Phật Học Vấn
Đáp Loại Biên
Quyển Trung
佛學問答類編
Phần 7
Lăo
cư sĩ Lư Bỉnh Nam giải đáp
Chuyển
ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
(theo bản
in của Lư Bỉnh Nam Lăo Cư Sĩ Toàn Tập Biên Tập
Ủy Viên Hội,
Đài
Loan, 2007)
Giảo
chánh: Đức Phong và Huệ Trang
VI. Danh Tướng
* Hỏi: “Nam-mô A Di Đà Phật” có
nghĩa là ǵ? (Một học
tṛ hỏi)
Đáp: Câu hỏi
này giải thích theo ư nghĩa văn tự hoặc giải
thích theo nghĩa lư sẽ có sai khác. Nói theo ư nghĩa văn tự,
A Di Đà dịch sang tiếng Hán là Vô Lượng, hàm
nghĩa: Quang minh, trí huệ, từ bi, thần thông, và thọ
mạng đều là vô lượng. Chữ “Phật” dịch sang tiếng
Hán là Giác, có nghĩa là “hết
thảy đều giác ngộ đến rốt ráo”. Nói
theo nghĩa lư, phải dùng toàn bộ kinh điển Tam Tạng
mênh mông để diễn tả th́ mới trọn hết
ư nghĩa này. Nếu chọn một phương diện
để giải thích, đây chính là danh hiệu của một
vị Phật. Do ḷng người vọng niệm dâng trào,
hiện thời đang tạo nhiều ác nghiệp, trong tương
lai, sẽ luân chuyển trong tam đồ, nếu có thể
chí tâm niệm Phật hiệu này, tâm sẽ ngay lập tức
tịnh, chẳng tạo ác nghiệp, chẳng hứng chịu
ác quả. Trong tương lai, có thể nương vào
đó để thành Phật, làm Tổ. Tạm thời, nói
đến đây bèn ngưng. Nếu nói nhiều hơn, sợ
kẻ sơ cơ chẳng thể tiếp nhận; giống
như đối với người mới học các phép
Toán, chẳng thể vội vàng nói ngay phép toán Tích Phân trong
Đại Số được!
* Hỏi: Kính xin hăy giải thích
tường tận về câu “Phật
pháp vô biên”. (Trang Khánh Hiền
hỏi)
Đáp: Hư không, thế giới,
và chúng sanh đều là vô lượng, vô biên, Phật trí đều
có thể biết trọn hết. Nghiệp lực, phiền
năo, thấy, nghe, hay, biết trong chín pháp giới đều
chẳng có cùng tận, đức Phật đều có thể
nói trọn hết và chuyển biến chúng. Phật pháp há
chẳng phải là vô biên ư?
* Hỏi: Nói “phước huệ song tu”
nghĩa là ǵ? (Đường Quế
Lan hỏi)
Đáp: Thân kiêng
giết, trộm, dâm. Tiến thêm một bước nữa
là chẳng tiếc sức nhọc nhằn, vất vả
làm hết thảy những chuyện có lợi cho chúng sanh
(chẳng cần phải tốn tài lực, bỏ ra thân lực
th́ cũng giống như vậy), đó là “thân thiện” (điều thiện nơi thân) vậy.
Miệng kiêng nói dối, nói đôi chiều, nói thêu dệt,
ác khẩu. Tiến hơn bước nữa là chuyên nói những
lời lẽ có lợi cho chúng sanh. Đó là “khẩu thiện”. Ư kiêng tham, sân, si. Tiến thêm
bước bữa là luôn giữ ư niệm lợi lạc
chúng sanh. Đó là “ư thiện”.
Có thiện nhân, chắc chắn sẽ có thiện quả. Thiện
quả chính là phước báo. Có thể hành những cái nhân
lành ấy, chính là “tu phước”.
Tâm tánh mê nơi ngũ dục, lục trần, tức là
đắm nhiễm tối tăm, mê muội. Do vậy mà luân
hồi trong lục đạo, chịu khổ dài lâu, nên gọi
là “ngu si”. Nếu có thể giác
ngộ, giữ giới để ĺa dục trần, quy y
Phật pháp, siêng năng cầu đạo tham Thiền hoặc
niệm Phật. Đấy chính là cái nhân nơi đường
đạo, có thể hành [cái nhân ấy], trong tương
lai, sẽ đạt được cái quả bất sanh bất
diệt, đó gọi là “trí huệ”.
Điều này gọi là “tu huệ”.
Có phước mà chẳng có huệ, sẽ chẳng thể
giải thoát sanh tử. Có huệ mà chẳng có phước,
sẽ chẳng đạt được vạn tướng
trang nghiêm. V́ thế, khuyên lơn “phước
huệ song tu”.
* Hỏi: Xin hỏi
“Tứ Đại giai không” hăy
nên giải thích như thế nào? (Liêu tiên sinh hỏi)
Đáp: “Tứ Đại” cũng thuộc
loại từ ngữ tỷ dụ. Phàm tánh chất cứng
chắc th́ gọi là Địa, tánh lỏng được
ví như Thủy, tánh nóng được ví như Hỏa,
tánh chuyển động th́ do gió là nhanh lẹ nhất, cho nên
dùng Phong để tỷ dụ. Hết thảy các vật
tướng (物相, h́nh tướng của
muôn vật) đều do bốn thứ này ḥa hợp mà thành.
Tứ Đại chính là Địa, Thủy, Hỏa, Phong.
Tướng của các vật hoàn toàn chẳng có thật thể,
tức là bốn thứ ấy cũng chẳng có tự
tánh, cho nên nói “giai Không” (皆空, đều là Không).
* Hỏi: Người
xuất gia tự xưng là Sa-môn (沙門) có ư nghĩa ǵ? (Một
độc giả ở Hoa Liên hỏi)
Đáp: Sa-môn (Śramaṇa) là tiếng Ấn, dịch thành Cần Tức (勤息), nghĩa là siêng tu đạo,
và dứt diệt phiền năo.
* Hỏi: Ḥa Thượng
và pháp sư có ǵ phân biệt? (Một
độc giả ở Hoa Liên hỏi)
Đáp: Ḥa
Thượng (和尚, Upādhyāya) có nghĩa là “thầy của
tôi”. Âm đọc đúng ở Tây Thổ (Ấn Độ)
là Ô Xă hoặc Ḥa Xă, truyền tới Trung Hoa bị sai lệch
thành Ḥa Thượng. Pháp sư là người thông thạo
Phật pháp, có năm loại[1] hay mười loại
khác biệt. Đă gọi là Ḥa Thượng,
đương nhiên là thông hiểu Phật pháp. Nếu nói
đến pháp sư, bất tất chỉ là nói đến
Ḥa Thượng.
* Hỏi: Tỳ-kheo-ni
(Bhikṣuṇī) có phải là pháp sư
hay không? (Một độc giả
ở Hoa Liên hỏi)
Đáp: Hàng tỳ-kheo-ni
ứng hợp một trong năm loại hoặc mười
loại pháp sư đă nói trên đây, cho nên tự nhiên là
pháp sư.
* Hỏi: Thất
chúng đệ tử là ǵ? (Sử
Phan Tân Hà hỏi)
Đáp: Hàng xuất
gia có ngũ chúng, tức là Tỳ Kheo (Bhikṣu), Tỳ Kheo Ni (Bhikṣuni), Thức Xoa Ma Na (Śikṣamāṇā), Sa Di (Śrāmaṇera), và Sa Di Ni (Śrāmaṇerī). Hàng tại gia có hai chúng là Ưu-bà-tắc (Upāsaka)
và Ưu-bà-di (Upāsikā), gọi gộp chung là bảy chúng. Trong đó, tỳ-kheo,
sa-di, và ưu-bà-tắc là nam đệ tử, những chúng
kia là nữ đệ tử.
* Hỏi: Tỳ-kheo,
sa-di, tăng, ḥa thượng, đạo sĩ, tăng-già,
đầu-đà, tôn giả, hành giả có ǵ phân biệt? (Lưu Định Sí hỏi)
Đáp: Người
xuất gia thọ hai trăm năm mươi đại
giới, được gọi là tỳ-kheo. Người
thọ mười giới gọi là sa-di. Chữ “Tăng” (僧) chỉ nhiều người xuất gia.
Ḥa Thượng là tiếng Ấn Độ, dùng với ư
nghĩa để gọi vị thầy của chính ḿnh. Âm
gốc là Ô Xă, về sau bị đọc sai thành Ḥa Xă, dần
dần chuyển biến đến nay bèn thành âm đọc
là Ḥa Thượng. “Đạo sĩ” (道士) là người có đạo. Tăng-già (Saṅgha) chính là Tăng, vốn [đọc đủ âm]
là Tăng-già-da (Saṅghaya), nước ta chuộng
đơn giản, chỉ dùng một chữ Tăng. Đầu-đà
(Dhūta) là người xuất
gia khổ hạnh. “Tôn giả”
(尊者) [hàm nghĩa] là bậc
đáng tôn trọng nhất. “Hành
giả” (行者) là người tu hành.
* Hỏi: Tinh
thần căn bản của Bồ Tát là ǵ? (Trương Thanh Cẩm hỏi)
Đáp: Trên là lúc
cầu Phật đạo bèn tinh tấn, dưới bèn
độ chúng sanh chẳng nghỉ ngơi. Đấy chính
là tinh thần căn bản của hàng Bồ Tát.
* Hỏi: Ma Ha
Tát (Mahasattva) có ư nghĩa như thế nào? (Hà Vĩnh Đinh hỏi)
Đáp: Nghĩa
là đại sĩ.
* Hỏi: Danh
xưng Bồ Đề Thụ có nguồn gốc như thế
nào? (Lưu Định Sí hỏi)
Đáp: Bồ
Đề Thụ (cây Bồ Đề) chính là cây Tất Bát
La (Pippala), là một loại cây thân mộc[2], lá xanh suốt
năm. Thuở trước, đức Thế Tôn đă ngồi
dưới cội cây này thành đạo. Sau đấy, [mọi
người] đổi tên cây này thành cây Bồ Đề.
* Hỏi: “Giác chiếu” nghĩa là ǵ? (Lỗ Khai Trí hỏi)
Đáp: Bọn
phàm phu chúng ta đối với hết thảy sự, hết
thảy lư, kiến giải lẫn tư tưởng đều
chẳng đạt được chân tướng, nên bảo
là “mê”. Mê th́ hôn ám. “Giác” là phá mê, “chiếu” là ánh sáng phá trừ
tối tăm.
* Hỏi: Giải
nghĩa Tam Độc như thế nào? (Phan Diệu Huyền hỏi)
Đáp: Trong ư dấy
lên Hoặc. [Trong các loại Hoặc], có ba loại nghiệp
lớn nhất, gọi là tham, sân, si. Đó là Tam Độc.
* Hỏi: Phải
giải thích A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề
như thế nào? (Liêu Thúy Ngọc
hỏi)
Đáp: Đây
cũng là tiếng Phạn. A trong tiếng Hán là Vô, Nậu
Đa La dịch thành Thượng, Tam dịch thành Chánh, Miệu
dịch thành B́nh Đẳng, Bồ Đề dịch thành
Giác. Nói gộp lại, sẽ là sự giác ngộ viên măn tối
cao vô thượng ta và người thật sự b́nh đẳng.
Cảnh giới ấy chỉ dùng để nói về một
ḿnh đức Phật là tương xứng mà thôi!
* Hỏi: Ngă Chấp
và Pháp Chấp có ư nghĩa như thế nào? (Châu Ấu hỏi)
Đáp: Chấp
(執) là nắm giữ chẳng bỏ. Tứ
Đại và Ngũ Uẩn giả hợp thành thân tâm, vốn
chẳng có Ngă làm chủ thể, nhưng tưởng lầm
là thật sự có. [Chấp trước] kiên cố, chẳng
thể phá th́ là Ngă Chấp, nhưng Tứ Đại và
Ngũ Uẩn cũng là do các duyên sanh ra, đều chẳng
có thật thể. Nếu phá Ngă Chấp, lại tưởng
Đại và Uẩn là thật sự có; đấy là Pháp
Chấp. Đó chính là chẳng hiểu rơ diệu lư Tam Đế;
v́ thế, mắc khuyết điểm chấp trước!
* Hỏi: Trong
kinh có nói đến Nhẫn trong Vô Sanh Nhẫn, chẳng biết
giải thích như thế nào? (Ngô
Luân Bỉnh hỏi)
Đáp: Chữ
Nhẫn (忍) ở đây nên hiểu
là “an trụ”, mang ư nghĩa:
Đối với một sự nào đó, nhận biết
rơ ràng, chẳng ngờ vực, khiến cho cái tâm quyết
định.
* Hỏi: Vô
Sanh Pháp Nhẫn nghĩa là ǵ? (Trần
Lâm Châu hỏi)
Đáp: Vô Sanh
Pháp chính là lư Niết Bàn bất sanh, bất diệt. Nhẫn
có ư nghĩa là “cái tâm an trụ trong lư ấy, chẳng lay
động”.
* Hỏi: Phân
biệt thân mạng và huệ mạng như thế nào? (Vương A Trản hỏi)
Đáp: “Thân mạng” là nói đến
nhục thể, “huệ mạng”
là nói đến tâm tánh!
* Hỏi: Vô Lậu
có ư nghĩa như thế nào? (Trần
Thiện Chí hỏi)
Đáp: Muốn
hiểu rơ Vô Lậu, trước hết, cần hiểu rơ
Lậu. Lậu (漏) chính là từ ngữ tỷ dụ. Như
b́nh có lỗ hổng, ắt nước rỉ ra ngoài. Một
là sáu căn phan duyên sáu trần, khiến cho phiền năo ṛ rỉ
ra ngoài! Hai là phiền năo ví như b́nh có chỗ nứt, tâm
ví như đổ nước vào, chỉ có phiền năo, tức
là tâm hữu lậu. Ba là v́ dấy phiền năo, ṛ rỉ mất
chánh đạo. Bốn là v́ có phiền năo, ṛ rỉ sanh tử.
Vô Lậu là đoạn trừ phiền năo, chứng lấy
đạo Niết Bàn.
* Hỏi: Hai chữ
Tam-muội (Samādhi) đến tột cùng có
ư nghĩa như thế nào? (Thiệu
Thanh hỏi)
Đáp: Chữ
này là tiếng Phạn, dịch sang nghĩa tiếng Hán là Chánh
Định.
* Hỏi: Thánh Ngôn
Lượng (聖言量) là như thế nào? Xin
hăy khai thị sơ lược! (Trần
Nhuệ hỏi)
Đáp: Thưng,
đấu gọi là “lượng
khí” (量器, dụng cụ để
đo lường). Dùng [những thứ ấy] có thể
biết số lượng của lương thực, gạo
thóc. Đối với hết thảy các pháp, đủ mọi
cách nói lăng xăng, chẳng biết theo lẽ nào! Hăy nên
tuân theo lời dạy của Phật, Bồ Tát, sẽ là
chuẩn xác. Dùng lời dạy của Phật, Bồ Tát giống
như [sử dụng] thưng đấu để biết
số lượng của lương thực, gạo thóc
vậy!
* Hỏi: Ngũ
Ấm là ǵ? Tam giới ngục là ǵ? (Trịnh Đôn hỏi)
Đáp: Sắc
(là vật thuộc về thân thể hữu h́nh), Thọ,
Tưởng, Hành, Thức (cảm giác, phân biệt, suy
nghĩ thuộc về tâm lư); năm thứ ấy tụ tập
thành cái thân hư giả, gọi là “thân Ngũ Ấm”. Bầu trời ở trên đỉnh
đầu của bọn chúng ta có tất cả hai
mươi tám tầng, chia làm ba giới hạn: Sáu tầng
dưới cùng, có ăn, uống, dục vọng nam nữ,
gọi là Dục Giới. Mười tám tầng ở giữa,
không có dục, chỉ có các thứ h́nh tướng trang
nghiêm, gọi là Sắc Giới. Bốn tầng trên đó,
chỉ có thần thức, gọi là Vô Sắc Giới. Trong
mỗi nơi, đều có sanh tử luân hồi và các nỗi
khổ khác biệt, chẳng được tự tại.
V́ thế, đều sánh ví như ngục tù!
* Hỏi: A Bệ
Bạt Trí và A Nậu Đa La Tam Miệu Bồ Đề
nên nói như thế nào? (Hoàng
Quư Muội hỏi)
Đáp: Từ
ngữ trước có nghĩa là Bất Thoái, từ ngữ
sau có nghĩa là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Cả
hai đều là tiếng Phạn.
* Hỏi: Trước
ngực A Di Đà Phật và Thích Ca Phật đều có một
chữ 卍, chẳng biết v́ lẽ
nào? (Lâm Thành hỏi)
Đáp: Thân Phật
sanh ra có ba mươi hai thứ thụy tướng (瑞相, tướng tốt lành).
Chữ 卍 chính là một trong ba hai tướng.
* Hỏi: Giải
thích “Khổ, Không, Vô Thường,
Bất Tịnh Quán” như thế nào? (Đường Quế Lan hỏi)
Đáp: Sanh, lăo,
bệnh, tử, biệt ly, oán ghét mà cứ phải gặp
gỡ, mong cầu chẳng đạt được, thân
tâm tự quấy động chẳng an tĩnh v.v… gọi
là Khổ. Tứ Đại giả hợp, muôn duyên huyễn
diệt, chẳng t́m thấy tự thể, gọi là Không. Núi,
sông, đại địa “thành, trụ, hoại, không”,
chúng sanh “sanh, trụ, dị, diệt”, như sương,
như tia chớp, gọi là Vô Thường. Thân h́nh chính là
cái túi đựng máu, mủ, nước tiểu, phân, tâm thức
là nơi chứa đựng tham, sân, si, mạn, [do vậy]
gọi là Bất Tịnh.
* Hỏi: “Phước bất đường
quyên” có nghĩa là ǵ? (Lỗ
Khai Trí hỏi)
Đáp: “Đường” (唐) nên hiểu là hư giả, “quyên” (捐) hiểu là vứt bỏ. Nói gộp lại,
có nghĩa là đạt được phước, chẳng
rỗng tuếch, chẳng hư giả, chẳng vứt bỏ!
* Hỏi: Sắc
tướng “duyên sanh tánh Không”
phân biệt như thế nào? (Hoàng
Bá Kính hỏi)
Đáp: Phàm là hết
thảy hiện tướng (現相, các tướng đă biến hiện) đều
do nhiều thứ nhân duyên tụ hợp mà giả có. Tướng
được hiện ấy thật sự chẳng có
tánh thể của chính ḿnh, giống như cầu vồng
sau cơn mưa, bảy màu rực rỡ, bất quá là do
hơi nước phản chiếu ánh sáng mặt trời
hiện ra. Cầu vồng thật sự chẳng có tự
thể.
* Hỏi: “Thập ác bát tà” có ư nghĩa
như thế nào? (Tiêu Thiệu
Thanh hỏi)
Đáp: Chẳng
giết, chẳng trộm, chẳng dâm, chẳng nói dối,
chẳng nói đôi chiều, chẳng ác khẩu, chẳng nói
thêu dệt, chẳng tham, chẳng sân, chẳng si gọi là
Thập Thiện. Đối lập với chúng là Thập
Ác, có thể tham khảo Thập Thiện Nghiệp Đạo
Kinh [để hiểu rơ hơn]. Chánh kiến, chánh tư
duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn,
chánh niệm, chánh định gọi là Bát Chánh Đạo.
Trái nghịch những thứ ấy th́ là Bát Tà, có thể
tham khảo ba mươi bảy đạo phẩm. Ở
đây, bất quá chỉ nêu danh xưng của chúng. Nếu
giải thích, sẽ dài ḍng, rườm rà. Cột báo này hữu
hạn, chẳng thể giải thích cặn kẽ từng
điều một được!
* Hỏi: Kiến
Tư Hoặc, Trần Sa Hoặc, Vô Minh Hoặc, ba thứ ấy
có ǵ phân biệt? Xin giải thích từng điều một!
(Ngu cư sĩ hỏi)
Đáp: Do mê
t́nh dấy lên chấp trước, như Thân Kiến, Biên
Kiến v.v…, [những chấp trước ấy] được
gọi là Kiến Hoặc. Do ư niệm hôn ám (tối tăm,
mê muội) biểu lộ thành t́nh cảm như tham, sân v.v…
th́ gọi là Tư Hoặc. Trần Sa là sánh ví pháp môn rất
nhiều; nếu trí huệ chẳng viên măn, sẽ chẳng
thể thông đạt, gọi là Trần Sa Hoặc. Vô Minh ở
đây là nói đến căn bản Vô Minh, tức là một
niệm bất giác từ vô thỉ.
* Hỏi: “Hoa Tạng hải chúng” là ǵ ?
(Trần Lâm Huân hỏi)
Đáp: Hoa Tạng
chính là cách nói tắt của thế giới Liên Hoa Tạng
(Kusuma-tala-garbha-vyuhalamkara-loka-dhatu). Nó chính là cơi Tịnh Độ
của chân thân Thích Ca Như Lai, tức Tỳ Lô Giá Na Phật.
Do trong hoa sen chứa đựng vi trần số thế giới,
nên gọi là Hoa Tạng. Trong vi trần số thế giới
ấy, cũng có bất khả thuyết vi trần số đại
chúng tu tập, chỉ có thể dùng chữ Hải (海) để biểu thị
sự đông đảo ấy.
* Hỏi: Giải
thích “hợp nội ngoại”
như thế nào? “Vật đồng
ngă” là ư nghĩa ǵ? (Hoàng Triều
Hoa hỏi)
Đáp: Hai từ
ngữ này hoàn toàn chẳng phải là từ ngữ chuyên môn
trong Phật học. Do chẳng thấy những câu văn
trước và sau [những từ ngữ đó], sợ rằng
chẳng liên quan. Nay tôi chỉ dựa theo những câu ấy,
xét sát sao theo khí phận của Phật học để thử
giải thích như sau: “Hợp
nội ngoại” th́ “nội”
chỉ tâm tánh, “ngoại” chỉ
cảnh giới. Phật học chủ trương “cảnh do tâm tạo”, cho nên
nói là “hợp”. “Vật đồng ngă”: Ngă chẳng
có thật thể, chính là tướng Tứ Đại giả
hợp. Vạn vật cũng chẳng có thực thể, chính
là tướng Tứ Đại giả hợp; v́ thế,
nói là “đồng”. Ở
đây, tôi chỉ phân tích theo câu văn. Nếu nhận thấy
văn và nghĩa chẳng phù hợp, phải xét theo ngữ
cảnh của bài văn để hiểu nghĩa!
* Hỏi: “Hải Ấn tam-muội, ngũ
pháp, tam tự tánh” là ǵ? (Hoàng
Ḥe Đ́nh hỏi)
Đáp: Các thứ
h́nh tượng trong một đại châu đều có thể
in bóng trong biển, cho nên gọi là Hải Ấn. Tam-muội
(Samādhi) dịch sang tiếng Hán
là Chánh Định. Nói gộp lại, [Hải Ấn tam-muội]
là một loại Định, giống như biển cả
in bóng các h́nh tượng. Định ấy chính là Chánh
Định của Như Lai. Do sánh ví trí của Như Lai
như biển, hết thảy các sự vật đều
soi rơ trong ấy; v́ thế, gọi là Hải Ấn tam-muội.
Các pháp thế gian và xuất thế gian phức tạp khó
thể nói trọn, quy nạp thành một trăm pháp. Lại
quy nạp thành năm pháp, gọi là Tướng, Danh, Phân Biệt,
Chánh Trí, và Chân Như, năm thứ. Năm thứ ấy
bao gồm trọn các pháp, nhưng các pháp lại chỉ có
Tánh. Nói tách bạch ra, sẽ là:
1) Biến Kế
Sở Chấp Tánh bao gồm ba pháp Tướng, Danh, Phân Biệt.
2) Y Tha Khởi
Tánh bao gồm bốn pháp là Tướng, Danh, Phân Biệt, Chánh
Trí.
3) Viên Thành Thật
Tánh bao gồm hai pháp là Chánh Trí và Chân Như.
Muốn biết
tường tận những điều này, cần phải
học kinh Lăng Già.
* Hỏi: Trong kinh
luận có những câu chữ như “Bồ Tát từ Sơ Trụ trở lên”, “Bồ Tát từ Sơ Địa
trở lên”, và “quả vị”
rốt cuộc chia thành mấy loại? Lại c̣n những
câu như “Anh Lạc, Xá Lợi
Phất, tự tánh, nghiệp lực, tánh khởi, Lại
Da, Pháp Tướng Duy Thức, Thượng Sanh Thượng
Phẩm” v.v… giải thích như thế nào? (Lê Cẩm Huy, Lư Hán Ba, và Thiệu
Ích Thanh hỏi).
Đáp: Bồ
Tát tu hành từ nhân tới quả, có bốn mươi mốt
loại tầng cấp (các kinh phân loại bất đồng,
cũng có kinh chủ trương năm mươi hai
[địa vị]. Trong ấy có sự tách ra hay gộp vào
khác biệt, thật ra là một Lư) tức là Thập Trụ,
Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa,
Đẳng Giác. “Sơ Trụ,
Sơ Địa” là nói đến Trụ thứ nhất
trong Thập Trụ và Địa thứ nhất trong Thập
Địa. “Quả vị” nghĩa
là địa vị đạt được do chứng
quả. Anh Lạc (瓔珞) là vật kết bằng
các thứ báu, như các món trang sức để đeo hay
buộc nơi cổ. Xá Lợi Phất là tên người,
chính là người có trí huệ bậc nhất trong các vị
đệ tử của đức Phật. “Tự tánh” là bản tánh mà chính
ḿnh vốn có. “Nghiệp lực”
là sức mạnh phát sanh bởi những sự nghiệp
thiện ác đă tạo. Tánh Khởi là các sự được
khởi động từ Tánh Phần. Lại Da (A Lại
Da Thức) là căn bản của cái tâm, thường gọi
thông tục là “tâm điền”.
Pháp Tướng Duy Thức là một loại giáo điển
trong Phật giáo. Thượng Phẩm Thượng Sanh là
tu Tịnh Độ Tông, văng sanh Cực Lạc hóa sanh trong
hoa sen, chia tổng quát thành chín đẳng cấp, ba bậc
thượng, ba bậc trung, ba bậc hạ. Thượng
Phẩm Thượng Sanh tức là phẩm thứ nhất.
* Hỏi: Trong
bài kệ Tán Quán Âm có hai câu: “Tam
thập nhị ứng biến trần sát, bách thiên vạn
kiếp hóa Diêm Phù”. Ư nghĩa này khó hiểu, xin hăy khai thị!
(Trương Đ́nh Thụy hỏi)
Đáp: Câu
đầu tiên trích từ phẩm Phổ Môn kinh Pháp Hoa. Bồ
Tát độ các loại chúng sanh, v́ là đồng loại
th́ dễ thân thiết, cho nên bèn hóa hiện thân đồng
loại với chúng sanh để thuyết pháp cho họ,
như gặp nam tử bèn hóa thân nam, như gặp nữ
nhân bèn hóa thân nữ, Ngài từng hóa ra ba mươi hai loại
[thân tướng]. “Sát” (剎) là xứ sở, tức thế giới, quốc
độ v.v… “Trần” là [nói
về] số lượng. Trần (塵, bụi bặm) nhiều
chẳng thể đếm được. “Trần sát” (塵剎) là xứ sở [nhiều
đến nỗi] khó thể đếm được!
Câu thứ hai là Kiếp, [ư nói] năm tháng rất nhiều. Diêm
Phù (閻浮, Jambudvīpa)
là tên của một châu ở
phía Nam trong Tứ Đại Châu, tức là địa cầu
nơi chúng ta đang sống.
* Hỏi: “Nguyện tiêu tam chướng chư phiền năo” (Nguyện tiêu các phiền năo thuộc ba
chướng), “tam chướng”
là như thế nào? (Trương
Đ́nh Thụy hỏi)
Đáp: “Chướng” (障) là trở ngại, khiến cho con người
không được tự tại và giải thoát. Một là
tâm có vô minh, dấy lên mê hoặc. Hai, do mê hoặc mà tạo
các thứ ác nghiệp. Ba là do tạo nghiệp, ắt sẽ
hứng chịu các thứ khổ báo. Ba thứ ấy có mối
quan hệ liên đới. Muốn chẳng chịu khổ,
cần phải đừng tạo nghiệp. Muốn chẳng
tạo nghiệp, cần phải đừng khởi Hoặc.
Để trừ Hoặc, ắt cần phải cầu
đạo, nghe pháp.
* Hỏi: Nhất
Thiết Trí, Tự Nhiên Trí, Đạo Chủng Trí, Nhất
Thiết Chủng Trí, Vô Sư Trí, Vô Ngại Trí có ǵ phân biệt?
(Cố Phượng Anh hỏi)
Đáp: Nhất
Thiết Trí và Nhất Thiết Chủng Trí, đại khái
giống nhau. Phân chia tỉ mỉ, Nhất Thiết Trí là
trí b́nh đẳng tánh Không, Nhất Thiết Chủng Trí là
trí [nhận biết] sự tướng sai biệt. Tự
Nhiên Trí và Vô Sư Trí cũng đại lược giống
nhau. Tùy theo cú pháp văn tự của đoạn nào trong
kinh mà có sự phân biệt những trí ấy. Tự Nhiên
Trí là nói đến bản thể của trí ấy. Vô
Sư Trí là nói bao gồm những trí khác, chẳng học mà
đạt được. Đạo Chủng Trí là cái trí
có thể học các pháp đạo, tế độ chúng
sanh. Vô Ngại Trí là nói trí khởi tác dụng, chỗ nào
cũng đều thông đạt, chẳng trở ngại.
Lại xét theo danh số trong Phật học, Tự Nhiên Trí,
Vô Sư Trí và Vô Ngại Trí được gọi là Tam
Đại Trí, đều là Phật trí. Nhất Thiết Trí,
Đạo Chủng Trí, Nhất Thiết Chủng Trí gọi
là Tam Thánh Trí. Biết tướng của hết thảy
các pháp là Chân Không th́ gọi là Nhất Thiết Trí, đó là
trí của Thanh Văn và Duyên Giác. Biết các thứ đạo
sai biệt, giả hữu th́ gọi là Đạo Chủng
Trí, chính là trí của hàng Bồ Tát. Chiếu Không, Giả, Trung,
đều thấy Thật Tướng, gọi là Nhất
Thiết Chủng Trí, chính là Phật trí.
* Hỏi: “Như thiểu thủy ngư,
như cứu đầu nhiên” (Như cá thiếu nước,
như cứu đầu cháy) có nghĩa là ǵ? (Tín Huệ hỏi)
Đáp: Cá cậy
vào nước để sống, giống như con người
sống nhờ không khí. Nước dần dần giảm
ít, mạng cá làm sao có thể lâu dài cho được?
Điều này ví như mạng người vô thường.
“Nhiên” (然) là đốt. Lửa đốt thân
người, đă là chẳng thể chịu đựng nỗi
đau khổ ấy, cần phải gấp cứu giúp. Nếu
đốt đầu mặt, không chỉ là đau khổ
gấp đôi, lại c̣n có nỗi nguy hiểm sẽ bị
bất tỉnh nhanh chóng, sự cứu giúp càng phải nên gấp
rút. [Những câu kệ] này nhằm răn nhắc hăy nên gấp
rút tinh tấn tu tŕ!
* Hỏi: Trong kinh
Địa Tạng có mấy câu như thế này: “Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh
Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng
Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư”
có nghĩa là ǵ? (Trần Thánh Âm
hỏi)
Đáp: Đây
chính là mười thứ xưng hiệu (danh hiệu) của
Phật. Trước kia, [trong cột báo này] đă từng
có vấn đáp về chuyện này. Nhưng mỗi danh hiệu
đều có ư nghĩa riêng, giải thích tường tận
sẽ rất dài ḍng, nên chỉ có thể nêu những điểm
chánh yếu ḥng giới thiệu để biết đại
khái. Mười hiệu ấy trong các kinh đa số
đều có, không chỉ chuyên ghi chép trong kinh ấy (kinh
Địa Tạng). Nếu muốn t́m hiểu tường
tận, có thể kiểm trong các bản chú giải kinh
điển để tham khảo. Ứng Cúng (Arhat) là
đáng được trời người cúng dường.
Chánh Biến Tri (Samyak-saṃbuddha)
là thật
sự biết trọn khắp hết thảy các pháp. Minh Hạnh
Túc (Vidyā-caraṇa-saṃpanna) chính là Túc Mạng Minh, Thiên Nhăn Minh, và Lậu Tận
Minh đều trọn đủ. Thiện Thệ (Sugata) là
tự tại khéo nhập Niết Bàn. Thế Gian Giải (Lokavid)
là hiểu biết triệt để hết thảy các
chuyện trong các thế gian. Vô Thượng Sĩ (Anuttara) là
bậc đại sĩ chí cao vô thượng. Điều
Ngự Trượng Phu (Puruṣa-damya-sārathi) là có các pháp để thuần hóa, kiềm
chế các hữu t́nh. Thiên Nhân Sư (Śāsta
deva-manuṣyāṇaṃ) nghĩa là bậc đạo
sư của người và trời.
* Hỏi: Tôi
đọc báo Bồ Đề Thụ số bảy
mươi bảy, nơi trang mười bốn có câu: “học nhân Trần mộ Thiền
vị thị thảo” (học nhân họ Trần hâm mộ
Thiền, chưa dám coi bản viết nháp này là đúng), “vị thị thảo” có ư
nghĩa như thế nào? (Lỗ
Khai Trí hỏi)
Đáp: Chuyện
này chẳng thuộc vào phạm vi Phật học, mà là cách
nói tự khiêm thông dụng của những người trước
tác. “Thảo” (草) là có ư nói tác phẩm của chính ḿnh chỉ
là bản nháp, “vị thị”
(未是) có nghĩa là chưa dám
coi là đúng vậy!
* Hỏi: Người
học Phật, tu Đại Thừa có pháp “phá oa” (破哇)[3], xin giải thích hai
chữ “phá oa”. (Lỗ Khai Trí hỏi)
Đáp: Phật
học chia thành hai môn Hiển và Mật. Ông hỏi về một
pháp trong Mật Tông, có nghĩa là “khai
đảnh” (開頂, mở đỉnh đầu).
Sơ cơ học Phật, chưa hiểu rơ Hiển, tạm
thời chẳng cần bàn đến Mật. Nếu miễn
cưỡng giải thích, sợ rằng [do người hỏi]
chưa biết giáo tướng, cũng chẳng dễ liễu
giải được!
* Hỏi: Xin
hăy giải thích ư nghĩa của chữ “tân truyền” (薪傳) (ghi trong báo Bồ Đề
Thụ số bảy mươi bảy, trang hai mươi
ba, có nói ba thứ “tân truyền”
là “một, nghiêm phụ chi tân
truyền, hai, Khổng Mạnh chi tân truyền, ba, Phật
Tổ chi tân truyền”) (Lỗ
Khai Trí hỏi)
Đáp: “Tân” (薪) có nghĩa là củi hoặc cỏ, có thể
nhóm lửa. Đốt một bó củi, có thể lại
cháy lan sang những thanh củi khác. Đốt lan truyền
như thế, có thể khiến cho lửa chẳng tắt.
Mượn việc này để tỷ dụ chuyện
trao truyền học nghiệp giữa thầy và tṛ, giữa
cha và con. Thầy truyền cho tṛ, tṛ lại truyền cho học
tṛ của tṛ, con lại truyền cho con của con, cho đến
vô cùng! Đối với ba câu sau đó, đă biết
điều này, sẽ có thể hiểu rơ, chẳng cần
phải rườm lời nữa!
* Hỏi: Giải
thích “thành, trụ, hoại,
không, sanh, trụ, dị, diệt” như thế nào? (Đường Quế Lan hỏi)
Đáp: Vạn
pháp vô thường. Núi, sông, đại địa thuộc
về khí thế gian, do các duyên ḥa hợp mà khởi hiện
tướng th́ gọi là Thành. Đạt tới mức
độ viên măn th́ gọi là Trụ. Các duyên dần dần
tiêu tán th́ là Hoại. Tiêu tán đến rốt ráo th́ gọi
là Không. Hết thảy hữu t́nh, Tứ Đại sanh tử,
cũng theo lệ ấy: Do cha, mẹ, nghiệp lực, ba
duyên ḥa hợp chính là Sanh. Thân tướng hoàn thành chính là Trụ.
