnh Dần,
Lư Giai Bạch xúc tiến tổ chức hội Hồng Vạn
Tự tại Bắc Kinh. Hội được chính thức
thành lập vào năm 1922 tại Tế Nam, thành lập các
phân viện tại Thiên Tân, Bắc Kinh, Tế Ninh. Năm
1923, dời tổng hội về Bắc Kinh, hợp nhất
với đạo viện thành hai cơ cấu song hành. Theo
họ, chữ Hồng biểu thị tấm ḷng thiên chân của
trẻ con, sáng ngời, trong vắt, chữ Vạn tượng
trưng cát tường, như ư, đồng thời có
nghĩa là tám phương bốn hướng, vận hành
không ngừng.
[31] “Viên quang” là một loại pháp thuật
phổ biến trong dân gian Trung Hoa. Người biểu diễn
pháp thuật sẽ dùng một tấm gương tṛn, dùng vải
hay giấy bọc lại, sau đó dùng dầu mè bôi lên tay
giấy và tay rồi niệm chú, bảo hai đứa trẻ
nh́n vào kiếng, nói ra những cảnh tượng chúng thấy
trong đó. Họ dùng h́nh thức này để cầu tiên hỏi
về chuyện đă xảy ra trong quá khứ hay trong
tương lai, nhất là t́m tin tức của người
mất tích. Thậm chí có kẻ dùng cách này để coi ḿnh
có duyên theo học với vị thầy nào!
[32] Văn là Văn Thiên Tường, Sử
là Sử Khả Pháp, hai vị này đều là những bậc
danh Nho nổi tiếng thời Nam Tống, tận trung báo
quốc.
[33] Đàn Đảo tức là quần
đảo Hạ Uy Di (
[34] Bộ sách này có tên gọi đầy
đủ là Quảng Từ Uyển (Kōjien), bộ sách
này thoạt đầu do học giả Tân Thôn Xuất
(Shinmura Izuru) chủ biên, do nhà xuất bản Iwanami Shoten
(Nham Pha Thư Điếm) phát hành lần đầu ngày 25
tháng Năm năm 1955, hiện thời đă được
tái bản sáu lần, là một bách khoa từ điển rất
đồ sộ, có hơn hai mươi ba vạn từ mục.
[35] Âm gốc tức âm dựa theo mặt chữ
Hán th́ từ ngữ Bát Nhă sẽ đọc là Ban Nhược
(
[36] Theo cách đọc chữ này của
người Quảng Đông ở Việt Nam sẽ nghe từa
tựa như Bón Dẹt, có người đọc nghe
như là Bún Dề. Cách đọc của pháp sư Bân Tông hầu
như rất phổ biến khi đọc chữ này theo
âm Quan Thoại.
[37] Trong tự viện Trung Hoa thường
thờ một vị thần hộ pháp ở trai đường,
mặt xanh, tóc đỏ, tay cầm búa, đó là Đại
Thánh Khẩn Na La Vương Bồ Tát, thường gọi
là Giám Trai Sứ Giả. Theo pháp sư Ấn Thuận, vị
này có trách nhiệm hộ liêu, trông nom nhà bếp, nhà kho, bảo
vệ tài sản của nhà chùa. Theo Hà Nam Phủ Chí, tại
chùa Thiếu Lâm vào niên hiệu Chí Chánh (1341-1370) đời
Nguyên, có một vị tăng đầu bù, tóc rối, cởi
trần, chân đất, chỉ quấn một cái quần,
làm lụng trong bếp suốt mấy năm, chẳng biết
pháp danh là ǵ. Khi giặc Hồng Cân xâm chiếm Dĩnh Châu,
kéo đến cướp phá Thiếu Lâm, vị tăng ấy
cầm một cây hỏa côn xông ra, biến thân cao hơn
mười trượng, đứng ngất ngưởng
như quả núi, giặc trông thấy kinh hăi rùng rùng bỏ
chạy. Vị tăng hét lên: “Ta là Khẩn Na La
Vương” rồi biến mất. Do vậy, Tăng chúng
đắp tượng để thờ, tôn là thần Già
Lam của Thiếu Lâm, tôn xưng Ngài là Giám Trai Sứ Giả,
thờ ở trong trai đường. Trong Bách Trượng
Tùng Lâm Thanh Quy Chứng Nghĩa Kư có ghi chép nghi Tế Táo vào
ngày Hai Mươi Bốn tháng Sáu, Hai Mươi Bốn tháng
Chạp và mồng Ba tháng Tám, đại chúng vân tập
trước giờ Ngọ, gơ bang (mơ dài h́nh cá), đánh ba hồi
trống, Trụ Tŕ đối trước bàn Giám Trai Sứ
Giả niêm hương lễ bái. Trong nghi thức thù ân chúc
tán của Thiền Môn mỗi nửa tháng cũng có bài tán
Giám Trai Sứ Giả: “Giám Trai
Sứ Giả, hỏa bộ oai thần, điều ḥa bách
vị tiến duy hinh. Tai hao vĩnh vô xâm, hộ pháp an
tăng, thanh chúng vĩnh mông ân. Nam-mô Hộ Pháp Tạng Bồ
Tát Ma Ha Tát”.
