TÂY
PHƯƠNG YẾU QUYẾT
Đại sư Khuy Cơ
soạn
Nguyên Trang dịch
Thích Nguyên Chơn hiệu
đính
Kính nghĩ,
đức Thích-ca mở ra vận hội lớn làm lợi
ích rộng lớn cho chúng sinh có duyên, xiển dương
giáo pháp tùy theo mỗi quốc độ khiến pháp nhũ
thấm nhuần khắp cả. Người đích thân
gặp được Như Lai giáo hóa th́ tỏ ngộ ba
thừa[1],
c̣n kẻ nhân sơ phước bạc th́ khuyên quay về
Tịnh Độ. Tu tập pháp môn ấy là chuyên niệm
A-Di-Đà, đồng thời đem tất cả
thiện căn hồi hướng nguyện sinh. Bởi v́
bản nguyện của đức A-Di-Đà là thệ
độ cơi Sa-bà, nên hoặc niệm suốt cả
một đời, hoặc mười niệm lúc lâm chung,
chắc chắn đều được văng sinh Tịnh
Độ.
Người
học ngày nay, thường mang nhiều nghi vấn, v́
văn từ trong kinh luận mâu thuẫn nhau. Nếu không
dung thông th́ mối nghi ấy không bao giờ dứt. Nay tôi
lược nêu ra mười bốn trường hợp
để giải quyết những mối nghi ấy. Mong
rằng những bậc tài cao học rộng tham cứu
nơi đây mà hiểu được!
Phần I
Kinh ghi: “Nếu
dùng sắc để thấy ta, dùng âm thanh cầu ta th́
người đó hành theo tà đạo, không thể
thấy Đức Như Lai”.
Hỏi: Kinh Kim Cang
nói dùng h́nh sắc và âm thanh cầu Phật là tà đạo.
Vậy, các kinh A-Di-Đà và kinh Quán Vô Lượng Thọ
v.v…chỉ dạy quán thân tướng Phật và niệm
danh hiệu Phật. Như thế, không ĺa âm thanh và sắc
tướng mà cầu Phật, tại sao không rơi vào tà
đạo? Nếu quay về đường chánh th́
Tịnh Độ là nơi đáng nương tựa
nhất mà kinh lại cho là tà đạo, dẫu có muốn
thực hành cũng sợ rơi vào cảnh giới ma. Hai
đường chánh - tà khó quyết, đúng sai xin
được giải bày?
Đáp: Đức
Đại Sư thuyết giáo có rất nhiều môn,
mỗi môn đều xứng hợp với thời và
cơ, nhưng b́nh đẳng không sai khác. Những
điều được dạy trong kinh Kim Cang Bát-Nhă
riêng thành một môn, những nghĩa trong kinh A-Di-Đà và
kinh Quán Vô Lượng Thọ v.v…lại là một lư. V́ sao?
V́ tất cả chư Phật đều có ba thân. Pháp Thân
vốn không h́nh thể, chẳng phải âm thanh, sắc
tướng. Nếu dùng âm thanh và sắc tướng
để nắm bắt th́ đó là tà đạo. V́
rằng, hàng Nhị Thừa và tiểu Bồ-tát nghe nói ba
thân không khác, liền cho là đều có âm thanh và sắc
tướng. Chỉ thấy sắc tướng của Hóa
Thân bèn chấp Pháp Thân cũng như vậy, nên mới
ở nơi tướng Hóa Thân mà cầu thấy Pháp Thân.
Bởi v́ lư vi diệu mầu nhiệm, vĩnh viễn
bặt dứt âm thanh và sắc tướng, lại dùng âm
thanh và sắc tướng để cầu thấy, cho nên
nói tà đạo.
Các kinh
A-Di-Đà và Quán Vô Lượng Thọ v.v…khuyên niệm danh
hiệu Phật, quán tướng hảo[2]
cầu sinh về Tịnh Độ, chỉ v́ phàm phu
nghiệp chướng nặng nề mà Pháp Thân sâu kín, Pháp
thể khó duyên. Hơn nữa, dạy môn Niệm Phật,
quán tướng, lễ tán là để đoạn trừ
nghiệp chướng, phát sinh phước thiện,
nguyện hạnh giúp cho nhau, cầu sinh Tịnh Độ,
mong gặp Hóa Phật để làm duyên lành bất thoái. Cho
nên, những bậc tiền bối thông đạt
đều nương vào giáo môn này, quán tướng
hảo, niệm danh hiệu cầu thấy Hóa Thân Phật,
mong rằng đến khi lâm chung được đích
thân Ngài đến tiếp dẫn, cảm đến
đức hóa chủ A-Di-Đà, rủ ḷng thương
đến đón rước, nghiệp báo dứt sạch,
ngồi trên hoa sen, liền sinh về nước ấy.
Kinh trước nói về tâm, kinh sau nói cảnh, lư khế
hợp không trái nhau. Vậy niệm danh hiệu, quán thân
tướng đều không phải tà đạo. Lẽ
nào cứ chấp chặt một pháp, không thấu tỏ ư
Phật, tạo ra dị thuyết rối ren, khiến
người khác phải nghi ngờ. Xét rơ ngọn nguồn
ấy th́ đủ phân biệt được đúng -
sai, không c̣n do dự. Hăy chuyên tâm nơi Tịnh nghiệp,
chớ sinh loạn tưởng, lại đọa ba
đường, khổ đau hành hạ, ăn năn làm
sao kịp nữa!
Phần 2
Kinh Phật
Tạng ghi: “Nếu Tỳ-kheo nào thấy có Phật, Pháp,
Tăng và Giới để thọ tŕ th́ người
đó là quyến thuộc của ma, chẳng phải
đệ tử của ta, ta cũng không phải thầy
và cũng không tiếp nhận người đó”.
Hỏi: Theo kinh Phật
Tạng, ngoài tâm thấy Phật đều cho là ma,
Phật không phải thầy họ và nói họ chẳng
phải đệ tử của Phật. Như thế,
pháp môn Tịnh Độ dạy người chuyên niệm
danh hiệu Phật, quán tướng hảo Phật,
cầu sinh Phật quốc, vậy người ấy
chẳng phải đệ tử Phật, Phật không
phải thầy của người ấy, làm sao được
Phật hộ niệm để sinh về cơi Tịnh? Xét
hai pháp môn ấy đều là lời Phật dạy,
nhưng lại khác nhau, vậy nên định đoạt
thế nào?
Đáp: Giáo môn có
muôn ngàn sai biệt, nhưng cùng trở về một
thể chân thật, tùy theo căn cơ mà lập nghĩa,
nên ngôn giáo có sai biệt. Nghiên cứu kỹ hai kinh, văn
tuy khác nhau, nhưng lư cùng một thể. V́ sao? V́ Phật,
Pháp, Tăng và Giới có ba ư nghĩa:
- Chân
đế.
- Biệt
tướng.
- Trụ tŕ.
1. Chân
Đế: Thể chân như thanh tịnh, bặt dứt
phiền năo chướng và sở tri chướng[3],
Bản Giác sáng ngời đó là Chân Phật. Giữ ǵn
thể tánh không biến đổi, chư Phật từ
đây mà thành tựu, bậc Đại sĩ đồng
nương gá, muôn hạnh nhân đây mà hiển bày, đó
chính là Chân Pháp. Thầm thể hội muôn pháp, dứt
bặt ngôn từ, hư luận, đó chính là Chân Tăng. Tánh
thanh tịnh trang nghiêm, thể tinh khiết vô cấu đó
chính là Chân Giới. Căn cứ vào những nghĩa thù thắng
này, cho nên nói là Chân Đế, đó cũng là điều mà
kinh Niết-Bàn ghi: “Quán Tam Bảo thường trụ
đồng với Chân Đế, chính là thệ nguyện
tối thượng của chư Phật”.
2. Biệt
tướng: Phật có ba thân: Pháp Thân, Báo Thân và Hóa Thân [4].
Pháp có bốn loại là Giáo, Lư, Hạnh và Quả. Tăng có
hai loại là hữu vi và vô vi. Giới là tất cả các
giới phẩm Chỉ Tŕ và Tác Tŕ[5]
mà người xuất gia và tại gia phải thực hành.
Nhưng tu Biệt tướng là để cầu
chứng ChânĐế, hàng Khởi Hạnh[6]
vừa biết Biệt tướng lại cho là cứu
cánh nên không ngộ được nguồn chân. C̣n hàng
Học Giới[7]
th́ cho tất cả đều là trợ đạo. Danh
tướng Phật ứng hiện chẳng phải chân
thật, nhưng để tiếp độ hàng phàm phu mà
phương tiện lập ra hóa thành[8].
Kẻ thấp kém không hiểu được mới
chấp là chân thật, nên bị Đức Phật quở
trách, cho là quyến thuộc của ma. Là Phật tử
cần phải đạt được Hai Không[9],
xa th́ hợp chân như, gần th́ đúng với bổn nguyện,
nếu cứ chấp chặt măi danh tướng mà không
ngộ được chân không th́ lại rơi vào chốn
ma, xa Phật trái Pháp. Muốn vượt Ấm Ma[10]
phải nhờ Pháp Thân thường trụ; trừ
Phiền Năo Chướng cần nương vào Định
hư không; ra khỏi cơi Thiên ma nên nhờ sức
định Từ; cầu vượt Tử ma phải khéo
nương vào định Thần Túc. Xem khắp bốn
phương, chẳng phải Đại Thánh th́ không ai có
thể làm được, chinh phục Bốn Ma[11] đâu phải khả năng
của kẻ phàm phu. Nếu không để tâm vào chí
đạo, th́ biết lấy ǵ để dứt trừ
lưới ái. C̣n buộc niệm hướng về Chân
th́ ngăn dứt các nẻo trong đường sinh
tử.
Thế nên,
đức Phật chỉ dạy hàng phàm phu hăy nên học
quán môn Tịnh Độ. Nếu nghĩ đến Tây
Phương th́ phải cầu sự bất thoái,
được sinh cơi Tịnh, thấy Hóa Thân Phật,
đức Hóa Chủ dẫn dắt, đạt Vô Sinh
Nhẫn[12],
tỏ ngộ pháp giới b́nh đẳng. Nương vào
thần lực ấy phá các lưới ma, gần th́
vượt khỏi ba cơi, xa th́ được chứng
đắc Bồ-đề. Nếu không như thế
lại ch́m trong đường ác, thọ khổ dài lâu,
không bao giờ giải thoát. Hiểu rơ hai nguyên nhân này hoàn
toàn không khác nhau, chớ chấp một bên nào để sinh
tâm nghi ngờ. Thuận pháp môn cơ bản này mà quán
tưởng cơi kia, ĺa hẳn Sa-bà, vĩnh viễn thoát
khỏi luân hồi; suy nghiệm pháp môn này rồi theo đó
tu hàng, quán nhân duyên cạn sâu, tự có lợi ích. Rơ ràng do
niệm mà khế hợp với bản nguyện, nào có sai
khác!
(Phần Trụ tŕ trong
nguyên bản tiếng Hán, tác giả không đề cập
đến).
Phần 3
Kinh Vô
Lượng Thọ ghi: “Tu tập trong cơi này (tức
cơi Sa-bà) một ngày một đêm hơn hẳn
cơi Phật khác trăm năm”. Kinh Duy-Ma ghi: “Quốc
độ Sa-bà có mười việc thiện[13]
mà cơi Phật khác không có, đó là bố thí nhiếp
phục sự nghèo khó…”.
Hỏi: Theo kinh này
dạy, tu tập ở cơi Sa-bà hơn hẳn ở các
phương khác. Vậy tại sao phải nhọc sức
chuyên niệm A-Di-Đà, nguyện sinh về nước
Cực Lạc, bỏ chỗ tốt t́m đến chỗ
kém, hành nghiệp khó thành tựu. Hai con đường ấy,
lấy bỏ thế nào, xin được giải bày chi
tiết?
Đáp: Những
pháp môn của Đức Phật đều v́ lợi ích
chúng sinh, mỗi mỗi tùy thuận một
đường, nhưng lư không trái nhau. V́ sao? Căn cơ
tu hành có hai giai vị. Nếu chưa bước lên ngôi
vị Bất Thoái th́ khó ở cơi uế, muốn tu tập
hạnh tự lợi th́ phần nhiều bị lui
sụt, gặp việc thuận nghịch lại sinh tâm vui
buồn, khởi ḷng yêu ghét th́ nghiệp ác càng thêm, không có
cách ǵ làm an ổn cho chính ḿnh, ngược lại ch́m vào
đường ác. Kẻ đă tu nhân nhiều kiếp,
thành tựu Pháp Nhẫn[14],
đủ sức ở trong cơi uế, mới có thể
lợi ích cho hữu t́nh. Đă thành tựu hạnh tự
lợi, thoát khỏi luân hồi, ở cơi này thực hành
mười việc lợi tha, th́ phương khác không
bằng. Bởi v́ cơi Phật khác, y báo tốt đẹp,
đầy đủ không thiếu, muốn ǵ cũng
đều được; đă không thiếu thốn th́
c̣n bố thí cho ai! C̣n chín việc khác căn cứ theo
đây th́ rơ. C̣n nên tự biết không lui sụt, th́ trụ
nơi này đă không ngăn ngại lại c̣n làm lợi ích
cho người hơn hẳn cơi Phật khác. Những
người học ngày nay, cách Phật quá xa, ba độc
lừng lẫy, chưa được tự tại,
nếu được sinh cơi Tịnh, nhờ thắng
duyên, nương oai lực Phật, mới được
bất thoái. Cho nên cần phải sinh về nước
kia, thành tựu nhân tự lợi.
Căn
cứ theo đây th́ hai kinh ấy có ǵ trái nhau!
Phần 4
Kinh
Di-Lặc Vấn ghi: “Niệm Phật th́ chẳng
phải niệm phàm phu, không xen niệm Kết Sử,
mới được sinh về cơi A-Di-Đà”.
Hỏi: Theo kinh này
dạy, hễ niệm Phật th́ chẳng có niệm phàm
phu, chẳng xen niệm Kết Sử mới thành tựu
Tịnh nghiệp. Ngày nay, người tu tập vẫn c̣n
là phàm phu, Kết Sử chưa trừ th́ làm sao văng sinh
được? Nay Ngài niệm Phật, công phu thành tựu,
lưới nghi đă dứt, vậy xin giải bày
tường tận?
Đáp: Xiển
dương giáo pháp tùy theo căn cơ, nhưng ư chỉ bí
mật rất khó tỏ ngộ, c̣n văn chương dù có
bóng bẩy vẫn có thể hiểu được trong chớp
mắt, cho nên không biết lấy hay bỏ, liền
vọng sinh nghi chấp. V́ sao? Đức Phật v́ hàng phàm
phu mà chỉ dạy cho họ tu tập Tịnh nghiệp,
nếu họ đă tin sâu nhân nhân quả th́ đâu phải
là ngu! Nay giải thích phàm phu có bốn trường
hợp:
1. Phàm mà không
ngu: Những chúng sinh từ cơi thiện cho đến
địa vị cuối cùng của Thập Tín[15]
không đạt được trí tương tợ duy
thức, nên gọi là phàm. Nhưng có ḷng tin sâu xa đối
với pháp Tứ đế và Duyên sinh, khởi tâm lấy
bỏ, lợi hay hại đều có thể biết
được, đó chính là không ngu.
2.
Ngu mà không phàm: Hàng Bồ-tát từ Thập Giải trở
lên chưa chứng đắc cảnh giới Chân Như
nên nói là ngu; đạt được trí tương
tợ vô lậu, suy xét biết được Hai Vô Ngă[16],
không trôi theo ḍng sinh tử, nên được cho là chẳng
phàm. Lại giải thích: Bồ-tát từ Sơ Địa
trở lên đối với Thắng Tấn Phần[17]
vẫn c̣n bị Vô minh chướng ngại, nên gọi là
ngu; do đạt được thánh pháp nên chẳng
phải phàm.
3.
Vừa phàm vừa ngu: Tất cả chúng sinh từ cơi
thiện trở về trước, chưa hiểu giáo lư
của đức Phật nên gọi là phàm, không rơ nhân
quả nên gọi là ngu.
4.
Chẳng phải phàm chẳng phải ngu: Chính là đức
Như Lai có đầy đủ Thánh trí, dứt sạch
hai chướng[18],
nên chẳng phải phàm, ngu.
Nói
“phàm” nghĩa là trôi nổi, đối với pháp trị
thế th́ không phân biệt được tổn hại
hay lợi ích, trôi nổi thọ sinh th́ chính là phàm; thiện
ác đến đi, nặng nhẹ không hề hay biết,
đó chính là ngu. Nay, người tu tập muốn văng sinh
cơi Tịnh phải biết chốn Sa-bà này đầy
dẫy khổ đau, rất mực nhàm chán, không muốn
ở lâu; nghe nói Tây Phương an vui vô cùng, chí thành quán
tưởng, nguyện thệ văng sinh th́ vĩnh viễn
diệt trừ ḍng đau khổ, từ bỏ hẳn
cảnh giới nhiễm ô. Như thế, họ đâu
phải hạng tầm thường, trôi nổi thọ
sinh. Chỉ cần niệm Phật cầu văng sinh, tỏ
ngộ Vô Sinh, tương lai sẽ làm Phật, chuyên tâm hóa
độ pháp giới chúng sinh. Người nào phát khởi
tâm này nhất định được sinh về cơi vi
diệu. V́ có sự hiểu biết này nên chẳng phải
ngu.
Nói
“không xen niệm Kết Sử”: Kết Sử là
mười Sử[19],
chín Kết[20].
Tâm niệm Phật chính là thức thứ sáu. Khi Tâm
Vương sinh khởi muốn làm việc ác, Kết
Sử phiền năo mới bộc phát. Khi đang niệm
Phật th́ tâm niệm Phật cùng với năm pháp
Biến Hành[21],
mười một Tâm Sở Thiện[22]
tương ưng không phát động các Kết Sử, các
Kết Sử không có nhân sinh khởi. Tâm duyên với
cảnh khác, Kết Sử liền phát sinh. Khi quán
tưởng Phật, Kết Sử bị khống chế,
nên nói “không xen niệm Kết Sử”. Nguyện sinh cơi
Tịnh th́ không nên nói xen tạp, bởi do Kết Sử
chưa đoạn nên có xen tạp, nếu đă diệt
trừ th́ không xen tạp. Thế th́ do chưa đoạn
nên Kết Sử có lúc hiện hành. Tâm thanh tịnh niệm
Phật th́ trái ngược với Kết Sử, tâm
đang niệm Phật th́ Kết Sử không hiện hành.
Ở đây nói “không xen tạp” là không để tâm
niệm Phật bị gián đoạn, pḥng ngừa không cho
Kết Sử sinh khởi, chứ không nói diệt hết
Kết Sử là không xen tạp. Thánh nhân đă dứt
sạch phiền năo, ở cơi này an ổn, không nhọc
niệm Phật để cầu sinh.
Phần 5
Kinh Tối
Thắng Diệu Định ghi: “Nếu có người
nào xây dựng vô số chùa tháp, không bằng trong thời
gian ngắn đoan tâm chánh niệm”. Lại trong các
bộ kinh Đại Thừa nói về lư Vô Sinh, bảo
người tu đạo học Tuệ.
Hỏi: Theo kinh này,
Đức Phật ca ngợi Vô Sinh là đặc biệt
tối tôn, tối thắng trong các hành nghiệp, nhưng
các kinh A-Di-Đà và Quán Vô Lượng Thọ th́ lại
khuyên văng sinh Tây Phương, nhàm chán cơi Sa-bà, nguyện sinh
cơi Tịnh. Thế nhưng, sinh là đầu mối
của tai họa, sinh chấm dứt th́ họa diệt.
Ở đây lại bỏ sinh để cầu sinh th́ nhân
của tai họa lại càng thêm lớn. Sao không tu tập
hạnh Vô Sinh để ngộ Pháp Thân. C̣n niệm thân
tướng Phật mà nhân của sinh không diệt, dù có văng
sinh về cơi kia th́ đâu khác ǵ sinh ở cơi này? Chỉ
cần quán Vô Sinh th́ cách Phật không xa, tâm chính là Phật,
đâu nhờ t́m cầu nơi khác? Hành nghiệp này Ngài
đă thuần thục, xin được chỉ bày lư sâu
xa?
Đáp:
Hạnh do giáo mà khởi, tất cả đều v́
lợi sinh. Giáo thuyết bất đồng bởi do
căn cơ sai khác. V́ sao? Luận chung về căn cơ,
nêu sơ lược hai ư: Nghiệp sâu và Hạnh cạn.
Hạnh Nghiệp sâu có thể học pháp Vô Sinh, c̣n kẻ
Hạnh cạn cần phải cầu sinh về cơi
Tịnh.
Luận
về tu tập cũng có hai điều: trở lại và
xuất ly. Trở Lại là tuy học Phật pháp, nhưng
chỉ v́ tiếng tăm, không sợ mai sau sinh tử
hiểm nguy; tham cầu sự hiểu biết thù thắng
mà lại c̣n chấp nhân ngă, cho ḿnh là đúng c̣n kẻ khác
th́ sai, không tu ba nghiệp, miệng nói vô tướng mà tâm
chấp chặt tướng. Dù học pháp Vô Sinh, nhưng
chỉ là nghệ thuật xem chơi. Kẻ ấy thấy
người khác niệm Phật liền giận hờn
ganh tỵ, đến nỗi khiến cho người ta
phải thoái tâm. Miệng họ th́ nói thuốc hay mà sợ
không dám uống, trở lại uống phải độc
dược nên phát bệnh. Tâm này tạo nghiệp, tâm luôn
ruổi rong, tâm đă không thật chưa thể chế
ngự được mà tự nói ta ngộ. Khi nghiệm
xét lại th́ hoàn toàn trống không, bất chợt mạng
chung, lại ch́m trong sinh tử, chịu khổ triền
miên, không biết khi nào thoát khỏi! Đây gọi là
Trở Lại.
Xuất
Ly có hai trường hợp là Vô Sinh và Hữu Tướng.
Vô Sinh tức là giữ tâm điềm tĩnh, phân biệt
rơ ngoại duyên, khéo biết lấy bỏ hai tướng hữu
vô. Chế ngự tâm, tự tại không trụ vào nhị
biên[23],
miệng nói tâm hành, theo việc mà suy xét; dù nghịch hay
thuận tâm vẫn quân b́nh. Giống như ăn tro than
không khác ǵ ăn món ngon. Đối với cảnh thuận
- nghịch đều đạt được, như
vậy th́ mới có khả năng ở lâu trong cơi Sa-bà mà
không thoái tâm, rồi chuyển cơi Sa-bà ấy thành Tịnh Độ.
Công lực như vậy mới thành tựu sự xuất
ly.
Hữu
Tướng tức là do duyên cấu uế hoặc
chướng ngại sâu nặng, khó thành tựu Vô
Tướng. Nếu ở cơi này th́ chồng chất thêm
những khổ đau. Muốn tâm tĩnh lặng th́
bị cảnh lăng xăng bên ngoài lôi kéo, tâm lại
chạy theo cảnh th́ biết khi nào mới ngộ
được Vô Sinh? Tâm nên duyên nhất Phật, quán
niệm A-Di-Đà, không tạo nghiệp ác, cầu sinh cơi
Tịnh; thấy người tu tập pháp môn khác th́ khen
ngợi tán dương, nghe nói lỗi người cũng
không sinh tâm khinh chê; buộc tâm một chỗ, nghĩ
đến cảnh Tây Phương, ba nghiệp hỗ
trợ cho nhau th́ nhất định được sinh
về cơi ấy, cũng thành tựu hạnh xuất ly.
Xin
các vị hăy dùng tŕnh độ của ḿnh để xét
nghiệm giáo pháp, pháp nào phù hợp th́ hành tŕ. Người
hành nghiệp đă sâu, đạt địa vị Bất
Thoái, chẳng nhọc công chấp tướng, nguyện
sinh về Tây Phương. C̣n hạng căn cơ thấp
kém, chưa thoát khỏi luân hồi th́ cần phải
chứng Vô Sinh, mới được xuất triền[24]. Rất
nhiều người miệng nói Vô Sinh mà không có ai chứng
đắc. Vậy, muốn đạt được Vô
Sinh cần nương vào thắng cảnh[25].
V́ thế, nên lấy việc cầu Vô Sinh thấy Phật
làm duyên chứng ngộ.
Ở lâu
trong cơi Diêm-phù, thường gặp bạn tốt, tuy ngày
đêm nghe chánh pháp, nhưng người thuyết vẫn
c̣n là phàm, cho nên chưa chứng được lư. Kinh Duy-Ma
ghi: “Suốt ngày thuyết pháp mà không thể
khiến cho người khác chứng Diệt tu Đạo,
đó chính là hư luận, chứ chẳng phải cầu pháp”.
Cho dù đời tương lai có gặp bạn tốt,
phát khởi nhân ngày nay th́ cũng trở thành hư luận, chi
bằng cầu sinh Tịnh Độ, chấm dứt luân
hồi, chứng nhập rừng báu, vừa nghe chánh
ngữ, tức thời thành tựu vô số Pháp nhẫn.
Xét kỹ hai duyên này th́ chớ có do dự!
Phần 6
Kinh
Niết-Bàn ghi: “A-Nan gặp nạn ma, Bồ-tát Văn Thù
đến cứu giúp”. Kinh Đại Phẩm ghi: “Ma
vương biến làm Phật, mọi người không
thể biết”. Kinh Ưu-Ba-Cúc-Đa ghi: “Ma biến
làm Phật, Tôn giả đảnh lễ”.
Hỏi: A-Nan đă
chứng quả Dự Lưu thường bị ma
quấy phá, đức Phật sai Bồ-tát Văn-Thù
đến cứu mà đạt được bổn tâm.
