Phật Học Vấn Đáp Loại Biên

佛學問答類編

Phần 9

Lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam giải đáp

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản in của Lư Bỉnh Nam Lăo Cư Sĩ Toàn Tập Biên Tập Ủy Viên Hội, Đài Loan, 2007)

Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang

 

      * Hỏi: Các loài hoa, cỏ, tre, gỗ, đá, ngọc, dường như cũng có Phật tánh, nhưng khó phân biệt. Điều này căn c trên những chuyện hoa có th hiểu lời nói, ngọc, đá thành tinh v.v… trong các truyện xưa Trung Quốc để suy luận. Vậy th́ cây Bồ Đề nơi đức Thích Tôn thành đạo cũngPhật Tánh, chẳng c̣n ng chi nữa! Nhưng c sao ngoài lục đạo, chẳng k thêm [những loài vô t́nh như cây, cỏ, gỗ, đá]? (Lưu Định Nhất hỏi)

 

      Đáp: Phàm học thuyết th́ đại khái có s thật và lư luận sai khác. Nếu nói theo Lư, bất luận động vật, thực vật, hay khoáng vật đều có Pháp Tánh; đó gọi là “vạn pháp duy tâm. Trúc biếc, hoa vàng, không ǵ chẳng phải là Bát Nhă. T́nh vô t́nh, cùng viên măn Chủng Trí. Nếu nói theo Sự, chữ chúng sanh ch dùng để ch động vật có t́nh thức, có sắc thân Lục Nhập do nghiệp báo chuyển biến. Sắc thân của loại động vật hàm thức ấy sanh, có diệt, nhưng trong lục đạo, t́nh thức biến huyễn chẳng ngừng. Khoáng vật và thực vật chẳng phải t́nh thức nghiệp báo, nên những loài như hoa, cỏ, đá, ngọcchẳng được k vào đó. Hoa có th hiểu tiếng người vốn là lời đùa bỡn của văn nhân. Ngọc thành tinh chính là vật lâu đời tác quái, vốn do linh hồn [của các qu thần] dựa vào, cũng thuộc vào loại yêu tinh, qu quái, là biến hóa, chẳng phải là chuyện thường có!

 

      * Hỏi: Trước đức Phật Thích Ca, có Phật trụ trong thế giới này hay không? Nói cổ Phật” có phải là nói tới những v Phật đă giáng sanh trong thế giới này trước đức Phật Thích Ca hay không? Thuở đức Phật giáng thế, có phải là Pháp Thân hóa thành Ứng Thân, hay là Pháp Thân vẫn tr trong cơi Thường Tịch Quang? (Mạnh Hiếu Quang hỏi)

 

      Đáp: Đức Phật hiện trong thế gian, chuyên độ chúng sanh. Thế giới vô tận, thời gian tận, nên Phật đến ứng hiện cũng là vô tận. Phật hiện tướng, được gọi làứng hóa, c̣n Pháp Thân thường tịch vẫn nghiễm nhiên bất động.

 

      * Hỏi: Trong tam giới lục đạo đều Phật, Bồ Tát, nên c nhiên trong đường trời người chẳng c̣n phải bàn luận nữa! Trong địa ngục c̣n đại Bồ Tát trụ, thể nói là “chẳng có Phật pháp” ư? Nhân loại chẳng th biết hành vi phương tiện hoằng pháp, cứu độ chúng sanh ấy, chẳng biết trong kinh Phật từng nhắc tới hay chưa? (Lưu Định Nhất hỏi)

 

      Đáp: Trong lục đạo đều có Phật, Bồ Tát phương tiện thuyết pháp, trong kinh Phật cũng có ghi chép. Chỉ v́ tánh chia thành nhiễm và tịnh, nhiều, ít, dày, mỏng khác nhau, nên s lănh th rất khác biệt. Nếu tạm lấy nhân loại để luận định th́ k Thế Trí Biện Thông tập khí ô nhiễm quá nặng, trở thành chướng ngại đối với Phật pháp. K mù, điếc, câm, ngọng do mầm ác quá nặng, cũng trở thành chướng ngại trong việc tiếp nhận Phật pháp. Nhân đạo đă là như thế, [suy ra] có th biết [t́nh h́nh] trong tam đồ. Chẳng phải là nói “trong địa ngục chẳng có Phật pháp”, là nói:Tuy, nhưng tiếp nhận khá khó khăn!”

 

      * Hỏi: Phật, Bồ Tát hóa thân vô s trọn khắp vũ trụ. Tam giới vô số, dẫu lấy cơi này để luận, làm sao biết các h chẳng phải là hóa thân của Bồ Tát? Lại nữa, đối với phương tiện cứu độ chúng sanh của Phật, Bồ Tát, thể [nói các ngài] chẳng phải chỉ xuất hiện dưới thân Phật trong các loài. [Tôi nghĩ] những vị thuở trước như Nghiêu, Thuấn, Khổng Tử, Châu Công, cho đến Gia Tô (Jesus), Mục Hăn Mặc Đức (Mohammed, Muhammad), Nam Đinh Cách Nhĩ (Florence Nightingale)[1] v.v... và các vị đại thần tiên được người Trung Quốc tôn sùng, cũng như các bậc thánh hiền xưa nay trong ngoài nước, đa số phải là hóa thân của Phật, Bồ Tát! Nhưng đối với những v ấy, Phật giáo đồ hết sức phân biệt, hậu học nghĩ: Gặp đời kiếp nạn này, hăy nên lấy khuyến thiện làm ch yếu, chẳng cần phải chửi k khác là ngoại đạo, phân biệt giáo môn, khiến cho sự hoằng dương rộng răi b tr ngại, tŕ tr, có l s hợp với tâm Phật hơn! (Lưu Định Nhất hỏi)

     

      Đáp: Đối với lời cao luận của Ngài, tr những lời l lầm lẫn tán dương tại h ra, những điều khác đều rất thích đáng. Nói đến “phân biệt” th́ cũng nên có s phân biệt trong phân biệt. Ch nói đến Thiện th́ thiện phải ḥa đồng với mọi người, ch nên nhất loạt tùy hỷ, đó gọi là “chúng thiện phụng hành”. Nếu nói đến Đạo th́ chẳng bắt buộc phải gượng ép cho giống nhau, mỗi đạo có bản chất và tinh thần riêng biệt. H bản chất b biến đổi th́ học thuyết cũng chẳng thể thành lập được! Ch nên mỗi đạo gi lấy cương vị, người ưa thích núi, k ưa thích nước, tùy người ta chọn lựa, ch nên thù hằn, ganh ghét. Nói theo bản thân Phật giáo th́ vốn các thuyết so lường Quyền và Thật, liễu nghĩa và bất liễu nghĩa, nên mới có thuyết Ngũ Thừa. Những đạo nằm ngoài Phật giáo há lại có th vượt trỗi Ngũ Thừa ư? Phật giáo vốn chẳng công kích các giáo khác (ngoại tr những trường hợp h t́m đến tranh luận), nhưng các giáo khác chuyên công kích Phật giáo!

