Phật
Học Vấn Đáp Loại Biên
Quyển
Trung
佛學問答類編
Phần
6
Lăo
cư sĩ Lư Bỉnh
Chuyển
ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
(theo
bản in của Lư Bỉnh Nam Lăo Cư Sĩ Toàn Tập
Biên Tập Ủy Viên Hội, Đài Loan, 2007)
Giảo
chánh: Đức Phong và Huệ Trang
*
Hỏi: Đối với Phật giáo, tiết dục có phạm
vào nhân quả hay không? (Ngô Minh
An hỏi)
Đáp:
Cái nhân của sự tiết dục có liên quan đến hoàn
cảnh của mỗi người, cho nên không ǵ là chẳng
được! Nhưng phá thai th́ không được phép,
hăy nên phân biệt rơ ràng!
*
Hỏi: Tín đồ Phật giáo có thể làm nguyệt lăo (ông
mai, bà mối) hay không? (Ngô Minh
An hỏi)
Đáp: Kẻ tại gia làm
mai cho người khác chẳng trở ngại, nhưng phải
do nhận lời nhờ cậy của cha mẹ người
ấy, hoặc khi hôn nhân đă định, tạm thời
làm người giới thiệu cho hai họ trong khi [cử
hành] điển lễ [kết hôn] th́ được. Nếu
quơ quào nam nữ, thúc đẩy cho chúng nó luyến ái, tức
là làm kẻ môi giới cho chuyện tà dâm, hết sức chớ
nên!
* Hỏi: Khi làm lụng nơi
ruộng, vườn, v́ sợ tổn thương sanh mạng,
trong tâm thường rất bất an. Xin hăy khai thị. (Nhan Quư Nghiệp hỏi)
Đáp: Kẻ tại gia ắt
cần phải có nghề nghiệp, mà nông điền là nghề
căn bản của nước ta, chẳng thể thay
đổi. Trong lúc canh tác, hăy nên vừa canh tác vừa tŕ danh
hiệu [Phật], chú nguyện [các loài trùng] xa ĺa. Chỉ cần
có thành tâm, chắc chắn sẽ có cảm ứng.
* Hỏi: Nếu chẳng thể
ăn chay trường niệm Phật, bèn ăn rau bên cạnh
thịt, có thể đến Tây Phương hay không? Nếu
lại là kẻ chẳng thể ăn rau bên cạnh thịt,
chỉ có thể tạm thời ăn tam tịnh nhục,
có thể đến Tây Phương hay không? Như tôi
thường chẳng muốn ăn thịt, nhưng hễ
ra ngoài, sẽ chẳng có cách nào, ắt cần phải
đến quán hàng mua cơm để ăn. Trong ḿ hoặc
thức ăn đă mua, đều có xen lẫn các loại
thịt. Lại nữa, khi dùng cơm tại nhà thân thích, bằng
hữu, phần lớn họ đều dùng thịt của
các sinh vật [để khoản đăi], tâm rất bất
an, hăy nên làm như thế nào? (Nhan
Quư Nghiệp hỏi)
Đáp: Niệm Phật chủ
yếu là chân tín, thiết nguyện. Có thể như thế
th́ khi bất đắc dĩ bèn ăn tam tịnh nhục,
sẽ có thể văng sanh, mà ăn rau bên cạnh thịt càng
vô ngại! Mua cơm từ bên ngoài, có thể tự do dặn
[người bán] đừng lấy thịt, mà chẳng trả
bớt tiền, có ǵ là không được? Dùng cơm ở
nhà thân hữu, hăy nên nói rơ cho họ biết trước
chính ḿnh ăn chay. Nếu họ chẳng nghe theo, khi ăn
bèn gắp thịt bỏ ra, chỉ nói “dạ dày không chịu
nổi”. Đấy cũng là một cách phương tiện.
* Hỏi: Có ông Giáp nói: “Tôi chẳng
ăn chay, nhưng c̣n hơn kẻ tŕ trai mà phá giới”. Lại
có ông Ất nói: “Tôi tuy tŕ trai nhưng phá giới, c̣n tốt
hơn là không tŕ”. Xin hỏi hai hạng người ấy,
quả báo trong tương lai sẽ như thế nào? (Châu Huệ Đức hỏi)
Đáp: Do cái nhân thiện hay
ác, mà đạt được cái quả [tương ứng].
Ông Ất tŕ trai là sanh ḷng nhân từ, tức là thiện, tự
kết thiện quả. Phá trai là do cái tâm nhân từ bị
mê muội, chính là ác, tự mắc tội quả. Người
ấy vừa ác vừa thiện. Ông Giáp chẳng tŕ trai, tức
là cái tâm nhân từ chẳng sanh, há có điều thiện
ǵ? Đă chẳng tŕ trai, tức là chẳng phá trai, [ông ta
khoe khoang “chẳng phá trai”], cũng chính là cưỡng từ
đoạt lư. Nếu hỏi tới chuyện tương
lai, ông Ất ắt chịu tội lẫn hưởng
phước, c̣n ông Giáp chỉ có chịu tội mà thôi!
* Hỏi: Có người hỏi:
“Bọn tôi rất muốn tŕ trai, nhưng đồ ăn
ngon ở trước mặt, liền chẳng thể tự
chủ. Có cách nào hay chăng?” (Châu
Huệ Đức hỏi)
Đáp: Đấy chính là phạm
lỗi chẳng hiểu rơ Lư. Nếu hiểu thấu triệt
Lư ấy, ắt sẽ chẳng thể nuốt trôi thịt
nổi! Một là nhân quả sẽ có đền bồi lẫn
nhau. Kinh nói: “Người và dê
nuốt lẫn nhau”. Đă hiểu, sẽ chẳng dám ăn
nữa! Hai là chúng sanh trong lục đạo làm quyến thuộc
của nhau. Nếu khai Thiên Nhăn, ắt sẽ có thể biết
đời quá khứ. Đă hiểu rơ, sẽ chẳng nỡ
ăn!
* Hỏi: Đối với
cách thọ Bát Quan Trai Giới, Đại Phương Tiện
Phật Báo Ân Kinh quyển sáu có nói: “Tu tùng nhân thọ, bất đắc quá hạn” (Cần
phải thọ từ người khác, chẳng được
quá hạn). Có vị Sư nói: “Có
thể tự thọ, mà cũng có thể quá hạn”.
Đối với hai đằng, một là kinh, một là sư,
tôi đều hết sức tin nhận, e rằng lời nói
của vị Sư ấy đă dựa theo kinh nào khác mà tôi
c̣n chưa thấy. Xin hăy chỉ dạy cặn kẽ. (Quách Vô Cấu hỏi)
Đáp: “Tự thọ” là khi không có vị tăng truyền
giới, hăy tự đối trước Phật thọ
giới. Bát Quan Trai có bản chú giải lưu hành riêng;
trong ấy, có nói rất cặn kẽ. Có thể thỉnh một
bản để nghiên cứu kỹ càng, đúng pháp tu hành.
* Hỏi: Ăn chay thông tục
([thường gọi là] “hoa
trai”, 花齋) chỉ là ăn
chay, chẳng phải là “quá Ngọ
chẳng ăn”. Cũng có những người ăn Quán
Âm Trai, Thập Trai, Lục Trai v.v… Ba thứ trai kỳ
được chép trong Khóa Tụng Sáng Tối, chẳng biết
là thuận theo ngày quy định ăn hoa trai của thế
tục, hay là trai kỳ theo kiểu “quá Ngọ không ăn” trong Giáo? (Quách Vô Cấu hỏi)
Đáp: Quán Âm Trai, Lục Trai,
Thập Trai v.v… là ba thứ trai kỳ chánh thức, hoàn toàn
chẳng thuận theo thói tục. “Quá Ngọ không ăn” là trừ ăn sáng ra, chỉ
ở giữa trưa dùng cơm một lượt. Sau Ngọ
trở đi, chẳng để cho bất cứ loại
thức ăn nào vào miệng nữa. Trong giới bổn Bát
Quan Trai có giải thích tường tận.
* Hỏi: “Không cho mà lấy” tức là phạm giới, [vậy
th́] những kẻ chuyên nhặt nhạnh giấy lộn trên
mặt đất để kiếm sống có phạm giới
hay không? (Lại Đống Lương
hỏi)
Đáp: “Không cho mà lấy” là nói đến những vật
có chủ quyền. Tuy bị rơi mất trên đường,
nhưng tâm chủ nhân chẳng bỏ; do vậy, cũng chẳng
thể lấy! Nếu là giấy lộn, tức là thứ người
ta đă vứt bỏ, chính là vật vô chủ; nhặt lấy,
sẽ chẳng bị phạm giới. Như tỳ-kheo ở
Tây Thổ (Ấn Độ), nhặt lấy những miếng
vải hư nát bị người ta vứt bỏ ngoài
ngơ, ngoài đồng, khâu chằm thành áo ca-sa, gọi là phấn
tảo y (糞掃衣).
Dựa theo lệ này, nên bảo “chẳng phạm!”
* Hỏi: Phật Đà từ
bi cứu người, mong người ta thọ giới,
tu hành, chớ nên sát sanh, làm nhiều việc thiện, ắt
có thể tránh khỏi nỗi khổ luân hồi, ngơ hầu
có thể thành Phật. Vậy th́ đệ tử Phật chẳng
thọ giới (chẳng giống như ḥa thượng, ăn
chay, xuống tóc v.v… mà giống như phàm nhân) th́ có thể thành
Phật hay không? Lại nữa, nhà nông do nông sản bị
tổn thất mà giết các loài trùng có hại (như giết
chuột) th́ có trái phản quy chế nhà Phật hay không? (Kim Xuyên hỏi)
Đáp: Ư nghĩa chánh yếu
của giới là “đừng
làm các điều ác, vâng làm các điều thiện”. Ngoài
là tu thân, trong là đoạn Hoặc. Do vậy mà sanh Định,
khai Huệ. Hành cho đến khi tâm tánh viên minh, sẽ là Phật
quả. Ông nói: “Đệ tử Phật chẳng thọ giới,
chẳng giống như ḥa thượng ăn chay, xuống
tóc v.v… có thể thành Phật hay không?” Đức Phật có
tứ chúng đệ tử tại gia và xuất gia. Kẻ
tại gia chẳng cần cạo đầu. C̣n nói tới
chuyện ăn chay, th́ cũng cần xét theo hoàn cảnh và
tŕnh độ. Kẻ mới học chỉ không sát sanh,
đó là từ bi, chẳng ngại tạm thời ăn tam
tịnh nhục (chẳng nghe tiếng con vật bị giết,
chẳng thấy giết, chẳng v́ ta mà giết), hoặc
ăn rau bên cạnh thịt. Khi công phu tiến bộ, tự
nhiên sẽ có thể ăn chay trường. Phật pháp
viên dung, phương tiện có nhiều môn, nhưng [những
người] có thể vâng theo pháp tinh tấn, không ai chẳng
thành tựu. Muôn phần chớ sanh nghi! Nông dân chưa thọ
Phật giới, chẳng có ǵ gọi là “trái phản”, nhưng
có nhân quả tự nhiên; đó là điều đáng sợ
vậy!
* Hỏi: 1) Học nhân theo
nghề bán cá tươi, trong nhà ruồi nhặng, muỗi ṃng
nhiều nhất. Đối với phương diện vệ
sinh, sẽ có hại cho sức khỏe, nhưng học Phật
th́ phải kiêng giết. Chẳng biết là có thể dùng
thuốc nước sát trùng để tiêu diệt chúng hay
không? Nếu có thể dùng, có phạm sát giới hay không? Nếu
chẳng thể dùng, chẳng biết có phương pháp ǵ để
ngăn ngừa ruồi muỗi kéo đến gây hại cho
sức khỏe hay không?
2)
Cá sống có phải là một loài trong lục đạo hay
không? Nhưng người niệm Phật chẳng thể ăn,
làm sao buôn bán? Có phải là có tội lỗi hay không? Nhưng
học nhân từ nhỏ đến nay đă làm nghề này
hơn ba mươi năm. Do vậy, đổi sang nghề
khác, sẽ rất khó khăn. Chẳng biết có cách ǵ
để bổ cứu, mà lại c̣n sẽ có thể duy tŕ
cuộc sống? (Diệp Thành
Không hỏi)
Đáp: Đối với câu
hỏi một và hai, người học Phật hăy nên dùng
thanh tịnh tài (tiền tài thanh tịnh) để duy tŕ
sanh mạng. Cá là súc sanh, là một loài trong lục đạo
chúng sanh. Hại thân chúng để nuôi thân ta, tiền tài [kiếm
được do nghề ấy] chính là bất tịnh. Tuy
chẳng phải do ta trực tiếp sát hại, nhưng ta
làm kẻ bán chúng cho người khác giết hại, tức
là cổ vũ, khích lệ kẻ giết hại, há có thể
không chia sẻ tội lỗi với họ? Vẫn là đổi
nghề th́ tốt hơn! Nếu nhất thời khó kiếm
được nghề khác, tạm thời vẫn làm nghề
cũ, chớ nên lại v́ đó mà giết ruồi nhặng,
từ “cổ vũ, khích lệ giết chóc” biến thành “trực
tiếp giết hại”. Có thể biết: Ba mươi năm
qua, sát nghiệp đă tích lũy, nay đă tin Phật, hăy nên
hiểu rơ nhân quả. Trước hết, trong nhà kho hăy nên
quét dọn sạch sẽ, để nước đá, gắn
cửa lưới, ruồi sẽ chẳng thể vào bên
trong được!
*
Hỏi: Đệ tử Phật đă thọ giới, lén
lấy trước tác về Phật học của người
khác xuất bản để kiếm tiền, có phạm giới
trộm cắp hay không? Lại từ văn tự ngoại
quốc dịch ra để làm văn tự hoằng dương
Phật pháp, đề tên của chính ḿnh, có coi là trộm cắp
hay không? (Thích Vĩnh Hưng hỏi)
Đáp: Trong pháp thế gian, bậc
quân tử hoặc hiền triết hễ trích dẫn lời
của người đời trước, ắt ghi là “thư vân” (sách viết), “truyện vân” (truyện nói),
hoặc “cổ nhân vân” (người
xưa nói), hoặc “ngạn hữu
chi viết” (có câu ngạn ngữ rằng). Tức là đối
với một câu, c̣n chẳng chiếm lấy làm của chính
ḿnh, huống là văn chương ư? Chẳng bán lấy
tiền th́ là trộm danh; hễ bán kiếm tiền, sẽ
là trộm danh kiêm trộm tiền! Giới là như thế
đó, trộm cắp lẫn vọng ngữ đều cùng
phạm! Kẻ đó chắc là nghĩ văn chẳng giống
như tiền, chẳng coi đó là trộm cắp, chứ
không có cái tâm [cố ư ăn trộm]. Biết rồi sửa
đổi, sẽ giống mặt trời, mặt trăng
đă mờ khuyết rồi lại tṛn sáng.
* Hỏi: Đă thọ tửu
giới, tức là chẳng thể uống rượu, mà người
tŕ giới ắt cũng chẳng ham uống, nhưng trong
t́nh thế gặp lúc tiệc tùng, thịnh t́nh khó thể
khước từ, có thể quyền biến uống rượu
hay không? (Thi Mộc Tu hỏi)
Đáp: Văn bản về
giới có khai, giá, tŕ, phạm. Nếu v́ lợi ích chúng
sanh, tự cam chịu đọa lạc, cũng cho phép quyền
biến khai giới. Nếu vô ích cho cả đôi bên, chỉ
có cách thọ tŕ nghiêm ngặt! Chung vui trong tiệc tùng, chỉ
là chuyện thù tạc thông thường. Họ đă dùng thịnh
t́nh [nài ép], chỉ nên dùng lời thật, uyển chuyển
từ chối. Kẻ thấu hiểu nhân t́nh, ắt sẽ
chẳng cưỡng ép. Nói chung, hăy nên dùng phương tiện
thiện xảo, khiến cho chính ḿnh chẳng dễ dăi phá
giới, chẳng khiến cho kẻ khác v́ đó mà tạo tội,
mới là đáp tạ thịnh t́nh ấy, khiến cho đôi
bên đều được vẹn toàn vậy!
* Hỏi: Vọng ngữ
cũng có “quyền vọng ngữ” (nói dối v́ lẽ quyền
biến) hay không? Xin hăy nêu thí dụ! (Thi Mộc Tu hỏi)
Đáp: Nếu v́ chuyện chẳng
nhằm gạt người để lợi ḿnh, thậm
chí v́ hữu ích cho mọi người, chẳng ngại dùng
cách quyền biến. Nhưng vận dụng quyền biến,
ắt phải có chánh trí th́ mới có thể vận dụng.
Nếu không, sẽ nẩy sanh những điều tệ hại!
Như đức Thế Tôn chỉ vàng nói là rắn độc,
ngài Duy Ma Cật không có bệnh mà bảo là đau ốm, các
vị tôn giả gặp dịp pháp hội, tuy biết rơ mà
vẫn cố ư hỏi han v.v… đều nhằm lợi ích
chúng sanh mà ra. Suy nghĩ kỹ, [sẽ thấy] tuy thuộc
quyền biến, nhưng sự thật là lư vẫn chẳng
mất!
* Hỏi: Trong kinh Tăng Hộ[1] có
nói: “Nhị xuất gia nhân, cộng
nhất bị nhục, tương băo miên cố, nhập
địa ngục hỏa thiêu, bị nhục trung
tương băo thọ khổ, cửu kiếp bất tức”
(Hai người xuất gia v́ dùng chung chăn đệm, ôm
nhau ngủ, nên đọa địa ngục lửa thiêu
đốt, phải ôm nhau trong cùng một tấm chăn
đệm, chịu khổ nhiều kiếp lâu xa chẳng
dứt). Chẳng biết là do phạm giới điều
nào mà chịu báo ấy? (Hứa
Trí Thuần hỏi)
Đáp: Do ôm nhau nên sanh ḷng Ái.
Ái chính là Tham trong Tam Độc, hiện thành Si trong mười
hai nhân duyên. Tam Độc hừng hực như lửa, cho
nên cảm cái quả như thế đó.
* Hỏi: Thế tục có thói
quen: Sau khi sanh, phụ nữ cần phải ăn những
thứ thịt như gà, cá, gan lợn v.v… để tẩm
bổ. Phụ nữ theo Phật giáo ăn chay, hăy nên dùng loại
thức ăn nào để thay thế? (Trần Kim Tuyền hỏi)
Đáp: Sữa ḅ, dầu bơ,
đậu b́[2], sữa đậu
nành, cải th́a, rau chân vịt (spinach), đậu phộng,
cà chua v.v… đều là những thực phẩm bổ
dưỡng. Các loại trên đây đều có chứa chất
béo, đản bạch chất (protein), chất sắt, chất
lân (phosphore) v.v… Nếu muốn uống thuốc bổ th́ có
sâm, thi[3], đương
quy, xuyên khung[4] trong thuốc Bắc,
các loại vitamin trong thuốc Tây, và có thể mời thầy
thuốc chẩn đoán để cắt thuốc uống,
cần ǵ cứ phải ăn những thứ thịt ô uế
có chứa chất độc và nỗi oán kết vậy
thay!
* Hỏi: Ư nghĩa và công
đức Bát Quan Trai là như thế nào? Người đă
tŕ nửa chừng buông bỏ có mắc tội lỗi hoặc
phạm giới hay không? (Trần
Thanh Thanh hỏi)
Đáp: Bát Quan Trai chính là đại
giới xuất thế, có cùng giới đức với chư
Phật. Người học chỉ có thể dốc trọn
ḷng tu tŕ trong một ngày một đêm. Nếu muốn tŕ
tiếp th́ phải thọ lại; có thể suy ra sự
nghiêm cẩn của giới này. Ư nghĩa và công đức của
giới ấy chẳng thể diễn tả trọn hết
bằng vài câu được! Nhân giả hăy nên thỉnh một
quyển Bát Quan Trai Khoa Chú để xem đọc, sẽ có
thể biết đại khái. Ông nói “bỏ dở giữa chừng”, hăy nên phân rơ giới
tuyến. Tháng này tŕ, tháng kia không tŕ, tức là thoái chuyển.
Trong ngày tŕ trai, bỗng dưng bỏ dở giữa chừng
th́ là phá giới. Người thoái chuyển mắc lỗi
nhẹ, người phá giới mắc lỗi to lớn!
* Hỏi: Giới luật Phật
giáo là “cha mẹ không cho phép, chẳng
được xuất gia”. Giả sử v́ hóa độ
chúng sanh, bèn hy sinh tiểu ngă để xuất gia th́ có
được hay không? Lại nữa, khi đức Phật
xuất gia, phụ vương của Ngài cũng chẳng
cho phép, Ngài một ḿnh trốn đi. V́ sợ người khác
nghi vấn, cho nên đệ tử thưa hỏi trước!
(Giang Khoan Ngọc hỏi)
Đáp: Nếu thật sự
phát đại tâm mong “thượng
hoằng, hạ hóa”, sẽ xả cái nhỏ, giữ lấy
cái lớn, [có thể] phỏng theo cái hạnh trái lệnh
cha mẹ của đức Thế Tôn. Nếu là kẻ chẳng
thể phát tâm như thế, mà mong xuất gia, hăy nên tuân
theo luật “chẳng cho phép” của đức Thế Tôn.
* Hỏi: Theo giới luật
trong quy y Tam Bảo: “Sau khi đă quy y, chẳng thể lạy
trời, lạy thần. Chẳng tuân thủ, sẽ mất
tư cách quy y”; nhưng trong nhà đệ tử đă truyền
thừa từ đời này sang đời kia, đến
nay là đă mấy đời, có thờ một vị thần,
tục gọi là Mă Thánh Công. Đệ tử lại chẳng
thể tự ḿnh giải quyết di vật do tổ tiên
để lại. Huống hồ đệ tử là một
đệ tử Phật đàng hoàng, đối với chuyện
dâng hương, lễ bái sáng tối, chẳng tránh khỏi
đồng thời lễ bái [vị thần ấy]. Mỗi
khi dâng hương, lễ bái, hằng ngày đều dấy
lên ư niệm như thế này: “Có đánh mất tư cách là
đệ tử Phật hay không?” Nhưng mỗi khi lễ
bái, đối với tượng Phật bèn hành lễ năm
vóc gieo xuống đất, đối với tượng
thần chỉ xá mà thôi. Lại c̣n có khi nói với thần:
“Tôn thần! Ngài hăy nên mau chóng quy y Tam Bảo th́ mới có thể
liễu thoát biển khổ sanh tử”. Làm như thế,
chẳng biết có phạm giới điều nhà Phật hay
không? (Giang Khoan Ngọc hỏi)
Đáp: Là Phật tử chánh
thức, chỉ là tuân thủ Tam Quy, chẳng c̣n quy y thiên thần
nữa mà thôi, chẳng phải là không được lễ
thiên thần! Ắt cần phải phân định rơ ràng giới
tuyến ấy. Chỉ v́ thuận tiện cho sự chuyên tâm,
cho nên tuy kính lễ, hăy nên tránh xa. Nếu chẳng thể tặng
tượng thần ấy cho đền miếu, có thể
chọn chỗ khác để thờ, chẳng nên để
kề vai sát cánh với Phật, để ngăn ngừa
cái tâm bị loạn. Hướng về vị thần ấy
xá, chẳng có ǵ là không thỏa đáng. Nhà Nho nói “đừng bất kính”, nhà Phật
nói “thường bất khinh”,
lư đều như nhau. Khuyên lơn vị thần ấy
quy y rất tốt! Chúng sanh phổ độ, cùng giúp khắp
tam hữu, chính là bổn phận của Phật giáo đồ.
Thuở trước, ông Châu An Sĩ đi đường
gặp miếu thờ thần cũng làm như thế đó!
* Hỏi: Đồng tu là cư
sĩ X…. đă thọ Bồ Tát Giới, và phát tâm tŕ Bát Quan
Trai. Do ăn chay, bị các chứng thiếu máu, suy dinh
dưỡng v.v… khuyên vị ấy dùng sữa bột, trứng
gà Leghorn[5], dầu
mè v.v… vị ấy kiên quyết chẳng nghe. Khổ tu như
thế, chưa chắc là đă có căn cứ trong quy chế
nhà Phật? Lại nữa, trong ngày thọ Bát Quan Trai, có thể
uống sữa bột hay không? (Trần
Thanh Thanh hỏi)
Đáp: Bát Quan Trai mỗi tháng
bất quá từ sáu ngày cho đến mười ngày, mỗi
ngày chỉ là quá Ngọ chẳng ăn. Nếu trong những
lúc khác, điều dưỡng đúng phương pháp, làm
sao có thể do ăn một bữa mà sức khỏe bị
ảnh hưởng! Hơn nữa, bị thiếu máu, cũng
chỉ nên dùng thuốc Bắc, thuốc Tây để bổ
máu, trọn chẳng phải là do ăn một bữa trứng
gà Leghorn mà có thể bổ sung đầy đủ máu
được! Đây là dựa theo y lư để nói. Sữa
bột, dầu mè, hoàn toàn chẳng phải là đồ mặn
tanh hôi. Ngoại trừ trong ngày tŕ trai, sau khi quá Ngọ [chẳng
được ăn], cũng chẳng có kinh văn nào cấm
dùng! Dùng hay không, vốn do người ấy tự quyết
định. Vị cư sĩ ấy đă thọ Bồ
Tát đại giới, giới có giới pháp, trai có trai bổn,
đều có kinh văn giới luật để làm căn
cứ, vị cư sĩ ấy có sư thừa. Nhân giả
chớ nên v́ t́nh cảm thế tục mà ngăn trở!
* Hỏi: Đệ tử Phật
không sát sanh, không ăn thịt, sống trong đoàn thể,
rất bất đắc dĩ bị người khác nhờ
mua, nhờ nấu thịt tanh hôi. Cụ có nghĩ làm như
vậy sẽ có quả báo hay không? Có vi phạm quy chế của
Phật hay không? (Chung Vân
Xương hỏi)
Đáp: Sống trong đoàn
thể cũng có phân biệt. Nếu chính ḿnh đảm nhiệm
chuyện bếp núc, bị cấp trên sai khiến, đối
với những thứ như tam tịnh nhục bèn có thể
phương tiện. Nếu chẳng phụ trách chuyện
ấy, lại chẳng do cấp trên sai bảo, hễ gặp
chuyện ấy, có thể mềm mỏng từ chối. Lại
nữa, nếu là Phật tử đă thọ giới, đối
với những nghề nghiệp năo hại chúng sanh, những
dụng cụ như súng săn, lồng chim, lưỡi câu,
lưới cá v.v…, các nghề như đồ tể, buôn
rượu, đầu bếp, đánh cá v.v… đều chớ
nên làm. Dẫu chẳng thọ giới, làm những nghề
ấy cũng là tà mạng.
* Hỏi: Tín đồ Phật
giáo mua công trái ái quốc th́ có phạm giới cờ bạc
hay không? (Trương Tấn
Thiêm hỏi)
Đáp: Đấy là chánh sách
kinh tế quốc gia, chẳng thể coi là cờ bạc
được. Đối với kẻ mới học lại
chưa thọ giới, chẳng hiểu rơ giới tướng,
tạm thời khó thể giải nói được, nhưng
người tại gia ủng hộ chánh sách của quốc
gia, mua [công trái] chẳng trở ngại ǵ!
* Hỏi: Kẻ chẳng hiểu
Phật pháp và những kẻ ngoại đạo thờ phụng
Quán Thế Âm đại sĩ, lại c̣n vào ngày khánh đản
mỗi năm tạo đủ mọi chuyện sát sanh, lập
đàn làm pháp hội cầu cúng[6], sát
hại chẳng ít sanh mạng, v́ sao vẫn có đủ thứ
các điềm tốt lành? [Chẳng hạn] như lúc cử
hành pháp hội th́ tiết trời quang đăng vạn dặm,
hoặc là đến khi pháp hội hoàn tất, trời
đổ mưa! (Lữ Minh Trưởng
hỏi)
Đáp: Kẻ chẳng hiểu
Phật pháp và kẻ tin ngoại đạo có thể biết
thờ phụng Quán Âm, tức là trong tâm có Phật. Nếu một
niệm chí thành, sẽ đều có cảm ứng. C̣n như
sát sanh để cúng tế, chính là hành vi sai lầm. Nghiệp
của phàm nhân là thiện ác hỗn tạp, đại
để là như thế, há chỉ riêng một hai kẻ
phàm phu, ngoại đạo ư? C̣n những điềm tốt
lành như ông đă nói, chính là v́ đă hiểu lầm. Tuy ngày
hôm ấy quang đăng, nhưng thiên hạ to lớn, làm sao có
thể đoán định là những chỗ khác đều
b́nh lặng được? Ngày hôm ấy đổ mưa,
nhưng thiên hạ to lớn, làm sao có thể đoán định
[muôn dặm] đều có mưa ư? Huống hồ nếu
coi trời quang đăng là cát, ắt mưa là hung; coi mưa
là cát, tức quang đăng là hung! Trong ṿng một ngày, thoắt
tạnh, thoắt mưa, lại đều bảo là tốt
lành, tức là đă sai lầm mất rồi!
* Hỏi: “Cư sĩ chẳng
được đọc giới tỳ-kheo”, lời ấy
có phải là xuất phát từ lời Phật dạy hay do
tổ sư nói? (Trương
Quân hỏi)
Đáp: Đối với Luật
học, kẻ hèn này hoàn toàn chẳng nghiên cứu sâu xa. Chỉ
có khi thọ giới, lúc sắp truyền tỳ-kheo đại
giới, hàng cư sĩ nhất loạt tránh xa, lại c̣n
chẳng cho phép nghe trộm. Lại nghe thầy truyền giới
căn dặn như thế, chẳng cho phép xem đọc,
biết là quy chế do Phật, Tổ truyền lại. C̣n
điều đó được chép trong kinh điển nào,
do chưa học, nên chẳng thể chỉ ra!
* Hỏi: Đă là chẳng
được đọc giới tỳ-kheo, tự nhiên là
cũng chẳng được xem, há chẳng phải mâu
thuẫn với chuyện “pháp
môn vô lượng thệ nguyện học” ư? (Trương Quân hỏi)
Đáp: “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học” là
nguyên tắc. Giới tỳ-kheo là giới chuyên biệt của
hàng tỳ-kheo, chẳng liên quan đến hàng bạch y. Cư
sĩ đọc giới, sẽ thấy lỗi của tỳ-kheo,
đâm ra tự sanh chướng ngại cho chính ḿnh! Đọc
những điều ấy vô ích, mà c̣n bị tổn hại.
Đó là ngoại lệ, giữa Quyền và Thật, mỗi
đằng đều có phương tiện, Sự Lư mới
đạt đến viên dung!
* Hỏi: Nếu chẳng thể
xem, đối với lúc muốn in giới bổn, sẽ
giảo duyệt, đối chiếu như thế nào? (Trương Quân hỏi)
Đáp: Giới luật có
khai, có giá. Ấn loát giới bổn, thợ in giảo chánh,
đối chiếu th́ được đặc biệt cho
phép, do v́ chức nghiệp, chẳng giống như cư sĩ
cố t́nh trái luật xem đọc vậy!
* Hỏi: Theo định chế
của Phật Đà, tỳ-kheo khất thực, nhưng
thí chủ các nhà phần nhiều chẳng ăn chay. Đối
với đồ ăn xin được, có thể phương
tiện ăn mặn hay không? (Hoàng
Hàm hỏi)
Đáp: Tại Ấn Độ
có chuyện [tín chủ] cúng dường đồ mặn,
nhưng người tiếp nhận [vật thực cúng
dường] th́ có người ăn, có người không ăn,
chẳng thể nói nhất loạt như nhau được.
Quy chế khất thực hoàn toàn chẳng thông dụng tại
nước ta. Đôi khi có người hành hạnh khất
thực, th́ những người bằng ḷng bố thí
đều biết đức Phật chế định ăn
chay, chưa hề dùng thịt
để bố thí. Người xin thấy thịt,
cũng chẳng chịu nhận!
* Hỏi: Làm chao ắt phải
thêm rượu vào, nhưng tôi thấy từ trước
đến giờ, người ăn chay ắt sẽ ăn
chao. Lại như cải muối bắc thảo, cũng
thêm một chút nước tỏi. Hai vật vừa nêu trên
đây có thể phương tiện ăn hay không? Trọng
điểm của việc ăn chay là kiêng giết, tuy ăn
[chao, cải muối], chắc cũng chẳng gây hại
đến đại thể! Nếu nói nghiêm ngặt một
chút, trong không khí và nước có vi trần chúng sanh, ai nấy
đều chẳng tránh khỏi sát hại chúng. Xin hăy chỉ
dạy lẽ đúng sai! (Hoàng
Hàm hỏi)
Đáp: Muôn pháp ở nơi tâm.
Rượu và nước tỏi đều dùng như gia vị,
chẳng phải là trực tiếp uống rượu, ăn
tỏi. Chẳng biết mà ăn nhầm, chẳng có ǵ đáng
nói. C̣n biết mà phương tiện ăn vào, hăy xét xem cái
tâm có an hay không để tự quyết định. [Sở
dĩ] kiêng rượu và tỏi đều chẳng phải
v́ chúng gây nên tánh tội, mà v́ những thứ ấy gây ra hôn
trầm, động dục, cho nên ngăn cấm nhằm mục
đích pḥng ngừa. Chưa thọ Phật giới th́ có thể
tùy ư. Nếu đă thọ giới, ắt cần nên tuân thủ.
Đối với sanh vật trong nước, giới luật
đă có kinh văn rơ ràng [buộc hàng tỳ-kheo] lọc
nước [trước khi dùng]. Sanh vật trong không khí bị
giết v́ hô hấp chính là chuyện chẳng thể tránh né,
cho nên giới luật chẳng chế định. Đối
với những thứ có thể tránh né được mà cứ
giết chóc, từ bi ở chỗ nào? Những giới điều
đă được chế định đều bao hàm ư
nghĩa sâu xa, chớ nên nh́n qua loa! Luật thế gian đối
với chuyện sát thương c̣n có những điều
khoản “chẳng thể tránh
né” , “pḥng vệ chánh đáng”,
đủ các trường hợp xem xét cặn kẽ. Giới
luật nhà Phật tinh vi, luôn có quy định về khai,
giá, chẳng phiền người đời sau bàn ngang tán
dọc!
* Hỏi: Tôi thấy một
con nhện chăng lưới bắt những con phi trùng[7] nhỏ,
chẳng biết xử trí như thế nào? Nếu để
cho nó ăn, tức là thấy chết mà không cứu, ḷng chẳng
nỡ! Nếu không cho nó ăn, lâu sau, con nhện ắt sẽ
chết đói, tức là gián tiếp sát sanh. Đối với
chuyện này vẫn là trăm nỗi băn khoăn, chẳng
biết giải quyết thế nào, xin hăy khai thị! (Liêu Thanh Hoa hỏi)
Đáp: Chuyện này hăy nên
chia thành thong thả và cấp bách [để bàn định].
Trong sát-na ấy, phi trùng đang gặp nguy cơ đối
với sanh mạng, do một niệm từ bi bèn cứu vớt
là đúng. Trong sát-na ấy, con nhện không ăn, sanh mạng
của nó cũng chẳng bị tổn thương! Hoàn toàn
chẳng phải là chúng ta thật sự lúc nào cũng trông
chừng con nhện khiến cho nó chẳng được ăn,
sao lại nói là “gián tiếp giết hại” ư? Nếu
muốn viên măn vẹn toàn, có thể cho nó có cái để ăn,
quét sạch lưới nhện, tức là chấm dứt cái
nhân tạo nghiệp của nó, mà cũng là giúp cho nó chánh mạng
vậy!
* Hỏi: Tín đồ tại
gia của nhà Phật có một số người thâu nhận
đồ đệ là do nguyên nhân nào? (Trang Khánh Hiền hỏi)
Đáp: Trăm nghề hay khéo,
thâu nhận đồ đệ để truyền nghề.
Bậc học giả mở lớp khai giảng để
truyền kiến thức. Đấy chính là nghĩa vụ
đáng nên làm của người có đạo đức,
có kỹ năng vậy. C̣n đối với chuyện quy
y trong Phật giáo, có tánh chất khác với chuyện thâu nhận
đồ đệ. Quy y Tăng chính là quy y đoàn thể
các vị tỳ-kheo, chẳng phải là cá nhân thâu nhận đồ
đệ hoặc người kế thừa. Vị Tăng
truyền quy y cho người khác chính là đại diện
cho Tăng đoàn. Tín đồ tại gia trong nhà Phật
chẳng dự vào tăng đoàn tỳ-kheo, [nếu tự
tiện] tiếp nhận người khác quy y với ḿnh tức
là chẳng hiểu rơ luật nghi, tự ḿnh làm xằng, c̣n
có nguyên nhân chi nữa?
* Hỏi: Phần lớn những
người làm Trụ Tŕ tự viện đều ăn
chay, nhưng có một số người hoàn toàn chẳng ăn
chay, có được hay không? (Trang
Khánh Hiền hỏi)
Đáp: Chủ tŕ tự viện
chính là khuôn phép cho cả chùa. Đă chẳng thể ăn
chay, sẽ chẳng thể xướng suất người
khác tŕ giới! [Đối với vấn đề] có
được hay không, cần phải hỏi bậc ḥa
thượng tinh thông giới luật. Kẻ hèn này là hàng bạch
y, chẳng hiểu rơ ư nghĩa tinh vi trong ấy!
* Hỏi: Có những người
xuất gia, sau khi đă xuất gia v́ liên quan đến chuyện
gia đ́nh, bất đắc dĩ rời tự viện
trở về nhà. Sau này có nghiệp chướng ǵ hay không?
Nếu lúc có chướng ngại, tai hại, phải dùng phương
pháp ǵ để bổ cứu? (Trang
Khánh Hiền hỏi)
Đáp: Đă là xuất gia, có
lẽ chẳng cần phải trở về hỏi đến
chuyện nhà nữa. Nếu có chuyện bất đắc
dĩ, trong luật nghi đối với quy củ trở
về nhà đều có kinh văn rơ ràng, chẳng đến
nỗi phát sanh chướng ngại, tai hại! Nếu có
chướng ngại, tai hại, hăy tuân theo luật nghi
để tự xử!
* Hỏi: Có một kẻ đă
thọ giới, nếu nói chuyện đúng sai của người
khác th́ có phạm giới hay không? (Trang Khánh Hiền hỏi)
Đáp: Trong Ngũ Giới, đó
là tội vọng ngữ. Theo Bồ Tát Giới, sẽ là tội
“hủy báng người khác”,
đều là vi phạm. Nhưng đối với việc
nói chuyện thị phi của người khác, hăy nên phân định:
Khuyến cáo ngay trước mặt, hay hủy báng sau lưng?