Lại nữa, ma có thể hóa làm thân Phật thuyết pháp
cho người, hàng Bồ-tát hạnh c̣n cạn mỏng
đều không hay biết. Tôn giả Cúc-Đa tu tập
đạt đến địa vị Vô Học thấy
ma biến làm Phật, không biết mà quy y. Nay muốn quán
tưởng Phật A-Di-Đà để đến khi lâm
chung được thấy Phật. Đây đều là
cảnh giới của ma làm sao nương
được. Nếu như cảnh thấy đó là chân
thật th́ đúng là một liều thuốc hay, c̣n gặp
phải ma th́ chắc chắn rơi vào ḍng tà. Khối ghi
chưa trừ, rất mong được dung thông?
Đáp: Đấng
Đại Giác phương tiện thị hiện thân
tướng siêu việt, dù cho ma có giả hiện quấy
nhiễu th́ th́ cũng khác biệt. Bởi trải qua
nhiều kiếp siêng năng tu tập, nhân th́ thù thắng
tṛn đầy, quả th́ thành tựu vạn đức,
tướng hảo siêu việt, tệ ma đâu có sánh
bằng. V́ sao? V́ thân Như Lai như Tử ma kim[26],
tướng hảo rực rỡ, sáng ngời như minh
châu vượt hẳn muôn vạn mặt trời. Cho dù Ma
vương có biến hiện cũng không thể có
được tướng hảo như vậy. Những
việc của kẻ hạ phàm làm sao sánh với bậc
tôn quư. A-Nan đă ở trong hàng Thanh Văn mà thị
hiện chứng quả Dự Lưu, nhưng theo thật
hạnh th́ Ngài đă chứng Sơ Địa từ lâu.
Bởi nghĩ đến sau khi Đức Phật diệt
độ, người tu hành thường bị ma phá
hoại tịnh tâm, không sao chế phục được,
cho nên thị hiện bị rơi vào lưới ma
để thỉnh Phật cứu giúp. Thần chú đă
tuyên làm nhân khởi măi măi lưu truyền về sau
để người học phá ma chứ chẳng
phải Thánh nhân, v́ phàm phu mới mắc vào lưới ma.
Kinh
Đại Phẩm ghi: “Ma biến làm Phật mê hoặc
phàm phu, Bồ-tát ở giai vị thấp, không phân biệt
được”. Đó là kinh Đại Phẩm chưa
luận về nhân duyên khởi giáo phương tiện, c̣n
trong hội Niết-Bàn, nhân hỏi mà thuyết pháp,
Ca-Diếp hỏi rằng: “Làm sao biết được
Phật thuyết hay ma Ba-tuần thuyết?” Đức
Phật bảo Ca-Diếp: “Giống như kẻ
trộm ban đêm đột nhập vào nhà. Nếu
người giữ nhà biết được th́ tên
trộm liền rút lui”. Hành giả cũng vậy, đă
vào ngôi nhà Phật pháp, được món ăn ngon, không
nghĩ đến ma. Tôn nghi của Đức Phật th́
trang nghiêm tuyệt diệu. Ma có đến che lấp
sự thật, th́ người tu Phật nên khéo phân
biệt: Giữa chặng mày Đức Phật có
tướng bạch hào, xoay về bên phải tạo thành
ṿng tṛn, ngoài kín mà trong rỗng, ánh sáng chiếu khắp,
rực rỡ tinh khiết, sáng sạch như lưu ly, dung
nghi rạng ngời như ánh mặt trời. Nhục
kế Ngài nhô cao, tóc xanh biếc, từng sợi từng
sợi uyển chuyển xoay ṿng về bên phải. Nếu
thấy được những tướng hảo thù
thắng ấy chính là thấy tôn nghi chân chánh của Đức
Phật; nếu thấy tướng khác th́ đều là
ma.
Ngài
Ưu-Ba-Cúc-Đa không nhận ra ma, bởi v́ Ngài sinh sau
thời Đức Phật, theo thứ tự truyền pháp
th́ Ngài làm Tổ thứ năm, thuyết pháp giáo hóa,
độ rất nhiều chúng sinh. Một hôm Ma
vương tuôn mưa hoa xuống pháp hội rối
loạn tâm đại chúng, khiến cho tất cả không
thể lănh ngộ được. Chúng lại c̣n bố thí
mũ báu để làm mê hoặc ḷng người. Tôn
giả rủ ḷng thương xót, vui vẻ đón nhận,
nhân đó nói với Ma vương rằng: “Ta vâng theo
lời dạy của Đức Phật, biết nghĩa
biết ân. Ngươi đă bố thí mũ báu cho ta, ta
cũng có xâu chuỗi báu xin đáp tặng lại cho
ngươi”. Thế rồi, Ngài đem ba loại tử
thi là người, chó và rắn biến xâu chuỗi báu
đeo vào trong cổ của Ma vương.
Ma Ba-tuần
mừng rỡ nói: “Tôn giả Cúc-Đa thần lực siêu
việt, giáo hóa chúng sinh, đă bước lên quả thánh.
Vậy mà, bọn ma chúng ta dụ dẫn khiến ông ấy
nhận mũ báu, lại c̣n dùng chuỗi ngọc đáp lễ.
Cúc-Đa đă rơi vào lưới ma, đường ác
tăng thêm, c̣n quyến thuộc của ta không bị hao
tổn”. Nói xong, bọn chúng vô cùng vui mừng, liền kéo
nhau trở về cung. Vừa đến cơi trời Tứ
thiên vương[27],
ngài Cúc-Đa bèn thâu nhiếp thần lực, chuỗi báu anh
lạc lại biến thành tử thi, śnh trướng hôi
hám, máu mủ lan tràn. Ma Ba-tuần buồn bă không vất
đi được, bèn đi khắp các cơi trời
cầu xin trừ bỏ. Nhưng các vị trời
đều nói: “Chúng tôi không có khả năng,
Ưu-Ba-Cúc-Đa này là đệ tử của đức
Thích-ca Như Lai. V́ các ngươi không biết mới
cả gan quấy nhiễu, nên Ngài tạm dùng việc này để
chiết phục thân tâm của ngươi, mau mau quy y Ngài
để tránh khỏi tai họa”. Ma Ba-tuần bay xuống
đến trước Thánh giả, năm vóc sát
đất chí thành cầu xin sám hối. Tôn giả Cúc-Đa
thương xót trừ bỏ các tử thi và nói rằng: “Ta
sinh sau thời Phật, không gặp được
Đức Như Lai. Ngươi có thể biến làm h́nh
Phật cho ta chiêm ngưỡng được không?”
Ma liền
vào trong khu rừng biến thành thân Phật. Ngài Cúc-Đa
thấy vậy trải ṭa đảnh lễ. Ma rất kinh
sợ thưa rằng: “Đệ tử ngu muội, không
dám trái lời Ngài dạy, tuy con biến làm Phật,
nhưng vẫn c̣n ở trong trần tục, Tôn giả
đảnh lễ, e rằng con mất vô lượng
phước đức”. Tôn giả đáp: “Ta gần th́
đảnh lễ tượng Phật, xa là cung kính
đức Đại sư. Ngươi là ma không phải
đối tượng để ta cung kính. Nay ngươi
chớ lo, đừng lầm sợ mất phước!”
Thế là, Ma vương vô cùng vui vẻ, xả bỏ các
tạp hạnh, quy y Phật, Pháp, Tăng, đảnh
lễ Ưu-Ba-Cúc-Đa rồi trở về cung, không c̣n
xuất hiện nữa.
Như
vậy, làm sao nghi ngờ nói ngài Ưu-Ba-Cúc-Đa không
nhận ra ma? Giống như nhiều người tài
giỏi trợ giúp một người th́ kẻ hung ác không
thể nào xâm hại được. Người tu hành
cũng như vậy, khi đă niệm chí thành, quyết
định sinh về cơi kia th́ được mười
phương chư Phật cùng trợ giúp, cho đến
khi hết báo thân này, ma vẫn không thể nào nhiễu
loạn được. Đức A-Di-Đà giáo hóa chúng
sinh, chiếu ánh sáng từ bi để tiếp dẫn
hữu t́nh, khiến họ lên được bến
bờ an vui tối thượng, đừng sợ ma quấy
nhiễu mà không tu nhân tốt đẹp!
Phần 7
So sánh sự hơn kém giữa
Tây Phương Tịnh Độ và cung trời
Đâu-Suất.
Hỏi: Tịnh
Độ của Phật A-Di-Đà cách đây rất xa,
cung trời Đâu-Suất của Phật Di-Lặc ở
tại cơi Dục này, sao không nguyện sinh về
Đâu-Suất, mà lại hướng về Tây
Phương? Bỏ dễ cầu khó, há chẳng phải là
trở ngại ư?
Đáp: Có rất
nhiều điểm để so sánh hai cơi. Nay nêu sơ
lược mười điểm sai biệt để
đả thông các mối nghi:
1.
Thọ mạng có dài ngắn: Thọ mạng của
chư thiên ở cung trời Đâu-Suất chỉ 4.000
tuổi; c̣n thọ mạng của người ở cơi
Cực Lạc đến trăm ngàn vạn ức na-do-tha [28]
a-tăng-kỳ[29]
kiếp.
2. Chỗ
ở có trong ngoài: Ở cung trời Đâu-Suất,
nếu trí huệ nhiều, liền được sinh vào
Nội Viện, được làm thị giả
đức Phật Di-Lặc. Nếu phước nhiều
mà huệ ít, th́ sinh ở Ngoại Viện, không
được gặp đức Từ Thị. C̣n ở
Tịnh Độ hoàn toàn không có trong ngoài, báo thân tuy có
hơn kém, song đều là thánh hiền.
3. Cảnh
có tịnh uế: Nếu được sinh vào Nội
Viện Đâu-Suất th́ thấy được thánh
hội của đức Phật Di-Lặc, thường
phát khởi duyên thanh tịnh; c̣n ở Ngoại Viện th́
tất cả các thứ hương hoa, lầu gác, âm
nhạc đều làm khởi tâm đắm nhiễm. C̣n
Tây Phương Cực Lạc, khi sáu căn tiếp xúc
với cây, chim, nước, lưới, âm nhạc th́
đều nuôi dưỡng đạo tâm.
4. Báo thân
khác nhau: Chánh báo ở Đâu-Suất th́ nam nữ khác
biệt, càng đắm nhiễm lẫn nhau, chướng
ngăn đạo nghiệp. Người được văng
sinh Tây Phương đều là bậc trượng phu,
thân ḿnh và người đều thanh tịnh, không
đắm nhiễm.
5. Chủng
tử và hiện hành có sai khác: Nếu người sinh
về Đâu-Suất th́ chủng tử phiền năo và
hiện hành phiền năo đều phát khởi, nhưng
người sinh về Tây Phương Tịnh Độ,
chỉ có chủng tử phiền năo, hoàn toàn không có
hiện hành phiền năo.
6.
Việc tu tập có tinh tấn, lui sụt khác nhau:
Nếu sinh về Đâu-Suất, do có nam nữ, nên năng
lực trí tuệ c̣n yếu kém, do đó đa số
đều bị lui sụt. C̣n sinh về Cực Lạc
th́ năng lực trí tuệ lớn mạnh, không c̣n các
hoạt động của dục, chỉ chuyên tinh tấn
tu hành.
7.
Giới và phi giới khác nhau: Sinh về
Đâu-Suất chưa ĺa khỏi cơi Dục, nếu có
nạn lửa phát khởi th́ bị thiêu đốt. C̣n sinh
về Tây Phương hoàn toàn vượt khỏi ba cơi, các
nạn nước, lửa, gió v.v… đều không thể
hại được. Do ở cơi Tịnh có h́nh chất
nên chẳng phải là cơi Vô Sắc; nương vào
đất mà ở, nhưng không nhiễm cảnh sắc,
cho nên chẳng phải cơi Sắc; không có dâm cho đến
đoàn thực[30],
cho nên chẳng phải cơi Dục.
8.
H́nh tướng đẹp xấu trái nhau: Sinh về
Đâu-Suất th́ nam nữ không đồng, đẹp
xấu khác biệt. Nếu sinh về Tịnh Độ th́
thân sắc vàng ṛng, hoàn toàn sáng rỡ, đều là
tướng đại trượng phu.
9. Xả bỏ
thân mạng để văng sinh về hai cơi không giống nhau:
Khi xả bỏ thân mạng sinh về Đâu-Suất, không
có người đến tiếp dẫn. C̣n khi sinh về
Tịnh Độ th́ Thánh chúng đến đón
rước.
10.
Kinh khuyến khích có nhiều ít: Khuyên sinh về
Đâu-Suất chỉ có kinh Di-Lặc Thượng Sinh
Đâu-Suất, nhưng văn kinh không thiết tha ân
cần, chỉ khuyên tu một cách sơ lược. C̣n
Tịnh Độ th́ rất nhiều kinh luận khuyên sinh
về, Đức Phật ân cần, hết ḷng khuyên văng
sinh.
Lại
hỏi: Tây Phương Tịnh Độ, cơi
nước thù thắng, thời đại an ổn, tất
cả hàng phàm phu căn cơ thấp kém làm sao
được văng sinh?
Đáp:
Cơi Cực Lạc thanh tịnh nhiệm mầu, muốn văng
sinh về đó thật rất khó, nhưng nhờ sức
Phật gia tŕ, nên văng sinh trở nên dễ dàng!
Phần 8
Kinh Vô
Lượng Thọ (Đại Bản) ghi: “Người
sinh về Cực Lạc, trụ trong Chánh Định
Tụ”. Kinh A-Di-Đà ghi: “Chúng sinh sinh về cơi
Cực Lạc đều là bậc A-bệ-bạt-trí”.
Hỏi:
Nếu luận bàn rộng về quả vị Bất
Thoái, phải nói đến công đức tu tập trong
vạn kiếp, nhưng sao chỉ niệm Phật một
đời, thậm chí chỉ mười niệm lúc
sắp chết đều được đức
Phật A-Di-Đà tiếp dẫn sinh về cơi Cực
Lạc, chứng được Bất Thoái. Chỉ
luận về công hạnh hẳn đă có sai khác như
thế, th́ làm sao phù hợp?
Đáp: Bất Thoái
và Chánh Định, tuy khác tên gọi nhưng ư nghĩa
giống nhau. Người tu hành có hai loại: người
ở cơi uế, kẻ ở cơi tịnh.
Tu nhân ở cơi uế, cần phải trải qua vạn kiếp; c̣n khởi hạnh ở cơi tịnh vốn có nhiều đường. Nay tŕnh bày về Bất Thoái. Luận Thập Trụ Tỳ-bà-sa nêu ra bốn loại:
1. Vị
Bất thoái: Chính là vạn kiếp tu nhân, ư nói thành tựu
được Duy Thức Quán[33]
th́ không rơi vào hạnh Ác Luật Nghi[34],
không c̣n luân hồi sinh tử nữa.
2. Hạnh
Bất Thoái: Đă được Sơ Địa, thành
tựu Chân Duy Thức Quán, xả bỏ tâm Nhị Thừa,
bất thoái hạnh lợi tha.
3.
Niệm Bất thoái: Địa thứ Tám trở lên,
thật chứng trí vô công dụng[35],
lúc định hoặc tán đều được tự
tại, không có niệm lui sụt.
4. Xứ
Bất thoái: Tuy không có văn kinh luận minh chứng,
nhưng dựa vào lư để thành lập. V́ sao? Như
luận Tỳ-Bà-Sa nói: “Hàng A-la-hán căn thoái, nếu
đắc quả trong cơi người thuộc Dục
giới, th́ gặp năm duyên lui sụt, sợ mất
Thánh quả, khởi tu hoặc[36].
Đó là: đi xa, nhiều bệnh, thích tụng kinh
điển, thích ḥa giải tranh tụng, thích làm việc
Tăng. Nếu đắc quả trong cơi trời, không
gặp các duyên lui sụt, liền đạt
được Bất Thoái, chứng nhập Vô Dư
Niết-bàn[37]”.
Hành giả cũng như vậy, chưa đạt
được ba Bất Thoái trước trong cơi
người, nếu ở Sa-bà th́ sẽ trôi lăn trong sinh
tử, đó là lẽ tất nhiên. Bởi v́ cơi nhiễm này
có năm duyên lui sụt:
1.
Mạng sống ngắn ngủi, nhiều bệnh tật.
2. Nhiều
duyên xấu ràng buộc, ngăn ngại tịnh tâm.
3. Những
tạp thiện của ngoại đạo làm loạn chánh
hạnh.
4. Cảnh
giới sáu trần khuấy động tịnh tâm.
5. Không
thường thấy Phật, chẳng nghe được
lời chỉ dạy của Phật.
Nếu
thường ở trong cơi này th́ gặp năm duyên lui
sụt đó. Nhưng văng sinh Tịnh Độ th́ gặp
được năm duyên tối thắng:
1.
Mạng sống lâu dài, không có bệnh tật.
2. Bạn
tốt d́u dắt.
3. Toàn là chân
chánh, không có tà vạy.
4. Hoàn toàn
thanh tịnh, không có cấu nhiễm.
5. Luôn luôn
phụng sự chư Phật.
Nhờ
năm duyên này, nên được Bất Thoái. Xét về hành
vị không thể sánh bằng, nhưng được cơi
tốt duyên lành, lại không lui sụt. Giống như
người ác thường làm việc bất thiện,
gặp được bạn lành, xót thương khuyên
bảo không c̣n kết thân với kẻ ác nữa,
thường theo người hiền, cho đến
suốt đời không tạo tội ác nữa.
Phần 9
Kinh
A-Di-Đà ghi: “Không thể với nhân duyên phước
đức thiện căn nhỏ mà được văng sinh
Cực Lạc”.
Hỏi:
Văng sinh Tịnh Độ cần phải nhớ vào
thiện lớn, hành tŕ đầy đủ các tịnh
nghiệp mới được văng sinh. Nếu chỉ
niệm Phật suông như thế, làm sao văng sinh Cực
Lạc?
Đáp:
Nói về thiện căn nhiều ít th́ chỉ cần
căn cứ vào việc niệm Phật để tŕnh bày.
Nếu quá khứ không có nhiều duyên thiện th́
đời này không được nghe danh hiệu Phật.
Nhưng nay được nghe đến Tịnh
Độ, chuyên tâm niệm Phật, tức là do nhân
thiện quá khứ; lại nhớ nghĩ Tây Phương,
quyết tâm sinh về, đây là thiện căn lớn. Tuy
nghe đến Tịnh Độ của Phật A-Di-Đà,
phát nguyện văng sinh, nhưng việc tu không chuyên, tâm không
quyết định, đó chỉ là thiện nhỏ không
thể văng sinh Tịnh Độ được.
Lại
hỏi: Về việc niệm Phật, chỉ niệm
danh hiệu, giả sử có chuyên tâm, nhưng chưa
phải là thiện căn lớn, dẫu có xưng niệm
danh hiệu Phật cũng đâu được văng sinh?
Đáp: Niệm
Phật, là nói về pháp tu chung. Bởi v́ căn cơ chúng
sinh thọ nhận lợi ích khác nhau, do nguyện hạnh
của chư Phật mà thành tựu danh hiệu Phật, do
đó chỉ niệm danh hiệu Phật là bao hàm
đầy đủ các công đức, cho nên trở thành
thiện lớn, không trái nguyện văng sinh. Nên kinh Duy-Ma-Cật
ghi: “Ba danh hiệu trước của Phật[38],
nếu Phật giảng rộng th́ tôn giả A-Nan
trải qua muôn kiếp cũng không thể lănh hội
được”.
Luận Thành Thật giải thích về danh hiệu Phật: Chín danh hiệu trước của Phật, đều thành lập theo nghĩa riêng. Nay gom công đức của chín danh hiệu trước lập thành danh hiệu Phật Thế Tôn. Cho nên, nếu chỉ nói ba danh hiệu đầu tiên th́ dù trải qua muôn kiếp cũng không cùng, A-Nan không thể lănh ngộ hết được, huống ǵ lại thêm sáu danh hiệu sau nữa để tạo thành danh hiệu Phật. V́ danh hiệu Phật có đầy đủ công đức thù thắng, cho nên niệm danh hiệu Phật trở thành thiện lớn.
Phần 10
Kinh
A-Di-Đà ghi: “Này các thiện nam, thiện nữ! Số
Thanh Văn niệm Phật cầu văng sinh Cực Lạc
rất đông, nhiều vô lượng vô biên”. Nhưng
luận Tịnh Độ lại nói: “Đối với
hàng căn khí Đại Thừa th́ hoàn toàn không có
điều ǵ đáng nói, nhưng Nhị Thừa,
người nữ và người thiếu căn th́
không được văng sinh”.
Hỏi: Như
luận Tịnh Độ nói người nữ,
người thiếu căn và hàng Nhị Thừa
đều không được văng sinh. Nhưng kinh
A-Di-Đà nói đều được văng sinh Cực
Lạc. Như thế cả hai kinh đều là Thánh giáo,
tại sao mỗi kinh nói khác nhau?
Đáp: Mỗi
bộ kinh luận tùy theo một duyên, nhưng xét kỹ
lại th́ hoàn toàn không sai khác. Nói người nữ
được văng sinh, là do tâm tánh quyết định, v́
quá nhàm chán thân nữ, hết ḷng niệm danh hiệu
Phật để cầu văng sinh Tịnh Độ,
đến khi báo thân ở cơi Sa-bà hết, chuyển làm thân
trượng phu, ngồi vào đài sen báu, liền
được văng sinh Tịnh Độ. Nói người
thiếu căn được văng sinh, có năm hạng:
Sinh, Kiền, Bán nguyệt, Đố, Nhị H́nh[39].
Những người thiếu căn như thế, tâm tánh
không b́nh thường, nhưng nếu phát tâm dơng mănh,
quyết chí xả bỏ thân tàn tật thiếu căn này,
để cảm nhận thân đầy đủ căn,
liền được văng sinh Cực Lạc.
Hàng
Nhị Thừa có hai:
-
Thứ nhất là hàng ngu pháp, chỉ chứng lư Nhân không,
không biết lư Pháp không, đạt được quả
nhỏ[40],
cho nên gọi là ngu pháp. Hạng này chỉ mong cầu
lợi ḿnh, không thực hành hạnh lợi tha, v́ thế
không được văng sinh Tịnh Độ.
- Thứ hai,
hàng không ngu pháp. Các vị này tuy chứng được
quả A-la-hán, nhưng không trụ vào quả nhỏ mà theo
các Bồ-tát phát khởi tâm Đại Thừa, nguyện
sinh về ngay trước Phật để phát khởi
hạnh lợi tha, do đó được văng sinh Tịnh
Độ.
Hỏi: Luận
Tịnh Độ nói: “Hàng Nhị Thừa không
được văng sinh”. V́ sao Quán Kinh nói: “Được
văng sinh Tịnh Độ, nhưng lại chứng quả
nhỏ”?
Đáp:
Người này, trước có chủng tử Tiểu
Thừa, gặp được thiện tri thức, phát
khởi tâm Đại Thừa, do nhân tu tập Tiểu
Thừa trước kia mà chứng ngộ được
tứ phi thường[41],
rồi phát khởi túc nhân[42]
liền chứng được quả nhỏ, nhưng
nhờ vào sức dẫn dắt của thiện hữu tri
thức Đại Thừa, nên không trụ vào quả
Tiểu Thừa, mà trở lại phát khởi niệm
Đại Thừa, do đó chẳng c̣n là Tiểu Thừa.
Tuy căn là người nữ, nhưng thường
cầu Bồ-đề, tin sâu Phật tính của ḿnh và
người đều b́nh đẳng, liền phát thệ
nguyện sẽ thành Phật, độ khắp chúng sinh,
tâm muốn xả bỏ thân người nữ, liền
được văng sinh Tịnh Độ, đến khi báo
thân sắp hết, Hóa Phật đến tiếp dẫn,
thành bậc đại trượng phu, ngồi vào đài
sen, được Phật giúp cho tâm an ổn, liền văng
sinh Cực Lạc. Kinh căn cứ vào nghĩa này, nên nói
người nữ đều được văng sinh. C̣n
Luận không căn cứ vào nghĩa này, nên cho rằng không
được văng sinh. Hàng Thanh Văn cần phải phát
khởi tâm Đại Thừa, nương theo đây tu
tập, liền được văng sinh. Nhưng vẫn
lấy theo tên cũ mà gọi là Thanh Văn.
Hỏi:
Hàng Thanh Văn thường bị chê trách, v́ sao họ sinh
vào cơi kia vẫn c̣n gọi tên ấy?
Đáp:
Thanh Văn ngu pháp, mắc lỗi tự lợi quá nặng,
không thực hành hạnh lợi tha, cho nên bị chê trách. Tuy
vẫn gọi tên xưa, nhưng bây giờ là Đại
Thanh Văn, hạnh lợi tha rất lớn, đó là
mỹ danh. Do đó kinh Pháp Hoa nói: “Chúng ta ngày nay chính là
Thanh Văn, dùng âm thanh Phật đạo khiến cho
tất cả đều được nghe”. Tây
Phương cũng thế, tuy có Tiểu Thừa, nhưng
đều là Thanh Văn chân chánh, cho nên không có lỗi
bị chê trách.
Phần 11
Dung hội
cho Hành giả Tam Giai[43].
Hành giả Tam Giai có năm mối nghi nhỏ.
1. Hỏi:
Chúng sinh bị trôi lăn trong sinh tử luân hồi chịu
nhiều khổ năo. Truy t́m nguyên do đều phát khởi
từ ba tà độc. Nay chuyên tâm niệm Phật,
nguyện văng sinh Tây Phương, tà độc càng tăng
trưởng, há chẳng phải là kiến giải điên
đảo ư? V́ sao? Bởi v́ cơi Sa-bà ô trược,
lẽ ra phải thường ở, nhưng lại sinh
nhàm chán xả bỏ, đó chính là tà sân. Tây Phương
Tịnh Độ là nơi chư Thánh qua lại, không phải
chỗ ở của phàm phu mà lại phát nguyện sinh
về, tức là tà tham. Sở dĩ như thế
đều là do vô minh, đó là tà si. Đây là ba mầm
độc chất chứa trong ruộng tâm, giả sử
có niệm Phật, th́ cũng chiêu cảm đến
thần, ma, quỷ… làm sao được văng sinh Tịnh
Độ?
