Phật Học Vấn Đáp Loại Biên

Quyển Trung

佛學問答類編

Phần 5

Lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam giải đáp

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản in của Lư Bỉnh Nam Lăo Cư Sĩ Toàn Tập Biên Tập Ủy Viên Hội, Đài Loan, 2007)

Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang

 

          * Hỏi: Chiến tranh Trung Nhật và chiến tranh Thái B́nh Dương là do các nghiệp cảm vời ư? Nếu là do nghiệp lực, chẳng nên coi dă tâm của bọn chánh khách Nhật Bản là dă tâm, mà cũng chẳng có ǵ để oán hận họ! V́ sao? V́ kết thúc chiến tranh, nhân dân Đài Loan trở về tổ quốc[1], lại có hy vọng sẽ thấy có một ngày mai tươi sáng. Lại do chiến tranh kết thúc, Trung Cộng có cơ hội hoạt động ngấm ngầm tại Đài Loan. V́ chiến tranh kết thúc, chúng ta bèn có Đài Loan là căn cứ địa để chống Cộng. V́ thế, chẳng có tiền nhân, sẽ chẳng bàn đến hậu quả! (Lâm Hỏa Thọ hỏi)

 

Đáp: Do chiến tranh, Đài Loan được quang phục, Trung Cộng có cơ hội hoạt động v.v... Đó chính là vận hội của hai nơi Đại Lục và Đài Loan. Nhân duyên được thành tựu bắt nguồn từ người Nhật, nhưng người Nhật lúc mới phát động chiến tranh hoàn toàn chẳng mong mỏi Trung Cộng hoạt động, mà cũng chẳng mong trả lại Đài Loan. Tư tưởng của họ là thôn tính Trung Hoa, há có thể nói chẳng phải là dă tâm ư? Đối với nghĩa thứ hai, tôi lại lập ra một tỷ dụ. Ông Giáp vào năm nào đó, tại nơi nào đó, đă từng làm hại ông Ất. Sau mấy chục năm, hai bên đều quên, diện mạo đă thay đổi, nhưng Giáp và Ất vừa gặp gỡ, ông Ất lại làm hại ông Giáp. Thử hỏi: Ông Giáp có oán ông Ất hay không? Ấy là v́ người đă mở Thiên Nhăn mới biết cái nhân trước, chứ hạng phàm phu sát đất chỉ thấy hiện tại, cứ làm chuyện báo thù lẫn nhau mà chẳng biết! Hiểu rơ lư này, Nhật xâm lược Trung Hoa, há lẽ [dân Trung Hoa] chẳng oán? Phải biết nhân quả đă chia thành từng giai đoạn, cũng có khi quy nạp, sẽ có bù qua sớt lại, hết sức biến hóa, chẳng thể chỉ luận định một ḿnh nguyên nhân, chẳng thể chỉ bàn luận hiện tượng!

 

* Hỏi: Nếu có một phạm nhân vốn định giết Trương Tam, nhưng giết lầm Lư Tứ. Rốt cuộc, Lư Tứ chẳng có sức chống lại tai ương, có thể nói là [Lư Tứ bị giết là] do nghiệp lực sai sử ư? Có phải là đáng chết hay không? Như thiên tai, động đất v.v... Con của Lư Tứ mới hai, bốn, hoặc sáu tuổi, bị mất người nâng đỡ, nuôi nấng, những đứa trẻ ấy chịu nỗi oan uổng là do nghiệp lực ư? Nếu là do nghiệp lực, kẻ phạm nhân ấy có đáng nên giết hay không? (Lâm Hỏa Thọ hỏi)

 

          Đáp: Những ǵ chúng sanh phải hứng chịu đều do có nghiệp nhân. Khi nghiệp nhân chín muồi, sẽ tự hứng chịu quả báo, bất quá có chánh thù và tá thù sai khác. Chánh thù (正酬) là thiếu nợ Giáp, bèn đền trả cho Giáp. Tá thù (借酬) là chẳng cần đền trả trực tiếp cho Giáp, mà nhờ vào duyên khác để đền trả thay cho Giáp. Nay tôi nêu thí dụ để nói rơ: Như Giáp cầm đao gây thương tổn cho Ất, Ất cũng cầm đao đâm lại, đó là “chánh thù”. Nếu Ất chẳng đâm trả, mà nhờ ngành tư pháp phán tội Giáp, đó là “tá thù”. Biết điều này th́ thiên tai, nhân họa, không ǵ chẳng phải là không có nhân. C̣n như ông hỏi “do ông Lư bị chết, con côi không người nuôi nấng”, đó là do cộng nghiệp cảm vời. Một nhà tụ hay tán cũng đều do có nhân duyên, cũng đều là v́ đền trả túc nghiệp vậy. Chỉ có bậc trí biết cơ duyên, có thể khiến cho các điều ấy hoàn tất, diệt mất. Kẻ ngu mê muội lư, mặc cho nghiệp lưu chuyển. Lại hỏi: “Nếu là do nghiệp lực, phạm nhân có đáng giết hay không?” Quốc gia lập pháp, chỉ luận theo hành vi trong đời hiện tại, phạm nhân tự nhận lănh cái tội đáng nên bị [xử phạt]. Bởi lẽ, Giáp giết Ất chính là sát nghiệp. Ất giết ngược lại Giáp, há có thể nói “chẳng phải là sát nghiệp” ư? Tám lượng và nửa cân[2], tuy tên gọi khác nhau, thực chất chẳng khác biệt!

 

* Hỏi: Nhưng tôi mới gia nhập Phật môn, đối với quy củ niệm kinh và niệm Phật đều chẳng rơ ràng cho lắm. Nay tôi rất phát tâm, muốn ăn chay, tu hành, chỉ có điều chẳng biết như thế nào? Tôi càng phát tâm, con tôi càng rất hư hỏng! Khiến cho tôi chẳng có cách dạy bảo, kẻ khác chê cười tôi nương cậy Phật thất bại, thất vọng quá đỗi! (Lôi cư sĩ hỏi)

 

          Đáp: Con em xấu hay tốt, có cái nhân trong hiện thời và cái nhân trong đời trước sai khác. Cái nhân trong hiện đời là do chúng nó chưa được giáo dục thiện lương. Cái nhân trong đời trước th́ có lẽ là oán gia nhiều đời đến báo oán thù. Cũng chỉ có hai giải pháp: Nghịch cảnh xảy đến bèn vâng chịu, và tận tâm cảm hóa. Nỗi oán đă giải trừ, tâm sẽ chuyển, sẽ có biến hóa. Niệm Phật làm lành là chuyện trong hiện tại. Con em thuận hay nghịch thuộc về nhân quả trước kia, hoàn toàn chẳng phải là làm việc thiện đâm ra mắc ác quả! Kẻ tục không hiểu rơ đạo lư, khó tránh nỗi hiểu lầm, chê cười, chỉ nên mặc kệ họ. Văn Vương là bậc đại nhân, con [là Bá Ấp Khảo] bị Trụ Vương bằm nát[3]. Khổng Tử là bậc đại thánh, con bị chết sớm. Nhan Uyên là bậc đại hiền, nhưng lại chẳng sống lâu. Nhiễm Canh là bậc đại đức, thân sanh bệnh ngặt. Xin hỏi, đối với những chuyện này, miệng người cơi tục lại nghị luận như thế nào?

 

* Hỏi: Nhưng thuở trước kia, tôi gặp hoàn cảnh tốt đẹp, từ nhỏ tới lớn, cho đến già. Năm nay tôi đă năm mươi mấy tuổi, một mực làm lành. Mỗi tháng đều bỏ ra tiền, gạo, học phí giúp đỡ người nghèo cũng chưa hề gián đoạn. Đến nay, hoàn cảnh biến thiên, mới ngưng công tác làm lành. Vợ chồng tôi rất có tâm đồng t́nh, tâm thương xót, v́ sao lại có đứa con không ra ǵ, hư hỏng ấy? Lại c̣n chôn chồng ở tuổi trung niên? (Lôi cư sĩ hỏi)

 

          Đáp: “Làm lành được phước, làm ác mắc tội”. Đó là thánh huấn, là chân lư về nhân quả. Nếu chẳng tin những điều ấy, sẽ là tà kiến, bài bác chẳng có nhân quả. Chỉ là quả báo có sớm, có trễ, như trồng dưa, sẽ được quả trong năm ấy. Trồng đào, ắt ba năm mới kết trái. Đời này, quư cư sĩ chịu cảnh khốn cùng chẳng phải là do niệm Phật, làm lành mà ra, mà là do nghiệp đă tạo trong đời trước. Những điều thiện đă làm trong hiện tại, chẳng qua là gieo nhân; trong tương lai, chắc chắn có cái quả tốt đẹp. Đó gọi là “muốn biết cái nhân trong đời trước, những ǵ hứng chịu trong đời này chính là nó. Muốn biết quả trong đời sau, những chuyện đă làm trong đời này chính là nó”. Xin hăy suy ngẫm kỹ, đừng sanh phiền năo!

 

* Hỏi: Đứa con nhỏ của tôi năm nay mười tám tuổi. Từ tháng Bảy, tháng Tám năm ngoái, nó bị bệnh cho đến nay chưa được b́nh phục, lại chẳng thể học hành. Nay đă bỏ học một năm rồi. Suốt ngày, ở trong nhà chống đối tôi, chẳng nghe lời chỉ bảo. Tinh thần và tánh t́nh của nó dường như có tà ma tác quái, chẳng biết nhân duyên nghiệp chướng của mẹ con tôi trong đời trước là như thế nào? (Lôi cư sĩ hỏi)

 

          Đáp: Xin hăy đọc hai điều đă đáp trên đây nhiều lượt, sẽ tự nhiên hiểu rơ. Tuy là do nhân duyên nghiệp chướng đời trước, nhưng hăy nên từ chỗ này mà khéo hiểu, chớ nên kết ác nữa. Hễ giải th́ càng giải, càng xong; hễ kết th́ càng kết, càng sâu!

         

          * Hỏi: Tôi v́ đứa con bị bệnh, tiêu sạch tiền bạc, tinh thần lẫn tâm huyết rồi, vẫn chưa được an định, mười phần khổ sở, phiền muộn. Từng ở Phật đường thỉnh pháp sư lạy Địa Tạng Sám suốt một ngày. Lại lạy Thủy Sám ba ngày. Mồng Một và ngày Rằm mỗi tháng, lại đến Phật đường tham gia lạy Dược Sư Sám. Lại nữa, mỗi dịp Phật Đản, lại đích thân thay nó lạy Đại Bi Sám và phóng sanh, nhưng trước sau, chưa thấy hiệu quả phát sanh, khiến cho tôi hết sức thất vọng. Rốt cuộc chẳng biết là nghiệp lực ǵ, tội to như thế nào? Tôi niệm kinh Phật đă nhiều năm như thế mà chẳng thể tiêu trừ nghiệp chướng ấy! Đúng là khiến cho tôi đau ḷng. Hy vọng quư xă giải thích nhân quả cho tôi, khiến cho tôi được hiểu rơ, nhanh chóng tháo gỡ những vướng mắc, mong mỏi sẽ sớm có ngày được trả lời trên báo Bồ Đề Thụ! (Lôi cư sĩ hỏi)

 

          Đáp: Dùng thuốc nổ phá núi, núi chẳng thể nào không giảm, nhưng buổi sáng đặt thuốc nổ, buổi tối xem xét, thấy núi vẫn y như cũ! Núi có thể chất to lớn, sức thuốc nổ nhỏ nhoi. Tuy giảm, nhưng lượng [khuyết giảm] bé tí, xem xét [bằng mắt thường] sẽ chẳng cảm nhận được. Hơn nữa, sử dụng chất nổ c̣n có sức công phá mạnh và yếu khác nhau. Nếu sử dụng chất thuốc nổ để chế pháo, bất quá [quả núi] chỉ khuyết tí ti. Nếu dùng thuốc nổ thuộc loại nguyên tử, có thể hủy cả rặng núi. Điều trước ví như nghiệp chướng sâu, thời gian sám hối ngắn ngủi. Điều sau ví như tụng kinh, bái sám, sức mạnh [tùy thuộc sự hành tŕ] có đúng pháp hay không?

         

* Hỏi: Tôi một mực tín ngưỡng Tam Bảo, thọ Tam Quy, Ngũ Giới, đă ăn chay. Đồng thời, rất phát tâm, mỗi ngày tŕ chú, tụng kinh, niệm Phật, chẳng quên, chẳng ngừng. Mỗi khi gặp chuyện Phật sự công đức, bèn tùy hỷ, thường làm chuyện bái sám, in kinh, phóng sanh, nhưng tôi có một chuyện đau ḷng. Nhiều lượt cầu Phật lực gia bị, đă hơn hai năm, chưa được hiệu quả cảm ứng. Lại c̣n thường gặp cảnh đả kích thương tâm nặng nề! Do tôi có một đứa em ruột, mồ côi từ bé, do chính tay tôi nuôi nấng, dạy bảo khôn lớn. Năm nay, nó mười chín tuổi, bất ngờ đổi tánh, đă ba năm qua, vứt bỏ học vấn, chẳng theo đuổi nghề nghiệp chánh đáng, cứ thích lêu lổng, nhàn rỗi, lông bông, lang bang, tụ tập cờ bạc chẳng ra ǵ. Đồ vật trong nhà và đồ vật của người khác nó đều vơ tuốt, khiến cho người nhà và chồng tôi hết sức chán ghét, cả ngày oán trách tôi nhận nuôi hạng người vô tích sự ấy, khiến cho tinh thần tôi muôn phần khổ năo, chẳng biết đối xử với nó như thế nào? Nhiều lần muốn đưa nó đến chỗ chánh phủ, nhà tù, hoặc cảnh sát, nhưng nghĩ tôi là người tu hành, chẳng biết đối với chuyện này, có phạm giới, mắc phải tội lỗi hay không? Kính xin đại đức khai thị, chỉ dạy hết thảy, ḥng tôi biết rơ tiền nhân, hậu quả, nghiệp chướng sâu nặng. Hiện thời, tôi bị thằng em chọc tức, tâm t́nh rất khổ năo, hết sức khó chịu. Đuổi th́ nó không đi, suốt ngày hướng về tôi ṿi vĩnh tiền bạc, nhưng cho bao nhiêu cũng không xuể, thật phiền! Chẳng biết đời trước tôi có thiếu nợ nó hay không? (Ngũ cư sĩ hỏi)

 

          Đáp: Lục thân tụ hợp, nói chung, phần nhiều là v́ nhân duyên đời trước, hoặc là trả nợ, hoặc đ̣i nợ, hoặc báo ân, hoặc báo oán, đủ mọi lẽ chẳng giống nhau. Người thuận ḷng ta phần nhiều thuộc loại trả nợ, báo ân; kẻ trái nghịch phần nhiều thuộc loại đ̣i nợ, báo oán. Đối với những loại đă nói trên đây, chính là túc nhân, mà sự nuôi dạy, được mất trong đời này cũng có quan hệ. Đấy chính là cái nhân gần. Cần phải hợp lại để xét th́ mới chẳng thiên chấp. Dường như lệnh đệ thuộc loại đ̣i nợ, báo oán, lại thêm kiếp này phạm lỗi thất học. Cổ nhân nói: “Oán nên giải, chớ nên kết”. Lại nói: “Cảnh nghịch xảy đến bèn vâng chịu”. Hăy tuân theo lời cổ huấn ấy, hăy nên cậy người hữu đức hướng về nó giáo hóa lâu dài. Chớ nên kết thêm điều oán mới nữa!

 

          * Hỏi: Thiếu tiền bạc của người khác, làm ác lắm nỗi, sau khi chết, sẽ đọa vào súc sanh làm trâu, bị người ta giết ăn thịt. Luận theo lư là chuyện đúng lẽ, cớ ǵ lại bảo người ăn thịt nó là có tội? (Hoàng Xuân Noăn hỏi)

 

          Đáp: Tạo tội ác, đọa súc sanh, là một nhân, một quả, báo đền chẳng sai! Nếu giết đi để ăn thịt nó, chính là tạo một cái nhân khác. Đă là có nhân quả, há có phải là chẳng có nhân quả ư? Nay tôi nêu một thí dụ để chỉ rơ: Kẻ vi phạm pháp luật, bị kết tội, tống giam. Đó là một tội, một án. Nếu có những kẻ vô can tới nhà tù bạo hành tù nhân. Thử hỏi: Những kẻ vô can ấy có tội hay không?

 

          * Hỏi: Nông dân mỗi ngày cày ruộng, có vô số sanh mạng bị tử thương dưới lưỡi cày, gia cầm, chim chóc tranh nhau ăn. Xét theo nhân quả báo ứng, nông dân sẽ có báo ứng như thế nào? (Trương Đức Minh hỏi)

 

          Đáp: Nông dân cốt ư gieo trồng, chẳng mang ư niệm sát sanh, như người hô hấp cũng hại sanh mạng, nhưng mắt chẳng thấy, cũng chẳng phải là có sát ư vậy! Luận theo nhân quả, đều có lẽ thừa trừ, nhưng xét theo sự thật, [phạm lỗi sát sanh] là v́ chẳng thể tránh né. Do đó, người học Phật trước khi gieo trồng, đều tụng kinh chú vậy!

 

          * Hỏi: Người bạn tôi vốn không có con. Đứa con ấy vốn là cháu ruột bên nội, do nó mồ côi cha mẹ từ bé, không người nuôi dưỡng, cho nên nhận nuôi nó. Coi cháu như con, nhất tâm nhất ư nuôi dưỡng khôn lớn. Nay nó đă mười tám tuổi. Chẳng ngờ đứa con ấy hết sức vô dụng, hết sức hư hỏng. Chẳng nghe lời tốt, thuốc hay chẳng uống, chỉ nhập bọn cùng kẻ xấu. Nhân duyên ấy đến tột cùng là nhân duyên ǵ? Nếu là do nhân trước, nay hứng chịu ác báo, v́ sao công đức niệm kinh Phật, bái sám nhiều ngần ấy chẳng thể giải trừ? Lại c̣n tăng thêm nghịch cảnh, khiến cho kẻ khác chẳng biết nói sao. Nay đặc biệt xin thầy chỉ dạy lư do nhân quả. (Trần cư sĩ hỏi)

 

          Đáp: Do đời trước thiếu nợ nó, cho nên có chuyện tụ hội này. Cảnh nghịch xảy đến bèn vâng chịu. Chỉ nên nghĩ là trả nợ, tâm ắt thản nhiên. Nếu dấy ḷng sân hận, sẽ lại gieo nhân ác. Chớ nên không hiểu rơ đạo lư này, để lại chuốc lấy nỗi khổ về sau! Hơn nữa, kẻ đ̣i nợ có đ̣i nợ lành và đ̣i nợ ác sai khác. Kẻ hướng về người khác đ̣i nợ một cách tai ác, đại đa số là quá lố, tự gieo vô lượng ác nhân, trong tương lai, ắt cũng bị báo vậy! Những điều khác nếu chẳng hiểu rơ, xin hăy xem câu trả lời thứ hai.

 

          * Hỏi: Có hội phóng sanh nọ thường đem kinh phí của hội phóng sanh để tùy hỷ làm các công đức khác. Cổ đức răn dạy đệ tử “chớ nên dùng chi phí lợp mái ngói để lót đường”. Nh́n vào tên, nghĩ đến nghĩa, tất cả kinh phí thuộc tổ chức của hội phóng sanh chỉ có thể dùng để phóng sanh! Nếu dùng vào việc khác, há chẳng phải là trái phản pháp tắc nhân quả đó ư? (Thích Vĩnh Hưng hỏi)

 

          Đáp: Việc làm của ông X... rất là chớ nên. Cổ đức có công án: Dùng tiền trai tăng để dựng trai đường, tuy đều là dùng cho tăng, mà c̣n mắc quả báo gông lửa! Huống hồ dùng tiền cứu sống sanh mạng loài vật đổi sang làm việc khác ư? Cổ đức nói “tiền phóng sanh c̣n chẳng thể dùng để xây dựng ao phóng sanh”. Ấy là v́ phóng sanh nhằm cứu [những sanh vật] mang nỗi nguy nan lên thớt, vào chảo, chuyện ấy cấp bách. Xây dựng ao là chuyện an trí trong tương lai, là chuyện có thể làm thong thả. Huống hồ, người thí tiền có nguyện lực ấy, nhận lấy của bố thí mà làm trái nguyện ấy, tức là đă phá hoại công đức của người ta, lại c̣n là lầm lạc nhân quả. Tuy vậy, có lẽ là do ông X... không biết lẽ lợi hại này, hăy nên dạy ông ta sám hối. Về sau, chớ nên làm như thế nữa!

 

          * Hỏi: Trong tổ chức phóng sanh ấy, dùng tiền phóng sanh quyên góp được để trả tiền xe, chi tiêu lặt vặt, có đúng pháp hay không? (Thích Vĩnh Hưng hỏi)

 

          Đáp: Hăy nghĩ kỹ câu trả lời trong phần trước, sẽ biết chớ nên làm như vậy, nhưng phóng sanh ắt phải có chi tiêu như tiền xe v.v... hăy nên trù tính riêng, hoặc lập riêng một khoản quyên tặng dành cho chi phí phóng sanh, ắt lư sự châu toàn, mà công đức cũng càng thêm viên măn vậy!

 

          * Hỏi: Phật giáo lấy từ bi làm gốc. Hàng tại gia cư sĩ Phật giáo chúng ta sống trong xă hội hắc ám, nếu vận dụng hai chữ “từ bi”, nhất định là sẽ chẳng có chỗ nào để sống. Xin hăy dạy bảo phương pháp. (Linh Giác hỏi)

 

          Đáp: “Sống” là cầu có cơm áo để duy tŕ sanh mạng được tiếp tục, chẳng đứt đoạn. Người trí mưu cầu đạo, ít ham muốn, biết đủ. Kẻ ngu tham tài, tham cầu nhiều chẳng chán! Người biết đủ tâm an, tạo ảnh hưởng chẳng tranh giành cho xă hội, tự nhiên hiển lộ quang minh. Kẻ chẳng biết chán sẽ gặp nỗi hiểm nguy, tạo ảnh hưởng trộm cắp cho xă hội; v́ thế, trở thành hắc ám. Đấy chính là nhân quả trước mắt. Sau này thiện ác sáu đường, đền trả chẳng sai! Đó chính là nhân quả trong tương lai. Đức Thế Tôn bỏ ngôi vua như chiếc giày rách, Khổng Tử xem phú quư như mây nổi. Do v́ có tầm nh́n xa, cho nên đạt thành tựu cũng to lớn. Cư sĩ đừng bị mê hoặc bởi dục th́ mới đáng gọi là bậc trí!

 

          * Hỏi: Đối với luận thuyết nhân, duyên, quả, đúng là Phật giáo rất coi trọng. Thưa thầy Lư, nếu thật sự là có nhân quả luận, trong quá khứ, tôi tin thờ Nhất Quán Đại Đạo khoảng năm năm, và lập đàn hai ba chỗ, thường phỉ báng Tam Bảo của Phật giáo. Sau đấy, được vị pháp sư X... thuộc hội Niệm Phật ở Tiền Trấn giáo hóa, mới chuyển biến nhất tâm tin theo Phật giáo, thường hành sám hối. Quả báo nhân quả về sau sẽ là như thế nào? (Linh Giác hỏi)

         

Đáp: Phàm phu mê hoặc, điên đảo là chuyện b́nh thường, do phiền hoặc (phiền năo) bèn tạo tác tội ác, càng khó tránh khỏi! Về sau, nghe đạo bèn tin, đó là giác ngộ. Quy y, sám hối, lại càng là dũng mănh, tinh tấn. Quy y là cải tà quy chánh; sám hối là từ tối chuyển thành sáng. Nhân quả vốn từ tâm tạo, tội phước cũng do tâm chuyển. Tội ác ví như sương móc, tâm sám hối ví như mặt trời rực rỡ, nhưng cần phải về sau chẳng tái phạm nữa, tức là mặt trời thường chói sáng. Dưới ánh mặt trời, sương móc chẳng c̣n!

 

          * Hỏi: Tôi nghe những tín đồ tôn giáo thường phê b́nh: Vị thầy nọ trong quá khứ đă nghiên cứu giáo điển của tam giáo rất sâu, và cũng đi khắp nơi tuyên truyền Phật giáo là sai. Về sau, thâm nhập kinh Phật, nhận biết diệu lư của Phật giáo là vô thượng. Hiện thời, Sư là bậc rường cột chính của Phật giáo miền Nam, đi khắp nơi truyền giáo, phá tà hiển chánh. Hiện thời, Sư đảm nhiệm chức Trụ Tŕ tinh xá X..., làm đương gia của hội niệm Phật, là đạo sư của mấy đạo tràng ở nơi khác. Mỗi ngày đem lại vinh quang cho Phật giáo, rất bận rộn! Trong quá khứ, phỉ báng như thế, về sau, quả báo sẽ là như thế nào? (Linh Giác hỏi)

 

          Đáp: Trước là mê, dùng miệng phỉ báng Tam Bảo, sau là giác, dùng miệng hoằng dương Tam Bảo. “Nay đúng, xưa sai”, ư nghĩa ấy có thể tham khảo lời đáp trong câu hỏi thứ hai. Xưa kia, Thiên Thân Bồ Tát từng phỉ báng Đại Thừa; về sau, tán thán Đại Thừa, dùng lưỡi để sám hối tội nghiệp đă tạo bởi lưỡi. Tiền hiền đă có trường hợp ấy, chẳng cần phải hỏi tới kẻ hạ ngu nữa!

 

          * Hỏi: Giết những con vật để cúng tế thần quỷ. Trong tương lai, thần quỷ cũng sẽ cùng chịu báo ứng tội nghiệp với người sát sanh hay không? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

          Đáp: Con người giết, quỷ thần hưởng. Người ta v́ kẻ hưởng mà giết, há kẻ hưởng chẳng có liên quan ǵ ư? Đó là cộng nghiệp, đương nhiên sẽ cùng chịu quả báo. Trong kinh và các công án đă ghi chép chuyện này khá nhiều. Vị thần do hưởng huyết thực, chẳng tránh khỏi bị đọa lạc, tức là người thờ cúng quỷ thần, đâm ra làm hại quỷ thần! Nếu quỷ thần chẳng nhận sự cúng bái ấy, sát nghiệp sẽ quy vào một ḿnh kẻ cúng tế. Kinh Tứ Thập Nhị Chương có dạy: “Ngă kim bất nạp, tử tự tŕ, họa quy tử thân hỹ” (Nay ta chẳng nhận, ông tự giữ lấy, họa quy vào thân ông), có thể dùng lời đó để xét soi tường tận vậy!

 

          * Hỏi: Theo như kinh điển Phật giáo nói: Trong vũ trụ, có chuyện nhân quả, luân hồi, lục đạo. Thiên đạo, nhân đạo, và A Tu La đạo là ba thiện đạo; địa ngục, ngạ quỷ, và súc sanh là ba ác đạo. Người đời này làm việc thiện, đời sau bèn sanh vào ba thiện đạo. Kẻ đời này làm chuyện ác, đời sau sẽ sanh trong ba ác đạo. V́ sao chẳng cho mỗi người thọ báo tự biết những quả báo phải hứng chịu trong đời này là do đời trước đă tạo những nghiệp ǵ mà ra? Nếu có thể cho mỗi người hưởng lạc quả trong đời này biết đời trước đă làm thiện sự ǵ, người hứng chịu khổ quả là do đời trước đă tạo ác nghiệp ǵ, mọi người trên thế giới sẽ đều chẳng dám làm chuyện xấu. Há chẳng phải là “không giáo hóa mà tự tốt lành, chẳng cần b́nh trị mà cũng không loạn” ư? V́ lẽ nào cứ khăng khăng chẳng cho người ta biết vậy? Do vậy, xét ra: Chuyện luân hồi lục đạo cũng như không! Đối với chuyện này, tôi có những nỗi hoài nghi ấy, chẳng biết Phật giáo giải thích như thế nào? (Vô Tri hỏi)

 

          Đáp: Ông nói dường như hữu lư, pháp cũng rất lành. Nay tôi đề ra hai câu hỏi ngược lại, ông suy nghĩ kỹ càng, sẽ có thể tự giải quyết [nỗi nghi]. Theo Phật lư, vạn pháp do tâm tạo, tự làm, tự chịu, chẳng biết là ai quản lư chuyện này, ai có thể có cách thức chẳng quên [bất cứ chuyện ǵ] để chỉ bày cho người khác? Đừng nói là đời trước, đối với chuyện ngay trong đời này từ bé đến già, ai có thể nhớ rơ ràng? Hơn nữa, mỗi người đều từ tử cung mà ra, ai có thể ghi nhớ những nỗi khổ lạc khi ở trong tử cung? Đó là điều thứ nhất. Nếu nói “biết có khổ báo, sẽ chẳng dám làm chuyện xấu”, xin hăy xem chốn thành thị ở các nơi đều có nhà giam, có h́nh pháp ghi chép, cũng có kẻ tử tội. Há chẳng phải là mắt thấy, tai nghe rành rành đó ư? Ai nấy đều biết rơ, cớ sao người đời phạm tội cả đống, cam tâm xộ khám? Đấy là điều thứ hai!

 

          * Hỏi: Đức Phật nói thân người do Tứ Đại giả hợp, hết thảy vạn hữu đều do nhân duyên sanh. Có quả, ắt có nhân! Kể từ vô thỉ, thoạt đầu là do nhân ǵ mà có thể hợp thành thân người? Xin đại đức hăy chỉ dạy. (Hoàng Mễ Điền hỏi)

 

          Đáp: Đức Phật nói thân người do Tứ Đại giả hợp; hăy nên biết: Hết thảy các thân đều do Tứ Đại giả hợp. Biết một, có thể suy ra những điều khác! Hết thảy các thân, nói chung là thân trong lục đạo (trời, người, Tu La, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục). Nếu tách ra mỗi đường để nói, trong mỗi đường ắt có hàng ngàn, hàng vạn thân bất đồng! Đạt được cái thân nào đó, chính là quả. Trước quả, ắt có nghiệp thiện và ác. Nghiệp là nhân, đó là nói theo nhân quả. Từ vô thỉ đă có vô minh, vô minh chính là nhân. Do có cái nhân ấy, bèn có một loại thân là quả [của cái nhân ấy]. Đă có một, bèn sanh ra nhiều. Như từ một quả thân (cái thân là quả của nhân nào đó) mà tạo đủ mọi nghiệp, tức là lại tăng thêm đủ mọi cái nhân. Thân người hiện thời hoàn toàn chẳng phải do cái nhân vô thỉ mà có. Từ vô thỉ đến nay, chúng sanh đă từng tạo hằng sa cái nhân, biến thành hằng sa cái thân từng trong lục đạo. Nay đă được làm thân người, chính là từ tan đồ trăm ngàn vạn kiếp mà thoát ra. Sau mấy chục năm, lại vào tam đồ, chẳng đáng buồn ư?

 

          * Hỏi: Có người nói nhân quả là “đời này thiếu tiền chẳng trả, đời sau phải đền”. Ví như có một thương nhân, mượn tiền kinh doanh, làm ăn chẳng thành công, tuyên bố sập tiệm. Con nợ hướng về chủ nợ thương lượng, xin trả lại ba phần tiền vốn. Chủ nợ do ép buộc bởi t́nh cảnh “không làm cách nào được”, phải thâu lại ba phần. Sau này, thương nhân ấy lại kinh doanh thành công, cũng phát tài, nhưng những chủ nợ trước kia v́ thương nhân ấy sập tiệm chỉ trả lại ba phần tiền nợ, chẳng thể đ̣i lại bảy phần tiền vốn từ thương nhân ấy. Như vậy th́ đời sau có phải đền trả hay không? (Hà Mỹ Tuyết hỏi)

 

          Đáp: Đối với mối nợ giữa người chủ nợ và con nợ, nợ mười phần giảm thành ba, xét theo nhân quả để luận, cần phải xét xem có phải thật sự là kẻ ấy không có sức trả lại hay không? Xét theo lư luận trong pháp thế gian, do đôi bên đă đồng ư, món nợ đă tiêu diệt. Nếu người mắc nợ về sau lại phất lên, chịu trả lại bảy phần [nợ đă thiếu], điều này thuộc về đạo đức lương tâm, chẳng có ǵ là được hay không được! Đối với chuyện pháp lư, chỉ có hiệu lực trong một khoảng thời gian trên thế gian. Đối với vấn đề đạo đức, sẽ có thể thấu suốt phước trạch nhiều đời!

 

          * Hỏi: Sau khi quy y bái sư, giả sử khi phát sanh chuyện tốt xấu, giữa hai bên thầy và tṛ sẽ có mối quan hệ ǵ? (Trang Khánh Hiền hỏi)

 

          Đáp: Thiện ác mỗi đằng tự gánh lấy, hoàn toàn chẳng liên quan đến nhân quả. Vua Nghiêu là bậc thánh, con ông ta là Đan Châu chẳng ra ǵ! Vua Thuấn là bậc thánh, cha ương bướng, mẹ bắng nhắng! Huống chi quy y là quy y Tăng đoàn, chuyện thiện ác riêng tư của vị thầy truyền trao quy y, chẳng phải là điều thiện ác của toàn thể tăng đoàn.

 

          * Hỏi: Xưa kia, văn bối thích câu cá, sát sanh rất nhiều. Từ sau khi quy y Tam Bảo, mới biết sát sanh là một tội nghiệp to lớn. Nói theo nhân quả luận, nghiệp quả báo ứng th́ chẳng thể tiêu trừ ác nghiệp sát sanh. Trong tương lai, nhất định phải đền mạng v́ ác nghiệp. V́ thế, văn bối cảm thấy sợ hăi sâu xa! Chẳng biết làm như thế nào để có thể tiêu trừ ác nghiệp này? (Liêu Thanh Hoa hỏi)

 

          Đáp: Cố nhiên thiện và ác chẳng triệt tiêu nhau, nhưng nhân ắt có duyên, sau đấy, kết quả. Như nay sám hối, chẳng tạo họa ương mới, tức là đoạn ác duyên, cái nhân ác khi trước sẽ khó thể dấy lên hiện hành. Lại làm Phật sự, hồi hướng cho chúng, càng thêm siêng năng niệm Phật, khiến cho Hoặc nghiệp bị đoạn trừ, hoặc đới nghiệp văng sanh, muôn sự sẽ là một nét bút xóa sạch!

         

* Hỏi: Ăn chay có thể tránh khỏi bom nguyên tử, có thể hay không? (dựa theo ư trong bài Đều Đại Hoan Hỷ) (Trần Đăng Phùng hỏi)

 

Đáp: Chẳng tạo cái nhân giết, sẽ chẳng mắc sát quả. Đó là nguyên tắc, nhưng nhân quả thông ba đời, tung tích phức tạp, há có thể nói một lời là xong ư?

 

* Hỏi: Có những miếu thờ thần thông thường, chẳng thờ Phật, Bồ Tát, nhưng cũng học theo Phật giáo, xướng bài Lư Hương Tán, tụng những kinh điển Phật giáo như kinh Di Đà, phẩm Phổ Môn, kinh Kim Cang, chú Đại Bi v.v... có ư nghĩa hay không? (Lâm Hoán Thành hỏi)

 

          Đáp: Bọn họ ngu si vô trí, chẳng hiểu nguyên do. V́ thế, đi vào đường rẽ, nhiều nỗi mê muội, rối tung beng chẳng có đầu mối. Chỉ là do kinh họ tụng là chánh pháp, cho nên phước chẳng luống uổng, nhưng huệ th́ chưa đạt được, sẽ đạt được phước báo trong đường trời, người.

 

          * Hỏi: Ngày trước, có một vị thái bảo[4] bị người khác giết chết. Do nhà nghèo, cha hắn cầu xin người khác giúp đỡ tiền mai táng. Tôi lập tức cùng với những bạn bè quen biết cho ông ta hơn bốn trăm đồng. Có người nói: “Người học Phật phải kết duyên tốt, giúp phí tổn tang ma cho kẻ ngu ngốc chính là kết duyên ngu ngốc!” Làm như thế nào mới là đúng, xin thầy chỉ dạy! (Trần Nguyệt Nga hỏi)

 

          Đáp: Phàm là chúng sanh, đều có Hoặc nghiệp, không chỉ là những gă thái bảo! Bất quá, đối với bọn thái bảo, từ bé chẳng được dạy dỗ, tiêm nhiễm thói ác sâu nặng, chính là một nỗi bất hạnh. Phật pháp b́nh đẳng, hăy nên thương xót. Huống chi, hắn đă chết, chẳng có tiền mai táng. Người gặp cảnh nguy nan là cha hắn, hoàn toàn chẳng phải là gă thái bảo. Nói tới chuyện bố thí, bài xích [hành vi giúp tiền mai táng ấy] là tạo ác duyên, th́ lại sai lầm mất rồi! Bởi lẽ, bỏ tiền giúp người ta chôn cất, hoàn toàn chẳng mang tánh chất ác, lẽ nào là ác duyên? Nếu bỏ tiền để giúp kẻ khác giết, trộm, dâm, dối th́ mới là kết ác duyên. Chớ nên không biện định [rơ ràng]!

