Phật Học Vấn Đáp Loại Biên

Quyển Trung

佛學問答類編

Phần 7

Lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam giải đáp

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản in của Lư Bỉnh Nam Lăo Cư Sĩ Toàn Tập Biên Tập Ủy Viên Hội,

Đài Loan, 2007)

Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang

 

VI. Danh Tướng

 

          * Hỏi: “Nam-mô A Di Đà Phật” có nghĩa là ǵ? (Một học tṛ hỏi)

 

          Đáp: Câu hỏi này giải thích theo ư nghĩa văn tự hoặc giải thích theo nghĩa lư sẽ có sai khác. Nói theo ư nghĩa văn tự, A Di Đà dịch sang tiếng Hán là Vô Lượng, hàm nghĩa: Quang minh, trí huệ, từ bi, thần thông, và thọ mạng đều là vô lượng. Chữ “Phật” dịch sang tiếng Hán là Giác, có nghĩa là “hết thảy đều giác ngộ đến rốt ráo”. Nói theo nghĩa lư, phải dùng toàn bộ kinh điển Tam Tạng mênh mông để diễn tả th́ mới trọn hết ư nghĩa này. Nếu chọn một phương diện để giải thích, đây chính là danh hiệu của một vị Phật. Do ḷng người vọng niệm dâng trào, hiện thời đang tạo nhiều ác nghiệp, trong tương lai, sẽ luân chuyển trong tam đồ, nếu có thể chí tâm niệm Phật hiệu này, tâm sẽ ngay lập tức tịnh, chẳng tạo ác nghiệp, chẳng hứng chịu ác quả. Trong tương lai, có thể nương vào đó để thành Phật, làm Tổ. Tạm thời, nói đến đây bèn ngưng. Nếu nói nhiều hơn, sợ kẻ sơ cơ chẳng thể tiếp nhận; giống như đối với người mới học các phép Toán, chẳng thể vội vàng nói ngay phép toán Tích Phân trong Đại Số được!

 

          * Hỏi: Kính xin hăy giải thích tường tận về câu “Phật pháp vô biên”. (Trang Khánh Hiền hỏi)

 

          Đáp: Hư không, thế giới, và chúng sanh đều là vô lượng, vô biên, Phật trí đều có thể biết trọn hết. Nghiệp lực, phiền năo, thấy, nghe, hay, biết trong chín pháp giới đều chẳng có cùng tận, đức Phật đều có thể nói trọn hết và chuyển biến chúng. Phật pháp há chẳng phải là vô biên ư?

 

          * Hỏi: Nói “phước huệ song tu” nghĩa là ǵ? (Đường Quế Lan hỏi)

          Đáp: Thân kiêng giết, trộm, dâm. Tiến thêm một bước nữa là chẳng tiếc sức nhọc nhằn, vất vả làm hết thảy những chuyện có lợi cho chúng sanh (chẳng cần phải tốn tài lực, bỏ ra thân lực th́ cũng giống như vậy), đó là “thân thiện” (điều thiện nơi thân) vậy. Miệng kiêng nói dối, nói đôi chiều, nói thêu dệt, ác khẩu. Tiến hơn bước nữa là chuyên nói những lời lẽ có lợi cho chúng sanh. Đó là “khẩu thiện”. Ư kiêng tham, sân, si. Tiến thêm bước bữa là luôn giữ ư niệm lợi lạc chúng sanh. Đó là “ư thiện”. Có thiện nhân, chắc chắn sẽ có thiện quả. Thiện quả chính là phước báo. Có thể hành những cái nhân lành ấy, chính là “tu phước”. Tâm tánh mê nơi ngũ dục, lục trần, tức là đắm nhiễm tối tăm, mê muội. Do vậy mà luân hồi trong lục đạo, chịu khổ dài lâu, nên gọi là “ngu si”. Nếu có thể giác ngộ, giữ giới để ĺa dục trần, quy y Phật pháp, siêng năng cầu đạo tham Thiền hoặc niệm Phật. Đấy chính là cái nhân nơi đường đạo, có thể hành [cái nhân ấy], trong tương lai, sẽ đạt được cái quả bất sanh bất diệt, đó gọi là “trí huệ”. Điều này gọi là “tu huệ”. Có phước mà chẳng có huệ, sẽ chẳng thể giải thoát sanh tử. Có huệ mà chẳng có phước, sẽ chẳng đạt được vạn tướng trang nghiêm. V́ thế, khuyên lơn “phước huệ song tu”.

 

          * Hỏi: Xin hỏi “Tứ Đại giai không” hăy nên giải thích như thế nào? (Liêu tiên sinh hỏi)

 

          Đáp: “Tứ Đại” cũng thuộc loại từ ngữ tỷ dụ. Phàm tánh chất cứng chắc th́ gọi là Địa, tánh lỏng được ví như Thủy, tánh nóng được ví như Hỏa, tánh chuyển động th́ do gió là nhanh lẹ nhất, cho nên dùng Phong để tỷ dụ. Hết thảy các vật tướng (物相, h́nh tướng của muôn vật) đều do bốn thứ này ḥa hợp mà thành. Tứ Đại chính là Địa, Thủy, Hỏa, Phong. Tướng của các vật hoàn toàn chẳng có thật thể, tức là bốn thứ ấy cũng chẳng có tự tánh, cho nên nói “giai Không” (皆空, đều là Không).

 

          * Hỏi: Người xuất gia tự xưng là Sa-môn (沙門) có ư nghĩa ǵ? (Một độc giả ở Hoa Liên hỏi)

 

          Đáp: Sa-môn (Śramaṇa) là tiếng Ấn, dịch thành Cần Tức (勤息), nghĩa là siêng tu đạo, và dứt diệt phiền năo.

 

          * Hỏi: Ḥa Thượng và pháp sư có ǵ phân biệt? (Một độc giả ở Hoa Liên hỏi)

 

          Đáp: Ḥa Thượng (和尚, Upādhyāya) có nghĩa là “thầy của tôi”. Âm đọc đúng ở Tây Thổ (Ấn Độ) là Ô Xă hoặc Ḥa Xă, truyền tới Trung Hoa bị sai lệch thành Ḥa Thượng. Pháp sư là người thông thạo Phật pháp, có năm loại[1] hay mười loại khác biệt. Đă gọi là Ḥa Thượng, đương nhiên là thông hiểu Phật pháp. Nếu nói đến pháp sư, bất tất chỉ là nói đến Ḥa Thượng.

 

          * Hỏi: Tỳ-kheo-ni (Bhikṣuṇī) có phải là pháp sư hay không? (Một độc giả ở Hoa Liên hỏi)

         

          Đáp: Hàng tỳ-kheo-ni ứng hợp một trong năm loại hoặc mười loại pháp sư đă nói trên đây, cho nên tự nhiên là pháp sư.

 

          * Hỏi: Thất chúng đệ tử là ǵ? (Sử Phan Tân Hà hỏi)

 

          Đáp: Hàng xuất gia có ngũ chúng, tức là Tỳ Kheo (Bhikṣu), Tỳ Kheo Ni (Bhikṣuni), Thức Xoa Ma Na (Śikṣamāṇā), Sa Di (Śrāmaṇera), và Sa Di Ni (Śrāmaṇerī). Hàng tại gia có hai chúng là Ưu-bà-tắc (Upāsaka) và Ưu-bà-di (Upāsikā), gọi gộp chung là bảy chúng. Trong đó, tỳ-kheo, sa-di, và ưu-bà-tắc là nam đệ tử, những chúng kia là nữ đệ tử.

 

          * Hỏi: Tỳ-kheo, sa-di, tăng, ḥa thượng, đạo sĩ, tăng-già, đầu-đà, tôn giả, hành giả có ǵ phân biệt? (Lưu Định Sí hỏi)

 

          Đáp: Người xuất gia thọ hai trăm năm mươi đại giới, được gọi là tỳ-kheo. Người thọ mười giới gọi là sa-di. Chữ “Tăng” () chỉ nhiều người xuất gia. Ḥa Thượng là tiếng Ấn Độ, dùng với ư nghĩa để gọi vị thầy của chính ḿnh. Âm gốc là Ô Xă, về sau bị đọc sai thành Ḥa Xă, dần dần chuyển biến đến nay bèn thành âm đọc là Ḥa Thượng. “Đạo sĩ” (道士) là người có đạo. Tăng-già (Saṅgha) chính là Tăng, vốn [đọc đủ âm] là Tăng-già-da (Saṅghaya), nước ta chuộng đơn giản, chỉ dùng một chữ Tăng. Đầu-đà (Dhūta) là người xuất gia khổ hạnh. “Tôn giả” (尊者) [hàm nghĩa] là bậc đáng tôn trọng nhất. “Hành giả” (行者) là người tu hành.

 

          * Hỏi: Tinh thần căn bản của Bồ Tát là ǵ? (Trương Thanh Cẩm hỏi)

 

          Đáp: Trên là lúc cầu Phật đạo bèn tinh tấn, dưới bèn độ chúng sanh chẳng nghỉ ngơi. Đấy chính là tinh thần căn bản của hàng Bồ Tát.

 

          * Hỏi: Ma Ha Tát (Mahasattva) có ư nghĩa như thế nào? (Hà Vĩnh Đinh hỏi)

 

          Đáp: Nghĩa là đại sĩ.

 

          * Hỏi: Danh xưng Bồ Đề Thụ có nguồn gốc như thế nào? (Lưu Định Sí hỏi)

 

          Đáp: Bồ Đề Thụ (cây Bồ Đề) chính là cây Tất Bát La (Pippala), là một loại cây thân mộc[2], lá xanh suốt năm. Thuở trước, đức Thế Tôn đă ngồi dưới cội cây này thành đạo. Sau đấy, [mọi người] đổi tên cây này thành cây Bồ Đề.

 

          * Hỏi: “Giác chiếu” nghĩa là ǵ? (Lỗ Khai Trí hỏi)

 

          Đáp: Bọn phàm phu chúng ta đối với hết thảy sự, hết thảy lư, kiến giải lẫn tư tưởng đều chẳng đạt được chân tướng, nên bảo là “mê”. Mê th́ hôn ám. “Giác” là phá mê, “chiếu” là ánh sáng phá trừ tối tăm.

 

          * Hỏi: Giải nghĩa Tam Độc như thế nào? (Phan Diệu Huyền hỏi)

 

          Đáp: Trong ư dấy lên Hoặc. [Trong các loại Hoặc], có ba loại nghiệp lớn nhất, gọi là tham, sân, si. Đó là Tam Độc.

 

          * Hỏi: Phải giải thích A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề như thế nào? (Liêu Thúy Ngọc hỏi)

 

          Đáp: Đây cũng là tiếng Phạn. A trong tiếng Hán là Vô, Nậu Đa La dịch thành Thượng, Tam dịch thành Chánh, Miệu dịch thành B́nh Đẳng, Bồ Đề dịch thành Giác. Nói gộp lại, sẽ là sự giác ngộ viên măn tối cao vô thượng ta và người thật sự b́nh đẳng. Cảnh giới ấy chỉ dùng để nói về một ḿnh đức Phật là tương xứng mà thôi!

 

          * Hỏi: Ngă Chấp và Pháp Chấp có ư nghĩa như thế nào? (Châu Ấu hỏi)

 

          Đáp: Chấp () là nắm giữ chẳng bỏ. Tứ Đại và Ngũ Uẩn giả hợp thành thân tâm, vốn chẳng có Ngă làm chủ thể, nhưng tưởng lầm là thật sự có. [Chấp trước] kiên cố, chẳng thể phá th́ là Ngă Chấp, nhưng Tứ Đại và Ngũ Uẩn cũng là do các duyên sanh ra, đều chẳng có thật thể. Nếu phá Ngă Chấp, lại tưởng Đại và Uẩn là thật sự có; đấy là Pháp Chấp. Đó chính là chẳng hiểu rơ diệu lư Tam Đế; v́ thế, mắc khuyết điểm chấp trước!

 

          * Hỏi: Trong kinh có nói đến Nhẫn trong Vô Sanh Nhẫn, chẳng biết giải thích như thế nào? (Ngô Luân Bỉnh hỏi)

 

          Đáp: Chữ Nhẫn () ở đây nên hiểu là “an trụ”, mang ư nghĩa: Đối với một sự nào đó, nhận biết rơ ràng, chẳng ngờ vực, khiến cho cái tâm quyết định.

 

          * Hỏi: Vô Sanh Pháp Nhẫn nghĩa là ǵ? (Trần Lâm Châu hỏi)

 

          Đáp: Vô Sanh Pháp chính là lư Niết Bàn bất sanh, bất diệt. Nhẫn có ư nghĩa là “cái tâm an trụ trong lư ấy, chẳng lay động”.

 

          * Hỏi: Phân biệt thân mạng và huệ mạng như thế nào? (Vương A Trản hỏi)

         

          Đáp: “Thân mạng” là nói đến nhục thể, “huệ mạng” là nói đến tâm tánh!

 

          * Hỏi: Vô Lậu có ư nghĩa như thế nào? (Trần Thiện Chí hỏi)

 

          Đáp: Muốn hiểu rơ Vô Lậu, trước hết, cần hiểu rơ Lậu. Lậu () chính là từ ngữ tỷ dụ. Như b́nh có lỗ hổng, ắt nước rỉ ra ngoài. Một là sáu căn phan duyên sáu trần, khiến cho phiền năo ṛ rỉ ra ngoài! Hai là phiền năo ví như b́nh có chỗ nứt, tâm ví như đổ nước vào, chỉ có phiền năo, tức là tâm hữu lậu. Ba là v́ dấy phiền năo, ṛ rỉ mất chánh đạo. Bốn là v́ có phiền năo, ṛ rỉ sanh tử. Vô Lậu là đoạn trừ phiền năo, chứng lấy đạo Niết Bàn.

 

          * Hỏi: Hai chữ Tam-muội (Samādhi) đến tột cùng có ư nghĩa như thế nào? (Thiệu Thanh hỏi)

 

          Đáp: Chữ này là tiếng Phạn, dịch sang nghĩa tiếng Hán là Chánh Định.

 

          * Hỏi: Thánh Ngôn Lượng (聖言量) là như thế nào? Xin hăy khai thị sơ lược! (Trần Nhuệ hỏi)

 

          Đáp: Thưng, đấu gọi là “lượng khí” (量器, dụng cụ để đo lường). Dùng [những thứ ấy] có thể biết số lượng của lương thực, gạo thóc. Đối với hết thảy các pháp, đủ mọi cách nói lăng xăng, chẳng biết theo lẽ nào! Hăy nên tuân theo lời dạy của Phật, Bồ Tát, sẽ là chuẩn xác. Dùng lời dạy của Phật, Bồ Tát giống như [sử dụng] thưng đấu để biết số lượng của lương thực, gạo thóc vậy!

 

          * Hỏi: Ngũ Ấm là ǵ? Tam giới ngục là ǵ? (Trịnh Đôn hỏi)

 

          Đáp: Sắc (là vật thuộc về thân thể hữu h́nh), Thọ, Tưởng, Hành, Thức (cảm giác, phân biệt, suy nghĩ thuộc về tâm lư); năm thứ ấy tụ tập thành cái thân hư giả, gọi là “thân Ngũ Ấm”. Bầu trời ở trên đỉnh đầu của bọn chúng ta có tất cả hai mươi tám tầng, chia làm ba giới hạn: Sáu tầng dưới cùng, có ăn, uống, dục vọng nam nữ, gọi là Dục Giới. Mười tám tầng ở giữa, không có dục, chỉ có các thứ h́nh tướng trang nghiêm, gọi là Sắc Giới. Bốn tầng trên đó, chỉ có thần thức, gọi là Vô Sắc Giới. Trong mỗi nơi, đều có sanh tử luân hồi và các nỗi khổ khác biệt, chẳng được tự tại. V́ thế, đều sánh ví như ngục tù!

 

          * Hỏi: A Bệ Bạt Trí và A Nậu Đa La Tam Miệu Bồ Đề nên nói như thế nào? (Hoàng Quư Muội hỏi)

 

          Đáp: Từ ngữ trước có nghĩa là Bất Thoái, từ ngữ sau có nghĩa là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Cả hai đều là tiếng Phạn.

 

          * Hỏi: Trước ngực A Di Đà Phật và Thích Ca Phật đều có một chữ , chẳng biết v́ lẽ nào? (Lâm Thành hỏi)

 

          Đáp: Thân Phật sanh ra có ba mươi hai thứ thụy tướng (瑞相, tướng tốt lành). Chữ chính là một trong ba hai tướng.

 

          * Hỏi: Giải thích “Khổ, Không, Vô Thường, Bất Tịnh Quán” như thế nào? (Đường Quế Lan hỏi)

 

          Đáp: Sanh, lăo, bệnh, tử, biệt ly, oán ghét mà cứ phải gặp gỡ, mong cầu chẳng đạt được, thân tâm tự quấy động chẳng an tĩnh v.v… gọi là Khổ. Tứ Đại giả hợp, muôn duyên huyễn diệt, chẳng t́m thấy tự thể, gọi là Không. Núi, sông, đại địa “thành, trụ, hoại, không”, chúng sanh “sanh, trụ, dị, diệt”, như sương, như tia chớp, gọi là Vô Thường. Thân h́nh chính là cái túi đựng máu, mủ, nước tiểu, phân, tâm thức là nơi chứa đựng tham, sân, si, mạn, [do vậy] gọi là Bất Tịnh.

 

          * Hỏi: “Phước bất đường quyên” có nghĩa là ǵ? (Lỗ Khai Trí hỏi)

 

          Đáp: “Đường” () nên hiểu là hư giả, “quyên” () hiểu là vứt bỏ. Nói gộp lại, có nghĩa là đạt được phước, chẳng rỗng tuếch, chẳng hư giả, chẳng vứt bỏ!

 

          * Hỏi: Sắc tướng “duyên sanh tánh Không” phân biệt như thế nào? (Hoàng Bá Kính hỏi)

 

          Đáp: Phàm là hết thảy hiện tướng (現相, các tướng đă biến hiện) đều do nhiều thứ nhân duyên tụ hợp mà giả có. Tướng được hiện ấy thật sự chẳng có tánh thể của chính ḿnh, giống như cầu vồng sau cơn mưa, bảy màu rực rỡ, bất quá là do hơi nước phản chiếu ánh sáng mặt trời hiện ra. Cầu vồng thật sự chẳng có tự thể.

 

          * Hỏi: “Thập ác bát tà” có ư nghĩa như thế nào? (Tiêu Thiệu Thanh hỏi)

 

          Đáp: Chẳng giết, chẳng trộm, chẳng dâm, chẳng nói dối, chẳng nói đôi chiều, chẳng ác khẩu, chẳng nói thêu dệt, chẳng tham, chẳng sân, chẳng si gọi là Thập Thiện. Đối lập với chúng là Thập Ác, có thể tham khảo Thập Thiện Nghiệp Đạo Kinh [để hiểu rơ hơn]. Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định gọi là Bát Chánh Đạo. Trái nghịch những thứ ấy th́ là Bát Tà, có thể tham khảo ba mươi bảy đạo phẩm. Ở đây, bất quá chỉ nêu danh xưng của chúng. Nếu giải thích, sẽ dài ḍng, rườm rà. Cột báo này hữu hạn, chẳng thể giải thích cặn kẽ từng điều một được!

 

          * Hỏi: Kiến Tư Hoặc, Trần Sa Hoặc, Vô Minh Hoặc, ba thứ ấy có ǵ phân biệt? Xin giải thích từng điều một! (Ngu cư sĩ hỏi)

 

          Đáp: Do mê t́nh dấy lên chấp trước, như Thân Kiến, Biên Kiến v.v…, [những chấp trước ấy] được gọi là Kiến Hoặc. Do ư niệm hôn ám (tối tăm, mê muội) biểu lộ thành t́nh cảm như tham, sân v.v… th́ gọi là Tư Hoặc. Trần Sa là sánh ví pháp môn rất nhiều; nếu trí huệ chẳng viên măn, sẽ chẳng thể thông đạt, gọi là Trần Sa Hoặc. Vô Minh ở đây là nói đến căn bản Vô Minh, tức là một niệm bất giác từ vô thỉ.

 

          * Hỏi: “Hoa Tạng hải chúng” là ǵ ? (Trần Lâm Huân hỏi)

 

          Đáp: Hoa Tạng chính là cách nói tắt của thế giới Liên Hoa Tạng (Kusuma-tala-garbha-vyuhalamkara-loka-dhatu). Nó chính là cơi Tịnh Độ của chân thân Thích Ca Như Lai, tức Tỳ Lô Giá Na Phật. Do trong hoa sen chứa đựng vi trần số thế giới, nên gọi là Hoa Tạng. Trong vi trần số thế giới ấy, cũng có bất khả thuyết vi trần số đại chúng tu tập, chỉ có thể dùng chữ Hải () để biểu thị sự đông đảo ấy.

 

          * Hỏi: Giải thích “hợp nội ngoại” như thế nào? “Vật đồng ngă” là ư nghĩa ǵ? (Hoàng Triều Hoa hỏi)

 

          Đáp: Hai từ ngữ này hoàn toàn chẳng phải là từ ngữ chuyên môn trong Phật học. Do chẳng thấy những câu văn trước và sau [những từ ngữ đó], sợ rằng chẳng liên quan. Nay tôi chỉ dựa theo những câu ấy, xét sát sao theo khí phận của Phật học để thử giải thích như sau: “Hợp nội ngoại” th́ “nội” chỉ tâm tánh, “ngoại” chỉ cảnh giới. Phật học chủ trương “cảnh do tâm tạo”, cho nên nói là “hợp”. “Vật đồng ngă”: Ngă chẳng có thật thể, chính là tướng Tứ Đại giả hợp. Vạn vật cũng chẳng có thực thể, chính là tướng Tứ Đại giả hợp; v́ thế, nói là “đồng”. Ở đây, tôi chỉ phân tích theo câu văn. Nếu nhận thấy văn và nghĩa chẳng phù hợp, phải xét theo ngữ cảnh của bài văn để hiểu nghĩa!

 

          * Hỏi: “Hải Ấn tam-muội, ngũ pháp, tam tự tánh” là ǵ? (Hoàng Ḥe Đ́nh hỏi)

 

          Đáp: Các thứ h́nh tượng trong một đại châu đều có thể in bóng trong biển, cho nên gọi là Hải Ấn. Tam-muội (Samādhi) dịch sang tiếng Hán là Chánh Định. Nói gộp lại, [Hải Ấn tam-muội] là một loại Định, giống như biển cả in bóng các h́nh tượng. Định ấy chính là Chánh Định của Như Lai. Do sánh ví trí của Như Lai như biển, hết thảy các sự vật đều soi rơ trong ấy; v́ thế, gọi là Hải Ấn tam-muội. Các pháp thế gian và xuất thế gian phức tạp khó thể nói trọn, quy nạp thành một trăm pháp. Lại quy nạp thành năm pháp, gọi là Tướng, Danh, Phân Biệt, Chánh Trí, và Chân Như, năm thứ. Năm thứ ấy bao gồm trọn các pháp, nhưng các pháp lại chỉ có Tánh. Nói tách bạch ra, sẽ là:

          1) Biến Kế Sở Chấp Tánh bao gồm ba pháp Tướng, Danh, Phân Biệt.

          2) Y Tha Khởi Tánh bao gồm bốn pháp là Tướng, Danh, Phân Biệt, Chánh Trí.

          3) Viên Thành Thật Tánh bao gồm hai pháp là Chánh Trí và Chân Như.

          Muốn biết tường tận những điều này, cần phải học kinh Lăng Già.

 

          * Hỏi: Trong kinh luận có những câu chữ như “Bồ Tát từ Sơ Trụ trở lên”, “Bồ Tát từ Sơ Địa trở lên”, và “quả vị” rốt cuộc chia thành mấy loại? Lại c̣n những câu như “Anh Lạc, Xá Lợi Phất, tự tánh, nghiệp lực, tánh khởi, Lại Da, Pháp Tướng Duy Thức, Thượng Sanh Thượng Phẩm” v.v… giải thích như thế nào? (Lê Cẩm Huy, Lư Hán Ba, và Thiệu Ích Thanh hỏi).

 

          Đáp: Bồ Tát tu hành từ nhân tới quả, có bốn mươi mốt loại tầng cấp (các kinh phân loại bất đồng, cũng có kinh chủ trương năm mươi hai [địa vị]. Trong ấy có sự tách ra hay gộp vào khác biệt, thật ra là một Lư) tức là Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác. “Sơ Trụ, Sơ Địa” là nói đến Trụ thứ nhất trong Thập Trụ và Địa thứ nhất trong Thập Địa. “Quả vị” nghĩa là địa vị đạt được do chứng quả. Anh Lạc (瓔珞) là vật kết bằng các thứ báu, như các món trang sức để đeo hay buộc nơi cổ. Xá Lợi Phất là tên người, chính là người có trí huệ bậc nhất trong các vị đệ tử của đức Phật. “Tự tánh” là bản tánh mà chính ḿnh vốn có. “Nghiệp lực” là sức mạnh phát sanh bởi những sự nghiệp thiện ác đă tạo. Tánh Khởi là các sự được khởi động từ Tánh Phần. Lại Da (A Lại Da Thức) là căn bản của cái tâm, thường gọi thông tục là “tâm điền”. Pháp Tướng Duy Thức là một loại giáo điển trong Phật giáo. Thượng Phẩm Thượng Sanh là tu Tịnh Độ Tông, văng sanh Cực Lạc hóa sanh trong hoa sen, chia tổng quát thành chín đẳng cấp, ba bậc thượng, ba bậc trung, ba bậc hạ. Thượng Phẩm Thượng Sanh tức là phẩm thứ nhất.

 

          * Hỏi: Trong bài kệ Tán Quán Âm có hai câu: “Tam thập nhị ứng biến trần sát, bách thiên vạn kiếp hóa Diêm Phù”. Ư nghĩa này khó hiểu, xin hăy khai thị! (Trương Đ́nh Thụy hỏi)

 

          Đáp: Câu đầu tiên trích từ phẩm Phổ Môn kinh Pháp Hoa. Bồ Tát độ các loại chúng sanh, v́ là đồng loại th́ dễ thân thiết, cho nên bèn hóa hiện thân đồng loại với chúng sanh để thuyết pháp cho họ, như gặp nam tử bèn hóa thân nam, như gặp nữ nhân bèn hóa thân nữ, Ngài từng hóa ra ba mươi hai loại [thân tướng]. “Sát” () là xứ sở, tức thế giới, quốc độ v.v… “Trần” là [nói về] số lượng. Trần (, bụi bặm) nhiều chẳng thể đếm được. “Trần sát” (塵剎) là xứ sở [nhiều đến nỗi] khó thể đếm được! Câu thứ hai là Kiếp, [ư nói] năm tháng rất nhiều. Diêm Phù (閻浮, Jambudvīpa) là tên của một châu ở phía Nam trong Tứ Đại Châu, tức là địa cầu nơi chúng ta đang sống.

 

          * Hỏi: “Nguyện tiêu tam chướng chư phiền năo” (Nguyện tiêu các phiền năo thuộc ba chướng), “tam chướng” là như thế nào? (Trương Đ́nh Thụy hỏi)

 

          Đáp: “Chướng” () là trở ngại, khiến cho con người không được tự tại và giải thoát. Một là tâm có vô minh, dấy lên mê hoặc. Hai, do mê hoặc mà tạo các thứ ác nghiệp. Ba là do tạo nghiệp, ắt sẽ hứng chịu các thứ khổ báo. Ba thứ ấy có mối quan hệ liên đới. Muốn chẳng chịu khổ, cần phải đừng tạo nghiệp. Muốn chẳng tạo nghiệp, cần phải đừng khởi Hoặc. Để trừ Hoặc, ắt cần phải cầu đạo, nghe pháp.

 

          * Hỏi: Nhất Thiết Trí, Tự Nhiên Trí, Đạo Chủng Trí, Nhất Thiết Chủng Trí, Vô Sư Trí, Vô Ngại Trí có ǵ phân biệt? (Cố Phượng Anh hỏi)

 

          Đáp: Nhất Thiết Trí và Nhất Thiết Chủng Trí, đại khái giống nhau. Phân chia tỉ mỉ, Nhất Thiết Trí là trí b́nh đẳng tánh Không, Nhất Thiết Chủng Trí là trí [nhận biết] sự tướng sai biệt. Tự Nhiên Trí và Vô Sư Trí cũng đại lược giống nhau. Tùy theo cú pháp văn tự của đoạn nào trong kinh mà có sự phân biệt những trí ấy. Tự Nhiên Trí là nói đến bản thể của trí ấy. Vô Sư Trí là nói bao gồm những trí khác, chẳng học mà đạt được. Đạo Chủng Trí là cái trí có thể học các pháp đạo, tế độ chúng sanh. Vô Ngại Trí là nói trí khởi tác dụng, chỗ nào cũng đều thông đạt, chẳng trở ngại. Lại xét theo danh số trong Phật học, Tự Nhiên Trí, Vô Sư Trí và Vô Ngại Trí được gọi là Tam Đại Trí, đều là Phật trí. Nhất Thiết Trí, Đạo Chủng Trí, Nhất Thiết Chủng Trí gọi là Tam Thánh Trí. Biết tướng của hết thảy các pháp là Chân Không th́ gọi là Nhất Thiết Trí, đó là trí của Thanh Văn và Duyên Giác. Biết các thứ đạo sai biệt, giả hữu th́ gọi là Đạo Chủng Trí, chính là trí của hàng Bồ Tát. Chiếu Không, Giả, Trung, đều thấy Thật Tướng, gọi là Nhất Thiết Chủng Trí, chính là Phật trí.

 

          * Hỏi: “Như thiểu thủy ngư, như cứu đầu nhiên” (Như cá thiếu nước, như cứu đầu cháy) có nghĩa là ǵ? (Tín Huệ hỏi)

 

          Đáp: Cá cậy vào nước để sống, giống như con người sống nhờ không khí. Nước dần dần giảm ít, mạng cá làm sao có thể lâu dài cho được? Điều này ví như mạng người vô thường. “Nhiên” () là đốt. Lửa đốt thân người, đă là chẳng thể chịu đựng nỗi đau khổ ấy, cần phải gấp cứu giúp. Nếu đốt đầu mặt, không chỉ là đau khổ gấp đôi, lại c̣n có nỗi nguy hiểm sẽ bị bất tỉnh nhanh chóng, sự cứu giúp càng phải nên gấp rút. [Những câu kệ] này nhằm răn nhắc hăy nên gấp rút tinh tấn tu tŕ!

 

          * Hỏi: Trong kinh Địa Tạng có mấy câu như thế này: “Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư” có nghĩa là ǵ? (Trần Thánh Âm hỏi)

 

          Đáp: Đây chính là mười thứ xưng hiệu (danh hiệu) của Phật. Trước kia, [trong cột báo này] đă từng có vấn đáp về chuyện này. Nhưng mỗi danh hiệu đều có ư nghĩa riêng, giải thích tường tận sẽ rất dài ḍng, nên chỉ có thể nêu những điểm chánh yếu ḥng giới thiệu để biết đại khái. Mười hiệu ấy trong các kinh đa số đều có, không chỉ chuyên ghi chép trong kinh ấy (kinh Địa Tạng). Nếu muốn t́m hiểu tường tận, có thể kiểm trong các bản chú giải kinh điển để tham khảo. Ứng Cúng (Arhat) là đáng được trời người cúng dường. Chánh Biến Tri (Samyak-saṃbuddha) là thật sự biết trọn khắp hết thảy các pháp. Minh Hạnh Túc (Vidyā-caraṇa-saṃpanna) chính là Túc Mạng Minh, Thiên Nhăn Minh, và Lậu Tận Minh đều trọn đủ. Thiện Thệ (Sugata) là tự tại khéo nhập Niết Bàn. Thế Gian Giải (Lokavid) là hiểu biết triệt để hết thảy các chuyện trong các thế gian. Vô Thượng Sĩ (Anuttara) là bậc đại sĩ chí cao vô thượng. Điều Ngự Trượng Phu (Puruṣa-damya-sārathi) là có các pháp để thuần hóa, kiềm chế các hữu t́nh. Thiên Nhân Sư (Śāsta deva-manuṣyāṇaṃ) nghĩa là bậc đạo sư của người và trời.

 

          * Hỏi: Tôi đọc báo Bồ Đề Thụ số bảy mươi bảy, nơi trang mười bốn có câu: “học nhân Trần mộ Thiền vị thị thảo” (học nhân họ Trần hâm mộ Thiền, chưa dám coi bản viết nháp này là đúng), “vị thị thảo” có ư nghĩa như thế nào? (Lỗ Khai Trí hỏi)

 

          Đáp: Chuyện này chẳng thuộc vào phạm vi Phật học, mà là cách nói tự khiêm thông dụng của những người trước tác. “Thảo” () là có ư nói tác phẩm của chính ḿnh chỉ là bản nháp, “vị thị” (未是) có nghĩa là chưa dám coi là đúng vậy!

 

          * Hỏi: Người học Phật, tu Đại Thừa có pháp “phá oa” (破哇)[3], xin giải thích hai chữ “phá oa”. (Lỗ Khai Trí hỏi)

 

          Đáp: Phật học chia thành hai môn Hiển và Mật. Ông hỏi về một pháp trong Mật Tông, có nghĩa là “khai đảnh” (開頂, mở đỉnh đầu). Sơ cơ học Phật, chưa hiểu rơ Hiển, tạm thời chẳng cần bàn đến Mật. Nếu miễn cưỡng giải thích, sợ rằng [do người hỏi] chưa biết giáo tướng, cũng chẳng dễ liễu giải được!

 

          * Hỏi: Xin hăy giải thích ư nghĩa của chữ “tân truyền” (薪傳) (ghi trong báo Bồ Đề Thụ số bảy mươi bảy, trang hai mươi ba, có nói ba thứ “tân truyền”“một, nghiêm phụ chi tân truyền, hai, Khổng Mạnh chi tân truyền, ba, Phật Tổ chi tân truyền”) (Lỗ Khai Trí hỏi)

 

          Đáp: “Tân” () có nghĩa là củi hoặc cỏ, có thể nhóm lửa. Đốt một bó củi, có thể lại cháy lan sang những thanh củi khác. Đốt lan truyền như thế, có thể khiến cho lửa chẳng tắt. Mượn việc này để tỷ dụ chuyện trao truyền học nghiệp giữa thầy và tṛ, giữa cha và con. Thầy truyền cho tṛ, tṛ lại truyền cho học tṛ của tṛ, con lại truyền cho con của con, cho đến vô cùng! Đối với ba câu sau đó, đă biết điều này, sẽ có thể hiểu rơ, chẳng cần phải rườm lời nữa!

 

          * Hỏi: Giải thích “thành, trụ, hoại, không, sanh, trụ, dị, diệt” như thế nào? (Đường Quế Lan hỏi)

 

          Đáp: Vạn pháp vô thường. Núi, sông, đại địa thuộc về khí thế gian, do các duyên ḥa hợp mà khởi hiện tướng th́ gọi là Thành. Đạt tới mức độ viên măn th́ gọi là Trụ. Các duyên dần dần tiêu tán th́ là Hoại. Tiêu tán đến rốt ráo th́ gọi là Không. Hết thảy hữu t́nh, Tứ Đại sanh tử, cũng theo lệ ấy: Do cha, mẹ, nghiệp lực, ba duyên ḥa hợp chính là Sanh. Thân tướng hoàn thành chính là Trụ. Dần dần suy lăo là Dị. Một kỳ thọ mạng chấm dứt là Diệt.