Nếu nói ở một mức độ cao hơn, dẫu
chẳng thọ giới, nói chuyện thị phi của người
khác, hoặc truyền bá lời đồn, đấy cũng
chẳng phải là hành vi của bậc quân tử vậy!
* Hỏi: Đối với bất
luận h́nh tượng Phật, Bồ Tát là đắp hay
vẽ, đều chẳng thể phá hoại. Hễ phạm
phải, sẽ giống như làm thân Phật chảy máu, sẽ
đọa trong Vô Gián địa ngục. Đối với
loại lịch tháng của Phật giáo, mỗi năm thay
đổi một lần, hăy nên xử trí những quyển
lịch cũ như thế nào? (Trương
Quân hỏi)
Đáp: Hăy nên để cùng
chỗ với kinh điển, hoặc thiêu rồi vùi nơi
đất sạch, hoặc bỏ [tro] xuống chỗ
nước trong, đều không có ǵ là chẳng được!
* Hỏi: Phật dạy kiêng
sát sanh. Những loài trùng có hại như chuột, muỗi,
ruồi v.v… có thuộc trong phạm vi của giới ấy
hay không? (Lâm Chánh Khảo hỏi)
Đáp: Phàm những loài hàm thức
(tức động vật) đều bao gồm trong ấy,
chẳng cần biết là thân thể của chúng to hay nhỏ!
* Hỏi: Ưu-bà-tắc đă
thọ Bồ Tát Giới mà ăn trứng hoặc uống
rượu bổ th́ có phạm giới hay không? (Lâm Chánh Khảo hỏi)
Đáp: Đều chẳng
nên dùng.
* Hỏi: Có thể cử hành
hôn lễ ở tự viện hay không? Cũng như có thể
thỉnh ḥa thượng chứng hôn hay không? (Lâm Chánh Khảo hỏi)
Đáp: Phật giáo lấy
thanh tịnh trang nghiêm làm chủ, chẳng giống những
tôn giáo khác không ngăn cấm chuyện nam nữ. Nếu đệ
tử tại gia nhà Phật kết hôn, có thể cử hành
tại các cơ quan công cộng của Phật giáo, so ra sẽ
thuận tiện hơn. Bởi lẽ, đối với chuyện
nghi lễ, trước kia, những vị cầm quyền
và người nắm giữ học thuật đều có
quy chế nhất định, tức là có chuẩn mực
để tuân theo. Sống trong làng quê hay nơi ruộng rẫy,
cũng phải tuân theo phong tục của vùng quê ấy, tức
là có chuẩn mực để noi theo. Ngày nay, đối với
những lễ nghi c̣n chưa có chế định, cơi tục
thường xen lẫn những kiểu cách của Tây
Phương, ngoại quốc, rất khó nói là đúng hay
sai! Tuy nhiên, đối với người khác th́ không ǵ là
chẳng được. Kẻ nghe theo luật nghi nhà Phật,
nay vẫn nên tuân thủ [những luật nghi ấy], đừng
hủy hoại! [Cử hành hôn lễ trong chùa có] được
phép hay không, đương nhiên là có thể có những ư nghĩa
bao hàm [trong luật nghi để bậc xuất gia tinh thông
giới luật] có thể t́m ṭi [để
tự quyết định]. Kẻ hèn này là hàng bạch
y tại gia, chẳng hiểu nghi thức thuộc về Tỳ
Ni (giới luật) trong chốn tùng lâm. Mong cư sĩ hăy
hướng về bậc thông hiểu để thưa hỏi
vấn đề này!
* Hỏi: Kiêng sát sanh th́ “sanh” có ư nghĩa như thế
nào? (Trần Thái Thụ hỏi)
Đáp: Chữ “sanh” chỉ cái thân do các duyên ḥa
hợp [mà thành]. Thân ấy có thọ mạng trong một khoảng
thời gian, tức là “sanh mạng”,
nói đơn giản là “sanh”.
* Hỏi: “Sanh vật” chính là tướng. Nếu tướng
là Không, cần ǵ phải kiêng sát sanh? (Trần Thái Thụ hỏi)
Đáp: Sanh vật chính là
tướng Không, nói theo lư luận, chẳng sai! Nhưng xét
theo thời gian của sanh mạng, t́nh thức kư thác, thức
có thấy, nghe, hay, biết, t́nh có mừng, giận, buồn,
vui; giết chóc sẽ kích thích những t́nh thức ấy.
T́nh thức của những con vật bị giết ấy
sẽ sanh ra thống khổ, lại c̣n đoạn mất
thời gian thọ mạng của chúng, cho nên chẳng nỡ
giết. Ta cũng là một loài sanh vật, tuy có thể hiểu
Không, nhưng vẫn chưa thể thấy thấu suốt.
Do vậy, cảm nhận sự thống khổ. Những
con vật đó yêu tiếc sanh mạng, chẳng hiểu tánh
Không, làm sao có thể chẳng yêu mến sanh mạng? Từ
[cảm nhận của] chính ḿnh, thấu hiểu tâm t́nh của
chúng; v́ thế, đề xướng kiêng giết!
* Hỏi: Tại gia đệ
tử sau khi đă thọ Bồ Tát Giới, tŕ Bát Quan Trai
Giới th́ chỉ có thể giữ Lục Trai Nhật, chẳng
thể giữ ba tháng trai. [Như vậy th́] có phá toàn thể
giới ấy hay không? (Tâm Dung hỏi)
Đáp: Nếu chưa phát
nguyện tŕ trai ba tháng, chẳng tŕ th́ chẳng phải là phá
giới. Nhưng đă thọ Bồ Tát Giới, theo lẽ,
hăy nên ăn chay trường. Nếu nhất thời chưa
làm được, cũng nên tập luyện sao cho dần
dần gần được như vậy th́ mới nên!
* Hỏi: Từng nghe một
vị pháp sư nói, phàm ai muốn xuất gia, ắt cần
phải được cha mẹ chấp thuận th́ mới
có thể chánh thức thọ giới, xuất gia. Nay gia
huynh trốn nhà nương tựa cửa Phật, thầy
của anh ấy có thể thâu nhận hay không? Nếu không,
lại phải xử trí như thế nào? (Tiêu Quốc Hùng hỏi)
Đáp: Lời của vị
pháp sư ấy nói là có căn cứ, c̣n như vị thầy
mà lệnh huynh đă nương náu rốt cuộc sẽ làm
như thế nào, người khác cũng khó ḷng dự đoán
được!
* Hỏi: Có người chuyên
sống bằng nghề đánh cá, chẳng thể đổi
nghề, nhưng chịu niệm Phật, nếu khi lâm
chung đạt được nhất tâm, có thể đới
nghiệp văng sanh hay không? (Giang
Khoan Ngọc hỏi)
Đáp: Giết sanh mạng kẻ
khác để nuôi sanh mạng của ta. Sanh mạng của
ta do giết kẻ khác mà sống c̣n, sanh mạng kiểu ấy
chẳng thể coi là chánh đáng! Trước khi học Phật,
mê muội chánh lư, xét theo t́nh th́ c̣n có thể dung thứ, hăy
nên sám hối. Sau khi đă niệm Phật, hăy nên sửa
đổi. Nếu không, do rộng kết oán thù, sợ sẽ
gây trở ngại cho nhất tâm. Nếu lâm chung không bị
chướng ngại, niệm Phật đạt đến
nhất tâm; đă đạt đến nhất tâm, lẽ đâu
chẳng văng sanh! Nhưng nếu chưa đạt đến
nhất tâm, chẳng phải là chuyện cầu may đâu
nhé!
* Hỏi: Làm nghề dùng ba thứ
tịnh nhục để gia công thành thực phẩm chế
biến sẵn th́ có tội lỗi hay không? (Giang Khoan Ngọc hỏi)
Đáp: Trước đó, đă
làm nghề này, sau đấy học Phật, nhất thời
khó thể đổi nghề được th́ trong lúc gia
công, chế biến, có thể niệm Phật, tŕ chú siêu
độ cho chúng. Đấy cũng là phương tiện
bất đắc dĩ. Nếu trước đó đă học
Phật, sau đấy mới làm nghề này th́ không thể
được!
* Hỏi: Làm nghề phụ
bằng cách nuôi dưỡng những thứ gia súc, gia cầm
chẳng phải để làm thực phẩm th́ có được
hay không? (Giang Khoan Ngọc hỏi)
Đáp: “Chẳng phải làm thực phẩm” là nói tới
loại gia súc, gia cầm nào? Có phải là những gia cầm,
gia súc để nuôi làm cảnh hay không? Những loại cầm
thú ấy nếu chẳng phải là loại có thể làm hại
những động vật khác, và chẳng bị nhốt
trong lồng, xiềng trói, giam nhốt th́ có thể dung thông.
* Hỏi:
Trên đường sá hoặc chốn công cộng, gặp
tiền bạc đánh rơi, không đáng giá để báo
cảnh sát, bèn nhặt lấy để quyên tặng
làm việc thiện, có được hay không? (Giang Khoan Ngọc hỏi)
Đáp: Vật chẳng phải
là của ta có, ta chẳng có quyền phân xử. Đă là chẳng
đáng giá để báo cảnh sát, có thể chẳng hỏi
đến, chẳng nhặt! Kẻ hèn này nghĩ: Phàm những
vật có thể quyên tặng làm thiện sự, không ǵ là
chẳng thể báo cảnh sát!
* Hỏi: Phụ nữ v́ học
Phật, hoặc v́ hoàn cảnh gia đ́nh, phải tiết
chế sanh nở, hoặc đoạn trừ sanh nở. Có
thể làm như vậy hay không? (Giang
Khoan Ngọc hỏi)
Đáp: Phụ nữ v́ gia kế
mà tiết chế hoặc đoạn trừ chuyện sanh
nở, đó là vấn đề kinh tế gia đ́nh, người
khác chẳng tiện bàn luận thay cho họ. Nếu do học
Phật mà làm như thế, nhất định phải
được bố mẹ chồng, chồng v.v... đồng
ư, chớ nên tự tiện mà làm! Bởi lẽ, thế tục
cưới vợ, đều rất thích đông con lắm
cháu; nếu tự tiện chủ trương, chắc chắn
sẽ dẫn đến sự xáo động trong gia đ́nh,
cũng v́ lẽ đó, không thể nói là Phật giáo chẳng
bị ảnh hưởng lây. Chớ nên không thận trọng!
* Hỏi: Ḥa thượng Đông
Dương (Nhật Bản) lấy vợ, ăn thịt,
chẳng biết là do căn cứ trên loại lư luận nào?
Tin Phật, niệm Phật, mà chẳng tuân theo giới luật
do đức Phật chế định, có phải là phạm
giới hay không? Hạng người xuất gia ấy có thể
dựa theo Du Già Sư Địa Luận để gọi
là Tương Tự Bồ Tát hay không? (Lữu Mậu Thịnh hỏi)
Đáp: Người thọ
giới mà trái nghịch [giới luật] th́ là phạm giới.
Kẻ chẳng thọ, sẽ chẳng thể nói là phạm,
nhưng ắt có nhân quả tồn tại. Kẻ hèn này chỉ
nghe nói: Ba mươi địa vị thuộc hàng Địa
Tiền (trước khi chứng Sơ Địa), phát khởi
trí huệ giống như chân giác, có thể chế phục
phiền năo, bèn gọi là Tương Tự Bồ Tát. Hạng
người như cư sĩ đă hỏi sợ rằng
chẳng phải!
* Hỏi: Do bệnh mà ăn
trứng gà Leghorn chưa có cồ, nói theo phương diện
tŕ giới, có thể dung thông hay không? (Lữu Mậu Thịnh hỏi)
Đáp: Loại trứng ấy
do không có cồ, nên có thể dung thông.
* Hỏi: Phóng sanh mà chẳng
chiếu theo nghi thức phóng sanh, có phải công đức
cũng là vô lượng hay không? Xin hăy dạy cho! (Trần Đăng Phùng hỏi)
Đáp: Phóng sanh là cứu thân
mạng của chúng. Hành theo nghi thức nhằm độ
huệ mạng của chúng. Nhưng nghi thức há có phải
là ai nấy đều biết! Chỉ nên tụng một
loại chú, hoặc có thể chẳng niệm chú, chỉ
niệm Phật cho chúng, v́ chúng nó nói Tam Quy Y, công đức
sẽ là vô lượng.
* Hỏi: Muỗi bay vào mắt
chúng ta bị chết, có phải là tội lỗi của chúng
ta hay không? (Trần Đăng
Phùng hỏi)
Đáp: Ta chẳng có tâm sát hại,
mà cũng chẳng phạm lỗi lắp đặt cơ
cấu giết hại, há có tội ư? Những loài phi trùng
ấy bị chết, giống như kẻ không cẩn thận,
sảy chân té xuống nước. Nước chẳng chịu
trách nhiệm, mà là do người sảy chân chẳng may mà
thôi!
* Hỏi: Tôi từng nghe người
hiểu Phật lư nói: “Hoài thai th́ trong ṿng một, hai tháng, vẫn
có thể v́ phương tiện mà phá thai, do v́ thần thức
chưa định!” Chẳng biết người ấy nói
có đúng hay không? (“Phương
tiện” như người ấy nói chính là nói đến
sự nghiệp hoằng pháp, v́ chuyện lớn mà bỏ điều
nhỏ nhặt vậy). (Lâm Huệ
Minh hỏi)
Đáp: Trước hết,
chẳng bàn lời lẽ của kẻ thông hiểu Phật
lư ấy là đúng hay không. Ngẫu nhiên nêu ra câu hỏi ấy,
là có ư ǵ? Lại để trong dấu ngoặc [nói phương
tiện] là nói về sự nghiệp hoằng pháp, v́ chuyện
nhỏ nhặt mà bỏ điều lớn lao, tợ hồ
hiện thời quả thật có chuyện ấy! Có phải
là vợ chồng hay không? V́ sao mà phá thai? Tôi chẳng hiểu
rơ sự thật, cho nên chẳng dám bộp chộp bàn luận
lư lẽ suông!
* Hỏi: Tín đồ Phật
giáo chúng ta có phải là cũng cần lễ bái chư thần
hay không? (Như Ma Tổ, Thành Hoàng) (Trần Đăng Phùng hỏi)
Đáp: Lễ bái và quy y khác
nhau. Bái lạy chỉ là ông dùng lễ tiết cung kính. Phật
giáo coi trọng b́nh đẳng, từ bi, chẳng quan tâm là
thiên thần, quỷ, người v.v… hăy nên nhất loạt
đối xử lễ độ. Quy y là tín phụng giáo
pháp của vị ấy. Giới điều của đệ
tử Phật là chỉ tín phụng Tam Bảo, đấy
là chánh đáng. Tín phụng những ǵ khác với Tam Bảo
th́ chính là phá giới, nương theo lẽ tà!
* Hỏi: Tuyên dương chân
lư của đức Phật, nhằm nêu chứng cớ khiến
cho người khác tin tưởng, có thể nói với người
khác là chính ḿnh đích thân thấy Phật thuyết pháp hay
không? (Trần Đăng Phùng hỏi)
Đáp: Đức Phật răn
cấm vọng ngữ. Chuyện ấy tuyệt đối
chớ nên làm. Hễ làm, sẽ trở thành cuồng loạn,
chiêu cảm ma, tạo tội vô cùng!
* Hỏi: Giả sử là có
trứng chim bèn đem ấp cho nở thành chim con, tức là
tạo tác sanh tử. Kẻ ăn trứng ấy sẽ phạm
giới, nhưng bỏ mặc th́ là sát sanh! Xin hỏi có phương
pháp nào để được viên măn hay không? (Trần Đăng Phùng hỏi)
Đáp: Thế giới vô tận,
kẻ tạo tác sanh tử trong lục đạo, số
lượng há chỉ là vô lượng hằng sa? Cư sĩ
có thể đoạn cơ hội sống sót của từng
loài hay sao? Trứng loài chim ấy có mầm sống, nó sống
sót chẳng liên quan đến cư sĩ. Trứng không có
mầm sống mà diệt th́ cũng chẳng liên quan đến
cư sĩ! Nếu phát Bồ Đề tâm, nó sanh th́ hăy nên
dùng pháp bố thí, nó diệt th́ cũng dùng pháp bố thí. Nếu
nhặt lấy để ăn, đă biết là phạm giới,
sao c̣n khổ sở làm chuyện đó? Chuyện chẳng
liên can đến ḿnh, sao cứ khăng khăng chuốc lấy
việc? Giới có điều khoản rơ ràng, [thế mà] cứ
khăng khăng phạm giới. Vốn tự vô ngại,
cứ khăng khăng hỏi chuyện viên măn!
* Hỏi: Theo Tŕ Tâm Phạm
Thiên Sở Vấn Kinh: “Phạm
Thiên bạch Phật: Hà vị thân cận Như Lai hạnh?
Phật viết: Ninh thất thân mạng, bất hủy cấm
giới” (Phạm Thiên bạch Phật: “Như thế nào
gọi là hạnh thân cận Như Lai?” Đức Phật
bảo: “Thà mất thân mạng, chẳng hủy giới cấm”).
Nếu cha mẹ già cả, khí lực hư nhược, lắm
bệnh, ắt phải nấu gà để tẩm bổ.
Hàng tại gia Bồ Tát v́ phụng sự cha mẹ, [làm như
vậy], có hủy cấm giới hay không? Giết rồi nấu
nướng có được hay không? (Ngô Minh An hỏi)
Đáp: [Quan niệm] “gà có thể
tẩm bổ” thuần là lập luận của thế tục!
Kẻ giàu có hằng ngày ăn gà, lợn, chưa thấy ai
nấy đều khỏe mạnh! Đấy là chứng cớ
rơ ràng! [Tẩm bổ bằng gà, lợn] cũng chẳng phù
hợp y lư. Cha mẹ thích ăn là do thường ngày chẳng
giảng giải nhân quả, khiến cho cha mẹ tăng
phước, sống lâu, [nay cha mẹ muốn ăn] chỉ
đành tùy duyên. Tôi sẽ v́ ông mà nói phương tiện:
Đức Phật dạy có ba loại tịnh nhục, chính
là “chẳng v́ ta mà giết, chẳng
thấy giết, chẳng nghe tiếng chúng bị giết”.
Nói đơn giản, chính là ngoài chợ có bán gà, lợn đă
giết sẵn, có thể mua về nấu nướng cho
cha mẹ dùng. Những thứ ấy có ăn măi cũng chẳng
hết, cần ǵ phải đích thân ra tay giết hại!
* Hỏi: Vợ chồng ăn
nằm với nhau th́ tại gia Bồ Tát Giới chẳng
có cấm kỵ, đúng không? (Ngô
Minh An hỏi)
Đáp: Học nhân tại gia
chỉ răn không tà dâm. Vợ chồng ăn nằm chẳng
phạm lệ cấm. Nhưng trong ngày trai, ngày thánh đản
của Phật, Bồ Tát, ngày giỗ tổ tiên, hoặc
trong ngày sanh nhật của cha mẹ và chính ḿnh v.v… cũng
nên giữ thân thanh tịnh!
* Hỏi: Thất giá tội
là ǵ? (Ngô Minh An hỏi)
Đáp: Chính là bảy tội
nghịch theo Đại Thừa. Phạm một trong bảy
tội nghịch ấy, sẽ bị ngăn trở chẳng
được thọ Bồ Tát Giới, nên gọi là “giá tội” (遮罪, tội gây nên sự ngăn trở). Thất giá
tội: Một là làm thân Phật chảy máu, hai là giết
cha, ba là giết mẹ, bốn là giết ḥa thượng,
năm là giết A Xà Lê, sáu là phá yết-ma chuyển pháp luân
tăng, bảy là giết thánh nhân.
* Hỏi: Kể từ khi hậu
học tin Phật tới nay, liền tŕ trai, kiêng giết.
Chỉ cảm nhận giới Chánh Mạng trong Bát Chánh Đạo
dạy “đừng mưu sinh
bằng tà mạng”. Ở nơi đây, hậu học mở
tiệm bán xe đạp, bán kèm thêm các linh kiện của
động cơ thuyền máy. Nhưng ở nơi đây,
thuyền máy tuyệt đại đa số là thuyền đánh
cá, thuyền dùng chở khách rất ít. Nếu bán những
linh kiện ấy, sợ gặp trở ngại v́ đă gián
tiếp giúp đỡ những người đánh cá ấy.
Tôi cảm thấy rất băn khoăn, xin hỏi đại
đức là buôn bán linh kiện của động cơ
thuyền máy như vậy có trái nghịch đạo Chánh Mạng
hay không? Nếu chẳng thể, tôi sẽ lập tức dẹp
các loại động cơ cho thuyền máy, chuyên bán xe đạp
vậy! (Hoàng Thanh Vinh hỏi)
Đáp: Đối với t́nh
h́nh kinh doanh tại quư xứ, kẻ hèn này thiếu hiểu
biết, nhưng thấy cư sĩ lo nghĩ về đạo
Chánh Mạng, khâm phục, bội phục sâu xa! Nếu “dẹp
động cơ thuyền máy, chuyên bán xe đạp” chẳng
có ảnh hưởng to lớn đối với thâu nhập
của doanh nghiệp th́ vẫn là đổi nghề sẽ
tốt hơn! Bởi những linh kiện động cơ
thuyền máy, cố nhiên chẳng phải là [dụng cụ
gây tạo] nghiệp sát sanh, chỉ có điều những
thuyền chuyên đánh cá sử dụng những thứ ấy,
nên chúng biến thành công cụ để đánh cá, chẳng
phù hợp đạo Chánh Mạng vậy!
* Hỏi: Ngũ Giới lấy
giới sát sanh làm đầu, có thể thấy được
tánh chất trọng yếu của nó, nhưng trong sách của
Hoằng Nhất đại sư, nơi trang năm mươi
hai, trong bức thư gởi cho cư sĩ Liêu Địch
Nguyên, có nói: “Trước hết,
hăy nên thọ hai giới chẳng tà dâm và chẳng uống
rượu, những giới khác sẽ từ từ thọ
sau…” Xét theo Lư, phải nên thọ giới chẳng sát sanh
trước mới là đúng. Sư Hoằng Nhất lại
ngược ngạo xếp giới chẳng sát sanh vào loại
giới có thể từ từ thọ, chẳng hiểu ư
nghĩa ra sao? (Liêu Thanh Hoa hỏi)
Đáp: Hiện thời, các bản
in chẳng phải chỉ có một loại, số trang chẳng
giống nhau. Tôi tuy chẳng kiểm lại bức thư của
ngài Hoằng Nhất, nhưng trộm suy lường ư nghĩa:
Đức Phật và các vị tổ sư độ chúng
sanh, đều như lương y kê toa, ứng theo căn
bệnh mà bốc thuốc, lắm cách thiện xảo. Có lẽ
lúc ấy Liêu cư sĩ là người đắm đuối
tửu sắc; v́ thế, ngài Hoằng Nhất dùng giới
dâm và giới tửu răn bảo trước. Nếu lấy
giới sát làm đầu, dựa theo đó để truyền
dạy, đó là Thông. Trước hết dạy về giới
dâm và giới tửu, chính là Biệt. Ông Liêu mắc tật
tửu sắc, lại ngược ngạo dạy giới
sát, sẽ giống như tay bị ghẻ nhọt, cứ
một mực bôi thuốc nơi chân!
* Hỏi: Người ăn
chay trường có thể uống sữa ḅ hay không? Khi bị
bệnh, nếu nhất định phải uống thuốc
có thêm thịt th́ có được hay không? (Trần Đăng Phùng hỏi)
Đáp: Sữa ḅ chẳng phải
là do sát sanh mà có, cho nên có thể uống. Khi bệnh, cần
uống thuốc, nếu bắt buộc phải dùng động
vật, hăy nên chọn năm thứ tịnh nhục, để
coi là thuốc. Chớ nên sát sanh để chế thuốc,
hoặc sát sanh để điều chế thuốc bổ.
* Hỏi: Gần đây, tôi có
ư nghĩ thực hành Ngũ Giới. Ở tiệm ăn, đối
với những thứ cá, thịt v.v… rốt cục chẳng
nỡ ḷng ăn. Chuyện này đối với chuyện dinh
dưỡng đều là vấn đề, vừa bất
tiện mà cũng vừa là khổ năo! (Trần Hướng Phước hỏi)
Đáp: Không nỡ ăn thịt
chúng sanh, đủ thấy là đời trước có đại
căn khí! Thật ra, các loại thịt
chẳng hợp lẽ vệ sinh. Do gần đây, khoa học
tiến bộ, [phát hiện] vitamin trong rau đậu xác thực
là tốt hơn các loại thịt, lại c̣n chẳng chứa
chất độc, chẳng gây nên các căn bệnh ngặt
nghèo. Gần đây, rất nhiều người Mỹ chẳng
ăn dầu bơ, mà dùng dầu thực vật để
thay thế, cho là chất béo động vật có thể
gây xơ cứng huyết quản, các loại thịt dễ
dẫn đến chứng ung thư gan. Xét như thế,
há chúng có chất dinh dưỡng ǵ? Trước mắt, bất
quá là vấn đề có thuận tiện hay không? Chẳng
thể dứt thịt, chỉ cầu kiêng giết, hoặc
ăn ba thứ tịnh nhục, hoặc ăn rau bên cạnh
thịt, bi tâm ngày một tăng trưởng, công đức
mỗi ngày một tăng!
* Hỏi: Phật giáo tối
kỵ giết chóc, bởi lẽ, hết thảy hữu t́nh
chúng sanh đều có Phật Tánh, b́nh đẳng với ta.
Nhưng những loài như ruồi, muỗi, bọ chét v.v…
làm môi giới lan truyền bệnh tật. Chẳng giết
chúng, sẽ có hại cho sức khỏe của nhân loại,
cho đến chẳng có cách nào sanh tồn! Giết chúng th́
lại trái nghịch Phật lư (đối với chuyện
này, tăng chúng cũng có nhiều ư kiến chẳng nhất
trí). V́ thế, chuyện rơ rệt nhất để hàng nhân
sĩ trong xă hội bươi móc Phật giáo cũng là v́ điểm
này. Họ cho rằng Phật giáo trái nghịch khoa học
thường thức. Cao kiến của thầy là như
thế nào? (La Kiếm Nhân hỏi)
Đáp: Thiên hạ vạn sự,
đôi bên mâu thuẫn, há chỉ có một mối, phải
khéo léo ngăn ngừa mà thôi! Nếu cứ ắt phải
đề xướng “giết kẻ khác để chính
ḿnh tồn tại”, tức là tạo thành đầu mối
đấu tranh. Thuyết cạnh tranh sanh tồn như Đạt
Thị (Charles Darwin) đă nói, thật ra là cạnh tranh tử
vong vậy! Nếu nói theo lẽ b́nh đẳng, sẽ là “vạn vật cùng sanh tồn, chẳng
tổn hại lẫn nhau”. Nho gia c̣n có tư tưởng
ấy, chẳng phải là riêng ḿnh nhà Phật giác ngộ! Nếu
biết pḥng ngừa, hết thảy sẽ được
giải quyết. Phật lư vốn tự viên dung; đừng
nên v́ ư kiến của những gă ngây ngốc mà phân vân. C̣n đối
với những kẻ bươi móc từng chuyện, càng
chẳng đáng để coi trọng! Đối với
phương cách ngăn ngừa, lư tột cùng vi diệu, an
ổn vô sự. Bỏ cách ấy, sẽ chẳng có cách nào
khác! Nếu ông chẳng tin, nay tôi đề ra một câu hỏi:
Hăy xét xem, xưa nay có những nước về sau vong quốc,
chẳng mất vào tay kẻ địch bên ngoài, th́ là mất
v́ nội loạn. Tức là ngoại tộc và dân trong
nước ấy đều là những thứ có hại
cho đất nước. Nếu dự pḥng kế sách bảo
vệ đất nước, trước hết có nên giết
sạch ngoại tộc và quốc dân hay không?
* Hỏi: Do vô t́nh đập
chết muỗi, do chẳng hay biết mà đạp chết
kiến, có phạm sát giới hay không? (Dương Châu Ngọc Kiều hỏi)
Đáp: Đấy là vô tâm làm
ác, chỉ là vô ư, chỉ gọi là lầm lỗi, chẳng
phải là cố ư phạm tội!
* Hỏi: Người đă
thọ giới, trong một hai t́nh huống phạm giới,
có phải là sẽ chịu luân hồi khổ sở hơn
người chẳng thọ giới hay không? (Dương Châu Ngọc Kiều
hỏi)
Đáp: Đối với những
điều ác như giết, trộm v.v… chẳng cần
biết có thọ giới hay không, phàm ai tạo tội,
đều hứng chịu quả báo tương đương!
Chỉ có điều, người thọ giới phạm
tội, chính là do chẳng đủ nhẫn lực, một
đôi khi phạm giới, tội ấy c̣n ít. Kẻ chẳng
thọ giới, do chẳng biết đó là sai trái, thường
xuyên tạo ác, tội dần dần tích lũy sâu dầy.
Kẻ ác ít, sẽ chịu khổ báo ít; kẻ ác dầy, sẽ
hứng chịu khổ báo sâu dầy. Nghĩa lư rơ rệt,
có thể suy ra mà hiểu rơ. Nhưng kẻ thọ giới đôi
khi phạm giới, phá giới, có thể cực lực sám
hối, ḥng đền bồi về sau. Nếu không, tuy phạm
tội ít mỏng hơn kẻ kia (kẻ chẳng thọ
giới), nhưng lại đèo thêm cái tội phạm giới,
lừa Phật!
* Hỏi: Trong vườn của
người bạn trổ hoa đẹp đẽ, nhằm
lúc chẳng có ai ở nhà, không có cách nào hỏi xin, bèn tự
tiện bẻ hoa đem về cúng Phật. Có phạm giới
trộm cắp hay không? (Dương
Châu Ngọc Kiều hỏi)
Đáp: Vật chẳng do chính
ḿnh làm chủ, chẳng cần biết nó thuộc về
ai, hễ không cho mà lấy, đều gọi là “trộm cắp”!
C̣n sau khi đă trộm, sử dụng như thế nào, đều
chẳng thể bào chữa cho cái tội trộm cắp ấy!
Bất quá vật lớn hay nhỏ, nhiều hay ít, đều
có [quả báo] nặng hay nhẹ khác nhau mà thôi.
* Hỏi: Trong Tại Gia Luật
Yếu Quảng Tập[8],
quyển thứ ba, trang bốn mươi, ḍng thứ chín,
có đoạn viết: “Nhược
Ưu-bà-tắc cộng dâm nữ hành dâm, bất dữ trực
giả, phạm tà dâm bất khả hối, dữ trực
vô phạm” (Nếu Ưu-bà-tắc hành dâm với gái điếm
mà chẳng trả tiền th́ phạm tội tà dâm, chẳng
thể sám hối. Hễ trả tiền th́ chẳng phạm).
Đă là “dữ trực vô phạm”
(trả tiền th́ chẳng phạm), [vậy th́] Ưu-bà-tắc
có thể qua lại với bọn kỹ nữ để
t́m vui ư? Điều này khó hiểu! Xin lăo cư sĩ hăy
phá nghi! (Lư Vinh Đường hỏi)
Đáp: Phạm giới luật,
xét theo nguyên tắc chính là phạm. Do t́nh tiết chẳng
đồng nhất, mà có nhẹ, nặng khác nhau. V́ thế,
đối với t́nh tiết phạm giới, chế định
“có thể sám hối” và “không thể sám hối” sai khác. “Khả hối” là cho phép sám hối,
“bất khả hối” là chẳng
tương ứng với hổ thẹn, hối hận vậy!
Giới điều ở đây nói “bất dữ trực giả, phạm
tà dâm bất khả hối”, ư nói: [Ăn nằm với
gái điếm mà không trả tiền] sẽ là phạm tội
chẳng thể sám hối. “Dữ
trực vô phạm” ư nói: Chẳng phạm tội không
thể sám hối, chứ không phải là “nói không phạm tội
tà dâm!” Đối với kẻ phạm giới, tuy cho phép người
mới phạm được phép sám hối, nhưng khi cử
hành sám hối, chẳng hề chí thành, chẳng hề hổ
thẹn, cho nên chẳng đạt được hiệu
quả. Bởi lẽ, Sự sám lễ nghi phức tạp,
Lư Sám th́ cái tâm (vọng tâm) khó thể tiêu diệt.
* Hỏi: Tại gia học Phật,
chưa thọ Bồ Tát Giới, có thể xem giới điều
của Bồ Tát Giới hay không? Nghe nói hàng tại gia khi chưa
ấn định hai khóa công phu sáng tối lễ Phật, công
đức rất ít? (Hoàng Nhân
Kính hỏi)
Đáp: Đại giới của
Bồ Tát áp dụng chung cho hàng xuất gia và tại gia, nhưng
tứ chúng tại gia và xuất gia lập trường cũng
có chỗ bất đồng. Luật nghi chỉ hạn định
hàng tại gia không được xem kinh văn của giới
tỳ-kheo. C̣n như giới luật Bồ Tát áp dụng chung
cho tăng lẫn tục, hàng tại gia tuy chưa thọ
giới cũng chẳng cấm xem!
* Hỏi: Sau khi thọ giới,
hăy nên ăn chay, nhưng người nhà ngại nấu
nướng phiền phức nên phản đối, đệ
tử nên xử lư chuyện ăn chay như thế nào? Chẳng
thọ Bồ Tát Giới sẽ có chướng ngại ǵ đối
với chuyện niệm Phật văng sanh? (Tiên Thuần Hiền hỏi)
Đáp: Phật pháp [đề
xướng] ăn chay là v́ chẳng sát hại chúng sanh. Người
ăn thức ăn của người khác [cung cấp], hoặc
chẳng thể làm chủ đối với chuyện ăn
uống của chính ḿnh, cũng có cách dung thông. Tức là bất
đắc dĩ, có thể ăn rau bên cạnh thịt. Nếu
vẫn chẳng thể, bèn cho phép ăn tam tịnh nhục,
ḥng chẳng thương tổn ḷng từ bi. Mở ra phương
tiện ấy. C̣n nói tới chuyện [quan hệ giữa]
văng sanh và thọ giới, cũng chớ nên có cách nh́n cứng
ngắc! Kinh dạy: “Chẳng
thể dùng chút thiện căn, phước đức, nhân
duyên để sanh về cơi ấy”. “Thiện căn” chính là chánh hạnh Tŕ Danh, “phước đức” là trợ
hạnh tán thiện tŕ giới, nhưng có được
Ngũ Giới th́ cũng tốt rồi, chẳng bắt buộc
phải thọ Bồ Tát Giới. Chướng ngại hay
không là do chánh hạnh và trợ hạnh có chân thật hay không,
chẳng coi trọng danh tướng! Đối với
chuyện này, hăy nên tự răn nhắc, đừng hiểu
lầm!
* Hỏi: Đối với
nội điển ắt phải đọc của hàng tại
gia, tức phẩm Thọ Giới trong Ưu Bà Tắc Giới
Kinh, nơi hàng thứ nhất trong trang thứ tám: “Ngũ giả, bất đắc
áp du” (Năm là chẳng được ép dầu). Tại
gia cư sĩ chẳng có nghề nghiệp kinh doanh, ắt
sẽ chẳng sống được. Kẻ sống bằng
nghề ép nghiền đậu nành hoặc đậu phộng
lấy dầu chẳng phải là sát sanh, v́ sao chẳng
được? (Lư Vinh
Đường hỏi)
Đáp: Cách ép dầu th́ xưa
nay, trong ngoài nước đều khác nhau. Thời cổ
và ở ngoại quốc, đối với máy ép dầu và
những thứ dùng để ép dầu, [kinh luận] đều
nói là giết hại các loại trùng[9], cho
nên chế định người thọ giới chẳng
được phép làm. Nhưng cụ thể như thế
nào, cần phải khảo cứu th́ mới biết. Như
tôi xét trong hiện thời, dường như [ép dầu]
chẳng có dấu vết sát sanh. Nếu cư sĩ muốn
kinh doanh nghề ấy, có thể thỉnh cầu vị thầy
truyền giới mở phương tiện.
* Hỏi: Cũng trong kinh ấy,
trang mười, ḍng mười, “Ưu-bà-tắc thọ tŕ giới dĩ, tuy vi thiên nữ,
năi chí nghị tử, tất bất ưng sát” (Ưu-bà-tắc
đă thọ tŕ giới, dẫu là thiên nữ cho đến
con kiến, đều chớ nên giết). Tôi chẳng liễu
giải đoạn “tuy vi thiên
nữ” trong ấy, xin hăy giải thích! (Lư Vinh Đường hỏi)
Đáp: Trong các bản khác,
hai chữ “thiên nữ”
được chép là “thân mạng”.
Tra duyệt bộ Tại Gia Luật Yếu Quảng Tập
do cư sĩ Trần Hy Nguyện biên tập vào đời
Thanh, cũng thấy chép phẩm ấy, trong đó có lời
“tiên chú” (箋注, chú giải)
của Ngẫu Ích đại sư. Trong bản đó,
dưới điều ấy cũng ghi là “thân mạng” kèm thêm lời chú. C̣n bản của Âu
Dương đại sĩ, chẳng biết do căn cứ
vào đâu, có phải là giảo đối, hiệu đính
sai lầm hay không, hoặc là c̣n có bản nào khác nữa,
trong tay tôi chẳng có nhiều kinh [để tham khảo, cho
nên chẳng dám quyết đoán], có thể coi là điều
“tồn nghi” (c̣n nghi ngờ).
* Hỏi: Cũng trong kinh ấy,
trang mười bốn, ḍng thứ tư: “Nhược Ưu-bà-tắc thọ tŕ giới
dĩ, súc dưỡng tượng, mă, ngưu, dương,
đà, lư, nhất thiết súc thú, bất tác tịnh thí
cầu thọ giới giả, thị Ưu-bà-tắc đắc
thất ư tội, bất khởi đọa lạc, bất
tịnh hữu tác” (Nếu Ưu-bà-tắc đă thọ
tŕ giới, đối với hết thảy những loài
thú đă nuôi như voi, ngựa, trâu, dê, lạc đà, lừa,
mà chẳng tịnh thí cho người cầu thọ giới,
vị Ưu-bà-tắc ấy sẽ mắc tội thất ư,
tuy chẳng bị đọa lạc, đă thuộc về
bất tịnh nơi pháp hữu vi). Hàng nam nữ tại
gia nuôi nấng gia súc như thế nào th́ mới là “tịnh thí cầu thọ giới”,
xin hăy nói rơ! (Lư Vinh Đường
hỏi)
Đáp: Đối với hai
chữ “tịnh thí” (淨施), cổ đức
cũng suy đoán, cho rằng: Thí cho những tài vật cần
dùng, sẽ giống như thí tặng tỳ-kheo. Chuẩn
theo đó, có thể suy rộng ra: Đối với Pháp Thí
và Vô Úy Thí, đều có thể phương tiện thiện
xảo, tùy phần mà thí vậy.