 

          * Hỏi: Nghiệp lực trong thế gian này giống như một cái lưới, nghiệp lực có tác dụng liên kết như mắt xích. Hết thảy sự vật trong thế gian, chẳng có chuyện ǵ không chịu sự chi phối của luật nhân quả, đối với chuyện này có cách nào? (Hồng Hoàn hỏi)

 

          Đáp: Kẻ chẳng hiểu Phật lư sẽ bị nhân quả chi phối, chẳng có cách thức giải thoát. Nếu học Phật pháp, hiểu rơ lư duyên sanh, sẽ có thể lợi dụng nhân quả để tự độ, độ người. Nhân quả cố nhiên giống như mắt xích nối nhau, thật sự cũng là công cụ giải thoát vậy!

 

          * Hỏi: Kinh dạy: “Tâm có thể tạo nghiệp. Tâm có thể chuyển nghiệp, vạn pháp duy tâm” chính là chân lư. Lại nói: “Định nghiệp chẳng thể chuyển. Giả sử trăm ngàn kiếp, nghiệp đă làm chẳng mất. Khi nhân duyên hội ngộ, quả báo vẫn tự chịu”. Chuyện này lại nói như thế nào? (Lại Đống Lương hỏi)

 

          Đáp: Khởi Hoặc, tạo nghiệp, chịu khổ, gọi là “tam chướng”. Tu hành là ǵ? Chính là đoạn Hoặc. Nếu đoạn sạch Hoặc, lấy đâu ra nghiệp? Đấy gọi là “tạo nghiệp, chuyển nghiệp, bậc thánh có thể làm được”. Chỉ v́ tu tập chấp tướng hữu lậu thiện, chẳng hiểu lư tánh Không, những trói buộc đều tồn tại, tức là “nghiệp đă làm chẳng mất”. Gặp duyên bèn chịu báo, đấy là chuyện của phàm phu.

 

          * Hỏi: Trong Hư Vân Ḥa Thượng Pháp Vựng, có kể một công án: Trong nhiều đời trước kia, đức Phật từng làm một đứa bé trong một thôn chài. Có một lần, nước cạn, bắt được rất nhiều cá. Trong số ấy, có một con cá to đến mấy ngàn cân. Thôn dân đều đến xẻ thịt con cá to để ăn. Đứa bé chỉ đánh lên đầu con cá to ba cái. Về sau, con cá to ấy làm vua Lưu Ly, những con cá nhỏ làm binh tướng. Đứa bé làm Phật Thích Ca. Khi vua Lưu Ly diệt họ Thích, đức Phật cũng đau đầu ba ngày để chịu quả báo đánh cá. Đức Phật đă là bậc “nghiệp tận, t́nh không”, cần ǵ phải thọ báo? (Lại Đống Lương hỏi)

 

          Đáp: Cư sĩ đă biết: Nghiệp đă hết bèn chẳng thọ lănh, há có câu hỏi trên đây. Trong công án này, cũng là do đức Phật phương tiện, thị hiện tướng ấy. Nếu coi là chân thật, chính là báng Phật! Phàm là người học Phật, đều biết đức Thế Tôn đă chứng đạo từ lâu xa. Đă chứng rồi, sao lại có tám tướng thành đạo, trông thấy sao Mai bèn đại ngộ ư? Chuyện Ngài đau đầu cũng như thế mà thôi!

 

          * Hỏi: Thầy và tiên sinh Lương Khải Siêu đều nói “đối với nhân quả trong Phật giáo, thiện và ác chẳng thể tiêu trừ nhau”. Chuyện này có mâu thuẫn với những điều được nói trong Liễu Phàm Tứ Huấn hay không? Trong tập sách nhỏ Phật Giáo Khoa Học Quan (Phật giáo dưới cái nh́n khoa học), cư sĩ Vưu Trí Biểu[5] cũng nói làm nhiều việc lành có thể chuộc lỗi. Rốt cuộc đằng nào là đúng? (La Kiếm Nhân hỏi)

 

          Đáp: Thiện và ác chẳng đối kháng nhau, chính là nói theo học lư chân thật. Nói “chuộc lỗi” theo kiểu ông Viên [Liễu Phàm] và ông Vưu là nói theo chuyện thiện xảo. Nói theo Lư, th́ Sự cần phải làm. Nói theo Sự, chẳng phải là Lư không viên. Hăy nên biết: Vạn pháp sanh thành chỉ là một chữ Duyên! Chẳng có duyên th́ chỉ có nhân suông mà không có quả, cho nên sẽ không có vạn pháp. Trước hết, phải hiểu duyên sanh th́ mới có thể bàn luận về nhân quả. “Thiện ác chẳng đối kháng nhau” giống như trước hết rải hạt dưa, sau gieo hạt đậu. Hai thứ hạt tuy cùng trong một cuộc đất, nhưng hai thứ hạt dưa và đậu chẳng thể triệt tiêu lẫn nhau. Sanh trưởng th́ mặc dưa dưa lớn, mặc đậu đậu sanh. Nói “chuộc lỗi” tức là trước kia đă tạo nhân ác, [nếu] cứ tiếp tục chẳng thay đổi, tức là ác duyên nhuần thấm, nhân chín muồi sẽ kết thành quả ác. Nếu đă tạo cái nhân ác, về sau, chẳng dùng ác duyên để vun quén nó nữa, đổi sang thiện nghiệp th́ cái nhân ác đă tạo trước đó bị đè nén. Do chẳng gặp ác duyên, nhân tạm thời chẳng sanh [ra quả], thế mà thiện nghiệp ngày càng tăng, thiện duyên ngày càng nhuận. [Cái nhân nào] có duyên vun bồi sẽ chín trước, cho nên hưởng thiện báo trước. Nhưng chủng tử của cái nhân ác vẫn c̣n y như cũ; đó chính là lư “chẳng đối kháng”. V́ thế, chẳng mâu thuẫn. Nếu ngưng dứt thiện duyên, chẳng đè ép [ác duyên] nữa, cái nhân ác lại có thể phát sanh. Ắt phải dùng thiện duyên để chèn ép măi, cái nhân ác lâu ngày sẽ tự hư nát. Đó là v́ nó không có sức nên tự diệt, chẳng phải là đối kháng vậy!

 

          * Hỏi: Tôi thường thấy tăng ni làm Phật sự tụng kinh siêu độ cho kẻ khác. Đức Phật đă nói thiện ác của chính ḿnh chẳng thể tiêu trừ lẫn nhau, lại c̣n nói: “Nếu ai chẳng thể tự độ, ta cũng chẳng thể độ kẻ ấy”. Như vậy th́ làm sao tăng ni có thể giúp đỡ người chết cho được? (La Kiếm Nhân hỏi)

 

          Đáp: Phật độ chúng sanh trong các đường bằng cách dùng ngôn ngữ thuyết pháp, người nghe sẽ chuyển mê thành ngộ, có thể chứng đạo quả. Muôn pháp huyễn hóa, đức Phật có thần thông, dùng thần chú bí mật, có thể biến đổi huyễn giả. Kinh điển nhà Phật chỉ có pháp và chú, bậc tăng ni hữu tu hữu đắc nương theo pháp ấy để hành, phải trọn hết ḷng kính, cạn ḷng thành, ngơ hầu chính ḿnh cảm ứng đạo giao cùng Phật, kinh điển khơi gợi sự giác ngộ nơi vong linh, chú lực biến huyễn. Có thể làm như vậy th́ có thể nói là “độ vong”. Nếu chẳng thể như thế, ắt sẽ vô hiệu.

 

          * Hỏi: “Dẫu trải trăm ngàn kiếp, nghiệp đă làm chẳng mất. Khi nhân duyên tụ hội, quả báo vẫn tự chịu”, tức là chẳng thể trốn tránh định nghiệp. Trong Tiểu Tịnh Độ Văn[6] lại có câu: “Thừa Phật từ lực, chúng tội tiêu diệt” (Nương vào từ lực của Phật, các tội tiêu diệt), tức là có thể chuyển định nghiệp. Giải nói hai thuyết ấy như thế nào th́ mới có thể viên dung? Lại nữa, Vĩnh Gia đại sư có nói: “Liễu tắc nghiệp chướng bổn lai không, vị liễu ưng tu hoàn túc trái” (Đă hiểu, nghiệp chướng vốn là không. Chẳng hiểu, vẫn phải đền nợ cũ). Có thể dùng câu ấy để chú giải hai thuyết trên đây hay không? (Chung Quân Lương hỏi)

 

          Đáp: Nghiệp do tâm tạo, nghiệp do tâm chuyển. “Chẳng thể trốn khỏi định nghiệp” chính là v́ cái tâm tạo nghiệp chẳng chuyển. Nương vào từ lực của Phật để diệt tội, tức là tâm và Phật hợp lại, chuyển biến cái nghiệp. Tâm chẳng chuyển th́ nghiệp duyên tăng thượng, pháp do nhân duyên sanh, cho nên có cái quả chín muồi. “Tâm chuyển nghiệp” là chẳng tạo ương họa mới. Do không có duyên để sanh, lâu ngày [cái nhân ấy] sẽ đoạn diệt. Kệ rằng: “Các tội như sương tuyết, mặt trời huệ tiêu trừ”. Lại nói: “Tâm nhược vong thời, tội diệt vong. Tâm vong, tội diệt, lưỡng câu không” (Nếu tâm đă mất, tội cũng mất. Tâm mất, tội diệt, thảy đều không). Xét theo Lư, chẳng có mâu thuẫn, vốn tự viên dung. Chữ Liễu () trong bài ca của Vĩnh Gia đại sư chính là nói về Không và Huệ vậy!

 

          * Hỏi: “Tự tác” (Tự làm) tức chẳng phải là “vận mạng” như thế tục thường nói. “Tự thọ” (tự chịu) tức là “chẳng thể chuyển định nghiệp”. Nếu có thể chí tâm niệm A Di Đà Phật, có thể sửa đổi vận mạng, có thể chuyển biến định nghiệp hay chăng? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

          Đáp: “Định nghiệp” là nói nhân và duyên đă trọn đủ, đă chín muồi. Đă chín, sẽ chẳng thể khiến cho nó không sanh, nên bảo là “chẳng thể chuyển”. Như ném lựu đạn, khi đă ném ra mà nó không nổ, tức là nhân tố chẳng đầy đủ. Nếu đă đầy đủ, sẽ chẳng thể nào không nổ! Tâm có thể tạo nghiệp, tâm có thể chuyển nghiệp. Tạo nghiệp là tâm, niệm Phật cũng là tâm. Tạo nghiệp có nghiệp lực, niệm Phật há có thể nào chẳng có Phật lực? Nếu do trước đây v́ mê mà tạo nghiệp, về sau, do giác ngộ bèn niệm Phật, “nghiệp trước” do chẳng có duyên, sẽ chẳng thể khởi, “nhân sau” do có Phật lực bèn tiếp tục phát khởi. Nghiệp trước do lâu ngày sẽ đoạn trừ hoặc ẩn kín, tức là “chuyển”. Nhưng cần phải là khi nghiệp trước chưa chín muồi, hăy sớm niệm Phật. Nếu đợi đến khi nghiệp quả đă chín, mới niệm Phật, sợ rằng sẽ chậm trễ!

 

          * Hỏi: Có vị cư sĩ nọ, tu hành nhiều năm rất tốt đẹp, v́ sao mắc bệnh? Thậm chí gặp phải nghịch cảnh. Đó là quả báo do đời trước của ông ta? Hay là do đời này tu hành chẳng đến nơi đến chốn? (Triều Tân Ban hỏi)

 

          Đáp: Vị cư sĩ ấy tu hành siêng hay lười, chẳng thể do cái nh́n nông cạn mà có thể biết được! Nhưng chẳng cần quan tâm công phu siêng hay lười, đời trước luôn có nghiệp chướng. Hễ có chướng, ắt sẽ chuyển thành nỗi khổ dây dưa, nghịch cảnh vùi dập, cái quả để đền bồi cái nhân là bệnh tật, t́nh thế khó tránh được! Chỉ có điều, nếu là kẻ lười nhác th́ bệnh khổ và nghịch cảnh chính là đạo chẳng thắng nổi nghiệp. Nếu siêng năng mà vẫn gặp bệnh khổ hoặc nghịch cảnh, tức là dấu hiệu cho biết báo nặng chuyển thành nhẹ, do công đức tu tŕ hiện thời, [tội báo ấy] ắt sẽ tiêu diệt.

 

          * Hỏi: Người trong nhà ư kiến cố chấp “phải ăn thịt, sát sanh”, không tin có nhân quả báo ứng. Lăo cư sĩ có biện pháp tốt đẹp nào để có thể văn hồi hay không? (Chung Vân Xương hỏi)

 

          Đáp: Ai có nghiệp chướng nấy, cũng như ai có phước duyên nấy. Muốn trừ nghiệp chướng, cần phải nhờ vào phước duyên. Chẳng tin nhân quả, há có phước duyên ǵ? Đối với chuyện này, cư sĩ cần phải dùng phương tiện thiện xảo, chính ḿnh nêu gương tốt, khiến cho người nhà khởi ḷng kính tín đối với chính ḿnh trước. Sau đó, sẽ dần dần có thể chuyển biến được!

 

          * Hỏi: Trong Thích Ca Truyện, theo sự thuyết pháp của đức Phật, nhân quả là hư giả, chỉ có Phật giáo ngu mê là có nhân quả. Nếu nhân quả là hư giả, tu đạo có lợi ích ǵ? (Diệp Đặc Hoa hỏi)

         

Đáp: Gần đây, Thích Ca Truyện có nhiều loại, chẳng biết cư sĩ xem loại nào. Tuy kẻ hèn này chưa thấy [loại nào chép như thế], nhưng có thể suy đoán nghĩa lư ắt chẳng phải là như vậy! Nếu hiểu lầm, làm xằng, sợ sẽ chuốc lấy tội báo. Trong kinh Phật, cố nhiên có nói tới Không và Giả, nhưng nghĩa lư ấy tột bậc tinh vi, kẻ sơ học mà nghe sẽ chẳng thể hiểu được! Nay tôi muốn giải thích lư ấy, nhưng sợ rằng sẽ đẩy ông vào chỗ ngoan không! Cổ đức nói: “Ninh khởi Hữu Kiến như Tu Di sơn, bất khởi Không Kiến như giới tử” (Thà dấy lên Hữu Kiến như núi Tu Di, chẳng dấy Không Kiến chừng bằng hạt cải), đă nói lên ư chỉ ấy. Lại có công án “chẳng rớt vào nhân quả”[7], chắc là ông đă nghe quen tai rồi, hết sức đáng sợ! Xem kỹ lời hỏi, cư sĩ là người tin nhân quả. Kính cẩn ca ngợi cư sĩ “lành thay, lành thay!” Trong Thập Giới và Thập Như của kinh Pháp Hoa có “như thị nhân”“như thị quả”; đă nói là “như thị”, làm sao bảo là hư giả cho được!

 

          * Hỏi: Trong một tạp chí Phật giáo, tôi thấy có nói: Ngài Mục Kiền Liên có pháp đại thần thông, đem toàn bộ người trong thành Ca Tỳ La bỏ vào trong bát, khiến họ đều hóa thành bột tro. Nói theo Phật giáo, đấy chẳng phải là rất thiếu từ bi ư? Lại c̣n phạm giới rất lớn nữa? (Diệp Đặc Hoa hỏi)

         

          Đáp: Chuyện này là do cư sĩ đọc chưa rơ ràng. Thuở ấy, vua Lưu Ly dùng binh lực muốn diệt ḍng họ Thích, tôn giả Mục Liên dùng bát chứa bao nhiêu người là muốn cứu thoát họ, nhưng do quan hệ nhân quả, [những người họ Thích] chẳng thể tránh khỏi [sát kiếp ấy], họ tự hóa thành bột tro. Thật sự chẳng phải là do tôn giả Mục Liên giết chết, chớ nên hiểu lầm!

 

          * Hỏi: Tôi có một người thân thích trong quá khứ đánh cá kiếm sống, nay đă đổi sang nghề làm ruộng. Vậy th́ sát nghiệp đă tạo trong quá khứ có thể giảm thiểu hay không? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

          Đáp: Trước làm nghề chài, nay làm ruộng, sửa đổi ác nghiệp cố nhiên là tốt lành. Chỉ là chẳng tạo họa ương mới, vẫn chưa thể tiêu trừ nghiệp cũ. Hăy nên biết: “Giả sử trăm ngàn kiếp, nghiệp đă tạo chẳng mất, khi nhân duyên hội họp, quả báo vẫn tự chịu”. Nghiệp cũ chẳng thể tự do tiêu trừ, cần phải tu tŕ Phật pháp, dùng tâm sám hối th́ mới tiêu diệt được!

 

          * Hỏi: Trong kinh Đồng Vấn, lại có chuyện do mười nghiệp mà cảm các ác báo ở bên ngoài. Nếu có chúng sanh, do hay tu tập mười bất thiện nghiệp, nên cảm vời các vật bên ngoài thảy đều không đầy đủ. Một là, do sát nghiệp nên khiến cho các báo ở bên ngoài như “đất đai chua mặn, dược thảo không có sức”, hai là do nghiệp trộm cắp, nên cảm báo bên ngoài là “sương, mưa đá, châu chấu v.v... khiến cho cơi đời đói kém”, và điều thứ năm, do nghiệp lưỡng thiệt mà cảm quả báo bên ngoài: Đại địa cao thấp chẳng bằng phẳng, “núi cao, vách đá, hang hốc hiểm trở, cây cao, cành thấp, nghiêng đổ, rậm rạp”. Xin thầy hăy phân biệt nhằm giải tỏa nghi vấn. (Thái Lân Định hỏi)


          Đáp: Tạo nhân như thế nào, đắc quả như thế ấy. Một là đất biến thành chua, mặn, chẳng sanh ngũ cốc, con người chẳng có cái ăn, lấy ǵ để dưỡng mạng? Dược thảo không có sức, chẳng thể chữa bệnh, làm sao cứu được người tử vong? Đấy là do sát nghiệp cảm vời. V́ thế, sanh mạng của kẻ gây tạo [sát nghiệp] cũng chẳng thể duy tŕ được! Hai là tuy đất không biến thành chua mặn, nhưng gặp cảnh sương giá, mưa đá, châu chấu, ngũ cốc cũng hao tổn. V́ thế, con người chẳng đủ ăn, gọi là “nạn đói kém”. Đó là do nghiệp trộm cắp cảm vời, nên kẻ tạo nghiệp cũng bị bần cùng, thiếu thốn. Năm là cuộc đất hiểm trở, hoang vu, đi đường gặp rất nhiều nỗi chướng ngại. Đó là do lưỡng thiệt thêu dệt thị phi cảm vời, cho nên kẻ tạo nghiệp mắc hại v́ bị ách tắc, ngăn trở, chẳng thuận lợi!

 

          * Hỏi: Trong Phật Thuyết Nghiệp Báo Sai Biệt Kinh, đức Phật bảo Thủ Ca: “Có mười nghiệp có thể khiến cho chúng sanh mắc phải quả báo đoản mạng”, [trong ấy], “năm là căm ghét, muốn cho diệt mất”. Xin thầy hăy khai thị điều nghi này. (Thái Lân Định hỏi)

 

          Đáp: Điều này có nghĩa là đối với một loại động vật mà có tâm ghét bỏ, muốn tiêu diệt nó. Nói cách khác, chính là muốn giết chết nó. Đó là ác nghiệp sát sanh, sẽ bị quả báo đoản mạng.

 

          * Hỏi: Có người suốt đời làm việc thiện, tận hết sức tin Phật, niệm Phật, đến lúc tuổi già, trong nhà gặp đại họa hết sức bất hạnh. Về sau, bản thân người ấy biến thành giống như hồn ĺa khỏi xác. Tôi cảm thấy người tin Phật mà hứng chịu ác báo ấy thật đáng thương, nhân quả như thế nào? (Trần Thanh Long hỏi)

 

          Đáp: Học Phật có người đi theo đường lối chân thật, có kẻ đi theo đường lối tương tự, có kẻ theo đường lối giả mạo, tạp nhạp. Rốt cuộc ông ấy đi theo đường lối nào? Có người chân tâm cầu đạo, có kẻ chỉ chú trọng hư danh, có kẻ tham danh cầu lợi, có kẻ giải đăi, buông lung, hôn trầm, lao chao, đúng pháp và chẳng đúng pháp sai khác! Ông ấy tu hành, coi trọng kiểu nào? Phải nên lấy những điều ấy làm vấn đề tiên quyết [để luận định]. Nhân quả vốn thông ba đời, nhân có lớn, nhỏ, có chân và ngụy, có tiến và lùi, có người từ đầu đến cuối đều thiện, có người từ đầu đến cuối đều ác, có kẻ trước thiện sau ác, có kẻ trước ác sau thiện, có kẻ thiện ác hỗn tạp, có kẻ ngoài lành, trong ác, có kẻ ngoài ác, trong lành. Quả có sớm, muộn, có báo ngay trong đời này, báo trong đời sau, có báo sau hai, ba, bốn đời, có chuyển thọ[8], có báo bị tiêu diệt, có trường hợp trước là được phước, sau gặp họa, có trường hợp trước là mắc họa, sau được phước. Trong đó, bù qua sớt lại, lắm nỗi biến hóa. Đó là vấn đề “vạn pháp nhân duyên” vậy. Lư do trên đây tuy nông cạn, nhưng kẻ phàm phu nông cạn, hời hợt cũng chẳng thể hiểu rơ. Chuyện này giống như quan ṭa định tội, [ắt cần phải] có học vấn chuyên môn. Người b́nh phàm chẳng hiểu pháp luật, tự nhiên cũng sanh nghi hoặc đối với pháp luật.

 

          * Hỏi: Có kẻ ỷ quyền thế hiếp đáp người khác, có những hành động bất hảo như nói lời dối trá, thích đánh đập người khác v.v... Quả báo tốt lành do gă ấy đạt được chẳng bị hư hoại là v́ lẽ nào? (Trần Thanh Long hỏi)

 

          Đáp: Cổ nhân nói: “Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo, nhược hoàn bất báo, thời thần vị đáo” (Thiện có thiện báo, ác có ác báo, nếu vẫn chưa báo, thời gian chưa đến). Lại tham khảo câu trả lời cho câu hỏi trước đó, sẽ tự có thể hiểu rơ.

 

          * Hỏi: Phải dùng phương pháp ǵ th́ mới có thể biết cái nhân trong kiếp trước là từ đường nào (trong lục đạo) xuất thế? (Quách Bang Quang hỏi)

 

          Đáp: Chuyện này chẳng phải là phàm phu mà ḥng biết được. Bậc đắc Túc Mạng và Thiên Nhăn mới có thể nhận viết. Nhưng nh́n vào thân tướng của một người, cũng có thể suy ra để biết nghiệp đă tạo từ trước. Như người câm, ngọng, đui, điếc là do phỉ báng, chẳng tin v.v... mà ra. Nh́n vào cử chỉ, cũng có thể suy ra [người ấy] từ đường nào đến, như [từ] loài khỉ vượn [sanh làm người] sẽ bộp chộp, lụp chụp v.v... khó thể nêu trọn, hăy xem nhiều kinh [sẽ biết]!

 

          * Hỏi: Mẹ tôi ăn chay từ trẻ. Thuở xuất giá, [làm dâu trong] gia đ́nh tin theo đạo Thiên Chúa. Chẳng bao lâu, thoát ly quan hệ thân thuộc, tới nay, gia phụ đă khuất bóng, từ mẫu thất thường, con th́ bị bệnh ho ra máu (chứng tiểu khí quản bị nở rộng). Xin thầy hăy giải thích đoạn nhân quả này! (Lữu Mậu Thịnh hỏi)

         

Đáp: Nhân quả cần phải luận định ba đời. Quả báo lại chia thành ba thứ “hiện, sanh, hậu” (quả báo trong hiện đời, trong đời kế tiếp, và trong đời sau nữa). Những ǵ lệnh đường đang hứng chịu hiện thời thuộc về loại nào, phàm phu chẳng thể biết thấu triệt! Nhưng nhân có thể kết thành quả, ắt cậy vào duyên. Duyên là nghiệp thiện ác đang làm trong hiện thời, nó có sức mạnh tăng thượng hoặc giảm bớt. Đối với t́nh huống của lệnh đường trong hiện thời, chẳng thể biết nhân trước, nhưng nghiệp hiện tại khá phân minh. Như trước kia, cụ đă ăn chay, nhất định là chẳng sát sanh. Đó là Từ. Trước kia, coi trọng nhân luân, chắc chắn là tôn kính cha mẹ, đó là Hiếu. Từ và Hiếu đều là thiện. Về sau, bỏ ăn chay, tức là bỏ ḷng Từ. Đoạn tuyệt quan hệ thân thuộc, tức là bỏ Hiếu. Vứt bỏ Từ và Hiếu, đều chẳng phải là thiện! T́nh trạng hiện thời có phải là cái quả trong hiện tại hay không, xác thực là chẳng thể biết, nhưng do có cái duyên bất thiện, cho nên thuộc loại dễ thấy!

 

          * Hỏi: Tôi thường đọc kinh sách về nhân quả, thấy có nói: “Thổ huyết là do đời trước ăn thịt mà tụng kinh”. Chẳng biết sự thật là như thế nào? Nói “ăn thịt, tụng kinh” là như thế nào? (Lữu Mậu Thịnh hỏi)

 

          Đáp: Ông nói kinh nhân quả và lời kinh đă dẫn, rốt cuộc là kinh nào, chưa thể nói cặn kẽ, cho nên tôi chẳng dám đáp bừa. Nhưng nói chung, nhằm khuyên người ta làm lành. Nay tôi chỉ có thể giải thích một câu “ăn thịt, tụng kinh” mà thôi. Kinh là lời dạy của đức Phật, nhằm lợi ích chúng sanh. Đă vừa quư báu, lại vừa tôn quư, đối với kinh, phải nên nghiêm cẩn kính trọng. Ăn thịt ô trược, hơi miệng chẳng sạch, tụng tŕ kinh văn sẽ có phần bất kính!

 

          * Hỏi: Đức Thế Tôn thường nói: “Định nghiệp chẳng thể chuyển”. Nay mẹ bệnh, kẻ làm con chẳng thể chịu bệnh thay. Kẻ làm con đau khổ, mẹ cũng chẳng biết làm sao? Kính nghĩ: Hành vi trong hiện tại chính là nhân quả được kéo dài đến vị lai. Mẹ tôi tạo nghiệp, vật vă thọ báo, vĩnh viễn chẳng có lúc thoát khỏi! Phận làm con, có cách ǵ để giúp cho mẹ tôi sống an ổn? (Lữu Mậu Thịnh hỏi)

 

          Đáp: “Định nghiệp chẳng thể chuyển” là do đức Phật nói, mà “sám trừ nghiệp chướng” cũng do đức Phật nói. Nhằm khế hợp các căn cơ, mỗi đằng đều có diệu dụng. Cư sĩ chẳng nghe chuyện của Địa Tạng Bồ Tát và tôn giả Mục Liên ư? Mẹ của Bồ Tát và tôn giả đều đọa ác đạo, đều do hạnh của hiếu tử mà đều được siêu thăng! Lệnh đường hiện c̣n sống trong nhân gian, thời gian hăy c̣n chưa muộn, nếu cư sĩ có thể thật sự phát tâm đại hiếu, v́ lệnh đường xót xa cầu khẩn Tam Bảo, làm nhiều việc thiện thật sự, sẽ cảm ứng đạo giao. Không chỉ là sau này khỏi bị trầm luân, mà đời hiện tại c̣n có thể được phước. Nhưng nếu chẳng chí thành, hiệu lực sẽ rất bé. “Chí thành” nghĩa là ǵ? Ắt phải là tâm chẳng xen tạp, chuyên tinh duy nhất th́ mới được!

 

          * Hỏi: Có những mối oan cừu có phải là đời này mới tạo hay không? Ví như có hai người đời trước hoàn toàn chưa kết cái nhân ác, nhưng trong đó, có một người giết hại kẻ khác; do vậy, trong đời này lại phát sanh sự kiện giết hại? (Thái Tổ Thiên hỏi)

 

          Đáp: Sự có nhân trước, quả nay, cũng có nhân đời nay, quả đời sau. Hiểu rơ lư b́nh thường này, sẽ chẳng cầm dựng đứng cây tre dài mười trượng để đến nỗi chẳng thể đi qua cửa thành cao một trượng!

 

          * Hỏi: Mấy năm gần đây, sâu rầy tổn hại lúa mạ đặc biệt dữ dội. Đây là chuyện khiến cho nhà nông phiền năo nhất, đau khổ nhất. Dăm ba ngày nếu chẳng chú ư kiểm tra mạ, trong ṿng mấy ngày, mạ sẽ đổi màu hoặc héo rũ. Mỗi thời kỳ, sâu rầy gây hại khác nhau. Nếu chẳng phun xịt thuốc sát trùng, đúng là chẳng có cách nào thâu hoạch. Nếu phun xịt thuốc sát trùng, lại phạm tội sát sanh. Loài “vạn vật chi linh” do cái ăn mà phát sanh vấn đề! Nguyên nhân sâu rầy có phải phần nhiều là do mối quan hệ với ác nghiệp trong đời quá khứ cảm vời hay không? Xin đại cư sĩ hăy giải thích! (Chung Vân Xương hỏi)

 

          Đáp: Theo kinh truyện Trung Hoa ghi chép, “ḥa khí trí tường, lệ khí trí ương” (ḥa khí dẫn đến tốt lành, khí hung hiểm dẫn đến tai ương). Đời hưng thịnh th́ gió chẳng thổi rung cây, biển chẳng dậy sóng, sao sáng, mây lành hiện trên bầu trời, kỳ lân, phượng hoàng dạo chơi ngoài đồng. Sử sách c̣n chép: Quan lại thanh liêm, tuân thủ pháp luật cai trị, giáo hóa, chánh trị phù hợp ḷng người, sâu rầy chẳng vào bờ cơi, cọp lánh sang nước khác. Dựa trên những điều đă nói trên đây, sâu rầy nhiều hay ít, dường như có liên quan đến nghiệp lực. Phật pháp kiêng giết, đó là nhân; nhưng cũng có “khai, giá, tŕ, phạm” dung thông. Chánh quyền bảo vệ nông sản cũng là v́ ḷng nhân, phân biệt người và loài vật theo thứ tự trước sau. Phải gộp chung những điều này lại để xem xét ḥng phán đoán: Đối với nhân quả như đức Phật đă dạy, ắt phải tin. Nông sản và cuộc sống của nhân dân ắt phải bảo vệ. Như vậy là hợp lẽ. Hăy thử nghĩ: Thời cổ không có thuốc sát trùng, [thế mà] cũng phần nhiều được mùa, đồ tể chẳng kiêng giết, cũng được sống lâu, tức là cũng có những nguyên nhân khác, không thể chỉ nh́n vào chuyện trước mắt được!

 

          * Hỏi: Thuyết nhân quả báo ứng chẳng đơn giản cho lắm. “Thiện có thiện báo, ác có ác báo”, mọi người cùng chấp nhận. Nếu như kẻ ác hưởng phước, người lành mắc hại, ắt phải dùng “nhân quả trọn khắp ba đời” để giải thích. Dùng chuyện này để suy luận tương tự, nêu lên những chuyện chẳng hợp lẽ thường t́nh, như các vị thánh vương Nghiêu, Thuấn gặp nạn lũ lụt lớn, cũng không ǵ là chẳng dùng “nhân quả thông ba đời” để giải thích! Nhưng bỏ sót những nguyên nhân có thể thấy được trong địa lư và khí hậu tự nhiên, cứ quy hết vào thuyết “báo ứng v́ cộng nghiệp”, dường như khó thể khiến cho kẻ khác thật sự vui vẻ, tin phục được! Tóm lại, trong hết thảy sự vật, đều tự có luật nhân quả tồn tại; cớ ǵ đối với họa hay phước, nhất định phải dùng chuyện “thiện ác báo ứng” để giải thích? Như kẻ ác hưởng thụ của cải là do trong đời này kẻ đó có tài kinh doanh mà ra, cớ ǵ lại cứ nhất định dùng chuyện phước báo đời trước để giải thích? Người lành gặp tai nạn xe cộ bất ngờ, cần ǵ phải dùng chuyện “ác quả trong đời trước đă chín muồi” để giải thích, mà không t́m ṭi xem có phải là trên đường [người ấy mê mải] suy tư [nên chẳng chú ư đến chung quanh]. Nhân quả thông ba đời làm sao được? Tôi chẳng hiểu ra sao cả! Mong hăy giải thích cho th́ may mắn lắm thay! (Lư Liên Giai hỏi)

 

          Đáp: Câu hỏi này quá tản mạn, hăy nên quy nạp lại cho có thứ tự:

- Một, “nạn lũ lụt trong đời các vị thánh vương Nghiêu, Thuấn, nếu dùng cộng nghiệp nhân quả ba đời để giải thích, bỏ sót những điều có thể thấy rơ như địa lư và khí hậu tự nhiên, sẽ khó thể khiến cho người khác thật sự vui vẻ, tin phục”. Ông chẳng nghe ư? Luận định sự việc th́ cần phải phù hợp “nhân, duyên, quả”, chưa từng nói điều này mà bỏ sót điều kia. Cộng nghiệp là nhân, địa lư và khí hậu là duyên, tai nạn lũ lụt lớn chính là quả. “Pháp chẳng dấy lên một ḿnh”, “chẳng có duyên, sẽ không sanh”. Hiểu rơ những điều này, ắt sẽ biết Phật pháp nói đến “duyên” th́ phần nhiều là những thứ có thể thấy trong hiện tại. Bất quá v́ khế hợp các căn cơ mà nói đơn giản, hay nói phức tạp, phương tiện bất đồng mà thôi.

- Hai, “hết thảy các sự vật đều có luật nhân quả tồn tại, cần ǵ cứ phải đối với họa phước, nhất định phải dùng thiện ác báo ứng để giải thích”. Đọc sách phải thông đạt, chớ nên câu nệ, chấp trước. “Ác” không nhất định là nói về giết, trộm, dâm, [chẳng hạn như] ư nghiệp ngu si cũng là ác. Thiện không nhất định nói về thí, giới, nhẫn; một độ trí huệ (Bát Nhă Ba La Mật) cũng là thiện. Gặp cảnh nguy mà có thể chế ngự, đánh thắng, đó là vị tướng có trí. Chế ngự, đánh thắng là “phước quả”, trí huệ của vị tướng chính là nhân lành. Mưu tính mà không biết ẩn giấu cơ mưu sẽ hỏng chuyện, chẳng biết ẩn giấu mưu mô là kẻ ngu. “Hỏng chuyện” là họa quả, “kẻ ngu mưu tính” là cái nhân ác. Nho gia cũng nói: “Làm lành, trăm điều tốt lành giáng xuống. Làm điều bất thiện, trăm nỗi tai ương giáng xuống”. Bàn luận nhân quả mà nói tới thiện, ác, họa, phước th́ chính là chánh thuyết.

- Ba, “kẻ ác kinh doanh giàu có, người lành gặp tai nạn xe cộ, cần ǵ phải dùng chuyện thiện ác đời trước để giải thích, không t́m ṭi xem người ấy có tài kinh doanh hoặc [chẳng chú ư] trên đường phố hay không”. Người sanh về Cực Lạc, ắt gieo cái nhân Cực Lạc. Kẻ sanh vào Sa Bà, há chẳng có cái nhân trong Sa Bà? Đă biết là [nhân quả] thông ba đời, sẽ chẳng phải chỉ luận định đời trước! Đối với những ư khác, có thể suy nghĩ về “các pháp do nhân duyên sanh” th́ sẽ dễ hiểu được!

