A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

阿彌陀經疏鈔演義

Phần 105

Chủ giảng: Lăo pháp sư Tịnh Không

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo chánh: Minh Tiến, Đức Phong và Huệ Trang

Tập 209

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang bốn trăm mười chín:

 

      (Sớ) Xứng Lư, tắc tự tánh vạn thiện đồng quy, thị đồng hội nhất xứ nghĩa.

      () 稱理,則自性萬善同歸,是同會一處義。

      (Sớ: Xứng Lư th́ tự tánh vạn thiện đồng quy là ư nghĩa “ở cùng một chỗ”).

     

“Tự tánh vạn thiện đồng quy” là ǵ, sách Diễn Nghĩa có chú giải:

 

      (Diễn) Vạn thiện đồng quy giả, hằng sa Tánh Đức bất ly Chân Như, thị tánh thiện đồng quy dă.

() 萬善同歸者,恆沙性德不離真如,是性善同歸也。

 (Diễn: Vạn thiện đồng quy: Hằng sa tánh đức chẳng ĺa Chân Như chính là cùng quy vào các điều thiện nơi tánh).

 

      Câu này giải thích đơn giản, rơ ràng, xác đáng, giải thích hết sức hay! Tánh là nói tới Chân Như bản tánh của chính ḿnh. Trong Phật pháp thường nói “tự tánh”, tự tánh là tự thể, “Tánh” cũng có thể hiểu là Thể. Nhà Thiền nói “diện mạo vốn có trước khi được cha mẹ sanh ra” chính là nói đến tự tánh. T́m cho ra cái mà ta sẵn có trước khi được cha mẹ sanh ra chính là ǵ vậy? Tánh là con người thật sự, là Chân Ngă của chúng ta. Phật pháp nói “vô ngă”, vô ngă chính là nói “thân này chẳng phải là ta”, tánh mới là Chân Ngă. Tánh là cái Ngă (cái Ta) thật sự, “bất sanh, bất diệt, chẳng đến, chẳng đi, bất cấu, bất tịnh”, đó là Chân Ngă. Tự tánh vốn có vô lượng trí huệ, vô lượng năng lực, vô lượng đức năng, vô lượng tài nghệ. V́ vậy, dùng hai chữ “hằng sa” (恆沙) để tỷ dụ. “Hằng sa” là nói [gọn của] “Hằng hà sa số” (恆河沙數: số cát trong sông Hằng). Thuở đức Phật tại thế, Ngài thường giảng kinh, hoằng pháp trong lưu vực (drainage basin) sông Hằng. Sông Hằng là một con sông rất lớn tại Ấn Độ, giống như Trường Giang và Hoàng Hà của Trung Hoa, sông dài đến mấy ngàn dặm, lại c̣n có bề rộng rất lớn. Cát trong sông Hằng hết sức mịn, gần giống như bột ḿ, mịn hơn các loại cát chúng ta thường thấy rất nhiều. Quư vị nói xem một giải sông Hằng có bao nhiêu cát! V́ vậy, hễ nói đến số lượng nhiều, đức Phật thường dùng “Hằng hà sa” (cát sông Hằng) để tỷ dụ. Đức năng sẵn có trong bản tánh của chúng ta nhiều như cát sông Hằng; trí huệ, năng lực, tài nghệ nhiều như vậy chẳng hề rời ĺa bản tánh. Chân Như là bản tánh, [những thứ như trí huệ, năng lực, tài nghệ v.v…] chẳng rời khỏi bản tánh. Do vậy, bản tánh khởi tác dụng, [các tác dụng ấy] trở về bản tánh, trở về chính là ư nghĩa “đồng quy”, “vạn thiện đồng quy”.

 

      (Diễn) Tùng tánh khởi tu, toàn tu tức tánh, tắc tu thiện diệc đồng quy hỹ.

() 從性起修,全修即性,則修善亦同歸矣。

(Diễn: Từ tánh khởi tu, toàn thể tu chính là tánh, nên tu thiện cũng đồng quy vậy).

 

      Hai câu này thoạt nh́n th́ thấy dễ dàng, thực hiện chẳng dễ dàng. V́ sao chẳng dễ dàng? Do quư vị chẳng kiến tánh. Chẳng kiến tánh tức là tâm quư vị chẳng “minh”, Thiền gia nói “minh tâm kiến tánh”, tâm chúng ta chẳng minh. V́ sao tâm chẳng minh? Tâm có ô nhiễm; hễ có ô nhiễm sẽ chẳng minh. Giống như một tấm gương, gương bị nhuốm bẩn, soi vào sẽ không thấy. Ô nhiễm ǵ vậy? Có Vô Minh ô nhiễm, có Trần Sa ô nhiễm, có Kiến Tư ô nhiễm. Hơn nữa, có thể nói là những thứ ô nhiễm ấy hết sức nghiêm trọng. Chúng ta có thể “từ tánh khởi tu”  hay không? Đây là một vấn đề rất lớn! Trong Phật pháp, không chỉ riêng Thiền Tông yêu cầu minh tâm kiến tánh, mà bất cứ tông phái nào cũng đều nhắm đến mục đích “minh tâm kiến tánh”. Nếu chẳng minh tâm kiến tánh, sẽ chẳng phải là Phật pháp, sẽ không gọi là Phật giáo. Chỉ là phương cách để đạt tới minh tâm kiến tánh [trong mỗi tông phái] khác nhau, chứ mục tiêu quyết định là nhất trí. “Minh tâm kiến tánh” trong nhà Thiền nói theo Giáo Hạ sẽ là “đại khai viên giải”. Nói bằng những danh từ khác nhau, thật ra vẫn là cùng một chuyện. Chư vị hăy ngẫm xem, nếu không minh tâm kiến tánh, làm sao có thể đại khai viên giải cho được? “Hằng sa Tánh Đức bất ly Chân Như”, đó mới là đại khai viên giải, nói theo Tịnh Độ Tông sẽ là Lư nhất tâm bất loạn. Cách nói khác nhau, danh xưng khác nhau, phương pháp tu hành khác nhau, thật ra là cùng một chuyện.

      Do vậy có thể biết kiến tánh rất trọng yếu. Không chỉ là học Phật là phải nhấn mạnh kiến tánh, xưa kia, học sách Khổng Tử cũng nhấn mạnh kiến tánh. Trẻ nhỏ đi học, học Tam Tự Kinh: “Nhân chi sơ, tánh bổn thiện; tánh tương cận, tập tương viễn” (Con người thoạt đầu tánh vốn lành, tánh th́ gần giống nhau, do được dạy dỗ mà trở thành khác xa nhau). “Tánh” là nói đến chân tánh, chân tánh tương cận, [nghĩa là] chân tánh tương đồng. Tập tánh tương viễn (khác xa nhau), tập tánh là ô nhiễm. Do mức độ ô nhiễm của quư vị dầy hay mỏng khác nhau, nên tập tánh sẽ chẳng giống nhau. Chư vị phải biết: “Tập” () là ô nhiễm, nên nó mới càng ngày càng xa. Làm như thế nào để bỏ sạch tập tánh, khôi phục bản tánh? Nho gia cũng nói đạo lư này. Dùng phương pháp ǵ? Nói thật thà, phương pháp được Nho gia sử dụng và phương pháp được sử dụng trong Tịnh Độ Tông của Phật môn đại đồng tiểu dị (xét theo đại cương là giống nhau, khác nhau ở những điểm nhỏ nhặt): Trước hết là tu tâm thanh tịnh, chớ nên có vọng tưởng. Vọng tưởng là tập tánh. Do tập tánh đă quá lâu, nên trở thành thân thuộc. Học Phật chẳng có ǵ khác, [chỉ là] đổi chỗ sống sít thành chỗ chín rục, lại đổi chỗ chín rục thành chỗ sống sít, sẽ thành công. Hằng ngày dấy vọng tưởng, đó là chín rục; niệm Phật th́ niệm niệm bèn đứt đoạn, quên khuấy. V́ sao? Quá xa lạ! Làm thế nào để có thể biến cái xa lạ thành cái thân thuộc, biến cái thân thuộc thành điều xa lạ, quư vị sẽ thành công.

      V́ lẽ đó, Nho gia dạy học tṛ, học tṛ nhỏ đi học, trước hết dùng phương pháp ǵ? Trước hết, dạy quư vị học thuộc ḷng sách. Đă thuộc rồi vẫn chưa coi là xong, đă thuộc rồi th́ c̣n phải thuộc nhuần nhuyễn hơn, vẫn phải đọc. Nói thật ra, trẻ nhỏ học thuộc sách chẳng khó khăn cho mấy. Thầy dạy cho tṛ một bài trong sách, tṛ đọc dăm ba lần bèn thuộc. V́ thế, đă thuộc ḷng th́ hiện thời ứng phó trong thi cử sẽ rất đơn giản. Thầy đốc thúc, sau khi đă thuộc, tṛ vẫn phải đọc một trăm lần hoặc hai trăm lần. Lại c̣n phải niệm ra tiếng; chẳng niệm ra tiếng, nó sẽ dấy vọng tưởng. Niệm ra tiếng, thầy nghe thấy, [biết] tṛ đang đọc sách tại đó, chẳng dấy vọng tưởng. V́ vậy, thầy buộc tṛ mỗi ngày đọc mấy giờ, tức là trong mấy giờ, tṛ chẳng dấy vọng tưởng, huấn luyện điều này. Huấn luyện như vậy năm, sáu năm, thật vậy, tṛ bớt vọng tưởng, tâm dần dần thanh tịnh. Nhà trường xưa kia là Tiểu Học, trên Tiểu Học là Đại Học, chẳng có Trung Học. Học xong Tiểu Học bèn có thể học Đại Học. Tiểu Học học ǵ vậy? Tiểu Học tu tâm thanh tịnh, chẳng học điều ǵ khác, khóa tŕnh của chúng nó là tâm thanh tịnh. Tâm địa thanh tịnh sẽ có thể tiếp nhận đại pháp. V́ vậy, khi vào trường Thái Học (tức Đại Học hiện thời)[1], thầy giảng giải cho tṛ, những điều được giảng chính là những thứ tṛ đă học từ Tiểu Học. Tiểu Học học Tứ Thư, Ngũ Kinh, [các tác phẩm của] chư tử bách gia, chỉ học chứ không giảng. Đến khi vào Đại Học, tâm tṛ thanh tịnh, [thầy] vừa nói tṛ bèn hiểu ngay, có thể lănh hội, có thể khai ngộ. Nay [sinh viên] trường đại học hoặc nghiên cứu sinh đọc cổ văn vẫn chẳng thể khai ngộ. V́ sao? Tâm họ trước nay chưa hề thanh tịnh một ngày nào! Tuyệt đối chẳng phải là người hiện thời chẳng thông minh như cổ nhân, [hoặc là do] người hiện thời chẳng có phước báo to như cổ nhân, tôi tuyệt đối chẳng thừa nhận [những lập luận như vậy]! Sở dĩ người hiện thời chẳng bằng cổ nhân là do [sử dụng] phương pháp sai lầm.

Từ chỗ này, chư vị bèn hiểu: Nếu quư vị muốn thật sự có một chút ngộ xứ trong Phật pháp, chẳng tu tâm thanh tịnh sẽ vô dụng. Nghe giảng chẳng thể khai ngộ, quư vị chỉ có thể nghe được một chút Phật học thường thức mà thôi. Nếu quư vị thật sự niệm Phật ba năm, niệm sao cho cái tâm định lại, đừng nói là tôi phải giảng cho quư vị nghe hết một bộ kinh, có thể là giảng cho quư vị một hai tiếng đồng hồ, quư vị liền hoảng nhiên đại ngộ, bèn khai ngộ. V́ sao? Tương ứng với cái tâm của quư vị. Nếu không, giảng nhiều năm như thế, tôi giảng suốt ba mươi năm, chẳng thấy một ai khai ngộ. Hăy xem thời cổ, các bậc cao tăng đại đức giảng kinh thuyết pháp chưa đầy mấy năm, học tṛ dưới ṭa khai ngộ cả đống, chẳng ít người! Do vậy có thể biết, quyết định là chẳng thể thực hiện tŕnh tự giáo học sai sót. Nay chúng ta đă đảo lộn thứ tự thuận chiều, hiện thời, nói thật th́ là mọi người chẳng tin tưởng, không chịu tiếp nhận. Lừa gạt quư vị, quư vị rất vui thích, rất hoan hỷ. Người hiện thời nhận giả, chẳng nhận thật, nghe lừa, chẳng nghe khuyên. Người hiện thời đáng thương, chẳng có phước báo! Có những vùng, người ta thật sự mong học, nhưng chẳng đủ điều kiện, cơ duyên chưa chín muồi! Mong học mà thiếu hoàn cảnh, chẳng có một vị thầy tốt đẹp chỉ dạy. Chúng ta ở đây đầy đủ điều kiện, có cơ duyên, nhưng chính ḿnh chẳng tin tưởng, tức là chính ḿnh chẳng có thiện căn và phước đức. Tuy có nhân duyên, cũng chẳng thể thành tựu. Ắt phải có đầy đủ ba điều kiện là thiện căn, phước đức, và nhân duyên th́ mới có thể thành tựu.

      Sau khi đă kiến tánh, chúng tôi hạ thấp tiêu chuẩn kiến tánh một chút, [tức là] sau khi cái tâm thanh tịnh, sẽ tu hành khác hẳn, hoàn toàn chẳng tương đồng. Tuy chẳng phải thật sự là “từ tánh khởi tu, toàn thể tu chính là tánh”, ít nhiều th́ cũng có chút phần tương ứng, chẳng phải là thật sự [kiến tánh] th́ cũng là tương tự. Đối với Phần Chứng [Tức] Phật và Tương Tự Tức Phật trong Lục Tức Phật như tông Thiên Thai đă nói, người ấy cũng có thể đạt đến Tương Tự Tức [Phật], cách chân thật chẳng xa! Có thể thấy tâm thanh tịnh trọng yếu lắm. Chư vị phải biết: Tu hành là tu tâm thanh tịnh; ngoài cái tâm thanh tịnh ra, toàn là giả. V́ sao? Vọng tâm biến ra lục đạo luân hồi, quư vị đang tạo sự luân hồi lục đạo trong ấy, biến ra lục đạo luân hồi, tự làm, tự chịu. Tâm thanh tịnh tương ứng với tịnh nghiệp, tương ứng với Tịnh Độ. Một người thật sự tu hành, há có thời gian để quản chuyện vớ vẩn của kẻ khác được ư? Trong Đàn Kinh, Lục Tổ đă nói: “Nếu người thật tu đạo, chẳng thấy lỗi người khác”. Người tu đạo chân thật há c̣n công sức đâu để dấy vọng tưởng, suốt ngày tưởng Đông nghĩ Tây, tưởng trước nghĩ sau! [Những kẻ vọng tưởng, lo chuyện bao đồng] đều là phường chẳng thật thà!

      Người chẳng thật thà không thể ở trong một Tăng đoàn thật sự ḥa hợp. Các thành viên trong một Tăng đoàn thật sự ḥa hợp chắc chắn là chẳng có vọng tưởng. Trong một đạo tràng niệm Phật, trong mười hai thời, trong tâm chỉ có mỗi A Di Đà Phật. Hễ c̣n có những thứ khác xen tạp vào đó, sẽ chẳng ḥa hợp. Đạo tràng Thiền Tông hằng ngày nếu chẳng tham thoại đầu th́ sẽ quán tâm, đó là biết dụng công, công phu đắc lực. Trong thế gian hiện thời, tôi học Phật gần bốn mươi năm, đă tới nhiều nơi trong và ngoài nước, chẳng thấy một đạo tràng nào [thật sự ḥa hợp]. Thật sự là một chuyện rất đáng tiếc. Tràng th́ có, đạo chẳng có! Dẫu có th́ tâm chẳng đặt nơi đạo, đạo là tâm thanh tịnh. Tâm chẳng thanh tịnh, sẽ chẳng có đạo! V́ vậy, “tu thiện cũng đồng quy”, thảy đều quy vào Chân Như bản tánh.

 

      (Diễn) Bất đạt thử lư, xả thử ác tụ, xu bỉ thiện tụ, khả vị khí chân trục vọng, Đông Tây tŕ tẩu dă.

()不達此理,捨此惡聚,趨彼善聚,可謂棄真逐妄,東西馳走也。

(Diễn: Chẳng thông đạt lư này, bèn bỏ ác tụ này, hướng đến thiện tụ kia, có thể nói “vứt chân, đuổi theo vọng”, rảo chạy Đông Tây!)

 

Câu này hay lắm! Nếu quư vị chẳng liễu giải chân tướng sự thật, Lư là chân tướng sự thật, quư vị nói Sa Bà không tốt, chúng ta bỏ Sa Bà, Cực Lạc tốt đẹp, chúng ta lại sang Cực Lạc. Cực Lạc là thiện tụ (nơi điều lành nhóm họp), Sa Bà là ác tụ, người ác đông đảo; chúng ta ngay lập tức rời khỏi nơi đây sang bên đó, bên đó là chỗ các vị thượng thiện nhân cùng tụ họp. Quư vị bỏ nơi đây sang bên đó, chính là “khí chân, trục vọng” (bỏ chân, đuổi theo vọng). Quư vị chẳng biết cơi này và cơi kia đều do tự tánh biến hiện, há có này kia! Giới hạn giữa cơi này và cơi kia rốt cuộc ở chỗ nào? Xác thực là chẳng có giới hạn! Nhưng tổ sư đại đức dạy chúng ta bỏ cơi này, tiến sang cơi kia, có thể văng sanh hay không? Có thể! [Tuy vẫn có thể văng sanh, nhưng] phẩm vị thấp, văng sanh trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư.

      Nếu quư vị hiểu rơ đạo lư này, có c̣n phải cầu văng sanh hay không? Vẫn cầu văng sanh! V́ sao? Lư chẳng phế Sự, Sự chẳng ngại Lư. Do đó, người không hiểu đạo lư này có thể văng sanh, chấp trước sự tướng mà niệm Phật vẫn có thể văng sanh. Kẻ hiểu đạo lư này, chẳng niệm Phật, chẳng cầu văng sanh, [chính là] lầm lẫn đặc biệt to tát, vẫn là chẳng thông đạt lư này, chấp trước bên này, nghĩ bên kia chẳng có, chẳng biết Lư Sự viên dung. Chẳng lẽ Đẳng Giác Bồ Tát không hiểu rơ đạo lư này ư? Liên Tŕ đại sư hiểu được, lẽ nào Đẳng Giác Bồ Tát không hiểu ư? Đẳng Giác Bồ Tát vẫn niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Liên Tŕ đại sư đă hiểu, Ngài cũng niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, chẳng phải là không niệm Phật. Liên Tŕ đại sư cũng là mỗi ngày niệm Phật hiệu mười vạn câu. Tôi nói cho chư vị biết: Lăo nhân gia không niệm kinh mà cũng chẳng niệm chú, Ngài tŕ Phật hiệu, lại c̣n chỉ niệm bốn chữ. Suốt ngày từ sáng đến tối là một câu Phật hiệu. Đó là phương pháp tu hành của Liên Tŕ đại sư.