Đáp: Giáo chỉ
có sai khác, nhưng đều mong muốn làm lợi ích muôn
loài, người học khéo biết lấy bỏ, mỗi
mỗi tùy theo cơ duyên. V́ sao? Nếu như ngộ
được Vô Sinh, lẽ ra có thể ở lâu trong cơi
Sa-bà, nhưng nếu chưa chứng được giai
vị Bất Thoái th́ khó trụ nơi cơi uế. Nếu
khế ngộ được Vô Sinh th́ Cực Lạc và
Sa-bà không khác, chẳng cần nhàm chán cơi ô trược,
ngưỡng cầu Tây Phương thanh tịnh. Nhưng
nếu thân vẫn c̣n trong luân hồi, th́ cần phải
nguyện sinh cơi kia. Bồ-tát tuy trụ ở cơi uế,
nhưng Lư và Giải đă thông, qua lại không c̣n cách trở.
Hàng phàm phu chưa thành tựu thắng quán, tuy tạm
thời dứt khổ, nhưng rồi vẫn trở
lại ḍng khổ đau. Do đó, xả bỏ cơi
nhiễm, chẳng nuôi lớn tà sân; c̣n ưa thích Tây
Phương, th́ tà tham không khởi, đồng thời
tương ưng với phân biệt huệ[44].
Bên trong gom chứa ba thiện căn[45],
bên ngoài chiêu cảm sự trợ giúp của chư
Phật. Sau khi bỏ báo thân ở cơi này, liền
được hoa báu cơi Tịnh nghinh đón. Chớ sợ
thần, ma, quỷ mà không nỗ lực tu tŕ chánh nghiệp.
2. Hỏi: Nghiệp
đạo như cán cân, thiện ác ắt có báo ứng.
Từ lúc cảm nhận thân mạng đến nay, chúng
sinh tạo ác rất nhiều, tại sao không nhận
chịu quả báo mà được sinh thẳng về Tây
Phương? Giả sử muốn được văng sinh
lẽ nào không bị chướng ngại?
Đáp: Hễ
tạo nghiệp th́ nhất định phải nhận
quả báo khổ vui. Đă đồng là phàm ngu th́ cái nhân
tội lỗi chồng chất lâu ngày ấy không thể
nói là không có. Ngày nay thọ nhận được báo thân
người, nghiệp ác ấy đoạn trừ hết
chưa? Nếu cho rằng đă đoạn hết, th́ nay
đâu c̣n ác để đoạn trừ. Nếu như
chưa diệt sạch, th́ tại sao không chướng
ngại nhân thọ sinh?
Nay
hành giả Tam Giai! Lúc thọ nhận thân mạng này, các nhân
ác chưa đoạn trừ, nhưng do nghiệp cơi
người mạnh hơn, nên ác kia không thể ngăn
ngại, đến khi thiện căn đă hết th́
sẽ phải thọ lănh quả khổ. Cần phải
nói lại rằng: Tuy ác nghiệp chưa đoạn
trừ, nhưng do nghiệp cơi người mạnh hơn,
nên không mất việc chiêu cảm thân người, lại
nhờ Tịnh nghiệp chuyển mạnh th́ làm sao có
thể ngăn ngại được việc văng sinh! V́
sao? Bởi v́ Tam Quy, Ngũ Giới chỉ là nhân thiện
hữu lậu, nên vẫn bị điên đảo mộng
tưởng dẫn dắt gá vào thai mẹ. Hạnh
thấp kém này mà nghiệp ác c̣n không thể ngăn ngại,
cho nên mới được thân người. Huống ǵ
sức của nghiệp ác đă không mạnh, lại c̣n
nhờ chánh hạnh từ quá khứ và sự phát tâm
hiện tại, nguyện đoạn tận gốc rễ
khổ đau, th́ tương lai sẽ làm Phật, niệm
niệm tinh tấn nguyện sinh Tây Phương. Khi báo thân
này hết, có các Bồ-tát từ bi xót thương
đến hộ niệm, khiến trụ vào chánh niệm,
được thấy Thánh chúng trước mặt,
chỉ khao khát muốn được văng sinh, nhờ nhân
duyên thù thắng này, cho nên văng sinh được dễ
dàng. Do đó, chớ nên hoài nghi mà không tinh tấn tu tập
tịnh nghiệp!
3.
Hỏi: Căn cứ vào việc tu hành ngày nay, mọi
người đều lấy học hỏi kinh
điển làm tông thú, chỉ niệm danh hiệu
đức Phật A-Di-Đà th́ trở thành kiến
chấp, lại chướng ngăn thánh đạo, không
thoát khỏi luân hồi, tại sao không ĺa bỏ pháp môn tu
riêng này để tu học tất cả các hạnh?
Đáp:
Tu học khắp các hạnh là lợi ích rất lớn,
bậc hiền trí thông đạt mới có khả năng
lĩnh hội; kẻ trí cạn sức hèn, khó mà kham
nổi. Do đó, đức Phật tùy theo cơ duyên
chỉ dạy chúng sinh tu pháp môn riêng này, v́ hợp với
căn tánh, không tổn hại đến lư. Nếu
nương vào pháp môn riêng biệt này làm nhân để tu
tập th́ thành tựu hành nghiệp rộng lớn.
4.
Hỏi: Muốn tu đạo lớn trước
phải biết rơ nhân của khổ, truy xét nguồn
gốc khổ đau đều do nghiệp ác mà khởi ra
các cảnh ác. Ở cơi Sa-bà này không hiểu được
lư tánh, lư tướng của chư Phật, nên tạo ra vô
lượng vô biên nghiệp ác. Tất cả chúng sinh có hai
đặc điểm: Một là Thật Báo. Hai là Ứng
H́nh. Thật Báo tức chân thể, Phật tánh; h́nh
tướng tức phổ thân[46].
Bởi v́ chúng sinh mê bản thể, cho nên nơi Như Lai
Tạng vọng khởi tâm tham, sân, si. H́nh tướng tuy
có sai khác, nhưng Phổ thân th́ chỉ một. Do chúng sinh
cách đời khác th́ không c̣n nhận biết nhau, rồi
vọng khởi lên tâm yêu ghét, thường đối
với cha mẹ Phật tánh, mà tạo các hạnh sát,
đạo, dâm v.v… Các bậc Thánh Tam Thừa thương
xót chúng sinh, ứng hiện thân đồng phàm phu, nhưng
chúng sinh mê mờ không nhận biết, liền khinh
thường, bức bách, làm tăng trưởng duyên ác. Do
trước kia không biết rơ, bèn sinh mộng tưởng
đảo điên. Ngày nay được khai ngộ,
đối cảnh liền nhớ nghĩ đến
lỗi lầm, cho nên diệt trừ tội ác đă làm,
không cho phát sinh lỗi lầm mai sau. Nhưng ở cơi này sám
hối, mọi tội lỗi có thể tiêu trừ, c̣n nhàm
ĺa cơi Sa-bà, thích sinh về Tịnh Độ, lẽ nào không
c̣n oán kết ư?
Đáp:
Muốn đạt được đạo lớn cần
cắt đứt nguồn gốc khổ đau, dứt
trừ nguồn gốc khổ đau không ǵ hơn
đoạn sạch hết các lỗi ác. Nơi tạo ra
oan khiên chính ở cơi Sa-bà. Chất chứa những oán
hiềm, trở thành ái kết[47],
ngày nay xét kỹ, đều do điên đảo mộng
tưởng trói buộc. V́ muốn cho chúng sinh hiểu rơ
chân thể là Phật tánh, h́nh tướng là Phổ thân, cho
nên chư Phật từ bi mở bày phương tiện,
ứng khắp trong sáu đường, hiện thân
đồng phàm phu. Kiến giải như thế, mọi
người đều biết, nhưng luận về
khởi hạnh tu tập th́ hoàn toàn không. V́ thế hiểu
biết th́ dễ, nhưng thực hành lại khó.
Chỉ
nên nghĩ tưởng pháp môn này chân thật không hư
dối, khởi tâm sám hối những tội ác đă làm,
và nguyện không phạm những lỗi ở mai sau, chuyên
tâm niệm danh hiệu Phật, và tu tất cả pháp môn,
hồi hướng văng sinh Tịnh Độ, khẩn
cấp như cứu lửa cháy đầu. Cơi này là
chốn trầm luân, thở than muôn kiếp lạc
đường, hăy an tâm nơi Cực Lạc, chứng
quả Vô Sinh, thành tựu được hạnh tự
lợi rồi, nên trở lại cơi Sa-bà, mở ḷng
đại bi giáo hóa chúng sinh, b́nh đẳng cứu giúp
mọi loài, không dừng lại giữa đường,
không rẽ sang lối khác. Chỉ vận tâm khởi
niệm: Trước v́ đáp trả oán thù xưa,
nguyện xả bỏ nhân khổ đau, cùng nhau sinh về
Cực Lạc, khi họ đều đă lĩnh hội,
liền xả bỏ được oán hiềm. Không nên do
đây mà măi ôm giữ mối nghi!
5. Hỏi: Ngày nay cách
Phật quá xa, hàng phàm ngu thấp kém, cần phải lễ
sám Bồ-tát Địa Tạng, một vị Bồ-tát có
duyên với chúng sinh ở cơi này, lẽ ra phải chuyên niệm
danh hiệu Ngài và niệm Tam Bảo. Niệm danh hiệu
Phật A-Di-Đà ở Tịnh Độ là pháp môn tu hành
của hàng thượng căn, và hàng căn cơ
Đệ Nhị Giai[48]
mới có khả năng phát khởi niệm. Chúng sinh nay
đă ở vào thời ác trược, tánh dục thấp
hèn, làm sao thực hành được pháp môn tu tập
của các bậc thượng căn? Bậc thượng
căn tu học pháp của hàng hạ căn th́ không hợp
và chậm tiến đạo; c̣n hàng hạ căn tu
tập pháp của bậc thượng căn th́
chướng đạo, chịu khổ mà thôi. Pháp môn tu
tập và căn cơ đă không khế hợp nhau th́ có
thể thành tựu được ư?
Đáp: Những
điều ông nêu ra thật cũng hợp với kinh giáo,
bởi nếu tu tập chưa lâu th́ sẽ phát khởi
mối nghi này. Nhưng muốn dứt nghi, th́ cần
phải mở ra pháp tu thiết cận. Ở đây xin
lược nêu hai nghĩa: thứ nhất là dẫn Thánh
giáo; thứ hai là phân tích nghĩa môn.
*
Dẫn thánh giáo:
Nói
về Thánh giáo th́ rất nhiều bộ loại, nếu
chép ra nhiều, thật khó nghiên cứu, ở đây
chỉ trích dẫn sơ lược năm đoạn kinh
quan trọng để nêu lên những điều hi
hữu, ít thấy, nghe:
1.
Kinh Đại Tập Hiền Hộ ghi: “Phật bảo
Hiền Hộ: ‘Sau khi Như Lai Niết-bàn, các
đệ tử hăy lưu truyền môn tam-muội này.
Các Tỳ-kheo xấu ác, không thể tin thọ, cho là lời
của ngoại đạo, lời của ma’. Phật
lại bảo Hiền Hộ: ‘Khi Tỳ-kheo làm
việc xấu ác, khi các nước đánh nhau, hủy báng
lẫn nhau, khi chúng sinh ở trong ác trược th́ bốn
chúng đệ tử[49]
có khả năng lưu truyền pháp này để làm
lợi ích chúng sinh”.
2.
Kinh Dược Sư ghi: “Bồ-tát Văn-Thù v́ chúng sinh
thời Tượng pháp[50] mà thỉnh: bốn chúng
đệ tử cầu văng sinh Tây Phương, nhưng tâm
không quyết định th́ niệm danh hiệu
Dược Sư, liền đoạn trừ
được lưới nghi, đến khi sắp
chết có tám vị Bồ-tát dẫn dắt văng sinh”.
3. Kinh
A-Di-Đà ghi: “Chư Phật ở các phương khác
đều khen ngợi Đức Phật Thích-Ca ở trong
cơi Ngũ trược[51]
lại nói được pháp khó tin nhận, chư
Phật ở sáu phương đều hiện tướng
lưỡi rộng dài nói lời chân thật để xác
chứng”.
4. Quán Kinh
ghi: “Hoàng hậu Vi-Đề-Hi v́ những chúng sinh bị
năm ác trược bất thiện, năm nỗi
thống khổ bức bách, thỉnh Phật giảng pháp
môn Niệm Phật cầu sinh Tịnh Độ. Lại
nữa, trong ba phẩm thuộc bậc hạ, toàn là
những hạng người tạo nghiệp ác, cũng
đều được văng sinh”.
5.
Kinh Vô Lượng Thọ ghi: “Đức Phật Thích-Ca
v́ chúng sinh trong cơi Ngũ trược mà thuyết pháp,
giúp chúng sinh xa ĺa năm việc xấu ác, trừ năm
nỗi thống khổ, diệt năm ngọn lửa
đốt thân[52].
Lại, vào đời sau, khi các kinh Phật bị
hủy diệt hết, Như Lai v́ ḷng từ bi
thương xót chúng sinh, chỉ lưu truyền một
bộ kinh này, lưu trụ lại trăm năm. Bấy
giờ, chúng sinh khởi lên một niệm tín thọ
liền được văng sinh về Cực Lạc”.
Hỏi:
Các đoạn kinh được trích dẫn chính thật
do Phật nói, hoàn toàn không hư dối, nhưng chưa
biết đó là pháp môn phương tiện hay là giáo lư
rốt ráo?
Đáp:
Lời ông hỏi rất đúng. Các kinh giáo được
viện dẫn đều là pháp môn rốt ráo. V́ sao? V́
nếu là giáo bất liễu nghĩa th́ Phật đă
giải thích rơ nơi hội Niết-bàn. Nhưng pháp môn
Tịnh Độ này đă chẳng c̣n ǵ nghi để
hỏi nơi Song Thọ. Hơn nữa, chư Phật
trong mười phương đều đă xác chứng.
Căn cứ vào hai nghĩa này, cho nên đây chẳng phải
là pháp phương tiện. Trên là trích dẫn sơ
lược Thánh giáo để tŕnh bày nhân của giáo
thuyết.
*
Tŕnh bày nghĩa môn:
Giải
thích sơ lược môn, để trừ bỏ mối
nghi. Nhất âm[53]
diễn xướng th́ mỗi mỗi căn cơ liễu
ngộ khác nhau. Tuy có muôn ngàn sai khác, nhưng đều
được khế ngộ. Bồ-tát Địa
Tạng phát nguyện rộng lớn vào cơi ác cứu
độ chúng sinh. Đức Phật A-Di-Đà dùng ḷng
đại bi chỉ trong mười niệm tiếp
dẫn hàm linh. Nếu không cầu văng sinh Tịnh
Độ e rằng sẽ rơi vào ba đường ác.
Niệm danh hiệu Bồ-tát Địa Tạng là mong
cầu cứu khổ. Nay khuyên chuyên tâm niệm danh hiệu
Phật, phát nguyện văng sinh Tây Phương, khi mạng
sống sắp hết, chư Phật liền đến
tiếp dẫn; đă được văng sinh Tịnh Độ,
bặt dứt ba đường, không c̣n nếm chịu
các khổ năo, không nhọc công cầu xin cứu vớt.
Tông chỉ của Tam giai giáo là tùy theo thời cơ mà nói,
sau 1.500 năm không có người tu Tịnh nghiệp,
giả sử có người tu tập, các hạnh
đều thành tựu, đó là hạng Đệ nhị
giai chứ chẳng phải là hàng phàm phu thấp kém. Nay xét
ư này, th́ hành nhân vừa nói chỉ gồm phẩm
Thượng và Trung trong ba phẩm. C̣n pháp môn Tịnh
Độ, định - tán [54] đều
chung, tác nghiệp[55]
cạn hay sâu đều được văng sinh Cực
Lạc. Từ hàng xuất gia thanh tịnh hay kẻ tại
gia tôn quư ở nơi vắng lặng, tâm trí không loạn,
tu tập quán nghiệp, nhất định văng sinh.
Những người chẳng màng vinh hoa, chẳng
để tâm đến các việc công tư, chẳng tham
việc thế tục, siêng năng học hỏi, tu
tập đạo nghiệp, đầy đủ tán nhân[56]
ba phước[57],
nhất định văng sinh Cực Lạc. Người
thiếu thốn của cải, công việc trói buộc,
nhưng quyết một ḷng tu hành, cũng được
văng sinh. Người đời nay gây tội, cho
đến kẻ Nhất-xiển-đề khi mạng
sống sắp hết, bị các thứ khổ bức
bách, bỗng nhiên gặp được thiện hữu tri
thức, hướng dẫn niệm danh hiệu Phật,
tướng ác được tiêu trừ, liền văng sinh
Cực Lạc. Bậc thiện căn Đại Thừa,
từ người suốt đời không tạo lỗi,
cho đến bậc hồi hướng chung tâm[58],
căn cứ vào tác nghiệp cạn hay sâu mà phân làm ba
phẩm bậc Thượng. Người căn cơ
Tiểu Thừa, từ thiện thú[59]
cho đến Thế Đệ Nhất Pháp[60],
chia làm ba phẩm bậc Trung. Hạng thuộc căn cơ
Đại Thừa hay Tiểu Thừa, căn cứ theo
lỗi nặng nhẹ, phân làm ba phẩm bậc Hạ.
Đây là do tu đạo cạn hay sâu, tạo ác nặng hay
nhẹ, nhưng đều phát tâm Bồ-đề,
nguyện văng sinh Tịnh Độ, tùy theo nghiệp
nhiều ít mà đều được văng sinh. Không
thể chấp lệch một bề, hủy báng nghi
ngờ Tịnh nghiệp.
Lại
nói, thời ác trược ngày nay không thích hợp cho
người niệm Phật, nguyện cầu văng sinh
Tịnh Độ. Lời này thật thiển cận! Kinh
Vô Lượng Thọ (Đại Bản) ghi: “Khi kinh
Phật diệt hết, Đức Phật v́ ḷng
từ bi thương xót chúng sinh, chỉ lưu lại kinh
này một trăm năm. Lúc bấy giờ, chúng sinh nghe danh
hiệu Phật mà phát khởi niềm tin, đều
được văng sinh Cực Lạc”. Ư muốn nói
Như Lai thuyết giáo để làm lợi ích chúng sinh có
thời hạn. Sau 10.000 năm mạt pháp, các kinh khác hoàn
toàn diệt hết, chỉ có kinh A-Di-Đà làm lợi ích vô
số chúng sinh, cho nên đức Phật chỉ lưu
lại kinh này trăm năm. Bấy giờ đă trải
qua 10.000 năm thời mạt pháp, tất cả các kinh
đều diệt hết, đức Phật Thích-ca có ân
đức lớn thương xót chúng sinh lưu lại
giáo pháp 100 năm. Lúc ấy, người tu liền
được văng sinh Tịnh Độ, tại sao c̣n nghi
ngờ mà không phát nguyện văng sinh? Xét rơ văn kinh này,
đủ để trừ bỏ mối lo, chớ ôm
giữ kiến chấp trong ḷng mà không dung thông
được các kinh.
Phần 12
Căn
cứ vào luận Nhiếp Đại Thừa để
dung thông nghĩa Biệt Thời[61].
Luận ghi: “Chỉ cần phát nguyện liền
được văng sinh về cơi An lạc. Đó là nghĩa
Biệt Thời”.
Hỏi: Luận
Nhiếp Đại Thừa cho đó là Biệt Thời.
Nay kinh này dạy niệm Phật liền được
văng sinh th́ thế nào?
Đáp:
Nghĩa Biệt thời của Nhiếp Luận và pháp môn
Tịnh Độ đâu có ǵ khác nhau. V́ sao? Bởi v́ khi
phát nguyện chưa thể văng sinh ngay, nhưng từ tâm
phát nguyện mà khởi hạnh niệm Phật mới
thành tựu Tịnh nghiệp. Trước nguyện, sau
hạnh nên nói là Biệt Thời, chứ không phải cho
rằng niệm Phật không văng sinh ngay được.
Phần 13
Dung thông
với kinh Pháp Hoa. Kinh ghi: “Nếu người tâm tán
loạn đi vào trong tháp miếu, vừa niệm Nam Mô
Phật, đều đă thành Phật đạo”.
Hỏi:
Người tâm tán loạn niệm danh hiệu Phật th́
chưa thành tựu quả Phật ngay (chỉ mới thành
tựu Phật đạo). C̣n người một
đời niệm danh hiệu Phật, tại sao lại
văng sinh về cơi Tịnh?
Đáp:
Tâm tán loạn xưng niệm liền thành Phật
đạo, bởi Phật đạo là nhân, thật không
hư dối. Niệm Phật văng sinh cơi Tịnh, tức
khi báo thân hết sẽ sinh về, cũng đâu có sai?
Phần 14
Tŕnh bày
sơ lược về phương pháp tu tập.
Hỏi:
Đă rơ niệm Phật để làm nhân văng sinh, nhưng chưa
biết phải hiểu như thế nào? Phương pháp
chân chánh niệm Phật ra sao?
Đáp: Xét từ
quá khứ vô biên vô số kiếp, dẫu kẻ có tu nhân th́
hư dối nhiều mà chân thật ít, chỉ cầu danh
lợi, vọng chấp nhân ngă: Dù họ có làm nhiều thiện
duyên cũng không phải v́ chánh lư, do đó phải bị
trôi lăn trong đường ác, chịu khổ vô cùng.
Đức Thánh Chủ A-Di-Đà để lại danh
hiệu nhiếp hóa chúng sinh đời sau, Ngài đă thành
tựu quả Phật trải qua mười kiếp. C̣n
bọn chúng ta ngu si, chỉ biết tham làm điều ác,
tuy học Phật pháp mà chỉ cầu danh hiện
đời; tự cho ḿnh đúng c̣n người khác là sai;
tâm thường ngạo mạn, t́m cầu cơm áo, ngày
đêm nhọc nhằn; nếu có lúc rảnh rỗi th́
chạy theo bạn ác. Giả như không gặp
được bạn tốt th́ làm sao nghe được
cơi Tịnh? Một mai vô thường th́ rơi trở
lại con đường ác. Nay gặp được
bậc đại thiện hữu tri thức có duyên
với ta, dạy ta tư duy, bỏ những hạnh ác,
được nghe bổn nguyện từ bi của
đức Phật A-Di-Đà, từ mười kiếp
đến nay thường hoằng hóa chánh pháp. Bởi ta
bị nghiệp chướng nặng nề, nên ngày nay
mới được nghe, trong ḷng bi thương, vô cùng
hổ thẹn, tham sân si sinh khởi dẫy đầy.
Nhưng chỉ cần tu theo bốn cách để làm chánh
nghiệp:
1.
Tu thời gian dài, là từ khi phát tâm cho đến lúc thành
Phật, luôn tạo nhân Tịnh Độ, không hề thoái
chuyển.
2.
Tu cung kính, ở đây lại có năm trường
hợp:
-
Cung kính những bậc thánh có duyên, nghĩa là khi đi,
đứng, ngồi, nằm không quay lưng về
phương Tây; hỷ mũi, khạc nhổ cũng không
hướng về phương Tây.
-
Cung kính tượng và giáo có duyên: Tượng là tạo
biến tướng[62]
Phật A-Di-Đà Tây Phương, nếu không vẽ
được nhiều th́ chỉ cần vẽ một
h́nh đức Phật và một h́nh Bồ-tát cũng
được. Giáo là như các kinh A-Di-Đà v.v… nên
đựng trong đăy ngũ sắc, tự ḿnh đọc
tụng hoặc hướng dẫn mọi người
đọc tụng. Những kinh và tượng này, nên an trí
trong thất, sáu thời lễ sám, dâng hoa hương cúng dường,
hết ḷng cung kính tôn trọng.
-
Cung kính các bậc thiện hữu tri thức có duyên,
nghĩa là những bậc tuyên giảng giáo nghĩa
Tịnh Độ, dù ở xa ngàn do-tuần[63],
hay dưới mười do-tuần cũng đều cung
kính tôn trọng, thân cận cúng dường. C̣n đối
với những người tu học pháp môn khác cũng
đều khởi tâm cung kính, xem họ không khác với
ḿnh, chỉ biết hết ḷng kính trọng. Nếu
khởi tâm khinh thường th́ phạm tội rất
nặng. Cho nên, cung kính hết thảy th́ trừ
được chướng ngại cho công hạnh tu
tập.
- Cung kính
bạn đồng học, nghĩa là cung kính những
người cùng tu Tịnh nghiệp với ḿnh. Do
nghiệp chướng của ḿnh sâu dày, tự ḿnh tu
tập riêng biệt sẽ khó thành tựu, cho nên cần
phải nương nhờ vào bạn tốt đồng tu
mới có thể thành tựu đạo hạnh. Bạn bè
đồng tu học nên cứu giúp những lúc hoạn
nạn, phải hết ḷng tương trợ, bảo
vệ và tôn trọng lẫn nhau.
- Cung kính Tam
Bảo: Biệt Tướng hay Đồng Thể Tam
Bảo đều phải hết ḷng cung kính. Ở đây
không ghi chép, v́ e người tu hành cạn cợt không
thật nương vào đó để tu tập, nên
chỉ tŕnh bày sơ lược về Trụ Tŕ Tam
Bảo để tạo nhân duyên lớn cho những
hạng người ấy!
*
Phật Bảo là những tượng Phật
được chạm khắc bằng gỗ chiên-đàn,
bằng vàng ṛng, ngọc, hay thêu dệt trên lụa, hay
tạo bằng đá, đất. Phải hết ḷng cung
kính những linh tượng này, rồi quán tướng
để tiêu tội, tăng phước. Nếu khởi
một mảy tâm khinh thường th́ tội ác tăng
trưởng, mất hết thiện căn, ch́m măi
đường ác. Chỉ cần quán tưởng
tượng Phật th́ tương lai sẽ thấy chân
Phật.
* Pháp Bảo
là giáo chỉ Tam thừa của Phật, được
lưu thông khắp pháp giới, được danh cú
diễn đạt, là duyên phát sinh giải ngộ, cho nên
cần phải trân trọng kính ngưỡng. V́ là nền
tảng phát khởi trí tuệ, nên sao chép tôn kính,
thường bảo quản trong ḥm, an trí trong tịnh
thất thật trang nghiêm. Mỗi khi đọc tụng,
thân tâm phải thanh tịnh.
