A Di Đà Kinh Sớ
Sao Diễn Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 108
Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và Đức
Phong
Tập 215
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang bốn trăm hai mươi
lăm:
(Sao)
Các hữu nhân duyên giả, thiện căn, phước
đức, kỳ sở diêu lai, tùng hà phát tâm, quân danh viết
nhân. Nhi thiện căn phát khởi, tất hữu chủng
chủng thiện duyên vi trợ; phước đức
phát khởi, tất hữu chủng chủng phước
duyên vi trợ, thị các hữu kỳ duyên dă.
(鈔)各有因緣者,善根福德,其所繇來,從何發心,均名曰因。而善根發起,必有種種善緣為助;福德發起,必有種種福緣為助,是各有其緣也。
(Sao: “Mỗi điều
đều có nhân duyên”: Nguồn cội của thiện
căn và phước đức là do phát những tâm nào, [những
tâm ấy] đều gọi là “nhân”. Nhưng để thiện
căn phát khởi, ắt phải có các thứ thiện
duyên giúp đỡ; để phước đức phát khởi,
ắt phải có các thứ phước duyên giúp đỡ.
V́ thế, mỗi điều [thiện căn hay phước
đức] đều có duyên riêng của nó).
Ở
đây, giải thích câu “các hữu
nhân duyên” [trong lời Sớ]. Trong đoạn trước
đă giảng rơ nhân duyên của thiện căn và phước
đức tương đồng, đặc biệt là
trong tông này, lấy tŕ danh làm thiện căn, và c̣n coi tŕ
danh là phước đức. Đấy chính là thiện
căn, phước đức, nhân duyên tương thông. Nhưng
nếu nói tách rời th́ cũng có lư, thiện căn có cái
nhân của thiện căn, có cái duyên của thiện
căn, phước đức cũng có nhân và duyên của
phước đức, ở đây đă nói rất rơ
ràng. Thiện căn là do phát tâm, chúng ta phát cái tâm như thế
nào? Sau khi tâm đă phát khởi, nhất định là có các
thứ duyên đến giúp đỡ quư vị th́ mới có
thể kết thành quả. Nếu chỉ phát tâm mà chẳng
có duyên đến giúp đỡ, tâm ấy sẽ như
không, chẳng có kết quả ǵ! Phước đức
cũng giống như thế. Do vậy, phát khởi phước
đức cũng cần phải có các thứ trợ duyên.
Đó là nói “các hữu nhân duyên”.
Ví
như quư vị phát tâm học Phật, phát tâm tu học Định
Huệ, điều này thuộc về thiện căn. Tuy
đă phát tâm, nếu chẳng gặp thiện tri thức, chẳng
gặp đồng tham đạo hữu, rất khó đạt
đến mục tiêu. Thiện hữu, đồng học,
cũng như hoàn cảnh, đều là trợ duyên. Đối
với chuyện tu phước lại càng rơ ràng: Ai nấy
đều mong mỏi chính ḿnh có phước báo, đối
với phước cũng phải phát tâm. Trong hết thảy
các kinh luận, đức Phật đă dạy: Bố thí
là nhân duyên của hết thảy các phước. Chúng ta có
của cải, có trí huệ, có sức khỏe, sống lâu.
Đó là quả báo. Quả báo chẳng phải là bỗng
dưng mà có, phải do sự tu tập, tích lũy trong
đời quá khứ. Tu tập và tích lũy đương
nhiên là có nhân và duyên. “Nhân” là quư
vị phát tâm chịu tu; đó là nhân. Quư vị biết quả
báo ấy là chân thật, quư vị chịu tu học. Nhân có thù
thắng và kém cỏi, quư vị phát tâm có dũng mănh hay tán
loạn. Duyên cũng có thù thắng và kém cỏi. Quư vị gặp
duyên thù thắng, quả báo sẽ đặc biệt tốt
đẹp. Gặp duyên chẳng thù thắng, quả báo sẽ
thua kém hơn. Do vậy, hết thảy các pháp thế gian
và xuất thế gian chẳng ĺa nhân quả. Đức Phật
giảng kinh Hoa Nghiêm và kinh Pháp Hoa đều chẳng ĺa
nhân quả, chúng ta nhất định phải biết điều
này. Tục ngữ Trung Hoa thường nói: “Nhất ẩm, nhất trác, mạc phi tiền định”
(Một hớp uống, một miếng ăn, không ǵ chẳng
phải là đă định sẵn). “Tiền định” th́ là ai định? Do chính
ḿnh định, chẳng phải do ai khác định đoạt!
Trong quá khứ, chính ḿnh đă tu cái nhân ǵ, đời này
đạt được quả báo ǵ; đời này tu
nhân ǵ, đời sau sẽ đạt quả báo ǵ, chẳng
thể sai sót chút nào! Dẫu là trong chiến tranh, cũng chẳng
có một ai bị chết oan uổng. V́ thế, người
thật sự hiểu rơ đạo lư này, xác thực là
trong thế gian, bất luận là cá nhân, gia đ́nh, quốc
gia, cho đến toàn thể thế giới, đều có
vận số nhất định. Vận số nhất
định th́ có thể chuyển hay không? Có thể chuyển.
Dựa vào đâu để có thể chuyển? Nói thật
thà, chẳng phải là chuyển nơi nhân, nhân chẳng thể
chuyển! Then chốt để chuyển là duyên, [tức là
duyên] trong nhân, duyên, quả. Phật pháp thường nói
“duyên sanh luận”, chỉ cần quư vị có thể nắm
vững duyên là có thể chuyển.
Quư
vị đọc Liễu Phàm Tứ Huấn, [sẽ thấy]
tiên sinh Viên Liễu Phàm tự ḿnh xoay chuyển vận mạng
cả một đời. Chuyển từ nơi đâu?
Chuyển từ duyên, chẳng phải là chuyển nơi nhân.
Nếu chúng ta có thể nắm vững duyên này, nói cách khác,
hết thảy quả báo đích xác là do chính tay ta thao túng. Mỗi
chúng sanh từ vô thỉ kiếp đến nay, chủng tử
trong A Lại Da Thức là nhân, chủng tử của mười
pháp giới thảy đều trọn đủ. Nói cách
khác, trong A Lại Da Thức của quư vị, có cái nhân thành
Phật, có cái nhân làm Bồ Tát, có cái nhân làm Thanh Văn, Duyên
Giác, có cái nhân sanh thiên, có cái nhân đọa A Tỳ địa
ngục, chủng tử của mười pháp giới thảy
đều có. Nay tôi phải hỏi quư vị, trong một
đời này, chúng ta mong đạt kết quả như
thế nào, đó là điều chúng ta hy vọng, hăy nương
theo hy vọng ấy để tranh thủ cái duyên [của
kết quả] ấy. Ví như ta mong thành Phật, nếu mong
tưởng thành Phật th́ do nhân duyên của mười
pháp giới thảy đều có, ta có cái nhân thành Phật,
đương nhiên là ta có thể thành Phật, cái có thể
nắm chắc là duyên. Ta chuyên tu cái duyên thành Phật, duyên của
chín pháp giới kia ta đều chẳng tu, ta chuyên tu một
điều này, trong một đời này, nhất định
sẽ thành công. Ngay cả thành Phật là chuyện khó nhất
mà c̣n có thể làm được trong một đời này,
huống ǵ những điều khác! Đúng như cổ
nhân thường nói: “Trong cửa
nhà Phật, có cầu ắt ứng”. Chẳng có ǵ không cầu
được, then chốt là quư vị có hiểu rất
rơ nhân, duyên và quả hay không? Đạo lư rất rơ ràng, quư
vị có thể thật sự nắm vững sự thật,
chắc chắn là sẽ có thể thành tựu, cầu
điều ǵ bèn đạt được điều đó.
(Sớ)
Vấn: Hà cố Quán Kinh phát Bồ Đề tâm tại
đệ tam phước?
(疏)問:何故觀經發菩提心在第三福。
(Sớ: Hỏi: V́ sao
Quán Kinh xếp phát Bồ Đề tâm vào phước thứ
ba?)
Khi
chúng tôi giảng Quán Kinh, cũng đă nói cặn kẽ chuyện
này. Ở đây, Liên Tŕ đại sư đă khai thị hết
sức hay. Nói theo Lư, phát Bồ Đề tâm là thiện
căn, nhưng trong Tam Phước, nó được xếp
vào điều thứ ba.
(Sớ)
Đáp: Dĩ phước hữu Sự, Lư, bất chuyên Sự
cố.
(疏)答:以福有事理,不專事故。
(Sớ:
Đáp: Do phước có Sự và Lư, do chẳng chuyên nơi
Sự).
Phát
Bồ Đề tâm là Lư, hai điều trước [trong Tam
Phước] là nói theo Sự. Ở đây, Tam Phước
của Quán Kinh đều được nêu ra.
(Sao)
Quán Kinh Tam Phước: Nhất giả, hiếu dưỡng
phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ
tâm bất sát, tu Thập Thiện Nghiệp. Nhị giả,
thọ tŕ Tam Quy, cụ túc chúng giới, bất phạm oai
nghi. Tam giả, phát Bồ Đề tâm, thâm tín nhân quả,
độc tụng Đại Thừa, khuyến tấn
hành giả.
(鈔)觀經三福:一者孝養父母,奉事師長,慈心不殺,修十善業;二者受持三歸,具足眾戒,不犯威儀;三者發菩提心,深信因果,讀誦大乘,勸進行者。
(Sao: Tam Phước
theo Quán Kinh: Một là hiếu dưỡng với cha mẹ,
phụng sự sư trưởng, từ
tâm chẳng giết, tu Thập Thiện Nghiệp; hai là thọ
tŕ Tam Quy, trọn đủ các giới, chẳng phạm oai
nghi; ba là phát Bồ Đề tâm, rất tin nhân quả,
đọc tụng Đại Thừa, khuyến tấn
hành giả).
Sách
Diễn Nghĩa có giải thích, nêu ra những điểm
trọng yếu.
(Diễn)
Hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư
trưởng, kính thượng dă. Từ tâm bất sát, tiếp
hạ dă.
(演)孝養父母,奉事師長,敬上也;慈心不殺,接下也。
(Diễn: “Hiếu dưỡng với cha mẹ, phụng
sự sư trưởng” là tôn kính bề trên. “từ tâm chẳng
giết” là tiếp độ kẻ dưới).
Đây
chính là “thượng báo tứ
trọng ân, hạ tế tam đồ khổ” trong bài
văn Hồi Hướng. Chúng ta niệm Hồi Hướng
Văn hằng ngày, thực hiện từ chỗ nào? Phải
thực hiện ra sao? “Thượng
báo tứ trọng ân” phải khởi sự từ hiếu
thảo với cha mẹ, tôn trọng thầy. “Hạ tế tam đồ khổ”
khởi đầu bằng từ tâm chẳng giết.
Đây là dạy cho chúng ta cách thực hiện cụ thể
nhằm bổ sung những ư nghĩa chưa được
nêu trọn trong phần trước.
(Diễn)
Tu Thập Thiện Nghiệp, thân xả tam tà, khẩu ly tứ
quá, ư đoạn tam ác dă. Thử cộng phàm phu hành.
(演)修十善業,身捨三邪、口離四過、意斷三惡也。此共凡夫行。
(Diễn: Tu Thập Thiện
Nghiệp là thân bỏ ba điều tà, miệng ĺa bốn
điều lỗi, ư đoạn ba sự ác. Những
điều này hành chung với phàm phu).
Phước
thứ nhất trong Tam Phước là phàm phu phước.
Đó là căn cơ của Bồ Tát. Bồ Tát chẳng tu
học từ chỗ này, chắc chắn chẳng thể
tu hành chứng quả. Do vậy, điều này rất trọng
yếu. “Thân trừ tam tà”, tam
tà là giết, trộm, dâm, nhất định phải rời
ĺa. “Khẩu ly tứ quá”, tức
là vọng ngữ, ác khẩu; ỷ ngữ, ỷ ngữ là
hoa ngôn xảo ngữ, nghe th́ êm tai lắm, thật ra là có hại,
chẳng có lợi ǵ, bao gồm cả những thứ giống
như ca múa trong hiện tại, lưỡng thiệt là khơi
gợi thị phi. Phải xa ĺa bốn thứ lầm lỗi ấy. Trong ư, tam độc phiền năo là tham,
sân, si, chúng có phạm vi hết sức rộng lớn. Không
chỉ là phải ĺa tham, sân, si đối với pháp thế
gian, mà đối với pháp xuất thế gian, cũng chớ
nên có tâm tham. Do vậy, nhất định là phải đoạn
tham, sân, si. Ĺa khỏi tham, sân, si th́ là ba thiện
căn, ba thiện căn là vô tham, vô sân, vô si, tất cả
hết thảy thiện pháp thế gian sanh từ đây. Do
vậy có thể biết, tất cả hết thảy ác
pháp trong thế gian sanh từ tham, sân, si, nên chúng được
gọi là Tam Ác hoặc Tam Độc.
(Diễn)
Tam Quy giả, Phật, Pháp, Tăng dă.
(演)三皈者,佛法僧也。
(Diễn:
Tam Quy là Phật, Pháp, Tăng).
Chúng
tôi sợ các đồng tu sơ học thấy “Phật, Pháp, Tăng”, sẽ
hiểu sai ư nghĩa, nên thường dùng cách nói của Lục
Tổ đại sư trong Đàn Kinh là “giác, chánh, tịnh”. Phật là giác, Pháp là chánh, Tăng
là tịnh; đó cũng là tự tánh Tam Bảo, là chỗ quy
y thật sự của chúng ta.
(Diễn)
Cụ túc chúng giới giả, đạo tục bị thọ
vi tế.
(演)具足眾戒者,道俗備受微細。
(Diễn:
“Đầy đủ các giới” là đạo hay tục
đều thọ đủ mọi lẽ vi tế).
“Đạo” (道) là người
tu đạo, “tục” (俗) là kẻ thế
tục. Bất luận là tu đạo hay thế tục,
đều phải tuân thủ khuôn phép, đều phải
giữ quy củ. Giới luật là pháp luật, là mẫu
mực cho cuộc sống. Ngoài những điều luật
do đức Phật đă chế định ra, pháp luật,
quy định, phong tục, tập quán, quan niệm đạo
đức của thế gian đều bao gồm trong ấy
(trong hai chữ “chúng giới”),
dù là người thế gian hay xuất thế gian đều
phải nên tuân thủ, xă hội mới có trật tự, mới
an tường, ḥa thuận, chúng sanh mới có thể sống
an ḥa, lợi lạc.
(Diễn)
Bất phạm oai nghi giả, tam thiên tất giai bất
khuyết dă.
(演)不犯威儀者,三千悉皆不缺也。
(Diễn: “Chẳng phạm
oai nghi” là ba ngàn oai nghi đều chẳng thiếu khuyết).
“Oai nghi” (威儀) là nói tới nghi
biểu (儀表: sự biểu lộ, tác phong cư xử của một
cá nhân), nay chúng ta nói là “phong độ”. Ba ngàn oai
nghi, tám vạn tế hạnh[1], có
thể thấy xuất gia chẳng phải là chuyện dễ
dàng! V́ sao trong cuộc sống phải cẩn thận
dường ấy? V́ người ấy (người xuất
gia) là nhân thiên sư biểu (人天師表: bậc
thầy gương mẫu cho cả trời lẫn người),
là tấm gương cho đại chúng, là khuôn mẫu để
đại chúng [noi theo]. Do đó, nhất cử nhất động
đều phải nêu gương tốt nhất cho người
khác học tập theo. Hiện thời, trong xă hội, người
xuất gia chẳng được đại chúng trong xă hội
tôn kính, nguyên nhân ở chỗ nào? Giới hạnh lẫn oai nghi đều chẳng
có, không nói tới những thứ ấy! Đại chúng
b́nh phàm cũng quen thói buông lung, quen nết tùy tiện, chẳng
thể chịu nổi bó buộc. Hễ hơi có chút nào ràng
buộc, họ sẽ chịu không nổi; tu hành kiểu
đó rất khó thành tựu! Nhất cử nhất động
của chư Phật, Bồ Tát chẳng có ai bó buộc, mà
các Ngài tự nhiên phù hợp oai nghi. Đó là ǵ? B́nh thường
đă dưỡng thành thói quen ấy. Trong pháp thế gian,
chúng ta đọc Luận Ngữ thấy Khổng lăo phu tử
bảy mươi tuổi “tùy
tâm sở dục, bất du củ” (thuận theo ḷng muốn,
chẳng vượt quy củ). Nói theo Phật pháp, Ngài
đă đạt đến giải thoát, đạt
được tự tại! Thuận theo ḷng muốn mà cũng
chẳng phạm giới, cũng chẳng phạm oai nghi.
Đó là công phu tu dưỡng thuần thục được
Nho gia coi trọng, nhà Phật càng coi trọng hơn. Chúng ta
phải ghi nhớ điều này.
(Diễn)
Thử cộng Nhị Thừa hành.
(演)此共二乘行。
(Diễn: Điều
này hành chung với Nhị Thừa).
Điều
thứ hai [trong Tam Phước] là hạnh tu tập của
Thanh Văn và Duyên Giác, đương nhiên Bồ Tát chẳng
thể không tu. Điều sau nhất định bao gồm
điều trước, điều trước chẳng
bao gồm điều sau.
(Diễn)
Phát Bồ Đề tâm giả, y vô tác cảnh, khởi vô
duyên thệ, danh phát Bồ Đề tâm.
(演) 發菩提心者,依無作境起無緣誓,名發菩提心。
(Diễn: Phát Bồ
Đề tâm là nương vào cảnh vô tác để khởi
lên thệ nguyện vô duyên, gọi là phát Bồ Đề
tâm).
Ư
nghĩa này rất sâu. “Vô tác”:
Tác (作) là tạo tác. Cảnh giới vô tác là nói đến
cái tâm thanh tịnh. Trong tâm địa, chẳng khởi tâm,
không động niệm, đó là “vô tác”. Khởi tâm động niệm th́ sai mất
rồi. “Khởi vô duyên thệ”:
“Thệ” (誓) là nói tới Tứ
Hoằng Thệ Nguyện, tức là “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền
năo vô tận thệ nguyện đoạn, pháp môn vô lượng
thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng
thệ nguyện thành”. Nguyện ấy là tự nhiên, phát
xuất từ Chân Như bản tánh, chẳng phải là miễn
cưỡng, nên gọi là “vô
duyên thệ”. Nói theo cách hiện thời, “duyên” (緣) là điều kiện.
[Vô duyên] là chẳng có điều kiện, ta phát ra thệ
nguyện chẳng có điều kiện ǵ, đó là những
chuyện đáng phải nên làm thuộc về bổn phận
của một người thật sự giác ngộ, chẳng
có bất cứ điều kiện ǵ để bàn luận
nữa! Do vậy, hễ phát ra cái tâm ấy, sẽ là một
vị Bồ Tát chân thật, chẳng phải là Quyền
Giáo Bồ Tát, mà là Bồ Tát thật sự. Bồ Tát thật
sự, nói theo Viên Giáo, sẽ từ địa vị Sơ
Trụ trở lên, vượt xa Thanh Văn, Duyên Giác, vượt
xa quá nhiều!
Nay chúng ta mỗi
ngày đều nói “phát Bồ
Đề tâm”, đó là phát tâm ngoài cửa miệng, xác thực
là chẳng phát chi cả! “Chúng sanh
vô biên thệ nguyện độ”, thấy kẻ này
cũng đáng ghét, thấy kẻ kia cũng ngứa mắt,
ta chẳng thèm độ kẻ đó! Vậy là độ
chúng sanh ở chỗ nào? “Phiền
năo vô tận thệ nguyện đoạn”, hằng ngày dấy vọng
tưởng, hằng ngày tạo tác tham, sân, si. Không chỉ
là chẳng đoạn, mà c̣n tăng trưởng mỗi
ngày! Do vậy có thể biết, hằng ngày niệm Tứ
Hoằng Thệ Nguyện, buổi sáng niệm một lần,
buổi tối niệm một lần, đều giả
trất, chẳng có một câu nào là thật! Nếu phát bốn
nguyện ấy bằng chân tâm, [phát nguyện] chân thật,
chúc mừng quư vị, quư vị đă chứng đắc Sơ
Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo. Kinh Hoa Nghiêm gọi Sơ Trụ
Bồ Tát trong Viên Giáo là Pháp Thân đại sĩ, [tâm của]
quư vị là chân tâm, chẳng phải là kẻ b́nh phàm.
