A Di Đà Kinh Sớ
Sao Diễn Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 1
Chủ giảng: Lăo pháp sư Tịnh
Không
Địa điểm: Đài Loan Cảnh
Mỹ Hoa Tạng Đồ Thư Quán
Thời gian: Tháng 12 năm 1984
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Giảo chánh: Huệ Trang và Đức
Phong
Tập 1
Bây giờ,
xin quư vị mở quyển kinh ra. Chúng ta dùng bản in này gồm
hai tập Thượng và Hạ. Tập Thượng là Sớ
Sao, tập Hạ là phần chú giải Sớ Sao, tức cuốn
[Sớ Sao] Diễn Nghĩa. Diễn Nghĩa là phần chú
giải lời Sao. Trước hết, chúng ta hăy xem tựa
đề kinh.
Phật
thuyết A Di Đà Kinh Sớ Sao quyển đệ nhất.
Minh Cổ
Hàng Vân Thê Tự sa-môn Châu Hoằng thuật.
佛說阿彌陀經疏鈔卷第一
明古杭雲棲寺沙門袾宏述
(Phật thuyết A Di Đà Kinh Sớ
Sao, quyển thứ nhất,
Đời Minh, sa-môn
Châu Hoằng chùa Vân Thê đất Cổ Hàng soạn).
Hai hàng này, hàng thứ nhất là “kinh đề” (tựa đề
kinh), hàng thứ hai “nhân đề”
(ghi tên người biên soạn), chữ “nhân” (人) này không phải là
người dịch kinh mà là người chú giải.
Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Định Bổn,
quyển nhất.
Vân Thê Cổ Đức pháp sư diễn
nghĩa, môn nhân Từ Phàm, Trí Nguyện định bổn.
彌陀經疏鈔演義定本卷一
雲棲古德法師演義,門人慈帆智願定本。
(Di Đà Kinh Sớ
Sao Diễn Nghĩa, bản hoàn chỉnh, quyển một.
Pháp sư Cổ Đức
chùa Vân Thê diễn nghĩa, học tṛ là Từ Phàm và Trí Nguyện
chỉnh lư).
Trước hết, chúng tôi nói đại
lược cội nguồn [tác phẩm này] cho quư vị biết.
Kinh này là do Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật giảng tại
tinh xá Kỳ Viên ở nước Xá Vệ, tôn giả A Nan
kết tập, chép thành Phạn bản. Sau khi kinh được
truyền đến Trung Quốc, nguyên văn tiếng Phạn
được dịch sang tiếng Hán bởi một vị
pháp sư là Cưu Ma La Thập đại sư. Từ
xưa đến nay, bộ kinh này có rất nhiều bản
chú giải. Sau khi đọc đến phần văn bản
chánh thức, chúng ta sẽ thảo luận [vấn đề
này]. Cuốn Sớ Sao này do vị tổ sư đời
thứ tám của Tịnh Độ Tông, sống vào đời
Minh, là Liên Tŕ đại sư biên soạn. Sớ là giải
thích kinh, chú giải kinh. Lời chú giải quá sâu, sợ
người đời sau đọc không hiểu nên lại
chú giải lời chú giải, đó là Sao (Sao là chú giải
Sớ). Sớ và Sao đều do đại sư tự viết,
Diễn Nghĩa là chú giải lời Sao v́ lời Sao vẫn
c̣n quá sâu. Học tṛ của Ngài (mà cũng là thị giả
của Liên Tŕ đại sư) là pháp sư Cổ Đức,
thân cận tổ Liên Tŕ nhiều năm. Sau khi tổ sư
văng sanh, những tác phẩm của Ngài được
lưu truyền hậu thế, đều do pháp sư Cổ
Đức chỉnh lư, khắc ván, lưu thông, đúng là
đối với chúng ta có ân đức không chi lớn bằng.
Càng khó có hơn nữa là do bản Sớ Sao này quá hay,
Sư cũng sợ người đời sau khó thể thấu
hiểu ư nghĩa chân thật của tổ sư nên đă
dựa theo những lời giảng nghĩa của đại
sư để ghi lại những điều tâm đắc
trong khi chính Ngài theo hầu đại sư, soạn thành bộ
Diễn Nghĩa, nhằm giúp đỡ hàng hậu học
chúng ta. Đấy là lai lịch của bộ Diễn
Nghĩa.
Cuốn [Diễn Nghĩa] này lưu thông rất
ít. Có thể nói là không ai chẳng biết bộ A Di Đà
Kinh Sớ Sao, nhưng rất ít người biết đến
Sớ Sao Diễn Nghĩa. Có rất nhiều pháp sư tu Tịnh
Độ chưa hề thấy cuốn sách này. Có thể
nói là tôi rất may mắn, lúc mới xuất gia đọc
Vạn Tục Tạng, trong Vạn Tục Tạng có thâu nhập
tác phẩm này. V́ vậy, lần đầu tiên tôi đọc
Vạn Tục Tạng, tôi biết A Di Đà Kinh Sớ Sao
có một bản chú giải rất hay là Diễn Nghĩa.
Do vậy, khi giảng A Di Đà Kinh Sớ Sao lần thứ
nhất, tôi dùng văn bản trong Vạn Tục Tạng,
dùng bản Diễn Nghĩa trong tạng ấy. Lúc đó,
chưa có bản in lưu hành riêng. Lần thứ hai, khi giảng
bộ kinh này, tôi t́m được một bản in tại
Hương Cảng. Đấy chính là cuốn Hạ trong
cuốn sách quư vị đang xem. Bản này ngẫu nhiên t́m
được tại Hương Cảng, khi trông thấy
nó, tôi hết sức vui mừng. Tôi t́m được bản
này từ Tàng Kinh Lâu của Đông Lâm Niệm Phật
Đường. Tôi hỏi các pháp sư ở nơi ấy:
“Quư vị có biết tác phẩm A Di Đà Kinh Sớ Sao của
Liên Tŕ đại sư hay không?” Họ nói: “Biết chứ”.
Tôi nói: “Sớ Sao c̣n có một bản chú giải, quư vị
có biết hay không?” Họ thưa: “Chưa từng nghe nói ạ!”
Tôi chỉ vào kệ đựng sách, bảo: “Ở đây
nè, quư vị lấy ra đi”. Bọn họ đem sách ra, mới
biết nó đă nằm trên kệ sách bao nhiêu năm rồi
mà chẳng ai biết cả. Tôi nói: “Được rồi!
Để tôi mang cuốn sách này về Đài Loan ấn hành,
lưu thông”. Sau khi quay về bèn in tác phẩm này, in gộp
chung cuốn Thượng và cuốn Hạ, tạo thành bộ
Sớ Sao Diễn Nghĩa, bản này được lưu
thông lần đầu tiên tại Đài Loan, trong quá khứ
chưa có ai in cả. Mở hai tác phẩm này ra để
đọc và đối chiếu cảm thấy chẳng
thuận tiện cho lắm; hiện thời chúng tôi muốn
in A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, tức
là chiếu theo từng đoạn mà gộp chung [phần Sớ
Sao và phần Diễn Nghĩa] lại, nhằm tạo thành
một bản sẽ chẳng cần phải lật qua, giở
lại. Hiện giờ chúng tôi đang làm chuyện này, sau
khi làm xong sẽ hết sức có ư nghĩa, sẽ có ích rất
lớn cho những người niệm Phật tu học Tịnh
Độ.
Bộ kinh này được in theo lối
đóng gáy bằng chỉ, chia thành bốn cuốn[1],
bản chúng ta đang dùng là Hợp Đính Bản (bản
in gộp chung nhiều tác phẩm). Cuốn thứ nhất
hoàn toàn là phần Huyền Nghĩa, hết sức trọng
yếu, chúng ta phải khảo cứu, nghiên cứu tác phẩm
này. Quư vị xem cuốn Hạ, mở đầu là:
(演) 題義
(Diễn[2]:
Ư nghĩa tựa đề sách)
Đây là phần giải thích tựa đề.
(Diễn) Khai quyển.
(演) 開卷。
(Diễn: Quyển mở
đầu).
“Khai quyển” ở
đây có nghĩa là cuốn mở đầu của Quyển
Thượng, v́ [Diễn Nghĩa] là phần chú giải quyển
Thượng.
(Diễn) Phật thuyết
đẳng bát tự thị pháp đề.
(演) 佛說等八字是法題。
(Diễn: Tám chữ
“Phật thuyết....” là tựa đề của Pháp Bảo).
“Pháp” là Pháp Bảo, tựa
đề của kinh điển là tám chữ “Phật Thuyết A Di Đà Kinh Sớ
Sao”.
(Diễn) Hậu học đẳng
thập nhị tự thị nhân đề.
(演) 後學等十二字是人題。
(Diễn:
Mười hai chữ “hậu học...” là phần nói về
người biên soạn).
Hai chữ “hậu học” không thấy
trong bản chúng ta đang dùng hiện thời, v́ đă
được thay bằng chữ Minh (đời Minh).
Đây là bản in dựa theo bản khắc ván của Kim
Lăng Khắc Kinh Xứ. Vào đời Thanh, hai chữ “hậu học” được
đổi thành chữ Minh, v́ Liên Tŕ đại sư là
người đời Minh. Thuở ấy, Ngài không dùng chữ
này. Ngài tự ghi tựa đề là “hậu học Cổ Hàng Vân Thê Tự sa-môn Châu Hoằng
thuật”, vốn ghi như vậy. Do vậy, trong bút kư
của pháp sư Cổ Đức vẫn dùng chữ giống
như trong
nguyên bản. Hiện thời hai chữ “hậu học” đổi
thành chữ Minh, đổi thành
tên triều đại. Đây là “nhân đề”.
(Diễn) Pháp đề hạ,
tự tế thích.
(演) 法題下,自細釋。
(Diễn: Dưới
phần pháp đề, sẽ có phần giải thích chi tiết).
Dưới đó là lời
giải thích ư nghĩa tựa đề của bản Sớ
Sao này.
(Diễn) Kim nhập văn chi
tiên, lư ưng lược trần tổng nhất. Đề
trung ước hữu tứ đối.
(演) 今入文之先,理應略陳總一。題中約有四對。
(Diễn:
Nay trước khi bước vào phần kinh văn, theo
đúng lư, phải tŕnh bày đại lược tổng
quát. Trong đề mục, đại lược có bốn
cặp [ư nghĩa]).
Đây cũng là nói
đại khái.
(Diễn) Nhất, thông biệt
nhất đối. Thông tắc “kinh” chi nhất tự, biệt
tắc “Phật thuyết” đẳng ngũ tự.
(演) 一、通別一對。通則經之一字,別則佛說等五字。
(Diễn: Cặp thứ nhất là thông
đề và biệt đề. Thông đề là một chữ
“kinh”. Biệt đề là năm chữ “Phật thuyết
A Di Đà”).
Đây là nói về tựa
đề kinh gồm sáu chữ “Phật
Thuyết A Di Đà Kinh”. Chữ “Kinh” là Thông Đề (tựa đề chung của
tất cả các bản kinh Phật), phàm những lời
Phật dạy đều gọi là Kinh. “Phật Thuyết A Di Đà” là Biệt Đề
(tựa đề riêng), phần này mỗi bộ kinh mỗi
khác, nhằm chuyên chỉ bộ kinh này.
(Diễn) Nhị, Năng Sở
nhất đối. Năng thị năng thuyên, tức Kinh
chi nhất tự. Sở tức sở thuyên, tức thượng
ngũ tự.
(演) 二、能所一對。能是能詮,即經之一字;所即所詮,即上五字。
(Diễn: Cặp thứ
hai là Năng và Sở. Năng là năng thuyên (chủ thể
giảng giải), tức là một chữ Kinh. Sở là sở
thuyên (pháp được giảng giải bởi kinh này),
chính là năm chữ trước đó).
“Năng thuyên” là chữ “Kinh”.
“Sở thuyên” là “Phật Thuyết A Di Đà”.
Thông Đề là Năng Thuyên, Biệt Đề là Sở
Thuyên.
(Diễn) Tam, giáo lư nhất
đối. Phật thuyết kinh thị giáo, A Di Đà tức
thị lư.
(演) 三、教理一對。佛說經是教,阿彌陀即是理。
(Diễn: Cặp thứ
ba là giáo và lư. Phật nói kinh là giáo, A Di Đà là lư).
Lư là ǵ? Trong phần sau
sẽ đề cập, ở đây không cần phải
nói nhiều.
(Diễn) Tứ, nhân pháp nhất
đối. Phật thuyết tức thị nhân, A Di Đà
tức thị pháp.
(演) 四、人法一對。佛說即是人,阿彌陀即是法。
(Diễn: Cặp thứ
tư là nhân và pháp.“Phật thuyết” chính là nhân, A Di Đà
chính là pháp).
“Phật” là Bổn
Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. “A Di
Đà” cũng là Nhân, mà cũng có thể coi là Pháp, v́ ư
nghĩa của từ ngữ “A
Di Đà” là pháp. Đây cũng là danh hiệu của đức
giáo chủ cơi Tây Phương, Ngài lấy pháp này làm danh hiệu
của chính ḿnh. Chúng ta thường nói tựa đề “A Di Đà Kinh” chỉ dùng Nhân
để đặt tên, nhưng Liên Tŕ đại sư giảng
rơ trong tựa đề kinh vừa có Nhân vừa có Pháp.
Trong phần sau, sẽ giảng cặn kẽ, mỗi chữ
đều được giải thích.
(Diễn)
Thủ, Phật tự.
(Diễn:
Trước hết là chữ Phật).
Tựa
đề kinh là “Phật Thuyết
A Di Đà Kinh Sớ Sao”. “Phật” là chữ thứ nhất.
(Diễn)
Tức Thích Ca Mâu Ni Phật.
(演) 即釋迦牟尼佛。
(Diễn: Chính là Thích Ca Mâu Ni Phật).
[Chữ
Phật thứ nhất trong tựa đề kinh] chỉ
đức Bổn Sư của chúng ta. Những ư nghĩa
được giảng tiếp theo đây hết sức
quan trọng, mong mọi người hăy đặc biệt
chú ư, đừng nên giống
như đang nghe kể chuyện xưa
tích cũ.
(Diễn)
Tùng Đâu Suất giáng sanh vương cung, vi Tất Đạt
thái tử.
(演) 從兜率降生王宮,為悉達太子。
(Diễn:
Từ trời Đâu Suất giáng sanh cung vua, làm thái tử
Tất Đạt).
Đức
Phật thị hiện tất nhiên trước hết dùng
thân phận Bổ Xứ Bồ Tát, tức là Hậu Bổ
Phật, dùng thân phận này để xuất hiện. Hậu
Bổ Phật trụ ở nơi nào vậy? Trụ trong tầng
trời thứ tư của Dục Giới, tức nội
viện của Đâu Suất Thiên. Đâu Suất (Tushita) là
tiếng Phạn, dịch sang nghĩa tiếng Hán là Tri Túc
(biết đủ). Quư vị hăy suy nghĩ ư nghĩa này,
Tri Túc! Tri túc ắt thường lạc, không có một pháp
nào chẳng ban cho chúng ta sự khải thị rất lớn.
Nội viện là chỗ Bồ Tát ở. Do vậy, Đâu
Suất Thiên là Phàm Thánh Đồng Cư Độ trong thế
giới Sa Bà. Trong thế giới Sa Bà, trong hai mươi
tám tầng trời thuộc tam giới và ngay trên địa
cầu, có tất cả ba nơi là Phàm Thánh Đồng
Cư Độ:
1. Chúng ta thuộc nhân
gian, Phàm Thánh Đồng Cư độ ở ngay trên địa
cầu. Bồ Tát, La Hán cũng sống trên địa cầu,
nhưng chúng ta mắt thịt không trông thấy họ.
2. Tầng trời thứ
tư của Dục Giới là Phàm Thánh Đồng Cư
Độ, gồm nội viện và ngoại viện. Ngoại
viện là phàm phu thiên, nội viện là thánh nhân. Tuy là Phàm
Thánh Đồng Cư, nhưng chư thiên Đâu Suất
không trông thấy nội viện. Những vị Bồ Tát
thuộc nội viện cũng không qua lại với
chư thiên trời Đâu Suất, t́nh h́nh giống như trong
nhân gian của chúng ta.
3. Ngũ Bất Hoàn
Thiên thuộc tầng trời thứ tư của Thiền
Thiên, cũng là chỗ ở của thánh nhân.
Ba nơi này đều
là Phàm Thánh Đồng Cư Độ. Tịnh Độ,
chỗ ở của hàng Đẳng Giác Bồ Tát, là nơi
tuyệt diệu nhất. Cơi Phàm Thánh Đồng Cư
nơi họ ở chính là Tịnh Độ, chẳng phải
là uế độ, tự tại biết bao nhiêu! Họ có
thể bỏ sự tự tại, bỏ sự thụ dụng
của chính ḿnh để giáng sanh trong nhân gian. Nhân gian là
đời ác ngũ trược. Dẫu giáng sanh trong cung
vua nơi nhân gian, vẫn là đời ác ngũ trược.
Nh́n theo quan điểm của phàm phu chúng ta mà nói th́ họ
hy sinh quá lớn. Giống như đang ở trong cung vua,
nay bị đem tống giam trong ngục, hy sinh quá lớn. V́
sao vậy? Bỏ ḿnh v́ người khác, nhằm cứu
độ những chúng sanh khổ nạn, họ có thể
bỏ sự thụ dụng, sự hưởng thụ của
chính ḿnh để sanh vào nhân gian. Điều này ban cho chúng
ta một sự khải thị rất lớn nhằm dạy
chúng ta phải học theo.
Phật
pháp là thật sự thực hiện hết sức triệt
để, làm cho chúng ta thấy. Sách Lễ Kư có câu “An an nhi năng thiên” (ở yên
nơi yên ổn, mà nếu cần th́ vẫn có thể dời
đi) chính là nói về ư nghĩa này. Hai chữ An này có
nghĩa là thân cũng an mà tâm cũng an. Thân lẫn tâm đều
an ổn, rất tự tại. Họ có thể buông bỏ,
v́ sao có thể buông bỏ? V́ độ chúng sanh. Ta v́ muốn
phục vụ chúng sanh, v́ muốn cứu độ hết
thảy chúng sanh, bèn buông bỏ hoàn cảnh yên vui, thỏa
thích, phục vụ đại chúng không sợ khổ sở,
khó khăn. Đấy mới là bậc vĩ nhân, đáng gọi
là đại nhân vật. Trong Phật pháp, [những người
ấy được] gọi là bậc đại anh hùng.
Điện Phật gọi là Đại Hùng Bảo Điện
chính là v́ ư nghĩa này. Họ có thể hứng chịu những
nỗi khổ người khác chẳng thể chịu
đựng được, có thể nhẫn chịu những
khổ nạn người khác chẳng thể nhẫn chịu
được. Nếu làm được những điều
người khác chẳng thể làm được th́ là
đại nhân vật. Do vậy, đối với những
chỗ này, chúng ta chớ nên coi thường đọc lướt
qua. Nhà Nho gọi đó là “an an nhi
năng thiên”.
Sanh trong
vương cung là nhằm thuận tiện dạy học, ư
nghĩa rất sâu. Do vậy, Phật xuất hiện trong
nhân gian đều mang thân phận Thái Tử. Người
thế gian cầu mong điều ǵ? Phú quư, vinh hoa, tiếng
tăm, lợi dưỡng. Ngài vừa sanh ra đều
đạt được những điều ấy, sanh
ra dưới thân phận Thái Tử. Khi phụ vương
qua đời, Ngài sẽ là quốc vương. Trong thế
gian thường nói “quư vi Thiên
Tử, phú hữu tứ hải” (sang quư như Thiên Tử,
giàu khắp bốn biển). Trong nhân gian, phú quư đến
cực điểm, nhưng Ngài [bỏ hết để] tu
hành, đến [thế gian này] để hoằng pháp lợi
sanh, chứ không nhằm cầu vinh hoa, phú quư, mà là để dạy chúng ta bỏ vinh
hoa, phú quư. Có thể bỏ được!
(Diễn)
Xuất gia khổ hạnh lục niên, thành Đẳng Chánh
Giác giả.
(演) 出家苦行六年,成等正覺者。
(Diễn: Xuất gia
khổ hạnh sáu năm, thành Đẳng Chánh Giác).
Thuở ấy,
tại Ấn Độ có hết sức nhiều tôn giáo, tức
là chín mươi sáu thứ ngoại đạo. Phần lớn
những kẻ ngoại đạo ấy đều xuất
gia tu hành, tu tịnh hạnh. Họ tu khổ hạnh phần
lớn là ba năm, mỗi người xuất gia nhất
định phải tu khổ hạnh ba năm. Đức
Phật thị hiện, “quư vị tu ba năm, tôi tu sáu
năm”. Thời gian dài hơn các tôn giáo khác, chịu khổ
nhiều hơn các nhà tôn giáo khác. Do vậy, sau này, đức
Phật đi hoằng pháp, có thể hàng phục ngoại
đạo, ngoại đạo không có cách ǵ căi được.
Những kinh luận của ngoại đạo đọc,
đức Phật đều đă đọc qua. Những
hạnh môn ngoại đạo đă tu, đức Phật
đều đă từng tu. Sau đấy, đức Phật
mới kết luận: “Những thứ các ông tu học
đều chẳng phải là rốt ráo!” Đức Phật
có thể nói như vậy v́ Ngài đă từng trải. Nếu
chưa từng trải qua, ngoại đạo sẽ coi
thường, không có cách nào nhiếp thọ họ được!
“Những thứ của chúng tôi mà các ông chưa từng học,
chưa từng thấy, các ông làm sao biết được?”
Kinh điển của chín mươi sáu phái ngoại đạo,
Phật đều đă từng đọc, từng tu. Do cảnh
giới rốt ráo tối cao của ngoại đạo đức
Phật đều hiểu rơ nên có thể nhiếp thọ và
hàng phục ngoại đạo. Bao nhiêu ngoại đạo
theo Phật xuất gia tu hành, đạo lư là ở chỗ
này. Quư vị hăy nghĩ xem, Phật dụng tâm khổ sở,
thật sự từ bi đến cùng cực. Chúng ta hăy nên
bắt chước điều này, phải học tập.
Ngày nay chúng ta chẳng thể thành tựu, nguyên nhân là do
chưa buông xuống, sợ phải chịu khổ. Hăy so sánh
giữa chúng ta và Thích Ca Mâu Ni Phật, thân phận của
Ngài ra sao? Thân phận của chúng ta như thế nào? Vinh
hoa phú quư bậc nhất trong thế gian Phật c̣n bỏ
được, vào Tuyết Sơn chịu đựng khổ
sở ngần ấy, Ngài có thể làm được. V́
sao chúng ta không thể làm được? Ngài có thể thành
tựu, v́ sao chúng ta không thể thành tựu? Suy nghĩ sẽ
hiểu ngay. Mấy hàng chữ này nói rơ sự thị hiện
của đức Phật, đấy là thân giáo (sự giáo
hóa bằng hành động trực tiếp), dụng ư hết
sức sâu đậm.
“Thành Đẳng Chánh Giác giả”:
Phải đặc biệt chú ư mấy chữ này, không nói
là “thành Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác”. Người thành Đẳng Chánh
Giác là Bồ Tát, tức là thành tựu Chánh Đẳng Chánh
Giác. Bởi lẽ, đức Thế Tôn thị hiện
thành Tạng Giáo Phật (quả vị Phật thuộc Tạng
Giáo) trong tứ giáo. Tạng Giáo Phật là Chánh Đẳng
Chánh Giác. Chỉ có quả vị Phật trong Viên Giáo mới
có thể gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh
Giác. Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác chỉ có một,
c̣n đối với Đẳng Chánh Giác Phật th́ Biệt
Giáo Phật, Thông Giáo Phật, Tạng Giáo Phật đều
gọi là Đẳng Chánh Giác, đều là những vị
Phật mà kinh luận thường nói là “tu ba đại
A-tăng-kỳ kiếp mới thành”. Thật ra, Thích Ca Mâu
Ni Phật đă thành tựu Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác từ lâu. Ở đây là thị hiện, bởi lẽ,
ba mươi hai tướng, tám mươi thứ hảo
là Liệt Ứng Thân. Đấy là Đẳng Chánh Giác. Nếu
thị hiện Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác th́
như trong bài kệ tán Phật có câu “bạch hào uyển chuyển ngũ Tu Di, cám mục
trừng thanh tứ đại hải”, thân tướng
Phật ấy [theo như Quán Kinh đă dạy] là “Phật có vô lượng tướng,
mỗi tướng có vô lượng hảo”, mắt thịt
của phàm phu sẽ chẳng thể thấy được
đức Phật thị hiện trước chúng ta, quá lớn
mà! Hiểu rơ điều
này sẽ chẳng thể nào coi thường,
nh́n lướt qua mặt chữ!
(Diễn)
Nhược thích kỳ nghĩa.
(演) 若釋其義。
(Diễn:
Nếu giải thích ư nghĩa của chữ ấy)
Nếu
chúng ta giải thích những ư nghĩa bao hàm trong chữ Phật.
(Diễn)
Tắc Phật tự thị Phạn ngữ.
(演) 則佛字是梵語。
(Diễn:
Th́ chữ Phật là tiếng Phạn).
Phật
là gọi tắt của chữ Phật Đà (Buddha).
(Diễn)
Thử phiên Giác Giả.
(演) 此翻覺者。
(Diễn:
Cơi này dịch là đấng giác ngộ).
“Thử” (cơi này) là Trung Quốc.
Trong văn tự Trung Quốc, ư nghĩa của chữ Phật
là “Giác Giả”. Tiếp
đó, lại giải thích thêm như sau:
(Diễn)
Vị giác liễu Tánh Tướng chi giả.
(演) 謂覺了性相之者。
(Diễn:
Có nghĩa là bậc giác ngộ trọn vẹn Tánh và Tướng).
Nói theo
thuật ngữ triết học hiện đại th́ Tánh
là bản thể của muôn vật trong vũ trụ,
Tướng là hiện tượng của muôn vật trong
vũ trụ. Trong Phật pháp gọi Tánh là Pháp Tánh, hoặc
Chân Như bổn tánh, gọi Tướng là Pháp Tướng,
tức là những thứ y báo và chánh báo trang nghiêm trong
mười pháp giới. Nói cách khác, đối với bản
thể, hiện tượng, đương nhiên kể cả
tác dụng của toàn bộ vũ trụ, nhân sinh, Phật
đều thấu hiểu triệt để, không có một
pháp nào Ngài chẳng hiểu rơ; v́ thế gọi là Phật.
(Diễn)
Cụ hữu tam nghĩa. Nhất, tự giác, giác tri tự
tâm bổn vô sanh diệt.
(演) 具有三義。一、自覺,覺知自心本無生滅。
(Diễn:
Gồm có ba nghĩa. Một là
tự giác, hiểu biết tự
tâm vốn chẳng
sanh diệt).
“Tự giác”: Hiện thời
chúng ta tự ḿnh mê hoặc, tự giác là giác ngộ bản
thân. Nói cách khác, [tự giác] là nhận thức chính ḿnh. Hiện
thời chúng ta chẳng hiểu rơ chính ḿnh, tự mê. Đă
hiểu rơ chính ḿnh th́ gọi là “tự
giác”. Tự giác đạt đến mức viên măn nhất,
rốt ráo nhất chính là thấu hiểu tự tâm. Toàn bộ
sự tu học trong Phật pháp bao gồm trong hai chữ “tự tâm”. Nhà Thiền nói: “Nhược nhân thức đắc
tâm, đại địa vô thốn thổ” (Nếu ai
hiểu được tâm, đại địa không tấc
đất). Tu học Phật pháp là phải tu học tự
tâm. “Tự tâm vốn chẳng
sanh diệt”: Nh́n từ câu này, chúng ta thật sự
đang mê. Suốt ngày từ sáng đến tối, chúng ta nghĩ
đến sanh lăo bệnh tử, có sanh diệt, chẳng biết
chính ḿnh thật sự là bất sanh, bất diệt. Khi nào
quư vị chứng được bất sanh bất diệt,
quư vị sẽ thành Phật. Nói cách khác, quư vị chẳng
tự mê. Quư vị c̣n cảm thấy ḿnh có sanh, có diệt,
th́ vẫn đang mê mất chính ḿnh. Cảnh giới ấy
hết sức cao, phải như thế nào mới có thể
giác ngộ chính ḿnh chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng
đến, chẳng đi? Quư vị hăy nên nghiên cứu kỹ
lưỡng bộ A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
này. Chúng tôi hạn định ba năm; nếu quư vị
tích cực tu học, sẽ t́m được câu trả lời
cho câu hỏi ấy. Không chỉ t́m được câu trả
lời mà người có tŕnh độ từ bậc trung
trở lên sẽ có thể chứng đắc. Sự chứng
đắc ấy chính là liễu sanh tử, vượt
thoát tam giới, sẽ có phần trong Liên Tŕ Hải Hội.
Hiện thời, ở nơi đây, chúng tôi cũng có lập
ra chứng thư thân phận Liên Tŕ Hải Hội, mong quư
vị hăy tới nhận lấy, thật sự phát tâm, mọi
người cùng nhau tu học. Chúng ta dùng thời gian ba
năm để cầu đạt được kết
quả ấy.
(Diễn)
Nhị, giác tha, giác nhất thiết pháp vô bất thị
như.
(演) 二、覺他,覺一切法無不是如。
(Diễn:
Hai là giác tha, nhận biết hết thảy pháp không ǵ chẳng
phải là Như).
Chữ “tha” chỉ cảnh giới.
Ngoài thân ḿnh ra đều gọi là Tha. Quư vị phải nhớ
kỹ, ngoài thân ḿnh ra, chứ không nói là “ngoài tự tâm”, v́
cái Tha ấy vẫn được bao gồm trong tự
tâm. Chỉ có thể nói đến Thân, ngoài thân ḿnh ra là Tha.
Do vậy, trong phần sau mới nói “Tự, Tha bất nhị”, [Tự và Tha] đều
do cùng một tâm biến hiện. “Giác Tha, giác nhất thiết pháp vô bất thị Như”:
Thật ra, chữ Như có ư nghĩa vô cùng tận, chẳng
thể nghĩ bàn. Câu thứ nhất mở đầu kinh
văn là “như thị ngă
văn”, chữ Như ở đây (tức chữ
Như dùng trong lời diễn nghĩa) chính là chữ
Như trong “như thị ngă
văn” đầu mỗi bản kinh. “Giác nhất thiết pháp vô bất thị Như”:
Nếu chúng ta nói cách khác, sử dụng thuật ngữ của
Thiền Tông, sẽ là “vô hữu
nhất pháp bất thị Tánh” (chẳng có một pháp
nào không phải là Tánh). Nhà Thiền nói “minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật”. Ư nghĩa
của chữ Như là “Tướng vừa được
nói như thế ấy th́ Tướng giống như Tánh,
Tánh giống như Tướng”. Cổ đại đức
thường dùng tỷ dụ để giảng rơ đạo
lư này, các Ngài nói: “Dĩ kim tác
khí, khí khí giai kim” (Dùng vàng để làm thành đồ vật,
món nào cũng đều là vàng). Đem vàng ví với Tánh,
đem đồ vật ví với Tướng. Tướng
có phải là vàng hay chăng? Tướng là vàng, vàng là Tướng.
Ư nghĩa này được nói rất rơ ràng, chúng ta nghe xong
cũng hiểu rất rơ, nhưng mà như thế nào? Chúng
ta chẳng thể hợp Tánh và Tướng lại
được. Chúng ta chấp trước Tướng, chẳng
thấy Tánh. Khi nào quư vị có thể thấy được
Tánh trong hết thảy Tướng được biến
hiện, quư vị sẽ thấy được Như.
Thiên Thai
đại sư đă đạt cảnh giới ấy.
Ngài giảng kinh Pháp Hoa, giảng đến phần Thập
Như Thị bèn mở rộng Thập Như Thị thành
Bách Giới Thiên Như, không một pháp nào chẳng Như,
không một pháp nào chẳng phải là như vậy, Ngài nhập
cảnh giới ấy. Tuy nhập cảnh giới ấy,
lăo nhân gia rất khiêm hư, rất khách sáo, chẳng thừa
nhận. Khi Ngài văng sanh, học tṛ hỏi Ngài: “Lăo nhân gia
văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, rốt
ráo thuộc phẩm vị nào?” Ngài bảo mọi người:
“Ngũ Phẩm vị”. Địa vị Ngũ Phẩm
chưa kiến tánh, nhưng Ngài chú giải kinh Pháp Hoa, quư vị
đọc bộ Pháp Hoa Kinh Văn Cú sẽ thấy [người
thuộc] địa vị Ngũ Phẩm chẳng thể
giảng như vậy được. Đại sư quá
khiêm hư. V́ sao khiêm hư? Ngài có lư riêng, đại từ
đại bi mà! Nếu Ngài đem cảnh giới của
chính ḿnh là “minh tâm kiến tánh, Lư
nhất tâm bất loạn, thượng phẩm thượng
sanh” nói ra th́ chúng ta nghe xong, thấy Ngài rốt cuộc là
bậc tổ sư một thuở, chúng ta chẳng có phần,
chúng ta làm không được, chỉ đành ngưỡng
mộ mà thôi! Ngài nói Ngài thuộc địa vị Ngũ Phẩm
văng sanh th́ “điều này được đấy, ta
cũng có thể làm được”, cổ vũ, khích lệ
chúng ta rất lớn. Địa vị Ngũ Phẩm
đă có thể văng sanh th́ chúng ta ai nấy đều có thể
văng sanh. Không phải ai trong số chúng ta cũng có thể
minh tâm kiến tánh, nhưng địa vị Ngũ Phẩm
th́ mỗi người chúng ta đều có thể làm
được. Từ chỗ này, chúng ta cảm nhận
đại ân đại đức của Phật, Bồ
Tát, tổ sư đối với chúng ta, thời thời
khắc khắc niệm niệm thị hiện, ngôn từ
trong câu nói nào cũng nhằm nhiếp thọ hết thảy
chúng sanh, đều là Tăng Thượng Duyên đắc
độ cho hết thảy chúng sanh, mà cũng là Tăng Thượng
Duyên văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Đấy là ư nghĩa Giác Tha.
(Diễn)
Tam, giác măn, nhị giác lư viên xưng chi vi Măn.
(Diễn:
Ba là giác măn. Lư của hai thứ giác đều viên măn th́ gọi
là Măn).
“Nhị giác” là Tự Giác và
Giác Tha. Tự Giác lẫn Giác Tha đều viên măn th́ gọi
là Giác Măn. Giác Măn cũng có mức độ khác nhau. Ví
như quả vị Phật trong Tứ Giáo đều gọi
là Giác Măn; [quả vị Phật trong] Tạng Giáo, Thông Giáo,
Biệt Giáo tuy gọi là Giác Măn, nhưng hoàn toàn chẳng phải
là thật sự viên măn. Chỉ có quả vị Phật
trong Viên Giáo mới là thật sự viên măn. Đối với
ba ư nghĩa này, có thể nói là rất nhiều kinh luận
đều nói theo cách này.
(Diễn)
Nhược chuẩn Khởi Tín, diệc chương tam
nghĩa.
(演) 若準起信亦彰三義。
(Diễn:
Nếu dựa theo Đại Thừa Khởi Tín Luận
th́ luận ấy cũng nêu ra ba ư nghĩa [của chữ
Phật]).
“Chuẩn” là chuẩn tắc (準則: tiêu chuẩn, chừng mực). Nếu
lấy Khởi Tín Luận làm tiêu chuẩn, tức là nói theo
Khởi Tín Luận th́ luận ấy cũng giảng rơ chữ
Phật có ba ư nghĩa, tức là ba thứ Giác. Khởi Tín
Luận giảng ư nghĩa thứ nhất như sau:
(Diễn)
Nhất, Thỉ Giác, tức Năng Chứng Trí.
(演) 一、始覺,即能證智。
(Diễn:
Một là Thỉ Giác, tức trí có khả năng chứng
biết).
“Thỉ” (始) là bắt đầu. Các vị đồng
tu tham dự buổi giảng hôm nay, dường như
đối với Tam Giác được giảng trong Khởi
Tín Luận, chúng ta đều có Tương Tự Thỉ
Giác. Nếu không có Thỉ Giác th́ hôm nay quư vị không thể
đến đây tham dự pháp hội này. Quư vị chịu
phát tâm đến tham gia pháp hội này, tức là quư vị
bắt đầu giác ngộ. V́ sao Thỉ Giác của chúng
ta là Tương Tự Thỉ Giác, chứ không phải là Thỉ
Giác thật sự? Tương Tự Thỉ Giác vẫn là
Thỉ Giác chân thật, chẳng phải
là giả, chẳng qua là thời gian rất ngắn ngủi,
tạm bợ, niệm này vừa giác, niệm kế tiếp
lại mê. Nói cách khác, trong cuộc sống thường nhật
của chúng ta, thời gian giác th́ ít, thời gian mê lại
nhiều. Giác chưa chống nổi mê, vẫn bị mê vọng
lôi đi. Đấy là Tương Tự Thỉ Giác. Nếu
là Thỉ Giác thật sự th́ sau khi chứng đắc sẽ
vĩnh viễn không lùi. Nói cách khác, sức giác ngộ của
quư vị có thể chống cự được mê.
Nhưng dù giác trong khoảng sát-na, như thường nói là
“hỏa thạch, điện
quang” (lửa xẹt do đập vào đá, ánh sáng của
tia chớp) cũng hết sức khó có, hết sức quư
báu, chúng ta phải trân quư. Bởi lẽ, nếu chúng ta có
quang minh trong sát-na ấy th́ sẽ có sát-na thứ hai, có
sát-na thứ hai sẽ có sát-na thứ ba, hy vọng quang minh
sẽ ngày càng tăng trưởng, đừng giảm bớt.
Từ Thỉ Giác sẽ dần dần biến thành Bổn
Giác. Có mở đầu th́ hy vọng sẽ có thể dần
dần khế nhập. Thỉ Giác là Năng Chứng, Bổn
Giác là Sở Chứng.
(Diễn)
Nhị, Bổn Giác, tức Sở Chứng Lư.
(演) 二、本覺,即所證理。
(Diễn: Hai là Bổn Giác, tức là Lư được
chứng bởi [Thỉ Giác]).
Bổn Giác là Lư
được chứng. Bổn Giác là trí huệ Bát Nhă chúng
ta sẵn có. Nói cách khác, ai nấy đều có Bổn Giác,
Bổn Giác bị mê, biến thành Bất Giác. Phàm phu bất
giác. Do chúng ta có Bổn Giác, Bổn Giác là Phật, cho nên kinh
Hoa Nghiêm, kinh Viên Giác đă khai thị rơ ràng “nhất thiết chúng sanh bổn lai thành Phật”
(hết thảy chúng sanh vốn đă thành Phật). V́ sao vốn
đă thành Phật? V́ hết thảy chúng sanh ai nấy
đều sẵn có Bổn Giác viên măn, đương nhiên
là Phật. Nhưng trong hiện tại, chúng ta là những vị
Phật điên đảo, mê hoặc, c̣n Phật là một
vị Phật tự tại giác ngộ, thụ dụng
khác nhau. Đức Phật thấy chúng ta mê hoặc,
điên đảo, bèn dùng các thứ phương tiện
khuyên dụ, hướng dẫn, khơi gợi, mong cho
chúng ta hoát nhiên giác ngộ, khôi phục Bổn Giác. Đấy
là “Phật độ chúng sanh”; nhưng chúng ta phải tự
ḿnh khôi phục, dựa vào sức Phật khuyên dụ,
hướng dẫn, c̣n thật sự giác ngộ phải
do chính ḿnh. Chính ḿnh một mực chẳng giác, chỉ ỷ
vào sự khuyên dụ, hướng dẫn của Phật sẽ
chẳng thể thành công. V́ vậy, chính ḿnh nhất định
phải giác ngộ. Nếu quư vị giác ngộ, sẽ chú
ư thấy Phật, Bồ Tát ở bất cứ nơi
đâu, mỗi một cử chỉ, mỗi một hành
động, mỗi một lời nói, mỗi một hành
vi, đều nhằm khơi gợi, phát khởi cho chúng
ta. Tôi vừa mới nói đó, Phật Thích Ca từ trời
Đâu Suất giáng sanh trong vương cung, thị hiện
xuất gia khổ hạnh sáu năm, cho đến thuyết
pháp lợi sanh, đều nhằm nêu gương cho chúng
ta, mong mỏi chúng ta sẽ tự ḿnh có thể đại
triệt đại ngộ. Chúng ta thấy được
ư nghĩa này th́ đó là Thỉ Giác, sẽ ngầm hợp với tác dụng
của Lư Thể trong Bổn Giác.
(Diễn)
Tam, Cứu Cánh Giác, tức Trí dữ Lư minh, Thỉ Bổn bất
nhị.
(演) 三、究竟覺,即智與理冥,始本不二。
(Diễn: Ba là Cứu
Cánh Giác, tức Trí ngầm hợp Lư, Thỉ và Bổn chẳng
hai).
Năng
Chứng Trí và Sở Chứng Lư là một, chẳng phải
hai. Đấy là Cứu Cánh Giác, là thành Phật. Nói “thành Phật”
chính là thành tựu Cứu Cánh Giác, thật sự giác ngộ.
Hiện thời, chúng ta chẳng vào được cửa,
vấn đề ở đâu? Chúng ta chưa thể thống
nhất [Trí và Lư], Năng Chứng Trí và Sở Chứng Lư vẫn
là hai, chưa phải là một. Năng và Sở là hai,
chưa phải là một! Hễ là hai sẽ chẳng vào
được cửa. Ở đây, quư vị phải
đặc biệt chú ư chỗ này. Trong Đàn Kinh, pháp
sư Ấn Tông cũng là một vị pháp sư lỗi lạc.
Ngài là một vị pháp sư giảng kinh, khi gặp Lục
Tổ, từng thỉnh giáo Lục Tổ về tông chỉ
của tổ Hoàng Mai. Sau khi Tổ đă nói, Sư lại
nêu câu hỏi: “Ngài Hoàng Mai có nhắc tới giải thoát và
Thiền Định hay không?” Ngay khi ấy, Lục Tổ
cũng nhắc nhở Sư: “Thiền
Định, giải thoát chẳng phải là Phật pháp”.
Quư vị nghe như vậy, cảm thấy rất lạ
lùng! Trong đại kinh, đại luận suốt ngày từ
sáng đến tối nói về Thiền Định, giải
thoát, cớ sao Thiền Định, giải thoát lại chẳng
phải là Phật pháp? Dụng ư của Tổ nằm trong
câu tiếp theo: “Thiền Định,
giải thoát là hai pháp, hai pháp chẳng phải là Phật
pháp. Phật pháp là pháp Bất Nhị”. Nói cách khác,
Năng Chứng Trí và Sở Chứng Lư nếu là hai pháp sẽ
chẳng phải là Phật pháp. Lư và Trí hệt như nhau,
Lư và Trí chẳng hai th́ đó là Phật pháp. Phật pháp là
giác pháp, chứ không phải là mê pháp.
Hiện
thời, có thể nói là từ sáng đến tối, ngay cả
trong khi ngủ, chúng ta không thật thà, vẫn c̣n nằm mộng.
Khi tỉnh và khi mộng tức là hai pháp, có khi nào quư vị
gộp chúng thành một hay chưa? Khi nào quư vị thật
sự trụ trong pháp môn Bất Nhị sẽ vào được
cửa. Khi nào quư vị nhập pháp môn Bất Nhị, quư vị
sẽ là Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo. Bậc Sơ
Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo thuộc địa vị Kiến
Đạo trong pháp Đại Thừa, từ ngày hôm ấy
quư vị bắt đầu thấy được Đạo,
thấy đạo ǵ vậy? Thấy vạn pháp đều
là Như, thấy Tánh và Tướng không hai. Nếu áp dụng
điều này vào niệm Phật, th́ thưa quư vị, quư
vị bắt đầu chứng Lư nhất tâm bất loạn,
quư vị văng sanh Thật Báo Trang Nghiêm Độ trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới, Thượng Phẩm
Thượng Sanh, hoa nở thấy Phật. Chúng tôi hết
sức ân cần, tha thiết mong quư vị đồng tu
hăy khéo lợi dụng thời gian ba năm để đạt
đến mục tiêu này, chẳng riêng ǵ Phật Thích Ca, Phật
Di Đà ân cần tha thiết mong mỏi như vậy, mà
mười phương ba đời hết thảy
chư Phật không một vị nào chẳng mong mỏi
chúng ta làm được như vậy. Nếu chúng ta thật
sự làm được, sẽ là thật sự báo ân Phật,
mới thật sự là kẻ báo ân vậy.
(Diễn)
Kim kinh sở vân Phật giả, năi thị tam giác câu viên,
Thích Ca Thế Tôn dă.
(演) 今經所云佛者,乃是三覺俱圓,釋迦世尊也。
(Diễn:
Đức Phật được nói trong kinh này chính là
Thích Ca Thế Tôn ba thứ giác đều trọn đủ).
Mấy
câu này có ư nghĩa khác với mấy câu phía trên. Trong phần
trước, nói Thích Ca Mâu Ni Phật thị hiện thành quả
vị Phật trong Tạng Giáo, v́ sao vậy? V́ [sách Diễn
Nghĩa ghi]: “Thành Chánh Đẳng
Giác”. Đấy là nói theo mặt Tích, c̣n câu này giảng
theo mặt Bổn. Nói theo Bổn th́ Thích Ca Mâu Ni Phật
đă viên măn cả ba thứ giác từ rất lâu, nh́n từ
mặt Bổn th́ Ngài là Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác trong Viên Giáo. Nh́n từ phương diện thị
hiện (Tích), Ngài là Đẳng Chánh Giác. Giống như Trí
Giả đại sư lăo nhân gia thị hiện văng sanh
trong địa vị Ngũ Phẩm, đấy là nói theo sự
thị hiện nơi Tích. Nói theo Bổn th́ mức độ
thấp nhất cũng phải là Đẳng Chánh Giác. Nếu
không phải là Đẳng Chánh Giác, chắc chắn Ngài sẽ
không thể viết bộ Pháp Hoa Kinh Văn Cú được!
(Diễn)
Hựu, Phật Địa Luận, thuyết Phật hữu
kỳ thập nghĩa, Thiên Thai lục tức, Hoa Nghiêm thập
thân, tường cụ hậu văn.
(演) 又佛地論,說佛有其十義。天台六即,華嚴十身,詳具後文。
(Diễn:
Lại nữa, Phật Địa Luận nói chữ Phật
có mười nghĩa, ngài Thiên Thai lập ra giáo thuyết Lục
Tức Phật, kinh Hoa Nghiêm giảng Phật có mười
thân sẽ được tŕnh bày tường tận trong
phần sau).
Trong Phật
Địa Luận nói Phật có mười ư nghĩa. Thông
thường, [các nhà chú giải giảng] chữ Phật có
ba ư nghĩa, hay ba thứ giác. Khởi Tín Luận cũng nêu
ra ba ư nghĩa. Trí Giả đại sư lập ra giáo
nghĩa Lục Tức Phật. Kinh Hoa Nghiêm nói tới
mười thân Phật. Đấy đều là tách ra hay gộp
vào khác nhau. Chúng đều là ư
nghĩa của chữ thứ nhất, tức chữ Phật
trong tựa đề kinh này.
(Diễn)
Thuyết giả, dĩ tuyên diễn đắc danh.
(演) 說者,以宣演得名。
(Diễn:
Thuyết là do nói, diễn mà thành tên)
“Tuyên” (宣) là tuyên dương, nói bằng miệng. “Diễn” (演) là biểu diễn, động tác. Nhất
cử, nhất động, các nét biểu lộ t́nh cảm
trên khuôn mặt, đều gọi là “diễn”. Quư vị phải hiểu: Sự thụ
dụng do nghe kinh ngay tại chỗ giảng đă bị
giảm bớt nếu nghe kinh từ băng thâu h́nh trên TV.
Tuy cũng thấy được h́nh
tướng, nhưng ư vị khác nhau. Nếu nghe băng
thâu âm th́ sự thụ dụng lại giảm hơn
nữa, chẳng thể bằng nghe kinh ngay tại chỗ
giảng. Vậy là sao? Thật ra là bất đắc
dĩ mới dùng phương pháp này. Nghe kinh ngay tại chỗ
phải có nhân duyên, quyết định chẳng thể
buông bỏ, buông bỏ rồi th́ sẽ đúng như trong
Kệ Khai Kinh đă nói: “Bách
thiên vạn kiếp nan tao ngộ” (Trăm ngàn vạn kiếp
khó gặp gỡ). Ở đây, chẳng phải là tôi nói với
quư vị tôi giảng hay như thế nào, mà là hội giảng
kinh này khó thể gặp gỡ, suốt cuộc đời
chúng ta, cớ sao có nhân duyên, thiện căn, phước
đức như vậy, gặp được bộ A Di
Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa, có nhiều đồng
học như vậy ở cùng một chỗ với nhau
để cùng tu học, nghiên cứu, thảo luận, rất
ư là khó! Nhân duyên này thật sự chẳng thể
nghĩ bàn. Suy nghĩ cặn kẽ, trên toàn thế giới
ngày nay, pháp hội giảng Sớ Sao Diễn Nghĩa này hầu
như chỉ ḿnh chúng ta là có. Chúng ta biết khắp Đài
Loan không nơi nào có, những nơi khác chẳng thể nào
có được, th́ mới thấy pháp hội này thù thắng.
Do tuyên dương, biểu diễn mà được gọi
là Thuyết. Chữ Thuyết bao hàm nhiều ư nghĩa
như vậy đó.
(Diễn)
Sướng duyệt vi nghĩa.
(演) 暢悅為義。
(Diễn:
Lưu loát, vui sướng là ư nghĩa [của chữ Thuyết]).
“Sướng” (暢) là thoải mái, lưu loát, không
có chướng ngại. “Duyệt”
(悅) là vui vẻ. Niềm
vui ấy từ trong nội tâm phát sanh. Cả hai câu này nhằm
giải thích chữ Thuyết (說). Thoải mái, lưu loát, vui
sướng như thế nào? Chúng ta không cách nào tưởng
tượng được. Tiếp theo đây, đại
sư lại giải thích. Đoạn tiếp theo đây nhằm chú giải câu “sướng duyệt vi nghĩa”.
(Diễn)
Tứ vô ngại biện vi Thể.
(演) 四無礙辯為體。
(Diễn:
Bốn thứ vô ngại biện tài là Thể [của chữ
Thuyết]).
Tứ
Vô Ngại Biện là bốn món vô ngại biện tài. Thứ
nhất là Nghĩa Vô Ngại, hoàn toàn thông đạt đạo
lư, không chướng ngại. Đây là điều thứ
nhất, trọng yếu nhất trong Tứ Vô Ngại Biện.
Những đạo lư thế gian và xuất thế gian
đều hiểu rơ, quyết định không hiểu sai
lầm, điều ǵ cũng đều hiểu rơ.
Thứ
hai là Pháp Vô Ngại, tức là thông đạt pháp tướng.
Nếu dùng Tánh và Tướng để giải thích th́ Nghĩa
là Pháp Tánh, c̣n nếu dùng danh từ triết học để
giải thích th́ thông đạt bản thể là Nghĩa Vô
Ngại. Trong Phật giáo gọi thông đạt hiện
tượng là “thông đạt Pháp Tướng”; đấy
là Pháp Vô Ngại.
Thứ
ba là Từ Vô Ngại, Từ (詞) là “ngôn từ, lời
lẽ”, [Từ Vô Ngại] là ngôn ngữ không bị chướng
ngại. Trong đoạn trên, Nghĩa là Lư, Pháp là Sự, Sự
vô ngại. Ngôn từ vô ngại, quư vị ăn nói rất
khéo, có khả năng diễn đạt, có thể nói rất
rơ ràng những điều chính ḿnh đă chứng, đă thấy,
đă nghe, khiến cho người khác thấu hiểu,
đấy là Từ Vô Ngại.
Thứ
tư là Nhạo Thuyết Vô Ngại. Nhạo (樂) là yêu thích, ưa
thích, nói một cách thích thú. Nếu ba điều trước
đó đều có đủ mà người ấy chẳng
hào hứng, chẳng thích nói th́ cũng chẳng có cách nào cả.
Người ấy thích nói, thích đem những điều
chính ḿnh đă biết dâng tặng người khác nhằm
lợi ích chúng sanh, đấy là Đại Bi. Ba điều
trước là Đại Trí, điều cuối cùng này là
Đại Bi. Đại Bi là động lực, thích nói,
thích giúp đỡ người khác.
(Diễn) “Sướng”
tắc sướng xuất thế chi bổn hoài.
(演) 暢則暢出世之本懷。
(Diễn:
“Sướng” là thỏa thích hoài băo xuất thế).
Quư
vị hăy nghĩ xem v́ sao đức Phật từ trời
Đâu Suất giáng sanh vào vương cung, v́ sao Phật ĺa bỏ
ngôi vua xuất gia, khổ hạnh, cả đời ba y một
bát, ngày ăn một bữa, ngủ dưới cội cây,
v́ sao phải sống như thế? V́ lẽ ǵ? Đây là
nói tới bổn hoài (điều ấp ủ trong ḷng), v́
độ chúng sanh. Thị hiện như vậy để
dạy quư vị: Nếu quư vị mong thật sự đạt
đến Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, quư vị
hăy bỏ sạch hết thảy mọi sự trong thế
gian th́ mới có tư cách thực hiện được.
Nếu vẫn c̣n có tơ hào vướng mắc nào th́
đấy là chướng ngại. Đừng nói là nó sẽ
chướng ngại Chánh Đẳng Chánh Giác, ngay cả Hạ
Hạ Phẩm văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế
giới cũng bị chướng ngại, chuyện này
phiền phức lắm. Do vậy, nhất định phải
xả. Nếu chính đức Phật chẳng xả, làm
sao bảo người khác xả cho được? Nếu
chính ḿnh chẳng xả sạch sẽ, người khác nghe
Ngài nói sẽ chẳng tin tưởng. Chính Phật đă thật
sự xả sạch sành sanh, người thuở đó
trông thấy Phật sẽ bội phục năm vóc sát
đất. Người đời sau đọc sách nhà Phật
cũng chẳng thể nào không kính phục Ngài. Thật sự
xả được sẽ không có chướng ngại. Quư
vị có chướng ngại th́ phải phản tỉnh,
quư vị không buông xuống, không xả sạch sành sanh nên mới
có chướng ngại. Câu này nói về bổn hoài xuất
thế của đức Phật: Do Ngài có thể đạt
được mục tiêu giúp đỡ chúng sanh nên hết
sức vui sướng. Do vậy, “sướng” là nói về bản thân đức Phật.
(Diễn) “Duyệt”
tắc duyệt chúng sanh chi hoạch ích.
(演) 悅則悅眾生之獲益。
(Diễn:
“Duyệt” là vui vẻ v́ chúng sanh được lợi
ích).
Đức
Phật xuất hiện trong thế gian, chúng sanh được
lợi ích. Chúng sanh căn cơ chín muồi sẽ đắc
độ, chúng sanh căn cơ chưa chín muồi sẽ
được Phật giúp cho chín muồi. Chúng sanh chưa
gieo thiện căn sẽ được Phật giúp gieo
thiện căn. Chúng sanh đă gieo thiện căn được
Phật giúp cho tăng trưởng. Nói cách khác, hết thảy
chúng sanh không ai chẳng được lợi ích. Do vậy,
Phật vui thích, đây là nói theo lối thông thường.
Kinh này lại c̣n có ư nghĩa đặc
biệt, có ư vị càng sâu đậm hơn nữa. Tiếp
theo đó, sách viết:
(Diễn)
Kim dĩ Như Lai cửu tu cửu chứng Niệm Phật
tam-muội.
(演) 今以如來久修久證念佛三昧。
(Diễn:
Nay đem pháp Niệm Phật tam-muội của Như Lai
tu chứng đă lâu).
Đây
là cách nói riêng trong kinh này. Chúng ta hăy chú ư chữ Cửu (久)
trong từ ngữ “cửu tu cửu
chứng”. Chữ này chỉ có thể áp dụng cho địa
vị Phật trong Viên Giáo, chứ không thể áp dụng
cho quả vị Phật trong Tạng Giáo, Thông Giáo hay Biệt
Giáo. “Cửu tu cửu chứng”:
Kinh Phạm Vơng nói Thích Ca Mâu Ni Phật thành Phật, đến
thị hiện trong thế gian lần này là lần thứ
tám ngàn. Lăo nhân gia thật sự đă chứng Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác, chúng ta phải thấu hiểu: Phật
đă chứng đến mức rốt ráo nhất, viên măn
nhất. Trong hết thảy pháp môn, pháp môn vô thượng
bậc nhất là Niệm Phật tam-muội, tức Tây
Phương Tịnh Độ. Nếu quư vị đọc
trọn khắp ngàn kinh vạn luận, thật sự
đọc hiểu thấu, quư vị sẽ biết kinh này
là kinh bậc nhất trong hết thảy các kinh, tŕ danh niệm
Phật là pháp môn bậc nhất trong vô lượng pháp môn.
Hiện thời, đạo tràng này của chúng ta là đạo
tràng bậc nhất trong mười phương pháp giới.
Quư vị tham gia tại nơi này, chẳng thẹn với
các vị thượng thiện nhân, nhất định phải
tự ḿnh trân quư, đừng ra khỏi đạo tràng này
lại trở thành kém cỏi hơn. [Nếu] ở trong
đạo tràng này là thượng thiện, nhưng rời
khỏi đạo tràng này liền biến thành hạ thiện,
đấy là lui sụt, chớ nên như vậy! Phải ǵn
giữ, phải tinh tấn. Tôi học Phật hơn ba
mươi năm, giảng kinh hai mươi lăm năm
mới t́m ra bí mật này của Phật giáo. Trong quá khứ,
nó ở ngay trước mặt mà tôi bỏ lỡ, không nhận
biết rơ ràng, đến bây giờ mới thật sự
nhận thấy. Đức Phật nói bộ kinh này, nói ra
pháp môn này, vui sướng cực điểm.
(Diễn)
Uẩn chi tại hoài, thích đắc cơ nghi, tùy dĩ Tứ
Biện tuyên diễn, sướng duyệt bổn hoài, linh
tùy cơ hoạch ích, cố vân Thuyết dă.
(演) 蘊之在懷,適得機宜,隨以四辯宣演,暢悅本懷,令隨機獲益,故云說也。
(Diễn:
Ôm ấp trong ḷng, gặp
đúng căn cơ, thời tiết, bèn dùng Tứ Biện
Tài để tuyên diễn, thỏa thích bổn hoài, khiến
cho từng loại căn cơ được lợi ích,
nên nói là Thuyết).
Quả
thật rất khó được! Có đại nhân duyên tốt
đẹp như thế này, có đầy đủ cơ
duyên nói ra pháp môn này, cho thấy chúng sanh trong thế giới
này căn cơ đă chín muồi, có người tin tưởng,
có người có thể tiếp nhận, có người chịu
nương theo pháp môn này tu học để thành Phật
trong một đời. Bất cứ pháp môn nào khác cũng
đều chẳng thể thành Phật ngay trong một
đời. Chỉ có pháp môn này là thành Phật trong một
đời. Bất cứ pháp môn nào cũng chẳng ổn
thỏa, thích đáng cho lắm, chỉ có pháp môn này ổn
thỏa, thích đáng nhất. Vĩnh Minh đại sư
nói: “Vạn tu vạn nhân khứ”
(vạn người tu, vạn người về), chẳng
sót một ai. Nhưng quư vị tu hành cũng có điều
kiện là phải đúng lư, đúng pháp. Lư ở chỗ
nào? Sách Sớ Sao Diễn Nghĩa sẽ giảng rơ ràng lư ấy,
quư vị phải hiểu đạo lư ấy. Pháp ấy có
cách niệm như thế nào? Phương pháp ấy
cũng nằm trong sách Sớ Sao Diễn Nghĩa. Chúng tôi vừa
giảng xong bộ Di Đà Kinh Yếu Giải, thưa quư vị,
một câu Phật hiệu đầy đủ sâu xa Tam Học,
Tam Huệ, Tam Tư Lương, lẽ nào chẳng vui
sướng? Mỗi một tiếng Phật hiệu đều
bao gồm tám giáo, nhiếp trọn năm tông, đúng là mầu
nhiệm chẳng thể diễn tả được! Một
câu A Di Đà Phật này chính là pháp môn Đại Tổng Tŕ
của mười phương ba đời chư Phật,
có mấy ai hiểu rơ ràng? Hiện thời, tôi đặc
biệt cho in lời khai thị về pháp Niệm Phật
của Ngẫu Ích đại sư thành một tờ riêng
để tặng quư vị; tốt nhất là quư vị hăy
đọc thuộc ḷng. Nếu quư vị thật sự học
thuộc ḷng lời khai thị ấy, hiểu được
ư nghĩa, nhất định quư vị sẽ chết sạch
tấm ḷng mong ngóng, so đo, nhất tâm niệm Phật, sẽ
thành tựu trong một đời này. Nói cách khác, tên của
quư vị sẽ được treo cao trong Liên Tŕ Hải Hội.
Tập 2
Giải thích tựa đề kinh, lần
trước đă giảng đến hai chữ “Phật Thuyết”, hôm nay chúng
ta bắt đầu từ chữ “A Di Đà”.
(Diễn) A Di Đà, thị Phạn ngữ, thử
vân Vô Lượng, dĩ công đức, trí huệ, thân
tướng, quang minh, nhất thiết giai tất vô lượng
cố. Thị vô lượng Phật văng tích nhân trung, vi
Pháp Tạng tỳ-kheo thời, phát tứ thập bát nguyện,
kim tại Tây Phương, nhiếp niệm Phật nhân quy
vu Tịnh Độ. Cố Thích Ca Như Lai vị chúng
tuyên dương dă.
(演) 阿彌陀,是梵語,此云無量,以功德智慧身相光明一切皆悉無量故。是無量佛往昔因中,為法藏比丘時,發四十八願,今在西方攝念佛人歸于淨土,故釋迦如來為眾宣揚也。
(Diễn: A Di Đà là tiếng Phạn, cơi này dịch
là Vô Lượng, do công đức, trí huệ, thân tướng,
quang minh, hết thảy đều vô lượng vậy.
Vị Vô Lượng Phật này trong quá khứ khi tu nhân, là
tỳ-kheo Pháp Tạng, đă phát ra bốn mươi tám
nguyện, nay đang ở Tây Phương nhiếp thọ
người niệm Phật về cơi Tịnh Độ.
V́ thế, Thích Ca Như Lai tuyên dương cho đại
chúng biết).
Đoạn này giới thiệu đơn giản
những điểm trọng yếu trong danh hiệu đức
Phật, ư nghĩa hết sức tinh tường, xác
đáng. A Di Đà là tiếng Ấn Độ, dịch sang
tiếng Hán, A dịch là Vô, Di Đà dịch là Lượng.
A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng. Thông thường
chúng ta gọi Ngài là Vô Lượng Thọ Phật hoặc
Vô Lượng Quang Phật; thật ra, Thọ và Quang chỉ
là một phần trong vô lượng mà thôi. Không có cách nào diễn
đạt hoàn toàn những nghĩa lư trong danh hiệu đức
Phật. Trên thực tế, hai chữ Vô Lượng hết
sức hay.
Tiếp đó, sách Diễn Nghĩa nói đại
lược về “công đức”.
Hai chữ này cũng cần phải giải thích một
cách đơn giản. Công là nói về công phu, Đức là
cái quư vị thâu hoạch, có được. Quư vị dùng một
phần công phu, nhất định có một phần thâu hoạch.
Chữ Đức này có cùng một ư nghĩa với chữ
Đắc (得) trong “đắc
thất, đắc đáo” (được mất,
đạt được). Công phu là ǵ? Giới - Định
- Huệ là công phu. Chẳng hạn như bố thí chủ
yếu trừ keo kiệt, tham lam; nếu bố thí thật
sự khiến cho chúng ta trừ bỏ được phiền
năo keo kiệt, tham lam th́ nó là công phu, đạt được
tâm địa thanh lương, tự tại, giống
như Lục Tổ đại sư nói: “Bổn lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần
ai?” (Vốn chẳng có một vật, chỗ nào nhuốm
bụi trần). Như vậy, cái quư vị đạt
được chính là đạt được tâm thanh tịnh.
Công đức phải do chính ḿnh tu. Trong nhà Phật hiện
thời, chúng ta thường dùng tiền của để
bố thí. Chỉ là bố thí th́ chẳng thể trở
thành công đức, v́ trong ấy không có công phu; không có công
phu sẽ chẳng thể đoạn được keo kiệt,
tham lam. Tuy tu bố thí, nhưng sức mạnh của bố
thí chẳng đủ để trừ keo kiệt, tham lam,
chẳng đạt được công phu, chẳng thể
trở thành công phu. Có lúc chẳng những không thể trở
thành công phu mà c̣n hoàn toàn ngược lại, tức là nghe
trong nhà Phật nói “xả nhất,
đắc vạn báo” (xả một phần, được
quả báo vạn phần) th́ mới chịu bố thí.
Đấy chính là mua bán kiếm lời trong thế gian,
không có lợi ích nào to lớn hơn. Ngày hôm nay bố thí một
đồng, ngày mai sẽ được quả báo một
vạn đồng; vậy th́ hăy mau bố thí! Bố thí kiểu
đó chẳng những không thể đoạn được
tham lam, keo kiệt, mà ngược lại c̣n tăng trưởng
keo kiệt, tham lam. V́ sao người ấy bố thí? V́ tâm
keo kiệt, tham lam mà bố thí, chứ không phải v́ Phật
pháp mà bố thí; Phật pháp dạy “do đoạn keo kiệt,
tham lam mà bố thí”. Trong Phật môn, dùng cái tâm keo kiệt,
tham lam để bố thí th́ có đạt được
ǵ hay chăng? Có chứ, nhưng không phải là công đức,
mà là phước đức, hay phước báo.
Đâm ra, quư vị bố thí hoàn toàn trở
thành có phước. Quả báo là phước báo hữu lậu
trong tam giới. Rộng gieo phước điền, không
sai, nhưng chẳng thể gọi là “công đức”. Phải
phân biệt rơ ràng giữa phước đức hay là công
đức! Công đức khác với phước đức.
Phước đức có thể trao cho người khác,
phước báo của tôi rất lớn, tôi không hưởng,
tôi có thể tặng cho quư vị hưởng, quư vị
hưởng được; chứ công đức th́ không
được. Công đức là trí huệ, tài nghệ của
tôi, không cách ǵ trao cho người khác được! Thiền
Định, Bát Nhă, Tŕ Giới của tôi cũng không có cách
nào trao cho người khác được. Công đức nhất
định phải do chính ḿnh tu, chính ḿnh đạt
được, c̣n phước đức do chính ḿnh tu có
thể ban cho người khác. Người khác tu cũng có
thể ban [phước đức của họ] cho chúng
ta. Ngày mai, đạo tràng này sẽ cử hành pháp hội tế
lễ tổ tiên vào tiết Đông Chí, chúng ta có thể hồi
hướng phước đức do chính ḿnh tu được
cho lịch đại tổ tiên. Tụng kinh cũng giống
như vậy, đối với chính ḿnh th́ là công đức,
chúng ta hồi hướng công đức ấy cho tổ
tiên th́ họ sẽ được hưởng phước
đức.
“Công đức vô lượng”: Tam Học, Lục
Độ, vạn hạnh không điều nào chẳng viên
măn; đấy là công đức vô lượng. “Trí huệ vô lượng”: Quyền
Trí và Thật Trí đều viên măn. “Thân tướng vô lượng”: Trong Đại
Kinh có nói: “Thân có vô lượng
tướng, mỗi một tướng có vô lượng hảo”.
Đấy là vô lượng. Thích Ca Mâu Ni Phật thị hiện
Liệt Ứng Thân, ba mươi hai tướng, tám
mươi thứ hảo. Do vậy, tướng và hảo
đều chẳng thể gọi là vô lượng, mà là hữu
lượng. Tướng hảo và quang minh của A Di
Đà Phật là vô lượng. “Quang
minh vô lượng”: Quang minh có thường quang và phóng
quang. Thường quang lẫn phóng quang đều vô lượng,
chẳng thể nghĩ bàn! Thuở đức Phật tại
thế, thường quang của Ngài chiếu xa tám thước,
kinh điển có khi ghi chép là một trượng (mười
thước), quang minh chẳng lớn lắm. Đối với
quang minh của A Di Đà Phật, thường quang chiếu
tận hư không, trọn hết pháp giới, thật sự
vô lượng. Tiếp đó là lời tổng kết: “Nhất thiết giai tất vô
lượng” (hết thảy đều là vô lượng),
do vậy, gọi Ngài là Vô Lượng Phật. Chữ Phật
dịch nghĩa sang tiếng Hán là Giác. Ư nghĩa này càng sâu
hơn, dịch toàn bộ danh hiệu A Di Đà Phật sang
tiếng Hán th́ là Vô Lượng Giác. Trong bất cứ cảnh
giới nào, Phật đều giác chứ không mê, chuyện
ǵ cũng giác, pháp nào cũng giác, không có ǵ chẳng giác,
đó gọi là Vô Lượng Giác. Không những là Tự
Giác mà c̣n có thể giúp cho kẻ khác giác ngộ, v́ thế gọi
là A Di Đà Phật.
Tiếp đó, sách Diễn Nghĩa nêu đại
lược nguồn gốc của danh hiệu. “Thị Vô
Lượng Phật văng tích nhân trung” (Vô Lượng
Phật trong quá khứ khi tu nhân). Sự tích này được
chép trong kinh Vô Lượng Thọ, chúng ta thường gọi
kinh Vô Lượng Thọ là Đại Bổn A Di Đà
Kinh. Kinh Vô Lượng Thọ chép A Di Đà Phật lúc ban
đầu phát nguyện tu hành, “khi
làm tỳ-kheo Pháp Tạng, phát ra bốn mươi tám nguyện”.
Thuở ấy, Ngài mang thân phận quốc vương, ĺa
bỏ ngôi vua, xuất gia. Quư vị nghĩ xem, nếu xuất
gia chẳng tốt đẹp hơn làm quốc
vương, cớ sao Ngài lại chịu bỏ ngôi vua
đi xuất gia? Người thế gian mong cầu công
danh, phú quư. Phú quư trong nhân gian không chi cao tột hơn đế
vương. Do vậy, nói: “Quư
vi thiên tử, phú hữu tứ hải” (thiên tử sang
quư, giàu có khắp bốn biển), chẳng thể sánh bằng
người xuất gia, thà nguyện bỏ ngôi vua, xuất
gia tu hành làm tỳ-kheo. Tỳ-kheo (Bhiksu) là từ ngữ
để gọi chung người xuất gia. Pháp Tạng (Dharmākara) là pháp danh của
Ngài, nên gọi là tỳ-kheo Pháp Tạng. Ngài xuất gia trong
pháp hội của Thế Tự Tại Vương Phật
(Lokeśvararāja),
khi xuất gia đă phát ra bốn mươi tám nguyện.
“Kim tại Tây
Phương” (hiện ở tại Tây Phương): Quư
vị phải nhớ kỹ, đây là Tây Phương của
thế giới Sa Bà, chứ không phải
là Tây Phương của địa cầu. Địa cầu
của chúng ta không có Tây Phương v́ nó xoay chuyển, quư vị
nói Tây Phương th́ hai mươi bốn tiếng đồng
hồ sau nó lại trở thành Đông Phương mất rồi.
Ở đây, [sách Diễn Nghĩa] nói tới Tây
Phương của thế giới Sa Bà. Thế giới Sa
Bà là động hay bất động? Cũng động,
nhưng v́ thế giới quá lớn, từ lúc Thích Ca Mâu Ni
Phật giảng bộ kinh này măi cho đến hiện thời
là ba ngàn năm, trong đại vũ trụ, thế giới
chỉ chuyển động đôi chút, phương vị
không thay đổi. Sa Bà là một đại thế giới,
là một hệ Ngân Hà. Hệ Ngân Hà của chúng ta cũng
lưu động, phạm vi của hệ Ngân Hà quá lớn,
suốt ba ngàn năm, góc độ của nó chỉ chuyển
dịch một vài độ mà thôi, phương hướng
chung vẫn chẳng thay đổi. Do vậy, cho đến
hiện thời, [nói thế giới Cực Lạc] ở
Tây Phương vẫn chánh xác. Tây Phương thế giới
cách thế giới của chúng ta khá xa; đừng nên sợ
hăi khoảng cách xa xôi ấy, rất dễ dàng đến
nơi đó, điều này cũng chừa lại để
thảo luận sau.
“Nhiếp niệm Phật nhân quy
vu Tịnh Độ” (Nhiếp người niệm Phật
trở về Tịnh Độ): Nhiếp (攝) là nhiếp thọ
(攝受),
có nghĩa là đức Phật vui thích tiếp dẫn những
đồng học niệm Phật, bằng ḷng giúp đỡ
những vị đồng học niệm
Phật. Chỉ cần bằng ḷng về thế giới
của Ngài, Ngài đều hết sức hoan nghênh, [những
người ấy] đều được hưởng
sự đăi ngộ b́nh đẳng, chẳng thể nói là
có sai khác ǵ! “Cố Thích Ca Như
Lai vị chúng tuyên dương dă” (V́ thế, Thích Ca
Như Lai tuyên dương cho đại chúng biết): V́ những
duyên này, Thích Ca Mâu Ni Phật mới tuyên dương chuyện
này cho chúng ta biết, mong chúng ta sẽ tin nhận, y giáo phụng
hành, tương lai đều có thể sanh về Tây
Phương thân cận A Di Đà Phật.
(Diễn) Kinh
giả, thích hữu đa chủng, bất xuất thường,
pháp, quán, nhiếp tứ nghĩa.
(演) 經者,釋有多種,不出常法貫攝四義。
(Diễn:
Chữ Kinh có nhiều cách giải thích, nhưng chẳng ngoài bốn
nghĩa thường, pháp, quán, nhiếp).
Kinh
trong tiếng Ấn Độ là Tu-đa-la (Sūtra), người Hoa dịch là Kinh. Tu-đa-la có rất
nhiều ư nghĩa, có ư nghĩa gốc và ư nghĩa mở rộng.
Đối với giáo huấn của cổ thánh tiên hiền,
người Hán đều tôn xưng là Kinh. “Kinh” có nghĩa là chân lư siêu việt thời gian,
siêu việt không gian, vĩnh viễn chẳng biến đổi
th́ tôn xưng là Kinh. Phật pháp cũng hội đủ những
điều kiện ấy, do vậy khi Phật pháp truyền
đến Trung Quốc, đă được dịch là
Kinh. Những ư nghĩa trong kinh Phật so với những ư
nghĩa của những thứ được người
thế gian gọi là “kinh điển” càng phong phú hơn; do
vậy, phải đặc biệt chú giải. Các tác phẩm
chú giải cũng rất nhiều, trong mười ư
nghĩa của kinh Hoa Nghiêm, thường lấy bốn ư
nghĩa “thường, pháp,
quán, nhiếp” để giải thích. Cách giải thích
này phổ biến nhất; ở đây, đại sư
cũng dùng bốn nghĩa này.
(Diễn)
Thường giả, tam thế bất dịch, nhất thiết
chư Phật giai như thị thuyết, cố vân Thường.
(演) 常者,三世不易。一切諸佛皆如是說,故云常。
(Diễn:
Thường là ba đời chẳng thay đổi, hết
thảy chư Phật đều nói như thế nên gọi
là Thường).
“Tam thế” là đời quá khứ, đời hiện tại,
và đời vị lai. “Dịch”
(易) là biến đổi.
Thuyết pháp, ư nghĩa vĩnh viễn chẳng thay đổi
nên gọi là Thường. “Thường”
là chân lư. Thích Ca Mâu Ni Phật thuyết pháp như vậy, A
Di Đà Phật cũng thuyết pháp như vậy, mười
phương ba đời hết thảy chư Phật
đều thuyết pháp như vậy. Đấy là chân lư
chân thật. Quư vị phải biết: Ngôn từ dùng để
thuyết pháp có thể chẳng giống nhau, nhiều, ít
khác nhau, nhưng ư nghĩa nhất định phải giống
nhau. V́ sao? Đều là cảnh giới do Phật đích
thân chứng đắc, Phật pháp gọi điều này bằng
thuật ngữ “hiện lượng
cảnh giới”. Hiện Lượng Cảnh Giới của
Phật chẳng do suy lường, chẳng do nghe người
khác nói, mà do chính ḿnh đích thân chứng được. Do
vậy, nói ra giống hệt nhau, đó gọi là Thường.
“Thường” là vĩnh viễn
chẳng bị biến đổi, đây là nói về
phương diện siêu việt thời gian.
(Diễn)
Pháp giả, thập giới đồng quỹ, tứ
thánh, lục phàm do chi giải thoát, cố vân Pháp.
(演) 法者,十界同軌。四聖六凡由之解脫,故云法。
(Diễn:
Pháp là đường lối chung cho mười pháp giới.
Tứ thánh, lục phàm do đây mà được giải
thoát nên gọi là Pháp).
“Pháp” có nghĩa là siêu việt không
gian. Hết thảy hữu t́nh chúng sanh trong mười pháp
giới đều phải nương theo quỹ đạo
này. “Pháp” có nghĩa là “quỹ đạo” (đường
lối nhất định) hay quy tắc, giống như xe lửa nhất định
phải chạy trên đường rầy, chẳng thể
rời khỏi đường rầy. Đường rầy
ấy là Pháp. Chữ Pháp này được hiểu theo
nghĩa hẹp, chứ không phải là nghĩa rộng, nhằm
chỉ điều ǵ? Pháp chỉ cho Kinh - Luật - Luận
Tam Tạng kinh điển. Để đạt được
tự tại, giải thoát, tứ thánh, lục phàm đều
phải nương theo phương pháp này, rời khỏi
phương pháp này sẽ chẳng thể đạt
được, nhất định phải chiếu theo
phương pháp này để tu hành. Chữ “tứ thánh” chỉ Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên
Giác, “lục phàm” chỉ lục
đạo phàm phu: Trời, người, Tu-la, địa ngục,
ngạ quỷ, súc sanh. Chúng ta đọc tới câu này, nếu
là người tỉ mỉ, sợ rằng ắt sẽ
nẩy sanh câu hỏi: “Nói Bồ Tát mong được giải
thoát th́ c̣n chấp nhận được, chứ Phật
mà vẫn mong giải thoát ư? Phật là đạt đến
quả vị rốt ráo, v́ sao c̣n phải mong giải thoát?”
Phật cũng phải mong! V́ sao? Có rất nhiều loại
Phật. Phật trong Tạng Giáo, Phật trong Thông Giáo, Phật
trong Biệt Giáo đều phải nương theo Tam Tạng
Kinh - Luật - Luận để tu hành. Phật quả mà
các vị ấy đă chứng chưa phải là địa
vị Phật rốt ráo. Địa vị Phật của
họ là Phần Chứng Phật, họ chứng
được Chánh Đẳng Chánh Giác, không phải là Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Luận về quả
vị Phật trong Biệt Giáo, [ta thấy] Sơ Địa
Bồ Tát trong Biệt Giáo “phá một
phẩm vô minh, chứng một phần
Pháp Thân”, Thập Địa phá
mười phẩm vô minh, Đẳng Giác phá mười một
phẩm vô minh; [do vậy], bất quá, Phật [trong Biệt
Giáo] phá mười hai phẩm vô minh mà thôi. Vô minh có bốn
mươi mốt phẩm, Phật trong Biệt Giáo mới
phá được mười hai phẩm nên nếu Ngài chẳng
nương theo Tam Tạng Kinh - Luật - Luận để
tu hành, sẽ chẳng thể chứng Vô Thượng Bồ
Đề. Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là quả
vị Phật trong Viên Giáo. Phật pháp giới nằm trong
mười pháp giới, nhưng Phật pháp giới chẳng
bao gồm địa vị Phật trong Viên Giáo, mà bao gồm
ba quả vị Phật trong Tạng Giáo, Thông Giáo và Biệt
Giáo. Chẳng chiếu theo pháp môn này sẽ không được,
sẽ không có cách nào chứng được Vô Thượng
Bồ Đề. Đấy là nói về Tam Tạng kinh
điển. Trong đây c̣n có một ư nghĩa rất sâu, chữ
Pháp chuyên chỉ bộ kinh này. Thường, Pháp, Quán, Nhiếp
đều nhằm chỉ bộ kinh A Di Đà này. Kinh A Di
Đà này có phân lượng rất nặng!
(Diễn)
Quán giả, quán xuyên sở ưng tri nghĩa. Nhược
vô văn tự, vô dĩ quán xuyên nghĩa lư, hoán nhiên khả
quán, cố vân Quán.
(演) 貫者,貫穿所應知義。若無文字,無以貫穿義理,煥然可觀 , 故云貫。
(Diễn:
Quán là xuyên suốt, xếp đặt mạch lạc những
nghĩa lư đáng nên biết. Nếu không có văn tự sẽ
không có ǵ để sắp đặt mạch lạc những
nghĩa lư sao cho rơ ràng để có thể thấy
được, nên gọi là Quán).
“Quán” (貫): Đối với ngôn ngữ, văn từ, hiện
thời chúng ta nói tới “chương pháp”, tức là kết
cấu, tổ chức có thứ tự, không lộn xộn,
đấy là ư nghĩa của chữ Quán. Trong ngôn ngữ
văn tự bao hàm những đạo lư, hiện thời
chúng ta gọi những đạo lư ấy là “tư tưởng
tinh nghiêm” hoặc “tư tưởng kín nhiệm”, đó là
dùng ư nghĩa thế gian để nói. Thật ra, Phật
pháp ĺa khỏi tâm ư thức, chẳng thuộc vào tư
tưởng, nhưng những đạo lư trong ấy quả
thật có tầng lớp, thứ tự, có hệ thống
mạch lạc, chẳng rối ren một tí nào, Lư và Sự
đều là như thế.
Tuy
trong toàn bộ vũ trụ, sâm la vạn tượng là vô
lượng, vô biên, nhưng chẳng loạn. Người
thế gian trông thấy t́nh h́nh này cảm thấy lạ
lùng, [tin rằng] nhất định có người nào
đó sắp đặt. Nếu không có ai sắp đặt,
v́ sao chúng có trật tự tốt đẹp dường ấy?
Ai sắp đặt? Do vậy, bèn vọng tưởng cho
rằng nhất định phải có một vị thần,
có một Thượng Đế sắp xếp. Thật
ra, họ chẳng biết vạn pháp vốn có sẵn trật
tự. Trong kinh điển, đức Phật dạy chúng
ta vũ trụ h́nh thành, phát triển theo thứ tự thuận,
chẳng rối loạn. Từ nhất niệm Chân Như
bổn tánh bất giác mà có vô minh. Vô minh bất giác sanh ra Tam
Tế, cảnh giới làm duyên tăng trưởng Lục
Thô[3],
phát triển theo từng tầng một, chẳng loạn!
Khi Phật pháp chưa truyền đến Trung Quốc, cổ
nhân Trung Quốc cũng dường như thấu hiểu
đạo lư này. Cội gốc của văn hóa Trung Quốc
là kinh Dịch, có thể nói cả sáu kinh [của Nho gia]
đều là chú giải của kinh Dịch. Kinh Dịch giảng
về duyên khởi của vũ trụ như sau: “Thái Cực sanh Lưỡng Nghi,
Lưỡng Nghi sanh Tứ Tượng, Tứ Tượng
sanh Bát Quái, Bát Quái sanh vạn vật”[4],
cũng rất có trật tự, cũng mạch lạc, chẳng
rối ren. Người Trung Quốc không nói tới thần
thoại [sáng tạo thế gian], không nói có một người
nào an bài [vũ trụ]. Cách quan sát này hết sức gần
gũi với cách quan sát trong Phật pháp.
Nhưng
không có lời nói và văn tự, sẽ không có cách nào thể
hiện những chân lư trong vũ trụ, không có cách nào truyền
đạt khiến cho người khác cũng có thể
quán sát giống như vậy. V́ thế, lời nói, văn
tự rất quan trọng. Thuở Phật tại thế,
lấy âm thanh làm giáo thể, Giáo là dạy học, dùng ǵ
để dạy học? Dùng ngôn ngữ. Sau khi Phật diệt
độ, hàng đệ tử kết tập tất cả
những lời Phật nói, ghi chép thành kinh điển. Hiện
thời, chúng ta học Phật dùng kinh điển làm sách
giáo khoa. Nhất là trong thời đại hiện tại,
nhất định phải ghi nhớ Tứ Y Pháp của
Phật. “Y pháp, bất y nhân”:
Pháp là kinh điển, phải lấy kinh điển làm
căn cứ, đối với kinh điển, tin sâu chẳng
nghi, phải tích cực nghiên cứu, tu học. Chúng ta muốn
hiểu rơ nghĩa chân thật của vũ trụ nhân sinh,
hiểu rơ chân lư thật sự ấy th́ nhất định
phải đọc kinh, phải nghiên cứu. “Hoán nhiên khả quán” (rơ ràng có
thể thấy được): “Hoán
nhiên” có nghĩa là hết sức rơ ràng, giống như
ánh lửa, ánh sáng của ngọn lửa có độ sáng rất
lớn, từ đằng xa cũng có thể trông thấy
được.
(Diễn)
Nhiếp giả, nhiếp tŕ nhất thiết chúng sanh.
Nhược vô ngữ ngôn, bất năng khai hiểu chúng
sanh xuất sanh tử hải, cố vân Nhiếp.
(演) 攝者,攝持一切眾生。若無語言,不能開曉眾生出生死海故云攝
(Diễn:
Nhiếp là thâu giữ hết thảy chúng sanh. Nếu không
có ngôn ngữ, sẽ chẳng thể chỉ bày khiến cho
chúng sanh thông hiểu, thoát khỏi biển sanh tử, nên gọi
là Nhiếp).
“Nhiếp” (攝) là “nhiếp tŕ nhất thiết chúng sanh”. Nói
đơn giản, Nhiếp giống như một sức
mạnh mà chúng ta gọi là “sức hấp dẫn”. Quư vị
không tiếp xúc sẽ chẳng thể cảm nhận
được. Hễ tiếp xúc rồi sẽ thường
mong được thân cận, muốn bỏ cũng chẳng
được, có ư vị như thế th́ gọi là Nhiếp.
Kinh điển quả thật là như thế. Nếu quư
vị mở quyển kinh ra, đúng là muốn bỏ chẳng
được. Xem một lần hoan hỷ, xem lần thứ
hai càng hoan hỷ hơn, xem mười lần, hai
mươi lần, một ngàn lần, một vạn lần,
xem vĩnh viễn chẳng chán. Đó là Nhiếp. Quư vị
đọc báo chí, xem một lần xong, c̣n có thể đọc
lần thứ hai hay không? V́ sao? Những loại văn
chương ấy không có chữ Nhiếp này. Nhiếp là muốn
bỏ mà chẳng thể được, v́ sao kinh Phật
có sức mạnh lớn như thế? V́ trong kinh có vô
lượng nghĩa. Đọc một lần phát hiện
đôi chút, đọc lần nữa, lại phát hiện một
chút nữa. Đọc mỗi ngày đều có phát hiện
mới, không chết cứng mà sống động. Kinh có
cách giảng nhất định hay chăng? Thưa quư vị,
kinh không có cách giảng nhất định, v́ nếu có cách
giảng nhất định sẽ trở thành chết cứng.
Ở nơi đây, chúng tôi giảng bộ kinh này, lần
thứ nhất là ư nghĩa này, lần thứ hai lại là một
ư nghĩa mới, lần thứ ba lại là một ư
nghĩa mới khác nữa; mỗi lượt đều
khác nhau. Nếu mỗi lần giảng đều dùng
văn Bạch Thoại để chép lại sẽ chết
cứng. Thứ [văn chương] chết cứng ấy
không có sức Nhiếp, mà Thường và Pháp cũng chẳng
có, nhiều nhất chỉ được Quán. Trong bốn
ư nghĩa chỉ có được ư nghĩa này, ba thứ
kia đều không có. Do vậy, mỗi lượt giảng
kinh đều có ư nghĩa mới.
Kinh
Phật có cách giảng nhất định hay chăng? Không
có cách giảng nhất định! Kinh Phật không có ư
nghĩa[5],
Bát Nhă vô tri, chúng ta bàn nói, thảo luận: Vô lượng
nghĩa, không có ǵ chẳng biết. Do vậy, học Phật
chẳng thể chấp chết cứng vào mỗi ḍng
văn tự, đừng chấp chết cứng nơi
ngôn ngữ, muôn vàn phần chớ nên chấp trước. Nhất
định phải nhớ lời dạy của Mă Minh Bồ
Tát trong Khởi Tín Luận, “ly
ngôn thuyết tướng, ly danh tự tướng, ly tâm
duyên tướng”. Ly tâm duyên tướng là trong tâm chẳng
dấy lên ư nghĩ, chẳng động niệm, không phân
biệt, không chấp trước, nghe rất rơ ràng, nghe
thông suốt. Nghe pháp như thế sẽ khai ngộ. Nghe
không hiểu [bèn vọng tưởng] “tôi suy tưởng sẽ
hiểu ngay”, càng nghĩ càng hỏng bét! Suy tưởng là rớt
vào thứ thức sáu, rớt vào vọng tưởng. Vọng
tưởng th́ làm sao khai ngộ cho được? Vọng
tưởng chướng ngại ngộ môn, chẳng thể
khai ngộ. Ngộ là vừa tiếp xúc liền hiểu rơ rỗng
rang, đó là Ngộ. Hễ thông qua suy nghĩ, phán xét, sẽ
rớt vào tâm ư thức. Khai ngộ kiểu đó là Thế
Trí Biện Thông, chẳng phải là thật sự khai ngộ.
Thật sự khai ngộ chẳng dùng tới tâm ư thức.
Nếu quư vị ĺa tâm ư thức để đọc kinh
th́ ư vị vô cùng, đúng là khoái lạc khôn sánh. Do vậy, kinh
Phật có sức nhiếp tŕ hết thảy chúng sanh.
“Nếu không có ngôn ngữ, sẽ
chẳng thể chỉ bày làm cho chúng sanh thông hiểu,
vượt thoát biển sanh tử, nên gọi là Nhiếp”:
Phật nhiếp thọ chúng sanh là dùng ngôn giáo nói với thế
giới Sa Bà, chúng sanh trong thế giới Sa Bà Nhĩ Căn
nhanh nhạy nhất. Do vậy, dùng âm thanh làm Phật sự.
Chúng ta đọc, chẳng nh́n thấy rơ ràng, c̣n nghe sẽ
dễ dàng giác ngộ, dễ thấu hiểu. Thích Ca Mâu Ni dạy
học tại Ấn Độ, Khổng Tử dạy học
tại Trung Quốc, đều lấy âm thanh làm giáo thể.
(Diễn) Thiên
diệp lương quy, bách linh thường quỹ, thuyên
chân lợi vật, mục vi Kinh dă.
(演)千葉良規,百靈常軌,詮真利物,目為經也。
(Diễn:
Khuôn phép tốt lành trên ngàn cánh sen, đường lối
thường hằng của bách linh, nói lẽ chân, lợi
ích chúng sanh, th́ gọi là Kinh vậy).
Mấy
câu này là tổng kết, chữ “thiên
diệp” chỉ Lô Xá Na Phật, tức là như kinh Phạm
Vơng nói, Lô Xá Na Phật ngồi trên hoa sen ngàn cánh. “Lương quy” là khuôn mẫu
tốt đẹp nhất, tức là kinh điển. Chữ
“bách linh” chỉ Phật, Bồ
Tát, cho đến hết thảy thiên long bát bộ muốn
xuất ly tam giới, muốn phá mê khai ngộ, đều
phải nương theo kinh điển. Lời nói, văn tự
là pháp phương tiện. Trong những pháp phương tiện,
có những điều chân thật, th́ gọi là “thuyên chân”. Pháp thế gian
thường nói “văn dĩ tải
đạo” (văn có thể chở đạo), đạo
là thật, đạo ở chỗ nào? Đạo ở trong
văn, nhưng phải hiểu: Văn trọn chẳng phải
là đạo, đạo quả thật ở trong văn,
nhưng văn lại chẳng phải là đạo. Đạo
thật sự ở trong ngôn ngữ, nhưng ngôn ngữ chẳng
phải là đạo. Quư vị phải thấu hiểu ư
nghĩa này.
Giống
như tấm bia chỉ đường. Bia chỉ
đường đặt nơi nào đó, chỉ về
con đường nào th́ gọi là đường đó; nhưng
tấm bia ấy hoàn toàn chẳng phải là con đường,
mà để chỉ phương hướng. Quư vị
đi theo phương hướng ấy, nhất định
sẽ đến được con đường ấy.
Kinh Lăng Nghiêm nói đến chuyện chỉ mặt
trăng, ngón tay dùng để chỉ không phải là mặt
trăng; dơi theo ngón tay chỉ, nhất định sẽ có
thể thấy được mặt trăng. Thiền
Tông có bộ sách Chỉ Nguyệt Lục. Lời nói, văn
tự là “ngón tay”, quư vị muốn điều ǵ? Muốn
thấy mặt trăng, chứ đâu có muốn ngón tay! Ĺa
khỏi ngón tay ấy, quư vị sẽ chẳng thấy
được mặt trăng, ắt phải dựa vào ngón
tay ấy để ngộ được vầng
trăng. Phật pháp là như vậy đấy. Do vậy,
quư vị học Phật th́ phải học pháp chân thật,
ắt cần đến lời nói, cần đến
văn tự. Lục Tổ đại sư không biết
chữ, nhưng là người thật sự đạt
được mặt trăng. Không biết chữ
đương nhiên chẳng thể giảng kinh, nhưng
quư vị cầm kinh đọc cho Ngài nghe, Ngài sẽ giảng
cho quư vị nghe, có thể giảng cho quư vị khai ngộ.
Sự cao minh ấy gọi là “giảng
kinh thật sự”.
Người
chẳng biết giảng kinh đem bộ kinh này giảng
đến mức hoa trời rơi tán loạn, khiến
cho thính chúng càng nghe càng mê hoặc, càng nghe càng điên đảo,
người ấy chẳng phải là khéo nói! Người
khéo nói, chỉ miêu tả sơ sài sẽ khiến quư vị
“đại triệt đại ngộ”, biết giảng
là như vậy đấy! Như thế nào th́ mới biết
giảng? Ắt phải là chính ḿnh đă thật sự chứng
th́ quư vị mới biết. Chính ḿnh chưa thật sự
thấy, ṃ mẫm theo văn tự th́ làm sao thật sự
có cái ǵ để ban tặng, chỉ dạy người
khác? Làm chẳng được chuyện ấy! Do có những
thứ chân thật trong ấy, có thể làm cho người
khác ngộ nhập, đó gọi là “lợi vật”. Chữ “vật” sử dụng rất khéo, chẳng nói là “lợi người”. Nếu
nói nhân hoặc nhân thiên th́ trong mười pháp giới chỉ
bao gồm hai loại, chẳng thể bao gồm những
pháp giới khác. Nói “vật”
th́ toàn bộ hữu t́nh chúng sanh đều bao gồm trong ấy.
Có như vậy th́ mới có thể gọi là Kinh.
Kinh ắt phải hội đủ bốn
điều kiện Thường, Pháp, Quán, Nhiếp. Học
thuật, văn chương, ngôn thuyết thế gian đạt
tới tiêu chuẩn tối cao th́ chỉ có thể đạt
được một trong bốn tiêu chuẩn này tức
là Quán, chứ ba điều kia không hề có. Sách thế
gian dẫu hay đến mấy, đọc măi cũng chán,
đọc đến cuối cùng chẳng muốn xem nữa.
V́ sao vậy? Ư nghĩa có khi hết, chẳng giống
như kinh Phật: Ư nghĩa trong kinh Phật không hề
cùng tận, càng đọc càng vui sướng. Chúng ta tŕnh
độ nông cạn, đọc sách Khổng Tử một
lượt, hai lượt sẽ ngủ gục, [cảm
thấy] khô khan, vô vị. Đọc kinh Phật càng chẳng
cần phải nói nữa, do nguyên nhân nào? Chưa thấu hiểu
được ư vị ấy, không thưởng thức
được! Đưa đường ngọt ngào cho
quư vị, vừa nếm liền cảm nhận ngay, khá lắm!
Học sinh tiểu học đọc sách dành cho cấp tiểu
học cảm thấy rất hứng thú, nhưng học
sinh trung học chẳng muốn xem, không có ư vị ǵ hết!
Kinh Phật đạt tiêu chuẩn tối cao trong hết
thảy các thứ sách vở, xưa nay, những vị tổ
sư đại đức sợ chúng ta chẳng đủ
tŕnh độ, chẳng thể thưởng thức pháp vị,
nên soạn thêm chú giải nhằm giúp đỡ. Vẫn sợ
chú giải c̣n quá sâu, quư vị vẫn chưa thể thưởng
thức ư vị được; v́ vậy, lại viết
chú giải cho sách chú giải. [Do đó], đă có Sớ lại
c̣n có Sao, lại có Diễn Nghĩa, giải thích theo từng
tầng một. Sợ các vị đồng học vẫn
chưa thưởng thức được ư vị, tôi thưởng
thức đôi chút, bèn thưa tŕnh cùng quư vị tại
nơi này, không ǵ chẳng nhằm khuyên dụ, hướng
dẫn quư vị đích thân thưởng thức pháp vị
th́ quư vị mới thật sự đạt được
“pháp hỷ sung măn”.
(Diễn) Hựu thử kinh,
Đường dịch vi Xưng Tán Tịnh Độ Phật
Nhiếp Thọ Kinh, kim vi thử danh giả, dĩ Phật
danh nhân sở nhạo văn, hựu nhất thiết
công đức, ngôn Phật tiện châu cố.
(演) 又此經,唐譯為稱讚淨土佛攝受經。今為此名者,以佛名人所樂聞,又一切功德,言佛便周故。
(Diễn: Lại nữa, bản dịch đời
Đường đề tên kinh này là Xưng Tán Tịnh
Độ Phật Nhiếp Thọ Kinh, nay kinh mang tên này (Phật
Thuyết A Di Đà Kinh) là dùng danh hiệu của vị Phật
mà mọi người thích nghe [để đặt tên].
Hơn nữa, đối với hết thảy công đức,
hễ nói “Phật” th́ sẽ trọn đủ).
Đây là nói về kinh này. Bản kinh [được
dùng để chú giải ở đây] do Cưu Ma La Thập
đại sư dịch vào đời Diêu Tần. Khi Huyền
Trang đại sư sang Ấn Độ, mang theo thái độ
hoài nghi ra đi. Ngài đúng là một vị có chuẩn mực
học vấn cũng như tu hành cao nhất. Kinh điển
dịch từ tiếng ngoại quốc sang tiếng Hán, nếu
lỡ dịch sai, chúng ta chiếu theo đó tu học, chẳng
phải là oan uổng ư? Tuy người phiên dịch tội
lỗi vô lượng, bản thân chúng ta chịu thiệt
tḥi quá lớn. Hiện thời, bao nhiêu người hoài nghi
kinh Phật. Những bản dịch thời ấy rốt
cuộc là đáng tin tưởng hay không? Do vậy, hiện
thời có những người muốn t́m kinh điển bằng
tiếng Phạn để đọc, đọc trực
tiếp từ nguyên bản. Thật ra, t́m được
nguyên văn kinh điển rồi, quư vị đọc có
hiểu hay chăng? Tuy đọc thông suốt văn tự,
nhưng ư nghĩa nằm ngoài ngôn ngữ, chẳng thuộc
trong văn tự, sẽ phiền phức rất lớn. Huyền
Trang đại sư mang nỗi hoài nghi ấy, sợ cổ
nhân như La Thập đại sư phiên dịch chẳng
đáng tin cậy cho lắm, nên đích thân sang Ấn Độ,
ở lại Ấn Độ suốt mười bảy
năm. Thời gian ra đi và trở về tổng cộng
mười chín năm. Thuở ấy, cưỡi ngựa,
đi đường bộ, giao thông chẳng
thuận tiện, từ Ấn Độ đến [kinh
đô] Trường An của Trung Quốc gần như
đi mất một năm mới tới nơi, đi về
mất mười chín năm. Ngài trở về, đối
với kinh điển do cổ đức đă dịch chẳng
nói một câu nào, hoàn toàn chính xác. Nguyên bản kinh A Di Đà,
tức bản tiếng Phạn, tại Ấn Độ
Ngài đă từng xem, cũng đem về, chính ḿnh
cũng phiên dịch một lượt. Kinh dùng để
phiên dịch lần này là cùng một bản tiếng Phạn
[với bản của ngài La Thập dịch], Huyền
Trang đại sư dịch một lần nữa mang tựa
đề là Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp
Thọ Kinh. Nguyên bản giống nhau, do hai người dịch
nên lời dịch khác nhau, nhưng ư nghĩa trong ấy quyết
định là giống nhau.
Con người hiện thời đúng là “cang cường nan hóa”
(ương ngạnh, khó giáo hóa) như kinh Địa Tạng
đă nói, cảm t́nh quá nặng, đấy chính là căn bản
của luân hồi sanh tử. Lần này chúng tôi đặc
biệt in bản chú giải kinh A Di Đà của Khuy Cơ
đại sư cúng dường quư vị, Ngài chú giải
rất hay. Tôi biếu tặng bản chú giải ấy là
v́ c̣n có một ư nghĩa sâu xa hơn: Nhắc nhở quư vị
“y pháp, bất y nhân”. Ngài Huyền
Trang là thân giáo sư của ngài Khuy Cơ, tức là thầy
ngài Khuy Cơ. Khuy Cơ là đồ đệ đắc ư
nhất của Huyền Trang đại sư, là người
kế thừa. Thầy phiên dịch kinh A Di Đà, Ngài muốn
soạn chú giải, chọn dùng bản dịch của ngài
Cưu Ma La Thập, chẳng dùng bản dịch của thầy
ḿnh. Nếu là hiện thời, nhất định thầy
sẽ rất cáu kỉnh: “Đối với bản dịch
của ta, ngươi là đồ đệ, chú giải
kinh bèn chẳng dùng bản dịch của ta, lại dùng bản
dịch của Cưu Ma La Thập để làm chi? Khác nào
chê bản dịch của ta không bằng bản dịch của
Cưu Ma La Thập?” Bản chú giải ấy cũng
được Huyền Trang đại sư vui vẻ chấp
nhận, không nổi nóng, không trách móc. Ngài Khuy Cơ chẳng
dùng bản dịch của thầy, mà dùng bản dịch của
Cưu Ma La Thập, đấy là “y pháp, bất y nhân”. Trong hiện tại, nhất
định Ngài sẽ dùng bản dịch của thầy, chẳng
dùng bản dịch của cổ đại đức, v́
sao? Thói quen t́nh cảm mà! Theo thói quen t́nh cảm sẽ chẳng
thể liễu sanh tử được!
Lăo nhân gia thị hiện như vậy nhằm
dạy chúng ta “y pháp, bất y
nhân”. Bản dịch của thầy cũng hay như bản
dịch của cổ nhân. Tuy hay như nhau, nhưng bản
của cổ nhân đă được lưu thông, vậy
th́ dùng bản của cổ nhân. Bản dịch của Huyền
Trang đại sư được đưa vào Đại
Tạng Kinh, chứ không lưu thông riêng lẻ. Điều
này ban cho bọn chúng sanh đời sau như chúng ta một
khải thị rất lớn: Ngày nay chúng ta bái một vị
nào làm thầy, thầy tṛ khó thể chia cắt. Quư vị
thấy người ta như thế nào? Người ta hết
thảy v́ pháp, như vậy là đúng. Do vậy, ở chỗ
này đặc biệt nêu ra: [Kinh này] có bản dịch khác của
Huyền Trang đại sư, Phật vốn đặt
tên cho kinh này Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp
Thọ Kinh, ư nghĩa nguyên thủy trong tiếng Phạn là
như vậy; nhưng La Thập đại sư chẳng
dùng tựa đề kinh do Thích Ca Mâu Ni Phật đă đặt,
Ngài dùng danh hiệu A Di Đà Phật làm tựa đề
kinh. Đấy là một sáng tạo của La Thập đại
sư. Ngài phiên dịch rất nhiều kinh, đều chiếu
theo tên kinh do đức Phật đă đặt, chỉ
khi dịch kinh này, Ngài hoàn toàn chẳng dùng tên kinh do đức
Phật đă đặt, mà tự ḿnh lấy danh hiệu A
Di Đà Phật để đặt tên kinh. Đây cũng
là một kiến giải đặc biệt, độc
đáo của Ngài.
