Phật Học Vấn Đáp Loại Biên

Quyển Trung

佛學問答類編

Phần 6

Lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam giải đáp

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản in của Lư Bỉnh Nam Lăo Cư Sĩ Toàn Tập Biên Tập Ủy Viên Hội, Đài Loan, 2007)

Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang

 

* Hỏi: Đối với Phật giáo, tiết dục có phạm vào nhân quả hay không? (Ngô Minh An hỏi)

         

Đáp: Cái nhân của sự tiết dục có liên quan đến hoàn cảnh của mỗi người, cho nên không ǵ là chẳng được! Nhưng phá thai th́ không được phép, hăy nên phân biệt rơ ràng!

 

* Hỏi: Tín đồ Phật giáo có thể làm nguyệt lăo (ông mai, bà mối) hay không? (Ngô Minh An hỏi)

 

          Đáp: Kẻ tại gia làm mai cho người khác chẳng trở ngại, nhưng phải do nhận lời nhờ cậy của cha mẹ người ấy, hoặc khi hôn nhân đă định, tạm thời làm người giới thiệu cho hai họ trong khi [cử hành] điển lễ [kết hôn] th́ được. Nếu quơ quào nam nữ, thúc đẩy cho chúng nó luyến ái, tức là làm kẻ môi giới cho chuyện tà dâm, hết sức chớ nên!

 

          * Hỏi: Khi làm lụng nơi ruộng, vườn, v́ sợ tổn thương sanh mạng, trong tâm thường rất bất an. Xin hăy khai thị. (Nhan Quư Nghiệp hỏi)

 

          Đáp: Kẻ tại gia ắt cần phải có nghề nghiệp, mà nông điền là nghề căn bản của nước ta, chẳng thể thay đổi. Trong lúc canh tác, hăy nên vừa canh tác vừa tŕ danh hiệu [Phật], chú nguyện [các loài trùng] xa ĺa. Chỉ cần có thành tâm, chắc chắn sẽ có cảm ứng.

 

          * Hỏi: Nếu chẳng thể ăn chay trường niệm Phật, bèn ăn rau bên cạnh thịt, có thể đến Tây Phương hay không? Nếu lại là kẻ chẳng thể ăn rau bên cạnh thịt, chỉ có thể tạm thời ăn tam tịnh nhục, có thể đến Tây Phương hay không? Như tôi thường chẳng muốn ăn thịt, nhưng hễ ra ngoài, sẽ chẳng có cách nào, ắt cần phải đến quán hàng mua cơm để ăn. Trong ḿ hoặc thức ăn đă mua, đều có xen lẫn các loại thịt. Lại nữa, khi dùng cơm tại nhà thân thích, bằng hữu, phần lớn họ đều dùng thịt của các sinh vật [để khoản đăi], tâm rất bất an, hăy nên làm như thế nào? (Nhan Quư Nghiệp hỏi)

 

          Đáp: Niệm Phật chủ yếu là chân tín, thiết nguyện. Có thể như thế th́ khi bất đắc dĩ bèn ăn tam tịnh nhục, sẽ có thể văng sanh, mà ăn rau bên cạnh thịt càng vô ngại! Mua cơm từ bên ngoài, có thể tự do dặn [người bán] đừng lấy thịt, mà chẳng trả bớt tiền, có ǵ là không được? Dùng cơm ở nhà thân hữu, hăy nên nói rơ cho họ biết trước chính ḿnh ăn chay. Nếu họ chẳng nghe theo, khi ăn bèn gắp thịt bỏ ra, chỉ nói “dạ dày không chịu nổi”. Đấy cũng là một cách phương tiện.

 

          * Hỏi: Có ông Giáp nói: “Tôi chẳng ăn chay, nhưng c̣n hơn kẻ tŕ trai mà phá giới”. Lại có ông Ất nói: “Tôi tuy tŕ trai nhưng phá giới, c̣n tốt hơn là không tŕ”. Xin hỏi hai hạng người ấy, quả báo trong tương lai sẽ như thế nào? (Châu Huệ Đức hỏi)

 

          Đáp: Do cái nhân thiện hay ác, mà đạt được cái quả [tương ứng]. Ông Ất tŕ trai là sanh ḷng nhân từ, tức là thiện, tự kết thiện quả. Phá trai là do cái tâm nhân từ bị mê muội, chính là ác, tự mắc tội quả. Người ấy vừa ác vừa thiện. Ông Giáp chẳng tŕ trai, tức là cái tâm nhân từ chẳng sanh, há có điều thiện ǵ? Đă chẳng tŕ trai, tức là chẳng phá trai, [ông ta khoe khoang “chẳng phá trai”], cũng chính là cưỡng từ đoạt lư. Nếu hỏi tới chuyện tương lai, ông Ất ắt chịu tội lẫn hưởng phước, c̣n ông Giáp chỉ có chịu tội mà thôi!

 

          * Hỏi: Có người hỏi: “Bọn tôi rất muốn tŕ trai, nhưng đồ ăn ngon ở trước mặt, liền chẳng thể tự chủ. Có cách nào hay chăng?” (Châu Huệ Đức hỏi)

 

          Đáp: Đấy chính là phạm lỗi chẳng hiểu rơ Lư. Nếu hiểu thấu triệt Lư ấy, ắt sẽ chẳng thể nuốt trôi thịt nổi! Một là nhân quả sẽ có đền bồi lẫn nhau. Kinh nói: “Người và dê nuốt lẫn nhau”. Đă hiểu, sẽ chẳng dám ăn nữa! Hai là chúng sanh trong lục đạo làm quyến thuộc của nhau. Nếu khai Thiên Nhăn, ắt sẽ có thể biết đời quá khứ. Đă hiểu rơ, sẽ chẳng nỡ ăn!

 

          * Hỏi: Đối với cách thọ Bát Quan Trai Giới, Đại Phương Tiện Phật Báo Ân Kinh quyển sáu có nói: “Tu tùng nhân thọ, bất đắc quá hạn” (Cần phải thọ từ người khác, chẳng được quá hạn). Có vị Sư nói: “Có thể tự thọ, mà cũng có thể quá hạn”. Đối với hai đằng, một là kinh, một là sư, tôi đều hết sức tin nhận, e rằng lời nói của vị Sư ấy đă dựa theo kinh nào khác mà tôi c̣n chưa thấy. Xin hăy chỉ dạy cặn kẽ. (Quách Vô Cấu hỏi)

 

          Đáp: “Tự thọ” là khi không có vị tăng truyền giới, hăy tự đối trước Phật thọ giới. Bát Quan Trai có bản chú giải lưu hành riêng; trong ấy, có nói rất cặn kẽ. Có thể thỉnh một bản để nghiên cứu kỹ càng, đúng pháp tu hành.

 

          * Hỏi: Ăn chay thông tục ([thường gọi là] “hoa trai”, 花齋) chỉ là ăn chay, chẳng phải là “quá Ngọ chẳng ăn”. Cũng có những người ăn Quán Âm Trai, Thập Trai, Lục Trai v.v… Ba thứ trai kỳ được chép trong Khóa Tụng Sáng Tối, chẳng biết là thuận theo ngày quy định ăn hoa trai của thế tục, hay là trai kỳ theo kiểu “quá Ngọ không ăn” trong Giáo? (Quách Vô Cấu hỏi)

 

          Đáp: Quán Âm Trai, Lục Trai, Thập Trai v.v… là ba thứ trai kỳ chánh thức, hoàn toàn chẳng thuận theo thói tục. “Quá Ngọ không ăn” là trừ ăn sáng ra, chỉ ở giữa trưa dùng cơm một lượt. Sau Ngọ trở đi, chẳng để cho bất cứ loại thức ăn nào vào miệng nữa. Trong giới bổn Bát Quan Trai có giải thích tường tận.

 

          * Hỏi: “Không cho mà lấy” tức là phạm giới, [vậy th́] những kẻ chuyên nhặt nhạnh giấy lộn trên mặt đất để kiếm sống có phạm giới hay không? (Lại Đống Lương hỏi)

 

          Đáp: “Không cho mà lấy” là nói đến những vật có chủ quyền. Tuy bị rơi mất trên đường, nhưng tâm chủ nhân chẳng bỏ; do vậy, cũng chẳng thể lấy! Nếu là giấy lộn, tức là thứ người ta đă vứt bỏ, chính là vật vô chủ; nhặt lấy, sẽ chẳng bị phạm giới. Như tỳ-kheo ở Tây Thổ (Ấn Độ), nhặt lấy những miếng vải hư nát bị người ta vứt bỏ ngoài ngơ, ngoài đồng, khâu chằm thành áo ca-sa, gọi là phấn tảo y (糞掃衣). Dựa theo lệ này, nên bảo “chẳng phạm!”

 

          * Hỏi: Phật Đà từ bi cứu người, mong người ta thọ giới, tu hành, chớ nên sát sanh, làm nhiều việc thiện, ắt có thể tránh khỏi nỗi khổ luân hồi, ngơ hầu có thể thành Phật. Vậy th́ đệ tử Phật chẳng thọ giới (chẳng giống như ḥa thượng, ăn chay, xuống tóc v.v… mà giống như phàm nhân) th́ có thể thành Phật hay không? Lại nữa, nhà nông do nông sản bị tổn thất mà giết các loài trùng có hại (như giết chuột) th́ có trái phản quy chế nhà Phật hay không? (Kim Xuyên hỏi)

 

          Đáp: Ư nghĩa chánh yếu của giới là “đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện”. Ngoài là tu thân, trong là đoạn Hoặc. Do vậy mà sanh Định, khai Huệ. Hành cho đến khi tâm tánh viên minh, sẽ là Phật quả. Ông nói: “Đệ tử Phật chẳng thọ giới, chẳng giống như ḥa thượng ăn chay, xuống tóc v.v… có thể thành Phật hay không?” Đức Phật có tứ chúng đệ tử tại gia và xuất gia. Kẻ tại gia chẳng cần cạo đầu. C̣n nói tới chuyện ăn chay, th́ cũng cần xét theo hoàn cảnh và tŕnh độ. Kẻ mới học chỉ không sát sanh, đó là từ bi, chẳng ngại tạm thời ăn tam tịnh nhục (chẳng nghe tiếng con vật bị giết, chẳng thấy giết, chẳng v́ ta mà giết), hoặc ăn rau bên cạnh thịt. Khi công phu tiến bộ, tự nhiên sẽ có thể ăn chay trường. Phật pháp viên dung, phương tiện có nhiều môn, nhưng [những người] có thể vâng theo pháp tinh tấn, không ai chẳng thành tựu. Muôn phần chớ sanh nghi! Nông dân chưa thọ Phật giới, chẳng có ǵ gọi là “trái phản”, nhưng có nhân quả tự nhiên; đó là điều đáng sợ vậy!

 

          * Hỏi: 1) Học nhân theo nghề bán cá tươi, trong nhà ruồi nhặng, muỗi ṃng nhiều nhất. Đối với phương diện vệ sinh, sẽ có hại cho sức khỏe, nhưng học Phật th́ phải kiêng giết. Chẳng biết là có thể dùng thuốc nước sát trùng để tiêu diệt chúng hay không? Nếu có thể dùng, có phạm sát giới hay không? Nếu chẳng thể dùng, chẳng biết có phương pháp ǵ để ngăn ngừa ruồi muỗi kéo đến gây hại cho sức khỏe hay không?

2) Cá sống có phải là một loài trong lục đạo hay không? Nhưng người niệm Phật chẳng thể ăn, làm sao buôn bán? Có phải là có tội lỗi hay không? Nhưng học nhân từ nhỏ đến nay đă làm nghề này hơn ba mươi năm. Do vậy, đổi sang nghề khác, sẽ rất khó khăn. Chẳng biết có cách ǵ để bổ cứu, mà lại c̣n sẽ có thể duy tŕ cuộc sống? (Diệp Thành Không hỏi)

 

          Đáp: Đối với câu hỏi một và hai, người học Phật hăy nên dùng thanh tịnh tài (tiền tài thanh tịnh) để duy tŕ sanh mạng. Cá là súc sanh, là một loài trong lục đạo chúng sanh. Hại thân chúng để nuôi thân ta, tiền tài [kiếm được do nghề ấy] chính là bất tịnh. Tuy chẳng phải do ta trực tiếp sát hại, nhưng ta làm kẻ bán chúng cho người khác giết hại, tức là cổ vũ, khích lệ kẻ giết hại, há có thể không chia sẻ tội lỗi với họ? Vẫn là đổi nghề th́ tốt hơn! Nếu nhất thời khó kiếm được nghề khác, tạm thời vẫn làm nghề cũ, chớ nên lại v́ đó mà giết ruồi nhặng, từ “cổ vũ, khích lệ giết chóc” biến thành “trực tiếp giết hại”. Có thể biết: Ba mươi năm qua, sát nghiệp đă tích lũy, nay đă tin Phật, hăy nên hiểu rơ nhân quả. Trước hết, trong nhà kho hăy nên quét dọn sạch sẽ, để nước đá, gắn cửa lưới, ruồi sẽ chẳng thể vào bên trong được!

 

* Hỏi: Đệ tử Phật đă thọ giới, lén lấy trước tác về Phật học của người khác xuất bản để kiếm tiền, có phạm giới trộm cắp hay không? Lại từ văn tự ngoại quốc dịch ra để làm văn tự hoằng dương Phật pháp, đề tên của chính ḿnh, có coi là trộm cắp hay không? (Thích Vĩnh Hưng hỏi)

 

          Đáp: Trong pháp thế gian, bậc quân tử hoặc hiền triết hễ trích dẫn lời của người đời trước, ắt ghi là “thư vân” (sách viết), “truyện vân” (truyện nói), hoặc “cổ nhân vân” (người xưa nói), hoặc “ngạn hữu chi viết” (có câu ngạn ngữ rằng). Tức là đối với một câu, c̣n chẳng chiếm lấy làm của chính ḿnh, huống là văn chương ư? Chẳng bán lấy tiền th́ là trộm danh; hễ bán kiếm tiền, sẽ là trộm danh kiêm trộm tiền! Giới là như thế đó, trộm cắp lẫn vọng ngữ đều cùng phạm! Kẻ đó chắc là nghĩ văn chẳng giống như tiền, chẳng coi đó là trộm cắp, chứ không có cái tâm [cố ư ăn trộm]. Biết rồi sửa đổi, sẽ giống mặt trời, mặt trăng đă mờ khuyết rồi lại tṛn sáng.

 

          * Hỏi: Đă thọ tửu giới, tức là chẳng thể uống rượu, mà người tŕ giới ắt cũng chẳng ham uống, nhưng trong t́nh thế gặp lúc tiệc tùng, thịnh t́nh khó thể khước từ, có thể quyền biến uống rượu hay không? (Thi Mộc Tu hỏi)

 

          Đáp: Văn bản về giới có khai, giá, tŕ, phạm. Nếu v́ lợi ích chúng sanh, tự cam chịu đọa lạc, cũng cho phép quyền biến khai giới. Nếu vô ích cho cả đôi bên, chỉ có cách thọ tŕ nghiêm ngặt! Chung vui trong tiệc tùng, chỉ là chuyện thù tạc thông thường. Họ đă dùng thịnh t́nh [nài ép], chỉ nên dùng lời thật, uyển chuyển từ chối. Kẻ thấu hiểu nhân t́nh, ắt sẽ chẳng cưỡng ép. Nói chung, hăy nên dùng phương tiện thiện xảo, khiến cho chính ḿnh chẳng dễ dăi phá giới, chẳng khiến cho kẻ khác v́ đó mà tạo tội, mới là đáp tạ thịnh t́nh ấy, khiến cho đôi bên đều được vẹn toàn vậy!

 

          * Hỏi: Vọng ngữ cũng có “quyền vọng ngữ” (nói dối v́ lẽ quyền biến) hay không? Xin hăy nêu thí dụ! (Thi Mộc Tu hỏi)

         

          Đáp: Nếu v́ chuyện chẳng nhằm gạt người để lợi ḿnh, thậm chí v́ hữu ích cho mọi người, chẳng ngại dùng cách quyền biến. Nhưng vận dụng quyền biến, ắt phải có chánh trí th́ mới có thể vận dụng. Nếu không, sẽ nẩy sanh những điều tệ hại! Như đức Thế Tôn chỉ vàng nói là rắn độc, ngài Duy Ma Cật không có bệnh mà bảo là đau ốm, các vị tôn giả gặp dịp pháp hội, tuy biết rơ mà vẫn cố ư hỏi han v.v… đều nhằm lợi ích chúng sanh mà ra. Suy nghĩ kỹ, [sẽ thấy] tuy thuộc quyền biến, nhưng sự thật là lư vẫn chẳng mất!

 

          * Hỏi: Trong kinh Tăng Hộ[1] có nói: “Nhị xuất gia nhân, cộng nhất bị nhục, tương băo miên cố, nhập địa ngục hỏa thiêu, bị nhục trung tương băo thọ khổ, cửu kiếp bất tức” (Hai người xuất gia v́ dùng chung chăn đệm, ôm nhau ngủ, nên đọa địa ngục lửa thiêu đốt, phải ôm nhau trong cùng một tấm chăn đệm, chịu khổ nhiều kiếp lâu xa chẳng dứt). Chẳng biết là do phạm giới điều nào mà chịu báo ấy? (Hứa Trí Thuần hỏi)

 

          Đáp: Do ôm nhau nên sanh ḷng Ái. Ái chính là Tham trong Tam Độc, hiện thành Si trong mười hai nhân duyên. Tam Độc hừng hực như lửa, cho nên cảm cái quả như thế đó.

 

          * Hỏi: Thế tục có thói quen: Sau khi sanh, phụ nữ cần phải ăn những thứ thịt như gà, cá, gan lợn v.v… để tẩm bổ. Phụ nữ theo Phật giáo ăn chay, hăy nên dùng loại thức ăn nào để thay thế? (Trần Kim Tuyền hỏi)

 

          Đáp: Sữa ḅ, dầu bơ, đậu b́[2], sữa đậu nành, cải th́a, rau chân vịt (spinach), đậu phộng, cà chua v.v… đều là những thực phẩm bổ dưỡng. Các loại trên đây đều có chứa chất béo, đản bạch chất (protein), chất sắt, chất lân (phosphore) v.v… Nếu muốn uống thuốc bổ th́ có sâm, thi[3], đương quy, xuyên khung[4] trong thuốc Bắc, các loại vitamin trong thuốc Tây, và có thể mời thầy thuốc chẩn đoán để cắt thuốc uống, cần ǵ cứ phải ăn những thứ thịt ô uế có chứa chất độc và nỗi oán kết vậy thay!

 

          * Hỏi: Ư nghĩa và công đức Bát Quan Trai là như thế nào? Người đă tŕ nửa chừng buông bỏ có mắc tội lỗi hoặc phạm giới hay không? (Trần Thanh Thanh hỏi)

 

          Đáp: Bát Quan Trai chính là đại giới xuất thế, có cùng giới đức với chư Phật. Người học chỉ có thể dốc trọn ḷng tu tŕ trong một ngày một đêm. Nếu muốn tŕ tiếp th́ phải thọ lại; có thể suy ra sự nghiêm cẩn của giới này. Ư nghĩa và công đức của giới ấy chẳng thể diễn tả trọn hết bằng vài câu được! Nhân giả hăy nên thỉnh một quyển Bát Quan Trai Khoa Chú để xem đọc, sẽ có thể biết đại khái. Ông nói “bỏ dở giữa chừng”, hăy nên phân rơ giới tuyến. Tháng này tŕ, tháng kia không tŕ, tức là thoái chuyển. Trong ngày tŕ trai, bỗng dưng bỏ dở giữa chừng th́ là phá giới. Người thoái chuyển mắc lỗi nhẹ, người phá giới mắc lỗi to lớn!

 

          * Hỏi: Giới luật Phật giáo là “cha mẹ không cho phép, chẳng được xuất gia”. Giả sử v́ hóa độ chúng sanh, bèn hy sinh tiểu ngă để xuất gia th́ có được hay không? Lại nữa, khi đức Phật xuất gia, phụ vương của Ngài cũng chẳng cho phép, Ngài một ḿnh trốn đi. V́ sợ người khác nghi vấn, cho nên đệ tử thưa hỏi trước! (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

          Đáp: Nếu thật sự phát đại tâm mong “thượng hoằng, hạ hóa”, sẽ xả cái nhỏ, giữ lấy cái lớn, [có thể] phỏng theo cái hạnh trái lệnh cha mẹ của đức Thế Tôn. Nếu là kẻ chẳng thể phát tâm như thế, mà mong xuất gia, hăy nên tuân theo luật “chẳng cho phép” của đức Thế Tôn.

 

          * Hỏi: Theo giới luật trong quy y Tam Bảo: “Sau khi đă quy y, chẳng thể lạy trời, lạy thần. Chẳng tuân thủ, sẽ mất tư cách quy y”; nhưng trong nhà đệ tử đă truyền thừa từ đời này sang đời kia, đến nay là đă mấy đời, có thờ một vị thần, tục gọi là Mă Thánh Công. Đệ tử lại chẳng thể tự ḿnh giải quyết di vật do tổ tiên để lại. Huống hồ đệ tử là một đệ tử Phật đàng hoàng, đối với chuyện dâng hương, lễ bái sáng tối, chẳng tránh khỏi đồng thời lễ bái [vị thần ấy]. Mỗi khi dâng hương, lễ bái, hằng ngày đều dấy lên ư niệm như thế này: “Có đánh mất tư cách là đệ tử Phật hay không?” Nhưng mỗi khi lễ bái, đối với tượng Phật bèn hành lễ năm vóc gieo xuống đất, đối với tượng thần chỉ xá mà thôi. Lại c̣n có khi nói với thần: “Tôn thần! Ngài hăy nên mau chóng quy y Tam Bảo th́ mới có thể liễu thoát biển khổ sanh tử”. Làm như thế, chẳng biết có phạm giới điều nhà Phật hay không? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

          Đáp: Là Phật tử chánh thức, chỉ là tuân thủ Tam Quy, chẳng c̣n quy y thiên thần nữa mà thôi, chẳng phải là không được lễ thiên thần! Ắt cần phải phân định rơ ràng giới tuyến ấy. Chỉ v́ thuận tiện cho sự chuyên tâm, cho nên tuy kính lễ, hăy nên tránh xa. Nếu chẳng thể tặng tượng thần ấy cho đền miếu, có thể chọn chỗ khác để thờ, chẳng nên để kề vai sát cánh với Phật, để ngăn ngừa cái tâm bị loạn. Hướng về vị thần ấy xá, chẳng có ǵ là không thỏa đáng. Nhà Nho nói “đừng bất kính”, nhà Phật nói “thường bất khinh”, lư đều như nhau. Khuyên lơn vị thần ấy quy y rất tốt! Chúng sanh phổ độ, cùng giúp khắp tam hữu, chính là bổn phận của Phật giáo đồ. Thuở trước, ông Châu An Sĩ đi đường gặp miếu thờ thần cũng làm như thế đó!

 

          * Hỏi: Đồng tu là cư sĩ X…. đă thọ Bồ Tát Giới, và phát tâm tŕ Bát Quan Trai. Do ăn chay, bị các chứng thiếu máu, suy dinh dưỡng v.v… khuyên vị ấy dùng sữa bột, trứng gà Leghorn[5], dầu mè v.v… vị ấy kiên quyết chẳng nghe. Khổ tu như thế, chưa chắc là đă có căn cứ trong quy chế nhà Phật? Lại nữa, trong ngày thọ Bát Quan Trai, có thể uống sữa bột hay không? (Trần Thanh Thanh hỏi)

 

          Đáp: Bát Quan Trai mỗi tháng bất quá từ sáu ngày cho đến mười ngày, mỗi ngày chỉ là quá Ngọ chẳng ăn. Nếu trong những lúc khác, điều dưỡng đúng phương pháp, làm sao có thể do ăn một bữa mà sức khỏe bị ảnh hưởng! Hơn nữa, bị thiếu máu, cũng chỉ nên dùng thuốc Bắc, thuốc Tây để bổ máu, trọn chẳng phải là do ăn một bữa trứng gà Leghorn mà có thể bổ sung đầy đủ máu được! Đây là dựa theo y lư để nói. Sữa bột, dầu mè, hoàn toàn chẳng phải là đồ mặn tanh hôi. Ngoại trừ trong ngày tŕ trai, sau khi quá Ngọ [chẳng được ăn], cũng chẳng có kinh văn nào cấm dùng! Dùng hay không, vốn do người ấy tự quyết định. Vị cư sĩ ấy đă thọ Bồ Tát đại giới, giới có giới pháp, trai có trai bổn, đều có kinh văn giới luật để làm căn cứ, vị cư sĩ ấy có sư thừa. Nhân giả chớ nên v́ t́nh cảm thế tục mà ngăn trở!

 

          * Hỏi: Đệ tử Phật không sát sanh, không ăn thịt, sống trong đoàn thể, rất bất đắc dĩ bị người khác nhờ mua, nhờ nấu thịt tanh hôi. Cụ có nghĩ làm như vậy sẽ có quả báo hay không? Có vi phạm quy chế của Phật hay không? (Chung Vân Xương hỏi)

 

          Đáp: Sống trong đoàn thể cũng có phân biệt. Nếu chính ḿnh đảm nhiệm chuyện bếp núc, bị cấp trên sai khiến, đối với những thứ như tam tịnh nhục bèn có thể phương tiện. Nếu chẳng phụ trách chuyện ấy, lại chẳng do cấp trên sai bảo, hễ gặp chuyện ấy, có thể mềm mỏng từ chối. Lại nữa, nếu là Phật tử đă thọ giới, đối với những nghề nghiệp năo hại chúng sanh, những dụng cụ như súng săn, lồng chim, lưỡi câu, lưới cá v.v…, các nghề như đồ tể, buôn rượu, đầu bếp, đánh cá v.v… đều chớ nên làm. Dẫu chẳng thọ giới, làm những nghề ấy cũng là tà mạng.

 

          * Hỏi: Tín đồ Phật giáo mua công trái ái quốc th́ có phạm giới cờ bạc hay không? (Trương Tấn Thiêm hỏi)

 

          Đáp: Đấy là chánh sách kinh tế quốc gia, chẳng thể coi là cờ bạc được. Đối với kẻ mới học lại chưa thọ giới, chẳng hiểu rơ giới tướng, tạm thời khó thể giải nói được, nhưng người tại gia ủng hộ chánh sách của quốc gia, mua [công trái] chẳng trở ngại ǵ!

 

          * Hỏi: Kẻ chẳng hiểu Phật pháp và những kẻ ngoại đạo thờ phụng Quán Thế Âm đại sĩ, lại c̣n vào ngày khánh đản mỗi năm tạo đủ mọi chuyện sát sanh, lập đàn làm pháp hội cầu cúng[6], sát hại chẳng ít sanh mạng, v́ sao vẫn có đủ thứ các điềm tốt lành? [Chẳng hạn] như lúc cử hành pháp hội th́ tiết trời quang đăng vạn dặm, hoặc là đến khi pháp hội hoàn tất, trời đổ mưa! (Lữ Minh Trưởng hỏi)

 

          Đáp: Kẻ chẳng hiểu Phật pháp và kẻ tin ngoại đạo có thể biết thờ phụng Quán Âm, tức là trong tâm có Phật. Nếu một niệm chí thành, sẽ đều có cảm ứng. C̣n như sát sanh để cúng tế, chính là hành vi sai lầm. Nghiệp của phàm nhân là thiện ác hỗn tạp, đại để là như thế, há chỉ riêng một hai kẻ phàm phu, ngoại đạo ư? C̣n những điềm tốt lành như ông đă nói, chính là v́ đă hiểu lầm. Tuy ngày hôm ấy quang đăng, nhưng thiên hạ to lớn, làm sao có thể đoán định là những chỗ khác đều b́nh lặng được? Ngày hôm ấy đổ mưa, nhưng thiên hạ to lớn, làm sao có thể đoán định [muôn dặm] đều có mưa ư? Huống hồ nếu coi trời quang đăng là cát, ắt mưa là hung; coi mưa là cát, tức quang đăng là hung! Trong ṿng một ngày, thoắt tạnh, thoắt mưa, lại đều bảo là tốt lành, tức là đă sai lầm mất rồi!

 

          * Hỏi: “Cư sĩ chẳng được đọc giới tỳ-kheo”, lời ấy có phải là xuất phát từ lời Phật dạy hay do tổ sư nói? (Trương Quân hỏi)

 

          Đáp: Đối với Luật học, kẻ hèn này hoàn toàn chẳng nghiên cứu sâu xa. Chỉ có khi thọ giới, lúc sắp truyền tỳ-kheo đại giới, hàng cư sĩ nhất loạt tránh xa, lại c̣n chẳng cho phép nghe trộm. Lại nghe thầy truyền giới căn dặn như thế, chẳng cho phép xem đọc, biết là quy chế do Phật, Tổ truyền lại. C̣n điều đó được chép trong kinh điển nào, do chưa học, nên chẳng thể chỉ ra!

 

          * Hỏi: Đă là chẳng được đọc giới tỳ-kheo, tự nhiên là cũng chẳng được xem, há chẳng phải mâu thuẫn với chuyện “pháp môn vô lượng thệ nguyện học” ư? (Trương Quân hỏi)

 

          Đáp: “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học” là nguyên tắc. Giới tỳ-kheo là giới chuyên biệt của hàng tỳ-kheo, chẳng liên quan đến hàng bạch y. Cư sĩ đọc giới, sẽ thấy lỗi của tỳ-kheo, đâm ra tự sanh chướng ngại cho chính ḿnh! Đọc những điều ấy vô ích, mà c̣n bị tổn hại. Đó là ngoại lệ, giữa Quyền và Thật, mỗi đằng đều có phương tiện, Sự Lư mới đạt đến viên dung!

 

          * Hỏi: Nếu chẳng thể xem, đối với lúc muốn in giới bổn, sẽ giảo duyệt, đối chiếu như thế nào? (Trương Quân hỏi)

 

          Đáp: Giới luật có khai, có giá. Ấn loát giới bổn, thợ in giảo chánh, đối chiếu th́ được đặc biệt cho phép, do v́ chức nghiệp, chẳng giống như cư sĩ cố t́nh trái luật xem đọc vậy!

           

          * Hỏi: Theo định chế của Phật Đà, tỳ-kheo khất thực, nhưng thí chủ các nhà phần nhiều chẳng ăn chay. Đối với đồ ăn xin được, có thể phương tiện ăn mặn hay không? (Hoàng Hàm hỏi)

 

          Đáp: Tại Ấn Độ có chuyện [tín chủ] cúng dường đồ mặn, nhưng người tiếp nhận [vật thực cúng dường] th́ có người ăn, có người không ăn, chẳng thể nói nhất loạt như nhau được. Quy chế khất thực hoàn toàn chẳng thông dụng tại nước ta. Đôi khi có người hành hạnh khất thực, th́ những người bằng ḷng bố thí đều biết đức Phật chế định ăn chay, chưa hề dùng thịt để bố thí. Người xin thấy thịt, cũng chẳng chịu nhận!

 

          * Hỏi: Làm chao ắt phải thêm rượu vào, nhưng tôi thấy từ trước đến giờ, người ăn chay ắt sẽ ăn chao. Lại như cải muối bắc thảo, cũng thêm một chút nước tỏi. Hai vật vừa nêu trên đây có thể phương tiện ăn hay không? Trọng điểm của việc ăn chay là kiêng giết, tuy ăn [chao, cải muối], chắc cũng chẳng gây hại đến đại thể! Nếu nói nghiêm ngặt một chút, trong không khí và nước có vi trần chúng sanh, ai nấy đều chẳng tránh khỏi sát hại chúng. Xin hăy chỉ dạy lẽ đúng sai! (Hoàng Hàm hỏi)

 

          Đáp: Muôn pháp ở nơi tâm. Rượu và nước tỏi đều dùng như gia vị, chẳng phải là trực tiếp uống rượu, ăn tỏi. Chẳng biết mà ăn nhầm, chẳng có ǵ đáng nói. C̣n biết mà phương tiện ăn vào, hăy xét xem cái tâm có an hay không để tự quyết định. [Sở dĩ] kiêng rượu và tỏi đều chẳng phải v́ chúng gây nên tánh tội, mà v́ những thứ ấy gây ra hôn trầm, động dục, cho nên ngăn cấm nhằm mục đích pḥng ngừa. Chưa thọ Phật giới th́ có thể tùy ư. Nếu đă thọ giới, ắt cần nên tuân thủ. Đối với sanh vật trong nước, giới luật đă có kinh văn rơ ràng [buộc hàng tỳ-kheo] lọc nước [trước khi dùng]. Sanh vật trong không khí bị giết v́ hô hấp chính là chuyện chẳng thể tránh né, cho nên giới luật chẳng chế định. Đối với những thứ có thể tránh né được mà cứ giết chóc, từ bi ở chỗ nào? Những giới điều đă được chế định đều bao hàm ư nghĩa sâu xa, chớ nên nh́n qua loa! Luật thế gian đối với chuyện sát thương c̣n có những điều khoản “chẳng thể tránh né” , “pḥng vệ chánh đáng”, đủ các trường hợp xem xét cặn kẽ. Giới luật nhà Phật tinh vi, luôn có quy định về khai, giá, chẳng phiền người đời sau bàn ngang tán dọc!

 

          * Hỏi: Tôi thấy một con nhện chăng lưới bắt những con phi trùng[7] nhỏ, chẳng biết xử trí như thế nào? Nếu để cho nó ăn, tức là thấy chết mà không cứu, ḷng chẳng nỡ! Nếu không cho nó ăn, lâu sau, con nhện ắt sẽ chết đói, tức là gián tiếp sát sanh. Đối với chuyện này vẫn là trăm nỗi băn khoăn, chẳng biết giải quyết thế nào, xin hăy khai thị! (Liêu Thanh Hoa hỏi)

 

          Đáp: Chuyện này hăy nên chia thành thong thả và cấp bách [để bàn định]. Trong sát-na ấy, phi trùng đang gặp nguy cơ đối với sanh mạng, do một niệm từ bi bèn cứu vớt là đúng. Trong sát-na ấy, con nhện không ăn, sanh mạng của nó cũng chẳng bị tổn thương! Hoàn toàn chẳng phải là chúng ta thật sự lúc nào cũng trông chừng con nhện khiến cho nó chẳng được ăn, sao lại nói là “gián tiếp giết hại” ư? Nếu muốn viên măn vẹn toàn, có thể cho nó có cái để ăn, quét sạch lưới nhện, tức là chấm dứt cái nhân tạo nghiệp của nó, mà cũng là giúp cho nó chánh mạng vậy!

 

          * Hỏi: Tín đồ tại gia của nhà Phật có một số người thâu nhận đồ đệ là do nguyên nhân nào? (Trang Khánh Hiền hỏi)

 

          Đáp: Trăm nghề hay khéo, thâu nhận đồ đệ để truyền nghề. Bậc học giả mở lớp khai giảng để truyền kiến thức. Đấy chính là nghĩa vụ đáng nên làm của người có đạo đức, có kỹ năng vậy. C̣n đối với chuyện quy y trong Phật giáo, có tánh chất khác với chuyện thâu nhận đồ đệ. Quy y Tăng chính là quy y đoàn thể các vị tỳ-kheo, chẳng phải là cá nhân thâu nhận đồ đệ hoặc người kế thừa. Vị Tăng truyền quy y cho người khác chính là đại diện cho Tăng đoàn. Tín đồ tại gia trong nhà Phật chẳng dự vào tăng đoàn tỳ-kheo, [nếu tự tiện] tiếp nhận người khác quy y với ḿnh tức là chẳng hiểu rơ luật nghi, tự ḿnh làm xằng, c̣n có nguyên nhân chi nữa?

 

          * Hỏi: Phần lớn những người làm Trụ Tŕ tự viện đều ăn chay, nhưng có một số người hoàn toàn chẳng ăn chay, có được hay không? (Trang Khánh Hiền hỏi)

 

          Đáp: Chủ tŕ tự viện chính là khuôn phép cho cả chùa. Đă chẳng thể ăn chay, sẽ chẳng thể xướng suất người khác tŕ giới! [Đối với vấn đề] có được hay không, cần phải hỏi bậc ḥa thượng tinh thông giới luật. Kẻ hèn này là hàng bạch y, chẳng hiểu rơ ư nghĩa tinh vi trong ấy!

 

          * Hỏi: Có những người xuất gia, sau khi đă xuất gia v́ liên quan đến chuyện gia đ́nh, bất đắc dĩ rời tự viện trở về nhà. Sau này có nghiệp chướng ǵ hay không? Nếu lúc có chướng ngại, tai hại, phải dùng phương pháp ǵ để bổ cứu? (Trang Khánh Hiền hỏi)

 

          Đáp: Đă là xuất gia, có lẽ chẳng cần phải trở về hỏi đến chuyện nhà nữa. Nếu có chuyện bất đắc dĩ, trong luật nghi đối với quy củ trở về nhà đều có kinh văn rơ ràng, chẳng đến nỗi phát sanh chướng ngại, tai hại! Nếu có chướng ngại, tai hại, hăy tuân theo luật nghi để tự xử!

 

          * Hỏi: Có một kẻ đă thọ giới, nếu nói chuyện đúng sai của người khác th́ có phạm giới hay không? (Trang Khánh Hiền hỏi)

 

          Đáp: Trong Ngũ Giới, đó là tội vọng ngữ. Theo Bồ Tát Giới, sẽ là tội “hủy báng người khác”, đều là vi phạm. Nhưng đối với việc nói chuyện thị phi của người khác, hăy nên phân định: Khuyến cáo ngay trước mặt, hay hủy báng sau lưng? Nếu nói ở một mức độ cao hơn, dẫu chẳng thọ giới, nói chuyện thị phi của người khác, hoặc truyền bá lời đồn, đấy cũng chẳng phải là hành vi của bậc quân tử vậy!

