A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

阿彌陀經疏鈔演義

Phần 108

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và Đức Phong

 

Tập 215

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang bốn trăm hai mươi lăm:

 

      (Sao) Các hữu nhân duyên giả, thiện căn, phước đức, kỳ sở diêu lai, tùng hà phát tâm, quân danh viết nhân. Nhi thiện căn phát khởi, tất hữu chủng chủng thiện duyên vi trợ; phước đức phát khởi, tất hữu chủng chủng phước duyên vi trợ, thị các hữu kỳ duyên dă.

()各有因緣者,善根福德,其所繇來,從何發心,均名曰因。而善根發起,必有種種善緣為助;福德發起,必有種種福緣為助,是各有其緣也。

(Sao: “Mỗi điều đều có nhân duyên”: Nguồn cội của thiện căn và phước đức là do phát những tâm nào, [những tâm ấy] đều gọi là “nhân”. Nhưng để thiện căn phát khởi, ắt phải có các thứ thiện duyên giúp đỡ; để phước đức phát khởi, ắt phải có các thứ phước duyên giúp đỡ. V́ thế, mỗi điều [thiện căn hay phước đức] đều có duyên riêng của nó).

 

      Ở đây, giải thích câu “các hữu nhân duyên” [trong lời Sớ]. Trong đoạn trước đă giảng rơ nhân duyên của thiện căn và phước đức tương đồng, đặc biệt là trong tông này, lấy tŕ danh làm thiện căn, và c̣n coi tŕ danh là phước đức. Đấy chính là thiện căn, phước đức, nhân duyên tương thông. Nhưng nếu nói tách rời th́ cũng có lư, thiện căn có cái nhân của thiện căn, có cái duyên của thiện căn, phước đức cũng có nhân và duyên của phước đức, ở đây đă nói rất rơ ràng. Thiện căn là do phát tâm, chúng ta phát cái tâm như thế nào? Sau khi tâm đă phát khởi, nhất định là có các thứ duyên đến giúp đỡ quư vị th́ mới có thể kết thành quả. Nếu chỉ phát tâm mà chẳng có duyên đến giúp đỡ, tâm ấy sẽ như không, chẳng có kết quả ǵ! Phước đức cũng giống như thế. Do vậy, phát khởi phước đức cũng cần phải có các thứ trợ duyên. Đó là nói “các hữu nhân duyên”.

      Ví như quư vị phát tâm học Phật, phát tâm tu học Định Huệ, điều này thuộc về thiện căn. Tuy đă phát tâm, nếu chẳng gặp thiện tri thức, chẳng gặp đồng tham đạo hữu, rất khó đạt đến mục tiêu. Thiện hữu, đồng học, cũng như hoàn cảnh, đều là trợ duyên. Đối với chuyện tu phước lại càng rơ ràng: Ai nấy đều mong mỏi chính ḿnh có phước báo, đối với phước cũng phải phát tâm. Trong hết thảy các kinh luận, đức Phật đă dạy: Bố thí là nhân duyên của hết thảy các phước. Chúng ta có của cải, có trí huệ, có sức khỏe, sống lâu. Đó là quả báo. Quả báo chẳng phải là bỗng dưng mà có, phải do sự tu tập, tích lũy trong đời quá khứ. Tu tập và tích lũy đương nhiên là có nhân và duyên. “Nhân” là quư vị phát tâm chịu tu; đó là nhân. Quư vị biết quả báo ấy là chân thật, quư vị chịu tu học. Nhân có thù thắng và kém cỏi, quư vị phát tâm có dũng mănh hay tán loạn. Duyên cũng có thù thắng và kém cỏi. Quư vị gặp duyên thù thắng, quả báo sẽ đặc biệt tốt đẹp. Gặp duyên chẳng thù thắng, quả báo sẽ thua kém hơn. Do vậy, hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian chẳng ĺa nhân quả. Đức Phật giảng kinh Hoa Nghiêm và kinh Pháp Hoa đều chẳng ĺa nhân quả, chúng ta nhất định phải biết điều này. Tục ngữ Trung Hoa thường nói: “Nhất ẩm, nhất trác, mạc phi tiền định” (Một hớp uống, một miếng ăn, không ǵ chẳng phải là đă định sẵn). “Tiền định” th́ là ai định? Do chính ḿnh định, chẳng phải do ai khác định đoạt! Trong quá khứ, chính ḿnh đă tu cái nhân ǵ, đời này đạt được quả báo ǵ; đời này tu nhân ǵ, đời sau sẽ đạt quả báo ǵ, chẳng thể sai sót chút nào! Dẫu là trong chiến tranh, cũng chẳng có một ai bị chết oan uổng. V́ thế, người thật sự hiểu rơ đạo lư này, xác thực là trong thế gian, bất luận là cá nhân, gia đ́nh, quốc gia, cho đến toàn thể thế giới, đều có vận số nhất định. Vận số nhất định th́ có thể chuyển hay không? Có thể chuyển. Dựa vào đâu để có thể chuyển? Nói thật thà, chẳng phải là chuyển nơi nhân, nhân chẳng thể chuyển! Then chốt để chuyển là duyên, [tức là duyên] trong nhân, duyên, quả. Phật pháp thường nói “duyên sanh luận”, chỉ cần quư vị có thể nắm vững duyên là có thể chuyển.

      Quư vị đọc Liễu Phàm Tứ Huấn, [sẽ thấy] tiên sinh Viên Liễu Phàm tự ḿnh xoay chuyển vận mạng cả một đời. Chuyển từ nơi đâu? Chuyển từ duyên, chẳng phải là chuyển nơi nhân. Nếu chúng ta có thể nắm vững duyên này, nói cách khác, hết thảy quả báo đích xác là do chính tay ta thao túng. Mỗi chúng sanh từ vô thỉ kiếp đến nay, chủng tử trong A Lại Da Thức là nhân, chủng tử của mười pháp giới thảy đều trọn đủ. Nói cách khác, trong A Lại Da Thức của quư vị, có cái nhân thành Phật, có cái nhân làm Bồ Tát, có cái nhân làm Thanh Văn, Duyên Giác, có cái nhân sanh thiên, có cái nhân đọa A Tỳ địa ngục, chủng tử của mười pháp giới thảy đều có. Nay tôi phải hỏi quư vị, trong một đời này, chúng ta mong đạt kết quả như thế nào, đó là điều chúng ta hy vọng, hăy nương theo hy vọng ấy để tranh thủ cái duyên [của kết quả] ấy. Ví như ta mong thành Phật, nếu mong tưởng thành Phật th́ do nhân duyên của mười pháp giới thảy đều có, ta có cái nhân thành Phật, đương nhiên là ta có thể thành Phật, cái có thể nắm chắc là duyên. Ta chuyên tu cái duyên thành Phật, duyên của chín pháp giới kia ta đều chẳng tu, ta chuyên tu một điều này, trong một đời này, nhất định sẽ thành công. Ngay cả thành Phật là chuyện khó nhất mà c̣n có thể làm được trong một đời này, huống ǵ những điều khác! Đúng như cổ nhân thường nói: “Trong cửa nhà Phật, có cầu ắt ứng”. Chẳng có ǵ không cầu được, then chốt là quư vị có hiểu rất rơ nhân, duyên và quả hay không? Đạo lư rất rơ ràng, quư vị có thể thật sự nắm vững sự thật, chắc chắn là sẽ có thể thành tựu, cầu điều ǵ bèn đạt được điều đó.

 

      (Sớ) Vấn: Hà cố Quán Kinh phát Bồ Đề tâm tại đệ tam phước?

      ()問:何故觀經發菩提心在第三福。

(Sớ: Hỏi: V́ sao Quán Kinh xếp phát Bồ Đề tâm vào phước thứ ba?)

 

      Khi chúng tôi giảng Quán Kinh, cũng đă nói cặn kẽ chuyện này. Ở đây, Liên Tŕ đại sư đă khai thị hết sức hay. Nói theo Lư, phát Bồ Đề tâm là thiện căn, nhưng trong Tam Phước, nó được xếp vào điều thứ ba.

 

      (Sớ) Đáp: Dĩ phước hữu Sự, Lư, bất chuyên Sự cố.

      ()答:以福有事理,不專事故。

      (Sớ: Đáp: Do phước có Sự và Lư, do chẳng chuyên nơi Sự).

 

      Phát Bồ Đề tâm là Lư, hai điều trước [trong Tam Phước] là nói theo Sự. Ở đây, Tam Phước của Quán Kinh đều được nêu ra.

 

      (Sao) Quán Kinh Tam Phước: Nhất giả, hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm bất sát, tu Thập Thiện Nghiệp. Nhị giả, thọ tŕ Tam Quy, cụ túc chúng giới, bất phạm oai nghi. Tam giả, phát Bồ Đề tâm, thâm tín nhân quả, độc tụng Đại Thừa, khuyến tấn hành giả.

      ()觀經三福:一者孝養父母,奉事師長,慈心不殺,修十善業;二者受持三歸,具足眾戒,不犯威儀;三者發菩提心,深信因果,讀誦大乘,勸進行者。

(Sao: Tam Phước theo Quán Kinh: Một là hiếu dưỡng với cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng giết, tu Thập Thiện Nghiệp; hai là thọ tŕ Tam Quy, trọn đủ các giới, chẳng phạm oai nghi; ba là phát Bồ Đề tâm, rất tin nhân quả, đọc tụng Đại Thừa, khuyến tấn hành giả).

 

      Sách Diễn Nghĩa có giải thích, nêu ra những điểm trọng yếu.

 

      (Diễn) Hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, kính thượng dă. Từ tâm bất sát, tiếp hạ dă.

()孝養父母,奉事師長,敬上也;慈心不殺,接下也。

 (Diễn: “Hiếu dưỡng với cha mẹ, phụng sự sư trưởng” là tôn kính bề trên. “từ tâm chẳng giết” là tiếp độ kẻ dưới).

 

      Đây chính là “thượng báo tứ trọng ân, hạ tế tam đồ khổ” trong bài văn Hồi Hướng. Chúng ta niệm Hồi Hướng Văn hằng ngày, thực hiện từ chỗ nào? Phải thực hiện ra sao? “Thượng báo tứ trọng ân” phải khởi sự từ hiếu thảo với cha mẹ, tôn trọng thầy. “Hạ tế tam đồ khổ” khởi đầu bằng từ tâm chẳng giết. Đây là dạy cho chúng ta cách thực hiện cụ thể nhằm bổ sung những ư nghĩa chưa được nêu trọn trong phần trước.

 

      (Diễn) Tu Thập Thiện Nghiệp, thân xả tam tà, khẩu ly tứ quá, ư đoạn tam ác dă. Thử cộng phàm phu hành.

       ()修十善業,身捨三邪、口離四過、意斷三惡也。此共凡夫行。

(Diễn: Tu Thập Thiện Nghiệp là thân bỏ ba điều tà, miệng ĺa bốn điều lỗi, ư đoạn ba sự ác. Những điều này hành chung với phàm phu).

 

      Phước thứ nhất trong Tam Phước là phàm phu phước. Đó là căn cơ của Bồ Tát. Bồ Tát chẳng tu học từ chỗ này, chắc chắn chẳng thể tu hành chứng quả. Do vậy, điều này rất trọng yếu. “Thân trừ tam tà”, tam tà là giết, trộm, dâm, nhất định phải rời ĺa. “Khẩu ly tứ quá”, tức là vọng ngữ, ác khẩu; ỷ ngữ, ỷ ngữ là hoa ngôn xảo ngữ, nghe th́ êm tai lắm, thật ra là có hại, chẳng có lợi ǵ, bao gồm cả những thứ giống như ca múa trong hiện tại, lưỡng thiệt là khơi gợi thị phi. Phải xa ĺa bốn thứ lầm lỗi ấy. Trong ư, tam độc phiền năo là tham, sân, si, chúng có phạm vi hết sức rộng lớn. Không chỉ là phải ĺa tham, sân, si đối với pháp thế gian, mà đối với pháp xuất thế gian, cũng chớ nên có tâm tham. Do vậy, nhất định là phải đoạn tham, sân, si. Ĺa khỏi tham, sân, si th́ là ba thiện căn, ba thiện căn là vô tham, vô sân, vô si, tất cả hết thảy thiện pháp thế gian sanh từ đây. Do vậy có thể biết, tất cả hết thảy ác pháp trong thế gian sanh từ tham, sân, si, nên chúng được gọi là Tam Ác hoặc Tam Độc.

 

      (Diễn) Tam Quy giả, Phật, Pháp, Tăng dă.

      ()三皈者,佛法僧也。

      (Diễn: Tam Quy là Phật, Pháp, Tăng).

 

      Chúng tôi sợ các đồng tu sơ học thấy “Phật, Pháp, Tăng”, sẽ hiểu sai ư nghĩa, nên thường dùng cách nói của Lục Tổ đại sư trong Đàn Kinh là “giác, chánh, tịnh”. Phật là giác, Pháp là chánh, Tăng là tịnh; đó cũng là tự tánh Tam Bảo, là chỗ quy y thật sự của chúng ta.

 

      (Diễn) Cụ túc chúng giới giả, đạo tục bị thọ vi tế.

      ()具足眾戒者,道俗備受微細。

      (Diễn: “Đầy đủ các giới” là đạo hay tục đều thọ đủ mọi lẽ vi tế).

 

      “Đạo” () là người tu đạo, “tục” () là kẻ thế tục. Bất luận là tu đạo hay thế tục, đều phải tuân thủ khuôn phép, đều phải giữ quy củ. Giới luật là pháp luật, là mẫu mực cho cuộc sống. Ngoài những điều luật do đức Phật đă chế định ra, pháp luật, quy định, phong tục, tập quán, quan niệm đạo đức của thế gian đều bao gồm trong ấy (trong hai chữ “chúng giới”), dù là người thế gian hay xuất thế gian đều phải nên tuân thủ, xă hội mới có trật tự, mới an tường, ḥa thuận, chúng sanh mới có thể sống an ḥa, lợi lạc.

 

      (Diễn) Bất phạm oai nghi giả, tam thiên tất giai bất khuyết dă.

      ()不犯威儀者,三千悉皆不缺也。

(Diễn: “Chẳng phạm oai nghi” là ba ngàn oai nghi đều chẳng thiếu khuyết).

 

      “Oai nghi” (威儀) là nói tới nghi biểu (儀表: sự biểu lộ, tác phong cư xử của một cá nhân), nay chúng ta nói là “phong độ”. Ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh[1], có thể thấy xuất gia chẳng phải là chuyện dễ dàng! V́ sao trong cuộc sống phải cẩn thận dường ấy? V́ người ấy (người xuất gia) là nhân thiên sư biểu (人天師表: bậc thầy gương mẫu cho cả trời lẫn người), là tấm gương cho đại chúng, là khuôn mẫu để đại chúng [noi theo]. Do đó, nhất cử nhất động đều phải nêu gương tốt nhất cho người khác học tập theo. Hiện thời, trong xă hội, người xuất gia chẳng được đại chúng trong xă hội tôn kính, nguyên nhân ở chỗ nào? Giới hạnh lẫn oai nghi đều chẳng có, không nói tới những thứ ấy! Đại chúng b́nh phàm cũng quen thói buông lung, quen nết tùy tiện, chẳng thể chịu nổi bó buộc. Hễ hơi có chút nào ràng buộc, họ sẽ chịu không nổi; tu hành kiểu đó rất khó thành tựu! Nhất cử nhất động của chư Phật, Bồ Tát chẳng có ai bó buộc, mà các Ngài tự nhiên phù hợp oai nghi. Đó là ǵ? B́nh thường đă dưỡng thành thói quen ấy. Trong pháp thế gian, chúng ta đọc Luận Ngữ thấy Khổng lăo phu tử bảy mươi tuổi “tùy tâm sở dục, bất du củ” (thuận theo ḷng muốn, chẳng vượt quy củ). Nói theo Phật pháp, Ngài đă đạt đến giải thoát, đạt được tự tại! Thuận theo ḷng muốn mà cũng chẳng phạm giới, cũng chẳng phạm oai nghi. Đó là công phu tu dưỡng thuần thục được Nho gia coi trọng, nhà Phật càng coi trọng hơn. Chúng ta phải ghi nhớ điều này.

 

      (Diễn) Thử cộng Nhị Thừa hành.

      ()此共二乘行。

(Diễn: Điều này hành chung với Nhị Thừa).

 

      Điều thứ hai [trong Tam Phước] là hạnh tu tập của Thanh Văn và Duyên Giác, đương nhiên Bồ Tát chẳng thể không tu. Điều sau nhất định bao gồm điều trước, điều trước chẳng bao gồm điều sau.

 

      (Diễn) Phát Bồ Đề tâm giả, y vô tác cảnh, khởi vô duyên thệ, danh phát Bồ Đề tâm.

      () 發菩提心者,依無作境起無緣誓,名發菩提心。

(Diễn: Phát Bồ Đề tâm là nương vào cảnh vô tác để khởi lên thệ nguyện vô duyên, gọi là phát Bồ Đề tâm).

 

      Ư nghĩa này rất sâu. “Vô tác”: Tác () là tạo tác. Cảnh giới vô tác là nói đến cái tâm thanh tịnh. Trong tâm địa, chẳng khởi tâm, không động niệm, đó là “vô tác”. Khởi tâm động niệm th́ sai mất rồi. “Khởi vô duyên thệ”: “Thệ” () là nói tới Tứ Hoằng Thệ Nguyện, tức là “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền năo vô tận thệ nguyện đoạn, pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”. Nguyện ấy là tự nhiên, phát xuất từ Chân Như bản tánh, chẳng phải là miễn cưỡng, nên gọi là “vô duyên thệ”. Nói theo cách hiện thời, “duyên” () là điều kiện. [Vô duyên] là chẳng có điều kiện, ta phát ra thệ nguyện chẳng có điều kiện ǵ, đó là những chuyện đáng phải nên làm thuộc về bổn phận của một người thật sự giác ngộ, chẳng có bất cứ điều kiện ǵ để bàn luận nữa! Do vậy, hễ phát ra cái tâm ấy, sẽ là một vị Bồ Tát chân thật, chẳng phải là Quyền Giáo Bồ Tát, mà là Bồ Tát thật sự. Bồ Tát thật sự, nói theo Viên Giáo, sẽ từ địa vị Sơ Trụ trở lên, vượt xa Thanh Văn, Duyên Giác, vượt xa quá nhiều!

Nay chúng ta mỗi ngày đều nói “phát Bồ Đề tâm”, đó là phát tâm ngoài cửa miệng, xác thực là chẳng phát chi cả! “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”, thấy kẻ này cũng đáng ghét, thấy kẻ kia cũng ngứa mắt, ta chẳng thèm độ kẻ đó! Vậy là độ chúng sanh ở chỗ nào? “Phiền năo vô tận thệ nguyện đoạn”, hằng ngày dấy vọng tưởng, hằng ngày tạo tác tham, sân, si. Không chỉ là chẳng đoạn, mà c̣n tăng trưởng mỗi ngày! Do vậy có thể biết, hằng ngày niệm Tứ Hoằng Thệ Nguyện, buổi sáng niệm một lần, buổi tối niệm một lần, đều giả trất, chẳng có một câu nào là thật! Nếu phát bốn nguyện ấy bằng chân tâm, [phát nguyện] chân thật, chúc mừng quư vị, quư vị đă chứng đắc Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo. Kinh Hoa Nghiêm gọi Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo là Pháp Thân đại sĩ, [tâm của] quư vị là chân tâm, chẳng phải là kẻ b́nh phàm.

V́ thế, xếp “phát Bồ Đề tâm” vào điều phước thứ ba là hợp lư. V́ sao? Hàng Nhị Thừa chẳng có Bồ Đề tâm. A La Hán và Bích Chi Phật chẳng phát tâm phổ độ chúng sanh. Chẳng phải là các Ngài không độ chúng sanh, chúng sanh đến t́m các Ngài, c̣n tùy thuộc các Ngài có hứng thú hay không! Quư vị hướng về các Ngài thỉnh giáo, các Ngài thấy quư vị cũng khá, hữu duyên, bèn dạy bảo. Chẳng hữu duyên, các Ngài chẳng thèm ngó ngàng tới quư vị! Nói cách khác, A La Hán và Bích Chi Phật độ chúng sanh có điều kiện, Bồ Tát độ chúng sanh vô điều kiện, khác hẳn! Bởi lẽ, Bồ Tát có Bồ Đề tâm, Nhị Thừa chẳng có Bồ Đề tâm. Câu dưới đây nhằm giải thích [từ ngữ] “thâm tín nhân quả”.

 

(Diễn) Thật Tướng bất nhị nhi nhị, lập nhân quả thù, nhị nhi bất nhị, thỉ chung lư nhất, tín thử nhân quả phương danh vi thâm.

()實相不二而二,立因果殊,二而不二,始終理一,信此因果方名為深。

 (Diễn: Thật Tướng chẳng hai mà hai, lập thành nhân và quả khác nhau, tuy hai mà một, từ đầu tới cuối lư là một. Tin tưởng nhân quả này th́ mới gọi là sâu).