      Quư vị xem truyện kư của Ngài. Đạo tràng của Ngài là chùa Vân Thê ở Hàng Châu. Suốt cả một đời, từ trước đến nay, Ngài chưa hề dựng một ngôi chùa. Vân Thê là một quả núi. Ngài đến nơi đó, thấy phong cảnh núi ấy rất đẹp, hoàn cảnh rất thanh tịnh, u nhă, bèn tự dựng một cái cḥi tranh để tấn tu. Về sau, Ngài bị người khác nhận biết, [t́m đến hỏi chuyện] xem thử vị pháp sư này ăn nói ra sao? Khi họ hướng về Ngài thỉnh giáo, Ngài nói rất hữu lư. Thanh danh của pháp sư dần dần lan xa như thế đó, có rất nhiều kẻ mong đến thân cận Ngài; dù sao đất rất nhiều, Ngài đă cất cḥi tranh ở đấy, họ cũng cất cḥi tranh nơi đó. Ngài là từ cḥi tranh mà h́nh thành [đạo tràng], chẳng có ư nghĩ muốn dựng chùa. Về sau, do đông người, bèn có thí chủ, [tức là] hàng tại gia cư sĩ có tiền, có thế lực, hết sức kính ngưỡng đại sư, mong dựng một ngôi chùa cho Ngài. Do vậy, suốt một đời, pháp sư Vân Thê chưa từng hóa duyên, chẳng x̣e tay xin người khác một đồng nào! Người ta muốn xây dựng, lăo nhân gia gật đầu, được! Ở chỗ này, ông dựng đại điện tại đây, chỗ kia là điện ǵ, nói chung là có người muốn đến dựng, các vị xây dựng là được rồi. Ngôi chùa của Ngài được thành công như thế đó. V́ vậy, đừng sợ chẳng có chùa, chỉ sợ chẳng có đạo! Quư vị thật sự có đạo, thường nói là “long thiên hộ tŕ”. Chính ḿnh chẳng bận tâm chút nào về đạo tràng; hễ bận ḷng, tâm sẽ chẳng thanh tịnh. Dựng đạo tràng là do các cư sĩ xây dựng, liên quan ǵ tới ta? Quư vị dựng xong xuôi, tôi đến đây giảng kinh, thuyết pháp, tôi đến đây cộng tu niệm Phật cùng mọi người. Dựng theo kiểu nào ư? Quư vị thích dựng kiểu nào th́ dựng theo kiểu đó. Nếu tôi yêu cầu phải dựng theo kiểu này, hoặc phải dựng theo kiểu nọ, cái tâm lại chẳng thanh tịnh. “A Di Đà Phật, A Di Đà Phật” mà c̣n xen tạp dựng kiểu này, cất kiểu nọ, chẳng phải là đă hỏng bét rồi ư? Người chân thật niệm Phật, [danh hiệu] A Di Đà Phật [của người ấy niệm] chẳng thể xen tạp chút ǵ trong ấy, đó là như pháp. Đấy là người thật sự tu đạo, là điển h́nh, là gương mẫu cho chúng ta. Chúng ta học Phật, hăy lấy [những tấm gương ấy làm] tiêu chuẩn, hăy nên tu học như vậy th́ mới có thể đạt được thành tựu.

      Do vậy, nhất tâm nhất ư chỉ duyên theo Tây Phương, [sẽ thấy] đối với hoàn cảnh, có hoàn cảnh nào chẳng tốt đẹp? Hoàn cảnh nào cũng đều tốt! V́ thế, chẳng cần phải rảo Đông chạy Tây. Quư vị nói hoàn cảnh không tốt đẹp. Nói thật thà, chính là do bản thân có quá nhiều vọng tưởng, thấy cái này chẳng tốt, thấy cái kia không tốt. Tâm thanh tịnh, nơi chốn nào cũng đều là đạo tràng. Chúng ta nhất định phải nhớ kỹ điều này. Người chẳng có phước báo, chọn lựa hoàn cảnh như thế nào đi nữa, chọn tới chọn lui, đến cuối cùng vẫn phải chịu tội, vẫn chẳng đạt được điều ǵ! Cớ ǵ cứ phải lăng phí tinh thần và thời gian như vậy? Đạo tràng ở chỗ nào? Đạo tràng ở trong tâm địa, chẳng ở bên ngoài. Cư sĩ Duy Ma nói “trực tâm là đạo tràng, tâm thanh tịnh là đạo tràng, tâm từ bi là đạo tràng”. Đạo tràng ở trong tâm địa, há ở bên ngoài!

 

      (Sao) Bách xuyên hội ư nhất hải, chúng cảnh hội ư nhất không, chư thượng thiện nhân, bất hội thử chi nhất xứ, nhi tương hề hội.

()百川會於一海,眾景會於一空,諸上善人,不會此之一處,而將奚會。

(Sao: Trăm sông hội tụ trong một biển, các cảnh hội quy một hư không, các vị thượng thiện nhân chẳng tụ hội trong một chỗ này, sẽ nhóm về chỗ nào đây?)

 

      Hoàn toàn nói xứng tánh; hai câu này chính là “từ tánh khởi tu, toàn thể tu chính là tánh”. “Bách xuyên” (trăm sông) là nói các ḍng nước. Trung Hoa ở phía Tây Thái B́nh Dương, tất cả sông ng̣i đều xuôi về Đông đổ vào biển Đông, sông lớn ḍng nhỏ thảy đều chảy vào biển cả. Sánh ví biển cả như Chân Như bản tánh, tỷ dụ trăm sông như các vị thượng thiện nhân, thảy đều hội quy biển cả. Điều này nhằm nói rơ hết thảy các vị thượng thiện đều do tự tánh của quư vị lưu xuất. Trở về tự tánh có ư nghĩa này. “Chúng cảnh” (các cảnh): Cảnh là cảnh vật, chẳng rời khỏi hư không. Ví hư không như chân tánh, sánh ví các cảnh như chư thượng thiện nhân, chẳng ĺa khỏi hư không. “Chư thượng thiện nhân, bất hội thử chi nhất xứ, nhi tương hề hội” (Các vị thượng thiện nhân không nhóm họp ở một chỗ này, sẽ hội về chỗ nào?), đến chỗ nào để nhóm họp? Chư thượng thiện nhân nhóm họp ở nơi đâu? Nhóm họp trong một chân tâm. V́ thế, chỉ cần cái tâm quư vị đă chân, tự nhiên các điều thiện cùng nhóm họp. Tâm quư vị chẳng chân, tà ác cùng nhóm họp! Cầu chân tâm th́ trước hết là cầu tâm thanh tịnh. Tâm đă thanh tịnh, tiến thêm một bước nữa là tu tâm b́nh đẳng. Nếu lại tiến thêm bước nữa, sẽ là đại giác rạng ngời, đó chính là “chư thượng thiện nhân câu hội nhất xứ”.

 

      Nhị, khởi hạnh.

      二起行。

      (Hai là khởi hạnh).

 

      Một đoạn lớn trên đây nhằm khuyên chúng ta phát nguyện, nói rơ ưu điểm của Tây Phương Cực Lạc thế giới, ưu điểm thù thắng nhất là các vị thượng thiện nhân tụ hội một chỗ, chúng ta chẳng thể không đến đó. Nếu nay hỏi: Ta mong đến đó, nhưng đến đó bằng cách nào? Phải bảo cho chúng ta biết phương pháp. V́ vậy, đoạn tiếp theo đây là một đoạn trọng yếu nhất trong bộ kinh này.

 

      (Kinh) Xá Lợi Phất! Bất khả dĩ thiểu thiện căn, phước đức, nhân duyên đắc sanh bỉ quốc.

      () 舍利弗。不可以少善根福德因緣。得生彼國。

      (Kinh: Này Xá Lợi Phật! Chẳng thể do ít thiện căn, phước đức, nhân duyên mà được sanh về cơi ấy).

 

      Đức Thế Tôn nói ra điều kiện văng sanh, gồm ba điều kiện là thiện căn, phước đức, và nhân duyên. Thiếu một thứ nào trong ba thứ ấy đều chẳng thể văng sanh. Các đồng tu chúng ta có muốn văng sanh thế giới Tây Phương hay không? Nếu thật sự muốn văng sanh thế giới Tây Phương, hăy đặc biệt lưu ư đoạn này. Có thể văng sanh hay không? Có nắm chắc văng sanh hay không? [Những điều ấy] đều [được nói] trong đoạn kinh văn này. Liên Tŕ đại sư giải thích rất cặn kẽ!

 

      (Sớ) Thừa thượng ngôn “phàm quần dị tựu, thiện tụ nan thân”, hà huống tối thượng thiện nhân chi hội.

() 承上言凡群易就,善聚難親,何況最上善人之會

(Sớ: Nối tiếp ư đă nói trong phần trên: Lũ phàm dễ nhóm, người lành tụ hội khó thân cận, huống hồ là bậc thiện nhân tối thượng tụ họp).

 

      Nêu rơ phàm phu tụ hội dễ dàng, người lành tụ tập khó khăn. Nay chúng ta đọc kinh A Di Đà ở đây, nghiên cứu chú giải của Liên Tŕ đại sư, quư vị xem có bao nhiêu người tham gia? Rạp xi-nê, sàn khiêu vũ, quư vị thấy bao nhiêu người? “Phàm quần dị tựu, thiện tụ nan thân” (Lũ phàm dễ nhóm, người lành tụ hội khó thể thân cận). Kẻ làm những chuyện giả trất, đông lắm! Nói những điều chân thật, chẳng ai nghe! Kể ra Đài Loan c̣n khá lắm, mỗi lần giảng kinh c̣n có nhiều người đến nghe như vậy. Sang ngoại quốc giảng kinh, tuyệt đại đa số các đạo tràng, mười phần hết tám phần là có hai mươi người đến nghe kinh th́ đă khá lắm rồi, đă khá nhiều. Năm mươi người quá hiếm có, là t́nh cảnh long trọng chưa hề có. Ba bốn người đến nghe là chuyện rất b́nh thường. “Hà huống tối thượng thiện nhân chi hội” (Huống hồ là bậc thiện nhân tối thượng tụ hội) đến đâu để t́m cho ra? Chẳng dễ dàng!

      Tôi thưa cùng chư vị đồng tu, trong quá khứ, tôi cầu học ở Đài Trung. Tại Đài Trung, pháp duyên của thầy Lư vô cùng thù thắng. Trong danh sách liên hữu của liên xă có ghi tên họ, địa chỉ, số điện thoại, gần như là đến hai mươi lăm vạn người. Thầy Lư mở lớp dạy học tại đó, bồi dưỡng đồng tu giảng kinh, hy vọng mọi người sẽ hăng hái đến ghi danh, chỉ có hai mươi mấy người gom hết dũng khí đến dự, những người khác chẳng dám đến. Tôi ở Đài Trung mười năm, bản thân chúng tôi c̣n có một lớp nhỏ, lớp ấy đem những ǵ thầy Lư đă giảng cùng nhau nghiên cứu, thảo luận, lật đi lật lại vấn đề, ḥng thâm nhập, lănh hội. Lớp học ấy có bao nhiêu người? Bảy người! Chúng tôi mười năm giống như một ngày, bảy người cùng tu với nhau suốt mười năm, ông Từ Tỉnh Dân và Châu Gia Lân ở Đài Trung hiện thời là thành viên của lớp học nhỏ gồm bảy người ấy. Thật sự là khó! Tôi hy vọng trong tương lai chúng ta cũng có một đoàn thể nhỏ, có mười người thật sự phát tâm hoằng pháp lợi sanh, suốt đời chẳng làm Trụ Tŕ hoặc Đương Gia, chẳng quan tâm đến những chuyện rỗi hơi trong thế gian hay xuất thế gian, mà sẽ đọc kinh, nghiên cứu kinh giáo, giảng kinh, thuyết pháp, hy vọng có mười người chúng ta có thể thường ở cùng một chỗ. Nơi nào mời giảng kinh, chúng ta sẽ đến giảng, giảng xong sẽ quay về. Có một căn nhà nhỏ để có thể che mưa đụt gió, ăn no, mặc ấm là đủ rồi, đó là chuyện vui sướng nhất trong đời người. V́ thế, “tối thượng thiện nhân chi hội” đích xác là khó gặp gỡ!

 

      (Sớ) Khởi khả dĩ thiểu thiện, thiểu phước nhi đắc sanh dă.

      ()豈可以少善少福而得生也。

      (Sớ: Há có thể nào do chút thiện, chút phước mà được văng sanh ư?)

 

      Thiện căn và phước đức ít ỏi sẽ không được.

 

      (Sớ) Ư trung.

() 於中。

      (Sớ: Trong ấy).

 

      Nay phải giải thích cho chúng ta biết thiện căn là ǵ, phước đức là ǵ?

 

      (Sớ) Linh Chi dĩ thiện căn vi chánh hạnh, thuộc chi tŕ danh, dĩ phước đức vi trợ hạnh, thuộc chi Tịnh nghiệp tam phước.

      ()靈芝以善根為正行,屬之持名,以福德為助行,屬之淨業三福。

(Sớ: Ngài Linh Chi coi thiện căn là chánh hạnh thuộc về tŕ danh, coi phước đức là trợ hạnh, thuộc về ba phước trong Tịnh nghiệp).

 

      Nhắc tới lời giải thích của các bậc cổ đại đức. Ngài Linh Chi[2] sống vào đời Tống, nghiên cứu giới luật rất kỹ, nên có người gọi Ngài là Linh Chi Luật Sư. Ngài coi thiện căn là chánh hạnh, thiện căn là ǵ? Tŕ danh là thiện căn. Phước đức là trợ hạnh, phước đức là ǵ? Tịnh nghiệp tam phước. Lăo nhân gia coi Tịnh nghiệp tam phước được nói trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật là trợ hạnh.

 

      (Sớ) Hải Đông, tắc tổng dĩ đa thiện đa phước vi chánh hạnh, vân thị phát Bồ Đề tâm, dĩ thiểu thiện thiểu phước vi trợ hạnh, vân thị chấp tŕ danh hiệu.

      ()海東,則總以多善多福為正行,云是發菩提心;以少善少福為助行,云是執持名號。

(Sớ: Ngài Hải Đông gộp chung nhiều thiện nhiều phước thành chánh hạnh, bảo đó là phát Bồ Đề tâm; coi ít thiện ít phước là trợ hạnh, bảo là chấp tŕ danh hiệu).

 

      Hai vị này kiến giải hoàn toàn khác nhau. Pháp sư Hải Đông (Nguyên Hiểu) coi “nhiều thiện căn, nhiều phước đức” là phát Bồ Đề tâm, coi “ít thiện căn, ít phước đức” là chấp tŕ danh hiệu. [Theo quan điểm này], chấp tŕ danh hiệu đâm ra biến thành ít thiện căn, ít phước đức. Hai vị này đều là bậc đại đức trong Tịnh Độ Tông, kiến giải khác nhau. Dưới đây là ư kiến của Liên Tŕ đại sư:

 

      (Sớ) Nhị nghĩa tương vi.

      ()二義相違

      (Sớ: Hai nghĩa trái nghịch).

 

      Cách nói của hai Ngài hoàn toàn tương phản, Liên Tŕ đại sư cũng rất viên dung. Ngài cũng chẳng nói vị nào đúng, vị nào sai, Ngài dung hợp hai ư thuyết ấy.

 

      (Sớ) Kim song vi ḥa hội.

      ()今雙為和會。

      (Sớ: Nay ḥa hợp, dung hội hai thuyết ấy).

 

      Ngài ḥa hợp, dung hội chúng.

 

      (Sớ) Vị dục sanh bỉ quốc, tu đa thiện, đa phước. Kim tŕ danh, năi thiện trung chi thiện, phước trung chi phước, chánh sở thị vị phát Bồ Đề tâm, nhi vi sanh bỉ quốc chi đại nhân duyên dă.

()謂欲生彼國,須多善多福。今持名,乃善中之善,福中之福,正所是謂發菩提心,而為生彼國之大因緣也。

(Sớ: Nghĩa là muốn sanh về cơi ấy, cần phải có nhiều thiện, nhiều phước. Nay tŕ danh chính là điều thiện nhất trong các điều thiện, là điều phước nhất trong các điều phước, chính là “phát Bồ Đề tâm” như [ngài Hải Đông] đă nói, là đại nhân duyên để sanh về cơi ấy).

 

      Ngài ḥa hợp, dung hội hai ư kiến, coi phát Bồ Đề tâm là chánh hạnh, tŕ danh cũng là chánh hạnh, phát Bồ Đề tâm là trợ hạnh, tŕ danh cũng là trợ hạnh. Chánh và trợ như nhau, thảy đều là “phát Bồ Đề tâm, chấp tŕ danh hiệu”. Liên Tŕ đại sư ḥa hợp, dung hội như vậy, chúng ta chẳng c̣n nghi ngờ, lo âu nữa. Tiếp theo đấy, trong lời Sao, Ngài lại giảng cặn kẽ chuyện này.

 

      (Sao) Tương vi giả.

()相違者。

      (Sao: Trái nghịch là).

 

      Giải thích [v́ sao] hai ư nghĩa mâu thuẫn với nhau.

 

      (Sao) Nhất dĩ tŕ danh thuộc chánh.

  ()一以持名屬正。

      (Sao: Một thuyết coi tŕ danh là chánh hạnh).

 

      Ngài Linh Chi chủ trương thuyết này.

 

      (Sao) Nhất dĩ tŕ danh thuộc trợ.

      ()一以持名屬助。

      (Sao: Thuyết kia coi tŕ danh là trợ hạnh).

     

Ngài Hải Đông chủ trương thuyết này.

 

      (Sao) Nhị thuyết mâu thuẫn, nhi thử kinh đại chỉ, chánh trọng tŕ danh.

      ()說矛盾。而此經大旨,正重持名。

      (Sao: Hai thuyết mâu thuẫn, nhưng ư chỉ chánh yếu của kinh này là chuyên chú trọng tŕ danh).

 

      Chúng ta quan sát từ kinh này, kinh Di Đà khuyên chúng ta chấp tŕ danh hiệu, kinh Vô Lượng Thọ cũng khuyên chúng ta chấp tŕ danh hiệu, có thể thấy chánh hạnh của Tịnh Tông xác thực là chấp tŕ danh hiệu.

 

      (Sao) Nhược tŕ danh vi trợ hạnh, tắc hạ văn “văn thuyết A Di Đà Phật, chấp tŕ danh hiệu”, nghĩa vân hà thông?

     ()若持名為助行,則下文聞說阿彌陀佛,執持名號,義云何通。

      (Sao: Nếu tŕ danh là trợ hạnh th́ phần kinh văn kế đó nói “nghe nói tới A Di Đà Phật bèn chấp tŕ danh hiệu”, giải thích ư nghĩa thế nào cho suông sẻ được?)

 

      Quư vị coi chấp tŕ danh hiệu là trợ hạnh, sẽ chẳng thể nói thông suốt được!

 

      (Sao) Trợ hạnh tŕ danh, đoán vô thử lư.

      ()助行持名,斷無此理。

      (Sao: Coi tŕ danh là trợ hạnh, quyết chẳng có lẽ này).

 

      Quyết định là nói chẳng thông suốt, chẳng có đạo lư này.

 

      (Sao) Hựu Linh Chi dĩ Quán Kinh tam phước phối thử phước đức, tắc đệ tam phước phát Bồ Đề tâm năi thành trợ hạnh, dữ Hải Đông Bồ Đề tâm vi chánh hạnh, nhị diệc mâu thuẫn

      ()又靈芝以觀經三福配此福德,則第三福發菩提心乃成助行,與海東菩提心為正行,二亦矛盾。

 (Sao: Ngài Linh Chi lại coi ba phước trong Quán Kinh là “phước đức” được nói trong kinh [A Di Đà] này, vậy th́ “phát Bồ Đề tâm” trong phước thứ ba trở thành trợ hạnh, cũng mâu thuẫn với chuyện ngài Hải Đông coi Bồ Đề tâm là chánh hạnh).

 

      Hai vị giảng về chánh hạnh và trợ hạnh đều chẳng giống nhau.

 

       (Sao) Nhi Quán Kinh dĩ tam phước vi Tịnh nghiệp chánh nhân, tắc trợ hạnh Bồ Đề, diệc vô thử lư.

()而觀經以三福為淨業正因,則助行菩提,亦無此理。

(Sao: Nhưng Quán Kinh coi tam phước là chánh nhân của Tịnh nghiệp, vậy th́ coi Bồ Đề là trợ hạnh cũng là vô lư).

