A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 114
Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và
Đức Phong
Tập
227
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang bốn trăm bốn
mươi bảy:
(Sớ)
Thích thử tứ tự, tiên tổng minh đại ư, thứ
năi tường trần Sự Lư. Đại ư vị “nhất,
loạn” thị chánh phản ngữ, chánh ngữ nhất
tâm, phản ngữ bất loạn.
(疏)釋此四字,先總明大意,次乃詳陳事理。大意謂一亂是正反語,正語一心,反語不亂。
(Sớ: Giải thích
bốn chữ này, trước hết là nêu tổng quát
đại ư, kế đến là tŕnh bày cặn kẽ Sự
và Lư. Đại ư là “nhất” và “loạn” là những từ
ngữ được nói [theo hai phương diện] thuận
và nghịch: Nói theo chiều thuận là “nhất tâm”, nói theo
phía tương phản là “bất loạn”).
Bốn
chữ ấy chính là“nhất
tâm bất loạn”; câu
này là cốt lơi của kinh Di Đà, là một câu khai thị
hết sức quan trọng. Nói tổng quát đại ư th́ “nhất” là nhất tâm, “loạn” là nói tới bất
loạn. Nói “nhất” hay nói “loạn” chính là nói theo
phương diện thuận hay nghịch. Nói theo chiều
thuận sẽ là “nhất tâm”,
nói tương phản sẽ là “bất
loạn”.
(Sao)
Nhất tắc bất loạn, loạn tắc bất nhất,
hữu kỳ nhất tâm, vô kỳ loạn tâm, cố vân “chánh,
phản”. Như ngôn “thuần nhất bất tạp, tinh nhất
vô nhị” chi loại, thị dă.
(鈔)一則不亂,亂則不一,有其一心,無其亂心,故云正反。如言純一不雜,精一無二之類,是也。
(Sao: “Nhất” là bất
loạn, hễ loạn sẽ chẳng nhất. Hễ có nhất
tâm, sẽ chẳng có loạn tâm. V́ thế, nói là “thuận
và nghịch”. Như nói “thuần nhất chẳng tạp,
ṛng rặt chẳng hai” v.v… chính là theo ư nghĩa này).
Niệm
Phật có thể thật sự sanh về Tịnh Độ
hay không, then chốt ở ngay chỗ này. Trong Yếu Giải,
Ngẫu Ích đại sư đă bảo chúng ta: “Có thể văng sanh hay không
được quyết định bởi có tín nguyện
hay không?” Nói cách khác, quư vị có tín tâm hay không? Có nguyện
tâm hay không? Có tín và có nguyện, quyết định văng sanh.
Xét theo phẩm vị văng sanh, Tây Phương Tịnh Độ
có bốn cơi, ba bậc, chín phẩm: “Phẩm vị cao hay thấp được quyết
định bởi công phu niệm Phật sâu hay cạn”.
Công phu sâu là tâm thanh tịnh; công phu cạn là tâm tán loạn,
điều này có quan hệ chặt chẽ với Tín và Nguyện.
Tin thật sự, nguyện thiết tha, tâm thường chuyên
nhất. V́ sao? Người ấy nhất tâm nhất ư
chuyên cầu Tịnh Độ, đối với các pháp thế
gian lẫn xuất thế gian đều chẳng phan duyên,
đấy mới là Tín. Tin Tây Phương Tịnh Độ,
lại tin tham Thiền, lại tin tŕ giới, lại tin niệm
chú, đó chẳng phải là chân tín, chẳng phải là Tín.
Lại c̣n nguyện văng sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới, vừa nguyện có tiếng tăm, lợi
dưỡng trong hiện tiền. Đó chẳng phải là
Nguyện. Nguyện của quư vị quá tạp, quá nhiều.
Ở đây, [tổ Liên Tŕ] muốn nói tới sự chuyên
nhất, “tinh nhất vô nhị”
là nhấn mạnh điều này.
Người
thật sự chuyên nhất ư chí, đích xác là tự nhiên
buông xuống vạn duyên. Nhà khoa học dốc toàn bộ tinh
thần làm thí nghiệm, ngay cả ăn lẫn ngủ
đều quên bẵng, thời gian cũng quên khuấy, làm
việc chẳng biết tới thời gian. [Có trường
hợp] nhà khoa học Âu Tây đói bụng, luộc trứng
gà, kết quả là đă bỏ cái đồng hồ
đeo tay của chính ḿnh vào nồi luộc! Nh́n từ chỗ
này, [có thể] thấy người ấy dụng tâm chuyên
chú. Tín tâm và nguyện tâm của chúng ta phải chuyên như
vậy th́ mới được. Trong Đàn Kinh, Lục Tổ
đại sư đă nói: “Nếu
người thật tu đạo, chẳng thấy lỗi
thế gian”. Một người thật sự tu đạo,
tâm chuyên chú nơi đạo, chuyện ǵ trong thế gian người
ấy cũng chẳng màng, chẳng có thời gian để
hỏi tới, thị phi, nhân ngă thảy đều chẳng
biết, tâm người ấy chuyên chú nơi công phu. Đó
là bậc tu đạo thật sự. Người tu Tịnh
Độ, tâm chuyên chú nơi y báo và chánh báo trang nghiêm của
Tây Phương; trong mười hai thời, khởi tâm
động niệm tưởng Tây Phương Cực Lạc
thế giới, hễ nghĩ bèn nghĩ tới Tây
Phương Cực Lạc thế giới, hễ niệm
bèn niệm Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Đấy chính là “trọn đủ Tín Nguyện Hạnh”.
Hội đủ ba điều kiện ấy, người
đó quyết định văng sanh. Thiện Đạo
đại sư bảo: “Trăm
người tu, trăm người văng sanh; ngàn người
tu, ngàn người văng sanh”. Chẳng sót một ai! Cái tâm
c̣n tạp, c̣n loạn, c̣n dấy vọng tưởng, sẽ
chẳng thể văng sanh! Ngàn muôn phần chúng ta phải ghi
nhớ điều này.
Có các
đồng tu đến hỏi tôi: “Tiêu nghiệp chướng
sâu nặng bằng cách nào? Làm thế nào th́ mới có thể
sám trừ nghiệp chướng?”
“Nhất” rất trọng yếu,
[Nhất có nghĩa là] thuần nhất, chẳng tạp. Có
những kẻ cảm thấy một quyển kinh, một
Phật hiệu quá đơn giản, sau khi niệm một
khoảng thời gian bèn hoài nghi, chỉ sợ [hành tŕ theo]
kiểu này không được, chẳng đáng tin cậy!
Không sao cả! Quư vị cảm thấy cách nào đáng tin cậy
cứ chọn cách đó. Quư vị chẳng sợ phiền
phức th́ kinh Hoa Nghiêm nhiều lắm, hăy học Hoa Nghiêm đi,
kinh ấy chẳng đơn giản! Duy Thức có rất
nhiều thứ, [tông ấy có] sáu kinh, mười một
luận [căn bản][1], lại
c̣n có chú sớ của tổ sư đại đức, tổng
cộng hơn mấy trăm loại, chẳng đơn
giản! Thích từ môn nào bèn vào từ môn đó. Nếu
nghĩ pháp môn này quá đơn giản, chẳng đáng tin
cậy cho lắm, quư vị hăy hành theo những bộ đại
kinh, đại luận đó! Bởi lẽ, vô lượng
pháp môn trong Phật pháp nhằm thích hợp các loại căn
cơ khác nhau để cho quư vị tự do chọn lựa.
Nói thật ra, do sợ phiền phức, chúng ta mới chọn
lựa pháp môn này. Đầu óc chúng ta đơn giản,
nên chọn lựa một pháp đơn giản, dễ dàng,
chẳng tốn công sức ǵ, chúng ta đi theo đường
lối này. Nếu quư vị chẳng sợ phiền phức,
chuộng rườm rà, trong Phật môn có rất nhiều
thứ phức tạp, rườm rà. Đây là ḷng đại
từ đại bi của đức Phật.
Pháp
môn này nhấn mạnh “thuần nhất chẳng tạp”. Phải
áp dụng thuần nhất chẳng tạp vào khởi tâm
động niệm trong cuộc sống, đó là tu hành. Từ
sáng đến tối thường giữ cho tâm chuyên nhất,
tâm người ấy (người tu pháp môn Tịnh Độ)
chỉ có một chuyện là A Di Đà Phật. Kẻ khác
khen ta hay, chê ta dở, ta thảy đều chẳng nghe, ta
chỉ là “A Di Đà Phật”. Người khác bảo ta
đúng, hoặc chê ta sai, chẳng liên quan ǵ đến ta, ta
vẫn “A Di Đà Phật”, đó là đúng. Hễ hơi bị
dao động bởi cảnh giới, tâm ta sẽ loạn,
sẽ tạp, đă bị nhuốm bẩn, như vậy
sẽ chẳng phải người niệm Phật, chẳng
phải là tu Tịnh Độ. Người tu Tịnh
Độ phải tu ǵ? Thấy mà chẳng thấy, nghe mà
chẳng nghe. Ở chung một chỗ với kẻ khác, gật
gù ứng phó cho qua chuyện, người ta nói ǵ cũng gật
đầu, “đúng vậy, đúng vậy”. “Đúng vậy,
đúng vậy” cả buổi, kẻ khác hỏi: “Hắn
nói chi đó?” Chẳng biết! “Chẳng
biết” là đúng đấy! Trong tâm ta chỉ có A Di
Đà Phật, đúng là như vậy, chớ nên chẳng
[gật gù đồng ư với ư kiến của kẻ khác]
cho xong chuyện! Đấy chính là “kính nhi viễn chi” như cổ đức đă
dạy. Thái độ và tướng mạo của chúng ta
rất cung kính, “viễn” (遠) là “kẻ ấy
nói ǵ, ta chẳng nghe thấy”, chẳng phải là “lánh thật
xa kẻ đó”. Thường ǵn giữ tâm địa của
chính ḿnh “thuần nhất bất
tạp, tinh nhất vô nhị” (thuần nhất chẳng
tạp, ṛng rặt chẳng hai), kẻ thật sự tu Tịnh
Độ phải tu từ chỗ này. Do đó, kẻ biết
tu rất ít, đại đa số chẳng biết tu! Tuy
niệm Phật, mà hễ nghe thấy đôi chút âm thanh,
trong tâm bèn nghi thần nghi quỷ, nghe kẻ khác nói mấy
câu, [liền băn khoăn, thắc mắc] có phải là họ
đang nói điểm hay điều dở của ta hay
chăng? Vậy th́ có hỏng bét hay là không? Chẳng nói tới
họ, mà họ cũng vơ quàng vào, cũng cho là [kẻ
khác] đang nói tới điều đúng, lẽ sai của
chính ḿnh, suốt ngày từ sáng đến tối sống
trong cảnh giới sợ hăi, kẻ ấy rất đáng
thương! Đúng là “thiên hạ
vốn vô sự, kẻ vụng về tự rối bời”.
Chính ḿnh tự t́m nỗi phiền phức cho chính ḿnh!
Nói
thật ra, bản thân Tăng đoàn cũng rất phức
tạp. Đừng nói hiện thời đang nhằm thời
kỳ Mạt Pháp, Tăng đoàn trong thuở Thích Ca Mâu Ni tại
thế, nhóm Lục Quần tỳ-kheo[2] là
những học tṛ chẳng nghe lời. Trong Tăng
đoàn, họ tạo tác thị phi, khơi gợi ly gián.
Thuở Thích Ca Mâu Ni Phật tại thế mà t́nh h́nh đă
là như thế. Do vậy, đoàn thể [luôn luôn] là rắn
rồng hỗn tạp! Thuở đức Phật tại
thế, đương nhiên Phật là tiêu chuẩn tuyệt
đối cho chúng ta, dẫu [kẻ nào] ăn nói khuấy
động thị phi thế nào đi nữa, họ (các
đệ tử Phật) chẳng cần nghe, mà nghe lời
Phật dạy. Lời Phật dạy là lời chân thật.
Đức Phật chẳng tại thế, những kẻ
[quấy hôi bôi nhọ] ấy càng đông, làm thế nào
đây? Đức Phật dạy chúng
ta một phương pháp rất mầu nhiệm. Để
đối phó những gă tỳ-kheo xấu ác chuyên môn làm khó
dễ, gây chuyện ấy, đức Phật dùng một phương
pháp gọi là Mặc Tẫn (默擯, Brahma-danda), Mặc Tẫn là không quan tâm đến
họ. Họ nói chuyện với ta, nói đúng, sai, ưu,
khuyết, ta cung kính “dạ, dạ, vâng vâng”, vâng dạ cả
buổi, chẳng nghe lọt tai câu nào. Đó là phương
pháp Mặc Tẫn. Hoặc là nghe xong, quyết định
không kể lại, ta tuyệt đối chẳng nói cho
người thứ hai biết, kẻ [lắm điều,
xấu ác] ấy đành bó tay! Do vậy, Tăng đoàn chân
chánh phải ǵn giữ sự ḥa hợp, điều này rất
khẩn yếu. Thích Ca Mâu Ni Phật dạy chúng ta, dùng chánh
pháp để ảnh hưởng kẻ ấy, dần dần
kẻ ấy cũng sẽ cải tà quy chánh. Nếu kẻ
ấy chẳng cải tà quy chánh, mọi người trong
Tăng đoàn ấy đều chẳng quan tâm tới hắn,
hắn biến thành kẻ trơ trọi, cô đơn, chỉ
đành phục tùng đa số, phục tùng đại
chúng. Nếu không, tự nhiên hắn sẽ ĺa khỏi Tăng
đoàn, quư vị cũng chẳng cần xua đuổi hắn,
hắn chẳng ở được! Không ai đếm xỉa
tới hắn, tự nhiên hắn ĺa khỏi. Đức Phật
dạy chúng ta phương pháp này, quyết định chẳng
mất ḷng ai! Do vậy có thể biết, “thuần nhất bất tạp, tinh nhất vô nhị”
hết sức trọng yếu.
(Sao)
Hoa Nghiêm Thập Hồi Hướng đệ tứ
văn vân.
(鈔)華嚴十回向第四文云。
(Sao:
Kinh văn trong phần giảng về địa vị thứ
tư trong phẩm Thập Hồi Hướng của kinh
Hoa Nghiêm có nói).
Phần
kinh văn giảng về địa vị Đệ Tứ
Hồi Hướng Bồ Tát.
(Sao)
Sở vị bất loạn hồi hướng, nhất
tâm hồi hướng.
(鈔)所謂不亂回向,一心回向。
(Sao:
Có nói “bất loạn hồi hướng, nhất tâm hồi
hướng”).
“Bất loạn” là hồi
hướng, “nhất tâm” là
hồi hướng.
(Sao)
Thích vân nhất tâm giả, chuyên chú chánh cảnh dă.
(鈔)釋云一心者,專注正境也。
(Sao:
Giảng rằng: Nhất tâm là chuyên chú nơi chánh cảnh).
“Chánh cảnh” của người
niệm Phật là ǵ? Chính là y báo và chánh báo trang nghiêm trong thế
giới Tây Phương. Nói tổng quát sẽ là một câu A
Di Đà Phật. Tâm quư vị “chuyên
chú”, đó chính là như chúng tôi thường nói: “Đối
với câu Phật hiệu này, chẳng hoài nghi, không xen tạp,
không gián đoạn”. Đấy là chuyên chú, là nhất tâm. Nói
“nhất tâm xưng niệm”
th́ phải niệm theo kiểu ấy. Niệm Phật
như thế sẽ là công đức, thật sự
đang tu Tịnh nghiệp, tu nhất tâm bất loạn.
(Sao)
Bất loạn giả, bất sanh vọng niệm dă.
(鈔)不亂者,不生妄念也。
(Sao:
Bất loạn là chẳng sanh vọng niệm).
Ngoài
một niệm A Di Đà Phật ra, tuyệt đối chẳng
có niệm thứ hai. V́ quư vị có niệm thứ hai sẽ
là vọng niệm. Bất luận dấy lên niệm nào,
cũng đều là vọng niệm. Quư vị tưởng
Thích Ca Mâu Ni Phật cũng là vọng niệm, tưởng
Tỳ Lô Giá Na Như Lai vẫn là vọng niệm. Bảo quư
vị niệm A Di Đà Phật, cớ sao quư vị
nghĩ tới Bồ Tát, Phật khác? Đó đều là vọng
niệm. Ngay cả tưởng chư Phật, Bồ Tát mà
đều là vọng niệm, huống hồ những thứ
khác? Nếu chẳng hiểu rơ chuyện này, công phu niệm
Phật lúc b́nh thường của chúng ta làm sao đắc
lực cho được?
(Sao)
Chuyên chú bất vọng, tức chánh phản ư.
(鈔)專注不妄,即正反意。
(Sao:
Chuyên chú chẳng vọng, tức là ư nghĩa thuận và nghịch).
“Chuyên chú” là nói theo
phương diện thuận. “Chẳng
sanh vọng niệm” là nói theo phía tương phản.
Đây chính là lời giải thích của nhất tâm bất
loạn. Đoạn này nhằm nêu tổng quát đại ư,
đoạn dưới đây sẽ giải thích cặn kẽ.
(Sớ)
Thứ minh Sự Lư giả.
(疏)次明事理者。
(Sớ: Kế tiếp
là giảng về Sự và Lư).
Nhất
tâm bất loạn có Sự nhất tâm bất loạn và Lư
nhất tâm bất loạn.
(Sớ)
Như Lai nhất ngữ, Sự Lư song bị, cố đồng
danh Nhất Tâm, hữu Sự, hữu Lư.