 

      Giải thích chữ “thâm” (). Tin nhân quả th́ chúng ta đều tin, có kẻ học Phật nào trong lũ chúng ta chẳng tin nhân quả? Đều tin! Tuy tin, nhưng chẳng đủ độ sâu! V́ sao? V́ chính ḿnh vẫn chưa thể nghiêm túc đoạn ác tu thiện, tức là tin chẳng đủ độ sâu! Chẳng hạn như đức Phật dạy chúng ta “tài bố thí sẽ chẳng thiếu hụt tiền của”; nay chúng ta có tiền tài, có chịu bố thí hay không? Vẫn không chịu, [vậy th́] có tin tưởng lời Phật hay chăng? Tin tưởng ư? Đă tin tưởng, cớ sao chẳng làm? Không đủ sâu! Lời Phật dạy là thật, đáng tiếc là chúng ta chẳng thật sự tin tưởng! Thật sự tin tưởng, suốt một đời này sẽ sống hết sức hạnh phúc, xác thực là đạt được tự tại. Pháp bố thí bèn được thông minh, trí huệ; vô úy bố thí bèn được khỏe mạnh, trường thọ. Đối với ba thứ bố thí này, nay chúng ta đều có năng lực tu tập.

      Đối với phước báo, chư vị phải ghi nhớ, giữ lại để hưởng trong lúc tuổi già, đó là người có trí huệ nhất. Tuổi trẻ đừng nên hưởng sạch phước báo, [để rồi] đến khi tuổi già chịu khổ, sẽ là thật khổ! Tuổi trẻ chịu khổ đôi chút, chẳng sao cả; có tinh thần và thể lực để chống đỡ được. Tuổi già suy lụn, chẳng có ai chăm sóc, đích xác là rất đáng thương. Chúng ta muốn tuổi già hạnh phúc, hiện thời th́ trước hết là phải tu bố thí, phải học kính lăo tôn hiền (kính trọng người già, tôn trọng hiền nhân). Đó là tu cái nhân, mai sau chúng ta già cả, bọn trẻ tuổi sẽ tôn kính ta! Nay ta thấy người già liền chán ghét, đợi đến khi ta già cỗi, người khác trông thấy sẽ chán ghét ta! Nhân như thế nào, sẽ có quả báo như thế ấy, chẳng sai sót mảy may. Do vậy, thấy người già, hăy nên nghĩ trong tương lai ta sẽ già, thấy người già rất đáng thương, trong tương lai ta sẽ giống như họ, thậm chí c̣n đáng thương hơn họ! Do đó, nhất định phải chiếu cố và giúp đỡ người già. Đây là quư vị tu nhân trong hiện tại, trong tương lai sẽ đạt được quả báo. Do vậy, phải tin sâu nhân quả.

      Chỗ này đích xác là có chiều sâu, Bồ Tát mới có thể khế nhập chiều sâu này, lũ b́nh phàm chúng ta vẫn chẳng làm được. “Thật Tướng bất nhị nhi nhị” (Thật Tướng chẳng hai mà hai): Trong bất nhị, kiến lập hai pháp, nhân và quả là hai pháp. “Lập nhân quả thù”, “lập” () là kiến lập, “thù” () là khác nhau, có nhân và quả. “Nhị nhi bất nhị” (Tuy hai mà một): Tuy nói nhân và quả, nói thật thà, nhân và quả là một chuyện. Trong nhân có quả, trong quả có nhân. Quả lại là cái nhân kế tiếp, xoay vần [quả làm nhân, nhân đó lại sanh ra cái quả kế tiếp] chẳng cùng tận. “Thỉ chung lư nhất” (Từ đầu đến cuối lư là một), cùng một đạo lư. “Tín thử nhân quả, phương danh vi thâm” (Tin nhân quả này mới gọi là sâu), ắt phải thật sự thâm nhập Đại Thừa th́ mới có thể triệt để giác ngộ, thấu hiểu chân tướng của nhân quả trong vũ trụ và nhân sinh thuộc về thế gian lẫn xuất thế gian, mới có thể thật sự đoạn nghi sanh tín trong tu học.

 

      (Diễn) Độc tụng Đại Thừa, tu tam trí giải, vận viên thừa hạnh.

      ()讀誦大乘,修三智解,運圓乘行。

      (Diễn: Đọc tụng Đại Thừa, tu ba trí giải, vận dụng hạnh thuộc về Viên Giáo).

 

      “Tam trí” là Nhất Thiết Trí, Đạo Chủng Trí, Nhất Thiết Chủng Trí. Dùng phương pháp ǵ để cầu tam trí? Dùng đọc tụng. Chư vị phải biết, đọc tụng nhằm mục đích tu Tam Học Giới, Định, Huệ. Tam Học được hoàn thành đồng thời. Thật sự dùng phương pháp này để đắc Định, tự nhiên sẽ khai Huệ, Huệ ấy chính là Căn Bản Trí. Đọc tụng nhằm mục đích tu tâm thanh tịnh, quyết định chẳng để cho vọng niệm nào tồn tại. Nếu quư vị đọc kinh mà dễ dấy lên vọng tưởng, hăy tŕ chú. Chú chẳng có ư nghĩa[2], quư vị chẳng có cách nào dấy vọng tưởng. Đọc kinh mà nếu chẳng có vọng tưởng để đọc, chẳng khởi tâm, không động niệm, người ấy đă tu Định. Ta niệm một tiếng đồng hồ th́ trong một tiếng đồng hồ, ta chẳng có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, tâm đă định trong một tiếng đồng hồ. Niệm hai tiếng đồng hồ, tâm định trong hai tiếng đồng hồ. Tu Định, tu tâm thanh tịnh, mục đích của việc đọc kinh là ở chỗ này! Tu tâm thanh tịnh sẽ là công đức. Vừa đọc kinh, vừa suy nghĩ ư nghĩa trong ấy, chẳng có công đức chi hết! Dẫu niệm nhuần nhuyễn cách mấy, niệm đến mức thuộc nằm ḷng, cũng đều vô dụng, vẫn thuộc về pháp thế gian, chẳng phải là Phật pháp. Quư vị đạt được lợi ích là kư tụng (記誦: tụng đọc thuộc làu làu), chẳng dính dáng ǵ với Tánh Đức! Nếu dùng phương pháp này của Phật pháp để đọc tụng, sẽ là Tu Đức thật sự, tương ứng với Tánh Đức. Đấy là công đức chân thật, chúng ta phải biết điều này.

      Nghiên cứu, thảo luận thuộc về Hậu Đắc Trí. Do vậy, lúc mới học, lấy đọc tụng làm chánh yếu, nghiên cứu và thảo luận là phụ trợ. Nếu chẳng nghiên cứu, thảo luận, ví như quư vị khai trí huệ phải tốn mười năm, tức là do mười năm công phu, quư vị mới có thể từ Định mà khai Huệ. Nếu lại thêm vào nghiên cứu, thảo luận, quư vị có thể tiến nhanh hơn, năm năm bèn khai trí huệ, có sự thuận lợi này, có lợi ích như vậy. Nay chúng ta đang trong quá tŕnh học tập, vận dụng hai phương pháp để tiến đồng thời. Cùng tiến đồng thời, chư vị đồng tu nhất định phải ghi nhớ: Tu tâm thanh tịnh là chủ yếu, nghiên cứu và thảo luận nhằm phụ trợ, như vậy th́ chúng ta mới có thể đạt được công đức và lợi ích chân thật.

 

      (Diễn) Dĩ thử giải hạnh giáo kỳ hành giả, danh vi khuyến tấn.

      ()以此解行教其行者,名為勸進。

      (Diễn: Dùng sự giải hạnh ấy để dạy hành giả th́ gọi là “khuyến tấn”).

 

      Đem phương pháp tu hành của chính ḿnh, đem tâm đắc trong sự tu hành của chính ḿnh dạy cho người khác, khuyên lơn, khích lệ người khác th́ gọi là “khuyến tấn hành giả”.

 

      (Diễn) Thử Đại Thừa bất cộng hạnh nghiệp dă.

     ()此大乘不共行業也。

      (Diễn: Đây là hạnh nghiệp Đại Thừa chẳng cùng chung [với Nhị Thừa hoặc phàm phu]).

 

      Phước cuối cùng này thuần túy là phước mà Đại Thừa Bồ Tát mới có, phàm phu và Nhị Thừa đều chẳng có. Câu đầu tiên là “phát Bồ Đề tâm”, hôm nay chúng ta xem từ phần này. “Tín nhân quả, độc Đại Thừa, khuyến tấn hành giả” (Tin nhân quả, đọc kinh Đại Thừa, khuyến khích, sách tấn hành nhân), chúng ta cũng có [điều này, nhưng] thật ra, chúng ta chỉ là tương tự, chẳng phải là thật sự! V́ sao? Chẳng có Bồ Đề tâm. Nhất định là phải có Bồ Đề tâm, bốn câu này chính là Bồ Tát tâm. Chẳng có bốn câu này, ba câu kế đó vẫn là phàm phu tâm. Do vậy có thể biết, xác thực là Đại Thừa Phật pháp được kiến lập trên cơ sở Bồ Đề tâm. Dưới đây là một đoạn vấn nạn.

 

      (Sao) Nạn vị “vân hà phát Bồ Đề tâm, nhi dữ thượng chi nhị giả đồng danh viết phước?”

()難謂云何發菩提心,而與上之二者同名曰福。

(Sao: Vặn rằng: V́ sao phát Bồ Đề tâm lại cùng với hai điều trước đều gọi là phước?)

 

      “Nạn” () là có người cố ư đến gây khó dễ. “Phát Bồ Đề tâm” th́ phát tâm là chuyện thuộc về Lư, có thể nào lại xếp chung với hai điều trước để luận định ư? Những điều trước là “kính trọng người trên lẫn kẻ dưới”, thuộc về Sự. Tam Quy, trọng giới cũng đều thuộc về Sự, Sự là phước. Lẽ nào phát tâm là phước? Nêu ra một câu hỏi như thế để cật vấn. Tuy trong kinh nói giả thiết, nhưng trên thực tế, chắc là sẽ có [kẻ bắt bẻ như vậy]. Dưới đây là lời giải thích của Liên Tŕ đại sư:

 

(Sao) Kim minh phước hữu Sự Lư.

()今明福有事理。

(Sao: Nay nói rơ phước có Sự và Lư).

 

      Phước có Sự và Lư.

 

      (Sao) Thử Bồ Đề tâm, thị Bát Nhă trung “như hư không bất khả tư lượng chi phước”, phi Đạt Ma sở xích nhân thiên hữu lậu chi phước dă. Cố tiền nhị phước do cộng phàm tiểu, thử độc thiện Đại Thừa nhĩ.

     ()此菩提心,是般若中如虛空不可思量之福,非達摩所斥人天有漏之福也。故前二福猶共凡小,此獨擅大乘耳。

(Sao: Tâm Bồ Đề này là phước giống như kinh Bát Nhă đă nói “như hư không chẳng thể suy lường”, chẳng phải là phước nhân thiên hữu lậu bị tổ Đạt Ma quở trách. Do vậy, đối với hai thứ phước trước, phàm phu và Tiểu Thừa c̣n có phần, chỉ riêng phước này dành riêng cho hàng Đại Thừa).

 

      Chúng ta hăy xem sách Diễn Nghĩa chú giải:

 

      (Diễn) Vân hà phát Bồ Đề tâm nhi dữ thượng nhị đồng vi phước giả, vị phát Bồ Đề tâm kư thị thiện căn, tắc Quán Kinh tiền nhị ưng danh vi phước, đệ tam phát tâm hà diệc danh phước da?

      ()云何發菩提心而與上二同為福者,謂發菩提心既是善根,則觀經前二應名為福,第三發心何亦名福耶。

(Diễn: “V́ sao coi phát Bồ Đề tâm cũng là phước giống như hai điều trước”, ư nói: Phát Bồ Đề tâm đă là thiện căn, vậy th́ hai điều trước trong Quán Kinh phải nên gọi là phước, v́ sao điều thứ ba là phát [Bồ Đề] tâm cũng gọi là phước vậy?)

 

      Người ấy nêu ra nghi vấn cụ thể và rơ ràng: Phát Bồ Đề tâm là thiện căn, chẳng phải là phước. Dưới đây là lời đáp, đáp rất hay!

 

      (Diễn) “Kim minh phước hữu Sự Lư” hạ, dĩ phước hữu nhân, thiên, tiểu quả, hữu lậu, hữu vi chi Sự phước.

     ()今明福有事理下,以福有人天小果有漏有為之事福。

      (Diễn: Từ câu “nay nói rơ phước có Sự và Lư” trở đi, do phước xét theo mặt Sự th́ có nhân, thiên, tiểu quả, hữu lậu, hữu vi…).

 

      Lũ b́nh phàm chúng ta hễ nói đến phước đều hiểu là những thứ này, hăy c̣n có đại phước sâu rộng hơn mà chúng ta không biết.

 

      (Diễn) Hữu xứng tánh vô lậu vô vi chi lư phước.

      ()有稱性無漏無為之理福。

      (Diễn: Xét theo Lư th́ có loại phước xứng tánh, vô lậu, vô vi).

 

      Phàm phu chúng ta chẳng biết điều này.

 

      (Diễn) Kim Bồ Đề tâm, chánh thị Bát Nhă kinh trung, bất trụ tướng, như hư không bất khả tư nghị chi phước, phi hữu vi sự tướng chi phước, cố vô ngại dă.

     ()今菩提心,正是般若經中,不住相,如虛空不可思議之福,非有為事相之福,故無礙也。

(Diễn: Nay tâm Bồ Đề đúng như kinh Bát Nhă nói, nó là phước chẳng trụ nơi tướng, như hư không chẳng thể nghĩ bàn, chẳng phải là phước thuộc sự tướng hữu vi, cho nên vô ngại).

 

      Lời giải đáp này rất viên măn. Bồ Đề tâm là chân tâm, Bồ Đề tâm là bản tánh. Lục Tổ đại sư khai ngộ, đă nêu bày cảnh giới Ngài khế nhập như sau: “Nào ngờ tự tánh, vốn sẵn thanh tịnh”. Sau khi đă tiến nhập, Ngài mới phát hiện! “Nào ngờ tự tánh, vốn sẵn trọn đủ”, “trọn đủ” chính là phước. Hết thảy các thiện căn chẳng có ǵ không đầy đủ, thuộc về Tánh Đức, chẳng phải là Tu Đức. “Nào ngờ tự tánh, có thể sanh ra vạn pháp”, chẳng có phước th́ làm sao có thể sanh ra vạn pháp? Nói theo vạn pháp th́ là Sự và Lư, tất cả hết thảy sự tướng thảy đều do tự tánh biến hiện. Ngay cả y báo và chánh báo trang nghiêm trong thế giới Hoa Tạng và thế giới Tây Phương thảy đều sanh từ tự tánh, lẽ nào chẳng phải là phước? Đấy là phước báo xứng tánh. Do vậy, trong hết thảy các kinh Đại Thừa, đức Phật khuyên chúng ta hăy phát Bồ Đề tâm. Chúng ta chẳng có thiện căn, mà cũng chẳng có phước đức. Hễ phát Bồ Đề tâm, thiện căn và phước đức đều trọn đủ viên măn. Cho dù mười phương hết thảy chư Phật tán thán, đều chẳng thể tán thán trọn hết được! Do nó thảy đều trọn đủ, lẽ nào chẳng phải là phước? Công đức phát tâm chẳng thể nghĩ bàn, phẩm Sơ Phát Tâm của kinh Hoa Nghiêm đă nói rất hay. Phước này hàng Đại Thừa Bồ Tát đều có, Nhị Thừa và phàm phu đều chẳng có phần.

 

      (Sao) Nhiên kim sớ bất dĩ phối phước, nhi thuộc chi thiện căn giả hà?

()然今疏不以配福,而屬之善根者何。    

(Sao: Nhưng bộ sớ này lại chẳng coi [Bồ Đề tâm] là phước, mà xếp nó vào thiện căn là v́ lẽ ǵ?)

 

      “Kim sớ” (今疏) là nói đến bộ Sớ Sao này. Trong Sớ Sao, Bồ Đề tâm được xếp vào thiện căn, chẳng xếp vào phước, là do duyên cớ nào?

 

      (Sao) Lương dĩ thiện chi dữ phước, Biệt chi tắc nhị, Tổng chi tắc nhất.

()良以善之與福,別之則二,總之則一。

(Sao: Ấy là v́ thiện và phước, xét theo Biệt th́ là hai, xét theo Tổng bèn là một).

 

      Thiện căn và phước đức, có lúc có mối quan hệ liên đới mật thiết. Tục ngữ Trung Hoa thường nói: “Phước chí tâm linh”, tức là kẻ ấy b́nh thường rất đần, khi phước báo đưa đến, bỗng nhiên thông minh. Điều này nói rơ mối quan hệ liên đới giữa thiện căn và phước đức. Người thật sự có phước, nhất định là có thiện căn, nhất định là có trí huệ. Nếu có phước, chẳng có trí huệ, chẳng có thiện căn, kinh Phật gọi điều phước ấy là “si phước”, ngu si đó mà! Si phước chẳng đáng coi là quư! Tuy có phước báo, kết quả là suốt một đời vẫn phải chịu khổ, chịu nạn, rất nhiều! Thế gian này rất nhiều kẻ có tiền, là đại xí nghiệp gia, khổ sở khôn cùng! Cuộc sống cũng rất tiết kiệm, bớt ăn, bớt mặc, tiền của rất nhiều, đều để cho kẻ khác hưởng phước, suốt đời vất vả kinh doanh cho người khác hưởng phước. Có phải là kẻ ấy thật sự tạo phước cho quư vị hưởng hay không? Chẳng phải vậy! Người ấy chẳng có cái tâm đó, mà cũng chẳng có ư nghĩ đó, nhưng sống hồ đồ mơ màng cả đời. Đó là si phước. Người như vậy rất nhiều, ở Trung Hoa lẫn ngoại quốc đều có thể thấy.

      Người thật sự có trí huệ, có thiện căn, hễ có phước báo, nhất định sẽ để cho chúng sanh hưởng phước. Người ấy có thiện tâm như vậy, thật sự v́ xă hội, v́ đại chúng tạo phước, khiến cho mọi người hưởng phước, phước báo càng to hơn nữa. Suốt đời, Ấn Quang đại sư bội phục Khổng lăo phu tử nhất. Khổng lăo phu tử khởi tâm động niệm đều nghĩ v́ quốc gia, v́ thiên hạ, v́ hết thảy chúng sanh, chẳng nghĩ tới chính ḿnh. Suốt đời Ngài tu tập, tích lũy, phước báo ấy to lớn, măi cho đến nay, con cháu Ngài luôn được người đời tôn trọng.

Người thứ hai được tổ Ấn Quang bội phục là Phạm Trọng Yêm. Phạm Trọng Yêm suốt đời sống rất kham khổ, xuất tướng, nhập tướng[3]. Ông ta là một vị Tể Tướng nổi danh đời Tống, là một nhà quân sự kiêm chánh trị gia lỗi lạc. Suốt đời, ông Phạm dùng toàn bộ thu nhập của chính ḿnh để làm sự nghiệp công ích cho xă hội. Làm đến Tể Tướng, mà khi chết, không mua nổi quan tài, v́ tiền tài đă đem bố thí hết cả rồi! Do vậy, nhà họ Phạm măi cho đến nay gia đạo chẳng suy, con cháu đều tốt đẹp. Trong Văn Sao, tổ Ấn Quang nói gia tộc ông ta suốt tám trăm năm chẳng suy vi, do tổ tông tích đức sâu dầy! Trong lịch sử Trung Hoa, rất ít thấy [trường hợp tương tự], gia tộc b́nh thường có thể duy tŕ ba đời cũng chẳng nhiều! C̣n hai gia tộc ấy (gia tộc Khổng Tử và gia tộc Phạm Trọng Yêm) mấy chục đời đều chẳng suy. Điều này đáng cho chúng ta phản tỉnh, đáng cho chúng ta noi theo.

 

      (Sao) Biệt nhi ngôn chi, tắc Bồ Đề tâm thiên thuộc thiện căn. Tổng nhi ngôn chi, tắc Bồ Đề tâm diệc khả vân phước. Quán Kinh tổng cử, ngôn phước vô ngại.

      ()別而言之,則菩提心偏屬善根;總而言之,則菩提心亦可云福。觀經總舉言福無礙。

(Sao: Nói theo Biệt, Bồ Đề tâm thiên về thiện căn. Nói theo Tổng, cũng có thể nói Bồ Đề tâm là phước. Quán Kinh nói theo Tổng, nên bảo [Bồ Đề tâm] là phước chẳng trở ngại ǵ).

 

      Trong kinh này, Liên Tŕ đại sư chẳng quy Bồ Đề tâm vào phước đức mà xếp Bồ Đề tâm vào thiện căn. Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, đức Thế Tôn xếp Bồ Đề tâm vào phước đức, đều đúng, chẳng trở ngại ǵ!

 

      (Sao) Vấn: Bảo Tích Đại Bổn vân: “Dục kiến Vô Lượng Thọ Phật giả, ưng phát Vô Thượng Bồ Đề tâm. Phục đương chuyên niệm bỉ quốc, tích tập thiện căn”. Tắc Bồ Đề, thiện căn, tự vi nhị sự, kim hà trực dĩ thiện căn thuộc Bồ Đề tâm?

      ()問:寶積大本云:欲見無量壽佛者,應發無上菩提心,復當專念彼國,積集善根,則菩提善根,似為二事,今何直以善根屬菩提心。

(Sao: Hỏi: Kinh Đại Bổn trong bộ Bảo Tích có nói: “Muốn thấy Vô Lượng Thọ Phật, hăy nên phát Vô Thượng Bồ Đề tâm. Lại hăy nên chuyên niệm cơi ấy, chứa nhóm, tu tập thiện căn”. Như vậy th́ Bồ Đề và thiện căn dường như là hai chuyện, sao nay lại thẳng thừng bảo thiện căn thuộc về Bồ Đề tâm?)

 

      Nói thật ra, bộ Sớ Sao của Liên Tŕ đại sư có cái hay là vô cùng tường tận, giải trừ rất nhiều nghi hoặc của bọn chúng sanh chúng ta! Đọc kinh quá nhiều, vấn đề cũng lắm. V́ sao? Trong kinh này, đức Phật nói như thế này, kinh kia lại nói theo kiểu như thế nọ, chuyện phiền toái bèn xảy ra. Người hoàn toàn chẳng niệm kinh sẽ chẳng có vấn đề ǵ, thật thà niệm Phật đâm ra sẽ thành tựu rất nhanh chóng. V́ thế, các vị pháp sư trong Giáo Hạ rất nhiều người chẳng bằng những ông già bà cả thật thà niệm Phật. Khi văng sanh, họ biết trước lúc mất, đứng mất, ngồi mất rất nhiều. T́nh h́nh [lúc mất của] những vị pháp sư trong Giáo Hạ chẳng bằng họ là do nguyên nhân nào? Xem kinh nhiều quá, nghi vấn cả đống. Nếu chẳng thể đoạn trừ nghi vấn, tín tâm sẽ bị chướng ngại. Nói thật ra, qua tác phẩm Sớ Sao, chủ ư chánh yếu của Liên Tŕ đại sư là nhằm giúp chúng ta phá mê, dấy lên ḷng tin, kiến lập tín tâm. Quư vị đă có tín tâm, tự nhiên sẽ phát nguyện tu hành.

      Đây là do đọc hội Vô Lượng Thọ trong kinh Bảo Tích, thấy có nói một câu như thế này: “Dục kiến Vô Lượng Thọ Phật giả” (Muốn thấy Vô Lượng Thọ Phật), quư vị mong thấy Vô Lượng Thọ Phật, phải hội đủ những điều kiện nào? “Ưng phát Vô Thượng Bồ Đề tâm” (Hăy nên phát tâm Vô Thượng Bồ Đề), đây là điều kiện thứ nhất. “Phục đương chuyên niệm bỉ quốc” (Lại hăy nên chuyên niệm cơi ấy), đấy là nhớ Phật, niệm Phật. Đó là điều kiện thứ hai. “Tích tập thiện căn” là điều kiện thứ ba, phải đoạn hết thảy ác, tu hết thảy thiện. Trọn đủ ba điều kiện ấy th́ mới có thể thấy Vô Lượng Thọ Phật, nói cách khác là mới có thể văng sanh thế giới Tây Phương. Chiếu theo cách nói này, “tắc Bồ Đề thiện căn” (th́ Bồ Đề và thiện căn) dường như là hai chuyện. Trong ba điều kiện trên đây, điều kiện thứ nhất là Bồ Đề tâm, điều kiện thứ ba là thiện căn, dường như là hai chuyện, chẳng giống như là một chuyện. Cớ sao Liên Tŕ đại sư xếp Bồ Đề tâm vào thiện căn, chẳng phải là biến chúng thành một chuyện ư?

 

      (Sao) Đáp: Bỉ đản ngôn thiện căn, thử năi vân đa thiện căn, “đa” chi nhất tự, phi Bồ Đề tâm, hà dĩ đương thử?

      ()答:彼但言善根,此乃云多善根,多之一字,非菩提心,何以當此。

      (Sao: Đáp: Kinh ấy chỉ nói “thiện căn”, kinh này bèn nói là “nhiều thiện căn”, một chữ “nhiều” ấy, nếu chẳng phải là Bồ Đề tâm th́ dùng ǵ để tương ứng với nó được?)

 

      Liên Tŕ đại sư rất cao minh. Trong kinh Vô Lượng Thọ chỉ nói “thiện căn”, kinh Di Đà nói “nhiều thiện căn”. “Bất khả dĩ thiểu thiện căn, phước đức, nhân duyên, đắc sanh bỉ quốc”, chính là nhiều thiện căn, then chốt ở ngay một chữ Nhiều! Trong kinh chẳng có chữ ấy. Kinh chỉ nói: “Bất khả dĩ thiểu thiện căn, phước đức, nhân duyên, đắc sanh bỉ quốc”, chẳng thể ít, đương nhiên là nhiều! Đă là nhiều, mà nếu chẳng gieo thiện căn từ Bồ Đề tâm, làm sao có thể coi là nhiều cho được? Đáp rất hay khéo, rất khá! Tiếp đó, lại có một câu hỏi khác.

 

      (Sớ) VấnTức tŕ danh vi đa thiện căn, phước đức, thử kinh chi ngoại, biệt hữu chứng cứ phủ?

     ()問:即持名為多善根福德,此經之外,別有證據否。

(Sớ: Hỏi: Nếu tŕ danh là nhiều thiện căn, nhiều phước đức, ngoài kinh này ra, có chứng cứ nào khác hay không?)

 

      Điều này do Liên Tŕ đại sư đề xướng, cổ nhân có tranh luận, nên lăo nhân gia đă dung hợp trọn hết các ư nghĩa của cổ đại đức, coi tŕ danh là thiện căn, lại coi tŕ danh là phước đức. [Do đó], tŕ danh là nhiều thiện căn, nhiều phước đức. Người chất vấn bèn nói: “Ngoài kinh này ra, c̣n có chứng cứ nào khác hay không?”

 

      (Sớ) Đáp: Lịch lịch khả chứng, như Đại Bi, Đại Phẩm đẳng thuyết.

      ()答:歷歷可證,如大悲大品等說。

(Sớ: Đáp: Rành rành có thể chứng minh, như các kinh Đại Bi, Đại Phẩm v.v… đă nói).

 

      Liên Tŕ đại sư xác thực là uyên bác các pháp thế gian và xuất thế gian, có thể nêu ra chứng cứ.

 

      (Sao) Chứng thiện căn giả.

      () 證善根者。

      (Sao: “Để chứng minh [tŕ danh là] thiện căn”).

 

      Trước hết, nêu ra chứng cứ nhằm chứng minh thiện căn.

 

      (Sao) Đại Bi kinh vân: “Nhất xưng Phật danh, dĩ thị thiện căn, nhập Niết Bàn giới, bất khả cùng tận”.

()大悲經云:一稱佛名,以是善根,入涅槃界,不可窮盡。

(Sao: Kinh Đại Bi[4] nói: “Dùng xưng danh hiệu Phật như là thiện căn để nhập Niết Bàn giới, chẳng thể cùng tận”).

 

      Kinh văn đă nói rất rơ ràng, minh bạch, “xưng danh” là thiện căn.

 

      (Sao) Hựu vân.

     ()又云。

      (Sao: Lại nói).

 

      Vẫn là điều được nói trong kinh Đại Bi.

 

      (Sao) Ngă diệt độ hậu, Bắc Thiên Trúc quốc, hữu tỳ-kheo danh Kỳ Bà Già, tu tập vô lượng tối thắng thiện căn, dĩ nhi mạng chung, sanh ư Tây Phương quá bách thiên ức thế giới, Vô Lượng Thọ Phật quốc, dĩ hậu thành Phật, hiệu Vô Cấu Quang Như Lai.

()我滅度後,北天竺國,有比丘名祈婆伽,修習無量最勝善根,已而命終,生於西方過百千億世界,無量壽佛國,以後成佛,號無垢光如來。

(Sao: Sau khi ta diệt độ, tại nước Bắc Thiên Trúc, có tỳ-kheo tên là Kỳ Bà Già tu tập vô lượng thiện căn thù thắng nhất, khi đă mạng chung, bèn sanh vào cơi Phật Vô Lượng Thọ ở Tây Phương cách đây trăm ngàn ức thế giới. Về sau, sẽ thành Phật, hiệu là Vô Cấu Quang Như Lai).

 

      Trong đoạn kinh văn này, đức Phật thọ kư cho ngài Kỳ Bà Già, nói minh bạch: Tu thiện căn sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Đây là một chứng cớ rất thuyết phục được nêu ra trong kinh Đại Bi. Ngoài kinh Đại Bi ra…

 

      (Sao) Hựu Đại Trang Nghiêm Kinh Luận.

      ()又大莊嚴經論。

      (Sao: Lại theo Đại Trang Nghiêm Kinh Luận[5]).

 

      Đây là chú giải của kinh Đại Trang Nghiêm.

 

      (Sao) Phật thế nhất lăo nhân lai cầu xuất gia, Xá Lợi Phất đẳng chư đại đệ tử câu bất khẳng độ, dĩ quán bỉ đa kiếp vô thiện căn cố.

      ()佛世一老人來求出家,舍利弗等諸大弟子俱不肯度,以觀彼多劫無善根故。

(Sao: Thời đức Phật tại thế, có một cụ già đến xin xuất gia, các vị đại đệ tử như Xá Lợi Phất v.v… đều không chịu thế độ, v́ xét thấy ông cụ trong nhiều kiếp chẳng có thiện căn).

 

      Năng lực thần thông của A La Hán chỉ có thể quan sát năm trăm đời. Hơn năm trăm đời, các Ngài chẳng có năng lực thông đạt. Năng lực thần thông của các Ngài chỉ to ngần ấy. Các Ngài thấy cụ già ấy trong suốt năm trăm đời chẳng gieo thiện căn, làm sao có thể xuất gia cho được? Chư vị phải hiểu: Thời đức Phật, người xuất gia đích xác là đều có thiện căn. V́ vậy, sau khi xuất gia, không một ai chẳng chứng quả, mức độ thấp nhất là chứng quả Tu Đà Hoàn của Tiểu Thừa. So trong ba thứ Bất Thoái, quả Tu Đà Hoàn là Vị Bất Thoái, vĩnh viễn chẳng bị thoái đọa vào tam đồ, [sau khi] qua lại cơi trời và nhân gian bảy lần, bèn chứng A La Hán. Nếu chẳng có Phật xuất hiện trong thế gian này, người ấy bèn thành Bích Chi Phật, quyết định thành tựu! Sau khi đức Phật đă diệt độ, bèn có người xuất gia mà chẳng có thiện căn, hiện thời mọi nơi đều là [những kẻ như vậy]! Chúng ta tu cả đời, cũng chẳng chứng được quả Tu Đà Hoàn. Nói thật thà, tu hành suốt đời, một phẩm phiền năo cũng chẳng đoạn nổi! Tu hành sao cho cả đời phiền năo không tăng trưởng là đă ghê gớm lắm rồi, đă được coi là rất có thành tựu! Đoạn phiền năo há phải là chuyện dễ! Do vậy, trong thời kỳ Mạt Pháp, nếu chẳng tu pháp môn Niệm Phật, chẳng cầu đới nghiệp văng sanh, quyết định là chẳng thể thành tựu, ắt phải biết điều này! Chúng ta xem đoạn văn này, [thấy rơ] năng lực của A La Hán nhỏ bé, chẳng thể thấy cụ già ấy trong đời quá khứ đă tu thiện căn, [thật sự] có thiện căn.

 

      (Sao) Phật tự độ chi, tức chứng đạo quả.

      ()佛自度之,即證道果。

      (Sao: Đức Phật liền tự độ cụ già ấy, cụ liền chứng đạo quả).

 

      Đức Phật cho cụ già ấy xuất gia, xuống tóc cho cụ. Sau khi xuống tóc không lâu, cụ bèn chứng quả A La Hán. Các đồng học thấy vậy đều lấy làm lạ: “Người này chẳng có thiện căn, cớ sao cũng có thể chứng quả A La Hán?” Đức Phật liền nói cho đại chúng biết nhân duyên ấy.

 

      (Sao) Nhân cáo đại chúng, thử nhân vô lượng kiếp tiền.

     ()因告大眾,此人無量劫前。

      (Sao: Nhân đó, [đức Phật] bảo đại chúng: “Người này trong vô lượng kiếp trước”).

 

      Vô lượng kiếp trước! Vô lượng kiếp trước th́ đương nhiên là A La Hán đành chịu thua, năng lực của A La Hán rất hữu hạn.

 

      (Sao) Vi thải tân nhân, mănh hổ bức cực, đại bố thượng thụ.

      ()為採薪人,猛虎逼極,大怖上樹。

      (Sao: “Làm người đẵn củi, do bị hổ dữ bức bách quá đỗi, hết sức kinh hoảng trèo lên cây”).

 

      [Thuở ấy], cụ là một tiều phu, lên núi đẵn củi gặp phải cọp. Cọp sắp ăn cụ, cụ hoảng hốt, trèo lên đầu ngọn cây, kêu một tiếng “Nam-mô Phật”. Do câu “nam-mô Phật” ấy mà gieo thiện căn. Câu chuyện này xuất phát từ kinh Pháp Hoa, Đại Trang Nghiêm Luận dẫn câu chuyện này từ kinh Pháp Hoa.

 

(Sớ) Xưng nam-mô Phật, dĩ thị thiện căn, ngộ ngă đắc độ.

()稱南無佛,以是善根,遇我得度。

(Sớ: Xưng “nam-mô Phật”, do thiện căn ấy, gặp ta, đắc độ).

 

      Vô lượng kiếp trước, bị cọp dọa nạt, hét một tiếng “nam-mô Phật”; vô lượng kiếp sau, gặp gỡ Thích Ca Mâu Ni Phật, do một tí thiện căn ấy mà đắc độ. Do vậy, đối với các chúng sanh trong hiện tại, quư vị khuyên họ niệm “nam-mô A Di Đà Phật” một tiếng, tức là đă gieo chủng tử. Cũng có lẽ trong vô lượng kiếp sau, khi gặp được vị Phật nào đó, họ sẽ đắc độ. Chúng ta có thể làm được chuyện này. V́ vậy, [để độ chúng sanh], phải dùng các thứ phương tiện thiện xảo. Chẳng hạn như người học Phật trên tay thường cầm chuỗi tràng hạt, người ta trông thấy, bèn “A Di Đà Phật”. Quư vị chẳng khuyên kẻ ấy, chính kẻ ấy tự kêu, tự niệm một tiếng “A Di Đà Phật”, công đức vô lượng, trong tương lai người ấy nhất định đắc độ, chúng ta biết chắc như vậy. Do đó, cửa nhà chúng ta dán một câu “Nam-mô A Di Đà Phật”, người ta vừa thấy [bèn nhẩm thầm] A Di Đà Phật, thế là được rồi. Chúng tôi in những tấm băng dính có danh hiệu A Di Đà Phật, hoặc in h́nh A Di Đà Phật, các đồng tu có thể thỉnh về nhà. Tết đến, đối với liễn dán cửa (câu đối Tết) bèn dán “Nam-mô A Di Đà Phật”, cát tường nhất, chẳng có ǵ tốt lành hơn được! Nếu chư vị chê nhỏ th́ in dài hơn, in to như [khuôn khổ các] câu liễn dán cửa. Hai bên [cửa] đều dán Nam-mô A Di Đà Phật. Tôi ở Mỹ, căn nhà ấy chỗ nào cũng đều dán, nào cũng đều dán khắp nơi, có rất nhiều đồng học trông thấy, bất luận quư vị bước vào pḥng nào cũng đều thấy A Di Đà Phật. Đó là chính ḿnh tự gieo thiện căn, cũng giúp cho người khác gieo thiện căn, thời thời khắc khắc, khắp nơi khắp chốn nhắc nhở chính ḿnh, [khiến cho] câu Phật hiệu chẳng bị gián đoạn. V́ thế, khắp nơi đều dán, khiến cho Phật hiệu của chúng ta chẳng bị gián đoạn.

 

      (Sao) Hoa Nghiêm Đệ Thập Hồi Hướng vân: “Nguyện ức niệm vô lượng vô biên thế giới, khứ lai hiện tại nhất thiết chư Phật”.

     ()華嚴第十回向云:願憶念無量無邊世界,去來現在一切諸佛。

(Sao: Phần giảng về Đệ Thập Hồi Hướng trong kinh Hoa Nghiêm có nói: “Nguyện ức niệm vô lượng vô biên thế giới, quá khứ, vị lai, hiện tại hết thảy chư Phật”).

 

      “Khứ” () là quá khứ, “lai” () là vị lai, “khứ lai hiện tại” là ba đời, mười phương ba đời hết thảy chư Phật.

 

      (Sao) Nhi thứ vân: “Dĩ thử niệm Phật thiện căn”.

      ()而次云:以此念佛善根。

      (Sao: Kế đó, bèn nói: “Do thiện căn niệm Phật này”).

 

      Niệm Phật là thiện căn, lại t́m ra một chứng cứ.

 

      (Sao) Phàm thử, giai tŕ danh vi đa thiện căn chi minh chứng dă.

      () 凡此,皆持名為多善根之明證也。

(Sao: Phàm những câu như vậy đều là chứng cớ rành rành [chứng tỏ] tŕ danh là nhiều thiện căn vậy).

 

      Đấy là chứng cứ của “nhiều thiện căn”. Dưới đây là lời giải thích của sách Diễn Nghĩa đối với hai câu trong lời Sao. Câu đầu tiên [được giảng như sau]:

 

      (Diễn) “Dĩ thị thiện căn nhập Niết Bàn giới, bất khả cùng tận giả”: Dĩ xưng danh thiện căn, bất dữ nhất thiết hữu vi tương ứng, năi tăng trưởng vô vi, tùy thuận vô vi chi thiện căn dă. Cố nhập Niết Bàn bất khả cùng tận. Thí như hữu nhân thực thiểu kim cang, chung cánh bất tiêu, yếu đương xuyên cốt nhi xuất. Xưng danh công đức trực chí Niết Bàn, diệc phục như thị.

      ()以是善根入涅槃界,不可窮盡者,以稱名善根,不與一切有為相應,乃增長無為,隨順無為之善根也,故入涅槃不可窮盡。譬如有人食少金剛,終竟不消,要當穿骨而出,稱名功德直至涅槃,亦復如是。

(Diễn: “Dùng thiện căn này để nhập Niết Bàn giới chẳng thể cùng tận”: Do thiện căn xưng danh chẳng tương ứng với hết thảy hữu vi, nên tăng trưởng vô vi, tùy thuận thiện căn vô vi. V́ thế, nhập Niết Bàn chẳng thể cùng tận. Ví như có người ăn một chút kim cang, rốt cuộc chẳng thể tiêu được, chất kim cang sẽ xuyên qua xương mà lọt ra, công đức xưng danh đạt thẳng đến Niết Bàn, cũng giống như thế đó).

 

      Giải thích và tỷ dụ đều rất hay. Chúng ta thường nói: “Tạo hết thảy thiện nghiệp, quả báo ở trong ba thiện đạo; tạo hết thảy ác nghiệp, quả báo ở trong ba ác đạo”. Niệm một câu A Di Đà Phật, rốt cuộc sẽ vào đường nào? Trong ba thiện đạo và ba ác đạo thảy đều chẳng có [A Di Đà Phật]. Do v́ quư vị xưng niệm danh hiệu của Phật, Bồ Tát chẳng tương ứng với hết thảy các pháp hữu vi trong tam giới lục đạo, nên bất đắc dĩ gọi là “Tịnh nghiệp”. Mục tiêu chung cực viên măn của Tịnh nghiệp là Đại Niết Bàn nơi quả địa Như Lai, nó tương ứng với điều này. Đúng là “niệm Phật là nhân, thành Phật là quả”. Đối với “thâm tín nhân quả” được nói trong Tam Phước, thông thường tôi không giảng theo cách này, mà trực tiếp nói “niệm Phật là nhân, thành Phật là quả”. Nhân quả ấy rất sâu, [ngay cả những vị] Bồ Tát b́nh phàm cũng đều không biết. [Nếu] đă biết th́ không có vị nào chẳng niệm Phật, niệm Phật thành Phật mà! Cùng một đạo lư giống như vậy, quư vị niệm Bồ Tát thành Bồ Tát, niệm thiên sẽ sanh lên trời, niệm ǵ thành nấy, niệm lực to lớn chẳng thể nghĩ bàn! Người thế gian rất đáng thương, họ niệm ba ác đạo. V́ sao niệm ba ác đạo? Nghiệp nhân của ba ác đạo là Tam Độc. Trong tâm quư vị thường nghĩ tới tham sẽ là ngạ quỷ đạo. Hằng ngày nghĩ tới nóng giận sẽ là địa ngục đạo. Niệm nào cũng đều ngu si, chính là súc sanh đạo. Ngu si là tà, chánh, thiện, ác, chân, giả đều chẳng hiểu rơ ràng, đó là ngu si. Sống suốt cả đời hồ đồ, mơ màng; đó là súc sanh đạo. Do vậy, kẻ niệm ba ác đạo đông lắm, kẻ niệm tham, sân, si nhiều lắm. Câu thứ hai:

 

      (Diễn) Tu tập vô lượng tối thắng thiện căn giả, “vô lượng” ngôn kỳ quảng đại, “tối thắng” ngôn kỳ vi diệu. Dĩ xứng tánh chi tu, nhất tu, nhất thiết tu, quảng vô nhai bạn, diệu bất khả trắc cố. Nguyện ức niệm vô lượng vô biên thế giới, thị hoành biến nhất thiết xứ; khứ lai hiện tại nhất thiết chư Phật, thị thụ biến nhất thiết thời. Sở vị “nhất niệm, nhất thiết niệm; nhất thiết niệm, nhất niệm” dă.

()修習無量最勝善根者,無量言其廣大,最勝言其微妙。以稱性之修,一修一切修,廣無涯畔,妙不可測故。願憶念無量無邊世界,是橫遍一切處,去來現在一切諸佛,是豎遍一切時,所謂一念一切念,一切念一念也。

(Diễn: “Tu tập thiện căn vô lượng tối thắng”: Nói “vô lượng” nghĩa là rộng lớn. “Tối thắng” là vi diệu. Do tu xứng tánh, nên một tu, hết thảy tu, rộng răi không ngằn mé, mầu nhiệm chẳng thể lường. “Nguyện ức niệm vô lượng vô biên thế giới” tức là theo chiều ngang trọn khắp hết thảy các chốn. “Quá khứ, vị lai, hiện tại hết thảy chư Phật” là theo chiều dọc trọn khắp hết thảy các thời. Đó gọi là “một niệm, hết thảy niệm; hết thảy niệm là một niệm”).

 

      Nói thông thường, đây chính là “xứng tánh khởi tu, toàn tu tức tánh”; v́ thế, thiện căn và phước đức chẳng thể nghĩ bàn. Các đồng tu chúng ta niệm Phật, đặc biệt là Tŕ Danh Niệm Phật, nếu quư vị thật sự là “nhất tâm xưng danh”, thiện căn do quư vị tu tập, tích lũy sẽ giống như kinh đă nói. Trên đây là trích dẫn kinh luận ḥng nêu rơ tŕ danh niệm Phật là thiện căn, chẳng sai! Cớ sao lại nói tŕ danh niệm Phật là phước đức? Đoạn dưới đây nêu ra một chứng cứ.

 

      (Sao) Chứng phước đức giả.

      () 證福德者。

      (Sao: Chứng tỏ [tŕ danh] là phước đức).

 

      Chứng tỏ tŕ danh niệm Phật là phước đức.

 

      (Sao) Đại Phẩm Bát Nhă kinh vân: “Nhược nhân tán tâm niệm Phật, diệc đắc ly khổ, kỳ phước bất tận, huống định ư niệm”.

()大品般若經云:若人散心念佛,亦得離苦,其福不盡,況定意念。

(Sao: Kinh Đại Phẩm Bát Nhă[6] nói: “Nếu ai tán tâm niệm Phật cũng được ĺa khổ, phước ấy bất tận, huống hồ là ư an định mà niệm”).

 

      “Tán tâm”: Chẳng phải là chuyên tâm, chẳng phải là nhất tâm. Thông thường là tán niệm, [nghĩa là] đôi khi là miệng có, tâm không, xướng lên câu Phật hiệu này th́ gọi là tán niệm. Tán niệm cũng có phước.

 

(Diễn) Tán tâm niệm Phật, thị trước thật ức tŕ, trước thật thể cứu. Vị nhập nhất tâm giả, phi như kim nhân toàn bất trước ư, đồ sự thần thiệt dă.

()散心念佛,是著實憶持,著實體究。未入一心者,非如今人全不著意,徒事唇舌也。

(Diễn: Tán tâm niệm Phật là thật sự nghĩ nhớ, tŕ niệm, thật sự thấu hiểu, tham cứu; [nói “tán tâm niệm Phật” nghĩa là nói tới] người chưa đắc nhất tâm, chẳng phải như người hiện thời hoàn toàn chẳng dốc ư, chỉ niệm suông bằng miệng lưỡi mà thôi).

 

      “Tán tâm niệm Phật, diệc đắc ly khổ, kỳ phước bất tận” (Tán tâm niệm Phật, cũng được ĺa khổ, phước ấy bất tận). Tán tâm là nói đối ứng với nhất tâm, [tức là] “chưa chứng đắc nhất tâm”. Trước khi chứng đắc nhất tâm th́ đều gọi là “tán tâm niệm Phật”. Kinh Vô Lượng Thọ nói tán tâm niệm Phật là “một mực chuyên niệm”. Chưa đắc nhất tâm, tiêu chuẩn sẽ là “trước thật ức tŕ” (thật sự nghĩ nhớ, tŕ niệm), thật sự niệm, thật sự “thể cứu”. Thể () là thấu hiểu, “cứu” () là tham cứu. Người ấy chẳng phải là nghiên cứu, nghiên cứu là [sử dụng] thức thứ sáu, tức ư thức. Chẳng dùng tâm ư thức th́ gọi là tham cứu, cũng là chuyên tâm, nhất tâm nhất ư xưng niệm, nhưng chưa đắc nhất tâm bất loạn. Nói cách khác, đă có thể chế phục phiền năo, [vẫn c̣n] chưa đoạn phiền năo. Đoạn phiền năo th́ mới gọi là nhất tâm, xác thực là đă khuất phục phiền năo. Niệm Phật hay niệm kinh đều phải có công phu này th́ mới đạt được phước báo. “Phi như kim nhân toàn bất trước ư” (Chẳng phải là như người hiện thời hoàn toàn chẳng dốc ư), nói đến những kẻ “miệng có, tâm không”. Chẳng thể nói kẻ “miệng có, tâm không” chẳng có phước báo; họ cũng có phước báo, nhưng chẳng thể văng sanh trong một đời này! Như trong phần trước đă nói: Tiều phu do bị hổ đuổi gắt gao, bèn hét lên một tiếng Nam-mô Phật, phải chờ tới vô lượng kiếp sau mới có thể đắc độ, chẳng thể thành tựu trong một đời này. Nếu mong thành tựu trong một đời này, tán tâm niệm Phật vẫn được. Tán tâm niệm Phật là công phu thành phiến, có thể sanh vào cơi Phàm Thánh Đồng Cư, “tán tâm” ở đây mang ư nghĩa này. Có thể sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, há có thể bảo là chẳng có phước ư? Chẳng có phước báo, làm sao có thể sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới cho được? Đây là nói tới tiêu chuẩn của tán tâm tŕ danh.

 

      (Diễn) Định ư niệm Phật, thị kư đắc Sự nhất tâm.

      ()定意念佛,是既得事一心。

      (Diễn: Ư an định niệm Phật là đă đắc Sự nhất tâm).

 

      Điều này quả thật chẳng dễ dàng! “Sự nhất tâm” là cảnh giới ǵ? Đă đoạn Kiến Tư phiền năo, chẳng phải là chế phục. Chế phục là công phu thành phiến. Đă đoạn Kiến Tư phiền năo bèn bằng với A La Hán trong Tiểu Thừa, công phu như vậy đó.

 

      (Diễn) Nhi phục ư định tâm trung, niệm niệm ức tŕ, tâm tâm nghiên cứu giả. Nhược thị Lư nhất tâm, tắc thị ly niệm cảnh giới. Kư dĩ vô ư, kiêm diệc bất chỉ thị định dă.

()而復於定心中,念念憶持,心心研究者。若是理一心,則是離念境界,既已無意,兼亦不止是定也。

(Diễn: Lại c̣n trong cái tâm đă định mà niệm niệm nghĩ nhớ, vâng giữ, tâm luôn nghiên cứu. Nếu là Lư nhất tâm th́ sẽ là cảnh giới ly niệm. Đă là không có ư th́ cũng chẳng phải là chỉ giới hạn trong Định ấy).

 

      Sự nhất tâm bất loạn là đă đoạn Kiến Tư phiền năo. Trong Định, một câu Phật hiệu thường chẳng gián đoạn, không xen tạp, như vậy th́ sẽ có thể niệm đến Lư nhất tâm bất loạn. Lư nhất tâm bất loạn là phá một phần vô minh, Trần Sa phiền năo cũng đoạn, Vô Minh phiền năo cũng phá mấy phẩm, vị ấy c̣n niệm hay không? Vẫn niệm câu A Di Đà Phật, một mực niệm đến cùng. Ngay như khi người ấy đă niệm đến mức thành Phật viên măn rốt ráo th́ c̣n có niệm hay không? Vẫn niệm! Đấy là “huống định ư niệm Phật” (huống hồ là tâm ư an định niệm Phật). Hết thảy chư Phật, chẳng có vị Phật nào không niệm Phật. V́ vậy, pháp môn này chẳng thể nghĩ bàn. Đă thành Phật mà vẫn niệm Phật, đấy là đại từ, đại bi, nêu gương cho chúng ta nhằm hóa độ chúng sanh. Chúng ta thấy Phật luôn niệm A Di Đà Phật, [sẽ nghĩ] chắc là A Di Đà Phật tốt lắm, chúng ta niệm Ngài sẽ chẳng có vấn đề ǵ! Chư Phật đều niệm A Di Đà Phật cơ mà! Đương nhiên là chúng ta cũng phải nên niệm A Di Đà Phật. Đấy là phương tiện để đức Phật dạy chúng ta niệm A Di Đà Phật. Không chỉ là Thích Ca Mâu Ni Phật niệm A Di Đà Phật, mà mười phương ba đời hết thảy chư Phật, không vị Phật nào chẳng niệm A Di Đà Phật.

      Ở đây, Tổ đă nêu chứng cứ được nói trong kinh Đại Phẩm Bát Nhă [ḥng chứng tỏ] niệm Phật là phước đức. Hôm nay đă hết thời gian rồi, chúng tôi giảng tới chỗ này!

 

Tập 216

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang bốn trăm hai mươi tám:

 

      (Sao) Chứng phước đức giả. Đại Phẩm Bát Nhă kinh vân: “Nhược nhân tán tâm niệm Phật, diệc đắc ly khổ, kỳ phước bất tận, huống định ư niệm”.

()證福德者。大品般若經云:若人散心念佛,亦得離苦,其福不盡,況定意念。

(Sao: “Chứng tỏ [tŕ danh] là phước đức”: Kinh Đại Phẩm Bát Nhă nói: “Nếu ai tán tâm niệm Phật cũng được ĺa khổ, phước ấy bất tận, huống hồ là ư an định mà niệm”).

 

      Đại sư lại dẫn kinh luận để chứng minh tŕ danh niệm Phật là nhiều thiện căn, nhiều phước đức. Do vậy, tu thiện căn và phước đức th́ thật thà niệm Phật sẽ đều trọn đủ. Thông thường, kẻ chẳng thể thâm nhập kinh tạng, nghe những lời này, chưa chắc là đă có thể tin tưởng, cho nên mới phải trích dẫn kinh điển để chứng minh. Đoạn trên nhằm chứng minh [tŕ danh niệm Phật là] thiện căn, c̣n đoạn này nhằm chứng minh niệm Phật là tu phước. Trước hết, Tổ trích dẫn một đoạn trong kinh Đại Phẩm Bát Nhă. Sách Diễn Nghĩa có chú giải:

 

(Diễn) Tán tâm niệm Phật, thị trước thật ức tŕ, trước thật thể cứu. Vị nhập nhất tâm giả, phi như kim nhân toàn bất trước ư, đồ sự thần thiệt dă.

()散心念佛,是著實憶持,著實體究。未入一心者,非如今人全不著意,徒事唇舌也。

(Diễn: Tán tâm niệm Phật thật sự nghĩ nhớ, tŕ niệm, thật sự thấu hiểu, tham cứu; [nói tán tâm niệm Phật nghĩa là nói tới] người chưa đắc nhất tâm. Chẳng phải là như người hiện thời hoàn toàn chẳng dốc ư, chỉ niệm suông bằng miệng lưỡi mà thôi).

 

      Nói rơ “tán tâm niệm” là ǵ? Có thể nói “tán tâm niệm” là khá chuyên tâm, bất quá công phu chưa đạt đủ mức, chẳng có thành tựu. Đương nhiên là chúng ta phiền năo tập khí rất nặng, tuyệt đối chẳng phải là trong một khoảng thời gian ngắn ngủi bèn có thể niệm đến mức nhất tâm bất loạn, hoặc là niệm đến mức công phu thành phiến, chẳng dễ dàng như vậy! Có những kẻ niệm Phật ba tháng hoặc nửa năm, cảm thấy vẫn chưa thể đắc nhất tâm, bèn bỏ ngay, chẳng niệm nữa! Hoặc nghe nói tông khác [thành tựu] nhanh chóng, liền đi học pháp khác. Học kiểu đó th́ học suốt đời chẳng thành công. Nghiêm túc niệm, thật thà niệm, niệm đến nửa năm, quyết định là sẽ có tiến bộ, tiến bộ nh́n từ chỗ nào? Vọng niệm bớt đi; vẫn có vọng niệm, nhưng ít hơn trước kia. Trước kia hồ đồ, mông muội, nay th́ chẳng quá mức hồ đồ, đầu óc sáng suốt đôi chút. Sự sáng suốt ấy chính là trí huệ, chính là sanh trí huệ, trí huệ tăng trưởng. Phiền năo nhẹ bớt, trí huệ tăng trưởng, đó là hiệu quả rất tốt đẹp, là thành tựu do niệm Phật. Niệm tới đôi ba năm, vọng niệm càng ít hơn, công phu đắc lực, bèn có thể cảm nhận, có tín tâm đối với sự văng sanh, nắm chắc văng sanh, có thể niệm đến mức độ ấy. Đó là công phu rất tốt đẹp.

      V́ sao niệm Phật chẳng đắc lực? Quư vị chẳng chịu buông phiền năo tập khí xuống, niệm Phật như vậy, chẳng dễ ǵ đắc lực! Nói cách khác, mỗi người phải thật sự giác ngộ, giác ngộ điều ǵ? Sanh tử là chuyện lớn, luân hồi đáng sợ, là nỗi kinh sợ thật sự. Quư vị phải có cái tâm cảnh giác ấy. Nói cách khác, suốt một đời này, thứ ǵ ta cũng đều chẳng cầu, ta mong cầu liễu sanh tử, vượt thoát luân hồi. Do phương pháp ǵ th́ mới có thể thực hiện được? Chỉ có niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Do vậy, pháp sư Ấn Quang đă tự viết một câu để cảnh tỉnh người niệm Phật, chính Ngài là như vậy: “Suốt ngày từ sáng đến tối, dán một chữ Tử trên trán”. Trong pḥng của tổ Ấn Quang có một tiểu Phật đường, thờ một bức tượng A Di Đà Phật, sau tượng A Di Đà Phật là một bức b́nh[7] nhỏ, viết một chữ Tử. Thường có tâm cảnh giác như vậy, công phu tự nhiên đắc lực.

      Tán tâm niệm Phật, “trước thật ức tŕ” là nghiêm túc niệm, “trước thật thể cứu”, Thể là thấu hiểu, Cứu là tham cứu, thật sự thấu hiểu, thật sự tham cứu, nhưng chưa đắc nhất tâm. Hễ chưa đắc nhất tâm th́ đều gọi là “tán tâm”, quyết chẳng phải là giống như người hiện thời “miệng có, tâm không”. Niệm [suông ngoài miệng] như vậy, chẳng có tác dụng chi cả! Người niệm Phật trong tâm dấy tham, sân, si, mạn, bên ngoài bị cảnh giới dụ dỗ, mê hoặc, cổ đức bảo niệm Phật kiểu đó là “hét toạc cổ họng cũng uổng công”, chỉ có thể nói là “gieo thiện căn”, muốn văng sanh ngay trong một đời này sẽ khá khó khăn!

 

      (Diễn) Định ư niệm Phật, thị kư đắc Sự nhất tâm.

      ()定意念佛,是既得事一心。

      (Diễn: Ư an định niệm Phật là đă đắc Sự nhất tâm).

 

      Công phu thành phiến được bao gồm trong phạm vi của Sự nhất tâm. Công phu thành phiến là Sự nhất tâm ở mức độ nông cạn, niệm Phật đến mức đoạn trừ Kiến Tư phiền năo là Sự nhất tâm ở mức độ sâu. Nếu chúng ta chia Sự nhất tâm thành ba phẩm th́ hạ phẩm là công phu thành phiến, trung phẩm là đoạn Kiến Hoặc, thượng phẩm là đoạn Tư Hoặc. Công phu thành phiến là ǵ? Suốt ngày từ sáng đến tối trong tâm có Phật hiệu, trong tâm tuởng Phật. Trừ việc nhớ Phật, niệm Phật ra, vọng niệm ǵ cũng chẳng nghĩ tới. Đó là công phu đă thành phiến. Trọn chẳng đoạn phiền năo, Kiến Tư phiền năo chưa đoạn; tuy chẳng đoạn, nhưng công phu đă đắc lực, cũng là phiền năo chẳng thể dấy lên hiện hành. Phiền năo vừa xuất hiện, vọng niệm thứ nhất dấy lên, vọng niệm thứ hai phải là A Di Đà Phật, giằn ép nó (vọng niệm thứ nhất) xuống. Có công phu như vậy, thưa cùng chư vị, quyết định văng sanh, sanh vào cơi Phàm Thánh Đồng Cư. Nếu niệm đến thượng phẩm Sự nhất tâm bất loạn, sẽ sanh vào cơi Phương Tiện Hữu Dư, chẳng phải là cơi Phàm Thánh Đồng Cư, quyết định có thể văng sanh. Do vậy, sau khi đă niệm đến mức công phu thành phiến, vẫn tiếp tục niệm câu Phật hiệu này chẳng ngừng!

 

      (Diễn) Nhi phục ư Định tâm trung, niệm niệm ức tŕ, tâm tâm nghiên cứu giả.

      ()而復於定心中,念念憶持,心心研究者。

(Diễn: Nhưng lại ở trong cái tâm Định, niệm nào cũng nghĩ nhớ, vâng giữ, niệm tâm nào cũng đều là nghiên cứu).

 

Ở đây, “nghiên cứu” chẳng phải là dùng tâm ư thức, chỉ là một mực niệm đến cùng là được rồi. Trong mỗi niệm đều trọn đủ Tín, Nguyện, Hạnh; trong mỗi niệm trọn đủ Lục Độ và Thập Nguyện, nói theo ư nghĩa này. Sự nhất tâm đă thành tựu, vẫn chẳng thể gián đoạn, vẫn là công phu miên mật chẳng ngừng, nâng cao cảnh giới của chính ḿnh, khi văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, phẩm vị sẽ tăng cao.

 

      (Diễn) Nhược thị Lư nhất tâm, tắc thị ly niệm cảnh giới, kư dĩ vô ư, kiêm diệc bất chỉ thị định dă.

      ()若是理一心,則是離念境界,既已無意,兼亦不止是定也。

(Diễn: Nếu là Lư nhất tâm th́ chính là cảnh giới ly niệm. Đă là vô ư th́ cũng không giới hạn trong Định vậy).

 

      Niệm đến mức Lư nhất tâm bất loạn, người ấy có niệm hay không? Vẫn niệm. Niệm mà vô niệm, vô niệm mà niệm, câu Phật hiệu quyết định chẳng gián đoạn. Do vậy, cảnh giới không ngừng tăng cao, phẩm vị cũng không ngừng tăng cao. Người niệm Phật phải luôn ghi nhớ: Quyết định đừng tham sống sợ chết! Nói thật ra, văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới càng sớm càng hay! Phải biết thế gian này quá khổ, chẳng có mảy may nào đáng để lưu luyến. Lưu luyến thế giới này là ngu si, quư vị có lư do ǵ để lưu luyến thế giới này?

      “Tán tâm niệm Phật, diệc đắc ly khổ, kỳ phước bất tận” (Tán tâm niệm Phật cũng được ĺa khổ, phước ấy bất tận), chúng ta chẳng có cách nào diễn tả phước báo ấy, mà chư Phật, Bồ Tát cũng chẳng thể nói trọn hết được! Thật đấy! Bởi lẽ, câu danh hiệu này là vạn đức hồng danh.

 

      (Sao) Xưng Dương Chư Phật Công Đức kinh vân.

      ()稱揚諸佛功德經云。

      (Sao: Kinh Xưng Dương Công Đức Chư Phật[8] nói).

 

      Nói rơ tŕ danh niệm Phật xác thực là phước đức, trong kinh luận có rất nhiều [chứng cứ]. Đây lại là một bộ kinh [nói rơ như vậy], trong kinh có nói [như sau]:

 

      (Sao) Nhược hữu đắc văn Vô Lượng Thọ Như Lai danh giả, nhất tâm tín nhạo, tŕ phúng tụng niệm. Thử nhân đương đắc vô lượng chi phước, vĩnh ly tam đồ, mạng chung chi hậu, văng sanh bỉ sát.

()若有得聞無量壽如來名者,一心信樂,持諷誦念。此人當得無量之福,永離三途,命終之後,往生彼剎。

(Sao: Nếu có kẻ nào được nghe danh hiệu Vô Lượng Thọ Như Lai mà nhất tâm tin ưa, tŕ, phúng, tụng, niệm[9], người ấy sẽ được vô lượng phước, vĩnh viễn ĺa khỏi tam đồ. Sau khi mạng chung bèn văng sanh cơi kia).

 

      Kinh này chẳng thuộc vào Tịnh Độ Tam Kinh. Kinh Xưng Dương Chư Phật Công Đức chẳng xưng tán, ca ngợi một vị Phật. Chữ “chư Phật” nhằm nói đến mười phương ba đời hết thảy chư Phật, rất chẳng thể nghĩ bàn! Hết thảy chư Phật đều niệm Phật, Bồ Tát lại càng chẳng cần phải nói nữa! Đức Phật nêu gương cho chúng ta, điều then chốt là “nhất tâm tín nhạo”, Nhạo () là yêu thích, đọc giọng Khứ Thanh (tức Yào, ˋ). “Nhạo háo” (樂好) là yêu thích, nhất tâm yêu thích.

 

      (Diễn) Nhất tâm tín nhạo, thị Tín Nguyện nhị tư.

      ()一心信樂,是信願二資。

      (Diễn: Nhất tâm tin ưa là hai thứ tư lương Tín và Nguyện).

 

      Nếu người ấy chẳng tin, chẳng mong cầu văng sanh, sẽ chẳng thể sanh tâm hoan hỷ đối với pháp này. Có thể sanh tâm hoan hỷ, nhất định là tin sâu, nguyện thiết, đă trọn đủ hai điều trước trong ba điều kiện văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới.

 

      (Diễn) Tŕ phúng tụng niệm thị Hạnh tư.

      ()持諷誦念是行資。

      (Diễn: Tŕ, phúng, tụng, niệm là tư lương Hạnh).

 

      Tín, Nguyện, Hạnh ba điều kiện đều trọn đủ. Tŕ () là thọ tŕ, là tiếp nhận. Người ấy hoàn toàn hiểu rơ, hoàn toàn tiếp nhận lư luận, phương pháp, và cảnh giới trong kinh điển. “Phúng tụng” (諷誦) là xướng niệm lớn tiếng câu Phật hiệu này.

 

      (Diễn) Tŕ nhi phúng, tụng nhi niệm, chánh dụng tâm chi cực.

      ()持而諷,誦而念,正用心之極。

      (Diễn: Tŕ bằng cách phúng, tụng bằng cách niệm, chính là dụng tâm tột bậc).

 

      Thật sự dụng công, lại c̣n là công phu hết sức đắc lực.

 

      (Diễn) Sở vị khẩu dữ tâm, thanh thanh tương ứng; tâm dữ Phật, bộ bộ bất ly dă. Thử bất văng sanh, thùy phục văng sanh?

      ()所謂口與心,聲聲相應;心與佛,步步不離也。此不往生,誰復往生?

(Diễn: Đó gọi là miệng và tâm từng tiếng tương ứng, tâm và Phật, từng bước chẳng ĺa. Người này chẳng văng sanh th́ c̣n ai văng sanh nữa đây?)

 

      Người này chẳng văng sanh, c̣n ai có thể văng sanh? Sanh trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, trí huệ, phước đức, thần thông và đạo lực gần như b́nh đẳng với Đẳng Giác Bồ Tát, công đức và lợi ích thù thắng ấy đến đâu để t́m được? Do vậy, người ấy có phước báo to lớn.

      “Thử nhân đương đắc vô lượng chi phước” (Người ấy sẽ đắc vô lượng phước): Trên thế gian, bất luận quư vị tu phước báo như thế nào, cũng đều chẳng sánh bằng người ấy. V́ thế, người niệm Phật chúng ta muốn tu phước, đến đâu để tu? Niệm một câu A Di Đà Phật là tu phước. Khuyên người khác niệm Phật là tu đại phước báo, người thế gian chẳng biết điều này! Chẳng biết niệm Phật là huệ, không biết niệm Phật là phước; do vậy, trong kinh, đức Phật thường nói các chúng sanh ấy là kẻ đáng thương. [Phước báo do tŕ danh chính là] “vĩnh ly tam đồ, mạng chung chi hậu, văng sanh bỉ sát” (Vĩnh viễn ĺa khỏi tam đồ, sau khi mạng chung, sanh về cơi ấy).

 

      (Sao) Trí Luận vân: Thí như hữu nhân, sơ sanh đọa địa, tức năng nhật hành thiên lư, măn nhất thiên tuế, thất bảo phụng Phật, bất như hữu nhân, ư hậu ác thế, nhất thanh xưng niệm A Di Đà Phật, kỳ phước thắng bỉ.

()智論云:譬如有人初生墮地,即能日行千里,滿一千歲,七寶奉佛,不如有人,於後惡世,一聲稱念阿彌陀佛,其福勝彼。

(Sao: Đại Trí Độ Luận nói: “Ví như có người vừa mới sanh ra, rơi xuống đất liền có thể mỗi ngày đi một ngàn dặm, tṛn một ngàn năm, dùng bảy báu dâng lên Phật, chẳng bằng có người khác trong đời ác mai sau, xưng niệm A Di Đà Phật một tiếng. Phước của người sau vượt trỗi người trước”).

 

       Trong Đại Trí Độ Luận có một đoạn văn như thế. Dùng tỷ dụ ấy để nói lên phước báo thù thắng do niệm Phật. Giả sử có một người, người ấy rất đáng nể, vừa sanh ra đă biết đi, lại c̣n mỗi ngày có thể đi cả ngàn dặm. Nói thật ra, đây là tỷ dụ, chẳng có người như vậy! “Măn nhất thiên tuế” (Tṛn một ngàn năm), người ấy có thọ mạng dài ngần ấy. Dùng bảy báu để cúng dường Phật, ư nói phước báo cúng Phật rất lớn! Nhưng người ấy tu phước báo to ngần ấy, vẫn chẳng bằng nếu như có người trong đời ác mai sau, tức là đời ác ngũ trược, thật ra là nói về thời đại hiện tại của chúng ta, xưng niệm A Di Đà Phật một tiếng! Chẳng niệm nhiều, chỉ niệm một tiếng. Phước báo do niệm A Di Đà Phật một tiếng vượt trỗi phước báo của kẻ “sơ sanh đọa địa, nhật hành thiên lư, măn nhất thiên tuế, thất bảo phụng Phật” (vừa mới sanh rơi xuống đất [đă biết đi], mỗi ngày đi ngàn dặm, tṛn một ngàn năm, dùng bảy báu dâng lên Phật), vượt trỗi kẻ ấy.Chúng ta có tin điều này hay không? Phước báo của kẻ trước có thể nói là đời đời kiếp kiếp hưởng phước báo trên cơi trời hoặc trong nhân gian. V́ sao? V́ nó chẳng phải là cái nhân xuất thế, nên phước báo đạt được là phước báo trong cơi trời hay nhân gian, vẫn có lúc hưởng hết. Niệm A Di Đà Phật một tiếng, tuy hiện thời chẳng thấy ǵ, trong A Lại Da đă gieo một chủng tử kim cang. Dẫu chẳng thể thành tựu trong một đời này, nhưng nhiều đời nhiều kiếp sau, khi gặp được duyên, chủng tử ấy sẽ dấy lên hiện hành, nhất định sẽ văng sanh thành Phật. Phước báo [do xưng niệm] danh hiệu là phước thành Phật. Phước báo do cúng dường chư Phật là phước báo nhân thiên, chẳng thể sánh bằng, đúng như vậy đó! V́ thế, phước do xưng niệm A Di Đà Phật một tiếng chẳng ai có thể nói trọn hết!

 

      (Sao) Tăng Nhất A Hàm kinh vân: “Tứ sự cúng dường Diêm Phù Đề nhất thiết chúng sanh, nhược hữu xưng Phật danh hiệu, như thủ nhũ khoảnh, công đức quá thượng, bất khả tư nghị”.

()增一阿含經云:四事供養閻浮提一切眾生,若有稱佛名號,如取乳頃,功德過上,不可思議。

(Sao: Kinh Tăng Nhất A Hàm nói: “Dùng tứ sự cúng dường hết thảy chúng sanh trong Diêm Phù Đề, nếu có người xưng danh hiệu Phật như trong khoảng lấy sữa, công đức vượt trỗi [người trước] chẳng thể nghĩ bàn”).

 

      Đây là kinh Tiểu Thừa, là một kinh trong Tứ A Hàm. “Tứ sự cúng dường”: “Tứ sự” là ăn uống, quần áo, ngọa cụ (臥具: đồ để trải nằm, để đắp), và thuốc men. Thuở Phật tại thế, để cúng dường người tu hành, chỉ có bốn chuyện ấy. V́ thuở đó, cách sống của người xuất gia là “nhật trung nhất thực, thụ hạ nhất túc” (giữa trưa ăn một bữa, đêm nghỉ dưới cội cây). Chẳng ở trong nhà, cũng chỉ trú dưới cội cây một đêm, hôm sau phải dời sang nơi khác. V́ vậy, quư vị có thể cúng dường họ bằng thức ăn, quần áo, đồ trải để nằm, khi họ ngă bệnh [bèn dâng cúng] thuốc men. Người tu đạo tay chẳng cầm tiền, trước kia là cúng dường như vậy. “Cúng dường Diêm Phù Đề nhất thiết chúng sanh” [nghĩa là] cúng dường hết thảy chúng sanh trên địa cầu. Phước báo ấy có lớn hay không? Đương nhiên là rất lớn. Nhưng như thế nào? Vẫn chẳng bằng người niệm Phật hiệu một câu! “Xưng Phật danh hiệu, công đức bất khả tư nghị” (Xưng danh hiệu Phật, công đức chẳng thể nghĩ bàn). Kinh A Hàm chẳng hề nói đến chuyện xưng niệm A Di Đà Phật, mà nói là “xưng Phật danh hiệu”, công đức ấy thù thắng, được phước nhanh chóng, chẳng có pháp tu nào khác có thể sánh bằng! Kinh đă dạy rất minh bạch: “Nhược hữu xưng Phật danh hiệu, như thủ nhũ khoảnh” (Nếu có người xưng danh hiệu Phật như trong khoảng thời gian lấy sữa), thời gian vắt sữa ḅ rất ngắn, ư nói: Thời gian quư vị niệm Phật rất ngắn, mà đạt được công đức vượt trỗi người dùng tứ sự cúng dường hết thảy chúng sanh trong Diêm Phù Đề, nói rơ công đức niệm Phật chẳng thể nghĩ bàn. Trong kinh đă khen ngợi công đức niệm Phật rất nhiều chỗ, chẳng thể nêu trọn. Ở đây chỉ nêu đại lược mấy loại để chứng minh.

 

      (Sao) Phàm thử, giai tŕ danh vi đa phước đức chi minh chứng dă.

      ()凡此,皆持名為多福德之明證也。

(Sao: Phàm những đoạn như vậy đều là chứng cớ rơ rệt chứng tỏ tŕ danh là nhiều phước đức).

 

      Chứng cớ rơ ràng, xác đáng. Nếu chúng ta chẳng tin th́ đành hết cách!

 

      (Sao) Hựu Bảo Tích thập cửu kinh vân: “Thời nhất tỳ-kheo, văn Phật tán dương Bất Động Như Lai Phật sát công đức, tâm sanh tham trước, nhi niệm sanh bỉ. Phật ngôn: - Bất dĩ ái luyến chi tâm, toại đắc văng sanh, duy hữu thực chư thiện bổn, tu chư phạm hạnh, đắc sanh bỉ sát”.

()又寶積十九經云:時一比丘,聞佛讚揚不動如來佛剎功德,心生貪著,而念生彼。佛言:不以愛戀之心,遂得往生,惟有植諸善本,修諸梵行,得生彼剎。

(Sao: Lại nữa, kinh Bảo Tích quyển thứ mười chín có nói: “Khi ấy, có một vị tỳ-kheo nghe đức Phật ca ngợi công đức của cơi Phật Bất Động Như Lai, sanh tâm tham đắm, nghĩ muốn sanh về đó. Đức Phật dạy: - Chẳng thể do cái tâm ái luyến mà được văng sanh, chỉ có gieo các cội lành, tu các phạm hạnh là được sanh về cơi ấy”).

 

      Đây là một đoạn kinh văn trong quyển thứ mười chín[10] của kinh Bảo Tích. Đoạn này rất trọng yếu, có nhiều người trong số các đồng tu niệm Phật chúng ta phạm phải khuyết điểm giống hệt. Khuyết điểm ǵ vậy? Nghe nói Tây Phương Cực Lạc thế giới rất tốt đẹp, bèn dấy ḷng tham ái đối với cơi ấy. Bên đó là cung điện bảy báu, vàng ṛng làm đất, sang bên đó hưởng thụ cho đă! Dùng cái tâm tham ái để niệm A Di Đà Phật, tuy chấp tŕ danh hiệu mà chẳng thể văng sanh. V́ sao? Nơi ấy là Tịnh Độ, “tâm tịnh, cơi nước tịnh” th́ mới có thể văng sanh. Tâm quư vị chẳng thanh tịnh, chẳng thể văng sanh. Dẫu quư vị niệm Phật hiệu nhiều cách mấy, chỉ là gieo cái nhân văng sanh trong tương lai, không thể văng sanh trong một đời này!

Chư vị phải hiểu, nhất định phải niệm câu Phật hiệu cho đến mức tâm địa của chính ḿnh thanh tịnh. Mẫu chuyện này trong kinh Bảo Tích đáng cho chúng ta cảnh giác. “Thời nhất tỳ-kheo”, [nghĩa là] một người xuất gia thuở ấy, nghe A Di Đà Phật giảng kinh, thuyết pháp, đức Phật tán dương công đức của cơi Phật Bất Động Như Lai (Akṣobhya). Nghe xong, vị ấy trong tâm rất hoan hỷ, dấy ḷng tham ái đối với cơi Phật Bất Động Như Lai, “nhi niệm sanh bỉ” nghĩa là mong văng sanh [cơi ấy]. Thuở Phật tại thế, tốt lắm! Đức Phật thần thông rộng lớn, trong tâm quư vị khởi tâm động niệm, Ngài biết ngay. Đức Phật thấy người ấy dùng tâm tham ái niệm Phật để cầu sanh về cơi Phật, bèn dạy: “Chẳng thể dùng tâm ái luyến để được văng sanh”, chẳng thể nào! V́ sao chẳng thể? Chúng ta hăy xem lời tiểu chú:

 

      (Diễn) Bất dĩ ái luyến chi tâm, toại đắc văng sanh giả, dĩ ái luyến chi tâm thị t́nh thức, bất thị trí huệ cố. Thị đản tri thủ tướng, bất tri diệu lư cố. Thị đồ sanh hiếu lạc, vị khởi chân hạnh cố.

      ()不以愛戀之心遂得往生者,以愛戀之心是情識,不是智慧故。是但知取相,不知妙理故。是徒生好樂,未起真行故。

(Diễn: “Chẳng thể do cái tâm ái luyến mà được văng sanh”: V́ cái tâm ái luyến là t́nh thức, chẳng phải là trí huệ. Do chỉ biết chấp lấy tướng, chẳng biết diệu lư. Do chỉ mong sanh về đó, ham ưa vui sướng, chưa khởi hạnh chân thật).

 

      Tín nguyện như vậy chẳng phải là chân thật. Chân thật là lư trí, chẳng phải là cảm t́nh. Xử sự theo t́nh cảm chỉ có thể gieo cái nhân xa xôi, chắc chắn là chẳng thể thành tựu trong một đời này. Do vậy, người học Phật nhất định phải có lư tánh. Lư tánh hóa cảm t́nh thành từ bi chân thật. Người thế gian chúng ta nói Ái, Phật pháp nói từ bi. Nói thật ra, từ bi là ái. V́ sao nói từ bi mà chẳng nói ái? Ái là cảm t́nh, từ bi là lư tánh. Nói cách khác, t́nh yêu thương theo lư tánh bèn gọi là từ bi, chẳng phải là cảm t́nh.

      Văng sanh, nói thật ra, chẳng phải là chuyện dễ dàng; chẳng có lư tánh sẽ không thể làm được. Có một cặp vợ chồng ở Tân Trang học Phật đă đôi ba năm, ở cách chúng ta rất xa, do vậy, chỉ nghe băng thâu âm, nghe rất hoan hỷ. Ngày hôm qua, ông ta kể với tôi nguyên nhân khiến ông ta học Phật. Ông ta làm bác sĩ, biết nhân quả báo ứng, nên hễ khám bệnh cho người khác bèn lấy tiền công rất ít, người nhà chẳng thông cảm với ông ta, kêu ca ông ta thu tiền khám bệnh mà ngay cả dùng để mua thuốc theo giá vốn cũng chẳng đủ! Cha và vợ ông ta đều chẳng vui ḷng, chẳng thông cảm cho lắm. Do bà vợ cũng học Phật, tôi bảo bà ta: “Tích tài chẳng bằng tích đức! Nay chồng bà làm như vậy, ông bà sẽ có phước mai sau, ông ta làm không sai. Chỉ cần có thể sống qua ngày là được rồi, cần ǵ phải kiếm nhiều tiền? Chẳng bằng tích đức cho nhiều”. Ông ta cho tôi biết: Ông ta học Phật là do nghe băng thâu âm bèn dấy tín tâm, c̣n nguyên nhân xa là do bà nội của ông ta đă tạ thế từ mấy năm trước [phát khởi]. Thuở đó, cả nhà đều chẳng tin Phật, bà nội niệm Phật, do mọi người trong nhà không tin, nên chỗ nào cũng gặp chướng ngại. Bà cụ niệm thầm trong tâm, chưa bao giờ niệm ra tiếng, cụ niệm theo cách như vậy. Khi mất, cụ tỉnh táo, sáng suốt. Cụ bị bệnh ung thư, nói theo người khác th́ sẽ rất đau khổ; nhưng cụ chẳng bị đau khổ. Khi cụ mất, chẳng bị đau khổ, dẫu bị bệnh cũng chẳng đau khổ. Khi sắp mất, cụ biết sẽ mất lúc nào, biết trước lúc mất. Khi đă chết, khuôn mặt c̣n hồng hào, c̣n dễ nh́n hơn vẻ mặt lúc sống. Cha ông ta gọi người trong nhà đến xem, ông ta chẳng biết niệm Phật, nhưng biết mẹ ḿnh là người tu hành, bèn nói: “Người tu hành khác hẳn, nhất định là cụ sanh lên trời, tướng mạo trang nghiêm dường ấy”. Thuở ấy, ông ta chẳng tin tưởng cho lắm, nay do nghe Phật pháp, bèn biết đó là sự thật, [bà cụ] quyết định văng sanh! Khi cụ sắp mất, đă bảo con cái: “Phật đă đến, đang đợi ta ở cửa”. Nói xong, cụ qua đời. Khi ấy, v́ họ chẳng tin Phật, ngỡ bà cụ quáng mắt, chẳng b́nh thường cho lắm, ăn nói nhăng nhít, nay suy nghĩ, biết là thật, Phật đến tiếp dẫn.

      V́ vậy, quyết định chẳng thể dùng cảm t́nh, v́ t́nh thức chẳng tương ứng, nhất định là phải có trí huệ, phải có lư tánh, chẳng phải là chấp tướng, mà là thật sự khế nhập diệu lư, đó là tu hành chân thật. Thật sự lư giải pháp thế gian và pháp xuất thế gian, biết lấy bỏ, cái nào đáng nên lấy, cái nào chẳng nên giữ lấy. Trong thế gian này, ngũ dục, lục trần, lục đạo luân hồi đều là giả, chẳng có ǵ là chân thật, quyết định chớ nên tham luyến. Nhất tâm nhất ư cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, đó là đúng. Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới là thành tựu viên măn đạo nghiệp của chính ḿnh. Chính ḿnh đă có năng lực, bèn quay lại thế giới này để hóa độ chúng sanh. Đó là người thật sự thông minh, thật sự có trí huệ.