 

          * Hỏi: Trong Di Đà có câu như thế này: “Xá Lợi Phất! Cực Lạc quốc độ, chúng sanh sanh giả, giai thị A Bệ Bạt Trí” (Này Xá Lợi Phất! Chúng sanh sanh về cơi nước Cực Lạc đều là A Bệ Bạt Trí). Chữ A Bệ Bạt Trí này có nghĩa là ǵ? (Đường Quế Lan hỏi)

 

          Đáp: A Bệ Bạt Trí (Avaivartika) là tiếng Phạn chưa dịch nghĩa. Dịch sang nghĩa tiếng Hán sẽ “chẳng thoái chuyển”.

 

          * Hỏi: Trong Phật giáo có nói “minh tâm tánh” hoặc nói “thường trụ chân tâm”, “Chân Như tánh” , “Thật Tướng” v.v… có ư nghĩa như thế nào? (Huệ Diệu hỏi)

 

          Đáp: Đối với bốn câu đă hỏi, có thể nói một câu là Tổng, ba câu kia là Biệt. Trước hết, nói về điều thứ nhất. “Tâm tánh” chính là tên gọi chung của tự tánh thanh tịnh tâm; cũng được chia thành hai sự, tức là Thường là Tánh, Vô Thường là tâm. Trong ngữ lục, [cổ đức đă] mượn nước và băng để tỷ dụ như sau: Khi mê, tánh kết thành tâm. Ngộ th́ tâm được cởi gỡ [phiền năo], trở thành tánh. Dùng chuyện này để luận, tâm và tánh nói thành hai, bất quá chỉ là [nói theo phương diện] mê hay ngộ mà thôi! Lại giải thích ba điều kia, ba điều ấy đều nói về tự tánh thanh tịnh tâm, chỉ là các kinh gọi tên khác nhau, chứ thật ra không khác! Tâm có chân và vọng, Tánh có mê và giác, Tướng có thật và giả, nhưng những ǵ mà phàm phu biết chính là “vọng tâm”, “mê tánh”, “giả tướng” mà thôi. V́ thế, bị trói buộc bởi phiền năo, trầm luân, chẳng có thuở thoát ra. Thánh ngôn đặc biệt nêu ra “chân tâm, giác tánh, Thật Tướng” để cảnh tỉnh kẻ si bướng, mong họ sẽ biết gốc mà trở về nguồn. Đó là lẽ “giải thoát xuất yếu” (lẽ trọng yếu để giải thoát, thoát khỏi luân hồi).

 

          * Hỏi: Thật Tướng Niệm Phật là ǵ? “Nhập thế pháp, xuất thế pháp” là ǵ? (Huệ Diệu hỏi)

 

          Đáp: Câu hỏi gồm ba điều, nay chia ra để trả lời. Có bốn phương pháp niệm Phật là Tŕ Danh, Quán Tưởng, Quán Tượng, và Thật Tướng. Đối với ba pháp đầu, chẳng rườm lời giải thích, chỉ nói về Thật Tướng, tức là: Khi bản tâm không nghĩ ác, không nghĩ thiện, ĺa hết thảy cảnh, ĺa hết thảy niệm, đó gọi là Thật Tướng. Trong lúc như vậy, vô niệm mà niệm, niệm mà vô niệm. “Vô niệm” là danh tướng Ngă Pháp, tịch tĩnh đều mất. “Hữu niệm” là tự tánh Di Đà, tỉnh táo, chẳng mê muội. Loại cảnh giới này có thể hiểu, nhưng chẳng thể nói, chẳng phải là kẻ sơ cơ mà ḥng thấu hiểu được! “Xuất thế pháp” là các phương pháp để đoạn Hoặc, chứng Chân, hoặc đới nghiệp văng sanh. “Nhập thế pháp” tức là sau khi đă chứng quả xuất thế, ứng với sự cảm của đại chúng, lại nhập thai để độ chúng sanh, như đức Thế Tôn đă đến Sa Bà tám ngàn lần. Và [những vị] sau khi đă văng sanh, bèn thừa nguyện tái lai, như các vị sư Phong Can, Hàn Sơn, Thập Đắc v.v… chính là hóa thân của các đấng tôn thánh Di Đà, Văn Thù, Phổ Hiền vậy!

 

          * Hỏi: Tổ Ấn Quang có nói: “Toàn tánh khởi tu, toàn tu tại tánh”, nên hiểu như thế nào? (Châu La Hán hỏi)

 

          Đáp: Như Lai Tạng vốn có hai phần nhiễm và tịnh, như vàng ở trong quặng. Tịnh là chân, tức Bổn Giác, ví như cái Thể của chất vàng ṛng. Nhiễm là vọng, tức là vô thỉ vô minh, ví như cát bụi ở trong quặng. Chẳng nung luyện quặng, vàng ṛng sẽ chẳng hiển lộ. Chẳng tu Như Lai Tạng, sẽ chẳng thấy chân tánh. Tánh Đức tịch mà chiếu, cho nên có thể khởi tu. Tu Đức chiếu mà tịch, cho nên có thể thấy tánh, tức là Tánh có thể khởi tu, tu vẫn nương vào tánh. Tánh và Tu chẳng hai. Đấy chính là ư nghĩa to lớn của lời hỏi vậy.

 

          * Hỏi: “Niệm niệm niệm Phật, niệm niệm minh liệu” (Niệm nào cũng niệm Phật, niệm nào cũng đều hiểu rơ). Ba chữ Niệm trong câu trước nên lư giải như thế nào? (Châu La Hán hỏi)

 

          Đáp: Hai chữ Niệm trước nhằm nói niệm này tiếp nối niệm kia, như sóng sau đuổi theo sóng trước. Chữ Niệm thứ ba ư nói khởi niệm nơi Phật, chẳng duyên theo điều ǵ khác. Câu sau ư nói: Có thể niệm như thế, th́ niệm nào cũng đều là giác chiếu, chẳng mê!

 

          * Hỏi: Trang thứ nhất trong sách Hoàng Bá Tâm Yếu có câu: “Vô tướng nhi vô bất tướng, vô vi nhi vô bất vi”, ư nghĩa là như thế nào? (Châu La Hán hỏi)

 

          Đáp: Câu này nhằm h́nh dung Thật Tướng linh giác chân tâm. Cái tâm ấy tịch mà thường chiếu, chiếu mà thường tịch. Do tịch nên là chân, do chiếu nên là linh. Tịch là bất động, bất động sẽ chẳng thay đổi. V́ thế nói là “vô vi”. Chiếu là tùy duyên; tùy duyên ắt các pháp sanh. V́ thế nói là “vô bất vi”. Tịch là tâm thể, tâm thể là Chân Không. V́ thế nói là “vô tướng”. Chiếu là Dụng của tâm. Tác dụng của tâm khởi lên giả hữu; v́ thế nói là “vô bất tướng”.

 

          * Hỏi: Trong kinh Tứ Thập Nhị Chương có câu “sanh trung quốc nan”, câu này có nghĩa là ǵ? Hay là nói tên của một địa phương? (Trần Lâm Châu hỏi)

 

          Đáp: Chữ “trung quốc” chỉ quốc gia phồn vinh nhất trong một châu, hoặc nơi đô hội phồn vinh nhất trong một nước. Do là nơi đô hội, nên văn hóa ắt thịnh vượng, mà Phật pháp cũng dễ được nghe!

 

          * Hỏi: Câu “vô như ma ngưu” (無如磨牛)[4] trong kinh Tứ Thập Nhị Chương tỷ dụ điều ǵ? Có ư nghĩa ǵ? (Trần Lâm Châu hỏi)

 

          Đáp: Xưa kia, để chế biến ngũ cốc thành bột mịn, hoàn toàn dùng hai dụng cụ là xay và nghiền. Cối xay (ma, ) làm bằng đá, có hai tầng trên và dưới. Tầng trên có hai lỗ hổng, chuyên đổ ngũ cốc muốn xay vào đó. Tầng này hoặc dùng sức người đẩy, hoặc dẫn gia súc đi quanh kéo cho cối xay chuyển động, ngũ cốc đă đổ vào từ lỗ hổng ở trên sẽ bị xay thành bột chảy ra. Để đẩy cối xay, nước ta phần nhiều dùng lừa hay la; tại Ấn Độ, vào thời cổ, thường dùng trâu để kéo, cho nên gọi là “ma ngưu” (磨牛, trâu kéo cối xay).

 

          * Hỏi: “Bất đọa bàng sanh” giải thích như thế nào? “Thiên trung thiên” giải thích như thế nào? (Hà Khôn Mậu hỏi)

 

          Đáp: “Bàng sanh” (旁生) chính là súc sanh. Thiên có năm nghĩa:

          1) Một là Danh Thiên, như các vị vua trong loài người được tôn xưng là Thiên Tử.

          2) Hai là Sanh Thiên, như hai mươi tám tầng trời, là chỗ sanh về của người làm lành.

          3) Tịnh Thiên tức là chư thánh trong tam thừa.

          4) Nghĩa Thiên là các vị Bồ Tát từ Thập Trụ trở lên.

          5) Đệ Nhất Nghĩa Thiên chính là chư Phật.

          Chữ “thiên trung thiên” chỉ địa vị trời tối cực trong năm loại thiên. Đấy chính là tôn hiệu của Phật vậy.

 

          * Hỏi: Trong kinh Vô Lượng Nghĩa có nói: “Văn Như Lai thuyết thị kinh thời, hoặc đắc Noăn pháp, Đảnh pháp, Thế Gian Đệ Nhất pháp” (Khi nghe đức Như Lai nói kinh này, hoặc là đắc pháp Noăn, pháp Đảnh, hoặc pháp Thế Gian Đệ Nhất), ba pháp ấy nên giải thích như thế nào? (Phương Phấn Thanh hỏi)

 

          Đáp: Những pháp ấy được gọi là Tứ Thiện Căn, c̣n gọi là Tứ Gia Hạnh, do công phu đă đạt tới mức độ kha khá bèn có thể phát hiện. Noăn () là khi gần lửa, tức là sánh ví thánh đạo như lửa. Người gần lửa, ắt ấm; ư nói: Người tu đă dần dần gần đạo. Đảnh () là sánh ví đă đạt đến chỗ tối cao, nhưng có hai ngả tiến và thoái, vẫn phải nên đề pḥng thoái chuyển. Thế Đệ Nhất là nói đến trí huệ hữu lậu, đă đạt đến cực cảnh; tiến cao hơn, sẽ là vô lậu trí. Hữu lậu trí thuộc pháp thế gian, cho nên nói là Thế Đệ Nhất (世第一). Nhưng trước Thế Đệ Nhất c̣n có giai đoạn Nhẫn pháp, th́ mới họp thành con số bốn.

 

          * Hỏi: Xin hăy dạy về ư nghĩa “phi nhân kế nhân, phi quả kế quả” (chẳng phải là nhân mà coi là nhân, chẳng phải là quả mà coi là quả)? (Khoan Trạm hỏi)

 

          Đáp: Những điều này đều là những tà kiến được dấy lên bởi các chúng sanh mê hoặc. Xét ra, hễ cầu một loại kết quả [nào đó], ắt trước hết phải tu cái nhân ấy. Nếu chẳng phải là cái nhân ấy, cứ ngược ngạo tưởng thực hiện [cái nhân ấy sẽ đạt được kết quả mong muốn] th́ gọi là “phi nhân kế nhân” (chẳng phải là nhân mà coi là nhân). Đối với cái quả mong mỏi, hoàn toàn chẳng phải là rốt ráo, chân thật, ngược ngạo nhận lầm [cái quả ấy là chân thật, rốt ráo], th́ gọi là “phi quả kế quả” (chẳng phải là quả mà coi là quả). Ví như những giáo phái bí mật nhăng nhít, bịa đặt những lời lẽ yêu mị như “Phật Thích Ca thoái vị, Phật Di Lặc chưởng quản thiên bàn” v.v… để mê hoặc người khác. Bọn chúng nó chẳng có pháp chân thật, nếu lầm lạc tín phụng, đó chính là thuộc về loại tà kiến trước. C̣n như đối với nhân thiên tiểu quả, chẳng thoát khỏi lục đạo, chẳng phải là rốt ráo, thế mà coi sanh lên trời là tối thượng. Đấy chính là tà kiến thuộc loại sau.

 

          * Hỏi: Tôi chẳng hiểu rơ ư nghĩa “bất lạc nhân quả” (chẳng rơi vào nhân quả) và “bất muội nhân quả” (chẳng mê lầm nhân quả) cho lắm, xin thầy hăy khai thị. (Huệ Tŕ hỏi)

 

          Đáp: “Lạc” () nên hiểu là vướng mắc, “muội” () nên hiểu là mê muội.

 

          * Hỏi: “Quy y” có ư nghĩa ǵ? (Ngụy Khánh Chí hỏi)

 

          Đáp: Chữ “quy y” (皈依) chuyên dùng để gọi chuyện thâu nhận đệ tử trong nhà Phật. Các giáo khác chẳng thể dùng lẫn lộn được! V́ chúng sanh chẳng ĺa khỏi lục đạo luân hồi, giống như là ch́m đắm trong biển khổ, bỗng dưng biến thành người, trời, giống như ở trong nước ngoi đầu ra, hít một hơi, chuyện này được gọi là “đầu xuất” (頭出). Không lâu sau, chết đi, lại biến thành súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục, lại như gieo ḿnh xuống nước, ch́m đắm trong đó. Chuyện này được gọi là “đầu một” (頭沒). Nếu muốn thoát khỏi biển khổ ấy, ắt cần phải quay về nương cậy một người không ở trong biển khổ, nương cậy người ấy cứu ta thoát ra, cho nên gọi là “quy y”.

 

          * Hỏi: Tăng Bảo là ǵ? (Ngụy Khánh Chí hỏi)

 

          Đáp: Bất luận là người hay vật, thật sự có vạn đức vạn năng, cứu đại khổ đại nạn th́ mới gọi là Bảo (). Khổ nạn lớn nhất, không ǵ hơn sanh tử! Chuyện này chỉ có riêng ḿnh đức Phật làm được. V́ thế, Phật được gọi là Bảo. Phật độ chúng sanh hoàn toàn cậy vào giáo pháp, kinh điển. V́ thế, Pháp được gọi là Bảo. Người thay Phật giảng kinh, thuyết pháp, hóa độ chúng sanh chính là tỳ-kheo Tăng xuất gia. V́ thế, Tăng được gọi là Bảo.

 

          * Hỏi: “Đọa lạc” là ǵ? (Ngụy Khánh Chí hỏi)

 

          Đáp: Ư nói từ chỗ cao ngă xuống chỗ thấp. Ví như một kẻ đứng trên vách núi cao, bỗng dưng ngă xuống hố sâu. Đây là tỷ dụ kẻ đang từ thiện mà chuyển thành ác, hoặc là trước tu hành, sau đó thoái chuyển, giống như thế tục nói “trở thành kẻ hạ lưu” vậy!

 

          * Hỏi: “Phật tự” là ǵ? (Ngụy Khánh Chí hỏi)

 

          Đáp: Tại Trung Hoa, vào đời Hán, trong hết thảy các phủ thự của quan lại, có một cơ cấu gọi là Hồng Lô Tự (鴻臚寺)[5]. Hán Minh Đế sai người sang phương Tây cầu kinh, gặp hai vị tôn giả là Trúc Pháp Lan và Ca Diếp Ma Đằng, bèn mời hai Ngài dùng bạch mă chở kinh và tượng đến ở trong Hồng Lô Tự dịch kinh. Do vậy, bèn sửa Hồng Lô Tự thành Bạch Mă Tự, mang ư nghĩa kỷ niệm việc dịch kinh. Sau này, hễ là chỗ thờ Phật và Tăng cư trụ đều gọi là Tự.

 

          * Hỏi: Sách Pháp Hoa Văn Cú quyển bốn có câu: “Phổ diệu nhật, để đột đọa súc sanh”[6], chữ “để đột” (觝突) có nghĩa là ǵ? (Trần Lâm Huân hỏi)

 

          Đáp: “Để đột” giống như “xung đột” trong hiện thời, tức phẫn nộ đối với kẻ khác, hoặc là các thứ động tác bạo ác nơi ư hoặc miệng!

 

          * Hỏi: Trong Thích Thị Yếu Lăm[7] có nói: “Biện Ư Kinh hữu vân ngũ sự tác súc sanh” (Kinh Biện Ư có nói năm sự sẽ tạo thành quả báo súc sanh trong đời sau), chuyện thứ năm là: “Thường dĩ nhân duyên gian nan trai hội” (Thường tạo nhân duyên gây trở ngại cho pháp hội trai tăng), câu này có nghĩa là ǵ? (Trần Lâm Huân hỏi)

 

          Đáp: Để một chuyện được thành, cố nhiên cần phải có nhân duyên. Chuyện gây nên trở ngại, cũng là nhân duyên. Trai hội là chuyện tạo lợi ích cho chúng sanh trong Phật pháp. Nếu tạo chuyện ngăn trở, phá hoại, khiến cho chuyện ấy gặp khó khăn, chẳng thể thành tựu [th́ sẽ đọa làm súc sanh]. Đó là ư nghĩa của câu kinh trên đây.

 

          * Hỏi: Kinh Kim Cang, trong phần thứ chín là Nhất Tướng Vô Tướng, có nhắc đến Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm. Ba loại ấy là quả vị như thế nào? (Nhan Văn Bộc hỏi)

 

          Đáp: Trong bốn quả của Thanh Văn, quả tột cùng là La Hán. Tu Đà Hoàn (Srotāpanna) là Sơ Quả, bảy phen qua lại trong cơi nhân thiên bèn chứng La Hán. Tư Đà Hàm (Sakridāgāmi) là Nhị Quả, một phen sanh tử bèn chứng La Hán. A Na Hàm là Tam Quả (Anāgāmi). Ở trong Bất Hoàn Thiên (Śuddhāvāsa), bèn chứng La Hán.

 

          * Hỏi: Đức Phật nói ba loại xe là xe dê, xe nai, và xe trâu trắng, phân biệt như thế nào? Điều này có nghĩa là ǵ? (Phan Diệu Huyền hỏi)

 

          Đáp: Xe dê tỷ dụ Thanh Văn Thừa, xe nai tỷ dụ Duyên Giác Thừa, xe trâu trắng tỷ dụ Bồ Tát Thừa. Điều này mang ư nghĩa lớn, nhỏ, rốt ráo hay không mà thôi!

 

          * Hỏi: Trong “mười ác, tám tà”, tám tà có ư nghĩa như thế nào? (Phan Diệu Huyền hỏi)

 

          Đáp: Trong khoa thứ bảy của ba mươi bảy đạo phẩm là Bát Chánh Đạo. Nếu trái nghịch Bát Chánh th́ là Bát Tà.

 

          * Hỏi: Xin hăy giải thích giản lược về sự khác biệt giữa Đại Thừa và Tiểu Thừa trong Phật giáo? (Quách Lư A Diệp hỏi)

 

          Đáp: “Thừa” () là từ ngữ tỷ dụ thuyền hay xe. Tiểu là chỉ có thể chở chính ḿnh, Đại là chở thêm nhiều người khác. Đây là nói trong Phật pháp, tự học tự độ th́ gọi là Tiểu Thừa; tự hành, hóa độ người khác th́ gọi là Đại Thừa.

 

          * Hỏi: Liễu sanh thoát tử là ǵ? Hai chữ “sanh tử” chỉ luân hồi sanh tử, hay là bao gồm ư nghĩa nào khác? (Liên Vân Ban hỏi)

 

          Đáp: Sanh tử trong luân hồi lục đạo gọi là Phần Đoạn Sanh Tử. C̣n có một loại sanh tử ở ngoài lục đạo, gọi là Biến Dịch Sanh Tử. Về ư nghĩa của liễu thoát sanh tử, “liễu” () có nghĩa là đă kết thúc, “thoát” () là thoát ly. Nói gộp lại, tức là kết thúc và thoát khỏi sanh tử đó thôi!

 

          * Hỏi: Từ ngữ “thúc tu” (束修) giải thích như thế nào? (Trạch Mạnh Thu hỏi)

 

          Đáp: “Tu” () là cắt thịt thành từng miếng mỏng dài, phơi khô, “thúc” () là buộc lại. “Thúc tu” là một bó gồm mười miếng thịt khô. Thời cổ gặp nhau, ắt có vật biếu tặng. Thúc Tu chính là lễ vật nhẹ nhất.

 

          * Hỏi: Đối với pháp danh của vị thầy quy y, thêm vào hai chữ Thượng Hạ là do ư nghĩa ǵ? (Trạch Mạnh Thu hỏi)

 

          Đáp: Đối với tên của pháp sư người Hoa, về sau, phần nhiều thêm vào hai chữ ấy. Thêm chữ Thượng Hạ vào để nói chữ trước là ǵ, chữ sau là ǵ, nhằm thể hiện ư nghĩa cung kính, chẳng dám gọi thẳng tên.

 

          * Hỏi: Trong Thập Lực của Phật có Tri Chủng Chủng Giải Trí Lực và Tri Chủng Chủng Giới Trí Lực. Danh xưng của hai loại trí lực ấy giải thích đại lược như thế nào? Xin hăy chỉ dạy. (Đại Khoan hỏi)

 

          Đáp: Hết thảy chúng sanh, ai nấy đều có sự hiểu biết riêng, nhưng tri giải ấy có sâu, cạn, lớn, nhỏ thiên sai vạn biệt. Trí lực của Phật có thể biết thấu triệt trọn hết những tri giải khác biệt. Đó gọi là Tri Chủng Chủng Giải Trí Lực. Hết thảy chúng sanh, do tiếp xúc các thứ pháp trong thế gian, tự nhiên ai nấy đạt được cảnh giới [riêng biệt], cũng là thiên sai vạn biệt, đủ mọi lẽ chẳng đồng nhất, nhưng trí lực của Phật đều có biết thấu triệt các sự khác biệt vi tế. Điều này được gọi là Tri Chủng Chủng Giới Trí Lực.

 

          * Hỏi: Tứ Vô Sở Úy và Thập Bát Bất Cộng Pháp của Phật là những thứ nào? Xin hăy rộng ḷng phân biệt, khai thị. Bát Giải Thoát và Thập Bát Biến Hóa của A La Hán là những thứ nào? Xin hăy phân biệt, khai thị cho! (Đại Khoan hỏi)

 

          Đáp: Hỏi hai điều này bằng với bốn mươi tám câu hỏi! Đây cũng thuộc loại danh số, đều được chép trong Phật Học Từ Điển, hễ tra cứu, sẽ biết ngay. Nếu chỉ vâng theo câu hỏi để kể tên, sợ cũng chẳng thể liễu giải ư nghĩa. Nếu đối với mỗi điều đều ghi thêm lời giải thích, ắt sẽ thành một thứ trước tác chuyên biệt, chẳng phải là tánh chất của cột báo này, mà do giấy ít, cũng chẳng thể đăng tải được! Xin hăy thứ lỗi, rộng dung tôi chẳng thể vâng lời phúc đáp được! Tôi đặc biệt trích lục mấy điều, ḥng chứng tỏ câu nói “chẳng giải thích sẽ không thể hiểu được”. Đức Phật được gọi là Vô Sở Úy v́:

          1) Nhất Thiết Trí vô sở úy.

          2) Lậu Tận vô sở úy.

          3) Thuyết chướng đạo vô sở úy.

          4) Thuyết tận khổ vô sở úy.

          Mười tám món Bất Cộng như tam nghiệp vô thất, vô dị tưởng, vô bất tri dĩ xả v.v… Bát Giải Thoát là như nội hữu sắc tưởng quán ngoại sắc giải thoát, nội vô sắc tưởng quán ngoại sắc giải thoát, tịnh giải thoát thân tác chứng cụ túc trụ v.v… Nếu đại đức nghiên cứu những điều này, ắt phải có từ điển để tham khảo. Nếu chỉ muốn biết đơn giản, th́ có sách Pháp Tướng Cương Yếu, đọc sách ấy cũng có thể bổ túc đôi chút.

 

          * Hỏi: “Pháp sư, ḥa thượng, cư sĩ” giải thích như thế nào? Đối với người thọ giới học Phật trong quân đội th́ dùng từ ngữ ǵ để xưng hô? (Hoàng Quan Trung hỏi)

 

          Đáp: Người xuất gia thông thạo kinh điển, hoằng pháp th́ gọi là “pháp sư” nhưng cũng không cần phải câu nệ như vậy. Phàm là người xuất gia, đều có thể gọi là “pháp sư”, mang ư nghĩa tôn kính trọn khắp. Ḥa Thượng tức là tiếng Ấn bị phiên âm sai, có nghĩa “thầy của tôi”. “Cư sĩ” là tiếng để gọi người tại gia học Phật. Học Phật trong quân đội th́ vẫn dùng cách xưng hô trong quân ngũ, chớ nên đi theo đường lối khác lạ!

 

          * Hỏi: Vô Đẳng Đẳng A Nậu Đa La Tam Miệu Bồ Đề nghĩa là ǵ? Bồ Đề cũng chia thành nhiều cấp ư? (Lê Minh Thời hỏi)

 

          Đáp: Chính là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Giác có Thỉ Giác, tùy phần và rốt ráo sai khác. Như vầng trăng tỏa sáng, có các h́nh tượng như lưỡi liềm, thượng huyền[8], trăng tṛn v.v… Tâm b́nh đẳng cũng như vậy, hễ đức học tiến triển, cái tâm cũng b́nh đẳng cũng tiến triển theo [cho nên gọi tên sai khác. Suy như vậy sẽ] có thể hiểu điều này!

 

          * Hỏi: Tam thế chư Phật, phóng Mông Sơn, phóng Diệm Khẩu, quảng trường thiệt, đốt ngón tay hoặc thiêu cánh tay để cúng Phật, có năm loại địa ngục Vô Gián, Pháp Thân, Báo Thân, Ứng Thân, phân biệt như thế nào? (Hoàng Bá Kính hỏi)

 

          Đáp: “Tam thế Phật” là nói đến chư Phật trong quá khứ, hiện tại, vị lai. Phóng Mông Sơn và phóng Diệm Khẩu là phép thí thực trong Mật Tông. Do quỷ đạo thường đói, bèn dùng pháp lực để thí đồ ăn thức uống cho họ. Mông Sơn là địa danh[9], đấy là pháp Tiểu Thí Thực. Diệm Khẩu là tên của ngạ quỷ, pháp này là pháp Đại Thí Thực. “Quảng trường thiệt”: Đức Phật có ba mươi hai tướng, chẳng giống thường nhân. Lưỡi Phật vừa to rộng lại c̣n dài. Đốt ngón tay hoặc thiêu cánh tay cúng Phật: Đốt hương đặt trên ngón tay, “thiêu cánh tay” là đặt hương trên cánh tay rồi đốt, đều mang ư nghĩa dùng thân để cúng Phật. Ngũ Chủng Vô Gián là tên gọi của địa ngục (tức địa ngục A Tỳ). Vô Gián nghĩa là chịu khổ chẳng gián đoạn, có năm loại [Vô Gián]: Một là chịu khổ chẳng gián đoạn, hai là thân h́nh chẳng gián đoạn, ba là tội khí (罪器, dụng cụ để hành tội) chẳng gián đoạn, bốn là chúng sanh chẳng gián đoạn, năm là thời gian chẳng gián đoạn. “Pháp Thân, Báo Thân, Ứng Thân”: Pháp Thân là Chân Như bản tánh, Báo Thân là thân to lớn vạn phước trang nghiêm. Ứng Thân là tùy theo duyên của chúng sanh mà hiện thân chúng sanh.

 

          * Hỏi: Xin hăy giải thích ư nghĩa của các câu sau đây trong kinh Lăng Nghiêm: “Văn sở văn tận, tận văn bất trụ, giác sở giác không, không giác cực viên, không sở không diệt, sanh diệt kư diệt, tịch diệt hiện tiền” (Dần dần tiến lên như thế, cái Nghe và cái được Nghe[10] đều hết sạch, chẳng trụ nơi hết sạch cái Nghe, sự nhận biết (Giác) và đối tượng nhận biết (Sở Giác) đều không. Sự không giác ấy cực viên, không và sở không[11] đều diệt. Sanh và diệt đă bị diệt th́ tịch diệt hiện tiền). (Chung Quán Tĩnh hỏi)

 

          Đáp: Kẻ hèn này già cả hay quên. Những chương cú trong đoạn kinh Lăng Nghiêm này xuất phát từ quyển nào, nhất thời t́m không ra. Dẫu có t́m ra, dựa theo văn tự để hiểu câu kinh, chẳng tránh khỏi giải thích bộp chộp, nông cạn! Nếu giải thích tường tận ư nghĩa của đoạn kinh ấy, sẽ không thể vượt ra ngoài phạm vi của những bản chú giải cổ xưa được! Hơn nữa, cột báo này quá hẹp, cũng là t́nh thế nan giải! Tạm thời xin hăy dung thứ chẳng đáp. Hễ có duyên gặp mặt, sẽ dốc hết sức cống hiến vậy!

 

          * Hỏi: “Tâm tịnh, ắt cơi Phật tịnh”, thuận theo cái tâm tịnh mà cơi Phật bèn tịnh theo. “Tâm tịnh” là như thế nào, có nghĩa là ǵ? (Tiêu Thiệu Thanh hỏi)

 

          Đáp: Tâm và cơi Phật chẳng phải là hai sự. Do núi, sông, đại địa đều là một tí vi trần ở trong tâm. Càng phải nên biết: Cái tâm ấy chẳng phải là nói đến quả tim trong thân thể, mà là nói đến tâm tánh vô h́nh. Tâm tánh ấy từ nhiều kiếp đến nay, bị hết thảy phiền năo ô nhiễm dày đặc, cho nên bất tịnh. V́ thế, có các thứ hiện tướng (tướng biến hiện) ô uế. Như nước tù đọng sanh ra lăng quăng, gỗ mục sanh ra nấm, mốc. Nếu nước và gỗ chẳng hư mục th́ mới là nước tốt, gỗ tốt, sẽ chẳng có lăng quăng, nấm, mốc. Tâm đoạn phiền năo, đó là tịnh tâm, sẽ chẳng hiện ra tướng ô uế.

 

          * Hỏi: Lục Tổ đại sư nói: “Tam Độc chi tội nhất thời tiêu diệt” (Tội tam độc tiêu diệt trong một lúc) có ư nghĩa như thế nào? (Tiêu Thiệu Thanh hỏi)

         

          Đáp: Tam Độc là nói: Ư dấy lên tham, sân, si. Ba thứ ấy có thể gây tạo đủ mọi tội. Nếu đoạn trừ Tam Độc, các tội tự tiêu.

 

          * Hỏi: Như thế nào gọi là “trung gian”? Như thế nào gọi là “nhị biên”? Như thế nào gọi là Trung Đạo? (Tiêu Thiệu Thanh hỏi)

         

          Đáp: “Biên” () giống như ngoài ŕa của một vật thể. “Trung” () là như chính giữa vật thể. Trụ nơi Trung sẽ có thể trông thấy toàn thể. Trụ nơi Biên, chỉ có thể thấy phiến diện. Trung ví như chánh kiến, Biên ví như thiên kiến. Nhị Biên (二邊) chính là Thường Kiến và Đoạn Kiến của phàm phu. Lầm tưởng vô thường là thường, đó là Thường Kiến. Chẳng phải là diệt mà lầm tưởng là đoạn diệt, đó là Đoạn Kiến.

 

          * Hỏi: Sự sai khác giữa “phù trần căn”“thắng nghĩa căn” [là như thế nào]? (Hồ Chánh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Khí thể của mắt, mũi v.v… hiện ra ngoài gọi là “phù trần căn”, nguyên điểm có sẵn bên trong các khí quan th́ gọi là “thắng nghĩa căn”.

 

          * Hỏi: Tam Như Lai Tạng giải thích trọn vẹn sẽ là như thế nào? Xin hăy dùng các thí dụ để chứng tỏ! (Hồ Chánh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Có thể dùng cổ kính (古鏡, tấm kiếng xưa) để làm tỷ dụ. Mặt gương bị bụi phủ kín, đấy chính là ư nghĩa Ẩn Phú (che giấu) của Như Lai Tạng. Tuy thể chất bị che, ánh sáng của gương chẳng bị diệt. Do Thể chẳng diệt, cho nên chứa đựng công năng tỏa sáng, đấy chính là ư nghĩa “năng nhiếp” của Như Lai Tạng. Ánh sáng nương vào thể chất của gương, bụi dơ cũng nương vào thể chất của gương, tức là cổ kính đă chứa đựng quang minh và bụi trần, đấy chính là ư nghĩa Sở Nhiếp của Như Lai Tạng. Sự tuy ba, mà Lư thật ra là một. Dựa theo Lư để nói về Sự, chính là “viên giải” vậy.

 

          * Hỏi: Đối với từ ngữ Nhất Hiệp Tướng trong kinh Kim Cang, năm mươi ba vị chú giải đều dùng Tánh để giải thích, nhưng Giang cư sĩ (Giang Vị Nông) lại dùng Tướng để giải thích, rốt cuộc nên lấy vị nào làm chuẩn? (Hồ Chánh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Người giải thích th́ “người nhân thấy là nhân, người trí thấy là trí”. Mỗi vị có kiến giải riêng. Ư của kẻ hèn này là cũng nên dùng tướng để giải thích.

 

          * Hỏi: Trong Phổ Môn Phẩm Giảng Thoại (do pháp sư Tinh Vân dịch) có chép “ba mươi ba thân”, tôi chưa thể liễu giải, dám xin hăy chỉ dạy! (Long Văn Thái hỏi)

 

          Đáp: Đây là sự bất đồng giữa các học giả Trung Hoa và Nhật Bản trong cách phân tích cú pháp [chánh kinh trong phẩm Phổ Môn]. Tra cứu th́ thấy tác phẩm do pháp sư Tinh Vân dịch vốn là trước tác của Sâm Hạ Đại Viên (Morishita Daien) người Nhật. Ba [ứng thân] thuộc địa vị thánh nhân (Phật, Duyên Giác, Thanh Văn), sáu thân trời (Phạm Vương, Đế Thích, Tự Tại Thiên, Đại Tự Tại Thiên, Thiên đại tướng quân, Tỳ-sa-môn), năm thân người (tiểu vương, trưởng giả, cư sĩ, tể quan, Bà-la-môn), thân tứ chúng (tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di), hai thân trẻ con (đồng nam, đồng nữ), một thân thần Chấp Kim Cang, giống như chủ trương của các vị sư Trung Hoa. Chỗ sai khác trong kiến giải là đối với hai loại thân nữ và thân tám bộ. Các vị sư người Hoa chú trọng kết cấu của kinh văn theo ngữ khí hiện thân, v́ trong đoạn nói về phụ nữ của phẩm ấy có câu “tức hiện phụ nữ thân”, cho nên chỉ tính thân nữ là một loại. Đối với đoạn tám bộ, v́ sau đó c̣n có hai loại là nhân và phi nhân, rồi câu kết thúc là “tức giai hiện chi” (thảy đều hiện ra), chữ “giai” là nói đến tất cả những loại đă liệt kê trên đây. Do trên đây đă kể mười loại, nên [các loại hiện thân] sẽ được mở rộng thành mười loại. Ông Sâm Hạ Đại Viên chia phụ nữ thành bốn loại lớn, lại gạt bỏ nhân, phi nhân [trong phần thiên long bát bộ], chỉ kể [tất cả các loại hiện thân] là tám loại. Tính theo hai lối, học giả người Hoa tính gộp thành ba mươi hai [ứng thân], c̣n học giả Nhật Bản tính gộp thành ba mươi ba.