[38] Bộ Pháp Trụ Kư do tôn giả Khánh Hữu
soạn. Trước đó, ngài Tân Đầu La được
kể tên hai lần, nên đến thời Càn Long, các tôn
đức đă khảo cứu kinh tạng và quy định
mười tám vị La Hán là Tân Độ La Bạt La Đọa
Xà (Pindola-bhara), Ca Nặc Ca Phạt Tha (Kanaka-vatsa), Ca Nặc
Ca Bạt Ly Đọa Xà (Kanaka Bharadvaja), Tô Tần Đà
(Suvinda), Nặc Cự La (Nakula), Bạt Đà La (Bhadra), Ca Lư
Ca (Karika), Phạt Xà La Phất Đa La (Vajra-putra), Thú Bác Ca
(Svaka), Bán Thác Ca (Panthaka), La Hỗ La (Rahula), Na Già Tê Na
(Nagasena), Nhân Yết Đà (Ingata), Phạt Na Bà Tư
(Vanavasin), A Thị Đa (Ajita), Chú Đồ Bán Thác Ca
(Cuda-panthaka), Ca Sa Nha Ba (Kasyapa, tức ngài Ca Diếp), Nạp
Đáp Mật Đáp Lạp (Maitreya, tức ngài Di Lặc).
[39] Pháp Giới An Lập Đồ là một
bộ sách gồm ba quyển do pháp sư Nhân Triều soạn
vào thời Vạn Lịch nhà Minh, có nội dung tŕnh bày về
thế giới quan Phật giáo theo kinh Phật, bao gồm
các đồ h́nh các thế giới (chẳng hạn h́nh vẽ
Nam Thiệm Bộ Châu), các cơi cũng như những giải
thích ngắn gọn về các duyên khởi như v́ sao có Hiền
Kiếp v.v...
[40] Ma Hê Thủ La Thiên chính là một danh
xưng khác của thần Thấp Bà (Shiva). Trong Mật Giáo
vị này được gọi là Đại Hắc Thiên
(Mahākāla), là thiên chúa của Sắc Cứu Cánh Thiên
(Akanistha), và được coi là hóa thân của Đại
Nhật Như Lai. Theo Ấn Độ Giáo, Shiva có nghĩa
là đấng cát tường, hoặc thanh tịnh, tượng
trưng cho sự hủy diệt và chuyển biến. Vị
này c̣n có các danh xưng Mahādeva (Đại Thiên), hoặc
Parameshwara (đấng tối thượng).
[41] Thập Sử (c̣n gọi là Thập Hoặc),
tức là mười thứ căn bản phiền năo gồm
tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, tà kiến,
kiến thủ kiến và giới cấm thủ kiến.
Đây là triển khai của sáu căn bản phiền năo
(tham, sân, si, mạn, nghi, bất chánh kiến), tức là bất
chánh kiến tách ra thành năm thứ như thân kiến,
biên kiến v.v... Do vậy, Thập Sử c̣n được
gọi là Kiến Tư nhị hoặc, hay Kiến Tư
phiền năo. Sử có nghĩa là sai khiến v́ chúng có tác dụng
dẫn khởi con người tạo nghiệp, nẩy
sanh vọng tưởng, phân biệt, chấp trước.