 

      * Hỏi: Ma h́nh thành như thế nào? th nói cho biết lịch tŕnh [h́nh thành ma] c th ra sao hay chăng? Đức Thích Ca hàng ma, nhưng chưa độ ma, do nguyên nhân nào? Có phải là ma chẳng th độ ư? (Lưu Định Nhất hỏi)

 

      Đáp: Phàm những chuyện chướng ngại Phật pháp và k phản đối Phật pháp đều gi định là Ma! Ch Ma () vốn là Ma (), nghĩa là “gây khó khăn, chướng nạn”. Sự Ma phần nhiều sanh t tâm, Nhân Ma cũng do nghiệp duyên. Thíchn hàng ma, đó là độ ma, hàng () là chế phục vậy! Đương nhiên tự biết hết thảy [những kẻ được hóa độ] đều khuất phục, nên gọi là “hàng”. Ch có điềuđộ” là t độ, [kẻ được hàng phục] chịu [phụng hành] hay không, lại tùy thuộc vào căn cơ của đối phương. Giống như lương y cho thuốc, chí mong cứu người, nhưng uống thuốc hay không là do người bệnh t quyết định!

 

      * Hỏi: Một k tri thức thế tục, nghiệp báo khá sâu, nói cách khác là k đọc sách đă nhiều năm, nay đang th nguyện học Phật hoàn chỉnh, có nên đổ công sức [nghiên cứu, học tập] toàn b Đại Tạng Kinh hay không? Do chuyện này bèn hỏi là nên bắt đầu t phương diện nào (Kinh Tạng, Luật Tạng, Đại Thừa, hay Tiểu Thừa) th́ sẽ d dốc sức hơn? V phương thức th́ nên gi thái độ chẳng cầu thấu hiểu cho lắm, cứ để lại đó, mai sau s dần dần lănh ngộ? Hay là mỗi khi đọc một kinh nào, ắt phải chú trọng đọc rộng, hiểu thông suốt để cầu thâm nhập? (Hoàng Thao hỏi)

 

      Đáp: Tŕnh t học Phật chia ra thành Thông (thông thường) và Biệt (đặc biệt, riêng biệt). Thông tức là bốn ch “Tín, Giải, Hành, Chứng. Biệt chẳng cần theo th tự, vừa khởi đầu liền chọn một môn để hành. Thông th́ chẳng có vấn đề ǵ đáng nói, nhưng Biệt th́ cũng phải trọn đủ tín tâm. Người tín tâm mạnh m ch hành công phu ấy liền có thành tựu. Nếu không, ắt phải cầu hiểu, ḥng tăng trưởng ḷng tin. Đó là hành và giải cùng tiến hành, hoặc hành trước, giải sau, không ǵ chẳng được! Đó là điều thứ nhất.

      Kẻ mới học đọc Đại Tạng, s chẳng đạt được lợi ích, v́ kết cấu của Đại Tạng ch yếu là sắp xếp theo th loại của các kinh, chẳng phải là sắp theo khóa tŕnh t cạn tiến đến sâu, t đầu tới cuối vậy! Người học Phật hăy nên nắm khái quát giáo tướng rồi mới đọc Đại Tạng th́ mới có cửa nẻo [để thâm nhập]; ví như trước hết phải biết bơi lội thông thạo rồi mới có th vào biển cả. Đó là lư do thứ hai.

      Người đọc Đại Tạng cũng chia thành hai loại:

      - Thứ nhất là Tĩnh Lự, lấy đọc kinh làm công khóa, chỉ cung kính đọc theo từng câu, chẳng nghĩ ngợi, suy lường.

      - Thứ hai lànghiên giáo”, tức là cầu hiểu rơ ư nghĩa. Chuyên chú trọng ḍ t́m, truy cầu [nghĩa lư], hy vọng t văn t mà thấy được phần nào Thật Tướng.

 

      * Hỏi: Đức Phật nói hết thảy chúng sanh đều là vị lai chư Phật”, đấy có phải là để đả phá quan niệm bất b́nh đẳng của chúng sanh hay không? Lại nói hết thảy người nam, hết thảy k n đềucha m trong đời quá khứ; đó có phải là để đả phá s phân biệt của chúng sanh hay không? (Trang Quư hỏi)

 

      Đáp: Đối với hai ư cư sĩ vừa đề ra, cũng chẳng phải là không thể nói như vậy; nhưng xét theo s thật th́ [những ǵ đức Phật đă nói] cũng chng phải là hư giả. Chúng sanh đều có Phật tánh, gặp duyên bèn khởi tu, đoạn sạch vô minh, tức là Phật vậy! Hết thảy nam nữ ta trong trần điểm kiếp đều trôi lăn trong sáu đường, từng làm cha, mẹ, con cái của nhau, há ch một lần, nhưng do mê muội khi cách ấm, nên chẳng c̣n hay biết! Nam là cha ta, n là m ta, há c̣n đáng ng nữa ư?

 

      * Hỏi: Chánh hạnh nơi đạo có c thiện căn lẫn trí huệ. T hành đoạn được Kiến Hoặc và Hoặc, do trợ hạnh từ bi cùng với phước đức nên có thể đoạn Trần Sa Hoặc. Làm như thế nào s thể đoạn? (Trang Quư hỏi)

 

      Đáp: Trợ hạnh có nhiều loại. Thượng cầu hạ hóa tr hạnh trọng yếu. Một chuyện không biết bèn gọi là Trần Sa Hoặc. Thường hành từ bi, mới hiểu căn khí của chúng sanh, mới thấu triệt thế sự rối ren. Học trọn hết Phật pháp, sẽ có thể đoạn nghi, sanh tín, trí huệ tự nhiên mở mang, thông suốt. Hành như thế th́ có th đoạn được Trần Sa.

 

      * Hỏi: Thu đức Thế Tôn giáng sanh tại Trung Ấn Độ, làm Thái Tử của vua Tịnh Phạn nước Ca T La Vệ, vinh hoa, phú quư thượng đẳng. Do duyên c ǵ chẳng hưởng th phước báo và địa v của bậc vương gi trong loài người mà lại muốn xuất gia? Tu đạo trong chốn núi rừng, há chẳng chịu hết nỗi kh gió sương, đói rét ư? (Hoàng Mễ Điền hỏi)

 

      Đáp: Tham hưởng vinh hoa phú q chính là s ích k của phàm phu. Cứu độ vô biên chúng sanh chính là công huân to lớn của bậc thánh nhân. Nay tôi dùng pháp thế gian để t dụ! Vua Đại Vũ trị thủy, ba lần đi qua cửa nhà ḿnh mà chẳng vào [thăm v con], con sanh ra chẳng ngó tới, tay chân phồng rộp, thân h́nh như cây khô. Nếu vua Vũ chẳng hứng chịu nỗi kh s ấy, há Trung Hoa có bọn người chúng ta? Đức Thế Tôn chẳng dầm sương, dăi gió, chịu đói, chịu khát, thành đạo trong chốn núi rừng, chúng sanh nh vào đâu để vượt thoát luân hồi, ĺa khổ, được vui?

 

      * Hỏi: Đức Thế Tôn tự chứng Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, nguyên nhân ǵ mà phải sáng lập giáo? (Hoàng Mễ Điền hỏi)

 

      Đáp: Đức Thế Tôn thành Phật cũng chẳng phải v́ t vui thú Niết Bàn, mà vẫn là do mong mỏi chúng sanh thoát ly Nh T (Biến Dịch Sanh T và Phần Đoạn Sanh Tử), cùng chứng Phật quả. thế, lập ra giáo pháp, đem những điều đă tu, đă chứng dạy hết cho đại chúng, ngơ hầu họ đều thành tựu. Nếu chuyên lợi lạc chính ḿnh, ch chứng A La Hán là đă đủ rồi, cần ǵ phải nhọc nhằn ba Tăng Kỳ, kh s tu vạn hạnh ư?

