A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 113
Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và
Đức Phong
Tập
225
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang bốn trăm bốn
mươi hai:
(Sao) Nhiếp danh trung giả nhị nghĩa: Nhất
giả, danh tất hữu tướng cố. Nhị giả,
danh tướng giai bất ly nhất tâm cố. Tắc nhất
cử Phật danh, chánh báo y báo nhiếp vô bất tận,
hà nghi sắc tượng?
(鈔)攝名中者二義,一者名必有相故,二者名相皆不離一心故。則一舉佛名,正報依報攝無不盡,何疑色像。
(Sao: Nói “bao gồm
trong danh hiệu” là có hai nghĩa: Một là danh ắt có
tướng; hai là danh và tướng đều chẳng
ĺa nhất tâm. V́ thế, vừa nêu lên danh hiệu Phật,
chánh báo và y báo đều được thâu nhiếp, không
ǵ chẳng trọn hết, sao lại nghi ngờ h́nh sắc
[chẳng được nhiếp trong danh hiệu Phật]?)
Đoạn
này nhằm giải thích một câu trong lời Sớ: “Như Văn Thù Bát Nhă, cập Tỳ
Bà Sa luận trung thuyết, dĩ sắc tượng đẳng
nhiếp danh trung cố” (Như kinh Văn Thù Bát Nhă và Tỳ
Bà Sa Luận đă nói: “Các thứ như
h́nh sắc v.v… được thâu nhiếp trong danh hiệu”).
Câu này [ư nói]: Được thâu nhiếp trong danh hiệu như
thế nào? Các h́nh sắc đều được thâu nhiếp
trong danh hiệu. Nói cách khác, đều được
bao hàm trong danh hiệu [A Di Đà Phật]. Liên Tŕ đại
sư dùng hai ư nghĩa để giải thích:
1) Thứ nhất
là “danh tất hữu tướng”
(danh ắt có tướng). Danh tuy là giả danh, nhưng v́
có tướng, nên mới kiến lập danh hiệu. Dẫu
chẳng có tướng trạng ấy, ví như kinh có nói “quy mao, thố giác” (lông rùa, sừng
thỏ). Chắc chắn là chẳng có “quy mao, thố giác”, con thỏ nào có sừng? Con rùa
đen nào có lông? Chúng ta suy nghĩ danh từ ấy, có phải
cũng là “hễ có danh, ắt phải có tướng” hay
chăng? Giả sử chẳng có rùa, quư vị sẽ chẳng
thể nghĩ ra chuyện “rùa có thể mọc lông”
được! Tuy rùa đen chẳng có lông, nhưng rùa
chính là có tướng, lông cũng là có tướng. Trên thân
rùa chẳng có lông, quư vị nói “nó có lông”, vẫn là [danh từ]
được kiến lập theo tướng. Ngay cả
loại danh hiệu hoàn toàn hư vô, mờ mịt ấy, vẫn
chẳng ĺa khỏi tướng trạng, có thể thấy:
Danh xác thực là có tướng, huống hồ nó là do
tướng mà lập danh. Do vậy, danh nhất định
tương ứng với Thể và Tướng. Đó là ư
nghĩa thứ nhất.
2) Ư nghĩa thứ
hai càng sâu hơn: “Danh tướng
giai bất ly nhất tâm” (Danh lẫn tướng đều
chẳng ĺa khỏi nhất tâm). Tâm là có thể hiện (năng
hiện). Kinh Hoa Nghiêm nói: “Hết
thảy vạn pháp, duy tâm sở hiện, duy thức sở
biến”. Tâm và thức là cùng một thứ. Tâm là Thể
của thức, thức là tác dụng của tâm. Chúng ta nói
tới tâm hay thức là nói đến Thể và tác dụng
của cùng một thứ. Nói theo Thể bèn gọi là Tâm.
Xét theo tác dụng, chúng ta gọi nó là Thức. Sâm la vạn
tượng trong thế gian và xuất thế gian, đều
chẳng ĺa khỏi nhất tâm.
Danh
hiệu “A Di Đà Phật” là
danh hiệu của bản thể tâm tánh. Vừa xưng danh
hiệu này, có thể nói là tác dụng của tâm thể hoàn
toàn được thâu nhiếp trong ấy. Niệm Phật
mà biết niệm và không biết niệm sai biệt rất
lớn. Người biết niệm, niệm nào cũng đều
tương ứng, tương ứng với ǵ? Tương
ứng với bản thể của tự tánh,
tương ứng với Thể và Dụng của nhất
tâm. Tương ứng th́ gọi là “thành Phật”. V́ thế,
“một niệm tương ứng
một niệm Phật, niệm niệm tương ứng
niệm niệm Phật”. Trạng huống tương ứng
là như thế nào? Trong tâm tánh chẳng lập một pháp,
chẳng có bất cứ ǵ; đó là tâm tánh. Tâm tánh thanh tịnh,
thứ ǵ cũng đều chẳng có. Lục Tổ nói rất
hay: “Vốn chẳng có một
vật”; đúng như vậy đó, vật ǵ cũng đều
chẳng có, đó chính là bản thể của nó. Khi chúng ta
niệm câu Phật hiệu này, câu Phật hiệu này rành mạch,
rơ ràng, trong tâm chẳng có một vọng niệm nào, chẳng
lập một pháp; khi ấy, xác thực là tâm giống
như thái hư không, lượng trọn khắp các cơi với
số lượng nhiều như cát, tương ứng với
Thể. Đồng thời, trong một câu Phật hiệu
ấy, thân thể của chúng ta tương ứng với
hết thảy các cơi nước của chư Phật
trong tận hư không khắp pháp giới và y báo lẫn
chánh báo trang nghiêm trong ấy. Đó là tác dụng
tương ứng của nhất tâm. Đó là “biết niệm”,
công đức và lợi ích của việc niệm Phật
sẽ là vô lượng vô biên, hết thảy chư Phật,
Bồ Tát tán thán chẳng cùng tận. Thật đấy, chẳng
giả tí nào!
Niệm
Phật, khá nhiều kẻ niệm chẳng tương ứng.
Nguyên nhân khiến cho chẳng tương ứng là ở chỗ
nào? Nói thật ra, là do nghiệp chướng quá nặng. Nghiệp
chướng là ǵ? Hễ câu Phật hiệu chẳng thể
tương ứng với Thể và Dụng của nhất
tâm, chướng ngại ấy được gọi là
“nghiệp chướng”. Chướng ngại ấy ngăn
trở, khiến cho quư vị chẳng thể tương ứng.
Nếu trừ khử chướng ngại ấy, há có lẽ
nào chẳng tương ứng? Tương ứng th́ mới
thật sự thọ dụng. Trong Đại Kinh có nói “trụ chân thật huệ, chân
thật tế, chân thật lợi”, ba thứ chân thật
ấy thảy đều đạt được. Do vậy,
chúng ta phải biết niệm. Nếu nói tương phản,
nếu nói rơ ràng hơn một chút: V́ sao chẳng biết niệm?
V́ ư niệm tự tư tự lợi quá nặng, chẳng
buông xuống thị phi, nhân ngă, đó là đại chướng
ngại.
Trong
kinh Hoa Nghiêm, đức Phật đă nói rất rơ ràng: Chúng
ta chẳng thể minh tâm kiến tánh, chẳng thể
tương ứng với Thể và Dụng của nhất
tâm là v́ “vọng tưởng, chấp
trước, nên chẳng thể chứng đắc”. Nếu
chúng ta hỏi: Học Phật là học ǵ? Chính là trừ sạch
vọng tưởng, chấp trước, khiến cho chính
ḿnh tương ứng viên măn với Thể và Dụng của
nhất tâm; đó gọi là học Phật. Đối với
các vọng tưởng và chấp trước trước
mắt, quư vị hăy c̣n chấp trước kiên cố
như vậy, chẳng chịu buông xuống; đó chẳng
phải là học Phật. Học Phật kiểu đó tức
là đă hoàn toàn hiểu sai ư nghĩa Phật pháp. Chúng ta biết
chân tướng sự thật này, đối với việc
chấp tŕ danh hiệu sẽ chẳng hoài nghi. Thông thường,
nói đến niệm Phật, muốn niệm câu Phật
hiệu cho tốt đẹp, thứ nhất là đừng
hoài nghi, thứ hai là đừng xen tạp, thứ ba là chẳng
gián đoạn. Quư vị có thể làm được chín
chữ ấy (“đừng hoài nghi, đừng xen tạp, đừng
gián đoạn”), trong một đời này, quyết định
là thượng thượng phẩm văng sanh.
Tổ
sư đại đức chú giải kinh điển cặn
kẽ và minh bạch như thế, nhằm mục đích ǵ?
Nhằm mục đích khiến cho chúng ta đoạn nghi sanh
tín. Chẳng thể không đọc và không nghe kinh, chớ
nên không chú tâm lănh hội. Nguyên nhân ở chỗ nào? Quư vị
chẳng nghiêm túc thấu hiểu, tham cứu, sẽ chẳng
thể đoạn nghi hoặc! Chẳng thể đoạn
nghi hoặc, chắc chắn là chẳng thể vứt bỏ
vọng tưởng và chấp trước được,
dẫu niệm Phật suốt một đời, cũng
chưa chắc có thể văng sanh. Điều này cũng cho
thấy: Chướng ngại kẻ khác lănh hội, tham cứu
kinh giáo, chính là đoạn Pháp Thân huệ mạng của
người ta. Đoạn thân mạng của kẻ khác,
quư vị giết chết người ấy, tội ấy
chẳng lớn, tối đa là đời sau đền cho
người ấy một mạng mà thôi! Đoạn Pháp
Thân huệ mạng của người ấy, tội ấy
đáng sợ lắm, chính là quả báo địa ngục.
(Sớ)
Kim nhân văn Phật bất khẳng chấp tŕ giả,
ước hữu tứ chướng. Tứ chướng
phá trừ, phương năng chấp tŕ, năi chí nhất
tâm cố.
(疏)今人聞佛不肯執持者,約有四障,四障破除,方能執持,乃至一心故。
(Sớ: “Người
thời nay nghe nói tới [danh hiệu] Phật, chẳng chịu
chấp tŕ”: Nói đại lược th́ có bốn chướng.
Phá trừ bốn chướng th́ mới có thể chấp
tŕ, cho đến [đạt được] nhất tâm).
Đại
sư nói: Thông thường, chúng ta chẳng thể tiếp
nhận pháp môn Niệm Phật, chẳng thể khăng khăng
một ḷng y giáo phụng hành, [xét đến nguyên nhân], quy nạp
lại bèn có bốn loại chướng ngại lớn.
(Sao)
Chướng giả, giá dă.
(鈔)障者,遮也。
(Sao: Chướng là
ngăn che).
“Giá” (遮) là chướng
ngại.
(Sao)
Dĩ thử tứ chủng, giá chướng niệm tâm.
(鈔)以此四種,遮障念心。
(Sao: Do bốn loại
ấy, ngăn che, trở ngại cái tâm niệm Phật).
Chướng
ngại tâm niệm Phật, không chịu niệm Phật.
(Sao)
Bất khẳng chấp tŕ, cố tu phá trừ.
(鈔)不肯執持,故須破除。
(Sao: Chẳng chịu
chấp tŕ, v́ thế, cần phải phá trừ).
Nhất
định phải bài trừ bốn loại chướng
ngại lớn ấy.
(Sao)
Tứ chướng giả, nhất vị tức tâm thị
Phật, hà tất xả kỷ niệm bỉ.
(鈔)四障者,一謂即心是佛,何必捨己念彼。
(Sao: “Bốn chướng”:
Một là nói “tâm chính là Phật, cần ǵ phải bỏ vị
Phật của chính ḿnh để niệm vị Phật
khác”).
Nói
thật thà, bốn loại [chướng ngại] ấy đều do người học Phật
học [đến nỗi] trở thành chấp trước.
Đó là cái thường gọi là “tiên nhập vi chủ,
môn hộ chi kiến” (điều ǵ được tiếp
xúc đầu tiên bèn trở thành chánh yếu, tri kiến chấp
trước môn hộ, tông phái). Quả thật, trong hết
thảy các kinh Đại Thừa có cách nói như vậy: “Tâm tức là Phật, Phật tức
là tâm”. Đă là “tâm chính là Phật”, ta niệm cái tâm của
chính ḿnh là được rồi, cần ǵ phải niệm
Tây Phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật?
Chẳng cần niệm Phật. Trên thực tế, họ
chẳng biết: Phật là tâm, niệm Phật là niệm
tự tâm, niệm tự tâm là niệm A Di Đà Phật. Họ
chẳng hiểu chân tướng sự thật này, nên nẩy
sanh hiểu lầm.
(Sao)
Bất tri tức Phật thị tâm, bất phương niệm
Phật cố. Lương diêu tức tâm thị Phật,
khởi bất tức Phật thị tâm, đản chấp
niệm tâm, bất hứa niệm Phật. Tắc tâm Phật
thị nhị, Tức nghĩa bất thành.
(鈔)不知即佛是心,不妨念佛故。良繇即心是佛,豈不即佛是心,但執念心,不許念佛,則心佛是二,即義不成。
(Sao: Chẳng biết
Phật chính là tâm, nên chẳng trở ngại niệm Phật.
Ấy là v́ tâm đă chính là Phật, há chẳng phải Phật
chính là tâm ư? Chỉ chấp vào niệm tâm, chẳng chấp
thuận niệm Phật. [Do sự chấp trước ấy]
tâm và Phật là hai, nên cái nghĩa “tức” (tâm tức là Phật,
Phật tức là tâm) chẳng thành).
Ư
nghĩa “tức” nói chẳng
suông được!
(Sao)
Thị dĩ niệm Phật, niệm tâm, lưỡng bất
ngại cố.
(鈔)是以念佛念心,兩不礙故。
(Sao: Do vậy, niệm
Phật và niệm tâm, hai đằng chẳng trở ngại
nhau).
Không
chỉ là chẳng trở ngại, chúng xác thực là cùng một
chuyện. Tâm là Phật, Phật là tâm, niệm Phật là niệm
tâm, niệm tâm th́ mới thật sự niệm Phật. Nếu
chư vị nghe nhiều hơn, rắc rối c̣n to
hơn. Tâm chính là Phật, vậy th́ tâm này có phải là Bồ
Tát hay không? Tâm này có phải là Thanh Văn hay không? Tâm này có phải
là tham, sân, si hay không? Đều là! Nói cách khác, hằng ngày
ta tham th́ cũng là niệm Phật, cũng là niệm tâm, chẳng
sai tí nào! “Hết thảy vạn
pháp chỉ do tâm hiện, chỉ do thức biến”, có
pháp nào chẳng phải là tâm? Thảy đều là tâm. Đă
đều là tâm, v́ sao ta phải niệm Phật? Ta thích
ăn th́ hằng ngày nghĩ tới ăn không được
sao? Ăn cũng là tâm biến hiện. Ta thích chưng diện
quần áo, quần áo cũng do tâm biến, hằng ngày ta
nghĩ tới quần áo cũng chẳng phải là niệm
tâm đó sao? Nói theo Lư, chẳng sai tí nào! Nhưng chư vị
phải hiểu, tâm có giác và mê. Nói theo giác hay mê: Thuần giác,
rốt ráo giác, viên măn giác là Phật. Niệm Phật là niệm
tánh giác viên măn của chính ḿnh. Hằng ngày nghĩ tới
cái ăn, cái mặc, nghĩ tới danh vọng, lợi
dưỡng, nghĩ tới tham, sân, si, mạn, đó là cái
tâm mê hoặc, điên đảo. Như vậy th́ mới
biết v́ sao đức Phật dạy chúng ta niệm Phật,
chẳng bảo chúng ta niệm từ Bồ Tát trở xuống.
