Du Tâm An Lạc
Đạo là bộ luận do sư Nguyên Hiểu
người nước Tân La soạn, được
xếp vào Đại Chính Tạng, t. 47 và Tịnh
Độ Toàn Thư, q. 6. Sách này xưa nay rất cần
thiết cho các hành giả tu Tịnh Độ. Thế
nhưng, trong các đạo tràng Tịnh nghiệp hiện
nay chưa có bản dịch sang Việt văn để
hành giả tu Tịnh nghiệp tham cứu. Mặc dù
hiện nay kinh sách nói về pháp môn Niệm Phật rất
nhiều, song vẫn có không ít người tuy niệm
Phật, nhưng tâm vẫn c̣n những nghi ngờ về
vấn đề văng sinh, nên dẫn đến việc tu
tập bị chướng ngại và lui sụt.
Khi đón nhận
bản Hán văn từ tay thầy Chủ Nhiệm, chúng tôi
cảm thấy vừa mừng vừa lo. Mừng v́
được thầy tin tưởng giao phó trách
nhiệm; c̣n lo là v́ nghĩ rằng tác phẩm càng ngắn
th́ càng khó dịch. Hơn nữa, tác giả lại là
một vị Tăng được phong là Quốc sư
nước Tân La (Triều Tiên), sống vào đầu
thế kỷ V. Văn của Ngài là loại văn bác
học cổ xưa, rất cô đọng, mà bản thân
người dịch là hàng hậu học cách xa 15 thế
kỷ, vốn Phật học nông cạn, tŕnh độ
Hán ngữ c̣n non kém, phương pháp tra cứu chưa
vững vàng...
Thiết nghĩ, góp
hương sắc vào vườn hoa Tâm, giúp hành giả phát
khởi niềm tin; gieo mầm sen trên mảnh đất
Huệ, mong người tu tăng thêm sức định,
cũng là việc nên làm! Do đó, dù c̣n nông cạn cả
về học lẫn tu, nhưng chúng tôi cũng gắng
vận dụng hết khả năng, phát tâm chuyển
dịch tác phẩm này sang văn Việt, nguyện cho hành
giả tu Tịnh nghiệp Văn - Tư - Tu càng ngày càng
tăng trưởng, Tín - Hạnh - Nguyện mỗi lúc
một vững bền.
Hoàn thành dịch
phẩm này, người dịch xin thành tâm kính lễ tri ân:
- Song thân phụ
mẫu đă cho con đầy đủ vóc hài.
- Nhị vị
Bổn Sư thế độ đă tác thành cho con pháp thân
huệ mạng.
- Chư vị Ḥa
Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức,
chư vị Giáo Thọ Sư, Giáo Sư đă dày công giáo
dưỡng, Thượng Tọa Trụ Tŕ và Tăng chúng
chùa Bửu Đà đă hoan hỷ cung cấp tứ sự,
tạo điều kiện thuận lợi cho con suốt
thời gian tu học cũng như công việc phiên
dịch này.
- Chư vị Ni
Trưởng, Ni Sư và Ni chúng các chùa Phước Ḥa,
Từ Nghiêm đă tạo điều kiện thuận
lợi cho nhóm Pháp Âm được yên tâm học tập
trong suốt thời gian qua.
- Xin chân thành tri ân các
vị ân nhân xa gần, những người âm thầm
ủng hộ và luôn luôn sống với niềm tin vững
chắc vào Tam Bảo.
V́ đây là dịch
phẩm đầu tay, nên không sao tránh khỏi nhiều
lỗi lầm, sai sót. Người dịch kính mong các
bậc thạc đức cao minh, pháp lữ đồng tu
và bạn đọc xa gần rộng ḷng thứ lỗi và
chỉ giáo cho. Việc dịch thuật này có
được bao nhiêu công đức, xin thành kính dâng lên
cúng dường mười phương chư Phật và
nguyện hồi hướng cho pháp giới chúng sinh cùng
chuyên tu Tịnh nghiệp, cùng phát tâm Bồ-đề, cùng
quyết về bến Giác.
Nguyên Hiểu (617 - ?)
là một vị Tăng thuộc tông Hoa Nghiêm, người
nước Tân La, họ Tiết. Thuở nhỏ tên là
Thệ Tràng. Năm 29 tuổi, Sư xuất gia ở chùa
Hoàng Long. Về sau, Sư đi du hóa khắp nơi, chuyên
nghiên cứu giáo nghĩa. V́ văn chương lưu loát,
biện luận thông suốt, cho nên Sư được
người đương thời tôn xưng là Vạn
Nhân Địch.
Vào năm thứ
tư, triều Chân Đức Nữ Vương,
nước Tân La, Sư cùng với ngài Nghĩa Tương
vượt biển sang Trung Quốc để cầu pháp,
nhưng giữa đường, Sư chợt ngộ ra ư
nghĩa câu “vạn pháp không ngoài tâm, cần ǵ phải t́m
cầu bên ngoài”, Sư bèn một ḿnh khăn gói quay
trở về. Sư từng sáng tác những bài ca lưu
hành trong dân gian, lại thường mang đàn đi vào các
thôn xóm, dùng những bài ca, điệu múa làm phương
tiện giáo hóa mọi người, khiến cho những
kẻ b́nh dân, trẻ con đều biết đến danh
hiệu Phật-đà và niệm Nam-mô.
Về sau, Sư ở
chùa Phân Hoàng, biên soạn bộ Hoa Nghiêm Kinh Sớ, nhưng
việc chưa hoàn thành th́ Sư mất, không rơ thọ bao
nhiêu tuổi. Sư được ban tên Thụy, là Ḥa Tránh
quốc sư.
Sư nói năng và hành
động cuồng phóng, thường ḥa ḿnh trong trần
tục, có khi vào trong quán rượu, rạp hát, có lúc mang
theo kiếm vàng, gậy sắt, có lúc lại soạn sớ
giải Hoa Nghiêm, có lúc khảy đàn nơi đ́nh
miếu, có khi lại ngủ qua đêm ngoài cổng làng,
hoặc ngồi thiền nơi ven núi bờ sông, mặc ư
tùy duyên, ngao du tự tại.
Khi vua nước Tân
La mở đại hội Bách Ṭa Nhân Vương Kinh[1],
thỉnh các bậc thạc đức khắp nơi.
Sư tuy được địa phương tiến
cử, nhưng các bậc thạc đức đều
không thích tính cách của Sư, nên can gián nhà vua không thâu
nạp. Sau đó, phu nhân của vua bị bệnh, chữa
trị đủ các thuốc hay mà vẫn không lành. Vua
cầu phép mầu khắp nơi, được bộ
kinh Kim Cang Tam Muội, nhưng không ai có thể giảng
giải, nhà vua bèn ban lệnh cho Sư sớ giải. Sư
soạn thành năm quyển, nhưng lại bị kẻ
tiểu nhân trộm mất. Do đó, Sư phải soạn
lại lược sớ ba quyển, diễn giải
tại chùa Hoàng Long suốt ba ngày. Vua quan, Tăng tục
đều tụ tập đông đủ để nghe
giảng. Nhờ đó, pháp này được lưu hành
rộng răi trong nước, phu nhân của vua nhờ đó
cũng được khỏi bệnh mà không cần
uống thuốc.
Ngoài bộ sớ
giải trên, những trước tác của Sư c̣n có: Anh
Lạc Bản Nghiệp Kinh Sớ (2 quyển), Vô
Lượng Thọ Kinh Tông Yếu, A Di Đà Kinh Sớ, Du
Tâm An Lạc Đạo, Di Lặc Thượng Kinh Tông
Yếu, Đại Thừa Khởi Tín Luận Sớ, Bát
Chu Tam Muội Kinh Lược Kư, Thập Môn Ḥa Tránh
Luận, Pháp Hoa Tông Yếu, Nhị Chương Nghĩa,
Phán Tỷ Lượng Luận. Trong đó, hai bộ
Nhị Chương Nghĩa và Phán Tỷ Lượng
Luận bị thất lạc rất lâu, măi đến
những năm gần đây mới được hai
vị học giả người Nhật Bản là Hoành
Siêu Huệ Nhật và Thần Điền Hỷ Nhất
Lang phát hiện.
Tác phẩm Du Tâm An
Lạc Đạo được tŕnh bày thành bảy
chương:
I. Tôn chỉ lập
giáo
II. Xác định
nơi chốn của cơi Cực Lạc
III. Những
chướng nạn và nghi ngờ
IV. Nhân duyên văng sinh
V. Các phẩm vị
văng sinh
VI. Luận về
việc văng sinh khó hay dễ
VII. Lập các mối
nghi để trừ nghi.
Cơi Phật cùng
khắp, không có Đông Tây, nhưng v́ tiếp độ
nhiều hạng căn cơ, nên mới hiển bày đây
kia. Do đó, luận về vị trí của cơi tịnh th́
Nhất Thừa, Tam Thừa tŕnh bày không đồng. Theo
Nhất Thừa th́ Cực Lạc Tịnh Độ
thuộc về Hoa Tạng Thế Giới Hải. V́ sao?
Bởi v́ cơi Thập Phật[11]
viên dung không thể tŕnh bày. Chỗ thấy của Phổ
Hiền Nhân phần[12]
là vô hạn. Nếu theo Tam Thừa th́ Tây Phương
Tịnh Độ phân thành bốn cơi:
- Cơi Pháp Tánh
- Cơi Thật Báo
- Cơi Thọ Dụng
- Cơi Biến Hóa.
Cơi Pháp Tánh và Thật
Báo th́ thuần một vị an lạc, cùng khắp pháp
giới, cơi khác chẳng thể sánh bằng. Cơi Thọ
Dụng và cơi Biến Hóa th́ đáp lại nguyện, ứng
theo cảm, tùy theo tâm ưa thích của căn cơ chúng
sinh mà chỉ ra các phương sở. Cho nên, trong kinh
Tiểu Vô Lượng Thọ chép: “Ở phương Tây
cách đây hơn mười vạn ức cơi Phật có
thế giới tên là Cực Lạc”. Nay đem chỗ
tịnh và bất tịnh của thế giới kia,
lược nêu ra bốn đôi đối đăi để
tŕnh bày thứ hạng. Đó là: nhân và quả, hoàn toàn và
không hoàn toàn, thuần và tạp, Chánh Định và phi Chánh Định.
Chỗ trụ của
Bồ-tát ở giai vị Kim Cương trở về
trước gọi là Quả Báo độ, không gọi là
Tịnh Độ v́ chưa ĺa được quả
khổ nạn, chỉ có chỗ của Phật mới
được gọi là Tịnh Độ, v́ tất
cả hoạn nạn, nhiễm ô đă diệt sạch.
Căn cứ theo nghĩa này, kinh Nhân Vương nói: “Tam
Hiền Thập Thánh[13]
trụ ở quả Báo độ, chỉ có Phật
mới ở Tịnh Độ. Tất cả chúng sinh
tạm thời trụ ở quả Báo độ,
Bồ-tát giai vị Kim Cương[14]
mới ở Tịnh Độ”.
Chỗ trụ của
Bồ-tát từ Địa thứ tám trở lên
được gọi là Tịnh Độ, v́ hoàn toàn
vượt ra khỏi ba cơi, đầy đủ bốn
nghĩa hoàn toàn. Tất cả trụ xứ của
Bồ-tát từ Địa thứ bảy trở về
trước chưa được gọi là Tịnh
Độ v́ chưa hoàn toàn vượt ra ba cơi, hoặc
chỉ nương vào nguyện lực vượt ra ba cơi.
Không đầy đủ bốn nghĩa hoàn toàn là: hoàn toàn
an lạc, hoàn toàn thanh tịnh, hoàn toàn không có tai nạn,
hoàn toàn tự tại. Khi Bồ-tát từ Địa
thứ bảy trở về trước xuất quán th́ có
lúc sinh khởi tâm Vô Kư báo[15],
bốn hoặc của Mạt-na[16]
có lúc hiện hành, bấy giờ hoàn toàn không thanh tịnh,
chẳng phải hoàn toàn không có hoạn nạn, c̣n
Địa thứ tám trở lên th́ không như thế.
Căn cứ theo nghĩa này mà luận Nhiếp Đại
Thừa ghi: “Pháp xuất xuất thế là do công năng
của pháp thiện thế gian sinh ra”.
Giải thích: Nhị
Thừa th́ gọi là xuất thế, từ Địa
thứ tám trở lên cho đến quả vị Phật
gọi là xuất xuất thế. Pháp xuất thế đối
trị với pháp thế gian; c̣n pháp xuất xuất
thế th́ đối trị pháp xuất thế. Lấy
bốn duyên[17] làm
tướng, từ công đức thiện xuất
xuất thế sinh khởi cơi tịnh này, chứ không
phải từ nhân Tập Đế.
Chỗ ở của
hàng Nhị Thừa và phàm phu không được gọi là
thế giới thanh tịnh, chỉ có chỗ ở của
Bồ-tát Thập địa mới được gọi
là thế giới thanh tịnh; cơi kia chẳng phải
thuần thanh tịnh, cơi này mới thuần thanh tịnh. Căn
cứ theo nghĩa này, luận Du-già nói: “Thế giới
th́ có vô lượng, nhưng chia làm hai loại: đó là
thanh tịnh và bất tịnh. Trong thế giới thanh
tịnh hoàn toàn không có địa ngục, ngạ quỷ,
súc sinh, cũng không có cơi Dục, cơi Sắc và cơi Vô sắc,
chúng Bồ-tát trụ trong đó, cho nên gọi là thế
giới thanh tịnh. Bồ-tát Địa thứ ba, do
nguyện lực mà thọ sinh ở cơi đó, nơi ấy
hoàn toàn không có hàng dị sinh[18],
kể cả Thanh Văn, Độc Giác. Nếu là
Bồ-tát mới được sinh vào”.
Giải thích:
Địa thứ ba này vốn là Hoan Hỷ Địa, v́
căn cứ theo bảy địa, nên Địa thứ
ba này là Tịnh Thắng Ư Lạc Địa. Bảy địa
là do gom 13 địa mà thành.
Nơi sinh về
của ba nhóm chúng sinh là cơi uế; c̣n nơi chỉ có Chánh
Định Tụ cư trụ mới gọi là Tịnh
Độ. Trong đó cũng có cả bốn quả Thanh
Vănvà bốn nghi phàm phu, chỉ không có Tà Định
Tụ và Bất Định Tụ mà thôi.
Nói về Chánh
Định Tụ, tất cả chúng sinh gom thành ba nhóm.
Như kinh Vô Lượng Thọ nói: “Những chúng sinh
sinh vào cơi Cực Lạc đều được trụ
vào Chánh Định Tụ”. V́ sao? V́ trong cơi Phật kia,
không có các loại Tà Định Tụ và Bất
Định Tụ. Tướng của ba Tụ như
thế nào? Nếu nói chung th́ Nhất-xiển-đề là
thuộc Tà Định Tụ, hàng Nhị Thừa
Đảnh vị trở lên và Bồ-tát sơ phát tâm
trụ trở lên được cho là Chánh Định
Tụ. Nếu đă thú nhập[19]
mà chưa đạt được địa vị
ấy là Bất Định Tụ, nhưng chắc
chắn không thoái lui, không đoạn thiện căn.
Như thế gọi là Chánh Định Tụ.
Theo luận Du-già th́
Chánh Định có hai: Một là Bản Tánh Chánh
Định, hai là Tập Thành Chánh Định. Trong năm
chủng tánh[20] th́
người thuộc chủng tánh Bồ-tát không tạo
Ngũ Nghịch[21]
và không đoạn mất thiện căn, gọi là Bản
Tánh Chánh Định Tụ. Hàng chủng tánh Nhị Thừa
và Bất Định Tánh có thể tạo tội Ngũ
Nghịch và đoạn mất thiện căn, khi
đoạn mất thiện căn th́ gọi là Tà
Định Tụ. Những người này sau khi nối
lại thiện căn, nhưng chưa thú nhập là
Bất Định Tụ. Khi đă thú nhập rồi th́ có
ba phẩm loại: Hạng thượng căn vốn có mà
thú nhập tức là Chánh Định. Hạng trung căn
đến Noăn vị và hạng hạ căn đến
Đảnh vị đều là Chánh Định, c̣n lại
đều thuộc về Bất Định. Như
thế, người thuộc Bất Định chủng
tánh thú nhập thẳng Đại Thừa, tín tâm tu hành,
trải qua một vạn kiếp tín tâm thành tựu mới
được gọi là Chánh Định. Như trong
luận Đại Thừa Khởi Tín tŕnh bày nghĩa này là
nói theo Tập Thành Chánh Định Tụ. C̣n như
Bồ-tát chủng tánh vốn có, vừa thú nhập
thẳng Đại Thừa th́ vĩnh viễn đạt
được Bất Thoái. Không do nghiệp lực mà
bị đoạ vào cơi ác. Do đó, những người
này vừa dự vào hàng Thập tín th́ liền
được Bất Thoái, không giống như hạng
người thuộc Bất Định tánh đă nói ở
trước.
Nói như thế là
đều căn cứ vào cơi uế. Nếu căn cứ
theo việc được sinh về cơi tịnh, th́ hàng
Định tánh Nhị Thừa không được văng sinh,
hoặc sau khi nhập Vô Dư th́ có thể được
văng sinh. Trong Bất Định tánh, nếu ba hạng
người ấy đều phát tâm th́ đều
được sinh vào Tịnh Độ. Khi sinh vào Tịnh
Độ liền nhập vào Chánh Định, nhờ
sức duyên bên ngoài giữ ǵn.
Nghĩa Tam Tụ
được phân biệt sơ lược như
thế.