      Hoằng pháp trong thế gian này, mọi người phát tâm học giảng kinh, hoằng pháp, tốt lắm! Tốt ở chỗ nào? Tốt ở chỗ quư vị can đảm, hy sinh chính ḿnh ḥng thành tựu người khác. Hy sinh chính ḿnh, trong tương lai chính ḿnh phải đọa tam đồ, v́ sao? V́ chính ḿnh chẳng nắm chắc sẽ đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, [thế mà] quư vị lại xen tạp; giảng kinh, thuyết pháp là xen tạp! Quư vị hăy suy ngẫm những câu chuyện do pháp sư Đàm Hư đă kể. Lăo pháp sư Đế Nhàn suốt đời hoằng pháp lợi sanh, Ngài là tổ sư tông Thiên Thai vào cuối đời Thanh. Quư vị thấy người đồ đệ của Ngài, niệm Phật ba năm bèn đứng văng sanh. Người ấy suốt ngày từ sáng đến tối là một câu Phật hiệu, chẳng hề xen tạp! Lăo pháp sư Đế Nhàn khi mất c̣n bị bệnh, chẳng bằng ông ta; nhưng phải hiểu, người như cụ Đế Nhàn, hoặc như pháp sư Đàm Hư, xác thực là có thể văng sanh. Chính ḿnh thật sự nắm chắc, phẩm vị thấp một chút chẳng sao, bỏ ḿnh v́ người, các Ngài hy sinh phẩm vị của chính ḿnh để giúp đỡ chúng sanh. Nay chúng ta th́ ngay cả phẩm vị cũng chẳng trông cậy được, giúp người khác mà chính ḿnh phải đọa tam đồ, phải luân hồi trong lục đạo, đáng sợ quá!

      V́ vậy, tôi khuyên các vị đồng học giảng kinh, thuyết pháp phải nghiêm túc nỗ lực tu tŕ, chính ḿnh quyết định nắm chắc văng sanh Tây Phương Tịnh Độ, sau đấy mới ra hoằng pháp lợi sanh, sẽ là đúng, là chánh xác. Hiện thời, tiền đồ là một bầu hắc ám mờ mịt, [thế mà] chẳng biết lo cho chính ḿnh, c̣n làm sao được nữa! Tâm phát ra đại nguyện ấy là chánh xác, nhưng trong giai đoạn này, phải hiểu rơ ràng: Trong giai đoạn thứ nhất, chính ḿnh phải nghiêm túc tu học, học giảng kinh là chuyện kèm theo. Đến khi chính ḿnh thật sự nắm chắc văng sanh, ta sẽ coi hoằng pháp lợi sanh là bậc nhất, thời gian tu tŕ của chính ḿnh ít hơn một chút cũng chẳng sao, quyết định có thể văng sanh! Phải biết điều này. V́ thế, “bỏ ḿnh v́ người” vẫn là có hạn độ, hạn độ thấp nhất là có thể đạt tới hạ hạ phẩm văng sanh trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư. Hạ hạ phẩm mà chẳng nắm được, không được rồi! Lầm lẫn đặc biệt to đùng! Hoằng pháp lợi sanh là “trên đền bốn ân, dưới cứu ba khổ”, quyết định chẳng phải v́ tiếng tăm, lợi dưỡng. Nếu v́ tiếng tăm, lợi dưỡng mà hoằng pháp lợi sanh, nhất định sẽ bị đọa lạc.

       Đoạn kinh Bảo Tích này đáng cho chúng ta cảnh giác. Ở đây, đức Phật nói: “Duy hữu thực chư thiện bổn, tu chư phạm hạnh, đắc sanh bỉ sát” (Chỉ có gieo các cội lành, tu các phạm hạnh, sẽ được sanh về cơi ấy). Cội lành và phạm hạnh nói theo Tịnh Tông chính là một câu Phật hiệu.

 

      (Sao) Thiện bổn tức thiện căn, phạm hạnh tức phước đức.

      ()善本即善根,梵行即福德。

(Sao: Cội lành chính là thiện căn, phạm hạnh là phước đức).

 

      Một câu A Di Đà Phật là phước huệ song tu.

 

      (Sao) Thử hựu song hiển tŕ danh, vi đa thiện, đa phước chi minh chứng dă. Chư kinh giao tán, khả phất tín thọ?

      ()此又雙顯持名,為多善多福之明證也。諸經交讚,可弗信受。

(Sao: Điều này rơ ràng lại là chứng cớ minh bạch chứng tỏ cả hai điều: Tŕ danh vừa là nhiều thiện, vừa là nhiều phước. Các kinh đều xen lẫn tán dương [pháp môn Niệm Phật], há có thể nào chẳng tin nhận ư?)

 

      Hết thảy kinh đều tán thán như vậy, chúng ta vẫn chẳng tin ư? Vẫn chẳng thể tiếp nhận ư? Chúng ta lại xem đoạn kế tiếp. Trong đoạn ấy, đại sư giả thiết một cuộc vấn đáp.

 

      (Sớ) Vấn: Thử độ đơn tu viên đốn, bất nguyện văng sanh giả, ninh khả vị chi thiểu thiện căn da?

      ()問:此土單修圓頓,不願往生者,寧可謂之少善根耶。

(Sớ: Hỏi: Đối với người chỉ tu pháp viên đốn trong cơi này, chẳng nguyện văng sanh, há có thể nói là ít thiện căn ư?)

 

      Hỏi hay lắm! “Thử độ” là thế gian này, xác thực là có hạng người như vậy, “đơn tu viên đốn pháp” (chỉ tu pháp viên đốn), Thiền Tông là pháp viên đốn, họ chẳng mong văng sanh Tịnh Độ. Nhiều vị đại đức trong các tông phái Thiên Thai, Hoa Nghiêm, và Bát Nhă cũng chẳng cầu sanh Tịnh Độ. Có phải những người ấy cũng là ít thiện căn hay chăng?

 

      (Diễn) Đơn tu viên đốn, bất nguyện văng sanh giả, thị tông môn sư đức.

      ()單修圓頓不願往生者,是宗門師德。

      (Diễn: Người chỉ tu pháp viên đốn, chẳng muốn văng sanh là bậc thầy, bậc đại đức trong Tông Môn).

 

      Là các vị tổ sư đại đức trong Thiền Tông.

 

      (Diễn) Trực minh trực tánh, bất đới tiêm trần.

      ()直明直性不帶纖塵。

      (Diễn: Trực tiếp minh tâm kiến tánh, chẳng vướng mắc mảy trần).

 

      Trực tiếp cầu minh tâm kiến tánh, đúng là chẳng có tí xíu vọng niệm nào!

 

      (Diễn) Phật lai dă sát, ma lai dă sát, niệm Phật nhất thanh, sấu khẩu tam nhật giả.

     ()佛來也殺,魔來也殺,念佛一聲,漱口三日者。

      (Diễn: Phật đến cũng giết, ma đến cũng giết[11], niệm Phật một tiếng, súc miệng ba ngày).

 

      Đây là người chẳng niệm Phật, không cầu văng sanh. Chư vị xem ngữ lục của Thiền Tông sẽ biết.

 

(Diễn) Ninh khả vị chi thiểu thiện căn giả, vị dĩ tŕ danh vi đa thiện căn, tắc thử đẳng sư đức, giai túc cụ Bát Nhă linh căn năi năng nhĩ dă, ninh khả vị chi thiểu thiện căn da?

()甯可謂之少善根者,謂以持名為多善根,則此等師德,皆夙具般若靈根乃能爾也,甯可謂之少善根耶。

(Diễn: Há có nên nói họ là kẻ ít thiện căn, bảo tŕ danh mới là nhiều thiện căn ư? Các vị tổ sư đại đức ấy đều trọn đủ linh căn Bát Nhă từ xưa nên mới có thể được như thế, há có thể nói họ là phường ít thiện căn ư?)

 

      Tổ sư đại đức của Tông Môn đều là bậc lỗi lạc, xác thực là đă tu học rất sâu dầy trong đời quá khứ, chẳng lẽ người như vậy cũng là kẻ ít thiện căn, ít phước đức hay sao? Chúng ta xem Liên Tŕ đại sư giải đáp như thế nào!

 

      (Sớ) Đáp: Viên đốn hành nhân.

      ()答:圓頓行人。

      (Sớ: Đáp: Người tu hành viên đốn).

 

      “Hành” () là người tu hành, cũng là nói tới những người tu hành trong Thiền Tông.

 

      (Sớ) Tuy ngộ nhất tâm, thượng dư hậu hữu.

      ()雖悟一心,尚餘後有。

      (Sớ: Tuy đă ngộ nhất tâm, nhưng hăy c̣n sót lại thân sau).

 

      “Ngộ” là đă ngộ. Đây là giải ngộ, chẳng phải là chứng ngộ. Nói cách khác, người ấy chưa đoạn phiền năo tập khí, chẳng thoát khỏi sanh tử luân hồi.

 

      (Diễn) Tuy ngộ nhất tâm, thượng dư hậu hữu giả, vị nhược ngộ nhi tức chứng Vô Sanh, thị chân thiện căn thâm hậu. Nhậm cừ hoành thuyết, thụ thuyết, vô sở bất khả, giáo cừ văng đông, văng tây, chân như thuyết mộng.

      ()雖悟一心尚餘後有者,謂若悟而即證無生,是真善根深厚。任渠橫說豎說,無所不可;教渠往東往西,真如說夢。

(Diễn: “Tuy ngộ nhất tâm mà hăy c̣n sót lại thân sau”: Ư nói, nếu là đă ngộ, liền chứng vô sanh, th́ đúng là thiện căn sâu dầy. Mặc cho người ấy nói ngang, nói dọc, không ǵ chẳng thể được, mặc cho người ấy sang đông, sang tây, đúng là như nói chuyện nằm mộng vậy).

 

      Mấy câu này nói đến người thật sự ngộ, tức là chứng ngộ. Người đă chứng ngộ bèn có thể [làm như vậy], tức là hạng người giống như Lục Tổ đại sư, đă minh tâm kiến tánh. Đó là thật sự ngộ, đúng là “thiện căn sâu dầy”. Người như vậy chẳng nhiều, hết sức hy hữu, xác thực là đă chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn.

 

      (Diễn) Nhược vị đắc Vô Sanh, nhi tự phụ viên nhân.

     ()若未得無生,而自負圓人。

(Diễn: Nếu chưa đắc Vô Sanh, mà tự phụ là hạng viên đốn).

 

      Chưa đạt đến cảnh giới ấy, chưa thể thật sự chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, tự tưởng chính ḿnh là căn tánh viên đốn, tự cậy thông minh.

 

      (Diễn) Độn trí Tịnh Độ, diệc thị thiện căn thiển tiển dă.

      () 鈍置淨土,亦是善根淺尟也。

      (Diễn: Kẻ căn cơ chậm lụt mà gác bỏ Tịnh Độ th́ cũng là kẻ thiện căn nông cạn vậy).

 

      Nói hay quá! Thuở ấy, khi Liên Tŕ đại sư viết bộ Sớ Sao này, Thiền Tông rất thịnh, Tịnh Độ hết sức suy vi. Nói chuyện chẳng cẩn thận, sẽ mất ḷng các vị đại đức trong Thiền Tông, sẽ rất khó thể chịu đựng, sẽ vướng phải bao nhiêu kẻ quở trách, phê b́nh! V́ thế, Ngài nói năng chú ư cẩn thận! Trong bộ kinh này, chỗ nào Ngài cũng dẫn kinh Hoa Nghiêm để giải thích, v́ Thiền Tông cũng tôn sùng Hoa Nghiêm, do đây mà nâng cao thân phận và địa vị kinh Di Đà, rát miệng, buốt ḷng! V́ vậy, Ngài rất uyển chuyển: “Tuy ngộ nhất tâm, thượng dư hậu hữu” (Tuy đă ngộ nhất tâm, vẫn c̣n sót lại thân sau).

 

      (Sớ) Chánh nghi cầu sanh bỉ quốc, thân cận Di Đà.

      ()正宜求生彼國,親近彌陀。

      (Sớ: Đáng nên cầu sanh cơi ấy, thân cận Phật Di Đà).

 

      Đáng phải nên cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, thân cận A Di Đà Phật, lời này có căn cứ. Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư là tấm gương tốt nhất. Trong Thiền Tông, thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ là bậc đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh, về già chuyên tu Tịnh Độ, chuyên hoằng dương Tịnh Độ, trở thành tổ sư đời thứ sáu của Tịnh Độ Tông. Thiền sư Triệt Ngộ cũng là từ Thiền Tông quay lại. Triệt Ngộ Thiền Sư Ngữ Lục toàn là khuyên người tham Thiền hăy niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Có những căn cứ ấy.

 

      (Sớ) Triết lăo, Thanh công, kiểu nhiên phúc triệt. Nhược kỳ tự phụ viên nhân, bất nguyện văng sanh, đương tri diệc thị thiện căn bạc cố, như Hoa Nghiêm trung thuyết.

()喆老青公,皎然覆轍,若其自負圓人,不願往生,當知亦是善根薄故,如華嚴中說。

(Sớ: Cụ Chân Như Triết, ngài Thanh Thảo Đường là những vết xe đổ rành rành. Nếu kẻ nào tự phụ là hạng viên đốn, chẳng muốn văng sanh, hăy nên biết người ấy cũng là phường thiện căn mỏng manh như trong kinh Hoa Nghiêm đă nói).

 

      Sợ người ta không tin, phải nêu ra kinh Hoa Nghiêm để làm căn cứ. Chúng ta hăy xem chuyện của hai vị Triết lăo và Thanh công.

 

      (Diễn) Triết lăo trụ kinh sư tứ thập niên, thường tọa bất ngọa.

      ()喆老住京師四十年,常坐不臥。

      (Diễn: Cụ Chân Như Mộ Triết[12] trụ tại kinh đô bốn mươi năm, thường ngồi chẳng nằm).

 

      Đây là bậc đại đức tham Thiền, nay chúng ta nói là “bất đảo đơn” (不倒單: chẳng ngả ḿnh xuống đơn).

 

      (Diễn) Hóa hậu.

      ()化後。

      (Diễn: Sau khi hỏa táng).

 

      Khi hỏa táng.

 

      (Diễn) Chỉ áo diệc thiêu xuất xá-lợi.

()紙襖亦燒出舍利。

(Diễn: Giấy bọc, áo liệm cũng thiêu thành xá-lợi).

 

      Đừng nói là thân thể, ngay cả quần áo Sư mặc, sau khi thiêu, đều xuất hiện các hạt xá-lợi.

 

      (Diễn) Dĩ bất tu Tây Phương, sanh đại phú quư xứ.

      ()以不修西方,生大富貴處。

      (Diễn: Do chẳng tu về Tây Phương, nên sanh vào nơi đại phú quư).

 

      Đời sau sanh trong gia đ́nh phú quư, quyền cao chức trọng. V́ thế, người làm đế vương hay quan to trong thế gian này trước kia đều là người tu hành đă lâu. Hễ chuyển sang đời khác, cả một đời tu hành đổi lấy sự phú quư trong nhân gian.

 

      (Diễn) Thanh công tức Thanh Thảo Đường.

      ()青公即青草堂。

      (Diễn: Thanh công chính là Thanh Thảo Đường).

 

      Đây là một vị đại đức hết sức nổi tiếng trong Thiền Tông.

 

      (Diễn) Niên cửu thập dư, cảm Tăng gia nữ nhân tống cúng.

      ()年九十餘,感曾家女人送供。

      (Diễn: Tuổi ngoài chín mươi, do cảm kích sự cúng dường, biếu tặng của nữ nhân nhà họ Tăng).

 

      Sư có tín đồ họ Tăng, hết sức tốt đối với lăo pháp sư, thường xuyên cúng dường Sư. Khi lâm chung, Sư nói: “Bà cúng dường ta rất nhiều, ta làm con của bà là xong”. Sau khi mất, Sư đầu thai vào nhà bà ta, làm con bà ta, tức là Tăng Lỗ Công, làm Tể Tướng đời Tống, làm quan đến chức Tể Tướng. Hôm phu nhân nhà họ Tăng sanh con, mộng thấy Thanh Thảo Đường bước vào pḥng bà ta. Bà liền sai người đến chùa xem, lăo ḥa thượng đă viên tịch, biết Sư đến đầu thai, về sau, [người con ấy] làm đến chức Tể Tướng. Đấy là những người chẳng cầu văng sanh.

 

      (Diễn) Phúc triệt giả, Hán Giả Nghị vân: “Tiền xa kư phúc, hậu xa đương giới”.

      ()覆轍者,漢賈誼云:前車既覆,後車當戒。

(Diễn: “Vết xe đổ”: Đời Hán, Giả Nghị[13] nói: “Xe trước đă đổ, xe sau hăy nên răn dè”).

 

      Phải ngăn ngừa! Quư vị thấy t́nh h́nh của người xưa như vậy, há nên học theo ư? Những vị ấy nếu cầu sanh Tịnh Độ, nói thật ra, rất dễ dàng, họ có công phu như vậy, ư niệm vừa chuyển, ngay lập tức sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Họ chẳng chịu cầu văng sanh, nên đạt được sự phú quư trong nhân gian. Do vậy, người phú quư, kẻ tài hoa trong thế gian đều là có lai lịch. Mọi người chẳng nghiêm túc tu hành, chẳng cầu sanh Tịnh Độ, quư vị học giảng kinh, thuyết pháp, hoằng pháp lợi sanh, đời sau cũng là phú quư! Tu tŕ suốt một đời để đổi lấy sự phú quư trong nhân gian, đây là chuyện rất đáng sợ! Hai vị ấy đă nêu gương cho mọi người biết: “Nhược kỳ tự phụ viên nhân, bất nguyện văng sanh, đương tri diệc thị thiện căn bạc cố” (Nếu kẻ ấy tự phụ là hạng căn cơ viên đốn, chẳng nguyện văng sanh, th́ hăy nên biết cũng là kẻ thiện căn mỏng manh vậy). Đúng như vậy, chẳng giả tí nào!

 

      (Sao) Hậu hữu giả, hậu ấm dă, tức lai sanh dă. Viên nhân kiến địa, tuy dữ Phật tề, nhiên nhi thô tế vô minh do vị tận trừ, hằng sa Tánh Đức do vị tất bị. Hữu Hoặc nhuận sanh, ninh vô hậu hữu? Kư tồn hậu hữu, tắc hữu sanh phương, bất ly lục đạo.

      ()後有者,後陰也,即來生也。圓人見地,雖與佛齊,然而粗細無明猶未盡除,恆沙性德猶未悉備。有惑潤生,寧無後有,既存後有,則有生方,不離六道。

(Sao: “Hậu hữu” là hậu ấm, tức là đời sau. Người viên đốn tuy kiến địa bằng với Phật, nhưng vô minh thô hay tế c̣n chưa trừ hết, hằng sa Tánh Đức c̣n chưa trọn hết. Hễ có phiền Hoặc tràn trề nẩy sanh, há lẽ nào chẳng có thân sau cho được? Đă có thân sau th́ phải tái sanh, chẳng ĺa khỏi lục đạo).

 

      Chúng ta nhất định phải hiểu rơ sự thật này! Kiến giải của quư vị giống như Phật, thử hỏi quư vị: Quư vị có đoạn vô minh hay chưa? Tánh Đức có thấu lộ hay chưa? Nh́n từ chỗ nào? Nay chúng ta chẳng cần nói tới vô minh vi tế, mà nói về [vô minh] thô, [vô minh] thô là ǵ? Kiến Tư phiền năo. Quư vị đă đoạn hết Kiến Tư phiền năo hay chưa? Quư vị c̣n có nhân ngă, thị phi hay không? C̣n có tham, sân, si, mạn hay không? Nếu c̣n có đôi chút như vậy, nói cách khác, chắc chắn là quư vị chẳng thoát khỏi tam giới! Quư vị có kiến giải giống chư Phật, vẫn uổng công, chẳng thoát khỏi tam giới! Trong thế gian, từ xưa tới nay, quả thật có không ít kẻ cuồng vọng, thậm chí tưởng chính ḿnh vượt trỗi chư Phật. Tự tưởng ḿnh đă vượt trỗi chư Phật, đó là cuồng vọng tự đại. Người khác tán thán bèn hoan hỷ, người ta nói mấy câu chẳng thuận tai bèn bực tức, có được hay chăng? Không chỉ là chẳng thể thoát khỏi tam giới, chỉ sợ là cả ba đường lành đều chẳng giữ nổi, cơi trời lẫn nhân gian đều chẳng có phần! Đối với vô minh thô và tế, sách Diễn Nghĩa có chú giải:

 

      (Diễn) Thô tế vô minh do vị tận giả, tế tức căn bản, thô tức chi mạt.

      () 粗細無明猷未盡者,細即根本,粗即枝末。

(Diễn: “C̣n chưa hết sạch vô minh thô và tế”: Tế là căn bản, thô là chi mạt).

 

      “Tế” là căn bản vô minh, “thô” là chi mạt vô minh.

 

      (Diễn) Viên nhân kiến dữ Phật tề, hoặc toàn vị phá, dĩ Lư tuy đốn ngộ, thừa ngộ tinh tiêu, Sự tu tiệm trừ, nhân thứ đệ tận cố.

      ()圓人見與佛齊,惑全未破,以理雖頓悟,乘悟併消,事須漸除,因次第盡故。

(Diễn: Người viên đốn kiến giải bằng với chư Phật, nhưng chưa phá trừ toàn thể Hoặc, xét theo Lư th́ tuy là do đốn ngộ bèn [có thể] nương vào ngộ để tiêu trừ [phiền năo], nhưng xét theo Sự th́ cần phải trừ khử dần dần, sẽ lần lượt trừ hết).

 

      Ngộ ở đây là giải ngộ, chẳng phải là chứng ngộ. Tuy quư vị đă ngộ, nhưng làm chẳng được. Nói cách khác, chẳng biến cảnh giới của Phật thành cảnh giới của chính ḿnh. Đối với cảnh giới của Phật, quư vị nói rành mạch, rơ ràng, nhưng đó là cảnh giới của chư Phật, chẳng phải là cảnh giới của chính ḿnh. Cảnh giới của chính ḿnh và cảnh giới của Phật hoàn toàn khác nhau, c̣n làm thế nào được nữa?

 

      (Diễn) Hằng sa Tánh Đức do vị tất bị giả, đức hữu Tánh Đức, Tu Đức. Tánh Đức bổn cụ, Tu Đức tu thành.

      ()恆沙性德猶未悉備者,德有性德修德,性德本具,修德修成。

(Diễn: “Hằng sa Tánh Đức c̣n chưa trọn đủ”: Đức có Tánh Đức và Tu Đức. Tánh Đức vốn sẵn trọn đủ, Tu Đức là do tu thành).

 

      Chẳng sai! Xét theo Tánh Đức, hết thảy bọn chúng sanh chúng ta chẳng khác chư Phật, nhưng nếu quư vị chẳng tu, dẫu có Tánh Đức, chẳng khởi tác dụng!

      Hai, ba mươi năm trước, tôi gặp một đồng tu, ông ta học Phật cũng rất lâu rồi, bảo tôi ông ta đă chứng đắc A La Hán. Tôi nghe nói, hết cách! Ông ta tin tưởng sâu xa chính ḿnh đă chứng quả A La Hán, nói cách nào ông ta cũng không nghe lọt tai được. Cuối cùng, tôi suy nghĩ rồi hỏi ông ta: “A La Hán có Lục Thông, chúng ta ngồi trong pḥng khách, trên đường ngoài tường, người ta đi tới đi lui, ông có thấy hay không?” Ông ta đáp: “Chẳng thấy”. A La Hán có Tha Tâm Thông, nay trong ḷng tôi nghĩ ǵ, ông có biết hay không? Ông ta đáp: “Chẳng biết”. Tôi nói: “Tôi khẳng định ông chẳng chứng đắc A La Hán”. Như vậy th́ mới thuyết phục được ông ta! Có phải là ông ta phạm vọng ngữ hay chăng? Chẳng phải là vọng ngữ, mà là Tăng Thượng Mạn như trong Phật pháp đă nói. Ông ta ngỡ chính ḿnh thật sự chứng đắc A La Hán, trong tâm có chút thanh tịnh, đạt được đôi chút pháp hỷ, tự nhận là đă chứng quả.

      Hiện thời, trên thế giới có lắm nơi có những kẻ kỳ quái, những chuyện lạ lùng. Có một năm, tôi giảng kinh tại Lạc Sam Cơ (Los Angeles), có năm người trẻ tuổi ở Lạc Sam Cơ, hôm đó, tôi gặp được ba người, họ đến nghe tôi giảng kinh. Nghe nói có một vị lạt-ma Tây Tạng giảng kinh tại Lạc Sam Cơ, thọ kư cho năm người bọn họ, bảo là năm người bọn họ đă khai ngộ. Những người ấy hết sức cuồng vọng, đến nghe tôi giảng kinh. Sau khi giảng xong, họ đến hỏi tôi, muốn tôi cũng chứng minh họ đă khai ngộ. Tôi nói: “Các ông chẳng khai ngộ!” Họ rất tức tối, vặc lại: “Lạt-ma rinpoche[14] chứng minh chúng tôi khai ngộ, sao thầy nói chúng tôi chưa khai ngộ?” Tôi bảo họ: “Tôi chẳng khai ngộ, quư vị đến hỏi tôi, đương nhiên là quư vị chẳng khai ngộ!” Tôi vừa nói xong, thính chúng khi ấy rất nhiều người cười rộ. Quư vị đă khai ngộ, c̣n phải đến hỏi tôi nữa ư? Hiện thời, kẻ lừa người rất đông, thọ kư hoặc chứng minh cho quư vị đều giả trất, đều chẳng tin cậy được! C̣n có nào là quán đảnh, phá đảnh[15], dùng ngọn cỏ cắm vào đỉnh đầu, [tuyên bố] “trong tương lai, khi quư vị chết đi, thần thức sẽ từ nơi đây sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Nếu đỉnh đầu quư vị không mở được, trong tương lai, sẽ chẳng có cách nào văng sanh!” Cả đống người kéo đến! Nghe nói để mở đỉnh đầu phải nộp hai mươi đồng Mỹ kim, kẻ đó đem cọng cỏ cắm vào [đỉnh đầu quư vị]. Ở Á Đặc Lan Đại (Atlanta), tôi gặp một bác sĩ. Vị bác sĩ ấy nói trên đỉnh đầu có một huyệt đạo, thủng lỗ rất lớn, ông ta nói: “Kiểu ấy th́ tôi cũng có thể cắm được, cắm một cái là lọt vào ngay”. Người hiện thời chuộng kỳ ham quái, đúng là bó tay! Nếu cọng cỏ cắm vào ấy chẳng sạch sẽ, quư vị sẽ bị chứng u năo, sớm có ngày văng sanh! Những hiện tượng quái đản như vậy, Trung Hoa lẫn ngoại quốc đều có, lại c̣n hết sức phổ biến, chúng ta phải cẩn thận, ngàn muôn phần chớ bị mắc lừa!

      Chắc chắn là Phật pháp chẳng dùng phương pháp ấy để văng sanh. V́ sao? Tịnh Độ Ngũ Kinh cũng như hết thảy kinh điển Đại Thừa chẳng có cách nói ấy. Do vậy, [đối với những chuyện] người ta nói và làm, phải t́m được căn cứ từ kinh điển [th́ mới tin tưởng, chấp nhận]. Nay chúng ta tu Tịnh Độ Tông, kinh điển chủ yếu của Tịnh Độ Tông là năm kinh một luận. Trong năm kinh một luận chẳng có phương pháp ấy (cắm cọng cỏ vào đỉnh đầu để mở huyệt ḥng chuyển dời thần thức văng sanh), chúng ta nhất loạt chẳng cần phải tin tưởng! Người nương theo năm kinh một luận để tu hành, bao nhiêu người văng sanh! Từ xưa tới nay, trong hiện tại, ở Đài Loan, tại Đại Lục, tại hải ngoại, những người ấy đều là các tấm gương chân thật đặt ngay trước mặt chúng ta, vẫn chẳng tin tưởng ư? Vẫn cứ tin tưởng những chuyện kỳ quái kia! Những kẻ ấy đúng là phường “ít thiện căn, ít phước đức” như kinh đă nói, thậm chí có thể nói là “chẳng có thiện căn, chẳng có phước đức”, đều đang quấy rối tại đó!

      “Hữu Hoặc nhuận sanh, ninh vô hậu hữu” (Đă có phiền hoặc tràn trề nẩy sanh, làm sao không có thân sau cho được), Hoặc () là mê hoặc, là phiền năo, tức là nói đến Kiến Tư phiền năo. Chưa đoạn hết Kiến Tư phiền năo, sẽ chẳng thể vượt thoát lục đạo luân hồi. “Hậu hữu” (後有) là quư vị vẫn phải thọ sanh, về sau vẫn phải luân hồi. “Kư tồn hậu hữu, tắc hữu sanh phương” (Đă có thân sau th́ phải tái sanh), “sanh phương” (生方) là phương thức sanh ra, đến đầu thai, [được sanh ra theo một trong bốn phương thức là] thai, noăn, thấp, hóa, “bất ly lục đạo” (chẳng ĺa lục đạo), bảo rơ ràng, minh bạch cùng quư vị: Quư vị chẳng cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ, nhất định sẽ luân hồi trong lục đạo.

 

      (Sao) Trừ bỉ dĩ đăng Thật Báo, dư hoặc vị miễn nhân thiên.

      () 除彼已登實報,餘或未免人天。

      (Sao: Trừ những người đă lên cơi Thật Báo, những trường hợp khác chắc là chưa tránh khỏi cơi trời người).

 

      Trừ phi người ấy xác thực là đă phá vô minh, chứng đắc Pháp Thân, bèn vượt thoát. Nếu chẳng có công phu như vậy, chẳng thật sự phá vô minh, phá một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân. Nói cách khác, dẫu quư vị tu tốt đẹp đến mấy, bất quá cũng là phước báo nhân thiên, [v́ thế nói là] “vị miễn nhân thiên”.

 

      (Sao) Nhi thiên thượng đa dục, nhân gian tạp khổ.

     ()而天上多欲,人間雜苦。

(Sao: Nhưng cơi trời lắm dục, nhân gian các khổ xen lẫn).

 

      Cơi trời vui sướng. Trước kia, ngài Sư Tử Giác là một vị cao tăng Ấn Độ. Ngài cùng Vô Trước và Thiên Thân, ba người đều tu Di Lặc Tịnh Độ. Lại c̣n cùng nhau ước định: “Ai văng sanh trước, đến được Di Lặc Tịnh Độ bèn trở về báo tin”. Sư Tử Giác mất trước, đă mất rất nhiều năm chẳng có tin tức ǵ. Sau đó, Vô Trước Bồ Tát văng sanh, sanh đến Đâu Suất Nội Viện, ba năm sau mới quay lại báo tin. Thiên Thân Bồ Tát hỏi: “V́ sao ông mất ba năm rồi mới đến báo tin cho tôi?” Ngài Vô Trước đáp: “Thời gian trên cơi trời rất dài, bất quá tôi nhiễu quanh Di Lặc Bồ Tát một ṿng liền vội vă trở xuống báo tin cho ông”. Thiên Thân Bồ Tát hỏi: “Sư Tử Giác th́ sao?” Ngài Vô Trước đáp: “Sư Tử Giác tham cầu sự vui sướng trên cơi trời, vẫn c̣n ở ngoại viện của Đâu Suất Thiên, c̣n chưa gặp Di Lặc Bồ Tát”. Ông ta thấy ngũ dục lục trần trên cơi trời thù thắng vượt trỗi nhân gian quá nhiều, lưu luyến nơi ấy, thôi rồi! Đạo tâm bị thoái thất. V́ thế, người tu đạo không dễ dàng, ngũ dục lục trần trong thế gian này hằng ngày dụ dỗ, mê hoặc quư vị. Sức mạnh dụ dỗ, mê hoặc trong thế gian chưa mạnh lắm, sức dụ dỗ mê hoặc trên cơi trời mạnh mẽ hơn. Sư Tử Giác chẳng bị ngũ dục lục trần trong nhân gian dụ dỗ, mê hoặc, nhưng bị chư thiên dụ dỗ, mê hoặc, chẳng chống nổi, đi theo họ, c̣n nói ǵ được nữa! Điều này hết sức đáng sợ. Những vị ấy đều đă chứng đắc quả vị Bồ Tát, do chưa đoạn tập khí, chẳng chống nổi dụ dỗ, mê hoặc, trong tâm c̣n có tham, sân, si, mạn. Đó là “thiên thượng đa dục” (cơi trời lắm dục). “Nhân gian tạp khổ” (Nhân gian các khổ xen lẫn), đời này chúng ta sống trong nhân gian, đă liễu giải và thấu hiểu trạng huống trong nhân gian.

 

      (Sao) Đọa lạc giả chúng, giải thoát giả hy.

      ()墮落者眾,解脫者希。

      (Sao: Kẻ đọa lạc đông đảo, người giải thoát ít ỏi).

 

      Đây là lời chân thật, người đọa lạc đông lắm! Đúng là trong thế gian này, người tu pháp môn khác chứng đắc cơi Thật Báo, tức là phá vô minh, chứng đắc Pháp Thân, hạng người như vậy rất ít. Trong Thiền Tông Trung Hoa, thù thắng nhất là Lục Tổ Huệ Năng. Một đời Huệ Năng đại sư có bốn mươi hai người khai ngộ minh tâm kiến tánh trong hội của Ngài. Quư vị đọc Đàn Kinh sẽ hiểu, trong Thiền Tông, chuyện này thù thắng khôn sánh, là vô cùng thù thắng, thật sự là không tiền tuyệt hậu (空前絕後: trước kia chưa hề có sau này cũng không)! Trong hội của một vị tổ sư đại đức, người thật sự có thể minh tâm kiến tánh khai ngộ, quá nửa là một, hai, ba, năm người th́ rất nhiều! Trong hội của Lục Tổ có hơn bốn mươi người [khai ngộ, trong khi] người theo Tổ tu học đâu phải chỉ là ngàn vạn? Vẫn là tỷ lệ không tương xứng! Lại xem Huệ Viễn đại sư thuở ấy kết cḥi tranh ở Lư Sơn, một trăm hai mươi ba người cùng ở một chỗ niệm Phật, ai nấy đều văng sanh. Hội của Lục Tổ Huệ Năng đại sư chẳng bằng. So giữa hai vị, quư vị liền biết sự thù thắng của việc niệm Phật văng sanh.

 

      (Sao) Bất sanh Tịnh Độ, nhi tương yên văng.

      ()不生淨土,而將焉往。

      (Sao: Chẳng sanh về Tịnh Độ, th́ sẽ đi về đâu?)

 

      Nếu quư vị chẳng sanh về Tịnh Độ, quư vị sẽ đến nơi đâu? Đọc phần cuối đoạn chú giải, sẽ có thể khiến cho chúng ta liễu giải chân tướng, tăng trưởng tín tâm.

 

      (Diễn) Trừ bỉ dĩ đăng Thật Báo, dư hoặc vị miễn nhân thiên giả, năng đoạn vô minh chứng Pháp Thân, sanh Thật Báo độ, tắc siêu lục đạo.

      ()除彼已登實報,餘或未免人天者,能斷無明證法身,生實報土,則超六道。

(Diễn: “Trừ những người đă lên cơi Thật Báo, những trường hợp khác chắc là chẳng thoát khỏi cơi trời người”: Có thể đoạn vô minh, chứng Pháp Thân, sanh vào cơi Thật Báo, bèn vượt thoát lục đạo).

 

      Vượt thoát lục đạo, vĩnh viễn chẳng c̣n luân hồi nữa.

 

      (Diễn) Nhược bất nhiên giả, túng bất đọa ác thú, diệc đọa nhân thiên, yên vô hậu hữu da?

      ()若不然者,縱不墮惡趣,亦墮人天,焉無後有耶。

(Diễn: Nếu chẳng vậy, dẫu chẳng đọa trong đường ác, cũng đọa trong cơi trời, người, làm sao chẳng có thân sau cho được?)

 

      Nếu chẳng phải là như vậy, quư vị quyết định chẳng thể vượt thoát lục đạo luân hồi. Dưới đây là một đoạn vấn đáp:

 

(Diễn) Hoặc vấn viết: Đoạn vô minh, chứng Pháp Thân Bồ Tát, sanh Thật Báo giả, huưnh siêu lục đạo bất tất ngôn hỹ!

()或問曰:斷無明證法身菩薩生實報者,迥超六道不必言矣。

(Diễn: Hoặc có kẻ hỏi: “Bậc Bồ Tát đă đoạn vô minh, chứng Pháp Thân th́ vượt thoát khỏi lục đạo [là chuyện] chẳng cần phải nói nữa!”)

 

      Chuyện này đương nhiên chẳng cần phải nói, quyết định là vượt thoát lục đạo.

 

      (Diễn) Sanh Phương Tiện Hữu Dư giả, diệc siêu tam giới, bất thọ luân hồi.

      ()生方便有餘者,亦超三界不受輪迴。

(Diễn: Kẻ sanh trong cơi Phương Tiện Hữu Dư, cũng vượt thoát tam giới, chẳng bị luân hồi).

 

      Nói đến công phu kém hơn. Dẫu kém hơn đôi chút, vẫn có thể vượt thoát lục đạo luân hồi, giống như những vị từ A La Hán trở lên.

 

      (Diễn) Hà đản ngôn “trừ Thật Báo năng miễn nhân thiên”, bất ngôn “trừ Phương Tiện diệc miễn nhân thiên” da?

     ()何但言除實報能免人天,不言除方便亦免人天耶。

(Diễn: V́ sao chỉ nói là “ngoại trừ Thật Báo có thể thoát khỏi nhân thiên”, chẳng nói “ngoại trừ cơi Phương Tiện cũng tránh thoát nhân thiên”?)

 

      Hỏi rất hay, đúng là t́m thấy lư do để chất vấn. A La Hán đoạn Kiến Tư phiền năo, vượt thoát lục đạo luân hồi, nhưng A La Hán chẳng chứng đắc cơi Thật Báo, [v́ các Ngài] chẳng minh tâm kiến tánh. Cớ sao quư vị chỉ nói sanh về cơi Thật Báo, chẳng nói sanh trong cơi Phương Tiện? Câu hỏi này rất có lư, hăy xem đại sư đáp theo cách nào.

 

      (Diễn) Thử chương vấn đáp, đơn luận viên nhân.

      () 此章問答,單論圓人。

      (Diễn: Lời vấn đáp trong chương này chỉ luận định theo phía người căn cơ viên đốn).

 

      Chỉ nói theo Viên Giáo, chẳng nói với quư vị về Tạng Giáo hay Thông Giáo. Theo tiêu chuẩn của Viên Giáo th́ t́nh h́nh là như vậy đó.

 

      (Diễn) Viên nhân đoạn vô minh giả, tức sanh Thật Báo.

      ()圓人斷無明者,即生實報。

      (Diễn: Người thuộc căn cơ Viên Giáo hễ đoạn vô minh bèn sanh vào Thật Báo).

 

      Chẳng thể sanh vào cơi Phương Tiện Hữu Dư.

 

      (Diễn) Như vị đoạn vô minh, tạo chí Thất Tín, tuy sanh Phương Tiện, sở kiến chi cảnh dữ Thật Báo đồng, bất đồng Tạng Thông nhị giáo thể tích chi nhân, thật sanh Phương Tiện, cố lược nhi bất ngôn dă.

()如未斷無明,造至七信,雖生方便,所見之境與實報同,不同藏通二教體析之人,實生方便,故略而不言也。

(Diễn: Nếu chưa đoạn vô minh, đă đạt tới địa vị Thất Tín, tuy sanh trong cơi Phương Tiện, mà thấy cảnh giới giống như trong cơi Thật Báo, chẳng giống như [kiến giải của người tu tập] Thể Không Quán và Tích Không Quán trong Tạng Giáo và Thông Giáo, [người thuộc hai giáo ấy] thật sự sanh trong cơi Phương Tiện. V́ thế, lược đi chẳng nói).

 

Nói theo tứ giáo, chỉ luận định Viên Giáo, chẳng nói về Tạng Giáo, Thông Giáo, hay Biệt Giáo. Đây là kiến địa của người thuộc Viên Giáo, cảnh giới xác thực là chẳng giống Tạng Giáo và Thông Giáo. Người Viên Giáo đă đoạn Kiến Tư phiền năo bèn vượt thoát lục đạo luân hồi. Tuy sanh trong cơi Phương Tiện Hữu Dư, sự hưởng thụ của người ấy trong cơi Phương Tiện Hữu Dư chẳng khác Thật Báo. V́ sao? Trí huệ khác nhau, đoạn chứng giống nhau; nhưng chư vị phải hiểu: Cảnh chuyển theo tâm. Nói cách khác, tâm của bậc Thất Tín trong Viên Giáo chẳng giống tâm của A La Hán hay Bích Chi Phật. Một đằng là tâm lượng hẹp nhỏ, một đằng tâm lượng to lớn; do vậy, Ngài (Thất Tín Bồ Tát) thọ dụng cảnh giới khác hẳn. Tuy sanh trong cơi Phương Tiện Hữu Dư, gần như bằng với cơi Thật Báo Trang Nghiêm, chẳng giống cảnh giới của hàng Tiểu Thừa.

 

      (Sao) Triết Lăo, Thanh Công, câu xưng hữu ngộ.

      ()喆老青公,俱稱有悟。

      (Sao: Các vị Chân Như Triết và Thanh Thảo Đường đều được gọi là có ngộ).

 

      Hai vị này đều là bậc khai ngộ trong Thiền Tông.

 

      (Sao) Nhi Triết Lăo hậu thân, đam luyến phú quư; Thanh Công hậu thân, đa lịch khổ ưu.

      ()而喆老後身,耽戀富貴;青公後身,多歷苦憂。

      (Sao: Nhưng hậu thân của Chân Như Triết mê đắm phú quư, hậu thân của ngài Thanh Thảo Đường trải lắm nỗi khổ sở, lo âu).

 

      Làm quan to, rất vất vả. Quư vị thấy những người làm quan to hiện thời đều rất nhọc nhằn.

 

      (Sao) Giai diêu bất mộ văng sanh, tự thất thiện lợi.

      ()皆繇不慕往生,自失善利。

      (Sao: Đều là do chẳng hâm mộ văng sanh, tự đánh mất lợi ích tốt lành).

 

      Quư vị thấy t́nh h́nh của họ, lỗi lầm ở chỗ chẳng mong cầu văng sanh Tịnh Độ, chẳng tin pháp môn này. “Tự thất thiện lợi”: [Đánh mất] lợi ích thù thắng nhất, chính ḿnh tự lầm ḿnh.

 

      (Sao) Trí sử yêm trệ đa sanh, khoáng Bồ Đề lộ.

      ()致使淹滯多生,曠菩提路。

(Sao: Khiến bị ch́m đắm nhiều đời, đường Bồ Đề xa vời vợi).

 

      Đương nhiên là trong tương lai người ấy vẫn có thể văng sanh, nhưng chẳng biết là đến đời nào, kiếp nào! Người ấy nhất định sẽ nghe danh hiệu A Di Đà Phật, nhất định thấy tượng A Di Đà Phật, trong A Lại Da Thức có chủng tử A Di Đà Phật, chỉ là chẳng chịu xưng niệm mà thôi, chẳng mong cầu sanh! Như vậy th́ con đường Bồ Đề sẽ rất dài! Chẳng biết phải đi ṿng vèo bao xa, sau đó mới hồi tâm chuyển ư, thật thà niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ.

 

      (Sao) Khởi phi thiện căn lương bạc, năi trí như tư.

      ()豈非善根涼薄,乃致如斯。

      (Sao: Há chẳng phải là do thiện căn kém mỏng, nên khiến cho đến nỗi như vậy).

 

      Kẻ ấy thiện căn kém mỏng! Chẳng thể nói kẻ ấy không có thiện căn và phước đức, mà là thiện căn lẫn phước đức đều chẳng nhiều.

      Trong phần trên, Liên Tŕ đại sư đă dẫn kinh Hoa Nghiêm để chứng minh,“như Hoa Nghiêm trung thuyết” (như đă nói trong kinh Hoa Nghiêm). Kinh Hoa Nghiêm nói ở chỗ nào? Nay Ngài bảo cho chúng ta biết.

 

      (Sao) Ngôn Hoa Nghiêm giả, Nhập Pháp Giới phẩm vân.

      ()言華嚴者,入法界品云。

      (Sao: [Trong lời Sớ đă] nhắc tới kinh Hoa Nghiêm th́ như trong phẩm Nhập Pháp Giới có nói).

 

      Phẩm Nhập Pháp Giới chính là phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện. Trong bộ Bát Thập Hoa Nghiêm, phẩm này gồm hai mươi mốt quyển. Tứ Thập Hoa Nghiêm là kinh văn của toàn bộ phẩm này.

 

      (Sao) Giá Na hội thượng, chư đại Thanh Văn, bất kiến Phật giả, dĩ thiện căn bất đồng cố, bổn bất tu tập kiến Phật tự tại thiện căn cố. Cố tri chấp tŕ danh hiệu, nguyện kiến Di Đà, thành đa thiện căn, đại thiện căn, tối thắng thiện căn, bất khả tư nghị thiện căn dă.

      ()遮那會上,諸大聲聞,不見佛者,以善根不同故,本不修習見佛自在善根故。故知執持名號,願見彌陀,誠多善根、大善根、最勝善根、不可思議善根也。

(Sao: Trong hội Giá Na, các vị đại Thanh Văn chẳng thấy Phật là v́ thiện căn khác nhau, vốn là do họ chẳng tu tập thiện căn tự tại thấy Phật. V́ thế biết là chấp tŕ danh hiệu, nguyện thấy Di Đà, tạo thành nhiều thiện căn, thiện căn to lớn, thiện căn thù thắng nhất, thiện căn chẳng thể nghĩ bàn).

 

Dẫn kinh Hoa Nghiêm để chứng minh. Phẩm cuối cùng của kinh Hoa Nghiêm có nói, Giá Na là Tỳ Lô Giá Na Phật, tức Pháp Thân Phật trong hội Hoa Nghiêm. Chư đại Thanh Văn” chẳng thấy, chẳng nghe, do nguyên nhân ǵ? Thiện căn ít, phước đức ít. Chỉ có bốn mươi mốt vị Pháp Thân đại sĩ thấy Phật, nghe lời Phật dạy. Đấy là do thiện căn bất đồng. V́ sao họ ít thiện căn, ít phước đức? “Bổn bất tu tập kiến Phật tự tại thiện căn cố” (Do họ vốn chẳng tu tập thiện căn tự tại thấy Phật). Nói cách khác, trong vô lượng kiếp, họ đời đời học Phật, nhưng chẳng tu pháp môn này. Pháp môn ǵ vậy? Pháp môn chấp tŕ danh hiệu, tức là pháp môn Niệm Phật, họ chẳng niệm Phật.

      Người tham Thiền không niệm Phật, người nghiên cứu Giáo chẳng niệm Phật, cho nên thiện căn và phước đức ít ỏi. Rơ rệt nhất, tôi nêu trường hợp của thầy tṛ pháp sư Đế Nhàn, quư vị sẽ thấy ngay. Đồ đệ niệm Phật, thầy mỗi ngày lo nghiên cứu kinh điển, giảng kinh, thuyết pháp; do vậy, thiện căn và phước đức của thầy chẳng bằng tṛ. Đồ đệ niệm ba năm vượt trỗi thầy. Pháp sư Đế Nhàn hiện thân thuyết pháp cho chúng ta thấy, chuyện này chẳng được coi là cách xa chúng ta cho lắm, là chuyện thuộc thời đầu Dân Quốc, cách chúng ta bất quá năm mươi năm mà thôi. Đó là chuyện thật. V́ thế, biết nói chẳng bằng biết nghe, thật vậy đấy! Người biết nói chẳng đạt được lợi ích chân thật, người biết nghe bèn đạt được, bèn thành tựu. Hôm nay chúng tôi giảng tới chỗ này.

A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

Phần 108 hết



[1] Đi, đứng, nằm, ngồi là bốn oai nghi, mỗi oai nghi có đủ 250 giới, nên 4x250 thành 1.000. Lại phối hợp với tam tụ luật nghi nên 3x1.000=3.000. Lại phối hợp với bảy chi (giết, trộm, dâm, nói đôi chiều, ác khẩu, vọng ngữ, ỷ ngữ) nên 7x3.000=21.000, lại phối hợp với bốn phiền năo là tham, sân, si, đẳng phần, thành 4x21.000=84.000. Do đó gọi là tám vạn bốn ngàn tế hạnh. Nay thường nói “tám vạn tế hạnh” là chỉ nói con số tṛn, lược bớt số lẻ.

[2] Nói “chú chẳng có ư nghĩa” th́ cũng giống như Ḥa Thượng Tịnh Không thường nói “kinh Phật chẳng có ư nghĩa”. Do kinh chú có vô lượng nghĩa, chẳng thể nào nói trọn, hễ nói lên một nghĩa nào đều là nói phương tiện nhằm thích ứng với một hạng căn cơ nào đó. Thật ra, có thể nói chú là kết tinh của tất cả chân lư ẩn tàng trong kinh Phật. Cũng v́ vậy, chư tổ sư thường nói chú có ư nghĩa bí mật, nên chẳng phiên dịch. Gọi là “bí mật” v́ chẳng phải là cảnh giới phàm phu, Nhị Thừa, Quyền Giáo Bồ Tát chẳng ḥng thấu hiểu được, nên gọi là “bí mật”. V́ lẽ này, Ḥa Thượng Tịnh Không thường nói “Mật Giáo chẳng phải là pháp tu tập của hàng sơ cơ, tiểu căn, Nhị Thừa”. Do vậy, để giải thích một chữ Hồng (Hūṃ), pháp sư Không Hải đă viết một tác phẩm dầy, nhưng cũng chỉ là “giới thiệu một giọt nước trong biển cả”. Hoặc như lạt-ma Govinda có nói: Để giải thích ư nghĩa được bao hàm trong một chữ Aum th́ dù có hằng sa kiếp cũng chẳng thể giải thích trọn vẹn.

[3] Xuất tướng nhập tướng (出將入相): Ra ngoài các tỉnh, làm vị tướng cầm quân, về triều làm Tể Tướng. Từ lúc vừa mới thi đỗ Tiến Sĩ, ông đă được phong làm Tư Lư Tham Quân huyện Quảng Đức, tỉnh An Huy, trải qua nhiều chức quan, do tính cương nghị, nói thẳng, không e ngại, nên từng có lúc bị vu cáo, bị đày đi làm Thông Phán phủ Hà Trung. Khi Lư Nguyên Hạo của Tây Hạ quấy rối biên giới, ông đă được phong làm Kinh Lược An Phủ Sứ Chiêu Thảo Phó Sứ của tỉnh Thiểm Tây, phù tá chủ soái Hạ Tủng b́nh định loạn Tây Hạ, pḥng ngự biên giới phía Tây. Dân chúng ca tụng tài thao lược của ông bằng câu: “Quân trung hữu nhất Phạm, Tây tặc văn chi kinh phá đảm” (trong quân có ông Phạm, giặc Tây nghe tiếng sợ nát gan). Về sau, ông từng làm đến chức Khu Mật Sứ (chức quan coi việc chánh trị cao nhất, chỉ dưới Tể Tướng), rồi kiêm nhiệm Tham Tri Chánh Sự (phó Tể Tướng).

[4] Kinh này do pháp sư Na Liên Đề Lê Da Xá và Pháp Trí cùng dịch vào năm Thiên Bảo thứ chín (570) đời Bắc Tề gồm mười ba phẩm. Kinh được giảng khi đức Phật sắp nhập Niết Bàn. Đức Phật nằm bên hông hữu, phóng quang chiếu khắp đại thiên, Đại Phạm Vương đến thỉnh pháp, được đức Phật phó chúc hộ tŕ đại thiên thế giới. Ma tử Thương Chủ thỉnh Phật trụ thế, đức Phật thọ kư ông ta sẽ thành Bích Chi Phật. Đức Phật lần lượt dạy pháp cho nhiều người, phó chúc Ca Diếp hoằng truyền chánh pháp, thọ kư những vị thượng thủ sẽ hoằng dương Phật pháp sau khi đức Phật nhập diệt như tỳ-kheo Tỷ Đề Xa, tỳ-kheo Đề Tri Ca, Ưu Ba Cúc Đa, A Thâu Sa Cúc Đa, Úc Đa Già v.v… Đồng thời, đức Phật dạy về công đức cúng dường xá-lợi và công đức Niệm Phật…

[5] Đại Trang Nghiêm Kinh Luận c̣n gọi tắt là Đại Trang Nghiêm Luận hay Trang Nghiêm Luận là một bộ luận do Mă Minh Bồ Tát viết, được ngài Cưu Ma La Thập dịch sang Hán văn, gồm mười lăm quyển. Luận gồm chín mươi chương, có chép nhiều sự kiện liên quan đến cuộc đời đức Phật.

[6] Kinh Đại Phẩm Bát Nhă c̣n gọi là Nhị Vạn Ngũ Thiên Tụng Bát Nhă, Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật Kinh, hoặc Tân Đại Phẩm Kinh, do ngài Cưu Ma La Thập phiên dịch vào đời Diêu Tần, gồm hai mươi bảy quyển. Các bộ Đại Trí Độ Luận, Đại Phẩm Kinh Nghĩa Sớ (do ngài Cát Tạng biên soạn) và Chú Giải Đại Phẩm Kinh (của Lương Vũ Đế) đều là chú giải của bản kinh này. Các bản dịch khác của kinh này là Quang Tán Bát Nhă Ba La Mật Kinh (do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn), Phóng Quang Bát Nhă Ba La Mật Kinh (do ngài Vô La Xoa dịch vào đời Tây Tấn). Đại Phẩm Bát Nhă Kinh tương ứng với hội thứ hai trong bộ Đại Bát Nhă sáu trăm quyển do ngài Huyền Trang dịch vào đời Đường.

[7] B́nh () ở đây là một bức giấy đặt nằm ngang để viết đại tự theo lối thư pháp.

[8] Bộ kinh này có tên gọi đầy đủ là Phật Thuyết Xưng Dương Chư Phật Công Đức Kinh do ngài Thiên Trúc Tam Tạng Cát Ca Dạ dịch vào đời Nguyên Ngụy. Đức Phật thuyết kinh này tại núi Linh Thứu nơi thành La Duyệt Kỳ (Vương Xá). Do tôn giả Xá Lợi Phất thưa hỏi: “Hiện thời có bao nhiêu vị Phật đang thuyết pháp?” Đức Phật bèn tán thán và nêu ra một vài vị Phật hiện đang thuyết pháp như trong phương Đông, nơi thế giới Thiên Thần có Bảo Hải Như Lai, trong thế giới Bảo Tập có Bảo Anh Như Lai, trong thế giới Bảo Tối có Bảo Thành Như Lai, trong thế giới Quang Minh có Bảo Quang Minh Như Lai, trong thế giới Tràng Phan có Bảo Tràng Phan Như Lai, trong thế giới Diệu Lạc có A Súc Như Lai… và nhiều danh hiệu khác nữa. Đối với mỗi danh hiệu Phật, đức Phật đều nêu bày cặn kẽ công đức do nghe và niệm danh hiệu các vị Phật ấy.

[9] Theo nghĩa đen, Tŕ () là giữ ǵn, tức là thường xuyên hành, thường niệm, chẳng bỏ lửng hay để gián đoạn. Phúng () là nh́n vào kinh văn để đọc, Tụng () là đọc thuộc ḷng không cần kinh văn. Niệm () vừa là đọc, vừa là thường nghĩ đến. Nếu hiểu niệm là đọc tụng th́ không nhất thiết phải đọc ra tiếng, có thể niệm thầm trong tâm hoặc mấp máy miệng, c̣n phúng và tụng th́ nhất định phải phát ra tiếng rơ ràng.

[10] Kinh Bảo Tích do nhiều pháp hội hợp thành, quyển mười bảy và mười tám chính là pháp hội Vô Lượng Thọ (sách Sớ Sao Diễn Nghĩa gọi pháp hội này là Bảo Tích Đại Bổn), pháp hội kế tiếp chính là pháp hội Bất Động Như Lai gồm hai quyển mười chín và hai mươi. Do tôn giả Xá Lợi Phất khải thỉnh, đức Phật bèn trần thuật cơi nước và nhân hạnh của Bất Động Như Lai: Trong cơi Diệu Hỷ của đức Phật Quảng Mục, có một vị tỳ-kheo tên là Bất Động phát tâm Vô Thượng Bồ Đề và phát hoằng thệ nguyện, được Phật thọ kư, sẽ thành Phật hiệu là Bất Động Như Lai.

[11] Thành ngữ này dựa trên lời khai thị nổi tiếng của ngài Lâm Tế Nghĩa Huyền: “Như nay người học tập Thiền Đạo th́ phải tự tin, đừng hướng ra ngoài để t́m cầu bất cứ ǵ. Cầu Phật, sẽ đánh mất Phật, đánh mất đạo. Cầu Tổ, sẽ đánh mất Tổ. Hễ hướng ngoại th́ cứ gặp liền giết. Gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ, gặp La Hán giết La Hán, gặp cha mẹ giết cha mẹ, gặp thân quyến giết thân quyến, th́ mới chẳng bị ngoại vật trói buộc, mới có thể giải thoát tự tại”. “Gặp” ở đây là chấp trước. Tổ Lâm Tế khuyên người hành Thiền đừng nên chấp trước ư niệm, “giết” có nghĩa là đoạn trừ sạch những ư niệm đối đăi, chấp trước nơi cảnh giới. Câu nói này về sau được rút gọn thành “gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ”, hoặc “Phật đến chém Phật, ma đến chém ma”.

[12] Ngài Chân Như Mộ Triết họ ngoài đời là Văn, quê ở Lâm Xuyên, gia cảnh nghèo hèn, mồ côi từ bé. Ngài theo học với luật sư Viên Giác chùa Vĩnh An ở Kiến Xương, có chí hoằng pháp, giữ giới luật rất tinh nghiêm, được vị Thiền đức nổi danh đương thời là thiền sư Thúy Nham Khả Chân coi trọng. Khi thiền sư Khả Chân đă mất, Sư bèn y chỉ ngài Hoàng Bá. Sư tham học khắp nơi. Tham học xong, Sư được đại chúng suy tôn làm Trụ Tŕ chùa Đại Quy, nhưng Ngài chuyên trông coi hương đăng và làm các việc nặng nề trong chùa suốt bốn mươi năm, luôn giữ cho hương đèn chẳng tắt. Khi quá mệt mới dùng khăn che đầu, dựa vào vách, tạm ngủ giây lát. Cho đến già, Sư vẫn sống rất khiêm cung, không bệnh mà mất. Khi trà tỳ có xá-lợi to như hạt đậu, tṛng mắt và móng tay đều chẳng cháy. Theo Tổ Ấn Quang, hậu thân của Chân Như Triết chính là vua Khâm Tông (Triệu Hoàn) nhà Tống. Khi quân Kim tàn phá đất Bắc Tống, vua cha là Tống Huy Tông (Triệu Cát) hèn nhát, trốn tránh trách nhiệm, bèn nhường ngôi cho Khâm Tông. Khâm Tông lấy niên hiệu là Tĩnh Khang. Làm vua chưa đầy một năm (từ ngày 19 tháng 01 năm 1126 đến ngày 09 tháng 01 năm 1127), cha lẫn con bị quân Kim bắt cầm tù, giải về phương Bắc, phải xưng là “thần” (bầy tôi) với vua Kim, về sau chết ở thành Ngũ Quốc. Sử Trung Hoa gọi biến cố này là “nỗi nhục Tĩnh Khang”. Như vậy, vua Khâm Tông chỉ hưởng vinh hoa rất ngắn, mà phải chịu tủi nhục, giày ṿ trong suốt ba mươi bốn năm lưu đày!

[13] Giả Nghị (200-168 trước Công Nguyên) là một chính trị gia, tư tưởng gia, và văn học gia nổi tiếng thời Tây Hán. Những tác phẩm nghị luận nổi tiếng của ông như Quá Tần Luận, Luận Tích Trữ Sớ, Trị An Sách v.v… được đánh giá rất cao. Ông là người có văn tài, thông minh, nên mới hai mươi hai tuổi đă được Hán Văn Đế cử làm Đ́nh Úy cho thái thú Nam Quận là Ngô Công. Ngô Công hết sức tán thưởng tài năng ông, tâu vua cho ông được thăng lên chức Bác Sĩ (Bác Sĩ là chức quan dành cho người thông thạo Ngũ Kinh, gọi đầy đủ là Kinh Học Bác Sĩ, có thể hiểu đơn giản là chuyên viên đầy uy tín để giảng giải, chú giảng Ngũ Kinh của Nho gia, có thẩm quyền hiệu đính các điển tịch cổ, đồng thời cũng là cố vấn của nhà vua). Ông trở thành một vị quan Bác Sĩ trẻ tuổi nhất thời ấy. Chỉ một năm sau, ông lại được thăng lên làm Thái Trung Đại Phu. Chức quan cao nhất của ông là làm Thái Phó cho Lương Vương (Lưu Tập).

[14] Rinpoche là một mỹ danh để gọi các vị lạt-ma Tây Tạng (người Hoa thường phiên âm thành Nhân Ba Thiết, 仁波切). Rinpoche nói chung có nghĩa là trân bảo, cao quư, quư báu, tương đương với chữ Ratna trong tiếng Phạn. Danh xưng này thoạt đầu chỉ dùng để gọi các vị hóa thân, các vị trưởng lăo, những vị lạt-ma học giả, hoặc các lạt-ma thật sự thành tựu. Nhưng về sau tín đồ cứ thấy vị lạt-ma nào hoằng pháp cũng đều gọi là Rinpoche hết.

[15] “Quán đảnh” là dùng nước rưới lên đỉnh đầu, ngụ ư truyền trao trí huệ, dùng trí huệ cam lộ thủy rưới lên đỉnh đầu. “Phá đảnh” là khai mở huyệt đạo trên đỉnh đầu bằng cách truyền dạy bí quyết pháp tu P’howa. Người Tây Tạng tin tưởng: Nếu tu pháp này thành công, khi mất, sẽ chuyển dời thần thức về Tây Phương Cực Lạc qua lỗ thủng trên đỉnh đầu.