 

          * Hỏi: Xin thầy dạy rơ hai chữ Đại Tạng? (Châu Huệ Đức hỏi)

 

          Đáp: Tạng () có nghĩa là chứa đựng, bao hàm. Ư nói: Những sách vở ấy, văn, nghĩa, sự, lư đều bao hàm trọn hết. Đại () có nghĩa là rộng lớn. Nói gộp lại, nghĩa là hết thảy văn, nghĩa, Sự, Lư trong Phật pháp đều được bao hàm trọn hết trong ấy.

 

          * Hỏi: Pháp chỉ có một thừa duy nhất, cần ǵ phải lắm lời nói ra ngũ thừa? Con số năm ấy là như thế nào? (Lại Diệu Canh hỏi)

 

          Đáp: Nói Ngũ Giới khiến cho [chúng sanh nghe pháp, tu hành], đạt được cái quả làm người. Nói Thập Thiện ḥng đạt được quả trong cơi trời. Nói Tứ Đế ḥng chứng Thanh Văn. Nói Thập Nhị Nhân Duyên ḥng chứng Duyên Giác. Nói Lục Độ ḥng từ [hạnh] Bồ Tát mà chứng đắc cực quả. Đấy là Ngũ Thừa. Căn tánh của chúng sanh có nhỏ, lớn, lợi, độn. Không nhờ vào phương tiện, ắt sẽ chẳng thể phổ độ.

 

          * Hỏi: Trong bộ Lăng Nghiêm Giảng Nghĩa, phần kinh văn nơi trang một trăm tám mươi sáu có câu “cùng tận Doanh Bột” khó thể thấu hiểu! (Hồ Chánh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Đây chính là danh từ mà các nhà văn học Trung Hoa dùng để h́nh dung biển cả. Doanh () là biển rộng, Bột () là chính là biển Trung Hoa (Bột Hải)[12]. Để giải thích câu văn, cần phải liên kết với những đoạn văn trước và sau đó. Nếu không, sẽ phạm sai lầm. Giải thích theo ư nghĩa của cả đoạn, [pháp sư Viên Anh] có ư nói: Nhận lầm một cái bọt nước là toàn thể biển cả vậy!

 

          * Hỏi: Đối với câu “tất kiến viên măn, hà xứ ḥa minh? Nhược minh viên măn, bất hợp kiến ḥa” (ắt thấy viên măn, c̣n có chỗ nào để cái sáng suốt ấy ḥa hợp? Nếu sự sáng suốt đă viên măn, chẳng nên thấy sự ḥa hợp [với sự sáng suốt] nữa) nơi trang hai trăm tám mươi tám trong sách Lăng Nghiêm Giảng Nghĩa, xin hăy giải thích tường tận! (Hồ Chánh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Văn nghĩa trong đoạn văn ấy rất dài. Cần phải bắt đầu xem từ đoạn trước đó: Ngài A Nan trả lời đức Phật, chấp vào giác tánh tự nhiên. Đức Phật dùng chuyện sáng, tối, rỗng rang hay nghẹt cứng để nhắc nhở, từng đoạn phá chấp [cho ngài A Nan, v́ Ngài cho rằng tâm ở] trung gian, là nhân duyên, tự nhiên, hoặc là tướng ḥa hợp, cho tới chỗ này. Bốn câu ấy vẫn nhằm phá chấp. Xin hăy nghĩ xem: “Viên măn” th́ ắt vốn là một Thể thuần nhất, c̣n “ḥa” th́ ắt phải có hai, ba cái Thể! Đại ư là nói: Hễ đă thấy viên măn, sẽ chẳng có tướng ḥa hợp. Nếu mong giải thích tường tận, sợ rằng nói càng nhiều, càng tăng thêm phiền năo! Chẳng bằng đối với một đoạn lớn này, hăy đọc trọn hết từ đầu đến đuôi, ngay cả phần tiểu chú cho bốn câu này, hăy đọc mười mấy lượt, sẽ có ngộ xứ.

 

          * Hỏi: Trong Lăng Nghiêm Giảng Nghĩa, nơi trang sáu trăm hai mươi mốt, đức Phật nói kệ rằng: “Giải kết nhân thứ đệ, lục giải, nhất diệc vong” (Tháo nút theo thứ tự. Tháo sáu, một cũng mất). Sư Viên Anh nói sáu nút thắt (lục kết) là do Ngũ Uẩn hợp thành. Tôi trộm nghĩ: Cũng có thể nói là do sáu căn hợp thành, như mười phương Như Lai đă tán thán rằng: “Trôi nổi sanh tử, chứng Bồ Đề, chỉ do sáu căn”. Cư sĩ nghĩ [tôi nói vậy] có đúng hay không? (Hồ Chánh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Ngũ Uẩn quy nạp thành hai pháp Sắc và Tâm, chẳng bao trùm trọn hết sáu căn ư? Cách giải thích của pháp sư Viên Anh là dùng Ngũ Uẩn phối hợp với tám thức, Tâm Ấm gồm bốn kết, Sắc Ấm gồm hai kết. Nếu chỉ [hiểu “lục kết” trong đoạn kinh văn trên đây] là “lục căn” th́ hai thứ thứ bảy và thứ tám sẽ không có chỗ nào để đặt định được!

 

          * Hỏi: Lại nữa, xét theo h́nh tướng, sáu món kết ấy liên kết cùng một chỗ, hay là mỗi kết trong sáu kết có chỗ riêng? Lại chữ “nhất” trong câu “nhất diệc vong” (một cũng mất) là nói về bản thể của cái khăn ư? Hay là nói đến món kết thứ nhất? (Hồ Chánh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Câu hỏi này chính là tự cầu chấp trước. Xin hăy t́m một cái khăn, thắt thành sáu nút. Chúng nó liên kết, hay mỗi nút có chỗ riêng? Hăy nh́n kỹ, nghĩ kỹ, sẽ có thể thấu hiểu. Chữ Nhất trong câu “nhất diệc vong” là nói đến một trong sáu nút nguyên thủy. Sáu nút đă được tháo, làm sao có nút thứ nhất nữa!

 

          * Hỏi: Như Lai Tạng vốn sẵn thanh tịnh, trọn khắp pháp giới. Y báo và chánh báo là do cái Thấy bị bệnh mà thành, không ǵ chẳng là theo nghiệp mà phát hiện! Như thế th́ tôi nghĩ mười phương cơi Phật cũng giống như vậy. Ngay như thế giới Cực Lạc của Phật Di Đà cũng là do cái Thấy bị bệnh mà thành ư? (Hồ Chánh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Cực Lạc có cơi Thường Tịch Quang vốn chẳng thể diễn tả được, chẳng thể bàn luận được. Do các căn lợi độn, cho nên thuyết pháp có Quyền, Thật. Tuy có hai tên gọi Quyền và Thật, nhưng lại chẳng thể tách rời. Những nghị luận cao sâu này, thật sự chẳng phải v́ hàng sơ cơ mà nói. Như có kẻ nghèo chịu đói đă mười ngày, trước mắt có rau xanh, đậu hủ chẳng chịu ăn, ắt đ̣i phải có tay gấu để tự nướng th́ mới chịu ăn uống, sẽ biết là kẻ đó chắc chắn chết đói vậy!

 

          * Hỏi: Như theo ư nghĩa trong câu hỏi trên đây, nếu bỏ vọng quay về chân, ắt y báo và chánh báo phải nên tiêu mất, trọn chẳng thể được, chỉ là một cảnh tịch mịch. Ǵ là tam thân Phật? Ǵ là ba cơi Phật? Không ǵ chẳng phải là hoa đốm trên không, bóng trăng soi dưới nước! Niệm Phật văng sanh đích thực là vọng tưởng. Ư ấy là như thế nào? (Hồ Chánh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Trong kinh có những lời thuộc về tự giác, tự lợi, mà cũng có những lời nhằm giác tha, lợi tha, đều là nhân thời tiết, nơi chốn, [căn cơ] của mỗi người mà vận dụng khác nhau. Tịch Quang Pháp Thân chính là thật thể tự lợi, tự giác. Báo, Hóa, Tịnh, Uế là diệu dụng giác tha, lợi tha. Nếu không hiểu rơ các duyên như thời tiết, nơi chốn, con người, sẽ chẳng khế cơ. Chớ nên chấp vào một điều để rồi nẩy sanh sai lầm!

 

          * Hỏi: [Kinh Lăng Nghiêm] hội bốn khoa[13], dung hợp thất đại, không ǵ chẳng nhằm chỉ ra “tâm và vật như một, Như Lai Tạng tướng vọng, tánh chân”. Đă là như thế, câu “tưởng vật là chính ḿnh, tự chuốc lấy luân hồi” lại nhằm nói lên ư nghĩa ǵ? (Hồ Chánh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Hết thảy chỉ do tâm tạo, [cho nên] có thể biết tướng chính là tâm. T́nh và vô t́nh cùng viên thành Chủng Trí, há có ǵ tự chuốc lấy luân hồi?

 

          * Hỏi: Trong ruộng tám thức chứa đựng vô lượng chủng tử của sắc và tâm. Khi những chủng tử ấy dấy lên hiện hành, mỗi thứ sẽ có tướng trạng như thế nào? (Hồ Chánh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Hữu t́nh thế gian và khí thế gian chính là tướng trạng của chúng!

 

          * Hỏi: Trong thân chúng sanh chứa đựng các loại trùng. Những loài trùng ấy có thần thức hay không? Nếu có, chúng có cùng một thức hay khác thức với thân thể mà chúng sống nhờ? Những loài trùng ấy lại do nhân duyên ǵ mà sống nhờ trong thân chúng sanh? (Hồ Chánh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Một cội cây cành nhánh xanh tươi, hoa thơm, quả ngọt, các thứ bất đồng. Xin hăy thử nghĩ, nước và không khí mà nó có được là giống nhau hay khác nhau? Nếu hỏi do nhân ǵ mà sống nhờ trong thân chúng sanh th́ [nguyên nhân sẽ là] thiên sai vạn biệt, càng khó thể nói khái lược được! Nói tổng quát một câu, sẽ là: “Hễ có chánh báo, ắt có y báo”.

 

          * Hỏi: Trong chín điều nghi nan trên đây, trừ hai câu tám và chín ra, những câu c̣n lại chính là những chỗ hậu học chẳng lư giải đối với kinh Lăng Nghiêm, kính xin khai thị! (Hồ Chánh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Kẻ sơ học chẳng thể hiểu kinh Lăng Nghiêm! Ắt là phải sau khi đă nghiên cứu Bát Nhă, Duy Thức, lại vừa xem chú giải để cầu ngộ, so với nghe người khác giảng giải để hiểu trực tiếp th́ vẫn dễ thâm nhập hơn! Nếu văn học lẫn triết học đều chẳng có nền tảng, chỉ âm thầm ṃ mẫm, sẽ bị tổn hại, vô ích! Nói thật ra, kẻ hèn này đối với kinh này cũng là dựa theo văn từ để suy đoán ư nghĩa, khiến cho tam thế chư Phật oan uổng! Tệ ư cho rằng: Cư sĩ hăy tạm thời gác lại, trước tiên là nghiên cứu tánh tướng, đă có ngộ xứ rồi mới lại xem [Lăng Nghiêm], sẽ chẳng trễ!

 

          * Hỏi: Trong phẩm Phổ Môn có mấy chữ “Càn Thát Bà, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già”, tôi chưa hiểu danh nghĩa, mong đại đức hăy chỉ dạy từng điều ḥng tăng huệ lực! (Nhan Khoan Văn hỏi)

 

          Đáp: Bốn danh từ ấy đều là tiếng Phạn, một dịch là Nhạc Thần, hai dịch là Kim Sí Điểu, ba dịch là Ca Thần, bốn dịch là Măng Thần (thần rắn).

         

          * Hỏi: Câu “Sắc tức là Không” trong Tâm Kinh đại khái là nói Tướng có, Thể là Không, c̣n dễ hiểu. Nhưng “Không chính là Sắc”, tức là đối với chỗ không có ǵ, bèn bảo nó là Sắc, Lư chẳng dễ thông! Hy vọng cụ sẽ nêu thí dụ để giải thích những điểm chánh yếu trong hai câu ấy! (Trần Hiểu Phong hỏi)

 

          Đáp: “Sắc chính là Không”, ư nói: Hễ có tướng th́ tánh thể của nó là Không, thật sự “bất biến”. Ví như nước là tướng hiển nhiên, vẫn là do những thứ khinh khí (hydrogen) và dưỡng khí (oxygen) dường như là vô tướng làm duyên sanh ra. Cho nên có thể nói nước chính là khinh khí và dưỡng khí. “Không chính là Sắc” ư nói tánh của vô tướng là Không, đối với những cái có tướng bèn có thể tùy duyên. Ví như khinh khí và dưỡng khí dường như là vô tướng mà có thể làm duyên tạo thành tướng nước hiển hiện, có thể nói khinh khí và dưỡng khí chính là nước vậy!

 

          * Hỏi: Đối với hai câu Không và Sắc, cụ đă lập tỷ dụ để trả lời, đương nhiên là cảm kích, nhưng sợ ngôn từ nhiều, khó ghi nhớ! Nếu có thể ngoài tỷ dụ ấy, dùng ngôn ngữ đơn giản để giảng rơ, khiến cho người khác dễ nhớ, sẽ càng cảm kích hơn nữa! (Trần Hiểu Phong hỏi)

 

          Đáp: Ở đây là nói Chân Không Diệu Hữu là một, chẳng phải hai, là Trung Đế chẳng thiên lệch. Sâm la sắc tướng vẫn là tánh Không chân thật bất biến. V́ thế, nói Sắc chính là Không. Chân Như tánh Không có thể tùy duyên biến huyễn sắc tướng. V́ thế nói “Không chính là Sắc”.

 

          * Hỏi: Những người xuất gia thường thêm chữ Thích vào trước danh tự, điều này biểu thị họ là pháp tử của đức Thích Tôn, nhưng cư sĩ tại gia, trước pháp hiệu nếu cũng thêm vào chữ Thích th́ không biết có được hay không? Hay là chỉ dành riêng cho hàng xuất gia? (Nhan Văn Bộc hỏi)

 

          Đáp: Kẻ tại gia là hàng cận sự nam nữ, chẳng thuộc vào Tăng đoàn, chớ nên lạm dụng.

 

          * Hỏi: Phần thứ mười bốn tức Ly Tướng Tịch Diệt trong kinh Kim Cang có câu: “Bồ Tát ưng ly nhất thiết tướng, phát A Nậu Đa La Tam Miệu Bồ Đề tâm. Bất ưng trụ Sắc sanh tâm. Bất ưng trụ Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp sanh tâm. Ưng sanh vô sở trụ tâm. Nhược tâm hữu trụ, tắc vi phi trụ. Thị cố Phật thuyết Bồ Tát tâm, bất ưng trụ Sắc bố thí” (Bồ Tát hăy nên ĺa hết thảy sắc tướng, phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, chớ nên trụ vào Sắc để sanh tâm, chớ nên trụ vào Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp để sanh tâm. Hăy nên sanh cái tâm chẳng trụ vào đâu. Nếu tâm có chỗ trụ, sẽ chẳng phải là Trụ. V́ thế, Phật nói tâm Bồ Tát chớ nên trụ vào Sắc để bố thí). Chữ Trụ trong đoạn này hăy nên giải thích như thế nào? (Nhan Văn Bộc hỏi)

 

          Đáp: “Trụ” có nghĩa là đặt yên ở nơi ấy.

 

          * Hỏi: “Hư không, chân không, Thật Tướng, pháp giới, vũ trụ”, năm điều diệu nghĩa trên đây sai khác như thế nào? Dám xin cụ hăy chia thành từng đoạn để giải thích từng điều một cho tôi được hiểu? (Ngô Luân Bỉnh hỏi)

 

          Đáp: “Hư không” (虛空) là nói tới không gian. “Vũ” () nghĩa là bốn phương, trên, dưới, “trụ” () là nói từ xưa đến nay. Gộp hai chữ ấy lại, sẽ thành không gian và thời gian; đây vốn là danh từ vốn có trong văn học nước ta. Ba chữ kia đều nói tới bản tánh. “Chân Không” (真空) là nói về Thể, Thật Tướng (實相) chỉ h́nh trạng, “pháp giới” (法界) chỉ Dụng. Đó là những danh từ chuyên dụng trong Phật học.

 

          * Hỏi: Câu Sanh Ngă Chấp và Câu Sanh Pháp Chấp có phải là giống như một thứ Ngă Pháp Chấp vốn có từ lúc sanh ra hay không? Hay là nói về một pháp nào đó? (Ví như Kiến Phần, Tướng Phần v.v…)? (La Đức Chương hỏi)

 

          Đáp: Đă nói là Ngă Chấp và Pháp Chấp th́ Kiến Phần và Tướng Phần đều được bao gồm trong ấy.

 

          * Hỏi: Trong bài Già Lam Tán của sách Khóa Tụng, câu đầu tiên có sách ghi là “già-lam chủ giả” (đấng làm chủ chốn già-lam), có sách ghi là “già-lam thánh chúng”, câu nào thích hợp với pháp môn Tịnh Độ? (Ôn Văn Thụy hỏi)

 

          Đáp: “Chủ giả” (主者) tức là xưng tụng thần Già Lam là người đứng đầu trong chùa. “Thánh chúng” (聖眾): Do thần Già Lam chẳng phải là một vị, nên gọi là “thánh chúng”. Lại nữa, nhà Phật c̣n gọi một người là “một chúng”. Ở đây nói thần Già Lam là người thuộc về bậc thánh th́ cũng hợp lư. Đối với hai cách xưng hô ấy, tùy ư chọn lấy một cách, đều chẳng có ǵ không thích hợp.

 

          * Hỏi: Câu đầu tiên trong kinh A Di Đà là “như thị ngă văn” tức là nói do vị tôn giả nào chứng minh? Có phải là tôn giả A Nan hay không? (Ôn Văn Thụy hỏi)

 

          Đáp: Chính là vị tôn giả ấy.

 

          * Hỏi: Kinh Bát Nhă nói “do ngoài tâm không có pháp, nên Không chính là Sắc. Do ngoài pháp chẳng có tâm, nên Sắc chính là Không. Lại nữa, Sắc chẳng khác Không, tức chẳng phải là hữu tướng. Không chẳng khác Sắc, tức chẳng phải là vô tướng”. (Vương Kế hỏi)

         

          Đáp: Đấy chính là trích dẫn kinh khác để giải thích bốn câu “Không, Sắc” trong Tâm Kinh. Trong lời ông hỏi, câu một và ba nhằm giải thích câu thứ hai và câu thứ tư. Câu thứ sáu và thứ tám nhằm giải thích hai câu thứ năm và thứ bảy. Nhưng Lư trong lời giải thích cũng quá sâu, chắc là kẻ sơ học chẳng thể hiểu được, nay tôi miễn cưỡng giải thích đại lược. Vạn pháp đều là huyễn tượng (幻象, những h́nh tượng hư huyễn) do tâm tạo; v́ thế nói “ngoài tâm chẳng có pháp”, nhưng các huyễn tượng ấy đều do tâm biến. Do đó, nói “ngoài pháp chẳng có tâm”. Sắc nương vào những điều khác để dấy lên, hoàn toàn chẳng có tự thể, tức là “phi hữu tướng”. Không chứa đựng Diệu Hữu, tức là “phi vô tướng”.

 

          * Hỏi: Pháp sư Ấn Quang nói “A Già Đà dược” là ǵ? (Hà Vĩnh Đinh hỏi)

 

          Đáp: Chính là một loại linh dược ở đất Ấn, trị được bách bệnh.

 

          * Hỏi: Lục Phương Phần, Thành Thật Đại Thừa, và Tam Luận khác biệt với Tam Luận Tông như thế nào? (Thái Minh Cốc hỏi)

 

          Đáp: Lời hỏi của ông chẳng chỉ rơ chỗ xuất xứ, do chẳng thể biết phần kinh văn trước và sau đó, tự nhiên là chẳng thể do đâu mà đáp được. Nay tôi chỉ dựa theo văn tự để suy đoán ư nghĩa mà trả lời. Thành Thật Luận thuộc về Không Tông trong Tiểu Thừa, cách lập luận trong luận ấy khá giống với Đại Thừa, có lẽ là có người gọi bộ luận ấy là Thành Thật Đại Thừa. Tam Luận là nói đến ba bộ sách Trung Luận, Thập Nhị Môn Luận và Bách Luận. Tam Luận Tông chính là tông phái nương theo ba bộ sách để học tập. Tây Thổ (Ấn Độ) tôn ngài Văn Thù làm Sơ Tổ [của tông ấy], Đông Độ th́ tôn ngài La Thập làm Sơ Tổ. Cũng như người nương theo kinh Hoa Nghiêm để học tập th́ gọi là Hoa Nghiêm Tông, nương theo ba kinh Tịnh Độ để tu học th́ gọi là Tịnh Độ Tông, có cùng một ư nghĩa. Đối với lời hỏi về Lục Phương Phần, ắt phải biết phần kinh văn tiếp th́ mới có thể nói năng được!

 

          * Hỏi: Phật trong cơi Thật Báo Trang Nghiêm là vi trần tướng hải thân, trong cơi Phương Tiện Thánh Cư là giải thoát tướng nghiêm thân, trong Tây Phương An Lạc Độ là Đại Thừa căn giới thân (xem nghi thức niệm tụng của Linh Nham, trang một trăm hai mươi ba). Thanh Tịnh Đại Hải Chúng lại là măn phần nhị nghiêm thân. Mấy loại thân ấy được giải thích như thế nào? Xin hăy khai thị. (Đại Khoan hỏi)

 

          Đáp: “Vi trần” nhằm sánh ví đông nhiều, Hải tỷ dụ rộng lớn vô biên, tức là có ư nói: Các cơi nước nhiều vô biên như số vi trần, thân Phật đều dung chứa trọn khắp, nên gọi là “vi trần tướng hải thân”. Tam giới cửu hữu, chẳng có ǵ không nhiếp độ, nên gọi là “Đại Thừa căn giới thân”. Hai thứ phước huệ viên măn trọn đủ để trang nghiêm thân ấy, nên gọi là “măn phần nhị nghiêm thân”.

 

          * Hỏi: Cuối bài đại sám hối có câu “như thị tứ pháp quảng vô biên” (bốn pháp như thế rộng vô biên); bốn pháp ấy là những thứ nào? Xin hăy chỉ dạy! (Đại Khoan hỏi)

 

          Đáp: Đấy là nói tới hai câu trước đó: “Năi chí hư không thế giới tận, chúng sanh cập nghiệp phiền năo tận” (cho đến hư không, thế giới hết chúng sanh và nghiệp năo đều hết). Chính là bốn pháp thế giới, chúng sanh, nghiệp, và phiền năo. [Những câu này] xuất phát từ phần kệ tụng trong Hoa Nghiêm Hạnh Nguyện Phẩm, nghĩa là: Do bốn pháp ấy chẳng có cùng tận, nguyện của Bồ Tát cũng chẳng hề cùng tận!

 

          * Hỏi: Một, Sự Lư vô ngại pháp giới, hai, đồng thời cụ túc tương ứng môn, ba, nhất đa tương dung bất đồng môn, bốn, chư pháp tương tức tự tại môn, năm, nhân đà la vơng vi tế cảnh giới môn, sáu, vi tế tương dung an lập môn, bảy, quảng hiệp tự tại vô ngại môn, tám, thập thế cách pháp dị thành môn, chín, chủ bạn viên minh cụ đức môn, mười, thác sự hiển pháp sanh giải môn. Mười điều kể trên đây có phải là phương hướng để thực hành giáo pháp Đại Thừa hay không? Xin giải thích, chỉ dạy! (Cao Thanh Tiêu hỏi)

 

          Đáp: Mười điều như ông đă hỏi được gọi là Thập Huyền Môn, do Hoa Nghiêm Tông lập ra. Do Hoa Nghiêm huyền diệu, sâu thẳm như biển. Thông qua mười nghĩa ấy, có thể tiến nhập. Đích xác [mười huyền môn ấy] là phương hướng của Đại Thừa, nhưng kẻ sơ học chẳng thể liễu giải, càng chẳng phải là kẻ bên ngoài có thể lén nḥm trộm muôn một được! Vẫn mong ông hăy tạm chớ bàn đến những điều cao siêu ấy, sợ có kẻ hiếu sự dựa vào đó để giải thích sai lầm, khoe khoang, khiến cho đại chúng lầm lạc. Xét theo những điều được ghi chép trong sách Tham Huyền Kư, hoàn toàn chẳng có điều “Sự Lư vô ngại pháp giới”. Chín điều kia tương đồng, một điều khác biệt là “bí mật ẩn hiển câu thành môn”.

 

          * Hỏi: A Bệ Bạt Trí là nói tới căn khí ngu dại phải không? Đối với câu “nhược dĩ sanh, nhược kim sanh, nhược đương sanh” giải thích như thế nào? (Lâm Kim Liên hỏi)

 

          Đáp: Câu ấy là tiếng Phạn, dịch sang tiếng Hán là Bất Thoái Chuyển. Tức là sanh về cơi ấy, hết thảy tu nhân (修因, cái nhân tu tập) và quả vị chỉ có tiến cao hơn, quyết chẳng lui sụt! Chẳng phải như những người tu hành trong thế giới này, “tiến ba bước, lùi hai bước” là chuyện đương nhiên. Ba câu kế tiếp mang ư nghĩa thừa tiếp ba câu “nhược dĩ nguyện, nhược kim nguyện, nhược đương nguyện”, nhằm nói: Những người đă phát nguyện th́ đă có người văng sanh. Người hiện thời phát nguyện th́ cũng có người văng sanh trong hiện thời. Người phát nguyện sẽ văng sanh trong tương lai th́ trong tương lai, cũng sẽ nhất định văng sanh.

 

          * Hỏi: “Nhị lục thời trung” nghĩa là ǵ? (La Đức Chương hỏi)

 

          Đáp: Một ngày đêm có tất cả mười hai thời thần[14], chia thành sáu thời ban ngày, sáu thời ban đêm. V́ thế nói “nhị lục thời trung” (trong mười hai thời).

 

          * Hỏi: Phật pháp chia thành Tạng, Thông, Biệt, Viên, Tứ Đế cũng chia thành bốn loại. Trừ Sanh Diệt Tứ Đế ra, xin hăy chỉ dạy đại lược về ư nghĩa của ba loại kia. (Tưởng Tuấn Nghĩa hỏi)

 

          Đáp: Bốn loại Tứ Đế trừ Sanh Diệt ra, những loại khác là Vô Sanh, Vô Lượng, và Vô Tác. Do cảnh giới liễu giải của các giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên bất đồng, cho nên mỗi giáo thấy Tứ Đế sâu hay cạn sai khác. Thông Giáo hiểu rơ bản thể của Khổ, Tập, Đạo đều là Không. Do đă không thấy sanh diệt, nên gọi là Vô Sanh. Biệt Giáo hiểu rơ Khổ Đế có vô lượng tướng, Đạo Đế có vô lượng sai biệt, tu học nhằm đoạn Trần Sa, nên gọi là Vô Lượng. Viên Giáo đă hiểu rơ phiền năo chính là Bồ Đề, sanh tử chính là Niết Bàn, đối với Khổ Đế và Diệt Đế chẳng dấy lên tạo tác, nên gọi là Vô Tác. Đấy là nói đại lược vậy!

 

          * Hỏi: Phàm là trong bài những văn tâu tŕnh trong khi làm công đức, thường viết “nhất sái thiên hạ, Nam Thiệm Bộ Châu” chính là nói đến Trung Hoa, hay là ngoài Trung Hoa ra, c̣n bao gồm những nơi khác? Chữ “sái” giải thích như thế nào? (Trương A Long hỏi)

 

          Đáp: Phật học nói đến vũ trụ, theo cơ cấu giả định, mỗi châu trong bốn đại châu được gọi là một “thiên hạ”. Xét ra, đoạn văn ấy có ư nghĩa nói đến một thiên hạ thuộc về Nam Thiêm Bộ Châu. Nam Thiệm Bộ Châu chính là địa cầu nơi chúng ta đang sống, Trung Hoa bất quá là một phần trong châu ấy đó thôi! “Sái” () có nghĩa là dùng nước rưới vẩy. Có lẽ là trong bài tâu tŕnh có chữ “cam lộ pháp vũ” (mưa pháp cam lộ) nên nói là “sái” vậy!

 

          * Hỏi: Kinh Viên Giác, quyển Hạ, trang bốn mươi tám có nói: “Nếu thỉnh Bồ Tát dùng sức biến hiện vô ngại để đoạn phiền năo, an trụ nơi tĩnh lặng tột cùng. Vị Bồ Tát ấy được gọi là: Trước hết, tu Tam Ba Bát Đề, khoảng giữa tu Thiền Na, sau là tu Xa Ma Tha”. Ba câu Tam Ma Bát Đề, Thiền Na, và Xa Ma Tha dịch sang tiếng Hán như thế nào? (Vô Danh Thị hỏi)

 

          Đáp: Tam Ma Bát Đề (Samāpatti) dịch sang tiếng Hán là Đẳng Chí (等至), chính là một loại Thiền Định, nghĩa là khi đă định, tâm sẽ ĺa hôn trầm và điệu cử, đạt được b́nh đẳng, an ḥa, nên gọi là Đẳng Chí. Thiền Na (Dhyāna) là tên gọi đầy đủ của Thiền, Hán dịch là Tĩnh Lự. Tĩnh () có nghĩa là Định, Lự () có nghĩa là Huệ. Theo đúng pháp để tu, có thể khiến cho thân tâm đạt đến cảnh Giới, Định, Huệ quân bằng. Xa Ma Tha (Śamatha) cũng là tên gọi của Thiền Định, dịch sang tiếng Hán là Chỉ (), ư nói: Nhiếp tâm một chỗ, chẳng hướng ra ngoài phan duyên.

 

          * Hỏi: Trong chương Hạ của Sa Di Luật Nghi, điều thứ mười một trong phần Chấp Tác có nói: “Phàm tẩy thái, đương tam dịch thủy” (Phàm rửa rau, nên thay nước ba lần). “Tam dịch thủy” là nói đến điều ǵ? (Diêu Bổn Khiết hỏi)

 

          Đáp: “Dịch thủy” (易水) nghĩa là đổ bỏ nước đă dùng, thay thế bằng nước mới. Ắt phải làm như vậy, do sợ có những động vật vi tế sống trên rau; nếu rửa một lần, sẽ chẳng loại trừ hết, sợ gây thương tổn những chúng sanh ấy. Lại nữa, thức ăn cũng chẳng chú trọng ngon lành, mà quư trọng sự thanh khiết. Lại nữa, đây là giới luật của hàng xuất gia, bọn tại gia chúng ta chẳng cần nghiên cứu.

 

          * Hỏi: Lại nữa, trong điều thứ năm “ăn cùng đại chúng” trong phần hạ của [Sa Di Luật Nghi]: “Đương nhất tọa thực, bất đắc thực ngật ly tọa, cánh tọa thực. Bất đắc thực ngật, dĩ thủ chỉ quát oản bát thực” (Trong một bữa ăn, không được phép đă ăn xong, rời khỏi chỗ ngồi rồi lại ngồi xuống ăn thêm. Không được ăn xong, dùng ngón tay vét thức ăn trong chén, bát). Xin hăy chỉ dạy ư nghĩa bao hàm trong ấy! (Diêu Bổn Khiết hỏi)

 

          Đáp: Đấy chính là chú trọng oai nghi. Đối với pháp thế gian, hễ người được giáo dục, c̣n chú trọng sự lễ phép, thường nói là “ba ngàn lễ nghi, ba ngàn oai nghi”, huống hồ nhà Phật ba nghiệp thanh tịnh, luật nghi càng nghiêm ngặt! Ăn xong đă rời khỏi chỗ ngồi rồi lại ngồi ăn tiếp th́ chính là tham! Dùng ngón tay vét chén, bát th́ chính là chẳng trang nghiêm!

 

          * Hỏi: Khi vị khai sơn chùa Linh Tuyền ở Cơ Long là đại ḥa thượng Thiện Huệ viên tịch, có để lại hai bài kệ:

          1) Thích tử biết số mạng.

          Có thân, ắt có bệnh,

          Kêu đau bèn niệm Phật.

          Đêm ngày tâm thanh tịnh.

          2) Tôi nay sáu mươi lăm,

          Không mê cũng chẳng ngộ.

          Thường hành lư Trung Đạo,

          Khắp nơi khéo tùy duyên.

          Chẳng biết trong bài kệ thứ hai, câu thứ ba là “thường hành lư Trung Đạo” nên giải thích như thế nào? (Lư Vĩnh Mậu hỏi)

         

          Đáp: Câu này có ư nghĩa nói phiếm chỉ, tức là chẳng lệch về một phương diện nào. Nói cụ thể, sẽ rất rườm rà. Như chẳng rơi vào Đoạn Kiến, mà cũng chẳng rơi vào Thường Kiến. Nghĩa là: Chẳng chấp trước Hữu, mà cũng chẳng chấp trước Không. Lại c̣n có nghĩa “Sự chính là Lư, Lư chính là Sự, cùng chẳng phải, cùng chiếu”, cho đến “Định Huệ quân bằng, hạnh giải tương ứng” v.v… đều có thể gọi là “hành Trung Đạo” vậy!

 

          * Hỏi: Trong kinh Kim Cang do Thụy Thành Thư Cục xuất bản, nơi trang chín và trang mười bốn, đă giải nói tứ tướng chính là t́nh huống vốn có của chúng sanh hết sức cặn kẽ, nhưng tôi chẳng biết ư nghĩa tứ kiến và tứ tướng phân biệt như thế nào? Lại nữa, đối với Duy Thức Học do ngài Từ Thị (Di Lặc Bồ Tát) giải thích, có nói về ba tế tướng và sáu thô tướng, trong ấy có nhắc đến Kiến Phần và Tướng Phần. Xin hỏi Kiến Phần và Tướng Phần có phải là tên gọi khác của tứ tướng và tứ kiến, hay là nói đến điều chi khác? Xin thầy dạy rơ cho! (Trọng Chí Anh hỏi)

 

          Đáp: [Ông nói] kinh Kim Cang do Thụy Thành Thư Cục xuất bản là nói đến loại nào, chẳng nói rơ là bản chú giải nào, chẳng có cách nào tra duyệt được. Nhưng luận định về sự khác biệt giữa tứ tướng và tứ kiến, Tướng là nói đến cảnh gây nên sự dấy khởi [những kiến chấp], c̣n Kiến là nói tới những phân biệt đă dấy khởi. Đối với Kiến Phần và Tướng Phần, có thể giải thích giống như trên, nhưng chỉ có điều hai phần ấy (Kiến Phần và Tướng Phần) không chỉ hạn cuộc trong tứ tướng và tứ kiến của kinh Kim Cang, mà đối với bất cứ Sự Lư nào, cũng đều khởi tác dụng như thế! Lại nữa, “nhất, dị, thường, phi thường” (một, khác, thường, chẳng thường) và “thường, lạc, ngă, tịnh” v.v… đều gọi là Tứ Kiến. Do chưa thấy bản chú giải cho kinh ấy, cho nên chẳng biết lời chú giải nói về như thế nào!