 

          * Hỏi: Thường nói: “Định nghiệp chẳng thể dời”, nhưng cái quả mà chúng ta hứng chịu trong một đời này có phải phần nhiều là định nghiệp hay không? (Khưu Thanh Tuyền hỏi)

 

          Đáp: Đă thọ quả báo, làm sao có thể chẳng có nghiệp nhân?

 

          * Hỏi: Tôi bị chứng cà lăm. Nói theo nhân quả, chẳng biết đă phạm tội ǵ? Hăy nên sám hối như thế nào để trị? (Trịnh Chí Tây hỏi)

 

          Đáp: Nhân duyên kết thành quả, t́nh h́nh phức tạp. Có trường hợp là một duyên, có trường hợp nhiều duyên; tung tích biến hóa, chẳng phải chỉ là một đầu mối! Nhưng mắc chứng cà lăm, có thể là v́ khẩu nghiệp. Do lời nói chẳng ĺa ư niệm, hăy nên sám hối cả ngữ lẫn ư. Cách thức là niệm Phật, hoặc niệm kinh, ắt phải niệm đến mức tâm và miệng nhiếp thành một. Đấy chính là “song sám” (sám hối cả hai nghiệp), mà cũng là “chân sám” vậy! Niệm Phật cần phải từng câu liên tục, niệm kinh th́ âm vận phải trôi chảy. Từ rày về sau, hăy nên kiêng nói dối, nói đôi chiều, nói thêu dệt, ác khẩu, lâu ngày ắt sẽ có cảm ứng.

 

          * Hỏi: Nay chúng ta dùng xâu chuỗi để niệm Phật, có lần chuỗi sẽ có ích. Tu cái nhân có cùng tận mà trong tương lai sẽ hưởng thụ cái quả vô tận. Nhân này, lư này, nói có suông hay không? (Châu Huệ Luân hỏi)

 

          Đáp: Bản thân xâu chuỗi sẽ chẳng thể niệm Phật. Niệm Phật là cái tâm của chính ḿnh niệm, lần chuỗi để nhớ số, bất quá nhằm dấy khởi chánh niệm, nhắc nhở [chính ḿnh] đừng bị thoái chuyển mà thôi! Nếu thật sự biết “niệm niệm sanh diệt, diệt rồi lại sanh”, đem việc lần chuỗi phối hợp với ư niệm, ư niệm [niệm Phật] chẳng ngừng, xâu chuỗi cũng lần chẳng ngừng, há có cùng tận? Nếu có thể niệm đến mức hết sạch ư niệm, sẽ chẳng cần dùng xâu chuỗi nữa. Đấy mới là cư sĩ hưởng thụ cái quả vô tận.

 

          * Hỏi: Có hai người là Giáp và Ất hỏi tôi. Giáp hỏi: “Có người nói phát Bồ Đề tâm làm Phật sự sẽ chẳng có lúc nào bị bệnh. Chuyện này có thật hay chăng?” Tiếp đó, Ất bèn nói: “Có ông X... nọ đúng v́ Phật giáo mà phát tâm, nhưng ông ta cứ thường mắc bệnh rề rề, đây lại là do đạo lư ǵ?” Khiến cho tôi ú ớ, chẳng biết trả lời ra sao, xin hăy dạy tường tận! (Tín Nghĩa Ban hỏi)

 

          Đáp: Phát Bồ Đề tâm chính là thiện nghiệp. Chúng sanh mắc bệnh tật, chính là ác báo. Ác báo ắt có ác nhân, ác nhân ắt phải nhờ vào ác duyên. Duyên vun bồi cái nhân, khiến cho ác báo thành tựu. Nếu thường phát Bồ Đề tâm, tức là thiện duyên thường tăng, tuy có ác nhân xưa kia, nhưng hiện thời chẳng gặp ác duyên, cho nên bệnh tật tạm thời chẳng sanh! Đối với chuyện ông X... như trong lời cật vấn của ông Ất, chuyện ấy cũng có nhiều. Nếu hiểu giáo lư, mối nghi sẽ tự giải quyết. Một là do ác nghiệp quá nặng, phát tâm rất yếu, thiện không chống nổi ác, tự nhiên ác báo vẫn chín muồi. Ví như một đốm lửa muốn nung chảy khối băng dầy trăm trượng, sẽ chẳng thể nung chảy băng, v́ sức chẳng đủ! Hăy nên càng thêm cảnh giác, cần phải tinh tấn sám hối để tiêu trừ. Một lẽ khác nữa: Do ác nghiệp sắp chín muồi, có phần trong tam đồ, nhưng do tâm Bồ Đề mạnh mẽ, có sức chuyển dời, khiến cho báo nặng chuyển thành báo nhẹ, tức bệnh tật. Hăy nên tự khích lệ, biết công lẫn hạnh đều chẳng luống uổng!

 

          * Hỏi: Có một ngày, đức Phật ngự tại thành Vương Xá, ở trong vườn trúc Ca Lan Đà, giảng kinh, thuyết pháp. Lúc ấy, ngài Mục Liên vừa xuất Định, đến dạo chơi bên sông Hằng. Thấy các ngạ quỷ chịu tội bất đồng. Lúc đó, các ngạ quỷ đều dấy ḷng cung kính, đến hỏi ngài Mục Liên: “Do nhân duyên xưa kia ǵ mà bị quả báo ấy?” Một quỷ hỏi rằng: “Từ lúc sanh ra cho tới nay, tôi luôn đói khát. Muốn đến nhà xí để lấy phân ăn th́ trong nhà xí có đại lực quỷ dùng gậy đánh tôi, chỉ đành tránh xa, chẳng tới gần được. Đấy là do tội nào mà nên nỗi?” [Như vậy th́] sức thần thông to lớn hay nghiệp lực to hơn? (Hồng Hoàn hỏi)

 

          Đáp: Cả hai chuyện ấy đều là nhân quả. Nghiệp lực thuộc về nhân, thần thông thuộc về quả. Nhân có thể thành quả, nhưng quả chẳng thể sửa đổi nhân. Nhân là sức mạnh đang phát triển, quả là sức mạnh đă hoàn thành. Hiểu rơ lư này, ắt biết thần thông chẳng thể vượt trỗi nhân quả được! Trong [các kinh thuộc về] A Hàm Bộ [trong Đại Tạng], có chép nhiều khải thị. Như trong cuộc chiến [tiêu diệt ḍng họ Thích Ca] của vua Lưu Ly, tôn giả Mục Liên chẳng thể cứu những người họ Thích. Hai vị tỳ-kheo có thần thông vào trong nước [dễ dàng như đi trên đất liền] nhưng chẳng thể tránh khỏi sanh tử, chính là v́ lẽ đó.

 

          * Hỏi: Nếu có người Giáp nọ cố ư mưu toan giết hại Ất, Giáp lại bị quốc pháp trừng phạt, xử tội tử h́nh. Xin hỏi: Đời sau, Giáp vẫn nợ Ất một mạng hay không? (Huyễn Ngu hỏi)

 

          Đáp: Ông Giáp bị quốc pháp xử tử, nếu v́ tội giết Ất th́ xét theo luật dương gian để luận, đă đền mạng rồi! Nếu phân tích theo tŕnh tự của tâm niệm, sẽ phải luận định khác đi. V́ từng nghe “có nhiều nhân mà một quả”, cũng có trường hợp “một nhân mà nhiều quả”. Xét theo tâm lực của chúng sanh, chẳng thể nói luông tuồng được! Ông Giáp bị xử tử, nếu chẳng v́ tội giết Ất th́ nhân quả giữa Giáp và Ất vẫn tồn tại y như cũ!

 

          * Hỏi: Có phải là trong kinh Phật thường nói đến “cái nhân trong đời trước, cái quả trong đời này”. V́ thế, tôi đối với hai câu ấy, chẳng có cách nào liễu giải. Bởi lẽ, chuyện đă làm trong đời trước, đời này chẳng có cách nào biết được! Nó là một thứ vô ảnh lại vô h́nh, có thể nêu ra chứng cứ hay không? V́ thế, đối với kẻ khác, đệ tử chẳng có cách nào khiến cho họ liễu giải được! Lấy rất nhiều thứ để biểu thị điều đó th́ chúng cũng đều là chẳng có h́nh ảnh tồn tại! (Vương Phước Lang hỏi)

 

          Đáp: Biện luận cùng người khác, ắt phải trọn đủ hai sự:

- Một là thâm nhập Phật hải, biện tài vô ngại.

- Hai là sở học tuy nông cạn, phải có thế trí biện thông.

Điều trước là chánh đáng, áp dụng cho bậc hữu học. Điều sau là quyền biến, áp dụng cho kẻ vô học. Nếu chẳng có cả hai điều ấy, chẳng biện luận với người khác th́ tốt hơn. Nay tôi giải thích giùm ông: Trong lời hỏi, kẻ viện cớ chẳng có cách nào để có thể biết được, bèn bài xích nó (nhân quả) là vô ảnh, tỏ rơ sự ngu tối! Phật, Bồ Tát đă phá Trần Sa Hoặc, không ǵ chẳng biết. Phàm phu ngu si tầng tầng, cho nên chẳng biết ǵ! Do chẳng biết bèn chẳng tin, chính là bản sắc của phàm phu, cũng chẳng có ǵ là lạ! Họ đ̣i nêu chứng cứ, hăy nên biết: Trứng nở ra gà, gà trưởng thành chẳng biết trứng do đâu mà có. Nhưng con người th́ thấy trứng là tiền nhân, gà là hậu quả, rành rẽ phân minh! Gà có bao giờ từng thấy cái trứng nở ra chính ḿnh hay không?

 

          * Hỏi: Những tôn giáo trên cơi đời trong hiện tại có phải là đều dạy con người tu thiện đạo. Bất quá, cớ sao chánh phủ ngăn cản Nhất Quán Đạo truyền giáo? Có phải là v́ họ truyền bá giáo nghĩa chống đối chánh phủ? Họ tin tưởng những giáo nghĩa như thế nào? (Vương Phước Lang hỏi)

 

          Đáp: Tôn giáo luôn dùng chuyện khuyến thiện để hiệu triệu, nhưng thiện có chân và ngụy, giáo chia thành tà và chánh. Lại c̣n có trường hợp bề ngoài xưng là tôn giáo, nhưng ngấm ngầm có mưu đồ riêng khác. Người chẳng đọc sử sách nhiều, dễ bị chúng nó lừa gạt, lầm tưởng mắt cá là ngọc trai, thường là như vậy! Ở đây, tôi giới thiệu hai cuốn sách là Ám Lộ Minh Đăng (đèn sáng trong đường tối) và Kỹ Lộ Chỉ Quy (chỉ lối về nơi đường rẽ). Đọc xong, ông sẽ tự nhiên liễu giải những điều nghi ngờ (hai cuốn sách ấy, bổn xă và Thụy Thành Thư Cục đều có lưu thông).

 

          * Hỏi: Người sau khi đă chết, v́ sao vẫn là chưa thể hết chuyện? V́ có thuyết linh hồn, vẫn cần phải luân hồi trong lục đạo. Làm như thế nào để khiến cho thính chúng tin chắc chắn, chẳng nghi ngờ cái thuyết “linh hồn và luân hồi trong lục đạo” như vừa mới nói? (Thiệu Tá Đ́nh hỏi)

 

          Đáp: Để suy luận ḥng biết sự lư, có ba pháp tắc để cân nhắc (Tam Lượng). Hai câu hỏi [như trong thư ông đă nêu] đều ra ngoài Hiện Lượng, chỉ có bậc trí mới có thể dễ khế hợp, tin tưởng. Đối với kẻ trí huệ chưa đạt đến mức, cũng chẳng có cách nào miễn cưỡng được! Do Tỷ Lượng có thể biết linh hồn như mộng, chẳng phải là sắc thân, cũng chẳng có thực chất, tức là linh hồn. Do Thánh Giáo Lượng có thể biết luân hồi. Trong kinh Phật đă chép chuyện này thật nhiều. Trong kinh Kim Cang, [tiền thân của] đức Phật là Nhẫn Nhục tiên nhân, ai nấy đều biết. Kinh sử của thánh hiền đời trước chép chuyện luân hồi càng nhiều hơn, Bành Sanh [chết đi hóa] thành lợn, Như Ư (tức Lưu Như Ư, con của Lưu Bang, sau khi bị Lữ Hậu giết) hóa thành chó v.v... Đấy là chứng cớ người [chết đi] biến thành súc vật. Như chim tu hú hóa thành chim ưng, chim sẻ vào nước lụt hóa thành bồ câu v.v... Đấy là chứng cớ súc vật biến thành súc vật ấy.

 

          * Hỏi: Chúng ta có một câu nói là “lập địa thành Phật” (ngay lập tức thành Phật), nhưng cư sĩ vừa mới nói “thiện và ác chẳng thể triệt tiêu lẫn nhau”, tức là thiện và ác vĩnh viễn tồn tại. Quả báo sẽ phải hứng chịu tùy thuộc vào sức mạnh của thiện ác lớn hay nhỏ mà định. Như vậy th́ một kẻ tội ác đầy ḿnh, làm sao có thể ngay lập tức thành Phật cho được? Có phải là hết thảy các ác nghiệp đă tạo do một niệm ấy mà tiêu diệt hay chăng? Nhưng hành thiện lại có ư nghĩa ǵ? (Vô Danh Thị hỏi)

 

          Đáp: “Lập địa thành Phật”, quả thật có người như vậy, nhưng không phải là ai cũng đều có thể lập địa thành Phật! Nếu người nào cũng đều có thể, đức Thích Tôn cần ǵ phải trải ba A-tăng-kỳ kiếp? Cái quả của ác nghiệp đều là do Hoặc làm nhân. “Hoặc” là như thế nào? Chính là Kiến Tư Thập Sử. Ắt phải đoạn hết sạch Hoặc th́ mới được giải thoát! Kinh dạy như thế đó, chớ nên ảo tưởng! Nếu có ác nghiệp, ắt sẽ gặp ác báo. Đó gọi là “ác có ác báo”. Nếu đă đoạn hết sạch Hoặc, giống như cây đă chặt đứt rễ, hoa và trái đều chẳng sanh. Người làm lành, chia thành hữu lậu và vô lậu sai khác. Do hữu lậu thiện, đắc phước báo trong cơi nhân thiên, chẳng thoát khỏi luân hồi. Vô lậu thiện chỉ hiển lộ Tánh Đức, có thể đạt đến địa vị Phật. Đó gọi là “thiện có thiện báo”. Báo chia thành thiện và ác, sao lại nói là “làm lành chẳng có ư nghĩa ǵ?” Nếu sợ ác nghiệp kết thành quả, chỉ có một cách là đoạn Hoặc. Xét theo đạo lư, những cách khác đều khó thể suông sẻ được!

 

          * Hỏi: Có lúc ư niệm dấy lên hai nghiệp thiện và ác, nhưng chẳng thật sự thực hiện, [như vậy th́] sẽ có nhân quả báo ứng hay chăng? Xin thầy chỉ dạy! (Khưu Hiệp Thuận hỏi)

         

Đáp: Khởi tâm động niệm là đă gieo hạt giống xuống đất. “Chẳng thực hiện” là không có tăng thượng duyên. Chẳng có duyên sẽ không sanh; không sanh, sẽ chẳng có quả. Nếu niệm niệm [nghĩ dến những điều thiện và ác ấy] chẳng ngừng, sẽ là tăng thượng duyên, tuy chẳng thực hiện, hễ duyên chín muồi [cái quả của những niệm ấy] bèn sanh. Tốt nhất là hễ niệm dấy lên bèn giác, tức là chẳng để cho nó tiếp tục th́ sẽ thanh tịnh.

 

          * Hỏi: “Thời thế tạo anh hùng”. H́nh thế xă hội, văn hóa cao hay thấp, cùng với những sự kiện ngẫu nhiên, đều có thể tạo thành cái quả bất đồng. V́ thế, nhân quả hoàn toàn chẳng đơn thuần như thế. (Trương Ngân Phú hỏi)

 

          Đáp: Câu hỏi này chẳng có trọng tâm. Xét theo ngữ khí, dường như là coi nhân quả được nói trong Phật học và nhân quả như thế tục đă nói là cá mè một lứa! Nhân quả [trong Phật học và thế gian] tuy không có ǵ là chẳng nhất trí, nhưng đích xác là có mức độ sâu hay cạn khác nhau. Nay tôi dùng Toán Học để làm thí dụ. Hai phép tính Cộng và Trừ, và phép tính vi tích phân là cùng một chuyện, nhưng sâu hay cạn khác nhau! Nếu chẳng hiểu Nhân Minh Học, Duyên Sanh Luận, “tùy duyên bất biến”, Bách Pháp Minh Môn, Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên v.v... sẽ chẳng có cách nào bàn luận nhân quả cặn kẽ được! Chỉ biết thiện ác hiện báo trước mắt, [sẽ thấy nhân quả] đúng là đơn thuần vậy!

 

          * Hỏi: Do t́nh h́nh trên đây, nhằm để chứng tỏ định luật và quy tắc biến hóa trong xă hội, văn hóa, lịch sử v.v... luật nhân quả phải nên từ tánh chất cá nhân suy rộng đến đoàn thể. (Trương Ngân Phú hỏi)

 

          Đáp: “Nhân quả không chỉ từ cá nhân mở rộng đến đoàn thể”. Nhân quả hết sức phức tạp, khó nói. Có tự nghiệp (nghiệp của riêng ḿnh), có cộng nghiệp, có nhân duyên theo chiều dọc như xét theo thời gian ba đời, có nhân duyên theo chiều ngang như không gian mười phương. Ḷng nhân của vua Nghiêu, sự tàn bạo của vua Kiệt, ảnh hưởng chính trị về sau... Đó là nhân duyên ba đời. Vết đen trên mặt trời ảnh hưởng tới sóng điện trên địa cầu. Đấy chính là nhân duyên trong mười phương vậy!

 

          * Hỏi: Hiện thời, tại gia cư sĩ dùng chiêu bài nhà Phật nhận lời mời cúng kiếng, niệm kinh kiếm tiền ḥng nuôi sống gia đ́nh. Như vậy th́ sẽ có hậu quả như thế nào? (Bổn Như hỏi)

 

          Đáp: Người xuất gia làm chuyện kinh sám c̣n bị cổ đức quở trách, huống hồ kẻ tại gia buôn bán Phật pháp, hết sức chẳng nên!

 

* Hỏi: Sách Nhân Quả nói “có hai người sư huynh và sư đệ, giữa đường thấy một con chuột chết. Người thứ nhất trông thấy bèn chán ghét, nhổ nước miếng, dùng gậy chống hất tung nó đi. Người kia trông thấy bèn phát tâm từ bi, thương xót nó, vùi lấp cẩn thận, niệm Phật, niệm chú cầu siêu độ cho nó. Về sau, hồn con chuột ấy quả nhiên siêu thăng, chuyển thế làm cô con gái nhà nông. Có một hôm, hai người sư huynh, sư đệ ấy do đi hóa duyên, đường xa đói khát, thấy đằng xa có một nhà nông dân. Vị sa-di từng chán ghét con chuột khi xưa hướng về cô ta hóa duyên, bị cô ta cự tuyệt, lại c̣n chửi bới. Vị sa-di đă mai táng con chuột hướng về cô ta hóa duyên th́ được hoan nghênh, đối với hết thảy mọi vật đều chọn thứ tốt nhất. Lại c̣n cung kính sửa soạn thức ăn chay cúng dường vị ấy, chẳng khác ǵ gặp được một vị đại ân nhân”. Xác chết của con chuột ấy c̣n có thể cảm ứng như vậy, huống là có thể kiêng giết, phóng sanh ư? Xét theo đó, có phải là hồn con chuột đă chết c̣n ở lại trong thi thể hay không? Nếu không, do đă đầu thai vào nơi khác, làm sao có thể có sự cảm ứng như vậy được? Tục ngữ lại có câu: “Sống chẳng biết hồn, chết chẳng biết thây”. Xác con chuột đă chết ấy chẳng có lẽ nào cảm ứng được! Lại nữa, bất luận sách vở thế tục hay kinh điển nhà Phật đều nói xương khô có linh hồn. Hiện thời, thế tục đối với chuyện xương khô có linh hồn, có rất nhiều chứng cứ xác đáng, chẳng biết lư nào là đúng, lư nào là sai? Kính xin chỉ dạy. (Dịch Cao Trụ hỏi)

         

Đáp: Hai chữ “nhân quả” nghe th́ dường như đơn giản, lư thật sự phức tạp. Chẳng đắc Định và thần thông, chẳng có cách nào biết tường tận! Nhưng có thể tin và không thể tin sai khác. Tiểu thuyết hoặc bút kư trong thế gian th́ có thể thuộc vào loại có thể tin hay không thể tin, chứ những điều ghi chép trong kinh luận nhà Phật, chẳng thể ngờ vực được! Tuy tin chuyện ấy, nhưng đối với lư th́ phàm phu chẳng thể nói [rành mạch] được. Đối với câu hỏi mà ông đă nêu, kẻ hèn này chẳng dám chơ mồm vào! Nếu cầu [nhận biết bằng] Tỷ Lượng, sẽ hiểu đại khái phảng phất. Theo Phật lư, không gian chẳng có rộng hẹp, thời gian chẳng có xưa nay. Đối với chuyện như ông đă nêu, tuy đă trải qua luân hồi, nhưng khí phận trái nghịch hay thuận thảo vẫn như trong một cái khảy ngón tay! Hễ trái nghịch th́ gặp gỡ sẽ chống trái nhau, hễ thuận thảo th́ gặp gỡ sẽ ḥa hợp. Đấy chính là sự cảm ứng giữa đôi bên khiến thành ra như vậy, chẳng bắt buộc hai bên có biết hay là không! Tôi nghĩ có thể dùng hai chuyện để tham khảo: Tăng Tử đi ra ngoài, mẹ ông ta cắn ngón tay, Tăng Tử liền cảm thấy đau ḷng. Đó là một lẽ khí phận tương cảm vậy. Người giết chó tuy đă cách mấy giờ, đến chỗ chúng nó, lũ chó nếu gặp người ấy ắt sẽ vây quanh sủa ầm ĩ. Đó là thí dụ thứ hai về khí phận tương cảm vậy!

 

* Hỏi: Phật giáo lấy chuyện cứu người giúp đời làm mục đích như vậy, cớ sao lịch đại cao tăng, ngay như Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, v́ lẽ nào ĺa bỏ hồng trần, vào chốn núi sâu tu khổ hạnh? Đấy chẳng khác nào trốn tránh hiện thực, chỉ nghĩ đến phước lạc cá nhân mà thôi? (Âu Thúy Vân hỏi)

 

Đáp: Trong lúc cầu học, ẩn cư chốn núi sâu, cảnh tĩnh, tâm định th́ mới có thể nghiên cứu, cầu học. Thư viện của Nho gia Trung Hoa phần nhiều ở trong núi. Viện chánh trong [hệ thống đ́nh viện của thư viện ấy] được gọi là “sơn trưởng” (山長, núi chánh). Ở trong núi chẳng phải là để cầu phước lạc! Đức Phật sống trong núi sâu, chỉ trải qua sáu năm; sau khi chứng đạo, Ngài đi khắp mọi nơi, mở hội giáo hóa độ chúng sanh suốt bốn mươi chín năm, thuyết pháp hơn ba trăm hội, Tam Tạng kinh điển mênh mông lưu truyền trong cơi đời, giáo pháp lưu truyền gần ba ngàn năm, những kẻ được cứu dẫu dùng hằng sa khó thể tính kể! Hóa thân vô lượng vô biên, trọn khắp thế giới, vĩnh hằng độ chúng sanh, sao lại bảo là trốn tránh hiện thực?

 

* Hỏi: Huống chi Phật giáo lại dùng hoa sen làm biểu tượng. Đă dùng hoa sen làm biểu tượng, v́ sao bỏ hồng trần, xa ĺa đời ác ngũ trược, đấy chẳng phải là giống như rời khỏi bùn nhơ ư? Đă ĺa khỏi bùn nhơ, lại làm sao có thể tu thành một đóa hoa sen thanh tịnh cho được? (Âu Thúy Vân hỏi)

 

          Đáp: Ư nghĩa được bao hàm trong hoa sen rất nhiều; chẳng đọc kinh Phật, có nói cũng chẳng hiểu! Nay tôi lấy một nghĩa đơn giản để thưa tŕnh: Hoa ấy mọc từ bùn nhơ mà chẳng nhuốm bẩn, vượt thẳng lên không trung, biểu thị hành giả học Phật vào trong đời ô trược rộng độ chúng sanh, nhưng bản thân chẳng tham danh lợi, chẳnh tránh né gian khổ, như hoa sen chẳng nhiễm mảy trần, tâm thanh tịnh, chánh trực. Đấy chẳng qua là nương vào vật để tỷ dụ sự, khiến cho người ta ngộ ư nghĩa: “Chẳng vào trong đời trược, chẳng thể độ chúng sanh. Chưa thể độ chúng sanh mà vào [trong đời trược], sẽ cùng bị ô trược, sẽ chẳng phải là thanh tịnh, chánh trực!”

 

* Hỏi: V́ sao Phật giáo chẳng thừa nhận con người do Thượng Đế sáng tạo? (Âu Thúy Vân hỏi)

 

          Đáp: Lời Phật dạy đều là chân ngữ, thật ngữ, bất cuống ngữ (lời chẳng lường gạt), bất vọng ngữ (lời chẳng dối trá). Con người chẳng phải là do Thượng Đế sáng tạo, các nhà khoa học và triết học Âu Mỹ đều nói như thế! Bất quá, lời Phật dạy là nguyên lư, Ngài nói: “Các pháp chẳng có chỗ đến, mà cũng chẳng có tác giả”, chưa hề nói tới chuyện Thượng Đế tạo ra con người. Quư nữ sĩ đối với Phật học vẫn chưa vào được cửa. Nếu chẳng có thành kiến tôn giáo khác, xin hăy đọc trước mấy tập sách nhỏ về Phật học, khi bàn luận sẽ đỡ hiểu lầm!

 

          * Hỏi: Đệ tử đối với người chẳng tin nhân quả giải đáp như thế này: “Tin và không tin, hễ tạo tội, sẽ phải chịu báo ứng giống hệt như nhau, chẳng có sai biệt! Chẳng qua, kẻ không tin nhân quả, khi thọ ác báo, sẽ chẳng biết là do tạo tội mà cảm vời [quả báo] ấy đó thôi! Nếu có người gặp phải tai họa, th́ bảo là do chưa ngăn ngừa kỹ càng mà ra. Thật ra, chủng tử tội ác ở trong tâm dấy lên hiện hành, che lấp trí huệ. V́ thế, [điều đó sẽ khiến cho người ấy] ngăn ngừa chẳng kỹ càng, nên mới gặp phải tai họa ấy”. Giải thích như vậy có được hay không? (Tiên Thuần Hiền hỏi)

         

          Đáp: Lời ấy chẳng chặt, chẳng lỏng, vẫn là đắc thể. Tuy nói như vậy, nhưng khí phận của kẻ đối diện như thế nào, bẩm thụ tánh chất như thế nào, cũng nên quan sát. Kinh Phật đều là thật ngữ, chân ngữ, có bao giờ chẳng phổ ấn (普印, in trọn khắp) tâm con người? Bởi lẽ, [chúng sanh trong] Nam Diêm Phù Đề ương bướng, khó giáo hóa. Huống chi, hiện thời tà thuyết lừng lẫy, quở Phật, chửi Tổ, lăng nhục thánh, dối trời, nếu chẳng dùng Tứ Nhiếp Pháp, chẳng biết thiện xảo, thường là người ta chẳng tiếp nhận!

 

          * Hỏi: Thiên Lư Nhân trong sách Luận Ngữ có nói: “Phú dữ quư, thị nhân chi sở dục dă. Bất dĩ kỳ đạo đắc chi, bất xử dă. Bần dữ tiện, thị nhân chi sở ố dă. Bất dĩ kỳ đạo đắc chi, bất khử dă” (Giàu và sang là điều con người mong muốn, chẳng thấu hiểu đạo lư v́ sao đạt được, sẽ chẳng thể an trụ trong ấy được. Nghèo và hèn là điều con người ghét bỏ, chẳng hiểu đạo lư v́ sao gặp cảnh ấy, sẽ chẳng thể trừ bỏ nó được). Đoạn này từ câu “phú dữ quư” cho đến “bất xử dă” là chuyện thứ nhất. Từ “bần dữ tiện” cho đến “bất khử dă” là chuyện thứ hai. Phú và quư là điều ai nấy đều ưa thích, bần và tiện (nghèo và hèn) là chuyện ai nấy chán ghét, gạt bỏ c̣n chẳng kịp, v́ sao c̣n có “bất dĩ kỳ đạo đắc chi”? Nếu như đổi chữ “đắc” () thành chữ “khử” (), xét theo ngữ cảnh, có phải là càng phù hợp hơn không? Xin thầy hăy giải thích! (Ngô Vinh Tân hỏi)

 

          Đáp: Đoạn kinh văn này vốn nói đến hai chuyện. Do ông chẳng nghi ngờ điều thứ nhất, nên tôi để lại đó, chẳng nói tới. Nay tôi chuyên bàn về điều thứ hai. “Đạo” là lư của sự. Đoạn văn thứ hai nhằm dạy người ta vâng giữ điều chánh đáng, sửa lỗi. Chánh đáng và lỗi lầm chính là hành vi của chính ḿnh, chúng chính là nhân. “Phú, quư, bần, tiện” là sự cảm ứng chuốc lấy, chính là quả. Sau khi đă có cái quả, ắt phải t́m cái nhân ḥng quyết định giữ ǵn hay sửa đổi [cái nhân] th́ mới là bậc thánh hiền. Nếu hiện thời bần tiện, hăy phản tỉnh chính ḿnh có lắm lỗi lầm, cho nên theo đúng lẽ, đáng phải gặp quả báo như thế, hăy nên gấp sửa đổi cái nhân, th́ cái quả bần tiện sẽ tự mất. Nếu phản tỉnh, nhận thấy những ǵ ḿnh đă làm đều chánh đáng, bỗng gặp cảnh bần tiện, hoàn toàn chẳng phải là đáng nên như vậy, quyết chẳng thay đổi cái hạnh trong sạch, để cầu trừ bỏ bần tiện. Kinh văn hàm súc, uyển chuyển, nhưng cách dùng từ đơn giản, trọng yếu, văn hào các đời c̣n chưa dám sửa một chữ, huống hồ bọn ta ư?

 

          * Hỏi: Thường có bậc cao tăng v́ người đă chết sám hối nghiệp chướng. Nếu tự tâm người [đă chết] ấy chẳng hối, nói theo luật nhân quả sẽ là “tự làm, tự chịu”, người khác chẳng làm thế nào được! Làm sao có thể tiêu trừ nghiệp chướng thay cho người đă khuất được? (Ngô Bích Hà hỏi)

 

          Đáp: Tự tâm chẳng sám, hiệu lực nhỏ nhoi, nhưng chẳng phải là vô ích. Giống như trải qua một lần cảm nhận vậy! Ở đây, tôi lập một thí dụ: Vải vốn chẳng có mùi thơm. Thoạt đầu, dùng hương liệu để xông. Làm xong, có thể là vải vẫn chẳng có mùi ǵ! Nếu có thể xông lâu ngày, sẽ có thể nhiễm mùi thơm. Lại lập một thí dụ khác, tảng đá ch́m sâu trong đất, đẩy một lần chẳng nhúc nhích. Hằng ngày đẩy măi, ắt sẽ có thể dời khỏi chỗ ban đầu một khoảng. Vải nhuốm mùi thơm, đá cách đất một kẽ hở, có thể sánh ví kẻ chẳng sám hối (sẽ dần dần) học sám hối theo, nhưng sức hồi hướng cũng là tăng thượng duyên.

 

          * Hỏi: Có người hỏi: “Phật học có một câu là ‘định nghiệp chẳng thể chuyển’. Lại có hai câu, ‘tâm có thể tạo nghiệp, tâm có thể chuyển nghiệp’. Nh́n đối chiếu hai điều ấy, há chẳng phải là mâu thuẫn hay sao?” (Triệu Lệ Lượng hỏi)

         

Đáp: Trước hết, tôi nói thí dụ để ông có thể hiểu lư này. Có kẻ trồng dưa, trước hết là rải hạt, lại tưới tắm, [hạt dưa] nẩy mầm dưới đất, thân dưa trồi lên mặt đất, dần dần trổ hoa, sau đấy kết quả. Gieo hạt như tạo nghiệp nhân, tưới tắm như duyên phụ trợ nghiệp, nẩy mầm, đâm nhánh chính là nghiệp lực tăng trưởng. Đơm hoa là nghiệp lực sắp thành. Kết quả là nghiệp lực đă thành. Định nghiệp khai hoa, kết quả. Đă thành hoa, quả, chẳng thể khiến cho nó chuyển biến thành thân và mầm được! Đấy chính là “định nghiệp chẳng thể chuyển”. Nếu trong lúc nẩy mầm, đâm tược, bèn chấm dứt sự tưới tắm, tức là đoạn trợ duyên, nó sẽ chẳng thể trổ hoa, kết quả. Lâu dần, gốc cũng khô héo. Đấy là lư “chuyển nghiệp”. “Chuyển nghiệp” là chuyển cái nghiệp duyên chưa chín muồi, chẳng thể khiến cho cái quả đă chín muồi lại chuyển hóa thành cái nhân chưa chín muồi được! Hai đằng chẳng mâu thuẫn nhau!

 

* Hỏi: Nhà Phật nói “nhân duyên”“luân hồi”. Chánh báo và y báo của mỗi cá nhân trong đời sau vốn do cái nhân đă tạo trong đời này quyết định. Có phải là có một lực lượng phán quyết một cá nhân sẽ đi vào đường nào hay không? Giống như quan ṭa xét hành vi của một người để quyết định kẻ ấy đáng nên bị trừng phạt như thế nào! (Hồng Tương Bân hỏi)

 

Đáp: Sức mạnh phán quyết xác thực là vô ngại. “Sức mạnh” là nói đến sức của thiện nghiệp hay ác nghiệp. Khi dấy lên tác dụng, sẽ gọi là “lực”. Lực ấy to, nhỏ, mạnh, yếu, nhiều, ít, sẽ gọi là “lượng”. Nghiệp lực muôn vàn sai khác, số lượng cũng muôn vàn sai khác. T́nh h́nh đă phức tạp, lại càng phức tạp hơn. Nhân, duyên, quả v.v... mỗi thứ đều có lực lượng của nó, giao xen lẫn nhau, dấy lên tác dụng. Khi chúng giao xen, lại sanh ra sự biến hóa giao xen. “Phán quyết” là nghiệp nhân có đủ mọi sức, đủ mọi số lượng, đủ mọi thứ giao xen, biến hóa đủ mọi lẽ, nhân và duyên mỗi thứ đều có sức mạnh phân minh. Đấy gọi là “phán”. Khi kết thành quả, lực lượng chín muồi, chẳng thể thay đổi, đó gọi là “quyết”. Sự phán quyết của quan ṭa c̣n có thể thay đổi, chứ sự phán quyết của nhân quả chẳng thể thay đổi!

 

* Hỏi: Đức Phật nói định luật nhân quả chẳng sai suyển mảy may. Phóng tầm mắt nh́n khắp nhân gian, [sẽ thấy] kẻ tiểu nhân đắc ư, người tu hành phần nhiều trắc trở. Rốt cuộc nhân quả có tánh chất đáng tin cậy được bao nhiêu? (Lâm Tâm Tấn hỏi)

 

Đáp: Vấn đề này ai nấy đều đă từng nghe, đều có thể nhắc đến, nhưng toàn là bộp chộp nuốt trộng cả quả táo mà thôi! Nói theo Sự, nói theo Lư, rất khó nói! Dẫu là thất phu, thất phụ, thường nghe, thường nói, nhưng nói đến chỗ tột cùng th́ thánh nhân cũng chẳng thể nói tường tận! Đó gọi là “ngữ đại, thiên hạ mạc năng tải yên; ngữ tiểu, thiên hạ mạc năng phá yên” (nói đến lớn th́ cả thiên hạ cũng chẳng thể chứa đựng được, nói đến nhỏ th́ cái nhỏ nhất trong thiên hạ cũng chẳng thể nhỏ hơn được nữa). Kinh Phật Tam Tạng mười hai bộ loại, có chỗ nào chẳng là nhân quả? Mười ba kinh [của Nho gia], hai mươi bốn bộ sử trong thế gian, có loại nào chẳng phải là nhân quả? Lắng ḷng quan sát, [sẽ thấy trong số những] người học Phật, kẻ khoác áo ca-sa đánh mất thân người số đến bao nhiêu? Kẻ học Nho th́ Vương Măng soán ngôi nhà Hán, Tào Tháo bức hiếp vua, Tần Cối bán nước v.v... lại được bao nhiêu người? Kinh sử chói ngời, sự thật rành rành, nhân quả đáng tin cậy, kẻ thấy biết hẹp ḥi tự mê muội. Thật ra, biết được Sự ấy, Lư ấy rất khó. Chỉ có bậc thượng là chẳng thể nói, nhưng biết thấu triệt. Bậc trung nửa tin, nửa ngờ, có phần kiêng sợ. Bậc hạ th́ do chẳng thông hiểu mảy may, cho nên phóng túng, chẳng kiêng dè!

