Phật Học Vấn Đáp Loại Biên

佛學問答類編

Phần 7

Lăo Bỉnh Nam giải đáp

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản in của Bỉnh Nam Lăo Toàn Tập Biên Tập Ủy Viên Hội, Đài Loan, 2007)

Giảo chánh: Đức Phong, Trịnh Vân Huệ Trang

 

      * Hỏi: người hỏi: Người tŕ trai chẳng ăn mặn, thân ấy chay hay mặn? khác với người thường hay không? (Khoan Quán hỏi)

 

      Đáp: Thân người do rất nhiều tế bào hợp thành, các tế bào ấy chỉ nhờ vào chất dinh dưỡng trong thực phẩm [mà tồn tại], sanh diệt trong từng sát-na, đổi cũ, thay mới. Ăn ngũ cốc, rau dưa, các tế bào trên thân này tiếp nhận tinh hoa của ngũ cốc, rau dưa; ăn lợn, dê, gà, cá, đương nhiên sẽ xen tạp những tố chất của lợn, dê, gà, cá.

 

      * Hỏi: Khi hỷ sự hoặc tang sự th́ phải chọn lựa ngày tốt để tế lễ tổ tiên, tế thần cũng giống như vậy. Người học Phật nên coi trọng hay xem nhẹ chuyện này? (Lâm Khê hỏi)

 

      Đáp: Người học Phật tâm địa hiền lương, an tường, mọi việc đều tốt lành, chẳng cần câu nệ thuật Âm Dương, Ngũ Hành. Chỉ [trừ khi] gia đ́nh đông người, quen thói [coi trọng ngày tốt xấu] đă sâu, sửa đổi ngay lập tức sẽ dẫn đến sự phản đối, đến nỗi ư kiến mâu thuẫn th́ dường như cũng chẳng hay lắm. Hăy nên tùy tùng quyền để dần dần bỏ đi.

 

      * Hỏi: Hữu t́nh chúng sanh đều do nghiệp hiện các thứ thân trong sáu đường, hứng chịu các thứ quả báo thiện hay ác, nhưng t́nh chúng sanh do t́nh nên chẳng tạo nghiệp thiện hay ác, sao h́nh dáng khác nhau? (Hoàng Mậu Vinh hỏi)

 

      Đáp: Vật t́nh khí thế gian, y báo của hữu t́nh thế gian. Hữu t́nh chánh báo đă ngàn vạn phần sai khác, y báo tự nhiên sẽ muôn h́nh muôn vẻ bất đồng, cũng thuận theo nghiệp báo của hữu t́nh ứng hiện.

 

      * Hỏi: Chư pháp ngă tức hơn chín mươi thứ nguyên tố độc lập trong Hóa Học kết hợp thành hết thảy vật chất trên cơi đời (đă phân giải đến mức chẳng thể phân chia [nhỏ hơn] được nữa), thể coi Ngă hay không? thể coi Thường hay không? (Phan Húc hỏi)

 

      Đáp: [Quan điểm cho rằng] bao nhiêu nguyên tố ấy chẳng thể phân tích [nhỏ hơn] được nữa, chính do khoa học chưa phát triển đến cực điểm. Sau này, trải qua ngần ấy năm tiến bộ, sẽ c̣n thể phân tích tiếp, giống như trước đây chỉ phát hiện nguyên tử, điện tử, hạt nhân của nguyên tử v.v... ngă, thường, nên phản bác!

 

      * Hỏi: Mỗi khi trông thấy chữ Vạn (), tôi liền cảm thấy vui mừng. Kẻ ngu này cho rằng chữ ấy đă căn cứ trên ư nghĩa nhằm biểu thị đức Thế Tôn tay trái chỉ trời, tay phải chỉ đất. Nay tôi trông thấy chữ Vạn do các đồng tu đă quen dùng liền cảm thấy không vui. bậc đại đức trách kẻ ngu này chấp trước, viện lẽ Phật pháp biên, pháp luân thường chuyển, thiên đường biến thành địa ngục, địa ngục biến thành thiên đường, nói rất hùng hồn, cưỡng từ đoạt chánh lư. Tôi suy nghĩ chi ly, chỉ Phật giáo dùng chữ này; nếu chẳng thống nhất, sử dụng lung tung, loạn xạ, thị phi điên đảo, th́ các pháp cũng [sẽ bị hỗn độn, thị phi điên đảo] giống như thế, đối với tín chúng, nên trả lời [câu vấn nạn ấy] như thế nào? (Lă Tồn Tâm hỏi)

 

      Đáp: Xét theo kinh Lăng Nghiêm Hoa Nghiêm Âm Nghĩa[1], [chữ Vạn thoạt đầu] đều được ghi bằng hiệu . Tới niên hiệu Trường Thọ (692-694) đời Tắc Thiên nhà Đường, mới quy định hiệu ấy một chữ, đọc Vạn, biểu thị ư nghĩa vạn đức cát tường. Hết thảy tượng Phật các bức vẽ tại Trung Quốc đều vẽ . Bắc B́nh (Bắc Kinh) lại một kiến trúc h́nh dáng đặc biệt cũng phỏng theo h́nh dạng của hiệu ấy, gọi Vạn Tự Lang (hành lang theo lối chữ Vạn). Chỉ trước ngực tượng Phật Nhật Bản, đa số tạo h́nh chữ , nêu do trong ba mươi hai tướng, phàm những tánh chất xoay tṛn đều xoay theo chiều phải, như tóc xoắn trôn ốc, tướng bạch hào giữa hai mày v.v... nên chữ Vạn này cũng phải xoay theo chiều bên phải. Tuy vậy, bọn ta phàm phu, chưa thấy thánh thân (chân thân của đức Phật), dám quả quyết ai đúng! Nhưng đă nóiphải nên thống nhất, kẻ hèn rất đồng ư. Trước khi chưa khảo cứu [tường tận], hăy nên tuân theo tập quán của mỗi nước. Như tượng A Di Đà Phật tiếp dẫn, kiểu mẫu Trung Quốc cánh tay bên phải buông xuôi [theo thân], c̣n kiểu mẫu Nhật Bản buông xuông cánh tay trái, cũng chẳng nhất trí! Trong lúc hai luồng văn hóa giao lưu này, chẳng cần phải tranh chấp với người khác, tranh chấp cũng ích! Chẳng bằng cầu sao cho ai ấy được an tâm, thuận theo những được đa số trong nước ḿnh ưa chuộng [để vẽ, khắc h́nh chữ Vạn] th́ hay hơn!