 

          * Hỏi: Đối với bất luận h́nh tượng Phật, Bồ Tát là đắp hay vẽ, đều chẳng thể phá hoại. Hễ phạm phải, sẽ giống như làm thân Phật chảy máu, sẽ đọa trong Vô Gián địa ngục. Đối với loại lịch tháng của Phật giáo, mỗi năm thay đổi một lần, hăy nên xử trí những quyển lịch cũ như thế nào? (Trương Quân hỏi)

 

          Đáp: Hăy nên để cùng chỗ với kinh điển, hoặc thiêu rồi vùi nơi đất sạch, hoặc bỏ [tro] xuống chỗ nước trong, đều không có ǵ là chẳng được!

 

          * Hỏi: Phật dạy kiêng sát sanh. Những loài trùng có hại như chuột, muỗi, ruồi v.v… có thuộc trong phạm vi của giới ấy hay không? (Lâm Chánh Khảo hỏi)

 

          Đáp: Phàm những loài hàm thức (tức động vật) đều bao gồm trong ấy, chẳng cần biết là thân thể của chúng to hay nhỏ!

 

          * Hỏi: Ưu-bà-tắc đă thọ Bồ Tát Giới mà ăn trứng hoặc uống rượu bổ th́ có phạm giới hay không? (Lâm Chánh Khảo hỏi)

 

          Đáp: Đều chẳng nên dùng.

 

          * Hỏi: Có thể cử hành hôn lễ ở tự viện hay không? Cũng như có thể thỉnh ḥa thượng chứng hôn hay không? (Lâm Chánh Khảo hỏi)

 

          Đáp: Phật giáo lấy thanh tịnh trang nghiêm làm chủ, chẳng giống những tôn giáo khác không ngăn cấm chuyện nam nữ. Nếu đệ tử tại gia nhà Phật kết hôn, có thể cử hành tại các cơ quan công cộng của Phật giáo, so ra sẽ thuận tiện hơn. Bởi lẽ, đối với chuyện nghi lễ, trước kia, những vị cầm quyền và người nắm giữ học thuật đều có quy chế nhất định, tức là có chuẩn mực để tuân theo. Sống trong làng quê hay nơi ruộng rẫy, cũng phải tuân theo phong tục của vùng quê ấy, tức là có chuẩn mực để noi theo. Ngày nay, đối với những lễ nghi c̣n chưa có chế định, cơi tục thường xen lẫn những kiểu cách của Tây Phương, ngoại quốc, rất khó nói là đúng hay sai! Tuy nhiên, đối với người khác th́ không ǵ là chẳng được. Kẻ nghe theo luật nghi nhà Phật, nay vẫn nên tuân thủ [những luật nghi ấy], đừng hủy hoại! [Cử hành hôn lễ trong chùa có] được phép hay không, đương nhiên là có thể có những ư nghĩa bao hàm [trong luật nghi để bậc xuất gia tinh thông giới luật] có thể t́m ṭi [để tự quyết định]. Kẻ hèn này là hàng bạch y tại gia, chẳng hiểu nghi thức thuộc về Tỳ Ni (giới luật) trong chốn tùng lâm. Mong cư sĩ hăy hướng về bậc thông hiểu để thưa hỏi vấn đề này!

 

          * Hỏi: Kiêng sát sanh th́ “sanh” có ư nghĩa như thế nào? (Trần Thái Thụ hỏi)

 

          Đáp: Chữ “sanh” chỉ cái thân do các duyên ḥa hợp [mà thành]. Thân ấy có thọ mạng trong một khoảng thời gian, tức là “sanh mạng”, nói đơn giản là “sanh”.

 

          * Hỏi: “Sanh vật” chính là tướng. Nếu tướng là Không, cần ǵ phải kiêng sát sanh? (Trần Thái Thụ hỏi)

 

          Đáp: Sanh vật chính là tướng Không, nói theo lư luận, chẳng sai! Nhưng xét theo thời gian của sanh mạng, t́nh thức kư thác, thức có thấy, nghe, hay, biết, t́nh có mừng, giận, buồn, vui; giết chóc sẽ kích thích những t́nh thức ấy. T́nh thức của những con vật bị giết ấy sẽ sanh ra thống khổ, lại c̣n đoạn mất thời gian thọ mạng của chúng, cho nên chẳng nỡ giết. Ta cũng là một loài sanh vật, tuy có thể hiểu Không, nhưng vẫn chưa thể thấy thấu suốt. Do vậy, cảm nhận sự thống khổ. Những con vật đó yêu tiếc sanh mạng, chẳng hiểu tánh Không, làm sao có thể chẳng yêu mến sanh mạng? Từ [cảm nhận của] chính ḿnh, thấu hiểu tâm t́nh của chúng; v́ thế, đề xướng kiêng giết!

 

          * Hỏi: Tại gia đệ tử sau khi đă thọ Bồ Tát Giới, tŕ Bát Quan Trai Giới th́ chỉ có thể giữ Lục Trai Nhật, chẳng thể giữ ba tháng trai. [Như vậy th́] có phá toàn thể giới ấy hay không? (Tâm Dung hỏi)

 

          Đáp: Nếu chưa phát nguyện tŕ trai ba tháng, chẳng tŕ th́ chẳng phải là phá giới. Nhưng đă thọ Bồ Tát Giới, theo lẽ, hăy nên ăn chay trường. Nếu nhất thời chưa làm được, cũng nên tập luyện sao cho dần dần gần được như vậy th́ mới nên!

 

          * Hỏi: Từng nghe một vị pháp sư nói, phàm ai muốn xuất gia, ắt cần phải được cha mẹ chấp thuận th́ mới có thể chánh thức thọ giới, xuất gia. Nay gia huynh trốn nhà nương tựa cửa Phật, thầy của anh ấy có thể thâu nhận hay không? Nếu không, lại phải xử trí như thế nào? (Tiêu Quốc Hùng hỏi)

 

          Đáp: Lời của vị pháp sư ấy nói là có căn cứ, c̣n như vị thầy mà lệnh huynh đă nương náu rốt cuộc sẽ làm như thế nào, người khác cũng khó ḷng dự đoán được!

 

          * Hỏi: Có người chuyên sống bằng nghề đánh cá, chẳng thể đổi nghề, nhưng chịu niệm Phật, nếu khi lâm chung đạt được nhất tâm, có thể đới nghiệp văng sanh hay không? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

          Đáp: Giết sanh mạng kẻ khác để nuôi sanh mạng của ta. Sanh mạng của ta do giết kẻ khác mà sống c̣n, sanh mạng kiểu ấy chẳng thể coi là chánh đáng! Trước khi học Phật, mê muội chánh lư, xét theo t́nh th́ c̣n có thể dung thứ, hăy nên sám hối. Sau khi đă niệm Phật, hăy nên sửa đổi. Nếu không, do rộng kết oán thù, sợ sẽ gây trở ngại cho nhất tâm. Nếu lâm chung không bị chướng ngại, niệm Phật đạt đến nhất tâm; đă đạt đến nhất tâm, lẽ đâu chẳng văng sanh! Nhưng nếu chưa đạt đến nhất tâm, chẳng phải là chuyện cầu may đâu nhé!

 

          * Hỏi: Làm nghề dùng ba thứ tịnh nhục để gia công thành thực phẩm chế biến sẵn th́ có tội lỗi hay không? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

          Đáp: Trước đó, đă làm nghề này, sau đấy học Phật, nhất thời khó thể đổi nghề được th́ trong lúc gia công, chế biến, có thể niệm Phật, tŕ chú siêu độ cho chúng. Đấy cũng là phương tiện bất đắc dĩ. Nếu trước đó đă học Phật, sau đấy mới làm nghề này th́ không thể được!

 

          * Hỏi: Làm nghề phụ bằng cách nuôi dưỡng những thứ gia súc, gia cầm chẳng phải để làm thực phẩm th́ có được hay không? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

          Đáp: “Chẳng phải làm thực phẩm” là nói tới loại gia súc, gia cầm nào? Có phải là những gia cầm, gia súc để nuôi làm cảnh hay không? Những loại cầm thú ấy nếu chẳng phải là loại có thể làm hại những động vật khác, và chẳng bị nhốt trong lồng, xiềng trói, giam nhốt th́ có thể dung thông.

 

          * Hỏi: Trên đường sá hoặc chốn công cộng, gặp tiền bạc đánh rơi, không đáng giá để báo cảnh sát, bèn nhặt lấy để quyên tặng làm việc thiện, có được hay không? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

         

          Đáp: Vật chẳng phải là của ta có, ta chẳng có quyền phân xử. Đă là chẳng đáng giá để báo cảnh sát, có thể chẳng hỏi đến, chẳng nhặt! Kẻ hèn này nghĩ: Phàm những vật có thể quyên tặng làm thiện sự, không ǵ là chẳng thể báo cảnh sát!

 

          * Hỏi: Phụ nữ v́ học Phật, hoặc v́ hoàn cảnh gia đ́nh, phải tiết chế sanh nở, hoặc đoạn trừ sanh nở. Có thể làm như vậy hay không? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

          Đáp: Phụ nữ v́ gia kế mà tiết chế hoặc đoạn trừ chuyện sanh nở, đó là vấn đề kinh tế gia đ́nh, người khác chẳng tiện bàn luận thay cho họ. Nếu do học Phật mà làm như thế, nhất định phải được bố mẹ chồng, chồng v.v... đồng ư, chớ nên tự tiện mà làm! Bởi lẽ, thế tục cưới vợ, đều rất thích đông con lắm cháu; nếu tự tiện chủ trương, chắc chắn sẽ dẫn đến sự xáo động trong gia đ́nh, cũng v́ lẽ đó, không thể nói là Phật giáo chẳng bị ảnh hưởng lây. Chớ nên không thận trọng!

 

          * Hỏi: Ḥa thượng Đông Dương (Nhật Bản) lấy vợ, ăn thịt, chẳng biết là do căn cứ trên loại lư luận nào? Tin Phật, niệm Phật, mà chẳng tuân theo giới luật do đức Phật chế định, có phải là phạm giới hay không? Hạng người xuất gia ấy có thể dựa theo Du Già Sư Địa Luận để gọi là Tương Tự Bồ Tát hay không? (Lữu Mậu Thịnh hỏi)

 

          Đáp: Người thọ giới mà trái nghịch [giới luật] th́ là phạm giới. Kẻ chẳng thọ, sẽ chẳng thể nói là phạm, nhưng ắt có nhân quả tồn tại. Kẻ hèn này chỉ nghe nói: Ba mươi địa vị thuộc hàng Địa Tiền (trước khi chứng Sơ Địa), phát khởi trí huệ giống như chân giác, có thể chế phục phiền năo, bèn gọi là Tương Tự Bồ Tát. Hạng người như cư sĩ đă hỏi sợ rằng chẳng phải!

 

          * Hỏi: Do bệnh mà ăn trứng gà Leghorn chưa có cồ, nói theo phương diện tŕ giới, có thể dung thông hay không? (Lữu Mậu Thịnh hỏi)

 

          Đáp: Loại trứng ấy do không có cồ, nên có thể dung thông.

 

          * Hỏi: Phóng sanh mà chẳng chiếu theo nghi thức phóng sanh, có phải công đức cũng là vô lượng hay không? Xin hăy dạy cho! (Trần Đăng Phùng hỏi)

 

          Đáp: Phóng sanh là cứu thân mạng của chúng. Hành theo nghi thức nhằm độ huệ mạng của chúng. Nhưng nghi thức há có phải là ai nấy đều biết! Chỉ nên tụng một loại chú, hoặc có thể chẳng niệm chú, chỉ niệm Phật cho chúng, v́ chúng nó nói Tam Quy Y, công đức sẽ là vô lượng.

 

          * Hỏi: Muỗi bay vào mắt chúng ta bị chết, có phải là tội lỗi của chúng ta hay không? (Trần Đăng Phùng hỏi)

 

          Đáp: Ta chẳng có tâm sát hại, mà cũng chẳng phạm lỗi lắp đặt cơ cấu giết hại, há có tội ư? Những loài phi trùng ấy bị chết, giống như kẻ không cẩn thận, sảy chân té xuống nước. Nước chẳng chịu trách nhiệm, mà là do người sảy chân chẳng may mà thôi!

 

          * Hỏi: Tôi từng nghe người hiểu Phật lư nói: “Hoài thai th́ trong ṿng một, hai tháng, vẫn có thể v́ phương tiện mà phá thai, do v́ thần thức chưa định!” Chẳng biết người ấy nói có đúng hay không? (“Phương tiện” như người ấy nói chính là nói đến sự nghiệp hoằng pháp, v́ chuyện lớn mà bỏ điều nhỏ nhặt vậy). (Lâm Huệ Minh hỏi)

 

          Đáp: Trước hết, chẳng bàn lời lẽ của kẻ thông hiểu Phật lư ấy là đúng hay không. Ngẫu nhiên nêu ra câu hỏi ấy, là có ư ǵ? Lại để trong dấu ngoặc [nói phương tiện] là nói về sự nghiệp hoằng pháp, v́ chuyện nhỏ nhặt mà bỏ điều lớn lao, tợ hồ hiện thời quả thật có chuyện ấy! Có phải là vợ chồng hay không? V́ sao mà phá thai? Tôi chẳng hiểu rơ sự thật, cho nên chẳng dám bộp chộp bàn luận lư lẽ suông!

 

          * Hỏi: Tín đồ Phật giáo chúng ta có phải là cũng cần lễ bái chư thần hay không? (Như Ma Tổ, Thành Hoàng) (Trần Đăng Phùng hỏi)

 

          Đáp: Lễ bái và quy y khác nhau. Bái lạy chỉ là ông dùng lễ tiết cung kính. Phật giáo coi trọng b́nh đẳng, từ bi, chẳng quan tâm là thiên thần, quỷ, người v.v… hăy nên nhất loạt đối xử lễ độ. Quy y là tín phụng giáo pháp của vị ấy. Giới điều của đệ tử Phật là chỉ tín phụng Tam Bảo, đấy là chánh đáng. Tín phụng những ǵ khác với Tam Bảo th́ chính là phá giới, nương theo lẽ tà!

 

          * Hỏi: Tuyên dương chân lư của đức Phật, nhằm nêu chứng cớ khiến cho người khác tin tưởng, có thể nói với người khác là chính ḿnh đích thân thấy Phật thuyết pháp hay không? (Trần Đăng Phùng hỏi)

 

          Đáp: Đức Phật răn cấm vọng ngữ. Chuyện ấy tuyệt đối chớ nên làm. Hễ làm, sẽ trở thành cuồng loạn, chiêu cảm ma, tạo tội vô cùng!

 

          * Hỏi: Giả sử là có trứng chim bèn đem ấp cho nở thành chim con, tức là tạo tác sanh tử. Kẻ ăn trứng ấy sẽ phạm giới, nhưng bỏ mặc th́ là sát sanh! Xin hỏi có phương pháp nào để được viên măn hay không? (Trần Đăng Phùng hỏi)

 

          Đáp: Thế giới vô tận, kẻ tạo tác sanh tử trong lục đạo, số lượng há chỉ là vô lượng hằng sa? Cư sĩ có thể đoạn cơ hội sống sót của từng loài hay sao? Trứng loài chim ấy có mầm sống, nó sống sót chẳng liên quan đến cư sĩ. Trứng không có mầm sống mà diệt th́ cũng chẳng liên quan đến cư sĩ! Nếu phát Bồ Đề tâm, nó sanh th́ hăy nên dùng pháp bố thí, nó diệt th́ cũng dùng pháp bố thí. Nếu nhặt lấy để ăn, đă biết là phạm giới, sao c̣n khổ sở làm chuyện đó? Chuyện chẳng liên can đến ḿnh, sao cứ khăng khăng chuốc lấy việc? Giới có điều khoản rơ ràng, [thế mà] cứ khăng khăng phạm giới. Vốn tự vô ngại, cứ khăng khăng hỏi chuyện viên măn!

 

          * Hỏi: Theo Tŕ Tâm Phạm Thiên Sở Vấn Kinh: “Phạm Thiên bạch Phật: Hà vị thân cận Như Lai hạnh? Phật viết: Ninh thất thân mạng, bất hủy cấm giới” (Phạm Thiên bạch Phật: “Như thế nào gọi là hạnh thân cận Như Lai?” Đức Phật bảo: “Thà mất thân mạng, chẳng hủy giới cấm”). Nếu cha mẹ già cả, khí lực hư nhược, lắm bệnh, ắt phải nấu gà để tẩm bổ. Hàng tại gia Bồ Tát v́ phụng sự cha mẹ, [làm như vậy], có hủy cấm giới hay không? Giết rồi nấu nướng có được hay không? (Ngô Minh An hỏi)

 

          Đáp: [Quan niệm] “gà có thể tẩm bổ” thuần là lập luận của thế tục! Kẻ giàu có hằng ngày ăn gà, lợn, chưa thấy ai nấy đều khỏe mạnh! Đấy là chứng cớ rơ ràng! [Tẩm bổ bằng gà, lợn] cũng chẳng phù hợp y lư. Cha mẹ thích ăn là do thường ngày chẳng giảng giải nhân quả, khiến cho cha mẹ tăng phước, sống lâu, [nay cha mẹ muốn ăn] chỉ đành tùy duyên. Tôi sẽ v́ ông mà nói phương tiện: Đức Phật dạy có ba loại tịnh nhục, chính là “chẳng v́ ta mà giết, chẳng thấy giết, chẳng nghe tiếng chúng bị giết”. Nói đơn giản, chính là ngoài chợ có bán gà, lợn đă giết sẵn, có thể mua về nấu nướng cho cha mẹ dùng. Những thứ ấy có ăn măi cũng chẳng hết, cần ǵ phải đích thân ra tay giết hại!

 

          * Hỏi: Vợ chồng ăn nằm với nhau th́ tại gia Bồ Tát Giới chẳng có cấm kỵ, đúng không? (Ngô Minh An hỏi)

 

          Đáp: Học nhân tại gia chỉ răn không tà dâm. Vợ chồng ăn nằm chẳng phạm lệ cấm. Nhưng trong ngày trai, ngày thánh đản của Phật, Bồ Tát, ngày giỗ tổ tiên, hoặc trong ngày sanh nhật của cha mẹ và chính ḿnh v.v… cũng nên giữ thân thanh tịnh!

 

          * Hỏi: Thất giá tội là ǵ? (Ngô Minh An hỏi)

 

          Đáp: Chính là bảy tội nghịch theo Đại Thừa. Phạm một trong bảy tội nghịch ấy, sẽ bị ngăn trở chẳng được thọ Bồ Tát Giới, nên gọi là “giá tội” (遮罪, tội gây nên sự ngăn trở). Thất giá tội: Một là làm thân Phật chảy máu, hai là giết cha, ba là giết mẹ, bốn là giết ḥa thượng, năm là giết A Xà Lê, sáu là phá yết-ma chuyển pháp luân tăng, bảy là giết thánh nhân.

 

          * Hỏi: Kể từ khi hậu học tin Phật tới nay, liền tŕ trai, kiêng giết. Chỉ cảm nhận giới Chánh Mạng trong Bát Chánh Đạo dạy “đừng mưu sinh bằng tà mạng”. Ở nơi đây, hậu học mở tiệm bán xe đạp, bán kèm thêm các linh kiện của động cơ thuyền máy. Nhưng ở nơi đây, thuyền máy tuyệt đại đa số là thuyền đánh cá, thuyền dùng chở khách rất ít. Nếu bán những linh kiện ấy, sợ gặp trở ngại v́ đă gián tiếp giúp đỡ những người đánh cá ấy. Tôi cảm thấy rất băn khoăn, xin hỏi đại đức là buôn bán linh kiện của động cơ thuyền máy như vậy có trái nghịch đạo Chánh Mạng hay không? Nếu chẳng thể, tôi sẽ lập tức dẹp các loại động cơ cho thuyền máy, chuyên bán xe đạp vậy! (Hoàng Thanh Vinh hỏi)

 

          Đáp: Đối với t́nh h́nh kinh doanh tại quư xứ, kẻ hèn này thiếu hiểu biết, nhưng thấy cư sĩ lo nghĩ về đạo Chánh Mạng, khâm phục, bội phục sâu xa! Nếu “dẹp động cơ thuyền máy, chuyên bán xe đạp” chẳng có ảnh hưởng to lớn đối với thâu nhập của doanh nghiệp th́ vẫn là đổi nghề sẽ tốt hơn! Bởi những linh kiện động cơ thuyền máy, cố nhiên chẳng phải là [dụng cụ gây tạo] nghiệp sát sanh, chỉ có điều những thuyền chuyên đánh cá sử dụng những thứ ấy, nên chúng biến thành công cụ để đánh cá, chẳng phù hợp đạo Chánh Mạng vậy!

 

          * Hỏi: Ngũ Giới lấy giới sát sanh làm đầu, có thể thấy được tánh chất trọng yếu của nó, nhưng trong sách của Hoằng Nhất đại sư, nơi trang năm mươi hai, trong bức thư gởi cho cư sĩ Liêu Địch Nguyên, có nói: “Trước hết, hăy nên thọ hai giới chẳng tà dâm và chẳng uống rượu, những giới khác sẽ từ từ thọ sau…” Xét theo Lư, phải nên thọ giới chẳng sát sanh trước mới là đúng. Sư Hoằng Nhất lại ngược ngạo xếp giới chẳng sát sanh vào loại giới có thể từ từ thọ, chẳng hiểu ư nghĩa ra sao? (Liêu Thanh Hoa hỏi)

 

          Đáp: Hiện thời, các bản in chẳng phải chỉ có một loại, số trang chẳng giống nhau. Tôi tuy chẳng kiểm lại bức thư của ngài Hoằng Nhất, nhưng trộm suy lường ư nghĩa: Đức Phật và các vị tổ sư độ chúng sanh, đều như lương y kê toa, ứng theo căn bệnh mà bốc thuốc, lắm cách thiện xảo. Có lẽ lúc ấy Liêu cư sĩ là người đắm đuối tửu sắc; v́ thế, ngài Hoằng Nhất dùng giới dâm và giới tửu răn bảo trước. Nếu lấy giới sát làm đầu, dựa theo đó để truyền dạy, đó là Thông. Trước hết dạy về giới dâm và giới tửu, chính là Biệt. Ông Liêu mắc tật tửu sắc, lại ngược ngạo dạy giới sát, sẽ giống như tay bị ghẻ nhọt, cứ một mực bôi thuốc nơi chân!

 

          * Hỏi: Người ăn chay trường có thể uống sữa ḅ hay không? Khi bị bệnh, nếu nhất định phải uống thuốc có thêm thịt th́ có được hay không? (Trần Đăng Phùng hỏi)

 

          Đáp: Sữa ḅ chẳng phải là do sát sanh mà có, cho nên có thể uống. Khi bệnh, cần uống thuốc, nếu bắt buộc phải dùng động vật, hăy nên chọn năm thứ tịnh nhục, để coi là thuốc. Chớ nên sát sanh để chế thuốc, hoặc sát sanh để điều chế thuốc bổ.

 

          * Hỏi: Gần đây, tôi có ư nghĩ thực hành Ngũ Giới. Ở tiệm ăn, đối với những thứ cá, thịt v.v… rốt cục chẳng nỡ ḷng ăn. Chuyện này đối với chuyện dinh dưỡng đều là vấn đề, vừa bất tiện mà cũng vừa là khổ năo! (Trần Hướng Phước hỏi)

 

          Đáp: Không nỡ ăn thịt chúng sanh, đủ thấy là đời trước có đại căn khí! Thật ra, các loại thịt chẳng hợp lẽ vệ sinh. Do gần đây, khoa học tiến bộ, [phát hiện] vitamin trong rau đậu xác thực là tốt hơn các loại thịt, lại c̣n chẳng chứa chất độc, chẳng gây nên các căn bệnh ngặt nghèo. Gần đây, rất nhiều người Mỹ chẳng ăn dầu bơ, mà dùng dầu thực vật để thay thế, cho là chất béo động vật có thể gây xơ cứng huyết quản, các loại thịt dễ dẫn đến chứng ung thư gan. Xét như thế, há chúng có chất dinh dưỡng ǵ? Trước mắt, bất quá là vấn đề có thuận tiện hay không? Chẳng thể dứt thịt, chỉ cầu kiêng giết, hoặc ăn ba thứ tịnh nhục, hoặc ăn rau bên cạnh thịt, bi tâm ngày một tăng trưởng, công đức mỗi ngày một tăng!

 

          * Hỏi: Phật giáo tối kỵ giết chóc, bởi lẽ, hết thảy hữu t́nh chúng sanh đều có Phật Tánh, b́nh đẳng với ta. Nhưng những loài như ruồi, muỗi, bọ chét v.v… làm môi giới lan truyền bệnh tật. Chẳng giết chúng, sẽ có hại cho sức khỏe của nhân loại, cho đến chẳng có cách nào sanh tồn! Giết chúng th́ lại trái nghịch Phật lư (đối với chuyện này, tăng chúng cũng có nhiều ư kiến chẳng nhất trí). V́ thế, chuyện rơ rệt nhất để hàng nhân sĩ trong xă hội bươi móc Phật giáo cũng là v́ điểm này. Họ cho rằng Phật giáo trái nghịch khoa học thường thức. Cao kiến của thầy là như thế nào? (La Kiếm Nhân hỏi)

 

          Đáp: Thiên hạ vạn sự, đôi bên mâu thuẫn, há chỉ có một mối, phải khéo léo ngăn ngừa mà thôi! Nếu cứ ắt phải đề xướng “giết kẻ khác để chính ḿnh tồn tại”, tức là tạo thành đầu mối đấu tranh. Thuyết cạnh tranh sanh tồn như Đạt Thị (Charles Darwin) đă nói, thật ra là cạnh tranh tử vong vậy! Nếu nói theo lẽ b́nh đẳng, sẽ là “vạn vật cùng sanh tồn, chẳng tổn hại lẫn nhau”. Nho gia c̣n có tư tưởng ấy, chẳng phải là riêng ḿnh nhà Phật giác ngộ! Nếu biết pḥng ngừa, hết thảy sẽ được giải quyết. Phật lư vốn tự viên dung; đừng nên v́ ư kiến của những gă ngây ngốc mà phân vân. C̣n đối với những kẻ bươi móc từng chuyện, càng chẳng đáng để coi trọng! Đối với phương cách ngăn ngừa, lư tột cùng vi diệu, an ổn vô sự. Bỏ cách ấy, sẽ chẳng có cách nào khác! Nếu ông chẳng tin, nay tôi đề ra một câu hỏi: Hăy xét xem, xưa nay có những nước về sau vong quốc, chẳng mất vào tay kẻ địch bên ngoài, th́ là mất v́ nội loạn. Tức là ngoại tộc và dân trong nước ấy đều là những thứ có hại cho đất nước. Nếu dự pḥng kế sách bảo vệ đất nước, trước hết có nên giết sạch ngoại tộc và quốc dân hay không?

 

          * Hỏi: Do vô t́nh đập chết muỗi, do chẳng hay biết mà đạp chết kiến, có phạm sát giới hay không? (Dương Châu Ngọc Kiều hỏi)

 

          Đáp: Đấy là vô tâm làm ác, chỉ là vô ư, chỉ gọi là lầm lỗi, chẳng phải là cố ư phạm tội!

 

          * Hỏi: Người đă thọ giới, trong một hai t́nh huống phạm giới, có phải là sẽ chịu luân hồi khổ sở hơn người chẳng thọ giới hay không? (Dương Châu Ngọc Kiều hỏi)

 

          Đáp: Đối với những điều ác như giết, trộm v.v… chẳng cần biết có thọ giới hay không, phàm ai tạo tội, đều hứng chịu quả báo tương đương! Chỉ có điều, người thọ giới phạm tội, chính là do chẳng đủ nhẫn lực, một đôi khi phạm giới, tội ấy c̣n ít. Kẻ chẳng thọ giới, do chẳng biết đó là sai trái, thường xuyên tạo ác, tội dần dần tích lũy sâu dầy. Kẻ ác ít, sẽ chịu khổ báo ít; kẻ ác dầy, sẽ hứng chịu khổ báo sâu dầy. Nghĩa lư rơ rệt, có thể suy ra mà hiểu rơ. Nhưng kẻ thọ giới đôi khi phạm giới, phá giới, có thể cực lực sám hối, ḥng đền bồi về sau. Nếu không, tuy phạm tội ít mỏng hơn kẻ kia (kẻ chẳng thọ giới), nhưng lại đèo thêm cái tội phạm giới, lừa Phật!

 

          * Hỏi: Trong vườn của người bạn trổ hoa đẹp đẽ, nhằm lúc chẳng có ai ở nhà, không có cách nào hỏi xin, bèn tự tiện bẻ hoa đem về cúng Phật. Có phạm giới trộm cắp hay không? (Dương Châu Ngọc Kiều hỏi)

 

          Đáp: Vật chẳng do chính ḿnh làm chủ, chẳng cần biết nó thuộc về ai, hễ không cho mà lấy, đều gọi là “trộm cắp”! C̣n sau khi đă trộm, sử dụng như thế nào, đều chẳng thể bào chữa cho cái tội trộm cắp ấy! Bất quá vật lớn hay nhỏ, nhiều hay ít, đều có [quả báo] nặng hay nhẹ khác nhau mà thôi.

 

          * Hỏi: Trong Tại Gia Luật Yếu Quảng Tập[8], quyển thứ ba, trang bốn mươi, ḍng thứ chín, có đoạn viết: “Nhược Ưu-bà-tắc cộng dâm nữ hành dâm, bất dữ trực giả, phạm tà dâm bất khả hối, dữ trực vô phạm” (Nếu Ưu-bà-tắc hành dâm với gái điếm mà chẳng trả tiền th́ phạm tội tà dâm, chẳng thể sám hối. Hễ trả tiền th́ chẳng phạm). Đă là “dữ trực vô phạm” (trả tiền th́ chẳng phạm), [vậy th́] Ưu-bà-tắc có thể qua lại với bọn kỹ nữ để t́m vui ư? Điều này khó hiểu! Xin lăo cư sĩ hăy phá nghi! (Lư Vinh Đường hỏi)

 

          Đáp: Phạm giới luật, xét theo nguyên tắc chính là phạm. Do t́nh tiết chẳng đồng nhất, mà có nhẹ, nặng khác nhau. V́ thế, đối với t́nh tiết phạm giới, chế định “có thể sám hối” và “không thể sám hối” sai khác. “Khả hối” là cho phép sám hối, “bất khả hối” là chẳng tương ứng với hổ thẹn, hối hận vậy! Giới điều ở đây nói “bất dữ trực giả, phạm tà dâm bất khả hối”, ư nói: [Ăn nằm với gái điếm mà không trả tiền] sẽ là phạm tội chẳng thể sám hối. “Dữ trực vô phạm” ư nói: Chẳng phạm tội không thể sám hối, chứ không phải là “nói không phạm tội tà dâm!” Đối với kẻ phạm giới, tuy cho phép người mới phạm được phép sám hối, nhưng khi cử hành sám hối, chẳng hề chí thành, chẳng hề hổ thẹn, cho nên chẳng đạt được hiệu quả. Bởi lẽ, Sự sám lễ nghi phức tạp, Lư Sám th́ cái tâm (vọng tâm) khó thể tiêu diệt.

 

          * Hỏi: Tại gia học Phật, chưa thọ Bồ Tát Giới, có thể xem giới điều của Bồ Tát Giới hay không? Nghe nói hàng tại gia khi chưa ấn định hai khóa công phu sáng tối lễ Phật, công đức rất ít? (Hoàng Nhân Kính hỏi)

 

          Đáp: Đại giới của Bồ Tát áp dụng chung cho hàng xuất gia và tại gia, nhưng tứ chúng tại gia và xuất gia lập trường cũng có chỗ bất đồng. Luật nghi chỉ hạn định hàng tại gia không được xem kinh văn của giới tỳ-kheo. C̣n như giới luật Bồ Tát áp dụng chung cho tăng lẫn tục, hàng tại gia tuy chưa thọ giới cũng chẳng cấm xem!

 

          * Hỏi: Sau khi thọ giới, hăy nên ăn chay, nhưng người nhà ngại nấu nướng phiền phức nên phản đối, đệ tử nên xử lư chuyện ăn chay như thế nào? Chẳng thọ Bồ Tát Giới sẽ có chướng ngại ǵ đối với chuyện niệm Phật văng sanh? (Tiên Thuần Hiền hỏi)

 

          Đáp: Phật pháp [đề xướng] ăn chay là v́ chẳng sát hại chúng sanh. Người ăn thức ăn của người khác [cung cấp], hoặc chẳng thể làm chủ đối với chuyện ăn uống của chính ḿnh, cũng có cách dung thông. Tức là bất đắc dĩ, có thể ăn rau bên cạnh thịt. Nếu vẫn chẳng thể, bèn cho phép ăn tam tịnh nhục, ḥng chẳng thương tổn ḷng từ bi. Mở ra phương tiện ấy. C̣n nói tới chuyện [quan hệ giữa] văng sanh và thọ giới, cũng chớ nên có cách nh́n cứng ngắc! Kinh dạy: “Chẳng thể dùng chút thiện căn, phước đức, nhân duyên để sanh về cơi ấy”. “Thiện căn” chính là chánh hạnh Tŕ Danh, “phước đức” là trợ hạnh tán thiện tŕ giới, nhưng có được Ngũ Giới th́ cũng tốt rồi, chẳng bắt buộc phải thọ Bồ Tát Giới. Chướng ngại hay không là do chánh hạnh và trợ hạnh có chân thật hay không, chẳng coi trọng danh tướng! Đối với chuyện này, hăy nên tự răn nhắc, đừng hiểu lầm!

 

          * Hỏi: Đối với nội điển ắt phải đọc của hàng tại gia, tức phẩm Thọ Giới trong Ưu Bà Tắc Giới Kinh, nơi hàng thứ nhất trong trang thứ tám: “Ngũ giả, bất đắc áp du” (Năm là chẳng được ép dầu). Tại gia cư sĩ chẳng có nghề nghiệp kinh doanh, ắt sẽ chẳng sống được. Kẻ sống bằng nghề ép nghiền đậu nành hoặc đậu phộng lấy dầu chẳng phải là sát sanh, v́ sao chẳng được? (Lư Vinh Đường hỏi)

 

          Đáp: Cách ép dầu th́ xưa nay, trong ngoài nước đều khác nhau. Thời cổ và ở ngoại quốc, đối với máy ép dầu và những thứ dùng để ép dầu, [kinh luận] đều nói là giết hại các loại trùng[9], cho nên chế định người thọ giới chẳng được phép làm. Nhưng cụ thể như thế nào, cần phải khảo cứu th́ mới biết. Như tôi xét trong hiện thời, dường như [ép dầu] chẳng có dấu vết sát sanh. Nếu cư sĩ muốn kinh doanh nghề ấy, có thể thỉnh cầu vị thầy truyền giới mở phương tiện.

 

          * Hỏi: Cũng trong kinh ấy, trang mười, ḍng mười, “Ưu-bà-tắc thọ tŕ giới dĩ, tuy vi thiên nữ, năi chí nghị tử, tất bất ưng sát” (Ưu-bà-tắc đă thọ tŕ giới, dẫu là thiên nữ cho đến con kiến, đều chớ nên giết). Tôi chẳng liễu giải đoạn “tuy vi thiên nữ” trong ấy, xin hăy giải thích! (Lư Vinh Đường hỏi)

 

          Đáp: Trong các bản khác, hai chữ “thiên nữ” được chép là “thân mạng”. Tra duyệt bộ Tại Gia Luật Yếu Quảng Tập do cư sĩ Trần Hy Nguyện biên tập vào đời Thanh, cũng thấy chép phẩm ấy, trong đó có lời “tiên chú” (箋注, chú giải) của Ngẫu Ích đại sư. Trong bản đó, dưới điều ấy cũng ghi là “thân mạng” kèm thêm lời chú. C̣n bản của Âu Dương đại sĩ, chẳng biết do căn cứ vào đâu, có phải là giảo đối, hiệu đính sai lầm hay không, hoặc là c̣n có bản nào khác nữa, trong tay tôi chẳng có nhiều kinh [để tham khảo, cho nên chẳng dám quyết đoán], có thể coi là điều “tồn nghi” (c̣n nghi ngờ).

 

          * Hỏi: Cũng trong kinh ấy, trang mười bốn, ḍng thứ tư: “Nhược Ưu-bà-tắc thọ tŕ giới dĩ, súc dưỡng tượng, mă, ngưu, dương, đà, lư, nhất thiết súc thú, bất tác tịnh thí cầu thọ giới giả, thị Ưu-bà-tắc đắc thất ư tội, bất khởi đọa lạc, bất tịnh hữu tác” (Nếu Ưu-bà-tắc đă thọ tŕ giới, đối với hết thảy những loài thú đă nuôi như voi, ngựa, trâu, dê, lạc đà, lừa, mà chẳng tịnh thí cho người cầu thọ giới, vị Ưu-bà-tắc ấy sẽ mắc tội thất ư, tuy chẳng bị đọa lạc, đă thuộc về bất tịnh nơi pháp hữu vi). Hàng nam nữ tại gia nuôi nấng gia súc như thế nào th́ mới là “tịnh thí cầu thọ giới”, xin hăy nói rơ! (Lư Vinh Đường hỏi)

 

          Đáp: Đối với hai chữ “tịnh thí” (淨施), cổ đức cũng suy đoán, cho rằng: Thí cho những tài vật cần dùng, sẽ giống như thí tặng tỳ-kheo. Chuẩn theo đó, có thể suy rộng ra: Đối với Pháp Thí và Vô Úy Thí, đều có thể phương tiện thiện xảo, tùy phần mà thí vậy.