 

* Hỏi: Từng nghe: Muốn cầu trường thọ, ắt trước hết phải thực hiện công đức phóng sanh, nhưng canh tác lúa nước, nếu chẳng gấp trừ khử những loài trùng làm hại ngũ cốc, sẽ là cày cấy mà chẳng có thâu hoạch, đâm ra làm hại lúa thóc của láng giềng bốn phía đều bị trùng ăn sạch, chuốc lấy phiền năo vô cùng. Há chẳng phải là cầu nhân quả ngược ngạo? Khẩn thiết xin thầy dạy phương pháp quyền biến phương tiện ḥng dứt phiền năo, cảm đức khôn ngằn! (Lâm Tâm Tấn hỏi)

 

Đáp: Thọ sanh trong Sa Bà, trừ những vị Bồ Tát nương theo nguyện lực đến hóa độ ra, những kẻ c̣n lại đều đến để thọ quả! Súc sanh là huyết đồ, chẳng tránh khỏi chết thảm. Người sanh trong [cơi Sa Bà] v́ cuộc sống mà tạo nghiệp, lại tạo thành nỗi oán ba đời. Nếu hiểu lư “đẳng lưu quả”[9], sẽ càng thêm dè dặt. Thọ khổ báo là ác quả; chẳng thể gieo thiện nhân th́ cũng là ác quả báo. Ắt càng thêm phản tỉnh mạnh mẽ, để cầu pháp thiện xảo ḥng tránh né cái nhân ác, viên thành cái nhân lành. Chỉ có thể chọn điều có thể tránh né để tránh. Đối với những điều chẳng thể tránh th́ đành thuận theo. Nhân quả là như thế, kẻ hèn này cũng chẳng có cách nào!

 

* Hỏi: Tôn giả Mục Liên và tiền thân của ngài Địa Tạng Bồ Tát là cô Quang Mục, đều cùng v́ ḷng hiếu thuận mà cứu vớt mẹ. V́ sao tôn giả Mục Liên cứu mẹ cần phải cậy vào sức cúng dường chúng Tăng trong ngày Rằm tháng Bảy, c̣n cô Quang Mục chỉ do phát đại nguyện, mẹ liền thoát tội? Đạo lư trong ấy là ở chỗ nào? Xin hăy chỉ rơ. (Trịnh Mạnh Tinh hỏi)

 

Đáp: Đối với nghiệp đă tạo, có khi là Sự giống nhau, nhưng Lư khác nhau. Có khi là Lư giống nhau, Sự khác nhau. Nhân sâu hay cạn, duyên nhiều hay ít, dị thục[10] nặng hay nhẹ. Hoặc là thoạt đầu lành, sau là ác, thoạt đầu là ác sau là lành, cũng như thiện ác xen lẫn, hoặc là thiện lớn, ác nhỏ, hoặc là thiện nhỏ, ác lớn, cùng với thiện ác cân bằng, thuần thiện, thuần ác, hoặc hữu tâm, hay vô tâm, hoặc ngẫu nhiên, hoặc liên tục, hoặc cải hối, hoặc chẳng ăn năn v.v... muôn ngàn sai khác, nói chẳng cùng tận! Nhân duyên phức tạp như thế, kết quả há có thể nhất loạt như nhau ư? Đối với câu hỏi của cư sĩ, hăy nên suy nghĩ những điều vừa nêu trên đây. Nếu có thể hiểu đôi chút về sáu nhân, năm quả[11], th́ đối với loại vấn đề như thế này cũng có thể hiểu được sơ lược mấy phần.

 

* Hỏi: Chúng sanh trong lục đạo sanh tử không ngừng. Mỗi cá nhân sau khi chết đi, ắt sẽ phải bị Diêm La Vương chi phối, đúng không? Hay là do nghiệp lực của chính ḿnh dẫn dắt đi đầu thai? Nếu như mỗi cá nhân đều bị Diêm Vương chi phối, do quốc độ này, quốc độ khác, chúng sanh vô lượng vô số, làm sao Diêm Vương có thể lo liệu vẹn toàn? Nếu là do nghiệp lực của chính ḿnh dẫn dắt, há chẳng phải là Diêm Vương thừa thăi ư? (Đồng Thụy Châu hỏi)

 

Đáp: Nghiệp do tâm tạo, Diêm Vương cũng do tâm hiện. Không có tâm, chẳng tạo nghiệp. Chẳng có nghiệp, chẳng hiện ra Diêm Vương. Nghiệp lực vô lượng, Diêm Vương cũng là vô số. Đă là tâm tạo nghiệp, Diêm Vương chẳng phải là thừa thăi!

 

* Hỏi: Kinh Luật Dị Tướng, quyển bốn mươi bốn chép: “Thọ trai cho đến khi chánh ngọ. Sau chánh ngọ, chẳng ăn một vật ǵ. Nếu ăn, sẽ gọi là bán trai. Bán trai có cùng ư nghĩa với phá trai” ̣ Phá trai vẫn được sanh lên tầng trời thứ chín! Dùng vấn đề này để suy ra, chúng tôi liên tưởng đến khá nhiều nghi vấn giống như [nghi vấn] đối với chuyện sanh lên cơi trời thứ chín. Xin hỏi: Nếu như tôi tŕ bán trai, những chuyện khác đều như một trang giấy trắng, đương nhiên là sanh lên tầng trời thứ chín. Trong rất nhiều kinh, đối với chuyện hành cái nhân lành nào mà được thăng lên cơi Phật nào, đều ghi chép rất nhiều. Nếu lấy tôi làm thí dụ, chẳng cần trừ bỏ ác nghiệp ăn nói bậy bạ, nếu trước khi tôi nhập diệt, có thể làm được hai thứ nhân lành hoặc từ hai thứ nhân lành trở lên, tôi sẽ sanh lên tầng trời thứ chín như trong phần trên đă nói, hoặc là tăng thêm hơn, cũng có thể chọn tầng cao nhất trong đó. Nếu có thể tăng cao hơn th́ cách tăng cao sẽ là như thế nào? Vấn đề này là do mấy hôm trước, khi tôi cùng đồng tu đọc và nghiên cứu Đại Bi Tâm Xuất Tượng Đà La Ni Kinh bèn tự ḿnh cảm thấy khá mâu thuẫn! Kinh chép Quán Thế Âm Bồ Tát bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Nếu các chúng sanh tụng thần chú Đại Bi này, khi lâm chung, mười phương chư Phật đều đến x̣e tay [tiếp dẫn]. Muốn sanh về cơi Phật nào, Phật nói: Tùy nguyện đều có thể văng sanh. Lại bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Nếu các chúng sanh tŕ tụng thần chú Đại Bi đọa vào tam ác đạo, hoặc có ai chẳng được vô lượng tam-muội biện tài, hoặc có ai chẳng sanh về cơi nước của chư Phật, tôi thề chẳng thành Chánh Giác. Xin lấy hai đoạn trên đây để làm tiêu biểu, vẫn mong thầy nói rơ cách nh́n cá nhân, cũng như [nêu rơ] kinh điển làm căn cứ và xuất xứ của kinh điển [dùng làm căn cứ cho cách nh́n ấy]. (Thí Chấn Huy hỏi)

 

Đáp: Trước khi giải đáp, tôi phải thưa rơ, cư sĩ rộng ḷng hỏi tới tuy nói có bốn điều, nhưng thật ra, trong mỗi điều, lại chia thành mấy đoạn, ắt phải chia thành từng đoạn để giải thích th́ lời lẽ mới rơ ràng. Nay tôi tuân theo cách này để trả lời.

Điều này chia thành bốn phần:

1) Phàm để thành tựu một chuyện, tâm đóng vai tṛ chủ lực. Nhà Phật gọi phát tâm là “thệ nguyện”, nhà Nho bảo là “lập chí”. Nguyện và chí ấy quán triệt bất biến th́ điều mong mỏi đạt tới mới có thể thành tựu. Xét trong trăm ngàn vạn người, người luôn có tinh thần tiến tới th́ ít, kẻ lười nhác thoái chuyển th́ nhiều. V́ thế, có câu ngạn ngữ “thủ pháp hồ thượng, cẩn đắc hồ trung” (chọn lấy pháp bậc thượng, mà chỉ đắc pháp bậc trung). “Trai thực” (Thọ trai trước Ngọ, chẳng ăn phi thời) chính là một pháp trong Bát Quan Trai Giới, là giới xuất thế. Phá trai mà được sanh lên tầng trời thứ chín, đấy chính là cái quả đọa lạc, chẳng phải là thành tựu [sẽ đạt được do nghiêm tŕ Bát Quan Trai Giới]! Tức là “giữ lấy pháp bậc thượng, chỉ đạt được chuyện thuộc bậc trung!”

2) Người đời tuy nghe những lời lẽ nhân quả, nhưng kẻ hiểu lư ấy, trong ngàn người chưa được một kẻ! Đối với lư nhân quả, ắt phải hiểu pháp “duyên sanh”. Kinh dạy: “Vạn pháp do nhân duyên sanh”. Lại nói: “Chẳng có duyên th́ không sanh”. Tức là từ nhân cho tới kết quả, cần phải cậy vào nhiều duyên. Như hạt giống của thực vật cho đến lúc kết quả, ắt phải cậy vào đất đai, ánh sáng mặt trời, không khí, nước v.v... C̣n có phân bón và khí hậu làm tăng thượng duyên. Hoặc loài trùng có hại và những thứ vùi dập làm duyên tổn giảm. Hạt giống ấy kết quả, hoặc chẳng kết quả, hết sức phức tạp, đều khó thể định trước. Suy nghĩ tỷ dụ ấy, sẽ có thể liễu giải: Nhân quả cũng giống như thế! Cư sĩ muốn sanh lên tầng trời thứ chín, nhưng nghiệp nơi thân, miệng, ư nếu có thể thường hằng tương ứng với tầng trời thứ chín, sẽ có thể đạt được. Nếu không, chẳng thể được như hy vọng. Lại nữa, làm lành từ hai thứ trở lên, có thể nói “lũy gia” (càng tăng thêm hơn), nhưng loại thứ nhất là bao nhiêu phần, loại thứ hai là bao nhiêu phần. Đối với con số ấy, cần phải luận định thành phần. Chẳng thể chỉ tăng thêm mấy lượt! Lại nữa, cố nhiên là thân, khẩu, ư nghiệp phải tương ứng với tầng trời thứ chín. Nếu có một nghiệp chẳng tương ứng, há chẳng phải là càng giảm thêm ư?

3) Để quả ấy được thành tựu, ắt phải cậy vào cái nhân trước. Để nhân được tăng tấn, ắt phải cậy vào duyên để dấy lên. Ba thứ ấy (nhân, duyên, quả) chẳng thể khuyết một. Có nhân lại có thêm duyên, sẽ đạt được quả, quyết chẳng hư dối. Nay có nhiều người tŕ chú, niệm Phật chẳng thành tựu, là do tu chẳng đúng pháp, hoặc chẳng thành tâm, hoặc nửa chừng bỏ dở, hoặc chẳng chuyên nhất. Đấy là cội rễ của nhân chẳng sâu, duyên phận chẳng tăng, hoàn toàn chẳng tương ứng với pháp. Lời kinh dạy há có ǵ đáng nghi?

4) Nghiên cứu Phật pháp, có một nguyên tắc “y pháp, bất y nhân”, “ĺa kinh một câu, sẽ là ma thuyết”. Kẻ hèn này chỉ nương theo giáo để Văn Tư Tu, hoàn toàn chẳng có cách nh́n cá nhân!

 

          * Hỏi: Trong xă hội công nghiệp hiện thời, nẩy sanh rất nhiều “chứng bệnh thần kinh hoặc tinh thần”, chẳng hạn như các trạng huống bồn chồn, uất ức, hoài nghi, ăn mất ngon, ngủ không yên v.v... chịu khổ sở sâu xa. Kiểm tra thân thể th́ hoàn toàn chẳng thấy có bệnh tật ǵ về mặt sinh lư. Đó là nhân quả ǵ? (Hà Thân Cận hỏi)

 

Đáp: Để hiểu rơ nhân quả, cần phải thông suốt ba đời. Người đắc Túc Mạng Thông th́ mới có thể thấu đạt chuyện ấy. Quan sát thông thường, chỉ có thể luận định cái quả, suy đoán cái lư của nhân mà thôi! Như kinh dạy: “Kẻ bần cùng là do cái nhân tham lam, keo kiệt. Đoản mạng và lắm bệnh là do cái nhân sát sanh”. Xét theo nguyên lư ấy, viện dẫn, loại suy[12], chẳng qua là nói đại lược, phảng phất, chẳng thể biết tường tận; nhưng quả cũng có viễn nhân (cái nhân xa) và cận nhân (cái nhân gần) sai khác. Gần đây, có nhiều người bị bệnh tinh thần th́ hoàn cảnh, tập nhiễm và tâm lư trong thời gần đây quả thật cũng có mối quan hệ to lớn.

 

* Hỏi: Đấy có phải là ác chủng tử trong tám thức điền đă chín muồi hay không? Hoặc là do mọi sự trong đời này đều chẳng vừa ư gây nên? (Hà Thân Cận hỏi)

 

Đáp: Chủng tử chính là nhân. Nhân chia thành xa và gần; quả cũng chia thành ba thời, tức hiện, sanh, hậu (quả ngay trong đời này, quả trong đời kế tiếp và quả trong đời sau nữa). Do chia thành ba thời, lại do bốn duyên[13] mạnh, yếu, thuần, tạp, t́nh h́nh hết sức chẳng đơn giản. Đối với người chẳng học duyên sanh luận, chẳng có cách nào bằng vài câu mà có thể khiến cho [người ấy] hiểu rơ được. Nhưng muốn chuyển biến hoàn cảnh, tuy chẳng thể thông hiểu Phật lư sâu xa, cũng có thể làm được, chỉ cần chịu thống thiết sám hối, cắn răng kiên quyết, thề chẳng làm các điều ác nữa, gắng sức vâng làm các điều thiện, chân tâm thành ư, sẽ có thể từng bước tiến tới quang minh!

 

* Hỏi: Học tṛ mong trở thành một xí nghiệp gia, ḥng thành tựu trong đời này, hoằng tuyên đại pháp. Ngày sau, đối với danh lợi, đối với phú quư, sẽ lấy, hay bỏ, là tranh giành, hay nhường nhịn, cảm thấy rất do dự. Như ngài Duy Ma Cật thị hiện phú quư, như Thích Ca Mâu Ni Phật thị hiện xả phú quư. Học tṛ chẳng hiểu rơ nhân duyên trong đời này, lại v́ căn tánh ngu muội, nếu bỏ phú quư, tâm sanh hối hận, sẽ trái nghịch tấm ḷng ban đầu. Nếu giữ lấy sự phú quư, mà nếu chẳng có túc nhân, do t́nh thế, ắt sẽ phải tranh chấp với người khác, đâm ra kết thành ác duyên. Như thế nào th́ mới là tốt? (Khưu Bạch Hải hỏi)

 

Đáp: Cuộc sống của người tại gia hoàn toàn cậy vào kỹ năng để làm lụng, cống hiến cho xă hội, đáng nên đạt được sự đền đáp về mặt chánh báo. Đấy chính là sự ăn tiêu cậy vào sức của chính ḿnh, chẳng thương tổn đến phương diện liêm khiết! Nhưng mưu sinh bất quá nhằm trưởng dưỡng thân mạng mà thôi. Nếu sơ sót huệ mạng, tức là đă luống uổng một đời này! V́ thế, có câu: “Sáng nghe đạo, tối chết cũng được”. Ngoài việc mưu sinh ra, c̣n phải nên cầu đạo. Hai đằng đều chẳng thể ĺa, đó là chánh đáng. Cầu đạo mà không có cái nguồn để nuôi sống, sẽ chẳng thể cầu đạo được! Khuyên ông đối với kỹ năng làm việc, ắt cần phải đạt đến mười phần viên măn, đấy là chuyện có thể cầu. C̣n đối với chuyện phú quư, đó chính là phước báo. Chỉ có thể thuận theo nhân quả, chớ nên cưỡng cầu! [Cơ hội] đưa đến chẳng cần phải nhường; [cơ hội] mất đi, chẳng cần phải tranh, hăy nên biết: “Điều ǵ đạt được đột ngột th́ cũng sẽ đột ngột mất đi”. Kết quả là tới khi mạng chung chẳng đem theo [của cải] được, mầm móng tội nghiệp vẫn ràng buộc theo! Hăy suy nghĩ kỹ càng, khi có duyên, sẽ gặp mặt tṛ chuyện.

 

* Hỏi: Chúng tôi chỉ biết nhân quả ba đời là thật, nhưng chẳng hiểu lư luận đă dựa vào để thành lập [điều đó]. Có thể thỉnh thầy khai thị theo nghĩa rộng hay chăng? (Lữ Tấn Xuân hỏi)

 

Đáp: Mọi sự đều có một khoảng thời gian khởi đầu và kết thúc. Vạn duyên, vạn lư đă được chia thành các giai đoạn, tức là thời gian liên tục. Do thời gian liên tục, dùng lập trường hiện tại để luận định, sẽ có quá khứ và vị lai. Ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai, tự nhiên là không có khởi đầu, không có kết thúc, nhưng vạn sự vạn lư chẳng đoạn, chẳng thường, tùy duyên biến hóa. Hễ có một lần biến hóa bèn gọi là nhân quả trong một giai đoạn, cũng như mười hai nhân duyên lưu chuyển mà thôi!

 

* Hỏi: Trước đây, tôi và một số người đề xướng thành lập hội niệm Phật, từng bỏ chút công sức. Sau khi thành lập, trong ấy, có người ngang ngược độc chiếm hội ấy, mọi chuyện đều tự quyền chuyên chế. Do ư kiến chẳng hợp, tự rút lui khỏi hội. Người bất măn kẻ ấy chẳng phải chỉ có riêng tôi! Trước kia, vẫn c̣n giữ tên tuổi của tôi tại đó, gần đây, tên tuổi bị gạch bỏ. Lại nữa, hễ tôi giới thiệu người khác nhập hội, họ đều chẳng chấp thuận. Tôi nghĩ người niệm Phật mà đối đăi với người khác kiểu đó, khiến cho ḷng người nguội lạnh, phiền năo. Do vậy, công khóa mỗi ngày bị thoái chuyển rất lớn! Chẳng biết giải quyết như thế nào? Kẻ ấy làm như vậy, có nhân quả hay không? (Trần Thủ Duy hỏi)

 

Đáp: Hết thảy tụ tán đều có nhân duyên. Hợp th́ cùng nhau lo việc, chẳng hợp th́ theo đúng lư nên chia ĺa. Nếu chẳng hiểu lư này, uổng công tăng thêm phiền năo, hai đằng công và tư đều chẳng có lợi ích ǵ! Quư cư sĩ đă rút lui khỏi hội ấy, lại giới thiệu người khác gia nhập, tự nhiên sẽ khiến cho người ta ngờ vực. Chính ḿnh phạm lỗi chẳng biết tránh xa hiềm nghi! C̣n như ông nói “khiến cho ḷng người nguội lạnh, phiền muộn, công khóa mỗi ngày thoái chuyển rất lớn”, đúng là tâm đặt nơi hội ấy, [tức là tâm đặt] nơi chốn thị phi, chẳng đặt tại Tây Phương ḥng giải thoát sanh tử. Học Phật kiểu đó tức là chẳng có chánh kiến. C̣n như ông hỏi “có nhân quả hay không?” Ôi! Vạn pháp do nhân duyên sanh, chưa từng nghe hay sao? Đoạn ác nhân quả ấy, nghiệp đă kết thúc, hăy nên thanh tu ở nhà, đừng nên bận tâm đến kẻ ấy nữa!

 

* Hỏi: Cao tăng siêu độ người khác, người khác đắc độ. [Thế nhưng, luật nhân quả thường nói là] “tự làm, tự chịu”, mỗi người tự giải quyết. Nay người nọ tạo nghiệp, do đắc độ mà chưa phải thọ báo, vậy th́ nghiệp báo vốn có của người ấy ra sao? Người khác chẳng có cách nào chịu thay, cớ sao cao tăng lại độ được? Xin thầy khai thị cho đứa học tṛ ngu muội này. (Trần Thịnh Cảng hỏi)

 

Đáp: Vấn đề này tuy nói đơn giản, lư hết sức phức tạp! Chỉ nên nói đại lược, nếu nói tường tận, sợ sẽ chẳng thể lănh hội được.

1) Phật pháp chẳng thể nghĩ bàn. Lănh hội nghĩa lư, hành đúng pháp, sẽ hữu hiệu. Nếu không, vô hiệu! Pháp chẳng thể tự khởi tác dụng, ắt phải do “đúng pháp” và “chí thành” th́ mới có cảm ứng.

2) Tăng-già có nhiều loại, há dễ cầu được cao tăng? Chỉ cầu hai điều kiện giữ giới và thành tâm th́ sự (việc siêu độ) có thể hoàn thành. Lư ấy là do sức của Tăng-già thành tâm tu pháp, sức thành tâm sám hối của người được độ, lại được Phật lực gia bị, cho nên nghiệp có thể tiêu diệt. Nghiệp có thể tạo, cũng có thể chuyển. Có thể buộc chuông th́ cũng có thể tháo chuông. V́ ông, tôi sao lục một bài kệ xưa. Hăy suy nghĩ kỹ, sẽ có thể ngộ: “Tội nhược khởi thời, tương tâm sám. Tâm nhược vong thời, tội diệc vong. Tâm vong, tội diệt, lưỡng câu không. Thị tắc danh vi chân sám hối” (Tội do tâm khởi, dùng tâm sám. Khi tâm đă mất, tội cũng tiêu. Tội tiêu, tâm mất, thảy đều không. Đó mới gọi là chân sám hối). Hăy nên biết: Nếu người kia độ mà người này chẳng sám hối, nghiệp sẽ chẳng thể tiêu, báo vẫn phải thọ!

 

V. Tŕ Giới

 

          * Hỏi: Người thọ giới, khi vạn nhất phạm giới, phải dùng cách thức nào [để bổ khuyết]? (Trang Khánh Hiền hỏi)

 

          Đáp: Hướng về vị thầy truyền giới hoặc pháp sư để phát lộ sám hối, thiết tha xin thọ lại th́ mới nên!

 

          * Hỏi: Nói chuyện yêu đương th́ có coi là tà dâm hay không? (Dương Đức Vinh hỏi)

 

          Đáp: Kẻ chưa đính hôn, chuyên yêu đương một người, theo đúng lễ giáo t́m người phối ngẫu, chẳng lăng nhăng bừa băi, th́ pháp thế gian chấp thuận, cho nên chẳng gọi là “tà dâm”. Ngược lại, nếu vượt ngoài bốn điều vừa nói trên đây th́ chính là tà dâm.

 

          * Hỏi: Giải thích “khai, giá, tŕ, phạm” như thế nào? (Vương B́nh Lang hỏi)

 

          Đáp: Đấy là nói theo giới tướng. “Khai” () là cho phép dung thông. “Giá” () là cấm chỉ chẳng làm, thuộc loại giáo phương (phương diện răn dạy). “Tŕ” () là giữ ǵn đừng để mất. “Phạm” () là vi phạm chế định ấy, điều này thuộc loại hành phương (phương diện hành tŕ).

 

          * Hỏi: Có người nói tŕ giới th́ không thể ăn tỏi, hành, hẹ, có thật hay không? V́ sao cấm ăn? (Thí Vạn Tấn hỏi)

 

          Đáp: Hành, hẹ, kiệu, tỏi, hưng cừ là những thực vật có tánh chất hăng nồng, mùi vị hôi hám. Ăn vào, sẽ khiến cho thần trí của người ta tối tăm, lại c̣n có hại là sẽ sanh dâm, tăng giận. V́ thế, người tŕ giới tránh những thứ ấy.

 

* Hỏi: Trong Phật lư có câu nói: “[Do các động vật là] cha mẹ trong quá khứ, chớ nên ăn thịt chúng”. Do vậy, xét ra, chẳng lẽ ngay cả cưới vợ cũng chẳng nên ư? (V́ sợ cưới nhằm vợ là cha mẹ trong quá khứ). (Diệp Khánh Xuân hỏi)

 

          Đáp: Ăn thịt nhằm thỏa thích bụng miệng, là chuyện tham dục, vốn có thể tránh né, và có nhiều thứ khác có thể dùng để thay thế được. V́ thế, chẳng ngại hễ kiêng được th́ kiêng. Cưới vợ là để mong truyền ḍng nối giống, là luân thường trong cơi tục, là chuyện không thể tránh né. Do chưa thông suốt thánh pháp, cho nên ở trong cơi tục phải thuận theo thói tục vậy!

 

          * Hỏi: Ăn những thứ như trứng gà có phải cũng thuộc trong phạm vi chế định của giới hay không? (Lưu Trạch Trung hỏi)

 

          Đáp: Trứng gà từ bầy gà không có gà trống đẻ ra th́ không có sanh mạng, có thể tạm thời dung thông. Nếu không, sẽ là sát sanh. Trong trứng có cồ tức là do gà mái bị gà trống đạp mà đẻ ra.

 

          * Hỏi: Ngũ tịnh nhục là ǵ? V́ sao tín đồ nhà Phật có thể ăn? (Trần Vinh Tấn hỏi)

 

          Đáp: Năm thứ thịt do chẳng thấy giết, chẳng nghe tiếng giết chóc, không v́ ta mà giết, [con vật ấy] tự chết, thịt do chim ăn thừa lại, được gọi là “ngũ tịnh nhục”. Chúng sanh v́ bụng miệng tham dục, chẳng tiếc sức giết chúng, đó là hành vi tàn nhẫn! Nhưng do tập khí đă lâu, bèn coi như là chuyện đương nhiên. Nếu bảo họ đoạn ngay, có người chẳng thể làm được. Đức Phật lập ra phương pháp phương tiện này, trước hết là khiến cho cái tâm từ bi phát sanh. Lại từ nay trở đi, khiến cho [cái tâm từ bi] ấy dần dần tăng trưởng, tự có thể đạt đến chỗ chẳng ăn [thịt], cũng là nhằm đề cao ư nghĩa tự ty vậy!

 

          * Hỏi: Giết hại những loại động vật như rắn độc, trùng độc th́ có phạm giới hay không? (Chấn Bang hỏi)

 

          Đáp: Chúng không xâm phạm con người, cần ǵ phải hại chúng? Đă dấy lên sát tâm, lại c̣n giết chóc, chẳng phạm giới th́ là ǵ? Há chẳng nghe an trụ trong Thiền Định có thể chế ngự rồng độc, thuyết pháp có thể thuần phục cọp dữ ư? Nếu chẳng đủ sức, đối với những chúng sanh hung dữ, độc địa ấy, hăy nên đề pḥng, tránh né, xua đuổi chúng. Nếu cứ chấp trước “ắt phải giết chúng th́ mới là trừ hại rốt ráo”, vậy th́ kẻ đă thọ giới mà tà dâm, sao chẳng nhất loạt thiến sạch bộ phận sanh thực khí của họ đi, v́ đó là công cụ để tà dâm! Suy nghĩ chuyện ấy, sẽ hiểu rơ vậy.

         

* Hỏi: Ăn chay có thể uống sữa ḅ hay không? (Đỗ Tự Nhiên hỏi)

 

          Đáp: Có thể uống sữa ḅ v́ không sát sanh.

 

          * Hỏi: Có người hỏi: Đă thọ giới không sát sanh, có thể tạm thời ăn năm thứ tịnh nhục hay không? V́ mang trách nhiệm là người đứng đầu gia đ́nh, lại c̣n do buôn bán, phải giao tiếp với xă hội, [nên chuyện tiệc tùng] là bất đắc dĩ! (Chung Thiêm Đăng hỏi)

 

          Đáp: Có thể tạm ăn!

 

          * Hỏi: Có bệnh uống thuốc, nhưng trong thang thuốc có động vật, có phải là sát sanh hay không? (Đặng Huệ Tâm hỏi)

 

          Đáp: Nếu mới sát sanh để làm thuốc th́ không nên. Nếu như thuốc tích trữ trong tiệm đă lâu th́ có cùng ư nghĩa như ngũ tịnh nhục, lúc bất đắc dĩ, có thể phương tiện dung thông. Có thể phát tâm niệm Phật cho chúng nó, đâm ra sẽ có công đức.

 

          * Hỏi: Người tại gia tu hành th́ mức độ cao nhất là có thể thọ mấy giới? (Châu Huệ Đức hỏi)

         

Đáp: Bồ Tát Giới gồm mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh là tột bậc rồi!

 

          * Hỏi: Người thọ Ngũ Giới do bị bệnh th́ có thể uống rượu hay không? (Đặng Huệ Tâm hỏi)

 

          Đáp: Nếu là thuốc uống th́ có thể tạm dung thômg!

 

          * Hỏi: Chuyện thọ giới thoạt đầu là từ Ấn Độ, hay là từ trong nước khởi sự truyền trao? (Trang Khánh Hiền hỏi)

 

          Đáp: Phật Tạng có ba phần là Kinh, Luật, Luận. Luật là kinh văn về giới. Hơn nữa, Kinh và Luận có những chỗ nói tới giới cũng nhiều, như Lục Độ, Thi La Ba La Mật chính là những giới hiển nhiên nhất. Phật Tạng trước tiên xuất phát từ Ấn Độ, cho nên giới luật nhà Phật tự nhiên truyền từ Ấn Độ.

 

          * Hỏi: Nghe có một số người tin tưởng [Phật pháp] nói: “Người thọ giới nhất định phải ăn chay”, nhưng không ăn chay th́ có thể thọ giới hay không? (Trang Khánh Hiền hỏi)

 

          Đáp: Đă thọ giới “không sát sanh”, cố nhiên chẳng được trực tiếp giết. Nói theo nghĩa lư, phàm những ǵ dính dáng đến gián tiếp giết, giúp giết chóc, ca ngợi giết, xúi giục giết, cũng như đối với những cái nhân của chuyện tạo tác giết chóc, cái duyên của sự tạo tác giết chóc v.v... đều chớ nên làm! Người không ăn chay tuy chẳng trực tiếp sát sanh, nhưng là gián tiếp sát sanh. Hơn nữa, cái nhân giết chóc và cái duyên giết chóc do đó mà dấy lên. V́ thế, nói triệt để th́ “để giữ giới chẳng sát sanh, nói chung ăn chay là phù hợp với pháp”. Câu “người có ḷng tin nhưng không ăn chay” có ư nói: “Người đă có ḷng tin, nhưng chưa hề ăn chay” đó ư? Chẳng thọ giới “không sát sanh”, bèn chẳng ăn chay, có thể là phương tiện tạm thời. Nếu đă thọ giới “chẳng sát sanh”, tức là đă sanh ḷng tin, tự nhiên là có thể xin thọ, nhưng sau khi đă thọ, điều đáng quư là có thể vâng giữ.

 

          * Hỏi: Người thọ giới vô ư giết các loại trùng có hại (muỗi, ruồi, nhện v.v...) có phạm giới hay không? Khi phạm giới, phải dùng phương pháp ǵ để bổ cứu? (Trang Khánh Hiền hỏi)

 

          Đáp: Do vô ư nên là lầm lỗi, có thể đối trước Phật sám hối, và niệm Phật hồi hướng. Cố ư sát sanh, sẽ là phạm giới, tạo thành tội ác, cũng chỉ [có cách] sám hối, xin thọ giới lại để bổ cứu.

 

          * Hỏi: “Quá Ngọ không ăn” có những điều lợi ích như dưới đây hay không? 1. Tiêu hóa dễ dàng, có ích cho tinh thần, khỏe mạnh. 2. Thường nói là “băo noăn tư dâm dục” (no ấm bèn nghĩ tới chuyện dâm dục). “Quá Ngọ không ăn” có phải là để bớt ham muốn? 3. Người tu hành quá Ngọ chẳng ăn, có phải là v́ mục đích tiết kiệm thời gian hay chăng? 4. Ngạ quỷ ăn vào ban đêm. Quá Ngọ chẳng ăn có phải là do chẳng nhẫn tâm thấy ngạ quỷ nghe mùi, thấy thức ăn bèn hứng chịu nỗi khổ bị lửa đói nung đốt hay không? 5. Thường được khuyên bảo: “Bớt mặc tăng phước, bớt ăn tăng thọ”. “Quá Ngọ không ăn” sẽ có lợi ích ấy hay không? Những điều kể trên đây có phải là luận thuyết chánh xác hay không? Nếu nói tường tận, c̣n có những lợi ích khác hay không? (Chân Tàm Quư hỏi)

 

          Đáp: “Quá Ngọ không ăn” có nguyên tắc, và cũng có những lợi ích kèm theo. Theo quy chế tại Ấn Độ, tăng lữ khất thực. Tôn giả Ca Lưu Đà Di sáng chiều khất thực, từng làm cho bà bầu kinh hăi đến nỗi bị đọa thai[14]. Đức Phật chế định quá Ngọ chẳng ăn. Điều thứ tư như ông đă nêu chính là nguyên tắc ấy. Những điều đă kể khác đều là lợi ích kèm theo đối với chính ḿnh.

 

          * Hỏi: Thông thường, ở chỗ ăn chung với các đồng nghiệp, do bất tiện, giữa trưa chẳng ăn quá no. Nếu quá Ngọ chẳng ăn, có tổn hại sức khỏe hay không? (Chân Tàm Quư hỏi)

 

Đáp: Ngũ tạng lục phủ[15] xét theo y học đều có các chứng bệnh chánh yếu. Nguyên nhân gây ra bệnh dạ dày gọi là “vị gia thật” (胃家實, bao tử chật cứng). Nếu phế vật trong ruột chưa bài tiết ra, mà lại nhồi nhét thêm [thức ăn mới] vào dạ dày, sẽ bị bệnh ấy. Cổ nhân dạy phép dưỡng sinh, luôn luôn răn “chớ ăn quá no”. Hăy nên ăn có hạn lượng nhất định, chẳng lựa chọn ngon dở, số lượng vừa đủ, sẽ chẳng có hại cho sức khỏe. Nếu chẳng gây trở ngại cho sức khỏe th́ lợi ích thấp nhất sẽ là giảm được các chứng bệnh về dạ dày!

 

          * Hỏi: Hạnh “quá Ngọ chẳng ăn” đối với cư sĩ có phải cũng là một điều trọng yếu? (Chân Tàm Quư hỏi)

 

          Đáp: Hai chuyện tự lợi và lợi tha, há có hạn chế xuất gia hay tại gia? Chỉ nên quan tâm là có thể làm được hay không mà thôi!

 

          * Hỏi: Có thể dùng công đức “quá Ngọ không ăn” để hồi hướng ḥng “tiêu bệnh, tiêu tội, cầu nguyện” hay không? (Chân Tàm Quư hỏi)

 

          Đáp: Điều thiện chẳng có lớn hay nhỏ, đều có thể hồi hướng, chẳng giới hạn trong bất cứ một chuyện nào!

 

          * Hỏi: Đă thọ Bồ Tát Giới, trong ấy có giới giết, trộm, dâm, dối, cũng có giới quá Ngọ không ăn. Cần ǵ lại phải tŕ Bát Quan Trai Giới? Hai bên có ǵ khác nhau? Lại nữa, nếu tŕ Ngọ th́ có thể dùng sữa ḅ, nước trái cây, bánh quy v.v... hay không? (Trần Táo hỏi)

 

          Đáp: Bồ Tát Giới có xuất gia và tại gia sai khác. Đại giới phổ thông th́ suốt đời thọ tŕ, có giá, có khai, mang tính cách khoan dung hơn. Bát Quan Trai Giới chẳng có xuất gia hay tại gia sai khác. Do nó là giới [mang tính chất] gia hạnh[16], hạn định thọ tŕ trong một ngày. Nếu vi phạm, sẽ là phá giới, có tánh cách khá nghiêm ngặt. Lấy giết và dâm để luận, Bát Quan chỉ hạn chế ăn chay và dâm, chẳng có chuyện cho phép ăn rau bên cạnh thịt, càng chẳng có phân biệt chánh dâm và tà dâm! Đối với chuyện “quá Ngọ chẳng ăn”, trong giới Bồ Tát, nếu do pháp sự bận bịu, sức không chống đỡ nổi, có thể thỉnh thoảng uống sữa ḅ, nhưng Bát Quan th́ không được. C̣n như ăn bánh quy th́ rơ ràng là đă phá giới mất rồi!

