QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT
PHỔ MÔN PHẨM GIẢNG KƯ
(phần 1)
觀世音菩薩普門品講記
演培老法師講述
釋寬嚴記
Chủ giảng: Lăo pháp sư
Thích Diễn Bồi
Pháp sư Thích Khoan Nghiêm ghi.
Chuyển
ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
(theo
ấn bản của Phật Đà Giáo Dục Cơ Kim Hội,
tháng 04, năm 2004)
Dẫn Nhập
Có
lẽ đối với những Phật tử Hoa
Kiều tại Việt Nam, đặc biệt là những
người sống ở vùng Sài G̣n - Chợ Lớn,
phương danh ngài Diễn Bồi là một tên tuổi
quen thuộc. Đại sư từng qua Việt Nam
hoằng pháp nhiều lần; hầu hết các kinh sách quan
trọng của Đại Thừa, Ngài đă đều
giảng qua. Khi c̣n ở Việt
Lần đầu
tiên, mạt nhân được biết tên tuổi của
Ngài là vào năm 1986. Trong một lần đến chùa
Dược Sư (quận B́nh Thạnh) thỉnh kinh,
lục lạo trong đống kinh sách cũ, vô t́nh mạt
nhân t́m được cuốn A Di Đà Kinh Giảng Kư
của pháp sư Thích Diễn Bồi. Giở xem thấy
văn phong khá giản dị, đủ để một
người vốn liếng chữ Hán nhấp nhem như
mạt nhân khi đó hiểu được dễ dàng ư tác
giả qua vài trang sách đầu tiên. Thế là với
bản giảng kinh ấy, mạt nhân có dịp tập tành
luyện đọc văn Bạch Thoại. Càng đọc
càng thấy những lời giải thích của Ngài tuy
giản dị, dễ hiểu, nhưng vẫn thâm trầm,
hàm súc, có thể nói không quá đáng là lời giảng
của Ngài rất lợi lạc cho mọi tầng lớp
người đọc, nhất là hạng hành nhân sơ
cơ. Từ nhân duyên đặc biệt ấy, mạt nhân
tâm nguyện bất cứ khi nào ḿnh có được
một bản giảng kinh nào của Ngài, sẽ cố
gắng dịch sang tiếng Việt.
Đến năm
2003, mạt nhân lại được đọc bản
Phạm Vơng Kinh Bồ Tát Giới Giảng Kư của Ngài qua
tài phiên dịch tuyệt vời của Ḥa Thượng Trí
Minh, mạt nhân càng khâm phục tài giảng kinh của Pháp
Sư Diễn Bồi hơn nữa. Điều
đáng mừng là bản dịch quư giá này của Ḥa
Thượng Trí Minh đă được các trang nhà
Phật giáo đón nhận nồng nhiệt và đăng
tải rộng răi.
Xảo hợp sao,
mùa Thu năm nay, trong những sách vở được
Tịnh Tông Học Hội gởi cho, mạt nhân thấy có
cuốn Phổ Môn Phẩm Giảng Kư này. Thế là chẳng
nệ kiến thức chắp vá, chữ nghĩa vụng
về, mạt nhân hăm hở dịch ra tiếng
Việt, ngơ hầu giới thiệu một tác phẩm
đặc sắc khác của lăo pháp sư, với ư
nguyện đền đáp chút ân pháp nhũ của bậc
ân sư ḿnh chưa bao giờ có dịp hội ngộ. Chỉ dám hy vọng bản chuyển ngữ này
chẳng đến nỗi diễn tả sai lạc hoàn
toàn ư nghĩa những lời giảng thâm diệu của
Ngài.
Nếu việc
chuyển ngữ liều lĩnh này có chút phần lợi
lạc th́ xin trên hồi hướng công đức về
ân sư Thích Diễn Bồi, bổn sư Thích Giải Thắng
và lịch đại phụ mẫu, sư trưởng,
dưới hồi hướng cho hết thảy u
hiển hữu t́nh cùng được văng sanh Cực
Lạc.
Tiểu sử lăo pháp sư Thích Diễn
Bồi
(1917-1996)
Cư sĩ Vu
Lăng Ba soạn
Pháp sư
Diễn Bồi là vị học giả trứ danh của
Phật giáo đương đại. Mấy mươi năm tích cực
hoằng pháp các nơi, Sư đă để lại cho
đời bộ Đế Quán Toàn Tập vĩ
đại. Toàn bộ Đế Quán Toàn Tập hơn
bốn mươi quyển, tám trăm vạn chữ, bao
quát lư luận các tông phái Tiểu Thừa, Đại
Thừa, là tác phẩm Phật học lớn lao
hiếm có. Ở đây, tôi xin giới thiệu sự
nghiệp hoằng hóa của lăo pháp sư Diễn Bồi
như sau:
1. Xuất gia và tham học:
Pháp sư Diễn
Bồi họ Lư, quê ở trấn Thiệu Bá, Dương
Châu, tỉnh Giang Tô, sanh năm 1917 (ngày mồng Một Tháng
Mười Hai năm Đinh Tỵ, tức năm Dân Quốc
thứ sáu). Ngài sanh trong một gia đ́nh nông
dân nghèo thuộc Quản Gia Trang tại trấn Thiệu Bá.
Cha là Lư Quốc Cư, mẹ họ Ngô, sanh được
bốn trai, ba gái, Sư là con út. Anh thứ hai lớn hơn
Sư tám tuổi, từ nhỏ đă được
gởi vào chùa Quán Âm ở trấn Lâm Trạch, huyện Cao
Bưu làm một tiểu sa-di, nhưng chưa chính thức
thế độ xuất gia.
Năm
Sư lên 12 tuổi, người anh hai lên tṛn hai mươi
tuổi, được sư phụ cho chính thức
xuất gia, đồng thời cử hành pháp hội kéo dài
bảy ngày. Ngài Diễn Bồi theo
cha mẹ đến dự lễ, vị thầy trong chùa
rất thích cậu bé, thường hay đem kẹo bánh
trái cây cho ăn, cậu cảm thấy trong chùa rất vui,
chẳng muốn về nhà nữa, kiên quyết muốn
sống trong chùa. Cha mẹ không biết làm sao, đành
phải để cậu ở lại đó, hy vọng
cậu bé mấy ngày chơi chán sẽ về nhà, nào ngờ
cậu bé ở ĺ luôn trong chùa, không trở về nữa. Chưa đầy một năm sau, cậu xin
sư phụ chùa Quán Âm thế độ, nhưng sư
phụ sợ cha mẹ cậu không đồng ư nên không
chấp thuận. Cậu tự qua am
Phước Điền ở thôn kế bên, lễ ḥa
thượng Thường Thiện xin thế độ,
trở thành một tiểu sa-di, pháp danh là Diễn Bồi.
Lúc
c̣n tại gia, Sư đă học mấy năm ở
trường tư, sau khi xuất gia, sư phụ
chẳng cho Ngài làm tạp vụ, buộc cậu tiếp
tục học hành. Đến năm
mười tám tuổi, sư phụ đem Ngài đến
viện giới luật Phước Thọ thuộc
huyện Bảo Ứng để thọ Cụ Túc Giới.
Sau khi thọ giới xong, trở về chùa,
sư phụ giao cho Ngài làm Trụ Tŕ. Ngài
Diễn Bồi chẳng muốn ở măi tại một
ngôi chùa nhỏ ở vùng quê, nhất tâm muốn xuất
ngoại cầu pháp. Ngài nại cớ
về thăm cha mẹ, xin thầy cho về. Về
đến nhà rồi, Ngài bèn ngồi thuyền lên
Thượng Hải, xin nhập chúng ở chùa Ngọc
Phật. Tự viện Ngọc Phật Tự chuyên lo pháp
sự kinh sám, đúng là chỗ “ngũ thú tạp cư”;
ngài Diễn Bồi ở đó chẳng lâu lại ra đi,
xin nhập chúng tại chùa Pháp Tạng. T́nh h́nh ở Pháp
Tạng tự cũng chẳng hơn ǵ Ngọc Phật
Tự, Sư phải lo chuyện kinh sám cả sáu tháng, dành
dụm được chút lộ phí để sang chùa Quán
Tông ở Ninh Ba ḥng được học hành. Ngài bèn mua vé
tàu sang Ninh Ba, vào học tại Giới Đường chùa
Quán Tông, tiếp nhận giáo dục Phật giáo căn
bản. Đó là cuối Xuân năm 1935,
Diễn Bồi tṛn hai mươi tuổi.
Nửa năm sau
do thành tích xuất sắc, Sư được đưa
lên học chương tŕnh cao cấp của Hoằng Pháp
Nghiên Cứu Xă. Hoằng Pháp Xă chỉ chú trọng giảng
kinh, chẳng chú trọng soạn thuật; Sư ở chùa
đă hơn năm, viết một lá thư
không xuông, có bạn đồng học bảo Sư: “Thầy
muốn học văn tự, tốt nhất là đến
Phật Học Viện Mân
Chẳng lâu sau, do
người Nhật Bản nhiều lượt gây
chuyện tại Hoa Bắc, chánh phủ tích cực
chuẩn bị chiến đấu, triệu tập thanh
niên toàn quốc tham gia tập huấn quân sự. Tăng
lữ cũng phải tham gia tập luyện trong
đội cứu thương. Ngài Diễn
Bồi phải trở về huyện Cao Bưu nơi ḿnh
xuất gia để tập huấn. Tháng Bảy
năm ấy, sự biến Lư Câu Kiều[1]
bộc phát, kế đó, cuộc chiến ngày Mười
Ba tháng Tám nổ ra ở Thượng Hải, Sư cùng
năm sáu vị đồng học theo pháp sư Từ Hàng
đang giảng kinh tại Vô Tích sang tỵ nạn tại
Hương Cảng, tạm thời ngụ tại tinh xá Di
Đà của pháp sư Ưu Đàm. Bọn
họ nghe tin đại sư Thái Hư đang trông coi
viện Giáo Lư Hán Tạng tại Trùng Khánh, ban giảng
huấn giỏi giang, bọn họ rất háo hức
muốn t́m đến. Do vậy, đầu năm
1939, ngài Diễn Bồi cùng các bạn đồng học
ở Mân Nam là Diệu Khâm, Đạt Cư, Văn Huệ,
Bạch Huệ năm người chọn ngă sang Việt Nam, theo đường sông, ngồi xe
lửa tuyến đường Điền - Việt
đến Côn Minh. Khi đó, đại sư
Thái Hư đang trụ tích tại Hội Phật Giáo
tỉnh Vân
Khi ấy, chủ
nhiệm giáo vụ của viện Hán Tạng là pháp sư
Pháp Phảng yêu cầu họ dùng danh nghĩa sinh viên bàng
thính để tự do theo học các
khóa học. Đó vốn là chủ ư của
Thái Hư đại sư. Đại sư cho
rằng tŕnh độ họ chẳng kém, do
được tự do chọn lựa khóa giảng sẽ
học được nhiều thứ. Bởi thế,
họ theo học Bồ Đề Đạo Thứ
Đệ Luận với pháp sư Pháp Tôn, học Câu Xá
Luận với pháp sư Pháp Phảng, học Nhiếp
Đại Thừa Luận với ngài Ấn Thuận.
2. Dạy học kiếm sống
Mùa Thu năm
1941, Thái Hư đại sư sai ngài Diễn Bồi sang
thành lập Pháp Vương Học Viện ở chùa Pháp
Vương tại huyện Hợp Giang; năm đó ngài
Diễn Bồi hai mươi lăm tuổi, tích cực
nhận trách nhiệm Giám Học, rất được
khen ngợi. Năm Dân Quốc 34 (1945), công cuộc kháng
Nhật thắng lợi; năm Dân Quốc 35 (1946), sau
tiết Thanh Minh, ngài Ấn Thuận, ngài Diễn Bồi và
ngài Diệu Khâm, ba vị kết đoàn theo công lộ Tây
Bắc sang miền Đông, đến vùng Bảo Kê,
tỉnh Thiểm Tây bèn theo đường sắt Lũng
Hải đến tận Khai Phong, dừng chân tại chùa
Thiết Tháp, được trụ tŕ là pháp sư Tịnh
Nghiêm tiếp đón. Do đường xa nhọc nhằn,
thân thể yếu mệt, ngài Ấn Thuận bèn lưu
lại hưu dưỡng ở chùa Thiết Tháp, ngài
Diễn Bồi và Diệu Khâm bèn rời Khai Phong sang
Thượng Hải trước.
Trong khi đó, Thái
Hư đại sư trụ tích tại chùa Ngọc
Phật, hai người đến chùa Ngọc Phật
cầu kiến, đại sư bảo: “Hiện có
chuyện cần hai thầy làm, hiện thời Hàng Châu
thành lập Phật Học Viện Vũ Lâm không có
người phụ trách, các thầy nên sang đó chủ
tŕ”. Bởi vậy, hai vị Diễn Bồi, Diệu Khâm
bèn sang Hàng Châu. Phật Học Viện Vũ Lâm đặt
tại chùa Linh Phong ở Hàng Châu, học tăng hơn ba
mươi người. Sau khi khai giảng,
ngài Diễn Bồi giảng Câu Xá Luận, ngài Diệu Khâm
dạy quốc văn. Ngoài ra, hai vị
pháp sư c̣n giảng về Phật học. Khai
giảng chưa đầy một học kỳ, nhận
được điện tín từ cố hương Mân
Nam yêu cầu trở về, ngài Diệu Khâm xin nghỉ phép
về lại Mân Nam lễ tổ, thăm mẹ. Phật
Học Viện do ḿnh ngài Diễn Bồi
duy tŕ. Sư gởi thư cho đại
sư Thái Hư xin cử người khác làm viện
trưởng. Về sau, đại sư cử pháp sư
Hội Giác làm viện trưởng, để ngài Diễn
Bồi được giảm bớt gánh nặng, chuyên
đảm trách giáo vụ.
Đến mùa
Đông năm 1948, Ấn Thuận đạo sư nhận
lời thỉnh cầu của lăo ḥa thượng Tánh
Nguyện đến chùa Nam Phổ Đà ở Hạ Môn
sáng lập Đại Giác Giảng Xă, gởi thơ mời
ngài Diễn Bồi và pháp sư Tục Minh sang trước
giúp sức. Khi ấy, ngài Diễn Bồi bèn rời Hàng Châu
sang Hạ Môn dạy tại Đại Giác Giảng Xă. Sau
này, ngọn lửa chiến tranh Quốc - Cộng lan
đến Mân Nam, Giảng Xă ngưng hoạt động,
pháp sư Diễn Bồi và pháp sư Năng Tuấn sang
Hương Cảng trước. Chẳng lâu sau,
đạo sư Ấn Thuận và pháp sư Tục Minh
cũng theo sang. Người mới
đến Hương Cảng chỗ ở bất
định, các thầy ba lượt đổi chỗ
ở, cuối cùng theo đạo sư
Ấn Thuận trú tại Hương Cảng Phật Giáo
Liên Hiệp Hội đặt tại hội quán ở eo
biển. Ngài Diễn Bồi và pháp sư
Tục Minh giảo đính bộ Thái Hư Toàn Thư cho
Thái Hư Đại Sư Toàn Thư Xuất Bản Ủy
Viên Hội. Họ ở Hương Cảng suốt
ba năm, giảo đính được bốn mươi
sáu quyển trong tổng số sáu mươi tư
quyển của bộ Thái Hư Đại Sư Toàn
Thư. Đầu năm 1952, cư sĩ Lư Tử Khoan
ở Đài Loan gởi thơ thỉnh ngài Diễn Bồi
sang Đài Loan chủ tŕ Đài Loan Phật Giáo Giảng
Tập Hội. Do vậy, tháng Ba năm đó, ngài Diễn
Bồi ngồi thuyền sang Đài Loan.
Đài Loan
Phật Giáo Giảng Tập Hội do trụ tŕ chùa Linh
Ẩn ở hồ Thanh Thảo, huyện Tân Trúc là pháp
sư Vô Thượng phát tâm, thỉnh pháp sư Đại
Tỉnh đứng ra thành lập vào mùa Thu năm 1951
(tức năm Dân Quốc thứ bốn mươi). Giảng Tập Hội đặt tại chùa Linh
Ẩn ở Tân Trúc, có hơn bốn mươi hội viên
dự hội nghe giảng. Năm 1949, Đại
Tỉnh pháp sư đến Đài Loan, mùa Đông năm
1950, mắc bệnh cao huyết áp phải dưỡng
bệnh tại Hương Sơn ở Tân Trúc, trong năm
đó, v́ pháp sư Vô Thượng khẩn khoản,
phải gượng mang thân bệnh đứng ra chủ tŕ
Giảng Tập Hội. Ít lâu sau, do cao huyết áp bị
trúng phong (stroke), Giảng Tập Hội không người
lănh đạo, phải bị đ́nh đốn, nên mới
nghĩ ngài Diễn Bồi là nhân tuyển thích hợp
nhất để kế nhiệm. Pháp sư Diễn
Bồi nhận lời thỉnh sang Đài Loan.
Giảng Tập
Hội nam nữ học chung, nữ sinh
hai mươi mấy vị, nam sinh chỉ có mười
mấy người. Do pháp sư Diễn Bồi tuổi c̣n
quá trẻ (ba mươi sáu tuổi), lănh đạo nữ
chúng bất tiện, nên bèn lập riêng
phân ban nam nữ. Về sau, chuyển nữ sinh sang Viên Quang
Phật Học Viện ở Trung Lịch, ngài Diễn
Bồi sang Linh Ẩn lănh đạo nam chúng. Ngài ḥa nhập
cùng các học tăng, ngoài việc truyền dạy tri
thức và un đúc Phật pháp ra, Ngài đặc biệt
chú trọng đức dục, khiến cho danh tiếng
của Giảng Tập Hội ngày càng lừng lẫy. Tháng Chạp năm 1956, khóa học tăng
đầu tiên tốt nghiệp, trong số đó có các
vị như Thánh Ấn, Tu Nghiêm, Thông Diệu v.v… sau này
đều thành những bậc pháp tướng của
Phật môn.
Năm 1957,
đạo sư Ấn Thuận lập Phật Học
Viện cho nữ chúng tại chùa Nhất Đồng ở
Tân Trúc, ngài Ấn Thuận làm viện trưởng, cử
pháp sư Diễn Bồi đảm nhiệm phó viện
trưởng. Tháng 9 năm đó, ngài Diễn
Bồi kế tục đạo sư Ấn Thuận làm trụ
tŕ chùa Thiện Đạo. Do phải trông coi sự
vụ trong chùa, nên ngoài những giờ lên lớp, Sư
không đảm nhiệm trách nhiệm thật sự
tại Phật Học Viện. Tháng Tư năm 1958, nhận
lời mời, ngài Diễn Bồi sang Thái Lan, Giản
Bố Trại (Cambodia), Việt Nam v.v… hoằng hóa. Hơn ba tháng, Ngài lại về nước
dạy học như cũ. Tháng Tám
năm 1960, nhiệm kỳ trụ tŕ chùa Thiện
Đạo ba năm đă măn, Sư kiên quyết từ
chối trụ tŕ tiếp. Tháng 12, Sư xuất
dương hoằng hóa, đến đây mới tạm
chấm dứt giai đoạn truyền đạo, giáo
nghiệp, dạy học sanh nhai. Dù sau này thành lập Thái
Hư Phật Học Viện tại giảng
đường Huệ Nhật ở Đài Bắc và Hoa
Văn Phật Học Viện tại chùa Linh Tuyền núi
Nguyệt My tại Cơ Long, ngài Diễn Bồi chỉ làm
viện trưởng trên danh nghĩa, chứ thật ra Ngài
sống tại Tinh Châu (Singapore), hai chức viện
trưởng chỉ làm cho có, không đảm nhận trách
nhiệm thật sự.