 

      * Hỏi: V́ sao đức Thế Tôn bảo các đệ t hăy hoằng pháp, khất thực các nơi? (Hoàng Mễ Điền hỏi)

 

      Đáp: Dạy đệ t hoằng pháp các nơi vẫn nhằm lợi lạc chúng sanh. Khất thực là chẳng tích cóp tiền của riêng tư, v́ s tâm nhiễm sáu trần, chẳng thể chuyên tu đạo ḥng cứu độ chúng sanh.

 

      * Hỏi: Đức Thế Tôn dạy các v đại đệ tử (họ là phước điền tăng) thường hành cước giữa dân chúng. Hóa duyên khất thực th́ có lợi ích ǵ? Có lợi cho dân chúng hay chăng? (Hoàng Mễ Điền hỏi)

 

      Đáp: Kinh T Thập Nh Chương câu: Phạn phàm nhân bách, bất như phạn nhất thiện nhân” (đăi ăn một trăm người phàm, chẳng bằng đăi ăn một người lành). Lần lượt theo th tự, tới “phạn tŕ Ngũ Giới giả vạn nhân, bất như phạn nhất Tu Đà Hoàn” (đăi ăn một vạn người tŕ Ngũ Giới, chẳng bằng đăi ăn một v Tu Đà Hoàn). Cao hơn nữa là “phạn A Na Hàm nhất ức, bất như phạn nhất A La Hán” (đăi ăn một ức A Na Hàm, chẳng bằng đăi ăn một v A La Hán). Lời ấy nhằm dạy: Do thí cơm cho người khác, nên có th đạt được công đức như thế! Các đệ tử của đức Thế Tôn, nếu chẳng phải là A La Hán th́ cũng đă chứng ba qu trước đó, dân chúng cúng dường cơm bèn đạt được phước báo. C suy theo kinh, liền biết [phước báo ấy to lớn đến đâu]!

 

      * Hỏi: Ch nói riêng trong tỉnh Đài Loan, hiện thời Phật giáo rất hưng thịnh. mọi ngơ ngách, chùa cũ được tu bổ, hoặc chùa mới dựng, mỗi năm một tăng, nhưng trong dân chúng khắp mọi nơi, nghe thấy những lời l l lùng, đa s nói: “Gần đây, sao có lắm k xuất gia đi hóa duyên ngần ấy?” Mong lăo sĩ thiện giải ch dạy! (Hoàng Mễ Điền hỏi)

     

      Đáp: Lời ông hỏi ư nghĩa chẳng rơ ràng! “Thiện giải” là nói v phương diện nào? Nếu tôi thốt lời bừa băi, s chẳng khế cơ, nên đành để lại đó, sau này mới lại bàn tới th́ cũng chẳng muộn!

 

      Hỏi: Sau khi liễu thoát sanh tử th́ có ĺa vật hay không? Có ĺa thần hay không? Theo tư tưởng Phật giáo, đương nhiên chẳng phải là vật, mà cũng chẳng phải là thần, nhưng Pháp Tánh chẳng phải là thần hay vật, chẳng th nghĩ bàn lại do đâu mà có? (ngoại giáo quy kết v Đại T Nhiên Thần Ngă, chẳng hợp lư!) (Trần Tâm Bồi hỏi)

 

      Đáp: “Bất sanh, bất diệt; vô thỉ, vô chung”. Nếu đại đức c khăng khăng hỏi “t đâu mà có”, th́ hai câu trên đây là Thánh Giáo Lượng. Nếu chẳng hiểu, chẳng tin, c muốn hỏi [Pháp Tánh] xuất phát t đâu th́ ch có cách hỏi đức Như Lai.

 

      * Hỏi: Tu hành có điểm kết thúc hay không? Hễ có mục đích tức là chấp trước. Không có mục đích th́ lại là mê. Gi s và Không đều chẳng có th́ sự tu hành ấy lại chẳng thành lập. Có hành hay không hành đều là trụ, mà tr th́ chẳng có tiến b được! (Trần Tâm Bồi hỏi)

 

      Đáp: A La Hán gọi là Vô Học, đóđiểm kết thúc của Tiểu Thừa. Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác Vô Học,điểm kết thúc của Đại Thừa “Bất tận hữu vi, bất trụ vi” là Thánh Giáo Lượng. “Bất tận hữu vi có th nói miễn cưỡng là “có mục đích” ; “bất trụ vô vi” là chẳng chấp, chẳng trụ. “Tâm chẳng trụ pháp mà hành bố thí”, hành bố thí là mục đích, chẳng tr pháp là Thể Không, có mâu thuẫn? Câu “chẳng nhận biết rơ vạch khắc trên cán cân, toàn bộ việc cân đong bị rối tung” chính là nói v chuyện này vậy!

 

      * Hỏi: Có thể chứng minh hay không? Nếu chẳng thể chứng minh, vậy chẳng thể kết thúc. Đương nhiên, khi Phật giáo đồ tranh luận cùng nhau, nếu có chứng c th́ đương nhiên có th trao đổi, nhưng trong cái “có thể trao đổi ấy”, cái nhân (Biến Kế và Y Tha) của nó lại là chẳng th được! Lại nữa, trong s chẳng nghĩ bàn (bất kh tư nghị) của cáichẳng thể được ấy” (bất kh đắc), làm sao có th chứng minh được! (Trần Tâm Bồi hỏi)

 

      Đáp: Lạ thay! Lạ thay! Hết thảy chúng sanh đều trọn đủ trí huệ và đức tướng của Như Lai”. Đấy là đức Thế Tôn đă đưa ra chứng cứ, vẫn chẳng tin tưởng, kẻ khác há th múa mép [để thuyết phục kẻ khăng khăng chẳng tin tưởng lời Phật dạy ư]? Phật giáo đồ tranh luận với nhau, ch có cách dựa trên lời dạy của đức Thế Tôn để biện luận. “Bất khả đắc” là v́ bọn phàm phu chúng ta vọng tưởng, chấp trước đă ḥa thành một khối, nên cách biệt điều này c vạn qu núi, đúng chẳng th được. C sao Chứng Đạo Ca có câu “đắc được ǵ?”, c sao Đàn Kinh chép: “Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, chính là lúc nào?” Ngôn ng chẳng th biểu đạt điều này; tư duy, so lường chẳng th hiển lộ được, nên nói “chỉ có chứng th́ mới biết”.

 

      * Hỏi: Liễu thoát có phải là t tu, tự đắc, tự biết? Nếu là như vậy, t sư truyền cho nhau như thế nào? (Trần Tâm Bồi hỏi)

 

      Đáp: Những điều ttruyền dạy là pháp phương tiện, pháp ấy chẳng ngoài “tr b phàm t́nh” mà thôi, tâm tánh vẫn phải là t thấy rơ ràng, bất quá [hành nhân tu tập đă đạt] đến một mức độ công phu kha khá th́ [v thầy hay tổ] bèn làm tăng thượng duyên [giúp cho ngườiy t khai ngộ], há có phải là từng mâm, từng chén, tay này đưa cho tay kia đỡ lấy ư?