 

          * Hỏi: Trong kinh Lăng Già do Đài Loan Ấn Kinh Xứ xuất bản, nơi trang một trăm năm mươi sáu, ḍng thứ tư: “Diệc thường ly ma du” (Cũng thường ĺa dầu mè). Dầu mè chính là dầu thực vật, v́ sao đức Phật khuyên hành giả xa ĺa dầu mè, đối với tịnh hạnh, có ǵ là không được? Khó hiểu! (Lư Vinh Đường hỏi)

 

          Đáp: Câu này cũng có cùng ư nghĩa với câu hỏi thứ nhất. Hăy nên tham chiếu câu ấy, sẽ biết.

 

          * Hỏi: Trong Tại Gia Bồ Tát Giới Bổn: “Tăng bất thính thuyết pháp, triếp tự tác giới đệ nhị thập tứ” (Giới thứ hai mươi bốn, Tăng không cho phép thuyết pháp mà cứ tự tiện làm). Nếu Tăng chẳng cho phép thuyết pháp, tán thán, “triếp tự tác giả” có nghĩa là ǵ? (Nhan Quư Thông hỏi)

 

          Đáp: Đấy là nói về hàng bạch y học rộng, hướng về người mới trở thành Tăng mà thuyết pháp và tán thán. Tăng có bằng ḷng th́ sau đó mới làm. Nếu Tăng chẳng đồng ư, hăy thôi, đừng làm! Nếu cứ cưỡng làm, sẽ là “triếp tự tác” (輒自作, cứ tự tiện làm). Nói theo phía quan hệ giữa con người với nhau, Tăng thuộc về Tam Bảo tôn quư, bạch y là phàm tục, kém cỏi hơn. Nói theo giáo, người nói là thầy, thuộc về bậc trên; người nghe là tṛ, ở vai dưới. Bạch y xằng bậy làm, tức là tự coi ḿnh cao quư hơn, bắt người khác coi ḿnh là thầy, đó là Mạn! Do vậy, phạm lỗi. Xưa kia, trưởng giả Tu Đạt Đa hễ dạy dỗ những vị tỳ-kheo mới học Phật, ắt trước hết là lễ bái, rồi sau đó mới nói. Đấy chính là “Tăng thính” (Tăng cho phép) vậy!

 

          * Hỏi: Xin hỏi Ngũ Tân (五辛) là nói những vật ǵ? (Nhan Quư Thông hỏi)

 

          Đáp: Ngũ Tân chỉ năm loại thực vật có vị hăng nồng, có mùi hôi thối, tức là hành, hẹ, tỏi, kiệu, hưng cừ[10]. Hưng cừ chưa truyền sang Trung Thổ, có thể hiện thời đă có, nhưng tên được dịch khác đi. Phàm là những loài thực vật cay nồng, hôi thối, đều chẳng nên ăn. V́ những thứ ấy khiến thần trí hôn ám, gây ra nhiều kích thích.

 

          * Hỏi: Tôi là một đệ tử Phật thọ Ngũ Giới, khi đối trước Phật thọ giới, đă từng hướng về đức Phật cầu nguyện “chẳng kiêng hút thuốc và chẳng ăn chay trường” (thọ giới tại chùa Linh Sơn ở Đài Trung). Từ mùa Đông năm Dân Quốc 47 (1958), đă thờ tượng Phật Tam Thánh, sáng tối lạy Phật, niệm Phật (mỗi ngày niệm Phật một vạn năm ngàn tiếng, tụng kinh Di Đà hai lần, mười biến chú Đại Bi, Tâm Kinh một biến). Chỉ là mấy tháng gần đây, chẳng thể hút thuốc (cảm thấy nhạt nhẽo, chẳng kiêng mà tự kiêng). Kế đó, lại suốt một năm, bỗng dưng chẳng thể ăn thịt, cá, tôm v.v… Nguyên tôi chẳng nguyện ăn chay trường, lại đổi thành ăn chay trường! Lại từ tháng Hai năm nay, buổi chiều chẳng thể ăn cơm (chẳng tiêu hóa được), đổi thành buổi sáng ăn cháo, giữa trưa ăn cơm, quá Ngọ chẳng ăn. Những điều này đều là không tŕ mà tự giữ, không kiêng mà tự kiêng. Bất quá, trước mắt, do sống đời độc thân tự do, chẳng có vấn đề ǵ; nhưng trong tương lai, khi hoàn cảnh chuyển biến, lại không biết sẽ như thế nào? Nhưng hiện tại, tôi có ba câu hỏi như dưới đây, xin hăy dạy cho biết.

          1) Người chưa thọ Bồ Tát Giới, có thể tŕ Ngọ hoặc Bát Quan Trai hay không?

          2) Tŕ Ngọ và ăn Bát Quan Trai, công đức nào lớn hơn?

          3) Tŕ Ngọ có thể uống sữa ḅ, nước trái cây, hoặc thuốc bổ hay không? (Châu Tinh Nguyên hỏi)

 

          Đáp: 1) Quư cư sĩ do túc căn sâu dầy, cho nên có thể tăng tấn thiện duyên. Ngũ Giới là căn bản của giới, công đức vô lượng. Tuy chẳng thọ giới mà tŕ Ngọ th́ vẫn có thể thực hiện. Mặc dù không hiểu rơ giới tướng ấy, nhưng cũng hữu ích cho chuyện giữ ǵn sức khỏe. Bát Quan Trai cũng như thế. Hễ là người đă từng thọ quy y, đều có thể thực hành. Tiến hơn nữa, là người chưa thọ quy y, vẫn được phép thọ tŕ; bởi lẽ, người ta có ḷng ham muốn tiến đến điều tốt lành, cho nên chẳng hạn chế!

          2) Bát Quan Trai chính là giới xuất thế, vừa có nhiều giới điều, vừa nghiêm ngặt. Tŕ Ngọ chỉ là một chuyện, đương nhiên là chẳng thù thắng bằng Bát Quan Trai.

          3) Tŕ Ngọ chẳng cấm uống nước. Phàm những thứ thuần là chất lỏng, có thể dung thông. Sữa, nước trái cây được phép uống. Thuốc bổ cũng là như thế, cho phép uống các thang thuốc. Quá Ngọ chẳng ăn hoàn toàn không ảnh hưởng đến sức khỏe. Đi ngủ mà trong bụng không c̣n đồ ăn cũ, sẽ có lợi cho tỳ vị. Nếu buổi tối phải làm lụng cực nhọc, có thể dùng sữa, thuốc bổ v.v… do cơ thể có tiêu hao, cần phải bổ sung. Nếu đến tối bèn nghỉ ngơi th́ không cần phải đa sự!

 

          * Hỏi: Nếu thờ tượng Phật mà thờ ở trong pḥng (căn pḥng tôi ở vừa dùng làm thư pḥng vừa dùng làm pḥng ngủ), có thích hợp hay không? Có bất tịnh hay không? Có khinh nhờn hay không? Tôi chỉ hy vọng có Phật đường ở gần bên cạnh, nên làm như thế nào? Xin hăy rộng ḷng trả lời để cởi gỡ nỗi băn khoăn! (Thái Sùng Kỳ hỏi)

 

          Đáp: Giữ ḷng thành kính, về sự th́ giữ sao cho viên dung. Một căn pḥng dùng cho nhiều mục đích, chẳng ngại thờ Phật. Nhưng hăy dùng một tấm vải làm màn che đằng trước. Khi chiêm bái, khóa tụng, bèn mở ra. Vào buổi tối, lúc ngủ nghỉ bèn che lại!

 

          * Hỏi: Tại gia cư sĩ bị mời đi làm Phật sự (tức niệm kinh) có thể nhận tiền bạc của thí chủ hay không? Nếu không, toàn bộ tiền bạc sẽ cúng vào tự viện, hồi hướng công đức? (Hoàng Vĩnh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Tại gia chuyên tu nhằm liễu sanh tử, chớ nên đa sự! Đối với chuyện kinh sám ứng phó bên ngoài, nếu là thân hữu, trợ niệm chính là nghĩa vụ, chớ nên nhận tiền quyên tặng của người ta! Tiền chẳng đáng nên nhận mà cứ cưỡng nhận món tiền quyên tặng th́ cũng là phi pháp.

 

          * Hỏi: Ngu nhân trước đây đi lại với một người nữ rất mật thiết, tới nay, chẳng c̣n dính líu với nhau đă hơn mấy tháng, nhưng mỗi khi gặp cảnh ngộ, lại nhớ đến h́nh dáng xinh đẹp, nỗi chua xót dâng trào, niệm Phật hiệu cũng khó thể tiêu trừ. Chẳng biết có cách ǵ để khống chế? (Hoàng Vĩnh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Điều này đúng là tâm ma vậy! Pháp yếu, ma mạnh. Đủ thấy dâm nghiệp chưa tiêu, đạo quả ắt cũng khó thành. Bóng dáng xinh đẹp chính là cửa nẻo tam đồ, chính ḿnh chẳng dũng mănh đoạn trừ, Phật cũng chẳng làm sao được! Đáng sợ thay! Đáng kinh hăi thay!

 

          * Hỏi: Hàng tại gia học Phật tu đạo, làm thân cư sĩ, nếu chưa thể ăn chay, bị người ta hỏi tới th́ nên trả lời ra sao? (Thái Lân Định hỏi)

 

          Đáp: Đức Phật chế định ăn chay là v́ từ bi chẳng giết. Nếu là kẻ sơ học, tập khí ăn thịt chưa thể sửa đổi ngay, bèn có pháp phương tiện cho phép ăn rau bên cạnh thịt. Nếu chẳng thể, cho phép ăn ba loại tịnh nhục, tức là [thịt của những con vật] chẳng thấy giết, không nghe tiếng nó bị giết, không v́ ḿnh mà giết. Cư sĩ đă có duyên với Phật, trước hết hăy nên kiêng giết, phương tiện ăn tam tịnh nhục, sẽ có công đức. Hăy nên làm như thế, mà cũng nên nói với người khác như thế!

 

          * Hỏi: Trong Hư Vân Ḥa Thượng Họa Truyện có nói: “Cây Chương[11] cầu giới”, mà cây Chương thuộc loài vô t́nh, há có thần lực để cầu giới? Cổ nhân từng nói “cổ thụ có thần, chớ nên chặt phá”. Nhưng trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta luôn dùng cây cối để làm củi, hoặc làm kèo cột, há chẳng phải là cũng phạm sát giới ư? (Triều Tân Ban hỏi)

 

          Đáp: “Cây Chương cầu giới” chính là [nói] quỷ thần nương gá vào cây Chương vậy. Cổ nhân nói “cây cối có thần”, cũng cùng là một lư như thế. Như trong tổ chức của một quốc gia, có viện trưởng, bộ trưởng, tỉnh trưởng, cục trưởng v.v… Chữ “trưởng” chỉ người chủ quản của viện, bộ, tỉnh, cục v.v… chẳng phải là những vật kiến trúc thuộc bộ, tỉnh, cục v.v… Chọn lựa cây cối để làm củi, chính là lấy chỗ nương gá của thần, chẳng phải là lấy chi thể của các thần. Thần và cây khác nhau, cho nên chẳng thể nói là “phạm sát giới”. Nhưng có những ngoại lệ, chẳng thể không thận trọng: Vật xưa cũ trở thành quái dị, v́ có những loài si, mị, vơng, lượng. Trên thực vật, luôn có những loài trùng kư sinh, hăy nên chọn chỗ để thiêu đúng thời.

 

          * Hỏi: Khi kinh Phật hư hại chẳng kham, cũng như tạp chí Phật giáo chất chứa quá nhiều, nếu dùng lửa thiêu th́ chẳng biết có phạm tội lỗi khinh nhờn Phật pháp hay không? Xử lư tro giấy sau khi đă thiêu như thế nào? (Chung Khiết Viên hỏi)

 

          Đáp: Đối với chuyện này, cổ đức có huấn dụ: Hễ có thể tu bổ, bèn tu bổ. Nếu không, t́m chỗ đất sạch, nước sạch để đốt rồi chôn vùi. Kinh là Pháp Thân xá-lợi. Đốt, vùi những thứ cất chứa, ngơ hầu chẳng bị ô uế, khinh nhờn, đó chẳng phải là ác sự!

 

          * Hỏi: Mỗi loài động vật đều có linh tánh, chẳng nên giết chúng sanh. Thế nhưng, đối với những loài như rắn, tuy có linh tánh, chúng ta gặp phải nó, cũng chớ nên giết mà hăy phóng sanh, nhưng nó chẳng thể không cắn người khác. Tuy chúng ta phóng sanh, nó cũng sẽ cắn người khác, lẽ nào chẳng giết? Lại nữa, muỗi là môi giới của bệnh truyền nhiễm, v́ sao chẳng nên đánh chết nó? (Tiết Đăng Huy hỏi)

 

          Đáp: Tạp chí này trong suốt mười mấy năm qua, đă trả lời câu hỏi này không dưới mấy chục lần, đều có đăng tải trong sách Phật Học Vấn Đáp Loại Biên. Nếu có điều ǵ chẳng rơ, xin hăy tự tra duyệt. Lời ông hỏi và những lời đáp từ trước, ư nghĩa chẳng khác biệt, hăy thứ lỗi tôi chẳng trả lời những câu hỏi giống hệt nhau.

 

          * Hỏi: Mức độ tối thiểu của đệ tử Phật là cần phải thọ Ngũ Giới. Đối với giới uống rượu, nếu toa thuốc đ̣i hỏi phải uống cùng một phần rượu th́ có phạm giới hay không? (Chung Vân Xương hỏi)

 

          Đáp: Tùy hỷ tín sĩ thực hành thọ nghiệp, kết duyên quy y v.v… đều có thể gọi là đệ tử Phật. Người có thể thọ giới, sẽ là [đệ tử Phật] chánh thức. Nhưng đối với chuyện thọ Ngũ Giới, cũng chia thành bán, thiểu, đa, măn sai khác. Đă thọ giới kiêng uống rượu, khi bị bệnh, dùng rượu để chế thuốc, sẽ chẳng gọi là “phạm”. Người xưa đă giải thích điều này.

 

          * Hỏi: Lúa nước, cây ăn trái, rau xanh v.v… bị rất nhiều loài trùng làm hại. Nếu chẳng phun thuốc sát trùng, sẽ bị chúng hại chết khô. Nếu dùng thuốc sát trùng để phun, lại phạm giới đầu tiên trong thập giới, tiến thoái lưỡng nan, như thế nào th́ mới nên? Nông dân đốt rẫy làm ruộng, thường ngộ sát những loài tiểu động vật như trùng, kiến v.v… khiến chúng bị chết, có phải cũng là phạm vào tội đầu tiên trong thập giới hay không? (Chung Vân Xương hỏi)

 

          Đáp: Đối với vấn đề giới sát, trong mười mấy năm qua, người hỏi rất nhiều. Đại khái là ư hỏi tương đồng, đều đă chia thành từng loại để trả lời. Hai điều như ông đă hỏi vẫn thuộc trong phạm vi ấy. Xin hăy tra duyệt trong Phật Học Vấn Đáp Loại Biên, chẳng tiện trùng lặp nhắc lại.

 

          * Hỏi: Lợi dụng tánh chất biến đổi linh hoạt và tánh viên dung của ngôn ngữ th́ có phạm tội vọng ngữ hay không? Như bậc cao hiền thuở trước, cáo bệnh để tạ khách, tuy thân chẳng bệnh, nhưng há chẳng phải là không có tâm bệnh? V́ thế, giống như vọng mà chẳng phải là vọng, nhưng người khác tưởng lầm là vọng ngữ, có sẽ chịu trách nhiệm hay không? (Vương Tâm Phổ hỏi)

 

          Đáp: Giới vốn có khai, giá. Là hạnh lợi ích chúng sanh th́ có thể khai; luật có giải thích tường tận. Cũng là Bồ Tát hành quyền biến, đôi khi có thể làm, nhưng chẳng phải là chuyện có thể thường làm! Nếu mọi chuyện đều khai, cần ǵ phải thọ giới ấy chi nữa? Chuyện cáo bệnh tạ khách như ông đă nêu, cố nhiên là có thể tự viên măn điều đă nói ấy, nhưng v́ sao mà tạ khách? Hăy nên tự vấn điều công và lẽ tư trong tự tâm! Kẻ khác cho là vọng, tức là nói theo dấu vết h́nh tướng. Đă là nương theo dấu vết, h́nh tướng, chẳng thể nói họ sai lầm được! Có chịu trách nhiệm hay không, hăy nên tự xét tâm ḿnh!

 

          * Hỏi: Bất đắc dĩ ăn tam tịnh nhục th́ đối với tộc loại của các loài vật có chọn lựa hay không? (Vương Tâm Phổ hỏi)

 

          Đáp: Cho phép ăn tam tịnh nhục, cốt ư là do từ tâm, nhằm thông dung để phá trừ sự sát sanh. Chính là v́ t́nh thế bất đắc dĩ, tạm thời phương tiện. Sanh mạng của loài vật b́nh đẳng, há có phân biệt? V́ thế, [giới bổn] chẳng ghi rơ loại thịt nào có thể ăn, loại thịt nào chẳng thể ăn. Bất quá, chuyện này nhằm đoạn tuyệt chuyện trực tiếp sát sanh, vun bồi ư niệm từ bi, thật ra, vẫn chẳng tránh khỏi trách nhiệm gián tiếp. Khi ăn, hăy nên sanh ḷng hổ thẹn. Hiểu rơ lư này, tự sẽ nên hạn chế bớt những thứ thường ăn. Đối với những thứ chưa ăn, bất tất phải kết ác duyên với chúng nữa!

 

          * Hỏi: Nếu nhằm lúc khí trời nóng bức, khi tụng kinh, có thể cầm quạt xua hơi nóng hay không? (Lâm Khoan Tu hỏi)

 

          Đáp: Nói chung, chẳng phe phẩy quạt chính là v́ kính trọng, nhưng cũng có chỗ không phải là chẳng [cho phép] dung thông. Nếu là tự ḿnh xem kinh, nghiên cứu, th́ lúc ấy dường như chẳng có trở ngại to lớn ǵ. Nếu là khóa tụng chánh thức, chớ nên dùng [quạt để phe phẩy] th́ tốt hơn.

 

          * Hỏi: Thường nghe người ta hễ mở miệng bèn nói “tụng kinh”, nhưng chiếu theo văn tự để giải thích, chữ Tụng () là “đọc thuộc ḷng”. Chúng ta chẳng thể đọc thuộc ḷng, nhưng cứ nói là “tụng kinh”, há chẳng phải là kèm theo tội vọng ngữ ư? Nếu nói là “đọc kinh”, hoặc “niệm kinh”, lại cảm thấy chẳng quen! Chẳng biết nói câu nào mới là thích hợp? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

          Đáp: Nói năng th́ cũng có khi chẳng dựa theo chữ viết, cũng có khi tiếng địa phương hiểu nghĩa khác chữ viết, nhưng do sử dụng lâu ngày, đă được công nhận. Điều ấy được gọi là “tùy thuận ngữ” (cách nói thuận theo chúng sanh), mà cũng là tập quán dung thông. Như vậy th́ tâm chẳng có ư dối gạt, chẳng thể coi là vọng ngữ! Ví như Ngă và Pháp hai đằng đều không, đầu kinh lại dùng chữ “ngă văn” để mở đầu, tên kinh lại đặt là “diệu pháp”, há đều trở thành vọng ngữ ư? Nay mọi người đối với chuyện đọc kinh bèn nói là Tụng, chỉ là tùy thuận tập quán. Lấy ngay chuyện Ngă Pháp để làm chứng, chẳng thể bảo là vọng ngữ được!

 

          * Hỏi: Mỗi tuần đến Đồ Thư Quán để tham gia niệm Phật, cần phải mang theo kinh bổn. Có thể bỏ trong túi áo hay không? Có coi là chẳng tôn trọng kinh điển hay không? Nếu là như vậy, có nên dùng giấy đỏ (hay vàng) để bọc lại rồi mang theo hay không? (Tiên Thuần Hiền hỏi)

 

          Đáp: Kinh sách cỡ nhỏ bỏ trong túi áo, vẫn chẳng có ǵ là bất kính. Nếu là cỡ lớn, mà cuộn tṛn, gấp lại, sẽ là bất kính.

 

          * Hỏi: Nghiên cứu, xem đọc kinh điển trong hoàn cảnh khá phức tạp (như ở ngoài chợ), có phải là chẳng tôn trọng kinh điển hay không? (Tiên Thuần Hiền hỏi)

 

          Đáp: Chuyện này phải xét theo t́nh h́nh sinh hoạt của mỗi cá nhân để nói. Nếu bị hạn chế bởi t́nh trạng kinh tế, sống ở chỗ nhỏ hẹp, ẩm thấp, hoặc ở gần chỗ ḷ mổ, dơ bẩn, hôi thối xông xực; đấy chính là y báo của cá nhân, chẳng phải là ép tịnh nhập uế. Há có nên v́ chướng ngại nơi hoàn cảnh mà chẳng cầu tiến cao hơn? Hăy nên biết: “Tâm tịnh, cơi nước tịnh; tâm uế, cơi nước uế”. Chỉ cốt sao giữ vững cái tâm, vạn cảnh chẳng ngại tùy duyên.

 

          * Hỏi: Trong tai nạn hàng không ngày Hai Mươi tháng Sáu, vợ chồng ông Lục Vận Đào mắc nạn. Có tiên sinh Ngô Thân Thúc tặng cho hai viên xá-lợi, đặt trong miệng người chết để bồi táng. Chuyện này thuộc loại vừa mới nghe, chẳng biết có đúng pháp hay không? Xét ra, hạt xá-lợi cực tôn, cực quư, làm sao có thể chôn vùi cùng thi thể rữa nát? Tợ hồ mắc lỗi khinh nhờn thánh hiền! Lăo cư sĩ có nghĩ là đúng hay không? (Trạch Mạnh Thu hỏi)

         

          Đáp: Phàm dùng vật dụng của con người, bỏ vào trong quan tài của người đă khuất, hoặc bỏ vào trong mộ, đều gọi là “tuẫn táng” (殉葬). Chỉ có những thứ như mền Đà La Ni Kinh v.v… có dụng ư là dùng Phật pháp để siêu độ vong linh, mang ư nghĩa khác với tuẫn táng. Chủng loại của xá-lợi chẳng phải là một! Có xá-lợi của Phật, Bồ Tát, và xuất gia, tại gia tứ chúng khác biệt. Nói chung, đều là thân thể của con người, chẳng phải các thứ pháp như kinh, chú, không phải là kinh văn có tác dụng siêu độ, cho nên có nỗi hiềm nghi tuẫn táng! Nếu luận định theo lư lẽ thế tục, dường như là bất kính, kẻ hèn này thuộc về nhà Phật, thấy nghe rất ít, [chẳng biết làm như vậy th́] xưa kia có lệ ấy mà chẳng trái lư hay không? Vẫn mong ông hăy hướng về bậc cao minh để thưa hỏi.

 

          * Hỏi: Đức Phật chế định “quá Ngọ chẳng ăn”, căn cứ theo thuở đức Phật tại thế và các đệ tử của Ngài ra ngoài khất thực, từ thành Xá Vệ trở về tinh xá, đi ṿng quanh bảy tám dặm, lúc trở về cũng đă quá Ngọ. Xét đến người tŕ Ngọ hiện thời, giờ ăn chẳng thể vượt quá mười hai giờ trưa, như thế th́ có phù hợp với chế định của đức Phật hay không? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

          Đáp: Lộ tŕnh xa hay gần để có thể chẳng ăn quá Ngọ, ắt phải dự định thứ tự ḥng khống chế thời gian. Chúng ta chẳng cần phải thay các Ngài lo lắng chuyện này!

 

          * Hỏi: Đệ tử Phật giữ thân phận cư sĩ, chẳng biết sự tu đạo giữa người ăn theo phương tiện[12] và người ăn chay có sai biệt hay không? Nghe nói là đệ tử Phật, nếu chẳng ăn chay, sẽ chẳng thể ngộ đạo, chẳng thể giải thoát. Lại c̣n bị quả báo của nhân quả do đă kết oán, giống như trái nghịch lời đức Phật dạy! Lời ấy có thật hay không? Như trong quá khứ, Lục Tổ đă ăn rau bên cạnh thịt mười mấy năm. Đấy không phải là [chứng cớ phản bác thuyết] chẳng thể ngộ đạo, chẳng thể giải thoát đó sao? Tôi nghĩ: Làm thân cư sĩ, đối với chuyện ăn chay, tùy thuộc phương tiện của cá nhân, như vậy th́ có được hay không? Tôi tin là chúng sanh tương khắc[13]. Nếu cố chấp quá lố, hiềm rằng Phật giáo chúng ta sẽ ngày càng suy vi! Xin hăy từ bi cởi gỡ mối nghi. (Lâm Triều Trung hỏi)

 

          Đáp: Căn khí của học nhân bất đồng. Kẻ bậc hạ chỉ biết tu phước, bậc thượng bèn biết tu Huệ. “Phước” là nói tới thiện sự hữu lậu; do làm những điều ấy, chỉ đạt được phước báo trong cơi nhân thiên, chẳng thể liễu thoát sanh tử. “Huệ” là nói đến đại đạo xuất thế. Không chỉ là diệt tội, tăng phước, mà c̣n có thể siêu xuất luân hồi. Nếu chỉ nói về một chuyện ăn chay, cũng chia thành hai phương diện phước và huệ. Nếu giữ tấm ḷng từ bi, chẳng nỡ khiến cho chúng sanh đổ máu, sẽ bỏ hẳn ăn thịt. Đó gọi là “hành thiện, tu phước”. Nếu v́ lục căn thanh tịnh, chẳng đắm nhiễm Vị Trần, chẳng tham ăn, đó gọi là “tu đạo, cầu huệ”. Đối với kẻ sơ học tập khí sâu dầy, chẳng hiểu đạo lư, đức Phật cho phép kẻ đó ăn ba thứ tịnh nhục. Khi đă liễu giải sâu, sẽ tự nhiên thôi ăn thịt. Chưa chánh thức thọ giới, hoàn toàn chẳng ép buộc không ăn thịt, mà có thể phương tiện. Hơn nữa, Phật giáo hưng hay suy, chẳng do người mù quáng tuân theo nhiều hay ít, mà tùy thuộc đạo đức và học vấn của tứ chúng như thế nào!

 

          * Hỏi: Có hai Phật tử, một hôm tới bên suối, gặp một người nữ. Người nữ ấy chẳng có cách nào vượt suối, đến nỗi phải nương nhờ hai người ấy để vượt suối. Thoạt đầu, hai người Giáp và Ất đều nhường nhau, Giáp cơng cô gái vượt suối. Giáp chẳng để nữ nhân trong tâm, nhưng Ất có nữ nhân trong tâm. Chẳng biết trong hai người, ai đă phạm giới? Xin hăy giải tỏa nỗi lo ngờ này! (Lâm Triều Trung hỏi)

 

          Đáp: Chuyện này nói theo Sự th́ đơn giản, nhưng nói theo Lư th́ tột bậc phức tạp. Tâm chẳng chấp tướng, phương tiện cơng người nữ qua sông; đó là điều thiện nhất trong việc hành thiện. Cơng người nữ qua sông chính là giúp đỡ người ta trong khi nguy ngập, tâm tuy chấp tướng, nhưng giữ thân nghiêm ngặt, chẳng dấy tà tâm, th́ cũng là thiện, nhưng kém hơn. Tâm chấp tướng, khởi tà niệm, nhưng chẳng nỡ thấy người khác gặp nguy mà chẳng đoái hoài, cơng người qua sông, tức là thiện ác hỗn tạp. Tâm chấp tướng, khởi tà niệm, cơng qua sông, ấp ủ ư định khác, chẳng nhằm cứu nguy, th́ là thuần ác. Người đă từng thọ giới th́ mới có thể nói là phạm giới hay không; người chưa thọ giới, sẽ chẳng có giới để bàn! Chỉ là tạo tội mà thôi!

 

          * Hỏi: Đối với trẻ nhỏ ăn chay trường đă mấy năm, đệ tử thường dùng trứng không có cồ để tẩm bổ cho nó tăng trưởng, có được hay không? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

          Đáp: Đứa trẻ ấy rất tốt, chắc chắn là có túc căn; hăy nên khéo nuôi dạy, khiến cho nó gặp duyên bèn tăng tấn. Muốn tăng chất dinh dưỡng cho thân thể của nó, có thể phương tiện dùng trứng không có cồ. Nhưng thứ giàu chất dinh dưỡng không chỉ là trứng. Các loại rau đậu, sữa ḅ v.v… đều hết sức giàu chất dinh dưỡng, lại có nhiều thứ vitamin. Nếu thân thể chẳng khỏe, có thể mời thầy thuốc xem xét: Thiếu loại nào, bổ dưỡng loại ấy là thích đáng. Tôi trả lời như thế này, chẳng phải là nói “trứng không có cồ chẳng được phép ăn”, mà là nói: “Dinh dưỡng chẳng phải là chỉ chuyên cậy vào thứ ấy!”

 

          * Hỏi: Pḥng ở chẳng lớn, thờ Phật Tổ trong pḥng. Pḥng ấy là pḥng cá nhân, chẳng có đàn ông ngủ trong pḥng ấy, [thờ Phật tại đó] có được hay không? (Vương Quách Vận Đoan hỏi)

 

          Đáp: Pḥng chỉ có một người ở, chẳng có nam nữ bất tịnh, chính là đạo tràng an tịnh, thờ Phật rất tốt. Nhưng trong lúc tắm rửa và ngủ nghỉ trong pḥng, hăy nên dùng vải sạch để che trước bàn Phật nhằm biểu thị ḷng cung kính.

 

          * Hỏi: Nam nữ chưa xuống tóc, có thể độ đồ đệ hay không? (Đông Cầm hỏi)

 

          Đáp: Ba chữ “độ đồ đệ”, tôi chẳng hiểu rơ ư nghĩa! Có nghĩa là chính ḿnh thâu nhận đồ đệ ư? Hay là khuyên họ quy y Phật môn? Nếu nói tới hai chữ “quy y”, chính là quy y Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo; người đảm nhiệm chuyện ấy, ắt phải là tỳ-kheo tăng ni đă chánh thức xuất gia, v́ Tăng là nói đến tăng đoàn. Kẻ tại gia chẳng phải là tỳ-kheo, tuy đă ăn chay, ở trong chùa miếu, vẫn là bạch y, chẳng thể truyền quy y cho người khác được! Sự chẳng đúng pháp, hai bên đều chuốc lấy tội lỗi!

 

          * Hỏi: Bỉ nhân ăn chay trường, lễ Phật. Mỗi ngày ăn một quả trứng gà, có người nói là có thể ăn, có kẻ bảo chẳng thể ăn, rốt cuộc là như thế nào? (Triệu Liên hỏi)

 

          Đáp: Cư sĩ đă ăn chay trường, công đức tự nhiên vô lượng. Theo nguyên tắc, chẳng nên ăn trứng gà. Do nó tuy không có lông, huyết, nhưng đă có thần thức, vẫn thuộc loại sát sanh. Nếu v́ nguyên nhân nào khác, chẳng thể đoạn trừ, có thể kiểm xem trứng của gà không bị gà trống đạp mái để ăn. Trong ấy chẳng có thần thức, tức là ḷng đỏ chẳng có mầm phôi, có thể ăn, chẳng trở ngại ǵ!

 

          * Hỏi: Giữ giới “quá Ngọ chẳng ăn” th́ cách vâng giữ như thế nào? Tôi lại chẳng ăn chay trường. Tôi là bà chủ trong gia đ́nh, lại là một phụ nữ có nghề nghiệp, thường dùng cơm trưa sau giờ Ngọ. Buổi tối th́ thứ ǵ có thể ăn? Thứ ǵ chẳng thể ăn? (Ngụy Cúc Tử hỏi)

 

          Đáp: Đă chưa thể ăn chay trường, tạm thời chẳng cần phải quá Ngọ không ăn! Trong nhà bận bịu, chẳng thể ăn đúng giờ Ngọ, chỉ đành tùy duyên, chẳng cần phải miễn cưỡng! Chỉ nên đừng sát sanh, có thể ăn chay sáu ngày. Tiến dần lên mười ngày, rồi lại ăn chay ba tháng. Mỗi thứ đều có công đức, đó gọi là “ăn chay một ngày, chuyện sát sanh trong thiên hạ chẳng có phần ta!” Nếu có thể đạt đến ăn chay quanh năm, phước thọ càng vô lượng. Nhưng trước khi có thể ăn chay trường, trong những ngày chẳng phải là ngày ăn chay, cũng chớ nên sát sanh để ăn. Hăy nên tùy duyên, ăn rau cạnh thịt, hoặc dùng tam tịnh nhục, để vun bồi thiện căn dần dần, sửa đổi tập khí ăn thịt. Đợi đến khi huệ khai, phước tăng, sẽ tự nhiên chẳng muốn ăn thịt nữa! Đến lúc đó, lại học tŕ ngọ cũng chẳng trễ!

 

          * Hỏi: Đệ tử Phật có nên làm nghề nuôi các giống chim ngoại quốc hay không? (Diệp Thiên Sanh hỏi)

 

          Đáp: Phật pháp lấy từ bi làm gốc, ban vui là Từ, dẹp khổ là Bi. V́ thế, chẳng được sát hại chúng sanh, mà cũng chẳng nên năo loạn. Nuôi chim để buôn bán, tuy chẳng sát hại, nhưng v́ nhốt chúng trong lồng, cũng giống như giam trong nhà tù, đánh mất tự do, năo loạn tột bậc! Tôn giả La Hầu La do kiếp trước từng lấp hang chuột, đời này ở trong thai ngục một thời gian dài. Chuyện đă có gương trước, quyết chớ nên làm vậy!

 

          * Hỏi: Mỗi tháng, tŕ Ngọ ba mươi ngày, Bát Quan Trai th́ mỗi tháng chỉ giữ sáu ngày, công đức ấy cao trỗi hơn công đức tŕ Ngọ, lư do ở chỗ nào? (Tôi tŕ Ngọ đă ba năm, toan đổi sang tŕ Bát Quan Trai, sẽ như thế nào?) (Châu Tinh Nguyên hỏi)

 

          Đáp: Tŕ Ngọ cố nhiên là nhiều công đức, bất quá [chỉ có] một điều là Trai. Bát Quan là tám giới, [cho nên] có sức mạnh to lớn. Hơn nữa, Bát Quan Giới chính là giới xuất thế của chư Phật, hết sức nghiêm ngặt. V́ thế, dạy người b́nh phàm chỉ tŕ một ngày, có thể thấy là khó thể giữ liên tục thường hằng lâu dài. Đối với chuyện này, hăy nên tra duyệt kinh văn, mới biết tánh chất nghiêm ngặt của pháp này. Giới tướng đă là Phật Hạnh, tự nhiên công đức thù thắng. Hết thảy các giới tướng, tuy có thể tŕ hết, c̣n thêm vào Bát Quan Trai, đủ thấy tánh chất trọng yếu của nó. Nếu là chuyện hư giả xưa cũ, chẳng hợp giới nghĩa, sẽ chính là hành chẳng đúng pháp, hăy nên bàn riêng! Xét ra, pháp này chỉ cho phép thọ một ngày một đêm. Tuy nói “mỗi tháng tŕ sáu ngày”, nhưng muốn tŕ cho nhiều, hoàn toàn chẳng phải là không được phép. Nhưng tŕ giới này, cũng chớ nên bỏ những giới khác.

 

          * Hỏi: Theo Ưu Bà Tắc Giới Kinh, có sáu giới trọng, hai mươi tám giới khinh, cư sĩ Giang Vị Nông coi đó là một loại giới Bồ Tát. Tiến hơn nữa là thọ mười giới trọng, bốn mươi tám giới khinh trong kinh Phạm Vơng. Chẳng biết sáu giới trọng và hai mươi tám giới khinh có phải là Bồ Tát Giới hay không? Pháp sư b́nh phàm trong thường nhật có thể truyền giới ấy hay không? (Đức Minh hỏi)

 

          Đáp: Sáu giới trọng, hai mươi tám giới khinh và mười giới trọng, bốn mươi tám giới khinh đều là giới Bồ Tát. Bất quá đơn giản, cặn kẽ, dễ, khó khác nhau, nên nói là “tiến hơn”. Tuy nói là “pháp sư truyền trao”, nhưng đều có khuôn khổ nhất định. Do giới coi trọng luật nghi, ắt phải lấy sự kính trọng làm chuẩn. Nếu không, sẽ chẳng đắc giới. Nói hai chữ “b́nh phàm”, khó suy lường phạm vi! Nói chung là vị xuất gia nào chưa thọ giới tỳ-kheo, hoặc chưa am hiểu pháp cần truyền, đều chẳng thể tiếm phận làm chuyện ấy được!

 

          * Hỏi: Nhà có người mất cúng Thất, thỉnh ban niệm Phật đến tụng kinh, trước hết là dùng đồ chay, sau đấy lại cúng đồ mặn [cho người đă khuất]. Làm như vậy th́ có hữu hiệu hay không? Có công đức hay không? (Chiêm Kim Chi hỏi)

 

          Đáp: Mỗi thất tụng kinh là công đức phụ trợ. Sát sanh, cúng đồ mặn là tăng thêm tội nghiệp. Tuy là tụng kinh xong mới cúng đồ mặn, cũng là có ư bất tịnh, chẳng làm lành đến cùng! Chuyện này giống như nấu cơm đă chín, lại bỏ chất độc từ lông chim Trấm vào, kẻ trí chẳng làm!

