QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT
PHỔ MÔN PHẨM GIẢNG KƯ
(phần 3)
觀世音菩薩普門品講記
演培老法師講述
釋寬嚴記
Chủ giảng: Lăo pháp sư
Thích Diễn Bồi
Pháp sư Thích Khoan Nghiêm ghi.
Chuyển
ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
(theo ấn bản
của Phật Đà Giáo Dục Cơ Kim Hội, tháng 04, năm
2004)
1.1.2.2.3. Năng ứng nhị cầu (đáp
ứng hai điều mong cầu)
1.1.2.2.3.1.
Chánh minh ứng cầu (nêu rơ những chuyện
ứng với ḷng mong cầu)
Chánh kinh:
Nhược hữu nữ nhân, thiết dục cầu
nam, lễ bái cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát,
tiện sanh phước đức trí huệ chi nam;
thiết dục cầu nữ, tiện sanh đoan chánh
hữu tướng chi nữ, túc thực đức
bổn, chúng nhân ái kính.
若有女人。設欲求男。禮拜供養觀世音菩薩。便生福德智慧之男。設欲求女。便生端正有相之女。宿植德本。眾人愛敬。
(Nếu có người nữ muốn
cầu con trai, lễ bái cúng dường Quán Thế Âm
Bồ Tát liền sanh con trai phước đức trí
huệ; nếu muốn cầu con gái, liền sanh con gái
đoan chánh hữu tướng, đời trước
đă gieo gốc lành, mọi người kính yêu).
Cứu bảy nạn, ĺa ba độc
đều đă giảng qua. Nay giảng về hai
điều cầu mong, tức là ứng với hai
điều mong cầu của chúng sanh, Bồ Tát bèn cho
được thỏa nguyện. Hai thứ cầu mong
vừa nói đó chính là cầu sanh con trai, con gái. “Cầu
con trai được con trai, cầu con gái được
con gái”, ứng với hai điều cầu mong. Chúng
sanh trong thế gian không ai chẳng mong sanh con đẻ cái
v́ muốn được truyền ḍng nối dơi. Nếu
cá nhân nào tuyệt tử tuyệt tôn, luận theo lập
trường thế tục th́ thật bi thảm; nhưng
nếu luận theo Phật pháp, con cái là nợ nần,
đặc biệt đối với việc tu hành,
bởi lẽ quyến luyến con cái rất khó thể
tấn tu.
Lại nói về con cái th́ chẳng ngoài
hai loại:
- Một là trả nợ, như con cháu
hiếu thuận phụ mẫu, yêu thương, bảo
vệ gia đ́nh.
- Một là loại đến đ̣i
nợ, như những hạng con cháu bất hiếu,
ngỗ nghịch, tiêu hao tài sản.
Bởi thế, chân chánh tu hành chẳng
nhất định phải có con cái, nhưng v́ đáp
ứng ḷng chúng sanh thế gian mong cầu, Phật, Bồ
Tát từ bi cũng có thể thỏa măn nguyện cầu
của chúng sanh. Bởi thế, trong những thân thị
hiện của Quán Âm có h́nh tượng Quán Âm Tống
Tử v.v...
“Nhược hữu nữ nhân, thiết
dục cầu nam” (Nếu có nữ nhân muốn cầu con trai): Trong mọi gia đ́nh thế tục,
cả cha lẫn mẹ đều mong có con như nhau, sao
ở đây lại chỉ nói là người nữ mong
cầu con trai, con gái? Phải biết là tâm cầu có con cái
của nữ nhân so ra chân thành, khẩn thiết hơn các
ông chồng rất nhiều; bởi thế kinh văn
đặc biệt nói nữ nhân cầu con cái. Tâm phụ
nữ cầu con cái khẩn thiết hơn chồng nói
chung là do ba nguyên nhân:
1) Cha mẹ chồng cưới dâu
về đại đa số là v́ rất mong
được ẵm cháu. Nếu như con dâu sau khi
cưới chậm có cháu, chẳng khỏi bố mẹ
chồng thất vọng, thậm chí sanh ḷng ghét bỏ con
dâu, bởi thế phụ nữ hy vọng sớm sanh con
đẻ cái để bố mẹ chồng
được vui ḷng.
2) Người đàn ông sở dĩ
lấy vợ v́ muốn gia tộc khói hương chẳng
dứt, bởi lẽ suốt ngày cay đắng, khổ sở,
bận rộn, không điều ǵ chẳng phải là v́ gia
đ́nh, con cái. Nếu như vợ chậm sanh nở,
chẳng những đánh mất ḷng yêu thương của
chồng, thậm chí chồng c̣n toan lấy vợ khác;
bởi thế, tâm cầu con đặc biệt khẩn
thiết.
3) Đàn bà sau khi kết hôn, nếu không
có con cái, chẳng những bố mẹ chồng ghét bỏ,
chồng cũng sanh chán, trong ṿng thân thích cũng đâm ra
chê cười cô vợ, bởi thế tâm nữ nhân
cầu con càng khẩn thiết, chân thành hơn so với nam
nhân.
Trong thế gian, nếu có nữ nhân nào
thật sự cầu có được một đứa
con trai, th́ có cách nào? Kinh dạy chúng ta: Chỉ cần “lễ
bái, cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát, liền sanh con
trai phước đức trí huệ”. “Lễ bái” là chí
thành, khẩn thiết, năm vóc gieo xuống đất;
giống như cách mọi người thường lễ
Phật hiện tại. Cúng dường là dùng các thứ
phẩm vật như hương, hoa v.v… cúng dường.
Luận về phía Bồ Tát, Ngài vốn chẳng cầu
mong ǵ nơi chúng ta, sao lại nói đến cúng
dường? Chỉ v́ để cầu phước hay
cầu con, chúng ta chẳng thể không biểu lộ
một chút tâm ư; chẳng qua, nhà Phật nói đến cúng
dường, không nhất định phải là tài vật.
Nếu như thân thể cung kính lễ bái, miệng xưng
niệm danh hiệu, trong tâm quán tưởng thánh dung; ba
nghiệp cúng dường như thế là cúng dường
tối thượng. Làm được như vậy,
nhất định Bồ Tát sẽ ban cho quư vị một
đứa con trai phước đức, trí huệ
vẹn toàn.
Sanh làm con người, phước
đức và trí huệ đều trọng yếu như
nhau. Có phước đức nhưng không trí huệ ví
như sanh làm đứa con khờ khạo trong gia đ́nh
giàu có. Tuy có mọi thứ tốt lành để
hưởng thọ, nhưng cái ǵ cũng không biết; có
phước không huệ như thế chỉ gọi là Si
Phước. Có trí huệ nhưng vô phước như
chàng Tú Tài trong gia đ́nh nghèo khó, tuy bụng đầy
ắp kinh luân văn chương nhưng cuộc sống
quẫn bách. Có trí huệ mà vô phước như thế
chỉ có thể gọi là Cuồng Huệ; cũng
chẳng phải là lư tưởng. Bởi thế, cầu
có được đứa con trai phải cầu
đứa phước huệ song toàn, chẳng cầu
đứa con si phước hay cuồng huệ.
Đấy chính là ư nghĩa thật sự của việc
cầu con được con. Bây giờ tôi kể một
câu chuyện thật như sau:
Trong quá khứ, tại Trung Quốc có
một vị cư sĩ học Phật tại gia, tên là
Đàm Hiến Khanh, nhà rất giàu có, có cả vợ
lẫn thiếp, nhưng đến năm mươi
tuổi vẫn chưa có con. Chỉ v́ tài sản rất
nhiều, tất nhiên mấy đứa cháu tranh nhau làm con thừa
tự, mong hưởng tài sản của ông ta nên không
ngừng tranh chấp với nhau. Đàm Hiến Khanh nghe
những chuyện ấy, cảm thấy buồn bực vô
cùng, thấy ḿnh c̣n sống đây mà chúng nó đă tranh
đoạt tài sản. Họ Đàm là người tín
phụng đức Quán Âm, nghĩ Quán Âm đại từ
đại bi, bèn phát tâm bỏ ra năm ngàn đồng làm
lễ Đại Bi Sám Đàn, chân thành lễ Đại Bi
Sám Pháp bốn mươi chín ngày. Chẳng lâu sau, người
thiếp hoài thai, đến kỳ sanh hạ một bé trai
trắng trẻo, mi thanh mục tú, thông mẫn, linh lợi.
Bà vợ thấy lễ niệm Quán Âm quả thật có
cảm ứng, cũng phát tâm bỏ ra một ngàn
đồng dựng Bạch Y Các để thờ Quán Âm
Đại Sĩ, chuyên dốc ḷng thành lễ bái cúng
dường, về sau cũng sanh được một
đứa con trai phước đức, trí huệ.
Từ đó, nhân đinh nhà họ Đàm rất
vượng, chứng tỏ lễ bái cúng dường Quán
Âm Bồ Tát có thể khiến cho chúng ta sanh hạ những
đứa con xinh đẹp, hiền lương; kính xin
quư vị hăy tin tưởng sâu đậm đừng
ngờ vực!
Chẳng riêng ǵ cầu con trai
được con trai, nếu có nữ nhân “thiết dục
cầu nữ, tiện sanh đoan chánh hữu tướng
chi nữ” (ví muốn
cầu con gái, liền sanh con gái đoan chánh hữu
tướng). Ư nói: Trong thế gian này, nếu có nữ
nhân nào cầu đảo Quán Thế Âm Bồ Tát, hy vọng
sanh được một mụn con gái, Bồ Tát cũng
cho được thỏa nguyện. Bốn chữ “đoan
chánh hữu tướng” ở đây vô cùng trọng
yếu. Bởi lẽ, làm thân con gái trong thế gian, so
với nam giới th́ vấn đề thân tướng
đoan chánh trang nghiêm càng được đặt
nặng hơn, tuyệt đối chẳng thể có
tướng ǵ khuyết hăm. Thế gian thường nói “ngũ
quan đoan chánh”, nhà Phật gọi là “sáu căn
đầy đủ”, đều hàm ư thân tướng
đoan nghiêm.
Người sống trong thế gian
bất luận nam hay nữ, chẳng ai mong tướng
mạo ḿnh xấu xí, khó coi cả; ai nấy đều mong
mỏi ḿnh sanh ra được tướng mạo
đoan chánh, dễ nh́n. Như vậy, “đoan chánh
hữu tướng” nghĩa là người con gái đó
phẩm hạnh đoan chánh, hành vi lại càng trang
trọng. Nếu tướng mạo đoan nghiêm nhưng
hành vi cẩu thả, chắc chắn chẳng phải là lư
tưởng rồi. Nếu như một người con
gái tướng mạo đoan trang, hành vi chẳng cẩu
thả, chẳng những ḷng cha mẹ vui thích,
người khác trông thấy cũng vui thích. Cứ theo
hiện thực thế gian mà nói, có thể thấy rơ là:
Nếu một đứa bé gái chừng hai ba tuổi,
nếu càng lớn càng dễ nh́n, ai cũng thích chơi
đùa với nó; c̣n như nó vừa xấu vừa bẩn,
chẳng có ai thích nó cả. Bởi thế, đoan chánh
hữu tướng là một điều kiện chẳng
thể thiếu đối với nữ nhân vậy.
Nhà Phật nói đoan chánh hữu tướng
là Quả, có Quả ắt phải có Nhân, chẳng thể
không Nhân mà có Quả được. V́ đâu người
con gái ấy được đoan chánh hữu
tướng? V́ cô ta “túc thực đức bổn”
(trồng gốc lành trong đời trước). Chữ “túc” (宿) chỉ đời sống quá khứ.
Trong đời quá khứ làm một con người tích
cực, đức hạnh cao siêu, phẩm cách thanh cao,
lại làm những chuyện công đức thiện căn
lợi ích nhân quần xă hội, nên mới cảm
được quả báo đoan chánh hữu tướng.
Có được quả báo như thế, đương
nhiên được “mọi người ái kính”.
Hai chữ “ái kính” cũng mang ư
nghĩa rất trọng yếu. Một phụ nữ
sống trong thế gian được mọi người
kính yêu, thật là tối lư tưởng, mà cũng là
một người “hiền huệ trang thục” (hiền
lương, thông minh, đoan trang, trinh thục). Nói thật
ra, một người con gái chỉ được
người ta yêu chứ không kính, tất nhiên rất
hạ tiện; trái lại, chỉ được
người ta kính chứ không yêu, tức là “kính nhi
viễn chi”, sẽ dần dần trở thành một
người cô độc, tự nhiên cũng chẳng
phải là lư tưởng ǵ. Lư tưởng nhất là
một mặt được người khác yêu mến,
lại c̣n được người ta tôn kính. Trong ḷng yêu
lại có mấy phần kính nể, sẽ chẳng bị
người khác tùy tiện coi thường, lại
chẳng khiến người khác dễ khởi vọng
niệm. Nếu một cá nhân được người
khác kính yêu, tất nhiên cũng chiếm được
hảo cảm của người khác; bởi thế
ở đây đặc biệt dùng hai chữ “ái kính”
để biểu thị người con gái tài đức
song toàn.
Cầu con trai được con trai
phước đức - trí huệ, cầu con gái
được con gái đoan chánh - hữu tướng,
phải biết đó là nói tương đối. Trên
thực tế, nam nhân chẳng những cần có
phước đức, trí huệ, mà cũng cần
phải đoan chánh hữu tướng. Không riêng ǵ nữ
nhân cầu tướng mạo mỹ măn, ngay cả nam nhân
cũng mong mỏi. Chẳng có nam tử nào trong thế gian
mong ḿnh xấu xí, thô lậu cả, bởi lẽ yêu cái
đẹp là thiên tánh của con người. Cũng
thế, nếu con gái đoan chánh hữu tướng,
nhưng không có phước đức, trí huệ th́
đời người cũng chẳng mỹ măn. Như
ngạn ngữ Trung Quốc thường nói: “Hồng
nhan đa bạc mệnh” (gái đẹp số phận
thường hẩm hiu), chính là nói về hạng
người đoan chánh hữu tướng nhưng không
phước đức, trí huệ; bởi vậy, đàn
bà cũng cần phải có phước đức, trí
huệ.
Bất quá, nếu phân biệt th́ nam nhân
đặt nặng phước huệ, nữ nhân coi
trọng tướng hảo. Chứ thật ra phải nói
là: Cầu con trai được con trai phước
đức, trí huệ, đoan chánh, hữu tướng;
cầu con gái liền sanh con gái đoan chánh, hữu
tướng, phước đức, trí huệ. Kinh
Diệu Huệ Đồng Nữ nói: “Thân tướng
đoan nghiêm” ngụ ư đoan chánh hữu tướng; “phú
quư tôn thân” ngụ ư phước đức, trí huệ.
Có thể nói: Làm thân người, phước đức và
tướng mạo đều trọng yếu như nhau.
Nhắc đến chuyện cầu
con trai, con gái, bây giờ tôi cũng kể một chuyện
thật để thuyết minh như sau:
Trong quá khứ, ở Trung Quốc có
một người tên là Hoa Đôn, kết hôn đă gần
hai mươi năm, người vợ từ đầu
đến cuối vẫn không sanh nở ǵ, vợ
chồng chẳng tránh khỏi đôi phần lo lắng.
Nhưng bọn họ đều tin Phật, nhất là
đối với Quán Âm Bồ Tát càng tin kính, ngưỡng
mộ cao độ. Bởi thế, họ khẩn
thiết cầu đảo Quán Âm Bồ Tát, lại kiền
thành cung kính lễ bái Quán Thế Âm Bồ Tát. Chính nhờ
họ khẩn thiết chí thành, quả nhiên được
Bồ Tát cảm ứng. Ước chừng một
tuần lễ sau, người vợ mộng thấy Quán
Âm Bồ Tát bảo:
- Ta thấy các ngươi kiền thành
cầu khẩn ta, chẳng nỡ để các ngươi
thất vọng. Bởi vậy, ta đặc biệt ban
cho các ngươi một trai, một gái, hy vọng các
ngươi an tâm, đừng lo đến chuyện này
nữa!
Sau khi người vợ nằm mộng
chẳng bao lâu, quả nhiên năm sau sanh một bé trai,
năm kế đó lại sanh một đứa con gái. Do điều
này, chứng tỏ chỉ cần thành tâm, thành ư cầu
nguyện cùng Quán Thế Âm Bồ Tát, Bồ Tát không
nguyện nào chẳng thỏa măn, khiến cho chúng sanh tâm
nguyện toại ư. Chúng ta phải tin tưởng sự
thật này, bởi lẽ đó là điều chính miệng
đức Phật đă nói trong pháp hội Pháp Hoa,
tuyệt đối chẳng dối người.
Cầu con trai được con trai,
cầu con gái được con gái giảng về mặt
sự thật, cố nhiên là như thế, nay cũng nên
luận theo mặt đạo lư. Phải biết rằng
nam được nói ở đây tượng trưng cho
Trí Huệ, nữ tượng trưng cho Thiền
Định hoặc Từ Bi. Tôi sẽ phân biệt
đại lược như sau:
Như người sống trong cơi
trời Dục Giới, do tâm tán loạn đặc
biệt nặng nề, chỉ có trí huệ b́nh phàm,
thiếu hẳn Thiền Định như pháp, bởi
thế trí huệ mà họ có được đó chỉ
là Cuồng Huệ; nếu nói là nam th́ đó là Cuồng Nam.
Đến cơi trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng
thuộc Vô Sắc Giới, chỉ có Định tâm vi
tế, nhưng do tâm lực bạc nhược thái quá, nên
chỉ có Định thiếu Huệ. Có Định không
Huệ chỉ có thể gọi là Khô Định; nếu gọi
là nữ th́ chỉ là Si Nữ. C̣n như cơi trời Tứ
Thiền thuộc Sắc Giới và ba tầng trời
trước của Vô Sắc Giới, tuy nói là có
Định có Huệ, Định Huệ đầy
đủ, nhưng Định Nữ ấy chẳng
thể sanh ra Vô Lậu Huệ Nam, chẳng thể giải
quyết các thứ phiền năo, nên Định Huệ
hữu lậu ấy chỉ có thể gọi là Si Nam
Thạch Nữ[1],
vẫn chẳng mỹ măn, chẳng phải là pháp môn nam
nữ mà hành giả Phật pháp đáng nên cầu mong
vậy.
C̣n như trí huệ của bậc thánh
giả Nhị Thừa xuất thế, nhân v́ có thể siêu
sanh thoát tử, nên gọi là Vô Lậu Định Huệ.
Nhưng Huệ Nam đó chỉ có thể đoạn
được Kiến Tư phiền năo, chẳng thể
đoạn Căn Bản Vô Minh, Định Nữ tuy sanh
Vô Lậu, nhưng chẳng thể nhập Trung Đạo.
Bởi thế chúng ta phải cầu Trung Đạo Trí
Huệ
Đạt đến địa vị
Phật là Phước lẫn Huệ cùng đủ nên
gọi là Lưỡng Túc Tôn. Thân sắc vàng và tướng
hảo quang minh không ǵ sánh bằng chính là phước
trọn đủ; tứ biện tài, tám âm thanh, xét căn
cơ [của chúng sanh] mà ban bố giáo pháp, chính là Huệ
đầy đủ. Bởi chúng ta không có phước
huệ Trung Đạo trang nghiêm nên phải làm chúng sanh
lưu nhập sanh tử. Ngạn ngữ có câu: “Nhân
yếu y trang, Phật yếu kim trang” (người
đẹp bởi áo, tượng Phật đẹp v́ thếp
vàng); trang nghiêm cực kỳ trọng yếu. Bởi
thế cần phải cầu Phước, cầu Huệ,
lại c̣n phải Phước Huệ Song Tu. Tự tánh là
cái được trang nghiêm (sở trang nghiêm), phước
huệ là chủ thể trang nghiêm [tự tánh] (năng trang
nghiêm), Năng - Sở bất nhị th́ gọi là “diệu
nam diệu nữ cụ túc trang nghiêm”. Điều này cho
thấy chuyện cầu con trai con gái được nói
trong phẩm này chẳng nên hiểu là chuyện cầu con
trai con gái thông tục của thế gian, mà phải hiểu
là cầu con trai trí huệ, cầu con gái Thiền
Định.
Lại c̣n có thể hiểu như
thế này: nam biểu thị Trí Huệ, nữ biểu
thị Từ Bi. Nh́n trên phương diện tánh khí nam
nữ b́nh thường, nữ giới tánh t́nh ôn ḥa, tâm
cảm thông rất lớn, biểu hiện lớn nhất
là t́nh mẹ càng vượt trội nam giới, v́ thế
phụ nữ tượng trưng cho Từ Bi. Như
vậy, cầu con trai là cầu Trí Huệ, cầu con gái là
học Từ Bi. Chỉ có Bi - Trí song vận như thế
mới ḥng đạt được Bi - Trí trọn
đủ. Có đầy đủ cả Bi lẫn Trí
mới tương ứng với Bi - Trí của Quán Âm
Bồ Tát, đương nhiên mới được oai
lực của Bồ Tát gia hộ, mới khiến cho
Từ Bi - Trí Huệ của ḿnh ngày càng tăng
trưởng, Bi - Trí đă tốt, Định - Huệ càng
hay, đấy đều là những điều hành
giả nhà Phật đáng nên cầu. Bởi thế,
người tu hành có cầu con trai, con gái như thế th́
chẳng qua là cầu con trai Trí Huệ và con gái Từ Bi - Thiền
Định đó thôi.
1.1.2.2.3.2. Tổng kết thần lực
Chánh kinh:
Vô Tận Ư! Quán Thế Âm Bồ Tát
hữu như thị lực.
無盡意。觀世音菩薩有如是力。
(Này Vô Tận Ư! Quán Thế Âm Bồ Tát có
sức như thế).
Nói đến đây, đức Phật lại
gọi Vô Tận ư bảo: “Quán Thế Âm Bồ Tát có
sức oai đức thần thông vĩ đại như
thế khiến cho cầu con trai được con trai,
cầu con gái được con gái, chẳng để chúng
sanh thất vọng mảy may nào!”
1.1.2.2.4. Năng đắc đa
phước (được nhiều phước)
1.1.2.2.4.1. Khuyến tŕ giảo
lượng (so sánh [công đức], khuyên nên tŕ
niệm)
Chánh kinh:
Nhược hữu chúng sanh cung kính
lễ bái Quán Thế Âm Bồ Tát, phước bất
đường quyên. Thị cố chúng sanh giai ưng
thọ tŕ Quán Thế Âm Bồ Tát danh hiệu.
若有眾生恭敬禮拜觀世音菩薩。福不唐捐。是故眾生。皆應受持觀世音菩薩名號。
(Nếu có chúng sanh cung kính, lễ bái Quán
Thế Âm Bồ Tát, phước chẳng luống uổng.
V́ thế chúng sanh đều nên thọ tŕ danh hiệu Quán
Thế Âm Bồ Tát).
Tiếp theo là phần kinh văn nói [tŕ
danh hiệu Quán Âm] sẽ được nhiều
phước. Trước hết là khuyên tŕ danh hiệu
Bồ Tát và so sánh công đức nhiều ít. Phật nói “nếu
có chúng sanh” phát tâm “cung kính lễ bái Quán Thế Âm
Bồ Tát”, kẻ ấy sẽ được
phước đức, quyết định chẳng
bị luống uổng. Đường (唐) là uổng phí, Quyên (捐) là vứt
bỏ. “Bất đường quyên” nghĩa là
chẳng nhọc nhằn uổng công vô ích. V́ thế, chúng
ta cung kính lễ bái Quán Thế Âm Bồ Tát, đừng
nghĩ là chẳng ích ǵ cho ḿnh cả, thật ra, cung kính có
phước đức của cung kính, lễ bái có
phước đức của lễ bái, tuyệt
đối chẳng uổng phí, lăng phí thời gian.
Có người v́ hằng ngày lễ bái
Quán Thế Âm, xưng niệm Quán Thế Âm, nhưng
trọn chẳng được Bồ Tát cảm ứng
ǵ, bèn nghĩ lễ niệm Quán Âm vô ích, đă chẳng phát
sanh trí huệ, lại c̣n chẳng tăng trưởng
từ bi, càng chẳng đắc Thiền Định, nào
biết nghĩ như vậy là lầm. Bởi thế,
ở đây đức Phật đặc biệt nhắc
nhở chúng ta: Nếu quả thật chân chánh xưng
niệm, cung kính lễ bái Quán Thế Âm Bồ Tát th́
tuyệt đối chẳng luống uổng. Đă như
thế th́ “thị cố chúng sanh, giai ưng thọ tŕ Quán
Thế Âm Bồ Tát danh hiệu” (v́ vậy, chúng sanh đều nên thọ tŕ danh
hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát). Thọ (受) là lănh thọ, chủ yếu là do Tín lực duy tŕ;
Tŕ (持) là Ức Tŕ (nhớ, giữ), chủ
yếu là nhờ Niệm lực ghi nhớ. Lănh thọ
nơi tâm, chấp tŕ chẳng quên, th́ gọi là Thọ Tŕ.