Nay kinh này nói cơi Vô
Lượng Thọ là căn cứ vào môn thứ tư mà
nói là Tịnh Độ. V́ sao? V́ muốn gom nhiếp
Đại Thừa và Tiểu Thừa, dẫn dắt
cả phàm lẫn thánh đều được sinh về
cơi tối thắng, cùng hướng đến đại
đạo. Như đoạn văn dưới ghi: “Nếu
sau khi Ta thành Phật mà nhân dân trong nước ta không
trụ Chánh Định Tụ, không nhất định
đạt đến diệt độ th́ ta quyết không
ở ngôi Chánh Giác”. Lại nói: “Ví như ta thành Phật
mà hàng Thanh Văn trong nước ta có thể tính
đếm biết được số lượng th́ ta
không ở ngôi Chánh Giác”. Nhưng Luận lại nói
người nữ, người thiếu căn và hàng
Nhị Thừa không được sinh về là nói hàng
Định Tánh Nhị Thừa chưa nhập vào Vô Dư,
chưa phát tâm Đại Thừa, chứ không nói
đến hàng Thanh Văn Bất Định Tánh và
Định Tánh sau khi ra khỏi Vô Dư. Để phân
biệt với điều này, nên kinh nói như thế, do
đạo lư này mà hai nghĩa không trái nghịch nhau. Lại
nói người nữ cho đến người thiếu
căn, nghĩa là khi sinh về cơi Cực Lạc, th́
chẳng c̣n là nữ, chẳng c̣n là người thiếu
căn chứ chẳng phải người nữ v.v… không
được văng sinh, v́ bà Vi-đề-hy vẫn
được văng sinh. Như kinh Cổ Âm Thanh Vương
Đà-la-ni chép rằng: “Đức Phật A Di Đà có
cha tên là Nguyệt Thượng Chuyển Luân Thánh
vương, mẹ tên là Thù Thắng Diệu Nhan” v.v…, hoặc cho rằng cơi
đức Phật giáo hóa là cơi Hóa Độ; luận th́ cho
rằng đó là cơi Thọ Dụng; hoặc nói là cha mẹ
của pháp môn như trong kinh Duy-ma. Do đạo lư này mà hai
thuyết không trái nghịch nhau. Cơi tịnh được
nói ở bốn môn trên đều là cơi được thành
tựu từ hạnh nguyện của Như Lai, chẳng
phải là cơi do sức người được sinh
về tạo ra và hoàn toàn không như khí thế giới
ở cơi uế, chỉ do quả khổ của chúng sinh
tạo thành, cho nên gọi chung cơi ấy là cơi thanh tịnh.
Trước hết
tŕnh bày về cảnh sở nghi, tiếp theo là
phương pháp đối trị nghi tưởng. Sau cùng,
bàn về những điểm hơn và kém của hóa sinh và
thai sinh về cơi kia.
* Thứ nhất, nói
về cảnh sở nghi, nếu có người với tâm
nghi hoặc mà tu các công đức để nguyện
được sinh về cơi kia th́ những người
nầy không hiểu rơ trí Phật, trí Bất Tư Nghị,
trí Bất Khả Xứng, Quảng trí Đại Thừa,
Thắng trí Vô Đẳng Vô Luân Tối Thượng.
Họ nghi ngờ, không tin có những trí này, nhưng vẫn
tin có tội và phước, tu tập thiện nghiệp,
nguyện sinh về cơi kia. Đây là hạng chúng sinh
được sinh về cung điện cơi kia, nhưng
suốt 500 năm không được nghe đến Tam
Bảo. Chỗ sinh về ấy gọi là biên địa.
Bất Tư Nghị
trí là Thành Sở Tác Trí. Trí này có khả năng tạo ra
những việc không thể nghĩ bàn, như thân cao không
quá một trượng sáu mà cũng không thể thấy
được đỉnh đầu; dung lượng
không bằng lỗ chân lông mà có thể bao trùm khắp
mười phương thế giới; một niệm
xưng danh hiệu Phật mà có thể diệt trừ
tội nặng nhiều kiếp; mười niệm
nhớ nghĩ công Đức Phật mà có thể sinh
về Báo độ thù thắng ngoài ba cơi. Những việc
như thế chẳng thể suy lường
được, cho nên gọi là Bất Tư Nghị Trí.
Bất Khả
Xứng Trí là Diệu Quán Sát Trí. Trí này quán sát cảnh không
thể nghĩ bàn, nghĩa là tất cả pháp như
huyễn như mộng, chẳng có chẳng không, ĺa ngôn
ngữ, bặt nghĩ suy. Người chấp vào ngôn
ngữ th́ chẳng thể suy lường được,
cho nên gọi là Bất Khả Xứng Trí.
Đại Thừa
Quảng Trí là B́nh Đẳng Tánh Trí. Trí này rộng lớn,
không đồng với Tiểu Thừa. V́ vô ngă, cho nên
đều là ngă; v́ đều là ngă, nên đều b́nh đẳng
nhiếp thọ. Do trí lực đồng thể, nên chuyên
chở khắp tất cả chúng sinh mà đưa
đến Vô Thượng Bồ-đề, cho nên gọi
là Đại Thừa Quảng trí.
Vô Đẳng Vô Luân Tối Thượng Thắng trí chính là
Đại Viên Cảnh trí của Như Lai, trước
chuyển bổn thức, sau trở về nguồn tâm.
Chiếu soi tất cả nên gọi là Đại Viên
Cảnh trí. Trong trí này có năm thù thắng:
1. Vô đẳng:
Như Giải thoát thân th́ Nhị Thừa cùng
được, c̣n Đại Viên Kính Trí chính là Pháp thân,
Nhị Thừa chẳng thể được.
2. Vô luân: Như ba trí
trước, Bồ-tát dần dần chứng đắc,
c̣n Đại Viên Kính Trí chỉ có Phật mới chứng,
không ai sánh bằng.
3. Tối: vượt
hẳn Bất Tư Nghị trí.
4. Thượng:
hơn hẳn Bất Khả Xứng trí
5. Thắng: rộng
lớn hơn Đại Thừa Quảng trí.
Do năm thù thắng
này, cho nên gọi là Vô Đẳng Vô Luân Tối
Thượng Thắng Trí.
Đây là tŕnh bày
bốn cảnh nghi do mê muội.
* Thứ hai, tŕnh bày
về phương pháp đối trị nghi hoặc.
Như có người tâm không ngay thẳng, tà kiến ngă
mạn, tâm đạo cạn mỏng, không hiểu bốn trí
mà khởi bốn nghi.
Một là nghi những
việc làm của Thành Sở Tác Trí. Đó là khi nghe kinh nói: “Người
niệm Phật mười niệm th́ được sinh
về cơi Cực Lạc”, do không hiểu rơ nên sinh nghi
hoặc mà cho rằng kinh Phật có nói thiện ác nghiệp
đạo, tội phước không mất, nếu
nặng th́ bị trở ngại. Vậy, một
người suốt đời làm ác, chỉ nhờ
mười niệm, làm sao có thể diệt hết các
tội, văng sinh Cực Lạc, nhập vào Chánh Định,
vĩnh viễn ĺa ba đường ác, cuối cùng
chứng quả Bất Thoái được? Lại
nữa, từ vô thỉ đến nay khởi các phiền
năo, trôi lăn trong ba cơi[22],
trói buộc lẫn nhau, nếu không đoạn trừ
nhị luân phiền năo[23]
th́ làm sao chỉ nhờ mười niệm để ra
khỏi ba cơi được? V́ muốn diệt trừ
mối nghi do tà kiến này, nên nêu ra Bất Tư Nghị
Trí. Muốn hiển bày trí huệ Phật có sức mạnh
rộng lớn, nên lấy gần làm xa, lấy xa làm
gần; biến nặng thành nhẹ, biến nhẹ thành
nặng. Tuy thật có việc này, nhưng không thể suy
lường được.
V́ thế, chỉ nên
một mực tin theo kinh nói, không nên dùng trí thức cạn
cợt của ḿnh để suy lường. Như
muốn sinh ḷng tin, cần phải nhờ vào sự mà diễn
đạt, dụ dẫn. Thí như ngàn năm góp chứa
củi cao cả trăm thước, nhưng chỉ
một ngọn lửa nhỏ thiêu đốt trong một
ngày là hết sạch. Vậy đâu thể cho rằng làm
sao ngàn năm chứa củi mà có thể thiêu sạch trong
một ngày được?
Lại nữa, ví
như một người què mà tự gắng sức
đi, cần phải trải qua nhiều ngày mới
được một do-tuần; c̣n nếu đi
thuyền, nhờ vào sức gió th́ trong khoảng một ngày
có thể đi đến ngàn dặm. Vậy đâu
thể cho rằng làm sao người què mà một ngày đi
đến ngàn dặm được? Sức của
người lái thuyền ở thế gian c̣n làm
được việc vượt ngoài suy nghĩ như
thế, huống ǵ thần lực của Đức
Như Lai Pháp Vương lại không thể làm
được việc không thể nghĩ bàn sao? Đây là
pháp đối trị mối nghi thứ nhất.
Mối nghi thứ hai
là nghi về cảnh sở quán của Diệu Quan Sát Trí.
Trong kinh khen ngợi trí huệ Phật là Diệu Quan Sát trí.
Các pháp chẳng phải có chẳng phải không, xa ĺa
nhị biên[24], không
chấp Trung Đạo[25],
do không hiểu rơ nên sinh nghi hoặc mà cho rằng: Như nay
thấy biết vật nặng th́ hạ xuống, vật
nhẹ th́ cất lên. Nếu như nói nhẹ mà không
cất lên, nặng mà không hạ xuống, như thế là
vô nghĩa. Pháp do nhân duyên sinh cũng như thế. Nếu
thật chẳng phải không th́ có, nếu chẳng
phải có th́ không. Nếu nói chẳng phải không mà không
rơi vào có, chẳng phải có mà không rơi vào không, th́
cũng giống như nặng mà không hạ xuống,
nhẹ mà không cất lên mà thôi. Cho nên, phải biết
thuyết này có lời mà không thật. Tính lường
như thế tức là rơi vào biên kiến. Hoặc
chấp Y Tha Khởi là thật có th́ rơi vào Tăng Ích; hoặc
chấp Duyên Sinh hoàn toàn không th́ rơi vào Tổn Giảm[26];
hoặc cho rằng Tục Đế là có, Chân Đế là
không, chấp vào nhị biên th́ rơi vào tương vi
luận; hoặc cho rằng các pháp chẳng có chẳng
không, chấp vào nhất trung th́ rơi vào ngu si luận.
Thích Luận[27] chép: “Chẳng
có chẳng không là ngu si luận. Để đối
trị kiến chấp sai trái này, cho nên thiết lập
Bất Khả Xứng Trí, đồng thời hiển bày
các pháp rất sâu xa, ĺa ngôn ngữ, bặt nghĩ suy, không
thể suy nghĩ tính lường, theo lời mà hiểu
nghĩa”. Như luận Du-già nói: “Thế nào là các pháp
sâu kín khó thấy? Đó là tất cả pháp. V́ sao? V́ pháp sâu
kín khó thấy bậc nhất là tự tánh của các pháp.
Tự tánh này là bặt hư luận, vượt ngôn ngữ.
Nhưng nhờ ngôn ngữ làm chỗ y cứ, nên mới có
thể nắm bắt, có thể nh́n thấy, có thể cảm
nhận, cho nên gọi là các pháp sâu kín khó thấy”. Đây
là pháp đối trị mối nghi thứ hai.
Mối nghi thứ ba
là nghi về nghĩa B́nh Đẳng Tánh Trí là ngang bằng.
Như trong kinh nói: “Tất cả chúng sinh đều có
tâm thức. Hễ loài có tâm thức th́ đều chứng
được Bồ-đề”. Do không hiểu nên sinh
ra mối nghi mà cho rằng: “Nếu nói chúng sinh đều
có Phật tánh, đều được độ
hết, đều chứng Vô Thượng
Bồ-đề, thế th́ chúng sinh tuy nhiều nhưng
ắt sẽ hết. Vậy đức Phật sau cùng không
có đức lợi tha, v́ không c̣n chúng sinh để giáo hóa,
nên nhất định sẽ không thành Phật, v́ công
đức bị thiếu sót. Không có công đức giáo hóa
th́ không hợp với lư đạo. Thiếu khuyết công
đức mà thành Phật làm ǵ có lư này!”. Suy nghĩ sai
lệch như thế rồi phỉ báng Đại
Thừa, không tin vào ư b́nh đẳng được độ.
V́ để đối trị mối nghi chấp nhỏ
hẹp như thế, cho nên thiết lập Đại
Thừa Quảng Trí. Muốn tŕnh bày Phật trí rộng lớn,
chuyên chở tất cả chúng sinh nhập vào Vô Dư, cho
nên gọi là Đại Thừa. Khả năng chuyên
chở của trí này không giới hạn, không bờ mé, cho
nên gọi là Quảng Trí. Sở dĩ như vậy là v́
hư không vô biên, chúng sinh vô số lượng, ba
đời không giới hạn, sinh tử không đầu
không cuối. Chúng sinh đă không có khởi đầu, không
có cuối cùng, th́ chư Phật cũng không có khởi
đầu, không có cuối cùng. Nếu chư Phật đă
có khởi đầu thành tựu th́ trước đó không
có quả Phật, không có Thánh giáo. V́ không có Thánh giáo cho nên
không được nghe pháp để huân tập. Không
được nghe pháp để huân tập mà thành Phật
th́ không có nhân mà có quả. Đây là chỉ có lời nói mà
không có thật. Từ đạo lư này suy ra th́ chư
Phật không có khởi đầu. Tuy thật không có
khởi đầu, nhưng không có một đức
Phật nào mà vốn không là phàm phu. Tuy là phàm phu, mà liên
tục chuyển tiến không có khởi đầu. Từ
đây suy ra biết được chúng sinh không có cuối
cùng. Tuy thật không có cuối cùng, nhưng tất cả
về sau đều được thành Phật. Tuy
hết thảy đều được thành Phật, mà
liên tục chuyển tiến không có cuối cùng. Cho nên,
cần phải tin B́nh Đẳng Tánh Trí độ khắp
tất cả, không có giới hạn. Do đó, mới
lập ra Đại Thừa Quảng trí để
đối trị với mối nghi thứ ba này.
Mối nghi thứ
tư là nghi về nghĩa Đại Viên Kính Trí biến
chiếu cùng khắp tất cả các cảnh. Nghi rằng:
V́ hư không vô biên nên thế giới cũng vô biên. V́
thế giới vô biên nên chúng sinh cũng vô biên. V́ chúng sinh vô
biên nên căn, dục, tánh v.v… đều không bờ mé, th́
làm sao có thể biết hết được? Phải
chăng nên tu tập dần dần mà biết
được, hay do không cần tu mà đột nhiên
chiếu rơ? Nếu không cần tu tập mà đột nhiên
chiếu rơ th́ tất cả phàm phu đều
được chiếu soi như nhau, v́ tất cả
đều không tu tập, v́ không có nhân khác. Nếu thứ
lớp tu tập cuối cùng biết được
hết th́ tất cả cảnh đều có bờ mé,
giới hạn. Không bờ mé mà có cùng tận th́ thật
không đúng với lư vậy! Tiến thoái như vậy
đều không thành lập được, làm sao chiếu
khắp được mà gọi là Nhất Thiết
Chủng Trí? Để đối trị lại hai mối
nghi này, cho nên lập ra Vô Đẳng Vô Luân Tối
Thượng Thắng trí. Đại Viên Kính Trí này hơn
hẳn ba trí kia, vượt ngoài hai đế, có một
không hai, vượt ngoài hai quan[28],
siêu việt cả vô quan. Chỉ nên tin theo, không thể so
lường, cho nên gọi là Tối Thượng Thắng
Trí.
Tại sao phải
khởi ḷng tin theo? Thí như thế giới vô biên, không
vượt ra ngoài hư không, vạn cảnh không có
giới hạn, bao hàm trong một nguồn tâm. Phật trí
ĺa tướng, quy về nguồn nhất tâm. Trí và
nguồn nhất tâm dung ḥa nhau không khác. V́ Thỉ Giác[29]
tức đồng với Bản Giác[30],
cho nên không có vạn cảnh vượt ngoài trí. Từ
đạo lư này suy ra th́ trí vô hạn thấu suốt
tất cả cảnh, v́ vô biên trí chiếu soi vô biên
cảnh. Như luận Khởi Tín nói: “Tất cả
cảnh giới vốn từ nhất tâm, ĺa niệm. V́
chúng sinh vọng thấy cảnh giới, cho nên tâm có
phạm vi, giới hạn. Do vọng khởi niệm, không
hợp với pháp tánh, cho nên không thể hiểu rơ. Chư
Phật Như Lai ĺa kiến tướng, không chỗ nào
không bao trùm, v́ tâm chân thật th́ thể tánh của các pháp
chiếu soi tất cả pháp vọng, có dụng
đại trí, vô lượng phương tiện, tùy theo
chỗ thích ứng của chúng sinh mà khai thị tất
cả pháp nghĩa. Cho nên được gọi là Nhất
Thiết Chủng Trí”. Đó là Vô Đẳng Vô Luân
Tối Thượng Thắng Trí. V́ không có chỗ thấy,
nên không có chỗ nào không thấy. Như thế là
đối trị mối nghi thứ tư.
Nếu không
đạt được ư, theo lời mà hiểu nghĩa,
th́ hữu biên hay vô biên đều là lỗi lầm, hay
căn cứ vào nghĩa p[hi hữu biên mà giả lập
nghĩa vô biên. Nếu người không giải quyết
bốn mối nghi th́ tuy có sinh về cơi kia cũng vẫn
ở biên địa[31].
Như có người mắt tâm chưa sáng, tuy chưa
hiểu rơ cảnh giới của bốn trí nêu trên, mà
tự khiêm, ngưỡng cầu Như Lai, một mực
tín phục Phật pháp. Những người như
thế, tùy phẩm hạnh tu hành của họ mà
được sinh về cơi kia, không ở biên địa.
Người sinh về biên địa thuộc một
loại riêng, chẳng thuộc chín phẩm. V́ thế không
nên vọng sinh nghi hoặc.
* Thứ ba, tŕnh bày
về điểm hơn và kém của việc hóa sinh[32]
và thai sinh về cơi kia.
Kinh Vô Lượng
Thọ nói: “Bấy giờ, Phật bảo Tôn giả
A-nan và Bồ-tát Di Lặc rằng:
- Các ông có thấy cơi
nước kia, từ đất lên đến cơi trời
Tịnh Cư, các vật trong đó tự nhiên vi diệu,
thanh tịnh, trang nghiêm không?
- Bạch Thế Tôn!
Có thấy!
– A-nan thưa.
- Các ông có nghe tiếng
lớn của Đức Phật Vô Lượng Thọ
truyền đi khắp tất cả thế giới
để giáo hóa chúng sinh chăng?
- Bạch Thế Tôn!
Có nghe!
- Các ông có thấy chúng
sinh cơi kia ở trong cung điện bằng bảy báu
trăm ngàn do-tuần[33],
cúng dường chư Phật khắp mười
phương hoàn toàn không chướng ngại chăng?
- Bạch Thế Tôn!
Có thấy!
- Chúng sinh cơi ấy có loài thai sinh, các ông
có biết không?
- Bạch Thế Tôn! Có biết!
- Loài thai sinh đó
ở trong cung điện, hoặc một trăm
do-tuần, hoặc năm trăm do-tuần. Mỗi chúng
sinh ở trong đó đều tự nhiên thọ
hưởng khoái lạc giống như trên cơi trời
Đao-lợi.