*
Tăng bảo là thánh tăng Bồ-tát, đối với
những người phá giới cũng nên b́nh đẳng
khởi tâm cung kính, chớ sinh tâm khinh thường.
3. Tu không gián
đoạn: Nghĩa là thường xuyên niệm Phật,
phát tâm cầu văng sinh, bất cứ lúc nào cũng khéo léo
quán tưởng. Giống như có người bị
bắt giam, làm kẻ tôi tớ, chịu đủ mọi
cay đắng nhọc nhằn, bỗng nhớ đến
cha mẹ, muốn trốn về quê cũ, nhưng hành trang
chưa đủ, phải ở lại quê người,
ngày đêm suy nghĩ, khổ đau tột cùng, không lúc nào
không nhớ đến cha mẹ. Đến khi sự
việc đă thành, liền được trở về
quê, gần gũi cha mẹ, mặc t́nh vui sướng. Hành
giả cũng vậy, trước kia do nhân phiền năo làm
nhiễu loạn thiện tâm, tài sản phước trí
đều tan mất, đắm ch́m lâu ngày trong sinh tử,
bị phiền năo khống chế, không được
tự do, thường làm tôi tớ cho Ma vương, dong
ruỗi trong sáu đường, đau đớn thân tâm.
Nay gặp được duyên lành, chợt nghe
được danh hiệu đức từ phụ
A-Di-Đà, không trái với nguyện lớn, nguyện
cứu vớt quần sinh, nên ngày đêm dốc ḷng phát
nguyện văng sinh. Cho nên chuyên cần, không mệt mỏi, biếng
trễ, luôn nhớ nghĩ ân Phật, tâm thường
giữ chánh niệm đến hết báo thân này.
4.
Không tu pháp môn khác: nghĩa là chuyên tâm cầu sinh Cực
Lạc, lễ bái xưng niệm danh hiệu đức
Phật A-Di-Đà, không được xen lẫn vào các pháp
môn khác, hàng ngày cần phải tu tập như vậy,
niệm Phật tụng kinh, không hành các khóa lễ khác.
LỜI
BẠT
Đă sinh vào
thời Tượng pháp, cách Phật quá xa, đạo có ba
thừa vẫn không sao khế ngộ. Hai cơi trời
người, loạn động bất an, chỉ có
bậc huệ tâm cao rộng, mới có thể ở lâu
trong ấy; c̣n như kẻ trí cạn hạnh thô, e
rằng măi bị đắm ch́m trong cơi tối tăm. V́
thế, thân cần phải ĺa xa cơi Sa-bà, tâm gởi vào
cảnh Tịnh. Kính xin những bậc cùng tu Tịnh
nghiệp, phát khởi thân tâm, nương theo pháp niệm
Phật này, nhất định sẽ ĺa bỏ
được cơi Sa-bà. Mong rằng mọi người
chớ để tâm chạy theo danh lợi, luôn canh cánh
nỗi sợ vô thường. Cho dù danh tiếng có
đuổi kịp Huệ Viễn, Đạo An th́ đâu
khác nào bóng chớp; đức vượt xa Tăng
Triệu, Đạo Sinh cũng giống như Càn thành?
Văn
Tam không, Cửu đoạn[65],
lư sâu kín mà ngôn từ lại quá đổi mênh mang; giáo
Thập Địa, Ngũ Tu[66],
nghĩa uyên áo mà lời lẽ vô cùng phức tạp.
Chẳng thể với một ít công phu mà phải trải
qua nhiều năm tư duy mới thành tựu Tịnh
nghiệp, đâu có phần của khoảng sát-na? Niệm
chất chứa như cát bụi, mới có thể tuyên
dương sự diệu ḱ trong chín cơi[67];
tâm thường tạo cảnh mà cảnh hiển bày
sự mầu nhiệm của nhị vô[68].
Nếu thức luyến tà ma, mà muốn làm lớn cái
gốc đạt vọng[69],
th́ đời người lại quá ngắn ngủi;
đợi gieo trồng trí hội chân, th́ đường
chết nào có hẹn? Chi bằng hăy lắng niệm tŕ trai
mà dứt bỏ nghiệp rộng đa văn, an tâm nơi
bến tuệ mà phát khởi pháp tu thiểu học[70].
Thế th́ ĺa bỏ cơi Sa-bà mà dạo bước nơi
Thượng uyển ở Lạc bang. Tâm ở nơi cơi
Tịnh, thân nương nơi đài vàng, đồng
đạt đạo nơi Đức Từ phụ
A-Di-Đà, th́ mối nghi nào không dứt. Cảm
được lời dạy của Đức Phật,
chứng nhập Vô Sinh, lợi ích quá nhiều!
Tôi
lược nêu những điều thô thiển để
mọi người chọn lấy ư hay, hầu gắng
sức tiến tu thành tựu Tịnh nghiệp. Xin chớ
bỏ qua!
Phụ
Lục 1
Thích Khuy
Cơ, tự Hồng Đạo, họ Uất Tŕ,
người Kinh Triệu, Trường An, Trung Quốc.
Tổ tiên ḍng họ Uất Tŕ đồng thời với
nhà Hậu Ngụy [71],
lúc bấy giờ gọi là bộ lạc Uất Tŕ. Như
các nước chư hầu của Trung Hoa, khi nhập vào
nước này th́ lấy tên bộ lạc làm họ. Cháu sáu
đời của B́nh Đông tướng quân tên Thuyết đời
Ngụy là Mănh Đô sinh ra La Ca. La Ca làm Tây Trấn
tướng ở Đại Châu đời nhà Tùy, là
tổ của Sư. Ông nội Sư húy là Tông, trước
Hồng Do huyện Khai quốc công, chức Tả Kim Ngô
Tướng Quân, Tùng Châu Đô Đốc vào đời nhà
Đường. C̣n cha của Sư là Ngạc Quốc Công Kính
Đức.
Sách
Đường Thư ghi: “Mẹ Sư họ Bùi,
nằm mộng thấy tay bắt lấy mặt trăng mà
nuốt, khi thức dậy biết ḿnh đă có thai”. Thế
rồi, ngày tháng khai hoa nở nhụy, Sư ra đời,
dung mạo vượt xa những đứa trẻ khác.
Mới mấy tuổi, Sư đă học tập, tâm trí
rất sáng tỏ.
Một hôm,
đang đi trên đường, ngài Huyền Tráng thấy
Sư có vẻ mặt khôi ngô tuấn tú, nhưng hành
động lại thô lỗ, mới nói rằng: “Ḍng
giỏi tướng gia quả thật không sai! Nếu nhân
duyên khế hợp độ làm đệ tử th́ trong
pháp của ta có bậc kỳ tài!” Nhớ lại khi c̣n
ở Ấn Độ, nghĩ đến lộ tŕnh
trở về, Sư đến chỗ Ni-kiền-tử bói
được một quẻ rất tốt. Trong quẻ
bảo rằng: “Sư cứ nhanh chóng trở về,
bởi bậc minh triết nhờ đó mà xuất
hiện”. Sau đó, Ngài đến Bắc Môn tướng
quân tha thiết khuyên cho Khuy Cơ xuất gia. Người cha
nói: “Nó tánh t́nh rất lỗ măng đâu dễ ǵ chịu cho
Sư dạy dỗ!”. Huyền Tráng nói: “Người có khí
độ như thế không phải tướng quân th́
không ai sinh ra được, chẳng phải tôi th́ không ai
có thể biết được”. Tuy người cha đă
đồng ư, nhưng Khuy Cơ một mực cự
tuyệt, phải cố gắng khuyên nhiều lần
mới vâng chịu. Nhưng Khuy Cơ lại khẳng khái
bảo rằng: “Chấp nhận cho ba việc th́ con
mới nguyện xuất gia: Không đoạn t́nh dục,
ăn mặn và ăn phi thời”. Ngài Huyền Tráng
trước muốn dùng Dục để độ, sau
giúp khai mở Phật trí nên giả vờ chấp nhận
ba điều kiện trên. Bởi thế, về sau mỗi
khi Ngài đi đâu đều chở đầy những
vật mà Sư ưa thích. Cho nên, Quan Phố nói: “Ḥa
thượng Tam Xa”. Đó là vào niên hiệu Trinh Quán 22 (648)”.
Có
lần, Sư tự tŕnh bày: “Chín tuổi chịu
biết bao gian nan, dần dần dứt bỏ trần
tục”. Nếu đúng như vậy th́ thuyết Tam xa
quả là quá hư dối.
Năm
17 tuổi Sư xuất gia, đến lúc vào đạo th́
vâng chiếu làm đệ tử của ngài Huyền Tráng.
Ban đầu Sư ở chùa Quảng Phước, lại
vâng theo chiếu chỉ về tuyển chọn những
bậc thông minh tài giỏi của triều đ́nh, nên
Sư đến chùa Từ Ân dốc ḷng thờ ngài
Huyền Tráng học ngôn ngữ Thiên Trúc, nhằm tháo gỡ
những gút mắc, đồng thời tổng hợp và
sắp xếp lại văn nghĩa có thứ tự;
mọi người nghe thấy, không ai mà không thán phục.
Cả trăm kiền-độ Bạt-cừ[72],
một khi Sư đă xem qua th́ nhớ kỹ không sai.
Năm
25 tuổi, Sư vâng chiếu dịch kinh, giảng
thuyết thông suốt hơn ba mươi bộ kinh
luận Đại Thừa, Tiểu Thừa. Sư vừa
chuyên tâm vừa sáng tạo, siêng năng trước tác,
đồng thời luôn thưa hỏi những điều
gần gũi, suy nghĩ những việc thiết
thực, chớ không đàm luận những điều
viễn vông. Sư sớ giải hơn trăm bộ.
Bộ Duy Thức Luận[73]
của ngài Huyền Tráng dịch, ban đầu Sư cùng
với Huyền Phưởng, Gia Thượng và Phổ
Quang lănh nhiệm vụ nhuận sắc, ghi chép, kiểm
văn và chứng nghĩa, được vài hôm th́ Sư
xin thôi. Ngài Huyền Tráng hỏi th́ Sư đáp: “Đêm
nằm mộng thấy người vàng, sáng đi
đến chùa Bạch Mă. Tuy được cặn bă
của pháp môn, nhưng lại đánh mất tinh túy giáo
pháp, con nguyện không phí công với bản lộn xộn
này nữa. Theo con th́ nên hợp thành một bản, nhận
trách nhiệm th́ phải có chỗ quy hướng”. Ngài
Huyền Tráng liền đồng ư, dùng những lư lẽ
để từ chối ba vị kia, chỉ giao phó riêng cho
Sư. Đây chính là ngài Huyền Tráng lượng
định tài mà giao cho nhiệm vụ. Khi ấy, Sư
nhận lănh trách nhiệm ghi lại điều đă nghe,
lúc ngài Huyền Tráng giảng xong th́ Sư chú sớ cũng
hoàn tất.
Không
bao lâu sau, pháp sư Viên Trắc ở chùa Tây Minh cũng là
bậc tài giỏi thông minh, lập kế dùng vàng đưa
cho người canh cửa giảng đường Duy
Thức Luận để được ẩn núp lén nghe
liên tiếp nhiều buổi, cho nên cũng thông hiểu
yếu chỉ của luận. C̣n mấy buổi giảng
nữa là xong, Viên Trắc bèn đánh kiền-chùy[74] tập
họp Tăng để giảng luận này, Khuy Cơ nghe
việc này rất hổ thẹn, cho rằng ḿnh kém hơn,
nên không giấu được nỗi buồn bă tấm
tức trong ḷng. Ngài Huyền Tráng khích lệ: “Tuy Viên
Trắc làm chú sớ, nhưng chưa đạt
được Nhân Minh”. Sư bèn giảng luận
Trần-na[75],
v́ Sư rất giỏi về ba chi Nhân Minh[76]
nên cứ mặc t́nh tung hoành lập phá, thuật, nghĩa,
mệnh, chương, từ trước đến nay
không ai có thể sánh bằng. Sư lại thỉnh thầy
giảng luận Du-già cho riêng ḿnh, nhưng lại bị
Viên Trắc trộm nghe như trước. Ngài Huyền
Tráng nói: “Tông Ngũ Tánh[77]
chỉ có ông mới thấu triệt, c̣n người khác
th́ không”.
Sau đó,
Sư đến núi Ngũ Đài, leo lên Thái Hành, đến
tá túc tại chùa Cổ Phật ở Tây Hà, nằm mộng
thấy thân ḿnh nằm ở giữa lưng chừng
ngọn núi, nghe tiếng kêu khổ của vô số
người ở dưới chân núi, âm thanh vang lên giữa
đêm tối mịt mờ nghe thật bất nhẫn.
Sư bèn dần dần trèo lên đỉnh núi, thấy toàn
màu sắc lưu ly, nh́n rơ các quốc độ. Sư
ngước nh́n một ṭa thành th́ trong thành đó vọng ra
tiếng rằng: “Dừng lại! Dừng lại! Ôi, Khuy
Cơ chưa thể đến đây được!”
Trong chốc lát, có hai thiên đồng từ trong thành đi
ra hỏi: “Sư có thấy những chúng sinh đau khổ
ở dưới núi không?” Đáp: “Tôi chỉ nghe tiếng
chứ không thấy h́nh”. Đồng tử liền ném cho
một thanh kiếm và nói: “Mổ bụng sẽ thấy”.
Khuy Cơ tự mổ bụng ḿnh, trong bụng phát ra hai
luồng ánh sáng rực rỡ chiếu xuống dưới
núi th́ thấy có vô số người đang chịu
khổ.
Lúc ấy, đồng tử đi vào trong thành mang ra hai cuộn giấy và bút trao cho, Sư tiếp nhận rồi đi mà trong ḷng vẫn c̣n bàng hoàng kinh ngạc. Trải qua hai đêm, trong chùa phát ra ánh sáng măi không tắt. Sư t́m hiểu th́ phát hiện ánh sáng phát ra từ mấy cuộn giấy; khi mở cuộn giấy ra có được kinh Di-Lặc Thượng Sinh. Sư liền nhớ lại giấc mộng trước đây: “Chắc ngài Từ Thị sai bảo ta tạo sớ để giải thích nghĩa lư!” Khi Sư vừa hạ bút th́ từ đầu ngọn bút rơi xuống mười bốn viên Xá-lợi, giống như hạt đào đất Ngô, màu hồng trông rất đẹp, kế đến lại rơi ra những hạt Xá-lợi như hạt hoàng lương.
Có thuyết
cho rằng lúc Sư đến Thái Nguyên truyền pháp, mang
theo ba xe. Xe trước chở kinh luận, xe giữa ḿnh
ngồi, xe sau chở gia đ́nh, kỹ nữ, tôi tớ và
thức ăn. Khi đang đi trên đường, lại
gặp một ông già hỏi: “Chở ai vậy?” Sư
đáp: “Gia đ́nh quyến thuộc”. Ông già nói: “Đă
biết pháp rất thanh tịnh như vậy mà mang theo gia
đ́nh, e rằng không xứng với giáo pháp”. Khuy Cơ
nghe lời nói ấy, bỗng nhiên hối hận những
điều sai phạm trước đây rồi, bỏ
đi một ḿnh. Ông già ấy chính là Bồ-tát
Văn-Thù-Sư-Lợi. Thuyết này là quá thiển cận,
thiếu suy nghĩ. Bởi lúc Sư theo ngài Huyền Tráng
tham gia công tác phiên dịch ở cung Ngọc Hoa th́ ba xe
để ở chỗ nào?
Sư giáo hóa
khắp nơi, số người được lợi
ích rất nhiều. Khi đi về phía Đông, đến
Bác Lăng, có người thỉnh giảng kinh Pháp Hoa, Sư
bèn tạo Đại sớ. Đến khi trở về
bổn tự, thường trao đổi qua lại
với những bậc cựu phiên dịch. Rất
nhiều lần, Sư đến yết kiến luật
sư Đạo Tuyên. Ngài Đạo Tuyên thường có
sứ giả của các thiên vương đến hầu
hạ, hoặc thầm báo những việc trong ngày. Có
một hôm nọ, Sư từ phương xa đến,
ngài Đạo Tuyên lấy làm lạ v́ các sứ giả
đến rất trễ, bèn hỏi, th́ họ thưa
rằng: “Vừa rồi có Bồ-tát Đại Thừa
ở đây, thiện thần theo hầu rất đông.
Con dù có thần thông nhưng đều bị bọn
họ chế ngự, cho nên đến trễ”.
Đến
năm Vĩnh Thuần thứ nhất, nhằm năm Nhâm
Ngọ, Sư phát bệnh. Vào ngày 13 tháng 11 năm đó,
Sư an nhiên nhập diệt tại viện Dịch Kinh
chùa Từ Ân, hưởng thọ 51 tuổi, an táng ở
thôn Phiền, bên cạnh mộ tháp tam tạng pháp sư
Huyền Tráng. Đệ tử vô cùng thương xót.
Lễ tang của Sư, ngoài những đệ tử, c̣n
có rất đông đạo tục.
Những trước tác của Sư: Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương, Du-Già Luận Lược Toản, Bách Pháp Minh Môn Giải, Nhân Minh Nhập Chánh Lư Luận Sớ, Nhiếp Đại Thừa Luận Sao, Đối Pháp Luận Sao, Thắng Tông Thập Cú Nghĩa Chương, Pháp Hoa Huyền Tán, Di-Đà Kinh Thông Tán Sớ, Kim Cương Bát-Nhă Kinh Huyền Kư, Thuyết Vô Cấu Xưng Kinh Tán.
Khi c̣n sinh
tiền, Sư là người có chí khí mạnh mẽ,
tạo tượng Di-Lặc và hàng ngày ở trước
tượng tụng một thiên Bồ-tát Giới,
nguyện sinh Đâu-Suất, cảm được
tượng phát ra hào quang toàn thân rực rỡ. Sau đó,
Sư đến Ngũ Đài sơn tạo tượng
Bồ-tát Văn-Thù bằng ngọc thạch, đồng
thời viết kinh Bát-Nhă bằng nhũ vàng, khi hoàn thành
cũng có phát thần quang. Những đệ tử kế
thừa đều lấy Sư làm chuẩn tắc và xem
như ngài Huyền Tráng lúc c̣n sống.
Ngày Quư
Dậu, tháng bảy, năm Bính Tuất, nhằm năm Thái
Ḥa thứ tư, đệ tử dời tháp Sư về
B́nh Nguyên, Sa-môn Lệnh Kiểm ở chùa Đại An
Quốc kiểm tra tháp. Khi giở quan tài thấy Sư có
bốn mươi chiếc răng, vẫn c̣n nguyên vẹn
giống như ngọc. Mọi người bảo nhau
rằng, đó là một trong những tướng hảo
của đức Phật. Ngày nay, tượng Sư
thờ trong các chùa đều ghi là “Bách Bổn Sớ
Chủ”. Vua Đường Cao Tông (có thuyết cho là
Huyền Tông) có làm bài tán.
Sư khôi ngô
tuấn tú, có chí khí vô cùng mạnh mẽ, với tâm từ
bi cứu độ, dạy người không mệt, sau
cổ có ngọc chẩm[78],
diện mạo hết sức trác tuyệt, hai bàn tay
xếp lại giống như ấn khế. Chữ
đầu tên húy của Sư phần lớn không giống
nhau. Cho nên, trong truyện Từ Ân ghi: “Vào niên hiệu Long
Sóc thứ ba, ở cung Ngọc Hoa, ngài Huyền Tráng
dịch kinh Đại Bát-Nhă xong. Ngày 22 tháng 11 năm đó
sai Đại Thừa Cơ dâng biểu, thỉnh vua đề
lời tựa. Ngày mồng 7 tháng 12, Thông Sự Xá Nhân tên
Phùng Nghĩa truyền sắc chỉ đọc là Linh
Cơ. Trong Khai Nguyên Lục gọi là Khuy Cơ, hoặc
Thừa Cơ là sai. Ngày nay, trong nước đều
gọi Sư là Từ Ân pháp sư”.
Bài
hệ[79]
ghi: “Nghĩa môn Tánh tướng đến đời
Đường mới thấy hoàn bị. Tráng sư là
Tổ, khai sáng Du-Già Duy Thức, Khuy Cơ là Tông, theo văn
trước thuật. Tổ và Tông trăm đời măi măi
được kính thờ, bởi công đức lợi
vật vô cùng rộng lớn. Nếu ngài Huyền Tráng mà
không có Khuy Cơ th́ làm sao phát triển lâu dài được
cái học ấy và khai mở được mắt cho
người trong thiên hạ? Công lao to lớn của hai
Sư đă đi vào bất hủ. Vậy th́, Sư là con
của Ngạc Công, đệ tử của Huyền Tráng.
Đó gọi là con nhà tướng đến làm pháp
tướng, ngàn năm chỉ có một người mà thôi!
Cho nên, Kinh Thư có câu: “Cha cày con chịu gieo th́ mới
thu hoạch được”. Bách Bổn Sớ Chủ là
như vậy đó!”.
Phụ
Lục 2
LÀM RƠ MỐI
NGHI VỀ CHÂN TẠO NGỤY TẠO SÁCH TÂY PHƯƠNG
YẾU QUYẾT THÍCH NGHI THÔNG QUY
Lưu
Học Truyền Pháp Tướng Tông Sa-môn Thích Cơ Biện,
tại chùa
Dược Sư ở Nam Đô biên soạn.
Nay
để bàn về thật và giả của người
soạn cuốn sách này, ta chia ra ba phần:
- Nêu
điều nghi của người xưa.
- Nêu nhận
định của người nay.
- Chính
thức phán định.
I. Nêu điều nghi của người xưa
Có ba chủ
trương:
1.
Ngày xưa, có vị Tăng đô Tế Tiêm ở chùa Nhân
Ḥa tại vùng Nam Nhạc đă đưa ra năm mối
nghi đối với sách này:
- Sách này phán
định sự khó dễ văng sinh hoàn toàn trái với
Thượng Sinh Kinh Sớ[80].
Trong Sớ ghi: “Thiên cung có mười việc dễ sinh,
Tịnh Độ có bảy việc khó sinh”. Hơn
nữa, trong phần Khuyến Nội Viện cũng có ghi:
“Kẻ hạnh nghiệp cạn cợt nguyện sinh Tây
Phương, lỡ không được, e rằng thành
sai lầm. Thế nên, hành giả phải tu pháp môn này”.
Chỉ một người giải thích, sao mà mâu thuẫn
đến như vậy? Nên biết sách này không phải
Khuy Cơ trước tác.
- Trong sách này
có nói về Bản Giác viên minh, nên hoàn toàn trái với
nghĩa Thỉ Giác Bồ-đề.
- Có nói
về đồng quy nhất thật[81]
nên không giống với yếu chỉ ba thừa chân
thật.
- Phán
định Đâu-Suất có lui sụt th́ phải giống
với Sớ của chính tác giả soạn. Nhưng
Sớ ghi: “Nếu sinh Ngoại Viện, tuy bậc hạ
hạ phẩm, nhưng mai sau cũng trở thành bất
thoái”. Nay sao lại trái ngược như thế?
Định
có và không về sự đến nghinh đón th́ hoàn toàn trái
với kinh Thượng Sinh. Kinh ghi: “Bấy giờ,
Bồ-tát Di-Lặc phóng ánh sáng lông trắng giữa
chặng mày đến đón rước người
này”. Nay nói không tiếp dẫn há chẳng phải hoàn
toàn trái ngược sao? V́ có những sự trái
ngược này nên nhất định không phải do Khuy
Cơ sáng tác.
2.
Gần đây có người nghi rằng: “Phàm phu
được văng sinh” là trích dẫn Cựu dịch
chứ không theo Tân dịch, cho nên sinh nghi.
3. Trong
đây nói: “Có ba thân không khác” th́ không giống với
thuyết của tông Pháp Tướng.
II. Nêu nhận định của người nay
Gần
đây, có người giải thích mối nghi thứ
nhất của Nam Nhạc rằng: “Đức Như Lai
lập giáo tùy theo căn cơ mà có sai khác, các bậc
Đại sĩ xiển dương nghĩa lư cũng tùy
nghi mà chỉ bày”. Hễ thâm nhập vào một môn th́
đồng trở về nhất lư. Những điều
nêu trong sách này có ư nghĩa như vậy. Như trong Thông
Tán cũng có nêu mười việc thù thắng, chuyên
khuyến khích Tịnh Độ, mỗi mỗi tùy theo
đường lối tu tập mà không hề trái nhau.
Giải
thích nghi thứ hai: Theo luận Duy Thức, pháp giới thanh
tịnh vô lậu tùy tăng[82],
tánh thanh tịnh viên minh, tuy có khách trần, nhưng bổn
tánh vẫn thanh tịnh, cho nên nói: “Dù cho chân thể
bị chướng ngại, nhưng thể tánh này vốn
có. Hai thân giác ngộ, tự tánh b́nh đẳng, có
đầy đủ vô lượng công đức, ĺa các
hư luận”, nên nói: “Bản Giác viên minh[83],
hoặc pháp ấy vốn có chủng tử vô lậu nên
gọi là Bản Giác”. Nay Sư[84]
giải thích văn kinh Lăng-Già mà có hai nghĩa này.
Giải
thích nghi thứ ba: Căn cứ vào bất định tánh[85]
hội ba thừa trở về Nhất Thừa, nên gọi
là đồng quy nhất thật. Cho nên, không ra ngoài yếu
chỉ ba thừa[86]
chân thật. Pháp Hoa Huyền Tán nói đây là Nhất Thừa[87],
nên nghĩa thông suốt tất cả.
Giải
thích nghi thứ tư: Đây là nói sinh vào Ngoại Viện,
phần nhiều đều bị lui sụt nhưng
cũng có người không lui sụt. Nay nói không lui sụt,
là căn cứ theo số nhiều.
Giải
thích nghi thứ năm: Đức Di-Lặc không có bản
nguyện, nên cảnh đến tiếp rước
cũng ít có. V́ quá ít cho nên cũng xem như không.