(疏)如來一語,事理雙備,故同名一心,有事有理。
(Sớ:
Một lời của Như Lai đầy đủ Sự
lẫn Lư; v́ thế, cùng gọi là Nhất Tâm mà có Sự và
Lư).
Một
câu nói của đức Phật, không chỉ là có Sự, có
Lư, mà c̣n có Thể, có Tướng, có Dụng, có nhân, có quả,
pháp nào cũng đều viên dung, khía cạnh nào cũng xét
tới. Do đó, muốn hiểu từng câu, từng chữ
của Như Lai chẳng phải là chuyện dễ dàng! Chỉ
có thể dùng cái tâm cực thanh tịnh để lănh hội,
chứ tư duy, tưởng tượng, ngôn thuyết
đều chẳng có cách nào nói viên dung, chỉ có thể diễn
tả một phần mà thôi, chẳng có cách nào liễu giải
toàn thể! Ở đây, [lời Sớ] đă nêu đại
lược Sự và Lư.
(Diễn)
Sự Lư song bị giả, Như Lai dĩ Quyền Thật
nhị trí, chứng Chân Tục nhị đế chi lư. Phàm
thuyết pháp thời, bất ly Nhị Đế. Y Tục
Đế thuyết pháp, cố hữu Sự, y Chân Đế
thuyết pháp, cố hữu Lư. Sở y chi Đế, Chân Tục
bất nhị, cố nhất tự, nhất ngữ, Sự
Lư song bị dă.
(演)事理雙備者,如來以權實二智,證真俗二諦之理。凡說法時不離二諦,依俗諦說法故有事,依真諦說法故有理。所依之諦,真俗不二,故一字一語,事理雙備也。
(Diễn: “Đầy
đủ Sự lẫn Lư””: Như Lai dùng Quyền Trí và Thật
Trí để chứng lư Chân Đế và lư Tục Đế.
Mỗi khi thuyết pháp, đều chẳng rời khỏi
Nhị Đế. Do nương theo Tục Đế để
thuyết pháp bèn có Sự. Nương theo Chân Đế để
thuyết pháp bèn có Lư. Đối với Đế để
nương vào th́ Chân Đế và Tục Đế chẳng
hai; v́ thế, mỗi chữ, mỗi lời đều trọn
đủ Sự lẫn Lư).
Đây
là một điều thường thức quan trọng
trong Phật học, tức là nói “Phật nương vào Nhị Đế để thuyết
pháp”. Nếu quư vị chẳng hiểu nguyên lư và nguyên tắc
thuyết pháp này, sẽ rất khó hiểu rốt cuộc
đức Phật nói điều ǵ, thường hiểu
lầm ư nghĩa. Đă hiểu lầm ư nghĩa, c̣n oán thầm
đức Phật, hủy báng Tam Bảo, tạo tội
nghiệp sâu xa. Đức Phật thuyết pháp là nói trong
trường hợp nào? Nói với người nào? Điều
này có mối quan hệ rất lớn. Thuở đức
Phật tại thế thuyết pháp, Ngài ứng cơ thuyết
pháp: Người nào đưa ra vấn đề nào, đức
Phật có năng lực thần thông thù thắng, chuyện
trong đời đời kiếp kiếp của người
ấy, đức Phật đều biết; v́ thế, Ngài
thuyết pháp rất khế cơ. Người khác lại
đến hỏi, căn cơ trong đời trước
của hai người ấy chẳng giống nhau, cùng hỏi
một vấn đề giống như nhau, nhưng có thể
là đức Phật có hai lời đáp khác nhau. Chúng ta thấy
vậy ngơ ngác: V́ sao đối với người này,
đức Phật nói như vậy; đối với kẻ
kia, lại nói như thế nọ? Không chỉ đức Phật
là như thế, Khổng lăo phu tử cũng là như thế.
Trong Luận Ngữ, khi học tṛ hỏi về đạo
hiếu, Khổng lăo phu tử đă trả lời mỗi
người mỗi khác. Hỏi về ḷng nhân, Ngài cũng trả
lời chẳng giống nhau, rốt cuộc câu trả lời
nào là đúng? Thuở ấy, khi có người đến hỏi,
Khổng lăo phu tử giảng giải cho người ấy
[cách nào cũng] đều đúng, ứng cơ mà! Phật
pháp là khế cơ, khế lư. V́ thế, chuyện này chẳng
dễ dàng.
Nay
chúng ta mở kinh điển ra xem, đôi khi [bộ kinh nào
đó] chẳng khế hợp căn cơ của chúng ta. V́
sao? Chẳng phải là điều chúng ta thắc mắc. Nếu
đức Phật tại thế, hễ chúng ta hỏi,
đức Phật nhất định sẽ khai thị, [lời
khai thị tức là] bộ kinh ấy nhằm giảng cho
chúng ta, nên sẽ khế hợp căn cơ của ta. Những
kinh khác là để giảng cho người khác. Giống
như thầy thuốc chữa bệnh, người bệnh
nào đến, thầy sẽ bắt mạch rồi mới
kê toa. Người thứ hai đến, cùng một chứng
bệnh, thầy bắt mạch, kê toa, cho thuốc chẳng
giống, phân lượng có tăng giảm, há lẽ nào có
chuyện toa thuốc giống hệt nhau? Hai người mắc
bệnh giống hệt nhau, mà bệnh t́nh nặng như
nhau, chẳng thể nào có chuyện ấy! V́ sao? Thể chất
mỗi người khác nhau. Có người sức đề
kháng mạnh, có kẻ sức đề kháng yếu ớt.
Chúng ta phải hiểu rơ đạo lư ấy. Do vậy, đức
Phật chẳng có pháp nhất định để có thể
nói. Quư vị coi Phật pháp là pháp cố định, lẽ
nào Phật chẳng kêu oan uổng? “Y văn giải nghĩa, tam thế Phật oan” (Dựa
theo kinh văn để hiểu nghĩa, ba đời
chư Phật bị oan uổng), ba đời chư Phật
đều kêu oan uổng, quư vị đă hiểu sai bét ư
nghĩa của ta! Phật, Bồ Tát thuyết pháp c̣n
như thế, chúng ta thuyết pháp bị người khác hiểu
oan uổng càng nhiều hơn! Phải hiểu t́nh h́nh này,
phải hiểu căn cứ thuyết pháp này.
Quyền
Trí là Phương Tiện Trí, là phương tiện thiện
xảo. Thật Trí là trí huệ chân thật. Nói đơn
giản, Thật Trí là tâm thanh tịnh, Quyền Trí là tác dụng
phát khởi bởi cái tâm thanh tịnh. Giảng kinh, thuyết
pháp, các thứ thị hiện đều nhằm giúp
người khác khai ngộ, các phương pháp và
phương cách ấy đều gọi là Quyền Trí. Do
đâu mà có Quyền Trí? Do Thật Trí mà có. “Như Lai dĩ Quyền Thật nhị trí, chứng
Chân Tục nhị đế chi lư” (Như Lai dùng Quyền
Trí và Thật Trí để chứng lư Chân Đế và Tục
Đế). “Chân” là Thật
Tướng, tức là chân tướng của hết thảy
các pháp. Thật Tướng c̣n gọi là Chân Như Bản Tánh,
Pháp Giới, hoặc Đệ Nhất Nghĩa Đế,
có đến mấy chục loại danh từ, nhưng
đều là nói về cùng một chuyện. Tục Đế
là nói theo hiện tượng, là h́nh thái ư thức của hết
thảy chúng sanh. Lục căn của họ tiếp xúc cảnh
giới bên ngoài, tư tưởng, kiến giải, việc
làm đều là Tục Đế, chẳng có ǵ đức
Phật không biết, thảy đều hiểu rơ ràng, minh
bạch. Căn cứ để đức Phật thuyết
pháp là chân tướng do chính Ngài đă thấy và căn cứ
trên tất cả những cảm nhận sai lầm của
đại chúng. Đức Phật thuyết pháp nhằm mục
đích phá trừ cảm nhận sai lầm của quư vị,
giúp quư vị nhận biết Thật Tướng. Nhận
biết Thật Tướng được gọi là khai
ngộ, phá mê, khai ngộ.
Đă
mê bèn khổ! Đau khổ, hễ ngộ bèn vui, quư vị
chẳng thấu hiểu niềm vui do ngộ, v́ sao? V́ quư vị
chưa hề khai ngộ, chẳng biết niềm vui
sướng do ngộ. “Mê” là
trong tâm quư vị có vọng tưởng, có chấp trước,
có phân biệt, có phiền năo, có ưu lự, có vướng
mắc, làm sao quư vị vui sướng cho được?
Dẫu quư vị có vui, vui ấy là giả, chẳng thật.
Người đă ngộ, chẳng mê, không chấp trước,
chẳng phân biệt, chẳng có ưu lự, vướng
mắc, phiền năo. Mê hay ngộ sai biệt ở ngay chỗ
này. Sau khi nghe kinh c̣n có cả đống vấn đề
muốn hỏi, chắc chắn là người ấy
chưa khai ngộ. Hễ ngộ, sẽ chẳng có thắc
mắc. Trước kia, thầy Lư giảng kinh, thuyết
pháp, nghe chẳng hiểu th́ thôi! Có hỏi, thầy cũng
chẳng nói. Nói một lần, chẳng nhắc lại nữa,
chẳng hiểu th́ cứ là chẳng hiểu, phương
pháp này rất hay! Lần sau, quư vị muốn nghe hiểu
th́ phải chú ư nghe. Hễ nghe mà bỏ sót th́ chắc chắn
là thầy chẳng lặp lại lần thứ hai. Đấy
là phương cách thầy Lư sử dụng trong cả một
đời giảng kinh dạy học, đúng là đă giảm
bớt rất nhiều việc.
“Phàm thuyết pháp thời bất
ly Nhị Đế” (Phàm là lúc thuyết pháp bèn chẳng
ĺa Nhị Đế). Suốt một đời, đức
Phật thuyết pháp bốn mươi chín năm chẳng
ĺa khỏi nguyên lư và nguyên tắc này. Nói theo kiến giải
và thường thức của đại chúng, sẽ có Sự.
V́ sao? Những điều ấy đều là do mọi
người phân biệt, chấp trước, cho rằng
nhất định là có, nhất định tồn tại,
đức Phật bèn nói thuận theo quư vị, Phật hoàn
toàn chẳng phản bác. Hễ phản bác, chắc chắn
là quư vị chẳng thừa nhận. Lũ phàm phu chúng ta nói
“đây là ngă”, đức Phật nói “vô ngă”, hai điều ấy
chẳng thể nào không mâu thuẫn! Có lúc, đức Phật
thuyết pháp thuận theo tri kiến của chúng sanh, cách thuyết
pháp ấy được gọi là “bất liễu nghĩa”. Thuyết pháp [theo kiểu]
“bất liễu nghĩa” rất nhiều! Trong Tứ Y Pháp,
đức Phật đă dạy chúng ta: “Y liễu nghĩa, bất y bất liễu nghĩa”.
V́ sao đức Phật phải nói [các pháp] bất liễu
nghĩa? Nói bất liễu nghĩa, quư vị mới hiểu;
nói pháp liễu nghĩa, quư vị chẳng thể tiếp nhận.
Càng liễu nghĩa, tŕnh độ càng cao; càng là bất liễu
nghĩa, tŕnh độ càng thấp. Nếu nói theo Ngũ Thừa
Phật pháp: Nhân Thừa là bất liễu nghĩa nhất.
So với nhân th́ thiên được coi là liễu nghĩa. Nếu
so sánh giữa thiên và Thanh Văn th́ thiên là bất liễu
nghĩa, Thanh Văn là liễu nghĩa. So sánh giữa Thanh
Văn và Duyên Giác, Thanh Văn là bất liễu nghĩa, Duyên
Giác là liễu nghĩa. So sánh giữa Duyên Giác và Bồ Tát, Bồ
Tát là liễu nghĩa, Duyên Giác là bất liễu nghĩa. So
sánh giữa Bồ Tát và Phật, Phật là liễu nghĩa,
Bồ Tát là bất liễu nghĩa. Đức Phật dạy
chúng ta “y liễu nghĩa, bất
y bất liễu nghĩa”, hy vọng chúng ta sẽ dần
dần nâng cao tŕnh độ, đừng giữ măi tầng
cấp “bất liễu nghĩa”. Đức Phật mong mỏi
chúng ta sẽ tinh tấn, sẽ tiến bộ thuần nhất,
Ngài chẳng tán thành quư vị giữ chặt giai đoạn
hiện tiền, phải là hằng ngày đều cầu tiến
bộ.
“Y Chân Đế thuyết pháp cố
hữu Lư” (Nương theo Chân Đế để thuyết
pháp nên có Lư). Lư là căn do của sự tướng. V́ sao
có Sự? V́ sao có hiện tượng ấy? Nói chung là có
đạo lư. Nói thật ra, nh́n theo Sự dễ dàng, xét
theo Lư, khó khăn! Chúng ta mỗi ngày mặc quần áo,
ăn uống, đó là Sự, mọi người quen thói
coi là chuyện thường. Nếu quư vị nghiên cứu
v́ sao phải ăn uống, rất có thể là [sẽ nhận
thấy] Lư ấy phiền phức to lớn. Nói thế nào
cũng chỉ sợ chẳng nói rơ được! Diện
mạo của con người rất thanh tú, ngũ quan rất
đoan chánh, nếu quư vị hỏi: “V́ sao có hai mắt? V́
sao có một cái miệng? V́ sao không mọc ra hai cái miệng?
Chẳng mọc bốn mắt?” Chuyện này bèn trở
thành phiền phức, đạo lư rất sâu, đều
có Lư trong ấy. Thông đạt lư luận, những vấn
đề nơi Sự đều được giải
quyết. Thông đạt Sự, lư luận cũng minh bạch.
Lư và Sự giúp nhau hoàn thành. Nghiên cứu khoa học cũng
giống như vậy, thường thường là phát hiện
dựa trên lư luận, tuân theo lư luận để t́m ṭi, kết
quả là có sự vật được phát minh. Quá nửa
phát minh khoa học kỹ thuật hiện thời là do trước
hết đă phát hiện theo lư luận, sau đó mới căn
cứ trên lư luận ấy để t́m ra phát minh khoa học,
kỹ thuật mới. Phật pháp cũng là như thế;
v́ vậy, mỗi chữ, mỗi câu đều có Sự và
Lư.
“Sở y chi Đế” (Đế
lư để nương vào), Đế (諦, Satyāni) là chân lư. “Đế” có nghĩa là chân thật, tuyệt
đối chẳng phải là hư vọng. “Chân Tục bất nhị”
(Chân Đế và Tục Đế chẳng hai). Lư là bản
thể của sự tướng, sự tướng là sự
tướng của Lư, là sự tướng của bản
thể. Thể, Tướng, Dụng là cùng một chuyện,
tuy một mà ba, tuy ba mà một. Chân và Tục chẳng hai,
như vậy mới là pháp nào cũng viên dung, chuyện ǵ
cũng vô ngại. Kinh Hoa Nghiêm nói “Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại”. Dựa
theo đạo lư ấy mà nói. Theo Lư là như thế, mà theo
Sự cũng là như thế. Nơi Sự cũng là vô ngại.
V́ sao hiện thời chúng ta bị trở ngại nơi Sự?
Sự trở ngại ấy là do dấy lên mê chấp, do quư
vị có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước.
Vốn chẳng có chướng ngại mà biến thành
chướng ngại tầng tầng. Khuyết điểm
nẩy sanh từ chỗ này. Đến khi nào mới thật
sự nhập vô chướng ngại, sống đại
tự tại? Kinh Hoa Nghiêm có nói: Từ Sơ Trụ trong
Viên Giáo trở lên, đă đoạn Kiến Tư phiền
năo, Trần Sa phiền năo đă đoạn, cũng phá một
phẩm vô minh, bèn nhập vô chướng ngại pháp giới.
Tựa đề của kinh Tứ Thập Hoa Nghiêm là Nhập
Bất Tư Nghị Giải Thoát Cảnh Giới, cảnh
giới giải thoát chẳng thể nghĩ bàn. Giải
thoát là thật sự tự do tự tại, nhập cảnh
giới ấy. Chẳng phá vô minh, sẽ chẳng thể tiến
nhập được, luôn bị chướng ngại. Phương
pháp [được sử dụng] trong pháp môn Niệm Phật
thật sự xảo diệu tột bậc, dùng một
câu Phật hiệu để khiến cho chúng ta đạt
tới cảnh giới ấy. Tây Phương Cực Lạc
thế giới là cảnh giới giải thoát viên măn rốt
ráo chẳng thể nghĩ bàn, các đồng tu chúng ta chớ
nên hoài nghi, v́ kinh Vô Lượng Thọ đă dạy rất
rơ ràng: “Giai tu Phổ Hiền
đại sĩ chi đức” (Đều tu phẩm
đức của Phổ Hiền đại sĩ). Đức
của Phổ Hiền đại sĩ là “pháp giới vô
chướng ngại”; tựa đề của kinh [Tứ
Thập Hoa Nghiêm] là Nhập Bất Tư Nghị Giải Thoát
Cảnh Giới. Tây Phương Cực Lạc thế giới
là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn. Đấy
chính là nói: “Nhất tự, nhất
ngữ, Sự Lư song bị” (Từng chữ, từng lời
đều trọn đủ Sự lẫn Lư).
(Sớ)
Như Đại Bổn vân “nhất tâm hệ niệm”,
chánh sở vị nhất tâm bất loạn dă, nhi Sự Lư
các biệt. Sơ, Sự nhất tâm giả, như tiền
ức niệm, niệm niệm tương tục, vô hữu
nhị niệm, Tín Lực thành tựu, danh Sự nhất
tâm, thuộc Định môn nhiếp, vị hữu huệ
cố.
(疏)如大本云:一心繫念,正所謂一心不亂也。而事理各別,初事一心者,如前憶念,念念相續,無有二念,信力成就,名事一心。屬定門攝,未有慧故。
(Sớ: “Nhất tâm hệ
niệm” như được nói trong kinh Đại Bổn
chính là “nhất tâm bất loạn” [được nói trong
kinh này], nhưng [nhất tâm] có Sự và Lư khác biệt.
Trước hết, [luận về] Sự
nhất tâm: Như đối với sự ức niệm
đă nói trong phần trước, niệm niệm liên tục,
chẳng có hai niệm, Tín Lực thành tựu, gọi là Sự
nhất tâm, thuộc về Định môn, do chưa có huệ).
Giải
thích tướng mạo của Sự nhất tâm. Kinh Vô
Lượng Thọ nói là “nhất
tâm hệ niệm”, dễ hiểu hơn điều
được nói trong kinh này, kinh này nói là “nhất tâm bất loạn”. Trong bản tiếng
Phạn của kinh A Di Đà cũng ghi là “nhất tâm hệ niệm”, chẳng phải là “nhất tâm bất loạn”. “Nhất
tâm bất loạn” là do Cưu Ma La Thập đại
sư dịch ư, chẳng phải là “trực dịch”, [mà
là] dịch theo ư nghĩa, chẳng phải là dịch theo mặt
chữ. Bản dịch của Huyền Trang đại
sư là trực dịch, [nghĩa là] văn tự ghi
như thế nào, Ngài bèn dịch như thế đó.
Đây là hai phương thức dịch thuật khác biệt.
Bản dịch của Huyền Trang đại sư ghi là “nhất tâm hệ niệm”. “Hệ
niệm” (繫念) là vương vấn,
nhất tâm nhất ư vương vấn điều ǵ?
Vương vấn A Di Đà Phật, những thứ khác
đều chẳng bận tâm tới, thảy đều buông
xuống. Từ nay trở đi, nhất tâm chỉ nghĩ
niệm A Di Đà Phật. Nghe như vậy, [sẽ cảm
thấy] dễ hiểu và dễ học hơn nhiều.
Đấy chính là ư nghĩa “nhất
tâm bất loạn” được chép trong kinh Tiểu Bổn.
Có thể thấy là kinh Đại Bổn nói “nhất tâm hệ niệm” th́
ư nghĩa xác thực của “hệ
niệm” là “nhất tâm bất
loạn”. La Thập đại sư dùng cách dịch ư,
[v́ thế, lời Sớ mới ghi]: “Chánh sở vị nhất tâm bất loạn dă” (Chính
là nói tới nhất tâm bất loạn). Phạm vi của
nhất tâm bất loạn rất rộng, rốt cuộc,
nhất tâm là ǵ? Bất loạn là ǵ? Trong ấy, có rất
nhiều tiêu chuẩn. Nếu chẳng có lắm tiêu chuẩn
ngần ấy, Tịnh Độ Tây Phương Cực Lạc
thế giới chẳng thể có bốn cơi, ba bậc, chín
phẩm. Bốn cơi, ba bậc, chín phẩm đều là nhất
tâm bất loạn. Văng sanh cơi Phàm Thánh Đồng Cư
cũng là nhất tâm bất loạn. Thượng thượng
phẩm văng sanh trong cơi Thật Báo vẫn là nhất tâm bất
loạn. Danh xưng giống nhau, nhưng tŕnh độ
trong ấy khác nhau, có cạn hay sâu khác biệt. Ngẫu Ích
đại sư bảo điều này là do công phu cạn
hay sâu, tức là công phu nhất tâm hệ niệm, công phu nhất
tâm bất loạn.
Trong
ấy có Sự và Lư, đó là sự sai khác to lớn. Có sự
sai khác to lớn v́ có Sự và Lư. Hiện thời, trước
hết bèn nói rơ Sự nhất tâm là ǵ. Sự nhất tâm chú
trọng nơi sự tướng, dễ hiểu! Nói cách
khác, đó là kiến thức thông thường, tư tưởng
và kiến giải của bọn phàm phu chúng ta có thể
đạt tới, đức Phật nói [những chuyện
ấy] chúng ta rất dễ tiếp nhận. “Lư” là cảnh giới của Như
Lai, chúng ta chẳng thấy, chẳng dễ tin tưởng
cho lắm, khá khó tiếp nhận!
Sự nhất tâm
sẽ được nói như thế nào? [Nói] từ cạn
đến sâu. Trước hết, nói theo mức độ
nông cạn nhất. “Như tiền
ức niệm” [nghĩa là] như trong phần trước
đă nói về ức niệm. “Ức”
(憶) là tưởng, “niệm
niệm tương tục, vô hữu nhị niệm”
(niệm niệm nối tiếp, chẳng có hai niệm),
như thế th́ mới được. Niệm này nối
tiếp niệm kia, chẳng thể gián đoạn. Hễ
gián đoạn, sẽ c̣n có vọng tưởng xen tạp
vào đó. Khi đoạn, cũng chẳng dấy vọng
tưởng; [thế nhưng] không dấy vọng tưởng
th́ vô minh xen lẫn trong đó. Vô minh và vọng tưởng đều là đại chướng ngại.
Do vậy có thể biết: Điều khẩn yếu
trong câu Phật hiệu là niệm nào cũng đều
chẳng gián đoạn. Sau khi đă đoạn, nếu chẳng
phải là vọng tưởng th́ nhất định là vô
minh, hai thứ ấy đều là đại chướng
ngại cho tâm tánh. Sở dĩ phàm phu chẳng thể minh
tâm kiến tánh là do hai đại chướng ngại ấy.
Vọng tưởng thuộc về Sở Tri Chướng,
vô minh thuộc về Phiền Năo Chướng. Thật ra,
hai thứ ấy có thể dùng lẫn cho nhau, cũng có thể
nói vọng tưởng là Phiền Năo Chướng, vô minh
là Sở Tri Chướng. Ư nghĩa gốc của vô minh là
“chẳng hiểu rơ hết thảy vạn sự vạn
pháp”. Đó là vô minh, rất khó hiểu!
Đă
từng có một người giảng kinh, khi giảng
kinh, thính chúng hỏi người ấy “vô minh là ǵ”, người
ấy trích dẫn cả đống kinh điển. Kết
quả là người nghe vẫn chẳng hiểu ǵ hết! Pháp sư Diễn Bồi đă kể một
công án: Thuở xưa, có một vị Tể Tướng.
Nhằm lúc vị pháp sư đang niệm kinh, ông ta bèn thỉnh
giáo: “Vô minh là ǵ?” Vị pháp sư ấy chẳng đếm
xỉa tới ông ta, cứ tiếp tục niệm. Hỏi
hai ba câu vẫn chẳng đoái hoài, kết quả là ông ta
nổi cáu: “Ngươi phách lối quá đi!”
Pháp sư ngó lại: “Đó gọi là vô minh”. Ông ta bèn lập
tức đảnh lễ, đă biết vô minh là ǵ. Pháp
sư đă thật sự dạy ông ta thấu hiểu ư
nghĩa ấy. Ông ta có thật sự thấu hiểu hay
không? Ông ta lănh hội “vô minh” là “lửa vô minh”, nói thật
ra, vẫn chưa hiểu rơ ràng! Tôi bổ sung một câu: “Chẳng
hiểu rơ th́ chính là vô minh. Nghe xong bèn hiểu rơ, chứ nghe
mà chẳng hiểu rơ th́ là vô minh”. Tôi nói cả buổi, quư
vị nghe chẳng hiểu, đó là vô minh. “Minh” (明) là hiểu rơ, thông đạt
hết thảy vạn sự, vạn pháp, quá khứ, hiện
tại, vị lai. Quư vị chẳng có năng lực ấy
th́ chính là vô minh.
Chẳng
phải vô minh bèn là vọng tưởng, điều này rất
phiền phức. Phá trừ vô minh, vọng tưởng bằng
cách nào? Phật hiệu mầu nhiệm lắm! Đại
Thế Chí Viên Thông Chương có nói “tịnh niệm tương kế” (tịnh niệm
tiếp nối); quư vị chỉ cần làm được
bốn chữ ấy, công phu niệm Phật sẽ đắc
lực. “Tịnh niệm”: Tịnh
(淨) là thanh tịnh. Trong tâm quư vị hoài nghi, tâm chẳng
thanh tịnh. Niệm ấy chẳng gọi là “tịnh niệm”.
Quư vị c̣n suy nghĩ loạn cào cào, c̣n có xen tạp, tâm sẽ
chẳng thanh tịnh, niệm ấy chẳng phải là tịnh
niệm. “Tịnh niệm” (淨念) là chẳng hoài
nghi, không xen tạp, “tương
kế” (相繼) là chẳng ngừng.
Chúng tôi thường nói, nói rất minh bạch: “Chẳng hoài nghi, không xen tạp,
không gián đoạn”. Đối với chín chữ ấy,
kinh Lăng Nghiêm chỉ dùng bốn chữ “tịnh niệm tương kế”. Niệm Phật
như vậy, công phu đắc lực, niệm Phật như
vậy sẽ là tương ứng.
“Vô hữu nhị niệm, Tín Lực
thành tựu, danh Sự nhất tâm” (Chẳng có hai niệm,
Tín Lực thành tựu, gọi là Sự nhất tâm). Liên Tŕ
đại sư nói câu này hay quá. Đấy mới
được coi là tin tưởng, ngưỡng mộ Tịnh
Tông, mới được coi là tin tưởng A Di Đà Phật.
Chúng ta có tin hay không? Chúng ta chẳng tin! Hằng ngày niệm
Phật phát nguyện cầu văng sanh, [thế mà] hằng
ngày làm kẻ đối đầu với A Di Đà Phật,
làm kẻ oan gia của tổ sư đại đức.
V́ sao? Xen tạp, hoài nghi, gián đoạn, đó là làm kẻ
oan gia, làm kẻ đối đầu, chẳng tin tưởng
mà! Chúng ta nói tới Tín Nguyện Hạnh, [chỉ là] Tín Nguyện
Hạnh ngoài miệng; trên thực tế, Tín Nguyện Hạnh
thảy đều chẳng có, làm sao có thể văng sanh cho
được? Thật sự văng sanh th́ phải kiến lập
từ chỗ này, “Tín Lực
thành tựu”. Đó mới là Sự nhất tâm. Sự nhất
tâm kiểu này chẳng cao, mà là Sự nhất tâm ở mức
độ tối thiểu, cũng là điều kiện để
hạ hạ phẩm văng sanh trong cơi Phàm Thánh Đồng
Cư. Có điều kiện này là được, sẽ văng
sanh.
Điều
này thoạt nh́n khó lắm, chẳng dễ dàng! Đúng thế!
Nếu dễ dàng, há chẳng phải là người niệm
Phật thảy đều văng sanh ư? Thầy Lư thường
nói: “Trong một vạn người
niệm Phật, chỉ có dăm ba kẻ văng sanh”, quư vị
biết nguyên nhân là do chỗ này. Nói thật ra, dăm ba
người văng sanh đó, đúng là người thật thà.
Quư vị chửi, đánh, nhục mạ họ, họ cũng
không biết. Thậm chí, quư vị ở bên cạnh chửi
họ cả buổi, họ chẳng biết quư vị
đang chửi ai. Họ ở đó niệm “A Di Đà Phật, A Di Đà Phật”.
Họ có thể văng sanh, v́ sao? Họ có thể chuyên nhất,
chẳng hai!
(Diễn)
Tín Lực thành tựu giả, Sự nhất tâm nhân, bất
tu Lư Quán.
(演)信力成就者,事一心人,不修理觀。
(Diễn: Tín Lực
thành tựu là người đắc Sự nhất tâm chẳng
tu Lư Quán).
Lư
luận của pháp môn này quá sâu, quá mầu nhiệm, kẻ
b́nh phàm chẳng thể lư giải! Chẳng hiểu [vẫn]
không sao cả, vẫn có thể văng sanh y hệt! Thực hiện
từ phương diện sự tướng là được
rồi! V́ thế, pháp môn này chẳng thể nghĩ bàn.
(Diễn)
Duy bằng Tín Lực.
(演)唯憑信力。
(Diễn:
Chỉ cậy vào Tín Lực).
Người
ấy tin tưởng! Hai câu khai thị cốt lơi của
kinh Di Đà là “nhất tâm bất
loạn, tâm chẳng điên đảo”. Hai câu này khẩn
yếu! Dùng phương pháp ǵ để đạt
được? “Chấp tŕ
danh hiệu”. Ba câu gồm mười hai chữ đă
nói trọn hết cả bộ kinh Di Đà, toàn thể pháp
môn Tịnh Tông cũng được nói trọn hết.
Không chỉ là nói trọn hết toàn thể pháp môn Tịnh
Tông, mà hết thảy kinh giáo và hết thảy các pháp môn do
Thích Ca Mâu Ni Phật đă giảng trong bốn mươi
chín năm cũng đều được nói trọn, mới
biết lời khai thị đại từ đại bi
phổ độ chúng sanh tinh yếu nhất của chư
Phật chính là ba câu này. Nếu quư vị thật sự nắm
vững ba câu này, chẳng có lẽ nào không văng sanh! Có thể
nhất tâm thọ tŕ, từ Sự nhất tâm sẽ tự
nhiên niệm đạt đến Lư nhất tâm. Bởi lẽ,
do Sự nhất tâm có thể đắc Định. Sau khi
đă đắc Định bèn khai ngộ, hễ ngộ
bèn nhập Lư nhất tâm, chẳng khác ǵ đại triệt
đại ngộ, minh tâm kiến tánh của Thiền Tông. “Duy bằng Tín Lực” (Chỉ
cậy vào Tín Lực)! Do đó, chúng ta phải tin tưởng.
Người nào thật sự tin tưởng? Từ nay trở
đi, chẳng c̣n có thị phi, nhân ngă; chẳng c̣n có vọng
tưởng, chấp trước, người ấy đă
tin tưởng. Hễ c̣n suy nghĩ lung tung, c̣n có thị
phi, nhân ngă, người ấy vẫn chẳng tin. Kẻ
không tin đông đảo, người tin tưởng ít ỏi.
Trong một vạn người, thật sự có dăm ba
người tin tưởng, đại đa số là người
nghe kinh bất quá chỉ gieo một tí thiện căn mà
thôi. Do vậy có thể biết: Tín Căn kiến lập,
xác thực là như kinh Đại Bổn đă nói rất
tỉ mỉ, người ấy từ vô lượng kiếp
đến nay đă hành Bồ Tát đạo, cúng dường
vô lượng vô biên chư Phật Như Lai, nay được
mười phương chư Phật gia tŕ, tín tâm thành tựu,
chẳng phải là kẻ b́nh phàm.
(Diễn)
Như thủy thanh châu, năng thanh trược thủy.
(演)如水清珠,能清濁水。
(Diễn:
Như thủy thanh châu có thể lắng trong nước
đục).
Đây
là nói theo tỷ dụ, “thủy
thanh châu” là bảo châu. Nước đục ngầu,
dơ bẩn, sau khi bỏ hạt châu này vào, những chất
bẩn trong nước tự nhiên lắng xuống. Có loại
châu để lắng trong nước hay không? Có! Rất tầm
thường! Mua ngoài phố đều có. Nước
đục bẩn, chúng ta biết dùng phèn chua. Bỏ phèn
chua[3]
vào, nước tự nhiên lắng cặn, bèn trong trẻo.
Đấy chính là thủy thanh châu. Do vậy, thứ này hoàn
toàn chẳng phải là thần thông, kỳ quái chi cả! Do
nó phát sanh tác dụng phân giải hóa học khiến cho những
chất cặn trong nước lắng ch́m xuống
đáy, nước khôi phục sự thanh tịnh.
(Diễn)
Cổ vân: Thanh châu đầu ư trược thủy, trược
thủy bất đắc bất thanh.
(演)古云:清珠投於濁水,濁水不得不清。
(Diễn:
Cổ nhân nói: “Thanh châu gieo vào nước đục, nước
đục chẳng thể không trong”).
Câu
này là tỷ dụ, kế đó là chánh thuyết (nói đến
vấn đề chánh yếu, nói thẳng vào vấn đề).
(Diễn)
Phật niệm đầu ư tán tâm, tán tâm bất đắc
bất nhất.
(演)佛念投於散心,散心不得不一。
(Diễn:
Niệm Phật hiệu gieo vào tâm tán loạn, tâm tán loạn
chẳng thể không chuyên nhất).
Người
ấy tự nhiên có thể niệm đến mức nhất
tâm, chỉ sợ quư vị chẳng niệm. Có người
mới niệm Phật nói với tôi: “Khi tôi không niệm Phật,
tâm rất thanh tịnh, chẳng có vọng niệm. Càng niệm
Phật, vọng niệm càng nhiều, chớ nên niệm Phật!”
T́nh h́nh có phải là như vậy hay chăng? Đúng vậy!
Không chỉ người ấy như thế, mà rất nhiều
người cũng như thế. Đây là chuyện
như thế nào? Nói thật ra, b́nh thường người
ấy có lắm vọng niệm dường ấy,
nhưng chẳng phát hiện, chẳng hay biết, cứ ngỡ
chính ḿnh chẳng có vọng niệm! Nay vừa niệm Phật,
mong thu hồi cái tâm, mới phát hiện có lắm vọng
niệm như thế. Phát hiện [chính ḿnh có nhiều vọng
niệm] là chuyện tốt, chẳng phải là chuyện xấu.
Sau khi đă phát hiện, dùng phương pháp ǵ để đối
trị? Dùng một câu Phật hiệu để đối
trị. Trong phương pháp niệm Phật, dẫu vọng
niệm nhiều cách mấy, chẳng cần quan tâm đến
chúng. Vọng niệm và Phật hiệu đồng thời
dấy lên chẳng sao hết, quư vị dốc sức chú ư
nơi Phật hiệu, mặc kệ vọng niệm, tự
nhiên Phật hiệu ngưng tụ, có sức mạnh, vọng
niệm tự nhiên sẽ giảm ít. Ngàn muôn phần đừng
quan tâm vọng niệm: “Ta có lắm vọng niệm dường
ấy”. Càng nghĩ, sẽ càng nhiều, phiền toái to lớn,
vĩnh viễn cũng chẳng có cách nào đoạn hết.
Phương pháp tốt nhất là chẳng nghĩ tới. Điều
này thuộc về pháp môn sám hối, pháp môn sám trừ nghiệp
chướng. Chính ḿnh có nghiệp chướng, có tội
nghiệp, chớ nên nghĩ tới chúng, v́ quư vị
nghĩ tới nó một lần sẽ giống như lại
tạo một lần nữa. Nghĩ hai lần lại tạo
hai lần. Chỉ sợ nghiệp chướng vẫn
chưa đủ nhiều! Đó là ngu si!
Người
thật sự giác ngộ từ nay trở đi chẳng
nghĩ đến tất cả hết thảy lầm lỗi,
hăy tưởng A Di Đà Phật. Từ nay trở đi, ta
đổi thành tưởng A Di Đà Phật, nghiệp
chướng sẽ tiêu trừ. Mọi người phải
hiểu rơ đạo lư này. Đó là thật sự tiêu trừ
nghiệp chướng. Từ nay trở đi, vọng niệm
ǵ cũng đều chẳng có. Như thế th́ công phu do
niệm câu Phật hiệu của quư vị mới có sức
mạnh chế phục phiền năo, tới cuối cùng là
đoạn hết phiền năo. “Phật
niệm đầu ư tán tâm, tán tâm bất đắc bất
nhất” (Phật niệm gieo vào cái tâm tán loạn, tâm tán
loạn chẳng thể không chuyên nhất), thật sự có
thể đạt đến nhất tâm. Nhất tâm là khôi
phục tâm địa thanh tịnh, vọng niệm tự
nhiên ít đi. Vọng niệm ít tức là công phu của chính
ḿnh đắc lực, công phu niệm Phật của chính
ḿnh có tiến bộ. Từ chỗ này, cảm nhận rất
rơ công phu của ta có tiến bộ hay không? Niệm kinh
cũng giống như vậy, mục đích không ǵ chẳng
nhằm niệm cho hết sạch vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước. Có người bắt đầu
niệm Phật, vọng niệm quá nhiều, đổi
thành niệm kinh bèn tốt đẹp hơn một chút.
Đấy cũng là một biện pháp. Chẳng cầu hiểu
nghĩa mà niệm kinh. Nói cách khác, thảy đều nhằm
đạt đến mục tiêu “nhất tâm bất loạn”.
Niệm kinh hay niệm Phật đều là biện pháp, là
phương pháp.
(Diễn)
Thuộc Định môn nhiếp giả.
(演)屬定門攝者。
(Diễn:
Thuộc vào Định môn).
Đă
thành tựu th́ đều gọi là Niệm Phật tam-muội.
Tam-muội thuộc về Định.
(Diễn)
Định hữu thế xuất thế, dữ Đại
Tiểu Thừa, cập Sự Lư chư Thiền Định
bất đồng.
(演)定有世出世,與大小乘,及事理諸禪定不同。
(Diễn:
Định có thế gian và xuất thế gian, và có các loại
Thiền Định Đại Thừa, Tiểu Thừa, Sự,
Lư khác nhau).
Trong
Phật pháp, nói đến Định th́ có thế gian Thiền
Định và xuất thế gian Thiền Định. Tứ
Thiền Bát Định thuộc loại thế gian Thiền
Định, cũng khá khó khăn! Người tu Thiền
Định hiện thời công phu đạt đến cảnh
giới ǵ chúng ta chẳng biết! Bản thân chúng ta có thể
tu tập [Thiền Định] hay không? Chính ḿnh phải rất
lắng ḷng suy nghĩ: Ngũ dục, lục trần, tài, sắc,
danh vọng, ăn uống, ngủ nghê bày ra trước mắt
chúng ta, có c̣n động niệm hay chăng? Nếu động
niệm, tức là quư vị c̣n có dục, chưa đoạn
dục! Chẳng đoạn dục, sẽ thuộc vào
trong Dục Giới, chẳng có phần nơi Sắc Giới
Thiên. Thấp nhất trong Sắc Giới Thiên là Sơ Thiền.
Nói cách khác, quư vị tu Sơ Thiền chẳng thành công! Tu Sơ
Thiền thành công, đoạn hết ngũ dục, lục
trần. Đoạn hết ngũ dục, như đă nói “tài, sắc, danh vọng, ăn uống,
ngủ nghê, là năm cội gốc của địa ngục”,
hễ có một điều, quư vị sẽ bị lôi lại,
huống hồ vẫn c̣n cả năm điều! Quư vị
có năng lực đoạn trừ hay chăng? Chẳng có
năng lực đoạn trừ, sẽ chẳng có tư
cách tu Thiền Định. Trước kia, nhà Thiền
độ người, thường là hễ có người
đến tham học, họ bảo người ấy hăy
quay về: “Ngươi chẳng có tư cách xuất gia, v́
sao? Trần duyên của ngươi chưa hết”. Nh́n từ
chỗ nào? Chưa đoạn trừ dục niệm! Chẳng
đoạn trừ dục niệm, chẳng có tư cách học
Thiền. Quư vị xuất gia học Thiền vô dụng,
suốt đời chẳng thể nào thành tựu. V́ thế,
[tốt hơn là] vẫn bảo quư vị hăy trở về
nhà đi. Chẳng thà ở trong xă hội, trong tương
lai làm quan, hoặc làm chuyện này nọ, làm một chút chuyện
tốt đẹp cho dân chúng để tu phước. Tu Định
chẳng thành, bèn tu phước, phải hiểu điều
này. V́ thế, tham Thiền chẳng dễ dàng, vờ
vĩnh ngồi đó, cũng được vậy, nhưng
ngồi đó mà đầu óc luôn suy nghĩ loạn cào cào,
vô dụng! Lừa kẻ khác th́ được, chứ chẳng
có cách nào lừa gạt chính ḿnh! Chúng ta phải hiểu điều
này.
“Dữ Đại Tiểu Thừa”
(và Đại Thừa, Tiểu Thừa). Tiểu Thừa
đạt đến Đệ Cửu Định, vượt
thoát tam giới, được gọi là Thiền Định
xuất thế gian. Kinh Lăng Nghiêm đă giảng rất rơ
ràng: A La Hán chứng Cửu Thứ Đệ Định, Định
thứ tám là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Thiên, Đệ
Cửu Định vượt trỗi, đă thoát khỏi tam giới. A La Hán và Bích Chi Phật đă chứng
đắc Cửu Thứ Đệ Định, đó là Thiền
Định xuất thế gian, nhưng các Ngài vẫn là Tiểu
Thừa. Đại Thừa Thiền Định càng nhiều
hơn, giống như Niệm Phật tam-muội trong pháp
môn Niệm Phật này. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật
giảng Thủ Lăng Nghiêm tam-muội, trong Hoa Nghiêm giảng
Sư Tử Phấn Tấn tam-muội; những [tam-muội]
ấy đều thuộc loại Đại Thừa.
“Cập Sự Lư chư Thiền
Định bất đồng” (Và các thứ Sự Thiền
Định và Lư Thiền Định khác nhau). Có loại là Sự
Định, có loại là Lư Định. Sự Định chú
trọng nơi sự tướng, Định thuộc về
Lư sẽ là “Sự Sự vô ngại”.
Trong kinh Hoa Nghiêm, trưởng giả Dục Hương tu
Thiền Định, tu Thiền Định Ba La Mật
trong Thập Ba La Mật, đến đâu để tu? Đến
nơi chợ búa để tu. Chợ búa là ǵ? Là công ty bách
hóa hoặc các chợ hiện thời, là nơi náo nhiệt
nhất. Ông ta hằng ngày la cà nơi đó, tu Thiền
Định. Trong hết thảy trần duyên, tâm địa
thanh tịnh, chẳng nhiễm mảy trần, đó là Định,
thượng thượng thừa Định. Ông ta tu [Thiền
Định] kiểu ấy chẳng phải là Sự, mà là Lư,
đó là chân Định. Thứ ǵ cũng thấy rơ ràng, rành
rẽ, đó là Huệ, là Định Huệ đẳng học
(Định và Huệ học cân bằng). Học ở chỗ
nào? Học nơi chợ búa, đó là đạo tràng của
ông ta. Hư viện (rạp hát) là đạo tràng, tiệm khiêu
vũ là đạo tràng, rất lỗi lạc! Nay chúng ta gọi
đạo tràng của rất nhiều vị thiện tri
thức trong kinh Hoa Nghiêm là “chỗ
vui chơi”, các Ngài tu Định tu Huệ nơi đó,
thành tựu Vô Lậu Học, thuộc về Lư Định.
(Diễn)
Nhi yếu chi Định giả vô tán chi vị.
(演)而要之定者無散之謂。
(Diễn: Điều
cốt yếu là Định có nghĩa là “chẳng tán loạn”).
Bất
luận là thế gian Định hay xuất thế gian Định,
Đại Thừa, Tiểu Thừa, Sự Định, hay
Lư Định, nói gọn một câu sẽ là “nhất tâm bất loạn”. Nhất
tâm bất loạn bao gồm trọn hết, tâm chẳng
tán loạn là Định.
(Diễn)
Kim niệm niệm tương tục, vô hữu nhị niệm.
(演)今念念相續,無有二念。
(Diễn: Nay niệm
niệm tiếp nối, chẳng có hai niệm).
Nay
chúng ta là người niệm Phật, A Di Đà Phật câu
này tiếp nối câu kia, từng câu một nối tiếp
nhau, chẳng gián đoạn, tuyệt đối chẳng
có một tạp niệm nào. Niệm Phật hiệu tinh
thuần, sẽ chẳng có niệm thứ hai xen vào.
(Diễn) Tắc
tâm bất tán loạn, cố thuộc Định nhiếp.
(演)則心不散亂,故屬定攝。
(Diễn: Do tâm chẳng
tán loạn nên thuộc về Định).
Công
phu niệm Phật đến mức này được gọi
là “công phu thành phiến”. Công
phu thành phiến là mức thấp nhất của Sự nhất
tâm bất loạn. Có thành tích như vậy, văng sanh cơi Phàm
Thánh Đồng Cư nhất định là nắm chắc.
Phẩm vị trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư cao hay thấp
tùy thuộc công phu định lực của quư vị sâu
hay cạn. Phẩm vị sâu, công phu cao; phẩm vị thấp,
công phu kém hơn.
(Diễn)
Nhiên bỉ thể cứu vô gián, chí như tĩnh dạ
chung thanh, trừng đàm nguyệt ảnh.
(演)然彼體究無間,至如靜夜鐘聲,澄潭月影。
(Diễn: Nhưng
người ấy thấu hiểu, tham cứu chẳng
gián đoạn đến mức như tiếng chuông trong
đêm vắng, bóng trăng in nơi mặt đầm trong
lặng).
Mấy
câu này nhằm h́nh dung cảnh giới nơi tâm địa
của người ấy. Tâm người ấy thanh tịnh
bất loạn, công phu miên mật, thấu hiểu, thể
cứu chẳng gián đoạn. Thiền Tông gọi “thể cứu” là “tham cứu”, chẳng rơi
vào tâm ư thức. Phật hiệu câu nọ nối tiếp
câu kia, trong tâm chẳng có phân biệt, chấp trước,
vọng tưởng. Phân biệt là thức thứ sáu, tức
ư thức, chấp trước là thức thứ bảy, vọng
tưởng là thức thứ tám. Chẳng dùng tâm ư thức
để thể cứu, chẳng gián đoạn. Cảnh
giới nơi tâm địa của người ấy giống
như “tĩnh dạ chung thanh”,
[ư nói] v́ [trong tâm] người ấy có Phật hiệu, Phật
hiệu rành rẽ, minh bạch, giống như lúc trời
đêm rất an tĩnh mà thỉnh chuông, âm thanh niệm Phật
giống như tiếng chuông, tâm địa an tĩnh
dường ấy. Lại giống như “trừng đàm nguyệt ảnh”, “trừng đàm” (澄潭: cái đầm
trong lặng) ví như cái tâm thanh tịnh, bóng trăng ví
như Phật hiệu. Phật hiệu rành mạch, rơ ràng.
Đó là cảnh giới Sự nhất tâm bất loạn,
lẽ nào người ấy chẳng vui sướng? Thật
sự vui sướng!
(Diễn) Nhược vị đắc lănh hôi đậu
bộc, họa địa nhất thanh, diệc thuộc Định nhiếp,
diệc tức thị Sự nhất tâm.
(演)若未得冷灰豆爆,㘞地一聲,亦屬定攝,亦即是事一心。
(Diễn: Nếu
chưa đạt đến mức “đậu nổ
trong tro lạnh, hộc lên một tiếng” th́ cũng thuộc
về Định, đó là Sự nhất tâm).
“Tĩnh dạ chung thanh, trừng
đàm nguyệt ảnh” như đă nói trong phần
trước chính là công phu thành phiến. Công phu vừa mới
thành phiến cũng là hạ hạ phẩm Sự nhất
tâm bất loạn. Nếu người ấy không ngừng
nâng cao công phu, tăng cao tới mức Kiến Tư phiền
năo đều đoạn hết, sẽ là thượng
thượng phẩm Sự nhất tâm bất loạn, công
phu bằng với cảnh giới của A La Hán và Bích Chi Phật,
nhưng chưa khai ngộ, chưa kiến tánh. “Lănh hôi đậu bộc” (Đậu
nổ trong tro lạnh) là tỷ dụ kiến tánh. Đậu
vùi trong tro nóng mới có thể nổ. Nổ trong tro nóng th́
chẳng có ǵ lạ lùng, nổ trong tro lạnh mới là lạ.
Câu “lặc địa nhất
thanh” h́nh dung sự hoát nhiên khai ngộ (Chú thích: Chữ Lặc
là bên trong chữ Vi (囗) có chữ Lực
(力), âm đọc là Hụ (Họa), chính là âm thanh phát ra khi kéo
thuyền, hoặc âm thanh phát ra khi phải dùng sức, hoặc
âm thanh phát ra khi đột nhiên t́m được vật
đă mất. Trong sách vở nhà Thiền, chữ này
được dùng để biểu thị âm thanh do vị
tăng tu Thiền bất giác phát ra lúc đốn
nhiên đại ngộ, mang ư nghĩa trông thấy vật bị
mất, vui sướng khôn ngằn. “Lặc địa nhất thanh” là từ ngữ Thiền Tông thường
dùng để biểu thị sự đại triệt
đại ngộ). “Vị
đắc” (未得) nghĩa là
người ấy chưa đạt đến tŕnh độ
ấy. Chưa đạt đến tŕnh độ ấy
th́ vẫn là Sự nhất tâm, là thượng thượng
phẩm Sự nhất tâm. Nếu đă đạt đến
tŕnh độ ấy, bèn gọi là Lư nhất tâm, chẳng
phải là Sự nhất tâm, đă kiến tánh. Do vậy,
đă tịnh, tịnh đến cùng cực, nhưng c̣n
chưa thông đạt. Kinh Lăng Nghiêm nói là “tịnh cực quang thông đạt”.
Đạt đến mức độ “quang thông đạt” th́ phải là Lư nhất tâm,
minh tâm kiến tánh, phá vô minh. Do vậy có thể biết:
Trước hết, phải đoạn vọng tưởng
và tạp niệm th́ mới có năng lực phá vô minh. Vô
minh phải dùng công phu định lực để phá, chứ
tri kiến chẳng thể phá vô minh, đó là chướng
ngại. Nhất định phải dùng công phu định
lực, nhất định phải niệm Phật đến
mức tâm thật sự thanh tịnh tột cùng, Kiến
Tư và Trần Sa thảy đều đoạn hết,
hoát nhiên khai ngộ, phá một phẩm vô minh, chứng một
phần Pháp Thân. Chưa đạt đến cảnh giới
ấy th́ vẫn thuộc về Định.
(Diễn) Nhi Sớ Sao chuyên dĩ Sự nhất thuộc
ức niệm, diệc nhất loạn ngôn nhĩ.
(演)而疏鈔專以事一屬憶念,亦一亂言耳。
(Diễn: Nhưng Sớ
Sao chuyên coi Sự nhất tâm thuộc về ức niệm,
cũng là nói theo kiểu chánh diện và tương phản).
“Nhất loạn” (一亂) là chánh diện
và tương phản, cũng là nói theo chiều thuận
hay theo chiều nghịch. Ư nghĩa “chuyên dĩ Sự nhất thuộc ức niệm”
(chuyên coi Sự nhất tâm thuộc về ức niệm) của
Liên Tŕ đại sư trong Sớ Sao cũng là nói theo hai
phương diện chánh diện và tương phản. “Vị hữu huệ cố” (Do
chưa có Huệ) là chưa khai ngộ, chưa kiến tánh.
(Diễn)
Vị hữu huệ cố giả, dĩ tức tựu ức
niệm vô gián, niệm đáo liên niệm thoát lạc, đốn
nhập vô niệm, tức thuộc Huệ môn.
(演)未有慧故者,以即就憶念無間,念到連念脫落,頓入無念即屬慧門。
(Diễn: “Do chẳng
có Huệ”, chính là ức niệm chẳng gián đoạn,
niệm đến mức ngay cả “niệm” cũng mất,
nhanh chóng tiến nhập vô niệm, bèn thuộc vào Huệ
môn).
Từ
hữu niệm, niệm đến mức vô niệm, đấy
mới thuộc về Huệ. Nhưng có những kẻ niệm
Phật bảo: “Ta niệm Phật, niệm đến một
khoảng thời gian th́ chính ḿnh cũng quên mất, đạt
đến cảnh giới niệm mà vô niệm”. Họ
đem chuyện ấy hỏi tôi, tôi bảo: “Công phu của
quư vị khá lắm, rất khó có”. Thật ra là như thế
nào? Người ấy c̣n biết chính ḿnh vô niệm, c̣n biết thân thể của kẻ ấy
chẳng c̣n nữa. Người ấy biết như thế
nào? Vẫn là vọng tưởng, chấp trước. Đạt
tới cảnh giới ấy, người ấy đến
nói với tôi, nhằm khoe công phu của chính ḿnh rất lỗi
lạc, toàn là vọng tưởng! Người thật sự
dụng công, hễ đạt tới cảnh giới ấy,
tuyệt đối sẽ chẳng nói với người
khác. Có nói, kẻ khác cũng chẳng hiểu, [v́] kẻ khác
chẳng đạt tới cảnh giới ấy! Khi sinh
tiền, Huệ Viễn đại sư ba lượt thấy
y báo và chánh báo trang nghiêm trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới, trọn chẳng nhắc tới, đến
lúc lâm chung văng sanh mới kể với mọi người.
Lâm chung văng sanh, cảnh giới lại hiện tiền, Phật
đến tiếp dẫn, [Sư chính mắt thấy] Phật
và đại chúng, [cũng thấy] những người
trong liên xă đă văng sanh trước theo A Di Đà Phật đến
tiếp dẫn Sư, khi đó, Sư mới tuyên bố
cùng mọi người: “Trong quá khứ, tôi đă thấy cảnh
giới ấy hai lần. Lần này là lần thứ ba, tôi
sắp văng sanh”.
Công
phu ấy chính là “ức niệm
vô gián” (ức niệm chẳng gián đoạn), thật
sự niệm đến mức “niệm mà vô niệm, vô niệm mà niệm”. Vô niệm
chẳng phải là không niệm Phật hiệu “A Di Đà Phật,
A Di Đà Phật”, vẫn niệm y hệt như cũ! Vô
niệm là ǵ? Cái tâm trước kia đặt nơi niệm
Phật, có tâm và có nguyện niệm Phật. Bây giờ, tâm
và nguyện đều chẳng có. Nói cách khác, trước
kia là có tâm ư thức trong khi niệm, nay chẳng c̣n tâm ư thức.
Chẳng c̣n tâm ư thức bèn thành Phật, chuyển thức
thành trí, có c̣n niệm hay không? Vẫn niệm, chẳng phải
là không niệm. Đại Thế Chí Bồ Tát hằng ngày
niệm A Di Đà Phật, trước nay chưa từng gián
đoạn, Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại. Do
vậy, Phật hiệu vĩnh viễn chẳng gián đoạn.
Chẳng phải là nói “niệm
tức vô niệm, vô niệm tức niệm” [có nghĩa
là] “ta không niệm chính là niệm”, chẳng phải là nói
như vậy. [Nói như vậy] tức là đă hiểu
sai ư nghĩa, là tà tri tà kiến, chẳng phải là chánh tri chánh
kiến. Niệm đến mức phá vô minh, thấy bản
tánh, đốn nhập vô niệm; đó là Huệ môn.
(Diễn)
Cổ vân: Chỉ nhất trực niệm khứ, diệc
hữu ngộ nhật thị dă.
(演)古云:只一直念去,亦有悟日是也。
(Diễn: Cổ nhân
nói: “Chỉ một mực niệm, cũng có ngày khai ngộ”,
nhằm nói lên ư này).
Câu
này của cổ nhân luận về kinh nghiệm, là lời
chân thật, xác thực là lời chú giải cho câu nói của
Đại Thế Chí Bồ Tát: “Chẳng
cậy vào phương tiện, tự được tâm
khai”. Chỉ cần niệm miết một câu Phật
hiệu này, tự nhiên sẽ có ngày khai ngộ, có thể minh
tâm kiến tánh, chẳng cần dùng đến pháp môn thứ
hai! Đấy là chỗ tuyệt diệu thù thắng của
pháp môn này. V́ thế, mười phương chư Phật
tán thán.
(Diễn)
Kim công phu thỉ thành phiến đoạn, thượng vị
khế nhập bổn tâm, cố chỉ thuộc Định
môn dă.
(演)今工夫始成片段,尚未契入本心,故止屬定門也。
(Diễn: Nay công phu vừa
mới thành phiến, c̣n chưa khế nhập bổn tâm,
nên chỉ thuộc về Định môn).
Đây
là kết luận cho đoạn [kinh văn luận định]
về cảnh giới Sự nhất tâm. Công phu vừa mới
thành phiến, chưa kiến tánh, chưa minh tâm, thuộc về
Định. Định ở đây là Niệm Phật tam-muội,
vừa mới đắc Niệm Phật tam-muội. Tuy chẳng
cao, quyết định văng sanh. Nói cách khác, đối với
tŕnh độ như vậy, bản thân chúng ta nỗ lực
một chút sẽ làm được, ai nấy đều làm
được, chỉ sợ chẳng chịu làm! Nếu
quư vị chịu làm, ai nấy đều làm được!
Nếu nói tới thượng phẩm, đă đoạn Kiến
Tư phiền năo, chẳng phải là ai cũng sẽ làm
được. C̣n công phu như thế này, ai cũng có thể
làm được! Thế nhưng, điều khẩn yếu
là từ nay về sau chẳng c̣n làm chuyện thị phi nữa
th́ mới có thể làm được. Vẫn chẳng ĺa
khỏi thị phi, nhân ngă, quư vị sẽ chẳng làm được.
Rốt cuộc, cả một đời này chúng ta làm ǵ? Ta
v́ cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới,
ta bèn nghiêm túc học, chớ nên có tri kiến giống như
kẻ b́nh phàm. Ta chớ nên đi theo ai khác, mà phải
đi theo Phật, đó là đúng. Hôm nay chúng tôi nói tới
đây!
Tập
228
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang bốn trăm bốn
mươi tám:
(Sao)
Tiền chấp tŕ trung, dĩ ức niệm thể cứu,
lược phân nhị chủng: Ức niệm giả,
văn Phật danh hiệu, thường ức, thường
niệm, dĩ tâm duyên lịch, tự tự phân minh. Tiền
cú, hậu cú, tương tục bất đoạn, hành trụ
tọa ngọa, duy thử nhất niệm, vô đệ nhị
niệm, bất vị tham sân phiền năo chư niệm chi
sở tạp loạn. Như Thành Cụ Quang Minh Định
Ư kinh, sở vị không nhàn tịch mịch nhi nhất kỳ
tâm, tại chúng phiền năo nhi nhất kỳ tâm, năi chí bao
sán lợi thất thiện ác đẳng xứ, giai nhất
kỳ tâm giả, thị dă.
(鈔)前執持中,以憶念體究,略分二種:憶念者,聞佛名號,常憶常念,以心緣歷,字字分明,前句後句,相續不斷,行住坐臥,唯此一念,無第二念,不為貪瞋煩惱諸念之所雜亂。如成具光明定意經,所謂空閒寂寞而一其心,在眾煩惱而一其心,乃至褒訕利失善惡等處皆一其心者,是也。
(Sao: Trong đoạn
nói về Chấp Tŕ trong phần trước, đă chia
đại lược ức niệm và thể cứu thành
hai loại. Ức niệm là nghe danh hiệu Phật, thường
nhớ, thường niệm, dùng tâm duyên theo từng chữ
rơ ràng. Câu trước, câu sau, tiếp nối chẳng ngừng.
Đi, đứng, ngồi, nằm, chỉ có một niệm
này, chẳng có niệm thứ hai, chẳng bị tạp loạn
bởi các niệm tham, sân phiền năo. Như kinh Thành Cụ
Quang Minh Định Ư đă nói: “Nơi thanh vắng, yên lặng,
chuyên nhất cái tâm; ở trong các phiền năo, chuyên nhất
cái tâm. Cho đến đối với những chỗ
khen, chê, được lợi, mất mát, thiện, ác v.v…
tâm đều chuyên nhất” là nói về ư này).
Lại
giải thích câu “chấp tŕ danh
hiệu, nhất tâm bất loạn” được nói
trong phần trước. Nói đến chấp tŕ danh hiệu,
bèn nói tới câu “ức niệm,
thể cứu”. Câu này có hai ư nghĩa là “ức niệm” và “thể
cứu”.
Trước hết,
giải thích “ức niệm”.
Ức niệm thuộc về Sự, tức là Sự Tŕ, Sự
nhất tâm bất loạn được bao gồm trong phạm
vi của chữ này. Ức niệm là ǵ? “Văn Phật danh hiệu, thường ức,
thường niệm” (Nghe danh hiệu Phật thường
nhớ, thường nghĩ), “thường”
(常) là không gián đoạn, “ức”
(憶) là trong tâm niệm, miệng chẳng niệm ra tiếng,
tâm niệm bèn gọi là Ức. Nói thật ra, niệm kiểu
này cũng có thể thuộc loại tâm niệm, nhưng nếu
hợp hai chữ lại th́ như nay ta nói “niệm ra tiếng,
niệm thầm, hoặc Kim Cang Tŕ” đều được
bao gồm trong đó. Khẩn yếu là một chữ
Thường, chớ nên gián đoạn! Bốn câu kế
tiếp nhằm nói rơ, niệm Phật th́ phải niệm
theo cách nào: Phải là “dĩ tâm
duyên lịch, tự tự phân minh” (dùng tâm duyên theo từng
chữ rơ ràng).
(Diễn)
Dĩ tâm duyên lịch, tự tự phân minh giả, thử
thị tâm niệm.
(演)以心緣歷,字字分明者,此是心念。
(Diễn:
Dùng tâm duyên theo từng chữ rơ ràng, đây là tâm niệm).
“Dĩ tâm duyên lịch, tự tự
phân minh” rất trọng yếu. Nếu miệng niệm
mà tâm chẳng niệm, vô dụng! Miệng có, tâm không, vô dụng!
Tâm niệm, miệng chẳng niệm, vẫn hữu dụng.
V́ sao? Dưới đây sẽ giải thích rơ ràng!
(Diễn)
Bất đồng tiền khẩu niệm nhi tâm bất niệm
dă.
(演)不同前口念而心不念也。
(Diễn: Chẳng giống
như trong phần trên đă nói “miệng niệm mà tâm chẳng
niệm”).
Trong
phần trên đă nói, miệng niệm, tâm chẳng niệm,
vậy là không được.
(Diễn)
Tiền cú, hậu cú tương tục bất đoạn,
năi chí vô đệ nhị niệm giả, thử thị nhất
tâm niệm, bất đồng tiền tâm tuy niệm, nhi niệm
bất nhất dă.
(演)前句後句相續不斷,乃至無第二念者,此是一心念,不同前心雖念,而念不一也。
(Diễn: “Câu trước,
câu sau tiếp nối không ngừng, cho đến chẳng
có niệm thứ hai”: Đấy là nhất tâm niệm, chẳng
giống như trong phần trên đă nói “tâm tuy niệm,
nhưng niệm chẳng chuyên nhất”).
Tâm
trước là niệm Phật, sau đấy, tâm lại dấy
vọng tưởng, như vậy th́ không được.
Nhất định là niệm này tiếp nối niệm
kia, như vậy th́ mới có thể niệm hết sạch
vọng tưởng, phiền năo.
(Diễn)
Bất vị tham sân phiền năo chi sở tạp loạn.
(演)不為貪瞋煩惱之所雜亂。
(Diễn:
Chẳng bị tạp loạn bởi tham sân phiền năo).
“Tạp loạn” là xen tạp.
Niệm Phật ắt phải là không gián đoạn, chẳng
xen tạp. Thật sự có thể chẳng gián đoạn,
không xen tạp, chư vị ngẫm xem, người ấy
có c̣n hoài nghi hay chăng? Quyết định chẳng hoài
nghi! Đấy mới là “tịnh
niệm tiếp nối” như Đại Thế Chí Bồ
Tát đă nói trong kinh Lăng Nghiêm th́ mới có thể thành
công.
(Diễn)
Thử thị nhất tâm bất loạn, bất đồng
tiền niệm tuy nhất, nhi hữu thời bất nhất
dă.
(演)此是一心不亂,不同前念雖一,而有時不一也。
(Diễn:
Nhất tâm bất loạn ở đây chẳng giống
như trong phần trước đă nói, “niệm tuy nhất,
nhưng có lúc chẳng chuyên nhất”).
Xen
tạp, gián đoạn sẽ chẳng chuyên nhất. Chúng
ta cũng thường thấy hoặc nghe nói có kẻ nào
đó trước kia tu học pháp môn Niệm Phật rất
dụng công, rất tinh tấn, về sau biến đổi,
thoái chuyển, hoặc là đổi sang học pháp môn khác, lại
là do nguyên nhân nào? Nói thật ra, là v́ kẻ ấy chẳng
hiểu rơ công đức của danh hiệu. Trong Yếu Giải,
Ngẫu Ích đại sư đă nói minh bạch: Kẻ ấy
cho rằng c̣n có pháp môn khác thù thắng, ổn thỏa, thích
đáng, nhanh chóng hơn pháp môn này, cho nên thay đổi phương
hướng, đều là v́ thiếu hiểu biết Tịnh
Tông. Tu học thuở ban đầu, do thấy người
khác tu nên chính ḿnh cũng tu; tu một khoảng thời gian,
chẳng đạt được lợi ích thật sự,
bèn vứt bỏ, đi theo người khác. Hiện thời,
trong thế gian này, trong ngoài nước, t́nh h́nh như vậy
rất nhiều. Cổ nhân nói pháp môn này “duy thượng trí dữ hạ ngu bất di” (chỉ
có bậc thượng trí và kẻ hạ ngu là chẳng
đổi dời [chí hướng tu tập]). Hai loại
người ấy chẳng thay đổi cái tâm. Bậc
thượng trí hiểu rơ ràng, minh bạch công đức của
danh hiệu nên chẳng hoài nghi; kẻ hạ ngu tin tưởng
lời chư Phật, Bồ Tát dạy, sau khi nghe xong, họ
tuyệt đối chẳng bị dao động, thay
đổi. Hai hạng người ấy quyết định
thành tựu. Trừ phi người ấy trong suốt một
đời chẳng có duyên phận gặp gỡ pháp môn này,
chứ hễ gặp, quyết định thành tựu. Đó
là bậc đương cơ của Tịnh Tông. Gặp
được pháp môn này mà chẳng thể thành tựu, nói
cách khác, kẻ ấy vừa chẳng phải là thượng
trí, mà cũng chẳng phải là hạ ngu, phiền phức
to lớn! Chẳng thừa nhận chính ḿnh là kẻ ngu,
nhưng cũng chẳng đủ tư cách để làm bậc
thượng trí! Tuy học, nghi vấn cả một đống
lớn, vĩnh viễn cũng chẳng giải quyết
được. Đến nơi nào để gặp bậc
thiện tri thức, đến chỗ nào để có thể
gặp [dịp nghe] khai diễn đại kinh, giảng giải
các kinh luận ấy tỉ mỉ, minh bạch trong một
thời gian dài? Nhân duyên ấy chẳng dễ ǵ gặp
được!
Đài
Loan có người thật sự tu hành hay không, hăy khoan bàn tới,
chỉ xét theo mặt ngoài, cơ duyên giảng kinh thuyết
pháp đứng đầu thế giới! Có mấy ai giảng
Di Đà Kinh Sớ Sao? Có mấy ai giảng Di Đà Kinh Yếu
Giải? Có mấy ai giảng kinh Vô Lượng Thọ? Đó
là những kinh điển tối thiểu trong Tịnh
Tông. Đối với ba thứ ấy, nếu theo như tấn
độ (mức độ tiến triển) của chúng
ta trong hiện thời, giảng cặn kẽ một lần,
giảng hằng ngày chẳng gián đoạn, cũng phải
mất trọn hai năm. Chỉ riêng một bộ Sớ
Sao này, chúng tôi giảng lần này chỉ sợ cũng phải
hơn bốn trăm lượt. Dẫu là có người
bằng ḷng giảng, chẳng có ai nghe! Trong nước là như
thế, mà ngoài nước cũng là như vậy. Ở
nước ngoài, giảng hơi dài một chút, người
ta chẳng có thời gian nghe, làm sao có thể giải quyết
nghi vấn cho được? Nỗi nghi hoặc chẳng
thể phá tan sẽ chính là chướng ngại căn bản;
trong tương lai, trong quá tŕnh tu học, quư vị sẽ
ngă ḷng, sẽ thay đổi! Chỉ có thông đạt, hiểu
rơ triệt để th́ tâm mới định. V́ thế,
duyên này khá khó khăn! Có một vị đồng tu sang
Đại Lục thăm người thân trở về, [cho
biết]: Tại Đại Lục có đồng tu sau khi
nghe băng giảng kinh của tôi rất hoan hỷ, cậy
người ấy cầm về hai ngàn Nhân Dân Tệ, đổi
thành tiền Đài Loan là một vạn đồng, giao cho
tôi in kinh, chẳng [ghi lại] tên họ, địa chỉ,
đích xác là người tu hành thật sự, là người
thật sự phát tâm! Cơ duyên càng khó gặp, càng quư trọng.
Chúng ta ở bên này có quá nhiều cơ hội. Hôm nay chẳng
nghe [giảng kinh], hăy c̣n có ngày mai. Năm nay chẳng nghe,
hăy c̣n có năm sau, biếng nhác, buông lung! Do cơ duyên chẳng
dễ gặp gỡ, cho nên hết sức quư trọng, hết
sức trân quư, người như vậy bèn thành tựu.
Tuy chúng tôi chẳng có cơ hội sang bên kia gặp họ
giảng kinh, họ vâng theo lời giảng trong băng thâu
âm để tu hành, bèn cảm thấy hết sức thỏa
măn.
Không
hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn chẳng dễ
làm được, nhưng phải hiểu: Nếu quư vị
mong văng sanh, chẳng làm như vậy (chẳng hoài nghi, chẳng
xen tạp, chẳng gián đoạn) th́ sẽ không được.
Nếu quư vị mong niệm Phật đến mức nhất
tâm bất loạn th́ cũng chẳng thể nào không thực
hiện [những điều ấy]. Thật sự làm
được, thưa cùng chư vị, vui sướng khôn
sánh! Thật sự làm được, sẽ chuyển phàm
thành thánh. Tuy quư vị chưa đoạn Kiến Tư phiền
năo, ngay cả bậc đă chứng Sơ Quả trong Tiểu
Thừa cũng chẳng bằng [quư vị]! Nhưng thật
sự đạt được công phu thành phiến, xác thực
là quư vị chẳng có phiền năo. V́ sao? Phật hiệu từng
tiếng nối tiếp nhau, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật,
phiền năo chẳng thấm vào được. Vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước, tham, sân, si,
mạn chẳng khởi, cảnh giới ấy chính là thánh
nhân. Nay quư vị chưa ra đi, nói thật ra, quư vị
đă là Bồ Tát trong thế giới Cực Lạc, đă
chẳng c̣n là phàm phu trong lục đạo. Khi nào sẽ chuyển
phàm thành thánh? Khi quư vị niệm tới mức vọng
tưởng, chấp trước chẳng thấm vào, tức
là đă trở thành thánh nhân, là Bồ Tát. Bồ Tát và phàm
phu sai khác ở ngay chỗ này! Phàm phu vẫn thường dấy
vọng tưởng, Bồ Tát chẳng có vọng tưởng,
chẳng có tạp niệm, niệm niệm đều là A
Di Đà Phật, niệm niệm là kinh Vô Lượng Thọ.
Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta xử sự,
đăi người, tiếp vật, tư tưởng và kiến
giải hoàn toàn tương ứng với kinh Vô Lượng
Thọ. Trong mười hai thời, một câu Phật hiệu
chẳng gián đoạn, người ấy là Bồ Tát
trong cơi Cực Lạc, chẳng phải là phàm phu. Lời
này chẳng phải do tôi nói, mà là do đức Thế Tôn
đă nói trong kinh Vô Lượng Thọ, “chẳng phải là phàm nhân”. Chẳng phải là
phàm nhân th́ phải là Bồ Tát trong cơi Cực Lạc. Bồ
Tát trong cơi Cực Lạc cao hơn các Bồ Tát trong những
thế giới phương khác quá nhiều! Bồ Tát trong
các phương khác chẳng nhất định có thể
thành Phật trong một đời, Bồ Tát trong cơi Cực
Lạc nhất định thành Phật ngay trong một
đời này. V́ thế, các Bồ Tát nơi phương
khác chẳng thể sánh bằng! Từ chỗ này, chúng ta
bèn hiểu rơ: Chúng ta tu ǵ? Chính là tu điều này!
Thật
sự tu hành th́ phải niệm niệm cảnh giác. Quên bẵng
Phật hiệu, vọng niệm bèn dấy lên, ngay lập
tức sẽ luân hồi sanh tử trong lục đạo,
nhất định phải đọa trong ba ác đạo.
Thời gian trong ác đạo dài lâu, thời gian trong thiện
đạo ngắn ngủi. Nếu thời gian trong thiện
đạo lâu dài, rất dễ gặp gỡ hai đường
trời người, thành Phật há phải mất ba đại
A-tăng-kỳ kiếp? Chẳng cần! Thời gian trong
ác đạo lâu dài, hễ thoái chuyển, chẳng biết
sẽ thoái chuyển đến đâu! Nói thật ra, đúng
là phải luôn luôn cảnh giác, niệm niệm cảnh giác.
Phải thường dán hai chữ Sanh và Tử do tổ Ấn
Quang đă viết ở chỗ chúng ta dễ thấy nhất
để thời thời khắc khắc đề cao cảnh
giác. Tổ Ấn Quang nói: Người có thể thường
nhận biết chính ḿnh sắp chết th́ đạo tâm mới
có thể kiên cố. Nói “đạo
tâm kiên cố” có nghĩa là Phật hiệu thật sự
niệm đến mức tịnh niệm tiếp nối.
Tịnh niệm tiếp nối th́ quư vị là Bồ Tát
trong cơi Cực Lạc. Từ phàm phu chuyển biến thành Bồ
Tát trong cơi Cực Lạc, ai nấy đều có cơ hội,
ai nấy đều có thể chuyển, vấn đề là
bản thân quư vị có chịu chuyển hay không? Tu hành cốt
yếu do cá nhân, chẳng cần phải bận tâm đến
kẻ khác. Người khác chuyển cũng thế, mà không
chuyển cũng vậy, chẳng liên can ǵ đến ta! Quư
vị thường bận ḷng ḍm ngó người bên cạnh,
nói thật thà, chính quư vị sẽ chuyển không được!
Người thật sự từ bi, chuyện ǵ cũng chẳng
quản! Chính ḿnh tới Tây Phương thành Phật, hoặc
làm Bồ Tát trước; sau đấy mới thả chiếc
bè Từ trở lại cứu độ chúng sanh. Đó là
thật sự từ bi, thật sự trí huệ.
(Diễn) Hựu dĩ tâm duyên lịch, tự tự phân
minh thị nhất cú bất loạn.
(演)又以心緣歷,字字分明,是一句不亂。
(Diễn:
Lại nữa, dùng tâm duyên theo từng chữ rơ ràng chính là “một
câu bất loạn”).
Nam-mô
A Di Đà Phật, từng chữ phân minh, rơ ràng, trong một
câu [Phật hiệu] chẳng xen tạp vọng tưởng,
phiền năo vào đó. Đó là một câu bất loạn.
(Diễn)
Tiền cú, hậu cú tương tục, thị đa cú bất
loạn.
(演)前句後句相續,是多句不亂。
(Diễn:
Câu trước, câu sau tiếp nối là nhiều câu bất
loạn).
Ta
niệm một trăm câu, niệm một ngàn câu, niệm
Phật nhớ số bằng cách dùng tràng hạt, đấy
là nhiều câu bất loạn.
(Diễn)
Bất vị tham, sân đẳng tạp loạn, thị
đối cảnh bất loạn dă.
(演)不為貪瞋等雜亂,是對境不亂也。
(Diễn: Chẳng bị
tạp loạn bởi tham, sân v.v… là đối trước
cảnh chẳng loạn).
Sáu
căn đối ứng cảnh giới sáu trần, tu nhất
tâm bất loạn.
(Diễn)
Thành Cụ hạ, dẫn chứng bất loạn.
(演)成具下,引證不亂。
(Diễn: Từ câu
“kinh Thành Cụ Quang Minh” trở đi là dẫn chứng về
sự bất loạn).
Dẫn
kinh Thành Cụ Quang Minh Định Ư để chứng
minh.
“Không nhàn tịch mịch nhi nhất
kỳ tâm” (Chỗ thanh vắng tĩnh mịch chuyên nhất
cái tâm): Khi thanh vắng, tĩnh mịch, bèn nhất tâm bất
loạn. Hoàn cảnh thanh tịnh chẳng có ai quấy nhiễu;
khi ấy, tâm địa quư vị thanh tịnh, công phu niệm
Phật hiệu rất đúng nề nếp, niệm đến
mức tịnh niệm tiếp nối. “Tại chúng phiền năo nhi nhất kỳ tâm” (Ở
trong các phiền năo mà chuyên nhất cái tâm): Ở trong các cảnh
giới chẳng như ư, tâm vẫn bất loạn, vẫn
dấy lên một câu Phật hiệu. Chúng ta đối ứng
với hoàn cảnh nhân sự, “bao”
(褒) là được người khác khen ngợi, ca tụng
quư vị. “Sán” (訕) là người
khác chê cười, hủy báng. “Lợi”
(利) là khi quư vị đạt được điều
tốt đẹp. “Thất” (失) là khi quư vị bị
tổn thất, mất mát tài vật hoặc địa vị.
“Giai nhất kỳ tâm” (đều
chuyên nhất cái tâm), tám gió thổi chẳng động.
Đối trước hết thảy các cảnh giới
bên ngoài, thuận cảnh hay nghịch cảnh cũng có thể
niệm đến mức nhất tâm bất loạn. “Không nhàn tịch mịch” là
thuận cảnh, “chúng phiền
năo” là nghịch cảnh. “Bao
san lợi thất thiện ác đẳng xứ” (Những
chỗ khen, chê, được lợi, mất mát, thiện,
ác v.v…) là nói tới hoàn cảnh nhân sự. Bất luận trong
hoàn cảnh nhân sự hay hoàn cảnh vật chất, từ
đầu đến cuối ǵn giữ một câu Phật
hiệu, câu trước câu sau tiếp nối chẳng ngừng,
sẽ thành công.
Do
đó, chỗ hay của pháp môn này là trong bất cứ hoàn
cảnh nào cũng đều có thể tu, dễ dàng hơn
các pháp môn khác. Quư vị mong tu Thiền, Thiền Định,
đích xác là phải [ở nơi] thanh vắng, tĩnh mịch
th́ mới tọa Thiền hay tham Thiền được!
Nếu trong hoàn cảnh nhiễu loạn, cũng chẳng dễ
dàng tĩnh tọa cho lắm! Chỗ này của chúng ta chỉ
có thể làm giảng đường, chẳng thể làm Thiền
đường, tạp âm bên ngoài quá nhiều, quấy nhiễu
quá nhiều. Thiền đường quyết định chẳng
thể bị hoàn cảnh bên ngoài quấy nhiễu. Hễ
có quấy nhiễu, khi người nhập Định chẳng
cẩn thận, dễ nhập ma cảnh. Khi tâm người
ấy tột bậc thanh tịnh, đối với âm
thanh của người đi đường bên ngoài, chúng
ta cảm thấy rất b́nh thường, người
đó nghe âm thanh ấy sẽ thấy rất khó chịu. Trong
khi vắng lặng, chỗ ngồi Thiền chỉ có một
con bọ chét rớt xuống đất, ngă găy chân, đau
đớn, kêu gào tại đó, âm thanh cực vi tế ấy
[người ngồi Thiền] sẽ nghe rất rơ ràng. Khi
có người đang đi đường rống lên một
tiếng lớn, người [tọa Thiền] ấy kinh
hoảng liền xảy ra chuyện, bị ma dựa! Do vậy,
ngoài Thiền đường có người tuần liêu
trông nom. Một Niệm Phật Đường chân chánh cũng
là như thế, quyết định chẳng thể bị
quấy nhiễu, nhất định phải là hoàn cảnh
rất thanh tịnh. Nhưng niệm Phật thuận tiện
quá nhiều, chỉ cần sao cho câu này tiếp nối câu
kia chẳng dứt; [niệm] lớn tiếng hay nhỏ tiếng
chẳng sao hết. Hoàn cảnh thanh tịnh rất tốt,
không thanh tịnh vẫn có thể niệm, chẳng gặp
trở ngại rất lớn, điều này khó có! Hết
thảy chư Phật đặc biệt ca ngợi pháp môn
này quả thật là rất có lư.
(Sao)
Sự thượng tức đắc, Lư thượng vị
triệt.
(鈔)事上即得,理上未徹。
(Sao:
Đă đạt về Sự, nhưng chưa thấu triệt
Lư).
Xét
theo Sự, người ấy đă đắc Định.
Tuy đắc Định, trong tâm chẳng có vọng tưởng,
chấp trước, cũng có thể nói tâm ấy chẳng
tạp, chẳng loạn, chẳng nhiễm. Chẳng tạp,
chẳng loạn, chẳng nhiễm là Định, đó là Niệm
Phật tam-muội, nhưng người ấy chưa khai
ngộ. V́ thế, “Lư thượng
vị triệt” (chưa thấu triệt Lư).
(Sao)
Duy đắc Tín Lực, vị kiến đạo cố,
danh Sự nhất tâm dă.
(鈔)惟得信力,未見道故,名事一心也。
(Sao: Chỉ đắc
Tín Lực, do chưa kiến đạo, nên gọi là Sự
nhất tâm).
Người
ấy đắc Tín Lực, chưa kiến đạo. Đạo
là Chân Như bản tánh. Người ấy đă đoạn
Kiến Tư phiền năo, thậm chí Trần Sa phiền
năo cũng đoạn, [nhưng] vô minh c̣n chưa phá. Khi nào phá
một phẩm vô minh, chứng một phần bản tánh,
trí huệ bèn mở mang, bèn nhập Lư nhất tâm, th́ chẳng
gọi là Sự nhất tâm. Do v́ lẽ này, người ấy
thuộc về Niệm Phật tam-muội.
(Sao)
Ngôn Định giả, dĩ phục vọng cố; vô huệ
giả, dĩ vị năng phá vọng cố.
(鈔)言定者,以伏妄故;無慧者,以未能破妄故。
(Sao: Nói là Định
v́ đă chế phục vọng, [bảo là] chẳng có Huệ
là do chưa thể phá vọng).
“Vọng” (妄) là vọng tưởng,
chấp trước, chúng ta cũng gọi nó là Kiến
Tư phiền năo; [đối với người đă đắc
Sự nhất tâm bất loạn], một câu Phật hiệu
có thể chế phục, nhưng chẳng đoạn trừ
[Kiến Tư phiền năo]. Chúng ta thường nói A La Hán
đă đoạn Kiến Tư phiền năo, thật ra, có
phải là A La Hán đă thật sự đă đoạn hết
hay chưa? Có thể nói là Ngài đă đoạn; v́ sao? Phiền
năo vĩnh viễn chẳng c̣n khởi tác dụng nữa.
Căn cội phiền năo có c̣n hay không? Căn cội vẫn
c̣n! Căn cội hoàn toàn chẳng đoạn, nhưng do Ngài
công phu Thiền Định sâu xa, chẳng mất Định,
có thể vĩnh viễn khống chế [phiền năo], chẳng
cho chúng nó khởi tác dụng. Đến khi nào th́ mới chẳng
c̣n có căn cội phiền năo? Nhất định phải
là khai trí huệ. Khai trí huệ th́ phiền năo có c̣n hay không?
Vẫn c̣n, nhưng phiền năo bị biến chất, biến
thành Bồ Đề. V́ thế, phiền năo tức là Bồ
Đề. Khi mê, Bồ Đề biến thành phiền năo,
một mai minh tâm kiến tánh, phiền năo lại biến
thành Bồ Đề. Nói cách khác, cảnh giới của A
La Hán và Bích Chi Phật là đă khống chế phiền năo,
nhưng chẳng có cách nào biến chúng thành Bồ Đề.
V́ thế, phiền năo và Bồ Đề là cùng một thứ,
chẳng phải là hai thứ, chuyển biến đó thôi!
Do vậy, nhiều phiền năo, sợ ǵ! Tới khi quư vị
đă giác ngộ, Bồ Đề sẽ nhiều, đúng
không? Chuyện là như vậy đó! Bồ Đề là
trí huệ, trí huệ bèn nhiều. Nếu quư vị chẳng
biết chuyển biến, phiền năo luôn luôn là phiền
năo, quư vị vẫn phải chịu khổ, mắc nạn.
Một mai chuyển biến, sẽ là đại tự tại,
dùng trí huệ ấy để hoằng pháp lợi sanh. Hết
thảy chúng sanh có phiền năo kỳ quái kiểu nào đi nữa,
Phật, Bồ Tát đều biết. V́ sao? V́ trong quá khứ
các Ngài cũng có; nhưng các Ngài đă chuyển biến trọn
hết phiền năo thành trí huệ, trí huệ có thể giải
quyết vấn đề. Đó là chế phục vọng.
“Vô huệ giả, dĩ vị
năng phá vọng cố” (Chẳng có huệ là v́
chưa thể phá vọng). Huệ thật sự là chuyển
vọng tưởng thành trí huệ.
(Sớ)
Lư nhất tâm giả.
(疏)理一心者。
(Sớ:
Lư nhất tâm là…).
Trong
phần trên là nói về Sự nhất tâm, ở đây, giảng
về Lư nhất tâm.
(Sớ)
Như tiền thể cứu, hoạch tự bổn tâm, cố
danh nhất tâm.
(疏)如前體究,獲自本心,故名一心。
(Sớ:
[Do] thể cứu như trong phần trước [đă
nói] mà đạt được bổn tâm, nên gọi là nhất
tâm).
Đầu
tiên, giải thích Lư nhất tâm. Lư nhất
tâm chẳng tu từ mặt Sự. Niệm A Di Đà Phật,
niệm này tiếp nối niệm kia, chẳng để
cho tạp niệm xen tạp trong đó, chẳng hoài nghi,
không gián đoạn, không xen tạp, thuộc về Sự tu
(tu theo mặt Sự). Thoạt nh́n, tu theo Lư dễ dàng
hơn tu theo Sự, chẳng cần phải niệm nhọc
nhằn dường ấy. Nhưng chư vị phải
hiểu: Vất vả kiểu đó, suốt ngày từ
sáng đến tối lần chuỗi niệm Phật hiệu;
niệm đến mức thật sự chẳng hoài nghi,
không gián đoạn, không xen tạp, xét theo mặt Sự, mỗi
cá nhân đều có thể thành công. Hành theo Lư, phải có túc
căn, chẳng phải là ai nấy đều có thể
làm được! Đó gọi là “vừa tiếp xúc Phật pháp bèn hoát nhiên khai ngộ”.
Trong một đời này, quư vị thấy mấy ai
khai ngộ? Nh́n vào lịch sử Trung Hoa, chúng ta thấy rơ
ràng nhất. Lục Tổ Huệ Năng đại sư
là một [trong số đó], vừa nghe bèn khai ngộ; những
vị khác, tối thiểu cũng phải tu dăm ba
năm mới khai ngộ, chẳng phải là vừa tiếp
xúc bèn khai ngộ. Do vậy có thể biết, căn tánh mỗi
người khác nhau, điều này chẳng thể miễn
cưỡng.
“Nhân quư tự tri” [nghĩa là]
kẻ đáng khen nhất chính là người tự biết
ḿnh. Chính ḿnh hiểu ḿnh, quư vị sẽ giữ bổn phận.
Một người có thể tuân thủ bổn phận, suốt
một đời này, sẽ sống b́nh an, hạnh phúc, sẽ
chẳng tạo tội nghiệp. Vào thời cổ, giáo dục
tại Trung Hoa nhằm dạy quư vị nhận biết
chính ḿnh, nhận biết hoàn cảnh. Nói theo Phật pháp là
vũ trụ và nhân sinh, nhân sinh là chính ḿnh, vũ trụ là
hoàn cảnh sống. Triệt để thông đạt, hiểu
rơ, biết chúng ta sống trên cơi đời, trong vài chục
năm ấy, phải biết làm người như thế
nào, th́ trong đời này, chúng ta mới có thể đạt
đến hạnh phúc thật sự. Đó là giáo dục, tuyệt
đối chẳng thể bộp chộp làm xằng, tuyệt
đối chẳng thể không tuân thủ bổn phận.
Nho gia dạy chúng ta Ngũ Luân, Thập Nghĩa. “Nghĩa” (義) là quư vị hăy
nên làm như thế nào. Điều thứ nhất trong
Ngũ Luân (五倫) là chồng vợ. Chồng
phải nên làm chồng ra sao? Vợ phải nên làm vợ
như thế nào? Giống như biểu diễn trên sân khấu,
phải biểu diễn cho giống! Đều phải
đạt tới tiêu chuẩn. Cha con: Làm cha phải nên làm
giống như một người cha; làm con phải nên
[cư xử sao cho] ra dáng một đứa con. Anh em, vua
tôi, bạn bè, ai nấy đều ǵn giữ bổn phận
của chính ḿnh, trọn hết nghĩa vụ cá nhân, gia
đ́nh sẽ mỹ măn, xă hội hài ḥa, quốc gia cường
thịnh, thế giới đại đồng. Giáo dục
xưa kia nhắm đến mục tiêu ấy, ai nấy đều
hạnh phúc, toàn thể nhân loại hạnh phúc, đều
do coi trọng chuyện này.
V́
sao xă hội hiện thời rối loạn dường ấy?
Người ta chẳng biết bổn phận của chính
ḿnh, chẳng biết ḿnh phải nên làm
những ǵ trong thế gian này. Thấy người khác muốn
làm, ta cũng muốn làm, khó lắm! Một quốc gia chỉ
có một Tổng Thống, ông ta làm [Tổng Thống], ta
cũng muốn làm, ông ta cũng muốn làm, sẽ như thế
nào? Đánh nhau! Đánh đến nỗi toác đầu tươm
máu, thế giới loạn tùng phèo! Trước kia, [người
nắm giữ địa vị cai trị] do ai làm? Kẻ có
phước báo to lớn làm; kẻ ấy có phước, có
trí huệ, mọi người hưởng phước của
kẻ ấy. Người hiện thời chẳng đọc
sách [thánh hiền], chẳng tin tưởng lời này; chứ
người đọc sách thời cổ tin tưởng.
Trong gia đ́nh, người làm Đương Gia (當家: người tổng
quản trị trong một gia tộc hoặc một đoàn
thể) là do anh em đông, nói chung là chọn lựa một
người làm Đương Gia. Người làm Đương
Gia có trí huệ, có phước, người một nhà hoặc
người cùng ḍng họ hưởng phước của
người ấy. Người lănh đạo một quốc
gia có phước, người dân trong nước hưởng
phước của vị lănh đạo ấy. Người
có phước được mọi người kính phục,
nghe lời, ưa chuộng người ấy. Đó là có phước.
Làm người lănh đạo mà kẻ dưới chẳng
nghe lời, chẳng phục quư vị, chẳng có phước!
Chẳng có phước sẽ ngay lập tức rút lui, chẳng
rút lui sẽ tạo tội nghiệp. Hiện thời, mọi
người chẳng nói đến chuyện này, cảm thấy
“ngươi có khả năng, ta c̣n có khả năng hơn
ngươi”. Chuyện này chẳng phải là có khả năng
hay không, mà là phước báo, đặc biệt là kẻ làm
lănh tụ. Tiên sinh Tôn Trung Sơn đă luận về lănh tụ
rất hay: Lănh tụ chẳng cần có năng lực, lănh
tụ phải có quyền, cán bộ cấp dưới của
lănh tụ phải có năng lực. V́ sao? Họ là những
kẻ chấp hành, làm việc. Nói theo Phật pháp, hoặc
nói theo Nho gia, chẳng phải là nói tới chuyện “có quyền”,
[mà là nói] phải “có phước”, tu phước! Nói thật
ra, có phước th́ sẽ có quyền, có quyền chẳng
nhất định là có phước! Có phước th́ mọi
người nghe lời, tuân phục quư vị, đó là “quyền”.
Ai nấy đều nghe lời, chẳng chống trái.
Nếu
muốn làm người lănh đạo, hăy tu theo cách nào? Đoạn
ác, tu thiện, tích lũy công đức.
Do vậy
có thể biết: Thiện căn, phước đức,
nhân duyên của mỗi cá nhân khác nhau, chẳng có cách nào nói
đến chuyện b́nh đẳng được! Do tu tập
và tích lũy trong đời quá khứ [mà thành ra như thế],
quư vị làm sao nói b́nh đẳng cho được? Do vậy,
đức Thế Tôn tuyên thuyết một pháp môn b́nh đẳng
thành Phật, chẳng có ai tin tưởng. Về căn bản
là chẳng thể nào b́nh đẳng, há có thể b́nh đẳng
thành Phật ư? Chẳng có ai tin tưởng. Do vậy,
người thâm nhập kinh tạng tuyệt đối chẳng
thể tin tưởng pháp môn này. Nói thật ra, pháp môn này lư
luận quá sâu, trong Đại Kinh đă nói rơ ràng: Nếu chẳng
do chư Phật Như Lai gia tŕ, chúng sanh thuộc chín pháp giới
cậy vào năng lực của chính ḿnh sẽ chẳng có
cách nào lư giải. Giáo Hạ chấp trước giáo tướng,
[sẽ cảm thấy]: Thiện căn phước đức,
và nhân duyên của mỗi người trong đời quá khứ
đều khác nhau, làm sao có thể b́nh đẳng thành Phật
cho được? Nói chẳng suông! Họ chẳng hiểu
lư luận này được kiến lập trên Chân Như
bản tánh, tánh là b́nh đẳng, kiến lập từ
nơi Lư, chẳng phải là kiến lập nơi Sự,
đấy mới là b́nh đẳng thật sự. Do
đó, câu Phật hiệu thật sự chẳng thể
nghĩ bàn. Câu Phật hiệu là tên gọi của Chân
Như bản tánh. Cái tâm năng niệm là Thỉ Giác, đức
Phật được niệm là Bổn Giác. Người
hiểu đạo lư này rất ít, người có thể tiếp
nhận càng ít hơn! Nếu chúng ta muốn trong cuộc
đời này sống rất hạnh phúc, b́nh an, đạo
nghiệp có thể quyết định thành tựu, th́ phải
nhận biết chính ḿnh, phải nhận biết hoàn cảnh.
Thật sự nhận biết, tâm sẽ b́nh, chẳng có
tham, sân, ghen tỵ, chẳng c̣n có những cái tâm và những
vọng tưởng ấy nữa! Người nào thiện
căn sâu dầy, bèn xin họ làm nhiều chuyện hơn
cho chúng ta. Chúng ta là những kẻ ít thiện căn,
phước đức kém hơn bèn hưởng phước
nhiều hơn đôi chút. Người thiện căn và phước
đức nhiều hăy thay chúng tôi tạo nhiều phước
hơn, sẽ chẳng có tranh chấp. Đó là học vấn
thật sự, cổ nhân nói “học
vấn thâm thời, ư khí b́nh” (khi học vấn sâu đậm,
ư khí sẽ b́nh ổn).
“Thể cứu”: Thể Cứu
là sử dụng chân tâm. Vọng tâm chẳng phải là Thể,
chân tâm mới là bản thể. Thể (體) là nói tới chân tâm, bản tánh,
Cứu (究) là hiểu rơ. Thể
Cứu như thế nào? Thiền gia nói rất hay: “Ly tâm ư thức tham” (ĺa cái tâm
ư thức để tham cứu), đó là Thể Cứu. Quư
vị sử dụng tâm ư thức, sẽ rơi vào Sự,
chẳng phải là Thể. Rốt cuộc tâm ư thức là ǵ?
Nói thô thiển nhất, Thức là thức thứ sáu, tức
ư thức, có đặc tánh phân biệt, thức thứ bảy
là Mạt Na có tánh chất chấp trước, thức thứ
tám là A Lại Da có tác dụng giữ lại ấn tượng.
Ĺa tâm ư thức là chẳng phân biệt, không chấp trước,
không giữ lại ấn tượng, đó mới gọi
là Thể Cứu. Chúng ta vẫn dùng tâm ư thức, chắc chắn
chẳng thể làm được hai chữ Thể Cứu.
Như tham Thiền phải ĺa tâm ư thức th́ mới có thể
minh tâm kiến tánh; Giáo Hạ nói là “đại khai viên giải”. Làm như thế nào
th́ mới có thể đạt tới đại khai viên giải?
Cũng phải ĺa tâm ư thức. Ĺa tâm ư thức th́ quư vị
mới thật sự hiểu rơ, thông đạt ư nghĩa
chân thật của Như Lai. Nói cách khác, chỉ cần quư
vị sử dụng tâm ư thức, chắc chắn là quư vị
sẽ chẳng hiểu ư nghĩa chân thật của Như
Lai. Quư vị đọc kinh bèn đoán ṃ, đại khái là
ư nghĩa này, phỏng chừng là ư nghĩa nọ, hoàn toàn
là phỏng đoán sai lầm, vẫn cứ ngỡ ḿnh là
chánh xác!
Không
chỉ là quư vị suy đoán, cổ đại đức
cũng suy đoán. Liên Tŕ đại sư có một tác phẩm
chú giải kinh Lăng Nghiêm, Ngài chẳng giải thích dựa
trên từng câu kinh văn một. Tác phẩm của Ngài thuộc
thể loại Luận, có tựa đề là Lăng Nghiêm
Kinh Mô Tượng Kư (楞嚴摸象記: những ghi chép
sờ voi về kinh Lăng Nghiêm), [ư nói giống như] kẻ
mù sờ voi, mỗi người ṃ trúng một bộ phận,
chẳng biết toàn thể. Ṃ phải chân voi, [bèn kết
luận] voi giống như cây cột. Ṃ trúng đuôi voi, [cứ ngỡ] voi giống như cái
chổi xể. Họ có nói đúng hay không? Quư vị chẳng
thể bảo họ không đúng, họ [chỉ nói]
đúng một bộ phận. Họ thật sự chạm
vào voi, bất quá chẳng thấy voi hoàn toàn đúng.
Người hiện thời ṃ trúng một khối đá lớn
bèn ngỡ là voi, hỏng bét, hoàn toàn sai lầm, c̣n kém người
mù sờ voi quá xa! Điều này cho thấy người thuộc
thế hệ chúng ta chẳng có phước báo, chẳng có
người tu hành thật sự. Ĺa tâm ư thức th́ mới
có thể hiểu ư nghĩa của kinh. Chẳng ĺa tâm ư thức,
trong tâm c̣n có vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước, quư vị mong hiểu ư Phật sẽ là chuyện
chẳng thể được! Mọi người cầm
lấy kinh điển suy đoán vung vít. Nếu suy đoán
như thế bèn tiếp tục không ngừng, suy đoán
mười năm, hai mươi năm, ba mươi
năm, dần dần họ sẽ ṃ được, dần
dần sẽ phát hiện có thể ṃ được, chứ
trong một thời gian ngắn bèn chẳng ṃ được.
V́ họ làm như vậy trong một thời gian dài, không
ngừng sửa đổi, cải tiến, cuối cùng sẽ
phát hiện. Nếu chẳng phải là trong một thời
gian dài, sẽ rất khó phát hiện sai lầm của chính
ḿnh. Tự ḿnh chẳng biết chính ḿnh sai lầm, sửa
chữa từ chỗ nào? Vĩnh viễn sai lầm, điều
này hết sức đáng sợ.
(Sớ)
Ư trung phục nhị.
(疏)於中復二。
(Sớ:
Trong ấy lại có hai loại).
Trong
Thể Cứu có hai loại.
(Sớ)
Nhất giả, liễu tri năng niệm, sở niệm,
cánh phi nhị vật, duy nhất tâm cố.
(疏)一者,了知能念所念,更非二物,唯一心故。
(Sớ:
Một là biết rơ năng niệm và sở niệm trọn
chẳng phải là hai vật, v́ chỉ là nhất tâm).
“Năng niệm” (chủ thể
niệm) là tâm, “sở niệm”
(đối tượng được niệm) là y báo và
chánh báo trang nghiêm trong Tây Phương Cực Lạc thế
giới. Năng niệm và sở niệm là cùng một thứ,
đều là tự tánh. Do đâu mà có y báo và chánh báo trang
nghiêm trong Tây Phương Cực Lạc thế giới? Do
tự tánh biến hiện, chính là cái được gọi
là “duy tâm Tịnh Độ, tự
tánh Di Đà”.
(Diễn)
Năng niệm, sở niệm cánh phi nhị vật giả,
dĩ sở niệm giả Phật, thị tức Bổn
Giác chi Lư.
(演)能念所念更非二物者,以所念者佛,是即本覺之理。
(Diễn: “Năng niệm
và sở niệm chẳng phải là hai vật”: Do đức
Phật được niệm chính là Lư Bổn Giác).
Đấy
là tự tánh Di Đà.
(Diễn)
Năng niệm giả tâm, thị tức Thỉ Giác chi trí.
Nhược năng Thỉ Bổn hợp nhất,
phương liễu năng sở bất nhị.
(演)能念者心,是即始覺之智。若能始本合一,方了能所不二。
(Diễn: Năng niệm
là tâm, chính là trí Thỉ Giác. Nếu có thể hợp nhất
Thỉ Giác và Bổn Giác th́ mới có thể hiểu rơ
Năng và Sở chẳng hai).
Khi
nào quư vị giác ngộ Thỉ Giác và Bổn Giác là cùng một
chuyện th́ Tự và Tha chẳng hai. Y báo và chánh báo trang
nghiêm trong thế giới Tây Phương cùng cái tâm năng
niệm của chính ḿnh chẳng hai. Nếu chúng ta hỏi:
Sâm la vạn tượng trước mắt chúng ta trong thế
giới này và tự tánh là một hay là hai? Cũng là chẳng
hai. Tận hư không khắp pháp giới là một tự tánh.
Cảnh giới triệt ngộ trong Thiền Tông có thể
nói thành một câu: “Tận
hư không khắp pháp giới là một con mắt của
sa-môn”, đó chính là Tự và Tha là một, không hai. Đến
lúc đó, chư vị ngẫm xem, quư vị c̣n có thể
đối lập cùng hết thảy vạn pháp ư? Chẳng
thể! Quư vị c̣n có thể có thị phi, nhân ngă hay không? Chẳng
có. Toàn bộ tất cả hết thảy vọng tưởng,
tạp niệm đều chẳng có. Đấy là sự
thật, là chân tướng. Kinh Bát Nhă nói “chư pháp Thật Tướng”, đó là tướng
chân thật, chẳng giả tí nào! Nhập cảnh giới
ấy chính là minh tâm kiến tánh, được gọi là “kiến tánh thành Phật”. Nếu
quư vị hỏi khi nào sẽ thành Phật ư? Khi nào tận
hư không khắp pháp giới và chính ḿnh là một khối,
trở thành một, bèn gọi là thành Phật. Nếu c̣n cảm
thấy có ta, có quư vị, có người khác, chắc chắn
sẽ là lục đạo phàm phu, ngay cả Tiểu Thừa
A La Hán vẫn chưa chứng đắc. Tiểu Thừa A
La Hán đă chẳng có ngươi, ta, kẻ khác. Đă phá
trừ Ngă Chấp, nhưng các Ngài c̣n có tâm, có pháp, có tâm
năng niệm, có pháp sở niệm (pháp được niệm),
vẫn chưa thể hợp thành một. Đó là Tiểu
Thừa, có Năng và Sở, Năng và Sở chưa thể
hợp thành một. Hợp thành một thứ, sẽ là Đại
Thừa Bồ Tát, đấy là kiến tánh thành Phật.
Tiểu
Thừa đă phá Ngă Chấp; do vậy, trong kinh luận,
đức Phật thường nhắc nhở chúng ta, khởi
tâm động niệm đừng nghĩ tới chính ḿnh.
Nghĩ tới chính ḿnh bèn tăng trưởng Ngă Chấp, đấy
chẳng phải là thiện pháp, mà là ác pháp, là chướng
ngại, là nghiệp chướng lớn nhất. Khởi
tâm động niệm đều nghĩ đến ta, thậm
chí c̣n nói “phái của ta, đảng của ta”, càng hỏng
bét! Ta cùng kẻ khác đối lập, tạo tội nghiệp
ngày càng sâu hơn, phải vào ba ác đạo. Khổng Tử
nói: “Nhân giả vô địch”
(Người nhân từ chẳng có kẻ đối địch),
“Địch” (敵) là đối
địch. Một người nhân từ th́ trong tâm chẳng
có kẻ đối lập, suốt một đời người
ấy vĩnh viễn chẳng có oan gia đối đầu,
người ấy chẳng đối lập với kẻ
khác. Phật pháp nói từ bi, so với ḷng Nhân, từ bi c̣n
được giảng tinh vi hơn. Khởi tâm động
niệm đối lập kẻ khác, đó là phàm phu ngu muội,
phàm phu bậc thấp, quả báo trong tương lai là ác đạo,
chẳng phải là hai đường nhân, thiên. Nho gia nói Ngũ
Thường (五常). Điều thứ nhất
trong Ngũ Thường là Nhân, [Ngũ
Thường là] nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Người ta
thường có oan gia đối đầu, [là do v́] vẫn
c̣n vạch giới hạn đối lập với người
khác. Hễ có ḷng Nhân, sẽ chẳng có [oan gia, chẳng có
giới hạn đối lập]. Sau khi đă bị thiếu
khuyết Ngũ Thường, đời sau chẳng
được làm thân người. Ngũ Thường
chính là Ngũ Giới trong nhà Phật, giữ năm giới
th́ đời sau có thể được làm thân người.
Kẻ chẳng phải là đệ tử Phật, nhưng
vâng giữ giáo dục đạo đức luân thường
của Nho gia cũng có thể được làm thân người.
Đời
người rất ngắn, cớ ǵ chẳng thể chung
sống với người khác? Cần ǵ cứ phải
đối lập với người ta? Nhường nhịn,
nhường một bước là được rồi,
chớ nên đối lập. Người chẳng học
Phật sẽ không biết, người thật sự học
Phật đầu óc sáng tỏ, quan sát vi tế: Phá Ngũ
Giới, đánh mất Ngũ Thường th́ đời
sau chẳng được làm thân người. Nay tuy là
người, nhưng đă ghi danh, nhập sổ bộ
trong ba ác đạo, chẳng bao lâu phải đi tŕnh diện,
người đáng thương như vậy, quư vị có
c̣n tranh đua với họ nữa chăng? Chúng ta
thương xót c̣n chẳng kịp, chớ nên tranh giành cùng
họ. Họ vạch giới tuyến với ta, ta chẳng
vạch giới tuyến với họ. Họ coi ta là kẻ
đối địch, ta chẳng đối địch họ,
đó là người học Phật. Gia đ́nh cũng thế,
mà đoàn thể cũng thế, quốc gia cũng thế,
hễ có kẻ đối địch, phiền phức sẽ
đưa đến, chẳng thể nào có hạnh phúc!
(Sớ)
Nhị giả, phi hữu, phi vô, phi diệc hữu diệc
vô, phi phi hữu phi vô, ly ư tứ cú, duy nhất tâm cố.
Thử thuần Lư Quán, bất chuyên sự tướng, quán
lực thành tựu, danh Lư nhất tâm, thuộc Huệ môn
nhiếp, kiêm đắc Định cố.
(疏)二者,非有,非無,非亦有亦無,非非有非無,離於四句,唯一心故。此純理觀,不專事相,觀力成就,名理一心,屬慧門攝,兼得定故。
(Sớ: Hai là “chẳng
có, chẳng không, chẳng phải là cũng có, cũng không,
chẳng phải là không phải có, không phải không” ĺa bốn
câu, v́ chỉ là nhất tâm. Điều này là thuần Lư
Quán, không chuyên trọng sự tướng. Quán lực thành
tựu, gọi là Lư nhất tâm, thuộc về Huệ môn, kiêm
đắc Định).
“Chẳng phải có, chẳng phải
không, chẳng phải là cũng có, cũng không, chẳng phải
là không phải có, không phải không”, được gọi
là “ĺa bốn câu”. Phật
gia thường nói “ly tứ
cú, tuyệt bách phi”.
(Diễn)
Ly ư tứ cú, duy thị nhất tâm giả, vị ly nhất
thiết pháp sai biệt chi tướng.
(演)離於四句,唯是一心者,謂離一切法差別之相。
(Diễn:
“Ĺa bốn câu, chỉ là nhất tâm”, ư nói: Ĺa tướng
sai biệt của hết thảy các pháp).
Hết
thảy các pháp có sai biệt hay không? Có sai biệt! V́ sao có
sai biệt? Duyên bất đồng. Hết thảy các pháp
đều sanh bởi duyên. Pháp sanh bởi nhân duyên, mà duyên bất
đồng, đương nhiên là có sai biệt bất
đồng, nhưng tâm chẳng bất đồng, tâm giống
như nhau. Quư vị dùng cái tâm thanh tịnh để nh́n hết
thảy vạn pháp, [sẽ thấy] tướng của hết
thảy các pháp là b́nh đẳng, thanh tịnh. V́ sao? V́ quư vị
chẳng có phân biệt. Hễ có phân biệt, sẽ khác hẳn.
Trong lúc quư vị chẳng có phân biệt, chẳng có chấp
trước, vạn pháp b́nh đẳng, thanh tịnh
như nhau, đấy là cảnh giới của chư Phật,
Bồ Tát. V́ thế, chư Phật, Bồ Tát chẳng có
phiền năo, chẳng có chấp trước, chẳng có vọng
tưởng, chẳng có ưu lự, chẳng có vướng
mắc. V́ sao? Các Ngài chẳng phân biệt, không chấp
trước! Phàm phu chúng ta đối với các cảnh giới,
do v́ phân biệt, chấp trước, nên quư vị sanh phiền
năo, có ưu lự, có vướng mắc. Nói thật ra, những
ưu lự, vướng mắc, phân biệt, chấp
trước ấy có thật hay không? Đối với tâm
thái và cách làm ấy, quư vị có thể thật sự đạt
được ǵ hay không? Rỗng tuếch, thứ ǵ
cũng chẳng đạt được! Nếu quư vị
chẳng tin tưởng, hăy suy nghĩ kỹ càng, đêm ngủ,
quư vị có ǵ hay không? Quư vị được ǵ trong thế
gian này? Đă ngủ say, người ta khiêng quư vị
đi cũng chẳng biết, c̣n được ǵ nữa
đây? Chẳng cần chờ đến chết, ngủ
say là đă chết tạm thời, thời gian chết rất
ngắn, sau mấy giờ, quư vị sống lại, vẫn
chẳng giác ngộ ư? Vốn là người sau khi
đă chết, thứ ǵ cũng chẳng mang theo được,
giống như khi ngủ, thứ ǵ cũng chẳng mang
theo được, thứ ǵ cũng chẳng có!
V́
thế, đối với thế gian này, xác thực là chúng
ta chẳng mang theo được ǵ, chẳng đạt được
ǵ, rỗng tuếch! Chẳng khác ǵ nằm mộng! Mỗi
ngày đều nằm mộng, v́ sao chẳng mơ giấc
mộng đẹp? Cớ sao nằm ác mộng? Người
giác ngộ bèn mơ giấc mộng đẹp, đó là du
hư thần thông. Chư Phật, Bồ Tát thị hiện du
hư thần thông trên thế gian, mỗi ngày đều có mộng
đẹp. Lục đạo phàm phu nằm ác mộng mỗi
ngày, chẳng biết chân tướng sự thật của
cái được tạo thành, cứ ngỡ hết thảy
vạn pháp là thật có, cứ ngỡ cái thân của chính
ḿnh là thật có, nên mới có Ái, Thủ, Hữu, mới làm
những chuyện ấy, mới phân biệt, chấp
trước, chẳng biết thân là giả, cảnh giới
bên ngoài cũng là không.
(Diễn)
Dĩ vô hư vọng tâm niệm cố.
(演)以無虛妄心念故。
(Diễn:
V́ chẳng có tâm niệm hư vọng).
Điều
trọng yếu nhất là người ấy chẳng có vọng
niệm. “Hư vọng tâm niệm”
là vọng tưởng, người ấy chẳng có vọng
tưởng.
(Diễn)
Sở vị Chân Như tự tánh, phi hữu tướng,
phi vô tướng, phi phi hữu phi vô tướng, phi hữu
vô câu tướng.
(演)所謂真如自性,非有相,非無相,非非有非無相,非有無俱相。
(Diễn: Nói đến
Chân Như tự tánh th́ nó chẳng phải là có tướng,
chẳng phải là không có tướng, chẳng phải là
“chẳng phải có, chẳng phải không có tướng”, chẳng
phải là vừa có tướng vừa vô tướng).
“Phi hữu vô câu tướng”:
Chẳng phải là vừa có vừa không. Đức Phật
nói lắm danh từ thuật ngữ dường ấy,
đều là từ vọng tưởng của hết thảy
chúng sanh. Nếu chúng sanh chẳng có vọng tưởng, đức
Phật sẽ chẳng nói một câu nào. V́ quư vị có vọng
tưởng, đức Phật mới nói, giống như
thầy thuốc chữa bệnh, quư vị chẳng có bệnh,
lấy đâu ra thuốc? Chẳng có thuốc! V́ quư vị
có bệnh, nên mới có thuốc để đối trị.
Chúng sanh có vọng tưởng, đức Phật mới
có pháp. Chúng sanh chẳng có vọng tưởng, Phật pháp
cũng chẳng có. Kinh Kim Cang nói “pháp
c̣n nên bỏ, huống hồ phi pháp”, “pháp” là Phật pháp.
(Diễn) Y nhất thiết chúng sanh dĩ hữu vọng
tâm, niệm niệm phân biệt, giai bất tương ứng,
cố thuyết vi Không. Nhược ly vọng tâm, thật
vô khả không cố.
(演)依一切眾生以有妄心,念念分別,皆不相應,故說為空;若離妄心,實無可空故。
(Diễn: Do hết thảy
chúng sanh có vọng tâm, niệm niệm phân biệt, đều
chẳng tương ứng, nên nói là Không. Nếu ĺa vọng
tâm, sẽ thật sự chẳng có ǵ là không).
V́ quư
vị “Có”, đức Phật mới nói “Không”. Chẳng c̣n
“Có” th́ đức Phật cũng chẳng thể nói Không
được! Phàm những ǵ có thể nói ra toàn là tương
đối, cái bên này được kiến lập th́ mới
có thể lập ra cái tương đối với nó. Nếu
cái bên này chẳng có, cái bên kia cũng chẳng có! Nhà Thiền
thường nói: “Ly danh tự
tướng, ly tâm duyên tướng, ly ngôn thuyết tướng,
đạo nhất cú lai!” (Ĺa tướng danh tự, ĺa
tướng tâm duyên, ĺa tướng ngôn thuyết, hăy nói một
câu coi nào!). Ví như đối với thứ này, tôi hỏi
quư vị nhé: Ĺa tướng tâm duyên, ĺa tướng danh tự,
ĺa tướng ngôn thuyết, quư vị hăy nói một câu cho
tôi biết, đó là ǵ vậy? Thứ này thật sự tồn
tại, là chân thật, quư vị có thể nói ra được
không? Nói chẳng được! “Nói chẳng được”
sẽ là thật, “có thể nói được” là giả! V́
sao là giả? Danh tự do người
ta gán cho nó, chẳng phải là cái nó vốn có. “Danh khả danh, phi thường danh”
(Cái tên mà có thể gọi ra được, chẳng phải
là cái tên thường hằng). Nó chẳng có danh tự, mà cũng
chẳng có ngôn thuyết, quư vị có thể nói ra được
hay không? Nói chẳng được!
(Diễn)
Vô tâm vô niệm Không Huệ tương ứng, cố thuộc
Huệ môn, chư vọng tiêu vong, cố kiêm đắc Định.
(演)無心無念空慧相應,故屬慧門,諸妄消亡,故兼得定。
(Diễn: Vô tâm vô niệm
tương ứng với Không Huệ, nên thuộc về Huệ
môn. Các vọng tiêu vong, nên kèm thêm đắc Định).
Lư
nhất tâm nhất định là đắc Niệm Phật
tam-muội, đă đắc Định. Sự nhất tâm
th́ không nhất định là có Huệ. Người có Huệ
nhất định có Định, người có Định
chưa chắc đă có Huệ. Lư nhất tâm cao hơn Sự
nhất tâm.
C̣n
như phương pháp tu học Lư nhất tâm th́ đoạn
tiếp theo sẽ nói rơ. Tuy nói rơ, cũng chỉ có thể
dùng làm tham khảo, rất khó tu học. Chúng ta phải nhận
biết chính ḿnh, chính ḿnh chẳng có năng lực ấy, hăy
nên tu tập theo mặt Sự! Sự tu vẫn có thể
văng sanh y hệt, đừng thấy Lư nhất tâm của
người ta là cao, chúng ta chẳng vói tới được!
Giống như trèo núi, người ta ngồi xe cáp treo, hoặc
ngồi máy bay trực thăng lên núi, chúng ta chẳng có bản
lănh ấy, chỉ đành trèo từ từ, sau một thời
gian dài hơn đôi chút cũng có thể lên đến
đỉnh núi. Do vậy, nhất định phải nhận
biết chính ḿnh, nhất định phải giữ bổn
phận, đạo nghiệp như vậy th́ mới có thể
thành công. Hôm nay, chúng tôi giảng tới chỗ này!
A Di Đà Kinh Sớ Sao
Diễn Nghĩa
Phần 114
hết
[1] Sáu kinh là kinh Hoa Nghiêm, kinh Giải Thâm
Mật, kinh Như Lai Xuất Hiện Công Đức Trang
Nghiêm, kinh Đại Thừa A Tỳ Đạt Ma, kinh
Lăng Già, kinh Đại Thừa Mật Nghiêm. Mười
một luận là Du Già Sư Địa Luận, Hiển
Dương Thánh Giáo Luận, Đại Thừa Trang Nghiêm
Kinh Luận, Tập Lượng Luận, Nhiếp
Đại Thừa Luận, Thập Địa Kinh
Luận, Quán Sở Duyên Duyên Luận, A Tỳ Đạt Ma
Tập Luận, Nhị Thập Duy Thức Luận,
Thập Biện Trung Biên Luận, Phân Biệt Du Già Luận.
Tuy vậy, trên thực tế, tại Trung Hoa, hai bộ
luận chủ yếu để nghiên cứu Duy Thức
Pháp Tướng lại là Thành Duy Thức Luận và Du Già
Sư Địa Luận.
[2] Lục Quần Tỳ Kheo (ṣaḍ-vargiṇīyo bhikṣuṇīyaḥ) là từ ngữ chỉ sáu vị tỳ-kheo kết bè đảng, gây rối Tăng đoàn thời đức Phật tại thế. Họ không giữ giới luật, làm nhiều chuyện ác, nhằm tạo cơ hội cho đức Phật chế giới. Theo luật Tứ Phần, các vị đó là Nan Đà (Nanda, đôi khi c̣n phiên âm là Nạn Đồ), Bạt Nan Đà (Upananda), Ca Lưu Đà Di (Kālodāyin), Xiển Na (Chanda, tức Xa Nặc), A Thuyết Ca (Aśvaka, c̣n dịch nghĩa là Mă Túc hoặc Mă Sư), và Phất Na Bạt (Punarvasu, Măn Túc).
[3] Phèn chua (Potassium
Alum) là muối sulfate kép ngậm nước của kalium và
nhôm, có công thức hóa học là KAl(SO4)2·12H2O. Chất
này c̣n được gọi là minh phàn (明礬), giáp phàn (鉀礬), giáp lữ phàn (鉀鋁礬), bạch phàn (白礬), sanh phàn (生礬), vũ niết (羽涅), vân mẫu phàn (雲母礬) v.v… Ngoài tác dụng làm trong nước do làm
kết tủa các tạp chất, nó c̣n dùng để thuộc
da, nhuộm màu và chế tạo bột nổi làm bánh (baking
powder), cũng như dùng để chế các thuốc khử
mùi hôi nơi thân thể. Nó cũng được dùng làm chất
cầm máu tạm thời khi cấp cứu.