Chúng ta phải giác, phải đạt đến cứu
cánh giác, phải là viên măn giác, mong đạt đến mục
tiêu ấy th́ chỉ có niệm Phật. Trong hết thảy
chư Phật, A Di Đà Phật là bậc nhất! V́ sao A Di
Đà Phật là bậc nhất? Trong giảng đường,
chúng tôi đă nói quá nhiều, ở đây không cần rườm
lời nữa, phải nhận thức rơ ràng điều
này, sau đấy đọc kinh, hoặc nghe pháp sư
đại đức khác giảng diễn, tín niệm của
chính ḿnh mới chẳng bị dao động. Lại xem loại
thứ hai:
(Sao)
Nhị vị hà bất biến niệm chư Phật, nhi
duy niệm nhất Phật?
(鈔)二謂何不遍念諸佛,而唯念一佛?
(Sao: Hai là nói “sao không
niệm khắp chư Phật, chỉ niệm một vị
Phật?”)
Phật
quá nhiều. Trong kinh Vạn Phật Danh[1], Thích
Ca Mâu Ni Phật đă nói ra danh hiệu của hơn một
vạn hai ngàn vị Phật. Niệm Phật th́ cớ sao
chúng ta chẳng niệm một vạn vị Phật mà cứ
phải niệm một vị Phật? Khá nhiều người
lạy Vạn Phật Sám hoặc Thiên Phật Sám. Trong
đầu họ cứ nghĩ: “Ta lạy nhiều vị
Phật như thế, sẽ có sức [công đức lợi
ích] mạnh hơn lạy một vị Phật”. Đấy
cũng là một chướng ngại.
(Sao)
Bất tri tâm chuyên chí nhất, năi thành tam-muội cố
(鈔)不知心專志一,乃成三昧故。
(Sao: Chẳng biết
tâm chí chuyên nhất th́ mới thành tựu tam-muội).
Chúng
ta niệm Phật nhằm mục đích nào? Mục
đích chẳng phải là kết duyên cùng chư Phật. Nếu
là để kết duyên cùng chư Phật, đương
nhiên quư vị lạy Thiên Phật Sám, hoặc lạy Vạn
Phật Sám được lắm, kết duyên cùng hết
thảy chư Phật. Hiện thời, chúng ta niệm Phật
nhằm mục đích mong đắc nhất tâm bất loạn,
mong đắc Niệm Phật tam-muội. Nếu nói theo nhất
tâm bất loạn hoặc Niệm Phật tam-muội, niệm
một vị Phật sẽ dễ dàng đạt
được, niệm nhiều vị Phật sẽ chẳng
dễ ǵ đạt được!
(Sao)
Lương diêu chúng sanh trí thiển, phồn tắc bất
thắng.
(鈔)良繇眾生智淺,繁則不勝。
(Sao: Ấy là v́ chúng
sanh trí cạn, rườm rà sẽ chẳng thể đảm
đương).
“Thắng” là “thắng nhậm” (勝任: đảm
đương). Quá rườm rà, chúng ta chẳng có cách nào
làm trọn, chẳng gánh vác được!
(Sao)
Cố dụng chí bất phân giả thần ngưng.
(鈔)故用志不分者神凝。
(Sao: Cho nên dụng tâm
chẳng phân tán ḥng tĩnh lặng tinh thần).
“Dụng chí” (用志) là dụng tâm, cũng
có nghĩa là người chuyên tâm sẽ có thể tập
trung tinh thần, người ấy có thể dốc hết
tinh thần. “Thần ngưng” (神凝) là tập trung
tinh thần, nói theo Phật pháp th́ là Định.
(Sao)
Dịch tâm đa kỳ giả, công táng.
(鈔)役心多岐者功喪。
(Sao: Tâm nhọc nhằn
theo nhiều ngă rẽ, công sức mất sạch).
“Dịch” (役) là nhọc nhằn.
Bận tâm quá nhiều chuyện, công phu chẳng thể
thành tựu, công phu bị mất đi. Quư vị niệm nhiều
vị Phật, tâm niệm phân tán, chẳng dễ đắc
Niệm Phật tam-muội. Quư vị niệm một vị
Phật, niệm một bộ kinh, đắc Định
dễ dàng, khai ngộ dễ dàng. Nếu quư vị niệm
nhiều kinh, nhiều vị Phật, trong xă hội hiện
thời, quư vị có thể trở thành một nhà Phật
học, trở thành một học giả Phật giáo, thành
tiến sĩ trong Phật môn, chẳng có mảy may nào liên
quan tới Giới Định Huệ, phải biết điều
này. Nói cách khác, quư vị có thể đạt được
danh vọng và lợi dưỡng trong thế gian, chẳng
có phần trong Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Sau khi đă chết th́ đáng luân hồi như thế nào,
vẫn luân hồi như thế ấy, làm chuyện này!
Đó chẳng gọi là học Phật, mà là Phật học.
Phật học là pháp thế gian, học Phật là pháp
vượt trỗi thế gian.
Thiện
tri thức thật sự, một vị thầy tốt thật
sự, luôn hy vọng học tṛ vượt trỗi chính
ḿnh. Người làm cha mẹ hy vọng trong tương lai
con cái có thành tựu vượt trỗi chính ḿnh. Bản
thân ta suốt một đời này rất vất vả,
hy vọng con cái có thể sống rất hạnh phúc, đó
là nỗi ḷng của cha mẹ. Có kẻ làm cha mẹ nào [suy
nghĩ] “ta rất khổ sở, trong tương lai con cái sẽ
càng khổ hơn ta. Ta học Đại Học, trong tương
lai chúng nó học Trung Học là được rồi” hay
không? Có người làm cha mẹ nào hy vọng con cái hoặc
thế hệ sau mỗi đời một kém hơn đời
trước hay không? Chẳng có. Ở Trung Hoa vào thời cổ,
y phục do người làm quan mặc được gọi
là “chương phục” (章服). Trên y phục
thêu hoa văn. Hoa văn (花紋) được
gọi là “văn chương”
(文章). Văn (文) là “văn thái” (文采: màu sắc đẹp
đẽ, rực rỡ), “chương”
(章) là rơ rệt, hiển thị ư nghĩa biểu thị
được bao hàm trong ấy. Măo họ đội
được gọi là “tấn
hiền quan” (進賢冠: mũ đề cao
người hiền), gồm hai tầng, phía trước thấp, phía sau
cao. Phần trước tượng trưng cho chính ḿnh,
phía sau biểu thị thế hệ kế tiếp, niệm
niệm chẳng quên thế hệ sau phải cao hơn thế
hệ chúng ta. Dụng ư hay lắm, tốt lành lắm!
Phương
pháp giáo học ấy chính là kinh nghiệm tích lũy mấy
ngàn năm, chuyên ṛng! Tại Trung Hoa, Nho gia dùng phương
pháp này; tại Ấn Độ, nhà Phật dùng phương
pháp này. Hoài nghi, chẳng thể tin tưởng, chẳng thể
tiếp nhận phương pháp này, đó là ngu si, là nghiệp
chướng sâu nặng. Tôi c̣n nghe có người kể với
tôi, họ nói những năm qua, tôi giảng kinh, thuyết
pháp, dạy người khác phương pháp này, bên ngoài có rất
nhiều kẻ phê b́nh, nói: “Lẽ nào có chuyện niệm một
bộ kinh, niệm một câu A Di Đà Phật, đơn
giản dường ấy mà có thể thành tựu ư? Chẳng
tin được! Hăy nên biết: Phải học rộng,
nghe nhiều, thâm nhập kinh tạng”. Lời lẽ ấy
dường như hết sức hữu lư; cứ làm thử
xem, sẽ biết ngay! Học rộng nghe nhiều, thâm nhập
kinh tạng, thời cổ th́ có. Giở xem lịch sử,
đọc truyện kư, [sẽ thấy] cổ nhân học tập
như thế nào. Thoạt ban sơ, vẫn là thâm nhập một
môn, đặc biệt là Thiền Tông. Thiền Tông nêu tiêu
chuẩn “ngộ hậu khởi
tu” (sau khi đă ngộ mới bắt đầu tu), khi
nào sẽ thâm nhập kinh tạng? Sau khi đă đại
triệt đại ngộ. Trước khi đạt
đến đại triệt đại ngộ, quyết
định chẳng cho phép quư vị xem kinh. Ngay như Giáo
Hạ, trước khi đại khai viên giải, chỉ
có thể tuân thủ lời dạy răn của thầy.
Thầy dạy quư vị niệm một bộ, hoặc hai
bộ, tuyệt đối chẳng thể dạy quư vị
nghiên cứu hết thảy kinh điển, chẳng có lẽ
ấy! Sau khi đă chuyên dốc công sức nơi một bộ,
đă đại khai viên giải, khi ấy, thầy liền
bỏ hết mọi ngăn cấm, mới cho quư vị thâm
nhập kinh tạng, cho quư vị ra ngoài tham học. Tham học
là đa văn, đọc nhiều, nghe nhiều.
Thật
ra, kinh Hoa Nghiêm đă nêu bày một tấm gương cho
chúng ta noi theo, tức là Thiện Tài đồng tử. Thiện
Tài đồng tử trong hội của thầy ḿnh, phẩm
cuối cùng của kinh Hoa Nghiêm là phẩm Nhập Pháp Giới,
cũng chính là Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm.
Trong phẩm ấy, có hai hội Bổn và Mạt: Bổn hội
(hội căn bản, hội gốc) là hội của Văn
Thù Bồ Tát. Thiện Tài đồng tử cầu học
trong hội của Văn Thù Bồ Tát, chính là thâm nhập một
môn, cầu chuyên ṛng. Từ nơi Văn Thù Bồ Tát mà đắc
Định, đạt được tam-muội, trí huệ
đă mở mang, đại triệt đại ngộ,
đại khai viên giải. Khi ấy, Văn Thù Bồ Tát bảo
Thiện Tài đi tham học, đấy mới là năm
mươi ba lần tham học. Năm mươi ba lần
tham học là học rộng nghe nhiều, là giai đoạn
thứ hai. Nay chúng ta chẳng cần đến giai đoạn
thứ nhất, bắt đầu ngay bằng giai đoạn
thứ hai, chẳng hợp lư! Chẳng có lẽ này! Nghe
người khác nói những lời lẽ đó, nói khá lắm,
[thế nhưng] kẻ đó chỉ nói một nửa, nửa
trước chẳng nhắc tới, chỉ nói nửa sau!
Phải hiểu rơ chuyện này! Nếu chúng ta đem Tứ
Hoằng Thệ Nguyện phối hợp với năm
mươi ba lần tham học để xem, bổn hội
chính là “phiền năo vô tận thệ
nguyện đoạn”, năm mươi ba lần tham học
thuộc mạt hội (hội cuối, hội đằng
ngọn) chính là “pháp môn vô lượng
thệ nguyện học”. Đến cuối cùng, Thiện
Tài đồng tử gặp Phổ Hiền Bồ Tát [dùng]
mười đại nguyện vương dẫn về Cực
Lạc, chính là “Phật đạo
vô thượng thệ nguyện thành”. Văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới mới là thành tựu
Phật đạo, Tứ Hoằng Thệ Nguyện mới
viên măn. Tứ Hoằng Thệ Nguyện là tổng
cương lănh của cả bộ Tứ Thập Hoa Nghiêm,
hoặc là [tổng cương lănh] của phẩm Nhập
Pháp Giới trong kinh [Bát Thập] Hoa Nghiêm. Bốn câu ấy
được giảng giải tường tận nhất
trong bộ kinh Hoa Nghiêm bốn mươi quyển (Tứ
Thập Hoa Nghiêm).
(Sao)
Như Phổ Quảng đại sĩ vấn Phật, thập
phương câu hữu Phật độ, hà dĩ độc
tán Tây Phương?
(鈔)如普廣大士問佛,十方俱有佛土,何以獨讚西方?
(Sao: Như Phổ Quảng
đại sĩ hỏi đức Phật: “Trong mười
phương đều có các cơi Phật, cớ sao lại
riêng xưng tán cơi Tây Phương?”)
Liên
Tŕ đại sư trích dẫn một đoạn kinh
văn để phá trừ nỗi nghi hoặc của chúng
ta. Nói thật ra, lẽ nào pháp sư Phổ Quảng chẳng
biết? Há bậc Đẳng Giác Bồ Tát chẳng biết!
Đây là diễn tuồng, bọn phàm phu chúng ta không hiểu,
Ngài hỏi thay cho chúng ta: “Mười phương đều
có các cơi Phật. V́ sao đức Phật khăng khăng dạy
chúng con niệm Tây Phương Cực Lạc thế giới
A Di Đà Phật?”.
(Sao)
Phật ngôn Diêm Phù Đề nhân, tâm đa tạp loạn,
linh kỳ chuyên tâm nhất cảnh, năi đắc văng sanh.
(鈔)佛言閻浮提人,心多雜亂,令其專心一境,乃得往生。
(Sao: Đức Phật
dạy: “Người trong cơi Diêm Phù Đề tâm lắm nỗi
tạp loạn, [dạy như vậy] để khiến cho
họ chuyên tâm nơi một cảnh bèn được văng
sanh”).
Đức
Phật dạy rơ: Những điều được nói ở
đây đều là chân tướng. Chúng ta là chúng sanh trong cơi
Diêm Phù Đề, “tâm nhiều
tạp loạn”, đă tạp lại c̣n loạn, đó
là cái gốc bệnh của chúng ta. Gốc bệnh của
lục đạo luân hồi sanh tử là do cái tâm quá tạp,
quá loạn, Phật pháp nhằm trị chứng bệnh
này. Đức Phật giảng tám vạn bốn ngàn pháp
môn, vô lượng pháp môn, mỗi pháp môn đều là một
liều thuốc để chữa bệnh. Trong các pháp môn
nhiều ngần ấy, thù thắng nhất, đơn giản
nhất, dễ dàng nhất, đắc lực nhất,
không chi hơn pháp môn Niệm Phật. Thường nói là “trong vô lượng tam-muội, Niệm
Phật tam-muội là vua của các tam-muội”, đạo
lư ở chỗ này! Trong phần trước, tôi đă
thưa cùng quư vị: V́ sao dạy chúng ta niệm Phật? Phật
là giác tánh viên măn rốt ráo, niệm Phật là niệm giác
tánh viên măn rốt ráo. Dạy chúng ta “chuyên tâm một cảnh”, duyên nơi một cảnh
giới, buông xuống tất cả hết thảy tạp
niệm, vọng niệm, như vậy th́ sẽ có thể
văng sanh.
(Sao)
Dĩ chư Phật đồng nhất Pháp Tánh thân, niệm
nhất Phật, tức niệm nhất thiết Phật cố.
(鈔)以諸佛同一法性身,念一佛,即念一切佛故。
(Sao: Do chư Phật
có cùng một thân Pháp Tánh, niệm một vị Phật
chính là niệm hết thảy Phật).
Đức
Phật dạy chúng ta: V́ sao trong hết thảy chư Phật,
lại khuyên chúng ta niệm một vị Phật? Đạo
lư này được nói rất rơ ràng! Tiếp đó, lại
hỏi: Niệm một vị Phật th́ tùy tiện niệm
bất cứ vị Phật nào cũng đều có thể
được chứ? V́ sao nhất định phải niệm
A Di Đà Phật? Có những kẻ chẳng phục, ta niệm
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật chẳng giống như vậy
hay sao? Chẳng lẽ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật c̣n
thua A Di Đà Phật ư?
(Sao)
Tam vị Phật Phật khả niệm.
(鈔)三謂佛佛可念。
(Sao:
Ba là nói “Phật nào cũng đều có thể niệm
được”).
Đă
là hết thảy Phật th́ tùy tiện bất cứ vị
Phật nào cũng đều có thể niệm.
(Sao)
Hà bất tùy niệm nhất Phật, nhi tất niệm A
Di Đà Phật?
(鈔)何不隨念一佛,而必念阿彌陀佛?
(Sao: Sao chẳng tùy ư
niệm một vị Phật, mà cứ ắt phải niệm
A Di Đà Phật?)