V́ thế, xếp
“phát Bồ Đề tâm” vào
điều phước thứ ba là hợp lư. V́ sao? Hàng Nhị
Thừa chẳng có Bồ Đề tâm. A La Hán và Bích Chi Phật
chẳng phát tâm phổ độ chúng sanh. Chẳng phải
là các Ngài không độ chúng sanh, chúng sanh đến t́m các
Ngài, c̣n tùy thuộc các Ngài có hứng thú hay không! Quư vị
hướng về các Ngài thỉnh giáo, các Ngài thấy quư vị
cũng khá, hữu duyên, bèn dạy bảo. Chẳng hữu
duyên, các Ngài chẳng thèm ngó ngàng tới quư vị! Nói cách
khác, A La Hán và Bích Chi Phật độ chúng sanh có điều
kiện, Bồ Tát độ chúng sanh vô điều kiện,
khác hẳn! Bởi lẽ, Bồ Tát có Bồ Đề tâm,
Nhị Thừa chẳng có Bồ Đề tâm. Câu dưới
đây nhằm giải thích [từ ngữ] “thâm tín nhân quả”.
(Diễn) Thật
Tướng bất nhị nhi nhị, lập nhân quả
thù, nhị nhi bất nhị, thỉ chung lư nhất, tín thử
nhân quả phương danh vi thâm.
(演)實相不二而二,立因果殊,二而不二,始終理一,信此因果方名為深。
(Diễn: Thật Tướng chẳng hai mà hai, lập
thành nhân và quả khác nhau, tuy hai mà một, từ đầu
tới cuối lư là một. Tin tưởng nhân quả này
th́ mới gọi là sâu).
Giải
thích chữ “thâm” (深). Tin nhân quả
th́ chúng ta đều tin, có kẻ học Phật nào trong lũ
chúng ta chẳng tin nhân quả? Đều tin! Tuy tin, nhưng
chẳng đủ độ sâu! V́ sao? V́ chính ḿnh vẫn
chưa thể nghiêm túc đoạn ác tu thiện, tức là
tin chẳng đủ độ sâu! Chẳng hạn như
đức Phật dạy chúng ta “tài bố thí sẽ chẳng
thiếu hụt tiền của”; nay chúng ta có tiền tài, có
chịu bố thí hay không? Vẫn không chịu, [vậy th́]
có tin tưởng lời Phật hay chăng? Tin tưởng
ư? Đă tin tưởng, cớ sao chẳng làm? Không
đủ sâu! Lời Phật dạy là thật, đáng tiếc
là chúng ta chẳng thật sự tin tưởng! Thật sự
tin tưởng, suốt một đời này sẽ sống
hết sức hạnh phúc, xác thực là đạt
được tự tại. Pháp bố thí bèn được
thông minh, trí huệ; vô úy bố thí bèn được khỏe
mạnh, trường thọ. Đối với ba thứ
bố thí này, nay chúng ta đều có năng lực tu tập.
Đối
với phước báo, chư vị phải ghi nhớ, giữ
lại để hưởng trong lúc tuổi già, đó là
người có trí huệ nhất. Tuổi trẻ đừng
nên hưởng sạch phước báo, [để rồi]
đến khi tuổi già chịu khổ, sẽ là thật khổ!
Tuổi trẻ chịu khổ đôi chút, chẳng sao cả;
có tinh thần và thể lực để chống đỡ
được. Tuổi già suy lụn, chẳng có ai chăm
sóc, đích xác là rất đáng thương. Chúng ta muốn
tuổi già hạnh phúc, hiện thời th́ trước hết
là phải tu bố thí, phải học kính lăo tôn hiền
(kính trọng người già, tôn trọng hiền nhân).
Đó là tu cái nhân, mai sau chúng ta già cả, bọn trẻ tuổi
sẽ tôn kính ta! Nay ta thấy người già liền chán
ghét, đợi đến khi ta già cỗi, người khác
trông thấy sẽ chán ghét ta! Nhân như thế nào, sẽ có
quả báo như thế ấy, chẳng sai sót mảy may.
Do vậy, thấy người già, hăy nên nghĩ trong
tương lai ta sẽ già, thấy người già rất đáng
thương, trong tương lai ta sẽ giống như họ,
thậm chí c̣n đáng thương hơn họ! Do đó, nhất
định phải chiếu cố và giúp đỡ người
già. Đây là quư vị tu nhân trong hiện tại, trong
tương lai sẽ đạt được quả báo.
Do vậy, phải tin sâu nhân quả.
Chỗ
này đích xác là có chiều sâu, Bồ Tát mới có thể khế
nhập chiều sâu này, lũ b́nh phàm chúng ta vẫn chẳng
làm được. “Thật Tướng bất nhị nhi nhị” (Thật Tướng chẳng hai mà hai):
Trong bất nhị, kiến lập hai pháp, nhân và quả là hai
pháp. “Lập nhân quả thù”,
“lập” (立) là kiến
lập, “thù” (殊) là khác nhau, có nhân và quả. “Nhị nhi bất nhị” (Tuy
hai mà một): Tuy nói nhân và quả, nói thật thà, nhân và quả
là một chuyện. Trong nhân có quả, trong quả có nhân. Quả
lại là cái nhân kế tiếp, xoay vần [quả làm nhân,
nhân đó lại sanh ra cái quả kế tiếp] chẳng cùng
tận. “Thỉ chung lư nhất”
(Từ đầu đến cuối lư là một), cùng một
đạo lư. “Tín thử nhân quả,
phương danh vi thâm” (Tin nhân quả này mới gọi
là sâu), ắt phải thật sự thâm nhập Đại
Thừa th́ mới có thể triệt để giác ngộ,
thấu hiểu chân tướng của nhân quả trong vũ
trụ và nhân sinh thuộc về thế gian lẫn xuất
thế gian, mới có thể thật sự đoạn nghi
sanh tín trong tu học.
(Diễn)
Độc tụng Đại Thừa, tu tam trí giải, vận
viên thừa hạnh.
(演)讀誦大乘,修三智解,運圓乘行。
(Diễn:
Đọc tụng Đại Thừa, tu ba trí giải, vận
dụng hạnh thuộc về Viên Giáo).
“Tam trí” là Nhất Thiết Trí,
Đạo Chủng Trí, Nhất Thiết Chủng Trí. Dùng
phương pháp ǵ để cầu tam trí? Dùng đọc tụng.
Nghiên
cứu, thảo luận thuộc về Hậu Đắc
Trí. Do vậy, lúc mới học, lấy đọc tụng
làm chánh yếu, nghiên cứu và thảo luận là phụ trợ.
Nếu chẳng nghiên cứu, thảo luận, ví như quư
vị khai trí huệ phải tốn mười năm, tức
là do mười năm công phu, quư vị mới có thể từ
Định mà khai Huệ. Nếu lại thêm vào nghiên cứu,
thảo luận, quư vị có thể tiến nhanh hơn,
năm năm bèn khai trí huệ, có sự thuận lợi
này, có lợi ích như vậy. Nay chúng ta đang trong quá
tŕnh học tập, vận dụng hai phương pháp
để tiến đồng thời. Cùng tiến đồng
thời, chư vị đồng tu nhất định phải
ghi nhớ: Tu tâm thanh tịnh là chủ yếu, nghiên cứu
và thảo luận nhằm phụ trợ, như vậy th́
chúng ta mới có thể đạt được công đức
và lợi ích chân thật.
(Diễn)
Dĩ thử giải hạnh giáo kỳ hành giả, danh vi khuyến
tấn.
(演)以此解行教其行者,名為勸進。
(Diễn:
Dùng sự giải hạnh ấy để dạy hành giả
th́ gọi là “khuyến tấn”).
Đem
phương pháp tu hành của chính ḿnh, đem tâm đắc
trong sự tu hành của chính ḿnh dạy cho người
khác, khuyên lơn, khích lệ người khác th́ gọi là “khuyến tấn hành giả”.
(Diễn)
Thử Đại Thừa bất cộng hạnh nghiệp
dă.
(演)此大乘不共行業也。
(Diễn:
Đây là hạnh nghiệp Đại Thừa chẳng cùng
chung [với Nhị Thừa hoặc phàm phu]).
Phước
cuối cùng này thuần túy là phước mà Đại Thừa
Bồ Tát mới có, phàm phu và Nhị Thừa đều chẳng
có. Câu đầu tiên là “phát Bồ
Đề tâm”, hôm nay chúng ta xem từ phần này. “Tín nhân quả, độc Đại
Thừa, khuyến tấn hành giả” (Tin nhân quả,
đọc kinh Đại Thừa, khuyến khích, sách tấn
hành nhân), chúng ta cũng có [điều này, nhưng] thật
ra, chúng ta chỉ là tương tự, chẳng phải là
thật sự! V́ sao? Chẳng có Bồ Đề tâm. Nhất
định là phải có Bồ Đề tâm, bốn câu này chính
là Bồ Tát tâm. Chẳng có bốn câu này, ba câu kế đó
vẫn là phàm phu tâm. Do vậy có thể biết, xác thực
là Đại Thừa Phật pháp được kiến lập
trên cơ sở Bồ Đề tâm. Dưới đây là một
đoạn vấn nạn.
(Sao)
Nạn vị “vân hà phát Bồ Đề tâm, nhi dữ
thượng chi nhị giả đồng danh viết
phước?”
(鈔)難謂云何發菩提心,而與上之二者同名曰福。
(Sao: Vặn rằng:
V́ sao phát Bồ Đề tâm lại cùng với hai điều
trước đều gọi là phước?)
“Nạn” (難) là có người
cố ư đến gây khó dễ. “Phát
Bồ Đề tâm” th́ phát tâm là chuyện thuộc về
Lư, có thể nào lại xếp chung với hai điều
trước để luận định ư? Những
điều trước là “kính trọng người trên lẫn
kẻ dưới”, thuộc về Sự. Tam Quy, trọng
giới cũng đều thuộc về Sự, Sự là phước.
Lẽ nào phát tâm là phước? Nêu ra một câu hỏi
như thế để cật vấn. Tuy trong kinh nói giả
thiết, nhưng trên thực tế, chắc là sẽ có [kẻ
bắt bẻ như vậy]. Dưới đây là lời
giải thích của Liên Tŕ đại sư:
(Sao) Kim minh phước
hữu Sự Lư.
(鈔)今明福有事理。
(Sao: Nay nói rơ phước
có Sự và Lư).
Phước
có Sự và Lư.
(Sao)
Thử Bồ Đề tâm, thị Bát Nhă trung “như hư
không bất khả tư lượng chi phước”, phi
Đạt Ma sở xích nhân thiên hữu lậu chi phước
dă. Cố tiền nhị phước do cộng phàm tiểu,
thử độc thiện Đại Thừa nhĩ.
(鈔)此菩提心,是般若中如虛空不可思量之福,非達摩所斥人天有漏之福也。故前二福猶共凡小,此獨擅大乘耳。
(Sao: Tâm Bồ Đề
này là phước giống như kinh Bát Nhă đă nói “như
hư không chẳng thể suy lường”, chẳng phải
là phước nhân thiên hữu lậu bị tổ Đạt
Ma quở trách. Do vậy, đối với hai thứ
phước trước, phàm phu và Tiểu Thừa c̣n có phần,
chỉ riêng phước này dành riêng cho hàng Đại Thừa).
Chúng
ta hăy xem sách Diễn Nghĩa chú giải:
(Diễn)
Vân hà phát Bồ Đề tâm nhi dữ thượng nhị
đồng vi phước giả, vị phát Bồ Đề
tâm kư thị thiện căn, tắc Quán Kinh tiền nhị
ưng danh vi phước, đệ tam phát tâm hà diệc
danh phước da?
(演)云何發菩提心而與上二同為福者,謂發菩提心既是善根,則觀經前二應名為福,第三發心何亦名福耶。
(Diễn: “V́ sao coi
phát Bồ Đề tâm cũng là phước giống
như hai điều trước”, ư nói: Phát Bồ Đề
tâm đă là thiện căn, vậy th́ hai điều trước
trong Quán Kinh phải nên gọi là phước, v́ sao điều
thứ ba là phát [Bồ Đề] tâm cũng gọi là
phước vậy?)
Người
ấy nêu ra nghi vấn cụ thể và rơ ràng: Phát Bồ
Đề tâm là thiện căn, chẳng phải là phước.
Dưới đây là lời đáp, đáp rất hay!
(Diễn)
“Kim minh phước hữu Sự Lư” hạ, dĩ phước
hữu nhân, thiên, tiểu quả, hữu lậu, hữu vi
chi Sự phước.
(演)今明福有事理下,以福有人天小果有漏有為之事福。
(Diễn:
Từ câu “nay nói rơ phước có Sự và Lư” trở đi,
do phước xét theo mặt Sự th́ có nhân, thiên, tiểu
quả, hữu lậu, hữu vi…).
Lũ
b́nh phàm chúng ta hễ nói đến phước đều
hiểu là những thứ này, hăy c̣n có đại phước
sâu rộng hơn mà chúng ta không biết.
(Diễn)
Hữu xứng tánh vô lậu vô vi chi lư phước.
(演)有稱性無漏無為之理福。
(Diễn:
Xét theo Lư th́ có loại phước xứng tánh, vô lậu,
vô vi).
Phàm
phu chúng ta chẳng biết điều này.
(Diễn)
Kim Bồ Đề tâm, chánh thị Bát Nhă kinh trung, bất
trụ tướng, như hư không bất khả tư
nghị chi phước, phi hữu vi sự tướng chi
phước, cố vô ngại dă.
(演)今菩提心,正是般若經中,不住相,如虛空不可思議之福,非有為事相之福,故無礙也。
(Diễn: Nay tâm Bồ
Đề đúng như kinh Bát Nhă nói, nó là phước chẳng
trụ nơi tướng, như hư không chẳng thể
nghĩ bàn, chẳng phải là phước thuộc sự
tướng hữu vi, cho nên vô ngại).
Lời
giải đáp này rất viên măn. Bồ Đề tâm là chân
tâm, Bồ Đề tâm là bản tánh. Lục Tổ đại
sư khai ngộ, đă nêu bày cảnh giới Ngài khế nhập
như sau: “Nào ngờ tự tánh,
vốn sẵn thanh tịnh”. Sau khi đă tiến nhập,
Ngài mới phát hiện! “Nào ngờ
tự tánh, vốn sẵn trọn đủ”, “trọn đủ” chính là phước.
Hết thảy các thiện căn chẳng có ǵ không đầy
đủ, thuộc về Tánh Đức, chẳng phải
là Tu Đức. “Nào ngờ tự
tánh, có thể sanh ra vạn pháp”, chẳng có phước
th́ làm sao có thể sanh ra vạn pháp? Nói theo vạn pháp th́ là
Sự và Lư, tất cả hết thảy sự tướng
thảy đều do tự tánh biến hiện. Ngay cả
y báo và chánh báo trang nghiêm trong thế giới Hoa Tạng và thế
giới Tây Phương thảy đều sanh từ tự
tánh, lẽ nào chẳng phải là phước? Đấy
là phước báo xứng tánh. Do vậy, trong hết thảy
các kinh Đại Thừa, đức Phật khuyên chúng ta
hăy phát Bồ Đề tâm. Chúng ta chẳng có thiện
căn, mà cũng chẳng có phước đức. Hễ
phát Bồ Đề tâm, thiện căn và phước
đức đều trọn đủ viên măn. Cho dù mười
phương hết thảy chư Phật tán thán, đều
chẳng thể tán thán trọn hết được! Do nó
thảy đều trọn đủ, lẽ nào chẳng phải
là phước? Công đức phát tâm chẳng thể
nghĩ bàn, phẩm Sơ Phát Tâm của kinh Hoa Nghiêm đă nói
rất hay. Phước này hàng Đại Thừa Bồ Tát
đều có, Nhị Thừa và phàm phu đều chẳng
có phần.
(Sao)
Nhiên kim sớ bất dĩ phối phước, nhi thuộc
chi thiện căn giả hà?
(鈔)然今疏不以配福,而屬之善根者何。
(Sao: Nhưng bộ sớ
này lại chẳng coi [Bồ Đề tâm] là phước,
mà xếp nó vào thiện căn là v́ lẽ ǵ?)
“Kim sớ” (今疏) là nói đến
bộ Sớ Sao này. Trong Sớ Sao, Bồ Đề tâm
được xếp vào thiện căn, chẳng xếp
vào phước, là do duyên cớ nào?
(Sao)
Lương dĩ thiện chi dữ phước, Biệt
chi tắc nhị, Tổng chi tắc nhất.
(鈔)良以善之與福,別之則二,總之則一。
(Sao: Ấy là v́ thiện
và phước, xét theo Biệt th́ là hai, xét theo Tổng bèn là
một).
Thiện
căn và phước đức, có lúc có mối quan hệ
liên đới mật thiết. Tục ngữ Trung Hoa
thường nói: “Phước
chí tâm linh”, tức là kẻ ấy b́nh thường rất
đần, khi phước báo đưa đến, bỗng
nhiên thông minh. Điều này nói rơ mối quan hệ liên
đới giữa thiện căn và phước đức.
Người thật sự có phước, nhất định
là có thiện căn, nhất định là có trí huệ. Nếu
có phước, chẳng có trí huệ, chẳng có thiện
căn, kinh Phật gọi điều phước ấy
là “si phước”, ngu si đó mà! Si phước chẳng
đáng coi là quư! Tuy có phước báo, kết quả là suốt
một đời vẫn phải chịu khổ, chịu nạn,
rất nhiều! Thế gian này rất nhiều kẻ có tiền,
là đại xí nghiệp gia, khổ sở khôn cùng! Cuộc
sống cũng rất tiết kiệm, bớt ăn, bớt
mặc, tiền của rất nhiều, đều để
cho kẻ khác hưởng phước, suốt đời
vất vả kinh doanh cho người khác hưởng phước.
Có phải là kẻ ấy thật sự tạo phước
cho quư vị hưởng hay không? Chẳng phải vậy!
Người ấy chẳng có cái tâm đó, mà cũng chẳng
có ư nghĩ đó, nhưng sống hồ đồ mơ
màng cả đời. Đó là si phước. Người như
vậy rất nhiều, ở Trung Hoa lẫn ngoại quốc
đều có thể thấy.
Người
thật sự có trí huệ, có thiện căn, hễ có phước
báo, nhất định sẽ để cho chúng sanh hưởng
phước. Người ấy có thiện tâm như vậy,
thật sự v́ xă hội, v́ đại chúng tạo phước,
khiến cho mọi người hưởng phước, phước
báo càng to hơn nữa. Suốt đời, Ấn Quang
đại sư bội phục Khổng lăo phu tử nhất.
Khổng lăo phu tử khởi tâm động niệm đều
nghĩ v́ quốc gia, v́ thiên hạ, v́ hết thảy chúng sanh,
chẳng nghĩ tới chính ḿnh. Suốt đời Ngài tu tập,
tích lũy, phước báo ấy to lớn, măi cho đến
nay, con cháu Ngài luôn được người đời
tôn trọng.
Người thứ
hai được tổ Ấn Quang bội phục là Phạm
Trọng Yêm. Phạm Trọng Yêm suốt đời sống
rất kham khổ, xuất tướng, nhập tướng[3].
Ông ta là một vị Tể Tướng nổi danh đời
Tống, là một nhà quân sự kiêm chánh trị gia lỗi lạc.
Suốt đời, ông Phạm dùng toàn bộ thu nhập của
chính ḿnh để làm sự nghiệp công ích cho xă hội.
Làm đến Tể Tướng, mà khi chết, không mua nổi
quan tài, v́ tiền tài đă đem bố thí hết cả rồi!
Do vậy, nhà họ Phạm măi cho đến nay gia đạo
chẳng suy, con cháu đều tốt đẹp. Trong
Văn Sao, tổ Ấn Quang nói gia tộc ông ta suốt tám
trăm năm chẳng suy vi, do tổ tông tích đức sâu
dầy! Trong lịch sử Trung Hoa, rất ít thấy
[trường hợp tương tự], gia tộc b́nh
thường có thể duy tŕ ba đời cũng chẳng
nhiều! C̣n hai gia tộc ấy (gia tộc Khổng Tử
và gia tộc Phạm Trọng Yêm) mấy chục đời
đều chẳng suy. Điều này đáng cho chúng ta phản
tỉnh, đáng cho chúng ta noi theo.
(Sao)
Biệt nhi ngôn chi, tắc Bồ Đề tâm thiên thuộc
thiện căn. Tổng nhi ngôn chi, tắc Bồ Đề
tâm diệc khả vân phước. Quán Kinh tổng cử,
ngôn phước vô ngại.
(鈔)別而言之,則菩提心偏屬善根;總而言之,則菩提心亦可云福。觀經總舉言福無礙。
(Sao: Nói theo Biệt, Bồ
Đề tâm thiên về thiện căn. Nói theo Tổng,
cũng có thể nói Bồ Đề tâm là phước. Quán
Kinh nói theo Tổng, nên bảo [Bồ Đề tâm] là
phước chẳng trở ngại ǵ).
Trong
kinh này, Liên Tŕ đại sư chẳng quy Bồ Đề
tâm vào phước đức mà xếp Bồ Đề tâm
vào thiện căn. Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật,
đức Thế Tôn xếp Bồ Đề tâm vào phước
đức, đều đúng, chẳng trở ngại ǵ!