Giải
thích mối nghi: “Chủ trương kia nói Hóa Thân và
quốc độ có ba: 1. Chỉ có Báo thân; 2. Chỉ có
Biến Hóa Thân; 3. Chung cả Báo-Hóa”. V́ sao người
cứ chấp chặt một phía? Nếu chấp chỉ
có Báo Thân th́ chỉ là tự lực niệm Phật. Phàm
căn cơ được sức bổn nguyện hộ
tŕ th́ bao gồm tất cả giai vị, năm thừa
đều nhập. Thế nhưng, những căn cơ
thuộc về bổn nguyện thâu nhiếp th́ trong Duy
Thức không hề phán định và cũng không thuộc
về Tánh, Tướng. Huống ǵ là trong văn ghi: “Sinh
vào Hóa độ thấy Hóa Phật”. Sao mà tối
thế? Lại chỉ dẫn Cựu dịch là để
gạn hỏi về tông nghĩa của các bản giải
thích Quán Kinh…
Giải
thích mối nghi: “Ba thân không khác”: “Ở đây chẳng
phải nói tương tức mà chỉ nói nhiếp
tướng trở về tánh mà thôi”. Huyền Tán ghi: “Ứng
Thân và Hóa Thân chẳng phải chân Phật, cũng
chẳng phải là người thuyết pháp. Đó là quy
công đức về bản thể, chính là Pháp Thân”.
III. Chính thức phán định
Về
Tăng Đô Nam Nhạc, thứ nhất là nghi về
sự khó dễ của văng sinh Đâu-Suất[88]
và Tây Phương. Gần đây, các sư giải thích là
tùy theo căn cơ bất đồng của chúng sinh nên
Đức Phật diễn giáo cũng sai biệt. Nay phân
tích rằng:
Giải thích trên, về lư th́ đúng như vậy, nhưng ư thú vẫn chưa rơ ràng, lại c̣n dẫn Truyền Đăng Lục của Vĩnh Siêu chùa Hưng Phước, rồi cho rằng Thông Tán là ngụy tạo. Bởi thế, người học vùng Nam Kinh cho rằng Thông Tán không phải là chính. Nhưng Tây Phương Yếu Quyết này, trong Vĩnh Siêu Lục cho là pháp sư Cơ soạn, Chú Tấn Lục của Tạng Tuấn cũng nói như vậy. Nhưng từ xưa tới nay, môn đồ chùa Hưng Phước hàng ngày chuyên đọc tụng sáu bộ kinh, mười một bộ luận và những sớ giải mà Khuy Cơ đă biên soạn, trong đó có Tây Phương Yếu Quyết, nhưng không có Thông Tán Sớ. Do đó. Nên biết rằng Yếu quyết này là do ngài Khuy Cơ biên soạn chứ không phải ngụy tạo. Gần đây, dùng Thông Tán để nói chung là quá sai lầm vậy. Nay nêu ra văn để chứng minh, dùng nghĩa “tùy cơ” để phán định về người được văng sinh Đâu-Suất trong Thượng Sinh Kinh Sớ. Sớ chủ giải thích, nêu lên ba hạng người:
1.
Bồ-tát hành pháp không nhàm chán sinh tử, chịu khổ
trong sinh tử làm lợi lạc, nên muốn sinh lên cơi
trời, cần phải gá vào cảnh sở y[89]
thù thắng để tu tập diệu hạnh. Cho nên,
tất cả nơi thọ sinh đều tôn quư. V́ nơi
thấp kém th́ tự thể thực hành không toàn vẹn, v́
sinh thiên được thấy đức Phật Từ
Thị, cho nên không giống với Nhị Thừa nhàm chán
khổ sinh tử, sợ cơi trời buông lung không thích văng
sinh về.
2.
Người tôn kính tâm vô thượng Bồ-đề thích
tu thắng hạnh, cầu đại Bồ-đề,
được ở trước đức Di-Lặc nghe
đại pháp. C̣n kẻ không thích Đại Thừa
chỉ mong cầu quả nhỏ, tùy theo chỗ thọ sinh
mà vui với Niết-bàn.
3.
Người muốn làm đệ tử của ngài
Di-Lặc là nguyện ở trong cơi ác làm việc thiện
lợi ích cho các hữu t́nh khổ đau. Chỉ mong
cứu giúp, không nguyện sinh về Tịnh Độ làm
đệ tử của Phật khác, v́ ở nơi kia không
có hữu t́nh khổ đau để thực hành hạnh
cứu độ, không có khổ để nhàm chán, nên tâm
ưa thích cầu sinh không sâu. Do đó, nên biết văng sinh
Đâu-Suất chỉ có căn cơ hàng Bồ-tát, v́
họ có đủ khả năng, c̣n căn cơ của
hàng Nhị Thừa Thanh Văn và Duyên giác th́ không
được. Nội Viện Đâu-Suất có
đức Từ Tôn thuyết pháp cho chúng hội là hàng thiên
tử, không nói cho chúng Thanh Văn nghe. Tây Phương
Tịnh Độ th́ không như vậy. Kinh A-Di-Đà ghi: “Lại
nữa, Xá-Lợi-Phất, Đức Phật kia có vô
lượng vô biên chúng đệ tử Thanh Văn
đều đắc quả A-la-hán, không thể dùng toán
số để tính đếm được. Các chúng
Bồ-tát cũng như vậy”. Trong Quán Kinh nói: “Ba
phẩm trung văng sinh được lợi ích, v́
chứng quả A-la-hán, Tu-đà-hoàn”. Lại, kinh Vô
Lượng Thọ nói: “Nếu trong trăm ngàn kiếp
cùng tính đếm biết được số
lượng Thanh Văn, Duyên giác th́ ta không nguyện thành
Chánh Giác”. Do đó, nên biết văng sinh Tây Phương
đều dành cho tất cả mọi căn cơ. V́ sao?
V́ tâm nhàm chán xa ĺa cơi uế chính là tâm Nhị Thừa. Tâm
không nhàm chán xa ĺa cơi uế cùng tột th́ không thể nói: “Hết
ḷng tin ưa muốn sinh về nước ta”. Ư ưa
thích phải tăng trưởng, nếu ư ưa thích mà
không tăng trưởng tột cùng th́ chẳng phải
chân thật nương vào nguyện lực Phật. Tâm nhàm
chán xa ĺa của Nhị Thừa tuy là thấp kém, nhưng
từ tâm thấp kém đó lại phát khởi chí tâm tin
ưa, nương bổn nguyện Phật, thế là tâm
thấp kém chuyển thành rộng lớn. Nếu nhân
chuyển biến này giảm th́ cần phải ra sức
chuyển. Vả lại, nếu tâm văng sinh Đâu-suất
nhàm chán, khổ, thô, chướng của hạ địa
th́ sinh thẳng lên cơi trên, không thể sinh vào cơi trời
Đâu-Suất làm đệ tử của ngài Di-Lặc. Cho
nên kinh nói: “Không cầu đoạn kết hoặc, tu
mười thiện pháp, không nhàm chán sinh tử thích sinh lên
cơi trời”, Sớ giải thích là chớ thực hành sáu
quán hạnh. Nên biết căn cơ thích hợp để
văng sinh Đâu-Suất chỉ có hàng Bồ-tát. Lại nói
việc văng sinh khó và dễ cũng là đối với
căn cơ bất đồng mà luận. Thực hành sáu
Sự pháp trong Thượng Sinh Sớ là thuộc
Thượng phẩm hạnh sinh. Sớ chủ giải
thích ư kinh nói về sáu Sự pháp như sau:
1.
Siêng năng tu tập hạnh nghiệp trong ruộng
phước kính, ân và bi.
2.
Đầy đủ oai nghi, giữ vững các giới
hạnh và sống trong phép tắc.
3.
Quét tháp, trang nghiêm đạo tràng và tu sửa linh tháp.
4.
Hoa hương cúng Phật, tứ sự cúng dường
trai tăng.
5.
Phàm phu thực hành Tam-muội Văn, Tư; Thánh nhân
nhập chánh định, tùy theo từng địa vị
mà đắc được quả thiền, hoặc phàm
phu đă thực hành Tam-muội mà chẳng phải sáu hành
định. Sáu Hành định th́ chắc chắn sinh lên
cơi trên, nên trụ sâu trong văn và tư cũng gọi là
Tam-muội.
6.
Đọc tụng kinh điển, diễn thuyết, tu
tập và thực hành mười pháp thiện.
Vả
lại, khi nêu lên các hạnh thù thắng dễ tu bậc
nhất th́ có sáu việc này, trong đó mỗi mỗi
đều thâu nhiếp các hạnh nghiệp. Nếu tu
tập đầy đủ sáu hạnh, hoặc có thể
tu tập năm hạnh th́ Thượng phẩm
thượng sinh; nếu tu tập ba, bốn hạnh th́
Thượng phẩm trung sinh; nếu tu một hai phẩm
th́ Thượng phẩm hạ sinh. Tiếp theo, ba phẩm
trung là bốn chúng, tám bộ không phạm giới cũng
không tạo tội ác. Người nhẹ nhất, khi nghe
đến danh hiệu th́ tâm hoan hỷ, miệng nói lời
cung kính và thân lễ bái. Nếu đầy đủ ba
nghiệp nầy là Trung phẩm thượng sinh, chỉ
đủ hai nghiệp th́ Trung phẩm trung sinh, chỉ có
một nghiệp th́ Trung phẩm hạ sinh. Tiếp theo, ba
phẩm hạ, tuy có mười hạnh nhưng gom thành sáu
hạnh: sám hối, tạo tượng, cúng dường,
lễ bái, buộc niệm, xưng danh hiệu. Có
đầy đủ sáu hạnh trên đây là Hạ
phẩm thượng sinh, chỉ có bốn hạnh
đầu là Hạ phẩm trung sinh, chỉ có ba hạnh
đầu là Hạ phẩm hạ sinh; hoặc trong sáu
hạnh này tùy theo mỗi một hạnh phát nguyện
thấy Đức Từ Thị, hoặc sinh Ngoại
viện được bất thối cũng đều
thuộc hạ phẩm hạ sinh. Thậm chí, nếu không
phát nguyện, cho dù không sinh lên cơi trời đó th́
người nầy sẽ được giải thoát trong
tam hội[90],
như Thượng Sinh Kinh Sớ đă nói.
Những
hạnh như vậy, theo Quán Kinh nói: “Người
tạo tội ác, đến khi lâm chung nhờ vào năng
lực của bạn tốt nên chí tâm lắng nghe,
đầy đủ mười niệm không gián
đoạn th́ tội liền diệt, được văng
sinh thấy Phật”. Vậy th́ biết rằng chín
phẩm ở Đâu-Suất cũng đều rất khó
thực hành. Tuy nhiên, mỗi mỗi hạnh đều là
những hành động của tâm tán loạn trong
đời sống thường nhật. Nếu nh́n từ
mặt lâm chung rất khó phát khởi chí tâm tin ưa th́
những hạnh ấy vẫn c̣n dễ. Vả lại,
văng sinh Tây Phương, tuy chí tâm tin ưa khó phát khởi,
nhưng đối với những hạng người có
tâm nhàm chán cơi uế tăng trưởng mạnh th́ chí tâm
tin ưa cũng tăng trưởng mạnh. Do đó,
chỉ mười lần xưng danh hiệu liền
được văng sinh, cho nên văng sinh Cực Lạc dễ.
Vả lại, hàng căn cơ Bồ-tát sinh thiên thực
hành hạnh lợi lạc, nếu sinh về Cực
Lạc Tây Phương là nơi đă an lạc rồi, th́
không thể thực hành hạnh nầy được. Cho
dù trở lại cơi uế cứu độ trời
người, nếu chẳng phải là hàng Thượng
phẩm thượng sinh th́ không thể mau chóng thực hành
hạnh cứu độ. C̣n những hạng căn cơ
khác, sau khi văng sinh, trải qua nhiều kiếp chứng
được Hoan hỉ địa rồi mới nên làm
Phật sự. Do đó, đối với căn cơ
Bồ-tát khó thực hành, mới cho văng sinh Đâu-Suất
là dễ th́ đâu trái với ư tâm ưa thích. Cho nên biết
rằng, Thượng Sinh Sớ nói dễ là chỉ cho
căn cơ Bồ-tát. Nay, bộ Yếu quyết này
đối với căn cơ ở trong cơi uế mà nói Tây
Phương dễ văng sinh th́ ở trên mặt lư hoàn toàn
không trái. Vả lại, trong Thượng Sinh Sớ, khi
luận về văng sinh khó và dễ có nói rằng: “Tây
Phương có bảy việc khó văng sinh,
Đâu-Suất có mười việc dễ văng sinh”.
Ở đây chỉ khuyến khích riêng căn cơ
Bồ-tát chứ không dành cho tất cả mọi căn
cơ. Cho nên, văn sớ kết luận: “Ở trong
cơi uế tu tập hạnh thanh tịnh là chính hạnh
của bậc thánh, c̣n ở quốc độ nghiêm
tịnh th́ chẳng phải là chỗ giáo hóa của
bậc Đại Sĩ…”. Lại nói: “Hạnh
nghiệp cạn cợt th́ chẳng may không văng sinh”.
Đúng vậy, nếu thiếu chí tâm tin ưa th́ có thể
không được văng sinh. Qua những văn trích dẫn
trên th́ chẳng nên nghi ngờ.
Pháp sư Khuy Cơ ở chùa Đại Từ Ân chính là Bồ-tát Đại Thừa, v́ muốn những hạng căn cơ kia được lợi ích nên soạn ra hai cuốn sách này. Chúng ta cần phải nh́n một cách toàn diện vấn đề trên th́ không c̣n nghi ngờ. Như Duy Thức Sớ dùng Duy Thức nói về Trung Đạo. Pháp Sớ th́ dùng uẩn, xứ và giới của Đại Thừa nói về Trung Đạo; Tâm Kinh U Tán dùng “không” nói về Trung Đạo. Bởi thuyết giáo là tùy theo căn cơ, tuy có khác nhau giúp cho người ngộ nhập, nhưng tánh ĺa ngôn ngữ th́ đồng một vị mặn của biển, hoàn toàn không sai khác.
Về
câu “Bản Giác viên minh”, theo giải thích gần đây th́ có
hai nghĩa:
1. Nói Thanh
tịnh pháp giới là “Bản Giác”. Điều này không
hợp, v́ câu trên ghi: “Chân như thể tịnh là thanh
tịnh pháp giới” mà lại cho là “Bản Giác”, e
rằng mắc lỗi ngôn ngữ trùng lặp. Dẫu
giải thích rằng: “Chân như thể tịnh là
bản tịnh Niết-bàn” vốn tṛn sáng (viên minh), là
pháp giới chân thật thanh tịnh, sở chứng
của Đức Phật, là sở y của thân Thọ
Dụng biến hóa b́nh đẳng. Như thế cũng
không hợp đạo lư. Nói “viên minh” là dùng “xa ĺa hư
luận” giải thích; nếu lư kia chưa rơ th́ Bản Giác
Niết-bàn cũng chỉ là hư luận mà thôi! Đây cũng
có lỗi trùng lặp ngôn ngữ, cho nên cách giải thích
thứ nhất khó chấp nhận được.
Tiếp
theo, dùng nghĩa “chủng tử vô lậu vốn có”
để giải thích. Điều này đúng, tuy nhiên ư
nghĩa chưa rơ. Nay giải thích “bản” là bản
hữu, “giác” là chánh trí, dùng tứ trí tâm phẩm[91]
làm thể. Duy thức luận, quyển 10 nói Tứ trí tâm
phẩm là bản hữu năng sinh, chủng tử là
sở sinh đắc. Nay gọi tứ trí là Bản Giác,
tứ trí viên minh chính là quả Phật hiển hiện. Câu
trước gọi tịnh pháp giới là Chân Như thể
tịnh. Câu tiếp theo, gọi tứ trí hiện Bản
Giác viên minh. Như trong Đối pháp Sao Quy Kính Tụng
ghi: “Cúi lạy bản tánh vắng lặng viên minh”,
viên minh là nêu tứ trí, bản tánh vắng lặng là nói
đến Tịnh pháp giới. Nếu ĺa tịnh pháp
giới và tứ trí tâm phẩm th́ quả Phật không
hiển hiện. Điều này nói đầy đủ
trong luận Phật Địa.
Về
đồng quy Nhất Thật, những nhà giải thích
gần đây cho rằng Nhất Thừa là Nhất
Thật. Đây chẳng phải ư chỉ của tông ta. Tông
ta cho rằng Nhất Thật nghĩa là phế thuyên đàm
chỉ[92].
Nhất Thật Như[93]
chính là tên gọi của pháp giới thanh tịnh. Bộ
Liễu Nghĩa Đăng v.v… cho rằng giáo thể
nhất chân như b́nh đẳng được Như Lai
tŕnh bày giống với ư này.
Lại
nữa, nghi về sự lui sụt và không lui sụt ở
cơi Đô-sử[94]
(c̣n gọi là Đâu-suất-đà), các nhà giải thích
gần đây căn cứ vào việc phần nhiều có
lui sụt, (ở ngoại viện) tuy có lư, mà chưa rơ, nay
sẽ giải thích thêm. Thượng Sinh Sớ ghi: “Nếu
sinh về chúng ngoại viện, tuy thuộc về
phẩm hạ của bậc hạ, nhưng tự nhiên tu
tập một thời gian sau lại thành không lui sụt. Có
Phật hiệu là Di-Lặc, khéo tự tăng trưởng
v.v…”
Trong
đoạn văn này ghi: “…Thời gian sau lại thành…”,
như vậy là minh chứng rơ ràng có lui sụt! Nếu
trước đă không lui sụt, tại sao lại nói
“thời gian sau lại thành”? Dùng chữ “lại” là muốn
nói rơ tuy có lui sụt, nhưng nhờ sức gia bị
của đức Từ Thị nên lại không lui sụt.
Chữ “thành” có nghĩa là “đạt được”.
Lại
nữa, sau khi được văng sanh Tây Phương
Tịnh Độ, hành giả hoàn toàn không lui sụt. So sánh
điểm khác biệt này, Yếu Quyết ghi: “Cơi
Đâu-Suất có lui sụt, Tây Phương không lui
sụt”. Huống ǵ nói “phần nhiều lui sụt”. Hai
đoạn văn hoàn toàn không trái nhau.
Nghi về
việc lai nghênh[95]
hay không. Những nhà giải thích gần đây lấy
việc hơn kém để biện luận là không thích
đáng, nay sẽ giải thích rơ. Trong kinh Di-Lặc
Thượng Sinh ghi: “Ba tướng hành sinh” chung và
riêng rất khó phân biệt, cho nên Sớ chủ chia ra chín
phẩm để tŕnh bày hành sinh riêng. Trong đó, chỉ có
hàng Hạ phẩm thượng sinh nói có tướng lai
nghinh của Đức Từ Thị, nhưng tám phẩm
c̣n lại đều không hề nói đến.
Tướng lai nghinh ở Tây Phương Tịnh
Độ, tuy Trung phẩm hạ sinh không nói tiếp
dẫn, nhưng tám phẩm c̣n lại đều nói
đến. Hạ phẩm hạ sinh nói thấy “hoa sen
vàng”, đó cũng là tướng đến tiếp
dẫn. Nay, Yếu Quyết này căn cứ theo ư nghĩa
phần nhiều trong chín phẩm văng sinh đều nói
đến lai nghinh mà cho rằng: Nếu sinh về Tịnh
Độ ắt có Thánh chúng đến tiếp dẫn.
Lại căn cứ sáu phẩm thượng, trung và hạ
phẩm hạ sinh, người sinh về Ngoại viện
không có tướng lai nghinh th́ cho rằng: nếu sau khi
chết sinh về cơi trời th́ không có người
đến tiếp dẫn, bởi v́ ít là đồng
nghĩa với không có.
2.
Phán định về mối nghi thứ hai: Nghi sách này
chấp nhận phàm phu văng sinh và dẫn chứng Cựu
dịch, mà không dẫn chứng Tân dịch. Những nhà
giải thích gần đây cho là nhờ sức bản
nguyện[96]
mà năm thừa đều được vào. Cho nên
nghĩa phàm phu văng sinh vào Báo độ thuộc về
bản nguyện. Điều này, tông Duy Thức không hề
phán định và cũng không thuộc về Tánh,
Tướng.
Lại
nữa, trong sách này nói: “Sinh Hóa độ thấy Hóa
Phật”, cho nên nêu lên ba nghĩa trong tông của ta
để hội thông nghĩa Báo độ và Hóa độ
rồi nói rằng: Người nghi sao tối thế?
Nay
tŕnh bày: Hội thích này chưa được rơ ràng, tông
của ta phán định Báo độ và Hóa độ
ở cơi An Dưỡng có ba trường hợp:
1. Chỉ có
Báo độ;
2. Chỉ có
Hóa độ;
3. Cả Báo
độ và Hóa độ.
Thượng
nhân Hải Trụ Sơn phán định theo trường
hợp thứ ba là đúng.
Đến
nay, những người theo tông Pháp Tướng ở Nam
Kinh đều chấp nhận nghĩa này. Nay chọn
những điểm chính để luận bàn, nếu cho
rằng chỉ có Báo độ, không có Báo và Hóa độ
th́ chỉ có hàng Bồ-tát Địa Thượng chứng
được, c̣n hàng phàm phu không thể đạt
đến. Điều này thánh giáo ghi: “Nếu phàm phu
nương nhờ nguyện lực cho là tự sinh, khi
vừa sinh Báo độ liền thấy Báo Thân Phật, th́
sự thị hiện Hóa Thân và Hóa độ của
Đức Phật A-Di-Đà hoàn toàn vô dụng. Nếu Hóa
Thân và Hóa độ vô dụng là bản nguyện của
đức Phật này th́ lẽ ra không có Phật với ba
thân viên măn”. Do đó, nghĩa “duy báo” (chỉ có báo) không
thành.
Lại
nữa, nếu cho rằng chỉ có Hóa Thân, Hóa độ mà
không có Báo thân, Báo độ th́ các Đức Phật khác
cũng khiến cho phàm phu sinh về Hóa độ. Như
thế có ǵ khác biệt để tôn xưng nguyện
lực của Đức Phật A-Di-Đà là Siêu thế
biệt nguyện[97]?
Do đó, nghĩa “duy hóa” (chỉ có hóa) cũng không
được thành lập.
Nói
chung, cả Báo, Hóa đều đúng. Thế nào là nói chung?
Đó là v́ Hóa độ có hai trường hợp là
trường thời biến và tạm thời biến.
Tây
Phương Tịnh Độ gồm cả Hóa độ
là trường thời biến, tức do Báo độ
hiện hóa, cho nên ĺa Báo độ ắt không có Hóa
độ. Đây cũng là đáp lại năng lực
bản nguyện mà trường thời hóa. Nếu nói theo
tánh th́ hóa tức Báo độ, điều này thù thắng
hơn các Đức Phật khác, cho nên mới nói “Siêu
thế biệt nguyện” vậy!
Nhưng
Yếu Quyết này cho rằng: “Sinh Hóa độ thấy
Hóa Phật”. Lại cho rằng: “Hành giả cầu
thấy Hóa Thân, liền cảm được đức
Hóa Chủ A-Di-Đà rủ ḷng đến tiếp dẫn”.
Đó là căn cứ vào ba phẩm hạ mà nói. Lời này
có nghĩa là đức Phật liền sai Hóa Phật, Hóa
Bồ-tát Quán Thế Âm, Hóa Bồ-tát Thế Chí đến
trước mặt hành giả. Cho nên các luận Duy
Thức, luận Phật Địa v.v… cho rằng: “Biến
Hóa Thân nương vào biến
hóa độ”. Do đó, nếu ĺa quốc độ mà
có thân, là hoàn toàn không thể được! Nay căn
cứ phần đắc ích[98]
của ba phẩm hạ mà cho rằng: “Sinh Hóa độ
được thấy Hóa Phật v.v…”. Về
điều này tuy về cảnh th́ đáp lại nguyện
của Hóa Phật, không giống với các Đức
Phật khác, nhưng lư không trái nhau.
Hỏi:
Nếu như thế th́ tại sao Yếu Quyết này cho
rằng Đức Hóa Chủ tiếp dẫn,
được Vô Sinh Nhẫn?
Đáp: Vô Sinh
Nhẫn là phần đắc ích của ba phẩm
thượng.
Hỏi:
Điều này trái nhau như thế nào?
Đáp:
Vô Sinh Nhẫn, có hai trường hợp mà tông Pháp
Tướng thường nói đến:
1. Căn
cứ hàng Bát Địa trở lên;
2. Căn
cứ vào hàng Sơ địa trở lên.
Ba phẩm thượng nói Vô Sinh Nhẫn là Bát Địa trở lên; 3 phẩm hạ nói Sơ Địa trở lên. Hạ phẩm thượng sinh nói được nhập Sơ Địa, nên Yếu Quyết này cho vào Sơ Địa là được Vô Sinh Nhẫn, lư hoàn toàn không trái nhau. Lại nữa, không dẫn chứng Tân dịch v́ cho rằng văng sinh Tây Phương chỉ nói trong bản kinh Cựu dịch, cho nên chỉ dẫn Cựu dịch để giải thích.
Hỏi:
Nếu như thế, kinh Thượng Sinh cũng là
Cựu dịch, v́ sao lại kết hợp giải thích Tân
dịch?
Đáp:
Thượng Sinh Kinh Sớ giải thích trọn vẹn
kinh, cho nên kết hợp Tân và Cựu để dẫn
chứng. Ở Yếu Quyết này chỉ lập nghĩa
giải thích, không giải thích kinh, cho nên chỉ dẫn kinh
Cựu dịch, lư hoàn toàn không trái nhau.
Hỏi: Gần
đây có người giải thích bản nguyện
Phật, tông Duy Thức không phán định cũng không
về tánh, tướng! Lư ấy đúng chăng?
Đáp:
Bồ-tát Thế Thân xác lập “tất cả pháp
đều là thức biến”. Kinh Giải Thâm Mật
v.v… cũng cho rằng: “Các pháp chỉ do thức, trong
đó bao gồm tất cả pháp hữu lậu, vô lậu”.
