Phật Học
Vấn Đáp Loại Biên
佛學問答類編
Phần
8
Lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam giải
đáp
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
(theo bản in của Lư Bỉnh Nam Lăo
Cư Sĩ Toàn Tập Biên Tập Ủy Viên Hội, Đài
Loan, 2007)
Giảo chánh: Đức Phong và Huệ
Trang
* Hỏi: Do kinh A Di Đà chép: “Tùng thị Tây Phương....
danh viết Cực Lạc” (từ Tây Phương
của cơi này.... tên là Cực Lạc), nên biết thế giới
Cực Lạc ở phía Tây, song song với thế giới
này, như thế th́ chẳng phải là nói thế giới
Cực Lạc cũng thuộc trong phạm vi tam giới
ư? “Tam giới như nhà
lửa”, há riêng Cực Lạc chẳng thuộc vào
lệ ấy hay sao? (Hồ
Chánh Lâm hỏi)
Đáp: Chớ nên đọc và
hiểu lệch lạc như thế. Do nói nông cạn cho
dễ hiểu nên bảo là “vượt
trỗi ngoài tam giới, chẳng trụ trong lục
đạo”, chứ ư nghĩa chân thật là “chứng
đắc Vô Sanh, tức là vượt trỗi, do duyên chẳng
c̣n bị trói buộc bởi trần duyên trong tam giới này”.
Ở đây, do dễ hiểu mà nói “tam giới”, cư
sĩ chỉ biết thế giới Sa Bà có phạm vi
“dưới là từ Phong Luân, trên đến trời
Tứ Không Thiên”. Đó chỉ là theo chiều dọc, chẳng
biết theo chiều ngang c̣n có chín núi, tám biển[1].
Ở phía ngoài tầng núi thứ chín tức là núi Thiết
Vy bèn chẳng c̣n thuộc vào thế giới Sa Bà nữa. Do
cấu trúc của thế giới Sa Bà là như thế,
[vượt qua] mười vạn ức [cơi Phật]
về phương Tây mới đến Cực Lạc. V́
thế, cơi ấy đă vượt khỏi Sa Bà xa thăm
thẳm. Thế nhưng, phạm vi của mỗi thế
giới cũng là giả định, do trong hư không
thế giới vô tận, nên vạch ra tiêu chuẩn ḥng
dễ nói đó thôi! Như nước ta chia thành bao nhiêu
tỉnh, tất nhiên là do con người hoạch
định, trọn chẳng do thiên nhiên tạo thành như
vậy.
* Hỏi: Có phải là Ca
Diếp Phật cũng giáng sanh tại Ấn Độ?
Nếu không, cớ sao Ngài có cùng tên hiệu với những
vị như tôn giả Ca Diếp? (Hồ Chánh Lâm hỏi)
Đáp: [Điều này] đă
được chép trong kinh, Ngài cũng sanh tại Ấn
Độ.
* Hỏi: Tam thiên đại
thiên thế giới là nói theo chiều dọc, trên
đến trời Tứ Thiền làm hạn, nhưng phía
trên Tứ Thiền Thiên là Vô Sắc Giới Thiên lại
thuộc vào thế giới nào? (Hồ
Chánh Lâm hỏi)
Đáp: Vô Sắc [Giới Thiên]
cũng thuộc vào đại thiên này, do [chư thiên trong
các tầng trời ấy] chẳng có h́nh sắc, nên [kinh
điển] lược đi [không nhắc tới].
Nếu kể gộp vào trong đó th́ cũng chẳng
phải là không được!
* Hỏi: Có người hỏi
tôi một câu về danh từ Phật học “định nghiệp chẳng
thể chuyển”. Nếu định nghiệp đă là
chẳng thể chuyển, cớ sao lại bảo “học
Phật có thể tiêu tai, miễn nạn, thêm phước,
tăng thọ”? (Khoan Trạm
hỏi)
Đáp: Chữ “nghiệp” có ư
nói “tạo ra cái nhân”. Trước hết là do tiếp xúc
Trần bèn khởi Hoặc, trải qua những giai
đoạn tác ư (suy nghĩ, dấy lên ư niệm), so đo
và thực hiện, cuối cùng là hoàn thành. Do năm
bước liên tục ấy mà cái nhân được thành
tựu, nên gọi là “định nghiệp”. Nhân đă thành
tựu, nếu mong thay đổi nó, sẽ chẳng
thể được, [nên bảo là “định nghiệp
chẳng thể chuyển”]. Như quả dưa do có các
mối quan hệ, bên trong ruột quả dưa bèn kết
thành hạt. Hạt ấy chính là nghiệp nhân để
sanh ra dưa trong tương lai. Nếu muốn tự do
biến đổi hạt giống đă kết thành th́ cũng
chẳng thể được! Điều ấy gọi
là “định nghiệp
chẳng thể chuyển!” Đă có cái nhân ấy,
gặp duyên, nhất định sẽ kết quả,
điều này được gọi là “nhân quả chẳng sai sót”. Đối với
những điều vừa nói trên đây, cũng chỉ có
hạng phàm phu lè tè sát đất là bị câu thúc.
Người học Phật cũng tạo nghiệp nhân, nhưng
cái được tạo là nghiệp nhân Phật. Trong khi
chẳng ngừng tạo nghiệp nhân Phật, những
nghiệp nhân phàm phu đă tạo trước kia do chẳng
gặp duyên nên chẳng thể kết quả, bất quá
[những nhân ấy] chẳng mất mà thôi. Thế
nhưng, nghiệp phàm phu như băng, nghiệp nhân
Phật như mặt trời, lâu dần sẽ có thể
tiêu tan. [V́ thế], đối với lư “học Phật có
thể tiêu tai, miễn nạn”, hai đằng chẳng mâu
thuẫn. Há chẳng nghe “khi
tội khởi lên, đem tâm sám. Khi tâm đă mất,
tội cũng tiêu”. Há lại chẳng nghe mấy câu
như “tâm có thể tạo
nghiệp, tâm có thể chuyển nghiệp” ư?
* Hỏi: Chứng Tứ
Quả A La Hán bèn đắc sáu thứ thần thông, trong
đó, Thần Túc Thông lên thiên đường, xuống
địa ngục và tới các cơi nước khác, tự
do phi hành tự tại. Chẳng biết là đi bằng
thần thức hay là thân phàm phu có thể đến đó?
(Khoan Trạm hỏi)
Đáp: Cả hai thứ
đều có thể đến đi tự tại vô
ngại.
* Hỏi: Trong hội Pháp Hoa,
đức Thích Ca Thế Tôn giới thiệu cho chúng sanh
biết rơ Quán Thế Âm Bồ Tát là bậc “tầm thanh
cứu khổ, có cầu ắt ứng”, nhưng những
chúng sanh trước thời đức Thế Tôn làm sao
biết đến Quán Thế Âm Bồ Tát để lễ
bái? (Khoan Trạm hỏi)
Đáp: Trước thời
đức Thế Tôn, chúng sanh c̣n chẳng biết có Tam
Bảo, làm sao có thể biết lễ bái Quán Âm Bồ Tát?
* Hỏi: Nghe nói thăng lên cơi
trời là “thụ siêu” (vượt thoát theo chiều
dọc), Tịnh Độ là “hoành siêu” (vượt thoát
theo chiều ngang). Xét theo lư luận, sanh lên trời khó
hơn sanh về Tịnh Độ, cớ sao chẳng
phải là ai nấy đều tu pháp môn Niệm Phật
để cầu sanh về Tây? (Chiêm
Kim Chi hỏi)
Đáp: Thăng thiên chỉ là
từ nhân thiện đạo tiến nhập thiên
thiện đạo, bất quá vẫn ở trong lục
đạo, nhưng thăng lên, chẳng đọa
xuống đó thôi, trọn chẳng thể gọi là
“thụ siêu”! “Siêu” có nghĩa là vượt thoát luân hồi.
“Thụ siêu” là nói đến người tu Tiểu
Thừa, từ Nhất Quả siêu lên Nhị Quả, cho
đến Đệ Tứ Quả, bèn thành A La Hán, hoặc
người tu Đại Thừa từ Thập Trụ
siêu lên Thập Hạnh, cho đến Đệ Thập
Địa, trở thành Đẳng Giác, tức là bậc
Hậu Chứng Phật. Cách này ắt cần phải
tiến từ từ theo thứ tự, trải qua ức
vạn năm tháng th́ mới có thể hoàn thành.
Người hoành siêu chẳng cần phải trải qua
thứ lớp và năm tháng dài lâu như vậy, ngay trong một
đời liền có thể văng sanh Tây Phương,
nhảy ra khỏi luân hồi. Kẻ chẳng tu [pháp môn
Tịnh Độ] là v́ họ chẳng thể liễu
giải lư sâu của pháp môn ấy, cho nên phần nhiều
chẳng chịu tin tưởng.
* Hỏi: Các kinh đều do
chính miệng đức Phật nói ra. Phàm những ai tin
Phật, học Phật đều là đệ tử
Phật, v́ sao trong nội bộ lại thường chia
thành các phái là do đạo lư nào? (Chiêm
Kim Chi hỏi)
Đáp: Chúng sanh mê hoặc
như bệnh, Phật pháp như thuốc. Do bệnh có tám
vạn bốn ngàn loại, nên thuốc cũng có tám vạn
bốn ngàn thứ. Mỗi loại thuốc trị một
căn bệnh, đó là ư nghĩa v́ sao Phật pháp có
nhiều loại. Đối với cách tu, chúng sanh chỉ
có thể chọn lấy một pháp khế
cơ để chuyên tu. Do pháp tu của mọi
người khác nhau, nên nh́n vào h́nh tướng dường
như là phân chia tông phái, thật ra, “trở về
nguồn trọn chẳng có hai đường!” Nhưng
chúng sanh thời Mạt Pháp, Ngă Chấp và Pháp Chấp
đặc biệt kiên cố, v́ lẽ đó, khuấy
động ư kiến ầm ĩ, giữa đồng môn
với nhau dần dần trở thành như nước
với lửa!
* Hỏi: Tôi đọc bài Quy
Khứ Lai Từ trong báo Bồ Đề Thụ số ba
mươi bốn, thấy trong ấy nói đến
“mười phương cơi Phật”, những cơi Phật
ấy do vị Phật nào cư trụ? (Chiêm Kim Chi hỏi)
Đáp: Các cơi Phật trong
mười phương vô lượng vô biên, Phật
cũng nhiều như số cát sông Hằng, làm sao có
thể nêu tên trọn hết? Bọn ta là tín đồ
của Tịnh Tông, kinh nhật tụng là kinh A Di Đà,
trong ấy có kể tên sáu phương Phật, chẳng
phải là hết sức rơ rệt ư? Biết được
một điều, sẽ có thể suy ra những
điều c̣n lại!
* Hỏi: Trong rất nhiều
ngôi chùa Phật thường chèo kéo [tín đồ] tham gia
lạy Bắc Đẩu Tinh Quân này nọ để gia
đ́nh được b́nh an, chẳng biết đấy
có phải cũng là giáo pháp do đức Thế Tôn lập
ra hay không? (Chiêm Kim Chi hỏi)
Đáp: Phương Tây (Thiên Trúc) vốn
có Bà La Môn giáo, họ tin tưởng Bắc Đẩu Diên
Mạng Kinh, kinh ấy từng được truyền
đến Trung Quốc vào đời Đường,
nhưng các chùa Phật đều chẳng hành. Hơn
nữa, Mật Tông có pháp Bắc Đẩu Hộ Ma[2]
nhưng đă thất truyền từ lâu. Ngày nay, các chùa
lạy Bắc Đẩu đều là pháp của
Đạo giáo, trọn chẳng có mảy may liên quan ǵ
đến đức Phật!
* Hỏi: Tôi từng nghe nói vào
ngày thánh đản vua Diêm La, trong chùa cũng kính cẩn
thiết lễ cúng bái, dường như chuyện này là
đi vào ngơ rẽ phức tạp khó phân, phải làm sao
để [khuyên bảo tăng chúng] quy túc [nẻo chánh]? (Chiêm Kim Chi hỏi)
Đáp: Người như
vậy trong tâm vốn chẳng có ư niệm mong cầu quy
túc, chẳng qua náo nhiệt một hôm bèn coi như xong ngày
hôm ấy, có đáng để trách móc ư?
*
Hỏi: Tự quy y Phật, chẳng quy y thiên ma, ngoại
đạo, nhưng những thứ như bùa an thai, bùa hóa
cốt[3],
thổ phù v.v... cứu người rất nhiều,
chẳng biết có thể dùng những thứ ấy
để cứu người hay không? (Lại Trần Cát hỏi)
Đáp: Những thứ như
bùa an thai v.v... đều là huyễn thuật của ngoại
đạo, chẳng cần biết
hữu hiệu hay không, tín đồ nhà Phật hễ dùng
đến đều gây trở ngại cho chánh niệm.
Trong nhà Phật, Di Đà vạn đức hồng danh có
thể tiêu tan nghiệp nặng, Quán Âm từ bi tầm thanh
cứu khổ, chú Dược Sư Như Lai có thể
trị vạn bệnh. Nếu chịu phát tâm cứu
trị người bệnh, tùy ḷng chọn lấy một
trong các pháp được nêu ra trên đây để
dụng công tu tập ḥng thành tựu một pháp th́ đă
cứu được sắc thân của người ta, mà
c̣n có thể khuyên nhủ họ theo đạo Phật,
cũng như có thể trưởng dưỡng huệ
mạng của chính ḿnh. Nhất cử tam thiện vậy!
* Hỏi: Tôi tra trong kinh Kim Cang
do Thụy Thành Thư Cục xuất bản, trang
đầu chỉ ghi những chữ như “bản in đầu tiên vào tháng
Ba năm Dân Quốc 27 (1938), bản in lần thứ ba vào
tháng Ba năm nay”, và nhà thư cục ấy đă in lại
v.v... hoàn toàn chẳng ghi tên người chú giải, mà
cũng chẳng có lời tựa. Nơi trang mười
bảy, trong phần giải thích phần thứ tám, có hai
câu ghi chú: “Chúng sanh mê muội,
trước hết chấp Pháp Ngă, sau đấy chấp
Nhân Ngă”, xin hỏi là chúng sanh mê chấp, v́ sao phải
chia thành trước và sau, chẳng phải là đồng
thời? Có thuyết nào để chứng minh [nhận
định ấy] hay không? (Trọng
Chí Anh hỏi)
Đáp: Tra bản kinh
được ấn hành bởi thư cục ấy, ta
nhận biết họ đă được người
khác ủy quyền lưu thông, quả thật không có tên
họ của người chú giải, khó thể phán
đoán lời chú giải ấy do tuân theo [ư kiến
của] cổ đức, hay do chính người ấy
tự nói? Nhưng chia chấp trước thành
trước và sau, trọn chẳng sai lầm! Ngă Chấp
do thức thứ bảy khởi, kẻ ấy chẳng
thông hiểu thức thứ tám là “pháp tương tục”
(tiếp nối), cho là nó có thật, nên trước hết
khởi lên Pháp Chấp. Lại ngỡ Ngă là thường
hằng, nên nương theo đó mà sanh ra Ngă Chấp. Pháp
trước, người sau, chỉ là như thế mà
thôi.
* Hỏi: Thầy nói “phá Pháp Ngă
Chấp khó hơn phá Nhân Ngă Chấp”. Ư ấy giống
như ư học nhân muốn hỏi, lại dám xin hỏi: V́
sao phá Nhân Ngă Chấp dễ hơn? V́ sao phá Pháp Ngă Chấp
rất khó? Lư do ở chỗ nào? (Trọng
Chí Anh hỏi)
Đáp: Ngă ví như bệnh,
như biết bệnh trạng phát sanh th́ bèn nghĩ cách
trừ khử những ǵ được coi là có hại,
nên dễ phá hơn. Pháp ví như thuốc, nhận biết
thuốc để chữa bệnh bèn phải suy nghĩ,
t́m kiếm những ǵ có ích, cho nên khó phá hơn.
* Hỏi: Thằn lằn chuyên
ăn mồi sống để sống sót mà chẳng
tự biết, có phải là v́ nó vĩnh viễn gieo
nghiệp kém hèn nên chẳng có cơ hội sanh lên [cảnh
giới] cao hơn? (Trương
Cung hỏi)
Đáp: Tánh của hết
thảy chúng sanh đều trọn đủ hai phần là
nhiễm và tịnh, mà nhiễm cũng có đủ
thiện và ác. Từ nhiều kiếp tới nay, chủng
tử vô lượng. Một hạt chủng tử
dấy lên hiện hành sẽ lôi kéo chúng sanh thọ thân trong
một loài nào đó. Tuy thằn lằn nay đang tạo
nhiều nhân ác, nhưng trong ruộng thức thứ tám
đă có chứa chủng tử tốt lành. Khi [những
chủng tử ấy] hiện hành, nó sẽ tự có
thể siêu thăng. Chỉ có điều cái thân của nó
trong đời này có nhiều ác duyên, chủng tử
thiện chẳng dễ dấy lên hiện hành, thật
đáng buồn! V́ thế, đă có tiền lệ: Bảy
đức Phật xuất thế, mà [những con kiến]
vẫn chưa thoát thân kiến vậy.
* Hỏi: Nội dung của “chư Phật nhất thể”
có phải là vẫn có thành đạo trước hay sau,
cũng như giữa đây và kia có cảm giác đơn
độc hay chăng? (Trương
Cung hỏi)
Đáp: Nhất Thể là nói
về đạo và Pháp Tánh, thời kiếp khác nhau, nên có
trước và sau. C̣n nói “cảm giác đơn độc”
th́ cũng có thể nói là như vậy v.v... Niệm Di
Đà bèn ứng với Di Đà, niệm Dược Sư
bèn ứng với Dược Sư, theo lệ ấy!
* Hỏi: Tôi đọc
Chương Gia Đại Sư Ứng Hóa Niên Phổ, có
cảm giác [dường như] Ngài có thể biết
chuyện quá khứ? Ngài c̣n có thể biết chuyện
vị lai hay không? Nếu là như vậy, Ngài có biết
giặc Mao khi nào bại vong hay không? (Trương Cung hỏi)
Đáp: Chủng loại
thần thông chẳng phải chỉ một, có “chỉ
đắc một loại thần thông” và “trọn
đủ nhiều loại khác nhau”. Biết quá khứ th́
gọi là Túc Mạng Thông, biết vị lai th́ gọi là
Thiên Nhăn Thông, hai loại này phải tách ra để xem xét.
Kẻ hèn này chưa từng đọc Niên Phổ của
đại sư, chỉ thấy có sách Ứng Hóa Sự
Lược, trong sách ấy cũng chẳng nhắc
đến thần thông, nên chẳng tiện nghị
luận bừa băi được!
* Hỏi: Ngạ quỷ
thuộc về động vật hay thuộc loài có linh
tánh, có sức thần thông hay không? Nếu có, há chẳng
phải là người thua kém quỷ ư (v́ [con
người] không có sức thần thông). Đầu thai làm
quỷ, há chẳng phải là sanh lên cảnh giới cao
hơn ư? (Trương Cung
hỏi)
Đáp: Tánh vốn vô
tướng, quỷ đă có thân h́nh, đă có thân h́nh bèn có
thể cử động, nên có thể tùy thuận theo danh
xưng hiện thời mà gọi chúng là “động
vật”. Thần thông có nhiều loại, trong câu
trước tôi đă nói rồi. Nay lấy một thứ
thần thông để nói th́ cũng có lớn, nhỏ, sâu,
cạn khác nhau. V́ thế, đối với phàm phu th́
gọi là Thông (通), đối với thánh nhân bèn gọi
là Minh (明) đối với Phật th́ gọi là
Đạt (達), [có nhiều danh xưng] khác nhau [như
vậy]. Quỷ có biết Túc Mạng, nhưng chẳng qua
là một, hai đời, có thể nói là “nông cạn”
vậy. Đấy chính là một thứ năng lực
đặc biệt bẩm sinh của mỗi loài, như
chim khách có thể biết trước hướng gió
cả năm, chẳng thể nói nó cao hơn con
người được! Thử hỏi, ngạ quỷ
cổ họng bé như cái kim, bụng to như cái chum, trong
miệng phun lửa, giọt nước khó lọt, mà
cũng có người ưa thích [thân phận ấy] hay sao?
* Hỏi: Trong tờ nguyệt
san Bồ Đề Thụ số ba mươi lăm, trong
phần Phật Học Vấn Đáp, đối với
hai câu do Lư cư sĩ ở Gia Nghĩa đă hỏi, cư
sĩ trả lời quỷ cần tiền tài, nhưng
quỷ thuộc thể Khí, cần chi tiền tài? Thuở
Phật tại thế có nói quỷ đạo cần
đến tiền tài hay không? Mà thuở ấy, nhân dân dùng
loại tiền tài nào, dùng phương pháp nào để
chẩn thí quỷ đạo, mong hăy giảng cặn kẽ!
(Tĩnh Tu Tinh Xá hỏi)
Đáp: Kinh Phật chỉ nói
đại thể, chẳng nhắc tới những
chuyện vụn vặt. Có những câu hỏi [liên quan
đến những vấn đề] chẳng thấy
[đề cập] trong kinh truyện bèn dùng cách tỷ
lượng để đáp, đều chẳng dùng
lời lẽ khẳng định, bất quá mang ư nghĩa
quyền biến nhằm khiến cho đối
phương khỏi thất vọng mà thôi. Như hỏi “quỷ thuộc thể Khí,
cần ǵ tiền tài”, vẫn phải dùng cách [vừa
nói] trên đây để đáp. Xét theo pháp Thí Thực
được chép trong kinh Phật và chuyện cúng quải
thức ăn trong kinh điển Nho gia, hăy thử nghĩ
xem: “Quỷ thuộc về thể Khí”, cần ǵ thực
phẩm có h́nh chất của nhân gian? Trong lời đáp cho
câu hỏi của Lư cư sĩ ở Gia Nghĩa
trước kia, tôi cũng chẳng nói quỷ dùng tiền
tài của nhân gian, chỉ nói “do ư tưởng mà thành
tướng” đó thôi. Lúc tại thế, đức
Phật từng nói quỷ cần áo, cơm, nhà cửa,
vật dụng. Lại nói nhân dân có kẻ lầm lạc
sát sanh để cúng tế thần quỷ. Phàm những
thứ ấy đều có thể gọi là Tài. Nếu
hỏi đến phương pháp bố thí, Phật
tự có sức thần thông khác biệt, c̣n nhân dân [tại
Ấn Độ thuở ấy] chọn dùng cách nào, kẻ
hèn này chưa nghiên cứu lịch sử phong tục cổ
đại Ấn Độ nên chẳng thể nào trả lời
được.
* Hỏi: Trong sách Khóa Tụng do
Thụy Thành Thư Cục ấn hành, trang một trăm
lẻ năm, những câu như “bổn
mạng nguyên thần”,
“cửu diệu bảo trường sanh”, “nguyên thần” và “cửu diệu” chỉ
điều ǵ trong thọ mạng của chúng sanh? Kinh
điển do đức Phật đă nói có ghi chép
[điều ấy] hay không? (Tĩnh
Tu Tinh Xá hỏi)
Đáp: Đấy chẳng
phải là kinh văn, mà lời ca tụng, tán dương
nhằm chúc phước trước bài vị
trường sanh, phần nhiều mang ư nghĩa thuận theo
thói tục mà ca ngợi, cầu đảo. “Nguyên thần” (元辰) chính là ngày sanh của một
người (các nhà bói toán thường gọi ngày đó là “nhật nguyên”日元). “Cửu diệu” (九曜) là chín ngôi
sao, tức nhật, nguyệt, Thủy, Hỏa, Mộc, Kim,
Thổ, La Hầu, Kế Đô[4].
Người Trung Quốc từ xưa phần nhiều mê
tín thuyết Âm Dương Ngũ Hành Sanh Khắc, nên các nhà
chiêm tinh đoán mạng bèn đem chín ngôi sao ấy phối
hợp với từng năm tuổi để đoán
định cát hung. Những điều ấy chẳng dính
dáng ǵ đến kinh Phật. Những bài tán đó
đều do người đời sau soạn ra, chuyên
dùng để tán tụng, cầu chúc mà thôi!
* Hỏi: Cũng trong sách Khóa Tụng
vừa nói trên đây, trang một trăm hai tám có câu “hương hoa đăng thiên
mẫu”, trang một trăm hai mươi bảy có câu “hương hoa đăng
đồ quả”, trang một trăm bốn
mươi chín “thiền
duyệt tô đà”. Những chữ “thiên mẫu”,
“đồ”, “tô đà”
trong ấy chỉ vật ǵ? Hiện thời ở Đài
Loan có hay không? (Tĩnh Tu Tinh Xá
hỏi)
Đáp: Câu “hương hoa đăng thiên mẫu” nơi trang
một trăm hai mươi tám trong sách ấy cũng là
lời tán tụng cầu đảo của người
đời sau. “Thiên mẫu”
(天母) chỉ điều ǵ, kẻ hèn này
cũng không biết. “Đồ”
(塗)
chỉ đồ hương (hương bôi), tức là
những thứ hương liệu để ngừa khi
[thân thể hoặc nơi tu tập] chẳng sạch
sẽ, liền bôi lên thân hoặc tay, hoặc xoa trên
đất, Đài Loan cũng có thể tự chế
tạo [loại này]. “Tô đà”
(酥酡) là một thứ chất lỏng do người
Thiên Trúc rút ra từ sữa ḅ, vị cực ngon lành, quư báu.
Đài Loan chẳng có thứ này.
* Hỏi: Liên quan đến
vấn đề người sau khi đă chết bốn
mươi chín ngày liền theo nghiệp thọ sanh. Giả
sử người ấy do nghiệp đă tạo đáng
phải làm quỷ, có phải là nếu thọ sanh trong
quỷ đạo sẽ có cha mẹ là những con quỷ
khác? H́nh dáng và tướng mạo có giống như khi c̣n
sống hay không? C̣n có quan hệ ǵ với quyến thuộc
khi c̣n sống hay không? Hay là chết rồi liền thành
quỷ, chẳng cần phải do cha mẹ quỷ sanh ra nữa?
(Lâm Hạnh Dung hỏi)
Đáp: Quỷ có thai sanh và hóa
sanh sai khác. Kẻ thai sanh sẽ có cha mẹ, c̣n hóa sanh th́
không. C̣n về diện mạo, xem trong các sách ghi chép,
phần nhiều giống như khi c̣n sống. Đó là nói
tới loài quỷ thuộc loại hóa sanh, chứ thai sanh
th́ lại e rằng chẳng giống!
* Hỏi: Trong gia đ́nh thờ
phụng tổ tiên, mỗi ngày dùng hương, đèn v.v...
cúng dường, có đích xác là tổ tiên thọ dụng
hay không? Hay chỉ là một việc làm biểu thị tánh
chất kỷ niệm? (Lâm
Hạnh Dung hỏi)
Đáp: [Tổ tiên đă] sanh vào
quỷ đạo bèn có thể đến hưởng
dụng, c̣n ở trong các đường khác sẽ
chẳng thể hưởng được!
* Hỏi: Trong thế giới
của loài quỷ (trừ địa ngục và ngạ
quỷ ra), có phải là cũng có các nghề nghiệp
như sĩ, nông, công, thương v.v... để tự kiếm
sống, hay là chỉ trông cậy vào sự cúng bái của
nhân gian? (Lâm Hạnh Dung
hỏi)
Đáp: Những chuyện
vụn vặt này chưa từng thấy ghi chép trong kinh.
Dẫu có [người nào] nói đến th́ cũng là
phỏng đoán mà thôi. Tôi trộm cho rằng trong mỗi
thế giới có t́nh h́nh đặc biệt riêng, chưa
chắc đă hoàn toàn giống như thế giới này.
Dẫu ngay trong thế giới này, cũng có những
nơi khác biệt. Như Mông Cổ sống nhờ du
mục, Nam Bắc băng dương đa phần là
ngư nghiệp, những xứ ấy đều trọn
chẳng theo đuổi nông nghiệp.
* Hỏi: Trong thế tục có
nói đến chuyện quỷ dựa thân, có những
trường hợp kẻ ấy nói giống như là xác
thực có chuyện ấy, lại c̣n có thể nhiều
lượt nói về t́nh h́nh trong gia đ́nh khi chính ḿnh c̣n sống
v.v... nhưng người ấy đă chết hơn
mười mấy năm, sao vẫn chưa đi luân
hồi? (Lâm Hạnh Dung
hỏi)
Đáp: Thọ mạng của
quỷ rất dài, trước đây tôi đă trả
lời mấy lượt. Chỉ là hơn mười
mấy năm mà vẫn chưa luân hồi th́ có ǵ lạ
lùng đâu?
* Hỏi: Trong thế tục có
những người do có con gái chưa cưới gả
mà đă chết rất lâu, bèn chọn lựa sui gia
để gả con về đó, chúng ta là đệ tử
Phật có nên ngăn cấm những hành vi như vậy
hay không? (v́ học nhân cho rằng việc này chẳng
hợp lư, mê tín). (Lâm Hạnh
Dung hỏi)
Đáp: Trong nhà Phật trọn
chẳng có chế định này. Luận theo pháp thế
gian th́ cũng chẳng đúng lễ. Đấy chính là
hủ tục trong chốn hương thôn, chẳng liên can
ǵ đến Phật pháp!
* Hỏi: Có kẻ nói tới
những chuyện như người chết v́ treo cổ
tự tử hay chết đuối dẫu đă lâu
mấy chục năm đều phải t́m được
kẻ thế thân th́ mới có thể đi luân hồi
v.v... Xét theo phương diện Phật giáo, nên trả
lời hoặc biện luận như thế nào? (Lâm Hạnh Dung hỏi)
Đáp: Đây cũng là
những lời bịa đặt, đồn thổi,
nhưng trong các tiểu thuyết và bút kư thường ghi
những chuyện ấy. Nếu là thật, tức là
kẻ ấy có sự chấp trước, dẫu đă
thành quỷ vẫn tiếp tục ôm nỗi chấp
trước ấy, có lẽ sẽ kiếm dịp
thuận tiện để quấy rối.
* Hỏi: Sau khi đă tụng
bốn mươi quyển kinh Địa Tạng cho
người chết, mộng thấy người đă
khuất thân mặc áo hải thanh, đối trước
Phật tụng niệm công khóa. Có phải là người
ấy đă được độ hay không? Hay là do chính
ḿnh trong hai khóa sớm tối đều niệm Phật
chẳng ngừng nên cảm ứng [như vậy]? (Chiêm Kim Chi hỏi)
Đáp: Hai lẽ đều có!
* Hỏi: Phật Tổ lúc
tại thế hưởng thọ mấy năm? Có lấy
vợ hay không? (Huệ
Lượng hỏi)
Đáp: Phật có ba thân, Thích Tôn
thị hiện trong thế giới này chính là Ứng Thân.
Đă đến ứng hiện trong cơi đời th́
hết thảy mọi điều đều phải
giống như trong cơi này, nên chỉ thị hiện
thọ tám mươi tuổi. Lúc làm Thái Tử, chưa
xuất gia, Ngài từng thị hiện cưới vợ.
Sau khi xuất gia, chẳng mang vợ theo.
* Hỏi: Trong phần thứ
sáu của kinh Kim Cang, ngài Tu Bồ Đề hỏi “đắc văn như thị
ngôn thuyết chương cú” (được nghe
chương cú ngôn thuyết như vậy), xin hỏi
chữ “chương cú”
chỉ điều ǵ trong kinh? Theo như kẻ sơ
học thấy, chú giải kinh Kim Cang chỉ có mấy
vị, trong ấy, chỉ có bản Kim Cang Kinh Chân Giải
của Lữ Đạo Tổ có giảng từ ngữ “như thị chương cú”
là nói về mấy chương trước đó. Mấy
chương trước câu ấy là phần kinh văn
chủ yếu của kinh Kim Cang, giống như cây cối
có thân chính, các chương sau đó là cành lá, nhằm phân
biệt, giải thích, suy luận ư nghĩa trong phần kinh
văn chủ yếu, giống như sách Đại
Học chia thành Kinh và Truyện vậy. Chẳng biết
[chú giải như vậy] có đúng hay không? Quả
thật, tôi sợ lời lẽ ấy là tà kiến, dám
thỉnh đại đức chỉ dạy cho đúng! (Trọng Chí Anh hỏi)
Đáp: Lời hỏi của
ông thuộc về vấn đề văn lư (cách hành văn
và suy luận nghĩa lư dựa theo văn tự), nên
phần lớn các vị chú giải không giảng
điều này. “Chương
cú” được nói trong đoạn ấy cố nhiên
là nói về mấy chương trước đó. Cũng
có thể mượn dùng thí dụ về thân chính và lá
của cái cây, nhưng những điều này đều là
chuyện vụn vặt, chẳng liên quan đến tông
chỉ to tát [của kinh Kim Cang], nên có chấp nhận cách
giải thích ấy cũng chẳng sao! Nhưng đọc
kinh Phật, nếu cầu t́m chú giải, ắt phải
nên t́m đọc những tác phẩm trước tác
bởi các vị cổ đức thuộc tứ chúng trong
Phật môn th́ mới là chánh xác. Nếu xem tác phẩm biên
soạn bởi ngoại đạo, hoặc [những bài
giáng bút] giả mượn danh nghĩa đàn cầu cơ
th́ sẽ sai lầm ngàn dặm vậy!
* Hỏi: Nói “A La Hán c̣n có Biến Dịch sanh tử”,
tướng ấy có phải là A La Hán hồi hướng
Đại Thừa, nhập Sơ Địa bèn gọi là
Sanh, [từ Sơ Địa] lại nhập Nhị
Địa bèn nói là “sanh Nhị
Địa, tử nơi Sơ Địa”, sanh tử
măi cho đến khi đạt đến Thập
Địa? (La Đức
Chương hỏi)
Đáp: Nói đại
lược th́ có thể nói như vậy, nhưng xét theo
thứ lớp của Bồ Tát, trước khi đạt
đến Sơ Địa c̣n có Thập Trụ, Thập
Hạnh, Thập Hồi Hướng, [tổng cộng ] ba
mươi địa vị, chẳng có địa vị
nào không đều là như vậy.
* Hỏi: Trong thiên Tiểu
Thừa của sách Phật Pháp Đạo Luận có nói: “Vũ trụ do lưới
nghiệp lực kết thành, Thể và Dụng của
nghiệp lực là một chu tŕnh nhân quả”. Nếu
nói toàn thể vũ trụ do một mạng lưới
nghiệp lực kết thành, lư ấy dường như
là huyền hư! Không gian vô hạn, bao gồm toàn thể các
nhóm tinh cầu thiên thể, nh́n bằng nhục nhăn tợ
hồ chẳng thể bao gồm sinh vật hữu t́nh
trong ấy. Chúng nó là những vật không có sự sống
muôn kiếp bất hoại, bất sanh, bất tử,
đương nhiên chẳng có nhân quả ǵ để nói
được, dường như chúng ở ngoài mạng
lưới nghiệp lực? (Liễu
Tử Kỳ hỏi)
Đáp: Nghiệp lực vốn
bao gồm thời gian và không gian. Nếu chẳng bao
gồm không gian, sẽ chẳng có hoàn cảnh. Đó là
một chứng cớ rơ rệt! Bất quá, hoàn cảnh có
xa hay gần sai khác, cộng nghiệp hay biệt nghiệp
khác biệt! C̣n những lời luận định như
tinh cầu “vạn kiếp bất hoại”, “vật
chất chẳng có sự sống” v.v... đều là
hiểu lầm! Bởi tinh cầu chính là cơi nước
sở y của động vật. Những tinh cầu nào
được gọi là “không có động vật”
chỉ là do các nhà khoa học cận đại phỏng
đoán như vậy mà thôi. Dẫu nó thật sự
chẳng có sanh vật, vẫn liên quan đến nghiệp
lực. Mỗi tinh cầu đều có quỹ đạo
xoay chuyển riêng, cũng như khả năng phản
chiếu ánh sáng và sức hút. Mỗi tinh cầu đều
có mối liên quan với các tinh cầu khác. Một tinh
cầu biến động, toàn bộ các thiên thể
sẽ bị ảnh hưởng. Lại nữa, hết
thảy các vật thể đều có bốn giai
đoạn Thành, Trụ, Hoại, Không. Ông chẳng thấy
sao băng đó sao? Há nên nói [các thiên thể] tồn tại
vạn kiếp chẳng hoại?
* Hỏi: Hai thiên sách Đại
Thừa và Tịnh Độ [trong bộ Phật Pháp
Đạo Luận] dường như thuần là khuyên
người khác tu đạo, chẳng có ư vị triết
lư. Hay là do căn bản của tôi quá nông cạn, chẳng
hiểu ư nghĩa uyên áo! Mỗi khi đọc hai thiên
ấy, tôi luôn có cảm giác chẳng có hứng thú ǵ! (Liễu Tử Kỳ hỏi)
Đáp: Tinh hoa của sách đó
ở trong hai thiên ấy, há nên nói là “chẳng có triết lư
ǵ!” C̣n như nói [hai thiên sách ấy] “thuần nhằm khuyên
kẻ khác tu đạo” th́ đúng là trọng tâm.
Đọc sách suông, chẳng hành, chẳng phải là “nói chuyện ăn, đếm
của báu” hay sao? Nếu coi thường hai thiên sách
ấy, khác nào “mua rương
trả châu”[5]
vậy!
*
Hỏi: Tôn giả Ca Diếp nay đang nhập Định
trong núi Kê Túc. Phải sau năm mươi sáu ức bảy
ngàn vạn năm nữa, sau khi ngài Di Lặc hạ sanh
tại Ấn Độ, tôn giả mới xuất
Định hộ tŕ, giúp đỡ đạo tràng. Trong
thời gian ấy, trải qua hai đại kiếp là Phong
và Hỏa, biển xanh, nương dâu, nhục thân [ngài Ca
Diếp] há c̣n tồn tại ư? Trên địa cầu
vẫn c̣n có tên nước Ấn Độ hay không? (Lâu Vĩnh Dự hỏi)
Đáp: Thời gian kể
từ lúc đức Thích Tôn diệt độ cho
đến lúc Phật Di Lặc giáng sanh chưa đến
một đại kiếp, nên chẳng có phong hỏa
đại tai. Dẫu có biển xanh, nương dâu,
bất quá là những biến đổi nhỏ trên
địa cầu, trọn chẳng phải là [giai
đoạn] Hoại - Không, nên thân nhập Định
chẳng bị ảnh hưởng. C̣n như nói “sau khi
xuất Định, đến giúp đạo tràng”,
chỉ nói là trở về chỗ ấy mà thôi, trọn
chẳng nói khi ấy, nước vẫn có tên là Ấn
Độ!
* Hỏi: Trong các nghi lễ
của Đạo giáo, phần nhiều dùng kinh văn
của Phật giáo là do nguyên nhân nào? (Trang Khánh Hiền hỏi)
Đáp: Mặc áo của vua
Nghiêu, đọc lời của vua Nghiêu, tức là vua Nghiêu
vậy! Họ chọn lấy kinh điển của
Phật giáo cũng do ư niệm sùng bái, quy thuận!
* Hỏi: Cảnh giới
từ vô thỉ cho tới lúc khai thỉ có ghi chép trong Tam
Tạng hay không? Xin hăy chỉ dạy! (Tưởng Tuấn Nghĩa hỏi)
Đáp: Đă nói là “vô thỉ”
th́ chẳng thể nói tới cái khởi đầu.
Nếu nói “khai thỉ” (bắt đầu), tức là
lại nói tới cái có khởi đầu. Nói “vô thỉ”
th́ thoáng nghe sẽ nhận thấy dường như mù
mờ, nhưng suy nghĩ kỹ sẽ thấy ư nghĩa
thật sự viên măn. Nói “hữu thỉ” (có khởi
đầu) tức là cái cảnh giới bắt đầu
vừa nói ấy há có thể nào đột nhiên hiện ra,
ắt nó phải có nhân, cái nhân ấy lại chẳng
phải là cái bắt đầu của cái cảnh khởi
đầu ấy hay sao? Cứ truy ngược lên như
vậy, làm sao có thể đạt đến một
kết luận cho được? Nhưng cái khởi
đầu như thế tục đă nói, bất quá là
khởi đầu của một giai đoạn nào đó
hạn cuộc trong một phần của cả vạn
h́nh tượng biến huyễn, chẳng phải là
lời lẽ rốt ráo thấu triệt trên dưới!
* Hỏi: Nếu ban đầu
là thanh tịnh th́ lẽ ra phải vĩnh viễn chẳng
nhiễm, chúng sanh bị nhiễm trước khi nào?
Nếu nói “nhiễm trước từ vô thỉ”
th́ giải thích “vô thỉ” như thế nào? Nếu nói “các
duyên như huyễn tụ hợp” th́ cái duyên tối sơ để
hợp thành các duyên do đâu sanh ra? Nếu nói “giống
như một cái ṿng chẳng có đầu mối” th́ cách
nh́n thời gian và không gian ấy dường như mâu
thuẫn với thế tục? (Thái
Minh Cốc hỏi)
Đáp: Câu hỏi này
được chia thành bốn đoạn để
đáp:
1) Như vàng ở trong
quặng, lẫn lộn bụi cát. Trải qua nung
luyện, chẳng c̣n xen tạp bụi cát. Điều này
ví như những [phiền năo] vi tế xen tạp!
2) Vô thỉ là chẳng thể
nói tới cái sơ khởi. Hễ nói th́ ư nghĩa chẳng
viên măn, hăy nên tham khảo câu trả lời cho cư sĩ
Tưởng Tuấn Nghĩa ở trên đây sẽ tự
hiểu rơ.
3) Vạn pháp duy tâm, các duyên
cũng chính là pháp. Tâm đă là vô thỉ, duyên làm sao có
thể ĺa nguyên tắc này?
4) Những bàn luận trong cơi
tục phần nhiều là những lời lẽ do
chẳng biết đến Chân Tế, Phật pháp là
lời lẽ thật sự giác ngộ, hiểu rơ. Người
học Phật vốn nhằm cầu giác, há nên mê muội
thuận theo cơi tục? Nói thuyết của nhà Phật
tương phản ngôn luận thế tục, sao bằng
nói ngôn luận thế tục phần nhiều trái
nghịch với giác vậy!
* Hỏi: Tôi tự tu, kính
cẩn đọc kinh Quán Vô Lượng Thọ,
đối với văn tự có rất nhiều chỗ
chẳng hiểu, không biết có sách chú giải hay không? (Phó Ngu Chi hỏi)
Đáp: Kinh này từ nhà Tùy
tới nhà Thanh có rất nhiều vị chú giải, cận
đại lăo pháp sư Đế Nhàn cũng có soạn chú
giải. Những tác phẩm trước đó th́ tại
Đài Loan rất khó t́m kiếm, c̣n những tác phẩm sau
này c̣n chưa nghe nói có ai lưu giữ.