 

          * Hỏi: Đệ tử đă tŕ Ngọ, chỉ mong bỏ luôn bữa sáng, mỗi ngày ăn một bữa. V́ có bệnh bao tử, hơi cảm thấy chẳng khỏe, có nên chẳng quan tâm tới nó, cứ tiếp tục tŕ hay không? (Bàng Càn Thiện hỏi)

 

          Đáp: “Quá Ngọ chẳng ăn” do đức Phật chế định. Buổi sáng ăn cháo được đức Phật cho phép. Các tùng lâm và người tŕ luật đều tuân hành, v́ ăn cháo sáng có ích cho sự dinh dưỡng. Thường nói “chúc hữu thập ích” (cháo có mười điều lợi ích). Nếu sáng sớm ăn no, sẽ chẳng có ích ǵ cho phép dưỡng sinh, đâm ra có hại cho dạ dày, mà cũng trái nghịch giới luật của Phật vậy!

 

          * Hỏi: Tôi từ thuở nhở, v́ bệnh tật, thân thể yếu ớt, ăn lộc nhung[17] thành nghiện. Hiện thời, mỗi năm cần ăn ba, bốn lượt. Nếu sau khi đă thọ Ngũ Giới, không ăn sẽ bứt rứt. Ăn vào lại phạm giới. Sau khi đă thọ giới, phải nên làm như thế nào? (Lỗ Khai Trí hỏi)

 

          Đáp: Lộc nhung là thuốc. Nếu thân thể thật sự suy nhược cần phải dùng th́ có thể dung thông sử dụng.

 

          * Hỏi: Sám hối mầm mống tội nghiệp, do chẳng có cơ hội tham gia bái sám tập thể, tôi tính sửa đổi khóa tụng mỗi ngày, niệm thêm kinh văn sám hối, rốt cuộc có những kinh như vậy hay không? Ở chỗ như thế nào? Khẩn thiết xin hăy dạy cho để tôi hành theo! (Hoàng Hàm hỏi)

 

          Đáp: Nếu cư sĩ đă thọ giới, có thể hỏi ḍ chỗ nào có thực hành tụng nghi thức [sám hối] mỗi nửa tháng, hăy nên tới đó tham gia. Trừ cách ấy ra, sám hối tập thể chẳng nhiều lắm. Nếu trong khóa tụng hằng ngày muốn sám hối, bèn tụng bốn câu kệ trong phẩm Hạnh Nguyện của kinh Hoa Nghiêm, tức “văng tích sở tạo chư ác nghiệp...” (xưa kia đă tạo các ác nghiệp) là được rồi. Nhưng tiến hơn nữa là người sám hối chân thật, bèn cầu [thật sự sám hối] nơi tâm. Nếu chỉ làm theo h́nh thức, ngôn ngữ, hiệu lực sẽ nhỏ nhoi!

 

          * Hỏi: Quá Ngọ chẳng ăn, nhưng ở trong thôn làng, dân làng rất thân thiết ép chúng tôi ăn. Nếu chẳng ăn, lại sợ họ nấu thêm những món phụ thuộc mà tổn phước, lại sợ họ bực bội. Nếu ăn, có mắc lỗi hay không? Nếu ở nhà, hoặc ở trong chùa miếu, tŕ “quá Ngọ chẳng ăn”, khi ra ngoài hoằng pháp, có thể phương tiện dung thông hay không? Pháp sư Từ Hàng quá Ngọ có dùng nước trái cây và các phẩm vật phụ thuộc hay không? (Tín Huệ hỏi)

 

          Đáp: Hễ ăn th́ là “phá trai”. Có việc tới nhà người khác, hăy nên thanh minh trước, ắt sẽ khỏi phiền phức. Hoằng pháp bên ngoài, càng phải nên trang nghiêm. Không ăn th́ tốt hơn. Nếu nhiều việc, phải nói nhiều, sợ khí lực chẳng thể chống chọi nổi, trừ mười ngày trai ra, có thể đối trước Phật bẩm rơ trước để làm phương tiện ngẫu nhiên. Những vật phụ thuộc là vật ǵ? Do chưa nói rơ, chẳng tiện trả lời!

 

          * Hỏi: Chưa thọ Ngũ Giới, nhưng tận hết khả năng, dốc hết sức tŕ giới, công đức ấy có thể sánh ngang với người đă thọ giới hay không? (Trần Thánh Âm hỏi)

 

          Đáp: Có thể tự giữ giới, đương nhiên là có công đức. Nếu so sánh với người đă chánh thức thọ giới, sẽ kém hơn. Ấy là v́ người đă thọ giới chánh thức, một là có sư thừa, hai là hiểu rơ giới tướng, ba là có Tam Bảo chiếu lâm gia bị, bốn là do có phát giới điệp, có thể gặp Phật sự bèn được đắp áo ca-sa[18]. Đó là nói theo lẽ thường. Nếu đă nếu chánh thức thọ giới mà chẳng thể giữ, hoặc chẳng hiểu rơ (giới tướng), hoặc phá, hoặc vượt phạm, phải nên luận định riêng!

 

          * Hỏi: Hiểu câu “bất đắc dĩ chỉ cát oản bát thực” như thế nào? V́ sao không được lén nghe tỳ-kheo tụng giới kinh? (Vưu Thái Hoa hỏi)

 

          Đáp: Chữ “cát” () trong câu trên đây nghi là viết sai. Thấy trong Sa Di Luật Nghi, có câu “bất đắc dĩ chỉ quát () oản bát thực” (chẳng được dùng ngón tay để vét bát ăn). Câu ấy có nghĩa là ăn xong, trong bát c̣n sót cơm hoặc nước, tḥ ngón tay vào vét ăn, sẽ là đánh mất oai nghi. Giới tỳ-kheo chính là đại pháp của chúng xuất gia, ắt người truyền giới, người thọ giới mỗi đằng đều có đủ các nhân duyên, tam sư, thất chứng[19], cũng như phải trải qua một thời gian kha khá mới được trao nhận, tột bậc trịnh trọng. Người cầu giới cũng hết sức khó khăn, mà cũng chẳng liên quan đến người tại gia. Hăy nên biết: Trong thế gian, một đồng nhỏ nhặt, nếu chẳng cho mà lấy th́ bảo là “đă phạm tội trộm cắp”. Ở đây, [Cụ Túc Giới] chính là đại pháp của hàng tỳ-kheo xuất gia, chẳng phải là chuyện của hàng bạch y, nhưng lại đến nghe trộm, đó là tội trộm cắp to lớn. V́ thế, chớ nên chẳng đúng phận mà làm xằng vậy!

 

          * Hỏi: Tŕ Bát Quan Trai Giới như thế nào? Hạng người nào mới có thể [thọ tŕ]? Có quy luật ǵ? Có lợi ích ǵ? (Vưu Thái Hoa hỏi)

         

Đáp: Bát Quan Trai Giới chính là đại pháp do chư Phật thọ tŕ suốt đời, bọn ta không thể làm được, cho nên có sáu ngày trai, mười ngày trai v.v... để hành. Dẫu là bất cứ ngày nào, cung kính hành tŕ [Bát Quan Trai Giới], cũng chưa hề chẳng được! Tŕ trai giới này, chẳng phân biệt là tại gia hay xuất gia, đều có thể thọ tŕ, chỉ cần nương theo nghi thức. Đại khái là những Phạn bản này có lưu thông tại Thụy Thành Thư Cục ở đường Thành Công, Đài Trung.

 

          * Hỏi: Nếu có những Phật tử chỉ có một ngôi nhà bằng tre, gỗ, lợp cỏ tranh để làm chỗ nương thân, do trước đó, không đề pḥng, [hiện thời] phát hiện nhà có mối. Trừ mối bèn phạm giới nhà Phật. Chẳng trừ, chắc là nhà tranh sẽ sụp đổ, hủy hoại. Làm như thế nào? (Trại Mạnh Thu hỏi)

 

          Đáp: Tinh thần của giới là “thà bỏ thân mạng, chứ chẳng trái nghịch giới”. Chuyện xưa thật nhiều, khó thể kể xiết! Nếu là người nghèo, chỉ có cái nhà tranh ấy, v́ yêu tiếc, có thể dùng Phật pháp để cầu nguyện, khuyên chúng hăy rời đi. Nếu chẳng ứng nghiệm, tức có nhân quả, chỉ nên “tùy duyên tiêu cựu nghiệp, chớ tạo ương họa mới”. Theo cách nh́n thế tục, lời này cố nhiên [bị chê] là viễn vông, nhưng nhân quả tự là nhân quả, có ai tiêu diệt nổi!

 

          * Hỏi: Ăn chay trong tương lai sẽ có cảm ứng ǵ? Ăn chay nhiều năm, chẳng có đại pháp sư truyền giới, nhưng chính ḿnh giữ giới, có ảnh hưởng ǵ chăng? Tự giữ giới có cảm ứng hay không? (Trương Khoan Tâm hỏi)

 

          Đáp: Ăn chay là gián tiếp kiêng giết. Có thiện nhân như thế, sẽ có thiện quả như thế. Về sau, chắc chắn đạt được quả báo trường thọ, ít bệnh tật. Đấy chính là một trong những điều cảm ứng. Có thể chánh thức thọ giới cố nhiên là tốt. Nếu cơ duyên chẳng hợp, chưa được thọ giới, nhưng đă thực hành giới sát, tức là tuy chẳng có nghi thức, nhưng đă có thực chất ấy, công đức làm sao luống uổng cho được? Cổ thư ghi chép, người b́nh phàm kiêng giết, phóng sanh, c̣n được hưởng các thứ phước báo, huống chi đệ tử Phật có công tu tŕ, há chẳng triệu vời cảm ứng ư?

 

          * Hỏi: Thọ giới mà chẳng tŕ giới, và chưa thọ giới mà trong tâm tŕ giới, người nào trong hai hạng người ấy sẽ có công đức? (Hành Ngọc hỏi)

 

          Đáp: Kẻ chưa thọ giới mà có thể tŕ giới, đương nhiên là có công đức! Chỉ là không được nhiều lợi ích bằng người chánh thức thọ giới trong giới đàn. Ấy là v́ khi chánh thức thọ giới, cử hành sám hối, giảng giải luật nghi, có thể trông thấy Tam Bảo trang nghiêm, chuyển biến cảnh giới, cũng như lắng nghe, tin nhận, do chí thành cảm vời, được [Tam Bảo] gia bị mà đắc giới. Kẻ thọ giới mà chẳng tŕ, ôm ḷng khinh mạn, biết pháp mà phạm pháp, vừa tạo ác vừa kèm thêm phá giới, chẳng khỏi tội càng thêm tội, rảnh đâu để luận định công đức nữa!

 

          * Hỏi: Người thọ tại gia Bồ Tát giới có thể đảm nhiệm công tác điều tra cho chánh phủ hay không? (Nhan Phật Triệu hỏi)

 

          Đáp: Chưa hề không thể, nhưng hăy nên giữ ḷng đoan chánh, cẩn thận, chú tâm, chẳng gây oan uổng, chẳng làm chuyện khuất lấp, t́m cầu sự thật. Nếu có thể thưa tŕnh cùng quỷ thần [những điều chính ḿnh đă làm] mà chẳng thẹn, vâng theo giới luật, có thể quyền biến, tức là có thể giữ chức mà không lạm quyền, bảo vệ dân, chẳng tàn bạo vậy!

 

* Hỏi: Kiêng giết có phân chia mức độ hay không? Như đối với loài thú có thể tổn thương mạng người bèn có thể giết chúng trước để bảo vệ chính ḿnh, chẳng biết có phạm giới hay không? (Liên Vân Ban hỏi)

 

          Đáp: “Kiêng giết” là hết thảy đều chẳng giết, chẳng có phân biệt! Trước và sau khi giết, hữu tâm, hoặc vô tâm, sân hận, hoan hỷ, hối hận, sanh mạng lớn nhỏ, dưới trạng huống như thế nào, t́nh h́nh hết sức phức tạp. Đó là mức độ. Khi ác thú hại người th́ giết, nhưng nếu t́m kiếm, [cho rằng] để ngăn ngừa chúng hại người bèn giết phứt đi, t́nh trạng sẽ khác hẳn, phạm giới cũng có nhẹ hay nặng!

 

          * Hỏi: Bồ Tát Giới nói: “Chúng sanh thọ Phật giới, bèn dự vào địa vị Phật. Địa vị đă giống như bậc đại giác, đúng là con của chư Phật”. Điều này có nghĩa là ǵ? (Tiêu Thiệu Hinh hỏi)

 

          Đáp: Trong năm phần Pháp Thân[20] của Phật, Giới là một phần. Người thọ giới tức là đă có một phần đồng thể với Phật. V́ thế, ví như đă nhập địa vị Phật. Phàm là đệ tử Phật, hăy nên lấy Giới làm thầy. Người đă thọ giới mới xứng đáng là đệ tử Phật thật sự!

 

          * Hỏi: Văn bối đă thọ Ngũ Giới, chỉ có điều đối với giới thứ nhất “không sát sanh”, có thể ăn ba thứ tịnh nhục hay không? Văn bối đă từng đảnh lễ trước Tam Bảo, có thể tŕ giới “chẳng sát sanh”, nhưng ăn ba thứ tịnh nhục, thật sự là hoàn cảnh chẳng cho phép. Cơ duyên ấy chưa chín muồi, chưa dám ăn chay. Dùng nguyện này hứa trước Phật có được hay không? (Mă Khiêm hỏi)

 

          Đáp: Đă thọ giới “không sát sanh”, hăy nên ăn chay. Nếu thật sự hoàn cảnh chưa cho phép, hăy ăn rau bên cạnh thịt và ba thứ tịnh nhục, chẳng ngại tạm thời dung thông. C̣n như trong lời hỏi có nói: “Ăn ba thứ tịnh nhục, quả thật hoàn cảnh không cho phép”, tôi đọc thấy ư nghĩa chẳng hợp với những câu trước và sau đó, có lẽ là viết sai hay chăng?

 

          * Hỏi: Tệ nhân đă đến tuổi quân dịch, sau khi nhập ngũ để được huấn luyện, nếu c̣n phải ra chiến trường, chẳng biết có phải cầm súng bắn chết đối phương hay không? Do tệ nhân đă thọ Tam Quy, Ngũ Giới, giới thứ nhất là “không được sát sanh”, chuyện này có cách nào để có thể giải quyết? (Tiêu Kim Vinh hỏi)

 

          Đáp: Làm lính chống địch chính là bảo vệ người lương thiện. Giao chiến phải giết người giống như quan ṭa phán án, chính là do chức vụ, nhưng phải giữ nghiêm ngặt sao cho không giết chóc bừa băi th́ được!

 

          * Hỏi: Hậu học đă nhiều lần nghĩ: Về sau này, hễ có tự viện truyền giới, tính đến thọ giới tỳ-kheo, nhưng thân đă tàn phế, chẳng biết có thọ được hay không? (Ông Đức Ḥa hỏi)

 

          Đáp: Tỳ-kheo giới là giới để chúng xuất gia thọ. Hàng tại gia c̣n không được phép nghe, huống là thọ ư!

 

* Hỏi: Do cuộc sống, người niệm Phật làm việc trong cơ quan chấp pháp, phán xử án tử h́nh đối với những phạm nhân phạm tội ác to lớn, không thể tha thứ. Đối với giới luật và niệm Phật, có trở ngại ǵ hay không? (Trác Trung Chấn hỏi)

 

          Đáp: Kẻ đó phạm phép nước, bị pháp luật giết. Người nắm việc tư pháp giữ ḷng từ bi, bất quá t́m lư lẽ có thể cho người ấy sống, hết ḷng mong giảm bớt h́nh phạt cho người ấy mà thôi. Nếu thật sự là tội chẳng thể tha, mà cố ư dung túng, tức là chính ḿnh trái pháp! Gặp cảnh như vậy, sao bằng đổi làm nghề khác, có phải là tốt hơn không?

 

          * Hỏi: Có người đă thọ Bồ Tát giới, do ôm ḷng từ bi thương xót đối phương, đă khuyên dạy một người chỉ thọ Tam Quy, nhưng chưa tŕ trai: “Hăy giết gà để chế thuốc nhằm bồi bổ cái thân bệnh tật”. Vậy th́ người thọ giới [Bồ Tát] ấy đă phạm giới ư? (Trương Trọng Nhạc hỏi)

 

          Đáp: Kẻ đă thọ giới ấy có lẽ là kẻ hâm mộ hư danh, chẳng có thật hạnh. Có lẽ là đối với giới đă thọ, cũng chẳng liễu giải! Chỉ sợ là thọ mà chưa đắc, nhưng dạy người khác sát sanh, tức là đă có tội lỗi rồi!

 

          * Hỏi: Luật Phật giáo có bao nhiêu điều? Đối tượng thọ giới là như thế nào? (Kha Băng hỏi)

 

          Đáp: Căn bản của giới ở nơi tâm, “đối tượng” chính là những người khác và hoàn cảnh. Chủng loại giới luật rất nhiều, phân biệt đại lược th́ có giới của tứ chúng xuất gia, tại gia Ngũ Giới và Bồ Tát giới. Xuất gia và tại gia đều thọ tám giới [tức Bát Quan Trai Giới] v.v... Kinh văn quy định về giới điều [dành cho mỗi loại giới] khác nhau!

 

          * Hỏi: Người xuất gia sau khi thọ giới, hoàn toàn chẳng hành theo giới luật. Hằng ngày ác khẩu, ác ư, chẳng biết đă phạm bao nhiêu giới luật! Thuở đức Phật tại thế, đức Thích Tôn gọi hạng người xuất gia ấy là “sư tử trùng”, tôi muốn luận định hạng người này trong tương lai có thể văng sanh hay không? (Nhan Khoan Văn hỏi)

         

Đáp: Người xuất gia như thế nào, tạm thời chẳng bàn tới. Cư sĩ tại gia thọ giới gần như con cá diếc vượt sông, có thể giữ giới mà chẳng ác khẩu, ác ư, có phải là tất cả đều làm được như vậy hay chăng? Ta chỉ giữ một giới “chẳng thấy lỗi của người xuất gia”, sẽ có ích cho ta!

 

          * Hỏi: Nay tôi đọc kỹ các đoạn trong bài viết Tŕ Tụng Cần Biết trong tập sách nhỏ về chú Lăng Nghiêm (trong bộ Trung Anh Chú Âm (phiên âm thần chú Hán - Anh) do ông Diệu Giác Vưu Thuần Tịnh biên soạn) mới biết sâu hơn một bậc về tội nghiệp của chúng ta. Ông Vưu nói: Tụng bài thần chú vương này, tức là tụng tŕ bài chú [Lăng Nghiêm] này, cần phải thanh tịnh khẩu nghiệp, trụ trong Bồ Tát giới, phát Bồ Đề tâm. Tối thiểu là có thể giữ Ngũ Giới, tận lực thực hành Thập Thiện. Thời gian tŕ tụng vào giờ Dần, Măo mỗi buổi sáng. Địa điểm th́ chánh thức lập đàn tràng tại am, quán[21], tự viện, sắp đặt đúng theo nghi thức là thích hợp nhất. Kế đó là ở nơi yên tĩnh trong nhà, sắp đặt hương hoa tinh khiết. Ở thành thị th́ chọn tầng nhà thanh tịnh, cao nhất, không c̣n tầng trên nữa cũng được. Nếu [lập đàn tràng] ở tầng dưới, tầng trên là pḥng ngủ, hoặc khuê pḥng, sẽ dễ mắc tội lỗi v.v... Các sách khóa tụng không chú thích rơ rệt những chuyện này, khiến cho chúng ta đă phạm tội chẳng biết bao nhiêu! Chỉ có điều người thọ Ngũ Giới trong pháp môn Tịnh Độ khá thưa thớt, kiền thành niệm Phật, tŕ chú, đâm ra tội chướng nặng hơn! Nay tôi bó tay, sững sờ, chẳng biết làm như thế nào? (Lâm Kỳ Hoành hỏi)

 

          Đáp: V́ sao trong pháp môn Tịnh Độ, người thọ giới ít ỏi? Cần biết: Giới là thầy lành, [có thể] thanh lương phiền năo, có thể chuyển cấu uế thành trang nghiêm. Trong Tam Vô Lậu Học, Giới là một điều. Mười tông Đại Thừa và Tiểu Thừa, đều cần phải thọ tŕ; chẳng cần bắt buộc phải học thần chú Lăng Nghiêm rồi mới được tŕ giới! Nhưng nếu nghĩ “tu Tịnh bèn chẳng tŕ giới”, tức là đă lầm lẫn to lớn. Cư sĩ đă học chú ấy, không cần phải bỏ dở giữa chừng, nhưng có thể lập nguyện “chẳng giết, chẳng trộm, chẳng tà dâm” th́ tŕ chú liền có công đức!

 

          * Hỏi: Thọ giới cần chuẩn bị “giới kim” (戒金, chi phí thọ giới), đích thân đến giới đàn, được vị thầy truyền giới truyền trao giới luật, th́ mới hữu hiệu. Nhưng mạt học phát nguyện thọ giới, lại chẳng có sức chuẩn bị giới kim, nay lại có bệnh, chẳng có cách nào đích thân đến giới đàn thọ giới để nhận sự truyền trao của vị thầy truyền giới. Nếu mời riêng một tỳ-kheo đă thọ Cụ Túc Giới để chứng minh truyền giới, chẳng biết có được hay không? [Cách thức xin thọ giới] như thế nào, lại cúi xin thầy hăy v́ mạt học giới thiệu một vị ḥng viên măn ư nguyện của mạt học. Nếu gởi thư quy y, chẳng thể đích thân đến nơi th́ có thể thọ giới hay không? (Nhan Văn Bạo hỏi)

 

          Đáp: Nếu như khi có tỳ-kheo tăng đến quư xứ thuyết pháp, có thể gặp mặt để cầu [thọ giới]. Nếu chuyên thỉnh, sẽ tốn kém lắm!

 

          * Hỏi: Gần đây, tôi đọc báo Bồ Đề Thụ đă hơn một năm. Đối với chuyện trai giới của hàng tại gia, hoàn toàn chẳng vâng giữ mười phần nghiêm ngặt. V́ tôi ở trong bộ đội, ăn chay quả thật quá khó khăn! Có lúc đâm ra tăng thêm không ít phiền phức và phiền năo, tôi tính bỏ trai giới trong Ngũ Giới, [như vậy th́] có mắc tội phạm giới hay không? (Chương Phổ Minh hỏi)

 

          Đáp: Ông thấy trong nguyệt san Bồ Đề Thụ, chỗ nào nói đối với trai giới của hàng tại gia, hoàn toàn chẳng [cần ǵn giữ] mười phần nghiêm ngặt”? Nếu nói là trong quân ngũ [ăn chay] chẳng thuận tiện th́ ăn rau bên cạnh thịt cũng chẳng ngại ǵ!

 

          * Hỏi: Có những cư sĩ thọ Ngũ Giới, nếu cày ruộng, trồng vườn, tận hết sức ngăn ngừa loài trùng phát sanh, nhưng đối với những loài trùng có liên quan đến khí hậu mà sanh sôi th́ có thể do tâm từ bi mà giết chết hay không? Nếu chẳng giết, thóc lúa, rau quả sẽ bị các loài trùng tổn hoại, làm sao tăng sản lượng cho được? Cũng có thể niệm chú Văng Sanh rồi giết hay không? (Vu Tiền Đ́nh hỏi)

 

          Đáp: Giới có khai, giá, tŕ, phạm, nhưng cần phải có người có chức trách xử lư. Vị cư sĩ ấy đă hướng về vị thầy truyền giới nào để thọ giới, hăy nên hướng về vị thầy truyền giới ấy để hỏi, sẽ được chỉ dạy chánh đáng!

 

          * Hỏi: Ngũ Giới là giới cơ bản trong việc học Phật. Xin đại đức hăy chỉ dạy toàn bộ giới trong việc học Phật có được hay không? (Hà Vĩnh Đinh hỏi)

 

          Đáp: Người tại gia trừ Ngũ Giới ra, c̣n có Bồ Tát Giới. Do văn từ phức tạp, cột báo này chẳng thể sao lục được. Có thể t́m trong những tiệm lưu thông kinh Phật để thỉnh hai kinh Anh Lạc[22] và Phạm Vơng về đọc, sẽ biết đại khái. Nếu là giới xuất gia th́ theo lệ, người tại gia không được xem, chẳng cần đa sự!

 

          * Hỏi: Xin thầy giải thích cặn kẽ ư nghĩa “Ngũ Giới trong nhà Phật phù hợp Ngũ Thường của Nho gia”? (Diệu Canh hỏi)

 

          Đáp: Ngũ Thường là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Ngũ Giới là [không được] giết, trộm, dâm, dối, uống rượu. Chẳng giết là nhân, chẳng trộm là nghĩa, chẳng tà dâm là lễ, chẳng nói dối là tín, chẳng uống rượu là trí. V́ thế, nói là “phù hợp”.

 

          * Hỏi: Mấy năm gần đây (chẳng biết từ lúc nào), chúng xuất gia phần nhiều bảo “tam đàn đại giới” thọ hết trong một lần. Xét theo quy chế của đức Phật, có phải là phải sau bao nhiêu năm, lần lượt thọ tŕ theo thứ tự từng loại giới một hay không? (Chân Tàm Quư hỏi)

 

          Đáp: Kẻ hèn này vốn thuộc hàng bạch y, đối với giới luật của hàng xuất gia chưa dám tự tiện xem, đối với điều Ngài hỏi tới, tôi chẳng biết.

 

          * Hỏi: Trong mười giới thuộc về Sa Di Luật Nghi do đức Phật chế định, có giới “sau Ngọ chẳng ăn”, nghe nói là v́ thương xót loài ngạ quỷ, khiến cho họ khỏi v́ trông thấy người khác ăn uống mà cổ họng bốc cháy rừng rực. Có người nói: Phàm là những thức ăn bỏ vào miệng, khi nhổ ra rơi xuống đất mà có bă nát th́ [quá Ngọ] đều chẳng được ăn. Nếu bỏ vào miệng, nhổ ra không có bă, bất luận vật ǵ cũng đều có thể ăn, như nước sôi, sữa ḅ, sữa đậu nành v.v... đều có thể dùng. Nói như vậy có đúng hay không? (Phan Kim Tuyền hỏi)

         

          Đáp: Quá Ngọ không ăn, không chỉ là Sa Di Luật Nghi. Ư nghĩa “không ăn” cũng chẳng phải chỉ v́ xót thương ngạ quỷ. Ư nghĩa nói chung gồm có mười điều, như: Một là đoạn duyên sanh tử, hai là biểu thị Trung Đạo, ba là điều ḥa cái thân ít bệnh, bốn là đạo nghiệp được tôn sùng, năm là kiên cố giới phẩm, sáu là kham tu Định, bảy là sanh trí huệ, tám là ĺa nghiệp quỷ thần và súc sanh, chín là chẳng năo hại đàn-na tín thí, mười là chẳng quấy nhiễu hành nhân v.v... Hăy xem những điều này trong lời khai thị của Ngẫu Ích đại sư. Lại c̣n có thuyết khác, do rườm rà, nên chẳng thể nêu trọn. Nước được phép uống; đối với nước trái cây và sữa, khi bệnh th́ có thể khai phương tiện. Nếu cho phép “những thứ không có bă xác đều có thể ăn”, sẽ là trái nghịch những ư nghĩa trên đây vậy!

 

          * Hỏi: Nhà Phật nói: Chư thiên ăn vào sáng sớm, Phật ăn giữa Ngọ, ngạ quỷ ăn vào buổi tối”. Nhà Phật kiêng ăn tối là do từ bi thương xót quỷ đạo vậy (đương nhiên là chưa kể những đạo lư khác). Xét ra, một ngày đêm trong tầng trời thứ nhất (Tứ Vương Thiên) là một trăm năm trong nhân gian. Chẳng biết thứ tự ngày đêm trong quỷ đạo cũng giống nhân gian hay không? Nếu chẳng giống nhau, đối với chuyện Phật giáo cấm ăn buổi tối, hăy nên loại bỏ lư do này! (Chân Tàm Quư hỏi)

 

          Đáp: “Quá Ngọ chẳng ăn” có rất nhiều ư nghĩa, có thể xem phần trả lời cho cư sĩ Phan Kim Tuyền trên đây, sẽ hiểu rơ. Ngày đêm trong quỷ đạo cố nhiên chẳng giống với nhân gian, nhưng người tu đạo không ăn tối v́ chẳng giống như thói quen của quỷ. Có người giải thích là v́ thương xót ngạ quỷ, cũng chẳng phải là không hợp lư! V́ vào ban đêm, nhân gian dễ cùng loài quỷ tương cảm. Do vậy, chẳng để cho họ thấy con người ăn uống, khiến cho họ dấy lên phiền năo mà thôi.

 

          * Hỏi: Phật giáo kiêng sát sanh, nhưng chủ trương hỏa táng. Thân thể chúng ta đă là chỗ nương náu của loài trùng, [vậy th́] hỏa táng có phải là sát sanh hay không? Sao chẳng chôn xuống đất, để cho nó tự mục nát, tan biến? (Chân Tàm Quư hỏi)

 

          Đáp: Thân thể con người tử vong, những loài trùng kư sinh cũng sẽ biến hóa theo. Giống như chất lỏng trên địa cầu khô cạn, hoặc chẳng lưu chuyển nữa, thậm chí không khí tiêu sạch, [khi ấy, địa cầu] sẽ gọi là “tử cầu”. Thử hỏi hết thảy động vật nương tựa địa cầu c̣n có thể sống sót hay chăng? V́ thế, hỏa táng người đă chết chẳng sợ phạm tội sát sanh. Cư sĩ chủ trương đem chôn, nếu kư sinh trùng bất tử, há chẳng phải là đă chôn sống chúng sanh ư? Nếu bảo treo trên sào cao, để cho xác tự mục nát, chẳng biết là treo lên cho mục nát, lại đâm ra sanh nhiều trùng, chim thú tụ lại cắn xé, sẽ dùng cách ǵ mà bảo vệ [những con trùng ấy] nhỉ?

 

          * Hỏi: Xét theo chế định của nhà Phật, hai chúng xuất gia phải ôm b́nh bát khất thực. V́ sao Tăng Bảo nước ta chẳng y giáo phụng hành? (Chân Tàm Quư hỏi)

 

          Đáp: Chuyện này cần phải xét phong tục mỗi nước để định. Dân chúng nước ta tin Phật chẳng trọn khắp. Nếu theo thứ tự khất thực [từng nhà], sẽ có kẻ chẳng cho, ngược lại c̣n tăng thêm lỗi lầm [phỉ báng] của họ. Nếu phân biệt để khất thực th́ lại đánh mất ḷng b́nh đẳng. Do t́nh thế khó thể thực hiện, cho nên có chế độ an trụ trong tùng lâm vậy!

 

          * Hỏi: Trong sách Tại Gia Học Phật Pháp Yếu Hợp San, phần Tại Gia Nam Nữ Học Phật Tŕnh Tự, nơi trang mười một, ḍng thứ sáu, đại sư Thích Thái Hư đă viết: “V́ thế, hăy nên hướng về Bồ Tát sa-môn xin thọ mười trọng giới trong kinh Anh Lạc để nghiêm tŕ vậy”. Mong cụ giảng cặn kẽ điều này. Mười trọng giới trong kinh Anh Lạc là nói tới những giới nào? (Lư Vinh Đường hỏi)

 

          Đáp: Giết, trộm, dâm (đối với hai chúng tại gia là “tà dâm”), nói dối, bán rượu, kể lỗi của tứ chúng, khen ḿnh chê người, keo tiếc cùng hủy báng, sân tâm chẳng chịu sám hối, hủy báng Tam Bảo.

 

          * Hỏi: Đối với câu hỏi thứ ba do học nhân đă nêu ra trong số báo Bồ Đề Thụ kỳ thứ hai mươi tám, có nghĩa là: Tại gia Phật tử nghiên cứu, học tập sách vở nhà Phật, giữ ḷng cung kính, và tuân theo luật Tam Quy, Ngũ Giới của đức Thế Tôn để phụng hành [tuy chưa thọ giới]. Như vậy th́ vẫn phải nên tuân theo nghi thức để lănh thọ giới luật ư? (V́ trong câu hỏi lúc đầu, vẫn chưa viết đoạn dưới ra, mong cụ xem xét, chỉ dạy lần nữa) (Hồ Chánh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Chính ḿnh giữ giới, cố nhiên cũng có công đức. Chỉ có điều theo luật, ắt cần phải trải qua yết-ma, chánh thức thọ lănh, ǵn giữ chẳng mất th́ mới là “đắc giới”. Nếu không, bất quá là Đạo Cộng và Định Cộng[23] mà thôi!

 

          * Hỏi: Trong nông nghiệp, đề pḥng, trừ khử các tai hại của loài côn trùng, bèn giết trùng rất nhiều, mục đích là v́ tăng sản lượng lương thực cho cuộc sống của nhân dân, dường như là có công đối với đời sống của dân chúng, nhưng tội nghiệp sát sanh th́ sao? (Kim Thiên Đạc hỏi)

 

          Đáp: Có thể có cách để ngăn ngừa trùng sanh sôi, và phương pháp trừ khử những loài trùng đă sanh mà không cần giết chúng, th́ sẽ là tận thiện tận mỹ. Nông dân có tấm ḷng như thế, đối với chuyện chẳng thể tránh mà giết lầm, th́ chỉ là lầm lỗi. Lại có thể dùng Phật pháp để trước hết chú nguyện cho chúng, ắt t́nh và lư đều đạt, có thể chẳng thẹn với ḷng vậy. Tội nợ vốn coi trọng nơi hữu tâm, ư của người làm nông vốn chẳng phải là dấy ḷng giết chóc. V́ thế, nhân quả chẳng giống như người làm nghề chài hoặc săn bắn!

 

          * Hỏi: [Không uống] rượu là một trong năm giới cơ bản; có phải là v́ nó là tăng thượng duyên gây hôn trầm? Cớ sao trong mười ác nghiệp chẳng có “uống rượu”? Có phải v́ uống rượu chẳng phải là ác nghiệp? Nếu uống rượu mà chẳng loạn tánh (tức là uống quá lố), trong tương lai sẽ gặp loại duyên nào? Sẽ đắc loại ác quả nào? (Kim Thiên Đạc hỏi)

 

          Đáp: Rượu há chỉ là tăng thượng duyên gây hôn trầm? Trong Tứ Phần Luật có ghi ba mươi sáu lỗi của rượu[24], Trí Độ Luận chép uống rượu có ba mươi lăm lỗi. Đă có lầm lỗi như vậy, tự chuốc lấy ác quả như thế, há chẳng đáng gọi là “ác nghiệp” ư? Mười thứ ác nghiệp nhằm chuyên kể ra những tánh giới nơi thân, khẩu, ư. Uống rượu thuộc loại giá giới, cho nên chẳng kể xen lẫn vào đó!

 

          * Hỏi: Trong ṿng năm dặm, nếu pháp sư giảng kinh mà chẳng đến nghe, sẽ là phạm giới. Con cái của đệ tử mắc bệnh phải đi nhà thương, trách nhiệm gia đ́nh rất bận bịu, chẳng thể theo đúng pháp tham gia nghe kinh th́ có phải là phạm giới hay không? (Khoan Lượng hỏi)

 

          Đáp: Nói “năm dặm” là đă nghe sai mất rồi! Luật (Bồ Tát Giới) nói là “trong ṿng bốn mươi dặm”. Con cái mắc bệnh nặng phải đi nhà thương chính là thuộc chuyện cứu mạng người, so với chuyện không đi nghe kinh trong giới “tự tu thắng nghiệp” (tự tu nghiệp thù thắng) th́ chẳng vi phạm. Như ông nói việc nhà bận bịu, chưa nói là bận chuyện ǵ, nên không tiện trả lời. Nếu là sự việc chẳng hạn cuộc thời gian, có thể làm trước, hoặc để về sau sẽ làm, nếu đă nghe biết [có pháp sư giảng kinh] mà chẳng đến nghe, tức là phạm giới. Nhưng có điều cần phải biết: Nếu [người giảng pháp ấy] là hạng điên đảo thuyết pháp th́ không đến nghe cũng chẳng vi phạm!