 

          * Hỏi: Nơi trang mười bảy của kinh Kim Cang do Thụy Thành Thư Cục xuất bản, có phân tích và giải thích về những nỗi mê của chúng sanh. Trước hết là Chấp Pháp Ngă, sau là Chấp Nhân Ngă, và những câu như: Hàng Bồ Tát chưa phá Pháp Ngă Chấp, phàm phu chưa phá trừ Nhân Ngă Chấp v.v… Lư ấy quá sâu, kẻ sơ học chẳng thể liễu giải, xin hỏi Pháp Ngă là như thế nào? Nhân Ngă là như thế nào? V́ sao phàm phu trước hết là chấp Pháp Ngă, c̣n Bồ Tát th́ trước hết là phá Nhân Ngă? Dám xin cụ hăy phân biệt, giải thích cho! (Trọng Chí Anh hỏi)

 

          Đáp: Bản [chú giải] kinh [Kim Cang] do ông đă nêu, không có cách nào tra cứu. Như đă trả lời cho câu trước, chỉ có cách dựa theo lời hỏi để giải thích mà thôi. Chữ Ngă có ư nói “có một cái Thể thường nhất, có tác dụng làm chủ tể”. Nói đến thân người, [thân người là] Tứ Đại giả hợp, thật sự chẳng có Thể và Dụng như đă nói trên đây. Điều này được nói là “chẳng có ta hay người”. Nói đến vạn pháp, nói chung là do các nhân duyên sanh ra, cũng chẳng có Thể và Dụng như đă nói trên đây. Đó là “chẳng có Pháp Ngă”. Mê muội lư này, ngỡ người và pháp đều có cái Thể thường hằng, có Dụng làm chủ tể, sẽ gọi là “chấp trước hư vọng”. “Phá” là trừ bỏ chấp trước mê hoặc ấy. Lại nữa, thường nghe nói “phá Pháp Ngă Chấp khó hơn phá Nhân Ngă Chấp”. Ông hỏi “phàm phu trước hết là phá Pháp Ngă Chấp, Bồ Tát phá Nhân Ngă Chấp trước”, sợ là “thấy nghe sai lầm”. Do tôi chưa thấy bản chú giải gốc, cho nên chẳng dám vội vàng đáp bừa!

 

          * Hỏi: Xin hỏi Vô Sanh Pháp Nhẫn có ư nghĩa như thế nào? Kệ rằng: “Hoa khai kiến Phật ngộ Vô Sanh”, Vô Sanh ở đây có phải là Vô Sanh trong Vô Sanh Pháp Nhẫn hay không? Chưa đạt đến cảnh địa Bồ Tát, sẽ chẳng thể lănh ngộ rốt ráo. Xin hăy giải thích! (Trọng Trung Anh hỏi)

 

          Đáp: Niết Bàn bất sanh, bất diệt, gọi là Vô Sanh. Chữ Pháp chỉ lư Chân Như, và chính là [nói đến cái] Thể của Niết Bàn. Nhẫn () là chân trí an trụ bất động. Câu kệ “hoa khai kiến Phật…” nói về điều này. Hễ sanh về Tây Phương, sẽ đều là A Bệ Bạt Trí, cư sĩ chẳng thấy hàng Bồ Tát c̣n mong sanh về Tây Phương ư? Xin hăy nghiên cứu cặn kẽ ba kinh Tịnh Độ, nỗi nghi sẽ tự tiêu sạch.

 

          * Hỏi: Tôi chẳng hiểu ư nghĩa của cách xưng hô Hoạt Phật (活佛, Phật sống) cho lắm. Người Mông Cổ nào cũng đều có thể xưng là Hoạt Phật, đúng không? (Huệ Mẫn hỏi)

 

          Đáp: Hoạt Phật chính là cách gọi thông tục của chữ Hô Đồ Khắc Đồ[15]. Tiếng Ấn là Hô Đồ Khắc Đồ, dịch sang tiếng Hán, đại lược có nghĩa là “chẳng mê muội bản tánh, thừa nguyện tái lai”, chính là danh hiệu chuyên biệt dành cho bậc cổ đức ứng thế. Há lẽ nào người Mông Cổ nào cũng đều có thể xưng là Hoạt Phật được! Sai lầm to lớn!

 

          * Hỏi: Các câu “bất liễu Phật trí, bất tư nghị trí, bất khả xưng trí, Đại Thừa quảng trí, vô đẳng vô luân tối thượng thắng trí” trong kinh Vô Lượng Thọ giải thích thế nào? (Dương Đức Vinh hỏi)

 

          Đáp: Nhất Thiết Chủng Trí và Đại Viên Kính Trí đều là Phật trí. Nếu dùng kinh Hoa Nghiêm để nói, Phật có trọn mười trí. Do quá rườm rà, nên không trích dẫn được. Phật trí được nói trong kinh Vô Lượng Thọ chính là các loại vừa được nêu trên; bốn câu sau đó chẳng qua là những lời tán thán Phật trí.

 

          * Hỏi: Hiền Kiếp là ǵ? (La Đức Chương hỏi)

 

          Đáp: Trong kiếp ấy, có một ngàn vị Phật xuất thế, nên gọi là Hiền ().

 

          * Hỏi: Đối với “thù y” (銖衣) của chư thiên trong sáu tầng trời cơi Dục, từ áo nặng sáu thù của trời Đao Lợi cho đến áo nửa thù của cơi trời Tha Hóa, chữ “thù” () ấy có h́nh tướng như thế nào? Chẳng biết có thể nghe giải thích hay không? (La Đức Chương hỏi)

 

          Đáp: “Thù” là tên gọi [một đơn vị] đo lường. Tiền thời cổ có ba thù, bốn thù, và năm thù sai khác, nhưng một thù nặng cỡ nào, mỗi thuyết nói một khác. Có người nói: Nặng mười Thử là một Thù. Có người nói nặng hai mươi Thử (, hạt kê, hoặc hạt gạo nếp) là một Thù. Tuân Tử bảo mười hai Túc (, hạt kê) là một Phân, mười hai Phân là một Thù, Hoài Nam Tử lại bảo trọng lượng của sáu hạt đậu là một Thù. Áo càng nhẹ càng coi là quư, ư nói áo của chư thiên nhẹ như thế đó.

 

          * Hỏi: Xin hỏi bốn chữ Vô Sanh Pháp Nhẫn hăy nên giải thích như thế nào? Sau ba chữ Vô Sanh Pháp, cớ ǵ cần thêm một chữ Nhẫn nữa? Có phải nhằm ư nghĩa là được thành tựu nơi Nhẫn hay không? Giữa hai đằng có mối liên đới rơ rệt như thế nào? Học tṛ chưa rơ! (Trọng Chí Anh hỏi)

 

          Đáp: Vô Sanh Pháp là nói về Lư “bản thể của Chân Như bất sanh, bất diệt”. “Nhẫn” nghĩa là an trụ bất động. Nói hợp lại, tức là sau khi đă ngộ lư này, sẽ an trụ cái tâm ở nơi đây, chẳng bị lay động, thoái chuyển.

 

          * Hỏi: Giải thích ư nghĩa “cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu”“hoa khai kiến Phật ngộ Vô Sanh” như thế nào? (Vương A Trản hỏi)

 

          Đáp: Người sanh về Tịnh Độ thác chất trong búp sen, v́ thế nói “liên hoa vi phụ mẫu” (hoa sen là cha mẹ); nhưng do công phu niệm Phật có sâu hay cạn, nên hoa sen sanh trong ao ấy cũng có chín phẩm thượng hạ. “Ngộ Vô Sanh” chính là chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn. Giải thích câu này một cách nông cạn, sẽ là: Chứng đắc pháp bất sanh bất diệt, an trụ cái tâm vững vàng nơi đạo ấy!

 

          * Hỏi: Tư tưởng “Phệ Đà chủng tánh” là như thế nào? Giải thích Sa-bà-ha như thế nào? (Liêu Ngọc Kiều hỏi)

 

          Đáp: Chưa thấy ghi chép, nhưng dùng hoàn cảnh để suy luận, [sẽ là] kẻ thoạt đầu tín ngưỡng Bà La Môn; sau đấy, do được hóa độ bèn quy hướng Phật giáo vậy. Sa-bà-ha (Svāhā) chính là tiếng Phạn, dịch nghĩa là “thành tựu mau chóng”.

 

          * Hỏi: Trong kệ tụng của phẩm Phổ Môn trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, có câu: “Chú trớ chư độc dược, sở dục hại thân giả, niệm bỉ Quán Âm lực, hoàn trước ư bổn nhân” (Nguyền rủa, các thuốc độc, toan làm hại thân người. Do sức niệm Quán Âm, trở ngược người gây hại), xin hăy khai thị. (Hương Viễn hỏi)

 

          Đáp: Hai câu đầu là nói: Nếu như có kẻ ác, dùng ác chú hoặc thuốc độc, toan làm hại kẻ khác. Hai câu sau là nói người bị hại do cậy vào sức niệm Quán Âm, có thể chẳng bị hứng chịu sự gia hại ấy, bất quá kẻ hại người sẽ tự hại chính ḿnh mà thôi!

 

          * Hỏi: Bát Nhẫn Bát Trí là ǵ? Chúng tôi có thể biết ư nghĩa đại lược của chúng hay không? (Hứa Ngọc Hà hỏi)

 

          Đáp: Ở trong tam giới, cái trí nhằm đoạn Kiến Hoặc trong Tứ Đế Khổ Tập Diệt Đạo của Dục Giới, được gọi là Tứ Pháp Nhẫn. Cái trí do đă đoạn Kiến Hoặc, chứng đắc Lư ấy, được gọi là Tứ Pháp Trí. Cái trí đoạn Kiến Hoặc thuộc Tứ Đế trong Sắc Giới và Không Giới, được gọi là Tứ Loại Nhẫn. Cái trí do đă đoạn Kiến Hoặc bèn chứng đắc Lư ấy, được gọi là Tứ Loại Trí. Gộp chung sự đoạn chứng gồm Tứ Pháp Nhẫn và Tứ Pháp Trí của Dục Giới với sự đoạn chứng gồm Tứ Loại Nhẫn và Tứ Loại Trí của Sắc Giới và Không Giới th́ gọi là Bát Nhẫn Bát Trí. Đó cũng chính là mười sáu loại tâm kiến đạo vậy!

 

          * Hỏi: Nơi ḍng thứ chín thuộc trang thứ bảy của Phật Thuyết Tứ Thập Nhị Chương Kinh có đoạn: “Phạn thiên ức tam thế chư Phật, bất như phạn nhất vô niệm vô trụ vô tu vô chứng chi giả” (Dâng cơm cúng dường ba đời chư Phật, chẳng bằng cúng dường cơm cho một vị vô niệm, vô tu, vô trụ, vô chứng), chẳng biết ư ấy là như thế nào? (Lư Vĩnh Mậu hỏi)

 

          Đáp: Đoạn này ư nói càng cúng dường bậc đức cao đạo trọng, công đức ấy càng to lớn. Phật cũng có bốn loại Tạng, Thông, Biệt, Viên. Nói “mười phương” hay nói “tam thế” đều là nói về những vị Tạng Phật (Phật trong Tạng Giáo) đă đoạn ba mươi bốn tâm thuộc Kiến Tư Hoặc. “Bậc vô tu vô chứng” có nghĩa là “pháp tánh vô tác, vô vi”, có ư nói đến Phật trong Biệt Giáo hoặc Viên Giáo, mà cũng có thể hiểu là nói đến tự tánh vậy! Đối với đoạn kinh này, lời chú giải của Ngẫu Ích đại sư đơn giản nhất mà nghĩa lư rộng răi nhất, mong ông hăy tham khảo! Tiếc là trong tay kẻ hèn này không có sách ấy, chẳng thể trích lục để dâng hiến được!

 

          * Hỏi: “Một niệm mười pháp giới” th́ tứ thánh lục phàm dễ biết; nhưng “nhất niệm tam thiên tánh tướng” chẳng hiểu rơ cho lắm! (Khoan Tâm hỏi)

 

          Đáp: Mỗi pháp giới trong mười pháp giới đều có đủ mười giới, nên [mười nhân mười] thành một trăm giới. Mỗi giới trong một trăm giới ấy lại có tánh như thế, tướng như thế, thể như thế, và lực, tác, nhân, duyên quả báo, bổn mạt cứu cánh như thế. Trăm giới nhân với mười Như sẽ thành một ngàn như (thiên như). Một ngàn như ấy lại chia thành chúng sanh, quốc độ, và Ngũ Ấm sai khác, nên gộp chung lại sẽ con số ba ngàn. Đối với lời giải thích dành cho Thập Như, có thể tham khảo bút kư phần giảng về Như Thị khi nghe kinh Pháp Hoa.

 

          * Hỏi: Phân biệt Từ và Bi như thế nào? (Ngụy Khánh Chí hỏi)

 

          Đáp: Ban sự an vui cho người khác là Từ, cứu độ nỗi khốn khổ của họ là Bi.

 

          * Hỏi: [Từ ngữ] “Sa Bà thế giới giáo chủ” có phải là để chỉ người hiện tại đang tuyên thuyết đạo hay không? Hay là nói tới vị Phật tuyên dương kinh Phật? (Kha A Minh hỏi)

 

          Đáp: Chữ “Sa Bà giáo chủ” chuyên nói về Thích Ca Mâu Ni Phật, do tam thiên đại thiên thế giới Sa Bà đều do đức Thích Tôn giáo hóa.

 

          * Hỏi: “Cửu giới đạo sư” là ǵ? Giáo chủ và đạo sư có phân biệt ǵ không? Lại nữa, chư Phật đều có thể gọi là Bổn Tôn hay không? (Kha A Minh hỏi)

 

          Đáp: Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn là tam thánh; trời, người, A Tu La, súc sanh, quỷ, địa ngục là sáu phàm, gọi [gộp chung] là “cửu giới”, đều cần nhờ vào Phật để khai phá nỗi mê, nên đức Phật được gọi là “cửu giới đạo sư” (bậc thầy dẫn đường cho chín pháp giới). “Giáo chủ” (教主) chính là vị đứng đầu Phật giáo, đương nhiên là đạo sư (導師). Lại nữa, đối với Hiển Giáo, các vị Phật, Bồ Tát được các tông tôn sùng sẽ là Bổn Tôn (本尊) của các tông ấy. Đối với các pháp của Phật, Bồ Tát, Kim Cang[16] được truyền dạy trong Mật Giáo, những vị Phật, Bồ Tát, Kim Cang ấy sẽ được gọi là Bổn Tôn của pháp môn ấy.

 

          * Hỏi: “Bát giáo, ngũ tông, tam giới, tứ độ” giải thích như thế nào? (Kha A Minh hỏi)

 

          Đáp: Thiên Thai Tông lập ra Hóa Pháp Tứ Giáo (Tạng, Thông, Biệt, Viên) và Hóa Nghi Tứ Giáo (Đốn, Tiệm, Mật, Bất Định), gọi [gộp chung] là Bát Giáo. Thiên Thai, Hoa Nghiêm, Pháp Tướng, Tam Luận và Luật gọi là Ngũ Tông. Hiện thời, c̣n có Tịnh, Thiền, Mật, Thành Thật, Câu Xá v.v… Những tông này là nói chung, nếu chia nhỏ ra, sẽ c̣n những tông khác. Sáu tầng trời cơi Dục, mười tám tầng trời thuộc Sắc Giới, và bốn tầng trời thuộc Vô Sắc Giới, [gọi chung] là Tam Giới. Thiên Thai Tông chia cơi Phật thành bốn loại, tức Phàm Thánh Đồng Cư Độ, Phương Tiện Hữu Dư Độ, Thật Báo Trang Nghiêm Độ, và Thường Tịch Quang Độ. Đấy chính là Tứ Độ.

 

          * Hỏi: “Phật mẫu” là từ ngữ để gọi vị nào? (Lư Hàm Vinh hỏi)

 

          Đáp: Từ ngữ này có mấy cách hiểu:

          2) Những người mẹ sanh dưỡng thân Phật. Đây là cách nói thông thường nhất.

          3) Các pháp cũng gọi là Phật Mẫu, v́ Phật do pháp sanh ra.

          4) Các vị Bồ Tát có năng lực sanh ra sự thần biến và công đức của Phật, đa số được gọi là Phật Mẫu, như Kim Cang Hợi Mẫu[17] trong Mật Tông, hai mươi mốt vị Độ Mẫu[18], Chuẩn Đề Phật Mẫu[19], Khổng Tước Phật Mẫu[20], Phật Nhăn Phật Mẫu[21] v.v… đều là những vị Phật Mẫu.

          * Hỏi: Phật giáo đă chia thành năm tông Luật, Giáo, Thiền, Mật, Tịnh, bốn tông trước là nói đến những pháp ǵ? (Trầm Hàn Sơ hỏi)

 

          Đáp: Kinh Phật được chia thành ba loại lớn là Kinh, Luật, Luận, gọi là Tam Tạng. “Luật” là giới luật. Chuyên nghiên cứu, tu tập loại học vấn này th́ gọi là Luật Tông. Chữ Giáo chỉ hết thảy các giáo pháp; chuyên nghiên cứu, thảo luận nghĩa lư trong kinh giáo th́ gọi là Giáo Tông. Thiền dịch nghĩa là Tĩnh Lự, chẳng lập văn tự, chuyên tham cứu tâm tánh. Mật c̣n gọi là Chân Ngôn Tông, miệng tŕ chú ngữ, tay kết ấn, tâm quán tưởng, thành tựu Bổn Tôn (tức là tu thành Phật, Bồ Tát của một pháp nào đó). Đấy là phân biệt đại lược bốn tông ấy.

 

          * Hỏi: Phật Đà và Như Lai Phật là những vị Phật nào? (Lưu Định Xí hỏi)

 

          Đáp: Phật có mười hiệu, tức là một vị Phật có mười loại xưng hô. Phật Đà và Như Lai chính là hai loại danh xưng trong mười hiệu, giống như hiện thời hễ nói tới ai, gọi tên người ấy rồi thêm vào những chữ như cụ X…, ông Y…, ngài X…, tiên sinh X… v.v…

 

          * Hỏi: Tháp và Phù Đồ có phân biệt ǵ, có tác dụng và công đức ǵ? (Lưu Định Xí hỏi)

 

          Đáp: Hai chữ này là danh xưng khác nhau, nhưng thực chất là một. Nó có tác dụng thờ Phật, hoặc thờ xá-lợi, có khi để chứa kinh điển, hoặc cất giữ tro cốt của người ta. Âm gốc là Tốt Đổ Ba (Stūpa), dịch sang tiếng Hán là Cúng Dường Xứ.

 

          * Hỏi: Sa Bà, tam căn, lục căn, tứ đại, an bà, Long Hoa, Già, Tam Quy, Trà Tỳ, Đề Hồ có ư nghĩa như thế nào? (Lưu Định Sí hỏi)

 

          Đáp: Sa Bà (Sahaloka) dịch là Kham Nhẫn chính là tên của thế giới này, ư nói: Chúng sanh trong cơi này ở yên trong Thập Ác, hứng chịu Tam Độc. Tam Căn có nghĩa là con người có ba hạng căn khí là thượng, trung, hạ. Lục Căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư. Tứ Đại là bốn loại lớn, tức đất, nước, gió, lửa. Chữ An Bà vẫn chưa rơ, không thể giải đáp. Long Hoa (Nāga-puspa) là tên của một cái cây, Di Lặc Bồ Tát ngồi dưới cây ấy, thành đạo, thuyết pháp. Nhưng hiện thời có cái gọi là Long Hoa Phái[22], vốn là ngoại đạo, mượn danh giả mạo Phật giáo. Chữ Già () phải ghép với một chữ khác th́ mới có dễ giảng giải. Chữ Quy () trong Tam Quy giống như chữ Quy (). “Tam” chỉ Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo, [Tam Quy] có nghĩa là quay về nương cậy, tôn Tam Bảo làm thầy. Trà Tỳ (Jhpeti) dịch là Phần Thiêu (焚燒, đốt cháy), tức là Phật tử sau khi đă chết, bèn thiêu di thể. Đề Hồ (醍醐) chính là sữa ḅ trải qua bốn lượt chế luyện, đạt được cái tinh hoa cuối cùng, bèn gọi tên như vậy.

 

          * Hỏi: Miếu (), Sát (), Tự (), Viện (), Quán (), Cung (), Am (), Sa-môn, Đường () phân biệt như thế nào? (Lưu Định Sí hỏi)

 

          Đáp: Cơi này dịch Sa-môn (Śramaṇa) là Cần Tức (勤息), ư nói: Siêng tu Giới, Định, Huệ, dứt diệt tham, sân, si, chính là danh xưng chuyên biệt để người xuất gia tự xưng. Tám chữ c̣n lại đều là danh tự để gọi chùa, miếu. Nói nghiêm ngặt, mỗi chữ đều có ư nghĩa khác biệt, nhưng hiện thời, trừ chùa Phật không gọi là Cung hoặc Quán, miếu của Đạo gia không gọi là Tự hoặc Sát ra, đại khái là phần nhiều dùng lẫn lộn.

          Ghi thêm: Giải đáp cho bốn câu hỏi trên đây, bất quá là nói danh tướng đại lược, nhưng các danh từ đều bao hàm khá nhiều nghĩa lư. Do cột báo này bị giới hạn về độ dài, chẳng thể giải thích cặn kẽ từng điều một, hết sức tạ lỗi!

 

          * Hỏi: Trong đoạn thứ mười bốn của kinh Vô Lượng Thọ có nói “tà kiến nghiệp vương”, xin hỏi “nghiệp vương” là ǵ? Chính ḿnh muốn ĺa bỏ mà bị người khác trói buộc, đó có phải là tác dụng của nghiệp vương hay không? (Châu Huệ Đức hỏi)

 

          Đáp: Tà kiến thuộc về ư nghiệp. Nếu đạt tới mức độ cao nhất, sẽ chẳng thể bị phá giải bởi hết thảy các chánh thuyết, giống như vua trong một nước, oai nghi lẫm liệt, chẳng thể xâm phạm! Ư nghiệp ấy lại phối hợp với thân khẩu, tạo tác đủ mọi tà sự, tà ngữ, cũng giống như nhà vua khống chế hết thảy. Chính ḿnh mong thoát ly, đấy là chánh kiến; bị người khác trói buộc, chính là ngoại chướng, chẳng liên can ǵ đến tà kiến nghiệp vương!

 

          * Hỏi: Bài kệ trong phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện có câu: “Mông bỉ Như Lai thọ kư dĩ, hóa thân vô số bách câu-chi” (Đă được Như Lai thọ kư rồi, hóa thân vô số trăm câu-chi), câu này nên hiểu như thế nào? (Cam Trấn Phân hỏi)

 

          Đáp: “Câu-chi” (Koṭi) dịch sang tiếng Hán là “thiên vạn” (ngàn vạn). Chữ này có nghĩa là Bồ Tát có trăm ngàn vạn thân biến hóa vô số lượng.

 

          * Hỏi: Giải thích chữ “si”, ngoài ư nghĩa “ngu si” ra, có c̣n chứa đựng ư nghĩa “hôn mê” hay không? (Trương Đ́nh Vinh hỏi)

 

          Đáp: “Si” là Vô Minh, là căn bản của phiền năo. Hôn và mê đều là một phần của Si.

 

          * Hỏi: “Kim Cang Na La Diên thân” có ư nghĩa như thế nào? (Đại Khoan hỏi)

 

          Đáp: Na La Diên (Nārāyaṇa) là lực sĩ trên cơi trời, sức to lớn vô cùng. Kim Cang (Vajra) chính là chất tinh túy của vàng, dẫu nung luyện trăm lần vẫn chẳng tiêu mất. Nói gộp lại, [Kim Cang Na La Diên nghĩa là] bản thể cứng chắc như chất Kim Cang, sức to lớn như Na La Diên.

 

          * Hỏi: “Bạch pháp ẩn một” (Thiện pháp ẩn mất) có nghĩa là sao? (Song Mộc hỏi)

 

          Đáp: “Bạch” có nghĩa là trong sạch, chẳng nhiễm, tỷ dụ hết thảy các thiện pháp. Trong thời kỳ Mạt Pháp, đấu tranh kiên cố, nhiều kẻ chẳng thuận theo thiện pháp, cho nên nói là “ẩn một” (隱沒, ẩn mất).

 

          * Hỏi: Trong phẩm Đề Bà Đạt Đa của kinh Pháp Hoa, Long Nữ thành Đẳng Chánh Giác, liền đi về thế giới Vô Cấu ở phương Nam, sáu phen chấn động. Thế giới Vô Cấu ở chỗ nào? Có vị Phật nào giáo hóa? Sáu phen chấn động lại là ǵ vậy? (Thích Phổ Tịnh hỏi)

 

          Đáp: Kinh nói thế giới Vô Cấu ở phương Nam, tức là phương Nam của thế giới Sa Bà này, thuộc một tinh cầu khác. Long Nữ dâng châu cúng dường, lập tức thành Phật, tức là sự giáo hóa trong thế giới ấy do cô ta đảm nhiệm. Nếu hỏi về chuyện trước khi Long Nữ đến đó, kinh chẳng nói rơ, sẽ không thể dựa vào đâu để nói được! “Chấn động” là tướng hiện nơi mặt đất. Đối với sáu phen chấn động, kinh nói nhiều thuyết; ở đây là nói đến động, dũng, chấn, ba thứ biến đổi h́nh tướng, và kích, hống, bạo[23], ba thứ tiếng phát ra vậy.

 

          * Hỏi: Kinh Lăng Nghiêm nói có mười loại tiên[24] và lục đạo chúng sanh, cùng gọi là “thất thú” (七趣, bảy đường). Họ tu hạnh ǵ? Thuộc pháp giới nào? Thất thú là những ǵ? Đấy là những điều tôi kính cẩn thưa hỏi, mong hăy dạy cho biết! (Thích Phổ Tịnh hỏi)

 

          Đáp: Mười loại tiên được nói trong kinh Lăng Nghiêm phần nhiều là ngoại đạo tu thuật trường sanh. Phạm Chí (Fakir) tại Ấn Độ và Đạo giáo tại Trung Hoa đều tu tập thuật này. Phương pháp tu tập rất nhiều, chẳng thể kể xiết. Phạm Chí tu chú thuật, biến huyễn, khổ hạnh. Đạo sĩ th́ luyện đan, thổ nạp (吐納, những cách luyện thở, quán tưởng dẫn khí đi khắp các kinh lạc và huyệt đạo trong toàn thân), bùa ngải, coi đó là những điều tuyệt diệu, vĩ đại. “Thú” () có nghĩa là hướng đến, đại lược th́ cũng như nói “đạo” vậy. Nghe nói trong Đạo Giáo chứng thành tiên th́ có quỷ, địa, thiên v.v… sai khác. Nói tách ra bèn có thất thú, nhưng vẫn gộp trong lục đạo. Như trong Tu La có các loại thiên, nhân, quỷ, súc, nhưng trong kinh có khi nói quy nạp, cho nên chỉ nói “ngũ đạo” (năm đường), có ư nghĩa tương tự. Họ chưa thoát khỏi tam giới, tự nhiên sẽ thuộc vào lục phàm, tức là thuộc trong các đường trời, người, quỷ mà thôi! Phật do bất sanh bất diệt, nên cũng có thể gọi là Tiên. Ngài thật sự là bậc đại thánh vượt ngoài các giới, khác xa cảnh giới của tiên!

 

          * Hỏi: Căn có phù trần và tịnh sắc sai khác. “Phù trần” (浮塵) là nói về h́nh thể, “tịnh sắc” (淨色) là nói nó có thể khởi tác dụng, nên hiểu như thế nào? Xin hăy dạy cho! (Hồ Viễn Chí hỏi)

 

          Đáp: Tịnh sắc căn là nói đến vật thể ở bên trong có thể phát khởi tác dụng sanh ra Thức ḥng nhận biết cảnh. Vật thể ấy được những người học Phật trong giới y học gọi là “hệ thần kinh”. Trộm nghĩ, tuy [cách nói ấy] chẳng ổn thỏa, thích đáng, nhưng cũng chẳng thể truy cầu sâu hơn. Căn ấy chính là “vô kiến hữu đối sắc”. Đă nói là “vô kiến” tức là mắt chẳng thể thấy được. “Hữu đối” là có vật chất gây chướng ngại. Bát Thức Quy Củ Tụng có nói: “Ngu giả nan phân Thức dữ Căn” (Kẻ ngu khó thể phân biệt giữa Thức và Căn). “Ngu” là nói bậc Thanh Văn đă đoạn Phiền Năo Chướng, chưa đoạn Sở Tri Chướng. Do các Ngài c̣n chẳng thể biết điều này, cho nên có thể thấy là diễn tả [cho hạng phàm phu thấu hiểu] sẽ khó khăn lắm!

 

          * Hỏi: Mỗi cử động, mỗi ư niệm suy tưởng nơi thân, khẩu, ư của chúng ta đều là tạo nghiệp. Nghiệp có tốt, xấu, chẳng tốt, chẳng xấu v.v… sai khác. Lại c̣n có biệt nghiệp của cá nhân, cộng nghiệp của người khác, lại có dẫn nghiệp nơi chánh báo và măn nghiệp nơi y báo. Lại c̣n chia thành quả báo nhanh hay chậm. “Thuận hiện nghiệp, thuận sanh nghiệp, thuận hậu nghiệp, thuận bất định nghiệp”, mỗi nghiệp nên hiểu như thế nào? (Hồ Viễn Chí hỏi)

 

          Đáp: Biệt Nghiệp là nghiệp khác biệt do mỗi người đă tạo. Cộng Nghiệp là nghiệp [do chúng sanh] cùng nhau gây tạo. Cái thân gieo vào lục đạo là do bị nghiệp lực dẫn dắt mà có, gọi là Chánh Báo Dẫn Nghiệp. Hết thảy các tên gọi và vật chất mà chính ḿnh được hưởng sẽ gọi là Y Báo Măn Nghiệp. Tạo nghiệp trong đời này, đời này chịu báo th́ gọi là Thuận Hiện Nghiệp. Đời này tạo nghiệp, đời sau chịu báo, gọi là Thuận Sanh Nghiệp. Đời này tạo nghiệp, mấy đời sau mới chịu báo, sẽ gọi là Thuận Hậu Nghiệp. Nghiệp vô lậu “chẳng tốt, chẳng xấu, ĺa tướng” th́ gọi là Thuận Bất Định Nghiệp.

 

          * Hỏi: Theo Duy Thức Thuật Kư[25], tự tánh thân nhân thuộc loại Đẳng Lưu, dị tánh cảm vời th́ thuộc loại Dị Thục. Hai thứ này nên hiểu như thế nào? (Hồ Viễn Chí hỏi)

 

          Đáp: Đẳng () nên hiểu là “tương tự”. Lưu () nên hiểu là “phát ra”. [Đẳng Lưu] có nghĩa là “gieo nhân có thể tạo thành quả”. Có cái nhân như thế, ắt phải xuất hiện cái quả như thế. Dị () là khác, Thục () là chín muồi, ư nói: Sau khi quả đă chín muồi, đă có tánh chất khác với nhân. Như do cái nhân có tánh thiện mà đắc lạc quả, do cái nhân có tánh ác mà đắc khổ quả. Nhưng lạc và khổ chỉ là lạc và khổ mà thôi, tánh của chúng hoàn toàn chẳng thể nói là thiện hay ác, cho nên bảo là Dị Thục Chủng.

 

          * Hỏi: Đại Thừa Khởi Tín Luận nói “Nhị Thừa Pháp Chấp” th́ cũng là khuyết điểm. Chẳng hiểu nghĩa là sao? (Huệ Đức hỏi)

 

          Đáp: Chúng sanh mê hoặc th́ mới dùng Phật pháp để khơi gợi cho họ khai ngộ, giống như mắc bệnh cần phải uống thuốc. Nếu chuyển mê thành ngộ, giác hạnh viên măn, há c̣n dùng đến pháp để làm ǵ? Có cùng một lư như bệnh đă hết bèn bỏ thuốc. Đă lành mà chẳng bỏ thuốc, thuốc đâm ra thành bệnh. V́ thế nói Pháp Chấp là lầm lỗi!

 

          * Hỏi: Nhất Thừa, Nhị Thừa, Tam Thừa, Ngũ Thừa, Đại Thừa, Tiểu Thừa, hiểu như thế nào? (Vương Thành Nhất hỏi)

 

          Đáp: “Thừa” () có nghĩa là chuyên chở, như ngồi xe, hoặc ngồi thuyền đều gọi là Thừa. “Thừa” được nói ở đây chính là từ ngữ tỷ dụ. Ư nói nương vào sự chuyên chở của Phật pháp mà có thể đạt tới mục đích mong cầu. Nhất, Nhị, Tam là nói đến các đẳng cấp cao thấp. Một là Bồ Tát, hai là Bích Chi Phật, ba là La Hán. Dưới ba thừa, lại thêm hai loại phàm thừa là trời và người, thành ra Ngũ Thừa.

 

          * Hỏi: “Thanh Văn, Bích Chi, Duyên Giác, Độc Giác, La Hán, Bồ Tát, Phật” có ư nghĩa ǵ? (Vương Thành Nhất hỏi)

 

          Đáp: Thanh Văn là người nghe thanh giáo[26] Tứ Đế của đức Phật mà chứng ngộ. Duyên Giác chính là Bích Chi, là người do nghe pháp Thập Nhị Nhân Duyên mà chứng ngộ. Độc Giác giống như trên, chỉ có điều là bậc không do nghe pháp mà tự ngộ. La Hán là quả tột cùng trong hàng Thanh Văn, có nghĩa là “bất sanh, bất diệt”. Bồ Tát là bậc thánh trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh. Phật là bậc chí thánh tự giác, giác tha, giác hạnh viên măn.