 

          * Hỏi: Có người nói: “Thốt ra lời lẽ kể tội [người khác] làm chuyện xấu, đệ tử Phật chớ nên nói ra”. Lại có kẻ nói: “Nói ra, không chỉ là chẳng có tội, mà c̣n có công đức. V́ tăng sĩ làm chuyện xấu, do biết có kẻ hay biết, lần sau sẽ chẳng dám làm nữa!” (Nhiếp Vân Hà hỏi)

 

          Đáp: Đệ tử tại gia chẳng kể lỗi của hai chúng xuất gia, giới luật có giới điều ấy. Nói ra, tức là chính ḿnh phạm giới, trước hết là chính ḿnh chẳng thể giữ giới, há có công đức ǵ? Nếu kẻ xuất gia phạm lỗi, xă hội sẽ tự nhiên “mười mắt trông thấy, mười tay chỉ vào”, đốc thúc nghiêm ngặt, ta cần ǵ phải lo lắng quá lố? Hơn nữa, kể lỗi và khuyên can có khác biệt. “Kể lỗi” là nêu rơ điều sai trái của người khác. “Can ngăn” là người khuyên can ngầm khuyên lơn kẻ ấy biết phản tỉnh. Đối với chuyện phân định thiện, ác của hai chuyện này, trong t́nh nghĩa giao hảo giữa bạn bè với nhau trong cơi tục, c̣n cần phải lựa chọn thận trọng để làm. V́ thế, nói đến lỗi lầm [của người khác], ắt cần phải hiểu rơ ư nghĩa ấy!

 

          * Hỏi: Có kẻ nọ thích xem múa cạ đùi[14] và xem phim ảnh, xin hỏi kẻ đó có phạm giới hay không? (Nhiếp Vân Hà hỏi)

 

          Đáp: Trong biển cả, cá rồng hỗn tạp. Trong số những người đọc sách Khổng Tử, cũng có Vương Măng, Tào Tháo, Tần Cối v.v… Khổng Tử há bị nhục lây? Thánh nhân thế gian và xuất thế gian chỉ v́ chúng sanh điên đảo, cho nên chẳng tiếc muôn lời ngàn lẽ, dẫn dụ họ tiến cao hơn! Ví như thầy thuốc chữa bệnh cho người ta, kẻ đó uống thuốc hay không, bác sĩ làm sao có thể cưỡng bách cho được? Nhưng nhân quả chẳng hư dối, ai làm kẻ nấy sẽ hứng chịu!

 

          * Hỏi: Giới thứ mười bảy trong sáu giới trọng, hai mươi tám giới khinh của Ưu Bà Tắc Giới Kinh, phần nói về thất ư tội: “Nhược Ưu-bà-tắc thọ tŕ giới dĩ, súc dưỡng tượng, mă, ngưu, dương, đà, lư, nhất thiết súc thú, bất tác tịnh thí vị thọ giới giả, thị Ưu-bà-tắc đắc thất ư tội” (Nếu Ưu-bà-tắc đă thọ tŕ giới, đối với hết thảy những loài thú đă nuôi như voi, ngựa, trâu, dê, lạc đà, lừa, chẳng tịnh thí cho người chưa thọ giới, vị Ưu-bà-tắc ấy sẽ mắc tội thất ư). Nói “bất tác tịnh thí vị thọ giới giả” có phải là “chẳng hành vô trụ bố thí cho người chưa thọ giới” hay không? Khẩn khoản xin cụ hăy khai thị. (Triệu Liên hỏi)

 

          Đáp: “Tịnh thí” là bố thí chẳng cầu báo. Phàm là những súc sanh đă nuôi, phần nhiều là khiến cho chúng sẽ ra sức phục vụ ta. Đấy chính là mong chúng nó báo đáp ta, việc làm ấy chẳng được gọi là “tịnh”. Ưu-bà-tắc sau khi đă thọ giới, vốn chẳng nên tiếp tục nuôi những loài ấy. Nếu đă nuôi chúng trước khi thọ giới, có thể ngừng sử dụng công sức của chúng th́ tốt. Nếu bất đắc dĩ, hăy gởi gắm thân hữu để người ấy thay thế trông nom, nuôi nấng, sử dụng chúng. Đối với ba chữ “vị thọ giới”, có bản ghi chữ “vị” (, chưa) là “cầu” (), rốt cuộc bản nào chép sai, tại hạ sách vở ít ỏi, chẳng có cách nào giảo định. Do chữ đă chẳng nhất định, cũng chẳng dám giải thích.

 

          * Hỏi: Trong cùng kinh ấy, đối với giới mười tám, phần nói về “thất ư tội” có nói: “Nhược Ưu-bà-tắc thọ tŕ giới dĩ, nhược vị thân mạng tu điền tác giả, bất cầu tịnh thủy, cập lục giá xứ. Thị Ưu-bà-tắc đắc thất ư tội” (Nếu Ưu-bà-tắc đă thọ tŕ giới, nếu v́ thân mạng mà làm ruộng, chẳng t́m nước sạch để tưới chỗ đất trồng trọt, vị Ưu-bà-tắc ấy mắc tội thất ư). Tôi chẳng biết [kinh văn] nói “bất cầu tịnh thủy cập lục giá xứ” ư nghĩa như thế nào? Xin hăy dạy cho! (Triệu Liên hỏi)

 

          Đáp: Làm ruộng cần phải dùng nước. Khi đất khô hạn, cần phải dẫn nước để tưới tắm. “Tịnh thủy” tức là nước không có trùng, mang ư nghĩa sợ tổn thương loài chúng sanh. Tôi nghe nói cổ đức dẫn nước vào ruộng đều tụng mật chú. Nếu chẳng thể lọc nước, mà được chú nguyện, cũng có thể được gọi là “tịnh thủy”. Đối với chuyện này, vẫn phải nên do vị đại đức chuyên tinh Luật Tông khai thị th́ mới chẳng đến nỗi sai lầm. Tuy tại hạ đă từng thọ giới, ngay trong lúc này, chẳng thể nhớ rơ ràng. Lời đáp ngày hôm nay, ngoài những chỗ tham khảo những lời chú giải ra, những điều khác hoàn toàn dựa theo văn tự để suy đoán ư nghĩa đó thôi!

 

          * Hỏi: Cũng trong kinh ấy, đối với giới thứ hai mươi bốn, phần nói về tội thất ư: “Nhược Ưu-bà-tắc thọ tŕ giới dĩ, Tăng nhược bất thính thuyết pháp, tán thán, triếp tự tác giả, đắc thất ư tội” (Nếu Ưu-bà-tắc đă thọ tŕ giới, mà nếu Tăng chẳng cho phép người ấy thuyết pháp, tán thán mà cứ tiện làm, sẽ mắc tội thất ư). Chẳng biết ư nghĩa của câu “Tăng bất nhược thính thuyết pháp, tán thán, triếp tự tác giả” là như thế nào, xin hăy khai thị! (Triệu Liên hỏi)

 

          Đáp: Điều này là v́ hàng bạch y dạy dỗ tăng sĩ mới học mà lập ra. Nếu Ưu-bà-tắc là người đă thọ giới, có học vấn, tuy có thể dạy bảo hàng tăng sĩ mới học, nhưng cũng chớ nên tự coi ḿnh là thầy. Nếu tăng sĩ chẳng muốn nhận lănh pháp ấy, dẫu hàng bạch y tràn đầy nhiệt tâm, chớ nên ép buộc tăng sĩ phải theo. Chuyện ấy chẳng được phép!

 

          * Hỏi: Cùng trong kinh ấy, dưới mỗi điều khoản thất ư, đều có hai câu: “Bất khởi đọa lạc, bất tịnh hữu tác” (Chẳng tạo tội đọa lạc, thuộc về bất tịnh nơi pháp hữu vi), chẳng biết có nghĩa là ǵ? (Triệu Liên hỏi)

 

          Đáp: Đây là đại giới của hàng Bồ Tát, Bồ Tát là Bồ Đề Tát Đỏa (Boddhisattva). Sau khi đă thọ giới, ắt chỗ nào cũng phải tương ứng với Bồ Đề. “Thất ư” (失意) có nghĩa là đánh mất ư nghĩa Bồ Đề. Nếu phạm những tội nhẹ ấy, phải liền sám hối, “cải quá tự tân” (sửa lỗi đổi mới). “Tân” () chính là “khởi”

(). Chữ này nói đối ứng với đọa lạc. Đọa chính là chẳng khởi, “bất khởi” chính là “chẳng đọa lạc”. Hữu tác và vô tác có nghĩa là hữu vi và vô vi. Người thọ giới đă đắc vô tác giới thể; nếu phạm tội nhẹ, chỉ là bất tịnh nơi pháp hữu vi, hoàn toàn chẳng khiến cho vô vi giới thể bị nhiễm ô.

 

          * Hỏi: Ông X… nọ đă thọ Ngũ Giới, chẳng uống một giọt rượu nào (dẫu là một giọt rượu đang ủ cũng chẳng nếm), [hành như vậy] đă mười mấy năm. Có người bạn tặng rượu Tây cho ông ta, ông ta chẳng uống, tính đem biếu người khác, chẳng biết có tội hay không? Có phạm giới hay không? Xử lư loại rượu Tây ấy như thế nào? (Triệu Liên hỏi)

 

          Đáp: Đă thọ Ngũ Giới, tức là chính ḿnh chẳng uống. Nếu là Bồ Tát Giới, sẽ chẳng được phép buôn bán rượu. Nhưng đối với người chưa thọ giới Bồ Tát, tợ hồ chẳng vi phạm. Trộm nghĩ: Tặng cho người khác, chẳng bằng bán cho tiệm rượu, dùng tiền bán được để làm công đức. Tặng cho người khác tức là tăng thêm chuyện vô ích cho người ta, có lẽ chẳng nên làm! Người bán cho kẻ khác uống chính là v́ tham lợi mà tổn hại người khác. Bán cho tiệm rượu chính là v́ họ theo đuổi cái nghề đó, ta chẳng xui họ làm chuyện đó. Đấy cũng là chuyện bất đắc dĩ mà ngẫu nhiên làm, chẳng phải là chính ḿnh thường làm chuyện bán chác ấy. Về sau, nếu gặp chuyện giống như vậy, hăy mềm mỏng để từ chối th́ tốt hơn!

 

          * Hỏi: Trong An Sĩ Toàn Thư có câu chuyện “mại trai lập nhiếp” (bán công đức tŕ trai, lập tức bị quỷ bắt đi) [như sau]: Ông Vương X… ở Ma Thành[15], ăn chay trường đă ba năm, bỗng bị ghẻ độc, sanh tâm hối hận. Bạn bè nói: “Ông là người ăn chay, Phật, trời sẽ ngầm che chở”. Ông Vương nói: “Ăn chay ba năm, chuốc lấy ác báo này, có ích ǵ đâu?” Người bạn nói: “Ông chẳng giữ trai th́ có thể bán cho tôi hay không?” Ông Vương hỏi: “Bán như thế nào?” Người bạn nói: “Mỗi ngày là ba phân tiền, ba năm tính ra bạc là mười lượng tám tiền[16]”. Ông Vương hoan hỷ, bèn viết bằng khoán, ngày hôm sau phá trai. Đêm mộng thấy hai con quỷ đến chửi: “Một tháng trước ngươi đă hết lộc, do tŕ trai nên kéo dài đến hôm nay. Bây giờ, mạng bị tính ngược lại để đ̣i”, lập tức muốn bắt đi. Ông Vương xin hoăn lại một đêm để trả bạc lại, thề lại ăn chay trường. Ngày hôm sau, gọi người bạn đem bằng khoán tới. Người bạn bảo: “Ngày hôm qua đem về, đă đốt trước bàn Phật”. Ông Vương hối hận, lập tức chết. Xin hỏi công đức tŕ trai chẳng có h́nh tướng, làm sao có thể bán được? (Châu Huệ Đức hỏi)

 

          Đáp: Xét theo Lư, vạn pháp đều không, các tướng đều là hư vọng, đều là vô tướng, nhưng tâm tạo vạn pháp, chính là lực dụng của nó. Lực là do nguyện phát ra. Tŕ trai là nguyện, xả trai cũng là nguyện. Nếu nói bỏ mà chẳng có hiệu quả ǵ, tŕ cũng phải nên chẳng có hiệu quả ǵ! Suy rộng ra, hồi hướng, sám hối v.v… không ǵ chẳng phải là nguyện lực của tâm, cũng đều chẳng phải là không có hiệu quả ǵ! Hiểu rơ lư này, chẳng cần hỏi đến chuyện đă nêu trong An Sĩ Toàn Thư là có hay không? Cứ dùng lư luận để suy, tâm có thể tạo, có thể chuyển, người buộc chuông sẽ là người tháo chuông, lư thật sự có thể thông suốt.

 

          * Hỏi: Nhà ăn trong quân đội không cung cấp đồ chay, khiến cho kẻ ăn chay rất bất tiện. Vị cư sĩ X… nọ trước kia chưa thôi ăn thịt, về sau chẳng nỡ ăn thịt, đổi sang ăn rau cạnh thịt. Được một khoảng thời gian, lại cảm thấy ăn rau bên cạnh thịt vẫn là bất tịnh, chẳng hợp phép vệ sinh, bèn thôi ăn chung với mọi người, tự lo liệu đồ ăn chay. Lại c̣n phải thường ra phố mua những thứ rau dưa, thường cảm thấy bất tiện. Lại c̣n mỗi ngày ba bữa phải đến nhà ăn lănh cơm từ viên sĩ quan trực nhật. Khi ấy, người đó thường nghĩ có thể lấy nhiều cơm hoặc bánh mạn đầu từ nhà ăn, đợi thức ăn dư từ người trực nhật để có thể dùng làm thức ăn chay cho chính ḿnh. Mỗi ngày đều như thế. Về sau, cảm thấy đă không góp phần ăn chung, chẳng được lấy nhiều cơm. Đó là trộm cắp, là tham. Tuy là ăn chay, không có đồ mặn, nhưng những thứ ta ăn chẳng phải là do tiền bạc đổi lấy. Do đó, lại xin ăn chung với đồng đội, tính ăn rau bên cạnh thịt, chẳng c̣n nhận cơm dư từ người trực nhật. Lại c̣n chẳng phải mất công mua rau dưa ngoài phố. Ăn chung với đồng đội như vậy được vài ngày, cảm thấy mùi mỡ hết sức khó ngửi. Lúc ấy, lại gặp hội phóng sanh ở núi Sư Đầu gởi tới quyển sách Lợi Ích Do Ăn Chay. Có được bộ sách ấy, trong đó có nói về sự dinh dưỡng do ăn chay, ăn thịt dễ mắc bệnh, và những câu chuyện thật sự về nhân quả báo ứng. Do sợ hăi nhân quả, bèn thề chẳng ăn mặn nữa. Sau đấy, lại ăn chay, nhận cơm từ người trực nhật cũng chẳng c̣n lấy nhiều, nguyện ngăn ngừa ḷng tham. Do đồ ăn bất tịnh, tuy chẳng thuận tiện cho lắm, nhưng tâm khá an ổn. Nếu là cơm hoặc ḿ của chính ḿnh th́ khi ăn hết, đi mua sẽ bất tiện, có thể ăn cơm dư của người trực nhật hay không? Nghĩ những thứ đó sẽ bị đổ đi, chẳng đáng tiếc lắm ư? Ăn được hay không? Nghĩ đích xác những đồ ăn ấy là thứ bất tịnh. (Thái Lân Định hỏi)

 

          Đáp: Tự ḿnh không có sức lo liệu thức ăn riêng, Phật pháp vốn cho phép dung thông, nhưng tâm phải giữ vững, chớ nên thay đổi xoành xoạch. Bất luận là ăn chung với mọi người, hoặc là ăn cơm thừa của cấp trên, ăn rau bên cạnh thịt là được.

 

          * Hỏi: Hướng về người phụ trách quản lư trong công ty hoặc cơ quan xin phấn hoặc giấy để chính ḿnh sử dụng, đă được chấp thuận, th́ có phải là phạm giới trộm cắp hay không? (Đồ Trinh Quang hỏi)

 

          Đáp: “Trộm cắp” là chẳng cho mà lấy. Phàm những vật sử dụng đă xin từ người phụ trách, lại được người phụ trách đưa cho, đấy chẳng phải là trộm cắp. Nhưng chẳng quư tiếc của công, đ̣i hỏi chẳng chán, nói theo pháp thế gian sẽ là chẳng liêm khiết. Nói theo Phật pháp sẽ là tham lam!

 

          * Hỏi: Mọi người đều biết người xuất gia ăn chay, thí chủ nếu cúng dường hăy nên chuẩn bị đồ chay, nhưng cư sĩ là người sống tại gia, chưa chắc đều ăn chay. Nếu là người ăn chay, do có việc mà đến nhà thân hữu, bị họ mời ăn mặn. Nếu ngă mặn th́ trái thệ nguyện, hăy nên làm như thế nào? (Thái Định Lân hỏi)

 

          Đáp: Ăn chay là chí nguyện của cá nhân, há nên v́ người khác mà xoay chuyển? Hễ có người mời ăn mặn, hăy mềm mỏng từ chối.

 

          * Hỏi: Khi khóa giảng thứ hai sắp kết thúc, tiểu tổ đồng nghiệp chúng tôi xin quy y. Khi đó, thầy đă v́ chúng con giảng giải chuyện quy y. Trong ấy, thầy có nói “tại gia cư sĩ chẳng thể v́ chúng sanh giới thiệu quy y”. Ngu sanh[17] giở xem mấy bộ sách Phật, hoàn toàn chưa thấy trong kinh Phật có quy định ấy, chẳng biết thầy căn cứ trên bộ kinh sách nhà Phật nào? Chúng ta có thể giả thiết: Thích Ca Mâu Ni Phật mở một tiệm buôn. Người xuất gia là nhân viên trong tiệm buôn ấy, lănh tiền lương của tiệm buôn ấy, hăy nên giới thiệu cho khách viếng tiệm biết ưu điểm của hàng hóa trong tiệm. Hàng tại gia cư sĩ là những người khách đă từng đến mua các hàng hóa ấy, chẳng lẽ bọn họ chẳng thể hướng về những người khách viếng tiệm khác để giới thiệu nên dùng những món hàng nào? Thầy nói những lời ấy, nhất định là có dụng ư cao minh, tṛ chẳng thể suy lường được! Hy vọng thầy có thể giảng giải rơ ràng hơn một chút! (Trần Chánh Mân hỏi)

 

          Đáp: “Tại gia cư sĩ chẳng thể v́ chúng sanh giới thiệu quy y”, lời lẽ này thuộc loại nghe lầm mất rồi! Khi đó, tôi nói: Người tại gia chẳng thể “thọ” (tiếp nhận) chúng sanh quy y được, chứ không nói “chẳng thể giới thiệu quy y”. “Thọ” là chính ḿnh tiếp nhận, “giới thiệu” là giới thiệu người khác. Nghe lầm một chữ, sai biệt rất lớn!

 

          * Hỏi: Cổ đức nói “lân nga bất điểm đăng” (do thương xót những con thiêu thân nên chẳng thắp đèn). Những sanh mạng do mê ánh sáng mà đâm ra bị hủy diệt, trong đêm tối, số lượng [những con phi trùng] đă bị chết oan chẳng có cách nào tính đếm! Trong vị lai, khi nhân duyên gặp gỡ, người đốt đèn có bị quả báo hay không? (Chung Vân Xương hỏi)

 

          Đáp: Thắp đèn chẳng có ư sát sanh. Chẳng phải như đặt hom bẫy cua, giăng lưới bắt cá, nổi lửa để dẫn dụ chúng. Do chẳng dấy sát ư, nên chẳng phải là tội. Nếu do tác dụng phụ mà tạo thành sát sanh, có thể dùng phương tiện thiện xảo để tránh né, như chụp lồng ngoài đèn, hoặc là có những cách khác. Nếu có thể làm như thế, đâm ra sẽ có công đức, niệm nào cũng ngay lập tức chuyển vọng quy về lẽ nhân ái vậy!

 

          * Hỏi: Chẳng biết chuyện lập đàn cúng tế (“kiến tiêu”, 建醮) bắt đầu từ niên đại nào? Trong kinh điển nhà Phật có ghi chép tường tận hay không? Nếu lập đàn cúng tế là chuyện thuộc nhà Phật, v́ sao giết hại một số lượng lớn súc sanh để phổ độ âm hồn? Đấy cũng là hành vi tín ngưỡng của bọn ngoại đạo, xen tạp vào trong Phật giáo! Như phong tục các nơi trong tỉnh này (Đài Loan), cứ mỗi mười hai năm bèn cử hành một lần. Trước khi khai đàn cúng tế mấy ngày, phải ăn chay, có các tiết mục: Thả đèn xuống nước, dựng cột treo đèn v.v… Sau khi kỳ hạn ăn chay đă măn, mới có thể giết mổ súc sanh cúng bái ḥng phổ độ âm hồn. Sát sanh là phạm tội, phổ độ âm hồn, ngạ quỷ kiểu đó th́ có ích cho những kẻ được phổ độ hay không? Đồng thời, cũng có kẻ thỉnh người xuất gia hoặc đạo sĩ làm các khóa mục như tụng kinh, bái sám, ngồi đàn v.v… Cách làm như vậy có trái nghịch Phật pháp hay không? (Chung Vân Xương hỏi)

 

          Đáp: Lập đàn cúng tế chính là pháp do Đạo Giáo Trung Hoa đặt ra, Phật pháp chẳng có chuyện ấy. Nhưng các phái, các chi nhánh trong Đạo Giáo cũng có nhiều loại, những chuyện họ làm khó thể nhất trí. Trong ấy, khó thể tránh khỏi h́nh thành đa thần. Tục dân chỉ mong cầu phước, gặp thần liền lạy, c̣n đối với Phật, trời, thần, quỷ, hoàn toàn chẳng phân định rơ ràng. Thật ra, chuyện cúng lạy gom vào chuyện cúng lạy, chuyện tín ngưỡng gom vào tín ngưỡng, rốt cuộc trở thành tuy là cúng lạy, chưa chắc đă là tín ngưỡng, bất quá là chuyện cầu phước tạp loạn lộn xộn đó thôi. Những ǵ Ngài đă trông thấy thuộc về loại này! Nếu ngẫu nhiên có người xuất gia tham dự trong ấy (chữ “người xuất gia” chỉ tỳ-kheo tăng), sợ rằng là thiểu số chẳng hiểu lư, được người khác mời mọc [bèn tham dự], chứ không phải do chính họ tự đứng ra tổ chức!

         

          * Hỏi: Những thứ nhạc khí được sử dụng trong Phật giáo như mơ, khánh, thanh la cỡ nhỏ, chuông nhỏ, trống v.v… v́ sao chẳng thể tùy tiện gơ chơi? [Nhà chùa] nói “gơ chơi sẽ mắc tội lỗi”. Tội lỗi ǵ vậy? (Đào Dân Tŕ hỏi)

 

          Đáp: Những thứ ấy đều là pháp khí chuyên dùng để tụng kinh, hăy nên cung kính. Nếu coi chúng là những món đồ chơi, sẽ là vô lễ, khinh nhờn. Nay tôi nêu một thí dụ: Quốc gia chế định lễ nhạc nhằm dạy nhân dân. Tuy không thấy cổ chế (quy chế lễ nhạc thời cổ), nhưng từ những buổi tế lễ Khổng Tử tại Đài Loan, có thể nghe [những loại lễ nhạc ấy]. Những loại đàn cầm, sắt, chuông, trống bày trong miếu [thờ Khổng Tử], nếu chẳng hành lễ, sẽ chẳng thể tấu, gơ lung tung. Đó là điều thứ nhất. Lại nữa, trong quân đội, trống, kèn, quân kỳ chính là những thứ để truyền tải hiệu lệnh của một đạo quân. Không có duyên cớ mà gơ, thổi, phất cờ, có được hay chăng? Đó là điều thứ hai.

 

          * Hỏi: Cư sĩ làm nghề buôn bán (bán tiệm vải), các loại vải mỗi mùa đều có. Loại vải thông thường và vải len có phẩm chất bất đồng, v́ len th́ phải dùng lông của các loài súc sanh như ngỗng, vịt, dê…. chế thành. Học nhân biết rơ là lấy lông của súc sanh [để chế vải], nhưng người b́nh phàm lẫn Phật giáo đồ đều mặc rất phổ biến! Cũng như vậy, ăn thịt và mặc áo may bằng vải do lông súc sanh chế thành, có sẽ cảm cùng một quả báo hay chăng? Người ăn chay có nên nghĩ đến áo bằng vải len mà họ đang mặc, chớ nên mua bán, mà cũng chớ nên mặc. Do từ tâm lân mẫn mà bớt chế tạo loại vải ấy? (Thái Lân Định hỏi)

 

          Đáp: Chỉ cắt lông chúng, chẳng giết thân chúng, giống như chỉ vắt sữa ḅ, chẳng hại mạng nó. Quán sát như vậy, vẫn có thể phương tiện [sử dụng loại vải ấy]. Nếu luận định nghiêm ngặt, giới luật nhà Phật đều có văn bản rơ ràng, ăn, uống, mặc, ở, đi lại, hành động, đều có điều luật quy định chánh đáng. Người thọ giới đều nên tuân thủ nghiêm ngặt. Tín đồ nhà Phật chưa thọ giới có thể tùy phận, tùy duyên mà thôi. Giới có khai, giá, tŕ, phạm, không ǵ chẳng nhằm trọn hết những điều tốt lành!

 

          * Hỏi: Giữ sáu ngày Trai, cần phải “quá Ngọ chẳng ăn”, nhưng nhân viên trong công sở mười hai giờ trưa mới tan tầm, như vậy th́ nhằm lúc đă quá Ngọ, có phải là chẳng thể ăn hay không? “Quá Ngọ chẳng ăn” có ư nghĩa như thế nào? (Trịnh Triều Tín hỏi)

 

          Đáp: Có thể giữ sáu ngày Trai là đă tốt lắm rồi. Nếu chưa chánh thức thọ Bát Quan Trai, tuy đă qua khỏi chánh ngọ, vẫn có thể phương tiện mà ăn. Nếu chánh thọ (chánh thức thọ tŕ Bát Quan Trai Giới) th́ chẳng được phép. Một là v́ chính ḿnh chẳng thể làm chủ, hai là chưa đến một giờ th́ vẫn là chưa đến cuối ngọ. Đối với ư nghĩa của chuyện này, các vị luật sư giảng giải bất đồng. Có người nói là do ăn cơm bất tiện, có người bảo là v́ tránh cho ngạ quỷ dẫn khởi phiền năo. Có người nói “nhằm ngăn tham, dứt dục”. Mỗi mỗi đều có nguyên nhân. Nói chung, giới là do đức Phật chế định. Hiểu nghĩa, tŕ giới, cố nhiên là tốt lành. Chẳng hiểu nghĩa ấy mà vâng giữ, cũng có công đức. Như pháp luật trong thế tục, [phải là] chuyên gia mới hiểu tinh tường ư nghĩa, nhân dân b́nh phàm chẳng biết pháp lư, cũng nên vâng giữ!

 

          * Hỏi: Đức Phật răn đừng sát sanh, giọng điệu cao cả thay, đẹp đẽ thay, nhưng có thật sự phù hợp thực tế hay không? Nông dân canh tác, theo lệ, cần phải trừ trùng. Lúc bị nạn châu chấu, nếu chẳng thể trừ sạch, nhất quyết chẳng sát sanh th́ lấy ǵ để ăn? Hoặc nói tuy giết, nhưng ôm ḷng bất nhẫn, đừng tăng trưởng sát tâm là được rồi! Thật ra, hăy nghĩ xem bọn kiến, trùng có biết tâm ư của nông dân bất nhẫn, hay là sát tâm lừng lẫy hay không? Vả nữa, bất luận như thế nào, kẻ bị hại đều như nhau. Đang trong lúc bị hại, chúng sẽ bi thống muôn phần, rảnh đâu để so đo nông dân có bất nhẫn hay là không! Nếu có cơ hội báo thù, nhất định sẽ đều coi nhất loạt như nhau, sao lại bảo tuy giết, nhưng giữ ḷng bất nhẫn là được rồi? (Lư Liên Giai hỏi)

 

          Đáp: Sa Bà là cơi đời ô trược tam ác đạo, là đời ác giết, trộm, dâm. Trước khi sanh vào cơi này, ắt đă có cái nhân giết, trộm, dâm, nay sống trong cơi này, ắt là có chuyện giết, trộm, dâm. Có ba chuyện ấy, chẳng tránh khỏi tam đồ. Nay chỉ lấy một chuyện giết để nói, nó đă trở thành hiện tượng tự nhiên! Đức Phật v́ độ chúng sanh khỏi đọa trong cảnh giết chóc tự nhiên, cho nên răn dạy: “Hăy tận hết sức tránh né giết chóc, ḥng giảm nhẹ sát nghiệp”. Nếu nói tường tận về chuyện giết, t́nh thế sẽ tột bậc phức tạp. V́ thế, [có các trường hợp] cố ư giết, vô t́nh giết, chẳng tránh khỏi mà giết, chẳng thể tránh khỏi giết chóc v.v… Lại c̣n có tự sát, v́ ta mà giết, gián tiếp giết, giúp người khác giết, xúi giục người khác giết, vui vẻ v́ thấy người khác giết chóc v.v… Triệt để chẳng giết, chỉ có ḿnh đức Phật. Niết Bàn Pháp Thân chẳng có hết thảy các chuyện giết chóc. Bọn chúng ta v́ t́nh thế khó thể làm được, chỉ nên tận lực tránh né. Như hít thở, đi lại, đă giết vô lượng động vật nhỏ bé, chuyện này thuộc loại chẳng thể tránh khỏi. Như uống nước, ăn ngũ cốc, lọc nước, cày ruộng, tức là ta đă gián tiếp giết nhiều loại. Giới luật chế định tỳ-kheo chẳng tự cày cấy, nhưng người có đức và đúng pháp có thể tự cày cấy. Hiểu rơ điều này, kẻ vô đắc vô chứng hăy tận lực cầu tránh giết, đó là giữ giới. V́ thế, người thật sự phát tâm từ bi, ắt cầu thành Phật.

 

          * Hỏi: Giới có khai, giá, tŕ, phạm. V́ nước chiến đấu, giết địch, bèn chẳng phạm giới; nay có binh lính xâm lược đất nước, [những người lính ấy] vâng lệnh xâm lược nước khác. Nếu là tín đồ nhà Phật đồ, làm thế nào để xử lư trong trường hợp tiến vào xâm lược nước khác? Lư vốn chẳng hợp, khi lâm trận, giết địch, ắt tổn hại ḷng Từ. Chẳng giết th́ là trái nghịch quốc mạng. Đôi bên đều khó, tuy muốn quăng súng để mưu tính chuyện khác, nhưng chẳng được! (Lư Liên Giai hỏi)

 

          Đáp: Chuyện này thuộc loại chẳng thể tránh khỏi, cũng là liên quan đến nghề nghiệp. Nếu v́ chế phục địch nhân, hăy nên tuân thủ mệnh lệnh. Nếu coi tàn sát là chuyện sung sướng, thật sự sẽ tổn hại quốc oai. Hăy nên thiện xảo, hành nhiều phương tiện.

 

          * Hỏi: Nếu trong lúc không có xung đột, chẳng giết hại sanh mạng th́ c̣n được. Nếu có xung đột, [giết chóc] sẽ là t́nh thế khó tránh khỏi. Như đồ tể, ngư phủ, há đều là hạng hung tàn, ác độc, hiếu sát tuân theo mệnh lệnh ư? Có lúc, giữa con người và những động vật khác, thật sự là chẳng thể vẹn toàn đôi bên, như chuyện con chuột của Vĩnh Mỗ Thị[18] và tai nạn châu chấu v.v… chính là chẳng có biện pháp để giải quyết vẹn toàn đôi bên! Lại như trong bụng Phật tử có trùng, chẳng giết th́ thân thể bị tổn hại, trái nghịch hiếu đạo. Giết th́ mâu thuẫn giới luật, tâm khó thể an! Nếu nói là “tuy giết mà ôm ḷng bất nhẫn, cái tâm sẽ có thể an, thân cũng chẳng bị tổn hại”, đó là cách tối thượng. Suy nghĩ kỹ lời ấy, sẽ thấy sai lầm to lớn, chẳng đúng! Đă là bất nhẫn, cớ ǵ cứ giết? Cứ ắt muốn giết, há là bất nhẫn ư? V́ cầu cái tâm có thể an, nên khởi ư bất nhẫn, há có thật sự bất nhẫn hay chăng? Bất quá là cách nói tự dối ḿnh vậy! (Lư Liên Giai hỏi)

 

          Đáp: Những loại trùng có hại như chuột, châu chấu, ai nấy đều giết. Đấy chính là tội báo của chúng, hăy nên thương xót, chớ nên hận. Cổ nhân huấn dụ: “H́nh kỳ vô h́nh” (Đối với chuyện trừng phạt th́ mong sao khỏi phải trừng phạt), Vua Đại Vũ xuống xe khóc tội, không ǵ chẳng phải là v́ ḷng nhân. Đấy là tâm lượng của bậc thánh. Đối với biện pháp để thương xót, chỉ có cách dự pḥng, siêng năng tu bổ tường vách, trong nhà giữ cho ngăn nắp, sạch sẽ, chẳng để thức ăn [bừa băi], sẽ có thể tránh được chuột. Siêng năng khơi thông mương rănh, ruộng chẳng thiếu nước, phun thuốc ngừa sâu, có thể tránh khỏi nạn châu chấu. Trùng ở trong thân, chính là bệnh tật, khéo tự điều dưỡng, nó sẽ chẳng sanh. Nó đă sanh, có thể dùng thuốc để trừ, chỉ nghĩ trừ bệnh, giới cũng cho phép dung thông!

 

          * Hỏi: Tôi đọc báo Bồ Đề Thụ số một trăm bảy mươi, xem bài bàn đại lược về giới và thiện, thấy trong ấy có câu văn nhắc đến Quán Âm Trai và Tam Quan Trai. Quán Âm Trai là tŕ trai vào ngày mồng Chín, Mười Chín và Hai Mươi Chín mỗi tháng, c̣n Tam Quan Trai là tŕ trai vào ngày mồng Một, Rằm, hoặc ăn chay buổi sáng. C̣n nghe nói có Bát Quan Trai, đó là ǵ vậy? Mong thầy chỉ dạy! (Dương Khai Khánh hỏi)

 

          Đáp: Đọc tạp chí, cần phải phân định văn lư rơ ràng. Tam Quan Trai chính là trai giới theo Đạo gia, tuy cũng là chuyện tốt lành, nhưng e rằng trong văn từ của báo Bồ Đề Thụ chẳng hề đề xướng chuyện ấy. C̣n đối với Bát Quan Trai, th́ có một quyển sách về trai giới lưu hành riêng, cần thỉnh về đọc kỹ càng! Chẳng thể trong một lời hoặc nửa câu mà có thể nói rơ được! Loại giới bổn ấy, trong các chỗ lưu thông kinh Phật đều có.

 

          * Hỏi: Tŕ một loại trong các loại trai giới trên đây th́ có thể được coi là đệ tử Phật tại gia hay không? (Dương Khai Khánh hỏi)

 

          Đáp: Phàm những người thọ Tam Quy, hoặc tŕ một giới, tuy sống tại gia, nhưng là đệ tử Phật.

 

          * Hỏi: Nghề nghiệp như của tôi th́ có thể tiếp tục làm hay không? Nếu như chẳng thể tiếp tục làm, hăy nên làm như thế nào? (Tô Thái Nguyên hỏi)

 

          Đáp: Thú y là một chuyện, nuôi dưỡng là một chuyện khác. Thú y th́ t́nh và lư đều đơn giản, chỉ là trị liệu bệnh khổ mà thôi. Nuôi dưỡng bèn có khác biệt, hoặc là v́ chính ḿnh tham lợi mà buôn bán, hoặc là làm nhân viên chăm sóc, chuyên lo nuôi ăn [các động vật]. Nếu là trường hợp trước, chính là tham tài hại mạng. Thuộc trường hợp sau th́ chỉ quản nó sống, chẳng quan tâm nó chết. Như đối với tù nhân đă bị phán án tử h́nh, chờ đợi hành quyết, vẫn cần phải cung cấp đồ ăn, thức uống hằng ngày. Người mang đồ ăn, thức uống cho tù chẳng chịu trách nhiệm xét xử, phán quyết. Nghề nghiệp của tiên sinh là như thế nào, xin hăy tự suy nghĩ.

 

          * Hỏi: Khi các loài gia súc, gia cầm mắc bệnh, đă không c̣n giá trị để nuôi dưỡng, lúc dùng phương pháp để làm cho nó chết th́ có phải là sát sanh hay không? (Tô Thái Nguyên hỏi)

 

          Đáp: Ham sống sợ chết, cầu an sợ khổ, hết thảy hữu t́nh không loài nào chẳng có tâm trạng ấy. Nếu chúng mắc bệnh, có thể mời thú y tới giải quyết nỗi khổ ấy; đấy mới là ḷng nhân. Thừa lúc chúng nguy ngập mà tăng thêm nỗi khổ cho chúng, chính là tàn nhẫn. Dẫu chẳng có thú y để mời, chỉ nên để cho nó sanh diệt theo lẽ tự nhiên. Nếu trái nguyên tắc ấy, sẽ là sát sanh.

 

          * Hỏi: Khi động vật hoang dă cắn chết gia cầm, gia súc được nuôi, chúng tôi dùng phương pháp bắt giết động vật hoang dại th́ có phải là sát sanh hay không? (Tô Thái Nguyên hỏi)

 

          Đáp: Tôi chỉ giải thích hai chữ “sát sanh”. “Sanh” là sanh mạng, “sát” là giết hại. Ư nghĩa là như thế, tột bậc đơn giản! Nếu luận theo nhân duyên sát sanh, sẽ là ngàn muôn sai khác. Nhẹ, nặng, thiện, ác, khó thể nói tường tận. Sống trong vùng hoang dă, biết là có dă thú, sợ chúng gây tổn thương cho gia súc, chỉ có cách đề pḥng nghiêm ngặt. Nếu không, dă thú rất đông, gia súc làm sao có thể may mắn tránh khỏi được?