Nói thật ra,
trong lời hỏi này, là đă có lỗi lầm. [V́ nếu]
đức Phật bảo quư vị niệm Bổn Sư Thích
Ca Mâu Ni Phật, quư vị sẽ hỏi: “Cớ sao cứ phải
niệm Thích Ca Mâu Ni Phật? Ta niệm đức Phật khác
chẳng được hay sao?” [Do vậy], đây chẳng
phải là một câu hỏi thích đáng! Nhưng ở
đây, đức Phật giải thích: Niệm A Di Đà Phật
xác thực là có nhân duyên đặc biệt.
(Sao)
Bất tri bỉ Phật dữ chư chúng sanh thiên hữu
nhân duyên cố.
(鈔)不知彼佛與諸眾生偏有因緣故。
(Sao: Chẳng biết
đức Phật ấy có nhân duyên đặc biệt với
chúng sanh).
A Di
Đà Phật kết duyên với hết thảy chúng sanh, đặc
biệt thù thắng so với các vị Phật khác, khác hẳn!
Phật Di Đà do tâm đại từ, đại bi, thanh
tịnh, b́nh đẳng giúp đỡ hết thảy chúng
sanh trong pháp giới, dùng pháp b́nh đẳng để nhanh
chóng viên thành Phật đạo. Duyên ấy đặc biệt
thù thắng. Duyên nh́n từ chỗ nào? Nh́n từ bốn
mươi tám nguyện trong kinh Vô Lượng Thọ, nguyện
nào cũng đều nhằm phổ độ chúng sanh. Hỏi:
Ta và A Di Đà Phật có duyên hay không? Xem lại bốn
mươi tám nguyện trong kinh Vô Lượng Thọ, chẳng
hề nói loại trừ kẻ nào đó. Đă chẳng nói
loại trừ ta ra, đương nhiên ta cũng là một
phần tử trong đó, tức là có duyên. Xác thực là A Di
Đà Phật chẳng nói ngoại trừ một ai, thảy
đều có duyên. Các vị Phật khác chẳng phát nguyện
như vậy. Thích Ca Mâu Ni Phật phát nguyện độ
chúng sanh trược ác trong thế giới Sa Bà, Ngài chẳng
phát nguyện độ chúng sanh trong các thế giới
phương khác, chẳng giống như A Di Đà Phật
phát nguyện phổ độ. Nếu chúng ta hỏi: Bổn
Sư Thích Ca Mâu Ni Phật dùng phương pháp ǵ để
độ chúng sanh trong đời trược ác? Chính là
khuyên chúng ta niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, đó
là phương pháp độ chúng sanh của Ngài. Chúng ta phải
tin tưởng, tiếp nhận, thật thà niệm Phật
cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, ḥng
thỏa măn đại nguyện độ sanh của đức
Bổn Sư. Nếu quư vị chẳng tin tưởng,
khăng khăng chấp trước “Thích Ca Mâu Ni Phật ban
cho ta ân đức rất lớn, hằng ngày niệm Thích
Ca Mâu Ni Phật”, cũng chẳng bằng ḷng văng sanh. Thích
Ca Mâu Ni Phật thấy vậy cũng lắc đầu:
“Nghiệp chướng sâu nặng, ngu si, ngoan cố, chẳng
thể đắc độ!” Bởi lẽ, Phật Di
Đà có duyên hết sức sâu xa với chúng ta.
(Sao)
Lương diêu bỉ Phật danh hiệu, nhân sở nhạo
xưng, tựu linh ác nhân, hữu thời bất giác thất
thanh niệm Phật. Năi chí nhân phùng thiện sự, bất
giác niệm Phật, hoan hỷ tán thán. Nhân phùng ác sự, cập
dữ khổ nạn, bất giác niệm Phật,
thương bi thống thiết. Cơ cảm nhân duyên, mạc
hoặc sử chi nhi tự nhiên cố.
(鈔)良繇彼佛名號,人所樂稱,就令惡人,有時不覺失聲念佛;乃至人逢善事,不覺念佛,歡喜讚歎;人逢惡事,及與苦難,不覺念佛,傷悲痛切,機感因緣,莫或使之而自然故。
(Sao: Ấy là v́ danh hiệu
của đức Phật ấy, người ta thích
xưng niệm, khiến cho kẻ ác có lúc bất giác thất
thanh niệm Phật. Cho đến người ta gặp
chuyện tốt lành, bất giác niệm Phật, hoan hỷ
khen ngợi. Người gặp chuyện ác và khổ nạn,
bất giác niệm Phật, bi thương, thống thiết.
Do nhân duyên cơ cảm, chẳng ai bảo ban mà khiến tự
nhiên thành như vậy).
Đối
với danh hiệu Di Đà, v́ đức Thế Tôn thuở
tại thế đă nhiều lần tuyên thuyết, hoằng
dương, người tu học pháp môn này đông đảo,
gia tộc của Thích Ca Mâu Ni Phật đều niệm Phật.
Sau khi truyền đến Trung Hoa, được Huệ
Viễn đại sư đề xướng, pháp môn Niệm
Phật đă trải qua thời gian lâu dài chẳng suy. Nay
chúng ta nh́n vào Phật giáo trên thế giới hiện thời,
pháp môn Niệm Phật có xu thế ngày càng hưng vượng,
có thể thấy danh hiệu này có công đức chẳng
thể nghĩ bàn, Phật Di Đà và chúng ta có duyên phận chẳng
thể nghĩ bàn. Dẫu là kẻ không học Phật, trong
lúc bất tri bất giác, thỉnh thoảng miệng
cũng niệm một câu A Di Đà Phật. Chúng ta thường
thấy, thường nghe chuyện này. Không chỉ là
người Hoa biết niệm, ngay cả người ngoại
quốc cũng biết niệm A Di Đà Phật. Họ chẳng
hiểu A Di Đà Phật có nghĩa là ǵ, nhưng biết niệm
A Di Đà Phật. Phật có duyên sâu đậm với chúng
ta.
(Sao)
Tứ vị hà bất niệm Phật công đức, trí
huệ, tướng hảo, quang minh, nhi đản niệm
danh hiệu?
(鈔)四謂何不念佛功德智慧相好光明,而但念名號?
(Sao: Bốn là nói “sao
chẳng niệm công đức, trí huệ, tướng hảo,
quang minh của Phật mà chỉ niệm danh hiệu?”)
Chúng
ta niệm công đức, trí huệ, tướng hảo,
quang minh của Phật, há chẳng phải là thù thắng
hơn danh hiệu ư? Cách nói này thoạt nghe rất có lư,
thật ra, chư vị phải hiểu: Đối với
công đức, trí huệ, tướng hảo, quang minh,
chúng ta phải hỏi, chúng có đều được bao
gồm trong câu danh hiệu này hay không? Hoàn toàn đều bao
gồm! Nói cách khác, quư vị niệm công đức th́ chẳng
bao gồm trí huệ, niệm trí huệ chẳng bao gồm
tướng hảo, niệm tướng hảo chẳng
bao gồm quang minh. Niệm danh hiệu th́ thảy đều
được bao gồm. Phải hiểu rơ ràng những sự
thật này, sau đấy mới thật sự chẳng
hoài nghi danh hiệu.
(Sao)
Bất tri tŕ danh, ư Mạt Pháp trung, tối đậu
cơ cố, bất tư nghị cố.
(鈔)不知持名,於末法中最逗機故,不思議故。
(Sao: Chẳng biết
trong thời Mạt Pháp, tŕ danh thích hợp căn cơ nhất,
chẳng thể nghĩ bàn).
“Đậu cơ” (逗機) là khế cơ.
Trong thời Mạt Pháp, chấp tŕ danh hiệu khế
cơ nhất.
(Sao)
Đậu cơ giả, Văn Thù Bát Nhă kinh vân: “Chúng sanh
ngu độn, quán bất năng giải, đản linh niệm
thanh tương tục, tự đắc văng sanh”.
(鈔)逗機者,文殊般若經云:眾生愚鈍,觀不能解,但令念聲相續,自得往生。
(Sao: Khế hợp
căn cơ: Kinh Văn Thù Bát Nhă chép: “Chúng sanh ngu độn,
chẳng thể hiểu cách quán, chỉ nên dạy họ niệm
sao cho tiếng niệm liên tục, sẽ tự được
văng sanh”).
Đây
là nói theo phía lợi ích chân thật. Quán tưởng là một
phương pháp thường được sử dụng
nhất trong Phật môn. Xưa kia rất hữu hiệu, hiện
thời khó khăn. V́ sao trước kia hữu hiệu, nay
chẳng có công hiệu? Người thuở trước thật
thà và nồng hậu hơn người hiện thời. Do
h́nh thái xă hội xưa kia khác hẳn hiện thời, họ
chẳng có nhiều vọng tưởng và tạp niệm như
người hiện thời, tâm địa thanh tịnh hơn,
[cho nên] có thể sử dụng công phu quán chiếu. Người
hiện thời hoàn cảnh tiếp xúc quá phức tạp, không
chỉ là phức tạp gấp trăm ngàn lần quá khứ.
Sáu căn tiếp xúc cảnh giới bên ngoài, suốt ngày từ
sáng đến tối [hoàn cảnh bên ngoài] giúp quư vị suy
nghĩ loạn xạ. Xem TV giúp quư vị suy nghĩ loạn
xạ. Đọc báo giúp quư vị suy nghĩ loạn xạ.
Quư vị tiếp xúc, chuyện gẫu với kẻ nào
cũng là suy nghĩ loạn xạ.
Nghiên cứu, lư giải
kinh giáo, lư giải cũng rất khó thành tựu. V́ sao? Tà
tri tà kiến quá nhiều. Nghe người này giảng theo
cách này, người kia giảng kiểu kia, xem sách này thấy
viết như thế này, sách nọ viết như thế
kia, chẳng biết sách nào đúng, sách nào sai! Đúng như
kinh Lăng Nghiêm đă nói: “Tà
sư thuyết pháp nhiều như cát sông Hằng”. Chẳng
có tiêu chuẩn, chẳng có ǵ để nương tựa,
làm thế nào được nữa? Đó là chúng sanh ngu
độn đến tột cùng! Ngu là thiếu trí huệ,
chẳng có năng lực phân biệt tà chánh, chẳng có
năng lực phân biệt đúng sai, thậm chí ngay cả
lợi hại cũng chẳng có năng lực phân biệt.
Nếu quư vị có năng lực phân biệt lợi hại,
làm sao bị thua thiệt, mắc lừa cho được?
Làm sao có thể bị kẻ khác gạt gẫm cho được?
Quư vị bị thua thiệt, mắc lừa, bị kẻ
khác phỉnh phờ, nói cách khác, ngay cả lợi hại
đều chẳng có năng lực phân biệt, quư vị
nói xem có đáng thương lắm hay không? Nhưng chỉ
cần người ấy có thể thật thà niệm Phật,
sẽ c̣n có thể thành tựu. Đấy là “niệm thanh tương tục”
(tiếng niệm liên tục), cũng là không xen tạp,
không gián đoạn. Điều kiện tiên quyết để
chẳng xen tạp, không gián đoạn là chẳng hoài nghi.
Hoài nghi th́ về căn bản là chẳng thể nào niệm
được, người như vậy làm sao có thể văng
sanh cho được?
Chúng
sanh trong thời kỳ Mạt Pháp do pháp môn này có thể
đắc độ. Thật sự có thể đắc
độ, quyết định nắm chắc đắc
độ th́ ắt phải hờ hững đối với
các duyên trong cơi đời, xem nhẹ chúng, chớ nên so
đo quá lố! Lỗi lầm ấy rất lớn, thưa
cùng chư vị, chẳng tổn hại ai khác, mà là tổn
hại chính ḿnh. Ngăn trở, quấy nhiễu người
khác, tức là ngăn trở, quấy nhiễu những kẻ
thiếu công phu. Người thật sự có công phu, quyết
định chẳng thể ngăn trở, quấy nhiễu
được! Nhưng mê mất tự tánh, tự ḿnh tổn
thất quá lớn, chẳng có cách nào bù đắp! Người
thế gian thường nói: “Hại
người là hại chính ḿnh”. Nhưng ư nghĩa chân thật
được bao hàm trong câu nói ấy chính là kẻ đó
chẳng biết mức độ [chính ḿnh] bị hại
sâu đậm. Nếu thật sự hiểu rơ, kẻ ấy
tuyệt đối sẽ chẳng làm chuyện tổn hại
người khác. V́ sao? Kẻ ấy biết: Người
khác bị tổn hại đôi chút, c̣n chính ḿnh bị tổn
hại vô lượng vô biên, khiến cho chính ḿnh mê mất tự
tánh, phá hoại Tam Học Giới Định Huệ của
chính ḿnh. Lục Tổ đại sư nói rất hay: “Nếu người thật tu
đạo, chẳng thấy lỗi người khác”. Cớ
sao người ấy chẳng thấy lỗi kẻ khác?
Tâm người ấy thanh tịnh. Mỗi ngày thấy lỗi
người này, thấy lỗi kẻ kia, tâm người ấy
chẳng thanh tịnh, sanh phiền năo. Sanh phiền năo, nói
cách khác, nói theo phía người niệm Phật, công phu thành
phiến đă bị phá hoại, chẳng có hy vọng văng
sanh Tịnh Độ, đă bị đoạn tuyệt, tổn
thất quá to!
Mỗi
người chúng ta đời đời kiếp kiếp gặp
pháp môn này, đích xác là hiếm có khó gặp. Gặp cơ hội
tốt đẹp dường ấy, [thế mà] hờ hững
bỏ qua, đúng là ngu si đến tột cùng, tự ḿnh
hủy diệt chính ḿnh. Lỗi lầm của kẻ khác
ăn nhằm ǵ đến ta? Ta mong văng sanh, họ mong làm
chuyện thuộc lục đạo. Họ làm chuyện của
họ, chúng ta chẳng đi cùng một đường, bận
tâm đến người ta làm chi? Người chẳng quản
chuyện của kẻ khác bèn thành tựu. Kẻ lo bao
đồng chuyện của người khác, sẽ chẳng
thể thành tựu. Xưa kia, Trụ Tŕ, Đương Gia,
người quản chúng hoặc Chấp Sự trong tự
viện là Phật, Bồ Tát tái lai, chuyển thế, chính họ
đă đắc độ, bèn giúp đỡ người
khác. Chính ḿnh chưa đắc độ, bèn làm thanh chúng
(đại chúng thanh tịnh tu hành), tuyệt đối chẳng
đảm nhiệm Chấp Sự, nghe theo sự cai quản
của người khác, chính ḿnh quyết định chẳng
dám quản người khác. V́ sao? Tâm chẳng thanh tịnh.
Phật, Bồ Tát đến cai quản đại chúng, thấy
lỗi này, lỗi nọ, hằng ngày xử phạt, quở
trách người khác, tâm các Ngài thanh tịnh, chẳng nhiễm,
các Ngài có bản lănh ấy.
Chúng
ta không được, chúng ta thật sự dấy động
tâm sân hận, có tham, sân, si. Hễ có tham, sân, si, sẽ là một
lần quả báo trong tam đồ. Nay quư vị một lần
động niệm tâm sân khuể, chính là tạo một cái
nhân địa ngục. Động tâm sân khuể lần thứ
hai liền tạo nhân địa ngục lần thứ hai.
Động tâm tham một lần là động một cái
nhân trong ngạ quỷ đạo. Từ sáng đến tối
đă khởi bao nhiêu tham, sân, si, mạn? Sẽ biết mỗi
ngày quư vị đă bao nhiêu lần tạo nghiệp trong tam
ác đạo. Trong ngày hôm nay, có mấy phút, mấy giờ
niệm Phật? Lại c̣n là dùng cái tâm thanh tịnh để
niệm Phật, khi niệm Phật chẳng có một vọng
niệm, đó gọi là tạo nhân tịnh nghiệp. So
sánh hai chuyện ấy, sẽ biết chính ḿnh có nắm chắc
văng sanh hay không? Nếu trong một ngày, thời gian ta dùng
cái tâm thanh tịnh để niệm Phật ít ỏi, thời
gian dấy động tham, sân, si nhiều; nói cách khác, đời
sau vẫn chẳng tránh khỏi ba ác đạo, chẳng có
cách nào! Phật, Bồ Tát cũng chẳng thể nào cứu
quư vị, tự làm tự chịu mà! Do đó, chính ḿnh phải
hiểu: Chúng ta là phàm phu nghiệp chướng sâu nặng,
tự ḿnh cứu chính ḿnh c̣n chẳng kịp, há có thời
gian để quản chuyện của người khác ư?
Thật vậy! Đó là sự thật. Chúng ta có thể đề
cao cảnh giác ở chỗ này, đó là khai ngộ. Người
ấy đă giác ngộ, đă giác ngộ bèn quay đầu,
quay đầu là bờ. Quay đầu chính là chuyên niệm
A Di Đà Phật.
Thường
trụ có khá nhiều công việc, trong gia đ́nh cũng có
nhiều chuyện vụn vặt, chi ly, chẳng thể
không làm những chuyện thuộc về chức trách của
chính ḿnh. Phải dùng thái độ ǵ để làm? Xét theo Sự
th́ phải nghiêm túc làm, tâm địa phải thanh tịnh,
từ bi, niệm niệm chẳng quên A Di Đà Phật, đó
là đúng. Công việc có trở ngại tu hành hay chăng?
Chẳng ngăn ngại! Cuộc sống và công việc
chính là tu hành. Do vậy, pháp này được gọi là khế
cơ, “đậu cơ” là khế
cơ.
(Sao)
Bất tư nghị giả, như tiền sở minh Nhất
Hạnh tam-muội, tắc bất đản đậu hồ
độn cơ, thần dụng bất trắc cố.
(鈔)不思議者,如前所明一行三昧,則不但逗乎鈍機,神用不測故。
(Sao: “Chẳng thể
nghĩ bàn”: Như Nhất Hạnh tam-muội đă
được nói trong phần trước không chỉ là
khế hợp độn cơ, mà c̣n có tác dụng thần
diệu chẳng thể lường).
Chúng
ta thuộc loại “độn
cơ”, [nghĩa là căn cơ] ngu si, thô lỗ, chậm
lụt, nhưng oai thần và đức dụng của
pháp môn này chẳng thể nghĩ bàn. Chúng ta có thể lư giải
điều này th́ quư vị có thể tập trung năng lực,
tâm không có hai tác dụng.
(Sao)
Như Di Giáo kinh ngôn: “Tâm giả chế chi nhất xứ,
vô sự bất biện”.
(鈔)如遺教經言:心者制之一處,無事不辦。
(Sao: Như kinh Di Giáo
có nói: “Tâm mà có thể chế ngự sao cho chuyên nhất một
chỗ th́ không chuyện ǵ chẳng thể thực hiện
được”).
Đức
Phật nói câu này trong kinh Di Giáo[2],
nêu rơ tầm trọng yếu của việc tu Định.
Tu Định là “chế tâm nhất
xứ”, bất luận chuyện ǵ cũng đều có
thể làm viên măn, đều có thể thành tựu. Chỉ
sợ tâm loạn. Hễ tâm đă loạn, chuyện ǵ
cũng chẳng thể làm được; hễ làm bèn sẽ
xuất hiện sai sót!
(Sao)
Kim chế tâm Phật hiệu, nhi chí nhất tâm, hà khả
tư nghị.
(鈔)今制心佛號,而至一心,何可思議。
(Sao: Nay do chế tâm
nơi Phật hiệu, bèn đạt đến nhất
tâm, há có thể nghĩ bàn ư?)
Chế
tâm nhất xứ th́ chỗ thù thắng nhất chính là A Di
Đà Phật. Chúng ta chế tâm nơi Phật hiệu A Di
Đà Phật, tuyệt diệu thay, có thể thực hiện
đại sự bậc nhất là thành Phật viên măn. Chế
tâm nhất xứ, không chuyện ǵ chẳng làm được.
“Chế tâm Phật hiệu” chẳng
thể nghĩ bàn, quyết định thành Phật. Đời
này, quư vị tu hành chứng quả, thoát tam giới, liễu
sanh tử, thành Phật đạo, một câu [Phật hiệu]
này đều giải quyết tất cả. Ngàn kinh vạn
luận đều phải nói một câu này, mười
phương ba đời hết thảy chư Phật Như
Lai khuyên dạy chúng sanh trọn khắp cũng là một câu
này. Câu [Phật hiệu] này thật sự chẳng thể
nghĩ bàn, đáng tiếc là chẳng có ai hiểu
được. Lăo cư sĩ Hạ Liên Cư nói: “Đức Phật nói khó tin, thật
sự khó tin, trong ức vạn người chỉ có một,
hai người biết”. Trong ức vạn người
[chỉ] có một hai người biết! Câu này bày ra
trước mặt, [chỉ có] một hai người trong
ức vạn người thật sự biết. Sau khi
đă thật sự biết, từ nay trở đi, tâm của
quư vị là Phật tâm, hạnh của quư vị là Phật
hạnh, quư vị đă thành Phật, chẳng giả tí
nào!
(Sớ)
Khắc niệm kỳ giả, nhất nhật chí thất
nhật, thị sở khắc định chi kỳ yếu
dă.
(疏)剋念期者,一日至七日,是所剋定之期要也。
(Sớ: “Ấn định
kỳ hạn để niệm”: Từ một ngày cho tới
bảy ngày chính là ấn định thời hạn cần
thiết).
Đây
là thời gian niệm Phật được ấn định
trong kinh này, pháp môn này [tu tập trong] bao lâu bèn có thể
thành công? Bảy ngày bèn có thể thành công! Hoặc một
ngày cho đến bảy ngày, bảy ngày thật sự có
thể thành công. Chỉ cần quư vị niệm đúng
pháp, như trong phần trước đă nói, quư vị niệm
nào cũng đều tương ứng, bảy ngày [thành tựu],
tuyệt diệu thay!
(Sớ)
Thế xuất thế gian, trọng kỳ sự giả, hằng
dĩ thất cố, thất nhật xưng Phật, miễn
địa ngục cố.
(疏)世出世間,重其事者,恆以七故,七日稱佛,免地獄故。
(Sớ: Đối với
[các pháp] thế gian và xuất thế gian, hễ coi trọng
chuyện ǵ, luôn dùng con số bảy. Bảy ngày xưng niệm
danh hiệu Phật, khỏi đọa địa ngục).
Nói
rơ thế gian lẫn xuất thế gian đều rất
coi trọng con số Bảy. Không chỉ là người Hoa
coi trọng, hay người Ấn Độ coi trọng,
mà người Âu Tây cũng coi trọng. Tại Trung Hoa, vào
thời Thương - Châu có nói “thất
nhật lai phục”, “lai phục”
(來復) là chu kỳ, [bảy ngày là] một
chu kỳ. V́ thế, đức Phật cũng ấn định
bảy ngày. “Thất nhật xưng
Phật” là xưng niệm, [ở đây] “xưng niệm” là nhất tâm
xưng niệm. Nhất tâm xưng niệm thánh hiệu của
Phật, Bồ Tát, có thể tránh thoát nỗi khổ địa
ngục. Nhưng chư vị đồng tu phải biết:
Trong quá khứ, chúng ta tạo tác tội nghiệp rất
nhiều, ta niệm Phật bảy ngày, kinh nói “có thể
thoát khỏi nỗi khổ địa ngục” là lời
chân thật, nhưng quư vị đừng nên hiểu lầm
[rồi sanh vọng tưởng]: “Ta niệm Phật bảy
ngày, chắc chắn chẳng bị đọa địa
ngục. Sau đấy, lại tạo tội nghiệp, do ta
đă từng niệm Phật bảy ngày [không sợ bị
đọa địa ngục nữa]”, chẳng được
đâu nhé! Sau khi đă niệm Phật bảy ngày, sau đó,
chẳng c̣n tạo nữa th́ mới chẳng bị đọa
địa ngục. Chứ sau khi đă niệm Phật bảy
ngày, sau đấy lại tạo tội nghiệp, vẫn
đọa vào địa ngục y hệt, chẳng sai!
Đây là nói rơ công đức và lợi ích thù thắng do niệm
Phật. Địa ngục là chỗ khổ sở nhất;
[do niệm Phật mà] quả báo khổ nhất c̣n có thể
tránh được, huống hồ những thứ khác? Những
tội be bé đương nhiên là bị tiêu diệt, đấy
là đạo lư nhất định. Có thể thấy công
đức và lợi ích to lớn của niệm Phật.
(Sớ)
Hựu thất nhật chi kỳ, phục hữu nhị
nghĩa, các phân lợi độn.
(疏)又七日之期,復有二義,各分利鈍。
(Sớ: Lại nữa,
kỳ hạn bảy ngày lại có hai nghĩa, mỗi
nghĩa đều chia thành lợi căn và độn
căn).
Sách
Diễn Nghĩa có chú giải câu này:
(Diễn)
Phục hữu nhị nghĩa các phân lợi độn giả,
nhất giả tùng tán nhập định nghĩa, nhị
giả tùng định nhập tán nghĩa.
(演)復有二義各分利鈍者,一者從散入定義,二者從定入散義。
(Diễn: “Lại có
hai nghĩa, mỗi nghĩa đều chia thành lợi
căn và độn căn”: Một là nghĩa từ tán nhập
định; hai là nghĩa từ định nhập tán).
“Tùng tán nhập định”: Bảy
ngày, công phu ngày càng thù thắng hơn, thành tựu Niệm
Phật tam-muội. “Tùng định
nhập tán”: Sau khi đă được Niệm Phật
tam-muội, dần dần lại lui sụt, mất đi.
(Diễn)
Tùng tán nhập định, tắc lợi giả nhật
thiểu, độn giả nhật đa.
(演)從散入定,則利者日少,鈍者日多。
(Diễn:
Từ tán nhập định th́ người lợi căn
ít ngày (tốn ít thời gian), kẻ độn căn nhiều
ngày (phải tốn nhiều thời gian)).
Nói theo
căn tánh, kẻ lợi căn th́ một hai ngày sẽ
đắc Niệm Phật tam-muội. Nói cách khác, lợi căn
và độn căn là ǵ? Chính là phiền năo nhẹ hay nặng
khác nhau, vọng tưởng nhiều hay ít khác nhau. Phiền
năo nặng, vọng niệm nhiều, phải niệm bảy
ngày th́ mới có thể đắc Niệm Phật tam-muội,
tâm mới có thể thanh tịnh. Căn tánh bén nhạy, phiền
năo nhẹ nhàng, vọng niệm ít, một hoặc hai ngày sẽ
đạt được. Sau khi đă được lại
nỗ lực, cũng là trong một hai ngày bèn đắc
công phu thành phiến, ba bốn ngày bèn có thể đắc Sự
nhất tâm bất loạn, sáu bảy ngày sẽ có thể
đắc Lư nhất tâm bất loạn. Đó là [nói theo] hạng
lợi căn.
(Diễn)
Tùng định nhập tán, tắc lợi giả nhật
đa, độn giả nhật thiểu.
(演)從定入散,則利者日多,鈍者日少。
(Diễn: Từ định
mà trở thành tán loạn th́ người lợi căn phải
mất một thời gian dài, kẻ độn căn chẳng
tốn nhiều thời gian).
Đă
đắc cái tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh ấy sẽ
dần dần mất đi theo thời gian. Đối với
người lợi căn, họ giữ được [cái
tâm thanh tịnh] trong một thời gian lâu dài. Sau khi đă
đạt được, có thể giữ suốt bảy
ngày chẳng tan mất, tâm chẳng tán loạn. Kẻ độn
căn sau khi đạt được, sau một, hai ngày,
tâm bèn tán loạn.
Chúng
ta hăy nghĩ lại để thấy chính ḿnh thuộc loại
căn tánh nào? Trước kia, thầy Lư tổ chức
Đại Chuyên Phật Học Giảng Ṭa (khóa diễn giảng
Phật pháp cho các sinh viên trường đại học và
chuyên nghiệp) tại Đài Trung, sinh viên các trường
đại học và chuyên nghiệp nghỉ hè bèn tham gia khóa
giảng ấy, được huấn luyện trong bốn
tuần, xác thực là có sự biểu hiện rất rơ rệt,
cử chỉ, ăn nói đều có biến hóa, rất có tiến
bộ. Khi kết thúc khóa học, thầy Lư đă hết sức
cảm khái nói một câu: “Trong
khóa học này, chúng tôi đă tốn nhiều tâm tư ngần
ấy, mời nhiều vị thầy như thế đến
giảng giải Phật pháp cho chư vị, cùng nhau cộng
tu, [kết quả] khá lắm, nhưng sau khi khóa học kết
thúc, quư vị đến rạp chiếu bóng xem phim hai tiếng
đồng hồ, sẽ khôi phục lại t́nh trạng y
hệt như cũ! Bốn tuần [tu tập] của chúng
ta chẳng thể chống lại hai tiếng đồng
hồ trong rạp chiếu phim”. Hiện thời, chẳng
cần đến rạp chiếu phim, trong nhà mở TV hai
tiếng đồng hồ là thôi rồi, quư vị nói thế
nào được nữa đây! Thuở ấy, TV c̣n chưa
phổ biến, Đài Loan vẫn chưa có TV màu, [chỉ
là] TV đen trắng, những gia đ́nh b́nh dân c̣n chưa
có, thời chúng tôi c̣n chưa hề thấy TV. Quư vị bèn
hiểu chúng ta thuộc loại căn tánh nào, chính ḿnh nhất
định phải răn dè điều này!
Đức
Phật nói kỳ hạn bảy ngày, đối với
người thuở trước th́ hữu hiệu, chứ
đối với người hiện thời chẳng hữu
hiệu. Nói thật thà, người hiện thời, ngay cả
đả liên tiếp bảy Phật Thất, chỉ sợ
là một cuốn phim đă [đủ sức] đánh tan [mọi
hiệu quả tu tập], c̣n làm sao được nữa!
Sau đó, quư vị mới biết văng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới chẳng dễ dàng! Thật sự
quyết tâm cầu sanh Tây Phương, hết thảy các
pháp thế gian và xuất thế gian đều phải bỏ
sạch, không xem phim, không coi TV, không nghe radio, không đọc
báo chí, tạp chí, không nói chuyện thị phi, ưu khuyết
điểm, suốt ngày từ sáng đến tối trong
mười hai thời thật thà niệm Phật, người
như vậy mới có hy vọng văng sanh. Xă hội này chỗ
nào cũng thông tới ba ác đạo, là bẫy rập của
địa ngục A Tỳ, một bước chẳng cẩn
thận sẽ sụp bẫy, chẳng thể không biết
điều này! Hôm nay, tôi giảng tới đây!
Tập
226
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang bốn trăm bốn
mươi ba:
(Sớ)
Hựu đa tắc Đại Bổn thập nhật, Thanh
Vương thập nhật, Đại Tập thất thất
nhật, Bát Châu cửu thập nhật đẳng; thiểu
tắc Đại Bổn nhất nhật, Quán Kinh thập
niệm đẳng. Ngôn nhật giả, dĩ kinh thiên
đạo hối minh chi nhất châu cố.
(疏)又多則大本十日,聲王十日,大集七七日,般舟九十日等;少則大本一日,觀經十念等。言日者,以經天道晦明之一周故。
(Sớ: Lại nữa,
nhiều th́ như kinh Đại Bổn nói mười
ngày, kinh Cổ Âm Thanh Vương nói mười ngày, kinh
Đại Tập nói bốn mươi chín ngày, kinh Bát Châu nói
chín mươi ngày v.v… Ít th́ như kinh Đại Bổn nói
một ngày, Quán Kinh nói mười niệm v.v… Nói “ngày” là nói
đă tṛn một chu kỳ trời tối rồi sáng vậy).
Vẫn
là nói về chuyện ấn định kỳ hạn để
niệm Phật, nói “bảy ngày” chủ yếu là kinh A Di
Đà, ấn định kỳ hạn từ một ngày
cho đến bảy ngày. Nhiều th́ như kinh Vô Lượng
Thọ nói mười ngày, kinh Đại Tập nói bốn
mươi chín ngày, [tức là] dự liên tiếp bảy Phật
thất, kinh Bát Châu Tam Muội dạy chuyên tu pháp môn Niệm
Phật, lấy chín mươi ngày làm kỳ hạn. Do vậy
có thể biết: Đối với thời gian dài hay ngắn,
trong kinh, đức Phật trọn chẳng nói nhất
trí. V́ sao?
(Sao)
Kỳ yếu giả, nhược cứ Như Lai đắc
Bồ Đề, thật bất hệ ư nhật, tắc
phi nhật, phi kiếp, yên hữu thất nhật?
(鈔)期要者,若據如來得菩提,實不係於日,則非日非劫,焉有七日。
(Sao: “Kỳ hạn”:
Nếu xét theo phương diện đức Như Lai
đắc quả Bồ Đề, thật sự chẳng
hạn cuộc nơi ngày giờ, chẳng thể nói đến
ngày hay kiếp, há có bảy ngày ư?)
Đây
là nói theo Lư.
(Sao)
Nhược cứ Bồ Tát tu hành, động kinh trần
kiếp, tắc vô cùng vô tận, hà chỉ thất nhật?
(鈔)若據菩薩修行,動經塵劫,則無窮無盡,何止七日。
(Sao: Nếu xét theo sự
tu hành của Bồ Tát, trải qua số kiếp nhiều
như vi trần, nên [thời gian tu tập] vô cùng vô tận,
há chỉ là bảy ngày?)
Nói
theo phương diện tu hành nơi mặt Sự của
hàng Bồ Tát, phải mất ba đại A-tăng-kỳ kiếp,
hoặc vô lượng kiếp, bảy ngày làm sao có thể thành
tựu cho được? Đây là một đằng nói
theo Sự, một đằng nói theo Lư.
(Diễn)
Như Lai đắc Bồ Đề, thật bất hệ
ư nhật, dĩ nhật giả thời dă, y sắc tâm
phận vị giả lập, vô hữu tự thể cố.
Bách pháp trung thời, vi nhị thập tứ bất
tương ứng hành nhiếp. Kim Như Lai đắc Bồ
Đề, tọa đoạn tam tế, hà hữu ư thời?
Thời giả, giai chúng sanh vọng tưởng phân biệt
dă!
(演)如來得菩提,實不係於日,以日者時也,依色心分位假立,無有自體故,百法中時,為二十四不相應行攝。今如來得菩提,坐斷三際何有於時,時者皆眾生妄想分別也。
(Diễn: “Như Lai
đắc quả Bồ Đề, thật sự chẳng
hạn cuộc nơi ngày giờ”: Do “ngày” là thời,
nương theo sự phân biệt giữa sắc pháp và tâm
pháp mà giả lập, chẳng có tự thể. Trong Bách
Pháp, Thời thuộc vào hai mươi bốn Bất
Tương Ứng Hành pháp. Nay Như Lai đắc Bồ
Đề, dứt sạch ba thời, há có thời ư? [Sở
dĩ có] “Thời” đều là do chúng sanh vọng tưởng,
phân biệt).
Thời
gian và không gian đều chẳng phải là chân thật, chẳng
có thực thể để có thể đạt được!
Trong Bách Pháp, Thời và Không (thời gian và không gian) thuộc
về Bất Tương Ứng Hành Pháp. Nói theo cách hiện
thời, chúng thuộc loại khái niệm trừu tượng,
tuyệt đối chẳng phải là sự thật. Phật
pháp nói hết thảy các pháp, tâm pháp thuộc về phương
diện tinh thần, sắc pháp thuộc phương tiện
vật chất. Bất Tương Ứng Hành Pháp chẳng
phải là tâm pháp, mà cũng chẳng phải là sắc pháp,
thậm chí cũng chẳng phải là Tâm Sở Hữu Pháp
(các pháp thuộc về tác dụng tâm lư), chúng từ Tâm, Tâm
Sở, và Sắc pháp mà giả lập, chẳng phải là sự
thật. V́ vậy, chúng ta phải hiểu rơ những điều
này, chớ nên chấp trước. Hễ chấp trước,
sẽ biến thành vọng tưởng. Đối với
thời kiếp, nói thật ra, chính là một thứ cảm
nhận sai lầm nẩy sanh từ quan niệm của mỗi
cá nhân. Có người cảm thấy thời gian trôi qua rất
nhanh, có người cảm thấy thời gian trôi qua quá chậm,
mỗi người cảm nhận khác nhau. Trong kinh thường
nói “niệm kiếp viên dung”
(một niệm và một kiếp viên dung), biến một
niệm hoặc một sát-na thành vô lượng kiếp, khi
ấy, thời gian bèn quá chậm! Vô lượng kiếp cô
đọng thành một sát-na, thời gian trôi qua rất
nhanh! Mỗi cá nhân cảm nhận khác nhau, huống hồ lục
đạo chúng sanh? Huống hồ chúng sanh trong mười
pháp giới? Đời Tống, Tần Cối hại chết
Nhạc Phi, đọa vào địa ngục A Tỳ, nghe
nói hiện thời hắn đă biến thành lợn, từng
bị người ta giết. Khi giết, lột da, thấy
trên thân lợn viết “thân đời thứ bảy của
Tần Cối”, [tức là] hắn đă bảy lần làm
lợn. Địa ngục A Tỳ là vô lượng kiếp,
cớ sao hắn thoát ra làm lợn? Hắn đọa vào
địa ngục, cảm nhận [thời gian trong ấy]
là vô lượng kiếp, đó gọi là “sống một ngày bằng cả năm”, sống
một năm mà như đă sống mấy trăm năm.
Hắn cảm nhận như vậy, quyết chẳng phải
là dùng ngày tháng năm trong thế gian để tính toán. Do vậy,
đức Phật nói lời thật cùng chúng ta: Thời
gian chẳng phải là pháp cố định.
(Diễn)
Kinh vân: “Nhất niệm phổ quán vô lượng kiếp,
vô khứ, vô lai, diệc vô trụ, như thị liễu
tri tam thế Phật, siêu chư phương tiện thành Thập
Lực”.
(演)經云:一念普觀無量劫,無去無來亦無住,如是了知三世佛,超諸方便成十力。
(Diễn: Kinh dạy:
“Một niệm quán khắp vô lượng kiếp, chẳng
đến, chẳng đi, mà cũng chẳng trụ. Biết
rơ tam thế Phật là như thế, vượt trỗi
các phương tiện thành Thập Lực”).
Đây
là nói rơ chân tướng cùng chúng ta. Chân tướng là
như thế đó, v́ sao đức Phật phải nêu ra
một kỳ hạn?
(Sao)
Kim lập kỳ yếu giả, dĩ Mạt Pháp chúng sanh
tu chư công đức, tinh tấn hằng nan, phế thi hằng
dị, ưng tu khắc hạn, năi phát thắng tâm dă.
(鈔)今立期要者,以末法眾生修諸功德,精進恆難,廢弛恆易,應須剋限,乃發勝心也。
(Sao: Nay lập kỳ
hạn là do chúng sanh đời Mạt Pháp tu các công đức,
luôn khó tinh tấn, luôn dễ dàng buông bỏ, lơi là, [cho
nên] cần phải ấn định kỳ hạn ḥng phát
tâm thù thắng).
V́
sao ấn định một kỳ hạn cho chúng ta? Sợ
chúng ta giải đăi! Hy vọng chúng ta sẽ có thành tích
trong kỳ hạn do lăo nhân gia quy định, nhằm [thúc
đẩy chúng ta] tinh tấn, tránh khỏi giải đăi, dụng
ư ở chỗ này. V́ thế, Ngài hạn định một
ngày, bảy ngày, mười ngày, hoặc là ba tháng, ba
năm, năm năm. Các tổ sư Trung Hoa ấn định
[kỳ hạn] năm năm cho hàng sơ học, [thường
nói là] “năm năm học giới”,
mong mỏi trong năm năm ấy [các đệ tử] sẽ
hoàn thành cơ sở dự bị cho việc tu học.
Đây vẫn chưa phải là học Phật, mà là cơ
sở dự bị cho việc học Phật, kiến lập
trong năm năm, nhấn mạnh thân tâm thanh tịnh. Người
thuộc thế hệ hiện thời tu học khó khăn
là do thiếu cơ sở này. Nói thật ra, pháp thế gian
và xuất thế gian đều phải kiến lập
trên cơ sở tâm thanh tịnh, v́ sao? Chỉ có tâm thanh tịnh
th́ mới có ngộ xứ, mới có thể ngộ nhập.
Trước kia, đối với chuyện học hành, Nho
gia nói đến chữ “ngộ”, Phật pháp càng coi trọng
“ngộ nhập”. Tâm địa
tạp loạn, quyết định chẳng thể ngộ
nhập. Nếu quư vị muốn ngộ nhập, phải
buông tất cả hết thảy vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước xuống. Phật pháp cũng
là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, ngay
cả Phật pháp cũng phải buông xuống.
Bảo
quư vị niệm một bộ kinh, niệm một bài chú,
mục đích chỉ nhằm dùng một niệm để
ngăn dứt hết thảy vọng niệm, dùng
phương cách này, hy vọng quư vị khôi phục tâm
địa thanh tịnh. Khi nào tâm đă thanh tịnh, có thể
tiếp nhận Phật pháp, lúc đó mới học rộng
nghe nhiều, mới có năng lực nghe kinh, tham Thiền.
Chẳng có đủ cơ sở này, vô dụng! Cổ nhân
dùng phương pháp này, trong mấy ngàn năm qua, người
thành tựu chẳng thể kể xiết; nay chúng ta vứt
bỏ phương pháp này, thế hệ này không chỉ chẳng
có ai khai ngộ, [mà c̣n như] lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ
đă nói “ngay cả người
tu hành cũng chẳng có”. Chẳng có người tu hành;
nói cách khác, chẳng được chư Phật, Bồ
Tát hộ niệm gia tŕ, chẳng có chỗ nào để tu
hành. Do vậy, yêu ma quỷ quái hoành hành, làm thế nào
được nữa? Người ở nơi ấy lẽ
nào chẳng gặp tai nạn? Lẽ nào chẳng bị khổ
sở? Chúng ta nhất định phải giác ngộ điều
này. Hiện thời, bất luận là kẻ nào, khoe ḿnh là Phật
chi đó hay Bồ Tát chi đó tái lai, nếu chẳng
tương ứng với giáo huấn của cổ thánh tiên
hiền, chúng ta thảy đều chẳng tiếp nhận,
quyết định chẳng thâu nạp. Cổ thánh tiên hiền
dạy chúng ta “thâm nhập một
môn”. Sau khi đă tiến nhập th́ mới học rộng
nghe nhiều, nhất định phải biết thứ tự
theo chiều thuận này.
Một
bộ Tứ Thập Hoa Nghiêm nhằm giảng giải cặn
kẽ Tứ Hoằng Thệ Nguyện. “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền
năo vô tận thệ nguyện đoạn, pháp môn vô lượng
thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng
thệ nguyện thành”. Trong Tứ Thập Hoa Nghiêm, Thiện
Tài đồng tử tham phỏng Văn Thù Bồ Tát, phát Bồ
Đề tâm, học Bồ Tát đạo, đó là “chúng sanh vô biên thệ nguyện
độ”. Ngài phát ra đại nguyện ấy, thượng
cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh. Ngài tu học
như thế nào? Trong hội Văn Thù, hội này
được gọi là “bổn
hội” (hội gốc, hội căn bản). Từ
đầu đến cuối, Tứ Thập Hoa Nghiêm chia
thành hai hội bổn và mạt, bổn hội là tiếp
nhận sự huấn luyện về cơ sở Phật
pháp, nhằm đoạn phiền năo: “Phiền năo vô tận thệ nguyện đoạn”.
Đă đoạn Kiến Tư phiền năo, đă đoạn
Trần Sa phiền năo, phá một phẩm vô minh, lúc ấy
thầy mới thả lỏng, cho Ngài đi tham học.
Tham học là “mạt hội” (hội
cuối, hội đằng ngọn), chính là năm
mươi ba lần tham học. Tham học năm
mươi ba lần nói lên điều ǵ? “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học”. Lần
tham học cuối cùng gặp Phổ Hiền Bồ Tát, Phổ
Hiền Bồ Tát “mười
đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc”,
đó chính là đạt đến nguyện thứ tư “Phật đạo vô thượng
thệ nguyện thành”. Một bộ Tứ Thập Hoa
Nghiêm há chẳng phải là nói về Tứ Hoằng Thệ
Nguyện ư? Tứ Hoằng Thệ Nguyện chính là tŕnh
tự học Phật tu hành do đức Phật dạy
cho chúng ta.
Theo
sự truyền thừa từ đời này sang đời
khác của các tổ sư Trung Hoa, [để nhập môn bắt
buộc phải là] năm năm học giới, chú trọng
đoạn phiền năo, tập khí, thành tựu pháp khí của
chính ḿnh. Sau năm năm, thân tâm đă thật sự thanh tịnh,
chẳng bị cảnh giới lay động, Phật môn chúng
ta thường nói là “tám gió thổi
chẳng động”, khi ấy, mới có tư cách
đi tham học, tuyệt đối chẳng bị cảnh
giới lay động. Nghe người khác nói vẫn bị
động tâm, [tức là] chẳng đủ tư cách để
tham học! Nhất định phải đạt đến
mức như như bất động th́ mới có tư
cách tham học. Cổ đức ấn định kỳ
hạn năm năm. Tham học rốt cuộc là đến
khi nào th́ mới có thể khai ngộ? [Tùy thuộc] mỗi
cá nhân không nhất định, v́ thiện căn của mỗi
người khác nhau, những hạnh tu tập trong đời
đời kiếp kiếp quá khứ khác nhau, phước
đức chẳng giống nhau, duyên phận khác biệt
nhau!
Trong
pháp môn Tịnh Tông, văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế
giới có ba bậc chín phẩm. Trong Tứ Thiếp Sớ,
Thiện Đạo đại sư đă nói: “Do gặp duyên khác nhau”. Ngài nói
hay quá! Câu ấy mới thật sự phù hợp bản
hoài của Phật Di Đà và đức Thế Tôn. V́ Phật
Di Đà và đức Thế Tôn dùng pháp b́nh đẳng để
b́nh đẳng phổ độ hết thảy chúng sanh. Nếu
người này thiện căn trong đời quá khứ
sâu dầy, sẽ thượng phẩm thượng sanh. Kẻ
kia thiện căn kém hơn, sẽ là hạ phẩm hạ
sanh, vẫn là bất b́nh đẳng. Lăo nhân gia nói “chín phẩm văng sanh do gặp
duyên bất đồng”, người thiện căn mỏng
mà gặp duyên tốt đẹp, gặp duyên thù thắng
bèn thượng phẩm thượng sanh. Người thiện
căn dầy nhưng suốt cả một đời chẳng
gặp duyên thù thắng, phẩm vị văng sanh thấp
hơn! Duyên là ǵ? Duyên là Tín Nguyện Hạnh. Quư vị gặp
thiện tri thức, gặp gỡ đồng tham đạo
hữu, giúp quư vị kiến lập tín tâm kiên định;
đó là duyên thù thắng. Nếu gặp duyên [tức là gặp
thiện hữu] chỉ khuyên quư vị niệm Phật, nhưng
v́ sao niệm Phật vẫn chưa hiểu rơ, chính ḿnh nửa
tin nửa ngờ, thiện tri thức cũng chẳng nói
rơ ràng, [tức là] gặp duyên kém cỏi hơn, quư vị
cũng chẳng rất nghiêm túc niệm Phật. Như vậy
th́ đương nhiên là phẩm vị văng sanh phải thấp
hơn! Gặp duyên bất đồng th́ mới thật sự
phù hợp tông chỉ “b́nh đẳng
độ sanh”. Nói thật ra, không chỉ là một đời
này, mà là nhiều đời! Nay chúng ta gặp duyên thù thắng
khôn sánh, Liên Tŕ, Ngẫu Ích, lăo cư sĩ Hạ Liên Cư,
lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ đă giới thiệu
Đại Bổn và Tiểu Bổn cặn kẽ dường
ấy, duyên này đích xác là hiếm có, khó gặp. Nếu
trong một đời này, chúng ta chẳng thể thượng
phẩm thượng sanh văng sanh, rất oan uổng!