Dần dần suy lăo là Dị. Một kỳ thọ mạng
chấm dứt là Diệt.
* Hỏi: Trong Di
Đà có câu như thế này: “Xá
Lợi Phất! Cực Lạc quốc độ, chúng sanh sanh
giả, giai thị A Bệ Bạt Trí” (Này Xá Lợi Phất!
Chúng sanh sanh về cơi nước Cực Lạc đều
là A Bệ Bạt Trí). Chữ A Bệ Bạt Trí này có
nghĩa là ǵ? (Đường
Quế Lan hỏi)
Đáp: A Bệ
Bạt Trí (Avaivartika) là tiếng Phạn chưa dịch
nghĩa. Dịch sang nghĩa tiếng Hán sẽ “chẳng
thoái chuyển”.
* Hỏi: Trong
Phật giáo có nói “minh tâm tánh”
hoặc nói “thường trụ
chân tâm”, “Chân Như tánh” , “Thật Tướng” v.v… có ư
nghĩa như thế nào? (Huệ
Diệu hỏi)
Đáp: Đối
với bốn câu đă hỏi, có thể nói một câu là Tổng,
ba câu kia là Biệt. Trước hết, nói về điều
thứ nhất. “Tâm tánh”
chính là tên gọi chung của tự tánh thanh tịnh tâm; cũng
được chia thành hai sự, tức là Thường là
Tánh, Vô Thường là tâm. Trong ngữ lục, [cổ đức
đă] mượn nước và băng để tỷ dụ
như sau: Khi mê, tánh kết thành tâm. Ngộ th́ tâm được
cởi gỡ [phiền năo], trở thành tánh. Dùng chuyện này
để luận, tâm và tánh nói thành hai, bất quá chỉ là
[nói theo phương diện] mê hay ngộ mà thôi! Lại giải
thích ba điều kia, ba điều ấy đều nói về
tự tánh thanh tịnh tâm, chỉ là các kinh gọi tên khác
nhau, chứ thật ra không khác! Tâm có chân và vọng, Tánh có mê
và giác, Tướng có thật và giả, nhưng những ǵ
mà phàm phu biết chính là “vọng
tâm”, “mê tánh”, “giả tướng” mà thôi.
V́ thế, bị trói buộc bởi phiền năo, trầm
luân, chẳng có thuở thoát ra. Thánh ngôn đặc biệt nêu
ra “chân tâm, giác tánh, Thật
Tướng” để cảnh tỉnh kẻ si bướng,
mong họ sẽ biết gốc mà trở về nguồn.
Đó là lẽ “giải thoát xuất
yếu” (lẽ trọng yếu để giải thoát,
thoát khỏi luân hồi).
* Hỏi: Thật
Tướng Niệm Phật là ǵ? “Nhập thế pháp, xuất thế pháp” là ǵ? (Huệ Diệu hỏi)
Đáp: Câu hỏi
gồm ba điều, nay chia ra để trả lời. Có
bốn phương pháp niệm Phật là Tŕ Danh, Quán Tưởng,
Quán Tượng, và Thật Tướng. Đối với
ba pháp đầu, chẳng rườm lời giải thích,
chỉ nói về Thật Tướng, tức là: Khi bản
tâm không nghĩ ác, không nghĩ thiện, ĺa hết thảy cảnh,
ĺa hết thảy niệm, đó gọi là Thật Tướng.
Trong lúc như vậy, vô niệm mà niệm, niệm mà vô niệm.
“Vô niệm” là danh tướng
Ngă Pháp, tịch tĩnh đều mất. “Hữu niệm” là tự tánh Di Đà, tỉnh táo,
chẳng mê muội. Loại cảnh giới này có thể hiểu,
nhưng chẳng thể nói, chẳng phải là kẻ
sơ cơ mà ḥng thấu hiểu được! “Xuất thế pháp” là các
phương pháp để đoạn Hoặc, chứng
Chân, hoặc đới nghiệp văng sanh. “Nhập thế pháp” tức là sau khi đă chứng
quả xuất thế, ứng với sự cảm của
đại chúng, lại nhập thai để độ
chúng sanh, như đức Thế Tôn đă đến Sa Bà
tám ngàn lần. Và [những vị] sau khi đă văng sanh, bèn thừa
nguyện tái lai, như các vị sư Phong Can, Hàn Sơn, Thập
Đắc v.v… chính là hóa thân của các đấng tôn thánh
Di Đà, Văn Thù, Phổ Hiền vậy!
* Hỏi: Tổ
Ấn Quang có nói: “Toàn tánh khởi
tu, toàn tu tại tánh”, nên hiểu như thế nào? (Châu La Hán hỏi)
Đáp: Như
Lai Tạng vốn có hai phần nhiễm và tịnh, như
vàng ở trong quặng. Tịnh là chân, tức Bổn Giác,
ví như cái Thể của chất vàng ṛng. Nhiễm là vọng,
tức là vô thỉ vô minh, ví như cát bụi ở trong quặng.
Chẳng nung luyện quặng, vàng ṛng sẽ chẳng hiển
lộ. Chẳng tu Như Lai Tạng, sẽ chẳng thấy
chân tánh. Tánh Đức tịch mà chiếu, cho nên có thể
khởi tu. Tu Đức chiếu mà tịch, cho nên có thể
thấy tánh, tức là Tánh có thể khởi tu, tu vẫn
nương vào tánh. Tánh và Tu chẳng hai. Đấy chính là ư
nghĩa to lớn của lời hỏi vậy.
* Hỏi: “Niệm niệm niệm Phật,
niệm niệm minh liệu” (Niệm nào cũng niệm
Phật, niệm nào cũng đều hiểu rơ). Ba chữ
Niệm trong câu trước nên lư giải như thế nào?
(Châu La Hán hỏi)
Đáp: Hai chữ
Niệm trước nhằm nói niệm này tiếp nối
niệm kia, như sóng sau đuổi theo sóng trước.
Chữ Niệm thứ ba ư nói khởi niệm nơi Phật,
chẳng duyên theo điều ǵ khác. Câu sau ư nói: Có thể niệm
như thế, th́ niệm nào cũng đều là giác chiếu,
chẳng mê!
* Hỏi: Trang
thứ nhất trong sách Hoàng Bá Tâm Yếu có câu: “Vô tướng nhi vô bất
tướng, vô vi nhi vô bất vi”, ư nghĩa là như thế
nào? (Châu La Hán hỏi)
Đáp: Câu này
nhằm h́nh dung Thật Tướng linh giác chân tâm. Cái tâm ấy
tịch mà thường chiếu, chiếu mà thường tịch.
Do tịch nên là chân, do chiếu nên là linh. Tịch là bất
động, bất động sẽ chẳng thay đổi.
V́ thế nói là “vô vi”. Chiếu
là tùy duyên; tùy duyên ắt các pháp sanh. V́ thế nói là “vô bất vi”. Tịch là tâm thể,
tâm thể là Chân Không. V́ thế nói là “vô tướng”. Chiếu là Dụng của tâm. Tác
dụng của tâm khởi lên giả hữu; v́ thế nói
là “vô bất tướng”.
* Hỏi: Trong
kinh Tứ Thập Nhị Chương có câu “sanh trung quốc nan”, câu này có nghĩa là ǵ? Hay là
nói tên của một địa phương? (Trần Lâm Châu hỏi)
Đáp: Chữ
“trung quốc” chỉ quốc
gia phồn vinh nhất trong một châu, hoặc nơi
đô hội phồn vinh nhất trong một nước.
Do là nơi đô hội, nên văn hóa ắt thịnh vượng,
mà Phật pháp cũng dễ được nghe!
* Hỏi: Câu “vô như ma ngưu” (無如磨牛)[4] trong kinh Tứ Thập
Nhị Chương tỷ dụ điều ǵ? Có ư
nghĩa ǵ? (Trần Lâm Châu hỏi)
Đáp: Xưa
kia, để chế biến ngũ cốc thành bột mịn,
hoàn toàn dùng hai dụng cụ là xay và nghiền. Cối xay
(ma, 磨) làm bằng đá, có hai
tầng trên và dưới. Tầng trên có hai lỗ hổng,
chuyên đổ ngũ cốc muốn xay vào đó. Tầng
này hoặc dùng sức người đẩy, hoặc dẫn
gia súc đi quanh kéo cho cối xay chuyển động,
ngũ cốc đă đổ vào từ lỗ hổng ở
trên sẽ bị xay thành bột chảy ra. Để đẩy
cối xay, nước ta phần nhiều dùng lừa hay la;
tại Ấn Độ, vào thời cổ, thường
dùng trâu để kéo, cho nên gọi là “ma ngưu” (磨牛, trâu kéo cối xay).
* Hỏi: “Bất đọa bàng sanh” giải
thích như thế nào? “Thiên
trung thiên” giải thích như thế nào? (Hà Khôn Mậu hỏi)
Đáp: “Bàng sanh” (旁生) chính là súc sanh. Thiên có năm nghĩa:
1) Một là
Danh Thiên, như các vị vua trong loài người được
tôn xưng là Thiên Tử.
2) Hai là Sanh
Thiên, như hai mươi tám tầng trời, là chỗ sanh
về của người làm lành.
3) Tịnh Thiên
tức là chư thánh trong tam thừa.
4) Nghĩa Thiên
là các vị Bồ Tát từ Thập Trụ trở lên.
5) Đệ Nhất
Nghĩa Thiên chính là chư Phật.
Chữ “thiên trung thiên” chỉ địa
vị trời tối cực trong năm loại thiên. Đấy
chính là tôn hiệu của Phật vậy.
* Hỏi: Trong
kinh Vô Lượng Nghĩa có nói: “Văn
Như Lai thuyết thị kinh thời, hoặc đắc
Noăn pháp, Đảnh pháp, Thế Gian Đệ Nhất pháp”
(Khi nghe đức Như Lai nói kinh này, hoặc là đắc
pháp Noăn, pháp Đảnh, hoặc pháp Thế Gian Đệ
Nhất), ba pháp ấy nên giải thích như thế nào? (Phương Phấn Thanh hỏi)
Đáp: Những
pháp ấy được gọi là Tứ Thiện Căn,
c̣n gọi là Tứ Gia Hạnh, do công phu đă đạt tới
mức độ kha khá bèn có thể phát hiện. Noăn (暖) là khi gần lửa, tức là sánh ví thánh
đạo như lửa. Người gần lửa, ắt
ấm; ư nói: Người tu đă dần dần gần
đạo. Đảnh (頂) là sánh ví đă đạt
đến chỗ tối cao, nhưng có hai ngả tiến
và thoái, vẫn phải nên đề pḥng thoái chuyển. Thế
Đệ Nhất là nói đến trí huệ hữu lậu,
đă đạt đến cực cảnh; tiến cao
hơn, sẽ là vô lậu trí. Hữu lậu trí thuộc
pháp thế gian, cho nên nói là Thế Đệ Nhất (世第一). Nhưng trước Thế
Đệ Nhất c̣n có giai đoạn Nhẫn pháp, th́ mới
họp thành con số bốn.
* Hỏi: Xin
hăy dạy về ư nghĩa “phi
nhân kế nhân, phi quả kế quả” (chẳng phải
là nhân mà coi là nhân, chẳng phải là quả mà coi là quả)?
(Khoan Trạm hỏi)
Đáp: Những
điều này đều là những tà kiến được
dấy lên bởi các chúng sanh mê hoặc. Xét ra, hễ cầu
một loại kết quả [nào đó], ắt trước
hết phải tu cái nhân ấy. Nếu chẳng phải là
cái nhân ấy, cứ ngược ngạo tưởng thực
hiện [cái nhân ấy sẽ đạt được kết
quả mong muốn] th́ gọi là “phi
nhân kế nhân” (chẳng phải là nhân mà coi là nhân). Đối
với cái quả mong mỏi, hoàn toàn chẳng phải là rốt
ráo, chân thật, ngược ngạo nhận lầm [cái quả
ấy là chân thật, rốt ráo], th́ gọi là “phi quả kế quả” (chẳng
phải là quả mà coi là quả). Ví như những giáo phái
bí mật nhăng nhít, bịa đặt những lời lẽ
yêu mị như “Phật Thích
Ca thoái vị, Phật Di Lặc chưởng quản thiên
bàn” v.v… để mê hoặc người khác. Bọn
chúng nó chẳng có pháp chân thật, nếu lầm lạc tín
phụng, đó chính là thuộc về loại tà kiến
trước. C̣n như đối với nhân thiên tiểu
quả, chẳng thoát khỏi lục đạo, chẳng
phải là rốt ráo, thế mà coi sanh lên trời là tối
thượng. Đấy chính là tà kiến thuộc loại
sau.
* Hỏi: Tôi chẳng
hiểu rơ ư nghĩa “bất lạc
nhân quả” (chẳng rơi vào nhân quả) và “bất muội nhân quả”
(chẳng mê lầm nhân quả) cho lắm, xin thầy hăy
khai thị. (Huệ Tŕ hỏi)
Đáp: “Lạc” (落) nên hiểu là vướng mắc, “muội” (昧) nên hiểu là mê muội.
* Hỏi: “Quy y” có ư nghĩa ǵ? (Ngụy Khánh Chí hỏi)
Đáp: Chữ
“quy y” (皈依) chuyên dùng để gọi chuyện thâu
nhận đệ tử trong nhà Phật. Các giáo khác chẳng
thể dùng lẫn lộn được! V́ chúng sanh chẳng
ĺa khỏi lục đạo luân hồi, giống như là
ch́m đắm trong biển khổ, bỗng dưng biến
thành người, trời, giống như ở trong nước
ngoi đầu ra, hít một hơi, chuyện này được
gọi là “đầu xuất”
(頭出). Không lâu sau, chết
đi, lại biến thành súc sanh, ngạ quỷ, địa
ngục, lại như gieo ḿnh xuống nước, ch́m
đắm trong đó. Chuyện này được gọi
là “đầu một” (頭沒). Nếu muốn thoát khỏi
biển khổ ấy, ắt cần phải quay về
nương cậy một người không ở trong biển
khổ, nương cậy người ấy cứu ta
thoát ra, cho nên gọi là “quy y”.
* Hỏi: Tăng
Bảo là ǵ? (Ngụy Khánh Chí hỏi)
Đáp: Bất
luận là người hay vật, thật sự có vạn
đức vạn năng, cứu đại khổ đại
nạn th́ mới gọi là Bảo (寶). Khổ nạn lớn nhất, không ǵ
hơn sanh tử! Chuyện này chỉ có riêng ḿnh đức
Phật làm được. V́ thế, Phật được
gọi là Bảo. Phật độ chúng sanh hoàn toàn cậy
vào giáo pháp, kinh điển. V́ thế, Pháp được gọi
là Bảo. Người thay Phật giảng kinh, thuyết
pháp, hóa độ chúng sanh chính là tỳ-kheo Tăng xuất
gia. V́ thế, Tăng được gọi là Bảo.
* Hỏi: “Đọa lạc” là ǵ? (Ngụy Khánh Chí hỏi)
Đáp: Ư nói từ
chỗ cao ngă xuống chỗ thấp. Ví như một kẻ
đứng trên vách núi cao, bỗng dưng ngă xuống hố
sâu. Đây là tỷ dụ kẻ đang từ thiện mà
chuyển thành ác, hoặc là trước tu hành, sau đó
thoái chuyển, giống như thế tục nói “trở thành kẻ hạ lưu”
vậy!
* Hỏi: “Phật tự” là ǵ? (Ngụy Khánh Chí hỏi)
Đáp: Tại
Trung Hoa, vào đời Hán, trong hết thảy các phủ thự
của quan lại, có một cơ cấu gọi là Hồng
Lô Tự (鴻臚寺)[5]. Hán Minh Đế
sai người sang phương Tây cầu kinh, gặp hai vị
tôn giả là Trúc Pháp Lan và Ca Diếp Ma Đằng, bèn mời
hai Ngài dùng bạch mă chở kinh và tượng đến ở
trong Hồng Lô Tự dịch kinh. Do vậy, bèn sửa Hồng
Lô Tự thành Bạch Mă Tự, mang ư nghĩa kỷ niệm
việc dịch kinh. Sau này, hễ là chỗ thờ Phật
và Tăng cư trụ đều gọi là Tự.
* Hỏi: Sách
Pháp Hoa Văn Cú quyển bốn có câu: “Phổ diệu nhật, để đột đọa
súc sanh”[6], chữ “để đột” (觝突) có nghĩa là ǵ? (Trần Lâm Huân hỏi)
Đáp: “Để đột” giống
như “xung đột” trong
hiện thời, tức phẫn nộ đối với kẻ
khác, hoặc là các thứ động tác bạo ác nơi ư
hoặc miệng!
* Hỏi: Trong
Thích Thị Yếu Lăm[7] có nói: “Biện Ư Kinh hữu vân ngũ sự
tác súc sanh” (Kinh Biện Ư có nói năm sự sẽ tạo
thành quả báo súc sanh trong đời sau), chuyện thứ
năm là: “Thường dĩ
nhân duyên gian nan trai hội” (Thường tạo nhân duyên
gây trở ngại cho pháp hội trai tăng), câu này có
nghĩa là ǵ? (Trần Lâm Huân hỏi)
Đáp: Để
một chuyện được thành, cố nhiên cần phải
có nhân duyên. Chuyện gây nên trở ngại, cũng là nhân
duyên. Trai hội là chuyện tạo lợi ích cho chúng sanh
trong Phật pháp. Nếu tạo chuyện ngăn trở,
phá hoại, khiến cho chuyện ấy gặp khó khăn,
chẳng thể thành tựu [th́ sẽ đọa làm súc
sanh]. Đó là ư nghĩa của câu kinh trên đây.
* Hỏi: Kinh
Kim Cang, trong phần thứ chín là Nhất Tướng Vô
Tướng, có nhắc đến Tu Đà Hoàn, Tư Đà
Hàm, A Na Hàm. Ba loại ấy là quả vị như thế
nào? (Nhan Văn Bộc hỏi)
Đáp: Trong bốn
quả của Thanh Văn, quả tột cùng là La Hán. Tu
Đà Hoàn (Srotāpanna) là Sơ Quả, bảy phen qua lại trong cơi nhân
thiên bèn chứng La Hán. Tư Đà Hàm (Sakridāgāmi) là Nhị Quả, một phen sanh tử bèn
chứng La Hán. A Na Hàm là Tam Quả (Anāgāmi). Ở trong Bất Hoàn Thiên (Śuddhāvāsa), bèn chứng La Hán.
* Hỏi: Đức
Phật nói ba loại xe là xe dê, xe nai, và xe trâu trắng, phân
biệt như thế nào? Điều này có nghĩa là ǵ? (Phan Diệu Huyền hỏi)
Đáp: Xe dê tỷ
dụ Thanh Văn Thừa, xe nai tỷ dụ Duyên Giác Thừa,
xe trâu trắng tỷ dụ Bồ Tát Thừa. Điều
này mang ư nghĩa lớn, nhỏ, rốt ráo hay không mà thôi!
* Hỏi: Trong “mười ác, tám tà”, tám tà có
ư nghĩa như thế nào? (Phan
Diệu Huyền hỏi)
Đáp: Trong
khoa thứ bảy của ba mươi bảy đạo
phẩm là Bát Chánh Đạo. Nếu trái nghịch Bát Chánh
th́ là Bát Tà.
* Hỏi: Xin
hăy giải thích giản lược về sự khác biệt
giữa Đại Thừa và Tiểu Thừa trong Phật
giáo? (Quách Lư A Diệp hỏi)
Đáp: “Thừa” (乘) là từ ngữ tỷ dụ thuyền
hay xe. Tiểu là chỉ có thể chở chính ḿnh, Đại
là chở thêm nhiều người khác. Đây là nói trong Phật
pháp, tự học tự độ th́ gọi là Tiểu Thừa;
tự hành, hóa độ người khác th́ gọi là Đại
Thừa.
* Hỏi: Liễu
sanh thoát tử là ǵ? Hai chữ “sanh
tử” chỉ luân hồi sanh tử, hay là bao gồm ư
nghĩa nào khác? (Liên Vân Ban hỏi)
Đáp: Sanh tử
trong luân hồi lục đạo gọi là Phần Đoạn
Sanh Tử. C̣n có một loại sanh tử ở ngoài lục
đạo, gọi là Biến Dịch Sanh Tử. Về ư
nghĩa của liễu thoát sanh tử, “liễu” (了) có nghĩa là đă kết
thúc, “thoát” (脫) là thoát ly. Nói gộp lại, tức là kết
thúc và thoát khỏi sanh tử đó thôi!
* Hỏi: Từ
ngữ “thúc tu” (束修) giải thích như thế
nào? (Trạch Mạnh Thu hỏi)
Đáp: “Tu” (修) là cắt thịt thành từng miếng mỏng
dài, phơi khô, “thúc” (束) là buộc lại. “Thúc tu” là một bó gồm mười miếng thịt
khô. Thời cổ gặp nhau, ắt có vật biếu tặng.
Thúc Tu chính là lễ vật nhẹ nhất.
* Hỏi: Đối
với pháp danh của vị thầy quy y, thêm vào hai chữ
Thượng Hạ là do ư nghĩa ǵ? (Trạch Mạnh Thu hỏi)
Đáp: Đối
với tên của pháp sư người Hoa, về sau, phần
nhiều thêm vào hai chữ ấy. Thêm chữ Thượng Hạ
vào để nói chữ trước là ǵ, chữ sau là ǵ, nhằm
thể hiện ư nghĩa cung kính, chẳng dám gọi thẳng
tên.
* Hỏi: Trong
Thập Lực của Phật có Tri Chủng Chủng Giải
Trí Lực và Tri Chủng Chủng Giới Trí Lực. Danh
xưng của hai loại trí lực ấy giải thích
đại lược như thế nào? Xin hăy chỉ dạy.
(Đại Khoan hỏi)
Đáp: Hết
thảy chúng sanh, ai nấy đều có sự hiểu biết
riêng, nhưng tri giải ấy có sâu, cạn, lớn, nhỏ
thiên sai vạn biệt. Trí lực của Phật có thể
biết thấu triệt trọn hết những tri giải
khác biệt. Đó gọi là Tri Chủng Chủng Giải Trí
Lực. Hết thảy chúng sanh, do tiếp xúc các thứ
pháp trong thế gian, tự nhiên ai nấy đạt
được cảnh giới [riêng biệt], cũng là
thiên sai vạn biệt, đủ mọi lẽ chẳng
đồng nhất, nhưng trí lực của Phật
đều có biết thấu triệt các sự khác biệt
vi tế. Điều này được gọi là Tri Chủng
Chủng Giới Trí Lực.
* Hỏi: Tứ
Vô Sở Úy và Thập Bát Bất Cộng Pháp của Phật
là những thứ nào? Xin hăy rộng ḷng phân biệt, khai thị.
Bát Giải Thoát và Thập Bát Biến Hóa của A La Hán là những
thứ nào? Xin hăy phân biệt, khai thị cho! (Đại Khoan hỏi)
Đáp: Hỏi
hai điều này bằng với bốn mươi tám câu hỏi!
Đây cũng thuộc loại danh số, đều được
chép trong Phật Học Từ Điển, hễ tra cứu,
sẽ biết ngay. Nếu chỉ vâng theo câu hỏi để
kể tên, sợ cũng chẳng thể liễu giải ư
nghĩa. Nếu đối với mỗi điều đều
ghi thêm lời giải thích, ắt sẽ thành một thứ
trước tác chuyên biệt, chẳng phải là tánh chất
của cột báo này, mà do giấy ít, cũng chẳng thể
đăng tải được! Xin hăy thứ lỗi, rộng
dung tôi chẳng thể vâng lời phúc đáp được!
Tôi đặc biệt trích lục mấy điều, ḥng
chứng tỏ câu nói “chẳng giải thích sẽ không thể
hiểu được”. Đức Phật được
gọi là Vô Sở Úy v́:
1) Nhất Thiết
Trí vô sở úy.
2) Lậu Tận
vô sở úy.
3) Thuyết chướng
đạo vô sở úy.
4) Thuyết tận
khổ vô sở úy.
Mười tám
món Bất Cộng như tam nghiệp vô thất, vô dị
tưởng, vô bất tri dĩ xả v.v… Bát Giải Thoát
là như nội hữu sắc tưởng quán ngoại sắc
giải thoát, nội vô sắc tưởng quán ngoại sắc
giải thoát, tịnh giải thoát thân tác chứng cụ túc
trụ v.v… Nếu đại đức nghiên cứu những
điều này, ắt phải có từ điển để
tham khảo. Nếu chỉ muốn biết đơn giản,
th́ có sách Pháp Tướng Cương Yếu, đọc
sách ấy cũng có thể bổ túc đôi chút.
* Hỏi: “Pháp sư, ḥa thượng,
cư sĩ” giải thích như thế nào? Đối với
người thọ giới học Phật trong quân đội
th́ dùng từ ngữ ǵ để xưng hô? (Hoàng Quan Trung hỏi)
Đáp: Người
xuất gia thông thạo kinh điển, hoằng pháp th́ gọi
là “pháp sư” nhưng
cũng không cần phải câu nệ như vậy. Phàm là người
xuất gia, đều có thể gọi là “pháp sư”, mang ư nghĩa tôn kính trọn khắp. Ḥa
Thượng tức là tiếng Ấn bị phiên âm sai, có
nghĩa “thầy của tôi”. “Cư
sĩ” là tiếng để gọi người tại
gia học Phật. Học Phật trong quân đội th́ vẫn
dùng cách xưng hô trong quân ngũ, chớ nên đi theo
đường lối khác lạ!
* Hỏi: Vô Đẳng
Đẳng A Nậu Đa La Tam Miệu Bồ Đề
nghĩa là ǵ? Bồ Đề cũng chia thành nhiều cấp
ư? (Lê Minh Thời hỏi)
Đáp: Chính là
Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Giác có Thỉ Giác, tùy
phần và rốt ráo sai khác. Như vầng trăng tỏa
sáng, có các h́nh tượng như lưỡi liềm,
thượng huyền[8], trăng tṛn v.v… Tâm
b́nh đẳng cũng như vậy, hễ đức học
tiến triển, cái tâm cũng b́nh đẳng cũng tiến
triển theo [cho nên gọi tên sai khác. Suy như vậy sẽ]
có thể hiểu điều này!
* Hỏi: Tam thế
chư Phật, phóng Mông Sơn, phóng Diệm Khẩu, quảng
trường thiệt, đốt ngón tay hoặc thiêu cánh
tay để cúng Phật, có năm loại địa ngục
Vô Gián, Pháp Thân, Báo Thân, Ứng Thân, phân biệt như thế
nào? (Hoàng Bá Kính hỏi)
Đáp: “Tam thế Phật” là nói đến
chư Phật trong quá khứ, hiện tại, vị lai.
Phóng Mông Sơn và phóng Diệm Khẩu là phép thí thực trong
Mật Tông. Do quỷ đạo thường đói, bèn
dùng pháp lực để thí đồ ăn thức uống
cho họ. Mông Sơn là địa danh[9], đấy là pháp Tiểu
Thí Thực. Diệm Khẩu là tên của ngạ quỷ,
pháp này là pháp Đại Thí Thực. “Quảng trường thiệt”: Đức Phật
có ba mươi hai tướng, chẳng giống thường
nhân. Lưỡi Phật vừa to rộng lại c̣n dài. Đốt
ngón tay hoặc thiêu cánh tay cúng Phật: Đốt
hương đặt trên ngón tay, “thiêu cánh tay” là đặt
hương trên cánh tay rồi đốt, đều mang ư
nghĩa dùng thân để cúng Phật. Ngũ Chủng Vô
Gián là tên gọi của địa ngục (tức địa
ngục A Tỳ). Vô Gián nghĩa là chịu khổ chẳng
gián đoạn, có năm loại [Vô Gián]: Một là chịu
khổ chẳng gián đoạn, hai là thân h́nh chẳng gián
đoạn, ba là tội khí (罪器, dụng cụ để
hành tội) chẳng gián đoạn, bốn là chúng sanh chẳng
gián đoạn, năm là thời gian chẳng gián đoạn.
“Pháp Thân, Báo Thân, Ứng Thân”:
Pháp Thân là Chân Như bản tánh, Báo Thân là thân to lớn vạn
phước trang nghiêm. Ứng Thân là tùy theo duyên của chúng
sanh mà hiện thân chúng sanh.
* Hỏi: Xin
hăy giải thích ư nghĩa của các câu sau đây trong kinh
Lăng Nghiêm: “Văn sở
văn tận, tận văn bất trụ, giác sở giác
không, không giác cực viên, không sở không diệt, sanh diệt
kư diệt, tịch diệt hiện tiền” (Dần dần
tiến lên như thế, cái Nghe và cái được Nghe[10] đều hết
sạch, chẳng trụ nơi hết sạch cái Nghe, sự
nhận biết (Giác) và đối tượng nhận biết
(Sở Giác) đều không. Sự không giác ấy cực
viên, không và sở không[11] đều diệt.
Sanh và diệt đă bị diệt th́ tịch diệt hiện
tiền). (Chung Quán Tĩnh hỏi)
Đáp: Kẻ
hèn này già cả hay quên. Những chương cú trong đoạn
kinh Lăng Nghiêm này xuất phát từ quyển nào, nhất
thời t́m không ra. Dẫu có t́m ra, dựa theo văn tự
để hiểu câu kinh, chẳng tránh khỏi giải
thích bộp chộp, nông cạn! Nếu giải thích tường
tận ư nghĩa của đoạn kinh ấy, sẽ không
thể vượt ra ngoài phạm vi của những bản
chú giải cổ xưa được! Hơn nữa, cột
báo này quá hẹp, cũng là t́nh thế nan giải! Tạm thời
xin hăy dung thứ chẳng đáp. Hễ có duyên gặp mặt,
sẽ dốc hết sức cống hiến vậy!
* Hỏi: “Tâm tịnh, ắt cơi Phật tịnh”,
thuận theo cái tâm tịnh mà cơi Phật bèn tịnh theo. “Tâm tịnh” là như thế
nào, có nghĩa là ǵ? (Tiêu Thiệu
Thanh hỏi)
Đáp: Tâm và
cơi Phật chẳng phải là hai sự. Do núi, sông, đại
địa đều là một tí vi trần ở trong tâm.
Càng phải nên biết: Cái tâm ấy chẳng phải là nói
đến quả tim trong thân thể, mà là nói đến tâm
tánh vô h́nh. Tâm tánh ấy từ nhiều kiếp đến
nay, bị hết thảy phiền năo ô nhiễm dày đặc,
cho nên bất tịnh. V́ thế, có các thứ hiện tướng
(tướng biến hiện) ô uế. Như nước
tù đọng sanh ra lăng quăng, gỗ mục sanh ra nấm,
mốc. Nếu nước và gỗ chẳng hư mục
th́ mới là nước tốt, gỗ tốt, sẽ chẳng
có lăng quăng, nấm, mốc. Tâm đoạn phiền
năo, đó là tịnh tâm, sẽ chẳng hiện ra tướng
ô uế.
* Hỏi: Lục
Tổ đại sư nói: “Tam
Độc chi tội nhất thời tiêu diệt” (Tội
tam độc tiêu diệt trong một lúc) có ư nghĩa
như thế nào? (Tiêu Thiệu
Thanh hỏi)
Đáp: Tam
Độc là nói: Ư dấy lên tham, sân, si. Ba thứ ấy có
thể gây tạo đủ mọi tội. Nếu đoạn
trừ Tam Độc, các tội tự tiêu.
* Hỏi: Như
thế nào gọi là “trung gian”? Như thế nào gọi là
“nhị biên”? Như thế nào gọi là Trung Đạo? (Tiêu Thiệu Thanh hỏi)
Đáp: “Biên” (邊) giống như ngoài ŕa của một vật thể.
“Trung” (中) là như chính giữa vật thể. Trụ
nơi Trung sẽ có thể trông thấy toàn thể. Trụ
nơi Biên, chỉ có thể thấy phiến diện. Trung ví
như chánh kiến, Biên ví như thiên kiến. Nhị Biên (二邊) chính là Thường Kiến và Đoạn
Kiến của phàm phu. Lầm tưởng vô thường
là thường, đó là Thường Kiến. Chẳng phải
là diệt mà lầm tưởng là đoạn diệt,
đó là Đoạn Kiến.
* Hỏi: Sự
sai khác giữa “phù trần
căn” và “thắng nghĩa
căn” [là như thế nào]? (Hồ
Chánh Lâm hỏi)
Đáp: Khí thể
của mắt, mũi v.v… hiện ra ngoài gọi là “phù trần căn”, nguyên
điểm có sẵn bên trong các khí quan th́ gọi là “thắng nghĩa căn”.
* Hỏi: Tam Như
Lai Tạng giải thích trọn vẹn sẽ là như thế
nào? Xin hăy dùng các thí dụ để chứng tỏ! (Hồ Chánh Lâm hỏi)
Đáp: Có thể
dùng cổ kính (古鏡, tấm kiếng xưa)
để làm tỷ dụ. Mặt gương bị bụi
phủ kín, đấy chính là ư nghĩa Ẩn Phú (che giấu)
của Như Lai Tạng. Tuy thể chất bị che, ánh
sáng của gương chẳng bị diệt. Do Thể chẳng
diệt, cho nên chứa đựng công năng tỏa sáng,
đấy chính là ư nghĩa “năng
nhiếp” của Như Lai Tạng. Ánh sáng nương
vào thể chất của gương, bụi dơ cũng
nương vào thể chất của gương, tức
là cổ kính đă chứa đựng quang minh và bụi trần,
đấy chính là ư nghĩa Sở Nhiếp của Như
Lai Tạng. Sự tuy ba, mà Lư thật ra là một. Dựa
theo Lư để nói về Sự, chính là “viên giải” vậy.
* Hỏi: Đối
với từ ngữ Nhất Hiệp Tướng trong kinh
Kim Cang, năm mươi ba vị chú giải đều
dùng Tánh để giải thích, nhưng Giang cư sĩ
(Giang Vị Nông) lại dùng Tướng để giải
thích, rốt cuộc nên lấy vị nào làm chuẩn? (Hồ Chánh Lâm hỏi)
Đáp: Người
giải thích th́ “người
nhân thấy là nhân, người trí thấy là trí”. Mỗi
vị có kiến giải riêng. Ư của kẻ hèn này là
cũng nên dùng tướng để giải thích.
* Hỏi: Trong
Phổ Môn Phẩm Giảng Thoại (do pháp sư Tinh Vân dịch)
có chép “ba mươi ba thân”, tôi chưa thể liễu giải,
dám xin hăy chỉ dạy! (Long
Văn Thái hỏi)
Đáp: Đây
là sự bất đồng giữa các học giả Trung
Hoa và Nhật Bản trong cách phân tích cú pháp [chánh kinh trong phẩm
Phổ Môn]. Tra cứu th́ thấy tác phẩm do pháp sư
Tinh Vân dịch vốn là trước tác của Sâm Hạ
Đại Viên (Morishita Daien) người Nhật. Ba [ứng
thân] thuộc địa vị thánh nhân (Phật, Duyên Giác,
Thanh Văn), sáu thân trời (Phạm Vương, Đế
Thích, Tự Tại Thiên, Đại Tự Tại Thiên, Thiên
đại tướng quân, Tỳ-sa-môn), năm thân người
(tiểu vương, trưởng giả, cư sĩ, tể
quan, Bà-la-môn), thân tứ chúng (tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc,
ưu-bà-di), hai thân trẻ con (đồng nam, đồng nữ),
một thân thần Chấp Kim Cang, giống như chủ
trương của các vị sư Trung Hoa. Chỗ sai khác
trong kiến giải là đối với hai loại thân nữ
và thân tám bộ. Các vị sư người Hoa chú trọng
kết cấu của kinh văn theo ngữ khí hiện thân,
v́ trong đoạn nói về phụ nữ của phẩm ấy
có câu “tức hiện phụ nữ
thân”, cho nên chỉ tính thân nữ là một loại. Đối
với đoạn tám bộ, v́ sau đó c̣n có hai loại là
nhân và phi nhân, rồi câu kết thúc là “tức giai hiện chi” (thảy đều hiện
ra), chữ “giai” là nói đến
tất cả những loại đă liệt kê trên đây.