 

          * Hỏi: Nuôi nấng gia cầm, gia súc để cho chúng nó trưởng thành, sau đấy đem bán, c̣n như chúng nó có bị sát hại hay không [chẳng quan tâm đến] th́ cũng là sát sanh ư? (Tô Thái Nguyên hỏi)

 

          Đáp: Ư nghĩa sát sanh đă được giải thích sơ lược trong điều trước. Tự giết, bảo người khác giết, đẩy chúng vào cảnh chết chóc th́ vẫn là giết hại như nhau! Lại nữa, phàm mọi việc đều có nguyên nhân. Hăy tự xét khởi tâm động niệm muốn nuôi gia súc là v́ lẽ nào? Nếu hiểu rơ động cơ (motivation) ấy, nhân quả đă có, nói đến mai sau, bất quá là đă thành tựu hay chưa thành tựu mà thôi!

 

          * Hỏi: Câu Xá Luận, quyển mười bốn có nói: “Chư hữu bật-sô xưng ngă sư, bất ưng ẩm tửu, năi chí cực thiểu, như nhất nha đoan sở triêm tửu lượng, diệc bất ưng ẩm” (Nếu có các tỳ-kheo gọi ta là thầy, chớ nên uống rượu, dẫu là cực ít, như lượng rượu dính trên chót đầu của một cái mầm, cũng chớ nên uống). Tứ Phần Luật, quyển mười sáu lại nói: “Phật cáo A Nan: - Tự kim dĩ hậu, dĩ ngă vi sư giả, năi chí bất đắc dĩ thảo mộc đầu nội trước tửu nhi nhập khẩu” (Đức Phật bảo A Nan: - Từ nay trở đi, những ai coi ta là thầy, thậm chí chẳng được để cho [một chút] rượu dính nơi chót đầu của nhánh cây hay cỏ lọt vào miệng). Nếu là Phật tử tại gia thọ giới, trong thức ăn có bỏ rượu làm gia vị, hoặc là thuốc cần uống cùng với rượu th́ có phạm giới hay không? (Chung Vân Xương hỏi)

 

          Đáp: Giới chia thành khai, giá, tŕ, phạm. Người thọ giới “chẳng uống rượu” sẽ chẳng được uống rượu, dẫu uống một chút cũng gọi là “phạm”. Chỉ v́ bệnh mà chế thuốc, th́ có thể tạm khai, với ư nghĩa là dùng thuốc, chẳng phải là v́ vui sướng mà uống rượu. Món ăn thuộc về Vị Trần, chú trọng tại chua mặn, rượu chẳng cần thiết [phải dùng]. Nếu cứ ắt cầu vị ngon, [Thiệt] Căn ắt được bồi thêm bất tịnh.

         

          * Hỏi: Đệ tử tính thọ Ngũ Giới, nhưng chẳng chắc chắn lắm về hai giới chẳng tà dâm và không vọng ngữ, hăy nên làm như thế nào? (Vương Chí Hiền hỏi)

 

          Đáp: Giới chú trọng ở chỗ có thể tŕ. Chẳng tŕ, há được coi là giới? “Nắm chắc” nghĩa là có thể tŕ. Nếu không, sẽ là chẳng thể tŕ. [Giới nào] có thể tŕ th́ thọ giới ấy, chẳng thể tŕ th́ đừng thọ! Thọ cả năm giới là măn phần, thọ ba hoặc bốn giới là đa phần, thọ một hoặc hai giới là thiểu phần, đều có thể tùy duyên, chẳng ắt phải thọ toàn thể năm giới vậy!

 

          * Hỏi: Phật Học Viện nói tại gia cư sĩ không được đắp phước điền y. Tuy chưa xuất gia thờ Phật, nhưng ở trong chùa thờ Phật th́ có căn cứ ǵ hay không? (Tăng Khải Nguyên hỏi)

 

          Đáp: Cổ hiền nói: “Chẳng do quy củ[19], chẳng thể thành vuông, tṛn”. Chuyện trong nhà Phật đều có quy luật, mỗi điều đều chứa đựng ư nghĩa sâu xa. Kẻ mới học chỉ nên tuân thủ, thấy đến đâu bèn học đến đó, lâu ngày sẽ hiểu rơ ràng. Phước điền y do v́ tỳ-kheo mà chế ra, chẳng phải v́ hàng cư sĩ mà chế. Đức Phật cho phép người ta tu tập, nhưng y phục chớ nên mặc lẫn lộn! Nay tôi dùng lư đơn giản để tỷ dụ: Cảnh sát có trang phục của cảnh sát, binh sĩ có trang phục của binh sĩ, kẻ thường dân chẳng được phép mặc! Kẻ chẳng xuất gia, ở nhà thờ Phật, nếu sống trong chùa, chỉ nói “tùy hỷ”, v́ người xuất gia ở trong chùa, được người khác cúng dường, người tại gia chẳng thể tiếp nhận người khác cúng dường, cho nên chẳng thể ở trong chùa. Nếu tự lo liệu lương thực, lại được vị Tăng đứng đầu nhà chùa chấp thuận th́ có thể ở trong chùa tu đạo, cũng chẳng có ǵ là không được!

 

          * Hỏi: Vào tháng Chạp năm ngoái, do một cơ duyên, đệ tử đă thôi ăn mặn, ăn chay trường, nhưng tội chướng sâu nặng, chính ḿnh ăn chay, người nhà ăn mặn. Hằng ngày vẫn phải y như cũ, xắt thịt, nấu đồ mặn, mùi vị của Ngũ Tân rất khó chịu. Đă thế, tôi lại suy nghĩ, chính ḿnh là người đă ăn chay, nấu đồ mặn cho kẻ khác ăn, rất chẳng đúng! Ăn chay trường trong hoàn cảnh ấy, quán cảm như thế nào th́ mới yên? Xin thầy hăy dùng lời lẽ thân thiết dạy cho! (Lư Ngũ Xuân Hoa hỏi)

 

          Đáp: Dứt mặn, ăn chay, chẳng phải là người thiện căn sâu dầy, sẽ chẳng thể làm được! Bà có thể làm như vậy, phước lẫn thiện đều to! Do cơ duyên của người nhà chưa đến, chẳng thể cùng ăn chay. Nếu chính ḿnh có thể làm chủ, chỉ có thể thay họ xắt, nấu ba loại tịnh nhục, chẳng cần biết họ có thọ giới hay không. Chớ nên đích thân ra tay sát sanh! Khi xắt, nấu, hăy tụng chú Văng Sanh cho chúng, hoặc niệm thánh hiệu Di Đà, tâm giữ ư niệm siêu độ, [tức là] “khéo sắp đặt trần lao để làm Phật sự” chính là nói đến chuyện này!

 

          * Hỏi: Ngưu lạc (牛酪) làm từ dầu thực vật hay mỡ động vật, có rất nhiều người chẳng biết rơ cho mấy! Người ăn chay trường chẳng biết có thể ăn hay không? Có lúc ăn bánh quy thấy có hương vị của loại dầu này. Nếu là mỡ động vật, người ăn chay trường sẽ phạm tội phá giới, đúng không? (Chung Vân Xương hỏi)

 

          Đáp: Ngưu lạc (bơ) chính là chất trích từ sữa ḅ, hoàn toàn chẳng sát sanh. Người ăn chay có thể ăn.

 

          * Hỏi: Người xuất gia nói cư sĩ tại gia chẳng thể đọc kinh Phạm Vơng. Kẻ xem kinh ấy đă phạm giới nào? (Lữ Lư Do hỏi)

 

          Đáp: Tại gia cư sĩ chẳng xem giới tỳ-kheo, đó là điều hiểu biết thông thường. Chỉ có kinh Phạm Vơng thuộc phạm vi của Bồ Tát Giới. Trước kia, cư sĩ thọ Bồ Tát Giới hoàn toàn chẳng hạn định trong kinh Anh Lạc, cũng có người thọ giới theo kinh Phạm Vơng. Người đọc kinh Hoa Nghiêm cũng có người muốn thấy toàn thể con báo[20], cho nên xem tiếp kinh Phạm Vơng, chẳng bàn tới chuyện đúng, sai, hợp lẽ, hay trái nghịch. Tôi thấy như vậy đó. Nếu nói đến Luật Tông, kẻ tại gia mười phần hết tám chín phần là kẻ ngoài cửa. Kẻ hèn này càng là kẻ ở tuốt bên ngoài trong số những kẻ ở ngoài cửa. Đối với câu hỏi thuộc loại này, vẫn mong ông hăy thưa hỏi bậc đại sư xuất gia tinh thông Luật Học, ngơ hầu chẳng đâm quàng ngơ rẽ!

 

          * Hỏi: Kẻ chẳng ăn chay trường có thể giữ Lục Trai hay không? (Vương Tương Nga hỏi)

 

          Đáp: Tŕ trai một ngày, chuyện sát sanh trong thiên hạ không có phần của ta! Há có lẽ nào chẳng cho phép tŕ Lục Trai?

 

          * Hỏi: Dâm giới trong Ngũ Giới là như thế nào? Cuộc hôn nhân của vị cư sĩ X… nọ lắm nỗi trắc trở! Trong ṿng năm năm, kết hôn ba lượt, ly hôn ba lần (bao gồm luyến ái, sống chung, đính hôn). Sau khi kết hôn (bao gồm luyến ái, ở chung, đính hôn), khi một bên (vợ hoặc chồng) ác ư ruồng rẫy bên kia, người ruồng rẫy sẽ như thế nào? Kẻ bị ruồng rẫy sẽ lại như thế nào? (Ngô Minh An hỏi)

 

          Đáp: Người xuất gia tuyệt đối chẳng gần gũi nữ sắc, người tại gia chỉ hạn cuộc trong vợ chồng chánh thức, những mối quan hệ [nam nữ] khác đều là tà dâm. Đấy là phạm vi đơn giản của giới Dâm trong Ngũ Giới. Vị cư sĩ nọ kết hôn ba lượt, ly hôn ba lần, đó là nhân duyên trong quá khứ và hiện tại, cũng như do thói ác đang là trào lưu hiện thời tạo thành. Kẻ hèn này chẳng biết nhân quả của người ấy. Luận theo trào lưu hiện thời, trước hết là luyến ái rồi sống chung, sau đấy là đính hôn, ly dị. Kết hôn đă khinh suất, ly dị cũng khinh suất, kết hợp bừa băi, ly dị cẩu thả, đấy là lẽ đương nhiên! Nhớ tới quy chế hôn nhân của nước ta trong quá khứ, ắt phải có đủ sáu lễ[21]. Do vậy, chuyện kết hôn là chuyện trịnh trọng. V́ thế, bỏ vợ và xin ly dị đều là chuyện hiếm có!

 

          * Hỏi: Kẻ đánh mất giới chưa thọ giới lại, thực hiện công khóa tụng kinh, niệm Phật hằng ngày, sẽ là hữu ích hay vô ích? (Tiêu Thông hỏi)

 

          Đáp: Đánh mất giới là cái nhân gây tội. Tụng kinh, niệm Phật là cái nhân lành. Hai cái nhân ấy chẳng trở ngại lẫn nhau, đó gọi là “trồng đậu được đậu, trồng dưa được dưa”!

 

          * Hỏi: Đức Phật thấy vạn vật b́nh đẳng, cho nên chẳng chủ trương sát hại. Đối với những người giết địch cứu nước, chẳng coi là tội, bởi đấy vốn là ư nghĩa “trừ bạo, an lương”. Đối với cầm thú, cũng chẳng nỡ giết. Tuy nhân từ, há chẳng gây trở ngại cho đời sống người dân ư? Tiên vương đă đốt núi, thiêu chằm, bện dây, vung đao để trừ trùng, rắn, độc vật gây hại cho dân. Điều ấy giống như giết địch cứu nước, cớ sao chẳng được? Trừ phi đại đức giống như ngài Hư Vân khiến cho cọp dữ dâng quả, ḷng tinh thành giống như Hàn Dũ khiến cho cá sấu bỏ đi mất[22], th́ mới trọn vẹn đôi bề. Chẳng biết bọn ta là những kẻ hành theo đạo Trung Dung cũng có phần thành Phật hay không? Xin hăy khai thị. (Kim Á Đạc hỏi)

 

          Đáp: Thời thượng cổ, đại địa hoang vu, hiện thời là đô thị phồn hoa, đấy là một thời, nay là một thời khác nữa, há có thể coi nhất loạt như nhau? Tiên vương đốt núi, thiêu chằm, chính là nỗi khổ tâm không làm sao được nữa. Đến thời Khổng Tử, tiết Khải Trập (Kinh Trập)[23] chẳng giết hại [trùng bọ], giăng lưới rập có thời, thậm chí đối với thực vật mới mọc sẽ chẳng bẻ. Tùy theo thời mà chế định thích đáng, há cứ khăng khăng chấp chặt một bề! Bọn hành nhân chúng ta sống trong hiện thời, thức ăn có ngũ cốc, rau, dưa, các loại hạt, y phục th́ có vải, the, nhung, che mưa gió bèn có cung điện, nhà cửa hoàn hảo, tránh loài trùng gây hại bèn có các thứ thiết bị, và c̣n giải trí bằng cách giết chóc những loài thú chẳng tranh chấp với con người, há có chuyện tất yếu phải giết hại chúng? Tiên vương sát sanh, có nhân quả của tiên vương. Khổng Tử giảm bớt giết chóc, có nhân quả của Khổng Tử. Bọn chúng ta giết và chẳng giết, có nhân quả của bọn chúng ta. Đối với chuyện thành Phật, cũng là do nhân quả. Ngộ nhập tri kiến của Phật, bèn có thể thành Phật. Mê muội lư ấy, ắt chẳng thể thành. Đó gọi là “ăn mặc cơm áo của vua Nghiêu, chỉ biết vua Nghiêu mà thôi. Ăn mặc cơm áo của vua Kiệt, chỉ biết vua Kiệt mà thôi!”

 

           * Hỏi: Gần đây nhất, tôi phát hiện có những Phật tử đeo tượng Phật, Bồ Tát bằng chất nhôm, hoặc chú Lăng Nghiêm, mong dùng [những thứ ấy] để hộ thân. Nếu bước vào chỗ bất tịnh (như nhà vệ sinh v.v…) th́ có vướng vào tội khinh nhờn hay không? Xin hăy chỉ dạy, giải thích để giúp răn nhắc (Hậu học hỏi)

 

          Đáp: Chuyện thân đeo tượng Phật th́ thời xưa đă có. Thuở ấy, giao thông bất tiện, đường thủy lẫn đường bộ đều có lắm nỗi nguy hiểm. Cho nên sắp đặt tượng Phật hộ thân, đeo trong đai lưng để mang theo mọi nơi, mọi chỗ. Hễ đến chỗ mục tiêu, ắt sẽ đặt lên cao để thờ phụng, hoàn toàn chẳng như hiện thời: Dùng [tượng Phật, Bồ Tát] làm đồ trang sức! Người thời nay học đ̣i đeo tượng, hăy nên thấu hiểu ư nghĩa gốc. Khi ra ngoài, chẳng ngại tạm thời đeo; ở trong nhà, đúng là có thể chẳng bắt buộc đeo. Không chỉ là vào nhà vệ sinh ô uế, tự chuốc lấy tội lỗi, mà [trong khi đeo tượng] trông thấy người khác bèn hành lễ, vào miếu lạy thần, đủ mọi động tác, đều mắc tội khinh mạn. Luận định theo luật nghi, thân khoác ca-sa c̣n chẳng vào nhà vệ sinh, mà cũng chẳng lạy thần; huống hồ đeo tượng Phật để làm những chuyện chẳng sạch sẽ ư? Vào thời tổ sư Ấn Quang tại thế, Ngài đă sớm có lời răn cấm chuyện ấy, đại khái là có ghi chép trong Văn Sao.

 

          * Hỏi: Lúc mới học, vốn là ăn chay buổi sáng. Hai tháng trước, tôi bắt đầu tŕ thêm mồng Một, Rằm, và trong những ngày thánh đản của Phật, Bồ Tát, bèn ăn chay trọn ngày. Nhưng xét theo lệ ăn chay buổi sáng để nói, chánh tín Phật giáo không có danh từ ấy. Nay lại nghĩ: Cho đến nay, cảm thấy cách tŕ trai chẳng đúng như lư tưởng! Chẳng thà gạt bỏ chuyện ăn chay buổi sáng và ăn chay vào ngày thánh đản của Phật, Bồ Tát, để thay bằng cách mới là Quán Âm Minh Trai hoặc Lục Nhật Trai th́ có được hay không? (Lương Minh Tượng hỏi)

 

          Đáp: Trong ba bữa cơm hằng ngày, thời gian dành ăn bữa sáng vừa ngắn ngủi, vừa c̣n sớm, c̣n chưa ra khỏi cửa mua thức ăn, rảnh đâu để sát sanh? V́ thế, phần nhiều tự nhiên là món chay, chẳng phải là bi tâm thật sự tŕ giới, thế mà gọi là “tảo trai” (ăn chay buổi sáng), đúng là hư ngữ! Nay ông tính đổi thành Quán Âm Trai hoặc Lục Nhật Trai, tức là đúng pháp, có công đức to lớn. Nhưng trước kia, trong những ngày thánh đản của Phật, Bồ Tát, đă từng ăn chay suốt ngày, nay tuy chánh thức tŕ trai, chớ nên phế bỏ chuyện ăn chay trong các ngày thánh đản!

 

          * Hỏi: Chẳng sát sanh là một điều trong giới luật Phật giáo, nhưng bệnh khuẩn vô ích cho con người, có thể giết hay không? (Lâm Hồng Quế hỏi)

 

          Đáp: Giới luật răn chẳng giết mang ư nghĩa “từ bi b́nh đẳng đối với hữu t́nh chúng sanh, chẳng nỡ ḷng tăng thêm nỗi đau khổ cho chúng”. Vi khuẩn chẳng phải là động vật hữu t́nh, diệt chúng chẳng trở ngại ǵ!

 

          * Hỏi: Nghe thầy nói “lấy đồ của người khác là phạm giới”. Đệ tử hễ nhặt được tiền ở trên đường bèn bỏ vào rương công đức để bố thí thay cho người đánh mất. Nguyện thầy chỉ dạy như thế nào là phạm và không phạm? (Phùng Mai Liễu hỏi)

 

          Đáp: Chẳng bỏ vào túi làm của riêng, nên chẳng gây trở ngại cho sự liêm khiết, nhưng đối với số tiền trông thấy, cũng nên phân biệt. Trong ṿng năm đồng Đài Loan trở lại, có thể quyên thí thay cho người ta. Hễ nhiều hơn, hăy báo cảnh sát, giao cho cục cảnh sát gọi người đến lănh th́ hay hơn!

 

          * Hỏi: Chúng sanh trong súc sanh đạo do ác nghiệp đă tạo trong kiếp trước mà hứng chịu quả báo. Báo đă tận th́ mới có thể chết, lại nương theo nghiệp lực ấy mà đầu thai. Nói như vậy, chúng ta giết nó chết trước, để cho nó khỏi phải chịu khổ, chịu tội, khiến cho nó sớm có ngày đầu thai, há cũng chẳng phải là tốt hơn ư? (Liêu Thanh Hoa hỏi)

 

          Đáp: Nghiệp thiện ác của chúng sanh đều chẳng phải chỉ là một mối. Nếu [nghiệp lực] có h́nh tướng, ắt sẽ đầy nghẹt hư không, há có thể bộp chộp nói là “báo tận”? Chúng sanh chết chỉ là một lần tuổi thọ chấm dứt, sau đấy, vẫn là liên tục [tái sanh, thọ khổ]. Sớm có ngày đầu thai th́ vẫn ở trong ác đạo, làm sao tránh khỏi chịu khổ như thế ấy? Kiểu ấy đúng là kế sách “mở nắp cho canh ngừng sôi, ôm củi chữa lửa!”

 

          * Hỏi: Mùa Hè ruồi nhặng, gián rất nhiều. Chỗ học nhân ở, phần nhiều là tín đồ đạo Cơ Đốc. Bọn họ biết tôi tin theo giới luật nhà Phật chẳng sát sanh, nên thường cố ư bắt những loài tiểu động vật ấy đập chết trước mặt tôi. Đập chết xong, cố ư chắp tay niệm Phật để châm chọc. Trong t́nh h́nh giống như vậy, nếu muốn cứu sanh mạng của chúng, ắt sẽ gây nên tranh chấp. Chẳng cứu th́ trong tâm lại bất nhẫn, chẳng biết cư xử như thế nào? (Liêu Thanh Hoa hỏi)

 

          Đáp: Pháp Lục Độ có Trí và Nhẫn. Trí là có thể phương tiện thiện xảo, hóa giải điều tà của kẻ khác quy vào lẽ chánh của ta. Có thể làm được như thế là tốt nhất. Nếu không, bọn họ châm chọc chính là vô duyên vô cớ lăng nhục, hăy nên dùng Nhẫn để dứt sân khuể. Nếu dấy lên sự tranh chấp mà có thể cứu được chúng sanh, th́ cũng chẳng ngại quyền biến, phương tiện mà làm. Nếu như chẳng thể, ta cũng có thể hướng về những động vật bị giết ấy niệm Phật, dấy khởi tinh thần đại vô úy để làm. Bọn họ thấy ta chẳng sợ châm chọc, lâu dần các mánh khóe [châm chọc] sẽ tự hết. Tục ngữ có câu: “Thuyết quỷ phạ, quỷ lai hách” (Nói là quỷ sợ, quỷ sẽ đến dọa), lời ấy ư vị thay!

 

          * Hỏi: Dùng động vật để điều chế các loại thuốc, trong ngày trai giới có thể uống hay không? Chẳng phải là tẩm bổ mà là dùng để chữa bệnh? (Vương Thanh Hán hỏi)

 

          Đáp: Thuốc dùng trong khi đang bệnh tật th́ có thể chẳng kỵ. Nếu [các loại thuốc ấy] để điều dưỡng, [có thể dùng trong] bất cứ ngày nào, vẫn là chẳng dùng [trong ngày ăn chay] để mong tâm tịnh th́ tốt hơn.

 

          * Hỏi: Đối với các loài trùng có hại cho nhân loại hoặc thực vật, dùng thuốc nước sát trùng để ngăn ngừa hoặc diệt trừ, có được hay không? (Vương Thanh Hán hỏi)

 

          Đáp: Đối với người học Phật, kiêng giết là nguyên tắc. Nếu v́ ǵn giữ sự thoải mái, hăy đối với hết thảy các loài trùng có hại, dùng phương tiện thiện xảo khiến cho chúng nó chẳng thể gây hại, chớ nên giết! Dùng thuốc nước sát trùng để ngăn ngừa, sẽ là tốt đẹp đôi bề. Hăy nên hằng ngày quét dọn nhà cửa sạch sẽ. Sau khi quét dọn, khi trùng c̣n chưa đến, phun chất nước ấy, tự nhiên chúng sẽ chẳng đến, cũng chẳng phải làm chuyện giết chóc vậy!

 

          * Hỏi: Đức Phật nhiều lần đề xướng “đối với hết thảy hữu t́nh, ắt đều b́nh đẳng, đều xem như nhau”. Thời cổ có kẻ chôn con để tỏ ḷng hiếu thảo với mẹ, sát sanh để dâng lên cha mẹ. Tuy gọi là hiếu tử, nhưng xét theo nghĩa b́nh đẳng, hiển nhiên là đă vi phạm! Rốt cuộc, pháp thế gian và pháp xuất thế gian khó ḷng tốt đẹp đôi bề. Tôn ư của bậc trưởng giả là như thế nào? Cha mẹ muốn ăn mặn, con chẳng nỡ giết, biết làm sao? (Trịnh Triều Tín hỏi)

 

          Đáp: Được gọi là “pháp” chính là những điều đáng cho mọi người giữ lấy, tuân theo. Được gọi là “pháp thế gian” th́ cần phải lấy thánh nhân thế gian làm chuẩn. Chẳng phải là những kẻ b́nh thường phàm tục mà có thể làm pháp tắc cho người khác. Chớ nên hiểu lầm! Quách Cự chôn con tức là việc làm của kẻ ngu si, hồ đồ, Nho giáo hết sức chẳng chấp thuận! Chỉ v́ người đời lầm lạc ca ngợi, [người đời sau] bèn coi chuyện đó biểu thị toàn thể pháp thế gian, sai lầm mất rồi! Xét theo pháp xuất thế gian, nếu cha mẹ mắc bệnh, thèm thịt, th́ có thể ăn ba loại tịnh nhục. Đạo viên dung hăy c̣n nhiều lắm, đây chỉ là bàn sơ sài một chuyện mà thôi!

 

          * Hỏi: Tŕ “tảo trai” (早齋, ăn chay buổi sáng, ăn chay trong bữa điểm tâm) và Lục Trai Nhật th́ trước Ngọ mấy giờ mới có thể ăn mặn? (Khưu Hiệp Thuận hỏi)

 

          Đáp: Lục Trai ắt phải ăn chay nguyên ngày, lấy ngày đêm hai mươi bốn tiếng đồng hồ làm hạn. Đối với chuyện tảo trai, chẳng có văn bản giới luật nói rơ ràng chuyện này. Nhưng nói chung, kiêng đồ mặn là chuyện tốt đẹp. Một bữa chẳng ăn mặn, bèn có công đức của một bữa, hoàn toàn chẳng phải là không có! Nếu hỏi “từ trước Ngọ mấy tiếng đồng hồ th́ mới có thể ăn mặn”, vốn chẳng có kinh văn để làm căn cứ; nếu tôi đáp bừa, chẳng tránh khỏi tùy tiện nói này nọ.

 

          * Hỏi: Đại Trí Độ Luận, quyển mười ba: “Tà dâm giả, nhược nữ nhân vi phụ mẫu, huynh đệ, tỷ muội, vị chủ nhi tử thế gian pháp, vương pháp thủ hộ, nhược phạm giả, thị vị tà dâm” (Tà dâm: Nếu đối với những nữ nhân là con cái chưa thể làm chủ, được cha mẹ, anh em trai, chị em gái, pháp thế gian và vương pháp bảo vệ mà nếu xâm phạm th́ là tà dâm)[24]. Có phải là ư nói: [Những người nữ] đối với cha mẹ, anh em, là những đứa con chưa thể tự làm chủ, xét theo pháp thế gian, sẽ là [những người] chưa thể kết hôn; nếu không, (cứ bất chấp mà luyến ái, chung đụng), sẽ là phạm tội tà dâm? Nhưng nếu đến tuổi ấn định theo luật pháp, do được vương pháp bảo vệ, sẽ chẳng thuộc trong hạn định ấy, đúng không? (Ngô Minh An hỏi)

 

          Đáp: Tra duyệt Trí Độ Luận, quyển thứ mười ba, nơi trang mười hai, trong phần kinh văn nói về tà dâm, thấy có liệt kê chữ “phu chủ” (夫主, chồng), hoàn toàn chẳng thấy từ ngữ “vị chủ nhi tử”. Đă nh́n sai chữ, lại đọc sai lạc cách chấm câu và ngữ cảnh, những ư nghĩa khác càng là hiểu lầm! Sự đă sai lầm như thế, chẳng có cách nào để nương theo câu hỏi mà trả lời. Sai chỉ hào ly, lầm lạc ngàn dặm! Kẻ hèn này bất tài, chẳng biết phương tiện thiện xảo để tùy thuận. Nay tôi đem những phần kinh văn trọng yếu trong bộ luận ấy để giải thích đại lược như sau: “Thế gian pháp, vương pháp thủ hộ, nhược phạm giả, thị danh tà dâm” (Nếu xâm phạm những người nữ được pháp thế gian và vương pháp bảo vệ th́ gọi là tà dâm). “Thế gian pháp” là nói tới những thứ chẳng phải là giới luật nhà Phật. “Vương pháp thủ hộ” tức là bị pháp luật quốc gia cấm chỉ. Ư nói: Đối với những người đă nêu trên đây, chẳng được phép có quan hệ nam nữ. Đấy chính là điều luật được quy định bởi quốc gia vậy.

 

          * Hỏi: Người hành hạnh “quá Ngọ chẳng ăn” tức là: Sau giờ Ngọ, chẳng nên ăn ǵ nữa. Đối với những thứ thuốc phải uống (hoặc v́ có bệnh phải uống thuốc, hoặc do thân thể suy nhược phải uống thuốc) th́ có phải là cũng nên theo lệ chẳng dùng? (Ngô Minh An hỏi)

 

          Đáp: “Chẳng ăn” là nói đến hết thảy những thứ lương thực và món ăn thông thường thuộc trong ba bữa ăn. Có bệnh uống thuốc, chẳng bao gồm trong ấy. Thuốc chẳng phải là thức ăn đồ uống hằng ngày, cho nên chẳng ngăn cấm. Dẫu là lúc chẳng có bệnh, tuy chẳng ăn những vật có xác, cũng chẳng phải là không cho uống nước.

 

          * Hỏi: Ngôi chùa X… ở miền Nam khi tụng nghi thức cúng Ngọ, từ câu “Nam-mô Thường Trụ Thập Phương Phật” cho đến sau câu “Nam-mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát”, lại thêm vào “Nam-mô Phạm Thiên Bồ Tát, Nam-mô Ngũ Công Bồ Tát, Nam-mô Thiên Thượng Thánh Mẫu Bồ Tát”. Như thế th́ có phải là đă đánh mất ư nghĩa chánh tín? Có bắt buộc phải có những câu ấy hay không? (Ngô Minh An hỏi)

 

          Đáp: Quư đại đức nay đang trong lúc cầu học, hăy nên lấy luật nghi làm gốc. Nếu chính ḿnh chẳng tụng niệm nghi thức cúng Ngọ như vậy, chẳng tạp loạn là được rồi. Có lẽ hăy nên ít hỏi đến chuyện của người khác!

 

          * Hỏi: Tŕ Ngọ gặp lúc thân thể [bất ổn], hoặc công việc khó khăn, có thể phương tiện hay không? (Chung Khiết Viên hỏi)

 

          Đáp: Tŕ Ngọ một thời gian dài, gặp t́nh h́nh ấy, có thể đối trước Phật xin khai giới. Nếu có thể hữu ích cho đại chúng, khi ấy, chẳng được phép cầu khai giới, mà cứ một mực hành tŕ. Nếu tŕ ngọ trong Bát Quan Trai Giới, khi gặp nạn phải tránh né, th́ cũng có thể theo cách như trên để xả, hôm khác sẽ tŕ bổ sung. Hoặc là biết trước ngày hôm ấy có việc th́ sẽ chẳng thọ. Tuy là nói như thế, chỉ có thể [làm kiểu ấy] một lần, đừng lặp lại! Nếu không, sẽ là hoàn toàn chẳng có ư tưởng cung kính, thận trọng, mà trở thành hư luận!

 

          * Hỏi: Lại nữa, dường như hoàn toàn chẳng thấy Phạm Thiên Bồ Tát, Ngũ Công Bồ Tát, Thiên Thượng Thánh Mẫu Bồ Tát trong kinh Phật. Lại chẳng hề nghe pháp sư khai thị, chẳng biết lai lịch của những vị ấy như thế nào? (Ngô Minh An hỏi)

 

          Đáp: Đối với tín ngưỡng trong thế gian, có tôn giáo theo chánh đạo, có thần đạo thờ phượng. Tôn giáo thuộc loại tín phụng, thần đạo thuộc loại báo đức cung kính. Chúng sanh do nhân duyên mà mỗi người tin tưởng khác biệt, mỗi người kính phụng khác biệt, mỗi người khuyên dạy mỗi khác. Chỉ có điều, người tín ngưỡng tôn giáo, chẳng ngại cung kính những vị thần thuộc về chánh điển[25], mà những kẻ kính thờ chánh thần, cũng cung kính tôn giáo chẳng trở ngại ǵ. Xét theo lễ tiết, phải nên là như thế. Quư đại đức đă tin Phật, như thế là đủ rồi, cần ǵ lại phải hỏi han lai lịch của những vị thần ấy? Ngay cả lai lịch của chính ḿnh cũng chớ nên hỏi tới, [bởi lẽ, hễ bận tâm sẽ là] nhiễm chấp Ngă Tướng, chẳng được giải thoát!

 

          * Hỏi: Mạt học thường nghe nói: “Nếu cư sĩ chẳng ăn chay trường, sẽ chẳng thể tụng kinh Kim Cang”. Có cách nói như vậy hay không? (Vương Doăn Tả hỏi)

 

          Đáp: Trường trai là tốt nhất. Nếu nhất thời chẳng thể, cũng nên kiêng giết, ăn ba loại tịnh nhục. Phát nguyện tŕ kinh Kim Cang tuy là một chuyện khác, nhưng cũng nên chú ư: Nếu nhất thời chẳng thể ăn chay, chỉ cần kiêng giết, sẽ có công đức, có thể thọ tŕ kinh Kim Cang,

 

          * Hỏi: Giặc Cộng tàn sát sanh linh; do vậy, đệ tử Phật môn chúng ta v́ cứu đại chúng, lẽ ra phải nên diệt trừ chúng, nhưng ruồi, muỗi, cho đến các loại rắn độc, cũng là có hại, vô ích đối với con người, có nên trừ diệt hay không? (Vương Doăn Tả hỏi)

 

          Đáp: Trong văn hóa Trung Hoa, hết thảy đều chủ trương “vương đạo”, [nghĩa là] đối với kẻ hung tàn, ắt phải là bất đắc dĩ th́ mới trừ diệt. Nếu không, bèn đuổi đi xa. Như Tam Miêu[26] trốn về Tam Nguy, [vua Thành Thang] đày vua Kiệt về Nam Sào[27], bất quá chẳng cho họ ở Trung Thổ, xua đuổi họ về chỗ Tứ Di mà thôi. Ruồi, muỗi, rắn độc có thể xua đuổi cho chúng lánh đi, sắp xếp vệ sinh cẩn mật, chúng sẽ tự tránh xa.

 

          * Hỏi: Người bạn tôi từng hỏi thảo mộc cũng có sanh mạng, v́ sao có thể ăn? (Vương Doăn Tả hỏi)

 

          Đáp: Nhà Phật phân tích vạn vật, chia thành hai loại là hữu t́nh và vô t́nh. Động vật thuộc loại hữu t́nh, khoáng vật và thực vật thuộc loại vô t́nh. Hữu t́nh là có bảy món t́nh cảm mừng, giận, buồn, vui v.v… Vô t́nh chẳng có những nỗi khổ ấy. Chế giới chẳng giết hữu t́nh, cũng là phương tiện thông t́nh đạt lư để thường nhân có thể hành. Quá cao th́ người ta chẳng thể hành được!

 

          *Hỏi: Theo như tôi nghe, người tu tại gia chưa ăn chay trường, sẽ chẳng thể đọc tụng nhiều loại kinh Phật như kinh Kim Cang v.v… Có quy định ấy hay không? Nếu có quy định ấy, xin hăy chỉ dạy kinh Phật loại nào chẳng thể tụng, loại nào có thể tụng? (Thái Ḥa hỏi)

 

          Đáp: Người học Phật hăy nên ăn chay. Ăn chay trường công đức to lớn, ăn chay kỳ công đức nhỏ nhoi. Nếu chẳng thể ăn chay trường, có thể ăn ba loại tịnh nhục, mà cũng chớ nên giết chóc. Tụng kinh là dứt niệm ác, cầu tịnh tâm. Tâm sát sanh là chẳng từ bi; v́ thế, tụng kinh cảm ứng ít ỏi, chứ hoàn toàn chẳng cấm đoán tụng kinh! Tụng kinh là thiện, sát sanh là trực tiếp làm ác. Ăn thịt là gián tiếp làm ác. Chẳng tụng kinh, chuyên ăn thịt, tức là có ác, chẳng có thiện. Vừa tụng kinh, vừa ăn thịt, tức là thiện ác hỗn tạp mà thôi!

 

          * Hỏi: Trong chùa miếu của một tông trong Tam Giáo, nam nữ tín chúng có thể sống cùng một chùa hay không? Tục ngữ có câu: “Am đường là chỗ để nữ chúng tu tŕ, nam nhân hăy ngừng bước” có hợp lư hay không?

 

          Đáp: Nam nữ khác biệt. Theo tập quán lễ nghĩa của Trung Hoa, đàn ông góa vợ và đàn bà góa chồng chẳng ở chung một nhà. Trong ruộng dưa, dưới gốc mận[28], theo lẽ, phải nên tránh tỵ hiềm. Nếu là tôn giáo, càng phải nên lập ra thanh quy. Có chuyện phải qua lại, th́ cũng nên có đồng bạn. Câu tục ngữ như ông đă nêu: “Chỗ để nữ chúng tu tŕ, nam nhân hăy dừng bước” chính là lư được mọi người công nhận, há có ǵ chẳng phù hợp?

 

          *Hỏi: Ni sư trăm tuổi thấy ḥa thượng nhỏ tuổi vẫn phải quỳ lạy hành đại lễ năm vóc gieo xuống đất. [Điều ấy] xuất phát từ kinh điển nào? (Lưu Chánh B́nh hỏi)

 

          Đáp: Theo quy nghi (nghi lễ và quy định về oai nghi) trong nhà Phật, ni thấy tỳ-kheo ắt bái. Nhưng đấy là chuyện của người xuất gia, hàng tại gia bạch y có lẽ chẳng cần phải hỏi đến chuyện này. Biết hay không biết, hiểu hay chẳng hiểu, đều chẳng ăn nhằm chi cả!