 

      * Hỏi: Trong tương lai, lúc Di Lặc Bồ Tát hạ sanh sao lại Ấn Độ? Sao không đến nước Mỹ thuyết pháp, cảm hóa hàng ngoại đạo ương bướng, ngu độn? (Hoàng Mậu Vinh hỏi)

 

      Đáp: Nơi đức Phật chẳng giáng sanh, chưa chắc đă không được Phật giáo thấm nhuần, như đức Thích Ca chẳng sanh tại Trung Quốc, Nhật Bản v.v... Cớ sao Phật pháp riêng tại Trung Quốc, Nhật Bản hưng thịnh, Ấn Độ lại lặng tênh, im ắng? Chuẩn theo đó, tuy ngài Di Lặc chẳng sanh tại Mỹ, cũng chưa chắc cơi ấy chẳng được thấm nhuần Phật pháp! Chỉ Mỹ quốc gia mới thành lập, quan hệ đặc thù với Âu Châu, tôn giáo tự nhiên chịu ảnh hưởng của Âu Châu, nhưng hiện thời càng ngày càng dính líu với Đông Á, số người biết đến Phật pháp đă dần dần nâng cao, đă kẻ đang nghiên cứu [Phật giáo], lại c̣n tăng lữ, chẳng đợi Di Lặc giáng sanh đă tự tiếp nhận trước rồi!

 

      * Hỏi: Khi tuổi thọ con người giảm xuống ba mươi tuổi, rồng trên trời thấy người đời quá ác nên suốt bảy năm chẳng chịu đổ mưa. Theo luận ấy th́ mưa do rồng trên trời trút xuống, nhưng nếu nói theo khoa học th́ chẳng phải do nước bị nung nóng biến thành hơi kết thành hay sao? (Hoàng Mậu Vinh hỏi)

 

      Đáp: Mưa khi do khí tượng tự nhiên kết thành, cũng khi do rồng gây ra. Như trong hiện thời, băng cố nhiên lúc do trời Đông rét buốt ngưng kết, cũng khi trong tiết Hè, dùng sức người để tạo thành.

 

      * Hỏi: Lúc đức Phật làm Thái Tử chưa xuất gia tu hành, do lẽ nào kinh điển để nghiên cứu; sau đấy, do thấy thấu suốt t́nh đời tu hành? (Huệ Lượng hỏi)

 

      Đáp: Từ kiếp xưa lâu xa, Thích Ca Thế Tôn đă sớm thành Phật, đến cơi này thị hiện ứng thân để độ chúng sanh đă hơn tám ngàn lần. Ngài làm Thái Tử tại nước Ca Tỳ La Vệ Ấn Độ cũng cố ư thị hiện tướng phàm phu; thật ra chẳng phải chỉ trong đời này do đọc kinh điển nào rồi mới bắt đầu thấy thấu suốt t́nh đời vậy!

 

      * Hỏi: Thánh đản của chư Phật, Bồ Tát các thứ trai kỳ[2], nên đều đổi sang dùng Dương Lịch hay không? (Quế Dẫn Hạnh hỏi)

 

      Đáp: Điều này tùy ư mỗi người, chẳng cần phải câu nệ nhất định!

 

      *Hỏi: Đức Phật nói một loại người bị xuyên ngực, cớ sao xưa có, nay không? (Trí Lương hỏi)

 

      Đáp: Chuyệnxưa có, nay khôngkể sao cho xiết? Như Xi Vưu thể tuôn sương mù, Hiên Viên thể sai khiến gấu, cọp, báo[3] v.v.. Cầm thú phụng hoàng, kỳ lân. Cỏ cây minh giáp, chỉ nịnh[4], [những thứ ấy] nay đều chẳng có, lẽ cũng chẳng cần phải lấy làm lạ vậy?

 

      * Hỏi: Gần đây, tôi kính cẩn đọc hai cuốn sách Đương Sanh Thành Tựu Chi Phật Pháp (Phật pháp thành tựu trong đời này) do Đài Trung Phật Giáo Liên phát hành Kỹ Lộ Chỉ Quy do xưởng in của Thụy Thành Thư Cục Đài Trung ấn hành vào tháng Mười năm Dân Quốc 38 (1949), cảm kích sâu đậm ân Phật quang phổ chiếu. Chỉ điều [thắc mắc] năm nay rốt cuộc năm Phật lịch bao nhiêu, hai sách nói khác nhau khá nhiều, chẳng biết phải Phật lịch hoàn toàn không tính từ lúc Thích Ca Mâu Ni Phật giáng sanh vào năm hai mươi sáu đời Châu Chiêu Vươnghay chăng? Sách trước nói năm Dân Quốc 42 (1953) năm Phật lịch 2516, sách sau lại bảo năm Dân Quốc 24 (1935) năm Phật Lịch 2962; như vậy th́ năm Dân Quốc 43 (1954) lẽ ra phải năm Phật Lịch 2981. Chẳng biết nỗi nghi của kẻ bất tài này đúng hay không, xin hăy dạy bảo cho! (Trương Liệt hỏi)

 