Do trên đây đă kể mười loại, nên [các loại
hiện thân] sẽ được mở rộng thành
mười loại. Ông Sâm Hạ Đại Viên chia phụ
nữ thành bốn loại lớn, lại gạt bỏ
nhân, phi nhân [trong phần thiên long bát bộ], chỉ kể [tất
cả các loại hiện thân] là tám loại. Tính theo hai lối,
học giả người Hoa tính gộp thành ba mươi
hai [ứng thân], c̣n học giả Nhật Bản tính gộp
thành ba mươi ba.
* Hỏi: Xin thầy
dạy rơ hai chữ Đại Tạng? (Châu Huệ Đức hỏi)
Đáp: Tạng
(藏) có nghĩa là chứa đựng, bao hàm. Ư
nói: Những sách vở ấy, văn, nghĩa, sự, lư
đều bao hàm trọn hết. Đại (大) có nghĩa là rộng lớn.
Nói gộp lại, nghĩa là hết thảy văn,
nghĩa, Sự, Lư trong Phật pháp đều được
bao hàm trọn hết trong ấy.
* Hỏi: Pháp
chỉ có một thừa duy nhất, cần ǵ phải lắm
lời nói ra ngũ thừa? Con số năm ấy là
như thế nào? (Lại Diệu
Canh hỏi)
Đáp: Nói
Ngũ Giới khiến cho [chúng sanh nghe pháp, tu hành], đạt
được cái quả làm người. Nói Thập Thiện
ḥng đạt được quả trong cơi trời. Nói Tứ
Đế ḥng chứng Thanh Văn. Nói Thập Nhị Nhân
Duyên ḥng chứng Duyên Giác. Nói Lục Độ ḥng từ [hạnh]
Bồ Tát mà chứng đắc cực quả. Đấy
là Ngũ Thừa. Căn tánh của chúng sanh có nhỏ, lớn,
lợi, độn. Không nhờ vào phương tiện, ắt
sẽ chẳng thể phổ độ.
* Hỏi: Trong
bộ Lăng Nghiêm Giảng Nghĩa, phần kinh văn
nơi trang một trăm tám mươi sáu có câu “cùng tận Doanh Bột” khó thể
thấu hiểu! (Hồ Chánh
Lâm hỏi)
Đáp: Đây
chính là danh từ mà các nhà văn học Trung Hoa dùng để
h́nh dung biển cả. Doanh (瀛) là biển rộng, Bột
(渤) là chính là biển Trung Hoa (Bột Hải)[12]. Để giải
thích câu văn, cần phải liên kết với những
đoạn văn trước và sau đó. Nếu không, sẽ
phạm sai lầm. Giải thích theo ư nghĩa của cả
đoạn, [pháp sư Viên Anh] có ư nói: Nhận lầm một
cái bọt nước là toàn thể biển cả vậy!
* Hỏi: Đối
với câu “tất kiến viên
măn, hà xứ ḥa minh? Nhược minh viên măn, bất hợp kiến
ḥa” (ắt thấy viên măn, c̣n có chỗ nào để cái
sáng suốt ấy ḥa hợp? Nếu sự sáng suốt đă
viên măn, chẳng nên thấy sự ḥa hợp [với sự
sáng suốt] nữa) nơi trang hai trăm tám mươi tám
trong sách Lăng Nghiêm Giảng Nghĩa, xin hăy giải thích
tường tận! (Hồ
Chánh Lâm hỏi)
Đáp: Văn
nghĩa trong đoạn văn ấy rất dài. Cần phải
bắt đầu xem từ đoạn trước đó:
Ngài A Nan trả lời đức Phật, chấp vào giác
tánh tự nhiên. Đức Phật dùng chuyện sáng, tối,
rỗng rang hay nghẹt cứng để nhắc nhở,
từng đoạn phá chấp [cho ngài A Nan, v́ Ngài cho rằng
tâm ở] trung gian, là nhân duyên, tự nhiên, hoặc là tướng
ḥa hợp, cho tới chỗ này. Bốn câu ấy vẫn nhằm
phá chấp. Xin hăy nghĩ xem: “Viên
măn” th́ ắt vốn là một Thể thuần nhất,
c̣n “ḥa” th́ ắt phải có
hai, ba cái Thể! Đại ư là nói: Hễ đă thấy
viên măn, sẽ chẳng có tướng ḥa hợp. Nếu
mong giải thích tường tận, sợ rằng nói càng
nhiều, càng tăng thêm phiền năo! Chẳng bằng đối
với một đoạn lớn này, hăy đọc trọn
hết từ đầu đến đuôi, ngay cả phần
tiểu chú cho bốn câu này, hăy đọc mười mấy
lượt, sẽ có ngộ xứ.
* Hỏi: Trong Lăng
Nghiêm Giảng Nghĩa, nơi trang sáu trăm hai mươi
mốt, đức Phật nói kệ rằng: “Giải kết nhân thứ đệ,
lục giải, nhất diệc vong” (Tháo nút theo thứ
tự. Tháo sáu, một cũng mất). Sư Viên Anh nói sáu
nút thắt (lục kết) là do Ngũ Uẩn hợp thành.
Tôi trộm nghĩ: Cũng có thể nói là do sáu căn hợp
thành, như mười phương Như Lai đă tán thán
rằng: “Trôi nổi sanh tử,
chứng Bồ Đề, chỉ do sáu căn”. Cư
sĩ nghĩ [tôi nói vậy] có đúng hay không? (Hồ Chánh Lâm hỏi)
Đáp: Ngũ Uẩn
quy nạp thành hai pháp Sắc và Tâm, chẳng bao trùm trọn
hết sáu căn ư? Cách giải thích của pháp sư
Viên Anh là dùng Ngũ Uẩn phối hợp với tám thức,
Tâm Ấm gồm bốn kết, Sắc Ấm gồm hai kết.
Nếu chỉ [hiểu “lục kết” trong đoạn kinh
văn trên đây] là “lục căn” th́ hai thứ thứ bảy
và thứ tám sẽ không có chỗ nào để đặt
định được!
* Hỏi: Lại
nữa, xét theo h́nh tướng, sáu món kết ấy liên kết
cùng một chỗ, hay là mỗi kết trong sáu kết có chỗ
riêng? Lại chữ “nhất”
trong câu “nhất diệc vong”
(một cũng mất) là nói về bản thể của
cái khăn ư? Hay là nói đến món kết thứ nhất?
(Hồ Chánh Lâm hỏi)
Đáp: Câu hỏi
này chính là tự cầu chấp trước. Xin hăy t́m một
cái khăn, thắt thành sáu nút. Chúng nó liên kết, hay mỗi
nút có chỗ riêng? Hăy nh́n kỹ, nghĩ kỹ, sẽ có thể
thấu hiểu. Chữ Nhất trong câu “nhất diệc vong” là nói đến một trong
sáu nút nguyên thủy. Sáu nút đă được tháo, làm sao
có nút thứ nhất nữa!
* Hỏi: Như
Lai Tạng vốn sẵn thanh tịnh, trọn khắp pháp
giới. Y báo và chánh báo là do cái Thấy bị bệnh mà thành,
không ǵ chẳng là theo nghiệp mà phát hiện! Như thế
th́ tôi nghĩ mười phương cơi Phật cũng giống
như vậy. Ngay như thế giới Cực Lạc của
Phật Di Đà cũng là do cái Thấy bị bệnh mà
thành ư? (Hồ Chánh Lâm hỏi)
Đáp: Cực
Lạc có cơi Thường Tịch Quang vốn chẳng thể
diễn tả được, chẳng thể bàn luận
được. Do các căn lợi độn, cho nên thuyết
pháp có Quyền, Thật. Tuy có hai tên gọi Quyền và Thật,
nhưng lại chẳng thể tách rời. Những nghị
luận cao sâu này, thật sự chẳng phải v́ hàng
sơ cơ mà nói. Như có kẻ nghèo chịu đói đă
mười ngày, trước mắt có rau xanh, đậu hủ
chẳng chịu ăn, ắt đ̣i phải có tay gấu
để tự nướng th́ mới chịu ăn uống,
sẽ biết là kẻ đó chắc chắn chết
đói vậy!
* Hỏi: Như
theo ư nghĩa trong câu hỏi trên đây, nếu bỏ vọng
quay về chân, ắt y báo và chánh báo phải nên tiêu mất,
trọn chẳng thể được, chỉ là một cảnh
tịch mịch. Ǵ là tam thân Phật? Ǵ là ba cơi Phật?
Không ǵ chẳng phải là hoa đốm trên không, bóng
trăng soi dưới nước! Niệm Phật văng sanh
đích thực là vọng tưởng. Ư ấy là như thế
nào? (Hồ Chánh Lâm hỏi)
Đáp: Trong
kinh có những lời thuộc về tự giác, tự lợi,
mà cũng có những lời nhằm giác tha, lợi tha,
đều là nhân thời tiết, nơi chốn, [căn
cơ] của mỗi người mà vận dụng khác
nhau. Tịch Quang Pháp Thân chính là thật thể tự lợi,
tự giác. Báo, Hóa, Tịnh, Uế là diệu dụng giác
tha, lợi tha. Nếu không hiểu rơ các duyên như thời
tiết, nơi chốn, con người, sẽ chẳng khế
cơ. Chớ nên chấp vào một điều để rồi
nẩy sanh sai lầm!
* Hỏi: [Kinh
Lăng Nghiêm] hội bốn khoa[13], dung hợp thất
đại, không ǵ chẳng nhằm chỉ ra “tâm và vật như một, Như
Lai Tạng tướng vọng, tánh chân”. Đă là như
thế, câu “tưởng vật
là chính ḿnh, tự chuốc lấy luân hồi” lại nhằm
nói lên ư nghĩa ǵ? (Hồ Chánh
Lâm hỏi)
Đáp: Hết
thảy chỉ do tâm tạo, [cho nên] có thể biết
tướng chính là tâm. T́nh và vô t́nh cùng viên thành Chủng Trí,
há có ǵ tự chuốc lấy luân hồi?
* Hỏi: Trong
ruộng tám thức chứa đựng vô lượng chủng
tử của sắc và tâm. Khi những chủng tử ấy
dấy lên hiện hành, mỗi thứ sẽ có tướng
trạng như thế nào? (Hồ
Chánh Lâm hỏi)
Đáp: Hữu
t́nh thế gian và khí thế gian chính là tướng trạng
của chúng!
* Hỏi: Trong
thân chúng sanh chứa đựng các loại trùng. Những
loài trùng ấy có thần thức hay không? Nếu có, chúng có
cùng một thức hay khác thức với thân thể mà chúng
sống nhờ? Những loài trùng ấy lại do nhân duyên
ǵ mà sống nhờ trong thân chúng sanh? (Hồ Chánh Lâm hỏi)
Đáp: Một
cội cây cành nhánh xanh tươi, hoa thơm, quả ngọt,
các thứ bất đồng. Xin hăy thử nghĩ, nước
và không khí mà nó có được là giống nhau hay khác nhau? Nếu
hỏi do nhân ǵ mà sống nhờ trong thân chúng sanh th́ [nguyên
nhân sẽ là] thiên sai vạn biệt, càng khó thể nói khái
lược được! Nói tổng quát một câu, sẽ
là: “Hễ có chánh báo, ắt có y
báo”.
* Hỏi: Trong
chín điều nghi nan trên đây, trừ hai câu tám và chín ra,
những câu c̣n lại chính là những chỗ hậu học
chẳng lư giải đối với kinh Lăng Nghiêm, kính
xin khai thị! (Hồ Chánh Lâm hỏi)
Đáp: Kẻ
sơ học chẳng thể hiểu kinh Lăng Nghiêm! Ắt
là phải sau khi đă nghiên cứu Bát Nhă, Duy Thức, lại
vừa xem chú giải để cầu ngộ, so với nghe
người khác giảng giải để hiểu trực
tiếp th́ vẫn dễ thâm nhập hơn! Nếu văn
học lẫn triết học đều chẳng có nền
tảng, chỉ âm thầm ṃ mẫm, sẽ bị tổn hại,
vô ích! Nói thật ra, kẻ hèn này đối với kinh này
cũng là dựa theo văn từ để suy đoán ư
nghĩa, khiến cho tam thế chư Phật oan uổng! Tệ
ư cho rằng: Cư sĩ hăy tạm thời gác lại,
trước tiên là nghiên cứu tánh tướng, đă có ngộ
xứ rồi mới lại xem [Lăng Nghiêm], sẽ chẳng
trễ!
* Hỏi: Trong
phẩm Phổ Môn có mấy chữ “Càn Thát Bà, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già”, tôi chưa hiểu danh
nghĩa, mong đại đức hăy chỉ dạy từng
điều ḥng tăng huệ lực! (Nhan Khoan Văn hỏi)
Đáp: Bốn
danh từ ấy đều là tiếng Phạn, một dịch
là Nhạc Thần, hai dịch là Kim Sí Điểu, ba dịch
là Ca Thần, bốn dịch là Măng Thần (thần rắn).
* Hỏi: Câu “Sắc tức là Không” trong Tâm
Kinh đại khái là nói Tướng có, Thể là Không, c̣n dễ
hiểu. Nhưng “Không chính là Sắc”, tức là đối với
chỗ không có ǵ, bèn bảo nó là Sắc, Lư chẳng dễ
thông! Hy vọng cụ sẽ nêu thí dụ để giải
thích những điểm chánh yếu trong hai câu ấy! (Trần Hiểu Phong hỏi)
Đáp: “Sắc chính là Không”, ư nói: Hễ
có tướng th́ tánh thể của nó là Không, thật sự
“bất biến”. Ví như nước là tướng hiển
nhiên, vẫn là do những thứ khinh khí (hydrogen) và dưỡng
khí (oxygen) dường như là vô tướng làm duyên sanh
ra. Cho nên có thể nói nước chính là khinh khí và dưỡng
khí. “Không chính là Sắc” ư nói
tánh của vô tướng là Không, đối với những
cái có tướng bèn có thể tùy duyên. Ví như khinh khí và
dưỡng khí dường như là vô tướng mà có thể
làm duyên tạo thành tướng nước hiển hiện,
có thể nói khinh khí và dưỡng khí chính là nước vậy!
* Hỏi: Đối
với hai câu Không và Sắc, cụ đă lập tỷ dụ
để trả lời, đương nhiên là cảm
kích, nhưng sợ ngôn từ nhiều, khó ghi nhớ! Nếu
có thể ngoài tỷ dụ ấy, dùng ngôn ngữ
đơn giản để giảng rơ, khiến cho người
khác dễ nhớ, sẽ càng cảm kích hơn nữa! (Trần Hiểu Phong hỏi)
Đáp: Ở
đây là nói Chân Không Diệu Hữu là một, chẳng phải
hai, là Trung Đế chẳng thiên lệch. Sâm la sắc tướng
vẫn là tánh Không chân thật bất biến. V́ thế, nói
Sắc chính là Không. Chân Như tánh Không có thể tùy duyên biến
huyễn sắc tướng. V́ thế nói “Không chính là Sắc”.
* Hỏi: Những
người xuất gia thường thêm chữ Thích vào
trước danh tự, điều này biểu thị họ
là pháp tử của đức Thích Tôn, nhưng cư sĩ
tại gia, trước pháp hiệu nếu cũng thêm vào chữ
Thích th́ không biết có được hay không? Hay là chỉ
dành riêng cho hàng xuất gia? (Nhan
Văn Bộc hỏi)
Đáp: Kẻ
tại gia là hàng cận sự nam nữ, chẳng thuộc
vào Tăng đoàn, chớ nên lạm dụng.
* Hỏi: Phần
thứ mười bốn tức Ly Tướng Tịch Diệt
trong kinh Kim Cang có câu: “Bồ Tát
ưng ly nhất thiết tướng, phát A Nậu Đa
La Tam Miệu Bồ Đề tâm. Bất ưng trụ Sắc
sanh tâm. Bất ưng trụ Thanh, Hương, Vị, Xúc,
Pháp sanh tâm. Ưng sanh vô sở trụ tâm. Nhược tâm hữu
trụ, tắc vi phi trụ. Thị cố Phật thuyết
Bồ Tát tâm, bất ưng trụ Sắc bố thí” (Bồ
Tát hăy nên ĺa hết thảy sắc tướng, phát tâm Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, chớ nên trụ vào
Sắc để sanh tâm, chớ nên trụ vào Thanh,
Hương, Vị, Xúc, Pháp để sanh tâm. Hăy nên sanh cái
tâm chẳng trụ vào đâu. Nếu tâm có chỗ trụ, sẽ
chẳng phải là Trụ. V́ thế, Phật nói tâm Bồ
Tát chớ nên trụ vào Sắc để bố thí). Chữ
Trụ trong đoạn này hăy nên giải thích như thế
nào? (Nhan Văn Bộc hỏi)
Đáp: “Trụ” có nghĩa là đặt
yên ở nơi ấy.
* Hỏi: “Hư không, chân không, Thật
Tướng, pháp giới, vũ trụ”, năm điều
diệu nghĩa trên đây sai khác như thế nào? Dám xin cụ
hăy chia thành từng đoạn để giải thích từng
điều một cho tôi được hiểu? (Ngô Luân Bỉnh hỏi)
Đáp: “Hư không” (虛空) là nói tới không gian. “Vũ” (宇) nghĩa là bốn phương, trên, dưới,
“trụ” (宙) là nói từ xưa đến nay. Gộp
hai chữ ấy lại, sẽ thành không gian và thời gian;
đây vốn là danh từ vốn có trong văn học
nước ta. Ba chữ kia đều nói tới bản
tánh. “Chân Không” (真空) là nói về Thể, Thật
Tướng (實相) chỉ h́nh trạng, “pháp giới” (法界) chỉ Dụng. Đó là
những danh từ chuyên dụng trong Phật học.
* Hỏi: Câu Sanh
Ngă Chấp và Câu Sanh Pháp Chấp có phải là giống
như một thứ Ngă Pháp Chấp vốn có từ lúc sanh
ra hay không? Hay là nói về một pháp nào đó? (Ví như Kiến
Phần, Tướng Phần v.v…)? (La Đức Chương hỏi)
Đáp: Đă
nói là Ngă Chấp và Pháp Chấp th́ Kiến Phần và Tướng
Phần đều được bao gồm trong ấy.
* Hỏi: Trong
bài Già Lam Tán của sách Khóa Tụng, câu đầu tiên có sách
ghi là “già-lam chủ giả”
(đấng làm chủ chốn già-lam), có sách ghi là “già-lam thánh chúng”, câu nào thích hợp
với pháp môn Tịnh Độ? (Ôn Văn Thụy hỏi)
Đáp: “Chủ giả” (主者) tức là xưng tụng thần Già Lam là
người đứng đầu trong chùa. “Thánh chúng” (聖眾): Do thần Già Lam chẳng phải là một vị,
nên gọi là “thánh chúng”. Lại
nữa, nhà Phật c̣n gọi một người là “một chúng”. Ở đây nói
thần Già Lam là người thuộc về bậc thánh th́
cũng hợp lư. Đối với hai cách xưng hô ấy,
tùy ư chọn lấy một cách, đều chẳng có ǵ
không thích hợp.
* Hỏi: Câu
đầu tiên trong kinh A Di Đà là “như thị ngă văn” tức là nói do vị tôn
giả nào chứng minh? Có phải là tôn giả A Nan hay không?
(Ôn Văn Thụy hỏi)
Đáp: Chính là
vị tôn giả ấy.
* Hỏi: Kinh
Bát Nhă nói “do ngoài tâm không có pháp,
nên Không chính là Sắc. Do ngoài pháp chẳng có tâm, nên Sắc chính
là Không. Lại nữa, Sắc chẳng khác Không, tức chẳng
phải là hữu tướng. Không chẳng khác Sắc, tức
chẳng phải là vô tướng”. (Vương Kế hỏi)
Đáp: Đấy
chính là trích dẫn kinh khác để giải thích bốn câu
“Không, Sắc” trong Tâm Kinh. Trong lời ông hỏi, câu một
và ba nhằm giải thích câu thứ hai và câu thứ tư.
Câu thứ sáu và thứ tám nhằm giải thích hai câu thứ
năm và thứ bảy. Nhưng Lư trong lời giải thích
cũng quá sâu, chắc là kẻ sơ học chẳng thể
hiểu được, nay tôi miễn cưỡng giải
thích đại lược. Vạn pháp đều là huyễn
tượng (幻象, những h́nh tượng hư huyễn)
do tâm tạo; v́ thế nói “ngoài
tâm chẳng có pháp”, nhưng các huyễn tượng ấy
đều do tâm biến. Do đó, nói “ngoài pháp chẳng có tâm”. Sắc nương vào những
điều khác để dấy lên, hoàn toàn chẳng có tự
thể, tức là “phi hữu
tướng”. Không chứa đựng Diệu Hữu, tức
là “phi vô tướng”.
* Hỏi: Pháp
sư Ấn Quang nói “A Già Đà
dược” là ǵ? (Hà Vĩnh
Đinh hỏi)
Đáp: Chính là
một loại linh dược ở đất Ấn, trị
được bách bệnh.
* Hỏi: Lục
Phương Phần, Thành Thật Đại Thừa, và Tam
Luận khác biệt với Tam Luận Tông như thế
nào? (Thái Minh Cốc hỏi)
Đáp: Lời
hỏi của ông chẳng chỉ rơ chỗ xuất xứ,
do chẳng thể biết phần kinh văn trước
và sau đó, tự nhiên là chẳng thể do đâu mà đáp
được. Nay tôi chỉ dựa theo văn tự để
suy đoán ư nghĩa mà trả lời. Thành Thật Luận thuộc
về Không Tông trong Tiểu Thừa, cách lập luận trong
luận ấy khá giống với Đại Thừa, có lẽ
là có người gọi bộ luận ấy là Thành Thật
Đại Thừa. Tam Luận là nói đến ba bộ
sách Trung Luận, Thập Nhị Môn Luận và Bách Luận.
Tam Luận Tông chính là tông phái nương theo ba bộ sách
để học tập. Tây Thổ (Ấn Độ) tôn
ngài Văn Thù làm Sơ Tổ [của tông ấy], Đông
Độ th́ tôn ngài La Thập làm Sơ Tổ. Cũng như
người nương theo kinh Hoa Nghiêm để học tập
th́ gọi là Hoa Nghiêm Tông, nương theo ba kinh Tịnh
Độ để tu học th́ gọi là Tịnh Độ
Tông, có cùng một ư nghĩa. Đối với lời hỏi
về Lục Phương Phần, ắt phải biết
phần kinh văn tiếp th́ mới có thể nói năng
được!
* Hỏi: Phật
trong cơi Thật Báo Trang Nghiêm là vi trần tướng hải
thân, trong cơi Phương Tiện Thánh Cư là giải thoát tướng
nghiêm thân, trong Tây Phương An Lạc Độ là Đại
Thừa căn giới thân (xem nghi thức niệm tụng
của Linh Nham, trang một trăm hai mươi ba). Thanh Tịnh
Đại Hải Chúng lại là măn phần nhị nghiêm
thân. Mấy loại thân ấy được giải thích như
thế nào? Xin hăy khai thị. (Đại
Khoan hỏi)
Đáp: “Vi trần” nhằm sánh ví
đông nhiều, Hải tỷ dụ rộng lớn vô
biên, tức là có ư nói: Các cơi nước nhiều vô biên
như số vi trần, thân Phật đều dung chứa
trọn khắp, nên gọi là “vi
trần tướng hải thân”. Tam giới cửu hữu,
chẳng có ǵ không nhiếp độ, nên gọi là “Đại Thừa căn giới
thân”. Hai thứ phước huệ viên măn trọn đủ
để trang nghiêm thân ấy, nên gọi là “măn phần nhị nghiêm thân”.
* Hỏi: Cuối
bài đại sám hối có câu “như
thị tứ pháp quảng vô biên” (bốn pháp như thế
rộng vô biên); bốn pháp ấy là những thứ nào? Xin
hăy chỉ dạy! (Đại
Khoan hỏi)
Đáp: Đấy
là nói tới hai câu trước đó: “Năi chí hư không thế giới tận, chúng sanh cập
nghiệp phiền năo tận” (cho đến hư không,
thế giới hết chúng sanh và nghiệp năo đều hết).
Chính là bốn pháp thế giới, chúng sanh, nghiệp, và phiền
năo. [Những câu này] xuất phát từ phần kệ tụng
trong Hoa Nghiêm Hạnh Nguyện Phẩm, nghĩa là: Do bốn
pháp ấy chẳng có cùng tận, nguyện của Bồ
Tát cũng chẳng hề cùng tận!
* Hỏi: Một,
Sự Lư vô ngại pháp giới, hai, đồng thời cụ
túc tương ứng môn, ba, nhất đa tương dung
bất đồng môn, bốn, chư pháp tương tức
tự tại môn, năm, nhân đà la vơng vi tế cảnh
giới môn, sáu, vi tế tương dung an lập môn, bảy,
quảng hiệp tự tại vô ngại môn, tám, thập thế
cách pháp dị thành môn, chín, chủ bạn viên minh cụ
đức môn, mười, thác sự hiển pháp sanh giải
môn. Mười điều kể trên đây có phải là phương
hướng để thực hành giáo pháp Đại Thừa
hay không? Xin giải thích, chỉ dạy! (Cao Thanh Tiêu hỏi)
Đáp: Mười
điều như ông đă hỏi được gọi
là Thập Huyền Môn, do Hoa Nghiêm Tông lập ra. Do Hoa Nghiêm
huyền diệu, sâu thẳm như biển. Thông qua mười
nghĩa ấy, có thể tiến nhập. Đích xác [mười
huyền môn ấy] là phương hướng của Đại
Thừa, nhưng kẻ sơ học chẳng thể liễu
giải, càng chẳng phải là kẻ bên ngoài có thể lén
nḥm trộm muôn một được! Vẫn mong ông hăy tạm
chớ bàn đến những điều cao siêu ấy, sợ
có kẻ hiếu sự dựa vào đó để giải
thích sai lầm, khoe khoang, khiến cho đại chúng lầm
lạc. Xét theo những điều được ghi chép
trong sách Tham Huyền Kư, hoàn toàn chẳng có điều “Sự Lư vô ngại pháp giới”.
Chín điều kia tương đồng, một điều
khác biệt là “bí mật ẩn
hiển câu thành môn”.
* Hỏi: A Bệ
Bạt Trí là nói tới căn khí ngu dại phải không?
Đối với câu “nhược
dĩ sanh, nhược kim sanh, nhược đương
sanh” giải thích như thế nào? (Lâm Kim Liên hỏi)
Đáp: Câu ấy
là tiếng Phạn, dịch sang tiếng Hán là Bất Thoái
Chuyển. Tức là sanh về cơi ấy, hết thảy tu
nhân (修因, cái nhân tu tập) và quả
vị chỉ có tiến cao hơn, quyết chẳng lui sụt!
Chẳng phải như những người tu hành trong thế
giới này, “tiến ba bước, lùi hai bước” là
chuyện đương nhiên. Ba câu kế tiếp mang ư
nghĩa thừa tiếp ba câu “nhược
dĩ nguyện, nhược kim nguyện, nhược
đương nguyện”, nhằm nói: Những người
đă phát nguyện th́ đă có người văng sanh. Người
hiện thời phát nguyện th́ cũng có người văng
sanh trong hiện thời. Người phát nguyện sẽ
văng sanh trong tương lai th́ trong tương lai, cũng sẽ
nhất định văng sanh.
* Hỏi: “Nhị lục thời trung”
nghĩa là ǵ? (La Đức
Chương hỏi)
Đáp: Một
ngày đêm có tất cả mười hai thời thần[14], chia thành sáu thời
ban ngày, sáu thời ban đêm. V́ thế nói “nhị lục thời trung” (trong mười hai
thời).
* Hỏi: Phật
pháp chia thành Tạng, Thông, Biệt, Viên, Tứ Đế
cũng chia thành bốn loại. Trừ Sanh Diệt Tứ
Đế ra, xin hăy chỉ dạy đại lược về
ư nghĩa của ba loại kia. (Tưởng
Tuấn Nghĩa hỏi)
Đáp: Bốn
loại Tứ Đế trừ Sanh Diệt ra, những loại
khác là Vô Sanh, Vô Lượng, và Vô Tác. Do cảnh giới liễu
giải của các giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên bất
đồng, cho nên mỗi giáo thấy Tứ Đế sâu hay
cạn sai khác. Thông Giáo hiểu rơ bản thể của Khổ,
Tập, Đạo đều là Không. Do đă không thấy
sanh diệt, nên gọi là Vô Sanh. Biệt Giáo hiểu rơ Khổ
Đế có vô lượng tướng, Đạo Đế
có vô lượng sai biệt, tu học nhằm đoạn Trần
Sa, nên gọi là Vô Lượng. Viên Giáo đă hiểu rơ phiền
năo chính là Bồ Đề, sanh tử chính là Niết Bàn, đối
với Khổ Đế và Diệt Đế chẳng dấy
lên tạo tác, nên gọi là Vô Tác. Đấy là nói đại
lược vậy!
* Hỏi: Phàm
là trong bài những văn tâu tŕnh trong khi làm công đức,
thường viết “nhất
sái thiên hạ, Nam Thiệm Bộ Châu” chính là nói đến
Trung Hoa, hay là ngoài Trung Hoa ra, c̣n bao gồm những nơi
khác? Chữ “sái” giải
thích như thế nào? (Trương
A Long hỏi)
Đáp: Phật
học nói đến vũ trụ, theo cơ cấu giả
định, mỗi châu trong bốn đại châu
được gọi là một “thiên
hạ”. Xét ra, đoạn văn ấy có ư nghĩa nói
đến một thiên hạ thuộc về Nam Thiêm Bộ
Châu. Nam Thiệm Bộ Châu chính là địa cầu nơi
chúng ta đang sống, Trung Hoa bất quá là một phần
trong châu ấy đó thôi! “Sái”
(洒) có nghĩa là dùng nước rưới vẩy.
Có lẽ là trong bài tâu tŕnh có chữ “cam lộ pháp vũ” (mưa pháp cam lộ) nên nói là
“sái” vậy!
* Hỏi: Kinh Viên Giác, quyển Hạ,
trang bốn mươi tám có nói: “Nếu
thỉnh Bồ Tát dùng sức biến hiện vô ngại
để đoạn phiền năo, an trụ nơi tĩnh
lặng tột cùng. Vị Bồ Tát ấy được gọi
là: Trước hết, tu Tam Ba Bát Đề, khoảng giữa
tu Thiền Na, sau là tu Xa Ma Tha”. Ba câu Tam Ma Bát Đề,
Thiền Na, và Xa Ma Tha dịch sang tiếng Hán như thế
nào? (Vô Danh Thị hỏi)
Đáp: Tam Ma Bát Đề (Samāpatti) dịch
sang tiếng Hán là Đẳng Chí (等至), chính
là một loại Thiền Định, nghĩa là khi đă
định, tâm sẽ ĺa hôn trầm và điệu cử,
đạt được b́nh đẳng, an ḥa, nên gọi
là Đẳng Chí. Thiền Na (Dhyāna) là tên gọi đầy đủ của Thiền,
Hán dịch là Tĩnh Lự. Tĩnh (靜) có
nghĩa là Định, Lự (慮) có
nghĩa là Huệ. Theo đúng pháp để tu, có thể khiến
cho thân tâm đạt đến cảnh Giới, Định,
Huệ quân bằng. Xa Ma Tha (Śamatha) cũng là tên gọi của Thiền
Định, dịch sang tiếng Hán là Chỉ (止), ư nói: Nhiếp tâm một chỗ, chẳng hướng
ra ngoài phan duyên.
* Hỏi: Trong
chương Hạ của Sa Di Luật Nghi, điều thứ
mười một trong phần Chấp Tác có nói: “Phàm tẩy thái, đương
tam dịch thủy” (Phàm rửa rau, nên thay nước ba
lần). “Tam dịch thủy” là nói đến điều
ǵ? (Diêu Bổn Khiết hỏi)
Đáp: “Dịch thủy” (易水) nghĩa là đổ bỏ nước
đă dùng, thay thế bằng nước mới. Ắt phải
làm như vậy, do sợ có những động vật vi
tế sống trên rau; nếu rửa một lần, sẽ
chẳng loại trừ hết, sợ gây thương tổn
những chúng sanh ấy. Lại nữa, thức ăn
cũng chẳng chú trọng ngon lành, mà quư trọng sự
thanh khiết. Lại nữa, đây là giới luật của
hàng xuất gia, bọn tại gia chúng ta chẳng cần nghiên
cứu.
* Hỏi: Lại nữa, trong
điều thứ năm “ăn
cùng đại chúng” trong phần hạ của [Sa Di Luật
Nghi]: “Đương nhất tọa
thực, bất đắc thực ngật ly tọa, cánh tọa
thực. Bất đắc thực ngật, dĩ thủ
chỉ quát oản bát thực” (Trong một bữa
ăn, không được phép đă ăn xong, rời khỏi
chỗ ngồi rồi lại ngồi xuống ăn thêm.
Không được ăn xong, dùng ngón tay vét thức ăn
trong chén, bát). Xin hăy chỉ dạy ư nghĩa bao hàm trong ấy!
(Diêu Bổn Khiết hỏi)
Đáp: Đấy chính là chú
trọng oai nghi. Đối với pháp thế gian, hễ
người được giáo dục, c̣n chú trọng sự
lễ phép, thường nói là “ba
ngàn lễ nghi, ba ngàn oai nghi”, huống hồ nhà Phật
ba nghiệp thanh tịnh, luật nghi càng nghiêm ngặt!
Ăn xong đă rời khỏi chỗ ngồi rồi lại
ngồi ăn tiếp th́ chính là tham! Dùng ngón tay vét chén, bát
th́ chính là chẳng trang nghiêm!
* Hỏi: Khi vị
khai sơn chùa Linh Tuyền ở Cơ Long là đại ḥa
thượng Thiện Huệ viên tịch, có để lại
hai bài kệ:
1) Thích tử biết số mạng.
Có
thân, ắt có bệnh,
Kêu
đau bèn niệm Phật.
Đêm
ngày tâm thanh tịnh.
2)
Tôi nay sáu mươi lăm,
Không
mê cũng chẳng ngộ.
Thường
hành lư Trung Đạo,
Khắp
nơi khéo tùy duyên.
Chẳng biết
trong bài kệ thứ hai, câu thứ ba là “thường hành lư Trung Đạo” nên giải
thích như thế nào? (Lư
Vĩnh Mậu hỏi)
Đáp: Câu này
có ư nghĩa nói phiếm chỉ, tức là chẳng lệch
về một phương diện nào. Nói cụ thể, sẽ
rất rườm rà. Như chẳng rơi vào Đoạn
Kiến, mà cũng chẳng rơi vào Thường Kiến.
Nghĩa là: Chẳng chấp trước Hữu, mà cũng
chẳng chấp trước Không. Lại c̣n có nghĩa “Sự chính là Lư, Lư chính là Sự,
cùng chẳng phải, cùng chiếu”, cho đến “Định Huệ quân bằng,
hạnh giải tương ứng” v.v… đều có thể
gọi là “hành Trung Đạo”
vậy!
* Hỏi: Trong
kinh Kim Cang do Thụy Thành Thư Cục xuất bản,
nơi trang chín và trang mười bốn, đă giải nói
tứ tướng chính là t́nh huống vốn có của chúng
sanh hết sức cặn kẽ, nhưng tôi chẳng biết
ư nghĩa tứ kiến và tứ tướng phân biệt
như thế nào? Lại nữa, đối với Duy Thức
Học do ngài Từ Thị (Di Lặc Bồ Tát) giải
thích, có nói về ba tế tướng và sáu thô tướng,
trong ấy có nhắc đến Kiến Phần và Tướng
Phần. Xin hỏi Kiến Phần và Tướng Phần
có phải là tên gọi khác của tứ tướng và tứ
kiến, hay là nói đến điều chi khác? Xin thầy
dạy rơ cho! (Trọng Chí Anh hỏi)
Đáp: [Ông nói]
kinh Kim Cang do Thụy Thành Thư Cục xuất bản là
nói đến loại nào, chẳng nói rơ là bản chú giải
nào, chẳng có cách nào tra duyệt được. Nhưng
luận định về sự khác biệt giữa tứ
tướng và tứ kiến, Tướng là nói đến
cảnh gây nên sự dấy khởi [những kiến chấp],
c̣n Kiến là nói tới những phân biệt đă dấy
khởi. Đối với Kiến Phần và Tướng
Phần, có thể giải thích giống như trên, nhưng
chỉ có điều hai phần ấy (Kiến Phần và
Tướng Phần) không chỉ hạn cuộc trong tứ
tướng và tứ kiến của kinh Kim Cang, mà đối
với bất cứ Sự Lư nào, cũng đều khởi
tác dụng như thế! Lại nữa, “nhất, dị, thường, phi thường” (một,
khác, thường, chẳng thường) và “thường, lạc, ngă, tịnh” v.v… đều
gọi là Tứ Kiến. Do chưa thấy bản chú giải
cho kinh ấy, cho nên chẳng biết lời chú giải nói
về như thế nào!