 

      Nếu nói “phát Bồ Đề tâm” trong ba phước là trợ hạnh th́ cũng nói không suông! Trong bản chú giải kinh Vô Lượng Thọ của lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ, khi giảng về tông chỉ, tông chỉ là cương lănh tu hành, lăo nhân gia đă dùng hai câu “phát Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm” [làm Tông của kinh Vô Lượng Thọ], hoàn toàn phù hợp khít khao với ư nghĩa này của Liên Tŕ đại sư. “Phát Bồ Đề tâm” là chánh hạnh, “nhất hướng chuyên niệm” là chánh hạnh. Ngài ḥa hợp, dung hội khéo quá!

 

      (Sao) Kim song vị ḥa hội giả, hoàn dĩ tŕ danh vi chánh hạnh, phục dĩ tŕ danh vi phát Bồ Đề tâm, tắc song thủ lưỡng gia, nhi ḥa hội kỳ nghĩa dă.

      ()今雙為和會者,還以持名為正行,復以持名為發菩提心,則雙取兩家,而和會其義也。

 (Sao: Nay nhằm ḥa hợp, dung hội cả hai thuyết, vẫn coi tŕ danh là chánh hạnh, lại coi tŕ danh là phát Bồ Đề tâm, tức là sử dụng ư kiến của cả hai vị, dung hợp, ḥa hội các nghĩa ấy).

 

      Sau khi đă hiểu rơ ư nghĩa chánh yếu này, [quư vị xem] đoạn văn sau đây trong sách Diễn Nghĩa [sẽ thấy pháp sư Cổ Đức] lại giảng giải cặn kẽ hơn nữa.

 

      (Diễn) Quán Kinh tam phước, vi Tịnh nghiệp chánh nhân giả, văn vân: “Dục sanh bỉ quốc giả, đương tu tam phước: Nhất giả hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm bất sát, tu Thập Thiện Nghiệp”.

()觀經三福,為淨業正因者,文云:欲生彼國者,當修三福:一者孝養父母,奉事師長,慈心不殺,修十善業。

(Diễn: “Quán Kinh tam phước là chánh nhân Tịnh nghiệp”: Kinh văn ghi: “Người muốn sanh về cơi ấy th́ hăy nên tu ba phước: Một là hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng giết, tu Thập Thiện Nghiệp”).

 

      Ba điều này gồm tất cả mười một câu, ví như ṭa cao ốc mười một tầng, tầng sau bao gồm tầng trước, tầng trước chẳng thể bao gồm tầng sau. Giống như tầng cao ốc thứ hai nhất định bao gồm tầng thứ nhất, tầng thứ nhất chưa chắc đă bao gồm tầng thứ hai, v́ không xây tầng thứ hai cũng được! Quư vị bèn hiểu tầng thứ nhất là căn bản của căn bản, chẳng làm được điều này, những tầng sau đều chẳng có. Phát Bồ Đề tâm thuộc tầng thứ tám, nếu bảy tầng trước đều chẳng có, lấy đâu ra Bồ Đề tâm? Chẳng có Bồ Đề tâm, dẫu niệm A Di Đà Phật, cũng chưa chắc có thể văng sanh, v́ sao? Chánh nhân để văng sanh là “phát Bồ Đề tâm, một mực chuyên niệm”, cái hạnh chánh tu của quư vị chỉ có một nửa, thiếu mất một nửa, chẳng đảm bảo văng sanh! Nghĩ tới chỗ này, đích xác là chúng ta không lạnh mà run, mới thật sự hiểu rơ v́ sao người niệm Phật đông như vậy, người văng sanh lại ít ngần ấy! Trước kia, thầy Lư đă từng nói: Một vạn người niệm Phật, hằng ngày cầm chuỗi niệm “A Di Đà Phật, A Di Đà Phật”, thật sự văng sanh cũng chẳng hơn đôi ba người, tỷ lệ không tương xứng! Nguyên nhân ở chỗ nào? Người ấy suốt ngày từ sáng đến tối niệm Phật, chỉ niệm một nửa, chẳng có Bồ Đề tâm! Bồ Đề tâm là ǵ? Bồ Đề tâm là cái tâm hiểu rơ, cái tâm giác ngộ. Tâm kẻ ấy vẫn hồ đồ, mông lung, vẫn điên đảo, vọng tưởng; niệm Phật kiểu đó làm sao văng sanh cho được? Bồ Đề có nghĩa là giác, Bồ Đề tâm là giác tâm, giác chứ không mê. Tuy người ấy niệm Phật, vẫn mê chứ không giác; v́ thế, chẳng thể văng sanh. Như thế nào th́ mới giác? Chẳng tu bảy tầng dưới sẽ là bất giác. Do đă giác, bảy tầng dưới đă viên măn, tầng thứ tám đă dựng xong [tức là] bảy tầng dưới đương nhiên đă được dựng, đó là đạo lư nhất định. Chẳng biết Bồ Đề tâm là ǵ, chẳng biết giác tâm là ǵ, quư vị hăy từ chỗ này mà lănh hội sẽ hiểu rơ.

      Điều thứ nhất là “hiếu dưỡng phụ mẫu”, chúng ta có làm được hay không? Câu này hết sức không đơn giản. Trên phương diện cuộc sống vật chất của cha mẹ, đối với chuyện phụng dưỡng cha mẹ hết thảy [mọi thứ cần dùng], chúng ta có thể làm được th́ có coi là hiếu dưỡng hay chăng? Quư vị thấy trong Luận Ngữ, Khổng lăo phu tử đă nói: Nếu coi đó là hiếu dưỡng th́ súc sanh cũng có thể làm được! Do đó, một người hiểu lư, một người đọc sách phải nuôi dưỡng chí nguyện của cha mẹ, tức là đối với những điều cha mẹ trông mong nơi quư vị, quư vị có thể chẳng phụ ḷng trông mong ấy, bèn gọi là “hiếu thuận”. Nhưng nay chúng ta nói ngược lại, cha mẹ hiện thời kỳ vọng con cái những ǵ? Đúng là có vấn đề. Trong cổ lễ, đặt tên cho con thơ, tên gọi là niềm kỳ vọng của cha mẹ đặt nơi con, hy vọng trong tương lai, khi quư vị khôn lớn, danh sẽ phù hợp thực. Do vậy, cổ nhân đặt tên cho con cái, chẳng phải là đặt tùy tiện. Nay chúng ta thấy rất nhiều người đặt tên cho con bằng tên ngoại quốc. Chúng tôi thấy vậy, cảm thấy lạ lùng, cha mẹ hy vọng con cái đều trở thành người ngoại quốc! Đúng là do chẳng mảy may biết đến văn hóa truyền thống cố hữu của Trung Hoa nên mới phạm khuyết điểm này!

      Xét chữ Hiếu theo nhà Phật, nếu cha mẹ đời sau vẫn phải luân hồi trong lục đạo th́ con là đại bất hiếu. Hiếu tử thật sự lẽ đâu nhẫn tâm để cha mẹ đời sau vẫn phải đọa trong lục đạo. Do vậy có thể biết, Phật tử đại hiếu là phải độ cha mẹ ĺa khỏi tam giới. Hiếu hạnh bậc nhất là phải khuyên cha mẹ niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, đó là chân hiếu. Cha mẹ không chịu niệm, cha mẹ chẳng thể tiếp nhận, quư vị phải t́m ra nguyên nhân. Tiêu trừ nguyên nhân ấy, cha mẹ liền vui vẻ tiếp nhận, mới biết chỗ tốt đẹp [của pháp môn] này. Cha mẹ yêu thương con tha thiết, nhất là đă già cả rồi, lẽ đâu con dối gạt cha mẹ? Bất quá trong hiện thời, con cái gạt gẫm cha mẹ quá nhiều, khiến cho cha mẹ cũng không tin tưởng. Trước kia, lừa gạt người khác th́ có, chứ lừa cha mẹ chính là đại nghịch bất đạo, tội lỗi ngập trời! Do vậy, rất ít kẻ lừa gạt cha mẹ. Khuyên cha mẹ niệm Phật chính là đại hiếu, chẳng có ǵ rốt ráo hơn được!

      Từ chỗ này chúng ta biết phải nên hiếu thuận cha mẹ ra sao. Hiếu nhất định phải nói tới “thuận”, thuận ḷng cha mẹ. Anh em bất ḥa, cha mẹ rất đau ḷng, đó là bất hiếu. Chị em bạn dâu bất ḥa, cũng là bất hiếu. Thường nói là “gia ḥa vạn sự hưng”, gia đ́nh ḥa thuận, ḷng cha mẹ khoan khoái. Con cái đứa nào cũng đều có thể tu dưỡng phẩm đức, theo đuổi những nghề nghiệp chánh đáng, chẳng phạm pháp, chẳng trái nghịch quy củ, đó là hiếu thuận cha mẹ. Xóm giềng làng nước tôn trọng quư vị, càng tôn trọng cha mẹ của quư vị hơn nữa, đó là “hiếu thân” (hiếu thảo với cha mẹ). V́ vậy, hai chữ “hiếu thuận” đích xác là chẳng dễ thực hiện! Nhưng chư vị phải biết: Nếu quư vị chẳng thực hiện căn bản to lớn của việc học Phật th́ nói cách khác, quư vị chẳng mong thoát khỏi tam giới, vẫn mong đời sau luân hồi trong lục đạo! Thật sự mong thoát khỏi tam giới, thật sự chẳng phải luân hồi nữa, quư vị phải thực hiện từ chỗ này. Người nhà, anh em trai, chị em bạn dâu chẳng hiểu, ta làm như thế nào? Nhường nhịn. V́ vậy, người Hoa hễ nói đến hiếu, nhất định sẽ nói tới vua Thuấn, lấy vua Thuấn làm gương. Quư vị đọc truyện kư của vua Thuấn, [thấy] người nhà đối xử với ông ta bằng thái độ man rợ, ngang ngược, tệ ác như thế, ông ta chỉ một mực chân thành cung kính đối với bất cứ ai trong nhà. Lâu ngày chầy tháng, sau mười mấy năm, cả nhà đều bị ông ta cảm động, khiến cho cả nhà ḥa thuận. Đó mới gọi là “hiếu dưỡng phụ mẫu”. Đối với chuyện hiếu dưỡng phụ mẫu, Đại Thuấn làm được, chúng ta chẳng biết làm như thế nào! Do vậy, niệm Phật suốt mấy chục năm, ngay cả tin tức văng sanh cũng chẳng có, quư vị nói c̣n làm sao được nữa, đáng sợ quá! Chúng ta sai lầm, mà chẳng t́m thấy sai lầm ở chỗ nào, đáng thương quá! Nói thật ra, do phạm lỗi chẳng đọc kinh, kinh đă nói rành mạch, rơ ràng, quư vị cũng niệm, nhưng niệm theo kiểu miệng liến láu đọc ào ào cho qua, chẳng hiểu ư nghĩa thật sự, chẳng biết tầm quan trọng như thế nào, cách thực hiện ra sao lại càng chẳng cần phải nói nữa, đáng ngán quá!

      Câu thứ hai là “phụng sự sư trưởng”, câu này khó lắm! Chẳng thể hiếu thảo cha mẹ, sẽ không thể kính trọng thầy. V́ vậy, đây là tầng lầu thứ hai. Sư đạo được kiến lập trên cơ sở hiếu đạo. Tôn sư trọng đạo, v́ sao? V́ chẳng tôn sư là bất hiếu với cha mẹ. Hiện thời, thầy ở nơi đâu? Hiện tại chẳng có thầy! Lứa tuổi tôi c̣n thấy mấp mé. Thuở bé, tôi đi học tại quê nhà, học trường tư bốn tháng, một thầy dạy hai mươi mấy học tṛ. Cha dẫn tôi đến đó bái sư, cầm theo lễ vật, ăn mặc tươm tất, trường bào, mă quải[3]. Trước tiên, đối trước bài vị của Khổng lăo phu tử ba lần quỳ, chín lần khấu đầu, sau đó thỉnh thầy ngồi chính giữa, lạy thầy ba lần quỳ, chín lần khấu đầu. Gia trưởng lạy thầy, tức là phó thác con thơ cho thầy, cầu thầy hăy nghiêm túc dạy bảo. Thầy nhận lễ vật và lễ tiết long trọng như vậy từ gia trưởng, nếu chẳng nghiêm túc giáo huấn đứa trẻ ấy, lẽ nào chẳng có lỗi với gia trưởng, đă phạm lỗi mất rồi! V́ vậy, hiện thời chẳng thấy sư đạo!

      Khi chúng tôi học Phật, đến Đài Trung bái sư vẫn dùng cổ lễ để bái. Ở Đài Trung, có một năm nọ, thầy Lư mở lớp nghiên cứu nội điển, mời sáu vị giáo sư, tôi cũng là một người trong số đó. Thầy Lư mời chúng tôi làm thầy, thay mặt cho gia trưởng của học tṛ, mời sáu người chúng tôi ngồi ghế trên, thầy cung kính ở dưới lễ ba lạy, chúng tôi cũng đành phải nhận lễ, nhận lễ mà cảm thấy rất ngại ngùng. Lễ chẳng thể thiếu, khiến cho những học tṛ theo sau thầy [phải cung kính theo]. Quư vị ngẫm xem, chúng tôi có thể nào không nghiêm túc dạy học hay chăng? Đối với trường học hiện thời th́ không được, thầy nghiêm khắc với học tṛ đôi chút, sẽ bị thưa kiện liền, thầy c̣n phải bị xử phạt, phiền phức lắm! Do đó, thầy chẳng muốn dạy. Chẳng có sư đạo, chẳng dễ ǵ thực hiện phụng sự sư trưởng.

Trong “phụng sự sư trưởng”, điều quan trọng nhất là y giáo phụng hành, đến đâu để t́m được một đứa học tṛ y giáo phụng hành? T́m chẳng ra! Trong quá khứ, một ḿnh tôi giảng kinh bên ngoài rất cô đơn, cũng rất vất vả. Mỗi lần về Đài Trung thăm thầy Lư, tôi đều khuyên lăo nhân gia dạy nhiều học tṛ hơn để chia bớt gánh nặng của chúng tôi. Tôi nói lời này hơn mười mấy lần, nói lúc đầu, thầy Lư gật đầu, đúng thế! Đến lần cuối cùng, chắc là thầy nghe đă chán ngấy, liền bảo tôi: “Anh t́m học tṛ cho tôi đi”. Từ đấy về sau tôi không nói nữa, v́ sao? T́m chẳng ra! Đến đâu để t́m được một học tṛ phục tùng thầy một trăm phần trăm? Chẳng có, t́m không ra. Thầy Lư nói: Sư tư đạo hợp (thầy tṛ hợp đạo) chẳng dễ dàng, học tṛ mong cầu thầy, chỉ có thể gặp, chứ chẳng thể cầu, chẳng dễ ǵ cầu được! Chẳng dễ ǵ cầu được một vị thiện tri thức thật sự. Một vị thầy thật sự tốt đẹp muốn t́m được học tṛ, cụ Lư bảo tôi, c̣n khó hơn tṛ cầu thầy. Tôi thấu hiểu sâu xa chuyện này. T́m đâu ra một học tṛ thật thà như vậy?

      Hiện thời, học tṛ có tŕnh độ càng cao càng không nghe lời. V́ sao? Kẻ ấy có vọng tưởng càng nhiều, thành kiến càng sâu, càng khó dạy dỗ. Do đó, pháp sư Diễn Bồi tuyển học tṛ, Ngài chỉ cần tuyển kẻ thật thà, ngờ nghệch, chẳng cần phải rất thông minh, tốt nghiệp Sơ Trung (cấp Hai, Trung Học Đệ Nhất Cấp) là được rồi. Tại Hương Cảng, Ngài đưa ra điều kiện này, rất nhiều người đều lấy làm lạ, người khác đ̣i hỏi đồ đệ phải tốt nghiệp đại học, có học vị tiến sĩ. Ngài nói: “Tôi thuộc tŕnh độ [thấp kém] ấy”. Mấy ai hiểu ư Ngài? Tŕnh độ càng cao, càng không nghe lời, bề ngoài tuân phụng, bên trong chống trái. Bên ngoài th́ gật đầu [vâng dạ] với quư vị, quay lưng đi bèn làm theo ư riêng của hắn, chẳng thể thành tựu! Kẻ có tŕnh độ càng thấp, sẽ càng khiêm hư, v́ sao? Người ấy có mặc cảm tự ty, luôn cảm thấy chính ḿnh chỗ nào cũng thua kém người khác, nên có thể phát phẫn tiến lên, có thể tiếp nhận sự chỉ đạo của thầy. Càng đọc sách nhiều, kiến thức càng rộng, kiêu căng, ngă mạn, kẻ ấy chẳng thể thành tựu. Quư vị hăy nghĩ xem, hiện thời, thầy chẳng t́m được học tṛ, tṛ cũng chẳng t́m thấy thầy, hy vọng văng sanh rất mờ mịt. Hai câu này là căn bản của căn bản, đúng là chẳng dễ dàng!

Thân cận một vị thiện tri thức, thật sự gặp được thầy, nếu giữa các đồng học có va chạm, có ư kiến [khác biệt], đó chẳng phải là phụng sự sư trưởng. V́ sao? Khiến cho sư trưởng phải bận tâm, giống như chẳng hiếu thuận với sư trưởng vậy, có cùng một ư nghĩa. Anh em trong nhà tụ hội, số người vẫn chẳng nhiều lắm. Các đồng học tụ tập thường là vượt hơn số lượng anh em, làm thế nào để có thể cư xử ḥa thuận? Đối với Lục Ḥa Kính trong Tăng đoàn Phật pháp, nếu chẳng thực hiện Lục Ḥa Kính, sẽ chẳng thể gọi là phụng sự sư trưởng. Chúng ta hăy suy nghĩ, người nào trong số chúng ta làm được Lục Ḥa Kính? Từ chỗ này, hăy nghiêm túc suy nghĩ cặn kẽ, mới biết văng sanh chẳng dễ dàng. Nhưng quư vị thật sự muốn vượt thoát tam giới, liễu sanh tử, viên thành Phật đạo trong một đời này, mà chẳng đi theo con đường này, sẽ chẳng có con đường thứ hai nào để dễ đi cả!

      Lại thưa rơ cùng chư vị, mười một câu này là “chánh nhân Tịnh nghiệp của tam thế chư Phật”. Nói cách khác, bất luận quư vị học tông nào, bất luận quư vị học pháp môn nào, mười một điều này là căn bản to tát. Đến khi nào mới phân chia [tông phái]? Kể từ sau “phát Bồ Đề tâm” trở đi mới phân tông, chia phái. Trước [khi nói tới] “phát Bồ Đề tâm”, tám câu ấy chẳng thể phân biệt, chúng là khoa mục tu học chung cho bất cứ tông nào hay bất cứ pháp môn nào!

      Đương nhiên, hiện thời nói đến các vấn đề, bất luận là tại gia hay xuất gia, ở trong gia đ́nh th́ đối với gia đ́nh bèn bất măn, bụng đầy ắp nỗi cay đắng, chẳng có chỗ nào giăi bày. Trong đạo tràng cũng là đầy dạ khổ sở, buồn bực, ủy khuất. Tôi hiểu chuyện này rất rơ ràng, rành rẽ, ai cũng chẳng che mắt tôi được! Quư vị hăy đi t́m, hăy chọn lựa, đương nhiên, trong gia đ́nh th́ chẳng có cách nào, v́ khi đầu thai, quư vị đă chọn lầm, không dễ ǵ thay đổi. Nhưng đạo tràng nơi quư vị xuất gia chẳng hạn chế nghiêm ngặt như vậy. Đạo tràng này chẳng vừa ư, quư vị t́m đến đạo tràng khác, hăy chọn lựa, t́m ṭi! Khó lắm, thật sự là khó!

      V́ sao chúng ta có những sự gặp gỡ như vậy? Nói chung, do đời trước, tu phước đức và nhân duyên ít ỏi, đă tạo nhiều ác niệm và ác hạnh, nên đời này, dù tại gia hay xuất gia, điều ǵ cũng đều chẳng như ư. Hăy nên quay đầu, thành tâm sám hối, nơi nào cũng đều có thể quay lại chê trách chính ḿnh, đừng đ̣i hỏi người khác. Đó là thật sự tu hành, như vậy th́ mới có thể thật sự tu hành, mới có thể bù đắp lầm lỗi. Nếu c̣n khởi tâm động niệm ḍm ngó lỗi lầm của kẻ khác, kẻ như vậy đă hết cách cứu!

      V́ lẽ đó, trong Đại Thừa Phật pháp, chẳng tu mười nguyện Phổ Hiền sẽ không thể viên thành Phật đạo. Tịnh Độ Tông đặc biệt coi trọng mười nguyện Phổ Hiền, tuy là ở nơi đây, trong giai đoạn hiện tiền, chúng ta chưa thể tu được. Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, thảy đều tu mười nguyện Phổ Hiền. Mười nguyện Phổ Hiền được kiến lập trên cơ sở pháp b́nh đẳng, trên cơ sở cái tâm b́nh đẳng. Tâm địa thật sự thanh tịnh, b́nh đẳng, giác chứ không mê th́ mới có thể tu. Chư vị nghĩ xem, nghĩ coi hai câu này khó khăn chừng nào. Khó khăn, nhưng như thế nào? Nhất định phải làm. Chẳng thể kêu khó rồi ta làm qua quít đôi chút; nếu [qua loa, tắc trách] như vậy, những điều sau thảy đều chẳng có.

      Hiện thời có nhiều gia đ́nh phản đối con cái học Phật. V́ sao? Sau khi đă học Phật bèn chẳng hiếu thuận. Tôi đă từng thấy, họ c̣n đến kể với tôi, tự ḿnh c̣n cảm thấy rất đắc ư, [cứ tưởng] chính ḿnh đă làm rất đúng! “Trong nhà, cha mẹ hôm nay lại mổ cá, ngày mai lại giết gà. Ba má đă tạo sát nghiệp, trong tương lai đều phải chịu ác báo”. Cha mẹ bèn nói: “Đứa nhỏ này c̣n giáo huấn ta, c̣n trù ẻo ta, nói ta sẽ chịu ác báo, đều là do bị nhà chùa dạy hư”. V́ thế, cha mẹ nẩy sanh tâm lư phản kháng, chỉ e sợ con cái của chính ḿnh hễ đến chùa, sẽ học lấy những điều xấu, về nhà chuyện ǵ cũng phê b́nh. Những lời ấy cũng chẳng nghe lọt tai, thấy người nhà hệt như cừu nhân, nh́n kiểu nào cũng thấy không thuận mắt. Thấy đồng tu c̣n thân thiết hơn mẹ ruột, người nhà thấy vậy ghen tỵ quá: “Tao nuôi mày lớn ngần ấy, mày xem mày đối xử với tao kiểu đó. Người kia có quan hệ ǵ với mày, sao lại có thể thân thiết dường ấy?” Tôi thấy rất nhiều [trường hợp như vậy], cho nên tôi thường dạy người khác: Quư vị hăy đem một phần thân t́nh với đồng tu đạo hữu về nhà đối đăi với cha mẹ, cha mẹ sẽ vui thích. Trong chốn chùa chiền, quư vị thấy pháp sư bèn đảnh lễ, cớ sao chẳng thể đảnh lễ cha mẹ? Chư vị hăy khéo phản tỉnh, kiểm thảo từ những chỗ này, sẽ hiểu v́ sao người nhà không chủ trương cho quư vị học Phật, có nguyên nhân cả đấy! Nói thật thà, chúng ta thật sự chẳng làm được hai điều này. Thật sự làm được, cha mẹ nào chẳng thích con cái hiếu thuận, [sẽ nghĩ con cái do] tiếp nhận sự giáo dục của đức Phật bèn có đức hạnh tốt đẹp ngần ấy, ước ǵ tất cả thân thích bằng hữu đều học Phật. Bản thân chúng ta làm sai, khiến cho xă hội hiểu lầm, khiến cho chánh phủ cũng hiểu lầm Phật giáo. Đó là đại bất hiếu! Đúng là đă khiến cho Phật, Tổ mất sạch mặt mũi, mà bản thân chúng ta vẫn tự lấy làm đắc ư, tự cho là Phật tử, đă làm bao nhiêu công đức trong Phật giáo, làm bao nhiêu chuyện tốt, [nào dè] khiến cho mặt mũi [Phật giáo] bị mất sạch mà chính ḿnh vẫn không biết!

      Thường niệm kinh văn, trong ấy bao hàm ư nghĩa sâu rộng. Có thể hiếu thảo với cha mẹ, có thể tôn trọng thầy, đương nhiên mới có thể chẳng giết, sanh khởi tâm từ bi, tâm nhân từ đối với hết thảy chúng sanh, chẳng giết hết thảy chúng sanh. “Tu thập thiện nghiệp”, thập thiện nghiệp là tiêu chuẩn cho hành vi trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Chúng ta phải làm người như thế nào, xử sự thế nào, đều tuân theo mười điều mục ấy. Tư tưởng, kiến giải, lời nói và hành vi tạo tác của chúng ta đều có thể phù hợp tiêu chuẩn ấy th́ gọi là “tu hành”. Tu hành là sửa đổi hành vi, thân chẳng sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm; miệng chẳng nói dối, không nói đôi chiều. Nói đôi chiều là thêu dệt thị phi; chẳng ác khẩu, ác khẩu là ăn nói thô lỗ, lời nói rất khó nghe. Không ỷ ngữ, ỷ ngữ là hoa ngôn xảo ngữ, lừa gạt người khác. Ư không tham, không sân, không si. Bản thân chúng ta có năng lực phân biệt tà, chánh, phân biệt chân, giả, phân biệt đúng, sai, phân biệt lợi, hại, đó là không si. Chẳng có năng lực phân biệt th́ là ngu si. Nếu muốn chẳng si, phải đọc sách, phải hiểu lư, quư vị mới chẳng bị ngu si.

      Quư vị chẳng đọc sách thánh hiền, chẳng hiểu lư, sẽ thường điên đảo thị phi. Đặc biệt là trong thời đại này, sai lầm do tích tụ [đă lâu] bèn trở thành đúng, mọi người đều sai, chúng ta ngỡ là rất đúng, rất khó phân biệt, thật sự chẳng dễ dàng! Nếu quư vị thật sự [muốn] có năng lực phân biệt th́ phải đọc sách thánh hiền, đơn giản là Tứ Thư, Ngũ Kinh, phức tạp hơn một chút là Thập Tam Kinh của Nho gia, Nhị Thập Ngũ Sử, chư tử bách gia, phải đọc vài chục năm mới có thể hiểu rơ, mới có năng lực này, chẳng kịp thời gian! Chẳng kịp th́ cũng có phương pháp bổ cứu, “bổ cứu” là cứu giúp trong lúc cấp bách, cứu giúp nhất thời. Thuở sinh tiền, Ấn Quang đại sư lăo nhân gia đă trao cho chúng ta ba thứ để cứu giúp trong khi cấp bách, là thuốc có công dụng đặc biệt để trị căn bệnh ngu si của chúng ta. Ba thứ ấy, thứ nhất là Liễu Phàm Tứ Huấn, thứ hai là Cảm Ứng Thiên Vựng Biên, thứ ba là An Sĩ Toàn Thư, ba bộ sách ấy là thuốc có công dụng đặc biệt, có thể cứu chữa trong cơn cấp bách, rất hữu dụng! Sau đấy mới dùng Nho và Phật để dần dần bồi đắp th́ thân thể mới có thể khôi phục. Ba loại ấy cứu mạng, khiến cho quư vị bất tử, đă bất tử lại c̣n rất vui. Phải dùng Phật pháp Đại Thừa và những kinh luận của Nho gia để thong thả học thêm.

      Chẳng đọc sách thánh hiền, hậu quả chẳng kham tưởng tượng nổi. Đó là nền giáo dục chân chánh. Hiện thời, Trung Hoa chẳng có giáo dục. Gia đ́nh chẳng có giáo dục, con cái trong gia đ́nh của quư vị chẳng có tiền đồ. Quốc gia chẳng có giáo dục, quốc gia ấy quyết định sẽ bị mất nước. Giáo dục là ǵ? Giáo dục là không ngu si, là có năng lực phân biệt đúng, sai, chân, vọng, tà, chánh, đó là giáo dục. Nói cách khác, bồi dưỡng cho quư vị có tư tưởng chánh xác, kiến giải chánh xác, hành vi chánh xác. Tiêu chuẩn của Chánh là ǵ? Tương ứng với Chân Như bản tánh của quư vị, Phật chính là tiêu chuẩn ấy. Nho gia cũng theo tiêu chuẩn ấy, đó là giáo dục. V́ lẽ đó, Phật pháp là giáo dục, là nền giáo dục của đức Phật. Người hiện thời biến Phật giáo thành tôn giáo, đây là nỗi sỉ nhục lớn lao không ǵ bằng cho hàng đệ tử Phật, cớ sao lại biến [Phật giáo] thành tôn giáo? Đệ tử Phật chẳng trọn hết trách nhiệm tuyên dương, [khiến cho] xă hội và chánh phủ hiểu lầm, tưởng [Phật giáo] là tôn giáo. Chúng ta hăy xem Phật giáo hiện thời có phải là tôn giáo hay không? Đúng là tôn giáo. Nó vốn là giáo dục, nay bị biến thành tôn giáo, tôn giáo là ǵ? Tôn giáo là đối với trời, đối với quỷ thần, hằng ngày giao tiếp cùng quỷ thần. Thuở Thích Ca Mâu Ni Phật tại thế, cho đến một ngàn năm sau, lúc Phật giáo truyền đến Trung Hoa, Phật giáo chẳng hề giao tiếp với người chết, chẳng niệm kinh cho người chết, trong đạo tràng cũng chẳng thờ bài vị, chẳng hề có. [Phật giáo] là cơ quan giáo dục, giáo học! Trong đại điện thờ phụng tượng Phật, tượng Bồ Tát, có cùng ư nghĩa như trong lễ đường của các trường học hiện thời treo di ảnh của Quốc Phụ, hoặc h́nh Tổng Thống, mang ư nghĩa kỷ niệm, chẳng phải là đối đăi Phật, Bồ Tát như thần thánh. Người hiện thời mấy ai hiểu? Do vậy, nói thật ra là đă biến Phật giáo thành tôn giáo, chúng ta đều có tội lỗi, có lỗi với Phật, Bồ Tát, có lỗi với tổ sư đại đức, chúng ta c̣n mong trong tương lai có thành tựu, quá khó!

      Hôm nay tôi giảng cùng chư vị một điều trong tam phước, v́ đây là căn bản của căn bản trong sự tu học, chẳng thể không nói cặn kẽ. Do [Tịnh nghiệp tam phước là chánh nhân tịnh nghiệp của] tam thế chư Phật, trong tương lai chúng ta sẽ thành Phật, tức vị lai Phật, đều do chánh nhân này. Chẳng tu những nhân này, quyết định chẳng thể thành tựu; v́ vậy, phải nói cặn kẽ ba điều này cùng chư vị. Hôm nay, tôi giảng tới đây!

 

Tập 210

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang bốn trăm hai mươi mốt:

 

      (Diễn) Nhị giả, thọ tŕ Tam Quy, cụ túc chúng giới, bất phạm oai nghi.

() 二者受持三皈,具足眾戒,不犯威儀。

(Diễn: Hai là thọ tŕ Tam Quy, đầy đủ các giới, chẳng phạm oai nghi).

 

      Trong phần trước, đại sư đă dạy chúng ta phương pháp tu hành trong Tịnh Tông, khai thị minh bạch: “Thiện căn, phước đức, nhân duyên” ắt phải trọn đủ. Chúng ta thực hiện từ chỗ nào? Đại sư dựa theo Quán Kinh để chỉ ra: Tam phước là chánh nhân của Tịnh nghiệp. Ở đây, chúng tôi đă từng thưa tŕnh cùng chư vị, ba điều này không chỉ là cơ sở để tu Tịnh Độ, mà nói thật ra, tất cả các tông phái và vô lượng pháp môn trong Đại Thừa Phật pháp đều chẳng ĺa khỏi cơ sở này. Do vậy có thể biết, ba điều gồm mười một câu này vô cùng trọng yếu. Nếu sơ sót đoạn văn này, dẫu siêng khổ tinh tấn tu học, vẫn chẳng có cách nào thành tựu. V́ sao? Nhân và quả không tương ứng, chúng ta phải đặc biệt chú ư chuyện này.

      Thật ra, Phật pháp được kiến lập trên cở sở hiếu đạo, do hiếu đạo mà sau đó mới có sư đạo. Mong kẻ bất hiếu với cha mẹ sẽ tôn kính sư trưởng là chuyện không thể được! Lẽ đâu kẻ chẳng tôn kính người thân yêu nhất của chính ḿnh mà lại tôn kính người ngoài ư? Nếu có chuyện ấy, kẻ đó nhất định là có mưu đồ. Chẳng có mưu đồ th́ nói theo t́nh lẫn lư đều chẳng thông! Điều này cho thấy “hiếu thảo cha mẹ, tôn trọng thầy” chính là căn cội to lớn trong tu hành. Nếu muốn đạt thành tựu nơi pháp thế gian và xuất thế gian, phải cậy vào sư đạo. Trong kinh, đức Phật thường nói, cha mẹ có ân sanh ra nhục thân chúng ta. Thân thể này là do cha mẹ mà có. Thầy có ân đức sanh trưởng Pháp Thân huệ mạng của chúng ta. Pháp Thân huệ mạng do thầy mà có. Tại Trung Hoa, vào thời cổ, thầy và cha mẹ được coi trọng như nhau. Chư vị đọc Lễ Kư, đọc cổ lễ, sẽ biết: Cha mẹ qua đời, con thủ hiếu (để tang) ba năm. Thầy qua đời, tṛ giữ tâm tang ba năm, chẳng có h́nh thức, chẳng cần mặc hiếu phục (tang phục). Đó chính là học tṛ coi thầy chẳng khác cha mẹ. C̣n một điều rơ rệt nữa là gọi tên. Vào thời cổ, chỉ có đối với trẻ thơ hoặc người chưa trưởng thành là có thể gọi thẳng tên, có thể gọi kẻ đó bằng tên. Sau khi đă trưởng thành, nếu vẫn gọi thẳng tên tức là rất thiếu cung kính, rất thiếu lễ phép đối với người ấy, nhất là gọi đủ cả tên lẫn họ, càng chẳng có đạo lư ấy. Đó là nhục mạ đến tột cùng!

      Nam tử hai mươi tuổi trưởng thành bèn hành lễ gia quan (hoặc nhược quan)[4], [tức là] đội mũ. Đội mũ nhằm biểu thị “đă là người lớn, chẳng c̣n là trẻ nhỏ”. Quư vị thấy người ấy bèn tôn trọng, chẳng thể gọi kẻ ấy bằng tên. Nữ nhân mười sáu tuổi bèn làm lễ cài trâm[5], tức là bới tóc lên, cô ta đă trưởng thành rồi. Ngày hôm ấy, bậc trưởng thượng, người ngang vai vế, anh chị em của người ấy phải tặng cho người ấy tên tự[6], [thường gọi là] tên chữ. Từ ngày ấy trở đi, mọi người gọi kẻ ấy bằng tên tự, chẳng c̣n gọi tên. Sau đấy, ai sẽ gọi tên? Chỉ có cha mẹ, cha mẹ suốt đời gọi người ấy bằng tên. Người thứ hai là thầy, thầy suốt đời gọi quư vị bằng tên thật. Trừ hai hạng người ấy ra, ông bà nội, bác, chú, người nhà, quyến thuộc đều gọi quư vị bằng tên tự. Ông bà nội do cách quư vị một đời, nên tôn kính quư vị. “Trưởng ấu hữu tự” (Lớn nhỏ có tôn ty trật tự). Quư vị làm quan trong triều đ́nh, hoàng đế cũng gọi quư vị bằng tên tự. Nếu hoàng đế gọi thẳng tên tức là quư vị có tội, phải chịu h́nh phạt, chẳng giữ được chức quan. Nếu hoàng đế gọi cả họ lẫn tên, chỉ sợ bị chặt đầu, khó giữ được cái đầu! V́ thế, trong xưng hô, thầy và cha mẹ giống nhau. Từ cổ lễ, có thể thấy rất rơ điều này: Hiếu đạo và sư đạo chẳng thể tách rời. Nay chúng ta chẳng nói tới hiếu đạo, nên sư đạo cũng chẳng có. Chẳng có sư đạo, làm sao có thể thành tựu cho được? Đây là một vấn đề rất nghiêm trọng. Hiện thời, nói thật thà, mấy ai hiểu hiếu đạo? Mấy ai hiểu sư đạo? Trong pháp thế gian đă hoàn toàn vứt bỏ [sư đạo], mà trong Phật pháp hiện thời cũng chẳng tồn tại, cũng chẳng có. Nh́n bề ngoài, dường như tốt đẹp hơn pháp thế gian đôi chút, nhưng chỉ có h́nh thức, thiếu hẳn nội dung!     

Sư đạo nói từ chỗ nào? Hôm nay, câu thứ hai nói cụ thể nội dung của sư đạo. Tôn sư là như thế nào? Trọng đạo là như thế nào? Trước hết là “thọ tŕ Tam Quy”, “thọ” () là thầy truyền trao cho ta, [ta tiếp nhận]. Sau khi ta tiếp nhận, phải có thể phụng hành, phải có thể ǵn giữ suốt đời, chẳng thể ĺa bỏ. Tam Quy là giới điều cơ bản. Chúng ta thường nói Giới th́ Ngũ Giới là Căn Bản Giới, Ngũ Giới lấy Tam Quy làm cơ sở. Chẳng có Tam Quy, lấy đâu ra Ngũ Giới? Trong Phật môn, quư vị thường thọ Tam Quy. Khi quư vị cầu giới, vẫn phải thọ Tam Quy, rồi mới thọ Ngũ Giới. Nếu thọ tỳ-kheo giới, hoặc thọ Bồ Tát giới, vẫn thọ từ Tam Quy. V́ sao? Tam Quy là cơ sở; chẳng có Tam Quy, những điều kế tiếp đó đều chẳng có. Hiện thời, chúng ta có Tam Quy hay không? Nói thật thà, thảy đều chẳng có. Tu hành th́ tu khởi đầu từ đâu? Tam Quy. Mọi người chỉ biết theo kiểu h́nh thức, nội dung chẳng biết một điều ǵ, đáng sợ quá! Nói đến Tam Quy, các vị đều biết “quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng”. Ngoài việc biết niệm chín chữ ấy ra, xác thực là chẳng biết ǵ về nội dung trong ấy! Hễ nói “quy y Phật” bèn nghĩ tới tượng Phật; nói “quy y Pháp” bèn nghĩ tới kinh điển; nói “quy y Tăng” bèn nghĩ tới người xuất gia, hoàn toàn sai bét mất rồi! Một ngàn ba trăm năm trước, vào thời Đường, Thiền Tông Lục Tổ đại sư giảng Tam Quy chỉ sợ người ta hiểu lầm, nên Ngài truyền trao Tam Quy, chẳng nói “quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng”, mà nói “quy y giác, quy y chánh, quy y tịnh”. “Giác, chánh, tịnh” là nói theo ư nghĩa; Phật, Pháp, Tăng là nói theo h́nh tướng. Thật ra, chỗ quy y chân thật là Tam Bảo trong tự tánh.

Phật có nghĩa là giác. Phật là giác tánh, là Phật tánh sẵn có của chính ḿnh, đó gọi là “quy y Phật”. Có mấy ai biết quy? Chẳng có ai! Đúng là chẳng dễ dàng! Thật sự thực hiện được chuyện quy y Phật th́ phải như Giao Quang đại sư đă nói trong sách Lăng Nghiêm Chánh Mạch, “bỏ Thức dùng Căn” sẽ là quy y Phật. Quy () là quay lại, từ đâu mà quay lại? Từ thức quay trở lại. Từ tám thức và năm mươi mốt Tâm Sở mà quay lại. Y () là ǵ? Nương vào giác tánh của chính ḿnh. Giác tánh là ǵ? Là căn tánh của lục căn, nơi mắt gọi là tánh Thấy, nơi tai gọi là tánh Nghe. Trước khi chúng ta quy y, chúng ta dùng Nhăn Thức để nh́n sáu trần bên ngoài. Hễ quy y bèn quay lại, từ nay chúng ta chẳng dùng Nhăn Thức, mà dùng tánh Thấy để thấy sắc tánh, chẳng thấy sắc trần, đó mới là quy y Phật. Mấy ai có thể làm được? Quy y như vậy, chính ḿnh thuộc địa vị ǵ? Thưa cùng chư vị, ngay lập tức lắc thân biến hóa, [sẽ là] Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo hoặc Sơ Địa Bồ Tát trong Biệt Giáo, đó mới là quy y Phật. Quy là trở về, quay đầu, mấy ai chịu quay đầu? Chết đến nơi vẫn chẳng chịu quay đầu, quư vị c̣n có cách nào nữa đây!

Tam Quy đều nói theo h́nh thức, chứ nội dung và nghĩa thú chân thật của Tam Quy đều không hiểu, làm thế nào đây? Sử dụng tám thức và năm mươi mốt Tâm Sở chính là mê hoặc, điên đảo, chúng ta thường nói là “xử sự theo cảm t́nh”. “Thức” là t́nh thức, xử sự theo cảm t́nh, c̣n đối với Chân Như bản tánh, tánh là lư tánh. Xử sự, đăi người, tiếp vật thảy đều dùng cảm t́nh, đó là tạo nghiệp luân hồi trong lục đạo, làm thế nào được nữa! V́ thế, mấy ai biết quy y chân thật? Chúng tôi thường nói, chỉ bảo mọi người hăy từ mê hoặc, điên đảo mà quay lại, [đó là] chúng ta quy y tự tánh giác. Tôi nói không sai, nhưng quư vị nghe chẳng hiểu! Mê hoặc, điên đảo là ǵ? Tự tánh giác là ǵ? Nay tôi trích dẫn cách nói theo Lăng Nghiêm, chư vị có thể cảm thấy rơ ràng hơn một chút, nhưng vẫn chưa dễ hiểu. Lại nói nông cạn hơn một chút, [mê hoặc, điên đảo] sẽ là xử sự theo cảm t́nh. Hăy quay lại, sử dụng lư trí. Nói theo cách hiện thời như vậy, mọi người nghe chắc là sẽ có thể hiểu dễ hơn, nhưng ư nghĩa trong ấy vẫn rất mơ hồ, mông lung. Lư trí là ǵ? “Không phải lư trí” là ǵ? Ắt phải hiểu rơ ràng tánh chất của tám thức th́ mới thấy dễ hiểu hơn! Thức thứ sáu là ư thức, năm thức trước là tiếp xúc, chẳng khẩn yếu. Mắt tiếp xúc sắc trần bên ngoài, tai tiếp xúc âm thanh bèn khởi tác dụng. Thức thứ sáu phân biệt, thức thứ bảy chấp trước, thức thứ tám giữ lại ấn tượng. Bản tánh chính là căn tánh của lục căn, thưa cùng chư vị, nó chẳng có phân biệt, chẳng có chấp trước, mà cũng không giữ lại ấn tượng. Nay khiến cho lục căn của quư vị tiếp xúc cảnh giới lục trần bên ngoài, mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mà chẳng phân biệt, không chấp trước, không giữ lại ấn tượng, đó là đă quay lại, đó là quy y giác, là quy y Phật.

      Nói cách này rơ ràng hơn nhiều, chúng ta có thể làm được hay không? Hễ làm được, tâm bèn thanh tịnh. V́ sao? Tất cả hết thảy phiền năo đều chẳng có, phiền năo do đâu mà có? Từ phân biệt, chấp trước mà có. Bỏ sạch hết thảy phân biệt, chấp trước, lẽ nào có thể nẩy sanh phiền năo? Không chỉ chẳng có phiền năo, mà sanh tử cũng chẳng có. Sanh tử cũng từ phân biệt, chấp trước mà có. Chẳng có phân biệt, chấp trước, sanh tử sẽ chẳng có, luân hồi cũng chẳng có, lục đạo cũng chẳng có. Hễ quay đầu bèn chẳng có, không quay đầu th́ thứ ǵ cũng đều có; bèn có cái để phải hứng chịu. Tổ sư đại đức thường nói: “Quay đầu là bờ”. Phải biết quay đầu. Quy y là quay đầu, như vậy mới là quy y Phật. Quy y Phật khó lắm. Tụng niệm công khóa sáng phải niệm Tam Quy, tụng niệm công khóa tối lại niệm Tam Quy, thời thời khắc khắc nhắc nhở chính ḿnh: “Nhất định phải quay đầu”. Không quay đầu sẽ chẳng phải là đệ tử Phật, chẳng quay đầu sẽ chẳng phải là kính trọng thầy. Không quay đầu sẽ là bất hiếu với cha mẹ. V́ lẽ này, điều thứ hai [trong Tam Phước] lấy điều thứ nhất làm cơ sở. Đă coi Phật là thầy, Phật dạy chúng ta như thế nào, chúng ta liền tiếp nhận như thế ấy, phụng hành đúng như thế đó. Đấy chính là tôn sư, tức là tôn kính thầy, là hiếu thảo đối với cha mẹ. Cha mẹ hy vọng chúng ta sẽ học theo một vị thầy tốt đẹp, Thích Ca Mâu Ni Phật là vị thầy tốt đẹp nhất trong thế gian và xuất thế gian. Tuy Phật chẳng tại thế, chẳng tại thế cũng không sao cả, kinh điển vẫn c̣n trên thế gian. Nương theo kinh điển để tu học chính là nương theo Phật để học đạo.

      Điều thứ hai [trong Tam Quy] là quy y Pháp, Lục Tổ đại sư nói là “quy y chánh”. Chánh là ǵ? Chánh tri chánh kiến. Chánh tri chánh kiến, chúng ta cũng rất khó hiểu. Tri kiến như thế nào th́ gọi là bất chánh? Tiêu chuẩn của tà và chánh là ǵ? Nói nông cạn, tiêu chuẩn của tà và chánh là Tam Tạng Kinh, Luật, Luận. Kinh và luận là tiêu chuẩn cho tư tưởng và kiến giải, giới luật là tiêu chuẩn của ngôn ngữ và tạo tác. Tư tưởng, kiến giải, ngôn ngữ, tạo tác của chúng ta đều tương ứng với kinh, luật, luận th́ tri kiến ấy chính là chánh tri chánh kiến. Nếu cách nghĩ, cách nh́n, cách nói, và cách làm của chúng ta trái nghịch kinh điển, sẽ là tri kiến bất chánh. Nói như vậy, chúng ta có phải đọc trọn hết Đại Tạng Kinh hay không? Không phải vậy! Thuở Phật tại thế dạy bảo các đệ tử, nói thật thà là [đệ tử được] khai thị một lần bèn suốt đời phụng hành. Cổ nhân cũng nói: “Nhất nhật vi sư, chung thân vi phụ” (Một ngày là thầy, suốt đời là cha). Thầy dạy quư vị một ngày là được rồi, quư vị phải tuân thủ suốt cả một đời. Chẳng tuân thủ tức là chẳng tôn kính thầy, chẳng hiếu thảo với cha mẹ. Hết cả một đời phụng hành, trong kinh luận chúng ta thường thấy chuyện này.

      Xét đến nguồn cội của kinh điển, tám chín phần trong mười phần là do có người khải thỉnh. “Khải thỉnh” (啟請) là như ta nay gặp phải khó khăn, bèn thưa bày cùng Thích Ca Mâu Ni Phật, xin lăo nhân gia chỉ giáo. Đức Phật liền giảng giải, giải quyết vấn đề. Về sau, ghi chép lại thành một bộ kinh. Thuật ngữ “đương cơ” (當機) trong kinh Phật chỉ người đến thỉnh giáo, đức Phật [nói một kinh] là nói với người ấy [nhằm giải quyết nghi vấn của người đó]. Người ấy suốt đời hành theo giáo huấn của đức Phật, sẽ đạt được kết quả thù thắng. Không có ai khải thỉnh, mà đức Phật tự ḿnh chủ động nói kinh th́ không nhiều lắm. Kinh A Di Đà là “vô vấn tự thuyết” (không ai hỏi mà tự nói), rất đặc biệt. Kinh Vô Lượng Thọ, nửa bộ đầu do tôn giả A Nan khải thỉnh, nửa bộ sau do A Dật Đa Bồ Tát (tức là Di Lặc Bồ Tát) khải thỉnh. Hai vị này là đương cơ của kinh Vô Lượng Thọ, tức là có đối tượng [thỉnh vấn]. Bộ kinh này do đức Phật vô vấn tự thuyết, t́nh h́nh như vậy rất ít. Đức Phật quan sát thấy cơ duyên đă chín muồi, tuy chẳng có ai hỏi, lăo nhân gia chủ động nói ra. Do vậy có thể biết, mỗi bộ kinh đều trọn đủ Tam Tạng kinh luật luận. Bất cứ một bộ kinh nào hễ mở rộng ra đều là Tam Tạng to lớn. Thu nhỏ Tam Tạng sẽ thành một bộ kinh. Quư vị hiểu ư nghĩa này, trong các buổi giảng tôi thường nói, kinh Vô Lượng Thọ nếu nói rơ ràng chi tiết sẽ là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Chú giải tỉ mỉ của Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh là Đại Tạng Kinh, quư vị bèn hiểu rơ. Do vậy, “một chính là nhiều, nhiều chính là một”. V́ thế, chúng ta chọn lựa một bộ kinh luận, suốt đời nương theo bộ kinh luận ấy để tu sửa tư tưởng, kiến giải, và hành tŕ của chúng ta th́ là đúng. Đó mới là quy y Pháp.

      Khóa sớm niệm kinh luận một lần ḥng nhắc nhở chính ḿnh: “Ngày hôm nay đừng quên lời Phật giáo huấn, phải y giáo phụng hành”. Khóa tối là phản tỉnh, là kiểm thảo: “Ngày hôm nay ta xử sự, đăi người, tiếp vật, cách nghĩ, cách nh́n, cách làm của ta có trái nghịch với giáo huấn của thầy hay không?” Hễ có vi phạm, phải chân tâm sám hối, sửa lỗi, đổi mới, đó là tu hành. Nếu không, hai buổi khóa tụng sáng tối có ích chi đâu? Hai thời công khóa sáng tối chẳng thiếu, niệm kinh ấy một lượt cho Phật, Bồ Tát nghe: “Con là cục cưng ngoan ngoăn của Phật, Bồ Tát. Phật, Bồ Tát rất yêu thích con”. Nực cười! Sai lầm to đùng! Không chỉ là bản thân quư vị đă nghĩ sai be bét, mà thật sự c̣n là tạo tội nghiệp. Phật, Bồ Tát lại chẳng ở đó, [tượng thờ ở đó là] tượng bằng đất nặn hay gỗ khắc, buổi sáng niệm kinh lừa tượng một lần, buổi tối lại niệm một lần lừa gạt chúng. Ngay cả tượng bằng đất nặn, gỗ khắc mà c̣n nhẫn tâm dối gạt, lẽ nào kẻ ấy chẳng lừa phỉnh người khác? V́ thế, kẻ ấy hằng ngày lừa người, chẳng có ǵ là lạ. V́ sao? Tượng Phật, Bồ Tát mà kẻ ấy c̣n lừa, lại c̣n lừa hai lần mỗi ngày! Chẳng hiểu quy y Pháp là ǵ, quư vị c̣n làm sao được nữa!

      Điều thứ ba [trong Tam Quy Y] là “quy y Tăng”. Tăng có nghĩa là “thanh tịnh, ḥa hợp”. Trong hai ư nghĩa ấy, thanh tịnh là chủ, tâm thanh tịnh bèn ḥa hợp. Tâm mỗi người đều thanh tịnh, làm sao bất ḥa cho được? Đương nhiên là ḥa, tự nhiên là ḥa. Giới điều cơ bản của Tăng đoàn là Lục Ḥa Kính. Mục đích của Lục Ḥa Kính là tâm thanh tịnh, [Tăng đoàn] được gọi là Ḥa Hợp Chúng, [ngụ ư] tâm thanh tịnh, thân thanh tịnh, cảnh giới thanh tịnh. Nay chúng ta thấy cảnh giới chẳng thanh tịnh, v́ sao chẳng thanh tịnh? Tâm chúng ta chẳng thanh tịnh. Nếu tâm thật sự thanh tịnh như kinh Lăng Nghiêm đă nói: “Nhược năng chuyển cảnh, tắc đồng Như Lai” (Nếu có thể chuyển cảnh, ắt giống như Như Lai), tâm thanh tịnh sẽ chuyển biến cảnh. Tâm chẳng thanh tịnh bèn bị cảnh chuyển. Tâm chẳng thanh tịnh sẽ bị cảnh giới bên ngoài ảnh hưởng. Tâm thanh tịnh chẳng bị cảnh giới bên ngoài ảnh hưởng. Chẳng bị cảnh giới ảnh hưởng, quư vị sẽ có thể ảnh hưởng cảnh giới. Quư vị có thể ảnh hưởng ngoại cảnh th́ gọi là “chuyển cảnh”. Nếu chư vị tham cứu thấu triệt đạo lư này, sẽ hoảng nhiên đại ngộ. Thế giới ngày nay, gần như mọi người trên toàn thế giới hiện thời đều ư thức địa cầu đă bị ô nhiễm hết sức nghiêm trọng. Làm thế nào để có thể tiêu trừ sự ô nhiễm ấy? Thưa cùng chư vị, nếu tâm địa chúng ta ô nhiễm mà chẳng thể khôi phục thanh tịnh, hoàn cảnh bên ngoài sẽ chẳng thanh tịnh. V́ sao? Cảnh chuyển theo tâm. Tâm thanh tịnh sẽ không tạo tác sự ô nhiễm nơi hoàn cảnh; tâm chẳng thanh tịnh th́ mới có thể tạo tác sự ô nhiễm nơi hoàn cảnh.

Việc bảo vệ môi trường trên cả thế giới hiện thời toàn là làm những chuyện thuộc về cành lá, chẳng t́m được cội rễ. Cội rễ ở trong tâm địa. Làm thế nào bảo vệ sự thanh tịnh trong cái tâm, bảo vệ cho tinh thần chẳng bị ô nhiễm, hoàn cảnh bên ngoài sẽ có thể tự nhiên khôi phục. Nhiều kẻ trong thế gian chẳng đọc kinh, chẳng biết chân tướng sự lư này. Tuy chúng ta hiểu, nhưng người hiểu quá ít, do người ít nên lời nói không có sức thuyết phục mạnh mẽ, thấy người thế gian tạo nghiệp chịu báo, chẳng có cách nào cứu văn! Chẳng cứu người khác được, nhất định là phải cứu chính ḿnh, đó là chánh xác. Chính ḿnh đă được cứu giúp, trong tương lai, nhân duyên của chúng sanh chín muồi, chúng ta thả chiếc bè Từ trở lại giúp đỡ họ. Khi nào th́ nhân duyên chín muồi? Họ có thể tiếp nhận Phật pháp, có thể nghe lọt tai, nghe rồi hoan hỷ, có thể tin nhận phụng hành, đó là nhân duyên đă chín muồi. Nay họ nghe chẳng lọt tai, chẳng thể tiếp nhận, chẳng thể phụng hành, tức là duyên chưa chín. Khi chưa chín muồi th́ phải tự độ, khi duyên đă chín muồi, sẽ lại độ kẻ khác. Đó gọi là quy y Tăng. Quy y Tăng chẳng phải là quy y một vị xuất gia, nhất định phải hiểu rơ điều này.

Kinh điển th́ bộ kinh nào cũng đều bao hàm vô lượng nghĩa. Chúng ta đọc bộ Sớ Sao của Liên Tŕ đại sư liền biết, tác phẩm này nhằm giải thích kinh A Di Đà. Kinh A Di Đà rất ngắn, ba phút đă niệm xong, kinh A Di Đà giảng những ǵ? Lại xem bộ Sớ Sao của Liên Tŕ đại sư, đúng là đáng nể, mỗi ngày giảng một tiếng rưỡi, giảng hết một năm vẫn chưa xong. Từ chỗ này, chúng ta mới biết: Trong kinh xác thực là bao hàm vô lượng nghĩa. Kinh A Di Đà bao hàm vô lượng nghĩa, có bộ kinh nào không bao hàm vô lượng nghĩa? Bộ kinh nào cũng đều chẳng phải là ngoại lệ. Đừng nói là giảng một năm chưa xong; nếu nói tỉ mỉ, cả một trăm năm vẫn giảng chẳng xong, thật đấy!   

“Thọ tŕ Tam Quy, trọn đủ chúng giới, chẳng phạm oai nghi” là tín điều tôn sư trọng đạo của đệ tử Phật. Tức là tôn sư trọng đạo, hiếu thuận cha mẹ chính là hành pháp cụ thể, tức phương pháp để tu hành. Nếu chẳng thật sự liễu giải ư nghĩa Tam Quy, chúng ta sẽ quy từ đâu? Chúng ta “y” (nương tựa) ǵ? Cũng có lẽ các đồng tu lại hỏi: Có rất nhiều bà cụ suốt đời cũng chẳng biết chữ, cũng chẳng hề nghe kinh, niệm một câu A Di Đà Phật, khi lâm chung đứng mất, hoặc ngồi mất, biết trước lúc mất, đó là chuyện như thế nào? Tôi thưa cùng quư vị, tuy bà cụ chưa hề nghe kinh, không biết chữ, cũng chưa từng niệm kinh, nhưng mười một câu của tam phước, cụ đă hoàn toàn làm được. Quư vị hăy quan sát tỉ mỉ, kiểm điểm cặn kẽ, sẽ thấy cụ chẳng khuyết thiếu một điều nào! Người ta suốt ngày từ sáng đến tối một câu A Di Đà Phật, điều ǵ cũng chẳng nghĩ tưởng, tâm địa thanh tịnh, tức là có “quy y Tăng” trong Tam Quy. Tư tưởng và kiến giải của cụ là A Di Đà Phật, cụ tin sâu Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng nghi, niệm nào cũng đều cầu sanh Tịnh Độ, hy vọng A Di Đà Phật đến tiếp dẫn chính ḿnh. Tri kiến ấy chính là chánh tri chánh kiến. Một câu Phật hiệu chẳng gián đoạn, không xen tạp là giác chứ không mê. Cổ đức dạy: “Cái tâm năng niệm là Thỉ Giác, Phật hiệu được niệm là Bổn Giác”. Niệm Phật là quy y giác, quy y chánh, quy y tịnh. Nguyên lai, một câu Phật hiệu của cụ trọn đủ Tam Quy. Không chỉ là Tam Quy trọn đủ, các giới cũng trọn đủ, Bồ Đề tâm cũng trọn đủ. Quy nạp toàn thể Đại Thừa Phật pháp đến cuối cùng sẽ là bốn chữ A Di Đà Phật, [do vậy] “đọc tụng Đại Thừa” cụ cũng trọn đủ. Cụ văng sanh như vậy, nêu gương khiến cho người khác trông thấy sẽ cảm động, tức là khuyến hóa kẻ khác cụ cũng trọn đủ. Tự hành, hóa độ người khác, dùng thân để giáo hóa, [đó chính là] “khuyến tấn hành giả”. Quư vị nói xem: Có điều nào cụ không trọn đủ? Điều nào cũng đều trọn đủ. Chúng ta có thể sánh bằng cụ hay không? Chẳng sánh bằng! Chớ nên xem nhẹ người khác!