(Sao)
Vấn: Bảo Tích Đại Bổn vân: “Dục kiến
Vô Lượng Thọ Phật giả, ưng phát Vô Thượng
Bồ Đề tâm. Phục đương chuyên niệm bỉ
quốc, tích tập thiện căn”. Tắc Bồ Đề,
thiện căn, tự vi nhị sự, kim hà trực dĩ
thiện căn thuộc Bồ Đề tâm?
(鈔)問:寶積大本云:欲見無量壽佛者,應發無上菩提心,復當專念彼國,積集善根,則菩提善根,似為二事,今何直以善根屬菩提心。
(Sao: Hỏi: Kinh Đại
Bổn trong bộ Bảo Tích có nói: “Muốn thấy Vô
Lượng Thọ Phật, hăy nên phát Vô Thượng Bồ
Đề tâm. Lại hăy nên chuyên niệm cơi ấy, chứa
nhóm, tu tập thiện căn”. Như vậy th́ Bồ
Đề và thiện căn dường như là hai chuyện,
sao nay lại thẳng thừng bảo thiện căn thuộc
về Bồ Đề tâm?)
Nói
thật ra, bộ Sớ Sao của Liên Tŕ đại sư
có cái hay là vô cùng tường tận, giải trừ rất
nhiều nghi hoặc của bọn chúng sanh chúng ta! Đọc
kinh quá nhiều, vấn đề cũng lắm. V́ sao? Trong
kinh này, đức Phật nói như thế này, kinh kia lại
nói theo kiểu như thế nọ, chuyện phiền toái
bèn xảy ra. Người hoàn toàn chẳng niệm kinh sẽ
chẳng có vấn đề ǵ, thật thà niệm Phật
đâm ra sẽ thành tựu rất nhanh chóng. V́ thế, các vị
pháp sư trong Giáo Hạ rất nhiều người chẳng
bằng những ông già bà cả thật thà niệm Phật.
Khi văng sanh, họ biết trước lúc mất, đứng
mất, ngồi mất rất nhiều. T́nh h́nh [lúc mất
của] những vị pháp sư trong Giáo Hạ chẳng bằng
họ là do nguyên nhân nào? Xem kinh nhiều quá, nghi vấn cả
đống. Nếu chẳng thể đoạn trừ nghi
vấn, tín tâm sẽ bị chướng ngại. Nói thật
ra, qua tác phẩm Sớ Sao, chủ ư chánh yếu của Liên
Tŕ đại sư là nhằm giúp chúng ta phá mê, dấy lên ḷng
tin, kiến lập tín tâm. Quư vị đă có tín tâm, tự
nhiên sẽ phát nguyện tu hành.
Đây
là do đọc hội Vô Lượng Thọ trong kinh Bảo
Tích, thấy có nói một câu như thế này: “Dục kiến Vô Lượng
Thọ Phật giả” (Muốn thấy Vô Lượng
Thọ Phật), quư vị mong thấy Vô Lượng Thọ
Phật, phải hội đủ những điều kiện
nào? “Ưng phát Vô Thượng Bồ
Đề tâm” (Hăy nên phát tâm Vô Thượng Bồ Đề),
đây là điều kiện thứ nhất. “Phục đương chuyên niệm
bỉ quốc” (Lại hăy nên chuyên niệm cơi ấy),
đấy là nhớ Phật, niệm Phật. Đó là
điều kiện thứ hai. “Tích
tập thiện căn” là điều kiện thứ ba,
phải đoạn hết thảy ác, tu hết thảy thiện.
Trọn đủ ba điều kiện ấy th́ mới
có thể thấy Vô Lượng Thọ Phật, nói cách khác
là mới có thể văng sanh thế giới Tây Phương. Chiếu
theo cách nói này, “tắc Bồ
Đề thiện căn” (th́ Bồ Đề và thiện
căn) dường như là hai chuyện. Trong ba điều
kiện trên đây, điều kiện thứ nhất là Bồ
Đề tâm, điều kiện thứ ba là thiện
căn, dường như là hai chuyện, chẳng giống
như là một chuyện. Cớ sao Liên Tŕ đại
sư xếp Bồ Đề tâm vào thiện căn, chẳng
phải là biến chúng thành một chuyện ư?
(Sao)
Đáp: Bỉ đản ngôn thiện căn, thử năi vân
đa thiện căn, “đa” chi nhất tự, phi Bồ
Đề tâm, hà dĩ đương thử?
(鈔)答:彼但言善根,此乃云多善根,多之一字,非菩提心,何以當此。
(Sao:
Đáp: Kinh ấy chỉ nói “thiện căn”, kinh này bèn nói
là “nhiều thiện căn”, một chữ “nhiều” ấy,
nếu chẳng phải là Bồ Đề tâm th́ dùng ǵ
để tương ứng với nó được?)
Liên
Tŕ đại sư rất cao minh. Trong kinh Vô Lượng
Thọ chỉ nói “thiện
căn”, kinh Di Đà nói “nhiều
thiện căn”. “Bất khả
dĩ thiểu thiện căn, phước đức, nhân
duyên, đắc sanh bỉ quốc”, chính là nhiều thiện
căn, then chốt ở ngay một chữ Nhiều! Trong
kinh chẳng có chữ ấy. Kinh chỉ nói: “Bất khả dĩ thiểu thiện
căn, phước đức, nhân duyên, đắc sanh bỉ
quốc”, chẳng thể ít, đương nhiên là nhiều!
Đă là nhiều, mà nếu chẳng gieo thiện căn từ
Bồ Đề tâm, làm sao có thể coi là nhiều cho
được? Đáp rất hay khéo, rất khá! Tiếp
đó, lại có một câu hỏi khác.
(Sớ)
Vấn:Tức tŕ danh vi
đa thiện căn, phước đức, thử kinh
chi ngoại, biệt hữu chứng cứ phủ?
(疏)問:即持名為多善根福德,此經之外,別有證據否。
(Sớ: Hỏi: Nếu
tŕ danh là nhiều thiện căn, nhiều phước
đức, ngoài kinh này ra, có chứng cứ nào khác hay không?)
Điều
này do Liên Tŕ đại sư đề xướng, cổ
nhân có tranh luận, nên lăo nhân gia đă dung hợp trọn hết
các ư nghĩa của cổ đại đức, coi tŕ danh
là thiện căn, lại coi tŕ danh là phước đức.
[Do đó], tŕ danh là nhiều thiện căn, nhiều phước
đức. Người chất vấn bèn nói: “Ngoài kinh này
ra, c̣n có chứng cứ nào khác hay không?”
(Sớ)
Đáp: Lịch lịch khả chứng, như Đại
Bi, Đại Phẩm đẳng thuyết.
(疏)答:歷歷可證,如大悲大品等說。
(Sớ: Đáp: Rành
rành có thể chứng minh, như các kinh Đại Bi, Đại
Phẩm v.v… đă nói).
Liên
Tŕ đại sư xác thực là uyên bác các pháp thế gian
và xuất thế gian, có thể nêu ra chứng cứ.
(Sao)
Chứng thiện căn giả.
(鈔) 證善根者。
(Sao:
“Để chứng minh [tŕ danh là] thiện căn”).
Trước
hết, nêu ra chứng cứ nhằm chứng minh thiện
căn.
(Sao)
Đại Bi kinh vân: “Nhất xưng Phật danh, dĩ thị
thiện căn, nhập Niết Bàn giới, bất khả
cùng tận”.
(鈔)大悲經云:一稱佛名,以是善根,入涅槃界,不可窮盡。
(Sao: Kinh Đại Bi[4] nói: “Dùng xưng
danh hiệu Phật như là thiện căn để nhập
Niết Bàn giới, chẳng thể cùng tận”).
Kinh
văn đă nói rất rơ ràng, minh bạch, “xưng danh” là thiện căn.
(Sao)
Hựu vân.
(鈔)又云。
(Sao:
Lại nói).
Vẫn
là điều được nói trong kinh Đại Bi.
(Sao)
Ngă diệt độ hậu, Bắc Thiên Trúc quốc, hữu
tỳ-kheo danh Kỳ Bà Già, tu tập vô lượng tối
thắng thiện căn, dĩ nhi mạng chung, sanh ư Tây
Phương quá bách thiên ức thế giới, Vô Lượng
Thọ Phật quốc, dĩ hậu thành Phật, hiệu
Vô Cấu Quang Như Lai.
(鈔)我滅度後,北天竺國,有比丘名祈婆伽,修習無量最勝善根,已而命終,生於西方過百千億世界,無量壽佛國,以後成佛,號無垢光如來。
(Sao: Sau khi ta diệt
độ, tại nước Bắc Thiên Trúc, có tỳ-kheo
tên là Kỳ Bà Già tu tập vô lượng thiện căn
thù thắng nhất, khi đă mạng chung, bèn sanh vào cơi Phật
Vô Lượng Thọ ở Tây Phương cách đây
trăm ngàn ức thế giới. Về sau, sẽ thành Phật,
hiệu là Vô Cấu Quang Như Lai).
Trong
đoạn kinh văn này, đức Phật thọ kư cho ngài
Kỳ Bà Già, nói minh bạch: Tu thiện căn sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới. Đây là một
chứng cớ rất thuyết phục được nêu
ra trong kinh Đại Bi. Ngoài kinh Đại Bi ra…
(Sao)
Hựu Đại Trang Nghiêm Kinh Luận.
(鈔)又大莊嚴經論。
(Sao:
Lại theo Đại Trang Nghiêm Kinh Luận[5]).
Đây
là chú giải của kinh Đại Trang Nghiêm.
(Sao)
Phật thế nhất lăo nhân lai cầu xuất gia, Xá Lợi
Phất đẳng chư đại đệ tử câu bất
khẳng độ, dĩ quán bỉ đa kiếp vô thiện
căn cố.
(鈔)佛世一老人來求出家,舍利弗等諸大弟子俱不肯度,以觀彼多劫無善根故。
(Sao: Thời đức
Phật tại thế, có một cụ già đến xin xuất
gia, các vị đại đệ tử như Xá Lợi
Phất v.v… đều không chịu thế độ, v́ xét
thấy ông cụ trong nhiều kiếp chẳng có thiện
căn).
Năng
lực thần thông của A La Hán chỉ có thể quan sát
năm trăm đời. Hơn năm trăm đời,
các Ngài chẳng có năng lực thông đạt. Năng lực
thần thông của các Ngài chỉ to ngần ấy. Các Ngài
thấy cụ già ấy trong suốt năm trăm đời
chẳng gieo thiện căn, làm sao có thể xuất gia cho
được?
(Sao)
Phật tự độ chi, tức chứng đạo quả.
(鈔)佛自度之,即證道果。
(Sao:
Đức Phật liền tự độ cụ già ấy,
cụ liền chứng đạo quả).
Đức
Phật cho cụ già ấy xuất gia, xuống tóc cho cụ.
Sau khi xuống tóc không lâu, cụ bèn chứng quả A La Hán.
Các đồng học thấy vậy đều lấy làm
lạ: “Người này chẳng có thiện căn, cớ
sao cũng có thể chứng quả A La Hán?” Đức Phật
liền nói cho đại chúng biết nhân duyên ấy.
(Sao)
Nhân cáo đại chúng, thử nhân vô lượng kiếp tiền.
(鈔)因告大眾,此人無量劫前。
(Sao:
Nhân đó, [đức Phật]
bảo đại chúng: “Người này trong vô lượng
kiếp trước”).
Vô
lượng kiếp trước! Vô lượng kiếp
trước th́ đương nhiên là A La Hán đành chịu
thua, năng lực của A La Hán rất hữu hạn.
(Sao)
Vi thải tân nhân, mănh hổ bức cực, đại bố
thượng thụ.
(鈔)為採薪人,猛虎逼極,大怖上樹。
(Sao:
“Làm người đẵn củi, do bị hổ dữ bức
bách quá đỗi, hết sức kinh hoảng trèo lên cây”).
[Thuở
ấy], cụ là một tiều phu, lên núi đẵn củi
gặp phải cọp. Cọp sắp ăn cụ, cụ
hoảng hốt, trèo lên đầu ngọn cây, kêu một tiếng
“Nam-mô Phật”. Do câu “nam-mô Phật” ấy mà gieo thiện
căn. Câu chuyện này xuất phát từ kinh Pháp Hoa, Đại
Trang Nghiêm Luận dẫn câu chuyện này từ kinh Pháp Hoa.
(Sớ) Xưng nam-mô
Phật, dĩ thị thiện căn, ngộ ngă đắc
độ.
(鈔)稱南無佛,以是善根,遇我得度。
(Sớ: Xưng “nam-mô
Phật”, do thiện căn ấy, gặp ta, đắc
độ).
Vô
lượng kiếp trước, bị cọp dọa nạt,
hét một tiếng “nam-mô Phật”; vô lượng kiếp
sau, gặp gỡ Thích Ca Mâu Ni Phật, do một tí thiện
căn ấy mà đắc độ. Do vậy, đối
với các chúng sanh trong hiện tại, quư vị khuyên họ
niệm “nam-mô A Di Đà Phật” một tiếng, tức là
đă gieo chủng tử. Cũng có lẽ trong vô lượng
kiếp sau, khi gặp được vị Phật nào đó,
họ sẽ đắc độ. Chúng ta có thể làm
được chuyện này. V́ vậy, [để độ
chúng sanh], phải dùng các thứ phương tiện thiện
xảo. Chẳng hạn như người học Phật
trên tay thường cầm chuỗi tràng hạt, người
ta trông thấy, bèn “A Di Đà Phật”. Quư vị chẳng
khuyên kẻ ấy, chính kẻ ấy tự kêu, tự niệm
một tiếng “A Di Đà Phật”, công đức vô lượng,
trong tương lai người ấy nhất định
đắc độ, chúng ta biết chắc như vậy.
Do đó, cửa nhà chúng ta dán một câu “Nam-mô A Di Đà Phật”,
người ta vừa thấy [bèn nhẩm thầm] A Di
Đà Phật, thế là được rồi. Chúng tôi in
những tấm băng dính có danh hiệu A Di Đà Phật,
hoặc in h́nh A Di Đà Phật, các đồng tu có thể
thỉnh về nhà. Tết đến, đối với liễn
dán cửa (câu đối Tết) bèn dán “Nam-mô A Di Đà Phật”,
cát tường nhất, chẳng có ǵ tốt lành hơn
được! Nếu chư vị chê nhỏ th́ in dài
hơn, in to như [khuôn khổ các] câu liễn dán cửa.
Hai bên [cửa] đều dán Nam-mô A Di Đà Phật. Tôi ở
Mỹ, căn nhà ấy chỗ nào cũng đều dán, nào
cũng đều dán khắp nơi, có rất nhiều
đồng học trông thấy, bất luận quư vị
bước vào pḥng nào cũng đều thấy A Di Đà Phật.
Đó là chính ḿnh tự gieo thiện căn, cũng giúp cho
người khác gieo thiện căn, thời thời khắc
khắc, khắp nơi khắp chốn nhắc nhở chính
ḿnh, [khiến cho] câu Phật hiệu chẳng bị gián
đoạn. V́ thế, khắp nơi đều dán, khiến
cho Phật hiệu của chúng ta chẳng bị gián đoạn.
(Sao)
Hoa Nghiêm Đệ Thập Hồi Hướng vân: “Nguyện
ức niệm vô lượng vô biên thế giới, khứ
lai hiện tại nhất thiết chư Phật”.
(鈔)華嚴第十回向云:願憶念無量無邊世界,去來現在一切諸佛。
(Sao: Phần giảng
về Đệ Thập Hồi Hướng trong kinh Hoa
Nghiêm có nói: “Nguyện ức niệm vô lượng vô biên thế
giới, quá khứ, vị lai, hiện tại hết thảy
chư Phật”).
“Khứ” (去) là quá khứ, “lai” (來) là vị lai, “khứ lai hiện tại” là
ba đời, mười phương ba đời hết
thảy chư Phật.
(Sao)
Nhi thứ vân: “Dĩ thử niệm Phật thiện
căn”.
(鈔)而次云:以此念佛善根。
(Sao:
Kế đó, bèn nói: “Do thiện căn niệm Phật này”).
Niệm
Phật là thiện căn, lại t́m ra một chứng cứ.
(Sao)
Phàm thử, giai tŕ danh vi đa thiện căn chi minh chứng
dă.
(鈔) 凡此,皆持名為多善根之明證也。
(Sao: Phàm những câu
như vậy đều là chứng cớ rành rành [chứng
tỏ] tŕ danh là nhiều thiện căn vậy).
Đấy
là chứng cứ của “nhiều thiện căn”. Dưới
đây là lời giải thích của sách Diễn Nghĩa
đối với hai câu trong lời Sao. Câu đầu tiên
[được giảng như sau]:
(Diễn)
“Dĩ thị thiện căn nhập Niết Bàn giới, bất
khả cùng tận giả”: Dĩ xưng danh thiện
căn, bất dữ nhất thiết hữu vi
tương ứng, năi tăng trưởng vô vi, tùy thuận
vô vi chi thiện căn dă. Cố nhập Niết Bàn bất
khả cùng tận. Thí như hữu nhân thực thiểu
kim cang, chung cánh bất tiêu, yếu đương xuyên cốt
nhi xuất. Xưng danh công đức trực chí Niết
Bàn, diệc phục như thị.
(演)以是善根入涅槃界,不可窮盡者,以稱名善根,不與一切有為相應,乃增長無為,隨順無為之善根也,故入涅槃不可窮盡。譬如有人食少金剛,終竟不消,要當穿骨而出,稱名功德直至涅槃,亦復如是。
(Diễn: “Dùng thiện
căn này để nhập Niết Bàn giới chẳng thể
cùng tận”: Do thiện căn xưng danh chẳng
tương ứng với hết thảy hữu vi, nên tăng
trưởng vô vi, tùy thuận thiện
căn vô vi. V́ thế, nhập Niết Bàn chẳng thể
cùng tận. Ví như có người ăn một chút kim cang,
rốt cuộc chẳng thể tiêu được, chất
kim cang sẽ xuyên qua xương mà lọt ra, công đức
xưng danh đạt thẳng đến Niết Bàn,
cũng giống như thế đó).
Giải
thích và tỷ dụ đều rất hay. Chúng ta thường
nói: “Tạo hết thảy thiện nghiệp, quả báo ở
trong ba thiện đạo; tạo hết thảy ác nghiệp,
quả báo ở trong ba ác đạo”. Niệm một câu A Di
Đà Phật, rốt cuộc sẽ vào đường nào?
Trong ba thiện đạo và ba ác đạo thảy đều
chẳng có [A Di Đà Phật]. Do v́ quư vị xưng niệm
danh hiệu của Phật, Bồ Tát chẳng tương ứng
với hết thảy các pháp hữu vi trong tam giới lục
đạo, nên bất đắc dĩ gọi là “Tịnh
nghiệp”. Mục tiêu chung cực viên măn của Tịnh
nghiệp là Đại Niết Bàn nơi quả địa
Như Lai, nó tương ứng với điều này.
Đúng là “niệm Phật là nhân,
thành Phật là quả”. Đối với “thâm tín nhân quả” được
nói trong Tam Phước, thông thường tôi không giảng
theo cách này, mà trực tiếp nói “niệm
Phật là nhân, thành Phật là quả”. Nhân quả ấy
rất sâu, [ngay cả những vị] Bồ Tát b́nh phàm
cũng đều không biết. [Nếu] đă biết th́
không có vị nào chẳng niệm Phật, niệm Phật
thành Phật mà! Cùng một đạo lư giống như vậy,
quư vị niệm Bồ Tát thành Bồ Tát, niệm thiên sẽ
sanh lên trời, niệm ǵ thành nấy, niệm lực to lớn
chẳng thể nghĩ bàn! Người thế gian rất
đáng thương, họ niệm ba ác đạo. V́ sao niệm
ba ác đạo? Nghiệp nhân của ba ác đạo là Tam Độc.
Trong tâm quư vị thường nghĩ tới tham sẽ là ngạ
quỷ đạo. Hằng ngày nghĩ tới nóng giận sẽ
là địa ngục đạo. Niệm nào cũng đều
ngu si, chính là súc sanh đạo. Ngu si là tà, chánh, thiện, ác,
chân, giả đều chẳng hiểu rơ ràng, đó là ngu
si. Sống suốt cả đời hồ đồ,
mơ màng; đó là súc sanh đạo. Do vậy, kẻ niệm
ba ác đạo đông lắm, kẻ niệm tham, sân, si nhiều
lắm. Câu thứ hai:
(Diễn)
Tu tập vô lượng tối thắng thiện căn giả,
“vô lượng” ngôn kỳ quảng đại, “tối thắng”
ngôn kỳ vi diệu. Dĩ xứng tánh chi tu, nhất tu, nhất
thiết tu, quảng vô nhai bạn, diệu bất khả
trắc cố. Nguyện ức niệm vô lượng vô
biên thế giới, thị hoành biến nhất thiết xứ;
khứ lai hiện tại nhất thiết chư Phật,
thị thụ biến nhất thiết thời. Sở vị
“nhất niệm, nhất thiết niệm; nhất thiết
niệm, nhất niệm” dă.