 

          * Hỏi: Chúng ta đốt nhang, nâng nhang cao ngang mày là có ư nghĩa ǵ? Lúc cắm nhang vào lư (ba nén nhang) theo thứ tự trước sau như thế nào là chánh xác? (Trịnh Triều Tín hỏi)

 

          Đáp: Lễ tiết và nghi thức trong thế tục từ xưa đến nay tùy theo từng thời, tùy thuộc nơi chốn mà có nhiều sự biến hóa. Tuy Phật giáo ở ba nơi là Trung Hoa, Nhật Bản, và Tây Tạng đều bắt nguồn từ Ấn Độ, nhưng những chuyện như vậy đều chẳng nhất loạt giống nhau, chẳng phải là có cùng kinh điển, chẳng cho phép bày vẽ xằng bậy! Chỉ nên sống trong thời nào, sống ở nơi nào, hăy tùy thuận mà [theo phong tục thời ấy, nơi ấy] mà thôi! Nếu chẳng có căn cứ để nói, đâm ra sẽ gần như là xuyên tạc. Xét ra, trước thời Trung Hoa Dân Quốc, lễ nghi thông thường đều là ṿng tay chào hỏi, dưới là tính từ đầu gối, trên là cho đến giữa hai mày làm hạn, chính là tận hết ḷng kính[29]. Phàm đưa vật ǵ cho người khác, đều nâng lên ngang mày, nhằm tỏ ḷng kính trọng. V́ thế, có câu nói “cử án tề mi” (nâng án ngang mày)[30]. Đốt hương, nâng lên ngang mày, cũng có cùng ư nghĩa ấy. Thứ tự cắm ba nén hương thật ra chẳng có quy định, mỗi nơi cũng mỗi khác. Xét ra, đốt hương thời cổ dùng hương viên, nay th́ làm thành nén dài. Vốn chẳng có quy định cắm nén nào trước, nén nào sau, có thể suy ra để thấy[31].

 

          * Hỏi: Xin hỏi: Cách xưng hô ḥa thượng thượng… hạ….[32] có phải là chỉ để xưng hô thầy của chính ḿnh hay không? Hoặc là đối với những vị cao tăng khác, cũng có thể xưng hô [như thế]? (Độc giả ở Mỹ hỏi)

 

          Đáp: Kiểu xưng hô ấy nhằm tránh phải gọi thẳng tên ra, hoàn toàn chẳng phải như vai vế trong luân thường, giống như các địa vị ông nội, bác, chú… nhất định. Đối với vai vế nhất định [trong thế tục], chẳng thể gọi lung tung. Chỉ v́ tránh gọi tên trực tiếp, đối với bất cứ người xuất gia nào, cũng đều có thể xưng hô như thế, chẳng hạn định [vị ấy] phải là thầy của chính ḿnh.

 

          * Hỏi: Xin hỏi, trong Trai Thiên Khoa Nghi, trang thứ tám, đối với “Ha Lê Đế Nẫm Quỷ Tử Mẫu đẳng ngũ bách quyến thuộc” (Quỷ Tử Mẫu Ha Lê Đế Nẫm năm trăm quyến thuộc), người tại gia có nên lạy hay không? (Độc giả ở Mỹ hỏi)

 

          Đáp: Trong tự miếu thờ nhiều tượng Phật là v́ ứng với người tin tưởng mà tạo dựng. Do đối tượng sùng bái của người tin tưởng chẳng giống nhau, cho nên lập nhiều tượng nhằm ứng với ḷng mong cầu của họ. Cá nhân tin Phật, chuyên v́ chính ḿnh, hễ tu pháp nào th́ thờ vị Bổn Tôn của pháp ấy là được rồi. Nếu là tượng Quỷ Tử Mẫu[33], rất ít khi thờ phụng trong nhà. Nhưng ở chùa, nếu gặp lúc cử hành đạo tràng (tổ chức pháp hội), trông thấy [tượng ấy] bèn lạy, cũng không có ǵ là chẳng được. Bởi lẽ, lễ bái chỉ là nhằm tỏ ḷng cung kính mà thôi, chẳng phải là tín phụng vậy.

 

          * Hỏi: Ưu-bà-tắc (ưu-bà-di) thọ Tại Gia Bồ Tát Giới có cần phải thọ Bát Quan Trai Giới hay không? Nếu không, phụng tŕ giới thứ bảy như thế nào? (Vạn Gia Hâm hỏi)

 

          Đáp: Giới điều quy định như thế, sáu điều hoặc mười điều ắt cần phải tŕ thêm. Nhưng giới luật có khai, giá, tŕ, phạm, mỗi điều đều có chỗ dung thông, nhưng chỗ dung thông ấy cũng giống như pháp luật trong thế gian: Hễ gặp vấn đề khó khăn, phải do chuyên gia chiếu theo pháp lư, nghiên cứu, t́m ṭi để giải quyết. Điều này (tŕ trai, tức “chẳng ăn phi thời”) vốn được chú thích: “Khi mắc bệnh, có thể chẳng thọ”. Nếu viện dẫn để luận định, phàm là những người làm công chức, giáo viên, trong thời gian làm việc hằng ngày, chính ḿnh chẳng thể tự quyết, có lẽ cho phép dung thông. Nói “có lẽ” chính là lời lẽ suy đoán! Luật nghi hăy nên do chuyên gia khai thị, hoặc là thỉnh giáo vị thầy truyền giới. Kẻ hèn này chẳng có tư cách ấy mà tự tiện dấy lời nghị luận, mong hăy lượng thứ.

 

          * Hỏi: Ba y, bát, tích trượng, ắt cần phải là do hai chúng xuất gia tự ḿnh lo liệu. Nếu là mượn dùng, hoặc chẳng có, đều gọi là “chẳng vâng theo giới điều rơ ràng trong giới luật”, đều chẳng thể đắc giới (xem Hư Vân Ḥa Thượng Niên Phổ). Tại gia Bồ Tát hoàn toàn chẳng phải là người xuất gia, cần ǵ phải tích chứa [những thứ ấy]? Ư nghĩa lại là như thế nào? (Vạn Gia Hâm hỏi)

 

          Đáp: Theo các kinh, đối với người tại gia, khi lễ tụng, cho phép đắp mạn y, tức là y không có điều. Tuy chẳng dùng bát để khất thực; dẫu dùng [bát để ăn uống hằng ngày], cũng chẳng trở ngại. Chỉ có đối với tích trượng, chú giải chỉ rơ: “Có thể cất chứa, nhưng chẳng được phép dùng!” V́ nó giống như kinh, tượng, [dùng để] cúng dường [cho hàng xuất gia] mà thôi. Lại có vị chú giải [rơ ràng hơn]: Cho phép [tại gia Bồ Tát] cất chứa, để lỡ ra, khi người xuất gia bị thiếu, sẽ lấy ra cúng dường. Nhưng luật chẳng phải là kinh giáo, do mọi chuyện có thể biến đổi theo thời, có thể do bậc đại đức chuyên gia theo đúng pháp mà tăng hay giảm, công bố thi hành. [Những thay đổi ấy] cũng chẳng phải do một, hai người tự tiện biến cải! [Giới luật] giống như pháp lệnh của quốc gia, ắt phải do người có địa vị th́ mới có thể sửa đổi. Nhất là khi tập quán biến đổi, liền chẳng ngại thuận theo. Chúng xuất gia hiện thời, hoàn toàn chẳng phải là ai nấy đều cầm tích trượng. Người tại gia thọ Bồ Tát giới cũng nhiều, hoàn toàn chẳng dùng đến tích trượng. Có lẽ chớ nên câu nệ giới điều này. Nếu trong tâm bất an, cũng có thể thưa hỏi nơi vị thầy truyền giới để biết nên lấy hay bỏ.

 

          * Hỏi: Tín đồ nhà Phật hăy nên chuyên thờ thánh tượng của Phật, Bồ Tát, chẳng thờ quỷ thần (trừ tổ tiên của chính ḿnh ra). Nếu có những người vừa mới tin tưởng, hoặc chính ḿnh chẳng thể làm chủ, chẳng tránh khỏi [trong nhà đă] thờ thần Thổ Địa và những vị thần xen tạp khác! Có phải là chẳng thể dùng cùng một lư hương với Phật, Bồ Tát hay không? Lại chẳng thể dùng những thứ đồ mặn để cúng bái quỷ thần trước bàn Phật. Trong ngày giỗ chạp tổ tiên, hăy nên cúng đồ chay phải không? (Cát Tường Ban Viên hỏi)

 

          Đáp: Những đồ thờ trước tượng Phật là v́ Phật mà bày biện, chẳng thể sử dụng chung cho quỷ thần, tổ tiên. Nếu không, đối với mỗi phía, đều là bất kính! Hăy nên chia thành hai án thờ riêng. Cúng tế dùng món chay chính là đúng pháp, mà đối với quỷ thần, tổ tiên đang thờ, cũng có công đức.

 

          * Hỏi: Tôi từng đọc Văn Sao của cụ Ấn Quang thấy nói: Người chứng Sơ Quả nếu cày cuốc, trùng tự tránh né mấy tấc, nghĩa là chẳng tổn hại sanh mạng. Giả sử bước vào chỗ có tổ kiến, sẽ khó thể tránh khỏi [tổn thương chúng], hay là do đạo lực của các Ngài có thể khiến cho thành hạnh như vậy? (Trương Hoát Nhiên hỏi)

 

          Đáp: Đương nhiên là do đạo lực khiến trở thành như vậy.

 

          * Hỏi: Một ngày đêm trong quỷ đạo có giống như trong nhân gian hay không? Nghe người ta nói “ăn vào ban đêm, sẽ khiến cho quỷ bất an”, nhưng nếu [thời hạn ngày đêm của] đôi bên khác nhau, làm sao có thể ảnh hưởng mật thiết như thế được? Lại c̣n làm sao biết [nhân gian] ăn uống vào lúc ban ngày chẳng phải là lúc họ (quỷ thần) ăn uống vào ban đêm? (Trương Hoát Nhiên hỏi)

 

          Đáp: Cao luận của ông hết sức có lư. Nhưng đối với chuyện luật cấm ăn vào ban đêm, những lời lẽ chú thích được thêm vào, chính là do người đời sau [biên soạn]. Từng nghe nói chư tổ đời sau chẳng hiểu ư của Mă Minh, Long Thọ. Mă Minh và Long Thọ chẳng hiểu ư của A Nan. A Nan chẳng hiểu ư Ca Diếp, Ca Diếp vẫn chẳng thể hiểu ư đức Phật. Bọn chúng ta cũng thật sự chẳng thể hiểu ư của chư tổ, nhưng luật và kinh có tánh chất bất đồng. Kinh chẳng hiểu, có thể không tu; nhưng luật có hiểu hay không, đều nên tuân thủ! Ví như luật lệ, quy định của quốc gia, chỉ có mấy người có thể hiểu rơ pháp lư; nhưng nếu vi phạm, không thể viện cớ “chẳng hiểu luật” để được coi là vô tội!

 

          * Hỏi: Văn học thọ tại gia Bồ Tát Giới, nay v́ phải giúp đỡ em tôi bán sỉ trứng gà Leghorn cho các trại nuôi gà (trứng từ các trại nuôi gà đều là trứng không có cồ). Xin hỏi: Loại công việc ấy có phải là trợ duyên gây phạm giới sát sanh hay không? (Gà trong các trại nuôi gà cuối cùng đều bị giết mổ để bán thịt). Người đă thọ giới Bồ Tát có thể làm công việc ấy hay không? Mong cụ hăy từ bi khai thị! (Tào Đạo Duyên hỏi)

         

          Đáp: Thọ Bồ Tát Giới, chỉ có tùy duyên phóng sanh, chẳng thể hạn chế sự tự do của chúng sanh, huống hồ nuôi gia súc để buôn bán cầu lợi. Bán cho người ta ăn, chính là tham tiền hại mạng, bất quá là gián tiếp sát hại, làm sao có thể tránh khỏi nhân quả? Cách mưu sinh trong thế gian rất nhiều, cớ ǵ cứ phải làm nghề ấy? Nếu nhất thời chẳng thể đổi nghề, chỉ bán trứng của gà không bị đạp mái, thuần túy chẳng có mầm sống, th́ cũng có thâu nhập. Khi gà đă già, hăy để mặc cho nó tự chết. Sau khi nó đă chết nửa ngày, hoặc chôn, hoặc ăn, giới cho phép dung thông: Có thể ăn thịt gà tự chết, nhưng vẫn nên sớm chọn lựa nghề nghiệp khác để cầu tâm tịnh th́ tốt hơn!

 

          * Hỏi: Chẳng biết gà mái nhà nào đẻ trứng trong vườn hoa của tệ tự. Tôi nhặt trứng về, hỏi thăm hàng xóm, lại chẳng t́m được ai là chủ gà. Đối với cái trứng ấy, đệ tử suy nghĩ nhiều lẽ, vẫn chẳng biết xử trí như thế nào! Bởi lẽ:

          1) Nếu tặng trứng ấy cho người khác ăn, đă sợ phạm tội sát sanh, lại c̣n phạm lỗi gây hại cho người ăn trứng.

          2) Nếu để cho gà mái ấp nở thành gà con, trong tương lai, gà con cũng khó tránh khỏi tai ương bị giết mổ!

          3) Phá hủy trứng, xét theo nghiên cứu trong y học, phàm là trứng th́ đều là thai. Vậy th́ phá trứng có phải vẫn là phạm tội sát sanh hay không?

          T́nh h́nh như thế đó, muốn cứu chúng sanh th́ phải làm như thế nào? Lại nữa, người xuất gia nhặt trứng th́ có đọa vào nhân quả nào hay không? (thầy Trí Diệu hỏi)

 

          Đáp: Chẳng biết gà ở nơi đâu đến chùa đẻ trứng. Gà đă rời chùa, chẳng thể truy t́m. Đại chúng trong chùa nhặt trứng từ trong vườn chùa, đă chẳng có tâm trộm cắp, nên chẳng thành tội trộm cắp. Đưa ra th́ cũng là vật vô chủ. Vật nhỏ nhoi chẳng tiện đưa cho cảnh sát để báo cho người ta đến nhận. Gà chẳng thể tự đến nhận, làm sao có thể chứng minh chủ gà là ai? Cho nên cũng chẳng thể nói là “v́ tâm tham mà nhặt lấy”. Những biện pháp đă tính như “cho người khác ăn”, “cho gà ấp”, “phá trứng” v.v… đều là vô sự tự chuốc lấy sai trái, chuốc lấy lắm nỗi phiền năo! Tệ ư cho rằng: Hăy đem trứng ấy để ở chỗ vắng, là nơi không ai hay biết, để cho nó tự hoại. Hễ trứng hoại, thần thức sẽ ra đi, chẳng gánh lấy hai trách nhiệm trộm cắp và sát sanh!

 

          * Hỏi: Có thể ăn hành, hẹ, tỏi v.v… hay không? (Tạ Ấu hỏi)

 

          Đáp: Giới luật có nói: Những loại thực vật ấy hôi thối, khiến cho tâm thần tối tăm, tăng giận, sanh dâm, nên gọi là Huân (). Người cầu thanh tịnh hăy đoạn dứt, đừng ăn.

 

          * Hỏi: Nay tôi kính hỏi: Do tôi có một người bạn mời tham gia kinh doanh công xưởng chế tạo thực phẩm dinh dưỡng, chuyên môn chế tạo những thức ăn bổ dưỡng cho động vật. Chẳng biết loại kinh doanh ấy có phải là chánh nghiệp hay không? Kính xin khai thị! (Ngô Đại Hải hỏi)

 

          Đáp: Thức ăn bổ dưỡng cho động vật tuy không phải là sát sanh, nhưng có dụng ư khác với những loại ngũ cốc. Ư nghĩa chánh yếu của ngũ cốc là để khỏi đói, c̣n thức ăn bổ dưỡng nhằm thúc đẩy chúng mau lớn, mập mạp, để bán cho kẻ giết mổ. Luận theo sự th́ hoàn toàn chẳng giết, luận theo tâm th́ là tăng thượng duyên của sát hại. Nếu người b́nh thường làm nghề ấy, sẽ chẳng coi là sát nghiệp. Nếu là người học Phật mà làm nghề ấy, trong tâm sẽ chẳng được thanh tịnh.

 

          * Hỏi: Người bạn hỏi tôi: “Người tại gia thọ Ngũ Giới ăn hành, hẹ, kiệu, tỏi có được hay không?” Tôi đáp: “Chẳng được”. Người ấy lại hỏi: “Đă chẳng phải là vật do sát sanh mà có, v́ sao chẳng được?” (Dịch Tri Lương hỏi)

 

          Đáp: Năm vật ấy hôi thối, khiến cho tâm thần tối tăm, có tánh chất kích thích trợ dục. Chẳng ăn, sẽ có tác dụng hữu ích cho sự thanh tịnh. [Ăn những thứ ấy] lại c̣n khiến cho những người sống trong cùng một nhà phải chịu đựng bầu không khí ô trược, trở ngại sự thoải mái của người khác, gây trở ngại cho vệ sinh. Nếu đối trước Phật, sẽ là xú uế, chẳng thanh khiết, đánh mất sự cung kính rất lớn. V́ thế đều ngăn cấm.

 

          * Hỏi: Sư phụ xuất gia có thể ăn trứng hay không? (Tạ Minh Châu hỏi)

 

          Đáp: Nếu chính ḿnh chẳng phải là người xuất gia, cần ǵ phải vượt quyền lo chuyện nhân gian vậy?

 

          * Hỏi: Đă ăn chay mấy năm, chợt mộng thấy ăn gan lợn. Chuyện đó có coi là phạm giới hay không? Từng nghe người khác nói đấy là nghiệp nặng, sẽ có thể sanh bệnh, hoặc sẽ phát sanh chuyện chẳng vui sướng! (Dịch Tri Lương hỏi)

 

          Đáp: Mộng th́ chẳng phải là phạm giới, nhưng do cái tâm giữ giới chẳng vững vàng, tập khí quá sâu, cho nên mộng thấy ăn gan lợn. Tự nhiên là nghiệp nặng, hăy nên đối trước Phật sám hối, công phu tinh tấn hơn, sẽ có thể tự tăng phước, giảm phiền năo!

 

          * Hỏi: Ư nghĩa của việc “quá Ngọ chẳng ăn” là như thế nào? (Trịnh Chí Tây hỏi)

         

          Đáp: Có rất nhiều thuyết, chỉ nêu ra một, hai thuyết: Lúc đức Phật ăn, chỉ ăn vào giữa trưa. Những chúng sanh khác trong lục đạo, ăn vào những giờ giấc khác nhau, có kẻ ăn vào lúc trời hừng sáng, buổi chiều và ban đêm khác nhau! Đệ tử học Phật giữ giới, tự nhiên ăn vào giữa trưa. Kế đến là do ngài Ca Lưu Đà Di khất thực vào buổi tối, từng khiến cho một người nữ kinh hoảng, sảy thai. Đức Phật chế định “chẳng được phép khất thực sau Ngọ”. Lại c̣n đối với phép dưỡng sinh và ngăn dứt ḷng tham đều hữu ích, [cho nên chẳng ăn quá Ngọ].

 

          * Hỏi: Đối với chuyện xá bái, sau khi bái xuống, ngẩng lên, chỉ chắp tay đặt trước ngực, chẳng nâng tay lên ngang mày. Như vậy th́ kết ấn Di Đà có phải là quá cung kính hay không? (Tạ Minh Châu hỏi)

 

          Đáp: Nghi quy của người tại gia chẳng nghiêm ngặt như trong tùng lâm. Các nghi thức đảnh lễ và vấn tấn (xá bái), chỉ cốt sao tâm cung kính, giảm bớt nghi thức một đôi phần. Đó gọi là “phương tiện”. Đối với chuyện hồ quỳ và trường quỳ, nam nữ vốn khác nhau. Pháp thế gian th́ có lập thừa, tọa thừa[34], nam nữ cũng khác nhau. Dựa theo đó để suy, xuất gia, tại gia, đă học, chưa học, cố nhiên là cho phép dung thông.

 

          * Hỏi: Người mắc bệnh mắt mờ, bác sĩ khuyên uống thuốc Tây có chất dầu từ gan cá sẽ có thể trị liệu, nhưng người ấy đă thọ Ngũ Giới, chẳng biết có thể uống hay không? (Lương Trung Lập hỏi)

 

          Đáp: Tôi nghe cổ đức nói: “Giới tử (người thọ giới) mắc bệnh, trong thuốc có dùng động vật đă chết, có thể chuẩn theo lệ ngũ tịnh nhục”. Dầu gan cá chẳng v́ ta mà giết, lại là thuốc men, chẳng phải v́ thỏa thích bụng miệng mà dùng, có thể dung thông uống được!

 

          * Hỏi: Thân căn thanh tịnh có phải là do giới thành tựu hay không? Địa vị như thế nào? (Trương Hoát Nhiên hỏi)

 

          Đáp: Giới có đích thân thọ tŕ, và Đạo Cộng Giới, Định Cộng Giới khác biệt! Thân căn thanh tịnh, chẳng cần biết là do nguyên nhân nào, luôn tương ứng với Giới Học. Đă thanh tịnh th́ cũng có nhân quả hai đằng khác nhau. “Thành tựu” là nói theo quả địa, chẳng phải là nói theo nhân địa. Phân định rơ hai đằng th́ mới có thể trả lời. Đối với câu cuối cùng, “địa vị như thế nào?” là hỏi về địa vị ǵ, chưa nói rơ ràng, hăy nên thứ lỗi, tôi chẳng dám trả lời bừa băi!

 

          * Hỏi: Người tŕ giới theo đúng lẽ chẳng ăn thịt, nhưng khi mắc bệnh, ắt cần phải dùng thịt động vật làm thuốc, phải nên như thế nào? Nếu trong thang thuốc có cắc kè, hải long, hải mă[35], mật gấu, các loại như dầu gan cá trong thuốc Tây v.v… (Ngô Minh An hỏi)

 

          Đáp: Năm thứ cắc kè, hải long, hải mă, mật gấu, dầu gan cá v.v… như ông đă nói, đều được mua tồn trữ trong các tiệm thuốc, đều là những động vật đă chết, chẳng phải là đích thân thấy nghe chúng chịu khổ, có thể coi như tam tịnh nhục. Huống chi chúng được gọi là Đông dược, chẳng phải v́ thỏa thích bụng miệng [mà ăn chúng]. Giới tử mắc bệnh, cổ đức từng dạy dung thông: Khi bất đắc dĩ, có thể tạm thời dùng; nhưng do ta thọ ân trị bệnh của chúng, theo đúng lẽ, hăy nên hồi hướng cho chúng. Báo đáp bằng cách siêu độ chúng.

 

          * Hỏi: Sổ ghi bút kư có thể đặt trên kinh Phật hay không? Kinh Phật bỏ trong túi xách, khi đi xe đạp, móc túi xách trên tay lái, xem ra thấp hơn chỗ ngồi của người đạp xe th́ có được hay không? (Tạ Minh Châu hỏi)

 

          Đáp: Cầu tôn kính Pháp Bảo chính là chuyện trọng yếu. Kinh giống như Pháp Thân của Phật, hăy nên giữ tâm tôn kính. Những vật tạp loạn đều chẳng thể để trên kinh! Khi ra ngoài, hễ cần phải đem theo, bỏ trong túi đựng sách, treo trên xe đạp, có thể dung thông. Người mang kinh đi đường, thời cổ có lệ ấy. Đó là phương tiện tạm thời vậy!

 

          * Hỏi: Trứng chính là thai sanh, do nó trải qua âm dương ḥa hợp mới sanh ra. Nếu bỏ nơi đất, để mặc cho nó tự hoại, đấy chính là sát sanh! Có khác ǵ loài người phá thai? Trứng đă là sanh mạng, “có sanh, ắt có tử; chẳng có tử, làm sao có sanh?” Lời ấy chí lư! Chỉ là có cách thức chết khác nhau mà thôi, cần ǵ phải kiêng kỵ! Nói như cư sĩ, để mặc cho nó tự mục nát, th́ cũng là một cách chết. Nhưng tôi riêng nghĩ rằng: Nếu chính ḿnh chẳng thích ăn, hoặc là có thể tặng cho người khác ăn, có thể nói là công đức vô lượng! Hoặc là đem ấp, hóa hiện sanh mạng rạng ngời, sẽ là đẹp đẽ hơn! Đấy chính là kiến giải riêng của kẻ hạ ngu này, xin thưa hỏi cư sĩ để được hiểu rơ hơn! (Trương Duyên Hiên hỏi)

         

          Đáp: Trong mục vấn đáp này, thư từ qua lại rất nhiều; đối với lời hỏi trong thư của quư ngài, dường như là nói về lời giải đáp trước kia trong cột báo này. “Bỏ trứng nơi đất, mặc cho nó tự hủy”, ắt là có nguyên nhân nẩy sanh, chẳng phải là ngẫu nhiên! Nay ông trách kẻ hèn này “nói lời ấy, khác ǵ phá thai”, bảo đấy chính là sát sanh, có lẽ các hạ chẳng muốn sát sanh. Lại nói “có sanh, ắt có tử; chẳng có tử làm sao có sanh? Chính ḿnh chẳng thích ăn, có thể đưa cho người khác ăn”, tợ hồ lại tán thành chuyện sát sanh! Đọc xong, tôi hết sức bối rối, chẳng có cách nào trả lời. Hơn nữa, câu hỏi này chắc chắn liên quan đến câu trả lời trước kia, dựa trên đó mà nêu ra [lời chất vấn], nhưng chuyện đă lâu, câu hỏi lại nhiều, chẳng thể ghi nhớ. Hy vọng ông hăy tốn công chỉ ra số báo nào, từng đă bàn vấn đề này với người nào. Sau khi đă được chỉ dạy, sẽ lại kính thưa vậy!

 

          * Hỏi: Người chẳng tŕ giới lấy vợ sanh con, hằng ngày “trụ” ăn bám đức Phật để sống, sẽ hứng chịu nhân quả như thế nào? (Hồ Quang Huy hỏi)

 

          Đáp: Người tại gia học Phật được gọi là “cư sĩ”, chẳng tránh khỏi chuyện lấy vợ sanh con, [điều ấy] được giới luật cho phép. Trong lời hỏi, ông chỉ nói một chữ “trụ”, chẳng biết trụ tại chỗ nào? Nếu là nói người ấy sống cùng nhà với vợ con, đó là lẽ đương nhiên. Nếu sống trong chùa miếu, th́ rất trái nghịch chế định của đức Phật. Chẳng cần biết [kẻ đó có] thọ giới hay không, đều chẳng được phép! Chỉ trong phong tục của Nhật Bản là có cách làm ấy. Đấy chính là hành vi chánh trị, Trung Hoa trước nay chẳng có lệ như thế! Nhân quả như thế nào, giới luật đă dạy tường tận, chẳng đợi kẻ hèn này lắm lời!

 

          * Hỏi: Đệ tử đă thọ Bồ Tát Giới, do sức của chính ḿnh mà lập riêng một tinh xá, thật thà từ bi tu hành, hưng long Phật pháp, rộng độ chúng sanh. Mỗi dịp Phật Đản, thường tự chuẩn bị cỗ chay để kết duyên với đại chúng. Chẳng nhận sự cúng dường của người khác, lại chẳng thọ đại giới hai trăm năm mươi điều, [vậy th́] có thể thâu nhận đồ đệ hay không? (Hồ Quang Huy hỏi)

 

          Đáp: Đă thọ Bồ Tát Giới, hăy nên hành Bồ Tát đạo, nhưng xuất gia và tại gia khác nhau. Hàng xuất gia Bồ Tát đều đă thọ tỳ-kheo đại giới; tại gia Bồ Tát là cư sĩ, chẳng có tư cách thọ hai trăm năm mươi giới. Lại nói đến chuyện “thâu đồ đệ”, phải nh́n vào danh, nghĩ đến nghĩa: Quy y là một chuyện, thâu đồ đệ là một chuyện khác! Trọn chớ nên lẫn lộn! Tôi xin nói đại khái: Quy y là quy y tự tánh, ắt phải có quy y Tam Bảo chánh thức, tức Phật, Pháp, Tăng. Tăng là nói đến tăng đoàn, chẳng phải là nói đến một cá nhân nào, có thể thấy tánh chất nghiêm ngặt của chuyện quy y. Chẳng quy y nhưng tin Phật th́ gọi là “tín sĩ”. Sau đă thọ quy y, thọ giới, mới là đệ tử Phật chánh thức. Tại gia cư sĩ muôn phần chẳng có lẽ nào truyền quy y cho người khác! Nếu nói là thâu nhận đồ đệ, trăm nghề hay khéo đều cần phải được thầy truyền dạy, nhưng chẳng phải là quy y như đức Phật đă chế định. Chỉ cần phân định rơ ràng giới tuyến ấy, sẽ chẳng có tội lỗi! C̣n như ông nói muốn hưng khởi Phật pháp, tự bỏ tiền để kết duyên, chẳng nhận cúng dường, đấy chính là đại công đức.

 

          * Hỏi: Gần đây, nông sản đều phun thuốc sát trùng, thậm chí dế sống trên mặt đất cũng bị chất độc giết chết. Chuyện này có mâu thuẫn với lư “kiêng giết” hay không? Lại nữa, trong tự viện có cho phép làm như vậy hay không? (Trần Văn Bân hỏi)

 

          Đáp: Nguyên tắc của chánh trị và tôn giáo đều là nhằm khiến cho đại chúng an định, nhưng lập trường khác nhau. Có lúc mỗi bên làm theo cách riêng của chính ḿnh. Thuốc sát trùng trừ diệt các loài trùng chính là sát sanh, bảo vệ mùa màng cũng nhằm nuôi dân. Lập trường của chánh trị là nuôi dân. V́ thế, coi trọng người, coi rẻ trùng, khó tránh khỏi thiên vị! Hiếm có cách để toàn vẹn đôi bề, vừa nuôi dưỡng [dân chúng] vừa chẳng sát hại [các loài trùng] đều trọn vẹn! Lập trường của tự viện là răn dạy, coi trọng chẳng giết. Chẳng dùng thuốc diệt trùng, vẫn có cái để ăn, bất quá sản lượng thâu hoạch giảm thiểu mà thôi! Hoàn toàn chẳng phải là không thể sống được. Hai mươi năm trước, vẫn chưa có thuốc diệt trùng, chưa hề nghe nói con người chẳng có lương thực. Huống hồ trong hiện thời, vẫn có nhiều nơi chẳng dùng thuốc diệt trùng!

 

          * Hỏi: Mỗi sáng tôi uống một th́a nhỏ mật ong. Ngày thứ nhất, mở b́nh ra, uống trước Ngọ, cho nên chẳng có vấn đề ǵ. Nếu ngày hôm sau lại uống th́a thứ hai, đấy có phải là ăn thức ăn c̣n thừa đă để qua đêm? B́nh mật ấy phải uống một tháng mới hết, có trái nghịch giới luật nhà Phật hay không? Lại nữa, tôi ăn các món ăn cũng thế, chỉ nấu có một món. Hôm nay ăn một nửa, chừa lại một nửa để tới ngày mai lại ăn. Đấy có phải là đồ thừa để qua đêm hay không? Có phải là trái nghịch giới luật hay không? (Trần Văn Bân hỏi)

 

          Đáp: Chẳng ăn đồ thừa để qua đêm là v́ sợ thức ăn để qua đêm, sẽ bị hư nát, sanh trùng. Ăn vào đă sai phép vệ sinh, lại c̣n giết hại mạng của loài trùng. Phật pháp khai, giá, tŕ, phạm, mỗi điều đều có phương tiện. B́nh mật dùng xong, đậy kín, chẳng để cho nó sanh trùng, sẽ chẳng trở ngại ǵ! Thức ăn dùng một nửa, cất trong tủ lạnh. Nếu không có tủ lạnh, ăn xong, bèn tiện tay hâm nấu, cái duyên sanh trùng hoặc hư nát sẽ bị ngăn dứt, ăn tiếp chẳng bị trở ngại!

 

          * Hỏi: Tôi là Phật giáo đồ mới gia nhập Phật môn. Ở trong ngôi chùa X… nọ, bỗng dưng vô ư nghĩ tới kinh Phật trong tàng kinh thất, bèn thừa dịp bọn họ không ai nh́n tới, tiện tay lấy một bộ kinh mở ra xem. Thấy trong trang ba trăm sáu mươi bốn thuộc về Luật Sớ Bộ[36], [có nói]: Áo vải (màu trắng) chính là tiêu biểu cho đạo của tam thừa do đức Như Lai chế định, chẳng phải là hiếu phục (quần áo tang) để mặc khi có người chết. Tăng sĩ không có quy định về trang phục, chỉ có khác biệt là dùng vải thô (theo Ngũ Sam Tập Thích Thị Yếu Lăm Bổ Giáo Biên), đúng không? C̣n có áo kỳ-chi để cho ni chúng mặc; kỳ-chi[37] lại là thứ ǵ tôi không hiểu? Xin hăy từ bi giải đáp, khiến cho tôi biết đại lược lễ chế của thế tục, lễ chế có liên quan đến Phật giáo, và tang sự của tín đồ Phật giáo. Hiếu tử chẳng cần phải mặc áo tang bằng vải trắng, kẻ tại gia cũng giống như vậy ư? Trong t́nh h́nh như vậy, phải mặc ǵ để biểu thị nghi thức [tang chế]? (Khưu Tú Huệ hỏi)

 

          Đáp: Đă xưng là hàng sơ học nhập Phật môn, lại có tánh chất thế tục, quan sát cả hai đằng, chắc là hàng tại gia. Kinh điển trong Đại Tạng hoàn toàn chẳng phải là kẻ sơ học có thể xem hiểu được! Nếu là Luật Bộ, phần lớn [là giới luật] thuộc về chúng xuất gia; không chỉ chẳng hiểu ư nghĩa, mà c̣n ngăn cấm chúng tại gia xem đọc. Đối với những điều ông đă hỏi, chính là vấn đề bất đồng trong tang sự và y phục giữa hàng xuất gia và tại gia. Những chuyện ấy đă chẳng liên quan đến người tại gia, càng chẳng phải là chuyện của phường sơ học. Dẫu có biết rất rơ, cũng chẳng hữu ích đối với hàng sơ học cho mấy! Cầu học th́ trước hết phải vội vă dốc sức nơi chuyện đáng nên cấp bách thực hiện. Chế luật, quy định lễ nghi, chính là trách nhiệm của bậc lăo thành hữu học, hữu đức, kẻ hèn này cũng chẳng dám nhiều lời!

 

          * Hỏi: Có kẻ thích nói lưỡng thiệt khuấy động khiến cho người khác bất ḥa (tạm giấu tên người ấy). Đệ tử bèn biên chép danh xưng của mười ác nghiệp và những điều giải nói, đưa cho kẻ ấy đọc, những mong người ấy có thể tự hối cải, nhưng bà ta chẳng xem. Bà ta lập luận: “Đă xem th́ sẽ có tội. Không xem th́ chẳng biết, cho nên không có tội”. Lại nói: “Giết người mà có tŕnh độ tri thức cao th́ tội lớn. Kẻ giết người tri thức thấp th́ tội nhỏ”. Đệ tử đáp: “Biết và không biết, hễ làm ác th́ có tội như nhau. Bất quá, đă biết th́ là hiểu rơ đă phạm tội, c̣n có cơ hội sám hối. Kẻ chẳng biết th́ hồ đồ phạm tội, [nhưng đều] thọ báo giống hệt như nhau. Kẻ có tri thức giết người và kẻ chẳng có tri thức giết người th́ cũng bị luận tội như nhau, chẳng thể so sánh với pháp luật thế gian! V́ Phật pháp lấy khởi tâm động niệm làm tiêu chuẩn để phán định”. Đúng không? Xin hăy dạy cho! (Tiên Thuần Hiền hỏi)

 

          Đáp: Chúng ta chưa từng nghiên cứu giới luật, lư nhân quả tinh vi, chẳng dễ nói được. Nhưng quư cư sĩ khuyên người ta làm lành, đấy là công đức. C̣n đối với cao luận đă nêu, lại là một chuyện khác nữa. Ví như khuyên người ta tuân thủ pháp tắc, đấy chính là những chuyện ai nấy đều có thể làm được, nhưng chưa chắc ai nấy đều hiểu pháp luật. Lời lẽ có thể chẳng xác đáng, nhưng chính là cái tâm tốt lành. Kẻ ấy cứ bám víu tà thuyết: “Kẻ không biết th́ chẳng tạo tội”, “tri thức thấp mà giết người th́ tội sẽ nhỏ” v.v… Rơ ràng là biết tội, vẫn cứ muốn tạo tội, lại mong cầu: Đă tạo tội mà do may mắn, sẽ tránh khỏi báo ứng. Cái tâm như vậy chẳng đáng hỏi đến nữa! Kẻ có cái tâm như thế, tương lai đen tối. Quư cư sĩ và bà ta cơ duyên chẳng hợp, hăy nên cầu vị thiện tri thức khác cứu vớt bà ta ra khỏi biển khổ th́ hơn!

 

          * Hỏi: Trong giới điều đại vọng ngữ có câu: “Ngă đắc bất tịnh quán”, do mối quan hệ nào mà đặt câu ấy trong phần kinh văn của giới vọng ngữ nhằm phát sanh tác dụng ǵ? Như thế nào th́ mới coi là phạm tội [thuộc phạm vi] của câu ấy? (Nhan Vân Hồng hỏi)

 

          Đáp: Giới luật chính là một bộ phận của Tam Tạng kinh điển, [những kinh điển] thuộc loại này rất nhiều. Nếu lấy giới tại gia để bàn luận, theo như kẻ hèn này biết, cũng có mười mấy loại. Trong lời hỏi, ông chẳng chỉ rơ loại nào, chẳng biết muốn hỏi câu nào, [cũng như chẳng chỉ ra] những câu văn liên quan trước và sau câu ấy, sợ rằng đă hiểu lầm. Ở đây, bất đắc dĩ, chỉ suy đoán theo ư nghĩa để giải thích: Do mối quan hệ nào mà đặt câu “ngă đắc Bất Tịnh Quán” trong phần giới điều về tội vọng ngữ. Bất Tịnh Quán là một loại Thiền Quán, là một trong Ngũ Đ́nh Quán. Nói “đắc” là nói đă thành tựu loại Thiền ấy. Nếu thật sự thành tựu, cũng chẳng nên hướng về kẻ khác khoe khoang. Nếu chưa đắc mà nói “đă đắc”, sẽ là tội vọng ngữ to lớn.

 

          * Hỏi: Đối với giới “thuyết tứ chúng quá” (kể lỗi của tứ chúng), nếu bản thân làm viên chức, hoặc là do chức vụ phải xử án, phải đem tội của tứ chúng tuyên nói với người khác, hoặc với mọi người, hoặc dùng văn tự để công bố, có phạm giới hay không? (Văn học cho rằng: V́ răn nhắc người đă phạm tội lỗi, do liên quan đến chức vụ, sẽ có tác dụng “đừng làm các điều ác” nên chẳng coi là phạm giới. Nếu tội lỗi chẳng có sự thật mà tuyên nói, đó là vô ư phạm vọng ngữ, đúng không?) (Nhan Vân Hồng hỏi)

 

          Đáp: Nhân viên công vụ, người có trách nhiệm xử án, đối với tội lỗi của tứ chúng trong khi điều tra, xét xử vụ án, hoặc dùng ngôn ngữ, hoặc dùng công văn để báo cáo lên cấp trên, chính là v́ chức trách, cho nên chẳng coi là phạm giới. Nếu ngoài những thủ tục phải làm trong chức trách của chính ḿnh, mà chuyện gẫu với người khác [về những tội lỗi ấy], sẽ là phạm giới! Nếu v́ răn nhắc người khác, [nếu như] các sự thật trong vụ án đă được báo chí công bố th́ chẳng ngại phương tiện nói. Nếu chưa công khai, chỉ có thể nói về vụ án ấy, chẳng cần phải nói rơ tên người ta.

 

          * Hỏi: Đối với “cô tửu giới”, “cô tửu” (酤酒) là mua hay bán, hoặc là chế rượu cho người khác uống, đều là phạm tội ư? Nếu là như vậy, v́ dùng làm thuốc trị bệnh mà mua hoặc chế rượu, có bị coi là phạm giới hay không? (Văn học nghĩ rằng: “Chẳng coi là phạm giới”, đúng không?) (Nhan Vân hồng hỏi)

 

          Đáp: Chẳng cần biết là bán rượu hay chế rượu, đều là muốn cho người khác uống. Uống rượu là chuyện bị giới luật ngăn cấm. Bán rượu hay chế rượu đều là cái duyên xúi giục người khác phạm giới, há vô tội ư? Nếu chỉ nhằm làm thuốc trị bệnh, rượu ấy là thuốc, có ích, chứ chẳng tổn hại con người, chẳng gọi là “phạm giới”. Nhưng chẳng thể mượn danh nghĩa làm thuốc để theo đuổi những mưu tính riêng tư!

 

          * Hỏi: Trong giới điều “thấy bậc tôn trưởng trong tứ chúng chẳng lễ bái” có nói “tiên túc” (先宿), có phải là nói đến những người đă đến tự viện hoặc một nơi nào đó trước hay không? C̣n như câu “bất khởi thừa nghênh” (chẳng đứng dậy đón tiếp) trong giới bổn nghĩa là nói “đang ngồi, trông thấy bậc tôn trưởng tứ chúng đến, bèn đứng dậy đón tiếp, lễ bái, thưa hỏi” đó chăng? Hoặc là không nhất định phải ngồi, chỉ có nghĩa là phải đón tiếp, lễ bái, thưa hỏi. Nếu ở trên đường, gặp người xuất gia, hoặc ở trên xe (hoặc là gặp người xuất gia chẳng quen biết), do chẳng thuận tiện làm lễ, bèn chẳng lễ bái, chỉ lễ niệm trong tâm, có phạm giới hay không? (Nhan Vân Hồng hỏi)

 

          Đáp: Hai chữ “tiên túc”, nói theo phía người xuất gia, chính là nói về tăng lạp và giới lạp. Nói theo phía người tại gia, chính là nói về số tuổi quy y và giới lạp, hoặc là học vấn, đạo đức. Đang ngồi, trông thấy những vị ấy đến, bèn đứng dậy nhằm tỏ ḷng kính trọng. Chẳng cần biết là tăng hay tục, đều nên làm như thế. Nhưng hàng bạch y gặp người mang h́nh tướng tăng nhân, chẳng cần biết tuổi tác ra sao, đều nên hướng về họ lễ bái. Nếu gặp gỡ trên đường, có thể phương tiện xá bái. Ở trên xe th́ cũng như vậy. Lễ vốn chia thành ở chốn công cộng hay riêng tư sai khác. Giống như quân nhân hoặc cảnh sát mặc đồng phục, ắt có lễ nghi của quân nhân hoặc cảnh sát. Y phục và lễ nghi có quy chế riêng, chẳng được phép rối loạn.

         

          * Hỏi: Trong giới “chẳng giữ sáu ngày chay”, phương pháp cúng dường Tam Bảo là như thế nào? Nhân viên công vụ đến mười hai giờ mới tan tầm về nhà ăn cơm, tợ hồ mắc lỗi ăn quá Ngọ. Nếu ăn trong khoảng thời gian từ mười hai giờ cho đến một giờ chiều th́ có coi là ăn quá Ngọ hay không? (Nhan Vân Hồng hỏi)

 

          Đáp: Chúng xuất gia chuyên môn tu hành, đối với giới luật phạm hạnh, dễ dàng tuân thủ; chúng tại gia bèn có chướng ngại. Khi sắp thọ giới, hăy nên kiểm xem: Có thể tŕ th́ mới thọ; chẳng thể giữ, chớ nên miễn cưỡng thọ. Đă thọ, có lẽ chớ nên tùy tiện xả. Nhân viên công vụ chẳng được tự do, sẽ lại luận định riêng. Nhất là đối với chuyện ăn ngủ của quân nhân hoặc cảnh sát, thường là do công vụ, sẽ khó thể giữ đúng thời “quá Ngọ chẳng ăn”. Quá Ngọ là ǵ? Hăy nên xin vị thầy truyền giới giải thích. Hàng bạch y phần nhiều chẳng hiểu rơ đạo này, chẳng dám nói bừa!

 

          * Hỏi: Trong phần giới văn về “chẳng thanh tịnh bố thí những gia súc đă nuôi dưỡng”, có câu “bất tác tịnh thí vị thọ giới giả” (chẳng hành bố thí thanh tịnh cho người chưa thọ giới), có phải là chính ḿnh có thể nuôi dưỡng, chỉ cần thí cho người chưa thọ giới sở hữu chúng là được? Hay là tự ḿnh chẳng thể nuôi nấng, nếu đă có nuôi, phải thí tặng cho người chưa thọ giới nuôi nấng chúng? (Nhan Vân Hồng hỏi)

 

          Đáp: Xét chữ “vị” (, chưa) trong câu “bất tác tịnh thí vị thọ giới giả” (chẳng thanh tịnh thí cho người chưa thọ giới) trong phẩm Thọ Giới của Ưu Bà Tắc Giới Kinh lưu hành tại Đài Loan là dựa theo bản in của Kim Lăng Khắc Kinh Xứ, bản in theo lối sao chụp th́ ghi là chữ Cầu (). Một chữ khác nhau, ư nghĩa được hiểu khác biệt to lớn. Ắt phải có một bản hoàn thiện để giảo chánh th́ mới dám nói. Nếu nói cách tịnh thí là như thế nào th́ kinh chưa giảng rơ, cũng chẳng dám dựa theo văn tự để suy đoán ư nghĩa. Hăy đợi tham khảo, hoặc xin vị thầy truyền giới giải thích th́ tốt hơn.

 

          * Hỏi: Trong giới điều “đắc tân thực, bất tiên cúng Tam Bảo” (có được thức ăn mới, chẳng cúng dường Tam Bảo trước), chữ “cúng dường” có nghĩa là đối với những thức ăn mới, đều nên kính dâng lên Phật trước rồi sau đó mới ăn? Hay là chỉ cần niệm “cúng dường mười phương hết thảy chư Phật” rồi có thể ăn? Hay là nên cúng dường Tam Bảo như thế nào? Trước khi ăn, nên niệm như thế nào? (Nhan Vân Hồng hỏi)

 

          Đáp: Tại gia cúng dường Tam Bảo chẳng thể thuận tiện như trong chùa được. Đối với cả hai cách như ông đă nêu, đều có thể tùy theo từng lúc mà chọn dùng một cách, chẳng có ǵ là không được, cốt sao thành kính!

 

          * Hỏi: “Giới” là do cố ư[38]. Nếu vô ư phạm giới, có ǵ khác biệt so với có phạm và không phạm hay chăng? Đối chuyện nên phá giới mà chẳng phá giới, sẽ coi là phạm giới, hay chẳng phạm giới? (Như các t́nh h́nh: Đáng nên giết một kẻ để cứu nhiều chúng sanh, nhưng chẳng giết, [hoặc là] hăy nên tuẫn giáo nhưng chẳng tuẫn giáo) (Nhan Vân Hồng hỏi)

 

          Đáp: Cố ư phạm là tội, vô ư phạm là lỗi. Nặng nhẹ sai khác, đều có pháp lư tinh vi. Đối với chuyện ông đă nêu, trong kinh đă từng có nói đến chuyện ấy. Đáng nên giết mà chẳng giết là v́ giữ giới; giết một để cứu nhiều, chính là phát Bồ Đề tâm. Nhưng cần phải là người trí th́ mới có thể thực hiện quyền biến, kẻ chưa hiểu rơ lư của giới, chớ nên bộp chộp!

 

          * Hỏi: Có mấy phương pháp lạy Phật? (nói theo tâm niệm) (Nhan Vân Hồng hỏi)

 

          Đáp: Đối với điều ông vừa hỏi, tôi ghi chú thêm: “Nói theo tâm niệm”. Hăy nên y theo cách hiểu đó để luận định. Cổ đức chú giải kinh, có viết về cách lễ Phật, nêu ra mười loại:

          - Một là ngă mạn lễ, như chày giă gạo lên xuống, chẳng có tâm cung kính.

          - Hai là xướng họa lễ, lớn tiếng xướng ồn ào, câu chữ hỗn loạn. Thân chẳng đoan chánh, ư chẳng kiền thành.

          - Ba là cung kính lễ, năm vóc gieo xuống đất, trịnh trọng, ân cần đỡ chân [đức Phật].

          - Bốn là vô tướng lễ, thâm nhập Pháp Tánh, ĺa tướng Năng Sở.

          - Năm là khởi dụng lễ. Tuy chẳng có Năng và Sở, vận dụng khắp thân tâm [cung kính hành lễ].

          - Sáu là nội quán lễ, chỉ quán nội tâm, chẳng quán h́nh tượng bên ngoài.

          - Bảy là Thật Tướng lễ. Thật Tướng vô tướng, trong ngoài như một.

          - Tám là đại bi lễ, mỗi một lễ đều thay cho trọn khắp chúng sanh [lễ Phật].

          - Chín là tổng nhiếp lễ, gộp chung cả sáu môn trước (cung kính lễ, vô tướng lễ, khởi dụng lễ, nội quán lễ, Thật Tướng lễ, đại bi lễ) thành một phép Quán.

          - Mười là vô tận lễ, khắp v́ pháp giới, vô cùng vô tận.

          Trong mười loại lễ vừa nêu, loại lễ thứ nhất và thứ hai đều là tâm chẳng chân thành, chẳng thể gọi là lễ, hăy nên tự răn chừng! Đối với tám loại sau, cũng nên chọn lấy loại nào có thể làm để thực hiện. Nếu miễn cưỡng, hoặc chẳng giữ thường hằng, chính là giống như khinh mạn vậy!

 

          * Hỏi: Cúng hương, cúng hoa quả v.v… lên Phật, hăy nên niệm như thế nào? (Nhan Vân Hồng hỏi)

 

          Đáp: Có thể hiểu ư nghĩa của mười loại lễ th́ chuyện cúng dường có thể phỏng theo đó mà suy ra. Nói tóm gọn, chú trọng thành tâm. Tâm chân thành th́ các loại rau tần, cỏ phiền, rau ôn, rong, nước ao đục ngầu, nước lấy từ nước lũ tràn ngập, Phật, trời đều hưởng. Chẳng chân thành, dẫu là ngọc, lụa đầy dẫy, đề-hồ trân quư, Phật cũng chẳng hưởng. Nho gia c̣n quan niệm “tế như tại” (cúng tế như người đă khuất hoặc thần thánh đang hiện diện), [nghĩa là] như đang ngự trên [ngai thờ], hoặc đang ở chung quanh. Nói “như tại” chính là tâm niệm vậy.

 

          * Hỏi: Học nhân hướng về một nhà khoa học tuyên dương Phật pháp. Do học nhân chưa khai trí huệ, nên bị hỏi vặn lại một câu, xin hỏi nên trả lời như thế nào th́ mới nên (do ông ta xem báo Bồ Đề Thụ số hai trăm mười ba, phần trả lời cho câu hỏi thứ hai của cư sĩ Trần Văn Bân ở Gia Nghĩa và câu hỏi thứ hai của cư sĩ Tâm Liên ở Đài Bắc trong mục Phật Học Vấn Đáp Loại Biên bèn dẫn khởi nghi vấn). Kiêng giết là giới thứ nhất. Kư sinh trùng sống trong thân thể con người (giun đũa, trùng sống trong phần Thập Nhị Chỉ Tràng[39], sán xơ mít v.v...) và những chúng sanh đại khái thuộc loại vi khuẩn gây bệnh. Người bệnh uống thuốc có phải là phạm sát giới hay không? Nước máy và các loại đồ ăn đều có một lượng lớn vi khuẩn li ty. Nấu nước sôi, nấu đồ ăn để ăn uống, chẳng phải là phạm sát giới ư? (Lâm Đồng Cứ hỏi)

 

          Đáp: Ư nghĩa kiêng giết trong nhà Phật rất tinh vi. Ở đây, tôi chỉ nêu ra những điều đơn giản, dễ hiểu để tŕnh bày: [Giới sát là v́] trong là nhằm nuôi dưỡng cái tâm nhân từ của chính ḿnh, ngoài là thấy kẻ khác chịu khổ bèn thương xót. Tông chỉ của đức Phật là “dẹp khổ, ban vui”. Pháp thế gian th́ có “trời có đức hiếu sanh”, đều nhằm thắng tàn, khử bạo. Nhưng đối với chuyện giết chóc, có những điều có thể tránh được, có những điều không thể tránh né, có những điều bất đắc dĩ chẳng thể tránh né. V́ thế, giới luật trong nhà Phật có các cách nói “khai, giá, tŕ, phạm”, hoàn toàn chẳng phải là chấp chết cứng một bề! Người chưa học pháp luật thế gian, c̣n chẳng biết lư của nó. Huống hồ đối với luật xuất thế gian, chưa hề xem tới mảy may, há có thể phô diễn, đàm luận được ư? Những điều giới luật đă cấm chính là nói theo những điều có thể tránh né; đối với những điều chẳng thể tránh né, sẽ chẳng thuộc vào lệ cấm. Ví như trong không khí có chứa những động vật cực nhỏ, dưới đất cũng có những động vật cực nhỏ, trong đàm răi cũng có những động vật v.v… [Giới luật nhà Phật] hoàn toàn chẳng cấm người ta hô hấp, đi lại, khạc đàm. “Bất đắc dĩ chẳng thể tránh né” là như dùng pháp luật để trị tội, dùng binh lính để khống chế bọn giặc cướp, dùng nước dập lửa, dùng thuốc chữa bệnh v.v… đều có thể mở ra phương tiện.

 

          * Hỏi: Khi cho chúng xuất gia đang bị bệnh uống thuốc, sử dụng loại thuốc viên con nhộng (capsule, nguyên liệu [để chế tạo vỏ viên thuốc nhộng] là chất keo làm từ da trâu) chứa đựng dược phẩm. Có cần phải nói rơ trước khi dùng? Hay là chẳng cần phải nói rơ? Người xuất gia uống thuốc viên con nhộng có phạm giới hay không? (Lâm Đồng Cứu hỏi)

 

          Đáp: Người xuất gia có giới tỳ-kheo, chúng ta chẳng cần phải bận tâm. Giới luật nhà Phật tuy cấm ăn thịt, nhưng có [pháp phương tiện cho phép dùng] ngũ tịnh nhục, ăn rau bên cạnh thịt. Nếu trong tâm cảm thấy bất an, hăy loại bỏ nang nhộng (capsule), chỉ dùng bột thuốc, dường như cũng chẳng khó làm!

 

          * Hỏi: Nông sản bị trùng làm hại, chẳng nỡ sát sanh, lại chẳng thể không giết. Nếu một mặt phun thuốc diệt trùng, một mặt niệm chú Văng Sanh, có thể giải oan hay không? Nếu không, mỗi lần sát sanh, há chỉ là ngàn vạn, khiến ḷng tôi lo âu! Nếu nhờ người khác, cũng là phạm tội xúi giục sát sanh, khiến cho người ta tạo ác, càng chẳng nỡ ḷng! Có pháp phương tiện nào hay không? (Trịnh Triều Tín hỏi)

 

          Đáp: Đây cũng chính là nỗi khó khăn của người tu trong thời Mạt Pháp. Hai mươi năm trước, hoàn toàn chẳng có thuốc diệt trùng, cũng vẫn thường là mùa màng bội thu. Đối với câu hỏi ông vừa nêu, có thể dẫn chứng tiền lệ. Tuy cổ nhân chẳng dùng thuốc diệt trùng, nhưng cày ruộng cũng có thể sát sanh. Điều có thể dung thứ là số lượng [trùng bị sát hại] không nhiều, và do vô tâm mà thôi, nhẹ ít hơn hiện thời! Họ cày ruộng, liền dùng chú pháp. Hễ có cảm, trùng sẽ tránh xa; dẫu chẳng có cảm th́ cũng đă tận hết tâm lực. Biện pháp như cư sĩ đă tính cũng chỉ có thể là như thế. Nghe nói thuốc sát trùng gần đây đă mất hiệu lực, hăy nên chọn biện pháp giăng lưới, sao không thí nghiệm cụ thể xem sao!

 

          * Hỏi: Bồ Tát Ưu-bà-tắc (Ưu-bà-di) Giới tuy v́ thân mạng[40], chẳng được tuyên nói tất cả tội lỗi của tứ chúng. Nếu phá giới ấy, người ấy sẽ bị mất giới Ưu-bà-tắc (Ưu-bà-di). Bọn cư sĩ chúng ta [đối với giới điều] “chẳng tuyên nói lầm lỗi của tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni” th́ c̣n dễ làm; nhưng trong thời đại Mạt Pháp, đấu tranh kiên cố, khi tuyên truyền tranh cử, cho đến chuyện cạnh tranh trong nông, thương, công nghiệp, do dính líu đến điều lợi hại, trong số ấy, nếu có đồng đạo nam, nữ chẳng giữ đạo nghĩa, có những chuyện [chẳng đúng pháp] như dùng lời lẽ hoặc hành vi làm ác, hoặc lừa dối, chèn ép, gian trá, gạt gẫm v.v… Nếu nói những tội lỗi của họ th́ có trái phạm giới “kể lỗi tứ chúng” hay không? Nếu chịu đựng, im lặng, mặc cho chúng nó làm ác mà chẳng áy náy, chẳng phải là cam ḷng làm kẻ ba phải trong làng[41] ư? Khổng Tử nói: “Hương nguyện đức chi tặc dă” (Kẻ luôn ba phải trong làng xóm chính là kẻ giặc đối với đức hạnh vậy). Làm thế nào để có thể chẳng trái nghịch giới nhà Phật, lại có thể phù hợp đạo lập thân xử thế của Nho gia? Xin hăy dạy bảo! (Lưu Trung Nhất hỏi)

         

          Đáp: “Chẳng được tuyên nói tất cả tội lỗi của tứ chúng”: “Tứ chúng” là nói gồm chung xuất gia và tại gia. Không chỉ là đức Phật răn dạy như thế, mà văn hóa Nho gia cũng có giáo huấn “thùy hủy, thùy dự” (ai hủy báng, ai ca ngợi), “ẩn ác dương thiện” (ẩn giấu điều ác, phô bày điều thiện) chính là ư nghĩa bậc quân tử giữ mồm giữ miệng vậy. Nhưng hủy, dự, ẩn, dương và “quy gián, khuyến sách” (can ngăn, khuyên lơn, cổ vũ) khác nhau. “Hủy, dự”… là hướng về người thứ ba để nói, c̣n quy gián v.v... chính là nói với đối phương. Hủy v.v… là lỗi, khuyên can v.v… là nghĩa vụ. Có thể phân định rơ ràng giới hạn của hai phương diện, há có phải là kẻ ba phải? Nếu nói đến chuyện tranh cử, đấy là v́ lẽ công mà chọn bậc hiền tài, quyết chẳng thể v́ kẻ đó là người thân cận với chính ḿnh mà v́ kẻ ấy tuyên truyền dối trá. Nếu người đồng đạo thật sự tốt đẹp, hăy nên tán dương. Nếu là ác th́ cự tuyệt trả lời, v́ có lập trường chánh đáng, đấy gọi là Trung Đạo vậy!

 

          * Hỏi: Nếu có hành giả chẳng thọ Tam Quy, Ngũ Giới, cho đến Bồ Tát Giới, khi được quán đảnh trong Mật Tông, Kim Cang Thượng Sư gia tŕ rượu cam lộ, bảo hăy nhấp uống, hành giả nghĩ đó là cam lộ. Như vậy th́ có trái nghịch giới uống rượu hay không? (Lưu Trung Nhất hỏi)

 

          Đáp: Chuyện uống cam lộ trong phép Quán Đảnh của Mật Tông chính là quá tŕnh truyền pháp, hoàn toàn chẳng phải là v́ dùng thuốc hay uống rượu, hăy nên tưởng đó là cam lộ. Muôn pháp do tâm sanh. Uống rượu là trái nghịch giới, c̣n thọ pháp nhằm mong cầu theo đuổi đạo, chẳng luận định là phạm giới.

 

          * Hỏi: Chúng ta là đệ tử Tam Bảo, tự nhiên chẳng tránh khỏi tu học, tŕ trai. Những pháp liên quan đến chuyện tŕ trai rất nhiều. Có pháp th́ [ăn chay trong] mồng Một và Rằm, có pháp th́ mồng Ba, mồng Sáu, mồng Chín, có pháp th́ là mười ngày trai, có pháp th́ ăn chay trường, chẳng ăn đồ hôi tanh, cũng có pháp tŕ tảo trai v.v… Xin hỏi pháp nào thích hợp cho sự tu tŕ tại gia? (Trương Đạt Nhật hỏi)

 

          Đáp: Đối với những ngày trai như đă nêu, tại gia Phật tử hăy lượng sức ḿnh để tùy ư chọn lấy một loại, [bất cứ tŕ trai theo pháp nào cũng] đều có công đức. Nói chung, ăn chay trường thù thắng hơn ăn chay nhiều ngày, ăn chay nhiều ngày thù thắng hơn ăn chay ít ngày. Lư ấy dễ hiểu, chẳng cần phải giảng giải nhiều! Hễ là ngày ăn chay, đều là phải ăn chay suốt ngày. Người tại gia ngày ăn ba bữa, tức là ba bữa đều giữ cho ḿnh ăn chay. Lại nữa, là đệ tử Phật thật sự, bất luận ăn chay trường hay ăn chay ngắn hạn, trong những ngày không ăn chay cũng nên kiêng giết chóc!

 

          * Hỏi: Tôi thấy trong quyển ba của bộ Đại Trí Phật Học Uyển Tùng Thư, thiền sư Bạch Vân có nói: “Ăn chay sáng sớm (tảo trai) chính là lừa dối Phật, Bồ Tát. Đồng thời cũng là đang lừa dối chính ḿnh. Hăy nên tŕ Ngọ trai hằng ngày!” (Trương Đạt Nhật hỏi)

 

          Đáp: Ăn chay một bữa vào buổi sáng, chẳng hợp pháp độ, v́ người tại gia mỗi ngày ăn ba bữa. Buổi sáng phần nhiều ăn cháo, phần nhiều gọi là “điểm tâm”. Kẻ chẳng học Phật, ăn điểm tâm th́ phần nhiều cũng dùng sữa đậu nành, bánh nướng, dầu chá quẩy, bánh bao, cháo, đậu phộng, những món ăn nhẹ. Vốn chẳng phải là một bữa ăn chánh thức, thời gian lại ngắn, phần nhiều chẳng ăn thịt. Bọn họ hoàn toàn chẳng ăn chay [mà c̣n ăn nhẹ như thế], Phật tử làm như thế, có ǵ đặc biệt? Do như vậy mà bảo là “tŕ trai” th́ gọi là “lừa dối cả hai đằng” vậy!

 

          * Hỏi: Đạt Nhật tôi từ mấy năm trước đă tŕ trai buổi sáng và kiêng giết, nay thấy câu nói ấy trong tác phẩm của thiền sư Bạch Vân, trong tâm khởi mối nghi vô minh! (Trương Đạt Nhật hỏi)

 

          Đáp: Chuyện ấy chẳng cần đợi thiền sư Bạch Vân chê trách, cứ tự suy nghĩ lư, cũng sẽ hiểu rơ. Nhưng trước kia, do mê muội chẳng biết, đúng là vô minh. Nay nghe chánh lư, trong tâm rỗng rang, tức là vô minh đă phá, hăy nên sanh pháp hỷ. Hơn nữa, trong mấy năm qua, đă kiêng giết, công đức đă lớn. Từ nay, đổi ăn chay buổi sáng thành ăn chay suốt ngày, đó là “nhân lành gặp duyên lành”, tiền đồ sẽ tỏa sáng ngời, cần ǵ phải nghi ngờ chi nữa!

 

          * Hỏi: Kẻ đă thọ Ngũ Giới, nếu trong lúc thù tạc, v́ đáp tạ đối phương kính rượu, chỉ để rượu thấm môi, có tính là phạm giới hay không? Nếu là phạm tội, hăy nên cải thiện như thế nào? (Ông Thủy Trụ hỏi)

 

          Đáp: Khi thọ giới, đă nói là có thể tŕ th́ trong lúc ấy, hăy nên giữ, đừng để mất. Nếu gặp lúc thù tạc, hăy nên dùng phương tiện thiện xảo để từ tạ. Từng nghe nói Ngài bị bệnh bao tử, hăy dùng ngay chuyện ấy để thoái thác, cũng chẳng phải là vọng ngữ. Hăy nên nh́n sắc mặt để ứng phó từng hoàn cảnh, [cực chẳng đă th́] chạm môi vào chén, chẳng để rượu thấm môi, t́nh và lễ đều đă tận vậy!

 

          * Hỏi: Trong khi canh tác, nếu phát hiện trong đất có những con trùng nhỏ, cứ tiếp tục cày bừa, sợ tổn hại chúng. Chúng tôi là người học Phật, hăy nên làm như thế nào để xử lư thỏa đáng? (Ông Thủy Trụ hỏi)

 

          Đáp: Trong kinh có nói đến cách chú nguyện khiến trùng tránh xa [lưỡi cày], tiếc là chúng ta chưa học, chẳng thể làm được. Nhưng khi canh tác, để dự pḥng chuyện ấy, cũng có thể niệm Di Đà, hoặc niệm Quán Âm, ḥng trọn hết tấm ḷng. Nếu phát hiện những động vật, hăy bắt lấy chúng, dời chúng sang chỗ khác. Đấy chính là khi làm lụng, sẽ trở thành cơ hội phóng sanh, luôn luôn hành đạo. Kẻ làm như thế, sẽ phải một phen vất vả, nhưng phiền năo sẽ là Bồ Đề.

 

          * Hỏi: Lại nữa, khi nông sản có sâu rầy, chẳng thể không phun thuốc diệt trùng, chúng tôi nên làm như thế nào để xử trí thích đáng th́ mới nên? (Ông Thủy Trụ hỏi)

 

          Đáp: Ngài làm ruộng là v́ chuyện công, hay là chuyện tư? Nếu là chuyện thuộc tư nhân, có thể làm chủ, th́ có thể hành phương tiện. Nếu là chuyện công, giết chóc chẳng phải do chính ḿnh chủ động, giống như ra chiến trận, nhận lănh mạng lệnh vậy!

 

          * Hỏi: Xin hỏi thầy khi nào sẽ thỉnh cao tăng đại đức chánh tông truyền giới? (Hà Khôn Mậu hỏi)

 

          Đáp: Ở nơi đây, chuyện từ thiện công ích theo đường lối Phật giáo khá bề bộn, phải đợi khi nào đă vào nề nếp th́ mới thuận tiện cử hành pháp hội. Thỉnh thầy truyền giới chính là đại sự, ắt cần phải thanh tịnh chí thành, th́ mới ít mắc tội lỗi!

 

          * Hỏi: Học tṛ vẫn chưa thọ giới, chẳng biết nên bắt đầu bằng Ngũ Giới, hoặc bắt đầu bằng Thập Giới? Nghe nói có người c̣n chưa thọ giới mà đă mon men Bồ Tát Giới, như vậy th́ có được hay không? (Hà Khôn Mậu hỏi)

 

          Đáp: Bồ Tát đại giới, há có thể tùy tiện? Trước kia, đều là thọ Ngũ Giới trước. Lấy ngay Ngũ Giới để luận định, c̣n có thiểu phần, đa phần, và măn phần sai khác! Điều chủ yếu là có thể chân thật thọ tŕ, chẳng phải là chú trọng cái danh suông! Hăy nên nghĩ thọ giới là chuyện trịnh trọng. Người thọ Ngũ Giới hành tŕ một hai năm sau, chẳng bị phạm giới, phá giới, mới có thể tiến lên thọ Bồ Tát đại giới. Quư cư sĩ hăy nên thọ Ngũ Giới trước, đấy chính là căn bản của các giới. Trước hết, hăy cầu tự lập th́ mới có thể độ người khác. Tuy có những kẻ thọ giới luông tuồng, nhưng phần nhiều là hạng ham cao chuộng xa, chẳng sát thực tế, chẳng đáng để noi theo!

 

          * Hỏi: Bất tài mong ăn chay hoàn toàn và quá Ngọ chẳng ăn, có cần phải trải qua nghi thức nào th́ mới có thể hành hay chăng? Có cần phải thọ giới ǵ rồi mới có thể làm hay chăng? (Mă Ngọc Lâm hỏi)

 

          Đáp: Kiêng giết, ăn chay là chuyện tốt đẹp. Chỉ cần là người quy y Tam Bảo, hoặc là người chưa quy y, nhưng đă phát tâm trước, th́ cũng chẳng có ǵ là không được! Quá Ngọ chẳng ăn chính là Trai trong Bát Quan Trai Giới. Người thọ Bồ Tát Giới cũng có giới tŕ Ngọ trong sáu ngày trai, nhưng nếu phát tâm tŕ ngọ hằng ngày th́ cũng chẳng có ǵ là không được!

 

          * Hỏi: Giả sử là khi trong ṿng bốn mươi dặm có người giảng pháp, nếu chẳng quen nghe, bèn chẳng đến để nghe th́ có phạm giới hay là không? (Diệp Huệ Trinh hỏi)

 

          Đáp: Kẻ thọ Bồ Tát Giới ắt cần phải thượng cầu, hạ hóa. Thường cầu nghe pháp chính là bổn phận. Nếu trong ngày hôm ấy có pháp vụ khác, hoặc bận chuyện hóa độ chúng sanh, không rảnh rỗi để dành thời gian nghe kinh, sẽ chẳng coi là phạm lỗi. Nếu v́ tang ma của cha mẹ, hoặc bản thân mắc bệnh nặng, hoặc biết kẻ đó thuyết pháp bất chánh, chẳng đến để nghe, th́ cũng chẳng phải là tội lỗi, cũng cho phép phương tiện. Nếu tâm biếng nhác, giải đăi, th́ chính là kiêu mạn. Có nhân duyên ly thoái, ắt sẽ sanh ra ác quả ly thoái, đều phải nên biện biệt rơ!

 

          * Hỏi: Khi nào cần sử dụng bái cụ? Tại gia Bồ Tát chẳng dùng bái cụ[42] để lạy Phật có là trái nghịch hay không? (Diệp Huệ Trinh hỏi)

 

          Đáp: Bái cụ chính là vật để dùng lạy Phật khi đắp y. Khi thọ giới, các vị thầy truyền dạy oai nghi, “triển cụ” là một oai nghi trong ấy. Học nhân hăy nên y giáo phụng hành, chớ nên tự tiện biến đổi. Giới hạnh giống như hiến pháp của quốc gia, trên dưới đều tuân thủ. Thói quen thông tục tuy thích thay đổi kiểu cọ mới mẻ này nọ, nhưng hiến pháp chẳng thể tự ư sửa đổi. Tự ư sửa đổi sẽ gây rối loạn cho định chế quốc gia, hành nghi trong Phật môn cũng thế.

 

          * Hỏi: Chẳng biết thọ tŕ Bát Quan Trai Giới có công đức ǵ? (không có tên người hỏi)

 

          Đáp: Giới trong Phật giáo chẳng phải chỉ có một loại. Có chia thành xuất gia và tại gia, lại có thế gian và xuất thế gian sai khác. Bát Quan Trai Giới là giới chung xuất thế gian. Pháp ấy rất nghiêm ngặt, nếu chân thành thọ tŕ, công đức làm sao có thể diễn tả được nổi! Cần phải t́m giới bổn để đọc kỹ th́ mới biết!

 

          Chú thích của người biên tập: Từ lời hỏi và đáp thứ nhất cho đến lời hỏi và lời đáp thứ tư đă bị lạc mất.

 

          * Hỏi: Tôi là con em nhà nông, do phải thường xuyên phun tưới thuốc diệt trùng, giết chết vô số côn trùng, trong tâm cảm nhận sâu xa chính ḿnh đă tạo tác nghiệp chướng. Nay đặc biệt thỉnh giáo, có bài chú đuổi trùng nào hay không ḥng xua đuổi loài trùng để tránh phải sát sanh? Nếu có, xin hăy rộng ḷng dạy một bài và phương pháp sử dụng, các điều cần chú ư v.v… (Lại Hạnh Nam hỏi)

 

          Đáp: Tuy Mật Tông có pháp ấy, ắt phải do Kim Cang Thượng Sư quán đảnh truyền thọ. Sau khi đă thọ, bèn tu cho đến khi có thành tựu th́ mới sanh ra hiệu lực. Hoàn toàn chẳng phải là vừa học bèn hiểu ngay, vừa niệm bèn sanh hiệu quả. Ngài đă có bi tâm ấy, chắc chắn là người có thiện căn, hăy nên biết Phật pháp là nhất thể, vạn dụng, chỉ cậy vào ḷng Thành. Có thể hướng về vị tăng giữ giới trong chùa miếu, xin học bài chú Văng Sanh, hoặc chú Chuẩn Đề. Hằng ngày cung kính niệm tụng, chẳng hạn cuộc thời gian, hễ rảnh rỗi bèn niệm thầm trong tâm, suốt đời chớ để gián đoạn. Sức lớn bèn có thể đuổi trùng, sức nhỏ th́ cũng có thể kết thành thiện duyên, công phu trọn chẳng hư luống! Lại c̣n tiêu trừ tội của tự thân, khiến cho Bồ Đề sanh mầm. Nếu học chẳng hiểu, chỉ niệm Nam-mô A Di Đà Phật suốt đời chẳng gián đoạn, sẽ có công hiệu to lớn.

 

* Ba câu hỏi của cư sĩ Hứa Hỏa Thổ ở Đài Bắc

 

          1) Hỏi: Trong Tại Gia Bồ Tát Giới Bổn, điều thứ bảy là “giới chẳng giữ sáu ngày trai” có nói: “Nếu Ưu-bà-tắc (Ưu-bà-di) đă thọ giới, trong một tháng, chẳng thể thọ tŕ tám giới trong sáu ngày trai… th́ vị Ưu-bà-tắc (Ưu-bà-di) ấy phạm tội thất ư, chẳng khởi đọa lạc, nhưng đă là làm chuyện bất tịnh”. Nói “tám giới” th́ có bao gồm giới tŕ trai hay không? Nếu v́ lư do đảm bảo bao tử và ruột khỏe mạnh, trong sáu ngày trai, vẫn ăn ba bữa (sau Ngọ vẫn ăn cơm tối), có tính là phạm giới hay không? Có mắc tội thất ư hay không?

 

          Đáp: Bát Quan Trai Giới chính là tám giới và một trai, tổng cộng chín điều. “Trai” th́ cấm quá Ngọ chẳng ăn. Đă tŕ Lục Trai, ắt cần phải tuân thủ. Nếu nói bao tử và ruột có bệnh, không ăn chính là một cách trị bệnh. Không chỉ là vô hại, lại c̣n hữu ích! Nếu đă thọ tŕ sáu ngày trai mà vẫn ăn ba bữa, tự nhiên là mắc tội thất ư. Tôi chỉ nói như vậy thôi!

 

          Ghi chú của người biên tập: Các câu hỏi và lời đáp thứ hai, thứ ba đều bị thất lạc.