Ngài có lư riêng, đạo lư
ǵ vậy? “Phật danh nhân sở
nhạo văn” (danh hiệu của vị Phật
được mọi người thích nghe): Nhạo (樂) là yêu thích. Danh hiệu A Di Đà Phật được
mọi người thích nghe, thích niệm, yêu thích ư nghĩa
sau đây: Vô Lượng Giác. Chúng ta niệm danh hiệu vị
Phật này tức là trong mỗi niệm nhắc nhở
chính ḿnh phải giác chứ đừng mê. Ví như mắt của
chúng ta thấy Sắc, khởi lên một niệm tâm tham, liền
A Di Đà Phật! Đấy là vô lượng giác. Tâm tham
là mê, một câu A Di Đà Phật, tâm tham chẳng c̣n nữa,
giác rồi, giác là chẳng mê nữa. Sáu căn tiếp xúc cảnh
giới sáu trần, vừa mới khởi tâm động
niệm, bèn A Di Đà Phật! Ngay lập tức vọng niệm
ấy bị đè xuống. Đấy là vô lượng vô
biên công đức. Do vậy, danh hiệu Phật là tu hành,
nhắc nhở bản thân quư vị thời thời khắc
khắc, ở bất cứ nơi đâu, thuận cảnh
hay nghịch cảnh đều phải giác, đừng mê.
“Hựu nhất thiết công
đức, ngôn Phật tiện châu cố” (Lại nữa, hết
thảy công đức, hễ nói Phật sẽ trọn
đủ). Phật chứng được công đức
viên măn rốt ráo. Phật là ǵ? Phật là giác, trong giác tánh vốn
sẵn trọn đủ hết thảy công đức. Lư
và Sự đều phải hiểu rơ. Trên mặt Sự,
chúng ta trông thấy tượng Phật, lập tức hiểu
rơ, phải giác ngộ, phải cầu giác ngộ. Phật
tượng trưng cho Giác, A Di Đà Phật tượng
trưng Vô Lượng Giác. Giới thiệu tựa đề
kinh đến đây. Ở đây là nói đại lược,
trong phần sau sẽ nói cặn kẽ.
(Diễn) Sớ giả, sớ dă, thông dă.
(演) 疏者,疏也,通也。
(Diễn: Sớ là giải thích, làm cho thông suốt).
“Sớ” là giải
thích thông suốt.
(Diễn) Vị kinh trung nghĩa lư thậm thâm vi diệu.
(演) 謂經中義理甚深微妙。
(Diễn: Ư nói
nghĩa lư trong kinh vi diệu rất sâu).
Đây là sự thật, câu này chẳng sai tí
nào.
(Diễn) Vị dị khuy trắc cố.
(演) 未易窺測故。
(Diễn: Chưa dễ suy lường để
thấu hiểu đôi chút được).
Người thường đúng là không có cách
nào thấu hiểu; v́ vậy, trong kinh Hoa Nghiêm có chép: “Phật pháp vô nhân thuyết, tuy trí
mạc năng giải” (Phật pháp không có ai nói, dẫu
là người có trí cũng chẳng thể hiểu
được). Trí ấy chính là Thế Trí Biện Thông. Những
người như tiến sĩ trong thế gian cũng chẳng
hiểu Phật pháp, v́ sao? V́ những vị tiến sĩ
rớt vào tâm ư thức, họ là phàm phu. Phật pháp là ĺa
tâm ư thức; ngôn ngữ và văn tự của Phật pháp
từ trong Chân Như bổn tánh lưu lộ. Người
thông minh trí huệ trong thế gian dùng tâm ư thức; công
năng của ư thức hết sức lớn, đối
với bên ngoài, nó duyên tận hư không, khắp pháp giới,
đối với bên trong, nó duyên tới thức thứ
tám, nhưng chẳng thể duyên bổn tánh. Do vậy, dùng
cái tâm ư thức để tu hành sẽ chẳng thể kiến
tánh. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật nói rất hay:
Dùng cái tâm ư thức để tu hành, tu chánh xác nhất, không
đi sai đường, đúng lư, đúng pháp, chỉ có
thể chứng đắc A La Hán hay Bích Chi Phật mà thôi,
chẳng thể thấy tánh. Điều này giảng rơ v́
sao kẻ Thế Trí Biện Thông chẳng hiểu Phật
pháp. Đừng nói là kẻ Thế Trí Biện Thông trong nhân
gian không có cách nào hiểu, ngay cả chư thiên thông minh trí
huệ cũng không có cách nào! Vậy th́, ai có thể nói
được? Người minh tâm kiến tánh, người
như vậy sẽ nói được, không sai! Người
ấy thật sự thông đạt, v́ sao? Chính người
ấy chứng đắc. Phật thấy được
tánh, người ấy cũng thấy được. Phật
thấy viên măn, c̣n người ấy thấy một phần,
hai phần, vẫn là thật, chẳng phải giả. Do vậy,
người ấy và Phật có cùng một tri kiến, chánh
tri, chánh kiến. Người như vậy mới có thể
giảng kinh, mới có thể chú giải kinh.
Từ trước đến nay, cổ đức
chẳng dám khinh dễ cất bút chú giải kinh điển,
v́ sao? Sợ trách nhiệm nhân quả, sợ sai một chữ
chuyển ngữ phải đọa làm thân chồn hoang
năm trăm đời. Lầm một chữ mà phải
chịu quả báo lớn như vậy, nếu sai lầm
ư nghĩa th́ sẽ như thế nào đây, không xong rồi!
Trước kia, người ta tin nhân quả, sợ nhân quả,
cho nên chú tâm cẩn thận. Thật sự có ngộ xứ,
có kiến địa, thấy tánh rồi mới dám [chú giải].
Sau khi minh tâm kiến tánh, quư vị nhất định phải
hoằng kinh. Quư vị không hoằng kinh th́ chẳng xứng
với chư Phật, Bồ Tát. Chưa đạt đến
tŕnh độ ấy th́ quư vị phải tự tu, đấy
là Bồ Tát. Sau khi đă đến tŕnh độ ấy,
nhất định phải lợi ích chúng sanh, phải
lưu thông đại pháp. Đó gọi là Bồ Tát đạo,
là Bồ Tát hạnh. Giảng kinh cũng giống như vậy,
không có kiến địa sẽ chẳng thể giảng.
Đến hiện tại th́ sao? Người giảng kinh
chúng ta có phải là đại triệt đại ngộ,
minh tâm kiến tánh hay chưa? Chưa hề! Chưa hề
th́ đúng là to gan làm càn rồi, cũng giảng kinh ở nơi
đây. Thật ra, chúng tôi ở trên giảng đài đă
nhiều năm như vậy, đă sớm nói rơ ràng với
quư vị: Tôi không phải là giảng kinh mà là học kinh,
không dám nói là “giảng”, mà là đang học tập. Cách học
tập như thế nào? Chiếu theo lời cổ đức
chú giải để giảng, chẳng phải là giảng
kinh, mà là giảng lời chú giải của cổ nhân. Lời
chú giải của cổ nhân viết bằng văn Văn
Ngôn, chúng tôi dùng ngôn ngữ thông thường để chuyển
thành văn Bạch Thoại, trên giảng đài chỉ dịch
lại lời cổ nhân mà thôi, chẳng dám nói là giảng
kinh, đương nhiên cũng chẳng dám nói tới chuyện
chú giải kinh.
(Diễn)
Dĩ sớ sớ thông, sử vô nghi trệ dă.
(演) 以疏疏通,使無疑滯也。
(Diễn: Dùng lời sớ để giải thích
thông suốt, khiến cho [người đọc kinh] không
bị nghi ngờ, vướng mắc [đối với
những ư nghĩa rất sâu vi diệu ấy])
Nghĩa lư rất sâu, dùng lời sớ để
giải thích thông suốt, dùng lời sớ để giúp
chúng ta phá trừ nghi hoặc, thúc đẩy chúng ta hướng
thượng, chẳng đến nỗi ở lỳ trong
cảnh giới ấy.
(Diễn) Hựu diệc sớ lư chi nghĩa, cổ
vân: “Nhân hữu phát hề, đán đán sớ lư, thân hữu
tâm hề, hồ bất như thị”.
(演)又亦疏理之義。古云,人有髮兮,旦旦疏理,身有心兮,胡不如是。
(Diễn: Lại nữa, Sớ c̣n có
nghĩa là “chải gỡ, sắp xếp”. Cổ nhân nói: “Người có đầu tóc, chải gỡ
mỗi sáng, thân có cái tâm, sao chẳng làm vậy?”).
Đây
là dùng tỷ dụ để nói. Cổ nhân thường để
tóc dài, hằng ngày phải chải gỡ đầu tóc; chẳng
chải đầu, tóc sẽ rối bù. Quư vị biết
chải gỡ đầu tóc cho gọn gàng tề chỉnh,
quư vị có tâm th́ trong tâm từ sáng đến tối ngàn
muôn đầu mối, rối loạn lung tung, c̣n phiền
phức hơn là đầu tóc, v́ sao chẳng chải, chẳng
gỡ? Chữ Sớ mang ư nghĩa ấy! Quư vị hăy chỉnh
sửa những loạn tưởng khiến cho tâm có lớp
lang, thứ tự.
(Diễn) Kim năi sớ lư kinh trung áo lư, sử nhân đắc
khai thông tâm địa dă.
(演) 今乃疏理經中奧理,使人得開通心地也。
(Diễn: Nay bèn sắp xếp gọn gàng
những lư uyên áo trong kinh khiến cho tâm địa con
người được khai thông).
Đây là nói rơ ư nghĩa v́ sao cổ
nhân viết Sớ: Nhằm sắp xếp, hệ thống
những đạo lư uyên áo, nhiệm mầu trong kinh, xếp
đặt mạch lạc từng điều một nhằm
giới thiệu với chúng ta, khiến cho bọn hậu
học chúng ta đọc xong sẽ tâm khai, ư giải, hiểu
rơ thông suốt những nghĩa lư trong kinh. Chữ Sớ
mang ư nghĩa này, tức là chú giải kinh vậy.
(Diễn)
Sao giả, sao lược dă.
(演) 鈔者,抄略也。
(Diễn:
Sao là chú giải sơ lược).
“Sao”
là chú giải giản lược, không phải là chú giải
cặn kẽ. Chú giải giản lược gọi là Sao,
tức là ghi chép lặt vặt, viết bút kư.
(Diễn)
Tùy thuận bổn sớ lược gia giải thích.
(演) 隨順本疏略加解釋。
(Diễn:Thuận
theo lời sớ giải chánh yếu mà giải thích sơ
lược thêm).
Do Sớ là chú giải kinh, sợ
trong lời Sớ c̣n có chỗ khó hiểu, bèn chú giải giản
lược những câu, chữ khó, tức là chú giải lời
chú giải. “Sớ” nhằm
chú kinh, tức là chú giải lời kinh. “Sao” nhằm chú sớ, tức là chú giải lời
Sớ.
(Diễn)
Sử kinh sớ diệu nghĩa hoán nhiên băng thích dă.
(演) 使經疏妙義渙然冰釋也。
(Diễn: Khiến cho những
diệu nghĩa trong lời sớ giải kinh được
sáng tỏ, rành mạch).
Khiến cho chúng ta càng đọc
càng hiểu rơ. Ngày nay chúng ta đọc Diễn Nghĩa, Diễn
Nghĩa là chú giải lời Sao. Trong lời chú giải lại
có lời chú giải nữa, tức là đối với lời
chú giải lại có lời giải thích, tức là trong lời
chú giải c̣n có lời chú giải, rồi từ bục giảng,
chúng tôi lại giải thích thêm nữa, tức là bốn tầng
chú giải. Cho thấy ư nghĩa trong kinh thật sự quá
sâu, quá vi diệu. Do vậy phải chú giải nhiều lần.
Chúng ta nh́n thấy rất phức tạp, nhưng có đầu
mối, có mạch lạc.
Chúng ta dùng công phu ba năm để
đọc bộ A Di Đà Kinh này, ba năm không lâu đâu!
Trong ba năm, quư vị thật sự thông đạt những
nghĩa lư vi diệu rất sâu trong kinh A Di Đà, tín tâm kiên
cố, đầy đủ ba món tư lương Tín - Nguyện
- Hạnh, sẽ thành Phật trong một đời.
Người ta thành Phật phải mất ba đại
A-tăng-kỳ kiếp, quư vị ba năm thành Phật, có
pháp nào nhanh bằng như vậy? Trong cuốn Thông Tán Sớ,
đại sư Khuy Cơ nói: “Pháp
môn này là đại pháp viên đốn, rất nhanh chóng”.
Trong tám vạn bốn ngàn pháp môn, pháp nào có thể thành tựu
trong ba năm? Pháp môn này nhất định thành tựu
trong ba năm! Quư vị có thể đọc Tịnh Độ
Thánh Hiền Lục, Văng Sanh Truyện, xưa nay những
người tu hành pháp này ba năm thành công nhiều lắm.
Tôi nói như vậy sẽ có những người lần
sau không dám đến nữa, v́ sao vậy? Ba năm sau phải
chết rồi, thọ mạng chỉ c̣n ba năm, không dám
đến đạo tràng này nữa, hoảng hồn bỏ
chạy mất. Nói cách khác, quư vị vẫn c̣n tham luyến
thế giới Sa Bà này, tuy cơi Cực Lạc của A Di
Đà Phật tốt đẹp nhưng hiện thời vẫn
chưa muốn sang đó, vẫn bằng ḷng chịu tội
nhiều năm ở nơi đây. Nơi kia, cơm áo tự
nhiên, sống trong nhà cửa là cung điện bằng bảy
báu, dưới đất chẳng phải là lát đá vụn
mà là đất lưu ly. Mặt đường chẳng rải
nhựa, mà lót bằng vàng ṛng, vàng ṛng làm đất. Nơi
tốt đẹp như vậy vẫn chẳng muốn
đến, c̣n có cách nào nữa đây?
Quư vị phải biết ba
năm quyết định thành tựu, thành tựu như
thế nào? Thành tựu là tự tại. Sau khi thành tựu
muốn đi là đi, muốn ở lại bao nhiêu ngày sẽ
ở lại bấy nhiêu ngày, đó là tự tại. Nói cách
khác, sống chết chẳng c̣n nữa, đến đi tự
do. Sau khi thành công, không ra đi chẳng phải v́ lưu luyến
thế giới này, mà là hy vọng dẫn thêm mấy người
cùng đi. Một người ra đi rất tốt đẹp,
ở bên đó sẽ hoan nghênh quư vị; dẫn cả một
nhóm người đến đó, bên đó sẽ nồng
nhiệt hoan nghênh đón tiếp quư vị, càng tốt đẹp
hơn. Hy vọng sau khi quư vị thành công sẽ dẫn nhiều
người đi theo, đấy là hoằng dương
pháp môn này, khuyên khắp mọi người tu học pháp
môn này, sau khi tự lợi nhất định lợi tha.
Chúng ta cầu nhất tâm bất loạn. Nếu chẳng
thông đạt Lư, quư vị sẽ có chướng ngại,
khó đạt được nhất tâm. Chẳng hiểu
phương pháp, chẳng hiểu rơ cảnh giới, toàn bộ
đều bị chướng ngại. Trong ba năm ấy,
chúng ta phải giải quyết vấn đề, phải hiểu
rơ lư luận, thật sự hiểu rành phương pháp, hiểu
rơ cảnh giới. Thuận cảnh hay nghịch cảnh
đều là Tăng Thượng Duyên để chúng ta tu học
nhất tâm bất loạn th́ trên con đường Bồ
Đề chúng ta sẽ thuận buồm xuôi gió, không có bất
lợi ǵ. Đấy là điều phải nên sốt sắng
tu học.
Tiếp theo đây, sách Diễn
Nghĩa giảng chữ Quyển. Sớ Sao chỉ gồm
bốn quyển, quyển thứ năm là Sự Nghi, hiện
thời gọi [phần Sự Nghi] là tư liệu tham khảo.
(Diễn)
Quyển giả, quyển hoài chi nghĩa, nhất trục
chi trung
bao hàm vô tận nghĩa lư, vô lượng pháp môn cố.
(演) 卷者,卷懷之義,一軸之中包含無盡義理、無量法門故。
(Diễn: “Quyển” nghĩa
là cuốn lại, chứa đựng. Trong một quyển bao gồm vô
tận nghĩa lư, vô lượng pháp môn).
Sách thời
cổ không đóng thành tập như hiện thời, [khi
xưa] vẫn chưa có [cách ấy]. Thời Liên Tŕ đại
sư, sách được đóng thành cuốn rất
hiếm, phần lớn là [in thành một trang dài] cuộn lại,
giống như những bức vẽ chữ (tự họa)
được cuộn lại trong hiện thời, từng
cuộn, từng cuộn một, nên gọi là “quyển tử”. Thời
Đường - Tống, sách đều là quyển tử.
Đổi quyển tử thành sách đóng thành từng tập
th́ cách đóng sách như vậy gọi là Phương Sách.
