Phật Học
Vấn Đáp Loại Biên
Quyển Trung
佛學問答類編
Phần
5
Chuyển ngữ: Bửu Quang
Tự đệ tử Như Ḥa
(theo bản in của Lư Bỉnh
Nam Lăo Cư Sĩ Toàn Tập Biên Tập
Ủy Viên Hội, Đài Loan, 2007)
Giảo chánh: Đức Phong và
Huệ Trang
* Hỏi: Chiến tranh Trung Nhật và chiến
tranh Thái B́nh Dương là do các nghiệp cảm vời ư?
Nếu là do nghiệp lực, chẳng nên coi dă tâm của bọn
chánh khách Nhật Bản là dă tâm, mà cũng chẳng có ǵ để
oán hận họ! V́ sao? V́ kết thúc chiến tranh, nhân dân Đài
Loan trở về tổ quốc[1],
lại có hy vọng sẽ thấy có một ngày mai tươi
sáng. Lại do chiến tranh kết thúc, Trung Cộng có cơ
hội hoạt động ngấm ngầm tại Đài
Loan. V́ chiến tranh kết thúc, chúng ta bèn có Đài Loan là căn
cứ địa để chống Cộng. V́ thế, chẳng
có tiền nhân, sẽ chẳng bàn đến hậu quả!
(Lâm Hỏa Thọ hỏi)
Đáp:
Do chiến tranh, Đài Loan được quang phục,
Trung Cộng có cơ hội hoạt động v.v... Đó
chính là vận hội của hai nơi Đại Lục và
Đài Loan. Nhân duyên được thành tựu bắt nguồn
từ người Nhật, nhưng người Nhật lúc
mới phát động chiến tranh hoàn toàn chẳng mong mỏi
Trung Cộng hoạt động, mà cũng chẳng mong trả
lại Đài Loan. Tư tưởng của họ là thôn tính
Trung Hoa, há có thể nói chẳng phải là dă tâm ư? Đối
với nghĩa thứ hai, tôi lại lập ra một tỷ
dụ. Ông Giáp vào năm nào đó, tại nơi nào đó, đă
từng làm hại ông Ất. Sau mấy chục năm, hai bên
đều quên, diện mạo đă thay đổi, nhưng
Giáp và Ất vừa gặp gỡ, ông Ất lại làm hại
ông Giáp. Thử hỏi: Ông Giáp có oán ông Ất hay không? Ấy
là v́ người đă mở Thiên Nhăn mới biết cái nhân
trước, chứ hạng phàm phu sát đất chỉ thấy
hiện tại, cứ làm chuyện báo thù lẫn nhau mà chẳng
biết! Hiểu rơ lư này, Nhật xâm lược Trung Hoa, há
lẽ [dân Trung Hoa] chẳng oán? Phải biết nhân quả đă
chia thành từng giai đoạn, cũng có khi quy nạp, sẽ
có bù qua sớt lại, hết sức biến hóa, chẳng
thể chỉ luận định một ḿnh nguyên nhân, chẳng
thể chỉ bàn luận hiện tượng!
* Hỏi:
Nếu có một phạm nhân vốn định giết
Trương Tam, nhưng giết lầm Lư Tứ. Rốt cuộc,
Lư Tứ chẳng có sức chống lại tai ương,
có thể nói là [Lư Tứ bị giết là] do nghiệp lực
sai sử ư? Có phải là đáng chết hay không? Như thiên
tai, động đất v.v... Con của Lư Tứ mới
hai, bốn, hoặc sáu tuổi, bị mất người nâng
đỡ, nuôi nấng, những đứa trẻ ấy
chịu nỗi oan uổng là do nghiệp lực ư? Nếu
là do nghiệp lực, kẻ phạm nhân ấy có đáng
nên giết hay không? (Lâm Hỏa
Thọ hỏi)
Đáp:
Những ǵ chúng sanh phải hứng chịu đều do có
nghiệp nhân. Khi nghiệp nhân chín muồi, sẽ tự hứng
chịu quả báo, bất quá có chánh thù và tá thù sai khác. Chánh
thù (正酬) là thiếu
nợ Giáp, bèn đền trả cho Giáp. Tá thù (借酬) là chẳng
cần đền trả trực tiếp cho Giáp, mà nhờ
vào duyên khác để đền trả thay cho Giáp. Nay tôi
nêu thí dụ để nói rơ: Như Giáp cầm đao gây thương
tổn cho Ất, Ất cũng cầm đao đâm lại,
đó là “chánh thù”. Nếu Ất
chẳng đâm trả, mà nhờ ngành tư pháp phán tội
Giáp, đó là “tá thù”. Biết
điều này th́ thiên tai, nhân họa, không ǵ chẳng phải
là không có nhân. C̣n như ông hỏi “do ông Lư bị chết,
con côi không người nuôi nấng”, đó là do cộng nghiệp
cảm vời. Một nhà tụ hay tán cũng đều do
có nhân duyên, cũng đều là v́ đền trả túc nghiệp
vậy. Chỉ có bậc trí biết cơ duyên, có thể
khiến cho các điều ấy hoàn tất, diệt mất.
Kẻ ngu mê muội lư, mặc cho nghiệp lưu chuyển.
Lại hỏi: “Nếu là do nghiệp lực, phạm nhân
có đáng giết hay không?” Quốc gia lập pháp, chỉ luận
theo hành vi trong đời hiện tại, phạm nhân tự
nhận lănh cái tội đáng nên bị [xử phạt]. Bởi
lẽ, Giáp giết Ất chính là sát nghiệp. Ất giết
ngược lại Giáp, há có thể nói “chẳng phải là
sát nghiệp” ư? Tám lượng và nửa cân[2],
tuy tên gọi khác nhau, thực chất chẳng khác biệt!
*
Hỏi: Nhưng tôi mới gia nhập Phật môn, đối
với quy củ niệm kinh và niệm Phật đều
chẳng rơ ràng cho lắm. Nay tôi rất phát tâm, muốn ăn
chay, tu hành, chỉ có điều chẳng biết như thế
nào? Tôi càng phát tâm, con tôi càng rất hư hỏng! Khiến
cho tôi chẳng có cách dạy bảo, kẻ khác chê cười
tôi nương cậy Phật thất bại, thất vọng
quá đỗi! (Lôi cư sĩ
hỏi)
Đáp: Con em xấu hay tốt, có cái nhân trong
hiện thời và cái nhân trong đời trước sai khác.
Cái nhân trong hiện đời là do chúng nó chưa được
giáo dục thiện lương. Cái nhân trong đời trước
th́ có lẽ là oán gia nhiều đời đến báo oán thù.
Cũng chỉ có hai giải pháp: Nghịch cảnh xảy đến
bèn vâng chịu, và tận tâm cảm hóa. Nỗi oán đă giải
trừ, tâm sẽ chuyển, sẽ có biến hóa. Niệm Phật
làm lành là chuyện trong hiện tại. Con em thuận hay nghịch
thuộc về nhân quả trước kia, hoàn toàn chẳng
phải là làm việc thiện đâm ra mắc ác quả! Kẻ
tục không hiểu rơ đạo lư, khó tránh nỗi hiểu
lầm, chê cười, chỉ nên mặc kệ họ. Văn
Vương là bậc đại nhân, con [là Bá Ấp Khảo]
bị Trụ Vương bằm nát[3].
Khổng Tử là bậc đại thánh, con bị chết
sớm. Nhan Uyên là bậc đại hiền, nhưng lại
chẳng sống lâu. Nhiễm Canh là bậc đại đức,
thân sanh bệnh ngặt. Xin hỏi, đối với những
chuyện này, miệng người cơi tục lại nghị
luận như thế nào?
*
Hỏi: Nhưng thuở trước kia, tôi gặp hoàn cảnh
tốt đẹp, từ nhỏ tới lớn, cho đến
già. Năm nay tôi đă năm mươi mấy tuổi, một
mực làm lành. Mỗi tháng đều bỏ ra tiền, gạo,
học phí giúp đỡ người nghèo cũng chưa hề
gián đoạn. Đến nay, hoàn cảnh biến thiên, mới
ngưng công tác làm lành. Vợ chồng tôi rất có tâm đồng
t́nh, tâm thương xót, v́ sao lại có đứa con không ra
ǵ, hư hỏng ấy? Lại c̣n chôn chồng ở tuổi
trung niên? (Lôi cư sĩ hỏi)
Đáp: “Làm lành được
phước, làm ác mắc tội”. Đó là thánh huấn,
là chân lư về nhân quả. Nếu chẳng tin những điều
ấy, sẽ là tà kiến, bài bác chẳng có nhân quả. Chỉ
là quả báo có sớm, có trễ, như trồng dưa, sẽ
được quả trong năm ấy. Trồng đào, ắt
ba năm mới kết trái. Đời này, quư cư sĩ
chịu cảnh khốn cùng chẳng phải là do niệm Phật,
làm lành mà ra, mà là do nghiệp đă tạo trong đời trước.
Những điều thiện đă làm trong hiện tại,
chẳng qua là gieo nhân; trong tương lai, chắc chắn có
cái quả tốt đẹp. Đó gọi là “muốn biết cái nhân trong đời
trước, những ǵ hứng chịu trong đời này
chính là nó. Muốn biết quả trong đời sau, những
chuyện đă làm trong đời này chính là nó”. Xin hăy suy
ngẫm kỹ, đừng sanh phiền năo!
*
Hỏi: Đứa con nhỏ của tôi năm nay mười
tám tuổi. Từ tháng Bảy, tháng Tám năm ngoái, nó bị
bệnh cho đến nay chưa được b́nh phục,
lại chẳng thể học hành. Nay đă bỏ học
một năm rồi. Suốt ngày, ở trong nhà chống đối
tôi, chẳng nghe lời chỉ bảo. Tinh thần và tánh t́nh
của nó dường như có tà ma tác quái, chẳng biết
nhân duyên nghiệp chướng của mẹ con tôi trong đời
trước là như thế nào? (Lôi
cư sĩ hỏi)
Đáp: Xin hăy đọc hai điều đă
đáp trên đây nhiều lượt, sẽ tự nhiên hiểu
rơ. Tuy là do nhân duyên nghiệp chướng đời trước,
nhưng hăy nên từ chỗ này mà khéo hiểu, chớ nên kết
ác nữa. Hễ giải th́ càng giải, càng xong; hễ kết
th́ càng kết, càng sâu!
* Hỏi: Tôi v́ đứa con bị bệnh,
tiêu sạch tiền bạc, tinh thần lẫn tâm huyết
rồi, vẫn chưa được an định, mười
phần khổ sở, phiền muộn. Từng ở Phật
đường thỉnh pháp sư lạy Địa Tạng
Sám suốt một ngày. Lại lạy Thủy Sám ba ngày. Mồng
Một và ngày Rằm mỗi tháng, lại đến Phật
đường tham gia lạy Dược Sư Sám. Lại
nữa, mỗi dịp Phật Đản, lại đích
thân thay nó lạy Đại Bi Sám và phóng sanh, nhưng trước
sau, chưa thấy hiệu quả phát sanh, khiến cho tôi hết
sức thất vọng. Rốt cuộc chẳng biết là
nghiệp lực ǵ, tội to như thế nào? Tôi niệm
kinh Phật đă nhiều năm như thế mà chẳng
thể tiêu trừ nghiệp chướng ấy! Đúng là
khiến cho tôi đau ḷng. Hy vọng quư xă giải thích nhân
quả cho tôi, khiến cho tôi được hiểu rơ,
nhanh chóng tháo gỡ những vướng mắc, mong mỏi
sẽ sớm có ngày được trả lời trên báo Bồ
Đề Thụ! (Lôi cư
sĩ hỏi)
Đáp: Dùng thuốc nổ phá núi, núi chẳng
thể nào không giảm, nhưng buổi sáng đặt thuốc
nổ, buổi tối xem xét, thấy núi vẫn y như cũ!
Núi có thể chất to lớn, sức thuốc nổ nhỏ
nhoi. Tuy giảm, nhưng lượng [khuyết giảm] bé
tí, xem xét [bằng mắt thường] sẽ chẳng cảm
nhận được. Hơn nữa, sử dụng chất
nổ c̣n có sức công phá mạnh và yếu khác nhau. Nếu
sử dụng chất thuốc nổ để chế pháo,
bất quá [quả núi] chỉ khuyết tí ti. Nếu dùng thuốc
nổ thuộc loại nguyên tử, có thể hủy cả
rặng núi. Điều trước ví như nghiệp
chướng sâu, thời gian sám hối ngắn ngủi. Điều
sau ví như tụng kinh, bái sám, sức mạnh [tùy thuộc
sự hành tŕ] có đúng pháp hay không?
*
Hỏi: Tôi một mực tín ngưỡng Tam Bảo, thọ
Tam Quy, Ngũ Giới, đă ăn chay. Đồng thời,
rất phát tâm, mỗi ngày tŕ chú, tụng kinh, niệm Phật,
chẳng quên, chẳng ngừng. Mỗi khi gặp chuyện
Phật sự công đức, bèn tùy hỷ, thường làm
chuyện bái sám, in kinh, phóng sanh, nhưng tôi có một chuyện
đau ḷng. Nhiều lượt cầu Phật lực gia bị,
đă hơn hai năm, chưa được hiệu quả
cảm ứng. Lại c̣n thường gặp cảnh đả
kích thương tâm nặng nề! Do tôi có một đứa
em ruột, mồ côi từ bé, do chính tay tôi nuôi nấng, dạy
bảo khôn lớn. Năm nay, nó mười chín tuổi, bất
ngờ đổi tánh, đă ba năm qua, vứt bỏ học
vấn, chẳng theo đuổi nghề nghiệp chánh đáng,
cứ thích lêu lổng, nhàn rỗi, lông bông, lang bang, tụ tập
cờ bạc chẳng ra ǵ. Đồ vật trong nhà và đồ
vật của người khác nó đều vơ tuốt,
khiến cho người nhà và chồng tôi hết sức chán
ghét, cả ngày oán trách tôi nhận nuôi hạng người vô
tích sự ấy, khiến cho tinh thần tôi muôn phần khổ
năo, chẳng biết đối xử với nó như thế
nào? Nhiều lần muốn đưa nó đến chỗ
chánh phủ, nhà tù, hoặc cảnh sát, nhưng nghĩ tôi là
người tu hành, chẳng biết đối với chuyện
này, có phạm giới, mắc phải tội lỗi hay không?
Kính xin đại đức khai thị, chỉ dạy hết
thảy, ḥng tôi biết rơ tiền nhân, hậu quả, nghiệp
chướng sâu nặng. Hiện thời, tôi bị thằng
em chọc tức, tâm t́nh rất khổ năo, hết sức khó
chịu. Đuổi th́ nó không đi, suốt ngày hướng
về tôi ṿi vĩnh tiền bạc, nhưng cho bao nhiêu cũng
không xuể, thật phiền! Chẳng biết đời
trước tôi có thiếu nợ nó hay không? (Ngũ cư sĩ hỏi)
Đáp: Lục thân tụ hợp, nói chung, phần
nhiều là v́ nhân duyên đời trước, hoặc là trả
nợ, hoặc đ̣i nợ, hoặc báo ân, hoặc báo oán, đủ
mọi lẽ chẳng giống nhau. Người thuận ḷng
ta phần nhiều thuộc loại trả nợ, báo ân; kẻ
trái nghịch phần nhiều thuộc loại đ̣i nợ,
báo oán. Đối với những loại đă nói trên đây,
chính là túc nhân, mà sự nuôi dạy, được mất
trong đời này cũng có quan hệ. Đấy chính là cái
nhân gần. Cần phải hợp lại để xét th́
mới chẳng thiên chấp. Dường như lệnh đệ
thuộc loại đ̣i nợ, báo oán, lại thêm kiếp này
phạm lỗi thất học. Cổ nhân nói: “Oán nên giải, chớ nên kết”.
Lại nói: “Cảnh nghịch xảy
đến bèn vâng chịu”. Hăy tuân theo lời cổ huấn
ấy, hăy nên cậy người hữu đức hướng
về nó giáo hóa lâu dài. Chớ nên kết thêm điều oán
mới nữa!
* Hỏi: Thiếu tiền bạc của người
khác, làm ác lắm nỗi, sau khi chết, sẽ đọa vào
súc sanh làm trâu, bị người ta giết ăn thịt.
Luận theo lư là chuyện đúng lẽ, cớ ǵ lại bảo
người ăn thịt nó là có tội? (Hoàng Xuân Noăn hỏi)
Đáp: Tạo tội ác, đọa súc sanh,
là một nhân, một quả, báo đền chẳng sai! Nếu
giết đi để ăn thịt nó, chính là tạo một
cái nhân khác. Đă là có nhân quả, há có phải là chẳng có
nhân quả ư? Nay tôi nêu một thí dụ để chỉ
rơ: Kẻ vi phạm pháp luật, bị kết tội, tống
giam. Đó là một tội, một án. Nếu có những kẻ
vô can tới nhà tù bạo hành tù nhân. Thử hỏi: Những
kẻ vô can ấy có tội hay không?
* Hỏi: Nông dân mỗi ngày cày ruộng, có vô
số sanh mạng bị tử thương dưới lưỡi
cày, gia cầm, chim chóc tranh nhau ăn. Xét theo nhân quả báo ứng,
nông dân sẽ có báo ứng như thế nào? (Trương Đức Minh hỏi)
Đáp: Nông dân cốt ư gieo trồng, chẳng
mang ư niệm sát sanh, như người hô hấp cũng hại
sanh mạng, nhưng mắt chẳng thấy, cũng chẳng
phải là có sát ư vậy! Luận theo nhân quả, đều
có lẽ thừa trừ, nhưng xét theo sự thật, [phạm
lỗi sát sanh] là v́ chẳng thể tránh né. Do đó, người
học Phật trước khi gieo trồng, đều tụng
kinh chú vậy!
* Hỏi: Người bạn tôi vốn không
có con. Đứa con ấy vốn là cháu ruột bên nội,
do nó mồ côi cha mẹ từ bé, không người nuôi dưỡng,
cho nên nhận nuôi nó. Coi cháu như con, nhất tâm nhất ư
nuôi dưỡng khôn lớn. Nay nó đă mười tám tuổi.
Chẳng ngờ đứa con ấy hết sức vô dụng,
hết sức hư hỏng. Chẳng nghe lời tốt,
thuốc hay chẳng uống, chỉ nhập bọn cùng kẻ
xấu. Nhân duyên ấy đến tột cùng là nhân duyên ǵ?
Nếu là do nhân trước, nay hứng chịu ác báo, v́ sao
công đức niệm kinh Phật, bái sám nhiều ngần ấy
chẳng thể giải trừ? Lại c̣n tăng thêm nghịch
cảnh, khiến cho kẻ khác chẳng biết nói sao. Nay đặc
biệt xin thầy chỉ dạy lư do nhân quả. (Trần cư sĩ hỏi)
Đáp: Do đời trước thiếu nợ
nó, cho nên có chuyện tụ hội này. Cảnh nghịch xảy
đến bèn vâng chịu. Chỉ nên nghĩ là trả nợ,
tâm ắt thản nhiên. Nếu dấy ḷng sân hận, sẽ
lại gieo nhân ác. Chớ nên không hiểu rơ đạo lư này,
để lại chuốc lấy nỗi khổ về sau!
Hơn nữa, kẻ đ̣i nợ có đ̣i nợ lành và đ̣i
nợ ác sai khác. Kẻ hướng về người khác đ̣i
nợ một cách tai ác, đại đa số là quá lố,
tự gieo vô lượng ác nhân, trong tương lai, ắt
cũng bị báo vậy! Những điều khác nếu chẳng
hiểu rơ, xin hăy xem câu trả lời thứ hai.
* Hỏi: Có hội phóng sanh nọ thường
đem kinh phí của hội phóng sanh để tùy hỷ làm
các công đức khác. Cổ đức răn dạy đệ
tử “chớ nên dùng chi phí lợp
mái ngói để lót đường”. Nh́n vào tên, nghĩ đến
nghĩa, tất cả kinh phí thuộc tổ chức của
hội phóng sanh chỉ có thể dùng để phóng sanh! Nếu
dùng vào việc khác, há chẳng phải là trái phản pháp tắc
nhân quả đó ư? (Thích
Vĩnh Hưng hỏi)
Đáp: Việc làm của ông X... rất là chớ
nên. Cổ đức có công án: Dùng tiền trai tăng để
dựng trai đường, tuy đều là dùng cho tăng,
mà c̣n mắc quả báo gông lửa! Huống hồ dùng tiền
cứu sống sanh mạng loài vật đổi sang làm việc
khác ư? Cổ đức nói “tiền
phóng sanh c̣n chẳng thể dùng để xây dựng ao phóng
sanh”. Ấy là v́ phóng sanh nhằm cứu [những sanh vật]
mang nỗi nguy nan lên thớt, vào chảo, chuyện ấy cấp
bách. Xây dựng ao là chuyện an trí trong tương lai, là
chuyện có thể làm thong thả. Huống hồ, người
thí tiền có nguyện lực ấy, nhận lấy của
bố thí mà làm trái nguyện ấy, tức là đă phá hoại
công đức của người ta, lại c̣n là lầm lạc
nhân quả. Tuy vậy, có lẽ là do ông X... không biết lẽ
lợi hại này, hăy nên dạy ông ta sám hối. Về sau,
chớ nên làm như thế nữa!
* Hỏi: Trong tổ chức phóng sanh ấy,
dùng tiền phóng sanh quyên góp được để trả
tiền xe, chi tiêu lặt vặt, có đúng pháp hay không? (Thích Vĩnh Hưng hỏi)
Đáp: Hăy nghĩ kỹ câu trả lời
trong phần trước, sẽ biết chớ nên làm như
vậy, nhưng phóng sanh ắt phải có chi tiêu như tiền
xe v.v... hăy nên trù tính riêng, hoặc lập riêng một khoản
quyên tặng dành cho chi phí phóng sanh, ắt lư sự châu toàn, mà
công đức cũng càng thêm viên măn vậy!
* Hỏi: Phật giáo lấy từ bi làm gốc.
Hàng tại gia cư sĩ Phật giáo chúng ta sống trong xă
hội hắc ám, nếu vận dụng hai chữ “từ bi”, nhất định
là sẽ chẳng có chỗ nào để sống. Xin hăy dạy
bảo phương pháp. (Linh
Giác hỏi)
Đáp: “Sống” là cầu có cơm áo để
duy tŕ sanh mạng được tiếp tục, chẳng đứt
đoạn. Người trí mưu cầu đạo, ít ham
muốn, biết đủ. Kẻ ngu tham tài, tham cầu nhiều
chẳng chán! Người biết đủ tâm an, tạo ảnh
hưởng chẳng tranh giành cho xă hội, tự nhiên hiển
lộ quang minh. Kẻ chẳng biết chán sẽ gặp nỗi
hiểm nguy, tạo ảnh hưởng trộm cắp cho
xă hội; v́ thế, trở thành hắc ám. Đấy chính
là nhân quả trước mắt. Sau này thiện ác sáu đường,
đền trả chẳng sai! Đó chính là nhân quả trong
tương lai. Đức Thế Tôn bỏ ngôi vua như
chiếc giày rách, Khổng Tử xem phú quư như mây nổi.
Do v́ có tầm nh́n xa, cho nên đạt thành tựu cũng to
lớn. Cư sĩ đừng bị mê hoặc bởi dục
th́ mới đáng gọi là bậc trí!
* Hỏi: Đối với luận thuyết
nhân, duyên, quả, đúng là Phật giáo rất coi trọng.
Thưa thầy Lư, nếu thật sự là có nhân quả luận,
trong quá khứ, tôi tin thờ Nhất Quán Đại Đạo
khoảng năm năm, và lập đàn hai ba chỗ, thường
phỉ báng Tam Bảo của Phật giáo. Sau đấy, được
vị pháp sư X... thuộc hội Niệm Phật ở
Tiền Trấn giáo hóa, mới chuyển biến nhất
tâm tin theo Phật giáo, thường hành sám hối. Quả báo
nhân quả về sau sẽ là như thế nào? (Linh Giác hỏi)
Đáp:
Phàm phu mê hoặc, điên đảo là chuyện b́nh thường,
do phiền hoặc (phiền năo) bèn tạo tác tội ác, càng
khó tránh khỏi! Về sau, nghe đạo bèn tin, đó là giác
ngộ. Quy y, sám hối, lại càng là dũng mănh, tinh tấn.
Quy y là cải tà quy chánh; sám hối là từ tối chuyển
thành sáng. Nhân quả vốn từ tâm tạo, tội phước
cũng do tâm chuyển. Tội ác ví như sương móc, tâm
sám hối ví như mặt trời rực rỡ, nhưng cần
phải về sau chẳng tái phạm nữa, tức là mặt
trời thường chói sáng. Dưới ánh mặt trời,
sương móc chẳng c̣n!
* Hỏi: Tôi nghe những tín đồ tôn giáo
thường phê b́nh: Vị thầy nọ trong quá khứ
đă nghiên cứu giáo điển của tam giáo rất sâu,
và cũng đi khắp nơi tuyên truyền Phật giáo là
sai. Về sau, thâm nhập kinh Phật, nhận biết diệu
lư của Phật giáo là vô thượng. Hiện thời, Sư
là bậc rường cột chính của Phật giáo miền
Đáp: Trước là mê, dùng miệng phỉ
báng Tam Bảo, sau là giác, dùng miệng hoằng dương Tam
Bảo. “Nay đúng, xưa sai”, ư nghĩa ấy có thể
tham khảo lời đáp trong câu hỏi thứ hai. Xưa
kia, Thiên Thân Bồ Tát từng phỉ báng Đại Thừa;
về sau, tán thán Đại Thừa, dùng lưỡi để
sám hối tội nghiệp đă tạo bởi lưỡi.
Tiền hiền đă có trường hợp ấy, chẳng
cần phải hỏi tới kẻ hạ ngu nữa!
* Hỏi: Giết những con vật để
cúng tế thần quỷ. Trong tương lai, thần quỷ
cũng sẽ cùng chịu báo ứng tội nghiệp với
người sát sanh hay không?
(Giang Khoan Ngọc hỏi)
Đáp: Con người giết, quỷ thần
hưởng. Người ta v́ kẻ hưởng mà giết,
há kẻ hưởng chẳng có liên quan ǵ ư? Đó là cộng
nghiệp, đương nhiên sẽ cùng chịu quả báo.
Trong kinh và các công án đă ghi chép chuyện này khá nhiều. Vị
thần do hưởng huyết thực, chẳng tránh khỏi
bị đọa lạc, tức là người thờ cúng
quỷ thần, đâm ra làm hại quỷ thần! Nếu
quỷ thần chẳng nhận sự cúng bái ấy, sát
nghiệp sẽ quy vào một ḿnh kẻ cúng tế. Kinh Tứ
Thập Nhị Chương có dạy: “Ngă kim bất nạp, tử tự tŕ, họa quy tử
thân hỹ” (Nay ta chẳng nhận, ông tự giữ lấy,
họa quy vào thân ông), có thể dùng lời đó để
xét soi tường tận vậy!
* Hỏi: Theo như kinh điển Phật
giáo nói: Trong vũ trụ, có chuyện nhân quả, luân hồi,
lục đạo. Thiên đạo, nhân đạo, và A Tu La
đạo là ba thiện đạo; địa ngục, ngạ
quỷ, và súc sanh là ba ác đạo. Người đời
này làm việc thiện, đời sau bèn sanh vào ba thiện
đạo. Kẻ đời này làm chuyện ác, đời
sau sẽ sanh trong ba ác đạo. V́ sao chẳng cho mỗi người
thọ báo tự biết những quả báo phải hứng
chịu trong đời này là do đời trước đă
tạo những nghiệp ǵ mà ra? Nếu có thể cho mỗi
người hưởng lạc quả trong đời này
biết đời trước đă làm thiện sự ǵ,
người hứng chịu khổ quả là do đời
trước đă tạo ác nghiệp ǵ, mọi người
trên thế giới sẽ đều chẳng dám làm chuyện
xấu. Há chẳng phải là “không giáo hóa mà tự tốt lành,
chẳng cần b́nh trị mà cũng không loạn” ư? V́
lẽ nào cứ khăng khăng chẳng cho người ta
biết vậy? Do vậy, xét ra: Chuyện luân hồi lục
đạo cũng như không! Đối với chuyện
này, tôi có những nỗi hoài nghi ấy, chẳng biết Phật
giáo giải thích như thế nào? (Vô Tri hỏi)
Đáp: Ông nói dường như hữu lư,
pháp cũng rất lành. Nay tôi đề ra hai câu hỏi ngược
lại, ông suy nghĩ kỹ càng, sẽ có thể tự giải
quyết [nỗi nghi]. Theo Phật lư, vạn pháp do tâm tạo,
tự làm, tự chịu, chẳng biết là ai quản lư
chuyện này, ai có thể có cách thức chẳng quên [bất
cứ chuyện ǵ] để chỉ bày cho người khác?
Đừng nói là đời trước, đối với
chuyện ngay trong đời này từ bé đến già, ai có
thể nhớ rơ ràng? Hơn nữa, mỗi người
đều từ tử cung mà ra, ai có thể ghi nhớ những
nỗi khổ lạc khi ở trong tử cung? Đó là điều
thứ nhất. Nếu nói “biết có khổ báo, sẽ chẳng
dám làm chuyện xấu”, xin hăy xem chốn thành thị ở
các nơi đều có nhà giam, có h́nh pháp ghi chép, cũng có kẻ
tử tội. Há chẳng phải là mắt thấy, tai nghe
rành rành đó ư? Ai nấy đều biết rơ, cớ
sao người đời phạm tội cả đống,
cam tâm xộ khám? Đấy là điều thứ hai!
* Hỏi: Đức Phật nói thân người
do Tứ Đại giả hợp, hết thảy vạn
hữu đều do nhân duyên sanh. Có quả, ắt có nhân! Kể
từ vô thỉ, thoạt đầu là do nhân ǵ mà có thể
hợp thành thân người? Xin đại đức hăy chỉ
dạy. (Hoàng Mễ Điền
hỏi)
Đáp: Đức Phật nói thân người
do Tứ Đại giả hợp; hăy nên biết: Hết
thảy các thân đều do Tứ Đại giả hợp.
Biết một, có thể suy ra những điều khác! Hết
thảy các thân, nói chung là thân trong lục đạo (trời,
người, Tu La, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục).
Nếu tách ra mỗi đường để nói, trong mỗi
đường ắt có hàng ngàn, hàng vạn thân bất đồng!
Đạt được cái thân nào đó, chính là quả.
Trước quả, ắt có nghiệp thiện và ác. Nghiệp
là nhân, đó là nói theo nhân quả. Từ vô thỉ đă có vô
minh, vô minh chính là nhân. Do có cái nhân ấy, bèn có một loại
thân là quả [của cái nhân ấy]. Đă có một, bèn sanh
ra nhiều. Như từ một quả thân (cái thân là quả
của nhân nào đó) mà tạo đủ mọi nghiệp, tức
là lại tăng thêm đủ mọi cái nhân. Thân người
hiện thời hoàn toàn chẳng phải do cái nhân vô thỉ
mà có. Từ vô thỉ đến nay, chúng sanh đă từng
tạo hằng sa cái nhân, biến thành hằng sa cái thân từng
trong lục đạo. Nay đă được làm thân người,
chính là từ tan đồ trăm ngàn vạn kiếp mà thoát
ra. Sau mấy chục năm, lại vào tam đồ, chẳng
đáng buồn ư?
* Hỏi: Có người nói nhân quả là “đời
này thiếu tiền chẳng trả, đời sau phải
đền”. Ví như có một thương nhân, mượn
tiền kinh doanh, làm ăn chẳng thành công, tuyên bố sập
tiệm. Con nợ hướng về chủ nợ thương
lượng, xin trả lại ba phần tiền vốn. Chủ
nợ do ép buộc bởi t́nh cảnh “không làm cách nào được”,
phải thâu lại ba phần. Sau này, thương nhân ấy
lại kinh doanh thành công, cũng phát tài, nhưng những chủ
nợ trước kia v́ thương nhân ấy sập tiệm
chỉ trả lại ba phần tiền nợ, chẳng thể
đ̣i lại bảy phần tiền vốn từ thương
nhân ấy. Như vậy th́ đời sau có phải đền
trả hay không? (Hà Mỹ Tuyết
hỏi)
Đáp: Đối với mối nợ giữa
người chủ nợ và con nợ, nợ mười
phần giảm thành ba, xét theo nhân quả để luận,
cần phải xét xem có phải thật sự là kẻ ấy
không có sức trả lại hay không? Xét theo lư luận trong
pháp thế gian, do đôi bên đă đồng ư, món nợ đă
tiêu diệt. Nếu người mắc nợ về sau lại
phất lên, chịu trả lại bảy phần [nợ đă
thiếu], điều này thuộc về đạo đức
lương tâm, chẳng có ǵ là được hay không được!
Đối với chuyện pháp lư, chỉ có hiệu lực
trong một khoảng thời gian trên thế gian. Đối
với vấn đề đạo đức, sẽ có thể
thấu suốt phước trạch nhiều đời!
* Hỏi: Sau khi quy y bái sư, giả sử khi
phát sanh chuyện tốt xấu, giữa hai bên thầy và tṛ
sẽ có mối quan hệ ǵ? (Trang
Khánh Hiền hỏi)
Đáp: Thiện ác mỗi đằng tự
gánh lấy, hoàn toàn chẳng liên quan đến nhân quả.
Vua Nghiêu là bậc thánh, con ông ta là Đan Châu chẳng ra ǵ!
Vua Thuấn là bậc thánh, cha ương bướng, mẹ
bắng nhắng! Huống chi quy y là quy y Tăng đoàn,
chuyện thiện ác riêng tư của vị thầy truyền
trao quy y, chẳng phải là điều thiện ác của
toàn thể tăng đoàn.
* Hỏi: Xưa kia, văn bối thích câu cá, sát
sanh rất nhiều. Từ sau khi quy y Tam Bảo, mới biết
sát sanh là một tội nghiệp to lớn. Nói theo nhân quả
luận, nghiệp quả báo ứng th́ chẳng thể tiêu
trừ ác nghiệp sát sanh. Trong tương lai, nhất
định phải đền mạng v́ ác nghiệp. V́ thế,
văn bối cảm thấy sợ hăi sâu xa! Chẳng biết
làm như thế nào để có thể tiêu trừ ác nghiệp
này? (Liêu Thanh Hoa hỏi)
Đáp: Cố nhiên thiện và ác chẳng triệt
tiêu nhau, nhưng nhân ắt có duyên, sau đấy, kết quả.
Như nay sám hối, chẳng tạo họa ương mới,
tức là đoạn ác duyên, cái nhân ác khi trước sẽ
khó thể dấy lên hiện hành. Lại làm Phật sự,
hồi hướng cho chúng, càng thêm siêng năng niệm Phật,
khiến cho Hoặc nghiệp bị đoạn trừ, hoặc
đới nghiệp văng sanh, muôn sự sẽ là một nét
bút xóa sạch!
*
Hỏi: Ăn chay có thể tránh khỏi bom nguyên tử, có
thể hay không? (dựa theo ư trong bài Đều Đại
Hoan Hỷ) (Trần Đăng
Phùng hỏi)
Đáp:
Chẳng tạo cái nhân giết, sẽ chẳng mắc sát
quả. Đó là nguyên tắc, nhưng nhân quả thông ba đời,
tung tích phức tạp, há có thể nói một lời là xong
ư?
*
Hỏi: Có những miếu thờ thần thông thường,
chẳng thờ Phật, Bồ Tát, nhưng cũng học theo
Phật giáo, xướng bài Lư Hương Tán, tụng
những kinh điển Phật giáo như kinh Di Đà, phẩm
Phổ Môn, kinh Kim Cang, chú Đại Bi v.v... có ư nghĩa hay
không? (Lâm Hoán Thành hỏi)
Đáp: Bọn họ ngu si vô trí, chẳng hiểu
nguyên do. V́ thế, đi vào đường rẽ, nhiều
nỗi mê muội, rối tung beng chẳng có đầu mối.
Chỉ là do kinh họ tụng là chánh pháp, cho nên phước
chẳng luống uổng, nhưng huệ th́ chưa đạt
được, sẽ đạt được phước
báo trong đường trời, người.
* Hỏi: Ngày trước, có một vị
thái bảo[4] bị
người khác giết chết. Do nhà nghèo, cha hắn cầu
xin người khác giúp đỡ tiền mai táng. Tôi lập
tức cùng với những bạn bè quen biết cho ông ta hơn
bốn trăm đồng. Có người nói: “Người
học Phật phải kết duyên tốt, giúp phí tổn
tang ma cho kẻ ngu ngốc chính là kết duyên ngu ngốc!” Làm
như thế nào mới là đúng, xin thầy chỉ dạy!
(Trần Nguyệt Nga hỏi)
Đáp: Phàm là chúng sanh, đều có Hoặc
nghiệp, không chỉ là những gă thái bảo! Bất quá, đối
với bọn thái bảo, từ bé chẳng được
dạy dỗ, tiêm nhiễm thói ác sâu nặng, chính là một
nỗi bất hạnh. Phật pháp b́nh đẳng, hăy nên
thương xót. Huống chi, hắn đă chết, chẳng
có tiền mai táng. Người gặp cảnh nguy nan là cha hắn,
hoàn toàn chẳng phải là gă thái bảo. Nói tới chuyện
bố thí, bài xích [hành vi giúp tiền mai táng ấy] là tạo
ác duyên, th́ lại sai lầm mất rồi! Bởi lẽ,
bỏ tiền giúp người ta chôn cất, hoàn toàn chẳng
mang tánh chất ác, lẽ nào là ác duyên? Nếu bỏ tiền
để giúp kẻ khác giết, trộm, dâm, dối th́ mới
là kết ác duyên. Chớ nên không biện định [rơ ràng]!
* Hỏi: Nghiệp
lực trong thế gian này giống như một cái lưới,
nghiệp lực có tác dụng liên kết như mắt
xích. Hết thảy sự vật trong thế gian, chẳng
có chuyện ǵ không chịu sự chi phối của luật
nhân quả, đối với chuyện này có cách nào? (Hồng Hoàn hỏi)
Đáp:
Kẻ chẳng hiểu Phật lư sẽ bị nhân quả
chi phối, chẳng có cách thức giải thoát. Nếu học
Phật pháp, hiểu rơ lư duyên sanh, sẽ có thể lợi dụng
nhân quả để tự độ, độ người.
Nhân quả cố nhiên giống như mắt xích nối
nhau, thật sự cũng là công cụ giải thoát vậy!
*
Hỏi: Kinh dạy: “Tâm có thể
tạo nghiệp. Tâm có thể chuyển nghiệp, vạn
pháp duy tâm” chính là chân lư. Lại nói: “Định nghiệp chẳng thể chuyển. Giả
sử trăm ngàn kiếp, nghiệp đă làm chẳng mất.
Khi nhân duyên hội ngộ, quả báo vẫn tự chịu”.
Chuyện này lại nói như thế nào? (Lại Đống Lương hỏi)
Đáp: Khởi Hoặc, tạo nghiệp, chịu
khổ, gọi là “tam chướng”.
Tu hành là ǵ? Chính là đoạn Hoặc. Nếu đoạn sạch
Hoặc, lấy đâu ra nghiệp? Đấy gọi là “tạo nghiệp, chuyển nghiệp,
bậc thánh có thể làm được”. Chỉ v́ tu tập
chấp tướng hữu lậu thiện, chẳng hiểu
lư tánh Không, những trói buộc đều tồn tại,
tức là “nghiệp đă làm chẳng
mất”. Gặp duyên bèn chịu báo, đấy là chuyện
của phàm phu.
* Hỏi: Trong Hư Vân Ḥa Thượng Pháp Vựng,
có kể một công án: Trong nhiều đời trước
kia, đức Phật từng làm một đứa bé trong
một thôn chài. Có một lần, nước cạn, bắt
được rất nhiều cá. Trong số ấy, có một
con cá to đến mấy ngàn cân. Thôn dân đều đến
xẻ thịt con cá to để ăn. Đứa bé chỉ
đánh lên đầu con cá to ba cái. Về sau, con cá to ấy
làm vua Lưu Ly, những con cá nhỏ làm binh tướng. Đứa
bé làm Phật Thích Ca. Khi vua Lưu Ly diệt họ Thích, đức
Phật cũng đau đầu ba ngày để chịu
quả báo đánh cá. Đức Phật đă là bậc “nghiệp
tận, t́nh không”, cần ǵ phải thọ báo? (Lại Đống Lương hỏi)
Đáp: Cư sĩ đă biết: Nghiệp đă
hết bèn chẳng thọ lănh, há có câu hỏi trên đây.
Trong công án này, cũng là do đức Phật phương
tiện, thị hiện tướng ấy. Nếu coi là chân
thật, chính là báng Phật! Phàm là người học Phật,
đều biết đức Thế Tôn đă chứng đạo
từ lâu xa. Đă chứng rồi, sao lại có tám tướng
thành đạo, trông thấy sao Mai bèn đại ngộ ư?
Chuyện Ngài đau đầu cũng như thế mà thôi!
* Hỏi: Thầy và tiên sinh Lương Khải
Siêu đều nói “đối với
nhân quả trong Phật giáo, thiện và ác chẳng thể
tiêu trừ nhau”. Chuyện này có mâu thuẫn với những
điều được nói trong Liễu Phàm Tứ Huấn
hay không? Trong tập sách nhỏ Phật Giáo Khoa Học Quan (Phật
giáo dưới cái nh́n khoa học), cư sĩ Vưu Trí Biểu[5]
cũng nói làm nhiều việc lành có thể chuộc lỗi.
Rốt cuộc đằng nào là đúng? (La Kiếm Nhân hỏi)
Đáp: Thiện và ác chẳng đối kháng
nhau, chính là nói theo học lư chân thật. Nói “chuộc lỗi” theo kiểu ông Viên [Liễu Phàm]
và ông Vưu là nói theo chuyện thiện xảo. Nói theo Lư, th́
Sự cần phải làm. Nói theo Sự, chẳng phải là
Lư không viên. Hăy nên biết: Vạn pháp sanh thành chỉ là một
chữ Duyên! Chẳng có duyên th́ chỉ có nhân suông mà không có quả,
cho nên sẽ không có vạn pháp. Trước hết, phải
hiểu duyên sanh th́ mới có thể bàn luận về nhân
quả. “Thiện ác chẳng
đối kháng nhau” giống như trước hết rải
hạt dưa, sau gieo hạt đậu. Hai thứ hạt
tuy cùng trong một cuộc đất, nhưng hai thứ hạt
dưa và đậu chẳng thể triệt tiêu lẫn
nhau. Sanh trưởng th́ mặc dưa dưa lớn, mặc
đậu đậu sanh. Nói “chuộc
lỗi” tức là trước kia đă tạo nhân ác, [nếu]
cứ tiếp tục chẳng thay đổi, tức là ác duyên
nhuần thấm, nhân chín muồi sẽ kết thành quả
ác. Nếu đă tạo cái nhân ác, về sau, chẳng dùng ác
duyên để vun quén nó nữa, đổi sang thiện nghiệp
th́ cái nhân ác đă tạo trước đó bị đè nén.
Do chẳng gặp ác duyên, nhân tạm thời chẳng sanh [ra
quả], thế mà thiện nghiệp ngày càng tăng, thiện
duyên ngày càng nhuận. [Cái nhân nào] có duyên vun bồi sẽ
chín trước, cho nên hưởng thiện báo trước.
Nhưng chủng tử của cái nhân ác vẫn c̣n y như
cũ; đó chính là lư “chẳng
đối kháng”. V́ thế, chẳng mâu thuẫn. Nếu
ngưng dứt thiện duyên, chẳng đè ép [ác duyên] nữa,
cái nhân ác lại có thể phát sanh. Ắt phải dùng thiện
duyên để chèn ép măi, cái nhân ác lâu ngày sẽ tự hư
nát. Đó là v́ nó không có sức nên tự diệt, chẳng
phải là đối kháng vậy!
* Hỏi: Tôi thường thấy tăng ni
làm Phật sự tụng kinh siêu độ cho kẻ khác. Đức
Phật đă nói thiện ác của chính ḿnh chẳng thể
tiêu trừ lẫn nhau, lại c̣n nói: “Nếu ai chẳng thể tự độ, ta cũng
chẳng thể độ kẻ ấy”. Như vậy
th́ làm sao tăng ni có thể giúp đỡ người chết
cho được? (La Kiếm
Nhân hỏi)
Đáp: Phật độ chúng sanh trong các đường
bằng cách dùng ngôn ngữ thuyết pháp, người nghe sẽ
chuyển mê thành ngộ, có thể chứng đạo quả.
Muôn pháp huyễn hóa, đức Phật có thần thông, dùng
thần chú bí mật, có thể biến đổi huyễn
giả. Kinh điển nhà Phật chỉ có pháp và chú, bậc
tăng ni hữu tu hữu đắc nương theo pháp ấy
để hành, phải trọn hết ḷng kính, cạn ḷng
thành, ngơ hầu chính ḿnh cảm ứng đạo giao cùng Phật,
kinh điển khơi gợi sự giác ngộ nơi vong
linh, chú lực biến huyễn. Có thể làm như vậy
th́ có thể nói là “độ vong”. Nếu chẳng thể
như thế, ắt sẽ vô hiệu.
* Hỏi: “Dẫu
trải trăm ngàn kiếp, nghiệp đă làm chẳng mất.
Khi nhân duyên tụ hội, quả báo vẫn tự chịu”,
tức là chẳng thể trốn tránh định nghiệp.
Trong Tiểu Tịnh Độ Văn[6]
lại có câu: “Thừa Phật
từ lực, chúng tội tiêu diệt” (Nương vào từ
lực của Phật, các tội tiêu diệt), tức là có
thể chuyển định nghiệp. Giải nói hai thuyết
ấy như thế nào th́ mới có thể viên dung? Lại
nữa, Vĩnh Gia đại sư có nói: “Liễu tắc nghiệp chướng bổn lai không,
vị liễu ưng tu hoàn túc trái” (Đă hiểu, nghiệp
chướng vốn là không. Chẳng hiểu, vẫn phải
đền nợ cũ). Có thể dùng câu ấy để
chú giải hai thuyết trên đây hay không? (Chung Quân Lương hỏi)
Đáp: Nghiệp do tâm tạo, nghiệp do tâm
chuyển. “Chẳng thể trốn
khỏi định nghiệp” chính là v́ cái tâm tạo nghiệp
chẳng chuyển. Nương vào từ lực của Phật
để diệt tội, tức là tâm và Phật hợp lại,
chuyển biến cái nghiệp. Tâm chẳng chuyển th́ nghiệp
duyên tăng thượng, pháp do nhân duyên sanh, cho nên có cái quả
chín muồi. “Tâm chuyển nghiệp”
là chẳng tạo ương họa mới. Do không có duyên để
sanh, lâu ngày [cái nhân ấy] sẽ đoạn diệt. Kệ
rằng: “Các tội như sương
tuyết, mặt trời huệ tiêu trừ”. Lại nói:
“Tâm nhược vong thời, tội
diệt vong. Tâm vong, tội diệt, lưỡng câu không” (Nếu
tâm đă mất, tội cũng mất. Tâm mất, tội
diệt, thảy đều không). Xét theo Lư, chẳng có mâu
thuẫn, vốn tự viên dung. Chữ Liễu (了)
trong bài ca của Vĩnh Gia đại sư chính là nói về
Không và Huệ vậy!
* Hỏi: “Tự
tác” (Tự làm) tức chẳng phải là “vận mạng” như thế
tục thường nói. “Tự
thọ” (tự chịu) tức là “chẳng thể chuyển định nghiệp”.
Nếu có thể chí tâm niệm A Di Đà Phật, có thể
sửa đổi vận mạng, có thể chuyển biến
định nghiệp hay chăng? (Giang Khoan Ngọc hỏi)
Đáp: “Định
nghiệp” là nói nhân và duyên đă trọn đủ, đă
chín muồi. Đă chín, sẽ chẳng thể khiến cho nó
không sanh, nên bảo là “chẳng
thể chuyển”. Như ném lựu đạn, khi đă
ném ra mà nó không nổ, tức là nhân tố chẳng đầy
đủ. Nếu đă đầy đủ, sẽ chẳng
thể nào không nổ! Tâm có thể tạo nghiệp, tâm có
thể chuyển nghiệp. Tạo nghiệp là tâm, niệm Phật
cũng là tâm. Tạo nghiệp có nghiệp lực, niệm Phật
há có thể nào chẳng có Phật lực? Nếu do trước
đây v́ mê mà tạo nghiệp, về sau, do giác ngộ bèn niệm
Phật, “nghiệp trước” do chẳng có duyên, sẽ
chẳng thể khởi, “nhân sau” do có Phật lực bèn tiếp
tục phát khởi. Nghiệp trước do lâu ngày sẽ đoạn
trừ hoặc ẩn kín, tức là “chuyển”. Nhưng cần phải là khi nghiệp
trước chưa chín muồi, hăy sớm niệm Phật.
Nếu đợi đến khi nghiệp quả đă chín,
mới niệm Phật, sợ rằng sẽ chậm trễ!
* Hỏi: Có vị cư sĩ nọ, tu hành nhiều
năm rất tốt đẹp, v́ sao mắc bệnh? Thậm
chí gặp phải nghịch cảnh. Đó là quả báo do đời
trước của ông ta? Hay là do đời này tu hành chẳng
đến nơi đến chốn? (Triều Tân Ban hỏi)
Đáp: Vị cư sĩ ấy tu hành siêng
hay lười, chẳng thể do cái nh́n nông cạn mà có thể
biết được! Nhưng chẳng cần quan tâm công
phu siêng hay lười, đời trước luôn có nghiệp
chướng. Hễ có chướng, ắt sẽ chuyển
thành nỗi khổ dây dưa, nghịch cảnh vùi dập,
cái quả để đền bồi cái nhân là bệnh tật,
t́nh thế khó tránh được! Chỉ có điều, nếu
là kẻ lười nhác th́ bệnh khổ và nghịch cảnh
chính là đạo chẳng thắng nổi nghiệp. Nếu
siêng năng mà vẫn gặp bệnh khổ hoặc nghịch
cảnh, tức là dấu hiệu cho biết báo nặng
chuyển thành nhẹ, do công đức tu tŕ hiện thời,
[tội báo ấy] ắt sẽ tiêu diệt.
* Hỏi: Người trong nhà ư kiến cố
chấp “phải ăn thịt, sát sanh”, không tin có nhân quả
báo ứng. Lăo cư sĩ có biện pháp tốt đẹp
nào để có thể văn hồi hay không? (Chung Vân Xương hỏi)
Đáp: Ai có nghiệp chướng nấy, cũng
như ai có phước duyên nấy. Muốn trừ nghiệp
chướng, cần phải nhờ vào phước duyên.
Chẳng tin nhân quả, há có phước duyên ǵ? Đối
với chuyện này, cư sĩ cần phải dùng phương
tiện thiện xảo, chính ḿnh nêu gương tốt, khiến
cho người nhà khởi ḷng kính tín đối với
chính ḿnh trước. Sau đó, sẽ dần dần có thể
chuyển biến được!
* Hỏi: Trong Thích Ca Truyện, theo sự thuyết
pháp của đức Phật, nhân quả là hư giả,
chỉ có Phật giáo ngu mê là có nhân quả. Nếu nhân quả
là hư giả, tu đạo có lợi ích ǵ? (Diệp Đặc Hoa hỏi)
Đáp:
Gần đây, Thích Ca Truyện có nhiều loại, chẳng
biết cư sĩ xem loại nào. Tuy kẻ hèn này chưa thấy
[loại nào chép như thế], nhưng có thể suy đoán
nghĩa lư ắt chẳng phải là như vậy! Nếu
hiểu lầm, làm xằng, sợ sẽ chuốc lấy tội
báo. Trong kinh Phật, cố nhiên có nói tới Không và Giả,
nhưng nghĩa lư ấy tột bậc tinh vi, kẻ sơ
học mà nghe sẽ chẳng thể hiểu được!
Nay tôi muốn giải thích lư ấy, nhưng sợ rằng
sẽ đẩy ông vào chỗ ngoan không! Cổ đức
nói: “Ninh khởi Hữu Kiến
như Tu Di sơn, bất khởi Không Kiến như giới
tử” (Thà dấy lên Hữu Kiến như núi Tu Di, chẳng
dấy Không Kiến chừng bằng hạt cải), đă
nói lên ư chỉ ấy. Lại có công án “chẳng rớt vào nhân quả”[7], chắc là ông đă nghe quen
tai rồi, hết sức đáng sợ! Xem kỹ lời hỏi,
cư sĩ là người tin nhân quả. Kính cẩn ca ngợi
cư sĩ “lành thay, lành thay!” Trong
Thập Giới và Thập Như của kinh Pháp Hoa có “như thị nhân” và “như thị quả”; đă
nói là “như thị”, làm sao
bảo là hư giả cho được!
* Hỏi: Trong một tạp chí Phật giáo,
tôi thấy có nói: Ngài Mục Kiền Liên có pháp đại thần
thông, đem toàn bộ người trong thành Ca Tỳ La bỏ
vào trong bát, khiến họ đều hóa thành bột tro. Nói
theo Phật giáo, đấy chẳng phải là rất thiếu
từ bi ư? Lại c̣n phạm giới rất lớn nữa?
(Diệp Đặc Hoa hỏi)
Đáp: Chuyện này là do cư sĩ đọc
chưa rơ ràng. Thuở ấy, vua Lưu Ly dùng binh lực muốn
diệt ḍng họ Thích, tôn giả Mục Liên dùng bát chứa
bao nhiêu người là muốn cứu thoát họ, nhưng
do quan hệ nhân quả, [những người họ Thích] chẳng
thể tránh khỏi [sát kiếp ấy], họ tự hóa thành
bột tro. Thật sự chẳng phải là do tôn giả Mục
Liên giết chết, chớ nên hiểu lầm!
* Hỏi: Tôi có một người thân thích
trong quá khứ đánh cá kiếm sống, nay đă đổi
sang nghề làm ruộng. Vậy th́ sát nghiệp đă tạo
trong quá khứ có thể giảm thiểu hay không? (Giang Khoan Ngọc hỏi)
Đáp: Trước làm nghề chài, nay làm ruộng,
sửa đổi ác nghiệp cố nhiên là tốt lành. Chỉ
là chẳng tạo họa ương mới, vẫn chưa
thể tiêu trừ nghiệp cũ. Hăy nên biết: “Giả sử trăm ngàn kiếp,
nghiệp đă tạo chẳng mất, khi nhân duyên hội họp,
quả báo vẫn tự chịu”. Nghiệp cũ chẳng
thể tự do tiêu trừ, cần phải tu tŕ Phật
pháp, dùng tâm sám hối th́ mới tiêu diệt được!
* Hỏi: Trong kinh Đồng Vấn, lại
có chuyện do mười nghiệp mà cảm các ác báo ở
bên ngoài. Nếu có chúng sanh, do hay tu tập mười bất
thiện nghiệp, nên cảm vời các vật bên ngoài thảy
đều không đầy đủ. Một là, do sát nghiệp
nên khiến cho các báo ở bên ngoài như “đất đai chua mặn, dược thảo không
có sức”, hai là do nghiệp trộm cắp, nên cảm báo
bên ngoài là “sương, mưa
đá, châu chấu v.v... khiến cho cơi đời đói kém”,
và điều thứ năm, do nghiệp lưỡng thiệt
mà cảm quả báo bên ngoài: Đại địa cao thấp
chẳng bằng phẳng, “núi
cao, vách đá, hang hốc hiểm trở, cây cao, cành thấp,
nghiêng đổ, rậm rạp”. Xin thầy hăy phân biệt
nhằm giải tỏa nghi vấn. (Thái Lân Định hỏi)
Đáp: Tạo nhân như
thế nào, đắc quả như thế ấy. Một
là đất biến thành chua, mặn, chẳng sanh ngũ cốc,
con người chẳng có cái ăn, lấy ǵ để dưỡng
mạng? Dược thảo không có sức, chẳng thể
chữa bệnh, làm sao cứu được người tử
vong? Đấy là do sát nghiệp cảm vời. V́ thế,
sanh mạng của kẻ gây tạo [sát nghiệp] cũng
chẳng thể duy tŕ được! Hai là tuy đất
không biến thành chua mặn, nhưng gặp cảnh sương
giá, mưa đá, châu chấu, ngũ cốc cũng hao tổn.
V́ thế, con người chẳng đủ ăn, gọi
là “nạn đói kém”. Đó là do nghiệp trộm cắp cảm
vời, nên kẻ tạo nghiệp cũng bị bần cùng,
thiếu thốn. Năm là cuộc đất hiểm trở,
hoang vu, đi đường gặp rất nhiều nỗi
chướng ngại. Đó là do lưỡng thiệt thêu dệt
thị phi cảm vời, cho nên kẻ tạo nghiệp mắc
hại v́ bị ách tắc, ngăn trở, chẳng thuận
lợi!
* Hỏi: Trong Phật Thuyết Nghiệp Báo
Sai Biệt Kinh, đức Phật bảo Thủ Ca: “Có mười nghiệp có thể
khiến cho chúng sanh mắc phải quả báo đoản mạng”,
[trong ấy], “năm là căm
ghét, muốn cho diệt mất”. Xin thầy hăy khai thị
điều nghi này. (Thái Lân
Định hỏi)
Đáp: Điều này có nghĩa là đối
với một loại động vật mà có tâm ghét bỏ,
muốn tiêu diệt nó. Nói cách khác, chính là muốn giết chết
nó. Đó là ác nghiệp sát sanh, sẽ bị quả báo đoản
mạng.
* Hỏi: Có người suốt đời làm
việc thiện, tận hết sức tin Phật, niệm
Phật, đến lúc tuổi già, trong nhà gặp đại
họa hết sức bất hạnh. Về sau, bản thân
người ấy biến thành giống như hồn ĺa
khỏi xác. Tôi cảm thấy người tin Phật mà hứng
chịu ác báo ấy thật đáng thương, nhân quả
như thế nào? (Trần Thanh
Long hỏi)
Đáp: Học Phật có người đi
theo đường lối chân thật, có kẻ đi theo đường
lối tương tự, có kẻ theo đường lối
giả mạo, tạp nhạp. Rốt cuộc ông ấy đi
theo đường lối nào? Có người chân tâm cầu
đạo, có kẻ chỉ chú trọng hư danh, có kẻ
tham danh cầu lợi, có kẻ giải đăi, buông lung, hôn
trầm, lao chao, đúng pháp và chẳng đúng pháp sai khác! Ông
ấy tu hành, coi trọng kiểu nào? Phải nên lấy những
điều ấy làm vấn đề tiên quyết [để
luận định]. Nhân quả vốn thông ba đời,
nhân có lớn, nhỏ, có chân và ngụy, có tiến và lùi, có
người từ đầu đến cuối đều
thiện, có người từ đầu đến cuối
đều ác, có kẻ trước thiện sau ác, có kẻ
trước ác sau thiện, có kẻ thiện ác hỗn tạp,
có kẻ ngoài lành, trong ác, có kẻ ngoài ác, trong lành. Quả có
sớm, muộn, có báo ngay trong đời này, báo trong đời
sau, có báo sau hai, ba, bốn đời, có chuyển thọ[8],
có báo bị tiêu diệt, có trường hợp trước
là được phước, sau gặp họa, có trường
hợp trước là mắc họa, sau được phước.
Trong đó, bù qua sớt lại, lắm nỗi biến hóa. Đó
là vấn đề “vạn pháp nhân duyên” vậy. Lư do trên đây
tuy nông cạn, nhưng kẻ phàm phu nông cạn, hời hợt
cũng chẳng thể hiểu rơ. Chuyện này giống như
quan ṭa định tội, [ắt cần phải] có học
vấn chuyên môn. Người b́nh phàm chẳng hiểu pháp luật,
tự nhiên cũng sanh nghi hoặc đối với pháp luật.
* Hỏi: Có kẻ ỷ quyền thế hiếp
đáp người khác, có những hành động bất hảo
như nói lời dối trá, thích đánh đập người
khác v.v... Quả báo tốt lành do gă ấy đạt được
chẳng bị hư hoại là v́ lẽ nào? (Trần Thanh Long hỏi)
Đáp: Cổ nhân nói: “Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo, nhược
hoàn bất báo, thời thần vị đáo” (Thiện
có thiện báo, ác có ác báo, nếu vẫn chưa báo, thời
gian chưa đến). Lại tham khảo câu trả lời
cho câu hỏi trước đó, sẽ tự có thể hiểu
rơ.
* Hỏi: Phải dùng phương pháp ǵ th́ mới
có thể biết cái nhân trong kiếp trước là từ đường
nào (trong lục đạo) xuất thế? (Quách Bang Quang hỏi)
Đáp: Chuyện này chẳng phải là phàm
phu mà ḥng biết được. Bậc đắc Túc Mạng
và Thiên Nhăn mới có thể nhận viết. Nhưng nh́n vào
thân tướng của một người, cũng có thể
suy ra để biết nghiệp đă tạo từ trước.
Như người câm, ngọng, đui, điếc là do phỉ
báng, chẳng tin v.v... mà ra. Nh́n vào cử chỉ, cũng có
thể suy ra [người ấy] từ đường nào
đến, như [từ] loài khỉ vượn [sanh làm người]
sẽ bộp chộp, lụp chụp v.v... khó thể nêu trọn,
hăy xem nhiều kinh [sẽ biết]!
* Hỏi: Mẹ tôi ăn chay từ trẻ.
Thuở xuất giá, [làm dâu trong] gia đ́nh tin theo đạo
Thiên Chúa. Chẳng bao lâu, thoát ly quan hệ thân thuộc, tới
nay, gia phụ đă khuất bóng, từ mẫu thất thường,
con th́ bị bệnh ho ra máu (chứng tiểu khí quản bị
nở rộng). Xin thầy hăy giải thích đoạn nhân
quả này! (Lữu Mậu Thịnh
hỏi)
Đáp:
Nhân quả cần phải luận định ba đời.
Quả báo lại chia thành ba thứ “hiện, sanh, hậu” (quả báo trong hiện đời,
trong đời kế tiếp, và trong đời sau nữa).
Những ǵ lệnh đường đang hứng chịu
hiện thời thuộc về loại nào, phàm phu chẳng
thể biết thấu triệt! Nhưng nhân có thể kết
thành quả, ắt cậy vào duyên. Duyên là nghiệp thiện
ác đang làm trong hiện thời, nó có sức mạnh tăng
thượng hoặc giảm bớt. Đối với t́nh
huống của lệnh đường trong hiện thời,
chẳng thể biết nhân trước, nhưng nghiệp
hiện tại khá phân minh. Như trước kia, cụ
đă ăn chay, nhất định là chẳng sát sanh.
Đó là Từ. Trước kia, coi trọng nhân luân, chắc
chắn là tôn kính cha mẹ, đó là Hiếu. Từ và Hiếu
đều là thiện. Về sau, bỏ ăn chay, tức là
bỏ ḷng Từ. Đoạn tuyệt quan hệ thân thuộc,
tức là bỏ Hiếu. Vứt bỏ Từ và Hiếu, đều
chẳng phải là thiện! T́nh trạng hiện thời có
phải là cái quả trong hiện tại hay không, xác thực
là chẳng thể biết, nhưng do có cái duyên bất thiện,
cho nên thuộc loại dễ thấy!
* Hỏi: Tôi thường đọc kinh sách
về nhân quả, thấy có nói: “Thổ
huyết là do đời trước ăn thịt mà tụng
kinh”. Chẳng biết sự thật là như thế nào?
Nói “ăn thịt, tụng kinh”
là như thế nào? (Lữu Mậu
Thịnh hỏi)
Đáp: Ông nói kinh nhân quả và lời kinh đă
dẫn, rốt cuộc là kinh nào, chưa thể nói cặn
kẽ, cho nên tôi chẳng dám đáp bừa. Nhưng nói chung,
nhằm khuyên người ta làm lành. Nay tôi chỉ có thể
giải thích một câu “ăn
thịt, tụng kinh” mà thôi. Kinh là lời dạy của
đức Phật, nhằm lợi ích chúng sanh. Đă vừa
quư báu, lại vừa tôn quư, đối với kinh, phải
nên nghiêm cẩn kính trọng. Ăn thịt ô trược, hơi
miệng chẳng sạch, tụng tŕ kinh văn sẽ có phần
bất kính!
* Hỏi: Đức Thế Tôn thường
nói: “Định nghiệp chẳng
thể chuyển”. Nay mẹ bệnh, kẻ làm con chẳng
thể chịu bệnh thay. Kẻ làm con đau khổ, mẹ
cũng chẳng biết làm sao? Kính nghĩ: Hành vi trong hiện
tại chính là nhân quả được kéo dài đến vị
lai. Mẹ tôi tạo nghiệp, vật vă thọ báo, vĩnh
viễn chẳng có lúc thoát khỏi! Phận làm con, có cách ǵ để
giúp cho mẹ tôi sống an ổn? (Lữu Mậu Thịnh hỏi)
Đáp: “Định
nghiệp chẳng thể chuyển” là do đức Phật
nói, mà “sám trừ nghiệp
chướng” cũng do đức Phật nói. Nhằm
khế hợp các căn cơ, mỗi đằng đều
có diệu dụng. Cư sĩ chẳng nghe chuyện của
Địa Tạng Bồ Tát và tôn giả Mục Liên ư? Mẹ
của Bồ Tát và tôn giả đều đọa ác đạo,
đều do hạnh của hiếu tử mà đều được
siêu thăng! Lệnh đường hiện c̣n sống
trong nhân gian, thời gian hăy c̣n chưa muộn, nếu cư
sĩ có thể thật sự phát tâm đại hiếu, v́
lệnh đường xót xa cầu khẩn Tam Bảo, làm
nhiều việc thiện thật sự, sẽ cảm ứng
đạo giao. Không chỉ là sau này khỏi bị trầm
luân, mà đời hiện tại c̣n có thể được
phước. Nhưng nếu chẳng chí thành, hiệu lực
sẽ rất bé. “Chí thành” nghĩa là ǵ? Ắt phải là tâm
chẳng xen tạp, chuyên tinh duy nhất th́ mới được!
* Hỏi: Có những mối oan cừu có phải
là đời này mới tạo hay không? Ví như có hai người
đời trước hoàn toàn chưa kết cái nhân ác, nhưng
trong đó, có một người giết hại kẻ khác;
do vậy, trong đời này lại phát sanh sự kiện
giết hại? (Thái Tổ Thiên
hỏi)
Đáp: Sự có nhân trước, quả nay,
cũng có nhân đời nay, quả đời sau. Hiểu
rơ lư b́nh thường này, sẽ chẳng cầm dựng đứng
cây tre dài mười trượng để đến nỗi
chẳng thể đi qua cửa thành cao một trượng!
* Hỏi: Mấy năm gần đây, sâu rầy
tổn hại lúa mạ đặc biệt dữ dội. Đây
là chuyện khiến cho nhà nông phiền năo nhất, đau
khổ nhất. Dăm ba ngày nếu chẳng chú ư kiểm
tra mạ, trong ṿng mấy ngày, mạ sẽ đổi màu
hoặc héo rũ. Mỗi thời kỳ, sâu rầy gây hại
khác nhau. Nếu chẳng phun xịt thuốc sát trùng, đúng
là chẳng có cách nào thâu hoạch. Nếu phun xịt thuốc
sát trùng, lại phạm tội sát sanh. Loài “vạn vật chi linh” do cái ăn mà phát sanh vấn
đề! Nguyên nhân sâu rầy có phải phần nhiều là
do mối quan hệ với ác nghiệp trong đời quá khứ
cảm vời hay không? Xin đại cư sĩ hăy giải
thích! (Chung Vân Xương hỏi)
Đáp: Theo kinh truyện Trung Hoa ghi chép, “ḥa khí trí tường, lệ khí
trí ương” (ḥa khí dẫn đến tốt lành, khí
hung hiểm dẫn đến tai ương). Đời hưng
thịnh th́ gió chẳng thổi rung cây, biển chẳng dậy
sóng, sao sáng, mây lành hiện trên bầu trời, kỳ lân, phượng
hoàng dạo chơi ngoài đồng. Sử sách c̣n chép: Quan lại
thanh liêm, tuân thủ pháp luật cai trị, giáo hóa, chánh trị
phù hợp ḷng người, sâu rầy chẳng vào bờ cơi,
cọp lánh sang nước khác. Dựa trên những điều
đă nói trên đây, sâu rầy nhiều hay ít, dường
như có liên quan đến nghiệp lực. Phật pháp kiêng
giết, đó là nhân; nhưng cũng có “khai, giá, tŕ, phạm” dung thông. Chánh quyền bảo
vệ nông sản cũng là v́ ḷng nhân, phân biệt người
và loài vật theo thứ tự trước sau. Phải gộp
chung những điều này lại để xem xét ḥng phán
đoán: Đối với nhân quả như đức Phật
đă dạy, ắt phải tin. Nông sản và cuộc sống
của nhân dân ắt phải bảo vệ. Như vậy
là hợp lẽ. Hăy thử nghĩ: Thời cổ không có
thuốc sát trùng, [thế mà] cũng phần nhiều
được mùa, đồ tể chẳng kiêng giết,
cũng được sống lâu, tức là cũng có những
nguyên nhân khác, không thể chỉ nh́n vào chuyện trước
mắt được!
* Hỏi: Thuyết nhân quả báo ứng chẳng
đơn giản cho lắm. “Thiện
có thiện báo, ác có ác báo”, mọi người cùng chấp
nhận. Nếu như kẻ ác hưởng phước, người
lành mắc hại, ắt phải dùng “nhân quả trọn khắp ba đời” để
giải thích. Dùng chuyện này để suy luận tương
tự, nêu lên những chuyện chẳng hợp lẽ thường
t́nh, như các vị thánh vương Nghiêu, Thuấn gặp
nạn lũ lụt lớn, cũng không ǵ là chẳng dùng “nhân quả thông ba đời”
để giải thích! Nhưng bỏ sót những nguyên nhân
có thể thấy được trong địa lư và khí hậu
tự nhiên, cứ quy hết vào thuyết “báo ứng v́ cộng nghiệp”, dường như
khó thể khiến cho kẻ khác thật sự vui vẻ,
tin phục được! Tóm lại, trong hết thảy sự
vật, đều tự có luật nhân quả tồn tại;
cớ ǵ đối với họa hay phước, nhất
định phải dùng chuyện “thiện ác báo ứng” để
giải thích? Như kẻ ác hưởng thụ của cải
là do trong đời này kẻ đó có tài kinh doanh mà ra, cớ
ǵ lại cứ nhất định dùng chuyện phước
báo đời trước để giải thích? Người
lành gặp tai nạn xe cộ bất ngờ, cần ǵ phải
dùng chuyện “ác quả trong đời trước đă
chín muồi” để giải thích, mà không t́m ṭi xem có phải
là trên đường [người ấy mê mải] suy tư
[nên chẳng chú ư đến chung quanh]. Nhân quả thông ba đời
làm sao được? Tôi chẳng hiểu ra sao cả! Mong
hăy giải thích cho th́ may mắn lắm thay! (Lư Liên Giai hỏi)
Đáp: Câu hỏi này quá tản mạn, hăy nên
quy nạp lại cho có thứ tự:
-
Một, “nạn lũ lụt trong đời các vị thánh
vương Nghiêu, Thuấn, nếu dùng cộng nghiệp nhân
quả ba đời để giải thích, bỏ sót những
điều có thể thấy rơ như địa lư và khí hậu
tự nhiên, sẽ khó thể khiến cho người khác thật
sự vui vẻ, tin phục”. Ông chẳng nghe ư? Luận
định sự việc th́ cần phải phù hợp “nhân,
duyên, quả”, chưa từng nói điều này mà bỏ sót
điều kia. Cộng nghiệp là nhân, địa lư và khí
hậu là duyên, tai nạn lũ lụt lớn chính là quả.
“Pháp chẳng dấy lên một
ḿnh”, “chẳng có duyên, sẽ
không sanh”. Hiểu rơ những điều này, ắt sẽ
biết Phật pháp nói đến “duyên” th́ phần nhiều là những thứ có thể
thấy trong hiện tại. Bất quá v́ khế hợp các
căn cơ mà nói đơn giản, hay nói phức tạp,
phương tiện bất đồng mà thôi.
-
Hai, “hết thảy các sự vật đều có luật nhân
quả tồn tại, cần ǵ cứ phải đối
với họa phước, nhất định phải dùng
thiện ác báo ứng để giải thích”. Đọc sách
phải thông đạt, chớ nên câu nệ, chấp trước.
“Ác” không nhất định
là nói về giết, trộm, dâm, [chẳng hạn như] ư
nghiệp ngu si cũng là ác. Thiện không nhất định
nói về thí, giới, nhẫn; một độ trí huệ
(Bát Nhă Ba La Mật) cũng là thiện. Gặp cảnh nguy mà
có thể chế ngự, đánh thắng, đó là vị tướng
có trí. Chế ngự, đánh thắng là “phước quả”,
trí huệ của vị tướng chính là nhân lành. Mưu
tính mà không biết ẩn giấu cơ mưu sẽ hỏng
chuyện, chẳng biết ẩn giấu mưu mô là kẻ
ngu. “Hỏng chuyện” là họa quả, “kẻ ngu mưu tính”
là cái nhân ác. Nho gia cũng nói: “Làm
lành, trăm điều tốt lành giáng xuống. Làm điều
bất thiện, trăm nỗi tai ương giáng xuống”.
Bàn luận nhân quả mà nói tới thiện, ác, họa,
phước th́ chính là chánh thuyết.
-
Ba, “kẻ ác kinh doanh giàu có, người lành gặp tai nạn
xe cộ, cần ǵ phải dùng chuyện thiện ác đời
trước để giải thích, không t́m ṭi xem người
ấy có tài kinh doanh hoặc [chẳng chú ư] trên đường
phố hay không”. Người sanh về Cực Lạc, ắt
gieo cái nhân Cực Lạc. Kẻ sanh vào Sa Bà, há chẳng có cái
nhân trong Sa Bà? Đă biết là [nhân quả] thông ba đời,
sẽ chẳng phải chỉ luận định đời
trước! Đối với những ư khác, có thể suy
nghĩ về “các pháp do nhân
duyên sanh” th́ sẽ dễ hiểu được!
* Hỏi: Thường nói: “Định nghiệp chẳng thể dời”, nhưng
cái quả mà chúng ta hứng chịu trong một đời
này có phải phần nhiều là định nghiệp hay không?
(Khưu Thanh Tuyền hỏi)
Đáp: Đă thọ quả báo, làm sao có thể
chẳng có nghiệp nhân?
* Hỏi: Tôi bị chứng cà lăm. Nói theo
nhân quả, chẳng biết đă phạm tội ǵ? Hăy nên
sám hối như thế nào để trị? (Trịnh Chí Tây hỏi)
Đáp: Nhân duyên kết thành quả, t́nh h́nh
phức tạp. Có trường hợp là một duyên, có trường
hợp nhiều duyên; tung tích biến hóa, chẳng phải chỉ
là một đầu mối! Nhưng mắc chứng cà lăm,
có thể là v́ khẩu nghiệp. Do lời nói chẳng ĺa ư
niệm, hăy nên sám hối cả ngữ lẫn ư. Cách thức
là niệm Phật, hoặc niệm kinh, ắt phải niệm
đến mức tâm và miệng nhiếp thành một. Đấy
chính là “song sám” (sám hối cả
hai nghiệp), mà cũng là “chân
sám” vậy! Niệm Phật cần phải từng câu
liên tục, niệm kinh th́ âm vận phải trôi chảy. Từ
rày về sau, hăy nên kiêng nói dối, nói đôi chiều, nói thêu
dệt, ác khẩu, lâu ngày ắt sẽ có cảm ứng.
* Hỏi: Nay chúng ta dùng xâu chuỗi để
niệm Phật, có lần chuỗi sẽ có ích. Tu cái nhân có
cùng tận mà trong tương lai sẽ hưởng thụ
cái quả vô tận. Nhân này, lư này, nói có suông hay không? (Châu Huệ Luân hỏi)
Đáp: Bản thân xâu chuỗi sẽ chẳng
thể niệm Phật. Niệm Phật là cái tâm của chính
ḿnh niệm, lần chuỗi để nhớ số, bất
quá nhằm dấy khởi chánh niệm, nhắc nhở [chính
ḿnh] đừng bị thoái chuyển mà thôi! Nếu thật
sự biết “niệm niệm sanh diệt, diệt rồi
lại sanh”, đem việc lần chuỗi phối hợp
với ư niệm, ư niệm [niệm Phật] chẳng ngừng,
xâu chuỗi cũng lần chẳng ngừng, há có cùng tận?
Nếu có thể niệm đến mức hết sạch
ư niệm, sẽ chẳng cần dùng xâu chuỗi nữa. Đấy
mới là cư sĩ hưởng thụ cái quả vô tận.
* Hỏi: Có hai người là Giáp và Ất hỏi
tôi. Giáp hỏi: “Có người nói phát Bồ Đề tâm làm
Phật sự sẽ chẳng có lúc nào bị bệnh. Chuyện
này có thật hay chăng?” Tiếp đó, Ất bèn nói: “Có ông
X... nọ đúng v́ Phật giáo mà phát tâm, nhưng ông ta cứ
thường mắc bệnh rề rề, đây lại là
do đạo lư ǵ?” Khiến cho tôi ú ớ, chẳng biết
trả lời ra sao, xin hăy dạy tường tận! (Tín Nghĩa Ban hỏi)
Đáp: Phát Bồ Đề tâm chính là thiện
nghiệp. Chúng sanh mắc bệnh tật, chính là ác báo. Ác báo
ắt có ác nhân, ác nhân ắt phải nhờ vào ác duyên. Duyên
vun bồi cái nhân, khiến cho ác báo thành tựu. Nếu thường
phát Bồ Đề tâm, tức là thiện duyên thường
tăng, tuy có ác nhân xưa kia, nhưng hiện thời chẳng
gặp ác duyên, cho nên bệnh tật tạm thời chẳng
sanh! Đối với chuyện ông X... như trong lời cật
vấn của ông Ất, chuyện ấy cũng có nhiều.
Nếu hiểu giáo lư, mối nghi sẽ tự giải quyết.
Một là do ác nghiệp quá nặng, phát tâm rất yếu,
thiện không chống nổi ác, tự nhiên ác báo vẫn chín
muồi. Ví như một đốm lửa muốn nung chảy
khối băng dầy trăm trượng, sẽ chẳng
thể nung chảy băng, v́ sức chẳng đủ! Hăy
nên càng thêm cảnh giác, cần phải tinh tấn sám hối
để tiêu trừ. Một lẽ khác nữa: Do ác nghiệp
sắp chín muồi, có phần trong tam đồ, nhưng do
tâm Bồ Đề mạnh mẽ, có sức chuyển dời,
khiến cho báo nặng chuyển thành báo nhẹ, tức bệnh
tật. Hăy nên tự khích lệ, biết công lẫn hạnh
đều chẳng luống uổng!
* Hỏi: Có một ngày, đức Phật ngự
tại thành Vương Xá, ở trong vườn trúc Ca Lan Đà,
giảng kinh, thuyết pháp. Lúc ấy, ngài Mục Liên vừa
xuất Định, đến dạo chơi bên sông Hằng.
Thấy các ngạ quỷ chịu tội bất đồng.
Lúc đó, các ngạ quỷ đều dấy ḷng cung kính, đến
hỏi ngài Mục Liên: “Do nhân duyên xưa kia ǵ mà bị quả
báo ấy?” Một quỷ hỏi rằng: “Từ lúc sanh ra
cho tới nay, tôi luôn đói khát. Muốn đến nhà xí để
lấy phân ăn th́ trong nhà xí có đại lực quỷ dùng
gậy đánh tôi, chỉ đành tránh xa, chẳng tới gần
được. Đấy là do tội nào mà nên nỗi?” [Như
vậy th́] sức thần thông to lớn hay nghiệp lực
to hơn? (Hồng Hoàn hỏi)
Đáp: Cả hai chuyện ấy đều
là nhân quả. Nghiệp lực thuộc về nhân, thần
thông thuộc về quả. Nhân có thể thành quả, nhưng
quả chẳng thể sửa đổi nhân. Nhân là sức
mạnh đang phát triển, quả là sức mạnh đă
hoàn thành. Hiểu rơ lư này, ắt biết thần thông chẳng
thể vượt trỗi nhân quả được! Trong
[các kinh thuộc về] A Hàm Bộ [trong Đại Tạng],
có chép nhiều khải thị. Như trong cuộc chiến
[tiêu diệt ḍng họ Thích Ca] của vua Lưu Ly, tôn giả
Mục Liên chẳng thể cứu những người họ
Thích. Hai vị tỳ-kheo có thần thông vào trong nước
[dễ dàng như đi trên đất liền] nhưng chẳng
thể tránh khỏi sanh tử, chính là v́ lẽ đó.
* Hỏi: Nếu có người Giáp nọ cố
ư mưu toan giết hại Ất, Giáp lại bị quốc
pháp trừng phạt, xử tội tử h́nh. Xin hỏi: Đời
sau, Giáp vẫn nợ Ất một mạng hay không? (Huyễn Ngu hỏi)
Đáp: Ông Giáp bị quốc pháp xử tử,
nếu v́ tội giết Ất th́ xét theo luật dương
gian để luận, đă đền mạng rồi! Nếu
phân tích theo tŕnh tự của tâm niệm, sẽ phải luận
định khác đi. V́ từng nghe “có nhiều nhân mà một
quả”, cũng có trường hợp “một nhân mà nhiều
quả”. Xét theo tâm lực của chúng sanh, chẳng thể
nói luông tuồng được! Ông Giáp bị xử tử,
nếu chẳng v́ tội giết Ất th́ nhân quả giữa
Giáp và Ất vẫn tồn tại y như cũ!
* Hỏi: Có phải là trong kinh Phật thường
nói đến “cái nhân trong đời trước, cái quả
trong đời này”. V́ thế, tôi đối với hai câu ấy,
chẳng có cách nào liễu giải. Bởi lẽ, chuyện
đă làm trong đời trước, đời này chẳng
có cách nào biết được! Nó là một thứ vô ảnh
lại vô h́nh, có thể nêu ra chứng cứ hay không? V́ thế,
đối với kẻ khác, đệ tử chẳng có cách
nào khiến cho họ liễu giải được! Lấy
rất nhiều thứ để biểu thị điều
đó th́ chúng cũng đều là chẳng có h́nh ảnh tồn
tại! (Vương Phước
Lang hỏi)
Đáp: Biện luận cùng người khác,
ắt phải trọn đủ hai sự:
-
Một là thâm nhập Phật hải, biện tài vô ngại.
-
Hai là sở học tuy nông cạn, phải có thế trí biện
thông.
Điều
trước là chánh đáng, áp dụng cho bậc hữu học.
Điều sau là quyền biến, áp dụng cho kẻ vô học.
Nếu chẳng có cả hai điều ấy, chẳng biện
luận với người khác th́ tốt hơn. Nay tôi giải
thích giùm ông: Trong lời hỏi, kẻ viện cớ chẳng
có cách nào để có thể biết được, bèn bài
xích nó (nhân quả) là vô ảnh, tỏ rơ sự ngu tối! Phật,
Bồ Tát đă phá Trần Sa Hoặc, không ǵ chẳng biết.
Phàm phu ngu si tầng tầng, cho nên chẳng biết ǵ! Do chẳng
biết bèn chẳng tin, chính là bản sắc của phàm phu,
cũng chẳng có ǵ là lạ! Họ đ̣i nêu chứng cứ,
hăy nên biết: Trứng nở ra gà, gà trưởng thành chẳng
biết trứng do đâu mà có. Nhưng con người th́
thấy trứng là tiền nhân, gà là hậu quả, rành rẽ
phân minh! Gà có bao giờ từng thấy cái trứng nở
ra chính ḿnh hay không?
* Hỏi: Những tôn giáo trên cơi đời
trong hiện tại có phải là đều dạy con người
tu thiện đạo. Bất quá, cớ sao chánh phủ ngăn
cản Nhất Quán Đạo truyền giáo? Có phải là v́
họ truyền bá giáo nghĩa chống đối chánh phủ?
Họ tin tưởng những giáo nghĩa như thế nào?
(Vương Phước Lang hỏi)
Đáp: Tôn giáo luôn dùng chuyện khuyến thiện
để hiệu triệu, nhưng thiện có chân và ngụy,
giáo chia thành tà và chánh. Lại c̣n có trường hợp bề
ngoài xưng là tôn giáo, nhưng ngấm ngầm có mưu
đồ riêng khác. Người chẳng đọc sử
sách nhiều, dễ bị chúng nó lừa gạt, lầm
tưởng mắt cá là ngọc trai, thường là như
vậy! Ở đây, tôi giới thiệu hai cuốn sách là
Ám Lộ Minh Đăng (đèn sáng trong đường tối)
và Kỹ Lộ Chỉ Quy (chỉ lối về nơi
đường rẽ). Đọc xong, ông sẽ tự
nhiên liễu giải những điều nghi ngờ (hai cuốn
sách ấy, bổn xă và Thụy Thành Thư Cục đều
có lưu thông).
* Hỏi: Người sau khi đă chết, v́
sao vẫn là chưa thể hết chuyện? V́ có thuyết
linh hồn, vẫn cần phải luân hồi trong lục
đạo. Làm như thế nào để khiến cho thính
chúng tin chắc chắn, chẳng nghi ngờ cái thuyết “linh hồn và luân hồi trong lục
đạo” như vừa mới nói? (Thiệu Tá Đ́nh hỏi)
Đáp: Để suy luận ḥng biết sự
lư, có ba pháp tắc để cân nhắc (Tam Lượng). Hai
câu hỏi [như trong thư ông đă nêu] đều ra ngoài
Hiện Lượng, chỉ có bậc trí mới có thể
dễ khế hợp, tin tưởng. Đối với kẻ
trí huệ chưa đạt đến mức, cũng chẳng
có cách nào miễn cưỡng được! Do Tỷ Lượng
có thể biết linh hồn như mộng, chẳng phải
là sắc thân, cũng chẳng có thực chất, tức là
linh hồn. Do Thánh Giáo Lượng có thể biết luân hồi.
Trong kinh Phật đă chép chuyện này thật nhiều.
Trong kinh Kim Cang, [tiền thân của] đức Phật là
Nhẫn Nhục tiên nhân, ai nấy đều biết. Kinh sử
của thánh hiền đời trước chép chuyện luân
hồi càng nhiều hơn, Bành Sanh [chết đi hóa] thành lợn,
Như Ư (tức Lưu Như Ư, con của Lưu Bang, sau khi
bị Lữ Hậu giết) hóa thành chó v.v... Đấy là
chứng cớ người [chết đi] biến thành súc
vật. Như chim tu hú hóa thành chim ưng, chim sẻ vào nước
lụt hóa thành bồ câu v.v... Đấy là chứng cớ
súc vật biến thành súc vật ấy.
* Hỏi: Chúng ta có một câu nói là “lập địa thành Phật”
(ngay lập tức thành Phật), nhưng cư sĩ vừa
mới nói “thiện và ác chẳng
thể triệt tiêu lẫn nhau”, tức là thiện và ác vĩnh
viễn tồn tại. Quả báo sẽ phải hứng chịu
tùy thuộc vào sức mạnh của thiện ác lớn hay
nhỏ mà định. Như vậy th́ một kẻ tội
ác đầy ḿnh, làm sao có thể ngay lập tức thành Phật
cho được? Có phải là hết thảy các ác nghiệp
đă tạo do một niệm ấy mà tiêu diệt hay chăng?
Nhưng hành thiện lại có ư nghĩa ǵ? (Vô Danh Thị hỏi)
Đáp: “Lập
địa thành Phật”, quả thật có người như
vậy, nhưng không phải là ai cũng đều có thể
lập địa thành Phật! Nếu người nào cũng
đều có thể, đức Thích Tôn cần ǵ phải
trải ba A-tăng-kỳ kiếp? Cái quả của ác nghiệp
đều là do Hoặc làm nhân. “Hoặc”
là như thế nào? Chính là Kiến Tư Thập Sử. Ắt
phải đoạn hết sạch Hoặc th́ mới được
giải thoát! Kinh dạy như thế đó, chớ nên ảo
tưởng! Nếu có ác nghiệp, ắt sẽ gặp ác
báo. Đó gọi là “ác có ác báo”.
Nếu đă đoạn hết sạch Hoặc, giống
như cây đă chặt đứt rễ, hoa và trái đều
chẳng sanh. Người làm lành, chia thành hữu lậu và
vô lậu sai khác. Do hữu lậu thiện, đắc phước
báo trong cơi nhân thiên, chẳng thoát khỏi luân hồi. Vô lậu
thiện chỉ hiển lộ Tánh Đức, có thể đạt
đến địa vị Phật. Đó gọi là “thiện có thiện báo”. Báo
chia thành thiện và ác, sao lại nói là “làm lành chẳng có ư
nghĩa ǵ?” Nếu sợ ác nghiệp kết thành quả, chỉ
có một cách là đoạn Hoặc. Xét theo đạo lư, những
cách khác đều khó thể suông sẻ được!
* Hỏi: Có lúc ư niệm dấy lên hai nghiệp
thiện và ác, nhưng chẳng thật sự thực hiện,
[như vậy th́] sẽ có nhân quả báo ứng hay chăng?
Xin thầy chỉ dạy! (Khưu
Hiệp Thuận hỏi)
Đáp:
Khởi tâm động niệm là đă gieo hạt giống
xuống đất. “Chẳng thực hiện” là không có tăng
thượng duyên. Chẳng có duyên sẽ không sanh; không sanh,
sẽ chẳng có quả. Nếu niệm niệm [nghĩ dến
những điều thiện và ác ấy] chẳng ngừng,
sẽ là tăng thượng duyên, tuy chẳng thực hiện,
hễ duyên chín muồi [cái quả của những niệm ấy]
bèn sanh. Tốt nhất là hễ niệm dấy lên bèn giác, tức
là chẳng để cho nó tiếp tục th́ sẽ thanh tịnh.
* Hỏi: “Thời
thế tạo anh hùng”. H́nh thế xă hội, văn hóa
cao hay thấp, cùng với những sự kiện ngẫu nhiên,
đều có thể tạo thành cái quả bất đồng.
V́ thế, nhân quả hoàn toàn chẳng đơn thuần như
thế. (Trương Ngân Phú hỏi)
Đáp: Câu hỏi này chẳng có trọng tâm.
Xét theo ngữ khí, dường như là coi nhân quả được
nói trong Phật học và nhân quả như thế tục đă
nói là cá mè một lứa! Nhân quả [trong Phật học và
thế gian] tuy không có ǵ là chẳng nhất trí, nhưng đích
xác là có mức độ sâu hay cạn khác nhau. Nay tôi dùng Toán
Học để làm thí dụ. Hai phép tính Cộng và Trừ,
và phép tính vi tích phân là cùng một chuyện, nhưng sâu hay cạn
khác nhau! Nếu chẳng hiểu Nhân Minh Học, Duyên Sanh Luận,
“tùy duyên bất biến”, Bách Pháp Minh Môn, Tứ Đế,
Thập Nhị Nhân Duyên v.v... sẽ chẳng có cách nào bàn luận
nhân quả cặn kẽ được! Chỉ biết
thiện ác hiện báo trước mắt, [sẽ thấy nhân
quả] đúng là đơn thuần vậy!
* Hỏi: Do t́nh h́nh trên đây, nhằm để
chứng tỏ định luật và quy tắc biến hóa
trong xă hội, văn hóa, lịch sử v.v... luật nhân quả
phải nên từ tánh chất cá nhân suy rộng đến đoàn
thể. (Trương Ngân Phú hỏi)
Đáp: “Nhân quả không chỉ từ cá nhân mở
rộng đến đoàn thể”. Nhân quả hết sức
phức tạp, khó nói. Có tự nghiệp (nghiệp của
riêng ḿnh), có cộng nghiệp, có nhân duyên theo chiều dọc
như xét theo thời gian ba đời, có nhân duyên theo chiều
ngang như không gian mười phương. Ḷng nhân của
vua Nghiêu, sự tàn bạo của vua Kiệt, ảnh hưởng
chính trị về sau... Đó là nhân duyên ba đời. Vết
đen trên mặt trời ảnh hưởng tới sóng
điện trên địa cầu. Đấy chính là nhân
duyên trong mười phương vậy!
* Hỏi: Hiện thời, tại gia cư
sĩ dùng chiêu bài nhà Phật nhận lời mời cúng kiếng,
niệm kinh kiếm tiền ḥng nuôi sống gia đ́nh. Như
vậy th́ sẽ có hậu quả như thế nào? (Bổn Như hỏi)
Đáp: Người xuất gia làm chuyện
kinh sám c̣n bị cổ đức quở trách, huống hồ
kẻ tại gia buôn bán Phật pháp, hết sức chẳng
nên!
*
Hỏi: Sách Nhân Quả nói “có hai người sư huynh và sư
đệ, giữa đường thấy một con chuột
chết. Người thứ nhất trông thấy bèn chán ghét,
nhổ nước miếng, dùng gậy chống hất
tung nó đi. Người kia trông thấy bèn phát tâm từ
bi, thương xót nó, vùi lấp cẩn thận, niệm Phật,
niệm chú cầu siêu độ cho nó. Về sau, hồn con
chuột ấy quả nhiên siêu thăng, chuyển thế
làm cô con gái nhà nông. Có một hôm, hai người sư huynh,
sư đệ ấy do đi hóa duyên, đường xa đói
khát, thấy đằng xa có một nhà nông dân. Vị sa-di từng
chán ghét con chuột khi xưa hướng về cô ta hóa duyên,
bị cô ta cự tuyệt, lại c̣n chửi bới. Vị
sa-di đă mai táng con chuột hướng về cô ta hóa duyên
th́ được hoan nghênh, đối với hết thảy
mọi vật đều chọn thứ tốt nhất. Lại
c̣n cung kính sửa soạn thức ăn chay cúng dường
vị ấy, chẳng khác ǵ gặp được một
vị đại ân nhân”. Xác chết của con chuột ấy
c̣n có thể cảm ứng như vậy, huống là có thể
kiêng giết, phóng sanh ư? Xét theo đó, có phải là hồn
con chuột đă chết c̣n ở lại trong thi thể
hay không? Nếu không, do đă đầu thai vào nơi khác, làm
sao có thể có sự cảm ứng như vậy
được? Tục ngữ lại có câu: “Sống chẳng biết hồn,
chết chẳng biết thây”. Xác con chuột đă chết
ấy chẳng có lẽ nào cảm ứng được!
Lại nữa, bất luận sách vở thế tục hay
kinh điển nhà Phật đều nói xương khô có
linh hồn. Hiện thời, thế tục đối với
chuyện xương khô có linh hồn, có rất nhiều chứng
cứ xác đáng, chẳng biết lư nào là đúng, lư nào là
sai? Kính xin chỉ dạy. (Dịch
Cao Trụ hỏi)
Đáp:
Hai chữ “nhân quả” nghe
th́ dường như đơn giản, lư thật sự phức
tạp. Chẳng đắc Định và thần thông, chẳng
có cách nào biết tường tận! Nhưng có thể tin
và không thể tin sai khác. Tiểu thuyết hoặc bút kư
trong thế gian th́ có thể thuộc vào loại có thể
tin hay không thể tin, chứ những điều ghi chép
trong kinh luận nhà Phật, chẳng thể ngờ vực
được! Tuy tin chuyện ấy, nhưng đối
với lư th́ phàm phu chẳng thể nói [rành mạch] được.
Đối với câu hỏi mà ông đă nêu, kẻ hèn này chẳng
dám chơ mồm vào! Nếu cầu [nhận biết bằng] Tỷ
Lượng, sẽ hiểu đại khái phảng phất.
Theo Phật lư, không gian chẳng có rộng hẹp, thời
gian chẳng có xưa nay. Đối với chuyện như
ông đă nêu, tuy đă trải qua luân hồi, nhưng khí phận
trái nghịch hay thuận thảo vẫn như trong một
cái khảy ngón tay! Hễ trái nghịch th́ gặp gỡ sẽ
chống trái nhau, hễ thuận thảo th́ gặp gỡ sẽ
ḥa hợp. Đấy chính là sự cảm ứng giữa đôi
bên khiến thành ra như vậy, chẳng bắt buộc
hai bên có biết hay là không! Tôi nghĩ có thể dùng hai chuyện
để tham khảo: Tăng Tử đi ra ngoài, mẹ ông
ta cắn ngón tay, Tăng Tử liền cảm thấy đau
ḷng. Đó là một lẽ khí phận tương cảm vậy.
Người giết chó tuy đă cách mấy giờ, đến
chỗ chúng nó, lũ chó nếu gặp người ấy ắt
sẽ vây quanh sủa ầm ĩ. Đó là thí dụ thứ
hai về khí phận tương cảm vậy!
*
Hỏi: Phật giáo lấy chuyện cứu người giúp
đời làm mục đích như vậy, cớ sao lịch
đại cao tăng, ngay như Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
Phật, v́ lẽ nào ĺa bỏ hồng trần, vào chốn
núi sâu tu khổ hạnh? Đấy chẳng khác nào trốn
tránh hiện thực, chỉ nghĩ đến phước
lạc cá nhân mà thôi? (Âu Thúy Vân hỏi)
Đáp:
Trong lúc cầu học, ẩn cư chốn núi sâu, cảnh
tĩnh, tâm định th́ mới có thể nghiên cứu, cầu
học. Thư viện của Nho gia Trung Hoa phần nhiều
ở trong núi. Viện chánh trong [hệ thống đ́nh viện
của thư viện ấy] được gọi là “sơn trưởng” (山長,
núi chánh). Ở trong núi chẳng phải là để cầu
phước lạc! Đức Phật sống trong núi sâu,
chỉ trải qua sáu năm; sau khi chứng đạo, Ngài
đi khắp mọi nơi, mở hội giáo hóa độ
chúng sanh suốt bốn mươi chín năm, thuyết pháp
hơn ba trăm hội, Tam Tạng kinh điển mênh mông
lưu truyền trong cơi đời, giáo pháp lưu truyền
gần ba ngàn năm, những kẻ được cứu
dẫu dùng hằng sa khó thể tính kể! Hóa thân vô lượng
vô biên, trọn khắp thế giới, vĩnh hằng độ
chúng sanh, sao lại bảo là trốn tránh hiện thực?
*
Hỏi: Huống chi Phật giáo lại dùng hoa sen làm biểu
tượng. Đă dùng hoa sen làm biểu tượng, v́ sao
bỏ hồng trần, xa ĺa đời ác ngũ trược,
đấy chẳng phải là giống như rời khỏi
bùn nhơ ư? Đă ĺa khỏi bùn nhơ, lại làm sao có
thể tu thành một đóa hoa sen thanh tịnh cho được?
(Âu Thúy Vân hỏi)
Đáp:
Ư nghĩa được bao hàm trong hoa sen rất nhiều;
chẳng đọc kinh Phật, có nói cũng chẳng hiểu!
Nay tôi lấy một nghĩa đơn giản để
thưa tŕnh: Hoa ấy mọc từ bùn nhơ mà chẳng
nhuốm bẩn, vượt thẳng lên không trung, biểu
thị hành giả học Phật vào trong đời ô trược
rộng độ chúng sanh, nhưng bản thân chẳng tham
danh lợi, chẳnh tránh né gian khổ, như hoa sen chẳng
nhiễm mảy trần, tâm thanh tịnh, chánh trực. Đấy
chẳng qua là nương vào vật để tỷ dụ
sự, khiến cho người ta ngộ ư nghĩa: “Chẳng
vào trong đời trược, chẳng thể độ
chúng sanh. Chưa thể độ chúng sanh mà vào [trong đời
trược], sẽ cùng bị ô trược, sẽ chẳng
phải là thanh tịnh, chánh trực!”
*
Hỏi: V́ sao Phật giáo chẳng thừa nhận con người
do Thượng Đế sáng tạo? (Âu Thúy Vân hỏi)
Đáp: Lời Phật dạy đều là
chân ngữ, thật ngữ, bất cuống ngữ (lời
chẳng lường gạt), bất vọng ngữ (lời
chẳng dối trá). Con người chẳng phải là do
Thượng Đế sáng tạo, các nhà khoa học và triết
học Âu Mỹ đều nói như thế! Bất quá, lời
Phật dạy là nguyên lư, Ngài nói: “Các pháp chẳng có chỗ đến, mà cũng chẳng
có tác giả”, chưa hề nói tới chuyện Thượng
Đế tạo ra con người. Quư nữ sĩ đối
với Phật học vẫn chưa vào được cửa.
Nếu chẳng có thành kiến tôn giáo khác, xin hăy đọc
trước mấy tập sách nhỏ về Phật học,
khi bàn luận sẽ đỡ hiểu lầm!
* Hỏi: Đệ tử đối với
người chẳng tin nhân quả giải đáp như thế
này: “Tin và không tin, hễ tạo tội, sẽ phải chịu
báo ứng giống hệt như nhau, chẳng có sai biệt!
Chẳng qua, kẻ không tin nhân quả, khi thọ ác báo, sẽ
chẳng biết là do tạo tội mà cảm vời [quả
báo] ấy đó thôi! Nếu có người gặp phải
tai họa, th́ bảo là do chưa ngăn ngừa kỹ càng
mà ra. Thật ra, chủng tử tội ác ở trong tâm dấy
lên hiện hành, che lấp trí huệ. V́ thế, [điều
đó sẽ khiến cho người ấy] ngăn ngừa
chẳng kỹ càng, nên mới gặp phải tai họa ấy”.
Giải thích như vậy có được hay không? (Tiên Thuần Hiền hỏi)
Đáp: Lời ấy
chẳng chặt, chẳng lỏng, vẫn là đắc thể.
Tuy nói như vậy, nhưng khí phận của kẻ đối
diện như thế nào, bẩm thụ tánh chất như
thế nào, cũng nên quan sát. Kinh Phật đều là thật
ngữ, chân ngữ, có bao giờ chẳng phổ ấn (普印, in trọn
khắp) tâm con người? Bởi lẽ, [chúng sanh trong] Nam
Diêm Phù Đề ương bướng, khó giáo hóa. Huống
chi, hiện thời tà thuyết lừng lẫy, quở Phật,
chửi Tổ, lăng nhục thánh, dối trời, nếu
chẳng dùng Tứ Nhiếp Pháp, chẳng biết thiện
xảo, thường là người ta chẳng tiếp nhận!
* Hỏi: Thiên Lư Nhân trong sách Luận Ngữ
có nói: “Phú dữ quư, thị nhân
chi sở dục dă. Bất dĩ kỳ đạo đắc
chi, bất xử dă. Bần dữ tiện, thị nhân chi sở
ố dă. Bất dĩ kỳ đạo đắc chi, bất
khử dă” (Giàu và sang là điều con người mong muốn,
chẳng thấu hiểu đạo lư v́ sao đạt được,
sẽ chẳng thể an trụ trong ấy được.
Nghèo và hèn là điều con người ghét bỏ, chẳng
hiểu đạo lư v́ sao gặp cảnh ấy, sẽ chẳng
thể trừ bỏ nó được). Đoạn này từ
câu “phú dữ quư” cho đến
“bất xử dă” là chuyện
thứ nhất. Từ “bần
dữ tiện” cho đến “bất
khử dă” là chuyện thứ hai. Phú và quư là điều
ai nấy đều ưa thích, bần và tiện (nghèo và hèn)
là chuyện ai nấy chán ghét, gạt bỏ c̣n chẳng kịp,
v́ sao c̣n có “bất dĩ kỳ
đạo đắc chi”? Nếu như đổi chữ
“đắc” (得) thành chữ “khử” (去),
xét theo ngữ cảnh, có phải là càng phù hợp hơn không?
Xin thầy hăy giải thích! (Ngô
Vinh Tân hỏi)
Đáp: Đoạn kinh văn này vốn nói
đến hai chuyện. Do ông chẳng nghi ngờ điều
thứ nhất, nên tôi để lại đó, chẳng nói
tới. Nay tôi chuyên bàn về điều thứ hai. “Đạo” là lư của sự.
Đoạn văn thứ hai nhằm dạy người ta
vâng giữ điều chánh đáng, sửa lỗi. Chánh đáng
và lỗi lầm chính là hành vi của chính ḿnh, chúng chính là nhân.
“Phú, quư, bần, tiện” là
sự cảm ứng chuốc lấy, chính là quả. Sau khi
đă có cái quả, ắt phải t́m cái nhân ḥng quyết
định giữ ǵn hay sửa đổi [cái nhân] th́ mới
là bậc thánh hiền. Nếu hiện thời bần tiện,
hăy phản tỉnh chính ḿnh có lắm lỗi lầm, cho nên
theo đúng lẽ, đáng phải gặp quả báo như
thế, hăy nên gấp sửa đổi cái nhân, th́ cái quả
bần tiện sẽ tự mất. Nếu phản tỉnh,
nhận thấy những ǵ ḿnh đă làm đều chánh đáng,
bỗng gặp cảnh bần tiện, hoàn toàn chẳng phải
là đáng nên như vậy, quyết chẳng thay đổi
cái hạnh trong sạch, để cầu trừ bỏ bần
tiện. Kinh văn hàm súc, uyển chuyển, nhưng cách dùng
từ đơn giản, trọng yếu, văn hào các đời
c̣n chưa dám sửa một chữ, huống hồ bọn
ta ư?
* Hỏi: Thường có bậc cao tăng v́
người đă chết sám hối nghiệp chướng.
Nếu tự tâm người [đă chết] ấy chẳng
hối, nói theo luật nhân quả sẽ là “tự làm, tự chịu”, người khác chẳng
làm thế nào được! Làm sao có thể tiêu trừ nghiệp
chướng thay cho người đă khuất được?
(Ngô Bích Hà hỏi)
Đáp: Tự tâm chẳng sám, hiệu lực
nhỏ nhoi, nhưng chẳng phải là vô ích. Giống như
trải qua một lần cảm nhận vậy! Ở đây,
tôi lập một thí dụ: Vải vốn chẳng có mùi thơm.
Thoạt đầu, dùng hương liệu để xông.
Làm xong, có thể là vải vẫn chẳng có mùi ǵ! Nếu
có thể xông lâu ngày, sẽ có thể nhiễm mùi thơm. Lại
lập một thí dụ khác, tảng đá ch́m sâu trong đất,
đẩy một lần chẳng nhúc nhích. Hằng ngày đẩy
măi, ắt sẽ có thể dời khỏi chỗ ban đầu
một khoảng. Vải nhuốm mùi thơm, đá cách đất
một kẽ hở, có thể sánh ví kẻ chẳng sám hối
(sẽ dần dần) học sám hối theo, nhưng sức
hồi hướng cũng là tăng thượng duyên.
* Hỏi: Có người hỏi: “Phật học
có một câu là ‘định nghiệp
chẳng thể chuyển’. Lại có hai câu, ‘tâm có thể tạo nghiệp,
tâm có thể chuyển nghiệp’. Nh́n đối chiếu
hai điều ấy, há chẳng phải là mâu thuẫn hay
sao?” (Triệu Lệ Lượng
hỏi)
Đáp:
Trước hết, tôi nói thí dụ để ông có thể
hiểu lư này. Có kẻ trồng dưa, trước hết
là rải hạt, lại tưới tắm, [hạt dưa]
nẩy mầm dưới đất, thân dưa trồi lên
mặt đất, dần dần trổ hoa, sau đấy
kết quả. Gieo hạt như tạo nghiệp nhân, tưới
tắm như duyên phụ trợ nghiệp, nẩy mầm,
đâm nhánh chính là nghiệp lực tăng trưởng. Đơm
hoa là nghiệp lực sắp thành. Kết quả là nghiệp
lực đă thành. Định nghiệp khai hoa, kết quả.
Đă thành hoa, quả, chẳng thể khiến cho nó chuyển
biến thành thân và mầm được! Đấy chính là
“định nghiệp chẳng
thể chuyển”. Nếu trong lúc nẩy mầm, đâm
tược, bèn chấm dứt sự tưới tắm, tức
là đoạn trợ duyên, nó sẽ chẳng thể trổ
hoa, kết quả. Lâu dần, gốc cũng khô héo. Đấy
là lư “chuyển nghiệp”. “Chuyển
nghiệp” là chuyển cái nghiệp duyên chưa chín muồi,
chẳng thể khiến cho cái quả đă chín muồi lại
chuyển hóa thành cái nhân chưa chín muồi được!
Hai đằng chẳng mâu thuẫn nhau!
*
Hỏi: Nhà Phật nói “nhân
duyên” và “luân hồi”. Chánh
báo và y báo của mỗi cá nhân trong đời sau vốn do
cái nhân đă tạo trong đời này quyết định.
Có phải là có một lực lượng phán quyết một
cá nhân sẽ đi vào đường nào hay không? Giống
như quan ṭa xét hành vi của một người để
quyết định kẻ ấy đáng nên bị trừng
phạt như thế nào! (Hồng
Tương Bân hỏi)
Đáp:
Sức mạnh phán quyết xác thực là vô ngại. “Sức
mạnh” là nói đến sức của thiện nghiệp
hay ác nghiệp. Khi dấy lên tác dụng, sẽ gọi là “lực”. Lực ấy to, nhỏ,
mạnh, yếu, nhiều, ít, sẽ gọi là “lượng”. Nghiệp lực
muôn vàn sai khác, số lượng cũng muôn vàn sai khác. T́nh
h́nh đă phức tạp, lại càng phức tạp hơn.
Nhân, duyên, quả v.v... mỗi thứ đều có lực lượng
của nó, giao xen lẫn nhau, dấy lên tác dụng. Khi chúng
giao xen, lại sanh ra sự biến hóa giao xen. “Phán quyết” là nghiệp nhân
có đủ mọi sức, đủ mọi số lượng,
đủ mọi thứ giao xen, biến hóa đủ mọi
lẽ, nhân và duyên mỗi thứ đều có sức mạnh
phân minh. Đấy gọi là “phán”.
Khi kết thành quả, lực lượng chín muồi, chẳng
thể thay đổi, đó gọi là “quyết”. Sự phán quyết của quan ṭa c̣n có
thể thay đổi, chứ sự phán quyết của nhân
quả chẳng thể thay đổi!