Lúc đó, bồ-tát Di
Lặc bạch Phật rằng:
- Bạch đức
Thế Tôn! Do nhân duyên ǵ mà chúng sinh cơi kia có người thai
sinh, có người hóa sinh?
Phật bảo
bồ-tát Di Lặc rằng:
- Có những chúng sinh
dùng tâm nghi hoặc để tu các công đức, nguyện
sinh về cơi đó. Họ không hiểu rơ, lại c̣n sinh tâm
nghi ngờ Phật trí, Bất Tư Ngh́ Trí, Bất Khả
Xứng Trí, Đại Thừa Quảng Trí, Vô Đẳng
Vô Luân Tối Thượng Thắng Trí, nhưng do tin có
tội phước, tu tập các pháp thiện, nguyện
sinh về cơi nước đó, nên họ được
sinh vào cung điện kia, sống đến năm trăm
tuổi, mà vẫn không được thấy Phật,
không được nghe kinh pháp, không thấy Bồ-tát, Thanh
Văn và các thánh chúng. V́ thế, những chúng sinh sinh trong
cơi nước kia được gọi là thai sinh. Nếu
có chúng sinh tin hiểu Phật trí, cho đến Thắng
trí, tạo các công đức, phát tín tâm hồi hướng
Bồ-đề, th́ các chúng sinh này tự nhiên
được hóa sinh trong hoa bảy báu, ngồi kiết
già, trong khoảng chớp mắt, thân tướng trang
nghiêm, thành tựu đầy đủ các công đức,
trí huệ giống như Bồ-tát.
Lại nữa,
bồ-tát Di-lặc! Các bậc đại Bồ-tát ở
cơi Phật phương khác khởi tâm muốn
được diện kiến, cung kính cúng dường
đức Phật Vô Lượng Thọ và chúng Bồ-tát,
Thanh văn. Các Bồ-tát ở cơi ấy sau khi mạng chung
cũng được sinh về cơi Phật Vô Lượng
Thọ, tự nhiên hóa sinh trong hoa bảy báu. Di Lặ cnên
biết, những người được tự nhiên
hóa sinh kia đều có trí huệ tối thắng, c̣n
những người bị thai sinh đều không có trí
huệ, suốt năm trăm năm không được
gặp Phật, không được nghe kinh pháp, không
gặp Bồ-tát và chúng Thanh Văn, không được cúng
dường chư Phật, không biết pháp thức
của Bồ-tát, không được tu tập công
đức. Nên biết rằng những người này,
trong đời trước do nghi hoặc mà dẫn
đến không có trí huệ. Thí như Chuyển Luân Thánh
Vương có ngục tù bằng bảy báu, mọi thứ
đều trang nghiêm, xếp đặt giường mùng,
treo các cờ lọng. Nếu các Vương tử phạm
tội, liền bị vua cha giam vào trong đó, khóa bằng
xích vàng, canh gác nghiêm ngặt, rồi cung cấp món ăn
thức uống, y phục chăn mền, đầy
đủ các thứ hương hoa kỹ nhạc, sống
giống như Chuyển Luân vương không thiếu
một vật ǵ. Ư ông nghĩ sao? Các vị vương
tử này có cam ḷng thọ nhận thú vui nơi ấy không?
Bồ-tát Di Lặc
đáp rằng:
- Dạ không! Họ
chỉ muốn t́m đủ mọi cách, cầu các thế
lực để mong được ra khỏi chốn
ấy.
Phật bảo
bồ-tát Di-lặc:
- Các chúng sinh này
lại cũng như thế! V́ nghi hoặc Phật trí mà
bị sinh vào cung điện thai sinh bảy báu. Tuy không có
h́nh phạt cũng như không có một niệm ác, nhưng
họ có nỗi khổ là trong năm trăm năm không
gặp được Tam Bảo, không được cúng
dường, tu tập các pháp thiện. Mặc dù có
nhiều thú vui, nhưng không vui bằng cơi Phật Vô
Lượng Thọ. Nếu chúng sinh này biết
được gốc tội xưa của ḿnh, tự ḿnh
ăn năn hối cải, cầu vượt ra khỏi
chỗ đó, lập tức được sinh về cơi
Phật Vô Lượng Thọ như ư muốn để
cung kính cúng dường, đi khắp vô lượng vô
số cơi Phật khác để tu tạo các công
đức. Di Lặcnên biết rằng, nếu như có
Bồ-tát nào sinh tâm nghi hoặc liền mất đi
lợi ích lớn. Do đó, cần phải tin rơ trí huệ
vô thượng của chư Phật”.
Lời của Như
Lai chân thật, nếu nghi ngờ th́ sau ăn năn không
kịp, cần phải thận trọng!
-
Ngươi nên biết Phật A Di Đà cách đây không xa,
ngươi nên chuyên niệm, quán tưởng cơi kia th́
sẽ thành tựu Tịnh nghiệp. Ta nay giảng rộng
tất cả thí dụ cho ngươi được rơ,
khiến cho tất cả chúng sinh đời sau muốn tu
Tịnh nghiệp được sinh về cơi Cực
Lạc. Người muốn sinh về cơi Cực Lạc
cần phải đầy đủ: Một, tu
mười nghiệp lành, không được sát sinh. Hai,
thọ tŕ Tam Quy, đầy đủ các giới, không
phạm oai nghi. Ba, phát Bồ-đề tâm, tin sâu nhân
quả, đọc tụng kinh điển Đại
Thừa, khuyến tấn hành giả. Ba việc như
thế gọi là Tịnh nghiệp.
Phật bảo Vi-đề-hy rằng:
- Ngươi nay nên biết ba việc này
chính là chánh nhân tịnh nghiệp của chư Phật
mười phương trong ba đời”.
Phật giảng giải cho A-nan và
Vi-đề-hy về Thượng Phẩm Thượng
Sinh: “Nếu có người nào nguyện sinh nước
kia, phát ba loại tâm, liền được văng sinh. Ba
loại tâm đó là ǵ? Một là chí thành tâm, hai là thâm tâm, ba
là hồi hướng phát nguyện tâm. Người
đủ ba tâm liền được sinh về cơi
nước kia.
Lại nữa, có ba loại chúng sinh đáng
được văng sinh: một là những người có
ḷng từ bi, không sát hại, đầy đủ giới
hạnh; hai là người chuyên đọc tụng kinh
điển Đại Thừa; ba là người tu hành
lục niệm[35], hồi hướng phát nguyện sinh
về cơi Cực Lạc. Người nào đầy
đủ các công đức này, niệm từ một ngày
cho đến bảy ngày liền được văng sinh.
Khi được sinh về cơi nước kia, nhờ tinh
tấn dơng mănh nên được thấy đức
Phật A Di Đà và hai vị Bồ-tát Quán Âm, Thế Chí
cùng với vô số hóa Phật, trăm ngàn tỳ-kheo,
đại chúng Thanh Văn và cung điện bảy báu
của vô lượng chư Thiên. Bồ-tát Quán Thế Âm
tay bưng đài vàng cùng với Bồ-tát Đại
Thế Chí đến trước hành giả, đức
Phật A Di Đà phóng đại hào quang chiếu
đến thân hành giả, các Bồ-tát đưa tay
tiếp dẫn. Bồ-tát Quán Thế Âm, Bồ-tát
Đại Thế Chí cùng với vô số Bồ-tát khen
ngợi tán thán hành giả, khuyến phát tâm
Bồ-đề. Hành giả thấy như vậy rồi
vui mừng hớn hở, tự thấy thân ḿnh ngồi vào
đài Kim cang theo sau chư Phật, trong khoảng khảy
móng tay được sinh về cơi kia. Được sinh
về cơi kia rồi, thấy sắc thân Phật đầy
đủ các tướng, thấy các Bồ-tát đầy
đủ sắc tướng, ánh sáng, rừng báu diễn
thuyết diệu pháp. Hành giả nghe xong, liền ngộ Vô Sinh Pháp Nhẫn, trong khoảng
sát-na, cúng dường chư Phật khắp mười
phương cơi, đối trước chư Phật,
thứ lớp thọ kư, trở về cơi nước
của ḿnh, được vô lượng trăm ngàn môn
Đà-la-ni”.
Thượng Phẩm Trung Sinh: Hành giả không
thọ tŕ đọc tụng kinh điển Đại
Thừa, nhưng hiểu rơ nghĩa thú. Đối với
Đệ Nhất Nghĩa, tâm không kinh động, tin sâu
nhân quả, không hủy báng Đại Thừa, đem công
đức này hồi hướng nguyện cầu sinh
về cơi Cực Lạc. Hành giả thực hành pháp môn này,
khi sắp mạng chung được Đức Phật A
Di Đà cùng với Bồ-tát Quan Âm, Bồ-tát Đại
Thế Chí và vô lượng đại chúng quyến
thuộc vây quanh, tay bưng đài vàng đến
trước hành giả, khen ngợi Pháp tử: “Ngươi
tu tập Đại Thừa, hiểu rơ Đệ Nhất
Nghĩa Đế, cho nên nay Ta đến tiếp dẫn
ngươi”. Đồng thời, có trăm ngàn hóa
Phật đưa tay đón rước. Hành giả
thấy ḿnh ngồi trên đài vàng ṛng, chắp tay xưng
tán chư Phật, trong khoảng một niệm liền
sinh về Cực Lạc. Đài vàng ṛng như hoa báu
lớn sinh trong ao bảy báu, trải qua một đêm
liền nở, thân tướng hành giả thành màu vàng ṛng,
dưới chân cũng có hoa sen bảy báu. Chư Phật,
Bồ-tát đồng thời phóng hào quang chiếu
đến thân hành giả, mắt liền mở sáng,
nhờ nhân tu tập đời trước nên hành giả
nghe được khắp các âm thanh giảng thuyết
Đệ Nhất Nghĩa Đế sâu xa vi diệu,
liền bước xuống đài vàng, chắp tay lễ
Phật, xưng tán Thế Tôn, trải qua bảy ngày,
liền không lui sụt quả vị Vô Thượng
Bồ-đề, bay đi khắp mười phương
cúng dường chư Phật. Rồi ở chỗ chư
Phật tu các thiền định, qua một tiểu
kiếp chứng Vô Sinh Nhẫn, hiện tiền
được Phật thọ kư.
Thượng Phẩm Hạ Sinh: Cũng tin nhân
quả, không phỉ báng Đại Thừa, phát tâm Vô
Thượng Bồ-đề, đem công đức này
hồi hướng nguyện được sinh về cơi
nước Cực Lạc. Hành giả khi lâm chung,
được Đức Phật A Di Đà cùng với
Bồ-tát Quan Âm, Bồ-tát Đại Thế Chí và các
quyến thuộc tay cầm đài sen vàng hóa thành năm
trăm vị Phật đến tiếp dẫn
người này. Năm trăm vị hóa Phật
đồng thời đưa tay tiếp dẫn, khen
ngợi: “Pháp tử! Ngươi nay thanh tịnh,
phát tâm Vô Thượng Bồ-đề, Ta đến
tiếp dẫn ngươi”. Khi thấy việc này,
liền tự thấy ḿnh ngồi đài sen vàng. Khi
ngồi vào đài sen, hoa liền khép lại theo sau Thế
Tôn, văng sinh vào trong ao bảy báu, một ngày một đêm
hoa sen nở ra, trong suốt bảy ngày được
thấy Phật. Tuy thấy thân Phật nhưng tâm không
biết các tướng tốt của Phật. Sau 21 ngày
mới biết được, nghe tiếng nhạc
diễn thuyết pháp vi diệu, lại được
đi khắp mười phương cúng dường
chư Phật. Đối trước chư Phật nghe
pháp nhiệm mầu, trải qua một tiểu kiếp
chứng được bách pháp minh môn[36], trụ vào Hoan Hỷ Địa.
Đó là tướng sinh về nhóm trên, chính là
pháp quán thứ mười bốn.
Trung Phẩm Thượng Sinh: Nếu như có
chúng sinh nào thọ tŕ Bát Quan Trai, tu hành các giới, không
tạo các tội Ngũ Nghịch và các tội lỗi.
Đem căn lành này hồi hướng nguyện cầu
sinh về cơi Cực Lạc. Người đó khi sắp
mạng chung, được Phật A Di Đà và chúng
tỳ-kheo, quyến thuộc vây quanh phóng hào quang sắc vàng
đến chỗ hành giả, diễn nói pháp Khổ, Không,
Vô thường, Vô ngă, khen ngợi xuất gia,
được ĺa các khổ. Hành giả thấy rồi tâm
rất hoan hỷ, tự thấy ḿnh ngồi đài hoa sen,
quỳ thẳng chắp tay, đảnh lễ chư
Phật, khi chưa ngẩng đầu lên, liền
được sinh về cơi nước Cực Lạc, hoa
sen liền nở. Khi hoa vừa hé nở liền
được nghe các âm thanh khen ngợi Tứ Đế,
tức thời liền được A-la-hán, đầy
đủ Tam Minh[37], Lục Thông[38] và Bát Giải Thoát[39].
Trung Phẩm Trung Sinh: Nếu có chúng sinh nào
hoặc thọ tŕ giới Bát Quan Trai, hoặc giữ ǵn
giới Sa-di, hoặc giữ giới Cụ Túc và các oai nghi
không thiếu sót trong một ngày một đêm, đem công đức
này hồi hướng nguyện cầu sinh về cơi
Cực Lạc, huân tu hương giới. Hành giả tu
tập như thế, khi lâm chung thấy Phật A Di Đà
và các quyến thuộc phóng hào quang sắc vàng, cầm hoa
sen bảy báu đến trước hành giả. Hành
giả tự nghe trên không trung có âm thanh khen ngợi
rằng: “Thiện nam tín nữ! Các người là bậc
thiện nhân, thuận theo giáo pháp của chư Phật ba
đời ta đến tiếp dẫn các người!”
Lúc đó, hành giả tự thấy ḿnh ngồi trên hoa sen,
hoa sen liền khép lại, sinh vào trong cơi Tây Phương
Cực Lạc. Ở trong đất báu trải qua bảy
ngày, khi hoa hé nở liền mở mắt chắp tay
xưng tán Thế Tôn, nghe pháp hoan hỷ, chứng
được Tu-đà-hoàn, trải qua nửa kiếp
mới thành A-la-hán.
Trung Phẩm Hạ Sinh: Nếu có người
nam, người nữ nào có ḷng hiếu dưỡng cha
mẹ, thực hành hạnh nhân từ. Người này khi
mạng chung gặp Thiện tri thức nói rơ sự vui
đẹp ở cơi Phật A Di Đà và bốn mươi
tám đại nguyện của Tỳ-kheo Pháp Tạng[40]. Hành giả khi nghe việc này xong, liền
bỏ thân mạng, trong khoảng thời gian co duỗi cánh
tay của vị lực sĩ, liền sinh về cơi
nước Cực Lạc. Trải qua bảy ngày th́
được Bồ-tát Quán Âm và Đại Thế Chí
thuyết pháp cho nghe, tin nhận trải qua một tiểu
kiếp mới thành A-la-hán.
Hạ Phẩm Thượng Sinh: Nếu như
có chúng sinh nào tạo các nghiệp ác, mặc dù không phỉ
báng kinh điển Đại Thừa, nhưng tạo các
nghiệp ác mà không biết hổ thẹn. Khi hành giả
mạng chung gặp Thiện tri thức nói tên của 12
thể loại kinh Đại Thừa[41] cho nghe. Do nhờ nghe được tên kinh
như vậy nên trừ diệt được nghiệp
ác rất nặng trong ngàn kiếp, lại được
người trí dạy chắp tay xưng niệm Nam-mô A Di
Đà Phật. Nhờ xưng niệm danh hiệu Phật
nên trừ được tội sinh tử trong 50 ức
kiếp[42]. Lúc đó, đức Phật kia liền sai các
vị hóa Phật, hóa làm Bồ-tát Quán Âm, Bồ-tát
Đại Thế Chí đến trước người
đó khen ngợi rằng: “Thiện Nam tử!
Ngươi nhờ xưng niệm danh hiệu chư
Phật mà diệt trừ được các tội
nặng, Ta đến tiếp dẫn ngươi”. Nói
lời ấy xong, hành giả liền thấy hào quang
của vị hóa Phật bao trùm khắp nhà, thấy rồi
vui mừng, liền bỏ thân mạng, nương hoa sen
báu, theo sau hóa Phật, sinh trong ao báu. Trải qua 49 ngày, hoa
sen mới hé nở, khi hoa sen vừa hé nở, Bồ-tát
Đại Bi Quán Thế Âm phóng hào quang sáng lớn
đến trước hành giả nói 12 thể loại kinh
sâu xa vi diệu cho nghe, nghe rồi tin hiểu, phát tâm vô
Thượng Bồ-đề. Trải qua mười
tiểu kiếp, đầy đủ bách pháp minh môn,
được vào Sơ Địa. Hàng Hạ Phẩm
Thượng Sinh này, được nghe danh hiệu chư
Phật, danh hiệu Pháp và danh hiệu Tăng, cũng
liền được văng sinh.
Hạ Phẩm Trung Sinh: Nếu có chúng sinh nào
hủy phạm Ngũ Giới, Bát Quan Trai Giới và
giới Cụ Túc, trộm cắp vật của
Tăng-kỳ, vật của hiện tiền Tăng, nói
pháp bất tịnh không có tâm hổ thẹn, dùng các
nghiệp ác để bồi đắp cho ḿnh. Tội nhân
như thế, v́ nghiệp ác lẽ ra bị đọa vào
địa ngục, khi mạng chung, các thứ lửa
ở địa ngục cùng lúc ập đến, nhưng
nhờ gặp được bậc thiện tri thức
dùng ḷng đại từ giảng nói về oai đức
mười lực của Phật A Di Đà, nói rơ về
thần lực quang minh của Phật kia, đồng
thời khen ngợi giới, định, huệ, giải
thoát và giải thoát tri kiến. Người này nghe xong
liền trừ được tội lỗi sinh tử
trong 80 ức kiếp. Lửa dữ địa ngục hóa
thành gió mát lành, thổi các hoa trời. Trên hoa đều có
các vị hóa Phật, Bồ-tát đến tiếp dẫn,
trong khoảng một niệm liền được sinh
vào trong hoa sen trong ao Thất bảo. Trải qua sáu kiếp,
hoa sen mới hé nở, Bồ-tát Quán Thế Âm và Đại
Thế Chí dùng Phạm âm để cảm hóa và giảng nói
kinh điển Đại thừa sâu xa vi diệu cho
người đó. Người đó nghe xong pháp này rồi
liền phát tâm Vô Thượng Bồ-đề.