Tŕnh bày đầy đủ như trong Nhị Thập
Tụng Duy Thức Sớ v.v… nghĩa là bản nguyện
của Phật là những biến hiện trên thức
của Phật, đó là tăng thượng duyên. Cho nên,
hành giả niệm Phật, tâm tướng văng sinh biến
hiện trên ư thức. Như thế, tại sao cho rằng
chẳng phải Duy thức phán định. Nếu
gượng cho rằng bản nguyện của Phật
chẳng phải do thức biến hiện, th́ rơi vào
cố chấp thật hữu. Tâm Phật làm ǵ có cố
chấp! Lại nữa, cho bản nguyện Phật không
thuộc về tánh tướng. Vậy, ĺa tánh
tướng th́ có ǵ bàn luận, không luận th́ thôi, ví
như vừa khởi ngôn luận th́ nghĩa tánh
tướng được thành lập.
Lại
nữa, siêu thế biệt nguyện của Phật
A-Di-Đà không thể nghĩ bàn, không thể dùng ngôn ngữ
để luận biện. Cho nên nói “tánh tướng
chưa phán định”, chính là Nhất pháp giới, là
“phế thuyên đàm chỉ”, là “nhất thật như”
được nói trong tông của ta. Chân nhờ tục mà
lập, nếu nương vào cửa ngôn ngữ th́ cũng
giống như tánh tướng, nếu phế bỏ
cửa ngôn ngữ th́ làm ǵ có bản, có nguyện, mà chỉ
gượng nói là “bản nguyện” thôi! Nếu có riêng
một bản nguyện, th́ hiện tiền lập một
chút cũng gọi là sức bản nguyện, nhưng v́ có
sở đắc nên chẳng phải là bản nguyện
chân Phật. Có thể đó chỉ là kiến giải duy an
lập của Tiểu Thừa, chẳng phải kiến
giải của Đại Thừa. Cho nên nói “không thuộc
tánh tướng” chính là phán định sai lầm.
3. Phán
định về mối nghi ba thân không khác: Gần đây,
có người dùng nghĩa nhiếp tướng về tánh
để hội thích. Nay cho rằng cách này chưa rốt
ráo, như Thành Duy Thức, 10 ghi: “Pháp Thân có ba: 1. Tự
Tánh Thân; 2. Thọ Dụng Thân; 3. Biến Hóa Thân”. Ba thân
này đều là Pháp Thân, đều là thân trang nghiêm của
pháp vô thượng tịch nhiên, cho nên không thể tách ĺa.
Đây chính là ba thân được lập trong tông của
ta. Cho nên nói ba thân không khác, hoàn toàn không trái lư.
Có
người cho cách tŕnh bày sách nầy không giống như
Duy Thức Sớ v.v…cho nên vẫn c̣n nghi ngờ, là thế
nào?
Đáp: Cách thức
tŕnh bày trong sớ chương của đại sư Khuy
Cơ[99]
rất phong phú. Những tác phẩm được Ngài
đích thân hiệu đính có cách thức tŕnh bày giống
nhau như Duy Thức Tam Thập Tụng Sớ, Duy Thức
Nhị Thập Tụng Sớ, Duy Thức Nghĩa Lâm
Chương v.v…; hoặc những bản chưa hiệu
đính như Đối Pháp Sao Lục về sau; hoặc
Sư chỉ đàm luận rồi đệ tử ghi chép
lại như Thắng Man Kinh Sớ v.v… Sách này e rằng
cũng do đệ tử ghi chép lại những văn nghĩa
được Sư giảng thuyết, ắt hẳn
đă được hiệu đính rồi! Do đó, không
nên nghi ngờ cách thức tŕnh bày trong chương
sớ!
Những
lời bàn luận trên nhất định có điều sai
sót, nhưng v́ muốn sinh khởi thắng giải, nhàm chán
cơi uế, ưa thích cơi tịnh, cho nên không ngại trí
hiểu biết nông cạn, cố gắng cho hoàn thành tác
phẩm.
Huệ Quang,
mùa Vu Lan PL. 2550 (2006)
Nguyên Trang
dịch & chú thích
[1]Ba
thừa: ba xe, từ ngữ nầy dụ cho ba pháp môn
chuyên chở chúng sinh vượt qua sinh tử đến
Niết-bàn.
Y
cứ vào căn cơ chúng sinh có độn căn, trung
căn và lợi căn khác nhau, Đức Phật nói ba
thừa là Thanh Văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ-tát
thừa.
-
Thanh Văn thừa: nhờ nghe âm thanh thuyết giáo của
Phật mà ngộ được đạo. Hàng Thanh
Văn biết khổ, đoạn tập, ưa diệt,
tu đạo, dùng Tứ đế làm thừa.
-
Duyên giác thừa: quán 12 nhân duyên, giác ngộ lư Chân
đế. Bắt đầu quán vô minh cho đến lăo,
tử, do nhân duyên sinh diệt này mà ngộ chẳng sinh
chẳng diệt, cho nên lấy 12 nhân duyên làm thừa.
-
Bồ-tát thừa: cầu Bồ-đề vô thượng,
nguyện độ tất cả chúng sinh, tu sáu độ,
lấy sáu độ này làm thừa.
Hai
thừa trước chỉ tự lợi, không lợi tha,
nên gọi chung là Tiểu Thừa; c̣n Bồ-tát thừa
đủ cả tự lợi, lợi tha nên thuộc
về Đại Thừa (TĐPH Huệ Quang, t. V, tr.
4221).
[2] Tướng
hảo: tướng quư và vẻ đẹp của thân
Phật.
-
Tướng là phần rơ ràng dễ thấy nơi nhục
thân Phật, gồm có 32 tướng.
-
Hảo là phần vi tế khó thấy nơi nhục thân
Phật, gồm 80 điểm.
Chuyển
Luân Thánh vương cũng có 32 tướng, nhưng 80
vẻ đẹp th́ chỉ Phật và Bồ-tát mới có.
Trong thời gian 100 đại kiếp ở đời quá
khứ, Phật đă tu nghiệp tướng hảo cho
nên đời này thành tựu thân tướng hảo
(TĐPH Huệ Quang, t. V, tr. 4980)
[3] Phiền
năo chướng và Sở tri chướng: Hai
chướng ngại do phái Du-già, tông Pháp Tướng phân
loại.
1.
Phiền năo chướng: Do chấp ngă mà sinh ra, v́ tất
cả các hoặc tham, sân, si… phát nghiệp nhuận sinh
phiền nhiễu thân tâm loài hữu t́nh, khiến sinh tử
măi trong ba cơi, năm đường, chướng ngại
quả Niết-bàn.
2.
Sở tri chướng (c̣n gọi là Trí chướng): do
chấp pháp mà sinh ra, v́ các hoặc tham, sân, si… làm ngu si mê
mờ, chướng ngại diệu trí Bồ-đề,
khiến không thể rơ biết sự tướng và
thật tính các pháp (TĐPH Huệ Quang, t. IV, tr. 3310).
[4] Hóa Thân:
Đức Phật v́ lợi ích cho chúng sinh mà hiện ra các
h́nh tướng. Sinh thân của Đức Phật
đầy đủ 32 tướng quư, cùng với Pháp Thân
gọi chung là Nhị thân (TĐPH Huệ Quang, t. II, tr.
1868).
[5] Chỉ
tŕ và Tác tŕ: hai phương diện của giới
luật.
-
Chỉ tŕ: Chỉ là ngăn chặn, tức ngăn
chặn thân và miệng không làm và nói những điều ác.
Chỉ tŕ là y vào Chỉ mà giữ ǵn giới thể,
dạy người chớ làm các điều ác, tức
chỉ cho các điều mục của hai bộ giới
Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni.
-
Tác tŕ: tạo tác, tức khuyến khích thân, miệng và ư
tạo tác các thiện nghiệp. Tác tŕ là y vào Tác mà giữ
ǵn giới thể, dạy người vâng làm các
điều thiện (TĐPH Huệ Quang, t. IV, tr. 3363).
[6] Khởi
hạnh: những hạnh được phát khởi
bằng ba nghiệp thân, miệng, ư. Nhờ tâm
Bồ-đề mà phát khởi các hạnh nghiệp như
thân lễ bái cung kính, miệng xưng niệm hồng danh,
tán thán Phật, ư quán sát nhớ nghĩ. Nếu chí thành phát
khởi ba hạnh nghiệp của thân, miệng, ư th́ ngay
hiện đời được nhiều lợi ích và
vị lai được sinh về Tịnh Độ
(TĐPH Huệ Quang, t. III, tr. 2325).
[7] Học
giới: (Học giới thành tựu): tu tập ba tụ
tịnh giới: Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp
thiện pháp giới, Nhiêu ích hữu t́nh giới để
thành tựu giới Ba-la-mật. Một trong sáu thành
tựu. V́ Bồ-tát muốn thành tựu sáu Ba-la-mật nên
phải thực hành sáu việc, trong đó, nêu thực hành
học giới lâu dài th́ Giới Ba-la-mật sẽ
được viên măn (TĐPH Huệ Quang, t. II, tr.
1918).
[8] Hóa thành: dụ cho
Niết-bàn của Tiểu Thừa chưa rốt ráo và không
thật; c̣n Bảo sở dụ cho Niết-bàn của
Đại Thừa, chỉ nơi an trụ rốt ráo chân
thật (TĐPH Huệ Quang, t. I, tr. 351)
[9] Nhị không
:
chỉ cho Nhân Không và Pháp Không, gọi chung là Nhân Pháp Nhị
Không, Sinh Pháp Nhị Không. Nhân Không c̣n gọi là Ngă Không. Sinh
Không là chỉ cho chân lư Nhân Ngă Không Vô. Hàng phàm phu vọng
chấp năm uẩn là Ngă, cho là chủ tể, sinh ra
phiền năo gây các ác nghiệp. V́ để phá trừ
vọng chấp này, Đức Phật nói lư năm uẩn
Vô Ngă, cho rằng Ngă chỉ là sự kết hợp giả
tạm của năm uẩn và không có chủ thể
nhất định, gọi là Nhân Không. Pháp Không, tức
nguyên lư của các pháp vốn không. Khi chưa đạt
được lư Pháp Không, hàng Nhị Thừa vẫn
chấp pháp năm uẩn là có thật; để phá
trừ vọng chấp này Đức Phật nói Bát-nhă thâm
huệ, giúp cho hàng Nhị Thừa thấy rơ tự tính
của năm uẩn vốn không (TĐPH Huệ Quang,
t. IV, tr. 3323).
[10] Ấm ma: Ngũ
ấm ma, hay Ngũ uẩn ma, là sắc thọ,
tưởng, hành và thức; do Năm ấm tích tụ mà
thành quả khổ trong sinh tử, như Ma vương có
khả năng làm cho chúng sinh hữu t́nh chịu nhiều
chướng hại (TĐPH Huệ Quang, t. III, tr.
3046).
[11] Bốn ma: (S. Catvăro
mărăh) bốn thứ ma cướp đi sinh mạng và
huệ mạng của con người.
1.
Uẩn ma, cũng gọi là Ngũ ấm ma, Ngũ chúng ma,
tức là năm uẩn sắc, thọ tưởng, hành, thức
chứa nhóm thành quả khổ sinh tử. Pháp sinh tử này
có công năng cướp đi huệ mạng.
2.
Phiền năo ma, tức là 108 phiền năo trong thân làm năo
loạn tâm thần của chúng sinh, cướp đi
huệ mạng, làm cho không thành tựu Bồ-đề.
3.Tử
ma, làm phân tán thân tứ đại của chúng sinh, gây ra
sự chết chóc, làm cho người tu hành không thể kéo
dài huệ mạng.
4.
Thiên tử ma, cũng gọi là Tha Hóa Tự Tại Thiên
tử ma: Ma vương ở từng trời thứ sáu
của cơi Dục, thường làm hại việc thiện
của người, ganh ghét pháp hiền thánh, gây ra những
việc nhiễu loạn làm cho người tu không thành
tựu được thiện căn xuất thế.
Trong
bốn loại ma trên, ba loại ma trước thuộc
nội ma, loại ma thứ tư thuộc ngoại ma
(TĐPH Huệ Quang, t. V, tr. 4083).
[12] Vô Sinh
Nhẫn: gọi đủ là Vô Sinh pháp nhẫn, Tu tập
Vô Sinh nhẫn. Vô Sinh nhẫn là một trong ba nhẫn,
nhẫn thứ tư trong năm nhẫn nói trong kinh Nhân
Vương; tức quán lư không sinh không diệt của các
pháp, nhận kỹ lư ấy, an trụ tâm bất
động. Theo luận Du-Già Sư Địa, q. 74,
Bồ-tát ở địa vị Bất thoái chuyển
nương vào ba tánh: Biến kế sở chấp, Y tha
khởi, Viên thành thật mà được ba loại Vô Sinh
nhẫn.
1.
Bản tánh Vô Sinh nhẫn: nghĩa là quán thể tánh của
Biến kế sở chấp đều không, biết rơ
bản tánh Vô Sinh.
2.
Tự nhiên Vô Sinh nhẫn: nghĩa là quán các pháp Y tha do nhân
duyên sinh, biết rơ chẳng phải tự nhiên mà sinh.
3.
Phiền năo khổ cấu Vô Sinh nhẫn: nghĩa là pháp tánh
chân như của thật tánh các pháp an trụ vô vi và không
tương ưng với tất cả tạp nhiễm,
biết rơ xưa nay vắng lặng (TĐPH Huệ Quang,
t. VII, tr. 6105).
[13] Mười
việc thiện: 1. Dùng bố thí để nhiếp
độ kẻ nghèo nàn; 2. Dùng tịnh giới để nhiếp
độ người phá giới; 3. Dùng nhẫn nhục
để nhiếp độ kẻ giận dữ; 4. Dùng
tinh tấn để nhiếp độ kẻ giải
đăi; 5. Dùng thiền định để nhiếp
độ kẻ loạn ư; 6. Dùng trí tuệ để
nhiếp độ kẻ ngu si; 7. Nói pháp trừ nạn
để độ kẻ bị tám nạn; 8. Dùng pháp
Đại Thừa để độ kẻ ưa pháp
Tiểu Thừa; 9. Dùng các pháp lành để cứu tế
người không đức; 10. Thường dùng tứ
nhiếp để thành tựu chúng sinh (phẩm Hương
Tích, kinh Duy-Ma).
[14] Pháp
nhẫn: cam chịu cảnh trái nghịch mà trong tâm không
sinh khởi sân hận, một trong Nhị nhẫn, Tam
nhẫn, Lục nhẫn, Thập nhẫn. Đại
Thừa Nghĩa Chương, q. 11, ghi: “An trụ trong
thật tướng các pháp gọi là Nhẫn”.
Pháp
nhẫn được chia làm hai loại: Khổ pháp
nhẫn và Đạo pháp nhẫn.
-
Khổ pháp nhẫn là chỉ cho sự tin nhận lư Khổ
đế của cơi Dục khi c̣n ở giai vị Kiến
đạo.
-
Đạo pháp nhẫn là chỉ cho sự tin nhận
Đạo đế của cơi Dục ở giai vị
Kiến đạo.
àng
Bồ-tát Đại Thừa ở giai vị Kiến
đạo của Sơ địa tin nhận lư Vô Sinh, nên
gọi là Vô Sinh pháp nhẫn (TĐPH Huệ Quang, t. IV,
tr. 3538).
[15] Thập tín: mười
tâm mà 10 giai vị đầu tiên trong 52 giai vị Bồ-tát
tu hành. Mười tâm này thuộc về Tín vị, có công
năng giúp cho hành giả thành tựu tín hạnh.
Phẩm
Hiền Thánh Danh Tự, kinh Bồ-Tát Anh Lạc Bản
Nghiệp, q. thượng, ghi 10 tâm là:
1.
Tín tâm: nhất tâm quyết định, mong muốn thành
tựu.
2.
Niệm tâm: thường tu niệm Phật, Pháp, Tăng,
Giới, Thí và Thiên.
3.
Tinh tấn tâm: nghe Bồ-tát tạng, siêng năng tu tập
thiện nghiệp không gián đoạn.
4.
Định tâm: tâm an trụ vào sự, vào nghĩa, xa ĺa
tất cả hư ngụy, phù phiếm và nhớ
tưởng phân biệt.
5.
Nghe Bồ-tát tạng: tư duy quán sát, rơ biết tất
cả pháp không ngă không nhân, tự tính không tịch.
6.
Giới tâm: thụ tŕ luật nghi thanh tịnh của
Bồ-tát, thân, khẩu, ư thanh tịnh, không phạm các
lỗi, nếu có phạm th́ sám hối trừ diệt.
7.
Hồi hướng tâm: hồi hướng các thiện
căn đă tu được về Bồ-đề, không
nguyện sinh vào các Hữu; hồi thí cho chúng sinh, không v́
riêng ḿnh; hồi hướng cầu chứng
được thật tế, không đắm trước
danh tướng.
8.
Hộ pháp tâm: pḥng hộ tâm ḿnh, không khởi phiền năo,
lại tu năm hạnh: mặc hộ, niệm hộ, trí
hộ, tức tâm hộ và tha hộ.
9.
Xả tâm: không tiếc thân mạng, tài sản, những ǵ
có được đều buông xả.
10.
Nguyện tâm: lúc nào cũng tu tập các nguyện thanh
tịnh (TĐPH Huệ Quang, t. VI, tr. 5321).
[16] Hai vô ngă: là nhân không
và pháp không, hoặc nhân vô ngă và pháp vô ngă.
1.
Nhân vô ngă: thân người đều do năm ấm
giả hợp tạo thành không có chủ thể chân
thật. Đó là pháp quán của Tiểu Thừa nhằm
đoạn trừ phiền năo chướng đạt
được Niết-bàn.
2.
Pháp vô ngă: các pháp đều do nhân duyên sinh vốn không có
tự tính. Đó là pháp quán của hành Đại Thừa
Bồ-tát để đoạn trừ sở tri
chướng, được quả vị Bồ-tát (Kinh Lăng-Già,
q. 1).
[17] Thắng
tấn phần: tu tập hạnh tự lợi gọi là
Tự phần, tu tập hạnh lợi tha gọi là
Thắng tấn phần.
[18] Nhị
chướng: hai sự chướng ngại, Phiền năo
chướng và Sở tri chướng. Phiền năo
chướng là do chấp ngă mà sinh ra, v́ tất cả các
hoặc tham, sân, si phát nghiệp nhuận sinh phiền năo
thân tâm chúng sinh, khiến sinh tử măi trong ba cơi, năm
đường, chướng ngại quả Niết-bàn.
Sở tri chướng, do chấp pháp mà sinh ra, v́ các
hoặc tham, sân, si làm cho mê mờ, chướng ngại
diệu trí Bồ-đề, khiến không thể rơ
biết sự tướng và thật tính của các pháp
(Luận Thành Duy Thức, q. 9).
[19] Sử: là tên khác
của phiền năo. V́ phiền năo dẵn dắt con
người ch́m đắm trong cơi mê, cho nên gọi
phiền năo là Sử.
[20] Kết: Kết
Sử, trói buộc chỉ cho phiền năo. V́ phiền năo
trói buộc chúng sinh vào cảnh mê, khiến không thể thoát
khỏi cái khổ sinh tử.
[21] Năm
biến hành: năm món tâm sở là Xúc, Tác, Ư, Thọ,
Tưởng và Tư. Năm tâm sở này có mặt cùng
khắp, v́ đầy đủ bốn nghĩa: Nhất
thiết tính là thông cả ba tính thiện, ác và vô kư. Nhất
thiết xứ là thông cả ba tính thiện, ác và vô kư.
Nhất thiết xứ là thông cả ba cơi chín địa.
Nhất thiết thời là có mặt ở tất cả
mọi thời gian. Nhất thiết câu là một pháp sinh
khởi th́ các pháp kia đều sinh khởi theo.
[22] Mười
một Tâm sở thiện: là một trong sáu nhóm tâm
sở do tông Duy thức lập ra:
1.
Tín: chấp nhận, ưa thích, không nghi tất cả
thiện pháp. Có ba loại:
-
Tín thật hữu là tin nhận sâu sắc lư chân thật
của các pháp.
-
Tín hữu đức là tin ưa sâu sắc đức chân
tịnh của Tam Bảo.
-
Tín hữu năng là có sức tin sâu xa đối với
tất cả thiện pháp thế gian, xuất thế gian.
2.
Tàm.
3.
Quư.
4.
Vô tham: tâm chán ĺa và không nhiễm trước cảnh ngũ
dục vừa ư.
5.
Vô sân: tâm thường nhẫn nhục, không khởi
giận tức đối với cảnh ngũ dục
trái ư.
6.
Vô si: hiểu biết và quyết đoán rơ ràng đối
với lư sự tất cả pháp, không mê lầm.
7.
Cần: tinh tấn tu tập tất cả thiện pháp,
không sinh lười mỏi, viên măn thiện nghiệp.
8.
Khinh an: xa ĺa sự năo loạn thô trọng và diệt
trừ các pháp làm chướng ngại thiền
định, điều ḥa thân tâm, trở nên an vui nhẹ
nhàng.
9.
Bất phóng dật: tinh tấn tu ba nghiệp thân, khẩu,
ư. Gia công mạnh mẽ, diệt trừ các hoặc phải
đoạn và thực hành các thiện pháp phải tu, mau
chóng thành tựu viên măn tất cả thiện pháp thế
gian, xuất thế gian, không buông lung.
10.
Hành xả: tinh tấn tu ba nghiệp thân, khẩu, ư
khiến tâm b́nh đẳng, an trụ trong vắng lặng,
xa ĺa tất cả các chướng như trạo cử,
hôn trầm.
11.
Bất hại: không làm tổn năo, không sân khuể
đối với tất cả chúng sinh hữu t́nh,
thường vận dụng tâm từ bi trừ diệt
khổ ách đem đến an vui cho họ ( TĐPH Huệ
Quang, t. VI, tr. 5271).
[23] Nhị biên: hai cực
đoan.
Thuyết
này, các luận đều giải thích khác nhau:
Luận
Trung Quán, q. 4: Nhị biên chỉ có, không hoặc
thường, vô thường.
-
Luận Thuận Trung, q. hạ: Nhị biên chỉ
thường, đoạn.
-
Luận Nhiếp Đại Thừa do sư Huyền Tráng
dịch, sư Thế Thân giải thích: Nhị biên chỉ
cho tăng ích và tổn giảm.
-
Chỉ Quán Phụ Hành, q. 3: Nhị biên chỉ không và
giả (TĐPH Huệ Quang, t. IV, tr. 3284).
[24] Xuất
triền: xuất ly trần tục, xuất ly trần
cấu phiền năo.
[25] Thắng
cảnh: ở đây là chỉ cho cảnh giới Tây
Phương Cực Lạc.
[26] Tử ma
kim: cũng gọi là Tử ma huỳnh kim, hoặc
Tử kim tức là vàng ṛng, là loại vàng tốt và quư
nhất, đồng với vàng Diêm-phù-đàn ở Ấn
Độ. Thân Phật là thân có màu Tử ma kim, có
tướng nhẫn nhục mềm mại, gọi là
“Tử ma nhẫn nhục” (TĐPH Huệ Quang, t. V,
tr. 4920).
[27] Tứ thiên
vương (Tứ Đại vương chúng thiên.
Tứ Thiên vương thiên, Tứ Đại Thiên
vương chúng thiên): tầng trời thứ nhất trong
sáu tầng trời ở cơi Dục, tầng trời
đầu tiên trong các Thiên xứ. Trong thế giới quan
của Phật giáo, ở tầng trời thứ tư
của núi Tu-di có một ngọn núi tên Do-kiên-đà-la, núi có
bốn đảnh. Tứ Thiên vương và bộ chúng
của mỗi vị đều ở một trong bốn
ngọn và đều trấn hộ một cơi nước,
một châu, nên gọi là Hộ Thế Tứ Thiên
vương, Tứ Trấn. Chỗ ở của bốn
vị này là “Tứ Vương thiên”. Tứ Thiên
vương gồm: Tŕ Quốc thiên ở phía Đông;
Tăng Trưởng thiên ở phía Nam; Quảng Mục thiên
ở phía Tây; Đa Văn thiên ở phía Bắc. Tứ
Vương thiên và Đao-lợi thiên gọi chung là Tứ
Vương Đao-lợi (TĐPH Huệ Quang, t. V, tr.
4877).
[28] Na-do-tha: danh từ
số lượng của Ấn Độ… Theo luận
Câu-xá, q. 12 th́ 1 na-do-tha = 100 a-dữu đa, 1 a-dữu-đa
= 10 ức, cho nên 1 na-do-tha = 1000 ức. Trong kinh Phật
thường dùng từ ngữ na-do-tha để nói về
số lượng cực lớn (TĐPH Huệ Quang,
t. III, tr. 2762).
[29]
A-tăng-kỳ: một đơn vị số lượng
của Ấn Độ, là số cực lớn, chẳng
thể tính đếm được. Theo cách đọc
th́ một a-tăng-kỳ = 10 lũy thừa 47. Trong 60
đơn vị số mục ở Ấn Độ th́
a-tăng-kỳ số thứ 52 (TĐPH Huệ Quang,
t. I, tr. 56).
[30] Đoàn
thực: ăn thức ăn được vắt thành
từng viên, chỉ cho tất cả thức ăn của
cơi Dục. Bởi v́ thức ăn của cơi Dục dùng ba
trần hưong vị, xúc làm thể và phân chia từng
phần, từng miếng mà ăn để nuôi
dưỡng mạng sống. Đoàn thực có hai loại:
-
Thô thực: như cơm, ḿ v.v…
-
Tế thực: như dầu, bơ, gia vị và các
đồ uống (TĐPH Huệ Quang, t. II, tr. 1535).
[31] Chánh
định tụ: giai vị của hành giả đă an
trụ trong Niết-bàn tịch diệt.
Theo
luận Câu-xá, q. 10, bậc Thánh giả Kiến đạo
trở lên đoạn hết Kiến hoặc, chứng
được Ly hệ, rốt ráo không c̣n lui sụt, an
định trong Niết-bàn trạch diệt của chính
tính. Giai vị của Bồ-tát từ Thập địa
trở lên cũng gọi là Chánh định (TĐPH Huệ
Quang, t. I, tr. 930).