Bởi thế thọ tŕ danh hiệu Bồ Tát là
điều mỗi một cá nhân phải tuân thủ,
nhớ kỹ.
Bây giờ tôi nêu chuyện của một
vị đại đức được cảm ứng
trong Cao Tăng Truyện để chứng minh:
Vào đời Tấn ở Trung Quốc,
tại Trung Sơn, có vị tăng tên Bạch Pháp Kiều.
Lúc niên thiếu, Sư rất thích tụng kinh, nhưng không
rơ do nguyên nhân ǵ, thanh âm cứ bị vướng tắc
không thông suốt. Pháp Kiều biết ḿnh nghiệp
chướng sâu nặng, bèn kiên định thực hành
tuyệt thực, lại c̣n khẩn thiết chí thành sám
hối. Trong bảy ngày bảy đêm kiền thành
hướng về Quán Âm Bồ Tát lễ bái cầu
nguyện, mong Bồ Tát gia bị khiến cho tiếng
tụng kinh của ḿnh thông suốt không trở ngại.
Những pháp sư khác thấy Ngài chẳng ăn, chẳng
ngủ, khổ nhọc tu hành, có hại cho thân thể nên
khuyên Ngài bất tất phải hành xác như thế,
nhưng Ngài vẫn cứ hành như vậy, chẳng
đổi thay ư niệm ban đầu chút nào.
Đúng là người có tâm thành,
Phật, Bồ Tát liền có cảm ứng. Bởi
thế, đến ngày thứ bảy, cảm thấy trong
họng tự nhiên nhẹ nhàng, biết là Bồ Tát cảm
ứng, liền dùng nước súc miệng, đến khi
tụng kinh lần nữa, tiếng vang hơn ba dặm.
Người xa gần nghe thấy đều cảm
thấy rất lạ lùng, người lẫn vật
đều đến nghe Ngài tụng kinh. Cho đến
năm chín mươi tuổi, thanh âm chẳng biến
cải; cho thấy cung kính, lễ bái Quán Thế Âm Bồ
Tát có cảm ứng, chẳng uổng phí công lao vậy.
Chánh kinh:
Vô Tận Ư! Nhược hữu nhân
thọ tŕ lục thập nhị ức hằng hà sa Bồ
Tát danh tự, phục tận h́nh cúng dường ẩm
thực, y phục, ngọa cụ, y dược. Ư
nhữ ư vân hà? Thị thiện nam tử, thiện nữ
nhân công đức đa phủ?
Vô Tận Ư ngôn:
- Thậm đa! Thế Tôn!
Phật ngôn:
- Nhược phục hữu nhân thọ
tŕ Quán Thế Âm Bồ Tát danh hiệu, năi chí nhất
thời lễ bái cúng dường, thị nhị nhân
phước, chánh đẳng vô dị. Ư bách thiên
vạn ức kiếp bất khả cùng tận.
無盡意。若有人受持六十二億恒河沙菩薩名字。復盡形供養飲食、衣服、臥具、醫藥。於汝意云何。是善男子善女人。功德多不。無盡意言。甚多﹐世尊。佛言。若復有人。受持觀世音菩薩名號。乃至一時禮拜供養。是二人福。正等無異。於百千萬億劫。不可窮盡。
(Này Vô Tận Ư! Nếu có người
thọ tŕ danh hiệu của sáu mươi hai ức hằng
hà sa Bồ Tát, lại c̣n suốt đời cúng
dường thức ăn, y phục, đồ nằm,
thuốc men, ư ông nghĩ thế nào?
Vô Tận Ư đáp:
- Bạch Thế Tôn! Rất nhiều!
Phật dạy:
- Nếu lại có người thọ
tŕ danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, thậm chí là lễ bái cúng dường trong chốc
lát, th́ phước của hai người này giống
hệt như nhau, trong trăm ngàn vạn ức kiếp
chẳng thể cùng tận).
Phần trên là khuyên nên tŕ niệm, c̣n
phần này là so lường công đức. Chúng ta
thường ngày tŕ niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, rốt
cuộc có công đức như thế nào? Đạt
được công đức lớn hay nhỏ, chẳng
có biện pháp ǵ biết được, chỉ từ
sự so sánh ở đây mới ḥng biết
được. Tức là nếu so sánh công đức do
thọ tŕ danh hiệu các Bồ Tát khác và công đức
thọ tŕ danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, ngay lập
tức sẽ biết to nhỏ như thế nào.
Phật bảo Vô Tận Ư Bồ Tát: “Nếu
quả thật có người nào đó phát tâm thọ tŕ
danh hiệu của sáu mươi hai ức hằng hà sa
Bồ Tát”: Hằng hà (
Không chỉ thọ tŕ xưng niệm
danh hiệu đâu nhé, “phục tận h́nh cúng
dường ẩm thực, y phục, ngọa cụ, y dược”
(lại c̣n suốt
đời cúng dường thức ăn, y phục,
ngọa cụ, thuốc men), những thứ này
gọi là “tứ sự cúng
dường”. Lúc Phật tại thế, tín đồ
cúng dường chẳng ngoài Tứ Sự. Có bệnh bèn
cúng dường thuốc, b́nh thường th́ cúng
dường thức ăn, y phục, ngọa cụ.
Bởi lẽ bốn thứ này đều là những
thứ cần thiết để nhân loại sanh tồn;
Phật, Bồ Tát và thánh giả La Hán cũng chẳng
ngoại lệ. Nhưng cúng dường như vậy
phải đâu chỉ một hai ngày, nào phải một hai
năm, mà là suốt đời cứ cúng dường
như thế. Nếu như năm hai mươi tuổi
phát tâm cúng dường, sống đến tám mươi
tuổi mới chết th́ cúng dường suốt sáu
mươi năm. Nói chung, trọn khoảng thời gian
ḿnh sống được đều cúng dường
tứ sự như thế.
- Thọ tŕ danh hiệu nhiều như
thế là thọ tŕ rất nhiều, là đại công
đức thứ nhất.
- Sáu mươi hai ức Hằng hà sa
Bồ Tát là phước điền nhiều, là đại
công đức thứ hai.
- Tứ sự cúng dường là cúng
dường nhiều, là đại công đức thứ
ba.
- Trọn tuổi thọ phát tâm cúng
dường là thời gian nhiều, là đại công
đức thứ tư.
Do đó, Phật lại hỏi Vô
Tận Ư Bồ Tát: “Ư nhữ ư vân hà? Thị thiện
nam tử, thiện nữ nhân công đức đa phủ?”
(Ư ông nghĩ như
thế nào? Thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy
công đức có nhiều chăng?) Nói đơn
giản, nghĩa là người ấy có được
nhiều công đức hay chăng? Vô Tận Ư Bồ Tát
thành thật đáp: “Thậm đa! Thế Tôn!” (Thưa Thế Tôn rất
nhiều). Người ấy đạt
được rất nhiều công đức, chẳng
riêng ǵ Bồ Tát Vô Tận Ư đáp như thế, nếu
hỏi bất cứ ai cũng sẽ đều dị
khẩu đồng thanh đáp: “Bạch Thế Tôn!
Thiện nam tử, thiện nữ nhân như thế
đạt được công đức thật là rất
nhiều, chúng con chẳng thể nói được
nổi”.
Sau khi đức Phật nghe Vô Tận Ư
Bồ Tát đáp xong, Ngài lại bảo tiếp cùng Vô
Tận Ư Bồ Tát rằng: Kẻ đó công đức
cố nhiên rất là nhiều, “nhược phục hữu
nhân thọ tŕ Quán Thế Âm Bồ Tát danh hiệu, năi chí nhất
thời lễ bái cúng dường” (nhưng nếu lại có người thọ tŕ danh
hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, thậm chí lễ bái, cúng
dường một lúc) th́ so ra người ấy
đạt được công đức như thế nào?
Nếu đối chiếu với người ở trên
th́:
- Chỉ tŕ một ḿnh danh hiệu Quán
Thế Âm Bồ Tát, chẳng tŕ danh hiệu các Bồ Tát
nhiều như cát trong sáu mươi hai ức sông Hằng,
rơ ràng là tŕ danh ít.
- Niệm một thánh hiệu Quán Thế
Âm Bồ Tát, chẳng niệm Hằng hà sa số danh
hiệu Bồ Tát, tức là phước điền ít.
- Xét về thời gian th́ chỉ là
lễ bái, cúng dường một lát, chẳng hề dài lâu
đến hết tuổi thọ, so ra thời gian cũng
ít.
- Đă là lễ bái, cúng dường trong
một lúc, th́ tứ sự dùng để cúng dường đương
nhiên cũng chẳng thể rất nhiều. Đó là cúng
dường ít.
So sánh một nhiều một ít như
thế, nếu dùng con mắt thế tục để
luận, ắt sẽ cho công đức của
người trước lớn, công đức của
người sau ít, thậm chí chẳng thể đem so sánh
với nhau được. Nhưng Phật chẳng hề
có cái nh́n như thế, Ngài dạy chúng ta: “Phước
đức hai người đạt được chính
là b́nh đẳng chẳng có sai khác ǵ, phước
đức của người này lẫn kẻ kia
đều là trong trăm ngàn vạn ức kiếp
chẳng thể cùng tận”.
Ở đây ắt sẽ có người
vặn hỏi: V́ sao lại có hiện tượng như
vậy?
Dùng thí dụ để nói: Như
một viên Ma-ni bảo châu giá trị vượt hẳn
ngàn vạn vạn lần các thứ báu khác trong biển
cả. Niệm Quán Thế Âm Bồ Tát như Ma Ni bảo
châu, niệm sáu mươi hai ức Hằng hà sa Bồ Tát
như các chất báu khác trong biển, bởi thế
phước đức có lớn - nhỏ sai khác.
Lại như một lượng vàng
ṛng giá trị hơn ngàn cân lúa; niệm Quán Thế Âm Bồ
Tát giống như vàng ṛng, niệm sáu mươi hai ức
Hằng hà sa Bồ Tát giống như lúa, bởi thế
phước đức có lớn nhỏ sai khác.
Lại như kinh nói: “Bố thí ngàn
vạn người ác, chẳng bằng bố thí một
người thiện. Cúng dường ngàn vị phàm phu
Tăng, không bằng cúng dường một La Hán. Cúng
dường ngàn vị La Hán không bằng cúng dường
một vị Bồ Tát”. V́ sao vậy? Ác nhân chẳng
bằng thiện nhân, phàm phu Tăng vẫn chưa liễu
thoát sanh tử, La Hán lại chỉ cầu tự
độ chứ chẳng độ sanh; bởi thế
phước đức có lớn - nhỏ sai khác.
Người đời đa phần
đều có quan niệm như thế này: Cứ nghĩ
càng niệm nhiều càng tốt, đâu biết ư niệm
quá nhiều th́ vọng tưởng cũng nhiều;
luận trên phương diện công phu vẫn chưa
phải là lư tưởng. Bất luận làm như thế
nào, đều phải chuyên nhất, nhất quyết
chẳng được tham nhiều. Nhưng chúng ta
thường nghe thấy hoặc trông thấy rất
nhiều người học Phật có lúc nghĩ muốn
niệm bộ kinh này, có lúc toan niệm bộ kinh khác, có lúc
vui thích bái sám, có lúc lại nẩy sanh hứng thú niệm
chú, thật là lung tung chẳng biết đường
đâu mà lần. Làm như vậy chẳng phải là không
có công đức, nhưng có lúc đến nỗi loạn
tâm bất định, lại hóa thành chướng ngại
cho việc tu hành.
Bởi thế, chẳng bằng chí thành
khẩn thiết chuyên nhất bất nhị, hoặc
tụng niệm phẩm Phổ Môn, hoặc tŕ thánh hiệu
Quán Âm, so ra được ích lợi nhiều hơn.
Huống nữa, nhất tâm vô nhị dụng, ngay khi đó
khắp cả pháp giới danh hiệu của sáu
mươi hai ức Hằng hà sa Bồ Tát không danh hiệu
nào chẳng bao gồm trong đó. Bởi thế, chuyên
niệm là thỏa đáng tốt lành nhất.
Phải biết rằng: Nói nhiều hay
ít đó vốn là nói một cách tương đối,
cũng chỉ là so sánh, chứ trong Thật Tướng các
pháp, hết thảy đều là tuyệt đối, hoàn
toàn b́nh đẳng, về căn bản chẳng có sai
biệt nhiều ít ǵ. Bởi thế, trong kinh Hoa Nghiêm
thường hay nói đến lư viên dung “một tức
là nhiều, nhiều tức là một”. Do vậy, chúng ta
cũng có thể nói niệm một vị Quán Thế Âm
Bồ Tát cũng chính là niệm sáu mươi hai ức
hằng hà sa Bồ Tát, mà sáu mươi hai ức hằng hà
sa Bồ Tát đó cũng có thể nói chỉ là hóa thân
của một vị Quán Thế Âm Bồ Tát. Đă là
như vậy th́ lễ bái, cúng dường Quán Thế Âm
Bồ Tát và lễ bái cúng dường sáu mươi hai
ức hằng hà sa Bồ Tát công đức hoàn toàn bằng
nhau, đương nhiên chẳng có điểm nào đáng
làm chúng ta kinh dị cả, cũng như chẳng có
điểm nào đáng làm chúng ta hoài nghi cả!
Bởi thế, tôi mong mỗi một
Phật tử nếu có thể phát tâm thọ tŕ danh
hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát th́ phải chuyên tâm nhất
ư mà tŕ, tuyệt đối chớ có tam tâm lưỡng ư.
Nếu tam tâm lưỡng ư, vị này cũng niệm,
vị kia cũng niệm, kết quả, chẳng những
không được Quán Âm Bồ Tát cứu tế, mà cũng
chẳng được Bồ Tát nào cứu tế cả,
thật có thể nói là mất trắng đôi đàng!
1.1.2.2.4.2. Kết hiển đa
phước (kết lại phần kinh văn nói
về nhiều phước)
Chánh kinh:
Vô Tận Ư! Thọ tŕ Quán Thế Âm
Bồ Tát danh hiệu, đắc như thị vô
lượng vô biên phước đức chi lợi.
無盡意。受持觀世音菩薩名號。得如是無量無邊福德之利。
(Này Vô Tận Ư! Thọ tŕ danh hiệu
Quán Thế Âm Bồ Tát được lợi vô
lượng vô biên phước đức như thế
đó).
Đây là câu tổng kết phần
ư nghĩa thọ tŕ danh hiệu Quán Âm Bồ Tát
được phước đức. Phật bảo cùng
Vô Tận Ư Bồ Tát: Bất cứ chúng sanh nào trong thế
gian, nếu có thể thọ tŕ danh hiệu Quán Thế Âm
Bồ Tát, người ấy tất nhiên đạt
được vô lượng vô biên lợi ích về
mặt phước đức như trên vừa nói,
tuyệt đối chẳng phải là luống uổng.
Từ phần mở đầu phẩm
này đến đây là phần Vấn Đáp Nguyên Nhân Có
Được Danh Hiệu, đă giảng xong. Từ
cuộc vấn đáp này, chúng ta chẳng những hiểu
nguyên do v́ sao Quán Thế Âm có danh hiệu là Quán Thế Âm, mà
c̣n biết những sự việc cứu khổ cứu
nạn và thỏa măn nguyện cầu của Quán Âm Bồ
Tát đối với chúng sanh, bởi thế, càng phải
nên tín phụng Bồ Tát.
1.2. Vấn đáp du hóa phương
tiện (hỏi đáp về phương tiện
du hóa)
1.2.1. Đương cơ tấn
vấn du hóa (Đương cơ thỉnh hỏi
về sự du hóa)
Chánh kinh:
Vô Tận Ư Bồ Tát bạch Phật
ngôn:
- Thế Tôn! Quán Thế Âm Bồ Tát vân hà
du thử Sa Bà thế giới? Vân hà nhi vị chúng sanh
thuyết pháp? Phương tiện chi lực kỳ sự
vân hà?
無盡意菩薩白佛言。世尊。觀世音菩薩。云何游此娑婆世界。云何而為眾生說法。方便之力。其事云何。
(Vô Tận Ư Bồ
Tát bạch Phật rằng:
- Bạch Thế Tôn! Quán Thế Âm du hóa
trong thế giới Sa Bà này như thế nào? V́ chúng sanh
thuyết pháp như thế nào? Những sự thuộc
sức phương tiện như thế nào?)
Đây
là đoạn lớn thứ hai của phần
Trường Hàng, gọi là phần Vấn Đáp
Phương Tiện Du Hóa. Trước hết, vị
đương cơ nêu lời thỉnh vấn, tiếp
đến Như Lai sẽ dạy rơ các sự cảm
ứng.
Lời thỉnh vấn của vị đương cơ
gồm ba vấn đề, như Vô Tận Ư Bồ Tát
bẩm bạch cùng đức Thế Tôn:
“Bạch Thế Tôn! Quán Thế Âm Bồ
Tát:
1) Du hóa trong thế giới Sa Bà này
như thế nào?
2) V́ chúng sanh diễn thuyết diệu
pháp như thế nào?
3) Những sự thuộc sức phương
tiện như thế nào?”
V́ sao Quán Thế Âm Bồ Tát gọi là Quán Thế Âm đă
được đức Phật từ bi v́ con giải
thích rơ ràng rồi, từ lời Phật giới thiệu,
chúng con biết Quán Âm Bồ Tát là một vị đại
Bồ Tát thuộc thế giới Cực Lạc, nhưng
giữa thế giới Sa Bà và thế giới Cực
Lạc cách nhau mười vạn ức cơi Phật,
vậy th́ Quán Âm Bồ Tát đến thế giới Sa Bà
này bằng cách nào, tiến hành công tác du hóa ra sao? Đối
với vấn đề này, lại xin Phật từ bi
khai thị cho!
Sa Bà (Sahā-lokadhātu)
là tiếng Ấn Độ, tức là thế giới chúng
ta đang sống đây, dịch nghĩa chữ Hán là Kham
Nhẫn. Nói theo lập trường của chúng sanh th́ chúng
ta sanh tồn trong thế giới này, có thể nói là không lúc
nào chẳng hăm trong vực sâu đau khổ, bị tầng
tầng đau khổ bao vây, công kích, nhưng bất
luận gặp phải nỗi đau khổ nào bức
bách, chúng ta đều có thể chịu đựng
được. Bởi vậy, Kham Nhẫn có nghĩa là có
thể chịu đựng được mọi thứ
đau khổ của hiện thực thế giới áp
đặt trên nhục thân và tâm linh của chúng ta. Chẳng
những có thể kham chịu thống khổ, lại c̣n
coi thống khổ là khoái lạc, bởi thế chẳng
nghĩ ly khai thế giới này.
Đứng trên lập trường
Bồ Tát mà nói: Bồ Tát vốn có thể an trụ trong cơi
nước thanh tịnh, hưởng thụ các an lạc
tự tại, nhưng v́ cứu độ thế giới
chúng sanh nên đến giáo hóa trong thế giới này. Trong
quá tŕnh giáo hóa, dẫu gặp phải rất nhiều oán
ghét, các nỗi khổ bức bách, dẫu phải chịu
mọi thứ mọi dạng đả kích, dẫu công tác
độ sanh gian nan cay đắng, Bồ Tát vẫn có
thể kham chịu nhọc nhằn và những nỗi
khổ năo, bởi thế gọi là Kham Nhẫn.
“Từ
thế giới Cực Lạc đến thế giới Sa
Bà” hiển thị thân luân
của Quán Thế Âm Bồ Tát. Quán Âm từ thế giới
Cực Lạc đến du hóa trong thế giới Sa Bà này,
nếu nh́n bằng con mắt thế tục, đương
nhiên là Bồ Tát có đến thế giới này. Nhưng
nếu nói theo quan điểm nhà Phật, Bồ Tát vẫn
y nhiên an trụ trong thế giới Cực Lạc, về
căn bản là chưa từng di động chút nào,
tức là như thường nói “vô lai vô khứ” (không
đến không đi). Đạo lư này rất sâu xa,
cần phải dùng thí dụ để thuyết minh:
Quán Âm an trụ trong Cực Lạc
giống như vầng trăng rạng ngời trên không
trung, Quán Âm ứng hóa trong thế giới Sa Bà và
mười phương thế giới giống như bóng
trăng in nước. Trên trời chỉ có một
vầng trăng, dẫu trăng chưa từng xuống
đến mặt đất, nhưng khắp những
chỗ có nước trên địa cầu, liền có vầng
trăng sáng hiện bóng, câu nói: “Thiên giang hữu thủy,
thiên giang nguyệt” (Ngàn ḍng sông có nước, ngàn bóng
trăng in trên mặt sông) chính là diễn tả ư này.
Bồ Tát tuy chẳng ĺa khỏi thế
giới Cực Lạc, nhưng bất cứ địa
phương nào hễ có chúng sanh căn cơ chín muồi,
Bồ Tát liền hiện thân đến địa
phương đó để hóa độ. Dù mười
phương thế giới đều có Quán Âm Bồ Tát,
nhưng Bồ Tát vẫn chầu hầu bên A Di Đà
Phật, hỗ trợ A Di Đà Phật hóa độ chúng
sanh, ấy là bất động Bổn Tế du hóa Sa Bà và
mười phương thế giới; đấy là thân
luân của Bồ Tát ứng hóa chẳng thể nghĩ bàn.
“Đến
thế giới Sa Bà này, v́ chúng sanh thuyết pháp” hiển thị khẩu luân của Quán
Thế Âm Bồ Tát. Bồ Tát đă đến thế
giới này du hóa, đương nhiên phải v́ chúng sanh nói
các thứ pháp môn. Mọi người đều cho rằng
Bồ Tát thật sự thuyết pháp, nhưng thật ra
Ngài không nói mà nói. Nên biết chân lư Thật Tướng
của các pháp là “ly ngôn
thuyết tướng”, chẳng thể dùng ngôn ngữ
để diễn đạt được nổi,
như trong kinh Pháp Hoa này có câu: “Chư pháp tịch diệt
tướng, bất khả dĩ ngôn tuyên” (Các pháp tướng tịch
diệt, chẳng thể dùng lời nói), cũng
nhằm diễn đạt cùng một ư nghĩa. Chỉ v́
giáo hóa chúng sanh, nếu chẳng nói một câu nào, làm sao chúng
sanh thấu hiểu chân lư được? V́ đáp ứng
nhu cầu của chúng sanh, từ nơi vô ngôn thuyết bèn
nói Tiểu, Đại, Quyền, Thật, Thiên, Viên,
Đốn Tiệm, các thứ pháp môn bất đồng
khiến cho chúng sanh do ngôn thuyết bèn khế nhập chân
lư Thật Tướng. Tuy nói các thứ pháp môn bất
đồng, nhưng thật ra chẳng nói ǵ, vô thuyết
mà thuyết chính là khẩu luân ứng hóa chẳng thể
nghĩ bàn của Bồ Tát.
“Thuyết
pháp dùng các phương tiện bất đồng” hiển thị ư luân của Quán Thế
Âm Bồ Tát. Thuyết pháp độ sanh nào phải là
chuyện dễ, nhất định phải có
phương tiện! Nếu chẳng có phương
tiện thiện xảo thích đáng, thật rất khó tiến
hành công tác hóa độ. Phương tiện nói theo ngôn
ngữ bây giờ th́ có nghĩa là thích ứng. Độ
sanh chẳng thể chấp chặt khăng khăng
mọi thứ phải giữ nguyên như thế, mà
nhất định phải thích ứng thời
đại, thích ứng hoàn cảnh, thích ứng căn tánh
của chúng sanh, sau đấy mới tiến hành giáo hóa,
mới ḥng “sự ít, công nhiều”.
Do hoàn cảnh thời đại bất
đồng, căn tánh chúng sanh bất đồng, nếu
chẳng vận dụng phương tiện tùy cơ
ứng biến, tùy duyên thị hiện, tùy cơ lập
giáo th́ chúng sanh chẳng dễ bị cảm hóa. Trong lúc quư
vị độ sanh, cần phải xem xét t́nh h́nh thực
tế, biết dùng phương pháp nào thuận tiện
nhất bèn dùng phương pháp đó v́ chúng sanh thuyết
pháp giáo hóa. Đấy là ư luân ứng hóa chẳng thể
nghĩ bàn của Bồ Tát vậy.