      Nói thật ra, đối với thế gian và xuất thế gian trong hiện thời, sau khi đă vứt bỏ quan niệm đạo đức cơ bản, nói thông thường sẽ là kẻ được hưởng giáo dục càng cao càng phiền phức, đều luôn cho ḿnh là đúng, cuồng vọng, khi dễ người khác. Báo hôm nay đăng tin, tân Thủ Tướng của nước Anh chỉ có tŕnh độ Trung Học, rất đáng khiến cho người khác phản tỉnh sâu xa. Người Hoa thường nói: “Anh hùng bất phạ xuất thân đê” (Anh hùng chẳng sợ xuất thân thấp hèn). Thông thường, người xuất thân thấp hèn bèn khiêm hư, cung kính, luôn nghĩ ta chẳng bằng kẻ khác, nên mới có thể thành tựu; [nếu kẻ nào luôn nghĩ] người khác chẳng bằng ta, thôi rồi, ta c̣n có thể thành tựu hay không? C̣n có thể tiến bộ hay không? Chẳng có! Chư vị xem năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài trong kinh Hoa Nghiêm. Mỗi vị thiện tri thức đều là đại Bồ Tát. Thiện Tài đồng tử đến tham phỏng, sau khi dạy xong, các Ngài bảo: “Vô lượng vô biên pháp môn rất sâu, ta chỉ biết chút này, ta chẳng bằng các vị thiện tri thức, ngươi hăy đi t́m [những vị ấy]”. Chẳng có vị nào không tự khiêm hư, tôn kính người khác, đề cao người khác. Trong năm mươi ba vị thiện tri thức, chẳng t́m thấy vị nào ngạo mạn! Ngay cả Khổng lăo tử phu tử cũng nói: Giả sử có người tài hoa giống như Châu Công, “như Châu Công chi tài chi mỹ” (nếu người nào có tài năng hay khéo như Châu Công), Châu Công là vị thánh nhân được Khổng lăo phu tử bội phục nhất. “Sử kiêu thả lận”, [nghĩa là giả sử kẻ ấy] ngạo mạn, keo kiệt, nếu kẻ ấy có hai điều đó, “kỳ dư tắc bất túc quán hỹ” (những điều khác chẳng đáng để xét tới nữa), kẻ như vậy chẳng cần phải xét tới nữa! V́ sao? [Những ưu điểm, tài năng của kẻ ấy] toàn là giả, chẳng thật!

       Vừa mở đầu sách Lễ Kư, thánh nhân đă dạy: “Ngạo bất khả trưởng” (Chớ nên trưởng dưỡng thói kiêu ngạo). Nho gia nói theo pháp thế gian, chẳng nhấn mạnh đoạn phiền năo, nhưng người ta chế phục phiền năo, chẳng để cho nó tăng trưởng. Đối với nhà Phật th́ phải thoát tam giới, quyết định phải đoạn phiền năo. Đoạn phiền năo th́ khởi sự đoạn từ nơi đâu? Đoạn tập khí ngạo mạn trước! V́ lẽ đó, tu học Phật pháp trước tiên là thử thách quư vị, chiết phục hết sạch tập khí kiêu mạn rồi mới có tư cách học đạo. Tâm đă thanh tịnh th́ mới có tâm cung kính người khác, mới thật sự nhún ḿnh, đề cao người khác, mới có thể tiếp nhận, mới trở thành pháp khí, mới có thể tiếp nhận pháp rất sâu. Pháp rất sâu là Như Lai b́nh đẳng tánh pháp. Hễ có mảy may kiêu mạn, chẳng phải là Phật thiếu từ bi, chẳng phải là Ngài không chịu truyền dạy quư vị, mà v́ truyền dạy quư vị cũng vô dụng! Truyền chỗ này, ṛ rỉ chỗ kia, nên gọi là “hữu lậu”. Lậu () là ǵ? Là phiền năo của quư vị. V́ thế, trước hết, nhất định phải đoạn sạch Kiến Tư phiền năo. Sau khi đă đoạn Kiến Tư phiền năo th́ mới là pháp khí.

      Đối với Kiến Tư phiền năo, tham lam, sân khuể, ngu si, ngạo mạn, hoài nghi trong Tư Hoặc, hễ có một điều nào trong tham, sân, si, mạn, nghi, sẽ chẳng thể thành tựu. Không chỉ là quư vị chẳng thể thành tựu Phật pháp thông thường, mà niệm Phật cũng chẳng thể văng sanh, đúng vậy đó! Quư vị niệm Phật mà c̣n tham tài, tham danh, tham lợi trong thế gian, có thể văng sanh nổi hay chăng? A Di Đà Phật đến tiếp dẫn ta, [nhưng ta thấy] cổ phiếu chỗ nọ đang lên giá, không thể đi được, phải kiếm tiền đă! Vậy th́ làm sao có thể ra đi thành công cho được? C̣n có con cháu rất đông, ta c̣n chưa gặp mặt chúng, c̣n chưa dặn ḍ rơ ràng. A Di Đà Phật chẳng thể chờ đợi quư vị. Quư vị có tham, có sân khuể, người này trong quá khứ có lỗi với ta, ta c̣n chưa trả đũa hắn, vậy th́ cũng chẳng đi được! Tham, sân, si, mạn, nghi đều là đại chướng ngại cho việc văng sanh. Nếu quư vị muốn văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, những thứ ấy đều chớ nên có. Chúng là tập khí, là phiền năo, là chướng ngại, là nghiệp chướng!

      Mỗi người chúng ta đều biết: “Ta nghiệp chướng rất nặng”. Đúng vậy! Nghiệp chướng rất nặng, người nghiệp chướng nặng nề chẳng thể văng sanh. Hy vọng một câu Phật hiệu này sẽ tiêu sạch tất cả nghiệp chướng của quư vị. Ư niệm tham, sân, si, mạn, nghi vừa dấy lên, ngay lập tức chuyển nó thành A Di Đà Phật, khiến cho ư niệm ấy bị quên bẵng. Ắt cần phải niệm câu Phật hiệu A Di Đà Phật nhuyễn nhừ, trong mỗi niệm, Phật hiệu đều dấy lên hiện hành, trong mỗi niệm, tham, sân, si, mạn đều giảm bớt, công phu sẽ đắc lực, đó là cảnh giới tốt đẹp. Mỗi ngày niệm mười vạn tiếng Phật hiệu mà vẫn khởi tham, sân, si, mạn, vô dụng! Cổ nhân trào phúng: “Hét toạc cổ họng vẫn uổng công”. Chẳng thể văng sanh, niệm Phật chỉ là tốt lành ngoài miệng, ư chẳng tốt lành! V́ thế, chư vị nhất định phải hiểu rơ ư nghĩa “thọ tŕ Tam Quy”, phải tu tập từ chỗ này.

      “Cụ túc chúng giới” (trọn đủ các giới), chữ “chúng” () có phạm vi rất rộng, rất nhiều, chẳng phải chỉ là Tam Tụ Tịnh Giới. Đối với Tam Tụ Tịnh Giới, trọn đủ cả ba tụ là đă rất tốt, cần ǵ phải là các giới? Giới luật là khuôn phép trong cuộc sống, tinh thần của giới luật là “đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành”. Đừng làm các điều ác là giới Tiểu Thừa, là tự kiềm chế chính ḿnh, đó cũng là “độc thiện kỳ thân” (riêng tốt cho cái thân ḿnh) như Nho gia đă nói. “Độc thiện kỳ thân” là đừng làm các điều ác, “vâng làm các điều lành” là giới Đại Thừa, là giới Bồ Tát, là “xử chúng” (處眾), [tức là] cùng ở chung một chỗ với đại chúng. Nho gia gọi “vâng làm các điều lành” là “kiêm thiện thiên hạ”. Người ấy riêng thân ḿnh tốt lành, ở trong đại chúng bèn khiến cho thiên hạ cũng đều tốt lành. Nói thật ra, nguyên tắc đă nói trong Nho gia chẳng khác ǵ Phật pháp. V́ thế, tinh thần ấy được biểu hiện nơi sự tướng hết sức rộng răi. Chúng ta phải tuân thủ những giới điều do đức Phật đă dạy, mà đối với hiến pháp quốc gia, quy chế pháp luật, chúng ta cũng phải tuân thủ, chúng đều thuộc phạm vi của “chúng giới”. Trừ những điều đă có văn bản quy định ra, giới luật thuộc loại bất thành văn là ǵ? Quan niệm đạo đức, phong tục tập quán trong xă hội toàn bộ đều bao gồm trong một câu này. Ở Trung Hoa, phải tuân thủ phong tục và quan niệm đạo đức của người Hoa. Sang ngoại quốc phải tuân thủ pháp luật ngoại quốc, phong tục, đạo đức, và tập quán ngoại quốc th́ mới có thể cư xử ḥa hợp, ḥa thuận với họ. Do vậy, đối với “giới luật”, quư vị thấy “chúng giới” bèn chấp chết cứng là mấy giới điều như mười giới, hai trăm năm mươi giới, chết cứng trong đó, hoàn toàn sai mất rồi! Học Phật kiểu đó, Thích Ca Mâu Ni Phật trông thấy phải ứa lệ, cớ sao đầu óc đông cứng như vậy? Xưa kia, thầy Lư bảo chúng tôi, đầu óc của người học Phật có h́nh dạng ra sao? Một quả cầu thủy tinh tṛn xoe, phía nào cũng sáng long lanh! Đầu óc cứng c̣ng, vuông chằn chặn, sẽ chẳng thể học Phật, có chuyển cũng không thể động đậy được! C̣n làm ǵ được nữa? Chư vị nhất định phải hiểu rơ [chuyện này].

      Giới luật trong giới kinh là những quy ước, chế định đối với hoàn cảnh trong cuộc sống từ ba ngàn năm trước, có thể sử dụng trong hiện thời hay không? Chẳng thể sử dụng. Pháp luật thế gian cứ mỗi hai mươi, ba mươi năm lại phải tu chỉnh một lần; hiện thời do xă hội biến hóa quá lớn, chẳng đợi tới hai, ba mươi năm, cứ dăm ba năm là phải tu chỉnh các văn bản pháp luật một lần. Không tu chỉnh sẽ chẳng phù hợp, xă hội không ngừng tiến bộ, tiến bộ trên quy mô rộng lớn, những quy định trước kia nay chẳng c̣n phù hợp. Lập Pháp Viện (Quốc Hội) tu chỉnh điều luật mỗi ngày, phải thích ứng nhu cầu của xă hội và đại chúng.

      Giới luật nhà Phật truyền đến Trung Hoa, các tổ sư Trung Hoa chế định Thanh Quy. Thanh Quy (清規) là ǵ? Là giới luật được Hán hóa, là giới luật được hiện đại hóa. Chiếu theo tinh thần của giới luật trong Phật pháp để thích ứng với nhu cầu trong cuộc sống hiện tại, Thanh Quy được ước định như vậy. Khi thể lệ Thanh Quy đă khơi mào, đối với Thanh Quy tại mỗi nơi, mỗi huyện, mỗi tỉnh, mỗi chùa miếu tại Đại Lục, quư vị hăy xem kỹ, luôn luôn có mấy điều khác nhau. V́ sao? Nhất định phải thích hợp với hoàn cảnh hiện tiền của chúng ta. Ở nơi này có thể áp dụng, nhưng tại huyện khác, không nhất định là có thể áp dụng trôi chảy được! Nhất là Trung Hoa lại có lănh thổ rất lớn, các dân tộc rất đông, phong tục và tập tánh của mỗi dân tộc cũng không hoàn toàn giống nhau. Ngay như tại Đài Loan, Đài Loan c̣n có dân tộc [thiểu số] Cao Sơn. Dân tộc Cao Sơn[7] lại chia ra rất nhiều bộ tộc, phong tục tập quán của họ cũng đều chẳng giống hệt như nhau.

      Từ chỗ này, quư vị mới có thể thật sự thấu hiểu thâm ư [của câu] “đầy đủ các giới”. Sau đấy mới biết Phật giáo đích xác là siêu thời gian, siêu không gian. Bất luận trong thời đại nào hay quốc gia, dân tộc nào, cũng đều có thể áp dụng thông suốt, v́ sao? Nó sống động, chẳng chết ngắc; hễ chấp chết cứng vào một phương pháp nào đó, chắc chắn chẳng thể sử dụng thông suốt được. V́ lẽ này, hiện thời, pháp sư người Hoa hoằng pháp bên ngoại quốc, tôi thấy cũng rất buồn ḷng. V́ sao? Đương nhiên hiện thời toàn là dạy người Hoa, vẫn chưa dạy người ngoại quốc. V́ sao chẳng dạy người ngoại quốc? Người ngoại quốc chẳng đến! V́ sao người ngoại quốc chẳng đến?  Đến nghe chúng ta giảng kinh th́ phải làm người Hoa, lại c̣n phải làm người Hoa thời cổ! Quư vị nói xem làm sao chấp nhận được? Đơn giản là đă lái xe giật lùi, làm sao người ngoại quốc có thể tham dự cho được? Chúng ta nương theo chú giải của cổ nhân, những điều nói ra đều để cổ nhân hành theo, vậy là chẳng thể được! Nói cách khác, những điều họ giảng miễn cưỡng coi như khế lư, nhưng chẳng khế cơ! V́ lẽ này, Phật pháp chẳng thể phổ cập, chẳng được hoan nghênh, đạo lư là ở chỗ này. Quư vị thật sự thông đạt, hiểu rơ th́ há có nơi nào, dân tộc nào, quốc gia nào bài xích Phật pháp? Họ hoan nghênh [Phật pháp] truyền đến [xứ sở của họ] c̣n chẳng kịp! V́ sao? Nhất định là có lợi cho quốc gia và dân tộc của họ, có lợi ích chân thật, như kinh Vô Lượng Thọ đă nói: “Huệ dĩ chúng sanh chân thật chi lợi” (Ban cho chúng sanh lợi ích chân thật), ai chẳng cần? V́ vậy, kinh điển và chú sớ của các vị cổ đại đức hoàn toàn là sống động, hoạt bát. Nếu những bản chú sớ ấy chẳng sống động, mà là văn tự chết cứng, chắc chắn chúng chẳng thể được lưu truyền, nhưng thế hệ chúng ta đă giảng chúng thành chết cứng. Chúng chẳng phải là chết cứng, mà là bị chúng ta xem thành chết ngắc, giảng giải theo kiểu chết cứng. Đó là sai lầm, sai lầm ở chỗ này.

      Nay chúng ta nói “oai nghi” tức là “nghi biểu” (儀表) hoặc phong độ, [oai nghi] cũng phải theo kịp thời đại. Trong thế gian hiện thời, chúng ta thường thấy TV mỗi năm đều có [các show] biểu diễn các trang phục đang được lưu hành, oai nghi thuộc về những thứ đó. Có thể thấy là đức Phật trọn chẳng dạy chúng ta lái xe lùi lại. Đức Phật không chỉ dạy chúng ta đuổi kịp thời đại, mà c̣n dạy chúng ta lănh đạo thời đại, vĩnh viễn đi trước thời đại, chẳng bị lạc hậu. Nay người ta thấy [nói tới]“oai nghi” đều hướng theo oai nghi đời Đường hoặc đời Tống. Nói cách khác, thảy đều hành theo cổ nhân, bày vẽ oai nghi theo kiểu đó. V́ vậy, dọa người ta đến nỗi chẳng có ai dám học Phật. Sai mất rồi! Đă học Phật theo kiểu chết cứng! Nếu thảy đều là như vậy th́ Phật giáo truyền đến Trung Hoa, chúng ta hăy nên hoàn toàn dùng oai nghi của Ấn Độ th́ mới đúng! V́ sao truyền đến Trung Hoa bèn mặc loại quần áo như thế này? Đó là y phục thời Hán, gọi là “hải thanh”[8], nó chẳng phải là [y phục] của Phật giáo. Người đọc sách đời Hán thuộc giai cấp sĩ đại phu, nay ta gọi là “thành phần trí thức”, mặc y phục là áo dài rộng tay, họ chẳng làm những việc nặng nề!

      Hiện thời, có kẻ đề xướng, y phục của người xuất gia có thể thuận theo thế tục, vốn là tùy tục. Như người xuất gia tại Nhật Bản, ăn mặc theo lối Âu Tây, đi giày da. Áo ca-sa hiện thời đă biến thành [chỉ c̣n] mang tánh chất kỷ niệm. Chúng ta c̣n đắp cả tấm y, y của người Nhật là một miếng nhỏ xíu, b́nh thường bỏ trong túi áo của bộ âu phục. Nếu có Phật sự, họ móc túi lấy ra, giống như chúng ta đeo xâu chuỗi trên cổ, họ đắp y kiểu đó. Ba y của họ đều làm thành một miếng nhỏ như thế, thường bỏ trong túi áo của bộ Âu phục. Họ có phạm sai lầm hay không? Chẳng sai lầm, “chẳng phạm oai nghi”, họ thuộc về thế hệ hiện thời, chẳng phải là người sống trong xă hội thuở trước. V́ thế, họ chẳng phạm oai nghi.

      V́ sao hiện thời người xuất gia chúng ta không thay đổi cách ăn mặc mà vẫn mặc như thế này? Nói thật ra, mặc trang phục này thoải mái. Nay chúng ta thấy người Âu Tây mặc y phục bó sát thân thể, khó chịu lắm! Áo rộng tay to, xác thực là thoải mái. Bởi lẽ, người Hoa rất biết hưởng thụ. Nói thật thà, đối với chuyện ăn, mặc, ở, đi lại, người Hoa luôn nhấn mạnh sự hưởng thụ. V́ thế, loại y phục này khi đă thiết kế, được thiết kế rất hoàn hảo, người ngoại quốc sau khi đă mặc vào cũng muốn mặc. Họ không biết may cắt, chẳng mua được. Thật đấy! Khi chúng tôi ở ngoại quốc, họ thấy [y phục của người xuất gia] rất hâm mộ. Y phục này mặc được quá, thoải mái, đặc biệt là áo rộng tay. Quả thật là hải thanh đặc biệt thoải mái.

      Do vậy, câu nào trong những câu này cũng đều là sống động. Do xă hội hiện thời rất loạn, phong khí chẳng tốt, nên Tăng đoàn vẫn bảo tŕ [cách ăn mặc này]. Y phục chúng ta mặc hiện thời là trang phục đời Minh, chẳng muốn thay đổi lại có ích. Nói theo thân phận người xuất gia, nó có sự ước thúc. Ví như rạp chiếu bóng hoặc nhà hàng, chúng ta mặc loại quần áo này nói chung chẳng tiện bước vào, luôn cảm thấy ngại ngùng. Nếu thay đổi cách ăn mặc như người xuất gia Nhật Bản, vào những chỗ đó ai biết? Chẳng ai biết cả! Lạt-ma Trung Hoa, như Cam Châu Hoạt Phật[9], tôi và Sư thường ở chung một chỗ. Sư mặc áo dài (mă quải là lễ phục, b́nh thường Sư không mặc mă quải mà mặc trường bào). Khi đó, tôi vừa mới học Phật, thường ở cùng một chỗ với Sư, có lúc chúng tôi đi coi phim, có khi vào quán ăn, chẳng có ai nhận ra Sư. Nếu mặc quần áo như vậy để đi xem phim th́ không tiện lắm. Đi ăn tiệm, v́ Sư là lạt-ma nên không ăn chay. Khi đó, chúng tôi vừa mới học Phật cũng c̣n chưa ăn chay, thường ăn bíp-tết với Sư. Tôi và Cam Châu rất thân thuộc, nên về sau, đồ đệ của Cam Châu không muốn tôi lai văng. Ông ta nói: “Không được! Chúng tôi giao tiếp với ông sẽ bị thua kém một bậc, v́ ông ngang vai với thầy tôi! Tôi thuộc hàng văn bối của ông”. V́ vậy, mặc loại trang phục này, đích xác là người xuất gia chịu rất nhiều sự bó buộc. Nhất là trong hiện thời, nói thật thà, giới luật trong Tăng đoàn cũng chẳng được nhấn mạnh. Ăn mặc theo kiểu này ra ngoài th́ ít nhiều sẽ bị bó buộc rất lớn, có lợi, chẳng có hại. Từng có người đề xướng phải cải cách, có những vị lăo ḥa thượng không đồng ư, [các Ngài] không đồng ư là có lư, tốt lắm. Tốt đẹp th́ chúng ta hăy nên giữ lại. Do vậy, ba câu này có ư nghĩa hết sức sâu rộng. Đừng thấy “chúng giới” bèn nghĩ đến mỗi điều trong giới bổn, thấy “oai nghi” bèn nghĩ tới đời Đường, đời Tống. [Nếu hiểu như vậy th́] sai bét mất rồi!

Lại thưa cùng chư vị đồng tu, trong tương lai, nếu như trong Phật giáo xuất hiện tùng lâm th́ cũng là tùng lâm được hiện đại hóa theo kiểu mới, tuyệt đối chẳng phải là như trong quá khứ. Khuôn khổ quy củ, oai nghi trong tùng lâm quá khứ chẳng có ai muốn tuân thủ. Nếu hiện thời quư vị lấy khuôn khổ quy củ, oai nghi đó ra, nói “tôi lập tùng lâm ở nơi đây, hoan nghênh mọi người đến gia nhập”, bảo đảm chẳng có một người nào đến, dẫu một người cũng chẳng đến! V́ sao? V́ mọi người sẽ không quay lại làm người đời Đường hoặc đời Tống, chẳng thể quay lại! Nhất định là phải hiện đại hóa, nhất định là phải bản địa hóa. Hiện thời, nói thật thà, v́ giao thông nhanh chóng, tiện lợi, thông tin phát triển, cả thế giới biến thành một khu vực. Trước kia, ta chỉ biết chuyện nơi vùng ta ở là đủ rồi, nay th́ không được. Hiện tại, chuyện trên cả thế giới, văn hóa lịch sử, h́nh thái ư thức và phương thức sống, cho đến các phong tục, tập quán của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, quư vị đều phải biết. V́ hễ khi nào quư vị có dịp đi xa, chẳng hiểu [phong tục, tập quán nơi ḿnh sẽ đến] th́ ra ngoài sẽ bị thua thiệt, bị chê cười! Đệ tử Phật nếu muốn đến hoằng pháp mỗi nơi trên thế giới, nếu quư vị không biết rơ, làm sao hoằng dương Phật pháp cho được? Làm sao có thể khiến cho người ta tiếp nhận? Phải biết chuyện này!

      V́ lẽ đó, Phật pháp chẳng chết cứng. Chết cứng th́ vô giá trị. Phật pháp thù thắng nhất, lỗi lạc nhất, sống động! Giống như nước, đổ vào [đồ đựng có] h́nh tṛn, nó là vật có h́nh tṛn. Đổ vào đồ đựng h́nh vuông, nó có h́nh vuông, thiên biến vạn hóa tùy theo cảnh giới bên ngoài. Nguyên tắc và nguyên lư của nó chẳng thay đổi, nhưng h́nh thức th́ biến đổi từng thời, từng khắc, tuyệt diệu thay! Do vậy, học Phật chẳng thể học chết cứng! Hiện thời, các đồng tu chúng ta học Phật gặp nhiều chướng ngại, những chướng ngại ấy từ đâu sanh ra? Nói thật ra, chúng nẩy sanh do quư vị đă vi phạm các giáo huấn của đức Phật, học Phật pháp theo kiểu chết cứng. V́ thế, ở trong gia đ́nh, chẳng được hoan nghênh. Người trong nhà vừa thấy quư vị học Phật đều chê bai: “Kẻ học Phật là bất b́nh thường”. C̣n làm thế nào được nữa? Sai mất rồi! Thuở Thích Ca Mâu Ni Phật tại thế, đức Phật và các đệ tử Phật bất luận đi đến nơi nào đều được đại chúng hoan nghênh, c̣n chúng ta đến nơi đâu, về nhà th́ bị người nhà chán ghét, ra xă hội th́ bị người trong xă hội chán ghét, gặp phải t́nh cảnh như vậy, há Thích Ca Mâu Ni Phật c̣n có thể hoằng pháp lợi sanh ư? Sai lầm mất rồi! Chẳng phải là Phật pháp sai lầm, mà là do bản thân chúng ta đă hiểu sai ư Phật, hiểu trật vuột, xuyên tạc ư nghĩa của Phật, vẫn cứ ngỡ ḿnh là đúng, quư vị nói xem có hỏng bét hay là không?

      Nay chúng ta nói tới Phật học th́ phải nói tới Phật học hiện đại, thâm nhập kinh tạng, liễu giải đối với mỗi triều đại, mỗi địa phương trong quá khứ, các vị tổ sư đại đức thuở ấy đă hiện đại hóa, bản địa hóa những điều ấy như thế nào trong thời các Ngài th́ mới có thể hoằng dương, mới có thể gây nên ảnh hưởng sâu xa. Chúng ta tham khảo những điều đó, chọn lọc cái mới, hiện tại có cách nói của hiện tại, nói theo kiểu thời này và chỗ này th́ mọi người mới có thể đạt được sự thọ dụng chân thật, cảm thấy tu hành Phật pháp chẳng có chút khó khăn nào, hoàn toàn chẳng mâu thuẫn với cuộc sống của chúng ta, chỉ đem lại cho chúng ta một cuộc sống phong phú, viên măn, hạnh phúc hơn, chẳng có mảy may chướng ngại nào, có kẻ nào chẳng mong tiếp nhận? Hiện thời, mọi người cảm thấy [tu hành Phật pháp] quá đỗi phiền phức, quá nhiều chướng ngại, như thế này cũng không được, như thế kia cũng chẳng được! Thôi đi! Chẳng muốn học nữa! Sai lầm ở chỗ này!

      Chẳng phải là kinh Phật sai lầm. Kinh Phật chẳng sai lầm, mỗi chữ đều chẳng sai lầm, mà là do chúng ta nhận thức sai lầm, hiểu sai be bét! Người ta bảo quư vị “chẳng phạm oai nghi”, đâu có tṛng thêm câu “chẳng phạm oai nghi thời Thích Ca Mâu Ni Phật”! Nếu thêm câu ấy vào, sẽ chẳng có cách nào hết, nhất định là phải vâng giữ theo thời ấy. Bốn chữ “chẳng phạm oai nghi” sống động. Mỗi thời đại có oai nghi của thời đại ấy, mỗi khu vực có oai nghi của khu vực ấy. Oai nghi cũng là lễ tục (lễ nghi, tập tục), khác nhau! “Cụ túc chúng giới”: Đối với giới vừa nói ấy, cũng chẳng nói là giới trong bộ giới kinh nào, chẳng nói như thế. Chúng ta mới hiểu giới ấy là khuôn phép trong cuộc sống, nói như hiện thời là “lễ nghi của quốc dân”. Lễ nghi của quốc dân là oai nghi, khuôn phép trong cuộc sống chính là “chúng giới”. Chư vị liễu giải ư nghĩa này, tuyên truyền với người khác như vậy, có ai không hoan hỷ? Ai có thể nói Phật pháp là mê tín? Nếu chúng ta nhất định phải nói tới một triều đại nào đó trong quá khứ, [chẳng hạn như] thời đại của Thích Ca Mâu Ni Phật, loại Phật giáo ấy đương nhiên là mê tín, đương nhiên chẳng thể vận dụng trôi chảy được. [Hiểu theo kiểu đó] th́ chúng ta không chỉ chẳng thể làm người Hoa, mà c̣n phải làm người Ấn Độ. Lại c̣n làm người cổ Ấn Độ từ ba ngàn năm trước, ai bằng ḷng làm? Đương nhiên là chẳng muốn!

 

      (Diễn) Tam giả phát Bồ Đề tâm, thâm tín nhân quả, độc tụng Đại Thừa, khuyến tấn hành giả.

      ()三者發菩提心,深信因果,讀誦大乘,勸進行者。

(Diễn: Ba là phát Bồ Đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng Đại Thừa, khuyến khích, sách tấn hành giả).

 

      Điều thứ ba là điều thiện của hàng Bồ Tát. Trong ba tầng cấp này, tầng thứ nhất là tiêu chuẩn của nhân thiên, tầng thứ hai là tiêu chuẩn học Phật, tức là tiêu chuẩn của đệ tử Phật. Mức độ thấp nhất của đệ tử Phật là phải trọn đủ ba điều này. Chẳng có ba điều ấy, sẽ chẳng phải là đệ tử Phật. Từ tiêu chuẩn ấy, lại nâng cao hơn, bèn thành Bồ Tát. Bồ Tát là ǵ? Là đệ tử nhập thất của Phật. Tầng cấp trước là những đệ tử Phật chưa đăng đường nhập thất, c̣n đây là các đệ tử đă đăng đường nhập thất của đức Phật. Tầng cấp trước là các đệ tử thông thường, tầng sau là đệ tử truyền pháp của đức Phật, tiêu chuẩn lại chẳng giống nhau!

      Thứ nhất là phải “phát Bồ Đề tâm”, Bồ Đề tâm là tâm ǵ? Trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh. Nói cụ thể sẽ là Tứ Hoằng Thệ Nguyện. Tứ Hoằng Thệ Nguyện là Bồ Đề tâm, phải thật sự phát tâm độ chúng sanh. “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”, độ là ǵ? “Độ” là giúp đỡ, hiệp trợ họ. Quan trọng nhất là giúp họ phá mê khai ngộ, đoạn phiền năo, giúp họ khôi phục cái tâm thanh tịnh. Điều này quan trọng nhất. Nếu hạ thấp tiêu chuẩn để giúp đỡ họ, bèn dạy họ hiếu thảo với cha mẹ, dạy họ tôn sư trọng đạo, dạy họ từ tâm chẳng giết, dạy họ tu Thập Thiện Nghiệp. Đấy là đặt tiêu chuẩn ở mức thấp nhất nhằm tiếp dẫn các chúng sanh b́nh phàm. Đối với kẻ chẳng học Phật, phải dùng phương pháp này để dạy họ, đó là pháp nhân thiên. Đối với người đă học Phật, phải dạy họ thật sự quay đầu. Tam Quy là quay đầu, dạy họ giữ pháp, vâng giữ quy củ, đó là “trọn đủ các giới, chẳng phạm oai nghi”. Đối với người tu lâu, phải khuyên họ “phát Bồ Đề tâm”, nhất định phải tự hành, dạy người.

      Trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện, thệ nguyện thứ nhất là Bồ Tát nguyện, nguyện thứ hai và thứ ba là Bồ Tát hạnh, nguyện thứ tư là quả vị Bồ Tát. Đă phát nguyện rồi, thực hiện từ nơi đâu? Thực hiện từ đoạn phiền năo. Chẳng đoạn phiền năo, chính ḿnh chẳng thể thành tựu, mà cũng chẳng thể hóa độ chúng sanh. Đă đoạn phiền năo rồi mới học pháp môn. V́ thế, người học Phật hiện thời, học mấy chục năm, học suốt một đời, chẳng có thành tựu ǵ nơi Phật pháp, nguyên nhân ở chỗ nào? Điên đảo thứ tự, vừa bắt đầu bèn “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”, chẳng cần tới “phiền năo vô tận thệ nguyện đoạn”, nên người ấy vĩnh viễn chẳng thể học được! V́ sao? Căn khí của kẻ ấy là hữu lậu, giống như cái chén trà này đáy lủng một lỗ, đổ nước vào cách nào cũng chẳng đổ đầy được! Do bị ṛ rỉ, nên chẳng thể đổ đầy được. Kẻ ấy có Lậu, Lậu () là tên gọi khác của phiền năo. V́ thế, tŕnh tự học Phật là trước hết đoạn phiền năo, trước hết là tu tâm thanh tịnh, nhất định phải làm đúng theo tŕnh tự của Phật. Tŕnh tự là Giới, Định, Huệ. “Thọ tŕ Tam Quy, trọn đủ các giới, chẳng phạm oai nghi” là Giới Học trong Tam Học. “Phát Bồ Đề tâm, tin sâu nhân quả” là Định Học. “Đọc tụng Đại Thừa, khuyến tấn hành giả” là Huệ Học. Nó có thứ tự, chẳng thể vượt cấp. Những điều sau nhất định bao gồm những điều trước, những điều trước chẳng bao gồm các điều sau, nhưng điều sau bao hàm điều trước. Nay chúng ta chẳng hiểu, bèn vượt cấp. Giống như xây một ṭa cao ốc, chẳng cần ba tầng dưới, ta xây tầng thứ tư, thứ năm, xây bằng cách nào? Chẳng có cách nào xây cả! Vĩnh viễn cũng chẳng thể xây thành công! Đây là sai lầm to nhất mà người học Phật trong đời này phạm phải!

      Nếu chư vị muốn thật sự thành tựu, trước hết hăy đoạn phiền năo rồi sẽ học pháp môn. Nay tôi khuyên mọi người niệm kinh Vô Lượng Thọ, niệm kinh có ư nghĩa ǵ vậy? Nhằm đoạn phiền năo. V́ sao? Chẳng niệm kinh bèn suy nghĩ loạn xạ, suy nghĩ loạn xạ là phiền năo. Niệm kinh, ta niệm mỗi lần một giờ, tối thiểu là trong một giờ ấy, ta chẳng suy nghĩ loạn xạ, tu Định trong một giờ ấy. Niệm hai giờ sẽ là hai giờ chẳng suy nghĩ loạn xạ. V́ thế, hằng ngày quư vị niệm càng nhiều càng tốt. Quư vị có thể niệm tám giờ mỗi ngày, trong tám giờ không suy nghĩ loạn xạ. Quư vị niệm suốt một năm, hai năm, hoặc ba năm, tâm quư vị thanh tịnh, vọng tưởng dần dần bớt đi. Vọng tưởng giảm thiểu th́ mới có thể học pháp môn. Khi ấy, quư vị nghe kinh, tôi vừa giảng, quư vị bèn hoát nhiên khai ngộ, đă khai ngộ. Nay quư vị nghe tôi giảng kinh, nghe suốt ba mươi năm vẫn chẳng khai ngộ, do nguyên nhân ǵ? V́ quư vị có phiền năo tồn tại. Trong khi nghe kinh, quư vị đă xen tạp phiền năo. Phiền năo chướng ngại ngộ môn, nên quư vị chẳng khai ngộ. Nếu quư vị chẳng có phiền năo, nói thật thà, nghe kinh vài lần, nhất định khai ngộ. Sau khi đă ngộ bèn chứng quả.

      Cổ nhân giáo học, người xuất gia nói “năm năm học giới”. Năm năm học giới chẳng phải là học giới luật, chẳng phải là học Luật Tạng trong Kinh Luật Luận Tam Tạng. Chẳng phải vậy, mà là tuân thủ răn dạy của thầy. Thầy dạy quư vị điều ǵ? Nói theo Giáo Hạ là dạy quư vị đọc kinh, bảo quư vị làm lụng, điều ǵ khác cũng đều không dạy. Thường trụ phân công quư vị làm chuyện ǵ, quư vị hăy chăm chỉ làm, làm lụng là tu phước. Dạy quư vị đọc kinh, mỗi ngày dạy quư vị niệm bao nhiêu lần, đó là tu Giới, Định, Huệ, Tam Học Giới, Định, Huệ được hoàn thành cùng một lượt. V́ lẽ đó, đọc kinh là tu hoàn tất Tam Học Giới Định Huệ cùng một lượt. Do vậy, đọc kinh chớ nên suy nghĩ ư nghĩa trong ấy, chớ nên vừa niệm vừa suy nghĩ, suy nghĩ chính là nghĩ tưởng loạn xạ. V́ sao? V́ kinh chẳng có ư nghĩa. Nếu kinh có ư nghĩa, làm sao có thể có hai cách giảng, hoặc rất nhiều cách giảng cho được? Ví như nói “trọn đủ các giới, chẳng phạm oai nghi”, ở Đài Loan, chúng tôi có cách giảng theo kiểu Đài Loan, quư vị đến Nhật Bản, sẽ có cách giảng theo kiểu Nhật Bản. Quư vị đến Mỹ, sẽ có cách giảng theo Mỹ. V́ sao? Quan niệm xă hội, đạo đức, pháp luật của họ đều chẳng giống chúng ta. Có thể thấy những điều này là nguyên lư, nguyên tắc, chẳng có ư nghĩa. Chẳng có ư nghĩa mà cứ ương ngạnh gán một ư nghĩa cho nó, đó là dấy vọng tưởng, sai bét mất rồi!

      Do vậy, kinh điển này vào lúc nào bèn có cách giảng lúc ấy, ở nơi đâu bèn có cách giảng ở nơi đó, chẳng có cách giảng nhất định, chẳng có ư nghĩa nhất định, quư vị học như thế nào? Thật sự biết học là học tâm thanh tịnh, chuyện ǵ cũng chẳng nghĩ tới, chỉ là niệm miết, chuyện ǵ cũng đừng dấy vọng tưởng, đến khi người ta mời quư vị giảng kinh, quư vị thấy người bèn nói tiếng người, thấy quỷ liền nói tiếng quỷ, há c̣n có thể chuẩn bị những thứ ấy ư? Có nhiều người giảng mà đă viết thật nhiều bút kư, giống như có bệnh nhân đến, thầy thuốc khám bệnh, nhưng toa thuốc đă viết sẵn từ lâu. Quư vị phải sanh bệnh đúng theo toa thuốc của ta th́ mới được. Chẳng phải là toa thuốc của ta sai, mà là quư vị sanh bệnh sai bét rồi! Giảng kinh hiện thời là theo kiểu này, họ đă chuẩn bị sẵn sàng, kê sẵn toa thuốc để cho quư vị chữa bệnh. Quư vị ngẫm xem, có thầy thuốc nào kê sẵn toa chờ quư vị đến khám bệnh? Quư vị bèn thật sự hiểu rơ “nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa” trong bài kệ Khai Kinh chẳng đơn giản. Tôi nói lời thật cùng các đồng học, quư vị thật thà tu Giới, Định, Huệ, tu tâm thanh tịnh, tu giác, chánh, tịnh rồi mới mở kinh bổn ra, tự nhiên liền hiểu, tự nhiên nói khế lư, khế cơ, ta và người đều có thọ dụng, đạt được lợi ích chân thật. Câu “phát Bồ Đề tâm” c̣n chưa giảng xong, lần sau sẽ lại giảng từ câu này.