 

          * Hỏi: Ḥa thượng, ni cô, phương trượng, trụ tŕ, đương gia, giám viện, duy na được định nghĩa như thế nào? (Vương Thành Nhất hỏi)

 

          Đáp: Ḥa Thượng có nghĩa là “thầy tôi”, chính là tiếng để tôn xưng người xuất gia. Ni là âm tiếng Phạn, có nghĩa là “nữ tánh” (feminine). Phương Trượng là tiếng để gọi chỗ ở của vị Trụ Tŕ trong một ngôi chùa. Tương truyền, cái thất đá của cư sĩ Duy Ma, vuông vức mỗi bề đúng một trượng, cho nên mượn danh xưng đó để xưng hô. Trụ Tŕ (住持) nghĩa là người chủ tŕ sự vụ. Đương Gia (當家) nghĩa là người nắm quyền coi sóc việc nhà[27]. Giám Viện (監院) chính là người giám sát, đốc thúc công việc trong một ngôi chùa. Đấy đều là những danh xưng để gọi vị chủ chùa. Duy Na chính là danh xưng gộp chung tiếng Hán và tiếng Phạn. “Duy” ()“cương duy” (綱維, giềng mối), Na () chính là nói tắt của chữ Kiệt Ma Đà Na (Karmadana), có nghĩa là “sự vụ”. Duy Na có nghĩa là người đảm đương sự vụ trong chùa. Hiện thời, người lănh chúng (dẫn chúng) trong khóa tụng hằng ngày được gọi là Duy Na.

 

          * Hỏi: Trong kinh Tứ Thập Nhị Chương, có nói: “Sai chi hào ly, thất chi tu du”, chẳng biết nghĩa là như thế nào? Có phải là nói đến núi Tu Di hay không? (Chung Thiêm Đăng hỏi)

 

          Đáp: Hào Ly (毫釐)[28] là phân lượng ít nhất, Tu Du (須臾) chính là thời gian ngắn nhất, có ư nghĩa khác với núi Tu Di.

 

          * Hỏi: Mạn Điều Y (縵條衣) là như thế nào? (Trần Tịnh Nguyện hỏi)

 

          Đáp: Chính là áo ca-sa nhưng chẳng có từng điều ngang dọc để mô phỏng h́nh ruộng trồng lúa nước [như phước điền y của tăng sĩ].

 

          * Hỏi: Chữ Thức () trong Ngũ Uẩn chẳng biết có nên hiểu giống như chữ Chí () hay không? (Diệp Thiên Hộ hỏi)

 

          Đáp: Thức ở đây là nói đến tâm thức phân biệt, khác với chữ Chí.

 

          * Hỏi: “Đoạn tứ thập lư lưu thủy” (Cắt đứt ḍng nước bốn mươi dặm) có phải là nói đến thời gian trôi qua bao lâu phải không? (Diệp Thiên Hộ hỏi)

 

          Đáp: Chỉ là nói đến ḍng nước chảy, dài đến bốn mươi dặm, hoàn toàn chẳng chú trọng thời gian. Bất luận ngàn năm hay vạn năm, một giờ hay nửa khắc, đều luôn là bốn mươi dặm. V́ vậy, đối với từ ngữ này, đừng đèo thêm thời gian cho phiền!

 

          * Hỏi: Lục đạo phàm phu có Phần Đoạn sanh tử, Quyền Giáo Bồ Tát có nỗi khổ Biến Dịch sanh tử. Tử [ở đây] có phải là Sanh, Lăo, Bệnh, Tử hay không? Nhưng Quyền Giáo và Biến Dịch sanh tử có nghĩa là ǵ? (Diệp Thiên Hộ hỏi)

 

          Đáp: Phần Đoạn sanh tử là xuất thai, nhập thai. Biến Dịch là cảnh giới chuyển biến, đạt tới, nên ví như sanh tử vậy!

 

          Hỏi: Chẳng biết là có thể dùng thí dụ trong hiện thực để chỉ rơ Trung Quán (Không, Giả, Trung) hay không? (Diệp Thiên Hộ hỏi)

 

          Đáp: “Không” là nói rỗng rang, chẳng có tự thể. “Giả” nghĩa là chỉ có giả tướng duyên sanh. Chấp trước Thể Không, chẳng hiểu rơ Sự nơi giả tướng duyên sanh, hoặc chấp trước giả tướng, chẳng ngộ Lư nơi Thể Không, sẽ đều là thiên kiến. Thật Lư Trung Đạo chính là: Nếu hiểu rơ Không chính là Sắc (sắc tướng), Sắc chính là Không; đấy chính là một thí dụ về Trung Đế viên dung vậy.

 

          * Hỏi: Trần Sa trong Tam Hoặc (Kiến Tư, Trần Sa, Vô Minh) là tỷ dụ chuyện ǵ? Kiến Tư chẳng phải là nói đến hai thứ Hoặc ư? (Diệp Thiên Hộ hỏi)

 

          Đáp: Trần Sa tỷ dụ số nhiều, ư nói pháp môn vô lượng, như bụi cát khó đếm trọn. Phải đều thông đạt hết; nếu có một pháp không biết, tức là Hoặc Chướng, nên gọi là Trần Sa Hoặc. Kiến Tư là nói đến hai thứ Hoặc.

 

          * Hỏi: “Quy nguyên” nghĩa là ǵ? “Nguyên” ở chỗ nào? (Sử Phan Tân Hà hỏi)

 

          Đáp: “Nguyên” () là nói tới bản tánh. Trừ sạch các Hoặc, trở về diện mục vốn có, th́ gọi là “quy nguyên”, tức là như trong gần đây nói tới “xuất triền hoàn tịnh” (出纏還淨, thoát khỏi trói buộc, trở về với tịnh) trong Khởi Tín Luận. “Nguyên” trọn khắp pháp giới, chẳng thể chỉ ra nơi chốn.

 

          * Hỏi: Cảm ứng, linh hồn, bản tánh, ba thứ ấy khác biệt ở chỗ nào? (Long Tĩnh Đắc hỏi)

 

          Đáp: Một, Cảm () là cảm vời, Ứng () là ứng hiện. Nói gộp lại, hễ ta có điều mong cầu đối với Phật, Bồ Tát, một là do tâm lực chí thành, sẽ cảm vời Phật, Bồ Tát ứng hiện, măn nguyện của ta. Hai, linh hồn chính là do bản tánh dấy lên vọng niệm, biến hóa thành thức tạng. Ba, bản tánh chính là Chân Như Phật Tánh quang minh tịch tĩnh.

 

          * Hỏi: Trong bài Dương Chi Tịnh Thủy Tán có nhắc đến “bát đức”, [Lục Tổ] Đàn Kinh có nói đến “mười ác, tám tà”, chẳng biết “bát đức, bát tà” là ǵ? (Trần Thụ Căn hỏi)

 

          Đáp: Bát Đức là nói tới tám thứ công đức của nước, có thể tham khảo sách Di Đà Kinh Trích Chú sẽ biết. Bát Tà là nói những điều tương phản với Bát Chánh Đạo trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo.

 

          * Hỏi: Tam Tạng thập nhị phần giáo là mười hai phần nào? (Vương Lăng Á hỏi)

 

          Đáp: “Thập nhị bộ” chính là nói tới các thể loại hành văn và các loại sự việc bất đồng trong Tam Tạng kinh điển, được phân tích thành mười hai bộ môn. Một là Khế Kinh, tức là kinh văn đơn hành. Hai là Trùng Tụng, nương theo ư nghĩa của kinh trong phần trước để nói thành kệ. Ba, Phúng Tụng là lời tán thán khởi lên đơn độc, có thể phổ nhạc để đàn hát. Ba bộ này thuộc về thể loại trong cách hành văn. Bốn là Nhân Duyên, tức là nói về chuyện nhân quả. Năm là Bổn Sự, đức Phật tự nói những hạnh nghiệp trong kiếp trước. Sáu là Bổn Sanh, nói về hạnh nghiệp của các vị đệ tử trong đời trước. Bảy là Vị Tằng Hữu, ghi chép đủ mọi chuyện thần lực chẳng thể nghĩ bàn. Tám là Thí Dụ, chép về những lời giải thích bằng cách lập ra các tỷ dụ. Chín là Luận Nghị, tức là những lời hỏi đáp nhằm làm sáng tỏ vấn đề. Mười là Tự Thuyết, tức là không ai thưa hỏi mà tự nói. Mười một là Phương Quảng, tức những pháp thuộc về Đại Thừa. Mười hai là Thọ Kư, đức Phật dự đoán những chuyện trong tương lai của người tu tập.

 

          * Hỏi: Hai mươi bốn pháp Bất Tương Ứng trong một trăm pháp của Duy Thức Tông là những pháp nào? (Vương Lăng Á hỏi)

 

          Đáp: Có bộ sách Bách Pháp Minh Môn Luận để có thể xem đọc, nghiền ngẫm. Nếu chỉ hỏi về danh số, có ư thú ǵ đâu? Vâng theo lời hỏi, miễn cưỡng trích lục liệt kê mà thôi! Một là Đắc, hai là Mạng Căn, ba là Chúng Đồng Phận, bốn là Dị Sanh Tánh, năm là Vô Tưởng Định, sáu là Diệt Tận Định, bảy là Vô Tưởng Sự, tám là Danh Thân, chín là Cú Thân, mười là Văn Thân, mười một là Sanh, mười hai là Trụ, mười ba là Lăo, mười bốn là Vô Thường, mười lăm là Lưu Chuyển, mười sáu là Định Dị, mười bảy là Tương Ứng, mười tám là Thế Tốc, mười chín là Thứ Đệ, hai mươi là Thời, hai mươi mốt là Phương, hai mươi hai là Giáo, hai mươi ba là Ḥa Hợp Tánh, hai mươi bốn là Bất Ḥa Hợp Tánh.

 

          * Hỏi: Xin giải thích các danh từ Tứ Sanh Chánh Báo, Tứ Đại Y Báo, Tứ Vi, Thập Như, “nhất vi trần hàm ngũ đại tánh” (một vi trần có năm đặc tánh lớn). (Quế Dẫn Hạnh hỏi)

 

          Đáp: Tứ Sanh (四生) là nói tới cách sanh của cái thân chánh báo gồm thai, noăn, thấp, hóa. Y Báo (依報) chỉ nơi [chánh báo] nương vào để sống. Tứ Vi (四微) là nói tới Sắc, Hương, Vị, Xúc trong sáu trần. Chúng là nguyên tố của Sắc Pháp. Thập Như (十如) chính là mười món Như Thị, nghĩa là Tướng, Tánh, Thể, Lực, Tác, Nhân, Duyên, Quả, Báo, Bổn Mạt Cứu Cánh v.v… Nếu giải thích, không chỉ là rất dài ḍng, mà c̣n là trước chẳng thấy đầu, sau chẳng thấy đuôi, có nói cũng chẳng thể liễu giải được! Mong hăy t́m đọc bản chú giải phẩm Phương Tiện của kinh Pháp Hoa, sẽ hiểu v́ sao mà nói [như thế], mới biết những điều ấy là đúng. Một vi trần là tỷ dụ một pháp giới, các kinh nói Ngũ Tánh khác nhau. Nay tôi dựa theo kinh Viên Giác để liệt kê: Một là Phàm Phu Tánh, hai là Nhị Thừa Tánh, ba là Bồ Tát Tánh, bốn là Bất Định Tánh, năm là Ngoại Đạo Tánh. Những tánh này gồm trọn hết thảy các chúng sanh. Hễ nói tới một “vi pháp giới” sẽ gồm trọn các loại chúng sanh ấy.

 

          * Hỏi: Trạch Diệt và Phi Trạch Diệt giải thích như thế nào? (Vương Lăng Á hỏi)

 

          Đáp: Diệt () nghĩa là đoạn diệt hết thảy chướng nhiễm, chứng đắc Niết Bàn. Cần biết: Các chướng nhiễm ấy thuộc về phiền năo. Nếu có thể do trí quán chiếu, đối với mỗi điều, đều chọn lựa để đoạn, sẽ đắc Niết Bàn, nên gọi là Trạch Diệt (). Tánh vốn thanh tịnh, thoạt đầu, chẳng do sức chọn lựa mà hiển lộ. Lại nữa, muôn pháp do nhân duyên sanh, phiền năo cũng chẳng phải là ngoại lệ. Nếu phiền năo thiếu duyên, nó sẽ chẳng sanh, chân tánh sẽ hiển lộ. Điều này hoàn toàn chẳng do sức chọn lựa, nên gọi là Phi Trạch Diệt.

 

          * Hỏi: Tứ Đế và Thập Nhị Nhân Duyên là những pháp nào? (Châu Phước Ngọc hỏi)

 

          Đáp: Tứ Đế là bốn pháp Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Hai pháp trước là nhân quả của những nỗi khổ trong thế gian. Hai thứ sau là nhân quả của sự vui xuất thế gian. Đấy là pháp tu của hàng Thanh Văn. Thập Nhị Nhân Duyên là nói đến các mối quan hệ trong đời người: Một là Vô Minh, hai là Hành. Đấy chính là hai nhân của quá khứ. Ba là Thức, bốn là Danh Sắc, năm là Lục Nhập, sáu là Xúc, bảy là Thọ. Đây là năm quả trong hiện tại. Tám là Ái, chín là Thủ, mười là Hữu, đấy là ba cái nhân trong hiện tại. Mười một là Sanh, mười hai là Lăo Tử. Đấy là hai cái quả trong vị lai. [Thập Nhị Nhân Duyên] là pháp tu của bậc Duyên Giác. Nếu muốn hiểu nghĩa này, có thể tham khảo các bản chú giải Tâm Kinh.

 

          * Hỏi: Thấy trong kinh nói đến Ngũ Nhăn, chẳng biết Ngũ Nhăn phân biệt như thế nào? Xin ân sư khai thị. (Dương Kim Anh hỏi)

 

          Đáp: Một là Nhục Nhăn, gặp tối tăm hoặc [bị thứ ǵ] ngăn trở, sẽ chẳng thể thấy được. Hai là Thiên Nhăn, xa, gần, ngày, đêm, đều có thể thấy. Ba là Huệ Nhăn, thấy thấu suốt giả tướng, hiểu Chân Không. Bốn là Pháp Nhăn; thấu triệt hết thảy các pháp môn thế gian và xuất thế gian. Năm là Phật Nhăn, kiêm cả bốn loại mắt trước, có thể viên dung.

 

          * Hỏi: Có phải là từ lúc mỗi người chúng ta sanh ra cho đến khi chết th́ gọi là một Kiếp hay không? (Thích Thường Chánh hỏi)

 

          Đáp: Kiếp (Kalpa) là tiếng Phạn, là danh từ để tính toán một thời gian rất dài. Một đoạn sanh tử của con người chẳng thể gọi là kiếp được!

 

          * Hỏi: Trời từ lúc hỗn độn sơ khai cho tới khi dung hợp có thể gọi là một kiếp của trời hay không? (Thích Thường Chánh hỏi)

 

          Đáp: Kiếp là tính toán thời gian bao nhiêu, hoàn toàn chẳng dựa theo sự biến hóa của trời đất để quy định. Hiểu rơ điều này, chỉ có thể nói trong một kiếp, thế giới (trời bao gồm trong ấy) có biến hóa như thế nào, chẳng thể nói một kiếp của trời được!

 

          * Hỏi: [Kinh luận] c̣n ghi chép trong một đại kiếp lại có trung kiếp, tiểu kiếp v.v… Một đại kiếp ấy có khác ǵ với bàn thạch kiếp, giới tử kiếp, tăng giảm kiếp, A-tăng-kỳ kiếp, và vô lượng kiếp? (Thích Thường Chánh hỏi)

 

          Đáp: Giả định con người sống mười tuổi, quá một trăm năm tăng một tuổi. Lần lượt tăng như thế cho tới tám vạn bốn ngàn tuổi th́ là tăng kiếp đạt tới cực hạn. Lại từ đó, cứ qua khỏi một trăm năm bèn giảm một tuổi. Lần lượt giảm như thế cho tới khi con người mười tuổi, tức là kiếp giảm đến cực hạn. Một tăng một giảm tính là con số một tiểu kiếp. Hai mươi tiểu kiếp là một trung kiếp. Bốn trung kiếp (có tên là Thành, Trụ, Hoại, Không) là một đại kiếp. Bàn thạch kiếp, giới tử kiếp v.v… là những con số nói theo kiểu tỷ dụ, nghĩa là: Một quả núi đá rộng bốn mươi dặm. Có một người trường thọ, cứ mỗi trăm năm dùng áo mềm mịn phẩy qua một lần, cho tới khi đá bị ṃn hết, kiếp vẫn chưa hết. [Đó gọi là “bàn thạch kiếp”]. Lại có một cái thành lớn, rộng đến bốn mươi dặm, chứa đầy hạt cải. Một người trường thọ cứ mỗi trăm năm tới nhặt một hạt cải, cho tới khi hết sạch hạt cải mà kiếp vẫn chưa hết. [Đó gọi là “giới tử kiếp”]. A-tăng-kỳ (Asaṃkhyeya) vốn dịch là Vô Ương Số. Xét theo Hoa Nghiêm Tổng Mục Quán Nhiếp, [Vô Ương Số] cũng là một con số nhất định. Nghĩa là: Mười vạn là một ức, mười ức là một triệu, mười triệu là một kinh, mười kinh là một cai, cứ tăng gấp mười lần như thế để thành một tổng số. Lại tăng gấp bội lần như thế, cho tới một trăm hai mươi lần thành một đại tổng số th́ gọi là một A-tăng-kỳ. Cho tới Vô Lượng, Vô Biên v.v… ngụ ư: Chẳng thể tính toán vậy!

 

          * Hỏi: Trong một kiếp của cơi trời[29] có Phật xuất thế, có phải là nói tới Hiền Kiếp hay không? Lại trong một kiếp cơi trời, cũng có kiếp nào không có Phật giáng thế độ chúng sanh hay không? Trong một kiếp của cơi trời, là một vị Phật đến độ chúng sanh, hay là c̣n có mấy vị Phật đến độ sanh? Hay là trong mấy kiếp của cơi trời, cũng có trường hợp không có Phật đến độ chúng sanh hay không? (Thích Thường Chánh hỏi)

 

          Đáp: Đă biết kiếp chưa hết, bất luận tiểu, trung, đại, đều có quá khứ, hiện tại, vị lai. Đối với mỗi kiếp, nhằm phân tích thuận tiện, đều giả định một tên gọi. Hiền Kiếp chính là tên của Trụ Kiếp trong hiện tại, v́ trong kiếp này có một ngàn vị Phật xuất thế. Không Kiếp trong bốn trung kiếp, chính là lúc thế giới hư hoại biến mất trong suốt hai mươi tiểu kiếp, chẳng có bất cứ ǵ. Đă chẳng có thế giới, [sẽ chẳng có chúng sanh cần hóa độ], cho nên Phật chẳng giáng thế. Đối với những câu hỏi khác, có thể tham khảo những điều trước sẽ tự hiểu.

 

          * Hỏi: Theo kinh Viên Giác, do Tứ Đại thanh tịnh, cho nên thập nhị xứ, thập bát giới và nhị thập ngũ hữu thanh tịnh. Nhị thập ngũ hữu là những ǵ? (Đại Khoan hỏi)

 

          Đáp: Đấy là nói tới hai mươi lăm thứ quả báo bất đồng trong tam giới, tức là bốn đường ác và bốn châu trong Dục Giới, các nơi như Lục Dục Thiên v.v… gồm mười bốn thứ, bốn cơi trời trong Sắc Giới và Đại Phạm Thiên, Tịnh Cư Thiên, Vô Tưởng Thiên v.v… gồm có bảy thứ, và Tứ Không Thiên trong Vô Sắc Giới, gộp chung lại thành con số hai mươi lăm.

 

          * Hỏi: Có người chủ trương Kiến Phần Chủng và Tướng Phần Chủng cùng loại, có người chủ trương khác loại. Người chủ trương “cùng loại” là do nghĩa nào? Người chủ trương “khác loại” là do nghĩa nào? Xin hăy dạy rơ! (Phương Minh hỏi)

 

          Đáp: Kiến Phần là năng duyên, Tướng Phần là sở duyên. Đă có Năng và Sở th́ là hai, có thể nói là “biệt”. Tướng Phần chính là cảnh được hiện bởi tâm, do tự thể chuyển biến [mà có]. Kiến Phần là tâm khởi tác dụng Chiếu. Chúng đă đều được sanh bởi tâm, cho nên lại có thể nói “đồng”. Chỉ có điều đối với chủ trương đồng hay biệt chưa thấy nguyên văn, chẳng biết điểm tranh luận ở chỗ nào, chẳng có cách nào nói cặn kẽ được! Bất quá, kẻ hèn này dựa theo lẽ thông thường để biện luận qua loa cho xong trách nhiệm.

 

          * Hỏi: Đối với Tứ Bất Định Trung Hối, có phải là kẻ ác làm lành bèn hối hận th́ [trường hợp ấy] cũng được kể gộp trong đó hay không? Có nghĩa nào khác với Hối trong kinh Dịch hay không? (Hao Thạch hỏi)

 

          Đáp: Làm lành mà hối hận cố nhiên là bao hàm trong ấy, nhưng chẳng cần phải nêu ra hai chữ “kẻ ác”, v́ thiện nhân làm lành cũng có lúc sanh ḷng hối hận. Chữ Hối xét theo phạm trù ấy, có [các trường hợp] làm lành mà hối, chẳng làm lành bèn hối, làm ác bèn hối, chẳng làm ác bèn hối, các loại khác nhau. Do vậy nói là “bất định”. Đối với chữ Hối trong cách đặt tên quẻ trong kinh Dịch[30], cũng chẳng thể nói là đều giống hệt được, v́ có chỗ tương đồng, có chỗ chẳng tương đồng!

 

          * Hỏi: Tam thiên đại thiên thế giới là ǵ? Xin dạy cặn kẽ! (Đặng Chí Thiện hỏi)

 

          Đáp: Giả định ltứ đại tinh cầu, tám trung tinh cầu, mấy vạn tiểu cầu, hướng lên trên cho đến chín tầng trời mới thôi, gọi là một đơn vị thế giới. Ngàn lần như thế, gọi là một tiểu thiên thế giới. Ngàn lần như thế, lại lên ba tầng trời nữa, gọi là một trung thiên thế giới. Lại ngàn lần như thế, trở lên chín tầng trời nữa mới thôi, gọi là một đại thiên thế giới. Do có ba lượt gấp một ngàn lần, nên gọi là tam thiên đại thiên thế giới.

 

          * Hỏi: Giáo Giới Kinh[31], đoạn thứ hai có câu “vu tứ cúng dường, tri lượng, tri túc” (đối với bốn thứ cúng dường, hăy biết đúng lượng, biết đủ), bốn thứ cúng dường là ǵ? (Đại Khoan hỏi)

 

          Đáp: Ẩm thực, quần áo, ngọa cụ, thuốc men.

 

          * Hỏi: Câu “tứ chân đạo hạnh” trong chương thứ nhất của kinh Tứ Thập Nhị Chương hiểu đại lược là như thế nào? (Đại Khoan hỏi)

 

          Đáp: Chính là Tứ Thánh Đế Khổ, Tập, Diệt, Đạo.

 

          * Hỏi: Phân giải Trần Sa Hoặc như thế nào? (Tiêu Huệ Tâm hỏi)

 

          Đáp: Trần Sa tỷ dụ số lượng nhiều. Hoặc () là mê hoặc. Nếu chẳng thể thông đạt vô số pháp môn, th́ gọi là Trần Sa Hoặc.

 

          * Hỏi: Vô vi pháp là ǵ, xin hăy từ bi khai thị. (Thái Minh Cốc hỏi)

 

          Đáp: Câu hỏi này nếu nói cặn kẽ sẽ rất dài ḍng. Nói đơn giản th́ chính là “chân lư chẳng do các nhân duyên tạo tác”.

 

          * Hỏi: Kinh Kim Cang nói Nhất Hiệp Tướng rốt cuộc là sự tướng như thế nào? Có ǵ chứng minh hay không? Có phải cũng là “phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng” hay không? (Trọng Chí Anh hỏi)

 

          Đáp: Như một nhúm cát hoặc đất, tản mạn, rời rạc, đó gọi là “vi trần hiện tướng”. Thêm nước và tro vào, ṿ thành một khối, vẫn là cát đất như trước, nhưng do chúng tụ tập mà dường như là một. V́ thế, gọi là Nhất Hiệp Hiện Tướng. Đây chỉ là do hỏi danh từ như thế nào bèn giải đáp [như thế ấy], hoàn toàn chẳng bàn tràn lan sang ư nghĩa và tỷ dụ. Hễ có tướng th́ đều là hư vọng. Đấy chính là lời nói về nguyên tắc của các tướng, há có ngoại lệ!

 

          * Hỏi: Xin hăy dùng tỷ dụ để giải thích “bất biến tùy duyên”“tùy duyên bất biến”. (Tương Tuấn Nghĩa hỏi)

 

          Đáp: Câu trước lấy “hiện tướng” (tướng được biến hiện) làm chủ để nói. Ví như răng vàng, nhẫn vàng, đồng hồ vàng v.v… Thể chất vẫn là vàng, chẳng thay đổi, nhưng răng vàng, nhẫn vàng, đồng hồ vàng, đều tùy duyên mà hiện thành các tướng khác nhau. Câu sau lấy tánh thể làm chủ để nói. Ví như nước là chất lỏng có tánh ướt, chẳng do h́nh dáng [của đồ đựng] là dài, vuông, tṛn, hoặc có nhiều cạnh [mà mất tánh ướt]. Nếu đựng trong những món vật như rương, nồi, bầu, lọ v.v… ắt nước sẽ dựa theo từng món mà thay đổi h́nh tướng, nhưng tánh ướt của chất lỏng vẫn là y như cũ.

 

          * Hỏi: Xin hỏi đại đức Biến Dịch sanh tử là ǵ? T́nh h́nh sanh tử của nó và Phần Đoạn sanh tử có ǵ khác biệt? (Trọng Chí Anh hỏi)

 

          Đáp: Phần Đoạn sanh tử là nói đến phàm thân xuất thai, nhập thai, không ngừng qua lại trong tam giới. Biến Dịch sanh tử chính là nói đến [cảnh giới của những vị] đă ở ngoài mười pháp giới, nhưng chưa chứng cực quả Pháp Thân, cảnh mê dần dần giảm, cảnh ngộ dần dần tăng, cảnh giới biến thiên, giống như sanh tử vậy. Có đến mấy cách nói, tôi chỉ nêu một cách.

 

          * Hỏi: Trong Tâm Kinh lại có những câu: “Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc, Sắc chính là Không, Không chính là Sắc… bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm”, tôi chưa hiểu ư nghĩa! (Nhan Văn Bộc hỏi)

 

          Đáp: Những lời ấy nói về Chân Đế của các pháp. Người chẳng nghiên cứu Bát Nhă sâu xa, sẽ chẳng thể ngay lập tức lănh hội được! Nếu giải thích tường tận, sẽ thành cả một bài văn dài dằng dặc. Đối với vấn đề này, nguyệt san này đă từng vấn đáp nhiều lượt. Nay tôi lại nói đơn giản như sau. Bốn câu trước nhằm nói: “Thể Không, Tướng có. Thể và Tướng chẳng hai”. Bốn câu sau là nói tới “thường trụ bất biến”.

 

          * Hỏi: Ḍng thứ nhất, trang hai trăm sáu mươi lăm sách Lăng Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa có câu: “Nhược thị kiến sắc, kiến dĩ thành sắc” (Nếu là thấy sắc, cái Thấy đó đă trở thành sắc), hai chữ Kiến () ấy giải thích như thế nào? Cũng trong trang ấy, nơi ḍng thứ ba, phần Giải Nghĩa có câu: “Bất năng dĩ kiến kiến kiến” (Chẳng thể dùng cái Thấy [của chân tánh] để thấy cái thấy [nơi phàm t́nh hư vọng] được), ba chữ Kiến () ấy phân biệt như thế nào? (Hồ Chánh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Hai chữ Kiến trong câu “kiến sắc kiến dĩ” nên hiểu là “trông thấy”, cần ǵ phải t́m cách phân tích khác! C̣n đối với câu “dĩ kiến kiến kiến” trong phần chú giải, chữ Kiến thứ nhất hăy nên hiểu là Chân Kiến. Chữ Kiến thứ hai nên hiểu là Năng Kiến, chữ Kiến thứ ba nên hiểu là Vọng Kiến. Câu ấy chính là nói: Chẳng thể dùng Chân Kiến để có thể thấy Vọng Kiến được!

 

          * Hỏi: Thông thường, trước danh xưng của người xuất gia đều thêm họ Thích. Đă xuất gia th́ không có họ, cần ǵ phải thêm vào chữ Thích? (Một độc giả ở Hoa Liên hỏi)

 

          Đáp: Đây là tập quán của các ḥa thượng Trung Hoa, chứ các nước khác cũng chẳng phải đều là như vậy. Chuyện này bất quá nhằm biểu thị rơ [người xuất gia] là pháp tử của đấng Thích Tôn, có lẽ cũng chẳng có ǵ là không thích hợp.

 

          * Hỏi: Chú giải cho phần thứ mười chín của kinh Kim Cang có các tỷ dụ, “tê nhân ngoạn nguyệt nhi văn sanh giác” (con tê giác do ngắm trăng mà sừng nổi vân) và “tượng bị lôi kinh hoa nhập nha” (voi bị tiếng sấm làm kinh động mà ngà có vằn). Tôi chẳng hiểu rơ chuyện được nói trong hai câu ấy, kính xin chỉ dạy! (Trương Chi Sanh hỏi)

 

          Đáp: Trên sừng tê giác và ngà voi đều có vằn giống như những ṿng gỗ trên thân cây lâu năm. Vằn trên sừng tê giác do cảm thụ bóng trăng soi mà sanh, vằn trên ngà voi do cảm thụ tiếng sấm động mà sanh. Dùng những chuyện ấy để làm tỷ dụ về lẽ cảm ứng.

         

          * Hỏi: Dục Giới có sáu tầng trời, Sắc Giới mười tám tầng trời, Vô Sắc Giới bốn tầng trời, tổng cộng là hai mươi tám tầng trời, gọi là “tam giới”. Xin hỏi Tây Phương Cực Lạc thế giới là thuộc tầng trời nào trong giới nào của tam giới? (Lâm Tướng Lộ hỏi)

         

          Đáp: Tam giới chính là cơi sanh tử luân hồi. Cực Lạc là quốc độ tịch tĩnh Niết Bàn, há có thể nói Cực Lạc thuộc tầng trời nào? Há chẳng nghe ngạn ngữ có câu: “Nhảy vọt khỏi tam giới, chẳng ở trong luân hồi” ư? Tam giới là uế, Cực Lạc là tịnh. Cơi phàm, cơi thánh, khác nào so sánh giữa bùn và mây!

         

          * Hỏi: Chiếu theo kinh A Di Đà, từ phương Tây qua khỏi mười vạn ức Phật độ, có thế giới tên là Cực Lạc. Thế giới có ǵ khác biệt thiên giới? (Lâm Tướng Lộ hỏi)

 

          Đáp: Sai khác to lớn, chẳng thể bằng vài câu mà có thể [nói trọn hết]. Ở đây, tôi nói sơ lược những điểm chánh yếu. Cơi trời có Thành, Trụ, Hoại, Không, Cực Lạc là Thường, Lạc, Ngă, Tịnh. Cơi trời có sanh tử, Cực Lạc chỉ có vượt thẳng lên thành Phật. Thiên giới đem so sánh với Cực Lạc giống như đem chuồng ḅ, chuồng dê so với Bạch Cung (White House) của nước Mỹ vậy!

         

          * Hỏi: Trong tam giới có mấy đại thiên thế giới? Có phải là đại thiên thế giới bao gồm lục đạo hay không? (Lưu Giác Chi)

         

          Đáp: Cần phải nói đảo lại, một đại thiên là một tam giới. Nói tách ra th́ [trong tam giới], có một Vô Sắc Giới và một [tầng trời] Tứ Thiền thuộc Sắc Giới, c̣n Sắc Giới từ Sơ Thiền tới Tam Thiền và sáu tầng trời thuộc Dục Giới th́ có đến mấy ngàn vạn. Nếu muốn biết rơ tường tận số lượng, ắt phải từ một tiểu thế giới, tiểu thiên, trung thiên, cho đến đại thiên, lần lượt tính toán dồn lại. Trong một đại thiên, chỉ Dục Giới là có lục đạo, chứ Sắc Giới và Vô Sắc Giới chỉ có thiên đạo.

         

          * Hỏi: Trong bộ Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa của pháp sư Viên Anh, trang sáu mươi mốt, ḍng thứ sáu có chữ Tam-ma-đề ([sư ghi chú] “chữ Tam đọc theo giọng Khứ Thanh”); ḍng thứ sáu nơi trang bảy mươi mốt, có từ ngữ “nhất thiết chúng sanh” ([sư ghi chú] “đọc theo giọng Khứ Thanh”). Chiếu theo cách đọc thông thường, chữ Tam () [trong Tam-ma-đề] phải đọc b́nh thanh, chữ Nhất Thiết phải đọc giọng Nhập Thanh, gần như là ai nấy đều đọc như thế. Xin hỏi có phải là chữ trước nên đổi thành đọc theo giọng khứ thanh, chữ sau nên cũng đổi sang đọc theo giọng khứ thanh? (Hùng Thanh Tuấn hỏi)

 

          Đáp: Tam-ma-đề là tiếng Phạn, Tam đọc giọng B́nh Thanh hoặc Khứ Thanh, ắt phải dựa theo âm tiếng Phạn th́ mới có thể xác định được. Chúng ta đọc những câu chú bằng tiếng Phạn, do không có thầy truyền dạy, đa số là sai lầm. Quá đáng đến nỗi những chữ phải đọc hai âm dính lại, bèn đọc thành hai chữ, chữ bốn âm ghép lại bèn đọc thành bốn âm [rời nhau][32]. Đối với âm thanh, do các nơi khác nhau, xưa nay biến đổi, nên đă sớm mất tánh chân xác. Vạn pháp duy tâm, danh từ, ngôn ngữ là tướng, hăy bỏ huyễn tướng, cốt sao giữ cái tâm chân thành, chánh trực. Pháp sư Viên Anh là bậc học vấn lẫn đức hạnh đều cao, [Ngài bảo] đọc chữ Tam theo Khứ Thanh, chắc là dựa theo âm tiếng Phạn. Danh từ “nhất thiết” (一切) vốn có hai cách hiểu: Đọc giọng Khứ Thanh th́ có nghĩa là một nhát dao chặt xuống chia đều chằn chặn. Đọc theo giọng Nhập Thanh, sẽ có nghĩa là “giai thiết” (階砌), tức là thứ bậc vậy. Xét theo nghĩa chúng sanh b́nh đẳng, đọc theo giọng Nhập Thanh cũng chẳng phải là không được! Nhưng chỉ cốt sao từ chẳng hại nghĩa, dẫu chẳng phân biệt chi ly cũng không sao!

 

          * Hỏi: Mười hai bộ kinh là ǵ, xin dạy cặn kẽ! (Lữ Tịnh An hỏi)

         

          Đáp: “Bộ” () là nói tới chủng loại, tức là đem nội dung của các kinh phân tích thành mười hai môn loại. Mười hai loại ấy, lại chia thành hai loại tánh chất:

          1) Chỉ về thể tài (genre) của kinh văn, có ba loại: Một là Khế Kinh, hai là Trùng Tụng, ba là Phúng Tụng.