Ba thứ thân - khẩu - ư trên
cương vị chúng sanh chỉ gọi là Tam Nghiệp,
bởi lẽ từ hoạt động của ba thứ
này tạo tác các thứ nghiệp Hữu Lậu thiện
hay ác; nhưng nếu đứng trên quả vị
Phật, Bồ Tát th́ gọi là Tam Luân (ba bánh xe), v́ các ngài
dùng ba thứ này độ sanh, nghiền nát những
phiền năo trong tâm chúng sanh, khiến chúng sanh ĺa khổ
được vui, siêu phàm nhập thánh. Nhưng trong lúc
Phật, Bồ Tát vận dụng ba luân này biểu hiện
những công dụng vĩ đại, bọn phàm phu chúng ta
tâm chẳng nghĩ thấu, miệng chẳng bàn xiết
được; bởi thế nói là “tam luân bất tư
nghị hóa”.
Quán Âm Bồ Tát dùng các thân phận sai khác
du hóa vô lượng vô biên thế giới, phần trên tuy
đă nói qua chẳng ít, giờ đây vẫn chẳng
ngại ǵ chẳng nêu lên những chuyện thực
để chứng minh Bồ Tát thật sự rộng hóa
độ chúng sanh trong thế gian này.
Trong quá khứ, tại huyện Tu Văn
thuộc tỉnh Quư Châu, Trung Quốc, có động
Bạch Sơn, thủy ngân từ trong động chảy
ra chẳng ngừng. Bởi thế, trong vùng thường
có người tụ tập bên sơn động hứng
lấy thủy ngân đem bán. V́ việc thâu thập
thủy ngân kéo dài nhiều ngày, để dễ theo
đuổi công việc, người ta dựng nhà cửa
gần sơn động, thành lập gia đ́nh, sinh
sống ở đó, vô h́nh trung tạo thành một tiểu
thôn trang cả mấy trăm nhà. Khoảng đâu mấy
năm, do thủy ngân chảy ra quá nhiều khiến cho
đất đá trên núi lỏng lẻo, có thể sụp
đổ bất cứ lúc nào, nhưng những
người trong thôn thâu nhặt thủy ngân chẳng
hề biết ǵ. Nếu như núi vỡ, toàn bộ thôn
trang nhất định bị đè bẹp, cả mấy
trăm nhà bị thảm tử.
Quán Thế Âm Bồ Tát từ bi v́
muốn cứu độ bọn họ, bèn thị hiện
thành một cô gái đẹp, tắm khỏa thân ngay nơi
ḍng suối trước động. Thời cổ, phong
tục khắt khe, một cô gái đẹp tắm trần
truồng tự nhiên khiến khắp cả thôn trang náo
động, cả mấy trăm gia đ́nh, bất
luận trẻ già lớn bé đều rất hiếu
kỳ lập tức đi xem. Chính ngay lúc mọi
người trong thôn đến xem sự ấy,
đột nhiên một trận trời long đất
lở vang rền, mọi người ngoái đầu nh́n
lại, toàn bộ thôn trang đă bị chôn vùi trong loạn
thạch. Mọi người mừng rỡ vừa kịp
thoát nạn, nh́n lại cô gái đẹp tắm truồng
dưới suối chẳng c̣n thấy tung tích ǵ nữa!
Nên biết đó là một phương pháp thị hiện
độ sanh của Quán Âm Bồ Tát.
Lúc núi lở, trong thôn có một gă trai
đang ngủ trong nhà, chưa kịp chạy ra, bị ép
trong kẽ đá lở, dẫu không cử động
được, chẳng có cách nào chui ra, nhưng cũng
chẳng bị ép chết, hồi lâu sau cảm thấy
đói quá, liền thành kính niệm thánh hiệu Quán Âm,
chợt thấy một con chuột trắng, mắt như
chớp ḷe chiếu trên đầu một mô đá. Trên
đá hiện những chữ trong phẩm Phổ Môn, con
chuột trắng liếm chữ trên đá, gă trai bị
đá chèn cũng bắt chước liếm chữ,
cảm thấy hết đói, bị đá chèn chẳng
thấy mặt trời như vậy gần cả ba
năm.
Một ngày nọ, có người lên núi
hái thuốc, nghe có tiếng người thở than, bèn ḍ
t́m theo tiếng, thấy một người bị ép trong
kẽ đá, ḍ hỏi mới hay ba năm trước lúc
núi lở gă trai bị ép tại đây, lại hỏi v́ sao
chẳng chết đói, gă đáp mỗi ngày liếm
chữ khỏi đói, hiện giờ trên mô đá chỉ
c̣n chừng ba hàng chữ chưa liếm hết, coi kỹ
rơ ràng là những câu chữ trong phẩm Phổ Môn. Mới
biết con chuột trắng cũng như phẩm Phổ
Môn hiện trên đá đều là Quán Âm Bồ Tát thị
hiện cứu hộ vậy. Bởi thế, Quán Âm Bồ
Tát từ bi, thật có thể nói là “không cơi nào chẳng
hiện thân”.
1.2.2. Như Lai bị thị cảm ứng (Như
Lai dạy rơ về sự cảm ứng)
1.2.2.1. Quảng hiển ứng hóa chư quốc (rộng
nói việc ứng hóa trong các nước)
1.2.2.1.1. Minh ứng hiển hóa (những thân ứng
hóa rơ ràng)
1.2.2.1.1.1. Năng ứng tam thánh (ứng hiện
thân tam thánh)
Chánh kinh:
Phật cáo Vô Tận Ư Bồ Tát:
- Thiện nam tử!
Nhược hữu quốc độ chúng sanh, ưng
dĩ Phật thân đắc độ giả, Quán Thế
Âm Bồ Tát tức hiện Phật thân nhi vị thuyết
pháp. Ưng dĩ Bích Chi Phật thân đắc độ giả,
tức hiện Bích Chi Phật thân nhi vị thuyết pháp.
Ưng dĩ Thanh Văn thân đắc độ giả,
tức hiện Thanh Văn thân nhi vị thuyết pháp.
佛告無盡意菩薩。善男子。若有國土眾生。應以佛身得度者。觀世音菩薩。即現佛身而為說法。應以辟支佛身得度者。即現辟支佛身而為說法。應以聲聞身得度者。即現聲聞身而為說法。
(Phật bảo Vô Tận Ư Bồ Tát:
- Này thiện nam tử! Nếu có cơi nước, chúng sanh
nên dùng Phật thân để được độ Quán
Thế Âm Bồ Tát liền hiện thân Phật để
mà thuyết pháp. Nên dùng thân Bích Chi Phật để
được độ, liền hiện thân Bích Chi
Phật để mà thuyết pháp. Nên dùng thân Thanh Văn
để được độ, liền hiện thân
Thanh Văn để mà thuyết pháp).
Đương cơ đă thỉnh vấn, đức
Phật tự giải đáp. Bởi thế, Phật
lại gọi Vô Tận Ư Bồ Tát bảo rằng: Này
thiện nam tử! Ông muốn biết phương tiện
du hóa của Quán Âm Bồ Tát như thế nào ư? Tốt,
bây giờ ta sẽ nói rơ từng điều cho ông.
“Nếu có chúng sanh trong một quốc độ nào
đó”: Phật pháp gọi quốc độ là Y Báo,
gọi chúng sanh là Chánh Báo. Y Báo là chỗ nương dựa
của Chánh Báo. Như sanh mạng của nhân loại là
Chánh Báo, địa cầu cư trú của nhân loại là Y
Báo. Chánh Báo chỉ “sanh mạng thể” chánh thức cảm
nhận quả báo khổ hay vui. Nói thật ra, giữa Chánh
Báo và Y Báo có mối quan hệ rất mật thiết: Chánh
Báo nếu chẳng nương nhờ vào Y Báo như
quốc độ v.v… th́ không có chỗ để ở, Y
Báo nếu chẳng nhờ sanh mạng thể là Chánh Báo th́
không cách nào hiển hiện được. Nếu Chánh Báo
sanh mạng thể có phước th́ tự nhiên những
vật được sanh từ Y Báo rất phong phú; c̣n
nếu Chánh Báo không phước đức sẽ cảm
lấy Y Báo xấu kém vô cùng, những thứ cảm
thọ cũng cảm thấy thiếu hụt.
Phật pháp nói Chánh Báo có mười pháp
giới sai biệt, tức là Địa Ngục, Súc Sanh,
Ngạ Quỷ, A Tu La, Người, Trời, Thanh Văn,
Duyên Giác, Bồ Tát, Phật. Chúng sanh trong mười pháp
giới mỗi loài đều có Y Báo, bởi vậy Y Báo
quốc độ cũng có các thứ khác biệt. Nói trên
đại thể, chẳng ngoài bốn cơi:
1) Ngũ Thừa cộng độ:
Tức là trong cùng một thế giới
vừa có phàm phu vừa có thánh nhân, ngài Thiên Thai gọi cơi
này là Phàm Thánh Đồng Cư Độ. Như thế
giới Sa Bà này, về mặt hiện thực thế gian
là nơi sinh sống của chúng sanh hữu lậu,
nhưng cũng có Đại Bi Quán Âm, Đại Trí Văn
Thù, Đại Hạnh Phổ Hiền, Đại
Nguyện Địa Tạng Vương v.v… các đại
Bồ Tát du hóa trong ấy, nên gọi là Phàm Thánh Đồng
Cư Độ.
2) Tam Thừa cộng độ:
Tức là cơi nước mà Đại
Thừa lẫn Tiểu Thừa Phật pháp cùng nói
đến, ngài Thiên Thai gọi cơi này là Phương
Tiện Hữu Dư Độ. Như thế giới
của bậc thánh nhân Nhị Thừa sống, tuy nói là
thanh tịnh trang nghiêm, nhưng đoạn phiền năo và
liễu sanh tử chỉ mới thực hiện
được nửa phần, chưa đạt
đến rốt ráo, vẫn c̣n có tàn dư Hoặc Khổ
tồn tại, bất quá chỉ thuộc đạo
phương tiện mà thôi. Bởi thế, gọi là
Phương Tiện Hữu Dư Độ.
3) Đại Thừa bất cộng
độ:
Là cơi nước chỉ có trong
Đại Thừa. Chẳng những không chung đụng
với phàm phu, mà cũng chẳng chia sẻ cùng Nhị
Thừa. Ngài Thiên Thai gọi là Thật Báo Trang Nghiêm Độ:
“V́ là chỗ ở của Bồ Tát phá vô
minh, dùng cái Nhân chân thật cảm cái Quả chân thật,
dùng cái Duyên chân thật để cảm cái Báo chân thật.
Sắc, tâm, y báo, chánh báo trang nghiêm diệu hảo phi
thường. V́ Bồ Tát là đại đạo tâm chúng
sanh, phát tâm quảng đại độ thoát chúng sanh, tích
công lũy đức, gieo đại phước
nghiệp, nên được tự tại vô ngại.
Tiểu có thể hóa thành Đại, một có thể hóa
thành nhiều, Chánh có thể làm Y, Y có thể làm Chánh, có
thể nói là một đầu lông có thể biến cơi
nước Bảo Vương, trong một vi trần
chuyển đại pháp luân, cọng lông nuốt trọn
biển lớn, hạt cải chứa khít núi Tu Di. Sắc
tâm viên dung, Y, Chánh vô ngại. Đấy đều do trang
nghiêm bởi các thứ công đức do lúc Bồ Tát tu nhân,
tu hành lục độ vạn hạnh nên gọi là
Thật Báo Trang Nghiêm Độ”.
4) Phật quả bất cộng
độ:
Chỉ Phật cùng Phật mới có
thể trụ trong thế giới này. Cơi này không những
không chung với phàm phu, Nhị Thừa; ngay cả Bồ
Tát phát tâm cũng chẳng được cùng hưởng.
Ngài Thiên Thai gọi cơi này là Thường Tịch Quang
Tịnh Độ:
“Phật là chúng sanh vô thượng, v́
Phật rốt ráo sanh tử, không ai hơn được,
v́ thế gọi là Vô Thượng. Tịch là biển Đại
Tịch Diệt vô sanh, vô diệt, lặng trong
thường hằng, [đó là] Giải Thoát đức.
Quang là đại quang minh tạng linh minh chiếu rỗng
rang, là Bát Nhă đức. Thường tức là Tịch
Quang bất nhị, xưa nay thường hằng, là Pháp
Thân đức. Gọi là Tịch Quang Độ, tức là
tam đức bí tạng (kho tàng ba đức bí mật).
Đến đó mới là cơi rốt ráo. Thân chính là cơi, cơi
chính là thân, Y Báo và Chánh Báo dung thông, thân và cơi chẳng hai,
chỉ là Nhất Đạo Thanh Tịnh Pháp Giới
Tạng Tâm”.
Bởi thế gọi là Thường
Tịch Quang Tịnh Độ.
Nói đơn giản, Y Báo bao gồm bốn cơi này, Chánh Báo
gồm chúng sanh trong mười pháp giới.
Ngoại trừ đức Phật tối cao vô
thượng ra chẳng cần phải thị hiện
cứu độ, các chúng sanh khác cao thấp chẳng đồng
đều cần phải cứu độ; v́ căn tánh
chúng sanh có các dạng sai biệt bất đồng, Bồ
Tát bèn thị hiện các thân phận thích ứng. Như có
cơi nước, Ngài thị hiện thân Bồ Tát hoặc
thân Thanh Văn v.v… đều chẳng thể giáo hóa,
chỉ có cách “nên dùng thân Phật để
được độ”, mới có thể tiếp
nhận sự cảm hóa, trong t́nh huống ấy, Quán
Thế Âm Bồ Tát “liền hiện thân Phật
để mà thuyết pháp” ḥng hóa độ, khiến cho
họ nghe đến pháp môn thành Phật, bèn chịu nỗ
lực dụng công tu hành, đoạn trừ phiền năo
đáng đoạn, đạt được sự
giải thoát thực sự nơi thân tâm.
Ở đây, có lẽ có người
đâm ra nghi ngờ: Đă gọi Quán Âm là Bồ Tát, Bồ
Tát làm sao thị hiện thân Phật được? Có
thể giải thích điều này trên hai phương
diện:
- Phần trên tôi đă từng có nói, Quán
Âm Bồ Tát hiện tại chỉ là thị hiện,
chứ thật sự trong đời quá khứ, Ngài đă
sớm thành Phật, hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai. Đă
như vậy th́ thị hiện thân Phật chẳng qua là
hiện lại diện mục sẵn có mà thôi, sao lại
chẳng thể thị hiện thân Phật?
- C̣n có thể nói cách khác: Bồ Tát
kể từ Sơ Địa trở lên có thể phân thân
làm Phật, như Sơ Địa Bồ Tát có thể phân
thân làm Phật trong một trăm cơi, Nhị Địa
Bồ Tát có thể phân thân làm Phật trong ngàn cơi. Quán Âm là
bậc Bổ Xứ Bồ Tát trong thế giới Cực Lạc,
Ngài có thể thị hiện các thân Phật bất
đồng v́ chúng sanh thuyết pháp, đương nhiên là
tuyệt đối chẳng thành vấn đề.
Chúng sanh cầu thấy thân Phật mới chịu nhận
sự giáo hóa, chứng tỏ chúng sanh ấy muốn
được thành Phật. Muốn cầu thành Phật mà
chẳng thị hiện thân Phật để thuyết
pháp, há có nên chăng? Đại Bi Quán Âm biết chúng sanh có
mong muốn như thế bèn hiện thân Phật ba
mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp
viên măn đầy đủ trang nghiêm, v́ chúng sanh tuyên nói
thế nào là pháp môn thành Phật, chỉ dạy chúng sanh tu
hành Lục Độ vạn hạnh để thành Vô
Thượng Chánh Giác.
Bốn thánh pháp giới trong mười
pháp giới là Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật.
Ở trên nói thị hiện thân Phật v́ chúng sanh
thuyết pháp. Nếu theo thứ tự của tứ thánh
th́ tiếp đó phải nói “hiện thân Bồ Tát
để v́ chúng sanh thuyết pháp”, nhưng trong kinh văn
đây, sau khi nói thân Phật, bèn nói hiện thân Bích Chi
Phật và thân Thanh Văn, chẳng hề nói đến thân
Bồ Tát, là v́ đạo lư nào? Phải biết thân Quán Âm
thị hiện trong hiện tại là thân Bồ Tát, thân
phận Bồ Tát đă hiển thị rơ ràng rồi, cho nên
bất tất phải nói câu: “Nên dùng thân Bồ Tát
để được độ, liền hiện thân
Bồ Tát để mà thuyết pháp”.
Nếu trong quốc độ có một
hạng chúng sanh “nên dùng thân Bích Chi Phật để
được độ”, Quán Thế Âm Bồ Tát
đại từ đại bi “liền hiện thân Bích
Chi Phật để mà thuyết pháp”. Bích Chi Phật (Pratyekabuddha)
là tiếng Ấn Độ, phiên dịch sang tiếng Hán là
Duyên Giác hoặc Độc Giác, hai danh xưng này cũng có
chút phân biệt:
1) Duyên Giác thánh giả:
Luận theo duyên do, vị này sanh trong
thời đại có Phật, do bẩm thọ ngôn giáo nhân
duyên của Phật bèn được khai ngộ giải
thoát. Như Phật tuyên nói giáo pháp Thập Nhị Nhân Duyên,
hạng chúng sanh này nghe được, nghịch thuận
quán sát nhân duyên, từ trong nhân duyên sanh diệt, ngộ
được lư Chân Không bất sanh bất diệt,
bởi thế gọi là Duyên Giác.
Thập Nhị Nhân Duyên nói thông
thường là: Vô minh duyên Hành, Hành duyên Thức, Thức
duyên Danh Sắc, Danh Sắc duyên Lục Nhập, Lục
Nhập duyên Xúc, Xúc duyên Thọ, Thọ duyên Ái, Ái duyên
Thủ, Thủ duyên Hữu, Hữu duyên Sanh, Sanh duyên lăo
tử ưu bi khổ năo. Tùy thuận mười hai nhân
duyên này, đúng là: “Cái này có nên cái kia có, cái này sanh nên cái
kia sanh”, bèn lưu chuyển trong biển khổ sanh
tử. Đi ngược lại mười hai nhân duyên,
tức là “cái này không, nên cái kia không; cái này diệt, nên cái
kia diệt”, bèn cắt đứt sanh tử, hoàn
diệt Niết Bàn.
Duyên khởi tuy có mười hai chi,
nhưng thực tế chỉ có ba thứ Hoặc,
Nghiệp, Khổ, trước lúc giải quyết xong sanh
tử, chúng như cái ṿng không có đầu mối, khiến
cho chúng ta khởi nghi hoặc, tạo nghiệp, chịu
khổ không ngừng đến nỗi luân chuyển không
lúc nào xong. Chỉ có bậc Duyên Giác mới có thể
đột phá sự trói buộc của Duyên Khởi
để được giải thoát.
2) Độc Giác:
Xuất hiện trong thời đại
không Phật, như trong hiện tại, Phật Thích Ca
đă nhập diệt, Di Lặc Phật vẫn chưa
hạ sanh trong nhân gian, cho đến khi chánh pháp của đức
Phật Thích Ca cũng đă diệt tận, có chúng sanh
căn tánh Độc Giác xuất hiện trong nhân gian, do
thấy tiết Xuân trăm hoa đua nở, trời Thu lá
vàng gió cuốn bay tơi bời, nhân đấy bèn giác
ngộ. C̣n hạng phàm phu, nh́n Xuân hoa nở, thấy Thu lá
rụng, chẳng thể có cảm giác giống như
vậy. Dù có cảm giác đi nữa, chẳng qua cũng
chỉ biết là thời gian thay đổi mà thôi; nhưng
thánh giả Độc Giác từ chuyện thấy hoa
nở mùa Xuân, lá rụng mùa Thu, giác ngộ vạn sự
vạn vật thế gian đều là vô thường
diễn biến, chẳng có một pháp nào có thể giữ
cho vĩnh viễn bất biến. Tục ngữ nói: “Hoa
đẹp chẳng thường nở”, dù có nở
cũng chẳng thể giữ măi sắc thắm. Quán sát
kỹ điều này sẽ liễu ngộ chân lư Vô
Thường, bởi thế, chứng được
quả Bích Chi Phật.
Trong hiện thực thế gian đă có
hạng chúng sanh như thế, Bồ Tát Quán Âm
đương nhiên phải ẩn giấu thân phận
Bồ Tát, thị hiện thân Bích Chi Phật, tuyên nói pháp
Thập Nhị Nhân Duyên, khiến cho họ dựa vào pháp
Duyên Khởi tu hành, từ sự sanh diệt của duyên
khởi ngộ được tánh bất sanh diệt
của duyên khởi, chứng được quả Bích Chi
Phật.
Nếu trong cơi nước lại có
một hạng chúng sanh “nên dùng thân Thanh Văn để
được độ, liền hiện thân Thanh Văn
để mà thuyết pháp”. Thanh Văn (Śrāvaka)
đại đa số đều xuất hiện trong
thời Phật tại thế, tức là nghe âm thanh ngôn giáo
Phật nói pháp Tứ Đế bèn khai ngộ,
được giải thoát, nên gọi là Thanh Văn.
Đối với hạng chúng sanh căn tánh như thế
ắt phải dùng thân phận của hàng Thanh Văn
thuyết pháp th́ họ mới có thể tiếp nhận
sự giáo hóa. Quán Âm Bồ Tát đại từ đại
bi cũng tùy thuận mong cầu của chúng sanh, thích
ứng căn tánh của chúng sanh, hiện thân Thanh Văn
để thuyết pháp Tứ Thánh Đế.
Tứ Thánh Đế là luận
đề căn bản của Phật pháp, mà cũng là
cương lănh của Phật pháp. Thoạt đầu,
Phật mới chuyển pháp luân tại Lộc Dă Uyển,
bèn nói chân lư Tứ Thánh Đế:
1) Khổ Thánh Đế:
Là nói về Khổ Quả, tức là các
nỗi thống khổ nhân sanh phải chịu trong
hiện thực. Nhân sanh là Khổ, là một sự thực
trong thế gian không ai có thể phủ nhận
được; nhưng người hiểu rơ đích xác,
thiết thực nguyên do cái Khổ không ai bằng Phật.
Do thấy khổ Phật bèn xuất gia và cũng v́ đó
mà khai thị Khổ Đế cho chúng sanh.
2) Tập Thánh Đế:
Chỉ khổ nhân, tức là những
động lực chiêu cảm quả khổ; nói tổng
quát là phiền năo và nghiệp. Nói thiết thực, Ái là
căn bản của khổ, tức là những t́nh
huống chúng ta khát khao vô hạn, tạo thành các thứ
nghiệp nhân, đến nỗi cảm thọ sanh mạng
khổ quả.
Như vậy, Khổ Đế và
Tập Đế là nhân quả thế gian. Tập
Đế là nhân, Khổ Đế là quả thế gian.
3) Diệt Thánh Đế:
Tức là Lạc Quả, cũng tức
là quả viễn ly sanh tử, đạt được
Niết Bàn.
4) Đạo Thánh Đế:
Là Lạc Nhân, tức là những nhân
tố để chứng đắc quả Niết Bàn. Tuy
nói có rất nhiều Đạo để tu tập,
nhưng chủ yếu là Bát Chánh Đạo. Hành theo Bát Chánh
Đạo nhất định có thể chứng quả
Niết Bàn.
Bởi thế Diệt Đế và
Đạo Đế chính là nhân quả xuất thế gian.
Đạo là nhân để xuất thế gian, Diệt là
quả xuất thế gian.
Tứ Đế gộp lại chính là
hai thứ nhân quả thế gian và xuất thế gian. Nhân
quả thế gian phải đoạn trừ, nhân quả
xuất thế gian phải cầu chứng. Bồ Tát v́
hạng chúng sanh căn tánh Thanh Văn mà nói pháp Tứ
Đế ngơ hầu họ sẽ đoạn trừ
Khổ Tập, hâm mộ Diệt, tu Đạo ḥng
chứng quả Thanh Văn.
Trong Tứ Đế, biết Khổ là
tối khẩn yếu, bởi phải biết Khổ
mới có thể đoạn Tập, có biết Khổ
mới hâm mộ Diệt, tu Đạo; v́ thế Khổ là
cánh cửa ban đầu để nhập Đạo
vậy.