      Đáp: Đây vấn đề thuộc về lịch pháp. Nếu chẳng phải chuyên gia tinh thông về vấn đề này, lại tài liệu dồi dào, sẽ chẳng dễ giải quyết. Vấn đề này rất nhiều thuyết khác nhau, chẳng phải chỉ hai thuyết như vậy. Nếu lấy năm Dân Quốc 43 để bàn luận th́ những thuyết khác nhau như sau: Thuyết cho năm Phật Lịch 2981, tạp chí Tận Đăng Hương Cảng cho năm 2518, tạp chí Nhân Sinh Đài Loan cho năm 2517, tạp chí Hải Triều Âm cho năm 2225 v.v... Xét ra ai đúng, kẻ hèn này chưa học lịch số, chẳng dám đoán bừa! Dẫu bậc chuyên về lịch pháp, cũng khó thể t́m căn cứ để khảo chứng đích xác, chỉ điều gần đây [sách vở Phật giáo thường] nói năm hai ngàn năm trăm mười mấy do lấy bộ Chúng Thánh Điểm làm căn cứ. Cần phải biết xưa nay đă ba lượt định tháng đầu tiên của một năm khác nhau, trong ngoài nước Âm Dương lịch sai khác, ắt phải gộp những dữ kiện ấy lại để suy đoán th́ may ra sẽ tạm gần đúng với sự thật mà thôi! Nói chung, nếu dựa theo bộ Chúng Thánh Điểm th́ đức Phật giáng sanh vào hơn hai ngàn năm trăm năm trước, so ra khá gần. đây, tôi nêu lên một thí dụ để chứng thực chuyện này khó thể khảo chứng. Khổng Tử người Trung Quốc, đối với năm sanh của Ngài, Công Dương Truyện[5] nói năm 21 đời Lỗ Tương Công (năm 552 trước Công Nguyên), Sử chép năm 22 đời Lỗ Tương Công. Tháng sanh th́ Công Dương Truyện bảo tháng Canh Tư, tức tháng Mười Một. Từ năm Dân Quốc 11 (1922) trở về trước luôn lấy ngày Hai Mươi Bảy tháng Tám Âm Lịch làm thánh đản của Ngài, về sau đổi thành ngày Hai Mươi Bảy tháng Tám Dương Lịch, nay lại khảo cứu th́ thấy ngày Hai Mươi Tám tháng Chín. Chỉ trong nước c̣n như thế, huống kết hợp [các tài liệu] xưa nay, trong ngoài nước để tính toán để nói chuẩn xác, lẽ chẳng phải đơn giản, dễ dàng!

 

      * Hỏi: Vạn sự đều được khoa học hóa; nương vào kinh chú [được ghi âm] trong các đĩa máy hát hiệu quả hay không? (Hà Giang Đô hỏi)

 

      Đáp: Vạn pháp duy tâm, tiếng nước suối c̣n tướng lưỡi rộng dài, huống hồ từng câu từng chữ trong đĩa hát có âm thanh rơ ràng ư? Chỉ cần tâm chí thành, đương nhiên hữu hiệu! Nếu không, nghe người khác niệm tụng th́ cũng như tiếng gió lùa qua khe trống đó thôi!

 

      Hỏi: Người mắt âm dương hoặc huệ nhăn thể thấy kim quang, áo, măo của Phật, thần, quỷ v.v... chuyện ấy thật hay không? (Hà Giang Đô hỏi)

 

      Đáp: Mắt âm dương thật hay không, kẻ hèn này chẳng biết. Dẫu chân thật, chắc thể thấy quỷ thần, chứ chẳng thể thấy cảnh giới của Phật, Bồ Tát; bởi thánh thể thấy phàm, nhưng phàm chẳng thể suy lường thánh, giống như người thấy kiến, nhưng kiến chẳng thể thấy người!

 

      * Hỏi: Ư nghĩa chân thật của tam kỳ mạt pháp như thế nào? Kỳ một kỳ hai thể khảo chứng trong lịch sử hay không? (Hà Giang Đô hỏi)

 

      Đáp: Đấy ngoại đạo tri bịa đặt lời lẽ yêu mị, ư nghĩa chân thật, lịch sử để khảo chứng!

 

      * Hỏi: Trẻ nhỏ đi học, đứng hạng hai mươi sáu trong số năm mươi ba học tṛ, vợ tôi bực tức, tôi đáp:Hăy nên vui c̣n khá hơn hai mươi bảy đứa kia, cớ cứ phải khổ sở ép buộc phải đứng đầu?Xin hăy phê b́nh, chỉ dạy! (Hà Giang Đô hỏi)

 

      Đáp:Đi học chỉ cần đạt mức được rồi”, người làm cha mẹ nghĩ như vậy cũng chẳng phải không được! Nhưng đối với con cái vẫn nên đốc thúc, cổ cái tâm tinh tấn, kẻo chúng biếng nhác đến nỗi sa sút.

 

      * Hỏi: Đức Phật nóiđộ chúng sanh”, tôi trọn chẳng biết Ngài độ bằng cách nào? phải dạy người ta theo thiện, trừ ác? Trừ điều ấy ra, c̣n phương pháp nào khác nữa hay chăng? (Trọng Chí Anh hỏi)

 

      Đáp: Nên hiểu độ cứu độ, chia ra thành Quyền Thật. Khiến cho thoát khỏi tai nạn trong hiện thời bèn Quyền. Khiến cho được bất sanh bất diệt, đạt đến Niết Bàn rốt ráo, đó Thật. Phật độ chúng sanh, cố nhiên chẳng ngoài khuyến thiện, nhưng Thiện lại chia thành hữu lậu lậu khác nhau. Thoát khỏi tai ách trong hiện thời th́ thuộc về thiện nghiệp hữu lậu. Nếu bỏ thiện nghiệp lậu sẽ chẳng thể thành tựu bất sanh bất diệt. Nghiệp lậu ấy chính các phương pháp Thiền, Tịnh, Mật, Luật trong Phật giáo. Các tôn giáo khác chẳng biết đến điều này, chỉ riêng Phật giáo có. Nếu chỉ nóilàm lành, trừ ác” xong chuyện th́ bất luận tôn giáo nào cũng đều khuyến thiện, c̣n quư báu chỗ nào phải tất yếu học Phật nữa ư?