          2) [Phân loại] kinh văn theo sự việc, gồm chín loại: Một là Nhân Duyên, hai là Bổn Sự, ba là Bổn Sanh, bốn là Vị Tằng Hữu, năm là Thí Dụ, sáu là Luận Nghị, bảy là Tự Thuyết, tám là Phương Quảng, chín là Thọ Kư.

          Mười hai tên gọi ấy có ư nghĩa như thế nào, ắt phải nghiên cứu kinh mới biết. Chỉ giải thích suông, chẳng đối chiếu kinh để chứng thực, sẽ vẫn là mờ mịt!

 

          * Hỏi: Nói Nhị Tử tức là nói về Phần Đoạn và Biến Dịch sanh tử, nhưng chẳng biết Phần Đoạn và Biến Dịch giải thích như thế nào? (Liêu Thanh Hoa hỏi)

 

          Đáp: Phần Đoạn Sanh Tử là nói đến sự sanh tử của lục đạo phàm phu, xả thân, biến thân. Thọ mạng có hạn độ nhất định, gọi là Phần (). H́nh thể có các cấp độ Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức khác biệt, nên gọi là Đoạn. Biến Dịch Sanh Tử chính là chuyển biến cảnh giới sở chứng nơi quả địa của bậc thánh Tam Thừa đă vượt khỏi tam giới, chẳng giống như phàm phu có h́nh sắc và thọ mạng thù thắng, kém cỏi, dài, ngắn, [chỉ là] mê hoặc dần dần đoạn diệt, bổn trí dần dần tăng tấn viên măn, tâm thức trước là biến cải, sau là thay đổi [cho nên dùng sanh tử để sánh ví] mà thôi!

 

          * Hỏi: Sách giáo khoa của bậc Tiểu Học nói hoàn toàn chẳng có quỷ, bài xích là mê tín, nhưng các khoa học gia cận đại đă chứng thực “thật sự có quỷ”. Như vậy th́ vẫn tuân theo sách giáo khoa, hay là vâng theo kiến thức hiện đại để nói rơ? (Vương Lạc Trí hỏi)

 

          Đáp: Nếu là kẻ dạy học th́ vẫn nói theo sách. Nếu cho rằng tài liệu giảng dạy đă nói sai lệch, chẳng ngại bổ sung bằng [những sự kiện] có căn cứ.

 

          * Hỏi: Chưa biết Phần Đoạn Sanh Tử và Biến Dịch Sanh Tử giải thích như thế nào? (Liêu Thanh Hoa hỏi)

 

          Đáp: Nói đơn giản, luân hồi trong lục đạo, chết nơi đây, sanh nơi kia, th́ gọi là Phần Đoạn Sanh Tử. Bậc đă vượt thoát tam giới, tŕnh độ ngộ chứng cũng chẳng nhất loạt giống như nhau. Hễ tiến cao hơn một cấp, ắt là có một phen diệt Hoặc. Đó gọi là Biến Dịch Sanh Tử.

 

          * Hỏi: Chữ Vạn () trên thân Phật giải thích như thế nào? Nhưng cách viết chẳng đồng nhất, có khi chữ Vạn bị viết ngược chiều (). Chẳng biết như thế nào mới là đúng? (Liêu Thanh Hoa hỏi)

 

          Đáp: Tiếng Phạn gọi chữ này là Thất Lợi Mạt Tha Lạc Sát Nẵng (Srivatsalaksana), dịch sang nghĩa tiếng Hán là Cát Tường Hải Vân. Chữ này đọc thành âm Vạn, hàm nghĩa “công đức viên măn”. Chữ Vạn xuôi và Vạn ngược tranh luận không ngừng. Kẻ hèn này chưa thấy nguyên dạng trong kinh tiếng Phạn, chẳng dám vũ đoán!

 

          * Hỏi: Sách Tâm Kinh Thiển Thuyết nói: “Đến lần thứ bảy của bảy ngày, sẽ gọi là Cụ Căn Vị (địa vị đầy đủ các căn), sáu căn mở ra (ư nói đă h́nh thành và tiếp nhận cảnh giới bên ngoài), sẽ gọi là Danh Sắc duyên Lục Nhập”, chẳng biết “lần thứ bảy của bảy ngày” sẽ là thời gian bao lâu? (Liêu Thanh Hoa hỏi)

         

          Đáp: Căn cứ theo kinh Đại Bảo Tích đă dạy: “Như thị ưng tri, phàm nhập thai giả, đại số ngôn chi, hữu tam thập bát thất nhật” (Hăy nên biết như thế này: Hễ kẻ nào nhập thai, nói chung, [sẽ ở trong thai] ba mươi tám lần bảy ngày). Tính ra, ba mươi tám lần bảy ngày tương ứng khoảng tám, chín tháng. “Lần thứ bảy của bảy ngày” như ông đă hỏi chính là khoảng năm mươi ngày.

 

          * Hỏi: Trong hàng đại chúng của Phật giáo, Ma Hê Thủ La (Maheśvara)[33] có địa vị như thế nào? Vị này có lai lịch như thế nào? (Lâm Chánh Khảo hỏi)

 

          Đáp: Đây là vị trời cao nhất trong Sắc Giới, tức Đại Tự Tại Thiên, là vị thần được ngoại đạo Ấn Độ thờ phụng. Lại nữa, Mật Tông cũng thờ phụng, bảo là do Đại Nhật Như Lai ứng hiện.

 

          * Hỏi: Có lần tôi đọc tập Hạ của bộ sách Lai Quả Thiền Sư Tập, có nói: Bổn Sư Thích Ca Như Lai từng phát ra năm trăm đại nguyện, nhưng chỉ nói số lượng là năm trăm, chẳng khai thị tường tận các nguyện ấy như thế nào? (Trịnh Quân Hải hỏi)

 

          Đáp: Năm trăm đại nguyện số lượng quá nhiều, làm sao có thể nhớ hết? Dẫu tra cứu trong kinh sách, dựa vào đó trích dẫn, cột báo này cũng chẳng thể đăng trọn hết được, huống là khai thị cặn kẽ ư? Xin hăy thứ lỗi khó thể phúc đáp được!

 

          * Hỏi: Tổ sư nói “đản năng dữ ma thời, bất sầu bất triệt ngộ” (chỉ có thể [nhận biết] ngay trong từng giây phút, chẳng lo không triệt ngộ), ba chữ “dữ ma thời” (與麽時) nên hiểu như thế nào? (Liêu Thanh Hoa hỏi)

 

          Đáp: Câu ấy nói ắt có những đoạn văn trước đó, nay ông cắt bỏ chẳng chép, làm sao có thể nói cho suông sẻ được! Chữ “dữ ma thời” giống như nay ta nói “giá dạng thời” (這樣時, trong lúc ấy).

 

          * Hỏi: Thường thấy sách Phật có hai chữ tam-muội, khó hiểu nghĩa của nó, xin hăy khai thị. (Liêu Thanh Hoa hỏi)

 

          Đáp: Tam-muội là tiếng Phạn, dịch nghĩa sang tiếng Hán là Chánh Định.

 

          * Hỏi: Xin hăy cho biết tam thiên đại thiên thế giới nói theo Sự và Lư là như thế nào? (Hoàng Đinh Thọ hỏi)

 

          Đáp: Hợp bốn đại châu, tám trung châu, bao nhiêu tiểu châu thành một đơn vị thế giới. Một ngàn đơn vị thế giới như vậy, gọi là một tiểu thiên thế giới. Gom một ngàn tiểu thiên thế giới lại, gọi là trung thiên thế giới. Lại gom một ngàn trung thiên thế giới, gọi là một đại thiên thế giới. Đó là nói đại lược. Nếu nói cặn kẽ th́ phải nói theo phạm vi ngang và dọc. Theo chiều dọc th́ dưới là có phong luân, thủy luân v.v… cho đến trên là có các cơi trời như Dục Giới, Sắc Giới v.v… Theo chiều ngang th́ có Tu Di, Thiết Vy, các tầng núi, các tầng biển[34]. Đó là Sự. Trước hết phải biết Sự là như thế nào. Nếu nói theo Lư, ắt phải là sau khi đă thâm nhập Phật học th́ mới có thể thảo luận. Nói quá sớm, chỉ mất công tăng thêm mê lầm mà thôi!

 

          * Hỏi: Xin hăy giải thích nghiệp lực và nghiệp cảnh, lại c̣n nêu thí dụ để chỉ rơ. (Ngô Mậu Tùng hỏi)

 

          Đáp: Nghiệp lực là các chuyện thiện ác do chính ḿnh đă tạo, chủng tử của chúng sẽ có một loại tiềm lực, hễ đến thời, sẽ dấy lên hiện hành, không thể ngăn chặn. Đấy là nghiệp lực. Hai chữ Nghiệp Cảnh có chút giới tuyến về sự sai biệt: Khi tạo nghiệp th́ là nhân, khi nghiệp nhân đă chín th́ là quả. Nay nói “nghiệp cảnh”, tức là nói về cảnh giới tạo tác. Cảnh ấy chính là nhân duyên lúc tạo tác thiện nghiệp hay ác nghiệp, như Năng, Sở, đối tượng, tác ư, dự bị, thực hiện, hoàn thành v.v… đều là nghiệp cảnh vậy!

 

          * Hỏi: T́nh trạng của thân Trung Ấm là như thế nào? Xin hăy nêu bày đại lược? (Ngô Mậu Tùng hỏi)

 

          Đáp: Câu hỏi này quá rộng, chẳng biết trả lời từ chỗ nào. Nếu muốn hiểu cặn kẽ, cần phải đọc Trung Ấm Kinh và Câu Xá Luận, hoặc [các sách viết về] cách độ thân Trung Ấm trong Mật Tông. Nếu nói đơn giản, [thânTrung Ấm] trong Dục Giới và Sắc Giới có khác biệt. Trong Dục Giới th́ như đứa trẻ bốn năm tuổi, chia thành có áo hoặc không áo sai khác. Trong Sắc Giới th́ vóc dáng thân thể như lúc c̣n sống, phần nhiều là có y phục. Động tác th́ những người sanh lên trời sẽ ngửa đầu, sanh vào loài người, súc sanh hoặc ngạ quỷ th́ đi ngang, sanh vào địa ngục th́ chúc đầu xuống, chân chổng lên. Thọ mạng th́ ngắn là như trong một khảy ngón tay, dài th́ là bốn mươi chín ngày.

 

          * Hỏi: Hai loài chim Ca Lăng Tần Già và Cộng Mạng là tên gọi của loài chim ǵ? Ngoài thế giới Cực Lạc ra, c̣n có thế giới nào có những loài chim này? (Lâm Tú Diễm hỏi)

 

          Đáp: Chim trong thế giới Cực Lạc hoàn toàn chẳng phải là thật sự sanh ra, mà đều là do Phật lực biến thành ḥng tiếp dẫn chúng sanh các nơi, cho nên biến hóa hiện diện ở các chỗ. Hai loài chim này sanh trưởng trong thế giới Sa Bà, Tuyết Sơn và Thiên Trúc đều có, trong lănh thổ Trung Hoa không có.

 

          * Hỏi: “Trung Hoa nan sanh” (khó sanh tại Trung Hoa) có phải là mang ư nghĩa coi rẻ người Âu Tây hay không? (trích từ bài Giai Đại Hoan Thiện) (Trần Đăng Phùng hỏi)

 

          Đáp: Kinh sách nhà Phật có câu “trung quốc nan sanh”, chẳng nói Trung Hoa! “Trung quốc” được nói ở đây là từ ngữ phiếm chỉ lănh thổ trung tâm của một nước, chẳng phải là nơi biên địa. Văn hóa ở những vùng đất nơi biên cương thường lạc hậu, khó nghe Phật pháp! Trong Phật pháp, chúng sanh b́nh đẳng, hoàn toàn chẳng có kiến chấp ta người, càng chẳng có ư niệm coi thường!

 

          * Hỏi: Giải thích câu “giai thị A Bệ Bạt Trí” như thế nào? Có ư nghĩa ǵ? (Lâm Tú Diễm hỏi)

 

          Đáp: Đây là tiếng Phạn, dịch sang tiếng Hán có nghĩa là Bất Thoái. Trong cơi này, sở dĩ tu hành khó thành là v́ luôn không thường hằng, dễ lui sụt. Hễ lui sụt, sẽ chẳng thành tựu. Người trong thế giới Cực Lạc đều là bậc thượng thiện, hoàn cảnh ưu mỹ, hết thảy đều có thể giúp cho [hành nhân] tiến cao hơn, hoàn toàn chẳng có nhân duyên gây chướng ngại. V́ thế, sanh vào cơi ấy, một mực chẳng lui sụt, có thể mau chóng thành Phật.

 

          * Hỏi: Chú tâm[35] của chú Lăng Nghiêm là những chữ nào? (Ngô Minh An hỏi)

 

          Đáp: Tất đát đa bát đát ra (Sitātapatrā).

         

          * Hỏi: Tiếng Phạn có phải là tiếng Nhă Lợi An (Aryan) hay không? V́ sao có Phạn ngữ và Phạm âm sai khác? Như chữ được gọi bằng bảy chữ Thất Lợi Mạt Tha Lạc Sát Nẵng [trong Phạn ngữ] mà âm đọc (Phạn âm) lại là Vạn? (Thái Thế Phương hỏi)

 

          Đáp: Kẻ hèn này chưa từng học tập tiếng Nhă Lợi An nên chẳng biết. Phạn văn nói trong kinh sách nhà Phật chính là văn tự của Ấn Độ. Người Ấn tương truyền văn tự ở xứ ấy do Phạm Thiên viết ra, người đời sau dựa theo đó mà gọi là Phạn văn.

 

          * Hỏi: Giải thích Kiến Tư Nhị Hoặc như thế nào? Xin hăy giải thích sơ lược! (Liêu Thanh Hoa hỏi)

 

          Đáp: Phàm phu trong tam giới chẳng hiểu nghĩa Tứ Đế, lầm lạc phát sanh năm thứ kiến giải sai lầm là Thân Kiến, Biên Kiến, Giới Thủ Kiến, Kiến Thủ Kiến, Tà Kiến v.v… đó là Kiến Hoặc. Phiền năo dấy lên gồm năm loại: Tham, sân, si, mạn, nghi v.v… chính là Tư Hoặc. Ư nghĩa của những thứ ấy như thế nào, chẳng thể nói trong vài lời được!

 

          * Hỏi: Trong bài Nhân Sanh Thập Luận của ông Tiền Mục có nói: “Phật giáo chẳng luận về linh hồn”, nhưng bộ Phật Pháp Đạo Luận lại bàn về thuyết linh hồn. Điều này có phải là mâu thuẫn hay không? (Trần Triều Phước hỏi)

 

          Đáp: Phật giáo hoàn toàn chẳng phải là không nói đến linh hồn, chỉ là danh từ khác nhau, lư giải khác nhau, như thế mà thôi! Ngoại giáo gọi cái tinh thần sanh tử đến đi là Hồn, Phật giáo gọi nó là Thức. Riêng ḿnh tông Duy Thức luận định chuyện này cặn kẽ nhất. Đó gọi là đại khái danh từ bất đồng! Ngoại giáo nói hồn chính là quỷ, hoặc nói là “thường c̣n”, hoặc nói là “tiêu diệt”, hoàn toàn chẳng có lập luận nhất định. Nhà Phật nói “chúng sanh đều có Phật tánh, chỉ là hễ mê th́ gọi là Thức. Thức sẽ luân chuyển trong lục đạo, sanh tử chẳng ngừng”. V́ thế, người học Phật cầu sao chuyển thức thành trí, trí chính là chân tánh, chân tánh chính là Phật, tức là đại khái lư giải bất đồng. Có hai thứ bất đồng như thế, sai khác hào ly, lệch đi ngàn dặm! Ngoại giáo coi hồn là linh, coi nó là căn bản. Phật giáo biết thức là mê, chẳng phải là bản ngă!

 

          * Hỏi: Trong cuốn Phật Học Thường Thức Khóa Bổn của tiên sinh, có rất nhiều câu chữ đọc thấy rất huyền hư, ví như trong phần giải thích về thế giới nói có núi Tu Di v.v… (Trần Triều Phước hỏi)

 

          Đáp: Có đất nào không có núi? Có tinh cầu nào không có núi? Tu Di là tên một quả núi cao nhất. Đấy đều là v́ thế giới quá nhiều, nhằm phân định giới tuyến, cưỡng đặt cho nó một cái tên ḥng dễ nói đó thôi. Hễ chấp trước phiến diện th́ chỗ nào cũng bị vướng mắc, trở ngại; có thể thấy viên dung th́ sẽ đều là thiện xảo.

 

          * Hỏi: “Các hành vô thường, là pháp sanh diệt, sanh diệt diệt hết, tịch diệt là vui”. Không biết giải thích như thế nào? (Trần Triều Phước hỏi)

 

          Đáp: Bài này được gọi là Tuyết Sơn Kệ, chính là nguyên do khiến cho đức Thích Tôn ngộ đạo từ nhiều kiếp lâu xa. Ngụ ư sâu thẳm, chỉ có thể nói đại lược. Hai câu đầu nói về pháp hữu vi trong thế gian, không ǵ chẳng phải là khổ. Câu đầu nói “hết thảy các tạo tác đều chẳng vĩnh hằng”; câu sau nói [các pháp ấy] “đều là sanh sanh diệt diệt, khó thể kết thúc”. Hai câu sau [của bài kệ] nói “đạo vô vi xuất thế, chính là chân lạc”. Câu trước nói: Chuyện sanh diệt đă giải quyết xong. Câu sau nói: Ba chướng đă trừ, chứng niềm vui Niết Bàn.

 

          * Hỏi: Mong hăy phân biệt, giải thích căn nguyên và ư nghĩa của Quán Âm Minh Trai, Lục Nhật Trai, Thập Nhật Trai v.v… (Lương Minh Tượng hỏi)

 

          Đáp: Ư nghĩa nguyên gốc của chữ Trai () là ăn đúng thời, tức là “quá Ngọ chẳng ăn”. Đấy chính là [ư nghĩa] theo kinh văn trong giới luật. “Trai” lại c̣n có nghĩa là “răn dè, tôn kính”. V́ thế, trong ngày trai phải cẩn thận, ít dục, tự giữ ḿnh thanh tịnh. Về sau, coi chuyện sát sanh ăn thịt đă là bất tịnh, lại c̣n tổn thương tâm từ bi, cho nên trong ngày tŕ trai, bèn đoạn tuyệt chuyện ăn thịt. Nay th́ chỉ không ăn thịt bèn gọi là “tŕ trai”, rốt cuộc đă sơ sót “thanh tịnh, tự giữ ḿnh”. Đúng là thiện sự chẳng hoàn toàn vậy! Lục Trai Nhật là v́ trong những ngày ấy chư thiên đi xét án khắp thiên hạ, xem xét con người thiện hay ác, hăy xem [điều này] trong kinh Ma Ha Bát Nhă. Thuyết Thập Trai phát xuất từ kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, nghĩa là trong các ngày ấy, các tội kết tập, biện định nặng nhẹ. V́ thế, hăy nên giữ ǵn cái tâm. Nếu có thể lễ Phật, tụng kinh, sẽ có thể tiêu trừ tội chướng. Quán Âm Trai Nhật chẳng rơ, nhưng đại ư cũng là như trên đă nói.

 

          * Hỏi: Tam Giáo Bảo Cung ở B́nh Đông có phải là chánh tín Phật giáo hay không? Có thể thâu âm khóa tụng sáng tối của Tam Giáo Bảo Cung phát trên đài truyền thanh để giúp cho chuyện tụng niệm sáng tối hay không? (Lương Minh Tượng hỏi)

 

          Đáp: Tên gọi Tam Giáo Bảo Cung hết sức kỳ dị, do giáo nào, người nào, tụng kinh điển ǵ, kẻ hèn này đường xa cách trở, nhất loạt chẳng biết, chẳng tiện hấp tấp trả lời. Xin hăy lănh giáo bậc thiện tri thức ở gần chỗ ông, đó là điều cần thiết.

 

          * Hỏi: Duyên khởi của chuyện dùng mộc ngư (mơ) làm pháp khí? (Vương Thanh Hán hỏi)

 

          Đáp: Cá không nhắm mắt, trong tâm luôn dè dặt. Khắc gỗ làm thành món đồ mô phỏng theo h́nh của nó [nhằm nhắc nhở hành nhân luôn tỉnh thức, cẩn trọng trong hành vi]. Gơ vào, [mơ sẽ] phát ra âm thanh nhằm giữ nhịp cho tiếng niệm tụng ḥng xua đuổi hôn trầm, có công hiệu thù thắng rất lớn.

 

          * Hỏi: Trong Phật Học Thường Thức Khóa Bổn, khóa thứ bảy có nói về số lượng thế giới, các tinh cầu lớn nhỏ và bảy núi, tám biển vây quanh núi Tu Di, dưới là từ Không Luân cho đến trên là Sơ Thiền Thiên của Sắc Giới, tập hợp một ngàn thế giới sẽ là một tiểu thiên thế giới. Tam thiên đại thiên thế giới do đức Phật nói và các tinh cầu như các nhà thiên văn học đă nói trong hiện tại cũng là chẳng thể tính kể. Phật học và khoa học tương đồng. Xét theo địa lư, núi Tu Di là mạch núi Hỷ Mă Lạp Nhă. Xét theo Phật học, chẳng biết là ở chỗ nào trong hư không! Cơi trời chia ra từ Sơ Thiền cho đến Tứ Thiền Thiên. Đối với các cơi trời, xét theo bản đồ thiên văn, chẳng biết làm thế nào để phân biệt hai điều ấy, cũng mong dạy cho! (Hà Trạch Thành hỏi)

 

          Đáp: Núi Tu Di dịch là Diệu Cao, hoàn toàn chẳng phải là tên của một ngọn núi chuyên biệt. Bất cứ khu vực nào có quả núi cao nhất th́ [quả núi ấy] đều có thể gọi là Tu Di. Núi Hỷ Mă Lạp Nhă chính là Tu Di trong châu này, nhưng chẳng phải là núi Tu Di của Sa Bà đại thiên! Chúng ta chỉ dựa theo châu cầu[36] này, vẫn chưa biết đến các châu cầu khác rốt cuộc là ngôi sao nào, huống hồ là núi Tu Di của đại thiên ư? C̣n như bản đồ thiên văn mà ông đă nói đó, chính là thứ được vẽ theo nhục nhăn của chúng ta, bất quá là những ǵ xung quanh gần gũi châu cầu này nhất, giống như một bọt nước trong biển cả mà thôi! Không chỉ là chẳng thấy Tứ Thiền, mà ngay cả sáu tầng trời thuộc loại Địa Cư[37] há có thể trông thấy ư? Đấy chính là những thứ mà Thiên Nhăn hoặc Phật Nhăn trông thấy, bọn chúng ta há nên dùng một cái ống bé tí để đong lường biển rộng ư?

         

          * Hỏi: Một đại kiếp là tám mươi tiểu kiếp. Thành Phật cần tới ba đại A-tăng-kỳ kiếp. Con người thọ tám vạn bốn ngàn năm, cứ mỗi trăm năm giảm một tuổi, giảm đến mười tuổi th́ ngừng, sau khi [tuổi thọ chỉ c̣n] mười tuổi, bèn cứ mỗi trăm năm tăng một tuổi, tăng đến tám vạn bốn ngàn năm. Thời gian một tăng một giảm như thế hợp thành một ngàn sáu trăm tám mươi vạn năm là một tiểu kiếp, hai mươi tiểu kiếp là trung kiếp, bốn trung kiếp chia ra Thành, Trụ, Hoại, Không. Bốn trung kiếp là một đại kiếp. Một đại kiếp là mười ba vạn bốn ngàn bốn trăm vạn năm. Tính như vậy là tính theo kiểu nào, phải là mười ba ức bốn ngàn bốn trăm vạn năm! Nếu xét theo phép Toán trong nhà trường, chẳng biết so sánh như thế nào? Một tiểu kiếp có bao nhiêu năm? Đại kiếp có bao nhiêu năm? Tôi chẳng thể hiểu rơ, muôn phần mong cụ dạy cho! (Hà Trạch Thành hỏi)

 

          Đáp: Cách tính toán hoán chuyển trong phép đo lường xưa nay bất đồng, trong và ngoài nước bất đồng. Danh từ giống nhau, nhưng số lượng khác nhau, hoặc số lượng giống nhau, nhưng tên gọi khác nhau. Thiên biến vạn hóa, rất khó phù hợp lẫn nhau. Như độ dài thời cổ có Tầm, Nhẫn[38], dung lượng th́ có Dữu, Bỉnh[39], trọng lượng th́ có Truy, Thù[40], nay đều chẳng dùng nữa! Độ dài của một Xích (,một thước Tàu) trải qua các đời Châu, Tần, Hán, Đường, các ngành nghề, các nơi đều sai khác. Cân lường th́ Trung Hoa dùng Cân và Quân[41] để tính đếm, Âu Tây dùng Bảng (pound), Đốn (ton) để tính đếm. Về năm, Trung Hoa dùng quy tắc “ba, năm” để thêm tháng nhuận[42], Âu Tây dùng quy tắc khác để tính toán[43]. Tính dặm th́ có những cách dựa theo yard, hoặc theo bộ (foot) sai khác, có dặm Tàu, cây số (km), hải lư sai biệt. Để tính toán đất đai th́ ở Đại Lục có Mẫu, có Khoảnh[44], Đài Loan th́ dùng B́nh và Giáp[45]. Phức tạp như vậy, cư sĩ muốn gom các kiếp ḥng so sánh với phép Toán trong nhà trường hiện thời để mong t́m được con số, kẻ hèn này tự thẹn kém cỏi, kính cẩn tạ từ v́ chính ḿnh chẳng nhanh nhạy!

 

          * Hỏi: A Di Đà Phật và Thích Ca Mâu Ni Phật có ǵ phân biệt? Hy vọng đến ngày thư gởi tới, sẽ giải đáp trong số báo nào của tạp chí Bồ Đề Thụ. Ngàn phần mong cầu cụ sẽ gởi thư trả lời để chỉ dạy. Như người xưa nói Bàn Cổ mở mang trời đất, bà Nữ Oa luyện đá vá trời, thần thoại Cơ Đốc Giáo th́ nói Thượng Đế sáng tạo trời đất, loài người và muôn vật, hoàn tất trong một tuần lễ. Tôi không tin, chỉ tin lời Phật dạy “tự sanh, tự diệt”. (Hà Trạch Thành hỏi)

 

          Đáp: Câu hỏi khéo thay! Xin hăy nghĩ xem, Nghiêu và Thuấn có ǵ phân biệt? Có phân biệt chính là danh tướng, vô phân biệt là Tánh Đức. Nữ Oa vá trời, Thượng Đế tạo ra muôn vật, cố nhiên là chuyện thần thoại, nhưng “tự sanh, tự diệt” cũng chẳng phải do Phật nói.

 

          * Hỏi: Con người sau khi chết có chín hiện tượng, một là chết, hai là trương ph́nh, ba là xanh bầm, bốn là rữa nát, tuôn mủ, năm là hư hoại. Nhưng sau khi đă hoại, cớ sao c̣n có tướng thứ sáu là máu bê bết, tướng thứ tám là cốt tỏa (骨鎖). Có phải là xương trắng giống như khóa móc vào nhau hay không? Xin chỉ dạy! (Hà Ngọc Trinh hỏi)

 

          Đáp: Người đă chết có chín hiện tượng chính là nói về cái thân do Tứ Đại giả hợp lần lượt biến hóa, có chín tướng khác nhau. Tướng hoại thứ năm chỉ là nói dung mạo hư nát, chẳng phải là nói đến hết thảy thể chất đều bị tiêu sạch. Cho đến sau khi bị rữa nát, chảy mủ, những thứ da, thịt, mỡ c̣n sót lại, biến thành một đống máu me bầy nhầy. Đống máu me bầy nhầy lại trải qua giai đoạn khô đi rồi tan biến, cái c̣n sót lại lỏng chỏng như móc vào xương sống. Xương sống giống như thân cây của các khớp xương. Hễ nói đến xương sống th́ các loại xương khác đều được bao gồm!

 

          * Hỏi: Vị tổ khai sơn của núi Thanh Nguyên ở Cát An là Lục Tổ hay Thất Tổ? Pháp danh của Ngài là ǵ? Thuộc tông nào? (Lưu Gia Phú hỏi)

 

          Đáp: Tổ khai sơn núi Thanh Nguyên chính là thiền sư Thanh Nguyên Hành Tư[46]. Ngài là pháp tự của Lục Tổ thuộc Nam Phái, cho nên là Thiền Tông. Nam Phái phân thành năm nhà, trong ấy có tông Tào Động do thiền sư Thanh Nguyên khai sáng.

 

          * Hỏi: Linh cốt của Lục Tổ hoặc Thất Tổ có phải là chôn tại núi Thanh Nguyên hay không? (Lưu Gia Phú hỏi)

          Đáp: Linh cốt của Lục Tổ ở chùa Nam Hoa, Quảng Đông; chính là nhục thân được bó sơn[47], thếp vàng.

 

          * Hỏi: Thanh Nguyên sơn được khai sơn vào triều đại nào, năm nào? (Lưu Gia Phú hỏi)

 

          Đáp: Đạo tràng của ngài Thanh Nguyên là chùa Tịnh Cư. Tổ sư Hành Tư sống tại đó vào khoảng niên hiệu Khai Nguyên đời Đường.

 

          * Hỏi: Nghe nói người ta sau khi đă chết, trong ṿng bốn mươi chín ngày, sẽ là Trung Ấm, v́ trong thời gian ấy sẽ chuyển thế sanh trong lục đạo. Nhưng loan đàn (đàn cầu cơ thờ phụng ân chúa) ở các nơi, có lập ra cách gặp gỡ giữa Âm và Dương. Có người chết đă hơn hai mươi năm cho đến sau hơn bốn mươi năm vẫn giáng bút, nói là họ làm thần được người khác triều bái (tức là đă chuyển sanh vào thiên đạo rồi!), hoặc là nói họ sống tự do trong cơi Âm, hoặc là có vong hồn chịu khổ, mong mỏi gia quyến siêu độ cứu bạt, nhưng trong ṿng bốn mươi chín ngày, chuyện chuyển thế đă được giải quyết rồi, há có lẽ ấy? (Tiêu Huệ Vinh hỏi)

 

          Đáp: Những lời lẽ trong hầu cơ giáng bút phần nhiều là do bọn xảo trá, giả dối ngụy tạo để lừa phỉnh ngu dân! Cũng có trường hợp là linh hồn thật sự giáng cơ. Nếu đó là linh hồn của người chết đă lâu năm, th́ là do từ Trung Ấm chuyển nhập quỷ đạo, chứ thuộc trong những đường khác, sẽ chẳng có lẽ nào giáng đàn! Nếu bàn về chuyện siêu độ, cứu bạt, bất luận là hiện đang ở trong đường nào, chỉ có thể mời bậc cao tăng trọn đủ giới hạnh theo đúng pháp thực hiện. Nếu như cảm cách, sẽ có thể từ khổ vượt thoát lên chốn an vui!

 

          * Hỏi: Nghe nói năm trăm năm trong dương gian tương đương một ngày trong cơi Âm, dám hỏi chuyện ấy có thật hay không? (Tiêu Huệ Vinh hỏi)

 

          Đáp: Có th́ có, nhưng chẳng là đơn giản cứng ngắc như thế đâu nhé! Bàn đến chuyện này, sẽ hết sức phiền toái, biết là có chuyện ấy th́ cũng được rồi!

 

          * Hỏi: Nghe nói vua Diêm La chẳng phải là một vị, mà là rất nhiều! Chuyện ấy có thật hay không? (Tiêu Huệ Vinh hỏi)

         

          Đáp: Như người đời biết là có mười vị [Diêm La Vương], trong kinh cũng có ghi chép, tự nhiên là nhiều vị, chẳng phải một! Điều này vẫn bất quá là nói về một nơi mà thôi. Nếu biết có vô lượng đại thiên, trên là Thiên Đế, dưới là Diêm La Vương, đều là [số lượng đến] trăm ngàn vạn ức, khó thể biết số lượng được!

 

          * Hỏi: Vô Sư Trí và Tự Nhiên Trí có ǵ phân biệt? Lại nữa Nhất Thiết Trí và Nhất Thiết Chủng Trí khác nhau ở chỗ nào? (Lại Đống Lương hỏi)

 

          Đáp: Vô Sư và Tự Nhiên, Thể là một, nhưng có hai tên. Nếu tách ra, Tự Nhiên chính là vốn có, Vô Sư là chẳng do ai chỉ dạy mà riêng ḿnh tự ngộ. Nhất Thiết Trí là biết tổng tướng của hết thảy các pháp. Tổng tướng chính là Không tướng, đấy là sở chứng của bậc Thanh Văn, Duyên Giác. Trên đó c̣n có Đạo Chủng Trí, biết các thứ đạo pháp sai biệt, tức là các thứ phương tiện Diệu Hữu, là sở chứng của hàng Bồ Tát. Nhất Thiết Chủng Trí là nói bao gồm cả hai trí trước (Nhất Thiết Trí và Đạo Chủng Trí), Nhất Thiết là nói đến Nhất Thiết Trí, Đạo là Đạo Chủng Trí. Đây chính là Phật trí viên minh, chẳng có ǵ không bao trùm!

 

          * Hỏi: Trong chín mươi sáu loại ngoại đạo ở Ấn Độ thuở ấy, có một loại là Bà La Môn giáo. V́ sao trong bốn chủng tánh, chủng tánh Bà La Môn là bậc nhất, Sát-đế-lợi thứ hai? (Hà Trần Nguyệt Nga hỏi)

 

          Đáp: Trước khi đức Thích Tôn giáng thế, tôn giáo tại Ấn Độ chính là Bà La Môn. Tuy Sát-đế-lợi (Kshatriya) là vương tộc, nhưng tín phụng Bà La Môn giáo. Vương tộc tuy quư, vẫn là đệ tử; tôn giáo thay trời giáo hóa chúng sanh, ở vào địa vị thầy. V́ tôn trời, trọng thầy, nên xếp Bà La Môn (Brahmin) đứng đầu. Tập quán lịch sử này chẳng có ư nghĩa sâu xa nào khác! Cho đến khi Phật giáng thế, đa số Bà La Môn tự biết tôn giáo ấy không đúng, lại quy y theo đức Phật.

 

          * Hỏi: Bà La Môn tu theo kinh điển ǵ? Phương pháp tu hành là tu như thế nào? (Hà Trần Nguyệt Nga hỏi)

 

          Đáp: Trước tác lâu đời nhất là Tứ Phệ Đà (Vedas)[48], dịch nghĩa là Trí Minh, Minh Phần v.v… Lư khá cao sâu, là triết học cổ nhất ở Ấn Độ. Đó chính là kinh điển được tín phụng bởi hàng Bà La Môn.