*
Hỏi: Đức Phật nói định luật nhân quả
chẳng sai suyển mảy may. Phóng tầm mắt nh́n khắp
nhân gian, [sẽ thấy] kẻ tiểu nhân đắc ư, người
tu hành phần nhiều trắc trở. Rốt cuộc nhân
quả có tánh chất đáng tin cậy được bao
nhiêu? (Lâm Tâm Tấn hỏi)
Đáp:
Vấn đề này ai nấy đều đă từng
nghe, đều có thể nhắc đến, nhưng toàn là
bộp chộp nuốt trộng cả quả táo mà thôi! Nói
theo Sự, nói theo Lư, rất khó nói! Dẫu là thất phu, thất
phụ, thường nghe, thường nói, nhưng nói đến
chỗ tột cùng th́ thánh nhân cũng chẳng thể nói tường
tận! Đó gọi là “ngữ
đại, thiên hạ mạc năng tải yên; ngữ tiểu,
thiên hạ mạc năng phá yên” (nói đến lớn
th́ cả thiên hạ cũng chẳng thể chứa đựng
được, nói đến nhỏ th́ cái nhỏ nhất
trong thiên hạ cũng chẳng thể nhỏ hơn
được nữa). Kinh Phật Tam Tạng mười
hai bộ loại, có chỗ nào chẳng là nhân quả? Mười
ba kinh [của Nho gia], hai mươi bốn bộ sử trong
thế gian, có loại nào chẳng phải là nhân quả? Lắng
ḷng quan sát, [sẽ thấy trong số những] người
học Phật, kẻ khoác áo ca-sa đánh mất thân người
số đến bao nhiêu? Kẻ học Nho th́ Vương Măng
soán ngôi nhà Hán, Tào Tháo bức hiếp vua, Tần Cối bán nước
v.v... lại được bao nhiêu người? Kinh sử
chói ngời, sự thật rành rành, nhân quả đáng tin cậy,
kẻ thấy biết hẹp ḥi tự mê muội. Thật
ra, biết được Sự ấy, Lư ấy rất khó.
Chỉ có bậc thượng là chẳng thể nói, nhưng
biết thấu triệt. Bậc trung nửa tin, nửa ngờ,
có phần kiêng sợ. Bậc hạ th́ do chẳng thông hiểu
mảy may, cho nên phóng túng, chẳng kiêng dè!
*
Hỏi: Từng nghe: Muốn cầu trường thọ, ắt
trước hết phải thực hiện công đức
phóng sanh, nhưng canh tác lúa nước, nếu chẳng gấp
trừ khử những loài trùng làm hại ngũ cốc, sẽ
là cày cấy mà chẳng có thâu hoạch, đâm ra làm hại
lúa thóc của láng giềng bốn phía đều bị trùng
ăn sạch, chuốc lấy phiền năo vô cùng. Há chẳng
phải là cầu nhân quả ngược ngạo? Khẩn
thiết xin thầy dạy phương pháp quyền biến
phương tiện ḥng dứt phiền năo, cảm đức
khôn ngằn! (Lâm Tâm Tấn hỏi)
Đáp:
Thọ sanh trong Sa Bà, trừ những vị Bồ Tát nương
theo nguyện lực đến hóa độ ra, những kẻ
c̣n lại đều đến để thọ quả!
Súc sanh là huyết đồ, chẳng tránh khỏi chết
thảm. Người sanh trong [cơi Sa Bà] v́ cuộc sống mà
tạo nghiệp, lại tạo thành nỗi oán ba đời.
Nếu hiểu lư “đẳng
lưu quả”[9],
sẽ càng thêm dè
dặt. Thọ
khổ báo là ác quả; chẳng thể gieo thiện nhân th́ cũng
là ác quả báo. Ắt càng thêm phản tỉnh mạnh mẽ,
để cầu pháp thiện xảo ḥng tránh né cái nhân ác,
viên thành cái nhân lành. Chỉ có thể chọn điều có
thể tránh né để tránh. Đối với những điều
chẳng thể tránh th́ đành thuận theo. Nhân quả là
như thế, kẻ hèn này cũng chẳng có cách nào!
*
Hỏi: Tôn giả Mục Liên và tiền
thân của ngài Địa Tạng Bồ Tát là cô Quang Mục,
đều cùng v́ ḷng hiếu thuận mà cứu vớt mẹ.
V́ sao tôn giả Mục Liên cứu mẹ cần phải cậy
vào sức cúng dường chúng Tăng trong ngày Rằm tháng
Bảy, c̣n cô Quang Mục chỉ do phát đại nguyện,
mẹ liền thoát tội? Đạo lư trong ấy là ở chỗ nào? Xin hăy chỉ rơ. (Trịnh Mạnh Tinh hỏi)
Đáp: Đối với nghiệp đă tạo, có khi là Sự giống nhau, nhưng Lư khác nhau. Có khi là Lư giống nhau, Sự khác nhau. Nhân sâu hay cạn, duyên nhiều
hay ít, dị thục[10]
nặng hay
nhẹ. Hoặc là thoạt đầu lành,
sau là ác, thoạt đầu là ác sau là lành, cũng như thiện
ác xen lẫn, hoặc là thiện lớn, ác nhỏ, hoặc
là thiện nhỏ, ác lớn, cùng với thiện ác cân bằng,
thuần thiện, thuần ác, hoặc hữu tâm, hay vô tâm,
hoặc ngẫu nhiên, hoặc liên tục, hoặc cải hối,
hoặc chẳng ăn năn v.v... muôn ngàn sai khác, nói chẳng
cùng tận! Nhân duyên phức tạp
như thế, kết quả há có thể nhất loạt
như nhau ư? Đối với câu hỏi của cư
sĩ, hăy nên suy nghĩ những điều vừa nêu trên
đây. Nếu có thể hiểu đôi chút về sáu nhân, năm quả[11],
th́ đối với loại vấn đề như thế
này cũng có thể hiểu được sơ lược
mấy phần.
*
Hỏi: Chúng sanh trong lục đạo
sanh tử không ngừng. Mỗi cá nhân sau khi chết đi, ắt
sẽ phải bị Diêm La Vương chi phối, đúng
không? Hay là do nghiệp lực của chính ḿnh dẫn dắt
đi đầu thai? Nếu như mỗi cá nhân đều bị Diêm Vương chi phối,
do quốc độ này, quốc
độ khác, chúng sanh vô lượng vô số, làm sao Diêm Vương
có thể lo liệu vẹn toàn? Nếu là do nghiệp lực của chính
ḿnh dẫn dắt, há chẳng phải là Diêm Vương thừa
thăi ư? (Đồng
Thụy Châu hỏi)
Đáp: Nghiệp do tâm tạo, Diêm Vương
cũng do tâm hiện. Không có tâm, chẳng tạo nghiệp.
Chẳng có nghiệp, chẳng hiện
ra Diêm Vương. Nghiệp lực vô lượng, Diêm Vương
cũng là vô số. Đă là tâm tạo nghiệp, Diêm Vương
chẳng phải là thừa thăi!
*
Hỏi: Kinh Luật Dị Tướng,
quyển bốn mươi bốn
chép: “Thọ trai cho đến
khi chánh ngọ. Sau chánh ngọ, chẳng ăn một vật ǵ. Nếu
ăn, sẽ gọi là bán trai. Bán trai có cùng ư nghĩa với
phá trai” ̣ Phá trai vẫn được sanh lên
tầng trời thứ chín! Dùng vấn đề này để suy ra, chúng tôi liên tưởng
đến khá nhiều nghi vấn giống
như [nghi vấn] đối
với chuyện sanh lên cơi trời thứ chín. Xin hỏi:
Nếu như tôi tŕ “bán trai”, những chuyện
khác đều như một trang giấy trắng, đương
nhiên là sanh lên tầng trời thứ chín. Trong rất nhiều kinh, đối
với chuyện hành cái nhân lành nào mà được thăng lên cơi Phật
nào, đều ghi chép rất nhiều. Nếu lấy tôi làm
thí dụ, chẳng cần trừ
bỏ ác nghiệp ăn nói bậy bạ, nếu trước
khi tôi nhập diệt, có thể làm được hai thứ
nhân lành hoặc từ hai thứ
nhân lành trở lên, tôi sẽ
sanh lên tầng trời thứ chín như trong phần trên đă nói,
hoặc là tăng thêm hơn, cũng có thể chọn tầng
cao nhất trong đó. Nếu có thể tăng cao hơn th́
cách tăng cao sẽ là như thế nào? Vấn đề này là do mấy hôm trước,
khi tôi cùng đồng tu đọc và nghiên cứu Đại
Bi Tâm Xuất Tượng
Đà La Ni Kinh bèn tự ḿnh cảm thấy khá mâu thuẫn! Kinh chép Quán Thế Âm Bồ Tát bạch Phật
rằng: “Bạch
Thế Tôn! Nếu
các chúng sanh tụng thần chú Đại Bi này, khi lâm chung,
mười phương chư Phật đều đến
x̣e tay [tiếp dẫn].
Muốn sanh về cơi Phật nào, Phật nói: Tùy
nguyện đều có thể văng sanh”. Lại bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Nếu
các chúng sanh tŕ tụng thần chú Đại Bi mà đọa vào tam ác đạo, hoặc có ai chẳng được vô lượng
tam-muội biện tài, hoặc có ai chẳng sanh về cơi
nước của chư Phật, tôi thề chẳng thành
Chánh Giác”. Xin lấy hai đoạn trên đây để
làm tiêu biểu, vẫn mong thầy nói rơ cách nh́n cá nhân,
cũng như [nêu rơ] kinh điển làm căn cứ và xuất
xứ của kinh điển [dùng làm căn cứ cho cách nh́n
ấy]. (Thí Chấn Huy hỏi)
Đáp: Trước khi giải
đáp, tôi phải thưa rơ, cư sĩ rộng ḷng hỏi
tới tuy nói có bốn điều, nhưng thật ra, trong
mỗi điều, lại chia thành mấy đoạn, ắt
phải chia thành từng đoạn để giải thích
th́ lời lẽ mới rơ ràng. Nay tôi tuân theo cách này để
trả lời.
Điều
này chia thành bốn phần:
1)
Phàm để thành tựu một chuyện, tâm đóng vai tṛ
chủ lực. Nhà Phật gọi phát tâm là “thệ nguyện”, nhà Nho bảo là “lập chí”. Nguyện và chí ấy quán triệt bất
biến th́ điều mong mỏi đạt tới mới
có thể thành tựu. Xét trong trăm ngàn vạn người,
người luôn có tinh thần tiến tới th́ ít, kẻ
lười nhác thoái chuyển th́ nhiều. V́ thế, có câu
ngạn ngữ “thủ pháp hồ
thượng, cẩn đắc hồ trung” (chọn lấy
pháp bậc thượng, mà chỉ đắc pháp bậc
trung). “Trai thực” (Thọ
trai trước Ngọ, chẳng ăn phi thời) chính là một
pháp trong Bát Quan Trai Giới, là giới xuất thế. Phá
trai mà được sanh lên tầng trời thứ chín, đấy
chính là cái quả đọa lạc, chẳng phải là thành
tựu [sẽ đạt được do nghiêm tŕ Bát Quan
Trai Giới]! Tức là “giữ
lấy pháp bậc thượng, chỉ đạt
được chuyện thuộc bậc trung!”
2)
Người đời tuy nghe những lời lẽ nhân quả,
nhưng kẻ hiểu lư ấy, trong ngàn người chưa
được một kẻ! Đối với lư nhân quả,
ắt phải hiểu pháp “duyên
sanh”. Kinh dạy: “Vạn
pháp do nhân duyên sanh”. Lại nói: “Chẳng có duyên th́ không sanh”. Tức là từ nhân
cho tới kết quả, cần phải cậy vào nhiều
duyên. Như hạt giống của thực vật cho đến
lúc kết quả, ắt phải cậy vào đất đai,
ánh sáng mặt trời, không khí, nước v.v... C̣n có phân bón
và khí hậu làm tăng thượng duyên. Hoặc loài trùng có
hại và những thứ vùi dập làm duyên tổn giảm.
Hạt giống ấy kết quả, hoặc chẳng kết
quả, hết sức phức tạp, đều khó thể
định trước. Suy nghĩ tỷ dụ ấy, sẽ
có thể liễu giải: Nhân quả cũng giống như
thế! Cư sĩ muốn sanh lên tầng trời thứ
chín, nhưng nghiệp nơi thân, miệng, ư nếu có thể
thường hằng tương ứng với tầng trời
thứ chín, sẽ có thể đạt được. Nếu
không, chẳng thể được như hy vọng. Lại
nữa, làm lành từ hai thứ trở lên, có thể nói “lũy gia” (càng tăng thêm hơn),
nhưng loại thứ nhất là bao nhiêu phần, loại
thứ hai là bao nhiêu phần. Đối với con số ấy,
cần phải luận định thành phần. Chẳng
thể chỉ tăng thêm mấy lượt! Lại nữa,
cố nhiên là thân, khẩu, ư nghiệp phải tương ứng
với tầng trời thứ chín. Nếu có một nghiệp
chẳng tương ứng, há chẳng phải là càng giảm
thêm ư?
3)
Để quả ấy được thành tựu, ắt
phải cậy vào cái nhân trước. Để nhân được
tăng tấn, ắt phải cậy vào duyên để dấy
lên. Ba thứ ấy (nhân, duyên, quả) chẳng thể khuyết
một. Có nhân lại có thêm duyên, sẽ đạt được
quả, quyết chẳng hư dối. Nay có nhiều người
tŕ chú, niệm Phật chẳng thành tựu, là do tu chẳng
đúng pháp, hoặc chẳng thành tâm, hoặc nửa chừng
bỏ dở, hoặc chẳng chuyên nhất. Đấy là
cội rễ của nhân chẳng sâu, duyên phận chẳng
tăng, hoàn toàn chẳng tương ứng với pháp. Lời
kinh dạy há có ǵ đáng nghi?
4)
Nghiên cứu Phật pháp, có một nguyên tắc “y pháp, bất y nhân”, “ĺa kinh một câu, sẽ là ma
thuyết”. Kẻ hèn này chỉ nương theo giáo để
Văn Tư Tu, hoàn toàn chẳng có cách nh́n cá nhân!
* Hỏi: Trong xă hội công nghiệp hiện
thời, nẩy sanh rất nhiều “chứng bệnh thần
kinh hoặc tinh thần”, chẳng hạn như các trạng
huống bồn chồn, uất ức, hoài nghi, ăn mất
ngon, ngủ không yên v.v... chịu khổ sở sâu xa. Kiểm
tra thân thể th́ hoàn toàn chẳng thấy có bệnh tật
ǵ về mặt sinh lư. Đó là nhân quả ǵ? (Hà Thân Cận hỏi)
Đáp:
Để hiểu rơ nhân quả, cần phải thông suốt
ba đời. Người đắc Túc Mạng Thông th́ mới
có thể thấu đạt chuyện ấy. Quan sát thông thường,
chỉ có thể luận định cái quả, suy đoán
cái lư của nhân mà thôi! Như kinh dạy: “Kẻ bần cùng là do cái nhân tham lam, keo kiệt. Đoản
mạng và lắm bệnh là do cái nhân sát sanh”. Xét theo nguyên
lư ấy, viện dẫn, loại suy[12],
chẳng qua là nói đại lược, phảng phất,
chẳng thể biết tường tận; nhưng quả
cũng có viễn nhân (cái nhân xa) và cận nhân (cái nhân gần)
sai khác. Gần đây, có nhiều người bị bệnh
tinh thần th́ hoàn cảnh, tập nhiễm và tâm lư trong thời
gần đây quả thật cũng có mối quan hệ to
lớn.
*
Hỏi: Đấy có phải là ác chủng tử trong tám thức
điền đă chín muồi hay không? Hoặc là do mọi sự
trong đời này đều chẳng vừa ư gây nên? (Hà Thân Cận hỏi)
Đáp:
Chủng tử chính là nhân. Nhân chia thành xa và gần; quả
cũng chia thành ba thời, tức hiện, sanh, hậu (quả
ngay trong đời này, quả trong đời kế tiếp
và quả trong đời sau nữa). Do chia thành ba thời,
lại do bốn duyên[13]
mạnh, yếu, thuần, tạp, t́nh h́nh hết sức chẳng
đơn giản. Đối với người chẳng
học duyên sanh luận, chẳng có cách nào bằng vài câu mà có
thể khiến cho [người ấy] hiểu rơ được.
Nhưng muốn chuyển biến hoàn cảnh, tuy chẳng
thể thông hiểu Phật lư sâu xa, cũng có thể làm được,
chỉ cần chịu thống thiết sám hối, cắn
răng kiên quyết, thề chẳng làm các điều ác nữa,
gắng sức vâng làm các điều thiện, chân tâm thành ư,
sẽ có thể từng bước tiến tới quang
minh!
*
Hỏi: Học tṛ mong trở thành một xí nghiệp gia, ḥng
thành tựu trong đời này, hoằng tuyên đại
pháp. Ngày sau, đối với danh lợi, đối với
phú quư, sẽ lấy, hay bỏ, là tranh giành, hay nhường
nhịn, cảm thấy rất do dự. Như ngài Duy Ma Cật
thị hiện phú quư, như Thích Ca Mâu Ni Phật thị hiện
xả phú quư. Học tṛ chẳng hiểu rơ nhân duyên trong
đời này, lại v́ căn tánh ngu muội, nếu bỏ
phú quư, tâm sanh hối hận, sẽ trái nghịch tấm ḷng
ban đầu. Nếu giữ lấy sự phú quư, mà nếu
chẳng có túc nhân, do t́nh thế, ắt sẽ phải tranh
chấp với người khác, đâm ra kết thành ác duyên.
Như thế nào th́ mới là tốt? (Khưu Bạch Hải hỏi)
Đáp:
Cuộc sống của người tại gia hoàn toàn cậy
vào kỹ năng để làm lụng, cống hiến cho
xă hội, đáng nên đạt được sự đền
đáp về mặt chánh báo. Đấy chính là sự ăn
tiêu cậy vào sức của chính ḿnh, chẳng thương
tổn đến phương diện liêm khiết! Nhưng
mưu sinh bất quá nhằm trưởng dưỡng thân
mạng mà thôi. Nếu sơ sót huệ mạng, tức là đă
luống uổng một đời này! V́ thế, có câu: “Sáng nghe đạo, tối chết
cũng được”. Ngoài việc mưu sinh ra, c̣n phải
nên cầu đạo. Hai đằng đều chẳng thể
ĺa, đó là chánh đáng. Cầu đạo mà không có cái nguồn
để nuôi sống, sẽ chẳng thể cầu đạo
được! Khuyên ông đối với kỹ năng làm
việc, ắt cần phải đạt đến mười
phần viên măn, đấy là chuyện có thể cầu. C̣n
đối với chuyện phú quư, đó chính là phước
báo. Chỉ có thể thuận theo nhân quả, chớ nên cưỡng
cầu! [Cơ hội] đưa đến chẳng cần
phải nhường; [cơ hội] mất đi, chẳng
cần phải tranh, hăy nên biết: “Điều ǵ đạt được đột
ngột th́ cũng sẽ đột ngột mất đi”.
Kết quả là tới khi mạng chung chẳng đem theo
[của cải] được, mầm móng tội nghiệp
vẫn ràng buộc theo! Hăy suy nghĩ kỹ càng, khi có duyên,
sẽ gặp mặt tṛ chuyện.
*
Hỏi: Chúng tôi chỉ biết nhân quả ba đời là
thật, nhưng chẳng hiểu lư luận đă dựa vào
để thành lập [điều đó]. Có thể thỉnh
thầy khai thị theo nghĩa rộng hay chăng? (Lữ Tấn Xuân hỏi)
Đáp:
Mọi sự đều có một khoảng thời gian khởi
đầu và kết thúc. Vạn duyên, vạn lư đă được
chia thành các giai đoạn, tức là thời gian liên tục.
Do thời gian liên tục, dùng lập trường hiện
tại để luận định, sẽ có quá khứ và
vị lai. Ba đời quá khứ, hiện tại, vị
lai, tự nhiên là không có khởi đầu, không có kết
thúc, nhưng vạn sự vạn lư chẳng đoạn,
chẳng thường, tùy duyên biến hóa. Hễ có một
lần biến hóa bèn gọi là nhân quả trong một giai đoạn,
cũng như mười hai nhân duyên lưu chuyển mà thôi!
*
Hỏi: Trước đây, tôi và một số người
đề xướng thành lập hội niệm Phật,
từng bỏ chút công sức. Sau khi thành lập, trong ấy,
có người ngang ngược độc chiếm hội
ấy, mọi chuyện đều tự quyền chuyên chế.
Do ư kiến chẳng hợp, tự rút lui khỏi hội.
Người bất măn kẻ ấy chẳng phải chỉ
có riêng tôi! Trước kia, vẫn c̣n giữ tên tuổi của
tôi tại đó, gần đây, tên tuổi bị gạch bỏ.
Lại nữa, hễ tôi giới thiệu người khác
nhập hội, họ đều chẳng chấp thuận.
Tôi nghĩ người niệm Phật mà đối đăi
với người khác kiểu đó, khiến cho ḷng người
nguội lạnh, phiền năo. Do vậy, công khóa mỗi ngày
bị thoái chuyển rất lớn! Chẳng biết giải
quyết như thế nào? Kẻ ấy làm như vậy, có
nhân quả hay không? (Trần Thủ
Duy hỏi)
Đáp:
Hết thảy tụ tán đều có nhân duyên. Hợp th́ cùng
nhau lo việc, chẳng hợp th́ theo đúng lư nên chia ĺa. Nếu
chẳng hiểu lư này, uổng công tăng thêm phiền năo,
hai đằng công và tư đều chẳng có lợi ích
ǵ! Quư cư sĩ đă rút lui khỏi hội ấy, lại
giới thiệu người khác gia nhập, tự nhiên sẽ
khiến cho người ta ngờ vực. Chính ḿnh phạm
lỗi chẳng biết tránh xa hiềm nghi! C̣n như ông nói
“khiến cho ḷng người
nguội lạnh, phiền muộn, công khóa mỗi ngày thoái
chuyển rất lớn”, đúng là tâm đặt nơi
hội ấy, [tức là tâm đặt] nơi chốn thị
phi, chẳng đặt tại Tây Phương ḥng giải
thoát sanh tử. Học Phật kiểu đó tức là chẳng
có chánh kiến. C̣n như ông hỏi “có nhân quả hay không?” Ôi! Vạn pháp do nhân duyên sanh,
chưa từng nghe hay sao? Đoạn ác nhân quả ấy,
nghiệp đă kết thúc, hăy nên thanh tu ở nhà, đừng
nên bận tâm đến kẻ ấy nữa!
*
Hỏi: Cao tăng siêu độ người khác, người
khác đắc độ. [Thế nhưng, luật nhân quả
thường nói là] “tự làm,
tự chịu”, mỗi người tự giải quyết.
Nay người nọ tạo nghiệp, do đắc độ
mà chưa phải thọ báo, vậy th́ nghiệp báo vốn
có của người ấy ra sao? Người khác chẳng
có cách nào chịu thay, cớ sao cao tăng lại độ
được? Xin thầy khai thị cho đứa học
tṛ ngu muội này. (Trần Thịnh
Cảng hỏi)
Đáp:
Vấn đề này tuy nói đơn giản, lư hết sức
phức tạp! Chỉ nên nói đại lược, nếu
nói tường tận, sợ sẽ chẳng thể lănh hội
được.
1)
Phật pháp chẳng thể nghĩ bàn. Lănh hội nghĩa
lư, hành đúng pháp, sẽ hữu hiệu. Nếu không, vô hiệu!
Pháp chẳng thể tự khởi tác dụng, ắt phải
do “đúng pháp” và “chí thành” th́ mới có cảm ứng.
2)
Tăng-già có nhiều loại, há dễ cầu được
cao tăng? Chỉ cầu hai điều kiện giữ giới
và thành tâm th́ sự (việc siêu độ) có thể hoàn thành.
Lư ấy là do sức của Tăng-già thành tâm tu pháp, sức
thành tâm sám hối của người được độ,
lại được Phật lực gia bị, cho nên nghiệp
có thể tiêu diệt. Nghiệp có thể tạo, cũng có
thể chuyển. Có thể buộc chuông th́ cũng có thể
tháo chuông. V́ ông, tôi sao lục một bài kệ xưa. Hăy suy
nghĩ kỹ, sẽ có thể ngộ: “Tội nhược khởi thời, tương tâm
sám. Tâm nhược vong thời, tội diệc vong. Tâm vong,
tội diệt, lưỡng câu không. Thị tắc danh vi
chân sám hối” (Tội do tâm khởi, dùng tâm sám. Khi tâm đă
mất, tội cũng tiêu. Tội tiêu, tâm mất, thảy đều
không. Đó mới gọi là chân sám hối). Hăy nên biết:
Nếu người kia độ mà người này chẳng
sám hối, nghiệp sẽ chẳng thể tiêu, báo vẫn
phải thọ!
V. Tŕ Giới
* Hỏi: Người thọ giới, khi vạn
nhất phạm giới, phải dùng cách thức nào [để
bổ khuyết]? (Trang Khánh Hiền
hỏi)
Đáp: Hướng về vị thầy
truyền giới hoặc pháp sư để phát lộ sám
hối, thiết tha xin thọ lại th́ mới nên!
* Hỏi: Nói chuyện yêu đương th́
có coi là tà dâm hay không? (Dương
Đức Vinh hỏi)
Đáp: Kẻ chưa đính hôn, chuyên yêu đương
một người, theo đúng lễ giáo t́m người phối
ngẫu, chẳng lăng nhăng bừa băi, th́ pháp thế
gian chấp thuận, cho nên chẳng gọi là “tà dâm”. Ngược
lại, nếu vượt ngoài bốn điều vừa
nói trên đây th́ chính là tà dâm.
* Hỏi: Giải thích “khai, giá, tŕ, phạm” như thế nào? (Vương B́nh Lang hỏi)
Đáp: Đấy là nói theo giới tướng.
“Khai” (開) là cho phép dung thông. “Giá” (遮) là cấm chỉ chẳng làm, thuộc loại
giáo phương (phương diện răn dạy). “Tŕ” (持) là giữ ǵn đừng để mất.
“Phạm” (犯) là vi phạm chế
định ấy, điều này thuộc loại hành phương
(phương diện hành tŕ).
* Hỏi: Có người nói tŕ giới th́
không thể ăn tỏi, hành, hẹ, có thật hay không? V́
sao cấm ăn? (Thí Vạn Tấn
hỏi)
Đáp: Hành, hẹ, kiệu, tỏi, hưng
cừ là những thực vật có tánh chất hăng nồng,
mùi vị hôi hám. Ăn vào, sẽ khiến cho thần trí của
người ta tối tăm, lại c̣n có hại là sẽ sanh
dâm, tăng giận. V́ thế, người tŕ giới tránh
những thứ ấy.
*
Hỏi: Trong Phật lư có câu nói: “[Do
các động vật là] cha mẹ trong quá khứ, chớ
nên ăn thịt chúng”. Do vậy, xét ra, chẳng lẽ
ngay cả cưới vợ cũng chẳng nên ư? (V́ sợ
cưới nhằm vợ là cha mẹ trong quá khứ). (Diệp Khánh Xuân hỏi)
Đáp: Ăn thịt nhằm thỏa thích bụng
miệng, là chuyện tham dục, vốn có thể tránh né, và
có nhiều thứ khác có thể dùng để thay thế được.
V́ thế, chẳng ngại hễ kiêng được th́ kiêng.
Cưới vợ là để mong truyền ḍng nối giống,
là luân thường trong cơi tục, là chuyện không thể
tránh né. Do chưa thông suốt thánh pháp, cho nên ở trong cơi tục
phải thuận theo thói tục vậy!
* Hỏi: Ăn những thứ như trứng
gà có phải cũng thuộc trong phạm vi chế định
của giới hay không? (Lưu
Trạch Trung hỏi)
Đáp: Trứng gà từ bầy gà không có gà
trống đẻ ra th́ không có sanh mạng, có thể tạm
thời dung thông. Nếu không, sẽ là sát sanh. Trong trứng
có cồ tức là do gà mái bị gà trống đạp mà đẻ
ra.
* Hỏi: Ngũ tịnh nhục là ǵ? V́ sao tín
đồ nhà Phật có thể ăn? (Trần Vinh Tấn hỏi)
Đáp: Năm thứ thịt do chẳng thấy
giết, chẳng nghe tiếng giết chóc, không v́ ta mà giết,
[con vật ấy] tự chết, thịt do chim ăn thừa
lại, được gọi là “ngũ tịnh nhục”. Chúng sanh v́ bụng miệng
tham dục, chẳng tiếc sức giết chúng, đó là hành
vi tàn nhẫn! Nhưng do tập khí đă lâu, bèn coi như là
chuyện đương nhiên. Nếu bảo họ đoạn
ngay, có người chẳng thể làm được. Đức
Phật lập ra phương pháp phương tiện này, trước
hết là khiến cho cái tâm từ bi phát sanh. Lại từ
nay trở đi, khiến cho [cái tâm từ bi] ấy dần
dần tăng trưởng, tự có thể đạt đến
chỗ chẳng ăn [thịt], cũng là nhằm đề
cao ư nghĩa tự ty vậy!
* Hỏi: Giết hại những loại
động vật như rắn độc, trùng độc
th́ có phạm giới hay không? (Chấn
Bang hỏi)
Đáp:
Chúng không xâm phạm con người, cần ǵ phải hại
chúng? Đă dấy lên sát tâm, lại c̣n giết chóc, chẳng
phạm giới th́ là ǵ? Há chẳng nghe an trụ trong Thiền
Định có thể chế ngự rồng độc, thuyết
pháp có thể thuần phục cọp dữ ư? Nếu
chẳng đủ sức, đối với những chúng
sanh hung dữ, độc địa ấy, hăy nên đề
pḥng, tránh né, xua đuổi chúng. Nếu cứ chấp
trước “ắt phải giết chúng th́ mới là trừ
hại rốt ráo”, vậy th́ kẻ đă thọ giới mà
tà dâm, sao chẳng nhất loạt thiến sạch bộ
phận sanh thực khí của họ đi, v́ đó là công cụ
để tà dâm! Suy nghĩ chuyện ấy, sẽ hiểu
rơ vậy.
*
Hỏi: Ăn chay có thể uống sữa ḅ hay không? (Đỗ Tự Nhiên hỏi)
Đáp: Có thể uống sữa ḅ v́ không sát
sanh.
* Hỏi: Có người hỏi: Đă thọ
giới không sát sanh, có thể tạm thời ăn năm
thứ tịnh nhục hay không? V́ mang trách nhiệm là người
đứng đầu gia đ́nh, lại c̣n do buôn bán, phải
giao tiếp với xă hội, [nên chuyện tiệc tùng] là bất
đắc dĩ! (Chung Thiêm Đăng
hỏi)
Đáp: Có thể tạm ăn!
* Hỏi: Có bệnh uống thuốc, nhưng
trong thang thuốc có động vật, có phải là sát sanh
hay không? (Đặng Huệ Tâm
hỏi)
Đáp: Nếu mới sát sanh để làm
thuốc th́ không nên. Nếu như thuốc tích trữ trong
tiệm đă lâu th́ có cùng ư nghĩa như ngũ tịnh nhục,
lúc bất đắc dĩ, có thể phương tiện
dung thông. Có thể phát tâm niệm Phật cho chúng nó, đâm
ra sẽ có công đức.
* Hỏi: Người tại gia tu hành th́ mức
độ cao nhất là có thể thọ mấy giới? (Châu Huệ Đức hỏi)
Đáp:
Bồ Tát Giới gồm mười giới trọng và bốn
mươi tám giới khinh là tột bậc rồi!
* Hỏi: Người thọ Ngũ Giới
do bị bệnh th́ có thể uống rượu hay không? (Đặng Huệ Tâm hỏi)
Đáp: Nếu là thuốc uống th́ có thể
tạm dung thômg!
* Hỏi: Chuyện thọ giới thoạt đầu
là từ Ấn Độ, hay là từ trong nước khởi
sự truyền trao? (Trang Khánh
Hiền hỏi)
Đáp: Phật Tạng có ba phần là Kinh, Luật,
Luận. Luật là kinh văn về giới. Hơn nữa,
Kinh và Luận có những chỗ nói tới giới cũng
nhiều, như Lục Độ, Thi La Ba La Mật chính là
những giới hiển nhiên nhất. Phật Tạng trước
tiên xuất phát từ Ấn Độ, cho nên giới luật
nhà Phật tự nhiên truyền từ Ấn Độ.
* Hỏi: Nghe có một số người tin
tưởng [Phật pháp] nói: “Người
thọ giới nhất định phải ăn chay”,
nhưng không ăn chay th́ có thể thọ giới hay không? (Trang Khánh Hiền hỏi)
Đáp: Đă thọ giới “không sát sanh”, cố
nhiên chẳng được trực tiếp giết. Nói
theo nghĩa lư, phàm những ǵ dính dáng đến gián tiếp
giết, giúp giết chóc, ca ngợi giết, xúi giục giết,
cũng như đối với những cái nhân của chuyện
tạo tác giết chóc, cái duyên của sự tạo tác giết
chóc v.v... đều chớ nên làm! Người không ăn
chay tuy chẳng trực tiếp sát sanh, nhưng là gián tiếp
sát sanh. Hơn nữa, cái nhân giết chóc và cái duyên giết
chóc do đó mà dấy lên. V́ thế, nói triệt để
th́ “để giữ giới chẳng sát sanh, nói chung ăn
chay là phù hợp với pháp”. Câu “người có ḷng tin nhưng
không ăn chay” có ư nói: “Người đă có ḷng tin, nhưng
chưa hề ăn chay” đó ư? Chẳng thọ giới
“không sát sanh”, bèn chẳng ăn chay, có thể là phương
tiện tạm thời. Nếu đă thọ giới “chẳng
sát sanh”, tức là đă sanh ḷng tin, tự nhiên là có thể
xin thọ, nhưng sau khi đă thọ, điều đáng
quư là có thể vâng giữ.
* Hỏi: Người thọ giới vô ư giết
các loại trùng có hại (muỗi, ruồi, nhện v.v...) có
phạm giới hay không? Khi phạm giới, phải dùng phương
pháp ǵ để bổ cứu? (Trang
Khánh Hiền hỏi)
Đáp: Do vô ư nên là lầm lỗi, có thể đối
trước Phật sám hối, và niệm Phật hồi
hướng. Cố ư sát sanh, sẽ là phạm giới, tạo
thành tội ác, cũng chỉ [có cách] sám hối, xin thọ
giới lại để bổ cứu.
* Hỏi: “Quá Ngọ không ăn” có những điều
lợi ích như dưới đây hay không? 1. Tiêu hóa dễ
dàng, có ích cho tinh thần, khỏe mạnh. 2. Thường nói
là “băo noăn tư dâm dục” (no
ấm bèn nghĩ tới chuyện dâm dục). “Quá Ngọ không
ăn” có phải là để bớt ham muốn? 3. Người
tu hành quá Ngọ chẳng ăn, có phải là v́ mục
đích tiết kiệm thời gian hay chăng? 4. Ngạ quỷ
ăn vào ban đêm. Quá Ngọ chẳng ăn có phải là do
chẳng nhẫn tâm thấy ngạ quỷ nghe mùi, thấy
thức ăn bèn hứng chịu nỗi khổ bị lửa
đói nung đốt hay không? 5. Thường được
khuyên bảo: “Bớt mặc
tăng phước, bớt ăn tăng thọ”. “Quá Ngọ
không ăn” sẽ có lợi ích ấy hay không? Những điều
kể trên đây có phải là luận thuyết chánh xác hay
không? Nếu nói tường tận, c̣n có những lợi
ích khác hay không? (Chân Tàm Quư hỏi)
Đáp: “Quá Ngọ không ăn” có nguyên tắc,
và cũng có những lợi ích kèm theo. Theo quy chế tại
Ấn Độ, tăng lữ khất thực. Tôn giả
Ca Lưu Đà Di sáng chiều khất thực, từng làm
cho bà bầu kinh hăi đến nỗi bị đọa thai[14].
Đức Phật chế định quá Ngọ chẳng ăn.
Điều thứ tư như ông đă nêu chính là nguyên tắc
ấy. Những điều đă kể khác đều là lợi
ích kèm theo đối với chính ḿnh.
* Hỏi: Thông thường, ở chỗ ăn
chung với các đồng nghiệp, do bất tiện, giữa
trưa chẳng ăn quá no. Nếu quá Ngọ chẳng ăn,
có tổn hại sức khỏe hay không? (Chân Tàm Quư hỏi)
Đáp:
Ngũ tạng lục phủ[15]
xét theo y học đều có các chứng bệnh chánh yếu.
Nguyên nhân gây ra bệnh dạ dày gọi là “vị gia thật” (胃家實,
bao tử chật cứng). Nếu phế vật trong ruột
chưa bài tiết ra, mà lại nhồi nhét thêm [thức ăn
mới] vào dạ dày, sẽ bị bệnh ấy. Cổ
nhân dạy phép dưỡng sinh, luôn luôn răn “chớ ăn quá no”. Hăy nên ăn
có hạn lượng nhất định, chẳng lựa
chọn ngon dở, số lượng vừa đủ, sẽ
chẳng có hại cho sức khỏe. Nếu chẳng gây trở
ngại cho sức khỏe th́ lợi ích thấp nhất sẽ
là giảm được các chứng bệnh về dạ
dày!
* Hỏi: Hạnh “quá Ngọ chẳng ăn”
đối với cư sĩ có phải cũng là một điều
trọng yếu? (Chân Tàm Quư hỏi)
Đáp: Hai chuyện tự lợi và lợi
tha, há có hạn chế xuất gia hay tại gia? Chỉ nên quan
tâm là có thể làm được hay không mà thôi!
* Hỏi: Có thể dùng công đức “quá Ngọ
không ăn” để hồi hướng ḥng “tiêu bệnh,
tiêu tội, cầu nguyện” hay không? (Chân Tàm Quư hỏi)
Đáp: Điều thiện chẳng có lớn
hay nhỏ, đều có thể hồi hướng, chẳng
giới hạn trong bất cứ một chuyện nào!
* Hỏi: Đă thọ Bồ Tát Giới,
trong ấy có giới giết, trộm, dâm, dối, cũng
có giới quá Ngọ không ăn. Cần ǵ lại phải tŕ
Bát Quan Trai Giới? Hai bên có ǵ khác nhau? Lại nữa, nếu
tŕ Ngọ th́ có thể dùng sữa ḅ, nước trái cây, bánh
quy v.v... hay không? (Trần Táo hỏi)
Đáp: Bồ Tát Giới có xuất gia và tại
gia sai khác. Đại giới phổ thông th́ suốt đời
thọ tŕ, có giá, có khai, mang tính cách khoan dung hơn. Bát Quan Trai
Giới chẳng có xuất gia hay tại gia sai khác. Do nó là
giới [mang tính chất] gia hạnh[16],
hạn định thọ tŕ trong một ngày. Nếu vi phạm,
sẽ là phá giới, có tánh cách khá nghiêm ngặt. Lấy giết
và dâm để luận, Bát Quan chỉ hạn chế ăn
chay và dâm, chẳng có chuyện cho phép ăn rau bên cạnh thịt,
càng chẳng có phân biệt chánh dâm và tà dâm! Đối với
chuyện “quá Ngọ chẳng ăn”, trong giới Bồ
Tát, nếu do pháp sự bận bịu, sức không chống
đỡ nổi, có thể thỉnh thoảng uống sữa
ḅ, nhưng Bát Quan th́ không được. C̣n như ăn bánh
quy th́ rơ ràng là đă phá giới mất rồi!
* Hỏi: Đệ tử đă tŕ Ngọ, chỉ
mong bỏ luôn bữa sáng, mỗi ngày ăn một bữa.
V́ có bệnh bao tử, hơi cảm thấy chẳng khỏe,
có nên chẳng quan tâm tới nó, cứ tiếp tục tŕ hay
không? (Bàng Càn Thiện hỏi)
Đáp: “Quá Ngọ chẳng ăn” do đức
Phật chế định. Buổi sáng ăn cháo được
đức Phật cho phép. Các tùng lâm và người tŕ luật
đều tuân hành, v́ ăn cháo sáng có ích cho sự dinh dưỡng.
Thường nói “chúc hữu thập
ích” (cháo có mười điều lợi ích). Nếu sáng
sớm ăn no, sẽ chẳng có ích ǵ cho phép dưỡng
sinh, đâm ra có hại cho dạ dày, mà cũng trái nghịch
giới luật của Phật vậy!
* Hỏi: Tôi từ thuở nhở, v́ bệnh
tật, thân thể yếu ớt, ăn lộc nhung[17]
thành nghiện. Hiện thời, mỗi năm cần ăn
ba, bốn lượt. Nếu sau khi đă thọ Ngũ Giới,
không ăn sẽ bứt rứt. Ăn vào lại phạm giới.
Sau khi đă thọ giới, phải nên làm như thế nào?
(Lỗ Khai Trí hỏi)
Đáp: Lộc nhung là thuốc. Nếu thân thể
thật sự suy nhược cần phải dùng th́ có thể
dung thông sử dụng.
* Hỏi: Sám hối mầm mống tội
nghiệp, do chẳng có cơ hội tham gia bái sám tập thể,
tôi tính sửa đổi khóa tụng mỗi ngày, niệm thêm
kinh văn sám hối, rốt cuộc có những kinh như
vậy hay không? Ở chỗ như thế nào? Khẩn thiết
xin hăy dạy cho để tôi hành theo! (Hoàng Hàm hỏi)
Đáp: Nếu cư sĩ đă thọ giới,
có thể hỏi ḍ chỗ nào có thực hành tụng nghi thức
[sám hối] mỗi nửa tháng, hăy nên tới đó tham gia.
Trừ cách ấy ra, sám hối tập thể chẳng nhiều
lắm. Nếu trong khóa tụng hằng ngày muốn sám hối,
bèn tụng bốn câu kệ trong phẩm Hạnh Nguyện
của kinh Hoa Nghiêm, tức “văng
tích sở tạo chư ác nghiệp...” (xưa kia đă
tạo các ác nghiệp) là được rồi. Nhưng tiến
hơn nữa là người sám hối chân thật, bèn cầu
[thật sự sám hối] nơi tâm. Nếu chỉ làm theo
h́nh thức, ngôn ngữ, hiệu lực sẽ nhỏ nhoi!
* Hỏi: Quá Ngọ chẳng ăn, nhưng ở
trong thôn làng, dân làng rất thân thiết ép chúng tôi ăn. Nếu
chẳng ăn, lại sợ họ nấu thêm những món
phụ thuộc mà tổn phước, lại sợ họ
bực bội. Nếu ăn, có mắc lỗi hay không? Nếu
ở nhà, hoặc ở trong chùa miếu, tŕ “quá Ngọ chẳng
ăn”, khi ra ngoài hoằng pháp, có thể phương tiện
dung thông hay không? Pháp sư Từ Hàng quá Ngọ có dùng nước
trái cây và các phẩm vật phụ thuộc hay không? (Tín Huệ hỏi)
Đáp: Hễ ăn th́ là “phá trai”. Có việc tới nhà người khác, hăy
nên thanh minh trước, ắt sẽ khỏi phiền phức.
Hoằng pháp bên ngoài, càng phải nên trang nghiêm. Không ăn th́
tốt hơn. Nếu nhiều việc, phải nói nhiều,
sợ khí lực chẳng thể chống chọi nổi,
trừ mười ngày trai ra, có thể đối trước
Phật bẩm rơ trước để làm phương tiện
ngẫu nhiên. Những vật phụ thuộc là vật ǵ?
Do chưa nói rơ, chẳng tiện trả lời!
* Hỏi: Chưa thọ Ngũ Giới, nhưng
tận hết khả năng, dốc hết sức tŕ giới,
công đức ấy có thể sánh ngang với người
đă thọ giới hay không? (Trần
Thánh Âm hỏi)
Đáp: Có thể tự giữ giới, đương
nhiên là có công đức. Nếu so sánh với người đă
chánh thức thọ giới, sẽ kém hơn. Ấy là v́ người
đă thọ giới chánh thức, một là có sư thừa,
hai là hiểu rơ giới tướng, ba là có Tam Bảo chiếu
lâm gia bị, bốn là do có phát giới điệp, có thể
gặp Phật sự bèn được đắp áo ca-sa[18].
Đó là nói theo lẽ thường. Nếu đă nếu chánh
thức thọ giới mà chẳng thể giữ, hoặc
chẳng hiểu rơ (giới tướng), hoặc phá, hoặc
vượt phạm, phải nên luận định riêng!
* Hỏi: Hiểu câu “bất đắc dĩ chỉ cát oản bát thực”
như thế nào? V́ sao không được lén nghe tỳ-kheo
tụng giới kinh? (Vưu
Thái Hoa hỏi)
Đáp: Chữ “cát”
(割) trong câu trên đây nghi là viết
sai. Thấy trong Sa Di Luật Nghi, có câu “bất đắc dĩ chỉ quát (刮)
oản bát thực” (chẳng được dùng ngón
tay để vét bát ăn). Câu ấy có nghĩa là ăn xong,
trong bát c̣n sót cơm hoặc nước, tḥ ngón tay vào vét ăn,
sẽ là đánh mất oai nghi. Giới tỳ-kheo chính là đại
pháp của chúng xuất gia, ắt người truyền giới,
người thọ giới mỗi đằng đều
có đủ các nhân duyên, tam sư, thất chứng[19],
cũng như phải trải qua một thời gian kha khá
mới được trao nhận, tột bậc trịnh
trọng. Người cầu giới cũng hết sức
khó khăn, mà cũng chẳng liên quan đến người
tại gia. Hăy nên biết: Trong thế gian, một đồng
nhỏ nhặt, nếu chẳng cho mà lấy th́ bảo là “đă
phạm tội trộm cắp”. Ở đây, [Cụ Túc Giới]
chính là đại pháp của hàng tỳ-kheo xuất gia, chẳng
phải là chuyện của hàng bạch y, nhưng lại đến
nghe trộm, đó là tội trộm cắp to lớn. V́ thế,
chớ nên chẳng đúng phận mà làm xằng vậy!
* Hỏi: Tŕ Bát Quan Trai Giới như thế
nào? Hạng người nào mới có thể [thọ tŕ]? Có
quy luật ǵ? Có lợi ích ǵ? (Vưu
Thái Hoa hỏi)
Đáp:
Bát Quan Trai Giới chính là đại pháp do chư Phật thọ
tŕ suốt đời, bọn ta không thể làm được,
cho nên có sáu ngày trai, mười ngày trai v.v... để hành.
Dẫu là bất cứ ngày nào, cung kính hành tŕ [Bát Quan Trai Giới],
cũng chưa hề chẳng được! Tŕ trai giới
này, chẳng phân biệt là tại gia hay xuất gia, đều
có thể thọ tŕ, chỉ cần nương theo nghi thức.
Đại khái là những Phạn bản này có lưu thông tại
Thụy Thành Thư Cục ở đường Thành Công, Đài
Trung.
* Hỏi: Nếu có những Phật tử
chỉ có một ngôi nhà bằng tre, gỗ, lợp cỏ
tranh để làm chỗ nương thân, do trước
đó, không đề pḥng, [hiện thời] phát hiện nhà
có mối. Trừ mối bèn phạm giới nhà Phật. Chẳng
trừ, chắc là nhà tranh sẽ sụp đổ, hủy
hoại. Làm như thế nào? (Trại
Mạnh Thu hỏi)
Đáp: Tinh thần của giới là “thà bỏ thân mạng, chứ chẳng
trái nghịch giới”. Chuyện xưa thật nhiều,
khó thể kể xiết! Nếu là người nghèo, chỉ
có cái nhà tranh ấy, v́ yêu tiếc, có thể dùng Phật pháp
để cầu nguyện, khuyên chúng hăy rời đi. Nếu
chẳng ứng nghiệm, tức có nhân quả, chỉ nên “tùy duyên tiêu cựu nghiệp, chớ
tạo ương họa mới”. Theo cách nh́n thế tục,
lời này cố nhiên [bị chê] là viễn vông, nhưng nhân
quả tự là nhân quả, có ai tiêu diệt nổi!
* Hỏi: Ăn chay trong tương lai sẽ
có cảm ứng ǵ? Ăn chay nhiều năm, chẳng có
đại pháp sư truyền giới, nhưng chính ḿnh giữ
giới, có ảnh hưởng ǵ chăng? Tự giữ giới
có cảm ứng hay không? (Trương
Khoan Tâm hỏi)
Đáp: Ăn chay là gián tiếp kiêng giết.
Có thiện nhân như thế, sẽ có thiện quả như
thế. Về sau, chắc chắn đạt được
quả báo trường thọ, ít bệnh tật. Đấy
chính là một trong những điều cảm ứng. Có thể
chánh thức thọ giới cố nhiên là tốt. Nếu cơ
duyên chẳng hợp, chưa được thọ giới,
nhưng đă thực hành giới sát, tức là tuy chẳng
có nghi thức, nhưng đă có thực chất ấy, công
đức làm sao luống uổng cho được? Cổ
thư ghi chép, người b́nh phàm kiêng giết, phóng sanh, c̣n
được hưởng các thứ phước báo, huống
chi đệ tử Phật có công tu tŕ, há chẳng triệu
vời cảm ứng ư?
* Hỏi: Thọ giới mà chẳng tŕ giới,
và chưa thọ giới mà trong tâm tŕ giới, người
nào trong hai hạng người ấy sẽ có công đức?
(Hành Ngọc hỏi)
Đáp: Kẻ chưa thọ giới mà có thể
tŕ giới, đương nhiên là có công đức! Chỉ
là không được nhiều lợi ích bằng người
chánh thức thọ giới trong giới đàn. Ấy là v́
khi chánh thức thọ giới, cử hành sám hối, giảng
giải luật nghi, có thể trông thấy Tam Bảo trang
nghiêm, chuyển biến cảnh giới, cũng như lắng
nghe, tin nhận, do chí thành cảm vời, được [Tam
Bảo] gia bị mà đắc giới. Kẻ thọ giới
mà chẳng tŕ, ôm ḷng khinh mạn, biết pháp mà phạm pháp,
vừa tạo ác vừa kèm thêm phá giới, chẳng khỏi
tội càng thêm tội, rảnh đâu để luận định
công đức nữa!
* Hỏi: Người thọ tại gia Bồ
Tát giới có thể đảm nhiệm công tác điều
tra cho chánh phủ hay không? (Nhan Phật
Triệu hỏi)
Đáp: Chưa hề không thể, nhưng hăy
nên giữ ḷng đoan chánh, cẩn thận, chú tâm, chẳng
gây oan uổng, chẳng làm chuyện khuất lấp, t́m cầu
sự thật. Nếu có thể thưa tŕnh cùng quỷ thần
[những điều chính ḿnh đă làm] mà chẳng thẹn,
vâng theo giới luật, có thể quyền biến, tức
là có thể giữ chức mà không lạm quyền, bảo
vệ dân, chẳng tàn bạo vậy!
*
Hỏi: Kiêng giết có phân chia mức độ hay không? Như
đối với loài thú có thể tổn thương mạng
người bèn có thể giết chúng trước để
bảo vệ chính ḿnh, chẳng biết có phạm giới
hay không? (Liên Vân Ban hỏi)
Đáp: “Kiêng giết” là hết thảy đều
chẳng giết, chẳng có phân biệt! Trước và sau
khi giết, hữu tâm, hoặc vô tâm, sân hận, hoan hỷ,
hối hận, sanh mạng lớn nhỏ, dưới trạng
huống như thế nào, t́nh h́nh hết sức phức tạp.
Đó là mức độ. Khi ác thú hại người th́
giết, nhưng nếu t́m kiếm, [cho rằng] để
ngăn ngừa chúng hại người bèn giết phứt
đi, t́nh trạng sẽ khác hẳn, phạm giới cũng
có nhẹ hay nặng!
* Hỏi: Bồ Tát Giới nói: “Chúng sanh thọ Phật giới,
bèn dự vào địa vị Phật. Địa vị
đă giống như bậc đại giác, đúng là con của
chư Phật”. Điều này có nghĩa là ǵ? (Tiêu Thiệu Hinh hỏi)
Đáp: Trong năm phần Pháp Thân[20]
của Phật, Giới là một phần. Người thọ
giới tức là đă có một phần đồng thể
với Phật. V́ thế, ví như đă nhập địa
vị Phật. Phàm là đệ tử Phật, hăy nên lấy
Giới làm thầy. Người đă thọ giới mới
xứng đáng là đệ tử Phật thật sự!
* Hỏi: Văn bối đă thọ Ngũ Giới,
chỉ có điều đối với giới thứ nhất
“không sát sanh”, có thể ăn ba thứ tịnh nhục hay
không? Văn bối đă từng đảnh lễ trước
Tam Bảo, có thể tŕ giới “chẳng sát sanh”, nhưng ăn
ba thứ tịnh nhục, thật sự là hoàn cảnh chẳng
cho phép. Cơ duyên ấy chưa chín muồi, chưa dám ăn
chay. Dùng nguyện này hứa trước Phật có được
hay không? (Mă Khiêm hỏi)
Đáp: Đă thọ giới “không sát sanh”, hăy
nên ăn chay. Nếu thật sự hoàn cảnh chưa cho
phép, hăy ăn rau bên cạnh thịt và ba thứ tịnh nhục,
chẳng ngại tạm thời dung thông. C̣n như trong lời
hỏi có nói: “Ăn ba thứ tịnh nhục, quả thật
hoàn cảnh không cho phép”, tôi đọc thấy ư nghĩa chẳng
hợp với những câu trước và sau đó, có lẽ
là viết sai hay chăng?
* Hỏi: Tệ nhân đă đến tuổi
quân dịch, sau khi nhập ngũ để được
huấn luyện, nếu c̣n phải ra chiến trường,
chẳng biết có phải cầm súng bắn chết đối
phương hay không? Do tệ nhân đă thọ Tam Quy, Ngũ
Giới, giới thứ nhất là “không được sát sanh”,
chuyện này có cách nào để có thể giải quyết?
(Tiêu Kim Vinh hỏi)
Đáp: Làm lính chống địch chính là bảo
vệ người lương thiện. Giao chiến phải
giết người giống như quan ṭa phán án, chính là do
chức vụ, nhưng phải giữ nghiêm ngặt sao cho
không giết chóc bừa băi th́ được!
* Hỏi: Hậu học đă nhiều lần
nghĩ: Về sau này, hễ có tự viện truyền giới,
tính đến thọ giới tỳ-kheo, nhưng thân đă
tàn phế, chẳng biết có thọ được hay không?
(Ông Đức Ḥa hỏi)
Đáp: Tỳ-kheo giới là giới để
chúng xuất gia thọ. Hàng tại gia c̣n không được
phép nghe, huống là thọ ư!
*
Hỏi: Do cuộc sống, người niệm Phật làm
việc trong cơ quan chấp pháp, phán xử án tử h́nh đối
với những phạm nhân phạm tội ác to lớn, không
thể tha thứ. Đối với giới luật và niệm
Phật, có trở ngại ǵ hay không? (Trác Trung Chấn hỏi)
Đáp: Kẻ đó phạm phép nước,
bị pháp luật giết. Người nắm việc tư
pháp giữ ḷng từ bi, bất quá t́m lư lẽ có thể cho
người ấy sống, hết ḷng mong giảm bớt
h́nh phạt cho người ấy mà thôi. Nếu thật sự
là tội chẳng thể tha, mà cố ư dung túng, tức là chính
ḿnh trái pháp! Gặp cảnh như vậy, sao bằng đổi
làm nghề khác, có phải là tốt hơn không?
* Hỏi: Có người đă thọ Bồ
Tát giới, do ôm ḷng từ bi thương xót đối phương,
đă khuyên dạy một người chỉ thọ Tam
Quy, nhưng chưa tŕ trai: “Hăy giết gà để chế
thuốc nhằm bồi bổ cái thân bệnh tật”. Vậy
th́ người thọ giới [Bồ Tát] ấy đă phạm
giới ư? (Trương Trọng
Nhạc hỏi)
Đáp: Kẻ đă thọ giới ấy có
lẽ là kẻ hâm mộ hư danh, chẳng có thật hạnh.
Có lẽ là đối với giới đă thọ, cũng
chẳng liễu giải! Chỉ sợ là thọ mà chưa
đắc, nhưng dạy người khác sát sanh, tức
là đă có tội lỗi rồi!
* Hỏi: Luật Phật giáo có bao nhiêu điều?
Đối tượng thọ giới là như thế nào?
(Kha Băng hỏi)
Đáp: Căn bản của giới ở nơi
tâm, “đối tượng”
chính là những người khác và hoàn cảnh. Chủng loại
giới luật rất nhiều, phân biệt đại lược
th́ có giới của tứ chúng xuất gia, tại gia Ngũ
Giới và Bồ Tát giới. Xuất gia và tại gia đều
thọ tám giới [tức Bát Quan Trai Giới] v.v... Kinh văn
quy định về giới điều [dành cho mỗi loại
giới] khác nhau!
* Hỏi: Người xuất gia sau khi thọ
giới, hoàn toàn chẳng hành theo giới luật. Hằng
ngày ác khẩu, ác ư, chẳng biết đă phạm bao nhiêu giới
luật! Thuở đức Phật tại thế, đức
Thích Tôn gọi hạng người xuất gia ấy là “sư tử trùng”, tôi muốn
luận định hạng người này trong tương
lai có thể văng sanh hay không? (Nhan
Khoan Văn hỏi)
Đáp:
Người xuất gia như thế nào, tạm thời chẳng
bàn tới. Cư sĩ tại gia thọ giới gần như
con cá diếc vượt sông, có thể giữ giới mà chẳng
ác khẩu, ác ư, có phải là tất cả đều làm được
như vậy hay chăng? Ta chỉ giữ một giới “chẳng thấy lỗi của người
xuất gia”, sẽ có ích cho ta!
* Hỏi: Nay tôi đọc kỹ các đoạn
trong bài viết Tŕ Tụng Cần Biết trong tập sách
nhỏ về chú Lăng Nghiêm (trong bộ Trung Anh Chú Âm (phiên
âm thần chú Hán - Anh) do ông Diệu Giác Vưu Thuần Tịnh
biên soạn) mới biết sâu hơn một bậc về
tội nghiệp của chúng ta. Ông Vưu nói: Tụng bài thần
chú vương này, tức là tụng tŕ bài chú [Lăng Nghiêm]
này, cần phải thanh tịnh khẩu nghiệp, trụ trong
Bồ Tát giới, phát Bồ Đề tâm. Tối thiểu
là có thể giữ Ngũ Giới, tận lực thực hành
Thập Thiện. Thời gian tŕ tụng vào giờ Dần,
Măo mỗi buổi sáng. Địa điểm th́ chánh thức
lập đàn tràng tại am, quán[21],
tự viện, sắp đặt đúng theo nghi thức là
thích hợp nhất. Kế đó là ở nơi yên tĩnh
trong nhà, sắp đặt hương hoa tinh khiết. Ở
thành thị th́ chọn tầng nhà thanh tịnh, cao nhất,
không c̣n tầng trên nữa cũng được. Nếu [lập
đàn tràng] ở tầng dưới, tầng trên là pḥng ngủ,
hoặc khuê pḥng, sẽ dễ mắc tội lỗi v.v... Các
sách khóa tụng không chú thích rơ rệt những chuyện này,
khiến cho chúng ta đă phạm tội chẳng biết
bao nhiêu! Chỉ có điều người thọ Ngũ Giới
trong pháp môn Tịnh Độ khá thưa thớt, kiền thành
niệm Phật, tŕ chú, đâm ra tội chướng nặng
hơn! Nay tôi bó tay, sững sờ, chẳng biết làm như
thế nào? (Lâm Kỳ Hoành hỏi)
Đáp: V́ sao trong pháp môn Tịnh Độ, người
thọ giới ít ỏi? Cần biết: Giới là thầy
lành, [có thể] thanh lương phiền năo, có thể chuyển
cấu uế thành trang nghiêm. Trong Tam Vô Lậu Học, Giới
là một điều. Mười tông Đại Thừa và
Tiểu Thừa, đều cần phải thọ tŕ; chẳng
cần bắt buộc phải học thần chú Lăng
Nghiêm rồi mới được tŕ giới! Nhưng nếu
nghĩ “tu Tịnh bèn chẳng tŕ giới”, tức là đă
lầm lẫn to lớn. Cư sĩ đă học chú ấy,
không cần phải bỏ dở giữa chừng, nhưng
có thể lập nguyện “chẳng giết, chẳng trộm,
chẳng tà dâm” th́ tŕ chú liền có công đức!
* Hỏi: Thọ giới cần chuẩn bị
“giới kim” (戒金,
chi phí thọ giới), đích thân đến giới đàn,
được vị thầy truyền giới truyền
trao giới luật, th́ mới hữu hiệu. Nhưng mạt
học phát nguyện thọ giới, lại chẳng có sức
chuẩn bị giới kim, nay lại có bệnh, chẳng
có cách nào đích thân đến giới đàn thọ giới
để nhận sự truyền trao của vị thầy
truyền giới. Nếu mời riêng một tỳ-kheo
đă thọ Cụ Túc Giới để chứng minh truyền
giới, chẳng biết có được hay không? [Cách thức
xin thọ giới] như thế nào, lại cúi xin thầy
hăy v́ mạt học giới thiệu một vị ḥng viên
măn ư nguyện của mạt học. Nếu gởi thư
quy y, chẳng thể đích thân đến nơi th́ có thể
thọ giới hay không? (Nhan
Văn Bạo hỏi)
Đáp: Nếu như khi có tỳ-kheo tăng
đến quư xứ thuyết pháp, có thể gặp mặt
để cầu [thọ giới]. Nếu chuyên thỉnh, sẽ
tốn kém lắm!
* Hỏi: Gần đây, tôi đọc báo Bồ
Đề Thụ đă hơn một năm. Đối với
chuyện trai giới của hàng tại gia, hoàn toàn chẳng
vâng giữ mười phần nghiêm ngặt. V́ tôi ở
trong bộ đội, ăn chay quả thật quá khó khăn!
Có lúc đâm ra tăng thêm không ít phiền phức và phiền
năo, tôi tính bỏ trai giới trong Ngũ Giới, [như vậy
th́] có mắc tội phạm giới hay không? (Chương Phổ Minh hỏi)
Đáp: Ông thấy trong nguyệt san Bồ
Đề Thụ, chỗ nào nói “đối
với trai giới của hàng tại gia, hoàn toàn chẳng [cần
ǵn giữ] mười phần nghiêm ngặt”? Nếu nói là
trong quân ngũ [ăn chay] chẳng thuận tiện th́ ăn
rau bên cạnh thịt cũng chẳng ngại ǵ!
* Hỏi: Có những cư sĩ thọ Ngũ
Giới, nếu cày ruộng, trồng vườn, tận hết
sức ngăn ngừa loài trùng phát sanh, nhưng đối
với những loài trùng có liên quan đến khí hậu mà
sanh sôi th́ có thể do tâm từ bi mà giết chết hay không?
Nếu chẳng giết, thóc lúa, rau quả sẽ bị các
loài trùng tổn hoại, làm sao tăng sản lượng
cho được? Cũng có thể niệm chú Văng Sanh rồi
giết hay không? (Vu Tiền Đ́nh
hỏi)
Đáp: Giới có khai, giá, tŕ, phạm, nhưng
cần phải có người có chức trách xử lư. Vị
cư sĩ ấy đă hướng về vị thầy
truyền giới nào để thọ giới, hăy nên hướng
về vị thầy truyền giới ấy để hỏi,
sẽ được chỉ dạy chánh đáng!
* Hỏi: Ngũ Giới là giới cơ bản
trong việc học Phật. Xin đại đức hăy chỉ
dạy toàn bộ giới trong việc học Phật có được
hay không? (Hà Vĩnh Đinh hỏi)
Đáp: Người tại gia trừ Ngũ
Giới ra, c̣n có Bồ Tát Giới. Do văn từ phức
tạp, cột báo này chẳng thể sao lục được.
Có thể t́m trong những tiệm lưu thông kinh Phật
để thỉnh hai kinh Anh Lạc[22]
và Phạm Vơng về đọc, sẽ biết đại
khái. Nếu là giới xuất gia th́ theo lệ, người
tại gia không được xem, chẳng cần đa sự!
* Hỏi: Xin thầy giải thích cặn kẽ
ư nghĩa “Ngũ Giới trong
nhà Phật phù hợp Ngũ Thường của Nho gia”?
(Diệu Canh hỏi)
Đáp: Ngũ Thường là nhân, nghĩa, lễ,
trí, tín. Ngũ Giới là [không được] giết, trộm,
dâm, dối, uống rượu. Chẳng giết là nhân, chẳng
trộm là nghĩa, chẳng tà dâm là lễ, chẳng nói dối
là tín, chẳng uống rượu là trí. V́ thế, nói là “phù hợp”.
* Hỏi: Mấy năm gần đây (chẳng
biết từ lúc nào), chúng xuất gia phần nhiều bảo
“tam đàn đại giới”
thọ hết trong một lần. Xét theo quy chế của
đức Phật, có phải là phải sau bao nhiêu năm,
lần lượt thọ tŕ theo thứ tự từng loại
giới một hay không? (Chân Tàm
Quư hỏi)
Đáp: Kẻ hèn này vốn thuộc hàng bạch
y, đối với giới luật của hàng xuất gia
chưa dám tự tiện xem, đối với điều
Ngài hỏi tới, tôi chẳng biết.
* Hỏi: Trong mười giới thuộc về
Sa Di Luật Nghi do đức Phật chế định,
có giới “sau Ngọ chẳng ăn”, nghe nói là v́
thương xót loài ngạ quỷ, khiến cho họ khỏi
v́ trông thấy người khác ăn uống mà cổ họng
bốc cháy rừng rực. Có người nói: Phàm là những
thức ăn bỏ vào miệng, khi nhổ ra rơi xuống
đất mà có bă nát th́ [quá Ngọ] đều chẳng
được ăn. Nếu bỏ vào miệng, nhổ ra
không có bă, bất luận vật ǵ cũng đều có thể
ăn, như nước sôi, sữa ḅ, sữa đậu
nành v.v... đều có thể dùng. Nói như vậy có
đúng hay không? (Phan Kim Tuyền
hỏi)
Đáp: Quá Ngọ không ăn, không chỉ là
Sa Di Luật Nghi. Ư nghĩa “không ăn” cũng chẳng phải
chỉ v́ xót thương ngạ quỷ. Ư nghĩa nói chung gồm
có mười điều, như: Một là đoạn duyên
sanh tử, hai là biểu thị Trung Đạo, ba là điều
ḥa cái thân ít bệnh, bốn là đạo nghiệp được
tôn sùng, năm là kiên cố giới phẩm, sáu là kham tu Định,
bảy là sanh trí huệ, tám là ĺa nghiệp quỷ thần và
súc sanh, chín là chẳng năo hại đàn-na tín thí, mười
là chẳng quấy nhiễu hành nhân v.v... Hăy xem những điều
này trong lời khai thị của Ngẫu Ích đại
sư. Lại c̣n có thuyết khác, do rườm rà, nên chẳng
thể nêu trọn. Nước được phép uống;
đối với nước trái cây và sữa, khi bệnh
th́ có thể khai phương tiện. Nếu cho phép “những thứ không có bă xác
đều có thể ăn”, sẽ là trái nghịch những
ư nghĩa trên đây vậy!
* Hỏi: Nhà Phật nói: “
Đáp: “Quá Ngọ chẳng ăn” có rất
nhiều ư nghĩa, có thể xem phần trả lời cho cư
sĩ Phan Kim Tuyền trên đây, sẽ hiểu rơ. Ngày đêm
trong quỷ đạo cố nhiên chẳng giống với
nhân gian, nhưng người tu đạo không ăn tối
v́ chẳng giống như thói quen của quỷ. Có người
giải thích là v́ thương xót ngạ quỷ, cũng chẳng
phải là không hợp lư! V́ vào ban đêm, nhân gian dễ cùng
loài quỷ tương cảm. Do vậy, chẳng để
cho họ thấy con người ăn uống, khiến
cho họ dấy lên phiền năo mà thôi.
* Hỏi: Phật giáo kiêng sát sanh, nhưng chủ
trương hỏa táng. Thân thể chúng ta đă là chỗ nương
náu của loài trùng, [vậy th́] hỏa táng có phải là sát
sanh hay không? Sao chẳng chôn xuống đất, để
cho nó tự mục nát, tan biến? (Chân Tàm Quư hỏi)
Đáp: Thân thể con người tử
vong, những loài trùng kư sinh cũng sẽ biến hóa theo. Giống
như chất lỏng trên địa cầu khô cạn, hoặc
chẳng lưu chuyển nữa, thậm chí không khí tiêu sạch,
[khi ấy, địa cầu] sẽ gọi là “tử cầu”. Thử hỏi
hết thảy động vật nương tựa địa
cầu c̣n có thể sống sót hay chăng? V́ thế, hỏa
táng người đă chết chẳng sợ phạm tội
sát sanh. Cư sĩ chủ trương đem chôn, nếu kư
sinh trùng bất tử, há chẳng phải là đă chôn sống
chúng sanh ư? Nếu bảo treo trên sào cao, để cho xác
tự mục nát, chẳng biết là treo lên cho mục nát, lại
đâm ra sanh nhiều trùng, chim thú tụ lại cắn xé, sẽ
dùng cách ǵ mà bảo vệ [những con trùng ấy] nhỉ?
* Hỏi: Xét theo chế định của
nhà Phật, hai chúng xuất gia phải ôm b́nh bát khất thực.
V́ sao Tăng Bảo nước ta chẳng y giáo phụng hành?
(Chân Tàm Quư hỏi)
Đáp: Chuyện này cần phải xét phong tục
mỗi nước để định. Dân chúng nước
ta tin Phật chẳng trọn khắp. Nếu theo thứ tự
khất thực [từng nhà], sẽ có kẻ chẳng cho,
ngược lại c̣n tăng thêm lỗi lầm [phỉ báng]
của họ. Nếu phân biệt để khất thực
th́ lại đánh mất ḷng b́nh đẳng. Do t́nh thế
khó thể thực hiện, cho nên có chế độ an trụ
trong tùng lâm vậy!
* Hỏi: Trong sách Tại Gia Học Phật
Pháp Yếu Hợp San, phần Tại Gia Nam Nữ Học
Phật Tŕnh Tự, nơi trang mười một, ḍng thứ
sáu, đại sư Thích Thái Hư đă viết: “V́ thế, hăy nên hướng về
Bồ Tát sa-môn xin thọ mười trọng giới trong
kinh Anh Lạc để nghiêm tŕ vậy”. Mong cụ giảng
cặn kẽ điều này. Mười trọng giới
trong kinh Anh Lạc là nói tới những giới nào? (Lư Vinh Đường hỏi)
Đáp: Giết, trộm, dâm (đối với
hai chúng tại gia là “tà dâm”),
nói dối, bán rượu, kể lỗi của tứ chúng,
khen ḿnh chê người, keo tiếc cùng hủy báng, sân tâm chẳng
chịu sám hối, hủy báng Tam Bảo.
* Hỏi: Đối với câu hỏi thứ
ba do học nhân đă nêu ra trong số báo Bồ Đề Thụ
kỳ thứ hai mươi tám, có nghĩa là: Tại gia Phật
tử nghiên cứu, học tập sách vở nhà Phật, giữ
ḷng cung kính, và tuân theo luật Tam Quy, Ngũ Giới của đức
Thế Tôn để phụng hành [tuy chưa thọ giới].
Như vậy th́ vẫn phải nên tuân theo nghi thức để
lănh thọ giới luật ư? (V́ trong câu hỏi lúc đầu,
vẫn chưa viết đoạn dưới ra, mong cụ
xem xét, chỉ dạy lần nữa) (Hồ Chánh Lâm hỏi)
Đáp: Chính ḿnh giữ giới, cố nhiên cũng
có công đức. Chỉ có điều theo luật, ắt
cần phải trải qua yết-ma, chánh thức thọ lănh,
ǵn giữ chẳng mất th́ mới là “đắc giới”.
Nếu không, bất quá là Đạo Cộng và Định
Cộng[23] mà
thôi!
* Hỏi: Trong nông nghiệp, đề pḥng,
trừ khử các tai hại của loài côn trùng, bèn giết
trùng rất nhiều, mục đích là v́ tăng sản
lượng lương thực cho cuộc sống của
nhân dân, dường như là có công đối với đời
sống của dân chúng, nhưng tội nghiệp sát sanh th́
sao? (Kim Thiên Đạc hỏi)
Đáp: Có thể có cách để ngăn ngừa
trùng sanh sôi, và phương pháp trừ khử những loài
trùng đă sanh mà không cần giết chúng, th́ sẽ là tận
thiện tận mỹ. Nông dân có tấm ḷng như thế,
đối với chuyện chẳng thể tránh mà giết
lầm, th́ chỉ là lầm lỗi. Lại có thể dùng Phật
pháp để trước hết chú nguyện cho chúng, ắt
t́nh và lư đều đạt, có thể chẳng thẹn với
ḷng vậy. Tội nợ vốn coi trọng nơi hữu
tâm, ư của người làm nông vốn chẳng phải là
dấy ḷng giết chóc. V́ thế, nhân quả chẳng giống
như người làm nghề chài hoặc săn bắn!
* Hỏi: [Không uống] rượu là một
trong năm giới cơ bản; có phải là v́ nó là tăng
thượng duyên gây hôn trầm? Cớ sao trong mười ác
nghiệp chẳng có “uống rượu”? Có phải v́ uống
rượu chẳng phải là ác nghiệp? Nếu uống
rượu mà chẳng loạn tánh (tức là uống quá lố),
trong tương lai sẽ gặp loại duyên nào? Sẽ đắc
loại ác quả nào? (Kim Thiên
Đạc hỏi)
Đáp: Rượu há chỉ là tăng thượng
duyên gây hôn trầm? Trong Tứ Phần Luật có ghi ba
mươi sáu lỗi của rượu[24], Trí Độ Luận chép uống rượu
có ba mươi lăm lỗi. Đă có lầm lỗi
như vậy, tự chuốc lấy ác quả như thế,
há chẳng đáng gọi là “ác nghiệp” ư? Mười
thứ ác nghiệp nhằm chuyên kể ra những tánh giới
nơi thân, khẩu, ư. Uống rượu thuộc loại
giá giới, cho nên chẳng kể xen lẫn vào đó!
* Hỏi: Trong ṿng năm dặm, nếu pháp
sư giảng kinh mà chẳng đến nghe, sẽ là phạm
giới. Con cái của đệ tử mắc bệnh phải
đi nhà thương, trách nhiệm gia đ́nh rất bận
bịu, chẳng thể theo đúng pháp tham gia nghe kinh th́ có
phải là phạm giới hay không? (Khoan Lượng hỏi)
Đáp: Nói “năm dặm” là đă nghe sai mất
rồi! Luật (Bồ Tát Giới) nói là “trong ṿng bốn mươi dặm”. Con cái mắc
bệnh nặng phải đi nhà thương chính là thuộc
chuyện cứu mạng người, so với chuyện
không đi nghe kinh trong giới “tự
tu thắng nghiệp” (tự tu nghiệp thù thắng) th́
chẳng vi phạm. Như ông nói việc nhà bận bịu,
chưa nói là bận chuyện ǵ, nên không tiện trả lời.
Nếu là sự việc chẳng hạn cuộc thời
gian, có thể làm trước, hoặc để về sau
sẽ làm, nếu đă nghe biết [có pháp sư giảng
kinh] mà chẳng đến nghe, tức là phạm giới.
Nhưng có điều cần phải biết: Nếu [người
giảng pháp ấy] là hạng điên đảo thuyết
pháp th́ không đến nghe cũng chẳng vi phạm!
* Hỏi: Khảo sát quy chế “thiêu hương trên đỉnh
đầu” [khi thọ Cụ Túc Giới] do Hồ Nguyên[25]
chế ra. V́ khi ấy, để ngăn ngừa các anh hùng
cách mạng dân tộc nổi dậy, [triều đ́nh Mông
Cổ] đặc biệt hạ lệnh Tăng-già cần
phải đốt thành phù hiệu ở mặt trước
đỉnh đầu, là chỗ rơ rệt nhất, ngơ hầu
nhờ vào dấu hiệu ấy, sẽ có thể diệt
trừ các bậc chí sĩ khoác tăng phục ẩn nấp
trong chốn tùng lâm. Chỉ có điều, [quy định ấy]
hoàn toàn chẳng hạn định tỳ-kheo-ni (theo thói
quen, nam tuân thủ, nữ chẳng tuân. Không biết từ
khi nào, hiện thời, tỳ-kheo-ni cũng thiêu hương
trên đỉnh đầu [giống như tỳ-kheo tăng]).
Sau khi triều đ́nh hạ lệnh cưỡng chế chấp
hành, nhân dân hết sức phản cảm. Không lâu sau đó,
nhà Nguyên cũng mất ngôi, nhưng các tự viện vẫn
kính cẩn phụng hành măi cho tới nay, chưa hề tự
động băi bỏ. Gần đây, lại c̣n dùng điều
đó để phân biệt là đă từng thọ giới
hay chưa? Xét ra, chuyện này vốn là một quy chế chẳng
tốt lành của chánh quyền, hoàn toàn chẳng phải do
đức Phật chế định, có nên tiếp tục
ǵn giữ hay không? (Triệu Siêu
hỏi)
Đáp: Xét ra, trong kinh Phạm Vơng có phần kinh
văn nói đến chuyện “thiêu
thân, thiêu cánh tay, thiêu ngón tay”. Đă là có thể thiêu thân,
cánh tay, ngón tay, có lẽ thiêu đỉnh chẳng phải là
chế định của đời sau! Có nên loại bỏ
hay ǵn giữ [chuyện thiêu hương trên đỉnh đầu
khi thọ Cụ Túc Giới], kẻ hèn này chưa nghiên cứu
Luật Học, nên không có cách nào chơ mồm vào được!
* Hỏi: Tại gia Bồ Tát hoặc cư
sĩ do huyễn thân yếu đuối, chẳng ăn các
loại thịt, chỉ ăn trứng gà không có cồ, sữa,
hoặc trứng vịt, có thể coi là ăn chay trường
hay không? (La Đức Chương
hỏi)
Đáp:
Người tŕ giới tinh nghiêm th́ trứng cũng chẳng
ăn, v́ nó chẳng thanh khiết. Nếu người bệnh ắt cần phải dùng, thật
sự là trứng không có cồ th́ có thể tạm chấp
nhận. Khi Lương Vũ Đế bị vây hăm ở
Đài Thành, đă từng ăn. Sữa ḅ chẳng có tánh chất
sát hại, vốn chẳng bị cấm, đức Thích
Tôn cũng dùng sữa. Nếu là người [uống sữa]
th́ cũng có thể gọi là “ăn chay trường”.
*
Hỏi: Trong ba nghiệp giết, trộm, dâm, ai nấy
đều biết đối với hai thứ trộm và
dâm có hai cách phạm là phạm pháp công khai hoặc lén lút trái
phạm. Nhưng trong loài người, kẻ phạm hai
nghiệp ấy gần như chiếm thiểu số; chỉ
có nghiệp ăn thịt, tức là phạm sát nghiệp chiếm
đa số lớn nhất trong nhân loại.
Nay thử đem lư “chẳng nên trộm cắp và dâm” nói với
mỗi người, tuy người nghe chưa chắc đă
đều có thể tuân hành, nhưng nói ra, ắt họ sẽ
gật đầu. Chỉ có việc khuyên kẻ khác ăn
chay th́ người có thể tín phụng chẳng có mấy
ai! Thật sự có cách nào để có thể đạt được
hiệu nghiệm to lớn hay chăng? Lại nữa, như
kẻ chưa thể ăn chay, chỉ kiêng giết, nếu
tụng kinh, tŕ chú, chẳng biết là cũng có được
Phật lực gia bị hay không? (Tân La hỏi)
Đáp: Ăn thịt chính là tập khí nhiều
đời, lại ngày càng tăng thượng, cho nên khó
khuyên hơn. Chỉ có tùy duyên, tùy phần, khéo v́ họ khuyên
nhủ. Đức Phật chế định: Nếu chẳng
thể ăn chay, cho phép ăn rau bên cạnh thịt. Vẫn
chẳng thể, bèn có phương pháp ăn năm thứ
tịnh nhục. Năm thứ tịnh nhục nhằm để
răn ngừa hết thảy các sát nghiệp trực tiếp
và gián tiếp. Nếu có thể kiêng giết, ḷng Từ tự
nhiên ngày càng thêm tăng trưởng, sẽ có thể được
Phật lực gia bị.
* Hỏi: Thọ Ngũ Giới sẽ không
thể sát sanh, kinh đă có văn bản rơ ràng. Nếu người
nhà sai ra chợ mua thịt lợn, trứng gà v.v... có thể
đi mua giùm họ hay không? Nếu gặp phải chủ
nhân sai mua các lễ vật như rượu, thịt v.v...
có thể làm theo hay không? Có lúc muốn tiếp đăi khách, có
thể đăi họ bằng thuốc lá, bia hay không? (Vương Minh hỏi)
Đáp: Người khác sai đi mua rượu
thịt, theo đúng lư, hăy nên dùng lời lẽ uyển chuyển
để từ chối. Nếu chưa thọ Bồ Tát Giới,
do v́ nghề nghiệp bắt buộc, tiếp đón tân khách,
chiêu đăi bằng thuốc lá, rượu, lúc chẳng thể
tránh né th́ có thể tạm thời dung thông!
* Hỏi: Thốt lời nói dối v́ tâm từ
bi th́ có phạm giới hay không? Ví như trẻ nít nhớ
mẹ khóc nhè chẳng ngừng, t́nh trạng hết sức
đáng thương. Ḷng xót xa muốn cho đứa bé nín khóc,
bèn thốt lời nói dối: “Bé ơi đừng khóc nữa!
Mẹ của con đi mua chuối về”. (Lư Vĩnh Mậu hỏi)
Đáp: Ông không nghe chuyện Tăng Sâm nghe nói
giết lợn do Tăng mẫu vô t́nh thốt lời, [Tăng
mẫu bèn phải giết lợn để giữ chữ
tín với con] ư? Đối với chuyện đă hỏi,
cái tâm vốn là tốt đẹp, nhưng nếu có thể
dùng phương tiện thiện xảo để biến
lời ấy thành thực tiễn th́ càng tốt lành hơn!
* Hỏi: Khi đức Phật nói kinh Mộc
Tích Dụ, có sáu mươi vị tỳ-kheo lậu tận
kết giải, có sáu mươi vị tỳ-kheo xả giới
hoàn tục. Theo truyền thuyết, người sanh trong thời
kỳ Chánh Pháp, có thể được nghe từ chính miệng
đức Phật thuyết pháp, đều là đă gieo thiện
căn rất sâu từ bao nhiêu kiếp. Nghe pháp xong, tối
thiểu là đều có thể chứng đắc Sơ Quả
La Hán. V́ sao sáu mươi vị tỳ-kheo ấy không chỉ
là chẳng thể chứng đắc thánh quả, lại
c̣n ngược ngạo sanh tâm thoái chuyển, xả giới
hoàn tục? Nếu nh́n theo t́nh cảm khách quan, đức
Thế Tôn từ bi, khoan dung, chủ trương coi trọng
tự do cá nhân, sẽ chẳng cưỡng ép, làm khó kẻ
khác, sẽ cho phép đệ tử xả giới hoàn tục.
Nếu nh́n theo nhân quả chủ quan, tỳ-kheo thọ giới
mà phá giới, tức là biết rơ mà c̣n cố ư phạm, tội
lỗi gấp bội. Tuy đức Thế Tôn cho phép đệ
tử xả giới hoàn tục, tội lỗi ấy cũng
có thể xá miễn hay không? Nếu thật sự là như
vậy, chúng sanh trong thời kỳ Mạt Pháp hiện thời
chướng sâu, huệ cạn, nếu như tỳ-kheo chẳng
thể giữ giới, cũng đều có thể làm giống
như người xưa, xả giới hoàn tục hết?
Nh́n theo cách này, tức là chẳng trái phạm chế định
của đức Phật, cho nên cũng chẳng có tội.
Tôi nghĩ vậy có đúng hay không? (Phan Thành Lâm hỏi)
Đáp: Phá giới thoái chuyển, công đức
đều mất, nhưng nghiệp lẫn Hoặc đều
c̣n, gặp duyên sẽ tự hứng chịu. Đức Phật
chẳng giáng tội, làm sao xá miễn cho được? Tiền
nhân phạm lỗi, người đời sau phỏng
theo, ai nấy cũng đều cùng sụp hầm sa hố
mà thôi!
* Hỏi: Người đă thọ giới
vọng ngữ, hễ nói lời lừa gạt tức là
phá giới. Nếu phải lữ hành đường xa,
chi phí đi đường hữu hạn, tổng cộng
chỉ có hai trăm đồng. Trên đường, bất
hạnh gặp phải thổ phỉ đ̣i tiền, có nên
chẳng nói lời thật, chỉ bỏ ra một trăm
đồng cho chúng hay không? Nói ta gần như không c̣n tiền
chi nữa? (Lại cư sĩ
hỏi)
Đáp: Cổ đức bảo: “Thà bỏ thân mạng, chứ không
phá giới”. Công án rất nhiều, chẳng thể kể
trọn, đấy là chuyện đă từng nghe. Giả sử
v́ quyền biến mà phá giới th́ cũng phần nhiều
là v́ lợi ích của nhiều người. Đối với
câu hỏi của ông trong hiện thời, chuyên v́ lợi ḿnh,
kẻ hèn này đối với luật chưa nghiên cứu
sâu, vẫn chẳng dám đáp bừa để rồi đến
nỗi phải chịu trách nhiệm nhân quả!
* Hỏi: Sau khi xuất gia, c̣n chưa thọ
giới Sa-di, địa vị ấy có giống như ưu-bà-tắc
hay không? (Vương B́nh Lang hỏi)
Đáp: Chúng xuất gia có từng giai đoạn
tấn tu của hàng xuất gia, chúng tại gia có giai đoạn
tấn tu của hàng tại gia. Chẳng cần phải so đo
cao thấp giữa đôi bên, [kẻo rồi] nẩy sanh lắm
nỗi phân biệt. Nếu thật sự nương theo
chế định của đức Phật, người
đầu tṛn chánh thức xuất gia, tuy chưa thọ giới,
so ra cao quư hơn kẻ tại gia. Sáu chữ “y chế chánh thức xuất
gia” (y theo giới luật do đức Phật chế
định, chánh thức xuất gia), cần phải rất
chú trọng! Hoàn toàn chẳng phải là tự do cạo
đầu, đến sống trong chùa miếu, liền có
thể tự phụ là hàng xuất gia.
* Hỏi: Chỉ thọ kết duyên Tam Quy Y (chưa
thọ giới ưu-bà-tắc), có thể gọi là cư sĩ
hay không? Có tư cách giống như ưu-bà-tắc hay không?
Khi lễ Phật, có thể mặc áo tràng, [được
phép] đắp mạn y hay không? (Vương
B́nh Lang hỏi)
Đáp: Nếu đă hướng về tỳ-kheo
tăng thọ Tam Quy, có chứng thư Tam Bảo, chính là
đệ tử chánh thức của Phật môn, có thể
gọi là “cư sĩ”, được phép mặc áo tràng.
Chỉ có mạn y th́ cần phải sau khi đă thọ giới
mới được phép đắp.
* Hỏi: Kinh Hoa Nghiêm nói: “Hết thảy sản nghiệp để duy tŕ cuộc
sống đều chẳng trái nghịch Thật Tướng”.
Kinh Phật Di Giáo lại nói: “Hàng
tỳ-kheo các ông là người giữ giới trong sạch,
chẳng được buôn bán, trao đổi, mua sắm
ruộng đất, nhà cửa, thu lưu, nuôi chứa nhân
dân, nô lệ, súc sanh, gieo trồng hết thảy, và đối
với các thứ của cải đều nên tránh xa
như tránh hầm lửa. Chẳng được đẵn
chặt cây cối, khai khẩn, đào bới đất
đai, đều chẳng nên làm”. 1. Lời dạy trong
hai kinh nhằm thành tựu hay là mâu thuẫn lẫn nhau? 2. Lời
dạy trong kinh Hoa Nghiêm có phải là để dạy cho
cư sĩ hay không? 3. Lời dạy trong kinh Di Giáo chuyên nói
với người tŕ tịnh giới trong hàng tỳ-kheo
phải không? Hay là bất cứ ai hễ là tỳ-kheo th́ ắt
phải đều giữ tịnh giới? (Triệu Vĩnh Siêu hỏi)
Đáp:
Đối với kinh Hoa Nghiêm, do ông chưa chỉ ra phẩm
nào, ḍng thứ mấy, chẳng thể khảo chứng, cho
nên không thể nào trả lời được! Đối
với kinh Di Giáo, phàm là tỳ-kheo, không ai chẳng cần tŕ
tịnh giới. Xét ra, danh xưng này (“tỳ-kheo”) cũng
chẳng thể gọi bừa băi được! Nay nhằm
thời đức Phật chẳng c̣n tại thế, trọn
chẳng phải là hễ xuống tóc xuất gia bèn
được gọi ngay bằng danh hiệu ấy, mà ắt
phải là sau khi đă chánh thức nhập giới đàn,
thọ Cụ Túc Giới rồi mới được gọi
như vậy. Hiểu rơ điều này, biết rơ: Chẳng
có giới, sẽ chẳng phải là tỳ-kheo!
* Hỏi: Giới vọng ngữ quy định
như thế nào? Trong các thí dụ dưới đây, có phạm
giới hay không? 1. Nói với người khác ḿnh sẽ làm,
nhưng về sau, do hoàn cảnh, cơ hội chẳng thuận
tiện, không thể làm được. 2. Lời tiên đoán
vị lai chẳng đúng. 3. V́ an ủi người khác, nói
lời không thật. 4. Hằng ngày nói lời sai lầm. (Lư Thủy Mậu hỏi)
Đáp: Điều
một và hai là chưa suy xét mà đă dễ dăi hứa hẹn,
đến nỗi không thể thực hiện, tức là ăn
nói không thận trọng; cho nên mới có nỗi tệ này. Điều
thứ ba, an ủi mà chẳng thực hiện, tức là lừa
gạt. Nếu không tiện nói rơ, có thể là không nói, hoặc
phỏng đoán “nói không chừng”. V́ chuyện trong thiên hạ
hễ chưa thực hiện, đều là bất định.
Điều thứ tư, đă biết là nói sai, sao không lập
tức sửa đổi? Bốn điều đă nêu đều
là vọng ngữ.
* Hỏi: Có kẻ bảo: “Kẻ tin Phật
quá bất hợp lư, v́ từ bi nên không sát sanh. Nếu chẳng
giết mèo, chó, trâu, ngựa, vài năm sau, chẳng phải
là chúng nó đầy ắp đại địa, há nhân loại
có thể sống sót ư? Nhất định là sẽ bị
chúng nó cắn chết”. Phải trả lời kẻ ấy
như thế nào? (Trần Chiêu
hỏi)
Đáp: Con người chẳng thường
ăn chim sẻ và chuột, chưa thấy chim sẻ bay rợp
trời, chuột nhảy nhót kín đất. Nếu bảo
“tuy con người chẳng ăn, nhưng do ghét chúng nên làm
hại”; do vậy, chúng nó giảm ít. Thử hỏi: Kỳ
lân, phượng hoàng, cơi đời gọi chúng là điềm
lành, cớ sao đến nay đă tuyệt tích? Ngay như
“mèo, chó, trâu, ngựa” như kẻ đó đă nêu, lư do cũng
chẳng đầy đủ! Chó và ngựa hoàn toàn chẳng
phải là loài gia súc thường bị ăn thịt; có
bao giờ thấy chúng đầy ắp trong thế gian, nhân
loại bị chúng ăn đến nỗi tuyệt diệt
đâu nhỉ?
* Hỏi: Đối với chỗ sinh sống
trong thành phố (có bán các loại thịt, cá v.v...) mà tuyên
truyền kiêng giết, há chẳng khiến cho bọn họ
(thương nhân) chửi bới v́ gây tổn hại cho việc
kinh doanh của họ ư? (Kẻ
ẩn danh hỏi)
Đáp: Cần ǵ phải chuyên đến chợ
cá, chợ thịt để tuyên truyền kiêng giết? Đối
với nơi chốn, thời gian và con người, đều
chẳng khế cơ, lại đụng chạm chỗ húy
kỵ của họ, sẽ khó tránh khỏi bị báng bổ!
T́nh thế là như vậy đó. Nếu ôm tấm ḷng đại
từ đại bi, chuyên độ kẻ đồ tể,
cũng nên nói riêng với từng người, may ra có thể
sanh ra hiệu lực.
*
Hỏi: Nh́n theo sự kiêng giết, người sống bằng
nghề đánh cá ở ven biển, và kẻ cày cấy, đánh
cá, làm muối, th́ nông dân cày ruộng là do muốn tăng sản
lượng, kẻ nuôi gia súc (sẽ có vấn đề về
sanh linh), chẳng phải là không thể làm đệ tử
thật sự của đức Phật ư? (Người ẩn danh hỏi)
Đáp:
Nghề nghiệp trong thế gian quá nhiều, cớ ǵ cứ
làm những nghề chuyên năo hại chúng sanh? Mạnh Tử
của Nho gia từng nói: “Thỉ
nhân duy khủng bất thương nhân, hàm nhân duy khủng thương
nhân” (Người chế tên chỉ sợ chẳng làm người
khác bị thương, kẻ làm áo giáp chỉ sợ kẻ
khác bị thương). Lại nói “trạch thuật, bất khả bất thận” (chọn
nghề chẳng thể không cẩn thận). Nho gia c̣n như
thế, huống hồ nhà Phật đại từ đại
bi? Nhưng cày ruộng và đánh cá có khác nhau. Cày ruộng chẳng
phải là có ư giết chóc. V́ thế, chẳng gọi là ác. Đánh
cá chuyên v́ sát sanh, nên gọi là ác. C̣n như nuôi gia súc, luận
định nghiêm ngặt th́ đệ tử xuất gia tuyệt
đối không được phép. Nói khoan dung, đệ tử
tại gia có thể sửa đổi dần dần!
* Hỏi: Tỳ-kheo tăng thay mặt cư
sĩ tại gia giới thiệu đồ đệ (giới
thiệu cho người tại gia bái người tại
gia khác làm thầy), lại c̣n thay cư sĩ tại gia quy
y, có phạm giới hay không? Xét theo đó, họ có c̣n tư
cách xưng là tỳ-kheo tăng hay không? (Vương B́nh Lang hỏi)
Đáp: Tỳ-kheo chánh thức đă trải
qua tam đàn đại giới, đă hiểu rơ tường
tận luật nghi, không thể làm những việc giống
như vậy được!
* Hỏi: Tại gia cư sĩ thu nhận đồ
đệ th́ theo chế định của đức Phật
sẽ chẳng được phép. Nếu khi thu đồ
đệ, có phải là phạm tội hay không (do vi phạm
chế định của Phật)? Trong tương lai (sau
khi chết đi) sẽ như thế nào? (Vương B́nh Lang hỏi)
Đáp: Thâu đồ đệ có nhiều
loại khác nhau. Nếu là truyền nghệ thuật cho người
khác như văn chương, thư họa, trăm nghề
hay khéo, ắt phải thâu đồ đệ rồi mới
có thể truyền nghề. Nếu là quy y Tam Bảo trong nhà
Phật, người tại gia tuyệt đối không được
mạo nhận, làm bừa. Tam Bảo là Phật, Pháp, Tăng.
V́ thế, nh́n vào danh hăy nghĩ đến nghĩa, người
tại gia làm sao dự vào đó được?
*
Hỏi: Tín chúng tại gia hướng về tỳ-kheo tăng
cầu thọ Ngũ Giới, có thể xưng là măn phần
ưu-bà-tắc (ưu-bà-di) hay không? Hay cần phải chánh
thức tiến nhập giới đàn th́ mới có thể
gọi là ưu-bà-tắc (ưu-bà-di)? (Vương B́nh Lang hỏi)
Đáp: Ư của Ngài hỏi về sự chánh
danh; nay ở đây, tôi cũng chỉ nói theo danh tướng.
* Hỏi: Tà dâm đứng đầu trong
chuyện phạm Thập Ác, vậy mà ai nấy đều
nói “gian t́nh” là chuyện đền bồi món nợ đă thiếu
trong đời trước. Theo lẽ nào mới là đúng?
(Lư Tuấn hỏi)
Đáp: Đấy là tà thuyết nhằm tưởng
thưởng kẻ làm ác, chớ nên tin nghe! Nếu đời
này Ất bị Giáp cưỡng gian, bèn bảo là do Ất đền
nợ dâm đă thiếu Giáp trong đời trước. Nếu
nói như vậy, đương nhiên là trong đời
trước, Ất từng hành dâm với Giáp. Thử hỏi:
Trong đời trước, khi Ất dâm Giáp, có phải là
Giáp đă trả nợ món nợ dâm từ hai đời
trước cho Ất hay chăng? Nếu bảo “chẳng
phải”, kẻ thốt ra lập luận ấy đă tự
mâu thuẫn! Nếu bảo là “đền trả” th́ cứ
suy ngược lên, người dâm đầu tiên sẽ là
do nhân duyên như thế nào?
* Hỏi: Người thọ Bồ Tát ưu-bà-tắc
giới hoặc Bồ Tát ưu bà di giới có được
phép ăn ba thứ tịnh nhục hay không? Khi niệm kinh,
có thể mặc áo tràng hay không? Được đắp
y hay không? Đắp tổ y[26]
được không? (Vương
B́nh Lang hỏi)
Đáp:
Sau khi thọ giới, có được phép ăn ba thứ
tịnh nhục hay không, phải coi chính ḿnh phát tâm như thế
nào, và lúc thọ giới, nguyện lực như thế nào.
Vị thầy truyền giới giảng giải như thế
nào? Ưu-bà-tắc (ưu-bà-di) đều là tại gia đệ
tử, áo ca-sa chỉ được phép dùng mạn y. Trừ
điển lễ chánh thức ra, người tại gia xưa
nay, khi niệm kinh, áo tràng và mạn y đều chẳng bắt
buộc phải mặc!
* Hỏi: Sau khi quy y Tam Bảo, có bị hạn
chế kiêng giết hay không? Nếu có người, chỉ
v́ tập quán thế tục, cho nên khó đoạn, có phương
pháp ǵ hay không? (Tiêu Huệ Tâm hỏi)
Đáp: Quy y và thọ giới khác nhau. Kẻ
chưa chánh thức thọ giới bị bề trên sai bảo,
ép buộc, v́ bất đắc dĩ mà làm. Nhưng trong lúc
thường ngày, hăy nên tuyên truyền cho đối phương
biết tai hại của việc sát sanh và thuật nói lư do
khiến cho chính ḿnh không thể sát sanh, hăy dùng phương
tiện thiện xảo. Hễ có thể tránh né, bèn tận
hết sức tránh né!
* Hỏi: Phật pháp kiêng giết, nhưng tôi
nghĩ muôn vật trên đời ắt phải hy sinh cho
nhau th́ mới có thể sanh tồn. Trong lúc hy sinh cho nhau th́
mới có thể duy tŕ sanh mạng. Nếu không, dẫu một
khắc, cũng chẳng có cách nào sinh tồn! Như loài người
chúng ta, ắt phải hô hấp, ăn uống, nhưng
trong khi chúng ta hô hấp, ăn uống, sẽ chẳng có cách
nào ǵn giữ sanh mạng của vô số vi khuẩn. V́ duy
tŕ sanh mạng của chính ḿnh, vô số vi khuẩn cũng
phải chịu hy sinh. Nói như vậy, chuyện kiêng giết
làm sao có thể hoàn thiện cho được? (Diệp Khánh Xuân hỏi)
Đáp: Vi khuẩn chẳng phải là hữu
t́nh, hăy để đó khoan bàn tới! Đối với vấn
đề này, cần phải tách ra để nói. Trong đoạn
trước, [ông viết] “ắt phải hy sinh cho nhau th́ mới
có thể sanh tồn”. Đấy chính là đồng điệu
với thuyết “kẻ mạnh ăn thịt kẻ yếu
nhằm thích nghi sanh tồn” của ông Đạt Nhĩ Văn
(Darwin). Chữ “ắt phải” mang ư nghĩa “nhất định”.
“Cho nhau” nghĩa là lẫn nhau. Ngươi như vậy th́
ta cũng như vậy. “Hy sinh” có nghĩa là trâu, dê tùy ư loài
người giết, mổ! Nếu nói gộp lại, có nghĩa
là ngươi nhất định phải chết, ta cũng
nhất định phải chết th́ mới có thể sanh
tồn? Nhưng chẳng biết là ta và ngươi cùng chết
sạch cả rồi, sẽ để cho ai sanh tồn? Nếu
nói để cho kẻ khác sanh tồn, kẻ khác cũng có đối
tượng (ngươi – ta), vậy th́ cũng phải hy
sinh cho nhau. Như vậy th́ chẳng đến mức “đồng quy ư tận”
(cùng chết sạch cả) th́ sẽ chẳng ngừng! Đoạn
sau nói đến chuyện kiêng giết, có phải là chỉ
trích: “Không thể làm triệt để th́ chẳng thà không
làm!” Nếu đúng như tôi đă đoán, xin hỏi ngược
lại một câu: Chúng ta có sanh, rốt cuộc có tử. Nếu
bị bệnh, ắt sẽ chẳng điều trị, v́
lần này tuy trị lành, hoàn toàn chẳng thể coi là triệt
để, v́ rốt cuộc, vẫn có một ngày nào đó
sẽ phải chết!
* Hỏi: Đối với chuyện phiên dịch
sách vở, nếu cuối sách ghi rơ “sở hữu bản quyền, in lại ắt truy cứu”
(v́ lợi ích tiền bạc), [cứ dịch ra th́] có phải
là hành vi trộm cắp hay không? (Lư
Vĩnh Mậu hỏi)
Đáp: Bản quyền của người khác,
họ đă nói rơ, chẳng cho phép in lại! Nếu cứ
cưỡng in lại, hoặc dịch để in ra, chính
là “không cho mà lấy”, hành vi trộm cắp tất nhiên đă
thành lập!
* Hỏi: Chuột là loài động vật
có hại, ai cũng công nhận. Nếu nó gặm cắn quần
áo, lén lút ăn ngũ cốc của con người, đào
hang hư vách, bèn nuôi mèo để săn giết nó. Người
làm như vậy, [theo giới luật] sẽ khó ḷng “không có
lỗi”. Nếu để cho nó tự tung tự tác, giống
như giặc Cộng ở Đại Lục ra vào [Đài
Loan] không truy lùng được, sẽ hại người
cực nặng! Chẳng cho phép giết nó, họa ương
há có chừng ngằn? (Ngô Lượng
Huy hỏi)
Đáp: Chuột vốn sợ người,
chẳng cần đợi mèo bắt. Thử xem, nuôi mèo th́
hằng ngày nó có thể ăn chuột hay chăng? Chỉ nên
giữ cho nhà cửa sạch sẽ, đậy chặt rương,
lồng, khiến cho chuột chẳng t́m được thức
ăn, nó sẽ tự chẳng đến quấy nhiễu
nữa! C̣n như lo lắng [không giết sạch chuột]
sẽ để lại mối họa, tệ ư vẫn cho
rằng [mối họa v́ chuột] dường như chẳng
đến nỗi ép người ta phải “giết cha, tấn
công vợ”.
* Hỏi: Phàm đối với động
vật, hễ hại chết chúng th́ là sát. Nếu chẳng
phải là động vật, [mà chúng] chuyên cố ư phá hoại
th́ giết chúng sẽ chẳng phải là sát sanh ư? (Huệ Quư hỏi)
Đáp: Động vật có t́nh thức, biết
sợ hăi, đau khổ; v́ thế, kiêng giết chóc. “Chẳng phải là động vật”
rốt cuộc là nói tới điều ǵ? Hay là nói tới
khoáng vật và thực vật? Những vật ấy tuy chẳng
có t́nh thức, chẳng có sợ hăi, đau khổ, [ông nói] “chuyên cố ư phá hoại” dường
như lại là đa sự! Nhưng người thật
sự có trí huệ, có ḷng từ bi, biết hết thảy
động vật đều sống nương tựa vào
khoáng vật và thực vật. Nếu chẳng có chuyện
tất yếu, cũng sẽ không cố ư phá hoại chúng.
* Hỏi: Nuôi mèo để trông nhà. Nếu mèo
giết chết chuột, người chủ nuôi nó có tội
hay không? (Lư Vĩnh Mậu hỏi)
Đáp: Ví như nuôi hổ làm kẻ khác thương
tổn, há chủ nhân có thể từ chối trách nhiệm
ư? Nhưng mèo cũng là một sanh mạng, đă nuôi nó,
hăy nên mỗi ngày cho nó ăn, buộc lục lạc vào cổ
nó, khiến cho chuột nghe tiếng mà tránh trước, ắt
sẽ toàn vẹn cả ba bên!
* Hỏi: Bái sư để thọ Tam Quy Ngũ
Giới thông thường và đến giới đàn truyền
giới (như chùa Đại Tiên cử hành) để thọ
Tam Quy Ngũ Giới, xét theo tư cách hoặc những mặt
khác, có chỗ nào khác biệt? (Lư
Vĩnh Mậu hỏi)
Đáp: Năm ngoái, chùa Đại Tiên truyền
giới, chính là tổ chức giới đàn chánh thức.
Nếu cơ duyên không hợp, chẳng thể tham gia, chỉ
nương theo một vị tỳ-kheo đă từng thọ
đại giới để thuận tiện cầu giới,
cũng chẳng có ǵ không thích hợp! Những chuyện này,
trước là cầu hợp pháp, sau là cốt sao có thể
giữ ǵn [những giới đă thọ]. Đấy chính
là tư cách.
* Hỏi: Tệ nhân bái sư thọ Tam Quy Ngũ
Giới vốn chẳng đến đạo tràng, mà ủy
thác chị em thay mặt lo liệu. Quy y như thế có hiệu
quả hay không? (Lư Vĩnh Mậu
hỏi)
Đáp: Không hiểu rơ ư nghĩa của Tam
Quy và Ngũ Giới, làm sao có thể tuân thủ cho được?
Người khác làm thay, là hướng đến chỗ nào
để làm? Kẻ hèn này chẳng biết tường tận
ẩn t́nh bên trong, chẳng dám bàn xằng!
* Hỏi: Nếu có chúng sanh đang ở
trong cảnh khổ năo, phát nguyện làm các Phật sự,
nhưng do hoàn cảnh chướng ngại, nguyện chẳng
thể trọn, có phạm giới hay không? (Trại Mạnh Thu hỏi)
Đáp: Có sức mà không làm, tức là lừa
dối. C̣n nếu bị chướng ngại khó thành, sẽ
chẳng phạm giới, nhưng hăy nên luôn luôn sám hối
để tâm nguyện sớm được hoàn tất.
* Hỏi: Ngày mồng Một tháng Tư (ngày Cá
tháng Tư, April Fool Day) là ngày bịp người khác, Phật
tử tùy thuận thói tục mà nói, hoặc làm chuyện gạt
người [nhằm mục đích giỡn chơi]. Như
vậy th́ có phạm giới nhà Phật hay không? (Trại Mạnh Thu hỏi)
Đáp: Đó gọi là phạm giới, chớ
nên tùy thuận.
* Hỏi: Trong Ngũ Giới, chỉ giữ
một giới, có được giới thần ủng hộ
hay không? (Lư Vĩnh Mậu hỏi)
Đáp: Mỗi giới có năm vị thiện
thần thủ hộ.
* Hỏi: Khi thọ giới, đốt hương
trên đầu có ư nghĩa ǵ? Ưu-bà-tắc có đến
giới đàn thọ giới, và người chẳng đến
giới đàn thọ giới có sai biệt ǵ? (Lư Vĩnh Mậu hỏi)
Đáp: Đối với chuyện đốt
hương, có thể tham khảo báo Bồ Đề Thụ
kỳ số bốn, đoạn thứ nhất nơi
trang thứ sáu. C̣n như nói “thọ
giới” mà chẳng đến giới đàn, chẳng
nghe giảng giải, trao truyền, làm sao có thể đắc
giới?
* Hỏi: Thật sự có giới thần ư?
Phải giữ giới đến mức độ nào th́
mới được thần [hộ tŕ] Ngũ Giới che
chở? Người ấy có bị bệnh chướng
hay không? (Lư Vĩnh Mậu hỏi)
Đáp: Kinh dạy như thế, há có hư
vọng? Giữ nghiêm túc, chẳng phá giới, sẽ được
giới thần gia hộ. Bệnh là nghiệp quả, há có
thể chẳng lănh thọ? Nhưng người tŕ giới,
vô h́nh trung, nghiệp đă chuyển nặng thành nhẹ vậy!
* Hỏi: Đối với giới nói dối,
có hai người Giáp và Ất hận nhau. Sau đó, hai người
nói lời ganh ghét nhau với Bính. Nếu Bính dùng lời thật
nói rơ, Giáp và Ất ắt lại tranh chấp với nhau. Đổi
thành lời tốt lành, sẽ là phá giới! Rốt cuộc,
phải như thế nào th́ mới nên? (Lâm Thiện Duyên hỏi)
Đáp:
Nếu Giáp và Ất chẳng hỏi tới, cứ nói để
làm ǵ? Nếu Giáp và Ất hỏi, hăy dùng lư do “chẳng nói
chuyện thị phi” để cự tuyệt chẳng đáp.
Há chẳng phải là hai đằng đều trọn vẹn
ư?
* Hỏi: Tôi đọc trong kinh Ưu Bà Tắc
Giới, thấy phạm phá giới có thể sám hối và
không thể sám hối tội lỗi, nhưng đối với
đà-la-ni môn, như tŕ tụng chú Đại Bi th́ trọng
tội của người phá giới thảy đều
tiêu diệt. Đấy chẳng phải là không do sức người
sám hối, mà là chú trọng Phật lực ư? (Quán Bồi hỏi)
Đáp: Tŕ chú chú trọng tam mật tương
ứng. Nếu thật sự đạt đến tương
ứng, niệm sẽ chẳng dấy lên. Sám hối kiểu
ấy có sức mạnh lớn nhất. Kệ rằng: “Khi tội khởi lên, dùng tâm sám.
Nếu tâm mất rồi, tội cũng tiêu. Tâm mất, tội
diệt, thảy đều không. Đó mới gọi là
chân sám hối”. Chẳng thể chỉ nói riêng Phật lực
hay tự lực, thật ra là cả hai lực đều
có.
* Hỏi: Nếu sau khi đă thọ giới
“chẳng sát sanh”, do tâm phập
phều lắm vọng tưởng; v́ thế, rốt cuộc
đôi khi có cảm xúc, có ư nghĩ muốn giết người,
ngoài ra, chẳng có hành động ǵ! Hoặc là ban đêm nằm
mộng thấy giết người, như thế th́ có phạm
giới hay không? Nếu là có phạm, có cách nào để sám
hối? (Quán Bồi hỏi)
Đáp: Người mới thọ Ngũ Giới,
trước hết là ngăn dứt hành động từ
nơi thân. Ư niệm do nhiều kiếp tích tập, người
học cạn làm sao có thể chẳng dấy lên [những
ác niệm] cho được? Khi ác niệm dấy lên, hăy gấp
dấy lên một câu Phật hiệu để đánh tan vọng
niệm, chẳng để cho nó liên tục. C̣n ban đêm nằm
mộng điên đảo, lại càng không thể làm chủ
được, cho nên chẳng phạm giới. Nhưng ư
chẳng tịnh, cũng là do công phu quá nông cạn. Sám hối
khá tốt đẹp, chỉ đối trước Phật
tự thuật cảnh giới, khẩn cầu gia bị là
được, hoàn toàn chẳng có phương thức nhất
định.
*
Hỏi: Có người nói đập chết một con muỗi
cũng là mắc tội khai sát giới. Nếu lời ấy
là thật, hết thảy các bệnh truyền nhiễm đều
có vi trùng gây bệnh, người uống thuốc bèn phạm
tội phá sát giới. Như vậy, nếu Phật giáo đồ
nhiễm bệnh th́ làm như thế nào? Người ta thường
bảo “kẻ không có con cháu nối ḍng là bất hiếu”.
Trong Phật lư, bất hiếu đối với cha mẹ
cũng là có tội. Nếu không sanh con đẻ cháu, lại
mắc tội bất hiếu, rốt cuộc phải làm
như thế nào? Đối với chuyện lưu truyền
ḍng giống, tăng ni trong tự viện giải thích như
thế nào? (Đỗ Tự Nhiên
hỏi)
Đáp: Hai vấn đề này được
hỏi đáp không chỉ một lần. Xin tự kiểm
xem, sẽ có thể biết tường tận. Ở đây,
tôi lại lược thuật đại khái:
1)
Một là đối với hết thảy loài trùng có hại,
hăy nên pḥng ngừa trước, khiến cho chúng chẳng xâm
nhập. Sau khi đă nhiễm bệnh, nếu có tinh thần
“cắt thịt nuôi chim ưng”[27]
th́ chẳng ngại ǵ hy sinh. Nếu không, khi chữa trị,
chỉ tưởng chữa bệnh, đừng nghĩ tới
chuyện sát sanh.
2)
Lại nữa, Phật pháp có hai loại là pháp thế gian và
pháp xuất thế gian. Tăng ni đă xuất gia, chuyên chú
trọng xuất thế. “Không có người nối dơi là bất
hiếu” chính là hiếu nghĩa của thế gian. Thành Phật
độ cha mẹ nhiều đời, chính là hiếu nghĩa
xuất thế!
* Hỏi: Trong Ngũ Giới, khó nhất là
giới thứ tư, tức giới vọng ngữ! Tuy đă
thọ giới, nhưng đây chính là tập tánh từ xưa,
nếu bất tri bất giác, đột nhiên nói ra, bị
phá giới th́ làm như thế nào? (Chung Thiêm Đăng hỏi)
Đáp: Hoặc là đối trước thầy
truyền giới, hoặc là đối trước Phật,
phát lộ sám hối, về sau chẳng làm nữa!
* Hỏi: Thọ giới tà dâm, ngoại trừ
thê thiếp ra th́ không thể [lăng nhăng], nhưng nếu
kẻ ấy lấy thêm thiếp (vợ lẽ) th́ nên đối
với người thiếp như thế nào? (người
thiếp sanh mấy đứa con) (Chung Thiêm Đăng hỏi)
Đáp: Thiếp cũng giống như thê (vợ
cả), được lễ pháp cho phép.
* Hỏi: Xin hăy khai thị ư nghĩa “vô tác giới thể”. (Trần Như Đức hỏi)
Đáp:
“Tác” (作) là động
tác. “Giới thể” là do giới
mà đạt được công năng ngừa ác. Khi thọ
giới, do động tác nơi tam nghiệp đúng pháp,
cho nên người khác thấy, nghe, sẽ bảo là “hữu tác giới thể”. Ngược
lại, khi thọ giới, do toàn thân dấy lên một sự
biến hóa đặc biệt, tuy bề ngoài chẳng thấy,
nghe, nhưng đích xác là có công năng ngừa ác, liên tục
tồn tại, cho nên gọi là “vô
tác giới thể”. Đấy bất quá là nói thô thiển
đó thôi, do ư nghĩa vi nhiệm, sự rắc rối, chẳng
tiện nói tường tận được!
* Hỏi: Ăn thịt và sát sanh có phải là
phạm giới giống nhau hay không? Mạnh Tử nói: “Thấy nó sống, không nỡ thấy
nó chết. Nghe tiếng nó, không nỡ ăn thịt nó”. Đấy
chính là “quân tử xa lánh bếp
núc” vậy! Nếu có kẻ ăn thịt th́ có thể nói
là “có sự sát sanh” v́ có kẻ khác giết giùm. Kẻ ăn
thịt ấy có phạm giới sát sanh hay không? (Liêu Vũ Khanh hỏi)
Đáp: Ăn thịt và sát sanh có mối quan
hệ liên đới, há kiêng nói đến ư? Bất quá,
từ thời đại dă man ăn lông, uống máu, cho đến
hiện thời, [thói quen ăn thịt đă] tích tụ nặng
nề, khó thể thay đổi. Thánh nhân thế gian và xuất
thế gian đều chủ trương “thắng hung tàn, bỏ giết chóc”, khiến ḷng
nhân nơi tánh được khôi phục. V́ thế, Nho gia trước
hết đề xướng xa lánh bếp núc, không thấy,
không nghe, để cầu tâm an. Nhà Phật v́ hàng sơ học
mà chế định ba hoặc năm thứ tịnh nhục,
cũng là chủ yếu “không thấy, không nghe, không v́ ta mà
giết”! Cư sĩ có thể ăn chay, cố nhiên là tốt
đẹp. Nếu không, đối với tịnh nhục
như đức Phật chế định, chẳng ngại
tạm thời ăn.
* Hỏi: Hiện thời, tài liệu giảng
dạy tại các trường học quốc gia, nhất
là thường thức vệ sinh, tận lực thảo
luận chuyện diệt trừ các loài trùng có hại. Tôi
nhận biết đức Phật thương xót chúng sanh,
vâng lời tuân hành kiêng giết, nhưng không lâu sau, sẽ làm
thầy dạy học. Nếu tuân theo [tài liệu giảng
dạy] để dạy trẻ nhỏ, sợ phạm sát
giới, chẳng biết xử trí như thế nào? (Lâm Tông Lượng hỏi)
Đáp: Bộ giáo dục thẩm định
sách giáo khoa, giáo viên do nhiệm vụ, há có thể chẳng
tuân theo đó để giảng dạy? Chỉ có thể,
ngoài giờ học, phương tiện dạy chúng nó phương
pháp xua đuổi và pḥng ngừa các loài trùng hại phát
sanh, khiến cho người ta được bẩm thụ
nhân quả, giảm thiểu sát nghiệp, ngơ hầu bổ
cứu đôi chút cho những điều sai sót vậy!
* Hỏi: Bác sĩ thọ Ngũ Giới, bệnh
nhân đến khám, biết trong bụng có trùng, liền dùng
thuốc giết trùng. Thuốc vào, bệnh hết, [nhưng]
giết trùng cứu người, chẳng biết có phạm
giới sát sanh hay không? (Lâm Mộng
Đinh hỏi)
Đáp: Đó là trách nhiệm nghề nghiệp,
chỉ nghĩ chữa bệnh, chẳng dấy lên ư tưởng
sát sanh. Nếu không, gặp người mắc bệnh ấy,
bèn từ tạ chẳng chẩn trị, cũng là phương
tiện.
* Hỏi: Vừa đọc câu trả lời
cư sĩ Lâm Mộng Đinh nơi mục Phật Học
Vấn Đáp trong số trước của quư báo, mạt
học có cảm giác khá bàng hoàng. V́ trong quá khứ, tôi đọc
kinh Phật hoặc tạp chí hữu hạn, nhưng dường
như, [tất cả] đều nhấn mạnh tông chỉ
của Phật giáo phần nhiều chú trọng làm cho nhân
loại giác ngộ ḥng được giải thoát. Ư nghĩa
quan trọng của việc tŕ giới là khiến cho người
ta bỏ tà quy chánh và tăng trưởng bi tâm, ḥng giúp cho
việc tu tŕ, ngơ hầu có thể mau chứng Bồ Đề.
Nếu v́ tŕ giới mà cự tuyệt chẩn trị bệnh
nhân có trùng trong bụng, có phải là mắc nỗi tỵ
hiềm “v́ điều nhỏ nhặt mà vứt bỏ điều
lớn lao” đó chăng? Hơn nữa, [làm như vậy],
sẽ trái nghịch Bồ Tát đạo. Lại nữa, nếu
chỉ giữ tâm tưởng chữa bệnh, chẳng nghĩ
giết trùng, có phải là chẳng phù hợp với pháp thế
gian khiến cho người khác sanh nghi hay không? (Trương Quư hỏi)
Đáp: Giới luật ắt có đủ
tam tụ, tức là Luật Nghi Tụ, Nhiếp Thiện Pháp
Tụ, và Nhiêu Ích Hữu T́nh Tụ. Dùng chuyện kiêng giết
để luận định, không chỉ v́ giải thoát chính
ḿnh, mà c̣n nhằm nhiêu ích hữu t́nh nữa! Nói “hữu t́nh” tức là bao gồm
[chúng sanh] trong chín pháp giới, đều nhất loạt b́nh
đẳng. Chẳng như trong pháp thế gian (tục sự,
tục lư trong thế gian) có phân biệt đẳng cấp
sang, hèn, cho nên mới gọi là đại từ đại
bi. Tín đồ nhà Phật cự tuyệt giết trùng
trong bụng, tất nhiên là b́nh đẳng từ bi; bất
đắc dĩ mà giết th́ cần phải có phương
tiện thiện xảo. C̣n như khi trị liệu, chỉ
tưởng chữa bệnh, chẳng dấy lên ư tưởng
sát sanh. Trị liệu chính là thực hành kỹ thuật, “tưởng” chính là một loại
quán cảm. Đă v́ chữa bệnh th́ chỉ có quan điểm
tâm lư bất đồng, dường như cũng chẳng
trở ngại pháp thế gian.
* Hỏi: Bát Quan Trai Giới là [thọ tŕ] một
ngày một đêm, ngày kế tiếp chẳng tuân thủ th́
có phạm giới hay không? Qua ngày hôm sau lại tŕ th́ có được
phép hay không? (Quản Tân Bàn hỏi)
Đáp: Bát Quan Trai Giới rất nghiêm ngặt,
rất nhỏ nhiệm. V́ thế, khi tŕ bèn có câu nói “giống như chư Phật”. Phàm
phu chẳng có sức thường vâng giữ nghiêm cẩn
như vậy; v́ thế, chỉ chế định [thời
hạn thọ tŕ] một ngày một đêm. Qua ngày ấy,
chẳng ngăn cấm nữa, cho nên chẳng vi phạm lệnh
cấm, cho phép thọ tiếp.
* Hỏi: Người đă thọ giới
bị trưng dụng xuất chinh, đến chiến địa
có thể nổ súng giết người ư? Nếu nổ
súng giết người, đấy chẳng phải là vi
phạm giới “không sát sanh” ư? Chẳng nổ súng th́ không
phải là sanh mạng của chính ḿnh khó thể bảo toàn
ư? (Chung Trí Hiền hỏi)
Đáp: Phục tùng mệnh lệnh, chống
địch chốn biên cương, chẳng lạm sát kẻ
vô tội, chính là quân đội của bậc vương
giả, chẳng tổn thương ḷng nhân từ, lại
c̣n hợp với ư nghĩa của giới.
* Hỏi: Nói mà chẳng thể thực hiện,
có thuộc loại vọng ngữ hay không? (Đặng Huệ Tâm hỏi)
Đáp: Lời nói và việc làm mâu thuẫn, đương
nhiên là hư vọng.
* Hỏi: Quan ṭa đă thọ Ngũ Giới,
phán quyết kẻ khác chịu án tử h́nh, có phạm giới
sát sanh hay không? (Duy Bảo hỏi)
Đáp: Nay tôi nêu một tỷ dụ để
giải thích lư này. Ví như ngồi xe chở khách, quư vị
mua mấy tấm vé. Nhân viên chịu trách nhiệm trên xe bèn
kiểm vé, t́m số ghế mời quư vị ngồi. Nếu
như chỗ ngồi ấy đàng hoàng hay tệ hại,
nhân viên soát vé hoàn toàn chẳng chịu trách nhiệm. H́nh luật
quốc gia, chắc chắn là có những điều luật
chuyên môn, người phạm tội ǵ, quan ṭa bèn dẫn dụng
điều khoản ấy để buộc người
đó chịu bản án nào. Giống như chiếu theo số
ghế để ngồi xe, bất quá quan ṭa là người
chấp hành theo luật mà thôi. Nhưng cổ nhân có giáo huấn,
xử tội nên nhẹ tay. Trong h́nh luật có nói “xử bằng
h́nh phạt chi đó hoặc phạt ǵ đó...” th́ mới
có thể trong phạm vi hợp lệ, khoan dung giảm án tử
h́nh (hiện thời, chấp hành h́nh phạt nhằm ư định
cảm hóa, chứ không phải là báo thù), sẽ c̣n có âm
đức.
* Hỏi: Nghe nói lăo cư sĩ quá Ngọ
không ăn, nhưng nghe nói “quá Ngọ không ăn” là có liên
quan đến thời gian khất thực của tỳ-kheo,
nên mới định ra quy củ như vậy. Lăo nhân gia
đă là ưu-bà-tắc, lại chẳng phải là khất
sĩ, v́ sao cũng phải “quá Ngọ chẳng ăn”? (Duy Bảo hỏi)
Đáp:
Không ăn phi thời gọi là Trai (齋).
Tŕ trai hoàn toàn chẳng phân tại gia hay xuất gia. Trai giới
vốn có những loại mà tứ chúng đều có thể
thọ tŕ. Bát Quan Trai Giới chính là một trường hợp
vậy!
* Hỏi: Năm ngoái, học tṛ đến
thăm viếng chùa Tỳ Lô, phải theo đường Đài
Trung trở về, trông thấy đất đỏ, bèn
nghĩ trong nhà cần dùng đất đỏ, liền bảo
tài xế lấy đất đỏ đem về (nhất
thời quên mất là có thể lấy hay không). Nay nhớ tới
chuyện này, [thắc mắc] có phải là phạm giới
trộm cắp hay không? (Lâm Khoan
Tu hỏi)
Đáp: Trong giới bổn có nói: “Không thuộc
về sở hữu của người khác, dựa theo [sự
kiện] nó là của chung để lấy th́ chẳng có tội”.
Như nước trong sông, biển, củi trong núi hoang
v.v... Đất trên đường đi chẳng thuộc
về tư nhân, có thể chuẩn theo lệ ấy. Thời
cổ có người liêm khiết, dắt ngựa uống
nước bên đường, c̣n bỏ tiền xuống đó.
Dùng điều này để cổ vũ sự trong sạch
của chính ḿnh, chẳng khỏi mang tánh cách sửa sai quá lố!
Đức Phật chế giới luật với ư chỉ
“chẳng chôn vùi đức của chính ḿnh, chẳng tổn
hại lợi ích của người khác”, nhưng đều
là b́nh dị, gần gũi, hoàn toàn chẳng phải là ép người,
gây khó vậy!
* Hỏi: Người nhà có kẻ quá yêu loài
vật, nuôi mèo, nuôi chó cả bầy! Không chỉ là trong khi
niệm Phật, hoặc tụng niệm công khóa, bị chúng
nó quấy nhiễu, chúng lại c̣n thường rảy nước
tiểu, rớt phân cạnh bàn Phật. Đối với
chuyện Phật, Bồ Tát bị hứng chịu hơi ô
uế, tôi cảm thấy tội lỗi sâu đậm! Nhưng
nhà ở quá nhỏ, lại không có nơi chốn thích đáng
để dời tượng Phật đang thờ sang chỗ
khác, làm thế nào để giải trừ loại tội
lỗi nghiệp chướng này? (Trần Vỹ Anh hỏi)
Đáp: Người học Phật, nói theo lư,
chớ nên nuôi dưỡng loài súc vật như thế, giới
luật có kinh văn ghi chép rơ ràng. Nếu chính ḿnh chẳng thể
làm chủ, chỉ có cách càng siêng năng ngăn ngừa và dọn
dẹp mà thôi. Nếu có thể làm chủ, th́ tạm thời
tùy duyên, sau này không tiếp tục nuôi súc vật nữa th́
hơn!
* Hỏi: V́ sao nhất định phải
thọ giới th́ mới tốt hơn? Chẳng thọ giới
th́ tu hành sẽ khác biệt ư? (Dương Thiên Nguyên hỏi)
Đáp: Giới là di giáo của Phật. Đức
Phật đă diệt độ, bèn lấy giới làm thầy.
Giới là căn bản để dứt ác, hướng
thiện, là cửa chánh để giải thoát, là kim nam châm
cho chánh tri chánh kiến, là cơ sở của Tam Vô Lậu
Học. Chẳng thọ giới, hoặc thọ giới mà
không vâng giữ, tức là chẳng có Phật, chẳng có thầy,
không chịu dứt ác, chẳng cầu giải thoát, chẳng
noi theo chánh đạo, chẳng cầu định huệ,
c̣n nói ǵ tới chuyện tu hành cơ chứ!
* Hỏi: Ưu-bà-tắc thọ Bồ Tát giới
ăn trứng hoặc uống các loại rượu bổ
(dùng chút ít để dưỡng thân) th́ có phạm giới
hay không? (Trần Từ Dung hỏi)
Đáp: Thực phẩm có chất dinh dưỡng
rất nhiều, dường như trứng hoàn toàn chẳng
phải là loại thù thắng nhất! Cớ ǵ cứ mê tín
vật ấy? [Biện định về chuyện uống]
rượu [để bồi bổ] cũng giống như
thế! Nếu thân mắc bệnh, để chế thuốc,
cần phải dùng đến thứ ấy, sẽ tự
có thể dung thông. Nếu nhờ vào thứ ấy coi như
thuốc để tẩm bổ th́ rất chớ nên! Ăn
trứng giống như đọa thai, hằng ngày cứ
làm, sao chẳng mắc lỗi cho được?
* Hỏi: Quá Ngọ chẳng ăn, có thể
dùng các thứ như trái cây (súp gạo, trà hạnh nhân) hay
không? (Tín Huệ hỏi)
Đáp: Phàm những thứ có chứa chất
rắn th́ đều chớ nên ăn!
* Hỏi: Người thọ giới phải
tŕ trai, kẻ không tŕ trai có thể thọ giới hay không? (Trang Khánh Hiền hỏi)
Đáp: Sau khi đă thọ giới,
đương nhiên là ăn chay. Người chưa ăn
chay, thọ giới chẳng trở ngại! Nhưng sau khi
đă thọ, hăy nên tŕ trai. Nếu không thể tŕ, thọ
giới để làm ǵ?
* Hỏi: Rượu là một trong Ngũ Giới,
v́ sao khi toa thuốc Bắc sử dụng hỗn hợp th́
lại có thể uống? (Trang
Khánh Hiền hỏi)
Đáp: Thông thường, rượu dùng để
chuốc vui khi tụ họp vui vẻ, thuốc là v́ bệnh
tật mà trị liệu nỗi đau khổ. Chuốc vui
là cầu phóng dật. V́ thế, người tu hành ắt cần
phải răn cấm. Chữa trị bệnh khổ là để
giữ sanh mạng. V́ thế, người tật bệnh
có thể phương tiện thông dụng.
* Hỏi: Người chẳng ăn chay trường
có thể cầu thọ tại gia Bồ Tát giới hay không?
(Nhan Phật Triệu hỏi)
Đáp: Chẳng ăn chay trường th́ có
ǵ mà không thể thọ Bồ Tát giới? Nhưng sau khi đă
thọ, hăy nên ăn chay trường. Nếu có điều
bất tiện, hăy ăn rau bên cạnh thịt cũng chẳng
trở ngại. V́ chẳng ngừng ăn thịt, ắt cái
tâm từ bi rốt cuộc chẳng thể phát khởi triệt
để được.
* Hỏi: Nhỏ nhất trên địa cầu
là kiến, nhưng đệ tử Phật khi tu giới,
thường là đạp chết vô số. Nếu nói theo
giới luật nhà Phật, sẽ là giới sát sanh. Nếu
chẳng phải là cố ư đạp chết, chẳng biết
có tội lỗi như thế nào? (Lư Thanh Thủy hỏi)
Đáp: Cổ đức có nói: “Cử bộ thường khán mă
nghĩ” (Bước đi, thường coi chừng kiến).
Tuân thủ điều này, khi đi càng thêm cẩn thận
mà thôi. Người cố ư có tội, kẻ chẳng phải
cố ư th́ là lầm lỗi!
* Hỏi: So với tỳ-kheo, v́ sao tỳ-kheo-ni
phải thọ nhiều hơn hai trăm năm mươi
đại giới? (Lô Thục
Trân hỏi)
Đáp: Thân nữ nhiều chướng ngại;
do vậy phải nghiêm ngặt.
* Hỏi: Trong Bát Quan Trai Giới, có một
giới là “không nằm giường
cao rộng”, quy định [giường] cao hơn một
thước sáu tấc sẽ là phạm giới. Điều
này khó liễu giải! (Lư Vinh
Đường hỏi)
Đáp: Đối với người tu đạo,
nằm duỗi thẳng chân là được rồi. [Giới
điều này] cũng nhằm răn dạy “đừng
phóng túng theo dục vọng để rồi buông lung!”
* Hỏi: Tu tŕ tịnh nghiệp, nông cạn
nhất là phải tŕ Ngũ Giới. Trong Ngũ Giới, có
giới chẳng được loạn sát (giết chóc bừa
băi), nhưng động vật có sức sanh sản mạnh
hơn loài người. [Nếu chẳng giết bớt],
chẳng phải là mấy năm sau, [địa cầu] sẽ
khôi phục thuở hồng hoang thời thái cổ ư? (Hoàng Quan Trung hỏi)
Đáp:
Kỳ lân, phượng hoàng, anh vũ (két, vẹt), khổng
tước (công), người ta đều chẳng giết,
[thế mà] chưa thấy chúng nó tràn ngập thế giới.
Mèo, chó lại c̣n được người ta nuôi, chim én làm
tổ nơi kèo cột, người ta cũng bảo vệ,
trọn chẳng thấy mèo, chó nghẹt đường, én
bay thành đàn rợp trời! Thật ra, tất cả các
loại động vật, tự bị thiên nhiên đào thải,
như cây trong rừng rậm, chẳng cần đốn trụi,
chúng tự trưởng thành, tự tàn héo, cần ǵ mất
công ta đa sự thay chúng làm chuyện giết chóc?
* Hỏi: Người tin Phật trong quân đội
hăy nên thọ các thứ trai giới nào? (Hoàng Quan Trung hỏi)
Đáp: Hăy nên thọ hai giới trộm cắp
và tà dâm. Giữ hai giới ấy trong khi hành quân, chắc chắn
sẽ không quấy nhiễu dân chúng, sẽ được
quần chúng ủng hộ, có thể là quân đội vô địch
vậy!
* Hỏi: Đối với giới luật,
có sách ǵ để tham khảo? (Thái
Minh Cốc hỏi)
Đáp: Luật là một bộ phận của
Tam Tạng, thư tịch rất nhiều. Đối với
hàng tại gia sơ cơ, trước hết hăy nên xem kinh
Thập Thiện Nghiệp Đạo, kinh Phạm Vơng, kinh
Anh Lạc, và các sách về giới luật của hàng tại
gia do cổ đức biên tập.
* Hỏi: Phật tử tại gia chỉ cần
nghiên cứu, học tập sách Phật, giữ ḷng tôn kính là
được rồi. Có cần phải chánh thức thọ
giới hay không? (Hồ Chánh Lâm
hỏi)
Đáp: Người học Phật quư ở
chỗ “hạnh giải
tương ứng”. Giống như kể chuyện ăn,
đếm của báu, nếu hành mà chẳng hiểu, dễ
đi vào ngơ rẽ. Do Giải, có thể khai huệ, hành mới
có thể thành Định. Càng quư hơn nữa là Định
và Huệ đều cân bằng, nhưng hai điều ấy
lại đều nương vào Giới. Những điều
này được gọi là Tam Học. Chẳng có Giới
tức là không có cội rễ, sợ rằng Định sẽ
là tà định, sợ rằng Huệ sẽ là cuồng huệ
vậy!
* Hỏi: Một ngày một đêm thọ tŕ
Bát Quan Trai Giới có ư nghĩa như thế nào? Người
thọ tŕ sẽ đạt được những điều
tốt đẹp ǵ? (Đỗ
Phấn hỏi)
Đáp: Ngoài giết, trộm, dâm, dối, uống
rượu ra, c̣n thêm “chẳng bôi hương đeo hoa, không
ngồi nằm giường cao rộng, không tự ca múa, mà
cũng chẳng đi xem ca múa”, gọi là tám điều về
giới. Quá ngọ chẳng ăn, gọi là một điều
về Trai. Nói gộp chung, sẽ là Bát Quan Trai Giới. Nói đến
chỗ tốt đẹp th́ rất nhiều, chỉ cần
biết là chư Phật đều hành như thế. Nếu
hành giả thật sự có thể giữ nghiêm cẩn
trong một ngày một đêm, sẽ giống như chư
Phật.
* Hỏi: Người ăn chay trường
đều chẳng ăn hành, tỏi là v́ ư nghĩa nào? (Đỗ Tự Nhiên hỏi)
Đáp: [Hành, tỏi] hơi hướng hôi
nhơ, có thể khiến cho thần trí tối tăm, lại
c̣n có thể tăng giận, tăng dâm. Do có nhiều ư nghĩa,
nói ra sẽ dài ḍng, nên tôi không rườm lời.
* Hỏi: Tăng nhân Nhật Bản có thể
lấy vợ, có thể ăn thịt, có phải là trái nghịch
Phật lư hay không? (Ngô Diệu Vinh
hỏi)
Đáp: Chữ Tăng chỉ chúng xuất
gia, tự nhiên là chẳng được ăn thịt, cưới
vợ! Kinh luật đều có kinh văn ngăn cấm.
Nhưng tăng sĩ Nhật Bản chẳng phải là toàn
bộ đều như thế[28].
Kẻ làm như thế chỉ là một bộ phận
trong nước ấy mà thôi!
* Hỏi: Trong Ngũ Giới, chỉ có thể
giữ bốn giới th́ có thể thọ giới hay không?
(Vưu Thái Hoa hỏi)
Đáp: Giới quư ở chỗ có thể tŕ,
chẳng chuộng thọ cho nhiều [mà không giữ được].
Giữ một hai giới là thiểu phần, ba giới là
bán phần, bốn giới là đa phần, trọn cả
năm giới là măn phần. Nhiều hay ít chẳng câu nệ,
mỗi loại đều có công đức, có thể tùy ư
cầu thọ.
* Hỏi: Nhị Tổ Thần Quang rút “giới đao” chặt tay cầu
pháp v.v... Dám hỏi: Cổ đức tu hành cớ ǵ đeo
đao? Đă đeo đao, làm sao gọi là “giới” cho được? Giới đao có tác dụng
như thế nào? Ư nghĩa như thế nào? (Trí Lương hỏi)
Đáp: Giới đao (戒刀) chính là con dao nhỏ
để cắt ba y[29].
Luật cho phép cất giữ, dạy rơ: Cấm dùng [giới
đao] để cắt chặt cây cỏ,
càng thấy rơ là chẳng được dùng để cắt
những thứ khác. Do sử dụng hạn chế, nên gọi
là “giới đao”.
* Hỏi: Đức Phật khuyên kiêng giết,
nhưng thân là quân nhân, “bảo vệ đất nước,
giết địch, trừ giặc” là thiên chức, như
vậy th́ có tội hay không? Rất sợ do tin Phật mà thiếu
sót chức trách, hổ thẹn đối với quốc
gia. Xin hăy khai thị! (Lam Bộ
Quư hỏi)
Đáp: Sự có nguyên tắc, mà cũng có ngoại
lệ. Pháp có ngăn cấm, mà cũng có khuyên lơn, há nên
chỉ biết một mặt? Trong Phật pháp, giới có ngăn
giết. Đó là nguyên tắc, thuộc loại cấm. Nếu
thấy chúng sanh gặp nguy, hăy nên thí Vô Úy, cứu giúp kẻ
đang gặp nguy nan ấy. Nếu thấy ác ma hại chúng,
càng nên hàng phục, chế ngự kẻ tàn bạo ấy. Những
trường hợp ấy là ngoại lệ, đều
thuộc loại khuyên lơn. Chức trách của quân nhân
trong Phật pháp thuộc hai loại sau, há có chuyện thiếu
sót chức trách? Nếu trong chiến trận, đă đạt
được thắng lợi, mà c̣n lạm sát kẻ vô tội,
giết hại tù nhân, giết kẻ đă đầu hàng
th́ chẳng được! Ví như thầy thuốc mổ
xẻ, đă cắt bỏ chỗ hư bệnh, nếu làm
tổn thương tới chỗ không bị bệnh, sẽ
mắc tội vậy!
* Hỏi: Nếu cư sĩ làm nghề nông,
ngũ cốc bị sâu rầy, có thể tiêu diệt chúng
hay không? (Thí Vạn Tấn hỏi)
Đáp: Vứt bỏ là xua đuổi trùng đă
sanh, tránh né là pḥng ngừa trùng chưa sanh. Như vậy th́
cũng được, cần ǵ phải giết?
* Hỏi: Súc sanh chẳng câu nệ lớn nhỏ
đều có cùng một linh tánh. Giả sử giết chết
một con chó, so sánh với giết chết một con muỗi,
thế tục sẽ bảo tội giết chó nặng hơn.
Linh tánh giống hệt như nhau, cớ sao lại phân chia
tội có lớn, nhỏ, nặng, nhẹ? (Lư Tuấn hỏi)
Đáp: Đức Phật chẳng chủ
tŕ sự thưởng phạt, tội phước do chính
ḿnh chuốc lấy. Bất quá, đức Phật khuyên mọi
người hăy lấy “tu tâm, sanh trưởng ḷng từ, dứt
tuyệt sát niệm” làm căn bản. Giết động
vật, chẳng cần biết lớn hay nhỏ, nói chung
là trong ḷng (nói theo kiểu thế tục) luôn áy náy. V́ thế,
đều b́nh đẳng ngăn cấm. Thế tục luận
định theo h́nh dáng bên ngoài, cho nên phân biệt lớn, nhỏ,
định tội nặng, nhẹ, nhưng xét theo Phật
lư, hoàn toàn chẳng phải là nói [theo kiểu ấy] không suông!
Phải biết: Trên thân của mỗi chúng sanh đều
có vô lượng động vật kư sinh. Thân trâu, chó to lớn,
động vật kư sinh sẽ nhiều. Giết nó là giết
đa số động vật, cho nên tội to lớn. Thân
muỗi nhỏ, động vật kư sinh sẽ ít. Giết
nó là giết một số ít động vật, cho nên tội
nhỏ.
* Hỏi: Xuất gia là truy y (áo sẫm màu), tại
gia là bạch y, nhưng người xuất gia mặc áo trắng
có thích hợp hay không? Hơn nữa, bốn chúng tại gia
và xuất gia đi giày da, đeo túi da th́ có phạm giới
luật hay không? (Vương B́nh
Lang hỏi)
Đáp: Đối với màu sắc truy hay bạch,
đừng câu nệ nơi y phục. Giày da và túi da đều
nên tránh dùng.
* Hỏi: Nếu có khách từ nơi xa đến,
chủ nhân sai gia nô trừ trùng, mổ lợn để tiếp
đăi. Loại sát nghiệp ấy là biệt nghiệp hay cộng
nghiệp? (Trại Mạnh Thu
hỏi)
Đáp: Đấy là cộng nghiệp. Nhưng
có dầy, mỏng, hữu tâm, hoặc vô tâm sai khác, thọ
báo đương nhiên là bất đồng!
* Hỏi: Tŕ Bát Quan Trai Giới có phải là
từ một giờ vào lúc nửa đêm hôm trước
cho tới mười hai giờ đêm ngày hôm sau là hết?
Hay là từ sáng ngày hôm ấy (ngày thọ giới) cho đến
sáng hôm sau? Quá Ngọ chẳng ăn th́ có thể ăn điểm
tâm hay không? (Đặng Lan Tôn hỏi)
Đáp:
Tôi cho rằng hai thời đều được, v́ chúng
đều là trọn hết một ngày một đêm. Buổi
sáng ăn điểm tâm chẳng trở ngại ǵ!
* Hỏi: Đức Phật chế định
quá Ngọ không ăn, thật sự là nếu ai cũng đều
có thể như thế, ắt là đỡ tốn kém, lại
ít phiền phức. Có phải [“quá Ngọ không ăn”] là chỉ
ăn một bữa trưa? Hay là hai bữa điểm tâm
và bữa trưa? Đă quá Ngọ, có c̣n dùng điểm tâm,
trà, quả hay không? Kẻ sơ học nên luyện tập
như thế nào để không tổn hại thân thể? (Lâu Vĩnh Dự hỏi)
Đáp: Người tŕ Ngọ được
phép ăn điểm tâm vào sáng sớm. Sau khi đă quá Ngọ,
chỉ có thể uống nước, chứ điểm tâm,
hoa quả đều chẳng được dùng. Đây là
nói đối với người chánh thức tŕ trai. Đă
chẳng thọ trai, lại mới luyện tập, sau Ngọ
sẽ không ngại tạm thời ăn điểm tâm, hoa
quả. Từ ăn ít, dần dần tiến tới không ăn.
Chỉ có điều ăn điểm tâm vào sáng sớm, chớ
nên ăn quá no. Tốt hơn là ăn cháo, khiến cho đến
lúc chánh Ngọ, có thể ăn nhiều hơn. Có thể ăn
bữa Ngọ nhiều hơn th́ thời gian sẽ có thể
duy tŕ lâu hơn. Đấy cũng là một cách tập luyện.
* Hỏi: Dịch sách có phải hành vi trộm
cắp hay không? (Lư Vĩnh Mậu
hỏi)
Đáp: Dịch sách th́ cần phải ghi rơ là
dịch từ sách nào, không coi tác phẩm ấy do chính ḿnh viết
ra, sẽ chẳng phải là trộm cắp.
* Hỏi: Người ăn chay có thể ăn
trứng gà, sữa ḅ, và mặc áo da, đi giày da hay không? Nếu
có thể, có phải là có liên quan đến lời nói “thực kỳ nhục, nhi tẩm
kỳ b́” (ăn thịt nó, ngủ trên da của nó)[30]
hay không? (Đặng Chí Thiện
hỏi)
Đáp: Ăn chay là v́ xót thương, kiêng giết.
Sữa ḅ chẳng do sát sanh mà có, cho nên có thể ăn. Những
vật khác theo luật đều không được!
* Hỏi: Đức Phật răn đừng
sát sanh. Đối với chuột, muỗi, ruồi v.v...
những thứ trùng có hại cũng đều thuộc vào
điều răn ấy hay không? (Quế Dẫn Hạnh hỏi)
Đáp: Hễ thuộc về chúng sanh, sẽ
đều là quyến thuộc trong quá khứ, là vị lai chư
Phật. Chúng nó đă đọa trong ác đạo, làm thân
chuột, muỗi, ruồi, khổ sở cùng cực! Hăy nên
sanh tâm bi mẫn, nếu lại giết chóc, có khác ǵ gặp
kẻ đă té giếng c̣n ném đá xuống?
* Hỏi: Người ăn chay, trai giới,
lúc bị bệnh, có thể bất đắc dĩ dùng những
thứ dược phẩm dưới đây hay không? Kinh sách
về giới luật nhà Phật có kinh văn chỉ dạy
rơ ràng hay không? Ví như mai rùa, con trút, những loại mai của
những con vật khác, da các loại thú, trùng, rắn. Dùng
chúng để làm thuốc uống th́ có phải là phá giới
hay không? (Chung Đỉnh
Xương hỏi)
Đáp: Nếu tiệm thuốc trữ sẵn
[những dược phẩm ấy] đă lâu th́ có thể
dùng, giống như năm thứ tịnh nhục vậy.
Hơn nữa, uống thuốc là để trị bệnh,
chẳng phải là do tham ăn tục uống! Vậy khi uống,
hăy nên v́ chúng nó niệm Phật, sẽ càng tăng thêm công
đức. Chỉ có điều, nếu v́ chữa bệnh
mà người thọ giới giết động vật để
làm thuốc th́ không thể được!
* Hỏi: Nếu có người khi thấy rắn
dữ sắp cắn trẻ nhỏ, có thể giết nó
hay không? Nếu chẳng giết, đứa nhỏ sẽ
bị cắn chết. Nếu giết rắn, sẽ là phá
giới, làm như thế nào th́ mới nên? (Lâm Thiện Duyên hỏi)
Đáp: Sắp cắn tức là chưa cắn,
lúc ấy, sao không đuổi nó đi? Chỉ nên ngăn chặn
nó làm dữ, há nên sát thương? Nếu khoanh tay bàng quan, đâm
ra càng đánh mất ḷng bi mẫn. Nếu ác xà ngoan cố
kháng cự, không ngại đánh nó, nó sẽ sợ hăi bỏ
đi.
* Hỏi: Kẻ thọ giới gặp trường
hợp vạn phần bất đắc dĩ phải phá
giới. Chẳng hạn như công tác ở nơi khác, hoặc
khi ra ngoại quốc, v́ giao tế mà phải ăn thịt,
uống rượu th́ làm như thế nào? (Chung Thiêm Đăng hỏi)
Đáp: Khai, giá giới, cần phải chuẩn
theo luật. T́nh tiết nhỏ nhiệm, không thể luận
định nhất loạt được! Chánh thức thọ
giới có lời thề “thà bỏ
thân mạng, chẳng thể phá giới”. Yến hội
là chuyện nhỏ nhặt, sao có thể phá giới? Nếu
thật sự v́ lợi ích chúng sanh mà phá giới th́ luật
cũng có chỗ cho phép.
* Hỏi: Phật giáo nói đến giới
sát sanh. Giả sử quân nhân giết địch nhân trên chiến
trường, có tính là sát sanh hay không? Giết th́ có tội
hay không? (Trịnh Đôn hỏi)
Đáp: Giết thiểu số để bảo
vệ đa số, trừ bạo an lương, một là
phương tiện bất đắc dĩ, hai là phục
tùng mệnh lệnh của quốc gia. Chỉ v́ phát xuất
từ cái tâm bi mẫn, ngăn dứt chuyện lạm sát,
há có tội ǵ?
*
Hỏi: Phật răn đừng sát sanh, lư ấy là đương
nhiên, nhưng bất luận ai cũng chẳng tránh khỏi
uống nước, mà trong nước, sẽ chẳng tránh
khỏi có những loài trùng bé tí sống. Rốt cuộc, uống
nước hoặc đun nước đều phạm sát
giới! Lại nếu bắt được rận hay rệp
trên thân, giết chết nó th́ cũng phạm sát giới ư?
(Lưu Định Sí hỏi)
Đáp: Đức Phật chế định:
Uống nước, ắt phải dùng vải lọc, tức
là tránh sát sanh. Nước máy hiện thời đă qua quá tŕnh
tẩy lọc, có thể uống trực tiếp chẳng
trở ngại ǵ. Rận, rệp có thể đưa đến
thả ở chỗ có cỏ, thanh vắng, mặc cho nó
sanh diệt. Động vật bất luận lớn hay
nhỏ, đều có sanh mạng, bị giết đều
bị đau khổ. Nếu chúng ta khởi sát tâm đối
với chúng nó, làm chuyện giết chóc, đương nhiên
là phạm sát giới. Nhưng sát sanh lại chia thành cố
sát và ngộ sát khác nhau. Kẻ sơ học chưa mở
Thiên Nhăn, ăn uống, hành động, dẫu sát sanh vô số,
nhưng do không biết, cho nên là ngộ sát. Từ nay trở
đi, hăy nên giữ ḷng từ bi, trong phạm vi có thể,
hăy tránh cố sát, th́ vẫn chẳng đánh mất ư nghĩa
“giới sát”.
* Hỏi: Xin thầy khai thị về lư “người
chưa thọ giới chẳng được giảng
kinh”. (Trí Lương hỏi)
Đáp: Giới luật nhà Phật cũng giống
như hiến pháp của quốc gia. Phật giáo đồ
chẳng thọ giới luật, giống như quốc dân
chẳng tuân thủ hiến pháp. Giả sử có kẻ nào
làm quan lại mà chẳng tuân thủ hiến pháp, tuyên bố
chánh trị, nhân dân có thể tin tưởng, ngưỡng
mộ hay chăng? Hơn nữa, sau khi đức Phật diệt
độ, phải lấy giới làm thầy. Chẳng thọ
giới luật giống như không có thầy. Sở tri sở
học ấy, há có nền tảng ư? Giảng kinh mang ư
nghĩa “độ chúng sanh dứt
ác, hướng thiện, chuyển mê thành ngộ”, nhưng
kinh văn chỗ nào cũng có nhiều giới điều.
Bản thân người giảng c̣n chẳng làm theo, thế
mà chỉ dạy người khác thực hiện, há chẳng
phải là hư luận ư? Hơn nữa, toàn thể Phật
học, bất quá là Giới, Định, Huệ mà thôi! Đă
chẳng có giới học, há có Định, Huệ? Nhân phẩm
của kẻ như thế ấy, dẫu có đa văn, chưa
chắc tri kiến đă chánh xác! Để cho kẻ ấy
giảng kinh, ví như kẻ mù chỉ lối, chắc chắn
mắc họa lầm lạc. Ngoài những điều vừa
nêu, c̣n có những điều [chẳng đúng pháp, chẳng
thích hợp] khác nữa, chẳng thể kể xiết!
* Hỏi: Sau khi đă thọ Bồ Tát giới,
ắt đoạn tuyệt chánh dâm. Nếu ai nấy đều
thọ Bồ Tát giới, há nhân loại chẳng bị diệt
mất ư? (Hao Thạch hỏi)
Đáp: Người xuất gia đoạn dâm,
người tại gia chỉ đoạn tà dâm. Nay ông bảo
nhân loại trên cả thế giới đều thọ giới
đoạn dâm, trên thực tế há có chuyện như vậy?
Giả sử có đi nữa, ắt có kẻ trước
hết nhiệt thành tín phụng Phật, sau đó thọ
giới. Như thế th́ toàn thể nhân loại đều
được độ hết, há chẳng phải là đại
thiện ư, có ǵ sợ hăi? Nếu không, đời cổ
quan lại lương thiện, nhà tù trống không, cũng
nên lo lắng, bảo: “Nếu dùng những quan lại lương
thiện ấy, há chẳng phải là không có kẻ tội
phạm nào ư?” Tuy tại hạ đáp như vậy, ông
cần phải rỗng rang mấy phần nhân tướng
(chấp trước có tướng người khác) th́ mới
dễ liễu giải được!
* Hỏi: Tôi là kẻ tại gia tin Phật, ăn
chay đă nhiều năm, rất mong phát tâm xuất gia tu
hành, nhưng cảm thấy giới luật khó tŕ, chẳng
dám hạ quyết tâm. Ngũ Giới giết, trộm, dâm,
dối, uống rượu là đại giới căn bản
của Phật giáo, mà cũng là giới điều căn
bản nhất, chủ yếu nhất, ắt cần phải
tuân thủ của người học Phật. Nhất là dâm
giới trong Ngũ Giới khó tŕ nhất, những giới
khác đều không có vấn đề ǵ! V́ điều này
thuộc về quan hệ sinh lư. Ví như lúc đói bụng,
ắt cần ăn cơm cho no ḷng. Người ăn chay chẳng
thể ăn đồ mặn cá to, thịt lớn, có thể
dùng rau xanh, đậu hủ, các món chay để no ḷng. Nhưng
người xuất gia giữ giới dâm th́ khác hẳn, tức
là chẳng thể tà dâm, mà lại không có vợ, phải sống
cuộc đời hoàn toàn đoạn tuyệt t́nh dục.
Tôi cảm thấy thật sự quá ư là khó! Chưa biết
dùng phương pháp nào để có thể ngăn trừ cái
tâm [ham muốn] ấy. Nghe nói cắt bỏ hai tinh hoàn có thể
khiến cho bộ phận sinh dục suốt đời chẳng
thể cương cứng nữa, tức là có thể triệt
để trừ tận gốc dục tánh. Vậy th́ trừ
việc cắt bỏ hai tinh hoàn là pháp môn duy nhất của
người tŕ giới ra, trừ cách ấy ra, e rằng chẳng
có biện pháp nào tốt hơn! Tôi rất mong tiến hành
giải phẫu theo cách đó, xin hỏi cách ấy có hữu
hiệu hay không? Có nên hay không? (Ẩn
Danh Thị hỏi)
Đáp:
Lời hỏi tuy chỉ có một, nhưng ư nghĩa phức
tạp, hăy nên chia thành bốn đoạn để trả
lời.
-
Một, từ câu “tại gia tin Phật” cho đến “chẳng
dám hạ quyết tâm”. Xin hỏi túc hạ tính xuất gia
nhằm mục đích nào? Nhằm liễu sanh tử cho chính
ḿnh đó chăng? Hay là v́ độ chúng sanh ĺa khổ được
vui ư? Hay là v́ cầu an nhàn tự tại, hưởng
thanh phước? Nếu thuộc hai điều đầu,
đó chính là phát Bồ Đề tâm. Nếu nhận thức
lư chân thật, tự nhiên sẽ chẳng sợ giới luật,
cứ một mực tiến lên. Nếu thuộc về điều
sau, rất chớ nên [xuất gia]! Đă chẳng thể tự
liễu thoát, lại c̣n chẳng độ kẻ khác, ăn
không ngồi rồi, hưởng thụ mười
phương cúng dường! Đă chẳng tṛn bổn phận
của kẻ xuất gia, lại tạo giết, trộm,
dâm, trên là nhục lây Phật giáo, dưới là năo hại
chúng sanh! Nhân quả chẳng sai, điều này thật đáng
sợ!
-
Hai, “đối với năm giới giết, trộm, dâm,
dối, uống rượu, chẳng biết dùng phương
pháp ǵ để có thể hoàn toàn ngăn trừ cái tâm ấy”.
Thử nghĩ: Không ăn, có thể chết đói. Nếu
chẳng dâm, sẽ chẳng chết nghẹn. Đă chẳng
đến nỗi gây chết người, đoạn trừ
nó, há có tai hại ǵ? Thật sự chẳng thể nói đánh
đồng [dâm dục] với chuyện ăn uống được!
Nhà giam bắt giữ tù nhân, đối với nhu cầu của
họ, chỉ lo cơm áo, chẳng cung cấp chuyện
dâm. Xưa nay cứu trợ tai nạn, cũng chỉ lo
cơm áo, chẳng cung cấp dâm sự! Đó là chứng cớ
rơ rệt. Nếu hỏi “cách nào có thể trừ dâm tâm”,
hăy chịu đọc nhiều kinh sách. Hễ đạt
lư, sáng trí, tâm lư tự biến đổi. Nếu không, trong
lúc lo âu v́ cơm áo thiếu thốn bức bách, chắc chắn
là dâm tâm sẽ nguội lạnh! Nếu nói “ai nấy đều
bẩm sanh là như vậy. Chẳng có chuyện ấy sẽ
không thể”, hăy tu hành tại gia th́ tốt hơn. Bởi lẽ,
xuất gia ắt cần phải đoạn dâm. Chẳng
thể đoạn dâm, đừng xuất gia, há nên miễn
cưỡng!
-
Ba, “nghe nói cắt bỏ hai tinh hoàn sẽ trừ được
thói xấu ấy, chẳng có biện pháp nào tốt hơn”.
Chuyện này đúng là có cách nh́n theo kiểu “bỏ gốc,
chuộng ngọn”. Kinh Niết Bàn có tỷ dụ “như con chó đuổi theo cục
đất, chẳng chạy theo người”, khá gần
với chuyện này. Hơn nữa, năm thứ bất
nam[31]
chẳng thể thành tựu. Chế định cũng chẳng
cho phép họ xuất gia! Kinh Tứ Thập Nhị Chương
có chép: “Nhược đoạn
kỳ âm, bất như đoạn tâm” (Nếu cắt bỏ
bộ phận sinh dục, chẳng bằng đoạn tâm).
Tin Phật mà chẳng nghiên cứu Phật lư, xuất gia mà
chẳng muốn giữ giới, chưa tránh khỏi cái bệnh
mâu thuẫn!
-
Bốn, “tôi rất mong tiến hành thủ thuật theo cách ấy,
có nên hay không?” Thư Ngài đă không đề tên cụ thể,
có phải là thật ḷng hỏi ư hay chăng? Hay là mượn
cớ này để đùa bỡn vậy? Cần biết
chuyện này chẳng thể nói đùa được, nhân
quả hết sức nghiêm ngặt! Kính thưa cùng Ngài, chuyện
này nhất quyết chẳng thể làm được, dẫu
nói đùa cũng không nên! Kẻ thật sự v́ liễu sanh
tử, dẫu là tại gia, đối với chánh dâm cũng
nên tiết chế. Đọc kỹ thư gởi tới,
dường như đang có vết tích tà dâm. Nếu đúng
như tôi đoán, đó là điều hết sức chẳng
nên! Kính khuyên ông hăy chiếu theo điều thứ hai trong lời
đáp để làm theo th́ tốt đẹp nhất. Nếu
không, hăy sắm sẵn một cái dùi. Khi dâm tâm dấy lên, dùng
dùi đâm mạnh vào đùi, dâm tâm tự dứt, thần hiệu
khôn sánh!
* Hỏi: Sau khi hàng tại gia thọ Bồ
Tát giới, đối với chuyện khai thuế kinh
doanh, làm nhiều mà khai ít, biết là phạm tội vọng
ngữ. Nhưng nếu khai thật, do kinh doanh chẳng khấm
khá, tiền lời chẳng đủ chi phí. Sở thuế
cũng chẳng quan tâm chuyện kinh doanh tốt hay xấu,
họ luôn căn cứ trên mức vốn để đánh
thuế. Há chẳng phải là buôn bán không đủ tiền
thuế, sẽ sập tiệm, đối với cuộc
sống cá nhân, đối với chuyện thâu thuế của
quốc gia, cả hai đều bị tổn hại ư?
Do vậy, khai báo tiền vốn thấp hơn th́ có phải
là vọng ngữ hay chăng? (Nhan
Phật Triệu hỏi)
Đáp: Cố nhiên là giới
luật chia thành khai, giá, tŕ, phạm. Đối với chuyện
tuân theo hay trái nghịch, ắt cần phải thưa hỏi
bậc cao tăng chuyên tinh Luật học, th́ mới chẳng
nẩy sanh lầm lạc. Những ǵ kẻ hèn này biết
chỉ là nương theo văn tự để hiểu
nghĩa, biết vuông mà chẳng biết tṛn, biết thường
mà chẳng biết biến. [Trong cách nh́n của tôi], vấn
đề như vậy không chỉ là phạm tội vọng
ngữ, mà c̣n là phạm tội trộm cắp nữa!
*
Hỏi: Kính dâng thức ăn, trái cây th́ phải trước
Ngọ. Quá Ngọ, Phật có ăn hay không? (Lưu Ngự Quân hỏi)
Đáp: Đức Phật chế quá Ngọ
chẳng ăn; hăy nên cúng Phật vào buổi sáng.
* Hỏi: Tôi tùy thuận yêu cầu của đại
chúng mà đắp y ca-sa, đeo chuỗi hạt, có tạo tội
nghiệp ǵ hay không? Về sau, hăy nên sám hối để bổ
cứu như thế nào? (Lỗ
Thành hỏi)
Đáp: Bất luận là ai cũng đều
có thể đeo tràng hạt, hoàn toàn chẳng hạn chế.
Chỉ có y ca-sa th́ sau khi đă thọ Ngũ Giới mới
được phép đắp. Nhưng chủng loại
ca-sa cũng có nhiều thứ. Người tại gia chỉ
được phép đắp mạn y. Mạn y (縵衣)
là y không có sọc ngang dọc tạo thành h́nh thửa ruộng
trồng lúa nước. Nếu trước kia không biết,
lầm lạc đắp th́ chỉ là sai lầm về lễ.
Biết rồi có thể sửa, không chi tốt lành bằng!
Phật Học
Vấn Đáp Loại Biên
Quyển Trung
Phần
5 hết
[1] Khi nhà Thanh thua trận trong cuộc
chiến tranh Hoa Nhật (1894-1895), qua ḥa ước
Shimonoseki (Mă Quan Điều Ước) kư kết vào ngày 17
tháng Tư năm 1895 tại thành phố Shimoseki (người
Nhật gọi thành phố này là Hạ Quan, không hiểu sao
ḥa ước Shimonoseki lại gọi là Mă Quan Điều Ước).
Trong đó, nhà Thanh phải công lập sự độc lập
của Đại Hàn (thật ra là công nhận Đại Hàn
trở thành thuộc địa của Nhật), nhà Thanh
đă nhường Đài Loan, đảo Bành Hồ và phía Đông
bán đảo và vùng vịnh Liêu Đông cho Nhật làm lănh
thổ bảo hộ, cũng như phải bồi thường
chiến phí hai trăm triệu quan. Ngoài ra, c̣n phải cho phép
Nhật toàn quyền sử dụng các thương khẩu
Sa Thị, Trùng Khánh, Tô Châu, Hàng Châu, Thuận Thiên, Tương
Đàm và Ngô Châu. Chỉ đến sau chiến tranh thứ
hai, tại hội nghị Cairo năm 1943, các nước
Đồng Minh buộc Nhật trả lại Măn Châu,
Đài Loan và Bành Hồ cho Trung Hoa Dân Quốc, nhưng măi
đến 25 tháng Mười năm 1945, quân Nhật
mới thật sự rút lui khỏi Đài Loan.
[2] Một cân Tàu gồm mười sáu
lạng (lượng). Một cân dao động từ 500g
đến 600g.
[3] Bá Ấp Khảo tên thật là Cơ
Khảo (có thuyết nói Ấp Khảo (邑考) là tên tự, có thuyết lại bảo
Ấp (邑) là một
chức quan, hoặc có nghĩa là thế tử của
một vua chư hầu). Thêm vào trước tên chữ Bá (伯) v́ ông này là con trưởng của Châu
Văn Vương (Cơ Xương) và bà Thái Tự. Bá
Ấp Khảo là anh ruột của Châu Vũ Vương
(Cơ Phát) và Châu Công (Cơ Đán). Khi Trụ Vương
bắt Văn Vương, giam tại Dữu Lư, Bá Ấp
Khảo đă đến kinh đô bán ḿnh làm người
đánh xe cho Trụ Vương để thăm ḍ tin cha.
Sau khi biết rơ nội t́nh, nghe quần thần tâu Văn
Vương rất giỏi Dịch số, Trụ
Vương đă sai giết Bá Ấp Khảo, bằm
vụn, vo viên, nấu thành canh thịt đưa cho Văn
Vương ăn để thử coi Văn Vương có
biết hay không. Tiểu thuyết Phong Thần Diễn
Nghĩa đă tô vẽ Bá Ấp Khảo là một chàng trai
trẻ tuấn tú, khôi ngô, giỏi đánh đàn, ăn nói
bặt thiệp. Để t́m cách cứu cha, Bá Ấp
Khảo đă đem mỹ nữ, xe hương và rượu
thơm dâng cho vua Trụ. Đát Kỷ vừa gặp Bá
Ấp Khảo bèn mê đắm, giả vờ đ̣i vua cho
ḿnh học đàn với Bá Ấp Khảo để
tiện dịp lả lơi quyến rũ. Do Bá Ấp
Khảo nghiêm mặt cự tuyệt, Đát Kỷ tức tối
bèn vu cáo Bá Ấp Khảo cợt nhả, cḥng ghẹo, và xúi
vua Trụ giết chết, đem bằm nát nấu canh cho
Văn Vương ăn.
[4] Thái Bảo (太保) vốn là một danh xưng cao quư
để gọi vị quan giữ nhiệm vụ giám
hộ và phù tá nhà vua khi vua chưa đến tuổi
trưởng thành. Thoạt đầu, nhà Châu đặt ra
Tam Công (bao gồm Thái Phó, Thái Sư và Thái Bảo)
đứng đầu các quan. Sách Đại Đới
Lễ Kư chép: “Thiệu Công
(Cơ Thích) là Thái Bảo, Châu Công (Cơ Đán) là Thái Phó,
Thái Công (Khương Tử Nha) là Thái Sư”. Về sau,
chức vụ này chỉ mang tính chất danh dự,
thường dùng để gọi vị quan giữ trách
nhiệm bảo vệ an toàn cho Thái Tử (tức chức
vị Thái Tử Thái Bảo). Không hiểu về sau, v́ lư do
nào, những gă đồng cốt trong thần miếu
được gọi là Thái Bảo, rồi sau đó, các
anh hùng lục lâm thảo khấu cũng tự xưng là
Thái Bảo. Thậm chí, Thái Bảo trở thành cách gọi
nịnh bợ đầy tớ các nhà quyền quư, quan
chức. Dần dần, cho đến hiện thời,
trong ngôn ngữ thông tục, Thái Bảo trở thành
tiếng để gọi những tên lưu manh
đầu ḅ, đầu bướu tại Đài Loan!
[5] Vưu Trí Biểu
(尤智表, thường bị
ghi sai là 尢智表, dẫn tới sự
ngộ nhận ông này có họ là Uông. Thật ra, họ
Uông phải viết là 汪), sanh năm
1901, không rơ mất năm nào, quê ở Tô Châu, mồ côi cha mẹ
từ bé, rất thông minh và chăm học. Ông tốt nghiệp
ngành điện cơ tại đại học Giao Thông ở
Thượng Hải năm 1924. Sau khi tốt nghiệp, ông Vưu
làm công tác phiên dịch Bách Khoa Từ Điển từ tiếng
Anh sang tiếng Hán phần chuyên mục khoa học, có thể
dịch tới ba ngàn chữ một ngày khiến cho người
chủ tŕ công tŕnh ấy hết sức nể phục.
Năm 1930, ông được gởi sang đại học
Harvard để học thêm về kỹ thuật truyền
thanh bằng sóng radio. Năm 1933, ông trở về Trung Hoa, dạy
tại các đại học Hàng Châu và Chiết Giang. Ông từng
nghe và xem các bài giảng về Phật pháp của pháp sư
Viên Anh nên niềm tin về Phật giáo từ nhỏ càng
được vun bồi sâu đậm hơn. Tác phẩm
Phật Giáo Khoa Học Quan được ông viết vào
năm 1949 như một công tŕnh mở rộng của tác
phẩm Nhất Cá Khoa Học Giả Nghiên Cứu Phật
Kinh Đích Báo Cáo (Báo Cáo Nghiên Cứu Về Kinh Phật Của
Một Nhà Khoa Học).
[6] Tiểu Tịnh Độ Văn là bài
văn sám hối phát nguyện do ngài Từ Vân Sám Chủ
Tuân Thức soạn vào đời Tống, ta thường
gọi là bài sám quy mạng, tức bài “nhất tâm quy mạng, Cực Lạc thế
giới, A Di Đà Phật...” Bài này cũng
được đọc trong thời thứ ba của
Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm trước bài Tán
Tăng Bảo.
[7] Tức là công án “nói lầm một chữ chuyển ngữ,
đọa làm thân chồn hoang năm trăm năm”.
[8] Chuyển thọ (轉受): Báo chuyển biến thành h́nh thức
khác, nặng hơn hoặc nhẹ hơn.
[9] Đẳng lưu quả (等流果, Niṣyandaphala), c̣n gọi là y quả, tập quả,
có nghĩa là do cái nhân mà sẽ kết thành cái quả
tương tự. Chẳng hạn do đời
trước giết người khiến cho người
ta bị đoản mạng th́ kiếp này sẽ hứng
chịu cái quả bị đoản mạng. A Tỳ
Đạt Ma Câu Xá Luận giảng: “Quả gần giống như nhân nên gọi
Đẳng, do nhân mà có quả nên gọi là Lưu”.
[10] Dị Thục Quả (異熟果) chính là quả báo, do không đồng
thời với nhân, không mang tánh chất kế tiếp ngay
sau khi nhân đă tạo, nên gọi là Dị Thục.
Chẳng hạn như đời trước làm ác, cho
đến đời sau hoặc nhiều đời sau
nữa mới kết thành quả báo th́ gọi là Dị
Thục.
[11] Sáu nhân là:
1) Năng Tác Nhân: Khi pháp hữu vi sanh khởi, cái nhân
này chẳng chướng ngại pháp khác sanh khởi, nó c̣n
giúp cho pháp khác sanh khởi.
2) Câu Hữu Nhân: Nhiều nhân cùng tồn tại, làm
nhân lẫn cho nhau.
3) Đồng Loại Nhân: Nhân và Quả tương
tự nhau. Ví như hết thảy các pháp hữu vi trong quá
khứ và hiện tại tương tự nhau, chúng làm nhân
sanh ra quả, th́ những cái nhân ấy được
gọi là Đồng Loại Nhân.
4) Tương Ứng Nhân: Khi sự nhận thức
sanh khởi, tâm và tâm sở đồng thời tương
ứng khởi lên, nương vào nhau mà tồn tại.
5) Biến Hành Nhân: Các pháp tạp nhiễm trọn
khắp hết thảy.
6) Dị Thục Nhân: Nhân khác loài mà cùng chín,
tương ứng với Dị Thục Quả.
Năm quả là Dị Thục, Đẳng Lưu,
Tăng Thượng, Ly Hệ và Sĩ Dụng.
Sĩ Dụng Quả là cái quả do sức con
người góp phần tạo tác, chẳng hạn các công
cụ hoặc các sự việc do con người tạo
ra. Chẳng hạn gỗ là nhân, sức người là
duyên, đóng thành cái bàn th́ cái bàn chính là Sĩ Dụng
Quả.
Tăng Thượng Quả là cái quả
được sanh ra bởi tăng thượng duyên.
Ly Hệ Quả: Chữ Hệ (繫) chỉ phiền năo. Ly Hệ Quả là
cái quả do ĺa phiền năo, trói buộc. Chẳng hạn do
tu tập mà chứng quả, th́ quả vị ấy chính là
Ly Hệ Quả của sự tu hành.
[12] Loại suy (類推, Analogy), c̣n gọi là Loại Tỷ (類比), là một phương pháp suy luận
bằng cách suy diễn từ một số thông tin
tương tự để t́m ra quy luật phổ quát.
“Loại” (類) ở
đây có nghĩa là tương tự, không phải là
loại trừ. Chẳng hạn, trái đất có khí
quyển và hơi nước, cho nên có sự sống. Do Hỏa
Tinh cũng có khí quyển và có nước, rất có thể
là nó có sự sống.
[13] Bốn duyên là: 1) Nhân Duyên: Cái duyên
chẳng phải là nhân. Trong các điều kiện
khiến cho cái quả h́nh thành, điều kiện chánh
yếu sẽ gọi là nhân (thường gọi rơ là “chánh
nhân”), các nhân khác đều được gọi là duyên.
2) Đẳng Vô Gián Duyên (c̣n gọi là Thứ
Đệ Duyên). Nói về tâm và tâm sở. Trong cái tâm
thuộc tiền niệm, ngay khi tâm sở của niệm
trước tiêu tan, sẽ sanh khởi cái tâm của
niệm sau và tâm sở làm duyên cho nó. Cái tâm và tâm sở trong
niệm trước được gọi là Đẳng
Vô Gián Duyên.
3) Sở Duyên Duyên: Chỉ cảnh giới do
tâm sở phan duyên, tức là đối tượng của
nhận thức. Tâm là năng duyên (chủ thể có hành
động tiếp xúc, nhận biết), ngoại cảnh
là sở duyên (đối tượng tiếp xúc, nhận
thức bởi cái tâm). Sở duyên là cái duyên để tâm
pháp sanh khởi.
4) Tăng Thượng Duyên: Cái duyên giúp cho
cái nhân được tăng trưởng thành tựu.
[14] Tôn giả Ca Lưu
Đà Di (Kaludayin) da đen bóng, vào ban đêm, thân lại
tỏa sáng, nên Ngài đi ban đêm khiến cho người
khác kinh sợ, tưởng là quỷ hiện thân. V́
thế, đức Phật cấm các tỳ-kheo không
được đi lại ban đêm. Nếu có chuyện
cần thiết phải đi, phải cầm theo đèn.
Vị này thị hiện rất nhiều hành vi
ngược ngạo để đức Phật có cơ
hội chế định giới luật.
[15] Ngũ tạng: Tim, gan, tỳ
(lá lách), phổi, thận. Theo Đông Y, ngũ tạng
tương ứng với ngũ hành như gan là mộc,
tâm là hỏa v.v... Lục phủ là mật, ruột non,
ruột già, bao tử, bàng quang và tam tiêu. Tam tiêu có tác
dụng điều ḥa và phân bố huyết khí và các
dịch tiết, lại
được chia ra thành: 1) Thượng tiêu là bộ
phận ở phía trên hoành cách mô điều ḥa tim và
phổi. 2) Trung tiêu là phần từ dưới hoành cách mô
cho đến phía trên eo lưng, cai quản tỳ và bao
tử. 3) Hạ tiêu là phần từ dưới thắt
lưng trở xuống, cai quản thận, ruột già,
ruột non và bàng quang.
[16] Gia hạnh: Các hạnh tu tập thêm
nhằm tăng trưởng giới hạnh và phẩm
đức.
[17] Lộc Nhung (鹿茸) chính là sừng non của hươu
hoặc nai đực. Mỗi năm, gạc hươu
(sừng hươu) rụng đi vào cuối Hè, mọc
sừng mới vào mùa Xuân. Lộc Nhung tức là sừng
chưa hóa cốt (loại sừng đă hóa cốt, không c̣n
sụn nữa, sẽ gọi là Lộc Giác, chủ yếu
dùng để nấu chung với xương nai thành cao Ban
Long. Lộc Giác có giá trị thấp hơn Lộc Nhung
rất nhiều). Lộc Nhung phủ một lớp lông
tơ mịn như nhung, có nhiều mạch máu.
Người ta cắt lấy cặp sừng non ấy làm
thuốc. Nhung được coi là một trong bốn
loại thuốc bổ nhất (sâm, nhung, quế, phụ).
Phụ chính là củ cây Ô Đầu ở Tứ Xuyên.
[18] Áo ca-sa ở đây là nói tới Mạn
Y (y không có điều) dành cho người tại gia. Thông
thường, cư sĩ người Hoa chỉ
đắp Mạn Y khi tụng Bồ Tát giới, hoặc
khi hành lễ sám hối mỗi nửa tháng, hoặc
những vị làm duy-na hoặc đánh pháp khí trong các pháp
hội lớn như Trung Phong Tam Thời Hộ Niệm, Diệm
Khẩu, Thủy Lục v.v… chứ những người
khác không đắp y.
[19] Tam sư thất chứng là mười
vị thầy chánh yếu trong đại giới đàn
truyền tỳ-kheo/tỳ-kheo-ni Cụ Túc Giới. Tam
sư là 1) Giới ḥa thượng (Đường
Đầu Ḥa Thượng), tức vị ḥa thượng
truyền trao giới luật. 2) Yết Ma sư: Vị pháp
sư chủ tŕ nghi thức bạch tứ yết ma. 3) Giáo
thọ sư: Vị pháp sư dạy về oai nghi tác pháp
trong giới đàn. Thất chứng là bảy vị
tỳ-kheo khác đóng vai tṛ chứng minh và tùy hỷ.
[20] Năm phần Pháp Thân (ngũ phận
Pháp Thân) chính là Giới, Định, Huệ, Giải Thoát và
Giải Thoát Tri Kiến.
[21] Quán (觀) ở đây có nghĩa là một nơi
thờ phụng, thường là chỗ thờ thần
như miếu đạo sĩ được gọi là “đạo quán”, không phải là quán bán hàng!
[22] Bộ kinh này có tên gọi đầy
đủ là Bồ Tát Anh Lạc Bổn Nghiệp Kinh,
gồm hai mươi quyển, do ngài Thích Trúc Phật
Niệm dịch vào đời Diêu
Tần. Kinh chia thành tám phẩm, dạy về các
địa vị Bồ Tát, nhân hạnh trong tam tụ
luật nghi v.v...
[23] Tức là Đạo Cộng Giới và
Định Cộng Giới, tức là sau khi đă
đắc Định, sẽ tự nhiên giữ giới
nghiêm cẩn. Giới tự nhiên giữ ấy
được gọi là Định Cộng Giới.
Tương tự, Đạo Cộng Giới là giới
thể có được do đă khai huệ.
[24] Ba mươi sáu lỗi của uống
rượu theo luật Tứ Phần: 1) Bất hiếu với
cha mẹ. 2) Khinh mạn tôn trưởng và bằng hữu.
3) Bất kính Tam Bảo. 4) Chẳng tin kinh pháp. 5) Phỉ
báng sa-môn. 6) Tiết lộ tội của người khác.
7) Thường nói vọng ngữ. 8) Bịa chuyện đổ
tiếng ác cho người khác. 9) Đồn rao những lời
lẽ lưỡng thiệt. 10) Ác khẩu làm tổn thương kẻ khác. 11) Là cội gốc
sanh bệnh. 12) Là cội gốc của sự tranh đấu.
14) Bị người khác ghét bỏ. 15) Bài xích thánh hiền.
16) Oán hờn trời đất. 17) Chểnh mảng sự
nghiệp. 18) Phá tán gia tài. 19) Thường chẳng hổ
thẹn. 20) Chẳng biết thẹn thùng. 21) Vô duyên vô cớ
đánh đập kẻ hầu. 22) Giết chóc chúng sanh bừa
băi. 23) Gian dâm với vợ kẻ khác. 24) Ăn trộm tài
vật của người khác. 25) Xa ĺa, lợt lạt với
người lành. 26) Thân cận kẻ ác. 27) Thường ôm
ḷng sân hận. 28) Ngày đêm lo rầu. 29) Lôi đông kéo tây.
30) Chệnh choạng, quơ quào. 31) Té nhào mương rănh,
ngủ vạ vật ngoài đường. 32) Lọt xe, té
ngựa. 33) Ngă tơm xuống sông. 34) Cầm đèn gây hỏa
hoạn. 35) Trong mùa nóng, chết v́ bệnh nhiệt. 36) Trong
mùa lạnh, chết v́ rét cóng.
[25] Hồ Nguyên chính là nhà Nguyên do Hốt
Tất Liệt người Mông Cổ sáng lập.
Người Hoa có thói quen gọi những dân tộc
sống ở ngoài biên cương phía Bắc và phía Tây của
Trung Hoa là Hồ, nên cũng gọi quân Mông Cổ là Hồ
Nguyên.
[26] “Tổ y” chính là y ca của chư
Tăng gồm các loại năm điều, bảy
điều, hai mươi lăm điều v.v...
[27] Tiền thân của đức Phật
từng cắt thịt đùi cho chim ưng ăn
để cứu mạng cho những con chim nhỏ bị
chim ưng săn giết.
[28] Tu sĩ Phật giáo Nhật Bản có
thể lập gia đ́nh kể cả sau khi đă thọ
Cụ Túc Giới. Điều này thường
được coi là do Tối Trừng (Saichō)
đề xướng v́ vị này nhấn mạnh Bồ
Tát Giới, thay v́ giới luật tỳ-kheo. Không biết người
Nhật diễn dịch quan niệm của Tổ Tối
Trừng như thế nào mà sau đó, tăng sĩ Nhật
có quyền lấy vợ, và sau đó, có những
người như Thân Loan (Shinran, sáng tổ của
Tịnh Độ Chân Tông) đă nêu gương lấy ngay
một bà ni (ni Huệ Tín, Eshini) khiến cho toàn bộ
tăng sĩ của Tịnh Độ Chân Tông đều
noi gương, lấy vợ, cưới chồng nhất
loạt. Con trai và con gái của Thân Loan đều xưng là
tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni. Trong một số chi phái của
Tịnh Độ Chân Tông, chùa chiền được
truyền thừa theo kiểu tài sản cha truyền con
nối, thậm chí sang nhượng, bán chác nếu vị
chủ chùa không thể trông coi nổi hoặc khi tài chánh quá
thiếu hụt! Dưới thời Minh Trị Thiên Hoàng,
trong phong trào cải cách Duy Tân (thường gọi là Minh Trị
Duy Tân), chánh phủ ban hành đạo luật Nikujiku Satai
(Nhục Thực, Thê Đới) cho phép tăng sĩ
được quyền ăn thịt và lấy vợ,
khiến cho tăng sĩ Nhật hiện thời rất ít
vị sống độc thân. Thậm chí, trong các tông phái thuộc
Tịnh Độ Chân Tông và Nhật Liên Tông, tăng sĩ
không thèm cạo đầu, không mặc tăng bào. Tăng
sĩ Tịnh Độ Chân Tông và Nhật Liên Tông thường
vận âu phục, “ni sư” trang điểm, đeo nữ
trang, uốn tóc, trang phục chẳng khác nữ nhân tại
gia. Khi làm lễ, mới khoác áo tràng và đắp ca-sa.
Thậm chí, tăng sĩ được phép uống
rượu, “lai rai ba sợi”, miễn đừng say
sưa nhếch nhác!
[29] Theo giới luật thuở đức
Phật tại thế, tăng sĩ mặc áo phấn
tảo, tức là áo khâu chằm bằng các mảnh vải
nhặt được từ chỗ người ta
vứt đi. Để may y cần phải cắt bỏ
những chỗ hư rách, hoặc cắt thành miếng,
viền mép v.v... cho nên phải cần đến giới
đao.
[30] Đây là một thành ngữ diễn tả
sự cừu hận rất sâu, xuất phát từ một
câu nói được chép trong Tả Truyện diễn tả
sự phẫn hận của Châu Xước đối
với Thực Xước và Quách Tối là hai người
được Tề Trang Công coi là tướng tài, anh hùng
thời đó.
[31] Theo Phật Học Từ Điển của
Đinh Phước Bảo, ngũ chủng bất nam là
năm hạng người không phải là nam giới toàn
vẹn, gồm:
1) Sanh bất nam: Từ lúc sanh ra cho tới già, không
thể phát dục, nam căn không phát triển, hoặc không
có nam căn.
2) Kiện bất nam: Cắt bỏ bộ phận
sinh dục hay cắt bỏ tinh hoàn.
3) Đố bất nam: Bộ phận sinh dục
không lộ ra, chỉ khi thấy người khác hành dâm, do
ḷng đố kỵ, nam căn mới lộ ra, nhưng
chẳng thể hành dâm.
4) Bán bất nam: Nửa tháng đầu là đàn ông,
nửa tháng sau là đàn bà.
5) Biến bất nam: Bộ phận sinh dục
biến đổi, như gặp nam mà cảm thấy ưa
thích sẽ biến thành nữ, gặp nữ mà ưa thích th́
sẽ là nam.
Những người song tính cũng được
gộp vào loại bất nam.