* Hỏi: Trong kinh Lăng Già do
Đài Loan Ấn Kinh Xứ xuất bản, nơi trang một
trăm năm mươi sáu, ḍng thứ tư: “Diệc thường ly ma du”
(Cũng thường ĺa dầu mè). Dầu mè chính là dầu
thực vật, v́ sao đức Phật khuyên hành giả xa
ĺa dầu mè, đối với tịnh hạnh, có ǵ là không
được? Khó hiểu! (Lư
Vinh Đường hỏi)
Đáp: Câu này cũng có cùng ư
nghĩa với câu hỏi thứ nhất. Hăy nên tham chiếu
câu ấy, sẽ biết.
* Hỏi: Trong Tại Gia Bồ
Tát Giới Bổn: “Tăng bất
thính thuyết pháp, triếp tự tác giới đệ nhị
thập tứ” (Giới thứ hai mươi bốn, Tăng
không cho phép thuyết pháp mà cứ tự tiện làm). Nếu
Tăng chẳng cho phép thuyết pháp, tán thán, “triếp tự tác giả” có
nghĩa là ǵ? (Nhan Quư Thông hỏi)
Đáp: Đấy là nói về
hàng bạch y học rộng, hướng về người
mới trở thành Tăng mà thuyết pháp và tán thán. Tăng
có bằng ḷng th́ sau đó mới làm. Nếu Tăng chẳng
đồng ư, hăy thôi, đừng làm! Nếu cứ cưỡng
làm, sẽ là “triếp tự
tác” (輒自作, cứ tự
tiện làm). Nói theo phía quan hệ giữa con người với
nhau, Tăng thuộc về Tam Bảo tôn quư, bạch y là phàm
tục, kém cỏi hơn. Nói theo giáo, người nói là thầy,
thuộc về bậc trên; người nghe là tṛ, ở vai
dưới. Bạch y xằng bậy làm, tức là tự coi
ḿnh cao quư hơn, bắt người khác coi ḿnh là thầy, đó
là Mạn! Do vậy, phạm lỗi. Xưa kia, trưởng
giả Tu Đạt Đa hễ dạy dỗ những vị
tỳ-kheo mới học Phật, ắt trước hết
là lễ bái, rồi sau đó mới nói. Đấy chính là “Tăng thính” (Tăng cho phép) vậy!
* Hỏi: Xin hỏi Ngũ Tân
(五辛) là nói những vật ǵ? (Nhan Quư Thông hỏi)
Đáp: Ngũ Tân chỉ
năm loại thực vật có vị hăng nồng, có mùi
hôi thối, tức là hành, hẹ, tỏi, kiệu, hưng cừ[10].
Hưng cừ chưa truyền sang Trung Thổ, có thể hiện
thời đă có, nhưng tên được dịch khác đi.
Phàm là những loài thực vật cay nồng, hôi thối,
đều chẳng nên ăn. V́ những thứ ấy khiến
thần trí hôn ám, gây ra nhiều kích thích.
* Hỏi: Tôi là một đệ
tử Phật thọ Ngũ Giới, khi đối trước
Phật thọ giới, đă từng hướng về
đức Phật cầu nguyện “chẳng kiêng hút thuốc
và chẳng ăn chay trường” (thọ giới tại
chùa Linh Sơn ở Đài Trung). Từ mùa Đông năm Dân
Quốc 47 (1958), đă thờ tượng Phật Tam Thánh,
sáng tối lạy Phật, niệm Phật (mỗi ngày niệm
Phật một vạn năm ngàn tiếng, tụng kinh Di Đà
hai lần, mười biến chú Đại Bi, Tâm Kinh một
biến). Chỉ là mấy tháng gần đây, chẳng thể
hút thuốc (cảm thấy nhạt nhẽo, chẳng kiêng
mà tự kiêng). Kế đó, lại suốt một năm,
bỗng dưng chẳng thể ăn thịt, cá, tôm v.v…
Nguyên tôi chẳng nguyện ăn chay trường, lại
đổi thành ăn chay trường! Lại từ tháng
Hai năm nay, buổi chiều chẳng thể ăn cơm
(chẳng tiêu hóa được), đổi thành buổi sáng
ăn cháo, giữa trưa ăn cơm, quá Ngọ chẳng ăn.
Những điều này đều là không tŕ mà tự giữ,
không kiêng mà tự kiêng. Bất quá, trước mắt, do sống
đời độc thân tự do, chẳng có vấn đề
ǵ; nhưng trong tương lai, khi hoàn cảnh chuyển biến,
lại không biết sẽ như thế nào? Nhưng hiện
tại, tôi có ba câu hỏi như dưới đây, xin hăy dạy
cho biết.
1) Người chưa thọ
Bồ Tát Giới, có thể tŕ Ngọ hoặc Bát Quan Trai
hay không?
2) Tŕ Ngọ và ăn Bát Quan
Trai, công đức nào lớn hơn?
3) Tŕ Ngọ có thể uống
sữa ḅ, nước trái cây, hoặc thuốc bổ hay không?
(Châu Tinh Nguyên hỏi)
Đáp: 1) Quư cư sĩ do túc
căn sâu dầy, cho nên có thể tăng tấn thiện
duyên. Ngũ Giới là căn bản của giới, công
đức vô lượng. Tuy chẳng thọ giới mà tŕ
Ngọ th́ vẫn có thể thực hiện. Mặc dù không
hiểu rơ giới tướng ấy, nhưng cũng hữu
ích cho chuyện giữ ǵn sức khỏe. Bát Quan Trai
cũng như thế. Hễ là người đă từng
thọ quy y, đều có thể thực hành. Tiến hơn
nữa, là người chưa thọ quy y, vẫn
được phép thọ tŕ; bởi lẽ, người
ta có ḷng ham muốn tiến đến điều tốt lành,
cho nên chẳng hạn chế!
2) Bát Quan Trai chính là giới
xuất thế, vừa có nhiều giới điều, vừa
nghiêm ngặt. Tŕ Ngọ chỉ là một chuyện, đương
nhiên là chẳng thù thắng bằng Bát Quan Trai.
3) Tŕ Ngọ chẳng cấm
uống nước. Phàm những thứ thuần là chất
lỏng, có thể dung thông. Sữa, nước trái cây
được phép uống. Thuốc bổ cũng là như
thế, cho phép uống các thang thuốc. Quá Ngọ chẳng
ăn hoàn toàn không ảnh hưởng đến sức khỏe.
Đi ngủ mà trong bụng không c̣n đồ ăn cũ,
sẽ có lợi cho tỳ vị. Nếu buổi tối phải
làm lụng cực nhọc, có thể dùng sữa, thuốc bổ
v.v… do cơ thể có tiêu hao, cần phải bổ sung. Nếu
đến tối bèn nghỉ ngơi th́ không cần phải
đa sự!
* Hỏi: Nếu thờ
tượng Phật mà thờ ở trong pḥng (căn pḥng tôi
ở vừa dùng làm thư pḥng vừa dùng làm pḥng ngủ),
có thích hợp hay không? Có bất tịnh hay không? Có khinh nhờn
hay không? Tôi chỉ hy vọng có Phật đường ở
gần bên cạnh, nên làm như thế nào? Xin hăy rộng ḷng
trả lời để cởi gỡ nỗi băn khoăn!
(Thái Sùng Kỳ hỏi)
Đáp: Giữ ḷng thành kính, về
sự th́ giữ sao cho viên dung. Một căn pḥng dùng cho nhiều
mục đích, chẳng ngại thờ Phật. Nhưng hăy
dùng một tấm vải làm màn che đằng trước.
Khi chiêm bái, khóa tụng, bèn mở ra. Vào buổi tối, lúc
ngủ nghỉ bèn che lại!
* Hỏi: Tại gia cư
sĩ bị mời đi làm Phật sự (tức niệm
kinh) có thể nhận tiền bạc của thí chủ hay
không? Nếu không, toàn bộ tiền bạc sẽ cúng vào tự
viện, hồi hướng công đức? (Hoàng Vĩnh Lâm hỏi)
Đáp: Tại gia chuyên tu nhằm
liễu sanh tử, chớ nên đa sự! Đối với
chuyện kinh sám ứng phó bên ngoài, nếu là thân hữu, trợ
niệm chính là nghĩa vụ, chớ nên nhận tiền
quyên tặng của người ta! Tiền chẳng đáng
nên nhận mà cứ cưỡng nhận món tiền quyên tặng
th́ cũng là phi pháp.
* Hỏi: Ngu nhân trước
đây đi lại với một người nữ rất
mật thiết, tới nay, chẳng c̣n dính líu với nhau đă
hơn mấy tháng, nhưng mỗi khi gặp cảnh ngộ,
lại nhớ đến h́nh dáng xinh đẹp, nỗi chua
xót dâng trào, niệm Phật hiệu cũng khó thể tiêu trừ.
Chẳng biết có cách ǵ để khống chế? (Hoàng Vĩnh Lâm hỏi)
Đáp: Điều này đúng
là tâm ma vậy! Pháp yếu, ma mạnh. Đủ thấy dâm
nghiệp chưa tiêu, đạo quả ắt cũng khó thành.
Bóng dáng xinh đẹp chính là cửa nẻo tam đồ, chính
ḿnh chẳng dũng mănh đoạn trừ, Phật cũng
chẳng làm sao được! Đáng sợ thay! Đáng
kinh hăi thay!
* Hỏi: Hàng tại gia học
Phật tu đạo, làm thân cư sĩ, nếu chưa thể
ăn chay, bị người ta hỏi tới th́ nên trả
lời ra sao? (Thái Lân Định
hỏi)
Đáp: Đức Phật chế
định ăn chay là v́ từ bi chẳng giết. Nếu
là kẻ sơ học, tập khí ăn thịt chưa thể
sửa đổi ngay, bèn có pháp phương tiện cho phép
ăn rau bên cạnh thịt. Nếu chẳng thể, cho phép
ăn ba loại tịnh nhục, tức là [thịt của
những con vật] chẳng thấy giết, không nghe tiếng
nó bị giết, không v́ ḿnh mà giết. Cư sĩ đă có
duyên với Phật, trước hết hăy nên kiêng giết,
phương tiện ăn tam tịnh nhục, sẽ có công
đức. Hăy nên làm như thế, mà cũng nên nói với người
khác như thế!
* Hỏi: Trong Hư Vân Ḥa Thượng
Họa Truyện có nói: “Cây Chương[11] cầu
giới”, mà cây Chương thuộc loài vô t́nh, há có thần
lực để cầu giới? Cổ nhân từng nói “cổ thụ có thần, chớ
nên chặt phá”. Nhưng trong cuộc sống hằng ngày,
chúng ta luôn dùng cây cối để làm củi, hoặc làm kèo
cột, há chẳng phải là cũng phạm sát giới ư?
(Triều Tân Ban hỏi)
Đáp: “Cây Chương cầu giới” chính là [nói] quỷ
thần nương gá vào cây Chương vậy. Cổ nhân
nói “cây cối có thần”, cũng cùng là một lư như thế.
Như trong tổ chức của một quốc gia, có viện
trưởng, bộ trưởng, tỉnh trưởng, cục
trưởng v.v… Chữ “trưởng”
chỉ người chủ quản của viện, bộ,
tỉnh, cục v.v… chẳng phải là những vật kiến
trúc thuộc bộ, tỉnh, cục v.v… Chọn lựa cây
cối để làm củi, chính là lấy chỗ nương
gá của thần, chẳng phải là lấy chi thể của
các thần. Thần và cây khác nhau, cho nên chẳng thể nói
là “phạm sát giới”. Nhưng có những ngoại lệ,
chẳng thể không thận trọng: Vật xưa cũ
trở thành quái dị, v́ có những loài si, mị, vơng,
lượng. Trên thực vật, luôn có những loài trùng kư
sinh, hăy nên chọn chỗ để thiêu đúng thời.
* Hỏi: Khi kinh Phật hư
hại chẳng kham, cũng như tạp chí Phật giáo chất
chứa quá nhiều, nếu dùng lửa thiêu th́ chẳng biết
có phạm tội lỗi khinh nhờn Phật pháp hay không? Xử
lư tro giấy sau khi đă thiêu như thế nào? (Chung Khiết Viên hỏi)
Đáp: Đối với
chuyện này, cổ đức có huấn dụ: Hễ có
thể tu bổ, bèn tu bổ. Nếu không, t́m chỗ đất
sạch, nước sạch để đốt rồi
chôn vùi. Kinh là Pháp Thân xá-lợi. Đốt, vùi những thứ
cất chứa, ngơ hầu chẳng bị ô uế, khinh nhờn,
đó chẳng phải là ác sự!
* Hỏi: Mỗi loài động
vật đều có linh tánh, chẳng nên giết chúng sanh.
Thế nhưng, đối với những loài như rắn,
tuy có linh tánh, chúng ta gặp phải nó, cũng chớ nên giết
mà hăy phóng sanh, nhưng nó chẳng thể không cắn người
khác. Tuy chúng ta phóng sanh, nó cũng sẽ cắn người
khác, lẽ nào chẳng giết? Lại nữa, muỗi là môi
giới của bệnh truyền nhiễm, v́ sao chẳng nên
đánh chết nó? (Tiết
Đăng Huy hỏi)
Đáp: Tạp chí này trong suốt
mười mấy năm qua, đă trả lời câu hỏi
này không dưới mấy chục lần, đều có đăng
tải trong sách Phật Học Vấn Đáp Loại Biên. Nếu
có điều ǵ chẳng rơ, xin hăy tự tra duyệt. Lời
ông hỏi và những lời đáp từ trước, ư
nghĩa chẳng khác biệt, hăy thứ lỗi tôi chẳng
trả lời những câu hỏi giống hệt nhau.
* Hỏi: Mức độ tối
thiểu của đệ tử Phật là cần phải
thọ Ngũ Giới. Đối với giới uống
rượu, nếu toa thuốc đ̣i hỏi phải uống
cùng một phần rượu th́ có phạm giới hay không?
(Chung Vân Xương hỏi)
Đáp: Tùy hỷ tín sĩ thực
hành thọ nghiệp, kết duyên quy y v.v… đều có thể
gọi là đệ tử Phật. Người có thể
thọ giới, sẽ là [đệ tử Phật] chánh thức.
Nhưng đối với chuyện thọ Ngũ Giới,
cũng chia thành bán, thiểu, đa, măn sai khác. Đă thọ
giới kiêng uống rượu, khi bị bệnh, dùng
rượu để chế thuốc, sẽ chẳng gọi
là “phạm”. Người xưa
đă giải thích điều này.
* Hỏi: Lúa nước, cây ăn
trái, rau xanh v.v… bị rất nhiều loài trùng làm hại. Nếu
chẳng phun thuốc sát trùng, sẽ bị chúng hại chết
khô. Nếu dùng thuốc sát trùng để phun, lại phạm
giới đầu tiên trong thập giới, tiến thoái
lưỡng nan, như thế nào th́ mới nên? Nông dân đốt
rẫy làm ruộng, thường ngộ sát những loài tiểu
động vật như trùng, kiến v.v… khiến chúng bị
chết, có phải cũng là phạm vào tội đầu
tiên trong thập giới hay không? (Chung
Vân Xương hỏi)
Đáp: Đối với vấn
đề giới sát, trong mười mấy năm qua, người
hỏi rất nhiều. Đại khái là ư hỏi tương
đồng, đều đă chia thành từng loại để
trả lời. Hai điều như ông đă hỏi vẫn
thuộc trong phạm vi ấy. Xin hăy tra duyệt trong Phật
Học Vấn Đáp Loại Biên, chẳng tiện trùng lặp
nhắc lại.
* Hỏi: Lợi dụng tánh
chất biến đổi linh hoạt và tánh viên dung của
ngôn ngữ th́ có phạm tội vọng ngữ hay không? Như
bậc cao hiền thuở trước, cáo bệnh để
tạ khách, tuy thân chẳng bệnh, nhưng há chẳng phải
là không có tâm bệnh? V́ thế, giống như vọng mà chẳng
phải là vọng, nhưng người khác tưởng lầm
là vọng ngữ, có sẽ chịu trách nhiệm hay không? (Vương Tâm Phổ hỏi)
Đáp: Giới vốn có khai,
giá. Là hạnh lợi ích chúng sanh th́ có thể khai; luật
có giải thích tường tận. Cũng là Bồ Tát hành
quyền biến, đôi khi có thể làm, nhưng chẳng
phải là chuyện có thể thường làm! Nếu mọi
chuyện đều khai, cần ǵ phải thọ giới ấy
chi nữa? Chuyện cáo bệnh tạ khách như ông đă
nêu, cố nhiên là có thể tự viên măn điều đă nói
ấy, nhưng v́ sao mà tạ khách? Hăy nên tự vấn điều
công và lẽ tư trong tự tâm! Kẻ khác cho là vọng, tức
là nói theo dấu vết h́nh tướng. Đă là nương
theo dấu vết, h́nh tướng, chẳng thể nói họ
sai lầm được! Có chịu trách nhiệm hay không,
hăy nên tự xét tâm ḿnh!
* Hỏi: Bất đắc
dĩ ăn tam tịnh nhục th́ đối với tộc
loại của các loài vật có chọn lựa hay không? (Vương Tâm Phổ hỏi)
Đáp: Cho phép ăn tam tịnh
nhục, cốt ư là do từ tâm, nhằm thông dung để
phá trừ sự sát sanh. Chính là v́ t́nh thế bất đắc
dĩ, tạm thời phương tiện. Sanh mạng của
loài vật b́nh đẳng, há có phân biệt? V́ thế, [giới
bổn] chẳng ghi rơ loại thịt nào có thể ăn,
loại thịt nào chẳng thể ăn. Bất quá, chuyện
này nhằm đoạn tuyệt chuyện trực tiếp sát
sanh, vun bồi ư niệm từ bi, thật ra, vẫn chẳng
tránh khỏi trách nhiệm gián tiếp. Khi ăn, hăy nên sanh ḷng
hổ thẹn. Hiểu rơ lư này, tự sẽ nên hạn chế
bớt những thứ thường ăn. Đối với
những thứ chưa ăn, bất tất phải kết
ác duyên với chúng nữa!
* Hỏi: Nếu nhằm lúc khí
trời nóng bức, khi tụng kinh, có thể cầm quạt
xua hơi nóng hay không? (Lâm Khoan
Tu hỏi)
Đáp: Nói chung, chẳng phe
phẩy quạt chính là v́ kính trọng, nhưng cũng có chỗ
không phải là chẳng [cho phép] dung thông. Nếu là tự ḿnh
xem kinh, nghiên cứu, th́ lúc ấy dường như chẳng
có trở ngại to lớn ǵ. Nếu là khóa tụng chánh thức,
chớ nên dùng [quạt để phe phẩy] th́ tốt hơn.
* Hỏi: Thường nghe người
ta hễ mở miệng bèn nói “tụng kinh”, nhưng chiếu
theo văn tự để giải thích, chữ Tụng (誦) là “đọc
thuộc ḷng”. Chúng ta chẳng thể đọc thuộc ḷng,
nhưng cứ nói là “tụng kinh”, há chẳng phải là kèm
theo tội vọng ngữ ư? Nếu nói là “đọc
kinh”, hoặc “niệm kinh”, lại cảm thấy chẳng
quen! Chẳng biết nói câu nào mới là thích hợp? (Giang Khoan Ngọc hỏi)
Đáp: Nói năng th́ cũng
có khi chẳng dựa theo chữ viết, cũng có khi tiếng
địa phương hiểu nghĩa khác chữ viết,
nhưng do sử dụng lâu ngày, đă được công
nhận. Điều ấy được gọi là “tùy thuận ngữ” (cách nói
thuận theo chúng sanh), mà cũng là tập quán dung thông. Như
vậy th́ tâm chẳng có ư dối gạt, chẳng thể
coi là vọng ngữ! Ví như Ngă và Pháp hai đằng đều
không, đầu kinh lại dùng chữ “ngă văn” để mở đầu, tên kinh lại
đặt là “diệu pháp”,
há đều trở thành vọng ngữ ư? Nay mọi người
đối với chuyện đọc kinh bèn nói là Tụng,
chỉ là tùy thuận tập quán. Lấy ngay chuyện Ngă Pháp
để làm chứng, chẳng thể bảo là vọng ngữ
được!
* Hỏi: Mỗi tuần
đến Đồ Thư Quán để tham gia niệm Phật,
cần phải mang theo kinh bổn. Có thể bỏ trong túi
áo hay không? Có coi là chẳng tôn trọng kinh điển
hay không? Nếu là như vậy, có nên dùng giấy đỏ
(hay vàng) để bọc lại rồi mang theo hay không? (Tiên Thuần Hiền hỏi)
Đáp: Kinh sách cỡ nhỏ
bỏ trong túi áo, vẫn chẳng có ǵ là bất kính. Nếu
là cỡ lớn, mà cuộn tṛn, gấp lại, sẽ là bất
kính.
* Hỏi: Nghiên cứu, xem đọc
kinh điển trong hoàn cảnh khá phức tạp (như ở
ngoài chợ), có phải là chẳng tôn trọng kinh điển
hay không? (Tiên Thuần Hiền hỏi)
Đáp: Chuyện này phải
xét theo t́nh h́nh sinh hoạt của mỗi cá nhân để nói.
Nếu bị hạn chế bởi t́nh trạng kinh tế,
sống ở chỗ nhỏ hẹp, ẩm thấp, hoặc
ở gần chỗ ḷ mổ, dơ bẩn, hôi thối xông
xực; đấy chính là y báo của cá nhân, chẳng phải
là ép tịnh nhập uế. Há có nên v́
chướng ngại nơi hoàn cảnh mà chẳng cầu
tiến cao hơn? Hăy nên biết: “Tâm tịnh, cơi
nước tịnh; tâm uế, cơi nước uế”. Chỉ
cốt sao giữ vững cái tâm, vạn cảnh chẳng ngại
tùy duyên.
* Hỏi: Trong tai nạn hàng
không ngày Hai Mươi tháng Sáu, vợ chồng ông Lục Vận
Đào mắc nạn. Có tiên sinh Ngô Thân Thúc tặng cho hai viên
xá-lợi, đặt trong miệng người chết
để bồi táng. Chuyện này thuộc loại vừa
mới nghe, chẳng biết có đúng pháp hay không? Xét ra, hạt
xá-lợi cực tôn, cực quư, làm sao có thể chôn vùi cùng
thi thể rữa nát? Tợ hồ mắc lỗi khinh nhờn
thánh hiền! Lăo cư sĩ có nghĩ là đúng hay không? (Trạch Mạnh Thu hỏi)
Đáp: Phàm dùng vật dụng
của con người, bỏ vào trong quan tài của người
đă khuất, hoặc bỏ vào trong mộ, đều gọi
là “tuẫn táng” (殉葬). Chỉ có những
thứ như mền Đà La Ni Kinh v.v… có dụng ư là dùng Phật
pháp để siêu độ vong linh, mang ư nghĩa khác với
tuẫn táng. Chủng loại của xá-lợi chẳng phải
là một! Có xá-lợi của Phật, Bồ Tát, và xuất
gia, tại gia tứ chúng khác biệt. Nói chung, đều là
thân thể của con người, chẳng phải các thứ
pháp như kinh, chú, không phải là kinh văn có tác dụng siêu
độ, cho nên có nỗi hiềm nghi tuẫn táng! Nếu
luận định theo lư lẽ thế tục, dường
như là bất kính, kẻ hèn này thuộc về nhà Phật,
thấy nghe rất ít, [chẳng biết làm như vậy th́]
xưa kia có lệ ấy mà chẳng trái lư hay không? Vẫn
mong ông hăy hướng về bậc cao minh để thưa
hỏi.
* Hỏi: Đức Phật
chế định “quá Ngọ
chẳng ăn”, căn cứ theo thuở đức Phật
tại thế và các đệ tử của Ngài ra ngoài khất
thực, từ thành Xá Vệ trở về tinh xá, đi ṿng
quanh bảy tám dặm, lúc trở về cũng đă quá Ngọ.
Xét đến người tŕ Ngọ hiện thời, giờ
ăn chẳng thể vượt quá mười hai giờ
trưa, như thế th́ có phù hợp với chế định
của đức Phật hay không? (Giang Khoan Ngọc hỏi)
Đáp: Lộ
tŕnh xa hay gần để có thể chẳng ăn quá Ngọ,
ắt phải dự định thứ tự ḥng khống
chế thời gian. Chúng ta chẳng cần phải thay các
Ngài lo lắng chuyện này!
* Hỏi: Đệ tử Phật
giữ thân phận cư sĩ, chẳng biết sự tu đạo
giữa người ăn theo phương tiện[12] và
người ăn chay có sai biệt hay không? Nghe nói là đệ
tử Phật, nếu chẳng ăn chay, sẽ chẳng
thể ngộ đạo, chẳng thể
giải thoát. Lại c̣n bị quả báo của nhân quả
do đă kết oán, giống như trái nghịch lời
đức Phật dạy! Lời ấy có thật hay
không? Như trong quá khứ, Lục Tổ đă ăn rau bên
cạnh thịt mười mấy năm. Đấy
không phải là [chứng cớ phản bác thuyết] chẳng
thể ngộ đạo, chẳng thể giải thoát đó
sao? Tôi nghĩ: Làm thân cư sĩ, đối với chuyện
ăn chay, tùy thuộc phương tiện của cá nhân, như
vậy th́ có được hay không? Tôi tin là chúng sanh tương
khắc[13]. Nếu cố chấp
quá lố, hiềm rằng Phật giáo chúng ta sẽ ngày càng
suy vi! Xin hăy từ bi cởi gỡ mối nghi. (Lâm Triều Trung hỏi)
Đáp: Căn khí của học
nhân bất đồng. Kẻ bậc hạ chỉ biết
tu phước, bậc thượng bèn biết tu Huệ. “Phước” là nói tới thiện
sự hữu lậu; do làm những điều ấy, chỉ
đạt được phước báo trong cơi nhân thiên,
chẳng thể liễu thoát sanh tử. “Huệ” là nói đến đại đạo xuất
thế. Không chỉ là diệt tội, tăng phước,
mà c̣n có thể siêu xuất luân hồi. Nếu chỉ nói về
một chuyện ăn chay, cũng chia thành hai phương
diện phước và huệ. Nếu giữ tấm ḷng từ
bi, chẳng nỡ khiến cho chúng sanh đổ máu, sẽ
bỏ hẳn ăn thịt. Đó gọi là “hành thiện, tu phước”.
Nếu v́ lục căn thanh tịnh, chẳng đắm
nhiễm Vị Trần, chẳng tham ăn, đó gọi là
“tu đạo, cầu huệ”.
Đối với kẻ sơ học tập khí sâu dầy,
chẳng hiểu đạo lư, đức Phật cho phép kẻ
đó ăn ba thứ tịnh nhục. Khi đă liễu giải
sâu, sẽ tự nhiên thôi ăn thịt. Chưa chánh thức
thọ giới, hoàn toàn chẳng ép buộc không ăn thịt,
mà có thể phương tiện. Hơn nữa, Phật giáo
hưng hay suy, chẳng do người mù quáng tuân theo nhiều
hay ít, mà tùy thuộc đạo đức và học vấn
của tứ chúng như thế nào!
* Hỏi: Có hai Phật tử,
một hôm tới bên suối, gặp một người nữ.
Người nữ ấy chẳng có cách nào vượt suối,
đến nỗi phải nương nhờ hai người
ấy để vượt suối. Thoạt đầu, hai
người Giáp và Ất đều nhường nhau, Giáp cơng
cô gái vượt suối. Giáp chẳng để nữ nhân
trong tâm, nhưng Ất có nữ nhân trong tâm. Chẳng biết
trong hai người, ai đă phạm giới? Xin hăy giải
tỏa nỗi lo ngờ này! (Lâm
Triều Trung hỏi)
Đáp: Chuyện này nói theo Sự
th́ đơn giản, nhưng nói theo Lư th́ tột bậc phức
tạp. Tâm chẳng chấp tướng, phương tiện
cơng người nữ qua sông; đó là điều thiện
nhất trong việc hành thiện. Cơng người nữ
qua sông chính là giúp đỡ người ta trong khi nguy ngập,
tâm tuy chấp tướng, nhưng giữ thân nghiêm ngặt,
chẳng dấy tà tâm, th́ cũng là thiện, nhưng kém hơn.
Tâm chấp tướng, khởi tà niệm, nhưng chẳng
nỡ thấy người khác gặp nguy mà chẳng đoái
hoài, cơng người qua sông, tức là thiện ác hỗn tạp.
Tâm chấp tướng, khởi tà niệm, cơng qua sông, ấp
ủ ư định khác, chẳng nhằm cứu nguy, th́ là
thuần ác. Người đă từng thọ giới th́ mới
có thể nói là phạm giới hay không; người chưa
thọ giới, sẽ chẳng có giới để bàn! Chỉ
là tạo tội mà thôi!
* Hỏi: Đối với
trẻ nhỏ ăn chay trường đă mấy năm,
đệ tử thường dùng trứng không có cồ
để tẩm bổ cho nó tăng trưởng, có
được hay không? (Giang
Khoan Ngọc hỏi)
Đáp: Đứa trẻ ấy
rất tốt, chắc chắn là có túc căn; hăy nên khéo nuôi
dạy, khiến cho nó gặp duyên bèn tăng tấn. Muốn
tăng chất dinh dưỡng cho thân thể của nó, có
thể phương tiện dùng trứng không có cồ. Nhưng
thứ giàu chất dinh dưỡng không chỉ là trứng.
Các loại rau đậu, sữa ḅ v.v… đều hết sức
giàu chất dinh dưỡng, lại có nhiều thứ
vitamin. Nếu thân thể chẳng khỏe, có thể mời
thầy thuốc xem xét: Thiếu loại nào, bổ dưỡng
loại ấy là thích đáng. Tôi trả lời như thế
này, chẳng phải là nói “trứng không có cồ chẳng
được phép ăn”, mà là nói: “Dinh dưỡng chẳng
phải là chỉ chuyên cậy vào thứ ấy!”
* Hỏi: Pḥng ở chẳng
lớn, thờ Phật Tổ trong pḥng. Pḥng ấy là pḥng cá
nhân, chẳng có đàn ông ngủ trong pḥng ấy, [thờ Phật
tại đó] có được hay không? (Vương Quách Vận Đoan hỏi)
Đáp: Pḥng chỉ có một
người ở, chẳng có nam nữ bất tịnh, chính
là đạo tràng an tịnh, thờ Phật rất tốt.
Nhưng trong lúc tắm rửa và ngủ nghỉ trong pḥng, hăy
nên dùng vải sạch để che trước bàn Phật
nhằm biểu thị ḷng cung kính.
* Hỏi: Nam nữ chưa xuống
tóc, có thể độ đồ đệ hay không? (Đông Cầm hỏi)
Đáp: Ba chữ “độ đồ đệ”,
tôi chẳng hiểu rơ ư nghĩa! Có nghĩa là chính ḿnh thâu nhận
đồ đệ ư? Hay là khuyên họ quy y Phật môn?
Nếu nói tới hai chữ “quy
y”, chính là quy y Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo; người
đảm nhiệm chuyện ấy, ắt phải là tỳ-kheo
tăng ni đă chánh thức xuất gia, v́ Tăng là nói
đến tăng đoàn. Kẻ tại gia chẳng phải
là tỳ-kheo, tuy đă ăn chay, ở trong chùa miếu, vẫn
là bạch y, chẳng thể truyền quy y cho người khác
được! Sự chẳng đúng pháp, hai bên đều
chuốc lấy tội lỗi!
* Hỏi: Bỉ nhân ăn
chay trường, lễ Phật. Mỗi ngày ăn một
quả trứng gà, có người nói là có thể ăn, có kẻ
bảo chẳng thể ăn, rốt cuộc là như thế
nào? (Triệu Liên hỏi)
Đáp: Cư sĩ đă ăn
chay trường, công đức tự nhiên vô lượng.
Theo nguyên tắc, chẳng nên ăn trứng gà. Do nó tuy không
có lông, huyết, nhưng đă có thần thức, vẫn
thuộc loại sát sanh. Nếu v́ nguyên nhân nào khác, chẳng
thể đoạn trừ, có thể kiểm xem trứng của
gà không bị gà trống đạp mái để ăn.
Trong ấy chẳng có thần thức, tức là ḷng đỏ
chẳng có mầm phôi, có thể ăn, chẳng trở ngại
ǵ!
* Hỏi: Giữ giới “quá Ngọ chẳng ăn” th́
cách vâng giữ như thế nào? Tôi lại chẳng ăn
chay trường. Tôi là bà chủ trong gia đ́nh, lại là một
phụ nữ có nghề nghiệp, thường dùng cơm
trưa sau giờ Ngọ. Buổi tối th́ thứ ǵ có thể
ăn? Thứ ǵ chẳng thể ăn? (Ngụy Cúc Tử hỏi)
Đáp: Đă chưa thể ăn
chay trường, tạm thời chẳng cần phải
quá Ngọ không ăn! Trong nhà bận bịu, chẳng thể
ăn đúng giờ Ngọ, chỉ đành tùy duyên, chẳng
cần phải miễn cưỡng! Chỉ nên đừng
sát sanh, có thể ăn chay sáu ngày. Tiến dần lên mười
ngày, rồi lại ăn chay ba tháng. Mỗi thứ đều
có công đức, đó gọi là “ăn chay một ngày,
chuyện sát sanh trong thiên hạ chẳng có phần ta!” Nếu
có thể đạt đến ăn chay quanh năm,
phước thọ càng vô lượng. Nhưng trước
khi có thể ăn chay trường, trong những ngày chẳng
phải là ngày ăn chay, cũng chớ nên sát sanh để
ăn. Hăy nên tùy duyên, ăn rau cạnh thịt, hoặc dùng
tam tịnh nhục, để vun bồi thiện căn dần
dần, sửa đổi tập khí ăn thịt. Đợi
đến khi huệ khai, phước tăng, sẽ tự
nhiên chẳng muốn ăn thịt nữa! Đến lúc đó,
lại học tŕ ngọ cũng chẳng trễ!
* Hỏi: Đệ tử Phật
có nên làm nghề nuôi các giống chim ngoại quốc hay
không? (Diệp Thiên Sanh hỏi)
Đáp: Phật pháp lấy từ
bi làm gốc, ban vui là Từ, dẹp khổ là Bi. V́ thế,
chẳng được sát hại chúng sanh, mà cũng chẳng
nên năo loạn. Nuôi chim để buôn bán, tuy chẳng sát hại,
nhưng v́ nhốt chúng trong lồng, cũng giống như
giam trong nhà tù, đánh mất tự do, năo loạn tột bậc!
Tôn giả La Hầu La do kiếp trước từng lấp
hang chuột, đời này ở trong thai ngục một thời
gian dài. Chuyện đă có gương trước, quyết
chớ nên làm vậy!
* Hỏi: Mỗi tháng, tŕ Ngọ
ba mươi ngày, Bát Quan Trai th́ mỗi tháng chỉ giữ sáu
ngày, công đức ấy cao trỗi hơn công đức tŕ
Ngọ, lư do ở chỗ nào? (Tôi tŕ Ngọ đă ba năm,
toan đổi sang tŕ Bát Quan Trai, sẽ như thế nào?) (Châu Tinh Nguyên hỏi)
Đáp: Tŕ Ngọ cố nhiên
là nhiều công đức, bất quá [chỉ có] một điều
là Trai. Bát Quan là tám giới, [cho nên] có sức mạnh to lớn.
Hơn nữa, Bát Quan Giới chính là giới xuất thế
của chư Phật, hết sức nghiêm ngặt. V́ thế,
dạy người b́nh phàm chỉ tŕ một ngày, có thể
thấy là khó thể giữ liên tục thường hằng
lâu dài. Đối với chuyện này, hăy nên tra duyệt
kinh văn, mới biết tánh chất nghiêm ngặt của
pháp này. Giới tướng đă là Phật Hạnh, tự
nhiên công đức thù thắng. Hết thảy các giới
tướng, tuy có thể tŕ hết, c̣n thêm vào Bát Quan Trai, đủ
thấy tánh chất trọng yếu của nó. Nếu là chuyện
hư giả xưa cũ, chẳng hợp giới nghĩa,
sẽ chính là hành chẳng đúng pháp, hăy nên bàn riêng! Xét ra,
pháp này chỉ cho phép thọ một ngày một đêm. Tuy nói
“mỗi tháng tŕ sáu ngày”, nhưng muốn tŕ cho nhiều, hoàn
toàn chẳng phải là không được phép. Nhưng tŕ
giới này, cũng chớ nên bỏ những giới khác.
* Hỏi: Theo Ưu Bà Tắc
Giới Kinh, có sáu giới trọng, hai mươi tám giới
khinh, cư sĩ Giang Vị Nông coi đó là một loại
giới Bồ Tát. Tiến hơn nữa là thọ mười
giới trọng, bốn mươi tám giới khinh trong
kinh Phạm Vơng. Chẳng biết sáu giới trọng và hai
mươi tám giới khinh có phải là Bồ Tát Giới
hay không? Pháp sư b́nh phàm trong thường nhật có thể
truyền giới ấy hay không? (Đức
Minh hỏi)
Đáp: Sáu giới trọng,
hai mươi tám giới khinh và mười giới trọng,
bốn mươi tám giới khinh đều là giới Bồ
Tát. Bất quá đơn giản, cặn kẽ, dễ, khó
khác nhau, nên nói là “tiến hơn”. Tuy nói là “pháp sư truyền
trao”, nhưng đều có khuôn khổ nhất định.
Do giới coi trọng luật nghi, ắt phải lấy sự
kính trọng làm chuẩn. Nếu không, sẽ chẳng đắc
giới. Nói hai chữ “b́nh phàm”,
khó suy lường phạm vi! Nói chung là vị xuất gia nào
chưa thọ giới tỳ-kheo, hoặc chưa am hiểu
pháp cần truyền, đều chẳng thể tiếm phận
làm chuyện ấy được!
* Hỏi: Nhà có người mất
cúng Thất, thỉnh ban niệm Phật đến tụng
kinh, trước hết là dùng đồ chay, sau đấy
lại cúng đồ mặn [cho người đă khuất].
Làm như vậy th́ có hữu hiệu hay không? Có công đức
hay không? (Chiêm Kim Chi hỏi)
Đáp: Mỗi thất tụng
kinh là công đức phụ trợ. Sát sanh, cúng đồ mặn
là tăng thêm tội nghiệp. Tuy là tụng kinh xong mới
cúng đồ mặn, cũng là có ư bất tịnh, chẳng
làm lành đến cùng! Chuyện này giống như nấu cơm
đă chín, lại bỏ chất độc từ lông chim
Trấm vào, kẻ trí chẳng làm!