 

          * Hỏi: Cấp bậc của Bồ Tát gồm năm mươi hai địa vị, chưa rơ năm mươi hai vị có phải là nói đến Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, Diệu Giác hay không? Hành môn để nương theo trong mỗi địa vị gồm mười bậc ấy là như thế nào? Cầu xin cụ hăy từ bi chỉ rơ! (Hoàng Mễ Điền hỏi)

 

          Đáp: Đúng như năm mươi hai danh xưng mà ông đă nêu. Cách tu những địa vị ấy chẳng có pháp chuyên biệt, nói chung là lấy Giới, Định, Huệ làm nền tảng. Chẳng phân biệt Thiền, Tịnh, Mật, Luật, hễ tấn tu chứng quả, sẽ đều có thứ tự. Năm mươi hai địa vị chính là tên gọi theo thứ tự. Chọn pháp của bất cứ tông phái nào để tu, cũng đều có thể đạt đến những địa vị ấy. Đó gọi là “nhà nhà đều có đường để đến Trường An”.

 

          * Hỏi: Trong tự viện thờ phụng Di Lặc Phật, chẳng biết bốn vị tôn giả ở hai bên Ngài là những vị nào? (Hoàng Vĩnh Lâm hỏi)

 

          Đáp: Chính là Đông phương Tŕ Quốc Thiên Đa La Trá (Dhṛtarāṣṭra), Nam phương Tăng Trưởng Thiên Tỳ Lưu Ly (Virūḍhaka), Tây phương Quảng Mục Thiên Tỳ Lưu Bác Xoa (Virūpākṣa), Bắc phương Đa Văn Thiên Tỳ Sa Môn (Vaiśravaṇa), bốn vị thiên vương ấy!

 

          * Hỏi: Cách ngồi của tượng chư Phật, Bồ Tát đều là ngồi xếp bằng, chỉ có tượng Quán Âm [được tạc ngồi theo kiểu] một chân dựng lên, một chân đặt nằm ngang, chẳng giống các vị khác. Cách ngồi ấy có ư nghĩa như thế nào? (Lại Đống Lương hỏi)

 

          Đáp: Quán Âm hóa hiện ba mươi hai tướng, mỗi tướng đều khác, đâu phải chỉ là hai chân dựng lên hay đặt nằm ngang khác nhau. Kiểu ngồi thảnh thơi này phần nhiều là tướng thuyết pháp. Chư Phật, Bồ Tát ngồi xếp bằng, phần nhiều là tướng nhập Định. Xét ra, Quán Âm cũng có tượng ngồi kết già, chư Phật, Bồ Tát cũng có tượng tạc ngồi thoải mái hoặc tượng đứng, hoàn toàn chẳng nhất định!

 

          * Hỏi: Tiêu chí của Phật giáo là chữ , biểu trưng điều ǵ và bao hàm ư nghĩa như thế nào? (Dương Gia Do hỏi)

 

          Đáp: Thân tướng của đức Phật có ba mươi hai thứ kỳ đặc, chữ là vết nhăn sanh trên ngực. Các tướng đều nhằm biểu thị sự tốt lành. Truyền đến nước ta, ấn định âm của chữ ấy là Vạn, lưu truyền [nhằm biểu thị] ư nghĩa “vạn đức cát tường” vậy!

 

          *Hỏi: Theo thói quen trong tỉnh này (Đài Loan), các món đồ của người ngoài tặng cho trẻ đầy tháng thường in kư hiệu chữ Vạn (), có phải là có liên quan đến tiêu chí của Phật giáo hay không? (Dương Gia Do hỏi)

 

          Đáp: Chữ ấy đă có âm là Vạn, lại biểu thị tốt lành. Phật pháp truyền sang nước ta đă hơn một ngàn năm, ai nấy đều hay biết; v́ thế, đều biết chữ ấy biểu thị sự trường cửu, cát tường. Trẻ nít đầy tháng, bạn bè tặng những thứ ấy, cũng nhằm ư nghĩa chúc nó sống lâu, phú quư. Chỉ v́ được lưu hành đă lâu, nên quên mất [ư nghĩa ban đầu]; về sau, phần nhiều coi như hoa văn, chẳng biết tới nguồn gốc [của kư hiệu ấy].

 

          * Hỏi: Sách Tại Gia Bồ Tát Giới Bổn do Thụy Thành Thư Cục xuất bản, bài kệ kết thúc nơi hàng thứ ba, có câu: “Tam giả sanh sanh xứ”, ḍng thứ chín là “diệc danh Ma Ha Diễn”, hàng thứ mười ghi: “Chư Phật Tát Bà Nhă”. Xin hăy giải thích “sanh sanh xứ, Ma Ha Diễn, Tát Bà Nhă” trong bài kệ ấy! (Lư Vinh Đường hỏi)

 

          Đáp: “Sanh sanh xứ” là nơi sẽ sanh vào trong thân sau. Ma Ha Diễn (Mahāyāna) dịch là Đại Thừa. Tát Bà Nhă (Sarvajña) dịch là Nhất Thiết Chủng Trí.

 

          * Hỏi: Xin hăy giải thích tường tận ư nghĩa chữ Si (), hậu học đối với chữ Si trong Tam Độc cảm thấy khá mơ hồ. Đấy có phải là do đầu óc phát bệnh hay không? (Từ Phương hỏi)

 

          Đáp: Chữ Si nghĩa là “ngu muội”. Ngu () là chẳng phân biệt thiện ác, chẳng biết tội phước. Muội () là chẳng hiểu Sự Lư, chẳng tin nhân quả. Kẻ như thế khó thể tuân theo điều lành, khó thể hướng về đạo, là kẻ độn căn ch́m đắm nhiều kiếp dài lâu.

 

          * Hỏi: Phát đại Bồ Đề tâm như thế nào? (Trương văn Kỳ)

 

          Đáp: Đại Bồ Đề tâm là một đại sự nhân duyên, chính ḿnh và người khác đều đạt đến giải thoát rốt ráo. Luận về dấu tích, h́nh tướng th́ như Tứ Hoằng Thệ Nguyện đă nói: “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền năo vô tận thệ nguyện đoạn, pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”. Nương theo bốn điều đại cương ấy, suy ra những điều mục chi tiết, chuyên ṛng, dũng mănh tiến lên, kiên tŕ, chẳng lui sụt, từ nhỏ nhặt dần dần đạt đến rộng lớn, từ yếu ớt đạt đến mạnh mẽ, chẳng mệt mỏi, chẳng chán ngán, mong ắt thành tựu. Tuy chứng Phật quả, mà thả chiếc bè Từ. Quán Âm, Địa Tạng đều là thầy ta, tâm có thể như thế th́ chính là đại Bồ Đề.

 

          * Hỏi: Xin hăy so sánh, nói rơ cách giải thích của nhà Phật và nhà Nho đối với chữ Trung. (Trương văn Kỳ)

 

          Đáp: Trung () là chẳng lệch lạc, chẳng có hai bên đối lập. Trung đă là Trung th́ há có so sánh? Như ngắm vầng trăng Rằm từ tháng Giêng cho tới tháng Chạp, đều là một tướng tṛn xoe, hoàn toàn chẳng sai biệt. Chỉ có đức Phật đối với pháp thế gian và xuất thế gian, coi trọng xuất thế, nên mới từ Giả và Không nói Trung. Nhà Nho đối với pháp thế gian và xuất thế gian, nói tường tận về pháp thế gian, cho nên nói thái quá và bất cập. Như lúc Đông và Hạ, trăng Rằm vào giờ Tư đều ngự giữa trời, chỉ là có độ cao hay thấp khác nhau, [thời gian] mọc lặn dài ngắn sai khác đó thôi!

 

          * Hỏi: Nguồn gốc của đạo Long Hoa bắt đầu từ chỗ nào? Người ở chỗ của mạt học hay nói kẻ tại gia ăn chay là giáo hữu của Phật giáo Long Hoa, nhưng có người nói: “Tôi làm sao là giáo hữu Long Hoa cho được, đạo ấy bắt nguồn từ nơi đâu?” Đúng là khiến cho mạt học ú ớ chẳng thể đáp được! (Vị Truyền Đinh hỏi)

 

          Đáp: Hội Long Hoa vốn xuất phát từ kinh Phật: Sau khi đức Thế Tôn diệt độ, là chuyện thuộc năm mươi sáu ức vạn năm sau, chẳng phải là Long Hoa xuất hiện trong hiện tại. Cái hội Long Hoa hiện thời thật sự là do những kẻ chưa hề đọc kinh Phật, chẳng biết giáo lư, mạo danh Phật giáo đặt ra. Nói chung, Phật giáo là Phật giáo, đạo Long Hoa hiện thời là đạo Long Hoa, là hai thứ [hoàn toàn khác biệt], chẳng phải là một. Trong giáo ấy, tuy có kinh Phật, nhưng cũng bất quá là lôi Đông kéo Tây, tô son trát phấn cho có thể diện đó thôi! Kẻ nghiên cứu, học tập Phật giáo, ắt có Tam Tạng kinh điển, những ǵ ở ngoài Tam Tạng đều chẳng phải là Phật giáo! Mong hăy đừng lầm lẫn mắt cá là minh châu. Nếu hỏi tới cội nguồn của đạo Long Hoa trong hiện thời, đă có quyển Ám Lộ Minh Đăng (đèn sáng trong nẻo tối) do ḥa thượng Tứ Minh biên soạn. Trong ấy, đă ghi chép rất tường tận. Ở Thụy Thành Thư Cục của Đài Trung có bán, có thể thỉnh về tham khảo!

 

          * Hỏi: Trong khóa thứ tư của Phật Học Thường Thức Khóa Bổn có nói: “Kim Cang Thủ Bồ Tát và tôn giả A Nan lại chép ra hai bộ đại kinh Kim Cang Giới và Thai Tạng Giới. Đó là kết tập bí mật. Phật pháp th́ phải phổ biến tuyên dương, v́ sao kết tập bí mật”. Hai chữ “bí mật” có phải là chẳng hiển lộ hay không? Xin hăy dạy cặn kẽ! (Triều Tân Ban hỏi)

 

          Đáp: Phật pháp có hai tông lớn là Hiển và Mật, người ta đă thường quen nghe. Nói “kết tập bí mật” chính là kết tập kinh điển của Mật Tông vậy, chẳng phải là giữ kín không nói ra, mà cũng chẳng phải là kinh điển bí mật chẳng lưu truyền!

 

          * Hỏi: Trong bài Tịnh Thủy Tán có câu “tánh Không bát đức lợi nhân thiên”, tánh Không có phải là như Tâm Kinh đă nói: “Sắc chẳng khác Không... Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng giống như thế” hay không? “Bát đức” có phải là “nước tám công đức” như kinh Di Đà đă nói hay không? (Trạch Mạnh Thu hỏi)

 

          Đáp: Tánh Không chính là tánh của các pháp vốn là Không, chớ nên giới hạn trong vài câu của Tâm Kinh. Các kinh phần nhiều nói đến tánh Không. Nói nước có tám công đức là sánh ví nước ao công đức bên Tây Phương vậy!

 

          * Hỏi: Tự (), đường (), tinh xá (精舍), thiền tự (禪寺), am () v.v… biểu thị ư nghĩa ǵ? (Dương Thánh Sơn hỏi)

 

          Đáp: “Tự” là tên dinh thự của quan ở Trung Hoa thời cổ. Đời Hán có Hồng Lô Tự. Thuở ấy, pháp sư Ca Nhiếp Ma Đằng dùng ngựa trắng chở kinh [sang Trung Hoa], ở nơi ấy dịch kinh, cho nên đổi tên thành Bạch Mă Tự. Người đời sau gọi chỗ sư tăng ở là Tự. “Đường” là điện (殿, ṭa nhà lớn). Điện thờ Phật, Bồ Tát cũng có thể gọi là Đường. “Tinh xá” là chỗ tinh tấn tu tŕ. “Thiền tự” là chỗ ở người tham Thiền, tọa Thiền trong Tông Môn. Am là tiểu thảo xá (nhà tranh nhỏ), là tiếng xưng hô khiêm tốn để gọi những ngôi chùa nhỏ.

 

          * Hỏi: Hành trong Ngũ Uẩn và Hành trong Thập Nhị Chi khác nhau ở chỗ nào? Lại nữa, Hành trong Ngũ Uẩn v́ sao là thức thứ bảy (Mạt Na Thức)? (Thái Vinh Hoa hỏi)

 

          Đáp: “Hành” là động. Hành trong Ngũ Uẩn và Thập Nhị Chi trọn chẳng giải thích khác biệt, nhưng Hành ắt có Sở, [tức là] có tất cả năm mươi mốt tâm sở. So sánh giữa hai pháp Ngũ Uẩn và Thập Nhị Chi, [chỗ sai khác đôi chút là] Hành chiếm [số lượng tâm sở] nhiều hay ít mà thôi. Trong Thập Nhị Chi, Hành ở sau Vô Minh, trước Thức, số lượng tâm sở phụ thuộc vào Hành có phạm vi đơn giản, c̣n Hành trong Ngũ Uẩn bao gồm trọn hết năm mươi mốt tâm sở. C̣n như nói Hành đặc biệt chỉ thức thứ bảy, chính là dùng bốn Uẩn thuộc về Tâm Pháp (Thọ, Tưởng, Hành, Thức) phối ứng với tám thức mà ra. Do thức thứ bảy luôn động, cho nên đặc biệt gọi cái trội nhất là Hành. Thật ra, các thức đều chẳng ĺa khỏi Hành.

 

          * Hỏi: Thức duyên Danh Sắc trong Thập Nhị Chi giải thích như thế nào? (Tuy tiên sinh Lương Khải Siêu đă từng giải thích, nhưng tôi đọc xong vẫn cảm thấy chưa thích đáng), v́ sao lại đặc biệt muốn dùng hai thứ tách rời để nói [một Chi] vậy? (Thái Vinh Hoa hỏi)

 

          Đáp: Thức do cậy vào hai giọt đỏ trắng[49] mà có tướng, Tướng chính là h́nh sắc. V́ thế, chọn một chữ để nói là Sắc. Trong h́nh sắc ấy, đă chứa đựng thức. Thức chính là tâm pháp. Tâm rỗng rang chẳng có vật, nhưng có tên gọi, nên chọn dùng một chữ là Danh để nói. Nói gộp lại, sẽ là hai pháp Danh và Sắc, chính là phù hiệu của thai mới h́nh thành vậy.

 

          * Hỏi: Trong kinh có Đại Bồ Tát và Bồ Tát Ma Ha Tát, giải thích phân biệt như thế nào? (Tŕ Huệ Lâm hỏi)

 

          Đáp: Ma Ha Tát là Đại Sĩ. Bồ Tát có rất nhiều tầng cấp. Dùng Tam Kỳ để luận, từ Thập Trụ đạt tới Thập Hồi Hướng cần một Tăng-kỳ, [những địa vị Bồ Tát ấy] được gọi là Hiền. Từ Sơ Địa cho tới Thất Địa lại phải mất một Tăng-kỳ, được gọi là Thánh. Từ Bát Địa tới Đẳng Giác lại mất một Tăng-kỳ, gọi là Bổ Xứ. Những vị chưa đạt tới Sơ Địa gọi là Bồ Tát, những vị Địa Thượng (chứng từ Sơ Địa trở lên) gọi là Đại Bồ Tát. Từ Thất Địa trở lên gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát. Đây bất quá là nói đơn giản, chứ nếu dùng Tạng, Thông, Biệt, Viên để cân nhắc, sẽ rất phức tạp.

 

          * Hỏi: Xá Lợi Phất và Xá Lợi Tử có phải là cùng một vị tôn giả hay không? (Vương Thanh Hán hỏi)

 

          Đáp: Xá Lợi Phất (Śāriputra) là tiếng Phạn. Xá Lợi Tử là Phạn Hoa hợp dịch. Phất (Putra) chính là Tử (con) trong tiếng Hán. Do sợ rằng ở Trung Hoa không có chim Xá Lợi, nên có từ ngữ được dịch, có từ ngữ không dịch, ghép chung lại mà thành [Xá Lợi Tử].

 

          * Hỏi: Mong hăy giải thích bốn chữ “Nhất Sanh Bổ Xứ”! (Lư Liên Giai hỏi)

 

          Đáp: Bổ Xứ là địa vị Bổ Phật, chính là tên gọi khác của Đẳng Giác Bồ Tát, chính là cái quả do tu tập ba A-tăng-kỳ. Ba A-tăng-kỳ kiếp lâu đến ngàn vạn lần sanh tử. Nhất Sanh Bổ Xứ nghĩa là chỉ trong một đời này bèn đạt tới quả vị ấy.

 

          * Hỏi: Trang hai mươi bảy của A Di Đà Phật Kinh Danh Số Biểu Giải ghi: “Bát Thánh Đạo phối hợp với sáu chi, bao gồm tam uẩn”. Xét theo biểu đồ, chữ Tam Uẩn là nói về Giới, Định, Huệ, có phải chữ Uẩn () là chữ Học () bị viết sai hay không? (Lư Liên Giai hỏi)

 

          Đáp: Kiểm giảo biểu đồ ấy, giảo đối chữ ấy, đích xác là chữ Học bị viết lầm, v́ dưới đó có ghi rơ ba chữ Giới, Định, Huệ.

 

          * Hỏi: Nam-mô và Bồ Tát đều thuộc loại phiên âm, nhưng do ngữ âm diễn biến đến nay, cách đọc mấy chữ ấy chẳng phải là cách đọc chữ Nam (Nán) trong Đông Nam, chẳng phải chữ Vô (Wú) trong Hữu Vô trong Quốc Ngữ. Xin hỏi cách đọc như thế nào mới là chánh xác? (Lư Liên Giai hỏi)

         

          Đáp: Dịch âm tiếng Phạn sang Hán, khó tránh có mấy phần sai lệch. Đối với tiếng địa phương mà chỉ đọc sách [không nghe người xứ ấy phát âm như thế nào], ắt [âm đọc] cũng biến đổi. Như hiện thời, người Hoa học tập Anh ngữ, chẳng được dạy cách phát âm trực tiếp [từ người Anh, Mỹ], chỉ tra tự điển, phát âm thường rất khó chuẩn xác. Huống hồ lănh thổ Trung Hoa rộng lớn, ngữ hệ phức tạp, lại c̣n âm xưa, âm nay biến chuyển, đánh mất âm gốc rất nhiều! Thanh vận trong kinh Thi đọc [theo giọng Quan Thoại hiện thời] khó thuận miệng, là một chứng cớ hiển nhiên. Thời Hán - Đường, chữ Nam () đọc như âm Năi (), dần dần chuyển thành Na (), chữ Vô () đọc như âm Một (). V́ thế, phúng tụng kinh Phật, đọc Nam Vô (南無) thành Na Ma (那摩, namuo), được truyền đến nay là do sức khẩu truyền. Như chữ Nam () hiện thời đọc là Nam (, nán), Vô () đọc như Ngô (Wú, ) đều là những âm biến đổi sau này, đọc kinh Phật th́ vẫn đọc là Na Ma. Bồ (, ) có âm như Phổ (, ), Tát (, Sà) như âm Tát (, Sā), dường như chẳng có biến chuyển. Cái gọi là Quốc Ngữ[50] trong hiện thời, bất quá là giọng Bắc B́nh (Bắc Kinh) giả định dùng làm tiêu chuẩn đó thôi, thật sự chẳng phải là âm gốc trong cách đọc của tiếng Hoa!

 

          * Hỏi: Câu “vân hà ưng trụ” (nên trụ như thế nào) trong bản kinh Kim Cang lưu hành thông dụng [trong hiện thời] được người đời Đường chép kinh ghi là “ưng vân hà trụ”, ư nghĩa hai câu dịch ấy có sai khác ở chỗ nào hay không? (Chung Quân Lương hỏi)

 

          Đáp: Không bàn tới ư nghĩa của kinh, chỉ nói đến chuyện đặt câu và tu từ, chẳng ngại nghiền ngẫm từng chữ một. “Vân hà ưng trụ” th́ ngữ khí chú trọng nơi chữ Ưng; “ưng vân hà trụ” th́ ngữ khí chú trọng ở chữ Hà, sai khác khá lớn. Nếu liên quan đến kinh văn, cần phải xét theo mạch văn trước và sau đó, dùng [ngữ cảnh của toàn bộ đoạn] văn để hiểu ư nghĩa, chớ nên v́ các chữ có đảo lộn, mà bỏ nghĩa theo văn. Mạnh Tử nói: “Vật dĩ từ hại nghĩa” (Đừng v́ văn tự mà hiểu sai ư nghĩa). Cổ đức nói: “Vọng văn sanh nghĩa, tam thế Phật oan” (Chỉ nh́n vào văn tự mà suy đoán ư nghĩa, ba đời chư Phật bị oan uổng)!

 

          * Hỏi: Xin hỏi thầy, chứng và ngộ có ǵ phân biệt? (Châu Huệ Đức hỏi)

 

          Đáp: Mây nghi tiêu tan, chiếu thấu triệt chân thật th́ gọi là Ngộ. Trí huệ viên thành, liễu thoát sanh tử, gọi là Chứng.

 

          * Hỏi: Cơi đời chẳng có bậc thánh hiền, là do thế gian ít có những bà mẹ thánh hiền mà ra. Cổ nhân nói: “Châu chi khai quốc, cơ ư tam Thái” (Nhà Châu mở nước, do ba bà Thái đặt nền tảng), trong Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao đă ghi chú: “Ba bà Thái là Thái Khương, Thái Nhậm, và Thái Tự, là bậc thánh nhân trong nữ giới”. Xin dạy rơ về ư nghĩa của Tam Thái. (Châu Huệ Đức hỏi)

 

          Đáp: Thái () mang ư nghĩa tôn sùng, tôn xưng. Khương, Nhậm và Tự chính là họ của các bà. Ba vị thánh nữ ấy đều có đức hạnh cao tột, hoặc lập ra cách thai giáo (dạy con từ trong thai), hoặc giúp chồng trị quốc. Cơ nghiệp nhà Châu hưng thịnh cố nhiên là do có bậc thánh vương, nhưng đức hạnh của Văn Vương và Vũ Vương phần nhiều là do mẹ dạy dỗ con cái vậy!

 

          * Hỏi: Phật giáo chúng ta có Thập Điện Diêm La, chẳng biết ngoại quốc có Thập Điện Diêm La hay không? Lại nữa, họ tên của các vua Diêm La đều là họ tên người Hán ư? (Ngô Kính Nhân hỏi)

 

          Đáp: Nói theo phạm vi nhỏ, châu Nam Diêm Phù Đề có địa ngục, có vua Diêm La. Trung Hoa và ngoại quốc đều chẳng ra ngoài địa cầu. Địa cầu chính là Diêm Phù Đề. Mỗi nước trên thế giới đều ở trong châu này, làm sao có thể chẳng có Diêm La? C̣n về tên họ, đều tùy theo âm đọc của mỗi nước mà phiên âm. Như tên nước Nga, người Hoa dịch là Nga La Tư, người Nhật dịch thành Lộ Tây Á, đấy là thí dụ rơ rệt vậy! Nhưng Diêm La tự có tên địa ngục.

 

          * Hỏi: Ư nghĩa Trung Đạo của phi hữu phi không và phi khổ phi lạc? (Trương Thụy Lương hỏi)

 

          Đáp: Phật học giải thích hết thảy, hoặc nói theo Lư, hoặc giảng về Sự, phần nhiều là v́ khế cơ mà lập ra. V́ thế, dường như có khác, nhưng thật ra là một. Nói Hữu là nói đến hết thảy các tướng; nói Không là nói về hết thảy tánh. Tánh là bản thể. Tướng nương vào Tánh mà dấy lên. V́ thế, nói gộp lại, theo thực tế, sẽ là phi không phi hữu. Tánh có thể khởi Tướng, nên chẳng phải là Không. V́ tánh của tướng là huyễn, nên chẳng phải là Có. Xét theo Tướng, dường như có Khổ và Lạc, nhưng xét theo Tánh, sẽ chẳng có Thọ (cảm nhận). V́ thế, chẳng nói là “không có Khổ và Lạc”, mà nói là “phi Khổ phi Lạc”. Hiểu cả hai điều như thế th́ là nghĩa Trung Đạo.

 

          * Hỏi: Mười tám vị La Hán là những ai? (Dương Trường Sơn hỏi)

 

          Đáp: Sách Pháp Trụ Kư có chép: Vốn chỉ có mười sáu vị, mỗi vị đều có danh hiệu riêng. Vị thứ nhất là Tân Độ La Bạt La Nọa Xà (Pindola Bharadvaja), vị thứ mười sáu là Châu Lợi Bàn Đà Già (Cūdapanthaka). Người đời sau chẳng biết tiếng Phạn, thêm vào ngài Khánh Hữu lại cộng thêm ngài Tân Đầu Lô, thành mười tám vị. Nhưng Khánh Hữu chính là người biên soạn bộ Pháp Trụ Kư, c̣n Tân Đầu Lô chính là ngài Tân Độ La Bạt La Nọa Xà.

 

          * Hỏi: Phật là Giác Giả (bậc giác ngộ), giác ngộ ǵ vậy? Chúng sanh mê hoặc, điên đảo, hiểu như thế nào? (A Mỹ hỏi)

 

          Đáp: Nói từ gốc, Tánh bị hai thứ Phiền Năo Chướng và Sở Tri Chướng che lấp, nên gọi là Vô Minh. Trừ khử hai thứ chướng che lấp, tỏ lộ bản tánh diệu minh, chính là giác ngộ chuyện này. Nói theo ngọn, vạn hữu trong vũ trụ do đâu mà sanh, diệt sẽ đi về đâu, cũng phải giác ngộ [điều này]. Người có thể [giác ngộ] như thế th́ gọi là Giác Giả. Chúng sanh dùng Tứ Đại giả hợp làm thân, lầm tưởng thân tướng là ta, bị sáu trần Sắc, Thanh… ô nhiễm bản tánh, tham đắm, chấp giữ chẳng bỏ. Sanh sanh tử tử, vĩnh viễn chẳng có lúc hết. Sanh chẳng biết từ đâu đến, chết chẳng biết đi về đâu, ch́m đắm trong biển khổ chẳng tỉnh, có cơi vui mà chẳng cầu. Đấy gọi là “mê hoặc, điên đảo”.

 

          * Hỏi: Hiển Mật Viên Thông Giáo là ǵ? Môn này là đạo dễ hành hay đạo khó hành? Do vị đại sư nào sáng lập? Đối với chuyện tu tŕ, hăy nên tu hành như thế nào? Tại gia đệ tử của Phật môn có thể học tập thành công hay không? (Nghiêm Vượng hỏi)

 

          Đáp: Các giáo pháp của đức Phật được chia thành hai loại lớn là Hiển và Mật. Hiển là như Khế Kinh, luật nghi v.v… các thứ giải hạnh. Lư Tứ Đế, Lục Độ, các pháp Sổ Tức, Chỉ Quán đều là Hiển Giáo. Mật là như lập đàn, tu pháp v.v… các thứ hành tŕ. Chuyện tŕ chú, kết ấn, các pháp như quán sắc[51], quán chữ…. đều là Mật Giáo. Trong Hiển, lại chia thành các tông Hiền Thủ, Thiên Thai, Tánh, Tướng v.v… Mật lại chia thành các bộ Kim Cang Bộ, Thai Tạng Bộ, Tạp Bộ… Lại nữa, trong Hiển th́ như Thiền Tông cũng có Như Lai Thiền và Tổ Sư Thiền khác biệt. Trong Mật, như Liên Hoa Bộ lại có Kim Cang Giới và Thai Tạng Giới khác nhau. Pháp hết sức nhiều và phức tạp, đúng là chẳng thể bằng vài lời mà ḥng nói trọn hết được. Cái gọi là Hiển Mật Viên Thông Giáo, rơ rệt nhất là như tŕ danh hiệu Di Đà trong Tịnh Tông và phép quán tưởng trong Quán Kinh. Đấy chính là Hiển Mật Song Tu. Đa số các giáo điển, cũng phần nhiều là hiển thuyết và mật thuyết [đồng thời], đấy là t́nh h́nh đại khái. Đời Tống có pháp sư Đạo Thần, do trông thấy sự tranh chấp giữa Hiển và Mật, bèn viết bộ Hiển Mật Viên Thông Thành Phật Tâm Yếu Tập nhằm hướng dẫn người ta dung hợp để song tu. Bất luận tại gia hay xuất gia, đều có thể chọn lấy để tu, nhưng khó hành hay dễ hành chẳng thể quyết định, cần phải dùng khế cơ để luận định. Vả nữa, Mật chú cũng cần phải được khẩu truyền, thành công hay không là do người, chứ không do nơi pháp!

         

          * Hỏi: Phật tánh là ǵ? (Triệu Tiết hỏi)

 

          Đáp: Phật là giác. Tánh là đức năng sẵn có. Phật tánh th́ chúng sanh ai nấy đều có, chẳng người nào không có diệu minh giác tâm. Thấy, nghe, ngôn ngữ, hết thảy tri kiến của chúng ta tuy có mắt, tai, miệng, thân, bất quá đều là công cụ vật chất, giống như một cỗ máy, nhưng máy móc chẳng thể tự hoạt động, ắt phải có điện lực thúc đẩy. Phật tánh ví như điện lực đối với máy móc, thật sự là cội nguồn của chúng sanh vậy!

 

          * Hỏi: Phật tánh có phải là linh hồn hay không? (Triệu Tiết hỏi)

 

          Đáp: Phật tánh và linh hồn, là hai, [mà cũng] là một. Tánh là chân thật, diệu minh; hồn là hư vọng, là vô minh. Vô minh nương vào tánh mà khởi, như nước và sóng. Do vậy, nói là một. Phật tánh thường tồn bất biến, linh hồn huyễn hóa vô thường, nên nói là hai.

 

          * Hỏi: Quỹ phạm sư là ǵ? Tại Mă Lai có những vị sư phó[52] ấy hay không? (Nghiêm Minh hỏi)

 

          Đáp: Quỹ Phạm (軌範) có nghĩa là đường lối chuẩn mực, khuôn khổ đáng làm gương, tức là bậc thầy của người khác, có thể uốn nắn những hành vi sai trái của đệ tử, khiến cho đúng pháp. Bậc thầy này cũng có nhiều loại bất đồng. Phàm là những vị ta nương vào để xuất gia, thọ giới, học kinh, học Luật v.v… đều có thể gọi là Quỹ Phạm Sư. Ở chỗ ông có [những vị như thế hay không], do đường xa, nên tôi chẳng biết!

 

          * Hỏi: Ba hồn bảy phách[53] là ǵ? (Nhiếp Vân Hà hỏi)

 

          Đáp: Nhà Phật chỉ nói đến nguyên minh thần thức, từ chuyện ba [tế tướng] biến thành tám [thức], chẳng thể bằng mấy câu mà có thể nói rơ được. Chuyện này phần nhiều được dạy trong kinh điển Duy Thức, trở thành [giáo thuyết] trong một tông của Phật học. Có người dốc hết tinh lực cả một đời, vẫn chẳng thể thấu đạt chỗ sâu xa, kín nhiệm của giáo nghĩa ấy. V́ thế, ở đây tôi chẳng thể nói nhiều. Ba hồn bảy phách chẳng được ghi chép trong [kinh sách] Phật giáo, nên tôi tránh né chẳng bàn đến.

         

          * Hỏi: Kinh Đại Bát Niết Bàn chép: “Như Bồ Tát Ma Ha Tát, hoặc tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, có thể tu mười tưởng, hăy nên biết người ấy có thể đắc Niết Bàn. Những ǵ là mười? Một là vô thường tưởng, hai là vô khổ tưởng, ba là vô ngă tưởng, bốn là yếm ly thực tưởng, năm là tưởng hết thảy thế gian chẳng thể vui sướng, sáu là tử tưởng, bảy là tưởng [chính ḿnh có] nhiều tội lỗi, tám là ly giải thoát tưởng, chín là diệt tưởng, mười là vô ái tưởng”. Hậu học chẳng hiểu rơ ư nghĩa của tưởng thứ tám và thứ chín, xin hăy khai thị. (Triệu Liên hỏi)

 

          Đáp: Ly giải thoát là xa ĺa dục trần, giải thoát triền phược. Có nhiều cách hiểu chữ Diệt, ở đây nên hiểu là “rỗng không, chẳng có”.

 

          * Hỏi: Loại trái cây thường được gọi là quả Thích Ca có tên gọi khác hay không? Bởi lẽ, Phật giáo đồ chúng ta chẳng nên gọi như vậy! (Vương Thanh Hán hỏi)

 

          Đáp: Tên gọi ấy do đâu mà có, tôi chẳng biết nguyên do, nhưng quả ấy có h́nh dáng và màu sắc rất giống với đỉnh đầu của tượng Phật, gọi thẳng là Thích Ca cố nhiên là bất kính, mà cũng chẳng hợp lư! Chẳng bằng đổi thành gọi bằng ba chữ Phật Đầu Thanh, nhưng cần phải đề xướng lâu ngày, sau đấy mới có thể thay đổi lối cũ, gọi theo cách mới được!

 

          * Hỏi: Phật tử, hữu t́nh, cô hồn phân biệt ra sao? (Vương Thanh Hán hỏi)

 

          Đáp: Phật tử và hữu t́nh đều là tiếng để gọi chúng sanh. V́ chúng sanh đều có Phật tánh, đều có thể thành Phật, nên gọi là Phật tử. Đấy là nói theo gốc. Nhưng chúng sanh do mê, tánh chuyển thành t́nh thức, v́ thế, gọi là hữu t́nh. Đấy chính là cách nói theo tướng hiện thời. Cô hồn là nói tới những loài quỷ chẳng được cúng tế, suy rộng ra th́ thân Trung Ấm cũng bao gồm trong ấy.

 

          * Hỏi: A Tỳ địa ngục và Vô Gián địa ngục giống nhau hay khác nhau? (Lại Đống Lương hỏi)

 

          Đáp: A Tỳ là tên gọi theo tiếng Phạn, Vô Gián là tên gọi dịch sang tiếng Hán.

 

          Hỏi: Chúng ta lưu lạc trong sanh tử cho đến nay, uổng phí công lao mà chẳng thể thành Phật. Nếu muốn thành Phật, ắt cần phải kiến tánh, mà tánh chính là Phật, nay tôi muốn hỏi: Chứng quả và kiến tánh có phân biệt hay không? (Châu Huệ Đức hỏi)

 

          Đáp: Mê bản tánh th́ là vô minh. Tu là trừ mê để trở thành sáng suốt. Nếu đă sáng suốt th́ gọi là “kiến tánh”, v́ tánh vốn là sáng suốt. Tu là nhân, trừ mê kiến tánh là quả. Những điều này thật sự là một chuyện, nhưng tên gọi là hai. Chứng quả là nói theo công phu tu hành, kiến tánh là nói theo Bổn Giác.