 

      * Hỏi: Phật Học Tạp Chí thường nói người Trung Quốc căn tánh Đại Thừa. Đối với chuyện học Phật, nên chấp nhận cách nói ấy đúng hay không? (Trọng Chí Anh hỏi)

 

      Đáp: thể nói như vậy.

 

      * Hỏi: Cầu được chết tốt lành như thế nào? (Diêu Thanh Nguyên hỏi)

 

      Đáp: Sám hối túc nghiệp, làm nhiều chuyện lành.

 

      * Hỏi: Suốt đời nên xử sự, làm tṛn nhiệm vụ như thế nào? (Diêu Thanh Nguyên hỏi)

 

      Đáp: Cẩn thận vâng giữ bổn phận, đừng tổn người lợi ḿnh, đó nói theo phương diện tiêu cực. Tận tâm, tận lực, ắt phải trung tín, đó nói theo phương diện tích cực. Như vậy th́ sẽ thể thực hiện trọn hết nhiệm vụ!

 

      * Hỏi: Chúng ta người quy y Tam Bảo, trừ lễ bái Phật, Bồ Tát ra, do ngẫu nhiên bước vào miếu thờ thần, cũng như đối với những vị Lăo Gia được thờ kèm thêm trong chùa Phật, liền chẳng lễ bái và thắp hương, làm như vậy đúng hay không? (Dương Thừa Quang hỏi)

 

      Đáp: Thắp hương nhằm tỏ ḷng thành. Tâm Phật tử nên niệm niệm đặt nơi Phật, cần phải đa sự tỏ ḷng thành với hết thảy thần, quỷ. Lễ bái cũng các thứ đại lễ thường lễ khác biệt. Nếu ngẫu nhiên bước vào miếu thờ thần, chỉ cần hướng về tượng thần, chắp tay đủ rồi. Bởi lẽ, vị ấy người đứng đầu một miếu, khách gặp chủ nhà phải lễ phép, đó lẽ đương nhiên.

 

      * Hỏi: Lại người nói, phàm người quy y Tam Bảo, hễ gặp các vị thần như trên, hăy nên hành lễ chúc nguyện, nguyện tôn thần phát Bồ Đề tâm, văng sanh Cực Lạc, hoặc niệm Phật tŕ chú Văng Sanh, niệm như vậy đúng hay không? (Dương Thừa Quang hỏi)

 

      Đáp: Rộng hành pháp thí, chính việc nên làm của Phật tử Đại Thừa, ông ấy nói cũng đúng!

 

      * Hỏi: Đối với Ngọc Hoàng Đại Đế như thế tục nói, hay Thượng Đế được nói trong đạo Gia Tô, kinh luận Phật nói: Phía trên cơi này tám vạn bốn ngàn do-tuần cho đến tận đỉnh núi Tu Di, chính tầng trời thứ hai, tức cung trời Đao Lợi, chúa trời cơi ấy tên Đế Thích. Danh xưng khác biệt, nhưng vị thần ấy địa vị của ông ta giống [với các vị Thượng Đế hoặc Ngọc Hoàng Đại Đế trên đây] hay không? (Phan Thành Lâm hỏi)

 

      Đáp: Phật giáo nói đến trời th́ theo chiều dọc hai mươi tám tầng trời, theo chiều ngang tam thiên đại thiên, gộp chung lại để ước tính sẽ hơn bốn trăm mấy chục ức Thiên Đế. Ngọc Hoàng Đại Đế như Đạo Giáo đă gọi chính vị chúa tầng trời thứ hai như Phật giáo đă nói. C̣n Thượng Đế được nói đến trong đạo Gia rốt cuộc thuộc tầng trời nào, Tân Ước lẫn Cựu Ước đều chẳng nói tường tận, nên chưa thể suy đoán được!

 

      * Hỏi: Bỉ nhân tuy theo Phật đă nhiều năm, nhưng do bận bịu, chẳng rảnh rỗi để xem đọc kinh Phật, nên chẳng biết nguyên do, khởi đầu của thiên địa vạn vật, chẳng biết đức Phật giảng như thế nào, xin hăy chỉ dạy cặn kẽ! (La Quán Thông hỏi)

 

      Đáp: Vấn đề này thể nói tường tận bằng đôi ba câu ư? Nếu muốn nói lược đại ư th́ chỉ một câu chư pháp nhân duyên sanh thể khái quát hết thảy!

 

      * Hỏi: Ban đêm khó ngủ, lại c̣n sau khi ngủ thường gặp ác mộng, kinh hăi tỉnh giấc, cùng sợ sệt, tâm thần chẳng yên, do duyên cớ nào? ảnh hưởng như thế nào? phương pháp nào để trị hay không? (Ông Minh Tiêu hỏi)

 

      Đáp: Hăy nên nằm nghiêng bên hông phải. Sau khi đă nằm, bèn nhắm mắt quán tưởng h́nh dạng mặt trời lặn, trong tâm niệm thầm bốn chữ Phật hiệu, lâu ngày sẽ tự yên.

 

      * Hỏi: Hiện thời, thế tục thường đem vàng, bạc, tiền giấy, hương, nến đặt trước mộ để lễ bái, nhưng Phật giáo đồ chúng ta nên tảo mộ hay không? (Ông Minh Tiêu hỏi)

 

      Đáp: Tang ma cẩn thận khi cha mẹ đă khuất, luôn tưởng nhớ, th́ đức hạnh của dân chúng sẽ sâu dầy. Tục lệ tốt đẹp của nước ta đáng nên ǵn giữ. Nhà Phật đối với cha mẹ nhiều kiếp c̣n nghĩ báo ân, lẽ đâu bỏ mất việc tảo mộ đối với tổ tiên hiện đời?

     

      * Hỏi: nên niệm kinh trước mộ hay không? (Ông Minh Tiêu hỏi)

 

      Đáp: Đấy cách hay nhất, vong nhân thật sự được lợi ích chỉ cách này!

 

      * Hỏi: Nên đem theo những ǵ để bày trước mộ? (Ông Minh Tiêu hỏi)

 

      Đáp: Hương, hoa, trái cây, cơm đủ rồi. Muôn phần chớ nên sát sanh để cúng. Vàng, bạc, tiền giấy v.v... cũng chẳng cần đến!

 

      * Hỏi: Thế tục hiện thời vào những ngày đầu năm tiết [Thanh Minh trong] tháng Ba v.v... phải đi tảo mộ, nhưng chúng ta nên đi theo đúng ngày tháng, hay muốn đi lúc nào cũng được? (Ông Minh Tiêu hỏi)

 

      Đáp: lẽ nên theo tập tục. Nếu lúc nghĩ nhớ, thể tùy thời tế lễ, cũng chẳng phải không được!

 

      * Hỏi: Thân thể thường xuyên sanh bệnh, phương pháp loại trừ gốc bệnh hay không? (Ông Minh Tiêu hỏi)

 

      Đáp: Tâm trong sạch, ít ham muốn, ấn định thời gian vận động mỗi ngày, ăn uống, sinh hoạt hằng ngày phải quy luật, đó trị từ bên ngoài. Nhất tâm niệm Phật, kiêng giết, phóng sanh, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành, đó chuyển biến bằng cách ngấm ngầm; nhưng phải giữ [những điều ấy] cho thường hằng, đừng nên làm đôi chút đă cho đủ!

     

      * Hỏi: Ngài Tam Tạng thỉnh kinh về Trung Quốc, sao [người đời] chẳng nghĩ đến công lao thỉnh kinh của Ngài, trọn chẳng tôn kính lẽ nào? (Trần Giang Ái hỏi)

 

      Đáp: Đời Tống, Âu Dương Tu chẳng tin Phật pháp, bộ Tân Đường Thư do ông ta biên soạn, chẳng chép tiểu truyện về ngài Huyền Trang, nên chuyện ấy không được nêu rơ. thế, giới Nho không để ư đến. Lại do bộ tiểu thuyết Tây Du tuyên truyền những chuyện quái đản, công lao [thỉnh kinh của ngài Huyền Trang] phần nhiều bị Tôn Ngộ Không che lấp. Đấy cũng một nguyên nhân khiến ngài Huyền Trang bị quên lăng.

 

      * Hỏi: Ngày Mười Chín tháng Chín ngày khánh chúc Quán Thế Âm Bồ Tát xuất gia, hay mừng thánh đản, hay ngày Ngài thành đạo? (Vương B́nh Lăng hỏi)

 

      Đáp: Tương truyền đó ngày Ngài xuất gia; thật ra, nguồn cội của ngài Quán Âm rất xa xưa, lịch pháp xưa nay trong ngoài nước đủ mọi thứ sai khác, làm sao thể [phán định] chuẩn xác cho được? Chuyện này bất quá nhằm cảm niệm ân đức của Bồ Tát, nên giả định mỗi năm kỷ niệm vài lượt thôi, chớ nên câu nệ t́m cầu quá mức!

 

      * Hỏi: Tâm Kinh do đức Phật nói, hay do Quán Thế Âm Bồ Tát nói. Lợi Tử Quán Tự Tại Bồ Tát trong ấy phải ngài Lợi Phất Quán Thế Âm Bồ Tát hay không? Lúc nói kinh ấy hướng về ai nói? Địa điểm chỗ nào? (Vương B́nh Lăng hỏi)

 

      Đáp: Hiện thời c̣n giữ được bảy bản dịch của kinh này. [Các bản dịch] được phát hiện gần đây từ hang đá Đôn Hoàng chẳng kể vào số ấy! Trong bản dịch của Pháp Nguyệt đại đời Đường câu: Duy nguyện Thế Tôn, thính ngă sở thuyết (kinh xin đức Thế Tôn hăy nghe con nói), nên thể nói [Tâm Kinh] do Quán Âm Bồ Tát nói. Hai vị pháp La Thập đời Diêu Tần Pháp Nguyệt đời Đường đều dịch Quán Tự Tại thành Quán Thế Âm. Trí Huệ luận đời Đường dịch [danh hiệu Quán Âm Bồ Tát] thành Quán Thế Âm Tự Tại. Dựa theo đó, vị này Quán Thế Âm chẳng c̣n ngờ ǵ! Địa điểm th́ ngoại trừ bản dịch của hai vị La Thập Huyền Trang không ghi chép, năm bản dịch kia đều ghi [Tâm Kinh được giảng] trong núi Linh Thứu thành Vương Xá. Lợi Tử chính Lợi Phất; c̣n hướng về ai để nói th́ thể bảo hướng về Lợi Phất, cũng thể nói hướng về đại chúng!

 

      * Hỏi: Vị tỳ-kheo Tăng [truyền thọ Tam Quy cho ta] đă quá cố, nên xin quy y lại với người khác hay không? (Vương B́nh Lăng hỏi)

 

      Đáp: Tăng đoàn thể đại chúng, thật sự chẳng nói riêng về một nhân nào! thế, quy y quy y Tăng đoàn. Bất quá, vị thầy truyền quy y cho người khác [chính là vị] đại diện Tăng đoàn. Nếu vị ấy đă khuất, Tăng đoàn vẫn c̣n rất nhiều người, nhưng cứ khăng khăng coi người đă chết mới đại biểu [của Tăng đoàn] để giảng giải về chuyện Tam Quy, cử hành nghi thức nên biện định như thế nào th́ kẻ hèn này chưa từng nghiên cứu luật nên chẳng dám đáp bừa!

 

      * Hỏi: người nói đại đa số người xuất gia đều do bị muôn vàn nỗi đả kích trên cơi đời bèn sanh ḷng chán ghét thế gian, dấn ḿnh vào Không môn. Do vậy, họ những kẻ bị đào thải trong cuộc đấu tranh sanh tồn, chẳng đáng làm thầy của người khác! Lại nữa, người xuất gia đều lấy văng sanh thế giới Cực Lạc làm mục đích, như vậy th́ luận định về dục niệm, đúng c̣n quá đáng hơn kẻ tục! Nên đáp [lời vấn nạn ấy] như thế nào? (Trần Cát hỏi)

 

      Đáp: Câu hỏi này mấy ư, cần phải tách ra để trả lời.

      - Một,do bị đả kích nên vào cửa Không(chữ Không môn đổi thành chữ Phật sẽ ràng hơn. Người đời phần nhiều hiểu lầm chữ Không. Tôi học Phật đă mười năm vẫn chưa liễu giải chữ Không). Thử hỏi, hết thảy mọi chuyện trên đời, chuyện chẳng do bị kích thích làm? Kích thích cảm xúc; chuyện chẳng cảm xúc làm sẽ trở thành hành động quáng, thiếu mục tiêu, sao lại chỉ gán ghép điều này vào người học Phật?

      - Hai,bị đào thải trong cuộc đấu tranh sanh tồn, nói đại lược th́ hai loại khác nhau:

      a. Chẳng cầu phú quư bất nghĩa, không ngại an bần lạc đạo, ngồi chẳng ấm chiếu, bếp không rảnh để đun, chăm nom người già của kẻ khác như người già của chính ḿnh, thương con thơ của người khác như con thơ của chính ḿnh, bố thí rộng răi giúp chúng sanh, coi trọng thiên hạ, chẳng trái nghịch nguyên tắc ấy chút nào, đó đạo cạnh tranh sanh tồn của bậc quân tử.

      b. Thiếu hẳn liêm sỉ, mạnh cưỡng đoạt, hy sinh đại chúng nhằm cung phụng, bồi bổ chính ḿnh. Đó sự cạnh tranh sanh tồn của phường tiểu nhân.

      Người xuất gia cố nhiên hạng bị đào thải trong công cuộc đấu tranh sanh tồn nếu hiểu theo kiểu thứ hai. Nếu không, chẳng ít Tăng trong Phật môn thanh niên, cậy vào tuổi trẻ, sẵn có sức mạnh, nếu chuyên mưu cầu cơm áo, chỉ cầu [đạt được mục đích] chẳng nề thủ đoạn, lo chẳng đạt được những thứ ấy?

      - Ba,chẳng đáng làm thầy người khác. Con người phải cách của con người, trọn đủ nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, chẳng phạm giết, trộm, dâm (tức dâm), dối trá, rượu chè, sẽ người hoàn chỉnh. Kẻ nào chẳng thể như vậy, nh́n vào người đó, sẽ mong được bằng, nên người đó thầy của người khác. Người nào chẳng cạnh tranh sanh tồn theo kiểu thứ hai như vừa nói trên đây, chẳng đáng làm thầy người khác ư?

      - Bốn,văng sanh Cực Lạc một trong tám vạn bốn ngàn pháp môn để Phật độ chúng sanh, điều này được gọi pháp môn Tịnh Độ. Người xuất gia tu tập ai nấy tùy thuộc căn nào chọn pháp nấy, trọn chẳng phải ai cũng lấy Cực Lạc làm mục đích.

      - Năm,dục niệm Cực Lạc đúng quá đáng hơn kẻ tục. Đó toàn lời lẽ của kẻ chẳng thông hiểu! Tịnh Độ sáng ngời trọn khắp, khế hợp trọn khắp các căn cơ. Thật ra, các thứ trang nghiêm trong Cực Lạc đều nhằm thuyết pháp, cần phải nghiên cứu tinh tường kinh điển Tịnh Độ mới hiểu ấy. Do chúng sanh trong Sa dục ái quá nồng, nên đức Phật trước hết dùng dục phương tiện để dẫn dắt, khiến họ nhờ vào đó nhập chánh pháp, đạt đến rốt ráo.

 

      * Hỏi: Đọc chương Nhất Tướng Tướng trong kinh Kim Cang do pháp Cưu Ma La Thập dịch, [có câu]: Thế Tôn! Phật thuyết ngă đắc Tránh tam-muội, nhân trung tối vi đệ nhất (Bạch Thế Tôn! Phật nói con đắc Tránh tam-muội, bậc nhất trong loài người). Trong tác phẩm [Kim Cang Kinh] Tiên Chú, ông Đinh Phước Bảo đă dựa theo ư nghĩa lời dịch của pháp Nghĩa Tịch đời Đường Như Lai thuyết ngă đắc Tránh Trụ trung tối vi đệ nhất(Như Lai nói con đúng bậc nhất trong [những người] được an trụ trong Tránh), cho rằng phải đọc [lời dịch của pháp Cưu Ma La Thập] Thế Tôn! Ngă đắc Tránh tam-muội nhân trung, tối vi đệ nhất(Thế Tôn! Trong những người đắc Tránh tam-muội, con thật bậc nhất). Trong khóa tụng hiện thời nên đọc theo câu nào cho đúng? (Phương Định Đức hỏi)

     

      Đáp: Trong phần lớn các bản [kinh Kim Cang đang được lưu hành], câu này được đọc theo cách đă nêu trong trang trước, [do vậy], vẫn nên thuận theo đa số th́ hơn. Hơn nữa, [đọc theo kiểu ấy] lời văn cũng phù hợp với ư nghĩa.