Loại phương sách này đầu tiên được đóng
bằng cách dùng chỉ khâu gáy từng trang. Từ quyển
tử đổi thành phương sách, có thể nói là một
cuộc đại cách mạng trong phương diện
sách vở, ai làm điều này? Tử Bách đại sư
đời Minh. Tử Bách đại sư đề xướng:
Quyển tử chẳng dễ giữ ǵn, hăy đổi
thành phương sách. Kinh Phật đổi từ lối
quyển tử sang phương sách do Hám Sơn đại
sư mở đầu, Ngài đề xướng in Gia Hưng
Tạng. Gia Hưng Tạng là Trung Hoa Đại Tạng
Kinh được biên tập lần thứ hai, do Tử Bách
đại sư khởi xướng, quyên mộ khắc
ván, khắc xong, cứ mỗi một trang được
đóng thành tập, gọi là Phương Sách Đại Tạng
Kinh. Trước kia, kinh Phật là chiếp bản[6],
đấy là cách thức ấn hành kinh Phật, cổ nhân
Trung Quốc sử dụng phương
thức quyển tử. Do vậy, “quyển” là chữ được dùng vào trong thuở
phiên dịch đầu tiên. Sau này tuy đă đổi thành
cách phương sách, nhưng vẫn dùng chữ Quyển.
Mỗi một quyển là một tập sách.
Trong một trục, v́ quyển
tử th́ phải có trục, giống như cách chúng ta bồi
tranh, phía dưới cùng có một cái trục, tức là có một
cái lơi bằng gỗ ở giữa cho dễ cuốn lại,
dễ bảo tồn, chẳng dễ dàng bị hư hoại.
V́ vậy, “nhất trục”
là một quyển. Trong một quyển kinh văn bao hàm vô
tận nghĩa lư, vô lượng pháp môn. Hai câu này cũng chẳng
nói quá lố, mà xác thực là như vậy. Trong lời khai
thị của Ngẫu Ích đại sư, đă trích dẫn
lời Liên Tŕ đại sư như sau: “Nhất cú Di Đà cai la bát giáo, viên nhiếp ngũ
tông” (Một câu Di Đà bao trọn tám giáo, nhiếp trọn
năm tông), tức là một câu A Di Đà Phật bao gồm
toàn bộ Phật pháp. Bởi lẽ, ở Trung Quốc, nhắc
tới Phật pháp, thường nói “Tông Môn và Giáo Hạ” sẽ
bao gồm toàn bộ Phật pháp. Chữ “Tông Môn” chỉ Thiền
Tông, ngoài Thiền Tông ra, [các tông phái khác] đều bao gồm
trong Giáo Hạ. Ngũ tông là năm chi phái trong Thiền Tông,
được h́nh thành sau thời Lục Tổ đại
sư, như tông Lâm Tế, tông Tào Động... đều
là Tông Môn. “Bát giáo” là nói theo
cách phán giáo của ngài Thiên Thai: Hóa nghi tứ giáo và hóa pháp tứ
giáo. Ngài phán định những pháp do Thích Ca Mâu Ni Phật
đă nói trong bốn mươi chín năm thành Tạng,
Thông, Biệt, Viên. Tám giáo hóa nghi và hóa pháp bao gồm toàn bộ
Phật pháp. Câu này chỉ rơ một câu A Di Đà Phật bao
gồm tất cả Phật pháp trong ấy, chẳng sót một
pháp nào.
Có mấy ai biết được
cái hay của A Di Đà Phật? Người
niệm Phật tuy đông, nhưng tu mù luyện đui, chẳng
hiểu được chỗ hay trong pháp môn. Do vậy, rất
khó thể thụ dụng. Người giảng bộ kinh
này, thông thường giảng trong Phật thất hoặc
trong pháp hội bảy ngày là giảng xong. Suốt bảy
ngày, ngay cả tựa đề kinh chúng tôi c̣n chưa giảng
xong, chỉ là giảng sơ sài mà thôi, giảng một
lượt hàm hồ, mờ mịt như vậy th́
cũng chẳng có cách nào hiểu rơ những nghĩa lư trong
ấy. Xưa kia, trong cuốn Kim Cang Kinh Giảng Nghĩa,
cư sĩ Giang Vị Nông đề xướng, chủ
trương: Nếu không giảng kinh th́ thôi, hễ giảng
th́ nhất định phải giảng thật sâu, nhất
định phải giảng cặn kẽ th́ mới có thể
làm cho người khác thụ dụng được. Nếu
giảng sơ sài sẽ chỉ phù hợp với người
căn tánh cao, tu hành lâu năm; chứ giảng cho hàng sơ
học như chúng ta nhất định phải giảng
sâu, phải giảng cặn kẽ, đừng sợ phiền!
Đại sư lại nói: “Nhất đán văng sanh, vĩnh vô
thoái chuyển, chủng chủng pháp môn, hàm đắc hiện
tiền” (Một mai văng sanh vĩnh viễn chẳng thoái
chuyển, các thứ pháp môn đều được hiện
tiền). Mấy câu này là niềm an ủi không chi lớn
hơn cho những kẻ thích nghiên cứu giáo pháp như
chúng tôi. Chúng ta muốn học pháp này, học pháp nọ th́
đến đâu để học? Đến Tây
Phương Cực Lạc thế giới, chẳng cần
phải học trong thế gian này. Trong thế gian này, t́m
không ra thầy tốt và bạn đồng tham tốt.
Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới học
với A Di Đà Phật, học với các vị Bồ
Tát, tuyệt đối chính xác, không sai lầm. V́ sao không
khéo dành thời gian mấy năm để niệm Phật,
đến Tây Phương Cực Lạc thế giới
hoàn thành học nghiệp của chính ḿnh? Trong thế gian
này, nhất định là trong thời hiện tại, kinh
Lăng Nghiêm nói: “Mạt pháp thời
kỳ, tà sư thuyết pháp như Hằng hà sa” (Thời
kỳ Mạt pháp, tà sư thuyết pháp nhiều như cát
sông Hằng). Quư vị có huệ nhăn ǵ để phân biệt
tà hay chánh? Gặp một vị thầy tốt khó khăn lắm,
chỉ có thể gặp, chứ chẳng thể cầu. Tà
sư quá nhiều, chỗ nào cũng thấy, học Phật
khó khăn lắm. V́ sao chẳng chết sạch ư niệm
so đo, khiêm hư sát đất niệm Phật? Niệm
đến nhất tâm bất loạn, tâm địa thanh tịnh,
quư vị liền có huệ nhăn và pháp nhăn. Nói cách khác, quư vị
có năng lực phân biệt tà - chánh, thị - phi, chân - vọng;
tâm chẳng thanh tịnh sẽ không có năng lực phân biệt.
Đủ thấy nhất tâm rất trọng yếu!
Nếu nói đến các pháp môn
khác th́ đức Phật dạy: “Nhược nhân đản niệm Di Đà Phật,
thị danh vô thượng thâm diệu Thiền” (Nếu
ai chỉ niệm Di Đà Phật th́ gọi là vô thượng
thâm diệu Thiền). Có rất nhiều người thích
Thiền, coi thường niệm Phật, nghĩ Thiền
là cao, chẳng hiểu niệm Phật c̣n cao hơn Thiền!
Kinh Lăng Nghiêm gọi pháp môn Niệm Phật này là Lăng
Nghiêm Đại Định, là pháp môn đặc biệt
trong hội Lăng Nghiêm. Quư vị phải hiểu rơ: Những
pháp môn đặc biệt được nêu ra trong kinh ấy,
chẳng xếp theo thứ tự thuận. Những pháp xếp
theo thứ tự thuận là pháp môn thông thường. Kinh
Lăng Nghiêm có hai pháp môn đặc biệt:
- Một là Quán Thế Âm Bồ Tát
Nhĩ Căn Viên Thông Chương, nếu xếp theo thứ
tự thuận, đáng lẽ phải xếp vào hàng thứ
hai. Lục Căn, Lục Trần, Lục Thức, Thất
Đại, xếp theo thứ tự ấy. Lục Căn
là Nhăn, Nhĩ... Nhĩ Căn phải xếp vào thứ hai,
nhưng lại rút pháp này ra, xếp vào cuối cùng, nhằm
bảo với chúng ta đây là pháp môn đặc biệt.
- Pháp kia là Đại Thế Chí
Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương, cũng là
pháp môn đặc biệt. Trong Thất Đại, xếp
theo thứ tự thuận là Căn Đại. Thất
Đại là Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không, Kiến,
Thức. Căn Đại là Kiến, đáng lẽ phải
xếp trước Thức. Thức do Di Lặc Bồ Tát
làm đại biểu. Đáng lẽ [phải xếp Đại
Thế Chí Bồ Tát] trước Di Lặc Bồ Tát,
nhưng lại để ra sau.
Hai pháp môn đặc biệt này nhằm
dạy chúng ta: Chúng sanh trong thế giới Sa Bà căn tai
lanh lợi nhất. Niệm Phật thỏa đáng nhất,
chẳng phải đă chỉ ra minh
bạch hay sao? V́
thế, Lăng
Nghiêm
Đại Định là ǵ vậy? Chính là pháp này.
Đọc kinh Lăng Nghiêm mà chẳng
hiểu Niệm Phật là Lăng Nghiêm Đại Định,
oan uổng quá! Đọc kinh Hoa Nghiêm mà chẳng hiểu
trong năm mươi ba lần tham học, môn tu học
chánh yếu của Thiện Tài đồng tử là pháp môn
Niệm Phật th́ cũng rất oan uổng! Vị thiện
tri thức thứ nhất của Thiện Tài đồng tử
là tỳ-kheo Đức Vân dạy Thiện Tài niệm Phật.
Cuối cùng, Phổ Hiền Bồ Tát dùng mười đại
nguyện vương hướng dẫn về Cực Lạc,
một vị mở đầu, một vị kết thúc,
đủ thấy đây là pháp môn tu học chủ yếu,
từ đầu đến cuối chưa hề rời
ĺa. Những môn khác là vô lượng vô biên pháp môn, lấy
năm mươi mốt vị Bồ Tát làm đại diện,
là những pháp môn trợ tu, dùng cũng được,
không dùng cũng chẳng sao! Chẳng dùng th́ một pháp môn
này sẽ thành vô thượng đạo. Đọc kinh Hoa
Nghiêm không thấy được đường nẻo
này sẽ uổng công đọc kinh Hoa Nghiêm. Đọc
Lăng Nghiêm mà chẳng hiểu pháp môn Niệm Phật,
đọc Hoa Nghiêm mà chẳng biết Niệm Phật,
đấy là không nh́n rơ ư nghĩa kinh, chưa niệm kinh
thông suốt! Ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh, tam tụ
tịnh giới, lục độ, vạn hạnh, đều
nằm trong một câu gồm bốn chữ A Di Đà Phật,
môn nào cũng trọn đủ. Quư vị đắc Định,
Định Cộng Giới, quư vị đắc nhất
tâm bất loạn, Đạo Cộng Giới, lẽ nào chẳng
trọn đủ? Chúng ta mới thật sự hiểu một
câu A Di Đà Phật chẳng thể nghĩ bàn, mới thật
sự chịu nắm chặt một câu A Di Đà Phật
như giữ mạng căn, nhất thời, nhất khắc
trọn chẳng buông lung. Hiểu được, nắm
chắc điều này, trong một đời thành Phật,
quyết định không nghi hoặc. Bây giờ đă hết
giờ rồi.
A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa
Phần 1 hết
[1] Cuốn ở đây là cách chia theo lối
in cổ. Mỗi quyển như vậy gồm từ 20 tới
40 trang hiện thời. Bản in hiện thời gộp
chung thành một tập, chia ra hai phần Thượng, Hạ,
trong mỗi phần lại chia thành cuốn.
[2] Do tác phẩm này là bản in chung Sớ,
Sao, và Diễn Nghĩa, để tiện theo dơi, người
biên tập đă dùng các chữ Sớ, Sao, và Diễn để
người đọc biết đoạn văn ấy nằm
trong lời Sớ, lời Sao của tổ Liên Tŕ hay lời
Diễn Nghĩa của pháp sư Cổ Đức.
[3] Chúng sanh do mê vọng nên từ Căn Bản
Vô Minh sanh khởi ba thứ tướng vi tế (gọi là
Tam Tế), gồm Vô Minh Nghiệp Tướng, Chuyển
Tướng và Hiện Tướng. Giải thích chi tiết
như sau:
1. Vô Minh Nghiệp Tướng: Nghiệp
ở đây là hoạt động ư thức. Rời khỏi
niệm sẽ bất động, hễ động sẽ
cảm lấy quả. V́ thế nói “quả chẳng thể
ĺa khỏi nhân”. Do khởi tâm động niệm, mê mất
tự tánh vốn sẵn linh tri, bèn có khổ quả sanh tử
trong chín giới.
2. Chuyển Tướng (c̣n gọi là
Chuyển Thức): Chân Như Trí vốn không có Năng, Sở,
thanh tịnh, tịch diệt. Nay do khởi tâm động
niệm, đánh mất sự tinh minh, chuyển thành vọng
kiến.
3. Hiện Tướng (tướng của
cảnh giới): Cảnh giới chỉ tướng của
tinh thần và vật chất. Tinh thần thuộc về
hoạt động ư thức, là tướng vô h́nh, vật
chất là sắc tướng hữu h́nh.
Do ba tướng này khó thể cảm nhận
rơ ràng nếu không quan sát cặn kẽ nên gọi là Tam Tế.
Lục Thô (c̣n gọi là Lục Trần
Tướng), tức là từ Tam Tế lại sanh khởi
những cảnh giới tạo thành sáu thứ thô tướng.
Gọi là Thô v́ có thể dễ dàng cảm nhận
được. Nói chi tiết, Lục Thô gồm:
1. Trí tướng: Chẳng biết những
cảnh giới do thức biến hiện chính là bóng dáng
hư huyễn của tự thức biến hiện, lầm
lạc nẩy sanh loại trí huệ phàm phu phân biệt các
pháp.
2. Tương tục tướng: Noi
theo trí tướng phân biệt, đối
với cảnh giới ham thích sanh khởi ư tưởng
vui, đối với cảnh giới không ưa thích sanh khởi
ư tưởng khổ, khiến cho các thứ mê vọng sanh
khởi không ngừng.
3. Chấp thủ tướng: Chẳng
hiểu rơ những cảnh giới khổ, vui v.v... đều
là hư vọng chẳng thật, thường nghĩ
tưởng những cảnh giới ấy,
nắm níu chúng, sanh ḷng chấp trước sâu nặng.
4. Kế danh tự tướng: Do những
ư niệm điên đảo trên đây, đối với
những tướng bị chấp trước, đặt
cho chúng đủ mọi tên gọi, so đo, phân biệt rồi
nẩy sanh phiền năo.
5. Khởi nghiệp tướng: Do chấp
vào danh xưng, khái niệm, học thuyết, quan niệm, dấy
khởi thân miệng, tạo đủ mọi thứ ác
nghiệp.
6. Nghiệp hệ khổ tướng:
Do bị nghiệp thiện ác trói buộc mà cảm lấy
khổ quả sanh tử, chẳng được tự tại.
Trong sáu tướng này, bốn tướng
đầu là Hoặc Nhân (nhân tạo nên phiền năo), tướng
thứ năm là Nghiệp Duyên, tướng thứ sáu là Khổ
Quả.
[4] Thái Cực là khởi thủy của
vũ trụ theo kinh Dịch, là lúc vũ trụ chưa phân
cực (tạo thành đối lập). Thái Cực thường
được biểu diễn bằng một ṿng tṛn rỗng
(Vô Cực Đồ). Những đồ h́nh vẽ Thái Cực
gồm hai phần đen và trắng gọi là Thái Cực Âm
Dương Đồ. Lưỡng Nghi là trạng thái của
Thái Cực đă phân thành hai khái niệm đối lập,
tức Âm và Dương. Nếu chỉ hiểu theo h́nh
tướng th́ Lưỡng Nghi được tượng
trưng bằng trời và đất. Tứ Tượng
là bốn h́nh tượng căn bản trong vũ trụ gồm
Thanh Long, Bạch Hổ, Châu Tước, Huyền Vũ,
tượng trưng cho bốn phương, bốn mùa,
đồng thời tượng trưng cho Thái Âm, Thái
Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương. Bát Quái là tám
biểu tượng tượng trưng cho các trạng
thái, h́nh dáng của mọi vật trong thế gian.
[5] “Không có ư
nghĩa” ở đây không phải là hoàn toàn vô nghĩa
(nonsense), mà là không có ư nghĩa cố định, không chấp
chặt, không giáo điều, mà là uyển chuyển, tùy theo
căn tánh của mỗi người sẽ lănh ngộ vô
lượng ư nghĩa khác nhau. Dĩ nhiên mỗi một bộ
kinh có những giáo nghĩa nhất định, nhưng tùy
theo căn tánh sẽ triển khai, lănh hội vô lượng
ư nghĩa từ những giáo nghĩa căn bản ấy.
Chẳng hạn, cùng bộ kinh Di Đà này, có người
không hiểu được vô lượng ư nghĩa, chỉ
nghĩ nó là truyện thần thoại dành cho ông già bà cả,
hay chuyên để tụng trong đám ma cho đỡ tốn
thời gian!
[6] Chiếp bản là cách in thành một tờ
giấy dài, có đánh số từng trang, xong xếp lại
thành cuốn, hai đầu dán b́a cứng, nhưng không dùng
chỉ khâu gáy. Hiện thời, cách này vẫn dùng để
in một số kinh Phật, nhưng in hai mặt giấy.