 

          * Hỏi: Đắc giới là ǵ? Chẳng đắc giới là ǵ? Đắc và chẳng đắc chính ḿnh sẽ có sự cảm nhận nào? (Đồ Trinh Quang hỏi)

 

          Đáp: Chuyện này cần phải hỏi bậc đại đức trong Luật Tông th́ mới có thể biết tường tận. Bởi lẽ, thọ giới th́ ba nghiệp sẽ dấy lên một tác dụng đặc thù, nghĩa là: Sau khi thọ giới có thể ngăn ngừa sai quấy, dứt ác, [công năng ngăn ngừa ấy sẽ] liên tục chẳng dứt. Nếu lúc thọ giới, đối với những lời lẽ [do vị thầy truyền giới] dạy bảo mà có thể liễu giải rơ ràng, khi thân thọ giới, miệng đáp [“xin lănh thọ”] mà có mối xúc cảm tột bậc thành kính khó thể diễn tả, sẽ lập tức sanh khởi công năng kiên cường không trái nghịch rất rơ rệt, như vậy th́ có thể nói là “đắc”. Đây là nói theo Lư. C̣n có chuyện do cái tâm thành kính, sáu căn vừa tiếp xúc bèn biến hiện những tướng khác. Đó là nói theo Sự.

 

          * Hỏi: Có người niệm chữ Di trong A Di Đà Phật thành Nê, có phải là sai lầm hay không? Nếu chẳng sửa cho đúng, hậu quả sẽ là như thế nào? (Đồ Trinh Quang hỏi)

 

          Đáp: Sáu chữ pháp danh đều là âm tiếng Phạn. Hăy nên chú trọng [cách đọc] theo lối truyền dạy trực tiếp. Chỉ có điều ở Trung Hoa đă h́nh thành phổ biến, chỉ có thể thuận theo phong tục, thuận theo cách đọc phổ biến ở từng vùng. Thành tâm niệm tụng là được rồi. Nếu sửa đổi cho đúng với chánh âm, sẽ không chỉ là một chữ ấy. Theo tệ ư, tin theo âm nào, cứ tụng niệm theo âm đó là được. Thật ra, âm thanh hư huyễn, tâm chân thật; có thể cầu nơi cái tâm th́ sẽ là chánh nhân.

          Phật Học Vấn Đáp Loại Biên

Quyển Trung

Phần 7 hết

 



[1] Năm loại pháp sư là Thọ Tŕ, Đọc Kinh, Tụng Kinh, Giải Thuyết, và Thư Tả (biên chép). Mười loại là mở rộng của năm loại pháp sư trên đây.

[2] Thân mộc (tiếng Hán là “kiều mộc”, 喬木) là từ ngữ dùng để mô tả những loại cây có thân chánh cao từ 6m trở lên. Thân chánh có chất gỗ cứng chắc, tương phản với “thân thảo (không có chất gỗ như các loại rau, cỏ, hay bụi cây). Những cây có thân mộc, nhưng không thể đạt đến 6m sẽ gọi là “quán mộc” (灌木).

[3] Tức là pháp Phowa (đôi khi phiên là Powa, P’ow’a hoặc Poa) trong Mật Tông Tây Tạng, có nghĩa là di chuyển thần thức lúc sắp lâm chung về thẳng Cực Lạc, hoặc bất cứ một cơi Tịnh Độ nào. Người tu pháp này sẽ tập luyện để mở đỉnh đầu thành một lỗ nhỏ để chuyển thần thức. Để chứng tỏ hành giả đă tu thành công, người ta thường cắm một cọng cỏ Kusha vào khe hở đó. Phép tu này được coi là truyền dạy bởi Naropa và thừa kế bởi Marpa (vị này có mỹ danh là Đại Dịch Giả, có thể coi như là sáng tổ của tông Kargyupa tại Tây Tạng). Trong các chi phái của Kargyupa, chi phái Drikung Kargyupa nổi tiếng nhất về pháp tu này. Hiện thời, có những lạt-ma do tham lợi hoặc dễ lôi kéo tín đồ, đă rao truyền một niềm tin rất sai lầm: Hễ cứ đến gặp họ, nhận pháp quán đảnh, được cắm một cọng cỏ hay rơm vào khe hở trên đỉnh đầu, sẽ chắc chắn được văng sanh.

[4] Kinh Tứ Thập Nhị Chương có đoạn chép: “Phật ngôn hành đạo, vô như ma ngưu, thân tuy hành đạo, tâm đạo bất hành” (Đức Phật dạy: - Tu hành Phật đạo đừng giống như con trâu kéo cối xay, thân tuy hành đạo, tâm chẳng hành theo đạo).

[5] Hồng Lô Tự: Hồng Lô (鴻臚) có nghĩa gốc là lớn tiếng hô lời khen ngợi, ư nói: Hướng dẫn các mệnh lệnh trong lễ nghi. Đến thời Hán Vũ Đế, cơ cấu này đổi tên thành Đại Lô Tự. Thoạt đầu, chức trách của Hồng Lô Tự là tiếp đăi khách từ nước ngoài đến. V́ thế, hai vị cao tăng Ấn Độ được an trí trong dinh thự của Hồng Lô Tự. Đứng đầu cơ cấu Hồng Lô Tự là chức quan Hồng Lô Tự Khanh. Từ thời Bắc Tề trở đi, cơ quan này chuyên môn lo liệu những nghi lễ trong triều đ́nh. Hồng Lô Tự vẫn lo liệu mọi việc tiếp đăi các đoàn sứ giả đến triều kiến, tiếp nhận lễ vật, hướng dẫn lễ nghi, tổ chức yến tiệc khoản đăi, tặng lễ vật cho sứ giả, cũng như chưởng quản các dịch quán (trạm tiếp đăi các sứ đoàn). Cơ quan này cũng lo sắp xếp việc tổ chức tang lễ cho các cơ quan trực thuộc triều đ́nh như quy định tang phục dành cho các quan như thế nào khi hoàng thất có tang. Cơ quan Truyền Pháp Viện trực thuộc Hồng Lô Tự có trách nhiệm dịch các văn kiện từ tiếng ngoại quốc sang tiếng Hán, cũng như tu chỉnh sao cho văn phong thuần nhă đối với những văn kiện được viết bằng tiếng Hán do sứ đoàn tŕnh lên. Về sau, cơ quan này bị phế bỏ, các sự vụ trên đây được quy về bộ Lễ. Đến đời Minh Thanh, Hồng Lô Tự được tái lập, nhưng trách nhiệm bị thâu hẹp rất nhiều.

[6] Phổ Diệu nhật (Poya) chính là ngày trăng tṛn mỗi tháng.

[7] Thích Thị Yếu Lăm là tác phẩm được biên soạn bởi ngài Thích Đạo Thành vào đời Bắc Tống, gồm ba quyển. Nội dung gồm những chuyện mà sa-môn cần phải biết trích lục từ Đại Tạng.

[8] Thượng huyền (上弦): Trăng ngày mồng Tám mỗi tháng Âm Lịch.

[9] Mông Sơn là tên một quả núi thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Vào đời Tống, pháp sư Bất Động trụ tại núi này, đă biên soạn các nghi thức thí thực cho cô hồn, ngạ quỷ. Nghi thức này cũng như nghi thức phóng Diệm Khẩu đều dựa theo nội dung kinh Cứu Bạt Diệm Khẩu Đà La Ni. Nghi thức ban đầu do ngài Bất Động biên soạn về sau được thêm vào nhiều mật chú như Diệt Định Nghiệp Chân Ngôn, Quán Âm Bồ Tát Diệt Nghiệp Chướng Chân Ngôn, các bài khai thị cho lục đạo chúng sanh. Bản tăng đính ấy được gọi là Đại Mông Sơn Thí Thực để phân biệt với nghi thức ban đầu (gọi là Tiểu Mông Sơn). Nghi thức Mông Sơn thường được hành tŕ trong các tự viện hằng ngày chính là Tiểu Mông Sơn.

[10] Cái Nghe (Văn) là Nhĩ Thức, cái được Nghe (Sở Văn) chính là đối tượng nhận biết của Nhĩ Thức.

[11] Chữ Không thứ nhất chỉ cho chủ thể, tức là hành nhân đă không c̣n thấy có đối tượng để quán chiếu, thấu hiểu bản chất của các Trần (nói rộng là tất cả các pháp) là không, tâm quán chiếu ấy cũng là không. Chữ Sở Không chỉ cho những đối tượng được quán chiếu là Không bởi sự quán chiếu ấy.

[12] Bột Hải c̣n có tên gọi khác là Hoàng Hải, Bắc Hải, Thương Hải. là phần Thái B́nh Dương nằm lọt giữa bán đảo Liêu Đông và các tỉnh thành duyên hải miền Bắc Trung Hoa như Hà Bắc, Thiên Tân và bán đảo Sơn Đông. Cổ sử gọi vùng biển này là Bắc Trực Lệ Hải Loan (eo biển phía Bắc tỉnh Trực Lệ). Vùng biển này có ba vịnh lớn là vịnh Ly Châu, vịnh Bột Hải và vịnh Liêu Đông. Do biển này có các con sông lớn là Hoàng Hà, Hải Hà, Liêu Hà, Loan Hà đổ vào, nước biển thường có nhiều phù sa lợn cợn, nhất là hoàng thổ của vùng Tây Bắc, khiến cho nước biển vàng đục.

[13] Tứ Khoa là bốn phần biện định đối với ngũ uẩn, sáu căn, mười hai xứ và mười tám giới để hiển lộ tột bậc tánh chân thật. Tứ Khoa gồm:

1. Ngũ Uẩn hư vọng.

2. Lục Nhập hư vọng.

3. Thập Nhị Xứ hư vọng

4. Thập Bát Giới hư vọng.

Thất Đại là Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không, Căn và Thức.

 

[14] Thời thần (時辰) là cách chia giờ thời cổ. Mỗi thời thần bằng hai tiếng đồng hồ hiện thời, tên mỗi thời thần được gọi theo Địa Chi, tức là Tư, Sửu, Dần, Măo v.v…

[15] Hô Đồ Khắc Đồ (呼圖克圖) là phiên âm của chữ Khutukhtu (c̣n viết là Khutuktu) hoặc Hutagt (Khutagt). Chữ này lại là biến âm của chữ Hothogtu trong tiếng Tây Tạng. Danh hiệu này chỉ được dùng để gọi những vị lạt-ma cao cấp của Phật Giáo Mông Cổ được coi là hóa thân của những vị Phật, Bồ Tát hoặc tôn thánh. Người Hán đă dịch sai nghĩa từ ngữ này thành Hoạt Phật và tiếp tục dùng từ đó đến nay. Những vị Hô Đồ Khắc Đồ nổi tiếng là Tắc Xích (Serkhri), Chương Gia (Jangya), Triết Bố Tôn Đan Ba (Jebtsundampa), Mẫn Châu (Mindröl), Tề Lung (Degring), Na Mộc Khách (Tát Mộc Sát Thương), A Gia (Agya) v.v… Trong số đó, vị được biết đến nhiều nhất là Chương Gia v́ Ngài được tôn là quốc sư của nhà Thanh; đồng thời, Ngài cũng được triều đ́nh phong làm pháp vương của toàn thể tăng chúng Mông Cổ.

[16] Kim Cang (Vajra) ở đây chỉ chung các vị tôn thánh bao gồm các vị hộ pháp, chư thiên, quỷ thần, các vị Phẫn Nộ Tôn v.v…

[17]Kim Cang Hợi Mẫu (Vajravārāhī, Dorje Phagmo) là một vị Phật Mẫu được coi là hóa thân phẫn nộ của Kim Cang Du Già Nữ (Vajrayogini), là minh phi của Thắng Lạc Kim Cang (Cakra-saṃvara). Vị này sở dĩ có tên là Kim Cang Hợi Mẫu v́ đây là thân phẫn nộ, da có màu đỏ như lửa, tướng mặt phẫn nộ, nhe răng, và có h́nh đầu lợn trên đỉnh, nhảy múa trên một xác chết (biểu thị chuyển hóa tham dục và phẫn nộ thành trí huệ siêu việt, vượt khỏi chấp trước về nhục thân).

[18] Độ Mẫu (Ārya Tārā, Jetsun Dölma), c̣n được phiên âm là Đa La Bồ Tát, chữ Độ Mẫu (bà mẹ cứu độ) là dịch nghĩa. Ngài được coi là một hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát, nhằm nhấn mạnh đến phương diện Chân Không của ḷng từ bi. Nhằm tương ứng với những bổn nguyện cụ thể, Ngài lại có hai mươi mốt hóa thân. Trong đó, những thân được sùng bái phổ biến nhất là Lục Độ Mẫu (thân xanh lục, chuyên tạo phương tiện giúp hành nhân khai ngộ, trừ chướng nạn), Bạch Độ Mẫu (chữa bệnh, tăng thọ, dẹp yên tai nạn), Xích Độ Mẫu (thân phẫn nộ sắc đỏ rực, hội tụ những điều tốt lành), Hắc Độ Mẫu (tăng trưởng oai thế, quyền lực), Hoàng Độ Mẫu (tăng trưởng tài sản) v.v…

[19] Chuẩn Đề Phật Mẫu (Cundī, Cundhi) c̣n gọi Chuẩn Đề Quán Âm, Thiên Nhân Trượng Phu Quán Âm, Chuẩn Đề Bồ Tát, có mật hiệu là Tối Thắng Kim Cang. Ngài là Bộ Mẫu trong Liên Hoa (Quán Âm Bồ Tát là Bộ Chủ của bộ này), là một thân của Quán Âm Bồ Tát hóa hiện do tu pháp Chuẩn Đề. Ngài được xưng tụng là mẹ của bảy câu-chi chư Phật. Ngài thường được tạc tượng h́nh dạng như thiên nữ, ba mắt, mười tám tay, mỗi tay cầm một món pháp khí có ư nghĩa biểu thị pháp như hoa sen, gươm, thanh châu, chày Kim Cang năm nhánh, tháo b́nh v.v…

[20] Khổng Tước Phật Mẫu (Mahāmāyūrī), c̣n gọi là Đại Khổng Tước Minh Vương, hoặc Khổng Tước Đa La Bồ Tát, là một trong năm thân nữ tánh minh vương (Đại Tùy Cầu, Đại Thiên Tồi Toái, Tùy Tŕ Mật Chú, Đại Hàn Lâm và Khổng Tước). Ngài là thân sự nghiệp của Đa La Bồ Tát (Độ Mẫu, do vậy, Khổng Tước Phật Mẫu lại là hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát), chủ tŕ diệt trừ các độc, các tai nạn. Tượng Khổng Tước Minh Vương thường được tạc ba mặt sáu tay, hoặc một mặt bốn tay, thân sắc trắng, ngồi kết già trên hoa sen trắng (hoặc xanh) đặt trên lưng chim công. Mỗi tay cầm một món pháp khí. Mỗi khi có tai nạn tật dịch, Phật môn Trung Hoa hay tổ chức pháp hội tụng chú Khổng Tước.

[21] Phật Nhăn Phật Mẫu (Buddhalocani), c̣n gọi là Phật Nhăn Bộ Mẫu, Phật Nhăn Tôn, Hư Không Nhăn Minh Phi, Năng Tịch Mẫu, Kim Cang Cát Tường Nhăn, hoặc Nhất Thiết Như Lai Phật Nhăn Đại Kim Cang Cát Tường Nhất Thiết Phật Mẫu. Trong Thai Tạng Mạn Đồ La, ngài được xếp vào Biến Tri Viện. Ngài có mật hiệu là Thù Thắng Kim Cang. Vị này biểu thị tác dụng Chiếu của Chân Trí, hết sức được coi trọng trong Mật Tông. Ngài được coi là thân nghiệp dụng của Đại Nhật Như Lai.

[22] Long Hoa Giáo là một thứ tà giáo tại Đài Loan, có tên gọi đầy đủ là Long Hoa Trai Giáo. Do những tín đồ kỳ cựu ăn chay trường thường được gọi là Lăo Quan, nên tà đạo này c̣n có danh xưng là Lăo Quan Trai Giáo. Long Hoa Giáo được sáng lập và truyền thừa bởi La Tư Phù, Ân Kế Nam và Diêu Văn Vũ vào đời Minh, nhưng La Tư Phù lại vay mượn giáo nghĩa từ Bạch Liên Giáo, cho nên có thể nói Long Hoa Giáo là tàn dư hoặc hậu duệ của Bạch Liên Giáo. Họ vay mượn giáo nghĩa nhà Phật, pha trộn lung tung với các giáo điều của Nho và Đạo (nhất là cách luyện đan, vẽ bùa, thổ nạp của Đạo giáo), xuyên tạc giáo nghĩa và các danh từ nhà Phật để chứng minh phép luyện đan. Long Hoa Giáo được truyền vào Đài Loan dưới đời Thanh. Cũng giống như La Giáo, họ thờ phụng các nhân vật thần thoại hoặc huyền sử của Trung Hoa như Phục Hy, Thần Nông, Quảng Thành Tử, Hoàng Đế, Hứa Do, Đường Nghiêu, Sào Phụ, Ngu Thuấn, cộng thêm những vị Phật, Bồ Tát của Phật giáo như Nhiên Đăng Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật, Di Lặc Bồ Tát, Quán Âm Bồ Tát và hai mươi tám vị tổ sư Ấn Độ và các vị tổ Thiền Tông Trung Hoa, ngạo nghễ tự xưng họ mới là Phật giáo và Thiền Tông chánh truyền. Cũng giống như các tà giáo khác, họ coi tất cả Phật, Bồ Tát, thánh nhân, thánh vương thời cổ đều là những “chân linh” do Thượng Đế sai xuống trần nhằm giáo hóa dân chúng.

[23] Sách Di Đà Sớ Sao Diễn Nghĩa giảng: Lục chủng chấn động giả, động, khởi, dũng, chấn, hống, kích dă. Tam chủng thị h́nh, tam chủng thị thanh. Ư h́nh thanh trung, các cử kỳ nhất, cố ngôn chấn động dă. Dao bá bất an chi vị Động. Tự hạ thăng cao chi vị Khởi. Hốt nhiên đằng cử chi vị Dũng. Ẩn ẩn xuất thanh chi vị Chấn. Hùng thanh mănh liệt chi vị Hống. Phanh khái phát hưởng chi vị Kích” (Sáu thứ chấn động là động, khởi, dũng, chấn, hống, kích. Ba loại nói về h́nh tướng, ba loại nói về âm thanh. Do trong h́nh tướng và âm thanh, mỗi thứ nêu ra một loại, nên nói là “chấn động”. Rung lắc chẳng yên là Động. Từ dưới dâng lên cao là Khởi. Đột nhiên vọt lên cao là Dũng. Vang ra âm thanh ngầm dưới đất là Chấn. Âm thanh vang dội, mănh liệt là Hống. Phát ra tiếng vang nứt vỡ, răng rắc là Kích).

[24] Mười loại tiên được nói trong kinh Lăng Nghiêm là Địa Hành, Phi Hành, Du Hành, Không Hành, Thiên Hành, Thông Hành, Đạo Hành, Chiếu Hành, Tinh Hành và Tuyệt Hành. Nói chung họ đều mong cầu trường sanh bất tử bằng các phương pháp tu luyện khác nhau. Chẳng hạn Phi Hành Tiên dùng dược thảo chế thuốc nhằm duy tŕ thân thể sống măi, Du Hành Tiên dùng các loại khoáng chất luyện đan, Không Hành Tiên dùng các phương pháp luyện thở, các bài tập vận động để cầu trường thọ v.v..

[25] Bộ sách này có tên gọi là Thành Duy Thức Thuật Kư do ngài Khuy Cơ soạn vào đời Đường để chú giải bộ Thành Duy Thức Luận.

[26] Thanh giáo: Giáo pháp của Phật được tuyên dạy bằng ngôn ngữ, âm thanh, nên gọi là “thanh giáo”.

[27] Đương Gia (當家) có nghĩa gốc là người trông coi sự vụ trong một gia tộc; do đó, vị thay mặt trông coi tất cả sự vụ trong một bang phái, hội đoàn, hoặc tự viện đều gọi là Đương Gia.

[28] Ly là đơn vị đo lường thời cổ, có nghĩa là một phần trăm, một Ly bằng mười Hào. Do đó, khi nói về thước Tây (mét), Trung Hoa Đại Lục vẫn có thói quen nói mễ (mét), phân mễ (dm), ly mễ (cm), hào mễ (mm). Tuy vậy, Ly trong đo lường diện tích không nhỏ. Một Ly bằng 60 b́nh phương Xích, tức là 6,66 mét vuông! Nhưng nếu xét theo hệ thông đo lường tính bằng mét sẽ hoàn toàn khác hẳn. Một mét sẽ gọi là công xích, một decimeter là công thốn, một centimeter sẽ là một công phân, và Ly sẽ là một milimeter, trong khi đó Hào là một phần mười ngàn của một mét.

[29] Tuy đă được cụ Lư giảng rơ Kiếp là một đơn vị thời gian, chẳng lệ thuộc vào sự sanh diệt của trời đất, vị tỳ-kheo này (Thích Thường Chánh) vẫn cứ khăng khăng cố chấp coi kiếp là thời gian sanh diệt của trời đất, nên cứ liên tiếp dùng chữ “thiên chi nhất kiếp” (một kiếp của cơi trời).

[30] Theo từ ngữ sử dụng trong kinh Dịch, chữ Hối có hai cách hiểu:

1. Đối với trùng quái (quẻ kép), mỗi trùng quái do hai đơn quái ghép lại. Chẳng hạn quẻ Thái do hai quẻ, trên là Khôn, dưới là Càn, ghép thành. Ba hào trên cùng trong quẻ kép ấy sẽ được gọi là Thượng Quái, Ngoại Quái hay Hối Quái, ba hào dưới sẽ được gọi là Hạ Quái, Nội Quái, hoặc Trinh Quái. Thượng Quái hướng ngoại, chủ động; Hạ Quái chủ tĩnh, lấy chính ḿnh làm điểm xuất phát.

2. Khi giải thích về ư nghĩa của từng Hào, để phán đoán ư nghĩa, lời chú giải sẽ dùng các chữ Hanh, Lợi, Cát, Hối, Cữu, Lận, Hung để phán định. Hối bao gồm các ư nghĩa hối hận, có sai lầm nhỏ, chẳng nghiêm trọng, chẳng thể gọi là cát.

Do xét theo từ hai nghĩa này, chữ Hối trong kinh Dịch có điểm tương đồng với chữ Hối nói ở đây (ư nghĩa hối hận), nhưng c̣n có những ư nghĩa khác biệt nữa như vừa nêu.

[31] Bộ kinh này có tên gọi đầy đủ là Phật Thuyết Lược Giáo Giới Kinh, do ngài Nghĩa Tịnh dịch vào đời Đường, bao gồm những điều đức Phật răn dạy hàng tỳ-kheo xuất gia hăy nên thiểu dục tri túc, đoạn trừ vô minh chẳng c̣n dấy lên ba thứ tư duy bất thiện, thường siêng năng tu tập ḥng được giải thoát.

[32] Do tiếng Hán không có những phụ âm kép như trong tiếng Phạn, nên có khi phải dùng hai chữ Hán để diễn tả, chẳng hạn chữ Svaha, phải phiên âm thành Tát Bà Ha, Tát Phạ Hạ, Sa Bà Ha, hoặc Tóa Hạ. Khi phiên âm chữ Sva thành Sa Bà, các vị dịch sư thường ghi chú là “nhị hợp” tức là phải đọc hai chữ dính lại. Hoặc Văn Thù Nhất Tự Chân Ngôn là Aum, Srhyim, có bản dịch là Án Sỉ Lâm (ghi chú ‘nhị hợp’ sau hai chữ Sỉ Lâm), có bản dịch thành bốn âm là Án, Xỉ Lạc Hê Diêm (ghi chú là “tứ hợp”, tức là đọc cả bốn âm dính lại thành một âm).

[33] Ma Hê Thủ La (Đại Tự Tại Thiên) là một danh xưng của thần Śiva, tức thần hủy diệt trong ba vị thần chánh yếu của Ấn Độ Giáo (Brahma, Vishnu và Śiva). Ông này c̣n có danh xưng khác như Mahadeva (Đại Thiên), Shankara (Thưởng Ca La), Shambhava, và Tam Giới Chủ (Trilokinatha).

[34] Tính từ chân núi Tu Di cho đến ngoài cùng, có bảy tầng núi bao quanh, giữa mỗi tầng núi là một biển nước mặn. Tầng núi ngoài cùng được gọi là Thiết Vy.

[35] Trong một bài chú, phần trọng yếu của bài chú thường gọi là “chú tâm”. Những phần trước đó đa số là lời quy kính, hoặc xưng danh hiệu. Thông thường, chú tâm bắt đầu từ chữ Án trở đi. Ngoài ra, chú tâm c̣n có nghĩa là bài chú cốt lơi của một pháp môn nào đó trong Mật Tông. Vị chân ngôn chủ (Phật, Bồ Tát nói ra một bài chú nào đó) sau khi nói chú, bèn dạy về các nghi quỹ hành tŕ. Khi đó, các Ngài có thể dạy một bài chú ngắn gọn hơn bài chú đă nói, bài chú ấy sẽ được gọi là “chú tâm”.

[36] Gọi là “châu cầu” v́ xem mỗi tinh cầu là một châu.

[37] Do các tầng trời Tứ Vương và Đao Lợi đều nương tựa vào núi Tu Di, nên gọi là Địa Cư Thiên.

[38] Tầm () là đơn vị thời cổ, bằng tám thước (tức khoảng 2,5-2,7m hiện thời). Nhẫn () theo quy định vào đời Hán, sẽ là bảy thước Tàu.

[39] Dữu () là đơn vị đo lường, có nhiều cách hiểu. Có thuyết nói một Dữu là hai đấu bốn thăng (tức 24 thăng, gần bằng 26 lít), có thuyết nói mười sáu đấu (160 lít) là một Dữu.

Bỉnh () là đơn vị đo thể tích, một Bỉnh là mười sáu hộc (), tức 16x51.7 lít = 827.2 lít

[40] Truy (): Theo cách tính thời cổ, sáu Thù là một Truy, bốn Truy bằng một Lượng. Nếu hiểu theo cách đo lường hiện thời, một Lượng dao động từ 37g cho đến 50g (tại Hoa Lục), th́ một Truy từ 8.5 g cho đến 13g.

[41] Một cân () tại Đài Loan chỉ có 500g, trong khi đó tại Tân Gia Ba, Hương Cảng, Nhật Bản, Mă Lai, một cân khoảng từ 600 đến 605 g. Một Quân () bằng ba mươi Cân.

[42] Đây là một cách tính tháng Nhuận theo thời cổ, hiện thời phức tạp hơn. Để tính ngày nhuận, cứ ba năm bèn tính nhuận một tháng, năm năm nhuận hai tháng, bảy năm nhuận bảy tháng. Khi nói “nhuận một tháng”, “bảy năm nhuận bảy tháng” không có nghĩa là thêm một tháng vào, mà là đối với mỗi tháng thiếu, thêm vào một ngày cho thành ba mươi ngày. Thêm hẳn một tháng nhuận sẽ tính theo cách khác, do quá phức tạp, nên không chép vào đây!

[43] Nguyên văn: “Tây dĩ thất đại, tứ tiểu, nhất b́nh kế” (phương Tây dùng bảy lớn, bốn nhỏ, một b́nh để tính), không rơ cụ Lư muốn nói tính nhuận theo kiểu nào. V́ nhuận theo Dương lịch chỉ có nhuận một ngày vào tháng Hai theo quy tắc: Nếu một năm lần lượt chia hết cho 4 và nhưng không chia hết cho 100, năm đó sẽ là năm nhuận. Nếu một năm vừa chia hết cho 4 và 100, năm đó sẽ là năm nhuận nếu nó cũng chia hết cho 400. Ví dụ, năm 2016 là năm nhuận v́ nó chia hết cho 4 và không chia hết cho 100. Năm 2000 là năm nhuận v́ nó chia hết cho 4,100, và 400, nhưng năm 2200 không phải là năm nhuận v́ nó vừa chia hết cho 4 vừa chia hết cho 100, nhưng không chia hết cho 400. Do không hiểu cách cụ Lư nói đến là cách tính nào, chúng tôi tạm dịch là “tính theo cách khác”.

[44] Mẫu () bằng với 614,4 m2, c̣n Khoảnh () bằng một trăm mẫu.

[45] B́nh (tsubo, ) là đơn vị đo diện tích xuất phát từ Nhật bằng khoảng 3,4m2, một Giáp () bằng 2.933,99 B́nh. Giáp là đơn vị được vay mượn từ đơn vị đo Akker trong tiếng Ḥa Lan (do trong quá khứ, công ty Đông Ấn của Ḥa Lan từng chiếm đóng Đài Loan một thời gian cho tới năm 1662, Quốc Tánh Gia (Trịnh Thành Công) mang thủy quân từ lục địa ra, thành công đánh bại quân Ḥa Lan, chiếm lại đảo Đài Loan, biến đảo này thành căn cứ của Thiên Địa Hội nhằm thực hiện công cuộc phản Thanh phục Minh).

[46] Tuy ngài Thanh Nguyên Hành Tư không lập tông, nhưng Ngài được coi là thỉ tổ của ba tông trong năm tông thuộc Thiền Gia Nam Phái (truyền thừa Thiền pháp của Lục Tổ Huệ Năng). Ngài Thanh Nguyên Hành Tư có một đệ tử đắc pháp là Thạch Đầu Hy Thiên. Ngài Thạch Đầu Hy Thiên có đệ tử là Dược Sơn Duy Nghiễm. Ngài Duy Nghiễm truyền pháp cho Vân Nham Đàm Thạnh. Ngài Vân Nham Đàm Thạnh có đệ tử đắc ư là Động Sơn Lương Giới, vị này lập ra tông Tào Động. Một đệ tử khác nối pháp của ngài Thạch Đầu Hy Thiên là Thiên Hoàng Đạo Ngộ. Ngài Đạo Ngộ truyền pháp cho Long Đàm Sùng Tín, Long Đàm Sùng Tín truyền cho Đức Sơn Tuyên Giám. Đức Sơn Tuyên Giám truyền pháp cho Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Đệ tử đắc pháp của ngài Nghĩa Tồn là Vân Môn Văn Yển (vị này lập ra tông Vân Môn) và Huyền Sa Sư Bị (đường lối hành Thiền của Ngài được gọi là Huyền Sa Tông, về sau, đệ tử của ngài là Pháp Nhăn Văn Ích nổi trội, nên tông này được gọi là Pháp Nhăn).

[47] Sơn (Toxicodendron Succedaneum) là một loại cây có nhựa rất độc, c̣n gọi là Wax Tree, hay Japanese wax. Nhựa của nó là nguyên liệu chính để làm sơn mài. Cây này mọc phổ biến ở miền Bắc Việt Nam, nhất là dùng như một chất kết dính để bảo vệ các sản phẩm mỹ thuật. Trong quá tŕnh chế biến, nhựa sơn có thể gây dị ứng khiến mặt sưng lên, nổi mẩn ngứa gây lở loét khắp cơ thể (do đó mới có câu ví von: “Sơn ăn tùy mặt, ma bắt tùy người”). Từ nhựa sơn, người ta chế ra nhựa then chủ yếu để thếp, phủ các đồ vật rất bền. Xưa kia, trước khi thếp vàng đồ vật được phủ sơn then, rồi mới giát những lá vàng mỏng như giấy lên. Khi lưu giữ nhục thân của các vị tổ sư, người ta thường ngâm xác vào muối để rút sạch nước, sau đó bó nhiều lớp vải đă ngâm sơn và mạt cưa để chống ẩm. Khi xác đă thành một khối cứng, tạo h́nh đúng như ư muốn rồi mới thếp vàng.

[48] Tứ Phệ Đà (hay c̣n gọi là Tứ Vệ Đà) gồm Ly Câu Phệ Đà (Ṛgveda, bao gồm những bài ca vịnh), Sa Ma Phệ Đà (Sāmaveda, gồm những bài tán tụng), Dạ Nhu Phệ Đà (Yajurveda, bao gồm những nghi thứ cúng tế) và A Thát Bà Phệ Đà (Atharvaveda, những cách thức tiêu trừ tai nạn).

[49] Tức tinh cha và huyết mẹ.

[50] Quốc Ngữ là cách người Hoa gọi tiếng Hoa tiêu chuẩn hiện thời. Thoạt đầu, khi vương triều đóng đô ở đâu, tiếng nói nơi đó sẽ gọi là Quan Thoại (tiếng sử dụng trong triều đ́nh), hoặc Quốc Ngữ. Chẳng hạn thời Tần, Hán, Đường, do kinh đô ở Trường An nên tiếng Trường An được coi là Quan Thoại. Đời Tống, tiếng Biện Kinh là Quan Thoại. Đến giữa đời Minh, phương ngôn Bắc Kinh mới được coi là Quan Thoại. Khi Trung Hoa Dân Quốc thành lập, bộ Giáo Dục đă buộc các công sở và trường học phải sử dụng tiếng Bắc Kinh làm ngôn ngữ chính thức và gọi tiếng Bắc Kinh là Phổ Thông Thoại hay Quốc Ngữ (nhưng danh xưng Quốc Ngữ hiện thời chỉ phổ biến ở Đài Loan). Đối với người Việt, thường có thói quen gọi tiếng Hoa phát âm theo giọng Bắc Kinh là Quan Thoại. Tại Tân Gia Ba và Mă Lai, cộng đồng người Hoa chỉ gọi đơn giản tiếng Phổ Thông là Hoa Ngữ.

[51] Quán Sắc ở đây chính là quán chủng tự của vị Bổn Tôn sẽ từ chân không hóa hiện ra như thế nào, cũng như màu sắc của từng chủng tự. Chẳng hạn pháp Quán Lục Tự Chân Ngôn là từ trong tâm của hành giả, tưởng xuất hiện hoa sen trắng muốt, trên ṭa sen, xuất hiện mặt trời màu vàng sáng rực, rồi quán mặt trăng trong ngần đặt nằm trên mặt trời. Chính giữa mặt trăng xuất hiện chữ Hrih trắng tinh, từ chữ Hrih biến thành Quán Thế Âm Bồ Tát bốn tay, cầm các pháp khí, hai tay chắp trước ngực, hai tay kia lần lượt cầm xâu chuỗi và búp sen xanh. Từ tâm của Bồ Tát lại lưu xuất chữ Hrih. Từ chữ Hrih lưu xuất lục tự chân ngôn, mỗi chữ chân ngôn lại có màu tương ứng với một đường trong lục đạo v.v…

[52] Sư phó (師傅) là từ ngữ để gọi thầy, tương đương với sư phụ.

[53] Tam hồn thất phách là cách diễn giải linh hồn theo quan điểm Đạo giáo. Đạo giáo thời cổ cho rằng: Con người có ba hồn là Nguyên Thần, Dương Thần và Âm Thần. Có sách nói ba hồn là Thai Quang, Thích Linh và U Tinh. Về sau, thường nói ba hồn là Thiên Hồn, Địa Hồn và Nhân Hồn. Họ cho rằng: Con người chết đi, Thiên Hồn sẽ sanh lên trời. Nhưng do nghiệp đă gây tạo, hồn chẳng trở về đúng chỗ, bị giam giữ trong thiên lao. Địa Hồn sẽ vào địa ngục chịu sự báo ứng. Nhân Hồn sẽ quẩn quanh nơi phần mộ, có thể gá vào thần chủ (bài vị) để hưởng cúng tế của con cháu. Thất phách là Thi Cẩu, Phục Thỉ, Tước Âm, Thôn Tặc, Phi Độc, Trừ Uế, Xú Phế, tương ứng với bảy thứ t́nh cảm của con người (hỷ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục).