A Di Đà Kinh Sớ Sao
Diễn Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 112
Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ
tử Như Ḥa
Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và Đức
Phong
Tập
223
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang bốn trăm ba mươi chín:
(Sớ)
Hựu chấp tŕ, tức quy mạng nghĩa.
(疏)又執持,即歸命義。
(Sớ: Chấp tŕ lại
có nghĩa là quy mạng).
“Quy mạng” và “quy y” có ư nghĩa giống nhau.
(Sao)
Quy mạng giả, Phạn ngữ Nam-mô.
(鈔)歸命者,梵語南無。
(Sao: Quy mạng: Tiếng
Phạn là Nam-mô).
“Nam-mô”, thời cổ hai chữ
này được đọc là Nam-mô (ná-móu), hiện thời
đọc thành nam-vô (nán-wú), chúng ta phải đọc theo
âm thời cổ.
(Sao)
Giải kiến tiền tự.
(鈔)解見前序。
(Sao:
Xem [lời giải thích chữ Nam-mô] trong phần Tự ở
trước).
Trong
phần trước đă giải thích, ở đây tỉnh
lược.
(Sao)
Nhược bất ủy thân quy mạng, yên năng nhất
tâm chấp tŕ, cố nghĩa đồng dă.
(鈔)若不委身歸命,焉能一心執持,故義同也。
(Sao: Nếu chẳng toàn
thân quy mạng, làm sao có thể nhất tâm chấp tŕ cho
được? V́ thế, có ư nghĩa giống nhau).
[Nam-mô
và “quy mạng”] có ư nghĩa giống nhau.
(Diễn)
Nhược bất ủy thân nhị cú, vị nhược
triệt kiến niệm Phật chi diệu, tắc tự
nhiên bất tích h́nh hài, bất cố thân mạng. Thiểu
hữu ái luyến chi tâm, tắc bất năng nhất tâm
chấp tŕ dă.
(演)若不委身二句,謂若徹見念佛之妙,則自然不惜形骸,不顧身命。少有愛戀之心,則不能一心執持也。
(Diễn: Hai câu “nếu
chẳng toàn thân…” ư nói: Nếu đă thấy thấu suốt
sự mầu nhiệm của niệm Phật, sẽ tự
nhiên chẳng tiếc h́nh hài, chẳng đoái hoài thân mạng.
Nếu có chút tâm yêu luyến, sẽ chẳng thể nhất
tâm chấp tŕ).
Nói
kiểu này là nói theo cảnh giới, mà cũng là nói đến
công phu. Người biết đến ưu điểm của
niệm Phật thật sự chẳng nhiều, nguyên nhân do
công phu vẫn chưa đủ; [do đó], người niệm
Phật vẫn chưa thể nếm lợi ích chân thật.
Thật sự đạt được lợi ích do niệm
Phật, sẽ hiểu được ưu điểm của
việc niệm Phật. Trong phần trước, chúng tôi
đă từng tŕnh bày công đức của danh hiệu cùng
chư vị. Có biết công đức của danh hiệu,
mới biết sự mầu nhiệm do niệm Phật. Kẻ
biết sự mầu nhiệm do niệm Phật, sẽ chẳng
yêu tiếc thân thể. Niệm mệt bèn nghỉ ngơi, nghỉ
đă khỏe khoắn lại niệm tiếp. Sau khi đă
nhập cảnh giới, thời gian nghỉ ngơi ngày
càng ít, thời gian niệm Phật ngày càng dài. Đó là đạo
lư nhất định. Kẻ b́nh phàm chưa nhập cảnh
giới, [thường cảm nhận] giống như họ
đang phải liều hết tánh mạng, cho rằng niệm
Phật rất vất vả. Người đă nhập cảnh
giới không chỉ chẳng [cảm thấy] nhọc nhằn,
mà c̣n biết niệm Phật có lạc thú trong ấy. Đối
với thân thể của chính ḿnh, hễ c̣n có “ái luyến chi tâm” (cái tâm yêu
luyến), sẽ chẳng để cho ḿnh quá sức vất
vả, [sẽ cảm thấy] niệm Phật quá nhọc
nhằn. Như vậy th́ muốn đạt tới công phu
thành phiến, đắc nhất tâm bất loạn sẽ
rất khó khăn, khó khăn ở chỗ nào? Rất hiển
nhiên, chúng ta có thể cảm nhận: Chính là v́ đă xen tạp
vọng tưởng. Vọng tưởng ǵ vậy? Sợ
quá vất vả, sợ quá mệt mỏi. Có vọng niệm
ấy xen tạp vào đó, sẽ chẳng có cách nào niệm
đến mức tâm địa thanh tịnh. Sau khi đă
thật sự đoạn trừ vọng tưởng th́ mới
thật sự có thể một mực xưng niệm, nhất
tâm chuyên niệm.
(Diễn)
Cổ vân: “Giả sử cân đoạn cốt khô, ngă thử
công phu quyết bất thoái chuyển”.
(演)古云:假使筋斷骨枯,我此工夫決不退轉。
(Diễn: Cổ nhân
nói: “Giả sử gân đứt, xương khô, công phu này của
ta quyết chẳng thoái chuyển”).
Cổ
đức nói như vậy, hàm ư: Tín tâm kiên cố, công phu tinh
tấn. Vất vả đến đâu đi nữa, họ
cũng chẳng bị thoái chuyển. Dụng công như thế
th́ công phu mới đắc lực. Khi công phu đă đắc
lực, tinh thần tự nhiên phấn chấn. V́ thế,
khi người ta đang giải đăi, mệt mỏi, vừa
dụng công bèn ngay lập tức có thể xua tan mệt mỏi.
Do vậy, người tham Thiền chẳng cần ngủ
nghê. Chúng ta nói: “Lẽ nào chẳng ngủ cho được?
Mệt mỏi, vất vả lắm!” Trên thực tế, khi
họ mệt mỏi, nhọc nhằn, bèn tĩnh tọa nhập
Định, trong một thời gian rất ngắn bèn có thể
khôi phục. Công phu trong Niệm Phật Đường
cũng là như vậy, khi niệm đến lúc thân thể
rất mệt mỏi, rất nhọc nhằn, bèn niệm
mấy câu Phật hiệu trong Niệm Phật Đường,
tinh thần lại khôi phục. Thoạt nghe, chúng ta [cảm
thấy] dường như là chuyện thần thoại, trên
thực tế, đấy là sự thật. Nếu quư vị
hỏi v́ sao người ta mệt mỏi ư? Thân thể
này có thể bị mệt nhọc ư? Thân thể là một
cỗ máy, quư vị thấy máy móc trong công xưởng vận
hành suốt hai mươi bốn tiếng đồng hồ,
nó có kêu mệt mỏi hay chăng? Có đ̣i phải nghỉ
ngơi một lát hay chăng? Thân thể là một cỗ
máy, cỗ máy ấy vận hành; nói thật ra, chẳng khác
ǵ máy móc trong công xưởng, rốt cuộc v́ sao bị mệt
nhọc? Do vọng niệm nên nói là “mệt mỏi”, tức
là vọng niệm “làm lụng lâu như thế, phải nên
nghỉ chốc lát”. Tới khi đó, kẻ ấy bèn mệt
mỏi, chẳng nghỉ ngơi đôi chút sẽ chẳng thể
chịu nổi. Hoàn toàn là vọng tưởng!
V́ thế, khi tâm
đă đạt đến thanh tịnh, không chỉ là có
thể chẳng cần ngủ, mà cũng có thể chẳng
cần ăn uống! Tài, sắc, danh vọng, ăn uống,
ngủ nghỉ được gọi là Ngũ Dục, Dục
Giới mới có [Ngũ Dục]. Càng lên cao hơn, nhu cầu
càng ít hơn, Ngũ Dục càng nhạt mỏng hơn.
Đến Sơ Thiền, hoàn toàn chẳng cần nữa! Sơ
Thiền Thiên chẳng có ngủ nghỉ và ăn uống,
trong Dục Giới Thiên mới có ăn uống và ngủ
nghê. V́ sao đạt đến Sơ Thiền bèn chẳng
cần ăn uống và ngủ nghê nữa? Tâm họ thanh tịnh,
Thiền Định đắc lực, đắc lực ǵ
vậy? Sức mạnh chế phục phiền năo, đă
chế phục vọng tưởng, phân biệt, chấp trước,
hoàn toàn chưa đoạn; họ có năng lực ấy. Đáng
tiếc là họ chẳng biết niệm Phật cầu sanh
Tịnh Độ. Nếu họ niệm Phật cầu sanh
Tịnh Độ, họ sẽ đến [Cực Lạc]
ngay lập tức. Chúng ta niệm Phật, phải niệm
đến mức độ ấy, chắc chắn văng
sanh, [tŕnh độ] ấy được gọi là “công phu
thành phiến”, phải đạt tới tiêu chuẩn ấy.
Các đồng tu niệm Phật chớ nên không biết
chuyện này, đấy chính là công phu.
(Diễn)
Hựu vân: “Giả sử nhiệt thiết luân, tại ngă
đảnh thượng tuyền, chung bất dĩ thử
khổ, thoái thất Bồ Đề tâm”.
(演)又云:假使熱鐵輪,在我頂上旋,終不以此苦,退失菩提心。
(Diễn: Lại nói:
“Ví bánh xe sắt nóng, xoay trên đỉnh đầu tôi, trọn
chẳng do khổ ấy, thoái thất tâm Bồ Đề”).
Đây
là một tỷ dụ do đức Phật đă nói trong
kinh điển. “Nhiệt thiết
luân” (熱鐵輪) là hỏa luân (火輪: bánh xe bốc lửa,
cháy rừng rực, hoặc bánh xe nung đỏ). Hỏa
luân đè xuống đỉnh đầu, rất đau khổ.
Đó chính là “nhiệt thiết”
(sắt nung), tức là bánh xe bằng sắt nung đỏ
rực, người ấy vẫn chẳng thoái thất tâm
Bồ Đề. Tỷ dụ này h́nh dung Bồ Tát phát tâm kiên
cố, bất luận trong nghịch cảnh hay ác duyên nào
cũng đều chẳng bị thoái chuyển. Chẳng
giống như bọn phàm phu chúng ta, tu hành hễ hơi gặp
phải đôi chút thử thách liền thoái chuyển. Do
đó, rất khó thành tựu. Những điều này nhằm
giải thích câu “nhược bất
ủy thân quy mạng” (nếu chẳng toàn thân quy mạng),
“ủy thân” (委身) là toàn thân. Nếu
chẳng gieo trọn toàn thân nương tựa, làm sao có thể
đạt đến nhất tâm? “Nhất tâm” được nói ở đây hoàn
toàn là nói về Sự nhất tâm.
(Sao)
Quy phục nhị nghĩa.
(鈔)歸復二義。
(Sao:
Quy lại có hai nghĩa).
“Quy” (歸) lại có hai ư nghĩa.
(Sao)
Diệc như tiền Tự trung thuyết.
(鈔)亦如前序中說。
(Sao: Cũng như
trong phần [giải thích] lời Tựa ở trước
đă nói).
Trong phần Tự
trước đó đă từng giải thích cặn kẽ,
dưới đây, vẫn nêu đại lược.
(Sao)
Nhất giả quy đầu nghĩa, chấp tŕ danh hiệu,
nhất tâm hướng văng, tức Sự nhất tâm. Nhị
giả quy nguyên nghĩa, chấp tŕ danh hiệu, hoàn quy nhất
tâm, tức Lư nhất tâm dă.
(鈔)一者歸投義,執持名號,一心向往,即事一心。二者歸元義,執持名號,還歸一心,即理一心也。
(Sao: Một là ư
nghĩa “quay về, gieo vào”. Chấp tŕ danh hiệu, nhất
tâm hướng về, tức là Sự nhất tâm. Hai là ư
nghĩa “quy nguyên”. Chấp tŕ danh hiệu, trở về nhất
tâm, tức là Lư nhất tâm).
“Quy đầu” và “quy nguyên” có ư nghĩa cạn
và sâu khác biệt, chúng ta hăy xem lời chú giải:
(Diễn) “Nhất
giả quy đầu nghĩa” hạ, vị tiền quy mạng
hữu đầu nghĩa.
(演)一者歸投義下,謂前皈命有投義。
(Diễn: Từ câu “một là ư nghĩa quay về, gieo vào” trở
đi, ư nói: Trong sự quy mạng trên đây, có ư nghĩa “gieo
vào”).
Tức
là có ư nghĩa “tiến nhập, nương cậy”.
(Diễn)
Kim chấp tŕ danh hiệu, nhất tâm hướng văng,
như điểu đầu lâm, như khách đầu chủ,
như du tử linh đinh, duy hữu tư quy nhất niệm.
Thử đản sự tướng tinh cần, do vị
minh Lư, tức Sự nhất tâm.
(演)今執持名號,一心向往,如鳥投林,如客投主,如游子伶仃,唯有思歸一念。此但事相精勤,猶未明理,即事一心。
(Diễn: Nay chấp tŕ
danh hiệu, nhất tâm hướng đến, như chim
quay về rừng, như khách nương tựa chủ, như
kẻ lưu lạc lênh đênh, chỉ có một niệm
mong quay về. Loại này chỉ chuyên tinh, siêng gắng
nơi sự tướng, c̣n chưa hiểu Lư, chính là Sự
nhất tâm).
Niệm Phật có
Sự Tŕ và Lư Tŕ. Lư Tŕ hay Sự Tŕ là do cảnh giới
khác nhau, chứ công phu y hệt! Nhất định phải
niệm đến mức đoạn Kiến Tư phiền
năo th́ mới đắc Sự nhất tâm bất loạn.
Niệm đến mức phá một phẩm vô minh, chứng
một phần Pháp Thân th́ mới là Lư nhất tâm bất loạn.
Do vậy, hai loại Lư niệm Phật và Sự niệm Phật
đều chẳng quan trọng, điều khẩn yếu
là công phu. Do Sự Tŕ có thể niệm đến mức Lư
nhất tâm bất loạn, Lư Tŕ vẫn phải trải qua
Sự nhất tâm bất loạn rồi mới có thể chứng
đắc Lư nhất tâm bất loạn. Do vậy có thể
biết: Đoạn phiền năo và đoạn tập khí hết
sức khẩn yếu, ngàn muôn phần đừng nên coi nhẹ!
Dẫu mỗi ngày niệm Phật hiệu nhiều đến
mấy đi nữa, nhưng chẳng đoạn vọng tưởng,
chấp trước, tập khí phiền năo, sẽ là vô dụng.
Mỗi ngày niệm mười vạn câu Phật hiệu, vẫn
chẳng thể văng sanh. Văng sanh nhất định phải
là tâm địa thanh tịnh, nhất định là phải
chế phục phiền năo. Chẳng đoạn phiền năo,
không sao cả! Chế phục là như thế nào? Phiền
năo chẳng khởi tác dụng, đó là chế phục. [Có
thể chế phục phiền năo] th́ niệm câu Phật
hiệu mới được gọi là “có công phu, có sức
mạnh”, có thể đè nén phiền năo; tham, sân, si, mạn
chẳng thể phát tác. Hễ chúng c̣n có thể phát tác, nói
cách khác, câu Phật hiệu của chúng ta vẫn chưa thể
đè nén phiền năo, phải cảnh giác điều này!
Nói thật ra, cuộc sống hằng ngày đang khảo
nghiệm chúng ta. Đối với khởi tâm động
niệm trong cuộc sống thường nhật, [hăy xét
xem] Phật hiệu có thể chèn ép phiền năo hay chăng?
“Quy đầu” th́ mỗi người chúng ta đều
có thể làm được. “Quy”
(歸) là trở về,
quay lại. “Đầu” (投) là dựa vào. “Đầu” c̣n có nghĩa là “có chỗ nương
tựa”, tức là ư nghĩa Quy Y. Nay chúng ta từ hết thảy
cảnh duyên quay về, “cảnh”
là hoàn cảnh vật chất, “duyên” là hoàn cảnh nhân sự. Từ hết thảy
người, hết thảy sự quay lại, chẳng c̣n
phan duyên (nắm níu) những thứ đó. Từ nay trở
đi, nhất tâm nhất ư nương cậy A Di Đà Phật.
Đó là ư nghĩa “quy đầu”.
A Di Đà Phật ở nơi đâu? A Di Đà Phật ở
ngay trong kinh này. Chỗ có kinh điển chính là nơi A Di Đà
Phật ngự. Nương cậy bằng cách nào? Đọc
tụng, thọ tŕ. Đọc tụng kinh điển, chấp
tŕ danh hiệu, câu hồng danh sáu chữ niệm niệm chẳng
ĺa tự tâm. Đó là “nương tựa”. V́ sao? Trong tâm chẳng
có A Di Đà Phật, chắc chắn sẽ lại dấy
vọng tưởng. Nếu chẳng dấy vọng tưởng,
sẽ rớt vào vô minh. Vô minh và vọng tưởng đều
là nghiệp nhân của ba ác đạo. Vô minh đọa súc
sanh đạo, súc sanh hồ đồ, mờ mịt. Do vọng
tưởng, bèn đọa trong ngạ quỷ đạo
hoặc địa ngục đạo. Vọng tưởng
tốt là ba thiện đạo, vọng tưởng xấu
là ba ác đạo, đều phải luân hồi trong lục
đạo. Do vậy, chúng ta hiểu rơ chỉ có một câu
Phật hiệu này là có thể giúp chúng ta vĩnh viễn
thoát khỏi luân hồi, liễu sanh tử, thoát tam giới
ngay trong một đời này. Không chỉ là có công đức
ấy, công đức thù thắng nhất là nó giúp chúng ta
thành Phật viên măn ngay trong một đời này. Do vậy,
kinh này và pháp môn này thật sự chẳng thể nghĩ
bàn.
Trong
lời chú giải đă nêu ra mấy tỷ dụ, những
tỷ dụ ấy rất dễ hiểu, nhưng chẳng dễ thấu hiểu cho mấy.
V́ sao? Mỗi cá nhân, nhất là trong xă hội hiện thời,
xă hội hiện thời chẳng giống xă hội thuở
trước. Chú giải do cổ nhân viết, cổ nhân chỉ
có thể viết theo bối cảnh xă hội, tâm thái
và h́nh thái ư thức trong thời đại của họ,
chẳng giống [bối cảnh sống của] người
hiện thời. Người hiện thời ĺa nhà, chẳng
nhớ nhà cho mấy. Thời cổ, rời khỏi nhà,
người nhớ nhà rất nhiều. Hiện thời, nói
thật thà, người vừa mới rời khỏi cửa,
ra khỏi nhà, đại khái là một hai tháng c̣n nhớ
nhà, một thời gian lâu sau cũng chẳng nhớ nhà nữa,
quên bẵng quê nhà! Người thuở trước biết
quay về, đặc biệt là người đă rời
nhà lâu ngày, ở bên ngoài khi chẳng đắc ư, càng nhớ
nhà. Khi đắc ư, sẽ quên bẵng nhà cửa!
Ư
nghĩa trong đoạn thứ nhất là tinh tấn, siêng
gắng tu học nơi Sự, chẳng hiểu rơ Lư. V́ thế,
[ư nghĩa thứ nhất] thuộc về Sự nhất
tâm. Ư nghĩa thứ hai là nói đến quy nguyên. “Nguyên” (元) là Lư, chẳng phải
là Sự.
(Diễn)
Nhị giả, quy nguyên nghĩa, vị chấp tŕ danh hiệu,
hoàn quy nhất tâm, tắc bối trần hợp giác, phản
bổn hoàn nguyên, niệm niệm hoàn quy tự tâm, tức
danh “quy nguyên”. Thử tắc bất duy Sự hành, kiêm tu Lư
quán, vi Lư nhất tâm.
(演)二者歸元義,謂執持名號,還歸一心,則背塵合覺,返本還源,念念還歸自心,即名歸元。此則不唯事行,兼修理觀,為理一心。
(Diễn: Hai là ư
nghĩa quy nguyên, nghĩa là chấp tŕ danh hiệu, trở
về nhất tâm, tức là trái nghịch trần lao, xuôi
theo tánh giác, quay về nguồn cội, niệm niệm trở
về tự tâm, nên gọi là “quy nguyên”. Đây chẳng phải
chỉ là hành theo Sự, mà c̣n kiêm tu Lư quán, là Lư nhất tâm).
Quy nguyên,
“nguyên” (元) là Chân Như bản tánh. Chân
Như bản tánh là cội nguồn của vũ trụ và
nhân sinh. “Nhân sinh” là nói về
bản thân chúng ta, là chính bản thân ta. “Vũ trụ” là nói theo không gian hoạt động,
hoặc hoàn cảnh hoạt động của chúng ta. [Nhân
sinh và vũ trụ là] chính ḿnh và hoàn cảnh. Hoàn cảnh rất
lớn, tận hư không khắp pháp giới đều là
hoàn cảnh sinh tồn của chúng ta. Ví như không gian hoạt
động của chúng ta hiện thời thuộc phạm
vi của tỉnh Đài Loan, ḥn đảo này ở trên
địa cầu, địa cầu là hoàn cảnh sinh tồn
của chúng ta. Địa cầu là một tinh cầu trong
thái dương hệ; thái dương hệ là hoàn cảnh
sống của chúng ta. Thái dương hệ là một tiểu
tập đoàn [các thiên thể] trong hệ Ngân Hà, hệ Ngân
Hà là hoàn cảnh sống của chúng ta. Quư vị tiếp tục
mở rộng, [sẽ thấy] tận hư không khắp pháp
giới đều là hoàn cảnh sống của chúng ta.
Hoàn cảnh sống rất lớn, do đâu mà có? Từ tự
tánh biến hiện, xác thực là “ngoài tâm chẳng có pháp, ngoài pháp chẳng có tâm”. Hư
không pháp giới do tự tánh của chúng ta biến hiện.
Ai biết? Thưa cùng chư vị, chỉ có chư Phật,
Bồ Tát biết, từ Quyền Giáo và Nhị Thừa trở
xuống đều chẳng biết. Tuy trong kinh, đức
Phật đă nói đến sự thật này, chúng ta nghe
xong vẫn chẳng biết. V́ sao nghe mà vẫn chẳng biết?
Người thật sự biết, thái độ xử thế
làm người sẽ thay đổi. Thái độ xử
thế làm người chẳng biến đổi, ta biết
kẻ ấy chẳng biết! Bất quá, chúng ta nghe đức
Phật nói như thế mà thôi, chẳng thể đích thân
chứng nhập. Đích thân chứng nhập cảnh giới
này, quư vị chẳng gọi là phàm phu nữa, mà thay đổi
danh từ, gọi là Phật, hoặc Bồ Tát. Đây là
tướng chân thật của hết thảy các pháp, tức
là “chư pháp Thật Tướng”
như kinh Bát Nhă đă nói, c̣n gọi là Đệ Nhất Nghĩa
Đế, cũng gọi là minh tâm kiến tánh. Danh xưng
khác nhau, ư nghĩa hoàn toàn tương đồng.
Từ
mấy câu này, chúng ta thấu hiểu thật sâu: Pháp môn này chẳng
thể nghĩ bàn. Người dùng phương pháp chấp
tŕ danh hiệu này có thể “hoàn
quy nhất tâm”. Nhà Thiền gọi “hoàn quy nhất tâm” là minh tâm kiến tánh, cũng là
như trong kinh Lăng Nghiêm, Đại Thế Chí Bồ Tát
đă dạy chúng ta: “Chẳng
nhờ vào phương tiện, tâm được tự
khai”, mới biết sự xảo diệu của phương
pháp này. Quư vị thấy [phương pháp này] đơn giản
ngần ấy, dễ dàng ngần ấy, mà có công đức
thù thắng dường ấy. Thật sự niệm đến
mức nhất tâm bất loạn th́ cái nhất tâm bất loạn
ấy sẽ được gọi là Lư nhất tâm bất
loạn. “Lư” (理) là tánh, [do đă]
kiến tánh, nên gọi là Lư nhất tâm bất loạn. Nó là
Huệ, chẳng phải là Định. Trong Huệ đương
nhiên có Định. Sự nhất tâm bất loạn là Định,
chẳng phải là Huệ. Nếu nói đến Huệ th́
là đă kiến tánh. V́ nó (Sự nhất tâm bất loạn)
là Định, chẳng có Huệ, chẳng kiến tánh, nên
gọi là Sự nhất tâm. Định có thể đoạn
Kiến Tư phiền năo, chẳng thể phá vô minh. Huệ
chính là trí huệ Bát Nhă hiện tiền, mới có năng lực
phá vô minh, chứng Pháp Thân.
“Bối trần hợp giác” (Trái
nghịch trần lao, hợp với tánh giác) là công phu chúng
ta phải làm trong hiện tại. Trần là ǵ? Trần (塵: bụi bặm) là tỷ dụ,
Trần có nghĩa là “ô nhiễm”. Giống như cái bàn này,
quư vị một ngày chẳng lau nó, trên bàn sẽ đóng bụi.
V́ thế, phải lau chùi hằng ngày. Trần là ô nhiễm,
tỷ dụ cái tâm thanh tịnh của chúng ta bị nhuốm
bẩn. Thứ ǵ nhuốm bẩn? Phiền năo nhuốm bẩn,
tà kiến nhuốm bẩn, vô minh nhuốm bẩn, phải
vĩnh viễn rời ĺa những thứ ấy. Nói cách khác,
chúng ta khởi tâm động niệm đều là ô nhiễm.
Ác niệm ô nhiễm, mà thiện niệm vẫn là ô nhiễm.
Chẳng khởi tâm, không động niệm, khi trong tâm
điều ǵ cũng không biết, nó vẫn ô nhiễm, tức
là bị ô nhiễm bởi vô minh. Phải như thế nào
th́ mới chẳng bị ô nhiễm? Chẳng ô nhiễm là giác,
giác là bản năng trong bản tánh. Tự tánh vốn là
giác, chẳng phải là vô minh, cũng chẳng phải là vọng
tưởng, nó vốn là giác. “Giác”
là hết thảy đều hiểu rơ. Đối với
chúng ta, trong giai đoạn sơ học này, một câu “nam-mô A Di Đà Phật” là giác,
v́ trong tâm quư vị có câu Phật hiệu này, chẳng có hết
thảy vọng tưởng, phân biệt, chấp trước,
tức là chẳng có vọng niệm, cũng chẳng phải
là vô minh. Niệm câu Phật này rành mạch, rơ ràng, đó là giác.
V́ lẽ đó, “một niệm
tương ứng một niệm giác, niệm niệm tương
ứng niệm niệm giác”. Tương ứng là ǵ? Chẳng
có phiền năo bèn tương ứng, chẳng có vọng tưởng
bèn tương ứng.
Người
thật sự niệm Phật, trong hết thảy thời,
hết thảy chỗ, bất luận là thuận cảnh,
hay nghịch cảnh, chỉ cần nhất tâm nhất ư nương
cậy một câu Phật hiệu sẽ thành công, cảnh
giới ǵ cũng chẳng thể nhiễu loạn quư vị.
Khi cảnh giới chẳng nhiễu loạn, thưa cùng
chư vị, cảnh giới ấy được gọi
là “cảnh giới Phật”, là cảnh giới tốt
đẹp. Nếu cảnh giới nhiễu loạn quư vị
th́ gọi là “cảnh giới ma”, phá sạch công phu của
quư vị. V́ thế, cảnh giới bên ngoài hiện tiền,
tâm địa của ta thanh tịnh, một câu Phật hiệu
miên mật bất đoạn, cảnh giới bên ngoài sẽ
là cảnh giới tốt đẹp. Dẫu là nghịch cảnh
ác duyên, vẫn là cảnh giới tốt đẹp, nó chính
là để xét nghiệm công phu của ta có tiến bộ
hay không. V́ lẽ đó, bên ngoài là Phật hay là ma là do một
niệm tâm của chính quư vị chuyển biến. Cảnh
giới bên ngoài chẳng phải là Phật mà cũng chẳng
phải là ma. Nói cách khác, bên ngoài chẳng có người tốt,
mà cũng chẳng có kẻ xấu. Con người là trung lập,
chẳng có tốt hay xấu. Người tốt hay kẻ
xấu là do trong tâm chính quư vị dấy phiền năo. Quư vị
thấy người này sanh tâm hoan hỷ, người ấy
là người tốt. Quư vị thấy kẻ kia bèn sanh
tâm sân ác, người ấy là kẻ xấu.
Thật ra, kẻ ấy há có tốt hay xấu? Chính quư vị
dấy động tâm tốt, tâm xấu, chẳng phải
là cảnh giới bên ngoài có tốt hay xấu, mà do tâm quư vị
có tốt hay xấu, then chốt ở chỗ này.
Ngẫu
Ích đại sư nói: “Cảnh
duyên vô hảo xú, hảo xú khởi ư tâm” (Cảnh
duyên không tốt xấu, tốt xấu dấy nơi tâm), ở
trong tâm của chính ḿnh, phải biết điều này! Nếu
cảnh giới bên ngoài thật sự có tốt xấu, cảnh
giới làm sao có thể b́nh đẳng cho được? Chẳng
thể b́nh đẳng! Bên ngoài xác thực là chẳng có tốt,
xấu, do tâm của chính ḿnh biến hiện cảnh giới.
V́ vậy, cảnh giới là thanh tịnh, cảnh giới vĩnh
viễn là b́nh đẳng. Chỉ cần quư vị dùng giác
tâm để đối ứng cảnh giới, cảnh giới
nhất định là thanh tịnh, b́nh đẳng. Nhà Phật
thường nói: “Tâm thanh tịnh,
thân bèn thanh tịnh”. Thân tâm thanh tịnh, cảnh giới
bèn thanh tịnh. Đây là chân tướng
sự thật. Chúng ta thấy cảnh giới bên ngoài có tốt,
xấu, chính ḿnh phải giác ngộ: [Bản thân ta] phiền
năo tập khí c̣n hiện hành, câu Phật hiệu chẳng đắc
lực. Phải thật sự có tâm sám hối, có tâm hổ
thẹn, sửa lỗi đổi mới: V́ sao ta c̣n có những
ác niệm này? Hăy c̣n có vọng tưởng hiện tiền?
Khi nào lục căn trong lúc đối đăi cảnh giới
mà chẳng có vọng niệm, chẳng có vọng tưởng,
chúc mừng quư vị, tối thiểu là quư vị đă đắc
Sự nhất tâm bất loạn, đó là mức tối
thiểu! Người đắc Sự nhất tâm bất loạn,
chẳng có lẽ nào không văng sanh. Bản thân chúng ta hăy suy
nghĩ đôi chút, có nắm chắc văng sanh hay không? Hăy suy
nghĩ, ta suốt ngày từ sáng đến tối, thấy
người, thấy sự, thấy vật, c̣n có phiền
năo hay không? C̣n có mừng, giận, buồn, vui hay chăng? Nếu
c̣n có những thứ ấy, văng sanh chẳng đáng trông cậy,
chẳng trông mong được! Thật sự niệm Phật
đến mức “hết thảy cảnh giới hiện
tiền, ta chẳng khởi tâm, không động niệm, đối
với bất cứ ai cũng đều là một tâm, tâm
thanh tịnh, tâm b́nh đẳng, tâm từ bi”, quư vị quyết
định văng sanh! V́ thế, có thể văng sanh hay không, chẳng
cần phải hỏi ai khác, cũng chẳng cần hỏi
Phật, Bồ Tát, hăy hỏi chính ḿnh! Chính ḿnh biết rơ
hơn ai hết, điều này trọng yếu lắm!
Đó là cách tu trái nghịch trần lao, hợp với tánh
giác. Câu Phật hiệu là giác, ĺa khỏi Phật hiệu là
mê. Quư vị nghĩ xem: Câu Phật hiệu trọng yếu
dường ấy, một thời một khắc đều
chớ nên buông bỏ.
“Phản bổn hoàn nguyên”: Niệm
cho đến khi công phu thuần thục, thấu suốt,
sẽ phản bổn hoàn nguyên. Nhà Thiền gọi “phản bổn hoàn nguyên” là “minh tâm kiến tánh”, cũng chính
là “đại khai viên giải”,
hoặc “đại triệt đại
ngộ” như Giáo Hạ đă nói. Khi ấy, “niệm niệm hoàn quy tự tâm”
(niệm nào cũng trở về tự tâm), câu này nói về
cảnh giới. Tận hư không khắp pháp giới là tự
tâm, hư không pháp giới biến hiện từ tự tâm,
trở về tự tâm, đó là “quy
nguyên”.
“Thử tắc bất duy Sự
hành, kiêm tu Lư quán” (Đây chẳng phải chỉ là hành theo mặt Sự mà c̣n kiêm tu Lư Quán). Lư
Quán chẳng phải là dấy vọng tưởng, chẳng
phải là suy nghĩ loạn xạ. Nay chúng ta thường
coi suy xét là Lư Quán, sai mất rồi! Quán và vọng tưởng
sai khác ở chỗ: Một đằng dùng tâm ư thức, một
đằng chẳng dùng tâm ư thức. Chẳng dùng tâm ư thức
th́ gọi là Quán, dùng tâm ư thức th́ gọi là Tưởng.
Ư thức là ǵ? Phân biệt. Thức thứ sáu là Ư Thức
[có công năng] phân biệt, thức thứ bảy chấp trước,
thức thứ tám ghi giữ ấn tượng. Nói cách khác,
chẳng phân biệt, không chấp trước, không ghi giữ
ấn tượng, đó mới là Quán. Công phu được
nói trong Phật môn là “quán chiếu”, tuyệt đối chẳng phải
là suy xét. Hễ dùng suy xét, sẽ rơi vào thức thứ
sáu, tức Ư Thức, đó là vọng tưởng. Nay chúng ta
nói là “nghiên cứu”, hoặc “suy nghĩ”, thảy đều
là vọng tưởng. Vọng tưởng th́ làm sao có thể
đạt đến chân tướng cho được? Bài
kệ Khai Kinh có câu: “Nguyện giải
Như Lai chân thật nghĩa”. Quư vị dùng vọng tưởng,
làm sao biết nghĩa chân thật của Như Lai cho
được? Nếu muốn biết nghĩa chân thật
của Như Lai, quyết định chớ nên dấy vọng
tưởng, chớ nên suy tưởng, chớ nên phân biệt,
chớ nên chấp trước, chớ nên dùng tâm ư thức,
hăy bỏ sạch những thứ ấy! Ĺa tâm ư thức, Thiền
gia dạy tham Thiền phải ĺa tâm ư thức để tham,
[hay nói cách khác là] “tham cứu”, chẳng phải là nghiên cứu.
Trong Giáo Hạ, ĺa tâm ư thức th́ mới có thể đại
khai viên giải, người niệm Phật ĺa tâm ư thức
th́ mới là Lư nhất tâm bất loạn. Dùng tâm ư thức sẽ
là Sự nhất tâm bất loạn; chẳng dùng tâm ư thức
là Lư nhất tâm bất loạn, đương nhiên chuyện
này chẳng dễ dàng cho lắm!
Xét theo sự dụng công trong Thiền
gia, “quán chiếu”
là công phu mới vừa đắc lực, giống
như công phu thành phiến trong pháp môn Niệm Phật, là cảnh
giới ấy, có năng lực chế phục phiền năo,
vẫn chưa có năng lực đoạn trừ. Nếu
công phu tiến cao hơn một bậc, sẽ gọi là Chiếu
Trụ (照住). Chiếu Trụ
là đắc Định, trong pháp môn Niệm Phật sẽ
là “đắc Niệm Phật tam-muội”, đoạn Kiến
Tư phiền năo, chưa phá vô minh, văng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới bèn sanh trong cơi Phương Tiện Hữu
Dư. Lại lên cao hơn nữa, sẽ là Chiếu Kiến
(照見), Tâm Kinh nói “Quán Tự Tại Bồ Tát chiếu kiến Ngũ Uẩn
giai không”, đó là công phu bậc cao. Chiếu Kiến
tương đương với Lư nhất tâm bất loạn
trong pháp môn Niệm Phật. Chiếu Kiến là kiến (thấy)
ǵ? Thấy bản tánh, thấy tự tâm, trở về tự
tâm. Từ đoạn chú giải này, chúng ta có thể thông hiểu:
Công đức và sự thành tựu của pháp môn Niệm
Phật chẳng thể nghĩ bàn. Đă thật sự thấu
hiểu, chúng ta mới thật thà niệm câu Phật hiệu
này, sẽ chẳng thấy những pháp môn khác liền mong
học tập, như vậy là lại bị xen tạp mất
rồi!
(Sớ)
Dĩ thượng cảnh pháp nhị trung, phục hữu
tam nghĩa.
(疏)以上境法二中,復有三義。
(Sớ: Đối với
hai thứ cảnh và pháp trên đây, lại có ba nghĩa).
Trên
đây đă nói tới cảnh giới và phương pháp,
trong hai điều ấy c̣n có các ư nghĩa; ở đây,
đại sư lại nêu ra.
(Sớ) Nhất
giả, văn thuyết Phật danh, thị vi Văn Huệ;
nhị giả, chấp thọ tại hoài, thị vi Tư
Huệ; tam giả, tŕ thủ bất vong, thị vi Tu Huệ.
(疏)一者聞說佛名,是為聞慧;二者執受在懷,是為思慧;三者持守不忘,是為修慧。
(Sớ: Một là nghe
nói danh hiệu Phật, đó là Văn Huệ. Hai là tiếp
nhận, ǵn giữ trong tâm, đó là Tư Huệ. Ba là ǵn giữ
chẳng mất, đó là Tu Huệ).
Đối
với hai pháp ấy (cảnh giới và phương pháp),
nêu ra ba đại cương lănh tu học của Bồ
Tát là Văn, Tư, Tu. Nêu ra điều này rất hay; nếu
không nêu ra, có lẽ chúng ta cũng hiểu lầm niệm Phật
là Tiểu Thừa, lẽ nào niệm Phật là pháp Bồ Tát
cho được? Bồ Tát tu Tam Huệ Văn Tư Tu, niệm
Phật có phải là Tam Huệ Văn Tư Tu hay không? Quư vị
có biết niệm Phật là Tam Huệ Văn Tư Tu th́ mới
biết chấp tŕ danh hiệu chính là Bồ Tát hạnh.
(Sao)
Văn Huệ giả, A Di Đà Phật tuy hữu vô lượng
công đức, nhi thử công đức, phi văn bất
tri, phi thuyết bất văn. Cố Hoa Nghiêm vân: “Đắc
vô sanh huệ, tiên lại đa văn”. Hựu vân: “Phật
pháp vô nhân thuyết, tuy huệ bất năng liễu”. Hoặc
văn kinh luận chi sở tuyên dương, hoặc
văn tri thức chi sở khai thị, nhất lịch
nhĩ căn, vĩnh vi đạo chủng, thị chi vị
Văn.
(鈔)聞慧者,阿彌陀佛,雖有無量功德,而此功德,非聞不知,非說不聞。故華嚴云:得無生慧,先賴多聞。又云:佛法無人說,雖慧不能了。或聞經論之所宣揚,或聞知識之所開示,一歷耳根,永為道種,是之謂聞。
(Sao: Văn Huệ:
Tuy A Di Đà Phật có vô lượng công đức,
nhưng công đức ấy nếu chẳng được
nghe sẽ không biết, nếu chẳng nói sẽ không nghe.
V́ thế, kinh Hoa Nghiêm nói: “Đắc vô sanh huệ th́
trước hết phải cậy vào đa văn”. Lại
nói: “Phật pháp không có ai nói th́ tuy có trí huệ vẫn chẳng
thể hiểu”. Hoặc nghe kinh luận tuyên dương, hoặc
nghe tri thức khai thị, hễ thoảng qua tai, vĩnh viễn
trở thành hạt giống đạo, đó gọi là
Văn).
Đoạn
này giải thích chữ Văn.
(Sao)
Nhi ngôn Huệ giả, Văn tức thị Huệ. Đối
mộc thạch thuyết, ngoan bất văn cố. Đối
ngu nhân thuyết, văn bất xan thái, như bất văn
cố. Cố viết Văn Huệ.
(鈔)而言慧者,聞即是慧。對木石說,頑不聞故;對愚人說,聞不餐采,如不聞故。故曰聞慧。
(Sao: Nói là Huệ v́
Văn chính là Huệ. Do nói với gỗ, đá, chúng trơ
trơ chẳng nghe. V́ nói với kẻ ngu, họ tuy nghe mà
chẳng thể tiêu hóa được, [cho nên] cũng
như chẳng nghe. V́ thế, nói đến Văn Huệ).
Đại
sư giải thích ư nghĩa này rất rơ ràng, đơn giản,
rất dễ hiểu. Nói thật ra, ư nghĩa trong ấy hết
sức tinh tường, sâu xa. Đoạn văn tự này
cũng chỉ rơ một câu danh hiệu A Di Đà Phật có
vô lượng vô biên công đức, chỉ có Phật và Phật
mới có thể thấu hiểu rốt ráo, Đẳng
Giác Bồ Tát cũng chẳng có cách nào nói trọn vẹn,
[v́] trí huệ của bậc Đẳng Giác vẫn chưa
đủ! Công đức như vậy “phi văn bất tri” (chẳng nghe sẽ không biết).
Nếu chúng ta chẳng nghe nhiều, làm sao có thể hiểu
cho được? Chẳng biết. “Phi thuyết bất văn” (chẳng nói sẽ
không được nghe), nếu không có ai nói với quư vị,
làm sao quư vị có thể biết? Ai nói? Chính là Bổn
Sư Thích Ca Mâu Ni Phật nói. Chỉ có đức Phật mới
biết thấu triệt, mới có thể nói rơ ràng. Trong phần
trước đă có nói, Đẳng Giác Bồ Tát chẳng
biết triệt để, vẫn chưa thể diễn
tả rơ ràng. Chúng sanh trong chín pháp giới, “chín pháp giới” bao gồm Đẳng Giác Bồ Tát,
nếu chẳng do oai thần của chư Phật Như
Lai gia tŕ, họ sẽ chẳng thể hiểu, mà cũng
chẳng thể nói. Bọn phàm phu lục đạo chúng ta
nếu chẳng được oai thần của chư Phật
gia tŕ, [cộng với] thiện căn từ nhiều
đời nhiều kiếp của chính ḿnh; nói thật thà,
Phật, Bồ Tát có giảng cho chúng ta nghe, chúng ta nghe xong cũng
chẳng hiểu!
Kinh
Hoa Nghiêm có nói: “Đắc vô sanh
huệ, tiên lại đa văn” (Đắc trí huệ
vô sanh th́ trước hết phải cậy vào đa văn).
“Vô sanh” là trí huệ của chư
Phật, Bồ Tát, là trí huệ chân thật, [muốn đạt
được trí huệ ấy], trước hết phải
cậy vào đa văn. “Đa
văn” có hai ư nghĩa: Một là học rộng nghe nhiều,
ư nghĩa kia là nghe nhiều lần, lặp đi lặp lại
không gián đoạn. Đối với hai ư nghĩa ấy,
tùy thuộc thiện căn, phước đức và nhân
duyên của mỗi người mà khác nhau. Kẻ nghiệp
chướng tập khí sâu nặng phải không ngừng
huân tu một môn, dùng phương pháp đa văn theo kiểu
này: Nghe từ lần này sang lần khác, nghe xong bèn nghe lại
lần nữa; sau đấy, nghiệp chướng mới
có thể tiêu trừ. Nghiệp chướng tiêu trừ, tín
tâm của quư vị bèn thanh tịnh. Kinh Kim Cang nói: “Tín tâm thanh tịnh bèn sanh ra Thật
Tướng”. Kẻ tập khí nghiệp chướng nặng
nề, chúng ta thường nói là “nghiệp
chướng rất nặng”, sử dụng
phương pháp này!
Chúng
ta thấy các vị tổ sư đại đức của
Trung Hoa trong quá khứ, khá nhiều vị sử dụng phương
pháp này. Thanh Lương đại sư suốt đời
niệm kinh Hoa Nghiêm, chúng ta chẳng biết Ngài đă niệm
bao nhiêu lượt. Ngài giảng kinh ấy đến
năm mươi lần, quư vị có biết Ngài đă niệm
bao nhiêu lần? Một bộ kinh thôi nhé! Từ Đàn Kinh,
chúng ta thấy thiền sư Pháp Đạt niệm ba ngàn
bộ kinh Pháp Hoa. Mỗi ngày niệm một bộ, [niệm]
ba ngàn bộ cũng phải mất ba ngàn ngày, cũng phải
là gần mười năm. Quư vị bèn hiểu đa văn
là một bộ kinh được nghe nhiều lần lặp
đi lặp lại không ngừng! Đời Đường,
tổ sư đời thứ nhất của Luật Tông
Trung Hoa là Chung Nam Sơn Đạo Tuyên luật sư, nghe
[các vị đại đức giảng] luật Tứ Phần[1]
hơn hai mươi lượt, truyện kư có chép điều
này. Thời đầu Dân Quốc, cư sĩ Giang Vị Nông
suốt đời tu học kinh Kim Cang, dùng thời gian suốt
bốn mươi năm để viết một quyển
Kim Cang Kinh Giảng Nghĩa. Cũng giống như vậy,
cư sĩ Châu Chỉ Am cũng dùng thời gian bốn mươi
năm để viết quyển Tâm Kinh Thuyên Chú. Trong lời
tựa của bộ Lăng Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa, lăo
pháp sư Viên Anh có nói từ lúc hai mươi lăm tuổi,
Ngài đă chú ư kinh Lăng Nghiêm, suốt cả một đời
chẳng gián đoạn. Sư sáng lập Viên Minh Giảng
Đường tại Thượng Hải, mở Lăng
Nghiêm Chuyên Tông Học Viện, dùng thời gian cả đời
để đổ công dốc sức nơi một bộ
kinh Lăng Nghiêm, măi cho đến lúc xế bóng, bảy
mươi mấy tuổi mới hoàn thành một bộ Lăng
Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa. Những vị ấy đều
là những tấm gương, những khuôn mẫu cho chúng
ta. Do đó, đa văn là một bộ kinh nghe đi nghe lại,
đọc đi đọc lại, nghiên cứu chẳng
ngừng, thâm nhập một môn.
Thứ
hai là “quảng học đa
văn”. Đối với quảng học đa văn,
tôi thường khuyên các đồng tu, đến Tây
Phương Cực Lạc thế giới chúng ta sẽ lại
làm chuyện này. V́ sao? Đến Tây Phương Cực Lạc
thế giới, điều bậc nhất là thọ mạng
của chúng ta lâu dài, [học vô lượng vô biên kinh điển
đi nữa] vẫn kịp, chẳng sợ! Nói thêm, thầy
giỏi, bạn học tốt, học rộng nghe nhiều
sẽ chẳng tốn công sức cho mấy, dễ thực
hiện! Mong học rộng nghe nhiều trong cơi này, chẳng
t́m thấy thầy giỏi, mà cũng chẳng t́m thấy đồng
tham đạo hữu, hễ có nghi nan, chẳng có chỗ nào để hỏi, có khổ lắm hay
không? Do đó, đến Tây Phương Cực Lạc thế
giới sẽ lại thực hiện. Nay chúng ta
đa văn một môn, chọn lựa kinh th́ đương
nhiên thù thắng nhất là chọn kinh Vô Lượng Thọ,
Sớ Sao Diễn Nghĩa, hoặc Di Đà Kinh Yếu Giải,
đó đều là những chọn lựa tối thượng,
chắc chắn có lợi cho việc cầu sanh Tịnh
Độ.
“Phật pháp vô nhân thuyết, tuy
huệ bất năng liễu” (Phật pháp không có ai nói,
dẫu có trí huệ vẫn chẳng thể hiểu): Hai câu
này cũng là lời kệ trong kinh Hoa Nghiêm. Phật pháp phải
do ai nói? Nhất định là phải do một vị hữu
tu hữu chứng nói, lại c̣n phải là đă chứng
đắc quả vị viên măn rốt ráo th́ mới có thể
nói. Chứng đắc quả vị viên măn rốt ráo tức
là thành Phật. V́ lẽ đó, “Phật
pháp vô nhân thuyết”, phải do người nào nói? Phải
do đức Phật nói, chẳng phải là Phật sẽ
chẳng thể nói! Tuy kinh dạy: “Kinh do năm loại người [khác nhau] nói”,
nhưng trừ kinh do đức Phật đă nói ra, những
ǵ do bốn loại người kia nói đều phải
được đức Phật ấn chứng th́ mới
có thể xem như kinh Phật. Chẳng được
đức Phật ấn chứng, chẳng thể coi [là
kinh Phật]. Có thể thấy là vẫn lấy những ǵ
do đức Phật đă nói làm tiêu chuẩn bậc nhất.
Người thông minh trí huệ trong thế gian chẳng thể
liễu giải, chẳng thể hiểu rơ. Nếu mở
rộng tiêu chuẩn này một chút, người nói kinh phải
có mức độ thấp nhất là đă phá một phẩm
vô minh, chứng một phần Pháp Thân. Người như vậy
tiếp xúc kinh điển, dẫu chẳng nói viên măn,
cũng sẽ không nói sai. V́ sao? Dụng tâm của người
ấy và dụng tâm của Phật như nhau, đều
là dùng chân tâm, chẳng dùng vọng tâm. Từ Quyền Giáo,
Tiểu Thừa trở xuống, toàn là dùng tám thức và năm
mươi mốt Tâm Sở, đó là vọng tâm, chẳng
phải là chân tâm. Từ Sơ Trụ của Viên Giáo trở
lên, các Ngài chuyển A Lại Da thành Đại Viên Kính Trí, sử
dụng Tứ Trí Bồ Đề tâm, chẳng dùng tám thức
và năm mươi mốt Tâm Sở, quyết định
chẳng thể nói sai!
Tại
Trung Hoa, trong quá khứ, những vị cao tăng đại
đức phiên dịch kinh điển, những vị tổ
sư của các tông, phần nhiều đều là Phật,
Bồ Tát tái lai, đấy là người Hoa có phước!
Cận đại, Ấn Quang đại sư là hóa thân của
Tây Phương thế giới Đại Thế Chí Bồ
Tát. Đại Thế Chí là Đẳng Giác Bồ Tát, chẳng
phải là phàm nhân! Trong các vị cao tăng đại đức,
có vị hé lộ thân phận nên chúng ta biết, c̣n có rất
nhiều vị chẳng bộc lộ [thân phận], chúng ta
hoàn toàn không biết. Có thể thấy [những vị ấy]
chẳng phải là phàm nhân, phàm nhân c̣n chưa thể hiểu
rơ, làm sao có thể nói cho được? Chú sớ của lịch
đại tổ sư quyết định chẳng có vấn
đề. Nếu có vấn đề, chắc chắn sẽ
chẳng thể lưu truyền hậu thế. Trước
kia, kỹ thuật ấn loát chẳng phát triển. Tại
Trung Hoa, đến đời Tống mới phát minh kỹ
thuật ấn loát, dùng ván gỗ khắc thành bản in, in
từng trang một [bằng cách ép giấy lên bản gỗ
khắc đă bôi mực], giá thành quá cao. Nếu chẳng phải
là thứ thật sự tốt đẹp, ai chịu bỏ
tiền, bỏ công sức lưu thông? Chẳng như hiện
thời, hiện nay kỹ thuật ấn loát phát triển,
in thứ này thứ nọ quá thuận tiện, trước
kia khó khăn! V́ thế, những thứ của cổ nhân
được lưu truyền cho tới hiện thời,
có thể nói là đă được khảo nghiệm bởi
thời đại và lịch sử, chịu được
khảo nghiệm, đă vượt qua sự phê b́nh của
đại chúng, là thứ thật sự tốt đẹp
được truyền lại cho đời sau.
Do vậy,
tôi khuyên các đồng tu xem chú giải th́ phải đọc
chú giải của cổ nhân, đừng xem những bản
chú giải của người hiện thời. V́ sao? [Quan
điểm được tŕnh bày trong các bản chú giải
của] người hiện thời rốt cuộc là thật
hay là giả, chúng ta chẳng có năng lực phân biệt. Thật
đấy, điều này hữu ích cho chúng ta. Lỡ không
may xem nhằm thứ giả, chúng ta sẽ bị mắc lừa,
thua thiệt! Chẳng có năng lực phân biệt, hăy
đọc những thứ của cổ nhân vẫn tốt
hơn, đáng tin cậy! Giống như bộ sách này, Liên
Tŕ đại sư cách chúng ta hơn năm trăm năm,
[từ đó đến nay] đă trải qua những
năm cuối đời Minh, suốt cả một triều
đại nhà Thanh, từ Dân Quốc [thành lập] cho tới
nay cũng là đă tám mươi năm, [tác phẩm này]
đă được bao nhiêu cao tăng đại đức
ngó tới, chẳng có vị nào không tán thán, nên chúng ta có thể
yên tâm đọc tác phẩm này. V́ lẽ đó, tôi chẳng
đọc những thứ của người hiện thời,
rất nhiều người biết điều này. Tuyệt
đối chẳng phải là tôi coi thường người
hiện thời, mà là do bản thân tôi chẳng có con mắt
sáng suốt, chẳng phân biệt được hiền
hay ngu, [v́ chính ḿnh] là kẻ ngu! V́ thế, nghĩ tưởng
cổ nhân đă được mọi người thừa
nhận, đáng tin cậy hơn, nên tôi mới đọc
những tác phẩm của cổ nhân. Những trước
tác hiện thời, nếu trải qua năm trăm năm
mà c̣n có người lưu truyền, tức là đă chịu
được sự khảo nghiệm, tự nhiên là thứ
tốt đẹp. Đấy là một tiêu chuẩn để
chọn lựa cho chúng ta.
Đối
với trước tác của cổ nhân, văn
chương Văn Ngôn tương đối khó đọc.
Thật ra, đây là tác dụng tâm lư, đọc nhiều lần
sẽ [cảm thấy] chẳng c̣n khó nữa! Tôi xem những
bài luận của học tṛ Tiểu Học thời đầu
Dân Quốc. Đối với những bài văn do những
đứa trẻ mười một, mười hai tuổi
viết ấy, chỉ sợ sinh viên đại học
ngành Hán văn [hiện thời] đọc đến vẫn
phải tra tự điển, c̣n có khá nhiều điều
họ không hiểu! V́ sao người thời đó có thể,
mà người hiện thời chẳng thể? Chẳng phải
là do người hiện thời không thể, mà là do người
hiện thời chẳng chịu đọc văn
chương Văn Ngôn. Bí quyết để đọc
được Văn Ngôn chẳng có ǵ khác, hăy đọc,
hăy học thuộc ḷng. Trước kia, tại Đài Trung,
thầy Lư dạy chúng tôi: Có thể học thuộc ḷng
năm mươi bài cổ văn, sẽ có thể xem đọc
[Văn Ngôn], sẽ chẳng bị chướng ngại,
quư vị đọc Văn Ngôn sẽ hiểu. Quư vị có
thể học thuộc ḷng một trăm bài cổ văn,
bèn có thể viết theo lối Văn Ngôn. Thầy khích lệ
chúng tôi học thuộc ḷng, cho nên hiện thời tôi khuyên
các đồng học thuộc ḷng kinh Vô Lượng Thọ.
Kinh Vô Lượng Thọ gồm bốn mươi tám chương,
c̣n kém quy định năm mươi bài của thầy Lư
hai bài, chẳng sai biệt cho mấy! Có thể đọc thuộc
ḷng kinh Vô Lượng Thọ, khả năng đọc
kinh Phật của quư vị quyết định chẳng
có vấn đề ǵ, chẳng c̣n bị văn tự chướng
ngại nữa! Do lẽ đó, phải nên đổ công dốc
sức nơi chuyện này. Chẳng cần cố ư học
thuộc ḷng; cố ư học thuộc ḷng sẽ tăng thêm
áp lực. Mỗi ngày tối thiểu đọc ba lần,
chẳng thiếu ngày nào; niệm suốt một năm sẽ
có thể đọc thuộc ḷng. Chẳng cần thuộc
ḷng mà tự nhiên có thể thuộc làu làu! Có không ít đồng
tu chúng ta niệm [kinh Vô Lượng Thọ] ba tháng bèn có thể
đọc thuộc ḷng. Do vậy có thể biết: Đây
chẳng phải là một chuyện khó, chính ḿnh phải
đổ công dốc sức!
Phàm
phu cũng phải phát tâm tuyên dương pháp môn này, v́ đại
chúng giải nói, làm như thế nào? Chính ḿnh chưa khai ngộ,
chưa kiến tánh, thầy Lư dạy chúng ta một phương
pháp, chúng ta chẳng thể giảng kinh bèn giảng chú giải.
Giống như ở đây chúng tôi giảng Sớ Sao là bản
chú giải của Liên Tŕ đại sư, giảng Diễn
Nghĩa là [giảng] bản chú giải của pháp sư Cổ
Đức.
“Hoặc văn kinh luận chi sở
tuyên dương” (Hoặc nghe kinh luận tuyên
dương), đây là đọc kinh và nghe kinh. Đọc
tụng, lợi ích hết sức nhiều! Nếu có mấy
vị đồng tu cộng tu với nhau, đọc tụng
th́ tốt nhất là một người đọc, những
người kia chuyên tâm lắng nghe. Thân, tâm, thế giới
hết thảy vạn duyên thảy đều buông xuống,
mắt nh́n vào kinh văn, tai lắng nghe, đọc kinh
cũng có thể khai ngộ. Mọi người thay phiên
nhau đọc, thay phiên nghe, lợi ích hết sức to lớn.
“Hoặc văn tri thức chi sở
khai thị” (Hoặc nghe tri thức khai thị), [nghe] “khai thị” là nghe giảng giải,
giống như các khóa giảng của chúng tôi trong hiện
tại là giảng giải. “Nhất
lịch nhĩ căn, vĩnh vi đạo chủng” (Một
phen thoảng qua tai, vĩnh viễn trở thành hạt giống
đạo), bất luận là nghe kinh hay nghe giảng, chủng
tử của thế giới Tây Phương nhất định
đă gieo vào A Lại Da Thức. “Thị
chi vị văn”, [có nghĩa là] đấy là Văn.
V́
sao gọi Văn là Huệ? “Văn
tức thị Huệ” (Văn chính là Huệ). Đối
với Tam Huệ của Bồ Tát, Huệ nói ở đây
chính là Huệ trong Giới - Định - Huệ. Do đó,
pháp Bồ Tát là pháp Đại Thừa, cao hơn pháp Tiểu
Thừa. Chẳng có cơ sở Tiểu Thừa, làm sao có Đại
Thừa cho được? Khó khăn trong hiện thời
của chúng ta là ở chỗ này: Chẳng có cơ sở Tiểu
Thừa mà trực tiếp học Đại Thừa,
đây là chuyện hết sức khó khăn. Tại Trung
Hoa, vào thời Tùy - Đường, Tiểu Thừa từng
hưng vượng trong một thời gian rất ngắn,
sau đấy bị suy vi. V́ sao bị suy vi? Do bị Nho gia
và Đạo gia của Trung Hoa thay thế. Trong quá khứ,
người Hoa hầu như hễ là người học
Phật th́ đều là người đă từng đọc
sách Khổng Tử. V́ thế, người học Phật
xưa kia, nói thật ra là giai cấp sĩ đại phu,
là người đọc sách. Quư vị chẳng có tu dưỡng
học thuật kha khá, chẳng dễ ǵ lư giải kinh Phật.
Đă đọc sách của Nho gia và Đạo gia, nếu
đọc tới kinh Tiểu Thừa, sẽ cảm thấy
chẳng cần đọc, không cần phải đọc
nữa. Do vậy, Tiểu Thừa suy vi, chẳng c̣n tồn
tại ở Trung Hoa.
Kinh
Tiểu Thừa được phiên dịch hết sức
đầy đủ. Nay chúng ta so sánh giữa kinh A Hàm và
kinh điển Tiểu Thừa bằng
tiếng Ba Lợi (Pāḷi), nghe nói họ chỉ
nhiều hơn chúng ta năm mươi mấy bộ. Kinh Tiểu
Thừa có gần hai ba ngàn thứ, họ chỉ nhiều
hơn chúng ta năm mươi bộ. Người hiện
thời học Tiểu Thừa rất ít, thế hệ
chúng ta vứt bỏ những trước tác của Nho gia
và Đạo gia, cũng chẳng đọc nữa. Kinh Tiểu
Thừa cũng chẳng cam tâm đọc, ngay lập tức
mong học Đại Thừa, giống như xây nhà chẳng
có nền móng. Người thành tựu trong thời đại
này quá ít, nguyên nhân chủ yếu là ở chỗ này! V́ lẽ
đó, các đồng tu nếu muốn học Phật,
đặc biệt là những đồng tu phát tâm muốn
hoằng pháp trong tương lai, chẳng đọc sách Nho
sẽ không được! Thập Tam Kinh quá nhiều, mức
độ thấp nhất là Tứ Thư và Ngũ Kinh nhất
định phải đọc. Phải đọc Tứ
Thư cho nhuần, Ngũ Kinh cũng phải xem mấy
lượt, phải có cơ sở này th́ mới có thể nhập
Đại Thừa.
Tiểu
Thừa là tu Giới, tu Định, từ Định khai Huệ.
Sau khi đă khai Huệ, những cái gọi là Văn, Tư,
Tu đều là Huệ. Văn Huệ, Tư Huệ, Tu Huệ
chính là Huệ trong Giới - Định - Huệ. Văn là
ǵ? Văn là tiếp xúc, tai nghe âm thanh bên ngoài; đó là
Văn (聞), tức là tiếp xúc. Mắt thấy sắc tướng
bên ngoài cũng là Văn, dùng một chữ [Văn] này để
biểu thị. Sáu căn tiếp xúc cảnh giới bên
ngoài th́ gọi là Văn. Hễ tiếp xúc bèn hiểu rơ, chẳng
cần thông qua suy lường bèn hiểu rơ, “hiểu rơ” được
hiểu theo ư nghĩa này, chúng ta gọi đó là Tư Huệ.
Trên thực tế, [sự hiểu rơ ấy] chẳng cần
thông qua suy xét. Tư (思) biểu thị
hiểu rơ, Tu (修) biểu thị quyết
định chẳng sai lầm. Chẳng có sai lầm chính
là Tu. Đó là sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần
bèn khởi tác dụng, đấy chính là điều tu tập
của Đại Thừa Bồ Tát. Từ tiếp xúc bèn gọi
là Văn, từ hiểu rơ bèn gọi là Tư, từ quyết
định chẳng phạm sai lầm th́ gọi là Tu.
Đó là Tam Huệ. Tam Huệ chính là Huệ trong Giới - Định
- Huệ. Nay chúng ta chẳng đắc Định, lấy
đâu ra Huệ? Do đó, ở đây, Tổ nêu ra ư
nghĩa ở mức độ khá cạn.
“Đối mộc thạch thuyết,
ngoan bất văn cố” (Do nói với gỗ, đá,
chúng trơ trơ chẳng nghe). Quư vị nói với khúc gỗ
hay tảng đá, chúng nó sẽ chẳng thể nghe, chẳng
nghe được! “Đối
ngu nhân thuyết, văn bất xan thái” [nghĩa là] nói với
kẻ ngu, hắn nghe xong chẳng hiểu, chẳng thể
tiếp nhận. Chẳng thể hấp thụ, cũng
như chẳng nghe, chẳng khác ǵ không nghe! Nói thật ra, ư
nghĩa này đă bao gồm cả ư nghĩa tôi vừa mới
nói: Nay chúng ta nghe, tuy nghe cũng như chẳng nghe. V́ sao? Nghe
chẳng hiểu, chẳng hiểu rơ. Vừa nghe liền hiểu
rơ th́ mới là Văn Huệ. Do vậy, hiểu rơ Tam Huệ
là một, tuy một mà ba, tuy ba mà một, đồng thời,
chẳng phải là có giai đoạn. Vừa nghe th́ sự
nghe ấy gọi là Văn, hiểu rơ là Tư, chẳng sai
lầm là Tu. V́ thế, Tam Huệ đồng thời viên
măn trong một sát-na. Đó là phương pháp tu học của
Bồ Tát.
(Sao)
Tư Huệ giả, kư nhập hồ nhĩ, tu tồn hồ
tâm, đế thẩm, đế quán, thị hà pháp môn, thị
hà nghĩa lư, thị chi vị Tư.
(鈔)思慧者,既入乎耳,須存乎心,諦審諦觀,是何法門,是何義理,是之謂思。
(Sao: Tư Huệ:
Đă lọt vào tai, cần giữ măi trong tâm, suy nghĩ,
quan sát kỹ lưỡng “là pháp môn nào, là nghĩa lư như
thế nào”, đó gọi là Tư).
Giải
thích chữ Tư. Người b́nh phàm sẽ nói là “suy xét”.
Chúng ta nghe ngôn luận của kẻ khác, nhất định
sẽ suy nghĩ đạo lư trong ấy; đó là Tư.
(Sao)
Nhi ngôn Huệ giả, Tư tức thị Huệ.
(鈔)而言慧者,思即是慧。
(Sao: Nhưng nói là Huệ,
Tư chính là Huệ).
Vừa tiếp
xúc bèn hiểu rơ th́ mới được.
(Sao)
Cầm súc tuy văn, bất giải tư cố. Ngu nhân tuy
văn, nhập nhĩ xuất khẩu, bất ức tưởng
cố. Cố viết Tư Huệ.
(鈔)禽畜雖聞,不解思故;愚人雖聞,入耳出口,不憶想故。故曰思慧。
(Sao: Do chim, thú tuy nghe,
nhưng chẳng suy nghĩ, hiểu biết. Do kẻ ngu
tuy nghe, lọt vào tai, bèn tuôn ra miệng, chẳng nhớ
nghĩ. V́ thế, nói là Tư Huệ).
Kẻ
ngu nghe xong chẳng thâm nhập, liễu giải nghĩa lư,
chẳng thể gọi là Tư Huệ, gọi là Tư th́
được!
(Sao)
Tu Huệ giả, kư thâm tư chi, nghi lực hành chi, thị
chi vị Tu.
(鈔)修慧者,既深思之,宜力行之,是之謂修。
(Sao: Tu Huệ là
đă suy nghĩ sâu xa, hăy nên tận lực hành, đó gọi
là Tu).
Chỉ
nói tới Văn Tư Tu, chưa nói tới Huệ. Có nhiều
người tách Tam Huệ Văn Tư Tu của Bồ Tát
thành từng phần để nói. Nói kiểu ấy chẳng
sai, nhưng chỉ có thể gọi là Văn Tư Tu, chẳng
thể gọi là Văn Huệ, Tư Huệ, Tu Huệ, chẳng
thể gọi chúng là Huệ được! Lũ b́nh phàm
chúng ta đều có Văn Tư Tu, kẻ ngu cũng có,
người đọc sách càng chẳng cần phải nói
nữa. Người đời có Văn Tư Tu, nhưng chẳng
có Tam Huệ. Đây là Tu.
(Sao)
Nhi viết Huệ giả, Tu tức thị Huệ. Cuồng
nhân tuy tư, tế tinh dịch thần, bất thực tiễn
cố.
(鈔)而言慧者,修即是慧。狂人雖思,敝精役神,不實踐故。
(Sao: “Mà nói là Huệ”:
Tu chính là Huệ. Do kẻ cuồng tuy suy nghĩ, nhọc nhằn
tinh thần, nhưng chẳng thể biến thành thực
tiễn).
Kẻ cuồng
tuy suy nghĩ, suy xét, cũng rất dụng tâm, cũng rất
mệt óc, nhưng chẳng thể làm được, chẳng
thể thực hiện triệt để, chẳng thể
viên măn. Do đó, kẻ ấy chỉ có thể gọi là
Văn Tư Tu, chẳng thể gọi là Tam Huệ.
(Sao)
Vấn: Thử chỉ Tam Huệ, hữu hà chứng cứ?
(鈔)問:此指三慧,有何證據?
(Sao:
Hỏi: Tam Huệ như vừa được nêu ra
đó, có chứng cớ ǵ hay không?)
“Thử chỉ”, “thử” (此) là nói tới niệm
Phật. Niệm câu A Di Đà Phật, chính là Tam Huệ, có
chứng cứ ǵ hay không? Niệm Phật đích xác là Tam
Huệ, xác thực là Tam Huệ Văn Tư Tu được
bao gồm trong ấy. Một câu Phật hiệu, khi tiếp
xúc là Văn; tiếp xúc liền hiểu rơ, câu Phật hiệu
trọn đủ vô lượng vô biên công đức, chẳng
cần thông qua suy tưởng bèn lập tức biết
ngay. Lại c̣n lập tức thật thà niệm. Nghe niệm
Phật th́ chẳng có ai không thật thà niệm theo; niệm
chính là Tu.
(Sao) Phật Địa Luận vân.
(鈔)佛地論云。
(Sao:
Phật Địa Luận nói).
Liên
Tŕ đại sư trích dẫn kinh điển. Phật
Địa Luận nói:
(Sao)
Bồ Tát lư tam diệu huệ, Tịnh Độ văng hoàn.
(鈔)菩薩履三妙慧,淨土往還。
(Sao: Bồ Tát [do] thực
hành ba diệu huệ mà qua lại Tịnh Độ).
Nêu
lên chứng cứ này quá hay! Nêu trường hợp Bồ
Tát tu Tịnh Độ, tức Bồ Tát trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới. “Lư” (履: đạp
lên, bước đi) là thực hiện, thực hành. Thực hành “tam diệu huệ” nghĩa là
ǵ? Là niệm câu A Di Đà Phật. Niệm câu A Di Đà Phật,
thường qua lại Tây Phương Cực Lạc thế
giới và các thế giới phương khác, tới lui qua
lại! Bồ Tát trong thế giới Tây Phương hằng
ngày đều đến các thế giới ở
phương khác để “thượng
cúng chư Phật, hạ hóa chúng sanh” (trên là cúng dường
chư Phật, dưới là hóa độ chúng sanh). Dùng
phương pháp ǵ? Dùng một câu A Di Đà Phật để
phổ độ hết thảy các chúng sanh có duyên đă
chín muồi trong pháp giới. Duyên chưa chín muồi, họ
sẽ chẳng tiếp nhận. Nếu duyên đă chín muồi,
họ vừa nghe bèn tiếp nhận, độ những chúng
sanh ấy, [đó chính là] “Tịnh
Độ văng hoàn” (qua lại Tịnh Độ). Đấy
là nguyên văn lời luận; kế đó, c̣n có lời giải
thích.
(Sao)
Dĩ Văn Tư Tu, đắc nhập Tịnh Độ,
cố tri niệm Phật tất hữu tam huệ.
(鈔)以聞思修,得入淨土,故知念佛必有三慧。
(Sao: Do Văn, Tư,
Tu được vào Tịnh Độ; v́ thế biết
niệm Phật ắt có ba thứ huệ).
Nói
thật ra, đây là v́ khá nhiều kẻ nẩy sanh hiểu
lầm đối với pháp môn Niệm Phật, cho rằng
“niệm Phật nếu nói miễn cưỡng sẽ là
đắc Định đôi chút” th́ họ c̣n có thể tiếp
nhận. [Họ nghĩ] niệm Phật đạt đến
nhất tâm bất loạn là Định, chứ người
niệm Phật chẳng có trí huệ. Kẻ b́nh phàm nói
như vậy; thật ra, họ chẳng liễu giải
pháp môn này, nghe lỏm nói ṃ, kẻ khác bảo sao bèn lặp
y hệt như vậy, nẩy sanh khá nhiều quan niệm
sai lầm. Lũ sơ học chúng ta tiếp xúc kinh luận
Tịnh Tông cũng nông cạn, ít ỏi, nghe kẻ khác nói
như vậy, chẳng đành ḷng, thôi đi! Ta không học
pháp môn này nữa, ta theo học pháp môn có trí huệ, kết quả
là lầm lỡ tương lai! Đoạn vấn đáp
này của Liên Tŕ đại sư hết sức hay, giúp chúng
ta phá nghi sanh tín, hiểu pháp môn Niệm Phật thật sự
đạt tới viên măn rốt ráo, vượt trỗi thù
thắng hết thảy các pháp môn khác, nay chúng ta gặp
được mới thật sự là đáng vui mừng.
Hôm nay, tôi giảng tới chỗ này!
Tập
224
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang bốn trăm bốn
mươi mốt.
(Sớ)
Phục hữu tam nghĩa, văn thuyết Phật danh, tâm
bất nghi nhị, thị chi vị Tín. Tín dĩ nhi chấp,
tâm khởi nhạo dục, thị chi vị Nguyện. Nguyện
dĩ nhi tŕ, tâm cần tinh tấn, thị chi vị Hạnh.
(疏)復有三義,聞說佛名,心不疑貳,是之謂信;信已而執,心起樂欲,是之謂願;願已而持,心勤精進,是之謂行。
(Sớ: Lại có ba
nghĩa: Nghe nói danh hiệu Phật, tâm chẳng nghi ngờ,
đó gọi là Tín. Tin rồi giữ lấy, dấy ḷng
ưa thích, đó gọi là Nguyện. Nguyện rồi vâng
giữ, tâm siêng năng, tinh tấn, đó gọi là Hạnh).
Trong
Tịnh Tông, Tín Nguyện Hạnh vô cùng trọng yếu.
Đấy chính là ba điều kiện tu học trong Tịnh
Tông, thiếu khuyết một điều sẽ chẳng
thể văng sanh. Câu Phật hiệu trọn đủ Tín
Nguyện Hạnh. “Văn thuyết
Phật danh” (Nghe nói danh hiệu Phật), nghe danh hiệu
th́ một là [nghe] Phật hiệu, hai là [nghe] kinh A Di Đà và
kinh Vô Lượng Thọ, [cùng với] kinh Quán Vô Lượng
Thọ Phật. Ba kinh ấy đều dạy chúng ta chuyên
tu Tịnh nghiệp. Sau khi đă nghe, trong tâm quyết định
chẳng ngờ vực, đó mới là Tín.
Tín hết
sức khó, rất chẳng dễ dàng. Chúng tôi tu học pháp
môn này, học rất nhiều năm, thậm chí tín tâm vẫn
chưa kiến lập. Tôi xuất gia năm Dân Quốc 48
(1959), năm Dân Quốc 50 (1961) thọ giới. Sau khi thọ
giới, đến Đài Trung bái tạ thầy Lư, gặp
mặt, câu đầu tiên thầy bảo tôi “phải tin Phật”. Tôi học
Phật đă nhiều năm như vậy, vừa xuất
gia bèn dạy tại Phật học viện, lại đă
thọ đại giới, cớ sao thầy c̣n bảo tôi “phải tin Phật”? Lăo nhân gia
giải thích: “Tin Phật hết
sức khó khăn, có nhiều kẻ xuất gia suốt một
đời măi cho đến khi già chết vẫn chẳng tin
Phật. Nếu tin Phật, cớ sao bị đọa trong
ba ác đạo? Đă tin Phật, lẽ nào tạo ác nghiệp?
Chỉ có kẻ không tin Phật mới đọa trong tam
đồ, mới tạo ác nghiệp!” Do vậy, tin Phật
hết sức khó khăn!
“Tâm bất nghi nhị” (Tâm chẳng
nghi ngờ, tán loạn). “Nhị”
(貳) là tam tâm nhị
ư, tâm chẳng chuyên nhất. “Nghi”
(疑) là có ḷng hoài nghi,
tín tâm chẳng thanh tịnh, đều chẳng gọi là
Tín. V́ thế, nhất định phải đạt
được “chẳng nghi ngờ, chẳng xen tạp”. Nói
thật ra, “bất nhị” (不貳) là không xen tạp.
Không hoài nghi, không gián đoạn, không xen tạp th́ mới
thật sự là Tín. Không chỉ xen tạp pháp thế gian
bèn chẳng phải là Tín, tức là xen tạp danh vọng,
lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần, thị
phi, nhân ngă trong pháp thế gian, quư vị xen tạp những
thứ ấy sẽ chẳng gọi là Tín. Xen tạp Phật
pháp cũng chẳng phải là Tín. Ta niệm Phật lại
muốn tham Thiền, lại toan tŕ chú, lại muốn nghiên
cứu kinh giáo, đều chẳng gọi là Tín, mà là tạp
loạn! Do vậy có thể biết, phải chuyên ṛng th́ mới
là Tín. Chẳng chuyên ṛng, chẳng thể gọi là Tín
được! Chúng tôi giảng kinh, giảng rất nhiều
năm tại đạo tràng này, người nghe đông ngần
ấy, tin tưởng có mấy ai? Nói thật ra, mười
người hoặc tám người là đă khá quá rồi!
Người đă tin chẳng có ai không nghiêm túc tu hành, người
đă tin không ai chẳng văng sanh. Nhất định phải
biết: Đại đa số là “một phen thoảng nghe qua tai, vĩnh viễn trở
thành hạt giống đạo” mà thôi, chẳng thể thành
tựu trong một đời này. Kẻ nghe xong chẳng tin
tưởng, dẫu chẳng tin tưởng cũng đến
nghe giảng hằng ngày, ít nhiều cũng có đôi chút thiện
căn, nhưng thiện căn chưa chín muồi!
“Tín dĩ nhi chấp” (Đă
tin tưởng bèn giữ lấy), sau khi đă tin bèn giữ
lấy. “Chấp” (執) là nắm thật chặt, chẳng
khinh thường bỏ qua. “Tâm
khởi nhạo dục” nghĩa là thật sự sanh khởi
tâm hoan hỷ. “Nhạo” (樂) là yêu thích, “dục” (欲) là mong cầu. Ta
hết sức hoan hỷ cầu sanh về Tây Phương Cực
Lạc thế giới. Nếu đối với thế giới
Tây Phương, thế giới Sa Bà và các thế giới của
mười phương chư Phật đều chưa
hiểu rơ ràng, làm sao có thể sanh tâm hoan hỷ đối
với thế giới Tây Phương? Do đó, tâm nguyện
“nguyện sanh Tây Phương” chẳng dễ dàng sanh khởi.
Làm thế nào th́ mới có thể hiểu rơ nó? Nói chung là có
hai loại, trong quá khứ đă gieo thiện căn rất
lớn chính là nhân, hai thứ duyên bất đồng:
1) Một loại
duyên là trong lúc phải hứng chịu những nỗi khổ
sở to lớn trong đời người, hoặc lúc gặp
phải kiếp nạn to lớn, nghe nói có một nơi
như thế, điều ǵ cũng chẳng nghĩ tới,
thật thà nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ.
2) Loại kia là
người thông Tông thông Giáo, thấu triệt nhuần nhuyễn
kinh luận, hiểu rơ các nhân quả trong thế giới Sa
Bà, đối với các thế giới của mười
phương chư Phật và thế giới Tây
Phương cũng hiểu rơ, chẳng phải là chọn
lựa tùy tiện, mà là dùng trí huệ để chọn lựa
dứt khoát.
Chúng ta đọc
kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, thấy phu nhân Vi
Đề Hy chọn lựa Tây Phương Cực Lạc thế
giới khi gặp đại nạn, con cái bất hiếu,
giết cha, giết mẹ, gặp nạn như vậy. Thích
Ca Mâu Ni Phật triển hiện mười phương thế
giới chư Phật trước mặt bà ta, để
bà ta tự xem. Sau khi xem trọn khắp, bà chọn lựa Tây
Phương Cực Lạc thế giới. Có thể thấy
là nguyện này chẳng dễ phát!
Một
số người thường nói, phát nguyện cầu sanh
Tịnh Độ, nguyện ấy là đạo tâm [mong
manh] như sương buổi sáng, vô dụng, chẳng phải
là chân tâm thành ư, mà là giả tâm, nói suông ngoài miệng mà thôi. Thành
tâm thành ư, thái độ xử sự làm người sẽ
hoàn toàn khác hẳn, chẳng có tâm so đo hết thảy thị
phi nhân ngă trong thế gian. Người ấy nhất tâm nhất
ư chuyên cầu Tịnh Độ, luôn sợ chẳng kịp
thời gian, chẳng đủ dùng, c̣n có thời gian nào
để lo chuyện thị phi nhân ngă chi nữa! Đối
với hết thảy sự, hết thảy người,
hết thảy vật trong thế gian, người ấy
đều chẳng quan tâm cho mấy. Hằng ngày mặc ấm,
ăn no, có thời gian niệm Phật, đủ rồi!
Vui sướng khôn sánh! Hễ c̣n toan làm chuyện thị phi
nhân ngă, tiếng tăm, lợi dưỡng, nguyện ấy
giả trất. Nói cách khác, chưa nhận thức rơ rệt!
Do vậy có thể biết, giảng kinh thuyết pháp là Tăng
Thượng Duyên rất trọng yếu. Khá nhiều
người giác ngộ nhờ kinh giáo nên mới thật sự
phát nguyện. Đă thật sự phát nguyện, không chỉ
là bỏ sạch pháp thế gian, mà c̣n cư xử tốt
đẹp đối với đại chúng trong thế gian.
Chúng ta ở chung với nhau, nếu cư xử không tốt,
tôi liền tránh đi. Tôi cũng chẳng để quư vị
xua đuổi, tự ḿnh bỏ đi, v́ sao? Đối với
hết thảy người, hết thảy sự, hết
thảy vật, quyết định chẳng lưu luyến,
đó là nguyện sanh Tịnh Độ chân chánh. V́ lẽ
này, nghiên cứu giáo lư thật sự thấu triệt, nhất
định là “vạn duyên buông xuống” ngay cả Phật
pháp cũng buông xuống. Giống như Liên Tŕ đại sư
hoặc Ngẫu Ích đại sư đến tuổi xế
chiều, đă triệt để giác ngộ, chỉ có một
bộ kinh A Di Đà, một câu Phật hiệu. Kinh Kim Cang
nói: “Pháp thượng ưng xả,
hà huống phi pháp” (Pháp c̣n nên bỏ, huống ǵ phi pháp).
Một
người thật sự tu hành, phải nhớ kỹ những
giáo huấn trong kinh. Người khác tán thán chúng ta, ắt
cũng chẳng hoan hỷ. Giả trất! Kẻ khác hủy
báng, lăng nhục chúng ta, cũng chẳng cần tức giận.
Giả trất! Thảy đều là giả trất, chẳng
có ǵ là thật. Nếu quư vị coi đó là thật, sẽ
bị thua thiệt, mắc lừa, sai lầm đặc biệt
to lớn! Chỉ có một câu Phật hiệu là thật, trong
mười hai thời, niệm niệm chẳng quên! Thế
gian này chẳng có ǵ đáng để tranh giành, thứ ǵ
cũng đều chẳng mang theo được. Hơi
chẳng cẩn thận, tội nghiệp đầy thân! V́
sao một người suốt cả một đời cứ
phải tạo tội nghiệp? Do những tội nghiệp
ấy, ắt đọa tam đồ, người ấy tu
tam ác đạo. Hạng người như vậy ngu si, đáng
thương. Bậc thiện nhân quân tử trong thế gian
chú trọng quan niệm đạo đức, đó là tu ba
thiện đạo. Người niệm Phật chúng ta nếu
chẳng cầu sanh Tịnh Độ, dẫu giới luật
tinh nghiêm, trọn đủ Ngũ Đức và Lục Ḥa,
vẫn là ba thiện đạo, chẳng thể thoát khỏi
tam giới. Do vậy có thể biết: Trong một đời
này, nếu muốn thoát khỏi tam giới, liễu sanh tử,
thành tựu trong một đời, trừ pháp môn này ra, chẳng
có pháp môn thứ hai!
Đối
với kinh Di Đà, ắt cần phải có Sớ Sao và Yếu
Giải th́ chúng ta mới thật sự hiểu sự bác
đại tinh thâm (rộng lớn, tinh vi, sâu xa) của
kinh. Kinh văn của kinh Vô Lượng Thọ nói rất
rơ ràng, chẳng cần đọc chú giải, vẫn có thể
chiếu kiến để xét coi khởi tâm động niệm
của chính ḿnh có giống như trong kinh hay không. V́ thế,
tôi khuyên các đồng học, trong giai đoạn thứ
nhất, trước hết là phải niệm thuộc
ḷng. Kinh chẳng niệm thuộc làu, chẳng thể nói tới
chuyện tu hành được! Nếu kinh đă thuộc
làu, trong tâm chúng ta dấy một niệm, sẽ nghĩ
trong kinh có [chấp nhận] niệm ấy hay không? Ta có nên
dấy lên niệm ấy hay không? Giáo huấn trong kinh điển
là tiêu chuẩn để tu hành. Kinh chẳng thuộc, quư vị
khởi tâm động niệm bèn chẳng có tiêu chuẩn. Chẳng
có tiêu chuẩn th́ tu bằng cách nào? Chẳng tu được!
Đấy là lư do v́ sao tôi dạy quư vị phải niệm
kinh cho thuần thục. Nói cách khác, quư vị có mong văng sanh Tịnh
Độ hay không? Chẳng mong th́ quư vị không niệm
cũng chẳng sao! V́ sao? Chẳng mong [văng sanh Tịnh
Độ], vẫn mong luân hồi trong lục đạo. Thật
sự mong văng sanh Tịnh Độ trong một đời
này mà kinh chẳng thuộc th́ làm sao được? V́ thế,
trong tâm khởi tâm động niệm đều phải dùng
kinh điển để đối chiếu: Niệm nào
chẳng nên dấy lên, chớ nên dấy lên; niệm nào
đáng nên dấy lên, hăy khéo dấy. “Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành” (Đừng
làm các điều ác, vâng làm các điều thiện), trong
kinh điển, đức Phật đă dạy chúng ta
như vậy. V́ thế, quư vị phải hiểu rơ th́ mới
có thể nắm được, nắm thật chắc!
So
sánh giữa hai kinh, kinh Vô Lượng Thọ hay hơn kinh A
Di Đà, [bởi lẽ], kinh văn là rốt ráo, [c̣n những
điều được tŕnh bày ở đây] là chú giải
của tổ sư. Đức Phật dạy chúng ta, “y pháp, bất y nhân”, kinh là pháp,
chú giải là do người [đời sau] nói. Chú giải chỉ
để chúng ta tham khảo, khiến cho chúng ta càng thâm nhập,
thấu hiểu những ư nghĩa được bao hàm
trong kinh văn, uốn nắn cách nghĩ, cách nh́n, và cách làm
của chúng ta đối với người, sự, vật.
“Tu” (修) là tu sửa,
chúng ta có rất nhiều cách nghĩ, cách nh́n, cách làm sai lầm
đối với người, sự, vật. Nương
theo giáo huấn của đức Phật trong kinh điển
để uốn nắn những sai lầm ấy th́ gọi
là “tu hành”. Do vậy, tu hành
là tu ở chỗ nào? Tu nơi khởi tâm động niệm.
Phàm phu chẳng thể không đọc kinh mỗi ngày. Ba
ngày chẳng đọc kinh, đạo tâm thảy đều
chẳng c̣n. Đối với phàm phu chúng ta, sức mạnh
do niệm kinh tối đa chỉ có thể giữ
được ba ngày, ba ngày chẳng niệm th́ thôi rồi,
phiền năo tập khí, tà tri tà kiến thảy đều hiện
hành. Do vậy, tu hành khó khăn, đó gọi là “một ngày nóng, mười ngày lạnh”.
V́ sao
trong đạo tràng xưa kia, người ta thành tựu dễ
dàng? Người trong đạo tràng hiện thời chẳng
dễ thành tựu? Đạo tràng xưa kia buộc quư vị
mỗi ngày nghe kinh trong giảng đường tám tiếng
đồng hồ, mọi người cùng nhau cộng tu
cũng là tám tiếng đồng hồ. Mỗi ngày mất
đứt mười sáu giờ [để tu tập], dẫu
có muốn dấy vọng tưởng cũng chẳng có thời
gian, [tu tập xong] vội vă t́m thời gian để nghỉ
ngơi, ngủ nghê, dưỡng thần, chẳng có hơi
sức đâu để tṛ chuyện. Tu hành ba năm như
vậy, có hiệu quả không chỉ bằng chúng ta tu hành
suốt ba mươi năm. Thông thường, tu hành chẳng
ngoài một là tham Thiền, hai là niệm Phật. [Tĩnh tọa]
trong Thiền Đường tám tiếng đồng hồ,
hoặc niệm Phật suốt tám tiếng đồng hồ
trong Niệm Phật Đường, nghe kinh suốt tám giờ
nữa, c̣n nghiêm ngặt hơn các môn học trong nhà trường.
Được hun đúc trong một thời gian dài như
vậy, tập khí của mỗi người tự nhiên biến
đổi. Hiện thời, chẳng có đạo tràng
như vậy, chẳng có cơ hội như vậy, nhưng
người thật sự dụng công vẫn có cơ hội
ấy. Nay chúng ta dùng máy nghe nhạc cá nhân để mỗi
ngày nghe kinh suốt tám tiếng đồng hồ cũng
được! Thật sự chịu nỗ lực, không
cần phải nghe tám tiếng đồng hồ, mỗi
ngày có thể nghe từ bốn giờ
đến sáu giờ cũng rất tốt. Niệm Phật
sáu tiếng đồng hồ th́ cũng dùng máy nghe nhạc
cá nhân để niệm theo, có khác ǵ đạo tràng thời
cổ? Chúng ta lợi dụng những công cụ khoa học
ấy, chuyển đạo tràng về nhà của chính ḿnh,
người thuở trước chẳng có cách nào
tưởng tượng chuyện này!
Nghe
kinh th́ nghe một bộ kinh càng nhiều lần càng hay! Năm
xưa, tại Lạc Sam Cơ (Los Angeles) có một vị
cư sĩ tên là Triệu Lập Bổn nghe tôi giảng Lục
Tổ Đàn Kinh và kinh Kim Cang, chỉ nghe hai bộ kinh ấy.
Tôi ghé qua
“Nguyện dĩ nhi tŕ” (Đă
nguyện bèn ǵn giữ), “tŕ”
(持) là bảo tŕ (保持: ǵn giữ). Sau
khi đă phát nguyện, phải có hằng tâm (tâm thường
hằng), kiên nhẫn, nghị lực để ǵn giữ
không bị mất đi. “Tâm cần
tinh tấn” (Tâm siêng năng, tinh tấn), một mục
tiêu, một phương hướng để nỗ lực,
đó là Hạnh. Ví như mỗi ngày nghe kinh này tám tiếng
đồng hồ, niệm Phật tám tiếng đồng
hồ, đó là Hạnh. Kinh Vô Lượng Thọ là kinh bậc
nhất để mười phương ba đời hết
thảy chư Phật Như Lai độ chúng sanh thành Phật
đạo. Từ hàng Bồ Tát trở xuống, giảng kinh
thuyết pháp đều cần phải được Phật
lực gia tŕ. Bản thân đức Phật giảng kinh thuyết
pháp tất nhiên chẳng cần được gia tŕ. Nhưng
từ kinh Vô Lượng Thọ, chúng ta thấy đức
Thế Tôn giảng kinh Vô Lượng Thọ được
A Di Đà Phật gia tŕ, được mười
phương chư Phật Như Lai gia tŕ. V́ thế, Ngài dấy
lên ư niệm muốn giảng bộ kinh này, thụy tướng
(tướng trang nghiêm tốt lành) đặc biệt đẹp
đẽ. Ngài A Nan làm thị giả của đức Phật,
suốt đời chưa từng thấy tướng hảo
như vậy, đó là ǵ? Mười phương chư Phật
gia tŕ. Đức Phật giảng những kinh khác có hiện
tượng này hay không? Quư vị hăy tra duyệt Đại
Tạng Kinh, chẳng có! Quư vị bèn hiểu bộ kinh này
có công đức và lợi ích chẳng thể nghĩ bàn.
Đức Phật giảng bộ kinh này, mười
phương chư Phật đều gia tŕ. V́ thế,
đọc và thọ tŕ bộ kinh này, cảm ứng chẳng
thể nghĩ bàn! Hiện thời có chẳng ít đồng
tu mỗi ngày niệm mười lượt, đó là Hạnh.
Thâm
nhập một môn, càng chuyên càng hay, càng ṛng càng hay. V́ hoằng pháp lợi sanh, nhằm ứng phó các
loại căn tánh bất đồng của chúng sanh, chúng
ta phải tham khảo, xem đọc các kinh luận, đó
là chuyện tất yếu. Nếu chẳng phát nguyện giảng
kinh, thuyết pháp, một bộ kinh này là đủ rồi,
thật sự thấu triệt một bộ kinh là
được rồi! Ta v́ người khác giảng kinh thuyết
pháp, ta giảng bộ kinh này, nhưng người căn
tánh khác biệt mong học kinh khác, ta bèn giới thiệu pháp
sư khác. Vị pháp sư ấy biết giảng, thỉnh
vị ấy giảng, ta chỉ biết giảng một bộ
kinh này. Năm mươi ba vị thiện tri thức trong
kinh Hoa Nghiêm có thái độ hoằng pháp lợi sanh như
thế. Thiện Tài đến tham phỏng, các Ngài nói: “Ta chỉ
học một môn này. Nếu ngươi muốn học rộng
nghe nhiều, lại giới thiệu ngươi đến
tham phỏng một vị thiện tri thức khác”.
(Sao) Tín Nguyện
Hạnh, hạ văn trung đương biện.
(鈔)信願行,下文中當辯。
(Sao: Tín Nguyện Hạnh
sẽ được biện định trong phần kinh
văn ở phía sau).
Ư nghĩa này hết
sức sâu rộng, trong phần sau sẽ c̣n nói cặn kẽ,
ở đây chỉ nêu đại lược mà thôi.
(Sớ)
Danh hiệu giả, A Di Đà Phật tứ tự hồng
danh, bất kiêm sắc tượng đẳng. Như
Văn Thù Bát Nhă, cập Tỳ Bà Sa Luận trung thuyết,
dĩ sắc tượng đẳng nhiếp danh trung cố.
(疏)名號者,阿彌陀佛四字洪名,不兼色像等。如文殊般若,及毗婆沙論中說,以色像等攝名中故。
(Sớ: Danh hiệu là
hồng danh bốn chữ A Di Đà Phật, [pháp tu trong
kinh này là chuyên chấp tŕ danh hiệu] chẳng kèm thêm h́nh sắc
v.v… Như trong kinh Văn Thù Bát Nhă và luận Tỳ Bà Sa
đă nói, những thứ như h́nh sắc v.v… đă đều
được bao gồm trong danh hiệu).
Pháp môn này chuyên chú
trọng tŕ danh, chẳng cần kèm thêm quán tưởng, niệm
một câu Phật hiệu đến cùng là được
rồi. Nay v́ sao lại khuyên quư vị niệm kinh? V́ sao đặc
biệt nhấn mạnh chuyện niệm kinh? Quư vị chẳng
đủ tín tâm, nguyện tâm chẳng tha thiết; do đó
mới bảo quư vị niệm kinh. Niệm kinh nhằm giúp
quư vị đoạn nghi sanh tín. C̣n có một ư nghĩa nữa:
Nghiệp chướng quá nặng, làm thế nào để
sửa lỗi đổi mới? V́ nguyên nhân này mà khuyên mọi
người hăy niệm kinh. Bản thân chúng ta trong cuộc
sống hằng ngày đâu biết cách nghĩ và cách làm của
chính ḿnh đều sai lầm, luôn ngỡ là rất chánh xác:
“Cách nghĩ, cách nh́n, và cách làm của ta luôn đúng, c̣n các
ngươi sai be bét”, luôn có cách nghĩ như vậy.
Đúng sai có tiêu chuẩn, tiêu chuẩn ở chỗ nào? Những
điều được giảng trong kinh điển là tiêu
chuẩn. Quư vị niệm nhiều, niệm thuần thục,
bèn có tiêu chuẩn. Dùng tiêu chuẩn ấy để kiểm
điểm hành vi trong cuộc sống của chính ḿnh th́ mới
có thể phát hiện những lầm lỗi nơi bản
thân. Phát hiện lầm lỗi nơi bản thân, đó là trí
huệ, là người tự giác, tự ḿnh đă giác ngộ.
Kẻ chẳng biết lầm lỗi của chính ḿnh th́ là
ngu mê, ngu si, mê hoặc, điên đảo, kẻ ấy rất
đáng thương! Tạo tác cái nhân trong ba ác đạo, tạo
nghiệp luân hồi trong lục đạo, thế mà chính
ḿnh vẫn chẳng biết, cứ ngỡ chính ḿnh đang
học Phật, đang tu hành. Kẻ ấy hết sức
đáng thương! Người thật sự niệm Phật
có so đo cùng kẻ đáng thương hay chăng? Chẳng
thể nào! Chỉ có ḷng thương xót kẻ ấy. Kẻ
đó chấp trước kiên cố, quư vị giải thích
cho kẻ đó, kẻ ấy chẳng thể tiếp nhận.
Kẻ ấy vọng tưởng, chấp trước kiên
cố, luôn nghĩ ḿnh chánh xác, người khác sai lầm,
thậm chí những điều đức Phật đă dạy
trong kinh cũng sai tuốt luốt, chỉ có hắn là
đúng! Chúng ta thấy kẻ đó tạo cái nhân trong ba ác
đạo, chẳng có cách nào cứu! V́ thế, đọc
kinh, niệm thuần thục, chính ḿnh mới có tiêu chuẩn
chân thật. Tiêu chuẩn này do đức Thế Tôn và A Di Đà
Phật kiến lập cho chúng ta, quyết định chẳng
sai lầm. Đây là khuyên mọi người hăy đọc
kinh nhằm tiêu nghiệp chướng. Đọc kinh, phải
làm theo kinh th́ mới có thể tiêu nghiệp chướng.
Chỉ đọc suông, chẳng làm, nghiệp chướng
chẳng tiêu được, chư vị phải biết điều
này. Đọc kinh là dạy quư vị y giáo phụng hành. Y giáo
phụng hành sẽ tiêu nghiệp chướng. Nghiệp chướng
tiêu trừ, công phu đi vào nề nếp, công phu sẽ
đắc lực.
(Sao)
Bất kiêm sắc tượng đẳng giả, chánh minh
thử kinh chuyên chủ chấp tŕ danh hiệu dă. Văn Thù
Bát Nhă kinh vân: “Phật cáo Văn Thù, dục nhập Nhất
Hạnh tam-muội giả, ưng xử không nhàn, xả
chư loạn ư, bất thủ tướng mạo, hệ
tâm nhất Phật, chuyên xưng danh tự, tùy Phật
phương sở, đoan thân chánh hướng, năng
ư nhất Phật niệm niệm tương tục, tức
thị niệm trung, năng kiến quá khứ, vị lai,
hiện tại chư Phật. Niệm nhất Phật công
đức, dữ niệm vô lượng Phật công đức
vô nhị.
(鈔)不兼色像等者,正明此經專主執持名號也。文殊般若經云:佛告文殊,欲入一行三昧者,應處空閒,捨諸亂意,不取相貌,繫心一佛,專稱名字,隨佛方所,端身正向,能於一佛念念相續,即是念中,能見過去未來現在諸佛。念一佛功德,與念無量佛功德無二。
(Sao: “Chẳng kèm thêm
h́nh sắc v.v…” chỉ rơ kinh này chuyên chú trọng chấp tŕ
danh hiệu. Kinh Văn Thù Bát Nhă chép: “Đức Phật bảo
ngài Văn Thù: - Người muốn nhập Nhất Hạnh
tam-muội, hăy nên ở chốn thanh vắng, bỏ các ư niệm
loạn động, chẳng chấp
tướng mạo, chú tâm nơi một đức Phật,
chuyên xưng danh hiệu Ngài. Tùy theo nơi chốn của
đức Phật [ở phương nào], mà thân h́nh
đoan chánh hướng về đó. Có thể đối
với một đức Phật niệm niệm tiếp
nối th́ chính ngay trong một niệm ấy, có thể thấy
chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại. Công
đức niệm một vị Phật và công đức
niệm vô lượng chư Phật chẳng hai”).
Đây
là một đoạn khai thị của đức Phật
trong kinh Văn Thù Bát Nhă[2]. “Nhất Hạnh tam-muội”:
Niệm Phật tam-muội c̣n gọi là Nhất Hạnh
tam-muội.
(Diễn)
Nhất Hạnh tam-muội giả, kinh vân “pháp giới nhất
tướng”.
(演)一行三昧者,經云法界一相。
(Diễn: Nhất Hạnh
tam-muội: Kinh nói “pháp giới một tướng”).
Tướng
pháp giới là tướng b́nh đẳng.
(Diễn)
Hệ duyên pháp giới, thị danh Nhất Hạnh tam-muội.
Luận vân: “Vị nhất thiết chư Phật Pháp Thân dữ
chúng sanh thân b́nh đẳng vô nhị, tức danh Nhất Hạnh
tam-muội”.
(演)繫緣法界,是名一行三昧。論云:謂一切諸佛法身與眾生身平等無二,即名一行三昧。
(Diễn: Duyên chặt
chẽ nơi một pháp giới th́ gọi là Nhất Hạnh
tam-muội. Luận chép: “Ư nói Pháp Thân của hết thảy
chư Phật và thân chúng sanh b́nh đẳng, chẳng hai, nên
gọi là Nhất Hạnh tam-muội).
Trước
hết, giải thích ư nghĩa của Nhất Hạnh tam-muội.
Ư nghĩa được bao hàm trong danh từ này cũng là
định nghĩa của danh từ. Hạnh (行) là hành vi, cũng
là hoạt động. Tam-muội (Samādhi) là Chánh Thọ (正受), tức sự
hưởng thụ chánh đáng.
Mê ở
chỗ nào? T́m không thấy, chỗ nào có mê! Khi nào có mê? Do nguyên
nhân nào mà có mê? Chẳng có nguyên nhân, cũng chẳng nói
được khi nào sẽ mê. Quư vị t́m lúc [bị mê] đó,
sẽ chẳng t́m thấy! V́ sao? Nó là hư vọng. Quư vị
một niệm giác bèn thành Phật, một niệm mê th́ là
chúng sanh khổ năo. Phật và chúng sanh sai biệt ở chỗ
mê hay ngộ. Nay chúng ta muốn giác, chẳng giác được,
v́ sao chẳng giác được? Tập khí quá nặng, chẳng
thể dùng cái tâm thanh tịnh để đối ứng
với hoàn cảnh sống, tâm địa luôn ô nhiễm, dơ
bẩn. Khởi tâm động niệm là thị phi, nhân ngă,
lợi hại, được mất, luôn làm những chuyện
ấy. Trong kinh Kim Cang, đức Phật đă nói về
những thứ ấy rất rơ ràng: “Phàm những ǵ có tướng đều là hư vọng”,
“hết thảy pháp hữu vi,
như mộng, huyễn, bọt, bóng”. Họ muốn làm
những chuyện ấy, quư vị nói xem có đáng
thương hay không? Thật sự chịu tiếp nhận,
thật sự chịu sửa lỗi đổi mới, Phật
và thiện tri thức sẽ bằng ḷng dạy họ. V́
sao? Người ấy có thể cứu, cứu được!
Chẳng thể sửa lỗi, chẳng thể đổi
mới, chư Phật, Bồ Tát chẳng dạy kẻ ấy.
V́ sao? Dạy uổng công! Chẳng khởi tác dụng, oan uổng!
Hao phí tinh thần lẫn công sức, cho nên chẳng dạy!
Tuyệt đối chẳng phải là Phật, Bồ Tát, thiện
tri thức bất công, chẳng phải vậy! V́ sao [các
Ngài] chịu dạy kẻ này, chẳng dạy kẻ kia?
Người ta thấy rất rơ rệt, kẻ này sau khi
được dạy, sẽ có thể sửa lỗi
đổi mới. Kẻ kia có dạy th́ vẫn chẳng thể
sửa lỗi đổi mới! V́ lẽ này, duyên ở
nơi chúng sanh, chẳng phải do phía Phật, Bồ Tát. Phật,
Bồ Tát vô tâm, Phật, Bồ Tát thanh tịnh, b́nh đẳng.
Chúng ta thường nói “có duyên
với Phật” hay không là ở chỗ này. Hoan hỷ tiếp
nhận, nghe xong thật sự chịu làm, đó là hữu duyên.
Nghe xong chẳng chịu sửa lỗi, đó là vô duyên. V́
thế, “Phật chẳng độ
kẻ vô duyên”, Phật chẳng thể độ được!
Đă hiểu rơ ư nghĩa của Nhất Hạnh tam-muội,
làm thế nào để đạt được?
(Diễn)
Dục nhập thị tam-muội giả.
(演)欲入是三昧者。
(Diễn:
Người muốn nhập tam-muội ấy).
Nhập
Nhất Hạnh tam-muội, mức độ thấp nhất
là Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo. Nhập Nhất Hạnh
tam-muội là nhập pháp giới, nói cách khác, phá một phẩm
vô minh, chứng một phần Pháp Thân. Năng lực của
hàng Bồ Tát ấy giống như kinh đă nói: “Ưng dĩ Phật thân nhi đắc
độ giả, tức hiện Phật thân nhi vị thuyết
pháp” (Nên dùng thân Phật để đắc độ,
bèn hiện thân Phật để thuyết pháp). Ngài có năng
lực thị hiện tám tướng thành đạo, có
năng lực tùy loại hóa thân, trí huệ và thần thông
đều tương tự như Phật. Ở đây, Ngài
dạy một phương pháp rất đặc biệt
để nhập Nhất Hạnh tam-muội.
(Diễn)
Ưng hệ tâm nhất Phật, chuyên xưng danh tự dă.
(演)應繫心一佛,專稱名字也。
(Diễn: Hăy nên chuyên
tâm nơi một đức Phật, chuyên xưng danh hiệu
Ngài).
Dạy
chúng ta, “phát Bồ Đề
tâm, một mực chuyên niệm” như kinh Vô Lượng
Thọ của Tịnh Tông đă nói, chính là Nhất Hạnh
tam-muội. Đây là Niệm Phật tam-muội, vua trong các
thứ tam-muội, là phương pháp tu hành thù thắng nhất,
chuyên xưng danh hiệu.
(Diễn)
Tức thị niệm trung, năng kiến
quá khứ, vị lai, hiện tại chư Phật giả.
(演)即是念中,能見過去未來現在諸佛者。
(Diễn: Tức là ngay
trong niệm ấy, có thể thấy quá khứ, vị lai,
hiện tại chư Phật).
Tŕ danh
niệm Phật, niệm đến mức nhất tâm bất
loạn. Nhất tâm bất loạn chính là như trong
chương Đại Thế Chí Bồ Tát Viên Thông của
kinh Lăng Nghiêm đă nói: “Chẳng
cậy vào phương tiện, tâm được tự
khai”. “Tâm khai” chính là “đại
triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh” trong Thiền
Tông. Đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh
của Thiền Tông chẳng thể thấy mười
phương hết thảy chư Phật, chẳng thấy
Phật nhiều ngần ấy. Nhưng quư vị niệm
A Di Đà Phật, [tu tập] pháp môn Di Đà, sẽ thấy
vô lượng vô biên chư Phật. Đó là chỗ thù thắng
của pháp môn này. Pháp môn này được hết thảy
chư Phật Như Lai tán thán là do chỗ này. Đấy
là chính ḿnh nhập Nhất Hạnh tam-muội, lại được
oai thần của A Di Đà Phật gia tŕ. V́ thế, pháp giới
do người ấy duyên đến sẽ chẳng hai, chẳng
khác với Phật, chẳng thể nghĩ bàn!
(Diễn)
Tận tri Hằng sa chư Phật pháp giới vô sai biệt
tướng dă.
(演)盡知恆沙諸佛法界無差別相也。諸佛法身與眾生心同體無二。
(Diễn: Biết trọn
tướng chẳng sai biệt của chư Phật pháp
giới nhiều như cát sông Hằng, Pháp Thân của
chư Phật và tâm chúng
sanh đồng thể, chẳng hai).
Thấy
tướng b́nh đẳng của mười pháp giới,
thật sự b́nh đẳng, thấy pháp giới đồng
thể. Do pháp giới b́nh đẳng, nên thái độ xử
sự đăi người liền biến đổi, có thể
sử dụng tâm thanh tịnh, tâm b́nh đẳng, tâm đại
từ bi để đối đăi hết thảy chúng
sanh, người ấy đă thành Phật. Minh tâm kiến tánh,
kiến tánh thành Phật, tuy chẳng phải là một vị Phật viên măn rốt ráo, nhưng
đă thuộc loại Phần Chứng Phật. Đối
với Lục Tức Phật được nói trong
tông Thiên Thai, người ấy thuộc địa vị
Phần Chứng Phật, chẳng phải là địa vị
Tương Tự, chẳng phải là Quán Hạnh hay
Tương Tự, mà là Phần Chứng. Đây là vị Phật
chân thật, chẳng phải là giả Phật. Do đó, có
thể thị hiện tám tướng thành đạo.
(Diễn)
Kim đản kiến chúng sanh tâm, bất kiến Phật
Pháp Thân giả, dĩ vị năng ly niệm cố.
(演)今但見眾生心,不見佛法身者,以未能離念故。
(Diễn: Nay chỉ
thấy tâm chúng sanh, chẳng thấy Pháp Thân của Phật,
v́ chưa thể ĺa niệm).
Nói
tới cảnh giới hiện tiền của chúng ta, chúng
ta chỉ thấy tâm chúng sanh, chẳng thấy Pháp Thân của
Phật (tức là chẳng thấy cảnh giới b́nh
đẳng), nguyên nhân ở chỗ nào? Chúng ta chẳng ĺa khỏi
vọng niệm. “Niệm” ở
đây là vọng tưởng và chấp trước như
kinh Hoa Nghiêm đă nói. Chúng ta chẳng thể ĺa khỏi vọng
tưởng, ĺa khỏi chấp trước, nên quư vị là
phàm phu, chẳng thấy Pháp Thân. Chẳng thấy Pháp Thân, nói
cách khác, quư vị chẳng đạt được Nhất
Hạnh tam-muội.
Chúng
ta là phàm phu, nghiệp chướng rất nặng, nếu chẳng
được Phật pháp hun đúc trong một thời
gian dài, sẽ chẳng có cách nào! Thật sự chú trọng
sao cho sự hun đúc có sức mạnh, hữu hiệu, từ
kinh nghiệm giảng kinh trên giảng đài của bản
thân tôi, đó là sự hun đúc có sức mạnh to tát nhất.
V́ quư vị muốn lên đài giảng kinh, phải chuẩn
bị rất chu đáo. Chúng tôi chưa khai ngộ, đă từng
kể với các đồng tu: Thuở đầu, khi tôi học
giảng kinh, để lên giảng đài giảng một
tiếng đồng hồ, phải chuẩn bị hai
mươi tiếng đồng hồ, chẳng dám giải
đăi tí nào. Hễ giải đăi th́ lên giảng đài sẽ
bị mất mặt. V́ vậy, phương pháp này có hiệu
quả hơn so với thầy giáo dạy học. Thầy
có thể nói qua quít [cho xong buổi giảng], gạt
được học tṛ. Giảng kinh, dưới ṭa có mấy
chục, mấy trăm người nghe, chẳng lừa
được ai! Nhiều cặp mắt nh́n vào quư vị
ngần ấy, quư vị giảng sai cũng chẳng thể
được. V́ thế, phải chuẩn bị rất chu
đáo. Gần như là đối với người mới
học giảng kinh, quư vị bảo họ giảng mỗi
tuần một tiếng rưỡi, gần như họ
dành thời gian trọn cả tuần để bận bịu
lo toan việc ấy. Ngay cả đêm ngủ cũng mơ
thấy đang sửa chữa bài giảng. Chuyên tâm đến
mức độ ấy th́ gọi là “hun đúc”. Quư vị có
thể giảng chẳng gián đoạn, sẽ có lợi
cho bản thân không chi lớn bằng, nghiệp chướng
tập khí từ vô thỉ kiếp sẽ dần dần bất
tri bất giác tiêu mất.
[Để
đạt đến mức] trên giảng đài có thể
vận dụng tùy theo ḷng muốn, mọi việc thuận
lợi, theo kinh nghiệm của chính tôi, phải mất mười
năm. Cho tới nay, tôi đă giảng ba mươi ba năm;
do đó, mọi người thấy tôi giảng kinh
cũng chẳng cần phải chuẩn bị sẵn,
cũng chẳng cần phải đọc tài liệu. Mười
năm đầu rất khổ! Năm
đầu tiên khổ nhất, đến năm thứ
hai, tôi giảng một giờ th́ ước chừng mất
thời gian chuẩn bị mười giờ là đủ
rồi. Đến năm thứ ba, hai giờ là đủ
rồi, đến năm thứ tư, thứ năm, tôi
chuẩn bị một giờ có thể giảng hai, ba
giờ, càng giảng càng thoải mái. Năm Dân Quốc 60
(1971), khi tôi giảng kinh Lăng Nghiêm và Hoa Nghiêm, chuẩn bị
một ngày bèn có thể giảng bảy ngày. Hiện thời
giảng kinh chẳng cần phải chuẩn bị. Chẳng
chịu khổ sẽ không được! Mở đầu
khổ nhất, sau khi đă vượt cái ải ấy, sẽ
ngày càng dễ dàng, càng ngày càng hoan hỷ. Nghiệp chướng
ngày càng ít, tâm ngày càng thanh tịnh, trí huệ ngày càng tăng
trưởng. Tu học như vậy th́ mới vui sướng,
ĺa khổ được vui, thật sự đạt
được lợi ích nơi Phật pháp. Đối với
hết thảy người, hết thảy sự, hết
thảy vật, trước mắt, phương khác, quá khứ,
vị lai đều có thể biết đôi chút. Đó chẳng
phải là thần thông, mà giống như là trực giác, tự
nhiên có thể biết đôi chút. Người đọc
sách thời cổ biết cảnh giới này!
Do vậy,
nếu chúng ta muốn gạt gẫm một kẻ b́nh phàm
sẽ dễ dàng. Lừa một kẻ có học thật sự
sẽ chẳng dễ dàng, chẳng thể lừa nổi họ.
V́ sao? Người ta nh́n vào ánh mắt, nh́n cách quư vị
ăn nói, nh́n vào động tác, cát hung họa phước
của cả đời quư vị đều bị người
ta nh́n thấy tuốt luốt, quư vị có chỗ nào để
phỉnh phờ họ được nữa? Chẳng phỉnh
phờ được ai! Một người có học vấn
trong thế gian mà c̣n như thế, huống hồ một
người thật sự tu hành trong Phật pháp, muốn
gạt họ, lẽ nào họ bị mắc lừa? Thật
sự là chính ḿnh gạt gẫm chính ḿnh mà thôi! Những bậc
cao nhân biết hết, cớ sao chẳng nói? Mỗi người
có nhân duyên, quả báo riêng; v́ thế, chẳng cần nói,
nh́n kẻ đó tạo tác, nh́n thấy hắn hứng chịu
quả báo. Chỉ có khi nào thấy kẻ đó có thể thật
sự quay đầu, bèn nhẹ nhàng chỉ điểm cảnh
tỉnh. Chỉ điểm mà vẫn chẳng tỉnh, sẽ
chẳng nói nữa. Kẻ ấy chẳng ngộ, là người
ngu mà! Nguyên nhân là do phiền năo chưa đoạn. Chúng ta mong
cầu học Phật th́ trước hết phải
đoạn phiền năo, đặc biệt là kẻ phát tâm
học giảng kinh, nhất định là trước hết
đoạn phiền năo, sau đó sẽ học pháp môn. Nếu
chẳng đoạn phiền năo, sẽ chẳng học
pháp môn nên hồn được! Học chẳng tới
nơi, những thứ học được toàn là tri kiến
dựa trên sự hiểu biết văn tự bề ngoài
mà thôi, chẳng đạt được
những thứ chân thật trong Phật pháp.
(Diễn)
Tu Nhất Hạnh tam-muội giả, niệm không chân niệm,
hoạch tự bổn tâm.
(演)修一行三昧者,念空真念,獲自本心。
(Diễn:
Người tu Nhất Hạnh tam-muội, niệm Không
chính là chân niệm, đạt được bổn tâm của
chính ḿnh).
Nói
tới cảnh giới. “Niệm
không chân niệm” là câu nói phát xuất từ kinh Lăng
Nghiêm. “Bổn tâm” là tự tánh,
là minh tâm kiến tánh, là Nhất Hạnh tam-muội. Trong
tông này, phương pháp được sử dụng là “một mực xưng niệm”,
chuyên niệm một câu A Di Đà Phật. Nhưng khi quư vị
niệm, nhất định là buông xuống vạn duyên,
như vậy th́ mới có thể thành công. Suốt ngày từ
sáng đến tối niệm Phật, mà suốt ngày từ
sáng đến tối vẫn làm chuyện thị phi, nhân
ngă, vẫn chẳng buông xuống được, vô dụng!
Đây chính là như cổ đức đă nói: “Hét toạc cuống họng vẫn
uổng công”. Do vậy, trong khi chúng ta niệm Phật, khi
dấy khởi một câu Phật hiệu này, buông xuống
vạn duyên, tâm địa thanh tịnh, chỉ có một câu
Phật hiệu này th́ gọi là “công phu”, là niệm Phật
chân chánh. Khi niệm Phật, quyết định chớ
nên xen tạp. Người niệm Phật c̣n nghĩ
Đông tưởng Tây th́ là xen tạp, chẳng thể thành
công. Niệm mấy câu Phật hiệu là gieo thiện căn
mà thôi. Đời này chẳng đạt được lợi
ích. Thầy Lư thường nói:
“Đáng nên sanh tử như thế nào th́ vẫn phải sanh
tử như thế đó!” Chẳng có cách nào! Chẳng
chuyển nổi nghiệp của quư vị. V́ lẽ này, nhất
định phải khởi đầu từ nội tâm. Tu
hành là sửa đổi cái tâm, đổi cái tâm hư vọng
thành cái tâm chân thành, đổi cái tâm ô nhiễm thành tâm thanh tịnh,
đổi cái tâm bất b́nh đẳng thành tâm b́nh đẳng.
Đó là tu hành. Phải niệm Phật hiệu theo cách
như vậy th́ mới có thể đạt được
hiệu quả, niệm đến mức công phu thành phiến,
Sự nhất tâm bất loạn, hoặc Lư nhất tâm bất
loạn. Nhất Hạnh tam-muội là Lư nhất tâm bất
loạn.
(Diễn)
Tắc chư Phật Pháp Thân ư trung hiển hiện,
như kính trung tượng.
(演)則諸佛法身於中顯現,如鏡中像。
(Diễn: Nên Pháp Thân của
chư Phật hiển hiện trong ấy, như h́nh bóng
trong gương).
Khi ấy,
tự nhiên quư vị hiểu rơ ràng minh bạch hết thảy
Sự Lư trong tận hư không khắp pháp giới. V́ sao? Tâm
quư vị giống như một tấm gương, chiếu
kiến đấy! Chẳng phải là quư vị mong thấy,
mà tự nhiên thấy, chẳng cần mong thấy, không cần
tác ư để thấy, tự nhiên thấy.
Gần
đây, có một vị đồng tu đến Bắc
Kinh ở nửa năm, thân cận lăo cư sĩ Hoàng Niệm
Tổ, đích xác là lăo cư sĩ có duyên phận với
ông ta. Duyên phận là người ấy có thể tiếp
nhận, thật sự hiếu học. Lăo cư sĩ dạy
người ấy nửa năm, mỗi ngày đều lên
lớp, dạy người ấy như học tṛ. Lăo
cư sĩ dặn ḍ người ấy trở về
Đài Loan kiếm tôi, người ấy nhắn lại:
“Lăo cư sĩ nói Đài Loan chẳng có Phật giáo. Phật
giáo thật sự ở Đại Lục. Tại Đại
Lục, người tu hành thật sự ở trong núi sâu,
quư vị chẳng t́m thấy. Phật giáo Đài Loan chỉ
có bề ngoài, chẳng có người thật sự tu hành”.
Điều này đáng cho chúng ta cảnh giác thật sâu! Học
Phật chẳng thể giả vờ được! Pháp
thế gian mà giả tạo c̣n chẳng đáng một đồng;
toan giả trá Phật pháp, tội lỗi oan nghiệt nặng
nề! Tục ngữ thường nói: “Địa ngục môn tiền tăng đạo
đa” (Trước cửa địa ngục, tăng đạo
đông). V́ sao tăng nhân, đạo sĩ đọa địa
ngục? Do họ giả vờ, chẳng tu hành thật sự.
Người ấy nói: “Tuy lăo cư sĩ không ra khỏi cửa,
đối với mỗi đạo tràng tại Đài
Loan, thậm chí hễ nhắc tới mỗi vị pháp
sư, cụ đều biết”. Quư vị ngẫm xem, có
thể nào là có người nói cho cụ biết hay không? Chẳng
thể nào có chuyện ấy! Ai có thể đến trước
mặt cụ để nói kẻ này hay, kẻ kia dở? [Chuyện
ǵ cũng] đều hiểu rơ ràng, đều biết,
đó là tâm địa thanh tịnh tự nhiên chiếu kiến.
Vị đồng tu ấy quay về kể với tôi, ông
ta bội phục lăo cư sĩ năm vóc sát đất.
Năm nay, lăo cư sĩ bảy mươi chín tuổi,
đă từng chịu tai nạn rất lớn, chịu
đựng rất nhiều nỗi khổ. Tuổi tác cao như
thế, chúng tôi vốn tưởng là có người
chăm sóc cụ, chẳng có! Nấu cơm, giặt quần
áo do chính ḿnh tự làm, chẳng có ai hầu hạ. Thấy
vậy, trong tâm tôi thật sự hổ thẹn. Chúng tôi tuổi
trẻ mà c̣n phải có người hầu hạ. Cuộc
sống hằng ngày của bậc đại đức
như vậy hoàn toàn cậy vào chính ḿnh, chẳng có người
nào hầu hạ, rất lỗi lạc!
Chúng
ta ở Đài Loan, tôi biết trong quá khứ lăo cư
sĩ Lư Bỉnh
(Diễn)
Cổ vân:
(演)古云:諸佛猶如淨明鏡。
(Diễn: Cổ nhân
nói: -
Ư
nói tâm Phật giống như một tấm gương sáng
ngời rất thanh tịnh.
(Diễn)
Ngă tâm diệc tự ma-ni châu.
(演)我心亦似摩尼珠。
(Diễn:
Tâm ta cũng giống như Ma-ni châu).
“Ma-ni châu” (Cintāmaṇi) tỷ dụ cái tâm thanh tịnh. Tâm
Phật thanh tịnh, tâm ta thanh tịnh, chẳng có chướng
ngại. Tâm Phật thanh tịnh, nơi Phật chẳng có
chướng ngại. Tâm ta chẳng thanh tịnh, ta có chướng
ngại, chẳng thể cảm ứng đạo giao. Tâm
ta thanh tịnh bèn cùng Phật cảm ứng đạo giao.
(Diễn)
(演)諸佛常來入我身。
(Diễn:
Tấm
gương sáng này và tấm gương kia soi rọi lẫn
nhau, trong tâm ta có Phật, trong tâm Phật có ta.
(Diễn)
Ngă thân biến nhập chư Phật khu, thị dă.
(演)我身遍入諸佛軀,是也。
(Diễn:
Thân ta nhập khắp thân chư Phật, là nói lên ư nghĩa
này).
Thân
thể của Phật xác thực là như thế. Đây
chính là lư do v́ sao quư vị có thể thấy hết thảy
chư Phật. Cái thấy ấy chẳng phải là mong thấy,
chẳng phải là hy vọng được thấy, mà là
tự nhiên thấy, đó là “pháp
vốn là như thế đó”. Đoạn này nhằm giải
thích Nhất Hạnh tam-muội.
(Sao)
Dục nhập Nhất Hạnh tam-muội giả.
(鈔)欲入一行三昧者。
(Sao: Người muốn
nhập Nhất Hạnh tam-muội).
Nếu
quư vị muốn niệm Phật đến mức Lư nhất
tâm bất loạn (Lư nhất tâm bất loạn là Nhất
Hạnh tam-muội).
(Sao)
Ưng xử không nhàn, xả chư loạn ư.
(鈔)應處空閒,捨諸亂意。
(Sao:
Hăy nên ở chỗ thanh vắng, bỏ các ư niệm loạn
động).
Hoàn cảnh tu hành
rất trọng yếu, nhất định phải có một
hoàn cảnh thanh tịnh. Hoàn cảnh thanh tịnh chẳng
bị ai quấy nhiễu. Cổ nhân thường nói: “Ninh động thiên giang thủy,
bất động đạo nhân tâm” (Thà khuấy nước
ngàn sông, chẳng động tâm người tu hành). Một
người đang tu hành, nếu chúng ta nhiễu loạn, phá
hoại người ấy, tội lỗi là đọa
địa ngục, tạo tội nghiệp địa ngục.
Đối với người tu hành, quyết định
chẳng nhiễu loạn họ, quyết định chẳng
phá hoại hoàn cảnh tu học của họ, điều
này rất trọng yếu. V́ sao? Thường là bản
thân chúng ta tạo tội nghiệp địa ngục mà
chính ḿnh chẳng biết. Một người đang dụng
công, chúng ta liều mạng làm khó dễ họ. Trừ phi
thật sự bất đắc dĩ, hăy để cho
người ấy khéo dụng công, hoặc là đối với
công việc, ta bằng ḷng làm nhiều hơn một chút thay
cho người ấy. Đấy chính là tự ḿnh tu đại
phước báo, v́ sao? Quư vị thành tựu người
khác dụng công, đó là tu đại phước báo. Phá hoại
th́ chính ḿnh tạo tội rất nặng, nhất định
phải biết điều này. V́ thế, hại người
thật ra là hại chính ḿnh, chẳng hại ai khác. Người
khác bị tổn thương ít, chính ḿnh bị tổn hại
to lớn, chẳng tương xứng! Chính ḿnh tạo cái
nhân địa ngục, c̣n làm sao được nữa! Một
người thật sự tu đạo, thấy kẻ
khác dụng công, sẽ chắp tay hoan hỷ tán thán, tu tùy hỷ
công đức. Hoàn cảnh thanh tịnh là một nhân duyên trợ
đạo thù thắng. “Xả
chư loạn ư”: Tâm phải thanh tịnh, phải buông
xuống vạn duyên, phải chuyên tâm tinh tấn.
(Sao)
Bất thủ tướng mạo, hệ tâm nhất Phật,
chuyên xưng danh tự.
(鈔)不取相貌,繫心一佛,專稱名字。
(Sao:
Chẳng giữ lấy tướng mạo, chuyên tâm nơi
một đức Phật, chuyên xưng danh hiệu Ngài).
Chuyên
môn niệm Phật hiệu, chẳng cần thêm quán tưởng,
đấy là chánh tu. Nhưng có những kẻ nghiệp
chướng tập khí rất nặng, niệm câu Phật
hiệu mà tâm vẫn chẳng thể định, bèn thêm vào
đôi chút quán tưởng, hoặc là tưởng hoa sen, hoặc
tưởng nhục kế của Phật, tưởng
tướng hảo của Phật. Quán tưởng như
vậy, vọng niệm của người ấy ít
hơn th́ được. Đó là trợ tu, dùng để
phụ trợ th́ được. Đợi cho đến
khi tâm thanh tịnh, chẳng cần quán tưởng nữa.
“Chuyên xưng danh hiệu”,
đó là đúng. Dùng nó để tạm thời đối
trị th́ có thể sử dụng; nếu tâm địa đă
thanh tịnh, chẳng cần phải kèm thêm quán tưởng.
(Sao)
Tùy Phật phương sở, đoan thân chánh hướng.
(鈔)隨佛方所,端身正向。
(Sao:
Tùy theo nơi chốn của đức Phật mà thân
đoan chánh, hướng thẳng về đó).
Kinh
đă giảng rất rơ ràng: A Di Đà Phật ở
phương Tây của thế giới này. V́ thế, người
niệm Phật chúng ta, bất luận ngồi hay đứng,
đều hướng về phương Tây, như vậy
th́ cảm ứng sẽ nhanh chóng. Nói chung, khiến cho quư vị
niệm niệm chẳng quên Tây Phương. “Tùy Phật phương sở”:
Niệm Dược Sư Như Lai liền xoay mặt về
phương Đông, ngồi hay đứng đều
hướng về phương Đông th́ mới đạt
được cảm ứng. Niệm A Di Đà Phật liền
ngoảnh mặt về phương Tây.
(Sao)
Năng ư nhất Phật niệm niệm tương tục.
(鈔)能於一佛念念相續。
(Sao:
Có thể đối với một đức Phật niệm
niệm liên tục).
“Niệm niệm liên tục”
là chẳng gián đoạn, “bất
thủ tướng mạo” (chẳng giữ lấy
tướng mạo) là không xen tạp. Thật sự có thể
chẳng xen tạp, không gián đoạn, há lẽ nào chẳng
thành công?
(Sao)
Tức thị niệm trung, năng kiến quá khứ, vị
lai, hiện tại chư Phật.
(鈔)即是念中,能見過去未來現在諸佛。
(Sao: Ở ngay trong niệm
ấy, có thể thấy quá khứ, vị lai, hiện tại
chư Phật).
Sách
Diễn Nghĩa đă giảng điều này.
(Sao)
Niệm nhất Phật công đức, dữ niệm vô lượng
Phật công đức vô nhị.
(鈔)念一佛功德,與念無量佛功德無二。
(Sao: Công đức niệm
một đức Phật và công đức niệm vô
lượng chư Phật chẳng hai).
Biết
sự thật này, nỗi nghi hoặc của chúng ta sẽ
đoạn trừ. Tết đến, Phật đường
vẫn phải lạy ba ngàn vị Phật[3],
các vị thích lạy cứ lạy! Tôi cũng chẳng nói
câu nào, đă thật sự hiểu rơ, ba ngày ấy chuyên lễ
A Di Đà Phật. Đây là một đạo tràng chuyên tu Tịnh
Tông, mỗi ngày lễ sáu trăm lạy, lễ cả sáu
trăm lạy đều là lạy A Di Đà Phật. Tôi
nghe nói pháp hội Thanh Minh năm nay, quư vị niệm kinh
Vô Lượng Thọ, đó là đúng. Mọi người
đă kiến lập nhận thức chung, có thể đề
xướng. Vẫn phải niệm kinh Địa Tạng,
vẫn phải lạy Lương Hoàng Sám, hoặc Thủy
Sám, tức là mọi người chưa nhận thức rơ
ràng. Giảng kinh ấy đă lâu như thế, mọi người
hiểu rơ, giác ngộ, pháp hội này chúng ta niệm kinh Vô
Lượng Thọ. Hy vọng thật sự giác ngộ,
minh bạch, đến Tết năm tới, chẳng phải
là lạy một ngàn vị Phật hay một vạn vị
Phật, mà là lạy A Di Đà Phật, mỗi ngày lễ
sáu trăm lạy. Lạy năm ngày bèn lễ được
ba ngàn lạy.
Thật
ra, sáu trăm lạy chẳng nhiều. Thuở tôi vừa mới
học Phật ở Bộ Lư, mỗi ngày tôi lễ tám trăm
lạy. Tôi c̣n rất nhiều việc phải làm, sống
trong núi Bộ Lư, tám giờ tối đi ngủ, hai giờ
rưỡi sáng thức dậy, ba giờ sáng là khóa sáng. Khóa
sáng tôi lễ Phật ba trăm lạy. Sau khi lạy xong,
bèn nấu cơm sáng. Tôi ở trên núi với pháp sư Sám Vân[4],
công việc trong bếp do ḿnh tôi làm. Ăn cơm sáng xong, dọn
dẹp chung quanh xong xuôi bèn tụng kinh. Giữa trưa, sau
khi ăn trưa xong, bèn lạy hai trăm lạy, sau buổi
cơm chiều bèn lạy ba trăm lạy, một ngày lễ
tám trăm lạy. Người chẳng đi làm thông
thường mỗi ngày lễ ba ngàn lạy, đó là chuyên tu
lễ Phật. Lễ Phật cũng là một pháp môn tu
hành. V́ thế, học Phật đừng sợ vất vả,
sợ vất vả là sai lầm. Do vậy, công đức
niệm một vị Phật và công đức niệm vô
lượng chư Phật chẳng hai, chẳng khác.
(Sao)
A
(鈔)阿難所聞佛法,猶住量數。
(Sao:
Phật pháp do ngài A
Tôn
giả A Nan làm thị giả của Thích Ca Mâu Ni Phật, một
mực hầu hạ cho đến khi Thích Ca Mâu Ni Phật nhập
diệt. Có thể nói Phật pháp do Thích Ca Mâu Ni Phật đă
giảng trong suốt một đời, tôn giả thảy
đều nghe, nhưng vẫn là có số lượng.
(Sao)
Nhược đắc Nhất Hạnh tam-muội, chư
kinh pháp môn, nhất nhất phân biệt, giai tất liễu
tri, trú dạ tuyên thuyết, trí huệ biện tài, chung bất
đoạn tuyệt.
(鈔)若得一行三昧,諸經法門,一一分別,皆悉了知,晝夜宣說,智慧辯才。終不斷絕。
(Sao: Nếu đắc
Nhất Hạnh tam-muội, pháp môn trong các kinh mỗi mỗi
đều phân biệt, thảy đều biết trọn
vẹn, ngày đêm tuyên nói, trí huệ, biện tài trọn chẳng
ngưng dứt).
Nếu
quư vị thật sự đắc Niệm Phật tam-muội,
sẽ khác hẳn, tâm khai ư giải, trong Giáo Hạ gọi
là “đại khai viên giải”, hết thảy các pháp thế
gian và xuất thế gian đều thông đạt, đều
hiểu rơ.
(Sao)
A
(鈔)阿難多聞辯才,百千等分不及其一。
(Sao: Sự đa
văn và biện tài của ngài A
Chẳng
thể so sánh! Quư vị mới biết công đức thâm
nhập chuyên tu một môn là bậc nhất. Thật vậy
đó!
(Sao)
Long Thọ.
(鈔)龍樹。
(Sao:
Ngài Long Thọ).
Tức
Long Thọ Bồ Tát.
(Sao)
Tỳ Bà Sa Luận vân: Phật pháp hữu vô lượng môn,
như thế gian đạo, hữu nan, hữu dị, dị
hành tật chí.
(鈔)毗婆沙論云:佛法有無量門,如世間道,有難有易,易行疾至。
(Sao: [Đă viết]
trong Tỳ Bà Sa Luận như sau: “Phật pháp có vô lượng
môn, giống như đường nẻo trong thế gian,
có dễ, có khó, [có con đường đi] dễ dàng mà tới
nơi nhanh chóng”).
Pháp
môn Niệm Phật là “dị hành
đạo” (đạo dễ hành), có thể thành tựu
rất nhanh.
(Sao)
Ưng đương niệm Phật, xưng kỳ danh hiệu,
A Di Đà Phật bổn nguyện như thị.
(鈔)應當念佛,稱其名號,阿彌陀佛本願如是。
(Sao:
Hăy nên niệm Phật, xưng danh hiệu Ngài, bổn nguyện
của A Di Đà Phật là như vậy đó).
Từ
ba kinh, chúng ta thấy bổn nguyện của Phật Di
Đà, đặc biệt là phần bốn mươi tám
nguyện trong kinh Vô Lượng Thọ, có thể y giáo phụng
hành, đấy chính là thiện căn và phước đức
thật sự chín muồi. Hôm nay chúng tôi giảng tới chỗ
này.
A Di Đà Kinh Sớ Sao
Diễn Nghĩa
Phần 112
hết
[1] Tứ Phần Luật là một bộ
luật trong Luật Tạng theo truyền thống của
Đàm Vô Đức Bộ (Pháp Tạng Bộ, Dharmagupta).
Bộ luật này do bốn phần hợp thành, phần
thứ nhất là giới Tỳ Kheo, phần thứ hai là
giới Tỳ Kheo Ni, phần thứ ba là các pháp an cư,
tự tứ v.v… phần thứ tư là các quy định
về pḥng ở, các oai nghi v.v… Tương truyền sau khi
đức Phật diệt độ, tôn giả Ưu Bà Ly
trùng tuyên giới luật, định ra giới luật
căn bản, truyền cho các vị Ca Diếp, A Nan; sau đó,
các vị Thương Na Ḥa Tu, Mạt Điền
Địa, Ưu Ba Quật Đa… truyền thừa. Sau khi
đức Phật diệt độ một trăm
năm, tôn giả Chánh Pháp chọn lựa những giới
luật được lưu truyền trong Thượng
Tọa Bộ, kết tập thành văn bản,
trước sau trải qua bốn lần kết tập,
chia thành bốn bộ phận, nên bộ luật này có danh
xưng là Tứ Phần Luật. Bộ luật này
được hai vị Phật Đà Da Xá và Trúc Phật
Niệm dịch sang tiếng Hán tại Trường An.
Đây là bộ luật có ảnh hưởng lớn
nhất trong giới luật tại Trung Hoa và tác
động sâu xa đến các nước theo Phật giáo
Đại Thừa. Tác phẩm nổi tiếng nhất
để chú giải bộ luật này chính là bộ Tứ
Phần Luật San Phồn Bổ Khuyết Hành Sự Sao
của ngài Đạo Tuyên.
[2] Kinh này có tên gọi đầy
đủ là Văn Thù Sở Thuyết Ma Ha Bát Nhă Ba La
Mật Kinh, do ngài Thích Mạn Đà La Tiên xứ Phù Nam
dịch vào đời Lương. Kinh này chính là bản
dịch khác của hội thứ bảy trong bộ
Đại Bát Nhă Ba La Mật Kinh sáu trăm quyển do ngài
Huyền Trang dịch. Về sau, kinh này được
xếp thành một hội trong kinh Đại Bảo Tích.
Cổ đức phán định kinh này chủ yếu
dạy về Thật Tướng Niệm Phật, kiêm Tŕ
Danh Niệm Phật. Phật môn Trung Hoa thường ghép
kinh này và kinh Như Lai Bất Tư Nghị Cảnh
Giới cùng Đại Tập Hiền Hộ Phẩm (c̣n
gọi là Bát Châu Tam Muội Kinh) thành Niệm Phật Viên
Đốn Tam Kinh. Cả ba kinh này đă được
sa-môn Thích Minh Lễ dịch ra tiếng Việt vào
khoảng năm 1968.
[3] Tức là Thiên Phật Danh Kinh gồm ba
bản kinh ghép lại, tức là Quá Khứ Trang Nghiêm
Kiếp Thiên Phật Danh Kinh, Hiện Tại Hiền
Kiếp Thiên Phật Danh Kinh, và Vị Lai Tinh Tú Kiếp Thiên
Phật Danh Kinh. Ba kinh ấy ghi chép tên các vị Phật
trong ba kiếp quá khứ, hiện tại và vị lai. Không
rơ tên người dịch. Chỉ biết kinh
được dịch vào đời Lương (502-557).
Phật môn Trung Hoa hay lạy Tam Thiên Phật hoặc kinh Vạn
Phật vào dịp Tết.
[4] Pháp sư Sám Vân (1915-2009), họ Tào, pháp
danh Thành Không, người xứ Đông Bắc, sanh quán
gần sông Áp Lục (tức biên giới Trung Hoa và
Đại Hàn). Sư tinh chuyên giới luật, có chí nguyện
tuyên dương Tịnh Tông, sáng lập chùa Liên Nhân. Sư
từng du học tại Nhật Bản, theo học ngành
mỹ thuật. Đến năm 24 tuổi, bắt
đầu học Phật, 26 tuổi
thọ Ngũ Giới. Năm 30 tuổi, Sư xuất gia
tại chùa Quảng Tế ở Bắc Kinh, theo học
tại Trung Quốc Phật Giáo Học Viện
suốt bốn năm. Năm 1948, Sư xuống
Phước Châu y chỉ pháp sư Từ Châu học Duy
Thức. Năm 1949, sang Đài Loan. Sư tạo dựng
Ấn Hoằng Mao Bồng tại núi Quán Âm, trấn Bộ
Lư. Do ngôi chùa này bị nạn lụt tàn phá, nên năm 1963,
Sư cùng đệ tử là pháp sư Tánh Nhân dựng chùa
Liên Nhân tại làng Thủy Lư cũng thuộc huyện