Phật Học Vấn Đáp Loại Biên

佛學問答類編

Phần 8

Lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam giải đáp

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản in của Lư Bỉnh Nam Lăo Cư Sĩ Toàn Tập Biên Tập Ủy Viên Hội, Đài Loan, 2007)

Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang

 

      * Hỏi: Do kinh A Di Đà chép: “Tùng thị Tây Phương.... danh viết Cực Lạc” (từ Tây Phương của cơi này.... tên là Cực Lạc), nên biết thế giới Cực Lạc ở phía Tây, song song với thế giới này, như thế th́ chẳng phải là nói thế giới Cực Lạc cũng thuộc trong phạm vi tam giới ư? “Tam giới như nhà lửa”, há riêng Cực Lạc chẳng thuộc vào lệ ấy hay sao? (Hồ Chánh Lâm hỏi)

 

      Đáp: Chớ nên đọc và hiểu lệch lạc như thế. Do nói nông cạn cho dễ hiểu nên bảo là “vượt trỗi ngoài tam giới, chẳng trụ trong lục đạo”, chứ ư nghĩa chân thật là “chứng đắc Vô Sanh, tức là vượt trỗi, do duyên chẳng c̣n bị trói buộc bởi trần duyên trong tam giới này”. Ở đây, do dễ hiểu mà nói “tam giới”, cư sĩ chỉ biết thế giới Sa Bà có phạm vi “dưới là từ Phong Luân, trên đến trời Tứ Không Thiên”. Đó chỉ là theo chiều dọc, chẳng biết theo chiều ngang c̣n có chín núi, tám biển[1]. Ở phía ngoài tầng núi thứ chín tức là núi Thiết Vy bèn chẳng c̣n thuộc vào thế giới Sa Bà nữa. Do cấu trúc của thế giới Sa Bà là như thế, [vượt qua] mười vạn ức [cơi Phật] về phương Tây mới đến Cực Lạc. V́ thế, cơi ấy đă vượt khỏi Sa Bà xa thăm thẳm. Thế nhưng, phạm vi của mỗi thế giới cũng là giả định, do trong hư không thế giới vô tận, nên vạch ra tiêu chuẩn ḥng dễ nói đó thôi! Như nước ta chia thành bao nhiêu tỉnh, tất nhiên là do con người hoạch định, trọn chẳng do thiên nhiên tạo thành như vậy.

 

      * Hỏi: Có phải là Ca Diếp Phật cũng giáng sanh tại Ấn Độ? Nếu không, cớ sao Ngài có cùng tên hiệu với những vị như tôn giả Ca Diếp? (Hồ Chánh Lâm hỏi)

 

      Đáp: [Điều này] đă được chép trong kinh, Ngài cũng sanh tại Ấn Độ.

 

      * Hỏi: Tam thiên đại thiên thế giới là nói theo chiều dọc, trên đến trời Tứ Thiền làm hạn, nhưng phía trên Tứ Thiền Thiên là Vô Sắc Giới Thiên lại thuộc vào thế giới nào? (Hồ Chánh Lâm hỏi)

 

      Đáp: Vô Sắc [Giới Thiên] cũng thuộc vào đại thiên này, do [chư thiên trong các tầng trời ấy] chẳng có h́nh sắc, nên [kinh điển] lược đi [không nhắc tới]. Nếu kể gộp vào trong đó th́ cũng chẳng phải là không được!

 

      * Hỏi: Có người hỏi tôi một câu về danh từ Phật học “định nghiệp chẳng thể chuyển”. Nếu định nghiệp đă là chẳng thể chuyển, cớ sao lại bảo “học Phật có thể tiêu tai, miễn nạn, thêm phước, tăng thọ”? (Khoan Trạm hỏi)

 

      Đáp: Chữ “nghiệp” có ư nói “tạo ra cái nhân”. Trước hết là do tiếp xúc Trần bèn khởi Hoặc, trải qua những giai đoạn tác ư (suy nghĩ, dấy lên ư niệm), so đo và thực hiện, cuối cùng là hoàn thành. Do năm bước liên tục ấy mà cái nhân được thành tựu, nên gọi là “định nghiệp”. Nhân đă thành tựu, nếu mong thay đổi nó, sẽ chẳng thể được, [nên bảo là “định nghiệp chẳng thể chuyển”]. Như quả dưa do có các mối quan hệ, bên trong ruột quả dưa bèn kết thành hạt. Hạt ấy chính là nghiệp nhân để sanh ra dưa trong tương lai. Nếu muốn tự do biến đổi hạt giống đă kết thành th́ cũng chẳng thể được! Điều ấy gọi là “định nghiệp chẳng thể chuyển!” Đă có cái nhân ấy, gặp duyên, nhất định sẽ kết quả, điều này được gọi là “nhân quả chẳng sai sót”. Đối với những điều vừa nói trên đây, cũng chỉ có hạng phàm phu lè tè sát đất là bị câu thúc. Người học Phật cũng tạo nghiệp nhân, nhưng cái được tạo là nghiệp nhân Phật. Trong khi chẳng ngừng tạo nghiệp nhân Phật, những nghiệp nhân phàm phu đă tạo trước kia do chẳng gặp duyên nên chẳng thể kết quả, bất quá [những nhân ấy] chẳng mất mà thôi. Thế nhưng, nghiệp phàm phu như băng, nghiệp nhân Phật như mặt trời, lâu dần sẽ có thể tiêu tan. [V́ thế], đối với lư “học Phật có thể tiêu tai, miễn nạn”, hai đằng chẳng mâu thuẫn. Há chẳng nghe “khi tội khởi lên, đem tâm sám. Khi tâm đă mất, tội cũng tiêu”. Há lại chẳng nghe mấy câu như “tâm có thể tạo nghiệp, tâm có thể chuyển nghiệp” ư?

 

      * Hỏi: Chứng Tứ Quả A La Hán bèn đắc sáu thứ thần thông, trong đó, Thần Túc Thông lên thiên đường, xuống địa ngục và tới các cơi nước khác, tự do phi hành tự tại. Chẳng biết là đi bằng thần thức hay là thân phàm phu có thể đến đó? (Khoan Trạm hỏi)

 

      Đáp: Cả hai thứ đều có thể đến đi tự tại vô ngại.

 

      * Hỏi: Trong hội Pháp Hoa, đức Thích Ca Thế Tôn giới thiệu cho chúng sanh biết rơ Quán Thế Âm Bồ Tát là bậc “tầm thanh cứu khổ, có cầu ắt ứng”, nhưng những chúng sanh trước thời đức Thế Tôn làm sao biết đến Quán Thế Âm Bồ Tát để lễ bái? (Khoan Trạm hỏi)

 

      Đáp: Trước thời đức Thế Tôn, chúng sanh c̣n chẳng biết có Tam Bảo, làm sao có thể biết lễ bái Quán Âm Bồ Tát?

 

      * Hỏi: Nghe nói thăng lên cơi trời là “thụ siêu” (vượt thoát theo chiều dọc), Tịnh Độ là “hoành siêu” (vượt thoát theo chiều ngang). Xét theo lư luận, sanh lên trời khó hơn sanh về Tịnh Độ, cớ sao chẳng phải là ai nấy đều tu pháp môn Niệm Phật để cầu sanh về Tây? (Chiêm Kim Chi hỏi)

 

      Đáp: Thăng thiên chỉ là từ nhân thiện đạo tiến nhập thiên thiện đạo, bất quá vẫn ở trong lục đạo, nhưng thăng lên, chẳng đọa xuống đó thôi, trọn chẳng thể gọi là “thụ siêu”! “Siêu” có nghĩa là vượt thoát luân hồi. “Thụ siêu” là nói đến người tu Tiểu Thừa, từ Nhất Quả siêu lên Nhị Quả, cho đến Đệ Tứ Quả, bèn thành A La Hán, hoặc người tu Đại Thừa từ Thập Trụ siêu lên Thập Hạnh, cho đến Đệ Thập Địa, trở thành Đẳng Giác, tức là bậc Hậu Chứng Phật. Cách này ắt cần phải tiến từ từ theo thứ tự, trải qua ức vạn năm tháng th́ mới có thể hoàn thành. Người hoành siêu chẳng cần phải trải qua thứ lớp và năm tháng dài lâu như vậy, ngay trong một đời liền có thể văng sanh Tây Phương, nhảy ra khỏi luân hồi. Kẻ chẳng tu [pháp môn Tịnh Độ] là v́ họ chẳng thể liễu giải lư sâu của pháp môn ấy, cho nên phần nhiều chẳng chịu tin tưởng.

 

      * Hỏi: Các kinh đều do chính miệng đức Phật nói ra. Phàm những ai tin Phật, học Phật đều là đệ tử Phật, v́ sao trong nội bộ lại thường chia thành các phái là do đạo lư nào? (Chiêm Kim Chi hỏi)

 

      Đáp: Chúng sanh mê hoặc như bệnh, Phật pháp như thuốc. Do bệnh có tám vạn bốn ngàn loại, nên thuốc cũng có tám vạn bốn ngàn thứ. Mỗi loại thuốc trị một căn bệnh, đó là ư nghĩa v́ sao Phật pháp có nhiều loại. Đối với cách tu, chúng sanh chỉ có thể chọn lấy một pháp khế cơ để chuyên tu. Do pháp tu của mọi người khác nhau, nên nh́n vào h́nh tướng dường như là phân chia tông phái, thật ra, “trở về nguồn trọn chẳng có hai đường!” Nhưng chúng sanh thời Mạt Pháp, Ngă Chấp và Pháp Chấp đặc biệt kiên cố, v́ lẽ đó, khuấy động ư kiến ầm ĩ, giữa đồng môn với nhau dần dần trở thành như nước với lửa!

 

      * Hỏi: Tôi đọc bài Quy Khứ Lai Từ trong báo Bồ Đề Thụ số ba mươi bốn, thấy trong ấy nói đến “mười phương cơi Phật”, những cơi Phật ấy do vị Phật nào cư trụ? (Chiêm Kim Chi hỏi)

 

      Đáp: Các cơi Phật trong mười phương vô lượng vô biên, Phật cũng nhiều như số cát sông Hằng, làm sao có thể nêu tên trọn hết? Bọn ta là tín đồ của Tịnh Tông, kinh nhật tụng là kinh A Di Đà, trong ấy có kể tên sáu phương Phật, chẳng phải là hết sức rơ rệt ư? Biết được một điều, sẽ có thể suy ra những điều c̣n lại!

 

      * Hỏi: Trong rất nhiều ngôi chùa Phật thường chèo kéo [tín đồ] tham gia lạy Bắc Đẩu Tinh Quân này nọ để gia đ́nh được b́nh an, chẳng biết đấy có phải cũng là giáo pháp do đức Thế Tôn lập ra hay không? (Chiêm Kim Chi hỏi)

 

      Đáp: Phương Tây (Thiên Trúc) vốn có Bà La Môn giáo, họ tin tưởng Bắc Đẩu Diên Mạng Kinh, kinh ấy từng được truyền đến Trung Quốc vào đời Đường, nhưng các chùa Phật đều chẳng hành. Hơn nữa, Mật Tông có pháp Bắc Đẩu Hộ Ma[2] nhưng đă thất truyền từ lâu. Ngày nay, các chùa lạy Bắc Đẩu đều là pháp của Đạo giáo, trọn chẳng có mảy may liên quan ǵ đến đức Phật!

 

      * Hỏi: Tôi từng nghe nói vào ngày thánh đản vua Diêm La, trong chùa cũng kính cẩn thiết lễ cúng bái, dường như chuyện này là đi vào ngơ rẽ phức tạp khó phân, phải làm sao để [khuyên bảo tăng chúng] quy túc [nẻo chánh]? (Chiêm Kim Chi hỏi)

 

      Đáp: Người như vậy trong tâm vốn chẳng có ư niệm mong cầu quy túc, chẳng qua náo nhiệt một hôm bèn coi như xong ngày hôm ấy, có đáng để trách móc ư?

 

      * Hỏi: Tự quy y Phật, chẳng quy y thiên ma, ngoại đạo, nhưng những thứ như bùa an thai, bùa hóa cốt[3], thổ phù v.v... cứu người rất nhiều, chẳng biết có thể dùng những thứ ấy để cứu người hay không? (Lại Trần Cát hỏi)

 

      Đáp: Những thứ như bùa an thai v.v... đều là huyễn thuật của ngoại đạo, chẳng cần biết hữu hiệu hay không, tín đồ nhà Phật hễ dùng đến đều gây trở ngại cho chánh niệm. Trong nhà Phật, Di Đà vạn đức hồng danh có thể tiêu tan nghiệp nặng, Quán Âm từ bi tầm thanh cứu khổ, chú Dược Sư Như Lai có thể trị vạn bệnh. Nếu chịu phát tâm cứu trị người bệnh, tùy ḷng chọn lấy một trong các pháp được nêu ra trên đây để dụng công tu tập ḥng thành tựu một pháp th́ đă cứu được sắc thân của người ta, mà c̣n có thể khuyên nhủ họ theo đạo Phật, cũng như có thể trưởng dưỡng huệ mạng của chính ḿnh. Nhất cử tam thiện vậy!

 

      * Hỏi: Tôi tra trong kinh Kim Cang do Thụy Thành Thư Cục xuất bản, trang đầu chỉ ghi những chữ như “bản in đầu tiên vào tháng Ba năm Dân Quốc 27 (1938), bản in lần thứ ba vào tháng Ba năm nay”, và nhà thư cục ấy đă in lại v.v... hoàn toàn chẳng ghi tên người chú giải, mà cũng chẳng có lời tựa. Nơi trang mười bảy, trong phần giải thích phần thứ tám, có hai câu ghi chú: “Chúng sanh mê muội, trước hết chấp Pháp Ngă, sau đấy chấp Nhân Ngă”, xin hỏi là chúng sanh mê chấp, v́ sao phải chia thành trước và sau, chẳng phải là đồng thời? Có thuyết nào để chứng minh [nhận định ấy] hay không? (Trọng Chí Anh hỏi)

 

      Đáp: Tra bản kinh được ấn hành bởi thư cục ấy, ta nhận biết họ đă được người khác ủy quyền lưu thông, quả thật không có tên họ của người chú giải, khó thể phán đoán lời chú giải ấy do tuân theo [ư kiến của] cổ đức, hay do chính người ấy tự nói? Nhưng chia chấp trước thành trước và sau, trọn chẳng sai lầm! Ngă Chấp do thức thứ bảy khởi, kẻ ấy chẳng thông hiểu thức thứ tám là “pháp tương tục” (tiếp nối), cho là nó có thật, nên trước hết khởi lên Pháp Chấp. Lại ngỡ Ngă là thường hằng, nên nương theo đó mà sanh ra Ngă Chấp. Pháp trước, người sau, chỉ là như thế mà thôi.

 

      * Hỏi: Thầy nói “phá Pháp Ngă Chấp khó hơn phá Nhân Ngă Chấp”. Ư ấy giống như ư học nhân muốn hỏi, lại dám xin hỏi: V́ sao phá Nhân Ngă Chấp dễ hơn? V́ sao phá Pháp Ngă Chấp rất khó? Lư do ở chỗ nào? (Trọng Chí Anh hỏi)

 

      Đáp: Ngă ví như bệnh, như biết bệnh trạng phát sanh th́ bèn nghĩ cách trừ khử những ǵ được coi là có hại, nên dễ phá hơn. Pháp ví như thuốc, nhận biết thuốc để chữa bệnh bèn phải suy nghĩ, t́m kiếm những ǵ có ích, cho nên khó phá hơn.

 

      * Hỏi: Thằn lằn chuyên ăn mồi sống để sống sót mà chẳng tự biết, có phải là v́ nó vĩnh viễn gieo nghiệp kém hèn nên chẳng có cơ hội sanh lên [cảnh giới] cao hơn? (Trương Cung hỏi)

 

      Đáp: Tánh của hết thảy chúng sanh đều trọn đủ hai phần là nhiễm và tịnh, mà nhiễm cũng có đủ thiện và ác. Từ nhiều kiếp tới nay, chủng tử vô lượng. Một hạt chủng tử dấy lên hiện hành sẽ lôi kéo chúng sanh thọ thân trong một loài nào đó. Tuy thằn lằn nay đang tạo nhiều nhân ác, nhưng trong ruộng thức thứ tám đă có chứa chủng tử tốt lành. Khi [những chủng tử ấy] hiện hành, nó sẽ tự có thể siêu thăng. Chỉ có điều cái thân của nó trong đời này có nhiều ác duyên, chủng tử thiện chẳng dễ dấy lên hiện hành, thật đáng buồn! V́ thế, đă có tiền lệ: Bảy đức Phật xuất thế, mà [những con kiến] vẫn chưa thoát thân kiến vậy.

 

      * Hỏi: Nội dung của “chư Phật nhất thể” có phải là vẫn có thành đạo trước hay sau, cũng như giữa đây và kia có cảm giác đơn độc hay chăng? (Trương Cung hỏi)

     

      Đáp: Nhất Thể là nói về đạo và Pháp Tánh, thời kiếp khác nhau, nên có trước và sau. C̣n nói “cảm giác đơn độc” th́ cũng có thể nói là như vậy v.v... Niệm Di Đà bèn ứng với Di Đà, niệm Dược Sư bèn ứng với Dược Sư, theo lệ ấy!

 

      * Hỏi: Tôi đọc Chương Gia Đại Sư Ứng Hóa Niên Phổ, có cảm giác [dường như] Ngài có thể biết chuyện quá khứ? Ngài c̣n có thể biết chuyện vị lai hay không? Nếu là như vậy, Ngài có biết giặc Mao khi nào bại vong hay không? (Trương Cung hỏi)

 

      Đáp: Chủng loại thần thông chẳng phải chỉ một, có “chỉ đắc một loại thần thông” và “trọn đủ nhiều loại khác nhau”. Biết quá khứ th́ gọi là Túc Mạng Thông, biết vị lai th́ gọi là Thiên Nhăn Thông, hai loại này phải tách ra để xem xét. Kẻ hèn này chưa từng đọc Niên Phổ của đại sư, chỉ thấy có sách Ứng Hóa Sự Lược, trong sách ấy cũng chẳng nhắc đến thần thông, nên chẳng tiện nghị luận bừa băi được!

 

      * Hỏi: Ngạ quỷ thuộc về động vật hay thuộc loài có linh tánh, có sức thần thông hay không? Nếu có, há chẳng phải là người thua kém quỷ ư (v́ [con người] không có sức thần thông). Đầu thai làm quỷ, há chẳng phải là sanh lên cảnh giới cao hơn ư? (Trương Cung hỏi)

 

      Đáp: Tánh vốn vô tướng, quỷ đă có thân h́nh, đă có thân h́nh bèn có thể cử động, nên có thể tùy thuận theo danh xưng hiện thời mà gọi chúng là “động vật”. Thần thông có nhiều loại, trong câu trước tôi đă nói rồi. Nay lấy một thứ thần thông để nói th́ cũng có lớn, nhỏ, sâu, cạn khác nhau. V́ thế, đối với phàm phu th́ gọi là Thông (), đối với thánh nhân bèn gọi là Minh () đối với Phật th́ gọi là Đạt (), [có nhiều danh xưng] khác nhau [như vậy]. Quỷ có biết Túc Mạng, nhưng chẳng qua là một, hai đời, có thể nói là “nông cạn” vậy. Đấy chính là một thứ năng lực đặc biệt bẩm sinh của mỗi loài, như chim khách có thể biết trước hướng gió cả năm, chẳng thể nói nó cao hơn con người được! Thử hỏi, ngạ quỷ cổ họng bé như cái kim, bụng to như cái chum, trong miệng phun lửa, giọt nước khó lọt, mà cũng có người ưa thích [thân phận ấy] hay sao?

 

      * Hỏi: Trong tờ nguyệt san Bồ Đề Thụ số ba mươi lăm, trong phần Phật Học Vấn Đáp, đối với hai câu do Lư cư sĩ ở Gia Nghĩa đă hỏi, cư sĩ trả lời quỷ cần tiền tài, nhưng quỷ thuộc thể Khí, cần chi tiền tài? Thuở Phật tại thế có nói quỷ đạo cần đến tiền tài hay không? Mà thuở ấy, nhân dân dùng loại tiền tài nào, dùng phương pháp nào để chẩn thí quỷ đạo, mong hăy giảng cặn kẽ! (Tĩnh Tu Tinh Xá hỏi)

 

      Đáp: Kinh Phật chỉ nói đại thể, chẳng nhắc tới những chuyện vụn vặt. Có những câu hỏi [liên quan đến những vấn đề] chẳng thấy [đề cập] trong kinh truyện bèn dùng cách tỷ lượng để đáp, đều chẳng dùng lời lẽ khẳng định, bất quá mang ư nghĩa quyền biến nhằm khiến cho đối phương khỏi thất vọng mà thôi. Như hỏi “quỷ thuộc thể Khí, cần ǵ tiền tài”, vẫn phải dùng cách [vừa nói] trên đây để đáp. Xét theo pháp Thí Thực được chép trong kinh Phật và chuyện cúng quải thức ăn trong kinh điển Nho gia, hăy thử nghĩ xem: “Quỷ thuộc về thể Khí”, cần ǵ thực phẩm có h́nh chất của nhân gian? Trong lời đáp cho câu hỏi của Lư cư sĩ ở Gia Nghĩa trước kia, tôi cũng chẳng nói quỷ dùng tiền tài của nhân gian, chỉ nói “do ư tưởng mà thành tướng” đó thôi. Lúc tại thế, đức Phật từng nói quỷ cần áo, cơm, nhà cửa, vật dụng. Lại nói nhân dân có kẻ lầm lạc sát sanh để cúng tế thần quỷ. Phàm những thứ ấy đều có thể gọi là Tài. Nếu hỏi đến phương pháp bố thí, Phật tự có sức thần thông khác biệt, c̣n nhân dân [tại Ấn Độ thuở ấy] chọn dùng cách nào, kẻ hèn này chưa nghiên cứu lịch sử phong tục cổ đại Ấn Độ nên chẳng thể nào trả lời được.

 

      * Hỏi: Trong sách Khóa Tụng do Thụy Thành Thư Cục ấn hành, trang một trăm lẻ năm, những câu như “bổn mạng nguyên thần”, “cửu diệu bảo trường sanh”, “nguyên thần”“cửu diệu” chỉ điều ǵ trong thọ mạng của chúng sanh? Kinh điển do đức Phật đă nói có ghi chép [điều ấy] hay không? (Tĩnh Tu Tinh Xá hỏi)

 

      Đáp: Đấy chẳng phải là kinh văn, mà lời ca tụng, tán dương nhằm chúc phước trước bài vị trường sanh, phần nhiều mang ư nghĩa thuận theo thói tục mà ca ngợi, cầu đảo. “Nguyên thần” (元辰) chính là ngày sanh của một người (các nhà bói toán thường gọi ngày đó là “nhật nguyên”日元). “Cửu diệu” (九曜) là chín ngôi sao, tức nhật, nguyệt, Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ, La Hầu, Kế Đô[4]. Người Trung Quốc từ xưa phần nhiều mê tín thuyết Âm Dương Ngũ Hành Sanh Khắc, nên các nhà chiêm tinh đoán mạng bèn đem chín ngôi sao ấy phối hợp với từng năm tuổi để đoán định cát hung. Những điều ấy chẳng dính dáng ǵ đến kinh Phật. Những bài tán đó đều do người đời sau soạn ra, chuyên dùng để tán tụng, cầu chúc mà thôi!

 

      * Hỏi: Cũng trong sách Khóa Tụng vừa nói trên đây, trang một trăm hai tám có câu “hương hoa đăng thiên mẫu”, trang một trăm hai mươi bảy có câu “hương hoa đăng đồ quả”, trang một trăm bốn mươi chín “thiền duyệt tô đà”. Những chữ “thiên mẫu”, “đồ”, “tô đà” trong ấy chỉ vật ǵ? Hiện thời ở Đài Loan có hay không? (Tĩnh Tu Tinh Xá hỏi)

 

      Đáp: Câu “hương hoa đăng thiên mẫu” nơi trang một trăm hai mươi tám trong sách ấy cũng là lời tán tụng cầu đảo của người đời sau. “Thiên mẫu” (天母) chỉ điều ǵ, kẻ hèn này cũng không biết. “Đồ” () chỉ đồ hương (hương bôi), tức là những thứ hương liệu để ngừa khi [thân thể hoặc nơi tu tập] chẳng sạch sẽ, liền bôi lên thân hoặc tay, hoặc xoa trên đất, Đài Loan cũng có thể tự chế tạo [loại này]. “Tô đà” (酥酡) là một thứ chất lỏng do người Thiên Trúc rút ra từ sữa ḅ, vị cực ngon lành, quư báu. Đài Loan chẳng có thứ này.

 

      * Hỏi: Liên quan đến vấn đề người sau khi đă chết bốn mươi chín ngày liền theo nghiệp thọ sanh. Giả sử người ấy do nghiệp đă tạo đáng phải làm quỷ, có phải là nếu thọ sanh trong quỷ đạo sẽ có cha mẹ là những con quỷ khác? H́nh dáng và tướng mạo có giống như khi c̣n sống hay không? C̣n có quan hệ ǵ với quyến thuộc khi c̣n sống hay không? Hay là chết rồi liền thành quỷ, chẳng cần phải do cha mẹ quỷ sanh ra nữa? (Lâm Hạnh Dung hỏi)

 

      Đáp: Quỷ có thai sanh và hóa sanh sai khác. Kẻ thai sanh sẽ có cha mẹ, c̣n hóa sanh th́ không. C̣n về diện mạo, xem trong các sách ghi chép, phần nhiều giống như khi c̣n sống. Đó là nói tới loài quỷ thuộc loại hóa sanh, chứ thai sanh th́ lại e rằng chẳng giống!

 

      * Hỏi: Trong gia đ́nh thờ phụng tổ tiên, mỗi ngày dùng hương, đèn v.v... cúng dường, có đích xác là tổ tiên thọ dụng hay không? Hay chỉ là một việc làm biểu thị tánh chất kỷ niệm? (Lâm Hạnh Dung hỏi)

 

      Đáp: [Tổ tiên đă] sanh vào quỷ đạo bèn có thể đến hưởng dụng, c̣n ở trong các đường khác sẽ chẳng thể hưởng được!

 

      * Hỏi: Trong thế giới của loài quỷ (trừ địa ngục và ngạ quỷ ra), có phải là cũng có các nghề nghiệp như sĩ, nông, công, thương v.v... để tự kiếm sống, hay là chỉ trông cậy vào sự cúng bái của nhân gian? (Lâm Hạnh Dung hỏi)

 

      Đáp: Những chuyện vụn vặt này chưa từng thấy ghi chép trong kinh. Dẫu có [người nào] nói đến th́ cũng là phỏng đoán mà thôi. Tôi trộm cho rằng trong mỗi thế giới có t́nh h́nh đặc biệt riêng, chưa chắc đă hoàn toàn giống như thế giới này. Dẫu ngay trong thế giới này, cũng có những nơi khác biệt. Như Mông Cổ sống nhờ du mục, Nam Bắc băng dương đa phần là ngư nghiệp, những xứ ấy đều trọn chẳng theo đuổi nông nghiệp.

 

      * Hỏi: Trong thế tục có nói đến chuyện quỷ dựa thân, có những trường hợp kẻ ấy nói giống như là xác thực có chuyện ấy, lại c̣n có thể nhiều lượt nói về t́nh h́nh trong gia đ́nh khi chính ḿnh c̣n sống v.v... nhưng người ấy đă chết hơn mười mấy năm, sao vẫn chưa đi luân hồi? (Lâm Hạnh Dung hỏi)

 

      Đáp: Thọ mạng của quỷ rất dài, trước đây tôi đă trả lời mấy lượt. Chỉ là hơn mười mấy năm mà vẫn chưa luân hồi th́ có ǵ lạ lùng đâu?

 

      * Hỏi: Trong thế tục có những người do có con gái chưa cưới gả mà đă chết rất lâu, bèn chọn lựa sui gia để gả con về đó, chúng ta là đệ tử Phật có nên ngăn cấm những hành vi như vậy hay không? (v́ học nhân cho rằng việc này chẳng hợp lư, mê tín). (Lâm Hạnh Dung hỏi)

 

      Đáp: Trong nhà Phật trọn chẳng có chế định này. Luận theo pháp thế gian th́ cũng chẳng đúng lễ. Đấy chính là hủ tục trong chốn hương thôn, chẳng liên can ǵ đến Phật pháp!

 

      * Hỏi: Có kẻ nói tới những chuyện như người chết v́ treo cổ tự tử hay chết đuối dẫu đă lâu mấy chục năm đều phải t́m được kẻ thế thân th́ mới có thể đi luân hồi v.v... Xét theo phương diện Phật giáo, nên trả lời hoặc biện luận như thế nào? (Lâm Hạnh Dung hỏi)

     

      Đáp: Đây cũng là những lời bịa đặt, đồn thổi, nhưng trong các tiểu thuyết và bút kư thường ghi những chuyện ấy. Nếu là thật, tức là kẻ ấy có sự chấp trước, dẫu đă thành quỷ vẫn tiếp tục ôm nỗi chấp trước ấy, có lẽ sẽ kiếm dịp thuận tiện để quấy rối.

 

      * Hỏi: Sau khi đă tụng bốn mươi quyển kinh Địa Tạng cho người chết, mộng thấy người đă khuất thân mặc áo hải thanh, đối trước Phật tụng niệm công khóa. Có phải là người ấy đă được độ hay không? Hay là do chính ḿnh trong hai khóa sớm tối đều niệm Phật chẳng ngừng nên cảm ứng [như vậy]? (Chiêm Kim Chi hỏi)

 

      Đáp: Hai lẽ đều có!

 

      * Hỏi: Phật Tổ lúc tại thế hưởng thọ mấy năm? Có lấy vợ hay không? (Huệ Lượng hỏi)

 

      Đáp: Phật có ba thân, Thích Tôn thị hiện trong thế giới này chính là Ứng Thân. Đă đến ứng hiện trong cơi đời th́ hết thảy mọi điều đều phải giống như trong cơi này, nên chỉ thị hiện thọ tám mươi tuổi. Lúc làm Thái Tử, chưa xuất gia, Ngài từng thị hiện cưới vợ. Sau khi xuất gia, chẳng mang vợ theo.

 

      * Hỏi: Trong phần thứ sáu của kinh Kim Cang, ngài Tu Bồ Đề hỏi “đắc văn như thị ngôn thuyết chương cú” (được nghe chương cú ngôn thuyết như vậy), xin hỏi chữ “chương cú” chỉ điều ǵ trong kinh? Theo như kẻ sơ học thấy, chú giải kinh Kim Cang chỉ có mấy vị, trong ấy, chỉ có bản Kim Cang Kinh Chân Giải của Lữ Đạo Tổ có giảng từ ngữ “như thị chương cú” là nói về mấy chương trước đó. Mấy chương trước câu ấy là phần kinh văn chủ yếu của kinh Kim Cang, giống như cây cối có thân chính, các chương sau đó là cành lá, nhằm phân biệt, giải thích, suy luận ư nghĩa trong phần kinh văn chủ yếu, giống như sách Đại Học chia thành Kinh và Truyện vậy. Chẳng biết [chú giải như vậy] có đúng hay không? Quả thật, tôi sợ lời lẽ ấy là tà kiến, dám thỉnh đại đức chỉ dạy cho đúng! (Trọng Chí Anh hỏi)

 

      Đáp: Lời hỏi của ông thuộc về vấn đề văn lư (cách hành văn và suy luận nghĩa lư dựa theo văn tự), nên phần lớn các vị chú giải không giảng điều này. “Chương cú” được nói trong đoạn ấy cố nhiên là nói về mấy chương trước đó. Cũng có thể mượn dùng thí dụ về thân chính và lá của cái cây, nhưng những điều này đều là chuyện vụn vặt, chẳng liên quan đến tông chỉ to tát [của kinh Kim Cang], nên có chấp nhận cách giải thích ấy cũng chẳng sao! Nhưng đọc kinh Phật, nếu cầu t́m chú giải, ắt phải nên t́m đọc những tác phẩm trước tác bởi các vị cổ đức thuộc tứ chúng trong Phật môn th́ mới là chánh xác. Nếu xem tác phẩm biên soạn bởi ngoại đạo, hoặc [những bài giáng bút] giả mượn danh nghĩa đàn cầu cơ th́ sẽ sai lầm ngàn dặm vậy!

 

      * Hỏi: Nói “A La Hán c̣n có Biến Dịch sanh tử”, tướng ấy có phải là A La Hán hồi hướng Đại Thừa, nhập Sơ Địa bèn gọi là Sanh, [từ Sơ Địa] lại nhập Nhị Địa bèn nói là “sanh Nhị Địa, tử nơi Sơ Địa”, sanh tử măi cho đến khi đạt đến Thập Địa? (La Đức Chương hỏi)

 

      Đáp: Nói đại lược th́ có thể nói như vậy, nhưng xét theo thứ lớp của Bồ Tát, trước khi đạt đến Sơ Địa c̣n có Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, [tổng cộng ] ba mươi địa vị, chẳng có địa vị nào không đều là như vậy.

 

      * Hỏi: Trong thiên Tiểu Thừa của sách Phật Pháp Đạo Luận có nói: “Vũ trụ do lưới nghiệp lực kết thành, Thể và Dụng của nghiệp lực là một chu tŕnh nhân quả”. Nếu nói toàn thể vũ trụ do một mạng lưới nghiệp lực kết thành, lư ấy dường như là huyền hư! Không gian vô hạn, bao gồm toàn thể các nhóm tinh cầu thiên thể, nh́n bằng nhục nhăn tợ hồ chẳng thể bao gồm sinh vật hữu t́nh trong ấy. Chúng nó là những vật không có sự sống muôn kiếp bất hoại, bất sanh, bất tử, đương nhiên chẳng có nhân quả ǵ để nói được, dường như chúng ở ngoài mạng lưới nghiệp lực? (Liễu Tử Kỳ hỏi)

 

      Đáp: Nghiệp lực vốn bao gồm thời gian và không gian. Nếu chẳng bao gồm không gian, sẽ chẳng có hoàn cảnh. Đó là một chứng cớ rơ rệt! Bất quá, hoàn cảnh có xa hay gần sai khác, cộng nghiệp hay biệt nghiệp khác biệt! C̣n những lời luận định như tinh cầu “vạn kiếp bất hoại”, “vật chất chẳng có sự sống” v.v... đều là hiểu lầm! Bởi tinh cầu chính là cơi nước sở y của động vật. Những tinh cầu nào được gọi là “không có động vật” chỉ là do các nhà khoa học cận đại phỏng đoán như vậy mà thôi. Dẫu nó thật sự chẳng có sanh vật, vẫn liên quan đến nghiệp lực. Mỗi tinh cầu đều có quỹ đạo xoay chuyển riêng, cũng như khả năng phản chiếu ánh sáng và sức hút. Mỗi tinh cầu đều có mối liên quan với các tinh cầu khác. Một tinh cầu biến động, toàn bộ các thiên thể sẽ bị ảnh hưởng. Lại nữa, hết thảy các vật thể đều có bốn giai đoạn Thành, Trụ, Hoại, Không. Ông chẳng thấy sao băng đó sao? Há nên nói [các thiên thể] tồn tại vạn kiếp chẳng hoại?

 

      * Hỏi: Hai thiên sách Đại Thừa và Tịnh Độ [trong bộ Phật Pháp Đạo Luận] dường như thuần là khuyên người khác tu đạo, chẳng có ư vị triết lư. Hay là do căn bản của tôi quá nông cạn, chẳng hiểu ư nghĩa uyên áo! Mỗi khi đọc hai thiên ấy, tôi luôn có cảm giác chẳng có hứng thú ǵ! (Liễu Tử Kỳ hỏi)

 

      Đáp: Tinh hoa của sách đó ở trong hai thiên ấy, há nên nói là “chẳng có triết lư ǵ!” C̣n như nói [hai thiên sách ấy] “thuần nhằm khuyên kẻ khác tu đạo” th́ đúng là trọng tâm. Đọc sách suông, chẳng hành, chẳng phải là “nói chuyện ăn, đếm của báu” hay sao? Nếu coi thường hai thiên sách ấy, khác nào “mua rương trả châu”[5] vậy!

 

       * Hỏi: Tôn giả Ca Diếp nay đang nhập Định trong núi Kê Túc. Phải sau năm mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm nữa, sau khi ngài Di Lặc hạ sanh tại Ấn Độ, tôn giả mới xuất Định hộ tŕ, giúp đỡ đạo tràng. Trong thời gian ấy, trải qua hai đại kiếp là Phong và Hỏa, biển xanh, nương dâu, nhục thân [ngài Ca Diếp] há c̣n tồn tại ư? Trên địa cầu vẫn c̣n có tên nước Ấn Độ hay không? (Lâu Vĩnh Dự hỏi)

 

      Đáp: Thời gian kể từ lúc đức Thích Tôn diệt độ cho đến lúc Phật Di Lặc giáng sanh chưa đến một đại kiếp, nên chẳng có phong hỏa đại tai. Dẫu có biển xanh, nương dâu, bất quá là những biến đổi nhỏ trên địa cầu, trọn chẳng phải là [giai đoạn] Hoại - Không, nên thân nhập Định chẳng bị ảnh hưởng. C̣n như nói “sau khi xuất Định, đến giúp đạo tràng”, chỉ nói là trở về chỗ ấy mà thôi, trọn chẳng nói khi ấy, nước vẫn có tên là Ấn Độ!

 

      * Hỏi: Trong các nghi lễ của Đạo giáo, phần nhiều dùng kinh văn của Phật giáo là do nguyên nhân nào? (Trang Khánh Hiền hỏi)

 

      Đáp: Mặc áo của vua Nghiêu, đọc lời của vua Nghiêu, tức là vua Nghiêu vậy! Họ chọn lấy kinh điển của Phật giáo cũng do ư niệm sùng bái, quy thuận!

 

      * Hỏi: Cảnh giới từ vô thỉ cho tới lúc khai thỉ có ghi chép trong Tam Tạng hay không? Xin hăy chỉ dạy! (Tưởng Tuấn Nghĩa hỏi)

 

      Đáp: Đă nói là “vô thỉ” th́ chẳng thể nói tới cái khởi đầu. Nếu nói “khai thỉ” (bắt đầu), tức là lại nói tới cái có khởi đầu. Nói “vô thỉ” th́ thoáng nghe sẽ nhận thấy dường như mù mờ, nhưng suy nghĩ kỹ sẽ thấy ư nghĩa thật sự viên măn. Nói “hữu thỉ” (có khởi đầu) tức là cái cảnh giới bắt đầu vừa nói ấy há có thể nào đột nhiên hiện ra, ắt nó phải có nhân, cái nhân ấy lại chẳng phải là cái bắt đầu của cái cảnh khởi đầu ấy hay sao? Cứ truy ngược lên như vậy, làm sao có thể đạt đến một kết luận cho được? Nhưng cái khởi đầu như thế tục đă nói, bất quá là khởi đầu của một giai đoạn nào đó hạn cuộc trong một phần của cả vạn h́nh tượng biến huyễn, chẳng phải là lời lẽ rốt ráo thấu triệt trên dưới!

 

      * Hỏi: Nếu ban đầu là thanh tịnh th́ lẽ ra phải vĩnh viễn chẳng nhiễm, chúng sanh bị nhiễm trước khi nào? Nếu nói “nhiễm trước từ vô thỉ”
th́ giải thích “vô thỉ” như thế nào? Nếu nói “các duyên như huyễn tụ hợp” th́ cái duyên tối sơ để hợp thành các duyên do đâu sanh ra? Nếu nói “giống như một cái ṿng chẳng có đầu mối” th́ cách nh́n thời gian và không gian ấy dường như mâu thuẫn với thế tục? (Thái Minh Cốc hỏi)

 

      Đáp: Câu hỏi này được chia thành bốn đoạn để đáp:

      1) Như vàng ở trong quặng, lẫn lộn bụi cát. Trải qua nung luyện, chẳng c̣n xen tạp bụi cát. Điều này ví như những [phiền năo] vi tế xen tạp!

      2) Vô thỉ là chẳng thể nói tới cái sơ khởi. Hễ nói th́ ư nghĩa chẳng viên măn, hăy nên tham khảo câu trả lời cho cư sĩ Tưởng Tuấn Nghĩa ở trên đây sẽ tự hiểu rơ.

      3) Vạn pháp duy tâm, các duyên cũng chính là pháp. Tâm đă là vô thỉ, duyên làm sao có thể ĺa nguyên tắc này?

      4) Những bàn luận trong cơi tục phần nhiều là những lời lẽ do chẳng biết đến Chân Tế, Phật pháp là lời lẽ thật sự giác ngộ, hiểu rơ. Người học Phật vốn nhằm cầu giác, há nên mê muội thuận theo cơi tục? Nói thuyết của nhà Phật tương phản ngôn luận thế tục, sao bằng nói ngôn luận thế tục phần nhiều trái nghịch với giác vậy!

 

      * Hỏi: Tôi tự tu, kính cẩn đọc kinh Quán Vô Lượng Thọ, đối với văn tự có rất nhiều chỗ chẳng hiểu, không biết có sách chú giải hay không? (Phó Ngu Chi hỏi)

 

      Đáp: Kinh này từ nhà Tùy tới nhà Thanh có rất nhiều vị chú giải, cận đại lăo pháp sư Đế Nhàn cũng có soạn chú giải. Những tác phẩm trước đó th́ tại Đài Loan rất khó t́m kiếm, c̣n những tác phẩm sau này c̣n chưa nghe nói có ai lưu giữ.

 

      * Hỏi: Lúc thiếu niên thường mộng thấy phi hành, nhưng chỉ cao cách mặt đất mấy trượng, đến tuổi trung niên trở đi thường mộng thấy cảnh nguy hiểm, đường xá lầy lội, có lúc vô ư té ngă, do nhân ǵ vậy? (Kim Thiên Đạc hỏi)

 

      Đáp: Xét theo Trung Y có nói: Khí Dương phù động, bốc lên th́ phần nhiều mộng thấy lửa hoặc thân bay lên, khí Âm ngưng đọng, nặng nề, phần nhiều mộng thấy nước hoặc thân rơi rớt. Tuổi thiếu niên, khí Dương thịnh, cố nhiên thấy bềnh bồng. Tuổi già, khí Dương dần suy, nên có thể bị ngưng trệ. Điều này liên quan đến phương diện sinh lư. Nếu tĩnh tâm niệm Phật cho nhiều, tận lực tránh né mọi t́nh cảm, lâu ngày, cảnh giới sẽ thay đổi, thậm chí chẳng c̣n mộng nữa!

 

      * Hỏi: Sắc thân do Tứ Đại giả hợp, duyên tụ bèn sanh, duyên tán bèn diệt. Chứng đắc Niết Bàn là v́ sẵn có Phật Tánh. Nếu đă là như vậy, v́ sao chẳng nói là do Ngũ Đại hợp thành? (Hồ Chánh Lâm hỏi)

 

      Đáp: Đây là do chỉ nói tới sắc thân, nên nêu ra Tứ Đại. Nếu nói tới gộp cả Sắc lẫn Tâm bèn nói Ngũ Uẩn (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức), hoặc nói Thất Đại (Tứ Đại cộng thêm Không, Kiến, Thức). Thuyết pháp cần phải xét sự, quán sát căn cơ để nói cụ thể, hoặc nói một phần. Pháp có chi tiết, đại lược, quyền, thật, chọn lựa pháp khế hợp để sử dụng, trọn chẳng phải là do không biết có tánh cho nên sơ sót!

 

      * Hỏi: Trong tứ đại châu, trừ Nam Thiệm Bộ Châu ra, những châu kia tên là ǵ, và tên gọi của những nơi thuộc quyền quản hạt của các châu ấy? (Trương A Long hỏi)

 

      Đáp: Phương Đông là Thắng Thần Châu (Pūrvavideha), phương Tây là Ngưu Hạ Châu (Aparagodānīya), phương Bắc là Câu Lô Châu (Uttarakuru). Nói tới danh hiệu của những vùng đất thuộc quyền quản hạt của các châu ấy, chẳng có cách nào tra cứu để nêu ra, v́ danh hiệu thay đổi theo thời gian, há có cố định! Đừng nói những châu khác, nay lấy ngay châu này (Nam Thiệm Bộ Châu) để luận, các xứ Ba Tỷ Luân (Babylon), Tư Ba Đạt (Sparta) ở Tây Phương, các nước Thiện Thiện, Sa Xa[6] ở phương Đông, Trung Quốc từ Hạ, Thương, Châu cho đến Nguyên, Minh, Thanh v.v... [có những lănh thổ] nay lại ở nơi nào? Ngay như tên của núi non, vách đá, hang hốc, sông ng̣i mà c̣n xưa nay đổi khác! Cơi nước như mây, thu hẹp, mở rộng không ngừng, làm sao có thể nói đích xác cho được?

 

      * Hỏi: Do Phật (Thích Ca) đă thành Phật từ trăm ngàn vạn kiếp trước kia, đă được Pháp Thân che chở, mà vẫn phải bỏ ngôi vua, tu khổ hạnh mười một năm mới chứng Niết Bàn. Do hoàn cảnh, trí huệ, đức tánh, tính t́nh của chúng ta, tận hết sức trong nửa đời người, rốt cuộc có thể tu thành Phật hay không? Hết sức nghi hoặc, xin hỏi cao kiến của Ngài là như thế nào? (Chi Thế Vinh hỏi)

 

      Đáp: Phật có ba thân là Pháp, Báo, Ứng. Pháp Thân vô tướng, trọn khắp hư không, vô thỉ, vô chung. Báo Thân rộng lớn trang nghiêm, có khởi đầu, chẳng có kết thúc. Ứng Thân trăm ngàn vạn ức, tùy duyên mà hiện, có khởi đầu, có kết thúc. Thích Tôn thị hiện trong cơi này chính là Ứng Thân. Từ lúc nhập thai cho tới nhập Niết Bàn, những điều được gọi là “tám tướng thành đạo” đều thuộc loại phương tiện quyền biến nhằm nêu khuôn phép cho người đời sau. C̣n như ông lo âu là dốc hết sức lực trong nửa đời người vẫn chẳng thể thành Phật th́ nói thật ra, há chỉ nửa đời? Chẳng trọn ba A-tăng-kỳ kiếp, làm sao có thể viên măn cho được? Đối với chuyện này, cần phải phát cái tâm lớn nhất, chẳng sợ sanh tử th́ mới có thể làm được. Nếu không, bèn có một pháp Tịnh Độ, có thể vượt thoát luân hồi ngay trong đời này, về cơi Lạc bang kia liền có thể đắc Nhất Sanh Bổ Xứ.

 

      * Hỏi: Trong Phật lư có câu “chúng duyên sở sanh pháp” (pháp được sanh bởi các duyên), cái gọi là “chúng duyên” là hữu h́nh hay vô h́nh? Nếu là hữu h́nh th́ những cái được gọi “các duyên hữu h́nh” lại do đâu mà có? Nếu bảo chúng là vô h́nh th́ những duyên vô h́nh ấy làm sao có thể ḥa hợp giúp nhau sanh ra vũ trụ hoặc động vật hữu h́nh? (Diệp Khánh Xuân hỏi)

 

      Đáp: Duyên sanh ra các pháp chẳng phân biệt là hữu h́nh hay vô h́nh. Đấy là nói vạn pháp sanh khởi đều do các duyên ḥa hợp mà sanh khởi. Giống như một trang giấy do các thứ tư tưởng của con người, kế đến là trải qua nhiều lượt nghiên cứu, rồi lại trù tính, chuẩn bị sẵn các thứ nguyên liệu, trải qua các thứ thủ tục th́ mới có h́nh tướng giấy ấy! Lại như nói một câu th́ ắt phải do hoàn cảnh thúc đẩy, do tâm tư dấy động, lại vận dụng sự chấn động từ môi, lưỡi, răng, họng để phát xuất ra các đơn âm, kết hợp chặt chẽ mà thành [lời nói], há có phải là một, chẳng phải do nhiều điều kiện hợp lại, nên gọi là “các duyên ḥa hợp”. Một trang giấy có h́nh tướng, một câu nói là vô h́nh tướng, nhưng đều không ra ngoài nguyên lư này. Những điều c̣n lại cứ suy ra mà biết.

 

      * Hỏi: Trong cuốn Nhị Khóa Hợp Giải do pháp sư Hưng Từ biên soạn, trang một trăm lẻ sáu, trong phần nói về nhân đạo có đề cập bốn loại sanh là “noăn, thai, thấp, hóa”, [tôi cảm thấy] điều này khó hiểu! (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Thai sanh trong nhân đạo là chuyện thường, ba loại sanh kia là chuyện ngẫu nhiên. Phạm điển đều có ghi chép, như phu nhân Tỳ Xá Khư (Viśākhā) sanh ra ba mươi hai quả trứng, trứng nở ra con, Chuyển Luân Vương sanh từ chỗ ẩm thấp, hoa sen sanh ra bảo nữ v.v...

 

      * Hỏi: Cũng trong Nhị Khóa Hợp Giải, trang một trăm bảy mươi sáu, giảng về bài Hương Tán “Chiên-đàn hải ngạn”, trong ấy có câu chuyện “Gia Thâu tử mẫu lưỡng vô ương” [pháp sư Hưng Từ] nói tôn giả La Hầu La ra đời sau khi đức Thế Tôn đă xuất gia, c̣n trong cuốn Giáo Chủ Truyện do pháp sư Tinh Vân biên soạn th́ tôn giả được sanh ra trong hoàng cung khi đức Thế Tôn chưa xuất gia, ai đúng, ai sai? Lại nữa, nghịch cảnh mà bà Gia Thâu Đà La (Yasodharā) gặp phải như sách Nhị Khóa Hiệp Giải đă kể có phải là sự thật hay không? (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Chuyện xưa xa thẳm, các thứ ghi chép chẳng tránh khỏi sai khác đôi chút, điều này tùy thuộc mỗi người thận trọng tra xét, biện định, chọn lấy một thuyết để theo. Điều tôi tin tưởng, chẳng cần ép người khác phải tin. Điều tôi phủ nhận cũng chẳng cần ép người khác phải phủ nhận. Ai tin th́ cứ tin, ai phủ nhận th́ cứ phủ nhận. Nếu không, chỉ gây nên tranh chấp, chẳng có lợi ích ǵ!

 

      * Hỏi: Cũng trong sách Nhị Khóa Hiệp Giải, trang chín mươi tư, phần giải thích về “ba môn” có nói tới Vô Nguyện Môn. Quán hết thảy các pháp, vô tướng, vô sở tác, mà cũng vô sở nguyện, nhưng nay lại đề xướng pháp môn Niệm Phật, cùng hành Tín, Nguyện, Hạnh, thiếu một điều chẳng được! Phải hiểu Vô Nguyện Môn như thế nào? (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Phật pháp nói đến Sự, Lư, Quyền, Thật, Tánh, Tướng, Không, Hữu v.v... các thứ đối đăi, đều là xét theo nơi chốn, thời gian, con người, sự việc để vận dụng khế cơ, pháp nào cũng viên dung, chẳng chấp trước, trở ngại. Vô Nguyện có nghĩa là đối với các pháp “Không, Khổ, Vô Thường”, chẳng dấy lên tạo tác, có thể bỏ được!

 

      * Hỏi: Nơi ḍng ba trang mười một sách Tại Gia Học Phật Pháp Yếu Hợp San, có câu: “Trừ sạch ư ác chính là hành mười thiện hạnh, đó là điểm đặc biệt thù thắng bất cộng với năm giới”, chữ Bất Cộng ấy khó thể liễu giải! (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Mấy câu này kế tiếp đoạn văn trước đó. Năm giới được nói trong phần trước [của đoạn văn ông vừa trích dẫn] chỉ là hai nghiệp thân và khẩu thanh tịnh. Thập Thiện th́ kể thêm ư nghiệp, ư là căn bản của tam nghiệp. Trừ sạch ư ác, tức là đoạn Hoặc; do vậy, công đức đặc biệt thù thắng, năm giới chẳng thể sánh bằng được [nên nói là Bất Cộng]!

 

      * Hỏi: Nơi trang mười hai, ḍng thứ chín sách Tại Gia Học Phật Pháp Yếu Hợp San, có câu: “Ly ma tà thượng mạn tự đạo pháp ái chư quá” (ĺa bỏ các lầm lỗi như ma, tà, thượng mạn, tự đạo, pháp ái), mong cư sĩ dạy rơ câu này. (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Sanh ra chướng ngại bèn gọi là Ma, chẳng hiểu biết chân chánh là Tà. Chưa chứng thánh đạo, tự cho là đă chứng, th́ gọi là Mạn. Thấy đạo chẳng thật, nên gọi là Tự Đạo (đạo tương tự). Phật pháp như thuốc chữa bệnh, bệnh hết bèn bỏ thuốc. Nếu chấp trước chẳng bỏ th́ gọi là Pháp Ái.

 

      Hỏi: Ḍng thứ mười lăm trong trang mười hai sách Tại Gia Học Phật Pháp Yếu Hợp San có câu: “Thế tu ư ngũ thú trung, cánh thọ hậu hữu, nan miễn cách uẩn chi mê” (Ắt lại phải thọ thân sau trong năm đường, khó tránh mê muội khi thọ thân ngũ uẩn). Mong cư sĩ giảng rơ câu này, “năm đường” (ngũ thú) là lục đạo bỏ bớt đường nào? (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Hậu Hữu nghĩa là có thân kế tiếp sau cái thân này, vẫn phải hứng chịu nhân quả, nên có thân tái sanh. Kẻ mê khi thọ thân Ngũ Uẩn khác, nghĩa là sau khi tái sanh, do bị mê muội khi có sự gián đoạn giữa thân Ngũ Uẩn trong đời trước và đời sau nên chẳng biết chuyện trong đời trước. Trời, người, súc sanh, ngạ quỷ, đều có Tu La [bao gồm trong ấy], nên chẳng nhắc đến Tu La.

 

      * Hỏi: Từ một đến mười, mỗi chữ trong nguyên âm Ấn Độ phải phát âm như thế nào? (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Kẻ hèn này chưa học tiếng Phạn, chẳng có cách nào trả lời được!

 

      * Hỏi: Trong Ngũ Tân có một thứ là A Ngụy (阿魏)[7], đó là ǵ vậy? Tỉnh Đài Loan có hay không? (Lư Vinh Đường hỏi)

     

      Đáp: Đây là một thứ cỏ thơm, trong các tiệm thuốc Bắc đều có. Đài Loan có [loài thảo mộc này] hay không, tôi chưa khảo sát!

 

      * Hỏi: Nói lời chẳng thật gọi là “vọng ngữ”. Có lần ở bên đường, đức Phật thấy vàng ṛng bèn bảo các đệ tử: “Đó là rắn độc”, có phải là vọng ngữ hay không? (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Vàng ṛng và rắn độc đều là giả danh. Chúng ta thuận theo [giả danh] mà gọi, há có phải là chân ngữ? Tên của chúng đă chẳng thật th́ lời ta nói lấy đâu ra thật? Rắn độc có thể giết người, vàng ṛng chẳng [trực tiếp] giết người, nhưng nó giết người [gián tiếp] th́ có khác ǵ rắn độc? Đức Phật nh́n vào cái kết quả giết người để đặt tên cho nhân tố gây giết người th́ có ǵ là vọng ngữ, có ǵ chẳng thật?

 

      * Hỏi: Bốn châu ở trên địa cầu hay ở nơi khác? Nếu chiếu theo Câu Xá Luận Tụng Giảng Kư[8] trang bốn trăm ba mươi bảy th́ Nam Châu (Nam Thiệm Bộ Châu) là Ấn Độ, Bắc Châu là vùng phía Bắc của Ba Đặc Na (Patna)[9] hiện thời. Nếu theo thuyết ấy th́ vẻ mặt và thọ mạng của người trong châu ấy có phù hợp với lời đức Phật đă dạy hay không? (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Mỗi người chú giải kinh chấp vào sự thấy biết riêng, bất luận là pháp thế gian hay xuất thế gian, không ǵ chẳng là như vậy. Điều này được gọi là “đấu tranh kiên cố” khiến cho chúng sanh càng thêm mê hoặc! Nếu cho rằng bốn châu cùng tồn tại trên địa cầu, sẽ phải mất công giải thích rất lớn, như Tu Di là núi nào, Thiết Vy là núi nào, đều trở thành vấn đề. Có người nói Tu Di là núi Hỷ Mă Lạp Nhă, bèn chẳng thấy mặt trời, mặt trăng ở lưng chừng núi [như kinh đă dạy]. Thiết Vy càng mịt mờ, mông lung hơn! Kinh Hoa Nghiêm chú thích chuyện này tường tận nhất, nhưng nếu so với hiện thời để luận định th́ cũng có chỗ sai khác rất lớn. Kẻ hèn này cho rằng phàm phu nhục nhăn tầm nh́n thiển cận, nếu có thể dung hội các bản chú giải với khoa học hiện thời ḥng tạo thành một lối giải thích viên dung, xuyên suốt, cố nhiên sẽ là tốt đẹp nhất. Nếu không, ai nấy tuân theo một bản chú giải nào [mà chính ḿnh thấy phù hợp nhất] th́ cũng chẳng phải chịu lỗi [chú giải sai lầm]!

 

      * Hỏi: Sách Nhị Khóa Hợp Giải, quyển năm, trang sáu mươi ba, trong ḍng thứ hai của nghi thức Mông Sơn Thí Thực, nơi đoạn giải thích về việc “tư sanh thí” (bố thí những vật cần thiết cho cuộc sống) có nói: “Kim tức thủy, phạn, chỉ tiền đẳng, dĩ tư u minh, trừ khổ đắc lạc, vi tư sanh thí dă” (nay th́ dùng nước, cơm, tiền giấy v.v... để giúp cho cơi u minh trừ khổ, được vui, chính là bố thí những vật dụng cần thiết cho cuộc sống). Xét ra, câu này nói rơ trong quỷ đạo có dùng tiền, nhưng theo sách Chánh Tín Phật Giáo đang phổ biến hiện thời, đốt tiền giấy là mê tín, mong cư sĩ phá nghi như thế nào! (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Quỷ là chúng sanh trong Dục Giới, đương nhiên có tập khí nam, nữ, ăn uống, có tham đắm tiếng tăm, lợi dưỡng. Đối với chuyện thí thực hay thí tài, họ đều cần đến, chỉ có điều phải thông hiểu Mật pháp quán tưởng th́ mới hữu hiệu. Người b́nh phàm cúng tế người đă khuất, do trọn chẳng biết người mất nay đang sanh trong đường nào, cứ nhất loạt coi như họ đă thành quỷ, đốt giấy, tiền, vàng bạc để cúng, lại chẳng hiểu pháp “tâm tạo hết thảy”, nên bị quở trách là mê tín! Đối với kẻ hiểu Mật pháp, một giọt nước có thể hóa thành ao rộng, hạt gạo có thể hóa thành núi cơm, mảnh giấy có thể biến thành đống vàng, cốt yếu là do pháp, chứ không do số lượng!

 

      * Hỏi: Trong ḍng thứ tư, trang thứ ba bài giảng Tại Gia Học Phật Pháp Yếu của pháp sư Thích Ấn Quang có nói một câu: “Những món tiền đă gởi kho trong cơi âm trước kia đều dùng để chẩn tế cô hồn th́ văng sanh mới chẳng bị chướng ngại”. Đối với điều vừa nói trên đây, nếu đă có thể chẩn tế cô hồn, tức là quỷ đạo có dùng tiền giấy, tôi khó thể liễu giải câu này! (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Lời đáp ấy của Ấn lăo pháp sư là cách nói chuyên nhằm trừ khử chướng ngại cho người tu Tịnh Độ. Quỷ cần tiền tài đă được nói rơ trong điều trước, [ở đây] chỉ nói bổ sung thêm. Tức là tuy quỷ dùng tiền, nhưng bố thí không nhất định phải dùng tiền giấy! Dùng tiền giấy cũng là tuân theo tập tục của Trung Quốc. Chẳng phải là trong lời đáp trên đây, tôi đă nói “tâm có thể tạo tác hết thảy” đó ư? Người hiểu pháp ấy, dùng bất cứ vật ǵ, hoặc chẳng dùng vật chất để thí, chỉ dùng quán tưởng đều có thể phát sanh hiệu lực! (Xét ra, [tập tục] in giấy làm tiền trong cơi âm, tuy đă có từ rất lâu, nhưng khai quật mộ đời Tống th́ trong ấy có tiền tùy táng đúc bằng đồng hay sắt. Trong cổ mộ cũng đào được tiền đúc bằng đất sét).

 

      * Hỏi: Báo Bồ Đề Thụ số bảy mươi bốn, trang sáu, nơi đoạn sau kể từ ḍng thứ sáu, [phần nói về sách] Liệt Tử (thiên Trọng Ni thứ tư) đă viết: “Khổng Tử nói: - Khâu văn Tây Phương hữu thánh giả yên, bất trị nhi bất loạn, bất ngôn nhi tự tín, bất hóa nhi tự hành, đăng đăng hồ nhân vô năng danh yên” (Khâu[10] nghe ở phương Tây có bậc thánh nhân, chẳng trị mà không loạn, chẳng nói mà mọi người tự tin tưởng, chẳng giáo hóa mà dân chúng tự hành, vời vợi không ai có thể diễn tả được). Trong đó, câu “bất ngôn nhi tự tín, bất hóa nhi tự hành” khó hiểu, xin hăy giải thích tường tận. (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Đây là tán thán thịnh đức vô vi của bậc thánh nhân Tây Phương. Thánh nhân chẳng cần phải nói năng mà chúng sanh trông thấy oai nghi, khuôn phép, mực thước của Ngài bèn tự nhiên tin tưởng, ngưỡng mộ. Chẳng cần thực thi giáo hóa mà chúng sanh hâm mộ đức trạch, tự nhiên phụng hành đạo của Ngài, đại khái là như thế đó.

 

       * Hỏi: Trong báo Bồ Đề Thụ số bảy mươi mốt, đoạn cuối trang bảy mươi hai, có thí dụ một con ḅ sanh ra năm vị, trong ấy, Tô, Lạc, Đề Hồ là vật ǵ? Đài Loan có hay không? (Lư Vinh Đường hỏi)

     

      Đáp: Trong sữa ḅ vốn chứa đựng các thành phần như thế, ắt phải tinh luyện, phân tích th́ mới có được. Ở nội địa, tôi đă từng thấy có người chế Lạc, chế Tô, kẻ hèn này cũng đă từng nếm qua, chỉ có Đề Hồ là chưa từng thấy. Đài Loan có sữa ḅ, trong ấy tất nhiên cũng có những vật như thế, nhưng chẳng biết có người nào biết cách tinh luyện hay không?

 

      * Hỏi: “Thiên la thần, địa la thần” trong Bạch Y Đại Sĩ Thần Chú chỉ vị thần nào? (Lư Vinh Đường hỏi)

     

      Đáp: Hết thảy các vị thần kỳ trong trời đất.

 

      * Hỏi: Trong Kim Cang Kinh Luận, trang thứ hai có đoạn “hồi hướng thập thánh tam hiền”, thập thánh tam hiền là chỉ những vị thánh, vị hiền nào? (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Đây là nói tới quả vị Bồ Tát. Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, ba loại này gọi là Tam Hiền, Thập Địa gọi chung là Thập Thánh.

 

      * Hỏi: Trong chương thứ tư của Phật Thuyết Tứ Thập Nhị Chương Kinh, tức chương Thiện Ác Tịnh Minh (cùng nói rơ thiện và ác) có câu: “Ư tam giả, tật, khuể, si” (ư có ba thứ là ganh ghét, nóng giận, si mê). So với mười sự được nói trong Phật Học Thường Thức Khóa Bổn th́ ba [phiền năo] nơi ư là tham, sân, si, thuyết nào đúng, thuyết nào sai? (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Kinh Phật truyền vào Trung Hoa chia ra bao nhiêu thời kỳ, phiên dịch cũng do thời đại khác nhau mà có trường hợp ư nghĩa tương đồng, nhưng dùng chữ sai khác. Tứ Thập Chương Kinh được dịch vào đời Hán, thuộc loại kinh được dịch ở Trung Quốc vào thời đầu, đến đời Tấn, đời Đường đều có biến đổi nhỏ. “Biến” là nói về [sự thay đổi trong cách sử dụng] văn tự, chẳng phải là nói đến ư nghĩa của kinh. Ganh ghét, nóng giận, si mê tức là tham, sân, si. Văn tự [sử dụng để dịch] tinh tế hay thô thiển sai khác đó thôi!

 

      * Hỏi: Cũng trong kinh ấy, chương thứ mười hai, tức chương Cử Nan Khuyến Tu (nêu ra những điều khó khăn để khuyên tu), có câu “xúc sự vô tâm nan” (tiếp xúc sự mà vô tâm là khó) và “đổ cảnh bất động nan” (thấy cảnh mà bất động là khó) có ǵ khác biệt? (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: “ Xúc sự” là đích thân tiếp xúc với sự, dù thuận hay nghịch đều đă chạm vào thân. “Đổ cảnh” (nh́n cảnh) là chỉ thấy, chứ thân chưa tiếp xúc. “Vô tâm” là tâm chẳng dấy lên “thấy, nghe, hay, biết”, đó gọi là “tâm bất tại” (chẳng để tâm nơi đó). “Bất động” là tuy thấy rơ, nhưng kiên định chẳng thay đổi, đó gọi là “tám gió thổi chẳng động”. Đó là chỗ khác biệt [giữa vô tâm và bất động].

 

      * Hỏi: Cũng trong kinh ấy, chương thứ bốn mươi hai, tức chương Đạt Thế Tri Huyễn có câu: “Thị A Nậu tŕ thủy như đồ túc du” (xem ao A Nậu Đạt[11] như dầu bôi chân), “thị phương tiện môn như hóa bảo tụ” (coi môn phương tiện như đống báu hóa hiện), “thị vô thượng thừa như mộng kim bạch” (coi vô thượng thừa như vàng lụa trong mộng), “thị Phật đạo như nhăn tiền hoa” (coi Phật đạo như hoa đốm trước mắt), “thị Niết Bàn như trú tịch ngụ” (coi Niết Bàn là như giấc ngủ đêm qua), “thị đảo chánh như lục long vũ” (coi điên đảo hay chánh đáng giống như sáu con rồng múa), “thị b́nh đẳng như Nhất Chân địa” (coi b́nh đẳng như cơi đất Nhất Chân), “thị hưng hóa như tứ thời mộc” (coi hưng khởi giáo hóa [của Như Lai] như cây cối bốn mùa), [những câu ấy khó hiểu], xin lăo cư sĩ giảng rơ tỉ mỉ (Lư Vinh Đường hỏi.)

 

      Đáp: Đây là Phật trí v.v... quán hết thảy, nhằm phá trừ phân biệt mê hoặc của chúng sanh. Từ ngữ dễ giải thích, nhưng nghĩa lư khó thể giảng rơ. Nếu nói theo giáo tướng th́ “Không tức là Sắc, Sắc tức là Không”, “sanh tử là Niết Bàn, phiền năo là Bồ Đề”. Đă liễu ngộ các nghĩa ấy, sẽ ngay lập tức liễu ngộ các vấn đề này. Nếu không, hăy đọc chú giải các kinh cho nhiều, lâu ngày sẽ tự biết. Ở đây, tôi giải thích theo các câu chữ như sau: “Nước trong ao” là nhiều, “dầu bôi chân” là ít, [tức là nhiều và ít] đều như nhau. “Phương tiện” là pháp, “hóa bảo” (của báu hóa hiện) là giả, [tức là pháp và giả] là tương tự. “Thượng thừa” là pháp cùng với “mộng kim bạch” (vàng lụa trong giấc mộng) đều chẳng thật, chẳng hư. “Niết Bàn” bất quá như tỉnh giấc mộng. “Sáu con rồng múa” th́ đầu đuôi lần lượt thay đổi trên dưới. “B́nh đẳng, nhất chân”: Vạn pháp đều sanh từ nhất tâm, nên nói là b́nh đẳng. “Hưng khởi giáo hóa như cây cối bốn mùa” là câu tổng kết, Phật tự nói là sự thực hiện giáo hóa của Ngài là vô duyên, vô vi mà thôi. Nay tôi lấy thiên đạo để tỷ dụ, có mặt trời, mặt trăng, mưa, sương, nuôi nấng, sinh thành vạn vật, nhưng cây cỏ bốn mùa gặp những duyên ấy, có lúc tươi tốt, có thuở héo tàn. Đă tươi tốt sẽ có lúc khô tàn, đă khô tàn sẽ có lúc tươi tốt trở lại. Cỏ cây khô héo hay tươi tốt, tức là chúng sanh do ngộ hay mê mà tiến hay lùi vạn phần sai khác! Mặt trời, mặt trăng, mưa, sương ví như Như Lai hưng khởi sự giáo hóa chẳng ngừng.

 

      * Hỏi: Trong bài Chỉnh Đốn Tăng Già Chế Độ Luận do Thái Hư đại sư viết, trang thứ nhất là “Phẩm thứ nhất: Tăng Y”, câu đầu tiên là “như thị ngă văn” nên giải thích ra sao? Có phải là do tôn giả A Nan đích thân nghe nói hay chăng? (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Đây là cách hành văn mượn dùng một từ ngữ đă đi vào điển cố. Trong thế tục có nhiều trường hợp như vậy, chẳng hạn như trong Duyệt Vy Thảo Đường Bút Kư của Kỷ Hiểu Lam đời Thanh có câu “như thị ngă văn”, tức là phỏng theo lệ ấy, chẳng giống như phần chứng thực Tín và Văn ở đầu các kinh.

 

      * Hỏi: Trong sách Duy Ma Cật Kinh Giảng Thoại, trang bốn mươi bảy, [có nói] mỗi lần đức Phật giảng kinh đều có các vị Bồ Tát và đại chúng thuộc tám bộ từ các thế giới phương khác đến tham gia rất đông, nhưng nhục nhăn của các vị tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di dự hội khi ấy có trông thấy họ hay không? Tôi rất nghi hoặc v́ như trong kinh Duy Ma Cật có chép: “Bồ Tát ba vạn hai ngàn, Thiên Đế một vạn hai ngàn từ Tứ Thiên giáng hạ”, đông đảo như thế. Huống hồ ngay đang trong lúc thảo luận Phật pháp, [người chép kinh] miêu tả có thanh âm, có h́nh sắc, [liệu rằng] nhục nhăn của tín chúng khi ấy có thể thấy được cảnh đó hay không? (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Ông nói: “Mỗi lần giảng kinh, nhục nhăn của các vị tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di dự hội khi ấy có thể trông thấy hay không?” Đối với chữ “nhục nhăn” trong câu này hiềm rằng hơi kém khẳng định, v́ trong những vị đến dự hội ấy, có nhiều vị đă chứng quả. Ông chẳng thấy trong kinh thường nói “giai thị đại A La Hán” (đều là đại A La Hán) hay sao? Đă chứng quả, ắt có sức thần thông, có thể trông thấy hết thảy, c̣n có nghi ngờ ǵ nữa? Kẻ chẳng có sức thần thông, hễ có duyên bèn thấy, chẳng có duyên bèn không thấy. Như đức Phật thuyết pháp có biến hiện pháp âm mà có kẻ nghe [lời Phật giảng] như điếc, như câm, có kẻ chẳng nghe, cuối cùng rút lui khỏi pháp hội, có người nghe xong bèn hoan hỷ phụng hành. C̣n như trong pháp hội, các vị thánh hay phàm đến từ các nơi thấy hay không thấy cũng giống như thế.

 

      * Hỏi: Trang một trăm hai mươi sách Duy Ma Cật Kinh Giảng Thoại có câu: “Kỳ thí nhữ giả, bất danh phước điền, cúng dường nhữ giả, đọa tam ác đạo” (Người bố thí cho ông, chẳng gọi là phước điền. Người cúng dường ông bèn đọa trong ba ác đạo), nên hiểu như thế nào? V́ sao cúng dường tôn giả Tu Bồ Đề phải bị đọa lạc? [Nói như vậy], trong thời đại Mạt Pháp này, ai chịu phát tâm bố thí?

 

      Đáp: Đoạn này là lời phá tướng b́nh đẳng dành cho ngài Tu Bồ Đề, có thể hiểu rơ các nghĩa “phiền năo tức Bồ Đề”, “sanh tử tức Niết Bàn” th́ sẽ tự hiểu lời ấy. Nhưng đoạn văn phá tướng này chú trọng phương diện Pháp Chấp để nói, chớ nên nói với kẻ sơ cơ, bởi kẻ sơ cơ bụng rỗng tuếch chẳng có pháp nào, tán loạn nhưng chẳng có ǵ để lập, há có ǵ đáng để phá? Cần phải thấu hiểu viên măn ư nghĩa ấy; nếu không, Đề Hồ sẽ biến thành chất độc của chim Trầm!

 

      * Hỏi: Lại nữa, sách Duy Ma Kinh Giảng Thoại trang ba trăm ba mươi bốn, ḍng thứ bảy có đoạn: “Duy Ma Cật tức dĩ thần lực, tŕ chư đại chúng tịnh sư tử ṭa, trí ư hữu chưởng, văng nghệ Phật sở, đáo dĩ trước địa” (Duy Ma Cật liền dùng thần lực, cầm lấy đại chúng và các ṭa sư tử, bỏ trong ḷng bàn tay phải, đến chỗ Phật. Đă đến nơi, bèn đặt xuống đất). Cảnh tượng khi ấy là đại chúng biến thành nhỏ bé, hay bàn tay của cư sĩ Duy Ma Cật biến thành to lớn? Rất mong lăo cư sĩ dạy rơ! (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Đọc loại kinh này, chớ nên chấp tướng như vậy! Nếu dùng những điều này để hỏi pháp, nếu phù hợp cơ phong th́ không sao, chứ để hiểu nghĩa kinh th́ hiểu sai quá to! Nay tôi lập một thí dụ, ông hăy nên tham cứu kỹ càng! Cầm một tấm gương mỏng tanh, chỉ dầy một phân, dùng để chiếu rọi cảnh tượng rộng lớn bên ngoài, ắt trăm dặm núi sông đều thu hết vào trong ấy, rành rẽ, rơ ràng, xin hỏi gương có dầy thêm hay không? Trăm dặm núi sông có co mỏng lại hay không?

 

      * Hỏi: Trong bản thứ ba của tờ Giác Thế tuần san, số năm mươi hai, trong bài Các Điềm Báo Cho Sự Hoằng Pháp Tây Phương của Niệm Sanh, ḍng thứ tám trong đoạn cuối viết: “Trước kia, các vị đại sư dịch kinh như Cưu Ma La Thập, Chi Khiêm v.v... đều là cư sĩ”. Tôi từng nghe nói ngài Cưu Ma La Thập là Tam Tạng pháp sư, đúng sai như thế nào? (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Hai vị đại sư Cưu Ma La Thập và Chi Khiêm trước là cư sĩ, về sau mới xuất gia. Ngài La Thập xuất gia vào tuổi thiếu niên, c̣n ngài Chi Khiêm sau khi đă đến Trung Quốc mới xuất gia.

 

      * Hỏi: Trong tác phẩm Tâm Kinh Yếu Thích (chú giải những điều trọng yếu trong Tâm Kinh) của ngài Bân Tông, nơi ḍng thứ năm ở trang hai mươi hai có viết: “ Nếu nói đến cái lớn th́ vi trần chẳng thể vào, nếu nói đến cái nhỏ th́ hư không chẳng thể chứa đựng”, đoạn này khó hiểu, xin hăy dạy cặn kẽ. (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Xét ra đoạn văn này của pháp sư [Bân Tông] mang ư nghĩa giải thích tâm tướng của Chân Như. Trong đoạn văn ấy đă nói rơ cái tâm này chẳng thể dùng phạm vi “vuông, tṛn, lớn, nhỏ” để so sánh hay h́nh dung. Hai câu ấy có ư nghĩa giải thích: Chẳng thể nói tâm là nhỏ, v́ tâm con người trọn khắp hư không, lại chẳng thể nói nó là lớn, v́ một hạt vi trần là nhỏ nhất, nhưng chẳng thể dung nhập.

 

      * Hỏi: Xin hăy giải thích từ ngữ “Quyền Thật đồng vận” nơi ḍng thứ bảy trang một trăm sáu mươi chín sách Tâm Kinh Yếu Thích. (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Xét ra, đoạn văn ấy nói về pháp hóa độ chúng sanh. Quyền có nghĩa là phương tiện, dung thông, chưa chắc là chân thật. Thật nghĩa là chân thật, chẳng dối, trọn chẳng phải là giả thiết. Chúng sanh căn khí bất đồng, đối với kẻ lợi căn, bèn nói nghĩa chân thật. Đối với kẻ độn căn phải cần đến phương tiện thiện xảo, cho nên nói đạo quyền biến với họ mà thôi!

 

      * Hỏi: Ḍng thứ bảy trang một trăm bảy mươi tám sách Tâm Kinh Yếu Thích có nói đến Đệ Nhất Nghĩa Không, xin hăy giải thích. (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Ư nghĩa của Không có nhiều cách nói, ở đây chỉ là nghĩa bậc nhất trong các nghĩa, tức là nói tới cái Không của Thật Tướng. Ư nghĩa Thật Tướng là “vốn trọn đủ vạn pháp, nhưng chẳng có một tướng nào để đạt được!”

 

      * Hỏi: Cũng trong sách trên, trang một trăm hai mươi hai, chữ “thiên tử” trong câu “hai trăm thiên tử” nên hiểu như thế nào? Là con của chư thiên, hay là hoàng đế trong thế giới này? V́ sao ở Ấn Độ có nhiều vua như thế? (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Đó là nói về thiên đế.

     

      * Hỏi: Trong tháng Bảy, các chùa Phật đều cử hành lễ cầu siêu vong linh, trong các kinh sám được tụng có Huyết Bồn Sám, kinh sám ấy có phải do đức Phật nói hay không? Trong Đại Tạng Kinh có kinh ấy hay không? Thuộc tập mấy? (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Kinh ấy thuộc loại ngụy tạo, Đại Tạng chẳng thâu nhập.

 

      * Hỏi: Chính tôi gặp một vị ni sư hóa duyên, phân phát truyền đơn, in Phật Thuyết Cứu Kiếp Chân Kinh, trong ấy có câu: “Thích Ca Phật trông nom thiên hạ một vạn tám ngàn năm đến nay đă măn, Di Lặc Phật tiếp nhận ngôi vị”. Kinh ấy xuất hiện từ đâu? Có phải do đức Phật nói hay không? (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Tờ truyền đơn ấy đúng là lời lẽ yêu mị mê hoặc dân chúng, báng Phật, báng Pháp. Không chỉ nhiễu loạn trị an, mà sợ rằng sẽ chuốc lấy quả báo trong tam đồ. Phàm những kẻ nói “Phật Thích Ca thoái vị, Di Lặc chưởng quản thiên bàn”, đều là tà giáo bí mật, trọn chẳng có mảy may học thức nào! Tà giáo ấy có nguồn gốc xa xưa từ bọn giặc Khăn Vàng (Hoàng Cân) cuối đời Hán, lưu truyền thành Bạch Liên Giáo trong các đời Nguyên, Minh, đến đời Thanh trở thành Thiên Lư Giáo, Bát Quái Hội, Nghĩa Ḥa Đoàn, Hồng Đăng Tráo v..v... Nay lại biến đổi thành đủ thứ tên gọi, chi phái thật nhiều! Sách Hồi Đầu Thị Ngạn đă nói về nguồn gốc của chúng rất tường tận. Kẻ mới học Phật sợ đi lạc đường, chớ nên không đọc [bộ sách ấy]. Hăy thử nghĩ từ lúc đức Thích Tôn giáng sanh giáo hóa đến nay, mới có hơn hai ngàn năm trăm năm, lấy đâu ra con số một vạn tám ngàn? Chỉ xét một lời này, đă có thể suy ra chúng nó kiến thức thông thường c̣n chẳng có, có đạo ǵ đáng để nói nữa ư? Sau này, nếu ông thấy tờ truyền đơn ấy lần nữa, hăy mau vứt vào nước, lửa. Vị ni sư ấy chẳng phân biệt thật giả, chắc là kẻ không hiểu rơ Phật lư, hăy nên khéo léo khuyên dạy, chớ để bà ta bị kẻ tà vạy lường gạt!

 

      * Hỏi: Khi Phật giáo chưa truyền vào Trung Quốc, Trung Quốc vào thời cổ đại có ai thành Phật hay không? Nếu có th́ v́ sao chẳng giảng kinh, thuyết pháp, phổ độ chúng sanh? (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Đức Phật nói đến cổ đại bèn nói đến mấy kiếp. Đức Phật thông hiểu túc mạng, có thể nói đến bao kiếp trước. Chúng ta ăn nói ắt phải dựa vào kinh điển. Quả địa cầu này, nếu xét theo sự suy lường của các khoa học gia, đă có tuổi thọ mười sáu ức năm (hoặc là hai mươi sáu [ức năm], tôi nhớ không rơ), nhưng lịch sử Trung Quốc chỉ có hơn bốn ngàn năm. Trong hơn bốn ngàn năm ấy, chưa có Phật xuất hiện, c̣n trước đó th́ chẳng dám tùy tiện suy đoán bừa băi!     

 

      * Hỏi: Có những tự viện tạo tượng Phật, cậy những kẻ bói toán chọn lựa ngày giờ điểm nhăn khai quang, [làm như vậy] có đúng hay không? (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Tôi thường thấy trong kinh Phật gọi “chiêm tinh, chọn ngày” là “thế gian ư”, đều thuộc vào lệ cấm! Điểm nhăn khai quang là một thứ chú nguyện do pháp sư cử hành, chẳng giống với ư vừa nói trên đây.

 

      * Hỏi: Có vị giáo hữu cậy tôi hỏi giùm, ông ta muốn xây cất nhà cửa, nhưng kẻ tục khuyên ông ta nên chọn ngày lành, giờ tốt, ấn định phương hướng. Nhưng chiếu theo đạo lư chánh tín, hết thảy mọi việc đều chỉ do tâm tạo, tâm thiện th́ cảnh thiện, tâm ác cảnh bèn ác, há bị hạn chế bởi thời gian, địa điểm? Xin hỏi lăo cư sĩ nghĩ như thế nào? (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Cách nh́n như tôn ư hết sức chánh xác.

 

      * Hỏi: Trong tập cuối của bộ Huyền Trang Đại Sư Linh Cốt Quy Quốc Phụng An Chuyên Tập (chuyên tập về chuyện rước xương thiêng của Huyền Trang đại sư về nước an trí thờ phụng), trang hai trăm mười lăm, ḍng thứ tám có nói: “Đại sư đáp: Dùng Du Già Sư Địa Luận do Di Lặc Bồ Tát trước tác”. Di Lặc Bồ Tát là vị Bồ Tát trong quá khứ, là Phật trong tương lai, trong khoảng giữa bèn ứng hóa thân nào khiến cho chúng sanh nhận biết? Dùng phương thức nào để truyền đạt Du Già Sư Địa Luận khiến cho chúng sanh biết tới? (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Thuở đức Thế Tôn tại thế, trong các vị Bồ Tát tham gia các pháp hội có vị từ phương khác đến, có vị sống trong cơi này. Di Lặc Bồ Tát và đức Thế Tôn đồng thời, Ngài sanh tại Nam Thiên Trúc, trong nhà Bà La Môn, làm đệ tử xuất gia của đức Phật giống như các vị Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên v.v... Đă biết tông tích của Ngài, chẳng c̣n nghi ngờ luận ấy nữa!

 

      * Hỏi: Cũng trong bộ chuyên tập trên đây, trang một trăm ba mươi sáu, nói về thánh tích của đức Phật, c̣n nhắc tới Đề Bà Đạt Đa, Chiến Già Bà La Môn nữ hủy báng Như Lai, thân bèn đọa vào địa ngục ngay trong khi c̣n sống. Nói theo lư, địa ngục là chỗ thần thức tội quỷ sanh vào, nhục nhăn làm sao có thể thấy được? Xét theo lư luận khoa học, dưới đất có địa ngục rất đáng nghi ngờ! (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Đất nứt ra, thân rơi vào đó, gọi là “sanh thân hăm địa ngục” (thân đọa vào địa ngục trong khi c̣n sống). Thân c̣n chưa chết mà thần hồn đă đọa vào, như kẻ chưa mạng chung mà tướng địa ngục đă hiện, cũng là “sanh hăm địa ngục” (hăm trong địa ngục khi c̣n sống). C̣n như kẻ có tội thấy tướng địa ngục hiện, cố nhiên kẻ b́nh phàm chẳng thấy, nhưng người đă khai thiên nhăn ắt thấy rơ ràng, rành rẽ. [Nói] “địa ngục ở dưới đất”, chớ hiểu chết cứng chữ “dưới”. Ở dưới tầng đất này, liền có thể nói là “địa hạ” (dưới đất). Hăy nên biết, thủy, hỏa, phong v.v... đều được bao gồm trong chữ Địa. Con người biết điều này, [địa ngục] có bốn loại lớn, nhưng thiên biến vạn hóa, không ǵ chẳng có. Nói “có địa ngục” th́ có ǵ là chẳng được! Nhưng những điều trên đây vẫn là dựa theo vật chất để nói, nếu xét theo nghĩa lư Duy Thức, chúng ta thấy là đất, nhưng trong cái nh́n của những loài chúng sanh khác, chưa chắc đă là như vậy. Như loài người thấy là nước, cá thấy như mây khói, chư thiên thấy như lưu ly, ngạ quỷ thấy là lửa dữ!

 

      * Hỏi: Cũng trong bộ Chuyên Tập trên đây, trang một trăm bốn mươi ba có một đoạn thuật chuyện tôn giả A Nan do thấy chúng sanh khó độ bèn tự sát. Tự sát cũng là sát sanh, bậc thánh giả đă chứng quả A La Hán cớ sao lại khinh rẻ mạng sống như vậy? Tự sát th́ có thể văng sanh Tây Phương hay không? (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Kẻ hèn này đọc kinh rất ít, chưa thấy chuyện ấy xuất xứ từ chỗ nào, nên chẳng biết nguồn cội của câu chuyện ấy, nên chẳng có cách nào trả lời, xin hăy tha thứ.

 

      * Hỏi: Trong phẩm Phổ Môn kinh Pháp Hoa có đoạn chép Vô Tận Ư bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Con nay sẽ cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát”, liền tháo chuỗi anh lạc bằng các thứ bảo châu đeo trên cổ, giá trị trăm ngàn lạng để dâng tặng, thưa rằng: “Bạch nhân giả! Xin hăy nhận lấy chuỗi trân bảo pháp thí này”. V́ sao tài thí chuỗi trân bảo lại gọi là pháp thí? Khó hiểu quá! Xin hăy giải thích cặn kẽ thêm! (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Phàm mỗi lời nói, mỗi hành vi, đều có hai mặt “hợp lư, hợp pháp” và “chẳng hợp pháp, chẳng hợp lư”. Bố thí cũng chẳng ra ngoài lệ ấy. Vô Tận Ư Bồ Tát đem chuỗi anh lạc tặng cho Quán Thế Âm Bồ Tát, bảo là “pháp thí”, hăy nên hiểu là bố thí hợp pháp hợp lư, chứ chẳng phải là Pháp Bố Thí. Hăy nên biết, ngài Quán Âm là cổ Phật hóa thân, quyền biến thị hiện thân Đẳng Giác. Trừ Phật ra, có ai c̣n có thể dùng Phật pháp để bố thí cho Ngài?

 

      * Hỏi: Trong Lăng Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa do pháp sư Viên Anh biên soạn, quyển thứ nhất, trang ba mươi hai nói kinh này được cất trong cung rồng. Cung rồng ở chỗ nào? Có phải là động Thủy Liêm trong Tây Du Kư hay không? Thật là luận định thần kỳ, lạ lùng! Theo nhăn quang hiện thời, đây có phải là chuyện thật hay không? (Lư Vinh Đường hỏi)

 

      Đáp: Cung rồng ở trong biển, người có thần thông sẽ có thể thấy, có thể vào, bọn phàm phu chúng ta chẳng biết được. Nếu đối với chuyện này bèn hoài nghi, cho là luận định thần kỳ, quái dị, cư sĩ đă là tín đồ Phật giáo, tự nhiên tín phụng kinh Phật, thử hỏi thiên đường và địa ngục lại ở nơi nào? Há chẳng phải đều là luận định kỳ quái? C̣n như ông nói “theo nhăn quang hiện thời” th́ [nên hiểu theo kiểu nào], phải tôn trọng hay phải phù hợp? Cái gọi là “nhăn quang” chính là kiến giải. Con người hiện thời nếu như đă ngộ tri kiến của Phật th́ nhăn quang sẽ là chánh xác. Nếu không, do Hoặc nặng, chướng sâu, tri kiến tự lầm lạc, chẳng đáng để tôn trọng, càng chẳng cần phải phù hợp! Lũ chúng ta hăy nên y pháp, đừng y nhân, đối với những chuyện ấy có thể thuận theo phương tiện. Nếu là người suy tưởng chuyện hoằng hóa, sẽ tự có lời lẽ phương tiện thiện xảo khế cơ, khế lư. Nếu chẳng hoằng pháp th́ giữ im lặng là được rồi. Tây Du Kư là truyện tiểu thuyết, há nên lấy nó để hư luận bàn bạc kinh Phật ư?

 

      * Hỏi: Theo cái nh́n ngu muội của tôi, hết thảy các tôn giáo cũng chẳng qua là dục vọng thăng hoa, v́ sao lại khăng khăng phủ nhận, cự tuyệt, và chán ghét những dục vọng khác với dục vọng của chính ḿnh? (Ngô Tiệp Hán hỏi)

 

      Đáp: Dục vọng là tên gọi chung của sự yêu thích, mong cầu một sự hoặc một lư nào đó, nhưng hết thảy sự lư có thiện và ác khác nhau. Tánh chất của chúng sanh cũng có hiền hoặc ngu khác biệt. Kẻ hiền chuộng thiện, ghét ác, kẻ ngu chuộng ác, ghét thiện, như lửa bốc lên, như nước chảy xuống, thuận theo lẽ tự nhiên. Ai nấy cự tuyệt, chán ghét những thứ khác với dục vọng của chính ḿnh, há đáng trách ư? Dục vọng của các nhà tôn giáo và dục vọng của ma vương sát nhân đă là mỗi người có đường lối khác biệt, đă ở vào vị trí tương phản, cần ǵ phải kinh ngạc?

 

      * Hỏi: Đức Phật nói chúng sanh b́nh đẳng, v́ sao lại có nỗi khổ luân hồi trong lục đạo? Khổ do đâu mà có? Quả lại có tiêu chuẩn ǵ? Người có nhăn quang thấy những chúng sanh khác là khổ, thật sự sợ là ngoại trừ những kẻ “tự cậy thông minh” ra, những chúng sanh khác trọn chẳng ở trong t́nh cảnh như kẻ ấy tưởng tượng! Người ta lại khư khư sợ đời sau sẽ làm súc sanh, thật ra, con người chẳng bằng súc sanh về nhiều phương diện đó sao? (Bất luận xét theo phương diện nào như trí huệ, đạo đức, cuộc sống v.v...) (Ngô Tiệp Hán hỏi)

 

      Đáp: Câu này cần phải tách thành năm đoạn để giải thích:

      1) Chúng sanh b́nh đẳng là nói về [các phương diện] bổn tánh, sanh mạng, sự cải ác hướng thiện, và siêu phàm nhập thánh th́ đều b́nh đẳng. Trọn chẳng phải là nói theo phương diện chúng sanh tạo nghiệp bèn đen trắng chẳng phân biệt, hoặc lúc thọ báo bèn chẳng phân biệt khổ hay lạc! Họ đă tạo nghiệp ngàn muôn sai khác, nên thọ báo cũng phải là ngàn muôn sai khác! Đó đều là “tự làm, tự chịu”, nhân như thế nào, quả như thế ấy, chẳng phải do Phật bày ra sự thưởng phạt! Tuy chúng sanh tạo nghiệp bất đồng, nên thọ báo bất đồng trong lục đạo, nhưng xét theo các điều kiện như bổn tánh v.v... vẫn chẳng có ǵ bất đồng! Nay lấy con người để tỷ dụ, tuy có các thân phận như Tổng Thống, Bộ Trưởng, viện trưởng, binh sĩ, nông dân, công nhân, thương gia v.v... có các sự hưởng thụ như phú ông, kẻ ăn mày, phạm nhân v.v... nhưng đều gọi chung là người, chẳng thể gọi là “phi nhân”. Đó là ư nghĩa b́nh đẳng. Lại nữa, lúc mới sanh ra, đỏ hon hỏn, chẳng mang theo một vật nào tới. Đến lúc chết, hai tay trống trơn, chẳng mang theo vật nào ra đi. Từ đầu đến cuối, không có ǵ chẳng b́nh đẳng!

      2) Khổ do đâu mà có? Trồng đậu được đậu, trồng dưa được dưa. Giết người đền mạng, mắc nợ phải trả tiền. Khổ do đó mà có!

      3) Tiêu chuẩn của khổ là sanh, lăo, bệnh, tử, yêu thương phải chia ĺa, oán ghét phải gặp gỡ, cầu không được, nước, lửa, chiến tranh, đói lạnh, tai ương, họa hại, đều là tiêu chuẩn của khổ.

      4) Nếu chẳng thấu đạt t́nh cảm của chúng sanh, tự nhiên sẽ chẳng hiểu rơ cảm tưởng của chúng sanh. Thật ra, điều này cũng chẳng phải là rất khó hiểu. Chim, thú thấy người liền bay đi, tránh né, đó là nỗi khổ kinh sợ. Chuột mắc bẫy rập, muỗi bị đập chết tươi, đó là nỗi khổ do đói khát. Gà, vịt, lợn, dê bị giết mổ, kêu rên bi ai chẳng ngừng; đó là nỗi khổ sợ hăi đau đớn. Nếu nói “chúng chẳng biết khổ”, tức là chưa đặt ḿnh vào hoàn cảnh ấy. Nếu nói lúc b́nh thường chúng chẳng biết khổ th́ chính là ngu mê chẳng tỉnh, ngơ ngơ ngáo ngáo đáng thương. Nếu có thể tỉnh ngộ, sẽ nghĩ đến giải thoát.

      5) Người chẳng bằng súc sanh th́ xét về sự hưởng thụ, có lẽ có hiện tượng ấy, như chó của người Tây Phương được ăn bánh ḿ thịt ḅ, dân Trung Quốc đói khát phải ăn thức ăn vụn vặt, rau dại. Chuyện này là ngẫu nhiên, trọn chẳng phải là đa số, quyết chẳng thể nói khẳng định hoàn toàn là “bất luận trên phương diện nào” [súc vật] cũng đều trội hơn con người!

 

      * Hỏi: Thiên hạ vốn vô sự, thế mà có lắm kẻ cứ khăng khăng bận tâm so đo pháp sư, giáo chủ, mục sư, linh mục, thánh nhân, triết gia này nọ, há chẳng phải là chuyện của kẻ b́nh phàm mà c tự lo ngay ngáy hay sao? (Ngô Tiệp Hán hỏi)

     

      Đáp: “Thiên h vô s thái b́nh mà có k b́nh phàm lo ḅ trắng răng” tức là h có chuyện loạn lạc, k nơm nớp lo âu là hạng b́nh phàm, k chẳng b nhiễu loạn chính là bậc thánh triết. Người hữu tâm thấy rơ ràng, nên biết lấy, b [đúng lẽ], nguồn loạn t giảm. K vô trí vẫn c thản nhiên chẳng biết lo toan nên b cuốn hút, vấy bẩn theo, loạn càng thêm loạn!

 

      * Hỏi: Giới tuyến giữa hai lănh vực thiện và ác là ǵ? Tiêu chuẩn của thật, giả, tà, chánh là ǵ? Nguyên nhân của khổ, lạc là ǵ? Nếu là kẻ không quá mức cậy ḿnh, chủ quan, vơ đoán, tôi nói là bờ kia Niết Bàn, thiên đường, địa ngục và hết thảy đều là do bị con người cưỡng chia thành các cực đoan, có đúng hay không? Nếu vậy th́ cần ǵ phải phiền phức truy cầu hoặc tránh né? (Ngô Tiệp Hán hỏi)

 

      Đáp: Thiện - ác, khổ - lạc, tà - chánh, Niết Bàn, sanh tử vốn là Không. Về sau, do kẻ b́nh phàm lo ḅ trắng răng, nên từ Không sanh ra Có. Đă có rồi, bèn chẳng thể gượng ép cho rằng chẳng có! Như nước vốn chẳng có sóng, do gió nhiễu động mà sóng sanh ra. Sóng đă sanh ra, sẽ có nỗi ương hoạn lật thuyền, d́m người chết đuối; lúc ấy, chẳng thể nào không có lấy, bỏ được! Nếu gió lặng, sóng cũng chẳng c̣n tung tích, người vượt sông biển c̣n có ǵ lấy, bỏ để nói nữa! Người học Phật cũng giống như gió lặng vậy!

 

      * Hỏi: Theo Vật Lư Học, vật chẳng bị động sẽ không thể nào tự chuyển động. Sợ rằng Phật pháp cũng có thể vượt ngoài lệ ấy, v́ do nhân duyên sanh th́ há chẳng phải là Không ở trong Không, huyễn ở trong huyễn đó ư? (Ngô Tiệp Hán hỏi)

 

      Đáp: “Chẳng bị động sẽ chẳng thể tự chuyển động” và “do nhân duyên sanh” có ư nghĩa tương tự, nhưng “do nhân duyên sanh” là cách nói viên dung. Như dựng hai nhánh cây, chống vào nhau như h́nh chữ Nhân () để đứng vững, sự đứng vững ấy do nhân duyên ḥa hợp mà thành, trọn chẳng thể nói nhánh cây bên trái là chánh yếu, chống đỡ nhánh cây bên phải, mà cũng chẳng thể nói nhánh cây bên phải là chủ yếu, chống đỡ nhánh cây bên trái. Nếu nói là “bị động”, ắt phải có “chủ động”. Thử hỏi, kẻ chủ động mà động th́ lại là do lẽ nào? Hai thứ học lư (Phật pháp và Vật Lư) cố nhiên có thể tương thông, nhưng cách nói có tinh vi hay thô sơ khác biệt!   

 

       * Hỏi: Con người thường thích tự hạn chế trong khuôn khổ của chính ḿnh, ở trong phạm vi ấy bèn thổi lông t́m vết, chuốt nhọn sừng trâu, đến nỗi tự cho là sự cảm nhận của chính ḿnh là viên măn, ngỡ là mênh mông, tinh tường, sâu thẳm, chí cao vô thượng. Do vậy, bèn huyễn hoặc, sanh khởi cái nh́n từ bi thương xót kẻ khác, đâu biết chính ḿnh chẳng qua cũng đang vật vă trong khuôn khổ ấy (hoặc trong một khuôn khổ khác biệt). Trong báo Giác Sanh số nào đó, có một vị gọi là Tam Tam Đại Đức, đọc câu hỏi do vị ấy đă nêu ra với cư sĩ, dường như là hiểu rất nhiều, nhưng dụng ư và nhu cầu có ǵ khác biệt kẻ b́nh phàm? (Ngô Tiệp Hán hỏi)

 

      Đáp: Lời cao luận của ông hết sức đúng. Trong Phật học gọi “quẩn quanh trong một khuôn khổ, chuốt nhọn sừng trâu” là Pháp Chấp. Nghiên cứu học vấn, ắt cần phải xét khắp bốn phương tám hướng, biết ḿnh, biết người, sẽ đạt đến viên măn. Câu nệ thiên kiến, phần nhiều sẽ trái nghịch sự thật.   

     

      * Hỏi: Trong nhăn quan của tín đồ Cơ Đốc giáo, Thích Tôn chỉ là thánh nhân, chẳng thể sánh bằng Chúa (Gia Ḥa Hoa Thượng Đế - Jehovah). Họ nói Thượng Đế là vị chúa tể có thể sáng tạo vạn vật, là chúa tể của vũ trụ, vượt xa năng lực của con người. Ngu tôi cho rằng vũ trụ là pháp sanh bởi nhân duyên, trọn chẳng có tánh chất thực tại, nó có tánh chất tồn tại độc lập, có tánh chất chẳng thay đổi, ai có thể chứng tỏ vũ trụ do Thượng Đế sáng tạo? Đức Phật là bậc khai ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, đă đạt bất sanh, bất diệt, liễu thoát sanh tử. Chúa bất quá là một vị trời, khó tránh khỏi nỗi khổ luân hồi trong lục đạo! Họ trả lời: “Đă là liễu sanh tử, hăy làm thế nào để chứng tỏ sự thật”, đ̣i tôi nêu ra chứng cứ. Ngu tôi căn cứ [trên sự kiện] Phật giáo đă có lịch sử hơn hai ngàn sáu trăm năm, các vị đại Bồ Tát, A La Hán, cao tăng đại đức trong các đời đều là bậc từng trải, đều có thể là chứng nhân. Cảnh giới minh tâm kiến tánh của các Ngài đă được ghi chép trong kinh Phật có thể làm chứng cứ, nhưng họ vẫn chẳng chịu t́m hiểu, đ̣i hỏi phải lấy những chuyện cụ thể, gần gũi, nông cạn để kẻ b́nh phàm, chẳng phải là Phật giáo đồ đều có thể liễu giải ḥng giải thích, nêu chứng cứ. Hễ chân lư trải qua khảo nghiệm th́ chẳng cần phải tranh chấp, biện luận nữa! [Đạo Phật] chú trọng tự chứng mới biết, nhưng cần phải lập ra phương cách để kẻ khác hiểu rơ sự tôn quư của Phật lư, ngoại đạo chẳng thể sánh bằng th́ mới có thể hướng dẫn những kẻ theo các tôn giáo khác khiến cho họ dấy lên ḷng tin. Có phương pháp tốt đẹp nào để trả lời họ hay không? (Bạch Lai Thọ hỏi)

 

      Đáp: Quư cư sĩ đại tâm ủng hộ Phật pháp, bi tâm chuyển dời ngoại đạo, rất đáng khâm phục! Xét kỹ lời luận định của ông cũng khá chánh xác, mà chẳng thể chiết phục kẻ đó là do hai nguyên nhân:

      1) Một là biện tài thiện xảo của chính ḿnh [chưa đạt đến mức thuyết phục người khác].

      2) Hai là do kẻ đó lạc đường đă sâu.

      Chẳng biết do lư do nào! Ông gởi thư bảo tôi hăy giúp đỡ về mặt ngôn luận, đó là chẳng biết phương tiện thiện xảo, bởi lẽ, đôi bên biện luận, khéo léo ở chỗ đối đáp nhạy bén, làm sao có thể sai người khác nghĩ sẵn ngôn từ? Hơn nữa, Phật pháp sâu thẳm, chư tổ đời sau c̣n chẳng biết [cảnh giới] của ngài A Nan, ngài A Nan cũng chẳng biết [cảnh giới] của ngài Ca Diếp, ngài Ca Diếp lại càng không biết [cảnh giới của] Phật. Quư cư sĩ muốn khiến cho kẻ ở ngoài pháp môn biết Phật th́ cũng giống như hướng đến những bà cụ già trong chốn thôn quê ca tụng rành rẽ khuôn mẫu của vua Nghiêu, vua Vũ, rành rành là chẳng thiện xảo! C̣n như [kẻ ngoại đạo] bảo “Phật là người”, chẳng tin có Niết Bàn, xưng tụng Thượng Đế là Chúa, bảo Chúa tạo ra vạn vật, họ đă đ̣i cư sĩ nêu ra chứng cớ, sao cư sĩ không buộc họ nêu chứng cớ về Thượng Đế trước đă? Sao không trước hết hăy đ̣i họ nêu chứng cớ [Thượng Đế] sáng tạo vạn vật? Thiên kiến nặng nề, cho thấy kẻ ấy lạc đường đă sâu. Kẻ hèn này cũng có lập trường. Ví như nhà âm nhạc, hằng ngày phải cống hiến ca nhạc cho quần chúng thưởng thức. Cư sĩ cứ nhất định buộc kẻ hèn này xách dao cầm[12], bỏ quần chúng vào chốn núi hoang, tấu nhạc cho vách đá, mong mỏi vách đá sẽ cảm động, vui sướng. Cân nhắc sự nặng nhẹ, cố nhiên tôi chẳng thể đáp ứng lời yêu cầu của quư cư sĩ. Nếu hỏi vách đá chẳng đáng để cảm động ư? Thưa, không! T́nh và vô t́nh, đă là có thể “đồng viên Chủng Trí”, nên ngài Đạo Sanh thuyết pháp, [đá] cũng gật đầu. Kẻ hèn này chẳng có biện tài như ngài Đạo Sanh, chẳng có bi tâm như quư cư sĩ, cân nhắc đức, lượng định sức, chẳng thể vâng lệnh! Tuy là như thế, nhưng hỏi mà chẳng đáp, cũng khá vô lễ, nên lời đáp này là để thưa cùng cư sĩ, chẳng phải là để nói lại với kẻ ấy. Nói với kẻ ấy, [quư cư sĩ] sẽ tự có lời lẽ khế cơ, lời lẽ ấy là như thế nào? Tôi từng thấy Nhật Bản làm phim Phật giáo, có [bộ phim] Tôn Đại Thánh (Tề Thiên) Đại Chiến Thượng Đế, Thượng Đế bó tay, xót xa cầu thỉnh Như Lai mới bèn có thể chế phục Tôn Đại Thánh. Do điều này biết Phật là chí cao vô thượng. Nếu nghi “chuyện ấy chẳng phải là hư luận ư?” Thưa rằng, “ba cân gai, que cứt khô”[13] đều có thể khơi gợi kẻ khác khai ngộ. Trúc biếc, hoa vàng không ǵ chẳng phải là Bát Nhă, huống hồ Tôn Đại Thánh trong Tây Du Kư ư? Chỉ có mấy lời thừa thăi mong trả lời phần nào các điều ông đă hỏi!

 

      * Hỏi: Làm sao có thể chứng thực Phật đă liễu thoát sanh tử, cao thượng hơn thần? (Bạch Lai Thọ hỏi)

 

      Đáp: Phàm phu xuất thai, nhập thai, chẳng thoát lục đạo, nên gọi là sanh tử. Cái nhân của sanh tử là do khởi Hoặc tạo nghiệp, thần thức bị mê hoặc và nghiệp lực lôi dắt đi đầu thai trong các đường, như phàm phu nằm mộng, đều do các chủng tử vọng niệm tích tụ, dấy lên hiện tướng. Bậc liễu sanh tử đă phá sạch hết thảy huyễn vọng, nghiệp tận, t́nh không, chân tánh giải thoát làm chủ, chẳng c̣n bị hết thảy lôi dắt. Chẳng c̣n nhập thai, nên gọi là Bất Sanh. Đă chẳng c̣n nương gá thân hư huyễn, chẳng có vật ǵ để có thể chết nên gọi là Bất Tử. Đó gọi là “liễu sanh tử”. Đoạn hết Kiến Tư Hoặc, chứng quả La Hán. Đoạn Trần Sa Hoặc, phần chứng Bồ Tát. Đoạn căn bản vô minh, chứng Phật quả. Thần và trời đều chưa đoạn Hoặc, chứng Chân, nên vẫn bị nghiệp lôi dắt vào sanh tử. Ai chân, ai giả, ai cao, ai thấp, người sáng suốt tự biết, chẳng phải là kẻ miệng lưỡi [trơn tru, liến thoắng] có thể tranh biện được!

 

      * Hỏi: Cảnh giới Niết Bàn bất sanh bất diệt là cảnh giới như thế nào? Chứng cứ ở chỗ nào? (Bạch Lai Thọ hỏi)

 

      Đáp: Phật có ba thân, thân trong cơi đời nhằm độ chúng sanh, nên tùy cơ ứng hóa, “bất sanh bất diệt” là nói về Pháp Thân. Pháp Thân chính là Chân Như bổn tánh, rỗng rang, huyền diệu, chẳng có thể chất. Xin hỏi hư không có diệt hay chăng? Tuy chẳng có h́nh chất, nhưng nó trọn đủ các “năng lực”, hễ gặp cảm bèn có thể hiện tướng. Điều này được gọi là “tùy duyên”; duyên hết, tướng lại trở về Không. Đó là chẳng biến đổi. Trong cái Không ấy, thật ra cũng có tướng, điều này được diễn tả là “Không chính là Sắc, Sắc chính là Không”. Biết Không chẳng diệt, nên theo lư, Sắc cũng chẳng diệt. Đó là cách hiểu thô thiển về lẽ “chẳng sanh diệt”. [Điều này được] các nhà khoa học nói là “năng lực bất diệt, vật chất bất diệt”. Niết Bàn có rất nhiều loại, mỗi loại có cảnh giới riêng, chẳng thể nói vơ đũa cả nắm trong một lời được, người chứng đắc sẽ tự biết. Nếu hỏi chứng cứ, cứ cho người ấy uống một ngụm nước sôi, hoặc nuốt một chén nước đá, để cho người ấy cảm nhận lạnh nóng ra sao. Đối với kẻ không tin, hăy mời kẻ ấy nêu ra chứng cứ về cảm giác nóng hay lạnh!

 

      * Hỏi: Sau khi nhập Niết Bàn th́ cái gọi là “linh hồn” (thuận theo danh từ trong cơi tục) sẽ đến nơi đâu? Pháp Thân có trạng thái như thế nào? Niết Bàn và cảnh giới “thanh tịnh vô vi hư vô” của Đạo giáo có ǵ khác biệt? (Bạch Lai Thọ hỏi)

 

      Đáp: Bổn tánh bị mê, đó là thần thức, nó chính là cái được ngoại đạo gọi là “linh hồn”. Linh hồn sẽ do nghiệp thiện hay ác khác biệt mà sanh vào trời, người, hay tam đồ, v́ thần thức thuộc về vọng huyễn. Tu tŕ trong nhà Phật chính là đoạn Kiến Tư Hoặc, Trần Sa Hoặc, sanh tướng vô minh, chuyển thần thức thành chân trí. Trí là tên gọi khác của chân tánh và Pháp Thân, đạt đến chỗ này mới gọi là “Niết Bàn rốt ráo”. Linh hồn là vọng huyễn, làm sao đắc Niết Bàn cho được? Tự nhiên sẽ vào trong lục đạo. Chân tánh đă giải thoát, chẳng đến, chẳng đi, to lớn bao trùm hư không, chẳng chỗ nào không trọn khắp. Đạo gia chẳng biết sanh tướng vô minh, lầm tưởng thần thức là cái sẵn có, cảnh giới tối cao bất quá là sanh vào Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên mà thôi. Đó là chỗ khác biệt!

 

      * Hỏi: Ứng Thân của Phật trọn khắp vô lượng số thế giới, tại sao các nước Âu Mỹ cho tới gần đây mới biết có Phật, mà người tin tưởng thưa thớt như vậy? Tuy đạo Gia Tô (Thiên Chúa giáo) nói tới Thiên Đường, chẳng tin luân hồi, v́ sao phát triển mạnh mẽ tại Tây Phương như vậy? Chúng sanh đông đảo như thế, mà trọn chưa hề tai nghe mắt thấy sự thật luân hồi như được lưu truyền tại Trung Thổ? Nếu nói là “duy tâm hiển hiện” th́ “chẳng có tâm ấy, sẽ chẳng có chuyện ấy”, vậy th́ thuyết nhân quả há có giới hạn trong một khu vực ư? Hơn nữa, dường như những sự tích luân hồi ba đời được lưu truyền qua các đời đều giới hạn tại Trung Quốc, chẳng nghe nói người Trung Quốc thọ sanh tại Tây Dương, hoặc sanh trong một thế giới khác, là v́ lẽ nào vậy? (Âu Dương Mạn hỏi)

 

      Đáp: Một, đối với đoạn văn từ chữ “Ứng Thân của Phật” cho tới “người tin tưởng thưa thớt như vậy”, [câu trả lời là] vạn pháp đợi duyên mà sanh. Cổ nhân nói: “Phật tuy từ bi, nan độ vô duyên” (tuy Phật từ bi, khó độ kẻ chẳng có duyên). Cái “duyên” được nói ở đây chính là túc thế thiện căn (thiện căn trong đời trước). Thuở trước, khi đức Thế Tôn diễn thuyết kinh Pháp Hoa, c̣n có năm ngàn tỳ-kheo rời khỏi pháp tọa, những kẻ ấy chẳng có phước duyên đối với đại pháp ấy nên chẳng thể tiếp nhận. Âu Mỹ hiện thời, tuy nói người tin tưởng thưa thớt, nhưng họ đă bắt đầu tin th́ chướng tiêu, huệ hiện, sẽ có ngày Phật pháp được phổ cập.

      Hai, đối với đoạn nói về đạo Gia Tô lưu truyền, [câu trả lời là] lục đạo luân hồi xuất phát từ kinh Phật. Người có thần thông, hiểu biết thấu triệt ba đời th́ mới có thể nói được. Những kẻ chẳng có thần thông, sẽ chẳng thể thấy. Kẻ chẳng suy xét sâu xa, ắt chẳng chịu tin. Suy nghĩ cặn kẽ th́ bọn họ cũng biết được một hai phần, nhưng chưa thể dung hội, thông suốt. Như phần lớn những kẻ nghiên cứu Linh Học (Spiritual Science) nói đến quỷ. Trong kinh Tân Cựu Ước [của đạo Thiên Chúa] cũng nói thiên đường và địa ngục, người và súc sanh là những vật quen thấy, rơ ràng là họ đă thừa nhận năm đường. Thử hỏi thân quỷ, thân thiên đường và thân địa ngục do vật ǵ biến ra? Nếu nói là do linh hồn của con người biến ra th́ “biến” chính là luân hồi! Cớ sao biết hai lần năm, mà chẳng biết là mười?

      Ba, đối với đoạn “nếu nói có giới hạn ư”, [câu trả lời là] đă hiểu rơ lời đáp dành cho đoạn thứ hai th́ mối nghi trong đoạn này cũng được tháo gỡ.

      Bốn, “lại nữa, dường như những sự tích luân hồi ba đời được lưu truyền qua các đời”, những điều được chép trong sách vở vốn bị giới hạn bởi sự hiểu biết của con người. Trước kia, [cổ nhân Trung Hoa] c̣n chưa biết có các nước Âu Mỹ, há có thể ghi chép chuyện của người trong các xứ ấy? Nhưng Vương Ngư Dương[14] là quốc vương Cao Ly chuyển sanh. Địa Tạng Bồ Tát ứng thân tại Cao Ly, tên là Kim Địa Tạng. Người xứ An Nam là Lưu Kiến Trung sau khi chết mượn xác thân một người vừa chết ở Sơn Đông, Trung Quốc để hoàn hồn v.v... Những người ấy [người ta] đă quen nghe thấy, lẽ nào [nhân quả luân hồi] chỉ hạn cuộc tại Trung Quốc? Hơn nữa, trong kinh Địa Tạng Bổn Nguyện, phần chép về Vô Gián địa ngục có đoạn: “Khương, Hồ, Di, Địch, lăo, ấu, quư, tiện, hoặc long, hoặc thần, hoặc thiên, hoặc quỷ, tội hành nghiệp cảm, tất đồng thọ chi” (Khương, Hồ, Di, Địch[15], già, trẻ, sang, hèn, hoặc rồng, hoặc thần, hoặc trời, hoặc quỷ, do tạo tội nên nghiệp cảm vời, đều phải cùng gánh chịu). Lời kinh đă nói rơ ràng, vừa nói tới Khương, Hồ, Di, Địch, vừa nói đến rồng, thần, trời, quỷ, vô lượng chúng sanh đều được bao gồm trọn khắp trong ấy.

 

      * Hỏi: Phật pháp cho đến thời Hán Minh Đế mới truyền đến Trung Thổ, nhưng đạo được nói bởi các bậc tiên thánh trong thời cổ, như Lăo, Trang, Châu, Khổng, dường như không ǵ chẳng khế hợp Phật pháp, chỉ là dùng danh từ thuật ngữ bất đồng. Như Lăo Tử nói: “Hữu vật hỗn thành, tiên thiên địa sanh, hoảng hề, hốt hề, kỳ trung hữu tượng. Hốt hề, hốt hề, kỳ trung hữu tinh” (Có một vật hỗn độn mà thành, sanh trước trời đất, mập mờ, thấp thoáng mà bên trong có vật, sâu thẳm, tối tăm mà bên trong có cái tinh túy)[16]. Khổng Tử nói: “Triêu văn đạo, tịch tử khả hỹ” (Sáng nghe đạo, tối chết cũng được). Cái được gọi “vật tồn tại trước khi có trời” tức là nói đến Chân Như trong nhà Phật. Cái được gọi là Đạo chính là “đại sự nhân duyên xuất thế” trong giáo pháp của ông cụ mặt vàng (hoàng diện lăo tử, đức Phật). C̣n như “tâm trai, tọa vong” (trai giới trong tâm, tĩnh tọa quên mất chung quanh) đều phù hợp với pháp môn tu hành trong nhà Phật. Lại nữa, đối với những vị được gọi là “thần tiên” của Trung Quốc, địa vị của những vị thuộc bậc thượng bằng với Bồ Tát. Tử Dương Chân Nhân[17] dùng Đạo để giảng Phật, chỗ nào cũng đều thấy là viên dung, chứng tỏ thuyết “Thích và Đạo có cùng một nguồn” [là đúng], trọn chẳng trái nghịch, sai lầm! Đời sau chấp vào mười thứ Tiên nói trong kinh Lăng Nghiêm để nhận xét vơ đũa cả nắm các vị thần tiên Trung Quốc, nên chuyện “tổ sư Hoàng Long quở Lữ Tổ là quỷ giữ thây”[18] được lưu truyền dường như là bịa thêm, chẳng biết có đúng hay không? (Âu Dương Mạn hỏi)

 

       Đáp: Tuy mặt người ai nấy đều có tai, mũi, mắt, miệng, nhưng nh́n kỹ th́ thường là mỗi người một khác; Lăo, Trang, Khổng, Châu và Phật cũng giống như thế. Há do một hai chỗ tương tự [bèn kết luận là các giáo đồng nhất], nhưng đại thể đại dụng vốn là mỗi giáo mỗi khác, có cách đối trị riêng, học thuật riêng, chẳng cần phải gán ghép! Nếu không, sợ rằng chẳng phải nhân mà coi là nhân, chẳng phải quả mà ngỡ là quả. Lời luận định này trọn chẳng phải là “đỏ chẳng phải là trắng”, mà cũng chớ nên mượn lời này để khinh hủy các thánh hiền khác!

 

      * Hỏi: Kẻ hèn này sau khi đến Đài Loan, từng mộng thấy vài cảnh:

      1) Trong mộng, hướng thẳng về khám thờ Phật chắp tay làm lễ, chợt thấy mây trắng trên trời kết thành h́nh tướng A Di Đà Phật, liền lớn tiếng niệm thánh hiệu A Di Đà Phật bèn tỉnh giấc. Khi tỉnh, dư âm vẫn c̣n nơi miệng.

      2) Trong mộng, thấy một cái cửa đóng chặt, chợt lớn tiếng xướng: “Mê bèn trong ngộ mà mê, ngộ th́ từ mê mà ngộ”. Nói xong, bèn tỉnh giấc.

      3) Mộng thấy có kẻ cừu oán truy đuổi, trốn chẳng được, cuối cùng vọt lên không bay đi, cho rằng có thể thoát hiểm. Vừa quay đầu nh́n lại, cừu nhân cũng vọt lên không đuổi theo, đột nhiên thấy một hang động, trong động có những vị tăng h́nh dạng kỳ lạ ước chừng hai ba vị, trong đó có một vị chỉ dạy: “Cừu oán chẳng thể tránh né, chỉ có cởi gỡ từ trong tâm chính ḿnh. Hễ cởi gỡ, sẽ chẳng c̣n oán nữa”. Nghe xong bèn tỉnh ngộ, cấp bách tiêu trừ từ trong tự tâm. Quay đầu nh́n lại, kẻ cừu nhân đuổi theo tôi đă mất tích từ lâu, do vậy bèn tỉnh giấc.

      Cố nhiên tôi biết mấy cảnh trên đây đều là huyễn cảnh, nhưng chẳng biết chúng cũng có liên quan ǵ đến nhân quả trong đời trước hay không? Những điều tôi vừa nói đều là thật, chẳng dám cố ư phạm giới hư dối. Kính xin cụ hăy chỉ dạy! (Âu Dương Mạn hỏi)

 

      Đáp: Trong đời trước, cư sĩ ắt phải là người thờ Phật. Mộng tuy là huyễn cảnh, nhưng cũng là do một loại chủng tử hiện hành.

 

      * Hỏi: Tập khí tích kết của văn nhân là chuộng sáng tác thơ từ các loại, [biên soạn] văn thơ từ chương, nội dung chẳng ngoài các thứ u t́nh phong nguyệt, biệt ly, oán hờn, hay hâm mộ, đều thuộc về ỷ ngữ. Thật sự phát tâm học Phật th́ có nên răn dè chuyện này hay không? Tôi lại thấy vị lăo cư sĩ X... tin Phật cũng rất kiền thành, dốc sức, nhưng chuộng làm thơ, lại c̣n quyết ư dốc sức để mong sáng tác hay hơn người khác, cái tâm danh lợi chưa trừ, rốt cuộc trở thành mối phiền lụy to lớn. Tôi từng khuyên lơn ông ta về chuyện ấy, chẳng biết có nên hay không? (Âu Dương Mạn hỏi)

 

      Đáp: Bất luận tông nào, tu pháp môn nào, nói chung, chẳng ngoài an trụ, dứt niệm. Rong ruổi theo ư, chọn lựa ngôn từ đẹp đẽ, tâm thường ĺa đạo. Ông Tạ [Linh Vận] đă bị [tổ Huệ Viễn] cự tuyệt không cho dự liên xă, ông Tô [Đông Pha] lâm chung điên đảo, chẳng phải đều là do thói tệ ấy hay sao? Cư sĩ khuyên bảo là đúng rồi!

 

      * Hỏi: Phật pháp coi trọng công đức vô vi, mỗi lượt bố thí cốt sao tam luân thể không. Đạo Gia Tô mở nhiều bệnh viện, trường học, đặt ra hạn mực [để đánh giá] tốc độ tiến triển, siêng năng mong tích lũy hiệu quả, dường như là công đức hữu vi. Nhưng nếu nói theo phương diện ảnh hưởng trong khí thế gian hiện thực th́ loại công đức sau (công đức hữu vi) dễ được nhân loại tin tưởng, ngưỡng mộ, giải trừ tật bệnh đau khổ cho nhân sinh, đâm ra cụ thể hơn mà lại dễ tiến hành. Tôi trộm cho rằng, Phật giáo hăy nên lấy phương pháp vô vi để tu tâm, dùng phương pháp hữu vi độ đời, th́ sự cứu tế chúng sanh sau này sẽ chẳng trở thành rỗng tuếch, chuyện lợi sanh mới có dấu tích cụ thể. Chẳng biết có nên hay không? (Âu Dương Mạn hỏi)

 

      Đáp: Vô vi tu tâm, hữu vi ứng thế, Bồ Tát hạnh trong Đại Thừa chính là như thế. Tam Tụ, Tứ Nhiếp, Mười Nguyện Phổ Hiền, há chẳng phải đều là hữu vi hay sao? Tiếc là Phật tử hiện thời, ít có kẻ phát đại tâm, trọn chẳng phải là Phật pháp không đề cao chuyện này!

 

      * Hỏi: Cừu nhân chẳng gặp mặt, địch nhân chẳng gặp gỡ. Tôi hướng về người khác nói: “Tôi có một kẻ thù, tôi sẽ giết nó chết, nó lừa dối tôi quá đáng. Đối với người đời, nó chẳng làm chuyện phải chau mày, chẳng khiến người khác phải nghiến răng”. Người khác nói: “Tôi và anh chẳng có lá gan ấy, chẳng có chí khí cứng cỏi. Tôi muốn làm một kẻ ngốc nghếch và nhút nhát”. Tôi muốn thử một phen, giết chết kẻ thù, moi tim nó ra, cắn nó thành hai mảnh, rồi tự ra nộp ḿnh, gặp quan ṭa. Tôi cho rằng giết kẻ thù, giết kẻ ác là thiện niệm! Quan ṭa phạt tôi ba mươi năm hay bốn mươi năm tù, tôi cam chịu, chẳng cần phải hỏi nhiều, hỏi nhiều càng rườm rà. Trước khi sự việc phát sanh, tôi nói với ba người khác: “Tôi tính giết kẻ thù”. Họ nói tôi không có lá gan ấy, chẳng có chí khí cứng cỏi của bậc trượng phu. Xin quan ṭa đ̣i ba người ấy ra ṭa, đem trái tim của kẻ thù tôi đă giết cho ba người ấy coi. Xin hỏi Lư đại cư sĩ có thể làm chuyện giết người hay không? Tôi nghĩ đối với câu hỏi về chuyện giết người, chắc đại cư sĩ chẳng trả lời, quyết định chẳng thể in ra. Nói th́ nói như vậy, c̣n chuyện làm hay không do chính tôi quyết định. Nếu câu hỏi hợp lệ th́ xin in ra, người hiểu biết sẽ tự hiểu rơ ḥng răn dè kẻ khác. (Hưu Hưu hỏi)

 

      Đáp: Học Phật là học giác ngộ, cầu hiểu rơ Lư, thông đạt Sự, tự độ, độ người. Nếu Tam Độc tham, sân, si lừng lẫy, sẽ là mê đắm, liền hiện ra các hành vi giết, trộm, dâm v.v... chắc chắn đọa trong tam đồ là súc sanh, địa ngục, ngạ quỷ. Nhân quả trong ấy chẳng hề sai sót mảy may. Muôn vàn chớ nên v́ phẫn hận một buổi mà đành ḷng tự đọa lạc. Dẫu chẳng sợ nỗi khổ bị giam cầm trong tù ngục thế gian, quả báo thê thảm trong tam đồ khổ sở khôn xiết! Thánh hiền thế gian như Mạnh Tử dạy người khác, hễ gặp kẻ oán thù, ắt phải tự ḿnh ba lượt quay đầu, tránh xa. Khổng Tử dạy người khác dùng ḷng chánh trực để đối xử với kẻ oán cừu, Phật th́ dạy người ta phải dùng đức để cảm hóa kẻ khác, v́ chúng sanh đều là quyến thuộc trong quá khứ, là chư Phật trong vị lai, họ có lỗi ác, hiện tại hay sau này đều phải thọ báo, ta là người học Phật, cần phải thương xót, cứu độ họ. Tuy họ chẳng ngộ, ta cũng cần phải học Nhẫn Nhục Ba La Mật th́ mới là người trí, th́ mới là có chí khí cứng cỏi. Đó gọi là “tám gió thổi chẳng động”, đấy chính là công phu như sắt luyện. Nếu v́ kẻ khác mà tức giận hay hoan hỷ, sẽ thật sự trở thành kẻ phàm phu thô lậu ḷng dạ hẹp ḥi, đâu xứng là đệ tử đấng Đại Hùng! Huống chi sau khi đă giết kẻ thù, sẽ đọa trong tam đồ, vẫn lại gặp gỡ, tuần hoàn báo trả, vĩnh viễn chẳng có lúc nào xong! Đến khi ấy, kẻ nói ông chẳng có chí khí cứng cỏi chẳng thể chịu khổ giùm ông! Phật pháp là “khó nhẫn mà có thể nhẫn, khó đoạn mà có thể đoạn”, điều này đ̣i hỏi ông phải dũng mănh quay đầu, buông xuống.

 

      * Hỏi: Chúng ta mở miệng nói năng đều phải do tâm suy tưởng th́ mới nói ra được; nhưng chúng ta niệm kinh có lúc tâm rong ruổi bên ngoài, cớ sao vẫn có thể tụng kinh rơ ràng, rành rẽ? (Tŕ Huệ Lâm hỏi)

 

      Đáp: Tâm niệm kinh là tâm duyên theo kinh, tâm hướng ra ngoài rong ruổi là duyên theo ngoại cảnh. Hai thứ duyên ấy đồng thời dấy lên, phải phân định tâm nào mạnh, tâm nào yếu? Do tâm duyên theo kinh mạnh mẽ, nên kinh văn vẫn c̣n có thể chẳng loạn. Nếu duyên theo bên ngoài mạnh mẽ, kinh văn bèn chẳng rơ rệt nữa!

 

      * Hỏi: Nếu trong tâm dấy lên ác niệm, nhưng chưa làm các chuyện ác th́ có phải cũng là có tội lỗi hay không? Ác niệm cảm nhập thức thứ tám, trong tương lai, khi ác chủng tử chín muồi có bị khổ báo hay chăng? (Trương Đức Minh hỏi)

 

      Đáp: Chủng tử ác niệm ngầm nhập trong ruộng thức, gặp duyên liền dấy lên hiện hành, ắt thọ ác báo. Chẳng có duyên bèn chẳng sanh. Trong kinh có nói [vua A Xà Thế] lúc lâm chung, do bị phất trần chạm vào mặt bèn nổi sân, đọa làm rắn độc, kẻ xót xa vẻ mặt đẹp đẽ của vợ, liền sanh làm thân trùng trong tuyến nước mắt [của vợ], [những trường hợp này] đều do bị ư niệm làm hại. Hiểu rơ điều này, ắt sẽ biết tác dụng to lớn của một câu Phật hiệu miên miên mật mật!

 

      * Hỏi: Duyệt đọc kinh sách có thể tùy tiện hay không? Hay là nhất định phải thắp hương, ngồi ngay ngắn rồi mới có thể xem? (Trương Đức Minh hỏi)

 

      Đáp: Ấn Quang tổ sư nói: “Phật pháp phải cầu từ cung kính. Có một phần cung kính, được một phần lợi ích. Có mười phần cung kính, được mười phần lợi ích”. Đọc mấy lời ấy, liền biết thắp hương, ngồi ngay ngắn sẽ được lợi ích nhiều hơn tùy tiện!

 

      * Hỏi: Xem kinh sách hoặc Mật chú, đối với những chữ không biết có thể đọc sai âm hay là bỏ qua chữ đó? (Trương Đức Minh hỏi)

 

      Đáp: Chú thuộc về Mật, vốn coi trọng khẩu truyền, có thể lướt qua chẳng đọc [những chữ không biết cách đọc]. Kinh thuộc về Hiển, đối với chữ không biết hăy nên tra tự điển. Nếu đọc sai âm, tức là trong tâm có ư niệm cẩu thả, sẽ dính vào khinh mạn, hết sức chớ nên!

 

      * Hỏi: Trong Phật giáo chúng ta làm ǵ cũng đều dùng ba món, như kính trà dùng ba chén, lễ Phật ba lạy, niệm chú cũng là ba lượt, niệm bài sám hối cũng là ba lần, có ư nghĩa như thế nào? Xin thầy hăy khai thị. (Tŕ Huệ Lâm hỏi)

 

      Đáp: Đây là phong tục nước ta, dùng cách lặp lại ba lượt nhằm biểu thị ḷng thành khẩn. Phật giáo đồ Trung Quốc vẫn thuận theo phong tục mà thôi. Thật ra, cũng không phải luôn là như vậy, như cúng dường có lúc dùng năm thứ, chú có lúc tụng bảy biến, hoặc một trăm lẻ tám biến, nhưng kẻ chuyên dùng con số ba th́ cũng có, nhưng chẳng bắt buộc phải là như vậy.

 

      * Hỏi: Nghe nói kinh có hai thứ là liễu nghĩa và bất liễu nghĩa. Loại nào là liễu nghĩa? Loại nào là bất liễu nghĩa? V́ sao kinh Phật c̣n có thứ bất liễu nghĩa? Nếu chẳng phân biệt rơ ràng, học nhằm kinh bất liễu nghĩa, há chẳng phải là phí công ư? (Tạ Khoan Quán hỏi)

 

      Đáp: Chớ nên đa nghi chuyện này. Chẳng cần biết là liễu nghĩa hay bất liễu nghĩa, [học tập các kinh ấy] đều chẳng phí công! Kinh liễu nghĩa nói về Thật, chỉ dạy thật nghĩa rốt ráo. Bất liễu nghĩa nói về Quyền, c̣n có những nghĩa chưa trọn hết. Nhưng chúng sanh căn khí bất đồng, tŕnh độ cầu học chẳng ngang nhau, nên thí pháp ắt phải có Tiệm và Đốn th́ mới có thể khế cơ. Luận theo thứ tự, bất liễu nghĩa là bước đầu, liễu nghĩa là điểm kết thúc, để cầu cái cuối cùng, ắt phải có cái khởi điểm. Luận theo sự tu tŕ, liễu nghĩa là Chánh Hạnh, bất liễu nghĩa là Trợ Hạnh, nhất định phải là Chánh Trợ Song Tu!

 

      * Hỏi: Đệ tử học Phật chỉ hơn nửa năm, vừa quy y hơn ba tháng, chọn chắc một môn Tịnh Độ, hằng ngày tụng kinh Di Đà, thoạt đầu khá tinh tấn. Đầu năm nhằm ngày Nguyên Đán, đi qua băi tha ma, trong ḷng chợt khởi lên một niệm Chết. Từ đấy đến nay đă gần hai tháng, hằng ngày nghĩ năm nay sẽ chết. Người học Phật phải nên đừng sợ chết, sống thêm một ngày là chịu khổ báo thêm một ngày, nghĩ đời người nhạt nhẽo, vô vị. Ư niệm ấy quẩn quanh trong tâm, mỗi ngày một phiền muộn hơn. Lửa vô danh bốc lên, nổi giận vô cớ! Gần đây đối với cơm nước, ngủ nghê đều chẳng có hứng thú ǵ. Thường xót xa xin Phật, Tổ gia bị, dốc hết sức niệm thánh hiệu, và tự trách chính ḿnh lo sợ không đâu. Hoặc tự cảnh tỉnh hăy nên quán tánh pháp giới, hết thảy chỉ do tâm tạo, nhưng đều vô hiệu, mây đen chẳng tan, trong ngực như bị nhét chặt bông, như vậy th́ có phải là ma sự hay không? Nên giải cứu như thế nào? Xin thầy từ bi rủ ḷng thương xót! (Trần Thanh Thanh hỏi)

 

      Đáp: Cư sĩ học Phật nửa năm, mà những lư luận đă dẫn ra đều hết sức rơ rệt, chắc chắn là bậc lợi căn, lại c̣n tự cảnh tỉnh là “ma sự” và “tự ḿnh quấy nhiễu ḿnh” càng rất xác đáng. Lại c̣n có thể tự hiểu rơ, và nêu ra “nên quán tánh pháp giới, hết thảy duy tâm tạo” để đối trị, cũng là hết sức đúng chứng bệnh, nhưng vẫn chưa thể tháo gỡ, th́ là do c̣n chưa hiểu lư Nhân Không và Pháp Không, cũng như chưa hiểu cách nhiếp tâm. Nếu hiểu rơ Nhân Pháp vô ngă, sợ chết hay cầu chết đều là tà kiến. Nếu có thể nhiếp tâm nơi Định, sẽ chẳng đến nỗi vọng niệm tơi bời, phiền năo nổi sân. Hiện thời, trước hết hăy nên học buông xuống hết thảy, chẳng nghĩ đến quá khứ, chẳng nghĩ tới tương lai, chỉ quan tâm một câu thánh hiệu trong hiện tại. Có việc th́ phải làm việc, không có việc bèn niệm Phật. “Chế tâm một chỗ, không việc ǵ chẳng hoàn thành”, chẳng sợ vọng tưởng, chỉ sợ nhận biết chậm! Nếu có thể thời thời giác chiếu, luôn luôn bài trừ vọng niệm, sẽ chẳng có ma sự, mà cũng không tự lo nghĩ vô ích.

      Nói thêm, nếu cư sĩ rủ ḷng đến gặp, tôi hết sức hoan nghênh, năm giờ chiều thứ Năm mỗi tuần có thể gặp gỡ tṛ chuyện tại Liên Xă.

 

      * Hỏi: Trong số các đồng tu niệm Phật, có người sớm chiều dâng cơm cúng Phật, cúng Tổ, có bắt buộc phải làm như thế, hay là không nhất thiết? Nghe giảng kinh tôi thấy nói Tây Phương có ao bảy báu, nước tám công đức, trong cơi ấy nghĩ đến mặc bèn được mặc, nghĩ đến ăn bèn có ăn, muôn thứ đáng có đều có trọn hết, cớ sao phàm nhân vẫn phải cung kính cúng cơm? (Trương Quân Cụ hỏi)

 

      Đáp: Há chỉ riêng Phật, Tổ chẳng ăn cơm dâng cúng của nhân gian, ngay cả chư Thiên trong Dục Giới cũng chẳng hưởng hương hỏa của nhân gian. Thiên chúng cơi Tứ Thiền đă hoàn toàn đoạn ẩm thực, huống là Phật, Tổ ư? Chuyện này bất quá nhằm trọn hết ḷng ta, cạn hết ḷng thành của ta, Phật trí xét soi muôn phương cũng sẽ hay biết. Gieo phước điền cho ta, tất nhiên cúng như vậy hữu ích. Như Lương Vơ Đế đời trước làm tiều phu, bị mắc mưa, thấy tượng Phật bị mưa dầm liền lấy nón che, do một niệm thành tâm, đời sau quả báo vô cùng.

 

      * Hỏi: Người thường ăn chay trường có lúc trong miệng bị lở là do nguyên nhân ǵ? Nếu thân thể có hiện tượng thiếu vitamin th́ có cách nào để bổ cứu, xin chỉ dạy biện pháp! (Lâm Tương Lộ hỏi)

 

      Đáp: Trong miệng bị lở tức là bị bệnh. Người hiểu rơ Y lư biết bị bệnh mà ăn chay sẽ có thể giảm bệnh, trọn chẳng phải là do ăn chay mà bệnh nặng hơn. Hơn nữa, căn bệnh ấy chẳng chỉ phát ra nơi kẻ ăn chay. Xin hăy xem những kẻ ăn chay, nhan nhăn trên đường phố, họ có thể chẳng bị bệnh hay chăng? Xin hăy thử chứng thực từ bệnh viện, xem trong số những người bị bệnh, kẻ ăn chay đông hơn, hay kẻ ăn thịt đông hơn? Nếu cư sĩ thiếu loại vitamin nào, nên uống loại thuốc viên vitamin đó. Chớ nên hiểu lầm, gây trở ngại cho việc ăn chay.

     

      * Hỏi: Lúc tôi chưa tin Phật bèn chẳng giác ngộ. Từ lúc quy y Tam Bảo, học một ít kinh điển, mới biết thân ta là Tứ Đại giả hợp, là cái thân mắc chứng bệnh nặng vô thường, lập tức thiết thực, hễ học được ǵ bèn tu luyện nấy, ḥng tiêu trừ các thứ huyễn bệnh trong ngoài, nào ngờ cho tới hiện thời chưa thể trừ sạch, lại phát sanh tâm bệnh nơi tự tánh. Tôi nhận biết đó là căn bệnh đă lâu, chẳng có phương thuốc mầu nhiệm nào có thể trị được, nhưng đại đức là bậc đại y vương đương thời, nên dám xin hăy giải trừ! (Hoàng Thước Điền và Hoàng Đạo Không hỏi)

 

      Đáp: Tâm vốn vô thể, làm sao có bệnh được? Ông lầm tưởng tâm bệnh bất quá là vọng niệm mà thôi! Vọng niệm là như thế nào? Các thứ được, mất, ngũ dục, lục trần trong quá khứ và các dục trần trong hiện tại, tương lai, lũ lượt chất chứa không ngừng, có khí thế như bầy ma, lũ cướp đồng loạt tấn công, nên trở thành bệnh hoạn. Nhưng căn bệnh ấy do tam độc của chính ḿnh dấy lên, huyễn hiện lắm thứ lạ lùng. Nếu mong chữa trị, ắt phải trừ khử vọng niệm. Có thể tin A Di Đà Phật, chịu niệm A Di Đà Phật, vọng niệm vừa mới dấy lên, liền lấy ngay một câu A Di Đà Phật chống đỡ, như nước tràn đến bèn lấp đất chặn, lâu ngày chầy tháng sẽ cảm được Phật gia hộ, lại c̣n sanh về Cực Lạc. Nếu tâm niệm Phật hời hợt, tâm niệm dục trần nặng nề, dẫu Phật hiện đến trước mặt, cũng chẳng thể cứu cư sĩ được!

 

      * Hỏi: Trong sáu phương thế giới có hằng sa cơi Phật, nhưng chẳng biết cũng có cơi trang nghiêm bằng bảy báu giống như Tây Phương Cực Lạc thế giới hay không? Cơi Tây Phương là niệm Phật văng sanh, c̣n sanh về sáu phương cơi Phật bằng cách nào, có phải cũng là niệm Phật rồi mới thể đến đó hay không? (Đồng Thụy Châu hỏi)

 

      Đáp: Sáu phương có hằng sa cơi Phật. Tuy có cơi trang nghiêm bằng bảy báu, nhưng so với Tây Phương Cực Lạc bèn kém hơn. V́ cơi sen ấy (cơi Cực Lạc) do Phật Di Đà trong khi tu nhân đă chọn lọc tinh vi các hạnh thanh tịnh trong hai trăm mười ức cơi nước mầu nhiệm của chư Phật, dùng trọn hết năm kiếp tạo thành, suy nghĩ điều này th́ sẽ biết ngay! Nếu muốn dạo khắp sáu phương, trước hết, hăy văng sanh Cực Lạc. Kinh dạy: “Kỳ độ chúng sanh, thường dĩ thanh đán, các dĩ y kích, thịnh chúng diệu hoa, cúng dường tha phương thập vạn ức Phật” (Chúng sanh trong cơi ấy thường vào lúc sáng sớm, mỗi người dùng đăy đựng các loại hoa mầu nhiệm, cúng dường mười vạn ức Phật ở phương khác). Đó là cách sanh về đó.

 

      * Hỏi: Có người nói Thích Ca Mâu Ni Phật là giáo chủ của thế giới này, nhưng niệm Phật lại chẳng niệm Phật Thích Ca mà ngược ngạo niệm Phật A Di Đà ở phương khác, tức là bỏ gốc chạy theo bên ngoài! (Huệ Diệu hỏi)

 

      Đáp: Ôi chao! Lời này tưởng chừng có lư, nhưng thật ra chỉ biết một mà chẳng biết ǵ khác! Do vậy, v́ chấp trước mà trở thành hủy báng! Hăy nên biết: Niệm danh hiệu Di Đà chính là tuân phụng lời dạy của đức Bổn Sư Thích Tôn. Kinh đă dạy rơ rành rành, há có phải do ư riêng của ta nghĩ ra! Tṛ vâng lời thầy dạy, sao lại chê là “bỏ gốc”? Ví như Khổng Tử thường ca ngợi Nghiêu, Thuấn, các học tṛ đời sau của Khổng Tử cũng nói: “Nhân giai khả dĩ vi Nghiêu Thuấn” (Ai cũng đều có thể là Nghiêu, Thuấn), hoặc nói: “Nghiêu Thuấn dữ nhân đồng” (Nghiêu, Thuấn cũng giống như người b́nh thường”)[19], hoặc nói: “Thuấn nhân dă, ngă diệc nhân dă” (Thuấn là người, ta cũng là người)[20]; chưa thấy ai trách họ trái nghịch căn cội là Khổng Tử, hướng theo người ngoài!

 

      * Hỏi: Đại Thừa Bổn Sanh Tâm Địa Quán Kinh thuộc Tông Môn hay thuộc Giáo Hạ? Có phải là cổ Thiền đức đă có người nương theo kinh này để tu tập hay không? Mong hăy nêu vài tấm gương! (Quách Vô Cấu hỏi)

 

      Đáp: Tông Môn và Giáo Hạ là những danh từ diễn biến sau này. Chúng ta là kẻ sơ học, chẳng dễ phân định rơ ràng, nhưng trước hết, hăy nên gấp rút lo chuyện cấp bách. Nay tôi hỏi ngược lại một câu, từ đời Đường trở đi, các vị đại sư trong Thiền Tông không vị nào chẳng nghiên cứu kinh Kim Cang. Xin thử nghĩ, kinh Kim Cang thuộc về Tông Môn, hay thuộc về Giáo Hạ? Hiểu rơ lư này th́ Đại Thừa Bổn Sanh Tâm Địa Quán Kinh thuộc về Tông hay thuộc về Giáo sẽ có thể suy ra mà biết được! C̣n như nói cổ Thiền đức có nương theo kinh ấy để tu tập hay không, kẻ hèn này nghe chẳng rộng! Kẻ chẳng biết sẽ không thể nào nói được!

 

      * Hỏi: Phật pháp nói “vạn pháp duy tâm”, như tiên sinh X... nói: “Bên phải căn nhà của tôi, nhà cửa chưa dựng xong, nếu trước đó mà dựng căn nhà bên trái th́ đứa con lớn sẽ suy bại”. Những lời lẽ Phong Thủy, Địa Lư như vậy có đáng tin hay không? Xin hăy khai thị! (Nhan Quư Nghiệp hỏi)

 

      Đáp: Cái học Kham Dư[21] đă có từ lâu, nói theo xưa nay th́ có lúc ứng nghiệm, có lúc không, trong ấy có lư do, chẳng phải đều là bịa đặt, hoang đường. Nhưng người học Phật lấy tâm làm chủ yếu để lư luận. Tâm tạo vạn pháp, cát, hung, họa, phước đều do tâm quyết định. Kẻ học Phật công lực yếu ớt th́ lư Kham Dư có thể xoay chuyển họ, chứ công lực học Phật tăng cao tốt đẹp, lư Kham Dư sẽ bị họ xoay chuyển!

 

      * Hỏi: Cái gọi là Nhĩ Căn Viên Thông là đạt đến cảnh giới nào, có thể nghe được ǵ? Thần tiên có loại thần thông này hay không? (Ngô Minh An hỏi)

 

      Đáp: Viên thông tức là cảnh giới có thể nghe tự tánh, vạn pháp duy tâm, nên có thể nghe vạn pháp. Bậc Tiểu Thừa trong Phật môn c̣n chưa làm được, tiên nhân ngoại đạo càng chẳng có phần!

 

      * Hỏi: Thấy kẻ khác sát sanh, tuy phát nguyện cứu độ, nhưng lực bất tùng tâm th́ biết làm sao? (Châu Huệ Đức hỏi)

 

      Đáp: Sức có thể cứu được th́ công đức lẫn lợi ích đôi bề đều viên măn, nhưng lực bất tùng tâm, chỉ cần phát tâm chân thành, nếu đă tận hết sức th́ công đức của chính ḿnh đă giống như núi Tu Di. Nói theo Lư, ḷng Từ trong một niệm là cái nhân thành Phật. Nói theo Sự, trong ruộng thức thứ tám đă gieo một hạt giống tốt lành.

 

      * Hỏi: Trong kinh Lăng Nghiêm có nói: “Tri kiến lập tri, tức vô minh bổn, tri kiến vô kiến, tư tức Niết Bàn” (từ trên tri kiến lập ra một cái tri kiến nữa, đó là cái gốc của vô minh. Đối với tri kiến, chẳng chấp trước tri kiến, đó là Niết Bàn), giải thích như thế nào? (Trần Bỉnh Lâm hỏi)

 

      Đáp: Phàm hỏi kinh văn, nhất định phải chỉ ra quyển nào, chương nào th́ mới giải đáp được, trong cột báo này tôi đă nhiều lượt nói rơ [quy định ấy]. Bởi lẽ, giải đáp về kinh văn, phải xem xét mạch lạc trên dưới, chẳng thể cắt rời chương đoạn để hiểu nghĩa, v́ sợ đánh mất ư chỉ [của kinh]. Xin hăy chỉ ra phạm vi của câu kinh ấy rồi tôi lại vâng theo lời hỏi mà trả lời cũng chẳng muộn!

 

      * Hỏi: Tôi chưa từng bái pháp sư, chẳng biết phương pháp tụng kinh. Vậy th́ muốn tụng kinh Di Đà, phẩm kinh Phổ Môn, chỉ là dùng miệng niệm. Nếu là người có bệnh, chẳng thể quỳ, chỉ ngồi niệm, chẳng biết có được hay không? (Khưu Phước Huệ hỏi)

 

      Đáp: Kinh thuộc về Hiển Giáo, chẳng có điều kiện khó khăn như Mật chú. Nương theo kinh văn đọc tụng, chẳng cần phải do thầy dạy, nhưng trong kinh cũng có không ít những chữ hiếm gặp, chớ nên sơ ư dựa theo h́nh thể tương tự mà đọc sai âm. Chẳng hạn như trong kinh Di Đà, [chữ Hy () trong] Câu Hy La bị đọc sai âm thành chữ Hy ()[22], chữ Đọa () trong Phả La Đọa đọc sai âm thành Trụy (), chữ Súc () trong A Súc Bệ Phật bị đọc sai âm thành Thiểm (), hăy tận lực tránh thói t này, s chẳng có tội lỗi ǵ! C̣n như ngồi niệm hay quỳ niệm đều chẳng hạn chế, nhưng có th cung kính th́ ngồi, quỳ, đi, đứng để tụng, không ǵ là chẳng được!

 

      * Hỏi: Do mê hoặc, nên một người bạn của tôi là ông Trương tuy thờ thánh tượng Quán Âm, lại sùng bái Lăo Mẫu[23] như đấng sáng tạo ngàn tiên muôn Phật. Kinh điển của họ căn cứ theo tiên và người mà chia thành ba vị trí Tam Tài (thiên tài giảng thuật, địa tài phiên dịch, nhân tài bút kư). Trong các bản giảng kư được họ biên tập, ấn tống, lại chẳng ghi rơ tên người trước tác cũng như thương hiệu của thư cục ấn hành. Giáo nghĩa của họ bao gồm Thích, Đạo, Nho, cũng như các thuyết như tam giới, lục đạo, nhân quả v.v... đều có chỗ sai khác [với đạo Phật]. Họ lại nói những câu như: “Thiên cơ chẳng thể tiết lậu”. Nếu xét theo kiệt tác Ám Lộ Minh Đăng (đèn sáng trong đường tối) của lăo thiền sư Hồi Minh để phán đoán đại khái th́ sự thờ phụng của người bạn tôi gần như là tà! Tuy muốn cứu vớt ông ta bỏ tà quy chánh, hiềm rằng do học thức sàn sàn như nhau. Hơn nữa, ông ta dốc ḷng tin tưởng, đă đạt đến cảnh giới kiên định chẳng thể phá, lại sợ mắc phải trọng tội phỉ báng chánh pháp. Kính xin cụ hăy chỉ dạy [cho tôi được biết] sự thờ phụng của ông ta thuộc về chánh hay tà? Làm thế nào để khuyên dụ ông ta trở về đường chánh? (Lư Tâm Thành hỏi)

 

      Đáp: Cư sĩ đă quy y Tam Bảo, trong Tam Bảo há có Lăo Mẫu, Tiên Nhân, Nho, Đạo, Tam Tài v.v... hay chăng? Đă đọc tác phẩm Ám Lộ Minh Đăng liền biết hết thảy những thứ tà ma, cớ sao c̣n có chuyện gặp sự mà chẳng thể quyết đoán? Học vấn của người ấy chắc là chẳng thể ngang ngửa với cư sĩ được! Người tín phụng kiểu đó là ngu phu vô tri, mộng say loạn cảnh, rối beng như canh hẹ, một mực hồ đồ mà thôi, há đáng để gọi là giáo! Kẻ ấy dính vào ma ngày càng sâu, nên mê man kiên cố khó dẹp trừ, khuyến dụ kẻ ấy trở về nẻo chánh, há có cách thức nhất định? Chỉ đành cậy vào cư sĩ quan sát cơ duyên, thiện xảo khuyên dạy, lâu ngày nghiệp tiêu, may ra sẽ chuyển được!

 

      * Hỏi: Có kẻ nói Phật giáo là tích cực cứu thế, chẳng phải là bi quan tiêu cực yếm thế, nhưng tăng ni xuống tóc tu hành trong các ngôi chùa cổ nơi núi thẳm, chẳng nghe, chẳng hỏi đến việc đời, há chẳng phải là thoát ly xă hội, nhân quần? Nếu ai nấy đều như thế, quốc gia, xă hội có thể phồn vinh, tiến bộ được chăng? (Kim Xuyên hỏi)

 

      Đáp: Căn khí của chúng sanh thiên sai vạn biệt, có kẻ thích làm việc công, có kẻ chuộng tu cho riêng ḿnh. Phật pháp có vô lượng vô biên phương tiện, có giáo nghĩa Đại Thừa, có giáo nghĩa Tiểu Thừa. Theo giáo nghĩa Đại Thừa, độ chúng sanh là độ chính ḿnh, nhảy xuống hố lửa, vào địa ngục, chẳng mệt mỏi, chẳng ngại ngần, đó là hạnh Bồ Tát, đức Phật hết sức khen ngợi. Giáo nghĩa Tiểu Thừa là tu cho chính ḿnh, chẳng làm hại đại chúng, xa ĺa nơi ồn náo, đô hội, ẩn cư núi rừng, đạm bạc, vô ngă, đó là hạnh Thanh Văn, đức Phật thường khiển trách. Người Đại Thừa giống như kẻ “kiêm thiện thiên hạ” (khiến cho thiên hạ cùng được tốt lành như chính ḿnh) trong người đời. Hàng Tiểu Thừa giống như kẻ “độc thiện kỳ thân” (cốt sao tốt lành cho riêng ḿnh) trong cơi đời. Kiêm thiện thiên hạ là những người giống như Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn Vương, Vũ Vương. Độc thiện kỳ thân th́ gần như Sào Phủ, Hứa Do, Bá Di, Thúc Tề, Nghiêm Tử Lăng (Nghiêm Quang), Đào Châu Công, đều chẳng thể chê trách họ được. Nhưng hàng Tiểu Thừa chính là dự bị cho Đại Thừa, chẳng tập sẵn đạm bạc từ trước, làm sao có thể vô ngă, hy sinh?

 

      * Hỏi: Có người nói ba pháp tu luyện Đại Châu Thiên đạt đến Dương Thần Xuất Cốc của Đạo gia Trung Quốc, cách tu Mạng Khí Xuất Đảnh Phạm Huyệt của các Du Già Sĩ (Yogi) Ấn Độ, và phép tu Pha Ngơa (P’owa) của Mật Tông xét về nguyên tắc là tương đồng. Nói như vậy có chánh xác hay không? (Lư Minh Dương hỏi)

 

      Đáp: Người chủ trương thuyết ấy ắt phải là thông suốt cả ba pháp th́ mới có thể nói chẳng sai lầm. Nếu không, ngỡ rắn là rồng, chỉ nai bảo là ngựa, lầm hào ly, sai ngàn dặm, chẳng khỏi khiến cho kẻ khác lầm lạc. Kẻ hèn này chỉ học Mật nhưng chẳng tinh thông, đối với phép Dương Thần Xuất Cốc và Mạng Khí Xuất Đảnh Phạm Huyệt đều chẳng hiểu biết, chẳng biết bèn nói là chẳng biết, nên chẳng dám đáp bừa!

 

      * Hỏi: Tôi quy định công khóa mỗi ngày gồm chú Đại Bi, chú Thiên Nữ, Tâm Kinh, phẩm Phổ Môn, kinh Di Đà v.v... chẳng gián đoạn, nhưng nguyện hết thảy công đức ấy, chẳng biết hồi hướng cho thế giới ḥa b́nh và hết thảy chúng sanh, hoặc hồi hướng cho em trai tôi được không? Đối với điều này chưa hiểu rơ Phật lư, xin hăy chỉ dạy! (Ngũ cư sĩ hỏi)

 

      Đáp: Đức Phật đến cơi đời này chuyên nhằm dạy con người hăy liễu thoát sanh tử, những thứ khác đều là chuyện kèm thêm. Cư sĩ hăy nên phát tâm cầu sanh Tây Phương, hễ đắc chánh quả th́ đối với những chuyện trên đây cũng sẽ có thể hóa to thành nhỏ, hóa có thành không. Hồi hướng như thế th́ mới xứng hợp Phật nguyện.

 

      * Hỏi: Mỗi dịp Phật Đản, Phật sự công đức và Vu Lan công đức, tôi đều lập bài vị cho oán thân trái chủ, cầu Phật lực siêu độ, chẳng biết công đức ấy có hiệu lực hay không? Ngoài ra, lúc rảnh rỗi, lại phát tâm cùng em trai biếu tặng một trăm bản kinh Địa Tạng, hoàn tất, lại tặng kinh Dược Sư một trăm cuốn, hoàn tất, lại tặng phẩm Phổ Môn một trăm bản, tụng chú Đại Bi một ngàn biến. Do em trai tôi nghiệp chướng sâu nặng, tinh thần của tôi suốt ngày đặt nơi kinh, cầu Phật lực sớm có ngày cảm ứng, gia bị em trai tôi sớm được nghiệp chướng tiêu trừ, ngơ hầu được ĺa khổ, hưởng vui, phước chí tâm linh, sớm đắc chánh nghiệp, nhưng từ đầu đến cuối chưa đạt hiệu quả; chẳng biết có phải là do tôi nghiệp nặng nên chưa được hữu hiệu hay không? Lại có người bảo tôi và em trai hăy làm một Phật sự với quy mô lớn nhằm siêu độ hết thảy oán gia trái chủ ḥng giải thoát oan gia. Làm công đức Phật sự ấy có thể siêu độ oán gia hay không? (Ngũ cư sĩ hỏi)

 

      Đáp: In kinh tặng cho người khác, công đức vô biên! Hồi hướng cho lệnh đệ trừ sạch các chướng có thể nói là dốc hết tâm ư, làm đă lâu mà chẳng lười nhác, chắc chắn sẽ đạt được cảm ứng. Phàm cái nhân muốn kết quả, phải đợi có duyên. Nếu có thể thỉnh người có đức thường hướng về anh ta khuyên dạy, đó chính là duyên, Phật pháp sẽ được hoàn thành khá nhanh chóng. Đối với việc ông tính làm Phật sự to tát, cố nhiên càng tốt đẹp, nhưng làm loại Phật sự nào? Thỉnh người nào? Có phải là bậc giới hạnh trang nghiêm, tụng niệm thành kính hay không, đều phải nên suy xét! Muôn vàn chớ nên chỉ có h́nh thức phô trương, chỉ cầu cho xong chuyện, để rồi sau đó ngầm oán thán Phật pháp chẳng linh, tức là sai lầm to lớn vậy!

 

      * Hỏi: Có người hỏi một vị Phật xuất thế phải mất ba đại A-tăng-kỳ kiếp, vậy th́ Thích Ca Thế Tôn giáng sanh lần này cũng là ba đại A-tăng-kỳ kiếp ư? Thế th́ vị Phật sau Ngài phải mất bao lâu? (Cố Phượng Anh hỏi)

 

      Đáp: Con số ba A-tăng-kỳ chỉ thời gian Phật tu hành, chẳng phải là khoảng cách giữa hai vị Phật xuất thế. Từ sau khi Thích Tôn diệt độ cho đến khi Di Lặc Phật giáng thế chỉ là năm mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm, đó là một chứng cớ. Chứng thành Phật quả, chỉ có một lần, những lần khác tuy nhiều lượt giáng sanh, bất quá là ứng hóa, thị hiện h́nh tướng mà thôi, há có hạn chế thời gian?

 

      * Hỏi: Tôi ở Kim Môn, ấp ủ tư tưởng “chúng sanh đều cha mẹ ta” nên thành lập hội niệm Phật, có thể coi là hoằng pháp hay không? (Lỗ Thành hỏi)

 

      Đáp: Chính ḿnh niệm Phật, khuyên kẻ khác niệm Phật, lại đề xướng hội niệm Phật, đem pháp ấy nói với người khác, chẳng phải là hoằng pháp th́ là ǵ? Lại c̣n thấy chúng sanh đều là cha mẹ, tri kiến cũng chánh, hết sức đáng bội phục. Nhưng tôi có một lời dâng tặng: Tại gia và xuất gia lập trường bất đồng, bất luận học vấn đạt đến tŕnh độ nào, quyết chẳng để cho người khác cúng dường, chẳng truyền quy y cho người khác. Nếu có cơ hội, vẫn nên thọ giới th́ sẽ là chánh đáng. Hăy đọc nhiều sách vở Tịnh Độ để tránh hành giải sai lầm.

 

      * Hỏi: Đốn ngộ so với tiệm ngộ tốt đẹp hơn nhiều lắm, xin hỏi pháp ấy ra sao? (Lư Vân Tiêu hỏi)

 

      Đáp: Đốn ngộ thật sự chẳng có pháp. Gọi là Đốn th́ xét về Lư có hai:

      - Một là người Hoặc nghiệp mỏng, trần dục nhẹ, chướng ngại khá ít, ngộ đạo khá nhanh.

      - Hai là người đă nhiều đời tu tập, đến đời này bèn thành thục.

      Đối với trường hợp trước, bèn có tỷ dụ, như gương phủ bụi nhơ, phủ dày th́ người mài gương lâu ngày sẽ tỏa sáng. Kẻ bị nhiễm bẩn ít, mài trong một thời gian ngắn bèn sáng ngay. Đối với trường hợp sau lại có tỷ dụ, như người ăn lương khô, có thể ăn được bảy tấm bánh. Lúc ăn no là do tấm cuối cùng. Phải biết: Tuy do tấm cuối cùng mà no bụng, nhưng vốn là do sáu tấm bánh trước đó.

 

      * Hỏi: Ngài Duy Ma Cật có phải là đệ tử Phật hay không? Nếu không, Ngài theo học với ai? Sư phụ là ai? Hay Ngài là bậc Duyên Giác chẳng có thầy mà tự ngộ? (Lại Đống Lương hỏi)

 

      Đáp: Xét về Bổn th́ cổ đức bảo Ngài là Kim Túc Như Lai. Xét theo Tích, Ngài là một vị cư sĩ tại thành Tỳ Da Ly (Vaiśālī). Kinh chép: “Hữu quốc danh Diệu Thiện, Phật hiệu Vô Động, thị Duy Ma Cật ư bỉ quốc một, nhi lai sanh thử” (có cơi nước tên là Diệu Thiện, Phật hiệu là Vô Động, ông Duy Ma Cật này mất ở nước đó, đến sanh trong cơi này). Dựa theo đó, về Bổn, sở học của Ngài chẳng phải là từ đấng Thích Tôn. Kinh lại nói: “Tuy vi bạch y, phụng tŕ sa-môn thanh tịnh luật hạnh” (tuy là hàng bạch y, nhưng vâng giữ luật hạnh thanh tịnh của sa-môn), dựa theo đó, về Tích th́ Ngài tuân phụng giáo pháp của đức Thích Tôn, tức là đệ tử của Thích Tôn vậy!

 

      * Hỏi: Từ cổ, thánh hiền đều có lai lịch, người đại danh đỉnh đỉnh[24] trong thời Tam Quốc là Quan Thánh Đế Quân, nhưng chẳng rơ gia thế và phụ thân của ông ta là ai? (Lại Đống Lương hỏi)

     

      Đáp: Gia thế của bậc danh nhân thời cổ ắt phải do có sự tích mà được lưu truyền. Danh tiếng của Gia Cát Lượng há chẳng càng to hơn Quan Đế, tên của cha ông ta là ǵ? Danh tiếng của Hiên Viên Hoàng Đế[25] càng to hơn nữa, cha ông ta là ai? Chẳng được lưu truyền là do chẳng có sự tích ǵ. Chẳng hạn như vua Nghiêu, vua Thuấn đều là thánh vương, cha của vua Thuấn ai nấy đều biết, nhưng cha của Nghiêu chẳng ai biết. Vua Thang, vua Vũ đều là bậc dấy binh cứu dân, cha vua Vũ ai nấy đều biết, cha vua Thang người ta chẳng biết. Lại như Nhan Hồi Phục Thánh[26], người ta biết cha Ngài, nhưng chẳng biết đến mẹ Ngài. Mạnh Kha (Mạnh Tử) là bậc đại hiền, người ta biết đến mẹ Ngài, nhưng chẳng biết tới cha Ngài. Truyền hay không truyền đều do sự tích vậy!

 

      * Hỏi: Quá khứ như huyễn, hiện tại như mộng, vị lai cũng thế, rốt ráo không tịch, khổ và lạc đều chẳng thể được, chẳng có một chỗ nào để có thể trụ tâm. Vậy th́ dựng đạo tràng, độ chúng sanh, cũng như mộng, như huyễn hay sao? (Lại Đống Lương hỏi)

 

      Đáp: “Ba đời mộng huyễn, khổ và lạc đều chẳng thể được, tâm không chỗ trụ” là nói về bậc Bồ Tát hữu ngộ, hữu đắc, chẳng phải là cảnh giới của hạng phàm phu lè tè sát đất. Vạn pháp vốn như một; lập đạo tràng, độ chúng sanh chẳng ra ngoài lệ ấy. Chỉ v́ phàm phu mê Chân, chấp Có, nên Bồ Tát chẳng thể không v́ Thật mà hành Quyền, từ Chân nhập Giả, giả lập phương tiện để độ, nhưng đối với Bồ Tát, Ngài tự liễu tánh Không, trọn chẳng chấp tướng. Đó gọi là “thủy nguyệt đạo tràng” (đạo tràng như bóng trăng trong nước), thật sự là Như Lai chẳng có chúng sanh để độ!

 

      * Hỏi: Trước khi đọc lời dâng hiến của Phương đại cư sĩ trong dịp Nguyên Đán năm Tân Sửu cầu thỉnh [tứ chúng Phật tử hăy] thực hành biện pháp độ một, năm, mười người, tôi đă sớm lôi kéo một người từng là giáo hữu phục vụ nhiều năm trong giáo đoàn Thiên Chúa Giáo [khiến cho người ấy] tin Phật, niệm Phật, đó có phải là công đức hay không? (Châu Tinh Nguyên hỏi)

 

      Đáp: Thật sự tu tập trong tôn giáo khác mà có thể thành tựu th́ bất quá là tạm thời thăng lên cơi trời, báo hết vẫn phải đọa lạc y như cũ, tuy tốt lành vẫn là vô thường. Cư sĩ khuyên người ấy học Phật, chứng quả, có thể thoát khỏi tam giới, đoạn sanh tử, tức là cứu người khác triệt để. Cứu sanh mạng một người c̣n bảo là “tốt lành hơn tạo ṭa tháp bảy tầng thờ Phật”, huống là cứu vớt huệ mạng của một người, há chẳng có công đức ư?

 

      * Hỏi: Đối với người đă văng sanh Tây Phương, v́ sao lúc Thanh Minh tảo mộ, vẫn lễ bái họ? Có phải linh hồn người ấy vẫn c̣n tồn tại [ở nơi đó] hay không? [Hay là cứ] chiếu theo phong tục tập quán hiện thời [mà làm], chẳng cần biết người ấy có sanh Tây hay không? Người ta c̣n lạy bài vị tổ tiên bằng gỗ, đó có phải là truy viễn[27] hay không? Hay là do có vong linh [ngự trong ấy]? (Lư Nguyệt Phượng hỏi)

 

      Đáp: Nếu thật sự sanh về Tây Phương, cố nhiên chẳng đến hưởng. Trừ quỷ đạo ra, các đường khác cũng chẳng thể đến được! Dẫu ở trong quỷ đạo, cũng cần phải chí thành để cảm cách. Bậc thánh nhân trong Nho giáo nói: “Tế như tại, tế thần như thần tại, bất thành, diệc nan cảm dă” (cúng tế giống như người đă khuất hăy c̣n. Tế thần giống như thần đang hiện diện. Chẳng chí thành th́ cũng khó cảm được). Nếu luận về truy viễn th́ chỉ có cách tận hết sức ta nhằm bày tỏ ḷng hiếu kính, nghĩ nhớ mà thôi! Ắt phải cầu đạt ích lợi thật sự. Lúc cúng bái, không ǵ bằng là thêm tụng kinh, niệm Phật vào đó. Nếu tổ tiên ở Tây Phương sẽ có thể nâng cao phẩm sen, nếu ở trong lục đạo, sẽ cậy vào Phật lực lần lượt siêu thăng.

 

      * Hỏi: Có một vị đại đức nói: “Tại gia cư sĩ chỉ cần trọn hết trách nhiệm hộ pháp là được rồi, chẳng cần nghiên cứu Phật học, càng chẳng bắt buộc phải hoằng dương Phật pháp”. Luận định ấy có chánh xác hay chăng? (Thích Vĩnh Hưng hỏi)

 

      Đáp: Người học Phật tuân theo lời Phật dạy để hành. Phật độ chúng sanh liễu thoát sanh tử c̣n chẳng phân biệt tứ sanh lục đạo, huống phân chia tại gia hay xuất gia ư? Trái nghịch trần lao, hợp cùng tánh giác, nhất định phải trải qua Văn, Tư, Tu; chẳng nghiên cứu Phật học th́ Văn, Tư, Tu bằng cách nào? Phát tâm Đại Thừa, ắt thọ Tứ Hoằng Thệ; chẳng được phép hoằng hóa th́ viên măn Bồ Đề bằng cách nào? Vả nữa, Bồ Tát nhất định tự độ, hóa độ người khác, nếu nói theo vị đại đức ấy, chẳng cho phép người tại gia tự giác, giác tha, sẽ chẳng có ǵ để nói đến chuyện làm Bồ Tát nữa! Trong kinh, cư sĩ Duy Ma Cật, đồng tử Quang Nghiêm, Thiện Đức v.v... đều là các vị nam Đẳng Giác Bồ Tát tại gia, cô Nguyệt Thượng, đồng nữ Diệu Huệ v.v... đều là tại gia Bồ Tát bên nữ. Súc sanh như con dă can [trong kinh Vị Tằng Hữu Thuyết Nhân Duyên] c̣n có thể thuyết pháp cho chư thiên. Những chuyện trên đây đều rất rơ rệt. C̣n như tại Trung Quốc, Bàng cư sĩ, Phó đại sĩ v.v... đều là hàng Bồ Tát hạnh giải tương ứng, tự hành, hóa tha, nên ta biết theo quy chế nhà Phật “đều là b́nh đẳng”, chẳng có thứ kiến giải cong quẹo [như vị “đại đức” kia đă nói]. Hăy nên tuân theo Thánh Ngôn Lượng th́ mới nên!

 

      * Hỏi: Lúc tôi ở Đại Lục, đă quy y Tam Bảo nhiều năm, chẳng mang theo điệp quy y [tới Đài Loan], vốn nghĩ xin cầu quy y lại. Tôi có một người bạn xem kinh chẳng ít, lại c̣n thường xuyên lễ Phật, nhưng ông ta hoàn toàn chẳng quy y, ông ta nói: “Những thứ phiền toái hiện thời chẳng quen thấy”, có thể quy y tự tánh Tam Bảo liền cảm thấy có thể nương cậy rồi, chẳng biết quy y tự tánh Tam Bảo là như thế nào? (Trương Tường Mưu hỏi)

 

      Đáp: Tượng Phật, kinh sách, tỳ-kheo được gọi là Hữu Tướng Trụ Thế Tam Bảo. Tâm là Phật, tâm có đủ vạn pháp, tâm Phật và tâm pháp hợp lại sẽ gọi là Vô Tướng Tự Tánh Tam Bảo. Thọ quy y tuy do phát tâm, ắt phải cử hành nghi thức. Chẳng hướng về Hữu Tướng Trụ Thế Tam Bảo cầu khai thị, làm sao có thể ngộ nhập Vô Tướng Tự Tánh Tam Bảo? Khi cử hành nghi thức, đồng thời, vị thầy quy y trao truyền lời giảng về tự tánh, có thể nương theo Phật pháp để khởi tu th́ sẽ là quy y Tự Tánh Tam Bảo, nhưng cần phải cử hành nghi thức th́ mới chính thức là đệ tử Phật. Giống như truyền giới, tuy có Định Cộng Giới và Đạo Cộng Giới v.v... vẫn cần phải qua luật nghi th́ mới có tư cách giới lạp. C̣n như nói “những thứ phiền toái trong hiện thời” có nghĩa như thế nào, tôi chẳng thể tùy tiện đoán ṃ bừa băi, nhưng xét theo mặt chữ để luận định th́ cũng được. Hăy nên biết phiền phức do con người tạo ra! Tâm con người tịnh sẽ chẳng thấy phiền năo. Tâm chẳng tịnh, dẫu đóng cửa ngồi yên vẫn sanh phiền phức!

     

      * Hỏi: Phật giáo là pháp xuất thế, vượt trỗi tam giới, xin hỏi ở trên tam giới, chắc chắn có cơi Phật. Vậy th́ trên cơi Phật c̣n có ǵ nữa? (Trương Tường Mưu hỏi)

 

      Đáp: Nếu nói theo Sự, Dục Giới và Sắc Giới trong tam giới là uế trược, Phật giới trang nghiêm thanh tịnh, nhưng hư không vô tận, thế giới cũng vô tận. Trong vô tận thế giới ấy, có tịnh, có uế, trùng trùng giao xen, quả thật trọn chẳng có phương hướng, nên giả gọi là “trên, dưới, Đông, Tây”. Có thể vượt khỏi uế bèn vào tịnh, liền gọi là “siêu tam giới”. Nếu nói theo Lư, vạn pháp duy tâm, tâm tịnh ắt cơi nước tịnh, tâm uế ắt cơi nước uế, chẳng có tam giới để thoát ra, chẳng có Phật quốc để có thể vào. Người tâm tịnh, dẫu ở trong tam giới, vẫn là cơi Phật. Kẻ tâm uế, tuy sống trong cơi Phật, vẫn là tam giới. Như Ngũ Bất Hoàn Thiên, Đâu Suất v.v... tuy ở trong tam giới, nhưng do người nơi ấy tâm đều tịnh, nên những nơi ấy là Tịnh Độ. Chỗ chúng ta đang ở vốn là cơi Phật của đức Thích Ca, nhưng do tâm của mọi người uế, nên trước mắt liền hiện Sa Bà.

 

      * Hỏi: Ở nơi không có đạo tràng giảng kinh, muốn hóa độ những kẻ chưa sanh ḷng tín ngưỡng, nên chọn dùng những phương cách tiến hành theo từng giai đoạn như thế nào để làm cho họ quy y Phật giáo? (Trần Kim Tuyền hỏi)

 

      Đáp: Đối với người biết chữ, hăy tặng họ những cuốn sách nhỏ sơ cơ, đơn giản, dễ hiểu. Đối với kẻ không biết chữ, hăy nói với họ về nhân quả và pháp biết khổ, cầu vui. Hăy nên xét theo căn cơ để chọn sách hoặc lời lẽ để khế hợp tâm lư họ th́ sẽ đạt được hiệu quả chẳng kém giảng kinh.

 

      * Hỏi: Tôi nghe kinh, lạy Phật gần mười năm, mùa Hạ năm trước, chồng tôi bị bệnh nặng. Sau khi chồng tôi lành bệnh, tôi cảm nhận Phật che chở sâu xa, càng lạy Phật ân cần. Chỉ có điều kể từ đó, tâm tôi luôn cảm thấy phiền năo, đôi khi chỉ v́ một cớ nhỏ nhặt, đánh đập con cái phũ phàng, lại c̣n căi nhau ầm ĩ với chồng, gần như muốn ly dị hoặc bỏ đi xa, t́m kiếm hoàn cảnh tốt đẹp khác, là v́ lẽ nào vậy? Phải nên làm như thế nào mới đúng, xin thầy chỉ dạy! (Liễu Vĩnh Trinh hỏi)

 

      Đáp: Phiền năo là một trong bốn loại ma, thường luôn dấy lên hiện hành. Trong hiện tại, nó có thể ấp ủ họa loạn; trong tương lai, lôi kéo vào tam đồ, nhất định phải dùng niệm Phật để chế ngự th́ mới chẳng bị hại. Công phu cạn th́ có thể chế ngự nó, công phu sâu bèn có thể trừ khử nó. Chúng luôn luôn xuẩn động, do vậy, hăy nên luôn luôn niệm Phật, nhưng lạy Phật trong một thời gian ngắn ngủi, làm sao có thể khắc chế những thứ tạo tác chẳng ngừng? Vợ chồng lục đục, đánh đập con cái phũ phàng, lại c̣n nghĩ đến ly dị, t́m kiếm chỗ nương thân khác, những chuyện ấy đều do sức ma thao túng. Nếu chẳng mạnh mẽ tỉnh ngộ, sẽ c̣n có chuyện khác phát sanh. Không chỉ chẳng thể có được cảnh tốt lành, mà c̣n sợ hầm lửa, biển khổ ở ngay trước mắt. Một lần sẩy chân, ôm hận ngàn đời, chớ nên vô sự bèn sanh sự! Nếu quư cư sĩ mong ĺa khổ được vui, hăy nên chân tâm niệm Phật, tin sâu nhân quả, hoặc quy y, hoặc thọ giới, kẻ hèn này đều có thể giới thiệu giùm cho!

 

      * Hỏi: Chúng ta nên thân cận thầy hiền, bạn tốt, cổ nhân nói: “Đạo ngô thiện giả, thị ngô tặc, đạo ngô ác giả, thị ngô sư” (kẻ kể điều tốt đẹp của ta là kẻ giặc, kẻ kể điều xấu của ta là thầy ta). Ngài Duy Ma Cật có thể kể ra điều sai quấy của kẻ khác, đúng là bậc thiện tri thức, mười vị đại đệ tử của đức Phật đáng ra phải nên thường đến thân cận ngài Duy Ma Cật, huống chi lại có lệnh thầy sai đến hỏi thăm bệnh, cớ sao đều chẳng chịu đi? (Ngọc Phương hỏi)

 

      Đáp: Đến hỏi thăm bệnh ắt phải đối đáp, các vị tôn giả sợ khó thể đối đáp nên thưa “chúng con chẳng thể kham chuyện này”, chẳng phải là không muốn thân cận! Những điều này vẫn thuộc về sự biểu thị bề ngoài, thật ra, kinh này (kinh Duy Ma Cật) nhằm quở Tiểu, trách Thiên, khen Đại, ca ngợi Viên, nên các vị tôn giả và Duy Ma Đại Sĩ cố ư làm ra vẻ mâu thuẫn, nhằm hiển lộ những điều các Ngài muốn chèn ép và đề cao. Nói chung đều là đại quyền từ bi, vận dụng thiện xảo vậy!

 

      * Hỏi: Có người nói: Phật đă là từ bi yêu thương mọi loài, cắt hoa cúng Phật có hợp lư hay không? Hoa nở bốn mùa, mỗi loài hoa đều có thần hoa, giống như con người có gia đ́nh, bỗng bị cắt đem cúng Phật, giống như người một nhà bị ly tán, khiến hoa đau khổ lắm thay, mà cũng khiến cho thần hoa đau ḷng, oán trách Phật chẳng từ bi. Nên trả lời người ấy như thế nào? (Ngọc Phương hỏi)

 

      Đáp: Hoa vốn vô t́nh, bị cắt hoàn toàn chẳng có đau khổ, lại do người thợ vun trồng, một đằng bán lấy tiền, một đằng mua lấy vật, liên can ǵ đến người khác. Giả sử có thần hoa, thần phải nên biết người cắt hoa đem cúng Phật ước chừng một hai phần trong mười phần, c̣n hoa bị cắt để cho người ta thưởng ngoạn ắt là bảy tám phần trong mười phần, cớ sao thần hoa chẳng oán mọi người, lại chỉ oán Phật? Nếu nói thần hoa oán người cúng hoa và thưởng ngoạn hoa nhất loạt như nhau, thử hỏi Thần Nông là cổ thánh của Trung Quốc, là thần ngũ cốc, ai nấy đều tôn kính, nhưng nhân loại ăn ngũ cốc, há chẳng phải là chia rẽ quyến thuộc của Thần Nông, đau ḷng Ngài, chuốc lấy sự oán hận của Ngài ư?

 

      * Hỏi: Kinh nói gặp Phật, nghe Phật thuyết pháp, khai ngộ, râu tóc tự rụng, áo ca-sa khoác trên thân, lập tức chứng quả La Hán, cớ sao chẳng nghe nói chứng quả Bồ Tát? (Tŕ Huệ Lâm hỏi)

 

      Đáp: Kinh điển Tiểu Thừa nói như vậy. Tiểu Thừa chú trọng tự liễu thoát, phá Kiến Tư Hoặc, nên sở chứng là La Hán. Kinh điển Đại Thừa chẳng giống như vậy, phần nhiều nói phát Bồ Đề tâm, thượng cầu, hạ hóa, tự nhiên chủ trương rộng độ chúng sanh, phá Trần Sa, Vô Minh, sở chứng là Bồ Tát. Như [trong kinh thường] nói [đại chúng nghe kinh] phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm, hoặc nói đắc Bất Thoái Chuyển, hoặc nói sở nguyện chóng thành, thảy đều thành tựu, hoặc nói thọ kư, đó đều là những vị chứng quả Bồ Tát. Đây là chỗ ghi chép khác nhau giữa kinh điển Đại Thừa và Tiểu Thừa. Kẻ tự liễu thoát chẳng phát Bồ Đề tâm, làm sao có thể đột ngột chứng Bồ Tát? Không có cái nhân như thế, sẽ chẳng có cái quả như thế! Đó là lư do thứ hai!

 

      * Hỏi: Chiếu theo pháp nhân quả, đời này được làm thân người là do cái nhân người ấy trong đời trước đă tŕ Ngũ Giới. Nếu vậy, Đề Bà Đạt Đa trong đời trước do ác tâm hại Phật, chẳng giữ giới kiêng giết, cớ sao cũng được làm thân người? (Tŕ Huệ Lâm hỏi)

 

      Đáp: Chữ “đời trước” không nhất định chỉ một đời ngay trước đời này, mà có thể năm ba đời trước, hoặc mười, trăm đời trước, đều do chủng tử đă đến lúc chín muồi quyết định, đó là lư do thứ nhất. Đề Bà Đạt Đa thật ra là bậc Đại Quyền Bồ Tát, cố ư hiện ác nghiệp, đọa khổ báo, dùng nghịch tích (những hành vi, h́nh tướng ác nghịch) để giúp đức Phật khuyên dạy chúng sanh. Giống như trong chốn hát tuồng, có người đóng vai tinh trung như Nhạc Phi, có kẻ sắm vai đại gian như Tần Cối. Chẳng có Tần Cối, làm thế nào hiển lộ ḷng trung của Nhạc Phi? Nếu chẳng có người đóng vai Tần Cối, làm sao có thể dấy lên cái tâm kính mến [Nhạc Phi] của đại chúng, đó là lư do thứ hai. Điều vừa nói trong phần sau này (lư do thứ hai) đa số các kinh [Đại Thừa] đều có ghi chép, chẳng hạn như kinh Pháp Hoa mà ai nấy đều biết, cũng chép chuyện Đề Bà Đạt Đa, hăy nên đọc rồi sẽ biết.

 

      * Hỏi: Chúng sanh đều có thần thức, [nhưng thần thức] có lớn hay nhỏ giống hệt nhau hay không? Có biến hóa hay không? Thân trâu to, thức của nó ắt phải to. Thân kiến nhỏ, ắt thức của nó phải nhỏ. Nếu trâu chuyển sanh biến thành kiến, kiến chuyển sanh biến thành trâu, thức nhất định có tăng giảm th́ mới có thể nói thông suốt được! (Tŕ Huệ Lâm hỏi)

 

      Đáp: Thức nương vào tâm, giống như sóng nương vào nước. Nước rộng hay hẹp, sóng bèn rộng hay hẹp. Tâm to hay nhỏ, thức bèn to hay nhỏ. Thử hỏi cư sĩ tấm thân bảy thước, tâm chỉ có bảy thước hay sao? Kinh dạy: “Tánh giác chân không, tánh không chân giác, thanh tịnh bổn nhiên, châu biến pháp giới” (tánh giác chân không, tánh không chân giác, vốn sẵn thanh tịnh, trọn khắp pháp giới). Tâm đă to như thế, cái thân bảy thước nhỏ nhoi, cớ sao có thể dung nạp? Ông há lại chẳng nghe câu kinh văn: “Tâm chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở chặng giữa” đó sao? Xin hăy ngộ nơi câu kinh văn ấy th́ chuyện thần thức của trâu và kiến lớn nhỏ ra sao sẽ tự hiểu biết.

 

      * Hỏi: Quán Thế Âm Bồ Tát đă thành Phật từ lâu trong quá khứ, hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai. Do bi nguyện vô cùng, nên lại lui xuống làm Bồ Tát ḥng cứu độ chúng sanh. Thế nhưng phương pháp độ sanh của mỗi vị Phật đều cao hơn Bồ Tát; v́ lẽ ǵ Ngài phải lui xuống? Há có chuyện chẳng lui xuống sẽ chẳng thể hành bi nguyện độ sanh ư? (Trần Vạn Chướng hỏi)

 

      Đáp: Mỗi vị Bồ Tát đều có nguyện lực riêng, và có duyên sâu đậm riêng đối với chúng sanh trong mỗi cơi nước. Ngài Quán Âm có duyên sâu với Sa Bà, nên thường dạo trong cơi này, nhưng cơi này đă có Phật là đức Thích Tôn nhiếp hóa đại thiên, trong một cơi chẳng thể có hai vị Phật, giống như trong một nước chẳng thể có hai vua. Do cùng một lư ấy, nên Ngài thả chiếc bè Từ, quyền biến thị hiện thân phận Bồ Tát, phụ tá Thích Tôn. Nếu không, sẽ giống như trong thế gian, nước loạn, chánh quyền có nhiều phe phái, dân chẳng biết nương tựa vào đâu!

 

      * Hỏi: Phật độ chúng sanh, trí huệ, thần thông, đạo lực đều to lớn hơn bất cứ vị Bồ Tát nào. Nếu như Địa Tạng Bồ Tát thành Phật trước tiên rồi sau đấy độ chúng sanh, sẽ độ càng nhiều hơn. Cớ sao Ngài chẳng nguyện thành Phật trước? (Trần Vạn Chướng hỏi)

 

      Đáp: Đối với câu hỏi này, xin hăy xem lời đáp trong phần trước, sẽ có thể biết được quá nửa! Thần thông, trí huệ hết thảy viên măn, quả địa đă là chẳng hai, chẳng khác, Phật và Bồ Tát chẳng qua là danh tướng mà thôi, chứ sức độ chúng sanh trọn chẳng sai khác! Chẳng nguyện thành Phật trước là do bi nguyện rộng sâu, muốn làm cho chúng sanh thành tựu trước, chính ḿnh thành sau th́ mới hoan hỷ vậy!

 

      Hỏi: Kinh Duy Ma Cật chép: “Phật vị chư tỳ-kheo lược thuyết pháp yếu” (Đức Phật v́ các tỳ-kheo nói đại lược pháp yếu), [pháp yếu ở đây là] pháp Vô Sanh Tứ Đế, nhưng sau đó, trong mười vị đại đệ tử của đức Phật, khi ngài Ma Ha Ca Chiên Diên phô diễn pháp Sanh Diệt Tứ Đế (sai lầm), v́ sao đức Phật chẳng đính chánh vậy? Nếu cư sĩ Duy Ma Cật chẳng đến đó, có phải là khiến cho các vị tỳ-kheo chẳng đạt được lợi ích ư? Đâm ra là nói uổng công ư? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

      Đáp: Nói đến chuyện này, bèn có ba lư do:

      - Một, mười vị tôn giả bị cư sĩ Duy Ma quở trách trước đó, sau đấy được [đức Phật] sai đi thăm bệnh. Trước đó có lẽ không biết, chứ sau đó há trọn chẳng biết ư?  

      - Hai, đức Phật thuyết giáo trong cơi này, tất cả Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, đều được hóa độ. Nói một pháp môn, bao hàm nhiều nghĩa, đều là tùy thuộc căn tánh của từng người mà tiếp nhận khác nhau. Đính chánh cũng nhất định phải gặp duyên. Nếu không, sẽ chẳng khế hợp. Ông hăy nên biết, Sanh Diệt Tứ Đế cũng chẳng phải là pháp sai lầm, Duy Ma Đại Sĩ hoàn toàn chẳng phải là phá pháp ấy, mà là khiển trách [ngài Ma Ha Ca Chiên Diên] chấp trước pháp nhỏ, chẳng biết quán căn cơ của các tỳ-kheo [đang nghe pháp để thuyết pháp Tứ Đế thích hợp].

      - Ba, thuyết pháp có Quyền, có Thật, có tự ḿnh thuyết, có nhờ vào người khác để thuyết. Ở đây là cố ư mượn mười vị tôn giả nói tiểu pháp nhằm hiển thị đại sĩ nói đại pháp, không ǵ chẳng phải là đều thi thố thiện xảo, chuyên nhằm lợi ích chúng sanh.

 

      * Hỏi: Đạo khoan dung của Trung Quốc là: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (điều ǵ chính ḿnh chẳng muốn, đừng gây cho người khác). [Điều tôi sắp hỏi có] liên quan đến liên xă và những vị có ḷng nhân từ thường vào mỗi cuối năm đều tích cực cứu tế, trừ gạo, tiền ra, c̣n có quần áo cũ, phần lớn là vật “kỷ sở bất dục” nên mới thí cho kẻ khác. Như vậy th́ có phù hợp với đạo khoan dung của nước ta hay chăng? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

      Đáp: Chữ “bất dục” chuyên nói về những điều gây tổn hại cho người khác. Liên xă tặng quần áo cũ cho người khác, chẳng có hại cho họ. Nếu họ chẳng muốn, chẳng nhận th́ thôi, cũng chẳng tổn hại ǵ! Lại nói về chữ Thi trong “vật thi ư nhân” ở đây nên hiểu là “gia” (gây ra), “vật thi” (đừng gây ra) nên hiểu là Xả th́ sẽ chẳng hiểu lầm.

 

      * Hỏi: Trong một tam thiên đại thiên thế giới có bao nhiêu hệ Ngân Hà? (Quách Gia Minh hỏi)

 

      Đáp: “Đại thiên thế giới” là phạm vi và danh từ phân chia các tinh cầu trong Phật học, “hệ Ngân Hà” là phạm vi và danh từ do các nhà thiên văn và khoa học dùng để phân chia các tinh cầu. Đại thiên thế giới và hệ Ngân Hà là một vật thể, chỉ là cách xác định phương vị khác nhau. Như đối với gạo, dùng các dụng cụ đo lường để tính toán th́ dùng thưng, đấu, dùng các dụng cụ cân đo để tính toán th́ dùng cân, lạng. Muốn đem thưng, đấu phối hợp với cân lạng, chẳng phải là không thể được, nhưng phải qua một phen đo lường, cân nhắc. Nếu đem đại thiên thế giới phối hợp với một hệ Ngân Hà th́ cũng giống như thế. Chỉ có điều kẻ hèn này chẳng có Thiên Nhăn, chẳng thể thấy đại thiên, lại không có dụng cụ để thấy được hệ Ngân Hà, nên chẳng thể gượng ép bảo điều ḿnh không biết là hiểu biết được!

 

      * Hỏi: Các châu do Thiết Luân Vương thống trị, cai quản, có thuộc trong tam giới hay không? Bao gồm mấy đại thiên thế giới? (Lưu Giác Chi hỏi)

 

      Đáp: Trong các châu do Thiết Luân Vương cai quản, tứ đại châu là một trong số ấy, nó là một phần nhỏ của đại thiên thế giới, làm sao có thể nói là mấy đại thiên cho được!

 

      * Hỏi: Trung Ấm Thân là ǵ? (Lâm Khánh Huân hỏi)

 

      Đáp: Thần thức đă rời cái thân hiện tại, c̣n chưa nhập thân sanh duyên, trong khoảng giữa hai giai đoạn đó, bèn gọi là Trung, thần thức trong lúc ấy được gọi là Trung Ấm.

 

      * Hỏi: Người sau khi đă chết, do thân Trung Ấm trực tiếp đầu thai, hay phải qua sự tra xét nơi Thập Điện Diêm Vương rồi mới đầu thai? (hai loại trên đây có ǵ khác biệt?) (Lâm Khánh Huân hỏi)

 

      Đáp: Lúc mang thân Trung Ấm chẳng thuộc về lục đạo. Thời gian nó tồn tại dài hay ngắn khác nhau, có người ngay lập tức vào lục đạo, có người bảy ngày, hoặc mười bốn ngày, hai mươi mốt ngày khác nhau, dài nhất là bốn mươi chín ngày bèn chuyển sanh. Đó là nói b́nh thường, ngẫu nhiên có trường hợp đă hơn bốn mươi chín ngày mà vẫn chưa chuyển sanh, trường hợp đó là duyên ngoại lệ. Diêm La thuộc vào tướng cảnh giới được hiện trong địa ngục, chứ trong cơi Trung Ấm chẳng có. Trạng huống sanh tử trong lục đạo mỗi đường mỗi khác, nhưng đều lấy nghiệp lực làm nguyên tắc.

 

      * Hỏi: Thân Trung Ấm trụ ở chỗ nào? Thọ mạng bao lâu? Khi mang thân Trung Ấm, có biết chuyện đời trước hay không? (Lâm Khánh Huân hỏi)

 

      Đáp: Bềnh bồng, dật dờ, chẳng ra khỏi cơi của ḿnh. Đa số có thể nhớ chuyện khi c̣n sống, nhưng cũng có kẻ chẳng thể nhớ. Những điều khác xin xem trong câu trả lời phía trên.

 

      * Hỏi: V́ sao chúng ta quên bẵng chuyện đời trước? Từ khi nào th́ bắt đầu quên chuyện đời trước? (Lâm Khánh Huân hỏi)

 

      Đáp: Chuyện kư ức đều in bóng trong ư thức, thâm nhập tàng trữ trong A Lại Da. Lúc c̣n sống, những h́nh ảnh mới, chủng tử mới tăng thêm trong từng sát-na, cái cũ ở dưới, cái mới ở trên. Do vậy, dễ nhớ chuyện mới, thường quên chuyện cũ. Điều này liên quan đến một đằng ch́m xuống, một đằng nổi lên. Tới khi người ấy sắp chết, đến lúc A Lại Da sắp rời bỏ [xác thân], những chủng tử tàng trữ bị dao động, khuấy đảo, nên gọi là “loạn tâm vị” (t́nh thế loạn tâm). Trải qua một lần hôn trầm ấy, lại bị gián đoạn bởi giai đoạn Trung Ấm, lại gặp duyên khiến [thần thức bị] mê bèn nhập thai. Lại trải qua quá tŕnh trưởng thành, các nỗi biến hóa, ở trong thai ngục tối tăm suốt mười tháng, lúc lọt ḷng, cảnh giới nhân sự lại thay đổi v.v... Loạn, hôn trầm, cách ấm, mê, biến đổi, thay đổi, khiến cho chủng tử trong A Lại Da đảo lộn, xen tạp với nhau; do vậy, mê chuyện đời trước, chẳng hiểu rơ, chẳng thể ghi nhớ.

 

      * Hỏi: “Tảo địa, tảo trần ai; tịnh tâm siêu tam giới, thủ khẩu nhiếp ư thân mạc phạm” (quét đất, quét bụi bặm, tâm tịnh vượt tam giới, giữ miệng, nhiếp thân ư đừng phạm) [nghĩa là ǵ]? (Lâm Khánh Huân hỏi)

 

      Đáp: Đối với những câu văn này, câu thứ nhất là tỷ dụ, câu thứ hai nói đến công phu tu hành. Ư nói: Quét bụi, đất liền sạch, đoạn vô minh bèn vượt thoát thế gian. Câu thứ ba là thân gồm ba điều, miệng gồm bốn điều, ư gồm ba điều, tức mười thứ thiện nghiệp vậy!

 

      * Hỏi: Đối với chuyện “người sau khi đă chết sẽ đi về đâu”, v́ sao các giáo có cách nh́n khác nhau? Mỗi giáo có cách nào để chứng minh con người có linh hồn? (Lâm Khánh Huân hỏi)

 

      Đáp: Tại hạ chỉ tŕnh bày ư nghĩa trong Phật giáo, chẳng nói tới khuyết điểm của các giáo khác! Hơn nữa, câu hỏi này nói chung các giáo, mà số lượng các giáo có đến mấy chục, mấy trăm loại, cũng chẳng biết nói từ chỗ nào!

 

      * Hỏi: Sau khi liên hoa hóa sanh trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, sẽ dựa vào người nào nuôi nấng mà trưởng thành? (Lâm Khánh Huân hỏi)

 

      Đáp: Sau khi hoa sen nở th́ đă là người trưởng thành, trọn chẳng có các giai đoạn ấu thơ, tráng niên, già cả! Ăn, mặc, đi, ở, tự tại hóa sanh. Hăy đọc kỹ kinh A Di Đà sẽ biết tường tận!

 

      * Hỏi: Pháp vận của đức Phật tính từ lúc nào? (Lâm Khánh Huân hỏi)

 

      Đáp: Tính từ sau khi đức Phật nhập Niết Bàn.

 

      * Hỏi: Kẻ cực thiện hay cực ác chẳng thọ thân Trung Ấm, những người khác khi thọ thân Trung Ấm có phải là phải trải qua sự tra xét của vua Diêm La hay không? (Lâm Khánh Huân hỏi)

 

      Đáp: Coi phần trả lời cho câu thứ hai sẽ hiểu ư nghĩa ấy.

 

      * Hỏi: Kinh Địa Tạng chép: “Vô thường đại quỷ... hà huống đọa ư chư ác thú” v.v...(Con quỷ lớn vô thường... huống là đọa trong các đường ác) (Lâm Khánh Huân hỏi)

     

      Đáp: Trọn chẳng hỏi nghĩa ǵ, đáp ở chỗ nào?

 

      * Hỏi: Nếu sau khi đă sanh trong địa ngục thọ báo, có phải trải qua Thập Điện Diêm Vương tra xét rồi mới đầu thai hay không? (Lâm Khánh Huân hỏi)

 

      Đáp: Địa ngục vốn thuộc quyền quản hạt của vua Diêm La. Sau khi thọ tội đă măn bèn đầu thai, tuy trải qua vua Diêm La thẩm định, vẫn là do nghiệp của chính ḿnh chiêu cảm, giống như quan ṭa trong nhân gian căn cứ trên tội lỗi của phạm nhân để quyết định h́nh phạt!

 

      * Hỏi: Con cái sanh trong gia đ́nh Phật giáo hoặc người ngoại quốc nhập đạo (trừ việc xuống tóc làm Tăng), nghi thức [nhập đạo] có mất thời gian hay không? (Đặng Dĩ Tai hỏi)

 

       Đáp: Bất cứ người nào nghiên cứu kinh điển Phật giáo, tự ḿnh kính phụng, sẽ được gọi là “tín sĩ”. Nếu muốn chánh thức nhập giáo, có lễ Quy Y do pháp sư thâu nhận, truyền trao quy y, đặt pháp danh, cấp chứng thư làm đệ tử Tam Bảo liền được gọi là “cư sĩ”. Lễ nghi có loại rườm rà, có loại đơn giản do tùy thuận phương tiện. Thời gian chẳng hạn chế, nói theo lư luận th́ [người xin quy y] phải đạt tới độ tuổi [tự ḿnh] có thể phát tâm là hay hơn cả!

 

      * Hỏi: Phật giáo trừng phạt kẻ phản đạo, bỏ đạo như thế nào? (Đặng Dĩ Tai hỏi)

 

      Đáp: Trọn chẳng có trừng phạt, chỉ có khuyên lơn. Nếu do lỗi nhỏ mà bỏ đạo th́ dùng cách tự sửa đổi. Nếu [kẻ ấy] phạm lỗi lớn mà chẳng hối, bèn lặng thinh không đếm xỉa tới (mặc tẫn) mà thôi.

     

      * Hỏi: Thắp hương, bày đồ cúng trước tượng Phật có ư nghĩa như thế nào? Lại c̣n thắp trường minh đăng là do dụng ư nào? (Đặng Dĩ Tai hỏi)

     

      Đáp: Nhằm bày tỏ ḷng thành kính, giống như nhân gian dâng tặng lễ vật vậy. Những thứ vật cúng gồm hương, hoa, nước, đèn, các thứ nghi thức đều nhằm biểu lộ [ḷng thành kính hoặc nhắc nhở hành nhân tu hành]. Trong bộ Vấn Đáp đă có giải thích tường tận. Đèn sáng biểu thị trí huệ trong Lục Độ.

 

      * Hỏi: Nh́n từ phương diện kinh tế và chánh trị, Phật giáo mặc t́nh tự do, b́nh đẳng, chẳng biết có biện pháp cụ thể hay không? (Đặng Dĩ Tai hỏi)

     

      Đáp: Ư nghĩa trong câu hỏi này rất mơ hồ, hỗn độn, nên chẳng biết đáp cho thích hợp từ đâu! Nếu nói về giáo quy cụ thể th́ các thứ kinh văn về giới luật Tiểu Thừa và Đại Thừa [khác biệt], đối với cách cư xử, hành động th́ có các thứ oai nghi. Về tổ chức ắt có cương mục theo thứ tự, từng điều trong sinh hoạt, chẳng rối ren. Không có chuyện nào mà chẳng có phương cách, không có cách nào vô lư.

 

      * Hỏi: V́ hộ giáo hoặc truyền bá, trong lịch sử Phật giáo có phát sanh cuộc chiến tranh nào đối với ngoại giáo hoặc mang tánh chất chánh trị hay không? Kết quả của chiến tranh là như thế nào? Lại c̣n đối đăi địch thủ như thế nào? (Đặng Dĩ Tai hỏi)

 

      Đáp: Phật giáo ân oán b́nh đẳng, trọn chẳng tranh chấp với kẻ khác. Hộ giáo hay truyền giáo đều có phạm vi, lịch sử [đă ghi chép] rơ ràng, rành mạch. Trọn chẳng v́ giáo mà dấy chiến tranh, chỉ có chịu đựng kẻ khác phá hoại. Dẫu bị xâm phạm mà chẳng so đo, tự ḿnh phục hưng.

 

      * Hỏi: Trong Phật giáo, hàng Bồ Tát trong chiến tranh là ai? Có pháp lực như thế nào? (Đặng Dĩ Tai hỏi)

 

      Đáp: Trong Phật giáo chỉ có hộ pháp và hàng phục, đều là [những hành vi] bị động, chống lại người ngoài khinh lấn, trọn chẳng hề có chuyện gây chiến với họ. Chớ nên hiểu lầm!

 

      * Hỏi: Ác ma trong Phật giáo là ai? Pháp lực như thế nào? (Đặng Dĩ Tai hỏi)

 

      Đáp: Trong tầng trời Tự Tại Thiên của Dục Giới có ma tên là Ba Tuần, chuyên phá hoại Phật pháp, nhưng tà chẳng thể xâm phạm chánh, rốt cuộc hắn thất bại.

 

      * Hỏi: Phật giáo đối với ngoại (dị) giáo có thái độ như thế nào? (Đặng Dĩ Tai hỏi)

     

      Đáp: Ân oán b́nh đẳng, tứ sanh b́nh đẳng, nhất loạt giáo hóa, chẳng nghĩ đến điều xấu xa trước kia.

 

      * Hỏi: Phật giáo trừ sát sanh ra, có cấm kỵ ǵ về ăn, mặc, đi, ở hay không? (Đặng Dĩ Tai hỏi)

     

      Đáp: Phật môn chia ra xuất gia và tại gia, tứ chúng đệ tử. Hàng xuất gia sau khi thọ tỳ-kheo đại giới, ăn, mặc, đi, ở đều có luật nghi. Tại gia nam nữ cư sĩ, kẻ thọ giới bèn tuân thủ giới, kẻ chưa thọ cũng chớ nên giết, trộm. Giết là thương tổn ḷng từ bi, trộm là vi phạm pháp luật.

 

      * Hỏi: Chế độ hôn nhân của Phật giáo là như thế nào? Có được kết hôn với dị giáo hay không? (Đặng Dĩ Tai hỏi)

 

      Đáp: Hôn nhân trọn chẳng hạn chế. Nếu kết hôn với ngoại giáo, chỉ sợ tín ngưỡng bất đồng, gia đ́nh bất ḥa mà thôi.

 

      * Hỏi: Phật giáo có cái gọi là “Phật giáo pháp điển” hay không? V́ sao có nhiều quy định như thế? (Đặng Dĩ Tai hỏi)

     

      Đáp: Tam Tạng mênh mông, vạn quyển trùng trùng, đều là pháp điển, có ai mà chẳng biết? Nếu hỏi về những thứ quy định th́ há một tờ giấy có thể viết trọn hay sao?

 

      * Hỏi: Đối với nhân loại cho đến nguồn gốc vũ trụ, Phật giáo chọn thuyết sáng tạo hay tiến hóa? Hay là một thuyết khác nữa? (Đặng Dĩ Tai hỏi)

 

      Đáp: Ắt phải phá Trần Sa Hoặc th́ mới có thể thành Phật. Trần Sa hàm ư đông đúc, có nghĩa là nói đến hết thảy. “Hoặc” () là mê muội, chẳng biết, nó thường được gọi là cái gây chướng ngại cho tánh. Nếu chẳng triệt để phô bày toàn vẹn vũ trụ và nhân sinh, há có thể gọi là kiến tánh, làm sao gọi là thành Phật cho được? Thật ra, vũ trụ và nhân sinh, vạn sự, vạn lư, đông nhiều như cát sông Hằng, do muốn nói rơ cho nên có Tam Tạng mênh mông. Đọc hết Tam Tạng, có thể hiểu thông suốt những nghĩa ấy th́ mới có thể thật sự hiểu vũ trụ và nhân sinh. Nếu không, đều là “găi ngứa ngoài giày”.

 

      * Hỏi: Tôi thường thấy người mới học Phật có nhiều nghiệp chướng chồng chất, đấy có phải là do học Phật chưa chí thành hay không? Hay là do Phật, Bồ Tát khảo nghiệm kẻ đó? Hay là để tiêu trừ nghiệp chướng trong đời trước? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

      Đáp: Chúng sanh luân hồi nhiều kiếp, thiện, ác hỗn tạp. Học Phật là chủng tử thiện hiện hành, chướng ngại là chủng tử ác hiện hành. Có thể chí thành th́ chủng tử thiện có sức mạnh. Chẳng chí thành th́ sức của chủng tử thiện yếu ớt. Nghiệp chướng có thể chướng ngại hay không cũng là do sức của nó mạnh hay yếu. C̣n như ông nói “Phật, Bồ Tát khảo nghiệm” và “túc nghiệp tiêu trừ”, tuy có những chuyện như thế, nhưng kẻ mới học công phu chưa tiến, chẳng hiểu rơ giáo lư, sẽ chẳng thể bàn tới những thuyết này được!

 

      * Hỏi: Cũng có kẻ học Phật đă nhiều năm, xét ra trước kia rất có tín tâm, rất phát tâm, về sau th́ trái ngược, chẳng c̣n có bóng dáng ǵ! Ngược lại, mê hoặc, điên đảo, có phải là do người ấy nghiệp chướng đời trước nặng nề hay không? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

      Đáp: Hăy tham cứu [câu trả lời trong] điều trước, sẽ có thể ngộ vấn đề này. Đó chính là dấu hiệu cho thấy chủng tử thiện của kẻ ấy yếu ớt, sức của chủng tử ác mạnh mẽ. Đă chẳng thể cầu thâm nhập giáo lư ḥng khai trí huệ, lại chẳng gặp thiện tri thức cổ vũ, khích lệ ḥng tiến lên, khiến cho kẻ ấy chỉ gieo thiện căn, hoặc đạt được phước báo mà thôi, trên đường giải thoát trọn chẳng có phần! Buồn thay!

 

      * Hỏi: Trong lục đạo, đối với các đường thiên đạo, A Tu La đạo, súc sanh đạo, quỷ đạo, trong các đường ấy, sau khi chết có thân Trung Ấm hay không? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

      Đáp: Lục đạo đều có Trung Ấm, đó là lẽ thường. Kẻ đại thiện hay đại ác đều có ngoại lệ. Đoạn Hoặc sẽ thăng lên thiên đạo, [do nghiệp nhân] địa ngục bèn vào Vô Gián, hai loại này không trải qua Trung Ấm, đó là trường hợp rơ rệt nhất.

 

      * Hỏi: Súc sanh là một trong tám nạn, ngu si, vô trí. Có lúc [chúng ta] gặp gỡ nó, bèn thay nó niệm Tam Quy và Phật hiệu, nhưng chẳng niệm lớn tiếng, nó lại chẳng nghe được, như thế th́ sẽ có cảm ứng để siêu thăng hay không? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

      Đáp: Niệm ra tiếng để cho nó nghe thấy th́ tốt hơn. Đă gieo một chủng tử lành vào trong thức điền của nó, sớm muộn ǵ gặp duyên, sẽ khởi tác dụng. Nếu chẳng thể niệm lớn tiếng khiến cho nó nghe, nhưng do ḷng chí thành hồi hướng th́ nó cũng có thể được mấy phần gia bị. Nói chung, thành tâm để cầu, công chẳng luống uổng!

 

      * Hỏi: “Chư pháp nhân duyên sanh, chư pháp nhân duyên diệt” (các pháp do duyên sanh, các pháp do duyên diệt), kinh Dược Sư có nói: “Dĩ tận chi mạng, nhi khả tăng ích” (mạng đă tận có thể tăng thêm), vạn sự đă tận “diệt” có phải là tạo công đức sẽ lại có thể tăng thêm hay chăng? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

      Đáp: Tạo công đức tức là tăng thượng duyên, chẳng trái nghịch lư duyên sanh! Giống như đèn sắp tắt, thêm dầu lại sáng! Nhưng các pháp Dược Sư ắt phải được truyền dạy, chẳng phải là không có thầy mà có thể tự thông hiểu, ṃ mẫm làm theo được!

 

      * Hỏi: Tôi đọc kinh Dược Sư thấy có ghi Cứu Thoát Bồ Tát gọi tôn giả A Nan là “đại đức”, c̣n tôn giả A Nan gọi Cứu Thoát Bồ Tát là “thiện nam tử”. Xin hỏi, hai cách xưng hô này phân biệt như thế nào? Theo ngu kiến của đệ tử, trong Phật môn, Bồ Tát là thượng thủ của La Hán, v́ sao A La Hán gọi Bồ Tát là thiện nam tử? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

      Đáp: Hai chữ “đại đức” chính là tiếng gọi chung khắp trên dưới. “Thiện nam tử” là tiếng khen ngợi của kẻ trên dành cho người dưới. Tỳ-kheo đều là bậc xuất gia, Bồ Tát có tăng và tục khác biệt. Cứu Thoát Bồ Tát có phải là hiện tướng tại gia hay không, tôi chưa từng khảo cứu nên chẳng dám nói chắc. Nếu là h́nh tướng tại gia, tôn giả A Nan gọi Ngài là thiện nam tử, tức là theo cách người xuất gia gọi hàng tại gia, trọn chẳng phải là không được!

 

      * Hỏi: Tỉnh này (Đài Loan) có xá-lợi của đức Thế Tôn hay không? (Ngô Mậu Tùng hỏi)

 

      Đáp: Nghe nói có nơi thờ, nhưng đích xác là [xá-lợi] của đức Thế Tôn hay không, kẻ hèn này mới đến nơi đây chưa lâu, chẳng biết lai lịch [của viên xá-lợi] ấy như thế nào, chẳng thể tùy tiện nói này nọ.

 

      * Hỏi: Thân Trung Ấm có thể thấy bằng nhục nhăn hay không? (Khiết Viên hỏi)

 

      Đáp: Nhục nhăn không trông thấy là chuyện thường, phần lớn mọi người đều chẳng thể trông thấy. Nhục nhăn trông thấy [thân Trung Ấm] là chuyện ngẫu nhiên, như ông La Lưỡng Phong thường thấy quỷ là một trường hợp.

 

      * Hỏi: Nếu trên đường gặp một con trâu bị kẻ khác sắp giết mổ, tính chuộc mạng để thả nó, nhưng gặp lúc tiền bạc trên người chẳng đủ, không có cách nào vay mượn, Phật, Bồ Tát từ bi nên chuộc như thế nào? Xả thân thay thế ư? Nếu là nơi ḷ mổ th́ nên làm như thế nào mới là tốt đẹp? (Nhan Thiết Căn hỏi)

 

      Đáp: Tận lực mà làm, chẳng đủ sức th́ hành pháp thí. Hăy v́ nó niệm Phật, sám hối, hoặc nói quy y. Chẳng thể cứu thân mạng nó th́ chuyển thành cứu huệ mạng của nó. Xả thân thay thế th́ đừng nói là chính ḿnh c̣n chưa thể làm, dẫu họ có chịu th́ chẳng lẽ đồ tể thả trâu để giết người hay sao? Cách nghĩ ấy khá là thiển cận, hời hợt vậy!

 

      * Hỏi: Thời kỳ Chánh Pháp chứng đắc dễ hơn thời kỳ Mạt Pháp, vậy là học Phật trong thời kỳ Chánh Pháp có phước báo lớn hơn thời Mạt Pháp ư? Đó là pháp sanh diệt, nhân duyên ư? (Nhan Thiết Căn hỏi)

 

      Đáp: Sanh nhằm thời kỳ Mạt Pháp hoặc Chánh Pháp, tự nhiên có liên quan đến phước báo lớn hay nhỏ, mà người trong hai thời kỳ ấy cũng có trí huệ hay ngu độn sai khác. Hai câu cuối lời lẽ chẳng rơ ràng, chỉ có thể đoán ṃ ư nghĩa để đáp. Người sống trong thời Chánh Pháp hay Mạt Pháp, phước lớn hay nhỏ, đương nhiên là mỗi mỗi đều có nhân duyên. Người đang tu nhân, chưa đạt đến quả địa đều có sanh diệt. Do nhân duyên sanh ra, th́ đă sanh bèn có diệt, bèn là pháp sanh diệt. Nếu chứng Niết Bàn, sẽ chẳng có sanh diệt, tức là vô sanh diệt vậy!

 

      * Hỏi: Có người tu hành sau khi chết, hỏa táng, tro cốt có xá-lợi; nhưng đem chôn th́ nếu có xá-lợi, có thể phát hiện hay không? Phải phát hiện bằng cách nào? (Tú Phượng)

 

      Đáp: Người có thành tựu dẫu đem chôn vẫn có xá-lợi, nhưng nó bị vùi trong đất. Tuy vậy, chẳng phải là toàn bộ xá-lợi đều do hỏa táng [mà phát hiện]. Chuyện của người xưa đă đủ để khảo chứng: Có vị do khắc ván [in kinh sách] mà xá-lợi hiện, có vị do đọc kinh sách mà [xá-lợi] hiện!

 

      * Hỏi: Mục đích rốt ráo của Thích Tôn có phải là tịnh hóa thế giới Sa Bà khiến nó trở thành thế giới trang nghiêm đó chăng? Hay là muốn làm cho lục đạo chúng sanh ai nấy đều sanh về Tây? (Lưu Khánh Minh hỏi)

 

      Đáp: Hai lẽ đều có, nhưng đừng thiên chấp. Người có thể trang nghiêm Sa Bà bèn mặc t́nh trang nghiêm Sa Bà, người nguyện văng sanh Cực Lạc bèn mặc t́nh văng sanh Cực Lạc, nhưng Cực Lạc đă có Phật Di Đà trang nghiêm, nên chẳng phải đổ công sức. Vẫn là phải cầu học Cực Lạc trước rồi mới quay lại trang nghiêm Sa Bà.

 

      * Hỏi: Sau khi xem phụ bản h́nh màu thánh tượng Đại Sĩ do Hương Cảng ấn hành và đọc Quán Âm Linh Cảm Lục, tôi phát khởi chí hướng thờ phụng, tin tưởng, ngưỡng mộ to lớn. Lễ bái Ngài trong nhà như thế nào? Khi đến chùa miếu th́ lễ bái, tin tưởng, thực hành ra sao? Xin hăy chỉ dạy! (Hà Giang Đô hỏi)

 

      Đáp: Phát tâm tin Phật cốt yếu ở ḷng thành, kế đến là xét theo h́nh thức. Cách hành lễ thông thường là dùng cách khấu đầu ba lần. Nhằm thuận tiện cho người công việc bận bịu th́ lễ một lạy. Nếu có nhiều thời gian rảnh rỗi, lạy bốn mươi tám lạy hay một trăm lạy, đều có thể tùy ư. Nói chung, lấy ḷng chí thành làm chánh; nhưng cách thức lễ bái trong Phật giáo có hơi khác với cách lễ bái thông thường đôi chút. Tức là ba lần quỳ, ba lần khấu đầu, lật ngửa hai bàn tay lên, năm vóc gieo xuống đất, sau đó, xá một xá. Đích thân nh́n để học theo sẽ dễ dàng hơn, chứ hướng dẫn bằng văn tự có thể bị hiểu lầm. Hăy nên học từ các vị pháp sư trong chùa miếu, hoặc học từ những vị cư sĩ am hiểu nghi lễ, thảy đều được cả!

 

      * Hỏi: Đọc tụng kinh Di Đà và siêu độ tổ tiên th́ đối trước Phật hay đối trước bài vị tổ tiên, hay cả hai nơi đều được? Xin thầy chỉ dạy! (Khưu Hợp Thuận hỏi)

 

      Đáp: Chủ yếu là thành tâm, chẳng bó buộc nơi chốn phải đối trước Phật hay trước bàn thờ vong, hoặc chẳng phải tại hai nơi thờ Phật hoặc thờ linh. Chỉ cần thân tâm hồi hướng, sẽ đều được cảm ứng.

 

      * Hỏi: Hễ trông thấy các ṭa nhà to gắn Thập Tự Giá dựng lên tua tủa khắp nơi th́ đó là [giáo đường] của tôn giáo Tây phương chẳng c̣n ngờ chi; nhưng chữ Vạn là tượng trưng cho Phật giáo, mà hội Hồng Vạn Tự thế giới cũng treo cao chữ Vạn, thoạt nh́n, chắc nơi đó là tùng lâm chẳng c̣n ngờ ǵ đấy chăng? (Dương Khai Khánh hỏi)

 

      Đáp: Trong nội bộ hội Hồng Vạn Tự (紅卍字), chia ra thành Đạo Viện và Từ Viện. Đạo Viện quản trị sự vụ tôn giáo trong thần đạo. Các đấng được họ thờ phụng là [các vị thánh nhân] Nho, Thích, Đạo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, cao nhất vẫn là Lăo Tổ. Họ tự xưng đứng đầu ngũ giáo, nhưng các giáo đều có căn cội riêng, đều phủ nhận danh xưng tạp nhạp của họ. Họ chẳng có kinh điển, chỉ tin vào cầu cơ, chẳng phải là cùng một pháp với nhà Phật, mà [đạo viện của họ] cũng chẳng phải là tùng lâm. Từ Viện lo liệu các thứ sự nghiệp từ thiện, và cũng phỏng theo hội Hồng Thập Tự tải thương, cứu thương chiến trường mà làm chuyện cứu thương, tải thương trên chiến trường. Lá cờ mang chữ Vạn màu đỏ của họ do phỏng theo cờ của hội Hồng Thập Tự mà chế ra, nhưng sự nghiệp từ thiện của họ khá có thành tích. Tự do tín ngưỡng, nhưng chẳng bắt buộc phải có cùng quan niệm về đạo với họ.

 

      * Hỏi: Phong tục tỉnh nhà (Đài Loan) vốn theo phong tục vùng Mân Nam[28], đối với mũ, áo, giày v.v... của trẻ thơ đều dùng vải sa hồng thêu chữ Vạn, ngụ ư cầu thọ phước, cầu b́nh an. Phật môn dùng điều ǵ làm thụy triệu (điềm tốt lành)? (Dương Khai Khánh hỏi)

 

      Đáp: Thân Phật có ba mươi hai thụy tướng. Mỗi tướng đều do trăm phước tạo thành. Chữ là tướng trước ngực, người đời sau đọc thành âm Vạn. Thế tục chuộng dùng chữ ấy để trang hoàng, lại phối hợp với những chữ như Phước, Thọ v.v... tức là lấy ư nghĩa Vạn, [ḥng cầu mong] hết thảy cát tường đều vô tận. Trong Phật môn chỉ dùng chữ này để làm tiêu chí (logo), ngoài ra c̣n có luân tướng (bánh xe), chứ không phải là nhất loạt giống hệt nhau. Những tiêu chí này đều nhằm biểu thị rơ rệt [các ư nghĩa trong Phật pháp], chữ Vạn biểu thị theo chiều dọc lẫn chiều ngang đều trọn khắp, Luân biểu thị thường chuyển, chẳng ngừng, chẳng phải chỉ để cầu phước như thế tục.

 

      * Hỏi: Tôi thấy bài Cửu Hoa Tán có câu: “Hương hoa tánh Không, vận bi sát quốc, chư Phật, chúng sanh chỉ duyên sanh. Tùy xứ giáng cát tường, sở hóa thành Phật. Hiện thị chứng Bồ Đề. Nam-mô Cửu Hoa Sơn Bồ Tát Ma Ha Tát” (Tánh của hương hoa là Không, vận ḷng Bi trọn khắp cơi nước. Chư Phật và chúng sanh chỉ do các duyên sanh. Giáng tốt lành khắp chốn, những chúng sanh được Ngài hóa độ đều thành Phật, nay đều thị hiện chứng Bồ Đề. Nam-mô Cửu Hoa Sơn Bồ Tát Ma Ha Tát). Chẳng biết có thể sử dụng hay không? Xin hăy chỉ dạy! (Ngô Gia Thiêm hỏi)

 

      Đáp: Bài tán ấy ca tụng, tán dương công đức của Bồ Tát, nghĩa lư xứng hợp, trọn chẳng có chỗ nào không nên dùng. Chỉ có mấy câu chẳng gieo đúng vần, tụng niệm chẳng thuận miệng, chứ không có ǵ khác!

 

      * Hỏi: Đức Phật nói “tam giới chẳng an”, nói chung là hết phước bèn luân hồi trong lục đạo. Nếu có thánh đường của Nho giáo, Phật, Bồ Tát, thần tiên thường xuyên giáng cơ bút xiển dương giáo pháp trong hiện thời th́ sẽ độ chúng sanh vô hạn lượng. Đài Loan thánh giáo và tam giáo có cùng một Thể, Phật, thánh, thần tiên cùng độ. Tham bái các thứ thi từ, lời dạy của Phật Di Đà khiến cho kẻ khác cảm động, nhưng xét ra Phật là đấng Chánh Giác, chẳng dính dáng đến ngoại đạo, cớ sao Phật, Bồ Tát thường xuyên giáng hạ đàn cầu cơ? Đối với việc này, kẻ ngu cảm thấy khó hiểu, xin hăy khai thị. (Lâm Tán Đức hỏi)

 

      Đáp: Xem lời lẽ của tiên sinh, biết tấm ḷng nhân từ, hiền ḥa. Nếu chịu trống ḷng xem đọc, nghiên cứu kinh Phật, ắt trí huệ mở mang, kiến đạo. Tiên sinh đă hạ cố hỏi tôi về nhiều điểm hiểu lầm, tôi xin kính cẩn giải thích:

      - Một, Nho chẳng phải là tôn giáo.

      - Hai, Phật, Bồ Tát hoàn toàn chẳng giáng hạ các đàn cầu cơ.

      - Ba, do Nho chẳng phải là tôn giáo, chẳng thể nói là tam giáo đồng thể!

      - Bốn, các thứ thi từ [trong đàn cầu cơ] quyết chẳng phải do A Di Đà Phật nói.

      Bốn điều trên đây đều do kẻ vô tri, mù quáng tạo lời đồn đăi. Kẻ đặt chuyện lời lẽ chẳng thật, hành vi thuộc loại dối gạt. Nếu chẳng phải là xằng bậy tự bịa đặt, chắc chắn do quỷ yêu quấy phá, giả mạo danh nghĩa thần tiên, dối gạt, bịp bợm, ngu si, nhưng kẻ vô học chẳng biết phân biệt thật, giả, tà, chánh. Do vậy, lập đàn khai giáo. V́ thế, chúng được gọi là “bàng môn ngoại đạo”. Tiên sinh cầu đạo đă đi vào ngơ rẽ, trong tương lai sợ mắc họa sa hào, sụp hố, xin hăy cẩn thận!

 

      * Hỏi: Người hỏi về thánh đản và ngày thành đạo của Phật, Bồ Tát rất nhiều. Rốt cuộc [những ngày vía ấy] xuất phát từ kinh điển nào, hoặc có căn cứ ǵ? Trong quư báo, nói chung chưa giảng giải rơ ràng. Đă không có kinh điển [để làm chứng], v́ sao các chùa miếu trong khắp thiên hạ đều nhất loạt cử hành? Người b́nh phàm đều có sinh nhật nhất định; trái lại, Phật, Bồ Tát, thánh nhân v́ sao chẳng thể khảo chứng! Như vậy, há chẳng khiến cho người ta nghĩ các ngày thánh đản và thành đạo trong Phật giáo chẳng đáng tin bằng lễ Giáng Sinh của Gia Tô (Jesus). Sau này, chùa miếu tổ chức pháp hội, sợ sẽ bị giảm bớt số người tin tưởng! (Vô Danh Thị hỏi)

 

      Đáp: Phàm đối mọi việc, hễ biết liền nói là biết, không biết bèn nói là không biết, xác thực bèn nói là xác thực, không chứng cớ bèn nói không có chứng cớ. Đó là lời chân thật. Lời đáp trong quá khứ của tờ báo này chính là tuân theo tông chỉ ấy. Phật, Bồ Tát có vị ở trong cơi này, có vị thuộc về cơi khác. Lịch pháp có các nơi, xưa, nay sai khác. Đừng nói là kinh chẳng ghi chép, dẫu có đi nữa, nhưng để tính toán nhằm phù hợp, khít khao chẳng sai ngoa với năm tháng tại Trung Quốc trong từng thời sẽ là chuyện hết sức khó khăn. Dẫu sai khiến người tinh thông lịch pháp tính toán, cũng chẳng dám nói là cách tính ấy chuẩn xác! Sinh nhật của Gia Tô có chép trong kinh Tân Cựu Ước hay chăng? Họ tự hạn định, lấy Dương Lịch làm chuẩn, c̣n như phù hợp với nông lịch của Trung Quốc và lịch Hồi giáo v.v... cũng đều chênh lệch không xác định. Nếu là người học Phật, hăy nên đào sâu nơi những điều trọng yếu, những điều giống như thế này chẳng liên quan ǵ đến tông chỉ to lớn! Nếu cứ ắt muốn khảo cứu kinh điển, cũng chẳng phải là không có. Nay tôi sao lục một bài kệ trong kinh Hoa Nghiêm có thể khiến cho ông liễu ngộ. Kệ như sau: “Chúng sanh các tự vị, Phật mỗ nhật thành đạo, Như Lai đắc Bồ Đề, thật bất hệ ư nhật” (Chúng sanh mỗi người tự nói Phật thành đạo trong một ngày nào đó, nhưng thật ra, Như Lai đắc Bồ Đề chẳng hạn cuộc trong một ngày nào). Ấy là v́ thật nghĩa c̣n chẳng có ba đời. Cứ nhất định chấp trước một ngày nào đó, tức là đuổi theo vọng. C̣n như đối với vấn đề tín ngưỡng, đệ tử Phật thật sự chỉ có tin những ǵ đáng nên tin. Nếu có kẻ v́ chuyện này mà hoài nghi giáo pháp của chúng ta, đúng là v́ họ chẳng hiểu phạm trù của Tín, há ta có nên trái lư lừa gạt họ ư?

 

      * Hỏi: Ở trong chùa, tôi từng thấy có một cuốn sách nhan đề Phật Thuyết Thọ Sanh Kinh, trong ấy có nói đến chuyện phải đóng tiền thọ sanh[29], chẳng biết tiền thọ sanh là vật ǵ, và cách đóng tiền ra sao? (Trương Tấn Thiêm hỏi)

 

      Đáp: Đây là do kẻ chẳng hiểu Phật pháp, lầm tưởng mắt cá là trân châu. Trong Đại Tạng Kinh nhà Phật chẳng có cuốn kinh ấy, chớ nên mê tín! Cư sĩ vừa nhập Phật môn, cần phải phân biệt rơ chân, giả, tà, chánh. Nếu không, đường rẽ lắm ngơ, sẽ sa hầm, sẩy hố, chẳng thể văn hồi được!

 

      * Hỏi: Một người sau khi chết, linh hồn (tức thần thức) của kẻ ấy phải chờ măi đến bốn mươi chín ngày mới chuyển sanh trong thai khác. Nếu linh hồn chuyển sanh vào thai khác như vậy, đă chẳng c̣n thuộc về người chết nữa, chúng ta là con cháu c̣n sống thường siêng năng tụng kinh siêu độ cho tiên linh tổ tiên, như vậy th́ các vị tổ tiên có được siêu sanh thoát khổ hay không? Nếu có thể th́ họ đă mất linh hồn, làm sao có thể hưởng những kinh chú quư báu như vậy? (Lâm Hồng Quế hỏi)

 

      Đáp: Sau bốn mươi chín ngày, tuy đă đầu thai, nhưng vẫn chưa ra khỏi lục đạo. Lục đạo thiên sai vạn biệt, chân khổ, giả lạc, không ǵ chẳng phải là quả báo của các nghiệp thiện hay ác. Chúng sanh trong lục đạo thấy, nghe kinh chú có thể tịnh tam nghiệp, đạt được lợi ích nơi pháp, nhưng công đức ấy vốn là v́ người đă khuất mà bố thí, có thiện nhân ấy, đương nhiên đạt được thiện quả! Người trong ác đạo có thể thăng lên thiện đạo, người đă ở trong thiện đạo có thể từ kém cỏi mà chuyển thành thù thắng.

 

      * Hỏi: Chiếu theo Tứ Niệm Xứ thuộc Ba Mươi Bảy Đạo Phẩm trong kinh Di Đà, [điều thứ nhất là] “quán thân bất tịnh”. Phật pháp thường nói: “Thân người khó được, Phật pháp khó nghe. Trừ thân người ra, chẳng thể tinh tấn tu đạo. Chỉ có thân người là có thể tu Phật pháp, có thể tu chứng Phật quả”. Đă là như vậy, câu “quán thân bất tịnh” này có những chỗ chẳng đúng pháp. [Bởi lẽ], từ vô thỉ tới nay, chúng ta đă tu khá nhiều quả báo th́ mới có thể được làm thân người. Sau đấy, lại mong làm Phật. Nếu tu Phật pháp mà quan sát cái thân người trọng yếu này là bất tịnh th́ làm sao có thể tu nghiệp cho được? Đă là bất tịnh, cớ sao có thể đạt được quả báo Phật? (Vương Tú Xuân hỏi)

 

      Đáp: Được làm thân người, có thể nghe đạo khởi tu, có thể giải thoát, đó là điều khó có, đáng quư. Cái nhân để cầu giải thoát là do liễu ngộ cái thân ô trược đáng chán mà mong cầu đạt được Pháp Thân. Nếu chẳng cảm thấy chán, sẽ tham ái, chẳng cầu giải thoát. Thân chư thiên tuy thù thắng tốt đẹp, nhưng họ tham ái, chẳng biết giải thoát. Thân trong tam đồ hèn kém, do ngu mê nên chẳng thể nghe đạo, đều chẳng có cơ duyên giải thoát. Do vậy, có thể quán thân bất tịnh, bèn chán ngán, khởi tu, cũng là chỉ có con người [mới làm được như thế mà thôi]. Hai câu này (“quán thân bất tịnh” và “thân người đáng quư”) chẳng mâu thuẫn nhau!

 

      * Hỏi: Để cúng Phật, tôi trồng một ít hoa trong sân. Pháp Thân của Phật đă đầy ắp vũ trụ hư không, như vậy th́ cần ǵ cứ nhất định phải hái hoa dâng cúng trước tượng Phật? Khi chúng ta ăn bất cứ ǵ, bất luận ở nơi nào, trong tâm trước hết nghĩ đến cúng Phật, như vậy sẽ tốt hơn đem vật này nọ cúng trước tượng Phật, có khác biệt ǵ chăng? (Bạch Trương Văn Thích hỏi)

 

      Đáp: Phật quả thật chẳng ăn, người cúng chỉ do tấm ḷng. Phàm phu kính cẩn, thành tâm, Phật cũng tâm lănh. Trồng hoa đầy sân, vật nào cũng có chủ, không cho mà lấy, há Phật làm ư? Ta đă chẳng dâng hiến, tâm thành kính ở chỗ nào? C̣n như nói ta ăn thứ ǵ, tâm nghĩ cúng Phật, đối với lư luận như vậy, ắt phải có sự thật th́ mới không lệch lạc. “Kính” bên trong ắt phải thể hiện bằng “cung” bên ngoài.

 

      * Hỏi: Có phải là tượng Phật nhất định phải khai quang th́ mới có thể thờ phụng hay không? Chưa khai quang có thể thờ hay không? Có được công đức hay không? Lại nữa, trong pḥng có thể bày tượng Phật để thờ phụng hay không? Tượng Phật đối diện với giường nằm có tội hay không? Lại nữa, người chẳng hiểu Phật pháp đưa tượng Phật cho ngoại đạo (Đạo giáo) khai quang, có phải là Phật sẽ trụ trong tượng ấy hay không? Lại nữa, khai quang có ư nghĩa ǵ? Tại hạ vô tri, cầu khẩn cư sĩ giải trừ sự ngu độn, tối tăm cho tôi! (Lữ Minh Trường hỏi)

 

      Đáp: Câu hỏi này gồm bốn đoạn, nay tôi sẽ tách ra từng đoạn để đáp:

      1) Phật Đà tự có quang minh, chiếu khắp đại thiên, há có Phật quang phải đợi con người đến khai? Hiện thời, chủ yếu khai quang phần nhiều bất quá là thuận theo tập tục mà thôi! Thật ra, khai và chẳng khai chẳng liên quan ǵ đến tông chỉ to lớn [của Phật pháp]. Cốt yếu là người thờ tượng thành tâm, tượng Phật tự nhiên tỏa ánh sáng. Tâm đă chân thành, tự đạt được công đức.

      2) Hết thảy các phương tiện trong Phật pháp chỉ chú trọng thành kính. Nếu pḥng ở có pḥng trong và pḥng ngoài th́ pḥng trong bày giường, pḥng ngoài thờ Phật. Nếu chỉ có một pḥng, chẳng ngại thờ Phật đối diện giường nằm, nhưng trước tượng che một tấm màn, trong khóa tụng sáng tối bèn mở ra. Ngoài lúc tụng niệm, bèn buông màn xuống.

      3) Phật pháp như bánh xe to, ngoại đạo như ngói, sạn, cỏ, rêu. Ngoại đạo mà có thể khai quang cho Phật, đúng là càn khôn điên đảo! Nhưng trong phần trên tôi đă chẳng nói đó sao, cảm ứng là do ḷng Thành, bất luận người thờ phụng là trí hay ngu, hễ có ḷng thành ắt Phật bèn trụ nơi đó.

      4) Tạo tác tượng Phật, thi công các thứ, di chuyển, lay động, tâm chưa nghĩ Phật đă giáng lâm. Định ngày làm lễ khai quang, nghĩ Phật đă giáng lâm [tượng ấy]. Phật đă giáng lâm, chẳng thể đụng chạm nữa.

 

      * Hỏi: Người chết th́ thần thức người ấy có nam, nữ, già, trẻ sai khác hay chăng? (Trần Đăng Phùng hỏi)

 

      Đáp: Tướng được hiện bởi thần thức người ấy là tướng đă quen thấy trong ư niệm. Thần thức vô tướng, huyễn thân có tướng. Đă có tướng th́ liền phân ra nam, nữ, già, trẻ.

 

      * Hỏi: Quỷ có phải là hữu h́nh hay không? Nếu hữu h́nh, cớ sao chúng ta chẳng thấy? Nếu vô h́nh, chịu khổ bằng cách nào? (Trần Đăng Phùng hỏi)

 

      Đáp: Quỷ đă có thân, liền có tướng. Chúng ta chẳng thấy là v́ nhăn thức của chúng sanh trong lục đạo mỗi loài mỗi khác. Do vậy, có loài có thể thấy thứ này, nhưng chẳng thể thấy thứ kia. Có loài có thể thấy thứ kia, nhưng chẳng thể thấy thứ này. Như núi, sông, đại địa, ngày đêm bất biến, nhưng chim sẻ ban ngày th́ thấy, ban đêm chẳng nh́n được. Chim cú ban đêm thấy đường, ban ngày chẳng thấy.

 

      * Hỏi: Người đă chết, trước khi đầu thai, th́ hai thứ ấy (tức [thân xác của] người chết và thần thức) có nh́n thấy nhau hay không? (Trần Đăng Phùng hỏi)

 

      Đáp: Thần thức hợp với thân th́ gọi là người sống. Thần thức ĺa thân bèn gọi là người chết. Thân của người chết gọi là Thi (: xác chết). Thi chẳng có thần thức, làm sao có thấy, nghe? Thức chưa nhập thai gọi là ‘thân Trung Ấm”, hoàn cảnh đă thay đổi, nên thấy, nghe cũng khác. Chẳng thể thấy xác thân là chuyện b́nh thường. Nếu [thần thức của người đă chết] có thể thấy xác của ḿnh, đó là chuyện ngẫu nhiên, đặc biệt vậy!

 

      * Hỏi: Thần thức của người chết và muỗi, trùng chết có h́nh thể giống nhau hay không? Hành động có nhất trí hay chăng? (Trần Đăng Phùng hỏi)

 

      Đáp: Cố nhiên thần thức chẳng sai biệt, nhưng tập khí sai biệt rất lớn. Xin hăy coi lại lời đáp cho câu hỏi thứ nhất, để suy ra ư nghĩa. Tập khí chủ tŕ ư tưởng, ư tưởng có thể hóa hiện thân tướng. Ư tưởng của chúng sanh mỗi người mỗi khác, nên hiện thân khác nhau!

 

      * Hỏi: Người đă chết, toàn thân đă lạnh buốt, chỉ có lưng c̣n ấm, ắt sẽ cảm đường nào? (Trần Đăng Phùng hỏi)

 

      Đáp: Kinh chẳng nói rơ, chẳng tiện chủ trương dứt khoát. Nếu ấm ở phía trên của lưng, có lẽ cảm sanh trong thiên đạo!

 

      * Hỏi: Người đă chết, trở về trong thất đầu tiên, nếu sanh vào năm Hổ, sẽ thấy có dấu chân hổ[30], có thật như vậy hay không? (Trần Đăng Phùng hỏi)

 

      Đáp: Điều này trong kinh văn chẳng chép, chẳng thể miễn cưỡng làm ra vẻ hiểu biết được!

     

      * Hỏi: Có người nói: “Người đă chết mà mí mắt chẳng khép, tức là trong tâm có điều chưa cam ḷng”, lư luận ấy có xác đáng hay không? (Trần Đăng Phùng hỏi)

 

      Đáp: Điều này luận theo tâm lư và sinh lư, hai thứ ấy giao cảm th́ cũng có lư, tục gọi là “chết không nhắm mắt”.

 

      * Hỏi: Đối với phương pháp xem kinh, có người chủ trương xem bằng cách trực tiếp cảm nhận, không thêm suy nghĩ vào đó. Có người chủ trương trước hết đọc thuộc kinh văn rồi mới cầu hiểu nghĩa, rốt cuộc cách nào là tốt, hay là không có cách nào nhất định, tùy theo căn khí của mỗi người mà định? (Khiết Viên hỏi)

 

      Đáp: Đối với cách xem kinh, có Tụng và Nghiên khác biệt. Tụng () là chẳng chú trọng suy tư, một mực tĩnh tâm tụng niệm. Đó là mượn kinh làm công khóa để cầu đắc Định. Nghiên () là hiểu rơ ư nghĩa, thăm ḍ, xem xét, ḥng hiểu trọn vẹn, đó là nương vào thánh ngôn trong kinh để cầu khai Huệ. Trước hết, phải biết xem kinh do động cơ (motivation) nào, rồi chọn lựa Nghiên hay Tụng th́ sẽ chẳng đến nỗi băn khoăn!

 

      * Hỏi: Trong bộ Dương Minh Truyện Tập Lục, đệ tử Tiêu Huệ hỏi về đạo sanh tử, tiên sinh [Vương Dương Minh] đă dẫn một câu trong kinh Dịch, “tri trú dạ tức tri sanh tử” (biết ngày đêm liền biết sanh tử) để đáp, có phải là dùng ngày đêm để sánh ví sanh tử, dùng ánh nắng mặt trời để tỷ dụ Chân Như tùy duyên bất biến hay không? (Khiết Viên hỏi)

 

      Đáp: Đoạn vấn đáp này giữa Vương Dương Minh và Tiêu Huệ bất quá chỉ nói về trạng huống sanh tử mà thôi! Ngày đêm trong trời đất lần lượt thay đổi lẫn nhau, nhưng trời đất vẫn như vậy. Tâm tánh xuất thai, nhập thai, nhưng tâm tánh chẳng biến, có lẽ chẳng phải là dùng mặt trời mọc lặn để tỷ dụ Chân Như tùy duyên.

 

      * Hỏi: Nghe nói có cuốn sách mang tựa đề Ấn Độ Du Già (Indian Yoga), chẳng biết Du Già là thuật ǵ? Người học Phật có cần [học tập, nghiên cứu] thuật ấy hay không? (Trần Quán Nhân hỏi)

     

      Đáp: Xin cư sĩ hăy tham khảo cột báo Phật Học Vấn Đáp của tờ báo này số một trăm lẻ bảy, trong phần trả lời cho các câu hỏi của cư sĩ Lư Minh Dương, sẽ biết ư nghĩa.

 

      * Hỏi: Thấy, nghe kinh pháp nói “thân người khó được”, tiểu đồ (đứa học tṛ nhỏ nhoi) nghe vậy bèn nghĩ cuộc đời mấy chục năm đắm đuối tranh danh đoạt lợi, không lỗi nào chẳng phạm, trở thành một thế giới kẻ mạnh lấn hiếp, ăn nuốt kẻ yếu. Nghe nói hiện thời, dân số mỗi năm tăng thêm đông bằng số dân chúng trong một huyện thị. Đối với điều này, tiểu đồ cảm thấy khó hiểu, như vậy là làm lành khó được, hay làm ác khó được? V́ thế, xin thầy hăy khai thị. (Hoàng Mễ Điền hỏi)

 

      Đáp: Câu hỏi này ư nghĩa chẳng rơ ràng! Nghiền ngẫm từ ngữ, câu văn, [tôi e ngại ḿnh] có lắm chỗ hiểu lầm, chẳng tiện suy đoán để trả lời, sợ chẳng phù hợp ư người hỏi. Nói “thân người khó được”, ắt trước hết phải hiểu rơ chuyện trong lục đạo. Nói nhân loại trong thế giới tăng thêm, ắt trước hết phải hiểu rơ “có các thế giới số nhiều như cát sông Hằng”. Hằng sa lục đạo, hằng sa thế giới, trong ấy, đến nơi đây, qua bên kia, ở đây thăng lên, bên kia giáng xuống. Đă biết lư “thăng, giáng, qua lại giữa đây và kia” th́ tăng thêm và giảm bớt đều chẳng có ǵ đáng ngờ! Nếu chúng sanh trong hằng sa lục đạo và hằng sa thế giới đều tăng đồng thời hoặc giảm đồng thời th́ mới đáng nghi!

     

      * Hỏi: Tôi nghe nói hoằng pháp, giảng kinh phải viên dung, nếu không, sẽ gọi là “báng pháp”. Nếu là như thế, các lời đáp của cư sĩ về Phật học và các đề tài đăng tải trong tờ Bồ Đề Thụ là hoàn toàn viên dung ư? Lại nữa, đối với những chỗ chẳng viên dung, có cách nào bổ cứu hay chăng? (Ngô Minh An hỏi)

 

      Đáp: Giảng kinh thật sự chẳng phải là chuyện dễ, chẳng thể làm bừa. Nhất là đối với hàng cư sĩ mới học, càng chẳng thể làm xằng. Mức độ thấp nhất th́ phải hội đủ những điều kiện sau đây: Phải thọ giới, thông hiểu, lưu loát văn lư, có sư thừa, chọn lựa tinh tường các bản chú giải để làm sách tham khảo. Đây chẳng qua là đại lược vun bồi cơ sở, chẳng bàn tới viên dung! Nương theo đó để giảng giải, ḥng giảm bớt lỗi trái lư! Để khế cơ, sợ rằng cần phải thâm nhập và có kinh nghiệm. Người mới học Phật, nếu phát bi tâm, chẳng ngại khuyên người khác học Phật, đó là hoằng pháp. Những văn tự đăng tải trong tờ Bồ Đề Thụ là những bài viết do các vị đại đức khắp nơi gởi đến, kẻ hèn này học vấn nông cạn, ít ỏi, chẳng dám suy lường xằng bậy sự cao thâm. C̣n về những bài vấn đáp của kẻ hèn này th́ hoặc là nương theo ư nghĩa trong kinh, hoặc tuân theo khuôn khổ, chuẩn mực của cổ đức, chưa hề dám tự cậy thông minh, xằng bậy nêu ra ư kiến của chính ḿnh. Nếu bảo là “chẳng viên dung” th́ chỗ nào cũng có thể thấy [những lời đáp của tôi chưa được viên dung], nhân quả vô t́nh, chỉ đành tự làm tự chịu! C̣n chuyện bổ cứu là phương tiện thiện xảo của bậc đại quyền, chúng ta chẳng biết được! Cái gọi là “bổ cứu” của chúng ta th́ đúng là càng miêu tả càng tối tăm, tội càng thêm tội mà thôi.

 

      * Hỏi: Tôi thường bị bệnh khổ, bèn phát nguyện, nguyện thường gặp minh sư chỉ điểm nẻo mê ḥng mau chứng thiên tiên. Đấy là lần thứ nhất do bị sự khổ bức bách mà phát nguyện làm thánh nhân. Về sau, do đọc sách Nho bèn nguyện đạt tới sự chí thiện ḥng làm thánh nhân, mạng chung sanh lên trời. Đấy là phát nguyện lần thứ hai. Phát nguyện thứ ba là độ chúng sanh vô biên, nếu có chúng sanh chưa độ hết, thề chẳng thành Đẳng Giác. Lần thứ tư, nếu tôi thành Phật sẽ chẳng khác A Di Đà Phật, nếu có sai khác, thề chẳng thành Chánh Đẳng Chánh Giác. Tôi muốn hỏi: Trong lời nguyện đă phát trong lần thứ ba, chính là chúng sanh đều đă được độ hết th́ mới thành Phật, nhưng nguyện đă phát hiện thời là chúng sanh chưa độ hết, mà chính ḿnh đă thành Phật, có phải là bổn tâm lừa dối, giảm thiểu hay không? Khẩn cầu cụ khai thị! (Nhan Quư Nghiệp hỏi)

 

      Đáp: Bốn lần phát nguyện, nguyện trong hai lần đầu là do chưa nghe đại đạo mà phát, đă trở thành quá khứ, chẳng cần phải nói nữa. Hai nguyện thứ ba và thứ tư, có khác biệt đôi chút, nhưng không có phước đức và trí huệ, dẫu có hoằng nguyện, rất khó thực hiện! Nếu có thể chứng quả chẳng khác ǵ A Di Đà Phật th́ phước huệ ngang bằng, không ǵ chẳng trọn đủ, độ sanh khá dễ. Hăy nên biết: Phàm thành Phật quả, ắt phải trải qua “độ tha viên măn”. Chưa có ai chẳng độ chúng sanh mà có thể thành Phật, muốn thành Phật bèn chẳng buông bỏ việc độ chúng sanh. Có chút sai khác đúng là như vậy, chẳng dối gạt bổn tâm là được rồi!

 

      * Hỏi: Theo chẩn đoán y học, học tṛ Can hỏa quá vượng, nên tai ù, tim đập dữ dội. Xét ra, những điều này đều do đời trước lắm sân hận mà ra. Nay tôi hễ thầm niệm Phật, Can hỏa càng bốc dữ dội, quan sát cái nhân là do tiếng niệm A Di Đà Phật chẳng phù hợp. Nay tôi đổi sang niệm thầm A Di Đà Phật trong họng ḥng tránh khỏi chướng ngại. Dùng phương pháp này có chánh xác hay chăng, hay là cần phải cải tiến? Xin hăy khai thị. (Nhan Quư Nghiệp hỏi)

 

      Đáp: Phương pháp niệm Phật là phải khiến cho thân lẫn tâm điều ḥa, thoải mái th́ mới có thể tĩnh và định, cho nên phương thức chẳng đồng nhất. Niệm thầm cũng là một cách có thể trị tán loạn. Nếu sử dụng mà cảm thấy an ổn, thích đáng th́ chẳng cần phải sửa đổi.

 

      * Hỏi: Phương pháp tu tŕ trong quá khứ là nguyện sớm được văng sanh, sau đấy mới trở về Sa Bà độ thoát hết thảy chúng sanh. Phương pháp hiện thời là coi kiếp này chính là nương theo nguyện trở lại, độ vô biên chúng sanh, đoạn vô tận phiền năo, học vô lượng pháp môn, thành vô thượng Phật đạo, người thấy lẫn kẻ nghe đều tinh tấn, mạng chung cùng sanh về cơi Cực Lạc. Dùng giáo dục để thuyết pháp, nỗ lực v́ chúng sanh, nhưng thường khổ v́ nghiệp chướng sâu nặng, sanh nhiều bệnh tật, chẳng thể thực hiện lời nguyện, mà đối với lư ấy lại chẳng hiểu rơ, xin hăy chỉ dạy. (Nhan Quư Nghiệp hỏi)

 

      Đáp: Người học Phật trong lúc quy giới (thọ Tam Quy, Ngũ Giới), đối trước Phật phát ra bốn nguyện, hăy tự nên thực hiện lời ấy. Biết được mấy phần, bèn tuyên truyền cho kẻ khác mấy phần. Nếu nghĩ chính ḿnh thừa nguyện tái lai, cũng chẳng phải là không được. Nhưng ư “thừa nguyện tái lai” như ông đă nói sợ rằng giống như kẻ tiểu căn, chẳng phát đại tâm, ưa đắm Niết Bàn, như thế th́ sẽ hoàn toàn trái nghịch tông chỉ Tịnh Độ. Chẳng phải là nói “người học trong lúc chưa văng sanh mà đến trong cơi này bèn chẳng được phép độ chúng sanh!” Chớ nên hiểu lầm điểm này. C̣n như lắm bệnh, đấy chính là tăng thượng duyên tu đạo, [bởi lẽ], nếu an lạc sẽ trở thành quên bẵng, phóng dật; do ưu hoạn sẽ phát tâm dũng mănh. Pháp thế gian và xuất thế gian đều lấy ưu hoạn làm một vị thầy tốt ḥng thúc đẩy, dùi mài!

 

      * Hỏi: Khi tôi viết thư thưa hỏi này, thường là tư duy chẳng thể chuyên nhất, sửa tới sửa lui mới có thể thích hợp với ư nghĩ của chính ḿnh. Như đối với câu hỏi này [cứ lẩn quẩn suy nghĩ] phải dùng lời lẽ hỏi han như thế nào mới đúng với tâm ḿnh. Lại nữa, lúc nói năng thường ngày, nói chung, tư duy chẳng thể chuyên nhất. Bị năo hại như thế, sự phiền năo này rất khổ, nên phá như thế nào? Xin hăy chỉ dạy. (Nhan Quư Nghiệp hỏi)

 

      Đáp: Bệnh của cư sĩ là do chẳng thể biện định rơ nên chẳng biết phải nên an trụ nơi đâu, cho nên cái tâm như quả bầu dưới nước, phập phều vô định. Kẻ hèn này xin dâng một lời, mong ông hăy khéo thấu hiểu. Quân tử có nghĩa là khiến cho con người tốt lành, khiến cho cơi đời tốt đẹp. Kẻ tiểu nhân chỉ biết mưu cầu danh lợi, đó là tiêu chuẩn của việc xác lập cái tâm. Làm giáo viên, đào tạo nhân tài, bèn có thể khiến cho con người tốt lành, khiến cho cơi đời tốt đẹp, đó là tiêu chuẩn lập thân. Pháp môn Tịnh Độ là đường tắt xuất thế, là chiếc bè to để chở đại chúng [vượt thoát sanh tử]. Thâm nhập một môn, ta và người đều có lợi, đó là tiêu chuẩn quy túc vậy. Giữ lấy ba chuyện ấy (tiêu chuẩn lập tâm, tiêu chuẩn lập thân, tiêu chuẩn quy túc), chuyên nhất tiến lên, chẳng đổi khác, chẳng dời, hễ một điều thông, trăm điều sẽ thông, một điều thành, trăm điều sẽ thành. Xưa nay, những người thành công không ai chẳng như vậy! Nếu chân đạp trên hai chiếc thuyền, tâm treo đôi nơi, chẳng biết an trụ nơi đâu, thánh nhân thường răn trách.

 

      Hỏi: Chúng ta muốn đạt được hoàn cảnh và nơi chốn thanh tịnh, vui sướng, ắt phải đoạn phiền năo, nhưng mỗi người có lúc khó tránh khỏi nghịch cảnh, chỗ nào cũng đầy dẫy tối tăm và đau khổ, muốn tiêu trừ hết thảy nghịch cảnh phiền năo, phải tu hành như thế nào th́ mới có thể đạt được thanh tịnh, vui sướng? (Lưu Tú Vân hỏi)

 

      Đáp: Trong lời hỏi có bốn danh từ, trước hết, phải phân định giới tuyến rơ ràng, vấn đề sẽ tự nhiên được giải quyết. Các danh từ ấy là “thanh tịnh, sung sướng”, “đoạn phiền năo”, “nghịch cảnh và đau khổ”, “tu hành” v.v... Phân giải như sau: “Thanh tịnh, vui sướng” là cảnh giới sau khi đạt tới giải thoát. “Đoạn phiền năo” là đoạn diệt Kiến Tư, Nhị Hoặc trong tâm. “Nghịch cảnh và đau khổ” là hai hiện tượng thế gian cố định trong cơi Sa Bà. “Tu hành” là nương theo Phật pháp để đoạn diệt hai Hoặc (Kiến Hoặc và Tư Hoặc) trong tâm. Nếu đă đoạn Nhị Hoặc th́ “nghịch cảnh và đau khổ” tự chẳng c̣n, mới có thể đạt được “thanh tịnh, vui sướng”. Phương pháp tu hành rất nhiều, chúng ta niệm Phật, nghiên cứu giáo pháp, tức là phương pháp tu hành, nhưng công phu có sâu hay cạn khác nhau, nên đạt được “thanh tịnh, vui sướng” tự nhiên có nhiều, ít, sớm, trễ khác biệt.

 

      * Hỏi: Tứ Nhiếp và Lục Độ đều chú trọng bố thí đầu tiên. Lại nữa, trong các thứ bố thí, Pháp Thí là bậc nhất. Nếu là như vậy, in kinh bố thí có cần phải đề xướng, tùy hỷ hay không? (Trương Khánh Chúc hỏi)

 

      Đáp: In kinh tặng người khác, ắt phải dùng tiền. Kinh là Pháp Thí, tiền là Tài Thí. Có đủ hai loại thí, công đức càng to. Đề xướng và tùy hỷ đều là chuyện nên làm.

 

      * Hỏi: Làm như thế nào để niệm chẳng dấy lên? (Lư Vân Tiêu hỏi)

 

      Đáp: Câu hỏi này quá cao, chẳng phải là chuyện của kẻ sơ học. Nay đă hỏi chơi th́ cũng đáp chơi, biết lư suông của nó mà thôi! Một, đoạn sạch vô minh th́ niệm chẳng khởi nữa. Điều này thuộc về vô niệm nơi quả địa, là nghĩa “căn bản bất sanh”. Hai, Thiền, Tịnh, Mật và nhiều pháp môn khác đều là nhiếp vạn quy nhất. Tuy hữu niệm, nhưng nói là một, hay nói là tịnh, tức là có thể thâu tóm loạn niệm thành một niệm, chuyển phàm tâm thành đạo tâm. Điều này thuộc về “niệm mà vô niệm” nơi nhân địa. Loạn quy nhất, phàm chuyển thành đạo, liền có thể lần lượt đoạn diệt vô minh. Tiến lên là chứng vô niệm nơi quả địa. Mong cầu quả th́ nhất định phải cầu nơi nhân.

 

      * Hỏi: V́ sao thế gian khổ như vậy? Nghiệp nhiều như vậy? Nhất là sau khi lạy Phật, càng lạy càng khổ, nghiệp khổ càng lắm? (Triệu Lệ Lượng hỏi)

 

      Đáp: Nỗi khổ trong thế gian do nghiệp lực của chúng sanh tạo thành. Đă tạo nghiệp nhiều, lại do Hoặc vọng của chúng sanh dẫn khởi, Hoặc vọng (vọng tưởng do phiền năo) niệm niệm chẳng ngừng, thân miệng luôn luôn tạo tác, cho nên khổ tăng thêm tầng tầng, chẳng c̣n ngờ chi nữa! Sau khi lạy Phật, cảm thấy khổ nhiều là do đạt được thanh tỉnh (trong lặng, tỉnh giác) đôi chút [nên cảm nhận được]. Trước khi lạy Phật, do đă quen thuộc [với những nỗi khổ], nên thấy chúng giống như đương nhiên, dẫu khổ cũng chẳng cảm nhận được. Chỉ có điều quả khổ ắt phải có nhân trước. Lạy Phật là cái nhân lành, chẳng thể nào có quả khổ, chớ lầm loạn hiểu sai!

 

      * Hỏi: Phật giáo lấy từ bi làm gốc, giáo dục cũng lấy cảm hóa làm nguyên tắc. Các cơ quan giáo dục từng hạ lệnh rơ ràng “chẳng được phạt học sinh”, nhưng nếu gặp đứa ương ngạnh khó dạy, dùng phương cách mềm mỏng vô hiệu, có nên vẫn dùng phương cách “Kim Cang trợn mắt giận dữ” để xử phạt hay không? (Vương Lạc Trí hỏi)

 

      Đáp: Điều tiên sinh vừa hỏi chính là pháp quy của chính phủ. Bất luận Phật pháp viên măn như thế nào đi nữa, chẳng thể để sửa đổi mệnh lệnh của chánh phủ! Phật pháp là nguyên tắc thông trên thấu dưới, c̣n mệnh lệnh của chánh phủ là quyền biến, do thời thế mà định đoạt thích hợp.

 

      * Hỏi: Giáng Sinh mỗi năm rất gần với ngày cuối năm, thiệp Giáng Sinh và thiệp chúc Tết đầy ắp chợ búa. Trẻ nhỏ thường v́ các thiệp ấy thiết kế h́nh ảnh, mẫu mă tinh vi, đẹp đẽ mà thích mua để tặng bạn bè. Tuy là dịp để thương nhân vớ bẫm, nhưng dường như cũng tăng thêm không khí náo nức cho lễ Giáng Sinh. Lại do những ca khúc Giáng Sinh đẹp đẽ, các đĩa hát đầy ắp ngoài chợ (cũng có đĩa do trẻ nhỏ hát). Lại c̣n do giáo đường Thiên Chúa xây cất như rừng, mỗi lần đến dịp Giáng Sinh, trẻ nhỏ đều thích tham dự lễ hội tối Giáng Sinh hoặc các tiết mục đón mừng. Xét về phương diện công tác thu hút trẻ nhỏ, rơ ràng là Phật giáo phải kém hơn một bậc, chẳng biết phải làm như thế nào th́ mới có thể khiến cho trẻ nhỏ vào dịp Phật Đản bèn tràn trề vui sướng, hoặc là phát sanh hứng thú đối với Phật giáo? Kính xin chỉ dạy. (Vương Lạc Trí hỏi)

 

      Đáp: Chuyện do con người làm, pháp có muôn cách biến hóa. Tín đồ Phật giáo số lượng hoàn toàn chẳng ít, nếu chịu phát tâm, sẽ có thể lập cách phù hợp căn cơ, chẳng bắt buộc phải hạn định làm như thế này, như thế nọ. Tiên sinh có chí thực hiện việc này hay không? Chẳng ngại th́ xin hăy đến liên xă đàm luận một phen!

 

      * Hỏi: Cha mẹ và con cháu có thể đồng thời quy y với cùng một vị pháp sư hay không? (Trang Khánh Hiền hỏi)

 

      Đáp: Điều này chẳng trở ngại ǵ! Đừng nói là quy y Tăng đoàn, ngay như chuyện bái sư trong học vấn thế gian, cha con vẫn có thể cùng học một thầy. Đấy là v́ [tiếp nối] cái đạo của thầy, chẳng giống như chuyện thừa kế, kết hôn v.v... ắt phải luận định chín họ, ḍng chiêu, ḍng mục[31]!

 

      * Hỏi: Tượng Phật thờ trong tự viện có khai quang, nhưng tượng Phật được thờ phụng tại gia đại đa số chẳng khai quang, mà là thỉnh từ tiệm bán đồ thờ Phật giáo về, tùy ư đặt lên bàn thờ để thờ phụng, có linh cảm hay chăng? (Trang Khánh Hiền hỏi)

 

      Đáp: Luận theo lư, nhăn quang của Phật há đợi kẻ nào khai? Đó bất quá là một thứ nghi thức nhằm biểu thị Phật bắt đầu ngự đến mà thôi. Tượng thờ trong nhà tuy không qua thủ tục này, cứ an vị, thắp hương, tức là Phật đă giáng lâm, thật sự linh cảm [hay không] là do tấm ḷng, ḷng Thành ắt Phật sẽ ứng.

 

      * Hỏi: Tượng Phật lưu truyền lâu năm trong tự viện, hoặc tượng Phật do tổ tiên truyền lại ở nhà, do đă lâu nên bay màu, hư nát, chẳng tu bổ được, hằng ngày lễ bái có linh cảm hay chăng? (Trang Khánh Hiền hỏi)

 

      Đáp: Pháp Thân của Phật trọn khắp hư không, người có ḷng thành Phật sẽ cảm, thiếu ḷng thành sẽ chẳng cảm được! Đó gọi là “thủy thanh nguyệt lai” (nước trong, trăng in bóng). Tuy lập tượng mới, nhưng thiếu ḷng thành, Phật sẽ chẳng cảm. Tuy bày tượng cũ, nhưng có ḷng thành, Phật liền ứng. Nếu có sức, hăy nên tu bổ, cũng là biểu hiện tấm ḷng thành kính.

 

      * Hỏi: Đệ tử phát sanh nghi vấn đối với chuyện địa ngục chẳng có nơi chốn. Đó có phải là lời phương tiện nhằm răn nhắc chúng sanh trong sự giáo hóa của đức Phật hay không? Địa ngục có phải là ở trong tâm kẻ tội chướng sâu nặng hay không? (Lư Vân Tiêu hỏi)

 

      Đáp: Địa ngục đă có tên gọi, há lẽ nào chẳng có nơi chốn? Đối với căn bản địa ngục, ông có thể tham khảo kinh Địa Tạng Bổn Nguyện. Cô độc địa ngục th́ núi, rừng, đồng trống, chỗ nào cũng đều có, bất quá mắt con người chẳng trông thấy đó thôi! Một, gọi lá úa vàng là hoàng kim, đó là lời phương tiện. C̣n đối với địa ngục bèn nói là địa ngục, làm sao là phương tiện cho được? Hai, chủng tử địa ngục ở trong tâm, địa ngục hiện tướng ở ngoài thân. Nếu trong tâm có chủng tử địa ngục sẽ phải thọ thân trong địa ngục. Có thân ấy sẽ bèn ở trong địa ngục.

 

      * Hỏi: Kinh văn của Tâm Kinh đang nói “vô trí diệc vô đắc”, nhưng bỗng nhiên lại nói “đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”, trước là vô đắc, sau lại là hữu đắc, nên hiểu theo cách nào? (Trương Quân hỏi)

 

      Đáp: Biểu đạt ư nghĩa cao sâu, nhất định phải dùng cách hành văn phức tạp. V́ thế, trong câu văn của kinh điển có Sự, có Lư, Quyền, Thật, Tánh, Tướng v.v... các thứ từ ngữ phân tích. “Vô trí” là nói đến Tánh Đức, nói về Lư. “Đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề” là nói đến Tu Đức, tức là nói về Sự.

 

      * Hỏi: Thích Ca Mâu Ni Phật nhập Niết Bàn có bao nhiêu hạt xá-lợi? (Lâm Chánh Khảo hỏi)

 

      Đáp: [Kinh điển] chỉ nói ba phần, chẳng nói bao nhiêu hạt.   

 

      * Hỏi: Học Phật cần phải qua nhiều năm tháng mới bắt đầu đạt được lợi ích, đệ tử tại gia của Phật v́ muốn kéo dài kiếp sống tàn, v́ ba bữa ăn mà phải tranh đoạt chén cơm bên ngoài, nếu muốn chỗ nào cũng tạo thuận tiện cho người khác th́ đói rét, bệnh tật, tai nạn, tánh mạng của chính ḿnh chẳng giữ được, v́ cớ ǵ học Phật? (Thái Thế Phương hỏi)

 

      Đáp: Học Phật là học theo ngôn hạnh và tấm ḷng của Phật. Tâm và ngôn hạnh của Phật không ǵ chẳng nhằm lợi ích chúng sanh, [khiến cho họ] cùng chứng Niết Bàn, ĺa khổ được vui, trọn chẳng phải là không cho phép mưu sinh. Đối với nghề nghiệp của người tại gia, chỉ những nghề nào chẳng kiếm lợi bằng giết, trộm, dâm, rượu chè v.v... th́ đều là cách sống chánh đáng. Khởi tâm, thốt lời, hành động, chỉ cầu chẳng tổn hại kẻ khác. Bất luận kẻ khác làm như thế nào, chẳng trở ngại hành đạo. Đó gọi là “đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành, tự tịnh ư ḿnh” th́ là học Phật. Đối với công phu bên trong th́ có một pháp Tịnh Độ, chỉ cần có thể trong tâm liên tục niệm Phật, chẳng trở ngại tay chân bận bịu làm việc, có ǵ trở ngại đến nỗi đói rét? Hăy nên biết muôn sự đều là nhân quả, đói rét hay ấm no do nghiệp nhân thiện hay ác trong đời trước mà ra. Nếu nay vẫn giữ tấm ḷng tổn người lợi ḿnh, tương lai sợ rằng không chỉ đói rét, mà ắt c̣n đói lạnh khổ sở dữ dội hơn!

 

      * Hỏi: Các nước Tiểu Thừa Phật giáo ở Đông Nam Á có niệm chú hay không? Trừ đức Thích Tôn ra, họ có phủ nhận sự tồn tại của Phật Di Đà, Phật Dược Sư, Quán Thế Âm, chư Phật, Bồ Tát hay chăng? (Thái Thế Phương hỏi)

 

      Đáp: Tiểu Thừa Phật pháp cũng có thần chú bí mật, chỉ có điều giáo pháp [của Tiểu Thừa] phần nhiều nói về chuyện trong cơi này. C̣n như các cơi hóa độ của Di Đà, Dược Sư, Quán Âm v.v... vị nào có cơi nấy, người học Tiểu Thừa đối với những chuyện này bèn chẳng tu mà thôi.

 

      * Hỏi: Địa vị của Đại Phạm Thiên cao hơn Đế Thích, v́ sao đệ tử Phật cúng dường Đế Thích mà chẳng cúng dường Phạm Thiên? (Thái Thế Phương hỏi)

     

      Đáp: Đối với điều này, trước hết cần phải biết sự khác biệt giữa Cúng Dường và Cận Sự. Chỉ dùng vật phẩm để dâng hiến, thân thể lễ bái, đó gọi là Cúng Dường. Quy y, tín phụng, tu tập đạo của vị ấy th́ gọi là Cận Sự. Là đệ tử Phật, chỉ cận sự đức Phật. Đối với lục đạo, giữ tấm ḷng b́nh đẳng. Nếu tu cúng dường th́ chính là mong được phổ cập. Có kẻ cúng dường Đế Thích th́ đó là chuyện của chính người ấy, trọn chẳng phải là quy định ắt cần phải làm chuyện đó. Lại nữa, Đế Thích thường là ngoại hộ của đức Phật, c̣n Phạm Thiên là ma chướng của đức Phật, nên đó cũng là một nguyên nhân chẳng cúng dường ông ta, nhưng Mật Giáo cũng có cúng dường Phạm Thiên.

     

      * Hỏi: Học nhân có ư định thọ Tam Quy Y, chỉ v́ hoàn cảnh và nhân sự bất tiện, có thể phiền quư xă thay mặt tiến hành thủ tục quy y qua thư từ hay không? (Thái Thế Phương hỏi)

 

      Đáp: Có thể làm thay, xin hăy viết lư lịch đơn giản gởi về.

 

      * Hỏi: Quán Âm Đại Sĩ là người thời nào, xứ nào? Tục danh là Diệu Thiện Công Chúa, có xác thực hay không? (Liêu Thanh Hoa hỏi)

 

      Đáp: Nói gần đây th́ vị Bồ Tát này là người trong thế giới Cực Lạc. Nếu hỏi thời nào th́ bao nhiêu vạn vạn năm trước đă có Ngài rồi. Nói tới Diệu Thiện th́ chính là chuyện tiểu thuyết, trọn chẳng có chuyện ấy!

 

      * Hỏi: Thánh tượng của hai vị Thế Tôn rất khó phân biệt, lại c̣n có thánh tượng của năm vị Bồ Tát Văn Thù, Phổ Hiền, Đại Thế Chí, Địa Tạng, Di Lặc cũng chẳng hiểu rơ, kính xin dạy cho! (Liêu Thanh Hoa hỏi)

 

      Đáp: Trong tay ôm bát là tượng Phật Thích Ca. Trong tay cầm ṭa sen là tượng Phật Di Đà. Ngồi trên sư tử là tượng Văn Thù Bồ Tát. Ngồi trên voi trắng là tượng Phổ Hiền Bồ Tát. Trên đầu có b́nh báu, trong tay cầm hoa sen là tượng Đại Thế Chí Bồ Tát. Đầu đội măo Tỳ Lô, tay cầm bảo châu là tượng Địa Tạng Bồ Tát. Đầu trọc, bụng to, miệng cười toe toét là tượng Di Lặc Bồ Tát.

 

      * Hỏi: Văn bối quy y Tam Bảo đến nay đă được mười tháng, do học thức nông cạn, hủ lậu, Phật học chẳng dễ nhập môn, chẳng biết nên đọc loại sách nào sẽ là khá thích hợp? (Liêu Thanh Hoa hỏi)

     

      Đáp: Trước hết, hăy nên xem các tập sách nhỏ để nhập môn như Kỹ Lộ Chỉ Quy (chỉ lối về nơi ngơ rẽ), Đáo Quang Minh Chi Lộ (đạt đến con đường quang minh), Sơ Cơ Tịnh Nghiệp Chỉ Nam v.v... có lẽ là thích hợp.

 

      * Hỏi: Cư sĩ này đối với cư sĩ khác xưng hô như thế nào? Xin hăy chỉ dạy cách tôn xưng và tự xưng! (Liêu Thanh Hoa hỏi)

     

      Đáp: Khi gọi người khác th́ nếu người già bèn gọi là “lăo cư sĩ”, những người khác th́ gọi là “đại cư sĩ”, hoặc thêm họ vào đằng trước như nói “mỗ cư sĩ” (cư sĩ X....), đều được cả! Khi tự xưng th́ nếu là người già bèn xưng là “hậu học”, những trường hợp khác th́ xưng là “học nhân” cũng được!

 

      * Hỏi: Từng nghe lăo ân sư dạy: “Kinh về Quán Thế Âm Bồ Tát chỉ có phẩm Phổ Môn mới là chân thật, các kinh khác (Cao Vương Kinh, Bạch Y Đại Sĩ Chú v.v...) đều chẳng phải do kim khẩu của đức Phật nói ra”. Nếu chẳng phải là kinh Quán Âm v́ sao Bạch Y Đại Sĩ Chú cũng được chép trong kinh Phật? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

      Đáp: Cao Vương Kinh chú v.v... chẳng được chép trong Đại Tạng, nên chẳng được coi là chánh xác. Chỉ v́ lưu thông đă lâu, phổ biến trong nhân gian, nên các tiệm khắc kinh sách thường khắc kèm thêm vào cuối kinh, đó chính là việc làm của tục nhân vậy!

 

      * Hỏi: Kinh dạy: “Phật tiền, Phật hậu, dĩ cập manh, lung, ám, á... tinh thần thất thường đẳng” (sanh trước Phật, sanh sau Phật, cùng với mù, điếc, ngọng, câm... tinh thần thất thường v.v...) đều chẳng thể tiếp nhận Phật pháp, đều là một trong tám nạn. Nhưng hết thảy súc sanh đều là hạng “các căn chẳng đủ, ngu si, ám muội”, đương nhiên chúng nó cũng chẳng thể tiếp nhận Phật pháp. Nếu như trên đường gặp chúng nó, quán tưởng niệm Tam Quy Y và Phật hiệu cho chúng nó th́ chúng nó có được lợi ích do cảm ứng ḷng từ bi của Phật, Bồ Tát hay không? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

      Đáp: Trong súc sanh đạo chẳng có tổ chức, chẳng có văn hóa, chẳng có cơ hội gặp Phật pháp, mà cũng chẳng có ai thường làm chuyện tuyên truyền trong các loài ấy, chẳng được tâm khai giải thoát, nên gọi là Nạn. Những người chúng được gặp phần lớn phường đồ tể chỉ cốt tham lợi, hoặc là bọn tham ăn tục uống. Gặp được tín đồ Phật giáo phóng sanh, chú nguyện th́ trong ngàn trường hợp chưa được một, cho nên gọi là Nạn. Ông v́ chúng nó niệm Phật, lại c̣n quán tưởng, xét theo ư nghĩa kinh đă dạy, chúng nó sẽ đạt được một phần bảy công đức ấy!

 

      * Hỏi: Có người hỏi: Kinh Kim Cang nói Không, kinh Di Đà nói Có, v́ lẽ nào đức Thế Tôn phải nói nước đôi? (Khoan Tâm hỏi)

 

      Đáp: Sự Lư vốn viên măn, có nhiều mặt, há chỉ phải có hai mặt? Nếu hiểu là “nhiều mặt” th́ Không và Có vốn là Một, đó gọi là “Không tức là Sắc, Sắc tức là Không”. Kinh Kim Cang xiển dương Thể, nên nói Chân Không. Kinh Di Đà giảng về Tướng, biểu thị Diệu Hữu. Phật Di Đà có cơi Tịch Quang, chưa hề chẳng nói đến Thể. Kinh Kim Cang nói “đọa ác đạo, hưởng phước đức”, chưa hề chẳng nói đến Tướng. Diệu Hữu và Chân Không vẫn là “tương tức” (chính là lẫn nhau).

     

      * Hỏi: Kinh dạy: “Quy y Tam Bảo đời sau có thể đảm bảo chẳng bị khổ v́ đọa trong tam ác đạo”. Giả sử có người phát tâm quy y Tam Bảo, đă nêu lên lời thỉnh cầu, nhưng v́ thời gian bó buộc, vẫn chưa chánh thức thọ Tam Quy, chỉ v́ “nhân mạng vô thường bèn ô hô, ai tai”, người ấy đáng đọa trong tam ác đạo, có thể nhờ Phật lực gia bị nhiếp thọ mà khỏi bị đọa lạc hay chăng? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

      Đáp: Vạn pháp duy tâm, tâm chân thành là chủ yếu, h́nh thức là thứ yếu. Nếu người ấy đă phát tâm dũng mănh, Phật bèn xét soi. Tâm lực, Phật lực, hai đằng giao cảm, một hạt giống Phật cứng chắc như Kim Cang, sẽ đạt được lợi ích.

 

      * Hỏi: Thường nghe thầy nói: “Chẳng phát đại tâm, chẳng đắc Chánh Giác”. Các vị đại đệ tử của đức Phật đă được đại sĩ Duy Ma Cật khai thị, ắt phải phát Vô Thượng Bồ Đề tâm, v́ sao đến nay vẫn là La Hán, chẳng đắc Chánh Giác? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

      Đáp: Các vị đại đệ tử của đức Phật tuy hiện tướng La Hán, nhưng bên trong thật ra trọn đủ các đức của Bồ Tát. Nhằm thích hợp khuyên dụ những căn cơ Tiểu Thừa, khơi gọi họ hướng về Đại Thừa, nên thị hiện thân Nhị Thừa, ḥng dễ mượn cớ thỉnh Phật thuyết pháp để độ những kẻ chuộng tiểu pháp. Như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Tu Bồ Đề v.v... trong kinh đều có chép các Ngài được thọ kư thành Phật, trọn chẳng phải vẫn là La Hán.

 

      * Hỏi: Lúc sắp vào tiết Xuân, mua thiệp chúc Tết để chúc tụng bạn bè, do trong tờ thiếp có bốn chữ Thiên Quan Tứ Phước, tôi liền nói “chẳng cần, chẳng cần”, v́ sao chẳng cần? Đệ tử từ khi quy y Tam Bảo đến nay, có duyên duyệt đọc kinh Phật hoặc các nguyệt san Phật giáo, đă hiểu biết, phước do chính ḿnh tu đức mà có, hoặc niệm kinh, niệm Phật, tŕ giới, bố thí, hoằng pháp lợi sanh. V́ thế, quy y Phật lưỡng túc tôn, phước lẫn huệ đều có, chẳng phải do Thiên Quan ban phước, tôi có sai hay không? (Trịnh Quân Hải hỏi)

 

      Đáp: Chuyện này là do thói quen chúc tụng của người đời. Do mỗi dịp Tết nhất, kiêng kỵ sự bất tường nên quen nói những lời lẽ tốt lành, để khỏi bị kẻ khác chán ghét mà thôi, chẳng liên quan đến sự thật. Chẳng đáng để bàn luận!

 

      * Hỏi: Có một lần đi qua cửa nhà người ta, thấy trên cửa có dán một tấm giấy ghi “đại gia b́nh an” (mọi người b́nh an), tôi liền suy nghĩ kỹ càng, trên sự thật phần nhiều là [chuyện ấy] chẳng thể làm được, chỉ có tên gọi đẹp đẽ mà thôi! Nếu mọi người b́nh an, ai nấy cần phải giữ ḷng lành, làm chuyện lành, chẳng mưu hại kẻ khác, cho đến hết thảy chúng sanh, thực hiện lâu ngày chầy tháng th́ mới có thể đạt đến lư tưởng “mọi người b́nh an”. Ngược lại, sẽ là bất an. Đấy là kiến giải ngu si của tôi, xin hăy phê b́nh! (Trịnh Quân Hải hỏi)

 

      Đáp: Điều này cũng có cùng ư nghĩa như trong lời đáp cho câu hỏi thứ nhất, vốn chẳng đáng để chê trách! Phàm phu đầy dẫy triền phược, chưa nghe đại đạo, nên chẳng biết thật tu, chỉ chuộng chúc tụng suông!

 

      * Hỏi: Đệ tử từ khi quy y Tam Bảo, niệm Phật đến nay, do chưa đoạn phiền năo nên chưa thể nhẫn nhục, hoặc thực hiện hạnh “thuận theo chịu đựng trong nghịch cảnh”, nên lúc gặp gỡ tín đồ dị giáo liền bị họ chê cười, chẳng biết đă bao nhiêu lượt! Họ đă chê cười chưa thỏa ḷng, lại c̣n nói châm chọc là tôi thờ lạy ngẫu tượng, lạy cái ǵ mà “nê ba đà đà lạp lạp”... Thoạt đầu, tôi c̣n nhường nhịn họ một chút, chẳng ngờ càng nhường càng tệ. Tôi nghĩ trả đũa họ là hay, sau đấy, gặp phải t́nh cảnh như vậy, tôi bèn t́m chỗ sơ hở của họ để phản bác. Kết quả là bách phát bách trúng, có phải là Tam Bảo gia bị đó chăng? Hiện thời, thái độ của họ đă khác hẳn, cách lễ bái của họ cũng chẳng phải là hay ho ǵ. Nay họ và tôi chạm mặt bèn niệm A Di Đà Phật để kết duyên. Họ luôn dùng câu A Di Đà Phật để kiếm tôi. Đồng thời có những người mới vào viện, họ chưa có tín ngưỡng tôn giáo, thấy những người cũ niệm Phật như thế, những người đó cũng bắt chước niệm Phật theo, tôi nghĩ là chuyện tốt, nhưng họ chẳng đến Phật đường để niệm, mà cứ đùa bỡn đến nỗi tôi khó thể chấp nhận! Chẳng biết phải như thế nào mới nên? Trong số ấy, cũng có kẻ quy y Tam Bảo, chắc là họ cũng đều có thiện căn, chắc cũng có phần sẽ có ngày thành Phật, thành tổ ư? (Trịnh Quân Hải hỏi)

 

      Đáp: Họ là những kẻ đáng thương, chưa nghe đến sự cao cả của đạo Phật nên kiêu căng, ngă mạn, tự cho ḿnh là đúng, kiêu ngạo, khinh người. Nếu đă nghe sự cao cả của đạo Phật, sẽ hổ thẹn, e dè người khác. Tâm lư kiêu mạn, khinh nhục, e dè biến thành ganh ghét, nên họ chẳng khỏi thốt lời châm chọc. Chỉ nên tạm thời để mặc họ. Nếu muốn phát tâm độ chúng sanh, ắt phải hành Lục Độ, Tứ Nhiếp, chẳng kiềm chế, làm chuyện nóng vội, lâu ngày, họ sẽ nh́n thấy mà được cảm hóa.

 

      * Hỏi: Đệ tử thường xuyên đối trước Phật sám hối túc nghiệp, hiện nghiệp, hết thảy nghiệp chướng, nguyện nhất thời tiêu diệt. Sám hối như vậy có khác với cách nhất niệm sám hối của Cao Phong Diệu Tổ hay không? Ngài Diệu Tổ do phát một niệm sám hối, đă thoát khỏi tội ngă mạn trong năm trăm đời, sau đó trở thành nhất đại tông sư. (Trịnh Quân Hải hỏi)

 

      Đáp: Sám hối chia ra Sự sám và Lư sám. Cách thức cư sĩ đă làm thuộc về Sự, cũng nên hiểu rơ ư nghĩa sám hối. Trước hết, chính ḿnh nhất định phải biết bản thân đă phạm sai quấy, đối trước Phật bày tỏ, thề sau này chẳng làm nữa, th́ mới có ứng. Nếu chẳng nghĩ ta sai, tâm niệm chẳng thay đổi, chỉ cầu Phật tiêu tan tội nghiệp ấy, chẳng có lẽ nào! Cách sám của Diệu Tổ chính là từ tâm phát khởi, nên một niệm tương ứng, có thể tiêu trừ nghiệp ấy.

 

      * Hỏi: Người học Phật nên tự độ, độ tha, nhưng đệ tử cảm tưởng thường là dễ độ người khác, chứ đối với người nhà của chính ḿnh, có khi rất khó hóa độ. Xét ra, tiến một, lùi mười, thật sự cảm thấy khó độ. Đây có phải là chính ḿnh công phu chẳng đủ, hay là căn khí của đối phương quá kém cỏi? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

      Đáp: Đây là căn bệnh chung, có một số nguyên nhân:

      - Một, đối với người ngoài kính trọng nhiều, khinh lờn ít, do vậy, [mọi việc] được coi trọng hơn. Đối với người nhà, kính trọng ít, khinh lờn nhiều, cho nên việc ǵ cũng dễ dính vào đùa bỡn.

      - Hai, thế tục trọng khó, khinh dễ. Khó được người ngoài [chỉ bảo], nên có cảm giác trịnh trọng, do người nhà dễ được nên ngược ngạo xem thường!

      - Ba, con người chẳng phải là thánh hiền, ai có thể chẳng có lỗi? Người ngoài ít biết lỗi của chính ta, hoặc có khi chẳng biết, người nhà thấy quá nhiều, hoặc thấy hoàn toàn. Tâm của người đời thường là hễ đă coi trọng người nào bèn tin lời người ấy, đă coi thường người nào bèn xem nhẹ lời kẻ ấy.

      Do vậy, người học Phật nhất định phải cầu “chẳng thẹn với bóng áo”[32] sẽ dễ hóa độ người nhà.

 

      * Hỏi: “Phiền năo tức Bồ Đề” có phải là hễ hiểu rơ phiền năo bèn sẽ có thể phá, lại càng thêm dũng mănh tinh tấn tu đạo, phiền năo có ư nghĩa là giúp đỡ tấn đạo hay không? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

      Đáp: Cũng có thể giải thích như thế! Phiền năo là mê, Bồ Đề là giác. Mê và giác là danh từ đối đăi, có mê th́ mới có giác, có thể hiểu là chúng mang ư nghĩa sanh diệt. Chữ Tức trong câu ấy chính là “ngay lập tức bèn là”, chớ nên chia chẻ để nói. Từ vô tác mà nói, càng nh́n càng thấy tinh vi!

 

      * Hỏi: Phật có đủ ba mươi hai tướng, chẳng biết cổ thánh hiền nhân Trung Quốc có mấy tướng? (Ngô Minh An hỏi)

 

      Đáp: Vua Nghiêu lông mày tám sắc, mắt vua Thuấn có tṛng kép (hai con ngươi), vua Vũ mỗi tai có ba lỗ[33] v.v... đều là các tướng đặc biệt. Đối với chuyện này, sách sử phần nhiều chẳng ghi chép, v́ thế, chúng ta đối với chuyện này thường chẳng để ư.

 

      * Hỏi: Trong bài Dược Sư Tán trong sách Phật Giáo Khóa Tụng có câu “cát tinh cao chiếu...”, vị sư X.... cho câu ấy là từ ngữ thuộc của bọn chiêm tinh, xem tướng ngoại đạo, tự đổi thành “Phật nhật phổ chiếu” (mặt trời Phật chiếu trọn khắp), chẳng biết có được hay không? (Ngô Minh An hỏi)

 

      Đáp: Những bài tán Phật vốn do người đời sau soạn ra, chuyên dùng để tán dương, chẳng giống như kinh điển không thể thay đổi. Câu “cát tinh cao chiếu” trong bài tán Dược Sư vốn là lời lẽ thuận theo thế tục, vị sư X... đổi thành “Phật nhật phổ chiếu” chính là lời lẽ phù hợp Phật giáo khít khao, cũng chẳng có ǵ là không được!

 

      * Hỏi: Hễ là thánh nhân đều dạy kẻ khác hành hiếu, Phật giáo đương nhiên chẳng phải là ngoại lệ, nay anh tôi chẳng đoái hoài lời cha mẹ khuyên nhủ, trốn vào chùa xuất gia, khiến cho song thân ở nhà đau buồn muốn chết, vậy th́ có hợp với hiếu đạo trong Phật giáo hay chăng? (Tiêu Quốc Hùng hỏi)

 

      Đáp: Phật cho phép người xuất gia, theo nguyên tắc phải được cha mẹ cho phép, nhưng cũng có ngoại lệ, sợ rằng lệnh huynh chẳng phải là loại người ấy! Người nương theo bổn nguyện trở lại, hoặc bậc phát đại tâm, một là giáo do ta khởi xướng, hai là thề làm thầy trời người, lập đại pháp từ nhiều kiếp lâu xa, cứu vô biên chúng sanh th́ có thể chẳng được [cha mẹ] cho phép vẫn có thể xuất gia, như Thích Tôn là người như vậy. Nói theo pháp thế gian, theo Nho gia, kết hôn nhất định phải thưa với cha mẹ, nhưng vua Thuấn không thưa tŕnh mà lấy vợ, v́ thưa tŕnh sẽ chẳng lấy được vợ, bèn chẳng có thiên hạ, chẳng thể phụng dưỡng Cổ Tẩu, Tượng xấc láo chẳng được phong làm chư hầu[34]. Do những điều thành tựu của vua Thuấn to lớn, nên ngược lại được xưng tụng là bậc đại hiếu. Nếu chỉ mong chính ḿnh thanh tĩnh, cầu sao một thân sung sướng, hai pháp Phật và Nho đều chẳng chấp thuận. Chỉ thánh nhân là có thể hành quyền, phàm phu chớ nên viện cớ!

 

      * Hỏi: Phật giáo giải thích hiếu đạo như thế nào? Có nghĩa ǵ? Có phải là như Sùng Quốc Công đă nói: “Tế nhi phong, bất như dưỡng chi bạc” (cúng tế mâm cao cỗ đầy, chẳng bằng phụng dưỡng đơn bạc)[35]. (Tiêu Quốc Hùng hỏi)

 

      Đáp: Câu “tế phong, dưỡng bạc” là lời buồn thương, tiếc nuối, chẳng phải là bảo người khác phụng dưỡng [cha mẹ] chẳng cần dồi dào, cúng tế ắt phải làm sơ sài, há có thể dùng câu này để hỏi về đạo hiếu trong nhà Phật? Đức Phật dạy về đạo hiếu, từng bảo: “Một vai gánh cha, một vai gánh mẹ, chẳng tạm bỏ xuống trong chốc lát, cũng khó thể báo đáp [thâm ân] trong muôn một”. Đó là hiếu trong khi [cha mẹ] c̣n sống. Nếu cha mẹ sanh lên trời, Thích Tôn liền thăng thiên thuyết pháp cứu độ. Mẹ đọa làm ngạ quỷ, tôn giả Mục Liên cũng vào quỷ đạo cứu vớt. Cha mẹ đọa địa ngục, Địa Tạng Bồ Tát xuống địa ngục siêu độ. Đó là hiếu sau khi đă khuất. Hiếu của Nho gia là trọn hết ḷng “thận chung truy viễn”, hiếu của nhà Phật chú trọng trong bao kiếp luôn thực hành đền đáp.

 

      * Hỏi: Tụng tŕ Đại Bi thần chú trong đời hiện tại nếu hết thảy sở cầu chẳng được toại nguyện th́ chẳng thể gọi là Đại Bi Tâm Đà La Ni. Chẳng biết những chữ như “hiện tại sanh trung”, “nhất thiết”, “sở cầu” chỉ điều ǵ? (Ngô Minh An hỏi)

 

      Đáp: Là những chuyện hợp lư, hợp t́nh, chẳng vượt ngoài bổn phận, là chuyện hợp với nhân quả, là những chuyện giống như vậy.

 

      * Hỏi: Cúng Ngọ mà chẳng cúng cơm có được hay không? (Phó Đôn Cơ hỏi)

 

      Đáp: Nghi thức khóa tụng cúng Ngọ cũng có đại khoa và tiểu khoa sai khác. Đại khoa thường hành trong điển lễ trọng yếu, hoặc hành vào mùng Một, ngày Rằm. Tiểu khoa th́ hành thường ngày. Trong sách khóa tụng, những pháp ấy đều có chép tường tận. Nếu chẳng thể tụng, cũng nên đem thức ăn cúng dường trước tượng Phật, thắp hương, lễ bái, nhằm trọn hết tâm và lễ của kẻ làm đệ tử vậy!

 

      * Hỏi: Sách Đạt Ma Bảo Truyện chép tiên đào chẳng lớn nhưng bao trùm trời, đất, mặt trời, mặt trăng, núi, sông, điểm nghi vấn là đào không lớn v́ sao có thể bao trùm trời, đất, mặt trời, mặt trăng, núi, sông? (Trần Đăng Phùng hỏi)

 

      Đáp: Người mới học Phật, hăy nên xem những tập sách nhỏ do các vị tăng tục hữu đức, hữu học xưa nay trước tác như Kỹ Lộ Chỉ Quy, Học Phật Thiển Thuyết, Long Thư Tịnh Độ Văn, Phật Pháp Đạo Luận v.v.v... Đă hơi hiểu giáo lư bèn xem những kinh Phật ngắn như Bát Đại Nhân Giác Kinh, Tứ Thập Nhị Chương Kinh, Thập Thiện Nghiệp Đạo Kinh v.v... Đó là đường lối chánh đáng. Đạt Ma Bảo Truyện giống như tiểu thuyết, đọc nó chỉ để tiêu khiển mà thôi!

 

      * Hỏi: Lục Tổ nói: “Người phương Đông tạo nghiệp niệm Phật cầu sanh Tây Phương, người Tây Phương tạo nghiệp niệm Phật văng sanh phương nào?” nghĩa là sao? (Trần Đăng Phùng hỏi)

 

      Đáp: Niệm Phật cầu sanh Tây Phương là giáo huấn trong kinh điển của đức Bổn Sư Thích Tôn, chỉ dạy chúng sanh đường lối chánh đáng để tu hành. C̣n “Tây Phương tạo nghiệp, văng sanh phương nào” là phương tiện của tổ sư nhằm ngăn dứt kẻ sơ học chẳng thể chuyên nhất quán tâm. Mỗi pháp đều có diệu dụng riêng. Kẻ khế hợp Thiền th́ học Thiền, khế hợp Tịnh bèn học Tịnh, chớ nên chấp trước. Kẻ hậu học ngỡ Tổ phá Tịnh, nghịch Phật, đều là hiểu lầm vậy!

 

      * Hỏi: Sách Đạt Ma Bảo Truyện có chép truyện Phật Thích Ca tiếp dẫn con cáo c̣n ở trong thai, v́ sao nó chẳng thể văng sanh Tây Phương? (Trần Đăng Phùng hỏi)

 

      Đáp: Những thứ giống như cuốn Bảo Truyện ấy, tại hạ chẳng hề đọc đến, nội dung như thế nào, nhất loạt chẳng biết, xin tha lỗi khó thể trả lời!

 

      * Hỏi: “Chúng sanh” được nói trong kinh Phật là lục đạo, nhưng loài dế, kiến, côn trùng... vốn chẳng ở trong lục đạo. Xét theo ư nghĩa trong kinh, chúng sanh đều trọn đủ Phật Tánh, nên những động vật ở ngoài lục đạo ắt là chẳng có Phật Tánh, như thế th́ làm sao có thể cứu chúng được? Tôi rất không hiểu rơ! Lại nữa, những sanh vật ở ngoài lục đạo ấy do đâu mà có? Tôi chẳng hiểu rơ quá tŕnh sanh thành cụ thể bởi nhân duyên của chúng! (Lưu Định Nhất hỏi)

 

      Đáp: Chữ “chúng sanh” trong kinh Phật chỉ chung những động vật hữu t́nh hàm thức. Dế, kiến, côn trùng vốn là chúng sanh hàm thức. Nói “lục đạo” là trong vô lượng vô biên chúng sanh, quy nạp lại để phân tích, định ra sáu loại lớn, tức là trời, người, Tu La, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục. Nhưng trong mỗi loại lớn cũng có thiên sai vạn biệt, tẩu thú, phi cầm, loài có vảy, côn trùng v.v... đều thuộc về đường súc sanh. Dế, kiến thuộc về loài côn trùng, tức là súc sanh.

 

Phật Học Vấn Đáp Loại Biên

Phần 8

 



[1] Sở dĩ gọi là “chín núi, tám biển” v́ chính giữa thế giới Sa Bà là núi Tu Di (Sumeru), từ trong ra ngoài là tám lớp núi bao quanh gồm Du Càn Đà La (Yugandhara), Y Sa Đà La (Isadhara), Khư Đề La (Khadiraka), Tô Đạt Lê Xá Na (Sudarśana), Phược Kiệt Noa (Aśvakarna), Tỳ Na Đà La (Vinadhara), Ni Dân Đà La (Nimindhara), và cuối cùng là Thiết Vy (Chước Ca La, Cakravāda). Giữa mỗi hai lớp núi là một biển nước thơm, thường gọi là Hàm Hương Hải Thủy.

[2] Hộ ma (護摩) là phiên âm của chữ Homa, hoặc Havan trong tiếng Phạn, thường được dịch nghĩa là Hỏa Cúng, tức nghi lễ hiến tế trong Mật Tông qua việc đốt các thực phẩm và cúng phẩm. Thông thường vật phẩm để thiêu chủ yếu là các loại dầu có mùi thơm, hương liệu, gỗ thơm v.v... Theo quan điểm của Mật Tông, nghi thức này sẽ thanh tẩy những chướng ngại bên ngoài và phiền năo trong tâm. Pháp Hộ Ma phổ biến nhất là cúng dường Bất Động Minh Vương (Acalanatha). Trong Chân Ngôn Tông Nhật Bản, nghi thức này được cử hành hằng ngày với quy mô nhỏ, và các tu sĩ Mật Tông bắt buộc phải biết cách thức tiến hành nghi lễ này. Thông thường, Chân Ngôn Tông Nhật Bản quy định năm loại Hộ Ma là Tức Tai (tiêu diệt tai ương), Tăng Ích, Điều Phục, Kính Ái và Câu Triệu (mời thỉnh).

[3] Bùa hóa cốt (hóa cốt phù) là một loại bùa của Đạo giáo nhằm chữa trị hóc xương. Loại bùa này có nhiều loại, phổ biến nhất là loại Cửu Long Hóa Cốt, thường viết một chữ Nghê () lớn bọc lấy chín chữ Long ().

Thổ phù (土符)là một trong hai loại bùa thường dùng để trấn yểm, thanh tịnh hóa môi trường, nhưng thổ phù thường dùng nhất trong đám tang để trấn huyệt hoặc mỗi khi cần động thổ xây dựng. Lá bùa này thường viết chữ “phụng sắc ô phượng phá ô uế”.

[4] Cửu diệu (Navagraha) chính là chín ngôi sao hạn mà dân gian thường làm lễ “cúng sao giải hạn” mỗi năm vào tháng Giêng. Khái niệm này được vay mượn từ chiêm tinh cổ Ấn Độ, chín ngôi sao ấy được giới bói toán Trung Hoa gọi là Thái Dương (Surya, mặt trời), Thái Âm (Chandra, mặt trăng), Thủy Diệu (Budha, Thủy Tinh), Vân Hán (Hớn) (Mangala, Hỏa Tinh), Mộc Đức (Brihaspati, Mộc Tinh), Thái Bạch (Shukra, Kim Tinh), Thổ Tú (Shani, Thổ Tinh), La Hầu (Rahu) và Kế Đô (Ketu). Thật ra, La Hầu và Kế Đô không phải là sao mà chỉ là “hư tinh” (tức là hai giao điểm giữa quỹ đạo mặt trăng và đường hoàng đạo). Tại Trung Hoa, giới chiêm tinh lại không dùng khái niệm Cửu Diệu mà lập ra khái niệm Thất Chánh Tứ Dư tức là bảy ngôi tinh tú chánh yếu (mặt trời, mặt trăng, Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) và bốn ngôi hư tinh tức là Tử Khí, Nguyệt Bột, La Hầu và Kế Đô.

[5] Đây là một thành ngữ (nguyên văn là “măi độc hoàn châu -買匵還珠) nhằm chê trách kẻ không biết giá trị, chỉ say mê h́nh thức bề ngoài, chẳng biết đến nội dung, giống như kẻ thích cái rương đẹp nên chỉ lấy rương, trao trả châu báu trong ấy cho người bán.

[6] Đây là những vương quốc cổ ở Tây Vực. Thiện Thiện có tên gọi nguyên thủy là Lâu Lan (Kroran, Kroraina), nằm ở phía Đông Bắc sa mạc Lop, sắc dân chủ yếu là người Tocharian. Vương quốc này đă được lịch sử ghi chép từ thời Hán. Đến năm 77 trước Công Nguyên, đổi tên thành Thiện Thiện (Shanshan). Lâu Lan nằm trên trục lộ giao thông chính từ Đôn Hoàng đến Korla. Đến thời Hán Vũ Đế, do quân Lâu Lan thường tấn công các sứ đoàn và thương đoàn của nhà Hán qua lại Tây Vực nên Lâu Lan bị nhà Hán tấn công, Thiền Vu (vua Lâu Lan) thua trận, phải xưng thần, cống nạp nhà Hán. Dần dần, Lâu Lan suy yếu do nội loạn cũng như do bị các lân quốc tấn công. Vào cuối thế kỷ thứ 4, dưới đời vua Thiện Mễ (Thiện Châu Na) đột nhiên quốc gia Lâu Lan biến mất, dân chúng bỏ đi đâu không rơ, thành phố hoang tàn, chỉ c̣n là một đống phế tích. Cho tới nay điều này vẫn là một bí ẩn chưa t́m được lời giải đáp đối với các nhà khảo cổ. Xa Sa là một quốc gia cổ ở Tây Vực, nay là huyện Xa Sa thuộc khu tự trị Tân Cương (phía nam sa mạc Taklamakan) thuộc lưu vực sông Yarkand. Vương quốc này tồn tại khá ngắn ngủi (từ năm 66 đến năm 89), chỉ truyền được bảy đời vua th́ bị nước Sớ Lặc (Shule) thôn tính dưới đời vua Tế Lê.

[7] A Ngụy (Ferula Assafoetida, Devil’s Dung, Asafetida) chính là Hưng Cừ (Hingu) thường được nói trong Ngũ Tân. Loại thực vật này c̣n có tên gọi là A Ngu, Huân Cừ, Cáp Tích Ni, Vân Đài v.v... vốn có nguồn gốc từ Tây Vực, thân dài, lá mọc thành chùm ba chiếc một, có hoa nhỏ màu vàng, mọc thành chùm, h́nh giống như cái lọng x̣e ra. A Ngụy có mùi hăng nồng mạnh hơn tỏi, thường được dùng làm gia vị, nhất là trong các món ăn của vùng Bengal và Tamil Nadu (Ấn Độ). Phần ăn được là thân và củ. Khi bẻ loại rau này sẽ có chất nhựa trắng chảy ra, đây mới chính là vị A Ngụy (thường bị đọc trại thành A Ngùy) dùng trong Đông Y, được dùng để sát trùng, tiêu thực, chống cảm cúm, suyễn, và viêm phế quản, nhưng phải rất cẩn thận v́ nhựa loại thảo mộc này có chất độc.

[8] Câu Xá Luận Tụng Giảng Kư là tác phẩm ghi lại bài giảng bộ Câu Xá Luận Tụng của pháp sư Diễn Bồi. Câu Xá Luận Tụng gồm sáu trăm bài kệ do ngài Thiên Thân đă căn cứ trên bộ Đại Tỳ Bà Sa Luận mà soạn ra.

[9] Patna là thủ đô của tiểu bang Bihar (Ấn Độ). Thành phố này thường được nhắc đến trong kinh Phật với danh xưng Ba Liên Phất (Pataliputra), tức kinh đô của cổ vương quốc Magadha (Ma Kiệt Đà) dưới các triều đại Haryanka, Nanda, Mauryan, Sunga, Gupta và Pala. Thành phố này nằm phía Nam sông Hằng, ở ngay chỗ hợp lưu của sông Hằng với các sông Sone, Gandak và Punpun. Thành phố này chính là kinh đô mới của vương quốc Ma Kiệt Đà khi vua A Xà Thế muốn t́m một vị trí chiến lược tốt hơn kinh đô cũ là Vương Xá (Rajagrha) để dễ cai trị quốc gia và chống lại bộ tộc Licchavis Vaishali hữu hiệu hơn.

[10] Khâu () là tên húy của Khổng Tử, Trọng Ni là hiệu của Ngài. Do cha Ngài là Thúc Lương Hột (叔梁紇, chữ Hột thường bị đọc trại thành Ngột. Tên ông này là Khổng Ngột, nhưng do tên tự là Thúc Lương nên người đời thường gọi ghép lại thành Thúc Lương Ngột), đă có chín người con gái, tuổi đă cao vẫn chưa có con trai, bèn lấy vợ lẽ, sanh được một trai là Mạnh B́ lại bị tàn tật, bèn lấy bà Nhan Trưng Tại làm vợ ba. Cả hai vợ chồng cầu con tại núi Ni Khâu được như nguyện, nên đặt tên con là Khâu, tên tự là Trọng Ni.

[11] A Nậu Đạt Tŕ (Anavatapta), c̣n phiên là A Na Bà Đạt, c̣n dịch nghĩa là Vô Nhiệt Năo Tŕ, đây là một cái ao hoặc hồ được coi là nằm chính giữa cơi Nam Thiệm Bộ Châu, nằm ở phía nam Hương Sơn, rộng đến tám trăm dặm, là nơi khởi nguồn của bốn ḍng sông. Người ta thường coi A Nậu Đạt Tŕ trong kinh Phật chính là hồ Manasarovar ở núi Kailash trong rặng Himalayas.

[12] Dao Cầm (瑶琴) c̣n gọi là Cổ Cầm, Ngọc Cầm, Huy Cầm, hoặc Thất Huyền Cầm, thường được xưng tụng là Thánh Nhân Chi Khí (nhạc khí của bậc thánh nhân), là một thứ nhạc khí rất cổ, được xếp vào loại Ty (dây tơ) trong Bát Âm của cổ nhạc. Theo truyền thuyết, loại đàn này do vua Phục Hy hoặc vua Thần Nông chế ra. Thân đàn làm bằng gỗ ngô đồng, dài ba thước sáu thốn năm phân (ước chừng từ 1m2 đến 1m3), rộng sáu thốn (ước chừng 20cm), dày hai thốn (6 cm). Thân đàn có hai chỗ eo vào, thoạt đầu chỉ có năm dây, về sau tăng lên bảy dây. Tiếng dao cầm được cổ nhân ca tụng là ưu nhă, thanh thoát, có tác dụng dưỡng thần dưỡng tánh, có thể giao cảm với thánh nhân, nên hầu như giới Nho sĩ đều thích học gảy dao cầm và soạn nhiều cầm khúc. Thậm chí có những khúc đàn được coi là do chính tay Khổng Tử biên soạn.

[13] Ba cân gai là một công án chép trong sách Thiền. Một vị Tăng hỏi ngài Động Sơn Lương Giới: “Phật là ǵ?” Sư trả lời: “Ba cân gai”.

Que cứt khô (can thỉ quyết, 乾屎橛). Đây là một cái thẻ dẹp mỏng dùng để gạt phân, dùng trong nhà vệ sinh, nên thường được dùng để chỉ vật cực ô uế. Theo Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, có vị tăng hỏi ngài Lâm Tế Nghĩa Huyền: “Vô vị chân nhân là ai?” Sư liền đánh, quát: “Vô vị chân nhân là ǵ? Que cứt khô!”

[14] Vương Ngư Dương (1634-1711), tên thật là Sĩ Chân, tên thuở nhỏ là Dự Tôn, tên tự là Di Thượng, hiệu Nguyễn Đ́nh, biệt hiệu là Ngư Dương Sơn Nhân, nên người đời thường gọi ông là Vương Ngư Dương, người xứ Tân Thành, tỉnh Sơn Đông, là văn nhân trứ danh đầu đời Thanh. Ông đỗ Tiến Sĩ trong niên hiệu Khang Hy, làm quan đến chức H́nh Bộ Thượng Thư, đồng thời là một cố vấn thân cận của Khang Hy, trước tác rất phong phú. Các anh em của ông như Vương Sĩ Lục, Vương Sĩ Hỷ, Vương Sĩ Hựu v... đều nổi danh về văn tài. Tác phẩm của Vương Ngư Dương có đến hơn năm trăm thứ, nổi tiếng nhất là Ngư Dương Sơn Nhân Tinh Hoa Lục, Tŕ Bắc Ngẫu Đàm, Phân Cam Dư Thoại, Hương Tổ Bút Kư v.v...

[15] Đây là từ ngữ dùng để gọi các sắc dân sống ở biên cương Trung Hoa. Chữ Khương () chỉ chung các sắc dân sống ở Tây Nam, chứ không thuần túy chỉ sắc tộc Khương hiện thời. Di () là các sắc dân sống ở phía Đông, Hồ () là các sắc dân sống ở vùng Tây Vực, hoặc có nguồn gốc từ Ấn Độ, Ba Tư, A Phú Hăn v.v... Địch () là các sắc dân không phải người Hán sống ở phía Bắc Trung Hoa.

[16] Chúng tôi sử dụng lời dịch của cụ Nguyễn Hiến Lê. Ở đây, không biết do cụ Lư Bỉnh Nam viết sai, hay do người biên tập viết sai. Câu “hốt hề, hốt hề, kỳ trung hữu tinh” đúng ra phải là “yểu hề, minh hề, kỳ trung hữu tinh” (窈兮冥兮,其中有精).

[17] Tử Dương Chân Nhân (987-1082), tên thật là Trương Bá Đoan, tự B́nh Thúc, c̣n có tên là Dụng Thành, hiệu là Tử Dương, c̣n được gọi là Ngộ Chân Tiên Sinh, là đạo sĩ đời Bắc Tống, tổ sư đời thứ nhất của Kim Đan Phái Nam Tông. Ông đề xướng thuyết tu luyện Nội Đan, các tác phẩm Ngộ Chân Thiên, Ngọc Thanh Kim Tứ Thanh Hoa Bí Văn Kim Ngọc Nội Luyện Đan Quyết (thường gọi tắt là Thanh Hoa Bí Văn) do ông biên soạn là những kinh điển chủ yếu trong Kim Đan Phái, chuyên dạy cách thổ nạp, vận khí. Chẳng hiểu ông Âu Dương Mạn đọc những sách này theo kiểu nào mà cho rằng “chỗ nào cũng giảng về Phật”!

[18] Hoàng Long tổ sư chính là ngài Huệ Nam (1002-1069), thuộc đời thứ tám tông Lâm Tế, họ Chương, người Tín Châu (nay thuộc tỉnh Giang Tây), xuất gia tại chùa Quy Tông, đắc pháp nơi ngài Thạch Sương Sở Viên (Từ Minh thiền sư). Về sau, Sư lập ra chi phái Hoàng Long của tông Lâm Tế. Lữ Tổ (Lă Tổ), tên thật là Lă Nham, tự Động Tân, hiệu Thuần Dương Tử, là một trong năm vị Tổ được tôn sùng trong Toàn Chân giáo. Ông học Đạo với Chung Ly Quyền, và được truyền tụng là có nhiều quyền năng, nhiều thành tựu, và thường được các đàn cầu cơ thỉnh vời, cũng như được xếp vào Bát Tiên. Công án Lữ Tổ tham Hoàng Long như sau: Sau khi thành đạo, Lữ Tổ vân du, đi qua núi Hoàng Long bèn vào nghe thử. Thiền sư bảo đại chúng: “Trong chúng có kẻ nghe trộm pháp”. Lữ Tổ đành phải đứng lên, bèn thừa dịp chất vấn Sư: “Trong một hạt lúa chứa thế giới, trong cái nồi nửa thăng nấu núi sông, hăy nói xem ư chỉ thế nào?” Sư trả lời: “Quỷ giữ thây chết”. Lữ Tổ vặn: “Thế trong túi có thuốc trường sanh th́ sao?” Sư dạy: “Dẫu trải qua tám muôn kiếp, cuối cùng cũng là không vong”.

[19] Đây là một câu nói trong sách Mạnh Tử, thiên Ly Lâu Hạ, nguyên văn: “Chư Tử viết: Vương sử nhân khán phu tử, quả hữu dĩ dị ư nhân hồ? Mạnh Tử viết: Hà dĩ dị ư nhân tai? Nghiêu, Thuấn dữ nhân đồng nhĩ” (Chư Tử nói: “Nhà vua (vua Tề) sai người đến quan sát phu tử, xem Ngài có ǵ thật sự khác với người ta hay không?” Mạnh Tử trả lời: “Có ǵ khác với người ta ư? Nghiêu và Thuấn chẳng khác ǵ người b́nh thường!)

[20] Đây cũng là một câu khác trong thiên Ly Lâu sách Mạnh Tử: “Thuấn nhân dă, ngă diệc nhân dă. Thuấn vi pháp ư thiên hạ khả truyền ư hậu thế, ngă do vị miễn vi hương nhân dă, thị tắc khả ưu dă” (Thuấn là người, ta cũng là người, Thuấn có thể lập pháp cho thiên hạ, truyền đến hậu thế, mà ta vẫn là một kẻ tầm thường trong chốn làng quê, đó là điều đáng lo vậy).

[21] Kham Dư (堪輿) là tên gọi khác của Phong Thủy Địa Lư. Kham có nghĩa là cuộc đất nổi cao lên, Dư có nghĩa là nghiên cứu, xem xét. Có người như Hứa Thận chủ trương: “Kham là thiên đạo, Dư là nhân đạo”. Như vậy Kham Dư chính là miêu tả, quan sát cuộc đất. Từ ngữ này thoạt đầu không có nghĩa là Phong Thủy. Theo Sử Kư, Kham Dư là những người chuyên quan sát tinh tú, h́nh thể núi sông nhằm phục vụ cho việc quy hoạch thủy lợi, nông nghiệp, cũng như lịch pháp. Sau này, thuyết Phong Thủy thành lập và các nhà xem Phong Thủy tự xưng là Kham Dư gia.

[22] Hai chữ này có âm Hán Việt giống hệt nhau, nhưng âm Quan Thoại rất khác. đọc là Chī (hơi giống chữ Chư trong tiếng Việt), c̣n đọc là Xī (đọc như âm Xi trong tiếng Việt).

[23] Lăo Mẫu là tên gọi tắt của Vô Cực Lăo Mẫu, c̣n gọi là Vô Sanh Lăo Mẫu, Vô Cực Thiên Mẫu, Vô Cực Thánh Tổ, hoặc Minh Minh Thượng Đế. Các tà giáo quan niệm Vô Sanh Lăo Mẫu là đấng sáng tạo ra muôn loài, kể cả vũ trụ, chư Phật, Bồ Tát, Thượng Đế, các giáo chủ tôn giáo đều do Vô Sanh Lăo Mẫu tạo ra. Danh hiệu này do La Thanh (sáng tổ La Giáo) tạo ra nhằm thu hút tín đồ để thay thế cho các danh từ đă cũ của Đạo Giáo như Hồng Quân Lăo Tổ, Địa Mẫu, Diêu Tŕ Kim Mẫu v.v... Các tàn dư của Bạch Liên Giáo đă vay trộn lung tung tín ngưỡng dân gian, các thuyết trong Đạo giáo và cóp nhặt xuyên tạc những thuật ngữ trong Phật giáo để tạo thành các giáo mới như La Giáo, Tây Đại Thừa Giáo, Kê Túc Sơn Đại Thừa Giáo, Trai Giáo, Long Hoa Trai Giáo, Văn Hương Giáo, Thiên Lư Giáo, Nhất Quán Đạo, Thiên Đạo v.v... Tuy tên gọi khác nhau, họ đều sùng bái Vô Cực Lăo Mẫu, tịnh tọa, luyện đan, vận khí, cầu cơ.

[24] “Đại danh đỉnh đỉnh” (大名鼎鼎), hoặc c̣n gọi là “hách hách hữu danh” (赫赫有名), đều là những thành ngữ người có tiếng tăm rất lớn, rất phổ biến, rất hiển hách.

[25] Hiên Viên Hoàng Đế được coi là thủy tổ của dân tộc Hán. Sách Sử Kư chép ông họ Công Tôn, tên là Hiên Viên, nhưng sách Quốc Ngữ lại bảo do Hoàng Đế trưởng thành bên sông Cơ Thủy nên phải là họ Cơ. Thôi Thuật cho rằng Công Tôn chỉ có nghĩa là con của chư hầu, nên chẳng phải là họ. Công Tôn chỉ trở thành họ về sau này. Do ông ta sống ở g̣ Hiên Viên nên gọi là Hiên Viên Thị, tên nước là Hữu Hùng; do vậy, c̣n gọi là Hữu Hùng Thị hoặc Đế Hồng Thị. Sách Sử Kư ghi Hoàng Đế là con của Thiếu Điển, nhưng các sử gia sau đó vẫn tranh luận về mức độ chánh xác của điều này. Hoàng Đế kết liên với Viêm Đế, đánh bại Xi Vưu (thủ lănh của Miêu tộc), thống nhất Trung Nguyên, nên được tôn là Cộng Chủ. Để xác lập uy quyền, Hoàng Đế lên Thái Sơn tế trời, cử hành lễ Phong Thiền. Theo truyền thuyết, trong khi tế trời, lưng trời hiện ra hai con vật sắc vàng óng nên người ta lấy đức của đất là màu vàng để tôn danh hiệu cho ông, v́ thế gọi là Hoàng Đế.

[26] Phục Thánh là mỹ hiệu cho người đời sau đặt cho Nhan Hồi. Ông tên thật là Hồi, tên tự là Tử Uyên, nên thường được gọi là Nhan Uyên. Ông được xếp vào Tứ Phối (Tứ Phối là bốn đại đệ tử (chính thức hay gián tiếp) được coi là người đệ tử chân truyền của Khổng Tử, đă tiếp nhận toàn bộ giáo pháp của thầy, tức Phục Thánh Nhan Hồi, Tông Thánh Tăng Sâm, Thuật Thánh Khổng Cấp và Á Thánh Mạnh Kha). Nhan Hồi c̣n được coi là người đứng đầu Thất Thập Nhị Hiền (bảy mươi hai môn đệ xuất sắc của Khổng Tử). Ông c̣n được gọi là Duyện Công do Đường Huyền Tông phong tặng tước hiệu này, nên đôi khi sử sách vẫn gọi gộp chung là Duyện Quốc Phục Thánh Công.

[27] “Truy viễn” nghĩa là tưởng nhớ tới tổ tiên, người đă khuất. Chữ này xuất phát từ một câu nói của Tăng Tử trong thiên Học Nhi sách Luận Ngữ: “Thận chung truy viễn, dân đức quy hậu hỹ”. Trong Tứ Thư Bạch Thoại Giải, câu này được giảng như sau: “Khi cha mẹ đă mất bèn chôn cất cẩn thận, tiến hành tang ma đúng lễ, cư tang giữ hiếu. Dẫu cha mẹ, tổ tiên đă khuất từ lâu, vẫn luôn tưởng nhớ. Làm như thế th́ đạo đức phong tục sẽ ngày càng trở nên thuần hậu, tốt đẹp hơn”.

[28] Mân Nam (閩南) là từ ngữ chỉ chung phía Nam tỉnh Phước Kiến (do Phước Kiến thường gọi là đất Mân, hoặc Mân Việt), đặc biệt là vùng duyên hải thuộc eo biển Đài Loan. Thông thường, Mân Nam bao gồm các huyện thị Chương Châu, Tuyền Châu, Hạ Môn, đôi khi bao gồm cả vùng Bồ Điền, hoặc mở rộng đến lưu vực các sông Cửu Long Giang và Tấn Giang. Tiếng Đài Loan chính là tiếng Phước Kiến giọng Mân Nam, đặc biệt là vùng Tuyền Châu, pha trộn với giọng của người Khách Gia (Hakka, người Hẹ).

[29] Đây là một tục lệ mê tín, xuất phát từ ngụy kinh Thọ Sanh. Theo kinh ấy, vào năm thứ mười ba niên hiệu Trinh Quán đời Đường, ngài Huyền Trang đă thâu thập được kinh Thọ Sanh trên đường sang Thiên Trúc thỉnh kinh. Kinh dạy mỗi chúng sanh trong cơi Diêm Phù Đề thọ sanh trong cơi này đều thiếu tiền đầu thai ở chốn âm phủ. Do vậy, phải đốt tiền Thọ Sanh để trả nợ (việc này gọi là “hoàn khố thọ sanh”). Nếu không làm, sẽ gặp mười tám thứ tai ách. Theo các nhà nghiên cứu, bản kinh này vốn có tên là Thái Thượng Lăo Quân Thuyết Ngũ Đấu Kim Chương Thọ Sanh Kinh của Đạo giáo, về sau, các tà sư đă đổi tên thành Phật Thuyết Thọ Sanh Kinh cũng như bịa chuyện bản kinh này do ngài Huyền Trang đem về Trung Hoa. Theo niềm tin đó, người đốt tiền thọ sanh phải tụng chú Thọ Sanh như sau “thiên la chú, địa la chú, nhật nguyệt hoàng la chú, nhất thiết oán gia ly ngă thân, Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật”. Họ quy định tùy theo mỗi tuổi mà thiếu nợ bao nhiêu tiền, chẳng hạn tuổi Tân Sửu thiếu nợ mười một vạn quan, phải tụng ba mươi bảy vạn biến kinh Thọ Sanh, đồng thời cúng vào kho do viên quan họ Cát quản lư. Mỗi tờ tiền thọ sanh là một quan. Các đạo sĩ, thậm chí các “tụng kinh đoàn” ở Đài Loan, Hương Cảng, Mă Lai v.v... và một số tự viện thường có những nghi thức rườm rà để tụng kinh Thọ Sanh và đốt tiền. Hủ tục này cũng du nhập vào Việt Nam và khá thịnh hành tại miền Bắc.

[30] Đây là một thứ mê tín phổ biến ở vùng Hoa Nam. Người ta tin rằng người mới chết sẽ được Sảnh Thần (眚神: quỷ dẫn hồn trong cơi âm) dẫn về thăm nhà trong thất đầu tiên. Tang chủ phải nhờ các đạo sĩ tính toán chính xác ngày giờ để trấn yểm, cầu cúng, kẻo bị bắt theo (giống như niềm tin “thần trùng” ở Việt Nam). Trong hôm đó, những người kỵ tuổi hoặc hợp tuổi với người chết đều phải lánh mặt hoặc bỏ đi xa. Người ta c̣n đồn đại: Nếu rải tro trong pḥng đặt bàn thờ người chết, sẽ thấy dấu chân người chết in trên tro. Tùy theo người ấy tuổi ǵ, sẽ có dấu chân của con vật ấy in dấu trên tro. Chẳng hiểu nếu người chết tuổi Rồng th́ dấu chân Rồng sẽ giống như thế nào?

[31] “Chiêu mục” là từ ngữ phiếm chỉ ḍng họ, chi tộc. Nói chi tiết, Chiêu Mục là quy định về cách xếp đặt bài vị hoặc mộ địa theo chế độ “tông pháp” thời cổ. Trong từ đường, bài vị của Thỉ Tổ đặt chính giữa, bài vị của các vị tổ thuộc đời thứ hai, đời thứ tư, đời thứ sáu đặt ở bên trái, gọi là Chiêu, bài vị của đời thứ ba, đời thứ năm, đời thứ bảy, được đặt ở bên phải, gọi là Mục. Mộ phần trong nghĩa trang chung của ḍng họ cũng được xếp đặt như vậy. Điều này được mở rộng ra thành vị trí đứng trong từ đường hoặc đàn tế. Chương Tế Thống trong Lễ Kư chép: “Phàm tế lễ có phân định Chiêu và Mục để phân biệt cha con, xa gần, lớn nhỏ, thân sơ cho khỏi rối loạn”. Cửu Tộc là từ ngữ phiếm chỉ họ hàng, thân thuộc. Có nhiều cách hiểu chữ Cửu Tộc. Thông thường nhất là cách giải thích như sau: Bốn họ bên cha, ba họ bên mẹ và hai họ bên vợ. Bốn họ bên cha tức là chú bác và con cái của họ (ông nội và các anh em của ông nội cũng được tính gộp vào đây), các cô và con cái của họ, anh chị em ruột của chính ḿnh và các con của họ, con cái của chính ḿnh (kể cả con rể, con dâu, cháu nội, cháu ngoại). Ba họ bên mẹ là họ bên ông ngoại (bao gồm cả các anh em, chị em của ông ngoại), họ bên bà ngoại (bao gồm cả anh chị em ruột thịt của bà ngoại), và các cậu, các d́ (kể cả vợ chồng con cái của họ). Hai họ bên vợ bao gồm bố mẹ vợ). Cách tính này thường được áp dụng khi có người phạm tội bị triều định phán án “tru di cửu tộc”.

[32] Đây là một thành ngữ, “khâm ảnh vô quư” hoặc “bất tàm khâm ảnh”, có nghĩa là luôn dè dặt, cẩn trọng trong mọi hành động, dù ngay trong lúc riêng tư, đơn độc, vẫn chẳng có hành vi nào đáng hổ thẹn. Thành ngữ này phát xuất từ câu nói của Lưu Trú đời Bắc Tề được chép trong sách Tân Luận: “Độc lập bất tàm ảnh, độc tẩm bất quư khâm” (đứng một ḿnh chẳng thẹn với bóng của ḿnh, ngủ một ḿnh chẳng xấu hổ với cái áo).

[33] Đây là một dị tướng. Sách Hoài Nam Tử chép: “Vũ nhĩ tam lậu, thị vị đại thông” (vua Vũ mỗi tai có ba lỗ, nên thông hiểu to lớn). Cao Dụ chú giải: “Tam là ba, Lậu là lỗ tai”.

[34] Vua Thuấn có tên là Trùng Hoa (cổ thư thường giải thích do mỗi mắt của ông có hai con ngươi (trùng đồng), nên gọi là Trùng Hoa), sanh ở Diêu Khư nên lấy họ là Diêu, đóng đô tại Bồ Bản (nay là Vĩnh Tế, tỉnh Sơn Tây). Do quốc hiệu là Hữu Ngu, nên thường được gọi là Hữu Ngu Thị Đế Thuấn. Ông là cháu đời thứ bảy của vua Chuyên Húc, nhưng đến đời ông gia cảnh sa sút, nghèo hèn. Cha là Cổ Tẩu (đây có lẽ chẳng phải là tên thật, v́ Cổ Tẩu có nghĩa là ông già mù), tính t́nh hung bạo, thường đánh đập phũ phàng. Do mẹ vua Thuấn mất sớm, nên Cổ Tẩu lấy vợ kế, sanh được một trai là Tượng. Tượng và mẹ kế thường t́m đủ mọi cách hành hạ, hăm hại, nhiều lần toan giết chết vua Thuấn khi c̣n hàn vi. Năm ba mươi tuổi, do vua Thuấn nổi tiếng hiền nhân khắp thiên hạ, vua Nghiêu liền cho vời đến gặp mặt, hỏi chuyện, rất vừa ư, bèn gả con gái là Nga Hoàng và Nữ Anh cho Thuấn và nhường ngôi. Đạo Giáo tôn xưng vua Thuấn là Địa Quan Đại Đế, cùng với Thiên Quan Đại Đế (vua Nghiêu), và Thủy Quan Đại Đế (vua Vũ), hợp thành Tam Quan Đại Đế, ứng với ba ngày Rằm lớn trong năm. Sở dĩ ông được tôn là Địa Quan v́ lúc hàn vi, vua Thuấn thường cày cấy, đánh cá, làm đồ gốm, buôn bán lặt vặt để mưu sinh. Liễu Di Trưng khi viết Trung Quốc Thương Nghiệp Sử c̣n tôn vua Thuấn là tỵ tổ của các nhà thương nghiệp.

[35] Đây là lời trích từ bài Lang Cương Thiên Biểu của Âu Dương Tu. Âu Dương Tu viết bài biểu này để khắc trên bia mộ cha, nhằm diễn tả nỗi ḷng đau đớn của người con v́ cha đă mất sớm (Âu Dương Tu mồ côi cha lúc mới bốn tuổi), Sùng Công là tước hiệu được triều đ́nh truy tặng cho cha Âu Dương Tu. Bài biểu này được viết khi ông dời linh cữu mẹ về hợp táng với cha tại Lang Cương. Bài biểu này có tên gọi ban đầu là Tiên Quân Mộ Biểu, về sau mới đổi thành Lang Cương Thiên Biểu.