[32]
A-bệ-bạt-trí: (Avinivartanĩya) Bất thoái chuyển.
Chỉ hàng Bồ-tát tu hành không lui sụt cho đến khi
thành Phật.
[33] Duy thức
quán (Duy thức Pháp Thân quán): chỉ pháp quán về lư
Pháp Thân, tức quán Phật và tâm là một thể. Pháp quán
tự tánh thanh tịnh Phật tính là quán Phật từ tâm
ḿnh hiển bày, pháp quán Duy thức Pháp Thân th́ quán Pháp Thân
Phật đồng thể với Pháp Thân của ḿnh, cho
nên tên th́ khác mà thể th́ đồng (TĐPH Huệ Quang,
t. II, tr. 1151).
34] Ác luật
nghi (Bất luật nghi, Ác giới): Vô biểu
sắc bất thiện sinh khởi do tham lợi hoặc do
cuộc sống mà làm các nghiệp sát sinh…
Theo
Luận Câu-xá, q. 14: Ác luật nghi là điều mà
người trí quở trách, nhàm chán, nên gọi là Ác hành, v́
nó làm chướng ngại giới luật thanh tịnh, nên
gọi là Ác giới; v́ không ngăn hành vi ác của thân và
ngữ, nên gọi là Bất luật nghi.
Theo
kinh Đại Bát-Niết-Bàn, 27 (bản Bắc): có 16
loại Ác luật nghi: 1. Nuôi dê cho mập, đem bán
để lấy lời; 2. Mua dê làm thịt bán để
lấy lời; 3. Nuôi heo cho béo, đem bán để lấy
lời; 4. Mua heo làm thịt bán để lấy lời; 5.
Nuôi trâu ḅ cho mập đem bán để lấy lời; 6.
Mua trâu ḅ làm thịt bán để lấy lời; 7. Nuôi gà
cho mập, đem bán để lấy lời; 8. Mua gà làm
thịt bán để lấy lời; 9. Đánh cá; 10. Săn
bắn; 11. Cướp giật; 12. Giết người; 13.
Giăng lưới bắt chim; 14. Nói ly gián; 15. Làm cai tù; 16.
Dùng chú thuật điều khiển rắn giúp
người xem vui, thu lợi để kiếm sống.
Kinh
Đại Phương Tiện Phật Báo Ân 6, nêu ra
12 loại Ác luật nghi: 1. Kẻ làm hàng thịt; 2.
Đầu đảng giết người; 3. Nuôi heo; 4.
Nuôi gà; 5. Đánh cá; 6. Săn bắn; 7. Giăng lưới
bắt chim; 8. Bắt rắn; 9. Chú long; 10. Cai tù; 11. Làm
kẻ cướp; 12. Vương gia sai bắt giặc
(TĐPH Huệ Quang, t. I, tr 84).
[35] Trí vô công
dụng: trí tuệ không cần dụng công mà có
được. Đối với Tiểu Thừa, Vô công
dụng trí là trí huệ không do gia hạnh mà vẫn có
được nhậm vận tự tại, là một
trong Tứ trí do quả viên đức phân ra. Đối
với Đại Thừa, Vô công dụng trí là trí của
Bồ-tát từ Bát địa trở lên, không nhờ thêm
sự dụng công, tự nhiên khế hợp với chân
tính. Trong mười địa của Bồ-tát thừa,
từ Bát địa trở lên là Vô công dụng địa,
được trí nhậm vận vô công dụng, tự
tại làm lợi ích cho chúng sinh, không bao giờ có niệm
lui sụt (TĐPH Huệ Quang, t. 7, tr. 6070).
[36] Tu hoặc: c̣n gọi
Tư hoặc. Gọi đủ là Tu đạo sở
đoạn hoặc. Các Hoặc được đoạn
trừ ở giai vị Tu đạo, tức các phiền
năo thuộc về mê sự: tham, sân, si được
đoạn trừ khi hành giả tu tập đến giai
vị Tu đạo (TĐPH Huệ Quang, t. V, tr. 4622).
[37] Vô dư
Niết-bàn: Niết-bàn hoàn toàn không có chỗ
nương trụ, đoạn hết phiền năo
chướng, diệt hết quả khổ Dị thục
do thân ngũ uẩn tạo thành; một trong bốn
loại Niết-bàn; một trong Cửu đế ( TĐPH Huệ
Quang, t. VII, tr. 6074).
[38] Ba danh
hiệu trước của Phật: Như Lai
(Tathăgata), Ứng Cúng (Arhat), Chánh Biến Tri (Samyak-sambuddha).
Sáu danh hiệu sau: Minh Hạnh Túc (Vidyă-caăna-sampanna),
Thiện Thệ (Sugata), Thế Gian Giải (Loka-vid), Vô
Thượng Sĩ (Anuttara), Điều Ngự
Trượng Phu (Purusa-damya-sărathi), Thiên Nhân Sư (‘Sătă
deva-manusyănăm) (TĐPH Huệ Quang, t. VI, tr. 5228).
[39] Ngũ
chủng bất năng nam (Ngũ chủng huỳnh
môn): Năm hạng người không có bộ phận
sinh dục nam, hoặc bộ phận sinh dục không
được hoàn bị. Theo luật Thập Tụng, q.
21:
1.
Sinh bất năng nam: sinh ra đă không có bộ phận sinh
dục nam.
2.
Bán nguyệt bất năng nam: nửa tháng có thể hành
dâm, nửa tháng không thể hành dâm.
3.
Đố bất năng nam: thấy người khác hành
dâm liền nổi lên ganh ghét rồi khởi lên tâm dâm.
4.
Tinh bất năng nam: lúc hành dâm bộ phận sinh dục
nam biến mất.
5.
Bệnh bất năng nam (Kiến bất năng nam): h́nh tàng
huỳnh môn: do bộ phận sinh dục nam bị bệnh
mà cắt bỏ (TĐPH Huệ Quang, t. III, tr. 2932).
[40] Quả
nhỏ: bốn quả vị mà hàng Thanh Văn thuộc
Tiểu Thừa chứng được. Giai đoạn
theo thứ lớp là: Quả Dự lưu, quả Nhất
lai, quả Bất Hoàn và quả A-la-hán (TĐPH Huệ
Quang, t. IV, tr. 4837).
[41] Tứ phi
thường (c̣n gọi Tứ vô thường): tức
vô thường, khổ, không, vô ngă. Trong kinh Nhân Vương
Bát-nhă ba-la-mật, q. hạ, có bài kệ Tứ phi
thường (Tứ phi thường kệ) nói về ư
nghĩa vô thường, khổ, không, vô ngă (TĐPH Huệ
Quang, t. VI, tr. 4900).
[42] Túc nhân: nghiệp
nhân tạo tác ở đời quá khứ. Nhân tuy có cả
thiện ác, nhưng túc nhân thông thường đều
chỉ thiện nhân; như nghiệp tuy có thiện, ác
nhưng túc nghiệp thường chỉ ác nghiệp
(TĐPH Huệ Quang, t. V, tr. 4640).
[43] Tam giai giáo (c̣n gọi
Tam giai tông, Phổ Pháp tông): tông phái Phật giáo do sư Tín
Hành (540-594) sáng lập vào đời Tùy, Trung Quốc,
đến thời Trung Đường th́ bị cấm
lưu hành do bị coi là dị đoan.
Tông
này căn cứ vào Thời, Xứ và Cơ mà chia Phật
pháp thành ba giai đoạn:
-
Giai đoạn thứ nhất: Thời là Chánh pháp, Xứ
là Phật quốc, Cơ là Phật, Bồ-tát. Giáo pháp
thụ tŕ trong giai đoạn này là Nhất thừa
Phật pháp của Đại Thừa.
-
Giai đoạn thứ hai: Thời là Tượng pháp,
Xứ là thế giới ngũ trược, Cơ là phàm
thánh lẫn lộn. Giáo pháp lưu hành trong giai đoạn
này là Tam thừa (gồm cả Đại Thừa lẫn
Tiểu Thừa).
-
Giai đoạn thứ ba: Thời là Mạt pháp, Xứ là
thế giới ngũ trược, Cơ đều là
những người tà giải, tà hạnh.
Sư
Tín Hành cho rằng đương thời đă là giai
đoạn thứ ba, chỉ toàn là những người
không tŕ giới, mất chính kiến mà thôi, nếu y theo các
pháp như Nhất thừa của giai đoạn thứ
nhất, Tam thừa của giai đoạn thứ hai… mà tu
hành th́ cũng thật là khó khăn, cho nên cần phải y
theo pháp của giai đoạn thứ ba, quy y Tam Bảo,
đoạn trừ tất cả điều ác, tu tŕ
tất cả điều thiện mới dễ thành
tựu. Đó chính là chủ trương cơ bản
của Tam giai tông (TĐPH Huệ Quang, t. V, tr. 4098).
[44] Phân biệt
huệ: Sức niệm huệ rơ biết sự sai khác
về tính chất lớn nhỏ, đẹp
xấu…của tất cả chúng sinh và các pháp (TĐPH Huệ
Quang, t. IV, tr. 3583).
[45] Ba thiện
căn: ba tâm sở thiện đối trị ba bất
thiện căn.
[46] Phổ thân: tất
cả chúng sinh đều là thân thuộc, cha mẹ, anh em…
[47] Ái kết: một trong
chín kết. Gọi tắt là Kết, c̣n gọi là Tùy
thuận kết. “Kết” nghĩa là trói buộc. Tham ái trói
buộc người, cho nên gọi là kết, tức chúng
sinh bị tham ái trói buộc, gây tạo các nghiệp bất
thiện như sát, đạo, dâm, vọng, do các nghiệp
này mà chiêu cảm quả khổ sinh tử ở đời
vị lai, trôi lăn trong ba cơi, không thể vượt ra
khỏi, cho nên gọi là Ái kết (PQĐTĐ).
[48] Đệ
nhị giai: giai đoạn thứ hai trong Tam giai giáo.
Giai đoạn này: Thời là Tượng pháp, Xứ là
Thế giới ngũ trược, Cơ là phàm thánh lẫn
lộn. Giáo pháp lưu hành trong giai đoạn này là giáo
nghĩa Tam thừa (Xem chú thích 43: “Tam giai giáo”, tr. 71).
[49] Bốn chúng
đệ tử: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc và
Ưu-bà-di hoặc chỉ cho bốn chúng xuất gia:
Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Sa-di, Sa-di-ni.
Theo
Pháp Hoa Văn Cú 2, q. hạ; Đại Minh Tam Tạng Pháp
Số, q. 15, ghi: Bốn chúng thính pháp trong hội thuyết
pháp của Đức Phật: Phát khởi chúng,
Đương cơ chúng, Ảnh hưởng chúng và
Kết duyên chúng (TĐPH Huệ Quang, t. V, tr. 4727).
[50] Thời
Tượng pháp: thời kỳ mà giáo pháp tương tự
với thời Chính pháp, thời thứ hai trong ba thời.
Sau khi Phật nhập diệt, y cứ vào sự vận
hành của giáo pháp mà chia ra làm ba thời: Chính pháp,
Tượng pháp và Mạt pháp. Thời kỳ này chỉ có
giáo thuyết và người tu hành, ít người chứng
quả.
Về
thời hạn của ba thời Chính, Tượng, Mạt
có nhiều thuyết khác nhau. Kinh Đại Phương
Đẳng Đại Tập, q. 56 và kinh Ma-ha Ma-da, q.
hạ, cho rằng Tượng pháp là 1000 năm; kinh
Hiền Kiếp, q. 3, q. 7, kinh Đại Thừa Tam Tụ
Sám Hối, kinh Bi Hoa, q. 7 kinh Đại Thừa Bi
Phân-đà-lợi th́ cho là 500 năm (TĐPH Huệ Quang,
t. V, tr. 4986).
[51] Năm
trược: năm thứ cặn đục khởi lên
trong kiếp giảm. Theo thuyết của kinh Bi Hoa, q. 5,
Pháp Uyển Châu Lâm, q. 98, ngũ trược chỉ cho:
1.
Kiếp trược: vào thời kiếp giảm, lúc
tuổi thọ con người rút ngắn c̣n 30 tuổi th́
nạn đói kém xảy ra, lúc giảm c̣n 20 tuổi th́
nạn bệnh tật xảy ra, lúc giảm c̣n 10 tuổi
th́ nạn chiến tranh xảy ra, tất cả chúng sinh
trong thế giới đều bị hại.
2.
Kiến trược: chính pháp đă diệt, tượng
pháp dần dần khởi, tà pháp bắt đầu sinh, tà
kiến tăng mạnh, làm cho con người không tu
tập pháp lành.
3.
Phiền năo trược: chúng sinh nhiều ái dục, tham lam
bỏn sẻn, thích đấu tranh dua nịnh, dối trá,
tiếp nhận tà pháp, nên tâm thần bị năo loạn.
4.
Chúng sinh trược: chúng sinh phần nhiều độc
ác, không hiếu kính cha mẹ, người lớn tuổi,
không sợ quả báo ác, không tạo công đức, không tu
huệ thí, không giữ ǵn trai giới.
5.
Mạng trược: thời xưa con người thọ
8 vạn tuổi, đời nay do ác nghiệp tăng
trưởng nên tuổi thọ giảm dần,
người trăm tuổi rất hiếm.
Trong
năm trược th́ kiếp trược là Tổng,
bốn trược c̣n lại là Biệt. Trong bốn
trược th́ kiếp trược và phiền năo
trược làm tự thể mà tạo thành chúng sinh
trược và mạng trược (TĐPH Huệ Quang,
t. III, tr. 3044).
[52] Ngũ ác,
Ngũ thống, Ngũ thiêu: năm thứ ác: sát sinh,
trộm cướp, tà dâm, lưỡng thiệt (nói ác, nói
dối, nói thêu dệt) và uống rượu. Nếu
tạo năm điều ác này, hiện đời bị
phép vua trị tội, thân gặp ách nạn, gọi là
ngũ thống (năm sự đau đớn); do năm
điều ác này, đời sau chịu quả báo
đọa ba đường khổ gọi là ngũ thiêu
(năm sự thiêu đốt) (TĐPH Huệ Quang, t.
III, tr. 2909).
[53] Nhất âm: âm thanh
của Đức Phật. Ư nói căn duyên của chúng sinh
có sâu, có cạn, nhanh chậm khác nhau. Do đó, cùng nghe
một âm giáo của Đức Phật, nhưng mỗi
người tiếp thu khác nhau. Nếu là căn cơ
người th́ nghe Đức Phật dạy Ngũ
giới; nếu căn cơ trời th́ nghe Đức
Phật dạy Thập thiện; nếu là căn cơ
Thanh Văn th́ nghe Đức Phật dạy pháp Tứ
đế; nếu là căn cơ Duyên giác th́ nghe Đức
Phật dạy pháp Thập nhị nhân duyên; c̣n nếu là
căn cơ Bồ-tát th́ nghe Đức Phật nói pháp
Lục độ.
Theo
kinh Duy-Ma, Đức Phật dùng một âm thanh diễn nói
chính pháp, chúng sinh tùy theo căn cơ chủng loại mà
được hiểu (TĐPH Huệ Quang, t. III, tr.
3178).
[54] Định
tán: Có hai:
1.
Định tán nhị tâm: định tâm và tán tâm, tức là
tâm trụ nơi thiền định và tâm phan duyên theo
lục trần. Định tâm có hai loại: hữu
lậu và vô lậu; Tán tâm có ba loại: Thiện, ác và vô kư.
Hai tâm này bao gồm tất cả tâm.
2.
Định tán nhị thiện: định thiện và tán
thiện, hai pháp thiện cần thiết của việc tu
hành cầu văng sinh Tịnh Độ Cực Lạc theo
chủ trương của sư Thiện Đạo.
Định thiện là lắng tâm dứt trừ tạp
niệm, Tán thiện là dứt trừ việc ác và tu
tập các hạnh lành. Trong 16 pháp quán nói trong kinh Quán Vô
Lượng Thọ th́ sư Thiện Đạo chủ
trương 13 pháp quán trước thuộc định
thiện v́ dùng định tâm mà quán y báo, chính báo của cơi
Tịnh Độ. Ba quán sau là tán thiện v́ do tán tâm mà tu
tập ba phước chín phẩm. Ngoài ra, căn cơ có
thể tu thiện gọi là Định cơ; căn cơ
không thể tu định thiện hoặc chỉ tu ba pháp
tán thiện gọi là tán cơ. Định cơ, tán cơ
gom nhiếp tất cả chúng sinh (TĐPH Huệ Quang,
t. II, tr. 1531)
[55] Tác
nghiệp: tạo tác hành nghiệp; là phương pháp tu hành
để đạt đến an tâm, khởi hạnh
của pháp môn Tịnh Độ; đó là pháp Tứ tu: Cung
kính tu, Vô dư tu, Vô gián tu và Trường thời tu: V́ an
tâm dễ lui sụt, khởi hạnh cũng khó tương
tục, cho nên thực hành pháp Tứ tu để kích phát tâm
hạnh, mau chóng được văng sinh (TĐPH Huệ
Quang, t. V, tr. 4038).
[56] Tán nhân. Tán
thiện: thiện nghiệp được tu tập
với tâm tán loạn. Sư Thiện Đạo th́ cho
rằng tu ba phước chín phẩm đều là Tán
thiện (TĐPH Huệ Quang, t. V, tr. 4243)
[57] Tam
phước (Tam Chủng Tịnh Phước; Tam
chủng tịnh nghiệp): ba chính nhân tịnh nghiệp,
cũng là ba nhân văng sinh Tịnh Độ:
1.
Hiếu dưỡng cha mẹ, thờ phụng sư
trưởng, từ tâm bất sát, tu tập 10 nghiệp
lành;
2.
Thụ tŕ Tam quy, đầy đủ các giới, không
phạm oai nghi;
3.
Phát tâm Bồ-đề, tin sâu nhân quả, đọc
tụng kinh điển Đại Thừa, khuyến
tấn người tu hành (TĐPH Huệ Quang, t.
V, tr. 4079).
[58] Hồi
hướng chung tâm: tâm cuối cùng của Thập hồi
hướng, tức Pháp giới vô lượng hồi
hướng. Tu tập tất cả vô tận thiện
căn, hồi hướng các thiện căn này nguyện
cầu vô lượng công đức trong pháp giới sai
biệt (TĐPH Huệ Quang, t. VI, tr. 5228).
[59] Thiện thú (Thiện
xứ, Thiện đạo): cảnh giới mà
người có nghiệp nhân thiện được sinh
về. Theo luận Đại Trí Độ, 30 cho rằng:
“Trong lục đạo th́ địa ngục, súc sinh và
ngạ quỷ thuộc về ác thú; c̣n trời,
người và a-tu-la thuộc về thiện thú”. Đây là
luận thuyết thông thường. Luận Câu-Xá cho
rằng trời và người thuộc về thiện thú
(TĐPH Huệ Quang, t. VI, tr. 5566).
[60] Thế
đệ nhất pháp: Gia hạnh vị thứ
tư trong bốn Gia hạnh vị, là pháp cùng cực
nhất của trí hữu lậu, thù thắng bậc
nhất trong các pháp thế tục.
Y
theo định Vô gián phát khởi trí huệ như thật
thượng phẩm, quán sát sở thủ năng thủ
là rỗng không, trực nhập giai vị kiến
đạo. Từ Nhẫn vị tiến lên, qua
được giai vị này th́ trong một sát-na kế
đó sẽ tiến nhập vào Kiến đạo vị,
nên gọi là bậc nhất trong các pháp hữu lậu
thế gian.
Luận
Câu-Xá 23 ghi: “V́ là pháp hữu lậu nên gọi là Thế gian;
rất tối thắng nên gọi là Đệ nhất (…)
v́ thế nên gọi Thế đệ nhất pháp (TĐPH Huệ
Quang, t. VI, tr. 5398).
[61] Biệt
Thời ư (Biệt thời ư thú, Thời thiết ư thú):
Như Lai dùng ư thú biệt thời để thuyết pháp,
một trong bốn ư thú, tức ư nghĩa lợi ích ở
thời gian khác. Người nào tụng tŕ danh hiệu
Phật Đa Bảo th́ quyết định đối
với Vô thượng Bồ-đề không c̣n lui sụt
hoặc người chỉ cần phát nguyện th́
liền được văng sinh cơi Phật An Lạc. Đây
là Như Lai v́ khuyên nhắc kẻ giải đăi không thích
tu hành, nên nói lợi ích lúc khác mà chẳng nói lợi ích ngay
lúc này.
Nhiếp
Đại Thừa Luận Thích, q. 6 (Đại 31, 194
trung) ghi: “Người thiện căn giải đăi
nhờ tụng tŕ danh hiệu Phật Đa Bảo mà
được tiến lên công đức thượng
phẩm”.
Phật
nói công đức thượng phẩm là nhằm vào
người có hạnh cạn cợt, muốn cho họ
bỏ giải đăi, siêng tu hành, chứ chẳng phải
do tụng danh hiệu Phật mà được không lui
sụt, quyết định đắc Vô thượng
Bồ-đề. Thí dụ từ một đồng
tiền vàng do kinh doanh lâu ngày nên sinh ra ngh́n đồng
tiền vàng, chẳng phải trong một ngày
được số tiền vàng đó. Một
đồng tiền vàng là nhân sinh ra hàng ngh́n đồng
tiền vàng.
Ư
Như Lai cũng vậy, tụng tŕ danh hiệu Phật là
nhân để chẳng lui sụt Bồ-đề (TĐPH Huệ
Quang, t. I, tr. 546).
[62] Biến
tướng: các bức họa vẽ về các truyện
tích bản sinh (tiền thân) của Phật, các cơi Tịnh
Độ trang nghiêm và các tướng trạng địa
ngục…dựa theo sự mô tả trong kinh điển.
Như vẽ cảnh Tịnh Độ của Phật
A-Di-Đà th́ gọi là Di-Đà Tịnh Độ biến;
vẽ cảnh Tịnh Độ của Bồ-tát
Di-Lặc trên cung trời Đâu-Suất, gọi là
Di-Lặc Tịnh Độ biến; c̣n nếu dựa theo
kinh Hoa Nghiêm để vẽ 7 chỗ 8 hội, hoặc 7
chỗ 9 hội, gọi là Hoa Nghiêm biến tướng;
vẽ các cảnh địa ngục th́ gọi là
địa ngục biến tướng v.v…(TĐPH Huệ
Quang, t. I, tr. 525).
[63] Do-tuần: đơn
vị đo độ dài thời xưa ở Ấn
Độ. Tiếng Phạn là Yojana: có nghĩa là mang ách,
phát xuất từ chữ gốc “Yuj” chỉ đoạn
đường con ḅ mang ách đi một ngày. Theo Đại
Đường Tây Vực Kư, q. 2: một do-tuần chỉ
lộ tŕnh một ngày hành quân của nhà vua. Có nhiều
thuyết khác nhau về cách tính do-tuần:
1.
Đổi ra Câu-lô-xá: theo phong tục Ấn Độ
cũng như phẩm Hiện Nghệ trong kinh Phương
Quảng Đại Trang Nghiêm, q. 4, phẩm Minh Thời Phân
Biệt trong kinh Ma-đăng-ca, q. hạ đều cho
rằng bốn câu-lô-xá là một do-tuần. Nhưng theo các
kinh điển của Phật như Hữu Bộ
T́-nại-da, q. 21; luận Đại T́-bà-sa, 136, luận
Câu-xá, 12 lại tính tám câu-lô-xá là một do-tuần.
2.
Tính theo số đo của Trung Quốc cũng có nhiều
thuyết khác nhau: theo Đại Đường Tây Vực
Kư, q. 2, một do-tuần xưa được tính là 20km,
theo Ấn Độ tính là 15km, trong Phật giáo tính là 8km;
theo Huệ Uyển Âm Hữu Bộ Bách Nhất Yết-Ma,
q. 3 của Nghĩa Tịnh th́ quốc tục Ấn
Độ tính là 16km, Phật giáo tính là 6km (TĐPH Huệ
Quang, t. I, tr. 1115).
[64] Càn thành: cũng
gọi là Bà thành, Càn-đạt thành. Nói đầy
đủ là Càn-thát-bà thành, Kiền-thát-bà thành,
Kiện-đạt-phạ thành và
Nghiễn-đạt-phạ thành. Thành quách do thần
Càn-thát-bà hóa hiện trong hư không. Ư nói lầu các, sông, núi,
rừng…đều là những thứ không có thật,
chỉ là ảo ảnh. Có người cho rằng mật
độ không khí ở biển, sa mạc và vùng hoang dă
nhiệt đới khi thay đổi làm cho ánh sáng bị
khúc xạ mà phát ra hiện tượng “lầu ṣ chợ
bể”. Trong các kinh điển Phật giáo, thuật
ngữ Càn-thát-bà thành thường được sử
dụng để chỉ cho các pháp không thật (TĐPH Huệ
Quang, t. I, tr. 662).
[65] Tam không,
Cửu đoạn:
-
Tam không: nhân không, pháp không, nhân pháp đều không.
Hoặc chỉ cho ba thứ không do tông Duy Thức y cứ
vào ba tánh Biến kế, Y tha khởi và Viên thành thật mà
lập ra.
1.
Vô tính không, c̣n gọi là Vô thể không, nghĩa là tính
Biến kế sở chấp đố́ trước
vọng t́nh tuy có nhưng thật ra nó không có thể tính.
2.
Dị tính không, thể tướng của Y tha khởi khác
với Biến kế sở chấp, tuy chẳng phải
không vô, nhưng cũng giống như cái do vọng t́nh
chấp trước, nên chẳng phải là có.
3.
Tự tính không, tính Viên thành thật là tự tính của các
pháp, hiển bày Nhân không và Pháp không (TĐPH Huệ Quang,
t. V, tr. 4116).
-
Cửu đoạn (Cửu vô gián đoạn, Cửu
vô ngại đạo): chín đạo vô lậu ở giai
vị đang đoạn phiền năo.