Hạ Phẩm Hạ Sinh: Nếu có chúng sinh nào
tạo nghiệp bất thiện, Ngũ Nghịch, Thập
Ác, đầy dẫy các điều bất thiện.
Người ngu như thế, do nghiệp ác lẽ ra
phải bị đọa vào đường ác, trải qua
nhiều kiếp chịu khổ vô cùng, nhưng khi mạng
chung gặp được thiện tri thức cảm hóa,
nói pháp cho họ nghe, dạy họ niệm Phật, v́
người kia bị những điều khổ bức
bách, không thể niệm Phật. Vị Thiện tri
thức bảo rằng: “Nếu ngươi không
niệm được, nên xưng Vô Lượng Thọ
Phật”. Chí tâm như thế, tiếng niệm không
dứt, đầy đủ mười niệm Nam-mô A Di
Đà Phật. Nhờ xưng danh hiệu Phật nên trong
mỗi niệm trừ được tội sinh tử
trong 80 ức kiếp. Sau khi mạng chung, người
đó thấy hoa sen vàng giống như mặt trời
ở trước mặt ḿnh, trong khoảng một
niệm liền được sinh về cơi Cực
Lạc. Ở trong hoa sen măn 12 đại kiếp, hoa sen
mới nở, được Bồ-tát Quán Thế Âm và
Đại Thế Chí dùng âm thanh Đại bi giảng rơ
thật tướng các pháp và phương pháp diệt
trừ tội lỗi cho họ nghe. Nghe xong hoan hỷ,
liền phát tâm Bồ-đề.
Giải thích: Chín phẩm này, tóm lược có
hai thuyết:
Thuyết thứ nhất giải thích rằng:
Sinh về chín phẩm này đều là hàng Bồ-tát
Thập Tín, căn cứ theo lúc tiến lúc thoái, tạo
thiện tạo ác, lên xuống không đồng, cho nên chia
ra chín phẩm. Ba phẩm Thượng là hàng Thập Tín
từ gốc Bất Thoái vào thẳng, v́ thực hành có sâu,
có cạn nên thành ra ba phẩm Thượng. Ba phẩm Trung,
do hàng Bồ-tát thoái tâm Đại Thừa mà phát tâm Tiểu
Thừa, thoái hạnh Đại Thừa mà tu hạnh
Tiểu Thừa, thực hành có sâu có cạn, nên thành ra ba
phẩm Trung. Ba phẩm Hạ do thoái tâm Đại Thừa
theo ḍng sinh tử, thoái hạnh Đại Thừa mà
tạo tội sinh tử có nặng, có nhẹ, nên thành ra ba
phẩm Hạ.
Thuyết thứ hai giải thích rằng:
Những người phát tâm Bồ-đề, tu hạnh
Bồ-tát, thực hành có cạn, có sâu thành ra ba phẩm
Thượng. Những người phát tâm
Bồ-đề, tu hạnh Thanh Văn, thực hành có
cạn có sâu, thành ra ba phẩm Trung. Những người
không phát cả hai loại tâm, không tu hành hạnh của
Đại Thừa hoặc Tiểu Thừa, chỉ theo tâm
sinh tử, tạo các tội sinh tử, v́ tạo tội có
nặng có nhẹ, thành ra ba phẩm Hạ.
Trên đây là luận bàn sơ lược về
chín phẩm. Nếu luận bàn kỹ th́ bậc
Thượng Phẩm Thượng Sinh khi phát ba loại tâm,
theo luận Khởi Tín nói: “Giai vị Tín thành tựu phát
tâm là tâm sau cùng của Thập Tín, nếu sinh về cơi kia,
liền được Vô Sinh Pháp Nhẫn”. Đó gọi
là Duyên Quán Vô Sinh Nhẫn, v́ kinh Anh Lạc Bản Nghiệp
nói: “Giai vị Thập Giải được Vô Sinh
Nhẫn”. Bậc Thượng Phẩm Trung Sinh là vị
đầu tiên của Thập Tín, thời gian ở cơi
nầy một kiếp bằng ở cơi kia một ngày,
trải qua một tiểu kiếp được Vô Sinh
Pháp Nhẫn, gọi là chứng lư Vô Sinh Nhẫn, tức ngay
Sơ Địa. Bậc Thượng Phẩm Hạ Sinh là
hàng phàm phu trước Thập Tín kính tín và quy y Tam Bảo,
thọ giới Bồ-tát, v́ cũng tin nhân quả, không
hủy báng Đại Thừa, phát tâm Vô Thượng
đạo, cho nên trong bảy ngày, chỉ thấy thân
Phật mà tâm chưa sáng tỏ. Sau 21 ngày hoàn toàn thấy
nghe rơ ràng, nghĩa là người này chưa chứng đắc,
chỉ nương vào nghiệp thức mà thấy
được Như Lai. Sau 21 ngày mới dự vào hàng
Thập giải, thấy Phật là chỉ do tâm hiện
khởi, trải qua ba tiểu kiếp th́ dự vào bậc
Hoan hỷ địa. Tiểu kiếp ở cơi kia bằng
a-tăng-kỳ ở cơi này, cho nên bậc Trung phẩm
trải qua một tiểu kiếp, bậc Hạ phẩm
trải qua ba tiểu kiếp th́ cùng dự vào hàng Sơ
Địa. V́ hàng Bồ-tát thuộc Thắng giải hành
địa căn cơ có lợi độn, nên hạnh có
siêng năng giải đăi, tuy lâu mau khác nhau mà công hạnh
bằng nhau. Các phẩm khác ở dưới, căn cứ
theo đây mà biết được.
Trong bậc Trung, Trung Phẩm Thượng Sinh
là những hàng thuộc Noăn vị, Đảnh vị,
Nhẫn vị, Quyết Trạch phần vị[43]. Trung Phẩm Trung Sinh là Giải Thoát Phần
của ba Phương Tiện Vị trước trong
Thất Phương Tiện[44]. Trung Phẩm Hạ Sinh là những phàm phu
hướng thiện trước Ngũ Đ́nh Tâm Vị.
Ba phẩm này đều là Hiện Bát[45], nhưng từ nửa kiếp ở hiện
đời mà chia ra làm ba phẩm vậy.
Ba phẩm bậc Hạ, bao gồm tất
cả phàm phu theo nghiệp ác, tạo các tội Ngũ
nghịch, nặng nhẹ không đồng nhau, nhờ
gặp duyên nghe pháp diệt được tội, mà thành
ra ba phẩm, hoàn toàn không có giai vị khác. Nếu căn
cứ theo kinh Vô Lượng Thọ th́ gom chung ba phẩm,
kinh ghi:
“Phật bảo A-nan:
- Nếu có chúng sinh nào sinh về cơi kia,
đều được sinh trong Chánh Định Tụ.
V́ sao như thế? V́ trong cơi Phật kia không có các Tà
Định Tụ và Bất Định Tụ. Vô
lượng chư Phật Như Lai trong mười
phương đều cùng tán thán khen ngợi sức công
đức không thể nghĩ bàn của đức
Phật Vô Lượng Thọ. Nếu có chúng sinh nào nghe danh
hiệu của Ngài, tín tâm hoan hỷ dù chỉ một
niệm chí tâm hồi hướng, nguyện sinh về
nước kia, liền được văng sinh, trụ vào
ngôi Bất Thoái Chuyển, chỉ trừ những kẻ
phạm năm tội nghịch và chê bai chánh pháp”.
Phật bảo A-nan:
“Hết thảy trời và người trong
mười phương thế giới, nếu chí tâm
nguyện sinh về cơi kia th́ được chia thành ba
bậc:
Bậc Thượng là những
người đă bỏ nhà, đoạn dục, xuất
gia làm Sa-môn, phát tâm Bồ-đề, chuyên niệm danh
hiệu đức Phật Vô Lượng Thọ, tu các công
đức, nguyện sinh về cơi kia. Những chúng sinh này
khi mạng chung th́ được thấy đức
Phật Vô Lượng Thọ cùng đại chúng hiện
ra trước mặt, được theo đức
Phật Vô Lượng Thọ sinh về cơi của Ngài,
tự nhiên hóa sinh trong hoa Thất bảo, trụ vào ngôi
Bất Thoái Chuyển, trí huệ dũng mănh, thần thông
tự tại. Do đó, này A-nan! Nếu có chúng sinh nào ở
cơi Ta-bà này thấy được đức Phật Vô
Lượng Thọ th́ nên phát tâm Vô Thượng
Bồ-đề, tu tập các công đức, liền
được sinh về cơi nước của Ngài.
Bậc Trung là các trời và người
trong mười phương thế giới, chí tâm
nguyện sinh về cơi nước kia, mặc dù không
xuất gia làm Sa-môn, tu tập các công đức lớn,
nhưng phát tâm Vô Thượng Bồ-đề, chuyên
niệm danh hiệu đức Phật Vô Lượng
Thọ, tu tập thiện nghiệp được
nhiều hay ít, giữ ǵn trai giới, xây dựng tháp
tượng, cúng dường Sa-môn, treo phan, thắp đèn,
rải hoa, đốt hương, đem những việc
này hồi hướng nguyện sinh về cơi kia. Những
người này khi mạng chung, được đức
Phật Vô Lượng Thọ cùng với đại chúng
hóa hiện ra thân h́nh đầy đủ tướng
hảo, hào quang rực rỡ như chính Phật ngay
trước mặt. Người này liền theo đức
Phật hóa hiện đó mà sinh về cơi của Ngài,
trụ vào ngôi Bất Thoái Chuyển, công đức trí
huệ gần bằng như bậc Thượng.
Bậc Hạ là những trời và
người trong mười phương thế giới,
chí tâm muốn sinh về cơi nước kia, giả sử
không thể làm được chút công đức nào,
nhưng nhờ phát tâm Vô Thượng Bồ-đề,
chuyên tâm niệm danh hiệu đức Phật Vô
Lượng Thọ cho đến mười niệm,
nguyện sinh về cơi kia, nếu được nghe pháp
sâu xa mầu nhiệm, hoan hỷ tin ưa, không sinh tâm nghi
hoặc, dù chỉ một niệm nhớ nghĩ
đức Phật kia cho đến thành tâm nguyện sinh
về cơi nước của Ngài, người này khi
mạng chung mộng thấy Đức Phật kia,
liền được văng sinh, công đức trí huệ
gần bằng với bậc Trung. Cần phải suy
nghĩ kỹ các nghĩa này mới có được tâm
hạnh ngay thẳng”.
Tóm lại, bậc thánh tam thừa, bậc Tam
Hiền và Thất Phương Tiện phát tâm của
Nhị Thừa trở đi, từ Bồ-tát quyền
thừa cho đến trước Phương Tiện
Đạo, bốn chúng nam nữ, không căn, hai căn, cho
đến tám bộ rồng, quỷ… nếu phát tâm
Bồ-đề, chuyên niệm danh hiệu Phật A Di
Đà, nhàm chán cơi xấu ác, vui thích Tịnh Độ, th́
khi lâm chung, chánh niệm hiện tiền đều
được văng sinh. Nếu người nào dơng mănh tinh
tấn, quán hạnh rơ ràng, khi lâm chung, tâm không tán loạn th́
đều được văng sinh Thượng Phẩm, cho
đến khi lâm chung niệm mười niệm liên
tục th́ được sinh Hạ Phẩm. Trong đây,
Bồ-tát văng sinh có ba bậc, Nhị Thừa văng sinh có ba
bậc, phàm phu văng sinh cũng có ba bậc, mỗi hạng
có chín phẩm, nhưng trong kinh không tŕnh bày rơ ràng tỉ
mỉ, chỉ luận bàn chung chín phẩm của
Đại Thừa, Tiểu Thừa và phàm phu. Thật ra,
nếu xét kỹ th́ có rất nhiều sai khác, xét yếu
chỉ của Quán Kinh và 48 lời nguyện, th́ phàm phu văng
sinh là chính, thánh nhân chỉ là phụ. Kinh kia chỉ nói
tất cả chúng sinh đời vị lai bị phiền
năo oán tặc làm hại, cho nên chỉ bày chỗ thanh
tịnh, để khuyên mọi người văng sinh, không
luận là Bồ-tát. Trong hàng phàm phu, người hủy
báng Đại Thừa không được văng sinh, do
đoạn mất thiện căn vậy. Trong Nhị
Thừa, hàng ngu pháp cũng không được văng sinh, v́
không tin có Tịnh Độ trong mười phương.
Bồ-tát không nguyện văng sinh cũng không được
văng sinh, v́ giữ hạnh nguyện rộng lớn. Nếu
là hàng Nhị thừa vô học, không kể ngu pháp hay không
ngu pháp đều được văng sinh, v́ trong ba cơi dơ
uế không có chỗ thọ sinh. Nghĩa sơ lược
của phẩm loại văng sinh là như vậy.
Gồm hai phần:
- Nói về nơi
chốn hơn và kém
- Luận về văng
sinh khó hay dễ
1. Nói về hơn và
kém:
Nói chung về Thật
đức th́ làm ǵ có thua kém, bởi v́ đều là Pháp
Vương th́ đều gọi là Thiện Thệ. Báo Thân
có đủ vạn năng lực, Báo độ có đầy
cảnh tốt đẹp, nhưng v́ để hóa
độ chúng sinh, nên đôi khi ở cơi uế nhiễm có
nhiều núi đồi, hầm hố; ở cơi thanh
tịnh toàn châu báu. Nhưng nếu luận về nơi
chốn th́ có hơn kém. Cung trời Đâu-suất th́
nương vào hư không, c̣n cơi Cực Lạc th́ đứng
yên ổn trên đất. Như thế th́ giữa trời
và người có sự khác biệt. Nếu căn cứ
vào cơi này mà so sánh với cơi kia th́ cơi trời ưu việt
hơn cơi người. Nếu luận bàn về tịnh và
uế th́ Đâu-suất là cơi uế, Cực Lạc là cơi
tịnh; nếu phân biệt thô th́ hai cơi có 14 điểm
khác nhau.
Đó là cơi trời
Đâu-suất đất đai hạn hẹp, nam nữ
sống lẫn lộn nhau, dục nhiễm hiện hành, có
lui sụt, thọ 4.000 tuổi, nhưng trong đó cũng
có hạng người chết yểu. Về thân h́nh
cũng như thế. Lại nữa, tâm luôn phát khởi ba
tánh thiện, ác, vô kư. Do đó, nếu tâm duyên theo tánh ác th́
sẽ bị đọa địa ngục, có ba thọ
khổ, lạc, xả cùng hiện khởi, sáu trần
cảnh khiến cho người buông lung. Con trai th́ sinh ra
từ nơi đầu gối của cha, con gái sinh ra
từ đầu gối của mẹ, chỉ cho
Bồ-tát là chủ thuyết pháp, có người
được chứng Thánh quả, có người không
chứng đắc. C̣n cơi Tây Phương th́ hoàn toàn
ngược lại với cơi này. Nếu luận bàn theo
nghĩa này th́ cơi Tây Phương hơn hẳn.
2. Luận về
văng sinh khó hay dễ: Có thuyết cho rằng Tây
Phương dễ sinh về, c̣n Đâu-suất khó sinh
về. Có bảy nghĩa:
1. Cực Lạc là cơi
người nên dễ sinh về. Đâu-suất là cơi
trời nên khó sinh về.
2. Cực Lạc
chỉ giữ năm giới th́ được sinh về.
C̣n Đâu-suất phải tu đủ mười
nghiệp thiện mới được sinh về.
3. Cực Lạc
chỉ mười niệm được văng sinh. C̣n
Đâu-suất phải tu đầy đủ bố thí,
tŕ giới mới được sinh về.
4. Cực Lạc hoàn
toàn nương vào bốn mươi tám đại nguyện
của đức Phật A Di Đà để
được văng sinh. C̣n Đâu-suất th́ chỉ dựa
vào tự lực của ḿnh để sinh về.
5. Cực Lạc có
Bồ-tát Quán Thế Âm v.v… đang đến cơi này
để khuyến tấn văng sinh. C̣n Đâu-suất th́
không có việc này.
6. Cực Lạc
được tất cả kinh luận khen ngợi,
khuyến khích văng sinh. C̣n Đâu-suất chỉ có một
kinh ca ngợi.
7. Xưa nay các bậc
Đại đức phần nhiều đều
hướng về Cực Lạc, ít ai hướng về
Đâu-suất
Từ nghĩa này nên
cho rằng Cực Lạc dễ văng sinh, Đâu-suất khó
sinh về.
Có thuyết lại cho
rằng Đâu-suất dễ sinh về, c̣n Cực Lạc
khó văng sinh. Sở dĩ như thế là v́ cung trời Tri
Túc cùng ở tại cơi này, hàng Đại, Tiểu Thừa
đều tin nhận, đă là hóa thân, th́ nhất
định được văng sinh.
Theo kinh Thượng
Sinh, bốn chúng thực hành pháp Lục độ, hàng Bát
bộ nghe tên đều hoan hỷ, sám hối nghiệp ác,
tu mười điều thiện, hồi hướng
nguyện sinh, th́ tất cả đều được
sinh về cơi Cực Lạc.
Theo Đối Pháp
Luận, th́ Biệt thời ư thú[46]
nghĩa là có người nguyện sinh về cơi Cực
Lạc th́ được sinh về nhưng ở vào
thời điểm khác, giống như mua bán, từ
một đồng mà được ngàn đồng, cho
nên, kinh nói: “Chẳng phải do nhân duyên thiện căn
nhỏ mà được văng sinh”.
Thiên Thân Luận[47]
nói: “Người nữ, người thiếu căn, hàng
Nhị Thừa không được văng sinh”. Lại
tướng bạch hào của Đức Phật A Di
Đà như năm Tu-di, há hàng phàm phu có thể thấy
được tướng đó ư? Các nghĩa như
thế được minh chứng chẳng phải là ít,
cho nên vạn người nguyện sinh về cơi Cực
Lạc đều được văng sinh. Hoặc có
thuyết cho rằng lư của hai thuyết trên hoàn toàn không
cùng tận. Phàm văng sinh khó hay dễ, tất cả
đều tùy theo nhân duyên. Duyên nghĩa là Đồng
Thể Đại Bi của chư Phật, Bồ-tát. Nhân
là khởi nguyện tu hành của chín hạng người
trong bốn chúng. Đồng Thể Đại bi tuy không
hạn cuộc ở nơi người, nhưng v́
nghiệp của chúng sinh nên có sự sai khác. Nếu
người nghiệp nhân thuần thục th́ tùy theo
nguyện liền được văng sinh, chẳng phải
v́ lẽ trời người mà khó văng sinh, mà do tịnh
uế nên có ngăn ngại. Nếu người thiếu
nhân nguyện hạnh, ở ngay trước mặt cũng
không cảm được, há có thể cùng cơi mà dễ
được văng sinh ư? Lại nhờ hóa thân mà
liền được diện kiến Như Lai. Do đó,
trong thành Vương Xá hơn ba ức gia đ́nh cùng ở
chung mà không nghe đến danh hiệu của Như Lai. C̣n
trong thành Na-lặc-già, 90 ức người sống xa xôi
cách trở như thế mà c̣n đến chiêm bái
tướng sắc vàng của Như Lai, thế th́
biết khởi hạnh của chúng sinh vậy, do lệ
thuộc vào thắng duyên mà c̣n hoặc mất. Hoặc có
người tự tánh hệ thuộc A Di Đà, hoặc có
người xưa nay hệ thuộc Di Lặc, tùy theo
sở thuộc đó mà mỗi mỗi nhanh chóng đạt
được đạo. Giả sử không có sự
hệ thuộc, th́ tốn công nhọc sức mà lợi ích
chẳng bao nhiêu. Cho nên, Tỳ-mẫu của Trưởng
giả được La-hầu-la giáo hóa; Thiên tử cơi Phi
Tưởng, ngộ đạo nhờ Xá-lợi-phất.
Thế th́, chuyên tâm vào nơi tôn kính, gắng sức mong
cầu Tịnh nghiệp th́ việc văng sinh dễ như
trong khoảng khảy móng tay, sao chỉ tranh nhau luận bàn
về việc khó dễ? Nếu phát tâm, nhất
định không ngại th́ sáu việc[48]
dễ thực hành, chín phẩm chẳng khó tu, tội
nghiệp tuy nhiều, nhưng tiêu tan như ánh mặt
trời chiếu soi cơi tối; đường đến
tuy tối tăm cách trở, nhưng cũng
được thông suốt như ấn vua khai lối
tắc. Chỉ v́ người học như kẻ
“khắc thuyền t́m gươm”[49],
như hành giả “ôm cây đợi thỏ”[50],
nghi ngờ lời chân thật của tướng
lưỡi rộng dài bao trùm ngàn cơi, mà tin nhận tiếng
kêu rỗng suông của con ếch nằm đáy giếng mê
mờ nhất tâm. Há chẳng phải là hạng
người cất giữ sỏi đá, mà ném bỏ trân
báu ư? Than ôi! Thật đáng thương thay!
Hỏi: Nhiếp
Đại Thừa Luận Thích nêu ra thuyết Biệt
Thời Ư, há chẳng phải là phá trừ nghi sao?
Đáp: Luận kia
tŕnh bày có Biệt Thời và chẳng phải Biệt
Thời. Nếu chỉ phát nguyện th́ đó là Biệt
Thời. Nếu hạnh nguyện gồm tu th́ chẳng phải
Biệt Thời.
Như Bồ-tát Thiên
Thân phán định hạnh mười niệm là Biệt
Thời Ư, v́ sao lại tạo ra bộ luận Văng Sinh
để khuyên người văng sinh? Lại nữa, nguyên
nhân phát khởi giáo lư Quán Kinh là do bà Vi-đề-hy sinh ra
nghịch tử là vương tử A-xà-thế, nhân đó
mà bà nhàm chán cơi Ngũ Trược, nguyện sinh về cơi
Cực Lạc. Đức Phật liền giảng ba
phước nghiệp[51]
và 16 quán môn cho bà nghe, đồng thời khuyên chúng sinh văng
sinh, cho đến những người tạo tội
Ngũ nghịch, Thập ác cũng được khuyên văng
sinh. Bà Vi-đề-hy là người thỉnh đức
Phật giảng về Tịnh Độ, thân ở trong
Ngũ trược mà lại sinh nghịch tử,
đức Phật cho rằng đều được
văng sinh. Ngay đó mà biết phàm phu hiện ở trong cơi
Ngũ trược, nhưng vẫn được văng sinh.
Hỏi:
Vi-đề-hy là vị Bồ-tát, v́ độ chúng sinh, nên
hiện thân người nữ, nhưng lại sinh
người con nghịch tử, lẽ nào thật là phàm phu
ư?
Đáp: Giả sử
thật là Bồ-tát thị hiện, thọ thân
người nữ giáo hóa chúng sinh, ắt phải ẩn
giấu năng lực thật có của ḿnh, biểu
hiện đồng với phàm phu, để nhiếp hóa
đồng loại. Tức hiện đồng với phàm
phu, thân ở trong cơi Ngũ Trược, thường
biết rơ những thống khổ của họ
để dẫn dắt văng sinh Cực Lạc.
Nhiếp Luận chép:
“V́ chỉ phát nguyện là Biệt thời, cho nên biết
tu ba phước nghiệp, mười sáu quán môn, bảy
ngày niệm Phật đâu phải là Biệt thời”.
Hỏi: Như
luận Văng Sinh nói: “Người nữ, người
thiếu căn và hàng Nhị Thừa không được
văng sinh”. Tại sao ở đây lại nói cả ba
hạng người đó đều được văng
sinh?
Đáp: Theo lư th́
thật đúng như vậy, nếu không có chủng
(hạt giống) th́ nhất định không
được văng sinh. Nói chánh chủng: Là ở trong cơi
này, hoặc có chủng tánh người nam hay chủng tánh
người nữ, nếu có nhân người nữ th́
nhất định chiêu cảm nữ căn, người
này giả sử có tu tập hạnh Tịnh Độ
cũng không được văng sinh. V́ trong Tịnh
Độ không có người nữ. Đây là định
nghiệp, chính là nghiệp chướng, không thể
gắng được. Hạng người thiếu
căn như đui, điếc v.v… cũng như thế.
Nếu có ăn năn, trừ bỏ th́ không sinh vào
những hạng người đó. Hàng Nhị Thừa do
gieo nhân Nhị Thừa, không tin Đại Thừa và Tịnh
Độ trong mười phương nên cũng không
được văng sinh. Từ “Chủng” được
tŕnh bày trong luận chính là Định nghiệp chủng.
Hỏi: Nếu như
thế, tại sao Quán Kinh lại nói: “Thọ tŕ Ngũ
Giới th́ được văng sinh, nghe giảng về
Tứ Đế th́ chứng được quả A-la-hán
v.v…”?
Đáp: Theo luận Trí
Độ, đây chẳng phải là hạng ngu pháp[52].
Họ tin có chư Phật trong mười phương và
có Tịnh Độ để phát nguyện văng sinh,
nếu chứng quả A-la-hán rồi th́ Phật sẽ
giảng kinh Pháp Hoa cho họ nghe, đồng thời khuyên
họ phát tâm hồi hướng về Đại Thừa.
Hỏi: Chúng sinh
nghiệp ác rất nặng, chướng ngại Tịnh
Độ, một chút thiện nhỏ th́ không thể
trừ được ác nghiệp. V́ sao trong Quán Kinh
lại nói: “Khi lâm chung niệm mười niệm th́
được văng sinh?”
Đáp: Tâm là chủ
của nghiệp, là nguồn gốc để thọ sinh.
Lúc lâm chung, tâm giống như con mắt, có thể dẫn
dắt tất cả nghiệp. Nếu lúc lâm chung, tâm
nghĩ ác th́ dẫn dắt các nghiệp ác, nếu tâm
nghĩ thiện th́ dẫn dắt các nghiệp thiện.
Giống như rồng đi đến đâu th́ mây
tụ tập theo đến đó. Nếu tâm hướng
về Tây Phương th́ nghiệp cũng theo tâm
đến đó.
Hỏi: Trong kinh Di
Lặc Sở Vấn, khi luận về mười
niệm có ghi: “Chẳng phải niệm phàm phu, chẳng
xen niệm kết sử”. Ở đây, hết thảy
chúng sinh đều là phàm phu, kết sử chưa
đoạn trừ th́ làm sao niệm Phật mà
được văng sinh?
Đáp: Như kinh kia
nói th́ chỉ có ḿnh Phật được văng sinh, chúng sinh
khác không được văng sinh, v́ hàng Bồ-tát Thập
Địa tâm sau cùng vẫn có hai loại vô minh. Ở
đây giải thích rằng: Niệm phàm phu, là nếu
người không phát tâm Bồ-đề, mong cầu ra
khỏi ba cơi để thành Phật mà chỉ niệm
Phật cầu văng sinh, như thế th́ đó chính là
niệm phàm phu, người đó hoàn toàn không
được văng sinh. Do đó, cần phải phát tâm
Bồ-đề. Chẳng xen niệm kết sử,
tức là chỉ cần nhất tâm liên tục, quán
tướng hảo của Phật, nếu miệng
niệm Phật mà tâm duyên theo năm dục th́ đó là xen
niệm kết sử. Niệm Phật là tâm phải
thuần tịnh, ngược lại với kết
sử.
Hỏi: Chúng sinh
chứa nghiệp ác nhiều như núi, làm sao mười
niệm có thể diệt trừ được? Giả
sử có biến ra trăm ngàn vạn cũng c̣n rất ít,
nếu như không trừ sạch nghiệp ác th́ làm sao
được văng sinh Tịnh Độ?
Đáp: Có ba nghĩa:
1. Nếu người
lúc lâm chung mà chánh niệm hiện tiền, th́ tâm ấy có
thể dẫn dắt nghiệp thiện được
tạo ra từ vô thỉ, cho đến nghiệp thiện
ngay trong đời này đồng thời tương
trợ liền được văng sinh.
2. Danh hiệu của
chư Phật đều được thành tựu
từ muôn vạn công đức, cho nên nếu người
chỉ có thể niệm được một niệm
danh hiệu Phật th́ ngay trong niệm đă niệm muôn
vạn công đức, th́ diệt được tội
nghiệp. Nghiệp ác làm ngăn ngại việc văng sinh, nay
nghiệp ác đă được trừ diệt rồi th́
c̣n quan hệ ǵ nữa? Cho nên trong phần hạ phẩm
văng sinh có nói: “Do nhờ niệm danh hiệu Phật mà
trong mỗi mỗi niệm trừ được tội
lỗi sinh tử trong 80 ức kiếp”.
3. Nghiệp ác từ
vô thỉ đều do vọng tâm sinh khởi, công
đức niệm Phật từ chân tâm sinh khởi. Chân
tâm như mặt trời, vọng tâm như bóng tối, chân
tâm hiện khởi th́ vọng tâm liền tiêu trừ,
như mặt trời vừa xuất hiện th́ bóng
tối liền tiêu tan. Do ba nghĩa này, nên nói người
nào lúc lâm chung mà thành tựu mười niệm th́ nhất
định được văng sinh!
Hỏi: Tịnh
Độ thù thắng vi diệu, là Liên Hoa Bảo Tạng,
chỗ cư ngụ của đấng Pháp Vương,
chẳng phải là chỗ của phàm phu tu hành. Đúng ra
phàm phu th́ tu hành ở đất phàm phu, bậc thánh th́ giáo
hóa ở đạo tràng của bậc thánh, lẽ nào
hạng phàm phu thấp kém mà lại được sinh vào
chỗ vi diệu này?
Đáp: Hễ là
hạng phàm phu th́ không được dạo chơi nơi
cơi thanh tịnh, đă là đấng Pháp Vương sao
lại đi vào cơi Ngũ Trược. Mặc dù là
đấng Pháp Vương, nhưng v́ muốn giáo hóa chúng
sinh nên đi vào cơi Ngũ Trược? Mặc dù là phàm phu,
v́ muốn cúng dường chư Phật mà sinh vào cơi thanh
tịnh. Lại nữa, đức Phật A Di Đà phát 48
lời nguyện lớn, trước hết là v́ tất
cả hàng phàm phu, sau đó thêm bậc thánh của tam
thừa, cho nên biết tông chỉ của Tịnh
Độ vốn dành cho hàng phàm phu, c̣n bậc thánh chỉ
là phụ. Lại nữa, hàng Bồ-tát Thập Giải
trở lên, không lo sợ sinh vào đường ác, cho nên có
thể không nguyện sinh về Tịnh Độ. Do đó
biết tông chỉ sâu xa của pháp môn Tịnh Độ
vốn dành cho hàng phàm phu, chẳng phải cho hàng Bồ-tát.
Hỏi: Gặp
được thiện duyên, dự vào chín phẩm,
thường xem văn nghĩa, ĺa bỏ được
tâm sân. Nếu như có những người ác, không
biết tu thiện, sau khi chết bị rơi vào ba
đường ác, th́ có thể dùng phương tiện
cứu vong linh, trừ nghiệp chướng để
sinh về Cực Lạc được không?
Đáp: Chúng sinh ngu si
khó thông đạt, th́ thánh giáo có diệu thuật cứu
giúp. Cho nên phẩm Quán Đảnh Chân Ngôn Thành Tựu, kinh
Bất Không Quyên Tác Thần Biến Chân Ngôn, quyển 28 chép:
“Bấy giờ, các cơi
nước trong mười phương, tất cả
Như Lai trong ba đời và đức Tỳ-lô-giá-na
Như Lai cùng lúc duỗi cánh tay vô úy bên phải, xoa đảnh
vua Thanh Tịnh Liên Hoa Minh, đồng thời cùng
thuyết Bất Không Đại Quán Đảnh Quang Chân
Ngôn rằng:
“Án a mộ già giáp oa
phế lỗ giả nă ma ha mẫu nại la ma nĩ bát
đầu ma nhập phược la bả la miệt
đả dă hồng”.
Nếu có chúng sinh nào
ở bất cứ nơi đâu mà nghe được
Đại Quán Đảnh Quang Chân Ngôn này từ hai, ba cho
đến bảy biến th́ liền trừ diệt
được tất cả tội chướng. Nếu
có chúng sinh nào gây ra các thứ tội Thập Ác, Ngũ Nghịch,
Tứ Trọng nhiều như cát bụi, đầy
khắp thế giới này, đến khi thân hoại
mạng chung, bị rơi vào đường ác, nên đem
chân ngôn này gia tŕ vào trong cát sỏi 108 biến, rồi vào
trong Thi-đà lâm[53],
rải trên hài cốt của người chết, hoặc
rải trên mộ. Những vong linh ấy hoặc đă
bị đọa trong địa ngục, trong ngạ
quỷ, trong A-tu-la hay trong bàng sinh, nhưng nhờ bổn
nguyện chân thật của Nhất Thiết Bất Không
Như Lai, và Bất Không Tỳ-lô-giá-na Như Lai cùng với
sức gia tŕ của thần chú Đại Quán Đảnh
Quang Chân Ngôn trong cát, tức thời liền được
ánh hào quang chiếu đến thân, nhân đó trừ
được các tội báo, bỏ được thân
thống khổ, sinh về cơi Tây Phương Cực
Lạc, hóa sinh trong hoa sen, cho đến khi chứng
được Bồ-đề, vĩnh viễn không
bị đọa lạc. Các kinh văn như thế
phổ biến khắp nơi.
Tiếc thay! Nghiệp
ác tự ḿnh tạo th́ chiêu cảm quả khổ như
bóng theo h́nh. Xót thay! Nguy khốn chỉ ḿnh ta, không có ai
cứu giúp. Nếu chẳng có tâm đồng thể
đại bi[54],
bí thuật hoằng tế th́ sao có thể từ xa mà
mở cửa u đồ, để được lên
đài sen. Tuy không có lư người khác làm mà ta thọ
nhận, nhưng có sức duyên khởi không thể nghĩ
bàn. Thế mới biết nhờ gặp cát đă
được gia tŕ thần chú, tức là có duyên, nếu
không gặp được cát sỏi đó, đâu thể
có thể nói đến kỳ hạn giải thoát.Sức
đại bi cùng khắp, lời chân thật chẳng
hư dối mà không tin nhận, không thực hành th́ về
sau ăn năn không kịp! Thế th́, người không tin
nhận, luống phụ ân sâu dày, ngày báo đáp càng xa
vời. Người tin nhận thực hành theo, tiếp
dẫn hồn về hoa sen, hạnh hiếu thuận
được lập, may gặp được chân ngôn,
khiến dễ dàng giải thoát. Phàm trăm người
quân tử, không ai mà không phụng hành. Việc rải cát
trên mộ mà c̣n vượt qua ba cơi, huống ǵ thân
được mặc áo gia tŕ thần chú, tai
được nghe tiếng tụng chú!
Xuân Bính Tuất, PL.
2550 (2006)
Thích Giác Chính cẩn
dịch
[1] Bách Ṭa Nhân Vương
Kinh: Một ngày mở 100 ṭa để giảng kinh Nhân
Vương (TĐĐPB)
[2] Năm Trược: năm thứ cặn
đục khởi lên trong kiếp giảm. Theo thuyết
của kinh Bi Hoa, q. 5, Pháp Uyển Châu Lâm, q. 98, Ngũ
Trược chỉ cho:
1. Kiếp Trược: Vào thời kiếp
giảm, lúc tuổi thọ con người rút ngắn c̣n 30
tuổi th́ nạn đói kém xảy ra, lúc giảm c̣n 20
tuổi th́ nạn bệnh tật xảy ra, lúc giảm c̣n
10 tuổi th́ nạn chiến tranh xảy ra, tất cả
chúng sinh trong thế giới đều bị hại.
2. Kiến Trược: Chánh pháp đă diệt,
Tượng Pháp dần dần khởi, tà pháp bắt
đầu sinh, tà kiến tăng mạnh, làm cho con
người không tu tập pháp lành.
3. Phiền Năo Trược: Chúng sinh
nhiều ái dục, tham lam bỏn sẻn, thích đấu
tranh dua nịnh, dối trá, tiếp nhận tà pháp, nên tâm
thần bị năo loạn.
4. Chúng Sinh Trược: Chúng sinh phần
nhiều độc ác, không hiếu kính cha mẹ,
người lớn tuổi, không sợ quả báo ác, không
tạo công đức, không tu huệ thí, không giữ ǵn trai
giới.
5. Mạng
Trược: Thời xưa con người thọ tám
vạn tuổi, đời nay do ác nghiệp tăng
trưởng nên tuổi thọ giảm dần,
người trăm tuổi rất hiếm.
Trong năm
Trược th́ Kiếp Trược là Tổng, bốn
Trược c̣n lại là Biệt. Trong bốn Trược
th́ Kiếp Trược và Phiền Năo Trược làm
tự thể mà tạo thành Chúng Sinh Trược và Mạng
Trược (TĐPH Huệ Quang, t. III, tr. 3044).
[3]
Tứ
Lưu (c̣n gọi Tứ Bộc Lưu, Tứ Đại
Bộc Hà, Tứ Bộc Hà): Bốn thứ phiền năo
mạnh như ḍng thác lũ, cuốn trôi các thiện căn
loài hữu t́nh. Bộc Lưu là tên khác của phiền năo.