 

          * Hỏi: Khảo sát quy chế “thiêu hương trên đỉnh đầu” [khi thọ Cụ Túc Giới] do Hồ Nguyên[25] chế ra. V́ khi ấy, để ngăn ngừa các anh hùng cách mạng dân tộc nổi dậy, [triều đ́nh Mông Cổ] đặc biệt hạ lệnh Tăng-già cần phải đốt thành phù hiệu ở mặt trước đỉnh đầu, là chỗ rơ rệt nhất, ngơ hầu nhờ vào dấu hiệu ấy, sẽ có thể diệt trừ các bậc chí sĩ khoác tăng phục ẩn nấp trong chốn tùng lâm. Chỉ có điều, [quy định ấy] hoàn toàn chẳng hạn định tỳ-kheo-ni (theo thói quen, nam tuân thủ, nữ chẳng tuân. Không biết từ khi nào, hiện thời, tỳ-kheo-ni cũng thiêu hương trên đỉnh đầu [giống như tỳ-kheo tăng]). Sau khi triều đ́nh hạ lệnh cưỡng chế chấp hành, nhân dân hết sức phản cảm. Không lâu sau đó, nhà Nguyên cũng mất ngôi, nhưng các tự viện vẫn kính cẩn phụng hành măi cho tới nay, chưa hề tự động băi bỏ. Gần đây, lại c̣n dùng điều đó để phân biệt là đă từng thọ giới hay chưa? Xét ra, chuyện này vốn là một quy chế chẳng tốt lành của chánh quyền, hoàn toàn chẳng phải do đức Phật chế định, có nên tiếp tục ǵn giữ hay không? (Triệu Siêu hỏi)

 

          Đáp: Xét ra, trong kinh Phạm Vơng có phần kinh văn nói đến chuyện “thiêu thân, thiêu cánh tay, thiêu ngón tay”. Đă là có thể thiêu thân, cánh tay, ngón tay, có lẽ thiêu đỉnh chẳng phải là chế định của đời sau! Có nên loại bỏ hay ǵn giữ [chuyện thiêu hương trên đỉnh đầu khi thọ Cụ Túc Giới], kẻ hèn này chưa nghiên cứu Luật Học, nên không có cách nào chơ mồm vào được!

 

          * Hỏi: Tại gia Bồ Tát hoặc cư sĩ do huyễn thân yếu đuối, chẳng ăn các loại thịt, chỉ ăn trứng gà không có cồ, sữa, hoặc trứng vịt, có thể coi là ăn chay trường hay không? (La Đức Chương hỏi)

 

          Đáp: Người tŕ giới tinh nghiêm th́ trứng cũng chẳng ăn, v́ nó chẳng thanh khiết. Nếu người bệnh ắt cần phải dùng, thật sự là trứng không có cồ th́ có thể tạm chấp nhận. Khi Lương Vũ Đế bị vây hăm ở Đài Thành, đă từng ăn. Sữa ḅ chẳng có tánh chất sát hại, vốn chẳng bị cấm, đức Thích Tôn cũng dùng sữa. Nếu là người [uống sữa] th́ cũng có thể gọi là “ăn chay trường”.

 

          * Hỏi: Trong ba nghiệp giết, trộm, dâm, ai nấy đều biết đối với hai thứ trộm và dâm có hai cách phạm là phạm pháp công khai hoặc lén lút trái phạm. Nhưng trong loài người, kẻ phạm hai nghiệp ấy gần như chiếm thiểu số; chỉ có nghiệp ăn thịt, tức là phạm sát nghiệp chiếm đa số lớn nhất trong nhân loại. Nay thử đem lư “chẳng nên trộm cắp và dâm” nói với mỗi người, tuy người nghe chưa chắc đă đều có thể tuân hành, nhưng nói ra, ắt họ sẽ gật đầu. Chỉ có việc khuyên kẻ khác ăn chay th́ người có thể tín phụng chẳng có mấy ai! Thật sự có cách nào để có thể đạt được hiệu nghiệm to lớn hay chăng? Lại nữa, như kẻ chưa thể ăn chay, chỉ kiêng giết, nếu tụng kinh, tŕ chú, chẳng biết là cũng có được Phật lực gia bị hay không? (Tân La hỏi)

 

          Đáp: Ăn thịt chính là tập khí nhiều đời, lại ngày càng tăng thượng, cho nên khó khuyên hơn. Chỉ có tùy duyên, tùy phần, khéo v́ họ khuyên nhủ. Đức Phật chế định: Nếu chẳng thể ăn chay, cho phép ăn rau bên cạnh thịt. Vẫn chẳng thể, bèn có phương pháp ăn năm thứ tịnh nhục. Năm thứ tịnh nhục nhằm để răn ngừa hết thảy các sát nghiệp trực tiếp và gián tiếp. Nếu có thể kiêng giết, ḷng Từ tự nhiên ngày càng thêm tăng trưởng, sẽ có thể được Phật lực gia bị.

 

          * Hỏi: Thọ Ngũ Giới sẽ không thể sát sanh, kinh đă có văn bản rơ ràng. Nếu người nhà sai ra chợ mua thịt lợn, trứng gà v.v... có thể đi mua giùm họ hay không? Nếu gặp phải chủ nhân sai mua các lễ vật như rượu, thịt v.v... có thể làm theo hay không? Có lúc muốn tiếp đăi khách, có thể đăi họ bằng thuốc lá, bia hay không? (Vương Minh hỏi)

 

          Đáp: Người khác sai đi mua rượu thịt, theo đúng lư, hăy nên dùng lời lẽ uyển chuyển để từ chối. Nếu chưa thọ Bồ Tát Giới, do v́ nghề nghiệp bắt buộc, tiếp đón tân khách, chiêu đăi bằng thuốc lá, rượu, lúc chẳng thể tránh né th́ có thể tạm thời dung thông!

 

          * Hỏi: Thốt lời nói dối v́ tâm từ bi th́ có phạm giới hay không? Ví như trẻ nít nhớ mẹ khóc nhè chẳng ngừng, t́nh trạng hết sức đáng thương. Ḷng xót xa muốn cho đứa bé nín khóc, bèn thốt lời nói dối: “Bé ơi đừng khóc nữa! Mẹ của con đi mua chuối về”. (Lư Vĩnh Mậu hỏi)

 

          Đáp: Ông không nghe chuyện Tăng Sâm nghe nói giết lợn do Tăng mẫu vô t́nh thốt lời, [Tăng mẫu bèn phải giết lợn để giữ chữ tín với con] ư? Đối với chuyện đă hỏi, cái tâm vốn là tốt đẹp, nhưng nếu có thể dùng phương tiện thiện xảo để biến lời ấy thành thực tiễn th́ càng tốt lành hơn!

 

          * Hỏi: Khi đức Phật nói kinh Mộc Tích Dụ, có sáu mươi vị tỳ-kheo lậu tận kết giải, có sáu mươi vị tỳ-kheo xả giới hoàn tục. Theo truyền thuyết, người sanh trong thời kỳ Chánh Pháp, có thể được nghe từ chính miệng đức Phật thuyết pháp, đều là đă gieo thiện căn rất sâu từ bao nhiêu kiếp. Nghe pháp xong, tối thiểu là đều có thể chứng đắc Sơ Quả La Hán. V́ sao sáu mươi vị tỳ-kheo ấy không chỉ là chẳng thể chứng đắc thánh quả, lại c̣n ngược ngạo sanh tâm thoái chuyển, xả giới hoàn tục? Nếu nh́n theo t́nh cảm khách quan, đức Thế Tôn từ bi, khoan dung, chủ trương coi trọng tự do cá nhân, sẽ chẳng cưỡng ép, làm khó kẻ khác, sẽ cho phép đệ tử xả giới hoàn tục. Nếu nh́n theo nhân quả chủ quan, tỳ-kheo thọ giới mà phá giới, tức là biết rơ mà c̣n cố ư phạm, tội lỗi gấp bội. Tuy đức Thế Tôn cho phép đệ tử xả giới hoàn tục, tội lỗi ấy cũng có thể xá miễn hay không? Nếu thật sự là như vậy, chúng sanh trong thời kỳ Mạt Pháp hiện thời chướng sâu, huệ cạn, nếu như tỳ-kheo chẳng thể giữ giới, cũng đều có thể làm giống như người xưa, xả giới hoàn tục hết? Nh́n theo cách này, tức là chẳng trái phạm chế định của đức Phật, cho nên cũng chẳng có tội. Tôi nghĩ vậy có đúng hay không? (Phan Thành Lâm hỏi)

 

          Đáp: Phá giới thoái chuyển, công đức đều mất, nhưng nghiệp lẫn Hoặc đều c̣n, gặp duyên sẽ tự hứng chịu. Đức Phật chẳng giáng tội, làm sao xá miễn cho được? Tiền nhân phạm lỗi, người đời sau phỏng theo, ai nấy cũng đều cùng sụp hầm sa hố mà thôi!

 

          * Hỏi: Người đă thọ giới vọng ngữ, hễ nói lời lừa gạt tức là phá giới. Nếu phải lữ hành đường xa, chi phí đi đường hữu hạn, tổng cộng chỉ có hai trăm đồng. Trên đường, bất hạnh gặp phải thổ phỉ đ̣i tiền, có nên chẳng nói lời thật, chỉ bỏ ra một trăm đồng cho chúng hay không? Nói ta gần như không c̣n tiền chi nữa? (Lại cư sĩ hỏi)

 

          Đáp: Cổ đức bảo: “Thà bỏ thân mạng, chứ không phá giới”. Công án rất nhiều, chẳng thể kể trọn, đấy là chuyện đă từng nghe. Giả sử v́ quyền biến mà phá giới th́ cũng phần nhiều là v́ lợi ích của nhiều người. Đối với câu hỏi của ông trong hiện thời, chuyên v́ lợi ḿnh, kẻ hèn này đối với luật chưa nghiên cứu sâu, vẫn chẳng dám đáp bừa để rồi đến nỗi phải chịu trách nhiệm nhân quả!

 

          * Hỏi: Sau khi xuất gia, c̣n chưa thọ giới Sa-di, địa vị ấy có giống như ưu-bà-tắc hay không? (Vương B́nh Lang hỏi)

 

          Đáp: Chúng xuất gia có từng giai đoạn tấn tu của hàng xuất gia, chúng tại gia có giai đoạn tấn tu của hàng tại gia. Chẳng cần phải so đo cao thấp giữa đôi bên, [kẻo rồi] nẩy sanh lắm nỗi phân biệt. Nếu thật sự nương theo chế định của đức Phật, người đầu tṛn chánh thức xuất gia, tuy chưa thọ giới, so ra cao quư hơn kẻ tại gia. Sáu chữ “y chế chánh thức xuất gia” (y theo giới luật do đức Phật chế định, chánh thức xuất gia), cần phải rất chú trọng! Hoàn toàn chẳng phải là tự do cạo đầu, đến sống trong chùa miếu, liền có thể tự phụ là hàng xuất gia.

 

          * Hỏi: Chỉ thọ kết duyên Tam Quy Y (chưa thọ giới ưu-bà-tắc), có thể gọi là cư sĩ hay không? Có tư cách giống như ưu-bà-tắc hay không? Khi lễ Phật, có thể mặc áo tràng, [được phép] đắp mạn y hay không? (Vương B́nh Lang hỏi)

 

          Đáp: Nếu đă hướng về tỳ-kheo tăng thọ Tam Quy, có chứng thư Tam Bảo, chính là đệ tử chánh thức của Phật môn, có thể gọi là “cư sĩ”, được phép mặc áo tràng. Chỉ có mạn y th́ cần phải sau khi đă thọ giới mới được phép đắp.

 

          * Hỏi: Kinh Hoa Nghiêm nói: “Hết thảy sản nghiệp để duy tŕ cuộc sống đều chẳng trái nghịch Thật Tướng”. Kinh Phật Di Giáo lại nói: “Hàng tỳ-kheo các ông là người giữ giới trong sạch, chẳng được buôn bán, trao đổi, mua sắm ruộng đất, nhà cửa, thu lưu, nuôi chứa nhân dân, nô lệ, súc sanh, gieo trồng hết thảy, và đối với các thứ của cải đều nên tránh xa như tránh hầm lửa. Chẳng được đẵn chặt cây cối, khai khẩn, đào bới đất đai, đều chẳng nên làm”. 1. Lời dạy trong hai kinh nhằm thành tựu hay là mâu thuẫn lẫn nhau? 2. Lời dạy trong kinh Hoa Nghiêm có phải là để dạy cho cư sĩ hay không? 3. Lời dạy trong kinh Di Giáo chuyên nói với người tŕ tịnh giới trong hàng tỳ-kheo phải không? Hay là bất cứ ai hễ là tỳ-kheo th́ ắt phải đều giữ tịnh giới? (Triệu Vĩnh Siêu hỏi)

 

          Đáp: Đối với kinh Hoa Nghiêm, do ông chưa chỉ ra phẩm nào, ḍng thứ mấy, chẳng thể khảo chứng, cho nên không thể nào trả lời được! Đối với kinh Di Giáo, phàm là tỳ-kheo, không ai chẳng cần tŕ tịnh giới. Xét ra, danh xưng này (“tỳ-kheo”) cũng chẳng thể gọi bừa băi được! Nay nhằm thời đức Phật chẳng c̣n tại thế, trọn chẳng phải là hễ xuống tóc xuất gia bèn được gọi ngay bằng danh hiệu ấy, mà ắt phải là sau khi đă chánh thức nhập giới đàn, thọ Cụ Túc Giới rồi mới được gọi như vậy. Hiểu rơ điều này, biết rơ: Chẳng có giới, sẽ chẳng phải là tỳ-kheo!

 

          * Hỏi: Giới vọng ngữ quy định như thế nào? Trong các thí dụ dưới đây, có phạm giới hay không? 1. Nói với người khác ḿnh sẽ làm, nhưng về sau, do hoàn cảnh, cơ hội chẳng thuận tiện, không thể làm được. 2. Lời tiên đoán vị lai chẳng đúng. 3. V́ an ủi người khác, nói lời không thật. 4. Hằng ngày nói lời sai lầm. (Lư Thủy Mậu hỏi)

 

            Đáp: Điều một và hai là chưa suy xét mà đă dễ dăi hứa hẹn, đến nỗi không thể thực hiện, tức là ăn nói không thận trọng; cho nên mới có nỗi tệ này. Điều thứ ba, an ủi mà chẳng thực hiện, tức là lừa gạt. Nếu không tiện nói rơ, có thể là không nói, hoặc phỏng đoán “nói không chừng”. V́ chuyện trong thiên hạ hễ chưa thực hiện, đều là bất định. Điều thứ tư, đă biết là nói sai, sao không lập tức sửa đổi? Bốn điều đă nêu đều là vọng ngữ.

 

          * Hỏi: Có kẻ bảo: “Kẻ tin Phật quá bất hợp lư, v́ từ bi nên không sát sanh. Nếu chẳng giết mèo, chó, trâu, ngựa, vài năm sau, chẳng phải là chúng nó đầy ắp đại địa, há nhân loại có thể sống sót ư? Nhất định là sẽ bị chúng nó cắn chết”. Phải trả lời kẻ ấy như thế nào? (Trần Chiêu hỏi)

 

          Đáp: Con người chẳng thường ăn chim sẻ và chuột, chưa thấy chim sẻ bay rợp trời, chuột nhảy nhót kín đất. Nếu bảo “tuy con người chẳng ăn, nhưng do ghét chúng nên làm hại”; do vậy, chúng nó giảm ít. Thử hỏi: Kỳ lân, phượng hoàng, cơi đời gọi chúng là điềm lành, cớ sao đến nay đă tuyệt tích? Ngay như “mèo, chó, trâu, ngựa” như kẻ đó đă nêu, lư do cũng chẳng đầy đủ! Chó và ngựa hoàn toàn chẳng phải là loài gia súc thường bị ăn thịt; có bao giờ thấy chúng đầy ắp trong thế gian, nhân loại bị chúng ăn đến nỗi tuyệt diệt đâu nhỉ?

 

          * Hỏi: Đối với chỗ sinh sống trong thành phố (có bán các loại thịt, cá v.v...) mà tuyên truyền kiêng giết, há chẳng khiến cho bọn họ (thương nhân) chửi bới v́ gây tổn hại cho việc kinh doanh của họ ư? (Kẻ ẩn danh hỏi)

 

          Đáp: Cần ǵ phải chuyên đến chợ cá, chợ thịt để tuyên truyền kiêng giết? Đối với nơi chốn, thời gian và con người, đều chẳng khế cơ, lại đụng chạm chỗ húy kỵ của họ, sẽ khó tránh khỏi bị báng bổ! T́nh thế là như vậy đó. Nếu ôm tấm ḷng đại từ đại bi, chuyên độ kẻ đồ tể, cũng nên nói riêng với từng người, may ra có thể sanh ra hiệu lực.

 

* Hỏi: Nh́n theo sự kiêng giết, người sống bằng nghề đánh cá ở ven biển, và kẻ cày cấy, đánh cá, làm muối, th́ nông dân cày ruộng là do muốn tăng sản lượng, kẻ nuôi gia súc (sẽ có vấn đề về sanh linh), chẳng phải là không thể làm đệ tử thật sự của đức Phật ư? (Người ẩn danh hỏi)

 

Đáp: Nghề nghiệp trong thế gian quá nhiều, cớ ǵ cứ làm những nghề chuyên năo hại chúng sanh? Mạnh Tử của Nho gia từng nói: “Thỉ nhân duy khủng bất thương nhân, hàm nhân duy khủng thương nhân” (Người chế tên chỉ sợ chẳng làm người khác bị thương, kẻ làm áo giáp chỉ sợ kẻ khác bị thương). Lại nói “trạch thuật, bất khả bất thận” (chọn nghề chẳng thể không cẩn thận). Nho gia c̣n như thế, huống hồ nhà Phật đại từ đại bi? Nhưng cày ruộng và đánh cá có khác nhau. Cày ruộng chẳng phải là có ư giết chóc. V́ thế, chẳng gọi là ác. Đánh cá chuyên v́ sát sanh, nên gọi là ác. C̣n như nuôi gia súc, luận định nghiêm ngặt th́ đệ tử xuất gia tuyệt đối không được phép. Nói khoan dung, đệ tử tại gia có thể sửa đổi dần dần!

 

          * Hỏi: Tỳ-kheo tăng thay mặt cư sĩ tại gia giới thiệu đồ đệ (giới thiệu cho người tại gia bái người tại gia khác làm thầy), lại c̣n thay cư sĩ tại gia quy y, có phạm giới hay không? Xét theo đó, họ có c̣n tư cách xưng là tỳ-kheo tăng hay không? (Vương B́nh Lang hỏi)

 

          Đáp: Tỳ-kheo chánh thức đă trải qua tam đàn đại giới, đă hiểu rơ tường tận luật nghi, không thể làm những việc giống như vậy được!

 

          * Hỏi: Tại gia cư sĩ thu nhận đồ đệ th́ theo chế định của đức Phật sẽ chẳng được phép. Nếu khi thu đồ đệ, có phải là phạm tội hay không (do vi phạm chế định của Phật)? Trong tương lai (sau khi chết đi) sẽ như thế nào? (Vương B́nh Lang hỏi)

 

          Đáp: Thâu đồ đệ có nhiều loại khác nhau. Nếu là truyền nghệ thuật cho người khác như văn chương, thư họa, trăm nghề hay khéo, ắt phải thâu đồ đệ rồi mới có thể truyền nghề. Nếu là quy y Tam Bảo trong nhà Phật, người tại gia tuyệt đối không được mạo nhận, làm bừa. Tam Bảo là Phật, Pháp, Tăng. V́ thế, nh́n vào danh hăy nghĩ đến nghĩa, người tại gia làm sao dự vào đó được?

 

* Hỏi: Tín chúng tại gia hướng về tỳ-kheo tăng cầu thọ Ngũ Giới, có thể xưng là măn phần ưu-bà-tắc (ưu-bà-di) hay không? Hay cần phải chánh thức tiến nhập giới đàn th́ mới có thể gọi là ưu-bà-tắc (ưu-bà-di)? (Vương B́nh Lang hỏi)

 

          Đáp: Ư của Ngài hỏi về sự chánh danh; nay ở đây, tôi cũng chỉ nói theo danh tướng. Nam nữ cư sĩ, nếu thật sự nương vào tỳ-kheo tăng, thọ tŕ Ngũ Giới, sẽ có thể gọi là ưu-bà-tắc (ưu-bà-di). Dẫu họ nhiều phần hay ít phần, cũng đều có thể xưng như vậy. Khi thọ, coi chuyện chánh thức tiến nhập giới đàn là hợp pháp. Nếu thầy truyền giới và người thọ giới đều không đủ số quy định, cũng có thể phương tiện truyền trao đơn độc. Nói tới hai chữ “tỳ-kheo”, cũng phải nên hiểu: Nói theo nghĩa rộng, ắt phải là người từ sau khi xuất gia, trải qua tam sư thất chứng, chánh thức thọ Tam Đàn Cụ Túc Giới th́ mới gọi là tỳ-kheo, hoàn toàn chẳng phải là kẻ vừa xuất gia bèn có thể gọi như vậy!

 

          * Hỏi: Tà dâm đứng đầu trong chuyện phạm Thập Ác, vậy mà ai nấy đều nói “gian t́nh” là chuyện đền bồi món nợ đă thiếu trong đời trước. Theo lẽ nào mới là đúng? (Lư Tuấn hỏi)

 

          Đáp: Đấy là tà thuyết nhằm tưởng thưởng kẻ làm ác, chớ nên tin nghe! Nếu đời này Ất bị Giáp cưỡng gian, bèn bảo là do Ất đền nợ dâm đă thiếu Giáp trong đời trước. Nếu nói như vậy, đương nhiên là trong đời trước, Ất từng hành dâm với Giáp. Thử hỏi: Trong đời trước, khi Ất dâm Giáp, có phải là Giáp đă trả nợ món nợ dâm từ hai đời trước cho Ất hay chăng? Nếu bảo “chẳng phải”, kẻ thốt ra lập luận ấy đă tự mâu thuẫn! Nếu bảo là “đền trả” th́ cứ suy ngược lên, người dâm đầu tiên sẽ là do nhân duyên như thế nào?

 

          * Hỏi: Người thọ Bồ Tát ưu-bà-tắc giới hoặc Bồ Tát ưu bà di giới có được phép ăn ba thứ tịnh nhục hay không? Khi niệm kinh, có thể mặc áo tràng hay không? Được đắp y hay không? Đắp tổ y[26] được không? (Vương B́nh Lang hỏi)

         

Đáp: Sau khi thọ giới, có được phép ăn ba thứ tịnh nhục hay không, phải coi chính ḿnh phát tâm như thế nào, và lúc thọ giới, nguyện lực như thế nào. Vị thầy truyền giới giảng giải như thế nào? Ưu-bà-tắc (ưu-bà-di) đều là tại gia đệ tử, áo ca-sa chỉ được phép dùng mạn y. Trừ điển lễ chánh thức ra, người tại gia xưa nay, khi niệm kinh, áo tràng và mạn y đều chẳng bắt buộc phải mặc!

 

          * Hỏi: Sau khi quy y Tam Bảo, có bị hạn chế kiêng giết hay không? Nếu có người, chỉ v́ tập quán thế tục, cho nên khó đoạn, có phương pháp ǵ hay không? (Tiêu Huệ Tâm hỏi)

 

          Đáp: Quy y và thọ giới khác nhau. Kẻ chưa chánh thức thọ giới bị bề trên sai bảo, ép buộc, v́ bất đắc dĩ mà làm. Nhưng trong lúc thường ngày, hăy nên tuyên truyền cho đối phương biết tai hại của việc sát sanh và thuật nói lư do khiến cho chính ḿnh không thể sát sanh, hăy dùng phương tiện thiện xảo. Hễ có thể tránh né, bèn tận hết sức tránh né!

 

          * Hỏi: Phật pháp kiêng giết, nhưng tôi nghĩ muôn vật trên đời ắt phải hy sinh cho nhau th́ mới có thể sanh tồn. Trong lúc hy sinh cho nhau th́ mới có thể duy tŕ sanh mạng. Nếu không, dẫu một khắc, cũng chẳng có cách nào sinh tồn! Như loài người chúng ta, ắt phải hô hấp, ăn uống, nhưng trong khi chúng ta hô hấp, ăn uống, sẽ chẳng có cách nào ǵn giữ sanh mạng của vô số vi khuẩn. V́ duy tŕ sanh mạng của chính ḿnh, vô số vi khuẩn cũng phải chịu hy sinh. Nói như vậy, chuyện kiêng giết làm sao có thể hoàn thiện cho được? (Diệp Khánh Xuân hỏi)

 

          Đáp: Vi khuẩn chẳng phải là hữu t́nh, hăy để đó khoan bàn tới! Đối với vấn đề này, cần phải tách ra để nói. Trong đoạn trước, [ông viết] “ắt phải hy sinh cho nhau th́ mới có thể sanh tồn”. Đấy chính là đồng điệu với thuyết “kẻ mạnh ăn thịt kẻ yếu nhằm thích nghi sanh tồn” của ông Đạt Nhĩ Văn (Darwin). Chữ “ắt phải” mang ư nghĩa “nhất định”. “Cho nhau” nghĩa là lẫn nhau. Ngươi như vậy th́ ta cũng như vậy. “Hy sinh” có nghĩa là trâu, dê tùy ư loài người giết, mổ! Nếu nói gộp lại, có nghĩa là ngươi nhất định phải chết, ta cũng nhất định phải chết th́ mới có thể sanh tồn? Nhưng chẳng biết là ta và ngươi cùng chết sạch cả rồi, sẽ để cho ai sanh tồn? Nếu nói để cho kẻ khác sanh tồn, kẻ khác cũng có đối tượng (ngươi – ta), vậy th́ cũng phải hy sinh cho nhau. Như vậy th́ chẳng đến mức “đồng quy ư tận” (cùng chết sạch cả) th́ sẽ chẳng ngừng! Đoạn sau nói đến chuyện kiêng giết, có phải là chỉ trích: “Không thể làm triệt để th́ chẳng thà không làm!” Nếu đúng như tôi đă đoán, xin hỏi ngược lại một câu: Chúng ta có sanh, rốt cuộc có tử. Nếu bị bệnh, ắt sẽ chẳng điều trị, v́ lần này tuy trị lành, hoàn toàn chẳng thể coi là triệt để, v́ rốt cuộc, vẫn có một ngày nào đó sẽ phải chết!

 

          * Hỏi: Đối với chuyện phiên dịch sách vở, nếu cuối sách ghi rơ “sở hữu bản quyền, in lại ắt truy cứu” (v́ lợi ích tiền bạc), [cứ dịch ra th́] có phải là hành vi trộm cắp hay không? (Lư Vĩnh Mậu hỏi)

 

          Đáp: Bản quyền của người khác, họ đă nói rơ, chẳng cho phép in lại! Nếu cứ cưỡng in lại, hoặc dịch để in ra, chính là “không cho mà lấy”, hành vi trộm cắp tất nhiên đă thành lập!

 

          * Hỏi: Chuột là loài động vật có hại, ai cũng công nhận. Nếu nó gặm cắn quần áo, lén lút ăn ngũ cốc của con người, đào hang hư vách, bèn nuôi mèo để săn giết nó. Người làm như vậy, [theo giới luật] sẽ khó ḷng “không có lỗi”. Nếu để cho nó tự tung tự tác, giống như giặc Cộng ở Đại Lục ra vào [Đài Loan] không truy lùng được, sẽ hại người cực nặng! Chẳng cho phép giết nó, họa ương há có chừng ngằn? (Ngô Lượng Huy hỏi)

 

          Đáp: Chuột vốn sợ người, chẳng cần đợi mèo bắt. Thử xem, nuôi mèo th́ hằng ngày nó có thể ăn chuột hay chăng? Chỉ nên giữ cho nhà cửa sạch sẽ, đậy chặt rương, lồng, khiến cho chuột chẳng t́m được thức ăn, nó sẽ tự chẳng đến quấy nhiễu nữa! C̣n như lo lắng [không giết sạch chuột] sẽ để lại mối họa, tệ ư vẫn cho rằng [mối họa v́ chuột] dường như chẳng đến nỗi ép người ta phải “giết cha, tấn công vợ”.

 

          * Hỏi: Phàm đối với động vật, hễ hại chết chúng th́ là sát. Nếu chẳng phải là động vật, [mà chúng] chuyên cố ư phá hoại th́ giết chúng sẽ chẳng phải là sát sanh ư? (Huệ Quư hỏi)

 

          Đáp: Động vật có t́nh thức, biết sợ hăi, đau khổ; v́ thế, kiêng giết chóc. “Chẳng phải là động vật” rốt cuộc là nói tới điều ǵ? Hay là nói tới khoáng vật và thực vật? Những vật ấy tuy chẳng có t́nh thức, chẳng có sợ hăi, đau khổ, [ông nói] “chuyên cố ư phá hoại” dường như lại là đa sự! Nhưng người thật sự có trí huệ, có ḷng từ bi, biết hết thảy động vật đều sống nương tựa vào khoáng vật và thực vật. Nếu chẳng có chuyện tất yếu, cũng sẽ không cố ư phá hoại chúng.

 

          * Hỏi: Nuôi mèo để trông nhà. Nếu mèo giết chết chuột, người chủ nuôi nó có tội hay không? (Lư Vĩnh Mậu hỏi)

 

          Đáp: Ví như nuôi hổ làm kẻ khác thương tổn, há chủ nhân có thể từ chối trách nhiệm ư? Nhưng mèo cũng là một sanh mạng, đă nuôi nó, hăy nên mỗi ngày cho nó ăn, buộc lục lạc vào cổ nó, khiến cho chuột nghe tiếng mà tránh trước, ắt sẽ toàn vẹn cả ba bên!

 

          * Hỏi: Bái sư để thọ Tam Quy Ngũ Giới thông thường và đến giới đàn truyền giới (như chùa Đại Tiên cử hành) để thọ Tam Quy Ngũ Giới, xét theo tư cách hoặc những mặt khác, có chỗ nào khác biệt? (Lư Vĩnh Mậu hỏi)

 

          Đáp: Năm ngoái, chùa Đại Tiên truyền giới, chính là tổ chức giới đàn chánh thức. Nếu cơ duyên không hợp, chẳng thể tham gia, chỉ nương theo một vị tỳ-kheo đă từng thọ đại giới để thuận tiện cầu giới, cũng chẳng có ǵ không thích hợp! Những chuyện này, trước là cầu hợp pháp, sau là cốt sao có thể giữ ǵn [những giới đă thọ]. Đấy chính là tư cách.

 

          * Hỏi: Tệ nhân bái sư thọ Tam Quy Ngũ Giới vốn chẳng đến đạo tràng, mà ủy thác chị em thay mặt lo liệu. Quy y như thế có hiệu quả hay không? (Lư Vĩnh Mậu hỏi)

 

          Đáp: Không hiểu rơ ư nghĩa của Tam Quy và Ngũ Giới, làm sao có thể tuân thủ cho được? Người khác làm thay, là hướng đến chỗ nào để làm? Kẻ hèn này chẳng biết tường tận ẩn t́nh bên trong, chẳng dám bàn xằng!

 

          * Hỏi: Nếu có chúng sanh đang ở trong cảnh khổ năo, phát nguyện làm các Phật sự, nhưng do hoàn cảnh chướng ngại, nguyện chẳng thể trọn, có phạm giới hay không? (Trại Mạnh Thu hỏi)

 

          Đáp: Có sức mà không làm, tức là lừa dối. C̣n nếu bị chướng ngại khó thành, sẽ chẳng phạm giới, nhưng hăy nên luôn luôn sám hối để tâm nguyện sớm được hoàn tất.

 

          * Hỏi: Ngày mồng Một tháng Tư (ngày Cá tháng Tư, April Fool Day) là ngày bịp người khác, Phật tử tùy thuận thói tục mà nói, hoặc làm chuyện gạt người [nhằm mục đích giỡn chơi]. Như vậy th́ có phạm giới nhà Phật hay không? (Trại Mạnh Thu hỏi)

 

          Đáp: Đó gọi là phạm giới, chớ nên tùy thuận.

                                                                                                    

          * Hỏi: Trong Ngũ Giới, chỉ giữ một giới, có được giới thần ủng hộ hay không? (Lư Vĩnh Mậu hỏi)

 

          Đáp: Mỗi giới có năm vị thiện thần thủ hộ.

 

          * Hỏi: Khi thọ giới, đốt hương trên đầu có ư nghĩa ǵ? Ưu-bà-tắc có đến giới đàn thọ giới, và người chẳng đến giới đàn thọ giới có sai biệt ǵ? (Lư Vĩnh Mậu hỏi)

 

          Đáp: Đối với chuyện đốt hương, có thể tham khảo báo Bồ Đề Thụ kỳ số bốn, đoạn thứ nhất nơi trang thứ sáu. C̣n như nói “thọ giới” mà chẳng đến giới đàn, chẳng nghe giảng giải, trao truyền, làm sao có thể đắc giới?

         

          * Hỏi: Thật sự có giới thần ư? Phải giữ giới đến mức độ nào th́ mới được thần [hộ tŕ] Ngũ Giới che chở? Người ấy có bị bệnh chướng hay không? (Lư Vĩnh Mậu hỏi)

 

          Đáp: Kinh dạy như thế, há có hư vọng? Giữ nghiêm túc, chẳng phá giới, sẽ được giới thần gia hộ. Bệnh là nghiệp quả, há có thể chẳng lănh thọ? Nhưng người tŕ giới, vô h́nh trung, nghiệp đă chuyển nặng thành nhẹ vậy!

 

          * Hỏi: Đối với giới nói dối, có hai người Giáp và Ất hận nhau. Sau đó, hai người nói lời ganh ghét nhau với Bính. Nếu Bính dùng lời thật nói rơ, Giáp và Ất ắt lại tranh chấp với nhau. Đổi thành lời tốt lành, sẽ là phá giới! Rốt cuộc, phải như thế nào th́ mới nên? (Lâm Thiện Duyên hỏi)

         

Đáp: Nếu Giáp và Ất chẳng hỏi tới, cứ nói để làm ǵ? Nếu Giáp và Ất hỏi, hăy dùng lư do “chẳng nói chuyện thị phi” để cự tuyệt chẳng đáp. Há chẳng phải là hai đằng đều trọn vẹn ư?

 

          * Hỏi: Tôi đọc trong kinh Ưu Bà Tắc Giới, thấy phạm phá giới có thể sám hối và không thể sám hối tội lỗi, nhưng đối với đà-la-ni môn, như tŕ tụng chú Đại Bi th́ trọng tội của người phá giới thảy đều tiêu diệt. Đấy chẳng phải là không do sức người sám hối, mà là chú trọng Phật lực ư? (Quán Bồi hỏi)

 

          Đáp: Tŕ chú chú trọng tam mật tương ứng. Nếu thật sự đạt đến tương ứng, niệm sẽ chẳng dấy lên. Sám hối kiểu ấy có sức mạnh lớn nhất. Kệ rằng: “Khi tội khởi lên, dùng tâm sám. Nếu tâm mất rồi, tội cũng tiêu. Tâm mất, tội diệt, thảy đều không. Đó mới gọi là chân sám hối”. Chẳng thể chỉ nói riêng Phật lực hay tự lực, thật ra là cả hai lực đều có.

 

          * Hỏi: Nếu sau khi đă thọ giới “chẳng sát sanh”, do tâm phập phều lắm vọng tưởng; v́ thế, rốt cuộc đôi khi có cảm xúc, có ư nghĩ muốn giết người, ngoài ra, chẳng có hành động ǵ! Hoặc là ban đêm nằm mộng thấy giết người, như thế th́ có phạm giới hay không? Nếu là có phạm, có cách nào để sám hối? (Quán Bồi hỏi)

 

          Đáp: Người mới thọ Ngũ Giới, trước hết là ngăn dứt hành động từ nơi thân. Ư niệm do nhiều kiếp tích tập, người học cạn làm sao có thể chẳng dấy lên [những ác niệm] cho được? Khi ác niệm dấy lên, hăy gấp dấy lên một câu Phật hiệu để đánh tan vọng niệm, chẳng để cho nó liên tục. C̣n ban đêm nằm mộng điên đảo, lại càng không thể làm chủ được, cho nên chẳng phạm giới. Nhưng ư chẳng tịnh, cũng là do công phu quá nông cạn. Sám hối khá tốt đẹp, chỉ đối trước Phật tự thuật cảnh giới, khẩn cầu gia bị là được, hoàn toàn chẳng có phương thức nhất định.

 

* Hỏi: Có người nói đập chết một con muỗi cũng là mắc tội khai sát giới. Nếu lời ấy là thật, hết thảy các bệnh truyền nhiễm đều có vi trùng gây bệnh, người uống thuốc bèn phạm tội phá sát giới. Như vậy, nếu Phật giáo đồ nhiễm bệnh th́ làm như thế nào? Người ta thường bảo “kẻ không có con cháu nối ḍng là bất hiếu”. Trong Phật lư, bất hiếu đối với cha mẹ cũng là có tội. Nếu không sanh con đẻ cháu, lại mắc tội bất hiếu, rốt cuộc phải làm như thế nào? Đối với chuyện lưu truyền ḍng giống, tăng ni trong tự viện giải thích như thế nào? (Đỗ Tự Nhiên hỏi)

 

          Đáp: Hai vấn đề này được hỏi đáp không chỉ một lần. Xin tự kiểm xem, sẽ có thể biết tường tận. Ở đây, tôi lại lược thuật đại khái:

1) Một là đối với hết thảy loài trùng có hại, hăy nên pḥng ngừa trước, khiến cho chúng chẳng xâm nhập. Sau khi đă nhiễm bệnh, nếu có tinh thần “cắt thịt nuôi chim ưng”[27] th́ chẳng ngại ǵ hy sinh. Nếu không, khi chữa trị, chỉ tưởng chữa bệnh, đừng nghĩ tới chuyện sát sanh.

2) Lại nữa, Phật pháp có hai loại là pháp thế gian và pháp xuất thế gian. Tăng ni đă xuất gia, chuyên chú trọng xuất thế. “Không có người nối dơi là bất hiếu” chính là hiếu nghĩa của thế gian. Thành Phật độ cha mẹ nhiều đời, chính là hiếu nghĩa xuất thế!

 

          * Hỏi: Trong Ngũ Giới, khó nhất là giới thứ tư, tức giới vọng ngữ! Tuy đă thọ giới, nhưng đây chính là tập tánh từ xưa, nếu bất tri bất giác, đột nhiên nói ra, bị phá giới th́ làm như thế nào? (Chung Thiêm Đăng hỏi)

 

          Đáp: Hoặc là đối trước thầy truyền giới, hoặc là đối trước Phật, phát lộ sám hối, về sau chẳng làm nữa!

 

          * Hỏi: Thọ giới tà dâm, ngoại trừ thê thiếp ra th́ không thể [lăng nhăng], nhưng nếu kẻ ấy lấy thêm thiếp (vợ lẽ) th́ nên đối với người thiếp như thế nào? (người thiếp sanh mấy đứa con) (Chung Thiêm Đăng hỏi)

 

          Đáp: Thiếp cũng giống như thê (vợ cả), được lễ pháp cho phép.

 

          * Hỏi: Xin hăy khai thị ư nghĩa “vô tác giới thể”. (Trần Như Đức hỏi)

         

Đáp: “Tác” () là động tác. “Giới thể” là do giới mà đạt được công năng ngừa ác. Khi thọ giới, do động tác nơi tam nghiệp đúng pháp, cho nên người khác thấy, nghe, sẽ bảo là “hữu tác giới thể”. Ngược lại, khi thọ giới, do toàn thân dấy lên một sự biến hóa đặc biệt, tuy bề ngoài chẳng thấy, nghe, nhưng đích xác là có công năng ngừa ác, liên tục tồn tại, cho nên gọi là “vô tác giới thể”. Đấy bất quá là nói thô thiển đó thôi, do ư nghĩa vi nhiệm, sự rắc rối, chẳng tiện nói tường tận được!

 

          * Hỏi: Ăn thịt và sát sanh có phải là phạm giới giống nhau hay không? Mạnh Tử nói: “Thấy nó sống, không nỡ thấy nó chết. Nghe tiếng nó, không nỡ ăn thịt nó”. Đấy chính là “quân tử xa lánh bếp núc” vậy! Nếu có kẻ ăn thịt th́ có thể nói là “có sự sát sanh” v́ có kẻ khác giết giùm. Kẻ ăn thịt ấy có phạm giới sát sanh hay không? (Liêu Vũ Khanh hỏi)

 

          Đáp: Ăn thịt và sát sanh có mối quan hệ liên đới, há kiêng nói đến ư? Bất quá, từ thời đại dă man ăn lông, uống máu, cho đến hiện thời, [thói quen ăn thịt đă] tích tụ nặng nề, khó thể thay đổi. Thánh nhân thế gian và xuất thế gian đều chủ trương “thắng hung tàn, bỏ giết chóc”, khiến ḷng nhân nơi tánh được khôi phục. V́ thế, Nho gia trước hết đề xướng xa lánh bếp núc, không thấy, không nghe, để cầu tâm an. Nhà Phật v́ hàng sơ học mà chế định ba hoặc năm thứ tịnh nhục, cũng là chủ yếu “không thấy, không nghe, không v́ ta mà giết”! Cư sĩ có thể ăn chay, cố nhiên là tốt đẹp. Nếu không, đối với tịnh nhục như đức Phật chế định, chẳng ngại tạm thời ăn.

 

          * Hỏi: Hiện thời, tài liệu giảng dạy tại các trường học quốc gia, nhất là thường thức vệ sinh, tận lực thảo luận chuyện diệt trừ các loài trùng có hại. Tôi nhận biết đức Phật thương xót chúng sanh, vâng lời tuân hành kiêng giết, nhưng không lâu sau, sẽ làm thầy dạy học. Nếu tuân theo [tài liệu giảng dạy] để dạy trẻ nhỏ, sợ phạm sát giới, chẳng biết xử trí như thế nào? (Lâm Tông Lượng hỏi)

 

          Đáp: Bộ giáo dục thẩm định sách giáo khoa, giáo viên do nhiệm vụ, há có thể chẳng tuân theo đó để giảng dạy? Chỉ có thể, ngoài giờ học, phương tiện dạy chúng nó phương pháp xua đuổi và pḥng ngừa các loài trùng hại phát sanh, khiến cho người ta được bẩm thụ nhân quả, giảm thiểu sát nghiệp, ngơ hầu bổ cứu đôi chút cho những điều sai sót vậy!

 

          * Hỏi: Bác sĩ thọ Ngũ Giới, bệnh nhân đến khám, biết trong bụng có trùng, liền dùng thuốc giết trùng. Thuốc vào, bệnh hết, [nhưng] giết trùng cứu người, chẳng biết có phạm giới sát sanh hay không? (Lâm Mộng Đinh hỏi)

 

          Đáp: Đó là trách nhiệm nghề nghiệp, chỉ nghĩ chữa bệnh, chẳng dấy lên ư tưởng sát sanh. Nếu không, gặp người mắc bệnh ấy, bèn từ tạ chẳng chẩn trị, cũng là phương tiện.

 

          * Hỏi: Vừa đọc câu trả lời cư sĩ Lâm Mộng Đinh nơi mục Phật Học Vấn Đáp trong số trước của quư báo, mạt học có cảm giác khá bàng hoàng. V́ trong quá khứ, tôi đọc kinh Phật hoặc tạp chí hữu hạn, nhưng dường như, [tất cả] đều nhấn mạnh tông chỉ của Phật giáo phần nhiều chú trọng làm cho nhân loại giác ngộ ḥng được giải thoát. Ư nghĩa quan trọng của việc tŕ giới là khiến cho người ta bỏ tà quy chánh và tăng trưởng bi tâm, ḥng giúp cho việc tu tŕ, ngơ hầu có thể mau chứng Bồ Đề. Nếu v́ tŕ giới mà cự tuyệt chẩn trị bệnh nhân có trùng trong bụng, có phải là mắc nỗi tỵ hiềm “v́ điều nhỏ nhặt mà vứt bỏ điều lớn lao” đó chăng? Hơn nữa, [làm như vậy], sẽ trái nghịch Bồ Tát đạo. Lại nữa, nếu chỉ giữ tâm tưởng chữa bệnh, chẳng nghĩ giết trùng, có phải là chẳng phù hợp với pháp thế gian khiến cho người khác sanh nghi hay không? (Trương Quư hỏi)

 

          Đáp: Giới luật ắt có đủ tam tụ, tức là Luật Nghi Tụ, Nhiếp Thiện Pháp Tụ, và Nhiêu Ích Hữu T́nh Tụ. Dùng chuyện kiêng giết để luận định, không chỉ v́ giải thoát chính ḿnh, mà c̣n nhằm nhiêu ích hữu t́nh nữa! Nói “hữu t́nh” tức là bao gồm [chúng sanh] trong chín pháp giới, đều nhất loạt b́nh đẳng. Chẳng như trong pháp thế gian (tục sự, tục lư trong thế gian) có phân biệt đẳng cấp sang, hèn, cho nên mới gọi là đại từ đại bi. Tín đồ nhà Phật cự tuyệt giết trùng trong bụng, tất nhiên là b́nh đẳng từ bi; bất đắc dĩ mà giết th́ cần phải có phương tiện thiện xảo. C̣n như khi trị liệu, chỉ tưởng chữa bệnh, chẳng dấy lên ư tưởng sát sanh. Trị liệu chính là thực hành kỹ thuật, “tưởng” chính là một loại quán cảm. Đă v́ chữa bệnh th́ chỉ có quan điểm tâm lư bất đồng, dường như cũng chẳng trở ngại pháp thế gian.

 

          * Hỏi: Bát Quan Trai Giới là [thọ tŕ] một ngày một đêm, ngày kế tiếp chẳng tuân thủ th́ có phạm giới hay không? Qua ngày hôm sau lại tŕ th́ có được phép hay không? (Quản Tân Bàn hỏi)

 

          Đáp: Bát Quan Trai Giới rất nghiêm ngặt, rất nhỏ nhiệm. V́ thế, khi tŕ bèn có câu nói “giống như chư Phật”. Phàm phu chẳng có sức thường vâng giữ nghiêm cẩn như vậy; v́ thế, chỉ chế định [thời hạn thọ tŕ] một ngày một đêm. Qua ngày ấy, chẳng ngăn cấm nữa, cho nên chẳng vi phạm lệnh cấm, cho phép thọ tiếp.

 

          * Hỏi: Người đă thọ giới bị trưng dụng xuất chinh, đến chiến địa có thể nổ súng giết người ư? Nếu nổ súng giết người, đấy chẳng phải là vi phạm giới “không sát sanh” ư? Chẳng nổ súng th́ không phải là sanh mạng của chính ḿnh khó thể bảo toàn ư? (Chung Trí Hiền hỏi)

 

          Đáp: Phục tùng mệnh lệnh, chống địch chốn biên cương, chẳng lạm sát kẻ vô tội, chính là quân đội của bậc vương giả, chẳng tổn thương ḷng nhân từ, lại c̣n hợp với ư nghĩa của giới.

 

          * Hỏi: Nói mà chẳng thể thực hiện, có thuộc loại vọng ngữ hay không? (Đặng Huệ Tâm hỏi)

 

          Đáp: Lời nói và việc làm mâu thuẫn, đương nhiên là hư vọng.

 

          * Hỏi: Quan ṭa đă thọ Ngũ Giới, phán quyết kẻ khác chịu án tử h́nh, có phạm giới sát sanh hay không? (Duy Bảo hỏi)

 

          Đáp: Nay tôi nêu một tỷ dụ để giải thích lư này. Ví như ngồi xe chở khách, quư vị mua mấy tấm vé. Nhân viên chịu trách nhiệm trên xe bèn kiểm vé, t́m số ghế mời quư vị ngồi. Nếu như chỗ ngồi ấy đàng hoàng hay tệ hại, nhân viên soát vé hoàn toàn chẳng chịu trách nhiệm. H́nh luật quốc gia, chắc chắn là có những điều luật chuyên môn, người phạm tội ǵ, quan ṭa bèn dẫn dụng điều khoản ấy để buộc người đó chịu bản án nào. Giống như chiếu theo số ghế để ngồi xe, bất quá quan ṭa là người chấp hành theo luật mà thôi. Nhưng cổ nhân có giáo huấn, xử tội nên nhẹ tay. Trong h́nh luật có nói “xử bằng h́nh phạt chi đó hoặc phạt ǵ đó...” th́ mới có thể trong phạm vi hợp lệ, khoan dung giảm án tử h́nh (hiện thời, chấp hành h́nh phạt nhằm ư định cảm hóa, chứ không phải là báo thù), sẽ c̣n có âm đức.

 

          * Hỏi: Nghe nói lăo cư sĩ quá Ngọ không ăn, nhưng nghe nói “quá Ngọ không ăn” là có liên quan đến thời gian khất thực của tỳ-kheo, nên mới định ra quy củ như vậy. Lăo nhân gia đă là ưu-bà-tắc, lại chẳng phải là khất sĩ, v́ sao cũng phải “quá Ngọ chẳng ăn”? (Duy Bảo hỏi)

         

Đáp: Không ăn phi thời gọi là Trai (). Tŕ trai hoàn toàn chẳng phân tại gia hay xuất gia. Trai giới vốn có những loại mà tứ chúng đều có thể thọ tŕ. Bát Quan Trai Giới chính là một trường hợp vậy!

 

          * Hỏi: Năm ngoái, học tṛ đến thăm viếng chùa Tỳ Lô, phải theo đường Đài Trung trở về, trông thấy đất đỏ, bèn nghĩ trong nhà cần dùng đất đỏ, liền bảo tài xế lấy đất đỏ đem về (nhất thời quên mất là có thể lấy hay không). Nay nhớ tới chuyện này, [thắc mắc] có phải là phạm giới trộm cắp hay không? (Lâm Khoan Tu hỏi)

 

          Đáp: Trong giới bổn có nói: “Không thuộc về sở hữu của người khác, dựa theo [sự kiện] nó là của chung để lấy th́ chẳng có tội”. Như nước trong sông, biển, củi trong núi hoang v.v... Đất trên đường đi chẳng thuộc về tư nhân, có thể chuẩn theo lệ ấy. Thời cổ có người liêm khiết, dắt ngựa uống nước bên đường, c̣n bỏ tiền xuống đó. Dùng điều này để cổ vũ sự trong sạch của chính ḿnh, chẳng khỏi mang tánh cách sửa sai quá lố! Đức Phật chế giới luật với ư chỉ “chẳng chôn vùi đức của chính ḿnh, chẳng tổn hại lợi ích của người khác”, nhưng đều là b́nh dị, gần gũi, hoàn toàn chẳng phải là ép người, gây khó vậy!

 

          * Hỏi: Người nhà có kẻ quá yêu loài vật, nuôi mèo, nuôi chó cả bầy! Không chỉ là trong khi niệm Phật, hoặc tụng niệm công khóa, bị chúng nó quấy nhiễu, chúng lại c̣n thường rảy nước tiểu, rớt phân cạnh bàn Phật. Đối với chuyện Phật, Bồ Tát bị hứng chịu hơi ô uế, tôi cảm thấy tội lỗi sâu đậm! Nhưng nhà ở quá nhỏ, lại không có nơi chốn thích đáng để dời tượng Phật đang thờ sang chỗ khác, làm thế nào để giải trừ loại tội lỗi nghiệp chướng này? (Trần Vỹ Anh hỏi)

 

          Đáp: Người học Phật, nói theo lư, chớ nên nuôi dưỡng loài súc vật như thế, giới luật có kinh văn ghi chép rơ ràng. Nếu chính ḿnh chẳng thể làm chủ, chỉ có cách càng siêng năng ngăn ngừa và dọn dẹp mà thôi. Nếu có thể làm chủ, th́ tạm thời tùy duyên, sau này không tiếp tục nuôi súc vật nữa th́ hơn!

 

          * Hỏi: V́ sao nhất định phải thọ giới th́ mới tốt hơn? Chẳng thọ giới th́ tu hành sẽ khác biệt ư? (Dương Thiên Nguyên hỏi)

 

          Đáp: Giới là di giáo của Phật. Đức Phật đă diệt độ, bèn lấy giới làm thầy. Giới là căn bản để dứt ác, hướng thiện, là cửa chánh để giải thoát, là kim nam châm cho chánh tri chánh kiến, là cơ sở của Tam Vô Lậu Học. Chẳng thọ giới, hoặc thọ giới mà không vâng giữ, tức là chẳng có Phật, chẳng có thầy, không chịu dứt ác, chẳng cầu giải thoát, chẳng noi theo chánh đạo, chẳng cầu định huệ, c̣n nói ǵ tới chuyện tu hành cơ chứ!

 

          * Hỏi: Ưu-bà-tắc thọ Bồ Tát giới ăn trứng hoặc uống các loại rượu bổ (dùng chút ít để dưỡng thân) th́ có phạm giới hay không? (Trần Từ Dung hỏi)

 

          Đáp: Thực phẩm có chất dinh dưỡng rất nhiều, dường như trứng hoàn toàn chẳng phải là loại thù thắng nhất! Cớ ǵ cứ mê tín vật ấy? [Biện định về chuyện uống] rượu [để bồi bổ] cũng giống như thế! Nếu thân mắc bệnh, để chế thuốc, cần phải dùng đến thứ ấy, sẽ tự có thể dung thông. Nếu nhờ vào thứ ấy coi như thuốc để tẩm bổ th́ rất chớ nên! Ăn trứng giống như đọa thai, hằng ngày cứ làm, sao chẳng mắc lỗi cho được?

 

          * Hỏi: Quá Ngọ chẳng ăn, có thể dùng các thứ như trái cây (súp gạo, trà hạnh nhân) hay không? (Tín Huệ hỏi)

 

          Đáp: Phàm những thứ có chứa chất rắn th́ đều chớ nên ăn!

 

          * Hỏi: Người thọ giới phải tŕ trai, kẻ không tŕ trai có thể thọ giới hay không? (Trang Khánh Hiền hỏi)

 

          Đáp: Sau khi đă thọ giới, đương nhiên là ăn chay. Người chưa ăn chay, thọ giới chẳng trở ngại! Nhưng sau khi đă thọ, hăy nên tŕ trai. Nếu không thể tŕ, thọ giới để làm ǵ?

 

          * Hỏi: Rượu là một trong Ngũ Giới, v́ sao khi toa thuốc Bắc sử dụng hỗn hợp th́ lại có thể uống? (Trang Khánh Hiền hỏi)

 

          Đáp: Thông thường, rượu dùng để chuốc vui khi tụ họp vui vẻ, thuốc là v́ bệnh tật mà trị liệu nỗi đau khổ. Chuốc vui là cầu phóng dật. V́ thế, người tu hành ắt cần phải răn cấm. Chữa trị bệnh khổ là để giữ sanh mạng. V́ thế, người tật bệnh có thể phương tiện thông dụng.

 

          * Hỏi: Người chẳng ăn chay trường có thể cầu thọ tại gia Bồ Tát giới hay không? (Nhan Phật Triệu hỏi)

 

          Đáp: Chẳng ăn chay trường th́ có ǵ mà không thể thọ Bồ Tát giới? Nhưng sau khi đă thọ, hăy nên ăn chay trường. Nếu có điều bất tiện, hăy ăn rau bên cạnh thịt cũng chẳng trở ngại. V́ chẳng ngừng ăn thịt, ắt cái tâm từ bi rốt cuộc chẳng thể phát khởi triệt để được.

 

          * Hỏi: Nhỏ nhất trên địa cầu là kiến, nhưng đệ tử Phật khi tu giới, thường là đạp chết vô số. Nếu nói theo giới luật nhà Phật, sẽ là giới sát sanh. Nếu chẳng phải là cố ư đạp chết, chẳng biết có tội lỗi như thế nào? (Lư Thanh Thủy hỏi)

 

          Đáp: Cổ đức có nói: “Cử bộ thường khán mă nghĩ” (Bước đi, thường coi chừng kiến). Tuân thủ điều này, khi đi càng thêm cẩn thận mà thôi. Người cố ư có tội, kẻ chẳng phải cố ư th́ là lầm lỗi!

 

          * Hỏi: So với tỳ-kheo, v́ sao tỳ-kheo-ni phải thọ nhiều hơn hai trăm năm mươi đại giới? (Lô Thục Trân hỏi)

 

          Đáp: Thân nữ nhiều chướng ngại; do vậy phải nghiêm ngặt.

 

          * Hỏi: Trong Bát Quan Trai Giới, có một giới là “không nằm giường cao rộng”, quy định [giường] cao hơn một thước sáu tấc sẽ là phạm giới. Điều này khó liễu giải! (Lư Vinh Đường hỏi)

 

          Đáp: Đối với người tu đạo, nằm duỗi thẳng chân là được rồi. [Giới điều này] cũng nhằm răn dạy “đừng phóng túng theo dục vọng để rồi buông lung!”

 

          * Hỏi: Tu tŕ tịnh nghiệp, nông cạn nhất là phải tŕ Ngũ Giới. Trong Ngũ Giới, có giới chẳng được loạn sát (giết chóc bừa băi), nhưng động vật có sức sanh sản mạnh hơn loài người. [Nếu chẳng giết bớt], chẳng phải là mấy năm sau, [địa cầu] sẽ khôi phục thuở hồng hoang thời thái cổ ư? (Hoàng Quan Trung hỏi)

         

Đáp: Kỳ lân, phượng hoàng, anh vũ (két, vẹt), khổng tước (công), người ta đều chẳng giết, [thế mà] chưa thấy chúng nó tràn ngập thế giới. Mèo, chó lại c̣n được người ta nuôi, chim én làm tổ nơi kèo cột, người ta cũng bảo vệ, trọn chẳng thấy mèo, chó nghẹt đường, én bay thành đàn rợp trời! Thật ra, tất cả các loại động vật, tự bị thiên nhiên đào thải, như cây trong rừng rậm, chẳng cần đốn trụi, chúng tự trưởng thành, tự tàn héo, cần ǵ mất công ta đa sự thay chúng làm chuyện giết chóc?

 

          * Hỏi: Người tin Phật trong quân đội hăy nên thọ các thứ trai giới nào? (Hoàng Quan Trung hỏi)

 

          Đáp: Hăy nên thọ hai giới trộm cắp và tà dâm. Giữ hai giới ấy trong khi hành quân, chắc chắn sẽ không quấy nhiễu dân chúng, sẽ được quần chúng ủng hộ, có thể là quân đội vô địch vậy!

 

          * Hỏi: Đối với giới luật, có sách ǵ để tham khảo? (Thái Minh Cốc hỏi)

 

          Đáp: Luật là một bộ phận của Tam Tạng, thư tịch rất nhiều. Đối với hàng tại gia sơ cơ, trước hết hăy nên xem kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, kinh Phạm Vơng, kinh Anh Lạc, và các sách về giới luật của hàng tại gia do cổ đức biên tập.

 

          * Hỏi: Phật tử tại gia chỉ cần nghiên cứu, học tập sách Phật, giữ ḷng tôn kính là được rồi. Có cần phải chánh thức thọ giới hay không? (Hồ Chánh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Người học Phật quư ở chỗ “hạnh giải tương ứng”. Giống như kể chuyện ăn, đếm của báu, nếu hành mà chẳng hiểu, dễ đi vào ngơ rẽ. Do Giải, có thể khai huệ, hành mới có thể thành Định. Càng quư hơn nữa là Định và Huệ đều cân bằng, nhưng hai điều ấy lại đều nương vào Giới. Những điều này được gọi là Tam Học. Chẳng có Giới tức là không có cội rễ, sợ rằng Định sẽ là tà định, sợ rằng Huệ sẽ là cuồng huệ vậy!

 

          * Hỏi: Một ngày một đêm thọ tŕ Bát Quan Trai Giới có ư nghĩa như thế nào? Người thọ tŕ sẽ đạt được những điều tốt đẹp ǵ? (Đỗ Phấn hỏi)

 

          Đáp: Ngoài giết, trộm, dâm, dối, uống rượu ra, c̣n thêm “chẳng bôi hương đeo hoa, không ngồi nằm giường cao rộng, không tự ca múa, mà cũng chẳng đi xem ca múa”, gọi là tám điều về giới. Quá ngọ chẳng ăn, gọi là một điều về Trai. Nói gộp chung, sẽ là Bát Quan Trai Giới. Nói đến chỗ tốt đẹp th́ rất nhiều, chỉ cần biết là chư Phật đều hành như thế. Nếu hành giả thật sự có thể giữ nghiêm cẩn trong một ngày một đêm, sẽ giống như chư Phật.

 

          * Hỏi: Người ăn chay trường đều chẳng ăn hành, tỏi là v́ ư nghĩa nào? (Đỗ Tự Nhiên hỏi)

 

          Đáp: [Hành, tỏi] hơi hướng hôi nhơ, có thể khiến cho thần trí tối tăm, lại c̣n có thể tăng giận, tăng dâm. Do có nhiều ư nghĩa, nói ra sẽ dài ḍng, nên tôi không rườm lời.

 

          * Hỏi: Tăng nhân Nhật Bản có thể lấy vợ, có thể ăn thịt, có phải là trái nghịch Phật lư hay không? (Ngô Diệu Vinh hỏi)

 

          Đáp: Chữ Tăng chỉ chúng xuất gia, tự nhiên là chẳng được ăn thịt, cưới vợ! Kinh luật đều có kinh văn ngăn cấm. Nhưng tăng sĩ Nhật Bản chẳng phải là toàn bộ đều như thế[28]. Kẻ làm như thế chỉ là một bộ phận trong nước ấy mà thôi!

          * Hỏi: Trong Ngũ Giới, chỉ có thể giữ bốn giới th́ có thể thọ giới hay không? (Vưu Thái Hoa hỏi)

 

          Đáp: Giới quư ở chỗ có thể tŕ, chẳng chuộng thọ cho nhiều [mà không giữ được]. Giữ một hai giới là thiểu phần, ba giới là bán phần, bốn giới là đa phần, trọn cả năm giới là măn phần. Nhiều hay ít chẳng câu nệ, mỗi loại đều có công đức, có thể tùy ư cầu thọ.

 

          * Hỏi: Nhị Tổ Thần Quang rút “giới đao” chặt tay cầu pháp v.v... Dám hỏi: Cổ đức tu hành cớ ǵ đeo đao? Đă đeo đao, làm sao gọi là “giới” cho được? Giới đao có tác dụng như thế nào? Ư nghĩa như thế nào? (Trí Lương hỏi)

 

          Đáp: Giới đao (戒刀) chính là con dao nhỏ để cắt ba y[29]. Luật cho phép cất giữ, dạy rơ: Cấm dùng [giới đao] để cắt chặt cây cỏ, càng thấy rơ là chẳng được dùng để cắt những thứ khác. Do sử dụng hạn chế, nên gọi là “giới đao”.

 

          * Hỏi: Đức Phật khuyên kiêng giết, nhưng thân là quân nhân, “bảo vệ đất nước, giết địch, trừ giặc” là thiên chức, như vậy th́ có tội hay không? Rất sợ do tin Phật mà thiếu sót chức trách, hổ thẹn đối với quốc gia. Xin hăy khai thị! (Lam Bộ Quư hỏi)

 

          Đáp: Sự có nguyên tắc, mà cũng có ngoại lệ. Pháp có ngăn cấm, mà cũng có khuyên lơn, há nên chỉ biết một mặt? Trong Phật pháp, giới có ngăn giết. Đó là nguyên tắc, thuộc loại cấm. Nếu thấy chúng sanh gặp nguy, hăy nên thí Vô Úy, cứu giúp kẻ đang gặp nguy nan ấy. Nếu thấy ác ma hại chúng, càng nên hàng phục, chế ngự kẻ tàn bạo ấy. Những trường hợp ấy là ngoại lệ, đều thuộc loại khuyên lơn. Chức trách của quân nhân trong Phật pháp thuộc hai loại sau, há có chuyện thiếu sót chức trách? Nếu trong chiến trận, đă đạt được thắng lợi, mà c̣n lạm sát kẻ vô tội, giết hại tù nhân, giết kẻ đă đầu hàng th́ chẳng được! Ví như thầy thuốc mổ xẻ, đă cắt bỏ chỗ hư bệnh, nếu làm tổn thương tới chỗ không bị bệnh, sẽ mắc tội vậy!

 

          * Hỏi: Nếu cư sĩ làm nghề nông, ngũ cốc bị sâu rầy, có thể tiêu diệt chúng hay không? (Thí Vạn Tấn hỏi)

 

          Đáp: Vứt bỏ là xua đuổi trùng đă sanh, tránh né là pḥng ngừa trùng chưa sanh. Như vậy th́ cũng được, cần ǵ phải giết?

 

          * Hỏi: Súc sanh chẳng câu nệ lớn nhỏ đều có cùng một linh tánh. Giả sử giết chết một con chó, so sánh với giết chết một con muỗi, thế tục sẽ bảo tội giết chó nặng hơn. Linh tánh giống hệt như nhau, cớ sao lại phân chia tội có lớn, nhỏ, nặng, nhẹ? (Lư Tuấn hỏi)

 

          Đáp: Đức Phật chẳng chủ tŕ sự thưởng phạt, tội phước do chính ḿnh chuốc lấy. Bất quá, đức Phật khuyên mọi người hăy lấy “tu tâm, sanh trưởng ḷng từ, dứt tuyệt sát niệm” làm căn bản. Giết động vật, chẳng cần biết lớn hay nhỏ, nói chung là trong ḷng (nói theo kiểu thế tục) luôn áy náy. V́ thế, đều b́nh đẳng ngăn cấm. Thế tục luận định theo h́nh dáng bên ngoài, cho nên phân biệt lớn, nhỏ, định tội nặng, nhẹ, nhưng xét theo Phật lư, hoàn toàn chẳng phải là nói [theo kiểu ấy] không suông! Phải biết: Trên thân của mỗi chúng sanh đều có vô lượng động vật kư sinh. Thân trâu, chó to lớn, động vật kư sinh sẽ nhiều. Giết nó là giết đa số động vật, cho nên tội to lớn. Thân muỗi nhỏ, động vật kư sinh sẽ ít. Giết nó là giết một số ít động vật, cho nên tội nhỏ.

 

          * Hỏi: Xuất gia là truy y (áo sẫm màu), tại gia là bạch y, nhưng người xuất gia mặc áo trắng có thích hợp hay không? Hơn nữa, bốn chúng tại gia và xuất gia đi giày da, đeo túi da th́ có phạm giới luật hay không? (Vương B́nh Lang hỏi)

 

          Đáp: Đối với màu sắc truy hay bạch, đừng câu nệ nơi y phục. Giày da và túi da đều nên tránh dùng.

 

          * Hỏi: Nếu có khách từ nơi xa đến, chủ nhân sai gia nô trừ trùng, mổ lợn để tiếp đăi. Loại sát nghiệp ấy là biệt nghiệp hay cộng nghiệp? (Trại Mạnh Thu hỏi)

 

          Đáp: Đấy là cộng nghiệp. Nhưng có dầy, mỏng, hữu tâm, hoặc vô tâm sai khác, thọ báo đương nhiên là bất đồng!

 

          * Hỏi: Tŕ Bát Quan Trai Giới có phải là từ một giờ vào lúc nửa đêm hôm trước cho tới mười hai giờ đêm ngày hôm sau là hết? Hay là từ sáng ngày hôm ấy (ngày thọ giới) cho đến sáng hôm sau? Quá Ngọ chẳng ăn th́ có thể ăn điểm tâm hay không? (Đặng Lan Tôn hỏi)

         

Đáp: Tôi cho rằng hai thời đều được, v́ chúng đều là trọn hết một ngày một đêm. Buổi sáng ăn điểm tâm chẳng trở ngại ǵ!

 

          * Hỏi: Đức Phật chế định quá Ngọ không ăn, thật sự là nếu ai cũng đều có thể như thế, ắt là đỡ tốn kém, lại ít phiền phức. Có phải [“quá Ngọ không ăn”] là chỉ ăn một bữa trưa? Hay là hai bữa điểm tâm và bữa trưa? Đă quá Ngọ, có c̣n dùng điểm tâm, trà, quả hay không? Kẻ sơ học nên luyện tập như thế nào để không tổn hại thân thể? (Lâu Vĩnh Dự hỏi)

 

          Đáp: Người tŕ Ngọ được phép ăn điểm tâm vào sáng sớm. Sau khi đă quá Ngọ, chỉ có thể uống nước, chứ điểm tâm, hoa quả đều chẳng được dùng. Đây là nói đối với người chánh thức tŕ trai. Đă chẳng thọ trai, lại mới luyện tập, sau Ngọ sẽ không ngại tạm thời ăn điểm tâm, hoa quả. Từ ăn ít, dần dần tiến tới không ăn. Chỉ có điều ăn điểm tâm vào sáng sớm, chớ nên ăn quá no. Tốt hơn là ăn cháo, khiến cho đến lúc chánh Ngọ, có thể ăn nhiều hơn. Có thể ăn bữa Ngọ nhiều hơn th́ thời gian sẽ có thể duy tŕ lâu hơn. Đấy cũng là một cách tập luyện.

 

          * Hỏi: Dịch sách có phải hành vi trộm cắp hay không? (Lư Vĩnh Mậu hỏi)

 

          Đáp: Dịch sách th́ cần phải ghi rơ là dịch từ sách nào, không coi tác phẩm ấy do chính ḿnh viết ra, sẽ chẳng phải là trộm cắp.

 

          * Hỏi: Người ăn chay có thể ăn trứng gà, sữa ḅ, và mặc áo da, đi giày da hay không? Nếu có thể, có phải là có liên quan đến lời nói “thực kỳ nhục, nhi tẩm kỳ b́” (ăn thịt nó, ngủ trên da của nó)[30] hay không? (Đặng Chí Thiện hỏi)

 

          Đáp: Ăn chay là v́ xót thương, kiêng giết. Sữa ḅ chẳng do sát sanh mà có, cho nên có thể ăn. Những vật khác theo luật đều không được!

 

          * Hỏi: Đức Phật răn đừng sát sanh. Đối với chuột, muỗi, ruồi v.v... những thứ trùng có hại cũng đều thuộc vào điều răn ấy hay không? (Quế Dẫn Hạnh hỏi)

 

          Đáp: Hễ thuộc về chúng sanh, sẽ đều là quyến thuộc trong quá khứ, là vị lai chư Phật. Chúng nó đă đọa trong ác đạo, làm thân chuột, muỗi, ruồi, khổ sở cùng cực! Hăy nên sanh tâm bi mẫn, nếu lại giết chóc, có khác ǵ gặp kẻ đă té giếng c̣n ném đá xuống?

 

          * Hỏi: Người ăn chay, trai giới, lúc bị bệnh, có thể bất đắc dĩ dùng những thứ dược phẩm dưới đây hay không? Kinh sách về giới luật nhà Phật có kinh văn chỉ dạy rơ ràng hay không? Ví như mai rùa, con trút, những loại mai của những con vật khác, da các loại thú, trùng, rắn. Dùng chúng để làm thuốc uống th́ có phải là phá giới hay không? (Chung Đỉnh Xương hỏi)

 

          Đáp: Nếu tiệm thuốc trữ sẵn [những dược phẩm ấy] đă lâu th́ có thể dùng, giống như năm thứ tịnh nhục vậy. Hơn nữa, uống thuốc là để trị bệnh, chẳng phải là do tham ăn tục uống! Vậy khi uống, hăy nên v́ chúng nó niệm Phật, sẽ càng tăng thêm công đức. Chỉ có điều, nếu v́ chữa bệnh mà người thọ giới giết động vật để làm thuốc th́ không thể được!

 

          * Hỏi: Nếu có người khi thấy rắn dữ sắp cắn trẻ nhỏ, có thể giết nó hay không? Nếu chẳng giết, đứa nhỏ sẽ bị cắn chết. Nếu giết rắn, sẽ là phá giới, làm như thế nào th́ mới nên? (Lâm Thiện Duyên hỏi)

 

          Đáp: Sắp cắn tức là chưa cắn, lúc ấy, sao không đuổi nó đi? Chỉ nên ngăn chặn nó làm dữ, há nên sát thương? Nếu khoanh tay bàng quan, đâm ra càng đánh mất ḷng bi mẫn. Nếu ác xà ngoan cố kháng cự, không ngại đánh nó, nó sẽ sợ hăi bỏ đi.

 

          * Hỏi: Kẻ thọ giới gặp trường hợp vạn phần bất đắc dĩ phải phá giới. Chẳng hạn như công tác ở nơi khác, hoặc khi ra ngoại quốc, v́ giao tế mà phải ăn thịt, uống rượu th́ làm như thế nào? (Chung Thiêm Đăng hỏi)

 

          Đáp: Khai, giá giới, cần phải chuẩn theo luật. T́nh tiết nhỏ nhiệm, không thể luận định nhất loạt được! Chánh thức thọ giới có lời thề “thà bỏ thân mạng, chẳng thể phá giới”. Yến hội là chuyện nhỏ nhặt, sao có thể phá giới? Nếu thật sự v́ lợi ích chúng sanh mà phá giới th́ luật cũng có chỗ cho phép.

 

          * Hỏi: Phật giáo nói đến giới sát sanh. Giả sử quân nhân giết địch nhân trên chiến trường, có tính là sát sanh hay không? Giết th́ có tội hay không? (Trịnh Đôn hỏi)

 

          Đáp: Giết thiểu số để bảo vệ đa số, trừ bạo an lương, một là phương tiện bất đắc dĩ, hai là phục tùng mệnh lệnh của quốc gia. Chỉ v́ phát xuất từ cái tâm bi mẫn, ngăn dứt chuyện lạm sát, há có tội ǵ?

 

* Hỏi: Phật răn đừng sát sanh, lư ấy là đương nhiên, nhưng bất luận ai cũng chẳng tránh khỏi uống nước, mà trong nước, sẽ chẳng tránh khỏi có những loài trùng bé tí sống. Rốt cuộc, uống nước hoặc đun nước đều phạm sát giới! Lại nếu bắt được rận hay rệp trên thân, giết chết nó th́ cũng phạm sát giới ư? (Lưu Định Sí hỏi)

 

          Đáp: Đức Phật chế định: Uống nước, ắt phải dùng vải lọc, tức là tránh sát sanh. Nước máy hiện thời đă qua quá tŕnh tẩy lọc, có thể uống trực tiếp chẳng trở ngại ǵ. Rận, rệp có thể đưa đến thả ở chỗ có cỏ, thanh vắng, mặc cho nó sanh diệt. Động vật bất luận lớn hay nhỏ, đều có sanh mạng, bị giết đều bị đau khổ. Nếu chúng ta khởi sát tâm đối với chúng nó, làm chuyện giết chóc, đương nhiên là phạm sát giới. Nhưng sát sanh lại chia thành cố sát và ngộ sát khác nhau. Kẻ sơ học chưa mở Thiên Nhăn, ăn uống, hành động, dẫu sát sanh vô số, nhưng do không biết, cho nên là ngộ sát. Từ nay trở đi, hăy nên giữ ḷng từ bi, trong phạm vi có thể, hăy tránh cố sát, th́ vẫn chẳng đánh mất ư nghĩa “giới sát”.

 

          * Hỏi: Xin thầy khai thị về lư “người chưa thọ giới chẳng được giảng kinh”. (Trí Lương hỏi)

 

          Đáp: Giới luật nhà Phật cũng giống như hiến pháp của quốc gia. Phật giáo đồ chẳng thọ giới luật, giống như quốc dân chẳng tuân thủ hiến pháp. Giả sử có kẻ nào làm quan lại mà chẳng tuân thủ hiến pháp, tuyên bố chánh trị, nhân dân có thể tin tưởng, ngưỡng mộ hay chăng? Hơn nữa, sau khi đức Phật diệt độ, phải lấy giới làm thầy. Chẳng thọ giới luật giống như không có thầy. Sở tri sở học ấy, há có nền tảng ư? Giảng kinh mang ư nghĩa “độ chúng sanh dứt ác, hướng thiện, chuyển mê thành ngộ”, nhưng kinh văn chỗ nào cũng có nhiều giới điều. Bản thân người giảng c̣n chẳng làm theo, thế mà chỉ dạy người khác thực hiện, há chẳng phải là hư luận ư? Hơn nữa, toàn thể Phật học, bất quá là Giới, Định, Huệ mà thôi! Đă chẳng có giới học, há có Định, Huệ? Nhân phẩm của kẻ như thế ấy, dẫu có đa văn, chưa chắc tri kiến đă chánh xác! Để cho kẻ ấy giảng kinh, ví như kẻ mù chỉ lối, chắc chắn mắc họa lầm lạc. Ngoài những điều vừa nêu, c̣n có những điều [chẳng đúng pháp, chẳng thích hợp] khác nữa, chẳng thể kể xiết!

 

          * Hỏi: Sau khi đă thọ Bồ Tát giới, ắt đoạn tuyệt chánh dâm. Nếu ai nấy đều thọ Bồ Tát giới, há nhân loại chẳng bị diệt mất ư? (Hao Thạch hỏi)

 

          Đáp: Người xuất gia đoạn dâm, người tại gia chỉ đoạn tà dâm. Nay ông bảo nhân loại trên cả thế giới đều thọ giới đoạn dâm, trên thực tế há có chuyện như vậy? Giả sử có đi nữa, ắt có kẻ trước hết nhiệt thành tín phụng Phật, sau đó thọ giới. Như thế th́ toàn thể nhân loại đều được độ hết, há chẳng phải là đại thiện ư, có ǵ sợ hăi? Nếu không, đời cổ quan lại lương thiện, nhà tù trống không, cũng nên lo lắng, bảo: “Nếu dùng những quan lại lương thiện ấy, há chẳng phải là không có kẻ tội phạm nào ư?” Tuy tại hạ đáp như vậy, ông cần phải rỗng rang mấy phần nhân tướng (chấp trước có tướng người khác) th́ mới dễ liễu giải được!

 

          * Hỏi: Tôi là kẻ tại gia tin Phật, ăn chay đă nhiều năm, rất mong phát tâm xuất gia tu hành, nhưng cảm thấy giới luật khó tŕ, chẳng dám hạ quyết tâm. Ngũ Giới giết, trộm, dâm, dối, uống rượu là đại giới căn bản của Phật giáo, mà cũng là giới điều căn bản nhất, chủ yếu nhất, ắt cần phải tuân thủ của người học Phật. Nhất là dâm giới trong Ngũ Giới khó tŕ nhất, những giới khác đều không có vấn đề ǵ! V́ điều này thuộc về quan hệ sinh lư. Ví như lúc đói bụng, ắt cần ăn cơm cho no ḷng. Người ăn chay chẳng thể ăn đồ mặn cá to, thịt lớn, có thể dùng rau xanh, đậu hủ, các món chay để no ḷng. Nhưng người xuất gia giữ giới dâm th́ khác hẳn, tức là chẳng thể tà dâm, mà lại không có vợ, phải sống cuộc đời hoàn toàn đoạn tuyệt t́nh dục. Tôi cảm thấy thật sự quá ư là khó! Chưa biết dùng phương pháp nào để có thể ngăn trừ cái tâm [ham muốn] ấy. Nghe nói cắt bỏ hai tinh hoàn có thể khiến cho bộ phận sinh dục suốt đời chẳng thể cương cứng nữa, tức là có thể triệt để trừ tận gốc dục tánh. Vậy th́ trừ việc cắt bỏ hai tinh hoàn là pháp môn duy nhất của người tŕ giới ra, trừ cách ấy ra, e rằng chẳng có biện pháp nào tốt hơn! Tôi rất mong tiến hành giải phẫu theo cách đó, xin hỏi cách ấy có hữu hiệu hay không? Có nên hay không? (Ẩn Danh Thị hỏi)

         

Đáp: Lời hỏi tuy chỉ có một, nhưng ư nghĩa phức tạp, hăy nên chia thành bốn đoạn để trả lời.

- Một, từ câu “tại gia tin Phật” cho đến “chẳng dám hạ quyết tâm”. Xin hỏi túc hạ tính xuất gia nhằm mục đích nào? Nhằm liễu sanh tử cho chính ḿnh đó chăng? Hay là v́ độ chúng sanh ĺa khổ được vui ư? Hay là v́ cầu an nhàn tự tại, hưởng thanh phước? Nếu thuộc hai điều đầu, đó chính là phát Bồ Đề tâm. Nếu nhận thức lư chân thật, tự nhiên sẽ chẳng sợ giới luật, cứ một mực tiến lên. Nếu thuộc về điều sau, rất chớ nên [xuất gia]! Đă chẳng thể tự liễu thoát, lại c̣n chẳng độ kẻ khác, ăn không ngồi rồi, hưởng thụ mười phương cúng dường! Đă chẳng tṛn bổn phận của kẻ xuất gia, lại tạo giết, trộm, dâm, trên là nhục lây Phật giáo, dưới là năo hại chúng sanh! Nhân quả chẳng sai, điều này thật đáng sợ!

- Hai, “đối với năm giới giết, trộm, dâm, dối, uống rượu, chẳng biết dùng phương pháp ǵ để có thể hoàn toàn ngăn trừ cái tâm ấy”. Thử nghĩ: Không ăn, có thể chết đói. Nếu chẳng dâm, sẽ chẳng chết nghẹn. Đă chẳng đến nỗi gây chết người, đoạn trừ nó, há có tai hại ǵ? Thật sự chẳng thể nói đánh đồng [dâm dục] với chuyện ăn uống được! Nhà giam bắt giữ tù nhân, đối với nhu cầu của họ, chỉ lo cơm áo, chẳng cung cấp chuyện dâm. Xưa nay cứu trợ tai nạn, cũng chỉ lo cơm áo, chẳng cung cấp dâm sự! Đó là chứng cớ rơ rệt. Nếu hỏi “cách nào có thể trừ dâm tâm”, hăy chịu đọc nhiều kinh sách. Hễ đạt lư, sáng trí, tâm lư tự biến đổi. Nếu không, trong lúc lo âu v́ cơm áo thiếu thốn bức bách, chắc chắn là dâm tâm sẽ nguội lạnh! Nếu nói “ai nấy đều bẩm sanh là như vậy. Chẳng có chuyện ấy sẽ không thể”, hăy tu hành tại gia th́ tốt hơn. Bởi lẽ, xuất gia ắt cần phải đoạn dâm. Chẳng thể đoạn dâm, đừng xuất gia, há nên miễn cưỡng!

- Ba, “nghe nói cắt bỏ hai tinh hoàn sẽ trừ được thói xấu ấy, chẳng có biện pháp nào tốt hơn”. Chuyện này đúng là có cách nh́n theo kiểu “bỏ gốc, chuộng ngọn”. Kinh Niết Bàn có tỷ dụ “như con chó đuổi theo cục đất, chẳng chạy theo người”, khá gần với chuyện này. Hơn nữa, năm thứ bất nam[31] chẳng thể thành tựu. Chế định cũng chẳng cho phép họ xuất gia! Kinh Tứ Thập Nhị Chương có chép: “Nhược đoạn kỳ âm, bất như đoạn tâm” (Nếu cắt bỏ bộ phận sinh dục, chẳng bằng đoạn tâm). Tin Phật mà chẳng nghiên cứu Phật lư, xuất gia mà chẳng muốn giữ giới, chưa tránh khỏi cái bệnh mâu thuẫn!

- Bốn, “tôi rất mong tiến hành thủ thuật theo cách ấy, có nên hay không?” Thư Ngài đă không đề tên cụ thể, có phải là thật ḷng hỏi ư hay chăng? Hay là mượn cớ này để đùa bỡn vậy? Cần biết chuyện này chẳng thể nói đùa được, nhân quả hết sức nghiêm ngặt! Kính thưa cùng Ngài, chuyện này nhất quyết chẳng thể làm được, dẫu nói đùa cũng không nên! Kẻ thật sự v́ liễu sanh tử, dẫu là tại gia, đối với chánh dâm cũng nên tiết chế. Đọc kỹ thư gởi tới, dường như đang có vết tích tà dâm. Nếu đúng như tôi đoán, đó là điều hết sức chẳng nên! Kính khuyên ông hăy chiếu theo điều thứ hai trong lời đáp để làm theo th́ tốt đẹp nhất. Nếu không, hăy sắm sẵn một cái dùi. Khi dâm tâm dấy lên, dùng dùi đâm mạnh vào đùi, dâm tâm tự dứt, thần hiệu khôn sánh!

 

          * Hỏi: Sau khi hàng tại gia thọ Bồ Tát giới, đối với chuyện khai thuế kinh doanh, làm nhiều mà khai ít, biết là phạm tội vọng ngữ. Nhưng nếu khai thật, do kinh doanh chẳng khấm khá, tiền lời chẳng đủ chi phí. Sở thuế cũng chẳng quan tâm chuyện kinh doanh tốt hay xấu, họ luôn căn cứ trên mức vốn để đánh thuế. Há chẳng phải là buôn bán không đủ tiền thuế, sẽ sập tiệm, đối với cuộc sống cá nhân, đối với chuyện thâu thuế của quốc gia, cả hai đều bị tổn hại ư? Do vậy, khai báo tiền vốn thấp hơn th́ có phải là vọng ngữ hay chăng? (Nhan Phật Triệu hỏi)


          Đáp: Cố nhiên là giới luật chia thành khai, giá, tŕ, phạm. Đối với chuyện tuân theo hay trái nghịch, ắt cần phải thưa hỏi bậc cao tăng chuyên tinh Luật học, th́ mới chẳng nẩy sanh lầm lạc. Những ǵ kẻ hèn này biết chỉ là nương theo văn tự để hiểu nghĩa, biết vuông mà chẳng biết tṛn, biết thường mà chẳng biết biến. [Trong cách nh́n của tôi], vấn đề như vậy không chỉ là phạm tội vọng ngữ, mà c̣n là phạm tội trộm cắp nữa!

 

* Hỏi: Kính dâng thức ăn, trái cây th́ phải trước Ngọ. Quá Ngọ, Phật có ăn hay không? (Lưu Ngự Quân hỏi)

 

          Đáp: Đức Phật chế quá Ngọ chẳng ăn; hăy nên cúng Phật vào buổi sáng.

 

          * Hỏi: Tôi tùy thuận yêu cầu của đại chúng mà đắp y ca-sa, đeo chuỗi hạt, có tạo tội nghiệp ǵ hay không? Về sau, hăy nên sám hối để bổ cứu như thế nào? (Lỗ Thành hỏi)

 

          Đáp: Bất luận là ai cũng đều có thể đeo tràng hạt, hoàn toàn chẳng hạn chế. Chỉ có y ca-sa th́ sau khi đă thọ Ngũ Giới mới được phép đắp. Nhưng chủng loại ca-sa cũng có nhiều thứ. Người tại gia chỉ được phép đắp mạn y. Mạn y (縵衣) là y không có sọc ngang dọc tạo thành h́nh thửa ruộng trồng lúa nước. Nếu trước kia không biết, lầm lạc đắp th́ chỉ là sai lầm về lễ. Biết rồi có thể sửa, không chi tốt lành bằng!

Phật Học Vấn Đáp Loại Biên

Quyển Trung

Phần 5 hết

 

 

 



[1] Khi nhà Thanh thua trận trong cuộc chiến tranh Hoa Nhật (1894-1895), qua ḥa ước Shimonoseki (Mă Quan Điều Ước) kư kết vào ngày 17 tháng Tư năm 1895 tại thành phố Shimoseki (người Nhật gọi thành phố này là Hạ Quan, không hiểu sao ḥa ước Shimonoseki lại gọi là Mă Quan Điều Ước). Trong đó, nhà Thanh phải công lập sự độc lập của Đại Hàn (thật ra là công nhận Đại Hàn trở thành thuộc địa của Nhật), nhà Thanh đă nhường Đài Loan, đảo Bành Hồ và phía Đông bán đảo và vùng vịnh Liêu Đông cho Nhật làm lănh thổ bảo hộ, cũng như phải bồi thường chiến phí hai trăm triệu quan. Ngoài ra, c̣n phải cho phép Nhật toàn quyền sử dụng các thương khẩu Sa Thị, Trùng Khánh, Tô Châu, Hàng Châu, Thuận Thiên, Tương Đàm và Ngô Châu. Chỉ đến sau chiến tranh thứ hai, tại hội nghị Cairo năm 1943, các nước Đồng Minh buộc Nhật trả lại Măn Châu, Đài Loan và Bành Hồ cho Trung Hoa Dân Quốc, nhưng măi đến 25 tháng Mười năm 1945, quân Nhật mới thật sự rút lui khỏi Đài Loan.

[2] Một cân Tàu gồm mười sáu lạng (lượng). Một cân dao động từ 500g đến 600g.

[3] Bá Ấp Khảo tên thật là Cơ Khảo (có thuyết nói Ấp Khảo (邑考) là tên tự, có thuyết lại bảo Ấp () là một chức quan, hoặc có nghĩa là thế tử của một vua chư hầu). Thêm vào trước tên chữ Bá () v́ ông này là con trưởng của Châu Văn Vương (Cơ Xương) và bà Thái Tự. Bá Ấp Khảo là anh ruột của Châu Vũ Vương (Cơ Phát) và Châu Công (Cơ Đán). Khi Trụ Vương bắt Văn Vương, giam tại Dữu Lư, Bá Ấp Khảo đă đến kinh đô bán ḿnh làm người đánh xe cho Trụ Vương để thăm ḍ tin cha. Sau khi biết rơ nội t́nh, nghe quần thần tâu Văn Vương rất giỏi Dịch số, Trụ Vương đă sai giết Bá Ấp Khảo, bằm vụn, vo viên, nấu thành canh thịt đưa cho Văn Vương ăn để thử coi Văn Vương có biết hay không. Tiểu thuyết Phong Thần Diễn Nghĩa đă tô vẽ Bá Ấp Khảo là một chàng trai trẻ tuấn tú, khôi ngô, giỏi đánh đàn, ăn nói bặt thiệp. Để t́m cách cứu cha, Bá Ấp Khảo đă đem mỹ nữ, xe hương và rượu thơm dâng cho vua Trụ. Đát Kỷ vừa gặp Bá Ấp Khảo bèn mê đắm, giả vờ đ̣i vua cho ḿnh học đàn với Bá Ấp Khảo để tiện dịp lả lơi quyến rũ. Do Bá Ấp Khảo nghiêm mặt cự tuyệt, Đát Kỷ tức tối bèn vu cáo Bá Ấp Khảo cợt nhả, cḥng ghẹo, và xúi vua Trụ giết chết, đem bằm nát nấu canh cho Văn Vương ăn.

[4] Thái Bảo (太保) vốn là một danh xưng cao quư để gọi vị quan giữ nhiệm vụ giám hộ và phù tá nhà vua khi vua chưa đến tuổi trưởng thành. Thoạt đầu, nhà Châu đặt ra Tam Công (bao gồm Thái Phó, Thái Sư và Thái Bảo) đứng đầu các quan. Sách Đại Đới Lễ Kư chép: “Thiệu Công (Cơ Thích) là Thái Bảo, Châu Công (Cơ Đán) là Thái Phó, Thái Công (Khương Tử Nha) là Thái Sư”. Về sau, chức vụ này chỉ mang tính chất danh dự, thường dùng để gọi vị quan giữ trách nhiệm bảo vệ an toàn cho Thái Tử (tức chức vị Thái Tử Thái Bảo). Không hiểu về sau, v́ lư do nào, những gă đồng cốt trong thần miếu được gọi là Thái Bảo, rồi sau đó, các anh hùng lục lâm thảo khấu cũng tự xưng là Thái Bảo. Thậm chí, Thái Bảo trở thành cách gọi nịnh bợ đầy tớ các nhà quyền quư, quan chức. Dần dần, cho đến hiện thời, trong ngôn ngữ thông tục, Thái Bảo trở thành tiếng để gọi những tên lưu manh đầu ḅ, đầu bướu tại Đài Loan!

[5] Vưu Trí Biểu (智表, thường bị ghi sai là 智表, dẫn tới sự ngộ nhận ông này có họ là Uông. Thật ra, họ Uông phải viết là ), sanh năm 1901, không rơ mất năm nào, quê ở Tô Châu, mồ côi cha mẹ từ bé, rất thông minh và chăm học. Ông tốt nghiệp ngành điện cơ tại đại học Giao Thông ở Thượng Hải năm 1924. Sau khi tốt nghiệp, ông Vưu làm công tác phiên dịch Bách Khoa Từ Điển từ tiếng Anh sang tiếng Hán phần chuyên mục khoa học, có thể dịch tới ba ngàn chữ một ngày khiến cho người chủ tŕ công tŕnh ấy hết sức nể phục. Năm 1930, ông được gởi sang đại học Harvard để học thêm về kỹ thuật truyền thanh bằng sóng radio. Năm 1933, ông trở về Trung Hoa, dạy tại các đại học Hàng Châu và Chiết Giang. Ông từng nghe và xem các bài giảng về Phật pháp của pháp sư Viên Anh nên niềm tin về Phật giáo từ nhỏ càng được vun bồi sâu đậm hơn. Tác phẩm Phật Giáo Khoa Học Quan được ông viết vào năm 1949 như một công tŕnh mở rộng của tác phẩm Nhất Cá Khoa Học Giả Nghiên Cứu Phật Kinh Đích Báo Cáo (Báo Cáo Nghiên Cứu Về Kinh Phật Của Một Nhà Khoa Học).

[6] Tiểu Tịnh Độ Văn là bài văn sám hối phát nguyện do ngài Từ Vân Sám Chủ Tuân Thức soạn vào đời Tống, ta thường gọi là bài sám quy mạng, tức bài “nhất tâm quy mạng, Cực Lạc thế giới, A Di Đà Phật...” Bài này cũng được đọc trong thời thứ ba của Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm trước bài Tán Tăng Bảo.

[7] Tức là công án “nói lầm một chữ chuyển ngữ, đọa làm thân chồn hoang năm trăm năm”.

[8] Chuyển thọ (轉受): Báo chuyển biến thành h́nh thức khác, nặng hơn hoặc nhẹ hơn.

[9] Đẳng lưu quả (等流果, Niṣyandaphala), c̣n gọi là y quả, tập quả, có nghĩa là do cái nhân mà sẽ kết thành cái quả tương tự. Chẳng hạn do đời trước giết người khiến cho người ta bị đoản mạng th́ kiếp này sẽ hứng chịu cái quả bị đoản mạng. A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận giảng: “Quả gần giống như nhân nên gọi Đẳng, do nhân mà có quả nên gọi là Lưu”.

[10] Dị Thục Quả (異熟果) chính là quả báo, do không đồng thời với nhân, không mang tánh chất kế tiếp ngay sau khi nhân đă tạo, nên gọi là Dị Thục. Chẳng hạn như đời trước làm ác, cho đến đời sau hoặc nhiều đời sau nữa mới kết thành quả báo th́ gọi là Dị Thục.

[11] Sáu nhân là:

1) Năng Tác Nhân: Khi pháp hữu vi sanh khởi, cái nhân này chẳng chướng ngại pháp khác sanh khởi, nó c̣n giúp cho pháp khác sanh khởi.

2) Câu Hữu Nhân: Nhiều nhân cùng tồn tại, làm nhân lẫn cho nhau.

3) Đồng Loại Nhân: Nhân và Quả tương tự nhau. Ví như hết thảy các pháp hữu vi trong quá khứ và hiện tại tương tự nhau, chúng làm nhân sanh ra quả, th́ những cái nhân ấy được gọi là Đồng Loại Nhân.

4) Tương Ứng Nhân: Khi sự nhận thức sanh khởi, tâm và tâm sở đồng thời tương ứng khởi lên, nương vào nhau mà tồn tại.

5) Biến Hành Nhân: Các pháp tạp nhiễm trọn khắp hết thảy.

6) Dị Thục Nhân: Nhân khác loài mà cùng chín, tương ứng với Dị Thục Quả.

Năm quả là Dị Thục, Đẳng Lưu, Tăng Thượng, Ly Hệ và Sĩ Dụng.

Sĩ Dụng Quả là cái quả do sức con người góp phần tạo tác, chẳng hạn các công cụ hoặc các sự việc do con người tạo ra. Chẳng hạn gỗ là nhân, sức người là duyên, đóng thành cái bàn th́ cái bàn chính là Sĩ Dụng Quả.

Tăng Thượng Quả là cái quả được sanh ra bởi tăng thượng duyên.

Ly Hệ Quả: Chữ Hệ () chỉ phiền năo. Ly Hệ Quả là cái quả do ĺa phiền năo, trói buộc. Chẳng hạn do tu tập mà chứng quả, th́ quả vị ấy chính là Ly Hệ Quả của sự tu hành.

[12] Loại suy (類推, Analogy), c̣n gọi là Loại Tỷ (類比), là một phương pháp suy luận bằng cách suy diễn từ một số thông tin tương tự để t́m ra quy luật phổ quát. “Loại” () ở đây có nghĩa là tương tự, không phải là loại trừ. Chẳng hạn, trái đất có khí quyển và hơi nước, cho nên có sự sống. Do Hỏa Tinh cũng có khí quyển và có nước, rất có thể là nó có sự sống.

[13] Bốn duyên là: 1) Nhân Duyên: Cái duyên chẳng phải là nhân. Trong các điều kiện khiến cho cái quả h́nh thành, điều kiện chánh yếu sẽ gọi là nhân (thường gọi rơ là “chánh nhân”), các nhân khác đều được gọi là duyên.

2) Đẳng Vô Gián Duyên (c̣n gọi là Thứ Đệ Duyên). Nói về tâm và tâm sở. Trong cái tâm thuộc tiền niệm, ngay khi tâm sở của niệm trước tiêu tan, sẽ sanh khởi cái tâm của niệm sau và tâm sở làm duyên cho nó. Cái tâm và tâm sở trong niệm trước được gọi là Đẳng Vô Gián Duyên.

3) Sở Duyên Duyên: Chỉ cảnh giới do tâm sở phan duyên, tức là đối tượng của nhận thức. Tâm là năng duyên (chủ thể có hành động tiếp xúc, nhận biết), ngoại cảnh là sở duyên (đối tượng tiếp xúc, nhận thức bởi cái tâm). Sở duyên là cái duyên để tâm pháp sanh khởi.

4) Tăng Thượng Duyên: Cái duyên giúp cho cái nhân được tăng trưởng thành tựu.

[14]n giả Ca Lưu Đà Di (Kaludayin) da đen bóng, vào ban đêm, thân lại tỏa sáng, nên Ngài đi ban đêm khiến cho người khác kinh sợ, tưởng là quỷ hiện thân. V́ thế, đức Phật cấm các tỳ-kheo không được đi lại ban đêm. Nếu có chuyện cần thiết phải đi, phải cầm theo đèn. Vị này thị hiện rất nhiều hành vi ngược ngạo để đức Phật có cơ hội chế định giới luật.

[15] Ngũ tạng: Tim, gan, tỳ (lá lách), phổi, thận. Theo Đông Y, ngũ tạng tương ứng với ngũ hành như gan là mộc, tâm là hỏa v.v... Lục phủ là mật, ruột non, ruột già, bao tử, bàng quang và tam tiêu. Tam tiêu có tác dụng điều ḥa và phân bố huyết khí và các dịch tiết, lại được chia ra thành: 1) Thượng tiêu là bộ phận ở phía trên hoành cách mô điều ḥa tim và phổi. 2) Trung tiêu là phần từ dưới hoành cách mô cho đến phía trên eo lưng, cai quản tỳ và bao tử. 3) Hạ tiêu là phần từ dưới thắt lưng trở xuống, cai quản thận, ruột già, ruột non và bàng quang.

[16] Gia hạnh: Các hạnh tu tập thêm nhằm tăng trưởng giới hạnh và phẩm đức.

[17] Lộc Nhung (鹿茸) chính là sừng non của hươu hoặc nai đực. Mỗi năm, gạc hươu (sừng hươu) rụng đi vào cuối Hè, mọc sừng mới vào mùa Xuân. Lộc Nhung tức là sừng chưa hóa cốt (loại sừng đă hóa cốt, không c̣n sụn nữa, sẽ gọi là Lộc Giác, chủ yếu dùng để nấu chung với xương nai thành cao Ban Long. Lộc Giác có giá trị thấp hơn Lộc Nhung rất nhiều). Lộc Nhung phủ một lớp lông tơ mịn như nhung, có nhiều mạch máu. Người ta cắt lấy cặp sừng non ấy làm thuốc. Nhung được coi là một trong bốn loại thuốc bổ nhất (sâm, nhung, quế, phụ). Phụ chính là củ cây Ô Đầu ở Tứ Xuyên.

[18] Áo ca-sa ở đây là nói tới Mạn Y (y không có điều) dành cho người tại gia. Thông thường, cư sĩ người Hoa chỉ đắp Mạn Y khi tụng Bồ Tát giới, hoặc khi hành lễ sám hối mỗi nửa tháng, hoặc những vị làm duy-na hoặc đánh pháp khí trong các pháp hội lớn như Trung Phong Tam Thời Hộ Niệm, Diệm Khẩu, Thủy Lục v.v… chứ những người khác không đắp y.

[19] Tam sư thất chứng là mười vị thầy chánh yếu trong đại giới đàn truyền tỳ-kheo/tỳ-kheo-ni Cụ Túc Giới. Tam sư là 1) Giới ḥa thượng (Đường Đầu Ḥa Thượng), tức vị ḥa thượng truyền trao giới luật. 2) Yết Ma sư: Vị pháp sư chủ tŕ nghi thức bạch tứ yết ma. 3) Giáo thọ sư: Vị pháp sư dạy về oai nghi tác pháp trong giới đàn. Thất chứng là bảy vị tỳ-kheo khác đóng vai tṛ chứng minh và tùy hỷ.

[20] Năm phần Pháp Thân (ngũ phận Pháp Thân) chính là Giới, Định, Huệ, Giải Thoát và Giải Thoát Tri Kiến.

[21] Quán () ở đây có nghĩa là một nơi thờ phụng, thường là chỗ thờ thần như miếu đạo sĩ được gọi là “đạo quán”, không phải là quán bán hàng!

[22] Bộ kinh này có tên gọi đầy đủ là Bồ Tát Anh Lạc Bổn Nghiệp Kinh, gồm hai mươi quyển, do ngài Thích Trúc Phật Niệm dịch vào đời Diêu Tần. Kinh chia thành tám phẩm, dạy về các địa vị Bồ Tát, nhân hạnh trong tam tụ luật nghi v.v...

[23] Tức là Đạo Cộng Giới và Định Cộng Giới, tức là sau khi đă đắc Định, sẽ tự nhiên giữ giới nghiêm cẩn. Giới tự nhiên giữ ấy được gọi là Định Cộng Giới. Tương tự, Đạo Cộng Giới là giới thể có được do đă khai huệ.

[24] Ba mươi sáu lỗi của uống rượu theo luật Tứ Phần: 1) Bất hiếu với cha mẹ. 2) Khinh mạn tôn trưởng và bằng hữu. 3) Bất kính Tam Bảo. 4) Chẳng tin kinh pháp. 5) Phỉ báng sa-môn. 6) Tiết lộ tội của người khác. 7) Thường nói vọng ngữ. 8) Bịa chuyện đổ tiếng ác cho người khác. 9) Đồn rao những lời lẽ lưỡng thiệt. 10) Ác khẩu làm tổn thương kẻ khác. 11) Là cội gốc sanh bệnh. 12) Là cội gốc của sự tranh đấu. 14) Bị người khác ghét bỏ. 15) Bài xích thánh hiền. 16) Oán hờn trời đất. 17) Chểnh mảng sự nghiệp. 18) Phá tán gia tài. 19) Thường chẳng hổ thẹn. 20) Chẳng biết thẹn thùng. 21) Vô duyên vô cớ đánh đập kẻ hầu. 22) Giết chóc chúng sanh bừa băi. 23) Gian dâm với vợ kẻ khác. 24) Ăn trộm tài vật của người khác. 25) Xa ĺa, lợt lạt với người lành. 26) Thân cận kẻ ác. 27) Thường ôm ḷng sân hận. 28) Ngày đêm lo rầu. 29) Lôi đông kéo tây. 30) Chệnh choạng, quơ quào. 31) Té nhào mương rănh, ngủ vạ vật ngoài đường. 32) Lọt xe, té ngựa. 33) Ngă tơm xuống sông. 34) Cầm đèn gây hỏa hoạn. 35) Trong mùa nóng, chết v́ bệnh nhiệt. 36) Trong mùa lạnh, chết v́ rét cóng.

[25] Hồ Nguyên chính là nhà Nguyên do Hốt Tất Liệt người Mông Cổ sáng lập. Người Hoa có thói quen gọi những dân tộc sống ở ngoài biên cương phía Bắc và phía Tây của Trung Hoa là Hồ, nên cũng gọi quân Mông Cổ là Hồ Nguyên.

[26] “Tổ y” chính là y ca của chư Tăng gồm các loại năm điều, bảy điều, hai mươi lăm điều v.v...

[27] Tiền thân của đức Phật từng cắt thịt đùi cho chim ưng ăn để cứu mạng cho những con chim nhỏ bị chim ưng săn giết.

[28] Tu sĩ Phật giáo Nhật Bản có thể lập gia đ́nh kể cả sau khi đă thọ Cụ Túc Giới. Điều này thường được coi là do Tối Trừng (Saichō) đề xướng v́ vị này nhấn mạnh Bồ Tát Giới, thay v́ giới luật tỳ-kheo. Không biết người Nhật diễn dịch quan niệm của Tổ Tối Trừng như thế nào mà sau đó, tăng sĩ Nhật có quyền lấy vợ, và sau đó, có những người như Thân Loan (Shinran, sáng tổ của Tịnh Độ Chân Tông) đă nêu gương lấy ngay một bà ni (ni Huệ Tín, Eshini) khiến cho toàn bộ tăng sĩ của Tịnh Độ Chân Tông đều noi gương, lấy vợ, cưới chồng nhất loạt. Con trai và con gái của Thân Loan đều xưng là tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni. Trong một số chi phái của Tịnh Độ Chân Tông, chùa chiền được truyền thừa theo kiểu tài sản cha truyền con nối, thậm chí sang nhượng, bán chác nếu vị chủ chùa không thể trông coi nổi hoặc khi tài chánh quá thiếu hụt! Dưới thời Minh Trị Thiên Hoàng, trong phong trào cải cách Duy Tân (thường gọi là Minh Trị Duy Tân), chánh phủ ban hành đạo luật Nikujiku Satai (Nhục Thực, Thê Đới) cho phép tăng sĩ được quyền ăn thịt và lấy vợ, khiến cho tăng sĩ Nhật hiện thời rất ít vị sống độc thân. Thậm chí, trong các tông phái thuộc Tịnh Độ Chân Tông và Nhật Liên Tông, tăng sĩ không thèm cạo đầu, không mặc tăng bào. Tăng sĩ Tịnh Độ Chân Tông và Nhật Liên Tông thường vận âu phục, “ni sư” trang điểm, đeo nữ trang, uốn tóc, trang phục chẳng khác nữ nhân tại gia. Khi làm lễ, mới khoác áo tràng và đắp ca-sa. Thậm chí, tăng sĩ được phép uống rượu, “lai rai ba sợi”, miễn đừng say sưa nhếch nhác!

[29] Theo giới luật thuở đức Phật tại thế, tăng sĩ mặc áo phấn tảo, tức là áo khâu chằm bằng các mảnh vải nhặt được từ chỗ người ta vứt đi. Để may y cần phải cắt bỏ những chỗ hư rách, hoặc cắt thành miếng, viền mép v.v... cho nên phải cần đến giới đao.

[30] Đây là một thành ngữ diễn tả sự cừu hận rất sâu, xuất phát từ một câu nói được chép trong Tả Truyện diễn tả sự phẫn hận của Châu Xước đối với Thực Xước và Quách Tối là hai người được Tề Trang Công coi là tướng tài, anh hùng thời đó.

[31] Theo Phật Học Từ Điển của Đinh Phước Bảo, ngũ chủng bất nam là năm hạng người không phải là nam giới toàn vẹn, gồm:

1) Sanh bất nam: Từ lúc sanh ra cho tới già, không thể phát dục, nam căn không phát triển, hoặc không có nam căn.

2) Kiện bất nam: Cắt bỏ bộ phận sinh dục hay cắt bỏ tinh hoàn.

3) Đố bất nam: Bộ phận sinh dục không lộ ra, chỉ khi thấy người khác hành dâm, do ḷng đố kỵ, nam căn mới lộ ra, nhưng chẳng thể hành dâm.

4) Bán bất nam: Nửa tháng đầu là đàn ông, nửa tháng sau là đàn bà.

5) Biến bất nam: Bộ phận sinh dục biến đổi, như gặp nam mà cảm thấy ưa thích sẽ biến thành nữ, gặp nữ mà ưa thích th́ sẽ là nam.

Những người song tính cũng được gộp vào loại bất nam.