* Hỏi: Nơi
trang mười bảy của kinh Kim Cang do Thụy Thành
Thư Cục xuất bản, có phân tích và giải thích về
những nỗi mê của chúng sanh. Trước hết là Chấp
Pháp Ngă, sau là Chấp Nhân Ngă, và những câu như: Hàng Bồ
Tát chưa phá Pháp Ngă Chấp, phàm phu chưa phá trừ Nhân Ngă
Chấp v.v… Lư ấy quá sâu, kẻ sơ học chẳng thể
liễu giải, xin hỏi Pháp Ngă là như thế nào? Nhân Ngă
là như thế nào? V́ sao phàm phu trước hết là chấp
Pháp Ngă, c̣n Bồ Tát th́ trước hết là phá Nhân Ngă? Dám
xin cụ hăy phân biệt, giải thích cho! (Trọng Chí Anh hỏi)
Đáp: Bản
[chú giải] kinh [Kim Cang] do ông đă nêu, không có cách nào tra cứu.
Như đă trả lời cho câu trước, chỉ có
cách dựa theo lời hỏi để giải thích mà thôi.
Chữ Ngă có ư nói “có một cái
Thể thường nhất, có tác dụng làm chủ tể”.
Nói đến thân người, [thân người là] Tứ
Đại giả hợp, thật sự chẳng có Thể
và Dụng như đă nói trên đây. Điều này được
nói là “chẳng có ta hay người”. Nói đến vạn
pháp, nói chung là do các nhân duyên sanh ra, cũng chẳng có Thể
và Dụng như đă nói trên đây. Đó là “chẳng có
Pháp Ngă”. Mê muội lư này, ngỡ người và pháp đều
có cái Thể thường hằng, có Dụng làm chủ tể,
sẽ gọi là “chấp trước hư vọng”. “Phá” là trừ bỏ chấp
trước mê hoặc ấy. Lại nữa, thường
nghe nói “phá Pháp Ngă Chấp khó hơn phá Nhân Ngă Chấp”. Ông hỏi
“phàm phu trước hết là phá
Pháp Ngă Chấp, Bồ Tát phá Nhân Ngă Chấp trước”,
sợ là “thấy nghe sai lầm”. Do tôi chưa thấy bản
chú giải gốc, cho nên chẳng dám vội vàng đáp bừa!
* Hỏi: Xin hỏi
Vô Sanh Pháp Nhẫn có ư nghĩa như thế nào? Kệ rằng:
“Hoa khai kiến Phật ngộ
Vô Sanh”, Vô Sanh ở đây có phải là Vô Sanh trong Vô Sanh
Pháp Nhẫn hay không? Chưa đạt đến cảnh
địa Bồ Tát, sẽ chẳng thể lănh ngộ rốt
ráo. Xin hăy giải thích! (Trọng
Trung Anh hỏi)
Đáp: Niết
Bàn bất sanh, bất diệt, gọi là Vô Sanh. Chữ Pháp
chỉ lư Chân Như, và chính là [nói đến cái] Thể của
Niết Bàn. Nhẫn (忍) là chân trí an trụ bất
động. Câu kệ “hoa khai
kiến Phật…” nói về điều này. Hễ sanh về
Tây Phương, sẽ đều là A Bệ Bạt Trí,
cư sĩ chẳng thấy hàng Bồ Tát c̣n mong sanh về
Tây Phương ư? Xin hăy nghiên cứu cặn kẽ ba
kinh Tịnh Độ, nỗi nghi sẽ tự tiêu sạch.
* Hỏi: Tôi chẳng
hiểu ư nghĩa của cách xưng hô Hoạt Phật (活佛, Phật sống) cho lắm.
Người Mông Cổ nào cũng đều có thể
xưng là Hoạt Phật, đúng không? (Huệ Mẫn hỏi)
Đáp: Hoạt
Phật chính là cách gọi thông tục của chữ Hô
Đồ Khắc Đồ[15]. Tiếng Ấn là
Hô Đồ Khắc Đồ, dịch sang tiếng Hán,
đại lược có nghĩa là “chẳng mê muội bản tánh, thừa nguyện tái
lai”, chính là danh hiệu
chuyên biệt dành cho bậc cổ đức ứng thế.
Há lẽ nào người Mông Cổ nào cũng đều có
thể xưng là Hoạt Phật được! Sai lầm
to lớn!
* Hỏi: Các
câu “bất liễu Phật trí,
bất tư nghị trí, bất khả xưng trí, Đại
Thừa quảng trí, vô đẳng vô luân tối thượng
thắng trí” trong kinh Vô Lượng Thọ giải thích
thế nào? (Dương Đức
Vinh hỏi)
Đáp: Nhất
Thiết Chủng Trí và Đại Viên Kính Trí đều là Phật
trí. Nếu dùng kinh Hoa Nghiêm để nói, Phật có trọn
mười trí. Do quá rườm rà, nên không trích dẫn
được. Phật trí được nói trong kinh Vô Lượng
Thọ chính là các loại vừa được nêu trên; bốn
câu sau đó chẳng qua là những lời tán thán Phật
trí.
* Hỏi: Hiền
Kiếp là ǵ? (La Đức
Chương hỏi)
Đáp: Trong kiếp
ấy, có một ngàn vị Phật xuất thế, nên gọi
là Hiền (賢).
* Hỏi: Đối
với “thù y” (銖衣) của chư thiên trong
sáu tầng trời cơi Dục, từ áo nặng sáu thù của
trời Đao Lợi cho đến áo nửa thù của cơi
trời Tha Hóa, chữ “thù” (銖) ấy có h́nh tướng như thế
nào? Chẳng biết có thể nghe giải thích hay không? (La Đức Chương hỏi)
Đáp: “Thù” là tên gọi [một
đơn vị] đo lường. Tiền thời cổ
có ba thù, bốn thù, và năm thù sai khác, nhưng một thù nặng
cỡ nào, mỗi thuyết nói một khác. Có người
nói: Nặng mười Thử là một Thù. Có người
nói nặng hai mươi Thử (黍, hạt kê, hoặc hạt
gạo nếp) là một Thù. Tuân Tử bảo mười
hai Túc (粟, hạt kê) là một Phân, mười hai Phân là một
Thù, Hoài Nam Tử lại bảo trọng lượng của
sáu hạt đậu là một Thù. Áo càng nhẹ càng coi là
quư, ư nói áo của chư thiên nhẹ như thế đó.
* Hỏi: Xin hỏi
bốn chữ Vô Sanh Pháp Nhẫn hăy nên giải thích như
thế nào? Sau ba chữ Vô Sanh Pháp, cớ ǵ cần thêm một
chữ Nhẫn nữa? Có phải nhằm ư nghĩa là được
thành tựu nơi Nhẫn hay không? Giữa hai đằng
có mối liên đới rơ rệt như thế nào? Học
tṛ chưa rơ! (Trọng Chí Anh hỏi)
Đáp: Vô Sanh
Pháp là nói về Lư “bản thể
của Chân Như bất sanh, bất diệt”. “Nhẫn” nghĩa là an trụ
bất động. Nói hợp lại, tức là sau khi
đă ngộ lư này, sẽ an trụ cái tâm ở nơi
đây, chẳng bị lay động, thoái chuyển.
* Hỏi: Giải
thích ư nghĩa “cửu phẩm
liên hoa vi phụ mẫu” và “hoa
khai kiến Phật ngộ Vô Sanh” như thế nào? (Vương A Trản hỏi)
Đáp: Người
sanh về Tịnh Độ thác chất trong búp sen, v́ thế
nói “liên hoa vi phụ mẫu”
(hoa sen là cha mẹ); nhưng do công phu niệm Phật có sâu
hay cạn, nên hoa sen sanh trong ao ấy cũng có chín phẩm
thượng hạ. “Ngộ Vô
Sanh” chính là chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn. Giải thích câu
này một cách nông cạn, sẽ là: Chứng đắc pháp
bất sanh bất diệt, an trụ cái tâm vững vàng
nơi đạo ấy!
* Hỏi: Tư
tưởng “Phệ Đà chủng
tánh” là như thế nào? Giải thích Sa-bà-ha như thế
nào? (Liêu Ngọc Kiều hỏi)
Đáp: Chưa
thấy ghi chép, nhưng dùng hoàn cảnh để suy luận,
[sẽ là] kẻ thoạt đầu tín ngưỡng Bà La
Môn; sau đấy, do được hóa độ bèn quy
hướng Phật giáo vậy. Sa-bà-ha (Svāhā) chính là tiếng Phạn, dịch nghĩa là “thành tựu mau chóng”.
* Hỏi: Trong
kệ tụng của phẩm Phổ Môn trong kinh Diệu Pháp
Liên Hoa, có câu: “Chú trớ chư
độc dược, sở dục hại thân giả, niệm
bỉ Quán Âm lực, hoàn trước ư bổn nhân” (Nguyền
rủa, các thuốc độc, toan làm hại thân người.
Do sức niệm Quán Âm, trở ngược người
gây hại), xin hăy khai thị. (Hương
Viễn hỏi)
Đáp: Hai câu
đầu là nói: Nếu như có kẻ ác, dùng ác chú hoặc
thuốc độc, toan làm hại kẻ khác. Hai câu sau là
nói người bị hại do cậy vào sức niệm
Quán Âm, có thể chẳng bị hứng chịu sự gia hại
ấy, bất quá kẻ hại người sẽ tự hại
chính ḿnh mà thôi!
* Hỏi: Bát Nhẫn
Bát Trí là ǵ? Chúng tôi có thể biết ư nghĩa đại
lược của chúng hay không? (Hứa
Ngọc Hà hỏi)
Đáp: Ở
trong tam giới, cái trí nhằm đoạn Kiến Hoặc
trong Tứ Đế Khổ Tập Diệt Đạo của
Dục Giới, được gọi là Tứ Pháp Nhẫn.
Cái trí do đă đoạn Kiến Hoặc, chứng đắc
Lư ấy, được gọi là Tứ Pháp Trí. Cái trí
đoạn Kiến Hoặc thuộc Tứ Đế trong Sắc
Giới và Không Giới, được gọi là Tứ Loại
Nhẫn. Cái trí do đă đoạn Kiến Hoặc bèn chứng
đắc Lư ấy, được gọi là Tứ Loại
Trí. Gộp chung sự đoạn chứng gồm Tứ
Pháp Nhẫn và Tứ Pháp Trí của Dục Giới với sự
đoạn chứng gồm Tứ Loại Nhẫn và Tứ
Loại Trí của Sắc Giới và Không Giới th́ gọi
là Bát Nhẫn Bát Trí. Đó cũng chính là mười sáu loại
tâm kiến đạo vậy!
* Hỏi: Nơi
ḍng thứ chín thuộc trang thứ bảy của Phật Thuyết
Tứ Thập Nhị Chương Kinh có đoạn: “Phạn thiên ức tam thế
chư Phật, bất như phạn nhất vô niệm vô
trụ vô tu vô chứng chi giả” (Dâng cơm cúng dường
ba đời chư Phật, chẳng bằng cúng dường
cơm cho một vị vô niệm, vô tu, vô trụ, vô chứng),
chẳng biết ư ấy là như thế nào? (Lư Vĩnh Mậu hỏi)
Đáp: Đoạn
này ư nói càng cúng dường bậc đức cao đạo
trọng, công đức ấy càng to lớn. Phật
cũng có bốn loại Tạng, Thông, Biệt, Viên. Nói “mười phương” hay
nói “tam thế” đều là
nói về những vị Tạng Phật (Phật trong Tạng
Giáo) đă đoạn ba mươi bốn tâm thuộc Kiến
Tư Hoặc. “Bậc vô tu vô
chứng” có nghĩa là “pháp tánh vô tác, vô vi”, có ư nói đến
Phật trong Biệt Giáo hoặc Viên Giáo, mà cũng có thể
hiểu là nói đến tự tánh vậy! Đối với
đoạn kinh này, lời chú giải của Ngẫu Ích
đại sư đơn giản nhất mà nghĩa lư rộng
răi nhất, mong ông hăy tham khảo! Tiếc là trong tay kẻ
hèn này không có sách ấy, chẳng thể trích lục để
dâng hiến được!
* Hỏi: “Một niệm mười pháp giới” th́ tứ
thánh lục phàm dễ biết; nhưng “nhất niệm tam thiên tánh tướng” chẳng
hiểu rơ cho lắm! (Khoan Tâm hỏi)
Đáp: Mỗi pháp giới
trong mười pháp giới đều có đủ mười
giới, nên [mười nhân mười] thành một trăm
giới. Mỗi giới trong một trăm giới ấy
lại có tánh như thế, tướng như thế, thể
như thế, và lực, tác, nhân, duyên quả báo, bổn mạt
cứu cánh như thế. Trăm giới nhân với mười
Như sẽ thành một ngàn như (thiên như). Một
ngàn như ấy lại chia thành chúng sanh, quốc độ,
và Ngũ Ấm sai khác, nên gộp chung lại sẽ con số
ba ngàn. Đối với lời giải thích dành cho Thập
Như, có thể tham khảo bút kư phần giảng về
Như Thị khi nghe kinh Pháp Hoa.
* Hỏi: Phân
biệt Từ và Bi như thế nào? (Ngụy Khánh Chí hỏi)
Đáp: Ban sự
an vui cho người khác là Từ, cứu độ nỗi
khốn khổ của họ là Bi.
* Hỏi: [Từ
ngữ] “Sa Bà thế giới
giáo chủ” có phải là để chỉ người
hiện tại đang tuyên thuyết đạo hay không? Hay
là nói tới vị Phật tuyên dương kinh Phật? (Kha A Minh hỏi)
Đáp: Chữ
“Sa Bà giáo chủ” chuyên nói về
Thích Ca Mâu Ni Phật, do tam thiên đại thiên thế giới
Sa Bà đều do đức Thích Tôn giáo hóa.
* Hỏi: “Cửu giới đạo
sư” là ǵ? Giáo chủ và đạo sư có phân biệt
ǵ không? Lại nữa, chư Phật đều có thể
gọi là Bổn Tôn hay không? (Kha
A Minh hỏi)
Đáp: Bồ
Tát, Duyên Giác, Thanh Văn là tam thánh; trời, người, A
Tu La, súc sanh, quỷ, địa ngục là sáu phàm, gọi [gộp
chung] là “cửu giới”, đều
cần nhờ vào Phật để khai phá nỗi mê, nên đức
Phật được gọi là “cửu giới đạo sư” (bậc thầy
dẫn đường cho chín pháp giới). “Giáo chủ” (教主) chính là vị đứng
đầu Phật giáo, đương nhiên là đạo
sư (導師). Lại nữa, đối
với Hiển Giáo, các vị Phật, Bồ Tát được
các tông tôn sùng sẽ là Bổn Tôn (本尊) của các tông ấy. Đối với các pháp của
Phật, Bồ Tát, Kim Cang[16] được truyền
dạy trong Mật Giáo, những vị Phật, Bồ Tát,
Kim Cang ấy sẽ được gọi là Bổn Tôn của
pháp môn ấy.
* Hỏi: “Bát giáo, ngũ tông, tam giới, tứ
độ” giải thích như thế nào? (Kha A Minh hỏi)
Đáp: Thiên
Thai Tông lập ra Hóa Pháp Tứ Giáo (Tạng, Thông, Biệt, Viên)
và Hóa Nghi Tứ Giáo (Đốn, Tiệm, Mật, Bất
Định), gọi [gộp chung] là Bát Giáo. Thiên Thai, Hoa
Nghiêm, Pháp Tướng, Tam Luận và Luật gọi là
Ngũ Tông. Hiện thời, c̣n có Tịnh, Thiền, Mật,
Thành Thật, Câu Xá v.v… Những tông này là nói chung, nếu chia
nhỏ ra, sẽ c̣n những tông khác. Sáu tầng trời cơi
Dục, mười tám tầng trời thuộc Sắc Giới,
và bốn tầng trời thuộc Vô Sắc Giới, [gọi
chung] là Tam Giới. Thiên Thai Tông chia cơi Phật thành bốn
loại, tức Phàm Thánh Đồng Cư Độ, Phương
Tiện Hữu Dư Độ, Thật Báo Trang Nghiêm Độ,
và Thường Tịch Quang Độ. Đấy chính là Tứ
Độ.
* Hỏi: “Phật mẫu” là từ ngữ
để gọi vị nào? (Lư
Hàm Vinh hỏi)
Đáp: Từ
ngữ này có mấy cách hiểu:
2) Những
người mẹ sanh dưỡng thân Phật. Đây là
cách nói thông thường nhất.
3) Các pháp
cũng gọi là Phật Mẫu, v́ Phật do pháp sanh ra.
4) Các vị Bồ
Tát có năng lực sanh ra sự thần biến và công
đức của Phật, đa số được gọi
là Phật Mẫu, như Kim Cang Hợi Mẫu[17] trong Mật Tông, hai
mươi mốt vị Độ Mẫu[18], Chuẩn Đề
Phật Mẫu[19], Khổng Tước
Phật Mẫu[20], Phật Nhăn Phật
Mẫu[21]
v.v… đều là những vị Phật Mẫu.
* Hỏi: Phật
giáo đă chia thành năm tông Luật, Giáo, Thiền, Mật,
Tịnh, bốn tông trước là nói đến những
pháp ǵ? (Trầm Hàn Sơ hỏi)
Đáp: Kinh Phật
được chia thành ba loại lớn là Kinh, Luật, Luận,
gọi là Tam Tạng. “Luật”
là giới luật. Chuyên nghiên cứu, tu tập loại học
vấn này th́ gọi là Luật Tông. Chữ Giáo chỉ hết
thảy các giáo pháp; chuyên nghiên cứu, thảo luận
nghĩa lư trong kinh giáo th́ gọi là Giáo Tông. Thiền dịch
nghĩa là Tĩnh Lự, chẳng lập văn tự,
chuyên tham cứu tâm tánh. Mật c̣n gọi là Chân Ngôn Tông, miệng
tŕ chú ngữ, tay kết ấn, tâm quán tưởng, thành tựu
Bổn Tôn (tức là tu thành Phật, Bồ Tát của một
pháp nào đó). Đấy là phân biệt đại lược
bốn tông ấy.
* Hỏi: Phật
Đà và Như Lai Phật là những vị Phật nào? (Lưu Định Xí hỏi)
Đáp: Phật
có mười hiệu, tức là một vị Phật có
mười loại xưng hô. Phật Đà và Như Lai
chính là hai loại danh xưng trong mười hiệu, giống
như hiện thời hễ nói tới ai, gọi tên
người ấy rồi thêm vào những chữ như cụ
X…, ông Y…, ngài X…, tiên sinh X… v.v…
* Hỏi: Tháp
và Phù Đồ có phân biệt ǵ, có tác dụng và công đức
ǵ? (Lưu Định Xí hỏi)
Đáp: Hai chữ
này là danh xưng khác nhau, nhưng thực chất là một.
Nó có tác dụng thờ Phật, hoặc thờ xá-lợi,
có khi để chứa kinh điển, hoặc cất giữ
tro cốt của người ta. Âm gốc là Tốt Đổ
Ba (Stūpa), dịch sang tiếng Hán
là Cúng Dường Xứ.
* Hỏi: Sa Bà,
tam căn, lục căn, tứ đại, an bà, Long Hoa,
Già, Tam Quy, Trà Tỳ, Đề Hồ có ư nghĩa như thế
nào? (Lưu Định Sí hỏi)
Đáp: Sa Bà (Sahaloka)
dịch là Kham Nhẫn chính là tên của thế giới này,
ư nói: Chúng sanh trong cơi này ở yên trong Thập Ác, hứng chịu
Tam Độc. Tam Căn có nghĩa là con người có ba hạng
căn khí là thượng, trung, hạ. Lục Căn là mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân, ư. Tứ Đại là bốn
loại lớn, tức đất, nước, gió, lửa.
Chữ An Bà vẫn chưa rơ, không thể giải đáp. Long
Hoa (Nāga-puspa) là tên của một cái
cây, Di Lặc Bồ Tát ngồi dưới cây ấy, thành
đạo, thuyết pháp. Nhưng hiện thời có cái gọi
là Long Hoa Phái[22],
vốn là ngoại đạo, mượn danh giả mạo
Phật giáo. Chữ Già (伽) phải ghép với một
chữ khác th́ mới có dễ giảng giải. Chữ Quy (皈) trong Tam Quy giống như chữ Quy (歸). “Tam” chỉ
Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo, [Tam Quy] có nghĩa là quay về
nương cậy, tôn Tam Bảo làm thầy. Trà Tỳ (Jhpeti) dịch là Phần Thiêu
(焚燒, đốt cháy), tức
là Phật tử sau khi đă chết, bèn thiêu di thể.
Đề Hồ (醍醐) chính là sữa ḅ trải
qua bốn lượt chế luyện, đạt
được cái tinh hoa cuối cùng, bèn gọi tên như vậy.
* Hỏi: Miếu
(廟), Sát (剎), Tự (寺), Viện (院), Quán (觀), Cung (宮), Am (庵), Sa-môn, Đường (堂) phân biệt như thế nào? (Lưu Định Sí hỏi)
Đáp: Cơi này dịch
Sa-môn (Śramaṇa) là Cần Tức (勤息), ư nói: Siêng tu Giới,
Định, Huệ, dứt diệt tham, sân, si, chính là danh
xưng chuyên biệt để người xuất gia tự
xưng. Tám chữ c̣n lại đều là danh tự để
gọi chùa, miếu. Nói nghiêm ngặt, mỗi chữ đều
có ư nghĩa khác biệt, nhưng hiện thời, trừ
chùa Phật không gọi là Cung hoặc Quán, miếu của
Đạo gia không gọi là Tự hoặc Sát ra, đại
khái là phần nhiều dùng lẫn lộn.
Ghi
thêm: Giải đáp cho bốn câu hỏi trên đây, bất
quá là nói danh tướng đại lược, nhưng các
danh từ đều bao hàm khá nhiều nghĩa lư. Do cột
báo này bị giới hạn về độ dài, chẳng
thể giải thích cặn kẽ từng điều một,
hết sức tạ lỗi!
* Hỏi: Trong
đoạn thứ mười bốn của kinh Vô Lượng
Thọ có nói “tà kiến nghiệp
vương”, xin hỏi “nghiệp
vương” là ǵ? Chính ḿnh muốn ĺa bỏ mà bị
người khác trói buộc, đó có phải là tác dụng
của nghiệp vương hay không? (Châu Huệ Đức hỏi)
Đáp: Tà kiến
thuộc về ư nghiệp. Nếu đạt tới mức
độ cao nhất, sẽ chẳng thể bị phá giải
bởi hết thảy các chánh thuyết, giống như vua
trong một nước, oai nghi lẫm liệt, chẳng thể
xâm phạm! Ư nghiệp ấy lại phối hợp với
thân khẩu, tạo tác đủ mọi tà sự, tà ngữ,
cũng giống như nhà vua khống chế hết thảy.
Chính ḿnh mong thoát ly, đấy là chánh kiến; bị người
khác trói buộc, chính là ngoại chướng, chẳng liên
can ǵ đến tà kiến nghiệp vương!
* Hỏi: Bài kệ
trong phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện có câu: “Mông bỉ Như Lai thọ kư
dĩ, hóa thân vô số bách câu-chi” (Đă được
Như Lai thọ kư rồi, hóa thân vô số trăm câu-chi), câu
này nên hiểu như thế nào? (Cam
Trấn Phân hỏi)
Đáp: “Câu-chi” (Koṭi) dịch sang tiếng Hán là “thiên vạn” (ngàn vạn). Chữ này có nghĩa là Bồ
Tát có trăm ngàn vạn thân biến hóa vô số lượng.
* Hỏi: Giải
thích chữ “si”, ngoài ư
nghĩa “ngu si” ra, có c̣n chứa
đựng ư nghĩa “hôn mê”
hay không? (Trương Đ́nh Vinh
hỏi)
Đáp: “Si” là Vô Minh, là căn bản của
phiền năo. Hôn và mê đều là một phần của Si.
* Hỏi: “Kim Cang Na La Diên thân” có ư
nghĩa như thế nào? (Đại
Khoan hỏi)
Đáp: Na La
Diên (Nārāyaṇa) là lực sĩ trên cơi trời,
sức to lớn vô cùng. Kim Cang (Vajra) chính là chất tinh túy của
vàng, dẫu nung luyện trăm lần vẫn chẳng tiêu
mất. Nói gộp lại, [Kim Cang Na La Diên nghĩa là] bản
thể cứng chắc như chất Kim Cang, sức to lớn
như Na La Diên.
* Hỏi: “Bạch pháp ẩn một” (Thiện
pháp ẩn mất) có nghĩa là sao? (Song Mộc hỏi)
Đáp: “Bạch” có nghĩa là trong sạch,
chẳng nhiễm, tỷ dụ hết thảy các thiện
pháp. Trong thời kỳ Mạt Pháp, đấu tranh kiên cố,
nhiều kẻ chẳng thuận theo thiện pháp, cho nên nói
là “ẩn một” (隱沒, ẩn mất).
* Hỏi: Trong
phẩm Đề Bà Đạt Đa của kinh Pháp Hoa,
Long Nữ thành Đẳng Chánh Giác, liền đi về thế
giới Vô Cấu ở phương Nam, sáu phen chấn
động. Thế giới Vô Cấu ở chỗ nào? Có vị
Phật nào giáo hóa? Sáu phen chấn động lại là ǵ vậy?
(Thích Phổ Tịnh hỏi)
Đáp: Kinh nói
thế giới Vô Cấu ở phương Nam, tức là
phương Nam của thế giới Sa Bà này, thuộc một
tinh cầu khác. Long Nữ dâng châu cúng dường, lập tức
thành Phật, tức là sự giáo hóa trong thế giới ấy
do cô ta đảm nhiệm. Nếu hỏi về chuyện
trước khi Long Nữ đến đó, kinh chẳng nói
rơ, sẽ không thể dựa vào đâu để nói
được! “Chấn động” là tướng hiện
nơi mặt đất. Đối với sáu phen chấn
động, kinh nói nhiều thuyết; ở đây là nói
đến động, dũng, chấn, ba thứ biến
đổi h́nh tướng, và kích, hống, bạo[23], ba thứ tiếng
phát ra vậy.
* Hỏi: Kinh Lăng
Nghiêm nói có mười loại tiên[24] và lục đạo
chúng sanh, cùng gọi là “thất
thú” (七趣, bảy đường).
Họ tu hạnh ǵ? Thuộc pháp giới nào? Thất thú là
những ǵ? Đấy là những điều tôi kính cẩn
thưa hỏi, mong hăy dạy cho biết! (Thích Phổ Tịnh hỏi)
Đáp:
Mười loại tiên được nói trong kinh Lăng
Nghiêm phần nhiều là ngoại đạo tu thuật trường
sanh. Phạm Chí (Fakir) tại Ấn Độ và Đạo
giáo tại Trung Hoa đều tu tập thuật này.
Phương pháp tu tập rất nhiều, chẳng thể
kể xiết. Phạm Chí tu chú thuật, biến huyễn,
khổ hạnh. Đạo sĩ th́ luyện đan, thổ
nạp (吐納, những cách luyện thở,
quán tưởng dẫn khí đi khắp các kinh lạc và
huyệt đạo trong toàn thân), bùa ngải, coi đó là những
điều tuyệt diệu, vĩ đại. “Thú” (趣) có nghĩa là hướng đến, đại
lược th́ cũng như nói “đạo”
vậy. Nghe nói trong Đạo Giáo chứng thành tiên th́ có quỷ,
địa, thiên v.v… sai khác. Nói tách ra bèn có thất thú,
nhưng vẫn gộp trong lục đạo. Như trong
Tu La có các loại thiên, nhân, quỷ, súc, nhưng trong kinh có
khi nói quy nạp, cho nên chỉ nói “ngũ đạo” (năm đường), có ư
nghĩa tương tự. Họ chưa thoát khỏi tam giới,
tự nhiên sẽ thuộc vào lục phàm, tức là thuộc
trong các đường trời, người, quỷ mà
thôi! Phật do bất sanh bất diệt, nên cũng có thể
gọi là Tiên. Ngài thật sự là bậc đại thánh
vượt ngoài các giới, khác xa cảnh giới của
tiên!
*
Hỏi: Căn có phù trần và tịnh sắc sai khác. “Phù trần” (浮塵) là nói về h́nh thể,
“tịnh sắc” (淨色) là nói nó có thể khởi
tác dụng, nên hiểu như thế nào? Xin hăy dạy cho! (Hồ Viễn Chí hỏi)
Đáp:
Tịnh sắc căn là nói đến vật thể ở
bên trong có thể phát khởi tác dụng sanh ra Thức ḥng
nhận biết cảnh. Vật thể ấy được
những người học Phật trong giới y học
gọi là “hệ thần kinh”. Trộm nghĩ, tuy [cách nói ấy]
chẳng ổn thỏa, thích đáng, nhưng cũng chẳng
thể truy cầu sâu hơn. Căn ấy chính là “vô kiến hữu đối sắc”.
Đă nói là “vô kiến” tức
là mắt chẳng thể thấy được. “Hữu đối” là có vật
chất gây chướng ngại. Bát Thức Quy Củ Tụng
có nói: “Ngu giả nan phân Thức
dữ Căn” (Kẻ ngu khó thể phân biệt giữa
Thức và Căn). “Ngu” là nói
bậc Thanh Văn đă đoạn Phiền Năo Chướng,
chưa đoạn Sở Tri Chướng. Do các Ngài c̣n chẳng
thể biết điều này, cho nên có thể thấy là diễn
tả [cho hạng phàm phu thấu hiểu] sẽ khó khăn
lắm!
*
Hỏi: Mỗi cử động, mỗi ư niệm suy
tưởng nơi thân, khẩu, ư của chúng ta đều
là tạo nghiệp. Nghiệp có tốt, xấu, chẳng tốt,
chẳng xấu v.v… sai khác. Lại c̣n có biệt nghiệp của
cá nhân, cộng nghiệp của người khác, lại có
dẫn nghiệp nơi chánh báo và măn nghiệp nơi y báo. Lại
c̣n chia thành quả báo nhanh hay chậm. “Thuận hiện nghiệp, thuận sanh nghiệp,
thuận hậu nghiệp, thuận bất định nghiệp”, mỗi nghiệp nên hiểu
như thế nào? (Hồ Viễn
Chí hỏi)
Đáp:
Biệt Nghiệp là nghiệp khác biệt do mỗi người
đă tạo. Cộng Nghiệp là nghiệp [do chúng sanh] cùng
nhau gây tạo. Cái thân gieo vào lục đạo là do bị nghiệp
lực dẫn dắt mà có, gọi là Chánh Báo Dẫn Nghiệp.
Hết thảy các tên gọi và vật chất mà chính ḿnh
được hưởng sẽ gọi là Y Báo Măn Nghiệp.
Tạo nghiệp trong đời này, đời này chịu
báo th́ gọi là Thuận Hiện Nghiệp. Đời này tạo
nghiệp, đời sau chịu báo, gọi là Thuận Sanh Nghiệp.
Đời này tạo nghiệp, mấy đời sau mới
chịu báo, sẽ gọi là Thuận Hậu Nghiệp. Nghiệp
vô lậu “chẳng tốt, chẳng xấu, ĺa tướng”
th́ gọi là Thuận Bất Định Nghiệp.
*
Hỏi: Theo Duy Thức Thuật Kư[25], tự tánh thân nhân
thuộc loại Đẳng Lưu, dị tánh cảm vời
th́ thuộc loại Dị Thục. Hai thứ này nên hiểu
như thế nào? (Hồ Viễn
Chí hỏi)
Đáp:
Đẳng (等) nên hiểu là “tương
tự”. Lưu (流) nên hiểu là “phát ra”.
[Đẳng Lưu] có nghĩa là “gieo nhân có thể tạo
thành quả”. Có cái nhân như thế, ắt phải xuất
hiện cái quả như thế. Dị (異) là khác, Thục (熟) là chín muồi, ư nói: Sau khi quả đă
chín muồi, đă có tánh chất khác với nhân. Như do cái
nhân có tánh thiện mà đắc lạc quả, do cái nhân có
tánh ác mà đắc khổ quả. Nhưng lạc và khổ
chỉ là lạc và khổ mà thôi, tánh của chúng hoàn toàn chẳng
thể nói là thiện hay ác, cho nên bảo là Dị Thục
Chủng.
*
Hỏi: Đại Thừa Khởi Tín Luận nói “Nhị Thừa Pháp Chấp”
th́ cũng là khuyết điểm. Chẳng hiểu
nghĩa là sao? (Huệ Đức
hỏi)
Đáp:
Chúng sanh mê hoặc th́ mới dùng Phật pháp để
khơi gợi cho họ khai ngộ, giống như mắc
bệnh cần phải uống thuốc. Nếu chuyển
mê thành ngộ, giác hạnh viên măn, há c̣n dùng đến pháp
để làm ǵ? Có cùng một lư như bệnh đă hết
bèn bỏ thuốc. Đă lành mà chẳng bỏ thuốc, thuốc
đâm ra thành bệnh. V́ thế nói Pháp Chấp là lầm lỗi!
*
Hỏi: Nhất Thừa, Nhị Thừa, Tam Thừa,
Ngũ Thừa, Đại Thừa, Tiểu Thừa, hiểu
như thế nào? (Vương Thành
Nhất hỏi)
Đáp: “Thừa” (乘) có nghĩa là chuyên chở, như ngồi
xe, hoặc ngồi thuyền đều gọi là Thừa. “Thừa” được nói ở
đây chính là từ ngữ tỷ dụ. Ư nói nương
vào sự chuyên chở của Phật pháp mà có thể đạt
tới mục đích mong cầu. Nhất, Nhị, Tam là nói
đến các đẳng cấp cao thấp. Một là Bồ
Tát, hai là Bích Chi Phật, ba là La Hán. Dưới ba thừa, lại
thêm hai loại phàm thừa là trời và người, thành ra
Ngũ Thừa.
*
Hỏi: “Thanh Văn, Bích Chi, Duyên Giác, Độc Giác, La Hán, Bồ
Tát, Phật” có ư nghĩa ǵ? (Vương
Thành Nhất hỏi)
Đáp:
Thanh Văn là người nghe thanh giáo[26] Tứ Đế của
đức Phật mà chứng ngộ. Duyên Giác chính là Bích
Chi, là người do nghe pháp Thập Nhị Nhân Duyên mà chứng
ngộ. Độc Giác giống như trên, chỉ có điều
là bậc không do nghe pháp mà tự ngộ. La Hán là quả tột
cùng trong hàng Thanh Văn, có nghĩa là “bất sanh, bất diệt”. Bồ Tát là bậc
thánh trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ
chúng sanh. Phật là bậc chí thánh tự giác, giác tha, giác hạnh
viên măn.
*
Hỏi: Ḥa thượng, ni cô, phương trượng, trụ
tŕ, đương gia, giám viện, duy na được
định nghĩa như thế nào? (Vương Thành Nhất hỏi)
Đáp:
Ḥa Thượng có nghĩa là “thầy tôi”, chính là tiếng
để tôn xưng người xuất gia. Ni là âm tiếng
Phạn, có nghĩa là “nữ
tánh” (feminine). Phương Trượng là tiếng để
gọi chỗ ở của vị Trụ Tŕ trong một
ngôi chùa. Tương truyền, cái thất đá của
cư sĩ Duy Ma, vuông vức mỗi bề đúng một
trượng, cho nên mượn danh xưng đó để
xưng hô. Trụ Tŕ (住持) nghĩa là người chủ tŕ sự vụ.