Ba
cơi chia làm chín địa, mỗi địa đều có
Tư hoặc, Kiến hoặc. Tư hoặc của
một địa lại chia làm chín phẩm đoạn
hoặc. Mỗi lần đoạn một phẩm hoặc
đều có Vô gián đạo và Giải thoát đạo.
Giai vị đoạn phiền năo này gọi là Vô gián
đạo, c̣n trí huệ đạt được sau khi
đoạn hoặc gọi là Giải thoát đạo. Tu
hoặc ở mỗi địa có chín phẩm, cho nên
đạo (phương pháp) đối trị cũng có
chín bậc, gọi là Cửu vô gián đạo, hay Cửu
giải thoát đạo. Ngoài ra, bậc Thánh vô học lúc tu
luyện căn, chuyển chủng tánh, cũng có Cửu vô
gián đạo hay Cửu giải thoát đạo (TĐPH Huệ
Quang, t. I, tr. 842).
[66] Thập
địa, Ngũ tu:
-
Thập địa: cũng gọi là Thập trụ,
mười giai vị trong quá tŕnh tu hành của đệ
tử Phật. “Địa” nghĩa là trụ xứ,
trụ tŕ và sinh thành, tức vào giai vị ấy lấy
đó làm nhà, đồng thời giữ ǵn pháp,
trưởng dưỡng pháp khiến cho sinh quả.
Mười địa là chỉ chung cho cả Ba thừa.
Trong kinh Đại Phẩm Bát-Nhă 6, 17 ghi: Càn huệ
địa, Tính địa, Bát nhân địa, Kiến
địa, Bạc địa, Ly dục địa, Dĩ
tác địa, Bích Chi Phật địa, Bồ-tát
địa và Phật địa (TĐPH Huệ Quang,
t. VI, tr. 5212).
-
Ngũ tu (Ngũ trùng Duy Tức): năm lớp quán
về ba tính Duy thức theo thứ tự từ cạn
đến sâu, từ thô đến tế do ngài Khuy Cơ
tông Pháp tướng lập ra:
1.
Khiển hư tồn thật thức: Khiển là ngăn
chặn, tức phủ định. Trong ba tính, Biến
kế sở chấp là hư vọng, thể dụng
đều không, cho nên phải xả bỏ, lấy Y tha,
Viên thành thật làm thể tướng và thật tánh
của các pháp. V́ hai tính này chân thật, cho nên giữ
lại, đồng thời quán hai tính này là sở hiện
của Duy thức.
2.
Xả lạm lưu thuần thức: ở lớp quán
thứ nhất, sự Y tha và lư Viên thành mặc dù không ĺa
thức, nhưng trong thức c̣n cảnh khách quan
(Tướng phần) và tâm chủ quan (Kiến phần,
Tự chứng phần), tâm chỉ có bên trong, cảnh thông
cả bên ngoài. V́ sợ cảnh bên trong là Tướng
phần và cảnh bên ngoài tâm lẫn lộn không thể
đạt đến chính quán cho nên phải bỏ cảnh
giữ tâm.
3.
Nhiếp mạt qui bản thức: ở lớp quán
thứ hai, tuy đă xa ĺa cảnh tạp loạn do tâm và
cảnh đối đăi sinh ra, nhưng tâm pháp
được lưu giữ vẫn có gốc của
tự thể thức (Tự chứng phần) và ngọn
của tác dụng (Kiến, tướng phần) khác nhau.
V́ ngọn ĺa gốc th́ không tồn tại, nên phải thu
ngọn về gốc.
4.
Ẩn liệt hiển thắng thức: tự thể
của tâm vương và tâm sở mặc dù giống nhau
về việc Kiến phần và tướng phần
biến hiện thành năng duyên, sở duyên, nhưng các tâm
sở lại bị phụ thuộc vào tâm vương, có
tác dụng rất yếu, nên cần phải che giấu mà
hiển bày các tâm vương mạnh mẽ.
5.
Khiển tướng chứng tính thức: ở lớp
thứ tư, mặc dù đă hiển bày sự tồn
tại của tâm vương, nhưng tâm vương có
Sự và Lư (Sự là tướng dụng của Y tha khởi;
Lư là tính thể của Viên thành thật) khác nhau, nên cần
phải loại bỏ tướng dụng của Y tha,
chứng nhập thật tính Viên thành (TĐPH Huệ Quang,
t. III, tr. 3042).
[67] Chín cơi (Cửu
hữu t́nh cư, Cửu chúng sinh cư, Cửu cư,
Cửu môn): chín chỗ cư trú của chúng hữu t́nh.
Đó là: 1. Trời và người nơi cơi Dục; 2.
Trời Phạm Chúng; 3. Trời Cực Quang Tịnh; 4.
Trời Biến Tịnh; 5. Trời Vô Tưởng; 6.
Trời Không Vô Biên; 7. Trời Thức Vô Biên; 8. Trời Vô
Sở Hữu; 9. Trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng
(TĐPH Huệ Quang, t. I, tr. 824).
[68] Nhị vô (Nhị vô
ngă, Nhân không pháp không, Ngă pháp nhị không, Nhân vô ngă và Pháp vô
ngă):
-
Nhân vô ngă: thân người là do năm uẩn giả
hợp, không có ngă thể chân thật. Đó là Pháp quán
của Tiểu Thừa để đoạn trừ
phiền năo chướng, được Niết-bàn.
-
Pháp vô ngă: các pháp do nhân duyên sinh, không có tự tánh. Đó là
pháp quán của hành Đại Thừa Bồ-tát để
đoạn trừ Sở tri chướng, được
quả vị Bồ-tát (TĐPH Huệ Quang, t. IV, tr.
3365).
[69] Đạt
vọng: liễu đạt các pháp đều hư
vọng, không thật.
[70] Pháp tu
thiểu học: tu tập pháp môn Tịnh Độ.
[71] Hậu
Ngụy: một trong những triều đại thời
Nam Bắc triều. Thác Bạt Khuê thuộc bộ tộc
Tiên Ty tự lập làm Đại vương, đặt
quốc hiệu là Ngụy, cũng gọi là Bắc
Ngụy, Thác Bạt Ngụy, Nguyên Ngụy. Để khác
biệt với Ngụy Tam Quốc thời trước nên
sử gọi là Hậu ngụy (Công nguyên 386-557) (Trung
Quốc ĐTĐ, tr. 1853. c).
[72]
Kiền-độ bạt-cừ: cũng gọi là
Kiền-đà, Kiền-đồ, Càn-độ,
Tắc-kiền-đà… Hán là uẩn, tụ, chúng, phân
đoạn.
Bạt-cừ:
Phân loại, biên tập, sắp xếp những pháp
đồng loại lại một chỗ, tương
đương với phẩm hay tiết.
(TĐPH
Huệ Quang, t. III, tr. 2142).
[73] Duy Thức
Luận: c̣n gọi Thành Duy Thức Luận, 10 quyển, do
10 đại luận sư soạn, ngài Huyền Trang
dịch, được xếp vào Đại Chính Tạng,
tập 31 (TĐPH Huệ Quang, t. II, tr. 1150).
[74] Kiền-chùy
(Kiền-tŕ, Kiền-trĩ, Kiền-để): khí cụ
dùng để đánh báo giờ trong tự viện. Theo
luật Ngũ Phần 18 và Đại Tỳ-kheo Tam Thiên Oai
Nghi, q. hạ, khi bố-tát hoặc tụng kinh hoặc
tập hội chúng tăng thọ trai v.v…đều có
thể đánh kiền-chùy, giống như việc đánh
bảng trong các tự viện ngày nay. Tiếng Phạn là
ghanta, trong các kinh dịch có khác nhau, hoặc dịch là
chuông, khánh, linh báu, mơ v.v…(TĐPH Huệ Quang, t. III, tr.
2143).
[75] Trần-na: (c̣n gọi
Vực Long, Đại Vực Long, Phương
Tượng). Ngài là Đại luận sư Ấn
Độ, sống vào khoảng thế kỷ V, VI, là
người tập đại thành Nhân Minh Luận của
Phật giáo Ấn Độ, người nước
Hương Chí thuộc Nam Ấn Độ, ḍng họ
Bà-la-môn.
Ban
đầu, sư tu theo ngoại đạo, rồi gia
nhập Độc Tử Bộ của Tiểu thừa.
Về sau, sư thờ ngài Thế Thân làm thầy, nghiên
cứu Phật giáo Đại, Tiểu Thừa. Sư
từng thụ Minh chú với một vị A-xà-lê, nhận
được bí pháp sâu xa. Về sau, Sư đến
nước Ô-đồ tu tập thiền định.
Sư nói năng rất khéo léo, chiết phục
được rất nhiều ngoại đạo,
nhờ biện luận với học phái Ni-da-da mà Sư
nổi tiếng. Sư thường giảng luận Câu-xá,
Duy Thức, học thuyết Nhân Minh… Trần-na luận
tức luận Nhân Minh Chánh Lư Môn Luận Bản (TĐPH Huệ
Quang, t. VII, tr. 5759).
[76] Nhân Minh: môn Luận
lư học của Phật giáo, giống như Logic học
hay Tam đoạn luận của Tây Phương, lấy
nhân làm trọng tâm để biện chứng.
Người
sáng lập ra Nhân minh ở Ấn Độ là Túc Mục
Tiên nhân, tị tổ của phái Ni-da-da, tức là phái Chính
lư, một trong sáu phái triết học Ấn Độ có
trước thời Dức Phật Thích-ca.
Sau
khi đức Phật thành đạo, Ngài thường
sử dụng Nhân Minh để thuyết pháp lợi sinh.
Khoảng 700 năm sau Đức Phật nhập diệt,
ngài Long Thọ soạn Phương Tiện Tâm Luận
để tŕnh bày về Nhân minh. Sau ngài Long Thọ
khoảng 200 năm, ngài Di-Lặc thuyết luận
Du-Già-Sư-Địa 100 quyển, trong đó có 15 quyển
nói về phương pháp lư luận Nhân minh. Sau đó, ngài
Vô Trước soạn luận Hiển Dương Thánh Giáo
10 quyển, nói rơ phương pháp nghị luận của
Nhân minh. Ngài Thế Thân soạn ba bộ luận Quỹ,
luận Thức và luận Tâm, có thể được xem
là người tập đại thành quy tắc lư luận
của Nhân minh (xin tham khảo Phật Quang ĐTĐ);
(TĐPH Huệ Quang, t. IV, tr. 3146).
[77] Tông Ngũ
Tánh: tông Duy thức. Tông nầy chủ trương
năm tánh sai biệt.
[78] Ngọc
chẩm: xương ngọc chẩm nhô lên ở phía sau
cổ. Người nào có tướng quư này th́ rất giàu
sang.
[79] Hệ: một
lời văn đặt ở cuối để tổng
kết toàn bộ bài văn.
[80]
Thượng Sinh Kinh Sớ (gọi đủ là
Di-Lặc Thượng Sinh Kinh Sớ, Quán Di-Lặc
Thượng Sinh Kinh Sớ, Quán Di-Lặc Thượng Sinh
Kinh Thụy Ứng Sớ, Quán Di-Lặc Thượng Sinh Đâu-Suất
Thiên Kinh Tán): kinh sớ, hai quyển do ngài Khuy Cơ soạn
vào đời Đường. Đây là bộ sách chú thích
kinh Quán Di-Lặc Bồ-tát Thượng Sinh Đâu-Suất
Thiên do Thư Cừ Kinh Thanh dịch (TĐPH Huệ Quang,
t. II, tr. 1052).
[81] Đồng
quy nhất thật (Vạn thiện đồng qui giáo): giáo
thứ tư trong Ngũ thừa giáo, do ngài Huệ Quán và
Lưu Cù (Cầu) lập ra vào thời Nam triều. Tức
là giáo pháp dùng kinh Pháp Hoa làm “Hội Tam Quy Nhất” (khai
hội tam thừa đồng quy nhất thừa),
để khiến vạn thiện đều quy
hướng về Bồ-đề (TĐPH Huệ Quang,
t. II, tr. 1597).
[82] Tùy tăng: tùy thuận
tăng trưởng. Phiền năo ở trong cảnh sở
duyên (đối cảnh) hoặc ở trong pháp tương
ưng (tâm và tâm sở) đều ḥa thuận, ảnh hưởng
và cùng tăng trưởng lẫn nhau. Cái trước
gọi là Sở duyên tùy tăng, cái sau gọi là tương
ưng tùy tăng (TĐPH Huệ Quang, t. V, tr. 4674).
[83] Bản Giác: cũng
gọi là Thỉ giác, Bản Giác viên minh. Tính giác sẵn có,
tức là bản thể thanh tịnh có đầy
đủ tướng b́nh đẳng, lúc nào cũng hàm
chứa đức sáng suốt của đại trí
tuệ, xa ĺa những tâm niệm sai biệt của thế
tục.
V́
chúng sinh bất giác nên phải trải qua sự tu tập
hiện đời, thứ lớp đoạn trừ các
hoặc lậu mê lầm từ vô thỉ đến nay,
từ giác trí khai mở nguồn tâm sẵn có, bản tính
của nguồn tâm ấy là giác thể xưa nay thanh
tịnh sáng suốt tṛn đầy, nên gọi là Bản Giác
viên minh (TĐPH Huệ Quang, t. I, tr. 276).
[84] Sư: chỉ cho
ngài Khuy Cơ.
[85] Bất
Định Tánh: gọi đúng là bất định
địa pháp. Một trong sáu loại tâm sở do tông Câu-Xá
lập. Bất định gồm có tám loại tâm sở:
tầm, tứ, thùy miên, ố tác, tham, sân, mạn và si
(TĐPH Huệ Quang, t. I, tr. 463).
[86] Ba Thừa (Tam
Thừa): ba xe dụ cho ba pháp môn chuyên chở chúng sinh
vượt qua sinh tử đến bờ Niết-bàn.
Y
vào căn cơ của chúng sinh có độn căn, trung
căn và lợi căn khác nhau, Đức Phật có ba
thứ giáo pháp là Thanh Văn thừa, Duyên giác thừa và
Bồ-tát thừa.
1.
Thanh Văn thừa: nhờ nghe âm thanh thuyết giáo của
Đức Phật mà được ngộ đạo nên
gọi là Thanh Văn. Hàng Thanh Văn biết khổ,
đoạn tập, ưa diệt và tu đạo, dùng
Tứ đế này làm thừa.
2.
Duyên giác thừa: cũng gọi là Bích-chi Phật thừa,
Độc giác thừa. Quán 12 nhân duyên giác ngộ lư chân
đế, nên gọi là Duyên giác. Bắt đầu quán vô
minh cho đến lăo, tử diệt, do nhân duyên sinh diệt
này mà ngộ chẳng sinh chẳng diệt, cho nên lấy 12
nhân duyên này làm thừa.
3.
Bồ-tát thừa: cũng gọi là Đại Thừa,
Phật thừa, Như Lai thừa. Cầu
Bồ-đề vô thượng, nguyện độ
tất cả chúng sinh, tu tập sáu độ và lấy sáu
độ này làm thừa (TĐPH Huệ Quang, t. V, tr.
4221).
[87] Nhất
thừa: phương pháp duy nhất giúp chúng sinh
đạt đến quả vị Phật. Đức
Phật giảng pháp Nhất thừa giúp chúng sinh theo đó
mà tu hành, vượt ra ngoài biển khổ sinh tử, chuyên
chở hành giả đến bờ Niết-bàn. Kinh Pháp
Hoa mượn h́nh ảnh Thất bảo đại xa
(xe lớn bằng bảy báu) để dụ cho Nhất
thừa, c̣n gọi là Phật thừa, giáo pháp hướng
dẫn đến tri kiến Phật của chính ḿnh.
[88] Đâu-suất: Trong chánh văn tác
giả dùng Đổ-sử, là cơi trời Tri Túc, Tịnh
Độ của Bồ-tát Di-Lặc, nó có nội viện
và ngoại viện. Nội viện là nơi Bồ-tát
Di-Lặc thường thuyết pháp, c̣n ngoại viện là
nơi thiên chúng hưởng thọ dục lạc, khó
được nghe pháp.
[89] Sở y: đối
lại với Năng y, là pháp được nương
tựa. Duy Thức học gọi pháp được
nương tựa khi tám thức tâm và tâm sở sinh
khởi là sở y. Có ba loại: 1. Nhân duyên y cũng gọi
là Chủng tử y: chỉ nhân sinh khởi của các pháp
hữu vi, chính là chủng tử của mỗi pháp trong
tất cả các pháp; 2. Tăng thượng duyên y, cũng
gọi là Câu hữu y: Chỉ sở y khởi chuyển
của tâm, tâm sở pháp, tức chỉ nội lục
xứ. 3. Đẳng vô gián duyên, cũng gọi Khai
đạo y: chỉ sở y để tâm và tâm sở pháp
hiện khởi. (TĐPH Huệ Quang, t. IV, tr. 3981).
[90] Tam hội (Long Hoa tam
hội, Long Hoa tam đ́nh, Di-Lặc tam hội Từ Tôn tam
hội, Long Hoa hội): ba hội thuyết pháp của
Đức Phật Di-Lặc dưới cội Long Hoa.
Sau
khi Đức Phật Thích-Ca nhập diệt 56 ức 7 ngh́n
vạn năm, Bồ-tát Di-Lặc từ cơi trời
Đâu-Suất hạ sinh xuống nhân gian, xuất gia
học đạo, ngồi dưới cội Long Hoa trong
vườn Hoa Lâm, thành Sí-đầu, thành bậc Chánh
Đẳng Chánh Giác, trước sau ba lần thuyết
pháp.
Theo
phẩm Tam Thế Đẳng, kinh Bồ-tát Xử Thai, 2,
trong Long Hoa tam hội, hội thứ nhất thuyết pháp
độ 96 ức người thành đạo quả,
hội thứ 2 độ 94 ức người và hội
thứ 3 độ 92 ức người (TĐPH Huệ
Quang, t. III, tr. 2476).
[91] Tứ trí
tâm phẩm: bốn trí vô lậu mà quả vị
Phật chứng được do chuyển bỏ thức
uẩn hữu lậu sở y.
Theo
luận Thành duy thức 10, Phật địa kinh luận
3, tông Duy thức lập trí phẩm của đại
Bồ-đề thành bốn thứ Vô lậu trí
tương ưng tâm phẩm:
1.
Đại viên cảnh trí tương ưng tâm phẩm: trí
do chuyển thức A-lai-da (thức thứ tám) mà
được. Trí này ĺa các phân biệt, hành tướng
sở duyên vi tế khó biết, không mê vọng, không ngu si
đối với tất cả cảnh tướng, tính
tướng thanh tịnh, ĺa các tạp nhiễm, như ánh
sáng của tấm gương tṛn lớn, soi khắp
vạn tượng sự lư, không sót một mảy may.
2.
B́nh đẳng tánh trí tương ưng tâm phẩm: trí do
chuyển thức Mạt-na (thức thứ bảy) mà
được. Trí này quán tất cả pháp, tự tha
hữu t́nh thảy đều b́nh đẳng,
thường tương ưng với đại từ
bi…b́nh đẳng phổ độ tất cả chúng sinh.
3.
Diệu quán sát trí tương ưng tâm phẩm: trí do
chuyển Ư thức (thức thứ sáu) mà được.
Trí này khéo quán tự tướng, cộng tướng
của các pháp, chuyển biến vô ngại, tự tại
thuyết pháp tùy theo căn cơ khác nhau của chúng sinh
hữu t́nh để giáo hóa họ.
4.
Thành sở tác trí tương ưng tâm phẩm: trí do
chuyển năm thức trước (nhăn thức, nhĩ
thức, tỷ thức…) mà được. Trí này muốn
làm lợi lạc cho các hữu t́nh, cho nên có khả năng
ở trong 10 phương v́ chúng sinh mà hành thiện bằng
ba nghiệp thân, khẩu, ư của ḿnh, thành tựu những
việc theo năng lực của bản nguyện (TĐPH
Huệ Quang, t. V, tr. 4890).
[92] Phế
thuyên đàm chỉ: dứt bỏ ngôn ngữ, văn tự,
tư duy bàn luận, giải thích ư chỉ. Thuật ngữ
của tông Pháp Tướng.
-
“Thuyên” nghĩa là “Y thuyên đàm chỉ”, tức
dựa vào lời giải thích mà bàn về ư chỉ, tức
thông qua cửa giải thích bằng ngôn ngữ, văn
tự, tư duy để bàn luận về ư nghĩa
của tông chỉ. Chẳng hạn “Chân như” là
đế lư quan trọng của Phật giáo, không thể
giải thích bằng lời, cũng không thể gọi tên,
nhưng v́ khiến cho ngựi ngộ được ư
nghĩa, thể tánh của nó nên gượng lập ra danh
từ “Chân như”, dùng danh từ để bàn luận
về ư chỉ chân thật thường như.
-
“Chỉ” nghĩa là “Phế thuyên đàm chỉ”,
tức là dứt bỏ ngôn ngữ, văn tự, tư duy,
dùng chánh trí chứng đắc thể hội ư chỉ chân
lư trong nội tâm, tương đương với “Ly ngôn
chân như” nói trong luận Đại Thừa Khởi Tín.
Chẳng hạn như Nhị đế trong bốn
lớp chân tục do tông Pháp Tướng lập ra, chân
đế của lớp thứ tư là “Nhất chân pháp
giới”, là thứ Chân đế không thể giải thích
bằng ngôn ngữ mà phải nội chứng bằng Thánh
trí (PQĐTĐ, q. 5, tr. 609), (TĐPH Huệ Quang, t. VI,
tr. 5677).
[93]
Nhất thật như (Nhất thật chân như,
Nhất thật đế): tuyệt đối, chân
thật. Tức lư thể chân như thật tướng.
Thật: Thật tướng không điên đảo, không
hư vọng, b́nh đẳng không hai. Thật đế là
một trong các Thắng đế.
Theo
chủ trương của tông Tịnh Độ: Nhất
thật là bản nguyện của Phật A-Di-Đà
(TĐPH Huệ Quang, t. IV, tr. 3241)
[94]
Đô-sử: Đô-sử-đa cung (Tusita): là chỗ
ở của Bồ-tát Di-Lặc (TĐĐPB), (xem chú thích
88: Đâu-Suất, tr. 135).
[95] Lai nghinh: chư
Phật, Bồ-tát và hàng Thánh chúng đến tiếp đón
những người phát nguyện sinh về Tịnh
Độ lúc họ lâm chung. Đức Phật A-Di-Đà và
hai vị Bồ-tát Quán Thế Âm, Đại Thế Chí
với tư thế nghinh đón được vẽ trong
tranh lai nghinh, gọi là Lai nghinh Tam Tôn (TĐPH Huệ Quang,
t. III, tr. 2365).
[96] Bản
nguyện (Bản hoằng thệ nguyện): lời
nguyện độ sinh của chư Phật và Bồ-tát
ở đời quá khứ khi c̣n ở giai vị Tu nhân.
Chữ bản ở đây được hiểu theo
nghĩa là gốc. Dù tâm rộng lớn, thệ nguyện vô
lượng, nhưng cũng chỉ lấy nguyện
cứu độ chúng sinh này làm gốc, nên gọi là
bản nguyện.
Tất
cả Bồ-tát đều phát tâm Bồ-đề, dùng
hoằng thệ nguyện vững chắc để
cứu độ chúng sinh, đoạn trừ phiền năo,
tích lũy đức hạnh đến khi nào thành Phật
mới thôi (TĐPH Huệ Quang, t. I, tr. 287).
[97] Biệt
nguyện: thệ nguyện riêng của chư Phật và
Bồ-tát. Những lời thệ nguyện này là tùy theo
sở thích của chư Phật và Bồ-tát phát ra. Như
48 lời đại nguyện của Phật A-Di-Đà
(Tỳ-kheo Pháp Tạng), 500 đại nguyện của
Phật Thích-Ca trong kinh Bi-Hoa, q. 7; mười hai lời
nguyện của Phật Dược Sư v.v…Trái lại,
Tổng nguyện là nguyện chung của chư Phật và
Bồ-tát, như Tứ hoằng thệ nguyện (TĐPH Huệ
Quang, t. I, tr. 541).
-
Siêu thế biệt nguyện (Siêu thế nguyện):
bốn mươi tám nguyện thù thắng của
đức Phật A-Di-Đà. Khi Đức Phật
A-Di-Đà c̣n làm Tỳ-kheo Pháp Tạng, Ngài tham khảo các
nguyện của chư Phật, suy nghĩ kỹ càng trong
suốt năm kiếp mới lập thành 48 điều
nguyện. Nguyện của Ngài thù thắng hơn hết
trong các nguyện của chư Phật ở thế gian,
nên gọi là Siêu thế biệt nguyện (TĐPH Huệ
Quang, t. IV, tr. 3941).
[98] Đắc
ích: một khoa trong Quán Vô Lượng Thọ Kinh
Sớ do ngài Thiện Đạo đời
Đường, Trung Quốc phân chia khi trùng tân kinh văn
trong hội Vương Cung của kinh Vô Lượng
Thọ. Thông thường, kinh văn được chia
thành ba phần: phần Tựa, phần Chính tông, và phần
Lưu thông, tức là tam phần khoa kinh. Nhưng ngài
Thiện Đạo đem khoa vốn có trong hội
Vương Cung chia làm bốn khoa, tức sau phần Chính
tông có thêm phần Đắc ích. Phần này bắt
đầu từ câu “Thuyết thị ngữ thời…”
đến câu “chư thiên phát tâm”. Theo cách phân biệt
của ngài Thiện Đạo th́ gồm có năm hạng
mục: nội phần tổng điệp (toàn bộ
phần trong), năng văn pháp nhân (người có thể
nghe pháp), Vi-đề đắc ích (Vi-đề
được lợi ích), thị nữ đắc ích
(người hầu nữ được lợi ích),
chư thiên đắc ích (chư thiên được
lợi ích) (TĐPH Huệ Quang, t. II, tr. 1461).
[99] Đại
sư Khuy Cơ trụ chùa Từ Ân ở Kinh Triệu, nên
người đời sau tôn xưng Ngài là Từ Ân
đại sư