(演)修習無量最勝善根者,無量言其廣大,最勝言其微妙。以稱性之修,一修一切修,廣無涯畔,妙不可測故。願憶念無量無邊世界,是橫遍一切處,去來現在一切諸佛,是豎遍一切時,所謂一念一切念,一切念一念也。
(Diễn: “Tu tập
thiện căn vô lượng tối thắng”: Nói “vô
lượng” nghĩa là rộng lớn. “Tối thắng”
là vi diệu. Do tu xứng tánh, nên một tu, hết thảy
tu, rộng răi không ngằn mé, mầu nhiệm chẳng thể
lường. “Nguyện ức niệm vô lượng vô biên
thế giới” tức là theo chiều ngang trọn khắp
hết thảy các chốn. “Quá khứ, vị lai, hiện tại
hết thảy chư Phật” là theo chiều dọc trọn
khắp hết thảy các thời. Đó gọi là “một
niệm, hết thảy niệm; hết thảy niệm là
một niệm”).
Nói
thông thường, đây chính là “xứng
tánh khởi tu, toàn tu tức tánh”; v́ thế, thiện
căn và phước đức chẳng thể nghĩ bàn.
Các đồng tu chúng ta niệm Phật, đặc biệt
là Tŕ Danh Niệm Phật, nếu quư vị thật sự
là “nhất tâm xưng danh”,
thiện căn do quư vị tu tập, tích lũy sẽ giống
như kinh đă nói. Trên đây là trích dẫn kinh luận
ḥng nêu rơ tŕ danh niệm Phật là thiện căn, chẳng
sai! Cớ sao lại nói tŕ danh niệm Phật là phước
đức? Đoạn dưới đây nêu ra một chứng
cứ.
(Sao)
Chứng phước đức giả.
(鈔) 證福德者。
(Sao:
Chứng tỏ [tŕ danh] là phước đức).
Chứng
tỏ tŕ danh niệm Phật là phước đức.
(Sao)
Đại Phẩm Bát Nhă kinh vân: “Nhược nhân tán tâm niệm
Phật, diệc đắc ly khổ, kỳ phước bất
tận, huống định ư niệm”.
(鈔)大品般若經云:若人散心念佛,亦得離苦,其福不盡,況定意念。
(Sao: Kinh Đại Phẩm
Bát Nhă[6] nói: “Nếu ai tán
tâm niệm Phật cũng được ĺa khổ,
phước ấy bất tận, huống hồ là ư an
định mà niệm”).
“Tán tâm”: Chẳng phải là chuyên
tâm, chẳng phải là nhất tâm. Thông thường là tán
niệm, [nghĩa là] đôi khi là miệng có, tâm không, xướng
lên câu Phật hiệu này th́ gọi là tán niệm. Tán niệm
cũng có phước.
(Diễn) Tán tâm niệm
Phật, thị trước thật ức tŕ, trước
thật thể cứu. Vị nhập nhất tâm giả,
phi như kim nhân toàn bất trước ư, đồ sự
thần thiệt dă.
(演)散心念佛,是著實憶持,著實體究。未入一心者,非如今人全不著意,徒事唇舌也。
(Diễn: Tán tâm niệm
Phật là thật sự nghĩ nhớ, tŕ niệm, thật
sự thấu hiểu, tham cứu; [nói “tán tâm niệm Phật”
nghĩa là nói tới] người chưa đắc nhất
tâm, chẳng phải như người hiện thời
hoàn toàn chẳng dốc ư, chỉ niệm suông bằng miệng
lưỡi mà thôi).
“Tán tâm niệm Phật, diệc
đắc ly khổ, kỳ phước bất tận”
(Tán tâm niệm Phật, cũng được ĺa khổ,
phước ấy bất tận). Tán tâm là nói đối ứng
với nhất tâm, [tức là] “chưa chứng đắc nhất
tâm”. Trước khi chứng đắc nhất tâm th́ đều
gọi là “tán tâm niệm Phật”.
Kinh Vô Lượng Thọ nói tán tâm niệm Phật là “một mực chuyên niệm”.
Chưa đắc nhất tâm, tiêu chuẩn sẽ là “trước thật ức tŕ”
(thật sự nghĩ nhớ, tŕ niệm), thật sự
niệm, thật sự “thể
cứu”. Thể (體) là thấu hiểu,
“cứu” (究) là tham cứu. Người ấy
chẳng phải là nghiên cứu, nghiên cứu là [sử dụng]
thức thứ sáu, tức ư thức. Chẳng dùng tâm ư thức
th́ gọi là tham cứu, cũng là chuyên tâm, nhất tâm nhất
ư xưng niệm, nhưng chưa đắc nhất tâm bất
loạn. Nói cách khác, đă có thể chế phục phiền
năo, [vẫn c̣n] chưa đoạn phiền năo. Đoạn
phiền năo th́ mới gọi là nhất tâm, xác thực là
đă khuất phục phiền năo. Niệm Phật hay niệm
kinh đều phải có công phu này th́ mới đạt
được phước báo. “Phi
như kim nhân toàn bất trước ư” (Chẳng phải
là như người hiện thời hoàn toàn chẳng dốc
ư), nói đến những kẻ “miệng có, tâm không”. Chẳng
thể nói kẻ “miệng có, tâm không” chẳng có phước
báo; họ cũng có phước báo, nhưng chẳng thể
văng sanh trong một đời này! Như trong phần
trước đă nói: Tiều phu do bị hổ đuổi
gắt gao, bèn hét lên một tiếng Nam-mô Phật, phải
chờ tới vô lượng kiếp sau mới có thể
đắc độ, chẳng thể thành tựu trong một
đời này. Nếu mong thành tựu trong một đời
này, tán tâm niệm Phật vẫn được. Tán tâm niệm
Phật là công phu thành phiến, có thể sanh vào cơi Phàm Thánh
Đồng Cư, “tán tâm” ở
đây mang ư nghĩa này. Có thể sanh về Tây Phương
Cực Lạc thế giới, há có thể bảo là chẳng
có phước ư? Chẳng có phước báo, làm sao có thể
sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới cho
được? Đây là nói tới tiêu chuẩn của tán
tâm tŕ danh.
(Diễn)
Định ư niệm Phật, thị kư đắc Sự
nhất tâm.
(演)定意念佛,是既得事一心。
(Diễn:
Ư an định niệm Phật là đă đắc Sự
nhất tâm).
Điều
này quả thật chẳng dễ dàng! “Sự nhất tâm” là cảnh giới ǵ? Đă
đoạn Kiến Tư phiền năo, chẳng phải là
chế phục. Chế phục là công phu thành phiến.
Đă đoạn Kiến Tư phiền năo bèn bằng với
A La Hán trong Tiểu Thừa, công phu như vậy đó.
(Diễn)
Nhi phục ư định tâm trung, niệm niệm ức
tŕ, tâm tâm nghiên cứu giả. Nhược thị Lư nhất
tâm, tắc thị ly niệm cảnh giới. Kư dĩ vô ư,
kiêm diệc bất chỉ thị định dă.
(演)而復於定心中,念念憶持,心心研究者。若是理一心,則是離念境界,既已無意,兼亦不止是定也。
(Diễn: Lại c̣n
trong cái tâm đă định mà niệm niệm nghĩ nhớ,
vâng giữ, tâm luôn nghiên cứu. Nếu là Lư nhất tâm th́ sẽ
là cảnh giới ly niệm. Đă là không có ư th́ cũng chẳng
phải là chỉ giới hạn trong Định ấy).
Sự
nhất tâm bất loạn là đă đoạn Kiến
Tư phiền năo. Trong Định, một câu Phật hiệu
thường chẳng gián đoạn, không xen tạp,
như vậy th́ sẽ có thể niệm đến Lư nhất
tâm bất loạn. Lư nhất tâm bất loạn là phá một
phần vô minh, Trần Sa phiền năo cũng đoạn, Vô
Minh phiền năo cũng phá mấy phẩm, vị ấy c̣n
niệm hay không? Vẫn niệm câu A Di Đà Phật, một
mực niệm đến cùng. Ngay như khi người ấy
đă niệm đến mức thành Phật viên măn rốt
ráo th́ c̣n có niệm hay không? Vẫn niệm! Đấy là “huống định ư niệm Phật”
(huống hồ là tâm ư an định niệm Phật). Hết
thảy chư Phật, chẳng có vị Phật nào không niệm
Phật. V́ vậy, pháp môn này chẳng thể nghĩ bàn. Đă
thành Phật mà vẫn niệm Phật, đấy là đại
từ, đại bi, nêu gương cho chúng ta nhằm hóa
độ chúng sanh. Chúng ta thấy Phật luôn niệm A Di
Đà Phật, [sẽ nghĩ] chắc là A Di Đà Phật tốt
lắm, chúng ta niệm Ngài sẽ chẳng có vấn đề
ǵ! Chư Phật đều niệm A Di Đà Phật cơ
mà! Đương nhiên là chúng ta cũng phải nên niệm A
Di Đà Phật. Đấy là phương tiện để
đức Phật dạy chúng ta niệm A Di Đà Phật.
Không chỉ là Thích Ca Mâu Ni Phật niệm A Di Đà Phật,
mà mười phương ba đời hết thảy
chư Phật, không vị Phật nào chẳng niệm A Di
Đà Phật.
Ở
đây, Tổ đă nêu chứng cứ được nói
trong kinh Đại Phẩm Bát Nhă [ḥng chứng tỏ] niệm
Phật là phước đức. Hôm nay đă hết thời
gian rồi, chúng tôi giảng tới chỗ này!
Tập
216
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang bốn trăm hai mươi tám:
(Sao)
Chứng phước đức giả. Đại Phẩm
Bát Nhă kinh vân: “Nhược nhân tán tâm niệm Phật, diệc
đắc ly khổ, kỳ phước bất tận, huống
định ư niệm”.
(鈔)證福德者。大品般若經云:若人散心念佛,亦得離苦,其福不盡,況定意念。
(Sao: “Chứng tỏ [tŕ
danh] là phước đức”: Kinh Đại Phẩm Bát
Nhă nói: “Nếu ai tán tâm niệm Phật cũng được
ĺa khổ, phước ấy bất tận, huống hồ
là ư an định mà niệm”).
Đại
sư lại dẫn kinh luận để chứng minh tŕ
danh niệm Phật là nhiều thiện căn, nhiều phước
đức. Do vậy, tu thiện căn và phước
đức th́ thật thà niệm Phật sẽ đều
trọn đủ. Thông thường, kẻ chẳng thể
thâm nhập kinh tạng, nghe những lời này, chưa chắc
là đă có thể tin tưởng, cho nên mới phải
trích dẫn kinh điển để chứng minh. Đoạn
trên nhằm chứng minh [tŕ danh niệm Phật là] thiện
căn, c̣n đoạn này nhằm chứng minh niệm Phật
là tu phước. Trước hết, Tổ trích dẫn một
đoạn trong kinh Đại Phẩm Bát Nhă. Sách Diễn
Nghĩa có chú giải:
(Diễn) Tán tâm niệm
Phật, thị trước thật ức tŕ, trước
thật thể cứu. Vị nhập nhất tâm giả,
phi như kim nhân toàn bất trước ư, đồ sự
thần thiệt dă.
(演)散心念佛,是著實憶持,著實體究。未入一心者,非如今人全不著意,徒事唇舌也。
(Diễn: Tán tâm niệm
Phật thật sự nghĩ nhớ, tŕ niệm, thật
sự thấu hiểu, tham cứu; [nói tán tâm niệm Phật
nghĩa là nói tới] người chưa đắc nhất
tâm. Chẳng phải là như người hiện thời
hoàn toàn chẳng dốc ư, chỉ niệm suông bằng miệng
lưỡi mà thôi).
Nói
rơ “tán tâm niệm” là ǵ? Có thể
nói “tán tâm niệm” là khá chuyên tâm, bất quá công phu chưa
đạt đủ mức, chẳng có thành tựu. Đương
nhiên là chúng ta phiền năo tập khí rất nặng, tuyệt
đối chẳng phải là trong một khoảng thời
gian ngắn ngủi bèn có thể niệm đến mức
nhất tâm bất loạn, hoặc là niệm đến mức
công phu thành phiến, chẳng dễ dàng như vậy! Có những
kẻ niệm Phật ba tháng hoặc nửa năm, cảm
thấy vẫn chưa thể đắc nhất tâm, bèn bỏ
ngay, chẳng niệm nữa! Hoặc nghe nói tông khác [thành tựu]
nhanh chóng, liền đi học pháp khác. Học kiểu
đó th́ học suốt đời chẳng thành công. Nghiêm
túc niệm, thật thà niệm, niệm đến nửa
năm, quyết định là sẽ có tiến bộ, tiến
bộ nh́n từ chỗ nào? Vọng niệm bớt đi;
vẫn có vọng niệm, nhưng ít hơn trước
kia. Trước kia hồ đồ, mông muội, nay th́ chẳng
quá mức hồ đồ, đầu óc sáng suốt
đôi chút. Sự sáng suốt ấy chính là trí huệ, chính
là sanh trí huệ, trí huệ tăng trưởng. Phiền
năo nhẹ bớt, trí huệ tăng trưởng, đó là hiệu
quả rất tốt đẹp, là thành tựu do niệm Phật.
Niệm tới đôi ba năm, vọng niệm càng ít
hơn, công phu đắc lực, bèn có thể cảm nhận,
có tín tâm đối với sự văng sanh, nắm chắc
văng sanh, có thể niệm đến mức độ ấy.
Đó là công phu rất tốt đẹp.
V́
sao niệm Phật chẳng đắc lực? Quư vị chẳng
chịu buông phiền năo tập khí xuống, niệm Phật
như vậy, chẳng dễ ǵ đắc lực! Nói cách
khác, mỗi người phải thật sự giác ngộ,
giác ngộ điều ǵ? Sanh tử là chuyện lớn, luân
hồi đáng sợ, là nỗi kinh sợ thật sự. Quư
vị phải có cái tâm cảnh giác ấy. Nói cách khác, suốt
một đời này, thứ ǵ ta cũng đều chẳng
cầu, ta mong cầu liễu sanh tử, vượt thoát
luân hồi. Do phương pháp ǵ th́ mới có thể thực
hiện được? Chỉ có niệm Phật cầu
sanh Tịnh Độ. Do vậy, pháp sư Ấn Quang đă
tự viết một câu để cảnh tỉnh người
niệm Phật, chính Ngài là như vậy: “Suốt ngày từ sáng đến tối, dán một
chữ Tử trên trán”. Trong pḥng của tổ Ấn
Quang có một tiểu Phật đường, thờ một
bức tượng A Di Đà Phật, sau tượng A Di
Đà Phật là một bức b́nh[7] nhỏ,
viết một chữ Tử. Thường có tâm cảnh
giác như vậy, công phu tự nhiên đắc lực.
Tán tâm
niệm Phật, “trước thật
ức tŕ” là nghiêm túc niệm, “trước
thật thể cứu”, Thể là thấu hiểu, Cứu
là tham cứu, thật sự thấu hiểu, thật sự
tham cứu, nhưng chưa đắc nhất tâm. Hễ
chưa đắc nhất tâm th́ đều gọi là “tán
tâm”, quyết chẳng phải là giống như người
hiện thời “miệng có, tâm không”. Niệm [suông ngoài miệng]
như vậy, chẳng có tác dụng chi cả! Người
niệm Phật trong tâm dấy tham, sân, si, mạn, bên ngoài bị
cảnh giới dụ dỗ, mê hoặc, cổ đức
bảo niệm Phật kiểu đó là “hét toạc cổ họng cũng uổng công”, chỉ
có thể nói là “gieo thiện căn”, muốn văng sanh ngay
trong một đời này sẽ khá khó khăn!
(Diễn)
Định ư niệm Phật, thị kư đắc Sự
nhất tâm.
(演)定意念佛,是既得事一心。
(Diễn:
Ư an định niệm Phật là đă đắc Sự
nhất tâm).
Công
phu thành phiến được bao gồm trong phạm vi của
Sự nhất tâm. Công phu thành phiến là Sự nhất tâm ở
mức độ nông cạn, niệm Phật đến mức
đoạn trừ Kiến Tư phiền năo là Sự nhất
tâm ở mức độ sâu. Nếu chúng ta chia Sự nhất
tâm thành ba phẩm th́ hạ phẩm là công phu thành phiến,
trung phẩm là đoạn Kiến Hoặc, thượng phẩm
là đoạn Tư Hoặc. Công phu thành phiến là ǵ? Suốt
ngày từ sáng đến tối trong tâm có Phật hiệu,
trong tâm tuởng Phật. Trừ việc nhớ Phật, niệm
Phật ra, vọng niệm ǵ cũng chẳng nghĩ tới.
Đó là công phu đă thành phiến. Trọn chẳng đoạn
phiền năo, Kiến Tư phiền năo chưa đoạn;
tuy chẳng đoạn, nhưng công phu đă đắc lực,
cũng là phiền năo chẳng thể dấy lên hiện
hành. Phiền năo vừa xuất hiện, vọng niệm thứ
nhất dấy lên, vọng niệm thứ hai phải là A Di
Đà Phật, giằn ép nó (vọng niệm thứ nhất)
xuống. Có công phu như vậy, thưa cùng chư vị,
quyết định văng sanh, sanh vào cơi Phàm Thánh Đồng
Cư. Nếu niệm đến thượng phẩm Sự
nhất tâm bất loạn, sẽ sanh vào cơi Phương Tiện
Hữu Dư, chẳng phải là cơi Phàm Thánh Đồng
Cư, quyết định có thể văng sanh. Do vậy, sau
khi đă niệm đến mức công phu thành phiến, vẫn
tiếp tục niệm câu Phật hiệu này chẳng ngừng!
(Diễn)
Nhi phục ư Định tâm trung, niệm niệm ức
tŕ, tâm tâm nghiên cứu giả.
(演)而復於定心中,念念憶持,心心研究者。
(Diễn: Nhưng lại
ở trong cái tâm Định, niệm nào cũng nghĩ nhớ,
vâng giữ, niệm tâm nào cũng đều là nghiên cứu).
Ở đây, “nghiên cứu” chẳng phải
là dùng tâm ư thức, chỉ là một mực niệm đến
cùng là được rồi. Trong mỗi niệm đều
trọn đủ Tín, Nguyện, Hạnh; trong mỗi niệm
trọn đủ Lục Độ và Thập Nguyện, nói
theo ư nghĩa này. Sự nhất tâm đă thành tựu, vẫn
chẳng thể gián đoạn, vẫn là công phu miên mật
chẳng ngừng, nâng cao cảnh giới của chính ḿnh,
khi văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, phẩm
vị sẽ tăng cao.
(Diễn)
Nhược thị Lư nhất tâm, tắc thị ly niệm
cảnh giới, kư dĩ vô ư, kiêm diệc bất chỉ thị
định dă.
(演)若是理一心,則是離念境界,既已無意,兼亦不止是定也。
(Diễn: Nếu là Lư
nhất tâm th́ chính là cảnh giới ly niệm. Đă là vô
ư th́ cũng không giới hạn trong Định vậy).
Niệm
đến mức Lư nhất tâm bất loạn, người
ấy có niệm hay không? Vẫn niệm. Niệm mà vô niệm,
vô niệm mà niệm, câu Phật hiệu quyết định
chẳng gián đoạn. Do vậy, cảnh giới không ngừng
tăng cao, phẩm vị cũng không ngừng tăng cao.
Người niệm Phật phải luôn ghi nhớ: Quyết
định đừng tham sống sợ chết! Nói thật
ra, văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới càng
sớm càng hay! Phải biết thế gian này quá khổ, chẳng
có mảy may nào đáng để lưu luyến. Lưu luyến
thế giới này là ngu si, quư vị có lư do ǵ để
lưu luyến thế giới này?
“Tán tâm niệm Phật, diệc
đắc ly khổ, kỳ phước bất tận”
(Tán tâm niệm Phật cũng được ĺa khổ, phước
ấy bất tận), chúng ta chẳng có cách nào diễn tả
phước báo ấy, mà chư Phật, Bồ Tát cũng chẳng
thể nói trọn hết được! Thật đấy!
Bởi lẽ, câu danh hiệu này là vạn đức hồng
danh.
(Sao)
Xưng Dương
(鈔)稱揚諸佛功德經云。
(Sao:
Kinh Xưng Dương Công Đức
Nói
rơ tŕ danh niệm Phật xác thực là phước đức,
trong kinh luận có rất nhiều [chứng cứ]. Đây
lại là một bộ kinh [nói rơ như vậy], trong kinh có
nói [như sau]:
(Sao)
Nhược hữu đắc văn Vô Lượng Thọ
Như Lai danh giả, nhất tâm tín nhạo, tŕ phúng tụng
niệm. Thử nhân đương đắc vô lượng
chi phước, vĩnh ly tam đồ, mạng chung chi hậu,
văng sanh bỉ sát.
(鈔)若有得聞無量壽如來名者,一心信樂,持諷誦念。此人當得無量之福,永離三途,命終之後,往生彼剎。
(Sao: Nếu có kẻ
nào được nghe danh hiệu Vô Lượng Thọ Như
Lai mà nhất tâm tin ưa, tŕ, phúng, tụng, niệm[9], người ấy
sẽ được vô lượng phước, vĩnh viễn
ĺa khỏi tam đồ. Sau khi mạng chung bèn văng sanh cơi
kia).
Kinh
này chẳng thuộc vào Tịnh Độ Tam Kinh. Kinh Xưng
Dương Chư Phật Công Đức chẳng xưng
tán, ca ngợi một vị Phật. Chữ “chư Phật” nhằm nói
đến mười phương ba đời hết thảy
chư Phật, rất chẳng thể nghĩ bàn! Hết
thảy chư Phật đều niệm Phật, Bồ
Tát lại càng chẳng cần phải nói nữa! Đức
Phật nêu gương cho chúng ta, điều then chốt là
“nhất tâm tín nhạo”, Nhạo
(樂) là yêu thích, đọc
giọng Khứ Thanh (tức Yào, ㄠˋ). “Nhạo háo” (樂好) là yêu thích, nhất
tâm yêu thích.
(Diễn)
Nhất tâm tín nhạo, thị Tín Nguyện nhị tư.
(演)一心信樂,是信願二資。
(Diễn:
Nhất tâm tin ưa là hai thứ tư lương Tín và Nguyện).
Nếu
người ấy chẳng tin, chẳng mong cầu văng sanh,
sẽ chẳng thể sanh tâm hoan hỷ đối với pháp
này. Có thể sanh tâm hoan hỷ, nhất định là tin
sâu, nguyện thiết, đă trọn đủ hai điều
trước trong ba điều kiện văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới.
(Diễn)
Tŕ phúng tụng niệm thị Hạnh tư.
(演)持諷誦念是行資。
(Diễn:
Tŕ, phúng, tụng, niệm là tư lương Hạnh).
Tín,
Nguyện, Hạnh ba điều kiện đều trọn
đủ. Tŕ (持) là thọ tŕ, là tiếp nhận.
Người ấy hoàn toàn hiểu rơ, hoàn toàn tiếp nhận
lư luận, phương pháp, và cảnh giới trong kinh
điển. “Phúng tụng” (諷誦) là xướng niệm lớn tiếng câu Phật
hiệu này.
(Diễn)
Tŕ nhi phúng, tụng nhi niệm, chánh dụng tâm chi cực.
(演)持而諷,誦而念,正用心之極。
(Diễn:
Tŕ bằng cách phúng, tụng bằng cách niệm, chính là dụng
tâm tột bậc).
Thật
sự dụng công, lại c̣n là công phu hết sức đắc
lực.
(Diễn)
Sở vị khẩu dữ tâm, thanh thanh tương ứng;
tâm dữ Phật, bộ bộ bất ly dă. Thử bất
văng sanh, thùy phục văng sanh?
(演)所謂口與心,聲聲相應;心與佛,步步不離也。此不往生,誰復往生?
(Diễn: Đó gọi
là miệng và tâm từng tiếng tương ứng, tâm và Phật,
từng bước chẳng ĺa. Người này chẳng
văng sanh th́ c̣n ai văng sanh nữa đây?)
Người
này chẳng văng sanh, c̣n ai có thể văng sanh? Sanh trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới, trí huệ, phước
đức, thần thông và đạo lực gần như
b́nh đẳng với Đẳng Giác Bồ Tát, công đức
và lợi ích thù thắng ấy đến đâu để
t́m được? Do vậy, người ấy có phước
báo to lớn.
“Thử nhân đương đắc
vô lượng chi phước” (Người ấy sẽ
đắc vô lượng phước): Trên thế gian, bất
luận quư vị tu phước báo như thế nào,
cũng đều chẳng sánh bằng người ấy.
V́ thế, người niệm Phật chúng ta muốn tu phước,
đến đâu để tu? Niệm một câu A Di Đà
Phật là tu phước. Khuyên người khác niệm Phật
là tu đại phước báo, người thế gian chẳng
biết điều này! Chẳng biết niệm Phật là
huệ, không biết niệm Phật là phước; do vậy,
trong kinh, đức Phật thường
nói các chúng sanh ấy là kẻ đáng thương. [Phước
báo do tŕ danh chính là] “vĩnh ly tam
đồ, mạng chung chi hậu, văng sanh bỉ sát” (Vĩnh
viễn ĺa khỏi tam đồ, sau khi mạng chung, sanh về
cơi ấy).
(Sao)
Trí Luận vân: Thí như hữu nhân, sơ sanh đọa
địa, tức năng nhật hành thiên lư, măn nhất
thiên tuế, thất bảo phụng Phật, bất
như hữu nhân, ư hậu ác thế, nhất thanh
xưng niệm A Di Đà Phật, kỳ phước thắng
bỉ.
(鈔)智論云:譬如有人初生墮地,即能日行千里,滿一千歲,七寶奉佛,不如有人,於後惡世,一聲稱念阿彌陀佛,其福勝彼。
(Sao: Đại Trí
Độ Luận nói: “Ví như
có người vừa mới sanh ra, rơi xuống đất
liền có thể mỗi ngày đi một ngàn dặm, tṛn một
ngàn năm, dùng bảy báu dâng lên Phật, chẳng bằng
có người khác trong đời ác mai sau, xưng niệm
A Di Đà Phật một tiếng. Phước của
người sau vượt trỗi người trước”).
Trong Đại Trí Độ Luận
có một đoạn văn như thế. Dùng tỷ dụ
ấy để nói lên phước báo thù thắng do niệm
Phật. Giả sử có một người, người ấy
rất đáng nể, vừa sanh ra đă biết đi, lại
c̣n mỗi ngày có thể đi cả ngàn dặm. Nói thật
ra, đây là tỷ dụ, chẳng có người như vậy!
“Măn nhất thiên tuế” (Tṛn
một ngàn năm), người ấy có thọ mạng dài
ngần ấy. Dùng bảy báu để cúng dường Phật,
ư nói phước báo cúng Phật rất lớn! Nhưng
người ấy tu phước báo to ngần ấy, vẫn
chẳng bằng nếu như có người trong đời
ác mai sau, tức là đời ác ngũ trược, thật
ra là nói về thời đại hiện tại của
chúng ta, xưng niệm A Di Đà Phật một tiếng!
Chẳng niệm nhiều, chỉ niệm một tiếng.
Phước báo do niệm A Di Đà Phật một tiếng
vượt trỗi phước báo của kẻ “sơ sanh đọa địa,
nhật hành thiên lư, măn nhất thiên tuế, thất bảo
phụng Phật” (vừa mới sanh rơi xuống
đất [đă biết đi], mỗi ngày đi ngàn dặm,
tṛn một ngàn năm, dùng bảy báu dâng lên Phật), vượt
trỗi kẻ ấy.Chúng ta có tin điều này hay không?
Phước báo của kẻ trước có thể nói là đời
đời kiếp kiếp hưởng phước báo trên
cơi trời hoặc trong nhân gian. V́ sao? V́ nó chẳng phải
là cái nhân xuất thế, nên phước báo đạt
được là phước báo trong cơi trời hay nhân gian,
vẫn có lúc hưởng hết. Niệm A Di Đà Phật
một tiếng, tuy hiện thời chẳng thấy ǵ,
trong A Lại Da đă gieo một chủng tử kim cang. Dẫu
chẳng thể thành tựu trong một đời này,
nhưng nhiều đời nhiều kiếp sau, khi gặp
được duyên, chủng tử ấy sẽ dấy
lên hiện hành, nhất định sẽ văng sanh thành Phật.
Phước báo [do xưng niệm] danh hiệu là phước
thành Phật. Phước báo do cúng dường chư Phật
là phước báo nhân thiên, chẳng thể sánh bằng,
đúng như vậy đó! V́ thế, phước do xưng
niệm A Di Đà Phật một tiếng chẳng ai có thể
nói trọn hết!
(Sao)
Tăng Nhất A Hàm kinh vân: “Tứ sự cúng dường Diêm
Phù Đề nhất thiết chúng sanh, nhược hữu
xưng Phật danh hiệu, như thủ nhũ khoảnh,
công đức quá thượng, bất khả tư nghị”.
(鈔)增一阿含經云:四事供養閻浮提一切眾生,若有稱佛名號,如取乳頃,功德過上,不可思議。
(Sao: Kinh Tăng Nhất
A Hàm nói: “Dùng tứ sự cúng dường hết thảy
chúng sanh trong Diêm Phù Đề, nếu có người
xưng danh hiệu Phật như trong khoảng lấy sữa,
công đức vượt trỗi [người trước]
chẳng thể nghĩ bàn”).
Đây
là kinh Tiểu Thừa, là một kinh trong Tứ A Hàm. “Tứ sự cúng dường”: “Tứ sự” là ăn uống,
quần áo, ngọa cụ (臥具: đồ để
trải nằm, để đắp), và thuốc men. Thuở
Phật tại thế, để cúng dường người
tu hành, chỉ có bốn chuyện ấy. V́ thuở đó,
cách sống của người xuất gia là “nhật trung nhất thực, thụ
hạ nhất túc” (giữa trưa ăn một bữa,
đêm nghỉ dưới cội cây). Chẳng ở trong
nhà, cũng chỉ trú dưới cội cây một đêm,
hôm sau phải dời sang nơi khác. V́ vậy, quư vị có
thể cúng dường họ bằng thức ăn, quần
áo, đồ trải để nằm, khi họ ngă bệnh
[bèn dâng cúng] thuốc men. Người tu đạo tay chẳng
cầm tiền, trước kia là cúng dường như vậy.
“Cúng dường Diêm Phù Đề
nhất thiết chúng sanh” [nghĩa là] cúng dường hết
thảy chúng sanh trên địa cầu. Phước báo ấy
có lớn hay không? Đương nhiên là rất lớn. Nhưng
như thế nào? Vẫn chẳng bằng người niệm
Phật hiệu một câu! “Xưng
Phật danh hiệu, công đức bất khả tư nghị”
(Xưng danh hiệu Phật, công đức chẳng thể
nghĩ bàn). Kinh A Hàm chẳng hề nói đến chuyện
xưng niệm A Di Đà Phật, mà nói là “xưng Phật danh hiệu”, công đức ấy
thù thắng, được phước nhanh chóng, chẳng
có pháp tu nào khác có thể sánh bằng! Kinh đă dạy rất
minh bạch: “Nhược hữu
xưng Phật danh hiệu, như thủ nhũ khoảnh”
(Nếu có người xưng danh hiệu Phật như
trong khoảng thời gian lấy sữa), thời gian vắt
sữa ḅ rất ngắn, ư nói: Thời gian quư vị niệm
Phật rất ngắn, mà đạt được công
đức vượt trỗi người dùng tứ sự
cúng dường hết thảy chúng sanh trong Diêm Phù Đề,
nói rơ công đức niệm Phật chẳng thể
nghĩ bàn. Trong kinh đă khen ngợi công đức niệm
Phật rất nhiều chỗ, chẳng thể nêu trọn.
Ở đây chỉ nêu đại lược mấy loại
để chứng minh.
(Sao)
Phàm thử, giai tŕ danh vi đa phước đức chi
minh chứng dă.
(鈔)凡此,皆持名為多福德之明證也。
(Sao: Phàm những
đoạn như vậy đều là chứng cớ rơ rệt chứng tỏ tŕ danh là nhiều
phước đức).
Chứng
cớ rơ ràng, xác đáng. Nếu chúng ta chẳng tin th́
đành hết cách!
(Sao)
Hựu Bảo Tích thập cửu kinh vân: “Thời nhất
tỳ-kheo, văn Phật tán dương Bất Động
Như Lai Phật sát công đức, tâm sanh tham trước,
nhi niệm sanh bỉ. Phật ngôn: - Bất dĩ ái luyến
chi tâm, toại đắc văng sanh, duy hữu thực chư
thiện bổn, tu chư phạm hạnh, đắc sanh bỉ
sát”.
(鈔)又寶積十九經云:時一比丘,聞佛讚揚不動如來佛剎功德,心生貪著,而念生彼。佛言:不以愛戀之心,遂得往生,惟有植諸善本,修諸梵行,得生彼剎。
(Sao: Lại nữa,
kinh Bảo Tích quyển thứ mười chín có nói: “Khi ấy,
có một vị tỳ-kheo nghe đức Phật ca ngợi
công đức của cơi Phật Bất Động Như
Lai, sanh tâm tham đắm, nghĩ muốn sanh về đó.
Đức Phật dạy: - Chẳng thể do cái tâm ái luyến
mà được văng sanh, chỉ có gieo các cội lành, tu các
phạm hạnh là được sanh về cơi ấy”).
Đây
là một đoạn kinh văn trong quyển thứ mười
chín[10] của
kinh Bảo Tích. Đoạn này rất trọng yếu, có
nhiều người trong số các đồng tu niệm
Phật chúng ta phạm phải khuyết điểm giống
hệt. Khuyết điểm ǵ vậy? Nghe nói Tây
Phương Cực Lạc thế giới rất tốt
đẹp, bèn dấy ḷng tham ái đối với cơi ấy.
Bên đó là cung điện bảy báu, vàng ṛng làm đất,
sang bên đó hưởng thụ cho đă! Dùng cái tâm tham ái để
niệm A Di Đà Phật, tuy chấp tŕ danh hiệu mà chẳng
thể văng sanh. V́ sao? Nơi ấy là Tịnh Độ, “tâm
tịnh, cơi nước tịnh” th́ mới có thể văng
sanh. Tâm quư vị chẳng thanh tịnh, chẳng thể văng
sanh. Dẫu quư vị niệm Phật hiệu nhiều cách
mấy, chỉ là gieo cái nhân văng sanh trong tương lai,
không thể văng sanh trong một đời này!
(Diễn)
Bất dĩ ái luyến chi tâm, toại đắc văng sanh
giả, dĩ ái luyến chi tâm thị t́nh thức, bất
thị trí huệ cố. Thị đản tri thủ
tướng, bất tri diệu lư cố. Thị đồ
sanh hiếu lạc, vị khởi chân hạnh cố.
(演)不以愛戀之心遂得往生者,以愛戀之心是情識,不是智慧故。是但知取相,不知妙理故。是徒生好樂,未起真行故。
(Diễn: “Chẳng thể
do cái tâm ái luyến mà được văng sanh”: V́ cái tâm ái luyến
là t́nh thức, chẳng phải là trí huệ. Do chỉ biết
chấp lấy tướng, chẳng biết diệu lư. Do
chỉ mong sanh về đó, ham ưa vui sướng,
chưa khởi hạnh chân thật).
Tín
nguyện như vậy chẳng phải là chân thật. Chân
thật là lư trí, chẳng phải là cảm t́nh. Xử sự
theo t́nh cảm chỉ có thể gieo cái nhân xa xôi, chắc chắn
là chẳng thể thành tựu trong một đời này. Do
vậy, người học Phật nhất định phải
có lư tánh. Lư tánh hóa cảm t́nh thành từ bi chân thật.
Người thế gian chúng ta nói Ái, Phật pháp nói từ
bi. Nói thật ra, từ bi là ái. V́ sao nói từ bi mà chẳng
nói ái? Ái là cảm t́nh, từ bi là lư tánh. Nói cách khác, t́nh yêu
thương theo lư tánh bèn gọi là từ bi, chẳng phải
là cảm t́nh.
Văng
sanh, nói thật ra, chẳng phải là chuyện dễ dàng;
chẳng có lư tánh sẽ không thể làm được. Có một
cặp vợ chồng ở Tân Trang học Phật đă đôi
ba năm, ở cách chúng ta rất xa, do vậy, chỉ nghe
băng thâu âm, nghe rất hoan hỷ. Ngày hôm qua, ông ta kể
với tôi nguyên nhân khiến ông ta học Phật. Ông ta làm
bác sĩ, biết nhân quả báo ứng, nên hễ khám bệnh
cho người khác bèn lấy tiền công rất ít, người
nhà chẳng thông cảm với ông ta, kêu ca ông ta thu tiền
khám bệnh mà ngay cả dùng để mua thuốc theo giá vốn
cũng chẳng đủ! Cha và vợ ông ta đều chẳng
vui ḷng, chẳng thông cảm cho lắm. Do bà vợ cũng học
Phật, tôi bảo bà ta: “Tích tài chẳng bằng tích đức!
Nay chồng bà làm như vậy, ông bà sẽ có phước
mai sau, ông ta làm không sai. Chỉ cần có thể sống qua
ngày là được rồi, cần ǵ phải kiếm nhiều
tiền? Chẳng bằng tích đức cho nhiều”. Ông ta
cho tôi biết: Ông ta học Phật là do nghe băng thâu âm
bèn dấy tín tâm, c̣n nguyên nhân xa là do bà nội của ông ta
đă tạ thế từ mấy năm trước [phát
khởi]. Thuở đó, cả nhà đều chẳng tin Phật,
bà nội niệm Phật, do mọi người trong nhà
không tin, nên chỗ nào cũng gặp chướng ngại.
Bà cụ niệm thầm trong tâm, chưa bao giờ niệm
ra tiếng, cụ niệm theo cách như vậy. Khi mất,
cụ tỉnh táo, sáng suốt. Cụ bị bệnh ung
thư, nói theo người khác th́ sẽ rất đau khổ;
nhưng cụ chẳng bị đau khổ. Khi cụ mất,
chẳng bị đau khổ, dẫu bị bệnh cũng
chẳng đau khổ. Khi sắp mất, cụ biết sẽ
mất lúc nào, biết trước lúc mất. Khi đă chết,
khuôn mặt c̣n hồng hào, c̣n dễ nh́n hơn vẻ mặt
lúc sống. Cha ông ta gọi người trong nhà đến
xem, ông ta chẳng biết niệm Phật, nhưng biết
mẹ ḿnh là người tu hành, bèn nói: “Người tu hành
khác hẳn, nhất định là cụ sanh lên trời,
tướng mạo trang nghiêm dường ấy”. Thuở ấy,
ông ta chẳng tin tưởng cho lắm, nay do nghe Phật
pháp, bèn biết đó là sự thật, [bà cụ] quyết
định văng sanh! Khi cụ sắp mất, đă bảo
con cái: “Phật đă đến, đang đợi ta ở
cửa”. Nói xong, cụ qua đời. Khi ấy, v́ họ chẳng
tin Phật, ngỡ bà cụ quáng mắt, chẳng b́nh thường
cho lắm, ăn nói nhăng nhít, nay suy nghĩ, biết là thật,
Phật đến tiếp dẫn.
V́ vậy,
quyết định chẳng thể dùng cảm t́nh, v́ t́nh
thức chẳng tương ứng, nhất định là
phải có trí huệ, phải có lư tánh, chẳng phải là
chấp tướng, mà là thật sự
khế nhập diệu lư, đó là tu hành chân thật. Thật
sự lư giải pháp thế gian và pháp xuất thế gian,
biết lấy bỏ, cái nào đáng nên lấy, cái nào chẳng
nên giữ lấy. Trong thế gian này, ngũ dục, lục
trần, lục đạo luân hồi đều là giả,
chẳng có ǵ là chân thật, quyết định chớ nên
tham luyến. Nhất tâm nhất ư cầu sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới, đó là
đúng. Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới
là thành tựu viên măn đạo nghiệp của chính ḿnh.
Chính ḿnh đă có năng lực, bèn quay lại thế giới
này để hóa độ chúng sanh. Đó là người thật
sự thông minh, thật sự có trí huệ.
Hoằng
pháp trong thế gian này, mọi người phát tâm học giảng
kinh, hoằng pháp, tốt lắm! Tốt ở chỗ nào? Tốt
ở chỗ quư vị can đảm, hy sinh chính ḿnh ḥng
thành tựu người khác. Hy sinh chính ḿnh, trong tương
lai chính ḿnh phải đọa tam đồ, v́ sao? V́ chính
ḿnh chẳng nắm chắc sẽ đến Tây
Phương Cực Lạc thế giới, [thế mà] quư vị
lại xen tạp; giảng kinh, thuyết pháp là xen tạp!
Quư vị hăy suy ngẫm những câu chuyện do pháp sư Đàm Hư đă kể.
Lăo pháp sư Đế Nhàn suốt đời hoằng pháp lợi
sanh, Ngài là tổ sư tông Thiên Thai vào cuối đời
Thanh. Quư vị thấy người đồ đệ của
Ngài, niệm Phật ba năm bèn đứng văng sanh. Người
ấy suốt ngày từ sáng đến tối là một
câu Phật hiệu, chẳng hề xen tạp! Lăo pháp sư
Đế Nhàn khi mất c̣n bị bệnh, chẳng bằng
ông ta; nhưng phải hiểu, người như cụ
Đế Nhàn, hoặc như pháp sư Đàm Hư, xác thực
là có thể văng sanh. Chính ḿnh thật sự nắm chắc,
phẩm vị thấp một chút chẳng sao, bỏ ḿnh v́
người, các Ngài hy sinh phẩm vị của chính ḿnh
để giúp đỡ chúng sanh. Nay chúng ta th́ ngay cả phẩm
vị cũng chẳng trông cậy được, giúp
người khác mà chính ḿnh phải đọa tam đồ,
phải luân hồi trong lục đạo, đáng sợ
quá!
V́ vậy,
tôi khuyên các vị đồng học giảng kinh, thuyết
pháp phải nghiêm túc nỗ lực tu tŕ, chính ḿnh quyết
định nắm chắc văng sanh Tây Phương Tịnh
Độ, sau đấy mới ra hoằng pháp lợi sanh,
sẽ là đúng, là chánh xác. Hiện thời, tiền đồ
là một bầu hắc ám mờ mịt, [thế mà] chẳng
biết lo cho chính ḿnh, c̣n làm sao được nữa! Tâm
phát ra đại nguyện ấy là chánh xác, nhưng trong giai
đoạn này, phải hiểu rơ ràng: Trong giai đoạn thứ
nhất, chính ḿnh phải nghiêm túc tu học, học giảng
kinh là chuyện kèm theo. Đến khi chính ḿnh thật sự
nắm chắc văng sanh, ta sẽ coi hoằng pháp lợi sanh
là bậc nhất, thời gian tu tŕ của chính ḿnh ít hơn
một chút cũng chẳng sao, quyết định có thể
văng sanh! Phải biết điều này. V́ thế, “bỏ ḿnh
v́ người” vẫn là có hạn độ, hạn độ
thấp nhất là có thể đạt tới hạ hạ
phẩm văng sanh trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư. Hạ hạ
phẩm mà chẳng nắm được, không được
rồi! Lầm lẫn đặc biệt to đùng! Hoằng
pháp lợi sanh là “trên đền bốn ân, dưới cứu
ba khổ”, quyết định chẳng phải v́ tiếng
tăm, lợi dưỡng. Nếu v́ tiếng tăm, lợi
dưỡng mà hoằng pháp lợi sanh, nhất định
sẽ bị đọa lạc.
Đoạn kinh Bảo Tích này đáng
cho chúng ta cảnh giác. Ở đây, đức Phật nói: “Duy hữu thực chư thiện
bổn, tu chư phạm hạnh, đắc sanh bỉ sát”
(Chỉ có gieo các cội lành, tu các phạm hạnh, sẽ
được sanh về cơi ấy). Cội lành và phạm
hạnh nói theo Tịnh Tông chính là một câu Phật hiệu.
(Sao)
Thiện bổn tức thiện căn, phạm hạnh tức
phước đức.
(鈔)善本即善根,梵行即福德。
(Sao: Cội lành chính
là thiện căn, phạm hạnh là phước đức).
Một
câu A Di Đà Phật là phước huệ song tu.
(Sao)
Thử hựu song hiển tŕ danh, vi đa thiện, đa
phước chi minh chứng dă. Chư kinh giao tán, khả phất
tín thọ?
(鈔)此又雙顯持名,為多善多福之明證也。諸經交讚,可弗信受。
(Sao: Điều này rơ
ràng lại là chứng cớ minh bạch chứng tỏ cả
hai điều: Tŕ danh vừa là nhiều thiện, vừa
là nhiều phước. Các kinh đều xen lẫn tán
dương [pháp môn Niệm Phật], há có thể nào chẳng
tin nhận ư?)
Hết
thảy kinh đều tán thán như vậy, chúng ta vẫn
chẳng tin ư? Vẫn chẳng thể tiếp nhận
ư? Chúng ta lại xem đoạn kế tiếp. Trong
đoạn ấy, đại sư giả thiết một
cuộc vấn đáp.
(Sớ)
Vấn: Thử độ đơn tu viên đốn, bất
nguyện văng sanh giả, ninh khả vị chi thiểu thiện
căn da?
(疏)問:此土單修圓頓,不願往生者,寧可謂之少善根耶。
(Sớ: Hỏi: Đối
với người chỉ tu pháp viên đốn trong cơi này,
chẳng nguyện văng sanh, há có thể nói là ít thiện
căn ư?)
Hỏi
hay lắm! “Thử độ”
là thế gian này, xác thực là có hạng người
như vậy, “đơn tu viên
đốn pháp” (chỉ tu pháp viên đốn), Thiền
Tông là pháp viên đốn, họ chẳng mong văng sanh Tịnh
Độ. Nhiều vị đại đức trong các
tông phái Thiên Thai, Hoa Nghiêm, và Bát Nhă cũng chẳng cầu sanh
Tịnh Độ. Có phải những người ấy
cũng là ít thiện căn hay chăng?
(Diễn)
Đơn tu viên đốn, bất nguyện văng sanh giả,
thị tông môn sư đức.
(演)單修圓頓不願往生者,是宗門師德。
(Diễn:
Người chỉ tu pháp viên đốn, chẳng muốn
văng sanh là bậc thầy, bậc đại đức
trong Tông Môn).
Là
các vị tổ sư đại đức trong Thiền
Tông.
(Diễn)
Trực minh trực tánh, bất đới tiêm trần.
(演)直明直性不帶纖塵。
(Diễn:
Trực tiếp minh tâm kiến tánh, chẳng vướng mắc
mảy trần).
Trực
tiếp cầu minh tâm kiến tánh, đúng là chẳng có tí xíu
vọng niệm nào!
(Diễn)
Phật lai dă sát, ma lai dă sát, niệm Phật nhất thanh, sấu
khẩu tam nhật giả.
(演)佛來也殺,魔來也殺,念佛一聲,漱口三日者。
(Diễn:
Phật đến cũng giết, ma đến cũng giết[11], niệm Phật
một tiếng, súc miệng ba ngày).
Đây
là người chẳng niệm Phật, không cầu văng
sanh.
(Diễn) Ninh khả
vị chi thiểu thiện căn giả, vị dĩ tŕ
danh vi đa thiện căn, tắc thử đẳng
sư đức, giai túc cụ Bát Nhă linh căn năi năng
nhĩ dă, ninh khả vị chi thiểu thiện căn da?
(演)甯可謂之少善根者,謂以持名為多善根,則此等師德,皆夙具般若靈根乃能爾也,甯可謂之少善根耶。
(Diễn: Há có nên nói họ
là kẻ ít thiện căn, bảo tŕ danh mới là nhiều
thiện căn ư? Các vị tổ sư đại
đức ấy đều trọn đủ linh căn
Bát Nhă từ xưa nên mới có thể được
như thế, há có thể nói họ là phường ít thiện
căn ư?)
Tổ
sư đại đức của Tông Môn đều là bậc
lỗi lạc, xác thực là đă tu học rất sâu dầy
trong đời quá khứ, chẳng lẽ người
như vậy cũng là kẻ ít thiện căn, ít phước
đức hay sao? Chúng ta xem Liên Tŕ đại sư giải
đáp như thế nào!
(Sớ)
Đáp: Viên đốn hành nhân.
(疏)答:圓頓行人。
(Sớ:
Đáp: Người tu hành viên đốn).
“Hành” (行) là người
tu hành, cũng là nói tới những người tu hành trong Thiền
Tông.
(Sớ)
Tuy ngộ nhất tâm, thượng dư hậu hữu.
(疏)雖悟一心,尚餘後有。
(Sớ:
Tuy đă ngộ nhất tâm, nhưng hăy c̣n sót lại thân
sau).
“Ngộ” là đă ngộ. Đây
là giải ngộ, chẳng phải là chứng ngộ. Nói
cách khác, người ấy chưa đoạn phiền năo
tập khí, chẳng thoát khỏi sanh tử luân hồi.
(Diễn)
Tuy ngộ nhất tâm, thượng dư hậu hữu giả,
vị nhược ngộ nhi tức chứng Vô Sanh, thị
chân thiện căn thâm hậu. Nhậm cừ hoành thuyết,
thụ thuyết, vô sở bất khả, giáo cừ văng
đông, văng tây, chân như thuyết mộng.
(演)雖悟一心尚餘後有者,謂若悟而即證無生,是真善根深厚。任渠橫說豎說,無所不可;教渠往東往西,真如說夢。
(Diễn: “Tuy ngộ nhất
tâm mà hăy c̣n sót lại thân sau”: Ư nói, nếu là đă ngộ,
liền chứng vô sanh, th́ đúng là thiện căn sâu dầy.
Mặc cho người ấy nói ngang, nói dọc, không ǵ chẳng
thể được, mặc cho người ấy sang
đông, sang tây, đúng là như nói chuyện nằm mộng
vậy).
Mấy
câu này nói đến người thật sự ngộ, tức
là chứng ngộ. Người đă chứng ngộ bèn có
thể [làm như vậy], tức là hạng người giống
như Lục Tổ đại sư, đă minh tâm kiến
tánh. Đó là thật sự ngộ, đúng là “thiện căn sâu dầy”.
Người như vậy chẳng nhiều, hết sức
hy hữu, xác thực là đă chứng đắc Vô Sanh Pháp
Nhẫn.
(Diễn)
Nhược vị đắc Vô Sanh, nhi tự phụ viên
nhân.
(演)若未得無生,而自負圓人。
(Diễn: Nếu
chưa đắc Vô Sanh, mà tự phụ là hạng viên
đốn).
Chưa
đạt đến cảnh giới ấy, chưa thể
thật sự chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, tự
tưởng chính ḿnh là căn tánh viên đốn, tự cậy
thông minh.
(Diễn)
Độn trí Tịnh Độ, diệc thị thiện
căn thiển tiển dă.
(演) 鈍置淨土,亦是善根淺尟也。
(Diễn:
Kẻ căn cơ chậm lụt mà gác bỏ Tịnh
Độ th́ cũng là kẻ thiện căn nông cạn vậy).
Nói
hay quá! Thuở ấy, khi Liên Tŕ đại sư viết bộ
Sớ Sao này, Thiền Tông rất thịnh, Tịnh Độ
hết sức suy vi. Nói chuyện chẳng cẩn thận,
sẽ mất ḷng các vị đại đức trong Thiền
Tông, sẽ rất khó thể chịu đựng, sẽ vướng
phải bao nhiêu kẻ quở trách, phê b́nh! V́ thế, Ngài nói
năng chú ư cẩn thận! Trong bộ kinh này, chỗ nào
Ngài cũng dẫn kinh Hoa Nghiêm để giải thích, v́ Thiền
Tông cũng tôn sùng Hoa Nghiêm, do đây mà nâng cao thân phận và
địa vị kinh Di Đà, rát miệng, buốt ḷng! V́ vậy,
Ngài rất uyển chuyển: “Tuy
ngộ nhất tâm, thượng dư hậu hữu” (Tuy
đă ngộ nhất tâm, vẫn c̣n sót lại thân sau).
(Sớ)
Chánh nghi cầu sanh bỉ quốc, thân cận Di Đà.
(疏)正宜求生彼國,親近彌陀。
(Sớ:
Đáng nên cầu sanh cơi ấy, thân cận Phật Di
Đà).
Đáng
phải nên cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế
giới, thân cận A Di Đà Phật, lời này có căn cứ.
Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư là tấm
gương tốt nhất. Trong Thiền Tông, thiền
sư Vĩnh Minh Diên Thọ là bậc đại triệt đại
ngộ, minh tâm kiến tánh, về già chuyên tu Tịnh Độ,
chuyên hoằng dương Tịnh Độ, trở thành tổ
sư đời thứ sáu của Tịnh Độ Tông. Thiền
sư Triệt Ngộ cũng là từ Thiền Tông quay lại.
Triệt Ngộ Thiền Sư Ngữ Lục toàn là khuyên
người tham Thiền hăy niệm Phật cầu sanh Tịnh
Độ. Có những căn cứ ấy.
(Sớ)
Triết lăo, Thanh công, kiểu nhiên phúc triệt. Nhược
kỳ tự phụ viên nhân, bất nguyện văng sanh,
đương tri diệc thị thiện căn bạc cố,
như Hoa Nghiêm trung thuyết.
(疏)喆老青公,皎然覆轍,若其自負圓人,不願往生,當知亦是善根薄故,如華嚴中說。
(Sớ: Cụ Chân Như Triết, ngài Thanh Thảo Đường
là những vết xe đổ rành rành. Nếu kẻ nào tự
phụ là hạng viên đốn, chẳng muốn văng sanh, hăy
nên biết người ấy cũng là phường thiện
căn mỏng manh như trong kinh Hoa Nghiêm đă nói).
Sợ
người ta không tin, phải nêu ra kinh Hoa Nghiêm để
làm căn cứ. Chúng ta hăy xem chuyện của hai vị Triết
lăo và Thanh công.
(Diễn)
Triết lăo trụ kinh sư tứ thập niên, thường
tọa bất ngọa.
(演)喆老住京師四十年,常坐不臥。
(Diễn:
Cụ Chân Như Mộ Triết[12] trụ tại kinh
đô bốn mươi năm, thường ngồi chẳng
nằm).
Đây
là bậc đại đức tham Thiền, nay chúng ta nói
là “bất đảo
đơn” (不倒單: chẳng ngả
ḿnh xuống đơn).
(Diễn)
Hóa hậu.
(演)化後。
(Diễn:
Sau khi hỏa táng).
Khi
hỏa táng.
(Diễn)
Chỉ áo diệc thiêu xuất xá-lợi.
(演)紙襖亦燒出舍利。
(Diễn: Giấy bọc,
áo liệm cũng thiêu thành xá-lợi).
Đừng
nói là thân thể, ngay cả quần áo Sư mặc, sau khi
thiêu, đều xuất hiện các hạt xá-lợi.
(Diễn)
Dĩ bất tu Tây Phương, sanh đại phú quư xứ.
(演)以不修西方,生大富貴處。
(Diễn:
Do chẳng tu về Tây Phương, nên sanh vào nơi đại
phú quư).
Đời
sau sanh trong gia đ́nh phú quư, quyền cao chức trọng.
V́ thế, người làm đế vương hay quan to
trong thế gian này trước kia đều là người
tu hành đă lâu. Hễ chuyển sang đời khác, cả một
đời tu hành đổi lấy sự phú quư trong nhân
gian.
(Diễn)
Thanh công tức Thanh Thảo Đường.
(演)青公即青草堂。
(Diễn:
Thanh công chính là Thanh Thảo Đường).
Đây
là một vị đại đức hết sức nổi
tiếng trong Thiền Tông.
(Diễn)
Niên cửu thập dư, cảm Tăng gia nữ nhân tống
cúng.
(演)年九十餘,感曾家女人送供。
(Diễn:
Tuổi ngoài chín mươi, do cảm kích sự cúng dường,
biếu tặng của nữ nhân nhà họ Tăng).
Sư
có tín đồ họ Tăng, hết sức tốt đối
với lăo pháp sư, thường xuyên cúng dường Sư.
Khi lâm chung, Sư nói: “Bà cúng dường ta rất nhiều,
ta làm con của bà là xong”. Sau khi mất, Sư đầu
thai vào nhà bà ta, làm con bà ta, tức là Tăng Lỗ Công, làm Tể
Tướng đời Tống, làm quan đến chức Tể
Tướng. Hôm phu nhân nhà họ Tăng sanh con, mộng thấy
Thanh Thảo Đường bước vào pḥng bà ta. Bà liền
sai người đến chùa xem, lăo ḥa thượng đă
viên tịch, biết Sư đến đầu thai, về
sau, [người con ấy] làm đến chức Tể Tướng.
Đấy là những người chẳng cầu văng sanh.
(Diễn)
Phúc triệt giả, Hán Giả Nghị vân: “Tiền xa kư
phúc, hậu xa đương giới”.
(演)覆轍者,漢賈誼云:前車既覆,後車當戒。
(Diễn: “Vết xe
đổ”: Đời Hán, Giả Nghị[13] nói: “Xe trước
đă đổ, xe sau hăy nên răn dè”).
Phải
ngăn ngừa! Quư vị thấy t́nh h́nh của người
xưa như vậy, há nên học theo ư? Những vị
ấy nếu cầu sanh Tịnh Độ, nói thật ra,
rất dễ dàng, họ có công phu như vậy, ư niệm
vừa chuyển, ngay lập tức sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới. Họ chẳng
chịu cầu văng sanh, nên đạt được sự
phú quư trong nhân gian. Do vậy, người phú quư, kẻ tài hoa
trong thế gian đều là có lai lịch. Mọi người
chẳng nghiêm túc tu hành, chẳng cầu sanh Tịnh Độ,
quư vị học giảng kinh, thuyết pháp, hoằng pháp lợi
sanh, đời sau cũng là phú quư! Tu tŕ suốt một đời
để đổi lấy sự phú quư trong nhân gian,
đây là chuyện rất đáng sợ! Hai vị ấy
đă nêu gương cho mọi người biết: “Nhược kỳ tự phụ
viên nhân, bất nguyện văng sanh, đương tri diệc
thị thiện căn bạc cố” (Nếu kẻ ấy
tự phụ là hạng căn cơ viên đốn, chẳng
nguyện văng sanh, th́ hăy nên biết cũng là kẻ thiện
căn mỏng manh vậy). Đúng như vậy, chẳng
giả tí nào!
(Sao)
Hậu hữu giả, hậu ấm dă, tức lai sanh dă.
Viên nhân kiến địa, tuy dữ Phật tề, nhiên
nhi thô tế vô minh do vị tận trừ, hằng sa Tánh
Đức do vị tất bị. Hữu Hoặc nhuận
sanh, ninh vô hậu hữu? Kư tồn hậu hữu, tắc
hữu sanh phương, bất ly lục đạo.
(鈔)後有者,後陰也,即來生也。圓人見地,雖與佛齊,然而粗細無明猶未盡除,恆沙性德猶未悉備。有惑潤生,寧無後有,既存後有,則有生方,不離六道。
(Sao: “Hậu hữu”
là hậu ấm, tức là đời sau. Người viên
đốn tuy kiến địa bằng với Phật, nhưng
vô minh thô hay tế c̣n chưa trừ hết, hằng sa Tánh
Đức c̣n chưa trọn hết. Hễ có phiền Hoặc
tràn trề nẩy sanh, há lẽ nào chẳng có thân sau cho
được? Đă có thân sau th́ phải tái sanh, chẳng
ĺa khỏi lục đạo).
Chúng
ta nhất định phải hiểu rơ sự thật này!
Kiến giải của quư vị giống như Phật,
thử hỏi quư vị: Quư vị có đoạn vô minh hay
chưa? Tánh Đức có thấu lộ hay chưa? Nh́n từ
chỗ nào? Nay chúng ta chẳng cần nói tới vô minh vi tế,
mà nói về [vô minh] thô, [vô minh] thô là ǵ? Kiến Tư phiền
năo. Quư vị đă đoạn hết Kiến Tư phiền
năo hay chưa? Quư vị c̣n có nhân ngă, thị phi hay không? C̣n
có tham, sân, si, mạn hay không? Nếu c̣n có đôi chút như
vậy, nói cách khác, chắc chắn là quư vị chẳng
thoát khỏi tam giới! Quư vị có kiến giải giống
chư Phật, vẫn uổng công, chẳng thoát khỏi tam
giới! Trong thế gian, từ xưa tới nay, quả thật
có không ít kẻ cuồng vọng, thậm chí tưởng
chính ḿnh vượt trỗi chư Phật. Tự tưởng
ḿnh đă vượt trỗi chư Phật, đó là cuồng
vọng tự đại. Người khác tán thán bèn hoan hỷ,
người ta nói mấy câu chẳng thuận tai bèn bực
tức, có được hay chăng? Không chỉ là chẳng
thể thoát khỏi tam giới, chỉ sợ là cả ba
đường lành đều chẳng giữ nổi, cơi
trời lẫn nhân gian đều chẳng có phần! Đối
với vô minh thô và tế, sách Diễn Nghĩa có chú giải:
(Diễn)
Thô tế vô minh do vị tận giả, tế tức
căn bản, thô tức chi mạt.
(演) 粗細無明猷未盡者,細即根本,粗即枝末。
(Diễn: “C̣n chưa
hết sạch vô minh thô và tế”: Tế là căn bản,
thô là chi mạt).
“Tế” là căn bản vô
minh, “thô” là chi mạt vô minh.
(Diễn)
Viên nhân kiến dữ Phật tề, hoặc toàn vị
phá, dĩ Lư tuy đốn ngộ, thừa ngộ tinh tiêu, Sự
tu tiệm trừ, nhân thứ đệ tận cố.
(演)圓人見與佛齊,惑全未破,以理雖頓悟,乘悟併消,事須漸除,因次第盡故。
(Diễn: Người
viên đốn kiến giải bằng với chư Phật,
nhưng chưa phá trừ toàn thể Hoặc, xét theo Lư th́
tuy là do đốn ngộ bèn [có thể] nương vào ngộ
để tiêu trừ [phiền năo], nhưng xét theo Sự
th́ cần phải trừ khử dần dần, sẽ lần
lượt trừ hết).
Ngộ
ở đây là giải ngộ, chẳng phải là chứng
ngộ. Tuy quư vị đă ngộ, nhưng làm chẳng được.
Nói cách khác, chẳng biến cảnh giới của Phật
thành cảnh giới của chính ḿnh. Đối với cảnh
giới của Phật, quư vị nói rành mạch, rơ ràng,
nhưng đó là cảnh giới của chư Phật, chẳng
phải là cảnh giới của chính ḿnh. Cảnh giới
của chính ḿnh và cảnh giới của Phật hoàn toàn
khác nhau, c̣n làm thế nào được nữa?
(Diễn)
Hằng sa Tánh Đức do vị tất bị giả,
đức hữu Tánh Đức, Tu Đức. Tánh Đức
bổn cụ, Tu Đức tu thành.
(演)恆沙性德猶未悉備者,德有性德修德,性德本具,修德修成。
(Diễn: “Hằng sa Tánh
Đức c̣n chưa trọn đủ”: Đức có Tánh
Đức và Tu Đức. Tánh Đức vốn sẵn trọn
đủ, Tu Đức là do tu thành).
Chẳng
sai! Xét theo Tánh Đức, hết thảy bọn chúng sanh
chúng ta chẳng khác chư Phật, nhưng nếu quư vị
chẳng tu, dẫu có Tánh Đức, chẳng khởi tác dụng!
Hai,
ba mươi năm trước, tôi gặp một đồng
tu, ông ta học Phật cũng rất lâu rồi, bảo
tôi ông ta đă chứng đắc A La Hán. Tôi nghe nói, hết
cách! Ông ta tin tưởng sâu xa chính ḿnh đă chứng quả
A La Hán, nói cách nào ông ta cũng không nghe lọt tai được.
Cuối cùng, tôi suy nghĩ rồi hỏi ông ta: “A La Hán có Lục
Thông, chúng ta ngồi trong pḥng khách, trên đường ngoài
tường, người ta đi tới đi lui, ông có thấy
hay không?” Ông ta đáp: “Chẳng thấy”. A La Hán có Tha Tâm Thông,
nay trong ḷng tôi nghĩ ǵ, ông có biết hay không? Ông ta đáp:
“Chẳng biết”. Tôi nói: “Tôi khẳng định ông chẳng
chứng đắc A La Hán”. Như vậy th́ mới thuyết
phục được ông ta! Có phải là ông ta phạm vọng
ngữ hay chăng? Chẳng phải là vọng ngữ, mà là
Tăng Thượng Mạn như trong Phật pháp đă nói.
Ông ta ngỡ chính ḿnh thật sự chứng đắc A La
Hán, trong tâm có chút thanh tịnh, đạt được
đôi chút pháp hỷ, tự nhận là đă chứng quả.
Hiện
thời, trên thế giới có lắm nơi có những kẻ
kỳ quái, những chuyện lạ lùng. Có một năm,
tôi giảng kinh tại Lạc Sam Cơ (Los Angeles), có năm
người trẻ tuổi ở Lạc Sam Cơ, hôm
đó, tôi gặp được ba người, họ
đến nghe tôi giảng kinh. Nghe nói có một vị lạt-ma
Tây Tạng giảng kinh tại Lạc Sam Cơ, thọ kư
cho năm người bọn họ, bảo là năm
người bọn họ đă khai ngộ. Những
người ấy hết sức cuồng vọng, đến
nghe tôi giảng kinh. Sau khi giảng xong, họ đến hỏi
tôi, muốn tôi cũng chứng minh họ đă khai ngộ.
Tôi nói: “Các ông chẳng khai ngộ!” Họ rất tức tối,
vặc lại: “Lạt-ma rinpoche[14]
chứng minh chúng tôi khai ngộ, sao thầy nói chúng tôi
chưa khai ngộ?” Tôi bảo họ: “Tôi chẳng khai ngộ,
quư vị đến hỏi tôi, đương nhiên là quư vị
chẳng khai ngộ!” Tôi vừa nói xong, thính chúng khi ấy rất
nhiều người cười rộ. Quư vị đă khai
ngộ, c̣n phải đến hỏi tôi nữa ư? Hiện
thời, kẻ lừa người rất đông, thọ
kư hoặc chứng minh cho quư vị đều giả trất,
đều chẳng tin cậy được! C̣n có nào là quán
đảnh, phá đảnh[15],
dùng ngọn cỏ cắm vào đỉnh đầu, [tuyên bố]
“trong tương lai, khi quư vị chết đi, thần thức
sẽ từ nơi đây sanh về Tây Phương Cực
Lạc thế giới. Nếu đỉnh đầu quư vị
không mở được, trong tương lai, sẽ chẳng
có cách nào văng sanh!” Cả đống người kéo đến!
Nghe nói để mở đỉnh đầu phải nộp
hai mươi đồng Mỹ kim, kẻ đó đem cọng
cỏ cắm vào [đỉnh đầu quư vị]. Ở Á
Đặc Lan Đại (
Chắc
chắn là Phật pháp chẳng dùng phương pháp ấy
để văng sanh. V́ sao? Tịnh Độ Ngũ Kinh
cũng như hết thảy kinh điển Đại Thừa
chẳng có cách nói ấy. Do vậy, [đối với những
chuyện] người ta nói và làm, phải t́m được
căn cứ từ kinh điển [th́ mới tin tưởng,
chấp nhận]. Nay chúng ta tu Tịnh Độ Tông, kinh
điển chủ yếu của Tịnh Độ Tông là năm
kinh một luận. Trong năm kinh một luận chẳng
có phương pháp ấy (cắm cọng cỏ vào đỉnh
đầu để mở huyệt ḥng chuyển dời
thần thức văng sanh), chúng ta nhất loạt chẳng cần
phải tin tưởng! Người nương theo năm
kinh một luận để tu hành, bao nhiêu người văng
sanh! Từ xưa tới nay, trong hiện tại, ở Đài
Loan, tại Đại Lục, tại hải ngoại, những
người ấy đều là các tấm gương chân
thật đặt ngay trước mặt chúng ta, vẫn
chẳng tin tưởng ư? Vẫn cứ tin tưởng
những chuyện kỳ quái kia! Những kẻ ấy
đúng là phường “ít thiện
căn, ít phước đức” như kinh đă nói, thậm
chí có thể nói là “chẳng có
thiện căn, chẳng có phước đức”,
đều đang quấy rối tại đó!
“Hữu Hoặc nhuận sanh, ninh
vô hậu hữu” (Đă có phiền hoặc tràn trề nẩy
sanh, làm sao không có thân sau cho được), Hoặc (惑) là mê hoặc, là phiền năo, tức
là nói đến Kiến Tư phiền năo. Chưa đoạn
hết Kiến Tư phiền năo, sẽ chẳng thể vượt
thoát lục đạo luân hồi. “Hậu hữu” (後有) là quư vị vẫn
phải thọ sanh, về sau vẫn phải luân hồi. “Kư tồn hậu hữu, tắc
hữu sanh phương” (Đă có thân sau th́ phải tái
sanh), “sanh phương” (生方) là phương
thức sanh ra, đến đầu thai, [được
sanh ra theo một trong bốn phương thức là] thai, noăn,
thấp, hóa, “bất ly lục
đạo” (chẳng ĺa lục đạo), bảo rơ ràng,
minh bạch cùng quư vị: Quư vị chẳng cầu sanh Tây
Phương Tịnh Độ, nhất định sẽ
luân hồi trong lục đạo.
(Sao)
Trừ bỉ dĩ đăng Thật Báo, dư hoặc vị
miễn nhân thiên.
(鈔) 除彼已登實報,餘或未免人天。
(Sao:
Trừ những người đă lên cơi Thật Báo, những
trường hợp khác chắc là chưa tránh khỏi cơi
trời người).
Trừ
phi người ấy xác thực là đă phá vô minh, chứng
đắc Pháp Thân, bèn vượt thoát. Nếu chẳng có công
phu như vậy, chẳng thật sự phá vô minh, phá một
phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân. Nói cách khác,
dẫu quư vị tu tốt đẹp đến mấy, bất
quá cũng là phước báo nhân thiên, [v́ thế nói là] “vị miễn nhân thiên”.
(Sao)
Nhi thiên thượng đa dục, nhân gian tạp khổ.
(鈔)而天上多欲,人間雜苦。
(Sao: Nhưng cơi trời
lắm dục, nhân gian các khổ xen lẫn).
Cơi
trời vui sướng. Trước kia, ngài Sư Tử
Giác là một vị cao tăng Ấn Độ. Ngài cùng Vô
Trước và Thiên Thân, ba người đều tu Di Lặc
Tịnh Độ. Lại c̣n cùng nhau ước định:
“Ai văng sanh trước, đến được Di Lặc
Tịnh Độ bèn trở về báo tin”. Sư Tử Giác
mất trước, đă mất rất nhiều năm chẳng
có tin tức ǵ. Sau đó, Vô Trước Bồ Tát văng sanh, sanh
đến Đâu Suất Nội Viện, ba năm sau mới
quay lại báo tin. Thiên Thân Bồ Tát hỏi: “V́ sao ông mất
ba năm rồi mới đến báo tin cho tôi?” Ngài Vô Trước
đáp: “Thời gian trên cơi trời rất dài, bất quá tôi
nhiễu quanh Di Lặc Bồ Tát một ṿng liền vội
vă trở xuống báo tin cho ông”. Thiên Thân Bồ Tát hỏi: “Sư
Tử Giác th́ sao?” Ngài Vô Trước đáp: “Sư Tử
Giác tham cầu sự vui sướng trên cơi trời, vẫn
c̣n ở ngoại viện của Đâu Suất Thiên, c̣n chưa
gặp Di Lặc Bồ Tát”. Ông ta thấy ngũ dục lục
trần trên cơi trời thù thắng vượt trỗi nhân
gian quá nhiều, lưu luyến nơi ấy, thôi rồi! Đạo
tâm bị thoái thất. V́ thế, người tu đạo
không dễ dàng, ngũ dục lục trần trong thế
gian này hằng ngày dụ dỗ, mê hoặc quư vị. Sức
mạnh dụ dỗ, mê hoặc trong thế gian chưa mạnh
lắm, sức dụ dỗ mê hoặc trên cơi trời mạnh
mẽ hơn. Sư Tử Giác chẳng bị ngũ dục
lục trần trong nhân gian dụ dỗ, mê hoặc,
nhưng bị chư thiên dụ dỗ, mê hoặc, chẳng
chống nổi, đi theo họ, c̣n nói ǵ được nữa!
Điều này hết sức đáng sợ. Những vị
ấy đều đă chứng đắc quả vị Bồ
Tát, do chưa đoạn tập khí, chẳng chống nổi
dụ dỗ, mê hoặc, trong tâm c̣n có tham, sân, si, mạn. Đó
là “thiên thượng đa dục”
(cơi trời lắm dục). “Nhân
gian tạp khổ” (Nhân gian các khổ xen lẫn), đời
này chúng ta sống trong nhân gian, đă liễu giải và thấu
hiểu trạng huống trong nhân gian.
(Sao)
Đọa lạc giả chúng, giải thoát giả hy.
(鈔)墮落者眾,解脫者希。
(Sao:
Kẻ đọa lạc đông đảo, người giải
thoát ít ỏi).
Đây
là lời chân thật, người đọa lạc
đông lắm! Đúng là trong thế gian này, người tu
pháp môn khác chứng đắc cơi Thật Báo, tức là phá
vô minh, chứng đắc Pháp Thân, hạng người
như vậy rất ít. Trong Thiền Tông Trung Hoa, thù thắng
nhất là Lục Tổ Huệ Năng. Một đời
Huệ Năng đại sư có bốn mươi hai
người khai ngộ minh tâm kiến tánh trong hội của
Ngài. Quư vị đọc Đàn Kinh sẽ hiểu, trong Thiền
Tông, chuyện này thù thắng khôn sánh, là vô cùng thù thắng,
thật sự là không tiền tuyệt hậu (空前絕後: trước kia
chưa hề có sau này cũng không)! Trong hội của một
vị tổ sư đại đức, người thật
sự có thể minh tâm kiến tánh khai ngộ, quá nửa là
một, hai, ba, năm người th́ rất nhiều! Trong hội
của Lục Tổ có hơn bốn mươi người
[khai ngộ, trong khi] người theo Tổ tu học
đâu phải chỉ là ngàn vạn? Vẫn là tỷ lệ
không tương xứng! Lại xem Huệ Viễn đại
sư thuở ấy kết cḥi tranh ở Lư Sơn, một
trăm hai mươi ba người cùng ở một chỗ
niệm Phật, ai nấy đều văng sanh. Hội của
Lục Tổ Huệ Năng đại sư chẳng bằng.
So giữa hai vị, quư vị liền biết sự thù thắng
của việc niệm Phật văng sanh.
(Sao)
Bất sanh Tịnh Độ, nhi tương yên văng.
(鈔)不生淨土,而將焉往。
(Sao:
Chẳng sanh về Tịnh Độ, th́ sẽ đi về
đâu?)
Nếu
quư vị chẳng sanh về Tịnh Độ, quư vị sẽ
đến nơi đâu? Đọc phần cuối đoạn
chú giải, sẽ có thể khiến cho chúng ta liễu giải
chân tướng, tăng trưởng tín tâm.
(Diễn)
Trừ bỉ dĩ đăng Thật Báo, dư hoặc vị
miễn nhân thiên giả, năng đoạn vô minh chứng
Pháp Thân, sanh Thật Báo độ, tắc siêu lục đạo.
(演)除彼已登實報,餘或未免人天者,能斷無明證法身,生實報土,則超六道。
(Diễn: “Trừ những
người đă lên cơi Thật Báo, những trường
hợp khác chắc là chẳng thoát khỏi cơi trời
người”: Có thể đoạn vô minh, chứng Pháp Thân,
sanh vào cơi Thật Báo, bèn vượt thoát lục đạo).
Vượt
thoát lục đạo, vĩnh viễn chẳng c̣n luân hồi
nữa.
(Diễn)
Nhược bất nhiên giả, túng bất đọa ác
thú, diệc đọa nhân thiên, yên vô hậu hữu da?
(演)若不然者,縱不墮惡趣,亦墮人天,焉無後有耶。
(Diễn: Nếu chẳng
vậy, dẫu chẳng đọa trong đường ác,
cũng đọa trong cơi trời, người, làm sao chẳng
có thân sau cho được?)
Nếu
chẳng phải là như vậy, quư vị quyết định
chẳng thể vượt thoát lục đạo luân hồi.
Dưới đây là một đoạn vấn đáp:
(Diễn) Hoặc
vấn viết: Đoạn vô minh, chứng Pháp Thân Bồ
Tát, sanh Thật Báo giả, huưnh siêu lục đạo bất
tất ngôn hỹ!
(演)或問曰:斷無明證法身菩薩生實報者,迥超六道不必言矣。
(Diễn: Hoặc có kẻ
hỏi: “Bậc Bồ Tát đă đoạn vô minh, chứng
Pháp Thân th́ vượt thoát khỏi lục đạo [là
chuyện] chẳng cần phải nói nữa!”)
Chuyện
này đương nhiên chẳng cần phải nói, quyết
định là vượt thoát lục đạo.
(Diễn)
Sanh Phương Tiện Hữu Dư giả, diệc siêu
tam giới, bất thọ luân hồi.
(演)生方便有餘者,亦超三界不受輪迴。
(Diễn: Kẻ sanh
trong cơi Phương Tiện Hữu Dư, cũng vượt
thoát tam giới, chẳng bị luân hồi).
Nói
đến công phu kém hơn. Dẫu kém hơn đôi chút, vẫn
có thể vượt thoát lục đạo luân hồi, giống
như những vị từ A La Hán trở lên.
(Diễn)
Hà đản ngôn “trừ Thật Báo năng miễn nhân
thiên”, bất ngôn “trừ Phương Tiện diệc miễn
nhân thiên” da?
(演)何但言除實報能免人天,不言除方便亦免人天耶。
(Diễn: V́ sao chỉ
nói là “ngoại trừ Thật Báo có thể thoát khỏi nhân
thiên”, chẳng nói “ngoại trừ cơi Phương Tiện
cũng tránh thoát nhân thiên”?)
Hỏi
rất hay, đúng là t́m thấy lư do để chất vấn.
A La Hán đoạn Kiến Tư phiền năo, vượt
thoát lục đạo luân hồi, nhưng A La Hán chẳng chứng
đắc cơi Thật Báo, [v́ các Ngài] chẳng minh tâm kiến
tánh. Cớ sao quư vị chỉ nói sanh về cơi Thật Báo,
chẳng nói sanh trong cơi Phương Tiện? Câu hỏi này rất
có lư, hăy xem đại sư đáp theo cách nào.
(Diễn)
Thử chương vấn đáp, đơn luận viên
nhân.
(演) 此章問答,單論圓人。
(Diễn:
Lời vấn đáp trong chương này chỉ luận
định theo phía người căn cơ viên đốn).
Chỉ
nói theo Viên Giáo, chẳng nói với quư vị về Tạng
Giáo hay Thông Giáo. Theo tiêu chuẩn của Viên Giáo th́ t́nh h́nh là
như vậy đó.
(Diễn)
Viên nhân đoạn vô minh giả, tức sanh Thật Báo.
(演)圓人斷無明者,即生實報。
(Diễn:
Người thuộc căn cơ Viên Giáo hễ đoạn
vô minh bèn sanh vào Thật Báo).
Chẳng
thể sanh vào cơi Phương Tiện Hữu Dư.
(Diễn)
Như vị đoạn vô minh, tạo chí Thất Tín, tuy
sanh Phương Tiện, sở kiến chi cảnh dữ
Thật Báo đồng, bất đồng Tạng Thông nhị
giáo thể tích chi nhân, thật sanh Phương Tiện, cố
lược nhi bất ngôn dă.
(演)如未斷無明,造至七信,雖生方便,所見之境與實報同,不同藏通二教體析之人,實生方便,故略而不言也。
(Diễn: Nếu
chưa đoạn vô minh, đă đạt tới địa
vị Thất Tín, tuy sanh trong cơi Phương Tiện, mà thấy
cảnh giới giống như trong cơi Thật Báo, chẳng
giống như [kiến giải của người tu tập]
Thể Không Quán và Tích Không Quán trong Tạng Giáo và Thông Giáo,
[người thuộc hai giáo ấy] thật sự sanh trong
cơi Phương Tiện. V́ thế, lược đi chẳng
nói).
Nói theo tứ giáo,
chỉ luận định Viên Giáo, chẳng nói về Tạng
Giáo, Thông Giáo, hay Biệt Giáo. Đây là kiến địa của
người thuộc Viên Giáo, cảnh giới xác thực là
chẳng giống Tạng Giáo và Thông Giáo. Người Viên
Giáo đă đoạn Kiến Tư phiền năo bèn vượt
thoát lục đạo luân hồi. Tuy sanh trong cơi Phương
Tiện Hữu Dư, sự hưởng thụ của
người ấy trong cơi Phương Tiện Hữu
Dư chẳng khác Thật Báo. V́ sao? Trí huệ khác nhau,
đoạn chứng giống nhau; nhưng chư vị phải
hiểu: Cảnh chuyển theo tâm. Nói cách khác, tâm của bậc
Thất Tín trong Viên Giáo chẳng giống tâm của A La Hán
hay Bích Chi Phật. Một đằng là tâm lượng hẹp
nhỏ, một đằng tâm lượng to lớn; do vậy,
Ngài (Thất Tín Bồ Tát) thọ dụng cảnh giới
khác hẳn. Tuy sanh trong cơi Phương Tiện Hữu
Dư, gần như bằng với cơi Thật Báo Trang Nghiêm,
chẳng giống cảnh giới của hàng Tiểu Thừa.
(Sao)
Triết Lăo, Thanh Công, câu xưng hữu ngộ.
(鈔)喆老青公,俱稱有悟。
(Sao:
Các vị Chân Như Triết và Thanh Thảo Đường
đều được gọi là có ngộ).
Hai
vị này đều là bậc khai ngộ trong Thiền Tông.
(Sao)
Nhi Triết Lăo hậu thân, đam luyến phú quư; Thanh Công hậu
thân, đa lịch khổ ưu.
(鈔)而喆老後身,耽戀富貴;青公後身,多歷苦憂。
(Sao:
Nhưng hậu thân của Chân Như Triết mê đắm
phú quư, hậu thân của ngài Thanh Thảo Đường
trải lắm nỗi khổ sở, lo âu).
Làm
quan to, rất vất vả. Quư vị thấy những
người làm quan to hiện thời đều rất nhọc
nhằn.
(Sao)
Giai diêu bất mộ văng sanh, tự thất thiện lợi.
(鈔)皆繇不慕往生,自失善利。
(Sao:
Đều là do chẳng hâm mộ văng sanh, tự đánh mất
lợi ích tốt lành).
Quư
vị thấy t́nh h́nh của họ, lỗi lầm ở
chỗ chẳng mong cầu văng sanh Tịnh Độ, chẳng
tin pháp môn này. “Tự thất
thiện lợi”: [Đánh mất] lợi ích thù thắng
nhất, chính ḿnh tự lầm ḿnh.
(Sao)
Trí sử yêm trệ đa sanh, khoáng Bồ Đề lộ.
(鈔)致使淹滯多生,曠菩提路。
(Sao: Khiến bị
ch́m đắm nhiều đời, đường Bồ
Đề xa vời vợi).
Đương
nhiên là trong tương lai người ấy vẫn có thể
văng sanh, nhưng chẳng biết là đến đời
nào, kiếp nào! Người ấy nhất định sẽ
nghe danh hiệu A Di Đà Phật, nhất định thấy
tượng A Di Đà Phật, trong A Lại Da Thức có chủng
tử A Di Đà Phật, chỉ là chẳng chịu xưng
niệm mà thôi, chẳng mong cầu sanh! Như vậy th́ con
đường Bồ Đề sẽ rất dài! Chẳng
biết phải đi ṿng vèo bao xa, sau đó mới hồi tâm
chuyển ư, thật thà niệm Phật cầu sanh Tịnh
Độ.
(Sao)
Khởi phi thiện căn lương bạc, năi trí như
tư.
(鈔)豈非善根涼薄,乃致如斯。
(Sao:
Há chẳng phải là do thiện căn kém mỏng, nên khiến
cho đến nỗi như vậy).
Kẻ
ấy thiện căn kém mỏng! Chẳng thể nói kẻ
ấy không có thiện căn và phước đức, mà
là thiện căn lẫn phước đức đều
chẳng nhiều.
Trong
phần trên, Liên Tŕ đại sư đă dẫn kinh Hoa
Nghiêm để chứng minh,“như
Hoa Nghiêm trung thuyết” (như đă nói trong kinh Hoa
Nghiêm). Kinh Hoa Nghiêm nói ở chỗ nào? Nay Ngài bảo cho
chúng ta biết.
(Sao)
Ngôn Hoa Nghiêm giả, Nhập Pháp Giới phẩm vân.
(鈔)言華嚴者,入法界品云。
(Sao:
[Trong lời Sớ đă] nhắc tới kinh Hoa Nghiêm th́
như trong phẩm Nhập Pháp Giới có nói).
Phẩm
Nhập Pháp Giới chính là phẩm Phổ Hiền Hạnh
Nguyện. Trong bộ Bát Thập Hoa Nghiêm, phẩm này gồm
hai mươi mốt quyển. Tứ Thập Hoa Nghiêm là kinh
văn của toàn bộ phẩm này.
(Sao)
Giá Na hội thượng, chư đại Thanh Văn, bất
kiến Phật giả, dĩ thiện căn bất đồng
cố, bổn bất tu tập kiến Phật tự tại
thiện căn cố. Cố tri chấp tŕ danh hiệu,
nguyện kiến Di Đà, thành đa thiện căn, đại
thiện căn, tối thắng thiện căn, bất khả
tư nghị thiện căn dă.
(鈔)遮那會上,諸大聲聞,不見佛者,以善根不同故,本不修習見佛自在善根故。故知執持名號,願見彌陀,誠多善根、大善根、最勝善根、不可思議善根也。
(Sao: Trong hội Giá Na,
các vị đại Thanh Văn chẳng thấy Phật là
v́ thiện căn khác nhau, vốn là do họ chẳng tu tập
thiện căn tự tại thấy Phật. V́ thế biết
là chấp tŕ danh hiệu, nguyện thấy Di Đà, tạo
thành nhiều thiện căn, thiện căn to lớn, thiện
căn thù thắng nhất, thiện căn chẳng thể
nghĩ bàn).
Dẫn kinh Hoa
Nghiêm để chứng minh. Phẩm cuối cùng của
kinh Hoa Nghiêm có nói, Giá Na là Tỳ Lô Giá Na Phật, tức Pháp
Thân Phật trong hội Hoa Nghiêm. “
Người
tham Thiền không niệm Phật, người nghiên cứu
Giáo chẳng niệm Phật, cho nên thiện căn và phước
đức ít ỏi. Rơ rệt nhất, tôi nêu trường
hợp của thầy tṛ pháp sư Đế Nhàn, quư vị
sẽ thấy ngay. Đồ đệ niệm Phật, thầy
mỗi ngày lo nghiên cứu kinh điển, giảng kinh, thuyết
pháp; do vậy, thiện căn và phước đức của
thầy chẳng bằng tṛ. Đồ đệ niệm
ba năm vượt trỗi thầy. Pháp sư Đế
Nhàn hiện thân thuyết pháp cho chúng ta thấy, chuyện
này chẳng được coi là cách xa chúng ta cho lắm, là
chuyện thuộc thời đầu Dân Quốc, cách chúng
ta bất quá năm mươi năm mà thôi. Đó là chuyện
thật. V́ thế, biết nói chẳng bằng biết nghe,
thật vậy đấy! Người biết nói chẳng
đạt được lợi ích chân thật, người
biết nghe bèn đạt được, bèn thành tựu. Hôm
nay chúng tôi giảng tới chỗ này.
A Di Đà Kinh Sớ Sao
Diễn Nghĩa
Phần 108
hết
[1] Đi, đứng, nằm, ngồi là
bốn oai nghi, mỗi oai nghi có đủ 250 giới, nên
4x250 thành 1.000. Lại phối hợp với tam tụ
luật nghi nên 3x1.000=3.000. Lại phối hợp với
bảy chi (giết, trộm, dâm, nói đôi chiều, ác
khẩu, vọng ngữ, ỷ ngữ) nên 7x3.000=21.000,
lại phối hợp với bốn phiền năo là tham,
sân, si, đẳng phần, thành 4x21.000=84.000.
Do đó gọi là tám vạn bốn ngàn tế hạnh. Nay
thường nói “tám vạn
tế hạnh” là chỉ nói con số tṛn, lược
bớt số lẻ.
[2] Nói “chú chẳng có ư nghĩa” th́ cũng
giống như Ḥa Thượng Tịnh Không thường
nói “kinh Phật chẳng có ư nghĩa”. Do kinh chú có vô lượng
nghĩa, chẳng thể nào nói trọn, hễ nói lên
một nghĩa nào đều là nói phương tiện
nhằm thích ứng với một hạng căn cơ nào
đó. Thật ra, có thể nói chú là kết tinh của
tất cả chân lư ẩn tàng trong kinh Phật. Cũng v́
vậy, chư tổ sư thường nói chú có ư nghĩa
bí mật, nên chẳng phiên dịch. Gọi là “bí mật” v́
chẳng phải là cảnh giới phàm phu, Nhị Thừa,
Quyền Giáo Bồ Tát chẳng ḥng thấu hiểu
được, nên gọi là “bí mật”. V́ lẽ này, Ḥa
Thượng Tịnh Không thường nói “Mật Giáo
chẳng phải là pháp tu tập của hàng sơ cơ, tiểu
căn, Nhị Thừa”. Do vậy, để giải thích
một chữ Hồng (Hūṃ), pháp
sư Không Hải đă viết một tác phẩm dầy,
nhưng cũng chỉ là “giới thiệu một giọt
nước trong biển cả”. Hoặc như lạt-ma
Govinda có nói: Để giải thích ư nghĩa
được bao hàm trong một chữ Aum th́ dù có hằng
sa kiếp cũng chẳng thể giải thích trọn
vẹn.
[3] Xuất tướng nhập
tướng (出將入相): Ra ngoài các tỉnh, làm vị
tướng cầm quân, về triều làm Tể
Tướng. Từ lúc vừa mới thi đỗ Tiến
Sĩ, ông đă được phong làm Tư Lư Tham Quân
huyện Quảng Đức, tỉnh An Huy, trải qua
nhiều chức quan, do tính cương nghị, nói
thẳng, không e ngại, nên từng có lúc bị vu cáo,
bị đày đi làm Thông Phán phủ Hà Trung. Khi Lư Nguyên
Hạo của Tây Hạ quấy rối biên giới, ông
đă được phong làm Kinh Lược An Phủ
Sứ Chiêu Thảo Phó Sứ của tỉnh Thiểm Tây,
phù tá chủ soái Hạ Tủng b́nh định loạn Tây
Hạ, pḥng ngự biên giới phía Tây. Dân chúng ca tụng tài
thao lược của ông bằng câu: “Quân trung hữu nhất Phạm, Tây tặc văn chi
kinh phá đảm” (trong quân có ông Phạm, giặc Tây nghe tiếng sợ nát gan).
Về sau, ông từng làm đến chức Khu Mật
Sứ (chức quan coi việc chánh trị cao nhất,
chỉ dưới Tể Tướng), rồi kiêm
nhiệm Tham Tri Chánh Sự (phó Tể Tướng).
[4] Kinh này do pháp sư Na Liên Đề Lê Da
Xá và Pháp Trí cùng dịch vào năm Thiên Bảo thứ chín
(570) đời Bắc Tề gồm mười ba
phẩm. Kinh được giảng khi đức Phật
sắp nhập Niết Bàn. Đức Phật nằm bên
hông hữu, phóng quang chiếu khắp đại thiên,
Đại Phạm Vương đến thỉnh pháp,
được đức Phật phó chúc hộ tŕ đại
thiên thế giới. Ma tử Thương Chủ thỉnh
Phật trụ thế, đức
Phật thọ kư ông ta sẽ thành Bích Chi Phật.
Đức Phật lần lượt dạy pháp cho
nhiều người, phó chúc Ca Diếp hoằng truyền
chánh pháp, thọ kư những vị thượng thủ
sẽ hoằng dương Phật pháp sau khi đức
Phật nhập diệt như tỳ-kheo Tỷ Đề
Xa, tỳ-kheo Đề Tri Ca, Ưu Ba Cúc Đa, A Thâu Sa Cúc
Đa, Úc Đa Già v.v… Đồng thời, đức
Phật dạy về công đức cúng dường
xá-lợi và công đức Niệm Phật…
[5] Đại Trang Nghiêm Kinh
Luận c̣n gọi tắt là Đại Trang Nghiêm Luận
hay Trang Nghiêm Luận là một bộ luận do Mă Minh
Bồ Tát viết, được ngài Cưu Ma La Thập dịch sang Hán văn, gồm
mười lăm quyển. Luận gồm chín mươi
chương, có chép nhiều sự kiện liên quan
đến cuộc đời đức Phật.
[6] Kinh Đại Phẩm Bát Nhă c̣n gọi
là Nhị Vạn Ngũ Thiên Tụng Bát Nhă, Ma Ha Bát Nhă Ba La
Mật Kinh, hoặc Tân Đại Phẩm Kinh, do ngài Cưu
Ma La Thập phiên dịch vào đời Diêu Tần, gồm
hai mươi bảy quyển. Các bộ Đại Trí
Độ Luận, Đại Phẩm Kinh Nghĩa Sớ
(do ngài Cát Tạng biên soạn) và Chú Giải Đại
Phẩm Kinh (của Lương Vũ Đế)
đều là chú giải của bản kinh này. Các bản
dịch khác của kinh này là Quang Tán Bát Nhă Ba La Mật Kinh
(do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn), Phóng
Quang Bát Nhă Ba La Mật Kinh (do ngài Vô La Xoa dịch vào
đời Tây Tấn). Đại Phẩm Bát Nhă Kinh tương
ứng với hội thứ hai trong bộ Đại Bát
Nhă sáu trăm quyển do ngài Huyền Trang dịch vào
đời Đường.
[7] B́nh (屏) ở đây là một bức giấy
đặt nằm ngang để viết đại tự
theo lối thư pháp.
[8] Bộ kinh này có tên gọi đầy
đủ là Phật Thuyết Xưng Dương Chư
Phật Công Đức Kinh do ngài Thiên Trúc Tam Tạng Cát Ca
Dạ dịch vào đời Nguyên Ngụy. Đức
Phật thuyết kinh này tại núi Linh Thứu nơi thành
La Duyệt Kỳ (Vương Xá). Do tôn giả Xá Lợi
Phất thưa hỏi: “Hiện thời có bao nhiêu vị
Phật đang thuyết pháp?” Đức Phật bèn tán thán
và nêu ra một vài vị Phật hiện đang thuyết
pháp như trong phương Đông, nơi thế giới
Thiên Thần có Bảo Hải Như Lai, trong thế
giới Bảo Tập có Bảo Anh Như Lai, trong thế
giới Bảo Tối có Bảo Thành Như Lai, trong thế
giới Quang Minh có Bảo Quang Minh Như Lai, trong thế
giới Tràng Phan có Bảo Tràng Phan Như Lai, trong thế
giới Diệu Lạc có A Súc Như Lai… và nhiều danh
hiệu khác nữa. Đối với mỗi danh hiệu
Phật, đức Phật đều nêu bày cặn kẽ
công đức do nghe và niệm danh hiệu các vị
Phật ấy.
[9] Theo nghĩa đen, Tŕ (持) là giữ ǵn, tức là thường
xuyên hành, thường niệm, chẳng bỏ lửng hay
để gián đoạn. Phúng (諷) là nh́n vào kinh văn để
đọc, Tụng (誦) là đọc thuộc ḷng không cần
kinh văn. Niệm (念) vừa là đọc, vừa là
thường nghĩ đến. Nếu hiểu niệm là
đọc tụng th́ không nhất thiết phải
đọc ra tiếng, có thể niệm thầm trong tâm
hoặc mấp máy miệng, c̣n phúng và tụng th́ nhất
định phải phát ra tiếng rơ ràng.
[10] Kinh Bảo Tích do nhiều pháp hội
hợp thành, quyển mười bảy và mười tám
chính là pháp hội Vô Lượng Thọ (sách Sớ Sao
Diễn Nghĩa gọi pháp hội này là Bảo Tích
Đại Bổn), pháp hội kế tiếp chính là pháp
hội Bất Động Như Lai gồm hai quyển
mười chín và hai mươi. Do tôn giả Xá Lợi Phất
khải thỉnh, đức Phật bèn trần thuật cơi
nước và nhân hạnh của Bất Động Như
Lai: Trong cơi Diệu Hỷ của đức Phật
Quảng Mục, có một vị tỳ-kheo tên là Bất
Động phát tâm Vô Thượng Bồ Đề và phát
hoằng thệ nguyện, được Phật thọ
kư, sẽ thành Phật hiệu là Bất Động Như
Lai.
[11] Thành ngữ này dựa trên lời khai
thị nổi tiếng của ngài Lâm Tế Nghĩa
Huyền: “Như nay
người học tập Thiền Đạo th́ phải
tự tin, đừng hướng ra ngoài để t́m
cầu bất cứ ǵ. Cầu Phật, sẽ đánh
mất Phật, đánh mất đạo. Cầu Tổ,
sẽ đánh mất Tổ. Hễ hướng ngoại
th́ cứ gặp liền giết. Gặp Phật giết
Phật, gặp Tổ giết Tổ, gặp La Hán giết
La Hán, gặp cha mẹ giết cha mẹ, gặp thân
quyến giết thân quyến, th́ mới chẳng bị
ngoại vật trói buộc, mới có thể giải thoát
tự tại”. “Gặp”
ở đây là chấp trước. Tổ Lâm Tế khuyên
người hành Thiền đừng nên chấp
trước ư niệm, “giết”
có nghĩa là đoạn trừ sạch những ư niệm
đối đăi, chấp trước nơi cảnh
giới. Câu nói này về sau được rút gọn thành “gặp Phật giết Phật,
gặp Tổ giết Tổ”,
hoặc “Phật đến
chém Phật, ma đến chém ma”.
[12] Ngài Chân Như Mộ Triết họ
ngoài đời là Văn, quê ở Lâm Xuyên, gia cảnh nghèo
hèn, mồ côi từ bé. Ngài theo học với luật sư
Viên Giác chùa Vĩnh An ở Kiến Xương, có chí
hoằng pháp, giữ giới luật rất tinh nghiêm,
được vị Thiền đức nổi danh
đương thời là thiền sư Thúy Nham Khả Chân
coi trọng. Khi thiền sư Khả Chân đă mất, Sư
bèn y chỉ ngài Hoàng Bá. Sư tham học khắp nơi. Tham
học xong, Sư được đại chúng suy tôn làm Trụ
Tŕ chùa Đại Quy, nhưng Ngài chuyên trông coi hương
đăng và làm các việc nặng nề trong chùa suốt
bốn mươi năm, luôn giữ cho hương đèn
chẳng tắt. Khi quá mệt mới dùng khăn che
đầu, dựa vào vách, tạm ngủ giây lát. Cho
đến già, Sư vẫn sống rất khiêm cung, không
bệnh mà mất. Khi trà tỳ có xá-lợi to như hạt
đậu, tṛng mắt và móng tay đều chẳng cháy.
Theo Tổ Ấn Quang, hậu thân của Chân Như
Triết chính là vua Khâm Tông (Triệu Hoàn) nhà Tống. Khi quân
Kim tàn phá đất Bắc Tống, vua cha là Tống Huy Tông
(Triệu Cát) hèn nhát, trốn tránh trách nhiệm, bèn nhường
ngôi cho Khâm Tông. Khâm Tông lấy niên hiệu là Tĩnh Khang. Làm
vua chưa đầy một năm (từ ngày 19 tháng 01 năm
1126 đến ngày 09 tháng 01 năm 1127), cha lẫn con bị
quân Kim bắt cầm tù, giải về phương
Bắc, phải xưng là “thần” (bầy tôi) với vua
Kim, về sau chết ở thành Ngũ Quốc. Sử Trung
Hoa gọi biến cố này là “nỗi nhục Tĩnh
Khang”. Như vậy, vua Khâm Tông chỉ hưởng vinh hoa rất
ngắn, mà phải chịu tủi nhục, giày ṿ trong suốt
ba mươi bốn năm lưu đày!
[13] Giả Nghị (200-168 trước Công
Nguyên) là một chính trị gia, tư tưởng gia, và văn
học gia nổi tiếng thời Tây Hán. Những tác
phẩm nghị luận nổi tiếng của ông như
Quá Tần Luận, Luận Tích Trữ Sớ, Trị An Sách
v.v… được đánh giá rất cao. Ông là người
có văn tài, thông minh, nên mới hai mươi hai tuổi
đă được Hán Văn Đế cử làm Đ́nh
Úy cho thái thú Nam Quận là Ngô Công. Ngô Công hết sức tán
thưởng tài năng ông, tâu vua cho ông được
thăng lên chức Bác Sĩ (Bác Sĩ là chức quan dành cho
người thông thạo Ngũ Kinh, gọi đầy
đủ là Kinh Học Bác Sĩ, có thể hiểu
đơn giản là chuyên viên đầy uy tín để
giảng giải, chú giảng Ngũ Kinh của Nho gia, có
thẩm quyền hiệu đính các điển tịch
cổ, đồng thời cũng là cố vấn của
nhà vua). Ông trở thành một vị quan Bác Sĩ trẻ
tuổi nhất thời ấy. Chỉ một năm sau, ông
lại được thăng lên làm Thái Trung Đại
Phu. Chức quan cao nhất của ông là làm Thái Phó cho
Lương Vương (Lưu Tập).
[14] Rinpoche là một mỹ danh để
gọi các vị lạt-ma Tây Tạng (người Hoa
thường phiên âm thành Nhân Ba Thiết, 仁波切). Rinpoche nói chung có nghĩa là trân bảo,
cao quư, quư báu, tương đương với chữ
Ratna trong tiếng Phạn. Danh xưng này thoạt
đầu chỉ dùng để gọi các vị hóa thân,
các vị trưởng lăo, những vị lạt-ma học
giả, hoặc các lạt-ma thật sự thành tựu.
Nhưng về sau tín đồ cứ thấy vị
lạt-ma nào hoằng pháp cũng đều gọi là Rinpoche
hết.
[15] “Quán đảnh” là dùng nước
rưới lên đỉnh đầu, ngụ ư truyền
trao trí huệ, dùng trí huệ cam lộ thủy rưới
lên đỉnh đầu. “Phá đảnh” là khai mở
huyệt đạo trên đỉnh đầu bằng cách
truyền dạy bí quyết pháp tu P’howa. Người Tây
Tạng tin tưởng: Nếu tu pháp này thành công, khi
mất, sẽ chuyển dời thần thức về Tây
Phương Cực Lạc qua lỗ thủng trên đỉnh
đầu.