Đương Gia (當家) nghĩa là người nắm quyền
coi sóc việc nhà[27]. Giám Viện (監院) chính là người giám
sát, đốc thúc công việc trong một ngôi chùa. Đấy
đều là những danh xưng để gọi vị
chủ chùa. Duy Na chính là danh xưng gộp chung tiếng Hán
và tiếng Phạn. “Duy” (維) là “cương duy” (綱維, giềng mối), Na (那) chính là nói tắt của chữ Kiệt Ma
Đà Na (Karmadana), có nghĩa là “sự vụ”. Duy Na có
nghĩa là người đảm đương sự vụ
trong chùa. Hiện thời, người lănh chúng (dẫn
chúng) trong khóa tụng hằng ngày được gọi là
Duy Na.
*
Hỏi: Trong kinh Tứ Thập Nhị Chương, có nói: “Sai chi hào ly, thất chi tu du”,
chẳng biết nghĩa là như thế nào? Có phải là
nói đến núi Tu Di hay không? (Chung
Thiêm Đăng hỏi)
Đáp:
Hào Ly (毫釐)[28] là phân lượng
ít nhất, Tu Du (須臾) chính là thời gian ngắn
nhất, có ư nghĩa khác với núi Tu Di.
*
Hỏi: Mạn Điều Y (縵條衣) là như thế nào? (Trần Tịnh Nguyện hỏi)
Đáp:
Chính là áo ca-sa nhưng chẳng có từng điều ngang dọc
để mô phỏng h́nh ruộng trồng lúa nước
[như phước điền y của tăng sĩ].
*
Hỏi: Chữ Thức (識) trong Ngũ Uẩn chẳng
biết có nên hiểu giống như chữ Chí (誌) hay không? (Diệp
Thiên Hộ hỏi)
Đáp:
Thức ở đây là nói đến tâm thức phân biệt,
khác với chữ Chí.
*
Hỏi: “Đoạn tứ thập
lư lưu thủy” (Cắt đứt ḍng nước bốn
mươi dặm) có phải là nói đến thời gian
trôi qua bao lâu phải không? (Diệp
Thiên Hộ hỏi)
Đáp:
Chỉ là nói đến ḍng nước chảy, dài đến
bốn mươi dặm, hoàn toàn chẳng chú trọng thời
gian. Bất luận ngàn năm hay vạn năm, một giờ
hay nửa khắc, đều luôn là bốn mươi dặm.
V́ vậy, đối với từ ngữ này, đừng
đèo thêm thời gian cho phiền!
*
Hỏi: Lục đạo phàm phu có Phần Đoạn sanh
tử, Quyền Giáo Bồ Tát có nỗi khổ Biến Dịch
sanh tử. Tử [ở đây] có phải là Sanh, Lăo, Bệnh,
Tử hay không? Nhưng Quyền Giáo và Biến Dịch sanh tử
có nghĩa là ǵ? (Diệp Thiên Hộ
hỏi)
Đáp:
Phần Đoạn sanh tử là xuất thai, nhập thai.
Biến Dịch là cảnh giới chuyển biến, đạt
tới, nên ví như sanh tử vậy!
Hỏi:
Chẳng biết là có thể dùng thí dụ trong hiện thực
để chỉ rơ Trung Quán (Không, Giả, Trung) hay không? (Diệp Thiên Hộ hỏi)
Đáp:
“Không” là nói rỗng rang, chẳng có tự thể. “Giả”
nghĩa là chỉ có giả tướng duyên sanh. Chấp
trước Thể Không, chẳng hiểu rơ Sự nơi giả
tướng duyên sanh, hoặc chấp trước giả
tướng, chẳng ngộ Lư nơi Thể Không, sẽ đều
là thiên kiến. Thật Lư Trung Đạo chính là: Nếu hiểu
rơ Không chính là Sắc (sắc tướng), Sắc chính là
Không; đấy chính là một thí dụ về Trung Đế
viên dung vậy.
*
Hỏi: Trần Sa trong Tam Hoặc (Kiến Tư, Trần
Sa, Vô Minh) là tỷ dụ chuyện ǵ? Kiến Tư chẳng
phải là nói đến hai thứ Hoặc ư? (Diệp Thiên Hộ hỏi)
Đáp:
Trần Sa tỷ dụ số nhiều, ư nói pháp môn vô lượng,
như bụi cát khó đếm trọn. Phải đều
thông đạt hết; nếu có một pháp không biết, tức
là Hoặc Chướng, nên gọi là Trần Sa Hoặc. Kiến
Tư là nói đến hai thứ Hoặc.
*
Hỏi: “Quy nguyên” nghĩa là
ǵ? “Nguyên” ở chỗ nào? (Sử Phan Tân Hà hỏi)
Đáp:
“Nguyên” (元) là nói tới bản tánh. Trừ sạch
các Hoặc, trở về diện mục vốn có, th́ gọi là “quy nguyên”, tức là như trong gần đây nói tới
“xuất triền hoàn tịnh”
(出纏還淨, thoát khỏi trói buộc,
trở về với tịnh) trong Khởi Tín Luận. “Nguyên” trọn khắp pháp giới,
chẳng thể chỉ ra nơi chốn.
*
Hỏi: Cảm ứng, linh hồn, bản tánh, ba thứ ấy
khác biệt ở chỗ nào? (Long
Tĩnh Đắc hỏi)
Đáp:
Một, Cảm (感) là cảm vời, Ứng
(應) là ứng hiện. Nói gộp lại, hễ
ta có điều mong cầu đối với Phật, Bồ
Tát, một là do tâm lực chí thành, sẽ cảm vời Phật,
Bồ Tát ứng hiện, măn nguyện của ta. Hai, linh hồn
chính là do bản tánh dấy lên vọng niệm, biến hóa
thành thức tạng. Ba, bản tánh chính là Chân Như Phật
Tánh quang minh tịch tĩnh.
*
Hỏi: Trong bài Dương Chi Tịnh Thủy Tán có nhắc
đến “bát đức”, [Lục
Tổ] Đàn Kinh có nói đến “mười ác, tám tà”, chẳng biết “bát đức, bát tà” là ǵ? (Trần Thụ Căn hỏi)
Đáp:
Bát Đức là nói tới tám thứ công đức của
nước, có thể tham khảo sách Di Đà Kinh Trích Chú sẽ
biết. Bát Tà là nói những điều tương phản
với Bát Chánh Đạo trong ba mươi bảy phẩm
trợ đạo.
*
Hỏi: Tam Tạng thập nhị phần giáo là mười
hai phần nào? (Vương Lăng
Á hỏi)
Đáp:
“Thập nhị bộ” chính
là nói tới các thể loại hành văn và các loại sự
việc bất đồng trong Tam Tạng kinh điển,
được phân tích thành mười hai bộ môn. Một
là Khế Kinh, tức là kinh văn đơn hành. Hai là Trùng
Tụng, nương theo ư nghĩa của kinh trong phần
trước để nói thành kệ. Ba, Phúng Tụng là lời
tán thán khởi lên đơn độc, có thể phổ nhạc
để đàn hát. Ba bộ này thuộc về thể loại
trong cách hành văn. Bốn là Nhân Duyên, tức là nói về
chuyện nhân quả. Năm là Bổn Sự, đức Phật
tự nói những hạnh nghiệp trong kiếp trước.
Sáu là Bổn Sanh, nói về hạnh nghiệp của các vị
đệ tử trong đời trước. Bảy là Vị
Tằng Hữu, ghi chép đủ mọi chuyện thần
lực chẳng thể nghĩ bàn. Tám là Thí Dụ, chép về
những lời giải thích bằng cách lập ra các tỷ
dụ. Chín là Luận Nghị, tức là những lời hỏi
đáp nhằm làm sáng tỏ vấn đề. Mười
là Tự Thuyết, tức là không ai thưa hỏi mà tự
nói. Mười một là Phương Quảng, tức những
pháp thuộc về Đại Thừa. Mười hai là Thọ
Kư, đức Phật dự đoán những chuyện trong
tương lai của người tu tập.
*
Hỏi: Hai mươi bốn pháp Bất Tương Ứng
trong một trăm pháp của Duy Thức Tông là những
pháp nào? (Vương Lăng Á hỏi)
Đáp:
Có bộ sách Bách Pháp Minh Môn Luận để có thể xem
đọc, nghiền ngẫm. Nếu chỉ hỏi về
danh số, có ư thú ǵ đâu? Vâng theo lời hỏi, miễn
cưỡng trích lục liệt kê mà thôi! Một là Đắc,
hai là Mạng Căn, ba là Chúng Đồng Phận, bốn là
Dị Sanh Tánh, năm là Vô Tưởng Định, sáu là Diệt
Tận Định, bảy là Vô Tưởng Sự, tám là
Danh Thân, chín là Cú Thân, mười là Văn Thân, mười một
là Sanh, mười hai là Trụ, mười ba là Lăo, mười
bốn là Vô Thường, mười lăm là Lưu Chuyển,
mười sáu là Định Dị, mười bảy là Tương
Ứng, mười tám là Thế Tốc, mười chín là
Thứ Đệ, hai mươi là Thời, hai mươi mốt
là Phương, hai mươi hai là Giáo, hai mươi ba là
Ḥa Hợp Tánh, hai mươi bốn là Bất Ḥa Hợp Tánh.
*
Hỏi: Xin giải thích các danh từ Tứ Sanh Chánh Báo, Tứ
Đại Y Báo, Tứ Vi, Thập Như, “nhất vi trần hàm ngũ đại tánh” (một
vi trần có năm đặc tánh lớn). (Quế Dẫn Hạnh hỏi)
Đáp:
Tứ Sanh (四生) là nói tới cách sanh của cái thân chánh báo
gồm thai, noăn, thấp, hóa. Y Báo (依報) chỉ nơi [chánh báo] nương
vào để sống. Tứ Vi (四微) là nói tới Sắc, Hương, Vị, Xúc trong
sáu trần. Chúng là nguyên tố của Sắc Pháp. Thập
Như (十如) chính là mười món Như Thị, nghĩa là Tướng,
Tánh, Thể, Lực, Tác, Nhân, Duyên, Quả, Báo, Bổn Mạt
Cứu Cánh v.v… Nếu giải thích, không chỉ là rất dài
ḍng, mà c̣n là trước chẳng thấy đầu, sau chẳng
thấy đuôi, có nói cũng chẳng thể liễu giải
được! Mong hăy t́m đọc bản chú giải phẩm
Phương Tiện của kinh Pháp Hoa, sẽ hiểu v́ sao
mà nói [như thế], mới biết những điều ấy
là đúng. Một vi trần là tỷ dụ một pháp giới,
các kinh nói Ngũ Tánh khác nhau. Nay tôi dựa theo kinh Viên Giác
để liệt kê: Một là Phàm Phu Tánh, hai là Nhị Thừa
Tánh, ba là Bồ Tát Tánh, bốn là Bất Định Tánh,
năm là Ngoại Đạo Tánh. Những tánh này gồm trọn
hết thảy các chúng sanh. Hễ nói tới một “vi pháp giới” sẽ gồm
trọn các loại chúng sanh ấy.
*
Hỏi: Trạch Diệt và Phi Trạch Diệt giải
thích như thế nào? (Vương
Lăng Á hỏi)
Đáp:
Diệt (滅) nghĩa là đoạn diệt
hết thảy chướng nhiễm, chứng đắc
Niết Bàn. Cần biết: Các chướng nhiễm ấy
thuộc về phiền năo. Nếu có thể do trí quán chiếu,
đối với mỗi điều, đều chọn lựa
để đoạn, sẽ đắc Niết Bàn, nên gọi
là Trạch Diệt (擇滅). Tánh vốn thanh tịnh, thoạt đầu, chẳng
do sức chọn lựa mà hiển lộ. Lại nữa,
muôn pháp do nhân duyên sanh, phiền năo cũng chẳng phải
là ngoại lệ. Nếu phiền năo thiếu duyên, nó sẽ
chẳng sanh, chân tánh sẽ hiển lộ. Điều này
hoàn toàn chẳng do sức chọn lựa, nên gọi là Phi
Trạch Diệt.
*
Hỏi: Tứ Đế và Thập Nhị Nhân Duyên là những
pháp nào? (Châu Phước Ngọc
hỏi)
Đáp:
Tứ Đế là bốn pháp Khổ, Tập, Diệt,
Đạo. Hai pháp trước là nhân quả của những
nỗi khổ trong thế gian. Hai thứ sau là nhân quả của
sự vui xuất thế gian. Đấy là pháp tu của hàng
Thanh Văn. Thập Nhị Nhân Duyên là nói đến các mối
quan hệ trong đời người: Một là Vô Minh, hai
là Hành. Đấy chính là hai nhân của quá khứ. Ba là Thức,
bốn là Danh Sắc, năm là Lục Nhập, sáu là Xúc, bảy
là Thọ. Đây là năm quả trong hiện tại. Tám là
Ái, chín là Thủ, mười là Hữu, đấy là ba cái
nhân trong hiện tại. Mười một là Sanh, mười
hai là Lăo Tử. Đấy là hai cái quả trong vị lai.
[Thập Nhị Nhân Duyên] là pháp tu của bậc Duyên Giác. Nếu
muốn hiểu nghĩa này, có thể tham khảo các bản
chú giải Tâm Kinh.
*
Hỏi: Thấy trong kinh nói đến Ngũ Nhăn, chẳng
biết Ngũ Nhăn phân biệt như thế nào? Xin ân sư
khai thị. (Dương Kim Anh hỏi)
Đáp:
Một là Nhục Nhăn, gặp tối tăm hoặc [bị
thứ ǵ] ngăn trở, sẽ chẳng thể thấy
được. Hai là Thiên Nhăn, xa, gần, ngày, đêm, đều
có thể thấy. Ba là Huệ Nhăn, thấy thấu suốt
giả tướng, hiểu Chân Không. Bốn là Pháp Nhăn; thấu
triệt hết thảy các pháp môn thế gian và xuất thế
gian. Năm là Phật Nhăn, kiêm cả bốn loại mắt
trước, có thể viên dung.
*
Hỏi: Có phải là từ lúc mỗi người chúng ta
sanh ra cho đến khi chết th́ gọi là một Kiếp
hay không? (Thích Thường Chánh
hỏi)
Đáp:
Kiếp (Kalpa) là tiếng Phạn, là danh từ để
tính toán một thời gian rất dài. Một đoạn
sanh tử của con người chẳng thể gọi là
kiếp được!
*
Hỏi: Trời từ lúc hỗn độn sơ khai cho tới
khi dung hợp có thể gọi là một kiếp của trời
hay không? (Thích Thường Chánh
hỏi)
Đáp:
Kiếp là tính toán thời gian bao nhiêu, hoàn toàn chẳng dựa
theo sự biến hóa của trời đất để
quy định. Hiểu rơ điều này, chỉ có thể
nói trong một kiếp, thế giới (trời bao gồm
trong ấy) có biến hóa như thế nào, chẳng thể
nói một kiếp của trời được!
* Hỏi: [Kinh luận] c̣n ghi chép
trong một đại kiếp lại có trung kiếp, tiểu
kiếp v.v… Một đại kiếp ấy có khác ǵ với
bàn thạch kiếp, giới tử kiếp, tăng giảm
kiếp, A-tăng-kỳ kiếp, và vô lượng kiếp?
(Thích Thường Chánh hỏi)
Đáp:
Giả định con người sống mười tuổi,
quá một trăm năm tăng một tuổi. Lần
lượt tăng như thế cho tới tám vạn bốn
ngàn tuổi th́ là tăng kiếp đạt tới cực
hạn. Lại từ đó, cứ qua khỏi một
trăm năm bèn giảm một tuổi. Lần lượt
giảm như thế cho tới khi con người mười
tuổi, tức là kiếp giảm đến cực hạn.
Một tăng một giảm tính là con số một tiểu
kiếp. Hai mươi tiểu kiếp là một trung kiếp.
Bốn trung kiếp (có tên là Thành, Trụ, Hoại, Không) là một
đại kiếp. Bàn thạch kiếp, giới tử kiếp
v.v… là những con số nói theo kiểu tỷ dụ,
nghĩa là: Một quả núi đá rộng bốn
mươi dặm. Có một người trường thọ,
cứ mỗi trăm năm dùng áo mềm mịn phẩy
qua một lần, cho tới khi đá bị ṃn hết, kiếp
vẫn chưa hết. [Đó gọi là “bàn thạch kiếp”]. Lại có một cái thành lớn,
rộng đến bốn mươi dặm, chứa đầy
hạt cải. Một người trường thọ cứ
mỗi trăm năm tới nhặt một hạt cải,
cho tới khi hết sạch hạt cải mà kiếp vẫn
chưa hết. [Đó gọi là “giới
tử kiếp”]. A-tăng-kỳ (Asaṃkhyeya) vốn dịch là Vô Ương Số.
Xét theo Hoa Nghiêm Tổng Mục Quán Nhiếp, [Vô Ương Số]
cũng là một con số nhất định. Nghĩa là:
Mười vạn là một ức, mười ức là một
triệu, mười triệu là một
kinh, mười kinh là một cai, cứ tăng gấp
mười lần như thế để thành một tổng
số. Lại tăng gấp bội lần như thế,
cho tới một trăm hai mươi lần thành một
đại tổng số th́ gọi là một A-tăng-kỳ.
Cho tới Vô Lượng, Vô Biên v.v… ngụ ư: Chẳng thể
tính toán vậy!
*
Hỏi: Trong một kiếp của cơi trời[29] có Phật xuất
thế, có phải là nói tới Hiền Kiếp hay không? Lại
trong một kiếp cơi trời, cũng có kiếp nào không có
Phật giáng thế độ chúng sanh hay không? Trong một
kiếp của cơi trời, là một vị Phật đến
độ chúng sanh, hay là c̣n có mấy vị Phật đến
độ sanh? Hay là trong mấy kiếp của cơi trời,
cũng có trường hợp không có Phật đến
độ chúng sanh hay không? (Thích
Thường Chánh hỏi)
Đáp:
Đă biết kiếp chưa hết, bất luận tiểu,
trung, đại, đều có quá khứ, hiện tại, vị
lai. Đối với mỗi kiếp, nhằm phân tích thuận
tiện, đều giả định một tên gọi. Hiền
Kiếp chính là tên của Trụ Kiếp trong hiện tại,
v́ trong kiếp này có một ngàn vị Phật xuất thế.
Không Kiếp trong bốn trung kiếp, chính là lúc thế giới
hư hoại biến mất trong suốt hai mươi tiểu
kiếp, chẳng có bất cứ ǵ. Đă chẳng có thế
giới, [sẽ chẳng có chúng sanh cần hóa độ], cho
nên Phật chẳng giáng thế. Đối với những
câu hỏi khác, có thể tham khảo những điều
trước sẽ tự hiểu.
*
Hỏi: Theo kinh Viên Giác, do Tứ Đại thanh tịnh,
cho nên thập nhị xứ, thập bát giới và nhị
thập ngũ hữu thanh tịnh. Nhị thập ngũ hữu
là những ǵ? (Đại Khoan
hỏi)
Đáp:
Đấy là nói tới hai mươi lăm thứ quả
báo bất đồng trong tam giới, tức là bốn
đường ác và bốn châu trong Dục Giới, các
nơi như Lục Dục Thiên v.v… gồm mười bốn
thứ, bốn cơi trời trong Sắc Giới và Đại
Phạm Thiên, Tịnh Cư Thiên, Vô Tưởng Thiên v.v… gồm
có bảy thứ, và Tứ Không Thiên trong Vô Sắc Giới,
gộp chung lại thành con số hai mươi lăm.
*
Hỏi: Có người chủ trương Kiến Phần
Chủng và Tướng Phần Chủng cùng loại, có
người chủ trương khác loại. Người chủ
trương “cùng loại” là do nghĩa nào? Người chủ
trương “khác loại” là do nghĩa nào? Xin hăy dạy rơ! (Phương Minh hỏi)
Đáp:
Kiến Phần là năng duyên, Tướng Phần là sở
duyên. Đă có Năng và Sở th́ là hai, có thể nói là “biệt”. Tướng Phần
chính là cảnh được hiện bởi tâm, do tự
thể chuyển biến [mà có]. Kiến Phần là tâm khởi
tác dụng Chiếu. Chúng đă đều được
sanh bởi tâm, cho nên lại có thể nói “đồng”. Chỉ có điều đối với
chủ trương đồng hay biệt chưa thấy
nguyên văn, chẳng biết điểm tranh luận ở
chỗ nào, chẳng có cách nào nói cặn kẽ được!
Bất quá, kẻ hèn này dựa theo lẽ thông thường
để biện luận qua loa cho xong trách nhiệm.
*
Hỏi: Đối với Tứ Bất Định Trung Hối,
có phải là kẻ ác làm lành bèn hối hận th́ [trường
hợp ấy] cũng được kể gộp trong đó
hay không? Có nghĩa nào khác với Hối trong kinh Dịch hay
không? (Hao Thạch hỏi)
Đáp:
Làm lành mà hối hận cố nhiên là bao hàm trong ấy,
nhưng chẳng cần phải nêu ra hai chữ “kẻ ác”, v́ thiện nhân làm
lành cũng có lúc sanh ḷng hối hận. Chữ Hối xét
theo phạm trù ấy, có [các trường hợp] làm lành mà
hối, chẳng làm lành bèn hối, làm ác bèn hối, chẳng
làm ác bèn hối, các loại khác nhau. Do vậy nói là “bất định”. Đối
với chữ Hối trong cách đặt tên quẻ trong
kinh Dịch[30],
cũng chẳng thể nói là đều giống hệt
được, v́ có chỗ tương đồng, có chỗ
chẳng tương đồng!
*
Hỏi: Tam thiên đại thiên thế giới là ǵ? Xin dạy
cặn kẽ! (Đặng Chí Thiện
hỏi)
Đáp:
Giả định là tứ đại tinh cầu,
tám trung tinh cầu, mấy vạn tiểu cầu, hướng
lên trên cho đến chín tầng trời mới thôi, gọi
là một đơn vị thế giới. Ngàn lần
như thế, gọi là một tiểu thiên thế giới.
Ngàn lần như thế, lại lên ba tầng trời nữa,
gọi là một trung thiên thế giới. Lại ngàn lần
như thế, trở lên chín tầng trời nữa mới
thôi, gọi là một đại thiên thế giới. Do có
ba lượt gấp một ngàn lần, nên gọi là tam
thiên đại thiên thế giới.
*
Hỏi: Giáo Giới Kinh[31], đoạn thứ
hai có câu “vu tứ cúng dường,
tri lượng, tri túc” (đối với bốn thứ
cúng dường, hăy biết đúng lượng, biết
đủ), bốn thứ cúng dường là ǵ? (Đại Khoan hỏi)
Đáp:
Ẩm thực, quần áo, ngọa cụ, thuốc men.
*
Hỏi: Câu “tứ chân đạo
hạnh” trong chương thứ nhất của kinh Tứ
Thập Nhị Chương hiểu đại lược
là như thế nào? (Đại
Khoan hỏi)
Đáp:
Chính là Tứ Thánh Đế Khổ, Tập, Diệt, Đạo.
*
Hỏi: Phân giải Trần Sa Hoặc như thế nào? (Tiêu Huệ Tâm hỏi)
Đáp:
Trần Sa tỷ dụ số lượng nhiều. Hoặc
(惑) là mê hoặc. Nếu chẳng thể thông
đạt vô số pháp môn, th́ gọi là Trần Sa Hoặc.
*
Hỏi: Vô vi pháp là ǵ, xin hăy từ bi khai thị. (Thái Minh Cốc hỏi)
Đáp:
Câu hỏi này nếu nói cặn kẽ sẽ rất dài ḍng.
Nói đơn giản th́ chính là “chân lư chẳng do các nhân
duyên tạo tác”.
*
Hỏi: Kinh Kim Cang nói Nhất Hiệp Tướng rốt
cuộc là sự tướng như thế nào? Có ǵ chứng
minh hay không? Có phải cũng là
“phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng”
hay không? (Trọng Chí Anh hỏi)
Đáp:
Như một nhúm cát hoặc đất, tản mạn, rời
rạc, đó gọi là “vi trần
hiện tướng”. Thêm nước và tro vào, ṿ thành một
khối, vẫn là cát đất như trước,
nhưng do chúng tụ tập mà dường như là một.
V́ thế, gọi là Nhất Hiệp Hiện Tướng. Đây
chỉ là do hỏi danh từ như thế nào bèn giải
đáp [như thế ấy], hoàn toàn chẳng bàn tràn lan sang
ư nghĩa và tỷ dụ. Hễ có tướng th́ đều
là hư vọng. Đấy chính là lời nói về nguyên tắc
của các tướng, há có ngoại lệ!
*
Hỏi: Xin hăy dùng tỷ dụ để giải thích “bất biến tùy duyên” và “tùy duyên bất biến”. (Tương Tuấn Nghĩa hỏi)
Đáp:
Câu trước lấy “hiện
tướng” (tướng được biến hiện)
làm chủ để nói. Ví như răng vàng, nhẫn vàng, đồng
hồ vàng v.v… Thể chất vẫn là vàng, chẳng thay
đổi, nhưng răng vàng, nhẫn vàng, đồng hồ
vàng, đều tùy duyên mà hiện thành các tướng khác
nhau. Câu sau lấy tánh thể làm chủ để nói. Ví
như nước là chất lỏng có tánh ướt, chẳng
do h́nh dáng [của đồ đựng] là dài, vuông, tṛn, hoặc
có nhiều cạnh [mà mất tánh ướt]. Nếu đựng
trong những món vật như rương, nồi, bầu,
lọ v.v… ắt nước sẽ dựa theo từng món
mà thay đổi h́nh tướng, nhưng tánh ướt của
chất lỏng vẫn là y như cũ.
*
Hỏi: Xin hỏi đại đức Biến Dịch
sanh tử là ǵ? T́nh h́nh sanh tử của nó và Phần Đoạn
sanh tử có ǵ khác biệt? (Trọng
Chí Anh hỏi)
Đáp:
Phần Đoạn sanh tử là nói đến phàm thân xuất
thai, nhập thai, không ngừng qua lại trong tam giới. Biến
Dịch sanh tử chính là nói đến [cảnh giới của
những vị] đă ở ngoài mười pháp giới,
nhưng chưa chứng cực quả Pháp Thân, cảnh mê dần
dần giảm, cảnh ngộ dần dần tăng, cảnh
giới biến thiên, giống như sanh tử vậy. Có
đến mấy cách nói, tôi chỉ nêu một cách.
*
Hỏi: Trong Tâm Kinh lại có những câu: “Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc, Sắc
chính là Không, Không chính là Sắc… bất sanh, bất diệt,
bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm”,
tôi chưa hiểu ư nghĩa! (Nhan
Văn Bộc hỏi)
Đáp:
Những lời ấy nói về Chân Đế của các
pháp. Người chẳng nghiên cứu Bát Nhă sâu xa, sẽ chẳng
thể ngay lập tức lănh hội được! Nếu
giải thích tường tận, sẽ thành cả một
bài văn dài dằng dặc. Đối với vấn
đề này, nguyệt san này đă từng vấn đáp
nhiều lượt. Nay tôi lại nói đơn giản
như sau. Bốn câu trước nhằm nói: “Thể Không, Tướng có. Thể
và Tướng chẳng hai”. Bốn câu sau là nói tới “thường trụ bất biến”.
*
Hỏi: Ḍng thứ nhất, trang hai trăm sáu mươi
lăm sách Lăng Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa có câu: “Nhược thị kiến sắc,
kiến dĩ thành sắc” (Nếu là thấy sắc, cái
Thấy đó đă trở thành sắc), hai chữ Kiến
(見) ấy giải thích như thế nào?
Cũng trong trang ấy, nơi ḍng thứ ba, phần Giải
Nghĩa có câu: “Bất năng
dĩ kiến kiến kiến” (Chẳng thể dùng cái
Thấy [của chân tánh] để thấy cái thấy
[nơi phàm t́nh hư vọng] được), ba chữ Kiến
(見) ấy phân biệt như thế nào? (Hồ Chánh Lâm hỏi)
Đáp:
Hai chữ Kiến trong câu “kiến
sắc kiến dĩ” nên hiểu là “trông thấy”, cần
ǵ phải t́m cách phân tích khác! C̣n đối với câu “dĩ kiến kiến kiến”
trong phần chú giải, chữ Kiến thứ nhất hăy
nên hiểu là Chân Kiến. Chữ Kiến thứ hai nên hiểu
là Năng Kiến, chữ Kiến thứ ba nên hiểu là Vọng
Kiến. Câu ấy chính là nói: Chẳng thể dùng Chân Kiến
để có thể thấy Vọng Kiến được!
*
Hỏi: Thông thường, trước danh xưng của người
xuất gia đều thêm họ Thích. Đă xuất gia th́
không có họ, cần ǵ phải thêm vào chữ Thích? (Một độc giả ở
Hoa Liên hỏi)
Đáp:
Đây là tập quán của các ḥa thượng Trung Hoa, chứ
các nước khác cũng chẳng phải đều là
như vậy. Chuyện này bất quá nhằm biểu thị
rơ [người xuất gia] là pháp tử của đấng
Thích Tôn, có lẽ cũng chẳng có ǵ là không thích hợp.
*
Hỏi: Chú giải cho phần thứ mười chín của
kinh Kim Cang có các tỷ dụ, “tê
nhân ngoạn nguyệt nhi văn sanh giác” (con tê giác do ngắm
trăng mà sừng nổi vân) và “tượng
bị lôi kinh hoa nhập nha” (voi bị tiếng sấm
làm kinh động mà ngà có vằn). Tôi chẳng hiểu rơ
chuyện được nói trong hai câu ấy, kính xin chỉ
dạy! (Trương Chi Sanh hỏi)
Đáp:
Trên sừng tê giác và ngà voi đều có vằn giống
như những ṿng gỗ trên thân cây lâu năm. Vằn trên sừng
tê giác do cảm thụ bóng trăng soi mà sanh, vằn trên ngà
voi do cảm thụ tiếng sấm động mà sanh. Dùng
những chuyện ấy để làm tỷ dụ về
lẽ cảm ứng.
*
Hỏi: Dục Giới có sáu tầng trời, Sắc Giới
mười tám tầng trời, Vô Sắc Giới bốn tầng
trời, tổng cộng là hai mươi tám tầng trời,
gọi là “tam giới”. Xin hỏi Tây Phương Cực Lạc
thế giới là thuộc tầng trời nào trong giới
nào của tam giới? (Lâm
Tướng Lộ hỏi)
Đáp:
Tam giới chính là cơi sanh tử luân hồi. Cực Lạc
là quốc độ tịch tĩnh Niết Bàn, há có thể
nói Cực Lạc thuộc tầng trời nào? Há chẳng
nghe ngạn ngữ có câu: “Nhảy
vọt khỏi tam giới, chẳng ở trong luân hồi” ư?
Tam giới là uế, Cực Lạc là tịnh. Cơi phàm, cơi
thánh, khác nào so sánh giữa bùn và mây!
*
Hỏi: Chiếu theo kinh A Di Đà, từ phương Tây
qua khỏi mười vạn ức Phật độ, có
thế giới tên là Cực Lạc. Thế giới có ǵ
khác biệt thiên giới? (Lâm
Tướng Lộ hỏi)
Đáp:
Sai khác to lớn, chẳng thể bằng vài câu mà có thể
[nói trọn hết]. Ở đây, tôi nói sơ lược
những điểm chánh yếu. Cơi trời có Thành, Trụ,
Hoại, Không, Cực Lạc là Thường, Lạc, Ngă, Tịnh.
Cơi trời có sanh tử, Cực Lạc chỉ có vượt
thẳng lên thành Phật. Thiên giới đem so sánh với Cực
Lạc giống như đem chuồng ḅ, chuồng dê so với
Bạch Cung (White House) của nước Mỹ vậy!
*
Hỏi: Trong tam giới có mấy đại thiên thế giới?
Có phải là đại thiên thế giới bao gồm lục
đạo hay không? (Lưu Giác
Chi)
Đáp:
Cần phải nói đảo lại, một đại
thiên là một tam giới. Nói tách ra th́ [trong tam giới], có một
Vô Sắc Giới và một [tầng trời] Tứ Thiền
thuộc Sắc Giới, c̣n Sắc Giới từ Sơ Thiền
tới Tam Thiền và sáu tầng trời thuộc Dục Giới
th́ có đến mấy ngàn vạn. Nếu muốn biết
rơ tường tận số lượng, ắt phải từ
một tiểu thế giới, tiểu thiên, trung thiên, cho
đến đại thiên, lần lượt tính toán dồn
lại. Trong một đại thiên, chỉ Dục Giới
là có lục đạo, chứ Sắc Giới và Vô Sắc
Giới chỉ có thiên đạo.
*
Hỏi: Trong bộ Đại Phật Đảnh Thủ Lăng
Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa của pháp sư Viên Anh, trang sáu mươi
mốt, ḍng thứ sáu có chữ Tam-ma-đề ([sư ghi
chú] “chữ Tam đọc theo
giọng Khứ Thanh”); ḍng thứ sáu nơi trang bảy
mươi mốt, có từ ngữ “nhất thiết chúng sanh” ([sư ghi chú] “đọc theo giọng Khứ
Thanh”). Chiếu theo cách đọc
thông thường, chữ Tam (三) [trong Tam-ma-đề] phải
đọc b́nh thanh, chữ Nhất Thiết phải đọc
giọng Nhập Thanh, gần như là ai nấy đều
đọc như thế. Xin hỏi có phải là chữ
trước nên đổi thành đọc theo giọng khứ
thanh, chữ sau nên cũng đổi sang đọc theo giọng
khứ thanh? (Hùng Thanh Tuấn hỏi)
Đáp:
Tam-ma-đề là tiếng Phạn, Tam đọc giọng
B́nh Thanh hoặc Khứ Thanh, ắt phải dựa theo âm tiếng
Phạn th́ mới có thể xác định được.
Chúng ta đọc những câu chú bằng tiếng Phạn,
do không có thầy truyền dạy, đa số là sai lầm.
Quá đáng đến nỗi những chữ phải đọc
hai âm dính lại, bèn đọc thành hai chữ, chữ bốn
âm ghép lại bèn đọc thành bốn âm [rời nhau][32]. Đối với
âm thanh, do các nơi khác nhau, xưa nay biến đổi, nên
đă sớm mất tánh chân xác. Vạn pháp duy tâm, danh từ,
ngôn ngữ là tướng, hăy bỏ huyễn tướng,
cốt sao giữ cái tâm chân thành, chánh trực. Pháp sư Viên
Anh là bậc học vấn lẫn đức hạnh đều
cao, [Ngài bảo] đọc chữ Tam theo Khứ Thanh, chắc
là dựa theo âm tiếng Phạn. Danh từ “nhất thiết” (一切) vốn có hai cách hiểu:
Đọc giọng Khứ Thanh th́ có nghĩa là một nhát
dao chặt xuống chia đều chằn chặn. Đọc
theo giọng Nhập Thanh, sẽ có nghĩa là “giai thiết” (階砌), tức là thứ bậc
vậy. Xét theo nghĩa chúng sanh b́nh đẳng, đọc
theo giọng Nhập Thanh cũng chẳng phải là không
được! Nhưng chỉ cốt sao từ chẳng hại
nghĩa, dẫu chẳng phân biệt chi ly cũng không sao!
*
Hỏi: Mười hai bộ kinh là ǵ, xin dạy cặn kẽ!
(Lữ Tịnh An hỏi)
Đáp:
“Bộ” (部) là nói tới chủng loại,
tức là đem nội dung của các kinh phân tích thành mười
hai môn loại. Mười hai loại ấy, lại chia
thành hai loại tánh chất:
1)
Chỉ về thể tài (genre) của kinh văn, có ba loại:
Một là Khế Kinh, hai là Trùng Tụng, ba là Phúng Tụng.