* Hỏi: Lúc thiếu niên
thường mộng thấy phi hành, nhưng chỉ cao cách
mặt đất mấy trượng, đến tuổi
trung niên trở đi thường mộng thấy cảnh
nguy hiểm, đường xá lầy lội, có lúc vô ư té
ngă, do nhân ǵ vậy? (Kim Thiên
Đạc hỏi)
Đáp: Xét theo Trung Y có nói: Khí
Dương phù động, bốc lên th́ phần nhiều
mộng thấy lửa hoặc thân bay lên, khí Âm ngưng
đọng, nặng nề, phần nhiều mộng
thấy nước hoặc thân rơi rớt. Tuổi
thiếu niên, khí Dương thịnh, cố nhiên thấy
bềnh bồng. Tuổi già, khí Dương dần suy, nên
có thể bị ngưng trệ. Điều này liên quan
đến phương diện sinh lư. Nếu tĩnh tâm
niệm Phật cho nhiều, tận lực tránh né mọi
t́nh cảm, lâu ngày, cảnh giới sẽ thay đổi,
thậm chí chẳng c̣n mộng nữa!
* Hỏi: Sắc thân do Tứ
Đại giả hợp, duyên tụ bèn sanh, duyên tán bèn
diệt. Chứng đắc Niết Bàn là v́ sẵn có
Phật Tánh. Nếu đă là như vậy, v́ sao chẳng
nói là do Ngũ Đại hợp thành? (Hồ Chánh Lâm hỏi)
Đáp: Đây là do chỉ nói
tới sắc thân, nên nêu ra Tứ Đại. Nếu nói
tới gộp cả Sắc lẫn Tâm bèn nói Ngũ Uẩn
(Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức), hoặc nói
Thất Đại (Tứ Đại cộng thêm Không,
Kiến, Thức). Thuyết pháp cần phải xét sự,
quán sát căn cơ để nói cụ thể, hoặc nói
một phần. Pháp có chi tiết, đại lược,
quyền, thật, chọn lựa pháp khế hợp
để sử dụng, trọn chẳng phải là do không
biết có tánh cho nên sơ sót!
* Hỏi: Trong tứ đại
châu, trừ Nam Thiệm Bộ Châu ra, những châu kia tên là
ǵ, và tên gọi của những nơi thuộc quyền
quản hạt của các châu ấy? (Trương A Long hỏi)
Đáp: Phương Đông là
Thắng Thần Châu (Pūrvavideha), phương Tây là Ngưu
Hạ Châu (Aparagodānīya), phương Bắc là Câu Lô
Châu (Uttarakuru). Nói tới danh hiệu của những vùng
đất thuộc quyền quản hạt của các châu
ấy, chẳng có cách nào tra cứu để nêu ra, v́ danh
hiệu thay đổi theo thời gian, há có cố
định! Đừng nói những châu khác, nay lấy ngay
châu này (Nam Thiệm Bộ Châu) để luận, các xứ
Ba Tỷ Luân (Babylon), Tư Ba Đạt (Sparta) ở Tây
Phương, các nước Thiện Thiện, Sa Xa[6]
ở phương Đông, Trung Quốc từ Hạ,
Thương, Châu cho đến Nguyên, Minh, Thanh v.v... [có
những lănh thổ] nay lại ở nơi nào? Ngay như
tên của núi non, vách đá, hang hốc, sông ng̣i mà c̣n xưa
nay đổi khác! Cơi nước như mây, thu hẹp,
mở rộng không ngừng, làm sao có thể nói đích xác
cho được?
* Hỏi: Do Phật (Thích Ca)
đă thành Phật từ trăm ngàn vạn kiếp
trước kia, đă được Pháp Thân che chở, mà
vẫn phải bỏ ngôi vua, tu khổ hạnh mười
một năm mới chứng Niết Bàn. Do hoàn cảnh,
trí huệ, đức tánh, tính t́nh của chúng ta, tận
hết sức trong nửa đời người, rốt
cuộc có thể tu thành Phật hay không? Hết sức nghi
hoặc, xin hỏi cao kiến của Ngài là như thế
nào? (Chi Thế Vinh hỏi)
Đáp: Phật có ba thân là Pháp,
Báo, Ứng. Pháp Thân vô tướng, trọn khắp hư
không, vô thỉ, vô chung. Báo Thân rộng lớn trang nghiêm, có
khởi đầu, chẳng có kết thúc. Ứng Thân
trăm ngàn vạn ức, tùy duyên mà hiện, có khởi
đầu, có kết thúc. Thích Tôn thị hiện trong cơi này
chính là Ứng Thân. Từ lúc nhập thai cho tới nhập
Niết Bàn, những điều được gọi là “tám
tướng thành đạo” đều thuộc loại
phương tiện quyền biến nhằm nêu khuôn phép
cho người đời sau. C̣n như ông lo âu là dốc
hết sức lực trong nửa đời người
vẫn chẳng thể thành Phật th́ nói thật ra, há
chỉ nửa đời? Chẳng trọn ba A-tăng-kỳ
kiếp, làm sao có thể viên măn cho được?
Đối với chuyện này, cần phải phát cái tâm
lớn nhất, chẳng sợ sanh tử th́ mới có
thể làm được. Nếu không, bèn có một pháp
Tịnh Độ, có thể vượt thoát luân hồi
ngay trong đời này, về cơi Lạc bang kia liền có
thể đắc Nhất Sanh Bổ Xứ.
* Hỏi: Trong Phật lư có câu “chúng duyên sở sanh pháp” (pháp
được sanh bởi các duyên), cái gọi là “chúng duyên” là hữu h́nh hay vô
h́nh? Nếu là hữu h́nh th́ những cái được
gọi “các duyên hữu h́nh”
lại do đâu mà có? Nếu bảo chúng là vô h́nh th́
những duyên vô h́nh ấy làm sao có thể ḥa hợp giúp nhau
sanh ra vũ trụ hoặc động vật hữu h́nh? (Diệp Khánh Xuân hỏi)
Đáp: Duyên sanh ra các pháp
chẳng phân biệt là hữu h́nh hay vô h́nh. Đấy là
nói vạn pháp sanh khởi đều do các duyên ḥa hợp mà
sanh khởi. Giống như một trang giấy do các thứ
tư tưởng của con người, kế
đến là trải qua nhiều lượt nghiên cứu,
rồi lại trù tính, chuẩn bị sẵn các thứ
nguyên liệu, trải qua các thứ thủ tục th́
mới có h́nh tướng giấy ấy! Lại như nói
một câu th́ ắt phải do hoàn cảnh thúc đẩy,
do tâm tư dấy động, lại vận dụng
sự chấn động từ môi, lưỡi, răng,
họng để phát xuất ra các đơn âm, kết
hợp chặt chẽ mà thành [lời nói], há có phải là
một, chẳng phải do nhiều điều kiện
hợp lại, nên gọi là “các duyên ḥa hợp”. Một
trang giấy có h́nh tướng, một câu nói là vô h́nh
tướng, nhưng đều không ra ngoài nguyên lư này.
Những điều c̣n lại cứ suy ra mà biết.
* Hỏi: Trong cuốn Nhị
Khóa Hợp Giải do pháp sư Hưng Từ biên soạn,
trang một trăm lẻ sáu, trong phần nói về nhân
đạo có đề cập bốn loại sanh là “noăn,
thai, thấp, hóa”, [tôi cảm thấy] điều này khó
hiểu! (Lư Vinh
Đường hỏi)
Đáp: Thai sanh trong nhân
đạo là chuyện thường, ba loại sanh kia là
chuyện ngẫu nhiên. Phạm điển đều có ghi
chép, như phu nhân Tỳ Xá Khư (Viśākhā) sanh ra
ba mươi hai quả trứng, trứng nở ra con,
Chuyển Luân Vương sanh từ chỗ ẩm thấp,
hoa sen sanh ra bảo nữ v.v...
* Hỏi: Cũng trong Nhị Khóa
Hợp Giải, trang một trăm bảy mươi sáu,
giảng về bài Hương Tán “Chiên-đàn hải ngạn”, trong ấy có câu
chuyện “Gia Thâu tử mẫu
lưỡng vô ương” [pháp sư Hưng Từ] nói
tôn giả La Hầu La ra đời sau khi đức
Thế Tôn đă xuất gia, c̣n trong cuốn Giáo Chủ
Truyện do pháp sư Tinh Vân biên soạn th́ tôn giả
được sanh ra trong hoàng cung khi đức Thế Tôn
chưa xuất gia, ai đúng, ai sai? Lại nữa,
nghịch cảnh mà bà Gia Thâu Đà La (Yasodharā) gặp phải như sách Nhị Khóa
Hiệp Giải đă kể có phải là sự thật hay
không? (Lư Vinh Đường
hỏi)
Đáp: Chuyện xưa xa
thẳm, các thứ ghi chép chẳng tránh khỏi sai khác
đôi chút, điều này tùy thuộc mỗi người
thận trọng tra xét, biện định, chọn
lấy một thuyết để theo. Điều tôi tin
tưởng, chẳng cần ép người khác phải
tin. Điều tôi phủ nhận cũng chẳng cần
ép người khác phải phủ nhận. Ai tin th́ cứ
tin, ai phủ nhận th́ cứ phủ nhận. Nếu
không, chỉ gây nên tranh chấp, chẳng có lợi ích ǵ!
* Hỏi: Cũng trong sách
Nhị Khóa Hiệp Giải, trang chín mươi tư,
phần giải thích về “ba môn” có nói tới Vô Nguyện
Môn. Quán hết thảy các pháp, vô tướng, vô sở tác,
mà cũng vô sở nguyện, nhưng nay lại đề
xướng pháp môn Niệm Phật, cùng hành Tín, Nguyện,
Hạnh, thiếu một điều chẳng
được! Phải hiểu Vô Nguyện Môn như
thế nào? (Lư Vinh
Đường hỏi)
Đáp: Phật pháp nói
đến Sự, Lư, Quyền, Thật, Tánh, Tướng,
Không, Hữu v.v... các thứ đối đăi, đều
là xét theo nơi chốn, thời gian, con người,
sự việc để vận dụng khế cơ, pháp
nào cũng viên dung, chẳng chấp trước, trở
ngại. Vô Nguyện có nghĩa là đối với các pháp
“Không, Khổ, Vô Thường”, chẳng dấy lên tạo
tác, có thể bỏ được!
* Hỏi: Nơi ḍng ba trang
mười một sách Tại Gia Học Phật Pháp
Yếu Hợp San, có câu: “Trừ
sạch ư ác chính là hành mười thiện hạnh, đó
là điểm đặc biệt thù thắng bất
cộng với năm giới”, chữ Bất Cộng
ấy khó thể liễu giải! (Lư Vinh Đường hỏi)
Đáp: Mấy câu này kế
tiếp đoạn văn trước đó. Năm
giới được nói trong phần trước
[của đoạn văn ông vừa trích dẫn] chỉ là
hai nghiệp thân và khẩu thanh tịnh. Thập Thiện
th́ kể thêm ư nghiệp, ư là căn bản của tam
nghiệp. Trừ sạch ư ác, tức là đoạn
Hoặc; do vậy, công đức đặc biệt thù
thắng, năm giới chẳng thể sánh bằng
được [nên nói là Bất Cộng]!
* Hỏi: Nơi trang
mười hai, ḍng thứ chín sách Tại Gia Học
Phật Pháp Yếu Hợp San, có câu: “Ly ma tà thượng mạn tự đạo pháp ái
chư quá” (ĺa bỏ các lầm lỗi như ma, tà,
thượng mạn, tự đạo, pháp ái), mong cư
sĩ dạy rơ câu này. (Lư Vinh
Đường hỏi)
Đáp: Sanh ra chướng
ngại bèn gọi là Ma, chẳng hiểu biết chân chánh là
Tà. Chưa chứng thánh đạo, tự cho là đă
chứng, th́ gọi là Mạn. Thấy đạo chẳng
thật, nên gọi là Tự Đạo (đạo
tương tự). Phật pháp như thuốc chữa
bệnh, bệnh hết bèn bỏ thuốc. Nếu chấp
trước chẳng bỏ th́ gọi là Pháp Ái.
Hỏi: Ḍng thứ mười
lăm trong trang mười hai sách Tại Gia Học
Phật Pháp Yếu Hợp San có câu: “Thế tu ư ngũ thú trung, cánh thọ hậu
hữu, nan miễn cách uẩn chi mê” (Ắt lại
phải thọ thân sau trong năm đường, khó tránh
mê muội khi thọ thân ngũ uẩn). Mong cư sĩ
giảng rơ câu này, “năm đường” (ngũ thú) là lục
đạo bỏ bớt đường nào? (Lư Vinh Đường hỏi)
Đáp: Hậu Hữu nghĩa
là có thân kế tiếp sau cái thân này, vẫn phải
hứng chịu nhân quả, nên có thân tái sanh. Kẻ mê khi
thọ thân Ngũ Uẩn khác, nghĩa là sau khi tái sanh, do
bị mê muội khi có sự gián đoạn giữa thân
Ngũ Uẩn trong đời trước và đời sau
nên chẳng biết chuyện trong đời trước.
Trời, người, súc sanh, ngạ quỷ, đều có
Tu La [bao gồm trong ấy], nên chẳng nhắc đến
Tu La.
* Hỏi: Từ một
đến mười, mỗi chữ trong nguyên âm Ấn
Độ phải phát âm như thế nào? (Lư Vinh Đường hỏi)
Đáp: Kẻ hèn này chưa
học tiếng Phạn, chẳng có cách nào trả lời
được!
* Hỏi: Trong Ngũ Tân có
một thứ là A Ngụy (阿魏)[7], đó là ǵ vậy? Tỉnh Đài Loan có
hay không? (Lư Vinh Đường
hỏi)
Đáp: Đây là một thứ
cỏ thơm, trong các tiệm thuốc Bắc đều
có. Đài Loan có [loài thảo mộc này] hay không, tôi chưa
khảo sát!
* Hỏi: Nói lời chẳng
thật gọi là “vọng ngữ”. Có lần ở bên
đường, đức Phật thấy vàng ṛng bèn
bảo các đệ tử: “Đó là rắn độc”, có
phải là vọng ngữ hay không? (Lư Vinh Đường hỏi)
Đáp: Vàng ṛng và rắn
độc đều là giả danh. Chúng ta thuận theo
[giả danh] mà gọi, há có phải là chân ngữ? Tên
của chúng đă chẳng thật th́ lời ta nói lấy
đâu ra thật? Rắn độc có thể giết
người, vàng ṛng chẳng [trực tiếp] giết
người, nhưng nó giết người [gián tiếp]
th́ có khác ǵ rắn độc? Đức Phật nh́n vào cái
kết quả giết người để đặt
tên cho nhân tố gây giết người th́ có ǵ là vọng
ngữ, có ǵ chẳng thật?
* Hỏi: Bốn châu ở trên
địa cầu hay ở nơi khác? Nếu chiếu theo
Câu Xá Luận Tụng Giảng Kư[8]
trang bốn trăm ba mươi bảy th́ Nam Châu (Nam
Thiệm Bộ Châu) là Ấn Độ, Bắc Châu là vùng
phía Bắc của Ba Đặc Na (Patna)[9]
hiện thời. Nếu theo thuyết ấy th́ vẻ
mặt và thọ mạng của người trong châu
ấy có phù hợp với lời đức Phật đă
dạy hay không? (Lư Vinh
Đường hỏi)
Đáp: Mỗi người chú
giải kinh chấp vào sự thấy biết riêng, bất
luận là pháp thế gian hay xuất thế gian, không ǵ
chẳng là như vậy. Điều này được
gọi là “đấu tranh kiên cố” khiến cho chúng sanh
càng thêm mê hoặc! Nếu cho rằng bốn châu cùng tồn
tại trên địa cầu, sẽ phải mất công
giải thích rất lớn, như Tu Di là núi nào, Thiết Vy
là núi nào, đều trở thành vấn đề. Có
người nói Tu Di là núi Hỷ Mă Lạp Nhă, bèn chẳng
thấy mặt trời, mặt trăng ở lưng
chừng núi [như kinh đă dạy]. Thiết Vy càng
mịt mờ, mông lung hơn! Kinh Hoa Nghiêm chú thích chuyện
này tường tận nhất, nhưng nếu so với
hiện thời để luận định th́ cũng có
chỗ sai khác rất lớn. Kẻ hèn này cho rằng phàm
phu nhục nhăn tầm nh́n thiển cận, nếu có
thể dung hội các bản chú giải với khoa học
hiện thời ḥng tạo thành một lối giải thích
viên dung, xuyên suốt, cố nhiên sẽ là tốt
đẹp nhất. Nếu không, ai nấy tuân theo một
bản chú giải nào [mà chính ḿnh thấy phù hợp
nhất] th́ cũng chẳng phải chịu lỗi [chú
giải sai lầm]!
* Hỏi: Sách Nhị Khóa Hợp
Giải, quyển năm, trang sáu mươi ba, trong ḍng
thứ hai của nghi thức Mông Sơn Thí Thực, nơi
đoạn giải thích về việc “tư sanh thí” (bố thí những vật cần
thiết cho cuộc sống) có nói: “Kim tức thủy, phạn, chỉ tiền
đẳng, dĩ tư u minh, trừ khổ đắc
lạc, vi tư sanh thí dă” (nay th́ dùng nước, cơm,
tiền giấy v.v... để giúp cho cơi u minh trừ
khổ, được vui, chính là bố thí những
vật dụng cần thiết cho cuộc sống). Xét ra,
câu này nói rơ trong quỷ đạo có dùng tiền, nhưng
theo sách Chánh Tín Phật Giáo đang phổ biến hiện
thời, đốt tiền giấy là mê tín, mong cư
sĩ phá nghi như thế nào! (Lư
Vinh Đường hỏi)
Đáp: Quỷ là chúng sanh trong
Dục Giới, đương nhiên có tập khí nam,
nữ, ăn uống, có tham đắm tiếng tăm,
lợi dưỡng. Đối với chuyện thí
thực hay thí tài, họ đều cần đến,
chỉ có điều phải thông hiểu Mật pháp quán
tưởng th́ mới hữu hiệu. Người b́nh phàm
cúng tế người đă khuất, do trọn chẳng
biết người mất nay đang sanh trong
đường nào, cứ nhất loạt coi như họ
đă thành quỷ, đốt giấy, tiền, vàng bạc để
cúng, lại chẳng hiểu pháp “tâm tạo hết
thảy”, nên bị quở trách là mê tín! Đối với
kẻ hiểu Mật pháp, một giọt nước có
thể hóa thành ao rộng, hạt gạo có thể hóa thành
núi cơm, mảnh giấy có thể biến thành
đống vàng, cốt yếu là do pháp, chứ không do
số lượng!
* Hỏi: Trong ḍng thứ tư,
trang thứ ba bài giảng Tại Gia Học Phật Pháp
Yếu của pháp sư Thích Ấn Quang có nói một câu: “Những món tiền đă
gởi kho trong cơi âm trước kia đều dùng
để chẩn tế cô hồn th́ văng sanh mới
chẳng bị chướng ngại”. Đối
với điều vừa nói trên đây, nếu đă có
thể chẩn tế cô hồn, tức là quỷ
đạo có dùng tiền giấy, tôi khó thể liễu
giải câu này! (Lư Vinh
Đường hỏi)
Đáp: Lời đáp ấy
của Ấn lăo pháp sư là cách nói chuyên nhằm trừ
khử chướng ngại cho người tu Tịnh
Độ. Quỷ cần tiền tài đă được
nói rơ trong điều trước, [ở đây] chỉ nói
bổ sung thêm. Tức là tuy quỷ dùng tiền, nhưng
bố thí không nhất định phải dùng tiền
giấy! Dùng tiền giấy cũng là tuân theo tập
tục của Trung Quốc. Chẳng phải là trong lời
đáp trên đây, tôi đă nói “tâm
có thể tạo tác hết thảy” đó ư?
Người hiểu pháp ấy, dùng bất cứ vật
ǵ, hoặc chẳng dùng vật chất để thí,
chỉ dùng quán tưởng đều có thể phát sanh
hiệu lực! (Xét ra, [tập tục] in giấy làm
tiền trong cơi âm, tuy đă có từ rất lâu, nhưng khai
quật mộ đời Tống th́ trong ấy có tiền
tùy táng đúc bằng đồng hay sắt. Trong cổ
mộ cũng đào được tiền đúc bằng
đất sét).
* Hỏi: Báo Bồ Đề
Thụ số bảy mươi bốn, trang sáu, nơi
đoạn sau kể từ ḍng thứ sáu, [phần nói
về sách] Liệt Tử (thiên Trọng Ni thứ tư)
đă viết: “Khổng Tử
nói: - Khâu văn Tây
Phương hữu thánh giả yên, bất trị nhi
bất loạn, bất ngôn nhi tự tín, bất hóa nhi
tự hành, đăng đăng hồ nhân vô năng danh yên” (Khâu[10]
nghe ở phương Tây có bậc thánh nhân, chẳng
trị mà không loạn, chẳng nói mà mọi người
tự tin tưởng, chẳng giáo hóa mà dân chúng tự hành,
vời vợi không ai có thể diễn tả
được). Trong đó, câu “bất
ngôn nhi tự tín, bất hóa nhi tự hành” khó hiểu, xin
hăy giải thích tường tận. (Lư Vinh Đường hỏi)
Đáp: Đây là tán thán thịnh
đức vô vi của bậc thánh nhân Tây Phương. Thánh
nhân chẳng cần phải nói năng mà chúng sanh trông
thấy oai nghi, khuôn phép, mực thước của Ngài bèn
tự nhiên tin tưởng, ngưỡng mộ. Chẳng
cần thực thi giáo hóa mà chúng sanh hâm mộ đức
trạch, tự nhiên phụng hành đạo của Ngài,
đại khái là như thế đó.
*
Hỏi: Trong báo Bồ
Đề Thụ số bảy mươi mốt,
đoạn cuối trang bảy mươi hai, có thí dụ
một con ḅ sanh ra năm vị, trong ấy, Tô, Lạc,
Đề Hồ là vật ǵ? Đài Loan có hay không? (Lư Vinh Đường hỏi)
Đáp: Trong sữa ḅ vốn
chứa đựng các thành phần như thế, ắt
phải tinh luyện, phân tích th́ mới có được.
Ở nội địa, tôi đă từng thấy có
người chế Lạc, chế Tô, kẻ hèn này cũng
đă từng nếm qua, chỉ có Đề Hồ là
chưa từng thấy. Đài Loan có sữa ḅ, trong ấy
tất nhiên cũng có những vật như thế,
nhưng chẳng biết có người nào biết cách tinh
luyện hay không?
* Hỏi: “Thiên la thần, địa la thần” trong
Bạch Y Đại Sĩ Thần Chú chỉ vị
thần nào? (Lư Vinh
Đường hỏi)
Đáp: Hết thảy các
vị thần kỳ trong trời đất.
* Hỏi: Trong Kim Cang Kinh
Luận, trang thứ hai có đoạn “hồi hướng thập thánh tam hiền”,
thập thánh tam hiền là chỉ những vị thánh,
vị hiền nào? (Lư Vinh
Đường hỏi)
Đáp: Đây là nói tới
quả vị Bồ Tát. Thập Trụ, Thập Hạnh,
Thập Hồi Hướng, ba loại này gọi là Tam
Hiền, Thập Địa gọi chung là Thập Thánh.
* Hỏi: Trong chương
thứ tư của Phật Thuyết Tứ Thập
Nhị Chương Kinh, tức chương Thiện Ác
Tịnh Minh (cùng nói rơ thiện và ác) có câu: “Ư tam giả, tật, khuể, si” (ư có ba thứ là
ganh ghét, nóng giận, si mê). So với mười sự
được nói trong Phật Học Thường
Thức Khóa Bổn th́ ba [phiền năo] nơi ư là tham, sân, si,
thuyết nào đúng, thuyết nào sai? (Lư Vinh Đường hỏi)
Đáp: Kinh Phật truyền vào
Trung Hoa chia ra bao nhiêu thời kỳ, phiên dịch cũng do
thời đại khác nhau mà có trường hợp ư
nghĩa tương đồng, nhưng dùng chữ sai khác.
Tứ Thập Chương Kinh được dịch vào
đời Hán, thuộc loại kinh được dịch
ở Trung Quốc vào thời đầu, đến
đời Tấn, đời Đường đều
có biến đổi nhỏ. “Biến”
là nói về [sự thay đổi trong cách sử dụng]
văn tự, chẳng phải là nói đến ư nghĩa
của kinh. Ganh ghét, nóng giận, si mê tức là tham, sân, si.
Văn tự [sử dụng để dịch] tinh tế
hay thô thiển sai khác đó thôi!
* Hỏi: Cũng trong kinh
ấy, chương thứ mười hai, tức
chương Cử Nan Khuyến Tu (nêu ra những
điều khó khăn để khuyên tu), có câu “xúc sự vô tâm nan” (tiếp
xúc sự mà vô tâm là khó) và “đổ
cảnh bất động nan” (thấy cảnh mà
bất động là khó) có ǵ khác biệt? (Lư Vinh Đường hỏi)
Đáp: “ Xúc sự” là đích thân tiếp xúc với
sự, dù thuận hay nghịch đều đă chạm vào
thân. “Đổ cảnh”
(nh́n cảnh) là chỉ thấy, chứ thân chưa tiếp
xúc. “Vô tâm” là tâm chẳng
dấy lên “thấy, nghe, hay, biết”, đó gọi là “tâm bất tại” (chẳng
để tâm nơi đó). “Bất
động” là tuy thấy rơ, nhưng kiên định
chẳng thay đổi, đó gọi là “tám gió thổi chẳng động”. Đó là
chỗ khác biệt [giữa vô tâm và bất động].
* Hỏi: Cũng trong kinh
ấy, chương thứ bốn mươi hai, tức
chương Đạt Thế Tri Huyễn có câu: “Thị A Nậu tŕ thủy
như đồ túc du” (xem ao A Nậu Đạt[11]
như dầu bôi chân), “thị
phương tiện môn như hóa bảo tụ” (coi môn
phương tiện như đống báu hóa hiện), “thị vô thượng thừa
như mộng kim bạch” (coi vô thượng thừa
như vàng lụa trong mộng), “thị
Phật đạo như nhăn tiền hoa” (coi Phật
đạo như hoa đốm trước mắt), “thị Niết Bàn như trú
tịch ngụ” (coi Niết Bàn là như giấc ngủ
đêm qua), “thị đảo
chánh như lục long vũ” (coi điên đảo hay
chánh đáng giống như sáu con rồng múa), “thị b́nh đẳng như
Nhất Chân địa” (coi b́nh đẳng như cơi
đất Nhất Chân), “thị
hưng hóa như tứ thời mộc” (coi hưng
khởi giáo hóa [của Như Lai] như cây cối bốn
mùa), [những câu ấy khó hiểu], xin lăo cư sĩ
giảng rơ tỉ mỉ (Lư Vinh
Đường hỏi.)
Đáp: Đây là Phật trí
v.v... quán hết thảy, nhằm phá trừ phân biệt mê
hoặc của chúng sanh. Từ ngữ dễ giải thích,
nhưng nghĩa lư khó thể giảng rơ. Nếu nói theo giáo
tướng th́ “Không tức là
Sắc, Sắc tức là Không”, “sanh tử là Niết Bàn, phiền năo là Bồ
Đề”. Đă liễu ngộ các nghĩa ấy,
sẽ ngay lập tức liễu ngộ các vấn
đề này. Nếu không, hăy đọc chú giải các kinh
cho nhiều, lâu ngày sẽ tự biết. Ở đây, tôi
giải thích theo các câu chữ như sau: “Nước trong
ao” là nhiều, “dầu bôi chân” là ít, [tức là nhiều và
ít] đều như nhau. “Phương
tiện” là pháp, “hóa bảo”
(của báu hóa hiện) là giả, [tức là pháp và giả]
là tương tự. “Thượng
thừa” là pháp cùng với “mộng
kim bạch” (vàng lụa trong giấc mộng) đều
chẳng thật, chẳng hư. “Niết Bàn” bất quá như tỉnh giấc
mộng. “Sáu con rồng múa”
th́ đầu đuôi lần lượt thay đổi trên
dưới. “B́nh đẳng,
nhất chân”: Vạn pháp đều sanh từ nhất
tâm, nên nói là b́nh đẳng. “Hưng
khởi giáo hóa như cây cối bốn mùa” là câu tổng
kết, Phật tự nói là sự thực hiện giáo hóa
của Ngài là vô duyên, vô vi mà thôi. Nay tôi lấy thiên
đạo để tỷ dụ, có mặt trời,
mặt trăng, mưa, sương, nuôi nấng, sinh thành
vạn vật, nhưng cây cỏ bốn mùa gặp
những duyên ấy, có lúc tươi tốt, có thuở héo
tàn. Đă tươi tốt sẽ có lúc khô tàn, đă khô tàn
sẽ có lúc tươi tốt trở lại. Cỏ cây khô
héo hay tươi tốt, tức là chúng sanh do ngộ hay mê
mà tiến hay lùi vạn phần sai khác! Mặt trời,
mặt trăng, mưa, sương ví như Như Lai
hưng khởi sự giáo hóa chẳng ngừng.
* Hỏi: Trong bài Chỉnh
Đốn Tăng Già Chế Độ Luận do Thái Hư
đại sư viết, trang thứ nhất là “Phẩm thứ nhất: Tăng
Y”, câu đầu tiên là “như
thị ngă văn” nên giải thích ra sao? Có phải là do
tôn giả A Nan đích thân nghe nói hay chăng? (Lư Vinh Đường hỏi)
Đáp: Đây là cách hành văn
mượn dùng một từ ngữ đă đi vào
điển cố. Trong thế tục có nhiều
trường hợp như vậy, chẳng hạn như
trong Duyệt Vy Thảo Đường Bút Kư của Kỷ
Hiểu Lam đời Thanh có câu “như
thị ngă văn”, tức là phỏng theo lệ ấy,
chẳng giống như phần chứng thực Tín và
Văn ở đầu các kinh.
* Hỏi: Trong sách Duy Ma Cật
Kinh Giảng Thoại, trang bốn mươi bảy, [có
nói] mỗi lần đức Phật giảng kinh
đều có các vị Bồ Tát và đại chúng thuộc
tám bộ từ các thế giới phương khác
đến tham gia rất đông, nhưng nhục nhăn
của các vị tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc,
ưu-bà-di dự hội khi ấy có trông thấy họ hay
không? Tôi rất nghi hoặc v́ như trong kinh Duy Ma Cật có
chép: “Bồ Tát ba vạn hai
ngàn, Thiên Đế một vạn hai ngàn từ Tứ Thiên
giáng hạ”, đông đảo như thế. Huống
hồ ngay đang trong lúc thảo luận Phật pháp,
[người chép kinh] miêu tả có thanh âm, có h́nh sắc,
[liệu rằng] nhục nhăn của tín chúng khi ấy có
thể thấy được cảnh đó hay không? (Lư Vinh Đường hỏi)
Đáp: Ông nói: “Mỗi lần
giảng kinh, nhục nhăn của các vị tỳ-kheo,
tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di dự hội khi
ấy có thể trông thấy hay không?” Đối với chữ
“nhục nhăn” trong câu này
hiềm rằng hơi kém khẳng định, v́ trong
những vị đến dự hội ấy, có nhiều
vị đă chứng quả. Ông chẳng thấy trong kinh
thường nói “giai thị
đại A La Hán” (đều là đại A La Hán) hay
sao? Đă chứng quả, ắt có sức thần thông, có
thể trông thấy hết thảy, c̣n có nghi ngờ ǵ
nữa? Kẻ chẳng có sức thần thông, hễ có
duyên bèn thấy, chẳng có duyên bèn không thấy. Như
đức Phật thuyết pháp có biến hiện pháp âm mà
có kẻ nghe [lời Phật giảng] như điếc,
như câm, có kẻ chẳng nghe, cuối cùng rút lui khỏi
pháp hội, có người nghe xong bèn hoan hỷ phụng
hành. C̣n như trong pháp hội, các vị thánh hay phàm
đến từ các nơi thấy hay không thấy cũng
giống như thế.
* Hỏi: Trang một trăm hai
mươi sách Duy Ma Cật Kinh Giảng Thoại có câu: “Kỳ thí nhữ giả, bất
danh phước điền, cúng dường nhữ
giả, đọa tam ác đạo” (Người bố
thí cho ông, chẳng gọi là phước điền.
Người cúng dường ông bèn đọa trong ba ác
đạo), nên hiểu như thế nào? V́ sao cúng
dường tôn giả Tu Bồ Đề phải bị
đọa lạc? [Nói như vậy], trong thời
đại Mạt Pháp này, ai chịu phát tâm bố thí?
Đáp: Đoạn này là lời
phá tướng b́nh đẳng dành cho ngài Tu Bồ
Đề, có thể hiểu rơ các nghĩa “phiền năo tức Bồ Đề”, “sanh tử tức Niết Bàn”
th́ sẽ tự hiểu lời ấy. Nhưng đoạn
văn phá tướng này chú trọng phương diện
Pháp Chấp để nói, chớ nên nói với kẻ sơ
cơ, bởi kẻ sơ cơ bụng rỗng tuếch
chẳng có pháp nào, tán loạn nhưng chẳng có ǵ
để lập, há có ǵ đáng để phá? Cần
phải thấu hiểu viên măn ư nghĩa ấy; nếu
không, Đề Hồ sẽ biến thành chất
độc của chim Trầm!
* Hỏi: Lại nữa, sách Duy
Ma Kinh Giảng Thoại trang ba trăm ba mươi bốn,
ḍng thứ bảy có đoạn: “Duy Ma Cật tức dĩ thần lực, tŕ chư
đại chúng tịnh sư tử ṭa, trí ư hữu
chưởng, văng nghệ Phật sở, đáo dĩ
trước địa” (Duy Ma Cật liền dùng
thần lực, cầm lấy đại chúng và các ṭa
sư tử, bỏ trong ḷng bàn tay phải, đến
chỗ Phật. Đă đến nơi, bèn đặt
xuống đất). Cảnh tượng khi ấy là
đại chúng biến thành nhỏ bé, hay bàn tay của
cư sĩ Duy Ma Cật biến thành to lớn? Rất mong
lăo cư sĩ dạy rơ! (Lư
Vinh Đường hỏi)
Đáp: Đọc loại kinh
này, chớ nên chấp tướng như vậy! Nếu
dùng những điều này để hỏi pháp, nếu
phù hợp cơ phong th́ không sao, chứ để hiểu
nghĩa kinh th́ hiểu sai quá to! Nay tôi lập một thí
dụ, ông hăy nên tham cứu kỹ càng! Cầm một
tấm gương mỏng tanh, chỉ dầy một phân,
dùng để chiếu rọi cảnh tượng rộng
lớn bên ngoài, ắt trăm dặm núi sông đều thu
hết vào trong ấy, rành rẽ, rơ ràng, xin hỏi
gương có dầy thêm hay không? Trăm dặm núi sông có co
mỏng lại hay không?
* Hỏi: Trong bản thứ ba
của tờ Giác Thế tuần san, số năm
mươi hai, trong bài Các Điềm Báo Cho Sự Hoằng
Pháp Tây Phương của Niệm Sanh, ḍng thứ tám trong
đoạn cuối viết: “Trước
kia, các vị đại sư dịch kinh như Cưu Ma
La Thập, Chi Khiêm v.v... đều là cư sĩ”. Tôi
từng nghe nói ngài Cưu Ma La Thập là Tam Tạng pháp
sư, đúng sai như thế nào? (Lư Vinh Đường hỏi)
Đáp: Hai vị đại
sư Cưu Ma La Thập và Chi Khiêm trước là cư
sĩ, về sau mới xuất gia. Ngài La Thập xuất
gia vào tuổi thiếu niên, c̣n ngài Chi Khiêm sau khi đă
đến Trung Quốc mới xuất gia.
* Hỏi: Trong tác phẩm Tâm Kinh
Yếu Thích (chú giải những điều trọng
yếu trong Tâm Kinh) của ngài Bân Tông, nơi ḍng thứ
năm ở trang hai mươi hai có viết: “ Nếu nói đến cái lớn
th́ vi trần chẳng thể vào, nếu nói đến cái
nhỏ th́ hư không chẳng thể chứa đựng”,
đoạn này khó hiểu, xin hăy dạy cặn kẽ. (Lư Vinh Đường hỏi)
Đáp: Xét ra đoạn văn
này của pháp sư [Bân Tông] mang ư nghĩa giải thích tâm
tướng của Chân Như. Trong đoạn văn
ấy đă nói rơ cái tâm này chẳng thể dùng phạm vi
“vuông, tṛn, lớn, nhỏ” để so sánh hay h́nh dung. Hai câu
ấy có ư nghĩa giải thích: Chẳng thể nói tâm là
nhỏ, v́ tâm con người trọn khắp hư không,
lại chẳng thể nói nó là lớn, v́ một hạt vi
trần là nhỏ nhất, nhưng chẳng thể dung
nhập.
* Hỏi: Xin hăy giải thích
từ ngữ “Quyền
Thật đồng vận” nơi ḍng thứ bảy
trang một trăm sáu mươi chín sách Tâm Kinh Yếu
Thích. (Lư Vinh Đường
hỏi)
Đáp: Xét ra, đoạn văn
ấy nói về pháp hóa độ chúng sanh. Quyền có
nghĩa là phương tiện, dung thông, chưa chắc là
chân thật. Thật nghĩa là chân thật, chẳng
dối, trọn chẳng phải là giả thiết. Chúng
sanh căn khí bất đồng, đối với kẻ
lợi căn, bèn nói nghĩa chân thật. Đối
với kẻ độn căn phải cần đến
phương tiện thiện xảo, cho nên nói đạo
quyền biến với họ mà thôi!
* Hỏi: Ḍng thứ bảy
trang một trăm bảy mươi tám sách Tâm Kinh Yếu
Thích có nói đến Đệ Nhất Nghĩa Không, xin hăy
giải thích. (Lư Vinh
Đường hỏi)
Đáp: Ư nghĩa của Không có
nhiều cách nói, ở đây chỉ là nghĩa bậc
nhất trong các nghĩa, tức là nói tới cái Không của
Thật Tướng. Ư nghĩa Thật Tướng là
“vốn trọn đủ vạn pháp, nhưng chẳng có một
tướng nào để đạt được!”
* Hỏi: Cũng trong sách trên,
trang một trăm hai mươi hai, chữ “thiên tử” trong câu “hai trăm thiên tử” nên
hiểu như thế nào? Là con của chư thiên, hay là
hoàng đế trong thế giới này? V́ sao ở Ấn
Độ có nhiều vua như thế? (Lư Vinh Đường hỏi)
Đáp: Đó là nói về thiên
đế.
* Hỏi: Trong tháng Bảy, các
chùa Phật đều cử hành lễ cầu siêu vong linh,
trong các kinh sám được tụng có Huyết Bồn
Sám, kinh sám ấy có phải do đức Phật nói hay
không? Trong Đại Tạng Kinh có kinh ấy hay không?
Thuộc tập mấy? (Lư Vinh
Đường hỏi)
Đáp: Kinh ấy thuộc
loại ngụy tạo, Đại Tạng chẳng thâu
nhập.
* Hỏi: Chính tôi gặp một
vị ni sư hóa duyên, phân phát truyền đơn, in
Phật Thuyết Cứu Kiếp Chân Kinh, trong ấy có câu: “Thích Ca Phật trông nom thiên
hạ một vạn tám ngàn năm đến nay đă măn,
Di Lặc Phật tiếp nhận ngôi vị”. Kinh ấy
xuất hiện từ đâu? Có phải do đức
Phật nói hay không? (Lư Vinh
Đường hỏi)
Đáp: Tờ truyền
đơn ấy đúng là lời lẽ yêu mị mê
hoặc dân chúng, báng Phật, báng Pháp. Không chỉ nhiễu
loạn trị an, mà sợ rằng sẽ chuốc lấy
quả báo trong tam đồ. Phàm những kẻ nói
“Phật Thích Ca thoái vị, Di Lặc chưởng quản
thiên bàn”, đều là tà giáo bí mật, trọn chẳng có
mảy may học thức nào! Tà giáo ấy có nguồn
gốc xa xưa từ bọn giặc Khăn Vàng (Hoàng Cân)
cuối đời Hán, lưu truyền thành Bạch Liên Giáo
trong các đời Nguyên, Minh, đến đời Thanh
trở thành Thiên Lư Giáo, Bát Quái Hội, Nghĩa Ḥa Đoàn,
Hồng Đăng Tráo v..v... Nay lại biến đổi
thành đủ thứ tên gọi, chi phái thật nhiều!
Sách Hồi Đầu Thị Ngạn đă nói về nguồn
gốc của chúng rất tường tận. Kẻ
mới học Phật sợ đi lạc đường,
chớ nên không đọc [bộ sách ấy]. Hăy thử
nghĩ từ lúc đức Thích Tôn giáng sanh giáo hóa
đến nay, mới có hơn hai ngàn năm trăm năm,
lấy đâu ra con số một vạn tám ngàn? Chỉ xét
một lời này, đă có thể suy ra chúng nó kiến
thức thông thường c̣n chẳng có, có đạo ǵ
đáng để nói nữa ư? Sau này, nếu ông thấy
tờ truyền đơn ấy lần nữa, hăy mau
vứt vào nước, lửa. Vị ni sư ấy
chẳng phân biệt thật giả, chắc là kẻ không
hiểu rơ Phật lư, hăy nên khéo léo khuyên dạy, chớ
để bà ta bị kẻ tà vạy lường gạt!
* Hỏi: Khi Phật giáo chưa
truyền vào Trung Quốc, Trung Quốc vào thời cổ
đại có ai thành Phật hay không? Nếu có th́ v́ sao
chẳng giảng kinh, thuyết pháp, phổ độ chúng
sanh? (Lư Vinh Đường
hỏi)
Đáp: Đức Phật nói
đến cổ đại bèn nói đến mấy
kiếp. Đức Phật thông hiểu túc mạng, có
thể nói đến bao kiếp trước. Chúng ta ăn nói
ắt phải dựa vào kinh điển. Quả
địa cầu này, nếu xét theo sự suy lường
của các khoa học gia, đă có tuổi thọ
mười sáu ức năm (hoặc là hai mươi sáu
[ức năm], tôi nhớ không rơ), nhưng lịch sử
Trung Quốc chỉ có hơn bốn ngàn năm. Trong hơn
bốn ngàn năm ấy, chưa có Phật xuất
hiện, c̣n trước đó th́ chẳng dám tùy tiện suy
đoán bừa băi!