 

      * Hỏi: Mong lăo cư sĩ hăy biểu hiện tư tưởng căn bản của Phật giáo th́ đúng là mạt học rất may mắn, mà chúng sanh cũng rất may mắn. Hậu học tin Phật đă nhiều năm, đối với chuyện l Phật tĩnh tọa cũng có kinh nghiệm đôi chút, hiềm rằng đối với câu “chánh tín” và tịnh tín chưa thật sự đạt được, nên thường nẩy sanh nghi hoặc, gây chướng ngại không chi to bằng! (Trần Tâm Bồi hỏi)

      Đáp: Tam Tạng mười hai phần giáo rạng r trong cơi đời mà [ông] vẫn [cảm thấy] chưa đủ ư? Thiền, Tịnh, Mật, Luật, xưa nay người nương theo đó mà thành tựu, đâu phải ch là ngàn vạn, há chẳng phải căn bản ư? Hăy nên biết: Hiện thời dẫu cùng lúc xuất hiện một vạn v Phật th́ các Ngài thuyết pháp vẫn như thế. Nếu ĺa khỏi điều này, nói tới chuyện khác, th́ đó là ma ngữ! Đại đức ơi! K hèn này mạo muội dâng lên một lời: Học v tâm tánh, ắt phải được bậc tông tượng chỉ điểm. Nếu không, cũng có th nghiên cứu, t́m ṭi dựa trên văn tự, có lẽ cũng có th uốn nắn chánh tri kiến. Mong được th dụng mấy phần th́ cũng phải cậy vào mấy phần công phu! Nếu chẳng có đồng bạn, kiến thức ít ỏi, chẳng thông đạt văn nghĩa, t ḿnh ṃ mẫm trong chốn tối tăm, vớt trăng nơi đáy giếng th́ không ch là chẳng th minh tâm kiến tánh, mà muốn đạt được mấy phần tin tức, e rằng cũng phải tới năm nảo, năm nao!

 

      * Hỏi: Tôi thường mang sách Phật đến trường tụng niệm, thường bị bạn học cười nhạo, dụng ư [của những k ấy] ch nào? Lại phải nên giải quyết ra sao? (Trần Đăng Phùng hỏi)

 

      Đáp: Pháp luật có văn bản rơ ràng quy định t do tín ngưỡng tôn giáo ràng, tin tưởng hay không ắt tùy ư mỗi người. K không tin t nhiên nghe nói tới đạo bèn cười cợt, cũng chẳng có dụng ư ǵ, c nhiên chẳng đáng quan tâm! Hăy nên biết: Phật pháp như gỗ Chiên Đàn, đội lên đầu hay giày xéo dưới chân, đều nhiễm phải mùi thơm. Ch nên dùng Phật pháp để dạy người khác là được rồi, c̣n người ta gi thái độ như thế nào, chẳng cần bận tâm!

 

      * Hỏi: Tôi cung kính đọc cuốn “Ngũ Thừa Phật Pháp Và Văn Hóa Trung Quốc” của đại cư sĩ Châu Kính Trụ, nơi trang tám mươi tám, phần giảng v Tinh Tấn có nói: Thích Ca Mâu Ni Phật do tinh tấn nên rốt cuộc thành Chánh Giác trước Di Lặc Bồ Tát”, chẳng biết s tích ấy là như thế nào? [Chuyện ấy] được chép trong kinh điển nào? (Lữu Mậu Thịnh hỏi)

 

      Đáp: Chuyện ấy được chép trong quyển thượng kinh Bồ Tát Bổn Hạnh. Do kinh văn dài nên làm sao có th trích lục đầy đủ [trong cột báo này] cho được! Muốn biết tường tận, ông có th hỏi mượn người kinh ấy để đọc. Tại Đài Loan, người thâu thập Đại Tạng Kinh thật nhiều. Kinh ấy thuộc v Bổn Duyên B[2] [trong Đại Tạng Kinh].

      * Hỏi: Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”, xin hăy dạy cho biết “cái nhân” của hàng Bồ Tát nói v điều ǵ? (Lữu Mậu Thịnh hỏi)

 

      Đáp: Nhân là động cơ (motivation) và khởi đầu của s việc, Qu là sự kết thúc và th báo của s việc. Nay đang sống trong kh sở, ách nạn, đó là qu báo. Phàm phu si mê, [đến khi] thân lănh chịu [qu báo] mới nhận biết, đó gọi là “s qu”. Tuy sợ, cũng chẳng ích ǵ! Tội ác đă tạo trước kia là nguyên nhân. Bồ Tát có trí, thấy khởi đầu liền biết kết cục. Đó gọi là “s nhân. Do s nên chẳng tạo [nhân gây ra ác quả] nữa!

 

      * Hỏi: q tôi, Nhất Quán Đạo thịnh hành. Đó gọi là “thời kỳ Mạt Pháp, buôn bán Như Lai, tuyên thuyết khai thị dường như Chánh Pháp, nơi nơi đều có”,  khiến cho người ta cảm khái muôn vàn, thậm chí k giống như người xuất gia qua lại giao du cùng họ. Văn bối thuộc lứa tuổi thanh niên, nhưng hiểu biết Phật pháp đôi chút, trong ḷng chẳng nỡ, xin hăy dạy cho biết: Đối với những v pháp sư ấy, nên làm như thế nào? (Lữu Mậu Thịnh hỏi)

 

      Đáp: Chữ “pháp sư” trong lời ông hỏi là nói v tu sĩ Nhất Quán Đạo hay là nói v những người giống như kẻ xuất gia? Hai hạng ngườiy đều không phải là pháp sư, không nên dùng tôn hiệu [pháp sư] để tùy tiện gọi họ! Nói tới chuyện “buôn bán Như Lai”, c nhiên là tội lỗi, nhưng bọn h vẫn chưa có đủ tư cách đă nhận lănh tiếng xấu ấy! C̣n nóiđối phó với h như thế nào” th́ nếu có sức cảm hóa, bèn khuyên h cải tà quy chánh. Nếu t xét ḿnh chẳng có sức, trời đất mênh mông, sao lại chẳng dung, c để mặc họ, chẳng quan tâm tới mà thôi!

 

      * Hỏi: Có bà c già xa nhà tôi trong xóm, thường xuyên hỏi tôi v kinh Phật. Bà c th DượcPhật, tôi thường giảng cho c nghe v kinh Di Dà và pháp môn Tây Phương Tịnh Độ, [như vậy th́] có phạm lỗikhách ồn ào lấn át ch” hay không? (Lữu Mậu Thịnh hỏi)

 

      Đáp: Bà c ấy tuy th tượng DượcPhật, chắc là cũng chẳng hiểu lư, chưa tu pháp ấy. Giảng cho bà ta nghe v Di Đà, chính là dạy bà ta vượt thoát luân hồi, liễu thoát sanh tử, hoàn toàn chẳng có ǵ là không nên!

 

      * Hỏi: Bán kính của địa cầu là sáu ngàn ba trăm năm mươi cây số, v́ sao kinh nói chúng ta là “bạc địa phàm phu”?[3] (Trần Đăng Phùng hỏi)

 

      Đáp: Kích thước địa cầu nếu hoán đổi theo đơn v đo lường th́ xưa nay, trong ngoài nước, trọn chẳng thống nhất. Kinh Phật s trắc lượng hiện thời [do đó] cũng chẳng phù hợp!