2)
[Phân loại] kinh văn theo sự việc, gồm chín loại:
Một là Nhân Duyên, hai là Bổn Sự, ba là Bổn Sanh, bốn
là Vị Tằng Hữu, năm là Thí Dụ, sáu là Luận Nghị,
bảy là Tự Thuyết, tám là Phương Quảng, chín
là Thọ Kư.
Mười
hai tên gọi ấy có ư nghĩa như thế nào, ắt phải
nghiên cứu kinh mới biết. Chỉ giải thích suông,
chẳng đối chiếu kinh để chứng thực,
sẽ vẫn là mờ mịt!
*
Hỏi: Nói Nhị Tử tức là nói về Phần Đoạn
và Biến Dịch sanh tử, nhưng chẳng biết Phần
Đoạn và Biến Dịch giải thích như thế
nào? (Liêu Thanh Hoa hỏi)
Đáp:
Phần Đoạn Sanh Tử là nói đến sự sanh tử
của lục đạo phàm phu, xả thân, biến thân. Thọ
mạng có hạn độ nhất định, gọi là
Phần (分). H́nh thể có các cấp
độ Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức khác biệt,
nên gọi là Đoạn. Biến Dịch Sanh Tử chính là
chuyển biến cảnh giới sở chứng nơi quả
địa của bậc thánh Tam Thừa đă vượt
khỏi tam giới, chẳng giống như phàm phu có h́nh sắc
và thọ mạng thù thắng, kém cỏi, dài, ngắn, [chỉ
là] mê hoặc dần dần đoạn diệt, bổn trí
dần dần tăng tấn viên măn, tâm thức trước
là biến cải, sau là thay đổi [cho nên dùng sanh tử
để sánh ví] mà thôi!
*
Hỏi: Sách giáo khoa của bậc Tiểu Học nói hoàn
toàn chẳng có quỷ, bài xích là mê tín, nhưng các khoa học
gia cận đại đă chứng thực “thật sự
có quỷ”. Như vậy th́ vẫn tuân theo sách giáo khoa, hay
là vâng theo kiến thức hiện đại để nói
rơ? (Vương Lạc Trí hỏi)
Đáp:
Nếu là kẻ dạy học th́ vẫn nói theo sách. Nếu
cho rằng tài liệu giảng dạy đă nói sai lệch,
chẳng ngại bổ sung bằng [những sự kiện]
có căn cứ.
*
Hỏi: Chưa biết Phần Đoạn Sanh Tử và Biến
Dịch Sanh Tử giải thích như thế nào? (Liêu Thanh Hoa hỏi)
Đáp:
Nói đơn giản, luân hồi trong lục đạo, chết
nơi đây, sanh nơi kia, th́ gọi là Phần Đoạn
Sanh Tử. Bậc đă vượt thoát tam giới, tŕnh
độ ngộ chứng cũng chẳng nhất loạt
giống như nhau. Hễ tiến cao hơn một cấp,
ắt là có một phen diệt Hoặc. Đó gọi là Biến
Dịch Sanh Tử.
*
Hỏi: Chữ Vạn (卐) trên thân Phật giải
thích như thế nào? Nhưng cách viết chẳng đồng
nhất, có khi chữ Vạn bị viết ngược chiều
(卍). Chẳng biết như thế nào mới
là đúng? (Liêu Thanh Hoa hỏi)
Đáp:
Tiếng Phạn gọi chữ này là Thất Lợi Mạt
Tha Lạc Sát Nẵng (Srivatsalaksana), dịch sang nghĩa tiếng
Hán là Cát Tường Hải Vân. Chữ này đọc thành
âm Vạn, hàm nghĩa “công đức
viên măn”. Chữ Vạn xuôi và Vạn ngược tranh luận
không ngừng. Kẻ hèn này chưa thấy nguyên dạng
trong kinh tiếng Phạn, chẳng dám vũ đoán!
*
Hỏi: Sách Tâm Kinh Thiển Thuyết nói: “Đến lần thứ bảy của bảy ngày,
sẽ gọi là Cụ Căn Vị (địa vị đầy
đủ các căn), sáu căn mở ra (ư nói đă h́nh thành
và tiếp nhận cảnh giới bên ngoài), sẽ gọi
là Danh Sắc duyên Lục Nhập”, chẳng biết “lần thứ bảy của bảy
ngày” sẽ là thời gian bao lâu? (Liêu Thanh Hoa hỏi)
Đáp:
Căn cứ theo kinh Đại Bảo Tích đă dạy: “Như thị ưng tri, phàm nhập
thai giả, đại số ngôn chi, hữu tam thập bát
thất nhật” (Hăy nên biết như thế này: Hễ
kẻ nào nhập thai, nói chung, [sẽ ở trong thai] ba
mươi tám lần bảy ngày). Tính ra, ba mươi tám lần
bảy ngày tương ứng khoảng tám, chín tháng. “Lần thứ bảy của bảy
ngày” như ông đă hỏi chính là khoảng năm
mươi ngày.
*
Hỏi: Trong hàng đại chúng của Phật giáo, Ma Hê Thủ
La (Maheśvara)[33] có địa vị như thế nào? Vị
này có lai lịch như thế nào? (Lâm Chánh Khảo hỏi)
Đáp:
Đây là vị trời cao nhất trong Sắc Giới, tức
Đại Tự Tại Thiên, là vị thần được
ngoại đạo Ấn Độ thờ phụng. Lại
nữa, Mật Tông cũng thờ phụng, bảo là do
Đại Nhật Như Lai ứng hiện.
*
Hỏi: Có lần tôi đọc tập Hạ của bộ
sách Lai Quả Thiền Sư Tập, có nói: Bổn Sư
Thích Ca Như Lai từng phát ra năm trăm đại nguyện,
nhưng chỉ nói số lượng là năm trăm, chẳng
khai thị tường tận các nguyện ấy như thế
nào? (Trịnh Quân Hải hỏi)
Đáp:
Năm trăm đại nguyện số lượng quá
nhiều, làm sao có thể nhớ hết? Dẫu tra cứu
trong kinh sách, dựa vào đó trích dẫn, cột báo này
cũng chẳng thể đăng trọn hết
được, huống là khai thị cặn kẽ ư?
Xin hăy thứ lỗi khó thể phúc đáp được!
*
Hỏi: Tổ sư nói “đản
năng dữ ma thời, bất sầu bất triệt ngộ”
(chỉ có thể [nhận biết] ngay trong từng giây phút,
chẳng lo không triệt ngộ),
ba chữ “dữ ma thời”
(與麽時) nên hiểu như thế nào? (Liêu Thanh Hoa hỏi)
Đáp:
Câu ấy nói ắt có những đoạn văn trước
đó, nay ông cắt bỏ chẳng chép, làm sao có thể nói
cho suông sẻ được! Chữ “dữ ma thời” giống như nay ta nói “giá dạng thời” (這樣時, trong lúc ấy).
*
Hỏi: Thường thấy sách Phật có hai chữ tam-muội,
khó hiểu nghĩa của nó, xin hăy khai thị. (Liêu Thanh Hoa hỏi)
Đáp:
Tam-muội là tiếng Phạn, dịch nghĩa sang tiếng
Hán là Chánh Định.
*
Hỏi: Xin hăy cho biết tam thiên đại thiên thế giới
nói theo Sự và Lư là như thế nào? (Hoàng Đinh Thọ hỏi)
Đáp:
Hợp bốn đại châu, tám trung châu, bao nhiêu tiểu
châu thành một đơn vị thế giới. Một
ngàn đơn vị thế giới như vậy, gọi
là một tiểu thiên thế giới. Gom một ngàn tiểu
thiên thế giới lại, gọi là trung thiên thế giới.
Lại gom một ngàn trung thiên thế giới, gọi là một
đại thiên thế giới. Đó là nói đại
lược. Nếu nói cặn kẽ th́ phải nói theo phạm
vi ngang và dọc. Theo chiều dọc th́ dưới là có
phong luân, thủy luân v.v… cho đến trên là có các cơi trời
như Dục Giới, Sắc Giới v.v… Theo chiều ngang
th́ có Tu Di, Thiết Vy, các tầng núi, các tầng biển[34]. Đó là Sự.
Trước hết phải biết Sự là như thế
nào. Nếu nói theo Lư, ắt phải là sau khi đă thâm nhập
Phật học th́ mới có thể thảo luận. Nói quá
sớm, chỉ mất công tăng thêm mê lầm mà thôi!
*
Hỏi: Xin hăy giải thích nghiệp lực và nghiệp cảnh,
lại c̣n nêu thí dụ để chỉ rơ. (Ngô Mậu Tùng hỏi)
Đáp:
Nghiệp lực là các chuyện thiện ác do chính ḿnh đă
tạo, chủng tử của chúng sẽ có một loại
tiềm lực, hễ đến thời, sẽ dấy
lên hiện hành, không thể ngăn chặn. Đấy là
nghiệp lực. Hai chữ Nghiệp Cảnh có chút giới
tuyến về sự sai biệt: Khi tạo nghiệp th́ là
nhân, khi nghiệp nhân đă chín th́ là quả. Nay nói “nghiệp cảnh”, tức là
nói về cảnh giới tạo tác. Cảnh ấy chính là
nhân duyên lúc tạo tác thiện nghiệp hay ác nghiệp,
như Năng, Sở, đối tượng, tác ư, dự
bị, thực hiện, hoàn thành v.v… đều là nghiệp
cảnh vậy!
*
Hỏi: T́nh trạng của thân Trung Ấm là như thế
nào? Xin hăy nêu bày đại lược? (Ngô Mậu Tùng hỏi)
Đáp:
Câu hỏi này quá rộng, chẳng biết trả lời từ
chỗ nào. Nếu muốn hiểu cặn kẽ, cần phải
đọc Trung Ấm Kinh và Câu Xá Luận, hoặc [các sách
viết về] cách độ thân Trung Ấm trong Mật
Tông. Nếu nói đơn giản, [thânTrung Ấm] trong Dục
Giới và Sắc Giới có khác biệt. Trong Dục Giới
th́ như đứa trẻ bốn năm tuổi, chia thành
có áo hoặc không áo sai khác. Trong Sắc Giới th́ vóc dáng
thân thể như lúc c̣n sống, phần nhiều là có y phục.
Động tác th́ những người sanh lên trời sẽ
ngửa đầu, sanh vào loài người, súc sanh hoặc
ngạ quỷ th́ đi ngang, sanh vào địa ngục th́ chúc
đầu xuống, chân chổng lên. Thọ mạng th́ ngắn
là như trong một khảy ngón tay, dài th́ là bốn
mươi chín ngày.
*
Hỏi: Hai loài chim Ca Lăng Tần Già và Cộng Mạng là
tên gọi của loài chim ǵ? Ngoài thế giới Cực Lạc
ra, c̣n có thế giới nào có những loài chim này? (Lâm Tú Diễm hỏi)
Đáp:
Chim trong thế giới Cực Lạc hoàn toàn chẳng phải
là thật sự sanh ra, mà đều là do Phật lực biến
thành ḥng tiếp dẫn chúng sanh các nơi, cho nên biến hóa
hiện diện ở các chỗ. Hai loài chim này sanh trưởng
trong thế giới Sa Bà, Tuyết Sơn và Thiên Trúc đều
có, trong lănh thổ Trung Hoa không có.
*
Hỏi: “Trung Hoa nan sanh” (khó
sanh tại Trung Hoa) có phải là mang ư nghĩa coi rẻ
người Âu Tây hay không? (trích từ bài Giai Đại Hoan
Thiện) (Trần Đăng Phùng
hỏi)
Đáp:
Kinh sách nhà Phật có câu “trung quốc
nan sanh”, chẳng nói Trung Hoa! “Trung
quốc” được nói ở đây là từ ngữ
phiếm chỉ lănh thổ trung tâm của một nước,
chẳng phải là nơi biên địa. Văn hóa ở những
vùng đất nơi biên cương thường lạc hậu,
khó nghe Phật pháp! Trong Phật pháp, chúng sanh b́nh đẳng,
hoàn toàn chẳng có kiến chấp ta người, càng chẳng
có ư niệm coi thường!
*
Hỏi: Giải thích câu “giai thị
A Bệ Bạt Trí” như thế nào? Có ư nghĩa ǵ? (Lâm Tú Diễm hỏi)
Đáp:
Đây là tiếng Phạn, dịch sang tiếng Hán có
nghĩa là Bất Thoái. Trong cơi này, sở dĩ tu hành khó
thành là v́ luôn không thường hằng, dễ lui sụt. Hễ
lui sụt, sẽ chẳng thành tựu. Người trong thế
giới Cực Lạc đều là bậc thượng
thiện, hoàn cảnh ưu mỹ, hết thảy đều
có thể giúp cho [hành nhân] tiến cao hơn, hoàn toàn chẳng
có nhân duyên gây chướng ngại. V́ thế, sanh vào cơi ấy,
một mực chẳng lui sụt, có thể mau chóng thành Phật.
*
Hỏi: Chú tâm[35] của chú Lăng
Nghiêm là những chữ nào? (Ngô
Minh An hỏi)
Đáp:
Tất đát đa bát đát ra (Sitātapatrā).
*
Hỏi: Tiếng Phạn có phải là tiếng Nhă Lợi An
(Aryan) hay không? V́ sao có Phạn ngữ và Phạm âm sai khác?
Như chữ 卍 được gọi bằng
bảy chữ Thất Lợi Mạt Tha Lạc Sát Nẵng
[trong Phạn ngữ] mà âm đọc (Phạn âm) lại là
Vạn? (Thái Thế
Phương hỏi)
Đáp:
Kẻ hèn này chưa từng học tập tiếng Nhă Lợi
An nên chẳng biết. Phạn văn nói trong kinh sách nhà Phật
chính là văn tự của Ấn Độ. Người Ấn
tương truyền văn tự ở xứ ấy do Phạm
Thiên viết ra, người đời sau dựa theo đó
mà gọi là Phạn văn.
*
Hỏi: Giải thích Kiến Tư Nhị Hoặc như thế
nào? Xin hăy giải thích sơ lược! (Liêu Thanh Hoa hỏi)
Đáp:
Phàm phu trong tam giới chẳng hiểu nghĩa Tứ Đế,
lầm lạc phát sanh năm thứ kiến giải sai lầm
là Thân Kiến, Biên Kiến, Giới Thủ Kiến, Kiến
Thủ Kiến, Tà Kiến v.v… đó là Kiến Hoặc. Phiền
năo dấy lên gồm năm loại: Tham, sân, si, mạn, nghi
v.v… chính là Tư Hoặc. Ư nghĩa của những thứ ấy
như thế nào, chẳng thể nói trong vài lời
được!
*
Hỏi: Trong bài Nhân Sanh Thập Luận của ông Tiền Mục
có nói: “Phật giáo chẳng luận
về linh hồn”, nhưng bộ Phật Pháp Đạo
Luận lại bàn về thuyết linh hồn. Điều
này có phải là mâu thuẫn hay không? (Trần Triều Phước hỏi)
Đáp: Phật giáo hoàn
toàn chẳng phải là không nói đến linh hồn, chỉ
là danh từ khác nhau, lư giải khác nhau, như thế mà
thôi! Ngoại giáo gọi cái tinh thần sanh tử đến
đi là Hồn, Phật giáo gọi nó là Thức. Riêng ḿnh tông
Duy Thức luận định chuyện này cặn kẽ
nhất. Đó gọi là đại khái danh từ bất
đồng! Ngoại giáo nói hồn chính là quỷ, hoặc
nói là “thường c̣n”, hoặc nói là “tiêu diệt”, hoàn toàn
chẳng có lập luận nhất định. Nhà Phật
nói “chúng sanh đều có Phật
tánh, chỉ là hễ mê th́ gọi là Thức. Thức sẽ
luân chuyển trong lục đạo, sanh tử chẳng ngừng”.
V́ thế, người học Phật cầu sao chuyển
thức thành trí, trí chính là chân tánh, chân tánh chính là Phật, tức
là đại khái lư giải bất đồng. Có hai thứ
bất đồng như thế, sai khác hào ly, lệch
đi ngàn dặm! Ngoại giáo coi hồn là linh, coi nó là
căn bản. Phật giáo biết thức là mê, chẳng phải
là bản ngă!
*
Hỏi: Trong cuốn Phật Học Thường Thức
Khóa Bổn của tiên sinh, có rất nhiều câu chữ
đọc thấy rất huyền hư, ví như trong phần
giải thích về thế giới nói có núi Tu Di v.v… (Trần Triều Phước hỏi)
Đáp: Có đất
nào không có núi? Có tinh cầu nào không có núi? Tu Di là tên một quả
núi cao nhất. Đấy đều là v́ thế giới quá
nhiều, nhằm phân định giới tuyến, cưỡng
đặt cho nó một cái tên ḥng dễ nói đó thôi. Hễ
chấp trước phiến diện th́ chỗ nào cũng
bị vướng mắc, trở ngại; có thể thấy
viên dung th́ sẽ đều là thiện xảo.
* Hỏi: “Các hành vô thường, là pháp sanh
diệt, sanh diệt diệt hết, tịch diệt là
vui”. Không biết giải thích như thế nào? (Trần Triều Phước hỏi)
Đáp:
Bài này được gọi là Tuyết Sơn Kệ, chính
là nguyên do khiến cho đức Thích Tôn ngộ đạo
từ nhiều kiếp lâu xa. Ngụ ư sâu thẳm, chỉ
có thể nói đại lược. Hai câu đầu nói về
pháp hữu vi trong thế gian, không ǵ chẳng phải là khổ.
Câu đầu nói “hết thảy các tạo tác đều
chẳng vĩnh hằng”; câu sau nói [các pháp ấy] “đều
là sanh sanh diệt diệt, khó thể kết thúc”. Hai câu sau [của
bài kệ] nói “đạo vô vi xuất thế, chính là chân lạc”.
Câu trước nói: Chuyện sanh diệt đă giải quyết
xong. Câu sau nói: Ba chướng đă trừ, chứng niềm
vui Niết Bàn.
*
Hỏi: Mong hăy phân biệt, giải thích căn nguyên và ư
nghĩa của Quán Âm Minh Trai, Lục Nhật Trai, Thập
Nhật Trai v.v… (Lương
Minh Tượng hỏi)
Đáp:
Ư nghĩa nguyên gốc của chữ Trai (齋) là ăn đúng thời,
tức là “quá Ngọ chẳng
ăn”. Đấy chính là [ư nghĩa] theo kinh văn trong
giới luật. “Trai” lại
c̣n có nghĩa là “răn dè, tôn kính”. V́ thế, trong ngày trai phải
cẩn thận, ít dục, tự giữ ḿnh thanh tịnh. Về
sau, coi chuyện sát sanh ăn thịt đă là bất tịnh,
lại c̣n tổn thương tâm từ bi, cho nên trong ngày
tŕ trai, bèn đoạn tuyệt chuyện ăn thịt. Nay
th́ chỉ không ăn thịt bèn gọi là “tŕ trai”, rốt cuộc đă sơ sót “thanh tịnh, tự giữ ḿnh”.
Đúng là thiện sự chẳng hoàn toàn vậy! Lục
Trai Nhật là v́ trong những ngày ấy chư thiên đi
xét án khắp thiên hạ, xem xét con người thiện hay
ác, hăy xem [điều này] trong kinh Ma Ha Bát Nhă. Thuyết Thập
Trai phát xuất từ kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn
Nguyện, nghĩa là trong các ngày ấy, các tội kết tập,
biện định nặng nhẹ. V́ thế, hăy nên giữ
ǵn cái tâm. Nếu có thể lễ Phật, tụng kinh, sẽ
có thể tiêu trừ tội chướng. Quán Âm Trai Nhật
chẳng rơ, nhưng đại ư cũng là như trên đă
nói.
*
Hỏi: Tam Giáo Bảo Cung ở B́nh Đông có phải là
chánh tín Phật giáo hay không? Có thể thâu âm khóa tụng sáng
tối của Tam Giáo Bảo Cung phát trên đài truyền
thanh để giúp cho chuyện tụng niệm sáng tối
hay không? (Lương Minh Tượng
hỏi)
Đáp:
Tên gọi Tam Giáo Bảo Cung hết sức kỳ dị, do
giáo nào, người nào, tụng kinh điển ǵ, kẻ
hèn này đường xa cách trở, nhất loạt chẳng
biết, chẳng tiện hấp tấp trả lời. Xin
hăy lănh giáo bậc thiện tri thức ở gần chỗ
ông, đó là điều cần thiết.
*
Hỏi: Duyên khởi của chuyện dùng mộc ngư (mơ)
làm pháp khí? (Vương Thanh Hán hỏi)
Đáp:
Cá không nhắm mắt, trong tâm luôn dè dặt. Khắc gỗ
làm thành món đồ mô phỏng theo h́nh của nó [nhằm
nhắc nhở hành nhân luôn tỉnh thức, cẩn trọng
trong hành vi]. Gơ vào, [mơ sẽ] phát ra âm thanh nhằm giữ nhịp
cho tiếng niệm tụng ḥng xua đuổi hôn trầm,
có công hiệu thù thắng rất lớn.
*
Hỏi: Trong Phật Học Thường Thức Khóa Bổn,
khóa thứ bảy có nói về số lượng thế giới,
các tinh cầu lớn nhỏ và bảy núi, tám biển vây
quanh núi Tu Di, dưới là từ Không Luân cho đến trên
là Sơ Thiền Thiên của Sắc Giới, tập hợp
một ngàn thế giới sẽ là một tiểu thiên thế
giới. Tam thiên đại thiên thế giới do đức
Phật nói và các tinh cầu như các nhà thiên văn học
đă nói trong hiện tại cũng là chẳng thể tính
kể. Phật học và khoa học tương đồng.
Xét theo địa lư, núi Tu Di là mạch núi Hỷ Mă Lạp
Nhă. Xét theo Phật học, chẳng biết là ở chỗ
nào trong hư không! Cơi trời chia ra từ Sơ Thiền
cho đến Tứ Thiền Thiên. Đối với các cơi
trời, xét theo bản đồ thiên văn, chẳng biết
làm thế nào để phân biệt hai điều ấy,
cũng mong dạy cho! (Hà Trạch
Thành hỏi)
Đáp:
Núi Tu Di dịch là Diệu Cao, hoàn toàn chẳng phải là tên
của một ngọn núi chuyên biệt. Bất cứ khu vực
nào có quả núi cao nhất th́ [quả núi ấy] đều
có thể gọi là Tu Di. Núi Hỷ Mă Lạp Nhă chính là Tu Di
trong châu này, nhưng chẳng phải là núi Tu Di của Sa Bà
đại thiên! Chúng ta chỉ dựa theo châu cầu[36] này, vẫn chưa
biết đến các châu cầu khác rốt cuộc là ngôi
sao nào, huống hồ là núi Tu Di của đại thiên
ư? C̣n như bản đồ thiên văn mà ông đă nói
đó, chính là thứ được vẽ theo nhục nhăn
của chúng ta, bất quá là những ǵ xung quanh gần gũi
châu cầu này nhất, giống như một bọt nước
trong biển cả mà thôi! Không chỉ là chẳng thấy Tứ
Thiền, mà ngay cả sáu tầng trời thuộc loại
Địa Cư[37] há có thể trông thấy
ư? Đấy chính là những thứ mà Thiên Nhăn hoặc
Phật Nhăn trông thấy, bọn chúng ta há nên dùng một cái ống
bé tí để đong lường biển rộng ư?
*
Hỏi: Một đại kiếp là tám mươi tiểu
kiếp. Thành Phật cần tới ba đại
A-tăng-kỳ kiếp. Con người thọ tám vạn bốn
ngàn năm, cứ mỗi trăm năm giảm một tuổi,
giảm đến mười tuổi th́ ngừng, sau khi
[tuổi thọ chỉ c̣n] mười tuổi, bèn cứ mỗi
trăm năm tăng một tuổi, tăng đến tám
vạn bốn ngàn năm. Thời gian một tăng một
giảm như thế hợp thành một ngàn sáu trăm tám
mươi vạn năm là một tiểu kiếp, hai
mươi tiểu kiếp là trung kiếp, bốn trung kiếp
chia ra Thành, Trụ, Hoại, Không. Bốn trung kiếp là một
đại kiếp. Một đại kiếp là mười
ba vạn bốn ngàn bốn trăm vạn năm. Tính
như vậy là tính theo kiểu nào, phải là mười
ba ức bốn ngàn bốn trăm vạn năm! Nếu
xét theo phép Toán trong nhà trường, chẳng biết so sánh
như thế nào? Một tiểu kiếp có bao nhiêu năm?
Đại kiếp có bao nhiêu năm? Tôi chẳng thể hiểu
rơ, muôn phần mong cụ dạy cho! (Hà Trạch Thành hỏi)
Đáp:
Cách tính toán hoán chuyển trong phép đo lường xưa
nay bất đồng, trong và ngoài nước bất đồng.
Danh từ giống nhau, nhưng số lượng khác nhau,
hoặc số lượng giống nhau, nhưng tên gọi
khác nhau. Thiên biến vạn hóa, rất khó phù hợp lẫn
nhau. Như độ dài thời cổ có Tầm, Nhẫn[38], dung lượng
th́ có Dữu, Bỉnh[39], trọng lượng
th́ có Truy, Thù[40],
nay đều chẳng dùng nữa! Độ dài của một
Xích (尺,một thước Tàu)
trải qua các đời Châu, Tần, Hán, Đường,
các ngành nghề, các nơi đều sai khác. Cân lường
th́ Trung Hoa dùng Cân và Quân[41] để tính đếm,
Âu Tây dùng Bảng (pound), Đốn (ton) để tính đếm.
Về năm, Trung Hoa dùng quy tắc “ba, năm” để thêm
tháng nhuận[42], Âu Tây dùng quy tắc
khác để tính toán[43]. Tính dặm th́ có những
cách dựa theo yard, hoặc theo bộ (foot) sai khác, có dặm
Tàu, cây số (km), hải lư sai biệt. Để tính toán
đất đai th́ ở Đại Lục có Mẫu, có Khoảnh[44], Đài Loan th́ dùng
B́nh và Giáp[45].
Phức tạp như vậy, cư sĩ muốn gom các kiếp
ḥng so sánh với phép Toán trong nhà trường hiện thời
để mong t́m được con số, kẻ hèn này tự
thẹn kém cỏi, kính cẩn tạ từ v́ chính ḿnh chẳng
nhanh nhạy!
*
Hỏi: A Di Đà Phật và Thích Ca Mâu Ni Phật có ǵ phân biệt?
Hy vọng đến ngày thư gởi tới, sẽ giải
đáp trong số báo nào của tạp chí Bồ Đề
Thụ. Ngàn phần mong cầu cụ sẽ gởi thư
trả lời để chỉ dạy. Như người
xưa nói Bàn Cổ mở mang trời đất, bà Nữ
Oa luyện đá vá trời, thần thoại Cơ Đốc
Giáo th́ nói Thượng Đế sáng tạo trời đất,
loài người và muôn vật, hoàn tất trong một tuần
lễ. Tôi không tin, chỉ tin lời Phật dạy “tự sanh, tự diệt”. (Hà Trạch Thành hỏi)
Đáp:
Câu hỏi khéo thay! Xin hăy nghĩ xem, Nghiêu và Thuấn có ǵ
phân biệt? Có phân biệt chính là danh tướng, vô phân biệt
là Tánh Đức. Nữ Oa vá trời, Thượng Đế
tạo ra muôn vật, cố nhiên là chuyện thần thoại,
nhưng “tự sanh, tự diệt”
cũng chẳng phải do Phật nói.
*
Hỏi: Con người sau khi chết có chín hiện tượng,
một là chết, hai là trương ph́nh, ba là xanh bầm, bốn
là rữa nát, tuôn mủ, năm là hư hoại. Nhưng sau
khi đă hoại, cớ sao c̣n có tướng thứ sáu là
máu bê bết, tướng thứ tám là cốt tỏa (骨鎖). Có phải là
xương trắng giống như khóa móc vào nhau hay không?
Xin chỉ dạy! (Hà Ngọc
Trinh hỏi)
Đáp:
Người đă chết có chín hiện tượng chính
là nói về cái thân do Tứ Đại giả hợp lần
lượt biến hóa, có chín tướng khác nhau. Tướng
hoại thứ năm chỉ là nói dung mạo hư nát, chẳng
phải là nói đến hết thảy thể chất
đều bị tiêu sạch. Cho đến sau khi bị rữa
nát, chảy mủ, những thứ da, thịt, mỡ c̣n
sót lại, biến thành một đống máu me bầy nhầy.
Đống máu me bầy nhầy lại trải qua giai
đoạn khô đi rồi tan biến, cái c̣n sót lại lỏng
chỏng như móc vào xương sống. Xương sống
giống như thân cây của các khớp xương. Hễ
nói đến xương sống th́ các loại
xương khác đều được bao gồm!
*
Hỏi: Vị tổ khai sơn của núi Thanh Nguyên ở
Cát An là Lục Tổ hay Thất Tổ? Pháp danh của Ngài
là ǵ? Thuộc tông nào? (Lưu
Gia Phú hỏi)
Đáp:
Tổ khai sơn núi Thanh Nguyên chính là thiền sư Thanh
Nguyên Hành Tư[46]. Ngài là pháp tự của
Lục Tổ thuộc Nam Phái, cho nên là Thiền Tông. Nam Phái
phân thành năm nhà, trong ấy có tông Tào Động do thiền
sư Thanh Nguyên khai sáng.
*
Hỏi: Linh cốt của Lục Tổ hoặc Thất Tổ
có phải là chôn tại núi Thanh Nguyên hay không? (Lưu Gia Phú hỏi)
Đáp:
Linh cốt của Lục Tổ ở chùa Nam Hoa, Quảng
Đông; chính là nhục thân được bó sơn[47], thếp vàng.
*
Hỏi: Thanh Nguyên sơn được khai sơn vào triều
đại nào, năm nào? (Lưu
Gia Phú hỏi)
Đáp:
Đạo tràng của ngài Thanh Nguyên là chùa Tịnh Cư. Tổ
sư Hành Tư sống tại đó vào khoảng niên hiệu
Khai Nguyên đời Đường.
*
Hỏi: Nghe nói người ta sau khi đă chết, trong ṿng
bốn mươi chín ngày, sẽ là Trung Ấm, v́ trong thời
gian ấy sẽ chuyển thế sanh trong lục đạo.
Nhưng loan đàn (đàn cầu cơ thờ phụng ân
chúa) ở các nơi, có lập ra cách gặp gỡ giữa
Âm và Dương. Có người chết đă hơn hai
mươi năm cho đến sau hơn bốn
mươi năm vẫn giáng bút, nói là họ làm thần
được người khác triều bái (tức là
đă chuyển sanh vào thiên đạo rồi!), hoặc là
nói họ sống tự do trong cơi Âm, hoặc là có vong hồn
chịu khổ, mong mỏi gia quyến siêu độ cứu
bạt, nhưng trong ṿng bốn mươi chín ngày, chuyện
chuyển thế đă được giải quyết rồi,
há có lẽ ấy? (Tiêu Huệ
Vinh hỏi)
Đáp:
Những lời lẽ trong hầu cơ giáng bút phần nhiều
là do bọn xảo trá, giả dối ngụy tạo để
lừa phỉnh ngu dân! Cũng có trường hợp là linh
hồn thật sự giáng cơ. Nếu đó là linh hồn
của người chết đă lâu năm, th́ là do từ
Trung Ấm chuyển nhập quỷ đạo, chứ thuộc
trong những đường khác, sẽ chẳng có lẽ
nào giáng đàn! Nếu bàn về chuyện siêu độ, cứu
bạt, bất luận là hiện đang ở trong
đường nào, chỉ có thể mời bậc cao
tăng trọn đủ giới hạnh theo đúng pháp thực
hiện. Nếu như cảm cách, sẽ có thể từ
khổ vượt thoát lên chốn an vui!
*
Hỏi: Nghe nói năm trăm năm trong dương gian
tương đương một ngày trong cơi Âm, dám hỏi
chuyện ấy có thật hay không? (Tiêu Huệ Vinh hỏi)
Đáp:
Có th́ có, nhưng chẳng là đơn giản cứng ngắc
như thế đâu nhé! Bàn đến chuyện này, sẽ
hết sức phiền toái, biết là có chuyện ấy th́
cũng được rồi!
*
Hỏi: Nghe nói vua Diêm La chẳng phải là một vị,
mà là rất nhiều! Chuyện ấy có thật hay không? (Tiêu Huệ Vinh hỏi)
Đáp:
Như người đời biết là có mười vị
[Diêm La Vương], trong kinh cũng có ghi chép, tự nhiên là
nhiều vị, chẳng phải một! Điều này vẫn
bất quá là nói về một nơi mà thôi. Nếu biết
có vô lượng đại thiên, trên là Thiên Đế,
dưới là Diêm La Vương, đều là [số lượng
đến] trăm ngàn vạn ức, khó thể biết số
lượng được!
*
Hỏi: Vô Sư Trí và Tự Nhiên Trí có ǵ phân biệt? Lại
nữa Nhất Thiết Trí và Nhất Thiết Chủng Trí
khác nhau ở chỗ nào? (Lại
Đống Lương hỏi)
Đáp:
Vô Sư và Tự Nhiên, Thể là một, nhưng có hai tên. Nếu
tách ra, Tự Nhiên chính là vốn có, Vô Sư là chẳng do ai
chỉ dạy mà riêng ḿnh tự ngộ. Nhất Thiết
Trí là biết tổng tướng của hết thảy
các pháp. Tổng tướng chính là Không tướng, đấy
là sở chứng của bậc Thanh Văn, Duyên Giác. Trên
đó c̣n có Đạo Chủng Trí, biết các thứ đạo
pháp sai biệt, tức là các thứ phương tiện Diệu
Hữu, là sở chứng của hàng Bồ Tát. Nhất Thiết
Chủng Trí là nói bao gồm cả hai trí trước (Nhất
Thiết Trí và Đạo Chủng Trí), Nhất Thiết là
nói đến Nhất Thiết Trí, Đạo là Đạo
Chủng Trí. Đây chính là Phật trí viên minh, chẳng có ǵ
không bao trùm!
*
Hỏi: Trong chín mươi sáu loại ngoại đạo ở
Ấn Độ thuở ấy, có một loại là Bà La
Môn giáo. V́ sao trong bốn chủng tánh, chủng tánh Bà La Môn
là bậc nhất, Sát-đế-lợi thứ hai? (Hà Trần Nguyệt Nga hỏi)
Đáp:
Trước khi đức Thích Tôn giáng thế, tôn giáo tại
Ấn Độ chính là Bà La Môn. Tuy Sát-đế-lợi (Kshatriya) là vương tộc,
nhưng tín phụng Bà La Môn giáo. Vương tộc tuy quư, vẫn
là đệ tử; tôn giáo thay trời giáo hóa chúng sanh, ở
vào địa vị thầy. V́ tôn trời, trọng thầy,
nên xếp Bà La Môn (Brahmin) đứng đầu. Tập
quán lịch sử này chẳng có ư nghĩa sâu xa nào khác! Cho
đến khi Phật giáng thế, đa số Bà La Môn tự
biết tôn giáo ấy không đúng, lại quy y theo đức
Phật.
*
Hỏi: Bà La Môn tu theo kinh điển ǵ? Phương pháp tu
hành là tu như thế nào? (Hà Trần
Nguyệt Nga hỏi)
Đáp:
Trước tác lâu đời nhất là Tứ Phệ
Đà (Vedas)[48],
dịch nghĩa là Trí Minh, Minh Phần v.v… Lư khá cao sâu, là triết
học cổ nhất ở Ấn Độ. Đó chính là
kinh điển được tín phụng bởi hàng Bà La
Môn.
*
Hỏi: Cấp bậc của Bồ Tát gồm năm
mươi hai địa vị, chưa rơ năm
mươi hai vị có phải là nói đến Thập Tín,
Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng,
Thập Địa, Đẳng Giác, Diệu Giác hay không?
Hành môn để nương theo trong mỗi địa vị
gồm mười bậc ấy là như thế nào? Cầu
xin cụ hăy từ bi chỉ rơ! (Hoàng
Mễ Điền hỏi)
Đáp:
Đúng như năm mươi hai danh xưng mà ông đă
nêu. Cách tu những địa vị ấy chẳng có pháp
chuyên biệt, nói chung là lấy Giới, Định, Huệ
làm nền tảng. Chẳng phân biệt Thiền, Tịnh,
Mật, Luật, hễ tấn tu chứng quả, sẽ
đều có thứ tự. Năm mươi hai địa
vị chính là tên gọi theo thứ tự. Chọn pháp của
bất cứ tông phái nào để tu, cũng đều có
thể đạt đến những địa vị ấy.
Đó gọi là “nhà nhà đều
có đường để đến Trường An”.
*
Hỏi: Trong tự viện thờ phụng Di Lặc Phật,
chẳng biết bốn vị tôn giả ở hai bên Ngài là
những vị nào? (Hoàng
Vĩnh Lâm hỏi)
Đáp:
Chính là Đông phương Tŕ Quốc Thiên Đa La Trá (Dhṛtarāṣṭra), Nam phương Tăng Trưởng Thiên Tỳ
Lưu Ly (Virūḍhaka), Tây phương Quảng Mục Thiên Tỳ
Lưu Bác Xoa (Virūpākṣa), Bắc phương Đa Văn Thiên Tỳ
Sa Môn (Vaiśravaṇa), bốn vị thiên vương
ấy!
*
Hỏi: Cách ngồi của tượng chư Phật, Bồ
Tát đều là ngồi xếp bằng, chỉ có tượng
Quán Âm [được tạc ngồi theo kiểu] một
chân dựng lên, một chân đặt nằm ngang, chẳng
giống các vị khác. Cách ngồi ấy có ư nghĩa
như thế nào? (Lại Đống
Lương hỏi)
Đáp:
Quán Âm hóa hiện ba mươi hai tướng, mỗi tướng
đều khác, đâu phải chỉ là hai chân dựng lên
hay đặt nằm ngang khác nhau. Kiểu ngồi thảnh
thơi này phần nhiều là tướng thuyết pháp. Chư
Phật, Bồ Tát ngồi xếp bằng, phần nhiều
là tướng nhập Định. Xét ra, Quán Âm cũng có tượng
ngồi kết già, chư Phật, Bồ Tát cũng có
tượng tạc ngồi thoải mái hoặc tượng
đứng, hoàn toàn chẳng nhất định!
* Hỏi: Tiêu
chí của Phật giáo là chữ 卍, biểu
trưng điều ǵ và bao hàm ư nghĩa như thế nào? (Dương Gia Do hỏi)
Đáp: Thân
tướng của đức Phật có ba mươi hai
thứ kỳ đặc, chữ 卍 là vết nhăn sanh trên ngực. Các tướng
đều nhằm biểu thị sự tốt lành. Truyền
đến nước ta, ấn định âm của chữ
ấy là Vạn, lưu truyền [nhằm biểu thị] ư
nghĩa “vạn đức cát
tường” vậy!
*Hỏi: Theo
thói quen trong tỉnh này (Đài Loan), các món đồ của
người ngoài tặng cho trẻ đầy tháng thường
in kư hiệu chữ Vạn (卍), có phải là có liên quan
đến tiêu chí của Phật giáo hay không? (Dương Gia Do hỏi)
Đáp: Chữ
ấy đă có âm là Vạn, lại biểu thị tốt
lành. Phật pháp truyền sang nước ta đă hơn một
ngàn năm, ai nấy đều hay biết; v́ thế, đều
biết chữ ấy biểu thị sự trường cửu,
cát tường. Trẻ nít đầy tháng, bạn bè tặng
những thứ ấy, cũng nhằm ư nghĩa chúc nó sống
lâu, phú quư. Chỉ v́ được lưu hành đă lâu, nên
quên mất [ư nghĩa ban đầu]; về sau, phần nhiều
coi như hoa văn, chẳng biết tới nguồn gốc
[của kư hiệu ấy].
* Hỏi: Sách Tại
Gia Bồ Tát Giới Bổn do Thụy Thành Thư Cục xuất
bản, bài kệ kết thúc nơi hàng thứ ba, có câu: “Tam giả sanh sanh xứ”, ḍng
thứ chín là “diệc danh Ma Ha
Diễn”, hàng thứ mười ghi: “Chư Phật Tát Bà Nhă”. Xin hăy giải thích “sanh sanh xứ, Ma Ha Diễn, Tát Bà Nhă” trong bài
kệ ấy! (Lư Vinh Đường
hỏi)
Đáp: “Sanh sanh xứ” là nơi sẽ
sanh vào trong thân sau. Ma Ha Diễn (Mahāyāna) dịch là Đại Thừa.
Tát Bà Nhă (Sarvajña) dịch là Nhất Thiết
Chủng Trí.
*
Hỏi: Xin hăy giải thích tường tận ư nghĩa chữ
Si (痴), hậu học đối với chữ Si trong
Tam Độc cảm thấy khá mơ hồ. Đấy có
phải là do đầu óc phát bệnh hay không? (Từ Phương hỏi)
Đáp:
Chữ Si nghĩa là “ngu muội”. Ngu (愚) là chẳng phân biệt
thiện ác, chẳng biết tội phước. Muội (眛) là chẳng hiểu Sự
Lư, chẳng tin nhân quả. Kẻ như thế khó thể
tuân theo điều lành, khó thể hướng về đạo,
là kẻ độn căn ch́m đắm nhiều kiếp
dài lâu.
*
Hỏi: Phát đại Bồ Đề tâm như thế
nào? (Trương văn Kỳ)
Đáp:
Đại Bồ Đề tâm là một đại sự
nhân duyên, chính ḿnh và người khác đều đạt
đến giải thoát rốt ráo. Luận về dấu
tích, h́nh tướng th́ như Tứ Hoằng Thệ Nguyện
đă nói: “Chúng sanh vô biên thệ
nguyện độ, phiền năo vô tận thệ nguyện
đoạn, pháp môn vô lượng thệ nguyện học,
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”.
Nương theo bốn điều đại cương ấy,
suy ra những điều mục chi tiết, chuyên ṛng,
dũng mănh tiến lên, kiên tŕ, chẳng lui sụt, từ nhỏ
nhặt dần dần đạt đến rộng lớn,
từ yếu ớt đạt đến mạnh mẽ,
chẳng mệt mỏi, chẳng chán ngán, mong ắt thành tựu.
Tuy chứng Phật quả, mà thả chiếc bè Từ.
Quán Âm, Địa Tạng đều là thầy ta, tâm có thể
như thế th́ chính là đại Bồ Đề.
*
Hỏi: Xin hăy so sánh, nói rơ cách giải thích của nhà Phật
và nhà Nho đối với chữ Trung. (Trương văn Kỳ)
Đáp:
Trung (中) là chẳng lệch lạc,
chẳng có hai bên đối lập. Trung đă là Trung th́ há
có so sánh? Như ngắm vầng trăng Rằm từ tháng
Giêng cho tới tháng Chạp, đều là một tướng
tṛn xoe, hoàn toàn chẳng sai biệt. Chỉ có đức Phật
đối với pháp thế gian và xuất thế gian, coi
trọng xuất thế, nên mới từ Giả và Không nói
Trung. Nhà Nho đối với pháp thế gian và xuất thế
gian, nói tường tận về pháp thế gian, cho nên nói
thái quá và bất cập. Như lúc Đông và Hạ, trăng
Rằm vào giờ Tư đều ngự giữa trời, chỉ
là có độ cao hay thấp khác nhau, [thời gian] mọc lặn
dài ngắn sai khác đó thôi!
*
Hỏi: Nguồn gốc của đạo Long Hoa bắt
đầu từ chỗ nào? Người ở chỗ của
mạt học hay nói kẻ tại gia ăn chay là giáo hữu
của Phật giáo Long Hoa, nhưng có người nói: “Tôi
làm sao là giáo hữu Long Hoa cho được, đạo ấy
bắt nguồn từ nơi đâu?” Đúng là khiến cho
mạt học ú ớ chẳng thể đáp được!
(Vị Truyền Đinh hỏi)
Đáp:
Hội Long Hoa vốn xuất phát từ kinh Phật: Sau khi
đức Thế Tôn diệt độ, là chuyện thuộc
năm mươi sáu ức vạn năm sau, chẳng phải
là Long Hoa xuất hiện trong hiện tại. Cái hội
Long Hoa hiện thời thật sự là do những kẻ
chưa hề đọc kinh Phật, chẳng biết giáo
lư, mạo danh Phật giáo đặt ra. Nói chung, Phật
giáo là Phật giáo, đạo Long Hoa hiện thời là
đạo Long Hoa, là hai thứ [hoàn toàn khác biệt], chẳng
phải là một. Trong giáo ấy, tuy có kinh Phật,
nhưng cũng bất quá là lôi Đông kéo Tây, tô son trát phấn
cho có thể diện đó thôi! Kẻ nghiên cứu, học
tập Phật giáo, ắt có Tam Tạng kinh điển, những
ǵ ở ngoài Tam Tạng đều chẳng phải là Phật
giáo! Mong hăy đừng lầm lẫn mắt cá là minh châu. Nếu
hỏi tới cội nguồn của đạo Long Hoa
trong hiện thời, đă có quyển Ám Lộ Minh
Đăng (đèn sáng trong nẻo tối) do ḥa thượng
Tứ Minh biên soạn. Trong ấy, đă ghi chép rất
tường tận. Ở Thụy Thành Thư Cục của
Đài Trung có bán, có thể thỉnh về tham khảo!
*
Hỏi: Trong khóa thứ tư của Phật Học Thường
Thức Khóa Bổn có nói: “Kim
Cang Thủ Bồ Tát và tôn giả A Nan lại chép ra hai bộ
đại kinh Kim Cang Giới và Thai Tạng Giới. Đó
là kết tập bí mật. Phật pháp th́ phải phổ
biến tuyên dương, v́ sao kết tập bí mật”.
Hai chữ “bí mật” có phải
là chẳng hiển lộ hay không? Xin hăy dạy cặn kẽ!
(Triều Tân Ban hỏi)
Đáp:
Phật pháp có hai tông lớn là Hiển và Mật, người
ta đă thường quen nghe. Nói “kết
tập bí mật” chính là kết tập kinh điển của
Mật Tông vậy, chẳng phải là giữ kín không nói ra,
mà cũng chẳng phải là kinh điển bí mật chẳng
lưu truyền!
*
Hỏi: Trong bài Tịnh Thủy Tán có câu “tánh Không bát đức lợi nhân thiên”, tánh Không có
phải là như Tâm Kinh đă nói: “Sắc chẳng khác Không... Thọ, Tưởng, Hành,
Thức cũng giống như thế” hay không? “Bát đức” có phải là
“nước tám công đức” như kinh Di Đà đă nói
hay không? (Trạch Mạnh Thu hỏi)
Đáp:
Tánh Không chính là tánh của các pháp vốn là Không, chớ nên
giới hạn trong vài câu của Tâm Kinh. Các kinh phần nhiều
nói đến tánh Không. Nói nước có tám công đức
là sánh ví nước ao công đức bên Tây Phương vậy!
*
Hỏi: Tự (寺), đường (堂), tinh xá (精舍), thiền tự (禪寺), am (庵) v.v… biểu thị ư
nghĩa ǵ? (Dương Thánh
Sơn hỏi)
Đáp:
“Tự” là tên dinh thự của
quan ở Trung Hoa thời cổ. Đời Hán có Hồng Lô
Tự. Thuở ấy, pháp sư Ca Nhiếp Ma Đằng
dùng ngựa trắng chở kinh [sang Trung Hoa], ở nơi ấy
dịch kinh, cho nên đổi tên thành Bạch Mă Tự.
Người đời sau gọi chỗ sư tăng ở
là Tự. “Đường” là
điện (殿, ṭa nhà lớn). Điện
thờ Phật, Bồ Tát cũng có thể gọi là Đường.
“Tinh xá” là chỗ tinh tấn
tu tŕ. “Thiền tự” là chỗ
ở người tham Thiền, tọa Thiền trong Tông
Môn. Am là tiểu thảo xá (nhà tranh nhỏ), là tiếng
xưng hô khiêm tốn để gọi những ngôi chùa nhỏ.
*
Hỏi: Hành trong Ngũ Uẩn và Hành trong Thập Nhị Chi
khác nhau ở chỗ nào? Lại nữa, Hành trong Ngũ Uẩn
v́ sao là thức thứ bảy (Mạt Na Thức)? (Thái Vinh Hoa hỏi)
Đáp:
“Hành” là động. Hành trong
Ngũ Uẩn và Thập Nhị Chi trọn chẳng giải
thích khác biệt, nhưng Hành ắt có Sở, [tức là] có
tất cả năm mươi mốt tâm sở. So sánh giữa
hai pháp Ngũ Uẩn và Thập Nhị Chi, [chỗ sai khác đôi
chút là] Hành chiếm [số lượng tâm sở] nhiều
hay ít mà thôi. Trong Thập Nhị Chi, Hành ở sau Vô Minh,
trước Thức, số lượng tâm sở phụ
thuộc vào Hành có phạm vi đơn giản, c̣n Hành trong Ngũ
Uẩn bao gồm trọn hết năm mươi mốt
tâm sở. C̣n như nói Hành đặc biệt chỉ thức
thứ bảy, chính là dùng bốn Uẩn thuộc về Tâm
Pháp (Thọ, Tưởng, Hành, Thức) phối ứng với
tám thức mà ra. Do thức thứ bảy luôn động, cho
nên đặc biệt gọi cái trội nhất là Hành. Thật
ra, các thức đều chẳng ĺa khỏi Hành.
*
Hỏi: Thức duyên Danh Sắc trong Thập Nhị Chi giải
thích như thế nào? (Tuy tiên sinh Lương Khải Siêu
đă từng giải thích, nhưng tôi đọc xong vẫn
cảm thấy chưa thích đáng), v́ sao lại đặc
biệt muốn dùng hai thứ tách rời để nói [một
Chi] vậy? (Thái Vinh Hoa hỏi)
Đáp:
Thức do cậy vào hai giọt đỏ trắng[49] mà có tướng,
Tướng chính là h́nh sắc. V́ thế, chọn một chữ
để nói là Sắc. Trong h́nh sắc ấy, đă chứa
đựng thức. Thức chính là tâm pháp. Tâm rỗng rang
chẳng có vật, nhưng có tên gọi, nên chọn dùng một
chữ là Danh để nói. Nói gộp lại, sẽ là hai
pháp Danh và Sắc, chính là phù hiệu của thai mới h́nh
thành vậy.
*
Hỏi: Trong kinh có Đại Bồ Tát và Bồ Tát Ma Ha Tát,
giải thích phân biệt như thế nào? (Tŕ Huệ Lâm hỏi)
Đáp:
Ma Ha Tát là Đại Sĩ. Bồ Tát có rất nhiều tầng
cấp. Dùng Tam Kỳ để luận, từ Thập Trụ
đạt tới Thập Hồi Hướng cần một
Tăng-kỳ, [những địa vị Bồ Tát ấy]
được gọi là Hiền. Từ Sơ Địa
cho tới Thất Địa lại phải mất một
Tăng-kỳ, được gọi là Thánh. Từ Bát
Địa tới Đẳng Giác lại mất một Tăng-kỳ,
gọi là Bổ Xứ. Những vị chưa đạt tới
Sơ Địa gọi là Bồ Tát, những vị Địa
Thượng (chứng từ Sơ Địa trở lên) gọi
là Đại Bồ Tát. Từ Thất Địa trở
lên gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát. Đây bất quá là nói
đơn giản, chứ nếu dùng Tạng, Thông, Biệt,
Viên để cân nhắc, sẽ rất phức tạp.
*
Hỏi: Xá Lợi Phất và Xá Lợi Tử có phải là
cùng một vị tôn giả hay không? (Vương Thanh Hán hỏi)
Đáp:
Xá Lợi Phất (Śāriputra) là tiếng Phạn. Xá Lợi Tử là Phạn Hoa
hợp dịch. Phất (Putra) chính là Tử (con) trong tiếng
Hán. Do sợ rằng ở Trung Hoa không có chim Xá Lợi, nên
có từ ngữ được dịch, có từ ngữ
không dịch, ghép chung lại mà thành [Xá Lợi Tử].
*
Hỏi: Mong hăy giải thích bốn chữ “Nhất Sanh Bổ Xứ”! (Lư Liên Giai hỏi)
Đáp:
Bổ Xứ là địa vị Bổ Phật, chính là tên
gọi khác của Đẳng Giác Bồ Tát, chính là cái quả
do tu tập ba A-tăng-kỳ. Ba A-tăng-kỳ kiếp lâu
đến ngàn vạn lần sanh tử. Nhất Sanh Bổ
Xứ nghĩa là chỉ trong một đời này bèn đạt
tới quả vị ấy.
*
Hỏi: Trang hai mươi bảy của A Di Đà Phật
Kinh Danh Số Biểu Giải ghi: “Bát Thánh Đạo phối hợp với sáu chi, bao gồm
tam uẩn”. Xét theo biểu đồ, chữ Tam Uẩn
là nói về Giới, Định, Huệ, có phải chữ
Uẩn (蘊) là chữ Học (學) bị viết sai hay
không? (Lư Liên Giai hỏi)
Đáp:
Kiểm giảo biểu đồ ấy, giảo đối
chữ ấy, đích xác là chữ Học bị viết lầm,
v́ dưới đó có ghi rơ ba chữ Giới, Định,
Huệ.
*
Hỏi: Nam-mô và Bồ Tát đều thuộc loại phiên
âm, nhưng do ngữ âm diễn biến đến nay, cách
đọc mấy chữ ấy chẳng phải là cách
đọc chữ Nam (Nán) trong Đông Nam, chẳng phải
chữ Vô (Wú) trong Hữu Vô trong Quốc Ngữ. Xin hỏi cách
đọc như thế nào mới là chánh xác? (Lư Liên Giai hỏi)
Đáp:
Dịch âm tiếng Phạn sang Hán, khó tránh có mấy phần
sai lệch. Đối với tiếng địa
phương mà chỉ đọc sách [không nghe người xứ
ấy phát âm như thế nào], ắt [âm đọc]
cũng biến đổi. Như hiện thời, người
Hoa học tập Anh ngữ, chẳng được dạy
cách phát âm trực tiếp [từ người Anh, Mỹ],
chỉ tra tự điển, phát âm thường rất khó
chuẩn xác. Huống hồ lănh thổ Trung Hoa rộng lớn,
ngữ hệ phức tạp, lại c̣n âm xưa, âm nay biến
chuyển, đánh mất âm gốc rất nhiều! Thanh vận
trong kinh Thi đọc [theo giọng Quan Thoại hiện thời]
khó thuận miệng, là một chứng cớ hiển
nhiên. Thời Hán - Đường, chữ Nam (南) đọc như âm Năi
(奶), dần dần chuyển thành Na (那), chữ Vô (無) đọc như âm Một
(沒). V́ thế, phúng tụng kinh Phật, đọc
Nam Vô (南無) thành Na Ma (那摩, namuo), được truyền đến
nay là do sức khẩu truyền. Như chữ Nam (南) hiện thời đọc
là Nam (男, nán), Vô (無) đọc như Ngô (Wú, 吳) đều là những âm
biến đổi sau này, đọc kinh Phật th́ vẫn
đọc là Na Ma. Bồ (菩, Pǔ) có âm như Phổ (普, Pǔ), Tát (薩, Sà) như âm Tát (撒, Sā), dường như chẳng
có biến chuyển. Cái gọi là Quốc Ngữ[50] trong hiện thời,
bất quá là giọng Bắc B́nh (Bắc Kinh) giả định
dùng làm tiêu chuẩn đó thôi, thật sự chẳng phải
là âm gốc trong cách đọc của tiếng Hoa!
*
Hỏi: Câu “vân hà ưng trụ”
(nên trụ như thế nào) trong bản kinh Kim Cang lưu
hành thông dụng [trong hiện thời] được
người đời Đường chép kinh ghi là “ưng vân hà trụ”, ư
nghĩa hai câu dịch ấy có sai khác ở chỗ nào hay
không? (Chung Quân Lương hỏi)
Đáp:
Không bàn tới ư nghĩa của kinh, chỉ nói đến
chuyện đặt câu và tu từ, chẳng ngại nghiền
ngẫm từng chữ một. “Vân
hà ưng trụ” th́ ngữ khí chú trọng nơi chữ
Ưng; “ưng vân hà trụ”
th́ ngữ khí chú trọng ở chữ Hà, sai khác khá lớn.
Nếu liên quan đến kinh văn, cần phải xét theo
mạch văn trước và sau đó, dùng [ngữ cảnh
của toàn bộ đoạn] văn để hiểu ư
nghĩa, chớ nên v́ các chữ có đảo lộn, mà bỏ
nghĩa theo văn. Mạnh Tử nói: “Vật dĩ từ hại nghĩa” (Đừng
v́ văn tự mà hiểu sai ư nghĩa). Cổ đức
nói: “Vọng văn sanh
nghĩa, tam thế Phật oan” (Chỉ nh́n vào văn tự
mà suy đoán ư nghĩa, ba đời chư Phật bị
oan uổng)!
*
Hỏi: Xin hỏi thầy, chứng và ngộ có ǵ phân biệt?
(Châu Huệ Đức hỏi)
Đáp:
Mây nghi tiêu tan, chiếu thấu triệt chân thật th́ gọi
là Ngộ. Trí huệ viên thành, liễu thoát sanh tử, gọi
là Chứng.
*
Hỏi: Cơi đời chẳng có bậc thánh hiền, là do
thế gian ít có những bà mẹ thánh hiền mà ra. Cổ
nhân nói: “Châu chi khai quốc,
cơ ư tam Thái” (Nhà Châu mở nước, do ba bà Thái
đặt nền tảng), trong Ấn Quang Pháp Sư
Văn Sao đă ghi chú: “Ba bà Thái
là Thái Khương, Thái Nhậm, và Thái Tự, là bậc thánh
nhân trong nữ giới”. Xin dạy rơ về ư nghĩa của
Tam Thái. (Châu Huệ Đức
hỏi)
Đáp:
Thái (太) mang ư nghĩa tôn sùng, tôn
xưng. Khương, Nhậm và Tự chính là họ của
các bà. Ba vị thánh nữ ấy đều có đức hạnh
cao tột, hoặc lập ra cách thai giáo (dạy con từ
trong thai), hoặc giúp chồng trị quốc. Cơ nghiệp
nhà Châu hưng thịnh cố nhiên là do có bậc thánh
vương, nhưng đức hạnh của Văn
Vương và Vũ Vương phần nhiều là do mẹ
dạy dỗ con cái vậy!
*
Hỏi: Phật giáo chúng ta có Thập Điện Diêm La, chẳng
biết ngoại quốc có Thập Điện Diêm La hay
không? Lại nữa, họ tên của các vua Diêm La đều
là họ tên người Hán ư? (Ngô Kính Nhân hỏi)
Đáp:
Nói theo phạm vi nhỏ, châu Nam Diêm Phù Đề có địa
ngục, có vua Diêm La. Trung Hoa và ngoại quốc đều
chẳng ra ngoài địa cầu. Địa cầu chính
là Diêm Phù Đề. Mỗi nước trên thế giới
đều ở trong châu này, làm sao có thể chẳng có Diêm
La? C̣n về tên họ, đều tùy theo âm đọc của
mỗi nước mà phiên âm. Như tên nước Nga,
người Hoa dịch là Nga La Tư, người Nhật
dịch thành Lộ Tây Á, đấy là thí dụ rơ rệt vậy!
Nhưng Diêm La tự có tên địa ngục.
*
Hỏi: Ư nghĩa Trung Đạo của phi hữu phi không và
phi khổ phi lạc? (Trương
Thụy Lương hỏi)
Đáp:
Phật học giải thích hết thảy, hoặc nói theo
Lư, hoặc giảng về Sự, phần nhiều là v́ khế
cơ mà lập ra. V́ thế, dường như có khác,
nhưng thật ra là một. Nói Hữu là nói đến hết
thảy các tướng; nói Không là nói về hết thảy
tánh. Tánh là bản thể. Tướng nương vào Tánh mà
dấy lên. V́ thế, nói gộp lại, theo thực tế,
sẽ là phi không phi hữu. Tánh có thể khởi Tướng,
nên chẳng phải là Không. V́ tánh của tướng là huyễn,
nên chẳng phải là Có. Xét theo Tướng, dường
như có Khổ và Lạc, nhưng xét theo Tánh, sẽ chẳng
có Thọ (cảm nhận). V́ thế, chẳng nói là “không có
Khổ và Lạc”, mà nói là “phi Khổ phi Lạc”. Hiểu cả
hai điều như thế th́ là nghĩa Trung Đạo.
*
Hỏi: Mười tám vị La Hán là những ai? (Dương Trường Sơn hỏi)
Đáp:
Sách Pháp Trụ Kư có chép: Vốn chỉ có mười sáu vị,
mỗi vị đều có danh hiệu riêng. Vị thứ
nhất là Tân Độ La Bạt La Nọa Xà (Pindola Bharadvaja), vị thứ mười sáu là Châu Lợi Bàn
Đà Già (Cūdapanthaka). Người đời sau chẳng biết
tiếng Phạn, thêm vào ngài Khánh Hữu lại cộng thêm
ngài Tân Đầu Lô, thành mười tám vị. Nhưng
Khánh Hữu chính là người biên soạn bộ Pháp Trụ
Kư, c̣n Tân Đầu Lô chính là ngài Tân Độ La Bạt La Nọa
Xà.
*
Hỏi: Phật là Giác Giả (bậc giác ngộ), giác ngộ
ǵ vậy? Chúng sanh mê hoặc, điên đảo, hiểu
như thế nào? (A Mỹ hỏi)
Đáp:
Nói từ gốc, Tánh bị hai thứ Phiền Năo Chướng
và Sở Tri Chướng che lấp, nên gọi là Vô Minh. Trừ
khử hai thứ chướng che lấp, tỏ lộ bản
tánh diệu minh, chính là giác ngộ chuyện này. Nói theo ngọn,
vạn hữu trong vũ trụ do đâu mà sanh, diệt sẽ
đi về đâu, cũng phải giác ngộ [điều
này]. Người có thể [giác ngộ] như thế th́ gọi
là Giác Giả. Chúng sanh dùng Tứ Đại giả hợp làm
thân, lầm tưởng thân tướng là ta, bị sáu trần
Sắc, Thanh… ô nhiễm bản tánh, tham đắm, chấp
giữ chẳng bỏ. Sanh sanh tử tử, vĩnh viễn
chẳng có lúc hết. Sanh chẳng biết từ đâu
đến, chết chẳng biết đi về đâu,
ch́m đắm trong biển khổ chẳng tỉnh, có cơi
vui mà chẳng cầu. Đấy gọi là “mê hoặc, điên đảo”.
*
Hỏi: Hiển Mật Viên Thông Giáo là ǵ? Môn này là đạo
dễ hành hay đạo khó hành? Do vị đại sư
nào sáng lập? Đối với chuyện tu tŕ, hăy nên tu
hành như thế nào? Tại gia đệ tử của Phật
môn có thể học tập thành công hay không? (Nghiêm Vượng hỏi)
Đáp:
Các giáo pháp của đức Phật được chia
thành hai loại lớn là Hiển và Mật. Hiển là như
Khế Kinh, luật nghi v.v… các thứ giải hạnh. Lư Tứ
Đế, Lục Độ, các pháp Sổ Tức, Chỉ
Quán đều là Hiển Giáo. Mật là như lập
đàn, tu pháp v.v… các thứ hành tŕ. Chuyện tŕ chú, kết ấn,
các pháp như quán sắc[51], quán chữ…. đều
là Mật Giáo. Trong Hiển, lại chia thành các tông Hiền
Thủ, Thiên Thai, Tánh, Tướng v.v… Mật lại chia
thành các bộ Kim Cang Bộ, Thai Tạng Bộ, Tạp Bộ…
Lại nữa, trong Hiển th́ như Thiền Tông cũng
có Như Lai Thiền và Tổ Sư Thiền khác biệt.
Trong Mật, như Liên Hoa Bộ lại có Kim Cang Giới và
Thai Tạng Giới khác nhau. Pháp hết sức nhiều và
phức tạp, đúng là chẳng thể bằng vài lời
mà ḥng nói trọn hết được. Cái gọi là Hiển
Mật Viên Thông Giáo, rơ rệt nhất là như tŕ danh hiệu
Di Đà trong Tịnh Tông và phép quán tưởng trong Quán Kinh.
Đấy chính là Hiển Mật Song Tu. Đa số các giáo
điển, cũng phần nhiều là hiển thuyết và
mật thuyết [đồng thời], đấy là t́nh
h́nh đại khái. Đời Tống có pháp sư Đạo
Thần, do trông thấy sự tranh chấp giữa Hiển
và Mật, bèn viết bộ Hiển Mật Viên Thông Thành Phật
Tâm Yếu Tập nhằm hướng dẫn người
ta dung hợp để song tu. Bất luận tại gia hay
xuất gia, đều có thể chọn lấy để
tu, nhưng khó hành hay dễ hành chẳng thể quyết
định, cần phải dùng khế cơ để luận
định. Vả nữa, Mật chú cũng cần phải
được khẩu truyền, thành công hay không là do
người, chứ không do nơi pháp!
*
Hỏi: Phật tánh là ǵ? (Triệu
Tiết hỏi)
Đáp:
Phật là giác. Tánh là đức năng sẵn có. Phật
tánh th́ chúng sanh ai nấy đều có, chẳng người
nào không có diệu minh giác tâm. Thấy, nghe, ngôn ngữ, hết
thảy tri kiến của chúng ta tuy có mắt, tai, miệng,
thân, bất quá đều là công cụ vật chất, giống
như một cỗ máy, nhưng máy móc chẳng thể tự
hoạt động, ắt phải có điện lực
thúc đẩy. Phật tánh ví như điện lực
đối với máy móc, thật sự là cội nguồn
của chúng sanh vậy!
*
Hỏi: Phật tánh có phải là linh hồn hay không? (Triệu Tiết hỏi)
Đáp:
Phật tánh và linh hồn, là hai, [mà cũng] là một. Tánh là
chân thật, diệu minh; hồn là hư vọng, là vô minh. Vô
minh nương vào tánh mà khởi, như nước và sóng.
Do vậy, nói là một. Phật tánh thường tồn bất
biến, linh hồn huyễn hóa vô thường, nên nói là
hai.
*
Hỏi: Quỹ phạm sư là ǵ? Tại Mă Lai có những
vị sư phó[52] ấy hay không? (Nghiêm Minh hỏi)
Đáp:
Quỹ Phạm (軌範) có nghĩa là đường lối chuẩn
mực, khuôn khổ đáng làm gương, tức là bậc
thầy của người khác, có thể uốn nắn những
hành vi sai trái của đệ tử, khiến cho đúng
pháp. Bậc thầy này cũng có nhiều loại bất
đồng. Phàm là những vị ta nương vào để
xuất gia, thọ giới, học kinh, học Luật v.v…
đều có thể gọi là Quỹ Phạm Sư. Ở
chỗ ông có [những vị như thế hay không], do
đường xa, nên tôi chẳng biết!
*
Hỏi: Ba hồn bảy phách[53] là ǵ? (Nhiếp Vân Hà hỏi)
Đáp:
Nhà Phật chỉ nói đến nguyên minh thần thức,
từ chuyện ba [tế tướng] biến thành tám [thức],
chẳng thể bằng mấy câu mà có thể nói rơ
được. Chuyện này phần nhiều được
dạy trong kinh điển Duy Thức, trở thành [giáo thuyết]
trong một tông của Phật học. Có người dốc
hết tinh lực cả một đời, vẫn chẳng
thể thấu đạt chỗ sâu xa, kín nhiệm của
giáo nghĩa ấy. V́ thế, ở đây tôi chẳng thể
nói nhiều. Ba hồn bảy phách chẳng được
ghi chép trong [kinh sách] Phật giáo, nên tôi tránh né chẳng bàn
đến.
*
Hỏi: Kinh Đại Bát Niết Bàn chép: “Như Bồ Tát Ma Ha Tát, hoặc tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni,
ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, có thể tu mười tưởng,
hăy nên biết người ấy có thể đắc Niết
Bàn. Những ǵ là mười? Một là vô thường tưởng,
hai là vô khổ tưởng, ba là vô ngă tưởng, bốn là
yếm ly thực tưởng, năm là tưởng hết
thảy thế gian chẳng thể vui sướng, sáu là tử
tưởng, bảy là tưởng [chính ḿnh có] nhiều tội
lỗi, tám là ly giải thoát tưởng, chín là diệt tưởng,
mười là vô ái tưởng”. Hậu học chẳng
hiểu rơ ư nghĩa của tưởng thứ tám và thứ
chín, xin hăy khai thị. (Triệu
Liên hỏi)
Đáp:
Ly giải thoát là xa ĺa dục trần, giải thoát triền
phược. Có nhiều cách hiểu chữ Diệt, ở
đây nên hiểu là “rỗng không, chẳng có”.
*
Hỏi: Loại trái cây thường được gọi
là quả Thích Ca có tên gọi khác hay không? Bởi lẽ, Phật
giáo đồ chúng ta chẳng nên gọi như vậy! (Vương Thanh Hán hỏi)
Đáp:
Tên gọi ấy do đâu mà có, tôi chẳng biết nguyên do,
nhưng quả ấy có h́nh dáng và màu sắc rất giống
với đỉnh đầu của tượng Phật,
gọi thẳng là Thích Ca cố nhiên là bất kính, mà
cũng chẳng hợp lư! Chẳng bằng đổi thành
gọi bằng ba chữ Phật Đầu Thanh, nhưng cần
phải đề xướng lâu ngày, sau đấy mới
có thể thay đổi lối cũ, gọi theo cách mới
được!
*
Hỏi: Phật tử, hữu t́nh, cô hồn phân biệt ra
sao? (Vương Thanh Hán hỏi)
Đáp:
Phật tử và hữu t́nh đều là tiếng để
gọi chúng sanh. V́ chúng sanh đều có Phật tánh, đều
có thể thành Phật, nên gọi là Phật tử. Đấy
là nói theo gốc. Nhưng chúng sanh do mê, tánh chuyển thành
t́nh thức, v́ thế, gọi là hữu t́nh. Đấy
chính là cách nói theo tướng hiện thời. Cô hồn là
nói tới những loài quỷ chẳng được cúng
tế, suy rộng ra th́ thân Trung Ấm cũng bao gồm
trong ấy.
*
Hỏi: A Tỳ địa ngục và Vô Gián địa ngục
giống nhau hay khác nhau? (Lại
Đống Lương hỏi)
Đáp:
A Tỳ là tên gọi theo tiếng Phạn, Vô Gián là tên gọi
dịch sang tiếng Hán.
Hỏi:
Chúng ta lưu lạc trong sanh tử cho đến nay, uổng
phí công lao mà chẳng thể thành Phật. Nếu muốn
thành Phật, ắt cần phải kiến tánh, mà tánh chính
là Phật, nay tôi muốn hỏi: Chứng quả và kiến
tánh có phân biệt hay không? (Châu
Huệ Đức hỏi)
Đáp:
Mê bản tánh th́ là vô minh. Tu là trừ mê để trở
thành sáng suốt. Nếu đă sáng suốt th́ gọi là “kiến tánh”, v́ tánh vốn là
sáng suốt. Tu là nhân, trừ mê kiến tánh là quả. Những
điều này thật sự là một chuyện, nhưng
tên gọi là hai. Chứng quả là nói theo công phu tu hành, kiến
tánh là nói theo Bổn Giác.
*
Hỏi: Đắc giới là ǵ? Chẳng đắc giới
là ǵ? Đắc và chẳng đắc chính ḿnh sẽ có sự
cảm nhận nào? (Đồ Trinh
Quang hỏi)
Đáp:
Chuyện này cần phải hỏi bậc đại đức
trong Luật Tông th́ mới có thể biết tường tận.
Bởi lẽ, thọ giới th́ ba nghiệp sẽ dấy
lên một tác dụng đặc thù, nghĩa là: Sau khi thọ
giới có thể ngăn ngừa sai quấy, dứt ác, [công
năng ngăn ngừa ấy sẽ] liên tục chẳng dứt.
Nếu lúc thọ giới, đối với những lời
lẽ [do vị thầy truyền giới] dạy bảo
mà có thể liễu giải rơ ràng, khi thân thọ giới,
miệng đáp [“xin lănh thọ”] mà có mối xúc cảm tột
bậc thành kính khó thể diễn tả, sẽ lập tức
sanh khởi công năng kiên cường không trái nghịch rất
rơ rệt, như vậy th́ có thể nói là “đắc”.