Trong quá khứ, có một vị lăo
tăng chuyên tu hạnh Đầu Đà, có một lần
ngài ra ngoài cầu sư tham học. Đi nửa
đường, cảm thấy đói khát quá mức, bèn
đến khất thực ở nhà một nữ cư
sĩ c̣n để tóc tu hành. Vị nữ cư sĩ
đó hết sức chân thành tin Phật, thấy có vị
đại đức đến nhà ḿnh, ngoài việc hoan
hỷ cúng dường ra, c̣n đặc biệt cung kính,
lễ bái cầu thỉnh khai thị. Nào ngờ vị hành
giả Đầu Đà đó cố nhiên tu tŕ rất tinh
tấn dũng mănh, nhưng chẳng hiểu ǵ về
Phật pháp cả; bây giờ đột nhiên bị bà ta xin
khai thị, Sư có Phật pháp ǵ để nói đây? Trong
t́nh thế vạn phần khẩn bách đó, Sư bất
tri bất giác thở ra một chữ “Khổ!”.
Nguyên nhân vị lăo tăng than khổ là
v́ chính ḿnh chẳng biết Phật pháp, nhưng bà nữ
cư sĩ nghe đến chữ Khổ ấy liền có
cảm giác dị thường, thấy trước khi ḿnh
tu hành: Lúc nhỏ khổ v́ cha mẹ quản thúc, sau khi
kết hôn lại khổ v́ ông chồng chê trách, có con cái
rồi lại chịu nỗi khổ gia đ́nh ràng
buộc, có thể nói đời người không có ǵ ngoài
khổ cả. Từ đó đến nay chưa từng
hưởng chút vui sướng nào trong kiếp nhân sanh,
bất giác buồn bă, đau xót, ứa lệ. Vị lăo
tăng tu hạnh Đầu Đà thấy bà bi
thương như thế chẳng biết v́ nguyên nhân nào,
bèn bỏ đi chẳng từ biệt, cơm cũng
chẳng ăn. Bà cư sĩ nghĩ ngợi nỗi
khổ, nghĩ suy đến cực độ, rốt
cuộc bao t́nh tưởng mất sạch, nhập vào
Khổ Đế tam-muội, vị lăo tăng bỏ đi
cũng chẳng biết. Đến mấy tiếng
đồng hồ sau, bà cư sĩ chợt nói: “Ngài khai
thị cho con một chữ Khổ, đúng là con dùng măi
không hết”.
Bởi vậy nói đến “biết
khổ” là phải biết khổ giống như vậy
mới có thể gọi là Khổ Đế. Hết
thảy người đời suốt ngày ngụp lặn
trong khổ, chớ hề thật sự biết khổ!
V́ chẳng thật sự biết khổ, nên chẳng có
biện pháp ǵ thoát khổ. Nếu thật sự biết
khổ, không ai chẳng ĺa được khổ. Đức
Phật khai thị: “Nhân sanh là khổ, thế gian là
khổ”, thật là những lời thấy biết xác
thực. Muốn giải trừ nỗi thống khổ
của kiếp người, đối với nhân sanh
hiện thực phải hiểu rơ một cách hợp lư th́
mới được. Hành theo Tứ Đế sẽ
đạt đến mục đích giải thoát.
Trong Phật pháp, Thanh Văn và Bích Chi
Phật gọi chung là Nhị Thừa, hoặc c̣n gọi là
Tiểu Thừa; nhưng có lúc c̣n nói như thế này: Thanh
Văn là Tiểu Thừa, Bích Chi Phật là Trung Thừa,
Bồ Tát là Đại Thừa. Nói như vậy, có thể
thấy là giữa Thanh Văn và Bích Chi Phật vẫn có
đôi chút sai khác. Nói cách khác, Bích Chi Phật cao hơn Thanh
Văn bởi Thanh Văn chỉ đoạn
được Kiến Tư phiền năo chánh sử,
chưa hề phá trừ được mảy may tập
khí nào; Bích Chi Phật chẳng những đoạn
được hai phiền năo Kiến Tư Hoặc,
lại c̣n phá trừ được chút phần tập khí
của Kiến Hoặc và Tư Hoặc. Dù chẳng
bằng được Phật là bậc đă đoạn
trừ hết thảy tập khí, nhưng vẫn hơn
hẳn A La Hán. Bởi thế, gọi Thanh Văn là Tiểu
Thừa, Bích Chi Phật là Trung Thừa.
Tuy có phân biệt như thế, nhưng
hai thừa này đều nhằm mục đích tự
lợi, đối với trách vụ lợi tha chẳng có
hứng thú tích cực tiến hành, nên gọi chung là Nhị
Thừa.
1.2.2.1.1.2. Năng ứng lục thiên (ứng
hiện sáu thân trời)
Chánh kinh:
Ưng dĩ Phạm Vương thân
đắc độ giả, tức hiện Phạm
Vương thân nhi vị thuyết pháp. Ưng dĩ
Đế Thích thân đắc độ giả, tức
hiện Đế Thích thân nhi vị thuyết pháp. Ưng
dĩ Tự Tại Thiên thân đắc độ giả,
tức hiện Tự Tại Thiên thân nhi vị thuyết
pháp. Ưng dĩ Đại Tự Tại Thiên thân
đắc độ giả, tức hiện Đại
Tự Tại Thiên thân nhi vị thuyết pháp. Ưng dĩ
Thiên Đại Tướng Quân thân đắc độ
giả, tức hiện Thiên Đại Tướng Quân thân
nhi vị thuyết pháp. Ưng dĩ Tỳ Sa Môn thân
đắc độ giả, tức hiện Tỳ Sa Môn
thân nhi vị thuyết pháp.
應以梵王身得度者。即現梵王身而為說法。應以帝釋身得度者。即現帝釋身而為說法。應以自在天身得度者。即現自在天身而為說法。應以大自在天身得度者。即現大自在天身而為說法。應以天大將軍身得度者。即現天大將軍身而為說法。應以毘沙門身得度者。即現毘沙門身而為說法。
(Nên dùng thân Phạm Vương
để được độ, liền hiện thân
Phạm Vương để mà thuyết pháp. Nên dùng thân
Đế Thích để được độ,
liền hiện thân Đế Thích để mà thuyết
pháp. Nên dùng thân Tự Tại Thiên để được
độ, liền hiện thân Tự Tại Thiên
để mà thuyết pháp. Nên dùng thân Đại Tự
Tại Thiên để được độ, liền
hiện thân Đại Tự Tại Thiên để mà thuyết
pháp. Nên dùng thân Thiên Đại Tướng Quân để
được độ, liền hiện thân Thiên
Đại Tướng Quân để mà thuyết pháp. Nên
dùng thân Tỳ Sa Môn để được độ,
liền hiện thân Tỳ Sa Môn để mà thuyết pháp).
Đoạn này nói Bồ Tát có thể
ứng hiện thân lục thiên; nhưng lục thiên
được nói ở đây chẳng phải là sáu cơi
trời Dục Giới thông thường. Sáu thứ thân
trời ứng hóa này phiếm chỉ tất cả
những thân trong Dục Giới và Vô Sắc Giới. C̣n
như những cơi trời thuộc Vô Sắc Giới không
có sắc pháp, nên cũng không có thân tướng thị
hiện; bởi thế kinh văn chẳng nói đến
trời Vô Sắc Giới. Phàm những thân tướng
được thị hiện, ắt đều phải
là sanh mạng thể do vật chất và tinh thần
hợp lại. Hữu t́nh cơi Vô Sắc thuần thuộc
về hoạt động tinh thần, bởi thế
chẳng nói thân tướng thị hiện trong Vô Sắc
Giới.
Trong các quốc độ, có một
loại chúng sanh, “nên dùng thân Phạm Vương
để được độ”, Quán Thế Âm
Bồ Tát đại từ đại bi “liền
hiện thân Phạm Vương để mà thuyết pháp”.
Chữ “Phạm Vương” chỉ Đại
Phạm Thiên Vương thuộc Sơ Thiền Thiên của
Sắc Giới. Sơ Thiền Thiên gồm ba tầng
trời Phạm Chúng Thiên (Brahma-pārisadya), Phạm Phụ Thiên (Brahma-purohita),
Đại Phạm Thiên (Mahābrahmā).
Phạm Chúng Thiên gồm những Phạm dân b́nh phàm của
trời Đại Phạm, Phạm Phụ Thiên là các
bầy tôi phụ chánh của Đại Phạm Thiên
Vương (Mahābrahmā-rāja).
Bởi lẽ, vị thống lănh chư thiên
đương nhiên phải có những bầy tôi giúp
Đại Phạm Vương cai quản thiên quốc.
Đại Phạm Thiên Vương là chúa trời cơi
Đại Phạm, tức là vị Phạm Thiên
được hàng Bà La Môn Ấn Độ sùng bái, cũng
chính là Thượng Đế được tin thờ
bởi Thiên Chúa Giáo.
Theo tư tưởng Bà La Môn Giáo (Brahmanism,
Hinduism), nhân loại trong thế giới này thậm chí
hết thảy hữu t́nh, núi sông, đại địa,
hoa, quả, cây cối đều do Đại Phạm Thiên
Vương sáng tạo. Bởi thế, Bà La Môn giáo coi
Đại Phạm Thiên là đấng sáng tạo nhân
loại vũ trụ. Thân Đại Phạm Thiên vô
thủy, vô chung, vĩnh hằng, bất biến, có thể
chi phối và là chúa tể của hết thảy nhân
loại, bởi thế Đại Phạm Thiên chiếm
một địa vị rất cao trong Bà La Môn giáo Ấn
Độ.
Nhưng từ lập trường
Phật giáo: Xét về mặt tôn giáo, Phạm Thiên là
đối tượng tín phụng của Nhất Thần
Giáo. Ông ta tâm tham dục rất mỏng nhẹ, đă
đoạn trừ tất cả vật dục và dâm
dục của Dục Giới, chẳng c̣n sanh khởi tâm
Sân nữa, bởi thế giáo đồ Nhất Thần
Giáo đều nghĩ ông ta là một Đấng Sáng
Tạo rất nhân ái. Nhưng từ Phật pháp mà nói,
quả thật ông ta chẳng sanh khởi tâm sân khuể, tâm
tham dục đúng là rất nhạt, nhưng tâm kiêu
ngạo và siểm mị rất nặng!
Đối với vấn đề này,
kinh Phật cho biết: Lúc Phật c̣n tại thế, trong
số đệ tử Phật có ngài tỳ-kheo Mă Thắng
(Ashvajit) từng lên cung Đại Phạm Vương,
gặp đúng lúc Phạm Thiên giáo huấn thần dân vô cùng
kiêu ngạo như thế này:
- Ta là chúa tể của thế gian, là
đấng sáng tạo nhân loại, là tuyệt đối
rốt ráo, là an lạc tối cực. Các người là con
dân của ta, chẳng thể đạt đến
địa vị như ta.
Đang cao hứng tuyên bố nẩy
lửa như thế, chợt thấy tỳ-kheo Mă
Thắng đứng trước mặt, Phạm
Vương lập tức im bặt không nói nữa, dẫn
tỳ-kheo Mă Thắng ra chỗ không có người, rồi
mới khe khẽ bảo tỳ-kheo Mă Thắng:
- Những lời tôi vừa mới tuyên
bố cùng thần dân xin Ngài chớ cho là thật, ngàn
vạn lần xin đừng rêu rao những lời đùa
bỡn ấy trước mặt người khác.
Do đây ta có thể thấy Phạm
Thiên có hai thứ phiền năo: Trước mặt thần
dân tỏ vẻ kiêu ngạo, trước mặt tỳ-kheo
Mă Thắng tỏ vẻ siểm mị. Như vậy,
phiền năo vẫn c̣n tồn tại.
Sanh lên trời, nếu sanh vào Dục
Giới, chỉ hành Ngũ Giới Thập Thiện là
đủ, c̣n muốn sanh lên hai cơi trên (Sắc Giới và Vô
Sắc Giới) lại phải tu thêm Thiền Định,
nhưng chỉ có thể sanh làm quan tướng nhà trời
và dân chúng cơi Sơ Thiền. Nếu muốn làm Đại
Phạm Thiên Vương phải tu Tứ Vô Lượng
Tâm: Từ, Bi, Hỷ, Xả; cho thấy làm Đại
Phạm Thiên Vương cũng chẳng phải là
chuyện đơn giản. Đạt đến
địa vị Đại Phạm Thiên Vương
cố nhiên là cao quư vĩ đại nhất trong Bà La Môn
giáo, nhưng nhà Phật chẳng nghĩ như thế,
chẳng qua Phạm Vương chỉ là một vị
thiên vương, vẫn chưa thể siêu xuất tam
giới, liễu thoát sanh tử.
Phạm Thiên tuy tự nhận ḿnh là
đấng sáng tạo nhân loại vũ trụ, nhưng
không cách nào cứu văn hiện thực khổ năo cho thế
gian, bởi thế sau khi đức Phật xuất
hiện trong thế gian thành Chánh Giác, thoạt đầu
chẳng nghĩ đến chuyện thuyết pháp, sau v́ Đại
Phạm Thiên Vương cầu thỉnh, Phật mới
bắt đầu thuyết pháp cho nhân loại. Như
vậy điều này đủ chứng tỏ bậc
thật sự cứu vớt thế gian chỉ có ḿnh
đức Phật. Nếu Phạm Thiên có năng lực
cứu thế gian, cần ǵ phải thỉnh Phật
thuyết pháp? Cũng v́ vậy, Phạm Thiên quy y
đức Phật, trở thành vị hộ pháp cho
Phật pháp.
Thông thường, trong các chùa miếu,
Phật điện, Đại Thừa Phật giáo đa
phần tạc tượng hai đại Bồ Tát Văn
Thù, Phổ Hiền bên cạnh tượng Phật;
Tiểu Thừa Phật giáo đắp tượng hai
đại tôn giả A Nan, Ca Diếp hai bên tượng
Phật, nhưng cũng có chỗ tạc tượng
Đại Phạm Thiên và Đế Thích Thiên hai bên
tượng Phật, bởi Đại Phạm Thiên và
Đế Thích Thiên là hai vị hộ pháp đắc
lực của Phật pháp. Quán Âm Bồ Tát biết
đối với loại chúng sanh này, chẳng thể dùng
thân phận nào khác để độ thoát
được, bèn hiện thân tướng Phạm Thiên v́
kẻ đó nói pháp “ly ái đoạn dục”, pháp Tứ Vô
Lượng Tâm, để kẻ đó y pháp tu hành ngơ
hầu giải thoát thân tâm. Vị trời này sở dĩ
gọi là Phạm Thiên là do sắc tướng thanh tịnh
không có ái dục.
Tiếp đến nói về thân
Đế Thích. Đế Thích là vị trời cơi Dục
Giới. Dục Giới gồm sáu tầng trời, chia
thành hai loại: một là Địa Cư Thiên, hai là Không
Cư Thiên. Địa Cư Thiên gồm hai tầng
trời, tức là Tứ Thiên Vương Thiên (Cāturmahārājika)
và Đao Lợi Thiên (Trayastrimśa). Đế Thích là chúa trời cơi Đao
Lợi, sống trên đảnh núi Tu Di. Đao Lợi Thiên
c̣n dịch là Tam Thập Tam Thiên, tức là mỗi phía có tám
vị trời, tổng cộng là ba mươi hai vị
trời, cộng thêm Đế Thích Thiên thành ra ba
mươi ba vị trời.
Trong Phật pháp cũng có một đoạn
nhân duyên về Tam Thập Tam Thiên, tức là trong quá khứ
lâu xa về trước, trong thời kỳ Tượng
Pháp của đức Phật Ca Diếp, có một cô gái
nghèo khổ trong thế gian, thấy bức tượng
của Phật Ca Diếp vàng thếp đă bị tróc
lở, trông chẳng trang nghiêm lắm, cô liền phát tâm
muốn thếp vàng tượng Phật, nhưng tâm có
thừa mà sức chẳng đủ, rốt cục
đành đi khất hóa người khác, dành dụm
từng chút một lại để mua vàng. Mua đủ
vàng rồi bèn mời ba mươi hai tay thợ khéo
đến thếp vàng. Những ông thợ thấy cô gái
nghèo hết sức chân thành dốc hết tiền bạc
ra thếp vàng tượng Phật nên cũng phát tâm làm không
công để hoàn tất công việc này. Do nhân duyên
thiện căn phước đức ấy, bọn
họ chết đi bèn sanh lên trời Đao Lợi, ba
mươi hai người thợ trở thành ba mươi
hai vị trời, cô gái nghèo trở thành chúa trời
Đế Thích.
Đế Thích là gọi tắt, nói cho
đủ là Thích Đề Hoàn Nhân (Śakrodevānām Indrah – có
chỗ phiên là Thích Ca Đề Bà Nhân Đà La; Ấn
Độ giáo chỉ gọi tắt là thần Indra, tức
thần Sấm Sét), dịch nghĩa là Năng Thiên Chúa,
cũng là một vị thần Hộ Pháp trong Phật giáo,
tương tự như Ngọc Hoàng Thượng
Đế của Trung Quốc; bởi thế có
người đem Ngọc Hoàng Thượng Đế ví với
trời Đế Thích. Do Đế Thích là thần Hộ
Pháp của Phật giáo, nên ông ta thường xuống nhân
gian nghe thuyết pháp. Trong lúc nghe pháp, nghe đức
Phật giảng những đạo lư thế gian vô
thường bèn có thể lănh ngộ sâu xa, nhưng khi
trở về thiên cung bèn bị các thứ dục lạc
cơi trời mê hoặc, quên mất thế nào là vô
thường, đương nhiên cũng chẳng thể
đúng như pháp tu hành.
Đối với điều này,
Phật pháp cũng có một câu chuyện như sau: Có
lần Đế Thích xuống nhân gian nghe pháp xong, nói khi
trở về thiên cung, nhất định sẽ tu hành
chăm chỉ. Đợi khi Đế Thích trở về
thiên cung xong, v́ muốn khảo nghiệm xem Đế Thích
có thật sự tu hành hay không, Phật sai đại
đệ tử Mục Kiền Liên tôn giả theo chân
Đế Thích cũng lên trời Đao Lợi. Rốt
cuộc, Ngài thấy Đế Thích suốt ngày
hưởng thọ khoái lạc ngũ dục, quên mất
tiêu chuyện tu hành. V́ muốn cảnh tỉnh Đế
Thích Thiên, tôn giả Mục Liên bèn dùng sức thần thông
chấn động cung trời. Sau cơn hoảng sợ,
Đế Thích vừa thấy ngài Mục Kiền Liên bèn
thành khẩn nói:
- Bạch tôn giả! V́ sao Ngài lại
đùa cợt với con quá mức như vậy khiến
cung điện của con bị rúng động hết!
Tôn giả khai thị:
- Vừa rồi, ông ở chỗ
Phật nghe pháp, nói muốn tu hành đúng pháp, thế sao
vừa về lại cung trời đă quên sạch sành sanh,
chỉ biết hưởng thọ dục lạc vậy?
Chấn động cung trời là để cảnh cáo ông:
Hết thảy thế gian là vô thường, chẳng nên
tham chấp dục lạc, dục lạc cũng chẳng
thể nhờ cậy được, sao ông lại mê
luyến dục lạc đến thế?
Nếu trong các quốc độ có
một hạng chúng sanh “nên dùng thân Đế Thích th́
mới có thể độ được”, Quán Thế
Âm Bồ Tát đại từ đại bi “liền
hiện thân Đế Thích để mà thuyết pháp”,
thuyết pháp ǵ? Nói chân lư sanh diệt vô thường
khiến kẻ đó giác ngộ thế gian vô
thường, y pháp tu hành để được giải
thoát.
Tự Tại Thiên Thân là thân trời
thị hiện thứ ba trong sáu loại thân trời.
Tự Tại Thiên chính là Tha Hóa Tự Tại Thiên, là
tầng trời cao nhất trong Dục Giới. Gọi là
Tha Hóa Tự Tại hàm ư: Tất cả những thứ vui
sướng trong cơi trời ấy ḿnh chẳng cần
phải phí sức biến hóa ra, tự có người khác
biến hóa các thứ, các dạng khoái lạc ngũ dục
cho ḿnh hưởng thọ vô ngại tự tại; bởi
thế gọi là Tha Hóa Tự Tại Thiên. Đấy là do
phước đức của các vị trời này cảm
thành. Trí Độ Luận, quyển chín, chép: “Chư thiên
này đoạt lấy những thứ vui sướng do
người khác biến hóa ra để tự hưởng
thọ, nên gọi là Tha Hóa Tự Tại”. Sách Câu Xá
Tụng Sớ, phẩm Thế Gian, quyển một, chép: “Tha
Hóa Tự Tại Thiên, ư tha hóa trung đắc tự
tại” (Tha Hóa Tự Tại Thiên được tự
tại nơi những thứ do người khác biến
hóa ra).
Theo Phật pháp, Tự Tại Thiên
của Dục Giới và Đại Tự Tại Thiên
thuộc Sắc Giới đều là ma thiên vương
trái nghịch, tổn hại Chánh Pháp; như ta
thường nói Thiên Ma là chỉ loại trời này.
Nếu đệ tử Phật tu hành đắc lực,
Ma Vương bèn đến nhiễu loạn, khiến cho
hành giả càng gặp nhiều rắc rối. Như
trước khi đức Phật Thích Ca thành đạo
dưới cội Bồ Đề từng bị Ma
Vương nhiễu loạn.
Ma Vương có hai biện pháp nhiễu
loạn là cứng và mềm khác nhau. Biện pháp mềm
dẻo là dùng các thứ dục lạc để dẫn
dụ, như sai ma nữ đến mê hoặc, ban cho ngôi
vua, dâng tặng tài lợi v.v… Biện pháp cứng rắn là
dùng các thủ đoạn uy hiếp, như ma binh, ma
tướng dùng đao, thương, kiếm, kích v.v…
đến tấn công. Nhưng lúc đó, đối với
hết thảy, đức Phật chẳng thèm quan tâm
đến, cũng chẳng bị lay động, thật
sự đạt đến công phu như Nho Gia nói: “Phú
quư bất năng dâm, bần tiện bất năng di, oai vũ
bất năng khuất” (Chẳng
bị phú quư làm cho dâm, chẳng v́ bần tiện mà thay
đổi, chẳng bị oai vũ khuất phục).
Bởi thế, đức Phật có thể hàng phục Ma,
thành Chánh Giác. Hàng ma chính là hàng phục Thiên Ma trời Tha Hóa
Tự Tại.
Ma Vương nhiễu loạn
người tu hành, nên thường gọi Ma Vương là
phường bất hảo, muốn ĺa khỏi Ma,
chẳng những không hợp tác với hắn mà cũng
chẳng muốn qua lại với hắn. Nhưng trong
Đại Thừa Phật pháp, Ma Vương cũng
cần được cảm hóa. Ma Vương vốn
ở trong chỗ tối tăm, phải khuyên lơn
dẫn dắt gă hướng đến quang minh. Hành vi
của Ma Vương khiến gă bị hướng
xuống dưới đọa lạc, cho nên phải
khuyến khích gă không ngừng hướng thượng. Ma
Vương động niệm đều là hướng
đến phương diện ác, nên phải lập cách khiến
cho gă cải thiện hồi đầu.
Bởi vậy, trong thế gian nếu có
chúng sanh “nên dùng thân Tự Tại Thiên để
được độ”, Quán Thế Âm Bồ Tát
đại từ đại bi “liền hiện thân
Tự Tại Thiên để mà thuyết pháp”. Pháp
được thuyết chẳng phải là pháp Ma
Vương mà là chánh pháp của Như Lai, khiến cho
kẻ ấy từ chỗ tối tăm hướng
đến chỗ quang minh, từ đọa lạc
tiến đến thăng hoa, từ tội ác hướng
đến thuần thiện, khiến kẻ ấy cải
tà quy chánh, rốt cuộc được giải thoát.
Ma Vương đối địch
đức Phật. Nếu hiện thân Phật để
cảm hóa gă, chẳng những không cảm hóa
được gă, lại càng khiến gă chống chọi
Phật. Nếu hiện thân Bồ Tát để cảm hóa
gă, gă cũng cho là Bồ Tát tranh giành quyến thuộc
của gă, nên cũng chẳng thể tiếp nhận
sự giáo hóa của Bồ Tát. Trong t́nh h́nh như vậy,
tốt nhất là thị hiện thân phận giống
như gă, trước hết hành xử giống hệt
như gă, một thời gian sau mới dùng Phật pháp
để khuyến dụ, khiến gă cải tà quy chánh
trở thành người tốt, rồi tiến lên, dẫn
gă vào trong Phật pháp. Chỉ có cách vận dụng
phương tiện như thế mới có thể
độ được Tha Hóa Tự Tại Thiên Ma.
Bởi thế, Đại Thừa
Phật pháp chẳng những không ghét Ma, hận Ma, trái
lại thông cảm và thương xót Ma cao độ, dùng
Phật pháp chuyển hóa chúng th́ mới là tinh thần
Phật pháp. Nếu gặp Ma đến liền lập
tức tách ĺa, chẳng quan tâm đến nó, chẳng
phải là ác ma và ác nhân trong thế gian vĩnh viễn
chẳng được giáo hóa, chẳng thể cải tà
quy chánh ư? Bởi thế, Bồ Tát hóa độ chúng
sanh chẳng vứt bỏ bất cứ đối
tượng nào. Đại Thừa Phật pháp vĩ
đại chính là v́ vậy.
Thân Đại Tự Tại Thiên là thân
trời thị hiện thứ tư trong sáu thân trời.
Đại Tự Tại Thiên là tiếng Hán, tiếng
Ấn gọi là Ma Hê Thủ La Thiên (Maheśvara),
cũng tức là Đại Ma Vương Thiên, là một
vị trời thuộc cơi trời Quảng Quả (Bṛhatphala)
thuộc Đệ Tứ Thiền
Thiên của Sắc Giới, cũng là ma quỷ nhiễu
loạn người tu hành giống như Tự Tại
Thiên đă nói ở phần trên.
Trí Độ Luận nói Đại
Tự Tại Thiên bốn mắt, tám tay, cưỡi
ngựa trắng, tay cầm phất trần trắng, là
vị trời được ngoại đạo sùng
phụng. Nếu có chúng sanh trong quốc độ “nên
dùng thân Đại Tự Tại Thiên th́ mới đắc
độ”, Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ
đại bi “liền hiện thân Đại Tự
Tại Thiên để mà thuyết pháp”, khiến cho
kẻ ấy tu học Phật pháp, thân tâm được
tự tại giải thoát.
Nói đến đây ắt có
người hỏi: V́ sao Bồ Tát hiện thân Ma thuyết
pháp? Trong phẩm Bất Tư Nghị của kinh Duy Ma
Cật có ghi:
“Nhĩ
thời, Duy Ma Cật ngữ Đại Ca Diếp: “Nhân
giả! Thập phương vô lượng A-tăng-kỳ
thế giới trung tác Ma vương giả, đa thị
trụ bất khả tư nghị giải thoát Bồ Tát,
dĩ phương tiện lực cố, giáo hóa chúng sanh,
hiện tác Ma Vương”.
(Lúc bấy giờ,
Duy Ma Cật bảo Đại Ca Diếp:
- Thưa nhân giả!
Những người làm Ma Vương trong mười phương
vô lượng A-tăng-kỳ thế giới, đa số
là bậc Bồ Tát trụ giải thoát chẳng thể
nghĩ bàn, do dùng sức phương tiện giáo hóa chúng
sanh bèn hiện làm Ma Vương).
Bồ Tát thị hiện thân Ma
Vương chẳng những không bị ma chúng quấy
nhiễu, mà c̣n đúng pháp giáo hóa chúng ma; bởi lẽ,
phải hiện thân Ma Vương mới có thể cảm
hóa được chúng. V́ thế, bất đắc dĩ
phương tiện thị hiện như thế.
Đấy chẳng phải là điều nhăn quang tầm
thường có thể nh́n ra được, bởi
thế, chúng ta chớ có coi Ma Vương thật sự là
Ma Vương, mà có khi phải coi như là Bồ Tát, sự
thị hiện thân Ma Vương của Bồ Tát này có thể
chứng minh được.
Thân Thiên Đại Tướng Quân là
thân trời thị hiện thứ năm trong sáu loại
thân trời. Xét ra, Thiên Đại Tướng Quân là gia
tướng của Đế Thích Thiên thường
bảo vệ Đế Thích Thiên, cũng thuộc về
chư thiên trong Dục Giới. Người đời
thường nghĩ Đế Thích luôn hưởng thọ
khoái lạc, những khoái lạc ông ta hưởng thọ
đó thế gian không cách ǵ so sánh, bắt chước
được; thế nhưng vẫn có lúc Đế Thích
bị chiến tranh uy hiếp. Đó là v́ A Tu La
thường xuyên đến khiêu chiến, phát sanh chiến
tranh khốc liệt. Mỗi khi Đế Thích giao chiến
với A Tu La, người xuất trận giao phong
đầu tiên chính là vị Thiên Đại Tướng
Quân này. Trong kinh có lúc gọi là Na La Diên (Nārāyana) tướng quân, hoặc Kiên Cố Lực
Sĩ, Kim Cang Lực Sĩ v.v…
Trong sơn môn Phật giáo có hai vị
tướng, tục gọi là Hanh Cáp nhị tướng,
th́ bên trái là Na La Diên Kiên Cố Lực Sĩ, bên phải là
Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ (Guhyapāda-vajrah), gọi chung là
Thiên Đại Tướng Quân. Thiên Đại
Tướng Quân là Bồ Tát thị hiện, như ngài Vi
Đà được khen ngợi là “Vi Đà thiên
tướng, Bồ Tát hóa thân” là một chứng cớ
rất tốt. Ngài Vi Đà là Bồ Tát hóa thân, là thần
Hộ Pháp của Phật giáo, tay cầm Kim Cang Giáng Ma
Xử (chày Kim Cang hàng ma), trấn thủ sơn môn, ủng
hộ Phật pháp.
Thân Thiên Đại Tướng Quân do
Bồ Tát thị hiện này không nhất định
chỉ một vị Bồ Tát nào, có lúc là Văn Thù,
Phổ Hiền, có lúc là Quán Âm, Thế Chí. Nay theo bản kinh
này: Nếu có chúng sanh trong quốc độ “nên dùng thân
Thiên Đại Tướng Quân th́ mới có thể
đắc độ”, Quán Thế Âm Bồ Tát
đại từ đại bi “liền hiện thân Thiên
Đại Tướng Quân để mà thuyết pháp”
ḥng hóa độ, khiến cho kẻ ấy từ việc
hộ tŕ Phật pháp sẽ dần dần tiến vào đại
đạo giải thoát, thậm chí thành tựu Bồ
Đề tối cao vô thượng.
Thân Tỳ Sa Môn (Vaiśravana) là thân trời thị
hiện thứ sáu trong sáu thân trời. Tỳ Sa Môn là thiên
vương, tức là Đa Văn Thiên Vương ở
phương Bắc trong Tứ Đại Thiên Vương.
Tứ Thiên Vương Thiên là tầng trời thứ
nhất của Dục Giới, nằm lưng chừng núi
Tu Di. Vị ở phía Đông tên là Tŕ Quốc Thiên
Vương (Dhrita-rastra),
vị ở phương Nam tên Tăng Trưởng Thiên
Vương (Vidradhaka),
vị ở phương Tây tên là Quảng Mục Thiên
Vương (Virapaksa),
vị ở phương Bắc là Đa Văn Thiên
Vương (Vaiśravana).
Đa Văn là dịch nghĩa chữ
Tỳ Sa Môn, c̣n dịch là Biến Văn, Phổ Văn,
nhưng thường gọi là Đa Văn. Trong Bà La Môn
Giáo, vị trời này được gọi là Tài Thần,
tức là vị thần giữ ǵn của cải. Trong
đại tự miếu Phật giáo, trong sơn môn có
Tứ Đại Kim Cang, tức là bốn vị thiên
vương này, đều là thần hộ pháp của
Phật pháp. Nếu tu Ngũ Giới, Thập Thiện
sẽ sanh lên tầng trời này.
Trong thế gian như có hạng chúng sanh
nếu dùng các thân khác chẳng thể hóa độ
được kẻ đó, “nên dùng thân Tỳ Sa Môn
mới có thể hóa độ” th́ Quán Thế Âm Bồ
Tát đại từ đại bi “liền hiện thân
Tỳ Sa Môn để mà thuyết pháp”. Nói những pháp
ǵ? Ngoại trừ việc chăm chỉ hộ tŕ
Phật pháp ra, c̣n nói pháp Ngũ Giới Thập Thiện
sanh thiên, khiến cho người ấy dùng những pháp này
làm thang, làm bậc để dần dần tiến
hướng vào đạo giải thoát, để cầu
thân tâm được giải thoát.
Do vậy biết rằng Phật pháp
lưu hành trong thế gian, chẳng những cần có
người hoằng pháp, cũng cần phải có
người hộ pháp, như quốc vương,
đại thần và mọi nam nữ cư sĩ tại
gia học Phật, đều là người hộ tŕ
Phật pháp. Đă có lúc đức Phật từng
trịnh trọng đem trách nhiệm hộ tŕ Phật pháp
giao cho những người tại gia học Phật. Bây
giờ chẳng ngại ǵ không kể chuyện thiên
thần hộ pháp như sau:
Như trong giới luật của
tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni Phật giáo, lẽ ra hàng bạch y
chẳng được xem, lúc tụng tŕ hàng bạch y
cũng chẳng được nghe. Lúc Phật c̣n tại
thế, các tỳ-kheo cử hành tụng giới mỗi
nửa tháng, có người nghe trộm ngoài cửa, bất
ngờ thần Hộ Pháp trông thấy, lập tức dùng
chày Kim Cang gơ vào đầu kẻ nghe trộm ấy
khiến gă đó phải bỏ chạy lẹ, chứng
tỏ có Hộ Pháp Thiên Thần hộ tŕ Phật pháp!
Quán Âm Bồ Tát ứng hiện những
thân trời như trên vừa nói chỉ là sáu thân trời
trong Dục Giới và Sắc Giới. Trong Dục Giới
nói đến hai thân Địa Cư Thiên, trong Không Cư
Thiên th́ có Tha Hóa Tự Tại Thiên (Parinirmita-vaśavartin),
chẳng nhắc đến ba tầng trời Dạ Ma (Yāma),
Đâu Suất (Tushita), Hóa Lạc (Nirmānarati); c̣n trong Sắc Giới chỉ nói
Phạm Thiên của Sơ Thiền và Đại Tự
Tại Thiên của tầng trời Tứ Thiền cao
nhất, chẳng thấy nói đến các tầng trời
khác. Trong bốn thiên vương thuộc Địa Cư
Thiên chỉ nói đến Đa Văn Thiên Vương, ba
vị thiên vương ở Đông, Nam, Tây cũng
chẳng nói đến, như vậy nghĩa là sao? Có
phải Bồ Tát chẳng ứng hiện các thân trời
khác hay không? Không phải! Bất cứ thân trời nào
Bồ Tát cũng có thể thị hiện được,
sở dĩ ở đây chẳng nhắc đến là v́
chỉ nêu một vài thân thay cho tất cả để kinh
văn khỏi quá rắc rối.
1.2.2.1.1.3. Năng ứng ngũ nhân (ứng
hiện thân năm hạng người)
Chánh kinh:
Ưng dĩ tiểu vương thân
đắc độ giả, tức hiện tiểu
vương thân nhi vị thuyết pháp. Ưng dĩ
Trưởng Giả thân đắc độ giả,
tức hiện Trưởng Giả thân nhi vị thuyết
pháp. Ưng dĩ cư sĩ thân đắc độ giả,
tức hiện cư sĩ thân nhi vị thuyết pháp.
Ưng dĩ tể quan thân đắc độ giả,
tức hiện tể quan thân nhi vị thuyết pháp.
Ưng dĩ Bà La Môn thân đắc độ giả,
tức hiện Bà La Môn thân nhi vị thuyết pháp.
應以小王身得度者。即現小王身而為說法。應以長者身得度者。即現長者身而為說法。應以居士身得度者。即現居士身而為說法。應以宰官身得度者。即現宰官身而為說法。應以婆羅門身得度者。即現婆羅門身而為說法。
(Nên dùng thân tiểu vương
để được độ, liền hiện thân
tiểu vương để mà thuyết pháp. Nên dùng thân
Trưởng Giả để được độ,
liền hiện thân Trưởng Giả để mà
thuyết pháp. Nên dùng thân cư sĩ để
được độ, liền hiện thân cư sĩ
để mà thuyết pháp. Nên dùng thân tể quan để
được độ, liền hiện thân tể quan
để mà thuyết pháp. Nên dùng thân Bà La Môn để được
độ, liền hiện thân Bà La Môn để mà
thuyết pháp.
Đoạn này nói Bồ Tát có thể
hiện thành năm loại người; nhưng năm
loại người này chẳng phải tầm
thường mà là những người có trách nhiệm lănh
đạo quốc gia hoặc có địa vị
tương đương. Bọn họ không nhất
định phải là hàng đệ tử tin Phật,
nhưng Bồ Tát thị hiện có cùng thân phận với
họ, nên có thể dần dần chuyển hóa bọn
họ tin Phật, trở thành ngoại hộ đắc
lực cho Phật pháp, khiến Phật pháp tồn tại
trong thế gian, càng được lưu truyền
rộng răi, ảnh hưởng càng nhiều khiến
người ta tin Phật, đấy là điều rất
trọng yếu vậy.
Trong năm loại người ứng
hiện đây, trước hết nói đến thân
tiểu vương. Trong thời đại quân chủ, vua
là chủ nhân một nước, thống lănh toàn bộ
quốc gia, có oai quyền vô thượng. Các vị
đều biết đó: Trung Quốc cổ đại,
vua nước lớn gọi là đại vương, vua
nước nhỏ là tiểu vương, bởi vậy
tiểu vương là so với đại vương mà
nói. Nhưng ở Ấn Độ, ngoài những quốc
vương thông thường ra, theo truyền thuyết c̣n
có Chuyển Luân Thánh Vương cai trị một thiên
hạ, như Thiết Luân Vương cai quản Nam
Thiệm Bộ Châu, Đồng Luân Vương cai trị
hai châu, Ngân Luân Vương cai trị ba châu, Kim Luân
Vương cai quản cả bốn đại châu,
tức là Luân Vương cai quản một thiên hạ
gọi là đại vương, hết thảy những
người cai trị những nước nhỏ gọi
là tiểu vương. Quốc vương những
nước nhỏ chẳng phải chỉ có một hai
vị. Như tại Ấn Độ và Trung Quốc
thời cổ, đều có rất nhiều quốc vương
của các tiểu quốc, kinh Phật gọi là Túc Tán
Vương, ư nói: Các tiểu vương nhiều quá như
các hạt bắp rải rác khắp nơi.
Quốc vương bất luận lớn
hay nhỏ, đều là kẻ thống trị tối cao,
nói theo ngôn ngữ bây giờ là Tổng Thống hoặc
Nguyên Thủ, Chủ Tịch Quốc Gia v.v… Đối
với toàn thể nhân dân trong nước, bọn họ
gánh vác trách nhiệm bảo vệ, chiếu cố, tức
là bảo vệ an toàn sanh mạng, tài sản cho toàn dân.
Bởi thế trong thời đại chuyên chế thời
cổ, nền chính trị của một đất
nước tốt hay xấu liên quan rất lớn với
kẻ tập trung quyền thống trị tối cao.
Nếu quốc vương là kẻ bạo ác hay một gă
hôn quân, ắt sẽ khiến nhân dân toàn cơi bị hăm trong
cảnh dầu sôi lửa bỏng, gặp phải những
nỗi thống khổ vô cùng vô tận, cuộc sống c̣n
kém cả trâu ngựa. Nếu quốc vương là thánh
quân hoặc minh quân th́ chốn chốn yêu thương,
bảo vệ trăm họ, luôn luôn quan tâm đến dân chúng,
trong hết thảy mọi việc đều nghĩ
đến quyền lợi trăm họ, chẳng đánh
nhiều sắc thuế hà khắc sách nhiễu nhân dân,
chẳng hề vô cớ tàn sát nhiễu hại nhân dân, trăm
họ an cư lạc nghiệp, được sanh
sống ḥa b́nh hạnh phúc. Bởi thế, quốc
vương ảnh hưởng rất lớn đến
nhân dân trong một nước.
Nếu như kẻ thống trị
tối cao trong một nước có thể tín
ngưỡng Phật pháp, dùng Ngũ Giới, Thập
Thiện của nhà Phật để giáo hóa nhân dân, chỉ
đạo nhân dân khiến cho nhân dân toàn quốc đều
tín ngưỡng Phật pháp, phụng hành Phật pháp, th́ quốc
gia ấy nhất định ḥa b́nh, an định. Bồ
Tát phát tâm hành đạo Bồ Tát, nên cần phải
thị hiện thân quốc vương, chẳng phải là
muốn thống trị nhân dân mà mục đích nhằm hóa
độ nhân dân. Nếu trong quốc độ có một
loài chúng sanh “nên dùng thân tiểu vương” để
hóa độ th́ mới có thể “được
độ”, Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ
đại bi liền tùy thuận ḷng chúng sanh mong cầu, “liền
hiện thân tiểu vương để mà thuyết pháp”.
Pháp của Ngài nói đương nhiên chẳng ngoài Ngũ
Giới, Thập Thiện, khiến cho nhân dân từ
Giới Thiện đó tuân thủ pháp luật, ḥa thuận,
vui vẻ giúp đỡ nhau. Nếu có thể làm
được như vậy th́ chẳng những thọ
dụng lợi ích nơi Phật pháp mà c̣n được
hưởng mưa ḥa gió thuận, quốc thái dân an!
Tâm lư của nhân loại chúng sanh
đại đa số là hướng thượng.
Nếu người thống trị một đất
nước thực sự tín phụng Phật pháp, dùng
Phật pháp giáo hóa dân, tất nhiên sẽ đạt
được hiệu quả rất tốt là “thượng
hành, hạ hiệu” (trên thực hành, dưới bắt
chước theo), cũng khiến cho trăm họ tự
nhiên tin tưởng Phật pháp. Bởi vậy, đức
Phật từng đem trách nhiệm hộ tŕ Phật pháp
giao cho quốc vương.
Chẳng hạn như ở Ấn
Độ, sau khi Phật diệt độ chừng
khoảng một trăm năm, có vị đại
vương hữu danh thống nhất toàn cơi Ấn
Độ là vua A Dục (Aśoka),
là người hộ tŕ Phật pháp đắc lực
nhất. Lúc ông ta chưa tin tưởng Phật pháp, là
một ông vua tàn bạo vô cùng, thường tùy tiện
đem con người ra để tự tay sát hại,
đến nỗi trăm họ toàn quốc rúng
động, kinh hoàng vô cùng, đặt cho ông ta một cái
tên xấu xa là Bạo Ác A Dục Vương (Chandashok),
hoặc Hắc A Dục.
Sau này, vua được một tăng
nhân cảm hóa, liền diệt trừ cái tâm tàn bạo
trước kia, phụng hành Phật pháp, lại c̣n tạo
dựng tháp Phật nguy nga để cúng dường
xá-lợi đức Phật, tuyên dương khuếch
đại Phật pháp, lấy Phật giáo làm quốc giáo,
khiến Ấn Độ trở thành một nước
Phật giáo. Bản thân A Dục Vương cũng trở
thành một minh quân nhân từ, ḥa hoăn, yêu thương che
chở trăm họ. Những thủ đoạn bạo
ngược đối với thần dân trong quá khứ
đều chẳng c̣n nữa, từ đấy không c̣n ai
gọi ông là Bạo Ác A Dục Vương nữa, thay vào
đó là Nhân Từ A Dục Vương, hoặc Bạch A
Dục Vương. Hắc tượng trưng cho hung ác,
tàn bạo; bởi thế Phật pháp c̣n gọi ác
nghiệp là hắc nghiệp. Bạch tượng trưng
cho nhân từ, lương thiện, nên Phật pháp c̣n gọi
thiện nghiệp là bạch nghiệp.
Từ khi A Dục Vương tin
Phật, chẳng những trở thành một vị hoàng
đế truyền đạo bậc nhất của
Phật giáo, mà c̣n là vị vua đầu tiên nhận ra trong
việc cai trị quốc gia, tuyên truyền đóng một
vai tṛ trọng yếu tột bậc. Về sau, ông c̣n
nhận thấy vương quyền chẳng phải
chỉ là một dạng quyền lực mà c̣n là công cụ
để kiến lập ḥa b́nh, thiện ư và từ bi.
Bởi thế, A Dục Vương không chỉ tuyên
truyền Phật giáo trong nước ḿnh, mà c̣n phải
truyền giáo tới các bộ lạc ở biên cương
mới là thành công mỹ măn, lại c̣n phải tuyên
truyền giáo nghĩa Phật pháp tới những quốc
gia xa xôi. Vua từng phái những sứ đoàn Phật giáo
đến các nước Tự Lợi Á (Syria), Ai Cập
(Egypt), Mă Kỳ Đốn (Macedonia) v.v… tuyên truyền
Phật pháp, tuyên truyền thành công nhất là ở Tích Lan
(Sri Lanka).
Hiện thời chúng ta thường nghe
khẩu hiệu “Phong Trào Phật Giáo Thế Giới”,
người đề xướng mấy câu khẩu
hiệu này trong thời cận đại, cố nhiên Thái
Hư Đại Sư là người đầu tiên,
nhưng trong thời cổ, nói đến người phát
động phong trào Phật giáo thế giới chẳng
thể không nói A Dục Vương là bậc nhất.
Bởi thế, nói A Dục Vương là Quán Thế Âm
Bồ Tát thị hiện cũng chẳng phải là không
chấp nhận được.
Sau thời A Dục Vương,
khoảng bốn trăm năm sau khi Phật nhập
diệt, có vua Ca Nị Sắc Ca (Kanishka) xuất hiện,
cũng là vị hộ tŕ Phật giáo đắc lực,
cống hiến rất lớn cho Phật giáo. Ngoài ra,
những quốc vương Trung Quốc như
Đường Thái Tông, Tùy Dượng Đế,
Lương Vơ Đế, Minh Thái Tổ v.v… cũng có
những nỗ lực lớn lao để phổ biến
hoằng dương Phật pháp tại Trung Quốc.
Người Trung Quốc gọi đời Tùy -
Đường là giai đoạn hoàng kim của Phật
giáo, một mặt là do có rất nhiều cao tăng
đại đức xuất hiện trong thời đó
nỗ lực tuyên dương hoằng pháp, một mặt
là do quốc vương đương thời hộ tŕ
và tác động rất đắc lực. Những
người như vậy đều có thể coi là Quán Âm
thị hiện.
Trong năm hạng người ứng
hiện, tiếp đến nói về thân Trưởng
Giả. Trưởng Giả, Trung Quốc gọi là kỳ
thân, sĩ thân… Theo kinh Phật, Trưởng Giả
phải thật sự có mười đức là ḍng
họ cao quư, giàu có lớn, oai đức cao, lớn
tuổi, trí huệ sâu xa, tịnh hạnh, lễ nghi
đầy đủ, người trên khen ngợi, kẻ
dưới quy ngưỡng. Trong đó, năm đức
đầu thuộc về phương diện thân thể,
năm đức sau thuộc phương diện tâm lư. Nói
đơn giản là đạo đức cao trọng, nhân
cách cao quư, đức hạnh mỹ măn, tài sản dư
dật, tri thức quảng bác, niên kỷ cao, tín nghĩa
hơn người mới xứng là Trưởng Giả.
Là bậc Trưởng Giả th́ bất
luận xuất hiện trong tầng lớp xă hội nào
cũng đều được quảng đại nhân
quần tôn trọng cung kính. Là bậc Trưởng Giả
th́ bất luận làm chuyện ǵ hoặc xử lư một
vấn đề nào, cũng đều cực kỳ công
đạo chánh trực, như trong các địa phương
có những sự việc kiện thưa nào nhiều
năm chẳng giải quyết được, thế mà
gặp bậc Trưởng Giả nói mấy lời công
đạo, lập tức chuyện lớn hóa nhỏ,
chuyện nhỏ biến mất, khiến mọi
người vui vẻ, thật sự khâm phục, tiếp
nhận sự phân xử, cho thấy Trưởng Giả
có ảnh hưởng rất lớn.
Nếu ông ta có thể tin tưởng
Phật pháp th́ những người đă có hảo cảm
và cung kính tôn trọng ông ta cũng sẽ tự nhiên tùy
thuận phụng hành Phật pháp. Quán Âm Bồ Tát hiểu
sâu sắc điều này, nên đối với chúng sanh
thế gian “nếu có kẻ nên dùng thân Trưởng Giả
mới có thể độ được”, Ngài “liền
hiện thân Trưởng Giả để mà thuyết pháp”,
khuyên người khác làm người nên chánh trực, công
b́nh, đôn hậu, chất phác, thành thật. Mọi
người nghe Trưởng Giả nói như thế
tự nhiên rất vui ḷng tiếp nhận, lại c̣n thành thật
làm theo. Bởi thế, Trưởng Giả tin Phật pháp
sức cảm hóa cũng rất lớn.
Nói đi nói lại, nếu thân làm
Trưởng Giả mà chẳng thể dùng Phật pháp tu
dưỡng thân tâm của chính ḿnh th́ cũng chẳng
thể dùng Phật pháp hóa độ mọi người,
cái tư cách Trưởng Giả đó cũng phải xét
lại!
Trong năm hạng người ứng
hiện, thứ ba là thân Cư Sĩ. Thông thường,
chữ Cư Sĩ chỉ người tại gia học
Phật, nam giới học Phật gọi là nam cư
sĩ, nữ giới học Phật gọi là nữ cư
sĩ, tựa hồ chỉ là cách xưng hô dành riêng cho
những người học Phật. Tại Ấn
Độ, Cư Sĩ chẳng nhất định là danh
từ để chuyên gọi người học Phật,
như trong bốn chủng tánh, chủng tánh thứ ba là
Phệ Xá (Vaishya) có Cư Sĩ Nhất Lưu tức là
những người nhờ nông, công, thương mà giàu có.
Thế nhưng, một vị cư sĩ chân chánh cũng
phải có bốn mỹ đức lớn:
1) Chẳng theo đuổi công danh, quan
vị thế gian. Nói cách khác là chẳng tham vinh hoa, phú quư
thế gian. Chí khí cao thượng chẳng muốn
phụng sự vương hầu.
2) Rất lạt lẽo đối
với việc hưởng thụ những dục lạc
thế gian, quyết chẳng truy cầu xằng bậy,
chân chánh thanh tâm quả dục (giữ ḷng trong sạch, ít
ham muốn), nội tâm uẩn súc đức hạnh cao quư.
3) Tuy chẳng cầu giàu có mà trong nhà có
đủ của cải, nhưng chẳng coi trọng giàu
có, có thể đem của cải của ḿnh thí xả cho
nhân quần rộng lớn.
4) Tự ḿnh lấy đạo làm vui,
tức là hưởng niềm vui trong việc tu
đạo.
Nói chung, “tất cả những ai
chẳng ham lợi danh, chẳng mộ phú quư, giữ
nếp đạm bạc, khiêm cung, liêm khiết ẩn
cư, minh triết giữ thân, nhân cách cao thượng,
thọ tŕ Tam Quy, hoặc tŕ Ngũ Giới, thanh tịnh
tự tu, chẳng bị phiền năo ràng buộc, chịu
cực, chịu oán, lấy thân ḿnh làm gương, th́
gọi là Cư Sĩ”.
Như những vị tu tâm dưỡng
tánh trong rừng núi vào thời cổ ở Trung Quốc có
thể gọi là Cư Sĩ. Hạng người này
đạo mạo trang nghiêm, thái độ tiêu sái, tiêu dao
tự tại. Nếu dùng thân phận xuất gia
đến bàn luận Phật pháp cùng họ, họ sẽ
giữ kẽ chẳng thân cận. Nếu dùng thân phận
giống như họ để tiếp cận, lâu ngày
sẽ được họ tin tưởng, tiến thêm
một bước, có thể dẫn dụ họ vào
Phật pháp. Bởi thế, nếu có một loại chúng
sanh “nên dùng thân Cư Sĩ th́ mới có thể
độ”, Quán Thế Âm Bồ Tát “liền hiện
thân Cư Sĩ để mà thuyết pháp”.
Trong lịch sử Phật giáo Trung
Quốc, có thể nói là Bồ Tát hiện thân cư sĩ
rất nhiều, như cư sĩ Bàng Uẩn vào thời
cổ, cận đại là cư sĩ Dương Nhân
Sơn đều có ảnh hưởng cảm hóa rất
lớn đối với các nhân sĩ thuộc giới tri
thức văn hóa, đều có những cống hiến rất
lớn.
Người hành Bồ Tát đạo,
chẳng câu nệ như Thanh Văn nên có thể thị
hiện các thứ thân phận bất đồng
để hóa độ chúng sanh. Bởi thế hai chúng
cư sĩ tu học Phật pháp tại gia cũng có
thể hoằng dương Phật pháp hóa độ chúng
sanh, vấn đề là bản thân người cư
sĩ có hành theo Phật pháp hay chăng? Có giáo hóa theo đúng
chánh pháp Phật pháp hay không? Nếu đúng là như vậy
th́ do cư sĩ tại gia tiếp xúc nhiều
người, từ những hành vi biểu hiện nơi
thân ngữ có thể dẫn dắt cảm hóa người
khác quy tín Phật pháp. Đó là trách nhiệm của tại gia
cư sĩ chẳng thể thoái thác được!
Trong năm loại người ứng
hiện, thứ tư là thân Tể Quan. “Tể quan”
thông thường chỉ văn vơ bá quan trong chánh phủ,
giúp đỡ lănh đạo cai trị đất
nước. Thời cổ, trừ quốc vương ra,
người mang trách nhiệm trọng yếu nhất
đối với đất nước là Tể
Tướng, Thừa Tướng, Thủ Tướng
phụ trợ quốc vương và hết thảy
những ai nhận lănh chức vụ của chánh phủ
đều có thể gọi là Quan; nói như bây giờ là
những người làm công chức. Như Thủ
Tướng một nước, viện trưởng các
viện, bộ trưởng các bộ, cho đến
chủ tịch một tỉnh, huyện trưởng,
thị trưởng, hương trưởng, thôn
trưởng v.v… không chức vụ nào chẳng gồm
trong hai chữ Tể Quan.
Quan tối cao như Tể Tướng,
Tổng Lư[2],
hoặc viện trưởng hành chánh[3],
dưới một người trên vạn người,
đảm nhận trách nhiệm hành chánh rất lớn.
Nhỏ như các huyện quan, thời cổ gọi là quan
phụ mẫu, đối với trăm họ cũng có
sức ảnh hưởng tương đương.
Nếu như tể quan tin Phật, trăm họ cũng
tin Phật theo. Nếu có một loại chúng sanh “nên dùng
thân tể quan th́ mới độ được”, Quán
Thế Âm Bồ Tát từ bi “liền hiện thân tể
quan để mà thuyết pháp”. Xưa nay những tể
quan tín phụng Phật pháp, hộ tŕ Phật pháp rất
nhiều. Phật pháp Trung Quốc có thể kéo dài
đến ngày nay, lưu truyền kế tục chẳng
ngừng, không thể không nhắc đến mối quan
hệ rất lớn giữa hàng tể quan và việc “tín
Phật - hộ pháp”.
Bởi lẽ, một vị tể quan
tốt lành, trên th́ dốc sức tận trung đối
với vị lănh tụ tối cao của quốc gia,
dưới th́ đối với trăm họ thuộc
quyền ḿnh cai trị cũng phải yêu thương, che
chở, chiếu cố. Nếu làm được như
vậy th́ nếu chính người ấy tín phụng
Phật pháp, hoằng dương Phật pháp, tự nhiên
sẽ có sức mạnh rất lớn. Không chỉ
vậy, c̣n có thể vận dụng thân phận tể quan
giáo hóa các tể quan khác. Như trưởng quan trong quân
đội hoặc chánh quyền là viên chức lớn trong
toàn bộ một vùng, chẳng phải là người tầm
thường có thể giáo hóa được, bởi
thế Quán Âm Bồ Tát tùy thuận căn cơ chúng sanh,
thị hiện thân phận tể quan, v́ kẻ đó
thuyết pháp khuyên dạy khiến cho thân tâm
được giải thoát.
Trong năm loại người ứng
hiện, thứ năm là thân Bà La Môn. Những ai học
Phật pháp đều biết: Ở Ấn Độ có
bốn giai cấp chủng tánh là Bà La Môn (Brahmin), Sát Đế
Lợi (Kshaitriya), Phệ Xá (Vaishya) và Thủ Đà La (Shudra).
Bốn chủng tánh này vô cùng bất b́nh đẳng, Bà La
Môn được coi là chủng tánh cao quư nhất.
Theo pháp điển Ma Nô (Manusmrti)[4]:
1) Bà La Môn sanh từ miệng Phạm
Thiên, là tăng lữ đảm nhiệm chức trách chuyên
tế lễ, cúng bái trong nhân gian, có địa vị
đặc biệt tôn quư, có quyền lực đặc thù
hơn cả quốc vương, ngoại trừ việc
cúng bái, chẳng đảm nhiệm bất cứ công tác
nào.
2) Sát Đế Lợi sanh từ vai
Phạm Thiên, là người chỉ huy quân đội và
quản trị hành chánh, những người như
quốc vương và các vơ sĩ đều thuộc giai
cấp này. Tuy họ chẳng có thần vị cao quư như
Bà La Môn, nhưng địa vị xă hội cũng cao
tương đương.
3) Phệ Xá sanh từ đầu gối
Phạm Thiên, trong xă hội họ chẳng có địa
vị ǵ. Những vật cần dùng cho cuộc sống
của hai giai cấp Bà La Môn và Sát Đế Lợi chủ
yếu do bọn họ cung cấp. Bởi thế, trong giai
cấp này gồm có nông dân, thương nhân, thợ thủ
công nghiệp.
4) Thủ Đà La sanh từ bàn chân
Phạm Thiên, là giai cấp thấp kém nhất, làm những
nghề nghiệp hạ đẳng, suốt đời làm
trâu làm ngựa, cứ phải cam chịu những h́nh
phạt vô lư!
Bốn chủng tánh này chẳng những
địa vị xă hội cực bất b́nh đẳng,
ngay cả trong tín ngưỡng tôn giáo cũng hết
sức bất b́nh đẳng. Về mặt xă hội,
Thủ Đà La chẳng được tiếp xúc với
những chủng tánh khác! Thủ Đà La đi
đường, nếu dẫm vào bóng của Bà La Môn
sẽ bị họa sát thân. Pháp điển Ma Nô c̣n quy
định như sau: “Thủ Đà La dùng lá cỏ
chạm vào thân Bà La Môn sẽ bị xử chém”. Do đây
biết giai cấp xă hội nghiêm nhặt đến
mức độ nào.
Trên phương diện tôn giáo, [Ấn Độ
giáo cho rằng] Thủ Đà La là hạng chẳng thể
tái sanh, ba chủng tánh kia đều có thể tái sanh.
Chữ “tái sanh” vừa nói đó được
hiểu là người chết đi lại
được sanh làm người, do v́ bọn họ lúc
c̣n sống được hưởng quyền lợi
đọc tụng kinh điển Phệ Đà (Veda). Nói “chẳng
được tái sanh” có nghĩa là chết đi,
hết thảy đều chẳng tính đến nữa,
căn bản là chẳng thể thọ sanh trong loài
người được nữa, bởi lẽ lúc
sống họ chẳng được hưởng
quyền lợi đọc tụng kinh Phệ Đà.
Bởi thế, chế độ giai cấp bốn
chủng tánh bất b́nh đẳng của Ấn
Độ rơ ràng rất khắc nghiệt.
Nếu trong thế gian có một loại
chúng sanh “nên dùng thân Bà La Môn th́ mới có thể
đắc độ”, Quán Thế Âm Bồ Tát
đại từ đại bi “liền hiện thân Bà La
Môn để mà thuyết pháp”. V́ bọn họ thuyết
những pháp nào? Thuyết pháp b́nh đẳng, chỉ rơ nhân
loại sanh ra b́nh đẳng, chẳng có ai trỗi hơn,
chẳng có ai kém cỏi, sai biệt ǵ cả, bất cứ
ai cũng chẳng thể tự cao tự đại, cho
ḿnh là “con kiêu của trời” cả, hoặc là như
người Dĩ Sắc Liệt (Israel) nói “người
Dĩ Sắc Liệt là dân được Thượng
Đế chọn”, hoặc tự nhận chủng tộc
của ḿnh là một dân tộc ưu tú nhất trên thế
giới.
Hàng Bà La Môn Ấn Độ cho ḿnh là
chủng tộc thù thắng nhất, ưu tú nhất trong
thế gian nên thường chà đạp các chủng
tộc khác, khống chế người khác, chỉ huy người
khác, buộc người khác phục tùng ḿnh. Bây giờ,
Quán Âm Bồ Tát thị hiện thân phận Bà La Môn giống
hệt như họ, dùng thân ḿnh làm gương, đến
các nơi biểu hiện tinh thần b́nh đẳng
để cảm hóa Bà La Môn, đả phá quan niệm giai
cấp nghiêm nhặt, tin nhận chân lư “nhân loại và
hết thảy chúng sanh nhất luật b́nh đẳng”,
từ việc hành theo chân lư b́nh đẳng này sẽ
dần dần đạt đến giải thoát rốt
ráo.
1.2.2.1.1.4. Năng ứng tứ chúng (ứng
hiện thân tứ chúng)
Chánh kinh:
Ưng dĩ tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni,
ưu-bà-tắc, ưu-bà-di thân nhi đắc độ
giả, tức hiện tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni,
ưu-bà-tắc, ưu-bà-di thân nhi vị thuyết pháp.
應以比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷身得度者。即現比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷身而為說法。
(Nên dùng thân tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni,
ưu-bà-tắc, ưu-bà-di để được
độ, liền hiện thân tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni,
ưu-bà-tắc, ưu-bà-di để mà thuyết pháp).
Đoạn này nói Bồ Tát có thể
hiện thân tứ chúng, tức là tứ chúng đệ
tử trong Phật pháp. Trước khi giảng,
trước hết nên chia đoạn kinh văn này ra
để đọc như sau: “Nên dùng thân tỳ-kheo
để được độ liền hiện thân
tỳ-kheo để mà thuyết pháp. Nên dùng thân
tỳ-kheo-ni để được độ liền
hiện thân tỳ-kheo-ni để mà thuyết pháp. Nên dùng
thân ưu-bà-tắc để được độ
liền hiện thân ưu-bà-tắc để mà thuyết
pháp. Nên dùng thân ưu-bà-di để được
độ liền hiện thân ưu-bà-di để mà
thuyết pháp”.
Tỳ-kheo là tiếng Ấn, Hán dịch
thành ba nghĩa là Khất Sĩ, Phá Ác và Bố Ma.
a) Khất Sĩ:
Khất (乞) là cầu xin, Sĩ (士) là đại danh từ để chỉ người;
Khất Sĩ là người cầu xin. Trước kia,
đă có hai câu nói quen thuộc như sau: “Ngoại
khất thực dĩ dưỡng sắc thân; nội
khất pháp dĩ tư huệ mạng” (Ngoài xin thức
ăn để nuôi sắc thân, trong xin pháp để vun
bồi huệ mạng). Đó là ư nghĩa chữ Khất
Sĩ. Bởi lẽ sống trong thế gian, để duy
tŕ sanh mạng, chẳng thể không ăn uống, nhưng
đều là hướng đến tục nhân khất
hóa. Người xuất gia tu hành, nếu chỉ v́ xin
thức ăn mà khất thực chẳng biết cầu
khất chánh pháp Như Lai, nào có khác ǵ những kẻ ăn
mày xin cơm b́nh thường đâu. Bởi thế,
đức Phật quy định: Trong ṿng mười
bốn dặm, nếu có người giảng kinh
thuyết pháp mà hai chúng xuất gia chẳng đến nghe
th́ bị phạm giới.
b) Phá Ác:
Là nói hai chúng xuất gia, phàm đă
xuất gia th́ phải tu hành đúng theo Phật pháp, phá
trừ các thứ ác pháp. Nếu xuất gia mà chẳng
thể phá ác th́ có khác ǵ tục nhân đâu!
c) Bố Ma:
Là nói hai chúng xuất gia lúc đăng
đàn Tỳ-kheo, bạch Tứ Yết-ma, thọ giới
Tỳ-kheo, các thần Hộ Pháp đều đến
bảo hựu, khiến cho Địa Hành Dạ Xoa báo với
Không Hành Dạ Xoa, lần lượt báo lên thiên Ma Thiên
Vương, Ma Vương bèn sanh ḷng sợ hăi lớn. Ma
Vương thích nhất là con cháu đông đảo,
khiến cho chúng sanh trong toàn tam giới đều bị Ma
nắm giữ, nhất định chẳng vui ḷng cho
một chúng sanh nào thoát khỏi ḷng bàn tay ḿnh. Bây giờ,
người phát tâm xuất gia thọ giới, y pháp tu hành,
sẽ ĺa tam giới, đương nhiên khiến cho Ma
hoảng sợ, bởi thế gọi là Bố Ma.
Chữ Ni trong tỳ-kheo-ni nghĩa là
nữ, tức là nữ chúng xuất gia. Tôi sẽ kể câu
chuyện chứng thực Quán Âm Bồ Tát thị hiện
thân tỳ-kheo: Sơ Tổ Thiền Tông Trung Quốc là
Bồ Đề Đạt Ma sau khi đắc chánh pháp nhăn
tàng, đặc biệt sang Trung Quốc hành hóa. Thoạt
đầu, Tổ đến Nam Kinh gặp mặt
Lương Vơ Đế, đàm luận chẳng hợp,
bèn sang chùa Thiếu Lâm ở Tung Sơn, tỉnh Hà Nam,
ngồi nh́n vách chín năm; sau gặp Nhị Tổ Huệ
Khả bèn truyền tâm ấn Phật pháp cho Sư.
Chẳng lâu sau, Đạt Ma Tổ Sư viên tịch, chôn
tại núi Hùng Nhĩ. Khoảng đâu chừng hai năm
sau, đặc sứ của Bắc Ngụy là Tống Vân
gặp Bồ Đề Đạt Ma tại Thông Lănh,
cầm một chiếc giày đi một ḿnh, Tống Vân
hỏi Tổ đi đến địa phương nào,
Ngài nói trở về Tây Thiên. Tống Vân trở về
nước Ngụy, kể lại chuyện này. Thoạt
đầu mọi người không tin, sau mở ḥm ra xem,
thấy trong ḥm không có xác, chỉ lưu lại một
chiếc giày. Do Đạt Ma đi một chiếc giày
về Tây, nên sau này giới Phật giáo đồn
Đạt Ma Tổ Sư là hóa thân của Quán Âm Bồ Tát.
Lại kể chuyện khác, chuyện
Quán Âm Bồ Tát thị hiện thân tỳ-kheo-ni: Trong sách
Tỳ Kheo Ni Truyện, có truyện tỳ-kheo-ni Tăng
Đoan sống dưới thời Lưu Tống[5].
Gia đ́nh Sư đời đời tin phụng Phật
pháp, hai chị em cùng thệ nguyện xuất gia, nhưng
Tăng Đoan tướng mạo xinh đẹp, rất
nổi tiếng ở quê nhà, rất nhiều kẻ có
tiền bàn chuyện cầu hôn với anh em Sư. Bà mẹ
và anh em Sư đồng ư gả Sư cho một
người. Ba ngày trước khi về nhà chồng, do
chẳng muốn kết hôn, Tăng Đoan liền trốn
vào một ngôi chùa Phật giáo, thành tâm thành ư tụng
phẩm Phổ Môn suốt ba ngày. Một ngày nọ đang
lễ bái, chợt thấy Phật bảo cùng Sư:
“Chồng của ngươi mạng sắp hết,
ngươi phải tinh tấn dũng mănh tu tŕ, chớ có
lo lắng quá mức về chuyện này nữa!” Về sau
đúng là người chồng hứa hôn của Sư
bị trâu húc chết, Sư bèn tu tŕ Phật pháp
được rất nhiều lợi ích lớn lao;
bởi thế có thể nói Sư là hóa thân của Quán
Thế Âm Bồ Tát.
Ưu-bà-tắc (Upāsaka) là
tiếng Ấn Độ, Hán dịch là Cận Sự Nam,
hoặc Thanh Tín Sĩ, Ưu-bà-di (Upāsikā) cũng
là tiếng Ấn Độ, Hán dịch là Cận Sự
Nữ hoặc Thanh Tín Nữ. Hai hạng người này là
hai chúng đệ tử học Phật tại gia, thân
cận Tam Bảo, phụng thừa hành nhân Tam Bảo. Quán
Âm Bồ Tát thị hiện thân Ưu Bà Tắc, thân Ưu Bà
Di chép trong sách Quán Âm Linh Cảm Lục có thể nói là
rất nhiều, chẳng cần phải kể nhiều
nữa.
Ngay trong tứ chúng hiện diện
đây, rốt cuộc vị nào là Quán Âm Bồ Tát thị
hiện, chúng ta người phàm mắt thịt tự nhiên
nh́n chẳng ra. Chẳng thể v́ ḿnh nh́n không ra bèn cho là
Bồ Tát chẳng thị hiện. Bởi lẽ, Quán Âm
Bồ Tát từ bi, trong thế gian này nếu có một loài
chúng sanh nào nên dùng thân phận tứ chúng bất
đồng mới ḥng độ thoát, Ngài lập tức
thị hiện thân phận tứ chúng bất đồng,
v́ họ thuyết pháp bất đồng khiến họ tu
hành đúng pháp để được thân tâm giải
thoát.
1.2.2.1.1.5. Năng ứng chúng phụ (ứng
hiện các thân phụ nữ)
Chánh kinh:
Ưng dĩ Trưởng Giả, cư
sĩ, tể quan, Bà La Môn phụ nữ thân đắc
độ giả, tức hiện phụ nữ thân nhi
vị thuyết pháp.
應以長者、居士、宰官、婆羅門、婦女身得度者。即現婦女身而為說法。
(Nên
dùng thân phụ nữ của hàng Trưởng Giả,
cư sĩ, tể quan, Bà La Môn để được
độ liền hiện thân phụ nữ để mà
thuyết pháp).
Đoạn này nói Bồ Tát ứng
hiện các thân phụ nữ. Phụ nữ được
nói trong đoạn kinh này chẳng phải chỉ một
loại phụ nữ mà là các loại phụ nữ đă
kết hôn, trở thành bà chủ gia đ́nh. Trong gia đ́nh,
họ có địa vị đặc thù, bởi lẽ gia
đ́nh lấy vợ chồng làm trung tâm. Nếu bà chủ
gia đ́nh phát tâm học Phật sẽ rất có khả
năng xúc tiến Phật hóa gia đ́nh. Phật hóa gia
đ́nh là căn bản để Phật hóa xă hội.
Nếu chúng ta muốn Phật hóa xă hội th́ phải
bắt đầu từ Phật hóa gia đ́nh. Với ư
nghĩa này, bà chủ gia đ́nh tự nhiên trở thành
một nhân tố trọng yếu.
Đoạn kinh này có thể đọc
thành bốn đoạn: Nếu nên dùng thân phụ nữ
của hàng Trưởng Giả để đắc
độ, liền hiện thân phụ nữ Trưởng
Giả để thuyết pháp; nếu nên dùng thân phụ
nữ của hàng cư sĩ để đắc
độ, liền hiện thân phụ nữ cư sĩ
để thuyết pháp; nếu nên dùng thân phụ nữ
của hàng tể quan để đắc độ,
liền hiện thân phụ nữ tể quan để
thuyết pháp; nếu nên dùng thân phụ nữ của hàng Bà
La Môn để đắc độ, liền hiện thân
phụ nữ Bà La Môn để thuyết pháp.
Nói theo cách phân biệt chủng tánh
của Ấn Độ th́ Trưởng Giả, Cư
Sĩ thuộc ḍng Phệ Xá, Tể Quan mang trọng trách
chính trị, quân sự của quốc gia nên thuộc ḍng
Sát Đế Lợi; Bà La Môn là ḍng cao quư nhất trong
bốn chủng tánh, c̣n chủng tánh hạ tiện Thủ
Đà La trong kinh không nhắc đến. Sở dĩ Quán Âm
Bồ Tát hiện thân phụ nữ chỉ hiện thân trong
ba chủng tánh có thể tái sanh, chẳng hiện thân
phụ nữ của chủng tánh Thủ Đà La không
thể tái sanh là v́ trong xă hội đương thời
giai cấp Thủ Đà La ty tiện vô cùng. Nếu hiện
thân phụ nữ [Thủ Đà La] thuyết pháp, sẽ
chẳng có ai tin tưởng tiếp nhận,
đương nhiên chẳng thể phát sanh hiệu lực
ǵ, bởi thế chẳng hiện thân phụ nữ
Thủ Đà La.
Trong xă hội, Trưởng Giả và
Cư Sĩ có địa vị cao, trên phương
diện chính trị, Tể Quan có thế lực
tương đương, trong giới tôn giáo, Bà La Môn có
vị trí đặc thù. Bởi thế, Bồ Tát thị
hiện thân phụ nữ của ba hạng người này
để làm hiền nội của những Cư Sĩ,
Trưởng Giả, Bà La Môn cổ động Phật
pháp, đương nhiên đạt được hiệu
quả rất lớn. Ta thấy Bồ Tát hiện thân
chẳng phải là không mục đích, mà là dùng Phật pháp
dạy dỗ, dẫn dắt nhân quần, trong giai cấp
nào có thể phát sanh ảnh hưởng lớn th́ Bồ
Tát bèn thị hiện trong giai cấp ấy ngơ hầu
đạt được mục đích giáo hóa thế
gian.
Đến đây, ắt có người
hỏi: Trong quốc gia, xă hội, phụ nữ có
địa vị tối cao trước hết phải
kể là hoàng hậu, sức ảnh hưởng của bà
ta các phụ nữ khác không sao bằng được, sao
trong kinh không nhắc đến thân vương hậu?
Vương hậu địa vị cao, sức hiệu
triệu mạnh mẽ, cổ động Phật pháp
tốt nhất mà!
Theo như cổ đức giải
thích: Trong thời đại quân chủ, vương
hậu đại đa số đều ở trong thâm
cung, rất ít ra hoạt động ngoài cung, chẳng
bằng các phụ nữ khác có thể tiếp xúc quảng
đại quần chúng, bởi thế trong kinh chẳng nói
đến thân vương hậu. Nhưng trong kinh Lăng Nghiêm
cũng có nói Bồ Tát hiện thân vương hậu
để thuyết pháp như kinh chép: “Nhược hữu
nữ nhân, nội chánh lập thân, dĩ tu gia quốc, ngă ư
bỉ tiền, hiện nữ chúa thân cập quốc phu nhân,
mạng phụ đại gia, nhi vị thuyết pháp” (Nếu có nữ nhân, lo việc
cai quản gia đ́nh, tu dưỡng đức hạnh
để xây dựng đất nước, ta ở
trước người đó, hiện làm thân nữ chúa và
quốc phu nhân để thuyết pháp cho các mạng
phụ đại gia khiến họ thành tựu)[6].
Bởi lẽ, vương hậu ở trong cung cũng có
thể giáo hóa quyến thuộc trong cung. C̣n như những
đệ nhất phu nhân trong hiện tại, Bồ Tát
cũng có thể thị hiện để giáo hóa.
Đúng là phụ nữ chiếm hữu
một địa vị trọng yếu trong gia đ́nh
cũng như xă hội. Nh́n trên phương diện tôn
giáo, lấy ví dụ bất cứ tôn giáo nào, tín đồ
nữ giới cũng nhiều hơn nam; nhưng nói chung,
năng lực và trí huệ của phụ nữ chẳng
cách biệt nam giới nhiều lắm, thậm chí có
phụ nữ trí huệ c̣n hơn cả rất nhiều
nam nhân. Bởi vậy, sau khi người nữ tin
tưởng một tôn giáo nào rồi, chẳng những
họ không ngừng truy cầu chân lư của tôn giáo đó,
mà ḷng tin cũng kiền thành, khẩn thiết. Thử coi
trong các đại hội truyền giáo của các tôn giáo,
phụ nữ đều chiếm đa số trong thính chúng.
Do đây ta thấy phụ nữ đối với tôn giáo
rất kiền thành. Như vậy, điều cực
khẩn thiết đương nhiên là bất cứ
phụ nữ nào cũng đều phải nên nuôi
dưỡng cái tâm tín ngưỡng tôn giáo. Bởi lẽ, dù
phụ nữ có nuôi dưỡng cái tâm tín ngưỡng tôn
giáo hay không đều có ảnh hưởng rất lớn
đối với xă hội.
Có người từng nói như thế
này: “Trong gia đ́nh phụ nữ có đủ ba thiên
chức là dưỡng dục con cái, nấu nướng,
tín phụng tôn giáo”. Bây giờ khoan bàn hai thiên chức
đầu, chỉ bàn đến thiên chức tín phụng
tôn giáo. Nếu bà chủ một gia đ́nh có tín
ngưỡng tôn giáo, th́ trên có thể ảnh hưởng
đến bố mẹ chồng, dưới là ảnh
hưởng con cái, giữa là ảnh hưởng chồng
ḿnh. Như vậy mọi thành viên trong gia đ́nh
đều được gội đẫm khí phận tôn
giáo, tự nhiên ḥa thuận vui vẻ, cuộc sống gia
đ́nh vui sướng.
Về mặt ảnh hưởng
đối với con cái: nếu người làm mẹ
quả thật là một tín đồ tôn giáo kiền thành,
con cái ngày ngày tai mắt tiêm nhiễm cảm hóa, tự nhiên
cũng sẽ tin tưởng tôn giáo đó. Chẳng hạn
như mẹ là tín đồ Phật giáo, sẽ
thường dẫn con cái đến chùa miếu, Phật
đường, khiến con cái dần dần
được tiếp nhận, un đúc khí phận
Phật pháp, tự nhiên lưu lại ấn tượng tôn
giáo sâu đậm. Đến khi nhân duyên thành thục,
liền tín phụng Phật giáo.
Bởi thế, Quán Thế Âm Bồ Tát
đối với những kẻ nên dùng thân phụ nữ
của hàng Trưởng Giả, cư sĩ, tể quan, Bà
La Môn mới có thể được độ thoát,
liền hiện các thứ thân nữ nhằm thích ứng thuyết
pháp cho kẻ ấy, khuyên dạy, dẫn dắt kẻ
ấy trong gia đ́nh làm người vợ đảm,
mẹ hiền như thế nào ngơ hầu thân tâm
được giải thoát.
1.2.2.1.1.6. Năng ứng nhị
đồng (ứng hiện thân trẻ con hai
giới)
Chánh kinh:
Ưng dĩ đồng nam, đồng
nữ thân đắc độ giả, tức hiện
đồng nam, đồng nữ thân nhi vị thuyết
pháp.
應以童男、童女身得度者。即現童男、童女身而為說法。
(Nên dùng thân trẻ trai, trẻ gái
để được độ, liền hiện thân
trẻ trai, trẻ gái để mà thuyết pháp).
Đoạn này nói Bồ Tát ứng
hiện thân hai loại trẻ con, tức là thân bé trai và bé
gái. Trong quan niệm mọi người, "đồng
nam đồng nữ" chỉ những đứa bé trai
và gái từ bảy tám tuổi cho đến mười
một, mười hai tuổi; nhưng nếu hiểu hai
chữ này theo nghĩa rộng th́ chẳng phân biệt
tuổi tác lớn hay nhỏ, miễn là chưa kết hôn,
hoặc người theo chủ nghĩa độc thân
đều có thể coi là đồng nam, đồng
nữ.
Đồng nam, đồng nữ có
một đặc điểm là thiên chân thuần khiết,
như người lớn trông thấy trẻ nhỏ ngay
lập tức bèn nói chúng ngây thơ rạng rỡ, hoạt
bát đáng yêu, hoặc nói chúng thuần khiết vô cùng,
chẳng có chút ǵ hư ngụy. Sự thật cũng
đúng là như vậy, bởi chúng chưa bén nhiễm
những tập quán bất lương của xă hội; do
đó, tâm địa thật là thiên chân thuần khiết.
Người trưởng thành nếu thường tiếp
xúc với trẻ con, rất dễ khơi dậy cái tâm con
trẻ của chính ḿnh, chẳng c̣n lo sợ những
nỗi tang thương ḿnh từng nếm trải. Ngay
cả người lăn lóc trong đời đă lâu,
sống chung cùng trẻ con cũng dễ phát khởi cái tâm
xích tử.
Sách Thanh Niên Phật Giáo Dữ Phật
Giáo Thanh Niên (Thanh niên hóa Phật giáo và Phật giáo hóa thanh niên)
viết: “Phật giáo cũng khen ngợi tuổi nhỏ,
chẳng những khen ngợi chúng là chân thành, thuần
khiết, mà c̣n đặc biệt chú trọng đến
tánh từ ḥa, nội tâm chứa nhiệt t́nh trong sáng vô
hạn, chẳng tiếc nuối hết thảy để
truy cầu chân lư”. Bởi thế đồng nam,
đồng nữ thật đáng yêu quư.
Bản thân một con người
đang trong tuổi đồng nam, đồng nữ khác
nào một tờ giấy trắng tinh, quư vị muốn
vẽ lên đó h́nh thái như thế nào liền có thể
vẽ thành h́nh thái như thế đó, giống như
tờ giấy trắng tô màu hồng liền thành hồng,
bôi đen liền thành đen. Bởi vậy, trong thời
kỳ đó, đổ công dẫn dắt, giáo hóa thật
không c̣n ǵ trọng yếu, dễ dàng hơn được
nữa. Trung Quốc có câu ngạn ngữ: “Tang thụ chi
tử tùng tiểu khuất” (Uốn cành dâu từ
thuở c̣n non). Nếu như cây dâu đă mọc lớn rồi,
rất khó uốn cành, chỉ có lúc cành dâu c̣n non tơ, lá
vừa nhú mới có thể uốn cành được.
Cũng như dẫn dắt, dạy dỗ trẻ con
phải bắt đầu từ khi chúng mới bảy tám
tuổi, dạy dỗ một cách thích đáng và hữu
hiệu th́ mới có thể làm cho chúng nó từ từ
trở thành những đứa nhỏ biết vâng giữ
phép tắc, mai sau lớn lên cũng trở thành những
công dân lương hảo.
Nếu tuổi nhỏ đă nhiễm
phải tập khí bất lương, bị thành phần
bất lương mê hoặc, dẫn dụ vào ngơ rẽ,
như những tên thái bảo - thái muội ở Đài Loan
hoặc phi tử - phi nữ ở Hương Cảng, A
Phi[7]
tại Tân Gia Ba v.v… chẳng những tiền đồ
của chúng do vậy bị đứt đoạn mà an ninh
xă hội cũng bị ảnh hưởng xấu lây!
Như hiện thời những bọn thiếu niên bất
lương trong xă hội gây rối các nơi, khiến các
nhân viên đảm trách trị an xă hội phải đau
đầu, đều là những chứng minh hùng hồn
nhất.
Do đó, việc hướng dẫn
những đồng nam, đồng nữ, bất luận
trên phương diện nào, đều vô cùng trọng
yếu. Gần đây, Phật giáo đề xướng
“Phật hóa nhi đồng” cũng là vận dụng
Phật giáo để giáo hóa nhi đồng khiến cho hành
vi, tư tưởng của mỗi một nhi đồng
đều đi vào khuôn khổ chánh đáng. Quán Thế Âm
Bồ Tát thấy trong thế gian có loài chúng sanh “nên dùng
thân đồng nam, đồng nữ mới độ
được liền hiện thân đồng nam,
đồng nữ để mà thuyết pháp”, chỉ
dạy bọn chúng phải làm sao để thành con
người có nhân cách hoàn chỉnh, hữu dụng cho xă
hội!
1.2.2.1.1.7. Năng ứng bát bộ (ứng
hiện thân tám bộ quỷ thần)
Chánh kinh:
Ưng dĩ Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn Thát
Bà, A Tu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, nhân phi nhân
đẳng thân đắc độ giả, tức giai
hiện chi nhi vị thuyết pháp.
應以天、龍、夜叉、乾闥婆、阿脩羅、迦樓羅、緊那羅、摩候羅伽、人、非人等身得度者。即皆現之而為說法。
(Nên
dùng các thân Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Khẩn Na
La, Ma Hầu La Già, Nhân phi nhân để độ,
đều liền hiện các thân ấy để mà
thuyết pháp).
Đoạn này nói rơ Bồ Tát có thể
ứng hiện các thân thuộc tám bộ, ta thường
gọi là Thiên Long Bát Bộ, là các chúng Hộ Pháp trong
Phật pháp. Nếu tách ra đọc th́ cũng giống
như trên phải đọc thành tám đoạn:
“Nên dùng các thân Trời để
độ liền hiện thân Trời để mà
thuyết pháp. Nên dùng thân Rồng để độ
liền hiện thân Rồng để mà thuyết pháp. Nên
dùng thân Dạ Xoa để độ, liền hiện thân
Dạ Xoa để mà thuyết pháp. Nên dùng thân Càn Thát Bà
để độ, liền hiện thân Càn Thát Bà
để thuyết pháp. Nên dùng thân A Tu La để
độ, liền hiện thân A Tu La để mà thuyết
pháp. Nên dùng thân Khẩn Na La để độ, liền
hiện thân Khẩn Na La để mà thuyết pháp. Nên dùng
thân Ma Hầu La Già để độ, liền hiện
thân Ma Hầu La Già để mà thuyết pháp”.
“Thiên”:
tiếng Ấn Độ gọi là Đề Bà (Deva), Hán dịch
là Thiên. B́nh thường nói là tam giới có hai mươi
tám cơi trời, nhưng Thiên được nói ở đây
chủ yếu chỉ Địa Cư Thiên của Dục
Giới, bao gồm thiên chúng Tứ Thiên Vương Thiên và
Đao Lợi Thiên. Nếu trong thế gian có loại chúng
sanh nên dùng thân Trời th́ mới được độ,
Quán Thế Âm Bồ Tát liền hiện thân Trời
để thuyết pháp. Kinh Lăng Nghiêm chép: “Nhược
hữu chư thiên, nhạo xuất thiên luân, ngă hiện thiên
thân, nhi vị thuyết pháp, linh kỳ thành tựu” (Nếu có chư thiên, muốn
thoát kiếp trời, ta hiện thân Trời để
thuyết pháp cho những kẻ ấy được thành
tựu), chính là nói về ư này. Trong phần ứng
hiện sáu thân trời ở trên, tuy nói là ứng hiện
sáu thân trời sai khác, nhưng đều là ước theo
từng loại sai biệt mà nói, ở đây là nói tổng
quát, nên chẳng giống với phần trên.
“Long” (Nāga): Ở Trung Quốc, Rồng là một
trong Tứ Linh, là một loài linh dị, giỏi biến
hóa. Theo Phật pháp, Rồng có các dạng thức sai khác: Có
thiên long chuyên thủ hộ cung trời, có hải long chuyên
giữ long cung, có tàng long chuyên bảo vệ kho tàng, có
vũ long phun mưa. Bất cứ loại rồng nào,
rốt cuộc h́nh dạng như thế nào, từ
trước đến nay chưa ai thấy
được. Bất quá, thời xưa Trung Quốc và
Ấn Độ đều có truyền thuyết về
Rồng, chúng ta chẳng thể không thừa nhận là có
Rồng. Tuy nói Rồng phước báo rất lớn,
nhưng nghiệp chướng cũng cực sâu nặng,
chẳng thể an nhiên hưởng thọ phước báo.
Theo kinh Phật, Đại Bằng Kim Xí
Điểu rất thích ăn Rồng. V́ thân Rồng
rất dài nên khi chúng ăn vào, giống như người
đời nuốt cọng ḿ. Bởi thế chúng sanh mang
thân Rồng thường chịu nỗi khổ sanh
mạng bị uy hiếp, sợ hăi Đại Bằng Kim
Xí Điểu nhất.
Có một lần, đức Phật
tịnh tọa tu Định bên bờ biển cả,
Rồng bị Kim Xí Điểu uy hiếp, chạy
đến trước đức Phật cầu cứu,
cầu thoát khỏi cái nạn bị Kim Xí Điểu
quắp lấy nuốt ăn. Đức Phật từ bi
bèn đem ca-sa đang mặc chia một phần cho Long
Vương, dạy gă đem cắt thành từng miếng
cho rồng con, rồng cháu đắp trên thân hầu thoát
khỏi nạn bị Kim Xí Điểu bắt ăn,
bởi lẽ Kim Xí Điểu trông thấy ca-sa của
Phật chẳng dám ăn Rồng nữa, giữ yên
được sanh mạng cho các Rồng. Do đây, ta
thấy rơ oai lực ca-sa lớn đến đâu!
Thế gian có một loại chúng sanh nên
dùng thân Rồng th́ mới có thể đắc độ,
Quán Thế Âm Bồ Tát liền hiện thân Rồng
đến Long Cung v́ các Rồng thuyết pháp, khiến chúng
xả bỏ tâm Sân. Nếu nói: Cung Rồng dưới
đáy biển, làm sao đến Long Cung thuyết pháp cho
được? Đây chẳng phải là chuyện không
thể được, như hiện c̣n kinh Phật
Thuyết Thập Thiện Nghiệp Đạo là bản
kinh đức Phật ở Long Cung v́ Long Vương
thuyết pháp. Như vậy, đương nhiên Bồ Tát
cũng có thể thị hiện thân Rồng đến Long
Cung thuyết pháp cho Rồng.
“Dạ Xoa”
(Yaksha) ở phần trên đă có nói là Tiệp Tật
Quỷ (quỷ nhanh nhẹn), c̣n gọi là Bạo Ác
Quỷ, có hai loại thiện và ác: Thích ăn người
là ác Dạ Xoa, hộ tŕ Phật pháp là thiện Dạ Xoa.
Như tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni khai đàn thọ giới,
đầu tiên là bạch Tứ Yết-ma, Địa Hành
Dạ Xoa liền hoan hỷ báo với Không Hành Dạ Xoa,
Không Hành Dạ Xoa nghe được tin này bèn vui vẻ báo
với Tứ Thiên Vương. Lần lượt
truyền báo như thế lên đến cung Ma Tha Hóa Tự
Tại, khiến các Ma Vương sanh sợ hăi lớn lao!
Thiện Dạ Xoa bảo hộ hành nhân và hộ tŕ
Phật pháp. Trong thế gian nếu có một loại chúng
sanh phải dùng thân Dạ Xoa hóa độ mới có thể
độ thoát được họ th́ Quán Thế Âm
Bồ Tát đại từ đại bi bèn hiện thân
Dạ Xoa để v́ họ thuyết pháp. Như mọi người
đều biết, Diện Nhiên Đại Sĩ chính là
hiện thân của Quán Âm Bồ Tát.
“Càn Thát Bà” (Gandharva), Hán
dịch thành Tầm Hương (t́m mùi hương),
Khứu Hương (ngửi mùi hương), Thực
Hương (ăn hương), Hương Thần, là
thần tấu nhạc trước ṭa của Đế
Thích, chúa trời Đao Lợi. Đế Thích Thiên mê
đắm ngũ dục, đương nhiên cũng thích
nghe âm nhạc. Mỗi khi Đế Thích muốn nghe âm
nhạc, chẳng cần phải sai thiên chúng đi t́m
thần tấu nhạc, chỉ thắp một cây
hương để trước mặt; Càn Thát Bà nghe mùi
hương bèn đến tấu nhạc trước ṭa
Đế Thích, cứ tấu măi cho đến khi
Đế Thích không muốn nghe nữa mới ngưng.
Thần tấu nhạc này thường sống trong hang Kim
Cang ở phía Nam núi Tu Di, có thể bay trên hư không. Trong
thế gian nếu có một loại chúng sanh nên dùng thân Càn
Thát Bà để hóa độ họ th́ sau đó họ
mới có thể được độ thoát, Quán Thế
Âm Bồ Tát đại từ đại bi bèn hiện thân
Càn Thát Bà v́ họ thuyết pháp. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nhược
Càn Thát Bà, nhạo thoát kỳ luân, ngă ư bỉ tiền, hiện
Càn Thát Bà thân, nhi vị thuyết pháp, linh kỳ thành tựu”
(Nếu Càn Thát Bà thích thoát
khỏi thân đó, ta hiện trước gă đó, hiện
thân Càn Thát Bà, v́ gă thuyết pháp khiến gă thành tựu)
cũng nhằm diễn tả ư này.
“ A Tu La” (Asura),
có ba cách dịch sang tiếng Hán:
a) Phi Thiên: Ư nói Tu La có phước
báo trời, nhưng không có đức của chư thiên.
b) Vô Đoan Chánh: Theo kinh dạy, A
Tu La nữ rất mỹ lệ đoan nghiêm, nhưng A Tu La
nam cực thô xấu, chẳng có được nửa
điểm tướng mạo đoan chánh nào.
c) Vô Tửu: Theo truyền
thuyết, trong quá khứ, A Tu La rất thích uống
rượu, nhưng có lúc t́m không ra rượu, không có
rượu để uống, liền dứt khoát cai
rượu, bởi thế gọi là Vô Tửu.
Đặc tánh lớn nhất của A
Tu La là tâm Nghi rất nặng, bất luận việc ǵ
cũng chẳng tin người khác chút nào. Do tâm nghi ngờ
quá nặng, sức tranh giành cũng mạnh, nên cái tâm háo
thắng tranh cường cũng trội hơn
người khác rất nhiều. Tu La thích đánh nhau cùng
Đế Thích nhất, nhưng cũng là có nguyên nhân, bây
giờ tôi chẳng ngại nêu lên một chuyện
để thuyết minh như sau:
Tương truyền A Tu La Vương
có một người con gái tên là Xá Chỉ (Shachi
Indrani), cô này càng lớn càng xinh đẹp, có
thể nói là thế gian ít có người xinh đẹp
như cô. Về sau Đế Thích biết được;
Đế Thích thuộc Địa Cư Thiên trong Dục
Giới, tâm ái dục nam nữ chưa đoạn, bởi
thế bèn lấy con gái A Tu La làm vợ, nên cùng A Tu La
Vương có quan hệ bố vợ - chàng rể, cảm
t́nh giữa hai bên cũng rất tốt.
Chẳng lâu sau khi Đế Thích đă
cưới Xá Chỉ, v́ muốn tỏ ḷng tôn kính bố
vợ, Đế Thích đặc biệt mời A Tu La
Vương lên thiên cung du ngoạn và ở lại ít lâu,
đương nhiên là dùng hậu lễ tiếp đăi. Khi
A Tu La Vương đă hết hứng, muốn trở
về, v́ muốn tỏ vẻ long trọng tiễn
đưa, Đế Thích bèn sai đội nghi
trượng thiên binh thiên tướng dàn hàng hai bên cung kính
tiễn khách đúng lễ. Nào ngờ A Tu La Vương
chẳng những không nhận thịnh t́nh của chàng
rể, trái lại c̣n nghi Đế Thích cố ư phô
trương oai phong trước mặt ḿnh để
đe đọa, trong tâm hết sức khó chịu!
Tuy là Đao Lợi Thiên Vương,
nhưng Đế Thích thường xuống nhân gian nghe
đạo. Hễ có Phật xuất thế bèn xuống
nhân gian nghe Phật thuyết pháp, khi không có Phật xuất
thế bèn xuống nhân gian nghe Tiên giảng đạo. Có
một lần, Đế Thích muốn xuống nhân gian nghe
Tiên giảng đạo, bà vợ A Tu La Nữ Xá Chỉ nghi
ông chồng lăng nhăng dưới trần, bèn hạch
hỏi Đế Thích quá mức, Đế Thích kể
thực mọi chuyện, bất luận thế nào bà A Tu
La Nữ Xá Chỉ vẫn không tin, lại đ̣i theo
Đế Thích xuống nhân gian ḍ xét. Đế Thích nghĩ
bà ta là đàn bà chẳng nên xuống nhân gian bèn gạt
phăng. Bởi thế, bà ta càng thêm ngờ vực, không theo
ổng xuống trần cũng không xong!
Đợi sau khi Đế Thích ngồi
lên xe báu xuống nhân gian, A Tu La Nữ vận dụng
thần thông, ẩn thân núp sau xe báu theo xuống nhân gian.
Xuống đến nhân gian, Đế Thích xuống xe, Xá
Chỉ cũng xuống xe. Đế Thích trông thấy, không
những trách mắng bà đôi câu, c̣n dùng cành hoa đập
bà mấy cái đến nỗi bà Xá Chỉ nổi cơn
thịnh nộ kiêu căng, bèn om ṣm hài tội Đế
Thích cho đến khi ông ta phải xuống nước mới
thôi. Ngay lúc đó, tiên nhân v́ phải nghe giọng nói lảnh
lót của bà ta đến nỗi mất cả thần
thông; bởi thế Đế Thích càng thêm giận dữ.
Do vậy, Xá Chỉ tâm càng thêm hoài nghi, cứ cho là ông
chồng ḿnh hiếp người thái quá!
Sau đó, bà Xá Chỉ đem t́nh h́nh khóc
kể cùng phụ vương, A Tu La Vương vừa nghe
chẳng ngăn nổi nộ khí ngút trời: “Bữa
trước mi thị oai trước mặt ta, giờ
lại khinh rẻ con gái ta, có ai nhịn được
nổi hay chăng?” Do vậy, phát động vô số binh
tướng A Tu La đến tuyên chiến cùng Đế
Thích, trực tiếp công kích thiên cung. Do A Tu La có chút
thần thông, nên chân bèn đạp đáy biển, tay lay cung
trời, khiến Đế Thích Thiên đại bại
trốn chạy. Sau trận chiến lần ấy, Đế
Thích và Tu La thường hay đánh nhau, tuy nói là có lúc thắng,
lúc thua, nhưng phần nhiều Đế Thích bị thất
bại. Do vậy, thường cảm thấy khổ năo!
Đến lúc đức Phật
xuất thế, Đế Thích cầu cứu đức
Phật, Phật dạy ông ta muốn thắng lợi th́
lúc giao chiến cùng A Tu La phải niệm Ma Ha Bát Nhă Ba La
Mật Đa. Đế Thích truyền thiên binh, thiên
tướng xưng niệm như thế, quả nhiên toàn
thắng, khiến cho A Tu La thất bại, phải
trốn vào lỗ ngó sen, chẳng dám đánh nhau cùng trời
Đế Thích nữa!
Đặc tánh của A Tu La là tâm nghi
rất nặng, tâm sân rất lớn; vậy th́ kẻ nào
làm người trong nhân gian, nếu tâm hoài nghi rất
nặng, tâm sân khuể rất lớn, chuyện ǵ cũng
tranh cường háo thắng, chết đi bèn đọa
vào đường A Tu La. Lúc c̣n làm người, A Tu La
cũng làm không ít thiện nghiệp, như các công
đức bố thí v.v... vẫn thường làm, nhưng
do tâm háo thắng mạnh mẽ, liền thành ra gieo nhân A Tu
La. Nếu có chúng sanh phải dùng thân A Tu La mới có thể
độ được, Quán Thế Âm Bồ Tát liền
hiện thân A Tu La v́ họ thuyết pháp, khiến họ
bỏ được nghi, sân, thân tâm giải thoát. Kinh
Lăng Nghiêm nói: “Nhược A Tu La, nhạo thoát kỳ
luân, ngă ư bỉ tiền, hiện A Tu La thân, nhi vị thuyết
pháp, linh kỳ thành tựu” (Nếu
A Tu La thích thoát khỏi thân đó, tôi ở trước
kẻ đó, hiện thân A Tu La v́ kẻ đó thuyết pháp
cho được thành tựu), cũng chính là ư này.
Ca Lâu La (Garuda), Hán dịch là Diệu Xí
Điểu, hoặc dịch là Kim Xí Điểu (chim cánh
vàng), c̣n có tên là Đại Bằng Kim Xí Điểu,
sống trong những cây bằng sắt lớn ở phương
Bắc núi Tu Di. Theo kinh Phật, loại chim này hai
đầu cánh x̣e ra cách nhau ba trăm sáu mươi dặm.
Lúc nó muốn ăn Rồng, bèn dùng đôi cánh to quạt
nước biển khiến nước tách ra, thấy
tận đáy biển, trông thấy cung Rồng, chụp
lấy Rồng ăn, ăn Rồng như con người
ăn ḿ sợi vậy.
Phần trên đă nói, Phật dùng ca-sa
cứu Rồng khiến Kim Xí Điểu chẳng dám ăn
nuốt, bởi thế, chim đến trước
Phật nói:
- Ngài rất từ bi cứu Rồng,
cứu được Rồng khá lắm, nhưng con
đói bụng quá, không có ǵ ăn, sắp phải chết
đói, không biết Phật thấy chết có cứu hay
không?
Đức Phật đặc biệt
khai thị:
- Nếu ngươi phát tâm quy y Tam
Bảo, giữ giới Bất Sát, từ nay chẳng ăn
Rồng nữa, ta sẽ truyền đệ tử
Phật lúc cúng Phật thọ thực, dùng bảy hạt
gạo hoặc cháo xuất sanh, để bố thí cho
ngươi và quỷ thần Khoáng Dă, La Sát, Quỷ Tử
Mẫu v.v… khiến cho các ngươi có cái để sanh
sống, chẳng c̣n bị cái khổ đói khát nữa!
Bởi thế việc Xuất Sanh trong
Phật giáo có ư nghĩa rất trọng yếu, chẳng
phải là theo thói quen làm cho qua chuyện đâu nhé! Lúc
xuất sanh nên niệm bài kệ Xuất Sanh như sau:
Đại Bằng Kim Xí Điểu,
Khoáng Dă quỷ thần chúng,
La Sát, Quỷ Tử Mẫu,
Cam Lộ tất sung măn.
(Đại Bằng Kim Xí Điểu,
Các quỷ thần Khoáng Dă,
La Sát, Quỷ Tử Mẫu,
Thảy no đủ cam lộ)
Ngàn vạn phần chẳng thể làm
qua quít cho xong chuyện được! Trên đầu Ca Lâu
La có bảo châu Như Ư, nếu ai có được bảo
châu này, đúng là muốn ǵ có nấy! Có lúc Ca Lâu La miệng
phun ra lửa, bởi thế c̣n gọi là Ca Lâu La Viêm.
Thế gian nếu có chúng sanh, phải
dùng thân Ca Lâu La mới có thể độ thoát, Quán Thế
Âm Bồ Tát liền hiện thân Ca Lâu La để tuyên nói
pháp nhân từ yêu thương loài vật, khiến chúng sanh
ấy hành theo, thân tâm được giải thoát.
“Khẩn Na La” (Kinnara), Hán dịch là Nghi Nhân hoặc Nghi Thần, loài này trên
đầu có một sừng, khiến người trông
thấy khởi ḷng ngờ vực không biết có phải
là người hay không, nên mới có tên như thế. Chúng
cũng là thần tấu nhạc của Đế Thích,
nhưng không giống với thần tấu nhạc Càn Thát
Bà nói ở phần trên. Nhạc do Càn Thát Bà tấu là âm
nhạc thế tục thông thường; nhạc của
Khẩn Na La tấu là pháp nhạc. Cũng có thể nói âm
nhạc do loài trước tấu là nhạc thế gian,
nhạc do loài sau tấu là nhạc xuất thế gian.
Nếu có chúng sanh phải dùng thân Khẩn Na La mới có
thể độ thoát th́ Quán Thế Âm Bồ Tát liền
hiện thân Khẩn Na La v́ họ tuyên thuyết Như Lai
chánh pháp, khiến cho họ y pháp tu hành, thân tâm
được giải thoát, thoát ly cuộc sống quỷ
thần Khẩn Na La.
Ma Hầu La Già (Mahoraga), Hán dịch là
Đại Măng Xà Thần, hoặc dịch là Địa
Long, có thuyết nói là đầu rắn ḿnh người.
Nếu có chúng sanh phải dùng thân Ma Hầu La Già mới
độ thoát được th́ Quán Thế Âm Bồ Tát
liền hiện thân Ma Hầu La Già, v́ kẻ đó tuyên
thuyết pháp nhẫn nhục, tu Từ, nhu ḥa tu Huệ,
khiến kẻ ấy y pháp tu hành, ngơ hầu thân tâm giải
thoát!
“Nhân phi nhân đẳng thân đắc
độ giả”: là
lời tổng kết tám bộ. Nói “nhân phi nhân” là v́:
Có thuyết nói họ dường như là thân
người, nhưng không phải là người nên gọi
là “nhân phi nhân”. Có thuyết nói là tám bộ quỷ thần
vốn chẳng phải là người, nhưng biến
thành thân người đến trước đức
Phật nên gọi là “nhân phi nhân”. Có thuyết nói chữ
“nhân” chỉ nhân loại trong bốn châu, chữ “phi nhân”
chỉ tám bộ quỷ thần. Tuy có nhiều cách giải
thích khác nhau, nhưng tôi cho là cách giải thích thứ
nhất hợp lư hơn.
Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ
đại bi, v́ muốn cứu độ tám bộ chúng
sanh, bèn thích ứng với cơ cảm của bọn
họ, đáng nên dùng thân nào để hóa độ bèn
hiện thân đó để thuyết pháp, bởi thế
nói là “đều có thể hiện những thân đó
để thuyết pháp”.
1.2.2.1.1.8. Năng ứng lực sĩ (ứng
hiện thân lực sĩ)
Chánh kinh:
Ưng dĩ Chấp Kim Cang Thần
đắc độ giả, tức hiện Chấp Kim
Cang Thần nhi vị thuyết pháp.
應以執金剛神得度者。即現執金剛神而為說法。
(Nên dùng thân Chấp Kim Cang Thần
để được độ, bèn hiện thân
Chấp Kim Cang Thần để mà thuyết pháp).
Đoạn này nói Bồ Tát có thể ứng hiện
thân Lực Sĩ. Trong ba mươi ba ứng thân, thân này là
thân cuối cùng. Chấp Kim Cang Thần là thần Hộ
Pháp của Phật giáo, do Ngài tay thường cầm Kim
Cang Bảo Xử, nên mang tên Chấp Kim Cang Thần.
Phật giáo lấy từ bi làm gốc,
chuyện ǵ cũng chẳng tranh giành với người,
thế nhưng thế nhân nắm được
điều này, bèn luôn t́m cách phá hoại Phật pháp,
nhưng đệ tử Phật chẳng muốn trái
nghịch ḷng từ bi, mọi việc do thần Hộ Pháp
cầm Kim Cang Xử hàng phục ác nhân phá hoại Phật
pháp, khiến họ chẳng dám gây ra những trọng
tội hủy pháp. Bởi thế, đứng trên lập
trường Phật pháp, đối với thế gian
chúng sanh, về mặt từ bi đương nhiên
phải dùng từ bi nhiếp thọ, lúc chiết phục
đương nhiên phải dùng dũng mănh để
chiết phục, oai đức song vận mới ḥng
phổ độ quần sanh.
Thần Kim Cang Hộ Pháp trong Phật
giáo cũng có sự tích:
Tương truyền, trong quá khứ có
Chuyển Luân Thánh Vương xuất thế, cưới
hai phu nhân. Phu nhân thứ nhất sanh một ngàn vương
tử, phu nhân thứ hai chỉ sanh được hai
vương tử. Một ngàn vương tử của bà
phu nhân thứ nhất sau khi tiếp xúc Phật pháp,
đều phát khởi đại Bồ Đề tâm,
rộng hành Bồ Tát đạo, thành bậc Bồ Tát danh
xứng với thật, tương lai đương nhiên
sẽ thành Phật, nhưng ai sẽ thành Phật
trước? Phụ vương v́ muốn biết rơ
điều này, truyền các vương tử phát Bồ
Đề tâm rút thăm để định thứ
tự thành Phật.
Kết quả, đầu tiên là Câu
Lưu Tôn Phật (Krakucchanda
Buddha), cuối cùng là Lâu Chí Như Lai (Rucika Buddha). Thích Ca là
vị thành Phật thứ tư. Sở dĩ phải
định thứ tự là v́ trong một thế giới,
chẳng thể có hai đức Phật cùng xuất
hiện trong đời. Hai vị vương tử
của phu nhân thứ hai thấy các huynh trưởng
đều phát Bồ Đề tâm, tương lai sẽ
thành Phật, ngay đó, vị đại vương
tử phát nguyện làm Đại Phạm Thiên Vương,
khi các anh thành Phật sẽ thỉnh chuyển pháp luân.
Vương tử thứ hai phát nguyện làm thần
Hộ Pháp, sau khi các anh thành Phật sẽ hộ tŕ
Phật pháp. Chấp Kim Cang Thần chính là vị
vương tử thứ hai của bà phu nhân thứ hai.
Trong ngàn vị vương tử, Thích
Tôn là vị thứ tư thành Phật, bởi thế
đức Thích Tôn xuất thế, trước hết có
Đại Phạm Thiên Vương thỉnh chuyển pháp
luân, rồi có Chấp Kim Cang Thần hộ tŕ Phật pháp.
Thế gian nếu có chúng sanh “nên dùng thân Chấp Kim Cang
Thần mới có thể độ được” th́
Quán Thế Âm Bồ Tát “liền hiện làm Chấp Kim
Cang Thần” v́ kẻ ấy tuyên nói giáo pháp hộ tŕ
chánh pháp của Như Lai, khiến kẻ ấy y pháp tu hành
trở thành bậc hộ pháp đắc lực cho Phật
giáo.
1.2.2.1.2. Kết đức khuyến cúng (tổng
kết thánh đức, khuyên nên cúng dường)
Chánh kinh:
Vô Tận Ư! Thị Quán Thế Âm Bồ
Tát thành tựu như thị công đức, dĩ chủng
chủng h́nh du chư quốc độ, độ thoát
chúng sanh. Thị cố nhữ đẳng ưng
đương nhất tâm cúng dường Quán Thế Âm
Bồ Tát.
無盡意。是觀世音菩薩。成就如是功德。以種種形。游諸國土。度脫眾生。是故汝等。應當一心供養觀世音菩薩。
(Này Vô Tận Ư! Vị Quán Thế Âm
Bồ Tát này thành tựu công đức như thế, dùng
các thứ thân h́nh dạo các cơi nước, độ thoát
chúng sanh. V́ thế các ông hăy nên nhất tâm cúng dường
Quán Thế Âm Bồ Tát).
Quán Thế Âm Bồ Tát dùng ba mươi
ba ứng thân du hóa trong thế giới Sa Bà này, nói như
vậy chẳng qua là đơn giản kể một vài
trường hợp để h́nh dung sự nghiệp dùng
các thân phận bất đồng du hành hóa đạo chúng
sanh của Quán Âm Bồ Tát. Trên thực tế, Quán Âm Bồ
Tát cũng giống như các đại Bồ Tát khác, có thể
hóa ngàn trăm vạn ức thân h́nh hóa độ chúng sanh
trong các thế giới, V́ thế, đức Thích Tôn
lại tổng kết các công đức của Quán Âm
Bồ Tát, ḥng khuyên Vô Tận Ư và các trời người
phát tâm cúng dường.
“Vô Tận Ư!” Đức Thích Ca
gọi tên vị đương cơ như thế xong,
bèn nói: “Thị Quán Thế Âm Bồ Tát thành tựu như
thị công đức” (Vị
Quán Thế Âm Bồ Tát này thành tựu công đức như
thế). Chữ “như thế” chỉ tất
cả hết thảy công đức cứu bảy
nạn, ĺa tam độc, đáp ứng hai mong cầu, cho
đến hiện các thân bất đồng trong thế
gian để giáo hóa chúng sanh của ngài Quán Âm. Nhưng các
công đức này, Quán Âm Bồ Tát đều đă viên măn
thành tựu. Chính v́ Quán Âm Bồ Tát đă thành tựu
những công đức nhiều đến như thế
nên Ngài có thể “dĩ chủng chủng h́nh, du chư quốc
độ, độ thoát chúng sanh” (dùng các thứ thân, dạo các cơi nước
độ thoát chúng sanh). Câu “dĩ chủng chủng
h́nh” chỉ việc thị hiện các thân h́nh bất
đồng. Quán Âm thị hiện rất nhiều thân, “du
chư quốc độ” nghĩa là Quán Âm chẳng
phải chỉ nhiều dịp thị hiện trong thế
giới Sa Bà này, mà c̣n hiện các thứ thân giáo hóa chúng sanh
trong vô lượng cơi nước ở mười
phương. Câu này h́nh dung sự giáo hóa của Bồ Tát
rất rộng. “Độ thoát chúng sanh” nghĩa là
Bồ Tát dùng các thân phận bất đồng, du hóa
hết thảy cơi nước, chẳng giống như
người b́nh thường du sơn ngoạn thủy,
cũng chẳng như người hiện đại
đi nơi này nơi nọ ngắm nghía, du lịch ngắm
phong cảnh, mà là để độ thoát chúng sanh.
Phải biết chúng sanh trong thế
giới Sa Bà đau khổ, cố nhiên cần
được Bồ Tát giáo hóa và độ thoát, nhưng
tất cả chúng sanh trong những thế giới khác
cũng có những nỗi thống khổ dù nhiều dù ít,
dù lớn hay nhỏ giống như vậy, cũng cần
Bồ Tát đến hóa độ cho được
giải thoát. Bởi thế, câu này chỉ rơ những chúng
sanh được Bồ Tát hóa độ. Ở đây
phải đặc biệt thuyết minh:
Quán Âm Bồ Tát vốn là vị Bổ
Xứ Đại Sĩ trong thế giới Cực Lạc,
lúc Ngài du hóa các quốc độ khác chẳng giống
như chúng ta tưởng tượng: Hôm nay du hóa thế
giới Sa Bà, ngày mai du hóa thế giới Tịnh Lưu Ly,
ngày mốt lại du hóa một thế giới khác nữa.
Nếu đúng là như vậy, Quán Âm Bồ Tát bận
tối mắt rồi!
V́ thế, nếu nói nghiêm túc, Quán Âm du hóa
các nước là trong cùng một thời gian, nhưng
đức Quán Âm bổn hữu chẳng hề ĺa khỏi
thế giới Cực Lạc một bước! Ở
phần trên tôi đă từng nói: Như trên trời chỉ
có một vầng trăng sáng ngời, nhưng nước
ngàn con sông đều có ngàn bóng trăng, nước vạn
con sông có vạn bóng trăng. Bất luận trăng trên
ngàn con sông hay vạn con sông đều cùng lúc hiển
hiện, nhưng vầng trăng thật vẫn vằng
vặc trên không, chưa hề đi xuống nước của
ḍng sông nào. V́ thế có bốn câu như sau:
Nhất nguyệt phổ ấn nhất
thiết thủy,
Nhất thiết thủy nguyệt
nhất nguyệt nhiếp,
Nguyệt bất hạ giáng, thủy
bất thăng,
Thủy thanh, nguyệt minh pháp tự
nhĩ.
(Một trăng in khắp hết
thảy nước,
Muôn bóng trăng thuộc một vầng
trăng
Trăng chẳng rơi xuống,
nước chẳng dâng,
Nước trong, trăng sáng, pháp là
vậy)
Những câu này diễn tả triệt
để ư trên đây vậy.
Ở đây lại cần phải
hiểu rơ: Quán Âm Bồ Tát đại từ đại bi,
đến mười phương cơi độ thoát chúng
sanh đă suốt một thời gian lâu dài, lẽ ra chúng
sanh khổ năo phải được độ thoát
hết, cớ sao trong mười phương thế
giới hiện vẫn c̣n có rất nhiều chúng sanh
khổ năo? Đừng nói ǵ những cơi nước khác,
chỉ riêng cơi Sa Bà đây, vẫn c̣n rất nhiều chúng
sanh ch́m đắm trong biển khổ, chịu các thống
khổ công kích, chẳng được giải thoát,
thế là thế nào?
Theo kinh nói, đây chẳng phải Quán Âm Bồ Tát
chẳng nỗ lực độ sanh, cũng chẳng là
phải trong quá tŕnh độ sanh, Bồ Tát có tâm phân
biệt, người này ta độ, người kia ta
không độ, vấn đề là chúng sanh có chịu
tiếp nhận Bồ Tát hóa độ hay không, hoặc là
thấy chúng sanh đó đối với Bồ Tát hữu
duyên hay không? Có chúng sanh vô duyên với Bồ Tát nên Bồ Tát
chẳng thể độ được, đương
nhiên phải được Bồ Tát đến giáo hóa
mới có thể giải thoát. Bởi lẽ, Phật,
Bồ Tát chỉ có thể hóa độ chúng sanh hữu
duyên, nếu vô duyên th́ chẳng cách ǵ giáo hóa
được!
Chính v́ lẽ đó, tuy Quán Âm Bồ Tát
dùng các thứ thân h́nh dạo các cơi nước hóa
độ chúng sanh, nhưng hiện thời vẫn c̣n
rất nhiều chúng sanh trong biển khổ chẳng
thể giải thoát. Vấn đề chẳng do Bồ
Tát, mà là do chúng sanh. Bởi thế muốn mong
được Bồ Tát đến cứu độ,
trước hết phải kết pháp duyên cùng Bồ Tát,
nếu không th́ chẳng thấy Bồ Tát đến
độ thoát!
Quán Âm Bồ Tát thành tựu công
đức nhiều như thế, dùng các thứ thân h́nh du
hóa các cơi, đương nhiên là độ thoát chúng sanh,
đương nhiên Bồ Tát đối với chúng sanh có
ân đức rất lớn, “thị cố, nhữ đẳng
ưng đương cúng dường Quán Thế Âm Bồ
Tát” (v́ thế, các ông
phải nên nhất tâm cúng dường Quán Thế Âm Bồ
Tát).
Nói đến cúng dường, thông
thường là có hai thứ Sự Cúng Dường và Lư Cúng
Dường. Như tứ sự cúng dường, hoặc
lục cúng dường, hoặc thập cúng dường,
đều gọi là Sự Cúng Dường. Nếu
hiểu lư, chứng nhập Pháp Tánh của các pháp, thở
cùng một lỗ mũi với Phật, Bồ Tát, là Lư Cúng
Dường.
Kinh c̣n nói: “Chư cúng dường trung,
pháp cúng dường tối” (Trong các cúng dường, pháp cúng dường là
bậc nhất). Thế nào là pháp cúng dường?
Tức là như pháp thật hành là cúng dường tối
thượng, như “thân nghiệp cúng dường là
lễ bái, khẩu nghiệp cúng dường là khen ngợi,
ư nghiệp cúng dường là quán tưởng tướng
hảo” đều có thể gọi là pháp cúng
dường.
Bất luận cúng dường cách nào,
khẩn yếu nhất là phải nhất tâm nhất ư, cung
kính chí thành, bởi thể bảo là “nhất tâm cúng
dường”.
QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT
PHỔ MÔN PHẨM GIẢNG KƯ
(phần 3 hết)
[1] Người đàn bà không thể sanh con
đẻ cái gọi là Thạch Nữ.
[2] Tổng Lư: Hiện thời,
người Hoa gọi chức vụ Thủ Tướng
là Tổng Lư
[3] Hành Chánh Viện Viện Trưởng là
chức vụ đứng đầu cơ quan hành pháp
của Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), tương
đương với Thủ Tướng.
[4] Pháp điển Ma Nô (c̣n gọi là Mānava-Dharmaśāstra),
hoặc được biết dưới tên Laws of Manu) là
luật điển của Ấn Độ Giáo,
tương truyền do chính Phạm Thiên nói ra, do con của
Phạm Thiên là Manu truyền lại cho các bà-la-môn, giải
thích vũ trụ quan theo Ấn Độ Giáo cũng
như những quy định ngặt nghèo về giai
cấp.
[5] Lưu Tống là một triều
đại vào thời Nam Bắc Triều, tồn tại
từ năm 420 đến 479, do Lưu Dũ (Tống Cao
Tổ Vũ Đế) sáng lập, truyền
được 5 đời vua, đóng đô tại Kiến
Khang (Nam Kinh). Gọi là Lưu Tống để phân
biệt với nhà Tống của Triệu Khuông Dẫn
(Triệu Tống), tức Bắc Tống và Nam Tống sau
này.
[6]
Trong Lăng Nghiêm Kinh Giảng
Nghĩa, pháp sư Viên Anh giảng: “Địa vị chánh đáng của nữ giới
là ở trong gia đ́nh nên gọi là Nội Chánh. Mọi
chuyện trong gia đ́nh do nữ nhân chủ tŕ, hiếu
kính bố mẹ chồng, giáo dục con cái, đấy là
Nội Chánh. Tuy sang cả vẫn siêng năng, tuy giàu có
vẫn tiết kiệm, trinh, tĩnh, kín đáo, nhàn nhă, dùng
những điều ấy để trau giồi
đức hạnh của người nữ nên gọi là
Lập Thân.... Do dùng Nội Chánh để Lập Thân, nên
thân được trau giồi, cảm hóa người trong
gia đ́nh, ảnh hưởng đến toàn bộ
quốc gia. Chữ Gia chỉ chung từ bậc đại
phu trở lên, chữ Quốc chỉ từ bậc chư
hầu trở lên. Nữ nhân có thể dùng Nội Chánh
để lập thân, tu thân th́ đấy chính là cái gốc
để tề gia trị quốc... Nữ Chúa: Vợ
của thiên tử (tức hoàng hậu). Quốc phu nhân:
Vợ của các vị đứng đầu các bang, các
quận. Mạng phụ: Những người vợ
được nhận bằng sắc phong tước
của triều đ́nh, tức là những người do chồng
làm quan mà vợ được phong tước. Đại
gia: Những bậc tài lẫn đức cùng trọn
đủ, có thể làm thầy cho các bậc nữ chúa,
như vợ của ông Tào Thế Thục đời Hán, do
thường theo con gái của Ban Siêu vào cung, giảng
dạy hoàng hậu và các quư nhân nên cơi đời gọi bà
là Tào Đại Gia”.
[7] Đây là những
tiếng lóng chỉ các thiếu niên nam nữ băng
đảng.