3. Đảm nhiệm vai tṛ trụ tŕ:
Một
đời ngài Diễn Bồi đảm nhiệm chức
trụ tŕ nhiều lần. Năm 1957, Ngài từng làm
trụ tŕ chùa Thiện Đạo tại Đài Bắc.
Nguyên lai, chùa Thiện Đạo do ngài Ấn Thuận làm
trụ tŕ, nhưng do phải phân xử sự việc trong
chùa không ngớt, ngài Ấn Thuận kiên quyết thoái
vị, ban Hộ Tự kiến nghị thỉnh ngài
Diễn Bồi kế nhiệm. Ngài Diễn
Bồi cả nể, thoái thác chẳng được, tháng
Chín năm 1957 bèn tấn sơn thăng ṭa[2].
Ngờ đâu giám viện của chùa chuyên quyền, nhân
sự vẫn chẳng an định, ngài Diễn Bồi là
con người học vấn, chán ngán chuyện con
người tranh chấp, nên mọi sự đều
ẩn nhẫn, hết thảy đều tùy duyên, miễn
cưỡng đảm nhiệm chức vụ ba năm,
rồi bèn kiên quyết thoái vị. Những vị cư
sĩ nhiệt tâm trong ban Hộ Tự van nài, thậm chí lăo
cư sĩ Triệu Di Ngọ (Hằng Dịch) hơn tám
mươi tuổi đảnh lễ khẩn cầu. Do
t́nh thế chẳng thể ở thêm được
nữa, pháp sư Diễn Bồi nhất quyết từ
chức, ngôi Trụ Tŕ do pháp sư Mặc Như kế nhiệm.
Cuối
năm 1966, chúng thường trụ tinh xá Phước
Nghiêm ở hồ Thanh Thảo huyện Tân Trúc cùng suy cử
ngài Diễn Bồi làm trụ tŕ. Trong
tháng Tư năm đó, Ngài tấn sơn. Khi đó,
ngài sống tại Tân Gia Ba, chức vụ trụ tŕ
chỉ là danh nghĩa, sự vụ trong tinh xá do pháp sư
Thường Giác thay mặt xử lư. Đến
tháng Tư năm 1970, nhiệm kỳ trụ tŕ ba năm
đă măn, pháp sư Ấn Hải, nguyên trụ tŕ giảng
đường Huệ Nhật, kế nhiệm. Năm 1968, ngài Diễn Bồi từ Tân Gia Ba
trở về Đài Bắc, vào tổng y viện Vinh Dân
khám nghiệm sức khỏe. Hội
trưởng hội quản lư chùa Huyền Trang ở
Nhật Nguyệt Đàm là lăo cư sĩ Triệu Di
Ngọ gởi thơ thỉnh Ngài
giữ chức trụ tŕ chùa Huyền Trang. Cư sĩ Lư Tử Khoan cũng ra sức
mời mọc, Ngài lại gặp cảnh t́nh nghĩa
buộc ràng chẳng thể chối từ được,
phải chấp thuận làm trụ tŕ chùa Huyền Trang. Tháng Ba năm 1968 tấn sơn. Khi đó, có hơn ba ngàn người đến
dự lễ và chúc mừng, náo nhiệt suốt ngày.
Nhưng pháp vụ tại Tân Gia Ba không thể bỏ
được, nên trong thực tế sự vụ tại
chùa Huyền Trang do Giám Viện là pháp sư Thánh Ấn
đảm trách. Nhiệm kỳ ba năm đă măn, pháp
sư Diễn Bồi kiên quyết từ chức, suy cử
pháp sư Đạo An kế nhiệm.
Sau
này, trên danh nghĩa, Ngài c̣n làm trụ tŕ Diệu Pháp Tinh Xá
tại Việt
4. Ba mươi năm hoằng pháp
tại trời
Lần
đầu tiên, ngài Diễn Bồi xuất ngoại
hoằng hóa là năm 1958, ứng theo lời thỉnh
cầu của cư sĩ Mă Tử Lương, lư sự
trưởng của Long Hoa Phật Giáo Xă tại kinh đô
Thái Lan, chủ tŕ lễ kỷ niệm đệ tam chu niên
dựng tháp thờ xá lợi Thái Hư Đại Sư,
đồng thời v́ tín chúng giảng kinh. Do đấy,
Sư cùng Phật Giáo đồ Đông Nam Á kết mối
duyên không rời. Đầu tháng Năm năm ấy, Sư
vừa mới đến Mạn Cốc (Bangkok) liền
được các xă đoàn Long Hoa Phật Giáo Xă, Trung Hoa
Phật Học Nghiên Cứu Xă, Quang Hoa Phật Giáo Hội,
Liên Hoa Phật Giáo Xă v.v… nhiệt liệt hoan nghênh. Ngài
hoằng pháp tại Mạn Cốc hơn cả tháng,
giảng kinh thuyết pháp tại ba mươi nơi
như Đại Bi Giảng Đường của Long Hoa
Phật Giáo Xă, do cư sĩ Trần Mộ Thiền
dịch sang tiếng Triều Châu.
Pháp sư Diễn
Bồi hoằng pháp tại Thái Lan, pháp
sư Siêu Trần ở Việt
Tháng Tám năm
1960, sau khi giao trả chức Trụ Tŕ chùa Thiện
Đạo, lại nhận lời thỉnh của kiều
bào ở Việt
Tháng 11 năm 1962,
Sư sang Việt
Cư sĩ Lâm
Đạt Hiền, tín thác nhân (trustee) của Linh Phong
Bồ Đề Học Viện (sau này xuất gia, thành pháp
sư Huệ Viên) biết chuyện này, cầu thỉnh ngài
Diễn Bồi cũng trở thành tín thác nhân của Bồ
Đề Học Viện, giao Học Viện cho ngài
Diễn Bồi quản lư, để biến thành
đạo tràng hoằng hóa của Ngài. Sau này, v́ thấy t́nh
h́nh chính trị Việt Nam ngày càng xấu đi, Ngài bèn
dẹp kế hoạch dựng chùa tại Việt Nam,
tiếp nhận trách nhiệm quản lư Linh Phong Bồ
Đề Học Viện, lại c̣n thỉnh pháp sư Long
Căn đảm nhiệm vai tṛ tín thác nhân. Do học
viện lâu ngày không được tu bổ, nên năm 1967
bèn trùng tu, đổi tên thành Linh Phong Bát Nhă Giảng
Đường. Năm 1968, công cuộc trùng tu hoàn tất,
ngày 12 tháng Giêng năm Dân Quốc 67 (1968) cử hành lễ
lạc thành và điển lễ an vị thánh tượng
Phật Thích Ca. Ngày hôm ấy, thỉnh đạo sư
Ấn Thuận ở Đài Loan thăng ṭa, khách quư các
giới đến mừng hơn hai ngàn người.
Quốc Vụ Khanh Việt
Trong khoảng
thời gian từ năm 1962 đến năm 1980, ngài
Diễn Bồi nhiều lần qua các nước Mỹ,
Gia Nă Đại, Phi Luật Tân hoằng hóa, ở đây
chẳng cần phải thuật rơ. Năm 1969, tuy pháp
sư ở tại Tân Gia Ba đă nhiều năm, nhưng
vẫn chưa được trao quyền công dân, xuất
nhập cảnh thật bất tiện, Ngài có ư rời Tân
Gia Ba sang Mỹ hoằng hóa, bèn thỉnh pháp sư Long
Căn trụ tŕ Bát Nhă Giảng Đường. Ngày hai
mươi tháng Mười Một năm ấy làm lễ
giao chuyển. Giao chuyển giảng
đường Bát Nhă xong, bên ngoài đồn đại
ầm ĩ, bên Hương Cảng đồn Ngài bị
chính phủ Tân Gia Ba trục xuất khỏi nước.
Để dẹp yên lời đồn, ngài Diễn Bồi
ở lại Tân Gia Ba không đi nữa, tạm trú tại
Tân Gia Ba Nữ Tử Phật Học Viện, tiếp
tục giảng kinh hoằng pháp.
5. Kiến lập Phước Huệ
Giảng Đường và Phật Giáo Phước Lợi
Hiệp Hội
Tháng Ba năm 1980,
chùa Phổ Hiền ở thành phố Túc Vụ (Cebu), Phi
Luật Tân, lạc thành, trụ tŕ là pháp sư Duy Từ
thỉnh pháp sư Diễn Bồi chủ tŕ điển
lễ an vị Phật. Sư bay sang Phi Luật Tân,
đến hạ tuần tháng Ba từ Mă Ni Lạp (Manila)
bay thẳng sang Nữu Ước (New York), giảng kinh
tại các chùa Đông Thiền, Đại Giác suốt sáu
tháng rồi mới trở lại Tân Gia Ba. Năm 1981, được
trưởng lăo Hoằng Thuyền và pháp sư
Thường Khải giúp sức vận động, chính
phủ Tân Gia Ba phê chuẩn quyền công dân cho pháp sư
Diễn Bồi. Trong thời gian ấy, pháp sư Diễn
Bồi mua được cuộc đất rộng
bảy vạn ba ngàn thước vuông ở Bảng Nga
(Punggol), nhờ kiến trúc sư vẽ họa đồ,
đích thân xin phép xây dựng, chính phủ phê chuẩn cho
khởi công vào mùa Xuân năm 1982, đặt tên là
Phước Huệ Giảng Đường. Phước
Huệ Giảng Đường là tên đặt nhằm
kỷ niệm Phước Nghiêm Tinh Xá và Huệ Nhật
Giảng Đường do đạo sư Ấn
Thuận sáng lập tại Đài Loan.
Phước
Huệ Giảng Đường có đại giảng
đường chứa được cả ngàn
người, hai ṭa lầu hai bên chia thành thư
viện, pḥng họp, pḥng làm việc. Hậu viện
dựng viện dưỡng lăo Từ Ân
Lâm có thể chứa được 120 người già.
Ngoài ra c̣n có trung tâm giữ trẻ Từ Ân Lâm, công tŕnh
khởi đầu từ cuối Xuân năm 1982,
đến năm 1985 mới hoàn thành. Ngày 16 tháng Ba năm
1986 cử hành đại điển khai mạc, do phó
thủ tướng thứ hai của Tân Gia Ba là
Vương Đỉnh Xương chủ tọa.
Những nhân vật chánh yếu trong chánh phủ, chư sơn trưởng lăo, vô số
thiện tín trong nhà Phật tham gia thạnh hội.
Phước
Huệ giảng đường là đạo tràng hoằng
pháp, cũng là trụ sở của hiệp hội
Phước Lợi Phật giáo Tân Gia Ba. Hiệp
hội Phước Lợi là cơ cấu phước
lợi xă hội do pháp sư Diễn Bồi thành lập vào
năm 1981. Thoạt đầu là phát tiền cứu
trợ mỗi tháng và vật phẩm cứu tế cho
những gia đ́nh bất hạnh, cũng như
đến thăm hỏi và phát quà cho các y viện, viện
nuôi người tàn tật, cô nhi
viện. Sau khi Phước Huệ Giảng
Đường lạc thành, cao đồ của pháp sư
Diễn Bồi là pháp sư Khoan Nghiêm đề
xướng, trước sau lập thành viện
dưỡng lăo Từ Ân Lâm có thể chứa
được hơn trăm người, rồi phát
triển các phân bộ nhà giữ trẻ Từ Ân ở
nhiều nơi. Sau này thiết lập trung tâm
lọc thận trang bị thiết bị hiện
đại hóa, trung tâm pḥng dịch, và trung tâm văn hóa khá
quy mô.
Do những
cống hiến phước lợi của pháp sư
Diễn Bồi đối với xă hội,
được các nhân sĩ trong xă hội tán thán và chính phủ
công nhận, Tổng Thống nước Cộng Ḥa Tân Gia
Ba, trong hai năm 1986 và 1992 hai lần trao huân chương
Phục Vụ Công Cộng cho Sư, cử Ngài làm
đại biểu Phật giáo của Tân Gia Ba Tông Giáo Ḥa
Giai Lư Sự Hội (hội phát triển ḥa hợp tôn giáo
Singapore).
Lăo pháp sư
Diễn Bồi thâm nhập Kinh Tạng, ba Tạng Kinh,
Luật, Luận không ǵ Ngài chẳng thông đạt, có
xưng tụng là Tam Tạng Pháp Sư cũng chẳng quá
đáng. Mỗi khi có pháp hội truyền
giới, đa phần mời Ngài làm Đắc Giới Ḥa
Thượng, rất nhiều lần như thế,
chẳng thể thuật đủ. Trước
thuật cả đời Ngài kết quả là bộ
Đế Quán Toàn Tập ba mươi bốn quyển,
Đế Quán Tục Tập mười hai quyển, rành
rành tám trăm vạn chữ.
Pháp sư Diễn
Bồi tánh t́nh bộc trực, chẳng khéo ăn nói, nên
tự kư tên là Ngu Tăng, nhưng giảng kinh thuyết pháp
như sông chảy cuồn cuộn chẳng ngừng,
người nghe không ai chẳng thích nghe. Lăo
pháp sư Diễn Bồi thị tịch ngày mồng
Mười tháng 11 năm 1996, thọ tám mươi
tuổi.
LỜI TỰA
Phẩm Phổ
Môn kinh Pháp Hoa và phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện
kinh Hoa Nghiêm là hai phẩm kinh được lưu hành
phổ biến nhất trong giới Phật Giáo Trung
Quốc, nhưng phẩm Phổ Môn được
đọc tụng, hoằng truyền phổ biến
thịnh hành nhất. Nguyên nhân là do Quán Âm đại sĩ
tâm từ bi thiết tha, có nhân duyên rất sâu đậm
đối với Sa Bà; bởi thế, tuy Ngài vào khắp
mười phương cơi nước, nhưng
thường trụ trong cơi Sa Bà này để hóa độ
kẻ hữu duyên.
Trong kinh,
đức Phật dạy chúng ta: Đại Sĩ công
đức rất sâu vô lượng, chẳng riêng ǵ kẻ
trí huệ nhỏ nhoi chẳng thể liếc thấy
một phần trong vạn phần, ngay cả Phổ
Hiền Bồ Tát là bậc hạnh nguyện rộng
lớn cũng chẳng thể suy lường chừng
bằng sợi lông, giọt nước. Chúng
ta là hạng phàm phu khổ năo trói buộc đầy
dẫy, làm sao có thể tuyên dương một phần
trong trăm phần vạn ức phần công đức
của Bồ Tát?
Thế nhưng
nghĩ đến Bồ Tát đại từ, tâm niệm
độ sanh thiết tha, tâm bi ân cần cứu khổ
cứu nạn, đối với công ân tùy h́nh tùy loại
tầm thanh cứu khổ của Bồ Tát, há lẽ
chẳng nên cực lực tán ngưỡng? Bởi
thế, mỗi khi xuất ngoại hoằng hóa, tôi
thường tuyên dương công đức Đại
Sĩ, mà đa số thính chúng cũng thích nghe thệ
nguyện rộng sâu của Đại Sĩ.
Mùa Xuân năm Dân
Quốc 50 (1961), sang Việt
Năm Dân Quốc 56
(1967), tại pháp hội thuyết pháp mỗi tuần ở
Bồ Đề Lan Nhă thuộc Singapore, theo yêu cầu
của thính chúng, tôi đặc biệt chọn giảng phẩm
Phổ Môn, do pháp sư Tịnh Khải dịch sang
tiếng Quảng Đông, đồng thời sư cô c̣n
phát tâm đem bản ghi lời giảng mỗi tuần
tŕnh cho tôi xem. Xem xong, biết ghi chép không
lầm, tôi lại sửa chữa đôi chút, cho đến
khi giảng xong, hoàn thành hơn mười vạn chữ.
Hoàn
thành bản Giảng Kư này, nếu bảo có kiến
giải đặc sắc ǵ, tôi chẳng dám nhận
lấy, chỉ dám thừa nhận là những lời thông
tục dễ hiểu. Nhận thấy
Phật tử Trung Quốc đọc tụng phẩm
Phổ Môn rất nhiều, ắt chẳng ít người
muốn hiểu rơ nội dung. Đó là
hiện tượng đáng mừng ít có, bởi lẽ
chẳng những tin nhận Phật pháp mà c̣n muốn
hiểu rơ nữa.
Nếu
tôi không lầm, những bản chú thích liên quan đến
phẩm Phổ Môn xưa nay thật sự rất
nhiều, nhưng những bản khiến đại chúng
xem đến có thể hiểu được lại không
nhiều. Lúc tôi giảng phẩm này, v́ mong đại
chúng nghe hiểu được lời giảng, nên chỉ
tích cực chọn lấy những điểm nông cạn
nơi những nghĩa thẳm sâu, người chép lại
cứ chép đúng theo lời tôi
giảng, lại vận dụng tài viết lách sắp
xếp lại, khiến cho bản Giảng Kư này rất
dễ đọc.
Với
một phẩm Phổ Môn, đức Phật muốn làm
cho hết thảy chúng sanh nhất tâm xưng niệm Quán
Âm. Đức Quán Âm một thân v́
khắp mười phương chúng sanh thị hiện các
thứ sắc thân. Bởi thế, trong mọi hang cùng
ngơ tận nước ta, kẻ ngu phu, ngu phụ không ai
chẳng biết đến đức hiệu của
Đại Sĩ, không ai chẳng tôn phụng thánh
tượng Đại Sĩ, đủ thấy Quán Âm
Bồ Tát đại từ đại bi rộng nhiếp
quần cơ và lợi khắp trời người như
thế đó!
Trong thế
giới Sa Bà này, có thể nói là Quán Âm Bồ Tát không lúc nào
chẳng qua lại quanh quẩn bên chúng
ta, vấn đề là mức độ thành kính của
chúng ta đối với Bồ Tát như thế nào? Đối với Bồ Tát quư vị thành kính
một phần, sẽ gần được Bồ Tát
một phần. Đấy là
điều tuyệt đối, chẳng c̣n nghi ngờ chút
nào nữa.
Bởi thế tôi
nguyện mọi người trên thế giới, nhằm
lúc mùa Thu lắm hoạn nạn này, hăy cùng niệm thánh
hiệu Quán Âm để cầu Bồ Tát gia bị,
hiện đời thân tâm yên vui, mạnh khỏe,
đời sau rốt ráo giải thoát!
đề tựa tại giảng đường Linh Phong Bát
Nhă.
QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT
PHỔ MÔN PHẨM GIẢNG KƯ
I. Những điều khái lược
sơ khởi
Thời
gian trôi qua quá nhanh, mỗi năm một độ Tân Xuân
đă qua mất rồi. Từ hôm nay
trở đi, tôi lại cùng các vị giảng luận
Phật pháp đôi chút. Năm ngoái, cùng quư vị
giảng kinh Thắng Man, xét về mặt lư luận khá sâu,
người nghe cảm thấy hơi tốn sức,
năm nay tôi đặc biệt chọn phẩm Phổ Môn để
giảng cho quư vị, là phẩm kinh mọi người
thường đọc tụng, nhất định nghe
giảng sẽ dễ hiểu hơn. Thật ra, kinh
Thắng Man và Pháp Hoa đều cùng là đại pháp
Nhất Thừa, đều là v́ căn cơ tối thượng
thừa mà nói, chẳng có trí huệ tương
đương sẽ chẳng dễ tiếp thọ,
nhưng phẩm Phổ Môn này chuyên giảng những sự
trong thực tế, chẳng quá khó hiểu chi lắm.
Năm nay cùng chư vị tuyên giảng Quán Thế Âm
Bồ Tát Phổ Môn Phẩm, trong thời đại
hỗn loạn hiện thời, tôi cho là rất có ư
nghĩa. Sống c̣n trong thời đại này, ai nấy
đều có cảm giác ở sẵn bên bờ hủy
diệt, thật sự phải gấp cầu Quán Thế
Âm Bồ Tát đại bi đến cứu giúp, mà cũng
chỉ có Quán Thế Âm Bồ Tát đại bi vô tư
như thế mới có thể cứu giúp nhân loại trong
thế giới hiện tại. Phẩm Phổ Môn chuyên nói
về tinh thần cứu khổ cứu nạn đại
vô úy của Quán Âm Bồ Tát; bởi thế, sau khi chúng ta
nghe xong, một mặt phải thiết thực cảm
niệm, nhận hiểu bi nguyện của đức Quán
Âm, một mặt phải chính ḿnh nỗ lực phát
khởi bi nguyện sao cho bi nguyện của chính ḿnh và bi
nguyện của Bồ Tát kết hợp thành một,
khiến cho thế giới trùng trùng khổ nạn này
chỗ nào cũng có Quán Âm thị hiện, chỗ nào
cũng có Quán Âm cứu giúp, th́ hoạt động của
nhân loại trong thế giới nhờ đó mới
được an tịnh vậy.
Nói đến Quán
Thế Âm Bồ Tát th́ tín đồ Phật giáo chúng ta không
ai chẳng biết, giống như hai câu nói lưu
truyền trong nước ta “Gia gia Di Đà Phật, nhân
nhân Quán Thế Âm” (Nhà nhà Di Đà Phật, người
người Quán Thế Âm), đủ thấy Quán Âm đă
thâm nhập trong ḷng người như thế nào! Nguyên lai,
tín ngưỡng Quán Thế Âm Bồ Tát, xưng niệm Quán
Thế Âm Bồ Tát, lễ bái Quán Thế Âm Bồ Tát
rất phổ biến chẳng riêng ǵ tại Trung Quốc,
mà Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và những nơi
có kiều bào cư ngụ như Tinh châu (Singapore), Mă Lai,
đều rất phổ biến. Có thể
nói là trong tất cả những nơi có Đại
Thừa Phật pháp lưu hành đều có tín
ngưỡng này. Chúng ta cứ thử đi khắp
nơi trong những nước này, sẽ thấy rất
rơ: nơi thành thị, nơi thôn làng, trên non cao, bên băi
biển, bến sông, nói chung là hễ chỗ nào có
người sống, chỗ đó đều có
người thờ phụng thánh tượng Quán Âm Bồ
Tát, xưng niệm thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát. Chẳng
riêng ǵ người tin Phật mới như vậy, ngay
cả những kẻ không tin Phật, cũng thường
bất tri bất giác xưng niệm thánh hiệu Quán Âm
Bồ Tát.
Đồng thời,
chúng ta thấy kinh Đại Thừa giới thiệu
rất nhiều danh hiệu Bồ Tát, đặc biệt
là trong số tám vạn Bồ Tát được kinh Pháp Hoa
nói đến, thậm chí trong số mười tám vị
Bồ Tát thượng thủ, ta thấy rốt cuộc có
mấy vị được con người hiện
tại thường quen xưng niệm nhiều nhất?
Ngoại trừ Văn Thù, Di Lặc c̣n được
người đời xưng niệm, vị Bồ Tát khác
được người đời xưng niệm
nhiều nhất không thể không tính đến vị
Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát này.
Các vị
Bồ Tát khác không những chẳng được
người đời thờ phụng, xưng niệm, mà
c̣n ít có người biết đến danh hiệu nữa. Do vậy có thể suy luận rằng
Quán Thế Âm Bồ Tát có nhân duyên đặc biệt
đối với chúng sanh trong thế giới Sa Bà như
thế nào, lại c̣n có mối quan hệ thật sâu đậm,
thân thiết! Bởi thế, chúng ta phải
thường nên xưng niệm thánh hiệu Quán Thế Âm
Bồ Tát, chúng ta chẳng nên cô phụ Quán Âm Bồ Tát
từ bi cứu giúp chúng ta, trong từng thời khắc,
chúng ta nên cùng Quán Thế Âm Bồ Tát sống cùng một
chỗ, thực hành hạnh đại bi cứu giúp
rộng lớn.
1. Nguyên quán của
đức Quán Thế Âm Bồ Tát
Quán Thế Âm Bồ Tát
đă cùng chúng sanh thế giới Sa Bà có mối quan hệ
sâu đậm, thiết tha như thế, vấn đề
tiếp theo là: Rốt cuộc, Quán Âm
Bồ Tát là người thuộc địa phương
nào? Đạo tràng hành hóa của Ngài ở
đâu? Bởi người đời
thường nêu lên câu hỏi này, nên bây giờ tôi bắt
buộc phải giải thích sơ lược.
Chỉ khi nào mối nghi này trong ḷng mọi người
được tháo gỡ sạch th́ ai nấy mới có
thể kiên định tin tưởng Quán Âm, mới ḥng khiến
cho con người chân thành tụng niệm thánh hiệu Quán
Âm.
Rốt
cuộc, Quán Âm Bồ Tát là người thuộc địa
phương nào? Chẳng thể nói
nhất định Ngài là người ở trấn nào,
làng nào, tỉnh nào, nước nào trong thế giới Sa Bà
được. Căn cứ vào những lời
giới thiệu trong rất nhiều kinh điển
Đại Thừa, Quán Thế Âm Bồ Tát là một trong
hai vị đại Bồ Tát hầu cận hai bên
đức A Di Đà Phật trong thế giới Cực
Lạc cách ngoài mười vạn ức cơi nước,
đồng thời, Ngài cũng là vị đại Bồ
Tát phù tá A Di Đà Phật hoằng dương Phật pháp.
Hiện tại, Ngài là vị Bổ Xứ Bồ Tát, trong
quá khứ chính là Chánh Pháp Minh Như Lai, tương lai
kế thừa A Di Đà Phật thành Phật trong thế
giới Cực Lạc, hiệu là Phổ Quang Công
Đức Sơn Vương Phật. Bởi thế,
hiện thời chúng ta chỉ có thể nói Ngài là một
Bồ Tát vĩ đại đầy đủ đại
từ bi, đại trí huệ trong Tây Phương Cực
Lạc thế giới, chẳng cần phải nói chính xác
Ngài đản sanh tại nơi nào trong thế giới Sa
Bà này!
C̣n như
đạo tràng hành hóa của Quán Âm Bồ Tát th́ về
đại thể, có thể chia thành hai loại: căn
bản đạo tràng và hóa hiện đạo tràng. Căn
bản đạo tràng là thế giới Cực Lạc,
bởi lẽ Quán Âm là một vị đại Bồ Tát
trong thế giới Cực Lạc. Căn bản
đạo tràng này, phàm ai là Phật tử đều tin
nhận, chẳng nẩy sanh ḷng hoài nghi. C̣n về hóa
hiện đạo tràng, trong mười phương
tất cả thế giới, phàm những nơi nào có
Bồ Tát giáo hóa, nơi đó chính là hóa hiện đạo
tràng của Quán Âm Bồ Tát. Như vậy,
loại đạo tràng này rất nhiều, chỗ nào
cũng là đạo tràng của ngài Quán Âm cả.
Bất quá,
chỉ nói riêng trong thế giới Sa Bà, theo kinh Hoa Nghiêm, bên
bờ biển ở Nam Ấn Độ, có ngọn núi
Phổ Đà Lạc Già (Potalaka), là đạo tràng thị
hiện đầu tiên của Quán Âm Bồ Tát trong thế
giới Sa Bà. Nhưng những người
học Phật Trung Quốc chưa ai từng đến
đạo tràng này, mà cũng ít ai biết đến. Đạo tràng của Quán Âm Bồ Tát mà
người Trung Quốc thường biết đến
là núi Phổ Đà ở trong Nam Hải, thuộc tỉnh
Triết Giang. Trong quá khứ, mỗi
năm người đến Phổ Đà triều bái Quán
Âm rất nhiều.
Nam Hải Phổ
Đà Sơn là đạo tràng thị hiện của Quán Âm
Bồ Tát được người Trung Quốc công
nhận, nổi tiếng toàn thế giới,
đương nhiên phải có nhân duyên, lai lịch, bây
giờ, chẳng ngại ǵ không giới thiệu đơn
giản như sau:
Ở Trung
Quốc, vào thời đại Nam Bắc Triều (386-589),
trong khoảng niên hiệu Trinh Nguyên đời Lương,
có một vị pháp sư Nhật Bản là Huệ Ngạc
đến Trung Quốc cầu pháp, hết sức chân thành
tin tưởng Quán Âm Bồ Tát. Lúc Ngài học xong, quay
về Nhật Bản, ngoại trừ rất nhiều kinh
sách mang theo, Ngài c̣n đặc biệt
thỉnh một tượng Quán Âm đem về
nước cúng dường. Thời cổ
giao thông chẳng thuận tiện như hiện thời,
đương nhiên là phải ngồi thuyền gỗ.
Nhưng khi ngài Huệ Ngạc thỉnh tượng Quán Âm
lên thuyền gỗ, thuyền đi chưa được
bao lâu, biển đột nhiên nổi sóng to, gió lớn,
khiến cho chiếc thuyền Ngài ngồi dù làm bất
cứ cách nào cũng không tiến lên được. Trong t́nh huống bất đắc dĩ đó,
chỉ c̣n cách thỉnh tượng Quán Âm Bồ Tát lên
một ḥn đảo nhỏ, dựng một gian nhà lá trên
đảo để thờ phụng Quán Âm Bồ Tát.
Những dân chài qua lại ḥn đảo
nhỏ ấy và những cư dân vùng phụ cận
thường đến thắp hương, lễ bái, phát
sanh rất nhiều chuyện linh cảm chẳng thể
nghĩ bàn. Bởi thế, người đến
thắp nhang lễ bái càng ngày càng đông, ḥn đảo
nhỏ ấy ngày càng phát đạt đến nỗi cái
tên gốc là đảo Mai Sầm trở thành Phổ Đà
Sơn, núi ấy cũng trở thành đạo tràng của
Quán Âm Bồ Tát. Sau này, nó cùng với đạo tràng Ngũ
Đài Sơn của Bồ Tát Văn Thù ở Sơn Tây,
đạo tràng Nga Mi Sơn của Bồ Tát Phổ
Hiền ở Tứ Xuyên và đạo tràng Cửu Hoa
Sơn của Bồ Tát Địa Tạng ở An Huy
trở thành bốn đại danh sơn, thành những
trọng trấn của Phật giáo Trung Quốc.
Từ khi Phổ
Đà Sơn trở thành đạo tràng của Quán Âm
Bồ Tát, về sau có rất nhiều chỗ Bồ Tát Quán
Âm thị hiện linh cảm, đều gọi là
đạo tràng của Quán Âm Bồ Tát. Nói ở mức
độ cao hơn, phàm những nơi nào có người
tin tưởng Quán Âm Bồ Tát, chỗ nào thờ phụng
Quán Âm Bồ Tát, chỗ đó đều có thể gọi
là đạo tràng của Quán Âm Bồ Tát. Bởi
Bồ Tát giáo hóa chúng sanh trong khắp mười
phương nên thật sự có thể nói là “không cơi
nước nào, Ngài chẳng hiện thân”. Bất
luận ở địa phương nào, bất luận
loài chúng sanh nào, lúc nào cần đến Bồ Tát hóa
độ, Ngài bèn dùng thân phận đúng theo
nơi đó, đến hóa độ. Như
kinh nói “nên dùng thân nào để độ, bèn hiện thân
đó thuyết pháp” chính là thể hiện tinh thần
ấy. Trong phần sau, khi giảng
đến chuyện du hóa các nước trong kinh văn, tôi
sẽ giới thiệu tường tận.
Nói theo Đại
Thừa Phật pháp, phàm là bậc đại Bồ Tát tu
hạnh Bồ Tát đă lâu, đặc biệt là hàng Bồ
Tát tối hậu thân Nhất Sanh Bổ Xứ, ai nấy
đều có thể “không cơi nào chẳng hiện thân”,
đều có thể giáo hóa chúng sanh trong từng thời
khắc. Bây giờ, tôi nêu ra một vị Bồ Tát rất
nổi tiếng, trong tương lai sẽ thành Phật
trong thế giới Sa Bà này, đó là Di Lặc Bồ Tát.
Cổ đức đă có bài tụng:
Di Lặc, chân
Di Lặc,
Hóa thân thiên bách
ức,
Thời thời
thị thời nhân,
Thời
nhân tự bất thức.
(Tạm dịch:
Di Lặc, chân Di
Lặc,
Hóa thân trăm ngàn
ức,
Luôn thị hiện
người đời,
Người
đời nào hay biết).
Có người cho
rằng: Niệm danh hiệu chư
Bồ Tát về căn bản là vô dụng, bởi lẽ
từ trước đến nay chúng ta chưa từng
thấy Bồ Tát. Đây là một quan
niệm sai lầm. Xin thưa thật cùng quư vị:
Bồ Tát bi tâm thấu xương, xuyên tủy, thời
thời khắc khắc hằng hiện diện
trước mặt chúng ta. Như ngài Di Lặc sở
dĩ có tên là Di Lặc chẳng phải đơn giản
đâu nhé, Ngài có thể hóa thân nhiều đến trăm
ngàn ức, dùng các thứ thân phận khác nhau: hoặc
thị hiện thân Phật, hoặc thị hiện thân
tỳ-kheo, hoặc thị hiện thân cư sĩ,
thường hằng chẳng gián đoạn, thời
thời khắc khắc thị hiện trước
mỗi người đáng nên hóa độ. Tiếc
rằng kẻ ấy chẳng biết Bồ Tát hiển
hiện, ta chỉ có thể tự trách móc ḿnh chẳng
nhận ra Bồ Tát ở ngay trước mặt ḿnh,
chẳng được nói là Bồ Tát chẳng thị
hiện trong nhân gian đông đảo.
Di Lặc
thị hiện như thế th́ phải biết là Quán Âm
cũng giống như thế. Nếu dùng lại bài kệ trên, ta cũng có thể
nói:
Quán Âm, chân Quán
Âm,
Hóa thân thiên bách
ức,
Thời thời
thị thời nhân,
Thời
nhân tự bất thức.
Như
nay các vị đang hiện diện đây, ai là Quán Âm
Bồ Tát, ai là Di Lặc Bồ Tát, chúng ta cũng chẳng
nhận biết một ai, nhưng chẳng thể v́ đó
nói là trong đạo tràng này không có Quán Âm, Di Lặc ẩn
hiện. Là Phật tử, phải kiên định tin
tưởng điều này!
2. Giới tính
của Quán Âm Bồ Tát
Địa
phương xuất thân và đạo tràng thị hiện
của Quán Âm Bồ Tát, tôi đă giảng đại
lược rồi; hiện giờ c̣n một vấn
đề tôi cần phải giải đáp, đó là
đức Quán Âm Bồ Tát trọn vẹn đại
từ bi, đại trí huệ, đại nguyện
lực, đại công đức rốt cuộc là nam hay
nữ đây? Bởi lẽ, hiện thời
trông thấy tượng Quán Âm Bồ Tát, đại đa
số là nữ tướng, nên thường có
người nêu lên câu hỏi này.
Trên căn
bản, chúng ta nên nói Quán Âm Bồ Tát là nam tử. Từ đời Đường trở về
trước, tất cả tượng Quán Âm dù là
tượng đắp hay tranh vẽ đều mang
tướng mạo nam nhân. Quán Âm Bồ Tát mang
tướng người nam là có căn cứ hay không? Kinh
Hoa Nghiêm chép: “Dũng mănh trượng phu Quán Tự
Tại”. Quán Tự Tại chính là Quán
Thế Âm. Kinh gọi Ngài là “bậc
trượng phu dũng mănh”, chứng minh Quán Âm vốn là
nam tử.
Chẳng qua, nói trên
phương diện Quán Âm thị hiện, khó có thể
quyết định Ngài là nam hay nữ; bởi lẽ đại
Bồ Tát thị hiện nào phải để chơi
giỡn mà trọn v́ độ sanh. Chúng sanh
muốn Bồ Tát thị hiện thân tướng nào,
Bồ Tát liền v́ chúng sanh thị hiện thân
tướng như thế ấy. Nếu
như có một loại chúng sanh cần Bồ Tát thị
hiện tướng người nam để hóa
độ, Bồ Tát liền v́ kẻ ấy thị
hiện nam tướng. Lại có một loại chúng
sanh cần Bồ Tát thị hiện tướng nữ
để hóa độ, Bồ Tát liền v́ kẻ ấy
hiện tướng nữ; rất khó nói quyết
định Ngài là thân tướng nào! Bởi lẽ
đối với bản thân Quán Âm Bồ Tát, [thân nam hay
nữ] không thành vấn đề, thuận theo
yêu cầu của từng chúng sanh mà hiện thân, tự ḿnh
trọn chẳng có chủ ư biến hiện ra sao. C̣n
như Bồ Tát Quán Âm trong thế giới này thường
hiện tướng nữ cũng là đạo lư chung, đến phần sau sẽ lại
giảng tiếp.
Bây
giờ, trước hết tôi sẽ kể câu chuyện
xưa Quán Âm Bồ Tát thị hiện thân nữ để
hóa độ chúng sanh cho quư vị nghe. Tại Trung Quốc, vào đời
Đường, tại bến Hữu Kim ở Thiểm
Tây, Bồ Tát thị hiện làm một cô gái bán cá. Cô gái bán
cá này lớn lên rất xinh đẹp, mỗi sáng sớm cô
xách một giỏ cá, đến thôn trang nọ bán cá. Thanh
niên trong thôn thấy cô gái tuổi nhỏ xinh đẹp,
chẳng ngừng theo đuổi cô. Mỗi chàng thanh niên đều hy vọng sẽ
được cùng cô kết duyên giai ngẫu. Do quá
nhiều người theo đuổi
khiến cô gái bán cá không biết giải quyết như
thế nào, cô bèn nghĩ ra một cách, bảo cùng những
chàng thanh niên trong thôn:
- Các anh nhiều
người quá, em chỉ có một thân gái, đương
nhiên chẳng thể thỏa măn tâm nguyện của
từng người được. Bây giờ, em
đưa ra một điều kiện chẳng khó khăn
quá, ai làm được em sẽ lấy người
đó, chẳng cần ai phải theo
đuổi nữa!
Những chàng thanh
niên vội hỏi ngay: “Điều kiện ǵ?”
Cô gái bán cá đáp:
- Trong nhà Phật có
một bản kinh tên là Phổ Môn Phẩm. Ai trong ba ngày có
thể học thuộc ḷng, em sẽ sánh duyên cùng
người đó.
Kết
quả, trong ba ngày đọc thuộc phẩm Phổ Môn có
bốn năm chục người. Cô gái bán cá lại nói:
- Em chỉ có một
thân, các anh lại nhiều người quá. Làm
sao biết quyết định lấy ai đây? Xin thưa cùng các anh, trong nhà Phật lại có
một bộ kinh tên là kinh Kim Cang, kinh văn dài hơn
phẩm Phổ Môn. Trong số các anh có ai
trong năm ngày đọc thuộc, em sẽ lấy
người đó.
Các chàng do t́nh yêu sôi
sục, trong năm ngày đọc thuộc kinh Kim Cang,
vẫn có hơn mười người. Kết
quả, vẫn chẳng giải quyết vấn đề
được. Khi ấy, cô gái bán cá lại bảo
những chàng đó:
- Trong nhà Phật có
bộ kinh Đại Thừa tên là Diệu Pháp Liên Hoa, trong
ṿng bảy ngày, ai trong số các anh có thể đọc
thuộc, em nhất định lấy người đó.
Nói ra thật là kỳ
quái, linh cữu đưa đi nửa đường,
đột nhiên gặp một vị lăo tăng bảo chàng
thanh niên họ Mă:
- Nghe nói hôm qua cậu
vừa cử hành đại lễ kết hôn, sao hôm nay
đă cử hành tang lễ?
Chàng thanh niên họ Mă
ôm mặt, khóc lóc đáp:
- Là v́ cô vợ xinh đẹp
yêu dấu nhất của con, dốc sạch tâm cơ
mới cưới được cô ta làm vợ, chẳng
ngờ một cô gái xinh đẹp hoạt bát, nháy mắt
đă thành một cái xác chết vô tri, hỏi sao con không
đau ḷng cho được?
Lăo tăng thấy chàng
bi thương đến thế, nhân đó bèn khai thị:
- Cậu tuổi
trẻ, chỉ biết nói chuyện t́nh ái, chẳng
biết t́m cầu chân lư. Cậu phải biết cô gái xinh
đẹp cậu vừa mới cưới hôm qua nào
phải là con gái tầm thường trong thế gian, mà là
Quán Âm Bồ Tát thị hiện để hóa độ các
cậu đấy! Bởi lẽ, Quán Âm Bồ Tát bi tâm sâu
nặng, biết già trẻ trong thôn trang này chẳng
biết tín phụng Tam Bảo, nên mới đặc
biệt thị hiện thân nữ để đến hóa
độ các cậu. Nếu cậu nhất
định không tin, có thể mở ḥm ra xem.
Mọi người
muốn kiểm chứng bèn mở quan tài ra thật, thoạt
nh́n mới thấy xác cô gái xinh đẹp không c̣n trong
đó nữa, đến lúc đó chẳng thể không tin
là Bồ Tát vận dụng thần thông rời đi.
Thế nhưng, quay lại nh́n lăo tăng, cũng không
biết lăo tăng đă đâu mất rồi!
Do đây biết
rằng: Không riêng ǵ cô gái bán cá là Quán Âm thị hiện, ngay
cả vị lăo tăng cũng là Quán Âm thị hiện,
mục đích nhằm làm cho những người trong thôn
đó thiết thực giác ngộ, nỗ lực tín
phụng Tam Bảo. Từ đó, không riêng ǵ
chàng thanh niên họ Mă phát tâm xuất gia tu hành, người
trong thôn cũng đều tin Phật, Bồ Tát, quy y Tam
Bảo. Trong Phật giáo có hai câu nói về điều
này: “Tiên dĩ dục câu khiên, hậu linh nhập Phật
trí” (Trước là dùng
dục để lôi kéo, sau khiến nhập Phật trí),
đó là phương tiện độ sanh lớn nhất
của Bồ Tát.
Sở dĩ, Quán Âm
Bồ Tát thường thị hiện thân nữ giáo hóa
chúng sanh, xét ra, có hai nguyên nhân, giờ đây sẽ thuật
sơ lược như sau:
1) Chuyên lấy chúng sanh
nhiều đau khổ làm đối tượng cứu
giúp. Nhân loại chúng sanh đau khổ rất
nhiều, trong thời quá khứ trọng nam khinh nữ,
đúng là nữ nhân đau khổ hơn nam giới rất
nhiều. Do trong thời đó, nữ nhân bị
rất nhiều hạn chế, như: Trước khi
lấy chồng, ở nhà với cha mẹ, nhất
định phải nghe theo mệnh
lệnh của cha mẹ; xuất giá rồi sống ở
nhà chồng, nhất định phải nghe theo lệnh
chồng. Đến lúc tuổi già có con cái, lại phải
nghe lời con cái. Làm con người trong thế gian,
phụ nữ thật sự đau khổ rất nhiều
như thế. Quán Âm Bồ Tát lấy việc
cứu khổ chúng sanh làm mục đích, đương
nhiên trước hết phải cứu độ hàng
phụ nữ nhiều đau khổ. Bởi thế,
Ngài mới đặc biệt thường hay hiện thân
nữ, có giống hệt như họ th́ sau đó mới
từ những nỗi thống khổ vốn sẵn của
thân nữ, dẫn dụ họ dần dần đi vào con
đường tu học Phật pháp lớn lao,
ḥng giải trừ tất cả thống khổ, ngơ
hầu giải thoát thân tâm.
2) So ra, tuy thân nữ có
nhiều nỗi khổ như thế, nhưng sự nhu ḥa
từ ái trong tâm họ đúng là vượt trội
người nam. Giống như cha mẹ trong
thế gian đau đáu yêu mến con cái, cố nhiên
giống nhau; nhưng nếu so sánh, người mẹ yêu
mến, che chở con cái sâu đậm, thân thiết hơn
cha. Tôi thường hay nói: Lúc nào cha mẹ ngồi cùng
một chỗ, nếu đứa con nhỏ chạy
đến muốn xin cha mẹ cho tiền mua đậu
phộng hay kẹo ăn, cha thường nói:
- Tụi bay cứ xin
tiền hoài làm chi? Hôm nay ba không có tiền cho tụi bay
đâu!
Nói
vậy là xong, thật sự không cho một đồng nào. C̣n mẹ chẳng như vậy,
một mặt quở trách đứa nhỏ đừng có
xin tiền hoài, một mặt vẫn rút tiền lận
lưng cho con, nhưng rất dịu dàng vỗ về con:
- Hư lắm nghe!
Từ rày đừng có lại xin tiền nữa nghe
chưa!
Tuy nói
vậy, lần sau đến xin nữa, vẫn lại
giống như vậy. Bởi thế ḷng từ ái của mẹ hơn
hẳn cha. Quán Âm Bồ Tát là bậc
đại từ bi, bởi thế, Ngài thị hiện thân
nữ, chẳng qua là tịnh hóa, khuếch đại t́nh
mẹ của thế gian thành ḷng đại bi.
Ḷng mẹ trong thế
gian tuy nói là bao la, nhưng phạm vi nhỏ hẹp phi
thường, chỉ biết yêu thương, che chở con
cái của chính ḿnh, chẳng biết yêu thương, che
chở con cái người khác, nên trong t́nh yêu thương
đó vẫn bao gồm đôi chút nhiễm ô. Thông
thường, tuy nói cha mẹ thương con vô điều
kiện; thật ra, trong cái vô điều kiện đó
vẫn có điều kiện, như người Trung
Quốc hay nói: “Tích cốc pḥng cơ, dưỡng nhi
pḥng lăo” (Chứa gạo pḥng đói, nuôi con dưỡng
già). Đấy chẳng phải là
điều kiện th́ là cái ǵ đây? Bởi thế
ḷng yêu thương của cha mẹ so với ḷng từ bi
của Bồ Tát có hai điểm bất đồng:
1) Chẳng rộng
lớn.
2) Chẳng phải là
vô điều kiện.
Ḷng từ bi của
Quán Âm Bồ Tát không những như t́nh yêu thương
của mẹ, lại c̣n tịnh hóa và rộng lớn
hơn, từ bi đối với hết thảy chúng sanh,
chẳng phải chỉ từ bi đối với một
phần chúng sanh. Bởi thế, Bồ Tát từ bi vĩ đại, ḷng mẹ thương con
của thế gian chẳng thể sánh bằng
được. Quán Âm Bồ Tát hiểu sâu xa ḷng mẹ yêu
con trong thế gian thật khó có, bởi vậy, Ngài
hiện thân nữ khắp chốn, hy vọng dùng thân
phận người nữ cảm hóa hết thảy
nữ nhân trong thế gian đừng khư khư chấp
vào t́nh mẹ nhỏ hẹp, mà phải biết dùng tinh
thần mẹ thương con để thương mến
hết thảy chúng sanh, hy vọng mỗi một chúng sanh
đều có thể ĺa khổ được vui,
đều có thể liễu sanh thoát tử, đều có
thể thành Đẳng Chánh Giác.
Những
điều vừa nói trên chính là hai nguyên nhân lớn
khiến Quán Âm Bồ Tát thị hiện thân nữ. Bất quá, ở đây tôi xin quư vị
phải nhớ thật kỹ: Đây chỉ là Bồ Tát
thị hiện, tuyệt đối đừng lầm
tưởng Bồ Tát vốn là thân nữ.
3. Ngàn mắt ngàn tay của Quán Âm
Quán Âm Bồ Tát tùy
loại hóa thân, thị hiện các thứ thân phận
bất đồng, như Ngư Lam Quán Âm, Tống Tử
Quán Âm, Bạch Y Quán Âm, Bát Tư Quán Âm, Thập Lục Tư Quán Âm,
Thiên Thủ Thiên Nhăn Quán Âm[4]
v.v… là những h́nh tượng mọi người
đều biết. Trong số đó, tượng Quán Âm
ngàn mắt ngàn tay có rất nhiều
người chẳng hiểu rơ lắm. V́ thế, ở
đây tôi sẽ giải thích sơ
lược:
Theo cách hiểu thông
thường, một con người chỉ có hai mắt,
hai tay. Nếu ai rất có bản lănh, ta
nói kẻ ấy rất phi thường, tựa hồ có
đủ cả ba đầu sáu tay. Nghe
nói ai ba đầu sáu tay, ta đă
thấy người ấy rất phi thường rồi.
Nhưng Quán Âm Bồ Tát có đủ ngàn mắt ngàn tay nhiều như vậy, đương
nhiên khả năng càng lớn. Bởi vậy, có
người hỏi: “V́ lẽ ǵ Quán Âm Bồ Tát có ngàn
mắt, ngàn tay? Rốt ráo biểu trưng ư
nghĩa ǵ?” Do vậy, đương nhiên phải
giải thích sơ lược; nếu không, chẳng
những người ta hỏi đến không cách ǵ đáp
được, mà chính ḿnh đối với sự
việc này cũng hoài nghi rất lớn, chẳng thể
đúng pháp kiền thành xưng niệm thánh hiệu Quán Âm
Bồ Tát.
Liên quan
đến vấn đề này, trước hết chúng
tôi bắt đầu từ truyền thuyết mà nói, sau
đấy mới giải thích hợp lư. Theo sách Nhữ Châu Chí có chép như thế
này: Trong quá khứ, cô con gái thứ ba của Sở Trang
Vương tên là Diệu Thiện, là một đứa con
gái hiếu thuận phi thường. Lúc Sở Trang
Vương bệnh t́nh rất nguy cấp, thầy
thuốc nói muốn được lành bệnh cần
phải dùng đến con mắt, cánh tay
của thân nhân. Công chúa Diệu Thiện nghe xong, chẳng
hề nhăn mặt chút nào, cắt tay,
móc mắt để chữa cơn bệnh nặng cho cha,
khiến cha được lành bệnh. Đợi
đến khi cha lành bệnh, công chúa bèn tọa hóa. Vị thầy thuốc gọi cô là Đại Bi
Bồ Tát, rồi vị thầy thuốc nói lời đó
cũng lập tức biến mất. Nhân đó,
Sở Trang Vương bèn phong công chúa là Đại Bi
Bồ Tát và dựng chùa Hương Sơn, đắp
tượng ngàn mắt, ngàn tay. Có người nói: Sở
Trang vương truyền lệnh đắp tượng
“toàn thủ, toàn nhăn” (tay và mắt
đầy đủ), nhưng viên quan hiểu lầm là
“thiên thủ, thiên nhăn”, nên mới có tượng Quán Âm Thiên
Thủ Thiên Nhăn.
Nhưng
thuyết của sách Nhữ Châu Chí, sách Cảm Thông Lục
không chép, đương nhiên chẳng phải là truyền
thuyết đáng tin cậy.
Lại c̣n có lời tục truyền rằng: Đại
Sĩ là con gái thứ ba của Sở Trang Vương, tên
là Diệu Thiện, nhân v́ hy sinh tay, mắt để
cứu cha mắc bệnh ngặt nghèo, nên bèn hiển
hiện h́nh tượng ngàn mắt ngàn tay. Sách Biên Niên Thông
Luận chép chuyện này cũng do thiên thần kể cho
ngài Nam Sơn Đạo Tuyên Luật Sư nghe nên tự
nhiên cũng chỉ là truyền thuyết mà thôi.
Nếu theo như kinh
Đại Bi Đà Ra Ni th́ trong quá khứ, lúc Quán Âm Bồ
Tát ở nơi Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Như
Lai; Tĩnh Trụ Vương Như Lai từng v́ Ngài nói
Quảng Đại Viên Măn Vô Ngại Đại Bi Tâm
Đại Đà Ra Ni, muốn cho Ngài tŕ tâm chú này,
để trong đời ác vị lai làm đại lợi
lạc cho khắp hết thảy chúng sanh. Ngay sau khi nghe
xong bài chú này, Quán Âm Bồ Tát lập tức phát thệ
nguyện rộng lớn: “Nếu như trong tương
lai, con sẽ có thể lợi lạc một phần chúng
sanh th́ ngay lập tức thân con sanh ngàn mắt, ngàn tay”.
Đại nguyện ấy vừa phát, quả nhiên, ngay
lập tức thân Ngài thành ngàn mắt, ngàn tay, mười
phương đại địa chấn động,
mười phương chư Phật cũng đều
phóng vô lượng quang minh, chiếu khắp mười
phương vô biên thế giới. Đấy là duyên do Quán
Thế Âm Bồ Tát được danh hiệu ấy.
Nhưng cũng có
thể nói [tượng thiên thủ thiên nhăn] mang tánh
chất tượng trưng, giờ đây sẽ nói sơ lược như sau:
- Ngàn tay
tượng trưng cho sức lực cứu độ
chúng sanh vĩ đại của Quán Âm Bồ Tát. Như thông
thường, giúp người khác làm chuyện ǵ, dùng
một tay làm th́ đẩy chẳng
đi, kéo chẳng động, người khác bèn bảo
quư vị: “Ông phải dùng hai tay ra sức mới có thể
đẩy, kéo được”, chứng tỏ thêm một
tay là thêm một phần sức. Lại như
thường nghe người ta nói: Người nào cảm
thấy rất bận rộn, thường hay nói hiện
thời bận bịu quá sức, không có cách ǵ, nếu
như có nhiều chân nhiều tay, hoặc có mấy tay giúp,
chia nhau ra làm, sẽ thảnh thơi rất nhiều.
Điều này chứng tỏ nhiều tay
giúp, sức lực càng lớn, làm được rất
nhiều việc. Phối hợp những điều này
lại để giảng, th́ ngàn tay của đức Quán
Âm Bồ Tát có ư nghĩa là: Chúng sanh được Quán Âm
Bồ Tát giáo hóa nhiều, người theo Bồ Tát tu
học Phật pháp cũng nhiều, đến lúc năng
lực tu học đă cao rồi, liền được
phái qua chỗ này chỗ nọ giáo hóa chúng sanh, nhưng
sức lực phát sanh tại mỗi địa
phương được giao nhiệm vụ giáo hóa
cũng giống như chính sức lực của Bồ Tát
phân tán ra. Bởi vậy, ngàn tay hoàn toàn mang ư nghĩa
biểu thị sức cứu độ chúng sanh vĩ
đại của Quán Âm Bồ Tát, bất tất phải
khăng khăng cho rằng Bồ Tát thật sự mọc
ra ngàn tay.
- C̣n ngàn mắt
tượng trưng cho trí huệ sâu thẳm chẳng
thể nghĩ bàn của Quán Âm Bồ Tát. Như mọi
người lúc b́nh thường xem thứ này thứ
nọ, một mắt chẳng thấy rơ ràng, phải hai
mắt mới trông được rơ; bất luận
trước mắt là vật ǵ, đều có thể
thấy rơ ràng minh bạch. Hai con mắt nh́n vật đă
rơ, ngàn con mắt thấy vật đương nhiên càng rơ
hơn nữa. Nhưng Quán Âm Bồ Tát quán sát sự
vật, chẳng như người thường chỉ
nh́n xuông, mà là dùng mắt trí huệ, quan sát sâu chắc, phân
tích thấu triệt, bởi thế, Quán Âm Bồ Tát trí
huệ cực thâm diệu. Dùng con mắt trí huệ thâm
diệu này có thể hiểu rơ tướng chân thật
của vũ trụ, vạn hữu, chư
pháp, có thể quan sát chúng sanh các thứ căn tánh và mong
muốn bất đồng, thuận theo các căn tánh và yêu
cầu sai khác mà thực hiện các sự hóa đạo và
điều phục bất đồng. Nếu
như chẳng đủ trí huệ, dù có tâm hóa độ
chúng sanh, nhưng đối với hết thảy chúng sanh
chỉ có thể nói một thứ pháp, chẳng thể làm
lợi khắp chúng sanh. Nhân v́ Quán Âm
Bồ Tát trí huệ thâm diệu, nên có thể đối
với các loài chúng sanh sai khác, nói các thứ giáo pháp sai khác.
Bởi thế, ngàn mắt tượng
trưng cho trí huệ của Bồ Tát.
Phối hợp
những điều trên để nói, th́ có thể thấy
ngàn mắt ngàn tay tượng trưng cho đại
lực, đại trí của Quán Âm; nhưng đại
lực, đại trí nào phải là điều những
kẻ b́nh thường có được, chỉ có
đại Bồ Tát mới có đủ, bởi thế, xưng
tụng Ngài là Thiên Thủ Thiên Nhăn Quán Âm Bồ Tát.
4. Nguyên nhân lưu
truyền phẩm Phổ Môn
Chữ Phẩm
trong Phổ Môn Phẩm có nghĩa là “loại”. Rất nhiều kinh điển Đại
Thừa được chia thành phẩm, tức là những
thứ giống nhau được gộp thành từng
phẩm. Phẩm này giảng về
những sự thị hiện cứu giúp của Quán Âm, nên
những sự thị hiện và cứu giúp này
được gom thành một bộ phận kinh văn
để nói, bởi thế gọi là Phẩm.
Kinh Pháp
Hoa tổng cộng hai mươi tám phẩm, phẩm này là
phẩm thứ hai mươi lăm. Bây giờ chúng ta phải nêu câu hỏi:
“Toàn bộ kinh Pháp Hoa có đến hai mươi tám
phẩm, v́ sao chỉ có ḿnh phẩm này được
đọc tụng, giảng nói, giải thích, lưu thông nhiều
nhất?” Điều này đương nhiên
có nguyên nhân. Nguyên nhân chủ yếu nhất là v́ Quán Âm
Bồ Tát đối với chúng sanh cơi này, đặc
biệt là với nhân dân Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn
Quốc, Việt Nam, có nhân duyên sâu đậm, thiết tha.
Ngoài ra, c̣n có nguyên nhân
hoằng thông đặc biệt, tức là trong lịch
sử Trung Quốc, vào thời Ngũ Hồ Loạn Hoa,
tức là giai đoạn năm triều đại,
mười sáu nước, có một nước nhỏ tên
là Bắc Lương, quốc chúa tên là Thư Cừ Mông
Tốn, có lần mắc bệnh ngặt nghèo, thật là
đến mức các thầy thuốc bó tay, trăm thứ
thuốc đều thành vô dụng, chỉ c̣n có
nước đợi chết, không c̣n cách nào khác. Chính vào
lúc đó, có vị pháp sư hoằng hóa dịch kinh là
Đàm Vô Sấm đến phương Bắc Trung
Quốc, nghe nói quốc chúa mắc bệnh, Ngài tự
động đến bảo cùng người dân trong
nước:
- Quốc chúa các
người mắc bệnh, chẳng phải là bệnh
b́nh thường nơi thân thể, mà chính là bệnh
nghiệp chướng trong tâm, y dược thế gian
chẳng trị lành được. Bất quá, theo như ta thấy: Thọ mạng quốc
chúa vẫn chưa hết, vẫn c̣n có biện pháp cứu
văn. Giờ đây, ta bảo cùng các ngươi: Trong nhà
Phật có bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa, trong kinh ấy có
phẩm Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn, nếu như
quốc chúa có thể chí thành khẩn thiết đọc
tụng, sẽ được Quán Âm Bồ Tát từ bi gia
bị, khiến cho bệnh nghiệp chướng của
nhà vua tiêu trừ, thân thể lại được
mạnh khỏe như cũ.
Đại
thần trong nước nghe nói vậy, lập tức
bẩm tấu quốc chúa.
Quốc chúa và các đại thần v́ mong được
lành bệnh, bèn tuân theo lời pháp sư
Đàm Vô Sấm chỉ dạy, khẩn thiết chí thành
niệm tụng Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn phẩm. Đúng là linh nghiệm, chẳng bao lâu sau, bệnh
quả nhiên lành hẳn, khỏe mạnh lại như
cũ.
Nhân đó, chẳng
những quốc chúa sắc truyền mọi người
tụng phẩm Phổ Môn, rất nhiều người dân
cũng tự động tụng phẩm Phổ Môn, và
thật sự có rất nhiều người do niệm
phẩm Phổ Môn mà tiêu trừ bệnh nghiệp
chướng. Từ đó cho đến hiện tại,
ở Trung Quốc, phẩm kinh này được lưu
truyền đặc biệt rộng răi, giảng nói
đặc biệt nhiều, đọc tụng đặc
biệt đông đảo, và được giải thích
cũng chẳng ít. Phẩm này được đặc
biệt lưu hành riêng hoàn toàn là do nguyên nhân này.
Tại Trung Quốc,
niệm Phổ Môn được cảm ứng rất
nhiều, như trong năm Dân Quốc 26 (1937), bà Đào
Thị Thập Lục, vợ góa của họ Nguyên, không
con, thường tŕ niệm Quán Âm Phổ Môn Phẩm,
đột nhiên mộng thấy một người áo
trắng tay cầm một đóa sen trắng trao cho ăn.
Ba năm sau, thấy quang minh Phật, trên hộp
đựng kinh thấy có khối lửa to như viên
đạn, bà sợ kinh bị cháy, lấy tay
phẩy, bèn được một hạt xá-lợi. Lúc lâm chung, hóa Phật đến đón, từ
biệt đại chúng ra đi.
5. Giải thích sơ
lược tựa đề của phẩm kinh này
Phẩm
này mang tên “Quán Thế Âm Bồ
Tát Phổ Môn Phẩm”, tổng cộng tám chữ. Quán Thế Âm Bồ Tát là Nhân (người),
Phổ Môn Phẩm là Pháp. Quán Âm là
người năng chứng, Phổ Môn là pháp
được chứng. Bởi thế,
phẩm này dùng Nhân và Pháp để đặt tên.
Trong năm chữ dùng
Nhân để đặt tựa, ba chữ đầu là
biệt danh, chỉ ḿnh ngài Quán Thế Âm là có thể
xưng hô như thế, hai chữ sau là tên gọi chung. Phàm
những ai phát Bồ Đề tâm, hành Bồ Tát
đạo, đều có thể gọi là Bồ Tát,
chứ chẳng phải chỉ để gọi riêng
một ai.
Quán
Thế Âm là đức hiệu của Bồ Tát; có lúc c̣n
gọi là Quang Thế Âm[5],
có khi gọi là Quán Tự Tại, có lúc gọi tắt là Quán
Âm. Danh xưng Quán Thế
Âm là do ngài Tam Tạng La Thập phiên dịch, c̣n Quang
Thế Âm là do ngài Tam Tạng Trúc Pháp Hộ phiên dịch.
Quán Tự Tại là do ngài Tam Tạng Huyền Trang phiên
dịch. Ngài c̣n được gọi là Quán
Thế Tự Tại hoặc Thánh Quán Tự Tại. Thánh là từ ngữ tán thán.
Theo bản Tâm Kinh
Lược Sớ của ngài Pháp Tạng, chữ Quán
Tự Tại có hai nghĩa:
1) Ước theo trí
giải thoát, th́ với trí huệ của Quán Âm, Ngài đă
thấy cảnh sự lư vô ngại, đạt đến
mức tự do, tự tại, chẳng c̣n chút
chướng ngại mảy may nào.
2) Ước theo bi
giải thoát th́ đối với những cơ nghi
đáng được hóa độ, thường hiện
ra trước cứu giúp, ḷng đại bi của Quán Âm
cũng đă đạt đến mức tự do, tự
tại, chẳng c̣n nhận thấy có ǵ bó buộc, xem xét
thế giới, tự tại dẹp khổ, ban vui, nên
gọi là Quán Thế Tự Tại.
C̣n ư nghĩa chữ Quán Thế
Âm do ngài La Thập dịch th́ đến phần giải
thích kinh văn sau này sẽ giảng tường tận.
Tuy có các
danh xưng bất đồng, kỳ thực là một
người. Nếu so
giữa cách dịch của ngài La Thập và ngài Huyền
Trang th́: một đằng chú trọng dịch ư, một
đằng chú trọng dịch thẳng,
cho nên mới dịch khác nhau, chẳng thể nói ai dịch
đúng, ai dịch sai. Chẳng qua
người trong đời thường quen xưng niệm là Quán Thế Âm Bồ Tát
hoặc Quán Âm.
Bồ Tát là tiếng
Ấn Độ gọi tắt, nói đủ là Bồ
Đề Tát Đỏa, Hán dịch là Giác Hữu T́nh,
tức là đại tâm chúng sanh thượng cầu Đại
Giác, hạ hóa hữu t́nh. “Thượng cầu đại giác” là tác dụng
của đại trí. “Hạ hóa hữu t́nh” là tác dụng của
đại bi. Bởi thế, phàm là
Bồ Tát th́ đều là bi trí song vận (vận dụng
cả bi lẫn trí). Bất quá, chữ Bồ Tát trong
Phật giáo không chuyên chỉ các vị đại Bồ Tát
được thờ trong điện đường, mà
c̣n chỉ những người phát tâm [Bồ Tát] và
những vị Bồ Tát sống trong nhân gian thật
sự hành Bồ Tát đạo.
Bây giờ tôi nói
tiếp về ba chữ dùng Pháp để đặt
tựa, Phổ Môn Phẩm. Phẩm có nghĩa là Loại,
tức là loại nào xếp theo loại nấy, nghĩa là
vật được gom thành từng loại th́ gọi là
Phẩm. Trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, hết thảy mọi
chuyện về Quán Thế Âm được đức
Phật quy kết giảng tại đây, nên gọi là
Phẩm.
Phổ
nghĩa là “phổ biến”, Môn nghĩa là “có thể đi
qua, thông suốt”. Như trước mặt chúng ta đây thấy
một cái cửa lớn, có cái cửa lớn như
vậy ai cũng đều có thể ra vào qua lại
tự tại. Nếu như cái nhà này không có cái
cửa đó, muốn từ ngoài vào trong, cố nhiên
chẳng có cách nào; muốn từ trong đi ra ngoài, cũng
giống vậy, chẳng có cách ǵ!
Nói
đến chữ Môn trong Phật pháp, th́ từ địa
ngục đến khi thành Phật, tổng cộng có
mười cánh cửa.
Ch́a khóa của mỗi cửa đều nằm trong tay chúng ta. Chúng ta muốn
tiến vào cửa nào, phải mở được cánh
cửa ấy. Chẳng mở
được th́ chẳng tiến vào được.
Nêu thí dụ: Ví dụ như cửa địa ngục
vốn khóa rất chắc, sao có thể tiến vào
được? Vấn đề rất đơn
giản, chỉ cần quư vị tạo tội nghiệp
Ngũ Nghịch, Thập Ác, quư vị bèn có được
ch́a khóa cửa địa ngục. Có ch́a khóa
ấy rồi, tùy thời bèn mở được cửa
địa ngục, tự nhiên đi vào địa
ngục. Nếu như không có ch́a khóa
đó, dù có muốn tiến vào đến đâu đi
nữa, kết quả vẫn chẳng thể vào trong
cửa ấy được.
Từ
ngoài cửa tiến vào trong cửa, những sự khổ
- vui bên trong cửa thật khác xa nhau. Nói theo thế gian: Có những cửa bên
trong thật là khoái lạc, như thiên đường
thường ngụp lặn trong dục lạc và
định lạc; có những cửa bên trong khá thống
khổ, như ba đường ác, hoặc chịu
nỗi thống khổ nóng lạnh, hoặc chịu
nỗi khổ tàn sát, hoặc chịu nỗi khổ đói
khát. Bất quá, mọi ch́a khóa nằm trong chính tay ḿnh, muốn tiến vào cái cửa nào, hoàn
toàn do ḿnh quyết định.
Chẳng
qua, mười pháp giới tuy có mười cánh cửa,
nhưng chỉ có một cánh cửa Phật đạo
được gọi là Phổ Môn. Như cánh cửa sáu
đường trong thế gian thuộc về cửa
hữu lậu, muốn thông với vô lậu, tự nhiên là
chẳng được, bởi thế nó chẳng được
gọi là Phổ Môn. Cửa xuất
thế của Nhị Thừa thông thường gọi là
Không Môn, đối với sanh tử phiền năo chỉ có
thể giải thoát một nửa, cho nên cửa này
chẳng được gọi là Phổ Môn. Đến như cửa Bồ Tát, rớt vào hai
bên Không và Hữu, chẳng thể Không - Hữu viên dung, nên
cũng chẳng thể gọi là Phổ Môn.
Phật
đạo sở dĩ gọi là Phổ Môn là v́ sau khi thành
đạo, Phật vốn v́ đại bi nguyện
lực, tiến vào địa ngục giáo hóa chúng sanh. Tuy nói là cửa địa ngục
đóng rất chặt, nhưng do sức bi nguyện,
muốn tiến vào liền được, chẳng
trở ngại chút nào. Vào cửa địa ngục là
như thế, vào các cửa ngạ quỷ, súc sanh v.v…
cũng giống như thế, nói chung là
xuất nhập tự tại, vô ngại tự tại, cho
nên gọi là Phổ Môn.
Ở đây, có lẽ
có kẻ muốn hỏi: “Đă phải thành Phật
mới có thể xưng là Phổ Môn, Quán Âm là Bồ Tát c̣n
chưa thành Phật, sao có thể xưng là Phổ Môn?” Ở đây, chẳng ngại ǵ nói về hai
phương diện Bản và Tích. Từ Bản mà
nói, Quán Âm đă sớm thành Phật, hiệu là Chánh Pháp Minh
Như Lai, đă có đủ bi nguyện của Phật,
đương nhiên có thể xưng là Phổ Môn. Nếu
nói theo Tích, Quán Âm tuy c̣n chưa thành Phật, nhưng đă
ở địa vị Nhất Sanh Bổ Xứ, đă
đủ công đức Phật, có thể vào trong các
cửa độ sanh, cho nên có thể gọi là Phổ Môn.
6. Giải thích riêng chữ Phổ Môn
Trong
phần giải thích tên phẩm, tuy đă giải thích
sơ lược hai chữ Phổ Môn, nhưng vẫn c̣n
có ư nghĩa trọng yếu cần phải giải thích
riêng. Bởi thế, tôi lại giải thích như sau:
6.1. Từ Bi Phổ Môn:
Từ Bi là pháp môn
trọng yếu nhất trong Phật pháp, cũng là
điều thường được nhắc
đến nơi cửa miệng của đệ tử
Phật. Như xin người nào đó giúp đỡ ḿnh,
nếu như người ta nói không rảnh, ta
thường nói: “Xin anh từ bi”, hoặc người khác
thỉnh cầu đệ tử Phật, cũng nói: “Quư
vị đệ tử Phật lấy từ bi làm gốc,
tin rằng sẽ đáp ứng điều tôi cầu xin”. Từ bi c̣n được vận dụng trong
nhiều hoàn cảnh khác. Từ bi là trung tâm của
Phật pháp, với ư nghĩa căn bản: “Dẹp khổ ban vui”. Tuy cùng gọi là Từ Bi, nhưng tŕnh độ
có sâu hoặc cạn. Về đại thể,
Phật pháp chia Từ Bi thành ba loại:
a) Ái Kiến Từ Bi:
Có kinh c̣n
gọi là Sanh Duyên Từ Bi.
Có thể nói là người nào trong thế gian
cũng có ḷng từ bi này; như làm cha mẹ yêu
thương, che chở con cái, có thể nói là một
biểu hiện của ḷng từ bi. Nhưng ḷng
từ bi ấy chẳng thể phổ biến rộng
lớn, trong đó vẫn hàm chứa tánh nhiễm ô và tâm phân
biệt, chẳng thể cứu tế rộng khắp
hết thảy chúng sanh, c̣n có hạn lượng; cho nên
chẳng thể gọi là Phổ Môn.
b) Pháp Duyên Từ Bi:
Ḷng
từ bi này chẳng phải ai trong thế gian cũng có
được, mà là ḷng từ bi của bậc thánh
giả Nhị Thừa.
Thánh giả Nhị Thừa hiểu rơ vạn hữu chư pháp và mạng thể của chính ḿnh
đều là do các nhân duyên, điều kiện hợp
thành, duyên sanh vô tánh, pháp nào cũng đều không. Thế
nhưng các Ngài chỉ biết đến cái Không, chưa
biết Bất Không, chỉ có thể tùy duyên hóa độ,
chẳng thể giáo hóa khắp hết thảy chúng sanh,
bởi thế ḷng từ bi này vẫn chưa phải là
Phổ Môn.
c) Vô Duyên Từ Bi:
Đây là
ḷng từ bi của Phật, Bồ Tát, thật sự có
thể gọi là Phổ Môn từ bi. Ḷng từ bi như
thế, nếu nói tách rơ ra là “vô duyên đại từ,
đồng thể đại bi”. Bất luận
là Phật hay Bồ Tát đều hiểu rơ đạo lư
sau đây: Chúng sanh là chúng sanh trong tâm của Phật, Bồ
Tát. Trong mắt của Phật, Bồ Tát,
chúng sanh và chính ḿnh vốn là một thể, nên tất
cả thống khổ của chúng sanh chính là tất cả
thống khổ của ḿnh. Chúng sanh
chưa được sướng vui, khác nào chính ḿnh
chưa được sướng vui. Nếu nói theo Nho gia Trung Quốc th́: “Ưu kỳ
sở ưu, lạc kỳ sở lạc” (Lo cái lo
của người, vui với niềm vui của
người). Đứng trên lập
trường của Phật, Bồ Tát, vốn không có lo
khổ mà cũng chẳng có sướng vui. Chỉ v́
thấy chúng sanh đau khổ, nên tự biết là khổ,
do thấy chúng sanh sướng vui, trong tâm tự
sướng vui. Thấy chúng sanh giải thoát,
hệt như chính ḿnh được giải thoát.
Trong con mắt của Phật, Bồ Tát, chỉ thấy có
chúng sanh, nào có chính ḿnh.
V́ thế, Phật,
Bồ Tát tuyệt đối chẳng thấy có
tướng ta - người sai biệt, cho nên suốt ngày
độ sanh, chẳng thấy một ai được
ḿnh độ; tự ḿnh và chúng sanh đă ḥa hợp dung
thông thành một thể, thật sự chẳng thể phân
ra ai là người hóa độ, ai là người
được độ. Tuy chẳng thấy có
người độ và kẻ được độ,
nhưng vẫn liên tục không gián đoạn, tinh tấn
chẳng lười, hóa độ tất cả hết
thảy chúng sanh trong mười phương thế
giới, không một chúng sanh nào chẳng được
Phật, Bồ Tát cứu độ. Đó là
Vô Duyên Đại Từ, Đồng Thể Đại Bi,
mà cũng chính là Từ Bi Phổ Môn chân chánh.
Quán
Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi, tất
cả sự cứu khổ cứu nạn từ bi của
Quán Âm Bồ Tát đều là vô duyên từ bi. Chính v́ Bồ Tát có tâm từ bi rộng
lớn như thế, nên ở trong thế giới Sa Bà này,
vận dụng ḷng từ bi đó hóa độ hết
thảy những chúng sanh đáng được độ,
bởi thế, cũng được xưng là Phổ Môn
Từ Bi.
6.2. Thuyết pháp
Phổ Môn
Phật,
Bồ Tát xuất hiện trong thế gian, chẳng hề
v́ ḿnh, mà đa phần là v́ chúng sanh, v́ muốn thuyết
pháp cho chúng sanh. Phật v́ chúng sanh
thuyết pháp rất nhiều, nào là đại pháp, tiểu
pháp, không pháp, hữu pháp, quyền pháp, thật pháp, các pháp
sai khác nhau. Người b́nh thường
khi thuyết pháp độ sanh, do chẳng có trí huệ phân
biệt căn tánh của chúng sanh nên lúc giảng
đại pháp chẳng thể kiêm giảng tiểu pháp; c̣n
lúc giảng tiểu pháp, chẳng thể kiêm giảng
đại pháp. Giảng các pháp không,
hữu, quyền, thật cũng thế. Thuyết
pháp chẳng được phổ biến th́ chẳng
được gọi là Phổ Môn! Quán Âm Bồ Tát có
đủ trí huệ thâm diệu, lúc thuyết pháp, trong cùng
một pháp hội, Ngài nói ra các pháp bất đồng,
khiến cho mỗi thính chúng hiện diện đều
hiểu rơ hệt như Ngài đối trước chính
ḿnh thuyết pháp, đều được thọ
dụng thật sự nơi Phật pháp, bởi thế
gọi là Thuyết Pháp Phổ Môn.
Thêm
nữa, những ngôn từ sử dụng trong lúc thuyết
pháp giữa phàm phu và Bồ Tát rất khác biệt. Mỗi địa
phương ngôn ngữ lại bất đồng, lục
đạo cũng khác biệt. Như tôi chẳng nói
được các phương ngôn Quảng Đông,
Phước Kiến v.v… lúc thuyết pháp cho người
xứ Việt (Quảng Đông), phải dịch thành tiếng
Quảng, lúc v́ người xứ Mân (Phước Kiến)
thuyết pháp phải dịch sang tiếng Mân. Nếu không, những ai thuộc các địa
phương đó chẳng hiểu tôi đang nói ǵ. Bởi thế, chẳng được gọi là
Phổ Môn.
Quán Âm Bồ Tát đă
đắc Ngữ Ngôn Tam Muội, “có thể dùng một
âm thanh diễn nói pháp, chúng sanh tùy loại đều
được hiểu”, đấy phải đâu là
chuyện dễ! Âm thanh Bồ Tát thốt ra chỉ là
một, nhưng mỗi một loại chúng sanh sai khác
đều nghe như Ngài nói tiếng của chính ḿnh,
chẳng hạn như người Mân Nam nghe thành tiếng
Mân Nam, người Quảng Đông nghe thành tiếng
Quảng Đông, thiên long bát bộ nghe thành tiếng của
thiên long bát bộ, chẳng phải là Phật, Bồ Tát,
sao có thể làm được như thế? Đấy là Thuyết Pháp Phổ Môn.
7. Những phẩm
kinh chị em của Phổ Môn
Phổ Môn là phẩm kinh được
rút ra từ kinh Pháp Hoa để lưu truyền riêng,
cố nhiên phẩm này rơ ràng mang tánh chất trọng
yếu, nhưng kinh Pháp Hoa là lời giảng “khai Quyền
hiển Thật” đến mức độ cùng cực
của Như Lai, diễn tả, phô bày rơ đại pháp
Nhất Thừa. Bởi thế, luận
về mặt trọng yếu, toàn bộ hai mươi tám
phẩm kinh, phẩm nào cũng cực trọng yếu,
chẳng thể nói phẩm nào không liên quan đến ư
chỉ hoằng dương. Tuy nói như thế,
từ xưa, các vị đại đức đặc
biệt rút lấy các phẩm Phương Tiện, An
Lạc Hạnh, Như Lai Thọ Lượng, Quán Thế
Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm trong kinh, gộp thành bốn
phẩm trọng yếu nhất của kinh Pháp Hoa; mỗi
phẩm đại biểu cho một ư nghĩa đặc
thù nhất.
Theo cổ nhân phân
biệt:
- Phẩm Phương
Tiện hiển thị: Mỗi một cá nhân chánh thức bắt
đầu phát tâm. Phát tâm nói thông tục là
“động cơ”. Bất luận làm ǵ, th́
trước hết phải phát tâm, hay nói cách khác là trước
hết phải có động cơ. Trong Phật pháp, quư
vị muốn rốt cuộc đi theo
một con đường nào, th́ phải xem hiện
giờ quư vị phát tâm như thế nào. Đại
Thừa Phật pháp phải lấy phát tâm Bồ Đề
làm chủ.
- Phẩm
An Lạc Hạnh hiển
thị: Mỗi cá nhân do phát tâm, bèn tu hành đúng như
lời dạy. “Tu hành” nói thông tục là
“thực hiện”. Phát tâm Bồ
Đề rồi, tất nhiên phải tiến bước
trên con đường Bồ Đề, nhưng phải
biết đúng pháp, đúng luật. Trong
phẩm này có những lời giáo hóa rất hay.
- Phẩm Như Lai Thọ
Lượng hiển thị: Mỗi cá nhân do tu hành bèn
chứng đắc Bồ Đề vô thượng
tối cao, v́ đă có thực hiện, tất nhiên chẳng
luống qua, tất nhiên có thâu hoạch.
- C̣n như phẩm
Phổ Môn đang được giảng ở đây th́
hiển thị vô trụ Đại Bát Niết Bàn của
mỗi cá nhân chứng đắc, bởi thế mới có
thể chẳng trụ trong sanh tử, chẳng trụ
Niết Bàn mà độ sanh, như những ǵ đức
Quán Âm đă biểu hiện chính là thuyết minh hay nhất
của vô trụ Đại Bát Niết Bàn.
Nếu
nói về phương diện tu học Phật pháp th́ phát
tâm, tu hành, chứng quả là ba mức độ lớn. Chỉ v́ cực quả để
chứng đắc trong Đại Thừa có hai loại:
quả đại Bồ Đề và quả đại
Niết Bàn, cho nên phân thành hai phẩm (Thọ Lượng
và Phổ Môn). Theo cách phân tích này, ta thấy bốn phẩm
này là bốn phẩm tối trọng yếu trong toàn bộ
kinh Pháp Hoa, ba phẩm kia chính là chị em
của phẩm Phổ Môn.
Trong hai mươi tám
phẩm của kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn đứng
vào thứ hai mươi lăm. Ở trên,
đă nêu lên nội dung của bốn phẩm tối
trọng yếu, ở đây, chẳng ngại ǵ lại
nêu lên nội dung của hai mươi tám phẩm. Theo cổ đức phán định, hai
mươi tám phẩm được chia thành hai bộ
phận lớn, tức là như tông Thiên Thai gọi là Tích
Môn và Bản Môn. Nay theo thứ
tự, thuyết minh như sau:
Mười
bốn phẩm đầu thuộc về Tích Môn,
mười bốn phẩm sau thuộc về Bản Môn. Hai danh từ Bản Môn và
Tích Môn mọi người nghe đến thấy rất xa
lạ mà cũng chẳng dễ hiểu, lẽ
đương nhiên phải giải thích đại lược.
“Bản” (本) có nghĩa là căn bản. Từ
căn bản mà nh́n Thích Ca Mâu Ni Phật, th́ đức
Phật Thích Ca Mâu Ni đă sớm thành Phật từ lâu,
thành Phật rất sớm, vượt ngoài sự
tưởng tượng của chúng ta. Trong phẩm Như
Lai Thọ Lượng thứ mười sáu, có
đoạn nói như thế này:
“Nhất thiết thế
gian, thiên nhân cập A Tu La, giai vị kim Thích Ca Mâu Ni Phật,
xuất Thích Thị cung, khứ Già Da thành bất viễn, tọa
ư đạo tràng, đắc A Nậu Đa La Tam
Miệu Tam Bồ Đề, nhiên thiện nam tử! Ngă thật
thành Phật dĩ lai, vô lượng vô biên, bách thiên vạn
ức na-do-tha kiếp. Thí như ngũ bách
thiên vạn ức na-do-tha a-tăng-kỳ tam thiên đại
thiên thế giới, giả sử hữu nhân, mạt vi vi
trần, quá ư Đông phương ngũ bách thiên vạn
ức na-do-tha a-tăng-kỳ quốc, năi hạ nhất trần,
như thị Đông hành, tận thị vi trần... Thị
chư thế giới, nhược trước vi trần
cập bất trước giả, tận dĩ vi trần,
nhất trần nhất kiếp, ngă thành Phật dĩ lai,
phục quá ư thử bách thiên vạn ức na-do-tha a-tăng-kỳ
kiếp”.
(Hết
thảy thế gian: trời, người và A Tu La,
đều cho rằng Thích Ca Mâu Ni Phật rời
khỏi cung họ Thích, đến thành Già Da chẳng xa,
ngồi nơi đạo tràng, đắc Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác.
Thế
nhưng thiện nam tử! Thật sự từ khi ta thành
Phật đến nay là vô lượng vô biên, trăm ngàn
vạn ức na-do-tha kiếp. Ví như năm trăm ngàn
vạn ức na-do-tha a-tăng-kỳ tam thiên đại
thiên thế giới, giả sử có người nghiền
thành vi trần, đi qua năm trăm ngàn vạn ức
na-do-tha a-tăng-kỳ cơi ở phương Đông mới
bỏ xuống một hạt bụi, đi về phía
Đông như thế cho đến hết số bụi
ấy… Các thế giới ấy, dù chẳng bỏ
xuống hay không bỏ xuống một hạt bụi,
đều coi là vi trần hết. Cứ mỗi hạt bụi là một kiếp.
Ta từ khi thành Phật đến nay lại c̣n nhiều
hơn số đó trăm ngàn na-do-tha a-tăng-kỳ
kiếp).
Do đây biết
rằng đức Phật thành Phật, thật đă
rất lâu xa về trước, tuyệt đối
chẳng phải như mọi người thường
tưởng chỉ hơn hai ngàn năm trăm năm
trước, đức Thích Ca mới thành Phật.
“Tích” (迹) có nghĩa là tỏ lộ dấu
vết, tức là sau khi đấng Thích Tôn đă thành
Phật từ lâu xa rồi, thường trong các thế
giới thị hiện giáo hóa chúng sanh. Phàm
những ǵ Phật thị hiện đều gọi là Tích
cả. Tích từ do Bản mà có – "tùng bản thùy tích" (từ căn bản
thị hiện ra) – đương nhiên Tích chẳng
phải là Căn Bản. Kinh Phạm Vơng
ghi: “Ngô kim lai thử thế giới bát thiên phản, vị
thử Sa Bà thế giới, tọa Kim Cang Hoa Quang Vương
ṭa...” (Ta nay đến
thế giới này tám ngàn lượt, v́ thế giới Sa
Bà này ngồi trên ṭa Kim Cang Hoa Quang Vương...) cố nhiên cũng là “thùy tích”.
Kinh Pháp Hoa chép:
“Tự tùng thị
lai, ngă thường tại thử Sa Bà
thế giới, thuyết pháp giáo hóa, diệc ư dư xứ
bách thiên vạn ức na-do-tha a-tăng-kỳ quốc đạo
sư chúng sanh.
(Từ đấy trở đi, ta thường
trụ trong thế giới Sa Bà này thuyết pháp giáo hóa,
cũng ở trong trăm ngàn ức vạn na-do-tha
a-tăng-kỳ cơi nước ở phương khác làm
đạo sư cho chúng sanh.
Này
các thiện nam tử! Trong những khoảng
đó, ta nói Nhiên Đăng Phật v.v… lại c̣n nói sẽ
nhập Niết Bàn, như thế đều là dùng
phương tiện phân biệt).
Đây
cũng là Tích, chẳng phải là Bản.
Nói chung,
những ǵ chúng ta biết về đức Thích Ca Mâu Ni
đều là những sự thuộc phương diện
Tích Môn, c̣n những sự thuộc về phương
diện Bản Môn, chúng ta chẳng thể suy lường
hiểu thấu nổi!
V́ sao
đức Phật thường thị hiện chẳng
ở lâu dài, giáo hóa trong thế gian? Phải biết: Đây cũng là
điều khổ tâm bất đắc dĩ của
đức Phật. Nguyên nhân là v́ chúng sanh thường quen
thói, cứ hễ thường trông thấy Phật bèn
thấy Phật rất b́nh thường, chẳng chịu
theo đúng pháp đức Phật đă dạy để
tu hành. Phẩm Như Lai Thọ Lượng kinh Pháp Hoa có
đoạn: “Nhược Phật cửu trụ ư thế,
bạc đức chi nhân, bất chủng thiện căn,
bần cùng, hạ tiện, tham trước ngũ
dục, nhập ư ức tưởng vọng kiến vơng
trung. Nhược kiến Như Lai thường tại bất
diệt, tiện khởi kiêu tứ, nhi hoài yếm đăi, bất
năng sanh ư nan tao chi tưởng, cung kính chi tâm” (Nếu đức Phật ở
lâu trong đời, kẻ đức mỏng chẳng
trồng thiện căn, bần cùng, hạ tiện, tham
đắm ngũ dục, lọt vào trong lưới ức
tưởng vọng kiến. Nếu thấy
Như Lai thường trụ bất diệt, càng khởi
ḷng kiêu căng, chán ngán, giải đăi, chẳng thể sanh
ư tưởng khó gặp, khởi ḷng cung kính). Bởi
thế đức Phật chẳng thể không nhiều
lần thị hiện giáng sanh, nhiều lần thị
hiện nhập diệt, để cao độ cảnh
giác chúng sanh.
8. Giải thích
đề mục kinh Diệu Pháp Liên Hoa
Đă
lược giảng tên gọi phẩm này, tôi lại
giảng sơ lược tựa đề kinh này.
Bốn chữ Diệu Pháp Liên Hoa nếu giảng nghiêm túc
rất phức tạp, nội một chữ Diệu thôi,
Thiên Thai Trí Giả đại sư phải giảng chín
mươi ngày. Câu nói “cửu tuần
đàm Diệu” (chín tuần[6]
giảng chữ Diệu) đă trở thành một giai
thoại khoái trá trong lịch sử giảng kinh Trung
Quốc. Bởi thế, muốn giải
thích chi tiết trong một thời gian ngắn ngủi,
đương nhiên là chẳng thể được,
chỉ đành nói giản lược mà thôi.
Chữ Pháp trong
Diệu Pháp chỉ hết thảy pháp, như pháp thế
gian, pháp xuất thế gian, pháp hữu lậu, pháp vô
lậu, pháp hữu vi, pháp vô vi, pháp phàm
phu, pháp thánh nhân v.v… không pháp nào chẳng bao hàm trong đó. Các pháp như thế, mỗi mỗi thuyết minh,
đương nhiên là chẳng thể, mà thật ra cũng
chẳng cần thiết. Bởi
thế, Phật giáo đem vô lượng vô biên pháp quy
nạp thành ba loại lớn; đó là tâm pháp, chúng sanh pháp
và Phật pháp. Bất luận loại pháp nào cũng
đều hết sức vi diệu;
bởi thế gọi là Diệu Pháp, tức là: Tâm pháp là
diệu, chúng sanh pháp là diệu, Phật pháp cũng là
diệu. Tách riêng từng pháp cố nhiên là
diệu, nhưng ba pháp chẳng sai biệt lại càng
diệu hơn nữa; nói “tâm, pháp và chúng sanh, ba pháp
ấy không sai biệt” chính là nói về ư này. Đạo lư này rất sâu, tuy nghe chẳng dễ
hiểu, nhưng Diệu Pháp chẳng thể nghĩ bàn ai
ai cũng sẵn có, tuyệt đối chẳng thể coi
thường. Sở dĩ, chúng sanh là chúng sanh là v́ mê
mất diệu pháp này, sở dĩ chư
Phật thành Phật là v́ giác ngộ diệu pháp này. Bởi
thế, giờ đây, tất yếu lại phải phân
biệt [từng pháp]!
V́ sao tâm
pháp là diệu? Muốn hiểu điều này, trước hết
phải hiểu rơ mười pháp giới đă nói ở
trên. Mười pháp giới là địa ngục,
ngạ quỷ, súc sanh, A Tu La, người, trời, Thanh
Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật. Mười pháp giới
này nếu nói tách ra th́ sai biệt bất đồng,
rất dễ hiểu, nhưng “giới
giới hỗ cụ” (mỗi một giới có
đầy đủ các giới khác), nghĩa ấy sâu
rộng, rất khó hiểu rơ.
Nói “giới
giới hỗ cụ” nghĩa là trong mỗi một
giới đều có đủ chín giới khác. Chẳng hạn như địa
ngục pháp giới, chẳng phải chỉ là ḿnh
địa ngục pháp giới, nó vẫn có đủ chín
pháp giới khác, thậm chí nói đến Phật pháp
giới, chẳng phải là một Phật pháp giới mà
c̣n có đủ chín giới khác nữa. Mỗi
giới có đủ mười giới, tổng cộng
là bách giới (10x10=100); một trăm giới ấy, trong
một niệm tâm của mỗi người chúng ta
đều có đủ. Chẳng hạn
như trong nhân pháp giới, lấy một niệm hiện
tiền làm trung tâm, th́ phàm ai có tâm, không ai chẳng khởi
tâm động niệm, trong từng thời khắc
khởi lên những niệm tâm sai khác. Có
lúc khởi một niệm sân tâm, bèn rơi vào địa
ngục pháp giới. Có lúc khởi lên
một niệm tham tâm, bèn rơi vào ngạ quỷ pháp
giới. Có lúc khởi một niệm ngu
si bèn rớt vào súc sanh pháp giới. Có lúc
khởi một niệm ghen ghét bèn rớt vào Tu La pháp
giới. Có lúc khởi lên một niệm
Giới Thiện (Ngũ Giới, Thập Thiện), bèn
thuộc nhân loại pháp giới. Có lúc
khởi niệm Thập Thiện, Tứ Thiền, Bát
Định bèn rớt vào Thiên pháp giới. Có lúc khởi một niệm Chân Không bèn thuộc
vào Thanh Văn pháp giới. Có lúc khởi
một niệm duyên khởi, bèn thuộc vào Duyên Giác pháp
giới. Có lúc khởi một niệm
đại Bồ Đề tâm bèn thuộc vào Bồ Tát pháp
giới. Có lúc khởi một niệm tâm
từ bi, b́nh đẳng bèn thuộc vào Phật pháp
giới. Nhân pháp giới có đủ
mười pháp giới như thế. Chín giới kia cũng có đủ mười pháp
giới giống hệt như vậy. Mỗi
giới có đủ mười giới tạo thành bách
giới, bách giới ở ngay trong một niệm tâm.
Tâm pháp chẳng thể nghĩ bàn, bởi
thế nói “tâm pháp là diệu”.
Trong
một niệm tâm của chúng sanh đă có đủ
mười pháp giới, cho thấy Thích Ca, Di Đà tâm ta
vốn sẵn đủ.
Bởi thế, Đại Thừa Phật pháp
thường nói: “Tâm này làm Phật, tâm này là Phật”,
tức là diễn tả rơ rệt: Ngay nơi một
niệm tâm của chúng sanh chính là Phật, hoặc từ
trong một niệm tâm của chúng sanh có thể tu hành thành
Phật. Theo đây, có thể nói: “Tâm này là Bồ Tát, tâm
này làm Bồ Tát”. Bồ Tát do một niệm tâm của
chúng ta tạo thành, chỉ cần chúng ta muốn làm Bồ
Tát th́ ngay khi đó liền có thể thành Bồ Tát. Chẳng những thế, tâm này c̣n là Bồ Tát,
Bồ Tát chẳng ở ngoài tâm chúng sanh. Đây là đứng trên lập trường
của bậc thánh giả xuất thế gian mà nói, nên
bảo “tâm pháp là diệu”.
Nếu
đứng trên lập trường pháp thế gian mà nói,
cũng có thể biểu hiện đạo lư giống
hệt như vậy.
Chẳng hạn như thiên đường, địa
ngục là do đâu mà thành? Thiên đường, địa
ngục vốn không lối, chỉ do con người
tự tạo đó thôi. Con đường lớn sáng
sủa đi đến thiên đường do chính ḿnh
mở lối. Con đường tối tăm, gập
ghềnh vào địa ngục cũng do chính ḿnh tiến
vào. Người khác chẳng thể bồng
quư vị lên thiên đường, hay đẩy quư vị
vô địa ngục. “Tâm này có sẵn địa
ngục, tâm này tạo địa ngục; tâm này sẵn có
thiên đường, tâm này tạo thiên đường”.
Thiên đường, địa ngục đều là do
người tạo, chứng minh một niệm tâm của
ta là chẳng thể nghĩ bàn, bởi thế nói “tâm pháp là diệu”.
V́ sao biết các pháp
đều do tâm sanh? Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Tâm sanh tắc
chủng chủng pháp sanh, tâm diệt tắc chủng chủng
pháp diệt” (Tâm sanh
thời các pháp sanh, tâm diệt thời các pháp diệt),
do đây biết tất cả các pháp thế gian, xuất
thế gian đều do tâm sanh khởi mà chúng bèn sanh
khởi. Nếu như chẳng có cái niệm tâm hiện
tiền ấy, hết thảy pháp đều bất
khả đắc! Đáng tiếc con người ngày ngày
vận dụng cái niệm tâm ấy, nhưng chẳng có ai
thực sự nhận thức cái niệm tâm ấy. Nếu thật sự nhận thức
được th́ mọi vấn đề đều
giải quyết được cả. Cổ
đức đă h́nh dung cái tâm trọng yếu như
thế này:
Nhược nhân
thức đắc tâm,
Đại
địa vô thốn thổ.
(Nếu người
biết được tâm,
Đại
địa không tấc đất).
Bởi
thế, trong đời người, quan trọng nhất
là nhận thức được cái tâm của chính ḿnh. Tuy rơ ràng là tâm luôn tồn tại và
hiện diện trong từng thời khắc, nhưng
muốn nhận thức nó, chẳng thể tưởng
tượng h́nh dung là được. Bởi lẽ, chân
tướng cái tâm niệm vốn sẵn có của chúng ta
từ vô thỉ đă bị những thứ khác che
lấp, nếu chẳng trải qua một phen đổ
công cạo chất dơ, mài sáng, không cách chi nhận
thức được chân tướng. V́
vậy, Phật pháp nói phải tu tâm.
V́ sao chúng
sanh pháp là diệu? Nói “chúng sanh” là
muốn nói đến mỗi một kẻ hữu t́nh chúng
ta. Hoạt động của mỗi
một hữu t́nh trong thế gian chẳng ngoài ba nghiệp
thân - khẩu - ư. Bất luận trên phương diện
nào, các hoạt động của ba nghiệp đều
bị phiền năo chỉ huy; bởi thế tạo tác
rất nhiều sự nghiệp hữu lậu thiện hay
ác. Do v́ nghiệp thiện hay ác lôi kéo, dẫn dắt,
bèn luân hồi trong sanh tử, cảm thọ các sự
thống khổ. Do đây biết rằng: Tất cả
chúng sanh trong thế gian này, chẳng có ǵ khác ngoài ba thứ
Hoặc, Nghiệp, Khổ luân chuyển. Từ ba thứ
này mà quán sát, chỉ có thể nói là thô, sao lại nói là
diệu? Chẳng sai! Nhưng nói trên phương diện
khác, nói “thô chính là diệu” chẳng trở ngại ǵ! Câu này hiểu như thế nào? Như
Phật quả tối cao vô thượng, gồm
đủ ba đức Bát Nhă, Giải Thoát, Pháp Thân là do
đâu mà có? Chẳng phải là từ ba
thứ Hoặc, Nghiệp, Khổ hay sao? Ba thứ
Hoặc, Nghiệp, Khổ đổi thành ba đức Bát
Nhă, Giải Thoát, Pháp Thân, tức là ư
nghĩa “thô chính là diệu”.
Ba thứ Hoặc -
Nghiệp - Khổ rơ ràng thuộc về sanh tử, sao có
thể nói là ba đức? Đối với đạo lư
này, thật sự cần phải giải thích thêm như
sau:
Thường
nhân luôn cho rằng những phiền năo tham, sân, si v.v… có
thật, nên cứ bị hăm trong rừng rậm phiền
năo chẳng ra được. Thật ra, phiền năo có tánh chất
thực tại chi đâu? Vẫn là do những mối
quan hệ kích phát mà sanh khởi đó thôi! Chỉ
cần những nhân duyên bên ngoài khiến cho phiền năo sanh
khởi chẳng c̣n nữa th́ há c̣n thực sự có
phiền năo nữa ư? Nếu hiểu
rơ phiền năo chẳng có tự tánh th́ ngay khi đó phiền
năo trở thành trí huệ. Bởi
thế, suy cầu tự thể của trí huệ, sẽ
thấy nó vốn ở trong phiền năo.
Ĺa
khỏi phiền năo để t́m trí huệ, biết t́m trí
huệ ở đâu?
Căn bản là chẳng thể được, bởi
thế, trong kinh thường nói “phiền năo tức
Bồ Đề”. Ai nói t́m cầu trí huệ ngoài
phiền năo th́ chẳng hiểu rơ tánh của phiền năo là
Không vậy! Nếu biết rơ một niệm
tâm của chính ḿnh, hiểu rơ thấu triệt rằng
"phiền năo chẳng có tự thể thật
sự" th́ sẽ tự hiểu được
phiền năo chính là Bát Nhă đức.
V́ sao nói nghiệp
lực chính là giải thoát? Bao nhiêu nghiệp lực
thiện ác của chúng ta đều do phiền năo duy tŕ,
tạo tác; nhưng hết thảy hành vi,
hoạt động chẳng thể đơn độc
phát khởi tác dụng, phải cùng do những điều
kiện ḥa hợp mà phát sanh. Như hành
thiện nghiệp bố thí, chẳng có người
nhận vật bố thí, sao có thể thành tựu
được nghiệp thí? Như ác nghiệp sát
sanh, không có người bị sát hại, sao thành
được sát nghiệp? Các nghiệp
hữu lậu khác như tŕ giới, tu Định v.v… không
nghiệp nào chẳng vậy. Lúc
nghiệp lực thành thục th́ phải thọ sanh, lúc
nghiệp lực tiêu tán bèn tận diệt.
Nh́n
từ lập trường của chúng sanh, chúng sanh
đều v́ nghiệp lực sanh diệt mà sanh diệt. Qua Đông, qua Tây, lên trời, xuống
đất đều là do nghiệp lực lôi dẫn
chẳng được tự tại; nào biết đó là
vọng tưởng, phân biệt, chứ thật sự,
nghiệp tánh vốn Không! Chẳng hiểu rơ nghiệp tánh
vốn là Không th́ tựa hồ bị nghiệp lực ràng
buộc, chẳng được tự do tự tại. Nếu liễu giải nghiệp tánh không tịch,
ngay lập tức sẽ được tự tại
giải thoát; bởi thế, nghiệp chính là Giải Thoát
Đức.
V́ sao nói
khổ báo chính là Pháp Thân? Quả báo sanh mạng sanh tồn trong thế gian
v́ sao là khổ? Trong kinh, đức Phật nói: Sanh
diệt là khổ, vô thường là khổ. Do sanh mạng
chẳng vĩnh hằng, biến hóa chẳng ngừng trong
từng thời khắc, sanh diệt, diệt sanh biến
đổi vô thường, bởi thế, bị thống
khổ tập kích không ngừng. Chúng sanh
lưu chuyển sanh tử, từ vô thỉ đến nay
là sanh rồi diệt, diệt rồi lại sanh, sanh
diệt, diệt sanh, tạo thành một cuộc sống
tồn tại chẳng ngừng. Sanh diệt, diệt
sanh, tựa hồ có tự tánh chân thật, do sanh diệt
bèn có thống khổ, chẳng có cách nào giải quyết.
Nhưng sanh diệt do duyên mà có, sanh nhưng không thật
sanh, diệt cũng chẳng thật diệt, sanh diệt
là Không, vô tự tánh. Vô sanh
mà sanh, vô diệt nhưng diệt, sanh diệt như
thế tức là Như Lai Pháp Thân. Như
Lai chứng đắc Pháp Thân tức là chứng
đắc tự thể bất sanh bất diệt.
Do đây chứng tỏ: Ngay nơi quả báo sanh diệt
của chúng sanh chính là Pháp Thân đức của Như Lai.
Do Hoặc, Nghiệp,
Khổ mà chúng sanh sẵn có chính là ba đức Bát Nhă,
Giải Thoát, Pháp Thân của Như Lai nên chúng sanh pháp là
diệu.
Tâm pháp
diệu và chúng sanh pháp diệu đă giảng rồi, sau
cùng lại giảng v́ sao Phật pháp là diệu. Phật là Phật Đà
chứng đắc Bồ Đề tối cao vô
thượng. Phật Đà là bậc
đại thánh đoạn sạch hết thảy
phiền năo, giải quyết hai thứ sanh tử,
chứng đắc giải thoát rốt ráo. Dùng
Phật nhăn quán sát hết thảy, hết thảy mọi
thứ không ǵ chẳng phải là vi
diệu chẳng thể nghĩ bàn. Cố nhiên, chúng sanh là
chúng sanh trong tâm Phật, vạn vật cũng là vạn
vật trong tâm Phật. Mọi pháp đều là Thật
Tướng, pháp nào cũng đều là Bát Nhă, đâu c̣n có
cái này, cái kia sai biệt? Bởi thế,
Phật trọn chẳng có pháp nào khác, cái được
Ngài chứng đắc cũng chỉ là chúng sanh pháp và tâm
pháp. Nói “tâm này là Phật, tâm này làm
Phật” chính là ư này. Phật vốn
có nghĩa là chẳng mê, cũng có nghĩa là Giác.
Một niệm tâm hiện tiền của chúng ta chỉ
cần chẳng bị trần cảnh khách quan làm mê, ngay
khi đó chính là Phật. Kinh nói: “Nhất niệm bất
sanh, tức Như Như Phật” (Một niệm chẳng sanh chính là Như Như
Phật) chính là ư này. Bởi thế,
Phật pháp là diệu.
Tổng
hợp Phật pháp diệu, chúng sanh pháp diệu, tâm pháp
diệu th́ gọi là Diệu Pháp; nhưng diệu pháp
ấy chẳng thể suy nghĩ, phân biệt mà hiểu
được nổi. Đồng thời, diệu pháp chẳng thuộc
bên ngoài, vốn là sẵn có. Phàm ai có tâm, không ai
chẳng có diệu pháp này, chẳng qua chúng sanh chưa
thể chứng đắc đó thôi! Làm
thế nào mới có thể chứng đắc diệu pháp
này? Tùy cách tu hành của mỗi người mà nói khác
nhau: Có người nói diệu pháp chẳng dễ chứng
đắc, có người nói diệu pháp chứng
đắc chẳng khó khăn chi lắm, có người nói
diệu pháp chứng đắc chẳng khó chẳng
dễ. Ba cách nói bất đồng. Bây giờ, tôi sẽ lấy chuyện vợ
chồng và con cái Bàng Cư Sĩ đàm đạo trong
Phật giáo Trung Quốc làm ví dụ.
Bàng Cư Sĩ là
một vị đại cư sĩ hữu danh của
Trung Quốc, nhà vốn rất giàu có, có thể nói là
bậc phú ông giàu có trăm vạn, nhưng sau khi ông ta lănh
hội Phật pháp, bèn đem hết thảy của
cải trong nhà ném xuống sông Hán Dương, cả nhà
chọn cuộc sống thật đạm bạc, chuyên
tâm nhất ư tu học Phật pháp. Trong quá
tŕnh tu học, chợt có một ngày nọ, mọi
người quây quần cùng thảo luận sự tu hành
khó - dễ. Cuộc thảo luận ấy diễn ra
như sau:
Trước hết,
Bàng Cư Sĩ nói: Dụng công chẳng phải là
chuyện dễ, muốn chứng diệu pháp vốn
sẵn có cũng khó lắm. Khó đến
mức độ nào? Ông ta nói: “
Bàng Cư Sĩ tŕnh bày
kinh nghiệm tu chứng xong, tiếp đó, bà Bàng cũng
nêu ư kiến: Trong quá tŕnh tôi tu chứng, tôi chẳng cảm
thấy khó khăn như ông, lại cảm thấy rất
dễ. Bà nói: “Dị! Dị! Dị! Bách thảo
đầu thượng tổ sư ư. Niêm lai vô bất
thị, thúy trúc hoàng hoa, vô phi Bát Nhă” (Dễ! Dễ!
Dễ! Ư tổ sư trên đầu trăm ngọn cỏ,
cứ nhón lấy, không chỗ nào là chẳng phải. Trúc biếc, hoa vàng, không ǵ chẳng phải là Bát
Nhă). Ư bà nói: Những điều ǵ mắt ḿnh trông
thấy, không thứ ǵ chẳng phải là ư tổ sư.
Những vật ḿnh thuận tay nắm
lấy, không ǵ chẳng phải là diệu pháp. Như viên
phấn đang cầm trong tay đây
thoạt nh́n chẳng có ư nghĩa ǵ; nhưng nếu
hiểu rơ duyên khởi tánh không, sẽ ngay lập tức
thấy Thật Tướng, cũng chính là diệu pháp. Hiểu rơ như thế th́ có khó khăn ǵ cơ
chứ? Bởi thế, tôi cho rằng tu
hành rất dễ. Nếu chẳng thể t́m
được ư tổ sư trên đầu trăm
ngọn cỏ, cứ cho đó là những ngọn cỏ
tầm thường, sẽ rất khó chứng ngộ.
Nếu lănh hội th́ mắt thấy, tai
nghe, một ngọn cỏ, một cái cây đều là
diệu pháp, c̣n có khó khăn ǵ nữa cơ chứ?
Bà Bàng nêu ư kiến xong,
cô con gái Linh Chiếu cũng đưa ư kiến: Theo kinh
nghiệm tu hành của con, chẳng khó khăn như bố
nói, cũng chẳng dễ dàng như mẹ nói, mà là “dă
bất nan, dă bất dị, cơ lai ngật phạn, b́ lai
thùy!” (Cũng chẳng dễ, cũng chẳng khó, đói
ăn cơm, mệt th́ ngủ). Khác nào
con nít nói giỡn “đói th́ ăn
cơm, mệt th́ ngủ”, có phải vậy chăng?
Vẫn là nói về cách dụng công tu hành, nhưng
đơn giản, trực tiếp, kỳ diệu không sao
diễn tả được! Nào biết trong đây có
đạo lư lớn lao, chẳng
phải nói giỡn đâu nhé! Bây giờ tôi dẫn công án “đói th́
ăn cơm, mệt th́ ngủ” để làm
cước chú.
Có lần, Hữu Nguyên
luật sư đến gặp Đại Châu Huệ Hải
thiền sư, hỏi:
- Ḥa thượng tu
đạo c̣n dụng công hay chăng?
Ngài Đại Huệ
trả lời:
- Đói th́ ăn cơm, mệt th́ ngủ.
- Có phải hết
thảy mọi người đều dụng công
giống như thầy hay không?
- Chẳng giống!
- V́ sao không giống?
- Bọn họ lúc ăn cơm chẳng chịu ăn cơm,
phải sắp đặt trăm thứ; lúc ngủ
chẳng chịu ngủ, tính toán ngàn mối, cho nên chẳng
giống!
Bọn chúng sanh ta
đúng thật là “sắp đặt trăm thứ, tính
toán ngàn mối”, đến nỗi ăn
cơm, ngủ nghỉ chẳng an, chuyện tu đạo
đương nhiên chẳng cần bàn đến nữa!
Mục đích của tu đạo là thể nhận (thấu
hiểu, nhận thức) bản tánh của chính ḿnh,
đói th́ phải ăn, mệt cần phải ngủ,
cũng chỉ là một sự trong bản tánh của ḿnh. Chỉ v́ có những điều cần phải
sắp đặt, tính toán nên bị che lấp chẳng
thể thấu hiểu, nhận thức được.
Nếu diệt hết những cái cần phải lo
lắng, tính toán, th́ ăn cơm, ngủ
nghỉ, không lúc nào chẳng phải là tu đạo
kiến tánh? Bởi thế, Huệ Hải thiền sư
nói: “Hiểu đạo th́ đi, đứng, nằm,
ngồi, không ǵ chẳng phải là đạo. Ngộ pháp
th́ dọc ngang tự tại, không ǵ chẳng phải là
pháp”. Do ư chỉ này, khi nói “đói
th́ ăn cơm, mệt th́ ngủ” chính là lúc hành giả
tu đạo.
Nếu có hành nhân
một mặt tu đạo, một mặt lo toan, tính toán,
đương nhiên khó thể tiến bộ. Nếu
như đạt được: Suốt ngày ăn cơm chưa từng cắn trúng
một hạt gạo; suốt ngày ngủ nghê, chưa
từng khởi điên đảo vọng tưởng;
ngay khi đó chính là diệu pháp. Cô Linh Chiếu nói “đói th́ ăn
cơm, mệt th́ ngủ” đích xác là nói về kinh
nghiệm tu hành của cô, mà cũng chính là cảnh giới
chứng ngộ đặc thù của cô.
Diệu pháp, mỗi cá
nhân đều vốn sẵn có, vấn đề là chúng ta
có nhận thức được hay không? Nếu từ
dụng công mà đạt được chứng ngộ
th́ diệu pháp chính ngay đó, cái căn bản là chẳng
cần cầu từ bên ngoài. Nếu chẳng khéo dụng
công tu hành cho khế hợp th́ diệu pháp xa xôi lắm,
không cách ǵ thấy được căn bản. Tuy nói
như thế, nhưng chẳng có ǵ bị mất, thủy
chung vẫn tồn tại, chỉ
cần xoay lại quán nơi tự tâm, lúc nào cũng có
thể đạt được.
Trên đây là giảng
về lư Diệu Pháp thật sự rất vi diệu,
chẳng dễ hiểu được nổi, bởi
thế mới riêng nêu lên hoa sen làm ví dụ để nói rơ
diệu pháp khó hiểu, khó nhận biết trọn vẹn.
Trong thế gian có rất nhiều thứ hoa
khác nhau, nhưng để hiển thị Diệu Pháp,
chỉ dùng hoa sen chứ không dùng hoa nào khác. Hoa sen khác
với những loại hoa khác như sau: Các hoa khác phải
nở hoa rồi mới kết quả, riêng ḿnh hoa sen lúc
nở hoa cũng là lúc kết quả. Đó là
“hoa quả đồng thời”.
Hoa sen là hoa quả đồng thời,
tượng trưng cho Diệu Pháp nhân quả bất
nhị. Bởi thế dùng hoa sen làm thí dụ, không có
ǵ thích đáng hơn!
Nhưng điểm
đặc sắc nhất của hoa sen đă
được ngài Thiên Thai dùng ba câu để diễn
tả tánh đặc biệt của nó như sau:
1) “Vị liên
cố hoa” (v́ hạt sen mà nở hoa):
Chữ
“liên” ở đây là “liên tử” (hạt sen), hạt sen
cũng chính là trái [của cây sen]. V́ sao Sen nở hoa? Chính là v́ hạt sen mà có hoa; hoa và hạt
đồng thời; ví như Phật v́ Thật mà bày
Quyền. Dưới cội Bồ
Đề, đức Phật ngộ chứng diệu pháp
Thật Tướng, không giấu riêng pháp ḿnh đă
chứng mà muốn đem giảng cho chúng sanh nghe. Diệu pháp quá mầu nhiệm, chúng sanh chẳng
thể tiếp nhận; bởi thế, Ngài chẳng dám
tuyên thị ngay. Kinh Pháp Hoa chép:
Ngă pháp thậm thâm diệu,
Vô tín, vân hà giải?
(Pháp
ta thật thâm diệu,
Không tin, sao hiểu được?)
Muốn
hiểu diệu pháp, trước hết phải có tín tâm. Không có tín tâm, làm sao
hiểu được? Chẳng hiểu vẫn
chưa sao, nhưng nếu v́ chẳng
hiểu mà đâm ra phỉ báng th́ chẳng những vô ích
đối với chúng sanh, lại c̣n bất lợi hết
sức lớn; bởi vậy, trong lúc ấy,
đối với những pháp sẽ nói hay chẳng nói, đức
Phật phải một phen cân nhắc. Sau khi suy xét như
thế, biết pháp chưa được nói ấy sẽ
vô ích đối với chúng sanh, do không có biện pháp ǵ, đành
miễn cưỡng vận dụng phương tiện
thiện xảo, trước hết
tuyên nói những pháp quyền nghi để chúng sanh có
thể tiếp nhận được. Chẳng
hạn như pháp Nhân Thiên thừa, pháp của thánh giả
Nhị Thừa, đều là những pháp mà đức
Phật v́ chúng sanh phương tiện nói. V́ sao Phật nói Quyền? Chính
là v́ Thật mà nói Quyền. Trong thời
gian ấy, tuy nói các thứ phương tiện, nhưng
mục đích cuối cùng vẫn là v́ liễu giải pháp
chân thật. Như kinh Pháp Hoa nói:
Tuy thuyết chủng chủng đạo,
Kỳ thật vị Phật thừa.
(Tuy
nói các thứ đạo,
Nhưng thật v́ Phật thừa).
Chính là
thuyết minh hay nhất về đạo lư “v́ Thật
khai Quyền”.
2) “Hoa khai liên
hiện” (hoa nở hạt hiện):
Hạt sen đến
lúc nào mới thấy xuất hiện rơ ràng? Ngay
trong lúc hoa vừa nở, hạt sen đă hiện rơ trên
gương sen, trọn chẳng đợi đến lúc
hoa nở rụng hết cánh rồi, hạt sen mới
xuất hiện. Đây ví như đức Phật
khai Quyền hiển Thật, Như Lai dùng các phương
tiện quyền xảo để thuyết pháp cho chúng
sanh, từ từ điều phục căn tánh chúng sanh cho
thuần thục, đến khi nào cơ duyên chín muồi,
xem thấy chúng sanh có thể tiếp nhận
được diệu pháp, trong hội Pháp Hoa, đức
Phật bèn khai Quyền hiển Thật, bảo đại
chúng trong pháp hội: Hết thảy các pháp đă nói trong quá
khứ đều là phương tiện, đều là
những con đường phụ trợ của Nhất
Thừa. Phật pháp thật sự rốt ráo
chỉ có một Phật thừa, không có hai thừa, ba
thừa. Bởi thế kinh Pháp Hoa dạy:
Duy hữu Nhất Thừa
pháp,
Vô nhị, diệc vô
tam
...Nhược hữu
văn pháp giả,
Vô nhất
bất thành Phật.
(Chỉ
có pháp Nhất Thừa,
Không hai, cũng không ba.
…Nếu
có người nghe pháp,
Không ai chẳng thành Phật).
Muốn
triệt để phơi bày chỉ thú diệu pháp
Nhất Thừa rốt ráo th́ phải khai trừ hết
thảy những phương tiện thiện xảo
đă nói trong quá khứ, đó là “khai
Quyền hiển Thật”. Chư Phật do chứng diệu
pháp này mà thành Phật, chúng sanh v́ mê diệu pháp này nên là chúng
sanh. Chúng sanh và Phật vốn cùng sẵn đủ
diệu pháp này, đương nhiên chúng sanh có thể thành
Phật. Kinh Pháp Hoa phơi bày rơ rệt chân lư này, bởi
thế gọi là Diệu Pháp.
3) “Hoa lạc liên
thành” (hoa tàn hạt chín):
Đến khi nào hoa
chánh thức tàn th́ hạt sen đă hoàn toàn trở thành ăn được. Điều
này ví như đức Phật phế Quyền lập
Thật. Quyền là phương tiện chẳng thật,
Thật là chân thật rốt ráo. Thật
là chân thật rốt ráo, đương nhiên phải nên
lập, Quyền là phương tiện chẳng thật,
cố nhiên nên phế trừ. Đó là “phế Quyền lập Thật”.
Thật ra, Phật ẩn sẵn Thật
nơi Quyền, Quyền chính là Thật, rời Quyền há
nào c̣n có Thật? Đương nhiên
Quyền chính là Thật, đủ thấy Thật
chẳng ngoài Quyền; bởi thế, hết thảy chúng
sanh đều được thành Phật.
Diệu Pháp là pháp, Liên
Hoa là thí dụ, hợp Diệu Pháp và Liên Hoa lại
để nói th́ chính là dùng Pháp và Dụ để
đặt tên kinh. Kinh là dịch ư chữ Ấn Độ
“Tu-đa-la”, chữ này thường giải thích, nên
chẳng cần phải giảng lại nữa.
Năm chữ Diệu
Pháp Liên Hoa Kinh là tên chung của bản
kinh này, tám chữ Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm
là tên riêng của phẩm này.
9. Giới thiệu
giản lược tiểu sử dịch giả
Tựa đề
kinh và tên phẩm đều đă giải thích sơ lược, nay sẽ tiếp tục
giới thiệu đại lược về tiểu
sử của dịch giả như sau:
Người
dịch kinh này là pháp sư Cưu Ma La Thập (Kumārajīva);
trong lịch sử dịch kinh Trung Quốc, Ngài là vị dịch
kinh xuất sắc nhất.
Ngài La Thập là người xứ Quy Tư (Kucha, Kutsi), cha
tên Cưu Ma La Viêm (Kumārāyana), vốn là người Trung Ấn
Độ, nhân sang chơi xứ Quy Tư, quốc
vương ngưỡng mộ ông đạo cao học
rộng nên đặc biệt đem em gái ḿnh gả cho, sau
này sanh ra Pháp Sư Cưu Ma La Thập. Pháp Sư khi c̣n
thơ, không những thông minh hơn hẳn mọi
đứa trẻ b́nh thường khác, phong độ
của Ngài đúng là bậc thiếu niên lăo thành nên có tên là
Đồng Thọ (đứa trẻ già dặn, chững
chạc).
Năm
ngài La Thập lên bảy tuổi, v́ mẫu thân xuất gia,
Ngài cũng phát tâm xuất gia. Do mẹ Ngài là em của quốc vương, sau khi
xuất gia được rất nhiều người cúng
dường, cảm thấy quá phiền phức, trở
ngại tu tập đạo nghiệp, bà bèn mang ngài La
Thập qua nước Kế Tân (Kophen) cầu pháp. Ở
Kế Tân, có một ngày, bà mẹ đến ngôi chùa nọ
lễ Phật, ngài La Thập cũng đi theo.
Thấy trên đại điện có một cái bát sắt,
Sư đùa giỡn,
đội bát sắt lên đầu, chẳng
nghĩ nó nặng. Chập sau, mới nghĩ: “Bát sắt to
như thế này, ḿnh bé như thế này, làm sao giữ
vững trên đảnh được?” Nhân
v́ khởi vọng tưởng ấy, ngay lập tức
cảm thấy áp lực nặng nề. Do vậy,
Ngài ngộ lẽ “hết thảy tùy tâm chuyển, chẳng
có tâm phân biệt, chẳng có quan niệm nặng hay
nhẹ. Hễ có tâm phân biệt th́ quan niệm nặng hay
nhẹ cũng từ đó mà sanh”.
Sống ở Kế
Tân hai ba năm, bà mẹ đem Ngài trở về bổn
quốc, đi qua một ngọn núi cao, trên núi có một La
Hán thánh giả thấy La Thập là pháp khí, bèn bảo bà
mẹ: “Bà phải khéo ǵn giữ chú sa-di nhỏ này,
đến năm ba mươi lăm tuổi, nếu nó
chẳng phá giới cấm của Như Lai, sẽ có
thể độ vô lượng vô biên chúng sanh”.
Kế Tân
là đại bản doanh của Tiểu Thừa Phật
giáo, pháp ngài La Thập đă học ở Kế Tân
đương nhiên là Tiểu Thừa. Sau đấy, Ngài
đến nước Sa Lặc, vương tử con vua
tên là Sa Xa xuất gia học tập Phật pháp, chuyên nghiên
cứu Đại Thừa Phật pháp. Một
ngày nọ, Sư đọc kinh Bát Nhă trong chùa, niệm
đúng vào đoạn “không
bất khả đắc”. Ngài La
Thập nghe được, cảm thấy rất lạ,
ḿnh học ở nước Kế Tân “năm Uẩn là có,
mười hai Xứ là có, mười tám Giới là có.
Sao bây giờ vị pháp sư này lại niệm Ngũ Uẩn
là Không, mười hai Xứ là Không, mười tám Giới
là Không… hết thảy đều không, đạo lư ǵ
thế?” Bởi thế bèn đến hỏi
Sư v́ sao nói “không bất khả đắc”? Nhân đó, đôi bên tranh căi về Đại,
Tiểu Thừa. Kết quả, ngài La Thập
thất bại, bèn theo ngài Sa Xa học
tập Đại Thừa Tánh Không của Bát Nhă. Chẳng lâu sau, chẳng những Ngài đạt
tâm đắc nơi Đại Thừa Tánh Không mà c̣n
trở thành bậc học giả hoằng dương
Đại Thừa tánh Không mạnh mẽ nhất.
Không những mọi người được ngài La
Thập cảm hóa trở thành hành giả của
Đại Thừa tánh Không, ngay đến cả nghiệp
sư của ngài La Thập cũng được Ngài
chuyển hóa bèn tín phụng Đại Thừa.
Thân mẫu ngài La
Thập sau đấy lại từ Quy Tư qua Ấn
Độ, lúc sắp lên đường bảo ngài La
Thập: “Nay mẹ xa con, có mấy câu để lại cho
con. Nếu Đại Thừa Phật pháp
truyền đến Chấn Đán (Trung Hoa) sẽ có ích cho
chúng sanh tại Chấn Đán, nhưng muốn truyền
được qua đó chỉ nhờ vào sức con. Nhưng làm lợi cho họ, lại đại
bất lợi cho con. Nếu chỉ v́
con, mẹ chẳng tán thành con đi qua đó; nhưng v́ hóa
đạo (giáo hóa, dạy dỗ) nhân quần, mẹ
lại chẳng thể ngăn con đi, bởi vậy
chẳng biết như thế nào mới nên?”
Ngài La Thập nghe
mẹ nói, chẳng do dự chút nào, đáp ngay: “Đại
Sĩ xả kỷ vị nhân (bỏ ḿnh v́ người),
chỉ cần chúng sanh được lợi ích, tự
ḿnh nào sợ cái khổ vạc sôi, ḷ than, thậm chí hy sinh
tánh mạng chính ḿnh cũng chẳng tiếc!”
Mẹ ngài La Thập
nghe như vậy, liền an tâm rời khỏi ngài La
Thập. Tinh thần xả kỷ của ngài La Thập có
thể nói đă biểu lộ không sót qua mấy câu nói trên.
Hành giả Đại Thừa Phật pháp phải nên có tinh
thần đó!
Vào năm
Hoằng Thỉ thứ ba (401) trào Diêu Tần, ngài La
Thập đến Trung Quốc. Diêu Tần là một trong mười sáu
nước thời Ngũ Hồ Loạn Hoa, gọi là Diêu
Tần để chỉ rơ chẳng phải là nước
Tần của Tần Thủy Hoàng, cũng như chẳng
phải là nước Tiền Tần của Phù Kiên, mà là
nước Hậu Tần của Diêu Hưng. La Thập
đến Trung Quốc vào triều đại này.
Đương thời, vua Phù Kiên nhà Tiền Tần nghe
danh ngài La Thập, ngưỡng mộ phi thường,
đặc phái đại tướng quân Lữ Quang qua
tận Quy Tư nghênh tiếp Ngài nhập Hoa. Lữ Quang
thỉnh được ngài La Thập về đến
Lương Châu, chợt nghe Phù Kiên tử trận, Diêu Trành
nhà Hậu Tần tiếm hiệu tại Quan Trung. Lữ
Quang bèn tuyên cáo độc lập tại Lương Châu,
đặt quốc hiệu là Lương. Chỉ v́ ngài La
Thập túc trí đa mưu, Lữ Quang sợ ngài La Thập
bị Diêu Trành lợi dụng nên Lữ Quang bèn cung
dưỡng Ngài ở lại Lương Châu, chẳng cho
Ngài sang Quan Trung. Về sau, Diêu Hưng nối ngôi [Diêu Trành],
do thâm tín Phật pháp, ngưỡng mộ tài đức,
sở học của ngài La Thập, phái binh Tây chinh Lữ
Long (đời sau của Lữ Quang), cưỡng bách ngài
La Thập về Quan Trung, thờ làm quốc sư, cung
dưỡng trong vườn Tiêu Dao để Ngài chuyên tâm
nhất ư phiên dịch kinh điển. Tổng
cộng, Ngài La Thập dịch được ba bốn
trăm quyển kinh.
Những
bản dịch kinh của ngài La Thập có đặc
điểm lớn nhất là văn phong bóng bẩy, lưu
loát, ư nghĩa hoàn thiện.
Chẳng hạn như kinh Pháp Hoa, kinh Di Đà, kinh Duy Ma
v.v... văn từ đều hay
đẹp, được mọi người thích
đọc tụng. Chữ “chiếu” (詔) trong câu “phụng chiếu dịch”
chỉ chiếu thư của hoàng
đế, ư nói bản dịch kinh này do ngài La Thập tuân
theo chiếu mạng của vua Diêu Hưng mà dịch.
Trong lịch sử
dịch kinh Trung Quốc, có bốn nhà đại phiên
dịch, nhưng hai ngài La Thập và Huyền Trang nổi
tiếng nhất trong giới phiên dịch. Phật
pháp Trung Quốc phong phú, hoàn bị, chẳng thể không quy
công về hai vị đại dịch sư. Phật
giáo Trung Quốc nếu trước chẳng có ngài La
Thập, sau chẳng có ngài Huyền Trang, chẳng thể
khởi sắc rạng rỡ như thế, tôi dám đoan
chắc như thế.
Ngài La Thập tin
những kinh Phật ḿnh dịch chẳng sai lầm, nên sau khi
tịch, hỏa thiêu, cuống lưỡi vẫn c̣n nguyên
chẳng hoại. Bởi thế, đối với
những kinh điển do ngài La Thập dịch, chúng ta
phải như pháp phụng hành, tin sâu chẳng nghi.
“Tam Tạng pháp
sư” có nghĩa là: Một
mặt, ngài La Thập dùng giáo pháp trong Tam Tạng để
hóa độ chúng sanh, là thầy người khác; một
mặt nghiên cứu sâu xa Tam Tạng, tự lấy
đại pháp làm thầy của ḿnh; bởi thế
xưng là Tam Tạng Pháp Sư.
QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT
PHỔ MÔN PHẨM GIẢNG KƯ
(phần 1 hết)
[1] Lư Câu Kiều Sự
biến c̣n gọi là Thất Thất Sự Biến (biến
cố ngày mồng Bảy tháng Bảy). Với
mục đích t́m cớ gây hấn để có cớ
tấn công, chiếm thêm lănh thổ, quân Nhật liên tục
tập trận trên đất Trung Hoa từ tháng Sáu năm
1937. Ngày Bảy tháng Bảy, quân Nhật tự ư kéo
đến gần chỗ đóng quân của quân đội
Quốc Dân Đảng tập trận, rồi tuyên bố
một binh sĩ Nhật bị bắt cóc, đ̣i lục
soát huyện thành Uyển B́nh (thuộc trấn Lư Câu
Kiều, ngoại ô Bắc Kinh). Quân Trung Hoa
cự tuyệt, bên quân Nhật bèn nổ súng tấn công,
chiếm thành. Chiến tranh Trung -
Nhật chính thức nổ ra.
[2] Tấn sơn thăng ṭa: chính thức
đảm nhận vai tṛ trụ tŕ, thường gọi
tắt là "tấn sơn".
[3] Sư thành tức là thành
phố Tân Gia Ba, v́
[4] Ngư Lam
Quán Âm: Quán Âm tay cầm giỏ cá, tạc
theo sự tích Quán Âm thu phục con cá chép thành tinh.
Tống Tử Quán Âm: Tượng Quán Âm bồng
một đứa bé, tạc theo bổn
nguyện cầu con trai được con trai, cầu con
gái được con gái. Những người hiếm
muộn thường cầu con nơi tượng này.
Bạch Y Quán Âm: Quán Âm mặc áo
trắng.
Bát Tư Quán Âm, Thập Lục Tư Quán Âm: Quán
Âm tám tay hay mười sáu tay.
Thiên Thủ Thiên Nhăn Quán Âm: Quán Âm ngàn
mắt ngàn tay, h́nh tượng Bồ Tát
biến hiện khi nói chú Đại Bi.
[5] Chữ Quang ở đây là ánh sáng
[6] Trong tiếng Hán cổ,
“tuần” có nghĩa là mười ngày.