Đây là nói theo Lư. C̣n có chuyện do cái tâm thành kính, sáu
căn vừa tiếp xúc bèn biến hiện những tướng
khác. Đó là nói theo Sự.
*
Hỏi: Có người niệm chữ Di trong A Di Đà Phật
thành Nê, có phải là sai lầm hay không? Nếu chẳng sửa
cho đúng, hậu quả sẽ là như thế nào? (Đồ Trinh Quang hỏi)
Đáp:
Sáu chữ pháp danh đều là âm tiếng Phạn. Hăy nên
chú trọng [cách đọc] theo lối truyền dạy trực
tiếp. Chỉ có điều ở Trung Hoa đă h́nh thành
phổ biến, chỉ có thể thuận theo phong tục,
thuận theo cách đọc phổ biến ở từng
vùng. Thành tâm niệm tụng là được rồi. Nếu
sửa đổi cho đúng với chánh âm, sẽ không chỉ
là một chữ ấy. Theo tệ ư, tin theo âm nào, cứ tụng
niệm theo âm đó là được. Thật ra, âm thanh hư
huyễn, tâm chân thật; có thể cầu nơi cái tâm th́ sẽ
là chánh nhân.
Phật
Học Vấn Đáp Loại Biên
Quyển Trung
Phần 7 hết
[1] Năm loại
pháp sư là Thọ Tŕ, Đọc Kinh, Tụng Kinh, Giải
Thuyết, và Thư Tả (biên chép). Mười loại là mở
rộng của năm loại pháp sư trên đây.
[2] Thân mộc
(tiếng Hán là “kiều mộc”,
喬木) là từ
ngữ dùng để mô tả những loại cây có thân
chánh cao từ 6m trở lên. Thân chánh có chất gỗ cứng
chắc, tương phản với “thân thảo (không có chất
gỗ như các loại rau, cỏ, hay bụi cây). Những
cây có thân mộc, nhưng không thể đạt đến
6m sẽ gọi là “quán mộc”
(灌木).
[3] Tức là pháp
Phowa (đôi khi phiên là Powa, P’ow’a hoặc Poa) trong Mật Tông
Tây Tạng, có nghĩa là di chuyển thần thức lúc sắp
lâm chung về thẳng Cực Lạc, hoặc bất cứ
một cơi Tịnh Độ nào. Người tu pháp này sẽ
tập luyện để mở đỉnh đầu
thành một lỗ nhỏ để chuyển thần thức.
Để chứng tỏ hành giả đă tu thành công,
người ta thường cắm một cọng cỏ
Kusha vào khe hở đó. Phép tu này được coi là truyền
dạy bởi Naropa và thừa kế bởi Marpa (vị này
có mỹ danh là Đại Dịch Giả, có thể coi
như là sáng tổ của tông Kargyupa tại Tây Tạng).
Trong các chi phái của Kargyupa, chi phái Drikung Kargyupa nổi tiếng
nhất về pháp tu này. Hiện thời, có những lạt-ma
do tham lợi hoặc dễ lôi kéo tín đồ, đă rao
truyền một niềm tin rất sai lầm: Hễ cứ
đến gặp họ, nhận pháp quán đảnh,
được cắm một cọng cỏ hay rơm vào
khe hở trên đỉnh đầu, sẽ chắc chắn
được văng sanh.
[4] Kinh Tứ Thập
Nhị Chương có đoạn chép: “Phật ngôn hành đạo, vô như ma ngưu, thân
tuy hành đạo, tâm đạo bất hành” (Đức
Phật dạy: - Tu hành Phật đạo đừng giống
như con trâu kéo cối xay, thân tuy hành đạo, tâm chẳng
hành theo đạo).
[5] Hồng Lô Tự:
Hồng Lô (鴻臚) có nghĩa gốc
là lớn tiếng hô lời khen ngợi, ư nói: Hướng
dẫn các mệnh lệnh trong lễ nghi. Đến thời
Hán Vũ Đế, cơ cấu này đổi tên thành
Đại Lô Tự. Thoạt đầu, chức trách của
Hồng Lô Tự là tiếp đăi khách từ nước
ngoài đến. V́ thế, hai vị cao tăng Ấn Độ
được an trí trong dinh thự của Hồng Lô Tự.
Đứng đầu cơ cấu Hồng Lô Tự là chức
quan Hồng Lô Tự Khanh. Từ thời Bắc Tề trở
đi, cơ quan này chuyên môn lo liệu những nghi lễ
trong triều đ́nh. Hồng Lô Tự vẫn lo liệu mọi
việc tiếp đăi các đoàn sứ giả đến
triều kiến, tiếp nhận lễ vật, hướng
dẫn lễ nghi, tổ chức yến tiệc khoản
đăi, tặng lễ vật cho sứ giả, cũng
như chưởng quản các dịch quán (trạm tiếp
đăi các sứ đoàn). Cơ quan này cũng lo sắp xếp
việc tổ chức tang lễ cho các cơ quan trực
thuộc triều đ́nh như quy định tang phục
dành cho các quan như thế nào khi hoàng thất có tang. Cơ
quan Truyền Pháp Viện trực thuộc Hồng Lô Tự
có trách nhiệm dịch các văn kiện từ tiếng
ngoại quốc sang tiếng Hán, cũng như tu chỉnh
sao cho văn phong thuần nhă đối với những
văn kiện được viết bằng tiếng Hán
do sứ đoàn tŕnh lên. Về sau, cơ quan này bị phế
bỏ, các sự vụ trên đây được quy về
bộ Lễ. Đến đời Minh Thanh, Hồng Lô Tự
được tái lập, nhưng trách nhiệm bị thâu
hẹp rất nhiều.
[6] Phổ Diệu
nhật (Poya) chính là ngày trăng tṛn mỗi tháng.
[7] Thích Thị Yếu
Lăm là tác phẩm được biên soạn bởi ngài Thích
Đạo Thành vào đời Bắc Tống, gồm ba quyển.
Nội dung gồm những chuyện mà sa-môn cần phải
biết trích lục từ Đại Tạng.
[8] Thượng huyền (上弦):
Trăng ngày mồng Tám mỗi tháng Âm Lịch.
[9] Mông Sơn là tên
một quả núi thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Vào đời
Tống, pháp sư Bất Động trụ tại núi này,
đă biên soạn các nghi thức thí thực cho cô hồn, ngạ
quỷ. Nghi thức này cũng như nghi thức phóng Diệm
Khẩu đều dựa theo nội dung kinh Cứu Bạt
Diệm Khẩu Đà La Ni. Nghi thức ban đầu do ngài
Bất Động biên soạn về sau được
thêm vào nhiều mật chú như Diệt Định Nghiệp
Chân Ngôn, Quán Âm Bồ Tát Diệt Nghiệp Chướng Chân
Ngôn, các bài khai thị cho lục đạo chúng sanh. Bản
tăng đính ấy được gọi là Đại
Mông Sơn Thí Thực để phân biệt với nghi thức
ban đầu (gọi là Tiểu Mông
Sơn). Nghi thức Mông Sơn thường được
hành tŕ trong các tự viện hằng ngày chính là Tiểu Mông
Sơn.
[10] Cái Nghe (Văn) là Nhĩ Thức, cái
được Nghe (Sở Văn) chính là đối tượng nhận biết của Nhĩ Thức.
[11] Chữ Không thứ nhất chỉ cho chủ thể, tức
là hành nhân đă không c̣n thấy có đối tượng
để quán chiếu, thấu hiểu bản chất của
các Trần (nói rộng là tất cả các pháp) là không, tâm
quán chiếu ấy cũng là không. Chữ Sở Không chỉ
cho những đối tượng được quán chiếu
là Không bởi sự quán chiếu ấy.
[12] Bột Hải
c̣n có tên gọi khác là Hoàng Hải, Bắc Hải,
Thương Hải. là phần Thái B́nh Dương nằm lọt
giữa bán đảo Liêu Đông và các tỉnh thành duyên hải
miền Bắc Trung Hoa như Hà Bắc, Thiên Tân và bán đảo
Sơn Đông. Cổ sử gọi vùng biển này là Bắc
Trực Lệ Hải Loan (eo biển phía Bắc tỉnh Trực
Lệ). Vùng biển này có ba vịnh lớn là vịnh Ly
Châu, vịnh Bột Hải và vịnh Liêu Đông. Do biển
này có các con sông lớn là Hoàng Hà, Hải Hà, Liêu Hà, Loan Hà
đổ vào, nước biển thường có nhiều
phù sa lợn cợn, nhất là hoàng thổ của vùng Tây Bắc,
khiến cho nước biển vàng đục.
[13] Tứ Khoa là
bốn phần biện định đối với
ngũ uẩn, sáu căn, mười hai xứ và mười
tám giới để hiển lộ tột bậc tánh chân
thật. Tứ Khoa gồm:
1. Ngũ Uẩn
hư vọng.
2. Lục Nhập
hư vọng.
3. Thập Nhị
Xứ hư vọng
4. Thập Bát
Giới hư vọng.
Thất Đại
là Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không, Căn và Thức.
[14] Thời thần
(時辰) là cách chia giờ thời cổ.
Mỗi thời thần bằng hai tiếng đồng hồ
hiện thời, tên mỗi thời thần được
gọi theo Địa Chi, tức là Tư, Sửu, Dần, Măo
v.v…
[15] Hô Đồ
Khắc Đồ (呼圖克圖) là phiên âm của
chữ Khutukhtu (c̣n viết là Khutuktu) hoặc Hutagt (Khutagt).
Chữ này lại là biến âm của chữ Hothogtu trong tiếng
Tây Tạng. Danh hiệu này chỉ được dùng để
gọi những vị lạt-ma cao cấp của Phật
Giáo Mông Cổ được coi là hóa thân của những vị
Phật, Bồ Tát hoặc tôn thánh. Người Hán đă dịch
sai nghĩa từ ngữ này thành Hoạt Phật và tiếp
tục dùng từ đó đến nay. Những vị Hô
Đồ Khắc Đồ nổi tiếng là Tắc Xích
(Serkhri), Chương Gia (Jangya), Triết Bố Tôn Đan Ba
(Jebtsundampa), Mẫn Châu (Mindröl),
Tề Lung (Degring), Na Mộc Khách (Tát Mộc Sát
Thương), A Gia (Agya) v.v… Trong số đó, vị
được biết đến nhiều nhất là
Chương Gia v́ Ngài được tôn là quốc sư của
nhà Thanh; đồng thời, Ngài cũng được triều
đ́nh phong làm pháp vương của toàn thể tăng
chúng Mông Cổ.
[16] Kim Cang (Vajra) ở
đây chỉ chung các vị tôn thánh bao gồm các vị hộ
pháp, chư thiên, quỷ thần, các vị Phẫn Nộ
Tôn v.v…
[17]Kim Cang Hợi
Mẫu (Vajravārāhī, Dorje Phagmo) là một vị Phật Mẫu được
coi là hóa thân phẫn nộ của Kim Cang Du Già Nữ
(Vajrayogini), là minh phi của Thắng Lạc Kim Cang (Cakra-saṃvara).
Vị này sở dĩ có tên là Kim Cang Hợi Mẫu v́
đây là thân phẫn nộ, da có màu đỏ như lửa,
tướng mặt phẫn nộ, nhe răng, và có h́nh
đầu lợn trên đỉnh, nhảy múa trên một
xác chết (biểu thị chuyển hóa tham dục và phẫn
nộ thành trí huệ siêu việt, vượt khỏi chấp
trước về nhục thân).
[18] Độ Mẫu
(Ārya Tārā,
Jetsun Dölma), c̣n được phiên âm là Đa La Bồ
Tát, chữ Độ Mẫu (bà mẹ cứu độ) là
dịch nghĩa. Ngài được coi là một hóa thân của
Quán Thế Âm Bồ Tát, nhằm nhấn mạnh đến
phương diện Chân Không của ḷng từ bi. Nhằm
tương ứng với những bổn nguyện cụ
thể, Ngài lại có hai mươi mốt hóa thân. Trong
đó, những thân được sùng bái phổ biến nhất
là Lục Độ Mẫu (thân xanh lục, chuyên tạo
phương tiện giúp hành nhân khai ngộ, trừ chướng
nạn), Bạch Độ Mẫu (chữa bệnh,
tăng thọ, dẹp yên tai nạn), Xích Độ Mẫu
(thân phẫn nộ sắc đỏ rực, hội tụ
những điều tốt lành), Hắc Độ Mẫu
(tăng trưởng oai thế, quyền lực), Hoàng
Độ Mẫu (tăng trưởng tài sản) v.v…
[19] Chuẩn
Đề Phật Mẫu (Cundī, Cundhi) c̣n gọi Chuẩn
Đề Quán Âm, Thiên Nhân Trượng Phu Quán Âm, Chuẩn
Đề Bồ Tát, có mật hiệu là Tối Thắng
Kim Cang. Ngài là Bộ Mẫu trong Liên Hoa (Quán Âm Bồ Tát là Bộ
Chủ của bộ này), là một thân của Quán Âm Bồ
Tát hóa hiện do tu pháp Chuẩn Đề. Ngài được
xưng tụng là mẹ của bảy câu-chi chư Phật.
Ngài thường được tạc tượng h́nh dạng
như thiên nữ, ba mắt, mười tám tay, mỗi tay cầm
một món pháp khí có ư nghĩa biểu thị pháp như hoa
sen, gươm, thanh châu, chày Kim Cang năm nhánh, tháo b́nh v.v…
[20] Khổng
Tước Phật Mẫu (Mahāmāyūrī), c̣n gọi là Đại Khổng
Tước Minh Vương, hoặc Khổng Tước
Đa La Bồ Tát, là một trong năm thân nữ tánh minh
vương (Đại Tùy Cầu, Đại Thiên Tồi
Toái, Tùy Tŕ Mật Chú, Đại Hàn Lâm và Khổng Tước).
Ngài là thân sự nghiệp của Đa La Bồ Tát (Độ
Mẫu, do vậy, Khổng Tước Phật Mẫu lại
là hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát), chủ tŕ diệt
trừ các độc, các tai nạn. Tượng Khổng
Tước Minh Vương thường được tạc
ba mặt sáu tay, hoặc một mặt bốn tay, thân sắc
trắng, ngồi kết già trên hoa sen trắng (hoặc xanh)
đặt trên lưng chim công. Mỗi tay cầm một món
pháp khí. Mỗi khi có tai nạn tật dịch, Phật môn
Trung Hoa hay tổ chức pháp hội tụng chú Khổng
Tước.
[21] Phật Nhăn
Phật Mẫu (Buddhalocani), c̣n gọi là Phật Nhăn Bộ
Mẫu, Phật Nhăn Tôn, Hư Không Nhăn Minh Phi, Năng Tịch
Mẫu, Kim Cang Cát Tường Nhăn, hoặc Nhất Thiết
Như Lai Phật Nhăn Đại Kim Cang Cát Tường Nhất
Thiết Phật Mẫu. Trong Thai Tạng Mạn Đồ
La, ngài được xếp vào Biến Tri Viện. Ngài có
mật hiệu là Thù Thắng Kim Cang. Vị này biểu thị
tác dụng Chiếu của Chân Trí, hết sức được
coi trọng trong Mật Tông. Ngài được coi là thân
nghiệp dụng của Đại Nhật Như Lai.
[22] Long Hoa Giáo là
một thứ tà giáo tại Đài Loan, có tên gọi đầy
đủ là Long Hoa Trai Giáo. Do những tín đồ kỳ
cựu ăn chay trường thường được
gọi là Lăo Quan, nên tà đạo này c̣n có danh xưng là Lăo
Quan Trai Giáo. Long Hoa Giáo được sáng lập và truyền
thừa bởi La Tư Phù, Ân Kế Nam và Diêu Văn Vũ
vào đời Minh, nhưng La Tư Phù lại vay mượn
giáo nghĩa từ Bạch Liên Giáo, cho nên có thể nói Long
Hoa Giáo là tàn dư hoặc hậu duệ của Bạch
Liên Giáo. Họ vay mượn giáo nghĩa nhà Phật, pha trộn
lung tung với các giáo điều của Nho và Đạo
(nhất là cách luyện đan, vẽ bùa, thổ nạp của
Đạo giáo), xuyên tạc giáo nghĩa và các danh từ nhà
Phật để chứng minh phép luyện đan. Long Hoa
Giáo được truyền vào Đài Loan dưới đời
Thanh. Cũng giống như La Giáo, họ thờ phụng
các nhân vật thần thoại hoặc huyền sử của
Trung Hoa như Phục Hy, Thần Nông, Quảng
Thành Tử, Hoàng Đế, Hứa Do, Đường
Nghiêu, Sào Phụ, Ngu Thuấn, cộng thêm những vị
Phật, Bồ Tát của Phật giáo như Nhiên
Đăng Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật, Di Lặc Bồ
Tát, Quán Âm Bồ Tát và hai mươi tám vị tổ sư Ấn
Độ và các vị tổ Thiền Tông Trung Hoa, ngạo
nghễ tự xưng họ mới là Phật giáo và Thiền
Tông chánh truyền. Cũng giống như các tà giáo khác, họ
coi tất cả Phật, Bồ Tát, thánh nhân, thánh
vương thời cổ đều là những “chân linh”
do Thượng Đế sai xuống trần nhằm giáo
hóa dân chúng.
[23] Sách Di Đà Sớ
Sao Diễn Nghĩa giảng: “Lục chủng chấn
động giả, động, khởi, dũng, chấn,
hống, kích dă. Tam chủng thị h́nh, tam chủng thị
thanh. Ư h́nh thanh trung, các cử kỳ nhất, cố ngôn
chấn động dă. Dao bá bất an chi vị Động.
Tự hạ thăng cao chi vị Khởi. Hốt nhiên
đằng cử chi vị Dũng. Ẩn ẩn xuất
thanh chi vị Chấn. Hùng thanh mănh liệt chi vị Hống.
Phanh khái phát hưởng chi vị Kích” (Sáu thứ chấn động là
động, khởi, dũng, chấn, hống, kích. Ba loại
nói về h́nh tướng, ba loại nói về âm thanh. Do trong h́nh tướng và âm thanh, mỗi
thứ nêu ra một loại, nên nói là “chấn động”.
Rung lắc chẳng yên là Động. Từ dưới
dâng lên cao là Khởi. Đột nhiên vọt lên cao là
Dũng. Vang ra âm thanh ngầm dưới đất là Chấn.
Âm thanh vang dội, mănh liệt là Hống. Phát ra tiếng
vang nứt vỡ, răng rắc là Kích).
[24] Mười
loại tiên được nói trong kinh Lăng Nghiêm là Địa
Hành, Phi Hành, Du Hành, Không Hành, Thiên Hành, Thông Hành, Đạo
Hành, Chiếu Hành, Tinh Hành và Tuyệt Hành. Nói chung họ
đều mong cầu trường sanh bất tử bằng
các phương pháp tu luyện khác nhau. Chẳng hạn Phi
Hành Tiên dùng dược thảo chế thuốc nhằm duy
tŕ thân thể sống măi, Du Hành Tiên dùng các loại khoáng chất
luyện đan, Không Hành Tiên dùng các phương pháp luyện
thở, các bài tập vận động để cầu
trường thọ v.v..
[25] Bộ sách này
có tên gọi là Thành Duy Thức Thuật Kư do ngài Khuy Cơ soạn
vào đời Đường để chú giải bộ
Thành Duy Thức Luận.
[26] Thanh giáo: Giáo
pháp của Phật được tuyên dạy bằng ngôn
ngữ, âm thanh, nên gọi là “thanh
giáo”.
[27]
Đương Gia (當家) có nghĩa gốc
là người trông coi sự vụ trong một gia tộc;
do đó, vị thay mặt trông coi tất cả sự vụ
trong một bang phái, hội đoàn, hoặc tự viện
đều gọi là Đương Gia.
[28] Ly là
đơn vị đo lường thời cổ, có
nghĩa là một phần trăm, một Ly bằng mười
Hào. Do đó, khi nói về thước Tây (mét), Trung Hoa Đại
Lục vẫn có thói quen nói mễ (mét), phân mễ (dm), ly mễ
(cm), hào mễ (mm). Tuy vậy, Ly trong đo lường diện
tích không nhỏ. Một Ly bằng 60 b́nh phương Xích, tức
là 6,66 mét vuông! Nhưng nếu xét theo hệ thông đo lường
tính bằng mét sẽ hoàn toàn khác hẳn. Một mét sẽ gọi
là công xích, một decimeter là công thốn, một centimeter sẽ
là một công phân, và Ly sẽ là một milimeter, trong khi
đó Hào là một phần mười ngàn của một
mét.
[29] Tuy đă
được cụ Lư giảng rơ Kiếp là một
đơn vị thời gian, chẳng lệ thuộc vào sự
sanh diệt của trời đất, vị tỳ-kheo này
(Thích Thường Chánh) vẫn cứ khăng khăng cố
chấp coi kiếp là thời gian sanh diệt của trời
đất, nên cứ liên tiếp dùng chữ “thiên chi nhất kiếp” (một
kiếp của cơi trời).
[30] Theo từ ngữ
sử dụng trong kinh Dịch, chữ Hối có hai cách hiểu:
1. Đối
với trùng quái (quẻ kép), mỗi trùng quái do hai đơn
quái ghép lại. Chẳng hạn quẻ Thái do hai quẻ,
trên là Khôn, dưới là Càn, ghép thành. Ba hào trên cùng trong quẻ
kép ấy sẽ được gọi là Thượng Quái,
Ngoại Quái hay Hối Quái, ba hào dưới sẽ
được gọi là Hạ Quái, Nội Quái, hoặc
Trinh Quái. Thượng Quái hướng ngoại, chủ
động; Hạ Quái chủ tĩnh, lấy chính ḿnh làm
điểm xuất phát.
2. Khi giải
thích về ư nghĩa của từng Hào, để phán
đoán ư nghĩa, lời chú giải sẽ dùng các chữ
Hanh, Lợi, Cát, Hối, Cữu, Lận, Hung để phán
định. Hối bao gồm các ư nghĩa hối hận,
có sai lầm nhỏ, chẳng nghiêm trọng, chẳng thể
gọi là cát.
Do xét theo từ
hai nghĩa này, chữ Hối trong kinh Dịch có điểm
tương đồng với chữ Hối nói ở
đây (ư nghĩa hối hận), nhưng c̣n có những ư
nghĩa khác biệt nữa như vừa nêu.
[31] Bộ kinh này
có tên gọi đầy đủ là Phật Thuyết
Lược Giáo Giới Kinh, do ngài Nghĩa Tịnh dịch
vào đời Đường, bao gồm những điều
đức Phật răn dạy hàng tỳ-kheo xuất gia
hăy nên thiểu dục tri túc, đoạn trừ vô minh chẳng
c̣n dấy lên ba thứ tư duy bất thiện, thường
siêng năng tu tập ḥng được giải thoát.
[32] Do tiếng
Hán không có những phụ âm kép như trong tiếng Phạn,
nên có khi phải dùng hai chữ Hán để diễn tả,
chẳng hạn chữ Svaha, phải phiên âm thành Tát Bà Ha, Tát
Phạ Hạ, Sa Bà Ha, hoặc Tóa Hạ. Khi phiên âm chữ
Sva thành Sa Bà, các vị dịch sư thường ghi chú là “nhị hợp” tức là phải
đọc hai chữ dính lại. Hoặc Văn Thù Nhất
Tự Chân Ngôn là Aum, Srhyim, có bản dịch là Án Sỉ Lâm
(ghi chú ‘nhị hợp’ sau
hai chữ Sỉ Lâm), có bản dịch thành bốn âm là Án,
Xỉ Lạc Hê Diêm (ghi chú là “tứ
hợp”, tức là đọc cả bốn âm dính lại
thành một âm).
[33] Ma Hê Thủ
La (Đại Tự Tại Thiên) là một danh xưng của
thần Śiva, tức
thần hủy diệt trong ba vị thần chánh yếu của
Ấn Độ Giáo (Brahma, Vishnu và Śiva). Ông này c̣n có danh
xưng khác như Mahadeva (Đại Thiên), Shankara (Thưởng
Ca La), Shambhava, và Tam Giới Chủ (Trilokinatha).
[34] Tính từ
chân núi Tu Di cho đến ngoài cùng, có bảy tầng núi bao
quanh, giữa mỗi tầng núi là một biển nước
mặn. Tầng núi ngoài cùng được gọi là Thiết
Vy.
[35] Trong một
bài chú, phần trọng yếu của bài chú thường gọi
là “chú tâm”. Những phần
trước đó đa số là lời quy kính, hoặc
xưng danh hiệu. Thông thường, chú tâm bắt đầu
từ chữ Án trở đi. Ngoài ra, chú tâm c̣n có nghĩa là
bài chú cốt lơi của một pháp môn nào đó trong Mật
Tông. Vị chân ngôn chủ (Phật, Bồ Tát nói ra một
bài chú nào đó) sau khi nói chú, bèn dạy về các nghi quỹ
hành tŕ. Khi đó, các Ngài có thể dạy một bài chú ngắn
gọn hơn bài chú đă nói, bài chú ấy sẽ được
gọi là “chú tâm”.
[36] Gọi là
“châu cầu” v́ xem mỗi tinh cầu là một châu.
[37] Do các tầng
trời Tứ Vương và Đao Lợi đều
nương tựa vào núi Tu Di, nên gọi là Địa
Cư Thiên.
[38] Tầm (尋) là đơn vị thời
cổ, bằng tám thước (tức
khoảng 2,5-2,7m hiện thời). Nhẫn (仞) theo quy định vào
đời Hán, sẽ là bảy thước Tàu.
[39] Dữu
(庾) là
đơn vị đo lường, có nhiều cách hiểu.
Có thuyết nói một Dữu là hai đấu bốn
thăng (tức 24 thăng, gần bằng 26 lít), có thuyết
nói mười sáu đấu (160 lít) là một Dữu.
Bỉnh
(秉) là
đơn vị đo thể tích, một Bỉnh là mười
sáu hộc (斛), tức 16x51.7 lít = 827.2 lít
[40] Truy (錙):
Theo cách tính thời cổ, sáu Thù là một Truy, bốn Truy bằng
một Lượng. Nếu hiểu theo cách đo lường
hiện thời, một Lượng dao động từ
37g cho đến 50g (tại Hoa Lục), th́ một Truy từ
8.5 g cho đến 13g.
[41] Một cân (斤)
tại Đài Loan chỉ có 500g, trong khi đó tại Tân Gia
Ba, Hương Cảng, Nhật Bản, Mă Lai, một cân khoảng
từ 600 đến 605 g. Một Quân (鈞) bằng ba mươi Cân.
[42] Đây là một
cách tính tháng Nhuận theo thời cổ, hiện thời phức
tạp hơn. Để tính ngày nhuận, cứ ba năm
bèn tính nhuận một tháng, năm năm nhuận hai tháng,
bảy năm nhuận bảy tháng. Khi nói “nhuận một
tháng”, “bảy năm nhuận bảy tháng” không có nghĩa là
thêm một tháng vào, mà là đối với mỗi tháng thiếu,
thêm vào một ngày cho thành ba mươi ngày. Thêm hẳn một
tháng nhuận sẽ tính theo cách khác, do quá phức tạp, nên
không chép vào đây!
[43] Nguyên văn: “Tây dĩ thất đại, tứ
tiểu, nhất b́nh kế” (phương Tây dùng bảy
lớn, bốn nhỏ, một b́nh để tính), không rơ cụ
Lư muốn nói tính nhuận theo kiểu nào. V́ nhuận theo
Dương lịch chỉ có nhuận một ngày vào tháng
Hai theo quy tắc: Nếu một năm lần lượt
chia hết cho 4 và nhưng không chia hết cho 100, năm
đó sẽ là năm nhuận. Nếu một năm vừa
chia hết cho 4 và 100, năm đó sẽ là năm nhuận
nếu nó cũng chia hết cho 400. Ví dụ, năm 2016 là
năm nhuận v́ nó chia hết cho 4 và không chia hết cho
100. Năm 2000 là năm nhuận v́ nó chia hết cho 4,100, và
400, nhưng năm 2200 không phải là năm nhuận v́ nó vừa
chia hết cho 4 vừa chia hết cho 100, nhưng không chia hết
cho 400. Do không hiểu cách cụ Lư nói đến là cách tính
nào, chúng tôi tạm dịch là “tính
theo cách khác”.
[44] Mẫu (畝)
bằng với 614,4 m2, c̣n Khoảnh (頃) bằng một
trăm mẫu.
[45] B́nh (tsubo, 坪) là đơn vị đo
diện tích xuất phát từ Nhật bằng khoảng
3,4m2, một Giáp (甲) bằng
2.933,99 B́nh. Giáp là đơn vị được vay mượn
từ đơn vị đo Akker trong tiếng Ḥa Lan (do
trong quá khứ, công ty Đông Ấn của Ḥa Lan từng
chiếm đóng Đài Loan một thời gian cho tới
năm 1662, Quốc Tánh Gia (Trịnh Thành Công) mang thủy
quân từ lục địa ra, thành công đánh bại quân
Ḥa Lan, chiếm lại đảo Đài Loan, biến đảo
này thành căn cứ của Thiên Địa Hội nhằm
thực hiện công cuộc phản Thanh phục Minh).
[46] Tuy ngài Thanh
Nguyên Hành Tư không lập tông, nhưng Ngài được
coi là thỉ tổ của ba tông trong năm tông thuộc Thiền
Gia Nam Phái (truyền thừa Thiền pháp của Lục Tổ
Huệ Năng). Ngài Thanh Nguyên Hành Tư có một đệ
tử đắc pháp là Thạch Đầu Hy Thiên. Ngài Thạch
Đầu Hy Thiên có đệ tử là Dược Sơn
Duy Nghiễm. Ngài Duy Nghiễm truyền pháp cho Vân Nham Đàm
Thạnh. Ngài Vân Nham Đàm Thạnh có đệ tử
đắc ư là Động Sơn Lương Giới, vị
này lập ra tông Tào Động. Một đệ tử
khác nối pháp của ngài Thạch Đầu Hy Thiên là Thiên
Hoàng Đạo Ngộ. Ngài Đạo Ngộ truyền pháp
cho Long Đàm Sùng Tín, Long Đàm Sùng Tín truyền cho Đức
Sơn Tuyên Giám. Đức Sơn Tuyên Giám truyền pháp cho
Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Đệ tử đắc pháp
của ngài Nghĩa Tồn là Vân Môn Văn Yển (vị này
lập ra tông Vân Môn) và Huyền Sa Sư Bị (đường
lối hành Thiền của Ngài được gọi là Huyền
Sa Tông, về sau, đệ tử của ngài là Pháp Nhăn
Văn Ích nổi trội, nên tông này được gọi
là Pháp Nhăn).
[47] Sơn (Toxicodendron Succedaneum) là một
loại cây có nhựa rất độc, c̣n gọi là Wax
Tree, hay Japanese wax. Nhựa của nó là nguyên liệu chính
để làm sơn mài. Cây này mọc phổ biến ở
miền Bắc Việt Nam, nhất là dùng như một
chất kết dính để bảo vệ các sản
phẩm mỹ thuật. Trong quá tŕnh chế biến,
nhựa sơn có thể gây dị ứng khiến mặt
sưng lên, nổi mẩn ngứa gây lở loét khắp
cơ thể (do đó mới có câu ví von: “Sơn ăn tùy mặt, ma bắt tùy người”).
Từ nhựa sơn, người ta chế ra nhựa then
chủ yếu để thếp, phủ các đồ
vật rất bền. Xưa kia, trước khi thếp
vàng đồ vật được phủ sơn then,
rồi mới giát những lá vàng mỏng như giấy
lên. Khi lưu giữ nhục thân của các vị tổ
sư, người ta thường ngâm xác vào muối
để rút sạch nước, sau đó bó nhiều
lớp vải đă ngâm sơn và mạt cưa để
chống ẩm. Khi xác đă thành một khối cứng,
tạo h́nh đúng như ư muốn rồi mới thếp
vàng.
[48] Tứ Phệ
Đà (hay c̣n gọi là Tứ Vệ Đà) gồm Ly Câu Phệ
Đà (Ṛgveda, bao gồm những
bài ca vịnh), Sa Ma Phệ Đà (Sāmaveda, gồm những bài tán tụng), Dạ
Nhu Phệ Đà (Yajurveda, bao gồm những
nghi thứ cúng tế) và A Thát Bà Phệ Đà (Atharvaveda, những cách thức tiêu trừ
tai nạn).
[49] Tức tinh
cha và huyết mẹ.
[50] Quốc Ngữ
là cách người Hoa gọi tiếng Hoa tiêu chuẩn hiện
thời. Thoạt đầu, khi vương triều
đóng đô ở đâu, tiếng nói nơi đó sẽ gọi
là Quan Thoại (tiếng sử dụng trong triều
đ́nh), hoặc Quốc Ngữ. Chẳng hạn thời Tần,
Hán, Đường, do kinh đô ở Trường An nên tiếng
Trường An được coi là Quan Thoại. Đời
Tống, tiếng Biện Kinh là Quan Thoại. Đến giữa
đời Minh, phương ngôn Bắc Kinh mới
được coi là Quan Thoại. Khi Trung Hoa Dân Quốc
thành lập, bộ Giáo Dục đă buộc các công sở
và trường học phải sử dụng tiếng Bắc
Kinh làm ngôn ngữ chính thức và gọi tiếng Bắc
Kinh là Phổ Thông Thoại hay Quốc Ngữ (nhưng danh
xưng Quốc Ngữ hiện thời chỉ phổ biến
ở Đài Loan). Đối với người Việt,
thường có thói quen gọi tiếng Hoa phát âm theo giọng
Bắc Kinh là Quan Thoại. Tại Tân Gia Ba và Mă Lai, cộng
đồng người Hoa chỉ gọi đơn giản
tiếng Phổ Thông là Hoa Ngữ.
[51] Quán Sắc ở
đây chính là quán chủng tự của vị Bổn Tôn sẽ
từ chân không hóa hiện ra như thế nào, cũng
như màu sắc của từng chủng tự. Chẳng hạn
pháp Quán Lục Tự Chân Ngôn là từ trong tâm của hành giả,
tưởng xuất hiện hoa sen trắng muốt, trên ṭa
sen, xuất hiện mặt trời màu vàng sáng rực, rồi
quán mặt trăng trong ngần đặt nằm trên mặt
trời. Chính giữa mặt trăng xuất hiện chữ
Hrih trắng tinh, từ chữ Hrih biến thành Quán Thế
Âm Bồ Tát bốn tay, cầm các pháp khí, hai tay chắp
trước ngực, hai tay kia lần lượt cầm
xâu chuỗi và búp sen xanh. Từ tâm của Bồ Tát lại
lưu xuất chữ Hrih. Từ chữ Hrih lưu xuất
lục tự chân ngôn, mỗi chữ chân ngôn lại có màu
tương ứng với một đường trong lục
đạo v.v…
[52] Sư phó (師傅) là từ ngữ
để gọi thầy, tương đương với
sư phụ.
[53] Tam hồn thất
phách là cách diễn giải linh hồn theo quan điểm
Đạo giáo. Đạo giáo thời cổ cho rằng: Con
người có ba hồn là Nguyên Thần, Dương Thần
và Âm Thần. Có sách nói ba hồn là Thai Quang, Thích Linh và U Tinh.
Về sau, thường nói ba hồn là Thiên Hồn, Địa
Hồn và Nhân Hồn. Họ cho rằng: Con người chết
đi, Thiên Hồn sẽ sanh lên trời. Nhưng do nghiệp
đă gây tạo, hồn chẳng trở về đúng chỗ,
bị giam giữ trong thiên lao. Địa Hồn sẽ vào
địa ngục chịu sự báo ứng. Nhân Hồn sẽ
quẩn quanh nơi phần mộ, có thể gá vào thần
chủ (bài vị) để hưởng cúng tế của
con cháu. Thất phách là Thi Cẩu, Phục Thỉ, Tước
Âm, Thôn Tặc, Phi Độc, Trừ Uế, Xú Phế,
tương ứng với bảy thứ t́nh cảm của
con người (hỷ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục).