QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT
PHỔ MÔN PHẨM GIẢNG KƯ
(phần 4)
觀世音菩薩普門品講記
演培老法師講述
釋寬嚴記
Chủ giảng: Lăo pháp sư
Thích Diễn Bồi
Pháp sư Thích Khoan Nghiêm ghi.
Chuyển
ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
(theo ấn bản
của Phật Đà Giáo Dục Cơ Kim Hội, tháng 04, năm
2004)
1.2.2.2. Chánh đáp du ư Sa Bà (đáp
thẳng vào việc du hóa cơi Sa Bà)
1.2.2.2.1. Hiển thị diệu
đức (hiển thị đức mầu
nhiệm)
1.2.2.2.1.1. Năng thí vô úy (ban cho
sự không sợ hăi)
Chánh kinh:
Thị Quán
Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát ư bố úy cấp nạn chi
trung, năng thí vô úy. Thị cố, thử Sa Bà thế
giới giai hiệu chi vi Thí Vô Úy giả.
是觀世音菩薩摩訶薩。於怖畏急難之中。能施無畏。是故此娑婆世界。皆號之為施無畏者。
(Trong các nạn gấp sợ hăi, vị Quán Thế Âm
Bồ Tát Ma Ha Tát này có thể ban cho sự không sợ hăi. V́ thế, thế giới Sa Bà này
đều gọi Ngài là đấng Thí Vô Úy).
Đoạn này nói
đức Quán Thế Âm Bồ Tát có thể ban cho chúng sanh
sự không sợ hăi. V́ thế, Ngài có biệt hiệu là Thí
Vô Úy. Sau khi đức Phật khuyên Vô Tận Ư phát tâm cúng
dường Quán Âm xong, Ngài lại bảo Vô Tận Ư: “Ư
bố úy cấp nạn chi trung, năng thí vô úy” (Trong các nạn gấp sợ hăi,
vị Quán Thế Âm Bồ Tát này có thể ban cho sự không
sợ hăi). Bồ Tát Ma Ha Tát nghĩa là vị
đại Bồ Tát trong số các vị Bồ Tát,
đều cùng là Bồ Tát, chỉ khác nhau là mới phát tâm
hay tu đại hạnh Bồ Tát đă lâu. Quán Âm là
đại Bồ Tát, sẽ kế thừa A Di Đà
Phật thành Phật trong thế giới Cực Lạc,
đương nhiên chẳng phải là một vị sơ
phát tâm Bồ Tát thông thường, bởi thế gọi
Ngài là Bồ Tát Ma Ha Tát.
“Bố” (怖) là khủng bố (hoảng hốt, sợ hăi), Úy (畏) là úy cụ (sợ sệt, kinh sợ), nói thông
tục là hoảng sợ. “Cấp nạn” (nạn
gấp) tức là tai nạn bất th́nh ĺnh xảy tới,
trở tay không kịp, không cách chi đề pḥng
được, không cách ǵ ứng phó được.
Người có phước huệ gặp phải cảnh
nạn gấp, đương nhiên có thể tùy cơ
ứng biến, liệu cách khắc phục; kẻ kém trí
huệ chẳng thể đối phó nạn gấp, trong
lúc nội tâm hoảng hốt, kinh sợ, rất có thể
Quán Âm Bồ Tát đại từ đại bi lập
tức cảm ứng hiển hiện trước kẻ
đó, ban cho sự không sợ hăi, giải cứu nạn
gấp, “thị cố thử Sa Bà thế giới giai hiệu
chi vi Thí Vô Úy giả” (v́
thế, thế giới Sa Bà này đều gọi Ngài là
đấng Thí Vô Úy). Kinh Lăng Nghiêm chép: “Kỳ h́nh,
kỳ chú, năng dĩ vô úy thí chư chúng sanh, thị cố
thập phương vi trần quốc độ, giai danh
ngă vi Thí Vô Úy giả” (Thân
ấy, thần chú ấy có thể ban cho các chúng sanh sự
không sợ hăi; v́ thế mười phương vi trần
quốc độ đều gọi ta là đấng Thí Vô
Úy) cũng là nói về ư này.
Nay tôi chẳng
ngại nêu lên một câu chuyện thật để
thuyết minh trong cơn kinh hoảng, Bồ Tát có thể
bố thí sự không sợ hăi:
Vào đời nhà
Tấn ở Trung Quốc, có một vị đại
đức tên là Thích Đạt Khai. Có lần Sư lên núi
hái Cam Thảo, chẳng ngờ bị rợ Khương
bắt giữ, giam trong ṿng rào gỗ. Trước thầy
Đạt Khai, đă có mười mấy người
bị bắt giam trong ṿng rào. Rợ Khương rất hung
bạo, dă man; mỗi ngày lôi một người bị giam
ra nấu hay nướng ăn. Cuối cùng chỉ c̣n sót
lại ḿnh sư Đạt Khai. Đạt Khai biết ngày
mai sẽ đến phiên ḿnh, đương nhiên chẳng
khỏi kinh sợ, nhưng kinh sợ há có ích ǵ? Chỉ
đành thành khẩn thầm tụng Quán Âm Phổ Môn
Phẩm, đem sanh mạng ḿnh phó cho Quán Âm Bồ Tát.
Trời vừa rạng sáng, chợt có một con hổ to
chạy tới, bọn rợ Khương đang canh tù
trông thấy con hổ chạy đến, ai nấy
chạy trối chết. Con hổ chẳng những không
đuổi theo, c̣n ngoạm hàng rào gỗ thủng một
lỗ. Lúc ấy, sư Đạt Khai thầm nghĩ: “Tuy
thoát nạn rợ Khương sát hại, nhưng chẳng
tránh khỏi miệng cọp”; bởi vậy, Sư vừa
run lẩy bẩy vừa thành khẩn niệm Quán Âm,
đợi lúc con hổ cắn thủng rào chui vào. Con
hổ chẳng những không ăn Đạt Khai lại
c̣n lập tức bỏ đi. Đến lúc đó,
Đạt Khai biết là Quán Âm sai hổ đến cứu
ḿnh thoát tay rợ Khương. Phải biết rằng
đó là Bồ Tát ban sự không sợ hăi.
Lại có kẻ
lên núi hái thuốc một ḿnh, chợt gặp mănh hổ
đón ngay trước mặt. Dĩ nhiên người
ấy trong ḷng hoảng sợ đến mực nào,
nhưng trong lúc ấy chợt có một bà già đến
quát một tiếng lớn, con hổ hung tợn đáng
sợ bèn quay đầu lủi mất. Người hái
thuốc qua cơn kinh hồn, trấn tĩnh lại, nh́n
quanh chẳng thấy tông tích bà già đâu nữa. Phải
biết bà cụ ấy chính là Quán Âm Bồ Tát thị hiện
cứu tế, đến ban sự không sợ hăi cho chúng
sanh trong cơn nạn gấp!
Trong thế gian, sự
sợ hăi, nạn gấp rất nhiều, nhưng nạn
gấp đáng sợ hăi nhất và lớn nhất không ǵ
bằng sanh tử; bởi lẽ, hết thảy sự
sợ hăi đều do sanh tử mà ra. Nếu không có sanh
mạng thể ngơ hầu lưu chuyển sanh tử, nào c̣n
có các nạn gấp sợ hăi hiện hữu? Bởi
thế sanh tử là nỗi sợ hăi lớn nhất!
Nếu quả thật chúng sanh cảm thấy sanh tử
đáng sợ, muốn thoát khỏi sanh tử luân hồi,
Quán Âm Bồ Tát liền đáp ứng mong cầu của
chúng ta, tùy chúng ta muốn thấy thân h́nh nào, Ngài lập
tức dùng thân h́nh ấy hiện trước mặt quư
vị, v́ quư vị nói pháp ĺa sanh tử, khiến cho quư
vị chẳng c̣n cảm thấy sanh tử đáng sợ
nữa, ban cho quư vị pháp liễu sanh thoát tử,
đấy mới là chân chánh “thí vô úy”. Phật pháp thường
nói có ba thứ Tài Thí, Pháp Thí và Vô Úy Thí. Người ta
thường nghĩ Tài Thí là trọng yếu, chớ
hề biết Pháp Thí và Vô Úy Thí lại càng trọng yếu
hơn! Quán Âm thí cho chúng sanh sự không sợ hăi nên
được gọi là đấng Thí Vô Úy.
1.2.2.2.1.2. Năng
cảm cúng dường (cảm thọ cúng
dường)
Chánh kinh:
Vô Tận Ư Bồ
Tát bạch Phật ngôn:
- Thế Tôn! Ngă kim
đương cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát.
Tức giải
cảnh chúng bảo châu anh lạc, giá trị bách thiên
lượng kim nhi dĩ dữ chi, tác thị ngôn:
- Nhân giả!
Thọ thử pháp thí trân bảo anh lạc!
Thời Quán
Thế Âm Bồ Tát bất khẳng thọ chi, Vô Tận Ư
phục bạch Quán Thế Âm Bồ Tát ngôn:
- Nhân giả!
Mẫn ngă đẳng cố thọ thử anh lạc!
無盡意菩薩白佛言。世尊。我今當供養觀世音菩薩。即解頸眾寶珠瓔珞。價值百千兩金。而以與之。作是言。仁者。受此法施珍寶瓔珞。時觀世音菩薩。不肯受之。無盡意復白觀世音菩薩言。仁者愍我等故。受此瓔珞。
(Vô
Tận Ư Bồ Tát bạch Phật rằng:
-
Bạch Thế Tôn! Nay con sẽ cúng dường Quán Thế
Âm Bồ Tát.
Liền cởi
chuỗi anh lạc bằng các hạt châu quư báu nơi
cổ, giá trị trăm ngàn lượng vàng để
tặng, nói như thế này:
- Thưa nhân giả!
Hăy nhận lấy chuỗi anh lạc pháp thí quư báu này.
Khi đó, Quán Thế
Âm Bồ Tát chẳng chịu nhận. Vô Tận Ư lại
bạch cùng Quán Thế Âm Bồ Tát rằng:
- Thưa nhân giả!
Hăy thương xót chúng tôi, nhận lấy chuỗi anh
lạc này).
Đây là đoạn
kinh thuật chuyện Bồ Tát cảm được
sự cúng dường. Đức Thích Ca khuyên đại
chúng nhất tâm cúng dường Quán Âm; Vô Tận Ư là một
vị đại Bồ Tát, hiểu sâu xa tầm quan
trọng của việc cúng dường, nên sau khi nghe đức
Phật khuyên nên dâng cúng xong, Vô Tận Ư Bồ Tát lập
tức bạch Phật rằng:
- Bạch Thế Tôn!
Lăo nhân gia muốn chúng con nhất tâm cúng dường Quán Âm,
nay con tuân theo mạng lệnh từ bi, đến cúng
dường Quán Thế Âm Bồ Tát.
Nói xong, lập tức
cởi chuỗi anh lạc bằng các bảo châu đang
đeo nơi cổ, giá trị của chuỗi bảo châu
anh lạc đó khoảng chừng trăm ngàn lượng
vàng, tức đáng giá mười vạn lạng vàng ṛng,
cho thấy chuỗi ấy đáng quư trọng dị
thường, nay Ngài đem chuỗi anh lạc quư trọng
ấy cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát, nói như
thế này:
- Thưa nhân giả!
Hăy nhận lấy chuỗi anh lạc pháp thí quư báu này.
“Nhân giả” là tiếng xưng hô giữa các Bồ
Tát với nhau. Nhân Giả nghĩa là người có ḷng nhân
từ, hoặc có ḷng nhân đức. Tuy Vô Tận Ư Bồ
Tát thành tâm cúng dường như thế, nhưng khi đó,
Quán Thế Âm Bồ Tát chẳng chịu tiếp nhận
đồ cúng dường ấy. Nếu nh́n từ mặt
văn tự, ư nghĩa đoạn này rất dễ
hiểu, nhưng những nghĩa lư bao hàm trong đoạn
kinh văn này rất sâu, chẳng thể coi thường
được!
“Anh lạc” là một thứ vật trang sức
của Ấn Độ, đồ trang sức đeo trên
cổ gọi là Anh (瓔), thứ quấn quanh thân gọi là
Lạc (珞). Phải xem thân phận, địa
vị và hoàn cảnh kinh tế của mỗi người
mà phân biệt anh lạc quư báu hay tầm thường.
Như người hiện tại, thích dùng hoa tươi
kết thành ṿng hoa, đeo trên cổ làm trang sức,
hoặc dùng hạt châu xâu thành chuỗi đeo trên cổ làm
đồ trang sức, đều có thể gọi là Anh
Lạc. Chuỗi anh lạc Bồ Tát Vô Tận Ư dùng cúng
dường ở đây là do các thứ bảo châu kết
thành. Nếu chỉ nói bảo châu không thôi th́ có nghĩa là
Ma Ni bảo châu; ở đây nói là “các bảo châu”,
tức là hết thảy những vật quư báu, cũng
tức là thất bảo như trong phần kinh văn
ở trên đă nói. Chính v́ chuỗi anh lạc do các thứ
bảo châu xâu thành nên quư báu đặc biệt, trị giá
trăm ngàn lạng vàng.
Trong đoạn kinh này
có một câu phải đặc biệt chú ư, tức là câu “thọ thử pháp thí trân bảo
anh lạc” (nhận
lấy chuỗi anh lạc pháp thí quư báu này); bởi
lẽ chuỗi anh lạc bảo châu do ngài Vô Tận Ư cúng
dường rơ ràng là tài vật, phải nói là Tài Thí mới
đúng, sao lại nói “nhận lấy pháp thí này”? Tài
Thí là vật chất hữu h́nh; Pháp Thí là chân lư vô h́nh. Hai
thứ này tuyệt đối chẳng tương
đồng. Giờ đây chúng ta phải hỏi: Chuỗi
anh lạc bảo châu Vô Tận Ư tháo từ trên cổ
xuống đó rốt cuộc là tài vật hay là thứ ǵ
khác? Kinh Phật thường dùng anh lạc tượng
trưng cho công đức, như vậy chuỗi anh
lạc bảo châu tượng trưng cho các thứ công
đức.
Trong quá tŕnh hành Bồ
Tát đạo, Vô Tận Ư đă từng tích tập vô biên
pháp bảo công đức để trang nghiêm Pháp Thân thanh
tịnh mà chính ḿnh đă chứng đắc. Bởi vậy,
nói đến “cổ” là hàm ư: Chân Như Pháp Thân Ngài
đă chứng, Chân Như Pháp Thân này được trang
nghiêm bằng các thứ công đức thanh tịnh. Ở
đây tháo chuỗi anh lạc bảo châu từ trên cổ
xuống có nghĩa là Bồ Tát tuy chứng Pháp Thân, nhưng
chẳng an trụ Pháp Thân, từ Pháp Thân thị hiện hóa
thân vào thế gian hóa độ chúng sanh; nay đem vô tận
công đức ấy nhất tâm cúng dường cho Quán Âm
Bồ Tát. V́ thế gọi là Pháp Thí chứ không gọi là
Tài Thí.
Vô Tận Ư nghe
đức Phật giới thiệu Quán Âm Bồ Tát thành
tựu các công đức, nhưng chính bản thân ḿnh
cũng thành tựu vô lượng vô biên công đức; có
thể nói là hai vị Bồ Tát “tâm
tâm tương ấn” (tâm in vào tâm). Vô Tận Ư vâng
lời Phật nhất tâm cúng dường, bèn nghĩ Quán
Âm đă thành tựu các công đức, căn bản là
chẳng cần đến tài vật cúng dường nữa;
bởi thế đem các công đức ḿnh đă tích
tập được, một niềm cung kính thành tâm thành
ư cúng dường. Đấy mới là cúng dường
tối thượng, mới là cúng dường chân chánh.
Hoặc có thể
giải thích như thế này cũng được:
Vật cúng dường tuy là tài vật, nhưng trong lúc cúng
dường, nhất quyết chẳng chấp vào tướng,
liễu đạt cái gọi là “tam luân thể không”:
Trên căn bản thật sự chẳng có người
bố thí, chẳng thật sự có người tiếp
nhận vật thí, mà ở giữa cũng chẳng có tài
vật được bố thí. Bởi thế, tuy
suốt ngày hành bố thí, nhưng chẳng mảy may dính
mắc công đức bố thí, hiểu ḿnh làm như vậy
chỉ là chuyện thuộc bổn phận của chính
ḿnh, nhân đó chuyển Tài Bố Thí thành Pháp Bố Thí. Chúng
ta phát tâm bố thí th́ Tài Thí vẫn là Tài Thí, v́ sau khi phát tâm
bố thí, cứ nhớ thật kỹ sự việc
ấy, chẳng thể đạt đến mức tam
luân thể không. Bởi thế, chẳng thể chuyển
Tài Thí thành Pháp Thí.
Đồng thời,
c̣n có thể giải thích như thế này nữa: Vô
Tận Ư cúng dường chuỗi anh lạc bảo châu
chẳng phải để cầu công đức cho chính
ḿnh, mà là cầu phước đức cho chúng sanh. Nếu
cầu công đức cho chính ḿnh th́ công đức ấy
thuộc về công đức hữu lậu, chẳng thể
thành công đức vô lậu thanh tịnh. Do v́ cầu
phước cho chúng sanh, đem công đức cúng
dường ấy hồi hướng cho pháp giới
hết thảy chúng sanh, khiến cho các chúng sanh cùng
đạt được công đức lợi ích
giống nhau; bởi thế, có thể chuyển Tài Thí thành
Pháp Thí. Bọn chúng sanh ta chẳng giống như vậy,
làm bất cứ công đức nào, đều coi đó là
công đức của riêng chính ḿnh, chẳng chịu cho
chúng sanh nào khác được hưởng lợi ích,
cứ làm như đem cho chúng sanh th́ chính ḿnh sẽ hao
hụt [công đức] vậy! Bởi thế chẳng
thể chuyển Tài Thí thành Pháp Thí được.
Sở dĩ chúng
sanh chẳng thể vô tướng bố thí và hồi thí
chúng sanh v́ nghĩ nó là thật sự có, chẳng biết
rằng: Nếu có thể làm được như vậy,
công đức đạt được lại càng
lớn, càng nhiều. Bồ Tát hiểu sâu sắc
điều này nên hành bố thí chẳng chấp
tướng, lại c̣n hồi thí [công đức] cho chúng
sanh. Vô Tận Ư là đại Bồ Tát, thông đạt Tài
Thí và Pháp Thí b́nh đẳng không sai biệt, nên biến Tài
Thí thành Pháp Thí.
Có người nói
chuỗi anh lạc ngài Vô Tận Ư dùng để cúng
dường đó biểu trưng trí huệ; nhưng các
công đức ngài Quán Thế Âm thành tựu lại
tượng trưng cho từ bi. Bi và Trí là những
điều mỗi vị hành giả Bồ Tát phải có,
nhưng trong kinh thường lấy một tánh đức
nào đó làm đặc điểm của một vị
Bồ Tát, như Quán Âm Bồ Tát lấy từ bi làm tánh
đức đặc biệt của ḿnh, Vô Tận Ư
lấy trí huệ làm đặc tánh. Bây giờ Vô Tận Ư
đem hết thảy trí huệ ḿnh vốn có dâng lên
đức đại từ bi Quán Âm, ngơ hầu Quán Âm bi trí
viên dung, thượng cầu hạ hóa, vận dụng
tự tại, bởi thế gọi là Pháp Thí.
Vô Tận Ư thành tâm cúng
dường Quán Thế Âm, nhưng Quán Thế Âm chẳng
chịu tiếp nhận, là v́ đạo lư nào? Nói theo
thế tục, bảo châu là thứ ai cũng thích, lúc không
có bèn dùng trăm phương ngàn kế cầu cho
được; nếu có ai cho ḿnh, lẽ nào chẳng
chịu tiếp nhận? Sở dĩ chúng sanh truy cầu
tài vật chẳng ngừng là do tham dục sai khiến,
Quán Âm Bồ Tát đă sớm viễn ly tham dục, há c̣n tùy
tiện tiếp nhận trân bảo người khác cúng
dường? Bởi thế chẳng tiếp nhận! Nói
theo Phật pháp, Quán Thế Âm cố nhiên đă có trí huệ
như Vô Tận Ư, Vô Tận Ư cũng có đầy
đủ ḷng từ bi như Quán Thế Âm. Mỗi một
vị đại Bồ Tát đều đầy
đủ cả Bi lẫn Trí, há c̣n có thể nói là cho hay nhận
được nữa ư? Quán Thế Âm Bồ Tát đă
hiểu sâu xa điều này, nên dù Vô Tận Ư thành tâm thành ư
cúng dường, Quán Thế Âm Bồ Tát vẫn rất khách
khí từ chối tiếp nhận.
Vô Tận Ư Bồ Tát
thấy Quán Thế Âm Bồ Tát chẳng chịu tiếp
nhận chuỗi anh lạc ḿnh cúng dường, nên lại
rất khẩn thiết bạch cùng Quán Thế Âm Bồ Tát
rằng:
- Thưa nhân giả!
Chúng tôi cúng dường rất thành ư như vậy, xin Ngài
nghĩ thương xót chúng tôi chẳng có công đức ǵ
để tự trang nghiêm mà từ bi tiếp nhận
phần anh lạc cúng dường nhỏ nhoi này, khiến
cho chúng tôi tạm tăng thêm một chút công đức!
Từ việc Vô
Tận Ư cầu thỉnh lần nữa, ta có thể
thấy Vô Tận Ư phát tâm cúng dường chẳng phải
v́ chính ḿnh, mà v́ hết thảy chúng sanh. Bởi Vô Tận Ư
thấy chúng sanh thọ khổ, thọ nạn trong sanh
tử v́ trong quá khứ chưa hề vun bồi
phước đức. Nếu bây giờ Quán Âm chẳng
từ bi tiếp nhận sự cúng dường của
ḿnh, há chẳng phải là chúng sanh đời vị lai
khổ nạn càng nhiều hơn nữa ư? Bởi
đó, Ngài thỉnh cầu Quán Âm tiếp nhận cúng
dường, mà cũng chỉ có v́ chúng sanh phát tâm cúng
dường như thế th́ mới là chân tâm cúng
dường.
1.2.2.2.1.3. Năng tu cúng dường (tu
cúng dường)
Chánh kinh:
Nhĩ thời,
Phật cáo Quán Thế Âm Bồ Tát:
- Đương
mẫn thử Vô Tận Ư Bồ Tát cập tứ chúng,
Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La,
Ma Hầu La Già, nhân phi nhân đẳng cố, thọ thị
anh lạc.
Tức thời
Quán Thế Âm Bồ Tát mẫn chư tứ chúng, cập
dữ Thiên, Long, Nhân Phi Nhân đẳng, thọ kỳ anh
lạc, phân tác nhị phần: nhất phần phụng
Thích Ca Mâu Ni Phật, nhất phần phụng Đa Bảo
Phật tháp.
爾時佛告觀世音菩薩。當愍此無盡意菩薩及四眾、天、龍、夜叉、乾闥婆、阿脩羅、迦樓羅、緊那羅、摩候羅伽、人、非人等故。受是瓔珞。即時觀世音菩薩愍諸四眾。及與天、龍、人非人等。受其瓔珞。分作二分。一分奉釋迦牟尼佛。一分奉多寶佛塔。
(Lúc
bấy giờ, Phật bảo Quán Thế Âm Bồ Tát:
-
Hăy v́ thương Vô Tận Ư Bồ Tát này và tứ chúng,
Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La,
Ma Hầu La Già, nhân phi nhân v.v… mà nhận lấy anh lạc
đó.
Ngay khi đó, Quán
Thế Âm Bồ Tát thương các tứ chúng, Trời,
Rồng, Nhân Phi Nhân v.v…nhận chuỗi anh lạc đó,
chia làm hai phần: Một phần cúng Thích Ca Mâu Ni Phật,
một phần cúng tháp Đa Bảo Phật).
Vô Tận Ư thành tâm cúng
dường, Quán Thế Âm từ chối chẳng nhận.
Trong t́nh huống đó, muốn cúng dường nhưng
cúng dường chẳng được, sẽ cảm
thấy thất vọng vô cùng! Thế nhưng ở đây
cần phải biết rằng: Quán Thế Âm Bồ Tát
đến thế giới Sa Bà này giáo hóa chúng sanh,
đơn thuần lấy giáo hóa chúng sanh làm mục
đích, quyết định chẳng mảy may có dụng
ư nào khác, nên càng chẳng mong người khác cúng
dường ḿnh. Hiện tại, Vô Tận Ư
được đức Thích Tôn khuyên phát tâm cúng
dường; trước khi được đức
Phật khuyên nên tiếp nhận, Quán Âm Bồ Tát chẳng
thể tùy tiện tiếp nhận. Đức Thế Tôn
biết rơ dụng tâm của Quán Âm, nên ngay lúc đó,
Đại Thánh Phật Đà bảo Quán Thế Âm Bồ
Tát:
- Ông hăy nên nghĩ
thương xót ông Vô Tận Ư Bồ Tát đây và tứ
chúng, Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Khẩn Na La, Ma
Hầu La Già, Nhân Phi Nhân v.v… nhận chuỗi anh lạc ấy.
Những chúng sanh
ấy trong thế giới Sa Bà này đều rất
khổ năo, v́ từ trước đến nay họ
rất ít gieo thiện căn, vun bồi các phước
đức, nay Vô Tận Ư thay cho chúng sanh phát tâm cúng
dường, hệt như chính ḿnh thiếu khuyết
phước đức thiện căn! Nếu Quán Âm
Bồ Tát chẳng chịu tiếp nhận, há chẳng
phải là chúng sanh bần cùng khốn khổ trong đêm dài
vĩnh viễn chẳng có cơ hội vun bồi thiện
căn, phước đức ư? V́ để cho chúng
sanh vun bồi, gieo trồng thiện căn, phước
đức, nên đức Phật mới bảo Quán Âm
tiếp nhận vật cúng dường.
Ngay lúc đức
Phật từ bi khuyến cáo, Quán Thế Âm Bồ Tát
lập tức nghĩ thương tứ chúng và Thiên, Long,
Nhân Phi Nhân v.v… bèn tiếp nhận chuỗi anh lạc do Vô
Tận Ư thay mặt chúng sanh cúng dường. Ở đây
phải đặc biệt chú ư: Ở phần trên, muốn
cho Quán Thế Âm tiếp nhận an lạc, Phật dạy
Ngài chẳng những nghĩ thương tứ chúng và thiên
long bát bộ, mà c̣n phải nghĩ thương Vô Tận Ư
Bồ Tát; thế nhưng khi Quán Thế Âm tiếp nhận
chuỗi anh lạc, kinh chỉ nói Ngài nghĩ thương
tứ chúng và thiên long bát bộ, chẳng hề nói Ngài
nghĩ thương Vô Tận Ư Bồ Tát, nghĩa là sao? So
với Bồ Tát, Phật cao hơn một bậc, nên
đứng trên lập trường của Phật, cố
nhiên Ngài nói nghĩ thương Vô Tận Ư Bồ Tát. Quán
Thế Âm và Vô Tận Ư đều là Nhất Sanh Bổ
Xứ đại Bồ Tát, địa vị hai bên ngang
nhau, đứng trên lập trường Bồ Tát, Quán
Thế Âm Bồ Tát nói năng phải giữ ư, chẳng
thể nói là “nghĩ thương Vô Tận Ư Bồ Tát”
được. Bởi duyên cớ đó, chỉ nói là
“nghĩ thương tứ chúng và thiên long bát bộ”.
Quán Thế Âm Bồ Tát
nghe lời Phật khuyến cáo, nghĩ thương tứ
chúng và thiên, long v.v… bèn tiếp nhận chuỗi anh lạc
của Vô Tận Ư cúng dường, nhưng Quán Thế Âm
Bồ Tát chẳng giữ cho ḿnh; Ngài lập tức chia
thành hai phần: Một phần cúng Thích Ca Mâu Ni Phật,
một phần cúng cho tháp Đa Bảo Phật.
Kinh văn đến
đây có thể nói là đă giảng xong, nhưng v́ vẫn
c̣n có nghĩa lư sâu xa, nên phải thuyết minh đại
lược: Thoạt đầu, Quán Âm Bồ Tát chẳng
chịu tiếp nhận cúng dường, sau
được đức Phật khuyên nhủ bèn nhận
chuỗi anh lạc ấy. Như vậy là “chẳng
nhận mà nhận”. Nói theo lư luận Phật pháp, “chẳng
nhận” hiển thị tánh Không; “nhận” hiển thị
Duyên Khởi. Bởi thế, chẳng nhận mà nhận có
nghĩa là Tánh Không tức Duyên Khởi. Sau khi đức
Quán Âm tiếp nhận, bèn lập tức đem cúng dường,
như thế là “nhận nhưng chẳng nhận”. Nói theo
lư luận Phật pháp: Nhận là Duyên Khởi, chẳng
nhận là Tánh Không, bởi thế nhận mà chẳng
nhận hàm nghĩa Duyên Khởi tức là Tánh Không. Như
vậy, đoạn kinh văn này bao hàm nghĩa lư “Tánh Không
mà Duyên Khởi; Duyên Khởi mà Tánh Không” rất sâu. Duyên
Khởi chính là Tánh Không, thường được
gọi là Diệu Hữu Chân Không; cũng như Tâm kinh nói “Sắc
tức là Không”; Tánh Không chính là Duyên Khởi,
thường được gọi là Chân Không Diệu
Hữu, cũng như Tâm kinh nói “Không tức là Sắc”.
Quán Âm Bồ Tát khế nhập tánh Không Tịch rốt ráo,
chẳng c̣n chấp trước hết thảy các pháp
thật có tự tánh, v́ thế, Ngài đem chuỗi anh
lạc chia làm hai phần, cúng dường hiện tiền
Thích Ca Mâu Ni Phật và tháp của quá khứ Đa Bảo
Phật, tự ḿnh chẳng thọ dụng.
Thích Ca Mâu Ni Phật là
giáo chủ cơi Sa Bà, cũng là vị Phật hiện
tại, đúng là phải cúng dường, chẳng cần
phải nói ǵ nữa. Thế nhưng Thích Ca Mâu Ni Phật
nghĩa là ǵ cũng nên nói sơ qua một phen. Thích Ca (Śākya)
là tên một ḍng họ, dịch nghĩa là Năng Nhân; Mâu Ni
(Muni) là đức hạnh của bậc thánh, dịch
nghĩa là Tịch Mặc. Nói “Năng Nhân” nhằm mô tả
ḷng từ bi lợi tha của đức Phật, nghĩa
là đầy đủ ḷng nhân từ dẹp khổ ban vui,
lại c̣n có khả năng lợi tha tích cực. Đó là ư
nghĩa chữ Năng Nhân. Tịch Mặc tượng
trưng trí huệ tự lợi của đức Phật
rất sâu, đầy đủ vô biên trí huệ rộng
lớn, phá trừ phiền năo khiến chính ḿnh được
lợi. Đó là ư nghĩa chữ Tịch Mặc. Thực
hành nhân từ, hiển thị đức Phật nhập
thế độ sanh, tịch tĩnh mặc chiếu
hiển thị đức Phật xuất thế không
tịch. Từ ư nghĩa của bốn chữ Thích Ca Mâu
Ni, ta có thể thấy đức Phật coi trọng
cả tự lợi lẫn lợi tha như thế nào,
thống nhất cả hai phương diện thế gian
và xuất thế gian như thế nào.
Đa Bảo Phật (Prabhutaratna Buddha)
là vị Phật quá khứ, v́ sao lại xuất hiện
trong pháp hội Pháp Hoa này? Cũng nên lược thuật
nhân duyên ấy như sau: Theo kinh Pháp Hoa, trong lúc đức
Thích Ca giảng kinh Pháp Hoa tại núi Linh Thứu (Griddhkuta), nói
xong phần Chánh Tông, lúc sắp giảng qua phần Lưu
Thông, chợt có một tháp báu, từ dưới
đất vọt lên xuất hiện trong không trung, trong
tháp đặt xá-lợi của Đa Bảo Phật. Trong
tháp lại phát ra âm thanh rất lớn, khen ngợi kinh Pháp
Hoa đức Thích Ca vừa giảng quả là chân thật
chẳng dối. Như trong phẩm Hiện Bảo Tháp kinh
này ghi:
“Nhĩ
thời Phật tiền hữu thất bảo tháp, cao
ngũ bách do-tuần, tung quảng nhị bách ngũ
thập do-tuần, tùng địa dũng xuất, trụ tại
không trung, chủng chủng bảo vật nhi trang hiệu
chi... Nhĩ thời bảo tháp trung xuất đại âm
thanh thán ngôn:
- Thiện tai! Thiện tai! Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn
năng dĩ b́nh đẳng đại huệ giáo Bồ
Tát pháp Phật sở hộ niệm Diệu Pháp Hoa Kinh
vị đại chúng thuyết. Như thị! Như
thị! Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn như sở thuyết
giả giai thị chân thật”.
(Lúc
bấy giờ, tháp bằng bảy báu ở trước
đức Phật, cao năm trăm do tuần, rộng
lớn hai trăm năm mươi do-tuần, từ
dưới đất vọt lên, trụ trên hư không, các
thứ bảo vật trang hoàng…. Lúc bấy giờ, trong tháp
báu vang ra âm thanh lớn khen rằng:
-
Lành thay! Lành thay! Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn có thể đem pháp
b́nh đẳng đại huệ dạy các Bồ Tát là
kinh Diệu Pháp Liên Hoa - [là kinh] được chư
Phật hộ niệm - nói cho đại chúng. Đúng
như vậy! Đúng như thế! Thích Ca Mâu Ni Thế
Tôn, những lời Ngài đă nói đều là chân thật!)
Tiếp đó,
đức Phật lại nói:
“Nhĩ thời Phật cáo Đại Nhạo
Thuyết Bồ Tát:
- Thử bảo tháp trung hữu Như Lai toàn thân, năi
văng quá khứ Đông phương vô lượng thiên
vạn ức A-tăng-kỳ thế giới, quốc danh
Bảo Tịnh, bỉ trung hữu Phật, hiệu
viết Đa Bảo. Kỳ Phật hành Bồ Tát
đạo thời, tác đại thệ nguyện:
“Nhược ngă thành Phật, diệt độ chi hậu,
ư thập phương quốc độ, hữu
thuyết Pháp Hoa Kinh xứ, ngă chi tháp miếu, vị thính
thị kinh cố, dũng hiện kỳ tiền, vị tác
chứng minh, tán ngôn thiện tai”.
(Lúc
bấy giờ, Phật bảo Đại Nhạo
Thuyết Bồ Tát:
-
Trong tháp báu này có toàn thân Như Lai, trong quá khứ, cách vô
lượng ngàn vạn ức A-tăng-kỳ thế
giới về phương Đông, nước tên là
Bảo Tịnh, trong cơi ấy có Phật, hiệu là Đa
Bảo. Đức Phật ấy lúc hành đạo Bồ
Tát, phát đại thệ nguyện: “Nếu ta thành Phật,
sau khi diệt độ rồi, trong mười
phương cơi nước, có chỗ nào nói kinh Pháp Hoa, tháp
miếu của ta v́ để nghe kinh ấy, bèn vọt lên
hiện trước [pháp hội] để chứng minh,
khen rằng lành thay!)
Do bởi nhân duyên
ấy, trong lúc Phật giảng kinh Pháp Hoa, để
thực hiện hoằng nguyện đó, tháp Đa Bảo
Phật bèn hiện từ dưới đất vọt lên,
chứng minh cho Phật Thích Ca Mâu Ni. Trong pháp hội khi
ấy, có quá khứ Đa Bảo Phật, có hiện
tại Thích Ca Mâu Ni Phật, Phật Phật đạo
đồng, Quán Âm Bồ Tát chuyển cúng vật ḿnh đă
nhận, chẳng thể chỉ cúng dường một
đức Phật, nên chia làm hai phần: Một phần
dâng lên Thích Ca Mâu Ni Phật, một phần cúng tháp Phật
Đa Bảo.
1.2.2.2.2. Ứng vấn kết đáp (tổng
kết lời đáp câu hỏi)
Chánh kinh:
Vô Tận Ư! Quán
Thế Âm Bồ Tát hữu như thị tự tại
thần lực, du ư Sa Bà thế giới.
無盡意。觀世音菩薩有如是自在神力。游於娑婆世界。
(Này
Vô Tận Ư! Quán Thế Âm
Bồ Tát có thần lực tự tại như thế,
dạo trong thế giới Sa Bà).
Đến đây là
phần tổng kết lời đáp câu hỏi. Phật
lại gọi Vô Tận Ư bảo: Quán Thế Âm Bồ Tát có
sức thần thông oai đức tự tại như ta
vừa nói trên đây, dạo trong thế giới Sa Bà
để giáo hóa chúng sanh.
Nói đến tự
tại th́ có Tứ Tự Tại, Lục Tự Tại,
Thập Tự Tại, nhưng trọng yếu nhất
chẳng ngoài thân lẫn tâm cùng đại tự tại.
Nếu thân có thể tới lui vô ngại th́ gọi là Thân
Tự Tại. Nếu tâm xa ĺa được trói buộc,
đối với hết thảy thông đạt vô
ngại, th́ gọi là Tâm Tự Tại. Phẩm Tự kinh
Pháp Hoa có câu: “Tận các hữu kết, tâm
được tự tại” có nghĩa là Tâm Tự
Tại. Sách Duy Thức Diễn Bí nói: “Việc làm không úng
trệ, gọi là Tự Tại”, nghĩa là Thân Tự
Tại. Thần lực nói ở đây chính là thần thông
lực, có người giải thích ba chữ “thần thông
lực” như sau: “Thần nghĩa là diệu dụng
chẳng thể suy lường, Thông nghĩa là thông
suốt, dung ḥa, tự tại, Lực có nghĩa là lực
dụng”. Tổng hợp lại, bốn chữ “tự tại thần lực”
có nghĩa là chẳng cần phải mất công khởi lên
ư niệm, tùy ḷng hiện tiền, thần diệu chẳng
thể suy lường được. Câu “thần
lực tự tại như thế” chỉ ba
mươi ba ứng thân để thực hiện
mười chín cách thuyết pháp nhằm giáo hóa cứu
độ các loại chúng sanh bất đồng như
phần trên đă nói.
“Dạo trong Sa Bà
thế giới” và “dạo
các cơi nước” là cách nói tương hỗ, tức
là: Trong phần trên, khi nói Bồ Tát dạo trong các cơi
nước, không có nghĩa là Bồ Tát chẳng du hóa trong
thế giới Sa Bà này; giờ đây nói Bồ Tát du hóa
trong thế giới Sa Bà, không có nghĩa là Bồ Tát
chẳng đến cảm ứng trong các quốc
độ mười phương. Chỉ v́ Quán Âm Bồ
Tát có duyên đặc biệt cùng chúng sanh cơi Sa Bà, lại v́
cơi Sa Bà trược ác, Bồ Tát đại từ
đại bi luôn thường đặc biệt du hóa. V́
thế chúng ta càng phải đặc biệt tôn trọng
cung kính, cúng dường Quán Âm Bồ Tát.
2. Kệ tụng hợp hiển (Hợp giải kệ tụng)
2.1. Trùng vấn đắc danh sở
dĩ (Hỏi lại
duyên do được danh hiệu)
Chánh kinh:
Nhĩ thời, Vô
Tận Ư Bồ Tát dĩ kệ vấn viết:
Thế Tôn diệu
tướng cụ,
Ngă kim trùng vấn
bỉ,
Phật tử hà
nhân duyên
Danh vi Quán Thế
Âm?
爾時無盡意菩薩以偈問曰。
世尊妙相具。
我今重問彼。
佛子何因緣。
名為觀世音。
(Lúc bấy giờ,
Vô Tận Ư Bồ Tát dùng kệ hỏi:
- Thế Tôn,
đủ diệu tướng,
Con nay xin lại
hỏi:
Nhân duyên ǵ Phật
tử
Tên là Quán Thế Âm?)
Phần Trường
Hàng của phẩm này đến đây đă giảng xong,
nay giảng tiếp phần Kệ Tụng. Trường
Hàng dùng thể tài văn xuôi để tuyên thuyết;
Kệ Tụng dùng thể tài văn vần. Đức
Phật giảng kinh, đa phần có đủ hai loại
thể tài này. Như trong hai mươi tám phẩm kinh Pháp
Hoa, chỉ có phẩm sau cùng là phẩm Phổ Hiền
Bồ Tát Khuyến Phát không có kệ tụng, các phẩm
khác đều có kệ tụng. Thế nhưng khi ngài La
Thập dịch phẩm Phổ Môn này, chưa dịch
phần Kệ Tụng; sau này, ngài Xà Na Cấp Đa
(Jhanagupta) dịch ra, các sư đời sau Ngài cho rằng
Phạn bản vốn có phần Kệ Tụng này nên
đem bài kệ đây ghép vào sau phần Trường Hàng
của phẩm Phổ Môn do ngài La Thập dịch, hợp
thành một phẩm hoàn chỉnh. Bởi thế phẩm
Phổ Môn kinh Pháp Hoa khi được lưu truyền
trong hiện tại đều có phần Kệ Tụng
này. Do vậy, tôi lại dựa theo phần Kệ Tụng để
giải thích đại lược.
Kệ Tụng là so
với Trường Hàng mà nói, có các dạng ba chữ,
bốn chữ, năm chữ, bảy chữ, tám chữ
khác biệt, nhưng phải có đủ bốn câu mới
gọi là Kệ; tiếng Phạn gọi là Kệ Đà, Hán
dịch là Ứng Tụng; nếu gộp cả tiếng
Ấn lẫn tiếng Hoa th́ thành ra Kệ Tụng. Nếu
phân loại th́ lại có hai loại khác nhau:
1) Nếu là một
kết cấu đơn độc để diễn
giải pháp nghĩa th́ trong mười hai bộ loại
kinh, nó được gọi là Già Đà (Gatha); dịch là
Cô Khởi Tụng, chẳng gọi là Trùng Tụng.
2) Nếu là bài kệ
dùng để kết lại ư nghĩa đă giảng trong
phần kinh văn bằng văn xuôi đă giảng
trước đó th́ trong mười hai bộ loại kinh
gọi là Kỳ Dạ (Geya), dịch là Ứng Tụng,
hoặc Trùng Tụng.
Kệ Tụng trong
phẩm này thuộc loại Trùng Tụng. Sở dĩ
gọi là Trùng Tụng, cũng có hai ư nghĩa:
1) Để cho
những thính chúng đến sau trong pháp hội cũng
được nghe giản lược những
điều đă giảng trong phần văn xuôi
trước đó.
2) Để cho
những thính chúng chưa thể hiểu thật sâu
những điều đă nói trong phần trước, sẽ
nhờ vào phần Kệ Tụng này mà được
hiểu rơ và dễ ghi nhớ trong tâm.
Chữ “nhĩ
thời” chỉ lúc đức Phật nói xong phần
Trường Hàng. Vào đúng lúc đó, Vô Tận Ư Bồ Tát
lại dùng kệ tụng hỏi đức Phật.
“Thế Tôn” là một trong mười hiệu chung
của đức Phật, do được hết
thảy phàm thánh thế gian xuất thế gian cùng tôn
trọng nên có danh hiệu này. Đức Thế Tôn đă
chứng Vô Thượng Chánh Giác chẳng giống với
mọi phàm phu, Phật có đủ ba mươi hai
tướng, tám mươi vẻ đẹp, bởi
thế gọi là “diệu tướng cụ”
(đầy đủ các tướng mầu nhiệm).
Đầy đủ các diệu tướng, trong phẩm
Đề Bà Đạt Đa nói:
Vi diệu tịnh Pháp
Thân,
Cụ tướng
tam thập nhị,
Dĩ bát thập chủng
hảo,
Dụng trang nghiêm Pháp
Thân.
(Pháp
Thân tịnh vi diệu,
Đủ
ba mươi hai tướng,
Dùng
tám mươi vẻ đẹp,
Để trang nghiêm Pháp Thân)
Trong phẩm
Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự gọi là “dung
nhan thậm kỳ đặc” (dung mạo rất lạ
lùng, đặc biệt). [Khi nói] Phật có đủ các
diệu tướng, ta thường hiểu là nói về
Ứng Thân, nhưng trong phẩm Đề Bà Đạt
Đa lại nói Pháp Thân đủ các tướng, đó là
điều rất đáng chú ư! Pháp Thân có tướng
trạng hay không, các học giả thường tranh
luận, ở đây tôi chẳng thể giảng kỹ v́
nói ra dài ḍng quá. C̣n như ba mươi hai tướng, tám
mươi vẻ đẹp, danh tướng rắc
rối quá nên bất tất phải giảng từng
thứ một, chủ yếu là: Dưới ḷng bàn chân có
tướng bánh xe ngàn căm, trước ngực có
chữ Vạn, giữa hai mày có tướng bạch hào,
trên đảnh có nhục kế v.v… Tướng hảo
chẳng phải ngẫu nhiên mà có được, phải
do tu các phước đức mà có. Bởi thế mới
có hai câu nói như sau: “Tam kỳ tu phước huệ;
bách kiếp chủng tướng hảo” (Ba
A-tăng-kỳ tu phước huệ; trăm kiếp
trồng tướng hảo). Mỗi một tướng
hảo do một trăm phước tạo thành, chẳng
phải là chuyện đơn giản! Chúng ta nếu
muốn được tướng hảo th́ phải
đúng pháp tu tập đức hạnh mới
được như nguyện, bởi những
tướng hảo ấy là do tu tập mà thành chứ
chẳng phải tự nhiên mà có vậy!
Vô Tận Ư tôi nay
lại hỏi đức Phật lần nữa: Vị
Phật tử kia do nhân duyên nào mà được danh
hiệu là Quán Thế Âm? Chữ “bỉ” và “Phật
tử” trong phần Kệ Tụng đều chỉ
Quán Thế Âm Bồ Tát. “Phật tử” vốn là
tiếng để gọi chung người tin Phật,
học Phật, như tứ chúng, thất chúng[1]
đều có thể xưng là Phật tử, nhưng
ở đây chữ “Phật tử” này chuyên chỉ Quán
Thế Âm Bồ Tát. Nếu nói dễ dăi, đức
Phật coi chúng sanh đều như con một, nên hết
thảy chúng sanh trong pháp giới đều xưng là “Phật
tử” cũng chẳng hề ǵ; nhưng nếu nói phân
biệt th́ có đích tử và thứ tử. Theo Đại
Thừa Phật pháp: Nhị Thừa là thứ tử (con ḍng
thứ) của Phật, v́ chẳng thể kế thừa
gia nghiệp Như Lai, Bồ Tát Thừa là đích tử
(con ḍng chánh) v́ có thể thiệu long Phật chủng, gánh
vác gia nghiệp Như Lai, nên người thật sự có
thể xưng là con ḍng, cháu đích của Phật chỉ
có hàng Bồ Tát độ sanh tự lợi lợi tha. Quán
Âm là đại Bồ Tát, đương nhiên có đủ
tư cách xưng là Phật tử.
Cần biết:
Đức Phật xuất thế hoàn toàn lấy việc
hoằng pháp độ sanh làm gia vụ sự nghiệp,
ngoại trừ việc hoằng pháp độ sanh, bất
cứ việc ǵ khác Phật cũng chẳng làm! Hiện thời
chúng ta đă là Phật tử, phải hoằng pháp
độ sanh giống như đức Phật, phải
gánh vác sự nghiệp đức Như Lai đă từng
gánh vác, giống như con cái kế thừa giữ ǵn
sự nghiệp của cha mẹ. Làm đệ tử
Phật, nếu chẳng thể thực hiện sự
nghiệp Phật hóa, mà suốt đời chỉ có
thể thực hiện Phật sự quấy quá cho xong th́
chẳng những là bất hiếu đối với
Phật, mà c̣n là cô phụ thân phận Phật tử
của chính ḿnh nữa. Đặc biệt là trong thời
đại hiện tại, nhân loại đúng là đang
cần được Phật pháp cứu vớt; là
người con Phật càng phải nên tích cực thực
hiện công tác hoằng dương Phật pháp, ngơ hầu
nhân loại thế giới khỏi bị hủy diệt
bởi oai lực của bom khinh khí (H-bomb). Do vậy, tôi
mong những Phật tử chân chánh có ḷng thiệu long
Phật chủng chẳng để Phật chủng
đoạn tuyệt hăy nên biết trách nhiệm trọng
đại của chính ḿnh, nhất trí v́ Phật pháp, v́ nhân
loại, v́ chúng sanh mà nỗ lực thực hiện sự
nghiệp Phật hóa.
2.2. Hợp hiển đắc danh du hóa (giải thích rơ duyên do đắc
danh và sự du hóa)
2.2.1. Hiển đắc danh sở dĩ (nêu nguyên do được danh
hiệu)
2.2.1.1. Tổng tiêu (nêu chung)
Chánh kinh:
Cụ túc
diệu tướng tôn,
Kệ đáp Vô
Tận Ư:
Nhữ thính Quán Âm
hạnh,
Thiện ứng
chư phương sở,
Hoằng thệ
thâm như hải,
Lịch kiếp
bất tư nghị,
Thị đa thiên
ức Phật,
Phát đại thanh
tịnh nguyện,
Ngă vị nhữ
lược thuyết,
Văn danh cập
kiến thân,
Tâm niệm bất
không quá,
Năng diệt
chư hữu khổ.
具足妙相尊。
偈答無盡意。
汝聽觀音行。
善應諸方所。
弘誓深如海。
歷劫不思議。
待多千億佛。
發大清淨願。
我為汝略說。
聞名及見身。
心念不空過。
能滅諸有苦。
(Đấng
đầy đủ diệu tướng,
Kệ đáp Vô
Tận Ư:
Ông nghe hạnh Quán
Âm,
Khéo ứng các nơi
chốn,
Nguyện lớn sâu
như biển,
Trải kiếp
chẳng nghĩ bàn,
Hầu nhiều ngàn
ức Phật,
Phát đại thanh
tịnh nguyện,
Ta v́ ông nói
lược:
Nghe tên và thấy
thân,
Tâm niệm chẳng
luống qua,
Diệt khổ trong
các cơi).
Vô Tận Ư dùng kệ thỉnh vấn
đức Phật, đức Phật là “cụ túc diệu
tướng tôn” (đấng
đầy đủ
tướng tốt) bèn dùng kệ phúc đáp Vô Tận
Ư:
Ông nay nghe ta nói sơ
lược các hạnh môn ngài Quán Âm đă tu, chẳng
phải đơn giản như mọi người
tưởng tượng đâu nhé, mà thật là vi diệu
chẳng thể nghĩ bàn được. Đối
với các pháp môn ngài Quán Âm đă hành và các công đức
Ngài đạt được, v́ sao chẳng nói là Quán hay là
Thấy mà lại nói là “nghe” (“Ông nghe hạnh Quán Âm”);
trong phần giải thích v́ sao Quán Thế Âm Bồ Tát có tên
là Quán Thế Âm trong phần trên, tôi đă có nói rồi:
Bồ Tát dùng lẫn lộn sáu căn, ở đây
chẳng nhắc lại nữa.
Do Quán Âm Bồ Tát tu
chẳng thể nghĩ bàn các hạnh môn, đă từng
đạt được sức oai đức thần
thông chẳng thể nghĩ bàn, bởi thế Ngài có thể
“thiện ứng chư phương sở” (khéo
hiện [trong khắp] các nơi chốn). Ở đây nói “phương
sở” là chỉ mười phương quốc
độ, ư nói: Quán Thế Âm Bồ Tát dùng ba mươi ba
ứng thân ứng hiện trong bất cứ cơi
nước nào, cũng có nghĩa là trong mọi ngóc ngách
của mỗi một thế giới đều có Quán Âm
Bồ Tát thị hiện, như trong phần trên nói là “vô
sát bất hiện thân” (không
cơi nào chẳng hiện thân) cũng chỉ là cách nói
khác của “thiện ứng chư phương sở”
vậy. Chẳng những là không một cơi nào trong không gian
Bồ Tát chẳng hiện thân, mà trong thời gian, không lúc
nào Bồ Tát chẳng hiện.
Quán Âm Bồ Tát đă
đạt đến mức “không cơi nào chẳng
hiện thân” là v́ khi mới phát tâm, Ngài đă từng phát
hoằng thệ sâu như biển cả nên nói là “hoằng
thệ thâm như hải” (nguyện lớn sâu như
biển). Hoằng (弘) nghĩa là rộng lớn, Thệ (誓) nghĩa là ước định,
tức là hành theo đúng đại nguyện ḿnh đă
lập, chẳng cần biết là gian nan khốn khổ
như thế nào, đều chẳng v́ gặp bất
cứ trở ngại và thử thách nào mà buông bỏ
hết thảy những điều ḿnh đă lập
nguyện phải làm. Sách Pháp Giới Thứ Đệ,
quyển Hạ viết: “Duyên rộng khắp gọi là
Hoằng, tự chế tâm ḿnh gọi là Thệ, chí mong
trọn đủ gọi là Nguyện”. Một con
người lập chí phát nguyện nếu chẳng
chế ngự được cái tâm ḿnh, nếu chẳng
muốn làm [nhất định] như thế nào đó th́
sẽ khó tránh khỏi lui sụt, thất bại. Chỉ có
nhờ vào tinh thần trăm thứ trở ngại
chẳng nao núng, sau khi phát nguyện lập thệ, nhất
tâm chuyên chí phấn đấu tiến lên, khi chưa trọn
vẹn ư nguyện quyết chẳng ngưng nghỉ [th́
mới thành tựu ư nguyện].
Thế nào mới là
Hoằng Thệ? Trong Phật pháp, chỉ có đại
thệ nguyện độ sanh mới là hoằng thệ.
Nhưng độ sanh cũng chẳng phải là độ
một hai chúng sanh hoặc một số ít chúng sanh mà
phải độ khắp hết thảy chúng sanh; như
kinh Kim Cang dạy: “Sở hữu nhất thiết chúng
sanh chi loại... ngă giai linh nhập Vô Dư Niết Bàn nhi
diệt độ chi” (tất
cả hết thảy loài chúng sanh… tôi đều khiến
cho nhập Vô Dư Niết Bàn để diệt độ);
ấy mới là hoằng thệ đại nguyện chân
chánh. Trong lúc c̣n là phàm phu, mới phát tâm, Quán Âm Bồ Tát
từng có mười hai đại nguyện, như nói: “Quán
Âm Đại Sĩ, hiệu là Viên Thông, mười hai
đại thệ nguyện rộng sâu” chính là lời
thuyết minh rất khéo về hoằng thệ sâu như
biển cả của Ngài. Bởi thế, mỗi một
hành giả Bồ Tát chân chánh chẳng những có những
nguyện chung phải nên lập, mà mỗi người c̣n
phải lập những lời nguyện riêng biệt;
như mười hai đại nguyện của
đức Quán Âm cố nhiên là biệt nguyện. Như nói
đến năm trăm đại nguyện của
Phật Thích Ca, bốn mươi tám nguyện của
Phật A Di Đà, mười hai đại nguyện
của Phật Dược Sư, đều là nói về
biệt nguyện vậy.
Quán Âm đại
sĩ phát Bồ Đề tâm, lập hoằng thệ
nguyện, chẳng phải chỉ trong một hai ngày bèn
hoàn thành đại thệ nguyện đó, mà là trong
chẳng thể nghĩ bàn trần kiếp, tinh tấn
dũng mănh thực hiện Bồ Tát hạnh, nên nay mới
đạt đến địa vị Nhất Sanh Bổ
Xứ, bởi thế nói là “lịch kiếp bất tư
nghị” (trải kiếp
chẳng nghĩ bàn). Kiếp trong tiếng Ấn là
Kiếp-ba (kalpa), tương phản với sát-na (ksana).
Sát-na tượng trưng cho thời gian cực ngắn,
Kiếp-ba tượng trưng cho thời gian cực dài.
Thời gian lâu dài ấy chẳng thể dùng năm tháng ngày
giờ thông thường để tính toán được
nổi. Kiếp-ba c̣n dịch là Đại Thời, như
quyển mười tám Trí Độ Luận chép: “Đại
Thời gọi là Kiếp”. Xét ra, có ba loại:
Đại Kiếp, Tiểu Kiếp, Trung Kiếp. Thời
gian đức Quán Âm dành để tự hành hóa tha
chẳng phải là một hai kiếp, dăm ba kiếp
để con người chúng ta có thể tâm nghĩ,
miệng bàn ḥng suy lường được, mà là
trải qua trần điểm kiếp, đấy là
điều chúng ta chẳng thể nghĩ bàn
được nổi.
Trải qua
chẳng thể nghĩ bàn trần sa kiếp, Quán Âm Bồ
Tát rộng tu đại hạnh Bồ Tát, thời gian Ngài
trải qua đương nhiên rất dài. Chính v́ thời
gian hành đạo Bồ Tát cực dài, nên Ngài cũng
phụng sự chư Phật nhiều đến trăm
ngàn vạn ức vị, như kinh Kim Cang nói: “Đương
tri thị nhân, bất ư nhất Phật, nhị Phật,
tam, tứ, ngũ Phật nhi chủng thiện căn, dĩ
ư vô lượng thiên vạn Phật sở chủng chư
thiện căn” (Phải
biết người ấy chẳng phải gieo thiện
căn nơi một Phật, hai Phật, ba bốn năm
đức Phật, mà là gieo thiện căn nơi vô
lượng ngàn vạn đức Phật). Bởi
thế, kệ tụng nói: “Thị đa thiên ức
Phật” (Hầu nhiều
ngàn ức Phật). Sở dĩ một đức
Phật xuất thế, Bồ Tát phải phụng thị
(vâng kính, hầu hạ) là v́:
1) Bồ Tát
phải thường theo học với Phật, dù nói “Phật
Phật đạo đồng”, nhưng phương
tiện độ sanh của mỗi một đức
Phật rốt ráo vẫn có điểm bất đồng.
Bởi thế, Bồ Tát chẳng thể không phụng
sự, học tập theo Phật.
2) Bồ Tát
phải giúp đức Phật tuyên dương, giáo hóa, dù
ngàn vạn ức Phật xuất thế, Bồ Tát
chẳng thể không phụng sự trước ṭa mỗi
đức Phật, nghe chư Phật sai khiến, giúp
Phật tuyên dương pháp hóa.
Hầu Phật
đă rất nhiều, đương nhiên tích tập
hạnh cũng rất thù thắng, cho nên nguyện đă
phát cũng chỉ là thượng cầu Phật
đạo, hạ hóa chúng sanh, tuyệt đối chẳng
có các tạp niệm bất thuần chánh nào khác xen tạp
vào, nên nói là “phát đại thanh tịnh nguyện”.
Chúng ta lập nguyện nếu thuần v́ lợi lạc cá
nhân, chẳng những nội tâm đă sớm chẳng thanh
tịnh mà c̣n do nguyện lực thúc đẩy, tự
biểu hiện ra hành vi cũng chẳng thuần khiết.
Động cơ lập nguyện của Bồ Tát, nh́n lên
chỉ là thượng cầu Phật đạo, nh́n
xuống chỉ mong hóa độ chúng sanh. Do hết
thảy hoạt động của ba nghiệp thân -
ngữ - ư tạm thời xa ĺa hết thảy phiền năo
ác hạnh cấu nhiễm, hoặc vĩnh viễn xa ĺa hết
thảy cấu nhiễm phiền năo ác hạnh, có thể
nói là ba nghiệp không lầm lỗi, nên gọi là thanh
tịnh; đấy mới thật sự là đại
nguyện thanh tịnh. Chỉ có đại nguyện thanh
tịnh như thế mới có thể ứng hiện trong
hết thảy cơi nước, cứu tế khắp
hết thảy chúng sanh.
Pháp sư Thông Lư nói: “Hai
câu ‘lịch kiếp’ (tức “lịch
kiếp bất tư nghị, thị đa thiên ức
Phật”) cho thấy hạnh tự tu thù thắng,
nghĩa là: Bồ Tát lúc tu nhân, trải qua kiếp số
đă đến mức chẳng thể nghĩ bàn,
những đức Phật Ngài đă hầu nhiều
đến số ngàn ức. Hạnh ấy có thể nói là
thù thắng vậy”. Như vậy, “phát đại
thanh tịnh nguyện” đương nhiên có nghĩa là
phát nguyện thù thắng. “Nguyện lớn, hạnh
lớn, cúng nhiều Phật, nguyện rộng xa, gốc
sâu rễ chắc, nên mới có đủ các thân ứng hóa
Phổ Môn thị hiện như thế, thí đại vô
úy, diệu lực chẳng thể nghĩ bàn, ví như
thuyền cao nước lớn, đất nhiều [đắp
được tượng] Phật to. Đấy là
lời đức Thích Ca Mâu Ni Phật tán thán Quán Thế Âm
Bồ Tát diệu lực chẳng thể nghĩ bàn
vậy”. Do vậy, Quán Âm Bồ Tát dù hạnh hay
nguyện đều chẳng thể nghĩ bàn, đều
đáng khen ngợi cả, bởi lẽ, Ngài chẳng v́
tự thân mà phải làm như thế, mà thật sự là
v́ chúng sanh mà làm như thế, do một ḷng giáo hóa chúng sanh
cho họ được giải thoát, do hy sinh bản thân
nên chứng giác Phật quả tối cao vô thượng.
Thêm nữa, đức
Phật lại bảo cùng Vô Tận Ư: Tuy ở trên, ta
đă v́ ông nói các hạnh nguyện tự tha của Quán Âm
Bồ Tát, nay ở đây ta vẫn phải v́ ông
lược nói những hạnh hóa tha của Quán Âm Bồ
Tát. Quán Âm là vị Bồ Tát đại từ đại
bi, không thời khắc nào chẳng quan hoài bọn chúng sanh
ta, do đó, bất luận chúng ta “nghe tên” và “thấy
thân”, cho đến “tâm niệm” Bồ Tát th́
đều sẽ cảm ứng Bồ Tát, chẳng
đến nỗi luống uổng. Pháp sư Thông Lư nói: “Nghe
tên ắt xưng niệm là dùng khẩu nghiệp để
cảm; thấy thân ắt lễ là dùng thân nghiệp
để cảm; tâm niệm ắt quán là dùng ư nghiệp
để cảm. Ba điều ấy đều có
thể ứng, nên chẳng luống uổng”. Có
người cho rằng miệng xưng danh, thân thể
lễ bái, tâm niệm tư duy là lăng phí thời gian, chẳng
có ư nghĩa ǵ, chẳng có một chút lợi ích thật
sự ǵ, đây là điều lầm lạc lớn
nhất, mà cũng là lỗi lầm chẳng có tín niệm
tôn giáo vậy!
Câu “năng diệt
chư hữu khổ” (diệt khổ trong các cơi)
hiển thị lợi ích thù thắng đạt
được do nghe tên, thấy thân và tâm niệm Bồ
Tát. “Chư Hữu” nói đơn giản là Tam Hữu,
tức Dục Hữu, Sắc Hữu, Vô Sắc Hữu; nói
ở mức độ trung b́nh là chín cơi: Ngũ Thú Tạp
Cư Địa, Ly Sanh Hỷ Lạc Địa,
Định Sanh Hỷ Lạc Địa; Ly Hỷ Diệu
Lạc Địa, Xả Niệm Thanh Tịnh Địa,
Không Vô Biên Xứ Địa, Thức Vô Biên Xứ
Địa, Vô Sở Hữu Xứ Địa, Phi Phi
Tưởng Xứ Địa. Nếu phân tích chi tiết,
“chư Hữu” chỉ hai mươi lăm Hữu trong tam
giới, tức là bốn đường ác trong bốn
đại châu, Lục Dục và Phạm Thiên, Tứ
Thiền, Tứ Không Xứ, Vô Tưởng và Bất Hoàn.
Gọi chung là Hữu v́ có nhân có quả, nhân quả
chẳng lầm vậy. B́nh thường khi chúng ta nói
đến Hữu th́ có nghĩa là “tồn tại”, tức
là mỗi một hữu t́nh có sanh mạng thể trong tam
giới. Dù không thật sự có được một
Tự Ngă, nhưng có giả tướng do duyên khởi ḥa
hợp, đích xác tồn tại trong thế gian này nên
gọi là Hữu.
Sanh mạng
thể trong hai mươi lăm Hữu là bất
đồng, nh́n từ quan điểm thế gian,
đương nhiên là có sướng vui vô cùng khác biệt,
như trên trời là sướng nhất, địa
ngục là khổ nhất, nhân gian là khổ vui lẫn
lộn. Nhưng nếu nh́n từ quan điểm Phật
pháp, chúng sanh trong hai mươi lăm Hữu của tam
giới đều cùng trong biển khổ sanh tử, không
ai chẳng bị đau khổ bức bách. Nếu dựa
trên ư nghĩa bức bách, thông thường nói có tám khổ,
nhưng nay dựa theo quyển mười hai Trí Độ
Luận lược nói có hai thứ khổ:
1) Nội khổ:
Chỉ bốn trăm lẻ bốn thứ bệnh khổ
nơi thân thể, các nỗi khổ ưu sầu, ghen ghét
v.v… trong tâm.
2) Ngoại khổ:
Chỉ các nỗi khổ gia hại như ác tặc,
cọp, sói v.v… nỗi khổ tai nạn mưa, gió,
lạnh, nóng v.v…
Bất luận nội
khổ hay ngoại khổ bức bách, chỉ cần thâu
nhiếp tam nghiệp, nhất tâm xưng danh, thân lễ, tâm
niệm, liền cảm ứng Bồ Tát, diệt trừ
các nỗi khổ trong hai mươi lăm Hữu và các
thứ ách nạn, thân tâm rốt ráo được giải
thoát!
2.2.1.2. Biệt hiển (hiển
thị riêng biệt từng điều)
2.2.1.2.1. Năng miễn tam nạn (thoát
được ba nạn)
Chánh kinh:
Giả sử
hưng hại ư,
Thôi lạc
đại hỏa khanh,
Niệm bỉ Quán
Âm lực,
Hỏa khanh
biến thành tŕ.
Hoặc phiêu
lưu cự hải,
Long, ngư, chư
quỷ nạn,
Niệm bỉ Quán
Âm lực,
Ba lăng bất
năng một.
假使興害意。
推落大火炕。
念彼觀音力。
火炕變成池。
或漂流巨海。
龍魚諸鬼難。
念彼觀音力。
波浪不能沒。
(Nếu kẻ
nổi ư hại,
Xô rớt hầm
lửa lớn,
Nhờ sức
niệm Quán Âm,
Hầm lửa
biến thành ao.
Hoặc lênh đênh
biển cả,
Mắc nạn
quỷ, cá, rồng,
Nhờ sức
niệm Quán Âm,
Sóng ṃi chẳng
ch́m được)
Từ đây
trở đi, trùng tụng những sự Quán Âm cứu
nạn, cứu tai. Hai bài kệ tụng này ư nói có thể
tránh được tam tai: hỏa tai, thủy tai, phong tai.
Giả sử trong
thế gian này, có kẻ nào đối với quư vị
khởi tâm ư hăm hại, thật sự đẩy quư vị
rớt vào trong “hầm lửa lớn” mong kết thúc
sanh mạng của quư vị; nhưng trong lúc đó, quư
vị chẳng cần phải sanh ác niệm đối
với kẻ đó, chỉ cần quư vị có thể
niệm thánh hiệu đức Quán Âm Bồ Tát kia, liền
có thể cảm ứng thần lực oai đức
của Bồ Tát khiến cho cái hầm lửa lớn quư vị
té vào đó ngay lập tức biến thành ao nước
trong mát, khiến quư vị chẳng bị tổn
thương mảy may nào. Kinh Hoa Nghiêm phẩm Nhập Pháp
Giới chép: “Ma La Da sơn, xuất Chiên Đàn hương,
nhược dĩ đồ thân, thiết nhập đại
hỏa, hỏa bất năng thiêu” (Núi Ma La Da sanh hương Chiên Đàn, nếu bôi lên
thân, dù có vào trong lửa lớn, lửa chẳng đốt
nổi). Gỗ Chiên Đàn Hương thế gian c̣n
có lực dụng như thế, huống hồ là hạnh
nguyện lực của Bồ Tát?
Cao Tăng Truyện
chép thời Ngụy có pháp sư Pháp Lực, phát tâm sửa
tháp dựng chùa, đi ra ngoài mộ hóa, quyên được
một xe mè, đi đến giữa đầm, gặp
phải dịp đốt đồng, rủi thay lúc đó
pháp sư Pháp Lực mệt mỏi ngủ quên, đến
khi lửa cháy đến gần thân, bị khói lửa xông
tỉnh, bèn lập tức xưng niệm thánh hiệu. Ngay
lúc miệng vừa thốt ra chữ Quán, c̣n chưa niệm
đến hai chữ Thế Âm, theo tiếng niệm gió
liền nổi, ngọn lửa cũng theo đó tắt
ngấm, đủ thấy hiệu lực của việc
niệm thánh hiệu Quán Âm. C̣n như Hỏa là Sân Hỏa,
phần trên đă giảng rồi, bất tất phải
nhắc lại. Nhưng cũng có thể hiểu “hầm
lửa” là tỷ dụ đường ác; như nói: “Tam
ác hỏa khanh, lâm chung dục nhập” (Hầm lửa ba
đường ác, lâm chung sắp vào). Một người
lúc c̣n sống tạo tội ác, đến lúc sắp
chết, đương nhiên phải đọa ba ác
đạo, thế nhưng ngay trong lúc đó, nếu có
thể nhất tâm xưng niệm thánh hiệu Quán Âm,
ngưỡng cậy sức oai đức từ bi của
Quán Âm, lập tức chuyển ba đường ác thành
đường lành; thậm chí văng sanh Tây Phương
Cực Lạc thế giới. Kinh Quán Thế Âm Đại
Bi Đà Ra Ni nói: “Ngă nhược hướng hỏa
thang, hỏa thang tự tiêu diệt” (Nếu tôi hướng về vạc lửa, vạc
lửa tự tiêu diệt) cũng là nói về ư này.
Bị
người xô rớt vào hầm lửa, nhưng chẳng
khởi ác niệm đối với người ấy,
chỉ có người tu dưỡng nơi tôn giáo mới
có thể làm như vậy được. Hết thảy
mọi thế nhân thông thường, đừng nói là quư
vị đẩy họ vào tử địa hay làm hại
mạng, chỉ cần có chút ǵ chẳng vừa ư họ,
họ cũng nghĩ cách trả đũa hết. Bởi
thế, làm người tốt nhất là phải có tín
ngưỡng tôn giáo và có sự tu dưỡng tôn giáo.
Hoặc là có
người chèo thuyền vượt biển, lúc thuyền
vào trong biển cả, chợt gặp phải cuồng
phong sóng dữ khiến thuyền “phiêu lưu cự hải”
(lênh đênh trong biển
cả), sóng gió vùi dập khiến người ta
bị lạc hướng trong biển, đó là việc
rất nguy hiểm! Bởi lẽ, nước sâu chẳng
thể tự thoát, lại c̣n có các tai nạn rồng, cá,
la-sát, các quỷ. Nói thật ra, nếu chẳng bị
chết đuối, cũng vùi thân trong bụng cá, rất
ít có cơ hội sanh tồn! Trong cảnh ngàn cân treo
sợi tóc ấy, nếu có thể niệm thánh hiệu Quán
Âm Bồ Tát, ngửa nhờ sức oai thần của Quán
Âm Bồ Tát, sóng ṃi chẳng thể nhấn ch́m đáy
biển, bởi thế nói là “ba lăng bất năng một”
(sóng ṃi chẳng ch́m
được). Nên biết “cự hải” (biển cả)
được nói ở đây chỉ biển cả sanh
tử vô biên, “rồng, cá, các quỷ” chỉ phiền
năo trong nội tâm chúng ta. Phiền năo trong tâm chúng ta dậy
sóng nổi gió khiến chúng ta vĩnh viễn trôi nổi
trong biển sanh tử, chẳng đến được
bờ kia Niết Bàn.
Trên mặt sự
tướng, tôi kể một hai câu chuyện cảm
ứng: Trong niên hiệu Thuận Trị đời Thanh, có
ông họ Lưu ở Mạt Lăng phát tâm triều lễ
Nam Hải Phổ Đà, trong thuyền nguyện
được thấy Bồ Tát, nào ngờ sau đó
gặp cơn sóng gió, thuyền lật, họ Lưu rơi
xuống nước. Tuy người đă ở
dưới nước, trước mắt thấy
bốn phía ánh sáng đỏ rực, có một vị
tăng nhân, đưa ông ta về nhà, lúc vừa về
đến nhà, vị tăng nhân biến mất; mới
biết vị tăng nhân đến cứu họ Lưu
chính là Quán Âm Bồ Tát thị hiện.
Trong sách Tỳ
Kheo Ni Truyện có nói thời Tấn có vị ni sư pháp
danh là Lệnh Tông, trước tiên là ở Kư Châu, do
niệm thánh hiệu được thoát nạn giặc.
Buổi chiều, ni sư đến bến Đạt
Mănh, do không có thuyền để qua sông, Ni sư bèn
kiền thành niệm thánh hiệu, chợt có một con nai
trắng chạy tới, lội xuống sông, ni sư theo
chân nai [vượt sông], chẳng bị thấm
ướt, nhờ đó về được nhà. Nên
biết con nai trắng đó cũng là Quán Âm thị
hiện đến cứu ni sư Lệnh Tông.
2.2.1.2.2. Năng miễn bát nạn (Thoát
khỏi tám nạn)
2.2.1.2.2.1. Oán tặc h́nh lục nạn (Nạn
oán tặc, xử tử h́nh)
Chánh kinh:
Hoặc tại
Tu Di phong,
Vị nhân sở
thôi đọa,
Niệm bỉ
Quán Âm lực,
Như nhật
hư không trụ,
Hoặc bị ác
nhân trục,
Đọa
lạc Kim Cang sơn,
Niệm bỉ
Quán Âm lực,
Bất năng
tổn nhất mao,
Hoặc trị oán
tặc nhiễu,
Các chấp đao
gia hại,
Niệm bỉ
Quán Âm lực,
Hàm tức
khởi từ tâm,
Hoặc tao
vương nạn khổ,
Lâm h́nh dục
thọ chung,
Niệm bỉ
Quán Âm lực,
Đao tầm
đoạn đoạn hoại.
或在須彌峰。
為人所推墮。
念彼觀音力。
如日虛空住。
或被惡人逐。
墮落金剛山。
念彼觀音力。
不能損一毛。
或值怨賊繞。
各執刀加害。
念彼觀音力。
咸即起慈心。
或遭王難苦。
臨刑欲壽終。
念彼觀音力。
刀尋段段壞。
(Hoặc trên
đảnh Tu Di,
Bị
người đẩy rớt xuống,
Nhờ sức
niệm Quán Âm,
Như mặt
nhật treo không,
Hoặc bị
người ác đuổi,
Rớt khỏi
núi Kim Cang,
Nhờ sức
niệm Quán Âm,
Chẳng bị
tổn mảy lông,
Hoặc gặp
oán tặc quấy,
Cùng cầm đao
gia hại,
Nhờ sức
niệm Quán Âm,
Đều
liền khởi từ tâm,
Hoặc gặp
phải nạn vua,
Chịu chém,
mạng sắp dứt,
Nhờ sức
niệm Quán Âm,
Đao liền găy
từng khúc)
Tu Di, c̣n
gọi là Tu Di Lâu (Sumeru, Meru), hay Tô Mê Lư, Trung Quốc
dịch là Diệu Cao. V́ núi này do bảy báu hợp thành, nên
gọi là Diệu. V́ núi này cao hơn bảy Kim Sơn[2]
nên gọi là Cao. Núi ở trong đại hải, dựa
trên Kim Luân, mặt trời, mặt trăng xoay quanh, chư
thiên sống hoặc dạo chơi trong đó, bảy
rặng núi vây quanh, bảy biển giáp ṿng. Bốn mặt
núi mỗi mặt một màu: Mặt Đông màu hoàng kim,
mặt
Phật dạy:
Giả sử có người đang ở trên ngọn cao
nhất của núi Tu Di, đột nhiên bị người
khác xô rớt xuống, chẳng cần phải nói, người
ấy chẳng khỏi tan xương nát thịt, tuyệt
đối chẳng c̣n có hy vọng sống c̣n. V́ thế
nói là “vị nhân sở thôi đọa” (bị người đẩy
rớt xuống), nhưng ngay trong lúc đó,
người bị đẩy ấy kiền thành xưng
niệm thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát, liền
được oai lực của Quán Âm Bồ Tát gia bị,
hệt như mặt trời, mặt trăng an trụ
trong không trung, chẳng đến nỗi rớt xuống
mất mạng. Người đẩy ta rớt xuống
không phải là oan gia th́ cũng là đạo tặc mưu
đoạt tài hại mạng; người bị
đẩy mà chẳng rơi toàn là do oai lực Quán Âm gia
tŕ. Trong chuyện thoát khỏi oán tặc này, sở dĩ
đặc biệt lấy núi Tu Di để nói là v́
Diệu Cao sơn vương trên thấu hư không,
dưới tột cùng biển cả, cứu
được nạn khó cứu nhất. Chót vót
đảnh núi Diệu Cao, Bồ Tát c̣n cứu
được th́ những nơi khác Quán Âm đến
cứu tế sẽ chẳng thành vấn đề
nữa.
Sách Quảng Tín
Phủ Chí có chép một câu chuyện như sau: Dưới
triều Tống, có người vào núi đào quặng
đồng, đào mỏ đồng sâu đến nỗi
không sao ḍ được, đào đến nỗi ngọn
núi ấy muốn sụp lở. Ngay trong lúc ấy, chợt
có một người nữ xách giỏ chứa một con
cá vàng đến rao bán. Những người đào
đồng trong hầm núi nghe tiếng người nữ
rao bán cá, ai nấy tranh nhau chui ra, chỉ sợ ḿnh chậm
chân, đến lúc mọi công nhân đều chui ra khỏi
hang núi xong, ngay lập tức ngọn núi sụp xuống,
cô gái bán cá cũng chẳng biết đi đâu mất!
Mọi người kinh hồn hoảng vía, mới hay
đó là Quán Âm đến cứu độ vậy.
Ở đây,
núi cao Tu Di ví cho núi Ngă Mạn cao ngất của chúng ta.
Người sống trong thế gian không ai là chẳng
cống cao, ngă mạn, có thể thấy rơ thái độ
cậy ḿnh khinh người đó. Người ở trên
đảnh núi ngă mạn cao chót vót, thường coi
thường mọi sự, chẳng có ai đáng để
vào mắt, tự cho ḿnh phi phàm nhất; bởi thế,
từ đầu đến cuối muốn giữ
vững địa vị của chính ḿnh. Một ngày nào
đó, cảm thấy có chuyện ǵ chẳng vừa ư,
chẳng được đại đa số mọi
người tôn trọng, liền tự giận dữ,
tự vứt bỏ, cam bề đọa lạc, khác nào bị
người xô từ đỉnh núi Tu Di xuống. Bởi
thế, làm người chẳng được tự cao,
tự đại, mà phải thường tự khiêm.
Nếu có thể thường niệm Quán Âm sẽ có
thể an nhiên ngồi nơi địa vị của chính
ḿnh!
Hoặc lại có
kẻ nào đó, bị những kẻ hung ác tàn bạo không
ngừng đuổi theo sau, bức kẻ ấy không c̣n
đường nào chạy trốn nữa; kết quả,
bị té từ núi Kim Cang xuống, chẳng cần phải
nói nữa, thật là nguy hiểm vô cùng, rất khó giữ
được sanh mạng. Nhưng nếu trong lúc nguy
hiểm vô cùng ấy, người bị truy bức gặp
hoàn cảnh cấp bách, trí huệ phát sanh, khẩn thiết
chí thành xưng niệm thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát th́
liền được oai lực Quán Âm gia tŕ, khiến cho
da tóc nơi sanh mạng thể chẳng hề bị
tổn thương mảy may ǵ, bởi thế nói là “bất năng tổn nhất
mao” (chẳng bị
tổn mảy lông).
Kim Cang Sơn là
tiếng Hán, tiếng Ấn gọi là Chước Ca La (Cakravāda). Theo kinh Khởi Thế, ngoài các
đại sơn và núi Tu Di ra, c̣n có một ḥn núi lớn tên
là Chước Ca La (cũng có chỗ dịch là Thiết Vi
sơn), cao sáu trăm tám mươi vạn do-tuần, kích
thước các bề cũng là sáu trăm tám mươi
vạn do-tuần, do kim cang dày khít kiên cố tạo thành,
rất khó ḷng phá hoại, đánh vỡ được,
bởi vậy gọi là núi Kim Cang; nhưng nếu những
thứ khác đụng phải kim cang, những thứ
đó sẽ bị phá hoại dễ dàng. Chớ nghĩ núi
Kim Cang kiên cố nhất hoàn toàn là ngọn núi ở bên ngoài,
nó chính là Ngă Chấp trong tâm chúng ta đấy. Theo Phật
pháp, khó phá hoại nhất không ǵ bằng tâm Ngă Chấp
của chúng sanh. Phải đạt đến bực
Sơ Địa Bồ Tát mới phá sạch hết
nổi Phân Biệt Ngă Chấp, nhưng Câu Sanh Ngă Chấp
tùy ư khởi lên, cực kỳ vi tế, dù đă chứng
Sơ Địa vẫn chưa thể giải quyết
được. Phải tu tập những địa
vị cao hơn, tu tập Sanh Không Trí Quán mới ḥng
dần dần đoạn trừ được, bởi
thế nó được ví như Kim Cang. Chính v́ chúng sanh ngă
chấp kiên cường nên thường bị vây quanh
bởi những kẻ ác phiền năo, thường bị
họ đẩy vào hiểm lộ đường cùng,
rốt cuộc từ núi chúa Ngă Chấp té vào ác đạo,
chịu mọi thống khổ!
Hoặc là trong thế
gian có người nào đó đột nhiên gặp phải
rất nhiều oán địch và rất nhiều
đạo tặc vây kín lấy người đó, khiến
người đó không cách nào chạy thoát được.
Đă thế, mỗi tên c̣n cầm một thanh đao
muốn sát hại người ấy. Bất luận
thế nào, người ấy rất khó t́m con
đường sống trong cái chết được.
Thế nhưng trong lúc ấy, nếu người ấy
xưng niệm thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát, liền được
từ lực của Quán Âm Bồ Tát gia hộ, khiến cho
những kẻ ấy chẳng c̣n có ư niệm sát hại
nữa, ngay lập tức sanh khởi tâm từ bi, phát sanh
hảo cảm lớn lao, bởi thế nói là “hàm tức khởi từ tâm” (đều liền khởi
từ tâm).
Ở đây, tôi kể
một câu chuyện thật: Năm Dân Quốc thứ
nhất (1911), ở Lư Gia Trang, huyện Thiệu Bá,
Dương Châu, tỉnh Triết Giang, Trung Quốc, có
một vị đại thiện nhân họ Lư, tên là
Quốc Cư. Bất luận trong địa phương
có chuyện ǵ, hễ sức ông ta lo liệu
được, ông ta bèn t́m cách giúp đỡ đắc
lực, tích cực giúp cho sự t́nh được
giải quyết hợp lư. Bất hạnh thay, có lần
đạo tặc ồ ạt tấn công nhà ông ta, toan
cướp sạch tài sản. Lư đại thiện nhân
thấy giặc kéo đến, rất thong dong, không bối
rối, cực kỳ an nhiên bảo bọn giặc:
- Các anh sống
khốn khổ tôi chẳng hay biết đến nỗi
chưa tạm cùng các anh kết thiện duyên, hôm nay
được các anh đến tệ xá thật là rất
khó có. Nếu các anh có cần ǵ, tôi sẽ tận lực dâng
hiến; nhưng các anh hiện thời cực nhọc
lắm rồi, tôi nghĩ chắc cũng chưa dùng cơm
chiều. Giờ đây trước hết mời các anh
xơi cơm, cho tôi được tỏ chút tâm ư.
Bọn giặc nghe Lư
thiện nhân nói như thế, dù ăn uống nhưng cái ư
tưởng bất hảo chiếm đoạt tài vật
của ông ta bị tinh thần vĩ đại của Lư
thiện nhân cảm hóa, từ đấy chẳng c̣n mưu
toan phá nhà cướp của nữa, cải tà quy chánh
trở thành người tốt.
Phải biết “oán
tặc” được nói ở đây, giống như
trong phần Trường Hàng ở trên đă nói, chẳng
phải là giặc bên ngoài, mà chính là giặc trong tâm; như
phiền năo cướp đoạt pháp tài công đức
cố nhiên là giặc trong tâm. Sáu căn thấy nghe hay
biết cũng là giặc trong tâm. Giặc bên ngoài dễ
pḥng ngừa, những vật bị chúng cướp
đoạt chẳng qua là tài vật ngoài thân; giặc trong
tâm rất khó ngăn ngừa, những thứ chúng
cướp đoạt là pháp bảo ḿnh đă tích tụ,
khiến cho chúng ta vĩnh viễn trở thành kẻ
bần cùng, cô quạnh, kém hèn trong biển khổ sanh
tử. Bởi thế làm người, đặc biệt
là người học Phật, giặc ngoài chẳng
cần phải sợ, nếu có được tinh
thần như Lư thiện nhân chẳng những không bị
oán tặc bức hại, mà c̣n chuyển hóa chúng trở
thành người tốt. Thứ chúng ta đáng nên sợ
chính là bọn giặc trong tâm ḿnh. Bọn giặc bên trong
này chẳng những khiến chúng ta lưu lăng dài lâu trong
sanh tử, chúng c̣n bức ta đi vào ba ác đạo nguy
hiểm nữa.
Hoặc lại có
một người nào đó, vi phạm pháp luật
quốc gia, bị pháp luật xử phạt. Trong thời
đại chuyên chế quá khứ, vua chính là đất nước,
vua có quyền sanh sát tối thượng, muốn trị
tội như thế nào th́ cứ việc xử phạt
như thế ấy, v́ thế nói “hoặc tao vương
nạn khổ” (hoặc
gặp khổ v́ mắc nạn vua). Khi quốc
vương ra lệnh cho đao phủ chém đầu, trong
lúc thọ h́nh, thọ mạng sắp bị kết
thúc ấy, nếu ta thành tâm thành ư niệm thánh hiệu
Bồ Tát Quán Âm th́ sẽ được oai lực Quán Âm
gia bị, khiến cho đao đang cầm trong tay gă
đao phủ đó lập tức găy rời thành từng
đoạn, chẳng thể tổn hại thân thể quư
vị một mảy may nào, bởi thế nói là “đao tầm đoạn
đoạn hoại” (đao
liền găy từng khúc). Chữ “tầm” (尋) trong
kệ tụng có nghĩa là “ngay lập tức”. Lúc bị
xử chém sắp chết, rốt cuộc chẳng bị
tử vong, đấy chẳng phải là từ lực
của Quán Âm gia bị hay sao?
Sách Pháp Uyển Châu Lâm,
quyển mười bảy, có chép một câu chuyện tuy
chẳng liên quan đến nạn vua, nhưng có thể
dùng làm cước chú cho phần này: Có vị pháp sư
Đạo Tập du hành đến Tây Sơn, Thọ
Dương, bất ngờ gặp phải hai tên
cướp trói vào một gốc cây. Lúc kẻ cướp
sắp giết Sư, Sư tự biết có vùng vẫy cũng
vô ích, bèn chỉ nhất tâm niệm Quán Thế Âm, niệm
đến chết cũng chẳng ngưng. Kết
quả, kẻ cướp vận dụng hết sức
vẫn chẳng chém được Sư, rốt cuộc
Sư chẳng bị tổn hại ǵ, bọn cướp
thấy như thế hoảng sợ khôn cùng, bỏ
chạy mất, pháp sư Đạo Tập cũng
được giải thoát.
Quyển mười
bảy sách Pháp Uyển Châu Lâm c̣n chép truyện Pháp Thiền
pháp sư. Lúc sư đi qua núi, đột nhiên gặp
phải kẻ giặc hung ác, tự biết khó tránh khỏi
cái chết, Sư lập tức kiền thành niệm Quán
Âm. Giặc tuy kéo cung nhắm bắn Sư, nhưng từ
đầu đến cuối không bắn ra mũi tên nào
được. Bởi thế, tên giặc ném cung xuống
đất, lập tức bỏ chạy không biết
về hướng nào; nhờ đó, pháp sư Pháp Thiền
an nhiên vô sự!
2.2.1.2.2.2. Già tỏa độc
dược nạn (nạn gông xiềng, thuốc
độc)
Chánh kinh:
Hoặc tù
cấm già toả,
Thủ túc bị
nữu giới,
Niệm bỉ Quán
Âm lực,
Thích nhiên
đắc giải thoát,
Chú trớ, chư
độc dược,
Sở dục
hại thân giả,
Niệm bỉ Quán
Âm lực,
Hoàn trước
ư bổn nhân.
或囚禁枷鎖。
手足被杻械。
念彼觀音力。
釋然得解脫。
咒詛諸毒藥。
所欲害身者。
念彼觀音力。
還著於本人。
(Hoặc tù giam, gông,
xiềng,
Chân tay bị c̣ng,
cùm,
Nhờ sức
niệm Quán Âm,
Tháo gỡ,
được giải thoát,
Chú ếm, những
thuốc độc,
Toan muốn hại
thân kia,
Nhờ sức
niệm Quán Âm,
Hại ngược
kẻ làm đó).
Ví
như có một người nào đó, chẳng cần
biết là vi phạm pháp luật quốc gia hay là bị
giặc cướp bắt được; kết quả,
bị giam cầm trong tù ngục, bị gông, bị
xiềng, thậm chí tay bị c̣ng, chân đóng cùm, bị
mất tự do hoàn toàn, nên nói là “chân tay bị c̣ng, cùm”.
Cái buộc trên tay gọi là Nữu (杻: c̣ng), cái buộc vào chân gọi là
Giới (械: cùm).
Trong lúc ấy, nếu có thể xưng niệm thánh
hiệu Quán Âm Bồ Tát th́ lập tức nhờ vào oai
lực Quán Âm gia bị, khiến cho những thứ đó
bị tháo rớt, được giải thoát. “Thích
nhiên” nghĩa là tan ĺa ra.
Sách Pháp Uyển
Châu Lâm, quyển mười bảy có chép truyện sau: Vào
đời Tấn ở Trung Quốc có một người
ở Hà Nội, tên là Đậu Truyền. Đương
thời thứ sử Tinh Châu là Cao Xương và thứ
sử Kư Châu là Lă Hộ ai nấy cầm quân ḱnh chống
nhau, hai bên chẳng ḥa thuận với nhau. Đậu
Truyền làm quan dưới quyền Cao Xương,
được phái đem kỵ binh tập kích Lă Hộ,
chẳng may bị bắt, đồng bạn cùng bị
bắt sáu bảy người, cùng bị giam trong nhà lao, gông
xiềng canh pḥng nghiêm nhặt, đợi ngày đem ra chém.
Sa-môn Chi Đạo Sơn khi ấy ở trong doanh Lă
Hộ, từng quen biết Đậu Truyền, nghe nói
họ Đậu bị bắt, lại c̣n sắp bị
chém, liền đến nhà giam thăm ông ta, nói chuyện
với nhau qua cửa tù. Đậu Truyền hỏi Chi Đạo
Sơn:
- Bây giờ tôi
gặp phải ách nạn này, thầy có cách ǵ cứu tôi hay
không?
Chi Đạo Sơn
nói:
- Tôi không có cách nào
cứu ông được cả, chỉ có cách ông chí tâm
xưng niệm thánh hiệu Quán Âm, nhất định
sẽ được Bồ Tát cảm ứng.
Trong quá khứ,
Đậu Truyền đă từng nghe nói đến ḷng
từ bi của đức Quán Âm, bây giờ nghe Chi
Đạo Sơn nói như thế, lập tức chuyên tâm
nhất ư xưng niệm thánh hiệu Quán Âm. Suốt ba ngày
ba đêm chí thành quy mạng xưng niệm, thấy gông
xiềng trên thân tựa hồ có chút ǵ khác thường,
lại cảm thấy hơi thong dong, dùng tay thử
đẩy một cái, đột nhiên nó rớt khỏi
thân. Đậu Truyền lại càng chí thành khẩn cầu:
- Con được
Bồ Tát xót thương, đă giải thoát
được gông cùm, nhưng những người cùng
bị cầm tù với con nhiều lắm, con chẳng
nỡ bỏ đi một ḿnh. Khẩn cầu Bồ Tát
từ bi cứu khắp tất cả, khiến những
người chung ngục đều thoát được
nạn giam cầm này!
Cầu khẩn xong,
lại kéo gông xiềng của người khác, mọi
người lần lượt được tháo gỡ
gông xiềng, tựa hồ có người ở bên cạnh
chặt đứt vậy. Khi đó, mọi người
mở cửa, cùng nhau thoát ra, chẳng bị kẻ canh
ngục phát hiện, nhân đó thoát ra ngoài thành, thoát khỏi
nạn gông cùm!
Gông cùm và c̣ng xiềng
trong phần Trường Hàng đă giảng là dây
cương danh vọng, xiềng khóa lợi lộc
vậy. Nh́n bề ngoài, cả thế gian chẳng có ai
bị giam cầm trong tù ngục cả, tựa hồ ai
cũng được tự do hoạt động, về
căn bản chẳng bị điều ǵ trói buộc
cả, nào biết sự thật chẳng hề giống
như vậy! Thử nh́n xem: Người có danh dự v́
bảo vệ danh dự của chính ḿnh, suốt ngày sợ
mất danh dự, đó chẳng phải là bị gông
xiềng danh dự ràng buộc hay sao? Lại xem
người có tiền tài v́ cầu được tiền
tài nhiều hơn nữa, suốt ngày tính toán sao cho
tiền của chất chồng, đấy chẳng
phải là bị gông xiềng tài lợi ràng buộc hay sao?
Bởi thế, chúng sanh sống trong thế giới này về
căn bản là bị cầm tù trong tam giới, xưa nay
chẳng hề được tự do chi cả! Hiện
tại, nếu có thể xưng niệm thánh hiệu Quán Âm
Bồ Tát, thấu hiểu ḷng đại từ đại
bi của Quán Âm Bồ Tát, chẳng c̣n đeo đuổi
trường danh lợi nữa, th́ mới có thể tháo
gỡ, giải thoát.
Tiếp đó nói
về nạn độc dược. “Chú trớ” là
những hành vi bất chánh đáng nhất. Ở Ấn
Độ có loại ngoại đạo niệm một
loại ác chú để giết hại những kẻ
họ muốn giết, như chú sai khiến quỷ
nhập tràng, c̣n gọi là Tỳ Đà La (Vetāla) chú,
khiến cho xác chết đứng dậy đi giết
người. Lại có kẻ vẽ bùa, đốt thành tro
để ếm người ḿnh ghét, hoặc bện
cỏ thành h́nh người, bắn giết để mong
kẻ cừu thù của ḿnh bị chết. Đấy
đều gọi là “chú trớ”. Độc
dược chỉ bất cứ những ǵ uống vào
sẽ chết, những thứ này chẳng phải chỉ
có một hai loại nên bảo là “các độc
dược”. Bất luận dùng ác chú để
nguyền rủa, ếm đối người, hay dùng
thuốc độc hại người, mục đích
đều nhằm tổn hại thân thể người
khác, bởi thế nói là “sở
dục hại thân giả” (toan
muốn hại thân kia). Chính ngay trong lúc đó,
nếu quư vị thành tâm xưng niệm thánh hiệu Quán Âm
Bồ Tát, liền có thể ngửa nhờ oai lực Quán
Âm Bồ Tát, kết quả, chẳng những họ
chẳng thể làm tổn hại được quư
vị, mà c̣n “hoàn trước
ư bổn nhân” (hại
ngược kẻ làm đó), khiến chính
kẻ đó bị thương tổn.
Trước hết,
tôi kể một câu chuyện thực, rồi mới
luận ư thú kinh văn. Trong quá khứ, có một gă chuyên
cầu thần bói quẻ, tên là Lại Tỉnh Can, dụng
tâm rất tà ác. V́ muốn quẻ ḿnh bói được linh
nghiệm, trong nhà gă đặc biệt thờ một
loại yêu tinh, mỗi năm xuống Chiết Giang dụ
dỗ đồng nam, đồng nữ mang về cúng
tế yêu tinh đó. Sau này có một đồng nữ
bị gă dẫn dụ về nhà, giam trong một căn nhà.
Khi đó, gă tay chân của yêu thần ngọt nhạt
phỉnh dụ cô bé, muốn cô tắm gội thay áo
để chờ yêu tinh đến ăn thịt. Thế
nhưng cô bé này do túc căn quá khứ, b́nh thời biết
niệm Quán Âm Bồ Tát, bởi vậy trong lúc ấy, cô bé
chỉ nhất tâm xưng danh. Đến quá nửa đêm,
trong căn pḥng cô bé đang ở, lỗ hổng [lấy
ánh sáng] trên trần nhà chợt mở ra, con yêu tinh hai
mắt sáng ngời như chớp, từ lỗ hổng
chui vào pḥng. Cô bé tuy sợ cực độ, vẫn cứ
nhất tâm xưng danh niệm tới niệm lui. Từ
miệng cô chợt tỏa ra ánh sáng bắn vào thân con yêu quái;
con yêu quái bị trúng ánh sáng đó lập tức từ
lỗ hổng rớt phịch xuống. Cô bé kêu cứu
mạng ầm lên, khéo sao tuần cảnh đi ngang, nghe
tiếng kêu cứu, lập tức xông vào nhà xem chuyện ǵ
xảy ra. Yêu tinh nguyên là một con rắn độc
lớn, nằm chết cứng đờ bên cạnh cô bé.
Tuần cảnh ḍ xét biết Lại Tỉnh Can là
người hết sức tồi bại, bèn bắt gă
về bót, trị tội lừa người, hại
người. Phải biết đó là như người ta
thường nói: “Hại người, hại
ngược lại ḿnh” vậy, cũng như kinh này nói
“hại ngược kẻ làm đó”. Bởi thế,
người sống trong thế gian thà ḿnh chịu thua
thiệt, ngàn vạn phần chẳng được ôm ḷng
hại người; nếu không, hại người chưa
chắc người ta bị hại, mà chính ḿnh gặp
phải tai ương trước, có khổ hay không?
Trong kinh Thí Dụ
cũng có một câu chuyện tương tự như
vậy:
Có một cư sĩ
tại gia học Phật, thoạt đầu thọ tŕ
Ngũ Giới, lúc sau tuổi cao già yếu, đối
với giới phẩm phần nhiều quên mất. Lúc
ấy, trong núi có vị Phạm Chí khát nước, từng
xin nước sạch nơi cư sĩ, nhưng vị
cư sĩ bận chuyện ruộng nương, chẳng
thể lập tức cho ngay được. V́ thế,
Phạm Chí phẫn hận bỏ đi. Nhưng Phạm Chí
ấy chẳng phải là kẻ đơn giản, ông ta có
thể sai khiến được quỷ nhập tràng, bèn
triệu một con quỷ tới, bảo nó: “Ông Thanh Tín
Sĩ nọ làm nhục ta, ngươi hăy thế ta giết
ổng”. Trong núi có vị La Hán biết chuyện đó,
lập tức ra ruộng bảo ông Cư Sĩ:
- Tối nay ông hăy
thắp đèn sớm, tinh tấn dũng mănh chí thành quy y
Tam Bảo, tụng tŕ kệ tụng nói về những
điều miệng chớ phạm, lại c̣n nghĩ
thương xót hết thảy chúng sanh, th́ ông sẽ
được an ổn.
Cư sĩ vâng lời
La Hán chỉ dạy, niệm Phật tụng giới
suốt đêm, kết quả, quỷ chẳng hại
được; nhưng pháp của quỷ thần là người
ta muốn chúng giết hại, chúng lập tức giết
hại; nhưng nếu người đáng lẽ bị
chúng giết mà có công đức khiến chúng chẳng
giết được th́ đương nhiên chúng phải
giết người sai chúng đi giết. Bởi thế,
quỷ sanh sân nộ, muốn sát hại Phạm Chí. La Hán biết
chuyện ấy, lại đem Phạm Chí đi giấu kín
khiến quỷ t́m chẳng thấy. Nhân v́ như thế,
vị cư sĩ do đấy ngộ đạo, Phạm
Chí do đấy được sống. Nếu chẳng có
vị La Hán, há chẳng phải là có thêm một oan hồn
ư?
Sách Đồ Thư
Tập Thành Thần Dị, quyển một trăm lẻ
sáu, có dẫn lời cư sĩ Tô Đông Pha như sau: “Quán
Âm là bậc từ bi, nay người bị chú ếm,
nhờ sức niệm Quán Âm, [chú ếm] bèn hại người
lại kẻ làm chuyện đó, há nào phải là tâm Quán Âm
ư? Nay đổi lại như sau: ‘Chú ếm, các
độc dược, toan làm hại thân kia, nhờ
sức niệm Quán Âm, hai bên đều vô sự!”
Có người phê b́nh
như sau: “Tô Đông Pha nói: ‘Hại ngược lại
là chẳng từ bi, phải nói là hai bên chẳng có
chuyện ǵ’, ta nghĩ Đông Pha chẳng cao minh ǵ nên
mới nói lời thô lậu như thế. Nói ‘hại
ngược’ vừa có sự vừa có lư. Về Sự là
tà chẳng thể thắng chánh, Từ chế ngự Ác.
Nay do [người bị hại] chánh niệm Quán Âm, tự
nhiên hại ngược [lại kẻ gây chuyện ác]
giống như ngậm máu phun lên trời, ngược
lại bị dơ thân ḿnh, đút đầu vô
lửa, tự cháy trán ḿnh, tự nhiên mà có như vậy, đâu
phải Bồ Tát gia hại kẻ đó, cũng chẳng
phải do hành nhân khởi tâm nguyện hại ngược
lại!”
2.2.1.2.2.3. La-sát, ác thú
nạn (Nạn la-sát, ác thú)
Chánh kinh:
Hoặc ngộ ác
La Sát,
Độc long,
chư quỷ đẳng,
Niệm bỉ Quán
Âm lực,
Thời tất bất cảm hại,
Nhược ác thú
vi nhiễu,
Lợi nha trảo
khả bố,
Niệm bỉ Quán
Âm lực,
Tật tẩu vô
biên phương.
或遇惡羅剎。
毒龍諸鬼等。
念彼觀音力。
時悉不敢害。
若惡獸圍繞。
利牙爪可怖。
念彼觀音力。
疾走無邊方。
(Hoặc gặp ác La
Sát,
Rồng độc,
các quỷ thảy,
Nhờ sức
niệm Quán Âm,
Thảy đều
chẳng dám hại.
Nếu ác thú vây quanh,
Nanh vuốt nhọn
đáng sợ,
Nhờ sức
niệm Quán Âm,
Rảo chạy không
tăm tích).
Hoặc nếu có
người đột nhiên gặp phải La Sát hung ác,
rồng độc và các quỷ gây tai nạn v.v… toan
muốn gia hại người đó ḥng kết thúc tánh
mạng. Nếu ngay trong lúc đó mà có thể nhất tâm
xưng niệm thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát, nương
nhờ oai lực Quán Âm Bồ Tát gia bị, ngay lập
tức chúng đều chẳng dám làm hại, bởi
thế nói là “thời tất
bất cảm hại” (thảy
đều chẳng dám hại).
La Sát trong phần Trường Hàng đă
giải thích rồi, nay không nhắc lại nữa.
Tương truyền trong quá khứ có một người,
hễ gặp người khác là thích hỏi hết
chuyện này sang chuyện kia. Một ngày, đi trên
đường, gặp một con La Sát, tự biết tánh
mạng khó giữ, nhưng tánh người ấy hiếu
kỳ, chẳng v́ nguy hiểm mà không hỏi han, nên vẫn
cứ hỏi:
- Ủa nè ông bạn!
V́ sao bụng trắng lưng đen vậy?
Quỷ La Sát đáp:
- Ta sợ nhất là
ánh mặt trời, nên đi xoay lưng về phía ánh
nắng, bởi thế bụng trắng lưng đen.
Người kia nghe
lời ấy, lập tức lấy lại can đảm,
nắm La Sát đẩy nó tiến về phía mặt
trời. La Sát sợ ánh sáng nên tự chạy trốn.
Nhờ đó, người kia thoát nạn La Sát!
Câu chuyện này ngụ
ư: Bất luận La Sát, bất luận ác quỷ, chỉ có
thể hành sự trong hắc ám, chứ đối với
quang minh đều sợ hăi, chẳng dám hoạt
động dưới ánh sáng. Bởi vậy, chỉ
cần chúng ta nhất tâm xưng danh, nương vào từ
quang của Quán Âm Bồ Tát, La Sát, ác quỷ đều
chẳng dám hại. Đồng thời cũng có thể
nói là: Trong tâm chúng ta có con quỷ tham, tham cầu chẳng
ngơi, có quỷ vô minh tối tăm chập chùng, quỷ
bên trong dẫn khởi quỷ bên ngoài, bởi thế
quỷ thường đến làm lừng. Nếu làm
người chánh đại quang minh, công chánh, chẳng
cẩu thả, tà niệm chẳng khởi, La Sát, quỷ
quái nào cũng chẳng thể làm hại được!
Trong thâm sơn cùng
cốc, hoặc chỗ đồng hoang cây rậm,
thường có các ác thú sài lang, hổ, báo… hung mănh, tàn
bạo xuất hiện. Nếu có người nào đó
đột nhiên gặp phải rất nhiều loài ác thú vây
quanh, nhe nanh múa vuốt bén ngót rất đáng sợ,
khiến kẻ ấy cảm thấy vô cùng hoảng
sợ. Ngay trong lúc đó, nếu có thể kiền thành
xưng niệm thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát, liền có
thể nhờ oai lực Quán Âm Bồ Tát gia bị,
khiến cho những ác thú đang bao vây bốn mặt kia đều
chạy trốn lẹ, nấp vào nơi nào không biết
nữa. Ác thú, độc xà đều có thật; trong
thời cổ, mỗi năm số người bị
chúng làm hại đúng là rất nhiều, cho đến bây
giờ, vẫn thường nghe nói có người bị ác
thú cắn, hoặc bị rắn độc mổ. Như
lúc cọp xuất hiện thường gây tai họa, nên
Trung Quốc có câu: “Đàm hổ sắc biến” (Nghe
nói tới hổ, mặt tái mét). Bởi thế, trong kinh
Phật thường nhắc đến nỗi sợ
rắn độc, ác thú để chúng ta biết mà
đề pḥng. Chuyện khẩn yếu nhất của
nhân loại là được sanh tồn, nếu cuộc
sống không bị uy hiếp sẽ chẳng nẩy sanh
sợ hăi. Đức Phật biết rơ tâm lư chúng sanh nên
thường nêu những trường hợp thật sự
này để thuyết pháp cho chúng sanh.
Sách Pháp Uyển Châu Lâm
chép: Năm Nguyên Gia thứ nhất dưới triều
Tống ở Trung Quốc, có vị sa-môn ở Hoàng Long, tên
gọi là Đàm Vô Kiệt, là một hành giả tịnh tu
khổ hạnh, thường tụng đọc kinh Quán
Thế Âm. Có lần, Sư cùng đồ chúng hai mươi
lăm người đi sang Thiên Trúc, đi
đường trải đủ mọi gian nan, nguy
hiểm. Đến được nước Xá Vệ
ở Thiên Trúc, gặp phải một bầy voi núi, vốn
là loài rất nguy hiểm. Ngài Đàm Vô Kiệt nâng kinh,
niệm rằng: “Nhất tâm quy mạng đại từ
đại bi Quán Thế Âm”. Ngay lúc đó, chợt có một
con sư tử từ trong rừng xông ra. Voi thấy sư
tử, kinh hoảng bỏ chạy, chẳng c̣n gây hại
tới nhóm Đàm Vô Kiệt. Đi chưa được
bao lâu, lại có một bầy trâu rừng rống lên xông
tới, muốn hại bọn họ. Đàm Vô Kiệt
vẫn như cũ quy mạng, nhất tâm xưng danh. Ngay trong
lúc ấy, có một con kên kên to bay tới, khiến các con
trâu rừng kia kinh hoảng, lập tức bỏ chạy,
nhóm Đàm Vô Kiệt thoát nạn! Cho thấy xưng
niệm thánh hiệu Quán Âm liền được Bồ
Tát cảm ứng.
Sách Nam Hải Từ
Hàng chép: Vào thời Minh, ở đất Mân Nam có
người tên Lôi Pháp Chấn, hầm than kiếm sống,
trong nhà có cây Áp Lan, vân gỗ cực kỳ tinh tế, muốn
khắc tượng Đại Sĩ để thờ, nhưng
công việc quá bận, chưa khắc được.
Một ngày vào núi hầm than, đột nhiên trong đám cây
rậm rạp, một con hổ xông ra, nhe nanh múa vuốt
đuổi bắt Lôi Pháp Chấn, khiến Lôi Pháp Chấn
hết sức kinh hoàng. Trong lúc nguy cấp đó, chợt có
một cô gái mỹ lệ, chỉ vào hổ quát tháo, hổ
liền nép phục cô ta, cúi đầu, vẫy đuôi
bỏ đi. Pháp Chấn được cô gái cứu giúp,
thưa hỏi cô gái tên họ là ǵ ḥng báo đáp. Cô gái
đáp: “Tôi là cây gỗ Áp Lan trong nhà ông”. Nói xong không thấy
đâu nữa. Pháp Chấn thấy chuyện như vậy,
biết là Quán Âm đến cứu, bèn chọn ngày tốt
khắc thánh tượng Quán Âm. Từ đó suốt
đời tŕ trai, đảnh lễ. Đủ thấy
sức cảm ứng của Quán Âm rất lớn.
2.2.1.2.2.4. Độc
trùng, bạo vũ nạn (Nạn độc trùng,
mưa dữ)
Chánh kinh:
Ngoan, xà, cập
phúc yết,
Khí độc yên
hỏa nhiên,
Niệm bỉ Quán
Âm lực,
Tầm thanh tự
hồi khứ,
Vân lôi cổ,
xiết điển,
Giáng bạc, chú
đại vũ,
Niệm bỉ Quán
Âm lực,
Ứng thời
đắc tiêu tán.
蚖蛇及蝮蝎。
氣毒煙火然。
念彼觀音力。
尋聲自迴去。
雲雷鼓掣電。
降雹澍大雨。
念彼觀音力。
應時得消散。
(Rắn, rết, ḅ
cạp độc,
Nhả độc
như khói mù,
Nhờ sức
niệm Quán Âm,
Theo tiếng, lui
chạy mất.
Mây sấm rền,
chớp ḷe,
Mưa đá, mưa
lớn xối,
Nhờ sức
niệm Quán Âm,
Ngay lập tức
tan mất).
Trong thế gian này, “nguyên
xà cập phúc yết” (tạm dịch: “Rắn rết ḅ
cạp độc”) các loài trùng độc, rắn
độc rất nhiều. Chúng nó phun hơi độc mù
mịt như lửa đốt khói bốc, bởi thế
nói là “khí độc yên hỏa nhiên” (tạm dịch:
“Nhả độc như khói mù”). Bất luận
người nào tiếp xúc những độc khí đó
đều bị táng thân mất mạng. Nếu có
người gặp phải t́nh h́nh này, lập tức
niệm thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát, liền
được oai lực Quán Âm Bồ Tát gia bị, theo
tiếng niệm ấy, bọn chúng tự nhiên chạy
trốn hết, chẳng dám phun khí độc xâm hại
nữa, Bồ Tát từ bi cảm ứng nhanh đến
dường nào?
Có thuyết nói Nguyên và
Phúc chỉ là một loại; ta thường gọi Nguyên
là Thổ Hủy Xà (rắn hổ đất?). Hủy (虺) là một loài rắn độc, dài
khoảng chừng tám chín thước, đầu dẹp,
mắt to, màu đất, lúc thấy người bèn ngóc
đầu lên đuổi theo, loài này cực độc,
chỉ cần bị nó cắn, tuyệt đối
chẳng c̣n mạng nữa. Phúc (蝮:rắn
cạp nong?) cũng là một loài rắn độc, hay
sống ở chỗ ẩm ướt, dài khoảng hơn
một thước, đầu rất lớn, h́nh tam giác,
cổ lại rất nhỏ, nanh độc h́nh giống
cái ống, toàn thân màu xám nhạt, có vằn màu nâu,
đến đuôi đột nhiên nhỏ dần,
độc tánh rất dữ dội, bị nó cắn một
cái, cũng mất mạng luôn.
Tương truyền
thời Nam Tống, trong niên hiệu Thiệu Hưng, ở
Dư Hàng có một người đàn bà họ Châu, đi
trên đường thấy có ba con rắn lớn nằm
khoanh giữa lộ khiến bà không cách nào đi qua
được; chỉ c̣n cách lấy hết can
đảm, nhảy qua rắn. Rắn cũng chẳng
chịu kém, lập tức phát nộ đuổi theo bà,
cuốn bà ta ngă lăn ra đất. Ngay trong lúc ấy, có
người làng tên là Cung Lê Thần đi đến đó,
thấy t́nh h́nh ấy, muốn cứu bà ta nhưng không
nghĩ ra cách nào khác, bèn chắp tay lớn tiếng xưng
niệm thánh hiệu Quán Âm và tŕ niệm chú Đại Bi.
Thật là chẳng thể nghĩ bàn, rắn nghe tiếng
niệm thánh hiệu Quán Âm, bèn buông bà ta ra, mỗi con tự
ḅ đi mất. Chuyện này chứng tỏ rất
đắc lực cho câu “tầm thanh, tự hồi khứ”
(nghe tiếng, tự chạy mất).
Lại c̣n có
người nói Yết (ḅ cạp), tục gọi là
Hiết, thuộc bộ Tri Thù, dài khoảng ba tấc, màu
xanh pha đen, trên cổ có một đôi xúc tu giống
như càng cua, đầu và ức đều rất
ngắn, phần bụng có mười ba đốt tṛn,
phần đốt tṛn cuối bụng hẹp nhỏ trông
như cái đuôi, cuối đuôi có móc độc. Nếu
gặp người bèn cong đuôi lên bắn ra dịch
độc. Người trúng dịch độc này có
thể bị mất mạng. Ḅ cạp thường bắt
nhện, côn trùng nhỏ để ăn, cũng hay cắn
người.
Từ miệng nhả
chất độc tổn hại người là tỷ
dụ con người ác khẩu, chửi bới dữ
dằn, dai dẳng, và những điều độc
hại do việc khêu gợi ly gián gây nên. Như ác khẩu,
chửi bới dai dẳng khiến người ta khó
chịu, chẳng yên ổn nổi, thậm chí v́ đó
kết liễu tánh mạng. Đấy là chuyện
thường thấy trong thế gian. Bởi thế, câu
nói: “Nhất ngôn thính chi, linh nhân như tam bách mâu thích tâm” (Một
lời nghe qua khiến người cảm thấy như
ba trăm ngọn mâu đâm vào tim) chính là nói về ư này.Trong
mỗi một xó xỉnh của xă hội hiện thời,
có thể nói không sai lắm là không ngày nào chẳng có
người chửi bới dữ dằn, độc
địa. Chẳng cần biết do quan hệ nào, con
người trở thành cừu địch với nhau,
quốc gia này gây chiến tranh với quốc gia khác,
thường là do một câu chẳng thể nhịn
nổi mà thành chuyện. C̣n đâm thọc ly gián th́ làm cho
đôi bên nghi ngờ, ghét bỏ nhau, thậm chí biến thành
đấu đá kịch liệt, cũng khiến cho
đôi bên đều bị tổn thương. Bởi
vậy, làm người trong thế gian, chẳng thể
không cẩn thận khẩu nghiệp, đặc biệt
là ác khẩu và lưỡng thiệt càng phải đặc
biệt tránh.
Trời vốn đang
trong trẻo, chợt mây đen phủ kín, sấm nổ
ầm ́ như tiếng trống rền, chớp ḷe nhoang
nhoáng bốn phía giống như được vạch,
kéo; bởi thế nói “vân lôi cổ, xiết điển”
(mây giăng, sấm nổ như trống rền, chớp
giăng). Hoặc c̣n đổ xuống những hạt
nước đá cứng chắc, hoặc là tuôn mưa
lớn ào ạt, bởi thế nói là “giáng bạc chú
đại vũ” (mưa đá, mưa lớn xối).
Ngay trong lúc có những hiện tượng thiên nhiên đáng
sợ đó, nếu có thể kiền thành niệm thánh
hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, liền có thể nhờ
vào oai lực Quán Âm Bồ Tát gia bị, ngay lập tức
trời quang, mưa tạnh, sấm im, mưa đá
hết, nên nói “ứng thời đắc tiêu tán” (ngay
lập tức tan mất).
Mây là thứ lờ
lững trong không trung, như thường nói: “Bạch
vân thương cẩu, biến hóa vạn thiên” (mây
trắng, chó xanh, biến hóa ngàn muôn). Nhưng mây do ǵ
tạo thành? Hơi nước hỗn hợp trong không khí,
vốn là vô h́nh vô tướng, một khi ngưng kết
thành những hạt nước hoặc đông thành
những băng tinh[4],
liền biến thành mây hữu h́nh. Nếu mây biến thành
sắc đen, phủ kín không trung, là dấu hiệu
trời sắp đổ mưa. Sấm động là mây
phóng điện, phát ra những tiếng vang rền to
lớn, khác nào tiếng trống đánh nên gọi là “lôi
cổ”. Trong quá khứ, lúc dân trí chưa khai phát,
người ta gọi sấm là Lôi Thần, nói trên lưng
Lôi Công đeo một cái trống to, dùng tay vỗ ra
tiếng. Đấy cũng là cách giải thích tiếng
sấm rền như tiếng trống. Chữ “điển” trong “xiết điển” là nói
một công năng cố hữu của vật chất, có
thể dùng nó làm sức đẩy, lại c̣n có thể
lợi dụng nó để phát sáng, phát nhiệt, [xiết điển]
tức là tia chớp lóe sáng trên không. Sấm và chớp
thường đi chung với nhau, tức là trước
hết chớp ḷe nhoang nhoáng, rồi mới có tiếng
sấm ầm ́. Mọi người thường nghĩ
chúng theo thứ tự trước sau, nhưng thật
sự chúng xảy ra cùng một lúc. Chỉ v́ sóng ánh sáng lan
truyền nhanh hơn, sóng âm thanh truyền chậm hơn,
nên trước hết thấy ánh chớp rồi mới
nghe tiếng sấm.
2.2.1.3. Tổng kết
Chánh kinh:
Chúng sanh bị
khổn ách,
Vô lượng
khổ bức thân,
Quán Âm diệu trí
lực,
Năng cứu
thế gian khổ.
眾生被困厄。
無量苦逼身。
觀音妙智力。
能救世間苦。
(Chúng sanh bị
khổn ách,
Vô lượng
khổ bức thân,
Quán Âm sức trí
diệu,
Thường cứu
khổ thế gian).
Trong thế gian hiện
thực này, chúng sanh gặp phải cảnh khốn
quẫn, hoặc gặp phải tai nạn nguy ách, nên nói là “bị
khổn ách”. “Bị” (被) có nghĩa là hứng chịu. Đă thế, c̣n có vô
lượng nỗi khổ bức bách thân tâm, khiến cho
cả thân lẫn tâm đều chẳng cảm thấy
tự tại. Nhưng đấng tầm thanh cứu
khổ đại bi Quán Âm có đủ trí huệ lực vi
diệu chẳng thể nghĩ bàn, xem thấy chúng sanh
bị khổn ách, bị các nỗi khổ bức bách, do
tâm Bi thôi thúc, Ngài liền đến cứu khổ nạn
cho chúng sanh. Như Tâm Kinh ghi: “Quán Tự Tại Bồ Tát
lúc thực hành sâu xa Bát Nhă Ba La Mật Đa, soi thấy
năm Uẩn đều không, độ hết thảy
khổ ách”. Bởi thế nói là “thường cứu
khổ thế gian”. Quán Âm Bồ Tát sở dĩ có tên
Quán Âm cũng là do duyên này mà có. Giảng đến đây
th́ phần hiển thị nguyên do có danh hiệu đă hoàn
tất.
2.2.2. Hiển du hóa
phương tiện (hiển thị phương
tiện du hóa)
2.2.2.1. Quảng
hiển ứng hóa chư quốc (nói rộng
về việc ứng hóa trong các cơi nước)
2.2.2.1.1. Thân
nghiệp phổ ứng (thân nghiệp ứng
hiện khắp tất cả)
Chánh kinh:
Cụ túc thần
thông lực,
Quảng tu trí
phương tiện,
Thập
phương chư quốc độ,
Vô sát bất
hiện thân,
Chủng chủng
chư ác thú:
Địa
ngục, quỷ, súc sanh,
Sanh, lăo, bệnh,
tử khổ,
Dĩ tiệm
tất linh diệt.
具足神通力。
廣修智方便。
十方諸國土。
無剎不現身。
種種諸惡趣。
地獄鬼畜生。
生老病死苦。
以漸悉令滅。
(Đầy đủ
sức thần thông,
Rộng tu trí
phương tiện,
Các cơi nước
mười phương,
Không đâu
chẳng hiện thân,
Bao nhiêu các
đường ác,
Địa
ngục, quỷ, súc sanh,
Sanh, già, bệnh,
chết khổ
Khiến dần
bị tiêu diệt).
Quán Âm là vị
đại Bồ Tát địa vị cao tu hành đă lâu,
từ trong thể Viên Thông ngài đă chứng, phát xuất
diệu dụng tối cực thù thắng, bởi thế
nói là “cụ túc thần thông lực” (đầy đủ sức thần thông). “Thần” nghĩa là diệu dụng
chẳng thể suy lường, “thông”
nghĩa là vô ngại tự tại. Phàm là đại Bồ
Tát đều có thần thông. Bất quá nói đến
thần thông, thường chia ra hai loại: Thần thông
hữu lậu và thần thông vô lậu.
Thần thông hữu
lậu chẳng riêng thần tiên có mà quỷ thần
cũng có; nhưng thần thông quỷ thần có
được là Báo Đắc Thông (thần thông do quả
báo mà tự nhiên có được), công dụng chẳng
lớn, chỉ có thể thấy chút phần trong hai
đường nhân đạo và quỷ đạo. Thiên
tiên có năm thần thông: Thiên Nhăn, Thiên Nhĩ, Tha Tâm, Túc
Mạng, Thần Túc; so ra tuy công dụng lớn hơn
quỷ thần rất nhiều, nhưng vẫn rất
hẹp nhỏ, lại c̣n phiền năo hoàn toàn chưa
đoạn. Phật pháp coi trọng nhất là Lậu
Tận Thông, bọn họ vẫn chưa đạt
được. Bởi lẽ, có lúc họ khởi sát
cơ, lợi dụng thần thông gây tạo tội ác
lớn.
Nhị Thừa thánh
giả xuất thế, chẳng những có đủ
năm thứ thần thông thông thường, mà c̣n
đắc Lậu Tận Thông của Phật pháp. Tuy
thần thông của họ phát sanh tác dụng cao trỗi
hơn thần thông hữu lậu của thiên tiên trăm
ngàn vạn lần, nhưng do chưa đạt
được rốt ráo, nên Thiên Nhăn Thông của Nhị
Thừa chỉ có thể thấy tam thiên đại thiên
thế giới này; Thiên Nhĩ Thông chỉ nghe
được trong tam thiên đại thiên thế giới
này; Thần Túc Thông chỉ có đi tự tại trong tam
thiên đại thiên thế giới này; Túc Mạng Thông
chỉ có thể biết rơ sự việc trong ṿng tám
vạn kiếp; Tha Tâm Thông chỉ biết được
tâm của chúng sanh lục phàm.
Đăng Địa
Bồ Tát (những vị Bồ Tát chứng từ Sơ Địa
trở lên) phá được một phẩm vô minh, cho nên
Thiên Nhăn Thông và Thiên Nhĩ Thông của họ chẳng
những thấy nghe được tam thiên đại thiên
thế giới, mà c̣n thấy nghe được một
trăm tam thiên đại thiên thế giới. Công dụng
phát sanh bởi thần thông của họ so với Nhị
Thừa rộng lớn gấp trăm lần, nhưng
vẫn chưa thể kể là “đầy đủ
thần thông”.
Thiên Nhăn Thông của
Phật có thể thấy vô lượng vô số vô cùng vô
tận tam thiên đại thiên thế giới, Thiên Nhĩ
Thông của Phật nghe được vô lượng vô
số vô cùng vô tận tam thiên đại thiên thế
giới, Túc Mạng Thông biết rơ chuyện trong nhiều
kiếp lâu xa trước giống hệt như chuyện
xảy ra trong ngày hôm nay. Thấu triệt tột cùng,
rốt ráo đầy đủ. Trong phần trên đă nói,
Quán Thế Âm Bồ Tát đă sớm thành Phật, hiệu
là Chánh Pháp Minh Như Lai, đă chứng viên thông diệu
thể, chẳng giống với Bồ Tát mới thành,
bởi thế Ngài đầy đủ sức thần
thông lớn lao chẳng thể nghĩ bàn.
Chánh Pháp Minh
Như Lai thị hiện Quán Thế Âm Bồ Tát, chẳng
những có đủ thần thông diệu dụng, mà c̣n
rộng tu đại trí huệ, đại phương
tiện. “Đại trí
huệ” chỉ Thắng Nghĩa Trí, khế chứng chân
lư “các pháp tánh Không” là
đặc tánh duy nhất của trí ấy. “Đại phương tiện”
chỉ Thế Tục Trí, thuyết pháp thích ứng căn
cơ chúng sanh là công dụng duy nhất của trí này.
Vận dụng cả hai trí, không ǵ chẳng đầy
đủ, nên gọi là “rộng tu”. Chẳng có
Thắng Nghĩa Trí, nhất định chẳng thể
chứng chân lư; chẳng có Thế Tục Trí, nhất
định chẳng thể độ quần mê.
Đứng trên lập trường Bồ Tát, hai trí này
chẳng thể phế bỏ một trí nào; nhưng cần
phải có Thắng Nghĩa Trí mới có thể phát sanh
Thế Tục Trí quyền xảo được.
Đại Bi Quán Âm
đă có đủ thần thông lực và trí phương
tiện, đương nhiên sẽ có thể ở trong
mười phương thế giới, trong hết
thảy các cơi nước, không cơi nào Ngài chẳng thị
hiện các thứ thân ứng hóa để độ các
loài chúng sanh bất đồng. “Sát” trong tiếng
Ấn Độ là Sát-Ma, Hán dịch là Độ
Điền, có lúc kinh c̣n gọi là Quốc, hoặc gọi
là Độ, nhưng đều cùng một ư nghĩa.
Nếu nói Phật sát th́ có nghĩa là một thế
giới được hóa độ bởi một đức
Phật. “Hiện thân” nghĩa là Phật, Bồ Tát hóa
hiện các thân phận bất đồng; như phần
Trường Hàng kinh này nói Quán Âm Bồ Tát hiện ba
mươi ba ứng thân, đó là ư nghĩa chữ “hiện
thân”. Ứng là tùy cảm mà ứng, tức là do chúng sanh
cơ cảm, bèn tự nhiên ứng theo đó. Cần
phải biết rằng: Quán Thế Âm Bồ Tát lấy
việc độ sanh làm bổn nguyện, chẳng
phải như mọi người thường nghĩ
Bồ Tát chỉ được thờ trong các chùa
miếu, mà Ngài luôn hiện hữu trong mười
phương cơi nước đến khắp mọi
nơi hiện thân thuyết pháp.
Quán Âm Bồ Tát
không cơi nào chẳng hiện thân, rốt cuộc Ngài thị
hiện tại những nơi nào? Chính là “chủng chủng
chư ác thú” (trong hết
thảy đường ác), Ngài đều có thể
hiện thân. Chữ “chư ác thú” thông thường
chỉ ba đường ác địa ngục, ngạ
quỷ, súc sanh; cũng có khi ngoài ba đường ác thêm
vào đường A Tu La, gọi là bốn “ác thú”. Sở dĩ gọi là “ác thú” là v́ mỗi chúng sanh do ác nghiệp của
chính ḿnh sẽ hướng đến (thú hướng)
chỗ ác, nên gọi là “ác thú”.
Cũng có khi gộp cả nhân thiên vào ba đường ác
gọi là Ngũ Ác Thú, nên gọi là “chư ác thú”. Nhân
thiên bị gọi là ác thú là dựa trên chuyện sanh tử
luân hồi mà nói. Nói theo quan điểm xuất thế
của nhà Phật, phàm bất cứ những ǵ không
thể siêu xuất tam giới đều gọi là “ở
trong ác thú”.
Lấy địa
ngục để nói: Chúng sanh đọa trong địa
ngục, bất luận là thuộc tám ngục lạnh
hoặc tám ngục nóng, hoặc trong các địa ngục
khác, đều có các thứ đau khổ công kích. Quán Âm Bồ
Tát thấy chúng sanh chịu khổ trong địa ngục,
chẳng nỡ thấy họ bị hăm trong mọi
thống khổ bao vây trong cả một thời gian dài,
bởi thế khởi lên bi nguyện “ta chẳng vào
địa ngục, ai vào địa ngục”, thị
hiện thân tướng chúng sanh địa ngục, vào
trong địa ngục giáo hóa bọn họ, khiến
bọn họ xuất ly khổ năo địa ngục, thân
tâm được giải thoát!
Về ngạ quỷ,
tuy nói là có vô tài, thiểu tài, đa tài – như các thần
hưởng đồ huyết thực – sai biệt,
nhưng do đói khát mà thành tên, nên thường gọi là
ngạ quỷ. Đọa trong đường ngạ
quỷ, thường kéo dài cả trăm ngàn vạn
năm, chẳng nghe được tên chất tương
(juice) hay nước, huống hồ những thứ
thức ăn khác? Bởi thế, sa chân vào đường
ngạ quỷ rất khổ vậy. Quán Âm Bồ Tát
thấy chúng sanh ngạ quỷ thọ khổ, đặc
biệt thị hiện thân quỷ vương Diện Nhiên
đại sĩ, tạo cơ hội cho đức
Phật giảng kinh Diệm Khẩu để phổ
cứu hết thảy ngạ quỷ. Đó là hiện thân
ngạ quỷ thuyết pháp cho ngạ quỷ
được giải thoát.
Về súc sanh, trong
hiện thực thế gian có thể thấy rơ loài này. Có
những loài chim bay trên không trung, có loài thú chạy trên
mặt đất, có loài lông vẩy bơi lội
dưới nước. Chúng sanh đọa vào súc sanh
hoặc là để trả nợ, hoặc là để đền
mạng, thường chịu những đau khổ khó
ḷng chịu đựng nổi. Quán Thế Âm Bồ Tát
thấy chúng sanh thọ khổ trong đường súc sanh,
liền thị hiện các thân tướng chúng sanh sai khác
để hóa độ bọn họ, khiến bọn
họ ĺa bỏ quả báo súc sanh, thân tâm được
giải thoát.
Về nhân loại,
bốn nỗi khổ lớn Sanh, Lăo, Bệnh, Tử,
bất luận có tiền hay không tiền, bất luận
có địa vị hay không địa vị, ai cũng
chẳng tránh khỏi. Chẳng riêng ǵ nhân loại, ngay
cả các hữu t́nh trên trời cũng chẳng thể
tránh khỏi giống như thế. Như cổ
đức nói: “Nhân gian nan miễn tứ tướng khổ,
thiên thượng hà tằng miễn ngũ suy” (Nhân gian khó thoát bốn
tướng khổ, cơi trời ai khỏi năm
tướng suy?) Quán Thế Âm Bồ Tát thấy nhân
loại và chúng sanh trên cơi trời thọ khổ, cũng
thị hiện thân người hoặc thân trời
giống hệt họ, đến thuyết pháp cho chúng ta
khiến cho chúng ta ĺa khổ được vui! Nói chung,
chúng sanh trong tam giới, bất luận thuộc
đường nào, cứ hễ ai có nỗi khổ,
chỉ cần nhất tâm xưng danh, Quán Thế Âm Bồ
Tát đại từ đại bi đều hiện
trước mặt, nói ra chánh pháp người ấy có
thể tiếp nhận được, khiến cho
người ấy thực hành theo chánh pháp đó, bèn có
thể dần dần tiêu diệt thống khổ, bởi
thế nói là “dĩ tiệm tất linh diệt” (khiến dần dần bị
tiêu diệt). Điều này trong phần
Trường Hàng tôi đă giải thích chi tiết.
Hai bài kệ nói trên là
phần Tổng Tụng về sự hiện thân, nên khoa này
được gọi là Thân Nghiệp Phổ Ứng.
2.2.2.1.2 Ư nghiệp
phổ quán (ư nghiệp quán sát khắp)
Chánh kinh:
Chân quán, thanh
tịnh quán,
Quảng
đại trí huệ quán,
Bi quán cập
Từ quán,
Thường
nguyện, thường chiêm ngưỡng,
Vô cấu thanh
tịnh quang,
Huệ nhật phá
chư ám,
Năng phục tai
phong hỏa,
Phổ minh
chiếu thế gian.
真觀清淨觀。
廣大智慧觀。
悲觀及慈觀。
常願常瞻仰。
無垢清淨光。
慧日破諸暗。
能伏災風水。
普明照世間。
(Chân quán, thanh
tịnh quán,
Trí huệ quán
rộng lớn,
Bi quán và từ quán,
Thường
nguyện, thường chiêm ngưỡng,
Sáng thanh tịnh,
không nhơ,
Huệ nhật phá
các tối,
Dẹp phục tai, gió,
lửa,
Chiếu sáng khắp
thế gian).
Đây là phần nói
về ư nghiệp quán sát khắp tất cả của
đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Có năm loại quán:
Chân Quán, Thanh Tịnh Quán, Quảng Đại Trí Huệ Quán,
Bi Quán và Từ Quán. Dùng năm thứ Quán này hiển thị
căn bản hóa độ hết thảy chúng sanh. Theo
cổ đức, ba thứ Quán trước thuộc
về Tự Lợi, hai Quán sau thuộc về Lợi Tha.
Bởi thế, năm thứ Quán gồm hai bộ phận
lớn là Tự Lợi và Lợi Tha. Nếu luận trên
phương tiện ứng hóa thù thắng của năm
thứ Quán này, phải nói chúng đều thuộc về
Lợi Tha; nhưng nếu xem tiếp ư đoạn văn
trên: “Khiến dần dần tiêu diệt thống khổ
của chúng sanh” th́ rốt cuộc là dần dần tiêu
diệt bằng cách nào đây? V́ thế, ở đây bèn nói
là dùng năm pháp Quán để dần dần diệt
khổ cho chúng sanh; đă thế phần kinh văn này
lại thuộc về phần Hiển Thị Phương
Tiện Du Hóa, lẽ đương nhiên là vận dụng
Ngũ Quán để làm phương tiện độ thoát
chúng sanh.
Có người giải
thích như thế này: Do Bồ Tát Quán Âm sanh khởi quán
huệ Chân Tâm, soi thấy vọng nghiệp của chúng sanh
vốn là Không, về căn bản, tự thể của
nghiệp tánh là bất khả đắc. Khởi quán
huệ Thanh Tịnh Quán, soi thấy tự tánh của chúng
sanh vốn ĺa nhiễm, chưa từng bị tạp
nhiễm làm nhiễm ô. Khởi quán huệ Đại Trí
Quán chiếu phá vô minh si ám của chúng sanh, hiển phát quang
minh mà chúng sanh vốn sẵn có. Khởi quán huệ
Đại Bi Quán, dẹp trừ vô lượng khổ
đau cho chúng sanh, chẳng c̣n bị các thống khổ
bức bách. Khởi huệ quán Đại Từ Quán, ban cho
chúng sanh hết thảy an lạc, khiến chúng sanh vĩnh
viễn được sống tự do tự tại. Theo
cách giải thích này, có thể nói ba phép Quán đầu
nhằm phá hủy Hoặc nghiệp của chúng sanh, hai phép
Quán sau nhằm dẹp khổ ban vui. Như vậy năm
phép Quán đều là Lợi Tha. Do đó, cổ nhân đem
ba phép quán Chân, Tịnh, Trí phối hợp với thuyết
tam quán Không, Giả, Trung của ngài Thiên Thai; chúng tôi cho
rằng không nhất thiết là như vậy.
Quán Âm Bồ Tát dùng
Ngũ Quán hóa độ chúng sanh, chúng ta phải “thường
nguyện” Bồ Tát từ bi cứu tế, khiến
chúng ta thật sự ĺa khổ được vui.
Đồng thời cũng nên “thường chiêm
ngưỡng” diệu tướng trang nghiêm của
Bồ Tát, đảnh lễ kính ngưỡng, cầu Ngài
nhiếp chiếu. Nói “chiêm ngưỡng” có nghĩa là
dùng tâm cung kính ngửa trông vậy. Phẩm Phương
Tiện kinh Pháp Hoa có câu: “Chiêm ngưỡng Lưỡng
Túc Tôn”, kinh Duy Ma nói: “Chiêm ngưỡng tôn nhan, mục
bất tạm xả” (chiêm
ngưỡng tôn nhan, mắt chẳng tạm rời)
đều nhằm diễn tả ư này.
Bốn câu trên là bài
tụng để tổng kết phần nói về Trí Quán,
hiển thị Bồ Tát ứng vật quán chiếu nên
mới có năm phép Quán sai biệt. Mỗi một phép quán
trong năm phép ứng vật quán chiếu của Bồ Tát
đều thanh tịnh vô cấu. Từ trong thanh tịnh
vô cấu quán, phát sanh quang minh đại trí huệ, nên nói: “Vô
cấu thanh tịnh quang”. Ánh sáng đại trí huệ
ấy rạng rỡ chiếu ngời, có thể chiếu
tan hết thảy tối tăm phiền năo, khác nào
vầng mặt trời treo cao trên không trung thanh tịnh,
chiếu tan hết thảy tối tăm trong đại
địa, bởi thế nói: “Huệ nhật phá chư
ám” (huệ nhật phá các tối). Vô Lượng Thọ
Kinh chép: “Huệ nhật chiếu thế gian, thanh trừ
sanh tử vân” (Huệ
nhật chiếu thế gian, trừ sạch mây sanh tử),
phẩm Phương Tiện kinh Pháp Hoa ghi: “Huệ
nhật đại thánh tôn” đều nhằm diễn
tả ư này. Chúng sanh vô tri vô minh, nên gọi là “chư ám”.
Thanh tịnh trí quang có thể chiếu sáng tăm tối mù
ḷa của thế gian nên dùng “huệ nhật” (mặt
trời trí huệ) để ví dụ. Phẩm Dược
Vương Bổn Sự kinh Pháp Hoa có câu: “Hựu như
Nhật thiên tử năng trừ chư ám, thử kinh diệc
phục như thị, năng phá nhất thiết bất
thiện chi ám” (Lại
như Nhật thiên tử trừ được các
tối, kinh này cũng giống như thế, phá
được hết thảy tối tăm bất
thiện).
Ánh sáng của huệ
nhật chẳng những phá được các tối mà
c̣n “năng phục tai phong hỏa” (dẹp được tai nạn, gió, lửa).
Chữ “tai” bao gồm hết thảy khổn ách,
nhưng nạn gió, nạn lửa là những tai nạn
lớn nhất trong các tai nạn. Tai nạn gió, lửa c̣n
khuất phục được th́ tự nhiên các tai
nạn khác không thành vấn đề. Nói một cách nghiêm
túc, chúng sanh sở dĩ có các tai nạn: gió, lửa v.v…
chẳng phải do từ bên ngoài xảy đến cho chúng
sanh mà là do phiền năo của chúng sanh chiêu cảm. Hắc
ám phiền năo đă bị chiếu tan, đương nhiên
dẹp được các tai nạn. Quang minh của
vầng mặt trời trí huệ trừ dẹp tai
nạn, chiếu tan hắc ám, khác nào thái dương
chiếu rực thế gian, khắp nơi được
soi thảy đều sáng sủa, nên nói là: “Phổ minh
chiếu thế gian” (Chiếu
sáng khắp thế gian).
2.2.2.1.3. Khẩu nghiệp
phổ ích (Khẩu nghiệp lợi ích khắp
tất cả)
Chánh kinh:
Bi thể giới
lôi chấn,
Từ ư diệu
đại vân,
Chú cam lộ pháp
vũ,
Diệt trừ
phiền năo diệm.
悲體戒雷震。
慈意妙大雲。
澍甘露法雨。
滅除煩惱焰。
(Bi thể giới
sấm rền,
Mây từ ư lớn diệu,
Tuôn mưa pháp cam
lộ,
Diệt trừ
lửa phiền năo).
Đoạn này nói
về sự lợi ích khắp cả do khẩu nghiệp
của Quán Âm, cũng tức là tán thán sự nghiệp
thuyết pháp độ sanh của Quán Thế Âm Bồ Tát.
Tuy nói là “khẩu nghiệp lợi ích khắp cả”,
nhưng thực tế bao gồm hoạt động
của cả ba nghiệp, cũng có nghĩa là hiển
thị tam luân bất tư nghị hóa của đức
Quán Âm.
“Bi thể”: Bi nghĩa là dẹp khổ. Tâm Bi
của chư Phật, Bồ Tát rộng lớn khôn sánh,
bởi thế gọi là Đại Bi. Phật, Bồ Tát
lấy Đại Bi làm thể, nên gọi là “bi thể”.
Như nói: “Phật tâm là đại từ bi”, “Bồ Tát
chỉ từ đại bi sanh, chẳng từ các điều
thiện nào khác mà sanh” đều có thể coi là
những thuyết minh về bi thể; nhưng bi thể
ấy c̣n có thể nói đại từ bi pháp thân, do tŕ
giới mà có. Do đó, Giới và Từ Bi có mối liên quan
mật thiết. Chẳng hạn như bất sát,
chẳng làm cho hết thảy hữu t́nh chịu nỗi
khổ sát sanh, đó cũng là ban cho hết thảy hữu
t́nh cảm giác an toàn. Cao hơn một bậc là phải yêu
thương bảo vệ sanh mạng hữu t́nh. Há
chẳng phải Giới là thực hiện từ bi đó
ư?
Quán Thế Âm Bồ Tát
dùng giới thể đại từ đại bi, thân luân
hiện thần thông, thị hiện ba mươi ba
ứng thân, sức thần thông diệu dụng chấn
động khác nào sấm rền khắp đại thiên,
cảnh tỉnh thế gian đang mê man trong giấc
mộng bởi thế nói là “bi thể giới lôi chấn”.
Tổ Đức Thanh nói: “Pháp Thân vô thể, lấy Bi làm
thể; Giới là những răn dạy lưu xuất
từ Pháp Thân. V́ thế để thuyết pháp th́
trước hết dùng sấm rền kinh động nhân
quần, dùng từ ư nổi mây từ rộng lớn”.
“Từ ư diệu
đại vân” chỉ ư
nghiệp của Bồ Tát. Bồ Tát không chỉ dùng Bi
để dẹp trừ đau khổ cho chúng sanh, mà c̣n
đồng thời vận dụng Từ để ban
sự sướng vui cho chúng sanh, bởi thế nói là
Từ Ư. Trong Phật pháp, phàm muốn khen ngợi
điều ǵ là chẳng thể nghĩ bàn th́ gọi là
Diệu. Có người nói: “Diệu có nghĩa là không ǵ
sánh bằng, không ǵ hơn được nữa”. Ḷng
Đại Từ của Phật, Bồ Tát duyên khắp
hết thảy pháp giới chúng sanh, như đám mây che kín
khắp hết thảy, bởi thế nói là “diệu
đại vân”.
Câu “chú cam lộ pháp
vũ” (xối mưa pháp
cam lộ) hiển thị khẩu nghiệp thuyết
pháp của Bồ Tát. Sách Pháp Hoa Văn Cú viết: “Cam
lộ là thuốc bất tử của chư thiên; ăn
vào trường thọ, thân yên ổn, sức lực
lớn lao, thân thể tươi sáng”. Sách Duy Ma Cật
Chú, quyển bảy viết: “Ngài La Thập nói: ‘Chư
thiên đem các thứ thuốc quư bỏ vào biển, dùng núi
báu để mài, tạo thành cam lộ. Ăn vào thành tiên,
gọi là Bất Tử Dược’. Ngài Đạo Sanh nói:
‘Thức ăn cơi trời là vị cam lộ. Ăn vào
trường thọ, nên gọi là thuốc Bất Tử”.
Đức Phật
thường dùng Cam Lộ để ví diệu pháp bất
sanh bất tử. Diệu pháp tư nhuận (tưới tắm,
thấm nhuần) chúng sanh, nên được ví như
mưa. Kinh Vô Lượng Thọ, quyển thượng
ghi: “Chú pháp vũ, diễn pháp thí” (xối mưa pháp,
diễn pháp thí). Phẩm Tự kinh Pháp Hoa có câu: “Vũ đại
pháp vũ, xuy đại pháp loa” (Mưa trận mưa pháp lớn, thổi ốc pháp
lớn). Kinh Niết Bàn quyển hai chép: “Vô thượng
pháp vũ, vũ nhữ thân điền, linh sanh pháp nha” (Trận mưa pháp vô
thượng rưới xuống ruộng thân của ông,
khiến cho nó trổ mầm pháp). Lại nói: “Duy hy Như
Lai cam lộ pháp vũ” (Chỉ
mong cầu pháp vũ cam lộ của đức Như Lai).
Đây là dùng cam lộ pháp vũ để ví cho giáo pháp
của Như Lai. Quán Thế Âm Bồ Tát v́ chúng sanh tuyên
thuyết diệu pháp, khiến các chúng sanh đều
được lợi ích nơi pháp, bởi thế nói là “xối
mưa pháp cam lộ”.
Có thể làm cho chúng
sanh được những lợi ích ǵ? Chúng sanh có
đủ phiền năo, nhưng phiền năo hừng hực
như ngọn lửa to lớn, dùng bất cứ thứ
ǵ khác cũng vô phương diệt được lửa
phiền năo của chúng sanh, chỉ có cam lộ pháp vũ
của Bồ Tát mới có thể làm cho chúng sanh diệt
trừ được ngọn lửa phiền năo,
đạt tới địa vị thanh tịnh bất
sanh bất diệt, bởi thế nói là “diệt trừ
phiền năo diệm” (diệt
trừ ngọn lửa phiền năo).
2.2.2.2. Chánh
hiển du ư Sa Bà (hiển thị sự
nghiệp du hóa Sa Bà)
Chánh kinh:
Tránh tụng kinh
quan xứ,
Bố úy quân
trận trung,
Niệm bỉ
Quán Âm lực,
Chúng oán tất thoái
tán,
Diệu Âm, Quán
Thế Âm,
Phạm Âm, Hải
Triều Âm,
Thắng bỉ
thế gian âm,
Thị cố tu
thường niệm,
Niệm niệm
vật sanh nghi,
Quán Thế Âm
tịnh thánh,
Ư khổ năo
tử ách,
Năng vị tác y
hỗ,
Cụ nhất
thiết công đức,
Từ nhăn thị
chúng sanh,
Phước
tụ hải vô lượng,
Thị cố
ưng đảnh lễ!
諍訟經官處。
怖畏軍陣中。
念彼觀音力。
眾怨悉退散。
妙音觀世音。
梵音海潮音。
勝彼世間音。
是故須常念。
念念勿生疑。
觀世音淨聖。
於苦惱死厄。
能為作依怙。
具一切功德。
慈眼視眾生。
福聚海無量。
是故應頂禮。
(Kiện căi, qua chỗ quan,
Trong quân trận
kinh hăi,
Nhờ sức
niệm Quán Âm,
Các oán thảy lui
tan,
Diệu Âm, Quán
Thế Âm,
Phạm Âm, Hải
Triều Âm,
Hơn tiếng
thế gian kia,
V́ thế phải
thường niệm.
Niệm niệm
chớ sanh nghi,
Quán Thế Âm
tịnh thánh,
Trong khổ năo,
nạn chết,
Thường làm
chỗ nương dựa,
Đủ hết
thảy công đức,
Mắt từ nh́n
chúng sanh,
Chứa phước
biển vô lượng,
V́ thế phải
đảnh lễ!)
Đây là đoạn
kệ tụng cuối cùng thuộc phần hiển thị
sự du hóa trong thế giới Sa Bà kết thúc phần
thuyết minh phương tiện du hóa của Quán Thế
Âm Bồ Tát. Chúng sanh trong thế giới Sa Bà đặc
biệt là nhân loại, từ cổ đến nay
đấu tranh kiên cố, rất khó đối xử ḥa
thuận vui vẻ với nhau, thường v́ những chuyện
nhỏ nhặt bèn phát sanh những tranh chấp không cần
thiết, đến nỗi tranh tụng nơi cửa quan.
Chẳng riêng ǵ người ngoài như thế, ngay
đến chồng vợ, cha con, anh em v.v… cũng đem
nhau ra ṭa rất nhiều. Nếu như có người v́
tranh chấp bèn đi thưa kiện, lúc phải ra pháp
đ́nh hoặc phải đối chất trước
mặt nhân viên tư pháp, khó tránh khỏi sợ bị thua
kiện; nói thật ra, kiện tụng là chuyện
chẳng đáng nên làm nhất, bởi lẽ dù hữu lư
hay vô lư, kết quả nói chung đều bất lợi cho
chính ḿnh. Giả sử có người v́ tranh tụng
phải đến cửa quan (“qua chỗ quan”),
cảm thấy rất sợ hăi, nếu có thể niệm
thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát, liền được oai
lực Quán Âm gia bị, khiến cho người ấy ngay
khi đó giải quyết mối tranh chấp một cách
ḥa b́nh, đôi bên nói năng tử tế với nhau, không
c̣n phải gặp nhau ở pháp đ́nh nữa. Như
vậy túc oán giữa hai bên nhanh chóng tiêu trừ, trở
thành bạn bè rất thân thiết.
Chẳng riêng ǵ con
người tranh chấp nhau, ngay cả nước này
với nước kia cũng tranh giành không ngừng;
bởi vậy thế giới này của chúng ta từ
trước đến nay chưa có được ngày nào
ḥa b́nh. Có người nói: “Lịch sử nhân loại là
lịch sử chiến tranh”, thật chẳng sai tí nào!
Chiến tranh là quân đội đôi bên đối
địch bày trận tuyến, giữ nghiêm mặt
trận đợi thời cơ, đến lúc hai bên giao
phong, tự nhiên chẳng bên nào tránh khỏi thương
vong. Cứ nghĩ mỗi một sanh mạng đang
sống vui khỏe, từng người một ngă lăn
ra, tự nhiên người ta cảm thấy sợ hăi. V́
thế nói là “bố úy quân trận trung” (trong quân trận kinh hăi).
Ngay trong lúc binh tai chiến họa nguy hiểm kinh sợ
khẩn cấp, nếu có thể niệm thánh hiệu Quán
Âm Bồ Tát, ngửa nhờ oai lực Bồ Tát gia bị,
các oán địch thảy đều tan lui, can qua hóa thành
ngọc bạch, sống đời ḥa b́nh. Chữ “chúng
oán” trong bài kệ tụng không những chỉ các quân
trận đối địch mà c̣n gồm cả oán
cừu thưa kiện. Do niệm đức Quán Âm,
được thánh đức cảm hóa, hối lỗi
cái tâm trước kia, bởi thế đều tan lui
cả.
Trong phần Ư Nghiệp
Phổ Quán ở trên có nói đến Ngũ Quán của
đức Quán Âm. Trong phần Du Hóa Sa Bà này lại nói
đến Ngũ Âm của đức Quán Âm. Ngũ Quán là
Năng Quán Trí của Bồ Tát; c̣n Ngũ Âm có cái là Sở
Quán Cảnh (cảnh được quán) của Bồ Tát,
có cái là Thuyết Pháp Âm (âm thanh thuyết pháp) của Bồ
Tát; dùng năm âm này để giải thích duyên do Bồ Tát
có danh hiệu Quán Thế Âm. Có người nói Ngũ Âm này
đều h́nh dung Quán Âm Bồ Tát thuyết pháp thanh
tịnh và mỹ diệu, thật ra không phải cả
năm âm đều như thế.
Chẳng hạn như
Diệu Âm không cần phải giải thích cách nào khác, mà
chỉ là chuyên nói về âm thanh tụng niệm “Nam-mô Quán
Thế Âm Bồ Tát”. Do âm thanh niệm thánh hiệu
Bồ Tát chính là âm thanh vi diệu chẳng thể nghĩ
bàn nên gọi là Diệu Âm.
Quán Thế Âm nghĩa
là quán chiếu hết thảy âm thanh tŕ danh kêu cứu, lập
tức không cơi nào chẳng hiện thân, t́m âm thanh đó
để đến cứu tế; bởi thế gọi
là Quán Thế Âm.
Chữ Phạm trong
Phạm Âm có nghĩa là thanh tịnh, khiết bạch,
tức là dù pháp thế gian hay xuất thế gian của
Quán Âm Bồ Tát đều thanh tịnh, vô cấu nhiễm.
Phẩm Tự kinh Pháp Hoa nói: “Quán âm vi diệu, linh nhân
nhạo văn” (xem âm thanh vi diệu khiến
người thích nghe). Kinh Hoa Nghiêm nói: “Diễn xuất
thanh tịnh vi diệu phạm âm, tuyên dương tối
thượng vô thượng chánh pháp, văn giả hoan hỷ,
đắc tịnh diệu đạo” (Diễn nói phạm âm thanh
tịnh vi diệu, tuyên bày chánh pháp tối thượng, vô
thượng, người nghe hoan hỷ đắc
đạo tịnh diệu). Sách Pháp Hoa Văn Cú
viết: “Phật được quả báo âm thanh thanh
tịnh, mầu nhiệm nhất, nên hiệu là Phạm Âm”.
Hải Triều Âm là
tiếng lớn như tiếng hải triều ầm vang,
như lúc hải triều (sóng biển) lên cao phát ra âm vang tột
bậc hùng tráng mênh mông. Đă thế, hải triều lên
xuống có thời gian nhất định, từ xưa
đến nay chẳng sai chạy. Như sách Nghĩa
Sớ của ngài Trường Thủy viết: “Trống
trời không suy nghĩ, tùy theo con người mà phát ra
tiếng vang; hải triều vô niệm, chưa hề sai
thời”. Điều này ví như Bồ Tát thuyết pháp
đúng lúc, chưa hề sai thời gian, căn cơ,
như chúng sanh lúc nào được đắc độ
th́ ngay lúc đó Bồ Tát bèn thuyết pháp cho; nên giảng
pháp nào mới độ được th́ Bồ Tát
liền giảng cho chúng sanh pháp đó, giống như
hải triều chẳng sai giờ, bởi thế gọi
là Hải Triều Âm.
“Thắng bỉ thế
gian âm” (Hơn
tiếng thế gian kia): Có
người nói âm thanh niệm Quán Thế Âm Bồ Tát
giống như Phạm Âm, như Hải Triều Âm,
vượt trỗi hết thảy âm thanh thế gian, v́
thế là Phật tử phải thường nên xưng
niệm th́ mới ḥng đạt được lợi ích
thực tế. Có người nói Quán Âm đại sĩ
đối với căn cơ của chúng sanh trong thập
giới có thể nói các pháp thập giới bất
đồng, nhưng âm thanh ấy thanh tịnh, âm thanh
thế gian trọn chẳng thể bằng, bởi thế
chúng ta phải thường niệm tụng. Thuyết
trước là ước theo âm thanh niệm thánh hiệu
Đại Sĩ mà luận; thuyết sau là ước theo
âm thanh của Đại Sĩ v́ chúng sanh thuyết pháp mà
luận. Cả hai thuyết đều có lư, nhưng tôi
nghĩ thuyết trước hợp lư hơn.
Đức Phật
đau ḷng rát miệng khuyên răn chúng sanh, muốn chúng ta
thường xưng niệm thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát,
nhưng trong lúc chúng ta niệm, niệm trước, niệm
sau, niệm niệm chớ nên sanh khởi một niệm
nghi hoặc nào; nếu không, niệm thánh hiệu Quán Âm
chẳng có ích ǵ! Nên biết Nghi là đại địch
của Tín, nếu có một nghi niệm tồn tại, quư
vị sẽ chẳng thể chuyên tâm nhất ư niệm
được. Do vậy, chẳng thể chân thật,
thiết tha chí thành niệm; tự nhiên khó thể cảm
ứng Bồ Tát. Nếu muốn cảm ứng Ngài
đến cứu tế khổ nạn cho chúng ta, quư
vị phải ngưỡng mộ mà niệm Ngài, không
mảy may nghi ngờ ǵ! Phải biết Quán Thế Âm
Bồ Tát là Bổ Xứ Đại Sĩ, đă
đoạn sạch hết thảy phiền năo tạp
nhiễm, chẳng giống với các Bồ Tát chưa
đoạn sạch phiền năo vô minh khác, nên Ngài
được tôn là “tịnh thánh” tức là bậc
thánh giả thanh tịnh. Nhưng chúng ta sanh tử trong
khổ năo, bất luận gặp phải ách nạn nào,
nếu quư vị có thể nhất tâm xưng danh, Quán Thế
Âm tịnh thánh liền có thể làm bậc cha lành cho chúng ta
nương nhờ, làm bậc từ mẫu cho chúng ta
nương cậy. Nói cách khác, chúng sanh trong thế gian này
gặp bất cứ tai nạn nào th́ Quán Thế Âm luôn là người
nương nhờ đắc lực cho chúng ta.
Thêm nữa, Quán Âm
Bồ Tát đầy đủ hết thảy vô
lượng công đức. Sách Đại Thừa Nghĩa
Chương, quyển chín chép: “Nói đến Công
Đức th́ Công là công năng; điều thiện có công
năng tươi nhuận phước lợi, v́ thế
gọi là Công. Công ấy là đức sẵn có của
thiện hạnh nên gọi là Công Đức”. Sách Nhân
Vương Kinh Sớ, quyển thượng của ngài
Thiên Thai có câu: “Thí vật là Công, quy về ḿnh là
Đức”. Sách Thắng Man Bảo Quật, quyển
thượng viết: “Ác hết là Công, thiện viên măn là
Đức. Đức c̣n là được, do công tu mà có
được, nên gọi là Công Đức”. Quán Âm
đầy đủ các công đức, thường dùng “Từ
nhăn” (mắt Từ) b́nh đẳng quán sát hết
thảy chúng sanh, như con cùng một cha mẹ
được yêu thương, che chở, chẳng hề
đối đăi bất đồng; v́ hễ con cái
gặp khốn khó, hoạn nạn nào, cha mẹ đều
là chỗ nương cậy duy nhất cho con.
Quán Âm Bồ Tát tích công
chứa đức, tất cả công đức Ngài tích
tụ rộng lớn như biển vô lượng vô biên.
Do v́ như vậy, chúng sanh phải thường
đảnh lễ, cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát.
Đảnh lễ tức là ngũ thể đầu
địa (năm vóc gieo xuống đất), như nói “đầu
diện lễ túc” (đầu mặt lễ dưới
chân), hoặc “đảnh lễ Phật túc”
(đảnh lễ chân Phật). Trong con người không ǵ
quư hơn đảnh đầu, thấp hèn nhất không ǵ
bằng chân. Nay dùng đảnh đầu tôn quư nhất
của ḿnh để đảnh lễ chân thấp hèn
của người, nói như bây giờ là lễ kính
đến cùng cực.
3. Văn phẩm hoạch ích (nghe
phẩm kinh này được lợi ích)
3.1. Tŕ Địa xưng dương (Bồ Tát Tŕ Địa ca
ngợi)
Chánh kinh:
Nhĩ thời,
Tŕ Địa Bồ Tát tức tùng ṭa khởi, tiền
bạch Phật ngôn:
- Thế Tôn!
Nhược hữu chúng sanh văn thị Quán Thế Âm
Bồ Tát phẩm, tự tại chi nghiệp, phổ môn
thị hiện thần thông lực giả, đương
tri thị nhân công đức bất thiểu.
爾時持地菩薩即從座起。前白佛言。世尊。若有眾生。聞是觀世音菩薩品自在之業。普門示現神通力者。當知是人功德不少。
(Lúc bấy giờ,
Tŕ Địa Bồ Tát liền từ ṭa đứng
dậy, bạch trước đức Phật rằng:
- Bạch Thế Tôn!
Nếu có chúng sanh nghe phẩm Quán Thế Âm Bồ Tát,
nghiệp tự tại, sức thần thông phổ môn
thị hiện này th́ phải biết là người ấy
công đức chẳng ít).
Chữ “nhĩ
thời” chỉ lúc Phật nói xong phần Kệ
Tụng. Ngay lúc đó, có vị Tŕ Địa Bồ Tát
liền từ ṭa của ḿnh đứng dậy,
đến trước đức Phật, bạch cùng
đức Phật rằng:
- Bạch Thế Tôn!
Trong thế gian này, nếu có những chúng sanh nào có nhân duyên
thù thắng, nghe phẩm Quán Thế Âm Bồ Tát này, hiểu
rơ nghiệp tự tại cứu độ chúng sanh
chẳng thể nghĩ bàn của Quán Thế Âm Bồ Tát, “phổ
môn thị hiện” không chỗ nào chẳng hiện thân,
sức thần thông không khổ nào chẳng cứu,
phải biết là người được nghe phẩm
Phổ Môn này đạt được công đức
thật chẳng ít vậy.
Do đây ta biết:
Chúng ta nếu được nghe Quán Thế Âm Bồ Tát
Phổ Môn phẩm, công đức rất lớn như
thế đó, nhưng phát tâm nghe phẩm này th́ tốt
nhất là phải nghe từ đầu đến đuôi,
chẳng gián đoạn giữa chừng, nếu nghe
một lần, nghỉ hai ba lần, dù không phải là không
có công đức, nhưng công đức ấy rất
nhỏ.
Theo kinh Lăng Nghiêm giới
thiệu, Tŕ Địa Bồ Tát trong quá khứ, lúc Phổ
Quang Như Lai xuất hiện trong đời, từng
xuất gia làm một vị tỳ-kheo, nhưng Ngài là
một người khổ năo, kém học thức. Dầu
tâm làm lợi cho người khác rất khẩn thiết,
chịu làm các công việc nhọc nhằn, lợi ích
khắp xă hội nhân quần, thiệt ḿnh, lợi
người, đầy đủ tấm ḷng Bồ Tát,
nhưng rất tiếc là chưa từng được
nghe Phật pháp, chẳng hiểu biết lẽ đạo
như thế nào. Bởi thế làm các việc hữu ích
cho xă hội toàn là do thiên tánh sai khiến, ngầm hợp
với hạnh Bồ Tát mà thôi! Ngài sanh ra rất mạnh
mẽ, có sức, suốt ngày ở bên cầu, bên
đường, gặp người mang vác nặng nề,
nhất định đội thay, vác thay qua cầu;
hoặc nếu xe không tiến lên được, ắt
sẽ thay họ đẩy kéo, chẳng nhận công,
chẳng nhận lời cảm tạ. Thấy
đường có chỗ không phẳng, hễ lồi liền
san thấp, hễ lơm liền đắp cho bằng,
hoặc ra sức tu bổ cầu cống, mọi
người đều gọi Ngài là Tŕ Địa. Tuy
khổ tâm nhọc nhằn khắp nơi, dụng tâm
rất tốt, nhưng chưa từng thấy hiệu
quả ǵ. Siêng khổ như thế, trải qua vô
lượng đức Phật xuất hiện trong
đời, sau cùng gặp được Tỳ Xá Phù
Phật. Tŕ Địa gặp đức Phật trên
đường đến chỗ quốc vương
nhận cúng dường, Tỳ Xá Phù Phật thân thiết
xoa đầu ông ta nói:
- Ông làm rất
nhiều việc công ích từ thiện, cứu tế
rộng răi chẳng ít người khốn khó, gian nan,
đương nhiên là hy hữu khó có, nhưng chỉ
dụng công trên mặt vật chất, chẳng biết
dụng công nơi tâm địa, nên rất khó có hiệu
quả. Phải biết đại địa bên ngoài
bất b́nh (không bằng phẳng) là do tâm địa
bất b́nh. Muốn b́nh đại địa, phải b́nh
tự tâm trước đă. Nếu tâm địa b́nh,
thế giới, đại địa hết thảy
đều b́nh.
Tŕ Địa Bồ
Tát nghe Tỳ Xá Phù Phật khai thị như thế,
lập tức tâm địa đốn khai, thấy vi
trần trong tự thân và tất cả vi trần tạo
thành thế giới hoàn toàn b́nh đẳng vô sai biệt, v́
thế Ngài trở thành Tŕ Địa Bồ Tát.
3.2. Thời chúng phát tâm (đại chúng hiện diện
trong lúc ấy phát tâm)
Chánh kinh:
Phật
thuyết thị Phổ Môn phẩm thời, chúng trung bát
vạn tứ thiên chúng sanh giai phát Vô Đẳng
Đẳng A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề tâm.
佛說是普門品時。眾中八萬四千眾生皆發無等等阿耨多羅三藐三菩提心。
(Lúc Phật nói phẩm
Phổ Môn này, tám vạn bốn ngàn chúng sanh trong đại
chúng đều phát tâm Vô Đẳng Đẳng Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác).
Lúc đức
Thích Ca Mâu Ni Phật nói phẩm Phổ Môn này, không riêng ǵ
Bồ Tát Tŕ Địa Bồ Tát được công
đức không ít, mà trong số đại chúng hiện
diện nghe giảng, cũng có “tám vạn bốn ngàn
chúng sanh” nghe xong, lập tức đều phát “tâm Vô
Đẳng Đẳng Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác”.
Tám vạn bốn
ngàn là nói số nhiều, ở Ấn Độ, khi nói
đến số nhiều, thường dùng con số tám
vạn bốn ngàn để nói. Nêu thí dụ: Trong phẩm
Diệu Âm Bồ Tát kinh Pháp Hoa có nói: “Dữ Diệu Âm Bồ
Tát câu lai giả, bát vạn tứ thiên nhân” (Cùng đến với Diệu Âm
Bồ Tát là tám vạn bốn ngàn người).
Lại chép: “Dữ bát vạn tứ thiên Bồ Tát vi nhiễu”
(Và tám vạn bốn ngàn
Bồ Tát vây quanh). C̣n chép: “Thị bát vạn tứ
thiên Bồ Tát đắc Hiện Nhất Thiết Sắc
Thân tam-muội” (Tám
vạn bốn ngàn Bồ Tát này đắc Hiện Nhất
Thiết Sắc Thân tam-muội). Phẩm Hiện Bảo
Tháp kinh Pháp Hoa chép: “Hỏa diệt dĩ hậu, thâu thủ
xá-lợi, tác bát vạn tứ thiên bảo b́nh, dĩ khởi
bát vạn tứ thiên tháp” (Sau
khi lửa tắt, thâu lấy xá-lợi, làm tám vạn
bốn ngàn cái b́nh báu [để đựng], dựng tám
vạn bốn ngàn tháp). Kinh Vô Lượng Thọ c̣n
ghi liên hoàn như sau: “Vô Lượng Thọ Phật, hữu
bát vạn tứ thiên tướng. Nhất nhất tướng,
các hữu bát vạn tứ thiên tùy h́nh hảo. Nhất nhất
hảo, phục hữu bát vạn tứ thiên quang minh, nhất
nhất quang minh biến chiếu thập phương thế
giới” (Vô Lượng
Thọ Phật có tám vạn bốn ngàn tướng,
mỗi một tướng có tám vạn bốn ngàn tùy h́nh
hảo, mỗi một [tùy h́nh] hảo lại có tám vạn
bốn ngàn quang minh, mỗi một quang minh chiếu
khắp mười phương thế giới). Trí
Độ Luận viết: “Bát Nhă Ba La Mật trừ
được tám vạn bốn ngàn bệnh căn
bản”, lại viết: “Tám vạn bốn ngàn quan
thuộc ai nấy đều cũng đắc đạo”.
Trong kinh luận nói tám vạn bốn ngàn như thế
rất nhiều, chúng ta phải hiểu “tám vạn bốn
ngàn” ngụ ư một con số rất lớn, chứ không
nhất định chỉ có tám vạn bốn ngàn thôi
đâu!
“Vô đẳng
đẳng”: Phật là
tối cao tối thượng, không có ǵ có thể bằng
được, nhưng Phật Phật đạo
đồng, chư Phật và chư Phật b́nh
đẳng nên gọi là Vô Đẳng Đẳng. Bản
chú giải kinh Duy Ma Cật của ngài Tăng Triệu,
quyển một viết: “Chư Phật gọi là Vô
Đẳng (không ai sánh bằng), nhưng b́nh đẳng
với chư Phật, nên gọi là Vô Đẳng
Đẳng”. Trí Độ Luận, quyển bốn
mươi viết: “Vô Đẳng Đẳng: Chư
Phật gọi là Vô Đẳng, ngang bằng với chư
Phật nên gọi là Vô Đẳng Đẳng”. Sách
Tịnh Ảnh Sớ ghi: “So với những chúng sanh
khác, không ai bằng được Phật nên gọi là Vô
Đẳng; đạo của chư Phật là b́nh
đẳng, nên lại nói là Đẳng”. Bản sớ
giải kinh Pháp Hoa của ngài Gia Tường, quyển
mười hai ghi: “Phật đạo không ǵ bằng
được, chỉ có Phật với Phật mới
bằng được, nên đạo ấy gọi là Vô
Đẳng Đẳng”. Theo những cách giải thích
trên đây, ta biết là chỉ có đức Phật
mới được gọi là Vô Đẳng Đẳng.
A Nậu Đa La Tam
Miệu Tam Bồ Đề là tiếng Ấn Độ, Hán
dịch là Vô Thượng Chánh Biến Tri, hoặc Vô
Thượng Chánh Đẳng Giác, hoặc Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác. Tách ra mà nói th́ A Nậu Đa La
dịch là Vô Thượng; Tam Miệu Tam Bồ Đề
dịch là Chánh Biến Tri. Giác ngộ được
hết thảy chân lư chân chánh b́nh đẳng là công dụng
vô thượng của trí huệ. Theo Trí Độ
Luận: “Chỉ ḿnh trí huệ của đức
Phật mới gọi là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam
Bồ Đề”. Chánh Giác là phân biệt với phàm phu
chỉ mê không giác, Chánh Đẳng để phân biệt
với Nhị Thừa giác nhưng chẳng phổ
biến, Vô Thượng là phân biệt với Bồ Tát
vẫn chưa giác rốt ráo viên măn. Phát Vô Đẳng
Đẳng A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề tâm, nói đơn giản là phát Bồ Đề
tâm, nghĩa là lấy bi trí viên thành đại giác
đại giải thoát làm mục tiêu, mong chính ḿnh thành
tựu đại giác như thế, đó là phát Bồ
Đề tâm.
Ai ai cũng có thể
thành Phật, vấn đề là chúng ta có chịu phát tâm
Bồ Đề hay không? Nếu phát tâm đại Bồ
Đề, nhất định sẽ thành Vô Thượng
Đại Giác. Quán Âm là Bồ Tát đă phát đại tâm,
nếu muốn được Bồ Tát cứu tế, th́
phải phát tâm tương ứng với bi nguyện
của Bồ Tát.
QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT
PHỔ MÔN PHẨM GIẢNG KƯ
(phần 4)
(dịch xong ngày 14 tháng 10 năm 2004, tăng
đính ngày 28 tháng 12 năm 2011)
[1] Tứ chúng: tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc,
ưu-bà-di.
Thất chúng: tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, sa-di, sa-di-ni,
thức-xoa-ma-na, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di.
[2] Kim Sơn là bảy rặng núi bao quanh núi Tu
Di từ ngoài vào trong (không tính núi Thiết Vi), giữa các
rặng núi này là biển Hương Thủy Bảy
ngọn Kim Sơn là Nimindhara, Vinadhara, Aśvakarna, Sudarśana, Khadiraka, Isadhara, và Yugandhara.
[3] Đây là quan
điểm của riêng của đại sư. Theo
thiển ư, núi Tu Di không phải là Hỷ Mă Lạp Sơn v́
theo như mô tả trong kinh Phật, núi Tu Di có hương
thủy hải giáp ṿng, bảy rặng núi vây quanh v.v…. kỳ
vĩ hơn Hỷ Mă Lạp Nhă rất nhiều. Có vị
giải thích núi Tu Di tương ứng với một thái
dương hệ nghe ra khả tín hơn. Ḥa
thượng Tịnh Không đều cho rằng một
đơn vị thế giới bao gồm cả một
thái dương hệ. Cụ Hoàng Niệm Tổ c̣n đi
xa hơn, cho một thế giới là một Ngân Hà Hệ
(galaxy); nhưng cả hai cùng xác quyết núi Tu Di không
thuộc địa cầu.
[4] Băng tinh (Ice
crystal) là những hạt nước đóng thành băng
trên không, chúng là hạt nhân của những đám mây
chứa mưa.