A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

Phần 105 hết

 



[1] Thái Học (太學) là cơ cấu giáo dục cao nhất thời cổ. Từ thời cổ đă lập ra Thái Học (nhưng danh xưng chưa thống nhất, có khi gọi là Tịch Ung (辟雍), thời Ngu Thuấn gọi là Thượng Tường (上庠), thời Ngũ Đế gọi là Thành Quân, 成均), măi đến đời Hán, Thái Học mới trở thành danh xưng chính thức của các trường đại học do chánh quyền lập ra tại kinh đô, và chính thức lấy tư tưởng Nho gia làm giáo dục chủ đạo trong nhà trường. Đến đời Tấn, lại lập riêng một trường Thái Học để dạy con em công khanh, gọi là Quốc Tử Học (子學, tức Quốc Tử Giám (國子監) sau này), nhưng các trường Thái Học và Quốc Tử Học vẫn do cùng một quan Quốc Tử Tế Tửu (子祭酒, tương đương với hiệu trưởng) trông coi. Danh xưng Tế Tửu chỉ có từ đời Tấn Vũ Đế, chức Tế Tửu thường do Tể Tướng kiêm nhiệm, hai vị quan phụ tá chức Tế Tửu được gọi là Tư Nghiệp (司業). Sở dĩ gọi hiệu trưởng Quốc Tử Giám là Tế Tửu v́ trong cổ lễ, khi cúng tế hoặc yến tiệc, bậc niên trưởng hoặc đức cao trọng vọng sẽ đại diện cho mọi người dâng rượu lên thần minh. V́ vậy, danh xưng Tế Tửu đồng nghĩa với người được đại chúng coi trọng. Từ giữa đời Tống trở đi, chức Tế Tửu có trách nhiệm gần như thứ trưởng giáo dục hiện thời, v́ chưởng quản tất cả các trường Thái Học, Quốc Tử Giám, Vũ Học, Luật Học, Tiểu Học, ban định chính sách, sắc lệnh, tổ chức khảo thí viên chức, thăng thưởng, xử phạt các học quan (viên chức giáo dục) và hiệp trợ Thượng Thư bộ Lễ lo tổ chức thi cử. Từ thời Minh, Thanh trở đi, Tế Tửu bị giáng xuống bậc Tùng Tứ Phẩm và quyền hạn bị thâu hẹp rất nhiều, chỉ lo quản trị Quốc Tử Giám.

[2] Ngài Nguyên Chiếu, hiệu là Trạm Nhiên, người xứ Dư Hàng, tỉnh Chiết Giang, chuyên hoằng dương Luật Tông và Tịnh Tông vào thời Bắc Tống. Thuở nhỏ, Sư theo hầu luật sư Huệ Giám chùa Tường Phù huyện Tiền Đường, được thọ giới vào năm Trị B́nh thứ hai (1065). Năm Hy Ninh nguyên niên (1068), Ngài cùng bạn học là Trạch Anh theo ngài Thần Ngộ Xử Khiêm học Thiên Thai Giáo Quán, nghiên cứu rộng răi giáo nghĩa các tông, nhưng lấy Luật Tông làm chủ. Về sau, do đọc bộ Tịnh Độ Thập Nghi Luận của Thiên Thai đại sư, bèn dốc ḷng nơi Tịnh Độ. Lại nương theo lời dạy nhất ư chuyên tŕ của tổ Thiện Đạo, phát nguyện lănh chúng đồng tu niệm Phật, nên biên soạn  bộ Tịnh Nghiệp Lễ Sám Nghi (đă thất truyền). Sư lại vâng lời dạy của ngài Xử Khiêm, đi khắp nơi tham học Tứ Phần Luật và tông chỉ Pháp Hoa. Sau khi thọ giới Bồ Tát với ngài Quảng Từ Huệ Tài, Sư chuyên tâm nghiên cứu Nam Sơn Luật Học, sưu tập các trước tác của tổ Đạo Tuyên, soạn thành bộ Nam Sơn Luật Sư Soạn Tập Lục. Sư thường mặc áo vải, khất thực. Về sau, an trụ tại chùa Linh Chi Tông Phước, nên thường được gọi là Linh Chi Luật Sư. Do thấy tăng sĩ tu Thiền thời ấy viện cớ chẳng chấp trước mà phóng túng giới luật, coi rẻ niệm Phật, Sư cho khắc lại bộ Từ Mẫn Tam Tạng Văn Tập (tức bộ Văng Sanh Tịnh Độ Tập do pháp sư Huệ Nhật biên soạn), liền bị những kẻ cuồng Thiền nhao nhao công kích, vu cáo Sư ngụy tạo tác phẩm ấy. Ngài phải viết sách trần thuật nguyên cớ, cũng như đưa ra cổ bản để làm chứng, chuyện ấy mới yên.

[3] Mă quải (馬褂, tiếng Măn Châu là Olbo) là một loại áo ngắn mặc ra ngoài áo dài. Cần lưu ư, đối với loại áo ngắn khoác ra ngoài áo dài (trường bào, kỳ bào), có hai loại: Nếu là áo không có tay, sẽ gọi là “mă giáp” (馬甲), trong khi đó, mă quải luôn có tay. Đây là loại phục sức của người Măn Thanh ép người Hoa phải sử dụng khi quân Thanh vào Trung Nguyên. Mă quải vốn là loại áo chống lạnh khoác ra ngoài áo dài, về sau được sử dụng như một loại trang phục mang tính chất khoa trương sự quyền quư. Loại mă quải màu vàng (được gọi là hoàng mă quải) do hoàng gia ban tặng cho những người có công huân với triều đ́nh. Không được hoàng gia ban tặng hoàng mă quải, sẽ không được phép mặc, trừ các lạt-ma cao cấp như Chương Gia, Đạt Lai Lạt Ma, Ban Thiền Lạt Ma… mới được phép mặc. Thông thường mă quải được may bằng vải tốt, thường là gấm, vóc, hoặc lụa trơn, cài khuy đằng trước, nhưng thường có màu khác với kỳ bào, nhằm tôn lên chất liệu vải của mă quải. Những kẻ diêm dúa thường viền cổ, thêu thùa hoa văn rực rỡ nơi vạt áo. Mă quải chia thành nhiều loại như đại khâm, đối khâm, tỳ bà khâm… Đặc điểm chung là cổ cao, độn cứng như cổ áo dài, bốn vạt, tức là thân sau do hai khổ vải ghép lại, xẻ vạt đằng trước, dài đến ngang eo, ống tay hẹp, ống tay áo dài hơn bàn tay ba, bốn tấc, nên khi mặc phải vấn ống tay áo lên.

[4] Theo Châu Lễ, điển lễ này đă được thực hành từ đời Châu, thông thường là khi nam thanh niên đă tṛn hai mươi tuổi, nhưng nếu là con hoàng đế hoặc chư hầu, do nhu cầu chấp chánh, có thể được gia quan sớm hơn. Chẳng hạn, Châu Văn Vương tiếp nhận lễ gia quan năm mười hai tuổi, Châu Thành Vương được gia quan năm mười lăm tuổi. Lễ được tiến hành thường vào tháng Hai, sau khi xin quẻ bói để chọn ngày tốt liền báo trước cho thân hữu mười ngày. Đồng thời dùng quẻ bói và bát tự để chọn một vị chủ tŕ điển lễ (thường gọi là Đại Tân) và một vị Tán Quan để giúp vị chủ lễ. Khi hành lễ, chủ nhân (thường là cha người được nhận lễ gia quan), Đại Tân, Tán Quan và người nhận lễ gia quan đều mặc đại lễ phục. Người chủ lễ và người nhận lễ quỳ đối diện nhau trước bàn thờ tổ tiên, vị tán quan cầm mũ. Vị chủ lễ nhận mũ từ tay vị tán quan đội lên đầu người nhận lễ và nói những lời chúc tụng tốt lành, dặn ḍ người nhận lễ vâng giữ đạo đức v.v… Đầu tiên là trao mũ bằng vải đen, rồi trao mũ bằng da, cuối cùng trao tước biện. Tước Biện (爵弁) là một loại măo rộng tám tấc, cao một thước sáu tấc, trước nhỏ sau to, thường dùng lụa chế thành có màu như lông chim sẻ. Do chữ Tước (: chim sẻ) đồng âm với Tước (: chức tước), nên loại măo này c̣n có ư nghĩa chúc tụng người thanh niên ấy sẽ công danh thành đạt. Tước biện trông gần giống như miện () của hoàng đế, tức là có h́nh ống tṛn, phía trên có một tấm đậy, nhưng không đặt ngang như miện mà đặt xéo, phía trước cao hơn. Phía trên măo có chỗ để cắm trâm xuyên qua và buộc dây dưới cằm cho khỏi tuột. Điểm khác biệt là Tước Biện không có tua kết ngọc treo rủ xuống trước mặt như Miện. Chỉ có loại Tước Biện đội trong đám cưới là có hai tua đỏ treo hai bên đầu trâm. Sau khi đă trao ba lần mũ xong, vị Đại Tân lại đặt tên Tự cho người nhận lễ. Người chủ lễ bèn đưa tiễn Đại Tân ra khỏi cửa, biếu tặng lễ vật. Người chịu lễ bèn đến chào hỏi chú bác, trưởng bối trong họ để nhận lời khuyên dạy rồi mới cùng nhau ăn uống. Về sau, nghi thức gia quan được giản lược bớt, không mời khách khứa, vị Đại Tân thường do cha người nhận lễ hay vị trưởng họ chủ tŕ.

[5] Lễ cài trâm (kê lễ, ), Kê ở đây là cách gọi khác của cái trâm. Người con gái khi mười lăm tuổi trở lên (đôi khi tiến hành sớm hơn nếu sắp được gả đi, có trường hợp cá biệt, đến hai mươi tuổi mới làm lễ cài trâm), bèn búi tóc thành búi lên đỉnh đầu, cài trâm để giữ chặt lại. Sau khi đă nhận lễ cài trâm, người nữ không bao giờ ra ngoài mà không búi tóc, cài trâm. Tùy theo giàu nghèo khác biệt mà trâm có thể chỉ là một thanh gỗ nhỏ, tṛn, một đầu to và tù, đầu kia nhỏ và nhọn, có thể cắm xuyên qua búi tóc, hay bằng vàng, bạc, ngọc, chạm trổ cầu kỳ, có tua, có hoa văn v.v… (Nói cho đúng, loại trâm như vừa tả được gọi là Kê, loại được trang trí cầu kỳ hơn th́ gọi là Trâm, nếu đă cách điệu thành hoa lá, có tua treo, gồm nhiều nhánh, sẽ gọi là Thoa). Có nhiều khi do chạy theo mode thời trang hoặc do khoe của, các cô có thể cắm khá nhiều trâm trên đầu. Điểm khác biệt giữa người đă thành hôn và người chưa thành hôn là sau khi bới tóc, phần đuôi tóc của người chưa thành hôn được bỏ xơa xuống vai, trong khi người đă thành hôn, đuôi tóc phải cuộn lại thành búi sau gáy. Kê Lễ thường được cử hành vào tháng Ba, giống như trong Quan Lễ, chủ nhân là cha mẹ cô gái, vị chủ tŕ cuộc lễ gọi là Chánh Tân, người trợ giúp gọi là Tán Giả. Người giữ vai tṛ Chánh Tân là một phụ nữ hiền thục, đảm đang, được mọi người tôn trọng. Người phụ lễ sắp sẵn ba mâm gồm trâm loại thường để giữ búi tóc, trâm cài tóc trang trí tinh xảo, và mũ phụng, ngoài ra c̣n gương, lược và các vật trang sức khác như hoa tai, nhẫn, dây chuyền, dây buộc tóc v.v…. Nghi thức cũng gần giống như lễ gia quan, nhưng sách không ghi cụ thể, nên nghi lễ cài trâm đôi khi rất rườm rà và biến đổi theo từng vùng. Nghi thức cài trâm đời Tống rườm rà nhất. Về sau, để đơn giản, người chủ lễ chỉ bới tóc cô gái lên và cài một cây trâm ngang búi tóc, dùng một dải lụa thêu buộc quanh búi tóc là xong. 

[6] Tên tự gọi đủ là biểu tự (表字), thường để biểu lộ ư chí và ước vọng. Nhan Chi Suy thời Bắc Tề cho rằng tên để phân biệt giữa người này với người kia, c̣n Tự nhằm biểu lộ đức hạnh. Thông thường, tên Tự có ư nghĩa liên quan với tên thật, chẳng hạn Nhạc Phi có tên tự là Bằng Cử (chim đại bàng cất cánh), Quan Vũ có tên tự là Vân Trường (v́ Vũ là lông chim). Thói quen đặt tên Tự đă có từ đời Châu và hầu như không dùng nữa sau phong trào vận động Ngũ Tứ, nhưng giới văn nhân trí thức vẫn sính dùng tên tự, như Hồ Thích có tên tự là Thích Chi, Tôn Văn có tên tự là Tải Chi. Ngay cả Mao Trạch Đông cũng lấy tên tự là Nhuận Chi. Tên tự có khi chỉ là một chữ, như Khuất Nguyên chính là tên tự v́ ông tên thật là B́nh, Nhan Hồi có tên tự là Uyên, có khi đến ba chữ như Lư Kiến Thành có tên tự là Tỳ Sa Môn, phổ biến nhất là hai chữ. Theo thời gian, có những cách đặt tên tự như sau:

- Dùng chữ Tử như Công Tôn Kiều có tên tự là Tử Sản, Tăng Sâm tên tự là Tử Dư, Bốc Thương có tên tự là Tử Hạ.

- Chữ đầu trong tên tự chỉ thứ tự (Bá, Trọng, Thúc, Quư), chẳng hạn Tôn Sách là con cả nên có tên tự là Bá Phù, Khổng Tử là con thứ hai của Thúc Lương Ngột nên có tên tự là Trọng Ni.

- Biểu thị chí hướng, ước vọng, như La Bổn có tên tự là Quán Trung (ông này là tác giả bộ Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa), Pḥng Kiều (danh thần và mưu sĩ của Đường Thái Tông) thường được biết đến với tên tự là Pḥng Huyền Linh…

 

[7] Cao Sơn tộc (高山族,c̣n gọi là Cao Sa tộc, 高砂族) là tiếng gọi chung toàn bộ các sắc dân thiểu số bản địa tại Đài Loan và các đảo phụ cận của Đài Loan trước khi người Hán đến chiếm lănh Đài Loan. Các sắc dân này hiện c̣n hơn bốn mươi vạn. Theo thống kê, tối thiểu có đến mười sáu nhóm Cao Sơn khác nhau, bao gồm các sắc tộc chủ yếu là Thái Nhă (Atayal), Tái Hạ (Saisiyat), Bố Nông (Bunun), Trâu (Cou), Lỗ Khải (Drekay, Rukai), Bài Loan (Paiyuan), Ty Nam (Pinuyumayan), A Mỹ (Pangcah Amis), Đạt Ngộ (Tau), Thái Lỗ Các (Truku, Taroko), Tán Cơ Lai Nhă (Sakizaya), Tái Đức Khắc (Seediq) v.v…

[8] Theo pháp sư Tinh Vân, sở dĩ gọi là Hải Thanh v́ tay áo rộng, phấp phới trông như cánh một loài chim có tên gọi là Hải Đông Thanh tại vùng Quảng Đông. Sư dẫn thơ Lư Bạch có câu “phiên phiên vũ quảng tụ, tự điểu hải đông lai” (Áo rộng tay múa bay phất phới, như chim từ Đông Hải bay vào) để chứng minh cho thuyết này, nhưng trong Phật môn Trung  Hoa thường giải thích như sau: Giống như biển cả sâu thẳm, nh́n xa sắc biển như xanh đen, thật ra là xanh, nên gọi là Hải Thanh, nhằm ca ngợi Phật pháp sâu thẳm khôn ḍ. Lại nữa, Hải biểu thị sâu rộng, mênh mông, có thể dung chứa vạn vật vô ngại, tự tại. Thanh là màu xanh xuất phát từ màu chàm (“thanh xuất ư lam”), nhưng lại trỗi vượt màu chàm. Gọi áo tràng là Hải Thanh nhằm nhắc nhở tăng nhân phải có tâm lượng bao dung, luôn nhớ đến chân tâm trọn khắp pháp giới, và đệ tử Phật phải tu hành tinh tấn, mỗi đời càng tiến bộ hơn, giống như màu xanh sinh từ màu chàm, nhưng vượt trội màu chàm. Cũng có một truyền thuyết giải thích tại sao hải thanh vốn là lễ phục từ đời Hán, nhưng tay áo hải thanh tuy rộng lại may kín, chỉ chừa một khoảng nhỏ để tḥ tay ra, không để trống từ trên xuống dưới như áo của thế gian: Tương truyền, phi tử của Lương Vũ Đế là Hy Thị tánh t́nh tàn ác, ngang ngược, thấy Lương Vũ Đế sùng mộ Phật pháp, nên tức tối, luôn t́m cách hăm hại tăng ni. Có lần, bà ta cúng trai tăng, làm rất nhiều bánh bao nhân thịt để đăi tăng chúng ḥng rêu rao “thầy chùa ngă mặn” rồi viện cớ ấy xin vua trục xuất tăng chúng. Đương thời, ngài Bảo Chí (Chí Công) là cao tăng đắc đạo, biết rơ chuyện này, bèn dặn các tăng sĩ theo Ngài thọ trai hăy may hẹp miệng tay áo hải thanh lại để chứa sẵn bánh bao mạn đầu (bánh bao không nhân) trong tay áo. Khi vào cung, bèn lấy mạn đầu ra ăn, bỏ bánh bao mặn vào trong tay áo. Khi Hy Thị lu loa chư tăng ngă mặn, các vị bèn lấy bánh bao mặn đă cất trong tay áo ra để đối chứng khiến cho Hy Thị cứng họng, không thể nào vu cáo được. Từ đó, tăng sĩ may miệng tay áo Hải Thanh như hiện thời để nhắc nhở người tu hành phải luôn thận trọng trong mọi oai nghi. 

[9] Cam Châu Hoạt Phật (1914-1978) là đệ tử của Chương Gia đại sư. Vị này được coi là lạt-ma hóa thân đời thứ mười bảy của ḍng Cam Châu. Danh hiệu đầy đủ của Sư là Cam Châu Nhĩ Ngơa Mặc Nhĩ Căn Nặc Môn Hăn (Hưng Giáo Thiện Tri Thức Thông Minh Linh Cảm Pháp Vương). Cam Châu là phiên âm của chữ Kangyur hoặc Gangyur trong tiếng Tây Tạng (kinh điển Phật giáo Tây Tạng được chia thành hai phần lớn: Kangyur tương ứng với Kinh Tạng (chủ yếu là Mật giáo) gồm 108 tập, và Tengyur (đôi khi c̣n viết là Tanjur, tương ứng với các tác phẩm luận giải hay chú sớ, gồm 224 tập). Theo truyền thống Phật giáo Mông Cổ, Cam Châu được coi là hóa thân của A La Hán Trát Kinh Can Ba thời đức Phật tại thế. Sư vốn thuộc sắc dân Mông Cổ, nhưng sống tại Thanh Hải. Năm lên ba tuổi, Sư được các đệ tử của Cam Châu đời thứ mười sáu đón về chùa Quảng Huệ, tấn phong lên ngôi Cam Châu thứ mười bảy, phong tặng pháp danh Ngang Ông La Tang Đan Bỉ Ni Mă. Năm mười một tuổi, Sư lên Bắc Kinh, yết kiến Ban Thiền Lạt Ma và học kinh giáo tại đó. Năm 1924, khi Chương Gia đại sư đến Bắc Kinh, trụ tích tại chùa Sùng Thọ, Cam Châu t́m đến bái yết, xin y chỉ. Tuy không thường thân cận Chương Gia đại sư, nhưng hễ có dịp, Sư đều đến bái yết Chương Gia đại sư để cầu học. Khi chính quyền Dân Quốc chạy ra Đài Loan, Cam Châu cũng theo sang Đài Loan và luôn thân cận Chương Gia đại sư cho đến khi Ngài viên tịch. Năm 1952, do sự thỉnh cầu của Trần Thành, chủ tịch chính phủ tỉnh Đài Loan lúc ấy, Sư cùng hai vị pháp sư Luật Hàng và Từ Hàng tổ chức phái đoàn hoằng pháp diễn giảng khắp Đài Loan, đồng thời giải thích chính sách tôn giáo của chính phủ Dân Quốc, nhằm đoàn kết nhân sĩ các giới trong Phật giáo đồ.