1. Dục Bộc Lưu:
Thức tưởng khởi lên do mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân tương ưng với sắc, thanh,
hương, vị, xúc tức là Ngũ Dục mà ta thường
gọi.
2. Hữu Bộc Lưu:
Tham, mạn, si trong cơi Sắc, cơi Vô sắc.
3. Kiến Bộc
Lưu: Tư tưởng kiến giải lầm lẫn,
thiên lệch. Chẳng hạn như các tà kiến cho
thế giới là hữu biên hoặc vô biên, rằng thế
gian là thường hoặc vô thường, đoán
chừng sau khi Như Lai Niết-bàn là c̣n hoặc không c̣n,
đều thuộc về loại Kiến bộc lưu.
4. Vô Minh Bộc Lưu:
Phiền năo tương ưng với si. Ba cơi mỗi cơi
đều có năm vô minh bộc lưu, cộng chung thành
15 vô minh bộc lưu.
Theo luận Câu-xá 20, 29 Hoặc như tham, sân,
mạn, nghi, triền của cơi Dục là Dục Bộc
Lưu; 28 hoặc như tham, mạn, nghi của cơi Sắc,
cơi Vô sắc là Hữu Bộc Lưu; 36 kiến chấp
trong ba cơi là Kiến Bộc Lưu; 15 vô minh trong ba cơi là Vô
Minh Bộc Lưu (TĐPH Huệ Quang, t.V, tr. 4718).
[4] Thập Bát Viên Tịnh (c̣n gọi là Thập Bát
Viên Măn): Chỉ cho 18 công đức viên măn của Tịnh
Độ mà chư Phật an trú trong đó (Báo Thân
Phật). Đó là: 1. Sắc tướng viên tịnh; 2. H́nh
mạo viên tịnh; 3. Lượng viên tịnh; 4. Xứ
viên tịnh; 5. Nhân viên tịnh; 6. Quả viên tịnh; 7. Chủ
viên tịnh; 8. Trợ viên tịnh; 9. Quyến thuộc viên
tịnh; 10. Tŕ viên tịnh; 11. Nghiệp viên tịnh; 12. Lợi
ích viên tịnh; 13. Vô bố úy viên tịnh; 14. Trụ xứ
viên tịnh; 15. Lộ viên tịnh; 16. Thừa viên tịnh;
17. Môn viên tịnh; 18. Y chỉ viên tịnh (TĐPH Huệ
Quang, t. VI, tr. 5186)
[5] Nước tám đặc tính (Bát công đức
thủy): nước có tám đặc tính thù thắng.
Ở Tịnh Độ của Phật có ao thù thắng,
nước trong ao có tám thứ đặc tính: Trong
trẻo, mát mẻ, ngon ngọt, mềm nhẹ, thấm
nhuần, an ḥa, trừ đói khát, nuôi lớn các căn.
Đồng thời, trong 7 biển bao quanh núi Tu-di cũng có
nước tràn đầy đủ tám tính chất:
Ngọt, lạnh, mềm, nhẹ, trong sạch, không hôi,
uống không đau cổ, uống không đau bụng
(TĐPH Huệ Quang, t. I, tr. 370)
[6] Thập Giải (Thập Trụ): Mười
trụ trong quá tŕnh tu hành của Bồ-tát, tức các giai
vị từ vị 11 đến vị 22 trong 52 giai vị
Bồ-tát. Đó là: 1. Sơ Phát Tâm Trụ; 2. Trị
Địa Trụ; 3. Tu Hành Trụ; 4. Sinh Quư Trụ; 5.
Cụ Túc Phương Tiện Trụ; 6. Chánh Tâm Trụ; 7.
Bất Thoái Trụ; 8. Đồng Chân Trụ; 9. Pháp
Vương Tử Trụ; 10. Quán Đảnh Trụ.
[7]
Tam
Thọ (Tam Thống): Ba thứ cảm thọ khi sáu căn
tiếp xúc với sáu trần:
- Khổ Thọ: tức
lănh thọ cảnh tướng trái ư làm cho thân tâm chịu
bức bách.
- Lạc Thọ: tức
lănh thọ cảnh tướng vừa ư khiến thân tâm vui
mừng.
- Xả Thọ (Bất
Khổ Bất Lạc Thọ): tức lănh thọ cảnh
tướng trung dung, thân tâm không bị bức bách, cũng
không vui sướng.
Ba Thọ này có mặt ở cả sáu căn, và
chung cho hữu lậu, vô lậu. Hoặc mỗi thọ
tự chia làm hai thứ: Thứ nào tương ưng
với năm thức gọi là Thân Thọ; thứ nào
tương ưng với ư thức gọi là Tâm Thọ
(TĐPH Huệ Quang, t. V, tr. 4220).
[8] Chủng tánh quyết định: Chủng tánh
nhất định sẽ thành tựu quả vị.
Tức ba tánh: Bồ-tát định tánh, Duyên Giác
định tánh, Thanh Văn định tánh trong năm
thứ định tánh mà tất cả chúng sinh đều
sẵn có quyết định thành tựu quả Phật,
quả Bích-chi Phật và quả A-la-hán, nên gọi là
Quyết Định Chủng Tánh.
[9] Chánh cơ: Căn cơ thích hợp, tiếp thu
được sự giáo hóa. Tịnh Độ Chân Tông
ở Nhật Bản cho rằng phàm phu ác nhân là chánh cơ
của bản nguyện tha lực, nên có các thuyết
như: Ác nhân chánh cơ, nữ nhân chánh cơ. C̣n căn
cơ phát tâm liền được văng sinh là chánh cơ trong
các cơ (TĐPH Huệ Quang, t. I, tr. 928)
[10] Đăng Địa: tiến lên Sơ
địa. Hàng Bồ-tát Đại Thừa tu tập
phải trải qua 52 giai vị, là Thập Tín, Thập
Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng,
Thập Địa, Đẳng Giác và Diệu Giác. Trong
đó, tiến lên địa đầu tiên của Thập
Địa gọi là Đăng Địa, cần phải
trải qua một đại a-tăng-kỳ kiếp tu
hành. Giai đoạn từ Sơ Địa đến
hết Thập Địa phải trải qua hai
a-tăng-kỳ kiếp tu hành (TĐPH Huệ Quang, t. I, tr.
1465)
[11] Cơi Thập Phật: Chỉ 10 loại thân
Phật được nói trong kinh Hoa Nghiêm. Khi luận
về Quả hải, tông Hoa Nghiêm đă nêu ra Thập
Phật chính là cảnh giới Thập Phật nơi
tự kỷ; c̣n luận về Phật thân th́ cho Thập
Phật chính là Như Lai có đầy đủ 10 thân.
Đây gọi là Thập Thân và Thập Phật. Trong “Hoa
Nghiêm Khổng Mục Chương”, q. 2 của ngài Trí
Nghiễm chia Thập Phật ra làm hai loại: Giải
Cảnh Thập Phật và Hạnh Cảnh Thập
Phật.
I. Giải Cảnh Thập Phật: Cảnh
giới mà Bồ-tát thuộc Hoa Nghiêm Viên giáo ở Nhân
vị dùng Quán trí giải ngộ để chiếu soi.
Cảnh giới này tuy mỗi mỗi không giống nhau, nên
căn cứ vào những điểm khác nhau ấy mà chia
làm 10 loại, gọi chung là Giải Cảnh Thập
Phật. Theo kinh Hoa Nghiêm, q. 26 (Cựu dịch) th́ Thập
thân là:
1. Chúng sinh thân: Chúng sinh thế gian.
2. Quốc độ thân: Quốc độ
thế gian.
3. Nghiệp báo thân: Nhân duyên cảm thọ
được hai thân ở trên, tức hoặc và
nghiệp.
Ba thân trên là phần nhiễm.
4. Thanh Văn thân.
5. Bích-chi Phật thân.
Hai thân này chỉ cho quả thể Nhị
Thừa: Thanh Vănvà Duyên giác.
6. Bồ-tát thân: Bậc ở nơi
nhân vị cầu quả vị Phật.
7. Như Lai thân: Phật viên măn rốt ráo.
8. Trí thân: Trí huệ năng chứng của hàng
Tam thừa và Phật.
9. Pháp thân: Lư pháp sở chứng của hàng Tam
thừa và Phật.
Sáu thân trên là phần tịnh.
10. Hư không thân: Sự không mà gồm cả lư
không, chính là chỗ nương tựa của các thân trên.
Từ Thanh Vănthân trở xuống là thuộc về trí
Chánh giác thế gian
II. Hạnh cảnh Thập Phật: Quả
Phật cứu cánh mà Bồ-tát thuộc Hoa Nghiêm Viên giáo tu
tập chứng ngộ. Phật quả này vượt
hẳn cảnh giới mà Bồ-tát nhân vị giải
ngộ chiếu soi. Hạnh cảnh Thập Phật này
căn cứ vào công đức của nhất Phật thân
mà chia ra. Theo kinh Hoa Nghiêm, q. 43 (Cựu dịch) th́ Thập
Phật:
1. Chánh giác Phật (Vô trước Phật):
Phật quả Giác trí viên măn.
2. Nguyện Phật: Phật dùng nguyện
lực xuất sinh tất cả công đức.
3. Nghiệp báo Phật: nghiệp là nhân vạn
hạnh, báo là thân tướng hảo trang nghiêm, Phật
nhờ vào phước nghiệp thù thắng mà cảm
được sắc thân vi diệu, tướng hảo
trang nghiêm khiến cho chúng sinh phát khởi niềm tin.
4. Trụ tŕ Phật: thể tịnh thức
giữ ǵn thiện căn mà tùy thuận thành tựu Chánh Giác.
5. Hóa Phật (Niết-bàn Phật): Phật hóa
hiện nhập diệt.
6. Pháp giới Phật: Pháp thân tṛn đầy
khắp pháp giới, lấy pháp giới làm Pháp thể.
7. Tâm Phật: tâm Phật lặng trong, an trụ
Chân Duy thức tánh.
8. Tam-muội Phật: Phật thường
ở trong định mà không đắm trước.
9. Tánh Phật: Phật dùng tánh trí b́nh
đẳng chiếu soi bổn tánh, lại ngộ gốc
của Bản giác chân tánh
10. Như ư Phật: năng hóa, sở hóa
đều như ư, trùm khắp các chúng sinh (TĐBKTT).
[12] Phổ Hiền Nhân phần: Hoa Nghiêm Khổng
Mục Chương, q. 4 nêu ra hai loại: Tam thừa
Phổ Hiền và Nhất thừa Phổ Hiền, mỗi
loại lại có ba lớp: Nhân, Giải, Hạnh nên
gọi là Lục chủng Phổ Hiền.
Trong Tam thừa Phổ Hiền th́ Nhân là
Bồ-tát Phổ Hiền; Giải là ngộ được
lư Hội Tam Quy Nhất thú hướng Nhất thừa;
Hạnh là hạnh Phổ Hiền. Trong Nhất thừa
Phổ Hiền th́ Nhân là Bồ-tát Phổ Hiền nói trong
phẩm Nhập Pháp Giới; Giải là Phổ biến và
Thâm nhập nói trong 60 hạnh môn thuộc phẩm Phổ Hiền,
là cảnh giới hỗ tương dung nhiếp bất
khả tư nghị; Hạnh là chỉ 10 tâm Phổ
Hiền và 10 hạnh nguyện Phổ Hiền (TĐPH
Huệ Quang, t. IV, tr. 3716).
[13] Tam Hiền Thập Thánh:
* Tam Hiền: ba giai vị tu hành các thiện
căn để hàng phục phiền năo, khiến tâm
được điều ḥa. Tam Hiền có Tiểu
Thừa và Đại Thừa khác nhau.
+ Tam Hiền thuộc Tiểu Thừa: Giai
vị tu các thiện căn hữu lậu (tức thuận
giải thoát phần), có ba giai vị:
1. Ngũ đ́nh tâm quán vị: giai vị dùng
Ngũ đ́nh tâm quán để ngăn dứt năm món
tham, sân, si, ngă kiến và tán loạn.
2. Biệt tướng niệm trụ vị:
giai vị quán các tự tướng: bất tịnh,
khổ, vô thường, vô ngă thuộc thân, thọ, tâm, pháp;
đồng thời quán các cộng tướng: vô
thường, khổ, không, vô ngă.
3. Tổng tướng niệm
trụ vị: giai vị quán chung các cộng tướng:
vô thường, khổ, không, vô ngă thuộc Tứ niệm
trụ.
*
Tam Hiền thuộc Đại Thừa: chỉ cho hàng
Bồ-tát trước Thập Địa, giai vị này có
ba lớp Thập Tâm khác nhau:
1. Thập Trụ: tâm hội lư, an trụ
bất động. Thập Trụ gồm: Phát Tâm Trụ,
Trị Địa Trụ, Tu Hành Trụ, Sinh Quư Trụ,
Cụ Túc Phương Tiện Trụ, Chính Tâm Trụ,
Bất Thoái Trụ, Đồng Chân Trụ, Pháp Vương
Tử Trụ và Quán Đảnh Trụ.
2. Thập Hạnh: thực hành hạnh này th́
sẽ tiến tới quả. Thập Hạnh gồm: Hoan
Hỷ Hạnh, Nhiêu Ích Hạnh, Vô Vi Nghịch Hạnh, Vô
Khuất Nhiễu Hạnh, Vô Si Loạn Hạnh, Thiện
Hiện Hạnh, Vô Trước Hạnh, Nan Đắc
Hạnh, Thiện Pháp Hạnh, Chân Thật Hạnh.
3. Thập Hồi Hướng: hồi nhân
hướng quả. Thập Hồi Hướng gồm:
Cứu chư chúng sinh ly chúng sinh tướng hồi
hướng, Bất hoại hồi hướng,
Đẳng nhất thiết chư Phật hồi
hướng, Chí nhất thiết hồi hướng, Vô
tận công đức tạng hồi hướng, Nhập
nhất thiết b́nh đẳng thiện căn hồi
hướng, Đẳng tùy thuận nhất thiết chúng
sinh hồi hướng, Chân như tướng hồi
hướng, Vô phược vô trước giải thoát
hồi hướng và Nhập pháp giới vô lượng
hồi hướng (TĐPH Huệ Quang, t. V, tr. 4107).
* Thập Thánh: Nhân Vương Bát-nhă Kinh Hiệp
Sớ, q. trung cho rằng Tam Hiền tức 30 tâm
trước Thập Địa, Thập Thánh tức hàng
Bồ-tát Thập Địa. V́ hàng Bồ-tát Thập
Địa đều đă đoạn Hoặc, chứng
được chánh tính (TĐPH Huệ Quang, t. VI, tr. 5309).
[14] Giai vị Kim Cương (Thập Hồi
Hướng, Thập Kim Cương Tâm): Mười tâm tu
hành của Bồ-tát trước hàng Thập Địa ghi
trong kinh Phạm Vơng, q. thượng. Tức từ 10
trưởng dưỡng tâm nhập vào kiên tu nhẫn có 10
kim cương tâm hướng quả, đó là: Tín tâm,
Niệm tâm, Hồi hướng tâm, Đạt tâm, Trực
tâm, Bất Thoái tâm, Đại Thừa tâm, Vô tướng
tâm, Huệ tâm và Bất Hoại tâm. Từ 10 Kim cương
tâm này nhập vào Kiên thánh nhẫn. Phạm Vơng Kinh Hiệp
Chú, q. 2 của ngài Trí Húc đời Minh cho rằng 10 kim
cương tâm này giống với Thập Tín của Viên
giáo; Phạm Vơng Kinh Bồ-tát Giới Bản Sớ, q.
thượng cho rằng 10 kim cương tâm chính là Thập
Hồi Hướng (TĐPH Huệ Quang, t. VI, tr. 5232).
[15] Vô kư báo: nghiệp vô kư không thiện không ác th́
không chịu quả khổ, cũng không thọ nhận
quả vui (TĐPH Huệ Quang, t. V, tr. 4737)
[16] Bốn Hoặc của Mạt-na (Tứ Căn
Bản Phiền Năo): ngă si, ngă kiến, ngă mạn, ngă ái. Duy
Thức cho đó là bốn thứ phiền năo căn
bản tương ưng và khởi lên với thức
Mạt-na. Ngă si tức vô minh, nghĩa là không hiểu
biết tướng ngă và mê lầm lư vô ngă; Ngă kiến
tức ngă chấp, nghĩa là đối với pháp phi ngă
vọng chấp là ngă; Ngă mạn tức cao ngạo, nghĩa
là dựa vào ngă sở chấp khiến cho tâm cao cử; Ngă
ái tức ngă tham, nghĩa là đối với ngă sở
chấp luôn sinh tâm tham trước (TĐPH Huệ Quang, t.
V, tr. 4834).
[17] Bốn duyên: bốn duyên làm chỗ nương
tựa để sinh khởi tất cả các pháp hữu
vi. Gồm hai thuyết:
* Theo thuyết của Tiểu
Thừa:
- Nhân duyên: nguyên nhân nội tại trực
tiếp sinh ra quả, chẳng hạn như từ hạt
giống sinh ra mầm, hạt giống chính là nhân duyên
của mầm. Đối với từ ngữ “Nhân duyên”
này th́ “Nhân” cũng được hiểu là “Duyên”.
- Đẳng vô gián duyên: Nguyên nhân làm cho từ
một Sát-na trước nhường đường và
khai dẫn cho một Sát-na sau sinh khởi trong sự
tương tục của tâm và tâm sở. Cũng tức là
lực dụng của tâm, tâm sở làm cho một Sát-na
trước ở quá khứ diệt mất th́ Sát-na sau
ở hiện tại sinh khởi…
- Sở duyên duyên: Chỉ cho tất cả
đối tượng mà tâm, tâm sở phan duyên, cũng
tức là các duyên gián tiếp, trực tiếp do tất
cả sự vật bên ngoài đối với nội tâm
sinh ra.
- Tăng thượng duyên: Tất
cả các nguyên nhân điều kiện trợ giúp hoặc
không làm chướng ngại cho sự phát sinh của
hiện tượng ngoài ba duyên nói trên.
* Theo thuyết của Đại Thừa:
- Nhân duyên:
Tất cả pháp có khả năng tự thân sinh ra tự
quả trong các pháp hữu vi. Như hạt giống lúa ḿ
th́ mọc cây lúa ḿ, hạt giống lúa th́ mọc cây lúa. Nhân
duyên này có ba thể tánh.
a. Chủng tử: Tất cả pháp thiện,
nhiễm, vô kư hàm chứa trong thức A-lại-da, chủng
tử này vào những thời gian khác nhau có thể sinh ra
chủng tử của tự loại (chủng sinh
chủng), đồng thời có thể sinh khởi
hiện hành của tự loại (chủng sinh hiện).
b. Hiện hành: Chỉ sự hiện hành của
bảy thức chuyển thức (nhăn thức, nhĩ
thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ư
thức và Mạt-na thức), có công năng huân tập thành
tự loại chủng tử (hiện huân chủng) trong
Bản thức (thức thứ 8).