[42] Đây là những thuật ngữ dùng
trong vấn đề truyền trao giới hoặc khi
tăng chúng tụ tập tụng giới, yết-ma. Vị
Tăng do bận chuyện ǵ khác chẳng đến tham dự
đàn truyền giới hay bố-tát, yết-ma, bèn ủy
thác một vị tỳ-kheo khác nói cho đại chúng biết
ư kiến tán đồng hoặc điều mong mỏi của
ḿnh th́ gọi là “thuyết dục”. Vị tăng nhận lời
ủy thác gọi là “thọ dục”. Những điều
được gởi gắm ấy được tuyên
nói trước đại chúng th́ gọi là “dữ dục”.
[43] Dục Vô Giảm có nghĩa là mong muốn
tế độ chúng sanh không chán đủ.
[44] Thái Công Vọng là hiệu của
Khương Thượng (tự là Tử Nha), c̣n gọi là
Khương Thái Công, Lă Vọng. Tổ tiên vốn họ
Khương, dưới đời Ngu Thuấn do phù tá
Đại Vũ trị thủy có công nên được
phong ở đất Lă, nên chi họ này cũng gọi là
Lă. Ông được Châu Văn Vương bái làm thầy với
câu nói nổi tiếng: “Tự
ngô tiên quân thái công viết: Đương hữu thánh nhân
thích Châu, Châu dĩ hưng. Tử chân thị da? Ngô thái công vọng
tử cửu hỹ” (thái công cha tôi đă nói: ‘Sẽ có
thánh nhân phù tá nhà Châu hưng khởi. Đúng là Ngài đó
chăng? Cha tôi mong mỏi Ngài đă lâu lắm rồi); v́ thế,
người ta thường gọi Khương Thượng
là Thái Công Vọng. Ông đă phù tá Châu Vũ Vương
đánh thắng Trụ Vương, lập ra nhà Châu,
được phong ở đất Tề.
[45] Thái Giáp tên thật là Tử Chí, c̣n
được gọi là Tổ Giáp, là vua thứ tư của
nhà Thương, cháu của Thương Thang, con Thái
Đinh. Nhờ Y Doăn phù tá mà nhà Thương hùng mạnh, sau
ba năm, vua tự cai trị, nhưng bạo sát bá tánh, Y
Doăn phải đày vua ra biệt cung tại đất Động,
sau khi vua cải hối, Y Doăn trao trả quyền bính, Thái
Giáp trở thành một vị vua hiền lỗi lạc.
[46] Ngụy Thư là một trong hai
mươi bốn bộ sử của Trung Hoa, do sử
quan nhà Bắc Tề là Ngụy Thâu biên soạn, gồm 114
quyển, chép lịch sử của nước Bắc Ngụy
kể từ thời Đạo Vũ Đế (Ngụy
Thái Tổ Thác Bạt Khuê) đến khi Đông Ngụy Hiếu
Tĩnh Đế (Nguyên Thiện Kiến) bị phế truất
vào năm 550.
[47] Nguyên Thú là niên hiệu của Hán Vũ
Đế (Lưu Triệt) từ năm 122 đến
năm 117 trước Công Nguyên.
[48] Bác Sĩ Đệ Tử là sinh viên
đang học tại trường Thái Học, vị thầy
giảng dạy tại trường Thái Học gọi là
Bác Sĩ nên những sinh viên đang học tại đó gọi
là Bác Sĩ Đệ Tử. Sau khi học một thời
gian, qua khảo hạch nếu đỗ đạt sẽ
được bổ làm quan.
[49] Minh Trị (Meiji) là Thiên Hoàng thứ 122 của
Nhật Bản, trị v́ từ năm 1867 đến
năm 1912, có tên thật là Mutsuhito (Mục Nhân). Khi Minh Trị
lên ngôi, thiên hoàng chỉ có hư vị, quyền hành nằm
trong tay Mạc Phủ (Bakufu), kiểu giống vua Lê chúa Trịnh
của Việt