A Di Đà Kinh Sớ
Sao Diễn Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 104
Chủ giảng: Lăo pháp sư Tịnh
Không
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Giảo chánh: Minh Tiến, Đức
Phong và Huệ Trang
Tập 207
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ
Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang bốn trăm
mười lăm:
(Sớ) Hựu nguyện chi vi lực, bất khả
tư nghị, bỉ Phật Tịnh Độ diệc
diêu nguyện cố. Lâm chung văng sanh, duy trượng nguyện
cố. Tam giới nhân quả, tất tùy nguyện cố. Chư
đại Bồ Tát giai nguyện sanh cố.
(疏) 又願之為力,不可思議,彼佛淨土,亦繇願故;臨終往生,惟仗願故;三界因果,悉隨願故;諸大菩薩,皆願生故。
(Sớ:
Nguyện lại có sức mạnh chẳng thể nghĩ
bàn. Cơi Tịnh Độ của đức Phật ấy
cũng do nguyện mà có. Lâm chung văng sanh chỉ cậy vào
nguyện. Nhân quả trong ba cơi đều tùy thuộc nguyện.
Các đại Bồ Tát đều do nguyện mà văng sanh).
Đoạn Sớ này nêu rơ nguyện lực chẳng
thể nghĩ bàn. Nguyện lực là niệm lực, tức
là ư niệm trong cái tâm của chúng ta. Trong kinh Đại Thừa,
đức Phật thường nói tới y báo và chánh báo
trang nghiêm trong mười pháp giới. Nói cách khác, tận
hư không khắp pháp giới do đâu mà có? Đều sanh
từ trong tâm tưởng của hết thảy chúng sanh.
Chúng ta biết nguyên lư này, khẳng định nguyên lư ấy,
sẽ biết: Đối với chuyện trong thế gian
này, có lắm chuyện kỳ quái; nếu chúng ta hỏi: “Có
chuyện ấy hay không?” Đương nhiên là có! V́ sao? Tâm
có thể biến, có thể sanh, hết thảy vạn vật
là cái được biến, cái được sanh. Sức
mạnh của cái tâm có thể biến ấy (năng biến
tâm) chẳng có cùng tận; do vậy, biến ra vô lượng
vô biên các hiện tượng. Tịnh Độ cũng chẳng
ra ngoài lệ ấy, cũng chẳng rời ĺa tâm tưởng.
Chúng ta xem đoạn giải thích dưới đây:
(Sao) Bỉ Phật Tịnh Độ giả.
(鈔) 彼佛淨土者。
(Sao:
Cơi Tịnh Độ của đức Phật
ấy).
Nói tới Tây Phương Cực Lạc thế
giới Tịnh Độ.
(Sao) Pháp Tạng dĩ nhân trung tứ thập bát nguyện,
kim thành Phật đạo, quảng độ chúng sanh, tắc
Như Lai vô tận công đức, giai tùng nguyện sanh, cố
vân bất khả tư nghị.
(鈔) 法藏以因中四十八願,今成佛道,廣度眾生,則如來無盡功德,皆從願生,故云不可思議。
(Sao:
Do ngài Pháp Tạng đă phát ra bốn mươi tám nguyện
trong lúc tu nhân, nay thành Phật đạo độ chúng sanh
rộng khắp, vô tận công đức của Như Lai
đều sanh từ nguyện, nên nói là “chẳng thể
nghĩ bàn”).
Điều này xuất phát từ Đại
Kinh, tức là kinh Vô Lượng Thọ. Nói thật ra, tinh
vi, đẹp đẽ nhất, tinh hoa nhất, thù thắng
nhất trong toàn thể Phật pháp, không ǵ hơn bốn
mươi tám nguyện. Hết thảy các pháp sanh từ
tâm tưởng, tâm tưởng nơi bốn mươi
tám nguyện ấy, niệm nào cũng đều là “chỉ ư chí thiện” (止於至善), nghĩa là đức
Phật đă nghĩ tới chỗ tốt đẹp tột
bậc, tốt lành đến tận cùng, niệm niệm
trụ nơi chí thiện! V́ thế nói “bốn mươi
tám nguyện thù thắng, tinh vi đẹp đẽ nhất,
và cũng là tinh hoa nhất”. Chúng ta niệm bốn
mươi tám nguyện, phải biến bốn mươi
tám nguyện trở thành tư tưởng của chính ḿnh,
biến chúng thành tâm tưởng của chính ḿnh. Phật Di
Đà có thể tạo ra thế giới Cực Lạc, lẽ
đâu chúng ta chẳng thể tạo thành thế giới Cực
Lạc? Thế giới Cực Lạc do chúng ta tạo và thế
giới Cực Lạc do A Di Đà Phật đă tạo chẳng
hai, chẳng khác, hoàn toàn tương ứng, do điều
này bèn quyết định văng sanh! Không chỉ là văng sanh, mà
thật sự là văng sanh trong bậc thượng, quyết
định là văng sanh trong ba phẩm thượng.
Bốn mươi tám nguyện của Phật
Di Đà, nguyện nào cũng phổ độ chúng sanh, làm
sao chúng ta có thể đối lập với chúng sanh? Làm
sao có thể đối địch với chúng sanh? Không chỉ
là đừng nên đối địch nơi hành vi, mà
trong tâm hơi có đôi chút ngăn cách th́ đă sai mất rồi.
Sai không ở nơi cảnh giới, mà là do tư tưởng
và kiến giải của chính chúng ta đă sai. V́ sao? Chẳng
phải là chí thiện. Dẫu là thiện, nhưng thiện
chưa đạt tới viên măn, chẳng thể coi là chí
thiện. V́ lẽ đó, kinh Vô Lượng Thọ xác thực
là “chỉ ư chí thiện”,
hăy dùng bản kinh này để uốn nắn tư tưởng,
kiến giải và hành vi của chúng ta sao cho đích xác là
viên măn bậc nhất. Đấy là lư do v́ sao chúng tôi phải
đặc biệt đề xướng bộ kinh này.
Trong kinh Pháp Diệt Tận[1], Thích
Ca Mâu Ni Phật có dạy: Trong tương lai, toàn thể Phật
pháp đều tiêu diệt hết, kinh này c̣n lưu lại
trong thế gian một trăm năm. Trong kinh Vô Lượng
Thọ cũng có đoạn kinh văn ấy. Đức
Phật bảo: Trong tương lai, Phật pháp sẽ diệt
mất, bộ kinh bị tiêu diệt đầu tiên là kinh
Lăng Nghiêm, kinh bị diệt cuối cùng là kinh Vô Lượng
Thọ. Do vậy, điều khẩn yếu là phải biến
nguyện của A Di Đà Phật thành bổn nguyện của
chính chúng ta. Trong mỗi niệm, chúng ta đều phải
giúp đỡ hết thảy chúng sanh, tin tưởng và yêu
thích pháp môn này, phát nguyện cầu sanh. Nếu chẳng thể
giúp họ phát nguyện cầu sanh, tối thiểu cũng
là làm cho họ biết có pháp môn này. Biết có pháp môn này th́
gọi là “gieo chủng tử
thù thắng bậc nhất trong A Lại Da Thức”. Nhiều
đời nhiều kiếp sau trong tương lai, khi chủng
tử ấy gặp duyên bèn dấy lên hiện hành, người
ấy có thể thành tựu. Ư nghĩa này hết sức sâu
rộng, hy vọng chúng ta có thể lănh hội cặn kẽ!
(Sao) Lâm chung văng sanh giả. Hạnh Nguyện phẩm
ngôn: “Thị nhân lâm mạng chung thời, nhất thiết chư
căn, tất giai bại hoại, dĩ chí thân thuộc,
oai thế, tượng mă, trân bảo đẳng, tất
giai tán diệt. Duy hữu nguyện vương bất
tương xả ly, nhất thiết thời trung dẫn
đạo kỳ tiền, nhất sát-na gian, tức đắc
văng sanh Cực Lạc thế giới”. Cố vân bất khả
tư nghị.
(鈔) 臨終往生者,行願品言:是人臨命終時,一切諸根,悉皆敗壞,以至親屬威勢,象馬珍寶等,悉皆散滅;惟有願王不相捨離,一切時中引導其前,一剎那間,即得往生極樂世界。故云不可思議。
(Sao: “Lâm chung văng sanh”: Phẩm
Hạnh Nguyện có nói: “Người ấy khi mạng
chung, hết thảy các căn đều hư hoại, cho
đến thân thuộc, oai thế, voi, ngựa, đồ
quư báu v.v… đều tan diệt. Chỉ có nguyện
vương chẳng hề ĺa bỏ, trong hết thảy
các thời, nó luôn dẫn đường đằng
trước, trong khoảng sát-na liền được
sanh về thế giới Cực Lạc. V́ thế nói là “chẳng
thể nghĩ bàn”).
Trong phần trên đă nói thế giới Cực
Lạc được thành tựu bởi nguyện lực
của A Di Đà Phật, mà cũng là được thành tựu
bởi nguyện lực của mỗi người văng
sanh. Phật và chúng sanh có cùng một tâm, cùng một nguyện,
cùng một kiến giải, cùng một tư tưởng
mà thành tựu. Nay chúng ta nói tới Lục Ḥa Kính th́ Lục
Ḥa Kính trong Tây Phương Cực Lạc thế giới
đạt được một trăm phần trăm, là
Lục Ḥa Kính viên măn, chẳng bị khiếm khuyết mảy
may! Đối với thế gian này, nói theo thời Mạt
Pháp, Lục Ḥa Kính hữu danh vô thực! Hai người ở
chung với nhau bèn bất ḥa, hàng tại gia th́ vợ chồng
bất ḥa, cha con bất ḥa, người xuất gia th́ thầy
tṛ bất ḥa, sư huynh sư đệ bất ḥa. Đó
là hiện tượng b́nh thường, tức là hiện
tượng [cho thấy] Phật pháp và pháp thế gian đều
suy đồi đến cùng cực. Nếu chính ḿnh thật
sự mong văng sanh Tịnh Độ trong một đời
này, hăy nên làm theo cách như thế nào, chính ḿnh phải hiểu
rơ chuyện này!
Khi văng sanh, phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện
đă nói: “Thị nhân lâm mạng
chung thời” (người ấy lúc lâm chung), tức là
nói về người niệm Phật, “nhất thiết chư căn tất giai bại hoại”
(hết thảy các căn đều hư hoại), “chư căn” là lục
căn, tức là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, đó
là vật chất. Sau khi con người tắt hơi hai ba
ngày liền hôi thối, bảy tám ngày liền rữa nát.
Chưa đầy nửa năm, thịt chẳng c̣n nữa,
biến thành một đống xương trắng. “Nhất thiết chư căn tất
giai bại hoại” (hết thảy các căn thảy đều
hư hoại) là nói thân thể chẳng thể giữ vững
được! “Thân thuộc”
(親屬) tức là người
nhà, quyến thuộc của quư vị. “Oai thế” (威勢): Khi c̣n sống,
địa vị, thế lực của quư vị dẫu
cao tới mấy đi nữa, đến lúc này đều
chẳng c̣n. Khi sống làm hoàng đế, làm Tổng Thống,
lúc chết sẽ đều giống như tiểu quỷ.
Chẳng thể c̣n có người tôn trọng quư vị, mà
quỷ cũng không tôn trọng. Tài vật của quư vị,
“tượng mă trân bảo”,
voi ngựa là công cụ giao thông vào thời cổ, hiện
thời trong nhà của chính ḿnh có xe cộ. Người có
tiền th́ có máy bay riêng, trân bảo (珍寶) [là những vật
quư báu], những tài sản ấy quư vị chẳng thể
đem theo món nào được, “tất
giai tán diệt” (thảy đều tan diệt). Nói cách
khác, thân thể và hết thảy các vật mà quư vị sở
hữu, chẳng có thứ ǵ mang theo được cả!
Tục ngữ Trung Hoa có câu: “Sanh
không mang ǵ đến, chết chẳng đem ǵ đi!”
Có những kẻ làm con, cảm thấy người
già chết rồi sẽ làm quỷ, bèn đốt nhiều
tiền vàng mă, đốt nhiều nhà giấy để họ
có thể hưởng thụ trong cơi âm! Chư vị ngẫm
xem, họ có thể hưởng thụ hay không?
Dương thế và âm gian chẳng sai khác cho mấy, cơi trời
cũng tương tự. Nói chung, chư vị phải hiểu
rơ một đạo lư: Quư vị có phước, sẽ luôn
được hưởng thụ. Quư vị thiếu
phước, người ta tặng cho, quư vị vẫn chẳng
thể hưởng thụ được! Quư vị đốt
nhiều cách mấy, nếu người ấy chẳng có
phước báo, chỉ sợ thiêu cho nhiều, vẫn bị
kẻ khác cướp đi, đoạt mất; thậm
chí đă thành quỷ vẫn bị kẻ khác mưu sát. V́
sao? Trong loài quỷ cũng có mưu mô chiếm đoạt
tài sản mà hại tánh mạng, cũng có cường
đạo, thổ phỉ! Quư vị chẳng có ǵ, họ
chẳng t́m đến quư vị. Khi quư vị có ǵ đó, họ
chuyên môn t́m đến. Không chỉ là chẳng có lợi lộc,
mà ngược lại c̣n gây hại cho người [đă
khuất] ấy. Quư vị hiểu đạo lư này: Tu
phước là quan trọng nhất. Con người nhất
định phải có phước báo! Không tu phước
th́ làm sao được? Tục ngữ có câu: “Nhân định bất như
thiên toán” (Người tính chẳng bằng trời định).
Trời tính [có nghĩa là] trong mạng quư vị có hay không,
chẳng phải do chính ḿnh có thể tính toán được!
Nhất định phải biết tu phước.
V́ vậy, học Phật th́ bắt đầu
học từ đâu? Học từ Liễu Phàm Tứ Huấn.
Chúng tôi học Phật lâu ngần ấy, càng học càng cảm
thấy Ấn Quang đại sư rất lỗi lạc.
Thuở sinh tiền, lăo nhân gia cực lực đề
xướng Liễu Phàm Tứ Huấn. Đối với
Liễu Phàm Tứ Huấn, An Sĩ Toàn Thư, và Cảm Ứng
Thiên Vựng Biên, thuở tại thế, lăo pháp sư đă
in ba bộ sách ấy đến hơn ba trăm vạn cuốn,
nhằm bảo chúng ta: “Học Phật th́ phải học từ
chỗ này”. Học Phật phải khởi đầu bằng
học làm người, phải học từ tu phước,
học từ đoạn ác tu thiện. Chư vị phải
biết: Phật là đấng Nhị Túc Tôn, phước
trọn đủ, huệ cũng viên măn. Do hai môn phước
và huệ đều viên măn, nên gọi là Nhị Túc Tôn. Trong
thế gian lẫn xuất thế gian, Phật có phước
báo lớn bậc nhất! Nếu chúng ta chẳng tu phước,
làm sao có thể thành Phật cho được? Cố nhiên,
tu huệ là trọng yếu, nhưng chẳng tu phước
th́ huệ cũng chẳng tu thành. V́ sao? Quư vị chẳng
tu phước, quư vị chẳng có cái ăn, chẳng có
cái mặc, chẳng có nơi để ở, làm sao có thể
tu huệ cho được? Phật môn Trung Hoa có một
câu tục ngữ: “Pháp luân vị
chuyển, thực luân tiên” (Chưa chuyển pháp luân, phải
lo cái ăn trước). Ăn uống là chuyện khẩn
yếu bậc nhất! Chẳng ăn no, làm sao có thể tu
Phật pháp cho được? Điều này nói rơ tu
phước trọng yếu ngần ấy! Tu phước,
nhất định phải nghiêm túc chiếu theo Liễu
Phàm Tứ Huấn để tu học.
Khuyên dạy đại chúng trong xă hội, nói
thật ra, Liễu Phàm Tứ Huấn có hiệu quả quyết
định thù thắng hơn hết thảy các kinh. Chẳng
phải là hết thảy các kinh chẳng bằng Liễu
Phàm Tứ Huấn, [nói “quyết định thù thắng”]
là nói tới chuyện khế cơ. Trong quá khứ, mọi
người đọc sách của Khổng Tử, tốt
hơn nhiều, đối với luân lư và đạo đức
đều có khái niệm. Hiện thời, chẳng đọc
sách Khổng Tử, ḷng người chẳng có chỗ
nương về, chân, giả, tà, chánh, đúng, sai, lợi,
hại đều chẳng thể phân biệt, làm thế
nào được nữa! V́ thế, cái để nhanh chóng
cứu văn t́nh thế trước mắt chính là nhân quả.
Sách Liễu Phàm Tứ Huấn giảng điều ǵ? Giảng
về nhân quả báo ứng. Thật sự tin tưởng
nhân quả báo ứng, chúng ta đối với khởi tâm
động niệm sẽ tự ḿnh kiềm chế đôi
chút. V́ sao? Nghĩ ta làm như thế này, trong tương
lai sẽ mắc quả báo như thế nào! V́ sợ ác báo
trong tương lai, nên đối với khởi tâm động
niệm và hết thảy tạo tác của chính ḿnh, chẳng
thể không cẩn thận. Đó là cứu tế chuyện
cấp bách! Dựa trên cơ sở này để tu học
Phật pháp, nhất định sẽ có thể đạt
được lợi ích thù thắng nơi Phật pháp. V́
lẽ đó, vào đầu thời Dân Quốc, lăo pháp
sư [Ấn Quang] đặc biệt đề xướng
ba bộ sách ấy nhằm tạo căn cơ học Phật
cho chúng ta. Đó là đại trí huệ, chúng ta quyết
định chớ nên xem nhẹ ba tác phẩm ấy.
Phổ Hiền Hạnh
Nguyện Phẩm là pháp tu của Pháp Thân đại sĩ
trong thế giới Hoa Tạng, chẳng phải là pháp tu của
kẻ b́nh phàm. Pháp Thân đại sĩ cũng chẳng phải
là ngoại lệ, vẫn phải phát nguyện cầu sanh
Tịnh Độ. Do đó, từ kinh Hoa Nghiêm, chúng ta đạt
đến một kết luận, trong kinh luận đức
Phật thường nói tới chuyện này. Tu Tiểu Thừa,
Tiểu Thừa gần với A La Hán, đức Phật
đă dạy: A La Hán sẽ chẳng vĩnh viễn làm A La Hán.
Trong toàn thể Phật pháp, A La Hán được gọi
là “tiêu nha bại chủng” (焦芽敗種: mầm cháy, hạt giống lép),
đây là một kiểu quở trách của đức Phật.
Thật ra, từ kinh Đại Thừa, đức Phật
đă dạy rất minh bạch: A La Hán phải sau hai vạn
kiếp mới có thể hồi Tiểu hướng Đại,
tu Bồ Tát đạo. Bích Chi Phật phải sau một vạn
kiếp mới có thể quay đầu. Nói cách khác, A La Hán
trong hai vạn kiếp chẳng thể tiến lên, dừng
nghỉ ở chỗ này. Bích Chi Phật dừng nghỉ ở
chỗ này một vạn kiếp, công phu chẳng thể tiến
bộ, có t́nh h́nh giống như Trường Thọ Thiên[2].
Đó gọi là “đọa Niết
Bàn khanh” (đọa trong hầm Niết Bàn), có ư nghĩa
này. Nhưng sau hai vạn kiếp, các Ngài vẫn hồi Tiểu
hướng Đại, tu học Đại Thừa. Đại
Thừa bất luận là pháp môn hay tông phái nào, kết quả
cuối cùng đều ở trong thế giới Hoa Tạng.
Nói cách khác, đến thế giới Hoa Tạng, nhất
định sẽ gặp gỡ Văn Thù và Phổ Hiền,
Phổ Hiền Bồ Tát nhất định khuyên họ cầu
sanh Tịnh Độ. Chư vị hăy ngẫm xem: Ṿng qua đảo
lại, đến cuối cùng vẫn ṿng đến pháp
môn Tịnh Độ. Chúng ta mới thật sự biết:
Cực Lạc Tịnh Độ là chỗ quy túc rốt ráo
trong sự tu học của tất cả Bồ Tát. Trạm
cuối cùng là ở nơi đây, những nơi khác đều
là các trạm giữa đường.
Ở đây, kinh văn nói “duy hữu nguyện vương bất tương xả
ly” (chỉ có nguyện vương chẳng hề rời
ĺa), “nguyện” ở đây
chính là mười đại nguyện vương. Nói thật
thà, mười đại nguyện vương rất khó
diễn giải, mà cũng chẳng dễ hiểu, lại
càng chẳng dễ thực hiện, xác thực là cảnh
giới của Pháp Thân đại sĩ. Các Ngài tu học chẳng
khó, chúng ta tu học rất khó, khó ở chỗ nào? Tâm
lượng của chúng ta quá nhỏ. Tâm lượng trong
nguyện nào của mười đại nguyện
vương cũng đều to như hư không pháp giới.
V́ thế, các Ngài có thể thực hiện, chúng ta chẳng
thể làm được, học kiểu nào cũng chẳng
giống! Đạo lư ở chỗ này. Nguyện ấy, niệm
ấy chẳng hề rời ĺa. Nguyện ấy, niệm ấy
hướng dẫn họ văng sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới. “Nhất thiết
thời trung dẫn đạo kỳ tiền, nhất
sát-na gian, tức đắc văng sanh Cực Lạc thế
giới” (Trong hết thảy các thời, nó dẫn dắt
đằng trước, trong khoảng sát-na liền
được văng sanh thế giới Cực Lạc). Ở
đây, đại sư trích dẫn một đoạn kinh
văn trong phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện của
kinh Hoa Nghiêm để thuyết minh văng sanh là do nguyện lực,
chỉ nhằm nói rơ chuyện này.
Do vậy cũng có thể biết: Chúng ta chớ
nên đánh mất nguyện tâm cầu sanh Tây Phương Tịnh
Độ một giờ một khắc nào, v́ sao? Chẳng
có nguyện tâm ấy, sẽ chẳng thể văng sanh. Nếu
thời thời khắc khắc nguyện sanh Tịnh Độ,
đối với hết thảy người, hết thảy
sự, hết thảy vật trong thế gian này, quư vị
có c̣n riết róng so đo hay chăng? Quư vị riết róng
so đo th́ nói cách khác, quư vị chẳng có nguyện cầu
sanh Tây Phương! Niệm nào cũng đều muốn
sanh về Tây Phương, thế giới này c̣n có điều
ǵ đáng để so đo? Chẳng so đo! Tâm đă thật
sự thanh tịnh. Tâm thanh tịnh là Phật tâm. Nguyện
từ nơi cái tâm thanh tịnh là chân nguyện, chẳng phải
là suy nghĩ loạn xạ. Tâm không thanh tịnh, dẫu có
phát nguyện th́ cũng đều là suy nghĩ loạn xạ,
chẳng chân thật, biến hóa trong từng sát-na: Một
hồi nghĩ như thế này, một hồi nghĩ
như thế khác, đều chẳng chân thật! Do
đó, phải hiểu đạo lư này.
(Sao) Tam giới nhân quả giả.
(鈔) 三界因果者。
(Sao: Nhân quả trong ba cơi).
“Tam giới” là Dục
Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới, nói tới lục
đạo trong thế giới Sa Bà.
(Sao) Nguyện thọ thiên lạc, tắc bần mẫu
thượng sanh.
(鈔) 願受天樂,則貧母上生。
(Sao: Do nguyện hưởng sự vui trong cơi trời,
nên người đàn bà nghèo được sanh lên trời).
“Nguyện thọ
thiên lạc” là [mong muốn] hưởng thụ sự
sung sướng trên cơi trời. “Tắc
bần mẫu thượng sanh”: Đây là một câu chuyện
được sách Diễn Nghĩa ghi lại. [Chuyện
này trích từ] kinh Ca Diếp Độ Bần Mẫu[3],
trong Đại Tạng Kinh có một bộ kinh như vậy.
Bộ kinh này phân lượng không nhiều lắm, có ghi
chép câu chuyện này.
(Diễn) Tích hữu bần nữ, xử ư phẩn
tụ, dĩ nhân dân sở khí tàn trấp vi thực. Ca Diếp
tùng khất, dĩ trấp cúng dường. Tôn giả vấn
kỳ sở nguyện, vân dục sanh thiên. Sổ nhật mạng
chung, sanh Đao Lợi, phước thắng dư thiên.
(演) 昔有貧女處於糞聚,以人民所棄殘汁為食,迦葉從乞,以汁供養。尊者問其所願,云欲生天,數日命終生忉利,福勝餘天。
(Diễn:
Xưa kia có một người đàn bà nghèo sống nơi
chỗ chứa phân, dùng những thứ cơm thừa canh
cặn của người khác vứt bỏ để làm
thức ăn. Ngài Ca Diếp đến đó khất thực,
bà ta bèn cúng dường cơm thừa canh cặn ấy.
Tôn giả hỏi bà ta nguyện ǵ, đáp “muốn sanh lên trời”.
Mấy hôm sau bèn mạng chung, sanh lên trời Đao Lợi,
phước vượt trỗi các vị trời khác).
Trích lục khéo lắm! Một bộ kinh dài ngần
ấy, dùng mấy câu đă nêu bày rơ rệt toàn bộ ư
nghĩa của bộ kinh ấy. Người đàn bà nghèo
ấy là ăn mày, tuổi tác cũng rất cao, hết sức
khổ sở. Sống ở chỗ nào? “Phẩn tụ” (糞聚) là ở bên cạnh
hầm phân, kết một cái cḥi tranh sống ở đó.
Người ta thấy bà ta đáng thương, nên họ đem
cho bà những thứ cơm thừa canh cặn, gần như
là những thứ người ta dùng để nuôi lợn,
bà ăn những thứ đó. Khi tôn giả Ca Diếp khất
thực, có đi qua chỗ bà ta. Trên thân bà ta cũng chẳng
có quần áo mặc, nên cũng không dám bước ra, liền
cầu xin tôn giả Ca Diếp. Tôn giả Ca Diếp
thương xót, tiếp nhận sự cúng dường của
bà. Bà ta đem những thứ chính ḿnh ăn c̣n thừa cúng
dường tôn giả Ca Diếp. Sau khi tiếp nhận,
tôn giả liền hỏi: “Bà mong cầu điều ǵ?” Bà
đáp: “Nhân gian quá khổ, nghe nói trên trời rất sung
sướng, con mong được sanh lên trời”. Tôn giả
Ca Diếp chúc nguyện cho bà. Bảy ngày sau, người
đàn bà nghèo ấy chết, sanh lên cơi trời, sanh trong trời
Đao Lợi. Đây là một chút phước cúng dường,
là phước báo do cúng dường một vị A La Hán. Bảy
ngày sau, bà ta sanh thiên.
(Sao) Nguyện tác minh vương, tắc ngục thần
trị quỷ.
(鈔) 願作冥王,則獄神治鬼。
(Sao: Nguyện làm vua trong cơi âm, bèn làm thần cai trị
quỷ trong địa ngục).
Đây cũng là một công án.
(Diễn) Nguyện tác minh vương giả, Tỳ
Sa quốc vương, dữ Duy Đà Như Sanh
Vương cộng chiến bất thắng, nhân lập thệ
nguyện: “Nguyện ngă lai thế vi địa ngục chủ,
trị thử tội nhân”. Thập bát đại thần
nguyện diệc như thị. Kim địa ngục chủ,
Tỳ Sa Vương thị, thập bát ngục chủ, thập
bát đại thần thị.
(演) 願作冥王者,毘沙國王,與維陀如生王共戰不勝,因立誓願,願我來世為地獄主,治此罪人,十八大臣願亦如是。今地獄主毘沙王是,十八獄主十八大臣是。
(Diễn:
“Nguyện làm vua trong cơi âm”: Quốc vương Tỳ Sa
đánh nhau với vua Duy Đà Như Sanh chẳng thắng.
Do vậy, lập thệ nguyện: “Nguyện trong đời
sau, tôi sẽ làm chủ địa ngục để trừng
trị những tội nhân này”. Mười tám vị đại
thần cũng phát nguyện như thế. Nay chủ cơi
địa ngục là vua Tỳ Sa, chủ của mười
tám ngục là mười tám vị đại thần [thuở
ấy]).
Đây là một trường hợp. Người
Hoa gọi “minh vương”
(冥王: vua cơi âm) là
Ngũ Điện Diêm Vương (五殿閻王), tức Diêm La
Vương cai quản địa ngục. Hiện thời,
những quỷ vương trong địa ngục trên thế
gian do đâu mà có? Cũng là do trước kia đă phát nguyện,
nguyện ấy cũng thật sự được thực
hiện. Quốc vương Tỳ Sa đánh nhau với vua
Duy Đà Như Sanh, bị thua trận. Sau khi thất bại,
bèn phát ra lời nguyện hung tợn ấy. Do niệm lực
kiên cố, niệm niệm chẳng quên, hễ có cơ hội
bèn báo thù.
Chư vị đọc lịch sử nhà Thanh,
nhà Thanh mất nước bởi tay Từ Hy Thái Hậu. Từ
Hy Thái Hậu thuộc thị tộc Diệp Hách Na Lạp
(Yehenara)[4].
Khi nhà Thanh dựng nước đă tiêu diệt bộ tộc
này. Tù trưởng của bộ tộc ấy bèn phát thệ:
“Nếu bộ tộc ta c̣n sót lại một đứa con
gái th́ trong tương lai cũng phải tiêu diệt đất
nước của nhà Đại Thanh”. Hoàng thất nhà Thanh
khi đó đều biết chuyện này, nên nhà Thanh có một
điều luật lệnh: Không được phép thông
hôn với Na Lạp Thị (người thuộc thị tộc
Diệp Hách Na Lạp). Cuối cùng, đến đời
vua Hàm Phong nạp phi tử thuộc thị tộc Na Lạp,
khiến nhà Thanh bị tiêu diệt! Nguyện lực chẳng
thể nghĩ bàn! Nh́n theo nhân quả trong Phật pháp,
đây là một thí dụ rất rơ rệt, có lịch sử
để làm căn cứ, xác thực là đúng với lời
phát nguyện của kẻ ấy trong thuở đó.
Chư vị lại xem Từ Bi Tam Muội Thủy Sám, đầu gối Ngộ Đạt
quốc sư nổi mụn ghẻ mặt người.
Tôn giả Ca Nặc Ca (Kanaka-vatsa) khi trị ghẻ mới giảng
rơ tiền nhân hậu quả. Đó là oan gia trái chủ của
Sư truy lùng Sư đến mười đời, mỗi
đời đầu thai đều toan báo cừu. Đời
trước, hai người bọn họ kết cừu
oán lúc nào? Vào thời Cảnh Đế (188-141 trước
Công Nguyên) nhà Hán, [khi các nước chư hầu] Ngô và Sở
làm phản. Hán đế theo mưu kế của Viên Áng (袁盎) giết chết Triều (Tiều) Thố (晁錯)[5]. Triều Thố
bị chết v́ hăm hại, ôm hận trong tâm, niệm niệm
mong báo thù. Nào ngờ về sau, Viên Áng xuất gia làm cao
tăng, có thần hộ pháp bảo vệ, đời
đời kiếp kiếp đều có đạo đức,
đều nghiêm túc tu hành. Đến đời thứ
mười, Ngài làm quốc sư, tức là Ngộ Đạt
quốc sư, là thầy của hoàng đế. Hoàng đế
cúng dường Sư một ṭa báu bằng trầm
hương, chúng ta biết hiện thời một cân trầm
hương đến mấy chục vạn đồng!
Sư tiếp nhận ṭa báu trầm hương, sanh một
tâm niệm ngạo mạn, cảm thấy chính ḿnh ghê gớm
lắm. Do một tí tâm ngạo mạn ấy nẩy sanh mà công
đức tu hành trong mười đời đều mất
sạch. Một niệm nẩy sanh tâm ngạo mạn, tự
cho ḿnh là đúng, thần hộ pháp bỏ đi, oán quỷ
quấn thân, gần như mất mạng!
Quư vị hiểu sự thật này, giữa con
người với nhau, chớ nên kết oán! Kết oán th́
đời đời kiếp kiếp đều phiền
phức, mấy đời tu hành, chướng ngại trên
đường Bồ Đề gọi là ma chướng!
Quư vị phải chịu rất nhiều vùi dập. V́ lẽ
đó, đức Phật dạy chúng ta nhẫn nhục, dạy
chúng ta tu Định, dạy chúng ta tâm địa phải
thanh tịnh, b́nh đẳng, phải từ bi, nhường
nhịn. Như vậy th́ chính ḿnh tu hành mới tương
đối thuận lợi đôi chút. Do oai thần của
Tam Bảo gia tŕ, nên cũng có thể nẩy sanh hiệu lực.
Nếu không, nghiệp chướng của quư vị nặng
nề, Phật, Bồ Tát cũng chẳng có cách nào gia hộ
quư vị! Oán thân trái chủ của quư vị quá đông, Phật,
Bồ Tát cũng chẳng thể không đếm xỉa lư
lẽ, quư vị đáng phải chịu báo mà! Do đó,
chính ḿnh phải nghiêm túc tu hành, phải nhẫn nhục, phải
nhường nhịn người khác, chớ nên nổi
nóng. Chuyện này hết sức trọng yếu.
(Sao) Chủng chủng tùy nguyện, mạc vi nhi vi. Cố
vân bất khả tư nghị.
(鈔) 種種隨願,莫為而為。故云不可思議。
(Sao:
Các thứ thuận theo nguyện, không làm mà làm. V́ thế,
nói là “chẳng thể nghĩ bàn”).
Nh́n từ đoạn văn này, chúng ta có thể
hiểu rơ, thế gian và xuất thế gian, trên là từ thế
giới Cực Lạc, thế giới Hoa Tạng, dưới
là cho tới ba ác đạo, đều chẳng ĺa khỏi
nhân quả. Pháp sư Ấn Quang đề xướng nhân
quả là có lư, có căn cứ. Đề xướng nhân
quả, Ngài không nói ǵ khác, chỉ nói tới Liễu Phàm Tứ
Huấn. Đấy là v́ từ cuối đời Minh cho
đến đầu đời Thanh, trong hơn ba trăm
năm, ai cũng biết đến tác phẩm Liễu Phàm
Tứ Huấn. Xưa kia, hễ là người đọc
sách th́ gần như chẳng có ai không đọc sách này,
cho nên đề xướng [hành theo sách ấy] sẽ hết
sức thuận tiện. Sách ấy lại c̣n nói thấu
triệt. Cư sĩ Liễu Phàm hiện thân thuyết pháp,
sửa đổi vận mạng của chính ḿnh như thế
nào? “Trong cửa nhà Phật, có
cầu ắt ứng”. Ông ta có thể làm được,
mà cũng có thể cầu được. Những điều
ông ta mong cầu, trong mạng chẳng có, nhưng ông có thể
cầu được th́ mới gọi là “cầu”. Trong mạng
đă có th́ chẳng gọi là cầu. Trong mạng chẳng
có mà ông ta có thể cầu được, cầu bằng
cách nào? Tin nhân quả sửa đổi vận mạng của
chính ḿnh, đặc biệt lấy chuyện này để
giáo hóa kẻ sơ học, sửa đổi xă hội, xác
thực là đă sanh ra hiệu quả rất lớn. Xă hội
hiện thời cũng là [một xă hội] rối loạn
đến tột cùng. Làm thế nào để cứu văn xă
hội? Mọi người đều có thể đề
xướng Liễu Phàm Tứ Huấn, đều có thể
thực hành Liễu Phàm Tứ Huấn, tôi tin tưởng
là trong hai ba năm, xă hội sẽ an tường, ḥa thuận.
Sự an ḥa lợi lạc như chánh phủ đang đề
xướng có thể thực hiện, chuyện này phải
cậy vào sự nỗ lực của mọi người.
(Sao) Bồ Tát nguyện sanh giả, Phổ Hiền tụng
vân: “Nguyện ngă lâm dục mạng chung thời, tận trừ
nhất thiết chư chướng ngại, diện kiến
bỉ Phật A Di Đà, tức đắc văng sanh An Lạc
sát”.
(鈔) 菩薩願生者,普賢頌云:願我臨欲命終時,盡除一切諸障礙,面見彼佛阿彌陀,即得往生安樂剎。
(Sao:
“Bồ Tát nguyện sanh”: Bài kệ của ngài Phổ Hiền
có đoạn: “Nguyện tôi lúc mạng sắp lâm chung, tận
trừ hết thảy các chướng ngại, gặp gỡ
đức Phật A Di Đà, liền được văng
sanh cơi An Lạc”).
“Ngă” là Phổ Hiền
Bồ Tát tự xưng. “An Lạc
Sát” là thế giới Cực Lạc. Đây là Phổ Hiền
Bồ Tát phát nguyện, lời nguyện này ở trong kinh
Hoa Nghiêm. Phổ Hiền và Văn Thù là hai vị trợ thủ
của Tỳ Lô Giá Na Phật trong thế giới Hoa Tạng.
Trong toàn thể Phật pháp, các Ngài có địa vị tối
cao vô thượng, [thế mà] vẫn phải cầu sanh Tịnh
Độ. Đă thế, trong lời kệ phát nguyện
c̣n nói: “Tận trừ hết
thảy các chướng ngại”. Chúng ta đọc câu
này, trong tâm có cảm tưởng ǵ? Đẳng Giác Bồ
Tát c̣n có chướng ngại ǵ? Ngài c̣n phải trừ
chướng ngại, chúng ta làm thế nào? Chúng ta có quá nhiều
chướng ngại, có trừ cũng trừ không hết.
Nhưng chư vị đừng sợ, nếu chúng ta hiểu
rơ sự thật, sẽ có thể yên tâm. Chướng ngại
ǵ vậy? Chẳng tin, chẳng nguyện, chẳng chịu
niệm A Di Đà Phật, đó là chướng ngại!
Chúng ta có những chướng ngại ấy hay không? Có!
Chúng ta cũng chẳng tin pháp môn này, mà cũng chẳng phát
nguyện, cũng không chịu niệm Phật. Nếu quư vị
chẳng có chướng ngại, sẽ là một câu A Di
Đà Phật suốt ngày từ sáng đến tối hai
mươi bốn tiếng đồng hồ chẳng gián
đoạn. Quư vị c̣n niệm Phật gián đoạn, c̣n
quên bẵng niệm Phật, chứng tỏ quư vị có
chướng ngại, ba phương diện Tín, Nguyện,
Hạnh đều có chướng ngại. Từ chỗ
này, có thể kiểm điểm chính ḿnh. Đừng tự
cho là “ta đă không c̣n chướng ngại, ta đă tin
tưởng rất kiền thành”. Thật ra, tín căn của
quư vị có vấn đề to lớn! Hễ có chuyện
ǵ xảy đến, [bèn nghĩ] “chuyện này quan trọng
hơn niệm Phật”, đó là chướng ngại!
Có chuyện nào trọng yếu hơn niệm
Phật? Chẳng có! Dẫu là chuyện bất đắc
dĩ, tạm thời buông Phật hiệu xuống để
làm việc. Hễ làm xong chuyện, liền tiếp tục
niệm Phật hiệu ngay, đó là đúng. Tận hết
sức giảm thiểu những chuyện không cần thiết.
Có những kẻ bảo người niệm Phật là Tiểu
Thừa, có những người nói người niệm Phật
là phường chỉ lo tự giải thoát cho riêng ḿnh,
người niệm Phật rất tiêu cực, v́ sao?
Người niệm Phật lục thân[6] chẳng
nhận, thù tạc với thân thích bằng hữu đều
chẳng có. V́ thế, người ta chê quư vị là tiêu cực.
Sợ người ta chê là tiêu cực, hừm! Lại thù tạc,
Phật hiệu cũng tạm thời vứt qua một
bên, vứt riết rồi quên bẵng. Những thứ vây
quanh quư vị toàn là ma chướng, chướng ngại
quư vị niệm Phật, quư vị phải hiểu nhé!
Nói thật thà, chúng ta niệm A Di Đà Phật,
kẻ khác nói ta là Tiểu Thừa, Tiểu Thừa có sao
đâu! Kẻ khác nói ta tiêu cực, tiêu cực cũng
được! Kẻ khác chê ta vô t́nh vô nghĩa, kệ họ
nói sao th́ nói, ta cứ niệm một câu A Di Đà Phật tới
cùng, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới,
thả chiếc bè Từ trở lại, thành Bồ Tát,
thành Phật đến độ hết thảy chúng sanh,
có phải là tiêu cực hay không? Có phải là Tiểu Thừa
hay không? Người thế gian chẳng thấy chuyện
này! Nay chúng ta nghe những lời lẽ đó, tâm chính ḿnh bị
dao động th́ nói cách khác: Ba món Tín, Nguyện, Hạnh của
quư vị đều chưa thể trông cậy được!
Đó là chướng ngại. Nay chúng ta chỉ cần quét
sạch những chướng ngại ấy, nhất tâm nhất
ư niệm A Di Đà Phật. Đừng nói là pháp thế
gian chẳng thể chướng ngại được, hết
thảy xuất thế gian Phật pháp cũng chẳng thể
chướng ngại được. Quư vị nói Thiền
hay, chúng tôi rất cung kính, Thiền hay lắm! [Quư vị
nói] Giáo hay, [tôi cũng tán thán] Giáo cũng khá lắm. Mật
cũng hay, thứ ǵ cũng đều hay. “Quư vị học
pháp của quư vị, tôi học pháp của tôi, tôi tuyệt
đối chẳng bị lay động!” Đó là diệt
trừ chướng ngại, tâm quư vị thật sự
định, như vậy th́ mới chắc chắn thành tựu.
Do đó, bí quyết niệm Phật là “quyết định chẳng hoài nghi, chẳng gián
đoạn, không xen tạp”, há lẽ nào chẳng thành
công? Phổ Hiền và Văn Thù phải trừ khử hết
thảy chướng ngại, cũng là trừ những
chướng ngại ấy!
(Sao) Năi chí nguyện mông thọ kư, quảng lợi
chúng sanh đẳng, chí như Văn Thù phát nguyện văng
sanh sở thuyết chi kệ, diệc vân: “Nguyện ngă mạng
chung thời, diệt trừ chư chướng ngại,
diện kiến Di Đà Phật, văng sanh An Lạc sát”, dữ
Phổ Hiền nhược hợp phù tiết.
(鈔) 乃至願蒙授記,廣利眾生等,至如文殊發願往生所說之偈,亦云:願我命終時,滅除諸障礙,面見彌陀佛,往生安樂剎。與普賢若合符節。
(Sao:
Cho đến “nguyện được thọ kư, lợi
ích chúng sanh rộng răi” v.v… Như ngài Văn Thù nói bài kệ
phát nguyện văng sanh, cũng nói: “Nguyện tôi lúc lâm chung, diệt
trừ các chướng ngại, gặp gỡ Phật Di
Đà, văng sanh cơi An Lạc”, phù hợp khít khao với ngài Phổ
Hiền).
“Phù tiết” (符節)[7] là
một loại ấn tín. Văn Thù Bồ Tát phát nguyện
chẳng khác Phổ Hiền Bồ Tát, hoàn toàn giống nhau.
(Sao) Tha như
Thiên Thân, Long Thọ đẳng, đa nan tất trần, cố
vân “bất khả tư nghị”.
(鈔) 他如天親龍樹等,多難悉陳,故云不可思議。
(Sao: Những vị khác như Thiên Thân, Long Thọ
v.v… nhiều đến nỗi khó thể kể xiết. Do
đó nói là “chẳng thể nghĩ bàn”).
Nói tới những vị khác như Thiên Thân Bồ
Tát, Long Thọ Bồ Tát, các vị này là người ngoại
quốc[8].
Thiên Thân và Vô Trước là anh em, Vô Trước là anh. Thiên
Thân Bồ Tát cũng thông minh tột bậc. Thuở đầu,
Ngài học Tiểu Thừa, có thành tựu rất lớn
trong Tiểu Thừa. Về sau, Ngài hồi Tiểu hướng
Đại. Ngài soạn năm trăm bộ luận Tiểu
Thừa, đối với Đại Thừa cũng soạn
năm trăm bộ luận. Đấy là hai vị đại
Bồ Tát lỗi lạc tái hưng Phật pháp sau thời
Thích Ca Mâu Ni Phật. Sau ngài Thiên Thân là Long Thọ, Long Thọ
là tổ chung của tám tông phái Đại Thừa, tám tông
phái Đại Thừa ở Trung Hoa đều do Long Thọ
Bồ Tát truyền. Vị này cũng là người thông
minh tuyệt đỉnh! Các Ngài đến cuối cùng
đều niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới, trong Tịnh Độ Thánh Hiền
Lục có truyện kư của các Ngài. Các vị tổ sư
đại đức như vậy cầu sanh Tây
Phương Tịnh Độ quá nhiều, từ Tịnh
Độ Thánh Hiền Lục và Văng Sanh Truyện ta đều
có thể xem thấy.
“Cố vân bất
khả tư nghị” (Nên nói là chẳng thể nghĩ
bàn), ư nói nguyện lực chẳng thể nghĩ bàn. Quư vị
có nguyện vọng kiên cố, chẳng có ǵ không đạt
được, đúng là “có
nguyện ắt thành”. Có nguyện ắt thành th́ nguyện
phải có hạnh. Nguyện mà thiếu hạnh sẽ là
nguyện rỗng tuếch, nguyện ấy chẳng thể
thành tựu. Sau nguyện phải có hành động, dùng hạnh
để thực hiện nguyện. Có nguyện ắt
thành, chúng ta phải làm! Ta có nguyện cầu sanh Tây
Phương Tịnh Độ, ta nhất định phải
niệm Phật. Nếu ta niệm Phật chẳng gián
đoạn, chẳng xen tạp, nguyện ấy quyết
định thành tựu. Nếu quư vị chẳng làm
được, tức là nguyện suông, suốt một
đời này vẫn chẳng thể văng sanh được!
(Sớ) Xứng Lư, tắc tự tánh hoàn quy bản thể,
thị nguyện sanh bỉ quốc nghĩa.
(疏) 稱理,則自性還歸本體,是願生彼國義。
(Sớ: Xứng Lư th́ tự tánh trở về bản
thể chính là ư nghĩa “nguyện sanh về cơi ấy”).
Ư nghĩa này sâu xa, đây là nói xứng tánh. Trong
phần trước là nói theo sự tướng, c̣n đoạn
này nói theo tâm tánh. Nếu từ sự tướng mà lại
có thể quy vào tâm tánh, văng sanh Tịnh Độ sẽ là
thượng phẩm thượng sanh, sanh vào cơi Thật
Báo Trang Nghiêm, phẩm vị cao cả. “Tự tánh hoàn quy bản thể” là ǵ?
(Diễn)
Tự tánh hoàn quy bản thể giả, nhược bất
minh bản thể, duy yếm thử Sa Bà hân Cực Lạc,
tắc tùy cảnh thiên di, trục vật lưu chuyển,
phi chân sanh bỉ quốc cố vân dă.
(演) 自性還歸本體者,若不明本體,唯厭此娑婆忻極樂,則隨境遷移,逐物流轉,非真生彼國故云也。
(Diễn:
“Tự tánh trở về bản thể”: Nếu không hiểu
rơ bản thể, chỉ chán nhàm thế giới Sa Bà này, yêu
thích Cực Lạc, sẽ bị chuyển dời theo cảnh,
lưu chuyển theo vật, chẳng phải là thật sự
sanh về cơi kia, cho nên nói như vậy).
Chúng ta xem mấy câu này, vừa xem xong bèn sanh
hoài nghi. V́ sao? Nhà Thiền nói “minh
bản thể” là minh tâm kiến tánh. Nếu chẳng thể
kiến tánh, tuy chán ĺa Sa Bà, ưa cầu Cực Lạc, vẫn
chẳng thật sự sanh về cơi ấy, đấy chẳng
phải là một nỗi phiền phức to lớn ư?
Nh́n vào chuyện này, chúng ta đều chẳng có hy vọng
ǵ! Trong tương lai, chúng ta sanh vào Tây Phương Cực
Lạc thế giới rốt cuộc là sanh vào chỗ nào?
Chẳng phải là thế giới Cực Lạc thật,
chẳng lẽ c̣n có một thế giới Cực Lạc
giả ư? Do đó, ở chỗ này có một vấn
đề, lại c̣n là một vấn đề rất lớn.
Chẳng thể giải quyết vấn đề này, chúng
tôi vừa mới nói niệm Phật có ba điều kiện,
[trong đó, đối với điều kiện] không hoài
nghi, quư vị đă hoài nghi. Tuy hoài nghi, nhưng quư vị thật
sự c̣n có thể [niệm Phật] chẳng gián đoạn,
không xen tạp, th́ vẫn có thể văng sanh, sanh vào biên địa,
kinh Vô Lượng Thọ có nói chuyện này. Biên địa
cũng khá lắm, bất quá ở nơi đó tới
năm trăm năm, vẫn dự vào phẩm vị văng
sanh y hệt, vẫn là rất may mắn, vẫn là rất
hạnh phúc. Sanh vào biên địa cũng tuyệt diệu,
thù thắng khôn sánh, chỉ là lâu hơn người ta
năm trăm năm, như thế mà thôi! Do đó, chúng ta
chớ nên coi thường biên địa. Ở đây, xác
thực là phải hiểu rơ sự thật này. Thông thường,
người niệm Phật hễ niệm đến mức
biết trước lúc mất, chẳng bị bệnh khổ
mà văng sanh, thưa cùng chư vị, đại khái đều
là đă kiến tánh. Họ cũng chẳng nói là họ
đă minh tâm kiến tánh, chúng ta cũng chẳng nh́n ra họ
đă minh tâm kiến tánh, nhưng họ thật sự minh
tâm kiến tánh. V́ sao? Chỉ có một câu A Di Đà Phật,
niệm đến mức phân biệt, chấp trước,
vọng tưởng, ưu lự, vướng mắc thảy
đều hết sạch. Quư vị ngẫm xem, người
ấy đă đắc Niệm Phật tam-muội, đă
đắc Định, nói theo Tịnh Độ Tông sẽ
là Sự nhất tâm bất loạn. Trong sát-na văng sanh, khi Phật
đến tiếp nghênh, Phật quang vừa chiếu rọi,
công phu của người ấy liền được
nâng cao gấp bội.
Trong nguyên bản tiếng Phạn, kinh Di Đà
chẳng có chữ “nhất tâm
bất loạn”, Huyền Trang đại sư dịch
là “nhất tâm hệ niệm”.
Cưu Ma La Thập đại sư dịch là “nhất tâm bất loạn”, chẳng phải là ư nghĩa
trong kinh văn nguyên thủy. La Thập đại sư dịch
ư, Huyền Trang đại sư chẳng nói ngài La Thập
dịch sai. Điều này chứng tỏ, phàm là người
văng sanh đều là nhất tâm bất loạn. Chúng ta
thường nói mức độ niệm Phật thấp
nhất là phải niệm đạt tới công phu thành phiến.
Công phu thành phiến th́ khi văng sanh, Phật đến tiếp
dẫn, do Phật quang chiếu gội, công phu của quư vị
được nâng cao thành Sự nhất tâm bất loạn.
Do nh́n từ chỗ này, Cưu Ma La Thập đại
sư dịch thành “nhất tâm
bất loạn” chẳng sai! Nhất tâm bất loạn
là do được Phật lực gia tŕ, chúng ta mới
đạt tới. Công phu của chúng ta đạt mấp
mé nhất tâm bất loạn, Phật vừa gia tŕ, bèn nâng
cao, đạt tới nhất tâm bất loạn. Nhất
tâm bất loạn bèn khai huệ, khai huệ bèn minh tâm kiến
tánh.
Dẫu là một bà cụ chẳng biết chữ,
điều ǵ cũng không biết, nhưng bà thật thà niệm
một câu A Di Đà Phật, niệm mấy năm, đứng
mất, ngồi mất, quyết định là kiến
tánh. Nếu chẳng kiến tánh, chẳng thể nào có công
phu như vậy. Vị đồ đệ của lăo ḥa
thượng Đế Nhàn niệm A Di Đà Phật ba
năm bèn đứng mất. Sau khi văng sanh, thân thể c̣n
đứng sững suốt ba ngày, chờ thầy ḿnh đến
lo liệu hậu sự. Nếu chẳng kiến tánh, sao có
thể làm được? Do vậy, cụ Đế Nhàn tán
thán ông ta, tán thán người ấy chẳng uổng công xuất
gia, tán thán người ấy thành tựu vượt trỗi
các pháp sư giảng kinh thuyết pháp cả nước,
vượt trỗi những vị trụ tŕ các nơi danh
sơn bảo sát (các chùa nổi tiếng) quá nhiều, những
người ấy đều chẳng thể sánh bằng
ông ta! Đấy là lời thật, chẳng phải hư
giả. Trong kinh Lăng Nghiêm, chúng ta cũng có một câu
kinh văn để chứng minh, “tịnh cực quang thông đạt”. Một câu A
Di Đà Phật là tịnh, vị ấy niệm ǵ cũng
đều chẳng có, trừ một câu A Di Đà Phật ra, thứ ǵ cũng đều chẳng
có. Tịnh đến mức tột cùng bèn hoát nhiên
khai ngộ, minh tâm kiến tánh. “Quang
thông đạt” là đại triệt đại ngộ,
minh tâm kiến tánh. Do đó, chúng ta hiểu: Người niệm
Phật khi văng sanh, đại đa số đều là
khai ngộ, nhất là những người biết trước
lúc mất, chúng ta có thể đoán định họ chẳng
phải là phường tầm thường!
Do vậy, b́nh thường niệm Phật, há
nên xen tạp vọng tưởng? Xen tạp vọng tưởng
gây tổn hại rất lớn. V́ sao người ta niệm
Phật đôi ba năm bèn thành công, chúng ta niệm mấy
chục năm vẫn chẳng thể thành công? Do chúng ta xen
tạp vọng tưởng quá nhiều! Dẫu chẳng
gián đoạn, nhưng trong ấy hăy c̣n xen tạp. V́ thế,
công phu chẳng thể thành tựu. Người thật sự
niệm Phật, trong Phật hiệu chẳng có xen tạp,
thuần túy là một câu Phật hiệu, là một niệm
ấy. V́ vậy, họ thành tựu thù thắng. Nếu chẳng
có công phu như vậy, sẽ thật sự giống
như hai câu nói ở đây: “Tùy
cảnh thiên di, trục vật lưu chuyển” (Đổi
dời theo cảnh, lưu chuyển theo vật). “Cảnh” là hoàn cảnh vật
chất, quư vị thời thời khắc khắc bị
hoàn cảnh bên ngoài dụ dỗ, mê hoặc. “Trục vật lưu chuyển”
là trong tâm quư vị chẳng thể tự chủ. Đấy
chính là phiền năo dấy lên hiện hành, đồng tu tại
gia thuộc trong t́nh cảnh này, mà người xuất gia
cũng thuộc t́nh cảnh này! Người khác tán thán quư vị
một câu, bèn đắc ư vênh váo, đáng sợ quá! Tự
cho ḿnh là đúng, [người khác] mắng quư vị mấy
câu, tức tối mấy hôm chẳng thể nguôi nổi!
Khen ngợi hay hủy báng là cảnh giới bên ngoài, quư vị
đă bị ngoại cảnh ảnh hưởng. Trong tâm
quư vị động, hoan hỷ hay nóng giận là trong tâm
quư vị chấn động, mất mấy ngày chẳng
thể khôi phục b́nh thường! Lưu chuyển theo vật
như vậy, làm sao có thể nói tới công phu cho
được? Làm sao quư vị có thể niệm Phật
hiệu tốt đẹp cho được? Chẳng thể
nào!
Nếu hỏi niệm Phật theo cách nào ư?
Cảnh giới bên ngoài vừa động bèn “A Di Đà Phật”.
Ngoại cảnh lẫn nội tâm đều quy hết vào
A Di Đà Phật, hóa giải nơi A Di Đà Phật,
đều chẳng c̣n nữa. Đó gọi là niệm Phật,
là biết niệm, là công phu, chẳng bị ngoại cảnh
xoay chuyển, thật sự có thể niệm mất sạch
phiền năo và tập khí. Đă đắc Định rồi
th́ mới có thể khai trí huệ, có trí huệ th́ mới
có thể phá vô minh, thấy bản thể, bản thể
là tự tánh.
(Diễn) Hựu hoàn quy giả, vô bất tùng thử
pháp giới lưu, vô bất hoàn quy thử pháp giới dă.
(演) 又還歸者,無不從此法界流,無不還歸此法界也。
(Diễn:
Lại nữa, “hoàn quy” là không ǵ chẳng từ pháp giới
này lưu xuất, không ǵ chẳng trở về pháp giới
này).
“Pháp giới” là
ǵ? Là nhất tâm, là chân tâm của chính ḿnh. Ai nấy đều
có chân tâm, chân tâm là một, chân tâm như nhau. Vọng tâm khác
hẳn, vọng của mỗi cá nhân đều khác biệt.
Chân tâm giống như nước khi nó tĩnh lặng, chẳng
cuộn sóng, hoàn toàn tương đồng. Toàn thể biển
cả đều giống hệt như nhau. Vọng tâm là
sóng cuộn, mỗi con sóng đều khác nhau. Hết thảy
chúng sanh dùng vọng tâm, Phật dùng chân tâm. Chúng ta học Phật
th́ phải bỏ vọng tâm, dùng chân tâm. Kinh Hoa Nghiêm dạy:
“Ưng quán pháp giới tánh, nhất
thiết duy tâm tạo” (Nên quán tánh pháp giới, hết thảy
do tâm tạo). Đó chính là ư nghĩa của hai câu này.
Y báo và chánh báo trang nghiêm của mười pháp
giới đều thuộc trong tự tánh, do chân tâm biến
hiện ra, duy tâm sở hiện. Pháp giới do chân tâm biến
hiện có ĺa khỏi chân tâm hay không? Chẳng hề ĺa khỏi;
v́ vậy, “hoàn quy thử pháp giới”
(trở về pháp giới này). Giống như ban đêm
ngủ rồi nằm mộng, mộng cảnh giống
như mười pháp giới, cái tâm có thể nằm mộng
ví như chân tâm. Trong lúc quư vị đang nằm mộng, nếu
chúng ta hỏi tâm quư vị giống như thế nào ư?
Cảnh giới được hiện [trong giấc mộng]
chính là h́nh dạng của cái tâm. Tâm quư vị đă biến
thành một cảnh giới, dáng vẻ [của cảnh giới
ấy] chính là h́nh dạng của cái tâm quư vị. Tâm là cảnh,
cảnh là tâm, chẳng hai, chẳng khác. Hễ tỉnh giấc,
cảnh ấy chẳng có, trở về nhất tâm. Trong Phật
pháp thường nói “toàn vọng
chính là chân, toàn chân chính là vọng”. Chân là năng biến
(cái có thể biến), vọng là sở biến (cái
được biến). Năng biến và sở biến là
một, không hai. Năng tức là Sở, Sở tức là
Năng; mộng là tâm, tâm là mộng, điều này khá dễ
hiểu!
Cùng một đạo lư như vậy, cảnh
giới mà nay chúng ta đang trông thấy chính là do Chân Như
bản tánh của chúng ta biến hiện. Nếu hỏi
quư vị, chân tâm của quư vị có h́nh dạng ra sao?
Vũ trụ như quư vị đang thấy chính là chân tâm
của quư vị, v́ vũ trụ do chân tâm biến hiện.
Quư vị nói xă hội chẳng tốt, tức là tâm quư vị
chẳng tốt. Nếu tâm quư vị tốt, lẽ nào biến
thành cảnh giới ấy? Do lẽ đó, há có nên chê trách
cảnh giới không tốt? Đức Phật nói có lư lắm,
hăy quay lại sửa đổi cái tâm. Tâm thanh tịnh, cảnh
giới liền thanh tịnh. V́ vậy, trong mắt Phật,
Ngài thấy hết thảy chúng sanh đều là Phật,
chúng sanh thấy Phật, Bồ Tát cũng là chúng sanh, là do
đạo lư này. Trong cái nh́n của quỷ, hết thảy
đều là quỷ. Bậc thiện nhân chân chánh sẽ thấy
hết thảy mọi người đều là thiện
nhân, kẻ ác thấy hết thảy mọi người chẳng
có ai không ác! Đây cũng là đạo lư được
nói trong kinh Hoa Nghiêm: “Một
chính là hết thảy, hết thảy chính là một”.
(Diễn) Tùng nhất tâm trung lưu xuất tứ
thánh lục phàm, tắc tứ thánh lục phàm nhưng cựu
hoàn quy nhất tâm. Hựu tự tánh tức thị bản
thể, nhi vân hoàn quy giả, dĩ tự tánh nhất hướng
bất thủ tự tánh, ngũ đạo tùy duyên, cố
kim ưng đương hoàn quy dă.
(演) 從一心中流出四聖六凡,則四聖六凡仍舊還歸一心。又自性即是本體,而云還歸者,以自性一向不守自性,五道隨緣,故今應當還歸也。
(Diễn:
Từ trong nhất tâm lưu xuất tứ thánh lục
phàm, nên tứ thánh lục phầm vẫn trở về nhất
tâm y như cũ. Tự tánh lại chính là bản thể,
nhưng nói “trở về” là do tự tánh một mực chẳng
giữ lấy tự tánh, tùy duyên trong năm đường,
cho nên [nói] “nay hăy nên trở về” vậy).
Nói thật ra, những lời này là do đức
Phật đă rát miệng buốt ḷng, bất đắc
dĩ nói phương tiện cùng chúng ta. Nếu nói lời
thật, chúng ta sẽ chẳng hiểu, chẳng có cách nào
thấu hiểu. Nói thật ra, thưa cùng chư vị, chẳng
có lưu xuất, mà cũng chẳng có quy hoàn, cũng chẳng
có năng biến, mà cũng chẳng có sở biến.
Nhưng chúng ta chẳng hiểu điều này, do nó vượt
khỏi thường thức của chúng ta quá nhiều! Do
lẽ đó, đức Phật chẳng thể không thuyết
pháp thuận theo thường thức của bọn chúng
sanh chúng ta. Nếu chúng sanh muốn thật sự lănh hội
ư nghĩa chân thật của Phật, nhất định
phải tuân theo lời dạy của Mă Minh Bồ Tát trong
Khởi Tín Luận: “Ĺa tướng
ngôn thuyết, ĺa tướng văn tự, ĺa tướng
tâm duyên”, quư vị mới có thể thật sự thấu
hiểu nghĩa chân thật do đức Như Lai đă
nói. Trong ba điều trên, chỉ cần chấp trước
một điều, sẽ chẳng thể hiểu nghĩa
chân thật do Như Lai đă nói, quư vị chỉ có thể
nghe hiểu một chút bề ngoài mà thôi! Nếu quư vị cứ
chiếu theo [cách hiểu hời hợt như vậy]
để nói, nói y chang như thế th́ sai bét mất rồi,
quư vị vẫn phải chịu trách nhiệm nhân quả.
Người hiện thời thích giảng kinh,
thuyết pháp, thích biểu hiện, đây là căn bệnh
chung của người hiện thời. Cổ nhân dẫu
có thể giảng kinh, thuyết pháp, nhưng quư vị thỉnh
họ, họ chẳng dám giảng, v́ sao? Cổ nhân sợ
nhân quả. C̣n hiện thời th́ là “nhân quả sợ”, [tức là] nhân quả sợ
quư vị! Cổ nhân hiểu “nói
sai một chữ chuyển ngữ, đọa làm thân chồn
hoang năm trăm đời”. Họ làm sao dám tùy tiện
giảng? Họ chẳng dám giảng. Người hiện
thời chẳng tin nhân quả báo ứng; chẳng tin nhân
quả báo ứng th́ vẫn trốn không thoát nhân quả báo
ứng. Nói cách khác, họ đáng phải chịu quả báo
ra sao th́ vẫn phải chịu đúng như thế
đó. Chẳng thể nói “không tin th́ sẽ không chịu quả
báo”, chẳng có lẽ ấy! Vẫn phải chịu quả
báo, điều này vô cùng đáng sợ. Muốn nói Phật
pháp mà chẳng phạm phải sai lầm th́ chính ḿnh phải
hữu chứng! Quư vị chẳng nhập cảnh giới
này mà mong nói pháp chẳng phạm sai lầm, quá khó! Thầy
Lư dạy bọn sơ học chúng ta hăy nương theo chú
giải của cổ nhân, một câu cũng chẳng thể
trái nghịch. Nói cách khác, dịch lời chú giải của
cổ nhân thành văn nói, dịch sang văn Bạch Thoại.
Từng câu, từng chữ đều có căn cứ,
như vậy th́ nếu quư vị nói sai, đó là chú giải
sai, cổ nhân phải chịu trách nhiệm, quư vị chẳng
gánh trách nhiệm. Nếu không căn cứ như vậy,
chính ḿnh nói trật, chẳng thể nào không gánh trách nhiệm.
Do đó, chính ḿnh nhất định phải thật sự
hữu tu hữu chứng, nêu ra tâm đắc do sự tu chứng
của chính ḿnh th́ mới thật sự được mấy
phần tương ứng, mới có thể miễn trừ
khuyết điểm. Nếu không, đúng là chẳng dễ
dàng! Kẻ trẻ tuổi hiện thời đến đâu
cũng dám nói [cho sướng miệng], chứ người
thuộc thế hệ già hơn chẳng dám làm theo kiểu
đó.
“Bất thủ tự
tánh” là ǵ? Kinh Lăng Nghiêm nói điều này rất nhiều.
Giáo Hạ thường nói “Chân
Như bất thủ tự tánh” là “nhất niệm bất giác, nhi hữu vô minh” (do một
niệm bất giác, bèn có vô minh). Chẳng giữ lấy tự
tánh chính là một niệm bất giác, là một niệm mê.
Mê là không giữ lấy tự tánh, giác là tự tánh hiện
tiền, tức là mê và giác! Giác tâm thanh tịnh, giác tâm b́nh
đẳng. Tâm chúng ta bất b́nh đẳng trong hết thảy
các pháp th́ là mê, tâm bất tịnh trong hết thảy các
pháp là mê. Tâm bất tịnh là ǵ? Tâm chuyển động, hễ
động th́ là mê. Giác tâm bất động, cho nên giác tâm
là thanh tịnh tịch diệt. Đây là nói v́ sao Phật
pháp phải tu Định, Định là giác tâm. Huệ là
ǵ? Huệ là Định khởi tác dụng, Định khởi
tác dụng là Huệ. Giống như nước, chúng ta đối
trước Phật, Bồ Tát dâng cúng nước nhằm
biểu thị ư nghĩa này. Nước phải thanh tịnh,
nước phải b́nh lặng. Nói thật ra, đó chính là
“thanh tịnh, b́nh đẳng, giác” trong tựa đề
kinh Vô Lượng Thọ, nước biểu thị ư
nghĩa ấy. Tâm của ta thanh tịnh, bất nhiễm,
tâm của ta b́nh đẳng, bất động, cái tâm ấy
đối ứng cảnh giới bên ngoài, sẽ được
gọi là “chiếu kiến”. Đó là “chiếu kiến”
như Tâm Kinh đă nói. Nếu chẳng giữ lấy tự
tánh, bèn gọi là “t́nh kiến”. T́nh là động, t́nh là mê.
Cái Thấy ấy sẽ chẳng phải là chân tướng,
mà là hư vọng tướng. Chiếu kiến là chân
tướng, là Thật Tướng của các pháp, khác hẳn!
Đó mới gọi là “hoàn quy”.
Nay chúng ta từ “chẳng thanh tịnh” khôi phục thanh tịnh,
từ bất b́nh đẳng khôi phục b́nh đẳng,
đó là khôi phục tự tánh. Khôi phục tự tánh, quư vị
nh́n lại y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới,
sẽ hoàn toàn hiểu rơ chân tướng sự thật. Khi
ấy, nếu v́ hết thảy chúng sanh thuyết pháp, quyết
định chẳng phạm sai lầm. V́ sao? Quư vị
đích thân chứng nhập cảnh giới, tri kiến
hoàn toàn giống như tri kiến của Phật, há có thể
sai được ư?
Thời gian trôi qua quá nhanh, phía sau hăy c̣n một
nửa. Nửa ấy cũng chẳng thể giảng bằng
mấy câu là xong được! Nhưng tuy vậy, đoạn
này có ư nghĩa vô cùng sâu rộng, vẫn phải nói nhiều,
có thể lănh hội một phần th́ xác thực là sẽ
giúp chúng ta đoạn nghi sanh tín. Nói thật ra, nay chúng ta
công phu chẳng đắc lực. Không gián đoạn,
không xen tạp, đó là Sự. V́ sao Sự mà chẳng làm
được? Chẳng hiểu rơ Lư! Nếu thấu triệt
Lư, Sự sẽ chẳng khó! Biết khó, hành dễ. Chẳng
gián đoạn, không xen tạp là “hành”. Chẳng hoài nghi là
biết, biết khó, hành dễ. Thật sự lư giải thấu
triệt, th́ chẳng xen tạp, không gián đoạn sẽ
làm được, chẳng khó! Có một hạng người,
tuy không biết, nhưng vẫn có thể làm được,
đó là người thiện căn đặc biệt sâu
dầy. Thầy dạy họ ra sao, họ tin tưởng
thầy, chẳng có một tí hoài nghi nào. T́m đâu ra người
như vậy? Nếu là người phục tùng thầy một
trăm phần trăm, chẳng giảm bớt tí nào, t́m chẳng
ra! Pháp sư Đế Nhàn suốt một đời
cũng chỉ gặp được một học tṛ
như vậy. Nghe lời chính là thiện căn đặc
biệt sâu dầy. Người b́nh phàm đối với
thầy nói chung ít nhiều đều đánh một loạt
dấu hỏi, chẳng thể hoàn toàn tiếp nhận, chẳng
thể hoàn toàn tin tưởng. Do vậy, nhất định
là phải đoạn nghi sanh tín. Giảng kinh, nghiên cứu
giáo nhằm mục đích đoạn nghi, kiến lập
tín tâm, từ tín tâm kiến lập nguyện tâm, từ nguyện
tâm kiến lập diệu tâm tŕ danh niệm Phật. Hôm nay
chúng tôi giảng tới chỗ này.
Tập 208
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ
Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang bốn trăm
mười sáu.
(Sao) Nhược tri bản thể bất ly
đương xứ, tắc phi sanh bỉ quốc, năi sanh
thử quốc nhĩ.
(鈔) 若知本體不離當處,則非生彼國,乃生此國耳。
(Sao:
Nếu biết bản thể chẳng ĺa đương xứ
th́ chẳng phải là sanh về cơi kia mà là sanh trong cơi này).
Trong đoạn kinh văn này, điều cần
chú ư nhất là quyết định đừng nên hiểu
lầm ư nghĩa. Hiểu lầm ư nghĩa, sẽ phạm
lỗi quá lớn. Hiểu lầm ư nghĩa bèn đả
phá Tịnh Độ, vậy là không được rồi!
“Bản thể” là nói tự
tánh; tận hư không khắp pháp giới là vật do tự
tánh biến hiện. Các cơi Phật trong mười
phương, kể cả thế giới Cực Lạc,
chẳng có ǵ là ngoại lệ, đều ở trong tự
tánh. V́ lẽ đó, ở đây, đại sư nói “nhược tri” (nếu biết),
[hàm ư] giả sử quư vị thật sự hiểu rơ: Bản
thể là tự tánh, “bất ly
đương xứ” (chẳng ĺa đương xứ),
ở ngay nơi đây trong hiện tiền là do tự tánh
biến ra, mà mười phương pháp giới cũng do
tự tánh biến ra. Tây Phương Tịnh Độ vẫn
do tự tánh biến ra. Đó gọi là “tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ”. Tâm
tánh là một, không hai, đều là vật được
biến hiện bởi tâm tánh. Nói theo tự tánh, có văng sanh
hay không? Chúng tôi nêu một thí dụ. Chúng ta ví giảng
đường này như phạm vi của tự tánh; nay
quư vị đi từ cái bàn này sang cái bàn khác, tôi hỏi quư
vị nhé: Quư vị có văng sanh hay không? Chẳng rời khỏi
tự tánh! Đấy là ư nghĩa [của đoạn kinh
văn] này. Do đó, phải hiểu: Vạn pháp duy tâm, vạn
pháp duy thức. Kinh Đại Thừa thường nói: “Duy tâm sở hiện, duy thức
sở biến”, đó là dạy chúng ta chân tướng sự
thật.
Do vậy, người thật sự kiến
tánh, người thật sự giác ngộ, sẽ chẳng
có quan niệm tương đối. Tương đối
là ǵ? Đây kia là tương đối. Thế giới Sa
Bà là cơi này, cơi kia là thế giới Cực Lạc. Đây
kia là hai pháp, hai pháp chẳng phải là Phật pháp. V́ sao chẳng
phải là Phật pháp? Phật pháp là pháp triệt để
giác ngộ, hiểu rơ; “chẳng phải là Phật pháp” tức
là quư vị c̣n chưa hiểu rơ, c̣n chưa giác ngộ, vẫn
là pháp mê hoặc, điên đảo. Chỉ trong mê hoặc,
điên đảo mới có hai, ba. Thật sự giác ngộ,
quyết định chẳng rớt vào hai, ba. Pháp giới
là Nhất Chân, tâm tánh như một, đó là chân tướng
sự thật. Sau khi đă minh tâm kiến tánh, há c̣n có
đây kia? Chẳng có quan niệm đây kia, chẳng phân biệt,
chấp trước có thế giới Sa Bà và thế giới
Cực Lạc.
Chúng ta hỏi: Những vị minh tâm kiến
tánh có c̣n văng sanh hay không? Vẫn văng sanh! Văn Thù và Phổ
Hiền đều phát nguyện văng sanh; v́ thế mới
nói: “Sanh th́ quyết định
sanh, đi th́ thật sự chẳng đi”. Giống
như quư vị ở trong giảng đường này, từ
cái bàn này sang cái bàn kia, quư vị đến nơi đó, diệt
từ nơi đây, sanh từ nơi đó. Sanh th́ quyết
định sanh; đi th́ thật sự chẳng đi. [Bởi
lẽ], quư vị chẳng rời khỏi căn pḥng này, vẫn
ở nơi đây! Đừng nói là thế giới Cực
Lạc và mười vạn ức cơi Phật chẳng rời
khỏi tâm tánh, tận hư không khắp pháp giới
cũng chẳng rời khỏi tự tánh! V́ lẽ này, Thiền
Tông mới nói “nếu ai hiểu
cái tâm, đại địa không tấc đất”. “Tấc đất” là ǵ? Là
phân biệt, chấp trước của quư vị. “Không có tấc đất” là
chẳng có mảy may phân biệt, chấp trước, nói
lên ư nghĩa này, chẳng phải là nói một tấc đất
trọn chẳng có!
Chớ nên hiểu lầm chỗ này, chớ nên
nh́n bề ngoài của văn tự. “Tắc phi sanh bỉ quốc, năi sanh thử quốc”
(Tức là chẳng sanh về cơi kia, mà là sanh trong cơi này). Tu
tập cả buổi, chúng ta vẫn chẳng đến
Tây Phương Cực Lạc thế giới, vẫn ở
trong thế giới Sa Bà; [hiểu kiểu] này sẽ sanh ra
hiểu lầm rất lớn, khiến cho tín tâm đối
với chuyện văng sanh bị dao động, trở thành
lỗi lầm to tát. Câu này được chú giải dưới
đây [như sau]:
(Diễn) “Bất ly đương xứ” giả, cổ
vân: “Bất ly đương xứ thường trạm
nhiên, mịch tức tri quân bất khả kiến”.
(演) 不離當處者,古云:不離當處常湛然,覓即知君不可見。
(Diễn:
“Chẳng ĺa đương xứ”: Cổ nhân nói: ‘Chẳng
ĺa đương xứ thường tĩnh lặng, t́m
ṭi liền biết chẳng thể thấy’).
Câu này rất khó hiểu. V́ sao khó hiểu? Điều
này thật sự là Phật tri Phật kiến. Kinh Bát Nhă
nói “Thật Tướng của
các pháp”, tức là chân tướng của hết thảy
các pháp. Chân tướng là ǵ? Những câu kinh h́nh dung chân
tướng rất nhiều. Chẳng hạn như Tâm Kinh
nói: “Sắc chẳng khác Không,
Không chẳng khác Sắc, Sắc chính là Không, Không chính là Sắc”,
h́nh dung chân tướng. Đó chính là “bất ly đương xứ thường trạm
nhiên”, cách nói khác nhau, nhưng ư nghĩa y hệt, cảnh
giới như nhau. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Đương xứ xuất sanh, tùy xứ diệt
tận” (Sanh ra ở chỗ nào, diệt tận ngay chỗ
đó) cũng là ư nghĩa này. Lại nói “đương thể tức không” (ngay nơi bản
thể chính là Không), vẫn là ư nghĩa này. Kinh Kim Cang nói: “Phàm những ǵ có h́nh tướng
đều là hư vọng”, “hết
thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt,
bóng”, cũng là ư nghĩa này. Quư vị tham cứu thấu
suốt, [sẽ thấy] xác thực là đương xứ
thường tĩnh lặng. Phật ở chỗ nào? Ở
chính ngay nơi đây. Thế giới Cực Lạc ở
chỗ nào? Cũng chính là ngay nơi đây. Thế giới
Hoa Tạng ở đâu? Cũng chính là ở ngay nơi
đây. Tiếp đó nói: “Mịch
tức tri quân bất khả kiến”, [nghĩa là] nếu
quư vị muốn t́m kiếm, chắc chắn sẽ t́m chẳng
thấy, v́ sao? T́m kiếm tức là quư vị khởi tâm
động niệm! Đó gọi là “mở miệng liền trật, động niệm
liền sai”. Quư vị khởi tâm động niệm,
đến nơi đâu để t́m? Khởi tâm động
niệm tức là quư vị đă biến chân tâm thành vọng
tâm. Chẳng khởi tâm, không động niệm, đó là
chân tâm. Do chân tâm bèn thấy cảnh giới chân thật, vọng
tâm bèn thấy vọng cảnh, chẳng phải là cảnh
giới chân thật. V́ lẽ đó, nói thật thà, Phật
pháp chẳng thể xen tạp mảy may vọng!
Người b́nh phàm tu hành thật sự dụng
công, đến một giai đoạn nào đó, sẽ xuất
hiện vấn đề, nẩy sanh phiền phức, vấn
đề mắc mứu ở chỗ nào? Nói thật thà, vẫn
là do vọng tâm, chấp trước. Trước kia, khi
chưa học Phật, chấp trước hết thảy
các pháp là thật sự có; nay đă học Phật, vạn
pháp đều không, thảy đều buông bỏ, dường
như chính ḿnh rất tự tại! Tự tại một
hồi, bỗng nhiên cảm thấy lại chẳng tự
tại nữa, vấn đề lại xuất hiện!
Thật ra, người ấy thật sự chẳng tự
tại. V́ sao? Người ấy lại chấp trước
Không, lại chấp trước có tự tại, luôn luôn
là phân biệt, chấp trước! Đối với tự
tại, cũng chớ nên chấp trước. Hễ động
một niệm, có một chấp trước, đấy
là cái gốc bệnh, trọn chẳng trừ khử gốc
bệnh! Chúng ta phải hiểu: Đó là cội nguồn của
sai lầm. V́ vậy, học Phật th́ phải dùng cái tâm
b́nh thường để học, phải ǵn giữ sự
b́nh thường. Nói thật ra, tựa đề kinh Vô
Lượng Thọ đă nêu ra rất hay: “Thanh tịnh, b́nh đẳng”. Trong tâm khởi niệm
là cuộn sóng, là chẳng thanh tịnh, là bất b́nh đẳng.
Kẻ ấy có vọng niệm, một niệm là một
nhiễm ô, là chẳng thanh tịnh, là bất b́nh đẳng.
Đạt đến “thanh tịnh, b́nh đẳng” là một
niệm chẳng sanh. Nói thật thà, một niệm chẳng
sanh cũng là nhiễm ô, cũng là bất b́nh đẳng,
v́ sao? Người ấy có “một niệm chẳng sanh”,
cũng là phiền phức! Tôi chỉ nói tới đây, quư
vị hăy thấu hiểu cặn kẽ: Hễ có “một
niệm chẳng sanh” th́ cũng không được. [Nếu
cảm thấy] “nay ta rất thanh tịnh”, thôi rồi, quư
vị chấp trước thanh tịnh, vướng mắc
nơi thanh tịnh, sự thanh tịnh ấy chính là chẳng
thanh tịnh, cũng không được!
Trong pháp Đại Thừa thường nêu tỏ
đạo lư này. Các vị xem Lục Tổ Đàn Kinh, sẽ
thấy thiền sư Ngọa Luân rơi vào đó, ngay lập
tức Lục Tổ cứu Sư ra. Thiền sư Ngọa
Luân nói: “Ngọa Luân hữu kỹ
lưỡng, năng đoạn bách tư tưởng”
(Ngọa Luân có tài khéo, đoạn được trăm
tư tưởng). Có thể đoạn là ǵ? Sư chấp
trước, hăy c̣n có cái để có thể đoạn,
c̣n có cái bị đoạn. Đấy là đă không thanh tịnh,
bất b́nh đẳng. Huệ Năng đại sư nói
ngược lại: “Huệ
Năng một kỹ lưỡng, bất đoạn bách
tư tưởng” (Huệ Năng không tài khéo, chẳng
đoạn trăm tư tưởng). Bài kệ này cứu
thiền sư Ngọa Luân. Sư mắc bệnh ấy, Tổ
dùng bài kệ này để cứu Sư, [sư Ngọa Luân
đă phạm] sai lầm. Nếu chẳng nói tới Ngọa
Luân, chỉ nói tới ngài Huệ Năng th́ Huệ Năng
lại sai mất rồi. Đúng là “mở miệng liền trật, động niệm
liền sai”. Đó gọi là “mịch
tức tri quân bất khả kiến” (t́m ṭi liền biết
là ông chẳng thể thấy được). V́ vậy, chớ
nên khởi tâm động niệm. Trong hết thảy vạn
pháp, chẳng khởi tâm, không động niệm, mắt
thấy rành mạch, tai nghe rành mạch. Trong ấy, chẳng
có phân biệt, chấp trước; đó là cảnh giới
Hiện Lượng. Tánh Thấy bèn thấy sắc tánh,
tánh Nghe bèn nghe thanh tánh, đó chính là minh tâm kiến tánh. Vừa
động niệm bèn khiến tâm trở thành thức, biến
cảnh giới thành sáu trần, sự chuyển biến ấy
quá nhanh chóng, chẳng biết mau hơn tốc độ của
ánh chớp bao nhiêu lần! Quư vị biến chân cảnh
thành vọng cảnh, biến nhất tâm thành vọng thức,
đó là tạo nghiệp.
(Diễn) Hựu vân: “Âu sanh âu diệt vô phi thủy,
vân lai vân khứ bất ly không”.
(演) 又云:漚生漚滅無非水,雲來雲去不離空。
(Diễn: Lại nói: “Bọt nước sanh diệt
vẫn là nước, mây trôi qua lại chẳng ĺa trời”).
Hai câu này đều là tỷ dụ. Âu (漚) là bọt nước. Trong một ao nước, bọt
nước sanh khởi hoặc diệt mất. Bọt
nước sanh ra th́ nó vẫn là nước. Diệt mất,
cũng vẫn là nước, chẳng hề rời khỏi
[nước]! Sanh và diệt là một, không hai. “Vân lai, vân khứ” (mây trôi qua lại),
chẳng rời khỏi hư không. Cơi này và Tây Phương
chẳng ĺa khỏi bản thể, chẳng ĺa rời tâm
tánh.
(Diễn) Nhược năng liễu thử, tắc
sanh bỉ quốc giả, phi sanh bỉ quốc, sanh thử
tự tánh An Lạc quốc dă.
(演) 若能了此,則生彼國者,非生彼國,生此自性安樂國也。
(Diễn:
Nếu có thể hiểu điều này th́ sanh về cơi kia
chẳng phải là sanh trong cơi nước ấy, mà là sanh
trong cơi An Lạc nơi tự tánh).
Câu nói này là lời thật, v́ sao? Tây
Phương Cực Lạc thế giới do tự tánh biến
hiện, chẳng phải là sanh về Tây Phương Tịnh
Độ của ai khác, mà là sanh vào Tịnh Độ trong
tự tánh. Nghe nói tới Tịnh Độ trong tự tánh,
cũng có lẽ lại hoài nghi, rốt cuộc là Tây
Phương có Tịnh Độ hay không? Tự tánh Di
Đà, vậy th́ Tây Phương Cực Lạc thế giới
có Phật Di Đà hay không? Chúng ta có c̣n nên lễ Tây
Phương A Di Đà Phật hay không? Có vẫn nên cầu
sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới hay không?
Xưa kia, lăo pháp sư Đàm Hư có một người học tṛ nghe Đàm lăo pháp sư giảng
về Tây Phương Cực Lạc thế giới, nói “duy tâm Tịnh Độ, tự
tánh Di Đà”. Ông ta nghe xong, ngủ chẳng được,
suy nghĩ mấy ngày rồi đến hỏi lăo ḥa
thượng: “Đă đều là tự tánh, chúng ta có cần
phải cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ nữa
hay không?” Lăo ḥa thượng trả lời rất tuyệt,
hỏi ngược lại ông ta: “Biên giới giữa tự
tánh Tịnh Độ và Tây Phương Tịnh Độ
là ở chỗ nào?” Ông ta nghe xong, nghĩ ngợi cả buổi,
thưa: “Chẳng t́m thấy biên giới”. T́m chẳng thấy
biên giới, không phải là như một ư? Những chỗ
giống như vậy dễ nẩy sanh hiểu lầm nhất.
V́ thế, đoạn này chẳng dễ nói. Nếu nói ra, sẽ
khiến cho quư nẩy sanh hiểu lầm, ngay cả Tịnh
Độ cũng không tin tưởng.
(Sao) Tuy vân thập vạn ức tŕnh.
(鈔) 雖云十萬億程。
(Sao: Tuy nói là đường xa mười vạn ức
[cơi nước]).
Nói đến khoảng cách giữa thế giới
Sa Bà và thế giới Cực Lạc là mười vạn ức
cơi Phật, nên bảo là “thập
vạn ức tŕnh”.
(Sao) Hà tằng chỉ xích động bộ, cố vị
bất lao đàn chỉ đáo Tây Phương dă.
(鈔) 何曾咫尺動步,故謂不勞彈指到西方也。
(Sao:
Chưa từng cất bước trong gang tấc, nên nói là
“chưa nhọc sức trong một cái khảy ngón tay đă
đến Tây Phương”).
Có những kẻ chẳng mong văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới, lại c̣n khuyên
kẻ khác chớ nên cầu sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới, v́ sao? Thế giới Tây Phương rất
xa, mười vạn ức cơi Phật, khi nào mới có thể
đến được? Họ khuyên quư vị cầu
sanh Tịnh Độ của ngài Di Lặc. Tịnh Độ
của ngài Di Lặc gần gũi, ở ngay trong tầng
trời thứ tư của Dục Giới, lại c̣n chê
bai quư vị “bỏ gần cầu xa, ngu si quá!” Họ nói chẳng
sai! V́ sao chẳng sai? Có xa gần, xa gần là hai pháp, họ
rớt vào hai pháp. Chúng ta cầu sanh Tây Phương Tịnh
Độ chẳng có xa hay gần. Chẳng có xa hay gần
th́ là pháp bất nhị, cơi này và phương khác là một,
chẳng hai! V́ vậy, “hà tằng
chỉ xích động bộ” (chưa từng cất
bước trong gang tấc). “Chỉ”
(咫)[9] là gần, nói cách
khác, quư vị c̣n chưa giở một bước chân,
trong khoảng một cái khảy ngón tay đă đến Tây
Phương Cực Lạc thế giới, v́ sao? Chuyển
biến cảnh giới, lập tức đến đó. Nếu
chẳng phải là tự tánh diệu dụng không ngằn
mé, làm sao có thể đến đó trong một niệm cho
được?
Không chỉ là trong một niệm có thể đến
Tây Phương, mà là một niệm trọn khắp pháp giới!
Người biết sự thật này rất ít. Nếu một
niệm chẳng thể trọn khắp pháp giới, Phật,
Bồ Tát trong khắp pháp giới làm sao có thể biết
khởi tâm động niệm của chúng ta? Có thể thấy
là một niệm của chúng ta giống như làn sóng
điện, ngay lập tức truyền khắp pháp giới.
V́ vậy, Phật, Bồ Tát ở bất cứ góc nào trong
pháp giới đều tiếp nhận làn sóng điện ấy,
đều biết. Tây Phương Cực Lạc thế
giới cách chúng ta mười vạn ức cơi Phật. Kinh Vô Lượng Thọ cho biết
người trong cơi ấy (cơi Cực Lạc), tất cả
mọi người, chẳng có một ai là ngoại lệ,
hết thảy chúng sanh trong mười phương thế
giới khởi tâm động niệm, họ đều
biết. Quư vị hỏi v́ sao họ biết ư? Do mỗi
tâm niệm của chúng ta đều trọn khắp pháp giới,
giống như làn sóng điện trọn khắp pháp giới.
Họ khởi tâm động niệm cũng trọn khắp
pháp giới, nay chúng ta chẳng biết, là v́ bộ máy tiếp
nhận của chúng ta bị trục trặc, chẳng nhanh
nhạy. Trục trặc là ǵ? Trục trặc là ô nhiễm,
đức Phật gọi [sự ô nhiễm ấy] là vọng
tưởng, chấp trước. Do chúng ta có vọng
tưởng, chấp trước, nên lục căn mới
nẩy sanh trục trặc. Chỗ hơi xa một chút bèn
chẳng biết, chẳng thâu nhận được. Chỗ
gần cũng chẳng thâu nhận được! Quư vị
ngồi ngay trước mặt tôi, trong tâm quư vị
nghĩ điều ǵ, tôi đều không biết, bị trục
trặc quá nghiêm trọng! Trừ khử vọng tưởng,
chấp trước, sẽ chẳng c̣n trục trặc nữa,
năng lực liền khôi phục, bất cứ chuyện
nhỏ nhặt nào trong mười phương thế giới
chúng ta đều biết rành mạch, rơ ràng.
(Sao) Như kỳ Chân Như bất thủ tự
tánh, ngũ đạo tùy duyên, tắc thị cùng tử lữ
bạc tha hương, ưng quy cố lư.
(鈔) 如其真如不守自性,五道隨緣,則是窮子旅泊他鄉,應歸故里。
(Sao:
Nếu Chân Như chẳng giữ lấy tự tánh, tùy
duyên trong năm đường, sẽ là đứa con
nghèo túng phiêu bạt quê người, hăy nên quay về quê
cũ).
Chẳng thể không có mấy câu này. Nếu chẳng
có những câu này, đoạn khai thị này của Liên Tŕ
đại sư sẽ có khuyết điểm. Hai câu
trước nói về chân tướng sự thật, là cảnh
giới của bậc giác ngộ. Tuy nói với chúng ta,
chúng ta chưa ngộ, người chưa ngộ th́ như
thế nào? Người chưa ngộ th́ phải thật
thà niệm Phật cầu sanh về thế giới Tây
Phương. Nay chúng ta tuy hiểu một tí đạo lư,
nhưng phải hiểu bất quá chỉ là một chút tri
giải mà thôi, chứ công phu lẫn địa vị đều
chưa đạt tới, đúng như thế đó! V́ vậy,
quyết định chớ nên có tâm ngạo mạn chút nào!
“Chân Như chẳng giữ lấy
tự tánh” chính là mê hoặc, điên đảo, cũng
là “một niệm bất giác”
như Khởi Tín Luận đă nói. Một niệm bất
giác là Chân Như chẳng giữ lấy tự tánh.
(Diễn) Như kỳ hạ kết khuyến.
(演) 如其下結勸。
(Diễn: Từ chữ “như kỳ” trở
đi là phần tổng kết lời khuyên).
Đoạn văn từ câu “như kỳ Chân Như bất thủ tự tánh”
trở đi là phần kết khuyến.
(Diễn) Nhược quả năng liễu tri bản
thể bất ly đương xứ, tắc cao sơn
b́nh địa tổng Tây Phương, hà tu nguyện sanh bỉ
quốc? Như cổ vân: “Chánh niệm A Di Đà Phật thời,
bảo tŕ, thụ ảnh nhật tŕ tŕ. Cánh tŕ tâm niệm
sanh Tây độ, hựu thị trùng tài nhăn thượng
my”, thị dă.
(演) 若果能了知本體不離當處,則高山平地總西方,何須願生彼國。如古云:正念阿彌陀佛時,寶池樹影日遲遲,更馳心念生西土,又是重栽眼上眉,是也。
(Diễn:
Nếu thật sự có thể biết bản thể chẳng
ĺa đương xứ, ắt núi cao hay đất bằng
đều là Tây Phương, cần ǵ phải nguyện
sanh về cơi ấy? Như cổ nhân nói: “Ngay trong khi niệm
A Di Đà Phật, ao báu, bóng cây ngày ngày cảm nhận. Tâm
niệm cứ khăng khăng sanh về cơi trời Tây,
chính là trên mắt gắn thêm đôi mày”, chính là ư này vậy).
Những câu này nói về bậc thật sự
minh tâm kiến tánh. Người minh tâm kiến tánh mà
cũng làm theo cách giống như bọn sơ học chúng
ta th́ gọi là “trên đầu
chồng thêm cái đầu”. Đoạn này có ư nghĩa
như vậy. Nhưng người minh tâm kiến tánh, những
vị đại Bồ Tát như Văn Thù, Phổ Hiền
trong hội Hoa Nghiêm vẫn phải phát nguyện cầu
sanh Tịnh Độ, chẳng phải là “trên mắt gắn thêm đôi mày” ư? Có phải
là trên đầu chồng thêm một cái đầu nữa,
vẽ rắn thêm chân ư? Đó là đa sự! Có phải
là đa sự hay không? Chẳng phải! Các Ngài đại
từ đại bi, nêu gương cho kẻ chưa giác ngộ.
Người thật sự giác ngộ cần ǵ lại đến
thị hiện trong thế gian? Thích Ca Mâu Ni Phật thị
hiện thành Phật, có ư nghĩa ǵ? Huống hồ lại
chẳng ngừng thị hiện? Trong kinh Phạm Vơng, lăo
nhân gia nói Ngài thị hiện thành Phật trong thế giới
Sa Bà lần này là lần thứ tám ngàn, đến thị
hiện trùng lặp như vậy nhằm ư nghĩa ǵ? Có phải
là quá thừa thăi hay chăng? Chẳng phải, [Ngài đến
thị hiện] nhằm tiếp dẫn chúng sanh, khơi gợi,
phát khởi chúng sanh. Chính Ngài có làm hay không? Bản thân Ngài thật
sự chẳng làm! Chúng ta phải hiểu điều này;
đấy mới là chân tướng thật sự. Phật,
Bồ Tát không làm mà làm, làm mà không làm, các Ngài đến biểu
diễn cho chúng ta thấy. Tây Phương thế giới
là do Phật, Bồ Tát biểu diễn, lẽ nào thế giới
Hoa Tạng lại chẳng phải là biểu diễn? Thảy
đều là biểu diễn. Do đó, sau khi đă ngộ,
trong tâm chẳng c̣n có phân biệt, chấp trước nữa.
Ĺa phân biệt, chấp trước, há c̣n có cơi này và
phương khác ư? Cơi này và phương khác là do phân biệt,
chấp trước nên mới có. Ở đây nói “cao sơn b́nh địa tổng
thị Tây Phương” (núi cao hay đất bằng
đều là Tây Phương) chính là đạo lư này. Thật
sự chẳng có phân biệt, chẳng có chấp trước,
chẳng có vọng tưởng, cảnh giới là thanh tịnh,
b́nh đẳng như một, nói lên ư nghĩa này, tức là
Tịnh Độ trong tự tánh hiện tiền. Tự
tánh Tịnh Độ đă hiện tiền, vẫn phải
niệm Phật cầu sanh Tây Phương, đó là đại
từ đại bi phổ độ chúng sanh.
(Diễn) Như kỳ Chân Như bất thủ tự
tánh, ngũ đạo tùy duyên.
(演) 如其真如不守自性,五道隨緣。
(Diễn: Nếu Chân Như chẳng giữ lấy
tự tánh, tùy duyên trong năm đường).
Nói đơn giản, “bất thủ tự tánh” là chẳng khai ngộ,
chẳng kiến tánh. Thưa cùng chư vị, giải ngộ
chẳng sử dụng được! Giải ngộ là
ta liễu giải những điều này rất rơ ràng,
rành rẽ, và cũng có thể nói đến nỗi hoa trời
rơi tán loạn, pháp nào cũng là đạo. Tuy hiểu
rơ đạo lư, nhưng phiền năo chẳng đoạn,
t́nh chấp chẳng quên, chẳng phải là thật sự
đoạn. Đối với tín giải hành chứng, ta
chỉ làm được giải, chẳng có hành, hành là ǵ?
Hành là thật sự đoạn phiền năo; hành là thật
sự tu tâm thanh tịnh, tâm b́nh đẳng. Ta chẳng vận
dụng công phu này, sẽ chẳng thể đạt đến
thanh tịnh, b́nh đẳng, do thiếu hành! Chẳng có
hành, lấy đâu ra chứng? Nói cách khác, dẫu quư vị
hiểu nhiều đến mấy, vẫn là lục đạo
phàm phu, quyết định chẳng thoát khỏi tam giới,
chính ḿnh phải hiểu rơ điều này. Ngàn vạn phần
đừng nghĩ chính ḿnh hiểu kinh giáo đôi chút, biết
nói này nọ, [bèn vênh váo]: “Ta là Bồ Tát tái lai”, “ta là vị
La Hán nào đó tái lai”, đáng kinh sợ quá! Sẽ tạo ra
vô lượng vô biên tội nghiệp. Không chỉ là chúng ta
chẳng thể tự nói về bản thân [như vậy],
mà đối với các vị tổ sư đại đức
cũng chớ nên ca tụng quá lố! Ca tụng quá lố,
sẽ như pháp sư Ấn Quang đă
nói: “Không phải là tô son trát phấn
cho người ta, mà là đặt một đống phân lớn lên đầu họ!”
Nhất là trong thời đại hiện tại, dẫu
là Bồ Tát tái lai, quư vị cũng chẳng cần phải
nói các Ngài là Bồ Tát tái lai. V́ sao? V́ kẻ giả mạo
Phật, Bồ Tát trong thế gian này đông quá. Bồ Tát
thật sự tái lai, quư vị nói ra, [kẻ khác sẽ dè bỉu]:
“Gă ấy vẫn là mạo nhận y chang”, chẳng có ai tin
tưởng! Sao lại khiến cho kẻ khác tạo nghiệp?
Phàm phu là phàm phu, giống như diễn tuồng, ở trên
sân khấu [được giao] diễn vai ǵ bèn diễn vai
đó, chẳng cần quan tâm phía sau sân khấu [thân phận
thật sự của] họ là như thế nào! Đó là
dùng Sự để luận Sự, đấy là đúng.
Như vậy th́ sẽ giảm thiểu khuyết điểm
đến mức thấp nhất.
Mê hoặc, điên đảo, bèn “ngũ đạo tùy duyên”. Ngũ
đạo là lục đạo. Nói “ngũ đạo” tức là chẳng nói tới A
Tu La, A Tu La ở trong đường nào bèn tính gộp vào
đường ấy. Nói thông thường th́ là “lục
đạo”, tức là cũng coi các vị A Tu La trong cơi trời
là một đạo. Nói “ngũ đạo” là đem A Tu La
trong cơi trời gộp vào trong chư thiên. Thiên, nhân, súc sanh,
ngạ quỷ, địa ngục là ngũ đạo,
cũng là lục đạo luân hồi. Lục đạo
luân hồi rất đáng thương!
(Diễn) Tắc thị cùng tử xả phụ
đào thệ, lưu lạc tha hương.
(演) 則是窮子捨父逃逝,流落他鄉。
(Diễn:
Tức là đứa con nghèo túng bỏ cha trốn đi,
lưu lạc chốn quê người).
Hai câu tỷ dụ này xuất phát từ kinh
Pháp Hoa. “Phụ” (cha) là sánh
ví Chân Như tự tánh. Nay quư vị mê mất tự tánh, giống
như đứa bé mê mất gia đ́nh, chạy ra ngoài. Nếu
mong được an ổn, b́nh an, vẫn là ngay lập tức
ngoan ngoăn trở về nhà, phải t́m đường trở
về nhà! Do đă mê mất tự tánh, nên lưu chuyển
trong lục đạo. Chỉ có một phương pháp
th́ quư vị mới có thể trở về tự tánh,
phương pháp ǵ vậy? Cầu sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới.
(Diễn) Tắc ưng yếm thử ngũ trược,
hân bỉ Tây Phương, phát nguyện văng sanh bất khả
hoăn dă.
(演) 則應厭此五濁,欣彼西方,發願往生不可緩也。
(Diễn: Tức là hăy nên chán cơi năm trược
này, yêu thích cơi Tây Phương kia, phát nguyện văng sanh, chớ
nên tŕ hoăn!)
Lại chẳng thể tŕ hoăn. Tŕ hoăn lần
này, lần sau lại gặp gỡ cơ duyên này, chẳng
biết là đời nào, kiếp nào? Chuyện này rất
đáng sợ! Lời khuyên cuối cùng của đại
sư hay lắm, những câu kết lại lời khuyên
đều là nói về trạng huống của chúng ta trong
hiện thời, chúng ta hăy nên thấu hiểu thâm ư chỉ
dạy của Liên Tŕ đại sư. “Ưng quy cố lư” (Hăy nên về quê cũ), “quê
cũ” là nói tới Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Nhị, xuất kỳ sở dĩ.
二出其所以。
(Hai, là nêu nguyên do).
Nêu rơ v́ sao chúng ta phải văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới. Tuy chúng ta mê hoặc,
điên đảo, nhưng các thế giới của
chư Phật trong mười phương rất nhiều,
v́ sao không cầu sanh về các Tịnh Độ khác của
chư Phật, cứ khăng khăng cầu sanh Tây
Phương Tịnh Độ, do lư do nào? Có thể thấy
tầm trọng yếu của đoạn văn này. Đoạn
văn này nhằm trả lời nghi vấn ấy!
(Kinh) Sở dĩ giả hà? Đắc dữ như
thị chư thượng thiện nhân, câu hội nhất
xứ.
(經) 所以者何。得與如是諸上善人。俱會一處。
(Kinh:
V́ cớ sao vậy? Được cùng với những vị
thượng thiện nhân như vậy ở cùng một chỗ).
Đạo lư ở chỗ này. Ngay cả Văn
Thù, Phổ Hiền, quư vị hỏi các Ngài v́ sao muốn
sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới,
cũng là do lư do này. Các cơi Phật ở phương khác tốt
đẹp, nhưng chẳng có bậc thượng thiện
nhân đông đảo ngần ấy! “Thượng thiện” là ǵ? Đẳng Giác Bồ
Tát. Trong các cơi Phật ở những thế giới
phương khác, Đẳng Giác Bồ Tát quá ít, hiếm
hoi! Trong Tây Phương Cực Lạc thế giới,
Đẳng Giác Bồ Tát quá đông, khắp mọi nơi
đều có. Ở chung với những vị ấy, chúng
ta mới có thể chẳng bị thoái chuyển, mới có
thể tiến bộ. Đó là hoàn cảnh tu học tốt
nhất, đạo lư là như thế đó.
(Sớ) Thử
nhiếp tiền trưng khởi, hà cố giáo nhân phát nguyện
sanh bỉ, dĩ bỉ quốc thị chư thượng
thiện nhân đồng hội chi xứ, đắc sanh bỉ
quốc, tắc nhập như thị thắng hội. Cố
đương cầu sanh.
(疏) 此躡前徵起,何故教人發願生彼,以彼國是諸上善人同會之處,得生彼國,則入如是勝會,故當求生。
(Sớ:
Đoạn này thâu nhiếp ư trong phần trước để
gạn hỏi: V́ sao dạy người khác phát nguyện
sanh về cơi ấy? Ấy là v́ cơi ấy là nơi các vị
thượng thiện nhân cùng tụ hội. Được
sanh về cơi ấy, sẽ dự vào hội thù thắng
như vậy. V́ thế, hăy nên cầu sanh).
Nêu bày trọn hết đạo lư này cho chúng
ta. Trong sách Diễn Nghĩa có chú giải. Trong lời chú giải
có một câu quan trọng nhất, tức là chúng ta sẽ dự
vào hội của các vị thượng thiện nhân. Chúng
ta sẽ gia nhập làm hội viên của hội ấy,
cùng tu một chỗ với các Ngài. V́ thế, câu cuối
cùng này là câu quan trọng nhất.
(Diễn) Thượng năi tường trần y chánh
chủng chủng trang nghiêm.
(演) 上乃詳陳依正種種莊嚴。
(Diễn: Trên đây đă tŕnh bày cặn kẽ các
thứ trang nghiêm nơi y báo và chánh báo).
Tiếp
nối những ư về sự trang nghiêm nơi y báo và chánh
báo trong Tây Phương Cực Lạc thế giới đă
nói trong các phần kinh văn trên đây.
(Diễn) Cố khuyến phát nguyện cầu sanh.
(演) 故勸發願求生。
(Diễn: Là để khuyên phát nguyện cầu
văng sanh).
Khuyên
chúng ta phát nguyện cầu sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới.
(Diễn) Kim xuất kỳ sở dĩ trung.
(演) 今出其所以中。
(Diễn: Nay nêu ra lư do).
Trong phần trên khuyên chúng ta hăy văng sanh; ở
đây, nêu rơ nguyên nhân và đạo lư văng sanh. Nếu quư vị
hiểu rơ, [sẽ thấy] không thể chẳng văng sanh! Tuy
y báo và chánh báo trang nghiêm tốt đẹp, ta sống trong một
cái cḥi tranh nhỏ cũng yên tâm thoải mái, ta chẳng mong
văng sanh! Hạng người như vậy cũng rất
nhiều! Quư vị có nhà cao cửa rộng sang trọng,
đẹp đẽ, nguy nga, tráng lệ, nhường cho họ
ở, họ chẳng muốn ở. “Quư vị cho tôi một
căn nhà to, tôi không muốn ở. V́ sao? Quét dọn phiền
toái quá, tôi chẳng muốn ở!” V́ thế, họ chẳng
thể động tâm. Trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới, y báo và chánh báo trang nghiêm, cung điện bảy
báu, có rất nhiều người thấy vậy mà chẳng
động tâm, vẫn chẳng muốn đến đó.
Nay thấy điều này: Các vị thượng thiện
nhân cùng tụ hội một chỗ, không thể nào chẳng
đi!
(Diễn) Đản vân đắc dữ chư
thượng thiện nhân, đồng hội nhất xứ,
bất ngôn đắc thọ chủng chủng diệu lạc,
duy cử chánh nhi bất cập y giả, dĩ lạc sự
phi trân, thiện hữu vi trân.
(演) 但云得與諸上善人,同會一處,不言得受種種妙樂,唯舉正而不及依者,以樂事非珍,善友為珍。
(Diễn:
Chỉ nói “được ở cùng một chỗ với
các vị chư thượng thiện nhân”, chẳng nói
“được hưởng các thứ vui sướng nhiệm
mầu”, chỉ nêu chánh báo mà chẳng nhắc tới y báo,
v́ chuyện vui chẳng quư báu, bạn lành mới là quư báu).
Tôi vừa mới nói, tuy sung sướng,
nhưng có rất nhiều người vẫn không mong muốn:
“Nói tới chuyện hưởng thụ, tôi thấy chẳng
có ǵ là hay ho, hoàn toàn chẳng thích thú!” Trân bảo, chuyện
vui thú hoàn toàn chẳng phải là ai cũng đều coi trọng.
“Trân” (珍) là coi rất trọng!
Có rất nhiều người chẳng để vào mắt,
“thiện hữu vi trân” (bạn
lành là quư báu), thật vậy! Một người sống
trong thế gian, nói thật thà, trong một đời có thể
gặp một tri kỷ, tri tâm, chẳng sống uổng
phí một đời này! Suốt một đời chẳng
có kẻ tri giao, đă sống uổng đời này,
đúng như vậy đó! Có thể thấy bạn lành
trân quư, chẳng giả tí nào, chỉ có thể gặp, chứ
không thể cầu. Tiếp đó, dẫn một câu chuyện
từ cổ thư:
(Diễn) Đại Học vân: “Sở quốc vô
dĩ vi bảo, thế nhân thượng bất bảo châu
ngọc, nhi bảo thiện nhân”. Hà huống xuất thế
chi giáo, cố cử chánh nhi bất cập y dă.
(演) 大學云:楚國無以為寶,世人尚不寶珠玉,而寶善人,何況出世之教,故舉正而不及依也。
(Diễn:
Sách Đại Học chép: “Nước Sở chẳng coi
thứ ǵ quư báu, người đời chẳng quư trọng
châu ngọc, mà quư trọng người lành”. Huống hồ
giáo pháp xuất thế gian? V́ thế, chỉ nói tới chánh báo, chẳng nhắc tới y báo).
Người thật sự có đạo đức,
có học vấn trong thế gian rất hờ hững
đối với những thứ trân bảo trong cơi đời,
trọn chẳng có tâm tham luyến, trông thấy mà chẳng
động ḷng. Quư vị kể với họ Tây
Phương Cực Lạc thế giới tốt đẹp
dường ấy, [họ sẽ bảo] “tôi chẳng mong
hưởng thụ”, chẳng để những thứ ấy
vào mắt! Nhưng nói đến thiện nhân, họ liền
hoan hỷ, do coi trọng bậc thiện nhân. Pháp thế
gian c̣n như thế, huống hồ pháp xuất thế! V́
lẽ đó, khuyên lơn ở chỗ này, dùng chuyện “thiện
nhân đông đảo” để khuyến khích chúng ta, chẳng
nói tới những điều khác. Y báo và chánh báo trang nghiêm
như đă nói trong phần trước khiến kẻ
tham cầu hưởng thụ động ḷng: “Tốt
đẹp dường ấy, chúng ta đi ngay lập tức!”
Người đức hạnh cao, tâm địa thanh tịnh,
chẳng tham cầu trân bảo, nói những chuyện trên
đây, họ chẳng động tâm. Nói “chư thượng thiện nhân câu hội nhất xứ”,
họ động tâm, cũng muốn cầu sanh thế giới
Tây Phương. Đấy là mới thích hợp khắp ba
căn, lợi căn lẫn độn căn thâu nhiếp
hoàn toàn, thảy đều khuyên bảo.
(Sao) Trưng hữu nhị nghĩa.
(鈔) 徵有二義。
(Sao: Gạn hỏi là v́ có hai ư nghĩa).
“Trưng” (徵) là gạn hỏi. “Sở
dĩ giả hà” là câu hỏi, [ư nói] v́ sao phải khuyên
quư vị văng sanh. Trong lời nghi vấn ấy có hai ư
nghĩa:
(Sao) Nhất giả, Sa Bà diệc thị Phật bang,
hà tất viễn ly cố quốc?
(鈔) 一者娑婆亦是佛邦,何必遠離故國。
(Sao: Một là Sa Bà cũng là cơi Phật, cớ ǵ cứ
phải xa ĺa nước cũ?)
Thế giới Sa Bà là Tịnh Độ của
Thích Ca Mâu Ni Phật, nội viện của Di Lặc Bồ
Tát cách chúng ta không xa. V́ sao chẳng cầu sanh trong nước
ḿnh mà qua thế giới Cực Lạc? Đây là một
nghi vấn.
(Sao) Nhị giả, thập phương vô tận Phật
sát, nhược vị thiên hướng Tây Phương? Cố
trưng kỳ diêu.
(鈔) 二者十方無盡佛剎,若為偏向西方?故徵其繇。
(Sao: Hai là mười phương cơi Phật vô tận.
V́ sao thiên trọng Tây Phương? V́ thế, gạn hỏi
nguyên do).
Các Tịnh Độ khác trong mười
phương thế giới vô lượng vô biên, v́ sao không
cầu sanh trong thế giới của Đông Phương
Dược Sư Phật? V́ sao cứ phải nhất
định cầu sanh về Tây Phương? Dưới
đây, đại sư giải đáp hai nghi vấn ấy.
(Sao) Kim dung nhi đáp chi, phục hữu tam nghĩa.
(鈔) 今融而答之,復有三義。
(Sao: Nay dung hội để đáp th́ lại có ba
nghĩa).
Dung hợp hai vấn đề ấy để
giải thích. Trong lời giải thích, có ba ư nghĩa.
(Sao) Nhất giả, hoặc hữu quốc độ,
nhân, súc, quỷ, ngục chi sở cộng cư, vị tất
giai nhân cố.
(鈔) 一者,或有國土,人畜鬼獄之所共居,未必皆人故。
(Sao:
Một là hoặc có những cơi nước là nơi người,
súc sanh, quỷ, địa ngục cùng ở, chưa chắc
đă đều là người).
Giống như thế giới Sa Bà, lục
đạo chúng sanh sống xen tạp trong ấy, luân chuyển
trong lục đạo khổ khôn kể xiết, quư vị
ưa thích thế giới này hay chăng? Đấy là sự
thật.
(Sao) Nhị giả, hoặc hữu quốc độ,
tuy thuần nhân sở cư, vị tất giai thiện cố.
(鈔) 二者,或有國土,雖純人所居,未必皆善故。
(Sao: Hai là cũng có quốc độ, tuy thuần
là người cư trụ, nhưng chưa chắc đă
đều là thiện nhân).
Xác thực là có những cơi Phật toàn là loài
người, chẳng có ba ác đạo, mà cũng chẳng
có chư thiên, nhưng những người ấy chưa
chắc đều là thiện nhân. Hiện nay, chúng ta sống
trong xă hội này, chỗ nào cũng đều cảm thấy
chẳng an toàn, nguyên nhân ở chỗ nào? Chưa chắc
đều là người lành! Đến đâu cũng
đều có cướp bóc, trộm cắp, có nguy cơ
đối với sanh mạng và tài sản. Xă hội Trung
Hoa có kẻ ác, mà xă hội ngoại quốc cũng có
người ác. Hiện thời, đi xa, có đề pḥng
cũng chẳng đề pḥng nổi! Mỗi lần chúng
ta mất hành lư, mất giấy tờ, mất tiền bạc
tại phi trường, ngày nào chẳng có? Hằng ngày
đều có, mỗi ngày chẳng biết đă trông thấy
bao nhiêu lần! Chưa chắc đều là tốt lành,
đó là một nguyên nhân.
(Sao) Tam giả, hoặc hữu quốc độ, tuy
thuần thiện nhân sở cư, vị tất giai thượng
thiện cố.
(鈔) 三者,或有國土,雖純善人所居,未必皆上善故。
(Sao: Ba là hoặc có quốc độ, tuy thuần
là người lành cư trụ, nhưng chưa chắc
đă đều là bậc thượng thiện).
“Thượng thiện”
là chẳng có ai cao hơn được. Thượng thiện
là nói bậc Đẳng Giác Bồ Tát, không phải là nói kẻ
tầm thường. Đến nơi nào để t́m thấy
một thế giới toàn là bậc Đẳng Giác Bồ
Tát nhóm họp? Chẳng t́m thấy! Chỉ riêng có Tây
Phương Cực Lạc thế giới là câu lạc bộ
của các vị Hậu Bổ Phật trong hết thảy
các cơi Phật, các Ngài đều đến bên ấy. Nếu
quư vị đến nơi ấy, Đẳng Giác Bồ
Tát trong mười phương hết thảy các cơi Phật
thảy đều gặp mặt. Di Lặc Bồ Tát trong
thế giới này cũng chẳng phải là ngoại lệ,
Ngài cũng ở bên đó.
(Sao) Kim viết chư thượng thiện nhân, tắc
bất độc vi nhân trung chi thiện, diệc phục
thiện trung chi thiện dă.
(鈔) 今曰諸上善人,則不獨為人中之善,亦復善中之善也。
(Sao:
Nay nói “chư thượng thiện
nhân” tức là không chỉ là người lành, mà c̣n là người
lành nhất trong các người lành).
Giảng rơ “thượng
thiện” là ǵ? Thượng thiện là thiện nhất
trong các thiện nhân.
(Sao) Như thượng sở liệt Thanh Văn, Bồ
Tát, năi chí Bổ Xứ.
(鈔) 如上所列聲聞菩薩,乃至補處。
(Sao: Những vị Thanh Văn, Bồ Tát, cho đến
hàng Bổ Xứ như vừa liệt kê trên đây).
Họ đều là bậc tu hành chứng quả,
nên gọi là “thượng thiện”.
(Sao) Thử đẳng chư thượng thiện
nhân, kim đắc văng sanh, tức dữ câu hội nhất
xứ.
(鈔) 此等諸上善人,今得往生,即與俱會一處。
(Sao: Đối
với các bậc thượng thiện nhân như vậy,
nay đă được văng sanh bèn liền cùng tụ hội
một chỗ với họ).
Nay quư vị cũng là hễ sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới bèn ở chung với
họ. Những lời tiếp theo đây là sự thật,
chẳng phải là ca ngợi.
(Sao) Sở vị Quán Âm, Thế Chí, bả thủ cộng
hành, Văn Thù, Phổ Hiền, thân vi thắng hữu.
(鈔) 所謂觀音勢至,把手共行;文殊普賢,親為勝友。
(Sao: Đó gọi là Quán Âm, Thế Chí nắm tay nhau
cùng đi, Văn Thù, Phổ Hiền đích thân làm bạn
thù thắng).
Tới Tây Phương Cực Lạc thế giới,
nay chúng ta thấy tượng đức Quán Âm bèn đảnh
lễ Ngài, sang cơi kia, sẽ cùng Quán Âm Bồ Tát nắm tay
cùng đi dạo. Quán Âm Bồ Tát là Đẳng Giác Bồ
Tát, chúng ta sang bên ấy, hạ hạ phẩm văng sanh vẫn
là người hay trời, người hay trời mà có thể
cùng với Bồ Tát tay cầm tay cùng nhau đi dạo.
Trong các thế giới khác, chẳng thể nào có được;
chỉ riêng thế giới Tây Phương là có. Có muốn
sanh về đó hay chăng? Chẳng thể nào không văng
sanh! Những vị Bồ Tát ấy có khá nhiều vị là
cổ Phật tái lai, đều đă thành Phật từ
lâu. Hằng ngày chúng ta có thể ở chung với các vị
Bồ Tát tại một chỗ, hằng ngày cùng với những
vị ấy như h́nh với bóng chẳng rời. Quư vị
ngẫm xem: Lẽ nào quư vị có thể thoái chuyển cho
được? Lẽ đâu quư vị chẳng thành Phật
trong một đời? Dưới đây là nêu một tỷ
dụ.
(Sao) Dụ như đăng Long, dự Doanh, thế
sở hy cố.
(鈔) 喻如登龍與瀛,世所希故。
(Sao: Ví như lên Long Môn, dự vào Doanh Châu, hiếm
có trong đời).
Đây là hai câu chuyện.
(Diễn) Đăng Long giả, Đông Hán Lư Ưng.
(演) 登龍者,東漢李膺。
(Diễn: “Lên Long Môn” là nói tới Lư Ưng[10] thời Đông
Hán).
Người này sống vào thời Đông Hán[11],
là một vị ẩn sĩ, là người đọc
sách.
(Diễn) Thượng khí tiết cô cao tuấn bạch,
thiểu sở giao du.
(演) 尚氣節孤高峻白,少所交游。
(Diễn: Khí tiết cao thượng, không xu nịnh,
thanh khiết, ít giao du).
Có học vấn, có đạo đức, chẳng
dễ dăi tiếp nhận kẻ khác, rất ít kết bạn
với kẻ khác. Người có thể kết bạn với
ông ta đều được người đời bội
phục.
(Diễn) Nhân bị kỳ dung tiếp giả, dĩ
vi đăng Long Môn vân.
(演) 人被其容接者,以為登龍門云。
(Diễn: Người được ông ta chấp
nhận, coi như được lên Long Môn[12]).
Khó khăn ngần ấy, ông ta có thể coi trọng
quư vị là chuyện chẳng dễ dàng. Nêu lên một thí dụ
như thế đó.
(Diễn) Dự Doanh giả, Đường Thái Tông
khai Hoằng Văn Quán.
(演) 與瀛者,唐太宗開宏文館。
(Diễn: “Dự vào Doanh Châu”: Đường Thái
Tông mở Hoằng Văn Quán).
Đường Thái Tông mở Hoằng Văn
Quán; đây là một sự nghiệp thuần túy văn học
của Đường Thái Tông, giống như viện
nghiên cứu trung ương trong hiện tại, hoặc giống
như Hàn Lâm Viện trong đời sau, mời mọc
văn nhân trong thiên hạ họp mặt.
(Diễn) Dĩ Đỗ Như Hối đẳng,
thập bát nhân vi học sĩ.
(演) 以杜如晦等,十八人為學士。
(Diễn: Chọn mười tám người
như ông Đỗ Như Hối[13] v.v… làm học
sĩ).
Học sĩ của Hoằng Văn Quán.
(Diễn) Nhân tiện kỳ vinh, dĩ vi Doanh Châu chi
tuyển.
(演) 人羨其榮,以為瀛州之選。
(Diễn: Người ta hâm mộ vinh dự ấy,
coi như họ được tuyển vào Doanh Châu[14]).
Đều khá khó khăn. Nay chúng ta văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới, giống như
thế tục nói là “đăng
Long Môn” “Doanh Châu chi tuyển”! Được trúng tuyển,
vinh dự ngần ấy, đó là “thế sở hy cố” (hiếm có trong cơi đời).
Trong toàn thể hư không khắp pháp giới, văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới là chuyện hiếm
có, thật vậy, chẳng giả! Người học Phật
tuy nhiều, có mấy ai sanh về Tây Phương Cực Lạc
thế giới? Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế
giới rất ít ỏi! Chẳng phải là A Di Đà Phật
và các vị thượng thiện nhân cơi Tây Phương nhất
định muốn nâng cao thân phận của chính ḿnh, chẳng
phải vậy; bởi lẽ, các Ngài chẳng phải là hạng
người như Lư Ưng hay Đường Thái Tông. A Di
Đà Phật giang rộng hai tay hoan nghênh quư vị đến
đó, nhưng chính quư vị chẳng đến th́ c̣n có
cách nào nữa đây? Chọn lựa là do chính chúng ta, chẳng
do A Di Đà Phật. Quyền tuyển chọn dự vào
Long Môn hay Doanh Châu chẳng do chúng ta, mà do người khác [quyết
định], c̣n thế giới Tây Phương do bản
thân chúng ta, chẳng do Phật, Bồ Tát, tùy thuộc bản
thân chúng ta có muốn đến đó hay không!
(Sao) Thị dĩ đại sĩ cầu đăng
liên lục, huống phục phàm phu.
(鈔) 是以大士求登蓮錄,況復凡夫。
(Sao: Do vậy, bậc đại sĩ c̣n xin ghi tên
vào sổ sen, huống hồ phàm phu).
Đây cũng là một công án.
(Diễn) Trường Lô Trách thiền sư kiến
liên xă.
(演) 長蘆賾禪師建蓮社。
(Diễn: Thiền sư Trường Lô Trách lập
liên xă).
Trong Thiền Tông có vị sau khi đại triệt
đại ngộ, bèn quay về phát tâm niệm Phật cầu
sanh Tịnh Độ. Trong Thiền Tông có khá nhiều vị
đại đức tới cuối cùng trở về Tịnh
Độ rất đông. Như ngài Vĩnh Minh Diên Thọ
là tổ sư đời thứ sáu trong Tịnh Độ
Tông, là bậc sau khi đă đại triệt đại ngộ
minh tâm kiến tánh trong Thiền Tông bèn quay về Tịnh
Độ. Ở đây, [ngài Trường Lô Trách] lập
liên xă, mời mọc những người cùng chí hướng
tu pháp môn niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ.
(Diễn) Nhất tịch mộng nhất nhân ô cân bạch
y.
(演) 一夕夢一人烏巾白衣。
(Diễn: Một đêm mộng thấy một
người mũ đen, áo trắng).
“Cân” (巾) là mũ[15],
[‘ô cân”] là đội mũ màu đen, mặc áo trắng. Buổi
tối, Ngài mộng thấy như vậy.
(Diễn) Phong mạo thanh mĩ.
(演) 風貌清美。
(Diễn: Phong thái, dung mạo thanh tú, đẹp
đẽ).
“Phong” (風) là phong độ, dung mạo hết sức thanh tú.
[Ngài Trường Lô Trách] mộng thấy một người
như vậy.
(Diễn) Ấp nhi viết.
(演) 揖而曰。
(Diễn: Vái chào, thưa).
Chắp tay hành lễ, thưa với Sư:
(Diễn) Nguyện nhập liên xă khất thư nhất
danh.
(演) 願入蓮社乞書一名。
(Diễn: Muốn vào liên xă, xin cho ghi danh một chỗ).
Ông ta muốn ghi danh vào liên xă, mong tham gia liên xă
để niệm Phật.
(Diễn) Trách vấn hà danh? Viết Phổ Huệ.
(演) 賾問何名?曰普慧。
(Diễn: Ngài Lô Trách hỏi tên là ǵ? Thưa là Phổ
Huệ).
Thiền sư liền hỏi: “Ông tên ǵ?” Ông ta
đáp là Phổ Huệ.
(Diễn) Hựu vân gia huynh Phổ Hiền, diệc
khất thư danh.
(演) 又云家兄普賢,亦乞書名。
(Diễn: Lại nói: “Gia huynh là Phổ Hiền
cũng xin ghi tên”).
Ông ta đă đến, lại c̣n ghi danh thay cho
anh ḿnh. Ông ta nói: Anh tôi tên Phổ Hiền, tôi tên Phổ Huệ.
(Diễn) Giác nhi tư Hoa Nghiêm hữu nhị Bồ
Tát danh.
(演) 覺而思華嚴有二菩薩名。
(Diễn:
Tỉnh giấc, nghĩ tới kinh Hoa Nghiêm có tên hai vị
Bồ Tát ấy).
Sư tỉnh giấc, suy nghĩ: Trong kinh Hoa
Nghiêm có tên hai vị Bồ Tát ấy. Hai vị Bồ Tát ấy
đều đến ghi danh.
(Diễn) Toại dĩ vi liên lục chi thủ.
(演) 遂以為蓮錄之首。
(Diễn:
Liền ghi tên hai Ngài đứng đầu sổ liên hữu).
Danh sách trong liên xă ấy, mở đầu bằng
Phổ Hiền Bồ Tát và Phổ Huệ Bồ Tát. Bồ
Tát đến ghi danh, có thể thấy trong tương lai,
nhất định là liên hữu trong liên xă ấy văng sanh
đông đảo. Đó là đạo tràng thật sự.
Nếu trong đạo tràng kèn cựa, đấu đá, chỉ
treo chiêu bài Phật giáo, muốn gây tạo tiếng tăm,
lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần, kẻ
đến ghi danh sẽ là yêu ma quỷ quái, sẽ khiến
cho quư vị một mực hồ đồ! Người
ta chỉ dùng cái tâm chí thành, thật sự mong cầu sanh về
Tịnh Độ. Chúng ta phải đặc biệt chú ư
điều này.
(Sao) Bốc cư do trạch lư nhân, thẩn vân học
đạo, như tư thắng hội, khả vật
nguyện dư?
(鈔)卜居猶擇里仁,矧云學道,如斯勝會,可勿願歟。
(Sao:
Chọn chỗ ở c̣n lựa láng giềng nhân từ, huống
hồ học đạo! Hội thù thắng như thế,
há có thể chẳng nguyện [sanh về đó] ư?)
“Bốc” (卜) tuyệt đối chẳng phải là xủ quẻ,
xem bói, xem Phong Thủy. “Bốc
cư” (卜居) là chọn lựa chỗ ở,
hăy nên hiểu “bốc cư”
là “tuyển trạch” (chọn
lựa). Chọn lựa chỗ để ở, phải chọn
xem xóm giềng có thiện nhân hay không, chúng ta phải ở
với thiện nhân cùng một chỗ. Hễ có thiện
nhân cư trụ bèn là chỗ Phong Thủy tốt đẹp;
nơi chẳng có thiện nhân tồn tại, c̣n nói đến
Phong Thủy chi nữa? “Bốc
cư do trạch lư nhân”, “lư”
là “lân lư” (鄰里: xóm giềng, hàng
xóm), trong chốn lân lư có bậc quân tử nhân từ hay
không? Có người như vậy hay không? Chúng ta phải
làm hàng xóm với bậc quân tử nhân từ. Cổ nhân tuyển
chọn chỗ ở, lấy điều này làm mục tiêu.
Nay th́ phải dùng la bàn xem Phong Thủy, lẩn quẩn làm
những chuyện ấy, nói thật thà, chưa chắc
đă gặp người đạo đức, nhân từ,
mà [sẽ gặp] rất nhiều yêu ma quỷ quái. Yêu ma quỷ
quái tin tưởng những thứ ấy! Người ta
muốn tránh dữ, hướng lành, mong tiêu tai miễn nạn,
chẳng cầu từ nơi hành vi đức hạnh trong
thường ngày, lại cầu quỷ thần giúp đỡ,
há có lẽ ấy! Từ xưa tới nay đă có bói toán nhằm
để cho chúng ta tham khảo. Nếu bói được
quẻ xấu th́ phải làm sao? Chính ḿnh hăy phản tỉnh
rất sâu, ta phạm những lầm lỗi nào? Sửa lỗi
đổi mới là né dữ, hướng lành. V́ thế,
chẳng phải là sửa ở bên ngoài, mà là sửa trong nội
tâm. Sách Liễu Phàm Tứ Huấn giảng sự lư này rất
rơ ràng. Người hiện thời chẳng hiểu đạo
lư này, hoàn toàn sửa đổi nơi h́nh thức bên ngoài.
Đă sửa rồi vẫn không được, vẫn là
vô dụng, đáng thất bại vẫn là thất bại,
đáng mất mát vẫn bị mất mát. Chúng ta thấy
những chuyện như vậy rất nhiều, hăy nên biết
phản tỉnh. Lại xem đoạn kế tiếp,
đại sư giả lập một đoạn vấn
đáp, cũng nhằm đoạn trừ nghi vấn cho
chúng ta.
(Sớ) Vấn: Sanh Cực Lạc giả, kỳ loại
bất nhất, hà đắc khái xưng thượng thiện?
(疏) 問:生極樂者,其類不一,何得概稱上善。
(Sớ: Hỏi: Người sanh về Cực Lạc
thuộc nhiều loại khác nhau, há nên nhất loạt gọi
là thượng thiện?)
Điều này đích xác
cũng là một nghi vấn. Người văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới rất nhiều,
thiện ác cũng chẳng nhất định. Có bậc
thiện nhân văng sanh, mà cũng có kẻ ác lâm chung mười
niệm văng sanh. Nếu người văng sanh thiện lẫn
ác đều có, nhất là [pháp môn Tịnh
Độ] thích hợp khắp ba căn, gồm thâu lợi
căn lẫn độn căn, trên là A La Hán, Bồ Tát văng
sanh, dưới là ngạ quỷ, địa ngục
cũng văng sanh, có thể nào đều gọi họ
là thượng thiện được chăng? Nêu ra câu hỏi
này, chúng ta nghe thấy cũng rất có lư. Liên Tŕ đại
sư đáp rất khéo.
(Sớ) Đáp: Dĩ giai đắc bất thoái chuyển
cố.
(疏) 答:以皆得不退轉故。
(Sớ: Đáp: Do đều đắc bất
thoái chuyển).
“Bất thoái chuyển”
là thiện hạnh của những người ấy chẳng
thoái chuyển, đương nhiên có thể gọi họ
là bậc thượng thiện.
(Sao) Loại bất nhất giả.
(鈔) 類不一者。
(Sao:
Chủng loại chẳng phải chỉ có một).
Trước hết, giải thích về chủng
loại bất nhất.
(Sao) Vị hữu thánh, hữu phàm, hữu đại,
hữu tiểu.
(鈔) 謂有聖有凡,有大有小。
(Sao: Có nghĩa là có thánh, có phàm, có đại
căn, có tiểu căn).
Có Đại Thừa, có Tiểu Thừa.
(Sao) Thượng trung hạ phẩm, phân vị trật
nhiên.
(鈔) 上中下品,分位秩然。
(Sao: Thượng phẩm, trung phẩm, hạ phẩm,
phân chia địa vị theo trật tự rành rành).
Phân chia địa vị theo một thứ tự
rành mạch, rơ ràng. Hăy nên hiểu “nhiên” (然) là rơ ràng hoặc
hiểu rơ.
(Sao) Năi lược kỳ trung hạ, khái viết
thượng thiện, cố vị thử nạn.
(鈔) 乃略其中下,概曰上善,故為此難。
(Sao: Do bỏ qua trung căn và hạ căn, cứ
nhất loạt nói là thượng thiện, nên mới cật
vấn chuyện này).
Bắt bẻ “trung hạ căn quư vị đều
chẳng nhắc tới, luôn nói là thượng thiện, chẳng
lẽ ai nấy đều là thượng thiện ư?”
(Sao) Kim minh chúng sanh sanh giả, giai thị A Bệ Bạt
Trí.
(鈔) 今明眾生生者,皆是阿鞞跋致。
(Sao: Nay nói rơ chúng sanh văng sanh đều là A Bệ Bạt
Trí).
Không riêng ǵ kinh Tiểu Bổn Di Đà có câu này,
mà kinh Đại Bổn Vô Lượng Thọ cũng có,
trong nhiều bản đều có. Chắc chắn chẳng
phải là phiên dịch sai lầm, trong nhiều bản dịch
khác nhau đều thấy điều này, có thể thấy
lời này là thật, tuyệt đối không phải là sai
lầm. Đă là A Bệ Bạt Trí th́ đương nhiên
là bậc thượng thiện. A Bệ Bạt Trí là tiếng
Phạn, chúng ta thường dịch là từ Thất Địa
trở lên. Văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới
xác thực là có bốn cơi, xác thực là có chín phẩm, phẩm
vị xác thực là có cao hay thấp, nhưng trí huệ, thần
thông, đạo lực bằng bậc Bồ Tát từ Thất
Địa trở lên, hy hữu thay! Điều này chẳng
thể nghĩ bàn. Rơ ràng phàm phu, cớ sao có năng lực
giống như bậc Thất Địa trở lên? Nếu
chẳng phải là từ Thất Địa trở lên, há
Thiên Nhăn có thể thấy thấu suốt? Há Thiên Nhĩ có
thể nghe thông suốt? Túc Mạng Thông của A La Hán chỉ
biết tới năm trăm đời. Năm trăm
đời là giới hạn; trước năm trăm
đời, Ngài sẽ chẳng biết. Năng lực của
nhân thiên trong Tây Phương Cực Lạc thế giới
đều chẳng bị hạn chế, vượt trỗi
A La Hán quá nhiều. Đó là những cảnh giới chẳng
thể nghĩ bàn, mà cũng là sự thật chẳng thể
nghĩ bàn.
(Sao) Tắc cứu cánh giai thành Vô Thượng Chánh
Giác, thị Phật cảnh giới, cố vô biệt dă.
(鈔) 則究竟皆成無上正覺,是佛境界,故無別也。
(Sao: Cho nên rốt ráo đều thành Vô Thượng
Chánh Giác, là cảnh giới của Phật. V́ lẽ đó,
chẳng khác biệt ǵ).
Kết luận này càng hay hơn nữa. Phàm là
người sanh về Tây Phương Cực Lạc thế
giới, chẳng có ai không thành Phật viên măn trong một
đời. Đă là thành Phật viên măn trong một đời,
đương nhiên có thể gọi là “thượng thiện”. Nho gia nói “chỉ ư chí thiện” (an trụ trong sự tốt
lành cùng tột). Nói thật ra, đối với “chỉ ư chí thiện”
như Nho gia đă nói, chỉ có trong pháp môn Tịnh Độ
mới là “chỉ ư chí thiện”
danh phù hợp thực. Nếu chẳng cầu sanh Tịnh
Độ, “chỉ ư chí thiện”
là hữu danh hoàn toàn chẳng có thực chất, chẳng
làm được. Đó là lư tưởng của Nho gia, chẳng
phải là sự thật; nhưng trong Tịnh Độ
Tông, nó đă được biến thành sự thật, xác
thực là “chỉ ư chí thiện”
chân thật. Trong hết thảy các kinh, kinh nào cũng đều
là tối thiện, nhưng kinh Vô Lượng Thọ và kinh
Di Đà là “chỉ ư chí thiện”,
đă đạt đến rồi an trụ trong đó, chẳng
có ǵ cao hơn được! Trong tất cả các pháp môn,
một câu A Di Đà Phật là chỉ ư chí thiện.
Trong tất cả hết thảy các thành tựu, văng sanh
Tây Phương Cực Lạc thế giới là thành tựu
điều lành “chỉ ư chí
thiện”. Người niệm Phật rất đông,
nhưng người hiểu rơ ràng, rành rẽ chuyện này
trọn chẳng có mấy ai! V́ lẽ đó, niệm Phật
mới bị ngă ḷng, mới bị chuyển biến.
Thường nói thông tục là đúng, sai, chân, vọng, tà,
chánh, tốt, xấu đều chẳng phân biệt rơ rệt,
há có cách nào ư? Người đời tầm mắt ngắn
ngủi, nông cạn, chỉ nh́n bề ngoài, chẳng biết
tới bên trong!
Tối hôm qua, cư sĩ Giản Phong Văn và
tôi nói chuyện; hiện thời, ông ta
tu hành lại tăng tấn cao hơn, mỗi lần
tăng tấn luôn gặp những nỗi khó khăn, nên
đến t́m tôi mong được giải đáp. Trong câu
chuyện, ông ta nói có nhiều người muốn theo
học với tôi, nhưng không dám đến, do hai nguyên
nhân: Một là tôi không thường ở trong nước.
Hai là có những người chẳng muốn đến
Đồ Thư Quán. Tôi bảo ông ta: Những người
ấy có muốn đến, tôi cũng chẳng mong gặp
họ. V́ sao chẳng cần họ? Tu hành th́ phải chịu
thử thách để trừ diệt sạch trơn phiền
năo và tập khí, quư vị sẽ thành công. Quư vị chẳng
muốn bị thử thách, c̣n nói đến chuyện tu
hành chi nữa? Quư vị hăy t́m nơi thoải mái, ở
đây, tôi chẳng cần quư vị! Tôi cũng chẳng có
nhiều thời gian ngần ấy để lăng phí cùng quư
vị!
Cổ
nhân giáo học, quư vị đọc Thiền Lâm Bảo Huấn
sẽ biết. Cổ nhân nếu coi trọng học tṛ, sẽ
nghĩ đủ mọi cách trù dập, đả kích nó,
xem nó có thể chịu đựng nổi hay không! Chịu
không nổi, bỏ đi, khi tṛ bỏ đi, vị thầy
ấy sẽ tuyệt đối chẳng đau ḷng. V́ sao?
Chẳng thành pháp khí được! Nhất định là
người trăm lần thất bại chẳng ngă ḷng
th́ mới thành tựu! Do đó, người hiện thời
ngu si, thiếu tầm nh́n xa, thiếu trí huệ! Họ có
thể học được đạo ǵ? Có thể thành
tựu ǵ? Nghe băng thâu âm [những lời giảng], cứ
ngỡ học như vậy bèn thành công. Pháp sư Diễn
Bồi gọi [những người như vậy] là thuộc
phe phái ǵ? Phe phái băng thâu âm! Thuộc vào phe phái băng
thâu âm th́ có thể học hiểu hay chăng? Chẳng thể
nào! Chẳng có sư thừa, quyết định là sẽ
học chẳng hiểu! Thậm chí c̣n có rất nhiều kẻ
lấy trộm băng thâu âm, biến thành trộm pháp. Không
chỉ thuộc về phe phái băng thâu âm mà c̣n thuộc
vào phường trộm băng thâu âm, chẳng thể thành
tựu! Giản cư sĩ liễu giải, hiểu biết.
Hiện thời, Đồ Thư Quán của chúng ta xác thực
là một đạo tràng tốt đẹp, một đạo
tràng rất lư tưởng. Nếu có thể chịu nổi
sự khảo nghiệm ở nơi đây sẽ rất
có thành tựu. Chẳng chịu nổi khảo nghiệm,
quyết định chẳng thể thành tựu. Nếu
chúng tôi đối với các vị đồng tu, quư vị
đến, tôi liền hoan hỷ, quư vị bỏ đi,
tôi bực bội, tôi liền đọa lạc, lại biến
thành phàm phu. Quư vị đến cũng thế mà đi
cũng vậy, tôi quyết chẳng động tâm. Quư vị
đến, tôi chiếu cố quư vị, đấy là trách
nhiệm của tôi. Quư vị có thể thành tựu hay không,
nói thật thà, là do Tam Bảo gia tŕ!
Hiện thời, sống trong xă hội như vậy,
trong một xă hội phức tạp dường ấy, sức
dụ dỗ, mê hoặc to mạnh ngần ấy, nếu
ai có thể chống nổi sự dụ dỗ, mê hoặc,
chịu đựng khảo nghiệm, nói thật thà, sẽ
là bậc tái lai, chẳng phải là người thường!
Chẳng phải là bậc tái lai, muốn thành tựu trong
xă hội này sẽ khó hơn lên trời. Tiếng tăm, lợi
dưỡng, ngũ dục, lục trần, có thể động
tâm hay chăng? Hơi bị lôi kéo, dẫn dụ liền
lay động, thứ ǵ cũng đều chẳng cần
phải nói nữa! Có ǵ đáng bàn nữa đây? Trong cái nh́n
của kẻ b́nh phàm, phải lập đại đạo
tràng, xây chùa to lớn, hôm qua tôi đă cùng Giản cư
sĩ phân tích. Tôi nói điều đó không quan trọng, chuyện
quan trọng là bồi dưỡng nhân tài hoằng pháp. Có thể
bồi dưỡng mấy người? Dăm ba người,
tuyệt diệu lắm rồi! Quư vị c̣n mong ngóng bồi
dưỡng rất nhiều, chính là dấy vọng tưởng.
Thầy Lư ở Đài Trung bốn mươi năm, bồi
dưỡng được ba học tṛ! Có thể gặp,
chẳng thể cầu! Chẳng dễ dàng! Chúng ta hy vọng
đạo tràng này có thể thành tựu ba người th́ sẽ
chẳng khiến cho Phật, Bồ Tát thất vọng, chẳng
khiến lịch đại tổ sư thất vọng.
Hoàng lăo cư sĩ cứ khuyên tôi măi. Cụ bảo
tôi hăy bớt giảng kinh, phải nghĩ cách dạy học,
bồi dưỡng nhân tài kế tục. Mục tiêu là “tông thuyết câu thông”. Người
có thể nói thông suốt rất nhiều, kẻ biết
nói rất đông, chẳng có người thật sự tu
hành! Chẳng có người tu hành chứng quả! Tu hành chứng
quả là “Tông thông”. Thử
hỏi, nay quư vị có nắm chắc văng sanh hay chăng?
Chẳng nắm chắc, vậy là chẳng được
rồi! Nay quư vị biết giảng, đă làm được
mấy phần những điều quư vị đă nói? Chẳng
làm được, uổng công! Câu giáo huấn nào trong kinh
điển cũng đều làm được, đó là “Tông thông”. Nay chúng ta cầu
điều này, tuyệt đối chẳng cầu h́nh thức,
tuyệt đối không cầu bề ngoài. Kẻ chẳng
chịu nổi dụ dỗ, mê hoặc th́ là phàm phu, không có
chi là lạ, đó là một hiện tượng rất
b́nh thường. Có thể ở trong dụ dỗ, mê hoặc
mà chẳng lay động, ta biết người ấy thật
sự đáng quư, trong vạn người khó có được
một, hai kẻ, chúng ta phải quư trọng, phải hộ
tŕ. Hôm nay chúng tôi giảng tới đây.
A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
Phần 104
hết
[1] Pháp Diệt Tận Kinh có tên gọi
đầy đủ là Phật Thuyết Pháp Diệt
Tận Kinh, đă mất tên người dịch. Kinh này
được giảng tại nước Câu Di Na Kiệt
(Kushinagar), trước khi Ngài nhập Niết Bàn ba tháng,
giảng về t́nh h́nh khi Phật pháp diệt vong,
đặc biệt nêu rơ vào thời diệt pháp, ma
vương, ngoại đạo sẽ giả làm
đệ tử Phật phá hoại Phật pháp. Dẫu các
vị Bồ Tát và La Hán tận lực hộ pháp vẫn
không thể duy tŕ Phật pháp v́ ác nhân đông đảo,
con người lại thiếu thiện tâm, cũng như
tai họa liên tục xảy ra. Trong kinh này, đức
Phật cũng huyền kư hai kinh Thủ Lăng Nghiêm và Ban
Châu Tam Muội sẽ bị diệt đầu tiên, y ca-sa
của sa-môn trở thành hoa lệ, phù phiếm giống
như y phục của thế tục.
[2] Trường Thọ Thiên chỉ các
vị trời có thọ mạng rất dài. Vô Tưởng
Thiên trong Đệ Tứ Thiền Thiên của Sắc
Giới có thọ mạng là năm trăm đại
kiếp, chư thiên trời Phi Tưởng Phi Phi
Tưởng thuộc Vô Sắc Giới có thọ mạng là
tám vạn kiếp.
[3] Kinh này có tên gọi đầy
đủ là Phật Thuyết Ma Ha Ca Diếp Độ
Bần Mẫu Kinh do tôn giả Cầu Na Bạt Đà La
dịch vào đời Tống.
[4] Yehenara là một chi tộc trong một
đại thị tộc của người Măn Châu,
tức là thị tộc Nara (sử Trung Hoa thường
phiên âm là Nạp Lạt Thị, Nạp Lan Thị hoặc
Na Lạp Thị). Riêng về các phân chi thị tộc
hợp thành liên minh Hốt Luân (Hulun) tại vùng Cát Lâm, có
bốn thị tộc chính là Ô Lạp Na Lạp (Ulanara), Huy
Phát Na Lạp (Hoifanara), Cáp Đạt Na Lạp (Hadanara) và
Diệp Hách Na Lạp. Đứng đầu mỗi
thị tộc là một thân vương có tước
hiệu là Bối Lặc (beile). Thị tộc Diệp Hách
Na Lạp thường sống tại Cát Lâm, Hắc Long
Giang, Liêu Ninh và Nội Mông. Họ là hỗn huyết
giữa người Mông Cổ thị tộc Tümed
và người Măn Châu. V́ họ sống đông nhất
ở vùng sông Yehe nên thị tộc này lấy danh xưng là
Yehenara. Do thị tộc Diệp Hách Na Lạp thần
phục nhà Minh từ lâu và có nhiều đặc quyền,
nên họ không muốn thần phục Nỗ Nhĩ Cáp Xích
(Nurhachi, sáng tổ của nhà Thanh). V́ vậy, với tham
vọng thống nhất các bộ lạc Măn Châu, Nỗ
Nhĩ Cáp Xích quyết tâm tiêu diệt thị tộc
Diệp Hách Na Lạp. Lời nguyền được ḥa
thượng Tịnh Không nhắc đến trên đây do
bối lặc Kim Đài Cát (Jintaiji) phát ra khi thua trận Tát
Nhĩ Hứa (Sarhū), khiến cho các chiến binh giỏi nhất trong
thị tộc tử vong gần hết, thị tộc
Diệp Hách Na La phải thần phục nhà Thanh, các lănh
tụ mất hết thực quyền lẫn lănh
địa. Hiện thời, do ảnh hưởng Hán hóa, những
người thuộc thị tộc này đă đổi
họ thành Na, Nạp, Nam, Lưu, Tô, Triệu, Diệp và Hà.
[5] Khi Lưu Bang (Hán Cao Tổ) mất, Lă
Hậu đă thừa cơ lũng đoạn triều
chánh, đưa con cháu họ Lă nắm quyền, khiến
nhà Hán gần mất nước. Dưới sự lèo lái
của Trần B́nh và Châu Bột, phe cánh họ Lă đă
bị tiêu diệt, Lưu Hằng được tôn lên làm
vua là Hán Văn Đế. Để đền đáp
sự ủng hộ của các hoàng thân, quốc thích trong
cuộc binh biến, Hán Văn Đế đă phong cho
họ tước vương, và cắt đất phong cho
họ thành các nước chư hầu Tề, Triệu,
Sở, cộng thêm với các nước chư hầu
sẵn có từ thời Hán Cao Tổ. Dần dần,
thế lực của chư hầu hùng mạnh, lấn áp
chính quyền trung ương. Theo lời tâu của Giả
Nghị, khi Tề Vương qua đời, Hán Văn
Đế đă chia nước Tề làm sáu nước, và
chia Hoài Nam thành ba nước nhỏ. Khi đó, Triều
Thố là Ngự Sử Đại Phu đă khuyên Văn
Đế hăy mạnh tay giảm thế lực của Ngô
Vương Lưu Tỵ (anh họ của Hán Văn
Đế), nhưng nước Ngô quá mạnh nên không
thể làm ǵ được. Mối bất ḥa giữa
chư hầu và Hán đế càng thêm căng thẳng.
Đồng thời, khi c̣n làm thái tử, Lưu Khải
(về sau trở thành Hán Cảnh Đế) đánh cờ
với con Ngô Vương Lưu Tỵ là Lưu Hiền, do
Lưu Hiền ngạo mạn, Lưu Khải bực
tức, lỡ tay đánh chết Lưu Hiền, nên
hiềm khích giữa đôi bên càng sâu! Khi Hán Cảnh
Đế lên ngôi, Triều Thố khuyên vua tiếp tục
giảm bớt thế lực của các chư hầu.
Bảy nước chư hầu (Ngô, Sở, Triệu, Giao
Đông, Giao Tây, Tế Nam, Truy Xuyên) bèn khởi loạn,
viện cớ “giết Triều Thố để làm
sạch triều chánh”. Do bất ḥa với Triều Thố
từ trước, Viên Áng xúi vua giết Triều Thố
để xoa dịu chư hầu. Dưới sự
bức bách của phe phái Viên Áng, vua đành hạ lệnh
đem Triều Thố ra chợ chém ngang lưng, nhưng
chư hầu vẫn tiếp tục làm loạn.
Đến cuối cùng, phải nhờ đại
tướng quân Đậu Anh thống suất quân
đội giao chiến với chư hầu suốt ba
tháng mới dẹp tan được cuộc nội
loạn.
[6] Hiểu thông thường, lục thân là
những người có quan hệ họ hàng với chính
ḿnh do huyết thống hoặc hôn nhân. Trong cách hiểu
phổ biến nhất, lục thân là cha, con, anh, em, vợ,
chồng. Một cách hiểu khác cũng khá phổ biến,
theo đó, lục thân là cha con, anh em, anh em họ bên nội,
các anh em của ông nội, các anh em của ông cố, các anh
em cùng họ.
[7] “Phù tiết” là những tín vật
nhằm thể hiện sự trao quyền của vua cho các
quan vâng chiếu tuần thú, hoặc trao quyền cho các
tướng lănh điều binh khiển tướng. Phù
thường là ấn tín hoặc lệnh bài, các thẻ
khắc cầu kỳ, hoặc tín vật có khắc huy
hiệu riêng. Thoạt đầu, Phù thường là
một mảnh kim khí hay mảnh trúc có khắc tín hiệu
theo quy định, được bẻ làm hai. Khi gặp
nhau, nếu ghép vào nhau khít khao th́ sẽ chấp nhận người
cầm tín phù ấy đúng là người được
bề trên cử tới. Về sau, Phù chỉ là tín vật
có chạm khắc những biểu tượng riêng, nh́n
vào biết ngay là huy hiệu thể hiện chức
quyền của một người nào đó. Tiết là
cờ lệnh. Chẳng hạn như thời Hán quy định
Tiết có cán làm bằng trúc, sơn màu vàng hoặc
đỏ, dài tám thước (một thước thời
Hán là 32 cm), trên cán buộc đuôi trâu thành chùm. Càng về
sau, Tiết càng hoa lệ, cầu kỳ. Đến
đời Minh, Tiết có cán sơn son thếp vàng, trên
đỉnh bịt đồng mạ vàng có h́nh đầu
rồng, thắt nhiều quả cầu kết bằng
tơ hồng treo bằng dây tơ bện thắt cầu
kỳ. Đời Thanh, giảm số quả cầu
xuống c̣n năm cái, nhưng thêm chuông mạ vàng v.v…
Hễ có Phù th́ có cờ hiệu (Tiết) tương
ứng; “nhược hợp
phù tiết” nghĩa đen là giống như phù và
tiết phù hợp nhau.
[8] Do các vị này giáng sanh tại Ấn
Độ, nên người Hoa nói họ là “người
ngoại quốc”.
[9] Chỉ (咫) là một thước đời Châu,
dài tám tấc, trong khi Xích (尺) cũng là một thước (gồm
mười tấc, chừng bằng 33cm hiện thời);
do đó, “chỉ xích” có
nghĩa là khoảng cách rất nhỏ, rất gần.
[10] Lư Ưng (không rơ năm sanh, mất
năm 169), là người huyện Tương Thành, Dĩnh
Xuyên, thuộc ḍng dơi khoa bảng, cha từng làm đến
chức Tướng Quốc nước Triệu. Sau khi thi
đỗ Hiếu Liêm, Lư Ưng từng làm Thái Thú Thanh Châu,
Ngư Dương, Thục Quận. Tính t́nh cương
trực, khi làm phủ doăn Hà Nam, do phạt tội một
tay có máu mặt ở Uyển Lăng là Dương Nguyên
Quần, bị tố ngược, ông Lư bị phạt
giáng chức, bị triều đ́nh xử phạt nặng
nề. May nhờ Tư Lệ Hiệu Úy Ưng Phụng
biết chuyện, dâng sớ tấu tŕnh nên Lư Ưng
mới thoát tội. Khi em trai hoạn quan Trương Nhượng
là Trương Sóc đang làm huyện lệnh Dă Vương
cậy thế, tàn hại dân chúng, Lư Ưng bèn xử
phạt thẳng tay, nên bị Trương Nhượng sàm
tấu với Hán Hoàn Đế, bị bắt về kinh
đô. Trước mặt vua, Lư Ưng biện luận hùng
hồn, khiến cho Hán Hoàn Đế không cách nào kết
tội được, phải bỏ qua. Năm Diên
Thọ thứ chín (166), ông lại bị bè lũ hoạn
quan vu cáo “báng bổ triều đ́nh, kết bè đảng
làm loạn”, nên bị bắt giam vào ngục, liên lụy
đến hơn hai trăm người. Về sau, nhờ
Giả Bưu thuyết phục ngoại thích (họ hàng bên
vợ của vua) là Đậu Vũ can gián, vua mới tha
tội, nhưng Lư Ưng bị cách tuột hết các
chức quan. Năm Kiến Ninh thứ hai (169), do Đậu Vũ và Trần Phiên
mưu sự trừ diệt bè lũ hoạn quan lộng
quyền. Bọn hoạn quan xúi vua Linh Đế
bắt Đậu Vũ. Đậu Vũ giao chiến cùng
quân hoàng gia, thất bại, tự tử, những
người thân tín của Đậu Vũ như Lư
Ưng, Đỗ Mật v.v… đều bị bắt giam,
phán tội chết, liên lụy hơn sáu trăm
người bị giam cầm.
[11] Đông Hán (25-220) là nhà Hán phục
hưng sau khi nhà Tây Hán bị Vương Măng cướp
ngôi (lập ra nhà Tân). Do nhà Tây Hán đóng đô ở
Trường An, c̣n Đông Hán đóng đô ở Lạc
Dương, nên mới gọi như vậy. Nhà Đông Hán
do hậu duệ của Hán Cảnh Đế là Lưu Tú
nổi dậy lật đổ nhà Tân, tái lập nhà Hán,
Sử gọi Lưu Tú là Hán Quang Vũ Đế. Vua
cuối cùng của nhà Đông Hán là Hán Hiến Đế
(Lưu Hiệp) được Đổng Trác đưa
lên ngôi lúc mới tám tuổi. Trong suốt ba mươi hai
năm làm vua, Hán Hiến Đế không có thực quyền,
hoàn toàn bị quyền thần khống chế. Cuối
cùng, Hán Hiến Đế bị Tào Phi (con trai Tào Tháo)
cướp ngôi, lập ra nhà Ngụy.
[12] Vào thời cổ, nơi Hoàng Hà có
giống cá chép to, vảy vàng óng ánh, cứ mỗi
độ Xuân về, chúng lũ lượt kéo nhau bơi
ngược ḍng, hợp nhau nhảy vượt qua
ghềnh Long Môn, nhưng do nước chảy quá xiết,
ít có con nào vượt nổi thác. V́ thế, cổ nhân
đồn rằng con cá chép nào nhảy qua khỏi ghềnh
Long Môn sẽ biến thành rồng. Tuy Trung Hoa có nhiều
nơi mang tên Long Môn, nhưng các nhà khảo cứu cho
rằng, Long Môn trong truyền thuyết này chính là Vũ Môn
Khẩu, tức là ghềnh đá tương truyền do
vua Đại Vũ trị thủy đă đục
thủng bỏ lại. Ghềnh đá này nằm giữa
huyện Hàn Thành tỉnh Thiểm Tây và huyện Hà Tân của
tỉnh Sơn Tây.
[13] Đỗ Như Hối (585-630) là
một mưu thần bậc nhất của
Đường Thái Tông (Lư Thế Dân), được vua
hết sức tin tưởng, trọng dụng. Ông
Đỗ và Pḥng Huyền Linh lắm mưu hay, kế
lạ, nên người đương thời hay nói “Pḥng mưu Đỗ đoán”
(ông Pḥng mưu tính, ông Đỗ tính toán). Khi các anh em Lư
Thế Dân tranh chấp quyền hành, Thái Tử Lư Kiến
Thành đă nói với Tề Vương Lư Nguyên Cát: “Trong phủ
của Tần Vương Lư
Thế Dân, đáng sợ nhất là Đỗ Như Hối
và Pḥng Huyền Linh”. Ông Đỗ làm tham mưu đă
vạch ra nhiều kế sách giúp Lư Thế Dân đánh
bại các tướng lănh quân phiệt thời đó
như Lưu Vũ Châu, Vương Thế Sung, Đậu
Kiến Đức v.v… Do có tài văn chương, ông
đưọc chọn đứng đầu trong số
mười tám vị học sĩ của Hoằng Văn
Quán, tức là Đỗ Như Hối, Pḥng Huyền Linh, Vu
Chí Ninh, Tô Thế Trường, Diêu Tư Liêm, Tiết Thâu,
Chử Lượng, Lục Đức Minh, Khổng
Dĩnh Đạt, Lư Huyền Đạo, Lư Thủ Tố,
Ngu Thế Nam, Thái Doăn Cung, Nhan Tương Thời, Hứa
Kính Tông, Tiết Nguyên Kính, Cái Văn Đạt, Tô Húc
Trợ. Mười tám vị này không chỉ giỏi văn
chương mà ai cũng là người có tài thao
lược, có thể nói là những chiến lược
gia và cố vấn đáng tin cậy nhất của
Đường Thái Tông.
[14] Theo truyền thuyết, Doanh Châu là
một ngọn núi nơi chư tiên ở. Thiên Thang Vấn
sách Liệt Tử viết: “Phía
Đông Bột Hải, chẳng biết xa mấy vạn
dặm, có năm quả núi, một là Đại Dự, hai
là Viên Kiểu, ba là Phương Hồ, bốn là Doanh Châu,
năm là Bồng Lai, người sống ở đó
đều là tiên thánh”. Chương Tần Thủy Hoàng
Bổn Kỷ sách Sử Kư cũng ghi: “Người họ Từ của nước Tế
dâng sớ nói ở trong biển có ba ngọn núi thần tên
là Bồng Lai, Doanh Châu và Phương Trượng là nơi
tiên nhân ở. Tần Thủy Hoàng tin lời, sai
người ra biển kiếm núi tiên ḥng cầu thuốc
trường sanh bất tử”. Do những người
được dự vào Hoằng Văn Quán đều
được vẽ chân dung, được hoàng
đế đích thân đề thơ, tán vịnh, nên
người có chân trong Hoằng Văn Quán vinh dự
chẳng khác nào được lên cơi tiên!
[15] Ô cân (烏巾) c̣n gọi là ô giác cân (烏角巾),
là một loại mũ tṛn, vát cạnh, không có tai (mũ
cánh chuồn th́ có hai tai), thường may bằng vải
mỏng màu đen, hai bên có dây buộc, khi đội
thường thắt hai sợi dây đó quanh trán cho
khỏi tuột. Do thời cổ, Trương Hoằng
không thích làm quan, thích đội ô cân, nên về sau, những
người có học, có tài, nhưng không ra làm quan,
thường đội Ô Cân để biểu lộ chí
hướng.