Ngày
hôm qua, tôi nghe pháp sư Diễn Bồi giảng diễn, Ngài
thấy những người trẻ tuổi luôn miệng
đề cao “nhân gian Phật
giáo”.
Nhân,
thiên, Nhị Thừa, Bồ Tát, Phật là một! Chẳng
thể tách ra. Chúng ta đoạn Kiến Tư phiền năo,
bèn thay đổi danh xưng, gọi quư vị là A La Hán, chứ
người ấy chẳng thay đổi. Ví như quư vị
học hành, học đến khi tốt nghiệp Đại
Học, người ta gọi quư vị là “phần tử trí
thức”. Quư vị giành được học vị Tiến
Sĩ, từ nay trở đi, người ta gọi quư vị
là Tiến Sĩ. Quư vị có thay đổi diện mạo
hay chăng? Vẫn là dáng vẻ ấy, thay đổi danh
xưng mà thôi. Quư vị triệt để giác ngộ
vũ trụ và nhân sinh, bèn ban cho quư vị một tước
hiệu, gọi quư vị là Phật. Do vậy, giới tuyến
của Ngũ Thừa Phật pháp ở chỗ nào? Quư vị
hăy t́m xem: Giới tuyến ở chỗ nào? Quư vị có thể
t́m ra giới tuyến hay không? T́m ra giới tuyến th́ mới
có sự khu biệt; t́m chẳng ra giới tuyến, nguyên
lai là một Thể.
Kinh
Lăng Nghiêm nói “ĺa hết thảy
tướng chính là hết thảy các pháp”. Tôi lại phải
hỏi một câu, “trụ hết
thảy tướng” th́ câu kế đó sẽ như thế
nào? Các vị có hiểu hay không? Vẫn là hết thảy các
pháp! Ví như khi quư vị chưa đạt được
học vị Tiến Sĩ, quư vị là chính ḿnh, nhưng
sau khi đă đạt học vị Tiến Sĩ, vẫn
là quư vị, có khác ǵ chăng? Ĺa hết thảy các pháp là giác;
trụ hết thảy các pháp là mê. Giác là người ấy,
mê vẫn là người ấy, có ǵ khác nhau? Do vậy,
thưa cùng quư vị, mê và ngộ chẳng hai, cùng là một
người. Ly và Tức đồng thời, Ly là như thế,
mà Tức cũng là như thế. Chư Phật, Bồ Tát
sống cùng một chỗ với chúng ta, cũng phải mặc
áo, ăn cơm, cuộc sống hằng ngày chẳng khác biệt.
Giác là Phật, mê là phàm phu. Người giác ngộ ĺa hết
thảy tướng, trong tâm chẳng có vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước. Người mê trong tâm có
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, khác
nhau ở chỗ này. “Khắc kỳ”
(剋期) là ấn định một kỳ
hạn, dụng ư thật sự là ngăn ngừa chúng ta giải
đăi. Tiếp theo đây, sẽ giải thích người
thế gian coi trọng con số bảy [là như thế
nào].
(Sao)
Thất vi thế trọng giả, như lễ sám viết
thất dạ, tŕ chú viết thất biến, thử kinh
lan vơng hàng thụ viết thất trùng, năi chí quốc gia tự
tổ viết thất miếu, giáo dân viết thất niên,
kiệt thành viết thất nhật trai giới chi loại,
thị dă.
(鈔)七為世重者,如禮懺曰七夜,持咒曰七遍,此經欄網行樹曰七重,乃至國家祀祖曰七廟,教民曰七年,竭誠曰七日齋戒之類,是也。
(Sao: “Con số bảy
được thế gian coi trọng”: Như lễ sám bèn
nói là bảy đêm, tŕ chú bèn nói bảy lần, kinh này đối
với lan can, lưới mành, hàng cây bèn nói là bảy tầng,
cho đến miếu thờ tổ tiên của quốc gia
(miếu thờ tổ tiên của hoàng đế) được
gọi là “thất miếu”[3], dạy dân bèn nói
là bảy năm[4], dốc hết
ḷng thành bèn nói là bảy ngày trai giới v.v…, là như thế
đó).
Người
thế gian có thói quen coi trọng số bảy, nên trong kinh
đức Phật hay dùng con số này. Nếu người
thế gian coi trọng số tám, đức Phật liền
nói tám, Phật chẳng có pháp nhất định để
có thể nói. Các vị coi trọng điều này, ta bèn nói
tới điều này, khiến cho quư vị chú ư. Người
Hoa coi chuyện bị khinh nhục rất nặng, “sĩ khả sát, bất khả
nhục” (kẻ sĩ có thể giết, chứ không thể
làm nhục). Được rồi! Tổ sư dịch
kinh bèn dịch chữ “nhẫn nại” thành “nhẫn nhục”.
V́ người Hoa rất coi trọng sự nhục nhă, cho
là chẳng thể chịu đựng. Chẳng thể chịu
đựng th́ vẫn phải nhẫn, [những thứ] có
thể nhẫn càng chẳng cần phải nói tới! Có ư
nghĩa như thế đó! Đức Phật thuyết
pháp khế cơ, khế lư, đức Phật thuyết
pháp chẳng ĺa Nhị Đế. Nhị Đế là Chân
Đế và Tục Đế. Chân Đế là kiến giải
của Như Lai, Tục Đế là kiến giải của
lũ phàm phu chúng ta. Nói chung, chẳng ĺa hai nguyên lư ấy
để nói hết thảy các pháp cho mọi người.
(Sao)
Miễn địa ngục giả.
(鈔)免地獄者。
(Sao: Thoát khỏi
địa ngục).
Chú
giải lời Sớ “thất
nhật xưng Phật, miễn địa ngục khổ”
(bảy ngày xưng niệm danh hiệu Phật, thoát khỏi
nỗi khổ trong địa ngục).
(Sao)
Kinh Luật Dị Tướng vân: “Hữu vương hại
phụ, thất nhật đương đọa địa
ngục. Nhất tôn giả giáo kỳ xưng nam-mô Phật,
vương tiện nhất tâm xưng Phật, thất nhật
bất giải. Mạng chung, chí địa ngục môn, xưng
“nam-mô Phật”, biến ngục tội nhân giai đắc
giải thoát.
(鈔)經律異相云:有王害父,七日當墮地獄。一尊者教其稱南無佛,王便一心稱佛,七日不懈。命終,至地獄門,稱南無佛,遍獄罪人皆得解脫。
(Sao: Sách Kinh Luật Dị
Tướng chép: “Có một ông vua hại cha, sau bảy ngày
sẽ đọa địa ngục. Một vị tôn giả
dạy vua xưng niệm Nam-mô Phật, vua bèn nhất tâm
xưng niệm danh hiệu Phật suốt bảy ngày chẳng
lười nhác. Khi mạng chung, tới cửa địa
ngục, xưng ‘nam-mô Phật’, tội nhân khắp ngục
đều được giải thoát”).
Trong
Kinh Luật Dị Tướng[5] có
một câu chuyện như vậy: Quốc vương giết
hại cha, đó là tội Ngũ Nghịch, là tội cực
nặng, quả báo là địa ngục A Tỳ. V́ sao niệm
Phật bảy ngày có thể miễn trừ địa ngục?
Thật sự sám hối.
(Sao)
Lợi độn giả, hữu vị lợi căn nhất
nhật, độn hoặc chí thất.
(鈔)利鈍者,有謂利根一日,鈍或至七。
(Sao: “Lợi căn,
độn căn”: Có người nói là lợi căn th́ một
ngày, độn căn th́ có thể tới bảy ngày).
Đây
là nói tới cái tâm người ta từ tán loạn đạt
đến Định. Tâm tán loạn niệm Phật, niệm
đến mức tâm đắc Định, niệm đến
mức thanh tịnh, người lợi căn có thể
đạt được trong một ngày. Người
độn căn phải niệm mất vài ngày, thậm
chí đến bảy ngày th́ mới có thể đạt
được. Phải thật sự đổ công dốc
sức. Nay chúng ta niệm Phật suốt bảy ngày, tâm vẫn
chẳng thanh tịnh, nguyên nhân ở chỗ nào? Vừa niệm
Phật, vừa dấy vọng tưởng. Nói cách khác,
công phu đă bị phá hoại. V́ thế, bảy ngày, hoặc
bốn mươi chín ngày đều chẳng thể thành tựu.
Tôi nghĩ rất nhiều đồng tu đều hy vọng
thật sự thành tựu, v́ sao chẳng thể thành tựu?
Có mấy ai đi t́m nguyên nhân khiến [chính ḿnh] chẳng thể
thành tựu? Quư vị chẳng đi t́m. Nếu quư vị t́m
được nguyên nhân khiến chẳng thể thành tựu,
tiêu trừ nguyên nhân ấy, chướng ngại chẳng
c̣n nữa, sẽ có thể thành tựu. Chướng ngại
là ǵ? Nói đại khái sẽ là tham, sân, si, mạn, ngũ dục,
lục trần, quư vị chẳng buông xuống được!
V́ thế, vừa niệm Phật, vừa thường
xuyên có chuyện vướng mắc trong ḷng tự nhiên trào
ra, nói chung là chẳng buông xuống được. Nhân tố
thứ hai là chưa thể chết sạch cái tâm mong ngóng,
mưu mẹo, mánh mung. Chẳng tiêu diệt ư niệm ấy,
cái tâm niệm Phật của chúng ta chẳng chân thật,
chẳng chân thành. Do vậy, đó cũng là chướng ngại
trọng đại khiến cho tâm chẳng thể thanh tịnh,
chẳng đạt được nhất tâm. V́ lẽ đó,
chính ḿnh phải nghiêm túc kiểm thảo, phải tiêu trừ
những chướng ngại ấy, triệt để buông
xuống. V́ sao cổ nhân có thể, ta chẳng thể? Bất
luận nói theo Sự hay Lư, người khác có thể th́ ta
cũng phải là có thể, đúng như vậy đó. Nếu
từ định trở lại tán loạn, người
độn căn nhất định là có thể trong một
ngày liền mất định, kẻ lợi căn có thể
ǵn giữ bảy ngày. Tâm thanh tịnh bèn có thể ǵn giữ
lâu dài như thế, chẳng bị tiêu mất.
(Sao)
Kim vị lợi độn nhị căn, các nhất chí thất.
(鈔)今謂利鈍二根,各一至七。
(Sao: Nay nói đến
lợi căn và độn căn th́ mỗi căn đều
là từ một đến bảy ngày).
Từ
một ngày cho đến bảy ngày.
(Sao)
Lợi căn giả, tánh mẫn tiệp cố, nhất nhật
công thành, tức đắc nhất tâm, tiện vô sở loạn.
(鈔)利根者,性敏捷故,一日功成,即得一心,便無所亂。
(Sao: Lợi căn là
căn tánh nhanh nhạy, một ngày bèn thành công, liền
đắc nhất tâm, chẳng bị loạn động).
Niệm
một ngày bèn có thể đắc nhất tâm bất loạn.
Đối với nhất tâm bất loạn, trừ Sự
nhất tâm và Lư nhất tâm ra, mỗi người đều
có công phu sâu hay cạn khác nhau. Nếu sâu hay cạn giống
hệt nhau, làm sao có thể chia thành chín phẩm cho được?
Chín phẩm cũng chẳng thể chia ra. Chia thành chín phẩm,
có thể thấy là công phu tối thiểu chia thành chín bậc.
Bậc thấp kém nhất c̣n có tư cách văng sanh, huống hồ
thượng phẩm? Chúng ta thường gọi hạ hạ
phẩm Sự nhất tâm là công phu thành phiến. Thành phiến
là ǵ? Có phải là ta suốt ngày từ sáng đến tối
trong mười hai thời tâm và miệng Phật hiệu chẳng
đoạn bèn gọi là “một phiến” hay không? T́nh h́nh ấy
đích xác là giống như thành phiến, [nhưng là]
tương tự thành phiến! Thành phiến thật sự
là ǵ? Nếu trong ḷng chẳng vướng mắc tất cả
hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian,
trong ḷng chỉ c̣n giữ một câu A Di Đà Phật, đó
là công phu thành phiến thật sự. C̣n vướng mắc
những chuyện khác, chẳng gọi là công phu thành phiến.
Cổ nhân nói là niệm câu Phật hiệu đến mức
giống như tường đồng vách sắt. Trong Yếu
Giải, Ngẫu Ích đại sư nói là “phong xuy bất nhập, vũ đả bất thấp”
(gió thổi chẳng lọt, mưa tạt chẳng ướt),
vẫn vô dụng! Quư vị đạt tới thành phiến
trên h́nh thức, vô ích! Ắt cần phải là trong tâm xác thực
chẳng vướng mắc! Cũng có lẽ các đồng
tu sẽ nói: “Thật là khó! Chẳng dễ làm được!”
Khó ở chỗ nào? Khó ở chỗ ngỡ hết thảy
các pháp là thật, coi chúng là thật, chẳng biết hết
thảy các pháp đều là giả. Kinh Kim Cang dạy: “Phàm những ǵ có h́nh tướng
đều là hư vọng”, “hết
thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng”.
Trong tâm quư vị vướng mắc hết thảy các pháp,
chẳng buông xuống được, chẳng thấy thấu
suốt, oan uổng! Chúng chẳng phải là chân thật.
Đó là lư do khiến chúng ta niệm Phật cầu văng sanh
chẳng thể thành công! Trở ngại lớn nhất ở
ngay chỗ này!
Quư
vị có thể thấy thấu suốt hết thảy các
pháp thế gian, đó là trí huệ. Thật sự buông xuống
hết thảy, chính là công phu! Sau đấy, một câu Phật
hiệu, như thường nói “một
niệm tương ứng một niệm Phật, niệm
niệm tương ứng niệm niệm Phật”, quư
vị mới có thể tương ứng. Có mảy may
vướng mắc trong tâm chẳng thể buông xuống, sẽ
không tương ứng, phiền phức ở ngay chỗ
này. Cũng phải nhận thức rơ ràng hai chữ “tương ứng”. Có những
kẻ cứ ngỡ trong tâm ta có Phật hiệu, miệng
niệm ra, tai nghe vào, đó là tương ứng. [Thật
ra] đó chính là tâm, tai và miệng tương ứng, chẳng
tương ứng cùng Phật; đối với chuyện
“một niệm tương ứng
một niệm Phật”, chẳng tương ứng với
Phật! Phật là ǵ? Phật là tự tánh. Tự tánh là ǵ?
Tự tánh là pháp giới. Chẳng có mảy may vướng
mắc nào, tâm ấy sẽ giống như hư không pháp giới,
thân và hư không pháp giới giống hệt như nhau, thân
cũng chẳng có sai biệt!
(Sao)
Kỳ sảo độn giả, hoặc nhị, hoặc
tam, năi chí thất nhật, phương đắc thuần
nhất. Diệc hữu lợi căn, kinh ư thất nhật,
đoan nhiên nhất tâm, chung bất thiểu loạn. Kỳ
sảo độn giả, cẩn lục, cẩn ngũ,
năi chí nhất nhật, hoặc tiện tán loạn. Thị
cố các hữu lợi độn, bất ưng thiên thuộc.
(鈔)其稍鈍者,或二或三,乃至七日,方得純一;亦有利根,經於七日,端然一心,終不少亂;其稍鈍者,僅六僅五,乃至一日,或便散亂。是故各有利鈍,不應偏屬。
(Sao: Kẻ căn tánh
hơi độn th́ hoặc hai, hoặc ba, cho đến bảy
ngày mới được thuần nhất. Cũng có người
lợi căn, trải qua bảy ngày, nghiễm nhiên nhất
tâm, trọn chẳng bị tán loạn chút nào. Kẻ căn
tánh hơi độn, chỉ [giữ được nhất
tâm] sáu ngày hoặc năm ngày, thậm chí một ngày bèn tán
loạn. Do vậy, đều có lợi căn và độn
căn [khác biệt], chớ nên chấp trước).
Nói “thiên thuộc” (偏屬) là bảo quư vị
chớ nên chấp trước, những điều này
đều là hiện tướng. “Phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư
vọng”; tướng có hay không? Tướng có; tuy có, chẳng
phải là thật.
(Sao)
Thập nhật giả, Đại Bổn vân: “Trai giới
thanh tịnh, nhất tâm thường niệm, thập trú dạ
bất tuyệt giả, mạng chung, tất sanh ngă sát”.
(鈔)十日者,大本云:齋戒清淨,一心常念,十晝夜不絕者,命終必生我剎。
(Sao: Mười ngày
là như kinh Đại Bổn dạy: “Trai giới thanh tịnh,
nhất tâm thường niệm mười ngày đêm chẳng
dứt, mạng chung ắt sanh về cơi ta”).
Trong
kinh Vô Lượng Thọ, đức Phật đă dạy
như vậy. Ngài ấn định kỳ hạn là mười
ngày mười đêm, then chốt là “trai giới thanh tịnh, nhất tâm thường niệm”.
“Trai giới thanh tịnh” là chẳng hoài nghi, không xen tạp,
“thường niệm” là
không gián đoạn. Thật sự nắm được điểm
quan trọng này, chẳng có ai không thành tựu. Nhất
định phải biết những chỗ then chốt
trong kinh văn, nhất định phải nắm chắc,
th́ mới biết cách niệm Phật hiệu như thế
nào!
(Sao)
Hựu Cổ Âm Vương kinh vân: “Nhược thọ tŕ
bỉ Phật danh hiệu, kiên cố kỳ tâm, ức niệm
bất vong, thập nhật thập dạ, trừ xả
tán loạn, tất đắc kiến bỉ A Di Đà Phật”.
(鈔)又鼓音王經云:若受持彼佛名號,堅固其心,憶念不忘,十日十夜,除捨散亂,必得見彼阿彌陀佛。
(Sao: Kinh Cổ Âm
Vương lại nói: “Nếu thọ tŕ danh hiệu của
đức Phật ấy, tâm kiên cố, nghĩ nhớ chẳng
quên suốt mười ngày mười đêm, trừ bỏ
tán loạn, ắt sẽ được thấy A Di Đà Phật”).
Kinh
Cổ Âm Vương (kinh A Di Đà Phật Cổ Âm Thanh
Vương Đà La Ni) cũng nói mười ngày mười
đêm, phương pháp chẳng khác, đều là không hoài
nghi, không gián đoạn, không xen tạp. Như vậy th́ mới
có thể thành công.
(Sao)
Thất thất nhật giả, Đại Tập kinh vân:
“Nhược nhân chuyên niệm nhất phương Phật,
hoặc hành, hoặc tọa, chí thất thất nhật, hiện
thân kiến Phật, tức đắc văng sanh”.
(鈔)七七日者,大集經云:若人專念一方佛,或行或坐,至七七日,現身見佛,即得往生。
(Sao: Bốn
mươi chín ngày là như kinh Đại Tập nói: “Nếu
ai chuyên niệm vị Phật ở một phương, hoặc
đi, hoặc ngồi, cho tới bốn mươi chín ngày,
thân hiện tại thấy Phật, liền được
văng sanh”).
Trong
kinh Đại Tập[6],
đức Phật trọn chẳng chỉ ra vị Phật
nào, chẳng đặc biệt nêu rơ A Di Đà Phật. Nói
cách khác, hết thảy chư Phật đều có Tịnh
Độ, quư vị mong văng sanh [cơi Tịnh Độ của
vị Phật nào], sử dụng phương pháp niệm Phật
này đều có thể măn nguyện. Huống hồ bổn
nguyện của A Di Đà Phật là dùng danh hiệu để
tiếp dẫn hết thảy chúng sanh. Do vậy, niệm A
Di Đà Phật càng thù thắng hơn!
(Sao)
Cửu thập nhật giả, Bát Châu Tam Muội kinh vân:
“Nhược nhân tự thệ, cửu thập nhật
trung, thường hành, thường lập, nhất tâm hệ
niệm, ư tam-muội trung, đắc kiến A Di Đà
Phật”.
(鈔)九十日者,般舟三昧經云:若人自誓,九十日中常行常立,一心繫念,於三昧中得見阿彌陀佛。
(Sao: “Chín mươi
ngày”: Kinh Bát Châu Tam Muội chép: “Nếu có người tự
thề, trong chín mươi ngày, thường đi, hoặc
thường đứng, nhất tâm hệ niệm, trong tam-muội
sẽ được thấy A Di Đà Phật”).
Tu Bát
Châu tam-muội khá khó khăn. Thời gian rất dài, chín mươi
ngày! “Chín mươi ngày” là
suốt chín mươi ngày đêm chẳng được
ngủ, chẳng được ngồi xuống, có thể
đứng, có thể nhiễu Phật, có thể đi lại,
nhưng chẳng thể ngồi hoặc nằm xuống.
(Sao)
Hựu Văn Thù Bát Nhă vân: “Cửu thập nhật trung,
đoan tọa Tây hướng, chuyên niệm ư Phật,
tức thành tam-muội”.
(鈔)又文殊般若云:九十日中,端坐西向,專念於佛,即成三昧。
(Sao: Kinh Văn Thù Bát
Nhă lại nói: “Trong chín mươi ngày, ngồi ngay ngắn
hướng về Tây, chuyên niệm đức Phật, liền
thành tam-muội”).
Văn
Thù Bát Nhă là ngồi niệm, Bát Châu Tam Muội là đứng
niệm, đều lấy chín mươi ngày làm kỳ hạn,
rất khó, chẳng dễ dàng.
(Sao)
Nhất nhật giả, Đại Bổn Pháp Tạng nguyện
vân: “Nhất tâm hệ niệm ư ngă, tuy chỉ nhất
trú dạ bất tuyệt, tất sanh ngă sát”. Thập niệm
giả, Quán Kinh hạ hạ phẩm vân, kỳ nhân khổ
bách, bất hoàng niệm Phật, thập thanh xưng Phật”
đẳng. Tắc tri nhất nhật chí thất, tùy nhật
đa thiểu, giai văng sanh kỳ, cố lực hành hà
như nhĩ.
(鈔)一日者,大本法藏願云:一心繫念於我,雖止一晝夜不絕,必生我剎。十念者,觀經下下品云,其人苦迫,不遑念佛,十聲稱佛等。則知一日至七,隨日多少,皆往生期,顧力行何如耳。
(Sao: “Một ngày” là
như trong kinh Đại Bổn, ngài Pháp Tạng nguyện
rằng: “Nhất tâm hệ niệm ta, tuy chỉ một ngày
đêm chẳng dứt, ắt sanh về cơi ta”. “Mười
niệm” là như trong phần hạ hạ phẩm [văng
sanh] của Quán Kinh có nói: “Người ấy bị sự
khổ bức bách, chẳng rảnh rỗi để niệm
Phật [bằng cách quán tưởng, bèn dạy cho người
ấy] xưng danh hiệu Phật mười tiếng”
v.v…. Do đó, biết từ một ngày cho tới bảy
ngày, bất luận số ngày nhiều hay ít, đều là
kỳ hạn [ấn định nhằm tu tập để
được] văng sanh xét theo khả năng [của hành nhân]
như thế nào đó thôi).
Đây
là pháp Thập Niệm được nói trong Quán Kinh; một
niệm hay mười niệm trong Quán Kinh đều
được kinh Vô Lượng Thọ nói rất cặn
kẽ. Bất luận là Sự, Lư, hay cảnh giới,
đều nói rất nhiều. Điều khẩn yếu là
thật thà niệm Phật, ấn định kỳ hạn
để cầu chứng nhập, khiến cho chính ḿnh thật
sự tinh tấn chẳng biếng nhác, mục đích là ở
chỗ này.
(Sao)
Hối minh nhất châu giả, tùng Tư chí Ngọ, năi tự hối
nhi minh; tùng Ngọ chí Tư, năi tự minh nhi hối. Thị vi
thiên đạo nhất trú dạ.
(鈔)晦明一周者,從子至午,乃自晦而明;從午至子,乃自明而晦。是為天道一晝夜。
(Sao: “Một chu kỳ
sáng tối”: Từ giờ Tư đến giờ Ngọ là từ
tối đến sáng; từ giờ Ngọ đến giờ
Tư là từ sáng đến tối. Đó là một ngày
đêm trong trời đất).
Giờ
Tư là từ mười một giờ đêm cho đến
một giờ [sáng]. Giờ Ngọ là từ mười một
giờ trưa cho đến một giờ [chiều]. Từ
giờ Tư vào ban đêm cho đến giờ Ngọ ngày hôm
sau là từ tối đến sáng; từ giờ Ngọ cho
đến giữa đêm là từ sáng đến tối,
[gọi gộp chung] là “hối
minh nhất châu” tức là một ngày đêm.
(Sao)
Phù tâm cố sát-na sanh diệt, huống trú dạ hồ,
ư thử nhất tâm, sở vị “nhị lục thời
trung, niệm niệm vô gián” giả dă.
(鈔)夫心固剎那生滅,況晝夜乎,於此一心,所謂二六時中,念念無間者也。
(Sao: Ôi! Tâm vốn sanh diệt trong từng sát-na, huống
là ngày đêm ư? Đối với nhất tâm, bèn nói là “trong
mười hai thời, niệm niệm chẳng gián đoạn”
vậy).
Nói
rơ bổn ư trong kinh Phật, dạy chúng ta niệm Phật
đừng gián đoạn. V́ thế, nhất định
phải phấn chấn tinh thần, lo liệu đại
sự sanh tử của chính ḿnh. Người học Phật
chớ nên không biết: Người có thể lo liệu
sanh tử đại sự, há có lẽ nào đời
người chẳng hạnh phúc mỹ măn? Lớn có thể
bao gồm nhỏ, nhỏ chẳng bao gồm lớn. Vô
thượng Phật thừa quyết định bao gồm
nhân thiên, nhưng nhân thiên chẳng thể bao gồm vô
thượng Phật thừa, đấy là đạo lư nhất
định. Nhưng học Phật th́ phải khởi
đầu từ học làm người. Làm người chẳng
xong, lẽ đâu có thể thành Phật cho được?
Do vậy, trước khi Thích Ca Mâu Ni Phật dạy phu
nhân Vi Đề Hy phương pháp cầu sanh Tịnh Độ,
bèn dạy bà ta tu Tam Phước trước. Quư vị muốn
thành Phật, phải làm người tốt đẹp
trước đă. Làm người chẳng trọn vẹn,
chẳng có hy vọng thành Phật!
(Sớ)
Hựu thử thất nhật, bất tất định
thị lâm chung thất nhật, dĩ b́nh thời hữu
như thị định lực giả, tất sanh bỉ
quốc.
(疏)又此七日,不必定是臨終七日,以平時有如是定力者,必生彼國。
(Sao: Lại nữa, “bảy
ngày” không nhất định là bảy ngày khi lâm chung. Do lúc
thông thường mà có định lực như thế, ắt
sẽ sanh về cơi kia).
Đoạn
khai thị này vô cùng trọng yếu, trọng yếu là công
phu trong lúc thường nhật, ngàn muôn phần chớ nên
sơ sót, coi nhẹ.
(Sao)
B́nh thời giả, khủng nhân chấp thất nhật
chi văn, vị tất nhất nhật chí thất nhi tiện
mạng chung, phương danh thất nhật.
(鈔)平時者,恐人執七日之文,謂必一日至七而便命終,方名七日。
(Sao: “Lúc thông thường”:
Sợ người ta chấp vào câu chữ “bảy ngày” rồi
cho rằng: Ắt phải là từ một ngày cho tới bảy
ngày liền mạng chung th́ mới gọi là bảy ngày).
Sợ
người ta sẽ hiểu lầm [kinh văn nói] “bảy
ngày”, đại khái là bảy ngày trước khi lâm chung, niệm
Phật bảy ngày bèn văng sanh. Sợ người ta hiểu
lầm ở chỗ này.
(Sao)
Cố ngôn “hoặc lâm chung, hoặc b́nh thời, đản
hữu nhất nhật hoặc thất nhật chi Định
lực giả, giai đắc văng sanh” dă. Sở vị “nhàn
thời biện, mang thời dụng”, hậu chí mạng
chung, nhân quả tương phù, tất sanh bỉ quốc.
(鈔)故言或臨終、或平時,但有一日或七日之定力者,皆得往生也。所謂閒時辦,忙時用,後至命終,因果相符,必生彼國。
(Diễn: V́ thế, nói:
“Hoặc khi lâm chung, hoặc lúc b́nh thời, nhưng người
có định lực từ một ngày cho đến bảy
ngày đều được văng sanh”. Đó gọi là “lo
toan lúc rảnh rỗi để dùng khi bận bịu”, sau
này, đến khi mạng chung, nhân và quả phù hợp lẫn
nhau, ắt sanh sang cơi kia).
Mấy
câu này rất khẩn yếu: Niệm lúc b́nh thường,
niệm đến mức tâm thanh tịnh, phải giữ cho
cái tâm thanh tịnh ấy chẳng bị mất đi. Nếu
muốn ǵn giữ vĩnh viễn th́ phải là “tin sâu nhân quả” như trong
Tam Phước của Quán Kinh mới ḥng thật sự là
duy tŕ vĩnh viễn. V́ sao? Người thật sự tin
sâu nhân quả, tâm sẽ định, chẳng sợ hăi, chẳng
bị tán loạn. Người thế gian sợ nhất là
sống không nổi! Luôn v́ áo cơm mà phiền năo! Người
thật sự tin sâu nhân quả, biết “một miếng ăn, một hớp uống đều
đă định trước”, chẳng cần phải
bận ḷng v́ những chuyện ấy. Hằng ngày bận
tâm th́ cuộc sống của quư vị vẫn là như thế,
mà chẳng quan tâm th́ vẫn sống như thế, chẳng
thể nói “không quan tâm, sẽ sống không nổi!” Vẫn
chưa nghe nói [có một ai không bận tâm cơm áo mà chẳng
sống được], sự bận tâm ấy há chẳng
phải là nhọc trí oan uổng ư? Suốt một đời,
Ấn Quang đại sư cực lực đề xướng
Liễu Phàm Tứ Huấn nhằm khiến cho mọi
người thật sự giác ngộ, thật sự nhận
biết sự thật này, chẳng bận tâm, chẳng c̣n dấy
vọng tưởng. Số mạng cả một đời
người đă được định sẵn, quư vị
c̣n bận tâm để làm ǵ? Dẫu cho số mạng chẳng
tốt đẹp, cũng phải hứng chịu. V́ sao mạng
chẳng tốt? Đời trước đă tạo ra cái
nhân chẳng tốt đẹp. Nếu muốn số mạng
tốt đẹp, chỉ đành trong hiện thời tạo
cái nhân tốt, sửa đổi vận mạng của
chính ḿnh, thay đổi tái tạo vận mạng của
chính ḿnh. Sách Liễu Phàm Tứ Huấn nói hết sức thấu
triệt, bận tâm để làm ǵ? Xác thực là không chỉ
học Phật, ngay cả làm người cũng đều
phải lấy sách ấy làm cơ sở, làm căn bản.
Chẳng có những thứ ấy, bàn đến Phật
pháp chi nữa, làm sao có thể học Phật cho được?
Đấy mới là điều khẩn yếu thật sự,
[sách ấy] cũng giống như một bộ kinh điển,
chẳng kém ǵ kinh điển!
Tâm
chúng ta quả nhiên là “chẳng tranh
với người, chẳng cầu nơi đời”,
tâm bèn định, tri túc thường lạc (biết đủ,
thường vui), thỏa măn với cuộc sống hiện
thực, hễ thỏa măn bèn vui sướng. Có người
nói: “Như vậy th́ chẳng khỏi là quá tiêu cực, xă hội
làm sao có thể tiến bộ cho được?” Chắc
chắn chẳng phải là tiêu cực, mà cũng chắc chắn
chẳng ngăn trở xă hội tiến bộ. Xă hội
càng tiến bộ, đời sống càng mỹ măn, v́ sao? Khi
ấy, thật sự biết v́ chúng sanh phục vụ. Khi
tiên sinh Liễu Phàm chưa hiểu rơ, ông rất tiêu cực;
sau khi đă hiểu rơ, bèn hết sức tích cực, chẳng
tiêu cực. Có vị Bồ Tát nào tiêu cực? Có vị Phật
nào tiêu cực? Chúng ta chưa hề thấy, thậm chí ngay
cả một vị A La Hán tiêu cực cũng chẳng t́m
thấy. Thật sự có thể t́m được kẻ
tiêu cực trong hàng trời người, chứ đối
với Thanh Văn, Duyên Giác, chư Phật, Bồ Tát sẽ
chẳng t́m thấy! Các Ngài đều tích cực phát tâm v́
hết thảy chúng sanh phục vụ.
Do vậy,
công phu niệm Phật phải dưỡng thành trong lúc
thường nhật, đến khi lâm chung mới hữu
dụng. Thường ngày chẳng dưỡng thành, khi lâm chung,
tay cuống chân loạn, vô dụng! V́ thế, chuyện ǵ
cũng đều phải xem nhẹ, chớ nên riết
róng, phá tan cửa ải “được, mất”, tuyệt
đối chẳng có tâm được mất. Hễ đạt
được, bèn coi giống như trong mơ đạt
được; mất đi th́ cũng như mất mát
trong giấc mộng, như vậy là tốt. Có được
mất hay không? Có, nhưng chẳng quan tâm đến chuyện
được hay mất, chẳng có tí nào dính dáng đến
ta, lẽ nào tâm quư vị chẳng thanh tịnh? Khi ấy,
công phu niệm Phật mới đắc lực!
Người
thật sự tu đạo, tinh tấn nơi đạo nghiệp,
đối với sự nghiệp bèn tùy duyên. Duyên thù thắng
bèn làm nhiều, chẳng có duyên bèn không làm th́ mới tự
tại. Lần này, pháp sư Diễn Bồi đến trụ
tại giảng đường của chúng ta, các đồng
tu Đài Loan đều cảm thấy bất ngờ,
nghĩ cách nào cũng không hiểu v́ sao Sư đến trụ
tại giảng đường của chúng ta? Thật ra,
Sư muốn xem chúng ta rốt cuộc đang làm ǵ? Ở
lại nhiều ngày như vậy, Sư thấy sự nghiệp
của chúng ta là tùy duyên, chẳng hóa duyên, chẳng phải là
suy nghĩ kế hoạch, năm nay chúng ta phải làm những ǵ? Chẳng làm chuyện ấy,
đó là dấy vọng tưởng! Ngày mai c̣n chưa tới!
Nghĩ tới chuyện ngày mai là dấy vọng tưởng.
Do đó, chúng ta chẳng có kế hoạch. Chúng ta
cũng chẳng hỏi xin tiền ai! Chúng ta giữ vững
một nguyên tắc: “Nhiều chuyện chẳng bằng ít chuyện, ít chuyện
chẳng bằng vô sự”. Tâm sẽ
tự tại lắm! Nhưng nếu người ta biếu
tiền, chúng ta phải làm thay cho họ. Họ biếu nhiều
bèn làm nhiều, biếu ít bèn làm ít. Chẳng biếu là
tốt nhất, chúng ta chẳng phải làm, vui sướng
lắm! Lần này, Sư thấy mọi người ở
cùng một chỗ, đối xử hoan hỷ với nhau,
vui sướng lắm! Sự vui sướng ấy, nói thật
ra là do đức Phật đă dạy, chúng ta làm theo nên mới
đạt được vui sướng. Lư tưởng của
chúng ta là giúp đỡ hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ,
ĺa khổ được vui. Mục tiêu của chúng ta, xét
theo mức độ gần, sẽ là cá nhân hạnh phúc,
gia đ́nh mỹ măn, xă hội hài ḥa, thế giới ḥa
b́nh; mức độ xa là chúng ta mong sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới. Quư vị nói
xem: Phật pháp của chúng ta là nhân thừa hay thiên thừa?
V́ thế, tuyệt đối chớ nên nói suông, chúng ta thật
sự đạt được! Hạnh phúc mỹ măn, đó
là nhân gian Phật giáo thật sự, hết sức thực
tiễn, sung sướng, vui vẻ. Chẳng dấy vọng
tưởng, chẳng dối gạt ḿnh, chẳng lừa gạt
người, ứng dụng giáo huấn trong kinh điển
vào cuộc sống hằng ngày; đó gọi là học Phật.
Đoạn
lớn kế tiếp rất dài, chiếm đến một
phần tám của toàn bộ kinh văn, nhằm giải
thích “nhất tâm bất loạn”.
Đây là trọng điểm của kinh Di Đà, đặc
biệt là tác phẩm Di Đà Kinh Sớ Sao.
(Sớ)
Nhất tâm bất loạn, ngôn chấp tŕ chi cực dă, thị
vi nhất kinh yếu chỉ.
(疏)一心不亂,言執持之極也,是為一經要旨。
(Sớ:
Nhất tâm bất loạn là nói chấp tŕ đến mức
cùng tột, đây là tông chỉ chánh yếu của cả bộ
kinh).
Câu
này là nói tổng quát, nêu ra tổng cương lănh.
(Sao)
Tâm giả, giản khẩu tụng, nhi tâm bất niệm
dă.
(鈔)心者,揀口誦而心不念也。
(Sao: [Nói là] “tâm” nhằm
loại trừ chuyện miệng tụng, tâm chẳng niệm).
Chú
trọng nhất tâm bất loạn.
(Sao)
Nhất giả, giản tâm tuy niệm, nhi niệm bất nhất
dă.
(鈔)一者,揀心雖念而念不一也。
(Sao: [Nói là] “nhất”
nhằm loại trừ trường hợp tâm tuy niệm,
nhưng niệm chẳng chuyên nhất).
Mỗi
một chữ đều vô cùng trọng yếu. Niệm Phật
chú trọng tâm niệm. Miệng niệm mệt mỏi có
thể nghỉ ngơi, không niệm chẳng sao, trong tâm chẳng
thể không có Phật. Nếu trong tâm có Phật, miệng
chẳng niệm không sao. Trong tâm chỉ có thể có một
vị Phật, chẳng thể có hai vị
Phật, v́ hai vị Phật sẽ là hai niệm, đó là
nhị tâm niệm Phật. Vậy là chẳng thể
được, phải là nhất tâm, phải chuyên nhất.
(Sao)
Bất loạn giả, giản niệm tuy nhất, nhi hữu
thời hồ bất nhất dă.
(鈔)不亂者,揀念雖一而有時乎不一也。
(Sao: [Nói] “bất loạn”
là loại trừ trường hợp niệm tuy chuyên nhất,
nhưng có lúc chẳng chuyên nhất).
“Bất loạn” là nhất tâm
đạt tới mức độ thuần thục, v́ hễ
có một tạp niệm sẽ loạn.
(Sao)
Nhất tâm bất loạn, tịnh nghiệp chi năng sự
tất hỹ.
(鈔)一心不亂,淨業之能事畢矣。
(Sao:
Nhất tâm bất loạn th́ tịnh nghiệp mới có thể
hoàn tất).
Nhất
tâm bất loạn, từ Sự đến Lư có các mức độ
sai biệt. Nếu phân loại đại khái, Lư [nhất
tâm] có chín phẩm, Sự [nhất tâm] cũng có chín phẩm.
Lại chia chi tiết hơn, mỗi cơi trong bốn cơi [Tịnh
Độ] lại có chín phẩm, bốn lần chín là ba
mươi sáu phẩm, Lư nhất tâm gồm ba mươi
sáu phẩm, Sự nhất tâm cũng gồm ba mươi
sáu phẩm. Đây là vẫn phân chia thô lược, phân chia
đại khái. Tuy đều đạt tới nhất tâm
bất loạn, nhưng trong nhất tâm bất loạn c̣n
có mức độ sâu hay cạn khác nhau!
(Diễn)
Khẩu tụng nhi tâm bất niệm giả, khẩu tụng
Phật danh, tâm tŕ vạn cảnh, thị vi độc Phật,
phi niệm Phật dă, dĩ niệm tùng tâm cố.
(演)口誦而心不念者,口誦佛名,心馳萬境,是為讀佛,非念佛也,以念從心故。
(Diễn: “Miệng tụng
mà tâm chẳng niệm” là miệng tụng danh hiệu Phật,
tâm rong ruổi theo muôn cảnh. Đó là đọc danh hiệu
Phật, chẳng phải là niệm Phật, v́ niệm xuất
phát từ tâm).
Trong
“đọc” chẳng có tâm, đó gọi là đọc Phật,
chẳng phải là niệm Phật. Niệm Phật là có
tâm, [niệm (念) là] kim tâm (今心), [nghĩa là] cái tâm
hiện tại là Phật, Phật là tâm, đó mới là niệm
Phật. Đọc Phật th́ chẳng có tâm, nơi miệng
niệm rất to tiếng, trong tâm suy nghĩ loạn cào
cào, đều là đọc Phật. Đọc Phật lớn
tiếng, vô dụng!
(Diễn)
Tâm tuy niệm nhi niệm bất nhất giả, tuy tâm niệm
Phật, tịnh uế giao tŕ, thị tuy niệm Phật,
phi nhất tâm dă. Dĩ nhất tâm giả thuần tịnh
cố.
(演)心雖念而念不一者,雖心念佛,淨穢交馳,是雖念佛,非一心也。以一心者純淨故。
(Diễn: “Tâm tuy niệm,
nhưng niệm chẳng chuyên nhất”: Tuy tâm niệm Phật
mà tịnh uế xen lẫn, đấy là tuy niệm Phật,
nhưng chẳng nhất tâm. Bởi lẽ, nhất tâm là
thuần tịnh).
Tâm chẳng
thanh tịnh, không thanh tịnh là có xen tạp. Niệm Phật
có xen tạp bèn chẳng chuyên nhất, chuyên nhất th́ chẳng
thể có xen tạp.
(Diễn)
Niệm tuy nhất nhi hữu thời bất nhất giả,
tuy thiểu thời nhất tâm, hậu phục hoàn loạn.
Sở vị “triêu tắc cần, nhi mộ tắc đăi,
nhất nhật bạo chi, thập nhật hàn chi”, thị
tuy nhất tâm hoàn phục loạn dă. Dĩ bất loạn
tại vô gián cố, giai phi tịnh nghiệp chi năng sự
dă.
(演)念雖一而有時不一者,雖少時一心,後復還亂。所謂朝則勤,而暮則怠,一日暴之,十日寒之,是雖一心還復亂也。以不亂在無間故,皆非淨業之能事也。
(Diễn: “Niệm tuy
nhất mà có lúc chẳng chuyên nhất”: Tuy chuyên nhất một
thời gian ngắn, sau đó bị loạn trở lại.
Thường nói là “sáng siêng, tối lười, một ngày
nóng, mười ngày lạnh”. Đó là tuy đă nhất tâm rồi
lại loạn. Do bất loạn phải là chẳng gián
đoạn, cho nên những tâm ấy đều chẳng thể
hoàn thành tịnh nghiệp được).
Lời
này rất rơ ràng, minh bạch! Cốt yếu là niệm chẳng
gián đoạn. Gián đoạn sẽ chẳng chuyên nhất.
Dẫu có lúc đạt đến nhất tâm, nhưng sau mấy
tiếng đồng hồ lại thoái chuyển, lại loạn.
A Di Đà Kinh Sớ Sao
Diễn Nghĩa
Phần 113
hết
[1] Kinh này có tên gọi đầy đủ
là Phật Thuyết Phật Danh Kinh, gồm mười hai
quyển, do ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch sang
tiếng Hán dưới đời Nguyên Ngụy. Do trong kinh
này nêu danh hiệu của một vạn một ngàn chín
trăm lẻ ba vị Phật, Bồ Tát và Bích Chi Phật,
nên thường gọi là kinh Vạn Phật. Đôi khi c̣n
gọi là Vạn Phật Hồng Danh Bảo Sám v́ trong kinh
có một phẩm trần thuật lời sám hối.
[2] Bản kinh này c̣n gọi là Phật Thùy
Niết Bàn Lược Thuyết Di Giáo Kinh (kinh đức
Phật sắp nhập Niết Bàn nói đại
lược di giáo), do ngài Cưu Ma La Thập dịch sang Hán
văn. Đây là những lời dạy cuối cùng của
đức Phật. Kinh văn khá ngắn, nhưng ư
nghĩa rất hàm súc, nên có khá nhiều bản chú sớ. Nổi
tiếng nhất là các bộ Phật Di Giáo Kinh Luận Sớ
Tiết Yếu (trích yếu những đoạn chú giải
kinh Di Giáo từ các bộ luận của Thiên Thân Bồ
Tát, Trí Giả đại sư, Tịnh Nguyên và Liên Tŕ Châu
Hoằng đại sư), Di Giáo Kinh Luận Trụ Pháp Kư
(do ngài Nguyên Chiếu soạn vào đời Tống), Di Giáo
Kinh Luận Kư (do ngài Quán Phục soạn vào đời Tống),
Phật Di Giáo Kinh Bổ Chú (do ngài Thủ Toại chú giải,
ngài Liễu Đồng chú thích thêm), Phật Di Giáo Kinh Giải
(do Ngẫu Ích đại sư soạn), Di Giáo Kinh Chỉ
Nam (do ngài Đạo Bái soạn vào đời Minh)…
[3] “Thất miếu” là tuân theo quy định của
Lễ Kư, mang ư nghĩa tôn thờ bảy đời tổ
tiên của hoàng đế. Miếu thờ tổ tiên của
nhà vua bao gồm bảy ngôi điện thờ, ngôi chính giữa
gọi là Thái Miếu (太廟, thờ tổ
phụ, vua khai sáng vương triều và các đời vua
nối tiếp), ba miếu thờ bên trái gọi là Tam Chiêu
(三昭), ba miếu thờ
bên phải gọi là Tam Mục (三穆). Chiêu miếu và Mục
miếu dành để thờ các vị chú bác, anh em bên nội
của nhà vua.
[4] Đây là nói theo ư nghĩa của một
câu trong thiên Tử Lộ của sách Luận Ngữ: “Thiện nhân giáo dân thất niên,
diệc khả tức nhung hỹ” (Người tốt
lành dạy dân suốt bảy năm, cũng có thể
chấm dứt binh đao).
[5] Sách Kinh Luật Dị Tướng
gồm năm mươi quyển do ngài Bảo
Xướng soạn, sách được hoàn thành vào năm
Thiên Giám 15 (516) đời Lương. Sách này thâu thập
những chuyện hy hữu, những tướng trạng
lạ lùng trong Tam Tạng kinh điển, nên thuộc
loại Bách Khoa Toàn Thư. Sách thoạt đầu do
Lương Vũ Đế sai ngài Tăng Mân biên soạn,
rồi giao cho ngài Bảo Xướng chủ tŕ. Về sau,
sách được các vị Tăng Hào, Pháp Sanh v.v… bổ
sung và nhuận văn.
[6] Bộ kinh này có tên gọi đầy
đủ là Đại Phương Đẳng Đại
Tập Kinh (Mahāvaipulya Mahāsamghāta Sūtra), gồm
sáu mươi quyển. Thật ra, đây không phải là
một bản kinh riêng biệt mà là tập hợp của
nhiều bản kinh giảng về các pháp môn liên hệ. Trong
sáu mươi quyển ấy, hai mươi lăm
quyển đầu, cũng như từ quyển thứ
ba mươi mốt cho đến
quyển ba mươi ba do ngài Đàm Vô Sấm dịch vào
đời Bắc Lương, các quyển c̣n lại do các
vị Trí Nghiêm Bảo Vân, Na Liên Da Xá, Na Liên Đề Da Xá,
An Thế Cao v.v… dịch.