 

* Bốn câu hỏi của cư sĩ Lâm Thánh Trí ở thành phố Đào Viên

 

          1) Hỏi: Tôi là một nông dân, kiếm sống bằng nghề làm ruộng, cấy lúa và trồng trà, cam, quất v.v... Mỗi năm đều mua một lượng lớn thuốc sát trùng để tiêu diệt loài trùng có hại. Nếu không, chẳng có cách nào thâu hoạch! Làm như vậy, có trái nghịch đạo lư “kiêng giết, phóng sanh” của nhà Phật hay không? Làm như vậy, có tội lỗi hay không?

         

          Đáp: Đây là vấn đề nghiệp lực, chẳng phải là một người mà ḥng giải quyết được! Xét ra, hai mươi năm trước, chưa có thuốc diệt trùng, ngũ cốc, rau quả đều chẳng thiếu thốn. Thuốc diệt trùng tất nhiên là giết trùng, nhưng nó kèm theo [hậu quả phụ] là có thể giết người chậm răi. Thực phẩm hiện thời phần nhiều mang nhiều tánh chất mạo hiểm, há có biện pháp ǵ? Phàm đối với chuyện chẳng thông suốt, chỉ đành tự vấn lương tâm. Các nghề khác c̣n có thể đổi, chứ người dân coi lương thực như trời, há có thể bỏ phế nghề nông? Trong t́nh thế tiến thoái lưỡng nan, trừ việc dùng thuốc diệt trùng ra, hăy nên giữ ḿnh nghiêm ngặt!

 

          2) Hỏi: Mỗi khi tôi quét đất, kiến đầy đất, nhất loạt quét chúng đi. Chẳng quét th́ hoàn cảnh thiếu vệ sinh; quét th́ sợ lỡ tay giết chúng, hăy nên làm như thế nào th́ mới là cách để đôi bên vẹn toàn?

 

          Đáp: Nhẹ nhàng quét chúng vào ky, dời chúng đến chỗ vắng vẻ, hẻo lánh, đừng tổn thương mạng chúng, giống như di cư chúng vậy! Nếu chẳng quét, đâm ra sẽ lại đạp chết chúng! Nói chung là nên quét dời đi, so ra thỏa đáng hơn! Nếu siêng quét dọn, chúng sẽ chẳng kéo đến nữa!

 

          3) Có người thường vào mồng Một, hôm Rằm, mua loài vật phóng sanh, chẳng biết có công đức ǵ? Phóng sanh bắt nguồn từ Phật giáo hay Nho giáo?

 

          Đáp: Phóng sanh là cứu sanh mạng, giải trừ nỗi đau khổ của chúng. Điều thứ nhất trong giới luật nhà Phật là “chẳng sát sanh”. Trời có đức hiếu sanh, có thể thấy [phóng sanh] sẽ đạt được công đức to lớn, đạt được thiện báo vô lượng vô biên. Vào hai ngàn tám trăm năm hoặc hai ngàn chín trăm năm trước, Trung Hoa và Ấn Độ chưa thông tin tức, Phật giáo ở Ấn Độ đă từng hành phóng sanh, Nho giáo tại Trung Hoa, cũng từng phóng sanh. Hoàn toàn chẳng phải là ai đề xướng, ai bắt chước theo, thiện đạo tự nhiên tương đồng. Hai giáo cùng phóng sanh, kinh điển đều có ghi chép, nhiều khôn kể xiết! Hăy tra cứu sách vở sẽ biết.

 

          4) Bạn tôi là bác sĩ, thường v́ người mắc bệnh mà trừ khử giun đũa cùng những loài kư sinh trùng khác có hại cho loài người. Ông ta hỏi tôi là có phạm giới sát sanh hay không? Có tội lỗi hay không?

 

          Đáp: Bác sĩ chữa bệnh cốt ư cứu người. Trừ khử trùng gây hại nơi thân người, chính là chức vụ, có tánh chất khác biệt với chuyện sát sanh thông thường, chẳng thể luận định đánh đồng được! Phàm mọi sự đều có thường và biến, luận theo lư th́ cũng có ư nghĩa phân minh để dung thứ sai khác. Hăy đa học đa văn, sau đấy, sẽ tự có thể thông đạt quyền biến.

          Phật Học Vấn Đáp Loại Biên

Quyển Trung

Phần 6 hết

 



[1] Kinh này có tên gọi đầy đủ là Phật Thuyết Nhân Duyên Tăng Hộ Kinh, đă mất tên người dịch. Kinh cho biết năm trăm thương nhân vào biển cả t́m của cải đă thỉnh Tăng Hộ thuyết pháp. Vào biển, long vương xin Tăng Hộ hăy dạy kinh Tứ A Hàm cho bốn long tử. Khi các thương nhân quay về, Tăng Hộ từ trong biển vọt ra, cùng về với họ. Giữa đường lại mất tích, đến chỗ năm trăm tiên nhân thuyết pháp tế độ họ, cũng như vào địa ngục thuyết pháp, kể lại những điều chính ḿnh đă thấy. Các thương nhân liền đến chỗ Phật thưa hỏi các nhân duyên, đức Phật giải đáp cặn kẽ từng điều một.

[2] Đậu B́ (豆皮) có hai cách hiểu:

1) Đậu B́ là một món điểm tâm khá nổi tiếng, xuất phát từ thành phố Vũ Hán (tỉnh Hồ Bắc). Món này có lớp vỏ bọc làm bằng bột đậu xanh, trứng, sữa, bột gạo, bột đậu nành, và bột ḿ. Nhân bánh gồm gạo nếp trộn lẫn với măng muối, củ cải thái sợi phơi khô, đậu hủ ngũ vị hương thái sợi, đậu cô-ve (haricot vert, đậu que), mù tạc (mustard), nấm hương, nấm đông cô, và củ hành ta. Đôi khi người ta cho thêm vào các loại thịt heo, thịt ḅ, hoặc tôm bằm.

2) Đậu B́ chính là đậu hũ ky cuộn lại chiên gịn.

[3] Thi () là một loại cỏ, có tên khoa học là Achillea Milleforim, tiếng Việt là Dương Kỳ Thảo, c̣n gọi là Vũ Y Thảo, Âu Thi, Thiên Diệp Thi, hay Do Diên Thảo. Cây mọc thành bụi thấp, thân có lông tơ trắng, lá thon dài, mọc đối xứng thành từng chùm nhỏ hai bên nhánh, trông giống như những sợi lông mao trên chiếc lông vũ của loài chim. Hoa mọc thành chùm li ty, đỏ tươi, có nhụy vàng ở giữa. Cỏ Thi có hạt dùng để làm thuốc bổ.

[4] Đương Quy (當歸), tên khoa học là Angelica Sinensis, thân thảo, cao từ 40cm cho đến một mét. Thân cây mọc thẳng đứng, lá có h́nh bầu dục, hoa trắng, có trái. Loại này thường mọc nhiều ở Cam Túc, Tứ Xuyên, Thanh Hải, Thiểm Tây, Hồ Nam, Hồ Bắc, Quư Châu v.v… Củ của loại cây này được dùng làm thuốc, đôi khi c̣n gọi là Bệ, Sơn Kỳ, hay Bạch Kỳ. Củ Đương Quy thu được, rửa sạch, cắt thành lát mỏng, phơi khô, hoặc để trong chỗ khô mát cho tự khô. Đông Y cho rằng Đương Quy có tác dụng bổ gan, tim và tỳ. Đương Quy được dùng chủ yếu để bổ huyết, điều kinh, nhuận trường. Do Đương Quy thường dùng trong các bài trị bệnh phụ nữ, nên đôi khi nó c̣n được gọi là “nhân sâm của phụ nữ”.

Xuyên Khung (川芎) là loài thực vật cao từ 30cm đến một mét hai, thân thảo, ít tẽ cành, lá kép h́nh lông chim. Hoa trắng, h́nh trứng ngược, thường mọc ở vùng Hoa Bắc, Ấn Độ và Nepal, loại Xuyên Khung tốt nhất là ở Tứ Xuyên. Cây thường được thu hoạch vào mùa Hạ, khi thân cây hơi ngả sang sắc tím. Xuyên Khung thu hái về đem rửa sạch đất cát, phơi khô, bỏ rễ. Xuyên Khung có mùi thơm nhạt khi phơi khô, vị đắng và cay. Nếu nhấm thử, sẽ có cảm giác tê lưỡi, để lại dư vị hơi ngọt. Đông Y nói dược tánh của Xuyên Khung sẽ đi vào gan, mật và màng tim, có tác dụng hoạt huyết, khử phong, trị đau nhức. Xuyên Khung cũng thường được dùng để trị chứng kinh nguyệt không đều, đau bụng khi có kinh, đau hông, tức ngực, phong thấp v.v…

[5] Gà Leghorn là một giống gà lai phát xuất từ vùng Tuscany của nước Ư. Do từ năm 1828, giống gà này được xuất cảng sang Mỹ từ hải cảng Livorno, nên tên của giống gà này được gọi là Leghorn (theo kiểu Anh hóa chữ Livorno). Giống gà này nổi tiếng đẻ nhiều, chóng lớn, nên rất được ưa chuộng. Một con gà mái có thể đẻ từ 280 trứng cho đến 320 trứng mỗi năm. Người Mỹ đă nhập giống gà này vào các nước Á Châu, phổ biến nhất là vào thập niên 1970, cho nên người Việt thường quen gọi chúng là “gà Mỹ”. Người Hoa thường gọi loại gà này theo kiểu phiên âm của họ là gà Lai Hanh (來亨) hoặc gà Lực Khang (力康).

[6] Nguyên văn “kiến tiêu” (建醮). Đây là những pháp hội cầu đảo của bọn đạo sĩ bày ra, c̣n gọi là Đả Tiêu hoặc Tạo Tiêu. “Tiêu” () theo sách Thuyết Văn có nghĩa là “cúng tế”. Có thể nói tổng quát, tất cả những pháp hội mang tính chất cầu đảo hoặc tạ ơn đều gọi là Tiêu (). Chẳng hạn, xây xong hoặc tu bổ xong một ngôi miếu, tổ chức lễ lạc thành, bèn gọi là Khánh Thành Tiêu. Khi ôn dịch xảy ra, tổ chức cầu cúng tống tiễn ôn thần th́ gọi là Ôn Tiêu. Siêu độ người chết v́ lũ lụt gọi là Thủy Tiêu. Họ lại c̣n chia Tiêu thành hai loại Thanh Tiêu (清醮, những lễ cúng tế dành cho mục đích cầu phước, tiêu tai, giải nạn) và U Tiêu (幽醮, những lễ nghi siêu độ, giải oan).

[7] Phi trùng (飛蟲): Các loài côn trùng nhỏ biết bay như ruồi, muỗi, thiêu thân (nắc nẻ), ong v.v…

[8] Bộ sách này do tổ Ngẫu Ích biên soạn. Nội dung gồm những phần trích yếu về luật tại gia, cũng như Bồ Tát giới và các phần chú giải quan trọng từ mười lăm bộ kinh, luật như Tứ Phần Luật, Tam Quy Ngũ Giới Từ Tâm Yếm Ly Công Đức Kinh, Quán Đảnh Tam Quy Ngũ Giới Đới Bội Thân Chú Kinh, Tha Mạt Nẵng Pháp Thiên Tử Thọ Tam Quy Y Hoạch Miễn Ác Đạo Kinh, Thập Thiện Nghiệp Đạo Kinh, Phật Thuyết Giới Tiêu Tai Kinh, Phật Thuyết Ưu Bà Tắc Ngũ Giới Tướng Kinh, kinh Phạm Vơng v.v… Đến đời Thanh, do cư sĩ Trần Hy Nguyện chủ tŕ, với sự cộng tác của sa-môn Nguyên Hồng và cư sĩ Nhuận Nghi đă tăng đính thành bản lưu hành hiện thời. V́ thế, có người tưởng lầm bộ sách này do chính cư sĩ Trần Hy Nguyện biên soạn.

[9] Chú giải phẩm Đà La Ni của kinh Pháp Hoa, đối với mấy câu kệ “nhược bất thuận ngă chú, năo loạn thuyết pháp giả, đầu phá tác thất phần, như A Lê thụ chi, như sát phụ mẫu tội, diệc như áp du ương” (nếu chẳng thuận chú ta, năo loạn người thuyết pháp, đầu vỡ thành bảy phần, như cành cây A Lê, như tội giết cha mẹ, cũng như họa ép dầu), Thái Hư đại sư cho biết: Cành cây A Lê hễ rơi xuống đất, sẽ găy thành bảy phần. Thời cổ, tại Ấn Độ, để mưu lợi, người ta giă mè cho bể nát, để cho nó sanh trùng, sau đó mới ép mè. Dầu thu được sẽ nhiều hơn b́nh thường, lại thơm hơn. Do vậy, mỗi lần ép mè, sẽ giết chết cả vạn con trùng.

[10] Hưng Cừ (興渠) thường gọi bằng những tên phổ biến hơn là A Ngu, Huân Cừ, Cáp Tát Ni, Vân Đài. Tên gọi phổ biến nhất là A Ngụy (阿魏). Tại Trung Hoa, có người coi Nguyên Tuy (rau mùi (ng̣) Tây, Corriander) là Hưng Cừ, nhưng Nguyên Tuy đâu có mùi khủng khiếp như Hưng Cừ. Hưng Cừ có tên gọi khoa học là Ferula Scorodosma, Âu Mỹ thường gọi nó là Asafoetida. Loại thực vật này mọc nhiều nhất tại Iran, A Phú Hăn, và được trồng khá nhiều tại Ấn Độ. Cây đôi khi cao tới 2m. Thân nó rỗng, chứa nhiều chất nhựa, và đây chính là thành phần chủ yếu để làm gia vị hay làm thuốc. Hưng Cừ khi c̣n chưa nấu chín có mùi hăng gắt gần như hôi thối, rất khó chịu (tên gọi Asafoetida (nhựa hôi thối) do đó mà có). Khi nấu chín, mùi nó sẽ dễ chịu hơn, nhưng vẫn hăng gắt giống như mùi hẹ. Người Ấn thường sử dụng nó làm gia vị chung với bột nghệ để nấu những món súp đậu. Đôi khi, bột Hưng Cừ khô c̣n được trộn lẫn với muối để trộn món salad. Điều đáng ngạc nhiên là một số giáo phái Ấn Độ và tín đồ đạo Jain (Kỳ Na Giáo) do kiêng không ăn tỏi, hành, bèn dùng Hưng Cừ để thay thế. Công dụng dược phẩm chủ yếu của nhựa Hưng Cừ là để sát trùng, chống động kinh, cai nghiện thuốc phiện, chữa các chứng śnh bụng, khó tiêu, chống cảm cúm v.v…

[11] Chương Thụ (樟樹) là một loại cây thuộc họ Long Năo. Có người nói nó chính là cây Long Năo.

[12] “Ăn theo phương tiện” nghĩa là chưa thể ăn chay trường, bèn ăn ba thứ tịnh nhục, hoặc ăn rau bên cạnh thịt, hoặc mỗi tháng ăn chay mấy ngày.

[13] “Chúng sanh tương khắc”: Đây là một thuyết cho rằng mỗi loài đều có khắc tinh của nó, chẳng hạn rết sợ gà trống. Từ đó, họ suy rộng ra, ta ăn thịt loài vật là lẽ tự nhiên v́ ta là khắc tinh của chúng.

[14] Đại thoái vũ (大腿舞) là cách người Hoa dịch chữ “lap dance”. Do không t́m được chữ tương ứng, nên chúng tôi đành dịch tạm như vậy.

[15] Ma Thành (麻城) là một thị trấn ở tỉnh Hồ Bắc, trực thuộc thành phố Hoàng Cương, nằm phía Nam rặng Đại Biệt, trên bờ sông Cử Thủy. Thời Xuân Thu, chỗ này có tên là Bách Cử (柏舉), từng xảy ra một cuộc chiến lớn giữa Ngô và Sở. Đến nhà Hậu Triệu, bộ hạ của đại tướng Thạch Lặc là Ma Thu (麻秋) đă đắp thành tại đây, nên mới có tên là Ma Thành.

[16] Tiền () là đơn vị đo trọng lượng thời cổ. Tiền c̣n gọi là Nhẫn (). Theo cách tính của Trung Hoa, một lượng (lạng, ) gồm mười tiền, một tiền là mười phân. Một quan () là một ngàn tiền (khác với cách tính một quan tiền là sáu trăm đồng của Việt Nam). Mười lượng tám tiền tức là 108 tiền=108x3.75g= 405g.

[17] Ngu sanh (đứa học tṛ ngu dại), từ ngữ xưng hộ tự khiêm của học tṛ đối với thầy.

[18] Ông Lư Liên Giai có ư nói đến chuyện con chuột trong bài Vĩnh Mỗ Thị Chi Thử (chuột nhà ông họ X… ở Vĩnh Châu) của Liễu Tông Nguyên: “Vĩnh hữu mỗ thị giả, úy nhật, câu kỵ dị thậm. Dĩ vi kỷ sanh tuế trị Tư, thử, Tư thần dă, nhân ái thử, bất súc miêu khuyển. Cấm đồng vật kích thử. Thương lẫm, bào trù, tất dĩ tư thử, bất vấn. Do thị thử tương cáo, giai lai mỗ thị, băo thực nhi vô họa, mỗ thị thất vô hoàn khí, di vô hoàn y, ẩm thực, đại suất thử chi dư dă. Trú lũy lũy dữ nhân kiêm hành, dạ tắc thiết niết đẩu bộc. Kỳ thanh vạn trạng, bất khả dĩ tẩm, chung bất yếm. Sổ tuế, mỗ thị tỷ cư tha châu, hậu nhân lai cư, thử vi thái như cố. Mỗ nhân viết: “Thị âm loại ác vật dă, đạo bộc vưu thậm. Thả hà dĩ chí thị hồ tai?” Giả ngũ lục miêu, hạp môn, triệt ngơa, quán huyệt, cấu đồng la bộ chi, sát thử như khâu, khí chi ẩn xứ, xú sổ nguyệt năi dĩ. Ô hô! Bỉ dĩ kỳ băo thực vô họa bi khả hằng dă tai!” (Ở Vĩnh Châu, có ông họ X… nọ, đối với chuyện ngày sanh tháng đẻ câu nệ, kiêng kỵ quá lố. Tự cho là ḿnh sanh nhằm năm Tư, mà chuột chính là thần vật tượng trưng cho thần bổn mạng của năm sanh. V́ yêu quư loài chuột, chẳng nuôi chó, mèo, chẳng cho đầy tớ bắt giết chuột. Kho lẫm, nhà bếp đều để mặc cho chuột hoành hành, chẳng hỏi tới. Do vậy, chuột bảo nhau đều đến nhà ông X… đă ăn no, c̣n chẳng mắc họa. Trong nhà ông X… chẳng có món đồ nào c̣n nguyên vẹn; trong tủ áo cũng chẳng có cái áo nào nguyên vẹn. Đồ ăn, thức uống phần lớn là những thứ c̣n sót lại của chuột. Ban ngày, chuột chạy từng đàn chen chân với người. Đêm th́ cắn gặm, đánh lộn chí chóe, phát ra muôn thứ âm thanh, [khiến cho người ta] chẳng thể ngủ được. Được mấy năm, ông X… dọn nhà sang xứ khác. Người khác dọn đến, chuột vẫn quấy phá như cũ. Người ấy nói: “V́ sao giống vật xấu ác sống trong chỗ tối tăm này trộm cướp, phá phách đến nỗi như thế?” Bèn nuôi năm sáu con mèo, giở ngói, đào hang, thuê người giăng lưới bắt, giết chuột. Chuột bị giết chết, xác chất cao như cái g̣, vứt vào chỗ kín đáo. Mùi thối cả mấy tháng mới hết. Ôi chao! Chúng nó cứ ngỡ ăn no, không có họa hại là chuyện vĩnh hằng ư?)

[19] Theo nghĩa đen, Quy () là cái thước để vẽ h́nh tṛn, Củ () là cái thước để vẽ h́nh vuông (tức là thước Équerre, hay gọi theo tiếng Anh là Try Square).

[20] Ở đây cụ Lư muốn nói tới câu tục ngữ “đừng thấy một cái vằn mà tưởng là cả con báo”.

[21] Sáu lễ (lục lễ, 六禮) của hôn nhân Trung Hoa theo cổ tục:

1) Nạp thái (納采): Sau khi môi giới đă được chấp thuận, nhà trai đem biếu nhà gái một cặp nhạn, để chính thức đánh tiếng tiến hành quá tŕnh cưới hỏi.

2) Vấn danh (問名): Hỏi xin tên tuổi và ngày sanh của cô gái để so tuổi hợp hay khắc kỵ giữa đôi bên.

3) Nạp cát (納吉): Báo cho nhà gái biết tuổi đôi bên có hợp nhau hay không, có thể tiếp tục tiến hành hôn lễ hay không.

4) Nạp trưng (納徵): Nạp đồ sính lễ cho nhà gái.

5) Thỉnh kỳ (請期): Bàn bạc ngày giờ rước dâu.

6) Thân nghênh (親迎): Rước dâu.

[22] Năm Nguyên Ḥa 14 (819) đời Đường Hiến Tông, Hàn Dũ do dâng biểu can vua đừng rước xương Phật ŕnh rang, suưt bị chém đầu. May nhờ Bùi Độ can gián, mới thoát chết, bị vua đày xuống Triều Châu làm Thứ Sử. Đến nơi, do có thời gian b́nh tâm suy nghĩ, từ vô thần, ông dần dần tin vào thần minh. Biết trong sông rạch vùng Triều Châu có nhiều cá sấu, gây hại cho dân chúng rất nhiều, ông đă viết bài Tế Ngạc Ngư Văn khuyên cá sấu hăy dời đi. Viết xong, ông đốt bài văn thả xuống sông. Sau đó, sông không c̣n cá sấu nữa. Bài văn này được chép trong bộ Hàn Xương Lê Tiên Sinh Tập.

[23] Khải Trập (啓蟄) c̣n gọi là Kinh Trập (驚蟄) là một trong hai mươi bốn tiết khí (節氣) theo Âm Lịch, nhằm lúc mặt trời chiếu đến kinh vĩ 345 độ trên đường Hoàng Đạo. Theo quy ước, tiết khí này bắt đầu khoảng ngày mồng Năm hay mồng Sáu tháng Ba và kết thúc vào ngày Hai Mươi hay Hai Mươi Mốt tháng Ba, trước tiết Xuân Phân. Sở dĩ có tên gọi này, v́ người Hoa vào thời cổ cho rằng: Trong tiết khí ấy, trời sẽ nổi sấm, kinh động những con sâu đang say ngủ trong mùa Đông. Thật ra, lúc ấy chính là lúc khí trời chuyển từ tiết Đông sang Xuân, khí trời ấm dần lên, các loài sâu bọ bắt đầu sinh sôi. Đầu đời Hán, thứ tự Tiết Khí là Lập Xuân, Kinh Trập, Vũ Thủy, Xuân Phân, Cốc Vũ, Thanh Minh v.v… Từ đời Đông Hán trở đi, đổi thứ tự thành Lập Xuân, Vũ Thủy, Kinh Trập, Xuân Phân, Thanh Minh, Cốc Vũ… Thoạt đầu, Kinh Trập được gọi là Khải Trập với ư nghĩa sâu bọ bắt đầu sanh sôi. Về sau, do kỵ húy Hán Cảnh Đế (Lưu Khải), nên đổi thành tiết Kinh Trập. Trong tiết khí này, hoa đào bắt đầu nở, do vậy, đôi khi tiết Kinh Trập được chia thành ba “hầu” (), tức ba giai đoạn, gồm “đào thỉ hoa” (桃始華, hoa đào vừa nở), “thương canh minh” (倉庚鳴, chim oanh (vàng anh) hót), và “ưng hóa vi cưu” (鷹化為鳩, chim ưng hóa thành bồ câu).

[24] Ông Ngô Minh An đă dẫn sai một chữ trong câu này, và chấm câu sai, cho nên ư nghĩa của toàn thể đoạn văn đă hoàn toàn bị biến đổi khác hẳn. Tra trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, câu này trong quyển mười ba của Đại Trí Độ Luận được ghi như sau: “Nhược nữ nhân vị phụ mẫu, huynh đệ, tỷ muội, phu chủ, nhi tử, thế gian pháp, vương pháp thủ hộ, nhược phạm giả, thị danh tà dâm” (若女人為父母、兄弟、姊妹、夫主、兒子、世間法、王法守護,若犯者, 是名邪婬). Ḥa Thượng Thiện Siêu dịch: “Nếu đối với con gái được cha mẹ, anh em, chị em, chồng, con cái, pháp luật thế gian, và phép vua thủ hộ, mà hoặc phạm đến, ấy gọi là tà dâm”.

[25] Chánh điển (正典): Những vị thần được triều đ́nh sắc phong, công nhận là chánh thần, được ghi trong sổ bộ của triều đ́nh, chẳng phải là những vị thần vặt vănh hoặc bịa đặt nhảm nhí theo tín ngưỡng dân gian.

[26] Tam Miêu (三苗), c̣n gọi là Hữu Miêu Thị, hoặc Miêu Dân, là một sắc dân ở Trung Nguyên vào thời cổ, chủ yếu sống vào vùng trung du Trường Giang, trong khoảng giữa hồ Động Đ́nh và Bà Dương. Họ đă gia nhập liên minh Cửu Lê chống lại cuộc xâm lăng chiếm đất của các bộ lạc người Hán do Hoàng Đế làm Cộng Chủ. Thời vua Nghiêu, do Tam Miêu làm loạn, vua Nghiêu phải chinh phạt, đày họ sang vùng núi Tam Nguy, đày thủ lănh Hoan Đâu của họ sang Sùng Sơn.

[27] Vua Kiệt tên thật là Hạ Lư Quư (夏履貴), là vị vua đời thứ mười bảy của nhà Hạ, con của Hạ Phát. Kiệt () chỉ là một danh xưng do cổ sử dùng để gọi với ư nghĩa miệt thị một người tàn ác. Nước Thương của Thành Thang là chư hầu nhà Hạ, đă khởi binh lật đổ Hạ Kiệt. Bị thua trận tại trận chiến Minh Điều, Thành Thang tha tội chết cho Kiệt, nhưng đày Kiệt sang Nam Sào (nay là thành phố Sào Hồ, tỉnh An Huy). Không lâu sau, Kiệt bị bệnh chết. Sử Kư Tư Mă Thiên chép con trai của Hạ Kiệt là Thuần Duy trốn ra lên phía Bắc, lập ra bộ tộc Hung Nô.

[28] Tục ngữ Trung Hoa có câu: “Qua điền bất nạp lư, lư hạ bất chánh quan” (Trong ruộng dưa, đừng cột lại dép. Dưới gốc mận, đừng sửa mũ cho ngay ngắn), ư nói tránh tỵ hiềm. V́ trong ruộng dưa, cúi xuống loay hoay buộc dép, người ta sẽ tưởng ḿnh hái trộm dưa. Dưới gốc mận, giơ tay sửa mũ đội đầu, người ta tưởng kẻ ấy giả vờ sửa mũ để bẻ trộm mận.

[29] Do v́ ư nghĩa biểu thị cung kính này, khi xá xuống phải khom lưng sao cho hai tay thấp hơn đầu gối, khi dâng vật ǵ th́ nâng lên ngang mày, nhằm tỏ ḷng biểu thị sự khiêm ty, cung kính.

[30] “Cử án tề mi” là điển tích tỏ rơ sự trân trọng, tương kính giữa vợ chồng với nhau. Đời Đông Hán, bà Mạnh Quang khi dọn cơm, đều nâng ngang mày cái bàn nhỏ (hoặc loại khay có chân, thường gọi là “án”) trên đó đă đặt cơm canh mời chồng ăn.

[31] Hiện thời, khi cắm ba nén nhang, trong Phật môn Trung Hoa thường dùng ư nghĩa biểu thị pháp của Ấn Độ: Cắm nén giữa vào chính giữa trước, cắm nén bên trái vào bên trái, rồi cắm nén cuối cùng vào bên phải. Khi dâng phiến hương (các mảnh trầm) cũng làm như thế. V́ theo truyền thống Ấn Độ, người ở bên trái của vị chủ tọa có vai tṛ quan trọng hơn.

[32] Tức là cách xưng hô trịnh trọng, không muốn gọi thẳng tên thầy, thường tách thành hai chữ để nói. Chẳng hạn, để tỏ ḷng tôn kính khi tác bạch, hoặc nhắc đến một vị tôn túc nào đó, thường nói như thế. Ví dụ, lăo pháp sư thượng Tịnh hạ Không, đại lăo ḥa thượng thượng Trí hạ Tịnh, ḥa thượng thượng Thiền hạ Tâm v.v…

[33] Quỷ Tử Mẫu (Hārītī), c̣n gọi là Ha Lợi Đế Mẫu, được coi là một vị thần chuyên bảo hộ trẻ con, giúp sản phụ sanh nở dễ dàng. Trong Mật Tông có một nghi thức tu tập riêng dành cho vị thần này gọi là Đại Dược Xoa Nữ Hoan Hỷ Mẫu Tinh Ái Tử Thành Tựu Pháp. Bà này vốn là một la-sát nữ, có đến năm trăm đứa con. Để nuôi con, bà thường bắt cóc trẻ con trong thành Vương Xá, giết lấy máu thịt cho con ḿnh ăn. V́ thế, đức Phật bắt đứa con bé nhất của bà ta bỏ trong bát đậy lại. Sau khi t́m kiếm vô vọng, Ha Lợi Đế đến chỗ Phật thưa hỏi, than thở. Đức Phật bảo: “Bà có năm trăm đứa con, chỉ tạm mất một đứa mà c̣n đau khổ dường ấy, huống hồ người khác chỉ có một hai đứa con mà bà nỡ ḷng giết hại!” Ha Lợi Đế sám hối, phát nguyện thôi ăn thịt trẻ con mà sẽ bảo vệ chúng cũng như chăm sóc các sản phụ.

[34] Đây là quy định trong cổ lễ, dựa trên quy định từ đời Châu về cách dùng xe. Theo thiên Xuân Quan trong Châu Lễ và thiên Khúc Lễ trong sách Lễ Kư, nam tử khi bước lên xe tứ mă th́ phải đứng, gọi là “lập thừa” (立乘, đứng cưỡi xe), chỉ khi nào đă bảy mươi tuổi mới được ngồi trên xe. Phụ nữ phải ngồi xuống sàn xe nếu không có ghế, không được phép đứng, nên gọi là “tọa thừa”. Khổng Dĩnh Đạt chú giải: “Thời cổ, cưỡi xe do bốn ngựa kéo, phải đứng trên xe. Quan viên đă già bèn dùng xe nhỏ do một ngựa kéo, được ngồi trên xe”.

[35] Hải long (海龍): Ở đây là danh từ chỉ chung các loài cá có thân h́nh rất dài thuộc họ cá Ch́a Vôi (Syngnathidae), có rất nhiều loại, nhưng trong Đông Y, hễ nói tới hải long thường là các loại như:

1) Hải long lá (diệp h́nh hải long, Phycodurus eques), có miệng dài, đầu giống như đầu ngựa, thân có nhiều vây giống như một nhánh rong dài có nhiều nhánh. Chúng thường sống tại vùng biển Nam và Tây nước Úc. Loại này đẹp nhất trong các loài hải long, thường bị săn bắt để làm thuốc nhiều nhất, gần như bị tuyệt chủng.

2) Tảo hải long (Phyllopteryx taeniolatus), cũng có những vây nhỏ dọc theo thân, nhưng không rườm rà như hải long lá. H́nh dáng của nó khá giống con rồng của Âu Châu, chỉ thiếu đôi cánh.

3) Xích châu hải long (Phyllopteryx dewysea), vây ngắn, có màu đỏ rực.

Hải Mă (海馬) chính là cá ngựa, cũng thuộc họ cá Ch́a Vôi. Điểm khác biệt là cá ngựa có đầu giống hệt đầu ngựa, bụng phệ, đuôi thường cuộn lại để bám vào rong rêu hay đá, và bơi thẳng đứng. Cá ngựa không có vảy, da cá phủ trên nhiều tấm xương cứng, nối liền nhau, tạo thành những khoanh ṿng rất đặc biệt trên thân cá. Một điểm đặc biệt khác nữa là cổ cá ngựa có thể xoay chuyển linh hoạt. Đông Y thường dùng nó để trị ho suyễn và chứng dương nuy. Người Hoa tin cá ngựa có tánh chất bổ thận tráng dương, tiêu thũng v.v… hoặc dùng làm thuốc bổ. Ngoài ra, người Việt c̣n gọi một loài giống như một con hải cẩu lớn, có râu và có ngà (tức con Morse) là Hải Mă, nhưng người Hoa gọi nó là Hải Tượng (voi biển).

[36] Luật Sớ Bộ là phần tập hợp những chú sớ về các bộ luật trong Đại Tạng Kinh.

[37] Kỳ-chi là gọi tắt của chữ Tăng Kỳ Chi (Saṁghāṭi), c̣n phiên âm là Tăng Kiệt Chi, Tăng Khước Kỳ, Tăng Cước Y Ca, dịch nghĩa là Phú Bác (áo phủ cánh tay). Đây là một tấm áo mặc lót dưới y ca-sa, dùng để thấm mồ hôi hoặc ngăn hờm (đất, cáu ghét) trên thân bám vào ca-sa. Khi không ra ngoài khất thực, hoặc không phải là những lúc tụng kinh, lễ bái, thính pháp, tăng sĩ có thể chỉ đắp Kỳ Chi và quấn xà-rông ở dưới là được. Đối với tăng chúng, kỳ-chi chỉ là một tấm y lót, khi đắp, sẽ giống như y ca-sa, tức là để hở vai phải. Sau này, có nơi chế thành dây buộc cho khỏi tuột, đôi khi c̣n chế thành khóa kéo. Kỳ-chi của ni th́ may thành áo ngắn để che kín người. Kỳ-chi theo truyền thống Tây Tạng được chế thành một loại áo chẽn gọi là Ngulen, cổ xéo, không tay. Khi mặc, xếp chéo hai vạt, nhét vào cạp xà rông, dùng đai buộc chặt. Đôi khi, Ngulen có may cổ như cổ áo sơ-mi có nút cài, hoặc may thành áo chui đầu.

[38] Ư nói: Xét đến những trường hợp phạm giới th́ cố ư vi phạm mới gọi là phạm giới.

[39] Thập Nhị Chỉ Tràng (Duodenum), c̣n gọi là Tá Tràng, là phần đầu của ruột non từ bao tử cho đến Không Tràng (Jejunum). Tá Tràng dài 25-38cm, có h́nh chữ C. Thập Nhị Chỉ Tràng đóng vai tṛ chia nhỏ các dưỡng chất trong thức ăn thành những phần nhỏ hơn để cơ thể có thể hấp thụ nhờ các diếu tố (enzymes) tiết ra từ mật, gan, và tụy (lá lách), cũng như từ lớp vách lót của chính Tá Tràng. Lớp vách lót của đoạn cuối Tá Tràng có thể hấp thụ chất sắt và calcium từ chất lỏng tạo thành từ thức ăn (thường gọi là “dưỡng trấp”) sau khi đă phân tích các chất trong thức ăn thành các cấu trúc nhỏ hơn như lipid, protein v.v… . Tên gọi Thập Nhị Chỉ Tràng do diễn dịch từ ngữ Intestīnum Duodēnum Digitōrum, có thể hiểu đại lược: Đoạn ruột non có chiều dài bằng bề rộng của mười hai ngón tay.

[40] Ư nói: Những giới điều trong Bồ Tát Giới chú trọng giữ cho hành nhân thân khẩu thanh tịnh, giữ được chánh mạng và chánh nghiệp.

[41] Nguyên văn “hương nguyện” (鄉愿). Đây là một từ ngữ chỉ kẻ giả vờ làm ra vẻ hiền hậu, thật thà, cốt sao để được mọi người điều thích, chuyện ǵ cũng tán đồng, chẳng có lập trường, ba phải, gió chiều nào che chiều ấy.

[42] “Cụ” () ở đây chính là tấm ni sư đàn, c̣n gọi là tọa cụ (坐具). Đây là một tấm vải gần như vuông vức được may từ y cũ, với mục đích trải ra, lót dưới bồ đoàn khi tĩnh tọa, để ngăn ngừa trùng kiến quấy nhiễu trong khi ngồi Thiền, hoặc trải lót dưới đất khi lễ bái để khỏi bẩn y ca-sa. Tọa cụ được quy định rộng bốn thước tám tấc, có viền cạp, phải nhuộm cùng màu với y đang mặc. Tuy thế, hiện thời, nhằm biểu thị ư tọa cụ may từ vải vụn nhặt nhạnh, y rách cũ, tọa cụ thường may ghép từ hai ba miếng vải có màu khác nhau. Ngoại trừ lúc truyền giới, dường như chỉ có các vị tăng làm chủ pháp trong các trai đàn như Thủy Lục, Diệm Khẩu, Trai Đàn Chẩn Tế, khi lễ Phật trước khi lên đàn, theo nghi thức có triển cụ (展具), tức là giở tọa cụ trải lên bái điếm (拜墊, cái bục, cái đệm để quỳ lạy) trước khi lạy xuống, rồi xếp lại khi đứng lên. Những nghi thức ấy nhằm tỏ vẻ kính trọng Tam Bảo tột bậc, chứ tọa cụ đă mất hẳn vai tṛ trong cuộc sống hiện thời. Có lẽ chỉ có trong một số tông phái của nhà Thiền như Tào Động hoặc Lâm Tế Nhật Bản là vẫn giữ quy củ triển cụ khi lễ bái trong khóa tụng hằng ngày, nhưng cũng chỉ là các vị chấp sự mới triển cụ.