* Hỏi: Có người nói:
“Thốt ra lời lẽ kể tội [người khác] làm
chuyện xấu, đệ tử Phật chớ nên nói
ra”. Lại có kẻ nói: “Nói ra, không chỉ là chẳng có tội,
mà c̣n có công đức. V́ tăng sĩ làm chuyện xấu,
do biết có kẻ hay biết, lần sau sẽ chẳng dám
làm nữa!” (Nhiếp Vân Hà hỏi)
Đáp: Đệ tử tại
gia chẳng kể lỗi của hai chúng xuất gia, giới
luật có giới điều ấy. Nói ra, tức là chính
ḿnh phạm giới, trước hết là chính ḿnh chẳng
thể giữ giới, há có công đức ǵ? Nếu kẻ
xuất gia phạm lỗi, xă hội sẽ tự nhiên “mười mắt trông thấy,
mười tay chỉ vào”, đốc thúc nghiêm ngặt,
ta cần ǵ phải lo lắng quá lố? Hơn nữa, kể
lỗi và khuyên can có khác biệt. “Kể lỗi” là nêu rơ điều
sai trái của người khác. “Can ngăn” là người khuyên
can ngầm khuyên lơn kẻ ấy biết phản tỉnh.
Đối với chuyện phân định thiện, ác của
hai chuyện này, trong t́nh nghĩa giao hảo giữa bạn
bè với nhau trong cơi tục, c̣n cần phải lựa chọn
thận trọng để làm. V́ thế, nói đến lỗi
lầm [của người khác], ắt cần phải hiểu
rơ ư nghĩa ấy!
* Hỏi: Có kẻ nọ thích
xem múa cạ đùi[14] và
xem phim ảnh, xin hỏi kẻ đó có phạm giới hay
không? (Nhiếp Vân Hà hỏi)
Đáp: Trong biển cả, cá
rồng hỗn tạp. Trong số những người đọc
sách Khổng Tử, cũng có Vương Măng, Tào Tháo, Tần
Cối v.v… Khổng Tử há bị nhục lây? Thánh nhân thế
gian và xuất thế gian chỉ v́ chúng sanh điên đảo,
cho nên chẳng tiếc muôn lời ngàn lẽ, dẫn dụ
họ tiến cao hơn! Ví như thầy thuốc chữa
bệnh cho người ta, kẻ đó uống thuốc hay
không, bác sĩ làm sao có thể cưỡng bách cho được?
Nhưng nhân quả chẳng hư dối, ai làm kẻ nấy
sẽ hứng chịu!
* Hỏi: Giới thứ
mười bảy trong sáu giới trọng, hai mươi
tám giới khinh của Ưu Bà Tắc Giới Kinh, phần
nói về thất ư tội: “Nhược
Ưu-bà-tắc thọ tŕ giới dĩ, súc dưỡng
tượng, mă, ngưu, dương, đà, lư, nhất
thiết súc thú, bất tác tịnh thí vị thọ giới
giả, thị Ưu-bà-tắc đắc thất ư tội”
(Nếu Ưu-bà-tắc đă thọ tŕ giới, đối
với hết thảy những loài thú đă nuôi như voi,
ngựa, trâu, dê, lạc đà, lừa, chẳng tịnh thí
cho người chưa thọ giới, vị Ưu-bà-tắc
ấy sẽ mắc tội thất ư). Nói “bất tác tịnh thí vị thọ giới giả” có
phải là “chẳng hành vô trụ bố thí cho người
chưa thọ giới” hay không? Khẩn khoản xin cụ
hăy khai thị. (Triệu Liên hỏi)
Đáp: “Tịnh thí” là bố thí chẳng cầu báo. Phàm là
những súc sanh đă nuôi, phần nhiều là khiến cho
chúng sẽ ra sức phục vụ ta. Đấy chính là
mong chúng nó báo đáp ta, việc làm ấy chẳng được
gọi là “tịnh”.
Ưu-bà-tắc sau khi đă thọ giới, vốn chẳng
nên tiếp tục nuôi những loài ấy. Nếu đă nuôi
chúng trước khi thọ giới, có thể ngừng sử
dụng công sức của chúng th́ tốt. Nếu bất
đắc dĩ, hăy gởi gắm thân hữu để người
ấy thay thế trông nom, nuôi nấng, sử dụng chúng.
Đối với ba chữ “vị
thọ giới”, có bản ghi chữ “vị” (未, chưa) là “cầu” (求), rốt cuộc
bản nào chép sai, tại hạ sách vở ít ỏi, chẳng
có cách nào giảo định. Do chữ đă chẳng nhất
định, cũng chẳng dám giải thích.
* Hỏi: Trong cùng kinh ấy,
đối với giới mười tám, phần nói về
“thất ư tội” có nói: “Nhược Ưu-bà-tắc thọ
tŕ giới dĩ, nhược vị thân mạng tu điền
tác giả, bất cầu tịnh thủy, cập lục
giá xứ. Thị Ưu-bà-tắc đắc thất ư tội”
(Nếu Ưu-bà-tắc đă thọ tŕ giới, nếu v́
thân mạng mà làm ruộng, chẳng t́m nước sạch
để tưới chỗ đất trồng trọt,
vị Ưu-bà-tắc ấy mắc tội thất ư). Tôi
chẳng biết [kinh văn] nói “bất
cầu tịnh thủy cập lục giá xứ” ư nghĩa
như thế nào? Xin hăy dạy cho! (Triệu Liên hỏi)
Đáp: Làm ruộng cần phải
dùng nước. Khi đất khô hạn, cần phải dẫn
nước để tưới tắm. “Tịnh thủy” tức là nước không có trùng,
mang ư nghĩa sợ tổn thương loài chúng sanh. Tôi nghe
nói cổ đức dẫn nước vào ruộng đều
tụng mật chú. Nếu chẳng thể lọc nước,
mà được chú nguyện, cũng có thể được
gọi là “tịnh thủy”.
Đối với chuyện này, vẫn phải nên do vị
đại đức chuyên tinh Luật Tông khai thị th́ mới
chẳng đến nỗi sai lầm. Tuy tại hạ đă
từng thọ giới, ngay trong lúc này, chẳng thể nhớ
rơ ràng. Lời đáp ngày hôm nay, ngoài những chỗ tham khảo
những lời chú giải ra, những điều khác hoàn toàn
dựa theo văn tự để suy đoán ư nghĩa đó
thôi!
* Hỏi: Cũng trong kinh ấy,
đối với giới thứ hai mươi bốn, phần
nói về tội thất ư: “Nhược
Ưu-bà-tắc thọ tŕ giới dĩ, Tăng nhược
bất thính thuyết pháp, tán thán, triếp tự tác giả,
đắc thất ư tội” (Nếu Ưu-bà-tắc đă
thọ tŕ giới, mà nếu Tăng chẳng cho phép người
ấy thuyết pháp, tán thán mà cứ tiện làm, sẽ mắc
tội thất ư). Chẳng biết ư nghĩa của câu “Tăng bất nhược thính
thuyết pháp, tán thán, triếp tự tác giả” là như
thế nào, xin hăy khai thị! (Triệu
Liên hỏi)
Đáp: Điều này là v́ hàng
bạch y dạy dỗ tăng sĩ mới học mà lập
ra. Nếu Ưu-bà-tắc là người đă thọ giới,
có học vấn, tuy có thể dạy bảo hàng tăng sĩ
mới học, nhưng cũng chớ nên tự coi ḿnh là thầy.
Nếu tăng sĩ chẳng muốn nhận lănh pháp ấy,
dẫu hàng bạch y tràn đầy nhiệt tâm, chớ nên ép
buộc tăng sĩ phải theo. Chuyện ấy chẳng
được phép!
* Hỏi: Cùng trong kinh ấy,
dưới mỗi điều khoản thất ư, đều
có hai câu: “Bất khởi đọa
lạc, bất tịnh hữu tác” (Chẳng tạo tội
đọa lạc, thuộc về bất tịnh nơi pháp
hữu vi), chẳng biết có nghĩa là ǵ? (Triệu Liên hỏi)
Đáp: Đây là đại
giới của hàng Bồ Tát, Bồ Tát là Bồ Đề Tát
Đỏa (Boddhisattva). Sau khi đă thọ giới, ắt
chỗ nào cũng phải tương ứng với Bồ
Đề. “Thất ư” (失意) có nghĩa là
đánh mất ư nghĩa Bồ Đề. Nếu phạm
những tội nhẹ ấy, phải liền sám hối, “cải quá tự tân” (sửa
lỗi đổi mới). “Tân”
(新) chính là “khởi”
(起). Chữ này nói
đối ứng với đọa lạc. Đọa chính
là chẳng khởi, “bất khởi”
chính là “chẳng đọa lạc”. Hữu tác và vô tác có nghĩa
là hữu vi và vô vi. Người thọ giới đă đắc
vô tác giới thể; nếu phạm tội nhẹ, chỉ
là bất tịnh nơi pháp hữu vi, hoàn toàn chẳng khiến
cho vô vi giới thể bị nhiễm ô.
* Hỏi: Ông X… nọ đă
thọ Ngũ Giới, chẳng uống một giọt
rượu nào (dẫu là một giọt rượu đang
ủ cũng chẳng nếm), [hành như vậy] đă
mười mấy năm. Có người bạn tặng
rượu Tây cho ông ta, ông ta chẳng uống, tính đem biếu
người khác, chẳng biết có tội hay không? Có phạm
giới hay không? Xử lư loại rượu Tây ấy như
thế nào? (Triệu Liên hỏi)
Đáp: Đă thọ Ngũ
Giới, tức là chính ḿnh chẳng uống. Nếu là Bồ
Tát Giới, sẽ chẳng được phép buôn bán rượu.
Nhưng đối với người chưa thọ giới
Bồ Tát, tợ hồ chẳng vi phạm. Trộm nghĩ:
Tặng cho người khác, chẳng bằng bán cho tiệm
rượu, dùng tiền bán được để làm công
đức. Tặng cho người khác tức là tăng thêm
chuyện vô ích cho người ta, có lẽ chẳng nên làm!
Người bán cho kẻ khác uống chính là v́ tham lợi mà
tổn hại người khác. Bán cho tiệm rượu
chính là v́ họ theo đuổi cái nghề đó, ta chẳng
xui họ làm chuyện đó. Đấy cũng là chuyện
bất đắc dĩ mà ngẫu nhiên làm, chẳng phải
là chính ḿnh thường làm chuyện bán chác ấy. Về
sau, nếu gặp chuyện giống như vậy, hăy mềm
mỏng để từ chối th́ tốt hơn!
* Hỏi: Trong An Sĩ Toàn Thư
có câu chuyện “mại trai lập
nhiếp” (bán công đức tŕ trai, lập tức bị
quỷ bắt đi) [như sau]: Ông Vương X… ở Ma
Thành[15],
ăn chay trường đă ba năm, bỗng bị ghẻ
độc, sanh tâm hối hận. Bạn bè nói: “Ông là
người ăn chay, Phật, trời sẽ ngầm che
chở”. Ông Vương nói: “Ăn chay ba năm, chuốc lấy
ác báo này, có ích ǵ đâu?” Người bạn nói: “Ông chẳng
giữ trai th́ có thể bán cho tôi hay không?” Ông Vương hỏi:
“Bán như thế nào?” Người bạn nói: “Mỗi ngày
là ba phân tiền, ba năm tính ra bạc là mười lượng
tám tiền[16]”. Ông Vương
hoan hỷ, bèn viết bằng khoán, ngày hôm sau phá trai. Đêm
mộng thấy hai con quỷ đến chửi: “Một
tháng trước ngươi đă hết lộc, do tŕ trai
nên kéo dài đến hôm nay. Bây giờ, mạng bị tính
ngược lại để đ̣i”, lập tức muốn
bắt đi. Ông Vương xin hoăn lại một đêm
để trả bạc lại, thề lại ăn chay trường.
Ngày hôm sau, gọi người bạn đem bằng khoán tới.
Người bạn bảo: “Ngày hôm qua đem về, đă
đốt trước bàn Phật”. Ông Vương hối
hận, lập tức chết. Xin hỏi công đức
tŕ trai chẳng có h́nh tướng, làm sao có thể bán
được? (Châu Huệ
Đức hỏi)
Đáp: Xét theo Lư, vạn pháp
đều không, các tướng đều là hư vọng,
đều là vô tướng, nhưng tâm tạo vạn pháp,
chính là lực dụng của nó. Lực là do nguyện phát
ra. Tŕ trai là nguyện, xả trai cũng là nguyện. Nếu
nói bỏ mà chẳng có hiệu quả ǵ, tŕ cũng phải
nên chẳng có hiệu quả ǵ! Suy rộng ra, hồi
hướng, sám hối v.v… không ǵ chẳng phải là nguyện
lực của tâm, cũng đều chẳng phải là không
có hiệu quả ǵ! Hiểu rơ lư này, chẳng cần hỏi
đến chuyện đă nêu trong An Sĩ Toàn Thư là có
hay không? Cứ dùng lư luận để suy, tâm có thể tạo,
có thể chuyển, người buộc chuông sẽ là người
tháo chuông, lư thật sự có thể thông suốt.
* Hỏi: Nhà ăn trong quân
đội không cung cấp đồ chay, khiến cho kẻ
ăn chay rất bất tiện. Vị cư sĩ X… nọ
trước kia chưa thôi ăn thịt, về sau chẳng
nỡ ăn thịt, đổi sang ăn rau cạnh thịt.
Được một khoảng thời gian, lại cảm
thấy ăn rau bên cạnh thịt vẫn là bất tịnh,
chẳng hợp phép vệ sinh, bèn thôi ăn chung với mọi
người, tự lo liệu đồ ăn chay. Lại
c̣n phải thường ra phố mua những thứ rau dưa,
thường cảm thấy bất tiện. Lại c̣n mỗi
ngày ba bữa phải đến nhà ăn lănh cơm từ viên
sĩ quan trực nhật. Khi ấy, người đó
thường nghĩ có thể lấy nhiều cơm hoặc
bánh mạn đầu từ nhà ăn, đợi thức ăn
dư từ người trực nhật để có thể
dùng làm thức ăn chay cho chính ḿnh. Mỗi ngày đều
như thế. Về sau, cảm thấy đă không góp phần
ăn chung, chẳng được lấy nhiều cơm.
Đó là trộm cắp, là tham. Tuy là ăn chay, không có đồ
mặn, nhưng những thứ ta ăn chẳng phải là
do tiền bạc đổi lấy. Do đó, lại xin ăn
chung với đồng đội, tính ăn rau bên cạnh
thịt, chẳng c̣n nhận cơm dư từ người
trực nhật. Lại c̣n chẳng phải mất công mua
rau dưa ngoài phố. Ăn chung với đồng đội
như vậy được vài ngày, cảm thấy mùi mỡ
hết sức khó ngửi. Lúc ấy, lại gặp hội
phóng sanh ở núi Sư Đầu gởi tới quyển sách
Lợi Ích Do Ăn Chay. Có được bộ sách ấy, trong
đó có nói về sự dinh dưỡng do ăn chay, ăn
thịt dễ mắc bệnh, và những câu chuyện thật
sự về nhân quả báo ứng. Do sợ hăi nhân quả,
bèn thề chẳng ăn mặn nữa. Sau đấy, lại
ăn chay, nhận cơm từ người trực nhật
cũng chẳng c̣n lấy nhiều, nguyện ngăn ngừa
ḷng tham. Do đồ ăn bất tịnh, tuy chẳng thuận
tiện cho lắm, nhưng tâm khá an ổn. Nếu là cơm
hoặc ḿ của chính ḿnh th́ khi ăn hết, đi mua sẽ
bất tiện, có thể ăn cơm dư của người
trực nhật hay không? Nghĩ những thứ đó sẽ
bị đổ đi, chẳng đáng tiếc lắm ư?
Ăn được hay không? Nghĩ đích xác những
đồ ăn ấy là thứ bất tịnh. (Thái Lân Định hỏi)
Đáp: Tự ḿnh không có sức
lo liệu thức ăn riêng, Phật pháp vốn cho phép dung
thông, nhưng tâm phải giữ vững, chớ nên thay
đổi xoành xoạch. Bất luận là ăn chung với
mọi người, hoặc là ăn cơm thừa của
cấp trên, ăn rau bên cạnh thịt là được.
* Hỏi: Hướng về
người phụ trách quản lư trong công ty hoặc cơ
quan xin phấn hoặc giấy để chính ḿnh sử dụng,
đă được chấp thuận, th́ có phải là phạm
giới trộm cắp hay không? (Đồ
Trinh Quang hỏi)
Đáp: “Trộm cắp” là chẳng
cho mà lấy. Phàm những vật sử dụng đă xin từ
người phụ trách, lại được người
phụ trách đưa cho, đấy chẳng phải là trộm
cắp. Nhưng chẳng quư tiếc của công, đ̣i hỏi
chẳng chán, nói theo pháp thế gian sẽ là chẳng liêm khiết.
Nói theo Phật pháp sẽ là tham lam!
* Hỏi: Mọi người
đều biết người xuất gia ăn chay, thí chủ
nếu cúng dường hăy nên chuẩn bị đồ
chay, nhưng cư sĩ là người sống tại gia,
chưa chắc đều ăn chay. Nếu là người
ăn chay, do có việc mà đến nhà thân hữu, bị họ
mời ăn mặn. Nếu ngă mặn th́ trái thệ nguyện,
hăy nên làm như thế nào? (Thái
Định Lân hỏi)
Đáp: Ăn chay là chí nguyện
của cá nhân, há nên v́ người khác mà xoay chuyển? Hễ
có người mời ăn mặn, hăy mềm mỏng từ
chối.
* Hỏi: Khi khóa giảng thứ
hai sắp kết thúc, tiểu tổ đồng nghiệp
chúng tôi xin quy y. Khi đó, thầy đă v́ chúng con giảng
giải chuyện quy y. Trong ấy, thầy có nói “tại gia cư sĩ chẳng
thể v́ chúng sanh giới thiệu quy y”. Ngu sanh[17]
giở xem mấy bộ sách Phật, hoàn toàn chưa thấy
trong kinh Phật có quy định ấy, chẳng biết
thầy căn cứ trên bộ kinh sách nhà Phật nào? Chúng
ta có thể giả thiết: Thích Ca Mâu Ni Phật mở một
tiệm buôn. Người xuất gia là nhân viên trong tiệm
buôn ấy, lănh tiền lương của tiệm buôn ấy,
hăy nên giới thiệu cho khách viếng tiệm biết ưu
điểm của hàng hóa trong tiệm. Hàng tại gia cư
sĩ là những người khách đă từng đến
mua các hàng hóa ấy, chẳng lẽ bọn họ chẳng
thể hướng về những người khách viếng
tiệm khác để giới thiệu nên dùng những món hàng
nào? Thầy nói những lời ấy, nhất định là
có dụng ư cao minh, tṛ chẳng thể suy lường
được! Hy vọng thầy có thể giảng giải
rơ ràng hơn một chút! (Trần
Chánh Mân hỏi)
Đáp: “Tại gia cư sĩ chẳng thể v́ chúng sanh giới
thiệu quy y”, lời lẽ này thuộc loại nghe lầm
mất rồi! Khi đó, tôi nói: Người tại gia chẳng
thể “thọ” (tiếp nhận)
chúng sanh quy y được, chứ không nói “chẳng thể giới thiệu quy y”. “Thọ” là
chính ḿnh tiếp nhận, “giới
thiệu” là giới thiệu người khác. Nghe lầm
một chữ, sai biệt rất lớn!
* Hỏi: Cổ đức nói
“lân nga bất điểm
đăng” (do thương xót những con thiêu thân nên chẳng
thắp đèn). Những sanh mạng do mê ánh sáng mà đâm ra
bị hủy diệt, trong đêm tối, số lượng
[những con phi trùng] đă bị chết oan chẳng có cách
nào tính đếm! Trong vị lai, khi nhân duyên gặp gỡ,
người đốt đèn có bị quả báo hay không? (Chung Vân Xương hỏi)
Đáp: Thắp đèn chẳng
có ư sát sanh. Chẳng phải như đặt hom bẫy
cua, giăng lưới bắt cá, nổi lửa để
dẫn dụ chúng. Do chẳng dấy sát ư, nên chẳng phải
là tội. Nếu do tác dụng phụ mà tạo thành sát
sanh, có thể dùng phương tiện thiện xảo
để tránh né, như chụp lồng ngoài đèn, hoặc
là có những cách khác. Nếu có thể làm như thế, đâm
ra sẽ có công đức, niệm nào cũng ngay lập tức
chuyển vọng quy về lẽ nhân ái vậy!
* Hỏi: Chẳng biết
chuyện lập đàn cúng tế (“kiến tiêu”, 建醮) bắt đầu
từ niên đại nào? Trong kinh điển nhà Phật có
ghi chép tường tận hay không? Nếu lập đàn cúng
tế là chuyện thuộc nhà Phật, v́ sao giết hại
một số lượng lớn súc sanh để phổ
độ âm hồn? Đấy cũng là hành vi tín ngưỡng
của bọn ngoại đạo, xen tạp vào trong Phật
giáo! Như phong tục các nơi trong tỉnh này (Đài
Loan), cứ mỗi mười hai năm bèn cử hành một
lần. Trước khi khai đàn cúng tế mấy ngày, phải
ăn chay, có các tiết mục: Thả đèn xuống
nước, dựng cột treo đèn v.v… Sau khi kỳ hạn
ăn chay đă măn, mới có thể giết mổ súc sanh cúng
bái ḥng phổ độ âm hồn. Sát sanh là phạm tội,
phổ độ âm hồn, ngạ quỷ kiểu đó th́
có ích cho những kẻ được phổ độ hay
không? Đồng thời, cũng có kẻ thỉnh người
xuất gia hoặc đạo sĩ làm các khóa mục như
tụng kinh, bái sám, ngồi đàn v.v… Cách làm như vậy có
trái nghịch Phật pháp hay không? (Chung Vân Xương hỏi)
Đáp: Lập đàn cúng tế
chính là pháp do Đạo Giáo Trung Hoa đặt ra, Phật pháp
chẳng có chuyện ấy. Nhưng các phái, các chi nhánh trong Đạo
Giáo cũng có nhiều loại, những chuyện họ làm
khó thể nhất trí. Trong ấy, khó thể tránh khỏi h́nh
thành đa thần. Tục dân chỉ mong cầu phước,
gặp thần liền lạy, c̣n đối với Phật,
trời, thần, quỷ, hoàn toàn chẳng phân định rơ
ràng. Thật ra, chuyện cúng lạy gom vào chuyện cúng lạy,
chuyện tín ngưỡng gom vào tín ngưỡng, rốt cuộc
trở thành tuy là cúng lạy, chưa chắc đă là tín
ngưỡng, bất quá là chuyện cầu phước tạp
loạn lộn xộn đó thôi. Những ǵ Ngài đă trông
thấy thuộc về loại này! Nếu ngẫu nhiên có người
xuất gia tham dự trong ấy (chữ “người xuất gia” chỉ tỳ-kheo tăng),
sợ rằng là thiểu số chẳng hiểu lư,
được người khác mời mọc [bèn tham dự],
chứ không phải do chính họ tự đứng ra tổ
chức!
* Hỏi: Những thứ nhạc
khí được sử dụng trong Phật giáo như mơ,
khánh, thanh la cỡ nhỏ, chuông nhỏ, trống v.v… v́ sao
chẳng thể tùy tiện gơ chơi? [Nhà chùa] nói “gơ chơi
sẽ mắc tội lỗi”. Tội lỗi ǵ vậy? (Đào Dân Tŕ hỏi)
Đáp: Những thứ ấy
đều là pháp khí chuyên dùng để tụng kinh, hăy nên
cung kính. Nếu coi chúng là những món đồ chơi, sẽ
là vô lễ, khinh nhờn. Nay tôi nêu một thí dụ: Quốc
gia chế định lễ nhạc nhằm dạy nhân dân.
Tuy không thấy cổ chế (quy chế lễ nhạc thời
cổ), nhưng từ những buổi tế lễ Khổng
Tử tại Đài Loan, có thể nghe [những loại lễ
nhạc ấy]. Những loại đàn cầm, sắt, chuông,
trống bày trong miếu [thờ Khổng Tử], nếu chẳng
hành lễ, sẽ chẳng thể tấu, gơ lung tung. Đó
là điều thứ nhất. Lại nữa, trong quân đội,
trống, kèn, quân kỳ chính là những thứ để
truyền tải hiệu lệnh của một đạo
quân. Không có duyên cớ mà gơ, thổi, phất cờ, có được
hay chăng? Đó là điều thứ hai.
* Hỏi: Cư sĩ làm nghề
buôn bán (bán tiệm vải), các loại vải mỗi mùa
đều có. Loại vải thông thường và vải
len có phẩm chất bất đồng, v́ len th́ phải dùng
lông của các loài súc sanh như ngỗng, vịt, dê…. chế
thành. Học nhân biết rơ là lấy lông của súc sanh [để
chế vải], nhưng người b́nh phàm lẫn Phật
giáo đồ đều mặc rất phổ biến! Cũng
như vậy, ăn thịt và mặc áo may bằng vải
do lông súc sanh chế thành, có sẽ cảm cùng một quả
báo hay chăng? Người ăn chay có nên nghĩ đến
áo bằng vải len mà họ đang mặc, chớ nên mua
bán, mà cũng chớ nên mặc. Do từ tâm lân mẫn mà bớt
chế tạo loại vải ấy? (Thái Lân Định hỏi)
Đáp: Chỉ cắt lông chúng,
chẳng giết thân chúng, giống như chỉ vắt sữa
ḅ, chẳng hại mạng nó. Quán sát như vậy, vẫn
có thể phương tiện [sử dụng loại vải
ấy]. Nếu luận định nghiêm ngặt, giới
luật nhà Phật đều có văn bản rơ ràng, ăn,
uống, mặc, ở, đi lại, hành động, đều
có điều luật quy định chánh đáng. Người
thọ giới đều nên tuân thủ nghiêm ngặt. Tín
đồ nhà Phật chưa thọ giới có thể tùy phận,
tùy duyên mà thôi. Giới có khai, giá, tŕ, phạm, không ǵ chẳng
nhằm trọn hết những điều tốt lành!
* Hỏi: Giữ sáu ngày Trai,
cần phải “quá Ngọ chẳng
ăn”, nhưng nhân viên trong công sở mười hai giờ
trưa mới tan tầm, như vậy th́ nhằm lúc đă
quá Ngọ, có phải là chẳng thể ăn hay không? “Quá Ngọ chẳng ăn” có ư
nghĩa như thế nào? (Trịnh
Triều Tín hỏi)
Đáp: Có thể
giữ sáu ngày Trai là đă tốt lắm rồi. Nếu chưa
chánh thức thọ Bát Quan Trai, tuy đă qua khỏi chánh ngọ,
vẫn có thể phương tiện mà ăn. Nếu chánh
thọ (chánh thức thọ tŕ Bát Quan Trai Giới) th́ chẳng
được phép. Một là v́ chính ḿnh chẳng thể làm
chủ, hai là chưa đến một giờ th́ vẫn là
chưa đến cuối ngọ. Đối với ư nghĩa
của chuyện này, các vị luật sư giảng giải
bất đồng. Có người nói là do ăn cơm bất
tiện, có người bảo là v́ tránh cho ngạ quỷ dẫn
khởi phiền năo. Có người nói “nhằm ngăn tham,
dứt dục”. Mỗi mỗi đều có nguyên nhân. Nói
chung, giới là do đức Phật chế định. Hiểu
nghĩa, tŕ giới, cố nhiên là tốt lành. Chẳng hiểu
nghĩa ấy mà vâng giữ, cũng có công đức. Như
pháp luật trong thế tục, [phải là] chuyên gia mới
hiểu tinh tường ư nghĩa, nhân dân b́nh phàm chẳng
biết pháp lư, cũng nên vâng giữ!
* Hỏi: Đức Phật
răn đừng sát sanh, giọng điệu cao cả
thay, đẹp đẽ thay, nhưng có thật sự phù
hợp thực tế hay không? Nông dân canh tác, theo lệ, cần
phải trừ trùng. Lúc bị nạn châu chấu, nếu
chẳng thể trừ sạch, nhất quyết chẳng
sát sanh th́ lấy ǵ để ăn? Hoặc nói tuy giết,
nhưng ôm ḷng bất nhẫn, đừng tăng trưởng
sát tâm là được rồi! Thật ra, hăy nghĩ xem bọn
kiến, trùng có biết tâm ư của nông dân bất nhẫn,
hay là sát tâm lừng lẫy hay không? Vả nữa, bất luận
như thế nào, kẻ bị hại đều như
nhau. Đang trong lúc bị hại, chúng sẽ bi thống muôn
phần, rảnh đâu để so đo nông dân có bất
nhẫn hay là không! Nếu có cơ hội báo thù, nhất định
sẽ đều coi nhất loạt như nhau, sao lại
bảo tuy giết, nhưng giữ ḷng bất nhẫn là
được rồi? (Lư Liên
Giai hỏi)
Đáp: Sa Bà là cơi đời ô
trược tam ác đạo, là đời ác giết, trộm,
dâm. Trước khi sanh vào cơi này, ắt đă có cái nhân giết,
trộm, dâm, nay sống trong cơi này, ắt là có chuyện giết,
trộm, dâm. Có ba chuyện ấy, chẳng tránh khỏi tam
đồ. Nay chỉ lấy một chuyện giết để
nói, nó đă trở thành hiện tượng tự nhiên! Đức
Phật v́ độ chúng sanh khỏi đọa trong cảnh
giết chóc tự nhiên, cho nên răn dạy: “Hăy tận hết
sức tránh né giết chóc, ḥng giảm nhẹ sát nghiệp”.
Nếu nói tường tận về chuyện giết, t́nh
thế sẽ tột bậc phức tạp. V́ thế, [có
các trường hợp] cố ư giết, vô t́nh giết, chẳng
tránh khỏi mà giết, chẳng thể tránh khỏi giết
chóc v.v… Lại c̣n có tự sát, v́ ta mà giết, gián tiếp
giết, giúp người khác giết, xúi giục người
khác giết, vui vẻ v́ thấy người khác giết chóc
v.v… Triệt để chẳng giết, chỉ có ḿnh đức
Phật. Niết Bàn Pháp Thân chẳng có hết thảy các chuyện
giết chóc. Bọn chúng ta v́ t́nh thế khó thể làm
được, chỉ nên tận lực tránh né. Như hít
thở, đi lại, đă giết vô lượng động
vật nhỏ bé, chuyện này thuộc loại chẳng thể
tránh khỏi. Như uống nước, ăn ngũ cốc,
lọc nước, cày ruộng, tức là ta đă gián tiếp
giết nhiều loại. Giới luật chế định
tỳ-kheo chẳng tự cày cấy, nhưng người có
đức và đúng pháp có thể tự cày cấy. Hiểu
rơ điều này, kẻ vô đắc vô chứng hăy tận
lực cầu tránh giết, đó là giữ giới. V́ thế,
người thật sự phát tâm từ bi, ắt cầu
thành Phật.
* Hỏi: Giới có khai, giá,
tŕ, phạm. V́ nước chiến đấu, giết địch,
bèn chẳng phạm giới; nay có binh lính xâm lược
đất nước, [những người lính ấy] vâng
lệnh xâm lược nước khác. Nếu là tín đồ
nhà Phật đồ, làm thế nào để xử lư trong
trường hợp tiến vào xâm lược nước
khác? Lư vốn chẳng hợp, khi lâm trận, giết địch,
ắt tổn hại ḷng Từ. Chẳng giết th́ là trái
nghịch quốc mạng. Đôi bên đều khó, tuy muốn
quăng súng để mưu tính chuyện khác, nhưng chẳng
được! (Lư Liên Giai hỏi)
Đáp: Chuyện này thuộc
loại chẳng thể tránh khỏi, cũng là liên quan
đến nghề nghiệp. Nếu v́ chế phục địch
nhân, hăy nên tuân thủ mệnh lệnh. Nếu coi tàn sát là
chuyện sung sướng, thật sự sẽ tổn hại
quốc oai. Hăy nên thiện xảo, hành nhiều phương
tiện.
* Hỏi: Nếu trong lúc không
có xung đột, chẳng giết hại sanh mạng th́ c̣n
được. Nếu có xung đột, [giết chóc] sẽ
là t́nh thế khó tránh khỏi. Như đồ tể, ngư
phủ, há đều là hạng hung tàn, ác độc, hiếu
sát tuân theo mệnh lệnh ư? Có lúc, giữa con người
và những động vật khác, thật sự là chẳng
thể vẹn toàn đôi bên, như chuyện con chuột của
Vĩnh Mỗ Thị[18] và
tai nạn châu chấu v.v… chính là chẳng có biện pháp để
giải quyết vẹn toàn đôi bên! Lại như trong bụng
Phật tử có trùng, chẳng giết th́ thân thể bị
tổn hại, trái nghịch hiếu đạo. Giết th́
mâu thuẫn giới luật, tâm khó thể an! Nếu nói là “tuy
giết mà ôm ḷng bất nhẫn, cái tâm sẽ có thể an,
thân cũng chẳng bị tổn hại”, đó là cách tối
thượng. Suy nghĩ kỹ lời ấy, sẽ thấy
sai lầm to lớn, chẳng đúng! Đă là bất nhẫn,
cớ ǵ cứ giết? Cứ ắt muốn giết, há là
bất nhẫn ư? V́ cầu cái tâm có thể an, nên khởi
ư bất nhẫn, há có thật sự bất nhẫn hay chăng?
Bất quá là cách nói tự dối ḿnh vậy! (Lư Liên Giai hỏi)
Đáp: Những loại trùng
có hại như chuột, châu chấu, ai nấy đều
giết. Đấy chính là tội báo của chúng, hăy nên thương
xót, chớ nên hận. Cổ nhân huấn dụ: “H́nh kỳ vô h́nh” (Đối
với chuyện trừng phạt th́ mong sao khỏi phải
trừng phạt), Vua Đại Vũ xuống xe khóc tội,
không ǵ chẳng phải là v́ ḷng nhân. Đấy là tâm lượng
của bậc thánh. Đối với biện pháp để
thương xót, chỉ có cách dự pḥng, siêng năng tu bổ
tường vách, trong nhà giữ cho ngăn nắp, sạch
sẽ, chẳng để thức ăn [bừa băi], sẽ
có thể tránh được chuột. Siêng năng khơi
thông mương rănh, ruộng chẳng thiếu nước,
phun thuốc ngừa sâu, có thể tránh khỏi nạn châu
chấu. Trùng ở trong thân, chính là bệnh tật, khéo tự
điều dưỡng, nó sẽ chẳng sanh. Nó đă sanh,
có thể dùng thuốc để trừ, chỉ nghĩ trừ
bệnh, giới cũng cho phép dung thông!
* Hỏi: Tôi đọc báo Bồ
Đề Thụ số một trăm bảy mươi,
xem bài bàn đại lược về giới và thiện,
thấy trong ấy có câu văn nhắc đến Quán Âm
Trai và Tam Quan Trai. Quán Âm Trai là tŕ trai vào ngày mồng Chín,
Mười Chín và Hai Mươi Chín mỗi tháng, c̣n Tam Quan
Trai là tŕ trai vào ngày mồng Một, Rằm, hoặc ăn
chay buổi sáng. C̣n nghe nói có Bát Quan Trai, đó là ǵ vậy?
Mong thầy chỉ dạy! (Dương
Khai Khánh hỏi)
Đáp: Đọc tạp chí,
cần phải phân định văn lư rơ ràng. Tam Quan Trai chính
là trai giới theo Đạo gia, tuy cũng là chuyện tốt
lành, nhưng e rằng trong văn từ của báo Bồ
Đề Thụ chẳng hề đề xướng
chuyện ấy. C̣n đối với Bát Quan Trai, th́ có một
quyển sách về trai giới lưu hành riêng, cần thỉnh
về đọc kỹ càng! Chẳng thể trong một lời
hoặc nửa câu mà có thể nói rơ được! Loại
giới bổn ấy, trong các chỗ lưu thông kinh Phật
đều có.
* Hỏi: Tŕ một loại
trong các loại trai giới trên đây th́ có thể
được coi là đệ tử Phật tại gia hay
không? (Dương Khai Khánh hỏi)
Đáp: Phàm những
người thọ Tam Quy, hoặc tŕ một giới, tuy sống
tại gia, nhưng là đệ tử Phật.
* Hỏi: Nghề nghiệp
như của tôi th́ có thể tiếp tục làm hay không? Nếu
như chẳng thể tiếp tục làm, hăy nên làm như
thế nào? (Tô Thái Nguyên hỏi)
Đáp: Thú y là một chuyện,
nuôi dưỡng là một chuyện khác. Thú y th́ t́nh và lư
đều đơn giản, chỉ là trị liệu bệnh
khổ mà thôi. Nuôi dưỡng bèn có khác biệt, hoặc là
v́ chính ḿnh tham lợi mà buôn bán, hoặc là làm nhân viên chăm
sóc, chuyên lo nuôi ăn [các động vật]. Nếu là
trường hợp trước, chính là tham tài hại mạng.
Thuộc trường hợp sau th́ chỉ quản nó sống,
chẳng quan tâm nó chết. Như đối với tù nhân đă
bị phán án tử h́nh, chờ đợi hành quyết, vẫn
cần phải cung cấp đồ ăn, thức uống
hằng ngày. Người mang đồ ăn, thức uống
cho tù chẳng chịu trách nhiệm xét xử, phán quyết.
Nghề nghiệp của tiên sinh là như thế nào, xin hăy
tự suy nghĩ.
* Hỏi: Khi các loài gia súc, gia
cầm mắc bệnh, đă không c̣n giá trị để
nuôi dưỡng, lúc dùng phương pháp để làm cho nó
chết th́ có phải là sát sanh hay không? (Tô Thái Nguyên hỏi)
Đáp: Ham sống sợ chết,
cầu an sợ khổ, hết thảy hữu t́nh không loài
nào chẳng có tâm trạng ấy. Nếu chúng mắc bệnh,
có thể mời thú y tới giải quyết nỗi khổ
ấy; đấy mới là ḷng nhân. Thừa lúc chúng nguy ngập
mà tăng thêm nỗi khổ cho chúng, chính là tàn nhẫn. Dẫu
chẳng có thú y để mời, chỉ nên để cho nó
sanh diệt theo lẽ tự nhiên. Nếu trái nguyên tắc ấy,
sẽ là sát sanh.