* Hỏi: Có những tự
viện tạo tượng Phật, cậy những
kẻ bói toán chọn lựa ngày giờ điểm nhăn khai
quang, [làm như vậy] có đúng hay không? (Lư Vinh Đường hỏi)
Đáp: Tôi thường thấy
trong kinh Phật gọi “chiêm tinh, chọn ngày” là “thế
gian ư”, đều thuộc vào lệ cấm! Điểm
nhăn khai quang là một thứ chú nguyện do pháp sư
cử hành, chẳng giống với ư vừa nói trên đây.
* Hỏi: Có vị giáo hữu
cậy tôi hỏi giùm, ông ta muốn xây cất nhà cửa,
nhưng kẻ tục khuyên ông ta nên chọn ngày lành, giờ
tốt, ấn định phương hướng.
Nhưng chiếu theo đạo lư chánh tín, hết thảy
mọi việc đều chỉ do tâm tạo, tâm thiện
th́ cảnh thiện, tâm ác cảnh bèn ác, há bị hạn
chế bởi thời gian, địa điểm? Xin
hỏi lăo cư sĩ nghĩ như thế nào? (Lư Vinh Đường hỏi)
Đáp: Cách nh́n như tôn ư
hết sức chánh xác.
* Hỏi: Trong tập cuối
của bộ Huyền Trang Đại Sư Linh Cốt Quy
Quốc Phụng An Chuyên Tập (chuyên tập về
chuyện rước xương thiêng của Huyền Trang
đại sư về nước an trí thờ phụng),
trang hai trăm mười lăm, ḍng thứ tám có nói: “Đại sư đáp: Dùng Du
Già Sư Địa Luận do Di Lặc Bồ Tát
trước tác”. Di Lặc Bồ Tát là vị Bồ Tát
trong quá khứ, là Phật trong tương lai, trong
khoảng giữa bèn ứng hóa thân nào khiến cho chúng sanh
nhận biết? Dùng phương thức nào để
truyền đạt Du Già Sư Địa Luận
khiến cho chúng sanh biết tới? (Lư Vinh Đường hỏi)
Đáp: Thuở đức
Thế Tôn tại thế, trong các vị Bồ Tát tham gia các
pháp hội có vị từ phương khác đến, có
vị sống trong cơi này. Di Lặc Bồ Tát và đức
Thế Tôn đồng thời, Ngài sanh tại Nam Thiên Trúc,
trong nhà Bà La Môn, làm đệ tử xuất gia của
đức Phật giống như các vị Xá Lợi
Phất và Mục Kiền Liên v.v... Đă biết tông tích
của Ngài, chẳng c̣n nghi ngờ luận ấy nữa!
* Hỏi: Cũng trong bộ
chuyên tập trên đây, trang một trăm ba mươi
sáu, nói về thánh tích của đức Phật, c̣n
nhắc tới Đề Bà Đạt Đa, Chiến Già
Bà La Môn nữ hủy báng Như Lai, thân bèn đọa vào
địa ngục ngay trong khi c̣n sống. Nói theo lư,
địa ngục là chỗ thần thức tội
quỷ sanh vào, nhục nhăn làm sao có thể thấy
được? Xét theo lư luận khoa học, dưới
đất có địa ngục rất đáng nghi ngờ!
(Lư Vinh Đường hỏi)
Đáp: Đất nứt ra,
thân rơi vào đó, gọi là “sanh
thân hăm địa ngục” (thân đọa vào địa
ngục trong khi c̣n sống). Thân c̣n chưa chết mà
thần hồn đă đọa vào, như kẻ chưa
mạng chung mà tướng địa ngục đă
hiện, cũng là “sanh hăm
địa ngục” (hăm trong địa ngục khi c̣n
sống). C̣n như kẻ có tội thấy tướng
địa ngục hiện, cố nhiên kẻ b́nh phàm
chẳng thấy, nhưng người đă khai thiên nhăn
ắt thấy rơ ràng, rành rẽ. [Nói] “địa ngục
ở dưới đất”, chớ hiểu chết
cứng chữ “dưới”. Ở dưới tầng
đất này, liền có thể nói là “địa hạ” (dưới đất). Hăy nên
biết, thủy, hỏa, phong v.v... đều
được bao gồm trong chữ Địa. Con
người biết điều này, [địa ngục] có
bốn loại lớn, nhưng thiên biến vạn hóa,
không ǵ chẳng có. Nói “có địa ngục” th́ có ǵ là
chẳng được! Nhưng những điều trên
đây vẫn là dựa theo vật chất để nói,
nếu xét theo nghĩa lư Duy Thức, chúng ta thấy là
đất, nhưng trong cái nh́n của những loài chúng sanh
khác, chưa chắc đă là như vậy. Như loài
người thấy là nước, cá thấy như mây
khói, chư thiên thấy như lưu ly, ngạ quỷ
thấy là lửa dữ!
* Hỏi: Cũng trong bộ
Chuyên Tập trên đây, trang một trăm bốn
mươi ba có một đoạn thuật chuyện tôn
giả A Nan do thấy chúng sanh khó độ bèn tự sát.
Tự sát cũng là sát sanh, bậc thánh giả đă
chứng quả A La Hán cớ sao lại khinh rẻ mạng
sống như vậy? Tự sát th́ có thể văng sanh Tây
Phương hay không? (Lư Vinh
Đường hỏi)
Đáp: Kẻ hèn này đọc
kinh rất ít, chưa thấy chuyện ấy xuất
xứ từ chỗ nào, nên chẳng biết nguồn
cội của câu chuyện ấy, nên chẳng có cách nào
trả lời, xin hăy tha thứ.
* Hỏi: Trong
phẩm Phổ Môn kinh Pháp Hoa có đoạn chép Vô
Tận Ư bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Con
nay sẽ cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát”, liền
tháo chuỗi anh lạc bằng các thứ bảo châu đeo
trên cổ, giá trị trăm ngàn lạng để dâng
tặng, thưa rằng: “Bạch
nhân giả! Xin hăy nhận lấy chuỗi trân bảo pháp
thí này”. V́ sao tài thí chuỗi trân bảo lại gọi là
pháp thí? Khó hiểu quá! Xin hăy giải thích cặn kẽ thêm!
(Lư Vinh Đường hỏi)
Đáp: Phàm mỗi lời nói,
mỗi hành vi, đều có hai mặt “hợp lư, hợp
pháp” và “chẳng hợp pháp, chẳng hợp lư”. Bố thí
cũng chẳng ra ngoài lệ ấy. Vô Tận Ư Bồ Tát
đem chuỗi anh lạc tặng cho Quán Thế Âm Bồ
Tát, bảo là “pháp thí”, hăy nên
hiểu là bố thí hợp pháp hợp lư, chứ chẳng phải
là Pháp Bố Thí. Hăy nên biết, ngài Quán Âm là cổ Phật hóa
thân, quyền biến thị hiện thân Đẳng Giác.
Trừ Phật ra, có ai c̣n có thể dùng Phật pháp
để bố thí cho Ngài?
* Hỏi: Trong Lăng Nghiêm Kinh
Giảng Nghĩa do pháp sư Viên Anh biên soạn, quyển
thứ nhất, trang ba mươi hai nói kinh này
được cất trong cung rồng. Cung rồng ở
chỗ nào? Có phải là động Thủy Liêm trong Tây Du Kư
hay không? Thật là luận định thần kỳ,
lạ lùng! Theo nhăn quang hiện thời, đây có phải là
chuyện thật hay không? (Lư
Vinh Đường hỏi)
Đáp: Cung rồng ở trong biển,
người có thần thông sẽ có thể thấy, có
thể vào, bọn phàm phu chúng ta chẳng biết
được. Nếu đối với chuyện này bèn
hoài nghi, cho là luận định thần kỳ, quái
dị, cư sĩ đă là tín đồ Phật giáo,
tự nhiên tín phụng kinh Phật, thử hỏi thiên
đường và địa ngục lại ở nơi
nào? Há chẳng phải đều là luận định
kỳ quái? C̣n như ông nói “theo nhăn quang hiện thời” th́
[nên hiểu theo kiểu nào], phải tôn trọng hay phải
phù hợp? Cái gọi là “nhăn quang” chính là kiến giải. Con
người hiện thời nếu như đă ngộ tri
kiến của Phật th́ nhăn quang sẽ là chánh xác. Nếu
không, do Hoặc nặng, chướng sâu, tri kiến tự
lầm lạc, chẳng đáng để tôn trọng, càng
chẳng cần phải phù hợp! Lũ chúng ta hăy nên y
pháp, đừng y nhân, đối với những chuyện
ấy có thể thuận theo phương tiện. Nếu
là người suy tưởng chuyện hoằng hóa, sẽ
tự có lời lẽ phương tiện thiện
xảo khế cơ, khế lư. Nếu chẳng hoằng
pháp th́ giữ im lặng là được rồi. Tây Du Kư
là truyện tiểu thuyết, há nên lấy nó để hư
luận bàn bạc kinh Phật ư?
* Hỏi: Theo cái nh́n ngu muội
của tôi, hết thảy các tôn giáo cũng chẳng qua là
dục vọng thăng hoa, v́ sao lại khăng khăng
phủ nhận, cự tuyệt, và chán ghét những dục
vọng khác với dục vọng của chính ḿnh? (Ngô Tiệp Hán hỏi)
Đáp: Dục vọng là tên
gọi chung của sự yêu thích, mong cầu một sự
hoặc một lư nào đó, nhưng hết thảy sự
lư có thiện và ác khác nhau. Tánh chất của chúng sanh
cũng có hiền hoặc ngu khác biệt. Kẻ hiền
chuộng thiện, ghét ác, kẻ ngu chuộng ác, ghét
thiện, như lửa bốc lên, như nước
chảy xuống, thuận theo lẽ tự nhiên. Ai nấy
cự tuyệt, chán ghét những thứ khác với dục
vọng của chính ḿnh, há đáng trách ư? Dục
vọng của các nhà tôn giáo và dục vọng của ma
vương sát nhân đă là mỗi người có
đường lối khác biệt, đă ở vào vị
trí tương phản, cần ǵ phải kinh ngạc?
* Hỏi: Đức Phật nói
chúng sanh b́nh đẳng, v́ sao lại có nỗi khổ luân
hồi trong lục đạo? Khổ do đâu mà có?
Quả lại có tiêu chuẩn ǵ? Người có nhăn quang
thấy những chúng sanh khác là khổ,
thật sự sợ là ngoại trừ những kẻ
“tự cậy thông minh” ra, những chúng sanh khác trọn
chẳng ở trong t́nh cảnh như kẻ ấy
tưởng tượng! Người ta lại khư
khư sợ đời sau sẽ làm súc sanh, thật ra, con
người chẳng bằng súc sanh về nhiều
phương diện đó sao? (Bất luận xét theo
phương diện nào như trí huệ, đạo
đức, cuộc sống v.v...) (Ngô Tiệp Hán hỏi)
Đáp: Câu này cần phải
tách thành năm đoạn để giải thích:
1) Chúng sanh b́nh đẳng là nói
về [các phương diện] bổn tánh, sanh mạng,
sự cải ác hướng thiện, và siêu phàm nhập
thánh th́ đều b́nh đẳng. Trọn chẳng
phải là nói theo phương diện chúng sanh tạo
nghiệp bèn đen trắng chẳng phân biệt, hoặc
lúc thọ báo bèn chẳng phân biệt khổ hay lạc!
Họ đă tạo nghiệp ngàn muôn sai khác, nên thọ báo
cũng phải là ngàn muôn sai khác! Đó
đều là “tự làm, tự chịu”, nhân như thế
nào, quả như thế ấy, chẳng phải do
Phật bày ra sự thưởng phạt! Tuy chúng sanh
tạo nghiệp bất đồng, nên thọ báo bất
đồng trong lục đạo, nhưng xét theo các
điều kiện như bổn tánh v.v... vẫn chẳng
có ǵ bất đồng! Nay lấy con người
để tỷ dụ, tuy có các thân phận như Tổng
Thống, Bộ Trưởng, viện trưởng, binh sĩ,
nông dân, công nhân, thương gia v.v... có các sự
hưởng thụ như phú ông, kẻ ăn mày, phạm
nhân v.v... nhưng đều gọi chung là người,
chẳng thể gọi là “phi nhân”. Đó là ư nghĩa b́nh
đẳng. Lại nữa, lúc mới sanh ra, đỏ hon
hỏn, chẳng mang theo một vật nào tới.
Đến lúc chết, hai tay trống trơn, chẳng mang
theo vật nào ra đi. Từ đầu đến
cuối, không có ǵ chẳng b́nh đẳng!
2) Khổ do đâu mà có?
Trồng đậu được đậu, trồng
dưa được dưa. Giết người
đền mạng, mắc nợ phải trả tiền.
Khổ do đó mà có!
3) Tiêu chuẩn của khổ là
sanh, lăo, bệnh, tử, yêu thương phải chia ĺa, oán
ghét phải gặp gỡ, cầu không được,
nước, lửa, chiến tranh, đói lạnh, tai
ương, họa hại, đều là tiêu chuẩn
của khổ.
4) Nếu chẳng thấu
đạt t́nh cảm của chúng sanh, tự nhiên sẽ chẳng
hiểu rơ cảm tưởng của chúng sanh. Thật ra,
điều này cũng chẳng phải là rất khó
hiểu. Chim, thú thấy người liền bay đi, tránh
né, đó là nỗi khổ kinh sợ. Chuột mắc
bẫy rập, muỗi bị đập chết
tươi, đó là nỗi khổ do đói khát. Gà, vịt,
lợn, dê bị giết mổ, kêu rên bi ai chẳng
ngừng; đó là nỗi khổ sợ hăi đau
đớn. Nếu nói “chúng chẳng biết khổ”,
tức là chưa đặt ḿnh vào hoàn cảnh ấy.
Nếu nói lúc b́nh thường chúng chẳng biết khổ
th́ chính là ngu mê chẳng tỉnh, ngơ ngơ ngáo ngáo
đáng thương. Nếu có thể tỉnh ngộ,
sẽ nghĩ đến giải thoát.
5) Người chẳng bằng
súc sanh th́ xét về sự hưởng thụ, có lẽ có
hiện tượng ấy, như chó của người
Tây Phương được ăn bánh ḿ thịt ḅ, dân
Trung Quốc đói khát phải ăn thức ăn vụn
vặt, rau dại. Chuyện này là ngẫu nhiên, trọn
chẳng phải là đa số, quyết chẳng thể
nói khẳng định hoàn toàn là “bất luận trên
phương diện nào” [súc vật] cũng đều
trội hơn con người!
* Hỏi:
Thiên hạ vốn vô sự, thế mà có lắm kẻ
cứ khăng khăng bận tâm so đo pháp sư, giáo
chủ, mục sư, linh mục, thánh nhân, triết gia này
nọ, há chẳng phải là chuyện của kẻ b́nh phàm mà cứ tự lo ngay ngáy hay sao? (Ngô Tiệp Hán hỏi)
Đáp: “Thiên hạ vô sự thái b́nh mà có kẻ b́nh phàm lo ḅ trắng răng” tức là hễ có chuyện loạn lạc, kẻ nơm nớp lo âu là hạng b́nh phàm, kẻ chẳng bị nhiễu loạn chính là bậc thánh triết. Người hữu tâm thấy rơ ràng, nên biết lấy, bỏ [đúng lẽ], nguồn loạn tự giảm. Kẻ vô trí vẫn cứ thản nhiên chẳng biết lo toan nên bị cuốn hút, vấy bẩn theo, loạn
càng thêm loạn!
* Hỏi: Giới tuyến
giữa hai lănh vực thiện và ác là ǵ? Tiêu chuẩn
của thật, giả, tà, chánh là ǵ? Nguyên nhân của
khổ, lạc là ǵ? Nếu là kẻ không quá mức cậy
ḿnh, chủ quan, vơ đoán, tôi nói là bờ kia Niết Bàn,
thiên đường, địa ngục và hết thảy
đều là do bị con người cưỡng chia thành
các cực đoan, có đúng hay không? Nếu vậy th́
cần ǵ phải phiền phức truy cầu hoặc tránh
né? (Ngô Tiệp Hán hỏi)
Đáp: Thiện - ác, khổ -
lạc, tà - chánh, Niết Bàn, sanh tử vốn là Không. Về
sau, do kẻ b́nh phàm lo ḅ trắng răng, nên từ Không sanh
ra Có. Đă có rồi, bèn chẳng thể gượng ép cho
rằng chẳng có! Như nước vốn chẳng có
sóng, do gió nhiễu động mà sóng sanh ra. Sóng đă sanh ra,
sẽ có nỗi ương hoạn lật thuyền, d́m
người chết đuối; lúc ấy, chẳng
thể nào không có lấy, bỏ được! Nếu gió
lặng, sóng cũng chẳng c̣n tung tích, người
vượt sông biển c̣n có ǵ lấy, bỏ để nói
nữa! Người học Phật cũng giống như
gió lặng vậy!
* Hỏi: Theo Vật Lư Học,
vật chẳng bị động sẽ không thể nào
tự chuyển động. Sợ rằng Phật pháp
cũng có thể vượt ngoài lệ ấy, v́ do nhân
duyên sanh th́ há chẳng phải là Không ở trong Không,
huyễn ở trong huyễn đó ư? (Ngô Tiệp Hán hỏi)
Đáp: “Chẳng bị
động sẽ chẳng thể tự chuyển
động” và “do nhân duyên sanh” có ư nghĩa tương
tự, nhưng “do nhân duyên sanh” là cách nói viên dung. Như dựng
hai nhánh cây, chống vào nhau như h́nh chữ Nhân (人) để đứng vững, sự đứng
vững ấy do nhân duyên ḥa hợp mà thành, trọn
chẳng thể nói nhánh cây bên trái là chánh yếu, chống
đỡ nhánh cây bên phải, mà cũng chẳng thể nói
nhánh cây bên phải là chủ yếu, chống đỡ
nhánh cây bên trái. Nếu nói là “bị động”, ắt
phải có “chủ động”. Thử hỏi, kẻ
chủ động mà động th́ lại là do lẽ nào?
Hai thứ học lư (Phật pháp và Vật Lư) cố nhiên có
thể tương thông, nhưng cách nói có tinh vi hay thô sơ
khác biệt!
* Hỏi: Con người thường thích
tự hạn chế trong khuôn khổ của chính ḿnh,
ở trong phạm vi ấy bèn thổi lông t́m vết,
chuốt nhọn sừng trâu, đến nỗi tự cho
là sự cảm nhận của chính ḿnh là viên măn, ngỡ là
mênh mông, tinh tường, sâu thẳm, chí cao vô thượng.
Do vậy, bèn huyễn hoặc, sanh khởi cái nh́n từ bi
thương xót kẻ khác, đâu biết chính ḿnh chẳng
qua cũng đang vật vă trong khuôn khổ ấy (hoặc
trong một khuôn khổ khác biệt). Trong báo Giác Sanh số
nào đó, có một vị gọi là Tam Tam Đại
Đức, đọc câu hỏi do vị ấy đă nêu
ra với cư sĩ, dường như là hiểu rất
nhiều, nhưng dụng ư và nhu cầu có ǵ khác biệt
kẻ b́nh phàm? (Ngô Tiệp Hán
hỏi)
Đáp: Lời cao luận
của ông hết sức đúng. Trong Phật học
gọi “quẩn quanh trong một khuôn khổ, chuốt
nhọn sừng trâu” là Pháp Chấp. Nghiên cứu học
vấn, ắt cần phải xét khắp bốn phương
tám hướng, biết ḿnh, biết người, sẽ
đạt đến viên măn. Câu nệ thiên kiến,
phần nhiều sẽ trái nghịch sự thật.
* Hỏi: Trong nhăn quan của tín
đồ Cơ Đốc giáo, Thích Tôn chỉ là thánh nhân,
chẳng thể sánh bằng Chúa (Gia Ḥa Hoa Thượng
Đế - Jehovah). Họ nói Thượng Đế là
vị chúa tể có thể sáng tạo vạn vật, là chúa
tể của vũ trụ, vượt xa năng lực
của con người. Ngu tôi cho rằng vũ trụ là
pháp sanh bởi nhân duyên, trọn chẳng có tánh chất
thực tại, nó có tánh chất tồn tại độc
lập, có tánh chất chẳng thay đổi, ai có thể
chứng tỏ vũ trụ do Thượng Đế sáng
tạo? Đức Phật là bậc khai ngộ Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, đă đạt bất
sanh, bất diệt, liễu thoát sanh tử. Chúa bất quá
là một vị trời, khó tránh khỏi nỗi khổ luân
hồi trong lục đạo! Họ trả lời:
“Đă là liễu sanh tử, hăy làm thế
nào để chứng tỏ sự thật”, đ̣i tôi nêu
ra chứng cứ. Ngu tôi căn cứ [trên sự kiện]
Phật giáo đă có lịch sử hơn hai ngàn sáu trăm
năm, các vị đại Bồ Tát, A La Hán, cao tăng
đại đức trong các đời đều là
bậc từng trải, đều có thể là chứng
nhân. Cảnh giới minh tâm kiến tánh của các Ngài đă
được ghi chép trong kinh Phật có thể làm
chứng cứ, nhưng họ vẫn chẳng chịu t́m
hiểu, đ̣i hỏi phải lấy những chuyện
cụ thể, gần gũi, nông cạn để kẻ
b́nh phàm, chẳng phải là Phật giáo đồ
đều có thể liễu giải ḥng giải thích, nêu
chứng cứ. Hễ chân lư trải qua khảo nghiệm
th́ chẳng cần phải tranh chấp, biện luận
nữa! [Đạo Phật] chú trọng tự chứng mới
biết, nhưng cần phải lập ra phương cách
để kẻ khác hiểu rơ sự tôn quư của Phật
lư, ngoại đạo chẳng thể sánh bằng th́
mới có thể hướng dẫn
những kẻ theo các tôn giáo khác khiến cho họ dấy lên
ḷng tin. Có phương pháp tốt đẹp nào để
trả lời họ hay không? (Bạch
Lai Thọ hỏi)
Đáp: Quư cư
sĩ đại tâm ủng hộ Phật pháp, bi tâm
chuyển dời ngoại đạo, rất đáng khâm
phục! Xét kỹ lời luận định của ông
cũng khá chánh xác, mà chẳng thể chiết phục
kẻ đó là do hai nguyên nhân:
1) Một là biện tài thiện
xảo của chính ḿnh [chưa đạt đến
mức thuyết phục người khác].
2) Hai là do kẻ đó lạc
đường đă sâu.
Chẳng biết do lư do nào! Ông
gởi thư bảo tôi hăy giúp đỡ về mặt ngôn
luận, đó là chẳng biết phương tiện
thiện xảo, bởi lẽ, đôi bên biện luận,
khéo léo ở chỗ đối đáp nhạy bén, làm sao có
thể sai người khác nghĩ sẵn ngôn từ? Hơn
nữa, Phật pháp sâu thẳm, chư tổ đời sau
c̣n chẳng biết [cảnh giới] của ngài A Nan, ngài A
Nan cũng chẳng biết [cảnh giới] của ngài Ca
Diếp, ngài Ca Diếp lại càng không biết [cảnh
giới của] Phật. Quư cư sĩ muốn khiến
cho kẻ ở ngoài pháp môn biết Phật th́ cũng
giống như hướng đến những bà cụ
già trong chốn thôn quê ca tụng rành rẽ khuôn mẫu
của vua Nghiêu, vua Vũ, rành rành là chẳng thiện
xảo! C̣n như [kẻ ngoại đạo] bảo
“Phật là người”, chẳng tin có Niết Bàn, xưng
tụng Thượng Đế là Chúa, bảo Chúa tạo ra
vạn vật, họ đă đ̣i cư sĩ nêu ra
chứng cớ, sao cư sĩ không buộc họ nêu
chứng cớ về Thượng Đế trước
đă? Sao không trước hết hăy đ̣i họ nêu
chứng cớ [Thượng Đế] sáng tạo vạn
vật? Thiên kiến nặng nề, cho thấy kẻ
ấy lạc đường đă sâu. Kẻ hèn này
cũng có lập trường. Ví như nhà âm nhạc,
hằng ngày phải cống hiến ca nhạc cho quần
chúng thưởng thức. Cư sĩ cứ nhất
định buộc kẻ hèn này xách dao cầm[12],
bỏ quần chúng vào chốn núi hoang, tấu nhạc cho
vách đá, mong mỏi vách đá sẽ cảm động,
vui sướng. Cân nhắc sự nặng nhẹ, cố
nhiên tôi chẳng thể đáp ứng lời yêu cầu
của quư cư sĩ. Nếu hỏi vách đá chẳng
đáng để cảm động ư? Thưa, không!
T́nh và vô t́nh, đă là có thể “đồng viên Chủng
Trí”, nên ngài Đạo Sanh thuyết pháp, [đá] cũng
gật đầu. Kẻ hèn này chẳng có biện tài
như ngài Đạo Sanh, chẳng có bi tâm như quư cư
sĩ, cân nhắc đức, lượng định
sức, chẳng thể vâng lệnh! Tuy là như thế,
nhưng hỏi mà chẳng đáp, cũng khá vô lễ, nên
lời đáp này là để thưa cùng cư sĩ,
chẳng phải là để nói lại với kẻ
ấy. Nói với kẻ ấy, [quư cư sĩ] sẽ
tự có lời lẽ khế cơ, lời lẽ ấy
là như thế nào? Tôi từng thấy Nhật Bản làm
phim Phật giáo, có [bộ phim] Tôn Đại Thánh (Tề
Thiên) Đại Chiến Thượng Đế,
Thượng Đế bó tay, xót xa cầu thỉnh Như
Lai mới bèn có thể chế phục Tôn Đại Thánh.
Do điều này biết Phật là chí cao vô thượng.
Nếu nghi “chuyện ấy chẳng phải là hư luận
ư?” Thưa rằng, “ba cân
gai, que cứt khô”[13]
đều có thể khơi gợi kẻ khác khai ngộ.
Trúc biếc, hoa vàng không ǵ chẳng phải là Bát Nhă,
huống hồ Tôn Đại Thánh trong Tây Du Kư ư? Chỉ
có mấy lời thừa thăi mong trả lời phần nào
các điều ông đă hỏi!
* Hỏi: Làm sao có thể
chứng thực Phật đă liễu thoát sanh tử, cao
thượng hơn thần? (Bạch
Lai Thọ hỏi)
Đáp: Phàm phu xuất thai,
nhập thai, chẳng thoát lục đạo, nên gọi là
sanh tử. Cái nhân của sanh tử là do khởi Hoặc
tạo nghiệp, thần thức bị mê hoặc và
nghiệp lực lôi dắt đi đầu thai trong các
đường, như phàm phu nằm mộng, đều
do các chủng tử vọng niệm tích tụ, dấy lên
hiện tướng. Bậc liễu sanh tử đă phá
sạch hết thảy huyễn vọng, nghiệp tận,
t́nh không, chân tánh giải thoát làm chủ, chẳng c̣n bị
hết thảy lôi dắt. Chẳng c̣n nhập thai, nên
gọi là Bất Sanh. Đă chẳng c̣n nương gá thân
hư huyễn, chẳng có vật ǵ để có thể
chết nên gọi là Bất Tử. Đó gọi là “liễu sanh tử”.
Đoạn hết Kiến Tư Hoặc, chứng quả
La Hán. Đoạn Trần Sa Hoặc, phần chứng
Bồ Tát. Đoạn căn bản vô minh, chứng
Phật quả. Thần và trời đều chưa
đoạn Hoặc, chứng Chân, nên vẫn bị
nghiệp lôi dắt vào sanh tử. Ai chân, ai giả, ai cao, ai
thấp, người sáng suốt tự biết, chẳng
phải là kẻ miệng lưỡi [trơn tru, liến
thoắng] có thể tranh biện được!
* Hỏi: Cảnh giới
Niết Bàn bất sanh bất diệt là cảnh giới
như thế nào? Chứng cứ ở chỗ nào? (Bạch Lai Thọ hỏi)
Đáp: Phật có ba thân, thân
trong cơi đời nhằm độ chúng sanh, nên tùy cơ
ứng hóa, “bất sanh bất
diệt” là nói về Pháp Thân. Pháp Thân chính là Chân Như
bổn tánh, rỗng rang, huyền diệu, chẳng có
thể chất. Xin hỏi hư không có diệt hay chăng?
Tuy chẳng có h́nh chất, nhưng nó trọn đủ các
“năng lực”, hễ gặp cảm bèn có thể hiện
tướng. Điều này được gọi là “tùy duyên”; duyên hết,
tướng lại trở về Không. Đó là chẳng
biến đổi. Trong cái Không ấy, thật ra cũng có
tướng, điều này được diễn tả
là “Không chính là Sắc, Sắc
chính là Không”. Biết Không chẳng diệt, nên theo lư,
Sắc cũng chẳng diệt. Đó là cách hiểu thô
thiển về lẽ “chẳng sanh diệt”. [Điều
này được] các nhà khoa học nói là “năng lực bất diệt, vật chất
bất diệt”. Niết Bàn có rất nhiều loại,
mỗi loại có cảnh giới riêng, chẳng thể nói
vơ đũa cả nắm trong một lời
được, người chứng đắc sẽ
tự biết. Nếu hỏi chứng cứ, cứ cho
người ấy uống một ngụm nước sôi,
hoặc nuốt một chén nước đá, để cho
người ấy cảm nhận lạnh nóng ra sao.
Đối với kẻ không tin, hăy mời kẻ ấy
nêu ra chứng cứ về cảm giác nóng hay lạnh!
* Hỏi: Sau khi nhập Niết
Bàn th́ cái gọi là “linh hồn” (thuận theo danh từ trong
cơi tục) sẽ đến nơi đâu? Pháp Thân có
trạng thái như thế nào? Niết Bàn và cảnh
giới “thanh tịnh vô vi
hư vô” của Đạo giáo có ǵ khác biệt? (Bạch Lai Thọ hỏi)
Đáp: Bổn tánh bị mê,
đó là thần thức, nó chính là cái được
ngoại đạo gọi là “linh hồn”. Linh hồn
sẽ do nghiệp thiện hay ác khác biệt mà sanh vào trời,
người, hay tam đồ, v́ thần thức thuộc
về vọng huyễn. Tu tŕ trong nhà Phật chính là
đoạn Kiến Tư Hoặc, Trần Sa Hoặc, sanh
tướng vô minh, chuyển thần thức thành chân trí.
Trí là tên gọi khác của chân tánh và Pháp Thân, đạt
đến chỗ này mới gọi là “Niết Bàn rốt
ráo”. Linh hồn là vọng huyễn, làm sao đắc
Niết Bàn cho được? Tự nhiên sẽ vào trong
lục đạo. Chân tánh đă giải thoát, chẳng
đến, chẳng đi, to lớn bao trùm hư không,
chẳng chỗ nào không trọn khắp. Đạo gia
chẳng biết sanh tướng vô minh, lầm
tưởng thần thức là cái sẵn có, cảnh
giới tối cao bất quá là sanh vào Phi Tưởng Phi Phi
Tưởng Xứ Thiên mà thôi. Đó là chỗ khác biệt!
* Hỏi: Ứng Thân của
Phật trọn khắp vô lượng số thế
giới, tại sao các nước Âu Mỹ cho tới
gần đây mới biết có Phật, mà người tin
tưởng thưa thớt như vậy? Tuy đạo Gia
Tô (Thiên Chúa giáo) nói tới Thiên Đường, chẳng tin
luân hồi, v́ sao phát triển mạnh mẽ tại Tây
Phương như vậy? Chúng sanh đông đảo
như thế, mà trọn chưa hề tai nghe mắt
thấy sự thật luân hồi như được
lưu truyền tại Trung Thổ? Nếu nói là “duy tâm hiển hiện” th́
“chẳng có tâm ấy, sẽ chẳng có chuyện ấy”,
vậy th́ thuyết nhân quả há có giới hạn trong
một khu vực ư? Hơn nữa, dường như
những sự tích luân hồi ba đời được
lưu truyền qua các đời đều giới
hạn tại Trung Quốc, chẳng nghe nói người
Trung Quốc thọ sanh tại Tây Dương, hoặc sanh
trong một thế giới khác, là v́ lẽ nào vậy? (Âu Dương Mạn hỏi)
Đáp: Một, đối
với đoạn văn từ chữ “Ứng Thân của
Phật” cho tới “người tin tưởng thưa
thớt như vậy”, [câu trả lời là] vạn pháp
đợi duyên mà sanh. Cổ nhân nói: “Phật tuy từ bi, nan độ vô duyên” (tuy
Phật từ bi, khó độ kẻ chẳng có duyên). Cái
“duyên” được nói ở đây chính là túc thế
thiện căn (thiện căn trong đời trước).
Thuở trước, khi đức Thế Tôn diễn
thuyết kinh Pháp Hoa, c̣n có năm ngàn tỳ-kheo rời
khỏi pháp tọa, những kẻ ấy chẳng có
phước duyên đối với đại pháp ấy
nên chẳng thể tiếp nhận. Âu Mỹ hiện
thời, tuy nói người tin tưởng thưa thớt,
nhưng họ đă bắt đầu tin th́ chướng
tiêu, huệ hiện, sẽ có ngày Phật pháp
được phổ cập.
Hai, đối với
đoạn nói về đạo Gia Tô lưu truyền, [câu
trả lời là] lục đạo luân hồi xuất phát
từ kinh Phật. Người có thần thông, hiểu
biết thấu triệt ba đời th́ mới có thể
nói được. Những kẻ chẳng có thần thông,
sẽ chẳng thể thấy. Kẻ chẳng suy xét sâu xa,
ắt chẳng chịu tin. Suy nghĩ cặn kẽ th́
bọn họ cũng biết được một hai
phần, nhưng chưa thể dung hội, thông suốt.
Như phần lớn những kẻ nghiên cứu Linh
Học (Spiritual Science) nói đến quỷ. Trong kinh Tân
Cựu Ước [của đạo Thiên Chúa] cũng nói
thiên đường và địa ngục, người và
súc sanh là những vật quen thấy, rơ ràng là họ đă
thừa nhận năm đường. Thử hỏi thân
quỷ, thân thiên đường và thân địa ngục
do vật ǵ biến ra? Nếu nói là do linh hồn của con
người biến ra th́ “biến” chính là luân hồi!
Cớ sao biết hai lần năm, mà chẳng biết là mười?
Ba, đối với
đoạn “nếu nói có giới hạn ư”, [câu trả
lời là] đă hiểu rơ lời đáp dành cho đoạn
thứ hai th́ mối nghi trong đoạn này cũng
được tháo gỡ.
Bốn, “lại nữa,
dường như những sự tích luân hồi ba
đời được lưu truyền qua các
đời”, những điều được chép trong
sách vở vốn bị giới hạn bởi sự
hiểu biết của con người. Trước kia, [cổ
nhân Trung Hoa] c̣n chưa biết có các nước Âu Mỹ, há
có thể ghi chép chuyện của người trong các
xứ ấy? Nhưng Vương Ngư Dương[14]
là quốc vương Cao Ly chuyển sanh. Địa
Tạng Bồ Tát ứng thân tại Cao Ly, tên là Kim
Địa Tạng. Người xứ An Nam là Lưu
Kiến Trung sau khi chết mượn xác thân một
người vừa chết ở Sơn Đông, Trung
Quốc để hoàn hồn v.v... Những người
ấy [người ta] đă quen nghe thấy, lẽ nào [nhân
quả luân hồi] chỉ hạn cuộc tại Trung
Quốc? Hơn nữa, trong kinh Địa Tạng Bổn
Nguyện, phần chép về Vô Gián địa ngục có
đoạn: “Khương,
Hồ, Di, Địch, lăo, ấu, quư, tiện, hoặc long,
hoặc thần, hoặc thiên, hoặc quỷ, tội hành
nghiệp cảm, tất đồng thọ chi”
(Khương, Hồ, Di, Địch[15],
già, trẻ, sang, hèn, hoặc rồng, hoặc thần,
hoặc trời, hoặc quỷ, do tạo tội nên
nghiệp cảm vời, đều phải cùng gánh
chịu). Lời kinh đă nói rơ ràng, vừa nói tới
Khương, Hồ, Di, Địch, vừa nói đến
rồng, thần, trời, quỷ, vô lượng chúng sanh
đều được bao gồm trọn khắp trong ấy.
* Hỏi: Phật pháp cho
đến thời Hán Minh Đế mới truyền
đến Trung Thổ, nhưng đạo được
nói bởi các bậc tiên thánh trong thời cổ, như Lăo,
Trang, Châu, Khổng, dường như không ǵ chẳng
khế hợp Phật pháp, chỉ là dùng danh từ
thuật ngữ bất đồng. Như Lăo Tử nói: “Hữu vật hỗn thành, tiên
thiên địa sanh, hoảng hề, hốt hề, kỳ
trung hữu tượng. Hốt hề, hốt hề,
kỳ trung hữu tinh” (Có một vật hỗn
độn mà thành, sanh trước trời đất,
mập mờ, thấp thoáng mà bên trong có vật, sâu
thẳm, tối tăm mà bên trong có cái tinh túy)[16].
Khổng Tử nói: “Triêu văn
đạo, tịch tử khả hỹ” (Sáng nghe
đạo, tối chết cũng được). Cái
được gọi “vật
tồn tại trước khi có trời” tức là nói
đến Chân Như trong nhà Phật. Cái được
gọi là Đạo chính là “đại sự nhân duyên
xuất thế” trong giáo pháp của ông cụ mặt vàng
(hoàng diện lăo tử, đức Phật). C̣n như “tâm
trai, tọa vong” (trai giới trong tâm, tĩnh tọa quên
mất chung quanh) đều phù hợp với pháp môn tu hành
trong nhà Phật. Lại nữa, đối với những
vị được gọi là “thần tiên” của Trung
Quốc, địa vị của những vị thuộc
bậc thượng bằng với Bồ Tát. Tử
Dương Chân Nhân[17]
dùng Đạo để giảng Phật, chỗ nào
cũng đều thấy là viên dung, chứng tỏ
thuyết “Thích và Đạo có cùng một nguồn” [là
đúng], trọn chẳng trái nghịch, sai lầm!
Đời sau chấp vào mười thứ Tiên nói trong kinh
Lăng Nghiêm để nhận xét vơ đũa cả
nắm các vị thần tiên Trung Quốc, nên chuyện “tổ sư Hoàng Long quở
Lữ Tổ là quỷ giữ thây”[18] được lưu truyền
dường như là bịa thêm, chẳng biết có
đúng hay không? (Âu Dương
Mạn hỏi)
Đáp: Tuy
mặt người ai nấy đều có tai, mũi, mắt,
miệng, nhưng nh́n kỹ th́ thường là mỗi
người một khác; Lăo, Trang, Khổng, Châu và Phật
cũng giống như thế. Há do một hai chỗ
tương tự [bèn kết luận là các giáo đồng
nhất], nhưng đại thể đại dụng
vốn là mỗi giáo mỗi khác, có cách đối trị
riêng, học thuật riêng, chẳng cần phải gán ghép!
Nếu không, sợ rằng chẳng phải nhân mà coi là
nhân, chẳng phải quả mà ngỡ là quả. Lời
luận định này trọn chẳng phải là
“đỏ chẳng phải là trắng”, mà cũng chớ
nên mượn lời này để khinh hủy các thánh
hiền khác!
* Hỏi: Kẻ hèn này sau khi
đến Đài Loan, từng mộng thấy vài cảnh:
1) Trong mộng, hướng
thẳng về khám thờ Phật chắp tay làm lễ,
chợt thấy mây trắng trên trời kết thành h́nh
tướng A Di Đà Phật, liền lớn tiếng niệm thánh hiệu A Di Đà Phật bèn
tỉnh giấc. Khi tỉnh, dư âm vẫn c̣n nơi
miệng.
2) Trong mộng,
thấy một cái cửa
đóng chặt, chợt lớn tiếng xướng: “Mê
bèn trong ngộ mà mê, ngộ th́ từ mê mà ngộ”. Nói xong,
bèn tỉnh giấc.
3) Mộng thấy có kẻ
cừu oán truy đuổi, trốn chẳng
được, cuối cùng vọt lên không bay đi, cho
rằng có thể thoát hiểm. Vừa quay đầu nh́n
lại, cừu nhân cũng vọt lên không đuổi theo,
đột nhiên thấy một hang động, trong
động có những vị tăng h́nh dạng kỳ
lạ ước chừng hai ba vị, trong đó có một
vị chỉ dạy: “Cừu oán chẳng thể tránh né,
chỉ có cởi gỡ từ trong tâm chính ḿnh. Hễ
cởi gỡ, sẽ chẳng c̣n oán nữa”. Nghe xong bèn
tỉnh ngộ, cấp bách tiêu trừ từ trong tự
tâm. Quay đầu nh́n lại, kẻ cừu nhân đuổi
theo tôi đă mất tích từ lâu, do vậy bèn tỉnh
giấc.
Cố nhiên tôi biết mấy
cảnh trên đây đều là huyễn cảnh, nhưng
chẳng biết chúng cũng có liên quan ǵ đến nhân
quả trong đời trước hay không? Những
điều tôi vừa nói đều là thật, chẳng dám
cố ư phạm giới hư dối. Kính xin cụ hăy
chỉ dạy! (Âu Dương
Mạn hỏi)
Đáp: Trong đời
trước, cư sĩ ắt phải là người
thờ Phật. Mộng tuy là huyễn cảnh, nhưng
cũng là do một loại chủng tử hiện hành.
* Hỏi: Tập khí tích kết
của văn nhân là chuộng sáng tác thơ từ các
loại, [biên soạn] văn thơ từ chương,
nội dung chẳng ngoài các thứ u t́nh phong nguyệt,
biệt ly, oán hờn, hay hâm mộ, đều thuộc
về ỷ ngữ. Thật sự phát tâm học Phật
th́ có nên răn dè chuyện này hay không? Tôi lại thấy
vị lăo cư sĩ X... tin Phật cũng rất kiền
thành, dốc sức, nhưng chuộng làm thơ, lại c̣n
quyết ư dốc sức để mong sáng tác hay hơn
người khác, cái tâm danh lợi chưa trừ, rốt
cuộc trở thành mối phiền lụy to lớn. Tôi
từng khuyên lơn ông ta về chuyện ấy, chẳng
biết có nên hay không? (Âu
Dương Mạn hỏi)
Đáp: Bất luận tông nào,
tu pháp môn nào, nói chung, chẳng ngoài an trụ, dứt
niệm. Rong ruổi theo ư, chọn lựa ngôn từ
đẹp đẽ, tâm thường ĺa đạo. Ông
Tạ [Linh Vận] đă bị [tổ Huệ Viễn]
cự tuyệt không cho dự liên xă, ông Tô [Đông Pha] lâm
chung điên đảo, chẳng phải đều là do
thói tệ ấy hay sao? Cư sĩ khuyên bảo là đúng
rồi!
* Hỏi: Phật pháp coi
trọng công đức vô vi, mỗi lượt bố thí
cốt sao tam luân thể không. Đạo Gia Tô mở
nhiều bệnh viện, trường học, đặt
ra hạn mực [để đánh giá] tốc độ
tiến triển, siêng năng mong tích lũy hiệu
quả, dường như là công đức hữu vi.
Nhưng nếu nói theo phương diện ảnh
hưởng trong khí thế gian hiện thực th́ loại
công đức sau (công đức hữu vi) dễ
được nhân loại tin tưởng, ngưỡng
mộ, giải trừ tật bệnh đau khổ cho nhân
sinh, đâm ra cụ thể hơn mà lại dễ tiến
hành. Tôi trộm cho rằng, Phật giáo hăy nên lấy
phương pháp vô vi để tu tâm, dùng phương pháp hữu
vi độ đời, th́ sự cứu tế chúng sanh sau
này sẽ chẳng trở thành rỗng tuếch, chuyện
lợi sanh mới có dấu tích cụ thể. Chẳng
biết có nên hay không? (Âu
Dương Mạn hỏi)
Đáp: Vô vi tu tâm, hữu vi
ứng thế, Bồ Tát hạnh trong Đại Thừa
chính là như thế. Tam Tụ, Tứ Nhiếp,
Mười Nguyện Phổ Hiền, há chẳng phải
đều là hữu vi hay sao? Tiếc là Phật tử
hiện thời, ít có kẻ phát đại tâm, trọn chẳng
phải là Phật pháp không đề cao chuyện này!
* Hỏi: Cừu nhân chẳng
gặp mặt, địch nhân chẳng gặp gỡ. Tôi
hướng về người khác nói: “Tôi có một kẻ
thù, tôi sẽ giết nó chết, nó lừa dối tôi quá
đáng. Đối với người đời, nó
chẳng làm chuyện phải chau mày, chẳng khiến người
khác phải nghiến răng”. Người khác nói: “Tôi và anh
chẳng có lá gan ấy, chẳng có chí khí cứng cỏi.
Tôi muốn làm một kẻ ngốc nghếch và nhút nhát”.
Tôi muốn thử một phen, giết chết kẻ thù,
moi tim nó ra, cắn nó thành hai mảnh, rồi tự ra
nộp ḿnh, gặp quan ṭa. Tôi cho rằng giết kẻ thù,
giết kẻ ác là thiện niệm! Quan ṭa phạt tôi ba
mươi năm hay bốn mươi năm tù, tôi cam chịu,
chẳng cần phải hỏi nhiều, hỏi nhiều
càng rườm rà. Trước khi sự việc phát sanh,
tôi nói với ba người khác: “Tôi tính giết kẻ thù”.
Họ nói tôi không có lá gan ấy, chẳng có chí khí cứng
cỏi của bậc trượng phu. Xin quan ṭa đ̣i ba
người ấy ra ṭa, đem trái tim của kẻ thù tôi
đă giết cho ba người ấy coi. Xin hỏi Lư
đại cư sĩ có thể làm chuyện giết
người hay không? Tôi nghĩ đối với câu hỏi
về chuyện giết người, chắc đại
cư sĩ chẳng trả lời, quyết định
chẳng thể in ra. Nói th́ nói như vậy, c̣n chuyện
làm hay không do chính tôi quyết định. Nếu câu hỏi
hợp lệ th́ xin in ra, người hiểu biết
sẽ tự hiểu rơ ḥng răn dè kẻ khác. (Hưu Hưu hỏi)
Đáp: Học Phật là
học giác ngộ, cầu hiểu rơ Lư, thông đạt
Sự, tự độ, độ người. Nếu Tam
Độc tham, sân, si lừng lẫy, sẽ là mê
đắm, liền hiện ra các hành vi giết, trộm,
dâm v.v... chắc chắn đọa trong tam đồ là súc
sanh, địa ngục, ngạ quỷ. Nhân quả trong
ấy chẳng hề sai sót mảy may. Muôn vàn chớ nên v́
phẫn hận một buổi mà đành ḷng tự
đọa lạc. Dẫu chẳng sợ nỗi khổ
bị giam cầm trong tù ngục thế gian, quả báo thê
thảm trong tam đồ khổ sở khôn xiết! Thánh
hiền thế gian như Mạnh Tử dạy
người khác, hễ gặp kẻ oán thù, ắt phải
tự ḿnh ba lượt quay đầu, tránh xa. Khổng
Tử dạy người khác dùng ḷng chánh trực
để đối xử với kẻ oán cừu,
Phật th́ dạy người ta phải dùng đức
để cảm hóa kẻ khác, v́ chúng sanh đều là
quyến thuộc trong quá khứ, là chư Phật trong
vị lai, họ có lỗi ác, hiện tại hay sau này
đều phải thọ báo, ta là người học
Phật, cần phải thương xót, cứu độ
họ. Tuy họ chẳng ngộ, ta cũng cần phải
học Nhẫn Nhục Ba La Mật th́ mới là
người trí, th́ mới là có chí khí cứng cỏi. Đó
gọi là “tám gió thổi
chẳng động”, đấy chính là công phu như
sắt luyện. Nếu v́ kẻ khác mà tức giận hay
hoan hỷ, sẽ thật sự trở thành kẻ phàm phu
thô lậu ḷng dạ hẹp ḥi, đâu xứng là đệ
tử đấng Đại Hùng! Huống chi sau khi đă
giết kẻ thù, sẽ đọa trong tam đồ,
vẫn lại gặp gỡ, tuần hoàn báo trả,
vĩnh viễn chẳng có lúc nào xong! Đến khi ấy,
kẻ nói ông chẳng có chí khí cứng cỏi chẳng
thể chịu khổ giùm ông! Phật pháp là “khó nhẫn mà có thể nhẫn,
khó đoạn mà có thể đoạn”, điều này
đ̣i hỏi ông phải dũng mănh quay đầu, buông
xuống.
* Hỏi: Chúng ta mở miệng
nói năng đều phải do tâm suy tưởng th́
mới nói ra được; nhưng chúng ta niệm kinh có
lúc tâm rong ruổi bên ngoài, cớ sao vẫn có thể
tụng kinh rơ ràng, rành rẽ? (Tŕ
Huệ Lâm hỏi)
Đáp: Tâm niệm kinh là tâm duyên
theo kinh, tâm hướng ra ngoài rong ruổi là duyên theo
ngoại cảnh. Hai thứ duyên ấy đồng thời
dấy lên, phải phân định tâm nào mạnh, tâm nào
yếu? Do tâm duyên theo kinh mạnh mẽ, nên kinh văn vẫn
c̣n có thể chẳng loạn. Nếu duyên theo bên ngoài
mạnh mẽ, kinh văn bèn chẳng rơ rệt nữa!
* Hỏi: Nếu trong tâm dấy
lên ác niệm, nhưng chưa làm các chuyện ác th́ có
phải cũng là có tội lỗi hay không? Ác niệm
cảm nhập thức thứ tám, trong tương lai, khi
ác chủng tử chín muồi có bị khổ báo hay
chăng? (Trương
Đức Minh hỏi)
Đáp: Chủng tử ác
niệm ngầm nhập trong ruộng thức, gặp duyên
liền dấy lên hiện hành, ắt thọ ác báo.
Chẳng có duyên bèn chẳng sanh. Trong kinh có nói [vua A Xà Thế]
lúc lâm chung, do bị phất trần chạm vào mặt bèn
nổi sân, đọa làm rắn độc, kẻ xót xa
vẻ mặt đẹp đẽ của vợ, liền
sanh làm thân trùng trong tuyến nước mắt [của
vợ], [những trường hợp này] đều do
bị ư niệm làm hại. Hiểu rơ điều này,
ắt sẽ biết tác dụng to lớn của một
câu Phật hiệu miên miên mật mật!
* Hỏi: Duyệt đọc
kinh sách có thể tùy tiện hay không? Hay là nhất
định phải thắp hương, ngồi ngay
ngắn rồi mới có thể xem? (Trương Đức Minh hỏi)
Đáp: Ấn Quang tổ sư
nói: “Phật pháp phải
cầu từ cung kính. Có một phần cung kính,
được một phần lợi ích. Có mười
phần cung kính, được mười phần lợi
ích”. Đọc mấy lời ấy, liền biết
thắp hương, ngồi ngay ngắn sẽ
được lợi ích nhiều hơn tùy tiện!
* Hỏi: Xem kinh sách hoặc
Mật chú, đối với những chữ không biết
có thể đọc sai âm hay là bỏ qua chữ đó? (Trương Đức Minh
hỏi)
Đáp: Chú thuộc về
Mật, vốn coi trọng khẩu truyền, có thể
lướt qua chẳng đọc [những chữ không
biết cách đọc]. Kinh thuộc về Hiển,
đối với chữ không biết hăy nên tra tự
điển. Nếu đọc sai âm, tức là trong tâm có ư
niệm cẩu thả, sẽ dính vào khinh mạn, hết
sức chớ nên!
* Hỏi: Trong Phật giáo chúng
ta làm ǵ cũng đều dùng ba món, như kính trà dùng ba chén,
lễ Phật ba lạy, niệm chú cũng là ba
lượt, niệm bài sám hối cũng là ba lần, có ư
nghĩa như thế nào? Xin thầy hăy khai thị. (Tŕ Huệ Lâm hỏi)
Đáp: Đây là phong tục
nước ta, dùng cách lặp lại ba lượt nhằm
biểu thị ḷng thành khẩn. Phật giáo đồ Trung
Quốc vẫn thuận theo phong tục mà thôi. Thật ra,
cũng không phải luôn là như vậy, như cúng
dường có lúc dùng năm thứ, chú có lúc tụng
bảy biến, hoặc một trăm lẻ tám biến,
nhưng kẻ chuyên dùng con số ba th́ cũng có, nhưng chẳng
bắt buộc phải là như vậy.
* Hỏi: Nghe nói kinh có hai
thứ là liễu nghĩa và bất liễu nghĩa.
Loại nào là liễu nghĩa? Loại nào là bất liễu
nghĩa? V́ sao kinh Phật c̣n có thứ bất liễu
nghĩa? Nếu chẳng phân biệt rơ ràng, học nhằm
kinh bất liễu nghĩa, há chẳng phải là phí công
ư? (Tạ Khoan Quán hỏi)
Đáp: Chớ nên đa nghi
chuyện này. Chẳng cần biết là liễu nghĩa hay
bất liễu nghĩa, [học tập các kinh ấy]
đều chẳng phí công! Kinh liễu nghĩa nói về
Thật, chỉ dạy thật nghĩa rốt ráo. Bất
liễu nghĩa nói về Quyền, c̣n có những nghĩa
chưa trọn hết. Nhưng chúng sanh căn khí bất
đồng, tŕnh độ cầu học chẳng ngang
nhau, nên thí pháp ắt phải có Tiệm và Đốn th́
mới có thể khế cơ. Luận theo thứ tự,
bất liễu nghĩa là bước đầu, liễu
nghĩa là điểm kết thúc, để cầu cái
cuối cùng, ắt phải có cái khởi điểm.
Luận theo sự tu tŕ, liễu nghĩa là Chánh Hạnh,
bất liễu nghĩa là Trợ Hạnh, nhất
định phải là Chánh Trợ Song Tu!
* Hỏi: Đệ tử
học Phật chỉ hơn nửa năm, vừa quy y
hơn ba tháng, chọn chắc một môn Tịnh
Độ, hằng ngày tụng kinh Di Đà, thoạt đầu
khá tinh tấn. Đầu năm nhằm ngày Nguyên Đán,
đi qua băi tha ma, trong ḷng chợt khởi lên một
niệm Chết. Từ đấy đến nay đă
gần hai tháng, hằng ngày nghĩ năm nay sẽ
chết. Người học Phật phải nên
đừng sợ chết, sống thêm một ngày là
chịu khổ báo thêm một ngày, nghĩ đời
người nhạt nhẽo, vô vị. Ư niệm ấy
quẩn quanh trong tâm, mỗi ngày một phiền muộn
hơn. Lửa vô danh bốc lên, nổi giận vô cớ!
Gần đây đối với cơm nước, ngủ
nghê đều chẳng có hứng thú ǵ. Thường xót xa
xin Phật, Tổ gia bị, dốc hết sức niệm
thánh hiệu, và tự trách chính ḿnh lo sợ không đâu.
Hoặc tự cảnh tỉnh hăy nên quán tánh pháp giới,
hết thảy chỉ do tâm tạo, nhưng đều vô
hiệu, mây đen chẳng tan, trong ngực như bị
nhét chặt bông, như vậy th́ có phải là ma sự hay
không? Nên giải cứu như thế nào? Xin thầy từ
bi rủ ḷng thương xót! (Trần
Thanh Thanh hỏi)
Đáp: Cư sĩ học
Phật nửa năm, mà những lư luận đă dẫn
ra đều hết sức rơ rệt, chắc chắn là
bậc lợi căn, lại c̣n tự cảnh tỉnh là
“ma sự” và “tự ḿnh quấy nhiễu ḿnh” càng rất xác
đáng. Lại c̣n có thể tự hiểu rơ, và nêu ra “nên quán tánh pháp giới, hết
thảy duy tâm tạo” để đối trị,
cũng là hết sức đúng chứng bệnh, nhưng
vẫn chưa thể tháo gỡ, th́ là do c̣n chưa hiểu
lư Nhân Không và Pháp Không, cũng như chưa hiểu cách
nhiếp tâm. Nếu hiểu rơ Nhân Pháp vô ngă, sợ chết
hay cầu chết đều là tà kiến. Nếu có
thể nhiếp tâm nơi Định, sẽ chẳng
đến nỗi vọng niệm tơi bời, phiền
năo nổi sân. Hiện thời, trước hết hăy nên
học buông xuống hết thảy, chẳng nghĩ
đến quá khứ, chẳng nghĩ tới tương
lai, chỉ quan tâm một câu thánh hiệu trong hiện
tại. Có việc th́ phải làm việc, không có việc bèn
niệm Phật. “Chế tâm
một chỗ, không việc ǵ chẳng hoàn thành”,
chẳng sợ vọng tưởng, chỉ sợ nhận
biết chậm! Nếu có thể thời thời giác
chiếu, luôn luôn bài trừ vọng niệm, sẽ
chẳng có ma sự, mà cũng không tự lo nghĩ vô ích.
Nói thêm, nếu cư sĩ
rủ ḷng đến gặp, tôi hết sức hoan nghênh,
năm giờ chiều thứ Năm mỗi tuần có
thể gặp gỡ tṛ chuyện tại Liên Xă.
* Hỏi: Trong số các
đồng tu niệm Phật, có người sớm
chiều dâng cơm cúng Phật, cúng Tổ, có bắt
buộc phải làm như thế, hay là không nhất
thiết? Nghe giảng kinh tôi thấy nói Tây Phương có
ao bảy báu, nước tám công đức, trong cơi ấy
nghĩ đến mặc bèn được mặc,
nghĩ đến ăn bèn có ăn, muôn thứ đáng có
đều có trọn hết, cớ sao phàm nhân vẫn
phải cung kính cúng cơm? (Trương
Quân Cụ hỏi)
Đáp: Há chỉ riêng Phật,
Tổ chẳng ăn cơm dâng cúng của nhân gian, ngay
cả chư Thiên trong Dục Giới cũng chẳng
hưởng hương hỏa của nhân gian. Thiên chúng cơi
Tứ Thiền đă hoàn toàn đoạn ẩm thực,
huống là Phật, Tổ ư? Chuyện này bất quá
nhằm trọn hết ḷng ta, cạn hết ḷng thành
của ta, Phật trí xét soi muôn phương cũng sẽ
hay biết. Gieo phước điền cho ta, tất nhiên
cúng như vậy hữu ích. Như Lương Vơ
Đế đời trước làm tiều phu, bị
mắc mưa, thấy tượng Phật bị mưa
dầm liền lấy nón che, do một niệm thành tâm,
đời sau quả báo vô cùng.
* Hỏi: Người
thường ăn chay trường có lúc trong miệng
bị lở là do nguyên nhân ǵ? Nếu thân thể có hiện
tượng thiếu vitamin th́ có cách nào để bổ
cứu, xin chỉ dạy biện pháp! (Lâm Tương Lộ hỏi)
Đáp: Trong miệng bị
lở tức là bị bệnh. Người hiểu rơ Y lư
biết bị bệnh mà ăn chay sẽ có thể giảm
bệnh, trọn chẳng phải là do ăn chay mà bệnh
nặng hơn. Hơn nữa, căn bệnh ấy
chẳng chỉ phát ra nơi kẻ ăn chay. Xin hăy xem
những kẻ ăn chay, nhan nhăn trên đường
phố, họ có thể chẳng bị bệnh hay
chăng? Xin hăy thử chứng thực từ bệnh
viện, xem trong số những người bị
bệnh, kẻ ăn chay đông hơn, hay kẻ ăn
thịt đông hơn? Nếu cư sĩ thiếu loại
vitamin nào, nên uống loại thuốc viên vitamin đó.
Chớ nên hiểu lầm, gây trở ngại cho việc ăn
chay.
* Hỏi: Lúc tôi chưa tin
Phật bèn chẳng giác ngộ. Từ lúc quy y Tam Bảo,
học một ít kinh điển, mới biết thân ta là
Tứ Đại giả hợp, là cái thân mắc chứng
bệnh nặng vô thường, lập tức thiết
thực, hễ học được ǵ bèn tu luyện
nấy, ḥng tiêu trừ các thứ huyễn bệnh trong
ngoài, nào ngờ cho tới hiện thời chưa thể
trừ sạch, lại phát sanh tâm bệnh nơi tự
tánh. Tôi nhận biết đó là căn bệnh đă lâu,
chẳng có phương thuốc mầu nhiệm nào có
thể trị được, nhưng đại
đức là bậc đại y vương
đương thời, nên dám xin hăy giải trừ! (Hoàng Thước Điền và
Hoàng Đạo Không hỏi)
Đáp: Tâm vốn vô thể, làm
sao có bệnh được? Ông lầm tưởng tâm
bệnh bất quá là vọng niệm mà thôi! Vọng
niệm là như thế nào? Các thứ được,
mất, ngũ dục, lục trần trong quá khứ và các
dục trần trong hiện tại, tương lai, lũ
lượt chất chứa không ngừng, có khí thế
như bầy ma, lũ cướp đồng loạt
tấn công, nên trở thành bệnh hoạn. Nhưng căn
bệnh ấy do tam độc của chính ḿnh dấy lên,
huyễn hiện lắm thứ lạ lùng. Nếu mong
chữa trị, ắt phải trừ khử vọng
niệm. Có thể tin A Di Đà Phật, chịu niệm A
Di Đà Phật, vọng niệm vừa mới dấy lên,
liền lấy ngay một câu A Di Đà Phật chống
đỡ, như nước tràn đến bèn lấp
đất chặn, lâu ngày chầy tháng sẽ cảm
được Phật gia hộ, lại c̣n sanh về
Cực Lạc. Nếu tâm niệm Phật hời hợt,
tâm niệm dục trần nặng nề, dẫu Phật
hiện đến trước mặt, cũng chẳng
thể cứu cư sĩ được!
* Hỏi: Trong sáu phương
thế giới có hằng sa cơi Phật, nhưng chẳng
biết cũng có cơi trang nghiêm bằng bảy báu giống
như Tây Phương Cực Lạc thế giới hay
không? Cơi Tây Phương là niệm Phật văng sanh, c̣n sanh
về sáu phương cơi Phật bằng cách nào, có phải
cũng là niệm Phật rồi mới thể đến
đó hay không? (Đồng
Thụy Châu hỏi)
Đáp: Sáu phương có
hằng sa cơi Phật. Tuy có cơi trang nghiêm bằng bảy báu,
nhưng so với Tây Phương Cực Lạc bèn kém
hơn. V́ cơi sen ấy (cơi Cực Lạc) do Phật Di
Đà trong khi tu nhân đă chọn lọc tinh vi các hạnh
thanh tịnh trong hai trăm mười ức cơi
nước mầu nhiệm của chư Phật, dùng
trọn hết năm kiếp tạo thành, suy nghĩ
điều này th́ sẽ biết ngay! Nếu muốn
dạo khắp sáu phương, trước hết, hăy văng
sanh Cực Lạc. Kinh dạy: “Kỳ
độ chúng sanh, thường dĩ thanh đán, các dĩ
y kích, thịnh chúng diệu hoa, cúng dường tha
phương thập vạn ức Phật” (Chúng sanh
trong cơi ấy thường vào lúc sáng sớm, mỗi
người dùng đăy đựng các loại hoa mầu
nhiệm, cúng dường mười vạn ức
Phật ở phương khác). Đó là cách sanh về
đó.
* Hỏi: Có người nói Thích
Ca Mâu Ni Phật là giáo chủ của thế giới này,
nhưng niệm Phật lại chẳng niệm Phật
Thích Ca mà ngược ngạo niệm Phật A Di Đà
ở phương khác, tức là bỏ gốc chạy theo
bên ngoài! (Huệ Diệu
hỏi)
Đáp: Ôi chao! Lời này
tưởng chừng có lư, nhưng thật ra chỉ
biết một mà chẳng biết ǵ khác! Do vậy, v́
chấp trước mà trở thành hủy báng! Hăy nên
biết: Niệm danh hiệu Di Đà chính là tuân phụng
lời dạy của đức Bổn Sư Thích Tôn. Kinh
đă dạy rơ rành rành, há có phải do ư riêng của ta
nghĩ ra! Tṛ vâng lời thầy dạy, sao lại chê là
“bỏ gốc”? Ví như Khổng Tử thường ca
ngợi Nghiêu, Thuấn, các học tṛ đời sau của
Khổng Tử cũng nói: “Nhân
giai khả dĩ vi Nghiêu Thuấn” (Ai cũng đều
có thể là Nghiêu, Thuấn), hoặc nói: “Nghiêu Thuấn dữ nhân đồng” (Nghiêu,
Thuấn cũng giống như người b́nh thường”)[19],
hoặc nói: “Thuấn nhân dă, ngă
diệc nhân dă” (Thuấn là người, ta cũng là
người)[20];
chưa thấy ai trách họ trái nghịch căn cội là
Khổng Tử, hướng theo người ngoài!
* Hỏi: Đại Thừa
Bổn Sanh Tâm Địa Quán Kinh thuộc Tông Môn hay
thuộc Giáo Hạ? Có phải là cổ Thiền đức
đă có người nương theo kinh này để tu
tập hay không? Mong hăy nêu vài tấm gương! (Quách Vô Cấu hỏi)
Đáp: Tông Môn và Giáo Hạ là
những danh từ diễn biến sau này. Chúng ta là kẻ
sơ học, chẳng dễ phân định rơ ràng,
nhưng trước hết, hăy nên gấp rút lo chuyện
cấp bách. Nay tôi hỏi ngược lại một câu,
từ đời Đường trở đi, các vị
đại sư trong Thiền Tông không vị nào chẳng
nghiên cứu kinh Kim Cang. Xin thử nghĩ, kinh Kim Cang
thuộc về Tông Môn, hay thuộc về Giáo Hạ?
Hiểu rơ lư này th́ Đại Thừa Bổn Sanh Tâm
Địa Quán Kinh thuộc về Tông hay thuộc về
Giáo sẽ có thể suy ra mà biết được! C̣n
như nói cổ Thiền đức có nương theo kinh
ấy để tu tập hay không, kẻ hèn này nghe
chẳng rộng! Kẻ chẳng biết sẽ không
thể nào nói được!
* Hỏi: Phật pháp nói “vạn pháp duy tâm”, như tiên
sinh X... nói: “Bên phải căn nhà của tôi, nhà cửa
chưa dựng xong, nếu trước đó mà dựng
căn nhà bên trái th́ đứa con lớn sẽ suy bại”.
Những lời lẽ Phong Thủy, Địa Lư như
vậy có đáng tin hay không? Xin hăy khai thị! (Nhan Quư Nghiệp hỏi)
Đáp: Cái học Kham Dư[21]
đă có từ lâu, nói theo xưa nay th́ có lúc ứng
nghiệm, có lúc không, trong ấy có lư do, chẳng phải
đều là bịa đặt, hoang đường. Nhưng người học Phật
lấy tâm làm chủ yếu để lư luận. Tâm
tạo vạn pháp, cát, hung, họa, phước đều
do tâm quyết định. Kẻ học Phật công
lực yếu ớt th́ lư Kham Dư có thể xoay chuyển
họ, chứ công lực học Phật tăng cao tốt
đẹp, lư Kham Dư sẽ bị họ xoay chuyển!
* Hỏi: Cái gọi là Nhĩ
Căn Viên Thông là đạt đến cảnh giới nào,
có thể nghe được ǵ? Thần tiên có loại thần
thông này hay không? (Ngô Minh An
hỏi)
Đáp: Viên thông tức là
cảnh giới có thể nghe tự tánh, vạn pháp duy tâm,
nên có thể nghe vạn pháp. Bậc Tiểu Thừa trong
Phật môn c̣n chưa làm được, tiên nhân ngoại
đạo càng chẳng có phần!
* Hỏi: Thấy kẻ khác sát
sanh, tuy phát nguyện cứu độ, nhưng lực
bất tùng tâm th́ biết làm sao? (Châu
Huệ Đức hỏi)
Đáp: Sức có thể cứu
được th́ công đức lẫn lợi ích đôi
bề đều viên măn, nhưng lực bất tùng tâm,
chỉ cần phát tâm chân thành, nếu đă tận hết
sức th́ công đức của chính ḿnh đă giống
như núi Tu Di. Nói theo Lư, ḷng Từ trong một niệm là
cái nhân thành Phật. Nói theo Sự, trong ruộng thức
thứ tám đă gieo một hạt giống tốt lành.
* Hỏi: Trong kinh Lăng Nghiêm
có nói: “Tri kiến lập tri,
tức vô minh bổn, tri kiến vô kiến, tư tức
Niết Bàn” (từ trên tri kiến lập ra một cái
tri kiến nữa, đó là cái gốc của vô minh. Đối
với tri kiến, chẳng chấp trước tri kiến,
đó là Niết Bàn), giải thích như thế nào? (Trần Bỉnh Lâm hỏi)
Đáp: Phàm hỏi kinh văn,
nhất định phải chỉ ra quyển nào,
chương nào th́ mới giải đáp được,
trong cột báo này tôi đă nhiều lượt nói rơ [quy
định ấy]. Bởi lẽ, giải đáp về
kinh văn, phải xem xét mạch lạc trên dưới,
chẳng thể cắt rời chương đoạn
để hiểu nghĩa, v́ sợ đánh mất ư
chỉ [của kinh]. Xin hăy chỉ ra phạm vi của câu
kinh ấy rồi tôi lại vâng theo lời hỏi mà
trả lời cũng chẳng muộn!
* Hỏi: Tôi chưa từng bái
pháp sư, chẳng biết phương pháp tụng kinh.
Vậy th́ muốn tụng kinh Di Đà, phẩm kinh Phổ
Môn, chỉ là dùng miệng niệm. Nếu là người có
bệnh, chẳng thể quỳ, chỉ ngồi niệm,
chẳng biết có được hay không? (Khưu Phước Huệ hỏi)
Đáp: Kinh thuộc về
Hiển Giáo, chẳng có điều kiện khó khăn
như Mật chú. Nương theo kinh văn đọc
tụng, chẳng cần phải do thầy dạy, nhưng
trong kinh cũng có không ít những chữ hiếm gặp,
chớ nên sơ ư dựa theo h́nh thể tương tự mà đọc sai âm. Chẳng
hạn như trong kinh Di Đà, [chữ Hy (絺) trong] Câu Hy La bị đọc sai âm thành chữ Hy (希)[22], chữ Đọa (墮) trong Phả La Đọa đọc sai âm
thành Trụy (墜), chữ Súc (閦) trong A Súc Bệ Phật bị đọc sai
âm thành Thiểm (閃), hăy tận lực tránh thói tệ này, sẽ chẳng có tội lỗi ǵ! C̣n như ngồi niệm hay quỳ niệm đều chẳng hạn chế, nhưng có thể cung kính th́ ngồi, quỳ, đi, đứng để tụng, không ǵ là chẳng được!
* Hỏi: Do mê hoặc, nên
một người bạn của tôi là ông Trương tuy
thờ thánh tượng Quán Âm, lại sùng bái Lăo Mẫu[23]
như đấng sáng tạo ngàn tiên muôn Phật. Kinh
điển của họ căn cứ theo tiên và
người mà chia thành ba vị trí Tam Tài (thiên tài giảng
thuật, địa tài phiên dịch, nhân tài bút kư). Trong các
bản giảng kư được họ biên tập, ấn
tống, lại chẳng ghi rơ tên người trước
tác cũng như thương hiệu của thư cục
ấn hành. Giáo nghĩa của họ bao gồm Thích,
Đạo, Nho, cũng như các thuyết như tam
giới, lục đạo, nhân quả v.v... đều có
chỗ sai khác [với đạo Phật]. Họ lại
nói những câu như: “Thiên
cơ chẳng thể tiết lậu”. Nếu xét theo
kiệt tác Ám Lộ Minh Đăng (đèn sáng trong
đường tối) của lăo thiền sư Hồi
Minh để phán đoán đại khái th́ sự thờ
phụng của người bạn tôi gần như là tà!
Tuy muốn cứu vớt ông ta bỏ tà quy chánh, hiềm
rằng do học thức sàn sàn như nhau. Hơn nữa,
ông ta dốc ḷng tin tưởng, đă đạt
đến cảnh giới kiên định chẳng thể
phá, lại sợ mắc phải trọng tội phỉ
báng chánh pháp. Kính xin cụ hăy chỉ dạy [cho tôi
được biết] sự thờ phụng của ông
ta thuộc về chánh hay tà? Làm thế nào để khuyên
dụ ông ta trở về đường chánh? (Lư Tâm Thành hỏi)
Đáp: Cư sĩ đă quy y
Tam Bảo, trong Tam Bảo há có Lăo Mẫu, Tiên Nhân, Nho,
Đạo, Tam Tài v.v... hay chăng? Đă đọc tác
phẩm Ám Lộ Minh Đăng liền biết hết
thảy những thứ tà ma, cớ sao c̣n có chuyện gặp
sự mà chẳng thể quyết đoán? Học vấn
của người ấy chắc là chẳng thể ngang
ngửa với cư sĩ được! Người tín
phụng kiểu đó là ngu phu vô tri, mộng say loạn
cảnh, rối beng như canh hẹ, một mực hồ
đồ mà thôi, há đáng để gọi là giáo! Kẻ
ấy dính vào ma ngày càng sâu, nên mê man kiên cố khó dẹp
trừ, khuyến dụ kẻ ấy trở về nẻo
chánh, há có cách thức nhất định? Chỉ đành
cậy vào cư sĩ quan sát cơ duyên, thiện xảo
khuyên dạy, lâu ngày nghiệp tiêu, may ra sẽ chuyển
được!
* Hỏi: Có kẻ nói Phật
giáo là tích cực cứu thế, chẳng phải là bi quan
tiêu cực yếm thế, nhưng tăng ni xuống tóc tu
hành trong các ngôi chùa cổ nơi núi thẳm, chẳng nghe,
chẳng hỏi đến việc đời, há chẳng
phải là thoát ly xă hội, nhân quần? Nếu ai nấy
đều như thế, quốc gia, xă hội có thể
phồn vinh, tiến bộ được chăng? (Kim Xuyên hỏi)
Đáp: Căn khí của chúng
sanh thiên sai vạn biệt, có kẻ thích làm việc công, có
kẻ chuộng tu cho riêng ḿnh. Phật pháp có vô lượng
vô biên phương tiện, có giáo nghĩa Đại
Thừa, có giáo nghĩa Tiểu Thừa. Theo giáo nghĩa
Đại Thừa, độ chúng sanh là độ chính
ḿnh, nhảy xuống hố lửa, vào địa ngục,
chẳng mệt mỏi, chẳng ngại ngần, đó là
hạnh Bồ Tát, đức Phật hết sức khen
ngợi. Giáo nghĩa Tiểu Thừa là tu cho chính ḿnh,
chẳng làm hại đại chúng, xa ĺa nơi ồn náo,
đô hội, ẩn cư núi rừng, đạm bạc,
vô ngă, đó là hạnh Thanh Văn, đức Phật
thường khiển trách. Người Đại Thừa
giống như kẻ “kiêm
thiện thiên hạ” (khiến cho thiên hạ cùng
được tốt lành như chính ḿnh) trong người
đời. Hàng Tiểu Thừa giống như kẻ “độc thiện kỳ thân”
(cốt sao tốt lành cho riêng ḿnh) trong cơi đời. Kiêm
thiện thiên hạ là những người giống như
Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn Vương, Vũ Vương.
Độc thiện kỳ thân th́ gần như Sào Phủ,
Hứa Do, Bá Di, Thúc Tề, Nghiêm Tử Lăng (Nghiêm Quang),
Đào Châu Công, đều chẳng thể chê trách họ
được. Nhưng hàng Tiểu Thừa chính là dự
bị cho Đại Thừa, chẳng tập sẵn
đạm bạc từ trước, làm sao có thể vô
ngă, hy sinh?
* Hỏi: Có người nói ba pháp tu luyện Đại Châu Thiên
đạt đến Dương Thần Xuất Cốc
của Đạo gia Trung Quốc, cách tu Mạng Khí
Xuất Đảnh Phạm Huyệt của các Du Già Sĩ
(Yogi) Ấn Độ, và phép tu Pha Ngơa (P’owa) của Mật
Tông xét về nguyên tắc là tương đồng. Nói
như vậy có chánh xác hay không? (Lư Minh Dương hỏi)
Đáp: Người chủ
trương thuyết ấy ắt phải là thông suốt
cả ba pháp th́ mới có thể nói chẳng sai lầm.
Nếu không, ngỡ rắn là rồng, chỉ nai bảo là
ngựa, lầm hào ly, sai ngàn dặm, chẳng khỏi
khiến cho kẻ khác lầm lạc. Kẻ hèn này chỉ
học Mật nhưng chẳng tinh thông, đối với
phép Dương Thần Xuất Cốc và Mạng Khí
Xuất Đảnh Phạm Huyệt đều chẳng
hiểu biết, chẳng biết bèn nói là chẳng
biết, nên chẳng dám đáp bừa!
* Hỏi: Tôi quy định công
khóa mỗi ngày gồm chú Đại Bi, chú Thiên Nữ, Tâm
Kinh, phẩm Phổ Môn, kinh Di Đà v.v... chẳng gián
đoạn, nhưng nguyện hết thảy công
đức ấy, chẳng biết hồi hướng cho
thế giới ḥa b́nh và hết thảy chúng sanh, hoặc
hồi hướng cho em trai tôi được không?
Đối với điều này chưa hiểu rơ Phật
lư, xin hăy chỉ dạy! (Ngũ
cư sĩ hỏi)
Đáp: Đức Phật
đến cơi đời này chuyên nhằm dạy con
người hăy liễu thoát sanh tử, những thứ khác
đều là chuyện kèm thêm. Cư sĩ hăy nên phát tâm
cầu sanh Tây Phương, hễ đắc chánh quả
th́ đối với những chuyện trên đây cũng
sẽ có thể hóa to thành nhỏ, hóa có thành không. Hồi
hướng như thế th́ mới xứng hợp
Phật nguyện.
* Hỏi: Mỗi dịp
Phật Đản, Phật sự công đức và Vu Lan
công đức, tôi đều lập bài vị cho oán thân
trái chủ, cầu Phật lực siêu độ, chẳng
biết công đức ấy có hiệu lực hay không?
Ngoài ra, lúc rảnh rỗi, lại phát tâm cùng em trai biếu
tặng một trăm bản kinh Địa Tạng, hoàn
tất, lại tặng kinh Dược Sư một
trăm cuốn, hoàn tất, lại tặng phẩm Phổ
Môn một trăm bản, tụng chú Đại Bi một
ngàn biến. Do em trai tôi nghiệp chướng sâu nặng,
tinh thần của tôi suốt ngày đặt nơi kinh,
cầu Phật lực sớm có ngày cảm ứng, gia
bị em trai tôi sớm được nghiệp
chướng tiêu trừ, ngơ hầu được ĺa
khổ, hưởng vui, phước chí tâm linh, sớm
đắc chánh nghiệp, nhưng từ đầu
đến cuối chưa đạt hiệu quả; chẳng
biết có phải là do tôi nghiệp nặng nên chưa được
hữu hiệu hay không? Lại có người bảo tôi và
em trai hăy làm một Phật sự với quy mô lớn
nhằm siêu độ hết thảy oán gia trái chủ ḥng
giải thoát oan gia. Làm công đức Phật sự ấy
có thể siêu độ oán gia hay không? (Ngũ cư sĩ hỏi)
Đáp: In kinh tặng cho
người khác, công đức vô biên! Hồi hướng
cho lệnh đệ trừ sạch các chướng có
thể nói là dốc hết tâm ư, làm đă lâu mà chẳng
lười nhác, chắc chắn sẽ đạt
được cảm ứng. Phàm cái nhân muốn kết
quả, phải đợi có duyên. Nếu có thể
thỉnh người có đức thường
hướng về anh ta khuyên dạy, đó chính là duyên,
Phật pháp sẽ được hoàn thành khá nhanh chóng.
Đối với việc ông tính làm Phật sự to tát,
cố nhiên càng tốt đẹp, nhưng làm loại
Phật sự nào? Thỉnh người nào? Có phải là
bậc giới hạnh trang nghiêm, tụng niệm thành kính
hay không, đều phải nên suy xét! Muôn vàn chớ nên
chỉ có h́nh thức phô trương, chỉ cầu cho xong
chuyện, để rồi sau đó ngầm oán thán
Phật pháp chẳng linh, tức là sai lầm to lớn
vậy!
* Hỏi: Có người hỏi
một vị Phật xuất thế phải mất ba
đại A-tăng-kỳ kiếp, vậy th́ Thích Ca
Thế Tôn giáng sanh lần này cũng là ba đại
A-tăng-kỳ kiếp ư? Thế th́ vị Phật sau
Ngài phải mất bao lâu? (Cố
Phượng Anh hỏi)
Đáp: Con số ba
A-tăng-kỳ chỉ thời gian Phật tu hành, chẳng
phải là khoảng cách giữa hai vị Phật xuất
thế. Từ sau khi Thích Tôn diệt độ cho đến
khi Di Lặc Phật giáng thế chỉ là năm
mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm, đó là
một chứng cớ. Chứng thành Phật quả,
chỉ có một lần, những lần khác tuy nhiều
lượt giáng sanh, bất quá là ứng hóa, thị
hiện h́nh tướng mà thôi, há có hạn chế thời
gian?
* Hỏi: Tôi ở Kim Môn, ấp
ủ tư tưởng “chúng
sanh đều cha mẹ ta” nên thành lập hội
niệm Phật, có thể coi là hoằng pháp hay không? (Lỗ Thành hỏi)
Đáp: Chính ḿnh niệm
Phật, khuyên kẻ khác niệm Phật, lại đề
xướng hội niệm Phật, đem pháp ấy nói
với người khác, chẳng phải là hoằng pháp th́
là ǵ? Lại c̣n thấy chúng sanh đều là cha mẹ, tri
kiến cũng chánh, hết sức đáng bội phục.
Nhưng tôi có một lời dâng tặng: Tại gia và
xuất gia lập trường bất đồng, bất
luận học vấn đạt đến tŕnh
độ nào, quyết chẳng để cho người
khác cúng dường, chẳng truyền quy y cho người
khác. Nếu có cơ hội, vẫn nên thọ giới th́
sẽ là chánh đáng. Hăy đọc nhiều sách vở
Tịnh Độ để tránh hành giải sai lầm.
* Hỏi: Đốn ngộ so
với tiệm ngộ tốt đẹp hơn nhiều
lắm, xin hỏi pháp ấy ra sao? (Lư Vân Tiêu hỏi)
Đáp: Đốn ngộ
thật sự chẳng có pháp. Gọi là Đốn th́ xét
về Lư có hai:
- Một là người Hoặc
nghiệp mỏng, trần dục nhẹ, chướng
ngại khá ít, ngộ đạo khá nhanh.
- Hai là người đă
nhiều đời tu tập, đến đời này bèn
thành thục.
Đối với trường
hợp trước, bèn có tỷ dụ, như gương
phủ bụi nhơ, phủ dày th́ người mài gương
lâu ngày sẽ tỏa sáng. Kẻ bị nhiễm bẩn ít,
mài trong một thời gian ngắn bèn sáng ngay. Đối
với trường hợp sau lại có tỷ dụ,
như người ăn lương khô, có thể ăn
được bảy tấm bánh. Lúc ăn no là do tấm
cuối cùng. Phải biết: Tuy do tấm cuối cùng mà no
bụng, nhưng vốn là do sáu tấm bánh trước
đó.
* Hỏi: Ngài Duy Ma Cật có
phải là đệ tử Phật hay không? Nếu không,
Ngài theo học với ai? Sư phụ là ai? Hay Ngài là
bậc Duyên Giác chẳng có thầy mà tự ngộ? (Lại Đống Lương
hỏi)
Đáp: Xét về Bổn th́
cổ đức bảo Ngài là Kim Túc Như Lai. Xét theo Tích,
Ngài là một vị cư sĩ tại thành Tỳ Da Ly (Vaiśālī). Kinh chép:
“Hữu quốc danh Diệu
Thiện, Phật hiệu Vô Động, thị Duy Ma
Cật ư bỉ quốc một, nhi lai sanh thử” (có
cơi nước tên là Diệu Thiện, Phật hiệu là Vô
Động, ông Duy Ma Cật này mất ở nước
đó, đến sanh trong cơi này). Dựa theo đó, về
Bổn, sở học của Ngài chẳng phải là từ
đấng Thích Tôn. Kinh lại nói: “Tuy vi bạch y, phụng tŕ sa-môn thanh tịnh
luật hạnh” (tuy là hàng bạch y, nhưng vâng giữ
luật hạnh thanh tịnh của sa-môn), dựa theo đó, về Tích th́ Ngài tuân phụng giáo
pháp của đức Thích Tôn, tức là đệ tử
của Thích Tôn vậy!
* Hỏi: Từ
cổ, thánh hiền đều có lai lịch, người
đại danh đỉnh đỉnh[24]
trong thời Tam Quốc là Quan Thánh Đế Quân, nhưng
chẳng rơ gia thế và phụ thân của ông ta là ai? (Lại Đống Lương
hỏi)
Đáp: Gia thế của
bậc danh nhân thời cổ ắt phải do có sự tích
mà được lưu truyền. Danh tiếng của Gia
Cát Lượng há chẳng càng to hơn Quan Đế, tên
của cha ông ta là ǵ? Danh tiếng của Hiên Viên Hoàng
Đế[25]
càng to hơn nữa, cha ông ta là ai? Chẳng được
lưu truyền là do chẳng có sự tích ǵ. Chẳng
hạn như vua Nghiêu, vua Thuấn đều là thánh
vương, cha của vua Thuấn ai nấy đều
biết, nhưng cha của Nghiêu chẳng ai biết. Vua
Thang, vua Vũ đều là bậc dấy binh cứu dân,
cha vua Vũ ai nấy đều biết, cha vua Thang
người ta chẳng biết. Lại như Nhan Hồi
Phục Thánh[26],
người ta biết cha Ngài, nhưng chẳng biết
đến mẹ Ngài. Mạnh Kha (Mạnh Tử) là bậc
đại hiền, người ta biết đến
mẹ Ngài, nhưng chẳng biết tới cha Ngài.
Truyền hay không truyền đều do sự tích vậy!
* Hỏi: Quá khứ như
huyễn, hiện tại như mộng, vị lai cũng
thế, rốt ráo không tịch, khổ và lạc
đều chẳng thể được, chẳng có một
chỗ nào để có thể trụ tâm. Vậy th́
dựng đạo tràng, độ chúng sanh, cũng như
mộng, như huyễn hay sao? (Lại
Đống Lương hỏi)
Đáp: “Ba đời mộng
huyễn, khổ và lạc đều chẳng thể
được, tâm không chỗ trụ” là nói về bậc
Bồ Tát hữu ngộ, hữu đắc, chẳng
phải là cảnh giới của hạng phàm phu lè tè sát
đất. Vạn pháp vốn như một; lập
đạo tràng, độ chúng sanh chẳng ra ngoài lệ
ấy. Chỉ v́ phàm phu mê Chân, chấp Có, nên Bồ Tát
chẳng thể không v́ Thật mà hành Quyền, từ Chân
nhập Giả, giả lập phương tiện
để độ, nhưng đối với Bồ Tát,
Ngài tự liễu tánh Không, trọn chẳng chấp tướng.
Đó gọi là “thủy
nguyệt đạo tràng” (đạo tràng như bóng
trăng trong nước), thật sự là Như Lai
chẳng có chúng sanh để độ!
* Hỏi: Trước khi
đọc lời dâng hiến của Phương
đại cư sĩ trong dịp Nguyên Đán năm Tân
Sửu cầu thỉnh [tứ chúng Phật tử hăy] thực
hành biện pháp độ một, năm, mười
người, tôi đă sớm lôi kéo một người
từng là giáo hữu phục vụ nhiều năm trong
giáo đoàn Thiên Chúa Giáo [khiến cho người ấy] tin
Phật, niệm Phật, đó có phải là công đức
hay không? (Châu Tinh Nguyên hỏi)
Đáp: Thật sự tu tập
trong tôn giáo khác mà có thể thành tựu th́ bất quá là
tạm thời thăng lên cơi trời, báo hết vẫn
phải đọa lạc y như cũ, tuy tốt lành
vẫn là vô thường. Cư sĩ khuyên người
ấy học Phật, chứng quả, có thể thoát
khỏi tam giới, đoạn sanh tử, tức là
cứu người khác triệt để. Cứu sanh
mạng một người c̣n bảo là “tốt lành hơn
tạo ṭa tháp bảy tầng thờ Phật”, huống là
cứu vớt huệ mạng của một người,
há chẳng có công đức ư?
* Hỏi: Đối với
người đă văng sanh Tây Phương, v́ sao lúc Thanh Minh
tảo mộ, vẫn lễ bái họ? Có phải linh
hồn người ấy vẫn c̣n tồn tại [ở
nơi đó] hay không? [Hay là cứ] chiếu theo phong tục
tập quán hiện thời [mà làm], chẳng cần biết
người ấy có sanh Tây hay không? Người ta c̣n
lạy bài vị tổ tiên bằng gỗ, đó có phải
là truy viễn[27]
hay không? Hay là do có vong linh [ngự trong ấy]? (Lư Nguyệt Phượng
hỏi)
Đáp: Nếu thật sự
sanh về Tây Phương, cố nhiên chẳng đến
hưởng. Trừ quỷ đạo ra, các
đường khác cũng chẳng thể đến được!
Dẫu ở trong quỷ đạo, cũng cần
phải chí thành để cảm cách. Bậc thánh nhân trong
Nho giáo nói: “Tế như
tại, tế thần như thần tại, bất thành,
diệc nan cảm dă” (cúng tế giống như
người đă khuất hăy c̣n. Tế thần giống
như thần đang hiện diện. Chẳng chí thành th́
cũng khó cảm được). Nếu luận về
truy viễn th́ chỉ có cách tận hết sức ta
nhằm bày tỏ ḷng hiếu kính, nghĩ nhớ mà thôi!
Ắt phải cầu đạt ích lợi thật sự.
Lúc cúng bái, không ǵ bằng là thêm tụng kinh, niệm
Phật vào đó. Nếu tổ tiên ở Tây Phương
sẽ có thể nâng cao phẩm sen, nếu ở trong
lục đạo, sẽ cậy vào Phật lực lần
lượt siêu thăng.
* Hỏi: Có
một vị đại đức nói: “Tại gia cư
sĩ chỉ cần trọn hết trách nhiệm hộ
pháp là được rồi, chẳng cần nghiên cứu
Phật học, càng chẳng bắt buộc phải
hoằng dương Phật pháp”. Luận định
ấy có chánh xác hay chăng? (Thích
Vĩnh Hưng hỏi)
Đáp:
Người học Phật tuân theo lời Phật dạy
để hành. Phật độ chúng sanh liễu thoát sanh
tử c̣n chẳng phân biệt tứ sanh lục
đạo, huống phân chia tại gia hay xuất gia ư?
Trái nghịch trần lao, hợp cùng tánh giác, nhất
định phải trải qua Văn, Tư, Tu; chẳng
nghiên cứu Phật học th́ Văn, Tư, Tu bằng cách
nào? Phát tâm Đại Thừa, ắt thọ Tứ
Hoằng Thệ; chẳng được phép hoằng hóa th́ viên măn Bồ
Đề bằng cách nào? Vả nữa, Bồ Tát nhất
định tự độ, hóa độ người
khác, nếu nói theo vị đại đức ấy,
chẳng cho phép người tại gia tự giác, giác tha, sẽ
chẳng có ǵ để nói đến chuyện làm Bồ
Tát nữa! Trong kinh, cư sĩ Duy Ma Cật, đồng
tử Quang Nghiêm, Thiện Đức v.v... đều là các
vị nam Đẳng Giác Bồ Tát tại gia, cô Nguyệt
Thượng, đồng nữ Diệu Huệ v.v...
đều là tại gia Bồ Tát bên nữ. Súc sanh như
con dă can [trong kinh Vị Tằng Hữu Thuyết Nhân Duyên]
c̣n có thể thuyết pháp cho chư thiên. Những chuyện
trên đây đều rất rơ rệt. C̣n như tại
Trung Quốc, Bàng cư sĩ, Phó đại sĩ v.v...
đều là hàng Bồ Tát hạnh giải tương
ứng, tự hành, hóa tha, nên ta biết theo quy chế nhà
Phật “đều là b́nh đẳng”, chẳng có thứ
kiến giải cong quẹo [như vị “đại
đức” kia đă nói]. Hăy nên tuân theo Thánh Ngôn Lượng
th́ mới nên!
* Hỏi: Lúc tôi ở
Đại Lục, đă quy y Tam Bảo nhiều năm,
chẳng mang theo điệp quy y [tới Đài Loan],
vốn nghĩ xin cầu quy y lại. Tôi có một
người bạn xem kinh chẳng ít, lại c̣n
thường xuyên lễ Phật, nhưng ông ta hoàn toàn
chẳng quy y, ông ta nói: “Những thứ phiền toái hiện
thời chẳng quen thấy”, có thể quy y tự tánh Tam
Bảo liền cảm thấy có thể nương
cậy rồi, chẳng biết quy y tự tánh Tam Bảo
là như thế nào? (Trương
Tường Mưu hỏi)
Đáp: Tượng Phật,
kinh sách, tỳ-kheo được gọi là Hữu
Tướng Trụ Thế Tam Bảo. Tâm là Phật, tâm có
đủ vạn pháp, tâm Phật và tâm pháp hợp lại
sẽ gọi là Vô Tướng Tự Tánh Tam Bảo.
Thọ quy y tuy do phát tâm, ắt phải cử hành nghi
thức. Chẳng hướng về Hữu Tướng
Trụ Thế Tam Bảo cầu khai thị, làm sao có
thể ngộ nhập Vô Tướng Tự Tánh Tam Bảo?
Khi cử hành nghi thức, đồng thời, vị
thầy quy y trao truyền lời giảng về tự
tánh, có thể nương theo Phật pháp để khởi
tu th́ sẽ là quy y Tự Tánh Tam Bảo, nhưng cần
phải cử hành nghi thức th́ mới chính thức là
đệ tử Phật. Giống như truyền
giới, tuy có Định Cộng Giới và Đạo
Cộng Giới v.v... vẫn cần phải qua luật nghi
th́ mới có tư cách giới lạp. C̣n như nói
“những thứ phiền toái trong hiện thời” có
nghĩa như thế nào, tôi chẳng thể tùy tiện
đoán ṃ bừa băi, nhưng xét theo mặt chữ
để luận định th́ cũng được.
Hăy nên biết phiền phức do con người tạo ra!
Tâm con người tịnh sẽ chẳng thấy phiền
năo. Tâm chẳng tịnh, dẫu đóng cửa ngồi yên
vẫn sanh phiền phức!
* Hỏi: Phật giáo là pháp
xuất thế, vượt trỗi tam giới, xin hỏi
ở trên tam giới, chắc chắn có cơi Phật. Vậy
th́ trên cơi Phật c̣n có ǵ nữa? (Trương Tường Mưu hỏi)
Đáp: Nếu nói theo Sự,
Dục Giới và Sắc Giới trong tam giới là uế
trược, Phật giới trang nghiêm thanh tịnh,
nhưng hư không vô tận, thế giới cũng vô
tận. Trong vô tận thế giới ấy, có tịnh, có
uế, trùng trùng giao xen, quả thật trọn chẳng có
phương hướng, nên giả gọi là “trên,
dưới, Đông, Tây”. Có thể vượt khỏi
uế bèn vào tịnh, liền gọi là “siêu tam giới”.
Nếu nói theo Lư, vạn pháp duy tâm, tâm tịnh ắt cơi
nước tịnh, tâm uế ắt cơi nước uế,
chẳng có tam giới để thoát ra, chẳng có Phật
quốc để có thể vào. Người tâm tịnh,
dẫu ở trong tam giới, vẫn là cơi Phật. Kẻ
tâm uế, tuy sống trong cơi Phật, vẫn là tam giới.
Như Ngũ Bất Hoàn Thiên, Đâu Suất v.v... tuy ở
trong tam giới, nhưng do người nơi ấy tâm
đều tịnh, nên những nơi ấy là Tịnh
Độ. Chỗ chúng ta đang ở vốn là cơi Phật
của đức Thích Ca, nhưng do tâm của mọi
người uế, nên trước mắt liền hiện
Sa Bà.
* Hỏi:
Ở nơi không có đạo tràng giảng kinh, muốn hóa
độ những kẻ chưa sanh ḷng tín ngưỡng,
nên chọn dùng những phương cách tiến hành theo
từng giai đoạn như thế nào để làm cho
họ quy y Phật giáo? (Trần
Kim Tuyền hỏi)
Đáp:
Đối với người biết chữ, hăy tặng
họ những cuốn sách nhỏ sơ cơ, đơn
giản, dễ hiểu. Đối với kẻ không
biết chữ, hăy nói với họ về nhân quả và
pháp biết khổ, cầu vui. Hăy nên xét theo căn cơ
để chọn sách hoặc lời lẽ để
khế hợp tâm lư họ th́ sẽ đạt
được hiệu quả chẳng kém giảng kinh.
* Hỏi: Tôi nghe
kinh, lạy Phật gần mười năm, mùa Hạ
năm trước, chồng tôi bị bệnh nặng. Sau
khi chồng tôi lành bệnh, tôi cảm nhận Phật che chở
sâu xa, càng lạy Phật ân cần. Chỉ có điều
kể từ đó, tâm tôi luôn cảm thấy phiền năo,
đôi khi chỉ v́ một cớ nhỏ nhặt, đánh
đập con cái phũ phàng, lại c̣n căi nhau ầm ĩ với chồng, gần như
muốn ly dị hoặc bỏ đi xa, t́m kiếm hoàn
cảnh tốt đẹp khác, là v́ lẽ nào vậy?
Phải nên làm như thế nào mới đúng, xin thầy
chỉ dạy! (Liễu
Vĩnh Trinh hỏi)
Đáp: Phiền năo là một
trong bốn loại ma, thường luôn dấy lên hiện
hành. Trong hiện tại, nó có thể ấp ủ họa
loạn; trong tương lai, lôi kéo vào tam đồ,
nhất định phải dùng niệm Phật để
chế ngự th́ mới chẳng bị hại. Công phu
cạn th́ có thể chế ngự nó, công phu sâu bèn có
thể trừ khử nó. Chúng luôn luôn xuẩn động,
do vậy, hăy nên luôn luôn niệm Phật, nhưng lạy
Phật trong một thời gian ngắn
ngủi, làm sao có thể khắc chế những thứ
tạo tác chẳng ngừng? Vợ chồng lục
đục, đánh đập con cái phũ phàng, lại c̣n
nghĩ đến ly dị, t́m kiếm chỗ nương
thân khác, những chuyện ấy đều do sức ma
thao túng. Nếu chẳng mạnh mẽ tỉnh ngộ,
sẽ c̣n có chuyện khác phát sanh. Không chỉ chẳng
thể có được cảnh tốt lành, mà c̣n sợ
hầm lửa, biển khổ ở ngay trước
mắt. Một lần sẩy chân, ôm hận ngàn
đời, chớ nên vô sự bèn sanh sự! Nếu quư
cư sĩ mong ĺa khổ được vui, hăy nên chân tâm
niệm Phật, tin sâu nhân quả, hoặc quy y, hoặc
thọ giới, kẻ hèn này đều có thể
giới thiệu giùm cho!
* Hỏi: Chúng ta nên thân cận
thầy hiền, bạn tốt, cổ nhân nói: “Đạo ngô thiện giả,
thị ngô tặc, đạo ngô ác giả, thị ngô
sư” (kẻ kể điều tốt đẹp
của ta là kẻ giặc, kẻ kể điều
xấu của ta là thầy ta). Ngài Duy Ma Cật có thể
kể ra điều sai quấy của kẻ khác, đúng
là bậc thiện tri thức, mười vị
đại đệ tử của đức Phật đáng
ra phải nên thường đến thân cận ngài Duy Ma
Cật, huống chi lại có lệnh thầy sai
đến hỏi thăm bệnh, cớ sao đều
chẳng chịu đi? (Ngọc
Phương hỏi)
Đáp: Đến hỏi
thăm bệnh ắt phải đối đáp, các vị
tôn giả sợ khó thể đối đáp nên thưa “chúng con chẳng thể kham
chuyện này”, chẳng phải là không muốn thân
cận! Những điều này vẫn thuộc về
sự biểu thị bề ngoài, thật ra, kinh này (kinh Duy
Ma Cật) nhằm quở Tiểu, trách Thiên, khen
Đại, ca ngợi Viên, nên các vị tôn giả và Duy Ma
Đại Sĩ cố ư làm ra vẻ mâu thuẫn, nhằm
hiển lộ những điều các Ngài muốn chèn ép và
đề cao. Nói chung đều là đại quyền
từ bi, vận dụng thiện xảo vậy!
* Hỏi: Có người nói:
Phật đă là từ bi yêu thương mọi loài,
cắt hoa cúng Phật có hợp lư hay không? Hoa nở bốn
mùa, mỗi loài hoa đều có thần hoa, giống như
con người có gia đ́nh, bỗng bị cắt đem
cúng Phật, giống như người một nhà bị
ly tán, khiến hoa đau khổ lắm thay, mà cũng
khiến cho thần hoa đau ḷng, oán trách Phật chẳng
từ bi. Nên trả lời người ấy như
thế nào? (Ngọc
Phương hỏi)
Đáp: Hoa vốn vô t́nh, bị
cắt hoàn toàn chẳng có đau khổ, lại do
người thợ vun trồng, một đằng bán
lấy tiền, một đằng mua lấy vật, liên
can ǵ đến người khác. Giả sử có thần
hoa, thần phải nên biết người cắt hoa
đem cúng Phật ước chừng một hai phần
trong mười phần, c̣n hoa bị cắt để cho
người ta thưởng ngoạn ắt là bảy tám
phần trong mười phần, cớ sao thần hoa
chẳng oán mọi người, lại chỉ oán Phật?
Nếu nói thần hoa oán người cúng hoa và thưởng
ngoạn hoa nhất loạt như nhau, thử hỏi
Thần Nông là cổ thánh của Trung Quốc, là thần
ngũ cốc, ai nấy đều tôn kính, nhưng nhân
loại ăn ngũ cốc, há chẳng phải là chia
rẽ quyến thuộc của Thần Nông, đau ḷng Ngài,
chuốc lấy sự oán hận của Ngài ư?
* Hỏi: Kinh nói gặp
Phật, nghe Phật thuyết pháp, khai ngộ, râu tóc tự
rụng, áo ca-sa khoác trên thân, lập tức chứng quả
La Hán, cớ sao chẳng nghe nói chứng quả Bồ Tát? (Tŕ Huệ Lâm hỏi)
Đáp: Kinh điển Tiểu
Thừa nói như vậy. Tiểu Thừa chú trọng
tự liễu thoát, phá Kiến Tư Hoặc, nên sở
chứng là La Hán. Kinh điển Đại Thừa
chẳng giống như vậy, phần nhiều nói phát
Bồ Đề tâm, thượng cầu, hạ hóa, tự
nhiên chủ trương rộng độ chúng sanh, phá
Trần Sa, Vô Minh, sở chứng là Bồ Tát. Như [trong
kinh thường] nói [đại chúng nghe kinh] phát A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm, hoặc nói
đắc Bất Thoái Chuyển, hoặc nói sở nguyện
chóng thành, thảy đều thành tựu, hoặc nói
thọ kư, đó đều là những vị chứng
quả Bồ Tát. Đây là chỗ ghi chép khác nhau giữa
kinh điển Đại Thừa và Tiểu Thừa.
Kẻ tự liễu thoát chẳng phát Bồ Đề tâm,
làm sao có thể đột ngột chứng Bồ Tát? Không
có cái nhân như thế, sẽ chẳng có cái quả như
thế! Đó là lư do thứ hai!
* Hỏi: Chiếu theo pháp nhân
quả, đời này được làm thân người là
do cái nhân người ấy trong đời trước đă
tŕ Ngũ Giới. Nếu vậy, Đề Bà Đạt
Đa trong đời trước do ác tâm hại Phật,
chẳng giữ giới kiêng giết, cớ sao cũng
được làm thân người? (Tŕ Huệ Lâm hỏi)
Đáp: Chữ “đời
trước” không nhất định chỉ một
đời ngay trước đời này, mà có thể
năm ba đời trước, hoặc mười, trăm
đời trước, đều do chủng tử đă
đến lúc chín muồi quyết định, đó là lư
do thứ nhất. Đề Bà Đạt Đa thật ra
là bậc Đại Quyền Bồ Tát, cố ư hiện ác
nghiệp, đọa khổ báo, dùng nghịch tích (những
hành vi, h́nh tướng ác nghịch) để giúp
đức Phật khuyên dạy chúng sanh. Giống như
trong chốn hát tuồng, có người đóng vai tinh trung
như Nhạc Phi, có kẻ sắm vai đại gian như
Tần Cối. Chẳng có Tần Cối, làm thế nào
hiển lộ ḷng trung của Nhạc Phi? Nếu chẳng
có người đóng vai Tần Cối, làm sao có thể
dấy lên cái tâm kính mến [Nhạc Phi] của đại
chúng, đó là lư do thứ hai. Điều vừa nói trong
phần sau này (lư do thứ hai) đa số các kinh
[Đại Thừa] đều có ghi chép, chẳng hạn
như kinh Pháp Hoa mà ai nấy đều biết, cũng
chép chuyện Đề Bà Đạt Đa, hăy nên
đọc rồi sẽ biết.
* Hỏi: Chúng sanh đều có
thần thức, [nhưng thần thức] có lớn hay
nhỏ giống hệt nhau hay không? Có biến hóa hay không?
Thân trâu to, thức của nó ắt phải to. Thân kiến
nhỏ, ắt thức của nó phải nhỏ. Nếu
trâu chuyển sanh biến thành kiến, kiến chuyển
sanh biến thành trâu, thức nhất định có tăng
giảm th́ mới có thể nói thông suốt
được! (Tŕ Huệ Lâm
hỏi)
Đáp: Thức nương vào
tâm, giống như sóng nương vào nước.
Nước rộng hay hẹp, sóng bèn rộng hay hẹp.
Tâm to hay nhỏ, thức bèn to hay nhỏ. Thử hỏi
cư sĩ tấm thân bảy thước, tâm chỉ có
bảy thước hay sao? Kinh dạy: “Tánh giác chân không, tánh không chân giác, thanh tịnh bổn
nhiên, châu biến pháp giới” (tánh giác chân không, tánh không
chân giác, vốn sẵn thanh tịnh, trọn khắp pháp
giới). Tâm đă to như thế, cái thân bảy
thước nhỏ nhoi, cớ sao có thể dung nạp? Ông
há lại chẳng nghe câu kinh văn: “Tâm chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng
ở chặng giữa” đó sao? Xin hăy ngộ nơi câu
kinh văn ấy th́ chuyện thần thức của trâu và
kiến lớn nhỏ ra sao sẽ tự hiểu biết.
* Hỏi: Quán Thế Âm Bồ
Tát đă thành Phật từ lâu trong quá khứ, hiệu là
Chánh Pháp Minh Như Lai. Do bi nguyện vô cùng, nên lại lui
xuống làm Bồ Tát ḥng cứu độ chúng sanh. Thế
nhưng phương pháp độ sanh của mỗi
vị Phật đều cao hơn Bồ Tát; v́ lẽ ǵ
Ngài phải lui xuống? Há có chuyện chẳng lui xuống
sẽ chẳng thể hành bi nguyện độ sanh ư? (Trần Vạn Chướng
hỏi)
Đáp: Mỗi vị Bồ Tát
đều có nguyện lực riêng, và có duyên sâu đậm
riêng đối với chúng sanh trong mỗi cơi nước.
Ngài Quán Âm có duyên sâu với Sa Bà, nên thường dạo
trong cơi này, nhưng cơi này đă có Phật là đức Thích
Tôn nhiếp hóa đại thiên, trong một cơi chẳng thể
có hai vị Phật, giống như trong một
nước chẳng thể có hai vua. Do cùng một lư
ấy, nên Ngài thả chiếc bè Từ, quyền biến
thị hiện thân phận Bồ Tát, phụ tá Thích Tôn.
Nếu không, sẽ giống như trong thế gian,
nước loạn, chánh quyền có nhiều phe phái, dân
chẳng biết nương tựa vào đâu!
* Hỏi: Phật độ
chúng sanh, trí huệ, thần thông, đạo lực
đều to lớn hơn bất cứ vị Bồ Tát
nào. Nếu như Địa Tạng Bồ Tát thành Phật
trước tiên rồi sau đấy độ chúng sanh,
sẽ độ càng nhiều hơn. Cớ sao Ngài chẳng
nguyện thành Phật trước? (Trần Vạn Chướng hỏi)
Đáp: Đối với câu
hỏi này, xin hăy xem lời đáp trong phần
trước, sẽ có thể biết được quá
nửa! Thần thông, trí huệ hết thảy viên măn, quả
địa đă là chẳng hai, chẳng khác, Phật và
Bồ Tát chẳng qua là danh tướng mà thôi, chứ sức
độ chúng sanh trọn chẳng sai khác! Chẳng
nguyện thành Phật trước là do bi nguyện rộng
sâu, muốn làm cho chúng sanh thành tựu trước, chính ḿnh
thành sau th́ mới hoan hỷ vậy!
Hỏi: Kinh Duy Ma Cật chép: “Phật vị chư tỳ-kheo
lược thuyết pháp yếu” (Đức Phật v́
các tỳ-kheo nói đại lược pháp yếu), [pháp
yếu ở đây là] pháp Vô Sanh Tứ Đế, nhưng
sau đó, trong mười vị đại đệ
tử của đức Phật, khi ngài Ma Ha Ca Chiên Diên phô
diễn pháp Sanh Diệt Tứ Đế (sai lầm), v́ sao
đức Phật chẳng đính chánh vậy? Nếu
cư sĩ Duy Ma Cật chẳng đến đó, có
phải là khiến cho các vị tỳ-kheo chẳng
đạt được lợi ích ư? Đâm ra là nói
uổng công ư? (Giang Khoan
Ngọc hỏi)
Đáp: Nói đến chuyện
này, bèn có ba lư do:
- Một, mười vị tôn
giả bị cư sĩ Duy Ma quở trách trước
đó, sau đấy được [đức Phật]
sai đi thăm bệnh. Trước đó có lẽ không
biết, chứ sau đó há trọn chẳng biết ư?
- Hai, đức Phật
thuyết giáo trong cơi này, tất cả Thanh Văn, Duyên Giác,
Bồ Tát, đều được hóa độ. Nói
một pháp môn, bao hàm nhiều nghĩa, đều là tùy
thuộc căn tánh của từng người mà tiếp
nhận khác nhau. Đính chánh cũng nhất định
phải gặp duyên. Nếu không, sẽ chẳng khế
hợp. Ông hăy nên biết, Sanh Diệt Tứ Đế cũng
chẳng phải là pháp sai lầm, Duy Ma Đại Sĩ
hoàn toàn chẳng phải là phá pháp ấy, mà là khiển trách
[ngài Ma Ha Ca Chiên Diên] chấp trước pháp nhỏ,
chẳng biết quán căn cơ của các tỳ-kheo
[đang nghe pháp để thuyết pháp Tứ Đế
thích hợp].
- Ba, thuyết pháp có Quyền, có
Thật, có tự ḿnh thuyết, có nhờ vào người
khác để thuyết. Ở đây là cố ư mượn
mười vị tôn giả nói tiểu pháp nhằm
hiển thị đại sĩ nói đại pháp, không ǵ
chẳng phải là đều thi thố thiện xảo,
chuyên nhằm lợi ích chúng sanh.
* Hỏi: Đạo khoan dung
của Trung Quốc là: “Kỷ
sở bất dục, vật thi ư nhân” (điều
ǵ chính ḿnh chẳng muốn, đừng gây cho người
khác). [Điều tôi sắp hỏi có] liên quan đến
liên xă và những vị có ḷng nhân từ thường vào
mỗi cuối năm đều tích cực cứu tế,
trừ gạo, tiền ra, c̣n có quần áo cũ, phần
lớn là vật “kỷ sở
bất dục” nên mới thí cho kẻ khác. Như
vậy th́ có phù hợp với đạo khoan dung của
nước ta hay chăng? (Giang
Khoan Ngọc hỏi)
Đáp: Chữ “bất dục” chuyên nói về những
điều gây tổn hại cho người khác. Liên xă
tặng quần áo cũ cho người khác, chẳng có hại
cho họ. Nếu họ chẳng muốn, chẳng nhận
th́ thôi, cũng chẳng tổn hại ǵ! Lại nói về
chữ Thi trong “vật thi ư
nhân” ở đây nên hiểu là “gia” (gây ra), “vật
thi” (đừng gây ra) nên hiểu là Xả th́ sẽ
chẳng hiểu lầm.
* Hỏi: Trong một tam thiên
đại thiên thế giới có bao nhiêu hệ Ngân Hà? (Quách Gia Minh hỏi)
Đáp: “Đại thiên thế
giới” là phạm vi và danh từ phân chia các tinh cầu
trong Phật học, “hệ Ngân Hà” là phạm vi và danh
từ do các nhà thiên văn và khoa học dùng để phân
chia các tinh cầu. Đại thiên thế giới và hệ
Ngân Hà là một vật thể, chỉ là cách xác định
phương vị khác nhau. Như đối với
gạo, dùng các dụng cụ đo lường để
tính toán th́ dùng thưng, đấu, dùng các dụng cụ cân
đo để tính toán th́ dùng cân, lạng. Muốn đem
thưng, đấu phối hợp với cân lạng,
chẳng phải là không thể được, nhưng
phải qua một phen đo lường, cân nhắc.
Nếu đem đại thiên thế giới phối
hợp với một hệ Ngân Hà th́ cũng giống
như thế. Chỉ có điều kẻ hèn này chẳng
có Thiên Nhăn, chẳng thể thấy đại thiên, lại
không có dụng cụ để thấy được
hệ Ngân Hà, nên chẳng thể gượng ép bảo
điều ḿnh không biết là hiểu biết
được!
* Hỏi: Các châu do Thiết Luân
Vương thống trị, cai quản, có thuộc trong tam
giới hay không? Bao gồm mấy đại thiên thế
giới? (Lưu Giác Chi hỏi)
Đáp: Trong các châu do Thiết
Luân Vương cai quản, tứ đại châu là một
trong số ấy, nó là một phần nhỏ của
đại thiên thế giới, làm sao có thể nói là
mấy đại thiên cho được!
* Hỏi: Trung Ấm Thân là ǵ? (Lâm Khánh Huân hỏi)
Đáp: Thần thức đă
rời cái thân hiện tại, c̣n chưa nhập thân sanh
duyên, trong khoảng giữa hai giai đoạn đó, bèn
gọi là Trung, thần thức trong lúc ấy được
gọi là Trung Ấm.
* Hỏi: Người sau khi
đă chết, do thân Trung Ấm trực tiếp đầu
thai, hay phải qua sự tra xét nơi Thập Điện
Diêm Vương rồi mới đầu thai? (hai loại
trên đây có ǵ khác biệt?) (Lâm
Khánh Huân hỏi)
Đáp: Lúc mang thân Trung Ấm
chẳng thuộc về lục đạo. Thời gian nó
tồn tại dài hay ngắn khác nhau, có người ngay
lập tức vào lục đạo, có người bảy
ngày, hoặc mười bốn ngày, hai mươi mốt ngày
khác nhau, dài nhất là bốn mươi chín ngày bèn
chuyển sanh. Đó là nói b́nh thường, ngẫu nhiên có
trường hợp đă hơn bốn mươi chín ngày
mà vẫn chưa chuyển sanh, trường hợp đó
là duyên ngoại lệ. Diêm La thuộc vào tướng
cảnh giới được hiện trong địa
ngục, chứ trong cơi Trung Ấm chẳng có. Trạng
huống sanh tử trong lục đạo mỗi
đường mỗi khác, nhưng đều lấy
nghiệp lực làm nguyên tắc.
* Hỏi: Thân Trung Ấm trụ
ở chỗ nào? Thọ mạng bao lâu? Khi mang thân Trung
Ấm, có biết chuyện đời trước hay không?
(Lâm Khánh Huân hỏi)
Đáp: Bềnh bồng, dật
dờ, chẳng ra khỏi cơi của ḿnh. Đa số có
thể nhớ chuyện khi c̣n sống, nhưng cũng có
kẻ chẳng thể nhớ. Những điều khác xin
xem trong câu trả lời phía trên.
* Hỏi: V́ sao chúng ta quên
bẵng chuyện đời trước? Từ khi nào th́
bắt đầu quên chuyện đời trước? (Lâm Khánh Huân hỏi)
Đáp: Chuyện kư ức
đều in bóng trong ư thức, thâm nhập tàng trữ trong
A Lại Da. Lúc c̣n sống, những h́nh ảnh mới,
chủng tử mới tăng thêm trong từng sát-na, cái
cũ ở dưới, cái mới ở trên. Do vậy,
dễ nhớ chuyện mới, thường quên chuyện
cũ. Điều này liên quan đến một đằng
ch́m xuống, một đằng nổi lên. Tới khi
người ấy sắp chết, đến lúc A Lại
Da sắp rời bỏ [xác thân], những chủng tử
tàng trữ bị dao động, khuấy đảo, nên
gọi là “loạn tâm vị”
(t́nh thế loạn tâm). Trải qua một lần hôn
trầm ấy, lại bị gián đoạn bởi giai
đoạn Trung Ấm, lại gặp duyên khiến
[thần thức bị] mê bèn nhập thai. Lại trải
qua quá tŕnh trưởng thành, các nỗi biến hóa, ở
trong thai ngục tối tăm suốt mười tháng, lúc
lọt ḷng, cảnh giới nhân sự lại thay đổi
v.v... Loạn, hôn trầm, cách ấm, mê, biến
đổi, thay đổi, khiến cho chủng tử trong
A Lại Da đảo lộn, xen tạp với nhau; do
vậy, mê chuyện đời trước, chẳng
hiểu rơ, chẳng thể ghi nhớ.
* Hỏi: “Tảo địa, tảo trần ai; tịnh tâm siêu
tam giới, thủ khẩu nhiếp ư thân mạc phạm”
(quét đất, quét bụi bặm, tâm tịnh vượt
tam giới, giữ miệng, nhiếp thân ư đừng
phạm) [nghĩa là ǵ]? (Lâm
Khánh Huân hỏi)
Đáp: Đối với
những câu văn này, câu thứ nhất là tỷ dụ,
câu thứ hai nói đến công phu tu hành. Ư nói: Quét bụi,
đất liền sạch, đoạn vô minh bèn
vượt thoát thế gian. Câu thứ ba là thân gồm ba
điều, miệng gồm bốn điều, ư gồm
ba điều, tức mười thứ thiện
nghiệp vậy!
* Hỏi: Đối với
chuyện “người sau khi đă chết sẽ đi
về đâu”, v́ sao các giáo có cách nh́n khác nhau? Mỗi giáo có
cách nào để chứng minh con người có linh hồn?
(Lâm Khánh Huân hỏi)
Đáp: Tại hạ chỉ
tŕnh bày ư nghĩa trong Phật giáo, chẳng nói tới
khuyết điểm của các giáo khác! Hơn nữa, câu
hỏi này nói chung các giáo, mà số lượng các giáo có
đến mấy chục, mấy trăm loại, cũng
chẳng biết nói từ chỗ nào!
* Hỏi: Sau khi liên hoa hóa sanh
trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, sẽ
dựa vào người nào nuôi nấng mà trưởng thành? (Lâm Khánh Huân hỏi)
Đáp: Sau khi hoa sen nở th́
đă là người trưởng thành, trọn chẳng có
các giai đoạn ấu thơ, tráng niên, già cả! Ăn,
mặc, đi, ở, tự tại hóa sanh. Hăy đọc
kỹ kinh A Di Đà sẽ biết tường tận!
* Hỏi: Pháp vận của
đức Phật tính từ lúc nào? (Lâm Khánh Huân hỏi)
Đáp: Tính từ sau khi
đức Phật nhập Niết Bàn.
* Hỏi: Kẻ cực
thiện hay cực ác chẳng thọ thân Trung Ấm,
những người khác khi thọ thân Trung Ấm có
phải là phải trải qua sự tra xét của vua Diêm La
hay không? (Lâm Khánh Huân hỏi)
Đáp: Coi phần trả
lời cho câu thứ hai sẽ hiểu ư nghĩa ấy.
* Hỏi: Kinh Địa
Tạng chép: “Vô thường
đại quỷ... hà huống đọa ư chư ác
thú” v.v...(Con quỷ lớn vô thường... huống là
đọa trong các đường ác) (Lâm Khánh Huân hỏi)
Đáp: Trọn chẳng hỏi
nghĩa ǵ, đáp ở chỗ nào?
* Hỏi: Nếu sau khi đă
sanh trong địa ngục thọ báo, có phải trải
qua Thập Điện Diêm Vương tra xét rồi mới
đầu thai hay không? (Lâm Khánh
Huân hỏi)
Đáp: Địa ngục
vốn thuộc quyền quản hạt của vua Diêm La.
Sau khi thọ tội đă măn bèn đầu thai, tuy trải
qua vua Diêm La thẩm định, vẫn là do nghiệp
của chính ḿnh chiêu cảm, giống như quan ṭa trong nhân
gian căn cứ trên tội lỗi của phạm nhân
để quyết định h́nh phạt!
* Hỏi: Con cái sanh trong gia
đ́nh Phật giáo hoặc người ngoại quốc
nhập đạo (trừ việc xuống tóc làm Tăng),
nghi thức [nhập đạo] có mất thời gian hay
không? (Đặng Dĩ Tai
hỏi)
Đáp:
Bất cứ người nào nghiên cứu kinh điển
Phật giáo, tự ḿnh kính phụng, sẽ được
gọi là “tín sĩ”. Nếu
muốn chánh thức nhập giáo, có lễ Quy Y do pháp sư
thâu nhận, truyền trao quy y, đặt pháp danh, cấp
chứng thư làm đệ tử Tam Bảo liền
được gọi là “cư
sĩ”. Lễ nghi có loại rườm rà, có loại
đơn giản do tùy thuận phương tiện.
Thời gian chẳng hạn chế, nói theo lư luận th́
[người xin quy y] phải đạt tới độ
tuổi [tự ḿnh] có thể phát tâm là hay hơn cả!
* Hỏi: Phật giáo trừng
phạt kẻ phản đạo, bỏ đạo như
thế nào? (Đặng Dĩ
Tai hỏi)
Đáp: Trọn chẳng có
trừng phạt, chỉ có khuyên lơn. Nếu do lỗi
nhỏ mà bỏ đạo th́ dùng cách tự sửa đổi.
Nếu [kẻ ấy] phạm lỗi lớn mà chẳng
hối, bèn lặng thinh không đếm xỉa tới
(mặc tẫn) mà thôi.
* Hỏi: Thắp hương,
bày đồ cúng trước tượng Phật có ư
nghĩa như thế nào? Lại c̣n thắp trường
minh đăng là do dụng ư nào? (Đặng
Dĩ Tai hỏi)
Đáp: Nhằm bày tỏ ḷng
thành kính, giống như nhân gian dâng tặng lễ vật
vậy. Những thứ vật cúng gồm hương, hoa,
nước, đèn, các thứ nghi thức đều
nhằm biểu lộ [ḷng thành kính hoặc nhắc nhở
hành nhân tu hành]. Trong bộ Vấn Đáp đă có giải
thích tường tận. Đèn sáng biểu thị trí
huệ trong Lục Độ.
* Hỏi: Nh́n từ phương
diện kinh tế và chánh trị, Phật giáo mặc t́nh
tự do, b́nh đẳng, chẳng biết có biện pháp
cụ thể hay không? (Đặng
Dĩ Tai hỏi)
Đáp: Ư nghĩa trong câu hỏi
này rất mơ hồ, hỗn độn, nên chẳng
biết đáp cho thích hợp từ đâu! Nếu nói
về giáo quy cụ thể th́ các thứ kinh văn về
giới luật Tiểu Thừa và Đại Thừa [khác
biệt], đối với cách cư xử, hành
động th́ có các thứ oai nghi. Về tổ chức
ắt có cương mục theo thứ tự, từng
điều trong sinh hoạt, chẳng rối ren. Không có chuyện
nào mà chẳng có phương cách, không có cách nào vô lư.
* Hỏi: V́ hộ giáo hoặc
truyền bá, trong lịch sử Phật giáo có phát sanh
cuộc chiến tranh nào đối với ngoại giáo
hoặc mang tánh chất chánh trị hay không? Kết quả
của chiến tranh là như thế nào? Lại c̣n
đối đăi địch thủ như thế nào? (Đặng Dĩ Tai hỏi)
Đáp: Phật giáo ân oán b́nh
đẳng, trọn chẳng tranh chấp với kẻ
khác. Hộ giáo hay truyền giáo đều có phạm vi,
lịch sử [đă ghi chép] rơ ràng, rành mạch. Trọn
chẳng v́ giáo mà dấy chiến tranh, chỉ có chịu
đựng kẻ khác phá hoại. Dẫu bị xâm phạm
mà chẳng so đo, tự ḿnh phục hưng.
* Hỏi: Trong Phật giáo, hàng
Bồ Tát trong chiến tranh là ai? Có pháp lực như
thế nào? (Đặng Dĩ
Tai hỏi)
Đáp: Trong Phật giáo chỉ
có hộ pháp và hàng phục, đều là [những hành vi]
bị động, chống lại người ngoài khinh
lấn, trọn chẳng hề có chuyện gây chiến
với họ. Chớ nên hiểu lầm!
* Hỏi: Ác ma trong Phật giáo
là ai? Pháp lực như thế nào? (Đặng Dĩ Tai hỏi)
Đáp: Trong tầng trời
Tự Tại Thiên của Dục Giới có ma tên là Ba
Tuần, chuyên phá hoại Phật pháp, nhưng tà chẳng
thể xâm phạm chánh, rốt cuộc hắn thất
bại.
* Hỏi: Phật giáo
đối với ngoại (dị) giáo có thái độ
như thế nào? (Đặng
Dĩ Tai hỏi)
Đáp: Ân oán b́nh đẳng,
tứ sanh b́nh đẳng, nhất loạt giáo hóa, chẳng
nghĩ đến điều xấu xa trước kia.
* Hỏi: Phật giáo trừ sát
sanh ra, có cấm kỵ ǵ về ăn, mặc, đi, ở
hay không? (Đặng Dĩ Tai
hỏi)
Đáp: Phật môn chia ra
xuất gia và tại gia, tứ chúng đệ tử. Hàng
xuất gia sau khi thọ tỳ-kheo đại giới,
ăn, mặc, đi, ở đều có luật nghi. Tại
gia nam nữ cư sĩ, kẻ thọ giới bèn tuân
thủ giới, kẻ chưa thọ cũng chớ nên
giết, trộm. Giết là thương tổn ḷng từ
bi, trộm là vi phạm pháp luật.
* Hỏi: Chế độ hôn
nhân của Phật giáo là như thế nào? Có
được kết hôn với dị giáo hay không? (Đặng Dĩ Tai hỏi)
Đáp: Hôn nhân trọn chẳng
hạn chế. Nếu kết hôn với ngoại giáo,
chỉ sợ tín ngưỡng bất đồng, gia
đ́nh bất ḥa mà thôi.
* Hỏi: Phật giáo có cái
gọi là “Phật giáo pháp điển” hay không? V́ sao có
nhiều quy định như thế? (Đặng Dĩ Tai hỏi)
Đáp: Tam Tạng mênh mông,
vạn quyển trùng trùng, đều là pháp điển, có
ai mà chẳng biết? Nếu hỏi về những
thứ quy định th́ há một tờ giấy có thể
viết trọn hay sao?
* Hỏi: Đối với nhân
loại cho đến nguồn gốc vũ trụ, Phật
giáo chọn thuyết sáng tạo hay tiến hóa? Hay là một
thuyết khác nữa? (Đặng
Dĩ Tai hỏi)
Đáp: Ắt phải phá
Trần Sa Hoặc th́ mới có thể thành Phật.
Trần Sa hàm ư đông đúc, có nghĩa là nói đến
hết thảy. “Hoặc” (惑) là mê muội, chẳng biết, nó
thường được gọi là cái gây chướng
ngại cho tánh. Nếu chẳng triệt để phô bày
toàn vẹn vũ trụ và nhân sinh, há có thể gọi là
kiến tánh, làm sao gọi là thành Phật cho
được? Thật ra, vũ trụ và nhân sinh, vạn
sự, vạn lư, đông nhiều như cát sông Hằng, do
muốn nói rơ cho nên có Tam Tạng mênh mông. Đọc hết
Tam Tạng, có thể hiểu thông suốt những nghĩa
ấy th́ mới có thể thật sự hiểu vũ
trụ và nhân sinh. Nếu không, đều là “găi ngứa
ngoài giày”.
* Hỏi: Tôi thường
thấy người mới học Phật có nhiều
nghiệp chướng chồng chất, đấy có
phải là do học Phật chưa chí thành hay không? Hay là do
Phật, Bồ Tát khảo nghiệm kẻ đó? Hay là
để tiêu trừ nghiệp chướng trong
đời trước? (Giang
Khoan Ngọc hỏi)
Đáp: Chúng sanh luân hồi
nhiều kiếp, thiện, ác hỗn tạp. Học
Phật là chủng tử thiện hiện hành, chướng
ngại là chủng tử ác hiện hành. Có thể chí thành
th́ chủng tử thiện có sức mạnh. Chẳng chí
thành th́ sức của chủng tử thiện yếu
ớt. Nghiệp chướng có thể chướng
ngại hay không cũng là do sức của nó mạnh hay
yếu. C̣n như ông nói “Phật, Bồ Tát khảo
nghiệm” và “túc nghiệp tiêu trừ”, tuy có những
chuyện như thế, nhưng kẻ mới học công
phu chưa tiến, chẳng hiểu rơ giáo lư, sẽ
chẳng thể bàn tới những thuyết này
được!
* Hỏi: Cũng có kẻ
học Phật đă nhiều năm, xét ra trước kia
rất có tín tâm, rất phát tâm, về sau th́ trái
ngược, chẳng c̣n có bóng dáng ǵ! Ngược lại,
mê hoặc, điên đảo, có phải là do người
ấy nghiệp chướng đời trước
nặng nề hay không? (Giang
Khoan Ngọc hỏi)
Đáp: Hăy tham cứu [câu
trả lời trong] điều trước, sẽ có
thể ngộ vấn đề này. Đó chính là dấu
hiệu cho thấy chủng tử thiện của kẻ
ấy yếu ớt, sức của chủng tử ác
mạnh mẽ. Đă chẳng thể cầu thâm nhập
giáo lư ḥng khai trí huệ, lại chẳng gặp thiện
tri thức cổ vũ, khích lệ ḥng tiến lên,
khiến cho kẻ ấy chỉ gieo thiện căn,
hoặc đạt được phước báo mà thôi,
trên đường giải thoát trọn chẳng có
phần! Buồn thay!
* Hỏi: Trong lục
đạo, đối với các đường thiên
đạo, A Tu La đạo, súc sanh đạo, quỷ
đạo, trong các đường ấy, sau khi chết có
thân Trung Ấm hay không? (Giang
Khoan Ngọc hỏi)
Đáp: Lục đạo
đều có Trung Ấm, đó là lẽ thường.
Kẻ đại thiện hay đại ác đều có
ngoại lệ. Đoạn Hoặc sẽ thăng lên thiên
đạo, [do nghiệp nhân] địa ngục bèn vào Vô
Gián, hai loại này không trải qua Trung Ấm, đó là trường
hợp rơ rệt nhất.
* Hỏi: Súc sanh là một trong
tám nạn, ngu si, vô trí. Có lúc [chúng ta] gặp gỡ nó, bèn thay
nó niệm Tam Quy và Phật hiệu, nhưng chẳng
niệm lớn tiếng, nó lại chẳng nghe
được, như thế th́ sẽ có cảm ứng
để siêu thăng hay không? (Giang
Khoan Ngọc hỏi)
Đáp: Niệm ra tiếng
để cho nó nghe thấy th́ tốt hơn. Đă gieo
một chủng tử lành vào trong thức điền
của nó, sớm muộn ǵ gặp duyên, sẽ khởi tác
dụng. Nếu chẳng thể niệm lớn tiếng
khiến cho nó nghe, nhưng do ḷng chí thành hồi
hướng th́ nó cũng có thể được mấy
phần gia bị. Nói chung, thành tâm để cầu, công
chẳng luống uổng!
* Hỏi: “Chư pháp nhân duyên sanh, chư pháp nhân duyên diệt”
(các pháp do duyên sanh, các pháp do duyên diệt), kinh Dược
Sư có nói: “Dĩ tận chi
mạng, nhi khả tăng ích” (mạng đă tận có
thể tăng thêm), vạn sự đă tận “diệt” có
phải là tạo công đức sẽ lại có thể
tăng thêm hay chăng? (Giang
Khoan Ngọc hỏi)
Đáp: Tạo công đức
tức là tăng thượng duyên, chẳng trái nghịch
lư duyên sanh! Giống như đèn sắp tắt, thêm
dầu lại sáng! Nhưng các pháp Dược Sư ắt
phải được truyền dạy, chẳng phải
là không có thầy mà có thể tự thông hiểu, ṃ mẫm
làm theo được!
* Hỏi: Tôi đọc kinh
Dược Sư thấy có ghi Cứu Thoát Bồ Tát
gọi tôn giả A Nan là “đại đức”, c̣n tôn
giả A Nan gọi Cứu Thoát Bồ Tát là “thiện nam
tử”. Xin hỏi, hai cách xưng hô này phân biệt như
thế nào? Theo ngu kiến của đệ tử, trong
Phật môn, Bồ Tát là thượng thủ của La Hán,
v́ sao A La Hán gọi Bồ Tát là thiện nam tử? (Giang Khoan Ngọc hỏi)
Đáp: Hai chữ “đại
đức” chính là tiếng gọi chung khắp trên
dưới. “Thiện nam tử” là tiếng khen ngợi
của kẻ trên dành cho người dưới. Tỳ-kheo
đều là bậc xuất gia, Bồ Tát có tăng và
tục khác biệt. Cứu Thoát Bồ Tát có phải là
hiện tướng tại gia hay không, tôi chưa từng
khảo cứu nên chẳng dám nói chắc. Nếu là h́nh
tướng tại gia, tôn giả A Nan gọi Ngài là
thiện nam tử, tức là theo cách người xuất
gia gọi hàng tại gia, trọn chẳng phải là không
được!
* Hỏi: Tỉnh này (Đài
Loan) có xá-lợi của đức Thế Tôn hay không? (Ngô Mậu Tùng hỏi)
Đáp: Nghe nói có nơi thờ,
nhưng đích xác là [xá-lợi] của đức Thế
Tôn hay không, kẻ hèn này mới đến nơi đây
chưa lâu, chẳng biết lai lịch [của viên
xá-lợi] ấy như thế nào, chẳng thể tùy
tiện nói này nọ.
* Hỏi: Thân Trung Ấm có
thể thấy bằng nhục nhăn hay không? (Khiết Viên hỏi)
Đáp: Nhục nhăn không trông
thấy là chuyện thường, phần lớn mọi
người đều chẳng thể trông thấy.
Nhục nhăn trông thấy [thân Trung Ấm] là chuyện
ngẫu nhiên, như ông La Lưỡng Phong thường
thấy quỷ là một trường hợp.
* Hỏi: Nếu trên
đường gặp một con trâu bị kẻ khác
sắp giết mổ, tính chuộc mạng để
thả nó, nhưng gặp lúc tiền bạc trên người
chẳng đủ, không có cách nào vay mượn, Phật,
Bồ Tát từ bi nên chuộc như thế nào? Xả thân
thay thế ư? Nếu là nơi ḷ mổ th́ nên làm như
thế nào mới là tốt đẹp? (Nhan Thiết Căn hỏi)
Đáp: Tận lực mà làm,
chẳng đủ sức th́ hành pháp thí. Hăy v́ nó niệm
Phật, sám hối, hoặc nói quy y. Chẳng thể
cứu thân mạng nó th́ chuyển thành cứu huệ
mạng của nó. Xả thân thay thế th́ đừng nói
là chính ḿnh c̣n chưa thể làm, dẫu họ có chịu th́
chẳng lẽ đồ tể thả trâu để giết
người hay sao? Cách nghĩ ấy khá là thiển cận,
hời hợt vậy!
* Hỏi: Thời kỳ Chánh
Pháp chứng đắc dễ hơn thời kỳ Mạt
Pháp, vậy là học Phật trong thời kỳ Chánh Pháp có
phước báo lớn hơn thời Mạt Pháp ư?
Đó là pháp sanh diệt, nhân duyên ư? (Nhan Thiết Căn hỏi)
Đáp: Sanh nhằm thời
kỳ Mạt Pháp hoặc Chánh Pháp, tự nhiên có liên quan đến
phước báo lớn hay nhỏ, mà người trong hai
thời kỳ ấy cũng có trí huệ hay ngu độn
sai khác. Hai câu cuối lời lẽ chẳng rơ ràng, chỉ
có thể đoán ṃ ư nghĩa để đáp. Người
sống trong thời Chánh Pháp hay Mạt Pháp, phước
lớn hay nhỏ, đương nhiên là mỗi mỗi
đều có nhân duyên. Người đang tu nhân, chưa
đạt đến quả địa đều có sanh
diệt. Do nhân duyên sanh ra, th́ đă sanh bèn có diệt, bèn là
pháp sanh diệt. Nếu chứng Niết Bàn, sẽ
chẳng có sanh diệt, tức là vô sanh diệt vậy!
* Hỏi: Có người tu hành
sau khi chết, hỏa táng, tro cốt có xá-lợi; nhưng
đem chôn th́ nếu có xá-lợi, có thể phát hiện hay
không? Phải phát hiện bằng cách nào? (Tú Phượng)
Đáp: Người có thành
tựu dẫu đem chôn vẫn có xá-lợi, nhưng nó
bị vùi trong đất. Tuy vậy, chẳng phải là
toàn bộ xá-lợi đều do hỏa táng [mà phát
hiện]. Chuyện của người xưa đă
đủ để khảo chứng: Có vị do khắc
ván [in kinh sách] mà xá-lợi hiện, có vị do đọc
kinh sách mà [xá-lợi] hiện!
* Hỏi: Mục đích rốt
ráo của Thích Tôn có phải là tịnh hóa thế giới Sa
Bà khiến nó trở thành thế giới trang nghiêm đó
chăng? Hay là muốn làm cho lục đạo chúng sanh ai
nấy đều sanh về Tây? (Lưu
Khánh Minh hỏi)
Đáp: Hai lẽ đều có,
nhưng đừng thiên chấp. Người có thể
trang nghiêm Sa Bà bèn mặc t́nh trang nghiêm Sa Bà, người
nguyện văng sanh Cực Lạc bèn mặc t́nh văng sanh
Cực Lạc, nhưng Cực Lạc đă có Phật Di
Đà trang nghiêm, nên chẳng phải đổ công sức.
Vẫn là phải cầu học Cực Lạc
trước rồi mới quay lại trang nghiêm Sa Bà.
* Hỏi: Sau khi xem phụ
bản h́nh màu thánh tượng Đại Sĩ do
Hương Cảng ấn hành và đọc Quán Âm Linh
Cảm Lục, tôi phát khởi chí hướng thờ
phụng, tin tưởng, ngưỡng mộ to lớn.
Lễ bái Ngài trong nhà như thế nào? Khi đến chùa miếu
th́ lễ bái, tin tưởng, thực hành ra sao? Xin hăy
chỉ dạy! (Hà Giang Đô
hỏi)
Đáp: Phát tâm tin Phật cốt
yếu ở ḷng thành, kế đến là xét theo h́nh
thức. Cách hành lễ thông thường là dùng cách khấu
đầu ba lần. Nhằm thuận tiện cho
người công việc bận bịu th́ lễ một
lạy. Nếu có nhiều thời gian rảnh rỗi,
lạy bốn mươi tám lạy hay một trăm
lạy, đều có thể tùy ư. Nói chung, lấy ḷng chí
thành làm chánh; nhưng cách thức lễ bái trong Phật giáo
có hơi khác với cách lễ bái thông thường đôi
chút. Tức là ba lần quỳ, ba lần khấu đầu,
lật ngửa hai bàn tay lên, năm vóc gieo xuống
đất, sau đó, xá một xá. Đích thân nh́n để
học theo sẽ dễ dàng hơn, chứ hướng
dẫn bằng văn tự có thể bị hiểu
lầm. Hăy nên học từ các vị pháp sư trong chùa
miếu, hoặc học từ những vị cư sĩ
am hiểu nghi lễ, thảy đều được
cả!
* Hỏi: Đọc tụng
kinh Di Đà và siêu độ tổ tiên th́ đối
trước Phật hay đối trước bài vị
tổ tiên, hay cả hai nơi đều được?
Xin thầy chỉ dạy! (Khưu
Hợp Thuận hỏi)
Đáp: Chủ yếu là thành
tâm, chẳng bó buộc nơi chốn phải đối
trước Phật hay trước bàn thờ vong, hoặc
chẳng phải tại hai nơi thờ Phật hoặc
thờ linh. Chỉ cần thân tâm hồi hướng,
sẽ đều được cảm ứng.
* Hỏi: Hễ trông thấy các
ṭa nhà to gắn Thập Tự Giá dựng lên tua tủa
khắp nơi th́ đó là [giáo đường] của tôn
giáo Tây phương chẳng c̣n ngờ chi; nhưng chữ
Vạn là tượng trưng cho Phật giáo, mà hội
Hồng Vạn Tự thế giới cũng treo cao chữ
Vạn, thoạt nh́n, chắc nơi đó là tùng lâm
chẳng c̣n ngờ ǵ đấy chăng? (Dương Khai Khánh hỏi)
Đáp: Trong nội bộ
hội Hồng Vạn Tự (紅卍字), chia ra
thành Đạo Viện và Từ Viện. Đạo
Viện quản trị sự vụ tôn giáo trong thần
đạo. Các đấng được họ thờ
phụng là [các vị thánh nhân] Nho, Thích, Đạo, Thiên Chúa
giáo, Hồi giáo, cao nhất vẫn là Lăo Tổ. Họ
tự xưng đứng đầu ngũ giáo, nhưng các
giáo đều có căn cội riêng, đều phủ
nhận danh xưng tạp nhạp của họ. Họ
chẳng có kinh điển, chỉ tin vào cầu cơ,
chẳng phải là cùng một pháp với nhà Phật, mà [đạo
viện của họ] cũng chẳng phải là tùng lâm.
Từ Viện lo liệu các thứ sự nghiệp từ
thiện, và cũng phỏng theo hội Hồng Thập
Tự tải thương, cứu thương chiến
trường mà làm chuyện cứu thương, tải
thương trên chiến trường. Lá cờ mang chữ Vạn màu đỏ của
họ do phỏng theo cờ của hội Hồng Thập
Tự mà chế ra, nhưng sự nghiệp từ thiện
của họ khá có thành tích. Tự do tín ngưỡng,
nhưng chẳng bắt buộc phải có cùng quan
niệm về đạo với họ.
* Hỏi: Phong tục tỉnh
nhà (Đài Loan) vốn theo phong tục vùng Mân Nam[28],
đối với mũ, áo, giày v.v... của trẻ thơ
đều dùng vải sa hồng thêu chữ Vạn, ngụ
ư cầu thọ phước, cầu b́nh an. Phật môn dùng
điều ǵ làm thụy triệu (điềm tốt lành)?
(Dương Khai Khánh hỏi)
Đáp: Thân Phật có ba
mươi hai thụy tướng. Mỗi tướng
đều do trăm phước tạo thành. Chữ 卍 là tướng trước ngực, người
đời sau đọc thành âm Vạn. Thế tục
chuộng dùng chữ ấy để trang hoàng, lại
phối hợp với những chữ như Phước,
Thọ v.v... tức là lấy ư nghĩa Vạn, [ḥng cầu
mong] hết thảy cát tường đều vô tận.
Trong Phật môn chỉ dùng chữ này để làm tiêu chí
(logo), ngoài ra c̣n có luân tướng (bánh xe), chứ không
phải là nhất loạt giống hệt nhau. Những
tiêu chí này đều nhằm biểu thị rơ rệt [các ư
nghĩa trong Phật pháp], chữ Vạn biểu thị
theo chiều dọc lẫn chiều ngang đều
trọn khắp, Luân biểu thị thường
chuyển, chẳng ngừng, chẳng phải chỉ
để cầu phước như thế tục.
* Hỏi: Tôi thấy bài Cửu
Hoa Tán có câu: “Hương hoa tánh
Không, vận bi sát quốc, chư Phật, chúng sanh chỉ
duyên sanh. Tùy xứ giáng cát tường, sở hóa thành
Phật. Hiện thị chứng Bồ Đề. Nam-mô
Cửu Hoa Sơn Bồ Tát Ma Ha Tát” (Tánh của
hương hoa là Không, vận ḷng Bi trọn khắp cơi
nước. Chư Phật và chúng sanh chỉ do các duyên sanh.
Giáng tốt lành khắp chốn, những chúng sanh được
Ngài hóa độ đều thành Phật, nay đều
thị hiện chứng Bồ Đề. Nam-mô Cửu Hoa
Sơn Bồ Tát Ma Ha Tát). Chẳng biết có thể sử
dụng hay không? Xin hăy chỉ dạy! (Ngô Gia Thiêm hỏi)
Đáp: Bài tán ấy ca tụng,
tán dương công đức của Bồ Tát, nghĩa lư
xứng hợp, trọn chẳng có chỗ nào không nên dùng.
Chỉ có mấy câu chẳng gieo đúng vần, tụng
niệm chẳng thuận miệng, chứ không có ǵ khác!
* Hỏi: Đức Phật nói
“tam giới chẳng an”, nói
chung là hết phước bèn luân hồi trong lục
đạo. Nếu có thánh đường của Nho giáo,
Phật, Bồ Tát, thần tiên thường xuyên giáng cơ
bút xiển dương giáo pháp trong hiện thời th́
sẽ độ chúng sanh vô hạn lượng. Đài Loan
thánh giáo và tam giáo có cùng một Thể, Phật, thánh,
thần tiên cùng độ. Tham bái các thứ thi từ,
lời dạy của Phật Di Đà khiến cho kẻ
khác cảm động, nhưng xét ra Phật là đấng
Chánh Giác, chẳng dính dáng đến ngoại đạo,
cớ sao Phật, Bồ Tát thường xuyên giáng hạ
đàn cầu cơ? Đối với việc này, kẻ
ngu cảm thấy khó hiểu, xin hăy khai thị. (Lâm Tán Đức hỏi)
Đáp: Xem lời lẽ của
tiên sinh, biết tấm ḷng nhân từ, hiền ḥa. Nếu
chịu trống ḷng xem đọc, nghiên cứu kinh
Phật, ắt trí huệ mở mang, kiến đạo.
Tiên sinh đă hạ cố hỏi tôi về nhiều
điểm hiểu lầm, tôi xin kính cẩn giải thích:
- Một, Nho chẳng phải là
tôn giáo.
- Hai, Phật, Bồ Tát hoàn toàn
chẳng giáng hạ các đàn cầu cơ.
- Ba, do Nho chẳng phải là tôn
giáo, chẳng thể nói là tam giáo đồng thể!
- Bốn, các thứ thi từ
[trong đàn cầu cơ] quyết chẳng phải do A Di
Đà Phật nói.
Bốn điều trên đây
đều do kẻ vô tri, mù quáng tạo lời đồn
đăi. Kẻ đặt chuyện lời lẽ chẳng
thật, hành vi thuộc loại dối gạt. Nếu
chẳng phải là xằng bậy tự bịa
đặt, chắc chắn do quỷ yêu quấy phá,
giả mạo danh nghĩa thần tiên, dối gạt,
bịp bợm, ngu si, nhưng kẻ vô học chẳng
biết phân biệt thật, giả, tà, chánh. Do vậy,
lập đàn khai giáo. V́ thế, chúng được
gọi là “bàng môn ngoại đạo”. Tiên sinh cầu
đạo đă đi vào ngơ rẽ, trong tương lai
sợ mắc họa sa hào, sụp hố, xin hăy cẩn
thận!
* Hỏi: Người hỏi
về thánh đản và ngày thành đạo của
Phật, Bồ Tát rất nhiều. Rốt cuộc
[những ngày vía ấy] xuất phát từ kinh điển
nào, hoặc có căn cứ ǵ? Trong quư báo, nói chung chưa
giảng giải rơ ràng. Đă không có kinh điển
[để làm chứng], v́ sao các chùa miếu trong khắp
thiên hạ đều nhất loạt cử hành?
Người b́nh phàm đều có sinh nhật nhất
định; trái lại, Phật, Bồ Tát, thánh nhân v́ sao
chẳng thể khảo chứng! Như vậy, há
chẳng khiến cho người ta nghĩ các ngày thánh
đản và thành đạo trong Phật giáo chẳng
đáng tin bằng lễ Giáng Sinh của Gia Tô (Jesus). Sau này,
chùa miếu tổ chức pháp hội, sợ sẽ bị
giảm bớt số người tin tưởng! (Vô Danh Thị hỏi)
Đáp: Phàm đối mọi
việc, hễ biết liền nói là biết, không biết
bèn nói là không biết, xác thực bèn nói là xác thực, không
chứng cớ bèn nói không có chứng cớ. Đó là
lời chân thật. Lời đáp trong quá khứ của
tờ báo này chính là tuân theo tông chỉ ấy. Phật,
Bồ Tát có vị ở trong cơi này, có vị thuộc
về cơi khác. Lịch pháp có các nơi, xưa, nay sai khác.
Đừng nói là kinh chẳng ghi chép, dẫu có đi
nữa, nhưng để tính toán nhằm phù hợp, khít
khao chẳng sai ngoa với năm tháng tại Trung Quốc
trong từng thời sẽ là chuyện hết sức khó
khăn. Dẫu sai khiến người tinh thông lịch
pháp tính toán, cũng chẳng dám nói là cách tính ấy chuẩn
xác! Sinh nhật của Gia Tô có chép trong kinh Tân Cựu
Ước hay chăng? Họ tự hạn định,
lấy Dương Lịch làm chuẩn, c̣n như phù
hợp với nông lịch của Trung Quốc và lịch
Hồi giáo v.v... cũng đều chênh lệch không xác
định. Nếu là người học Phật, hăy nên
đào sâu nơi những điều trọng yếu, những
điều giống như thế này chẳng liên quan ǵ
đến tông chỉ to lớn! Nếu cứ ắt
muốn khảo cứu kinh điển, cũng chẳng
phải là không có. Nay tôi sao lục một bài kệ trong kinh
Hoa Nghiêm có thể khiến cho ông liễu ngộ. Kệ
như sau: “Chúng sanh các tự
vị, Phật mỗ nhật thành đạo, Như Lai
đắc Bồ Đề, thật bất hệ ư
nhật” (Chúng sanh mỗi người tự nói Phật
thành đạo trong một ngày nào đó, nhưng thật
ra, Như Lai đắc Bồ Đề chẳng hạn
cuộc trong một ngày nào). Ấy là v́ thật nghĩa c̣n
chẳng có ba đời. Cứ nhất định
chấp trước một ngày nào đó, tức là
đuổi theo vọng. C̣n như đối với
vấn đề tín ngưỡng, đệ tử
Phật thật sự chỉ có tin những ǵ đáng nên
tin. Nếu có kẻ v́ chuyện này mà hoài nghi giáo pháp của
chúng ta, đúng là v́ họ chẳng hiểu phạm trù
của Tín, há ta có nên trái lư lừa gạt họ ư?
* Hỏi: Ở trong chùa, tôi
từng thấy có một cuốn sách nhan đề
Phật Thuyết Thọ Sanh Kinh, trong ấy có nói
đến chuyện phải đóng tiền thọ sanh[29],
chẳng biết tiền thọ sanh là vật ǵ, và cách
đóng tiền ra sao? (Trương
Tấn Thiêm hỏi)
Đáp: Đây là do kẻ
chẳng hiểu Phật pháp, lầm tưởng mắt cá
là trân châu. Trong Đại Tạng Kinh nhà Phật chẳng
có cuốn kinh ấy, chớ nên mê tín! Cư sĩ vừa
nhập Phật môn, cần phải phân biệt rơ chân,
giả, tà, chánh. Nếu không, đường rẽ lắm
ngơ, sẽ sa hầm, sẩy hố, chẳng thể văn
hồi được!
* Hỏi: Một người
sau khi chết, linh hồn (tức thần thức) của
kẻ ấy phải chờ măi đến bốn
mươi chín ngày mới chuyển sanh trong thai khác. Nếu
linh hồn chuyển sanh vào thai khác như vậy, đă
chẳng c̣n thuộc về người chết nữa,
chúng ta là con cháu c̣n sống thường siêng năng tụng
kinh siêu độ cho tiên linh tổ tiên, như vậy th́ các
vị tổ tiên có được siêu sanh thoát khổ hay không?
Nếu có thể th́ họ đă mất linh hồn, làm sao
có thể hưởng những kinh chú quư báu như vậy? (Lâm Hồng Quế hỏi)
Đáp: Sau bốn mươi
chín ngày, tuy đă đầu thai, nhưng vẫn chưa ra
khỏi lục đạo. Lục đạo thiên sai
vạn biệt, chân khổ, giả lạc, không ǵ chẳng
phải là quả báo của các nghiệp thiện hay ác.
Chúng sanh trong lục đạo thấy, nghe kinh chú có
thể tịnh tam nghiệp, đạt được
lợi ích nơi pháp, nhưng công đức ấy vốn
là v́ người đă khuất mà bố thí, có thiện nhân
ấy, đương nhiên đạt được
thiện quả! Người trong ác đạo có thể
thăng lên thiện đạo, người đă ở
trong thiện đạo có thể từ kém cỏi mà
chuyển thành thù thắng.
* Hỏi: Chiếu theo Tứ
Niệm Xứ thuộc Ba Mươi Bảy Đạo
Phẩm trong kinh Di Đà, [điều thứ nhất là] “quán thân bất tịnh”.
Phật pháp thường nói: “Thân người khó
được, Phật pháp khó nghe. Trừ thân người
ra, chẳng thể tinh tấn tu đạo. Chỉ có thân
người là có thể tu Phật pháp, có thể tu
chứng Phật quả”. Đă là như vậy, câu “quán thân bất tịnh” này có
những chỗ chẳng đúng pháp. [Bởi lẽ],
từ vô thỉ tới nay, chúng ta đă tu khá nhiều
quả báo th́ mới có thể được làm thân
người. Sau đấy, lại mong làm Phật. Nếu
tu Phật pháp mà quan sát cái thân người trọng yếu
này là bất tịnh th́ làm sao có thể tu nghiệp cho
được? Đă là bất tịnh, cớ sao có
thể đạt được quả báo Phật? (Vương Tú Xuân hỏi)
Đáp: Được làm thân
người, có thể nghe đạo khởi tu, có thể
giải thoát, đó là điều khó có, đáng quư. Cái nhân
để cầu giải thoát là do liễu ngộ cái thân ô
trược đáng chán mà mong cầu đạt
được Pháp Thân. Nếu chẳng cảm thấy
chán, sẽ tham ái, chẳng cầu giải thoát. Thân chư
thiên tuy thù thắng tốt đẹp, nhưng họ tham
ái, chẳng biết giải thoát. Thân trong tam đồ hèn
kém, do ngu mê nên chẳng thể nghe đạo, đều
chẳng có cơ duyên giải thoát. Do vậy, có thể quán
thân bất tịnh, bèn chán ngán, khởi tu, cũng là chỉ
có con người [mới làm được như thế
mà thôi]. Hai câu này (“quán thân bất tịnh” và “thân
người đáng quư”) chẳng mâu thuẫn nhau!
* Hỏi: Để cúng
Phật, tôi trồng một ít hoa trong sân. Pháp Thân của
Phật đă đầy ắp vũ trụ hư không,
như vậy th́ cần ǵ cứ nhất định
phải hái hoa dâng cúng trước tượng Phật? Khi
chúng ta ăn bất cứ ǵ, bất luận ở nơi
nào, trong tâm trước hết nghĩ đến cúng
Phật, như vậy sẽ tốt hơn đem vật
này nọ cúng trước tượng Phật, có khác
biệt ǵ chăng? (Bạch
Trương Văn Thích hỏi)
Đáp: Phật quả thật
chẳng ăn, người cúng chỉ do tấm ḷng. Phàm
phu kính cẩn, thành tâm, Phật cũng tâm lănh. Trồng hoa
đầy sân, vật nào cũng có chủ, không cho mà
lấy, há Phật làm ư? Ta đă chẳng dâng hiến,
tâm thành kính ở chỗ nào? C̣n như nói ta ăn thứ ǵ,
tâm nghĩ cúng Phật, đối với lư luận như
vậy, ắt phải có sự thật th́ mới không
lệch lạc. “Kính” bên trong ắt phải thể hiện
bằng “cung” bên ngoài.
* Hỏi: Có
phải là tượng Phật nhất định phải
khai quang th́ mới có thể thờ phụng hay không?
Chưa khai quang có thể thờ hay không? Có được
công đức hay không? Lại nữa, trong pḥng có thể
bày tượng Phật để thờ phụng hay không?
Tượng Phật đối diện với
giường nằm có tội hay không? Lại nữa,
người chẳng hiểu Phật pháp đưa
tượng Phật cho ngoại đạo (Đạo
giáo) khai quang, có phải là Phật sẽ trụ trong
tượng ấy hay không? Lại nữa, khai quang có
ư nghĩa ǵ? Tại hạ vô tri, cầu khẩn cư
sĩ giải trừ sự ngu độn, tối tăm
cho tôi! (Lữ Minh Trường
hỏi)
Đáp: Câu hỏi này gồm
bốn đoạn, nay tôi sẽ tách ra từng đoạn
để đáp:
1) Phật Đà tự có quang
minh, chiếu khắp đại thiên, há có Phật quang
phải đợi con người đến khai? Hiện
thời, chủ yếu khai quang phần nhiều bất quá
là thuận theo tập tục mà thôi! Thật ra, khai và
chẳng khai chẳng liên quan ǵ đến tông chỉ to
lớn [của Phật pháp]. Cốt yếu là người
thờ tượng thành tâm, tượng Phật tự
nhiên tỏa ánh sáng. Tâm đă chân thành, tự đạt
được công đức.
2) Hết thảy các
phương tiện trong Phật pháp chỉ chú trọng
thành kính. Nếu pḥng ở có pḥng trong và pḥng ngoài th́ pḥng
trong bày giường, pḥng ngoài thờ Phật. Nếu
chỉ có một pḥng, chẳng ngại thờ Phật
đối diện giường nằm, nhưng
trước tượng che một tấm màn, trong khóa
tụng sáng tối bèn mở ra. Ngoài lúc tụng niệm, bèn
buông màn xuống.
3) Phật pháp như bánh xe to,
ngoại đạo như ngói, sạn, cỏ, rêu. Ngoại
đạo mà có thể khai quang cho Phật, đúng là càn khôn
điên đảo! Nhưng trong phần trên tôi đă
chẳng nói đó sao, cảm ứng là do ḷng Thành, bất
luận người thờ phụng là trí hay ngu, hễ có
ḷng thành ắt Phật bèn trụ nơi đó.
4) Tạo tác tượng
Phật, thi công các thứ, di chuyển, lay động, tâm
chưa nghĩ Phật đă giáng lâm. Định ngày làm
lễ khai quang, nghĩ Phật đă giáng lâm [tượng
ấy]. Phật đă giáng lâm, chẳng thể đụng
chạm nữa.
* Hỏi: Người chết
th́ thần thức người ấy có nam, nữ, già,
trẻ sai khác hay chăng? (Trần
Đăng Phùng hỏi)
Đáp: Tướng
được hiện bởi thần thức
người ấy là tướng đă quen thấy trong ư
niệm. Thần thức vô tướng, huyễn thân có
tướng. Đă có tướng th́ liền phân ra nam,
nữ, già, trẻ.
* Hỏi: Quỷ có phải là
hữu h́nh hay không? Nếu hữu h́nh, cớ sao chúng ta
chẳng thấy? Nếu vô h́nh, chịu khổ bằng cách
nào? (Trần Đăng Phùng
hỏi)
Đáp: Quỷ đă có thân,
liền có tướng. Chúng ta chẳng thấy là v́ nhăn
thức của chúng sanh trong lục đạo mỗi loài
mỗi khác. Do vậy, có loài có thể thấy thứ này,
nhưng chẳng thể thấy thứ kia. Có loài có thể
thấy thứ kia, nhưng chẳng thể thấy thứ
này. Như núi, sông, đại địa, ngày đêm bất
biến, nhưng chim sẻ ban ngày th́ thấy, ban đêm
chẳng nh́n được. Chim cú ban đêm thấy
đường, ban ngày chẳng thấy.
* Hỏi: Người đă
chết, trước khi đầu thai, th́ hai thứ
ấy (tức [thân xác của] người chết và
thần thức) có nh́n thấy nhau hay không? (Trần Đăng Phùng hỏi)
Đáp: Thần thức hợp
với thân th́ gọi là người sống. Thần
thức ĺa thân bèn gọi là người chết. Thân
của người chết gọi là
Thi (屍: xác chết). Thi chẳng có thần thức, làm sao có
thấy, nghe? Thức chưa nhập thai gọi là ‘thân Trung
Ấm”, hoàn cảnh đă thay đổi, nên thấy, nghe
cũng khác. Chẳng thể thấy xác thân là chuyện b́nh
thường. Nếu [thần thức của người
đă chết] có thể thấy xác của ḿnh, đó là
chuyện ngẫu nhiên, đặc biệt vậy!
* Hỏi: Thần thức
của người chết và muỗi, trùng chết có h́nh
thể giống nhau hay không? Hành động có nhất trí
hay chăng? (Trần
Đăng Phùng hỏi)
Đáp: Cố nhiên thần
thức chẳng sai biệt, nhưng tập khí sai biệt
rất lớn. Xin hăy coi lại lời đáp cho câu hỏi
thứ nhất, để suy ra ư nghĩa. Tập khí
chủ tŕ ư tưởng, ư tưởng có thể hóa
hiện thân tướng. Ư tưởng của chúng sanh
mỗi người mỗi khác, nên hiện thân khác nhau!
* Hỏi: Người đă
chết, toàn thân đă lạnh buốt, chỉ có lưng c̣n
ấm, ắt sẽ cảm đường nào? (Trần Đăng Phùng hỏi)
Đáp: Kinh chẳng nói rơ,
chẳng tiện chủ trương dứt khoát. Nếu
ấm ở phía trên của lưng, có lẽ cảm sanh
trong thiên đạo!
* Hỏi: Người đă
chết, trở về trong thất đầu tiên, nếu
sanh vào năm Hổ, sẽ thấy có dấu chân hổ[30],
có thật như vậy hay không? (Trần
Đăng Phùng hỏi)
Đáp: Điều này trong kinh
văn chẳng chép, chẳng thể miễn cưỡng
làm ra vẻ hiểu biết được!
* Hỏi: Có người nói:
“Người đă chết mà mí mắt chẳng khép,
tức là trong tâm có điều chưa cam ḷng”, lư luận
ấy có xác đáng hay không? (Trần
Đăng Phùng hỏi)
Đáp: Điều này luận
theo tâm lư và sinh lư, hai thứ ấy giao cảm th́ cũng có
lư, tục gọi là “chết không nhắm mắt”.
* Hỏi: Đối với
phương pháp xem kinh, có người chủ trương
xem bằng cách trực tiếp cảm nhận, không thêm suy
nghĩ vào đó. Có người chủ trương
trước hết đọc thuộc kinh văn rồi
mới cầu hiểu nghĩa, rốt cuộc cách nào là tốt,
hay là không có cách nào nhất định, tùy theo căn khí
của mỗi người mà định? (Khiết Viên hỏi)
Đáp: Đối với cách
xem kinh, có Tụng và Nghiên khác biệt. Tụng (誦) là chẳng chú
trọng suy tư, một mực tĩnh tâm tụng
niệm. Đó là mượn kinh làm công khóa để cầu
đắc Định. Nghiên (硏) là hiểu rơ ư nghĩa, thăm ḍ, xem
xét, ḥng hiểu trọn vẹn, đó là nương vào thánh
ngôn trong kinh để cầu khai Huệ. Trước
hết, phải biết xem kinh do động cơ
(motivation) nào, rồi chọn lựa Nghiên hay Tụng th́
sẽ chẳng đến nỗi băn khoăn!
* Hỏi: Trong bộ
Dương Minh Truyện Tập Lục, đệ tử
Tiêu Huệ hỏi về đạo sanh tử, tiên sinh
[Vương Dương Minh] đă dẫn một câu trong
kinh Dịch, “tri trú dạ
tức tri sanh tử” (biết ngày đêm liền
biết sanh tử) để đáp, có phải là dùng ngày
đêm để sánh ví sanh tử, dùng ánh nắng mặt
trời để tỷ dụ Chân Như tùy duyên bất
biến hay không? (Khiết Viên
hỏi)
Đáp: Đoạn vấn
đáp này giữa Vương Dương Minh và Tiêu Huệ
bất quá chỉ nói về trạng huống sanh tử mà
thôi! Ngày đêm trong trời đất lần lượt
thay đổi lẫn nhau, nhưng trời đất
vẫn như vậy. Tâm tánh xuất thai, nhập thai,
nhưng tâm tánh chẳng biến, có lẽ chẳng phải
là dùng mặt trời mọc lặn để tỷ dụ
Chân Như tùy duyên.
* Hỏi: Nghe nói có cuốn sách
mang tựa đề Ấn Độ Du Già (Indian Yoga),
chẳng biết Du Già là thuật ǵ? Người học
Phật có cần [học tập, nghiên cứu] thuật
ấy hay không? (Trần Quán Nhân
hỏi)
Đáp: Xin cư sĩ hăy tham
khảo cột báo Phật Học Vấn Đáp của
tờ báo này số một trăm lẻ bảy, trong
phần trả lời cho các câu hỏi của cư sĩ
Lư Minh Dương, sẽ biết ư nghĩa.
* Hỏi: Thấy, nghe kinh pháp
nói “thân người khó được”, tiểu đồ
(đứa học tṛ nhỏ nhoi) nghe vậy bèn nghĩ
cuộc đời mấy chục năm đắm
đuối tranh danh đoạt lợi, không lỗi nào
chẳng phạm, trở thành một thế giới kẻ
mạnh lấn hiếp, ăn nuốt kẻ yếu. Nghe
nói hiện thời, dân số mỗi năm tăng thêm
đông bằng số dân chúng trong một huyện thị.
Đối với điều này, tiểu đồ
cảm thấy khó hiểu, như vậy là làm lành khó
được, hay làm ác khó được? V́ thế, xin
thầy hăy khai thị. (Hoàng
Mễ Điền hỏi)
Đáp: Câu hỏi này ư nghĩa
chẳng rơ ràng! Nghiền ngẫm từ
ngữ, câu văn, [tôi e ngại ḿnh] có lắm chỗ
hiểu lầm, chẳng tiện suy đoán để
trả lời, sợ chẳng phù hợp ư người
hỏi. Nói “thân người khó được”, ắt
trước hết phải hiểu rơ chuyện trong
lục đạo. Nói nhân loại trong thế giới
tăng thêm, ắt trước hết phải
hiểu rơ “có các thế giới số nhiều như cát
sông Hằng”. Hằng sa lục đạo, hằng sa
thế giới, trong ấy, đến nơi đây, qua bên
kia, ở đây thăng lên, bên kia giáng xuống. Đă
biết lư “thăng, giáng, qua lại giữa đây và kia” th́
tăng thêm và giảm bớt đều chẳng có ǵ
đáng ngờ! Nếu chúng sanh trong hằng sa lục
đạo và hằng sa thế giới đều tăng
đồng thời hoặc giảm đồng thời th́
mới đáng nghi!
* Hỏi: Tôi nghe nói hoằng
pháp, giảng kinh phải viên dung, nếu không, sẽ
gọi là “báng pháp”. Nếu là như
thế, các lời đáp của cư sĩ về Phật
học và các đề tài đăng tải trong tờ
Bồ Đề Thụ là hoàn toàn viên dung ư? Lại
nữa, đối với những chỗ chẳng viên
dung, có cách nào bổ cứu hay chăng? (Ngô Minh An hỏi)
Đáp: Giảng
kinh thật sự chẳng phải là chuyện dễ,
chẳng thể làm bừa. Nhất là đối với hàng cư sĩ mới học, càng
chẳng thể làm xằng. Mức độ thấp
nhất th́ phải hội đủ những điều
kiện sau đây: Phải thọ giới, thông hiểu,
lưu loát văn lư, có sư thừa, chọn lựa tinh
tường các bản chú giải để làm sách tham
khảo. Đây chẳng qua là đại lược vun
bồi cơ sở, chẳng bàn tới viên dung!
Nương theo đó để giảng giải, ḥng
giảm bớt lỗi trái lư! Để khế cơ,
sợ rằng cần phải thâm nhập và có kinh
nghiệm. Người mới học Phật, nếu phát
bi tâm, chẳng ngại khuyên người khác học
Phật, đó là hoằng pháp. Những văn tự
đăng tải trong tờ Bồ Đề Thụ là
những bài viết do các vị đại đức
khắp nơi gởi đến, kẻ hèn này học
vấn nông cạn, ít ỏi, chẳng dám suy lường
xằng bậy sự cao thâm. C̣n về những bài vấn
đáp của kẻ hèn này th́ hoặc là nương theo ư
nghĩa trong kinh, hoặc tuân theo khuôn khổ, chuẩn
mực của cổ đức, chưa hề dám tự
cậy thông minh, xằng bậy nêu ra ư kiến của chính
ḿnh. Nếu bảo là “chẳng viên dung” th́ chỗ nào
cũng có thể thấy [những lời đáp của tôi
chưa được viên dung], nhân quả vô t́nh, chỉ
đành tự làm tự chịu! C̣n chuyện bổ cứu
là phương tiện thiện xảo của bậc
đại quyền, chúng ta chẳng biết
được! Cái gọi là “bổ cứu” của chúng ta
th́ đúng là càng miêu tả càng tối tăm, tội càng
thêm tội mà thôi.
* Hỏi: Tôi thường bị bệnh
khổ, bèn phát nguyện, nguyện thường gặp minh
sư chỉ điểm nẻo mê ḥng mau chứng thiên tiên.
Đấy là lần thứ nhất do bị sự khổ
bức bách mà phát nguyện làm thánh nhân. Về sau, do
đọc sách Nho bèn nguyện đạt tới sự chí
thiện ḥng làm thánh nhân, mạng chung sanh lên trời.
Đấy là phát nguyện lần thứ hai. Phát nguyện
thứ ba là độ chúng sanh vô biên, nếu có chúng sanh
chưa độ hết, thề chẳng thành Đẳng
Giác. Lần thứ tư, nếu tôi thành Phật sẽ
chẳng khác A Di Đà Phật, nếu có sai khác, thề
chẳng thành Chánh Đẳng Chánh Giác. Tôi muốn hỏi:
Trong lời nguyện đă phát trong lần thứ ba, chính
là chúng sanh đều đă được độ
hết th́ mới thành Phật, nhưng nguyện đă phát
hiện thời là chúng sanh chưa độ hết, mà chính
ḿnh đă thành Phật, có phải là bổn tâm lừa dối,
giảm thiểu hay không? Khẩn cầu cụ khai
thị! (Nhan Quư Nghiệp
hỏi)
Đáp: Bốn lần phát nguyện,
nguyện trong hai lần đầu là do chưa nghe
đại đạo mà phát, đă trở thành quá khứ,
chẳng cần phải nói nữa. Hai nguyện thứ ba
và thứ tư, có khác biệt đôi chút, nhưng không có
phước đức và trí huệ, dẫu có hoằng
nguyện, rất khó thực hiện! Nếu có thể
chứng quả chẳng khác ǵ A Di Đà Phật th́
phước huệ ngang bằng, không ǵ chẳng trọn
đủ, độ sanh khá dễ. Hăy nên biết: Phàm thành
Phật quả, ắt phải trải qua “độ tha
viên măn”. Chưa có ai chẳng độ chúng sanh mà có thể
thành Phật, muốn thành Phật bèn chẳng buông bỏ
việc độ chúng sanh. Có chút sai khác đúng là như
vậy, chẳng dối gạt bổn tâm là
được rồi!
* Hỏi: Theo chẩn đoán y
học, học tṛ Can hỏa quá vượng, nên tai ù, tim
đập dữ dội. Xét ra, những điều này
đều do đời trước lắm sân hận mà
ra. Nay tôi hễ thầm niệm Phật, Can hỏa càng
bốc dữ dội, quan sát cái nhân là do tiếng niệm A
Di Đà Phật chẳng phù hợp. Nay tôi đổi sang
niệm thầm A Di Đà Phật trong họng ḥng tránh
khỏi chướng ngại. Dùng phương pháp này có
chánh xác hay chăng, hay là cần phải cải tiến? Xin
hăy khai thị. (Nhan Quư
Nghiệp hỏi)
Đáp: Phương pháp niệm
Phật là phải khiến cho thân lẫn tâm điều ḥa,
thoải mái th́ mới có thể tĩnh và định, cho
nên phương thức chẳng đồng nhất.
Niệm thầm cũng là một cách có thể trị tán
loạn. Nếu sử dụng mà cảm thấy an ổn,
thích đáng th́ chẳng cần phải sửa đổi.
* Hỏi: Phương pháp tu tŕ
trong quá khứ là nguyện sớm được văng sanh,
sau đấy mới trở về Sa Bà độ thoát
hết thảy chúng sanh. Phương pháp hiện thời là
coi kiếp này chính là nương theo nguyện trở lại,
độ vô biên chúng sanh, đoạn vô tận phiền năo,
học vô lượng pháp môn, thành vô thượng Phật
đạo, người thấy lẫn kẻ nghe
đều tinh tấn, mạng chung cùng sanh về cơi
Cực Lạc. Dùng giáo dục để thuyết pháp,
nỗ lực v́ chúng sanh, nhưng thường khổ v́
nghiệp chướng sâu nặng, sanh nhiều bệnh
tật, chẳng thể thực hiện lời nguyện,
mà đối với lư ấy lại chẳng hiểu rơ,
xin hăy chỉ dạy. (Nhan Quư
Nghiệp hỏi)
Đáp: Người học
Phật trong lúc quy giới (thọ Tam Quy, Ngũ Giới),
đối trước Phật phát ra bốn nguyện, hăy
tự nên thực hiện lời ấy. Biết
được mấy phần, bèn tuyên truyền cho kẻ
khác mấy phần. Nếu nghĩ chính ḿnh thừa
nguyện tái lai, cũng chẳng phải là không
được. Nhưng ư “thừa nguyện tái lai” như
ông đă nói sợ rằng giống như kẻ tiểu
căn, chẳng phát đại tâm, ưa đắm
Niết Bàn, như thế th́ sẽ hoàn toàn trái nghịch
tông chỉ Tịnh Độ. Chẳng phải là nói
“người học trong lúc chưa văng sanh mà đến
trong cơi này bèn chẳng được phép độ chúng
sanh!” Chớ nên hiểu lầm điểm này. C̣n như
lắm bệnh, đấy chính là tăng thượng duyên
tu đạo, [bởi lẽ], nếu an lạc sẽ
trở thành quên bẵng, phóng dật; do ưu hoạn
sẽ phát tâm dũng mănh. Pháp thế gian và xuất thế
gian đều lấy ưu hoạn làm một vị
thầy tốt ḥng thúc đẩy, dùi mài!
* Hỏi: Khi tôi viết thư
thưa hỏi này, thường là tư duy chẳng thể
chuyên nhất, sửa tới sửa lui mới có thể
thích hợp với ư nghĩ của chính ḿnh. Như
đối với câu hỏi này [cứ lẩn quẩn suy
nghĩ] phải dùng lời lẽ hỏi han như thế
nào mới đúng với tâm ḿnh. Lại nữa, lúc nói
năng thường ngày, nói chung, tư duy chẳng thể
chuyên nhất. Bị năo hại như thế, sự
phiền năo này rất khổ, nên phá như thế nào? Xin
hăy chỉ dạy. (Nhan Quư
Nghiệp hỏi)
Đáp: Bệnh của cư
sĩ là do chẳng thể biện định rơ nên
chẳng biết phải nên an trụ nơi đâu, cho nên
cái tâm như quả bầu dưới nước,
phập phều vô định. Kẻ hèn này xin dâng một
lời, mong ông hăy khéo thấu hiểu. Quân tử có nghĩa
là khiến cho con người tốt lành, khiến cho cơi
đời tốt đẹp. Kẻ tiểu nhân chỉ
biết mưu cầu danh lợi, đó là tiêu chuẩn
của việc xác lập cái tâm. Làm giáo viên, đào tạo
nhân tài, bèn có thể khiến cho con người tốt lành,
khiến cho cơi đời tốt đẹp, đó là tiêu chuẩn lập thân. Pháp môn
Tịnh Độ là đường tắt xuất
thế, là chiếc bè to để chở đại chúng
[vượt thoát sanh tử]. Thâm nhập một môn, ta và
người đều có lợi, đó là tiêu chuẩn quy
túc vậy. Giữ lấy ba chuyện ấy (tiêu chuẩn
lập tâm, tiêu chuẩn lập thân, tiêu chuẩn quy túc),
chuyên nhất tiến lên, chẳng đổi khác, chẳng
dời, hễ một điều thông, trăm điều
sẽ thông, một điều thành, trăm điều
sẽ thành. Xưa nay, những người thành công không ai
chẳng như vậy! Nếu chân đạp trên hai
chiếc thuyền, tâm treo đôi nơi, chẳng biết
an trụ nơi đâu, thánh nhân thường răn trách.
Hỏi: Chúng ta muốn
đạt được hoàn cảnh và nơi chốn
thanh tịnh, vui sướng, ắt phải đoạn
phiền năo, nhưng mỗi người có lúc khó tránh khỏi
nghịch cảnh, chỗ nào cũng đầy dẫy
tối tăm và đau khổ, muốn tiêu trừ hết
thảy nghịch cảnh phiền năo, phải tu hành như
thế nào th́ mới có thể đạt được
thanh tịnh, vui sướng? (Lưu
Tú Vân hỏi)
Đáp: Trong lời hỏi có
bốn danh từ, trước hết, phải phân
định giới tuyến rơ ràng, vấn đề
sẽ tự nhiên được giải quyết. Các danh
từ ấy là “thanh tịnh, sung sướng”,
“đoạn phiền năo”, “nghịch cảnh và đau
khổ”, “tu hành” v.v... Phân giải như sau: “Thanh tịnh,
vui sướng” là cảnh giới sau khi đạt tới
giải thoát. “Đoạn phiền năo” là đoạn diệt
Kiến Tư, Nhị Hoặc trong tâm. “Nghịch cảnh và
đau khổ” là hai hiện tượng thế gian cố
định trong cơi Sa Bà. “Tu hành” là nương theo Phật
pháp để đoạn diệt hai Hoặc (Kiến
Hoặc và Tư Hoặc) trong tâm. Nếu đă đoạn
Nhị Hoặc th́ “nghịch cảnh và đau khổ”
tự chẳng c̣n, mới có thể đạt
được “thanh tịnh, vui sướng”. Phương
pháp tu hành rất nhiều, chúng ta niệm Phật, nghiên cứu
giáo pháp, tức là phương pháp tu hành, nhưng công phu có
sâu hay cạn khác nhau, nên đạt được “thanh
tịnh, vui sướng” tự nhiên có nhiều, ít, sớm,
trễ khác biệt.
* Hỏi: Tứ Nhiếp và
Lục Độ đều chú trọng bố thí
đầu tiên. Lại nữa, trong các thứ bố thí, Pháp
Thí là bậc nhất. Nếu là như vậy, in kinh bố
thí có cần phải đề xướng, tùy hỷ hay
không? (Trương Khánh Chúc
hỏi)
Đáp: In kinh tặng
người khác, ắt phải dùng tiền. Kinh là Pháp Thí,
tiền là Tài Thí. Có đủ hai loại thí, công đức
càng to. Đề xướng và tùy hỷ đều là
chuyện nên làm.
* Hỏi: Làm như thế nào
để niệm chẳng dấy lên? (Lư Vân Tiêu hỏi)
Đáp: Câu hỏi này quá cao,
chẳng phải là chuyện của kẻ sơ học.
Nay đă hỏi chơi th́ cũng đáp chơi, biết lư
suông của nó mà thôi! Một, đoạn sạch vô minh th́
niệm chẳng khởi nữa. Điều này thuộc
về vô niệm nơi quả địa, là nghĩa
“căn bản bất sanh”. Hai, Thiền, Tịnh, Mật và
nhiều pháp môn khác đều là nhiếp vạn quy
nhất. Tuy hữu niệm, nhưng nói là một, hay nói là
tịnh, tức là có thể thâu tóm loạn niệm thành
một niệm, chuyển phàm tâm thành đạo tâm.
Điều này thuộc về “niệm mà vô niệm” nơi
nhân địa. Loạn quy nhất, phàm chuyển thành
đạo, liền có thể lần lượt
đoạn diệt vô minh. Tiến lên là chứng vô niệm
nơi quả địa. Mong cầu quả th́ nhất
định phải cầu nơi nhân.
* Hỏi: V́ sao thế gian
khổ như vậy? Nghiệp nhiều như vậy?
Nhất là sau khi lạy Phật, càng lạy càng khổ,
nghiệp khổ càng lắm? (Triệu
Lệ Lượng hỏi)
Đáp: Nỗi khổ trong
thế gian do nghiệp lực của chúng sanh tạo thành.
Đă tạo nghiệp nhiều, lại do Hoặc vọng
của chúng sanh dẫn khởi, Hoặc vọng (vọng
tưởng do phiền năo) niệm niệm chẳng
ngừng, thân miệng luôn luôn tạo tác, cho nên khổ
tăng thêm tầng tầng, chẳng c̣n ngờ chi nữa!
Sau khi lạy Phật, cảm thấy khổ nhiều là do đạt
được thanh tỉnh (trong lặng, tỉnh giác) đôi
chút [nên cảm nhận được]. Trước khi
lạy Phật, do đă quen thuộc [với những
nỗi khổ], nên thấy chúng giống như
đương nhiên, dẫu khổ cũng chẳng cảm
nhận được. Chỉ có điều quả
khổ ắt phải có nhân trước. Lạy Phật là
cái nhân lành, chẳng thể nào có quả khổ, chớ
lầm loạn hiểu sai!
* Hỏi: Phật giáo lấy
từ bi làm gốc, giáo dục cũng lấy cảm hóa làm
nguyên tắc. Các cơ quan giáo dục từng hạ
lệnh rơ ràng “chẳng được phạt học
sinh”, nhưng nếu gặp đứa ương ngạnh
khó dạy, dùng phương cách mềm mỏng vô hiệu,
có nên vẫn dùng phương cách “Kim Cang trợn mắt giận
dữ” để xử phạt hay không? (Vương Lạc Trí hỏi)
Đáp: Điều tiên sinh
vừa hỏi chính là pháp quy của chính phủ. Bất
luận Phật pháp viên măn như thế nào đi nữa,
chẳng thể để sửa đổi mệnh
lệnh của chánh phủ! Phật pháp là nguyên tắc thông
trên thấu dưới, c̣n mệnh lệnh của chánh
phủ là quyền biến, do thời thế mà định
đoạt thích hợp.
* Hỏi: Giáng Sinh mỗi năm
rất gần với ngày cuối năm, thiệp Giáng Sinh
và thiệp chúc Tết đầy ắp chợ búa. Trẻ
nhỏ thường v́ các thiệp ấy thiết kế h́nh
ảnh, mẫu mă tinh vi, đẹp đẽ mà thích mua
để tặng bạn bè. Tuy là dịp để
thương nhân vớ bẫm, nhưng dường như
cũng tăng thêm không khí náo nức cho lễ Giáng Sinh.
Lại do những ca khúc Giáng Sinh đẹp đẽ, các
đĩa hát đầy ắp ngoài chợ (cũng có
đĩa do trẻ nhỏ hát). Lại c̣n do giáo
đường Thiên Chúa xây cất như rừng, mỗi
lần đến dịp Giáng Sinh, trẻ nhỏ
đều thích tham dự lễ hội tối Giáng Sinh
hoặc các tiết mục đón mừng. Xét về
phương diện công tác thu hút trẻ nhỏ, rơ ràng là
Phật giáo phải kém hơn một bậc, chẳng
biết phải làm như thế nào th́ mới có thể
khiến cho trẻ nhỏ vào dịp Phật Đản bèn
tràn trề vui sướng, hoặc là phát sanh hứng thú
đối với Phật giáo? Kính xin chỉ dạy. (Vương Lạc Trí hỏi)
Đáp: Chuyện do con
người làm, pháp có muôn cách biến hóa. Tín đồ
Phật giáo số lượng hoàn toàn chẳng ít, nếu
chịu phát tâm, sẽ có thể lập cách phù hợp
căn cơ, chẳng bắt buộc phải hạn
định làm như thế này, như thế nọ. Tiên
sinh có chí thực hiện việc này hay không? Chẳng
ngại th́ xin hăy đến liên xă đàm luận một
phen!
* Hỏi: Cha mẹ và con cháu có
thể đồng thời quy y với cùng một vị
pháp sư hay không? (Trang Khánh
Hiền hỏi)
Đáp: Điều này chẳng
trở ngại ǵ! Đừng nói là quy y Tăng đoàn, ngay
như chuyện bái sư trong học vấn thế gian, cha
con vẫn có thể cùng học một thầy. Đấy
là v́ [tiếp nối] cái đạo của thầy,
chẳng giống như chuyện thừa kế, kết
hôn v.v... ắt phải luận định chín họ, ḍng
chiêu, ḍng mục[31]!
* Hỏi: Tượng Phật
thờ trong tự viện có khai quang, nhưng tượng
Phật được thờ phụng tại gia
đại đa số chẳng khai quang, mà là thỉnh từ
tiệm bán đồ thờ Phật giáo về, tùy ư
đặt lên bàn thờ để thờ phụng, có linh
cảm hay chăng? (Trang Khánh
Hiền hỏi)
Đáp: Luận theo lư, nhăn quang
của Phật há đợi kẻ nào khai? Đó bất quá
là một thứ nghi thức nhằm biểu thị
Phật bắt đầu ngự đến mà thôi.
Tượng thờ trong nhà tuy không qua thủ tục này,
cứ an vị, thắp hương, tức là Phật
đă giáng lâm, thật sự linh cảm [hay không] là do
tấm ḷng, ḷng Thành ắt Phật sẽ ứng.
* Hỏi: Tượng Phật
lưu truyền lâu năm trong tự viện, hoặc
tượng Phật do tổ tiên truyền lại ở
nhà, do đă lâu nên bay màu, hư nát, chẳng tu bổ
được, hằng ngày lễ bái có linh cảm hay
chăng? (Trang Khánh Hiền
hỏi)
Đáp: Pháp Thân của Phật
trọn khắp hư không, người có ḷng thành Phật
sẽ cảm, thiếu ḷng thành sẽ chẳng cảm
được! Đó gọi là “thủy
thanh nguyệt lai” (nước trong, trăng in bóng). Tuy
lập tượng mới, nhưng thiếu ḷng thành,
Phật sẽ chẳng cảm. Tuy bày tượng cũ,
nhưng có ḷng thành, Phật liền ứng. Nếu có
sức, hăy nên tu bổ, cũng là biểu hiện tấm
ḷng thành kính.
* Hỏi: Đệ tử phát
sanh nghi vấn đối với chuyện địa
ngục chẳng có nơi chốn. Đó có phải là
lời phương tiện nhằm răn nhắc chúng sanh
trong sự giáo hóa của đức Phật hay không?
Địa ngục có phải là ở trong tâm kẻ tội
chướng sâu nặng hay không? (Lư
Vân Tiêu hỏi)
Đáp: Địa ngục
đă có tên gọi, há lẽ nào chẳng có nơi chốn?
Đối với căn bản địa ngục, ông có
thể tham khảo kinh Địa Tạng Bổn
Nguyện. Cô độc địa ngục th́ núi, rừng,
đồng trống, chỗ nào cũng đều có,
bất quá mắt con người chẳng trông thấy
đó thôi! Một, gọi lá úa vàng là hoàng kim, đó là lời
phương tiện. C̣n đối với địa
ngục bèn nói là địa ngục, làm sao là phương
tiện cho được? Hai, chủng tử địa
ngục ở trong tâm, địa ngục hiện
tướng ở ngoài thân. Nếu trong tâm có chủng
tử địa ngục sẽ phải thọ thân trong
địa ngục. Có thân ấy sẽ bèn ở trong địa
ngục.
* Hỏi: Kinh văn của Tâm
Kinh đang nói “vô trí diệc vô
đắc”, nhưng bỗng nhiên lại nói “đắc A Nậu Đa La Tam
Miệu Tam Bồ Đề”, trước là vô
đắc, sau lại là hữu đắc, nên hiểu theo
cách nào? (Trương Quân
hỏi)
Đáp: Biểu đạt ư
nghĩa cao sâu, nhất định phải dùng cách hành
văn phức tạp. V́ thế, trong câu văn của kinh
điển có Sự, có Lư, Quyền, Thật, Tánh,
Tướng v.v... các thứ từ ngữ phân tích. “Vô trí” là nói đến Tánh
Đức, nói về Lư. “Đắc
A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề” là nói
đến Tu Đức, tức là nói về Sự.
* Hỏi: Thích Ca Mâu Ni Phật
nhập Niết Bàn có bao nhiêu hạt xá-lợi? (Lâm Chánh Khảo hỏi)
Đáp: [Kinh điển] chỉ
nói ba phần, chẳng nói bao nhiêu hạt.
* Hỏi: Học Phật
cần phải qua nhiều năm tháng mới bắt
đầu đạt được lợi ích, đệ
tử tại gia của Phật v́ muốn kéo dài kiếp
sống tàn, v́ ba bữa ăn mà phải tranh đoạt
chén cơm bên ngoài, nếu muốn chỗ nào cũng tạo
thuận tiện cho người khác th́ đói rét, bệnh
tật, tai nạn, tánh mạng của chính ḿnh chẳng
giữ được, v́ cớ ǵ học Phật? (Thái Thế Phương hỏi)
Đáp: Học Phật là
học theo ngôn hạnh và tấm ḷng của Phật. Tâm và
ngôn hạnh của Phật không ǵ chẳng nhằm lợi
ích chúng sanh, [khiến cho họ] cùng chứng Niết Bàn, ĺa
khổ được vui, trọn chẳng phải là không
cho phép mưu sinh. Đối với nghề nghiệp
của người tại gia, chỉ những nghề nào
chẳng kiếm lợi bằng giết, trộm, dâm,
rượu chè v.v... th́ đều là cách sống chánh
đáng. Khởi tâm, thốt lời, hành động,
chỉ cầu chẳng tổn hại kẻ khác. Bất
luận kẻ khác làm như thế nào, chẳng trở
ngại hành đạo. Đó gọi là “đừng làm các điều ác, vâng làm các
điều lành, tự tịnh ư ḿnh” th́ là học
Phật. Đối với công phu bên trong th́ có một pháp
Tịnh Độ, chỉ cần có thể trong tâm liên
tục niệm Phật, chẳng trở ngại tay chân
bận bịu làm việc, có ǵ trở ngại đến
nỗi đói rét? Hăy nên biết muôn sự đều là nhân
quả, đói rét hay ấm no do nghiệp nhân thiện hay ác
trong đời trước mà ra. Nếu nay vẫn giữ
tấm ḷng tổn người lợi ḿnh, tương lai sợ
rằng không chỉ đói rét, mà ắt c̣n đói lạnh
khổ sở dữ dội hơn!
* Hỏi: Các nước
Tiểu Thừa Phật giáo ở Đông Nam Á có niệm chú
hay không? Trừ đức Thích Tôn ra, họ có phủ
nhận sự tồn tại của Phật Di Đà,
Phật Dược Sư, Quán Thế Âm, chư Phật,
Bồ Tát hay chăng? (Thái
Thế Phương hỏi)
Đáp: Tiểu Thừa Phật
pháp cũng có thần chú bí mật, chỉ có điều
giáo pháp [của Tiểu Thừa] phần nhiều nói về
chuyện trong cơi này. C̣n như các cơi hóa độ của Di
Đà, Dược Sư, Quán Âm v.v... vị nào có cơi nấy,
người học Tiểu Thừa đối với
những chuyện này bèn chẳng tu mà thôi.
* Hỏi: Địa vị
của Đại Phạm Thiên cao hơn Đế Thích, v́
sao đệ tử Phật cúng dường Đế Thích
mà chẳng cúng dường Phạm Thiên? (Thái Thế Phương hỏi)
Đáp: Đối với
điều này, trước hết cần phải biết
sự khác biệt giữa Cúng Dường và Cận
Sự. Chỉ dùng vật phẩm để dâng hiến,
thân thể lễ bái, đó gọi là Cúng Dường. Quy y,
tín phụng, tu tập đạo của vị ấy th́
gọi là Cận Sự. Là đệ tử Phật,
chỉ cận sự đức Phật. Đối
với lục đạo, giữ tấm ḷng b́nh
đẳng. Nếu tu cúng dường th́ chính là mong
được phổ cập. Có kẻ cúng dường
Đế Thích th́ đó là chuyện của chính
người ấy, trọn chẳng phải là quy
định ắt cần phải làm chuyện đó.
Lại nữa, Đế Thích thường là ngoại
hộ của đức Phật, c̣n Phạm Thiên là ma
chướng của đức Phật, nên đó cũng là
một nguyên nhân chẳng cúng dường ông ta, nhưng
Mật Giáo cũng có cúng dường Phạm Thiên.
* Hỏi: Học nhân có ư
định thọ Tam Quy Y, chỉ v́ hoàn cảnh và nhân
sự bất tiện, có thể phiền quư xă thay mặt
tiến hành thủ tục quy y qua thư từ hay không? (Thái Thế Phương hỏi)
Đáp: Có thể làm thay, xin hăy
viết lư lịch đơn giản gởi về.
* Hỏi: Quán Âm Đại
Sĩ là người thời nào, xứ nào? Tục danh là
Diệu Thiện Công Chúa, có xác thực hay không? (Liêu Thanh Hoa hỏi)
Đáp: Nói gần đây th́
vị Bồ Tát này là người trong thế giới
Cực Lạc. Nếu hỏi thời nào th́ bao nhiêu vạn
vạn năm trước đă có Ngài rồi. Nói tới
Diệu Thiện th́ chính là chuyện tiểu thuyết,
trọn chẳng có chuyện ấy!
* Hỏi: Thánh tượng
của hai vị Thế Tôn rất khó phân biệt, lại
c̣n có thánh tượng của năm vị Bồ Tát Văn
Thù, Phổ Hiền, Đại Thế Chí, Địa
Tạng, Di Lặc cũng chẳng hiểu rơ, kính xin
dạy cho! (Liêu Thanh Hoa hỏi)
Đáp: Trong tay ôm bát là
tượng Phật Thích Ca. Trong tay cầm ṭa sen là
tượng Phật Di Đà. Ngồi trên sư tử là
tượng Văn Thù Bồ Tát. Ngồi trên voi trắng là
tượng Phổ Hiền Bồ Tát. Trên đầu có b́nh
báu, trong tay cầm hoa sen là tượng Đại Thế
Chí Bồ Tát. Đầu đội măo Tỳ Lô, tay cầm
bảo châu là tượng Địa Tạng Bồ Tát.
Đầu trọc, bụng to, miệng cười toe toét
là tượng Di Lặc Bồ Tát.
* Hỏi: Văn bối quy y Tam
Bảo đến nay đă được mười
tháng, do học thức nông cạn, hủ lậu, Phật
học chẳng dễ nhập môn, chẳng biết nên
đọc loại sách nào sẽ là khá thích hợp? (Liêu Thanh Hoa hỏi)
Đáp: Trước hết, hăy
nên xem các tập sách nhỏ để nhập môn như
Kỹ Lộ Chỉ Quy (chỉ lối về nơi ngơ rẽ),
Đáo Quang Minh Chi Lộ (đạt đến con đường
quang minh), Sơ Cơ Tịnh Nghiệp Chỉ Nam v.v... có
lẽ là thích hợp.
* Hỏi: Cư sĩ này
đối với cư sĩ khác xưng hô như thế
nào? Xin hăy chỉ dạy cách tôn xưng và tự xưng! (Liêu Thanh Hoa hỏi)
Đáp: Khi gọi người
khác th́ nếu người già bèn gọi là “lăo cư sĩ”,
những người khác th́ gọi là “đại cư
sĩ”, hoặc thêm họ vào đằng trước
như nói “mỗ cư sĩ” (cư sĩ X....), đều
được cả! Khi tự xưng th́ nếu là
người già bèn xưng là “hậu học”, những
trường hợp khác th́ xưng là “học nhân” cũng
được!
* Hỏi: Từng nghe lăo ân
sư dạy: “Kinh về Quán Thế Âm Bồ Tát chỉ có
phẩm Phổ Môn mới là chân thật, các kinh khác (Cao
Vương Kinh, Bạch Y Đại Sĩ Chú v.v...)
đều chẳng phải do kim khẩu của
đức Phật nói ra”. Nếu chẳng phải là kinh
Quán Âm v́ sao Bạch Y Đại Sĩ Chú cũng
được chép trong kinh Phật? (Giang Khoan Ngọc hỏi)
Đáp: Cao Vương Kinh chú v.v...
chẳng được chép trong Đại Tạng, nên
chẳng được coi là chánh xác. Chỉ v́ lưu thông
đă lâu, phổ biến trong nhân gian, nên các tiệm
khắc kinh sách thường khắc kèm thêm vào cuối kinh,
đó chính là việc làm của tục nhân vậy!
* Hỏi: Kinh dạy: “Phật tiền, Phật
hậu, dĩ cập manh, lung, ám, á... tinh thần thất
thường đẳng” (sanh trước Phật, sanh
sau Phật, cùng với mù, điếc, ngọng, câm... tinh
thần thất thường v.v...) đều chẳng
thể tiếp nhận Phật pháp, đều là một
trong tám nạn. Nhưng hết thảy súc sanh đều là
hạng “các căn chẳng đủ, ngu si, ám muội”,
đương nhiên chúng nó cũng chẳng thể tiếp
nhận Phật pháp. Nếu như trên đường
gặp chúng nó, quán tưởng niệm Tam Quy Y và Phật
hiệu cho chúng nó th́ chúng nó có được lợi ích do
cảm ứng ḷng từ bi của Phật, Bồ Tát hay không?
(Giang Khoan Ngọc hỏi)
Đáp: Trong súc sanh đạo
chẳng có tổ chức, chẳng có văn hóa, chẳng có
cơ hội gặp Phật pháp, mà cũng chẳng có ai
thường làm chuyện tuyên truyền trong các loài ấy,
chẳng được tâm khai giải thoát, nên gọi là
Nạn. Những người chúng được gặp phần lớn phường
đồ tể chỉ cốt tham lợi, hoặc là bọn
tham ăn tục uống. Gặp được tín
đồ Phật giáo phóng sanh, chú nguyện th́ trong ngàn
trường hợp chưa được một, cho nên
gọi là Nạn. Ông v́ chúng nó niệm Phật, lại c̣n
quán tưởng, xét theo ư nghĩa kinh đă dạy, chúng nó
sẽ đạt được một phần bảy
công đức ấy!
* Hỏi: Có người
hỏi: Kinh Kim Cang nói Không, kinh Di Đà nói Có, v́ lẽ nào
đức Thế Tôn phải nói nước đôi? (Khoan Tâm hỏi)
Đáp: Sự Lư vốn viên măn,
có nhiều mặt, há chỉ phải có hai mặt? Nếu
hiểu là “nhiều mặt” th́ Không và Có vốn là Một,
đó gọi là “Không tức là
Sắc, Sắc tức là Không”. Kinh Kim Cang xiển
dương Thể, nên nói Chân Không. Kinh Di Đà giảng
về Tướng, biểu thị Diệu Hữu.
Phật Di Đà có cơi Tịch Quang, chưa hề chẳng
nói đến Thể. Kinh Kim Cang nói “đọa ác
đạo, hưởng phước đức”, chưa
hề chẳng nói đến Tướng. Diệu Hữu
và Chân Không vẫn là “tương tức” (chính là lẫn
nhau).
* Hỏi: Kinh dạy: “Quy y Tam Bảo đời sau có
thể đảm bảo chẳng bị khổ v́
đọa trong tam ác đạo”. Giả sử có
người phát tâm quy y Tam Bảo, đă nêu lên lời
thỉnh cầu, nhưng v́ thời gian bó buộc, vẫn
chưa chánh thức thọ Tam Quy, chỉ v́ “nhân mạng vô
thường bèn ô hô, ai tai”, người ấy đáng
đọa trong tam ác đạo, có thể nhờ Phật
lực gia bị nhiếp thọ mà khỏi bị
đọa lạc hay chăng? (Giang
Khoan Ngọc hỏi)
Đáp: Vạn pháp duy tâm, tâm chân
thành là chủ yếu, h́nh thức là thứ yếu. Nếu
người ấy đă phát tâm dũng mănh, Phật bèn xét
soi. Tâm lực, Phật lực, hai đằng giao cảm,
một hạt giống Phật cứng chắc như Kim
Cang, sẽ đạt được lợi ích.
* Hỏi: Thường nghe
thầy nói: “Chẳng phát
đại tâm, chẳng đắc Chánh Giác”. Các vị
đại đệ tử của đức Phật
đă được đại sĩ Duy Ma Cật khai
thị, ắt phải phát Vô Thượng Bồ Đề
tâm, v́ sao đến nay vẫn là La Hán, chẳng đắc
Chánh Giác? (Giang Khoan Ngọc
hỏi)
Đáp: Các vị
đại đệ tử của đức Phật tuy
hiện tướng La Hán, nhưng bên trong thật ra
trọn đủ các đức của Bồ Tát. Nhằm
thích hợp khuyên dụ những căn cơ Tiểu
Thừa, khơi gọi họ hướng về
Đại Thừa, nên thị hiện thân Nhị Thừa,
ḥng dễ mượn cớ thỉnh Phật thuyết pháp
để độ những kẻ chuộng tiểu pháp.
Như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Tu Bồ
Đề v.v... trong kinh đều có chép các Ngài
được thọ kư thành Phật, trọn chẳng phải
vẫn là La Hán.
* Hỏi: Lúc sắp vào tiết
Xuân, mua thiệp chúc Tết để chúc tụng bạn
bè, do trong tờ thiếp có bốn chữ Thiên Quan Tứ
Phước, tôi liền nói “chẳng cần, chẳng
cần”, v́ sao chẳng cần? Đệ tử từ khi
quy y Tam Bảo đến nay, có duyên duyệt đọc
kinh Phật hoặc các nguyệt san Phật giáo, đă
hiểu biết, phước do chính ḿnh tu đức mà có,
hoặc niệm kinh, niệm Phật, tŕ giới, bố
thí, hoằng pháp lợi sanh. V́ thế, quy y Phật
lưỡng túc tôn, phước lẫn huệ đều
có, chẳng phải do Thiên Quan ban phước, tôi có sai hay
không? (Trịnh Quân Hải
hỏi)
Đáp: Chuyện này là do thói quen
chúc tụng của người đời. Do mỗi
dịp Tết nhất, kiêng kỵ sự bất
tường nên quen nói những lời lẽ tốt lành,
để khỏi bị kẻ khác chán ghét mà thôi, chẳng
liên quan đến sự thật. Chẳng đáng để
bàn luận!
* Hỏi: Có một lần
đi qua cửa nhà người ta, thấy trên cửa có dán
một tấm giấy ghi “đại
gia b́nh an” (mọi người b́nh an), tôi liền suy
nghĩ kỹ càng, trên sự thật phần nhiều là
[chuyện ấy] chẳng thể làm được,
chỉ có tên gọi đẹp đẽ mà thôi! Nếu mọi
người b́nh an, ai nấy cần phải giữ ḷng
lành, làm chuyện lành, chẳng mưu hại kẻ khác, cho
đến hết thảy chúng sanh, thực hiện lâu ngày
chầy tháng th́ mới có thể đạt đến lư
tưởng “mọi người b́nh an”. Ngược
lại, sẽ là bất an. Đấy là kiến giải
ngu si của tôi, xin hăy phê b́nh! (Trịnh
Quân Hải hỏi)
Đáp: Điều này cũng có
cùng ư nghĩa như trong lời đáp
cho câu hỏi thứ nhất, vốn chẳng đáng
để chê trách! Phàm phu đầy dẫy triền
phược, chưa nghe đại đạo, nên chẳng
biết thật tu, chỉ chuộng chúc tụng suông!
* Hỏi:
Đệ tử từ khi quy y Tam Bảo, niệm Phật
đến nay, do chưa đoạn phiền năo nên chưa thể nhẫn nhục,
hoặc thực hiện hạnh “thuận theo chịu
đựng trong nghịch cảnh”, nên lúc gặp gỡ tín
đồ dị giáo liền bị họ chê cười,
chẳng biết đă bao nhiêu lượt! Họ đă chê
cười chưa thỏa ḷng, lại c̣n nói châm chọc là
tôi thờ lạy ngẫu tượng, lạy cái ǵ mà “nê ba đà đà lạp
lạp”... Thoạt đầu, tôi c̣n nhường
nhịn họ một chút, chẳng ngờ càng
nhường càng tệ. Tôi nghĩ trả đũa họ
là hay, sau đấy, gặp phải t́nh cảnh như
vậy, tôi bèn t́m chỗ sơ hở của họ
để phản bác. Kết quả là bách phát bách trúng, có
phải là Tam Bảo gia bị đó chăng? Hiện
thời, thái độ của họ đă khác hẳn, cách
lễ bái của họ cũng chẳng phải là hay ho ǵ.
Nay họ và tôi chạm mặt bèn niệm A Di Đà Phật
để kết duyên. Họ luôn dùng câu A Di Đà Phật
để kiếm tôi. Đồng thời có những
người mới vào viện, họ chưa có tín
ngưỡng tôn giáo, thấy những người cũ niệm
Phật như thế, những người đó cũng
bắt chước niệm Phật theo, tôi nghĩ là
chuyện tốt, nhưng họ chẳng đến
Phật đường để niệm, mà cứ đùa
bỡn đến nỗi tôi khó thể chấp nhận!
Chẳng biết phải như thế nào mới nên? Trong
số ấy, cũng có kẻ quy y Tam Bảo, chắc là
họ cũng đều có thiện căn, chắc cũng
có phần sẽ có ngày thành Phật, thành tổ ư? (Trịnh Quân Hải hỏi)
Đáp: Họ là những kẻ
đáng thương, chưa nghe đến sự cao cả
của đạo Phật nên kiêu căng, ngă mạn, tự
cho ḿnh là đúng, kiêu ngạo, khinh người. Nếu
đă nghe sự cao cả của đạo Phật,
sẽ hổ thẹn, e dè người khác. Tâm lư kiêu
mạn, khinh nhục, e dè biến thành ganh ghét, nên họ
chẳng khỏi thốt lời châm chọc. Chỉ nên
tạm thời để mặc họ. Nếu muốn
phát tâm độ chúng sanh, ắt phải hành Lục
Độ, Tứ Nhiếp, chẳng kiềm chế, làm chuyện
nóng vội, lâu ngày, họ sẽ nh́n thấy mà
được cảm hóa.
* Hỏi: Đệ tử
thường xuyên đối trước Phật sám
hối túc nghiệp, hiện nghiệp, hết thảy
nghiệp chướng, nguyện nhất thời tiêu diệt.
Sám hối như vậy có khác với cách nhất niệm
sám hối của Cao Phong Diệu Tổ hay không? Ngài
Diệu Tổ do phát một niệm sám hối, đă thoát
khỏi tội ngă mạn trong năm trăm đời, sau
đó trở thành nhất đại tông sư. (Trịnh Quân Hải hỏi)
Đáp: Sám hối chia ra Sự
sám và Lư sám. Cách thức cư sĩ đă làm thuộc về
Sự, cũng nên hiểu rơ ư nghĩa sám hối.
Trước hết, chính ḿnh nhất định phải
biết bản thân đă phạm sai quấy, đối
trước Phật bày tỏ, thề sau này chẳng làm
nữa, th́ mới có ứng. Nếu chẳng nghĩ ta sai,
tâm niệm chẳng thay đổi, chỉ cầu Phật
tiêu tan tội nghiệp ấy, chẳng có lẽ nào! Cách sám
của Diệu Tổ chính là từ tâm phát khởi, nên
một niệm tương ứng, có thể tiêu trừ
nghiệp ấy.
* Hỏi: Người học
Phật nên tự độ, độ tha, nhưng
đệ tử cảm tưởng thường là dễ
độ người khác, chứ đối với
người nhà của chính ḿnh, có khi rất khó hóa
độ. Xét ra, tiến một, lùi mười, thật
sự cảm thấy khó độ. Đây có phải là
chính ḿnh công phu chẳng đủ, hay là căn khí của
đối phương quá kém cỏi? (Giang Khoan Ngọc hỏi)
Đáp: Đây là căn bệnh
chung, có một số nguyên nhân:
- Một, đối với
người ngoài kính trọng nhiều, khinh lờn ít, do
vậy, [mọi việc] được coi trọng
hơn. Đối với người nhà, kính trọng ít,
khinh lờn nhiều, cho nên việc ǵ cũng dễ dính vào đùa
bỡn.
- Hai, thế tục trọng
khó, khinh dễ. Khó được người ngoài [chỉ
bảo], nên có cảm giác trịnh trọng, do người
nhà dễ được nên ngược ngạo xem
thường!
- Ba, con người chẳng
phải là thánh hiền, ai có thể chẳng có lỗi?
Người ngoài ít biết lỗi của chính ta, hoặc
có khi chẳng biết, người nhà thấy quá nhiều,
hoặc thấy hoàn toàn. Tâm của người đời
thường là hễ đă coi trọng người nào bèn tin
lời người ấy, đă coi thường
người nào bèn xem nhẹ lời kẻ ấy.
Do vậy, người học
Phật nhất định phải cầu “chẳng thẹn với bóng áo”[32]
sẽ dễ hóa độ người nhà.
* Hỏi: “Phiền năo tức Bồ Đề” có phải là
hễ hiểu rơ phiền năo bèn sẽ có thể phá, lại
càng thêm dũng mănh tinh tấn tu đạo, phiền năo có ư
nghĩa là giúp đỡ tấn đạo hay không? (Giang Khoan Ngọc hỏi)
Đáp: Cũng có thể
giải thích như thế! Phiền năo là mê, Bồ
Đề là giác. Mê và giác là danh từ đối đăi, có
mê th́ mới có giác, có thể hiểu là chúng mang ư nghĩa
sanh diệt. Chữ Tức trong câu ấy chính là “ngay
lập tức bèn là”, chớ nên chia chẻ để nói.
Từ vô tác mà nói, càng nh́n càng thấy tinh vi!
* Hỏi: Phật có đủ
ba mươi hai tướng, chẳng biết cổ thánh
hiền nhân Trung Quốc có mấy tướng? (Ngô Minh An hỏi)
Đáp: Vua Nghiêu lông mày tám
sắc, mắt vua Thuấn có tṛng kép (hai con ngươi),
vua Vũ mỗi tai có ba lỗ[33]
v.v... đều là các tướng đặc biệt.
Đối với chuyện này, sách sử phần nhiều
chẳng ghi chép, v́ thế, chúng ta đối với
chuyện này thường chẳng để ư.
* Hỏi: Trong bài Dược
Sư Tán trong sách Phật Giáo Khóa Tụng có câu “cát tinh cao chiếu...”, vị
sư X.... cho câu ấy là từ ngữ thuộc của
bọn chiêm tinh, xem tướng ngoại đạo, tự
đổi thành “Phật
nhật phổ chiếu” (mặt trời Phật
chiếu trọn khắp), chẳng biết có
được hay không? (Ngô Minh
An hỏi)
Đáp: Những bài tán Phật
vốn do người đời sau soạn ra, chuyên dùng
để tán dương, chẳng giống như kinh
điển không thể thay đổi. Câu “cát tinh cao chiếu” trong bài tán Dược Sư
vốn là lời lẽ thuận theo thế tục, vị sư
X... đổi thành “Phật
nhật phổ chiếu” chính là lời lẽ phù hợp
Phật giáo khít khao, cũng chẳng có ǵ là không
được!
* Hỏi: Hễ là thánh nhân
đều dạy kẻ khác hành hiếu, Phật giáo
đương nhiên chẳng phải là ngoại lệ, nay
anh tôi chẳng đoái hoài lời cha mẹ khuyên nhủ,
trốn vào chùa xuất gia, khiến cho song thân ở nhà
đau buồn muốn chết, vậy th́ có hợp với
hiếu đạo trong Phật giáo hay chăng? (Tiêu Quốc Hùng hỏi)
Đáp: Phật cho phép
người xuất gia, theo nguyên tắc phải
được cha mẹ cho phép, nhưng cũng có ngoại
lệ, sợ rằng lệnh huynh chẳng phải là
loại người ấy! Người nương theo
bổn nguyện trở lại, hoặc bậc phát
đại tâm, một là giáo do ta khởi xướng, hai là
thề làm thầy trời người, lập đại
pháp từ nhiều kiếp lâu xa, cứu vô biên chúng sanh th́
có thể chẳng được [cha mẹ] cho phép vẫn
có thể xuất gia, như Thích Tôn là người như
vậy. Nói theo pháp thế gian, theo Nho gia, kết hôn nhất
định phải thưa với cha mẹ, nhưng vua
Thuấn không thưa tŕnh mà lấy vợ, v́ thưa tŕnh
sẽ chẳng lấy được vợ, bèn chẳng
có thiên hạ, chẳng thể phụng dưỡng Cổ
Tẩu, Tượng xấc láo chẳng được
phong làm chư hầu[34].
Do những điều thành tựu của vua Thuấn to
lớn, nên ngược lại được xưng
tụng là bậc đại hiếu. Nếu chỉ mong
chính ḿnh thanh tĩnh, cầu sao một thân sung sướng,
hai pháp Phật và Nho đều chẳng chấp thuận.
Chỉ thánh nhân là có thể hành quyền, phàm phu chớ nên
viện cớ!
* Hỏi: Phật giáo giải
thích hiếu đạo như thế nào? Có nghĩa ǵ? Có
phải là như Sùng Quốc Công đă nói: “Tế nhi phong, bất như dưỡng chi bạc”
(cúng tế mâm cao cỗ đầy, chẳng bằng phụng
dưỡng đơn bạc)[35].
(Tiêu Quốc Hùng hỏi)
Đáp: Câu “tế phong, dưỡng bạc” là lời
buồn thương, tiếc nuối, chẳng phải là
bảo người khác phụng dưỡng [cha mẹ]
chẳng cần dồi dào, cúng tế ắt phải làm
sơ sài, há có thể dùng câu này để hỏi về
đạo hiếu trong nhà Phật? Đức Phật
dạy về đạo hiếu, từng bảo: “Một vai gánh cha, một vai gánh
mẹ, chẳng tạm bỏ xuống trong chốc lát,
cũng khó thể báo đáp [thâm ân] trong muôn một”.
Đó là hiếu trong khi [cha mẹ] c̣n sống. Nếu cha
mẹ sanh lên trời, Thích Tôn liền thăng thiên thuyết
pháp cứu độ. Mẹ đọa làm ngạ quỷ,
tôn giả Mục Liên cũng vào quỷ đạo cứu
vớt. Cha mẹ đọa địa ngục,
Địa Tạng Bồ Tát xuống địa ngục
siêu độ. Đó là hiếu sau khi đă khuất.
Hiếu của Nho gia là trọn hết ḷng “thận chung truy viễn”, hiếu của nhà
Phật chú trọng trong bao kiếp luôn thực hành
đền đáp.
* Hỏi: Tụng tŕ Đại
Bi thần chú trong đời hiện tại nếu hết
thảy sở cầu chẳng được toại
nguyện th́ chẳng thể gọi là Đại Bi Tâm
Đà La Ni. Chẳng biết những chữ như “hiện tại sanh trung”, “nhất thiết”, “sở cầu” chỉ điều
ǵ? (Ngô Minh An hỏi)
Đáp: Là những chuyện
hợp lư, hợp t́nh, chẳng vượt ngoài bổn
phận, là chuyện hợp với nhân quả, là những
chuyện giống như vậy.
* Hỏi: Cúng Ngọ mà chẳng
cúng cơm có được hay không? (Phó Đôn Cơ hỏi)
Đáp: Nghi thức khóa tụng
cúng Ngọ cũng có đại khoa và tiểu khoa sai khác.
Đại khoa thường hành trong điển lễ
trọng yếu, hoặc hành vào mùng Một, ngày Rằm.
Tiểu khoa th́ hành thường ngày. Trong sách khóa tụng,
những pháp ấy đều có chép tường tận.
Nếu chẳng thể tụng, cũng nên đem thức
ăn cúng dường trước tượng Phật,
thắp hương, lễ bái, nhằm trọn hết tâm
và lễ của kẻ làm đệ tử vậy!
* Hỏi: Sách Đạt Ma
Bảo Truyện chép tiên đào chẳng lớn nhưng bao
trùm trời, đất, mặt trời, mặt trăng,
núi, sông, điểm nghi vấn là đào không lớn v́ sao có
thể bao trùm trời, đất, mặt trời, mặt
trăng, núi, sông? (Trần
Đăng Phùng hỏi)
Đáp: Người mới
học Phật, hăy nên xem những tập sách nhỏ do các
vị tăng tục hữu đức, hữu học
xưa nay trước tác như Kỹ Lộ Chỉ Quy,
Học Phật Thiển Thuyết, Long Thư Tịnh
Độ Văn, Phật Pháp Đạo Luận v.v.v...
Đă hơi hiểu giáo lư bèn xem những kinh Phật
ngắn như Bát Đại Nhân Giác Kinh, Tứ Thập
Nhị Chương Kinh, Thập Thiện Nghiệp
Đạo Kinh v.v... Đó là đường lối chánh
đáng. Đạt Ma Bảo Truyện giống như
tiểu thuyết, đọc nó chỉ để tiêu
khiển mà thôi!
* Hỏi: Lục Tổ nói: “Người phương Đông
tạo nghiệp niệm Phật cầu sanh Tây
Phương, người Tây Phương tạo nghiệp
niệm Phật văng sanh phương nào?” nghĩa là sao? (Trần Đăng Phùng hỏi)
Đáp: Niệm Phật cầu
sanh Tây Phương là giáo huấn trong kinh điển
của đức Bổn Sư Thích Tôn, chỉ dạy chúng
sanh đường lối chánh đáng để tu hành. C̣n
“Tây Phương tạo
nghiệp, văng sanh phương nào” là phương
tiện của tổ sư nhằm ngăn dứt kẻ
sơ học chẳng thể chuyên nhất quán tâm. Mỗi
pháp đều có diệu dụng riêng. Kẻ khế hợp
Thiền th́ học Thiền, khế hợp Tịnh bèn
học Tịnh, chớ nên chấp trước. Kẻ
hậu học ngỡ Tổ phá Tịnh, nghịch Phật,
đều là hiểu lầm vậy!
* Hỏi: Sách Đạt Ma
Bảo Truyện có chép truyện Phật Thích Ca tiếp
dẫn con cáo c̣n ở trong thai, v́ sao nó chẳng thể văng
sanh Tây Phương? (Trần Đăng Phùng hỏi)
Đáp: Những
thứ giống như cuốn Bảo Truyện ấy,
tại hạ chẳng hề đọc đến,
nội dung như thế nào, nhất loạt chẳng
biết, xin tha lỗi khó thể trả lời!
* Hỏi: “Chúng sanh” được nói
trong kinh Phật là lục đạo, nhưng loài dế,
kiến, côn trùng... vốn chẳng ở trong lục
đạo. Xét theo ư nghĩa
trong kinh, chúng sanh đều trọn đủ Phật Tánh,
nên những động vật ở ngoài lục
đạo ắt là chẳng có Phật Tánh, như thế
th́ làm sao có thể cứu chúng được? Tôi rất
không hiểu rơ! Lại nữa, những sanh vật ở ngoài
lục đạo ấy do đâu mà có? Tôi chẳng hiểu
rơ quá tŕnh sanh thành cụ thể bởi nhân duyên của
chúng! (Lưu Định
Nhất hỏi)
Đáp: Chữ “chúng sanh” trong kinh Phật chỉ chung những
động vật hữu t́nh hàm thức. Dế, kiến,
côn trùng vốn là chúng sanh hàm thức. Nói “lục
đạo” là trong vô lượng vô biên chúng sanh, quy nạp
lại để phân tích, định ra sáu loại lớn,
tức là trời, người, Tu La, súc sanh, ngạ
quỷ, địa ngục. Nhưng trong mỗi loại
lớn cũng có thiên sai vạn biệt, tẩu thú, phi
cầm, loài có vảy, côn trùng v.v... đều thuộc
về đường súc sanh. Dế, kiến thuộc
về loài côn trùng, tức là súc sanh.
Phật Học Vấn Đáp
Loại Biên
Phần 8
[1] Sở dĩ gọi là “chín núi, tám biển” v́ chính giữa thế giới Sa Bà là núi Tu Di (Sumeru), từ trong ra ngoài là tám lớp núi bao quanh gồm Du Càn Đà La (Yugandhara), Y Sa Đà La (Isadhara), Khư Đề La (Khadiraka), Tô Đạt Lê Xá Na (Sudarśana), Phược Kiệt Noa (Aśvakarna), Tỳ Na Đà La (Vinadhara), Ni Dân Đà La (Nimindhara), và cuối cùng là Thiết Vy (Chước Ca La, Cakravāda). Giữa mỗi hai lớp núi là một biển nước thơm, thường gọi là Hàm Hương Hải Thủy.
[2] Hộ ma (護摩) là phiên âm của
chữ Homa, hoặc Havan trong tiếng Phạn,
thường được dịch nghĩa là Hỏa Cúng,
tức nghi lễ hiến tế trong Mật Tông qua việc
đốt các thực phẩm và cúng phẩm. Thông
thường vật phẩm để thiêu chủ yếu
là các loại dầu có mùi thơm, hương liệu, gỗ
thơm v.v... Theo quan điểm của Mật Tông, nghi
thức này sẽ thanh tẩy những chướng
ngại bên ngoài và phiền năo trong tâm. Pháp Hộ Ma phổ
biến nhất là cúng dường Bất Động Minh
Vương (Acalanatha). Trong Chân Ngôn Tông Nhật Bản, nghi
thức này được cử hành hằng ngày với quy
mô nhỏ, và các tu sĩ Mật Tông bắt buộc phải
biết cách thức tiến hành nghi lễ này. Thông
thường, Chân Ngôn Tông Nhật Bản quy định
năm loại Hộ Ma là Tức Tai (tiêu diệt tai
ương), Tăng Ích, Điều Phục, Kính Ái và Câu
Triệu (mời thỉnh).
[3] Bùa hóa cốt (hóa cốt phù) là một
loại bùa của Đạo giáo nhằm chữa trị
hóc xương. Loại bùa này có nhiều loại, phổ
biến nhất là loại Cửu Long Hóa Cốt,
thường viết một chữ Nghê (霓) lớn bọc lấy chín chữ Long (龍).
Thổ phù (土符)là một trong hai loại bùa
thường dùng để trấn yểm, thanh tịnh hóa
môi trường, nhưng thổ phù thường dùng
nhất trong đám tang để trấn huyệt hoặc
mỗi khi cần động thổ xây dựng. Lá bùa này
thường viết chữ “phụng
sắc ô phượng phá ô uế”.
[4] Cửu diệu (Navagraha) chính là chín ngôi
sao hạn mà dân gian thường làm lễ “cúng sao giải hạn”
mỗi năm vào tháng Giêng. Khái niệm này được
vay mượn từ chiêm tinh cổ Ấn Độ, chín
ngôi sao ấy được giới bói toán Trung Hoa gọi
là Thái Dương (Surya, mặt trời), Thái Âm (Chandra,
mặt trăng), Thủy Diệu (Budha, Thủy Tinh), Vân Hán
(Hớn) (Mangala, Hỏa Tinh), Mộc Đức (Brihaspati,
Mộc Tinh), Thái Bạch (Shukra, Kim Tinh), Thổ Tú (Shani,
Thổ Tinh), La Hầu (Rahu) và Kế Đô (Ketu). Thật ra,
La Hầu và Kế Đô không phải là sao mà chỉ là
“hư tinh” (tức là hai giao điểm giữa quỹ
đạo mặt trăng và đường hoàng
đạo). Tại Trung Hoa, giới chiêm tinh lại không
dùng khái niệm Cửu Diệu mà lập ra khái niệm
Thất Chánh Tứ Dư tức là bảy ngôi tinh tú chánh
yếu (mặt trời, mặt trăng, Kim, Mộc,
Thủy, Hỏa, Thổ) và bốn ngôi hư tinh tức là
Tử Khí, Nguyệt Bột, La Hầu và Kế Đô.
[5] Đây là một thành ngữ (nguyên
văn là “măi độc hoàn châu
-買匵還珠) nhằm chê trách kẻ không biết giá
trị, chỉ say mê h́nh thức bề ngoài, chẳng
biết đến nội dung, giống như kẻ thích
cái rương đẹp nên chỉ lấy rương,
trao trả châu báu trong ấy cho người bán.
[6] Đây là những vương quốc
cổ ở Tây Vực. Thiện Thiện có tên gọi nguyên
thủy là Lâu Lan (Kroran, Kroraina), nằm ở phía Đông
Bắc sa mạc Lop, sắc dân chủ yếu là người
Tocharian. Vương quốc này đă được
lịch sử ghi chép từ thời Hán. Đến năm
77 trước Công Nguyên, đổi tên thành Thiện
Thiện (Shanshan). Lâu Lan nằm trên trục lộ giao thông
chính từ Đôn Hoàng đến Korla. Đến thời
Hán Vũ Đế, do quân Lâu Lan thường tấn công các
sứ đoàn và thương đoàn của nhà Hán qua lại
Tây Vực nên Lâu Lan bị nhà Hán tấn công, Thiền Vu (vua
Lâu Lan) thua trận, phải xưng thần, cống nạp
nhà Hán. Dần dần, Lâu Lan suy yếu do nội loạn
cũng như do bị các lân quốc tấn công. Vào
cuối thế kỷ thứ 4, dưới đời vua
Thiện Mễ (Thiện Châu Na) đột nhiên quốc gia
Lâu Lan biến mất, dân chúng bỏ đi đâu không rơ,
thành phố hoang tàn, chỉ c̣n là một đống phế
tích. Cho tới nay điều này vẫn là một bí ẩn
chưa t́m được lời giải đáp đối
với các nhà khảo cổ. Xa Sa là một quốc gia
cổ ở Tây Vực, nay là huyện Xa Sa thuộc khu
tự trị Tân Cương (phía nam sa mạc Taklamakan)
thuộc lưu vực sông Yarkand. Vương quốc này
tồn tại khá ngắn ngủi (từ năm 66
đến năm 89), chỉ truyền được
bảy đời vua th́ bị nước Sớ Lặc
(Shule) thôn tính dưới đời vua Tế Lê.
[7] A Ngụy (Ferula Assafoetida, Devil’s Dung,
Asafetida) chính là Hưng Cừ (Hingu) thường
được nói trong Ngũ Tân. Loại thực vật
này c̣n có tên gọi là A Ngu, Huân Cừ, Cáp Tích Ni, Vân Đài
v.v... vốn có nguồn gốc từ Tây Vực, thân dài, lá
mọc thành chùm ba chiếc một, có hoa nhỏ màu vàng,
mọc thành chùm, h́nh giống như cái lọng x̣e ra. A
Ngụy có mùi hăng nồng mạnh hơn tỏi,
thường được dùng làm gia vị, nhất là
trong các món ăn của vùng Bengal và Tamil Nadu (Ấn
Độ). Phần ăn được là thân và củ.
Khi bẻ loại rau này sẽ có chất nhựa trắng
chảy ra, đây mới chính là vị A Ngụy (thường
bị đọc trại thành A Ngùy) dùng trong Đông Y,
được dùng để sát trùng, tiêu thực, chống
cảm cúm, suyễn, và viêm phế quản, nhưng phải
rất cẩn thận v́ nhựa loại thảo mộc
này có chất độc.
[8] Câu Xá Luận Tụng Giảng Kư là tác
phẩm ghi lại bài giảng bộ Câu Xá Luận Tụng
của pháp sư Diễn Bồi. Câu Xá Luận Tụng
gồm sáu trăm bài kệ do ngài Thiên Thân đă căn
cứ trên bộ Đại Tỳ Bà Sa Luận mà soạn
ra.
[9] Patna là thủ đô của tiểu bang
Bihar (Ấn Độ). Thành phố này thường
được nhắc đến trong kinh Phật với
danh xưng Ba Liên Phất (Pataliputra), tức kinh đô
của cổ vương quốc Magadha (Ma Kiệt Đà)
dưới các triều đại Haryanka, Nanda, Mauryan, Sunga,
Gupta và Pala. Thành phố này nằm phía Nam sông Hằng, ở
ngay chỗ hợp lưu của sông Hằng với các sông
Sone, Gandak và Punpun. Thành phố này chính là kinh đô mới
của vương quốc Ma Kiệt Đà khi vua A Xà
Thế muốn t́m một vị trí chiến lược
tốt hơn kinh đô cũ là Vương Xá (Rajagrha)
để dễ cai trị quốc gia và chống lại
bộ tộc Licchavis Vaishali hữu hiệu hơn.
[10] Khâu (丘) là tên húy của Khổng Tử,
Trọng Ni là hiệu của Ngài. Do cha Ngài là Thúc
Lương Hột (叔梁紇, chữ Hột thường bị đọc trại
thành Ngột. Tên ông này là Khổng Ngột, nhưng do tên
tự là Thúc Lương nên người đời
thường gọi ghép lại thành Thúc Lương
Ngột), đă có chín người con gái, tuổi đă cao
vẫn chưa có con trai, bèn lấy vợ lẽ, sanh
được một trai là Mạnh B́ lại bị tàn
tật, bèn lấy bà Nhan Trưng Tại làm vợ ba. Cả
hai vợ chồng cầu con tại núi Ni Khâu
được như nguyện, nên đặt tên con là Khâu,
tên tự là Trọng Ni.
[11] A Nậu Đạt Tŕ (Anavatapta), c̣n
phiên là A Na Bà Đạt, c̣n dịch nghĩa là Vô Nhiệt
Năo Tŕ, đây là một cái ao hoặc hồ được
coi là nằm chính giữa cơi Nam Thiệm Bộ Châu, nằm
ở phía nam Hương Sơn, rộng đến tám
trăm dặm, là nơi khởi nguồn của bốn
ḍng sông. Người ta thường coi A Nậu Đạt
Tŕ trong kinh Phật chính là hồ Manasarovar ở núi Kailash
trong rặng Himalayas.
[12] Dao Cầm (瑶琴)
c̣n gọi là Cổ Cầm, Ngọc Cầm, Huy Cầm, hoặc
Thất Huyền Cầm, thường được
xưng tụng là Thánh Nhân Chi Khí (nhạc khí của bậc
thánh nhân), là một thứ nhạc khí rất cổ,
được xếp vào loại Ty (dây tơ) trong Bát Âm
của cổ nhạc. Theo truyền thuyết, loại
đàn này do vua Phục Hy hoặc vua Thần Nông chế ra.
Thân đàn làm bằng gỗ ngô đồng, dài ba
thước sáu thốn năm phân (ước chừng
từ 1m2 đến 1m3), rộng sáu thốn (ước
chừng 20cm), dày hai thốn (6 cm). Thân đàn có hai chỗ eo
vào, thoạt đầu chỉ có năm dây, về sau
tăng lên bảy dây. Tiếng dao cầm được cổ
nhân ca tụng là ưu nhă, thanh thoát, có tác dụng
dưỡng thần dưỡng tánh, có thể giao cảm
với thánh nhân, nên hầu như giới Nho sĩ
đều thích học gảy dao cầm và soạn
nhiều cầm khúc. Thậm chí có những khúc đàn được
coi là do chính tay Khổng Tử biên soạn.
[13] Ba cân gai là một công án chép trong sách
Thiền. Một vị Tăng hỏi ngài Động
Sơn Lương Giới: “Phật là ǵ?” Sư trả
lời: “Ba cân gai”.
Que cứt khô (can thỉ quyết, 乾屎橛). Đây là một cái thẻ dẹp
mỏng dùng để gạt phân, dùng trong nhà vệ sinh, nên
thường được dùng để chỉ vật
cực ô uế. Theo Cảnh Đức Truyền
Đăng Lục, có vị tăng hỏi ngài Lâm Tế
Nghĩa Huyền: “Vô vị chân
nhân là ai?” Sư liền đánh, quát: “Vô vị chân nhân là ǵ? Que cứt khô!”
[14] Vương Ngư Dương (1634-1711),
tên thật là Sĩ Chân, tên thuở nhỏ là Dự Tôn, tên
tự là Di Thượng, hiệu Nguyễn Đ́nh, biệt
hiệu là Ngư Dương Sơn Nhân, nên người
đời thường gọi ông là Vương Ngư
Dương, người xứ Tân Thành, tỉnh Sơn
Đông, là văn nhân trứ danh đầu đời Thanh.
Ông đỗ Tiến Sĩ trong niên hiệu Khang Hy, làm quan
đến chức H́nh Bộ Thượng Thư, đồng
thời là một cố vấn thân cận của Khang Hy,
trước tác rất phong phú. Các anh em của ông như
Vương Sĩ Lục, Vương Sĩ Hỷ,
Vương Sĩ Hựu v... đều nổi danh về
văn tài. Tác phẩm của Vương Ngư Dương
có đến hơn năm trăm thứ, nổi tiếng
nhất là Ngư Dương Sơn Nhân Tinh Hoa Lục, Tŕ
Bắc Ngẫu Đàm, Phân Cam Dư Thoại, Hương
Tổ Bút Kư v.v...
[15] Đây là từ ngữ dùng để
gọi các sắc dân sống ở biên cương Trung Hoa.
Chữ Khương (羌)
chỉ chung các sắc dân sống ở Tây Nam, chứ không
thuần túy chỉ sắc tộc Khương hiện
thời. Di (夷) là
các sắc dân sống ở phía Đông, Hồ (胡) là các sắc dân
sống ở vùng Tây Vực, hoặc có nguồn gốc
từ Ấn Độ, Ba Tư, A Phú Hăn v.v... Địch (狄)
là các sắc dân không phải người Hán sống ở
phía Bắc Trung Hoa.
[16]
Chúng tôi sử dụng lời dịch của cụ
Nguyễn Hiến Lê. Ở đây, không biết do cụ Lư
Bỉnh Nam viết sai, hay do người biên tập
viết sai. Câu “hốt hề,
hốt hề, kỳ trung hữu tinh” đúng ra phải
là “yểu hề, minh hề,
kỳ trung hữu tinh” (窈兮冥兮,其中有精).
[17] Tử Dương Chân Nhân (987-1082), tên
thật là Trương Bá Đoan, tự B́nh Thúc, c̣n có tên là
Dụng Thành, hiệu là Tử Dương, c̣n
được gọi là Ngộ Chân Tiên Sinh, là đạo
sĩ đời Bắc Tống, tổ sư đời
thứ nhất của Kim Đan Phái Nam Tông. Ông đề
xướng thuyết tu luyện Nội Đan, các tác
phẩm Ngộ Chân Thiên, Ngọc Thanh Kim Tứ Thanh Hoa Bí
Văn Kim Ngọc Nội Luyện Đan Quyết
(thường gọi tắt là Thanh Hoa Bí Văn) do ông biên
soạn là những kinh điển chủ yếu trong Kim
Đan Phái, chuyên dạy cách thổ nạp, vận khí.
Chẳng hiểu ông Âu Dương Mạn đọc
những sách này theo kiểu nào mà cho rằng “chỗ nào
cũng giảng về Phật”!
[18] Hoàng Long tổ sư chính là ngài Huệ
Nam (1002-1069), thuộc đời thứ tám tông Lâm Tế,
họ Chương, người Tín Châu (nay thuộc
tỉnh Giang Tây), xuất gia tại chùa Quy Tông, đắc
pháp nơi ngài Thạch Sương Sở Viên (Từ Minh
thiền sư). Về sau, Sư lập ra chi phái Hoàng Long
của tông Lâm Tế. Lữ Tổ (Lă Tổ), tên thật là
Lă Nham, tự Động Tân, hiệu Thuần Dương
Tử, là một trong năm vị Tổ được
tôn sùng trong Toàn Chân giáo. Ông học Đạo với Chung Ly
Quyền, và được truyền tụng là có nhiều
quyền năng, nhiều thành tựu, và thường
được các đàn cầu cơ thỉnh vời,
cũng như được xếp vào Bát Tiên. Công án
Lữ Tổ tham Hoàng Long như sau: Sau khi thành đạo,
Lữ Tổ vân du, đi qua núi Hoàng Long bèn vào nghe thử.
Thiền sư bảo đại chúng: “Trong chúng có kẻ
nghe trộm pháp”. Lữ Tổ đành phải đứng
lên, bèn thừa dịp chất vấn Sư: “Trong một
hạt lúa chứa thế giới, trong cái nồi nửa
thăng nấu núi sông, hăy nói xem ư chỉ thế nào?” Sư
trả lời: “Quỷ giữ thây chết”. Lữ Tổ
vặn: “Thế trong túi có thuốc trường sanh th́ sao?”
Sư dạy: “Dẫu trải qua tám muôn kiếp, cuối
cùng cũng là không vong”.
[19] Đây là một câu nói trong sách Mạnh
Tử, thiên Ly Lâu Hạ, nguyên
văn: “Chư Tử viết:
Vương sử nhân khán phu tử, quả hữu dĩ
dị ư nhân hồ? Mạnh Tử viết: Hà dĩ
dị ư nhân tai? Nghiêu, Thuấn dữ nhân đồng
nhĩ” (Chư Tử nói: “Nhà vua (vua Tề) sai
người đến quan sát phu tử, xem Ngài có ǵ
thật sự khác với người ta hay không?” Mạnh
Tử trả lời: “Có ǵ khác với người ta ư?
Nghiêu và Thuấn chẳng khác ǵ người b́nh
thường!)
[20] Đây cũng là
một câu khác trong thiên Ly Lâu sách Mạnh Tử: “Thuấn nhân dă, ngă diệc nhân
dă. Thuấn vi pháp ư thiên hạ khả truyền ư hậu thế, ngă do
vị miễn vi hương nhân dă, thị tắc khả
ưu dă” (Thuấn là người, ta cũng là
người, Thuấn có thể lập pháp cho thiên hạ,
truyền đến hậu thế, mà ta vẫn là một
kẻ tầm thường trong chốn làng quê, đó là
điều đáng lo vậy).
[21] Kham Dư (堪輿) là tên gọi khác
của Phong Thủy Địa Lư. Kham có nghĩa là cuộc
đất nổi cao lên, Dư có nghĩa là nghiên cứu,
xem xét. Có người như Hứa Thận chủ trương:
“Kham là thiên đạo, Dư là
nhân đạo”. Như vậy Kham Dư chính là miêu
tả, quan sát cuộc đất. Từ ngữ này
thoạt đầu không có nghĩa là Phong Thủy. Theo
Sử Kư, Kham Dư là những người chuyên quan sát tinh
tú, h́nh thể núi sông nhằm phục vụ cho việc quy
hoạch thủy lợi, nông nghiệp, cũng như
lịch pháp. Sau này, thuyết Phong Thủy thành lập và các
nhà xem Phong Thủy tự xưng là Kham Dư gia.
[22] Hai chữ này có âm Hán Việt giống
hệt nhau, nhưng âm Quan Thoại rất khác. 絺 đọc là
Chī (hơi giống chữ Chư trong tiếng
Việt), c̣n 希đọc là
Xī (đọc như âm Xi trong tiếng Việt).
[23] Lăo Mẫu là tên gọi tắt của Vô
Cực Lăo Mẫu, c̣n gọi là Vô Sanh Lăo Mẫu, Vô Cực
Thiên Mẫu, Vô Cực Thánh Tổ, hoặc Minh Minh
Thượng Đế. Các tà giáo quan niệm Vô Sanh Lăo
Mẫu là đấng sáng tạo ra muôn loài, kể cả
vũ trụ, chư Phật, Bồ Tát, Thượng
Đế, các giáo chủ tôn giáo đều do Vô Sanh Lăo
Mẫu tạo ra. Danh hiệu này do La Thanh (sáng tổ La Giáo)
tạo ra nhằm thu hút tín đồ để thay thế
cho các danh từ đă cũ của Đạo Giáo như
Hồng Quân Lăo Tổ, Địa Mẫu, Diêu Tŕ Kim Mẫu
v.v... Các tàn dư của Bạch Liên Giáo đă vay trộn
lung tung tín ngưỡng dân gian, các thuyết trong Đạo
giáo và cóp nhặt xuyên tạc những thuật ngữ trong
Phật giáo để tạo thành các giáo mới như La
Giáo, Tây Đại Thừa Giáo, Kê Túc Sơn Đại
Thừa Giáo, Trai Giáo, Long Hoa Trai Giáo, Văn Hương Giáo,
Thiên Lư Giáo, Nhất Quán Đạo, Thiên Đạo v.v... Tuy
tên gọi khác nhau, họ đều sùng bái Vô Cực Lăo
Mẫu, tịnh tọa, luyện đan, vận khí, cầu
cơ.
[24] “Đại
danh đỉnh đỉnh” (大名鼎鼎), hoặc c̣n gọi là “hách hách hữu danh” (赫赫有名), đều là những thành ngữ
người có tiếng tăm rất lớn, rất
phổ biến, rất hiển hách.
[25] Hiên Viên Hoàng Đế được
coi là thủy tổ của dân tộc Hán. Sách Sử Kư chép
ông họ Công Tôn, tên là Hiên Viên, nhưng sách Quốc Ngữ
lại bảo do Hoàng Đế trưởng thành bên sông
Cơ Thủy nên phải là họ Cơ. Thôi Thuật cho
rằng Công Tôn chỉ có nghĩa là con của chư
hầu, nên chẳng phải là họ. Công Tôn chỉ trở
thành họ về sau này. Do ông ta sống ở g̣ Hiên Viên nên
gọi là Hiên Viên Thị, tên nước là Hữu Hùng; do
vậy, c̣n gọi là Hữu Hùng Thị hoặc Đế
Hồng Thị. Sách Sử Kư ghi Hoàng Đế là con của
Thiếu Điển, nhưng các sử gia sau đó vẫn
tranh luận về mức độ chánh xác của điều
này. Hoàng Đế kết liên với Viêm Đế, đánh
bại Xi Vưu (thủ lănh của Miêu tộc), thống
nhất Trung Nguyên, nên được tôn
là Cộng Chủ. Để xác lập uy quyền, Hoàng
Đế lên Thái Sơn tế trời, cử hành lễ
Phong Thiền. Theo truyền thuyết, trong khi tế
trời, lưng trời hiện ra hai con vật sắc vàng
óng nên người ta lấy đức của đất
là màu vàng để tôn danh hiệu cho ông, v́ thế gọi
là Hoàng Đế.
[26] Phục Thánh là mỹ hiệu
cho người đời sau đặt cho Nhan Hồi. Ông tên thật là Hồi, tên tự là
Tử Uyên, nên thường được gọi là Nhan
Uyên. Ông được xếp vào Tứ Phối (Tứ
Phối là bốn đại đệ tử (chính thức
hay gián tiếp) được coi là người đệ
tử chân truyền của Khổng Tử, đă tiếp
nhận toàn bộ giáo pháp của thầy, tức Phục
Thánh Nhan Hồi, Tông Thánh Tăng Sâm, Thuật Thánh Khổng
Cấp và Á Thánh Mạnh Kha). Nhan Hồi c̣n được
coi là người đứng đầu Thất Thập
Nhị Hiền (bảy mươi hai môn đệ xuất
sắc của Khổng Tử). Ông c̣n được
gọi là Duyện Công do Đường Huyền Tông phong
tặng tước hiệu này, nên đôi khi sử sách vẫn
gọi gộp chung là Duyện Quốc Phục Thánh Công.
[27] “Truy
viễn” nghĩa là tưởng nhớ tới tổ
tiên, người đă khuất. Chữ này xuất phát
từ một câu nói của Tăng Tử trong thiên Học
Nhi sách Luận Ngữ: “Thận
chung truy viễn, dân đức quy hậu hỹ”. Trong
Tứ Thư Bạch Thoại Giải, câu này
được giảng như sau: “Khi cha mẹ đă
mất bèn chôn cất cẩn thận, tiến hành tang ma
đúng lễ, cư tang giữ hiếu. Dẫu cha mẹ,
tổ tiên đă khuất từ lâu, vẫn luôn tưởng
nhớ. Làm như thế th́ đạo đức phong
tục sẽ ngày càng trở nên thuần hậu, tốt
đẹp hơn”.
[28] Mân Nam (閩南) là từ ngữ chỉ chung phía Nam tỉnh
Phước Kiến (do Phước Kiến thường
gọi là đất Mân, hoặc Mân Việt), đặc
biệt là vùng duyên hải thuộc eo biển Đài Loan.
Thông thường, Mân Nam bao gồm các huyện thị
Chương Châu, Tuyền Châu, Hạ Môn, đôi khi bao
gồm cả vùng Bồ Điền, hoặc mở
rộng đến lưu vực các sông Cửu Long Giang và
Tấn Giang. Tiếng Đài Loan chính là tiếng Phước
Kiến giọng Mân Nam, đặc biệt là vùng Tuyền
Châu, pha trộn với giọng của người Khách Gia
(Hakka, người Hẹ).
[29] Đây là một tục lệ mê tín,
xuất phát từ ngụy kinh Thọ Sanh. Theo kinh ấy,
vào năm thứ mười ba niên hiệu Trinh Quán
đời Đường, ngài Huyền Trang đă thâu
thập được kinh Thọ Sanh trên đường
sang Thiên Trúc thỉnh kinh. Kinh dạy mỗi chúng sanh trong cơi
Diêm Phù Đề thọ sanh trong cơi này đều thiếu
tiền đầu thai ở chốn âm phủ. Do vậy,
phải đốt tiền Thọ Sanh để trả
nợ (việc này gọi là “hoàn khố thọ sanh”).
Nếu không làm, sẽ gặp mười tám thứ tai ách.
Theo các nhà nghiên cứu, bản kinh này vốn có tên là Thái
Thượng Lăo Quân Thuyết Ngũ Đấu Kim
Chương Thọ Sanh Kinh của Đạo giáo, về
sau, các tà sư đă đổi tên thành Phật Thuyết
Thọ Sanh Kinh cũng như bịa chuyện bản kinh
này do ngài Huyền Trang đem về Trung Hoa. Theo niềm tin
đó, người đốt tiền thọ sanh phải
tụng chú Thọ Sanh như sau “thiên
la chú, địa la chú, nhật nguyệt hoàng la chú, nhất
thiết oán gia ly ngă thân, Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật”. Họ
quy định tùy theo mỗi tuổi mà thiếu nợ bao
nhiêu tiền, chẳng hạn tuổi Tân Sửu thiếu
nợ mười một vạn quan, phải tụng ba
mươi bảy vạn biến kinh Thọ Sanh,
đồng thời cúng vào kho do viên quan họ Cát quản
lư. Mỗi tờ tiền thọ sanh là một quan. Các
đạo sĩ, thậm chí các “tụng kinh đoàn” ở Đài
Loan, Hương Cảng, Mă Lai v.v... và một số tự
viện thường có những nghi thức rườm rà
để tụng kinh Thọ Sanh và đốt tiền.
Hủ tục này cũng du nhập vào Việt Nam và khá
thịnh hành tại miền Bắc.
[30] Đây là một thứ mê tín phổ
biến ở vùng Hoa Nam. Người ta tin rằng
người mới chết sẽ được Sảnh
Thần (眚神: quỷ dẫn hồn trong cơi âm) dẫn
về thăm nhà trong thất đầu tiên. Tang chủ
phải nhờ các đạo sĩ tính toán chính xác ngày
giờ để trấn yểm, cầu cúng, kẻo
bị bắt theo (giống như niềm tin “thần trùng”
ở Việt Nam). Trong hôm đó, những người
kỵ tuổi hoặc hợp tuổi với người
chết đều phải lánh mặt hoặc bỏ đi
xa. Người ta c̣n đồn đại: Nếu rải
tro trong pḥng đặt bàn thờ người chết,
sẽ thấy dấu chân người chết in trên tro. Tùy
theo người ấy tuổi ǵ, sẽ có dấu chân
của con vật ấy in dấu trên tro. Chẳng hiểu
nếu người chết tuổi Rồng th́ dấu chân
Rồng sẽ giống như thế nào?
[31] “Chiêu
mục” là từ ngữ phiếm chỉ ḍng họ, chi
tộc. Nói chi tiết, Chiêu Mục là quy định về
cách xếp đặt bài vị hoặc mộ địa
theo chế độ “tông pháp” thời cổ. Trong từ
đường, bài vị của Thỉ Tổ đặt
chính giữa, bài vị của các vị tổ thuộc
đời thứ hai, đời thứ tư, đời
thứ sáu đặt ở bên trái, gọi là Chiêu, bài vị
của đời thứ ba, đời thứ năm,
đời thứ bảy, được đặt ở
bên phải, gọi là Mục. Mộ phần trong nghĩa
trang chung của ḍng họ cũng được xếp
đặt như vậy. Điều này được
mở rộng ra thành vị trí đứng trong từ
đường hoặc đàn tế. Chương Tế
Thống trong Lễ Kư chép: “Phàm
tế lễ có phân định Chiêu và Mục để phân
biệt cha con, xa gần, lớn nhỏ, thân sơ cho
khỏi rối loạn”. Cửu Tộc là từ ngữ
phiếm chỉ họ hàng, thân thuộc. Có nhiều cách hiểu
chữ Cửu Tộc. Thông thường nhất là cách giải
thích như sau: Bốn họ bên cha, ba họ bên mẹ và hai
họ bên vợ. Bốn họ bên cha tức là chú bác và con cái
của họ (ông nội và các anh em của ông nội cũng
được tính gộp vào đây), các cô và con cái của
họ, anh chị em ruột của chính ḿnh và các con của
họ, con cái của chính ḿnh (kể cả con rể, con dâu,
cháu nội, cháu ngoại). Ba họ bên mẹ là họ bên ông
ngoại (bao gồm cả các anh em, chị em của ông ngoại),
họ bên bà ngoại (bao gồm cả anh chị em ruột
thịt của bà ngoại), và các cậu, các d́ (kể cả
vợ chồng con cái của họ). Hai họ bên vợ bao
gồm bố mẹ vợ). Cách tính này thường được
áp dụng khi có người phạm tội bị triều
định phán án “tru di cửu
tộc”.
[32] Đây là một thành ngữ, “khâm ảnh vô quư” hoặc “bất tàm khâm ảnh”, có
nghĩa là luôn dè dặt, cẩn trọng trong mọi hành
động, dù ngay trong lúc riêng tư, đơn độc,
vẫn chẳng có hành vi nào đáng hổ thẹn. Thành
ngữ này phát xuất từ câu nói của Lưu Trú
đời Bắc Tề được chép trong sách Tân
Luận: “Độc lập
bất tàm ảnh, độc tẩm bất quư khâm”
(đứng một ḿnh chẳng thẹn với bóng của
ḿnh, ngủ một ḿnh chẳng xấu hổ với cái
áo).
[33] Đây là một dị tướng. Sách
Hoài Nam Tử chép: “Vũ nhĩ
tam lậu, thị vị đại thông” (vua Vũ
mỗi tai có ba lỗ, nên thông hiểu to lớn). Cao Dụ
chú giải: “Tam là ba, Lậu là
lỗ tai”.
[34] Vua Thuấn có tên là Trùng Hoa (cổ
thư thường giải thích do mỗi mắt của
ông có hai con ngươi (trùng đồng), nên gọi là Trùng
Hoa), sanh ở Diêu Khư nên lấy họ là Diêu, đóng
đô tại Bồ Bản (nay là Vĩnh Tế, tỉnh
Sơn Tây). Do quốc hiệu là Hữu Ngu, nên thường
được gọi là Hữu Ngu Thị Đế
Thuấn. Ông là cháu đời thứ bảy của vua
Chuyên Húc, nhưng đến đời ông gia cảnh sa sút,
nghèo hèn. Cha là Cổ Tẩu (đây có lẽ chẳng
phải là tên thật, v́ Cổ Tẩu có nghĩa là ông già
mù), tính t́nh hung bạo, thường đánh đập
phũ phàng. Do mẹ vua Thuấn mất sớm, nên Cổ
Tẩu lấy vợ kế, sanh được một trai
là Tượng. Tượng và mẹ kế thường
t́m đủ mọi cách hành hạ, hăm hại, nhiều
lần toan giết chết vua Thuấn khi c̣n hàn vi. Năm
ba mươi tuổi, do vua Thuấn nổi tiếng
hiền nhân khắp thiên hạ, vua Nghiêu liền cho vời
đến gặp mặt, hỏi chuyện, rất vừa
ư, bèn gả con gái là Nga Hoàng và Nữ Anh cho Thuấn và
nhường ngôi. Đạo Giáo tôn xưng vua Thuấn là
Địa Quan Đại Đế, cùng với Thiên Quan
Đại Đế (vua Nghiêu), và Thủy Quan Đại
Đế (vua Vũ), hợp thành Tam Quan Đại
Đế, ứng với ba ngày Rằm lớn trong năm.
Sở dĩ ông được tôn là Địa Quan v́ lúc hàn
vi, vua Thuấn thường cày cấy, đánh cá, làm
đồ gốm, buôn bán lặt vặt để mưu
sinh. Liễu Di Trưng khi viết Trung Quốc Thương
Nghiệp Sử c̣n tôn vua Thuấn là tỵ tổ của
các nhà thương nghiệp.
[35] Đây là lời trích từ bài Lang
Cương Thiên Biểu của Âu Dương Tu. Âu Dương
Tu viết bài biểu này để khắc trên bia mộ
cha, nhằm diễn tả nỗi ḷng đau đớn
của người con v́ cha đă mất sớm (Âu
Dương Tu mồ côi cha lúc mới bốn tuổi), Sùng
Công là tước hiệu được triều đ́nh
truy tặng cho cha Âu Dương Tu. Bài biểu này
được viết khi ông dời linh cữu mẹ
về hợp táng với cha tại Lang Cương. Bài
biểu này có tên gọi ban đầu là Tiên Quân Mộ
Biểu, về sau mới đổi thành Lang Cương
Thiên Biểu.