- Đẳng vô gián duyên: Sự sinh khởi
của tâm, tâm sở là do niệm trước dẫn sinh ra
niệm sau, niệm niệm nối nhau, không có xen hở.-
Sở duyên duyên: Khi đối tượng của tâm, tâm
sở trở thành nguyên nhân và làm cho tâm, tâm sở sinh ra
kết quả th́ đối tượng của tâm, tâm
sở được gọi là sở duyên duyên.
- Tăng thượng duyên: cũng giống
như chủ trương của Tiểu Thừa, chỉ
cho các nguyên nhân điều kiện làm sinh khởi tất
cả pháp ngoài ba duyên nói trên. Nhưng phạm vi của duyên
này rất rộng lớn. Tăng thượng duyên lại
có hai loại: Thuận tăng thượng duyên và Nghịch
tăng thượng duyên (TĐPH Huệ Quang, t. V, tr. 4761).
[18]
Dị sinh: Trung Quốc dịch nghĩa là
Ngu Dị Sinh - một tên khác của hàng phàm phu. Do vô minh, tà
kiến gây tạo nghiệp ác mà phàm phu phải luân hồi
trong sáu đường, chịu các quả báo khác nhau. Theo
Thành Duy Thức Luận Thuật Kư 2, phần đầu,
Dị Sinh có hai nghĩa:
1. Biệt dị: bậc Thánh chỉ
sinh trong cơi người, cơi trời, c̣n Dị Sinh th́ sinh
khắp cả năm đường.
2. Biến dị: Dị Sinh biến chuyển
sinh ra tà kiến v.v… Sinh là sinh loại, khác loại với
bậc Thánh gọi là Dị Sinh (TĐPH Huệ Quang, t. I,
tr. 1066)
[19] Thú nhập: bài tụng 22, q. 37, kinh Du-già ghi: “Thú
nhập nghĩa là đạt được sức
tăng thượng tịnh tín; hoặc tại gia xa ĺa
hạnh ác, thọ tŕ học xứ; hoặc xuất gia xa
ĺa các dục, thọ tŕ học xứ” (TĐĐPB).
[20] Ngũ chủng tánh: năm chủng tánh khác nhau
của chúng sinh do chủng tử trong thức A-lại-da
quyết định, không có cách ǵ thay đổi
được. Đây là chủ trương của tông
Pháp tướng. Năm tánh là:
1. Thanh Văn thừa định tánh:
người có đủ chủng tử vô lậu có
khả năng chứng A-la-hán.
2. Độc Giác thừa định
tánh: người có đủ chủng tử vô lậu có
khả năng chứng quả Bích-chi Phật.
3. Như Lai thừa định tánh:
người có đủ chủng tử vô lậu có
khả năng chứng quả Phật.
4. Bất Định chủng tánh:
người có chủng tử vô lậu, nhưng vẫn
chưa quyết định là thuộc căn cơ nào trong
Tam thừa. Bất Định chủng tánh có bốn:
a) Nhị tánh Bất Định của
Bồ-tát, Thanh văn: người có hai chủng tử
quả Phật và quả A-la-hán.
b) Nhị tánh Bất Định
của Duyên giác, Bồ-tát: người có hai chủng
tử quả Phật và quả Bích-chi Phật.
c) Nhị tánh Bất Định Thanh Vănvà
Độc giác: người có hai chủng tử quả
quả A-la-hán và quả Bích-chi Phật.
d) Tam tánh Bất Định của Thanh văn,
Độc giác và Bồ-tát: người có ba chủng
tử quả quả A-la-hán và quả Bích-chi Phật và
quả Phật.
5. Vô tánh: mặc dù không có chủng tử vô
lậu của ba thừa, nhưng có chủng tử hữu
lậu có thể đạt được quả
trời, người.
[21] Ngũ nghịch (Ngũ nghịch tội):
năm tội cực ác trái với đạo lư. Theo
thuyết Tiểu Thừa, năm tội nghịch: Giết
mẹ, giết cha, giết A-la-hán, làm thân Phật ra máu, phá
ḥa hợp tăng. Hai tội trước là phá Ân
điền, ba tội sau là hủy Đức điền.
Người phạm vào năm tội này sẽ bị
đọa vào địa ngục Ngũ vô gián. Tội phá
ḥa hợp tăng chia làm hai:
1. Phá Yết-ma Tăng: tách rời giáo đoàn mà
ḿnh đă sống, thành lập giáo đoàn mới tổ
chức các việc Bố-tát, Yết-ma riêng biệt.
2. Phá Pháp luân Tăng: tôn thờ thầy khác,
lập thuyết khác, tổ chức giáo đoàn riêng.
Theo kinh Đại Tát-giá Ni-kiền-tử Sở
Thuyết, q. 4, th́ năm tội trọng:
1. Phá hoại chùa tháp, thiêu đốt kinh
tượng, cướp đoạt tài vật của Tam
Bảo hoặc sai bảo người khác làm việc này.
2. Hủy báng Thanh Văn, Duyên Giác cho đến
giáo pháp Đại Thừa.
3. Ngăn cản người xuất gia tu hành
hoặc giết hại người xuất gia.
4. Phạm một trong năm tội Ngũ
Nghịch của Tiểu Thừa.
5. Chủ trương tất cả đều
không có nghiệp báo, thực hành mười nghiệp ác
hoặc không sợ quả báo đời sau mà sai bảo
người khác làm mười điều ác.
Trong Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh
Sớ, q. 5, ngài Huệ Chiếu hợp tội giết cha
và giết mẹ trong năm tội nghịch của
Tiểu Thừa thành một, đồng thời thêm vào
tội phỉ báng Phật pháp mà lập thành năm tội
nghịch cho cả tam thừa (TĐPH Huệ Quang, t. III,
tr. 2983).
[22] Tam giới: ba cơi, gồm Cơi Dục, cơi Sắc
và cơi Vô sắc.
- Cơi Dục: thế giới của những loài
hữu t́nh c̣n các tánh dâm dục, t́nh dục, sắc dục,
thực dục.
- Cơi Sắc: thế giới của
những loài hữu t́nh đă xa ĺa dâm dục và thực
dục của cơi Dục, nhưng vẫn c̣n Sắc
chất thanh tịnh.
- Cơi Vô Sắc: thế giới của những
loài hữu t́nh chỉ có thọ, tưởng, hành, thức.
Thế giới này không có một thứ ǵ thuộc về
vật chất, cũng không có thân thể, cung điện,
cơi nước, chỉ có tâm thức trụ sâu trong
thiền định (TĐPH Huệ Quang, t. V, tr. 4103).
[23] Nhị luân phiền năo: 1. Căn bản
phiền năo: Gồm sáu đại phiền năo là tham, sân, si,
mạn, nghi, ác kiến; 2. Tùy phiền năo: gồm 20 loại
phiền năo dựa vào căn bản phiền năo mà phát sinh
như phẫn, hận, phú, năo, tật, xan v.v…
Trong các kinh luận, từ ngữ này có nhiều
nghĩa khác nhau:
I. Theo luận Du-già Sư Địa, q. 55, hai
thứ phiền năo này là:
1. Căn bản phiền năo: chỉ cho Vô Minh
Hoặc. Loại phiền năo này là cội rễ sinh ra các
phiền năo khác, nên gọi là Căn Bản Phiền Năo.
2. Tùy phiền năo: chỉ cho Kiến Hoặc và
Tư Hoặc. Loại phiền năo này tùy theo các cảnh
thuận hoặc nghịch mà khởi ra các phiền năo tham,
sân, si… nên gọi là Tùy Phiền Năo.
II. Theo luận Đại Trí Độ, q. 7, hai
thứ phiền năo này là:
1. Nội trước phiền năo: Chỉ cho các
phiền năo do không biết rơ nội tâm nên khởi lên
chấp trước như: Thân kiến, biên kiến…
2. Ngoại trước phiền năo: chỉ cho
các phiền năo do không biết rơ ngoại cảnh nên
khởi lên tham trước như: Tham, sân, si…
I. Theo Hoa Nghiêm Kinh Sớ, q. 8, hai thứ
phiền năo này là:
1. Tùy miên phiền năo: chỉ cho chủng tử
vô minh phiền năo tiềm phục trong tàng thức, có
khả năng sinh ra các vọng hoặc.
2. Hiện hành phiền năo: chỉ các phiền
năo tham, sân, si… do sáu căn tiếp xúc sáu trần cảnh mà
hiện khởi (TĐPH Huệ Quang, t. IV, tr. 3334).
[24] Nhị biên: hai cực đoan. Thuyết này, các
luận đều giải thích khác nhau:
- Luận Trung Quán, q. 4: nhị biên chỉ có,
không hoặc thường, vô thường.
- Luận Thuận Trung, q. hạ: nhị biên
chỉ thường, đoạn.
- Luận Nhiếp Đại Thừa do ngài
Huyền Tráng dịch, ngài Thế Thân giải thích: nhị
biên chỉ cho tăng ích và tổn giảm.
- Chỉ Quán Phụ Hành, q. 3: nhị biên chỉ
không và giả (TĐPH Huệ Quang, t. IV, tr. 3284)
[25] Trung Đạo: Con đường trung chính, ĺa
bỏ cực đoan, không thiên về bất cứ một
bên nào hoặc một quan điểm, một phương
thức nào.
Trung Đạo là lập trường căn
bản của Phật giáo, được Đại
Thừa lẫn Tiểu Thừa xem trọng, cho nên ư
nghĩa của Trung Đạo tuy có sâu cạn khác nhau,
nhưng các tông đều dùng nghĩa này để biểu
thị cho trung tâm giáo lư của ḿnh. Ư nghĩa của Trung
Đạo gọi là Trung Đạo Nghĩa, chân lư của
Trung Đạo gọi là Trung Đạo Lư. V́ Trung
Đạo biểu thị cho tướng chân thật
của vũ trụ vạn hữu, Trung Đạo tức
Thật Tướng nên gọi là Trung Đạo Thật
Tướng (TĐPH Huệ Quang, t. VII, tr. 5845)
[26] Tăng ích, tổn giảm (Nhị chấp): hai
chấp.
- Tăng ích là t́nh chấp, chấp trước
các pháp thật có, thiên về bên hữu.
- Tổn giảm là t́nh chấp các pháp không có,
thiên về bên vô (TĐPH Huệ Quang, t. IV, tr. 3286).
[27] Thích Luận:
1. Thích luận: Luận Đại Trí
Độ, v́ Hiển giáo cho rằng đó là tác phẩm
giải thích kinh Đại Phẩm Bát-nhă hoặc là từ
gọi tắt của luận Ma-ha Diễn, v́ Mật giáo
cho đó là sách chú thích luận Đại Thừa Khởi
Tín.
2. Thích luận: các bộ luận giải thích
kinh điển.
3. Thích luận: giải thích văn nghĩa
của một bộ kinh (TĐPH-Huệ Quang, t. VI, tr. 5449)
[28] Hai quan (lưỡng trùng quan): hai lớp kiến
giải đối đăi nhau như mê-ngộ, hữu-vô,
nhân-quả, phàm-thánh. Kẻ chấp trước danh
tướng, cho mê-ngộ, nhân-quả… đều là hai pháp
khác nhau, không dung nhiếp nhau, thành ra hai pháp đối
lập nhau. Nếu không c̣n sự ràng buộc của các kiến
chấp này th́ sẽ vào được cảnh giới
tuyệt đối. Mê-ngộ, nhân-quả chỉ là hai
mặt của một pháp, cùng một thể, làm thể
dụng lẫn nhau, cho nên dùng Quan (cửa ải) để
dụ cho sự chướng ngại của kiến
giải này (TĐPH Huệ Quang, t. III, tr. 2598 )
[29] Thỉ Giác: sự giác ngộ do trải qua
sự tu tập mà có được. Luận Đại
Thừa Khởi Tín cho rằng thức A-lại-da có hai
nghĩa Giác và Bất Giác. Giác lại có Thỉ Giác và
Bản Giác khác nhau. Trong đó, trải qua sự tu tập
hậu thiên, dần dần đoạn phá vọng nhiễm
từ vô thỉ đến nay, giác biết được
nguồn tâm tiên thiên, gọi là Thỉ Giác, cũng tức
phát tâm tu hành, thứ lớp sinh khởi trí đoạn
hoặc, đoạn phá vô minh, trở về bản tánh
thanh tịnh của Bản Giác. Đại
Thừa cho rằng tâm người xưa nay lặng lẽ
bất động, vô sinh vô diệt, thanh tịnh vô
nhiễm, gọi là Bản Giác; sau do gió vô minh nổi
dậy, sinh ra những hoạt động của ư
thức thế tục, từ đó có các thứ sai
biệt ở thế gian, đó gọi là Bất Giác; cho
đến được nghe Phật pháp, khai phát Bản
Giác, huân tập Bất Giác, đồng thời dung hợp
thành một với Bản Giác, đó gọi là Thỉ Giác
(TĐPH Huệ Quang, t. VI, tr. 5430)
[30] Bản Giác: tánh giác sẵn có, tức bản
thể thanh tịnh đầy đủ tướng b́nh
đẳng, lúc nào cũng hàm chứa đức sáng
suốt của đại trí huệ, xa ĺa những tâm
niệm sai biệt của thế tục. Bản tánh
của nguồn tâm ấy là giác thể xưa nay thanh
tịnh, gọi là Bản giác. Luận Đại Thừa
Khởi Tín của Hiển giáo, Luận Thích Ma-ha Diễn
của Mật giáo và giáo nghĩa của tông Thiên Thai
Nhật Bản đều có tŕnh bày ư nghĩa về tư
tưởng của Bản Giác và Thỉ Giác, nhưng ư chính
lại khác nhau (TĐPH Huệ Quang, t. I, tr. 276).
[31] Biên địa: Nơi xa xôi hẻo lánh, những
người ở nơi này chẳng được
thấy nghe Phật pháp.
Biên địa của Tịnh Độ Cực
lạc: những người tu các công đức mà c̣n tâm
nghi hoặc, ứng với cơ cảm đó nên sau khi
chết, sinh về nơi đây, 500 năm chẳng
được thấy nghe Phật pháp (TĐPH Huệ
Quang, t. I, tr. 518).
[32] Hóa sinh: các loài không do cha mẹ sinh mà chỉ do
nghiệp lực sinh, như chúng sinh ở địa
ngục, chư Thiên, thân trung hữu, loài người trong
kiếp sơ, rồng, kim sí điểu… Các loài hóa sinh tuy
đầy đủ thân căn nhưng khi chết không
để lại xác. Cho nên trong tứ sinh, loài này cao hơn
hết.
Theo luận Câu-xá, q. 9, các loài hóa sinh tùy ưa
thích chỗ nào mà thọ sinh chỗ ấy. Theo tông Tịnh
độ, chúng sinh sinh về Cực Lạc cũng gọi
là Hóa Sinh (TĐPH Huệ Quang, t. II, tr. 1866)
[33] Do-tuần: đơn vị đo độ dài
thời xưa ở Ấn Độ. Tiếng Phạn là
Yojana, có nghĩa là mang ách, phát xuất từ chữ gốc
“Yuj” chỉ đoạn đường con ḅ mang ách đi
một ngày. Theo Đại Đường Tây Vực Kư, q.
2: “Một do-tuần chỉ lộ tŕnh một ngày hành quân
của nhà vua”. Có nhiều thuyết khác nhau về cách tính
do-tuần:
1. Đổi ra câu-lô-xá: theo phong tục Ấn
Độ cũng như phẩm Hiện Nghệ trong kinh
Phương Quảng Đại Trang Nghiêm, q. 4, phẩm Minh
Thời Phân Biệt trong kinh Ma-đăng-ca, q. hạ
đều cho rằng bốn câu-lô-xá là một do-tuần.
Nhưng theo các kinh điển của Phật như
Hữu Bộ T́-nại-da, q. 21, luận Đại T́-bà-sa,
q. 136, luận Câu-xá, q. 12 lại tính tám câu-lô-xá là một
do-tuần.
2. Tính theo số đo của Trung Quốc
cũng có nhiều thuyết khác nhau: Theo Đại
Đường Tây Vực Kí, q. 2, một do-tuần xưa
được tính là 20km, theo Ấn Độ tính là 15km,
trong Phật giáo tính là 8km; theo Huệ Uyển Âm Hữu
Bộ Bách Nhất Yết-ma, q. 3 của Nghĩa Tịnh th́
quốc tục Ấn Độ tính là 16km, Phật giáo tính
là 6km (TĐPH Huệ Quang, t. I, tr. 1115).
[34] Tu-di sơn: c̣n gọi Diệu Cao sơn, Hảo
Cao sơn, Hảo Quang sơn, Thiện Cao sơn, Thiện
Tích sơn, Diệu Quang sơn, An Minh Do sơn.
Vốn là ngọn núi trong thần thoại
Ấn Độ, được Phật giáo sử
dụng, cho rằng đây là ngọn núi cao đứng
sừng sững ở chính giữa một tiểu thế
giới. Lấy núi này làm trung tâm, có tám lớp núi, tám
lớp biển bao bọc chung quanh, h́nh thành một thế
giới (TĐPH Huệ Quang, t. V, tr. 4614)
[35] Lục niệm: sáu điều mà người tu
Phật đạo phải luôn nhớ nghĩ.
1. Niệm Phật: nghĩ nhớ công
đức vô lượng, đại từ, đại bi
của chư Phật.
2. Niệm Pháp: nghĩ nhớ ba tạng, 12
thể loại kinh của Đức Phật đă
dạy, để làm lợi ích cho khắp chúng sinh.
3. Niệm Tăng: nghĩ nhớ chư Tăng
đầy đủ giới, định, huệ làm
ruộng phước cho chúng sinh.
4. Niệm Giới: nghĩ nhớ
giới hạnh có năng lực lớn hay trừ các
phiền năo xấu của chúng sinh.
5. Niệm Thí: nghĩ nhớ bố
thí có công đức lớn, hay trừ tham lam keo kiệt
của chúng sinh.
6. Niệm Thiên: nghĩ nhớ chư Thiên ở
ba cơi đều nhờ căn lành đời xưa đă
tu tịnh giới, bố thí, văn huệ mà
được quả báo an vui này (TĐPH Huệ Quang, t.