 

      * Hỏi: Ngày Phật Đản là ngày mồng Tám tháng Tư nông lịch (âm lịch), v́ sao nước ta khánh chúc nhằm ngày mồng Tám tháng Tư quốc lịch (dương lịch), có phải là sai lầm hay không? (Trần Đăng Phùng hỏi)

 

      Đáp: Đấy là nhằm thích ứng với quốc lịch, là biện pháp dung thông.

 

      * Hỏi: Th gi của Địa Tạng Bồ Tát ai? (Trần Đăng Phùng hỏi)

 

      Đáp: Người mang h́nh tướng xuất gia là ḥa thượng Đạo Minh; c già tại gia là b của ḥa thượng Đạo Minh, tức Mân lăo cư sĩ[4].

 

      * Hỏi: Có sắp m lớp Phật Học Hàm Th hay không? (Trần Đăng Phùng hỏi)

 

      Đáp: Đại khái là năm nay tôi không d định m lớp.

 

      * Hỏi: Học nhân k t khi quy y Tam Bảo đến nay đă tham d l k niệm thánh đản đức Phật hai lần. Địa điểm lần đầu là Nghi Lan, thời gian nhằm ngày mồng Tám tháng Tư âm lịch năm Dân Quốc 50 (1961). Lần sau tại tân công viên của thành ph Đài Bắc, tức ngày mồng Tám tháng Tư dương lịch năm nay. C sao ngày tháng k niệm khánh chúc một v thần thánh vĩ đại trong đạo chúng ta trọn chẳng thống nhất, đúng là tạo c cho người ngoài chê cười! Có th kiến ngh hội Phật Giáo Trung Quốc thông cáo các nơi c hành [l Phật Đản] thống nhất hay không? Kính xin hăy dạy cho! (Liêu Thanh Hoa hỏi)

      Đáp: Hiện thời đối với chuyện c hành l Phật Đản, đă h́nh thành hai lượt [k niệm] theo quy định chung và riêng biệt. Theo luật định th́ lấy ngày mồng Tám tháng Tư dương lịch để c hành, do hội Phật Giáo lănh đạo. Riêng biệt th́ lấy ngày mồng Tám tháng Tư âm lịch do các chùa t do c hành. Chuyện này cũng giống như ăn Tết. Ăn mừng Tết Dương Lịch là chuyện tiến hành riêng tư, trong mỗi cơ cấu hay đoàn th s tiến hành [ăn mừng hay không], c̣n ăn mừng Tết Âm Lịch th́ là công khai, toàn th nhân dân đều ăn mừng. Dường như chẳng thống nhất, nhưng thật ra là thống nhất. Đă c hành theo c âm lịch lẫn dương lịch th́ chẳng th có ǵ đáng để chê cười cả!

 

      * Hỏi: Phần đông nhân sĩ trong xă hội hiểu lầm Phật giáo đến nỗi gây ảnh hưởng thật lớn đối với chuyện hoằng pháp. H thường đem những chuyện “quái lực, loạn thần” trong thần đạo[5] đổ lên đầu Phật giáo. Chẳng hạn như đối với sự kiện Trương Ngọc Cô[6] trong quá khứ, tín đồ Cơ Đốc Giáo bèn tuyên truyền là Phật pháp mê tín đến nỗi chết người, mặc sức công kích. Thậm chí các sách báo cũng đem những s kiện như Thành Hoàng, thần tài, Vương Gia, cầu phước, cầu tài choàng vào đầu Phật giáo, đúng là  khiến cho người ta đau ḷng. V́ h giáo, hoằng pháp, có nên in nhiều tập sách nh tuyên truyền (loại b túi) dùng h́nh thức vấn đáp bằng văn t thông tục để giới thiệu Phật giáo với đại chúng hay không? (Liêu Thanh Hoa hỏi)

 

      Đáp: Những điều ông nói cũng chẳng phải là không nên, nhưng những s phân tích như vậy trong các tạp chí Phật học cũng thường tuyên truyền. K chẳng đọc sách hoặc c ư vặn vẹo, có thấy th́ cũng như chẳng thấy. Đài Loan có ph biến các cuốn Ám L Ch Quy và Ám L Minh Đăng là những tập sách nh phân tích [những ǵ là] Phật giáo hay chẳng phải Phật giáo.

 

      * Hỏi: Cơ Đốc Giáo truyền giáo đúng là phiền phức khôn xiết! Tuy tôi thường nói rơ ḿnh là tín đồ Phật giáo, nhưng bọn h c bâu lấy tôi ầm ĩ, lải nhải truyền đạo chẳng ngớt. một lần, có một tín đồ tôn giáo khác thấy tôi ương bướng, bèn v́ tôi cầu nguyện, qu ngay hai gối xuống đất, miệng khấn nguyện liên tiếp. Chưa đầy một phút, toàn thân hắn bỗng nhiên giật đùng đùng giống như lên cơn kinh phong, tôi tưởng là có chuyện ngoài ư muốn xảy ra, kinh hoảng muôn phần. Sau đó hỏi tới th́ hắn nói là do Thánh Linh của Thượng Đế giáng xuống thân! Đúng là khiến cho người khác d khóc, d cười, giống như chuyện mê tín, chẳng th tránh né được, chẳng th căi lẫy, chẳng biết phải làm như thế nào mới nên! Xin hăy dạy cho tôi kế sách đối phó! (Liêu Thanh Hoa hỏi)

 

      Đáp: Nếu h x s l phép th́ ta l độ t tạ, bảo h mỗi người chí riêng, pháp luật quy định t do tín ngưỡng tôn giáo. Tam quân có th cướp tướng, ch thất phu chẳng th đoạt chí. Nếu h thiếu học thức, chẳng hiểu Lư, c cưỡng ép, gây khó dễ, bèn dùng S để c tuyệt, hoặc là im lặng, chẳng đoái hoài, hoặc tránh né chẳng gặp, tùy cơ ứng phó, há có cách nhất định!

 

      * Hỏi: Do T Thánh Đế mà tu chứng T Qu th́ tột bậc là A La Hán. Do tu chứng Thập Nh Nhân Duyên mà thành Độc Giác Phật (Bích Chi Phật). Tu Bồ Tát pháp bèn chẳng trải qua hai địa v trên đây, có th t Thập Trụ, Thập Địa lên thẳng địa v Phật, chẳng cần phải tu chứng T Quả; nhưng chư đệ tử của đấng Thích Tôn đều thị hiện chứng quả A La Hán, chẳng rơ ư nghĩa uyên áo ch nào? (Kẻ ngoài cửa hỏi)

 

      Đáp: Căn khí của chúng sanh không đồng nhất, nên đức Phật chia ra  ngũ thừa phương tiện. Nếu ch nói một thừa, chẳng thể phổ độ. Bồ Tát tuy tu lục độ, vạn hạnh, nhưng cũng hiểu sâu xa T Đế, Thập Nh Nhân Duyên. Tuy La Hán t giải thoát cho riêng ḿnh, vẫn khuyên h hồi Tiểu hướng Đại, tấn tu Phật quả.

 

      * Hỏi: A La Hán là cực quả trong Tiểu Thừa; mà có th tu Phật quả của Đại Thừa ư? Đại A La Hán” có phải là nói những v La Hán b Tiểu Thừa hướng v Đại Thừa hay không? Rốt cuộc có mấy loại A La Hán? (kẻ ngoài cửa hỏi)

 

      Đáp: Đối với Đại Thừa Phật pháp, chỉ cần chịu phát tâm, bất luận ai cũng đều có thể tu được, huống hồ La Hán! Đại A La Hán chính Bồ Tát, do bên trong ẩn tàng bổn hạnh nên th hiện làm căn cơ nh nhoi, hướng v đức Phật hỏi đáp, nhằm tạo lợi ích cho những người khác. Đại A La Hán trọn chẳng phải là nói tới những v b Tiểu Thừa, hướng theo Đại Thừa. Đă hướng v Đại Thừa, bèn chính là Bồ Tát, sao c̣n gọi là La Hán cho được? C̣n như hỏi mấy loại th́ ch có một, không hai. Trong kinh tuy có nói “Ly Dục Đệ Nhất” và kể kèm thêm những danh xưng khác, bất quá là nói theo tướng, chứ luận theo tánh bèn chẳng có phân biệt. như núi đá, mùa Xuân gọi là Tiếu (), mùa Hạ gọi là Trích (), mùa Thu gọi là Trang (), mùa Đông gọi là Thụy (), đều là đặt theo h́nh tướng, chứ thật ra vẫn là núi đá mà thôi!

 

      Hỏi: Chư Phật nhập rốt ráo Niết Bàn là một, hay là khác? Nói theo lư tưởng th́ phải nên một (tức là toàn th vô phân biệt như nước ḥa vào biển cả). Nếu như vậy th́ vô minh dấy động, chư Phật cũng có quan h liên đới. trụ do các nghiệp cùng hợp thành, chư Phật cũng có một phần trong ấy! (kẻ ngoài cửa hỏi)

 

      Đáp: Chư Phật Niết Bàn như vầng trăng sáng ngời giữa trời biếc, chúng sanh vô minh như mây dầy, mưa gió. Th hỏi mây dầy, mưa giótrở ngại trời biếc, trăng sáng hay không? Lại nêu một thí d nữa, Giáp và Ất cùng nằm trên một giường, Giáp và Ất cùng chia s chiếc giường ấy, nhưng Giáp ng chẳng mộng m ǵ, mà Ất mộng thấy cảnh ác. Vậy th́ đối với ác mộng của Ất, Giáp cũng có phần ư?

 

      * Hỏi: Như Lai như như bất động, đi như chẳng đi, đến như chẳng đến”. Sách Phật giải thích [ch Như Lai] như vậy, người chưa thông pháp nghĩa rất khó thấu hiểu. Nếu dùng [ư nghĩa] “trừ vọng, trở về chân, khôi phục Phật tánh” để nói th́ có phải là nghĩa “như Ngă tự lai” hay chăng? (kẻ ngoài cửa hỏi)

 

      Đáp: Cổ đức chú giải hai ch này có rườm rà và đơn giản [khác biệt], tùy thuộc Th Dụng của một b kinh nào đó, mà có s vận dụng văn t khéo léo [để giải thích chi tiết hay đại lược]. Muốn biết đại khái, th tra từ điển, ch chẳng tiện sao lục trong cột báo này. Nay tôi kính đáp bằng cách nông cạn, đơn giản nhất: Tánh gọi là Chân Như. Chân là chẳng sanh, chẳng diệt. Như là thường hằng, bất biến. Luận theo Tánh, há có đến, đi? Chữ Tướng ch sắc thân, sắc huyễn là h́nh, thân là duyên sanh, đó là nói theo Tướng, nên bảo là có đến và đi.

 

      * Hỏi: Xin hăy dạy ch tu tập ḥng có th chứng Định, Huệ và Thiền. Nếu là bậc từng trải, ắt trong khi tu tập s có th nói cho người khác biết [những ch ấy] rơ rệt, rành mạch nhất. Hậu học cho rằng: Định mà chẳng phát Hu th́ thành tựu hữu hạn, có thể nói là chẳng bằng ngoại đạo. Tịnh Độ Tông niệm Phật đạt tới nhất tâm bất loạn th́ định lực đă đạt tới tŕnh độ phát huệ, cho nên được văng sanh đấy chăng? (kẻ ngoài cửa hỏi)

 

      Đáp: Ông nêu lên ba điều, nhưng thật ra ch là Định và Huệ, v́ Thiền pháp cũng là Định. Pháp để cầu Định chẳng ngoài Ch Quán; Thiền, Tịnh, Mật, Luật là bốn giềng mối chính, nhưng mỗi giềng mối đều chia thành nhiều mục nh nhặt. Pháp để cầu Huệ chẳng ngoài Văn, Tư, Tu, bốn pháp Giáo, Lư, Hành, Tham. Các pháp cũng có những chi tiết. Người tu phải chú trọng cân bằng Định và Huệ, ch có k hành chẳng đúng pháp, lệch v Định hay Hu [là thua sút, ch đối với những người Định Hu cân bằng, s tu tập ấy] đều là chánh nhân, rốt cuộc vẫn trỗi vượt ngoại đạo. Tịnh Độ Tông thích hợp khắp ba căn. Người khai hu văng sanh thượng phẩm, k chưa khai hu văng sanh trong hphẩm. V́ thế, kinh Di Đà ch nói đến “nhất tâm”, c̣n các nghĩa khác để cho hành gi t lo liệu!

 

      Hỏi: Thiền Tông kiến tánh thành Phật và Mật Tông thành Phật ngay trong đời này (tức thân thành Phật), những v Phật ấy khác hay giống với Phật Thích Ca và Phật Di Đà? Hậu học cho rằng: [Xét theo phương diện] nguyện hạnh viên măn th́ có sai khác, nên Phật đẳng cấp [khác nhau]! Vậy th́ các v đại đức nhà Thiền, nhà Mật có nghĩ như vậy hay không? Lại nữa, tâm pháp “chẳng lập văn tự” được gọi là Thiền Tông dường như có chút miễn cưỡng, chẳng viên dung bằng “giáo ngoại biệt truyền. Tâm pháp có phải là do cậy vào tu tập mà thành ư? (kẻ ngoài cửa hỏi)

 

      Đáp: “Kiến tánh thành Phật” là nói “tự tánh hiển lộ”, Phật giác! Tánh Bổn Giác, t mê đạt đến ng là Th Giác, công phu tăng tấn theo th t nên gọi là Tùy Phần Giác, đạt tới viên măn cực quả bèn gọi là Cứu Cánh Giác. Thành Phật ngay trong đời này” chính là lúc tu pháp, tam mật tương ứng, quán [chính ḿnh] tr thành Bổn Tôn. Khoan nói tới bậc đại đức thường trong Định, ch học nhân thông thường h xuất Quán th́ vẫn là phàm phu! Thích Ca và Di Đà đều là Cứu Cánh Giác, thường trụ Tịch Quang, những v giống như Di Lặc trước thu vị lai [giáng sanh thành Phật] đều chẳng th sánh bằng. Ngoài ra, c̣n có những thuyết Tạng, Thông, Biệt, Viên, nên cũng là [các địa v Phật] khác nhau! Thiền Tông chẳng lập văn tự chính là [phương tiện] quyền xảo nhất thời, trọn chẳng phải là nói năng tùy tiện, tu loạn x chẳng có đầu mối! Ắt phải trải qua [s ch dạy của] bậc danh sư, được hướng dẫn phù hợp mà khai ngộ. Ng là kiến đạo. Sau khi kiến đạo bèn tu đạo, nên mới chẳng đâm quàng vào ngơ hẻm của đường rẽ! Đă kiến tánh rồi th́ mới nghiên cứu giáo pháp, nên mới khế hợp thật nghĩa của Như Lai. Sự tu học này ắt phải kh công giống như mèo bắt chuột, như gà ấp trứng. Lại phải như chôn cất cha mẹ, hao tổn tinh thần to lớn một phen. Mỗi pháp môn có tông thừa và gia phong riêng biệt, trọn chẳng phải là đóng cửa chế tạo xe, người ḷa, ngựa mù! Ch nên ch thấy mấy k thuộc loại chồn hoang ch Thiền có cái miệng mà bảo là Thiền Tông như thế này, thế nọ! [Nếu chấp những k ấy đang tu Thiền], tức là lầm lẫn to lớn vậy!

 

      * Hỏi: Đức Thích Ca giáng h thế giới Sa Bà này hơn tám ngàn lần, chẳng biết Ngài đă giáng sanh trong cơi này bao nhiêu lần? Giáng h Trung Quốc mấy lần? Những thân ứng hóa của Ngài đều có th khảo chứng hay chăng? (kẻ ngoài cửa hỏi)

     

      Đáp: Kẻ hèn này chưa từng v́ câu hỏi này mà tra duyệt khắp Đại Tạng, ch có th đáp là “không biết”.

 

      * Hỏi: Vạn pháp do nhân duyên sanh; Phật, Bồ Tát độ đời cũng chẳng rời khỏi nguyên tắc này. Chứng c là các đệ t của đức Phật Thích Ca đều thành A La Hán. V tôn gi n ch biết niệm ch “chổi lau” [mà vẫn thành tựu], nên biết duyên hành pháp lực của đức Phật biên. Nay đang thời Mạt Pháp, chúng sanh cầu đắc độ, há chẳng phải là đă khó khăn lại càng khó khăn hơn ư? Trong thời k Mạt Pháp,Phật, Bồ Tát ḷng t bi đối với  chúng sanh mà riêng hoằng dương một pháp môn rộng độ chúng sanh hay không? (kẻ ngoài cửa hỏi)

 

      Đáp: Cổ đức nói: “Thời kỳ Chánh Pháp, Giới Luật thành tựu. Thời kỳ Tượng Pháp, Thiền thành tựu. Thời kỳ Mạt Pháp, Tịnh thành tựu”. Phật, Bồ Tát có cảm ắt ứng, tùy thời hiện thân, hóa độ chúng sanh, nhưng bọn ta chướng nặng, dẫu gặp g mà b lỡ, thật đáng buồn! Pháp môn Tịnh Độ được gọi là mônđại đạo”, tức là một pháp môn riêng biệt ngoài tám vạn bốn ngàn pháp môn, cần ǵ phải cầu pháp nào khác nữa!

 

      * Hỏi: B thí chú trọng tam luân thể không, nhưng hồi hướng công đức về Bồ Đề đạo và chúng sanh th́ có rớt vào chấp tướng hay không? Bởi lẽ, hồi hướng ắt có ba tướng là ta, công đức và đối phương! (Lâm Huệ Minh hỏi)

 

      Đáp: Trong cửa nhà Phật, nói Lư nhưng chẳng phế Sự, nói S nhưng chẳng phế Lư. Tam luân thể không là Lư, hồi hướng là Sự. Kẻ học cạn, hiểu sơ sài, t dùng hồi hướng làm phương tiện. Bậc học lâu, thâm nhập sâu xa, s t khế nhập, tr v Th Không chân thật. Công đức của chúng ta là tướng, hồi hướng là chấp tướng, tam luân th không cũng là tướng. H có ư niệm th́ cũng là chấp tướng, vậy th́ phải nên như thế nào mới được? Đáp: Chẳng tr vô vi, chẳng tận hữu vi, cũng chẳng hồi hướng, cũng chẳng niệm Không, th́ s có th gần [đạt được b thí tam luân th không] vậy!

 

      * Hỏi: Tôi thường thấy người bệnh nặng, hết sức mong mỏi thay h cầu đảo Phật, Bồ Tát gia bị, khiến cho họ bệnh kh tiêu tr tăng trưởng chánh tín, nhưng lại s đạo lực mỏng ít, chưa đạt được cảm ứng, lại ngược ngạo khiến cho chúng sanh nghi hoặc thần lực của Phật, Bồ Tát; chẳng biết lúc b́nh thời phải tu pháp nào, mang tấm ḷng như thế nào th́ gặp chuyện mới có th đạt được cảm ứng? (Lâm Huệ Minh hỏi)

 

      Đáp: Phàm là kẻ bị bệnh khổ đều là do oan nghiệt đời trước. Qu đă chín muồi, tuy phát tâm sám hối, e rằng đă trễ, huống h k ấy chẳng t hối ư? Người khác thay cho k ấy sám hối, vẫn là do ḷng t bi của người sám hối, ắt có công đức, nhưng người sám hối được hưởng nhiều phần, k được sám hối thay ch hưởng ít phần! Vẫn cần phải do người được k khác sám hối giùm có tín tâm, sanh ḷng h thẹn; nếu không, dẫu chút phần cũng chẳng được cảm ứng! Phàm những ǵ thuộc v Phật pháp đều có sức mạnh, chẳng cần phải phân biệt. Càng phải nên biết Phật pháp chẳng thể nghĩ bàn, nghiệp lực cũng chẳng th nghĩ bàn! Pháp lực thắng nghiệp lực th́ nghiệp có th tiêu. Nghiệp lực thắng pháp lực, ắt nghiệp chẳng tiêu!

 

      * Hỏi: Đạo Chung Khải Minh, Khổng Tử, Đẩu Tinh Thánh Tượng Tập có phải là sách ngoại đạo hay không? (Trần Đăng Phùng hỏi)

 

      Đáp: Sách Đạo Chung Khải Minh tôi chưa từng xem. Nh́n vào tựa đề [th́ thấy] văn t và nghĩa lư chẳng thông suốt, ắt có th suy ra nội dung như thế nào! Đối với sách Khổng Tử, tôi đă học tập t nhỏ, nhưng trong Lục Kinh cũng chẳng thấy nói đến chuyện thánh tượng của Đẩu Tinh! Trong mục lục kinh tạng nhà Phật cũng không có tựa sách ấy. Sách ấy chẳng dính dáng ǵ đến Phật Nho!

 

      * Hỏi: Nghe nói cầu cơ cũng Phật Tổ giáng đàn ch dạy, nên tôi nghĩ cầu cơ cũng là Phật giáo, có sai hay không? (Trần Đăng Phùng hỏi)

 

      Đáp: Đàn pḥ loan (cầu cơ) là một th do thần đạo bày ra, chẳng dính dáng ǵ đến Phật giáo! Cái gọi là “sắc ch của Phật” do bọn hầu đàn gi tạo, hoặc do linh qu giả mạo bịa đặt. Những lời l xuất phát t đàn cầu cơ, người thông hiểu Phật học đôi chút đều có th phân biệt [d dàng]. Cư sĩ ch nên chẳng phân biệt rơ đen trắng!

 

      * Hỏi: Nghe nói: “Người đă chết, h có tội bèn vào địa ngục th báo, k vô tội liền văng sanh”, nhưng thường nghe người ta nói ở ch nào đó, chính mắt họ thấy qu ǵ đó. Do đâu mà có chuyện “ở ch nào đó, chính mắt thấy qu ǵ đó? (Lâm Diễm hỏi)

 

      Đáp: Lời ấy lầm lẫn quá đỗi! Hai ch văng sanh” là nói đến chuyện sanh v thế giới Cực Lạc. Không ch k vô tội chẳng th sanh v đó, mà ngay c bậc đại thiện đại đức [nếu không phát nguyện văng sanh] cũng chẳng th sanh v đó được! Ch có người thường niệm A Di Đà Phật đạt đến nhất tâm th́ mới có th sanh v đó. Trong kinh Di Đà đă dạy rất rơ, ắt phải tin tưởng. Nói tới chuyện vào địa ngục th́ cũng chẳng đơn giản như vậy! Trong thế giới khổ s này, có sáu giới tuyến, tức là thiên, nhân, tu-la, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục, được gọi làlục đạo luân hồi”, sống sống chết chết, vĩnh viễn luân chuyển trong ṿng kh sở. Người khi c̣n sống niệm Phật, [sau khi chết] chẳng tr vào đó, văng sanh Cực Lạc. K chẳng biết niệm Phật, chết đi bèn tùy theo [nghiệp đă tạo là] thiện hay ác mà vào lục đạo.

 

      * Hỏi: Sau khi cha m tôi đă khuất, tôi nghĩ nhớ, hoài niệm họ, có lúc nh nhung quá bèn dâng hương trước linh v của họ, cầu khẩn h cho tôi đêm nằm mộng thấy, nhưng trọn chưa từng mộng thấy. Như vậy th́ có l chẳng có qu đạo ư? (Lâm Tú Diễm hỏi)

 

      Đáp: Con người sau khi đă chết, chẳng biết s vào đường nào trong lục đạo. Nếu thuộc vào quỷ đạo th́ có th cảm vời, chứ trong những đường khác, họ đều chẳng th đến được! Nghĩ tưởng mộng thấy, đúng là chẳng có ích ǵ! Chẳng bằng niệm Phật, chúc phước cho người thân, cầu h siêu thăng.

 

      * Hỏi: Có phải nguyên nhân là v́ tôi t trước đến nay ng chưa h nằm mộng hay chăng? (Lâm Tú Diễm hỏi)

 

      Đáp: Trong câu trước đă nói rơ rồi, chẳng cần phải rườm lời nữa!

 

      * Hỏi: Nghiên cứu Phật học, nên bắt đầu bằng việc đọc loại sách nào? (Lư Mậu Hồng hỏi)

       

      Đáp: Phật học bao hàm thành phần triết học rất nhiều, lại có các th thuật ng và các học phái [khác biệt]. Lúc khởi đầu, nên xem các tập sách nh v khái luận và thường thức để hiểu đại lược, sau đấy tiến cao hơn là nghiên cứu kinh th́ s biết đường nẻo.

      (Ph chú: T xă kính tặng mấy tập sách nhỏ, xin hăy thâu nhận).

 

      * Hỏi: Chẳng màng thắp hương, lạy Phật, niệm kinh, chỉ cầu nghiên cứu sách v Phật giáo tuân hành giáo điều trong Phật giáo th́ có th coi là giáo đồ nhà Phật hay không? (Lư Mậu Hồng hỏi)

 

      Đáp: Tŕnh t học Phật có bốn [giai đoạn] là Tín, Giải, Hành, Chứng. Nếu là người th thắp hương, l Phật, niệm kinh th́ là Tín. Người nghiên cứu giáo điển là Giải. Tuân th giáo điều để hành theo là Hành. Người th làm như vậy th́ là giáo đồ chân thật trong nhà Phật, v sau ắt thành tựu nhanh chóng. Thành tựu chính là Chứng.

 

      Hỏi: Phật giáo đồ trừ nghiên cứu giáo nghĩa Phật giáo ra, v́ sao c̣n phải thắp hương, lạy thần, và niệm kinh? Như vậy th́ chẳng phải biến thành mê tín hay sao? (Lư Mậu Hồng hỏi)

 

      Đáp: Tín đồ Phật giáo trọn chẳng sùng bái quỷ thần. Dâng hương cũng ch là biểu th ḷng cung kính đối với đức Phật. Niệm kinh bèn có nhiều loại khác nhau: Một là giáo nghĩa được chép trong kinh, chẳng niệm làm sao có th hiểu? Hai là công phu tu tập của Phật giáo là Giới, Định, Huệ. Niệm kinh là một cách để cầu Định. Người hiểu điều này th́ thắp hương, niệm kinh, nhưng chẳng tín. K không biết điều này, mong cầu phước báo th́ chẳng tránh khỏi mê tín!

 

      * Hỏi: La Hán mấy loại, cũng có phân biệt hay chăng? (kẻ ngoài cửa hỏi)

 

      Đáp: Điều này trong lời hỏi lần trước của Ngài, trong câu th hai đă đáp cặn k rồi!

 

      * Hỏi: Tôi trộm nghĩ La Hán c̣n chưa vượt thoát tam giới, chỉ có Phật đă vượt thoát tam giới. Thái Hư đạitừng chia tam giới thành lớn, nhỏ. Tiểu tam giới cũng chẳng bằng Sắc Giới (xem chương Phật Pháp Tổng Luận [của Thái Hư đại sư]), th́ chư thiên có th nói là bậc thánh vượt thoát tam giới. “Thiên” như nhân loại thường nói chính là Đao Lợi Thiên. Do t tam giới tr lên bèn chẳng hứng chịu các tai kiếp như hỏa, thủy, phong, t ḿnh tránh được các đại kiếp. Nếu La Hán đă chẳng thoái chuyển, tức là đă liễu luân hồi! Lại nữa, t Vô Sắc Giới tr lên, rốt cuộc là giới ǵ? Hậu học vẫn chưa biết, cho rằng nó tương t như Phật giới, cho nên Bích Chi Phật c̣n chưa th đạt được, huống là La Hán ư? Do tôi ít đọc kinh điển, nghi vấn đă lâu, nên xin c hăy khai thị! (kẻ ngoài cửa hỏi)

 

      Đáp: Tam giới là Dục Giới, Sắc Giới, Sắc Giới. La Hán dịch Vô Sanh, đă đoạn hết Kiếnnhị hoặc, tức là đă siêu xuất, chẳng có Phần Đoạn Sanh Tử. Ngoài Vô Sắc Giới vẫn có thế giới, bốn phương, trên, dưới, [đều có các thế giới] trùng trùng vô tận. Đây là nói theo phương diện Chất Cảnh (cảnh giới sắc chất). Nếu nói tới Phật giới, liền có Pháp và Báo sai khác. Pháp giới Tịch Quang tướng, trọn chẳng có giới hạn. Báo giới (thuật ngữ gọi là Báo Độ), tùy thuộc Báo Thân mà hiện, chính là hóa cảnh (cảnh được biến hóa), chuyên nhằm lợi ích chúng sanh mà hiện bày. Báo Độ của Phật đă v́ lợi ích chúng sanh, người cảm