* Hỏi: Khi động vật
hoang dă cắn chết gia cầm, gia súc được nuôi,
chúng tôi dùng phương pháp bắt giết động vật
hoang dại th́ có phải là sát sanh hay không? (Tô Thái Nguyên hỏi)
Đáp: Tôi chỉ giải thích
hai chữ “sát sanh”. “Sanh” là
sanh mạng, “sát” là giết
hại. Ư nghĩa là như thế, tột bậc đơn
giản! Nếu luận theo nhân duyên sát sanh, sẽ là ngàn muôn
sai khác. Nhẹ, nặng, thiện, ác, khó thể nói tường
tận. Sống trong vùng hoang dă, biết là có dă thú, sợ chúng
gây tổn thương cho gia súc, chỉ có cách đề pḥng
nghiêm ngặt. Nếu không, dă thú rất đông, gia súc làm sao
có thể may mắn tránh khỏi được?
* Hỏi: Nuôi nấng gia cầm,
gia súc để cho chúng nó trưởng thành, sau đấy đem
bán, c̣n như chúng nó có bị sát hại hay không [chẳng
quan tâm đến] th́ cũng là sát sanh ư? (Tô Thái Nguyên hỏi)
Đáp: Ư nghĩa sát sanh đă
được giải thích sơ lược trong điều
trước. Tự giết, bảo người khác giết,
đẩy chúng vào cảnh chết chóc th́ vẫn là giết
hại như nhau! Lại nữa, phàm mọi việc đều
có nguyên nhân. Hăy tự xét khởi tâm động niệm muốn
nuôi gia súc là v́ lẽ nào? Nếu hiểu rơ động cơ
(motivation) ấy, nhân quả đă có, nói đến mai sau, bất
quá là đă thành tựu hay chưa thành tựu mà thôi!
* Hỏi: Câu Xá Luận, quyển
mười bốn có nói: “Chư
hữu bật-sô xưng ngă sư, bất ưng ẩm tửu,
năi chí cực thiểu, như nhất nha đoan sở triêm
tửu lượng, diệc bất ưng ẩm” (Nếu
có các tỳ-kheo gọi ta là thầy, chớ nên uống
rượu, dẫu là cực ít, như lượng rượu
dính trên chót đầu của một cái mầm, cũng chớ
nên uống). Tứ Phần Luật, quyển mười sáu
lại nói: “Phật cáo A Nan: - Tự
kim dĩ hậu, dĩ ngă vi sư giả, năi chí bất
đắc dĩ thảo mộc đầu nội trước
tửu nhi nhập khẩu” (Đức Phật bảo A
Nan: - Từ nay trở đi, những ai coi ta là thầy, thậm
chí chẳng được để cho [một chút] rượu
dính nơi chót đầu của nhánh cây hay cỏ lọt vào
miệng). Nếu là Phật tử tại gia thọ giới,
trong thức ăn có bỏ rượu làm gia vị, hoặc
là thuốc cần uống cùng với rượu th́ có phạm
giới hay không? (Chung Vân
Xương hỏi)
Đáp: Giới chia thành khai,
giá, tŕ, phạm. Người thọ giới “chẳng uống
rượu” sẽ chẳng được uống rượu,
dẫu uống một chút cũng gọi là “phạm”. Chỉ
v́ bệnh mà chế thuốc, th́ có thể tạm khai, với
ư nghĩa là dùng thuốc, chẳng phải là v́ vui sướng
mà uống rượu. Món ăn thuộc về Vị Trần,
chú trọng tại chua mặn, rượu chẳng cần
thiết [phải dùng]. Nếu cứ ắt cầu vị
ngon, [Thiệt] Căn ắt được bồi thêm bất
tịnh.
* Hỏi: Đệ tử tính
thọ Ngũ Giới, nhưng chẳng chắc chắn lắm
về hai giới chẳng tà dâm và không vọng ngữ, hăy nên
làm như thế nào? (Vương
Chí Hiền hỏi)
Đáp: Giới chú trọng ở
chỗ có thể tŕ. Chẳng tŕ, há được coi là giới?
“Nắm chắc” nghĩa là có thể tŕ. Nếu không, sẽ
là chẳng thể tŕ. [Giới nào] có thể tŕ th́ thọ
giới ấy, chẳng thể tŕ th́ đừng thọ!
Thọ cả năm giới là măn phần, thọ ba hoặc
bốn giới là đa phần, thọ một hoặc hai
giới là thiểu phần, đều có thể tùy duyên, chẳng
ắt phải thọ toàn thể năm giới vậy!
* Hỏi: Phật Học Viện
nói tại gia cư sĩ không được đắp phước
điền y. Tuy chưa xuất gia thờ Phật, nhưng
ở trong chùa thờ Phật th́ có căn cứ ǵ hay không? (Tăng Khải Nguyên hỏi)
Đáp: Cổ hiền nói: “Chẳng do quy củ[19], chẳng thể
thành vuông, tṛn”. Chuyện trong nhà Phật đều có quy
luật, mỗi điều đều chứa đựng
ư nghĩa sâu xa. Kẻ mới học chỉ nên tuân thủ,
thấy đến đâu bèn học đến đó, lâu ngày
sẽ hiểu rơ ràng. Phước điền y do v́ tỳ-kheo
mà chế ra, chẳng phải v́ hàng cư sĩ mà chế.
Đức Phật cho phép người ta tu tập, nhưng
y phục chớ nên mặc lẫn lộn! Nay tôi dùng lư đơn
giản để tỷ dụ: Cảnh sát có trang phục
của cảnh sát, binh sĩ có trang phục của binh
sĩ, kẻ thường dân chẳng được phép mặc!
Kẻ chẳng xuất gia, ở nhà thờ Phật, nếu
sống trong chùa, chỉ nói “tùy
hỷ”, v́ người xuất gia ở trong chùa,
được người khác cúng dường, người
tại gia chẳng thể tiếp nhận người khác
cúng dường, cho nên chẳng thể ở trong chùa. Nếu
tự lo liệu lương thực, lại được
vị Tăng đứng đầu nhà chùa chấp thuận
th́ có thể ở trong chùa tu đạo, cũng chẳng có
ǵ là không được!
* Hỏi: Vào tháng Chạp năm
ngoái, do một cơ duyên, đệ tử đă thôi ăn
mặn, ăn chay trường, nhưng tội chướng
sâu nặng, chính ḿnh ăn chay, người nhà ăn mặn.
Hằng ngày vẫn phải y như cũ, xắt thịt,
nấu đồ mặn, mùi vị của Ngũ Tân rất
khó chịu. Đă thế, tôi lại suy nghĩ, chính ḿnh là người
đă ăn chay, nấu đồ mặn cho kẻ khác ăn,
rất chẳng đúng! Ăn chay trường trong hoàn cảnh
ấy, quán cảm như thế nào th́ mới yên? Xin thầy
hăy dùng lời lẽ thân thiết dạy cho! (Lư Ngũ Xuân Hoa hỏi)
Đáp: Dứt mặn, ăn
chay, chẳng phải là người thiện căn sâu dầy,
sẽ chẳng thể làm được! Bà có thể làm như
vậy, phước lẫn thiện đều to! Do cơ duyên của người nhà chưa
đến, chẳng thể cùng ăn chay. Nếu chính ḿnh có
thể làm chủ, chỉ có thể thay họ xắt, nấu
ba loại tịnh nhục, chẳng cần biết họ có
thọ giới hay không. Chớ nên đích thân ra tay sát sanh!
Khi xắt, nấu, hăy tụng chú Văng Sanh cho chúng, hoặc niệm
thánh hiệu Di Đà, tâm giữ ư niệm siêu độ, [tức
là] “khéo sắp đặt trần
lao để làm Phật sự” chính là nói đến chuyện
này!
* Hỏi: Ngưu lạc (牛酪) làm từ dầu
thực vật hay mỡ động vật, có rất nhiều
người chẳng biết rơ cho mấy! Người ăn
chay trường chẳng biết có thể ăn hay không? Có
lúc ăn bánh quy thấy có hương vị của loại
dầu này. Nếu là mỡ động vật, người
ăn chay trường sẽ phạm tội phá giới, đúng
không? (Chung Vân Xương hỏi)
Đáp: Ngưu lạc (bơ)
chính là chất trích từ sữa ḅ, hoàn toàn chẳng sát
sanh. Người ăn chay có thể ăn.
* Hỏi: Người xuất
gia nói cư sĩ tại gia chẳng thể đọc kinh
Phạm Vơng. Kẻ xem kinh ấy đă phạm giới nào? (Lữ Lư Do hỏi)
Đáp: Tại gia cư sĩ
chẳng xem giới tỳ-kheo, đó là điều hiểu
biết thông thường. Chỉ có kinh Phạm Vơng thuộc
phạm vi của Bồ Tát Giới. Trước kia, cư
sĩ thọ Bồ Tát Giới hoàn toàn chẳng hạn định
trong kinh Anh Lạc, cũng có người thọ giới theo
kinh Phạm Vơng. Người đọc kinh Hoa Nghiêm cũng
có người muốn thấy toàn thể con báo[20],
cho nên xem tiếp kinh Phạm Vơng, chẳng bàn tới chuyện
đúng, sai, hợp lẽ, hay trái nghịch. Tôi thấy như
vậy đó. Nếu nói đến Luật Tông, kẻ tại
gia mười phần hết tám chín phần là kẻ ngoài
cửa. Kẻ hèn này càng là kẻ ở tuốt bên ngoài trong
số những kẻ ở ngoài cửa. Đối với
câu hỏi thuộc loại này, vẫn mong ông hăy thưa hỏi
bậc đại sư xuất gia tinh thông Luật Học,
ngơ hầu chẳng đâm quàng ngơ rẽ!
* Hỏi: Kẻ chẳng ăn
chay trường có thể giữ Lục Trai hay không? (Vương Tương Nga hỏi)
Đáp: Tŕ trai một ngày,
chuyện sát sanh trong thiên hạ không có phần của ta! Há
có lẽ nào chẳng cho phép tŕ Lục Trai?
* Hỏi: Dâm giới trong Ngũ
Giới là như thế nào? Cuộc hôn nhân của vị cư
sĩ X… nọ lắm nỗi trắc trở! Trong ṿng năm
năm, kết hôn ba lượt, ly hôn ba lần (bao gồm luyến
ái, sống chung, đính hôn). Sau khi kết hôn (bao gồm luyến
ái, ở chung, đính hôn), khi một bên (vợ hoặc chồng)
ác ư ruồng rẫy bên kia, người ruồng rẫy sẽ
như thế nào? Kẻ bị ruồng rẫy sẽ lại
như thế nào? (Ngô Minh An hỏi)
Đáp: Người xuất
gia tuyệt đối chẳng gần gũi nữ sắc,
người tại gia chỉ hạn cuộc trong vợ chồng
chánh thức, những mối quan hệ [nam nữ] khác đều
là tà dâm. Đấy là phạm vi đơn giản của
giới Dâm trong Ngũ Giới. Vị cư sĩ nọ kết
hôn ba lượt, ly hôn ba lần, đó là nhân duyên trong quá khứ
và hiện tại, cũng như do thói ác đang là trào lưu
hiện thời tạo thành. Kẻ hèn này chẳng biết nhân
quả của người ấy. Luận theo trào lưu hiện
thời, trước hết là luyến ái rồi sống
chung, sau đấy là đính hôn, ly dị. Kết hôn đă
khinh suất, ly dị cũng khinh suất, kết hợp bừa
băi, ly dị cẩu thả, đấy là lẽ đương
nhiên! Nhớ tới quy chế hôn nhân của nước ta
trong quá khứ, ắt phải có đủ sáu lễ[21].
Do vậy, chuyện kết hôn là chuyện trịnh trọng.
V́ thế, bỏ vợ và xin ly dị đều là chuyện
hiếm có!
* Hỏi: Kẻ đánh mất
giới chưa thọ giới lại, thực hiện công
khóa tụng kinh, niệm Phật hằng ngày, sẽ là hữu
ích hay vô ích? (Tiêu Thông hỏi)
Đáp: Đánh mất giới
là cái nhân gây tội. Tụng kinh, niệm Phật là cái nhân lành.
Hai cái nhân ấy chẳng trở ngại lẫn nhau, đó
gọi là “trồng đậu
được đậu, trồng dưa được
dưa”!
* Hỏi: Đức Phật
thấy vạn vật b́nh đẳng, cho nên chẳng chủ
trương sát hại. Đối với những người
giết địch cứu nước, chẳng coi là tội,
bởi đấy vốn là ư nghĩa “trừ bạo, an lương”. Đối với
cầm thú, cũng chẳng nỡ giết. Tuy nhân từ, há
chẳng gây trở ngại cho đời sống người
dân ư? Tiên vương đă đốt núi, thiêu chằm, bện
dây, vung đao để trừ trùng, rắn, độc vật
gây hại cho dân. Điều ấy giống như giết
địch cứu nước, cớ sao chẳng
được? Trừ phi đại đức giống
như ngài Hư Vân khiến cho cọp dữ dâng quả, ḷng
tinh thành giống như Hàn Dũ khiến cho cá sấu bỏ
đi mất[22],
th́ mới trọn vẹn đôi bề. Chẳng biết bọn
ta là những kẻ hành theo đạo Trung Dung cũng có phần
thành Phật hay không? Xin hăy khai thị. (Kim Á Đạc hỏi)
Đáp: Thời thượng
cổ, đại địa hoang vu, hiện thời là đô
thị phồn hoa, đấy là một thời, nay là một
thời khác nữa, há có thể coi nhất loạt như
nhau? Tiên vương đốt núi, thiêu chằm, chính là nỗi
khổ tâm không làm sao được nữa. Đến thời
Khổng Tử, tiết Khải Trập (Kinh Trập)[23]
chẳng giết hại [trùng bọ], giăng lưới rập
có thời, thậm chí đối với thực vật mới
mọc sẽ chẳng bẻ. Tùy theo thời mà chế định
thích đáng, há cứ khăng khăng chấp chặt một
bề! Bọn hành nhân chúng ta sống trong hiện thời, thức
ăn có ngũ cốc, rau, dưa, các loại hạt, y phục
th́ có vải, the, nhung, che mưa gió bèn có cung điện, nhà
cửa hoàn hảo, tránh loài trùng gây hại bèn có các thứ
thiết bị, và c̣n giải trí bằng cách giết chóc những
loài thú chẳng tranh chấp với con người, há có chuyện
tất yếu phải giết hại chúng? Tiên vương
sát sanh, có nhân quả của tiên vương. Khổng Tử
giảm bớt giết chóc, có nhân quả của Khổng Tử.
Bọn chúng ta giết và chẳng giết, có nhân quả của
bọn chúng ta. Đối với chuyện thành Phật, cũng
là do nhân quả. Ngộ nhập tri kiến của Phật,
bèn có thể thành Phật. Mê muội lư ấy, ắt chẳng
thể thành. Đó gọi là “ăn
mặc cơm áo của vua Nghiêu, chỉ biết vua Nghiêu mà
thôi. Ăn mặc cơm áo của vua Kiệt, chỉ biết
vua Kiệt mà thôi!”
* Hỏi: Gần đây nhất, tôi
phát hiện có những Phật tử đeo tượng Phật,
Bồ Tát bằng chất nhôm, hoặc chú Lăng Nghiêm, mong
dùng [những thứ ấy] để hộ thân. Nếu
bước vào chỗ bất tịnh (như nhà vệ sinh
v.v…) th́ có vướng vào tội khinh nhờn hay không? Xin hăy
chỉ dạy, giải thích để giúp răn nhắc (Hậu học hỏi)
Đáp: Chuyện thân đeo
tượng Phật th́ thời xưa đă có. Thuở ấy,
giao thông bất tiện, đường thủy lẫn
đường bộ đều có lắm nỗi nguy hiểm.
Cho nên sắp đặt tượng Phật hộ thân, đeo
trong đai lưng để mang theo mọi nơi, mọi
chỗ. Hễ đến chỗ mục tiêu, ắt sẽ
đặt lên cao để thờ phụng, hoàn toàn chẳng
như hiện thời: Dùng [tượng Phật, Bồ
Tát] làm đồ trang sức! Người thời nay học
đ̣i đeo tượng, hăy nên thấu hiểu ư nghĩa
gốc. Khi ra ngoài, chẳng ngại tạm thời đeo; ở
trong nhà, đúng là có thể chẳng bắt buộc đeo.
Không chỉ là vào nhà vệ sinh ô uế, tự chuốc lấy
tội lỗi, mà [trong khi đeo tượng] trông thấy người khác bèn hành lễ, vào miếu lạy
thần, đủ mọi động tác, đều mắc
tội khinh mạn. Luận định theo luật nghi,
thân khoác ca-sa c̣n chẳng vào nhà vệ sinh, mà cũng chẳng
lạy thần; huống hồ đeo tượng Phật
để làm những chuyện chẳng sạch sẽ
ư? Vào thời tổ sư Ấn Quang tại thế,
Ngài đă sớm có lời răn cấm chuyện ấy,
đại khái là có ghi chép trong Văn Sao.
* Hỏi: Lúc mới học,
vốn là ăn chay buổi sáng. Hai tháng trước, tôi bắt
đầu tŕ thêm mồng Một, Rằm, và trong những
ngày thánh đản của Phật, Bồ Tát, bèn ăn chay
trọn ngày. Nhưng xét theo lệ ăn chay buổi sáng
để nói, chánh tín Phật giáo không có danh từ ấy. Nay
lại nghĩ: Cho đến nay, cảm thấy cách tŕ trai
chẳng đúng như lư tưởng! Chẳng thà gạt bỏ
chuyện ăn chay buổi sáng và ăn chay vào ngày thánh đản
của Phật, Bồ Tát, để thay bằng cách mới
là Quán Âm Minh Trai hoặc Lục Nhật Trai th́ có được
hay không? (Lương Minh Tượng
hỏi)
Đáp: Trong ba bữa cơm
hằng ngày, thời gian dành ăn bữa sáng vừa ngắn
ngủi, vừa c̣n sớm, c̣n chưa ra khỏi cửa mua
thức ăn, rảnh đâu để sát sanh? V́ thế,
phần nhiều tự nhiên là món chay, chẳng phải là bi
tâm thật sự tŕ giới, thế mà gọi là “tảo trai” (ăn chay buổi
sáng), đúng là hư ngữ! Nay ông tính đổi thành Quán Âm Trai
hoặc Lục Nhật Trai, tức là đúng pháp, có công
đức to lớn. Nhưng trước kia, trong những
ngày thánh đản của Phật, Bồ Tát, đă từng
ăn chay suốt ngày, nay tuy chánh thức tŕ trai, chớ nên
phế bỏ chuyện ăn chay trong các ngày thánh đản!
* Hỏi: Chẳng sát sanh là một
điều trong giới luật Phật giáo, nhưng bệnh
khuẩn vô ích cho con người, có thể giết hay không?
(Lâm Hồng Quế hỏi)
Đáp: Giới
luật răn chẳng giết mang ư nghĩa “từ bi b́nh
đẳng đối với hữu t́nh chúng sanh, chẳng
nỡ ḷng tăng thêm nỗi đau khổ cho chúng”. Vi khuẩn
chẳng phải là động vật hữu t́nh, diệt
chúng chẳng trở ngại ǵ!
* Hỏi: Nghe thầy nói “lấy
đồ của người khác là phạm giới”. Đệ
tử hễ nhặt được tiền ở trên
đường bèn bỏ vào rương công đức
để bố thí thay cho người đánh mất. Nguyện
thầy chỉ dạy như thế nào là phạm và không phạm?
(Phùng Mai Liễu hỏi)
Đáp: Chẳng bỏ vào túi
làm của riêng, nên chẳng gây trở ngại cho sự liêm
khiết, nhưng đối với số tiền trông thấy,
cũng nên phân biệt. Trong ṿng năm đồng Đài
Loan trở lại, có thể quyên thí thay cho người ta.
Hễ nhiều hơn, hăy báo cảnh sát, giao cho cục cảnh
sát gọi người đến lănh th́ hay hơn!
* Hỏi: Chúng sanh trong súc sanh
đạo do ác nghiệp đă tạo trong kiếp trước
mà hứng chịu quả báo. Báo đă tận th́ mới có
thể chết, lại nương theo nghiệp lực ấy
mà đầu thai. Nói như vậy, chúng ta giết nó chết
trước, để cho nó khỏi phải chịu khổ,
chịu tội, khiến cho nó sớm có ngày đầu thai,
há cũng chẳng phải là tốt hơn ư? (Liêu Thanh Hoa hỏi)
Đáp: Nghiệp thiện ác
của chúng sanh đều chẳng phải chỉ là một
mối. Nếu [nghiệp lực] có h́nh tướng, ắt
sẽ đầy nghẹt hư không, há có thể bộp chộp
nói là “báo tận”? Chúng sanh chết
chỉ là một lần tuổi thọ chấm dứt, sau
đấy, vẫn là liên tục [tái sanh, thọ khổ]. Sớm
có ngày đầu thai th́ vẫn ở trong ác đạo, làm
sao tránh khỏi chịu khổ như thế ấy? Kiểu
ấy đúng là kế sách “mở
nắp cho canh ngừng sôi, ôm củi chữa lửa!”
* Hỏi: Mùa Hè ruồi nhặng,
gián rất nhiều. Chỗ học nhân ở, phần nhiều
là tín đồ đạo Cơ Đốc. Bọn họ
biết tôi tin theo giới luật nhà Phật chẳng sát
sanh, nên thường cố ư bắt những loài tiểu
động vật ấy đập chết trước mặt
tôi. Đập chết xong, cố ư chắp tay niệm Phật
để châm chọc. Trong t́nh h́nh giống như vậy, nếu
muốn cứu sanh mạng của chúng, ắt sẽ gây nên
tranh chấp. Chẳng cứu th́ trong tâm lại bất nhẫn,
chẳng biết cư xử như thế nào? (Liêu Thanh Hoa hỏi)
Đáp: Pháp Lục Độ
có Trí và Nhẫn. Trí là có thể phương tiện thiện
xảo, hóa giải điều tà của kẻ khác quy vào lẽ
chánh của ta. Có thể làm được như thế là
tốt nhất. Nếu không, bọn họ châm chọc chính
là vô duyên vô cớ lăng nhục, hăy nên dùng Nhẫn để
dứt sân khuể. Nếu dấy lên sự tranh chấp mà
có thể cứu được chúng sanh, th́ cũng chẳng
ngại quyền biến, phương tiện mà làm. Nếu
như chẳng thể, ta cũng có thể hướng về
những động vật bị giết ấy niệm Phật,
dấy khởi tinh thần đại vô úy để làm. Bọn
họ thấy ta chẳng sợ châm chọc, lâu dần các
mánh khóe [châm chọc] sẽ tự hết. Tục ngữ có
câu: “Thuyết quỷ phạ,
quỷ lai hách” (Nói là quỷ sợ, quỷ sẽ đến
dọa), lời ấy ư vị thay!
*
Hỏi: Dùng động vật để điều chế
các loại thuốc, trong ngày trai giới có thể uống
hay không? Chẳng phải là tẩm bổ mà là dùng để
chữa bệnh? (Vương Thanh
Hán hỏi)
Đáp: Thuốc dùng trong khi đang
bệnh tật th́ có thể chẳng kỵ. Nếu [các loại
thuốc ấy] để điều dưỡng, [có thể
dùng trong] bất cứ ngày nào, vẫn là chẳng dùng [trong
ngày ăn chay] để mong tâm tịnh th́ tốt hơn.
* Hỏi: Đối với
các loài trùng có hại cho nhân loại hoặc thực vật,
dùng thuốc nước sát trùng để ngăn ngừa
hoặc diệt trừ, có được hay không? (Vương Thanh Hán hỏi)
Đáp: Đối với
người học Phật, kiêng giết là nguyên tắc. Nếu
v́ ǵn giữ sự thoải mái, hăy đối với hết
thảy các loài trùng có hại, dùng phương tiện thiện
xảo khiến cho chúng nó chẳng thể gây hại, chớ
nên giết! Dùng thuốc nước sát trùng để ngăn
ngừa, sẽ là tốt đẹp đôi bề. Hăy nên hằng
ngày quét dọn nhà cửa sạch sẽ. Sau khi quét dọn,
khi trùng c̣n chưa đến, phun chất nước ấy,
tự nhiên chúng sẽ chẳng đến, cũng chẳng
phải làm chuyện giết chóc vậy!
* Hỏi: Đức Phật
nhiều lần đề xướng “đối với hết thảy hữu t́nh, ắt
đều b́nh đẳng, đều xem như nhau”. Thời
cổ có kẻ chôn con để tỏ ḷng hiếu thảo
với mẹ, sát sanh để dâng lên cha mẹ. Tuy gọi
là hiếu tử, nhưng xét theo nghĩa b́nh đẳng, hiển
nhiên là đă vi phạm! Rốt cuộc, pháp thế gian và pháp
xuất thế gian khó ḷng tốt đẹp đôi bề.
Tôn ư của bậc trưởng giả là như thế nào?
Cha mẹ muốn ăn mặn, con chẳng nỡ giết,
biết làm sao? (Trịnh Triều
Tín hỏi)
Đáp: Được gọi
là “pháp” chính là những điều
đáng cho mọi người giữ lấy, tuân theo. Được
gọi là “pháp thế gian” th́ cần phải lấy thánh nhân
thế gian làm chuẩn. Chẳng phải là những kẻ
b́nh thường phàm tục mà có thể làm pháp tắc cho người
khác. Chớ nên hiểu lầm! Quách Cự chôn con tức là
việc làm của kẻ ngu si, hồ đồ, Nho giáo hết
sức chẳng chấp thuận! Chỉ v́ người
đời lầm lạc ca ngợi, [người đời
sau] bèn coi chuyện đó biểu thị toàn thể pháp thế
gian, sai lầm mất rồi! Xét theo pháp xuất thế
gian, nếu cha mẹ mắc bệnh, thèm thịt, th́ có thể
ăn ba loại tịnh nhục. Đạo viên dung hăy c̣n
nhiều lắm, đây chỉ là bàn sơ sài một chuyện
mà thôi!
* Hỏi: Tŕ “tảo trai” (早齋, ăn chay buổi sáng, ăn chay trong bữa
điểm tâm) và Lục Trai Nhật th́ trước Ngọ
mấy giờ mới có thể ăn mặn? (Khưu Hiệp Thuận hỏi)
Đáp: Lục Trai ắt phải
ăn chay nguyên ngày, lấy ngày đêm hai mươi bốn
tiếng đồng hồ làm hạn. Đối với
chuyện tảo trai, chẳng có văn bản giới luật
nói rơ ràng chuyện này. Nhưng nói chung, kiêng đồ mặn
là chuyện tốt đẹp. Một bữa chẳng ăn
mặn, bèn có công đức của một bữa, hoàn toàn
chẳng phải là không có! Nếu hỏi “từ trước
Ngọ mấy tiếng đồng hồ th́ mới có thể
ăn mặn”, vốn chẳng có kinh văn để làm căn
cứ; nếu tôi đáp bừa, chẳng tránh khỏi tùy tiện
nói này nọ.
* Hỏi: Đại Trí Độ
Luận, quyển mười
ba: “Tà dâm giả, nhược nữ
nhân vi phụ mẫu, huynh đệ, tỷ muội, vị
chủ nhi tử thế gian pháp, vương pháp thủ hộ,
nhược phạm giả, thị vị tà dâm” (Tà dâm:
Nếu đối với những nữ nhân là con cái chưa
thể làm chủ, được cha mẹ, anh em trai, chị
em gái, pháp thế gian và vương pháp bảo vệ mà nếu
xâm phạm th́ là tà dâm)[24].
Có phải là ư nói: [Những người nữ] đối
với cha mẹ, anh em, là những đứa con chưa thể
tự làm chủ, xét theo pháp thế gian, sẽ là [những người]
chưa thể kết hôn; nếu không, (cứ bất chấp
mà luyến ái, chung đụng), sẽ là phạm tội tà
dâm? Nhưng nếu đến tuổi ấn định
theo luật pháp, do được vương pháp bảo vệ,
sẽ chẳng thuộc trong hạn định ấy, đúng
không? (Ngô Minh An hỏi)
Đáp: Tra duyệt Trí Độ
Luận, quyển thứ mười ba, nơi trang mười
hai, trong phần kinh văn nói về tà dâm, thấy có liệt
kê chữ “phu chủ” (夫主, chồng), hoàn
toàn chẳng thấy từ ngữ “vị chủ nhi tử”. Đă nh́n sai chữ, lại
đọc sai lạc cách chấm câu và ngữ cảnh, những
ư nghĩa khác càng là hiểu lầm! Sự đă sai lầm
như thế, chẳng có cách nào để nương theo
câu hỏi mà trả lời. Sai chỉ hào ly, lầm lạc
ngàn dặm! Kẻ hèn này bất tài, chẳng biết phương
tiện thiện xảo để tùy thuận. Nay tôi đem
những phần kinh văn trọng yếu trong bộ luận
ấy để giải thích đại lược như
sau: “Thế gian pháp,
vương pháp thủ hộ, nhược
phạm giả, thị danh tà dâm”
(Nếu xâm phạm những người nữ được
pháp thế gian và vương pháp bảo vệ th́ gọi là
tà dâm). “Thế gian pháp” là nói
tới những thứ chẳng phải là giới luật
nhà Phật. “Vương pháp thủ
hộ” tức là bị pháp luật quốc gia cấm chỉ.
Ư nói: Đối với những người đă nêu trên đây,
chẳng được phép có quan hệ nam nữ. Đấy
chính là điều luật được quy định bởi
quốc gia vậy.
* Hỏi: Người hành hạnh
“quá Ngọ chẳng ăn” tức
là: Sau giờ Ngọ, chẳng nên ăn ǵ nữa. Đối
với những thứ thuốc phải uống (hoặc v́
có bệnh phải uống thuốc, hoặc do thân thể
suy nhược phải uống thuốc) th́ có phải là cũng
nên theo lệ chẳng dùng? (Ngô
Minh An hỏi)
Đáp: “Chẳng ăn” là nói đến hết thảy những
thứ lương thực và món ăn thông thường thuộc
trong ba bữa ăn. Có bệnh uống thuốc, chẳng
bao gồm trong ấy. Thuốc chẳng phải là thức ăn
đồ uống hằng ngày, cho nên chẳng ngăn cấm.
Dẫu là lúc chẳng có bệnh, tuy chẳng ăn những
vật có xác, cũng chẳng phải là không cho uống
nước.
* Hỏi: Ngôi chùa X… ở miền
Nam khi tụng nghi thức cúng Ngọ, từ câu “Nam-mô Thường Trụ Thập
Phương Phật” cho đến sau câu “Nam-mô Đại Nguyện Địa
Tạng Vương Bồ Tát”, lại thêm vào “Nam-mô Phạm Thiên Bồ Tát,
Nam-mô Ngũ Công Bồ Tát, Nam-mô Thiên Thượng Thánh Mẫu
Bồ Tát”. Như thế th́ có phải là đă đánh mất
ư nghĩa chánh tín? Có bắt buộc phải có những câu ấy
hay không? (Ngô Minh An hỏi)
Đáp: Quư đại đức
nay đang trong lúc cầu học, hăy nên lấy luật nghi
làm gốc. Nếu chính ḿnh chẳng tụng niệm nghi thức
cúng Ngọ như vậy, chẳng tạp loạn là
được rồi. Có lẽ hăy nên ít hỏi đến
chuyện của người khác!
* Hỏi: Tŕ Ngọ gặp lúc
thân thể [bất ổn], hoặc công việc khó khăn,
có thể phương tiện hay không? (Chung Khiết Viên hỏi)
Đáp: Tŕ Ngọ một thời
gian dài, gặp t́nh h́nh ấy, có thể đối trước
Phật xin khai giới. Nếu có thể hữu ích cho đại
chúng, khi ấy, chẳng được phép cầu khai giới,
mà cứ một mực hành tŕ. Nếu tŕ ngọ trong Bát
Quan Trai Giới, khi gặp nạn phải tránh né, th́ cũng
có thể theo cách như trên để xả, hôm khác sẽ
tŕ bổ sung. Hoặc là biết trước ngày hôm ấy
có việc th́ sẽ chẳng thọ. Tuy là nói như thế,
chỉ có thể [làm kiểu ấy] một lần, đừng
lặp lại! Nếu không, sẽ là hoàn toàn chẳng có ư
tưởng cung kính, thận trọng, mà trở thành hư luận!
* Hỏi: Lại nữa,
dường như hoàn toàn chẳng thấy Phạm Thiên Bồ
Tát, Ngũ Công Bồ Tát, Thiên Thượng Thánh Mẫu Bồ
Tát trong kinh Phật. Lại chẳng hề nghe pháp sư khai
thị, chẳng biết lai lịch của những vị
ấy như thế nào? (Ngô
Minh An hỏi)
Đáp: Đối với tín
ngưỡng trong thế gian, có tôn giáo theo chánh đạo,
có thần đạo thờ phượng. Tôn giáo thuộc
loại tín phụng, thần đạo thuộc loại báo
đức cung kính. Chúng sanh do nhân duyên mà mỗi người
tin tưởng khác biệt, mỗi người kính phụng
khác biệt, mỗi người khuyên dạy mỗi khác. Chỉ
có điều, người tín ngưỡng tôn giáo, chẳng
ngại cung kính những vị thần thuộc về chánh
điển[25], mà những kẻ kính
thờ chánh thần, cũng cung kính tôn giáo chẳng trở
ngại ǵ. Xét theo lễ tiết, phải nên là như thế.
Quư đại đức đă tin Phật, như thế là
đủ rồi, cần ǵ lại phải hỏi han lai lịch
của những vị thần ấy? Ngay cả lai lịch
của chính ḿnh cũng chớ nên hỏi tới, [bởi lẽ,
hễ bận tâm sẽ là] nhiễm chấp Ngă Tướng,
chẳng được giải thoát!
* Hỏi: Mạt học
thường nghe nói: “Nếu cư
sĩ chẳng ăn chay trường, sẽ chẳng thể
tụng kinh Kim Cang”. Có cách nói như vậy hay không? (Vương Doăn Tả hỏi)
Đáp: Trường trai là tốt
nhất. Nếu nhất thời chẳng thể, cũng nên
kiêng giết, ăn ba loại tịnh nhục. Phát nguyện
tŕ kinh Kim Cang tuy là một chuyện khác, nhưng cũng nên
chú ư: Nếu nhất thời chẳng thể ăn chay, chỉ
cần kiêng giết, sẽ có công đức, có thể thọ
tŕ kinh Kim Cang,
* Hỏi: Giặc Cộng tàn
sát sanh linh; do vậy, đệ tử Phật môn chúng ta v́
cứu đại chúng, lẽ ra phải nên diệt trừ
chúng, nhưng ruồi, muỗi, cho đến các loại rắn
độc, cũng là có hại, vô ích đối với con người,
có nên trừ diệt hay không? (Vương
Doăn Tả hỏi)
Đáp: Trong văn hóa Trung
Hoa, hết thảy đều chủ trương “vương đạo”, [nghĩa
là] đối với kẻ hung tàn, ắt phải là bất
đắc dĩ th́ mới trừ diệt. Nếu không, bèn
đuổi đi xa. Như Tam Miêu[26]
trốn về Tam Nguy, [vua Thành Thang] đày vua Kiệt về
Nam Sào[27],
bất quá chẳng cho họ ở Trung Thổ, xua đuổi
họ về chỗ Tứ Di mà thôi. Ruồi, muỗi, rắn
độc có thể xua đuổi cho chúng lánh đi, sắp
xếp vệ sinh cẩn mật, chúng sẽ tự tránh xa.
* Hỏi: Người bạn
tôi từng hỏi thảo mộc cũng có sanh mạng, v́
sao có thể ăn? (Vương
Doăn Tả hỏi)
Đáp: Nhà Phật phân tích vạn
vật, chia thành hai loại là hữu t́nh và vô t́nh. Động
vật thuộc loại hữu t́nh, khoáng vật và thực
vật thuộc loại vô t́nh. Hữu t́nh là có bảy món t́nh
cảm mừng, giận, buồn, vui v.v… Vô t́nh chẳng có
những nỗi khổ ấy. Chế giới chẳng giết
hữu t́nh, cũng là phương tiện thông t́nh đạt
lư để thường nhân có thể hành. Quá cao th́ người
ta chẳng thể hành được!
*Hỏi: Theo như tôi nghe,
người tu tại gia chưa ăn chay trường, sẽ
chẳng thể đọc tụng nhiều loại kinh Phật
như kinh Kim Cang v.v… Có quy định ấy hay không? Nếu
có quy định ấy, xin hăy chỉ dạy kinh Phật loại
nào chẳng thể tụng, loại nào có thể tụng? (Thái Ḥa hỏi)
Đáp: Người học Phật
hăy nên ăn chay. Ăn chay trường công đức to lớn,
ăn chay kỳ công đức nhỏ nhoi. Nếu chẳng
thể ăn chay trường, có thể ăn ba loại tịnh
nhục, mà cũng chớ nên giết chóc. Tụng kinh là dứt
niệm ác, cầu tịnh tâm. Tâm sát sanh là chẳng từ bi;
v́ thế, tụng kinh cảm ứng ít ỏi, chứ hoàn
toàn chẳng cấm đoán tụng kinh! Tụng kinh là thiện,
sát sanh là trực tiếp làm ác. Ăn thịt là gián tiếp
làm ác. Chẳng tụng kinh, chuyên ăn thịt, tức là có
ác, chẳng có thiện. Vừa tụng kinh, vừa ăn thịt,
tức là thiện ác hỗn tạp mà thôi!
* Hỏi: Trong chùa miếu của
một tông trong Tam Giáo, nam nữ tín chúng có thể sống cùng
một chùa hay không? Tục ngữ có câu: “Am đường là chỗ để nữ chúng tu
tŕ, nam nhân hăy ngừng bước” có hợp lư hay không?
Đáp: Nam nữ khác biệt.
Theo tập quán lễ nghĩa của Trung Hoa, đàn ông góa vợ
và đàn bà góa chồng chẳng ở chung một nhà. Trong
ruộng dưa, dưới gốc mận[28], theo
lẽ, phải nên tránh tỵ hiềm. Nếu là tôn giáo, càng
phải nên lập ra thanh quy. Có chuyện phải qua lại,
th́ cũng nên có đồng bạn. Câu tục ngữ như
ông đă nêu: “Chỗ để
nữ chúng tu tŕ, nam nhân hăy dừng bước” chính là lư
được mọi người công nhận, há có ǵ chẳng
phù hợp?
*Hỏi: Ni sư trăm tuổi
thấy ḥa thượng nhỏ tuổi vẫn phải quỳ
lạy hành đại lễ năm vóc gieo xuống đất.
[Điều ấy] xuất phát từ kinh điển nào? (Lưu Chánh B́nh hỏi)
Đáp: Theo quy nghi (nghi lễ
và quy định về oai nghi) trong nhà Phật, ni thấy tỳ-kheo
ắt bái. Nhưng đấy là chuyện của người
xuất gia, hàng tại gia bạch y có lẽ chẳng cần
phải hỏi đến chuyện này. Biết hay không biết,
hiểu hay chẳng hiểu, đều chẳng ăn nhằm
chi cả!
* Hỏi: Chúng ta đốt
nhang, nâng nhang cao ngang mày là có ư nghĩa ǵ? Lúc cắm nhang vào
lư (ba nén nhang) theo thứ tự trước sau như thế
nào là chánh xác? (Trịnh Triều
Tín hỏi)
Đáp: Lễ tiết và nghi
thức trong thế tục từ xưa đến nay tùy
theo từng thời, tùy thuộc nơi chốn mà có nhiều
sự biến hóa. Tuy Phật giáo ở ba nơi là Trung Hoa,
Nhật Bản, và Tây Tạng đều bắt nguồn từ
Ấn Độ, nhưng những chuyện như vậy
đều chẳng nhất loạt giống nhau, chẳng
phải là có cùng kinh điển, chẳng cho phép bày vẽ xằng
bậy! Chỉ nên sống trong thời nào, sống ở nơi
nào, hăy tùy thuận mà [theo phong tục thời ấy, nơi
ấy] mà thôi! Nếu chẳng có căn cứ để nói,
đâm ra sẽ gần như là xuyên tạc. Xét ra, trước
thời Trung Hoa Dân Quốc, lễ nghi thông thường đều
là ṿng tay chào hỏi, dưới là tính từ đầu gối,
trên là cho đến giữa hai mày làm hạn, chính là tận
hết ḷng kính[29].
Phàm đưa vật ǵ cho người khác, đều nâng
lên ngang mày, nhằm tỏ ḷng kính trọng. V́ thế, có câu
nói “cử án tề mi” (nâng án
ngang mày)[30]. Đốt hương,
nâng lên ngang mày, cũng có cùng ư nghĩa ấy. Thứ tự
cắm ba nén hương thật ra chẳng có quy định,
mỗi nơi cũng mỗi khác. Xét ra, đốt hương
thời cổ dùng hương viên, nay th́ làm thành nén dài. Vốn
chẳng có quy định cắm nén nào trước, nén nào
sau, có thể suy ra để thấy[31].
* Hỏi: Xin hỏi: Cách xưng
hô ḥa thượng thượng… hạ….[32] có
phải là chỉ để xưng hô thầy của chính
ḿnh hay không? Hoặc là đối với những vị cao
tăng khác, cũng có thể xưng hô [như thế]? (Độc giả ở Mỹ hỏi)
Đáp: Kiểu xưng hô ấy
nhằm tránh phải gọi thẳng tên ra, hoàn toàn chẳng
phải như vai vế trong luân thường, giống như
các địa vị ông nội, bác, chú… nhất định.
Đối với vai vế nhất định [trong thế
tục], chẳng thể gọi lung tung. Chỉ v́ tránh gọi
tên trực tiếp, đối với bất cứ người
xuất gia nào, cũng đều có thể xưng hô như
thế, chẳng hạn định [vị ấy] phải
là thầy của chính ḿnh.
* Hỏi: Xin hỏi, trong Trai
Thiên Khoa Nghi, trang thứ tám, đối với “Ha Lê Đế Nẫm Quỷ Tử
Mẫu đẳng ngũ bách quyến thuộc” (Quỷ
Tử Mẫu Ha Lê Đế Nẫm năm trăm quyến
thuộc), người tại gia có nên lạy hay không? (Độc giả ở Mỹ hỏi)
Đáp: Trong tự miếu thờ
nhiều tượng Phật là v́ ứng với người
tin tưởng mà tạo dựng. Do đối tượng
sùng bái của người tin tưởng chẳng giống
nhau, cho nên lập nhiều tượng nhằm ứng với
ḷng mong cầu của họ. Cá nhân tin Phật, chuyên v́ chính
ḿnh, hễ tu pháp nào th́ thờ vị Bổn Tôn của pháp ấy
là được rồi. Nếu là tượng Quỷ Tử
Mẫu[33], rất ít khi thờ
phụng trong nhà. Nhưng ở chùa, nếu gặp lúc cử
hành đạo tràng (tổ chức pháp hội), trông thấy
[tượng ấy] bèn lạy, cũng không có ǵ là chẳng
được. Bởi lẽ, lễ bái chỉ là nhằm
tỏ ḷng cung kính mà thôi, chẳng phải là tín phụng vậy.
* Hỏi: Ưu-bà-tắc (ưu-bà-di)
thọ Tại Gia Bồ Tát Giới có cần phải thọ
Bát Quan Trai Giới hay không? Nếu không, phụng tŕ giới
thứ bảy như thế nào? (Vạn
Gia Hâm hỏi)
Đáp: Giới điều
quy định như thế, sáu điều hoặc mười
điều ắt cần phải tŕ thêm. Nhưng giới
luật có khai, giá, tŕ, phạm, mỗi điều đều
có chỗ dung thông, nhưng chỗ dung thông ấy cũng giống
như pháp luật trong thế gian: Hễ gặp vấn
đề khó khăn, phải do chuyên gia chiếu theo pháp lư,
nghiên cứu, t́m ṭi để giải quyết. Điều
này (tŕ trai, tức “chẳng
ăn phi thời”) vốn được chú thích: “Khi mắc
bệnh, có thể chẳng thọ”. Nếu viện dẫn
để luận định, phàm là những người làm
công chức, giáo viên, trong thời gian làm việc hằng ngày,
chính ḿnh chẳng thể tự quyết, có lẽ cho phép
dung thông. Nói “có lẽ” chính là
lời lẽ suy đoán! Luật nghi hăy nên do chuyên gia khai thị,
hoặc là thỉnh giáo vị thầy truyền giới. Kẻ
hèn này chẳng có tư cách ấy mà tự tiện dấy lời
nghị luận, mong hăy lượng thứ.
* Hỏi: Ba y, bát, tích trượng,
ắt cần phải là do hai chúng xuất gia tự ḿnh lo
liệu. Nếu là mượn dùng, hoặc chẳng có,
đều gọi là “chẳng vâng theo giới điều rơ
ràng trong giới luật”, đều chẳng thể đắc
giới (xem Hư Vân Ḥa Thượng Niên Phổ). Tại
gia Bồ Tát hoàn toàn chẳng phải là người xuất
gia, cần ǵ phải tích chứa [những thứ ấy]? Ư
nghĩa lại là như thế nào? (Vạn Gia Hâm hỏi)
Đáp: Theo các kinh, đối
với người tại gia, khi lễ tụng, cho phép
đắp mạn y, tức là y không có điều. Tuy chẳng
dùng bát để khất thực; dẫu dùng [bát để
ăn uống hằng ngày], cũng chẳng trở ngại.
Chỉ có đối với tích trượng, chú giải chỉ
rơ: “Có thể cất chứa,
nhưng chẳng được phép dùng!” V́ nó giống
như kinh, tượng, [dùng để] cúng dường
[cho hàng xuất gia] mà thôi. Lại có vị chú giải [rơ ràng
hơn]: Cho phép [tại gia Bồ Tát] cất chứa, để
lỡ ra, khi người xuất gia bị thiếu, sẽ
lấy ra cúng dường. Nhưng luật chẳng phải
là kinh giáo, do mọi chuyện có thể biến đổi
theo thời, có thể do bậc đại đức chuyên
gia theo đúng pháp mà tăng hay giảm, công bố thi hành.
[Những thay đổi ấy] cũng chẳng phải do
một, hai người tự tiện biến cải! [Giới
luật] giống như pháp lệnh của quốc gia, ắt
phải do người có địa vị th́ mới có thể
sửa đổi. Nhất là khi tập quán biến đổi,
liền chẳng ngại thuận theo. Chúng xuất gia hiện
thời, hoàn toàn chẳng phải là ai nấy đều cầm
tích trượng. Người tại gia thọ Bồ Tát giới
cũng nhiều, hoàn toàn chẳng dùng đến tích trượng.
Có lẽ chớ nên câu nệ giới điều này. Nếu
trong tâm bất an, cũng có thể thưa hỏi nơi vị
thầy truyền giới để biết nên lấy hay bỏ.
* Hỏi: Tín đồ nhà Phật
hăy nên chuyên thờ thánh tượng của Phật, Bồ
Tát, chẳng thờ quỷ thần (trừ tổ tiên của
chính ḿnh ra). Nếu có những người vừa mới
tin tưởng, hoặc chính ḿnh chẳng thể làm chủ,
chẳng tránh khỏi [trong nhà đă] thờ thần Thổ
Địa và những vị thần xen tạp khác! Có phải
là chẳng thể dùng cùng một lư hương với Phật,
Bồ Tát hay không? Lại chẳng thể dùng những thứ
đồ mặn để cúng bái quỷ thần trước
bàn Phật. Trong ngày giỗ chạp tổ tiên, hăy nên cúng
đồ chay phải không? (Cát
Tường Ban Viên hỏi)
Đáp: Những đồ thờ
trước tượng Phật là v́ Phật mà bày biện,
chẳng thể sử dụng chung cho quỷ thần, tổ
tiên. Nếu không, đối với mỗi phía, đều
là bất kính! Hăy nên chia thành hai án thờ riêng. Cúng tế dùng
món chay chính là đúng pháp, mà đối với quỷ thần,
tổ tiên đang thờ, cũng có công đức.
* Hỏi: Tôi từng đọc
Văn Sao của cụ Ấn Quang thấy nói: Người
chứng Sơ Quả nếu cày cuốc, trùng tự tránh né
mấy tấc, nghĩa là chẳng tổn hại sanh mạng.
Giả sử bước vào chỗ có tổ kiến, sẽ
khó thể tránh khỏi [tổn thương chúng], hay là do đạo
lực của các Ngài có thể khiến cho thành hạnh như
vậy? (Trương Hoát Nhiên hỏi)
Đáp: Đương nhiên là
do đạo lực khiến trở thành như vậy.
* Hỏi: Một ngày đêm
trong quỷ đạo có giống như trong nhân gian hay không?
Nghe người ta nói “ăn vào ban đêm, sẽ khiến
cho quỷ bất an”, nhưng nếu [thời hạn ngày đêm
của] đôi bên khác nhau, làm sao có thể ảnh hưởng
mật thiết như thế được? Lại c̣n làm
sao biết [nhân gian] ăn uống vào lúc ban ngày chẳng phải
là lúc họ (quỷ thần) ăn uống vào ban đêm? (Trương Hoát Nhiên hỏi)
Đáp: Cao luận của ông
hết sức có lư. Nhưng đối với chuyện luật
cấm ăn vào ban đêm, những lời lẽ chú thích
được thêm vào, chính là do người đời sau
[biên soạn]. Từng nghe nói chư tổ đời sau chẳng
hiểu ư của Mă Minh, Long Thọ. Mă Minh và Long Thọ chẳng
hiểu ư của A Nan. A Nan chẳng hiểu ư Ca Diếp, Ca
Diếp vẫn chẳng thể hiểu ư đức Phật.
Bọn chúng ta cũng thật sự chẳng thể hiểu
ư của chư tổ, nhưng luật và kinh có tánh chất
bất đồng. Kinh chẳng hiểu, có thể không tu;
nhưng luật có hiểu hay không, đều nên tuân thủ!
Ví như luật lệ, quy định của quốc gia,
chỉ có mấy người có thể hiểu rơ pháp lư; nhưng
nếu vi phạm, không thể viện cớ “chẳng hiểu
luật” để được coi là vô tội!
* Hỏi: Văn học thọ tại
gia Bồ Tát Giới, nay v́ phải giúp đỡ em tôi bán sỉ
trứng gà Leghorn cho các trại nuôi gà (trứng từ các trại
nuôi gà đều là trứng không có cồ). Xin hỏi: Loại
công việc ấy có phải là trợ duyên gây phạm giới
sát sanh hay không? (Gà trong các trại nuôi gà cuối cùng đều
bị giết mổ để bán thịt). Người
đă thọ giới Bồ Tát có thể làm công việc ấy
hay không? Mong cụ hăy từ bi khai thị! (Tào Đạo Duyên hỏi)
Đáp: Thọ Bồ Tát Giới,
chỉ có tùy duyên phóng sanh, chẳng thể hạn chế sự
tự do của chúng sanh, huống hồ nuôi gia súc để
buôn bán cầu lợi. Bán cho người ta ăn, chính là
tham tiền hại mạng, bất quá là gián tiếp sát hại,
làm sao có thể tránh khỏi nhân quả? Cách mưu sinh trong
thế gian rất nhiều, cớ ǵ cứ phải làm nghề
ấy? Nếu nhất thời chẳng thể đổi
nghề, chỉ bán trứng của gà không bị đạp
mái, thuần túy chẳng có mầm sống, th́ cũng có thâu
nhập. Khi gà đă già, hăy để mặc cho nó tự chết.
Sau khi nó đă chết nửa ngày, hoặc chôn, hoặc ăn,
giới cho phép dung thông: Có thể ăn thịt gà tự chết,
nhưng vẫn nên sớm chọn lựa nghề nghiệp
khác để cầu tâm tịnh th́ tốt hơn!
* Hỏi: Chẳng biết gà
mái nhà nào đẻ trứng trong vườn hoa của tệ
tự. Tôi nhặt trứng về, hỏi thăm hàng xóm, lại
chẳng t́m được ai là chủ gà. Đối với
cái trứng ấy, đệ tử suy nghĩ nhiều lẽ,
vẫn chẳng biết xử trí như thế nào! Bởi
lẽ:
1) Nếu tặng trứng ấy
cho người khác ăn, đă sợ phạm tội sát
sanh, lại c̣n phạm lỗi gây hại cho người
ăn trứng.
2) Nếu để cho gà mái ấp
nở thành gà con, trong tương lai, gà con cũng khó tránh khỏi
tai ương bị giết mổ!
3) Phá hủy trứng, xét theo
nghiên cứu trong y học, phàm là trứng th́ đều là
thai. Vậy th́ phá trứng có phải vẫn là phạm tội
sát sanh hay không?
T́nh h́nh như thế đó,
muốn cứu chúng sanh th́ phải làm như thế nào? Lại
nữa, người xuất gia nhặt trứng th́ có đọa
vào nhân quả nào hay không? (thầy
Trí Diệu hỏi)
Đáp: Chẳng biết gà ở
nơi đâu đến chùa đẻ trứng. Gà đă rời
chùa, chẳng thể truy t́m. Đại chúng trong chùa nhặt
trứng từ trong vườn chùa, đă chẳng có tâm trộm
cắp, nên chẳng thành tội trộm cắp. Đưa
ra th́ cũng là vật vô chủ. Vật nhỏ nhoi chẳng
tiện đưa cho cảnh sát để báo cho người
ta đến nhận. Gà chẳng thể tự đến
nhận, làm sao có thể chứng minh chủ gà là ai? Cho nên cũng
chẳng thể nói là “v́ tâm tham mà nhặt lấy”. Những
biện pháp đă tính như “cho người khác ăn”, “cho
gà ấp”, “phá trứng” v.v… đều là vô sự tự chuốc
lấy sai trái, chuốc lấy lắm nỗi phiền năo!
Tệ ư cho rằng: Hăy đem trứng ấy để ở
chỗ vắng, là nơi không ai hay biết, để cho nó
tự hoại. Hễ trứng hoại, thần thức sẽ
ra đi, chẳng gánh lấy hai trách nhiệm trộm cắp
và sát sanh!
* Hỏi: Có thể ăn hành,
hẹ, tỏi v.v… hay không? (Tạ
Ấu hỏi)
Đáp: Giới luật có nói:
Những loại thực vật ấy hôi thối, khiến
cho tâm thần tối tăm, tăng giận, sanh dâm, nên gọi
là Huân (葷). Người
cầu thanh tịnh hăy đoạn dứt, đừng ăn.
* Hỏi: Nay tôi kính hỏi:
Do tôi có một người bạn mời tham gia kinh doanh công
xưởng chế tạo thực phẩm dinh dưỡng,
chuyên môn chế tạo những thức ăn bổ dưỡng
cho động vật. Chẳng biết loại kinh doanh ấy
có phải là chánh nghiệp hay không? Kính xin khai thị! (Ngô Đại Hải hỏi)
Đáp: Thức ăn bổ
dưỡng cho động vật tuy không phải là sát
sanh, nhưng có dụng ư khác với những loại ngũ
cốc. Ư nghĩa chánh yếu của ngũ cốc là để
khỏi đói, c̣n thức ăn bổ dưỡng nhằm
thúc đẩy chúng mau lớn, mập mạp, để bán
cho kẻ giết mổ. Luận theo sự th́ hoàn toàn chẳng
giết, luận theo tâm th́ là tăng thượng duyên của
sát hại. Nếu người b́nh thường làm nghề
ấy, sẽ chẳng coi là sát nghiệp. Nếu là người
học Phật mà làm nghề ấy, trong tâm sẽ chẳng
được thanh tịnh.
* Hỏi: Người bạn
hỏi tôi: “Người tại gia thọ Ngũ Giới ăn
hành, hẹ, kiệu, tỏi có được hay không?” Tôi đáp:
“Chẳng được”. Người ấy lại hỏi:
“Đă chẳng phải là vật do sát sanh mà có, v́ sao chẳng
được?” (Dịch Tri
Lương hỏi)
Đáp: Năm vật ấy
hôi thối, khiến cho tâm thần tối tăm, có tánh chất
kích thích trợ dục. Chẳng ăn, sẽ có tác dụng
hữu ích cho sự thanh tịnh. [Ăn những thứ ấy]
lại c̣n khiến cho những người sống trong cùng
một nhà phải chịu đựng bầu không khí ô trược,
trở ngại sự thoải mái của người khác,
gây trở ngại cho vệ sinh. Nếu đối trước
Phật, sẽ là xú uế, chẳng thanh khiết, đánh mất
sự cung kính rất lớn. V́ thế đều ngăn cấm.
* Hỏi: Sư phụ xuất
gia có thể ăn trứng hay không? (Tạ Minh Châu hỏi)
Đáp: Nếu chính ḿnh chẳng
phải là người xuất gia, cần ǵ phải vượt
quyền lo chuyện nhân gian vậy?
* Hỏi: Đă ăn chay mấy
năm, chợt mộng thấy ăn gan lợn. Chuyện đó
có coi là phạm giới hay không? Từng nghe người khác
nói đấy là nghiệp nặng, sẽ có thể sanh bệnh,
hoặc sẽ phát sanh chuyện chẳng vui sướng! (Dịch Tri Lương hỏi)
Đáp: Mộng th́ chẳng
phải là phạm giới, nhưng do cái tâm giữ giới
chẳng vững vàng, tập khí quá sâu, cho nên mộng thấy
ăn gan lợn. Tự nhiên là nghiệp nặng, hăy nên
đối trước Phật sám hối, công phu tinh tấn
hơn, sẽ có thể tự tăng phước, giảm
phiền năo!
* Hỏi: Ư nghĩa của việc
“quá Ngọ chẳng ăn” là
như thế nào? (Trịnh Chí
Tây hỏi)
Đáp: Có rất
nhiều thuyết, chỉ nêu ra một, hai thuyết: Lúc
đức Phật ăn, chỉ ăn vào giữa trưa.
Những chúng sanh khác trong lục đạo, ăn vào những
giờ giấc khác nhau, có kẻ ăn vào lúc trời hừng
sáng, buổi chiều và ban đêm khác nhau! Đệ tử
học Phật giữ giới, tự nhiên ăn vào giữa
trưa. Kế đến là do ngài Ca Lưu Đà Di khất
thực vào buổi tối, từng khiến cho một người
nữ kinh hoảng, sảy thai. Đức Phật chế định
“chẳng được phép khất
thực sau Ngọ”. Lại c̣n đối với phép
dưỡng sinh và ngăn dứt ḷng tham đều hữu
ích, [cho nên chẳng ăn quá Ngọ].
* Hỏi: Đối với
chuyện xá bái, sau khi bái xuống, ngẩng lên, chỉ chắp
tay đặt trước ngực, chẳng nâng tay lên ngang
mày. Như vậy th́ kết ấn Di Đà có phải là quá cung
kính hay không? (Tạ Minh Châu hỏi)
Đáp: Nghi quy của người
tại gia chẳng nghiêm ngặt như trong tùng lâm. Các nghi
thức đảnh lễ và vấn tấn (xá bái), chỉ
cốt sao tâm cung kính, giảm bớt nghi thức một đôi
phần. Đó gọi là “phương
tiện”. Đối với chuyện hồ quỳ và
trường quỳ, nam nữ vốn khác nhau. Pháp thế
gian th́ có lập thừa, tọa thừa[34],
nam nữ cũng khác nhau. Dựa theo đó để suy, xuất
gia, tại gia, đă học, chưa học, cố nhiên là cho
phép dung thông.
* Hỏi: Người mắc
bệnh mắt mờ, bác sĩ khuyên uống thuốc Tây có
chất dầu từ gan cá sẽ có thể trị liệu,
nhưng người ấy đă thọ Ngũ Giới, chẳng
biết có thể uống hay không? (Lương Trung Lập hỏi)
Đáp: Tôi nghe cổ đức
nói: “Giới tử (người
thọ giới) mắc bệnh, trong thuốc có dùng động
vật đă chết, có thể chuẩn theo lệ ngũ tịnh
nhục”. Dầu gan cá chẳng v́ ta mà giết, lại là
thuốc men, chẳng phải v́ thỏa thích bụng miệng
mà dùng, có thể dung thông uống được!
* Hỏi: Thân căn thanh tịnh
có phải là do giới thành tựu hay không? Địa vị
như thế nào? (Trương
Hoát Nhiên hỏi)
Đáp: Giới có đích thân
thọ tŕ, và Đạo Cộng Giới, Định Cộng
Giới khác biệt! Thân căn thanh tịnh, chẳng cần
biết là do nguyên nhân nào, luôn tương ứng với Giới
Học. Đă thanh tịnh th́ cũng có nhân quả hai đằng
khác nhau. “Thành tựu” là nói
theo quả địa, chẳng phải là nói theo nhân địa.
Phân định rơ hai đằng th́ mới có thể trả
lời. Đối với câu cuối cùng, “địa vị như thế nào?” là hỏi về
địa vị ǵ, chưa nói rơ ràng, hăy nên thứ lỗi,
tôi chẳng dám trả lời bừa băi!
* Hỏi: Người tŕ giới
theo đúng lẽ chẳng ăn thịt, nhưng khi mắc
bệnh, ắt cần phải dùng thịt động vật
làm thuốc, phải nên như thế nào? Nếu trong thang
thuốc có cắc kè, hải long, hải mă[35],
mật gấu, các loại như dầu gan cá trong thuốc
Tây v.v… (Ngô Minh An hỏi)
Đáp: Năm thứ cắc
kè, hải long, hải mă, mật gấu, dầu gan cá v.v… như
ông đă nói, đều được mua tồn trữ
trong các tiệm thuốc, đều là những động
vật đă chết, chẳng phải là đích thân thấy
nghe chúng chịu khổ, có thể coi như tam tịnh nhục.
Huống chi chúng được gọi là Đông dược,
chẳng phải v́ thỏa thích bụng miệng [mà ăn
chúng]. Giới tử mắc bệnh, cổ đức từng
dạy dung thông: Khi bất đắc dĩ, có thể tạm
thời dùng; nhưng do ta thọ ân trị bệnh của
chúng, theo đúng lẽ, hăy nên hồi hướng cho chúng. Báo
đáp bằng cách siêu độ chúng.
* Hỏi: Sổ ghi bút kư có thể
đặt trên kinh Phật hay không? Kinh Phật bỏ trong túi
xách, khi đi xe đạp, móc túi xách trên tay lái, xem ra thấp
hơn chỗ ngồi của người đạp xe th́ có
được hay không? (Tạ
Minh Châu hỏi)
Đáp: Cầu tôn kính Pháp Bảo
chính là chuyện trọng yếu. Kinh giống như Pháp
Thân của Phật, hăy nên giữ tâm tôn kính. Những vật
tạp loạn đều chẳng thể để trên
kinh! Khi ra ngoài, hễ cần phải đem theo, bỏ trong
túi đựng sách, treo trên xe đạp, có thể dung thông.
Người mang kinh đi đường, thời cổ có
lệ ấy. Đó là phương tiện tạm thời
vậy!
* Hỏi: Trứng chính là thai
sanh, do nó trải qua âm dương ḥa hợp mới sanh ra.
Nếu bỏ nơi đất, để mặc cho nó tự
hoại, đấy chính là sát sanh! Có khác ǵ loài người
phá thai? Trứng đă là sanh mạng, “có sanh, ắt có tử;
chẳng có tử, làm sao có sanh?” Lời ấy chí lư! Chỉ
là có cách thức chết khác nhau mà thôi, cần ǵ phải kiêng
kỵ! Nói như cư sĩ, để mặc cho nó tự
mục nát, th́ cũng là một cách chết. Nhưng tôi riêng
nghĩ rằng: Nếu chính ḿnh chẳng thích ăn, hoặc
là có thể tặng cho người khác ăn, có thể nói
là công đức vô lượng! Hoặc là đem ấp, hóa
hiện sanh mạng rạng ngời, sẽ là đẹp đẽ
hơn! Đấy chính là kiến giải riêng của kẻ
hạ ngu này, xin thưa hỏi cư sĩ để
được hiểu rơ hơn! (Trương Duyên Hiên hỏi)
Đáp: Trong mục vấn đáp
này, thư từ qua lại rất nhiều; đối với
lời hỏi trong thư của quư ngài, dường như
là nói về lời giải đáp trước kia trong cột
báo này. “Bỏ trứng nơi đất, mặc cho nó tự
hủy”, ắt là có nguyên nhân nẩy sanh, chẳng phải là
ngẫu nhiên! Nay ông trách kẻ hèn này “nói lời ấy, khác
ǵ phá thai”, bảo đấy chính là sát sanh, có lẽ các hạ
chẳng muốn sát sanh. Lại nói “có sanh, ắt có tử;
chẳng có tử làm sao có sanh? Chính ḿnh chẳng thích ăn,
có thể đưa cho người khác ăn”, tợ hồ
lại tán thành chuyện sát sanh! Đọc xong, tôi hết sức
bối rối, chẳng có cách nào trả lời. Hơn nữa,
câu hỏi này chắc chắn liên quan đến câu trả
lời trước kia, dựa trên đó mà nêu ra [lời chất
vấn], nhưng chuyện đă lâu, câu hỏi lại nhiều,
chẳng thể ghi nhớ. Hy vọng ông hăy tốn công chỉ
ra số báo nào, từng đă bàn vấn đề này với
người nào. Sau khi đă được chỉ dạy,
sẽ lại kính thưa vậy!
* Hỏi: Người chẳng
tŕ giới lấy vợ sanh con, hằng ngày “trụ” ăn bám đức Phật
để sống, sẽ hứng chịu nhân quả như
thế nào? (Hồ Quang Huy hỏi)
Đáp: Người tại
gia học Phật được gọi là “cư sĩ”, chẳng tránh khỏi chuyện lấy
vợ sanh con, [điều ấy] được giới
luật cho phép. Trong lời hỏi, ông chỉ nói một chữ
“trụ”, chẳng biết
trụ tại chỗ nào? Nếu là nói người ấy sống
cùng nhà với vợ con, đó là lẽ đương
nhiên. Nếu sống trong chùa miếu, th́ rất trái nghịch
chế định của đức Phật. Chẳng cần
biết [kẻ đó có] thọ giới hay không, đều
chẳng được phép! Chỉ trong phong tục của
Nhật Bản là có cách làm ấy. Đấy chính là hành vi
chánh trị, Trung Hoa trước nay chẳng có lệ như
thế! Nhân quả như thế nào, giới luật đă
dạy tường tận, chẳng đợi kẻ hèn này
lắm lời!
* Hỏi: Đệ tử đă
thọ Bồ Tát Giới, do sức của chính ḿnh mà lập
riêng một tinh xá, thật thà từ bi tu hành, hưng long Phật
pháp, rộng độ chúng sanh. Mỗi dịp Phật Đản,
thường tự chuẩn bị cỗ chay để kết
duyên với đại chúng. Chẳng nhận sự cúng
dường của người khác, lại chẳng thọ
đại giới hai trăm năm mươi điều,
[vậy th́] có thể thâu nhận đồ đệ hay không?
(Hồ Quang Huy hỏi)
Đáp: Đă thọ Bồ
Tát Giới, hăy nên hành Bồ Tát đạo, nhưng xuất
gia và tại gia khác nhau. Hàng xuất gia Bồ Tát đều
đă thọ tỳ-kheo đại giới; tại gia Bồ
Tát là cư sĩ, chẳng có tư cách thọ hai trăm năm
mươi giới. Lại nói đến chuyện “thâu
đồ đệ”, phải nh́n vào danh, nghĩ đến
nghĩa: Quy y là một chuyện, thâu đồ đệ là
một chuyện khác! Trọn chớ nên lẫn lộn! Tôi
xin nói đại khái: Quy y là quy y tự tánh, ắt phải
có quy y Tam Bảo chánh thức, tức Phật, Pháp, Tăng.
Tăng là nói đến tăng đoàn, chẳng phải là
nói đến một cá nhân nào, có thể thấy tánh chất
nghiêm ngặt của chuyện quy y. Chẳng quy y nhưng
tin Phật th́ gọi là “tín sĩ”. Sau đă thọ quy y, thọ
giới, mới là đệ tử Phật chánh thức. Tại
gia cư sĩ muôn phần chẳng có lẽ nào truyền
quy y cho người khác! Nếu nói là thâu nhận đồ
đệ, trăm nghề hay khéo đều cần phải
được thầy truyền dạy, nhưng chẳng phải
là quy y như đức Phật đă chế định.
Chỉ cần phân định rơ ràng giới tuyến ấy,
sẽ chẳng có tội lỗi! C̣n như ông nói muốn hưng
khởi Phật pháp, tự bỏ tiền để kết
duyên, chẳng nhận cúng dường, đấy chính là đại
công đức.
* Hỏi: Gần đây, nông
sản đều phun thuốc sát trùng, thậm chí dế sống
trên mặt đất cũng bị chất độc giết
chết. Chuyện này có mâu thuẫn với lư “kiêng giết”
hay không? Lại nữa, trong tự viện có cho phép làm như
vậy hay không? (Trần Văn
Bân hỏi)
Đáp: Nguyên tắc của
chánh trị và tôn giáo đều là nhằm khiến cho đại
chúng an định, nhưng lập trường khác nhau. Có
lúc mỗi bên làm theo cách riêng của chính ḿnh. Thuốc sát trùng
trừ diệt các loài trùng chính là sát sanh, bảo vệ mùa màng
cũng nhằm nuôi dân. Lập trường của chánh trị
là nuôi dân. V́ thế, coi trọng người, coi rẻ trùng,
khó tránh khỏi thiên vị! Hiếm có cách để toàn vẹn
đôi bề, vừa nuôi dưỡng [dân chúng] vừa chẳng
sát hại [các loài trùng] đều trọn vẹn! Lập
trường của tự viện là răn dạy, coi trọng
chẳng giết. Chẳng dùng thuốc diệt trùng, vẫn
có cái để ăn, bất quá sản lượng thâu hoạch
giảm thiểu mà thôi! Hoàn toàn chẳng phải là không thể
sống được. Hai mươi năm trước,
vẫn chưa có thuốc diệt trùng, chưa hề nghe nói
con người chẳng có lương thực. Huống hồ
trong hiện thời, vẫn có nhiều nơi chẳng dùng
thuốc diệt trùng!
* Hỏi: Mỗi sáng tôi uống
một th́a nhỏ mật ong. Ngày thứ nhất, mở b́nh
ra, uống trước Ngọ, cho nên chẳng có vấn
đề ǵ. Nếu ngày hôm sau lại uống th́a thứ
hai, đấy có phải là ăn thức ăn c̣n thừa đă
để qua đêm? B́nh mật ấy phải uống một
tháng mới hết, có trái nghịch giới luật nhà Phật
hay không? Lại nữa, tôi ăn các món ăn cũng thế,
chỉ nấu có một món. Hôm nay ăn một nửa, chừa
lại một nửa để tới ngày mai lại ăn.
Đấy có phải là đồ thừa để qua đêm
hay không? Có phải là trái nghịch giới luật hay không? (Trần Văn Bân hỏi)
Đáp: Chẳng ăn đồ
thừa để qua đêm là v́ sợ thức ăn để
qua đêm, sẽ bị hư nát, sanh trùng. Ăn vào đă
sai phép vệ sinh, lại c̣n giết hại mạng của
loài trùng. Phật pháp khai, giá, tŕ, phạm, mỗi điều
đều có phương tiện. B́nh mật dùng xong, đậy
kín, chẳng để cho nó sanh trùng, sẽ chẳng trở
ngại ǵ! Thức ăn dùng một nửa, cất trong tủ
lạnh. Nếu không có tủ lạnh, ăn xong, bèn tiện
tay hâm nấu, cái duyên sanh trùng hoặc hư nát sẽ bị
ngăn dứt, ăn tiếp chẳng bị trở ngại!
* Hỏi: Tôi là Phật giáo
đồ mới gia nhập Phật môn. Ở trong ngôi chùa
X… nọ, bỗng dưng vô ư nghĩ tới kinh Phật trong
tàng kinh thất, bèn thừa dịp bọn họ không ai nh́n
tới, tiện tay lấy một bộ kinh mở ra xem. Thấy
trong trang ba trăm sáu mươi bốn thuộc về Luật
Sớ Bộ[36], [có
nói]: Áo vải (màu trắng) chính là tiêu biểu cho đạo
của tam thừa do đức Như Lai chế định,
chẳng phải là hiếu phục (quần áo tang) để
mặc khi có người chết. Tăng sĩ không có quy định
về trang phục, chỉ có khác biệt là dùng vải thô (theo
Ngũ Sam Tập Thích Thị Yếu Lăm Bổ Giáo Biên), đúng
không? C̣n có áo kỳ-chi để cho ni chúng mặc; kỳ-chi[37] lại
là thứ ǵ tôi không hiểu? Xin hăy từ bi giải đáp,
khiến cho tôi biết đại lược lễ chế
của thế tục, lễ chế có liên quan đến Phật
giáo, và tang sự của tín đồ Phật giáo. Hiếu
tử chẳng cần phải mặc áo tang bằng vải
trắng, kẻ tại gia cũng giống như vậy ư?
Trong t́nh h́nh như vậy, phải mặc ǵ để biểu
thị nghi thức [tang chế]? (Khưu
Tú Huệ hỏi)
Đáp: Đă xưng là hàng sơ
học nhập Phật môn, lại có tánh chất thế tục,
quan sát cả hai đằng, chắc là hàng tại gia. Kinh điển
trong Đại Tạng hoàn toàn chẳng phải là kẻ sơ
học có thể xem hiểu được! Nếu là Luật
Bộ, phần lớn [là giới luật] thuộc về
chúng xuất gia; không chỉ chẳng hiểu ư nghĩa, mà c̣n
ngăn cấm chúng tại gia xem đọc. Đối với
những điều ông đă hỏi, chính là vấn đề
bất đồng trong tang sự và y phục giữa hàng
xuất gia và tại gia. Những chuyện ấy đă chẳng
liên quan đến người tại gia, càng chẳng phải
là chuyện của phường sơ học. Dẫu có biết
rất rơ, cũng chẳng hữu ích đối với hàng
sơ học cho mấy! Cầu học th́ trước hết
phải vội vă dốc sức nơi chuyện đáng nên
cấp bách thực hiện. Chế luật, quy định
lễ nghi, chính là trách nhiệm của bậc lăo thành hữu
học, hữu đức, kẻ hèn này cũng chẳng dám
nhiều lời!
* Hỏi: Có kẻ thích nói lưỡng
thiệt khuấy động khiến cho người khác bất
ḥa (tạm giấu tên người ấy). Đệ tử
bèn biên chép danh xưng của mười ác nghiệp và những
điều giải nói, đưa cho kẻ ấy đọc,
những mong người ấy có thể tự hối cải,
nhưng bà ta chẳng xem. Bà ta lập luận: “Đă xem th́
sẽ có tội. Không xem th́ chẳng biết, cho nên không có tội”.
Lại nói: “Giết người mà có tŕnh độ tri thức
cao th́ tội lớn. Kẻ giết người tri thức
thấp th́ tội nhỏ”. Đệ tử đáp: “Biết
và không biết, hễ làm ác th́ có tội như nhau. Bất
quá, đă biết th́ là hiểu rơ đă phạm tội, c̣n
có cơ hội sám hối. Kẻ chẳng biết th́ hồ
đồ phạm tội, [nhưng đều] thọ báo
giống hệt như nhau. Kẻ có tri thức giết người
và kẻ chẳng có tri thức giết người th́ cũng
bị luận tội như nhau, chẳng thể so sánh với
pháp luật thế gian! V́ Phật pháp lấy khởi tâm
động niệm làm tiêu chuẩn để phán định”.
Đúng không? Xin hăy dạy cho!
(Tiên Thuần Hiền hỏi)
Đáp: Chúng ta chưa từng
nghiên cứu giới luật, lư nhân quả tinh vi, chẳng
dễ nói được. Nhưng quư cư sĩ khuyên người
ta làm lành, đấy là công đức. C̣n đối với
cao luận đă nêu, lại là một chuyện khác nữa.
Ví như khuyên người ta tuân thủ pháp tắc, đấy
chính là những chuyện ai nấy đều có thể làm
được, nhưng chưa chắc ai nấy đều
hiểu pháp luật. Lời lẽ có thể chẳng xác đáng,
nhưng chính là cái tâm tốt lành. Kẻ ấy cứ bám víu
tà thuyết: “Kẻ không biết
th́ chẳng tạo tội”,
“tri thức thấp mà giết người th́ tội sẽ
nhỏ” v.v… Rơ ràng là biết tội, vẫn cứ muốn
tạo tội, lại mong cầu: Đă tạo tội mà
do may mắn, sẽ tránh khỏi báo ứng. Cái tâm như vậy
chẳng đáng hỏi đến nữa! Kẻ có cái tâm
như thế, tương lai đen tối. Quư cư sĩ
và bà ta cơ duyên chẳng hợp, hăy nên cầu vị thiện
tri thức khác cứu vớt bà ta ra khỏi biển khổ
th́ hơn!
* Hỏi: Trong giới điều
đại vọng ngữ có câu: “Ngă
đắc bất tịnh quán”, do mối quan hệ nào mà
đặt câu ấy trong phần kinh văn của giới
vọng ngữ nhằm phát sanh tác dụng ǵ? Như thế
nào th́ mới coi là phạm tội [thuộc phạm vi] của
câu ấy? (Nhan Vân Hồng hỏi)
Đáp: Giới luật chính
là một bộ phận của Tam Tạng kinh điển,
[những kinh điển] thuộc loại này rất nhiều.
Nếu lấy giới tại gia để bàn luận, theo
như kẻ hèn này biết, cũng có mười mấy loại.