III, tr. 2549).
[36] Bách pháp minh môn: Môn trí huệ thấu suốt trăm
pháp một cách rơ ràng mà Bồ-tát chứng đắc ở
Hoan hỉ địa (Sơ địa). Đối với
100 pháp của Bách pháp minh môn, các kinh luận có các quan
điểm như sau:
1. Thập Địa Kinh Luận, q. 3 cho
rằng: Bách pháp tức chỉ cho các thứ pháp môn.
2. Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Kư, q. 11: Bách pháp
chỉ cho các pháp môn Uẩn, Giới, Xứ chứ
chẳng phải chỉ cho con số 100.
3. Theo phẩm Hiền Thánh Danh Tự trong kinh
Bồ-tát Anh Lạc Bản Nghiệp, q. thượng: Bách
pháp là do 10 Tín tâm: Tín tâm, Niệm tâm, Tinh tấn tâm, Huệ
tâm, Định tâm, Bất thoái tâm, Hồi hướng tâm,
Hộ tâm, Giới tâm, Nguyện tâm, mỗi tâm đều có
10 tâm mà thành 100 pháp. Sau khi thành tựu viên măn 10 tâm của
Thập tín, Bồ-tát mới có thể vào Sơ Địa.
4. Theo Thích Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh
Kư của Pháp Thông và Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh
Sớ Diệu Tông Sao, q. 6 của Tứ Minh Tri Lễ, Bách
pháp tức là Ngũ vị bách pháp của Pháp Tướng.
5. Theo Thích Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh
Kư: mười tâm sở pháp; Thọ, Tưởng, Tư,
Xúc, Dục, Huệ, Niệm, Giải thoát, Ức,
Định, khi sinh khởi một tâm sở th́ chín tâm
sở kia nương nhau mà khởi thành ra 100 pháp (TĐPH
Huệ Quang, t. I, tr. 222).
[37] Tam minh: ba minh, tức trí huệ sáng tỏ thông
đạt vô ngại ba việc: Túc mệnh, Thiên nhăn và
Lậu tận.
1. Túc mệnh minh: trí huệ biết rơ
tướng trạng của ḿnh và chúng sinh từ một
đời cho đến trăm ngh́n vạn ức
đời.
2. Thiên nhăn minh: trí huệ biết rơ các
tướng trạng sinh tử của chúng sinh, khi tử
khi sinh, sắc lành sắc dữ hoặc do nhân duyên tà pháp mà
thành tựu ác hạnh, sau khi mạng chung sinh vào
đường ác hoặc nhờ nhân duyên chánh pháp mà thành
tựu thiện hạnh, sau khi mạng chung sinh vào
đường lành…
3. Lậu tận minh: trí huệ biết rơ
như thật và chứng đắc lư Tứ đế,
giải thoát tâm hữu lậu, diệt trừ tất
cả phiền năo… (TĐPH Huệ Quang, t. V, tr. 4131).
[38] Lục thông: sáu diệu dụng vô ngại
tự tại của Phật, Bồ-tát do nương
sức định huệ mà thị hiện. Đó là:
Thần túc thông, Thiên nhĩ thông, Tha tâm thông, Túc mạng
thông, Thiên nhăn thông và Lậu tận trí chứng thông (TĐPH
Huệ Quang, t. III, tr. 2579).
[39] Bát giải thoát: tám định lực giúp hành
giả ĺa bỏ tham dục của cơi Sắc và Vô sắc:
1. Trong có tưởng về sắc
dục quán các sắc để giải thoát.
2. Trong không có tưởng về sắc dục
ngoài quán sắc để giải thoát.
3. Thân thanh tịnh giải thoát chứng Cụ
túc trụ.
4. Vượt các sắc tưởng diệt
hữu đối tưởng, không suy nghĩ mọi cái
tưởng, nhập vào Không vô biên xứ, an trụ
đầy đủ giải thoát.
5. Vượt tất cả Không vô biên xứ,
nhập Thức vô biên xứ, an trụ đầy
đủ giải thoát.
6. Vượt qua tất cả Thức vô biên
xứ, nhập vào Vô sở hữu xứ, an trụ
đầy đủ giải thoát.
7. Vượt qua tất cả Vô sở hữu
xứ, nhập vào Phi tưởng phi phi tưởng
xứ, an trụ đầy đủ giải thoát.
8. Vượt qua tất cả Phi
tưởng phi phi tưởng xứ, nhập vào
Tưởng thọ diệt, thân tác chứng trọn
vẹn, an trụ đầy đủ giải thoát (TĐPH
Huệ Quang, t. I, tr. 390).
[40] Pháp Tạng: Pháp danh của Đức Phật A
Di Đà lúc Ngài chưa thành Phật. Theo kinh Vô Lượng
Thọ, q. thượng, nhiều kiếp lâu xa về
đời quá khứ, vào thời Thế Tự Tại
Vương Như Lai, có một vị quốc vương
nghe Đức Phật thuyết pháp, liền phát tâm vô
thượng, bỏ ngôi vua xuất gia, hiệu là Pháp
Tạng. Ngài thấy được hai trăm mười
ức cơi nước của chư Phật, nên Ngài phát 48
lời đại nguỵện. V́ giáo pháp mà Ngài hộ tŕ
không mất và tích tụ rất nhiều, cho nên kinh Vô
Lượng Thọ dịch là Pháp Tạng (Dharmakara);
hội Vô Lượng Thọ Như Lai trong kinh Đại
Bảo Tích, q. 17, đời Đường dịch là Pháp
Xứ; kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang
Nghiêm, đời Tống dịch là Tác Pháp; luận Đại
Trí Độ th́ dịch là Pháp tánh (TĐPH Huệ Quang, t.
IV, tr. 3543).
[41] Mười hai thể loại kinh điển
Đại thừa: mười hai thể loại kinh
được phân biệt theo h́nh thức tŕnh bày và
nội dung giáo pháp:
1. Khế kinh (Trường hàng): tức thể
loại văn xuôi, trực tiếp ghi chép giáo thuyết
của Phật.
2. Ứng tụng (Trùng tụng): tức phần
kệ tụng giải thích lại giáo thuyết mà Khế
kinh đă nói.
3. Kư biệt (Thọ kư): vốn là các
đoạn văn giải thích về giáo nghĩa,
đời sau đặc biệt chỉ cho lời ấn
chứng trước của Phật đối với
việc làm ở vị lai của các đệ tử.
4. Phúng tụng (Cô khởi): tức kệ
tụng độc lập, trực tiếp ghi chép giáo
thuyết của Đức Phật mà không lặp lại ư
của văn Trường hàng trước đó.
5. Tự thuyết: Đức Phật không
đợi có người hỏi pháp mà tự khai thị
giáo thuyết.
6. Nhân duyên: ghi chép nhân duyên thuyết pháp giáo hóa
của Phật, như phẩm Tự của các kinh.
7. Thí dụ: dùng thí dụ để giảng nói
pháp nghĩa.
8. Bản sự: các bản kinh nói về hành nghi
ở đời quá khứ của Phật và đệ
tử, ngoài Bản sinh đàm. Hoặc những kinh mở
đầu bằng câu “Phật như thị thuyết”
cũng thuộc loại Bản sự.
9. Bản sinh: thể loại kinh nói về các
hạnh đại bi của Đức Phật tu hành vào
thời quá khứ.
10. Phương quảng: các kinh giảng nói giáo
nghĩa rộng lớn sâu xa.
11. Hi pháp (Vị tằng hữu pháp): nói về
những việc ít có của Phật và các đệ
tử.
12. Luận nghị: Đức Phật luận
nghị phân biệt thể tánh các pháp, làm sáng tỏ ư
nghĩa (TĐPH Huệ Quang, t. VI, tr. 5274).
[42] Theo chánh văn, No.1965, tr. 116-117
“南無阿彌陀佛。稱佛名故。除五十億劫生死之罪。爾時彼佛即遣化佛化觀世音化大勢至至行者前”
[43] Quyết trạch phần vị: Thế đệ nhất vị.
[44] Thất phương tiện (c̣n gọi là Thất Phương Tiện Vị, Thất Hiền, Thất Hiền Vị, Thất Gia Hành Vị): bảy địa vị trước khi vào địa vị Kiến đạo của Thanh văn, đó là: Ngũ Đ́nh Tâm Quán, Biệt Tướng Niệm Trụ, Tổng Tướng Niệm Trụ, Noăn Pháp, Đảnh Pháp, Nhẫn Pháp và Thế Đệ Nhất Pháp (TĐPH Huệ Quang, t. VI, tr. 5372).
[45] Hiện bát: quả
Bất Hoàn, một trong bốn quả Thanh Văn. Bậc
Thánh ở cơi Dục đoạn hết dư hoặc,
nhập Niết-bàn, nên gọi là Hiện Bát (TĐPH Huệ
Quang, t. II, tr. 1820).
[46]
Biệt thời ư thú (biệt
thời ư, thời tiết ư thú): Như Lai dùng ư thú biệt
thời để thuyết pháp, một trong bốn ư thú,
nghĩa là lợi ích ở thời gian khác. Người nào
tụng tŕ danh hiệu Phật Đa Bảo th́ quyết
định đối với Vô Thượng
Bồ-đề không c̣n lui sụt hoặc người
chỉ cần phát nguyện th́ liền được văng
sinh cơi Phật An Lạc. Đây là Như Lai v́ khuyên nhắc
kẻ giải đăi không thích tu hành, nên nói lợi ích lúc
khác mà chẳng nói lợi ích ngay lúc này.
Nhiếp Đại Thừa
Luận Thích, q. 6 (Đại 31, 194 trung) ghi: “Người
thiện căn giải đăi nhờ tụng tŕ danh
hiệu Phật Đa Bảo mà được tiến lên
công đức thượng phẩm”.
Phật nói công đức thượng phẩm là nhằm vào người có hạnh cạn cợt, muốn cho họ bỏ giải đăi, siêng tu hành, chứ chẳng phải do tụng danh hiệu Phật mà được không lui sụt, quyết định đắc Vô Thượng Bồ-đề. Thí dụ từ một đồng tiền vàng do kinh doanh lâu ngày nên sinh ra ngh́n đồng tiền vàng, chẳng phải trong một ngày được số tiền vàng đó. Một đồng tiền vàng là nhân sinh ra hàng ngh́n đồng tiền vàng. Ư Như Lai cũng vậy, tụng tŕ danh hiệu Phật là nhân để chẳng lui sụt Bồ-đề (TĐPH Huệ Quang, t. I, tr. 546).
[47]
Thiên Thân (Thế
Thân): một đại luận sư Ấn Độ,
sống vào khoảng thế kỷ IV, V, người thành
Phú-lâu-sa-phú-la, nước Kiện-đà-la thuộc Bắc
Ấn Độ, là con thứ hai của quốc sư
Bà-la-môn Kiều-thi-ca. Lúc đầu, Sư cùng với anh là
Vô Trước học Tát-bà-đa bộ (Hữu bộ).
Ngài Vô Trước học thẳng vào Đại Thừa,
ngài Thiên Thân lại đi vào Kinh Lượng bộ, lập
chí cải thiện giáo nghĩa Hữu bộ… Lúc
đầu, Sư công kích Phật giáo Đại Thừa,
cho rằng Đại Thừa chẳng phải là pháp do
Phật nói. Sau nhờ ngài Vô Trước dùng phương
tiện khai thị, Sư mới ngộ được lư
Đại Thừa, chuyển sang tin tưởng, tôn
thờ và hoằng dương yếu nghĩa Đại
Thừa. Sư soạn nhiều luận và sách chú thích,
đặt nền tảng cho phái Du-già thuộc Phật giáo
Đại Thừa. Các tác phẩm quan trọng, gồm
hơn 40 loại: Luận Câu-xá (30 quyển), Nhiếp
Đại Thừa Luận Thích (15 quyển), Thập
Địa Kinh Luận (12 quyển), Kim Cương Bát-nhă
Ba-la-mật Kinh Luận, Quảng Bách Luận, Luận
Bồ-đề Tâm, Duy Thức Tam Thập Luận
Tụng, luận Đại Thừa Bách Pháp Minh Môn, Vô
Lượng Thọ Kinh Ưu-ba-đề-xá… (TĐPH
Huệ Quang, t. VI, tr. 5408).
- Thiên Thân Luận (gọi
đủ là Thiên Thân Nhiếp Luận, Thế Thân Nhiếp
Luận): một trong năm bộ Nhiếp Luận. Đó
là bộ luận do ngài Thế Thân biên soạn để
giải thích bộ Nhiếp Luận của ngài Vô
Trước. Bộ Luận này có ba bản dịch: Bản
dịch của ngài Chân Đế đời Trần,
gồm 15 quyển, gọi là Nhiếp Đại Thừa
Luận Thích; bản dịch của ngài Cấp-đa
đời Tùy, gồm 10 quyển, gọi là Nhiếp
Đại Thừa Thích Luận; bản dịch của ngài
Huyền Trang đời Đường, gồm 10 quyển,
gọi là Nhiếp Đại Thừa Luận Thích
(TĐĐPB).
[48]
Sáu việc (Lục sự
pháp): theo Quán Di LặcThượng Sinh Đâu-suất Thiên
Kinh Tán, q. hạ, tr. 295b ghi:
1. Tinh tấn tu tập, gieo
trồng phước nghiệp trong ba ruộng Kính, Ân, Bi.
2. Giữ ǵn oai nghi và các giới
nghiêm mật, hành tŕ các quy tắc một cách tự tại.
3. Siêng năng quét dọn chùa tháp,
trang nghiêm đạo tràng đúng theo giáo pháp chế
định.
4. Cúng dường hương hoa,
tùy nghi cung cấp những vật dụng trong bốn
việc ẩm thực, y phục, pḥng xá, y dược…
5. Phàm phu hành tŕ nhập
định Tam-muội hữu lậu, bậc Thánh nhập
định vô lậu tùy theo đó mà đắc thiền.
6. Đọc tụng kinh
điển, diễn thuyết tu tập 10 pháp hành v.v…
[49]
Khắc chu cầu kiếm
(Khắc chu nhân): chuyện khắc chu cầu kiếm trong
thiên Sát Kiếm của Lă Thị Xuân Thu. Chuyện ghi: “Có
một người qua sông, vô ư đánh rơi kiếm
xuống sông. Người ấy vội vă khắc lên
thuyền để đánh dấu chỗ kiếm rơi.
Thuyền đă đi đến nơi khác rồi mà
người kia vẫn theo dấu khắc ấy lặn
xuống sông t́m kiếm. Kết quả t́m hoài chẳng
được”.
Trong Thiền tông dùng từ ngữ này để chỉ cho người học ngu si chấp trước, thiếu sự linh hoạt đối với cơ pháp của bậc thầy (TĐPH Huệ Quang, t. III, tr. 2276).
[50] Thủ chu đăi thố (ôm cây đợi thỏ): Truyền thuyết kể rằng thời Chiến Quốc, ở nước Tống có một người nông dân thấy một con thỏ đâm đầu phải gốc cây mà chết, anh ta bèn bỏ cả việc cày bừa ngồi ôm gốc cây để chờ con thỏ khác lại đâm đầu vào gốc cây ấy nữa (Từ điển Hán-Việt, VNNH, Phan Văn Các chủ biên, Nxb Tp. HCM, 2001, tr. 1309)
[51]
Ba Phước Nghiệp (Tam
chủng tịnh phước, Tam chủng tịnh
nghiệp): ba chính nhân Tịnh nghiệp, cũng là ba nhân văng
sinh Tịnh Độ:
1. Hiếu dưỡng cha mẹ,
thờ phụng sư trưởng, từ tâm bất sát, tu
tập 10 nghiệp lành.
2. Thọ tŕ Tam Quy, đầy
đủ các giới, không phạm oai nghi.
3. Phát tâm Bồ-đề, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại Thừa, khuyến tấn người tu hành (TĐPH Huệ Quang, t. V, tr. 4079).
[52]
Ngu pháp: hàng Tiểu Thừa Ngu
pháp và hàng Tiểu Thừa Bất ngu pháp.
Tiểu Thừa Ngu pháp chỉ cho
Nhị Thừa Thanh văn, Duyên giác ngu về lư pháp không
của Đại Thừa. V́ hàng Nhị Thừa này chỉ
chứng sinh không, chấp chặt pháp có, không biết
về chân lư Nhị không của Đại Thừa, nên
bị chê là Ngu pháp.
Tiểu Thừa bất ngu pháp
chỉ cho Nhị Thừa Thanh văn, Duyên giác vừa
chứng được lư Tiểu Thừa, vừa hiểu
được lư Đại Thừa. Tuy cùng là Tiểu
Thừa nhưng tâm hiểu biết có hơn kém khác nhau. Do
họ có thể hồi chuyển tâm Tiểu Thừa
hướng về Đại Thừa, nên c̣n gọi là
Hồi tâm Tiểu Thừa (Nhị Thừa hồi tâm). Trong
năm phán giáo của đại sư Hiền Thủ,
hạng này được xếp vào Đại Thừa
Thỉ giáo (TĐPH Huệ Quang, t. III, tr. 2907).
[53] Thi-đà lâm: theo Huyền Ứng Âm Nghĩa, q.7, “Thi-đà lâm, gọi đủ là Thi-đa-bà-na, có nghĩa là Hàn lâm (rừng lạnh). Rừng này sâu thẳm lạnh lẽo, nhân đó mà có tên Hàn lâm. Rừng này ở cạnh thành Vương-xá, người chết phần nhiều được đưa tới đây. Nay Thi-đà lâm là từ dùng để chỉ chung chỗ bỏ xác người chết”. C̣n gọi là Khủng úy lâm (rừng sợ hăi) (TĐPH Hán-Việt, PVNCPHVN, Nxb Hà Nội, 1994, t. II, tr. 1492).
[54] Đồng thể đại bi: Quán chúng sinh với ḿnh đồng một thể mà khởi bi tâm b́nh đẳng để cứu khổ, ban vui. Bồ-tát từ Sơ Địa trở lên, xem nỗi khổ của chúng sinh như nỗi khổ của chính ḿnh mà sinh ḷng xót thương vô hạn. Kinh Đại Bát Niết-bàn, q. 16, bản Bắc ghi: “Như cha mẹ thấy con bệnh hoạn, sinh ḷng khổ năo, xót thương lo buồn, từng giây từng phút. Bồ-tát Ma-ha-tát cũng như thế, thấy chúng sinh bị phiền năo trói buộc, các Ngài buồn khổ, lo nghĩ như mẹ thương con đỏ, đến nỗi các lỗ chân lông đều ra máu” (TĐPH Huệ Quang, t. II, tr. 1598).