 

      * Hỏi: Giáo Phật giáo rộng răi, sâu sắc, kinh điển khá nhiều, văn tự trong các câu kinh phần nhiều dịch âm tiếng Phạn, khiến cho những kẻ b́nh phàm chẳng cách nào nghiên cứu. những kẻ hâm mộ Phật giáo, liền mong nghiên cứu giáo lư, nhưng chẳng biết nên đọc nghiên cứu kinh điển theo thứ tự nào? Lại chẳng thầy, làm sao thể nghiên cứu thông suốt? (Phan Ngọc Tuyền hỏi)

 

      Đáp: [Trong kinh Phật], số lượng những chữ tiếng Phạn không được dịch ra [tiếng Hán] chỉ hữu hạn, nhưng chúng trở thành một vấn đề khó khăn đối với người mới đọc kinh tại Đài Loan kinh điển quá thiếu. Theo tệ ư, trước hết hăy nên xem những cuốn sách nhỏ thuộc loại nhập môn, đợi đến khi đă biết đôi chút đường nẻo rồi mới xem kinh điển th́ cũng chẳng trễ tràng. Kinh Phật [khó đọc] trọn chẳng phải do văn sâu, thật ra do nghĩa sâu xa. Thụy Thành Thư Cục đường Thành Công, Đài Trung bộ phận phục vụ độc giả của tạp chí này đều lưu thông các tác phẩm Kỹ Lộ Chỉ Quy, Học Phật Thiển Thuyết, Phật Pháp Đạo Luận, Phật Học Thường Thức Khóa Bản v.v... thể thỉnh về đọc vậy!

 

      * Hỏi: Tệ nhân xem kinh tuy chưa thể liễu giải triệt để, trong tâm vẫn cảm thấy mười phần thú vị, nhưng đọc chưa được mấy, đầu óc đă bị các loài ma hôn trầm, tán loạn, buồn ngủ nhiễu loạn, muốn xem, nhưng chẳng thể tự chủ! Vậy là như thế nào? phải nghiệp chướng sâu nặng hay không? (Phan Ngọc Tuyền hỏi)

 

      Đáp: Cố nhiên chướng ngại, nhưng sâu khó hiểu, chẳng thể khơi dậy hứng thú cũng một nguyên nhân.

 

      * Hỏi: Hiện nay thời kỳ kiếp giảm, tuổi thọ con người cứ mỗi một trăm năm lại giảm một tuổi, cứ mỗi một trăm năm bèn thấp hơn một tấc (theo An Toàn Thư). Nếu luận theo tuổi thọ của con người hiện tại bảy mươi tuổi, thân cao năm thước để luận định, th́ năm ngàn năm sau chỉ thọ hai mươi tuổi, thân chỉ cao năm tấc, ắt sẽ chẳng thành ra người nữa! Người dân Nhật Bản thân thể lùn nhỏ, từ thời Minh Trị Duy Tân tới nay, [do chính quyền] đề xướng thể dục, thân thể cao lớn hơn tiền nhân, nên giải thích này như thế nào? (Tông Thụy Tích hỏi)

 

      Đáp: Mọi sự đều thông thường ngoại lệ, An Toàn Thư nói theo lẽ thông thường. Người Nhật thân thể cao thêm, đó ngoại lệ. Điều này cũng mối quan hệ với nhân duyên, thường được gọi Tăng Thượng Duyên. như tiết Đông rét buốt, trong nhà đặt sưởi, có thể hưởng sự ấm áp, nhưng vẫn phải nói là tiết Đông. Mùa nóng hừng hực, tuy gắn máy lạnh thể được mát mẻ, vẫn phải nói tiết Hạ.

 

      * Hỏi: Phương danh của những người bỏ tiền ấn tống kinh điển đều được nêu ra cuối sách nhằm cổ vũ, khích lệ, nhưng văn học lần này lo liệu chuyện ấn loát kinh Nhật Tụng, do không chỗ nên cuối mỗi trang kinh văn bèn ghi tên họ của những người ấy, chuyện này phạm tội khinh nhờn Pháp Bảo hay không? (Tạ Phổ Dương hỏi)

 

      Đáp: In tên họ của những người bỏ tiền ấn tống nhằm phô bày công đức của họ, trọn chẳng phải khinh nhờn. In [tên họ những người ấy phía dưới kinh văn] cũng chẳng khác biệt ǵ, chẳng qua [bản in] sẽ thiếu ràng, tề chỉnh thôi. Cổ nhân tạo tượng Phật, phần nhiều cũng khắc tên dưới ṭa sen của Phật.

 

      * Hỏi: Trên giấy viết thư in thêm lời tự kiểm điểm, khuyên đời, cũng bị phạm tội thiếu cung kính hay không? (Tạ Phổ Dương hỏi)

 

      Đáp: Giấy viết thư nên chú trọng nghệ thuật hóa, nhất phải chú ư sao cho kẻ nhă người tục đều ưa thích. Nếu chọn thơ ca khuyên đời, hoặc sao lục những tác phẩm đơn giản, dễ hiểu của cổ nhân sẽ rất tốt.

 

      * Hỏi: A Đa Đức (Aristotélēs) đă nói:Con người động vật mang tính hội. Y nổi tiếng của Đức Khắc nói: Con người động vật t́nh cảm. Theo cách nh́n của Phật giáo, con người ǵ? (Lâm Quốc Đống hỏi)

 

      Đáp: Theo cách nh́n của bậc thánh triết thế gian Trung Quốc, con người động vật lễ nghĩa. Trong kinh Thư nói: Chim két, tinh tinh đều biết nói chuyện, nhưng vẫn cầm thú, chúng không hiểu Lễ. Kinh Thư c̣n nói: Hiểu nghĩa người. Chẳng hiểu nghĩa, chỉ tham lợi sẽ Chim. Theo cách nh́n của Phật, chúng sanh mang thân người giải thoát dễ dàng nhất, chư thiên tham lạc, súc sanh quá ngu si, ngạ quỷ, địa ngục bị khổ sở bức bách quá ngặt nghèo, đều chẳng dễ giải thoát.

 

      * Hỏi: Trung Thổ câu ngạn ngữ:Một vị ḥa thượng gánh nước uống, hai vị ḥa thượng khiêng nước uống, ba vị ḥa thượng chẳng nước uống. Xét ra Tăng-già sáu thứ ḥa hợp, sao lại chia rẽ như thế? Câu ngạn ngữ ấy chứng cứ nào để khảo sát hay không? (Lâm Quốc Đống hỏi)

 

      Đáp: Lời đồn đăi bịa đặt, căn cứ chi đâu! Câu ấy ư nghĩa giống như long đa bất giáng (lắm rồng chẳng tuôn mưa, nhiều săi không ai đóng cửa chùa), chính lời tỷ dụ của thế tục để châm chọc những kẻ thiếu hợp tác với nhau, chẳng phải Tăng đoàn thật sự chuyện như vậy.

 

      * Hỏi: Trở thành tṛng mắt trong kinh điển Phật giáo ǵ? (Lâm Quốc Đống hỏi)

 

      Đáp: Tôi không hiểu tôn ư dùng hai chữ tṛng mắt như thế nào, Kinh Phật chẳng nói đến tṛng mắt hay chẳng phải tṛng mắt, phải ông muốn hỏi mục đích ǵ? Nếu đúng như tệ ư đă suy đoán th́ thể đáp bằng một câu: Khiến cho chúng sanh ĺa khổ, được vui.

 

      * Hỏi: Nếu ma, ngoại đạo khinh rẻ Phật tử, tuy vậy, Phật tử chẳng lẽ đó sân hận hay bị tổn hại, loài ma, ngoại đạo ấy tất nhiên mắc tội, Phật tử gặp gỡ chuyện đó, phải do nghiệp cảm vời gây ra đó chăng? (Lâm Quốc Đống hỏi)

 

      Đáp: Kẻ ấy do ngu làm như thế, hăy nên giữ tấm ḷng thương xót để mềm mỏng khuyến hóa họ.

 

      * Hỏi: Nếu nữ nhân chán ghét bố mẹ chồng, sai kẻ hầu giết chết, rốt cuộc kẻ hầu giết lầm người chồng, đến nỗi kẻ hầu bị xử tử, người nữ ấy do đang thai nên được thoát chết, đâm ra phát tâm tin Phật, hằng ngày chồng kẻ hầu sám hối tội lỗi, thọ tŕ kinh Kim Cang. Người ấy tu hành phước đức, nhưng do nghiệp lực trói buộc, nên không công năng tiêu tội, đúng không? (Lâm Quốc Đống hỏi)

 

      Đáp: Nếu thể chí tâm, tinh ṛng, chuyên nhất, [tội nghiệp] sẽ chuyển nặng thành nhẹ, thể tiêu diệt.

 

      * Hỏi: Cổ nhân tạo ra chữ viết với tông chỉthúc đẩy nhân loại hướng đến văn minh, tiến bộ, thế, phải nên kính tiếc. Quần áo, giày dép, khăn, váy của người hiện thời thường in hay thêu chữ, kẻ thích sử dụng [những thứ ấy] bị coi ngă mạn hay không? (Lâm Quốc Đống hỏi)

 

      Đáp: Đó cách thức thế gian. Khúc Lễ nói: Không chẳng kính. Văn tự tuy thuộc về giả tướng, nhưng do công năng biểu thị, diễn đạt lời lẽ của thánh nhân, hăy nên kính trọng!

 

      * Hỏi: Trong bài kệ tán Phật câu cám mục trừng thanh tứ đại hải,tứ đại hải [trong câu] ấy phải nói tới bốn đại châu phía ngoài núi Tu Di hay không? (Trại Mạnh Thu hỏi)

     

      Đáp: Câu ấy bất quá tán thán sự rộng lớn, chớ nên câu nệ t́m ṭi [bốn đại hải] thật sự chỗ nào! Phàm quả núi cao nhất trong một tinh cầu đều thể gọi Tu Di, biển cả vây quanh đều gọi tứ hải. Câu hỏi của ông đă nói tới núi Tu Di trung tâm của một đơn vị thế giới, thể hiểu tứ đại hải biển vây quanh bốn phía bốn đại châu, chứ không thể hiểu nước bao quanh một đại châu được!

 

      * Hỏi: Chẳng thể cúng Phật bằng hoa nở cuối tháng Tám lẽ nào? (Trại Mạnh Thu hỏi)

 

      Đáp: Chưa nghe nói thuyết ấy, lẽ tục truyền của một vùng nào đó khiến thành ra như thế!

 

      * Hỏi: Theo sách nói, thế giới lấy núi Tu Di làm trung tâm, chẳng biết núi Tu Di núi chỗ nào? Nếu thế giới đúng như Phật đă dạy th́ giải thích sự vận hành của mặt trời, mặt trăng như thế nào? (Hứa Tái Hưng hỏi)

 

      Đáp: Tu Di trung tâm của thế giới, tức nói tới một đơn vị thế giới. Trong đơn vị thế giới ấy, vây quanh núi bốn đại tinh cầu, tám trung tinh cầu, mấy vạn tiểu tinh cầu v.v... dưới đến Không Luân Tế[6], trên đến Thiền Thiên đều thuộc về phạm vi của nó. Cuộc đất chúng ta đang sống một trong bốn đại tinh cầu; thế, biết núi Tu Di chẳng thuộc về cơi này. Kinh Phật bảo mặt trời, mặt trăng xoay quanh núi Tu Di. Nếu hiểu núi ấy không trên địa cầu này, sẽ chẳng c̣n nghi vấn về sự vận hành của mặt trời, mặt trăng nữa. Bởi lẽ, các nhà khoa học bảo địa cầu thuộc về Thái Dương Hệ, kinh Phật bảo địa cầu này (Nam Thiệm Bộ Châu) thuộc về núi Tu Di, tuy mục tiêu trung tâm khác nhau, nhưng Sự tương thông.

 

      * Hỏi: Sáu thần thông trong Phật lực