Trong lời hỏi, ông chẳng chỉ rơ loại nào, chẳng
biết muốn hỏi câu nào, [cũng như chẳng chỉ
ra] những câu văn liên quan trước và sau câu ấy, sợ
rằng đă hiểu lầm. Ở đây, bất đắc
dĩ, chỉ suy đoán theo ư nghĩa để giải thích:
Do mối quan hệ nào mà đặt câu “ngă đắc Bất Tịnh Quán” trong phần giới
điều về tội vọng ngữ. Bất Tịnh
Quán là một loại Thiền Quán, là một trong Ngũ Đ́nh
Quán. Nói “đắc” là nói đă
thành tựu loại Thiền ấy. Nếu thật sự thành
tựu, cũng chẳng nên hướng về kẻ khác
khoe khoang. Nếu chưa đắc mà nói “đă đắc”,
sẽ là tội vọng ngữ to lớn.
* Hỏi: Đối với
giới “thuyết tứ chúng
quá” (kể lỗi của tứ chúng), nếu bản thân
làm viên chức, hoặc là do chức vụ phải xử án,
phải đem tội của tứ chúng tuyên nói với người
khác, hoặc với mọi người, hoặc dùng văn
tự để công bố, có phạm giới hay không? (Văn
học cho rằng: V́ răn nhắc người đă phạm
tội lỗi, do liên quan đến chức vụ, sẽ
có tác dụng “đừng làm các điều ác” nên chẳng
coi là phạm giới. Nếu tội lỗi chẳng có sự
thật mà tuyên nói, đó là vô ư phạm vọng ngữ, đúng
không?) (Nhan Vân Hồng hỏi)
Đáp: Nhân viên công vụ,
người có trách nhiệm xử án, đối với tội
lỗi của tứ chúng trong khi điều tra, xét xử
vụ án, hoặc dùng ngôn ngữ, hoặc dùng công văn
để báo cáo lên cấp trên, chính là v́ chức trách, cho nên
chẳng coi là phạm giới. Nếu ngoài những thủ
tục phải làm trong chức trách của chính ḿnh, mà chuyện
gẫu với người khác [về những tội lỗi
ấy], sẽ là phạm giới! Nếu v́ răn nhắc người
khác, [nếu như] các sự thật trong vụ án đă được
báo chí công bố th́ chẳng ngại phương tiện nói.
Nếu chưa công khai, chỉ có thể nói về vụ án ấy,
chẳng cần phải nói rơ tên người ta.
* Hỏi: Đối với “cô tửu giới”, “cô tửu” (酤酒) là mua hay bán,
hoặc là chế rượu cho người khác uống,
đều là phạm tội ư? Nếu là như vậy,
v́ dùng làm thuốc trị bệnh mà mua hoặc chế
rượu, có bị coi là phạm giới hay không? (Văn học
nghĩ rằng: “Chẳng coi là phạm giới”, đúng không?)
(Nhan Vân hồng hỏi)
Đáp: Chẳng cần biết
là bán rượu hay chế rượu, đều là muốn
cho người khác uống. Uống rượu là chuyện
bị giới luật ngăn cấm. Bán rượu hay chế
rượu đều là cái duyên xúi giục người khác
phạm giới, há vô tội ư? Nếu chỉ nhằm làm
thuốc trị bệnh, rượu ấy là thuốc, có ích,
chứ chẳng tổn hại con người, chẳng gọi
là “phạm giới”. Nhưng chẳng thể mượn
danh nghĩa làm thuốc để theo đuổi những
mưu tính riêng tư!
* Hỏi: Trong giới điều
“thấy bậc tôn trưởng
trong tứ chúng chẳng lễ bái” có nói “tiên túc” (先宿), có phải là
nói đến những người đă đến tự
viện hoặc một nơi nào đó trước hay không?
C̣n như câu “bất khởi thừa
nghênh” (chẳng đứng dậy đón tiếp) trong
giới bổn nghĩa là nói “đang ngồi, trông thấy
bậc tôn trưởng tứ chúng đến, bèn đứng
dậy đón tiếp, lễ bái, thưa hỏi” đó chăng?
Hoặc là không nhất định phải ngồi, chỉ
có nghĩa là phải đón tiếp, lễ bái, thưa hỏi.
Nếu ở trên đường, gặp người xuất
gia, hoặc ở trên xe (hoặc là gặp người xuất
gia chẳng quen biết), do chẳng thuận tiện làm lễ,
bèn chẳng lễ bái, chỉ lễ niệm trong tâm, có phạm
giới hay không? (Nhan Vân Hồng
hỏi)
Đáp: Hai chữ “tiên túc”, nói theo phía người
xuất gia, chính là nói về tăng lạp và giới lạp.
Nói theo phía người tại gia, chính là nói về số tuổi
quy y và giới lạp, hoặc là học vấn, đạo
đức. Đang ngồi, trông thấy những vị ấy
đến, bèn đứng dậy nhằm tỏ ḷng kính trọng.
Chẳng cần biết là tăng hay tục, đều nên
làm như thế. Nhưng hàng bạch y gặp người
mang h́nh tướng tăng nhân, chẳng cần biết tuổi
tác ra sao, đều nên hướng về họ lễ bái.
Nếu gặp gỡ trên đường, có thể phương
tiện xá bái. Ở trên xe th́ cũng như vậy. Lễ vốn
chia thành ở chốn công cộng hay riêng tư sai khác. Giống
như quân nhân hoặc cảnh sát mặc đồng phục,
ắt có lễ nghi của quân nhân hoặc cảnh sát. Y phục
và lễ nghi có quy chế riêng, chẳng được phép
rối loạn.
*
Hỏi: Trong giới “chẳng
giữ sáu ngày chay”, phương pháp cúng dường Tam Bảo
là như thế nào? Nhân viên công vụ đến mười
hai giờ mới tan tầm về nhà ăn cơm, tợ hồ
mắc lỗi ăn quá Ngọ. Nếu ăn trong khoảng
thời gian từ mười hai giờ cho đến một
giờ chiều th́ có coi là ăn quá Ngọ hay không? (Nhan Vân Hồng hỏi)
Đáp: Chúng xuất gia chuyên
môn tu hành, đối với giới luật phạm hạnh,
dễ dàng tuân thủ; chúng tại gia bèn có chướng ngại.
Khi sắp thọ giới, hăy nên kiểm xem: Có thể tŕ th́
mới thọ; chẳng thể giữ, chớ nên miễn
cưỡng thọ. Đă thọ, có lẽ chớ nên tùy tiện
xả. Nhân viên công vụ chẳng được tự do,
sẽ lại luận định riêng. Nhất là đối
với chuyện ăn ngủ của quân nhân hoặc cảnh
sát, thường là do công vụ, sẽ khó thể giữ đúng
thời “quá Ngọ chẳng ăn”. Quá Ngọ là ǵ? Hăy nên
xin vị thầy truyền giới giải thích. Hàng bạch
y phần nhiều chẳng hiểu rơ đạo này, chẳng
dám nói bừa!
* Hỏi: Trong phần giới
văn về “chẳng thanh tịnh
bố thí những gia súc đă nuôi dưỡng”, có câu “bất tác tịnh thí vị thọ
giới giả” (chẳng hành bố thí thanh tịnh cho người
chưa thọ giới), có phải là chính ḿnh có thể nuôi
dưỡng, chỉ cần thí cho người chưa thọ
giới sở hữu chúng là được? Hay là tự ḿnh
chẳng thể nuôi nấng, nếu đă có nuôi, phải thí
tặng cho người chưa thọ giới nuôi nấng
chúng? (Nhan Vân Hồng hỏi)
Đáp: Xét chữ “vị” (未, chưa) trong
câu “bất tác tịnh thí vị
thọ giới giả” (chẳng thanh tịnh thí cho người
chưa thọ giới) trong phẩm Thọ Giới của
Ưu Bà Tắc Giới Kinh lưu hành tại Đài Loan là dựa
theo bản in của Kim Lăng Khắc Kinh Xứ, bản
in theo lối sao chụp th́ ghi là chữ Cầu (求). Một chữ
khác nhau, ư nghĩa được hiểu khác biệt to lớn.
Ắt phải có một bản hoàn thiện để giảo
chánh th́ mới dám nói. Nếu nói cách tịnh thí là như thế
nào th́ kinh chưa giảng rơ, cũng chẳng dám dựa theo
văn tự để suy đoán ư nghĩa. Hăy đợi
tham khảo, hoặc xin vị thầy truyền giới giải
thích th́ tốt hơn.
* Hỏi: Trong giới điều
“đắc tân thực, bất
tiên cúng Tam Bảo” (có được thức ăn mới,
chẳng cúng dường Tam Bảo trước), chữ “cúng dường” có nghĩa là
đối với những thức ăn mới, đều
nên kính dâng lên Phật trước rồi sau đó mới ăn?
Hay là chỉ cần niệm “cúng
dường mười phương hết thảy chư
Phật” rồi có thể ăn? Hay là nên cúng dường
Tam Bảo như thế nào? Trước khi ăn, nên niệm
như thế nào? (Nhan Vân Hồng
hỏi)
Đáp: Tại gia cúng dường
Tam Bảo chẳng thể thuận tiện như trong chùa
được. Đối với cả hai cách như ông đă
nêu, đều có thể tùy theo từng lúc mà chọn dùng một
cách, chẳng có ǵ là không được, cốt sao thành kính!
* Hỏi: “Giới” là do cố ư[38].
Nếu vô ư phạm giới, có ǵ khác biệt so với có phạm
và không phạm hay chăng? Đối chuyện nên phá giới
mà chẳng phá giới, sẽ coi là phạm giới, hay chẳng
phạm giới? (Như các t́nh h́nh: Đáng nên giết một
kẻ để cứu nhiều chúng sanh, nhưng chẳng
giết, [hoặc là] hăy nên tuẫn giáo nhưng chẳng tuẫn
giáo) (Nhan Vân Hồng hỏi)
Đáp: Cố ư phạm là tội,
vô ư phạm là lỗi. Nặng nhẹ sai khác, đều có
pháp lư tinh vi. Đối với chuyện ông đă nêu, trong
kinh đă từng có nói đến chuyện ấy. Đáng
nên giết mà chẳng giết là v́ giữ giới; giết
một để cứu nhiều, chính là phát Bồ Đề
tâm. Nhưng cần phải là người trí th́ mới có
thể thực hiện quyền biến, kẻ chưa hiểu
rơ lư của giới, chớ nên bộp chộp!
* Hỏi: Có mấy phương
pháp lạy Phật? (nói theo tâm niệm) (Nhan Vân Hồng hỏi)
Đáp: Đối với điều
ông vừa hỏi, tôi ghi chú thêm: “Nói
theo tâm niệm”. Hăy nên y theo cách hiểu đó để
luận định. Cổ đức chú giải kinh, có viết
về cách lễ Phật, nêu ra mười loại:
- Một là ngă mạn lễ,
như chày giă gạo lên xuống, chẳng có tâm cung kính.
- Hai là xướng họa lễ,
lớn tiếng xướng ồn ào, câu chữ hỗn loạn.
Thân chẳng đoan chánh, ư chẳng kiền thành.
- Ba là cung kính lễ, năm vóc
gieo xuống đất, trịnh trọng, ân cần đỡ
chân [đức Phật].
- Bốn là vô tướng lễ,
thâm nhập Pháp Tánh, ĺa tướng Năng Sở.
- Năm là khởi dụng lễ.
Tuy chẳng có Năng và Sở, vận dụng khắp thân
tâm [cung kính hành lễ].
- Sáu là nội quán lễ, chỉ
quán nội tâm, chẳng quán h́nh tượng bên ngoài.
- Bảy là Thật Tướng
lễ. Thật Tướng vô tướng, trong ngoài như
một.
- Tám là đại bi lễ, mỗi
một lễ đều thay cho trọn khắp chúng sanh [lễ
Phật].
- Chín là tổng nhiếp lễ,
gộp chung cả sáu môn trước (cung kính lễ, vô
tướng lễ, khởi dụng lễ, nội quán lễ,
Thật Tướng lễ, đại bi lễ) thành một
phép Quán.
- Mười là vô tận lễ,
khắp v́ pháp giới, vô cùng vô tận.
Trong mười loại lễ
vừa nêu, loại lễ thứ nhất và thứ hai đều
là tâm chẳng chân thành, chẳng thể gọi là lễ, hăy
nên tự răn chừng! Đối với tám loại sau,
cũng nên chọn lấy loại nào có thể làm để
thực hiện. Nếu miễn cưỡng, hoặc chẳng
giữ thường hằng, chính là giống như khinh mạn
vậy!
* Hỏi: Cúng hương, cúng
hoa quả v.v… lên Phật, hăy nên niệm như thế nào? (Nhan Vân Hồng hỏi)
Đáp: Có thể hiểu ư
nghĩa của mười loại lễ th́ chuyện cúng
dường có thể phỏng theo đó mà suy ra. Nói tóm gọn,
chú trọng thành tâm. Tâm chân thành th́ các loại rau tần, cỏ
phiền, rau ôn, rong, nước ao đục ngầu,
nước lấy từ nước lũ tràn ngập, Phật,
trời đều hưởng. Chẳng chân thành, dẫu là
ngọc, lụa đầy dẫy, đề-hồ trân quư,
Phật cũng chẳng hưởng. Nho gia c̣n quan niệm “tế như tại” (cúng tế
như người đă khuất hoặc thần thánh đang
hiện diện), [nghĩa là] như đang ngự trên [ngai
thờ], hoặc đang ở chung quanh. Nói “như tại” chính là tâm niệm vậy.
* Hỏi: Học nhân hướng
về một nhà khoa học tuyên dương Phật pháp. Do
học nhân chưa khai trí huệ, nên bị hỏi vặn lại
một câu, xin hỏi nên trả lời như thế nào th́
mới nên (do ông ta xem báo Bồ Đề Thụ số hai
trăm mười ba, phần trả lời cho câu hỏi
thứ hai của cư sĩ Trần Văn Bân ở Gia Nghĩa
và câu hỏi thứ hai của cư sĩ Tâm Liên ở Đài
Bắc trong mục Phật Học Vấn Đáp Loại Biên
bèn dẫn khởi nghi vấn). Kiêng giết là giới thứ
nhất. Kư sinh trùng sống trong thân thể con người (giun
đũa, trùng sống trong phần Thập Nhị Chỉ
Tràng[39],
sán xơ mít v.v...) và những chúng sanh đại khái thuộc
loại vi khuẩn gây bệnh. Người bệnh uống
thuốc có phải là phạm sát giới hay không? Nước
máy và các loại đồ ăn đều có một lượng
lớn vi khuẩn li ty. Nấu nước sôi, nấu đồ
ăn để ăn uống, chẳng phải là phạm
sát giới ư? (Lâm Đồng
Cứ hỏi)
Đáp: Ư nghĩa kiêng giết
trong nhà Phật rất tinh vi. Ở đây, tôi chỉ nêu ra
những điều đơn giản, dễ hiểu
để tŕnh bày: [Giới sát là v́] trong là nhằm nuôi
dưỡng cái tâm nhân từ của chính ḿnh, ngoài là thấy
kẻ khác chịu khổ bèn thương xót. Tông chỉ của
đức Phật là “dẹp khổ, ban vui”. Pháp thế
gian th́ có “trời có đức hiếu sanh”, đều nhằm
thắng tàn, khử bạo. Nhưng đối với chuyện
giết chóc, có những điều có thể tránh được,
có những điều không thể tránh né, có những điều
bất đắc dĩ chẳng thể tránh né. V́ thế,
giới luật trong nhà Phật có các cách nói “khai, giá, tŕ, phạm”, hoàn toàn chẳng phải là
chấp chết cứng một bề! Người chưa
học pháp luật thế gian, c̣n chẳng biết lư của
nó. Huống hồ đối với luật xuất thế
gian, chưa hề xem tới mảy may, há có thể phô diễn,
đàm luận được ư? Những điều giới
luật đă cấm chính là nói theo những điều có
thể tránh né; đối với những điều chẳng
thể tránh né, sẽ chẳng thuộc vào lệ cấm. Ví
như trong không khí có chứa những động vật cực
nhỏ, dưới đất cũng có những động
vật cực nhỏ, trong đàm răi cũng có những
động vật v.v… [Giới luật nhà Phật] hoàn toàn
chẳng cấm người ta hô hấp, đi lại, khạc
đàm. “Bất đắc dĩ chẳng thể tránh né” là
như dùng pháp luật để trị tội, dùng binh lính
để khống chế bọn giặc cướp, dùng
nước dập lửa, dùng thuốc chữa bệnh
v.v… đều có thể mở ra phương tiện.
* Hỏi: Khi cho chúng xuất
gia đang bị bệnh uống thuốc, sử dụng
loại thuốc viên con nhộng (capsule, nguyên liệu [để
chế tạo vỏ viên thuốc nhộng] là chất keo làm
từ da trâu) chứa đựng dược phẩm. Có cần
phải nói rơ trước khi dùng? Hay là chẳng cần phải
nói rơ? Người xuất gia uống thuốc viên con nhộng
có phạm giới hay không? (Lâm
Đồng Cứu hỏi)
Đáp: Người xuất
gia có giới tỳ-kheo, chúng ta chẳng cần phải bận
tâm. Giới luật nhà Phật tuy cấm ăn thịt, nhưng
có [pháp phương tiện cho phép dùng] ngũ tịnh nhục,
ăn rau bên cạnh thịt. Nếu trong tâm cảm thấy
bất an, hăy loại bỏ nang nhộng (capsule), chỉ dùng
bột thuốc, dường như cũng chẳng khó làm!
* Hỏi: Nông sản bị
trùng làm hại, chẳng nỡ sát sanh, lại chẳng thể
không giết. Nếu một mặt phun thuốc diệt trùng,
một mặt niệm chú Văng Sanh, có thể giải oan hay
không? Nếu không, mỗi lần sát sanh, há chỉ là ngàn vạn,
khiến ḷng tôi lo âu! Nếu nhờ người khác, cũng
là phạm tội xúi giục sát sanh, khiến cho người
ta tạo ác, càng chẳng nỡ ḷng! Có pháp phương tiện
nào hay không? (Trịnh Triều
Tín hỏi)
Đáp: Đây cũng chính là
nỗi khó khăn của người tu trong thời Mạt
Pháp. Hai mươi năm trước, hoàn toàn chẳng có
thuốc diệt trùng, cũng vẫn thường là mùa màng
bội thu. Đối với câu hỏi ông vừa nêu, có thể
dẫn chứng tiền lệ. Tuy cổ nhân chẳng dùng
thuốc diệt trùng, nhưng cày ruộng cũng có thể
sát sanh. Điều có thể dung thứ là số lượng
[trùng bị sát hại] không nhiều, và do vô tâm mà thôi, nhẹ
ít hơn hiện thời! Họ cày ruộng, liền dùng chú
pháp. Hễ có cảm, trùng sẽ tránh xa; dẫu chẳng có
cảm th́ cũng đă tận hết tâm lực. Biện
pháp như cư sĩ đă tính cũng chỉ có thể là
như thế. Nghe nói thuốc sát trùng gần đây đă mất
hiệu lực, hăy nên chọn biện pháp giăng lưới,
sao không thí nghiệm cụ thể xem sao!
* Hỏi: Bồ Tát Ưu-bà-tắc
(Ưu-bà-di) Giới tuy v́ thân mạng[40],
chẳng được tuyên nói tất cả tội lỗi
của tứ chúng. Nếu phá giới ấy, người ấy
sẽ bị mất giới Ưu-bà-tắc (Ưu-bà-di). Bọn
cư sĩ chúng ta [đối với giới điều] “chẳng tuyên nói lầm lỗi của
tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni” th́ c̣n dễ làm; nhưng trong thời
đại Mạt Pháp, đấu tranh kiên cố, khi tuyên
truyền tranh cử, cho đến chuyện cạnh tranh
trong nông, thương, công nghiệp, do dính líu đến điều
lợi hại, trong số ấy, nếu có đồng đạo
nam, nữ chẳng giữ đạo nghĩa, có những
chuyện [chẳng đúng pháp] như dùng lời lẽ hoặc
hành vi làm ác, hoặc lừa dối, chèn ép, gian trá, gạt gẫm
v.v… Nếu nói những tội lỗi của họ th́ có trái
phạm giới “kể lỗi
tứ chúng” hay không? Nếu chịu đựng, im lặng,
mặc cho chúng nó làm ác mà chẳng áy náy, chẳng phải là
cam ḷng làm kẻ ba phải trong làng[41] ư?
Khổng Tử nói: “Hương
nguyện đức chi tặc dă” (Kẻ luôn ba phải
trong làng xóm chính là kẻ giặc đối với đức
hạnh vậy). Làm thế nào để có thể chẳng
trái nghịch giới nhà Phật, lại có thể phù hợp
đạo lập thân xử thế của Nho gia? Xin hăy dạy
bảo! (Lưu Trung Nhất hỏi)
Đáp: “Chẳng được tuyên nói
tất cả tội lỗi của tứ chúng”: “Tứ chúng” là nói gồm chung
xuất gia và tại gia. Không chỉ là đức Phật răn
dạy như thế, mà văn hóa Nho gia cũng có giáo huấn
“thùy hủy, thùy dự” (ai hủy
báng, ai ca ngợi), “ẩn ác
dương thiện” (ẩn giấu điều ác, phô bày
điều thiện) chính là ư nghĩa bậc quân tử giữ mồm giữ miệng vậy.
Nhưng hủy, dự, ẩn, dương và “quy gián, khuyến
sách” (can ngăn, khuyên lơn, cổ vũ) khác nhau. “Hủy, dự”… là hướng
về người thứ ba để nói, c̣n quy gián v.v...
chính là nói với đối phương. Hủy v.v… là
lỗi, khuyên can v.v… là nghĩa vụ. Có thể phân định
rơ ràng giới hạn của hai phương diện, há có phải
là kẻ ba phải? Nếu nói đến chuyện tranh cử,
đấy là v́ lẽ công mà chọn bậc hiền tài, quyết
chẳng thể v́ kẻ đó là người thân cận với
chính ḿnh mà v́ kẻ ấy tuyên truyền dối trá. Nếu người
đồng đạo thật sự tốt đẹp, hăy
nên tán dương. Nếu là ác th́ cự tuyệt trả lời,
v́ có lập trường chánh đáng, đấy gọi là
Trung Đạo vậy!
* Hỏi: Nếu có hành giả
chẳng thọ Tam Quy, Ngũ Giới, cho đến Bồ
Tát Giới, khi được quán đảnh trong Mật Tông,
Kim Cang Thượng Sư gia tŕ rượu cam lộ, bảo
hăy nhấp uống, hành giả nghĩ đó là cam lộ. Như
vậy th́ có trái nghịch giới uống rượu hay không?
(Lưu Trung Nhất hỏi)
Đáp: Chuyện uống cam
lộ trong phép Quán Đảnh của Mật Tông chính là quá
tŕnh truyền pháp, hoàn toàn chẳng phải là v́ dùng thuốc
hay uống rượu, hăy nên tưởng đó là cam lộ.
Muôn pháp do tâm sanh. Uống rượu là trái nghịch giới,
c̣n thọ pháp nhằm mong cầu theo đuổi đạo,
chẳng luận định là phạm giới.
* Hỏi: Chúng ta là đệ
tử Tam Bảo, tự nhiên chẳng tránh khỏi tu học,
tŕ trai. Những pháp liên quan đến chuyện tŕ trai rất
nhiều. Có pháp th́ [ăn chay trong] mồng Một và Rằm,
có pháp th́ mồng Ba, mồng Sáu, mồng Chín, có pháp th́ là
mười ngày trai, có pháp th́ ăn chay trường, chẳng
ăn đồ hôi tanh, cũng có pháp tŕ tảo trai v.v… Xin hỏi
pháp nào thích hợp cho sự tu tŕ tại gia? (Trương Đạt Nhật
hỏi)
Đáp: Đối với những
ngày trai như đă nêu, tại gia Phật tử hăy lượng
sức ḿnh để tùy ư chọn lấy một loại, [bất
cứ tŕ trai theo pháp nào cũng] đều có công đức.
Nói chung, ăn chay trường thù thắng hơn ăn chay
nhiều ngày, ăn chay nhiều ngày thù thắng hơn ăn
chay ít ngày. Lư ấy dễ hiểu, chẳng cần phải
giảng giải nhiều! Hễ là ngày ăn chay, đều
là phải ăn chay suốt ngày. Người tại gia ngày
ăn ba bữa, tức là ba bữa đều giữ cho ḿnh
ăn chay. Lại nữa, là đệ tử Phật thật
sự, bất luận ăn chay trường hay ăn chay
ngắn hạn, trong những ngày không ăn chay cũng nên
kiêng giết chóc!
* Hỏi: Tôi thấy trong quyển
ba của bộ Đại Trí Phật Học Uyển Tùng
Thư, thiền sư Bạch Vân có nói: “Ăn chay sáng sớm (tảo trai) chính là lừa dối
Phật, Bồ Tát. Đồng thời cũng là đang lừa
dối chính ḿnh. Hăy nên tŕ Ngọ trai hằng ngày!” (Trương Đạt Nhật
hỏi)
Đáp: Ăn chay một bữa
vào buổi sáng, chẳng hợp pháp độ, v́ người
tại gia mỗi ngày ăn ba bữa. Buổi sáng phần
nhiều ăn cháo, phần nhiều gọi là “điểm tâm”. Kẻ chẳng
học Phật, ăn điểm tâm th́ phần nhiều cũng
dùng sữa đậu nành, bánh nướng, dầu chá quẩy,
bánh bao, cháo, đậu phộng, những món ăn nhẹ.
Vốn chẳng phải là một bữa ăn chánh thức,
thời gian lại ngắn, phần nhiều chẳng ăn
thịt. Bọn họ hoàn toàn chẳng ăn chay [mà c̣n ăn
nhẹ như thế], Phật tử làm như thế, có ǵ
đặc biệt? Do như vậy mà bảo là “tŕ trai” th́
gọi là “lừa dối cả hai đằng” vậy!
* Hỏi: Đạt Nhật
tôi từ mấy năm trước đă tŕ trai buổi sáng
và kiêng giết, nay thấy câu nói ấy trong tác phẩm của
thiền sư Bạch Vân, trong tâm khởi mối nghi vô
minh! (Trương Đạt Nhật
hỏi)
Đáp: Chuyện ấy chẳng
cần đợi thiền sư Bạch Vân chê trách, cứ
tự suy nghĩ lư, cũng sẽ hiểu rơ. Nhưng
trước kia, do mê muội chẳng biết, đúng là vô
minh. Nay nghe chánh lư, trong tâm rỗng rang, tức là vô minh đă
phá, hăy nên sanh pháp hỷ. Hơn nữa, trong mấy năm
qua, đă kiêng giết, công đức đă lớn. Từ
nay, đổi ăn chay buổi sáng thành
ăn chay suốt ngày, đó là “nhân
lành gặp duyên lành”, tiền đồ sẽ tỏa sáng
ngời, cần ǵ phải nghi ngờ chi nữa!
* Hỏi: Kẻ đă thọ
Ngũ Giới, nếu trong lúc thù tạc, v́ đáp tạ
đối phương kính rượu, chỉ để
rượu thấm môi, có tính là phạm giới hay không? Nếu
là phạm tội, hăy nên cải thiện như thế nào? (Ông Thủy Trụ hỏi)
Đáp: Khi thọ giới, đă
nói là có thể tŕ th́ trong lúc ấy, hăy nên giữ, đừng
để mất. Nếu gặp lúc thù tạc, hăy nên dùng phương
tiện thiện xảo để từ tạ. Từng
nghe nói Ngài bị bệnh bao tử, hăy dùng ngay chuyện ấy
để thoái thác, cũng chẳng phải là vọng ngữ.
Hăy nên nh́n sắc mặt để ứng phó từng hoàn cảnh,
[cực chẳng đă th́] chạm môi vào chén, chẳng để
rượu thấm môi, t́nh và lễ đều đă tận
vậy!
* Hỏi: Trong khi canh tác, nếu
phát hiện trong đất có những con trùng nhỏ, cứ
tiếp tục cày bừa, sợ tổn hại chúng. Chúng tôi
là người học Phật, hăy nên làm như thế nào
để xử lư thỏa đáng? (Ông Thủy Trụ hỏi)
Đáp: Trong kinh có nói đến
cách chú nguyện khiến trùng tránh xa [lưỡi cày], tiếc
là chúng ta chưa học, chẳng thể làm được.
Nhưng khi canh tác, để dự pḥng chuyện ấy, cũng
có thể niệm Di Đà, hoặc niệm Quán Âm, ḥng trọn
hết tấm ḷng. Nếu phát hiện những động
vật, hăy bắt lấy chúng, dời chúng sang chỗ khác.
Đấy chính là khi làm lụng, sẽ trở thành cơ hội
phóng sanh, luôn luôn hành đạo. Kẻ làm như thế, sẽ
phải một phen vất vả, nhưng phiền năo sẽ
là Bồ Đề.
* Hỏi: Lại nữa, khi
nông sản có sâu rầy, chẳng thể không phun thuốc
diệt trùng, chúng tôi nên làm như thế nào để xử
trí thích đáng th́ mới nên? (Ông
Thủy Trụ hỏi)
Đáp: Ngài làm ruộng là v́
chuyện công, hay là chuyện tư? Nếu là chuyện thuộc
tư nhân, có thể làm chủ, th́ có thể hành phương
tiện. Nếu là chuyện công, giết chóc chẳng phải
do chính ḿnh chủ động, giống như ra chiến trận,
nhận lănh mạng lệnh vậy!
* Hỏi: Xin hỏi thầy
khi nào sẽ thỉnh cao tăng đại đức chánh
tông truyền giới? (Hà Khôn Mậu
hỏi)
Đáp: Ở nơi đây,
chuyện từ thiện công ích theo đường lối
Phật giáo khá bề bộn, phải đợi khi nào đă
vào nề nếp th́ mới thuận tiện cử hành pháp
hội. Thỉnh thầy truyền giới chính là đại
sự, ắt cần phải thanh tịnh chí thành, th́ mới
ít mắc tội lỗi!
* Hỏi: Học tṛ vẫn
chưa thọ giới, chẳng biết nên bắt đầu
bằng Ngũ Giới, hoặc bắt đầu bằng Thập
Giới? Nghe nói có người c̣n chưa thọ giới mà đă
mon men Bồ Tát Giới, như vậy th́ có được
hay không? (Hà Khôn Mậu hỏi)
Đáp: Bồ Tát đại
giới, há có thể tùy tiện? Trước kia, đều
là thọ Ngũ Giới trước. Lấy ngay Ngũ Giới
để luận định, c̣n có thiểu phần, đa
phần, và măn phần sai khác! Điều chủ yếu là
có thể chân thật thọ tŕ, chẳng phải là chú trọng
cái danh suông! Hăy nên nghĩ thọ giới là chuyện trịnh
trọng. Người thọ Ngũ Giới hành tŕ một
hai năm sau, chẳng bị phạm giới, phá giới, mới
có thể tiến lên thọ Bồ Tát đại giới.
Quư cư sĩ hăy nên thọ Ngũ Giới trước,
đấy chính là căn bản của các giới. Trước
hết, hăy cầu tự lập th́ mới có thể độ
người khác. Tuy có những kẻ thọ giới luông
tuồng, nhưng phần nhiều là hạng ham cao chuộng
xa, chẳng sát thực tế, chẳng đáng để
noi theo!
* Hỏi: Bất tài mong ăn
chay hoàn toàn và quá Ngọ chẳng ăn, có cần phải trải
qua nghi thức nào th́ mới có thể hành hay chăng? Có cần
phải thọ giới ǵ rồi mới có thể làm hay chăng?
(Mă Ngọc Lâm hỏi)
Đáp: Kiêng giết, ăn
chay là chuyện tốt đẹp. Chỉ cần là người
quy y Tam Bảo, hoặc là người chưa quy y, nhưng
đă phát tâm trước, th́ cũng chẳng có ǵ là không được!
Quá Ngọ chẳng ăn chính là Trai trong Bát Quan Trai Giới.
Người thọ Bồ Tát Giới cũng có giới tŕ
Ngọ trong sáu ngày trai, nhưng nếu phát tâm tŕ ngọ hằng
ngày th́ cũng chẳng có ǵ là không được!
* Hỏi: Giả sử là khi
trong ṿng bốn mươi dặm có người giảng
pháp, nếu chẳng quen nghe, bèn chẳng đến để
nghe th́ có phạm giới hay là không? (Diệp Huệ Trinh hỏi)
Đáp: Kẻ thọ Bồ
Tát Giới ắt cần phải thượng cầu, hạ
hóa. Thường cầu nghe pháp chính là bổn phận. Nếu
trong ngày hôm ấy có pháp vụ khác, hoặc bận chuyện
hóa độ chúng sanh, không rảnh rỗi để dành thời
gian nghe kinh, sẽ chẳng coi là phạm lỗi. Nếu v́
tang ma của cha mẹ, hoặc bản thân mắc bệnh
nặng, hoặc biết kẻ đó thuyết pháp bất
chánh, chẳng đến để nghe, th́ cũng chẳng
phải là tội lỗi, cũng cho phép phương tiện.
Nếu tâm biếng nhác, giải đăi, th́ chính là kiêu mạn.
Có nhân duyên ly thoái, ắt sẽ sanh ra ác quả ly thoái, đều
phải nên biện biệt rơ!
* Hỏi: Khi nào cần sử
dụng bái cụ? Tại gia Bồ Tát chẳng dùng bái cụ[42]
để lạy Phật có là trái nghịch hay không? (Diệp Huệ Trinh hỏi)
Đáp: Bái cụ chính là vật
để dùng lạy Phật khi đắp y. Khi thọ giới,
các vị thầy truyền dạy oai nghi, “triển cụ” là một oai nghi trong ấy. Học
nhân hăy nên y giáo phụng hành, chớ nên tự tiện biến
đổi. Giới hạnh giống như hiến pháp của
quốc gia, trên dưới đều tuân thủ. Thói quen
thông tục tuy thích thay đổi kiểu cọ mới mẻ
này nọ, nhưng hiến pháp chẳng thể tự ư sửa
đổi. Tự ư sửa đổi sẽ gây rối loạn
cho định chế quốc gia, hành nghi trong Phật môn cũng
thế.
* Hỏi: Chẳng biết thọ
tŕ Bát Quan Trai Giới có công đức ǵ? (không có tên người hỏi)
Đáp: Giới trong Phật giáo
chẳng phải chỉ có một loại. Có chia thành xuất
gia và tại gia, lại có thế gian và xuất thế gian
sai khác. Bát Quan Trai Giới là giới chung xuất thế
gian. Pháp ấy rất nghiêm ngặt, nếu chân thành thọ
tŕ, công đức làm sao có thể diễn tả được
nổi! Cần phải t́m giới bổn để đọc
kỹ th́ mới biết!
Chú thích của người biên tập:
Từ lời hỏi và đáp thứ nhất cho đến
lời hỏi và lời đáp thứ tư đă bị lạc
mất.
* Hỏi: Tôi là con em nhà nông,
do phải thường xuyên phun tưới thuốc diệt
trùng, giết chết vô số côn trùng, trong tâm cảm nhận
sâu xa chính ḿnh đă tạo tác nghiệp chướng. Nay đặc
biệt thỉnh giáo, có bài chú đuổi trùng nào hay không ḥng
xua đuổi loài trùng để tránh phải sát sanh? Nếu
có, xin hăy rộng ḷng dạy một bài và phương pháp sử
dụng, các điều cần chú ư v.v… (Lại Hạnh Nam hỏi)
Đáp: Tuy Mật Tông có pháp ấy,
ắt phải do Kim Cang Thượng Sư quán đảnh
truyền thọ. Sau khi đă thọ, bèn tu cho đến
khi có thành tựu th́ mới sanh ra hiệu lực. Hoàn toàn chẳng
phải là vừa học bèn hiểu ngay, vừa niệm bèn
sanh hiệu quả. Ngài đă có bi tâm ấy, chắc chắn
là người có thiện căn, hăy nên biết Phật pháp
là nhất thể, vạn dụng, chỉ cậy vào ḷng Thành.
Có thể hướng về vị tăng giữ giới
trong chùa miếu, xin học bài chú Văng Sanh, hoặc chú Chuẩn
Đề. Hằng ngày cung kính niệm tụng, chẳng hạn
cuộc thời gian, hễ rảnh rỗi bèn niệm thầm
trong tâm, suốt đời chớ để gián đoạn.
Sức lớn bèn có thể đuổi trùng, sức nhỏ
th́ cũng có thể kết thành thiện duyên, công phu trọn
chẳng hư luống! Lại c̣n tiêu trừ tội của
tự thân, khiến cho Bồ Đề sanh mầm. Nếu
học chẳng hiểu, chỉ niệm Nam-mô A Di Đà Phật
suốt đời chẳng gián đoạn, sẽ có công hiệu
to lớn.
* Ba câu hỏi
của cư sĩ Hứa Hỏa Thổ ở Đài Bắc
1) Hỏi: Trong Tại Gia Bồ
Tát Giới Bổn, điều thứ bảy là “giới chẳng giữ sáu ngày
trai” có nói: “Nếu Ưu-bà-tắc
(Ưu-bà-di) đă thọ giới, trong một tháng, chẳng
thể thọ tŕ tám giới trong sáu ngày trai… th́ vị
Ưu-bà-tắc (Ưu-bà-di) ấy phạm tội thất
ư, chẳng khởi đọa lạc, nhưng đă là làm
chuyện bất tịnh”. Nói “tám
giới” th́ có bao gồm giới tŕ trai hay không? Nếu v́
lư do đảm bảo bao tử và ruột khỏe mạnh,
trong sáu ngày trai, vẫn ăn ba bữa (sau Ngọ vẫn ăn
cơm tối), có tính là phạm giới hay không? Có mắc tội
thất ư hay không?
Đáp: Bát Quan Trai Giới chính
là tám giới và một trai, tổng cộng chín điều.
“Trai” th́ cấm quá Ngọ chẳng
ăn. Đă tŕ Lục Trai, ắt cần phải tuân thủ.
Nếu nói bao tử và ruột có bệnh, không ăn chính là
một cách trị bệnh. Không chỉ là vô hại, lại
c̣n hữu ích! Nếu đă thọ tŕ sáu ngày trai mà vẫn ăn
ba bữa, tự nhiên là mắc tội thất ư. Tôi chỉ
nói như vậy thôi!
Ghi chú của người biên tập:
Các câu hỏi và lời đáp thứ hai, thứ ba đều
bị thất lạc.
* Bốn câu hỏi
của cư sĩ Lâm Thánh Trí ở thành phố Đào Viên
1) Hỏi: Tôi là một nông dân,
kiếm sống bằng nghề làm ruộng, cấy lúa và
trồng trà, cam, quất v.v... Mỗi năm đều mua một
lượng lớn thuốc sát trùng để tiêu diệt
loài trùng có hại. Nếu không, chẳng có cách nào thâu hoạch!
Làm như vậy, có trái nghịch đạo lư “kiêng giết, phóng sanh” của
nhà Phật hay không? Làm như vậy, có tội lỗi hay không?
Đáp: Đây là vấn đề
nghiệp lực, chẳng phải là một người mà
ḥng giải quyết được! Xét ra, hai mươi năm
trước, chưa có thuốc diệt trùng, ngũ cốc,
rau quả đều chẳng thiếu thốn. Thuốc diệt
trùng tất nhiên là giết trùng, nhưng nó kèm theo [hậu quả
phụ] là có thể giết người chậm răi. Thực
phẩm hiện thời phần nhiều mang nhiều tánh
chất mạo hiểm, há có biện pháp ǵ? Phàm đối
với chuyện chẳng thông suốt, chỉ đành tự
vấn lương tâm. Các nghề khác c̣n có thể đổi,
chứ người dân coi lương thực như trời,
há có thể bỏ phế nghề nông? Trong t́nh thế tiến
thoái lưỡng nan, trừ việc dùng thuốc diệt trùng
ra, hăy nên giữ ḿnh nghiêm ngặt!
2) Hỏi: Mỗi khi tôi quét
đất, kiến đầy đất, nhất loạt
quét chúng đi. Chẳng quét th́ hoàn cảnh thiếu vệ
sinh; quét th́ sợ lỡ tay giết chúng, hăy nên làm như thế
nào th́ mới là cách để đôi bên vẹn toàn?
Đáp: Nhẹ nhàng quét chúng vào
ky, dời chúng đến chỗ vắng vẻ, hẻo lánh,
đừng tổn thương mạng chúng, giống như
di cư chúng vậy! Nếu chẳng quét, đâm ra sẽ lại
đạp chết chúng! Nói chung là nên quét dời đi, so ra
thỏa đáng hơn! Nếu siêng quét dọn, chúng sẽ
chẳng kéo đến nữa!
3) Có người thường
vào mồng Một, hôm Rằm, mua loài vật phóng sanh, chẳng
biết có công đức ǵ? Phóng sanh bắt nguồn từ
Phật giáo hay Nho giáo?
Đáp: Phóng sanh là cứu sanh
mạng, giải trừ nỗi đau khổ của chúng. Điều
thứ nhất trong giới luật nhà Phật là “chẳng sát sanh”. Trời có
đức hiếu sanh, có thể thấy [phóng sanh] sẽ đạt
được công đức to lớn, đạt
được thiện báo vô lượng vô biên. Vào hai ngàn
tám trăm năm hoặc hai ngàn chín trăm năm trước,
Trung Hoa và Ấn Độ chưa thông tin tức, Phật giáo
ở Ấn Độ đă từng hành phóng sanh, Nho giáo tại
Trung Hoa, cũng từng phóng sanh. Hoàn toàn chẳng phải là
ai đề xướng, ai bắt chước theo, thiện
đạo tự nhiên tương đồng. Hai giáo cùng phóng
sanh, kinh điển đều có ghi chép, nhiều khôn kể
xiết! Hăy tra cứu sách vở sẽ biết.
4) Bạn tôi là bác sĩ,
thường v́ người mắc bệnh mà trừ khử
giun đũa cùng những loài kư sinh trùng khác có hại cho loài
người. Ông ta hỏi tôi là có phạm giới sát sanh hay
không? Có tội lỗi hay không?
Đáp: Bác sĩ chữa bệnh
cốt ư cứu người. Trừ khử trùng gây hại
nơi thân người, chính là chức vụ, có tánh chất
khác biệt với chuyện sát sanh thông thường, chẳng
thể luận định đánh đồng được!
Phàm mọi sự đều có thường và biến, luận
theo lư th́ cũng có ư nghĩa phân minh để dung thứ
sai khác. Hăy đa học đa văn, sau đấy, sẽ
tự có thể thông đạt quyền biến.
Phật
Học Vấn Đáp Loại Biên
Quyển Trung
Phần 6 hết
[1] Kinh
này có tên gọi đầy đủ là Phật Thuyết
Nhân Duyên Tăng Hộ Kinh, đă mất tên người dịch.
Kinh cho biết năm trăm thương nhân vào biển cả
t́m của cải đă thỉnh Tăng Hộ thuyết
pháp. Vào biển, long vương xin Tăng Hộ hăy dạy
kinh Tứ A Hàm cho bốn long tử. Khi các thương nhân
quay về, Tăng Hộ từ trong biển vọt ra, cùng
về với họ. Giữa đường lại mất
tích, đến chỗ năm trăm tiên nhân thuyết pháp tế
độ họ, cũng như vào địa ngục thuyết
pháp, kể lại những điều chính ḿnh đă thấy.
Các thương nhân liền đến chỗ Phật
thưa hỏi các nhân duyên, đức Phật giải
đáp cặn kẽ từng điều một.
[2]
Đậu B́ (豆皮) có
hai cách hiểu:
1)
Đậu B́ là một món điểm tâm khá nổi tiếng,
xuất phát từ thành phố Vũ Hán (tỉnh Hồ Bắc).
Món này có lớp vỏ bọc làm bằng bột đậu
xanh, trứng, sữa, bột gạo, bột đậu
nành, và bột ḿ. Nhân bánh gồm gạo nếp trộn lẫn
với măng muối, củ cải thái sợi phơi
khô, đậu hủ ngũ vị hương thái sợi,
đậu cô-ve (haricot vert, đậu que), mù tạc
(mustard), nấm hương, nấm đông cô, và củ hành
ta. Đôi khi người ta cho thêm vào các loại thịt
heo, thịt ḅ, hoặc tôm bằm.
2)
Đậu B́ chính là đậu hũ ky cuộn lại chiên
gịn.
[3] Thi (蓍) là một loại cỏ,
có tên khoa học là Achillea Milleforim, tiếng Việt là
Dương Kỳ Thảo, c̣n gọi là Vũ Y Thảo, Âu
Thi, Thiên Diệp Thi, hay Do Diên Thảo. Cây mọc thành bụi
thấp, thân có lông tơ trắng, lá thon dài, mọc đối
xứng thành từng chùm nhỏ hai bên nhánh, trông giống
như những sợi lông mao trên chiếc lông vũ của
loài chim. Hoa mọc thành chùm li ty, đỏ tươi, có nhụy
vàng ở giữa. Cỏ Thi có hạt dùng để làm thuốc
bổ.
[4]
Đương Quy (當歸), tên
khoa học là Angelica Sinensis, thân thảo, cao từ
40cm cho đến một mét. Thân cây mọc thẳng đứng,
lá có h́nh bầu dục, hoa trắng, có trái. Loại này
thường mọc nhiều ở Cam Túc, Tứ Xuyên, Thanh
Hải, Thiểm Tây, Hồ Nam, Hồ Bắc, Quư Châu v.v… Củ
của loại cây này được dùng làm thuốc,
đôi khi c̣n gọi là Bệ, Sơn Kỳ, hay Bạch Kỳ.
Củ Đương Quy thu được, rửa sạch,
cắt thành lát mỏng, phơi khô, hoặc để trong
chỗ khô mát cho tự khô. Đông Y cho rằng
Đương Quy có tác dụng bổ gan, tim và tỳ.
Đương Quy được dùng chủ yếu để
bổ huyết, điều kinh, nhuận trường. Do
Đương Quy thường dùng trong các bài trị bệnh
phụ nữ, nên đôi khi nó c̣n được gọi là “nhân
sâm của phụ nữ”.
Xuyên
Khung (川芎) là
loài thực vật cao từ 30cm đến một mét hai,
thân thảo, ít tẽ cành, lá kép h́nh lông chim. Hoa trắng, h́nh
trứng ngược, thường mọc ở vùng Hoa Bắc,
Ấn Độ và Nepal, loại Xuyên Khung tốt nhất là
ở Tứ Xuyên. Cây thường được thu hoạch
vào mùa Hạ, khi thân cây hơi ngả sang sắc tím. Xuyên
Khung thu hái về đem rửa sạch đất cát,
phơi khô, bỏ rễ. Xuyên Khung có mùi thơm nhạt khi
phơi khô, vị đắng và cay. Nếu nhấm thử,
sẽ có cảm giác tê lưỡi, để lại dư
vị hơi ngọt. Đông Y nói dược tánh của
Xuyên Khung sẽ đi vào gan, mật và màng tim, có tác dụng
hoạt huyết, khử phong, trị đau nhức. Xuyên
Khung cũng thường được dùng để trị
chứng kinh nguyệt không đều, đau bụng khi có
kinh, đau hông, tức ngực, phong thấp v.v…
[5] Gà
Leghorn là một giống gà lai phát xuất từ vùng Tuscany của
nước Ư. Do từ năm 1828, giống gà này được
xuất cảng sang Mỹ từ hải cảng Livorno, nên
tên của giống gà này được gọi là Leghorn
(theo kiểu Anh hóa chữ Livorno). Giống gà này nổi tiếng
đẻ nhiều, chóng lớn, nên rất được
ưa chuộng. Một con gà mái có thể đẻ từ
280 trứng cho đến 320 trứng mỗi năm. Người
Mỹ đă nhập giống gà này vào các nước Á Châu,
phổ biến nhất là vào thập niên 1970, cho nên người
Việt thường quen gọi chúng là “gà Mỹ”. Người
Hoa thường gọi loại gà này theo kiểu phiên âm của
họ là gà Lai Hanh (來亨) hoặc
gà Lực Khang (力康).
[6]
Nguyên văn “kiến tiêu” (建醮).
Đây là những pháp hội cầu đảo của bọn
đạo sĩ bày ra, c̣n gọi là Đả Tiêu hoặc Tạo
Tiêu. “Tiêu” (醮) theo sách Thuyết
Văn có nghĩa là “cúng tế”.
Có thể nói tổng quát, tất cả những pháp hội
mang tính chất cầu đảo hoặc tạ ơn
đều gọi là Tiêu (醮). Chẳng hạn, xây xong hoặc tu bổ xong một
ngôi miếu, tổ chức lễ lạc thành, bèn gọi là
Khánh Thành Tiêu. Khi ôn dịch xảy ra, tổ chức cầu
cúng tống tiễn ôn thần th́ gọi là Ôn Tiêu. Siêu độ
người chết v́ lũ lụt gọi là Thủy Tiêu.
Họ lại c̣n chia Tiêu thành hai loại Thanh Tiêu (清醮, những lễ cúng tế
dành cho mục đích cầu phước, tiêu tai, giải nạn)
và U Tiêu (幽醮, những
lễ nghi siêu độ, giải oan).
[7] Phi
trùng (飛蟲): Các
loài côn trùng nhỏ biết bay như ruồi, muỗi, thiêu
thân (nắc nẻ), ong v.v…
[8] Bộ
sách này do tổ Ngẫu Ích biên soạn. Nội dung gồm
những phần trích yếu về luật tại gia,
cũng như Bồ Tát giới và các phần chú giải
quan trọng từ mười lăm bộ kinh, luật
như Tứ Phần Luật, Tam Quy Ngũ Giới Từ
Tâm Yếm Ly Công Đức Kinh, Quán Đảnh Tam Quy
Ngũ Giới Đới Bội Thân Chú Kinh, Tha Mạt Nẵng
Pháp Thiên Tử Thọ Tam Quy Y Hoạch Miễn Ác Đạo
Kinh, Thập Thiện Nghiệp Đạo Kinh, Phật Thuyết
Giới Tiêu Tai Kinh, Phật Thuyết Ưu Bà Tắc Ngũ
Giới Tướng Kinh, kinh Phạm Vơng v.v… Đến
đời Thanh, do cư sĩ Trần Hy Nguyện chủ
tŕ, với sự cộng tác của sa-môn Nguyên Hồng và
cư sĩ Nhuận Nghi đă tăng đính thành bản
lưu hành hiện thời. V́ thế, có người tưởng
lầm bộ sách này do chính cư sĩ Trần Hy Nguyện
biên soạn.
[9] Chú
giải phẩm Đà La Ni của kinh Pháp Hoa, đối với
mấy câu kệ “nhược
bất thuận ngă chú, năo loạn thuyết pháp giả,
đầu phá tác thất phần, như A Lê thụ chi,
như sát phụ mẫu tội, diệc như áp du
ương” (nếu chẳng thuận chú ta, năo loạn
người thuyết pháp, đầu vỡ thành bảy phần,
như cành cây A Lê, như tội giết cha mẹ, cũng
như họa ép dầu), Thái Hư đại sư cho biết:
Cành cây A Lê hễ rơi xuống đất, sẽ găy thành
bảy phần. Thời cổ, tại Ấn Độ,
để mưu lợi, người ta giă mè cho bể nát,
để cho nó sanh trùng, sau đó mới ép mè. Dầu thu
được sẽ nhiều hơn b́nh thường, lại
thơm hơn. Do vậy, mỗi lần ép mè, sẽ giết
chết cả vạn con trùng.
[10]
Hưng Cừ (興渠)
thường gọi bằng những tên phổ biến
hơn là A Ngu, Huân Cừ, Cáp Tát Ni, Vân Đài. Tên gọi phổ
biến nhất là A Ngụy (阿魏). Tại Trung Hoa, có người coi Nguyên Tuy (rau mùi (ng̣)
Tây, Corriander) là Hưng Cừ, nhưng Nguyên Tuy đâu có mùi
khủng khiếp như Hưng Cừ. Hưng Cừ có tên
gọi khoa học là Ferula Scorodosma, Âu Mỹ thường gọi
nó là Asafoetida. Loại thực vật này mọc nhiều nhất
tại Iran, A Phú Hăn, và được trồng khá nhiều
tại Ấn Độ. Cây đôi khi cao tới 2m. Thân nó rỗng,
chứa nhiều chất nhựa, và đây chính là thành phần
chủ yếu để làm gia vị hay làm thuốc.
Hưng Cừ khi c̣n chưa nấu chín có mùi hăng gắt
gần như hôi thối, rất khó chịu (tên gọi
Asafoetida (nhựa hôi thối) do đó mà có). Khi nấu chín,
mùi nó sẽ dễ chịu hơn, nhưng vẫn hăng gắt
giống như mùi hẹ. Người Ấn thường
sử dụng nó làm gia vị chung với bột nghệ
để nấu những món súp đậu. Đôi khi, bột
Hưng Cừ khô c̣n được trộn lẫn với
muối để trộn món salad. Điều đáng ngạc
nhiên là một số giáo phái Ấn Độ và tín đồ
đạo Jain (Kỳ Na Giáo) do kiêng không ăn tỏi, hành,
bèn dùng Hưng Cừ để thay thế. Công dụng
dược phẩm chủ yếu của nhựa Hưng Cừ
là để sát trùng, chống động kinh, cai nghiện
thuốc phiện, chữa các chứng śnh bụng, khó tiêu,
chống cảm cúm v.v…
[11]
Chương Thụ (樟樹) là một
loại cây thuộc họ Long Năo. Có người nói nó chính
là cây Long Năo.
[12] “Ăn theo phương tiện”
nghĩa là chưa thể ăn chay trường, bèn ăn
ba thứ tịnh nhục, hoặc ăn rau bên cạnh thịt,
hoặc mỗi tháng ăn chay mấy ngày.
[13]
“Chúng sanh tương khắc”: Đây là một thuyết cho
rằng mỗi loài đều có khắc tinh của nó, chẳng
hạn rết sợ gà trống. Từ đó, họ suy rộng
ra, ta ăn thịt loài vật là lẽ tự nhiên v́ ta là khắc
tinh của chúng.
[14]
Đại thoái vũ (大腿舞) là cách người Hoa dịch chữ
“lap dance”. Do không t́m
được chữ tương ứng, nên chúng tôi
đành dịch tạm như vậy.
[15] Ma
Thành (麻城) là một
thị trấn ở tỉnh Hồ Bắc, trực thuộc
thành phố Hoàng Cương, nằm phía Nam rặng Đại
Biệt, trên bờ sông Cử Thủy. Thời Xuân Thu, chỗ
này có tên là Bách Cử (柏舉), từng xảy ra một cuộc chiến lớn
giữa Ngô và Sở. Đến nhà Hậu Triệu, bộ
hạ của đại tướng Thạch Lặc là Ma
Thu (麻秋)
đă đắp thành tại đây, nên mới có tên là Ma
Thành.
[16] Tiền
(錢) là
đơn vị đo trọng lượng thời cổ.
Tiền c̣n gọi là Nhẫn (刃). Theo cách tính của
Trung Hoa, một lượng (lạng, 兩) gồm
mười tiền, một tiền là mười phân. Một
quan (貫) là một
ngàn tiền (khác với cách tính một quan tiền là sáu
trăm đồng của Việt Nam). Mười lượng
tám tiền tức là 108 tiền=108x3.75g= 405g.
[17] Ngu
sanh (đứa học tṛ ngu dại), từ ngữ xưng
hộ tự khiêm của học tṛ đối với thầy.
[18] Ông
Lư Liên Giai có ư nói đến chuyện con chuột trong bài
Vĩnh Mỗ Thị Chi Thử (chuột nhà ông họ X… ở
Vĩnh Châu) của Liễu Tông Nguyên: “Vĩnh hữu mỗ thị giả, úy nhật, câu kỵ
dị thậm. Dĩ vi kỷ sanh tuế trị Tư, thử,
Tư thần dă, nhân ái thử, bất súc miêu khuyển. Cấm
đồng vật kích thử. Thương lẫm, bào trù,
tất dĩ tư thử, bất vấn. Do thị thử
tương cáo, giai lai mỗ thị, băo thực nhi vô họa,
mỗ thị thất vô hoàn khí, di vô hoàn y, ẩm thực,
đại suất thử chi dư dă. Trú lũy lũy dữ
nhân kiêm hành, dạ tắc thiết niết đẩu bộc.
Kỳ thanh vạn trạng, bất khả dĩ tẩm,
chung bất yếm. Sổ tuế, mỗ thị tỷ
cư tha châu, hậu nhân lai cư, thử vi thái như cố.
Mỗ nhân viết: “Thị âm loại ác vật dă, đạo
bộc vưu thậm. Thả hà dĩ chí thị hồ
tai?” Giả ngũ lục miêu, hạp môn, triệt ngơa, quán
huyệt, cấu đồng la bộ chi, sát thử như
khâu, khí chi ẩn xứ, xú sổ nguyệt năi dĩ. Ô hô! Bỉ
dĩ kỳ băo thực vô họa bi khả hằng dă tai!” (Ở
Vĩnh Châu, có ông họ X… nọ, đối với chuyện
ngày sanh tháng đẻ câu nệ, kiêng kỵ quá lố. Tự
cho là ḿnh sanh nhằm năm Tư, mà chuột chính là thần vật
tượng trưng cho thần bổn mạng của
năm sanh. V́ yêu quư loài chuột, chẳng nuôi chó, mèo, chẳng
cho đầy tớ bắt giết chuột. Kho lẫm,
nhà bếp đều để mặc cho chuột hoành
hành, chẳng hỏi tới. Do vậy, chuột bảo nhau
đều đến nhà ông X… đă ăn no, c̣n chẳng mắc
họa. Trong nhà ông X… chẳng có món đồ nào c̣n nguyên vẹn;
trong tủ áo cũng chẳng có cái áo nào nguyên vẹn. Đồ
ăn, thức uống phần lớn là những thứ
c̣n sót lại của chuột. Ban ngày, chuột chạy từng
đàn chen chân với người. Đêm th́ cắn gặm,
đánh lộn chí chóe, phát ra muôn thứ âm thanh, [khiến cho
người ta] chẳng thể ngủ được.
Được mấy năm, ông X… dọn nhà sang xứ
khác. Người khác dọn đến, chuột vẫn quấy
phá như cũ. Người ấy nói: “V́ sao giống vật
xấu ác sống trong chỗ tối tăm này trộm
cướp, phá phách đến nỗi như thế?” Bèn
nuôi năm sáu con mèo, giở ngói, đào hang, thuê người
giăng lưới bắt, giết chuột. Chuột bị
giết chết, xác chất cao như cái g̣, vứt vào chỗ
kín đáo. Mùi thối cả mấy tháng mới hết. Ôi
chao! Chúng nó cứ ngỡ ăn no, không có họa hại là
chuyện vĩnh hằng ư?)
[19] Theo
nghĩa đen, Quy (規) là
cái thước để vẽ h́nh tṛn, Củ (矩) là cái thước
để vẽ h́nh vuông (tức là thước Équerre, hay gọi theo tiếng Anh là
Try Square).
[20] Ở
đây cụ Lư muốn nói tới câu tục ngữ “đừng thấy một cái vằn
mà tưởng là cả con báo”.
[21] Sáu lễ
(lục lễ, 六禮) của hôn nhân Trung Hoa theo cổ
tục:
1) Nạp
thái (納采): Sau
khi môi giới đă được chấp thuận, nhà
trai đem biếu nhà gái một cặp nhạn, để
chính thức đánh tiếng tiến hành quá tŕnh cưới
hỏi.
2) Vấn
danh (問名): Hỏi
xin tên tuổi và ngày sanh của cô gái để so tuổi hợp
hay khắc kỵ giữa đôi bên.
3) Nạp
cát (納吉): Báo
cho nhà gái biết tuổi đôi bên có hợp nhau hay không, có
thể tiếp tục tiến hành hôn lễ hay không.
4) Nạp
trưng (納徵): Nạp đồ sính lễ
cho nhà gái.
5) Thỉnh
kỳ (請期): Bàn
bạc ngày giờ rước dâu.
6)
Thân nghênh (親迎): Rước dâu.
[22]
Năm Nguyên Ḥa 14 (819) đời Đường Hiến
Tông, Hàn Dũ do dâng biểu can vua đừng rước
xương Phật ŕnh rang, suưt bị chém đầu. May nhờ
Bùi Độ can gián, mới thoát chết, bị vua đày
xuống Triều Châu làm Thứ Sử. Đến nơi,
do có thời gian b́nh tâm suy nghĩ, từ vô thần, ông dần
dần tin vào thần minh. Biết trong sông rạch vùng Triều
Châu có nhiều cá sấu, gây hại cho dân chúng rất nhiều,
ông đă viết bài Tế Ngạc Ngư Văn khuyên cá sấu
hăy dời đi. Viết xong, ông đốt bài văn thả
xuống sông. Sau đó, sông không c̣n cá sấu nữa. Bài
văn này được chép trong bộ Hàn Xương Lê
Tiên Sinh Tập.
[23] Khải
Trập (啓蟄) c̣n
gọi là Kinh Trập (驚蟄) là một
trong hai mươi bốn tiết khí (節氣) theo
Âm Lịch, nhằm lúc mặt trời chiếu đến
kinh vĩ 345 độ trên đường Hoàng Đạo.
Theo quy ước, tiết khí này bắt đầu khoảng
ngày mồng Năm hay mồng Sáu tháng Ba và kết thúc vào ngày
Hai Mươi hay Hai Mươi Mốt tháng Ba, trước
tiết Xuân Phân. Sở dĩ có tên gọi này, v́ người
Hoa vào thời cổ cho rằng: Trong tiết khí ấy, trời
sẽ nổi sấm, kinh động những con sâu
đang say ngủ trong mùa Đông. Thật ra, lúc ấy chính
là lúc khí trời chuyển từ tiết Đông sang Xuân, khí
trời ấm dần lên, các loài sâu bọ bắt đầu
sinh sôi. Đầu đời Hán, thứ tự Tiết Khí
là Lập Xuân, Kinh Trập, Vũ Thủy, Xuân Phân, Cốc
Vũ, Thanh Minh v.v… Từ đời Đông Hán trở
đi, đổi thứ tự thành Lập Xuân, Vũ Thủy,
Kinh Trập, Xuân Phân, Thanh Minh, Cốc Vũ… Thoạt đầu,
Kinh Trập được gọi là Khải Trập với
ư nghĩa sâu bọ bắt đầu sanh sôi. Về sau, do kỵ
húy Hán Cảnh Đế (Lưu Khải), nên đổi
thành tiết Kinh Trập. Trong tiết khí này, hoa đào bắt
đầu nở, do vậy, đôi khi tiết Kinh Trập
được chia thành ba “hầu” (候), tức
ba giai đoạn, gồm “đào
thỉ hoa” (桃始華, hoa
đào vừa nở), “thương
canh minh” (倉庚鳴, chim
oanh (vàng anh) hót), và “ưng hóa vi
cưu” (鷹化為鳩, chim
ưng hóa thành bồ câu).
[24] Ông
Ngô Minh An đă dẫn sai một chữ trong câu này, và chấm
câu sai, cho nên ư nghĩa của toàn thể đoạn văn
đă hoàn toàn bị biến đổi khác hẳn. Tra trong
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, câu này trong quyển
mười ba của Đại Trí Độ Luận
được ghi như sau: “Nhược
nữ nhân vị phụ mẫu, huynh đệ, tỷ muội,
phu chủ, nhi tử, thế gian pháp, vương pháp thủ
hộ, nhược phạm giả, thị danh tà dâm” (若女人為父母、兄弟、姊妹、夫主、兒子、世間法、王法守護,若犯者, 是名邪婬). Ḥa Thượng Thiện Siêu dịch: “Nếu đối với con gái
được cha mẹ, anh em, chị em, chồng, con cái,
pháp luật thế gian, và phép vua thủ hộ, mà hoặc
phạm đến, ấy gọi là tà dâm”.
[25] Chánh
điển (正典): Những vị thần
được triều đ́nh sắc phong, công nhận là
chánh thần, được ghi trong sổ bộ của
triều đ́nh, chẳng phải là những vị thần
vặt vănh hoặc bịa đặt nhảm nhí theo tín
ngưỡng dân gian.
[26] Tam
Miêu (三苗), c̣n
gọi là Hữu Miêu Thị, hoặc Miêu Dân, là một sắc
dân ở Trung Nguyên vào thời cổ, chủ yếu sống
vào vùng trung du Trường Giang, trong khoảng giữa hồ
Động Đ́nh và Bà Dương. Họ đă gia nhập
liên minh Cửu Lê chống lại cuộc xâm lăng chiếm
đất của các bộ lạc người Hán do Hoàng
Đế làm Cộng Chủ. Thời vua Nghiêu, do Tam Miêu làm
loạn, vua Nghiêu phải chinh phạt, đày họ sang vùng
núi Tam Nguy, đày thủ lănh Hoan Đâu của họ sang
Sùng Sơn.
[27] Vua
Kiệt tên thật là Hạ Lư Quư (夏履貴), là vị
vua đời thứ mười bảy của nhà Hạ,
con của Hạ Phát. Kiệt (桀) chỉ
là một danh xưng do cổ sử dùng để gọi với
ư nghĩa miệt thị một người tàn ác. Nước
Thương của Thành Thang là chư hầu nhà Hạ,
đă khởi binh lật đổ Hạ Kiệt. Bị
thua trận tại trận chiến Minh Điều, Thành
Thang tha tội chết cho Kiệt, nhưng đày Kiệt
sang Nam Sào (nay là thành phố Sào Hồ, tỉnh An Huy). Không
lâu sau, Kiệt bị bệnh chết. Sử Kư Tư Mă
Thiên chép con trai của Hạ Kiệt là Thuần Duy trốn
ra lên phía Bắc, lập ra bộ tộc Hung Nô.
[28] Tục
ngữ Trung Hoa có câu: “Qua điền
bất nạp lư, lư hạ bất chánh quan” (Trong ruộng
dưa, đừng cột lại dép. Dưới gốc mận,
đừng sửa mũ cho ngay ngắn), ư nói tránh tỵ hiềm.
V́ trong ruộng dưa, cúi xuống loay hoay buộc dép,
người ta sẽ tưởng ḿnh hái trộm dưa.
Dưới gốc mận, giơ tay sửa mũ đội
đầu, người ta tưởng kẻ ấy giả
vờ sửa mũ để bẻ trộm mận.
[29] Do v́
ư nghĩa biểu thị cung kính này, khi xá xuống phải
khom lưng sao cho hai tay thấp hơn đầu gối,
khi dâng vật ǵ th́ nâng lên ngang mày, nhằm tỏ ḷng biểu
thị sự khiêm ty, cung kính.
[30] “Cử án tề mi” là điển
tích tỏ rơ sự trân trọng, tương kính giữa vợ
chồng với nhau. Đời Đông Hán, bà Mạnh Quang
khi dọn cơm, đều nâng ngang mày cái bàn nhỏ (hoặc
loại khay có chân, thường gọi là “án”) trên đó đă đặt cơm canh mời
chồng ăn.
[31] Hiện
thời, khi cắm ba nén nhang, trong Phật môn Trung Hoa thường
dùng ư nghĩa biểu thị pháp của Ấn Độ: Cắm
nén giữa vào chính giữa trước, cắm nén bên trái
vào bên trái, rồi cắm nén cuối cùng vào bên phải. Khi
dâng phiến hương (các mảnh trầm) cũng làm
như thế. V́ theo truyền thống Ấn Độ,
người ở bên trái của vị chủ tọa có vai
tṛ quan trọng hơn.
[32] Tức
là cách xưng hô trịnh trọng, không muốn gọi thẳng
tên thầy, thường tách thành hai chữ để nói.
Chẳng hạn, để tỏ ḷng tôn kính khi tác bạch,
hoặc nhắc đến một vị tôn túc nào đó,
thường nói như thế. Ví dụ, lăo pháp sư
thượng Tịnh hạ Không, đại lăo ḥa thượng
thượng Trí hạ Tịnh, ḥa thượng thượng
Thiền hạ Tâm v.v…
[33] Quỷ
Tử Mẫu (Hārītī), c̣n gọi là Ha Lợi Đế Mẫu,
được coi là một vị thần chuyên bảo hộ
trẻ con, giúp sản phụ sanh nở dễ dàng. Trong Mật
Tông có một nghi thức tu tập riêng dành cho vị thần
này gọi là Đại Dược Xoa Nữ Hoan Hỷ Mẫu
Tinh Ái Tử Thành Tựu Pháp. Bà này vốn là một la-sát nữ,
có đến năm trăm đứa con. Để nuôi
con, bà thường bắt cóc trẻ con trong thành
Vương Xá, giết lấy máu thịt cho con ḿnh ăn.
V́ thế, đức Phật bắt đứa con bé nhất
của bà ta bỏ trong bát đậy lại. Sau khi t́m kiếm
vô vọng, Ha Lợi Đế đến chỗ Phật
thưa hỏi, than thở. Đức Phật bảo: “Bà
có năm trăm đứa con, chỉ tạm mất một
đứa mà c̣n đau khổ dường ấy, huống
hồ người khác chỉ có một hai đứa con mà
bà nỡ ḷng giết hại!” Ha Lợi Đế sám hối,
phát nguyện thôi ăn thịt trẻ con mà sẽ bảo vệ
chúng cũng như chăm sóc các sản phụ.
[34]
Đây là quy định trong cổ lễ, dựa trên quy định
từ đời Châu về cách dùng xe. Theo thiên Xuân Quan trong
Châu Lễ và thiên Khúc Lễ trong sách Lễ Kư, nam tử khi
bước lên xe tứ mă th́ phải đứng, gọi là
“lập thừa” (立乘, đứng
cưỡi xe), chỉ khi nào đă bảy mươi tuổi
mới được ngồi trên xe. Phụ nữ phải
ngồi xuống sàn xe nếu không có ghế, không được
phép đứng, nên gọi là “tọa
thừa”. Khổng Dĩnh Đạt chú giải: “Thời cổ, cưỡi xe do
bốn ngựa kéo, phải đứng trên xe. Quan viên đă
già bèn dùng xe nhỏ do một ngựa kéo, được ngồi
trên xe”.
[35] Hải
long (海龍): Ở
đây là danh từ chỉ chung các loài cá có thân h́nh rất
dài thuộc họ cá Ch́a Vôi (Syngnathidae), có rất nhiều
loại, nhưng trong Đông Y, hễ nói tới hải long
thường là các loại như:
1) Hải
long lá (diệp h́nh hải long, Phycodurus eques), có miệng dài,
đầu giống như đầu ngựa, thân có nhiều
vây giống như một nhánh rong dài có nhiều nhánh. Chúng
thường sống tại vùng biển Nam và Tây nước
Úc. Loại này đẹp nhất trong các loài hải long,
thường bị săn bắt để làm thuốc nhiều
nhất, gần như bị tuyệt chủng.
2) Tảo
hải long (Phyllopteryx taeniolatus), cũng có những
vây nhỏ dọc theo thân, nhưng không rườm rà như
hải long lá. H́nh dáng của nó khá giống con rồng của
Âu Châu, chỉ thiếu đôi cánh.
3)
Xích châu hải long (Phyllopteryx dewysea), vây ngắn, có màu
đỏ rực.
Hải Mă (海馬) chính là cá ngựa,
cũng thuộc họ cá Ch́a Vôi. Điểm khác biệt là
cá ngựa có đầu giống hệt đầu ngựa,
bụng phệ, đuôi thường cuộn lại để
bám vào rong rêu hay đá, và bơi thẳng đứng. Cá ngựa
không có vảy, da cá phủ trên nhiều tấm xương
cứng, nối liền nhau, tạo thành những khoanh ṿng
rất đặc biệt trên thân cá. Một điểm
đặc biệt khác nữa là cổ cá ngựa có thể
xoay chuyển linh hoạt. Đông Y thường dùng nó để
trị ho suyễn và chứng dương nuy. Người
Hoa tin cá ngựa có tánh chất bổ thận tráng
dương, tiêu thũng v.v… hoặc dùng làm thuốc bổ.
Ngoài ra, người Việt c̣n gọi một loài giống
như một con hải cẩu lớn, có râu và có ngà (tức
con Morse) là Hải Mă, nhưng người Hoa gọi nó là Hải
Tượng (voi biển).
[36] Luật
Sớ Bộ là phần tập hợp những chú sớ về
các bộ luật trong Đại Tạng Kinh.
[37] Kỳ-chi
là gọi tắt của chữ Tăng Kỳ Chi (Saṁghāṭi),
c̣n phiên âm là Tăng Kiệt Chi, Tăng Khước Kỳ,
Tăng Cước Y Ca, dịch nghĩa là Phú Bác (áo phủ
cánh tay). Đây là một tấm áo mặc lót dưới y
ca-sa, dùng để thấm mồ hôi hoặc ngăn hờm
(đất, cáu ghét) trên thân bám vào ca-sa. Khi không ra ngoài khất
thực, hoặc không phải là những lúc tụng kinh, lễ
bái, thính pháp, tăng sĩ có thể chỉ đắp Kỳ
Chi và quấn xà-rông ở dưới là được.
Đối với tăng chúng, kỳ-chi chỉ là một tấm
y lót, khi đắp, sẽ giống như y ca-sa, tức là
để hở vai phải. Sau này, có nơi chế thành dây
buộc cho khỏi tuột, đôi khi c̣n chế thành khóa
kéo. Kỳ-chi của ni th́ may thành áo ngắn để che
kín người. Kỳ-chi theo truyền thống Tây Tạng
được chế thành một loại áo chẽn gọi
là Ngulen, cổ xéo, không tay. Khi mặc, xếp chéo hai vạt,
nhét vào cạp xà rông, dùng đai buộc chặt. Đôi khi,
Ngulen có may cổ như cổ áo sơ-mi có nút cài, hoặc
may thành áo chui đầu.
[38] Ư nói: Xét đến
những trường hợp phạm giới th́ cố ư vi
phạm mới gọi là phạm giới.
[39] Thập
Nhị Chỉ Tràng (Duodenum), c̣n gọi là Tá Tràng, là phần
đầu của ruột non từ bao tử cho đến
Không Tràng (Jejunum). Tá Tràng dài 25-38cm, có h́nh chữ C. Thập Nhị
Chỉ Tràng đóng vai tṛ chia nhỏ các dưỡng chất
trong thức ăn thành những phần nhỏ hơn để
cơ thể có thể hấp thụ nhờ các diếu tố
(enzymes) tiết ra từ mật, gan, và tụy (lá lách),
cũng như từ lớp vách lót của chính Tá Tràng. Lớp
vách lót của đoạn cuối Tá Tràng có thể hấp
thụ chất sắt và calcium từ chất lỏng tạo
thành từ thức ăn (thường gọi là “dưỡng
trấp”) sau khi đă phân tích các chất trong thức ăn
thành các cấu trúc nhỏ hơn như lipid, protein v.v… . Tên
gọi Thập Nhị Chỉ Tràng do diễn dịch từ
ngữ Intestīnum Duodēnum Digitōrum, có thể hiểu đại lược:
Đoạn ruột non có chiều dài bằng bề rộng
của mười hai ngón tay.
[40]
Ư nói: Những
giới điều trong Bồ Tát Giới chú trọng giữ
cho hành nhân thân khẩu thanh tịnh, giữ được
chánh mạng và chánh nghiệp.
[41]
Nguyên văn “hương nguyện”
(鄉愿).
Đây là một từ ngữ chỉ kẻ giả vờ
làm ra vẻ hiền hậu, thật thà, cốt sao để
được mọi người điều thích, chuyện
ǵ cũng tán đồng, chẳng có lập trường,
ba phải, gió chiều nào che chiều ấy.
[42] “Cụ” (具) ở đây chính là tấm
ni sư đàn, c̣n gọi là tọa cụ (坐具). Đây là một tấm vải gần
như vuông vức được may từ y cũ, với
mục đích trải ra, lót dưới bồ đoàn khi tĩnh
tọa, để ngăn ngừa trùng kiến quấy nhiễu
trong khi ngồi Thiền, hoặc trải lót dưới
đất khi lễ bái để khỏi bẩn y ca-sa. Tọa
cụ được quy định rộng bốn thước
tám tấc, có viền cạp, phải nhuộm cùng màu với
y đang mặc. Tuy thế, hiện thời, nhằm biểu
thị ư tọa cụ may từ vải vụn nhặt nhạnh,
y rách cũ, tọa cụ thường may ghép từ hai ba
miếng vải có màu khác nhau. Ngoại trừ lúc truyền
giới, dường như chỉ có các vị tăng làm
chủ pháp trong các trai đàn như Thủy Lục, Diệm
Khẩu, Trai Đàn Chẩn Tế, khi lễ Phật trước
khi lên đàn, theo nghi thức có triển cụ (展具), tức là giở tọa cụ trải
lên bái điếm (拜墊, cái bục,
cái đệm để quỳ lạy) trước khi lạy
xuống, rồi xếp lại khi đứng lên. Những
nghi thức ấy nhằm tỏ vẻ kính trọng Tam Bảo
tột bậc, chứ tọa cụ đă mất hẳn
vai tṛ trong cuộc sống hiện thời. Có lẽ chỉ
có trong một số tông phái của nhà Thiền như Tào
Động hoặc Lâm Tế Nhật Bản là vẫn giữ
quy củ triển cụ khi lễ bái trong khóa tụng hằng
ngày, nhưng cũng chỉ là các vị chấp sự mới
triển cụ.