A Di Đà Kinh Sớ
Sao Diễn Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 119
Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và
Đức Phong
Tập
237
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang bốn trăm năm
mươi tám:
(Sao)
Hựu Quán Phật Tam Muội Hải Kinh, Phật thị A
(鈔)又觀佛三昧海經,佛示阿難云:住念佛者,心印不壞。釋曰:諦了自心,名為觀佛;不為境亂,名為三昧;一體不移,名為心印等。
(Sao: Lại nữa,
trong kinh Quán Phật Tam Muội Hải, đức Phật
dạy ngài A
Đây
là ư nghĩa nhất tâm bất loạn được nói
trong kinh Quán Phật Tam Muội Hải. Trong nhiều kinh luận,
chúng ta đọc nhiều sẽ có thể hiểu rơ đức
Phật dạy Lư nhất tâm bất loạn rốt cuộc
là cảnh giới như thế nào! Tuy chúng ta rất khó chứng
nhập cảnh giới ấy, tối thiểu là có thể
liễu giải thêm đôi chút về mặt thường
thức, chuyện này sẽ giúp cho công phu niệm Phật của
bản thân chúng ta tăng tấn.
Đức
Phật bảo ngài A Nan: “Trụ
niệm Phật giả, tâm ấn bất hoại” (Trụ
trong niệm Phật là tâm ấn bất hoại), đó là
phần kinh văn [trong chánh kinh]. Kế đó, giải thích
niệm Phật là như thế nào? Tâm ấn bất hoại
là như thế nào? “Đế”
(諦) có nghĩa là chân
thật, “liễu” (了) là hiểu rơ. “Đế liễu” (諦了) là chân thật hiểu
rơ, chẳng sai lầm, hiểu rơ tự tánh, thâm nhập
chánh xác. “Tự tâm” là chân
tánh, là bản tánh của chính ḿnh. Nhà Thiền gọi “đế liễu tự tâm” là
“minh tâm kiến tánh”, đó
là “quán Phật”. Có thể thấy
cảnh giới này xác thực thuộc về Lư nhất tâm.
Lư nhất tâm là phá một phẩm vô minh, chứng một phần
Pháp Thân, là cảnh giới này, chẳng phải là cảnh
giới Sự nhất tâm. “Bất
vị cảnh loạn, danh vi tam-muội” (Chẳng bị
loạn bởi cảnh th́ gọi là tam-muội). Niệm Phật
tam-muội là cảnh giới ǵ? Trong tâm có chủ tể, chẳng
bị cảnh giới lục phàm dao động, nhiễu
loạn, cũng chẳng bị tứ thánh pháp giới khuấy
loạn, đó mới là Niệm Phật tam-muội thật
sự. Trong Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ, Thiện Đạo
đại sư đă giảng trong chương Thượng
Phẩm Thượng Sanh: A La Hán v́ chúng ta thuyết pháp, Địa
Tiền Bồ Tát[1] v́
chúng ta thuyết pháp, Địa Thượng Bồ Tát v́
chúng ta thuyết pháp, mười phương hết thảy
chư Phật đều v́ chúng ta thuyết pháp, nhưng chẳng
tương ứng với kinh Văng Sanh, ta thảy đều
không quan tâm tới, thảy đều chẳng nghe, thảy
đều chẳng tiếp nhận. Đó là “chẳng bị
tứ thánh pháp giới nhiễu loạn”, đó mới là Niệm
Phật tam-muội. “Nhất Thể
bất di, danh vi tâm ấn đẳng” (Một Thể chẳng
dời th́ gọi là tâm ấn). “Thể”
là chân tâm, là bản tánh, cũng là Nhất Chân pháp giới được
nói trong kinh Hoa Nghiêm. “Bất di”
(不移) là bất động,
bất biến. V́ sao? Chân tâm trọn khắp pháp giới. Hết
thảy các cơi Phật trong tận hư không khắp pháp giới
(nay ta gọi là vô lượng tinh hệ trong vũ trụ),
đều do chân tâm biến hiện. Tâm là năng biến
(cái có thể biến). Vô lượng vô biên tinh hệ trong
vũ trụ cho đến hư không đều là sở
biến (cái được biến). Năng và Sở là một,
không hai. V́ thế, nói là “nhất
Thể bất di”, đó gọi là “tâm ấn bất hoại”.
“Tâm ấn” (心印) là tỷ dụ chẳng
có trước sau, đồng thời hiển hiện.
Chúng ta viết chữ th́ từng nét bút, từng vạch phải
theo thứ tự, có trước, có sau. Nếu chúng ta muốn
sao chép kinh văn trong trang này bèn có trước sau. Trong ấn
loát, khi bản in gốc vừa ép xuống [giấy], toàn bộ
phần kinh văn này đều hiện tiền, chẳng
có trước sau, [dùng chữ “ấn”]
nhằm nêu ra ư nghĩa này. Sâm la vạn tượng trong tận
hư không khắp pháp giới sanh khởi có trước
sau hay chăng? Thưa cùng chư vị, chẳng có trước
sau. Các nhà khoa học hiện thời bất luận
thăm ḍ ra sao, trước sau vẫn chẳng có cách nào hiểu
rơ chân tướng, v́ chẳng hiểu hết thảy các hiện
tượng sanh khởi chẳng có trước sau. Kinh
Lăng Nghiêm nói: “Đương
xứ xuất sanh, tùy xứ diệt tận” (Sanh ra từ
nơi đâu, sẽ diệt ngay từ nơi đó), gần
như là sanh diệt đồng thời. Nếu các nhà khoa
học đọc kinh Lăng Nghiêm, có lẽ khoa học sẽ
tăng tấn, tiến cao hơn một nấc, có thể
chứng minh chân tướng được nói trong kinh Phật.
Nay chúng ta nghiên cứu theo phương hướng sai lầm,
luôn nghĩ chúng có thứ tự, luôn nghĩ chúng có khởi
nguyên. Đối với khởi nguyên của vũ trụ,
sinh vật và nhân loại, [giới khoa học] luôn bảo là
chúng có trước sau, không biết là chúng chẳng có trước
sau. T́nh h́nh này có thể lănh hội, kiểm nghiệm bằng
mộng cảnh. Chúng ta nằm mộng, cảnh giới
trong mộng bỗng dưng hiện tiền, cảnh giới
ấy có trước sau hay chăng? Một thứ sanh, hết
thảy đều sanh! Vừa tỉnh giấc, mộng cảnh
chẳng c̣n nữa. Một thứ diệt, hết thảy
đều diệt! Chẳng phải là diệt theo thứ
tự, mà cũng chẳng phải là sanh theo thứ tự.
Các hiện tượng trong toàn thể đại vũ trụ
cũng là t́nh h́nh này, tỏ rơ ư nghĩa “tâm ấn bất hoại”. Năng và Sở đều
bất hoại. Các hiện tượng được biến
hiện chính là “tương tục
tướng” (相續相: tướng liên
tục). Các hiện tượng liên tục [xuất hiện
và diệt mất] mà thôi, t́m sự sanh diệt đúng là t́m
chẳng thấy. Nhập cảnh giới này, bèn gọi là “chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn”.
“Vô Sanh” (無生) là hết thảy
vạn pháp xác thực chẳng có sanh diệt. Chẳng có sanh
diệt là vô sanh; vô sanh bèn vô diệt. “Pháp” (法) là hết thảy các pháp. Nhẫn
(忍) là thừa nhận.
Quư vị đă thấy sự thật này, thừa nhận
lời Phật dạy “hết thảy các pháp bất sanh, bất
diệt”, đó gọi là “chứng
đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn”. Hết thảy các pháp bất
sanh bất diệt là ư nghĩa “tâm
ấn bất hoại”.
(Sao)
Hựu Xá Lợi Phất Đà La Ni kinh vân: “Duy tu nhất
tâm niệm Phật”, giai Lư nhất tâm nghĩa dă.
(鈔)又舍利弗陀羅尼經云:唯修一心念佛,皆理一心義也。
(Sao: Lại nữa,
kinh Xá Lợi Phất Đà La Ni nói: “Chỉ
tu nhất tâm niệm Phật đều có nghĩa là Lư nhất
tâm vậy”).
Kinh Xá Lợi Phất Đà La Ni[2] nói
“nhất tâm niệm Phật”
cũng là nói tới Lư nhất tâm, cảnh giới này khá
cao.
(Sớ)
Hựu tuy vân nhất tâm, thật tắc Quán Kinh tam tâm, Khởi
Tín tam tâm, Luận tam tâm.
(疏)又雖云一心,實則觀經三心,起信三心,論三心。
(Sớ: Lại nữa,
tuy nói là “nhất tâm”, nhưng thật ra, đó chính là ba tâm
trong Quán Kinh, ba tâm trong Khởi Tín Luận, ba tâm trong Văng Sanh
Luận).
Kinh
điển, chú sớ của Tịnh Độ Tông nếu
chỉ nói “Luận”, tức
là nói tới Văng Sanh Luận. Nếu nói tới những bộ
luận khác, nhất định phải ghi thêm tên trước
chữ Luận, như [nói đến] Khởi Tín Luận
th́ phải thêm chữ Khởi Tín vào [trước chữ Luận,
nói tới ] Trí Độ Luận th́ phải thêm chữ Trí
Độ.
(Sớ)
Năi chí Hoa Nghiêm thập tâm, Bảo Tích thập tâm, vô bất
cụ cố.
(疏)乃至華嚴十心,寶積十心,無不具故。
(Sớ: Cho đến
mười tâm trong kinh Hoa Nghiêm, mười tâm trong kinh Bảo
Tích, không ǵ chẳng trọn đủ).
Thảy
đều trọn đủ.
(Sớ)
Hựu Tịnh Danh bát pháp, diệc nhất tâm cố. Đức
Vân nhị thập nhất Niệm Phật môn, diệc bất
xuất thử Lư nhất tâm cố.
(疏)又淨名八法,亦一心故;德雲二十一念佛門,亦不出此理一心故。
(Sớ: Lại nữa,
tám pháp trong kinh Tịnh Danh cũng là nhất tâm. Hai
mươi mốt môn Niệm Phật của ngài Đức
Vân cũng chẳng ra ngoài Lư nhất tâm vậy).
Trong kinh, đức
Phật ứng cơ thuyết pháp, có lúc nói rất nhiều,
có khi nói rất ít. Bất luận nói nhiều hay ít, đều
chẳng ra ngoài Lư nhất tâm. V́ sao đức Phật chẳng
thuyết pháp nhất định? Trong kinh Kim Cang, đức
Phật đă nói rơ thái độ giáo hóa chúng sanh của
Ngài: Đức Phật không chỉ là “vô hữu định pháp khả thuyết” (chẳng
có pháp nhất định để có thể nói), mà nói thật
ra, sẽ là “vô hữu pháp khả
thuyết” (chẳng có pháp nào để có thể nói). Nói
lời chân thật đấy nhé! Chẳng có pháp để
nói, mà nói hết thảy các pháp. Hết thảy các pháp ấy
chính là “chẳng có pháp”. Nếu quư vị có thể thấu hiểu
ư nghĩa này, quư vị mới có thể lănh hội ư thú
trong lời thuyết pháp của đức Phật, mới
có thể nghe hiểu, mới chẳng hiểu lầm ư
nghĩa của Ngài. Pháp ấy được đức Phật
nói như thế nào? Do v́ hết thảy chúng sanh vọng
tưởng, chấp trước, nên Ngài nói ra hết thảy
các pháp không ǵ chẳng nhằm mục đích phá vọng
tưởng và chấp trước của quư vị mà thôi.
Vọng tưởng và chấp trước của mỗi
người mỗi khác. Do vậy, phương pháp phá chấp
trước của đức Phật đối với mỗi
chúng sanh sẽ khác nhau, phương pháp thiên biến vạn
hóa, há có pháp nhất định để có thể nói
ư? Chúng ta học theo đức Phật thuyết pháp, phải
học từ chỗ này th́ mới là thật sự hiểu,
sẽ giống như thầy thuốc khám bệnh: Tuyệt
đối chẳng thể dựa theo toa thuốc đă kê
sẵn để khám bệnh, há có đạo lư ấy! Chẳng
có pháp để có thể nói. Chẩn đoán bệnh t́nh, kê
toa ngay trong lúc ấy: Quư vị mắc bệnh ǵ, cho quư vị
dùng toa thuốc nào. Hai người mắc cùng một
căn bệnh, nhưng thể chất khác nhau, hoặc là
nguyên nhân gây bệnh khác nhau, thời gian phát bệnh chẳng
giống nhau, [cho nên] sử dụng phân lượng thuốc
cũng khác nhau. Đó mới là một thầy thuốc giỏi.
Hiện thời, giảng kinh thuyết pháp đều là
đem toa thuốc đă viết sẵn để chữa
bệnh cho chúng sanh. Nếu chẳng trị lành bệnh của
chúng sanh, [bèn đổ thừa]: “Ngươi chẳng bị
bệnh đúng theo toa thuốc của ta!” Lời lẽ nực
cười! Hiện thời, chỗ khó khăn trong giảng
kinh là khó ở chỗ này! Nhất định là phải có
tu tŕ, nhất định là phải có lănh ngộ, bản
thân chúng ta mới có thể đạt được lợi
ích thật sự nơi Phật pháp. Chính ḿnh đă đạt
được lợi ích th́ mới có thể giúp đỡ
người khác. V́ thế, những điều do đức
Phật đă giảng v́ người nghe [căn cơ khác
biệt] mà [thuyết pháp] sai khác, do thời điểm mà sai
khác, do nơi chốn mà sai khác, nhưng nguyên tắc bất
biến, c̣n phương pháp và kỹ xảo sẽ tùy thời
biến đổi! Chúng ta phải học, điều quan
trọng nhất là học lấy những điều bất
biến, cái bất biến chính là nguyên lư và nguyên tắc, tức
là nhất tâm. Chúng ta phải học điều này. Nhất
tâm là chân tâm, nhất tâm lưu lộ từ tự tánh.
(Sao)
Quán Kinh tam tâm giả, nhất giả chí thành tâm, nhị giả
thâm tâm, tam giả hồi hướng phát nguyện tâm, dữ
Khởi Tín tam tâm, danh thù lư nhất.
(鈔)觀經三心者,一者至誠心,二者深心,三者回向發願心,與起信三心,名殊理一。
(Sao: “Ba tâm trong Quán
Kinh”: Một là chí thành tâm, hai là thâm tâm, ba là hồi hướng
phát nguyện tâm, so với ba tâm trong Khởi Tín Luận th́
tên gọi khác nhau, nhưng có cùng một lư).
Danh
xưng của ba tâm [trong Quán Kinh] chẳng giống với
ba tâm được nói trong Khởi Tín Luận, nhưng ư
nghĩa và cảnh giới hoàn toàn giống nhau.
(Sao)
Lương dĩ chí thành tâm giả, tức Khởi Tín trực
tâm chánh niệm Chân Như, nhi thử nhất tâm bất loạn,
cánh vô hư vọng, cánh vô thiên lưu, tùy thuận Chân
Như cố.
(鈔)良以至誠心者,即起信直心正念真如,而此一心不亂,更無虛妄,更無遷流,隨順真如故。
(Sao: Bởi lẽ,
chí thành tâm chính là “trực tâm chánh niệm Chân Như” trong Khởi
Tín Luận. Thế mà nhất tâm bất loạn chẳng có
hư vọng, lại chẳng đổi dời, v́ nó tùy
thuận Chân Như).
Giảng
rơ v́ sao chí thành tâm được nói trong Quán Kinh và trực tâm
trong Khởi Tín Luận có cùng một ư nghĩa. Giải
thích rất hay, đơn giản, trọng yếu, tường
tận, rơ ràng. “Chí thành tâm”:
Chí thành là chân thành tột bậc, đấy cũng là cái
tâm chân thành, tức là Thể, nói theo Thể. Hai thứ tiếp
đó (thâm tâm và hồi hướng phát nguyện tâm) là nói
theo tác dụng. Tâm chỉ có một, tức là nhất tâm bất
loạn, v́ sao xuất hiện ba tâm? Tam tâm nhị ư là hư
vọng, chẳng thật, nhất tâm mới là thật. Cớ
sao nhất tâm có thể biến thành ba tâm? Đây là nói [tách
ra] theo Thể và tác dụng. Chí thành tâm là Thể, thâm tâm là
tác dụng, hồi hướng phát nguyện tâm cũng là
tác dụng, hai thứ tác dụng! Hai thứ tác dụng ấy,
một đằng là Tự Thọ Dụng, đằng kia
là Tha Thọ Dụng, cũng có nghĩa là: Chúng ta dùng cái tâm
ǵ để đối với chính ḿnh và dùng cái tâm ǵ đối
với người khác. Do vậy, tác dụng của tâm
được chia thành Tự Thọ Dụng và Tha Thọ
Dụng, trên thực tế, chúng là một nhất tâm. Thể
vô cùng quan trọng. Nếu Thể chẳng hiện tiền,
chắc chắn là chẳng có hai tác dụng ấy. Nhất
định là phải có Thể trước rồi mới
có tác dụng. “Thành” (誠) được nói ở
đây là “chân thành”. Tâm như thế nào th́ mới là chân
thành? Chúng ta có thành tâm hay chăng? Chẳng cần nói tới
tâm chí thành, [chỉ cần xét chính ḿnh] có thành tâm hay không?
Đức Phật nói là “thành tâm”, Nho gia nói là “thành ư”, có cùng
một ư nghĩa như trong nhà Phật đă nói. Chúng ta có thành
ư hay không? “Thành ư, chánh tâm” của
Nho gia là nhất tâm. “Thành ư” (誠意) là nói tới cái
Thể của nhất tâm, “chánh
tâm” (正心) là nói tới cái
Dụng của nhất tâm. Nói tới tác dụng của
chân tâm, họ (Nho gia) đă gộp Tự Thọ Dụng và
Tha Thọ Dụng thành một, đặt tên là “chánh tâm”. Đức Phật
giảng cặn kẽ, tách Dụng thành hai môn Tự Thọ
Dụng và Tha Thọ Dụng.
Chữ
“thành” (誠) rất khó hiểu, mỗi
người chúng ta thường cảm thấy “ta đă rất
thành khẩn”, “ta đă rất chân thành”, có phù hợp tiêu chuẩn
ấy hay chăng? Nói thật ra, kém xa lắm! “Thành” phải nói như thế
nào? Trong Độc Thư Bút Kư (bút kư đọc sách), tiên
sinh Tăng Quốc Phiên có nói: “Một
niệm chẳng sanh bèn gọi là Thành”. Tiêu chuẩn này rất
gần với tiêu chuẩn của Nho và Phật. Do vậy
có thể biết: Chúng ta khởi tâm động niệm, sẽ
chẳng phải là thành tâm, chẳng phải là chân tâm. Trong
kinh Phật thường nói: “Chân
tâm ly niệm”. Chân tâm chẳng có ư niệm, chẳng có vọng
tưởng. Có vọng niệm, tâm sẽ chẳng chân. Hễ
có niệm th́ đều là vọng. Có vọng niệm sẽ
chẳng phải là chân tâm. Mỗi người chúng ta đều
có chân tâm, nhưng bị vọng niệm chướng ngại.
Chân tâm giống như mặt trời, vọng niệm giống
như mây đen. Vầng mây che khuất mặt trời,
chân tâm chẳng thể hiển lộ được! Chân
tâm chẳng thể hiển lộ, đương nhiên chân
tâm chẳng khởi tác dụng. Nhà Phật nói “tu hành” là tu
ǵ? Bất luận tông phái nào, bất luận Hiển Giáo
hay Mật Giáo, đều là tu tâm. Trừ điều này ra,
chẳng có điều thứ hai nào cả! Tâm c̣n phải
tu ư? Tâm chẳng cần tu, vậy th́ tu ǵ? Trừ bỏ
chướng ngại mà thôi! Trừ hết vọng tưởng,
Chân bèn hiện tiền. Nếu quư vị mong cầu Chân, “cầu
Chân” lại là một vọng niệm, Chân sẽ vĩnh viễn
chẳng thể hiện tiền. Chỉ trừ vọng
tưởng, chẳng cầu Chân, Chân sẽ tự nhiên lộ
ra. Đối với chân tâm, kinh Lăng Nghiêm nói là “thường trụ chân tâm”.
Chân tâm chẳng có sanh diệt, chẳng biến đổi,
nên gọi là “thường trụ
chân tâm”. Vọng tâm là vô thường, Phật pháp nói “quán tâm vô thường”. Quán vọng
tâm, niệm này dấy lên, niệm kia diệt mất, mỗi
niệm đều khác, lúc nghĩ như thế này, lúc
nghĩ như thế nọ. Do đó, vọng tâm là vô
thường, chân tâm là thường trụ, chân tâm là nhất
tâm.
Nếu
chúng ta thật sự hiểu rơ chuyện này, quư vị
đă đạt được quá nửa yếu quyết
tu hành trong Phật pháp. Có những kẻ chuyên tŕ một câu
Phật hiệu, thời gian niệm cũng chẳng bao
lâu, có thể biết trước lúc mất, chẳng sanh bệnh,
đứng mất, ngồi mất, ra đi tiêu sái như
thế ấy, do nguyên nhân ǵ? Nhất tâm niệm, chẳng
c̣n dấy vọng tưởng nữa! Nhất tâm nhất
ư niệm câu A Di Đà Phật, tuy thời gian chẳng lâu, người
ấy thành công. Trong phần trước có nói: Người
ấy đắc Niệm Phật tam-muội, cho nên người
ấy văng sanh, lui tới Tịnh Độ của chư
Phật như ư. Hết thảy các cơi Phật đều do
tự tánh biến hiện, đến đi tự do, há có
khó khăn ǵ! Tây Phương Cực Lạc thế giới
cũng do tự tánh biến hiện, “duy tâm Tịnh Độ, tự tánh Di Đà”. Nhất
tâm vô cùng quan trọng! Căn bệnh to lớn của chúng
ta là vọng tưởng chẳng ngừng, mỗi ngày từ
sáng đến tối dấy vọng tưởng, ngay cả
nằm ngủ vẫn dấy vọng tưởng. Do dấy
vọng tưởng mới nằm mộng; chẳng dấy
vọng tưởng sẽ không nằm mộng. Có thể
thấy: Ngày đêm vọng tưởng không ngừng, chẳng
có lúc nào gián đoạn! Vọng tưởng chẳng thể
ngưng dứt, sẽ chẳng thể đoạn lục
đạo luân hồi. Từ vô thỉ kiếp tới nay,
chúng ta cứ luân hồi trong lục đạo. Tạo
thành sự luân hồi trong lục đạo như thế
nào? Do dấy vọng tưởng mà tạo! Vọng tưởng
đáng sợ lắm! Nay đức Phật dạy chúng ta phương
pháp vượt thoát luân hồi, phương pháp vĩnh viễn
thoát sanh tử, quư vị có ḷng thành để thực hiện
là được. Tâm chí thành khẩn yếu lắm! Có ba
tâm ấy của Quán Kinh, quyết định văng sanh, bất
thoái thành Phật.
Thứ
hai là “thâm tâm”. Thâm tâm là Tự
Thọ Dụng, chúng ta cũng thường nói là “sự
hưởng thụ về mặt tinh thần”. Sự
hưởng thụ chí cao vô thượng là thâm tâm. Nhưng
nếu quư vị chẳng có tâm chân thành như đă nói trên
đây, sẽ chẳng đạt được sự
hưởng thụ này. Sự hưởng thụ chí cao vô
thượng là do tâm chân thành khởi tác dụng.
(Diễn)
Phật quả thâm cao, dĩ tâm văng cầu, cố viết
thâm tâm.
(演)佛果深高,以心往求,故曰深心。
(Diễn:
Phật quả cao sâu, dùng tâm để cầu, nên nói là
“thâm tâm”).
Lấy
Phật làm mục tiêu truy cầu của chúng ta. Nay chúng ta học
Phật, nhất là xuất gia, muốn gia nhập hàng
ngũ trong Phật pháp giới. Hàng tại gia học Phật,
nói thật ra, cũng nhằm mục đích muốn gia nhập
hàng ngũ của Phật, Bồ Tát th́ mới là “học Phật”.
Nếu tâm chẳng chân thành, hằng ngày vẫn suy nghĩ
loạn xạ, vẫn phải luân hồi trong lục đạo
y như cũ, căn bản là trong hàng ngũ của Phật,
Bồ Tát chẳng có quư vị! Quư vị học Phật ở
chỗ nào? Đó là hữu danh vô thực. Do vậy, quyết
định phải tham dự hàng ngũ của Phật, Bồ
Tát. Đặc biệt là xuất gia, cổ đức
thường nói: “Hễ xuất
gia bèn gánh vác gia nghiệp của Như Lai”. Trên cầu Phật
đạo, dưới hóa độ chúng sanh; đó là gia
nghiệp của Như Lai, là sự nghiệp của Bồ
Tát. Cầu Phật đạo, ở đây nói là “Phật quả cao thâm”, chúng
ta nhất tâm mong cầu, bèn gọi là “thâm tâm”. Chúng sanh vô biên, không chỉ là khu vực
này, không chỉ là quả địa cầu này. Ngoài địa
cầu ra, c̣n có vô lượng vô biên thế giới, mỗi
thế giới đều có vô lượng vô biên chúng sanh,
tâm lượng của chúng ta phải rộng lớn giống
như Phật và đại Bồ Tát, phải phổ độ
hết thảy chúng sanh trong pháp giới, mong bằng chư
Phật Như Lai, mong học tập chư Phật Như
Lai. Đó là đại sự xuất gia. Cổ đức
thường nói: “Xuất gia
phi thế gian tướng tướng
chi sở năng vi” (Xuất gia
chẳng phải là chuyện những kẻ đứng
đầu văn vơ bá quan có thể làm được)[3].
Thật đấy! Quư vị liễu giải sự thật
này, mới biết: Kẻ làm quốc vương, làm tể
tướng, làm thống soái trong thế gian, chẳng có ǵ hiếm
hoi, lạ lùng cả! Xét theo tâm lượng, xét theo sự
nghiệp, xét theo thành tựu, quyết định là [những
kẻ đó] chẳng thể sánh bằng Phật, Bồ
Tát, tâm lượng và sự nghiệp của các Ngài quá rộng
lớn!
(Diễn)
Diệc tùng thâm lư sanh, diệc tùng hậu nhạo thiện
căn sanh.
(演)亦從深理生,亦從厚樂善根生。
(Diễn: Cũng sanh
từ lư sâu xa, cũng sanh từ ḷng ưa thích thiện
căn sâu dầy).
“Tùng thâm lư” (Từ lư sâu). Chí
thành tâm là thâm lư. “Hậu nhạo”
(厚樂) là yêu thích sâu dầy
tột bậc, ưa chuộng “thiện
căn”. V́ thế, tâm này niệm nào cũng đều
sanh ra hết thảy thiện pháp. Chúng ta thường nói
“thâm tâm” theo kiểu nói nông cạn, đơn giản là “ưa thiện chuộng đức”.
Ưa thiện chuộng đức chính là ư nghĩa thuộc
phần sau của [đoạn văn Diễn Nghĩa trên
đây], “tùng hậu nhạo thiện
căn” (từ ḷng ưa thích thiện căn sâu dầy).
Cách nói này dễ hiểu. Nói với người mới học,
càng đơn giản, họ càng dễ hiểu rơ, [thâm tâm]
là ưa thiện chuộng đức. Tiêu chuẩn của
thiện và đức rất nhiều, tiêu chuẩn
được nói ở đây là tiêu chuẩn tuyệt
đối. Tiêu chuẩn tuyệt đối là xứng tánh,
là chân thành.
(Diễn)
Tuy hữu tam nghĩa, nhi bất tương xả.
(演)雖有三義而不相捨。
(Diễn:
Tuy có ba nghĩa, nhưng chúng chẳng tách ĺa nhau).
Ba ư
nghĩa ấy tương thông, bất cứ ư nghĩa nào
cũng trọn đủ hai ư nghĩa kia. V́ thế, nó hiển
hiện rất sâu.
(Diễn) Cầu
cao thâm quả, tu kiến thâm lư. Dục khế thâm lư, tu hậu
nhạo thiện căn. Thử năi lập hạnh y lư cầu
quả dă.
(演)求高深果,須見深理,欲契深理,須厚樂善根,此乃立行依理求果也。
(Diễn: Cầu quả
cao sâu, cần phải thấy lư sâu. Muốn khế nhập
lư sâu, cần phải ưa thích thiện căn sâu dầy.
Đây chính là lập hạnh, nương vào lư để cầu
quả).
Nhất
định là phải “kiến
thâm lư”, Thiền Tông gọi “kiến
thâm lư” là “kiến tánh”, Tịnh
Độ Tông nói là “nhất tâm
bất loạn”, hoặc Niệm Phật tam-muội.
Đó là thành tựu chân thật, thành tựu thật sự
của người niệm Phật. Do vậy, chúng ta niệm
Phật, quyết định chẳng cầu tiếng
tăm, lợi dưỡng, chẳng cầu công danh, phú quư.
Tuy hết thảy chẳng cầu, nhưng phú quư, trí huệ,
khỏe mạnh, sống lâu là những điều trong tâm người
thế gian thường mong mỏi, người học Phật
sẽ tự nhiên đều đạt được, chẳng
bị thiếu sót ǵ! V́ sao chẳng thiếu khuyết? Từ
trong tâm chân thành tự nhiên lưu lộ, lẽ nào bị
khuyết thiếu? Đối với người thế
gian, ba thứ ấy đều do tu bố thí mà có. V́ sao? Tánh
Đức của họ chẳng lưu lộ, họ cần
phải cậy vào Tu Đức. Chẳng tu, sẽ chẳng
thể đạt được, chẳng thể thọ
dụng. Có tu th́ mới đạt được, chẳng
tu sẽ không đạt được, rất khổ!
Người học Phật chúng ta chuyên cầu nhất tâm,
nhất tâm là Tánh Đức. Trong Tánh Đức, thảy
đều trọn đủ, chẳng cầu cũng đạt
được, không tu cũng đạt được! V́
sao? Tánh Đức vốn trọn đủ. Khi kiến
tánh, Lục Tổ đại sư đă nói: “Nào ngờ tự tánh, vốn sẵn
trọn đủ”. Chẳng phải do tu được,
mà là vốn sẵn có. Chúng ta vốn sẵn có, nay bị vọng
tưởng, chấp trước, phiền năo che lấp,
chẳng khởi tác dụng, cho nên phải tu đôi chút th́
mới có tác dụng đôi chút. Ví như quư vị có của
cải, tài khoản trong ngân hàng có tới mấy trăm vạn,
nhưng quên bẵng tài khoản đó, tưởng chính ḿnh
là gă nghèo kiết xác, phải làm việc mỗi ngày. Ngày nào
chẳng làm, ngày đó chẳng có cơm ăn! Quư vị nói
xem có đáng thương lắm hay không? “Làm việc” là “tu”,
kiếm được chút tiền để sống qua
ngày là “đắc”. Nay chúng ta sống như vậy đó,
chẳng biết chính ḿnh là đại phú ông! Người
tu nhất tâm chẳng cần làm lụng nữa, ta chuyên tu nhất
tâm. Ta vốn có lắm của cải ngần ấy, đều
có thể lôi ra dùng, ư vị là như thế đó. Mỗi
người chúng ta, [cũng như] hết thảy chúng sanh
đều có trí huệ và đức tướng y hệt
như chư Phật Như Lai, chẳng hai, chẳng khác chư
Phật Như Lai. V́ sao các Ngài phú quư dường ấy,
chúng ta bần cùng ngần ấy? Do chúng ta đă quên bẵng
chính ḿnh phú quư, chẳng biết chính ḿnh cũng có. Chúng ta rất hâm mộ Phật, Phật
trọn chẳng coi thường chúng ta. Phật biết
chúng ta phú quư giống hệt như Ngài, nay chúng ta đang
mê, hồ đồ, mê muội, chính ḿnh có tiền mà chẳng
biết, hằng ngày làm lụng vất vả để sống
qua ngày, chuyện là như vậy đó. Như vậy mới
biết tu hành đáng quư!
(Diễn)
Hồi hướng phát nguyện tâm giả, dĩ Chân
Như thật niệm, thú quả thiện tâm, nhị tâm
công đức, thiện xảo hồi hướng, nguyện
sanh Tịnh Độ, tốc chứng Pháp Nhẫn, quảng
bạt nhất thiết chúng sanh khổ năo.
(演)回向發願心者,以真如實念,趣果善心,二心功德,善巧回向,願生淨土,速證法忍,廣拔一切眾生苦惱。
(Diễn: “Hồi
hướng phát nguyện tâm”: Dùng Chân Như để thật
niệm, thiện tâm hướng đến quả, khéo léo
hồi hướng công đức do hai tâm, nguyện sanh về
Tịnh Độ, mau chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn, cứu vớt
rộng răi hết thảy các chúng sanh đang khổ năo).
Chúng
ta thường nói đến hồi hướng, hồi
hướng có ba chỗ:
1) Thứ nhất
là Hồi Hướng Thật Tế, “dĩ Chân Như thật niệm” (dùng Chân Như
để thật niệm) chính là Hồi Hướng Thật
Tế. “Hồi” (回) là trở về,
gom hết thảy công đức do chúng ta đă tu tập,
tích lũy về một mục tiêu, bèn có thành tựu chẳng
thể nghĩ bàn. Thật Tế (實際) là chân tâm, bản
tánh. Chúng ta tu học chẳng có chi khác, nhằm cầu minh
tâm kiến tánh, những thứ khác đều chẳng cầu.
Trong tông này, chuyên cầu nhất tâm bất loạn, chúng ta
niệm Phật nhằm cầu điều này. Cầu
điều này vẫn chẳng dễ cho lắm! Nếu có
tâm cầu, cái tâm mong cầu ấy chính là vọng niệm, sẽ
chướng ngại quư vị đắc nhất tâm bất
loạn. Có nguyện “mong cầu”, nhưng chẳng có tâm
mong cầu, chẳng có ư niệm mong cầu th́ mới
được. Điều này rất khó hiểu, rất
khó lănh hội, thật ra, [biết] nó khó khăn là
được rồi, chẳng cần phải quan tâm tới
nó. Chúng ta chuyên cầu văng sanh Tịnh Độ, hăy là cầu
nơi Sự. Cầu nơi Sự sẽ dễ dàng, dễ
hiểu, dễ lư giải, mà cũng dễ học tập.
Chúng ta chuyên cầu văng sanh Tịnh Độ là được
rồi! Cổ đức thường nói: “Đản đắc kiến Di Đà, hà sầu bất
khai ngộ?” (Chỉ mong thấy Di Đà, lo ǵ chẳng
khai ngộ). Đă thấy A Di Đà Phật, hết thảy
đều được giải quyết, phương
pháp này mầu nhiệm lắm! Nghe kinh có hiểu hay không, chẳng
sao cả, chẳng khẩn yếu! Điều khẩn yếu
là thật sự kiến lập tín tâm, tin tưởng Tây
Phương Cực Lạc thế giới là có thật, tin
tưởng thật sự có A Di Đà Phật, tin tưởng
chúng ta thật sự mong văng sanh sẽ quyết định
được thành tựu. Thật thà niệm một câu A
Di Đà Phật sẽ thành công, vấn đề ǵ cũng
đều được giải quyết. Chúng ta đọc
kinh, nghiên cứu, thảo luận nhằm mục đích thật
sự là khiến cho tín tâm thêm mạnh mẽ. Có thể nghe
hiểu th́ rất tốt, v́ sẽ có thể giúp quư vị
nâng cao cảnh giới. Nghe chẳng hiểu, [đọc
kinh, nghiên cứu, thảo luận] sẽ tăng cường
tín nguyện của chính ḿnh, quyết định văng sanh.
2) Thứ
hai là Hồi Hướng Bồ Đề. Bồ Đề
là trí huệ, trí huệ hết sức quan trọng.
3) Thứ ba là Hồi
Hướng Chúng Sanh. Chúng ta nhất định phải giống
như chư Phật Như Lai, dốc hết tâm chân thành,
tâm thanh tịnh, tâm b́nh đẳng của chính ḿnh để
giúp đỡ hết thảy chúng sanh.
Nay chúng ta chẳng
có năng lực, chẳng có năng lực th́ phải có
tâm. Chớ nên nói “chẳng có năng lực” rồi ngay cả
cái tâm cũng chẳng có, sai mất rồi! Chúng ta có cái tâm ấy,
công đức bèn viên măn. Thật sự có cái tâm ấy,
chúng ta sẽ tận tâm tận lực thực hiện, có một
phần năng lực bèn làm một phần, có hai phần
năng lực bèn làm hai phần, công đức bèn viên măn. V́
sao? Tận tâm tận lực thực hiện, cho nên nói là
“công đức viên măn”.
(Diễn)
Khởi Tín tam tâm giả, nhất giả trực tâm, chánh niệm
Chân Như pháp cố. Vị hướng lư chi tâm, biệt
vô kỳ lộ, thử tức nhị hạnh chi bổn.
(演)起信三心者,一者直心,正念真如法故。謂向理之心,別無岐路,此即二行之本。
(Diễn: “Ba tâm trong
Khởi Tín Luận”: Một là trực tâm, v́ chánh niệm
pháp Chân Như. Có nghĩa là tâm ấy hướng theo Lư, chẳng
có con đường rẽ nào khác. Tâm này chính là cội gốc
của hai hạnh kia (thâm tâm và đại bi tâm).
“Nhị hạnh” là thâm tâm và đại bi tâm
được nói trong phần sau, nêu rơ nó (trực tâm) là Thể.
Hai điều sau là tác dụng, tác dụng chẳng thể
tách rời bản thể. Nay chúng ta niệm Phật, nhất
tâm nhất ư mong cầu văng sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới, đấy là “hướng
Lư chi tâm” (cái tâm hướng theo Lư). Có người nói: “Nhất
tâm cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới,
đó là Sự”. Chẳng sai! Sự do đâu mà có? Sự do
Lư mà có! Lư và Sự chẳng thể tách rời. Lư quá sâu, quá
khó, chúng ta cầu nơi Sự. Đă đạt được
Sự th́ Lư cũng hiểu rơ, đó là đúng. Chúng ta chẳng
phải là bậc thượng thượng căn, chẳng
có trí huệ cao dường ấy, đại đa số
là kẻ trung hạ căn, tu nơi Sự sẽ quyết
định thành công. Câu kế tiếp rất quan trọng,
“biệt vô kỳ lộ” (chẳng
có con đường rẽ nào khác). Chúng tôi sửa một
chữ, sẽ là “chẳng c̣n sanh lộ nào khác”. Quư vị mới
biết tầm quan trọng của chuyện này. Trừ con
đường này ra, chẳng c̣n sanh lộ nào khác, khăng
khăng một mực thật thà niệm Phật, khẩn
yếu lắm!
(Diễn)
Nhị giả thâm tâm, nhạo tập nhất thiết
chư thiện hạnh cố. Vị tu cụ vạn đức,
hồi hướng tâm nguyên, tức tự lợi hạnh
bổn.
(演)二者深心,樂集一切諸善行故。謂修具萬德,回向心源,即自利行本。
(Diễn: Hai là thâm
tâm, do thích tu tập hết thảy các thiện hạnh.
Nghĩa là tu trọn đủ muôn đức, hồi
hướng nguồn tâm. Đây chính là cội gốc của
hạnh tự lợi).
“Thâm tâm” là tự lợi, là Tự
Thọ Dụng. Hết thảy những ǵ chính ḿnh tu tập
đều nhằm trang nghiêm Tây Phương Cực Lạc
thế giới, tạo thành tư lương để chúng
ta văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Nói
theo cách hiện thời, [tư lương (資糧) là] điều
kiện. Chúng ta trọn đủ viên măn các điều kiện,
quyết định được văng sanh. Tâm đại
bi là giúp đỡ hết thảy chúng sanh. Chúng ta khổ,
biết hết thảy chúng sanh khổ sở. Rất nhiều
kẻ c̣n chưa biết, dẫu có biết, chẳng có cách
nào xử lư, chẳng t́m thấy phương pháp. Kẻ hiểu
lầm rất nhiều, hoặc là hiểu lầm nơi tu
nhân, hoặc hiểu lầm quả báo. Ví như có rất
nhiều kẻ ngỡ Thiên Đường là rốt ráo.
Đây là nỗi hiểu lầm to tát, Thiên Đường
chẳng rốt ráo! Nay chúng ta hết sức may mắn, có
thể nghe Phật pháp viên măn rốt ráo như vậy.
Đúng như cổ nhân đă nói: “Một ngày hiếm có, khó gặp từ vô lượng
kiếp đến nay”, rất đáng quư. Nếu đời
này chẳng thể nắm chắc, bỏ lỡ, quư vị
hăy ngẫm xem: Quá đáng tiếc! Hễ chuyển thế, mà
lại được gặp gỡ [pháp môn này], quá khó
khăn! Khá là khó khăn. Kẻ chẳng tu hành, hễ chuyển
thế bèn đọa trong ba ác đạo, cơ duyên
được nghe pháp về sau này ít lắm. Người
tu hành rất khá, hễ chuyển thế, bèn hưởng
phước báo nhân thiên. Hễ đă hưởng bèn hồ
đồ, gặp gỡ Phật pháp cũng bài xích! Hiện
thời, kẻ phú quư trong thế gian chẳng niệm Phật.
Những kẻ phú quư ấy trong đời trước
đă nghiêm túc tu tập, tu rất khá, hưởng hết
phước lại bị đọa lạc. Quư vị mới
biết cơ hội này rất khó gặp gỡ! Đây là
so sánh đơn giản về ba tâm trong luận Khởi
Tín, nhằm chỉ rơ [Quán Kinh và Khởi Tín Luận sử dụng]
danh từ khác biệt, nhưng ư nghĩa và cảnh giới
giống nhau.
(Sao)
Thâm tâm giả, tức Khởi Tín “nhạo tập nhất
thiết thiện căn”, nhi thử nhất tâm bất loạn,
vạn thiện đồng quy cố.
(鈔)深心者,即起信樂集一切善根,而此一心不亂,萬善同歸故。
(Sao: “Thâm tâm” chính là
“thích tu tập hết thảy thiện căn” trong luận
Khởi Tín, do nhất tâm bất loạn chính là chỗ
để muôn điều thiện hướng về).
Ngẫu Ích đại sư giải
thích đích xác là cao minh, Ngài quy kết nơi “nhất tâm bất
loạn”, khuyên chúng ta hăy thật thà niệm Phật. Hễ
có thể nhất tâm bất loạn bèn “vạn thiện đồng quy”.
(Sao)
Hồi hướng phát nguyện giả, tức Khởi
Tín độ tận nhất thiết chúng sanh, nhi thử nhất
tâm bất loạn, đốn dung vật ngă cố.
(鈔)回向發願者,即起信度盡一切眾生,而此一心不亂,頓融物我故。
(Sao: “Hồi hướng
phát nguyện” [trong Quán Kinh] chính là “độ trọn hết
thảy chúng sanh” trong luận Khởi Tín, v́ nhất tâm bất
loạn là ngay lập tức viên dung chúng sanh và ta).
Nhất
tâm bất loạn, tâm thanh tịnh hiện tiền. Tâm thanh
tịnh chẳng có nhiễm trước, chẳng có ô nhiễm.
Tâm b́nh đẳng hiện tiền, trong tâm b́nh đẳng chẳng
có đây, kia. Hễ có đây, kia, sẽ
chẳng b́nh đẳng. V́ thế, chẳng có giới hạn,
trong tâm b́nh đẳng chẳng có giới hạn. Chẳng
có giới hạn th́ tận hư không khắp pháp giới hợp
thành một Thể, thảy đều đắc độ,
tất cả đều đắc độ. Nói cách khác,
trí huệ và ḷng từ bi của quư vị nhất định
sẽ ban cho hết thảy chúng sanh, trong ấy chẳng có
sai biệt, đó gọi là “đại từ đại bi”.
Dùng cái tâm ấy, tâm là Thể, tâm là thân, đạt đến
cảnh giới ấy, tâm, thân và cơi nước đều
dung thông. Chúng sanh ở nơi đâu có cảm, bèn ngay lập
tức hiện thân. Chẳng phải là quư vị tới
đó hiện thân; bởi lẽ, tâm quư vị đă trọn
khắp hư không pháp giới. Hễ chúng sanh niệm [ở
nơi đâu] bèn hiện nơi đó, chẳng có đến,
đi. Nay chúng ta niệm A Di Đà Phật ở nơi
đây, Tây Phương Cực Lạc thế giới cách
chúng ta mười vạn ức cơi Phật, A Di Đà Phật
ngay lập tức tới nơi đây. Quư vị nghĩ
như vậy là sai mất rồi. A Di Đà c̣n có đến,
đi ư? Chẳng có! Chúng ta văng sanh, nói thật thà,
cũng là t́nh h́nh này. Phật cũng chẳng đến, mà
chúng ta cũng chẳng đi. Sanh Vô Sanh Luận đă nói rất
hay: “Sanh th́ quyết định
sanh, đi th́ thật sự chẳng đi”. Thế giới
của Phật Di Đà lưu xuất từ Chân Như bản
tánh. Chân Như bản tánh trọn khắp hư không pháp giới,
Tây Phương Cực Lạc thế giới to cỡ nào? Khắp
hư không pháp giới! Chuyện này càng nói càng khó hiểu! Đối
với kẻ đă học khoa học, cũng có lẽ sẽ
dễ thấu hiểu hơn. Các nhà khoa học thường
nói: Nay chúng ta đang sống trong không gian ba chiều, tầng
cấp cao hơn chúng ta là không gian bốn chiều. Tây
Phương Cực Lạc thế giới là không gian có vô hạn
chiều. Từ chỗ này, chúng ta có thể lư giải
đôi chút chân tướng sự thật này. Cơi ấy là
không gian vô hạn chiều, bao dung chúng ta, chúng ta chẳng
bao dung nó. Lư là như thế, mà Sự cũng là như thế.
V́ lẽ đó, sanh là quyết định sanh, quyết
định có Tây Phương Cực Lạc thế giới,
quyết định được văng sanh. Đúng là tận
hư không khắp pháp giới, có cầu ắt ứng, kinh
Lăng Nghiêm gọi chuyện này là “tùy tâm ứng lượng”, nghĩa là thuận
theo cái tâm chúng sanh mà [thuyết pháp, chỉ dạy, thị
hiện] tương ứng với khả năng tiếp
nhận của họ.
(Sao)
Luận minh tam tâm.
(鈔)論明三心。
(Sao:
Văng Sanh Luận nói ba tâm).
Ba tâm được nói trong Văng
Sanh Luận.
(Sao) Nhất, thanh tịnh tâm, nhi thử nhất tâm, cấu
vô bất tận cố.
(鈔)一、清淨心,而此一心,垢無不盡故。
(Sao: Một là tâm thanh
tịnh, nhưng trong nhất tâm ấy, không cấu uế
nào chẳng hết sạch).
“Cấu” (垢) là ô nhiễm. Tâm chúng ta từ
vô thỉ kiếp tới nay bị ô nhiễm hết sức
nghiêm trọng. Do đó, có khá nhiều vọng tưởng,
phiền năo, tập khí chẳng đoạn, v́ đă tích
lũy đời đời kiếp kiếp trong quá khứ.
Nếu tu đến mức nhất tâm, thảy đều
thanh tịnh, nhất tâm là chân tâm. Trong chân tâm chẳng có nhiễm
ô. Lục Tổ nói: “Vốn chẳng
có một vật”. “Vốn
chẳng có một vật” là chân tâm, là nhất tâm; trong nhất
tâm vốn chẳng có một vật. Tam tâm nhị ư là tám thức,
là vọng tâm, chẳng phải là chân tâm; trong đó, ô nhiễm
quá nhiều! V́ thế, niệm Phật th́ phải nhất
tâm xưng niệm, phải dùng chân tâm để xưng niệm,
chớ nên dùng tâm ư thức để xưng niệm. Dùng
tâm ư thức xưng niệm, rất khó đắc nhất
tâm. Dùng chân tâm xưng niệm, đắc nhất tâm rất
dễ dàng. Kinh Di Đà nói từ một ngày cho đến bảy
ngày, đó là dạy quư vị hăy dùng chân tâm để niệm,
chẳng phải là niệm bằng vọng tâm. Chúng ta niệm
Phật rất nhiều năm, v́ sao chẳng có hiệu quả
thành tựu? Chúng ta niệm bằng vọng tâm, dụng tâm
khác hẳn! Trước nay chưa hề dùng chân tâm, muốn
dùng chân tâm cũng chẳng dùng được, chuyện này
phiền phức lắm! V́ thế, tôi dạy mọi
người pháp Thập Niệm, pháp Thập Niệm tuy ngắn,
nhưng sử dụng chân tâm. V́ thời gian ngắn ngủi,
dùng chân tâm dễ dàng. Thời gian lâu dài, dùng chân tâm chẳng
dễ dàng.
Kinh
luận Duy Thức dạy: Sáu căn của chúng ta tiếp
xúc cảnh giới sáu trần, niệm thứ nhất là chân
tâm, niệm thứ hai là vọng tâm. Ví như mắt chúng ta
thấy chính là thấy sắc tướng bên ngoài, chẳng
phân biệt, mà cũng chẳng chấp trước, ư niệm
ǵ cũng đều chẳng có, thấy rất rơ ràng, minh
bạch, đó là chân tâm. Niệm thứ hai, [bèn phân biệt]
đây là nến, nó có màu đỏ, tức là vọng niệm
đă dấy lên. Hết thảy muôn h́nh tượng vốn
chẳng có tên gọi, tên gọi là giả danh. Lăo Tử
đă biết: “Danh khả danh,
phi thường danh; đạo khả đạo, phi
thường đạo” (Cái danh có thể gọi tên
được, sẽ chẳng phải là cái danh thường
hằng. Đạo có thể diễn tả được
th́ chẳng phải là đạo thường hằng). Do
đó, trong niệm thứ hai, giả danh và giả tướng
toàn bộ xuất hiện. Thảy đều là giả,
chân tâm biến thành giả tâm, biến thành vọng tâm, nên mới
có phân biệt, tâm mới có ô nhiễm, bị biến chất,
chẳng c̣n là chân tâm. V́ thế, người tu hành nhấn
mạnh làm thế nào để ǵn giữ cái tâm ban đầu,
tức là ǵn giữ sao cho niệm thứ nhất bất
động, [hễ giữ được], sẽ chẳng
khác chư Phật, Bồ Tát. Chúng ta chẳng giữ
được, niệm thứ hai bèn biến chất, càng
biến đổi càng sai khác, cho nên mới tạo tác lục
đạo luân hồi. Nhất tâm tự nhiên là thanh tịnh.
(Sao)
Nhị, an thanh tịnh tâm, nhi thử nhất tâm, lư vô bất
cụ cố.
(鈔)二、安清淨心,而此一心,理無不具故。
(Sao: Hai là an thanh tịnh
tâm, nhưng nhất tâm không lư nào chẳng trọn).
“An” (安) có nghĩa là yên ổn,
trọn đủ. Người trọn đủ, tâm bèn
an. Khi bất măn, tâm kẻ ấy bất an, phải nắm
níu, truy cầu. “Nhi thử nhất
tâm, lư vô bất cụ cố” (Nhưng nhất tâm không lư
nào chẳng trọn): Đây là nói theo Lư, v́ “lạc thanh tịnh tâm” dưới đây là nói
theo mặt Sự. Lư đă trọn đủ, Sự
cũng trọn đủ.
(Sao)
Tam, lạc thanh tịnh tâm, nhi thử nhất tâm, từ vô
bất nhiếp cố. Dữ thượng nhị chủng
tam tâm, chánh tương phối hợp dă.
(鈔)三、樂清淨心,而此一心,慈無不攝故。與上二種三心,正相配合也。
(Sao: Ba là lạc thanh
tịnh tâm, nhưng nhất tâm là ḷng Từ không ǵ chẳng
nhiếp thọ. Đúng là phù hợp khít khao với hai loại
“tam tâm” đă nói trên đây).
Có ư
nghĩa giống như tam tâm được nói trong Quán
Kinh và Khởi Tín Luận, hợp lại để xem, [sẽ
thấy] ư nghĩa rất rơ rệt. Cổ đức
thường khuyên chúng ta “tam
tâm viên phát” (phát trọn vẹn ba tâm), đó gọi là “phát Bồ Đề tâm”, “viên” (圓) là viên măn, chẳng
khiếm khuyết. Đấy mới là thật sự phát Bồ
Đề tâm.
Ở
đây, chúng tôi kết luận đơn giản:
1) Dùng tâm chân thành
để “trên là cầu Phật đạo”. Phương
pháp để cầu Phật đạo là chuyên nhất tín
nguyện tŕ danh, đấy là “thâm tâm”.
2) Dùng
phương pháp tín nguyện tŕ danh để tận tâm tận
lực khuyên dạy hết thảy chúng sanh chọn lựa
phương pháp này, [ngơ hầu] trong một đời này,
quyết định được sanh về Tịnh
Độ. Đó là “hồi hướng phát nguyện”.
Đấy chính là
tự hành, hóa độ người khác, phù hợp tâm nguyện
“phổ độ chúng sanh” của chư Phật Như
Lai, chẳng sai lầm! Kinh dạy chúng ta “phát Bồ Đề tâm, một mực chuyên niệm”,
phát Bồ Đề tâm là nói tới ba thứ tâm này!
(Sao)
Hoa Nghiêm thập tâm giả, Bồ Tát Thập Niệm Tạng
cụ minh thập chủng niệm Phật, nhất tịch
tĩnh niệm, nhị thanh tịnh niệm, năi chí thập
vô chướng ngại niệm.
(鈔)華嚴十心者,菩薩十念藏,具明十種念佛,一寂靜念,二清淨念,乃至十無障礙念。
(Sao: “Mười tâm
trong kinh Hoa Nghiêm”: Phần Bồ Tát Thập Niệm Tạng[4] đă nói đầy
đủ mười loại niệm Phật: Một là tịch
tĩnh niệm, hai là thanh tịnh niệm, cho đến
mười là vô chướng ngại niệm).
Kinh Hoa Nghiêm nói “thập niệm”, ở đây, đại sư tỉnh
lược, chỉ nói ba câu.
(Sao)
Kim nhất tâm tắc bất động, thị tịch
tĩnh niệm. Nhất tâm tắc bất nhiễm, thị
thanh tịnh niệm. Nhất tâm tắc đồng hồ
pháp giới, thị vô chướng ngại niệm.
(鈔)今一心則不動,是寂靜念。一心則不染,是清淨念。一心則同乎法界,是無障礙念。
(Sao: Nay nhất tâm bất
động, tức là tịch tĩnh niệm. Nhất tâm chẳng
nhiễm, tức là thanh tịnh niệm. Nhất tâm đồng
nhất với pháp giới, chính là vô chướng ngại
niệm).
Kinh Di Đà nói “nhất tâm bất
loạn”, đối với mười niệm của Hoa
Nghiêm thảy đều trọn đủ. Nhất tâm bất
động là tịch tĩnh, nhất tâm chẳng nhiễm
là thanh tịnh. Nhất tâm là tận hư không khắp pháp
giới, cho nên là vô chướng ngại niệm. Sách Diễn
Nghĩa đă sao lục đủ mười niệm của
kinh Hoa Nghiêm.
(Diễn)
Tam, bất kiệt niệm.
(演)三、不竭念。
(Diễn:
Ba là niệm chẳng gián đoạn).
“Kiệt” (竭) là gián đoạn. Nhất
tâm há có gián đoạn? Nhị tâm, hoặc tam tâm th́ mới
có tướng đứt, nối; trong nhất tâm chẳng
có! V́ nhị tâm, tam tâm có tướng sanh diệt, tướng
sanh diệt chính là ư nghĩa của chữ Kiệt. Nhất
tâm chẳng có tướng sanh diệt, thật sự phù hợp
lời dạy của Đại Thế Chí Bồ Tát “tịnh niệm liên tục”,
chẳng gián đoạn. Kinh Lăng Nghiêm nói “thường trụ chân tâm”, “bất kiệt” là thường
trụ, là liên tục. V́ thế, nhất tâm xác thực là “bất kiệt”.
(Diễn)
Tứ, minh triệt niệm.
(演)四、明徹念。
(Diễn:
Bốn là niệm sáng suốt, thấu triệt).
Nhất
tâm là sáng suốt, thấu triệt. Nhị tâm, tam tâm sẽ
chẳng sáng tỏ, sẽ biến thành vô minh. Vô minh do đâu
mà có? Do nhị tâm, tam tâm, bèn biến thành vô minh.
(Diễn)
Ngũ, ly trần niệm.
(演)五、離塵念。
(Diễn:
Năm là ĺa trần cấu để niệm).
“Trần” (塵) là trần lao phiền
năo. Câu này là nói tổng quát, cũng nhằm nói tới sáu trần,
tức ngũ dục, lục trần.
(Diễn)
Lục, ly chủng chủng trần niệm.
(演)六、離種種塵念。
(Diễn:
Sáu, ĺa các thứ trần để niệm).
Điều
này có ư nghĩa khác với điều trước. Điều
trước là ĺa lục đạo, lục trần, c̣n ở
đây là ngay cả tứ thánh pháp giới cũng chẳng chấp
trước. Đối với nhất tâm, xác thực là
trong nhất tâm không chỉ chẳng có lục phàm, mà cũng
chẳng có tứ thánh.
(Diễn)
Thất, ly cấu niệm.
(演)七、離垢念。
(Diễn:
Bảy là ly cấu niệm).
“Ly cấu” (Ĺa cấu uế)
có ư nghĩa giống như “thanh
tịnh” trong phần trước. Trong nhất tâm chẳng
có ô nhiễm, đương nhiên là ly cấu thanh tịnh.
(Diễn)
Bát, quang diệu niệm.
(演)八、光耀念。
(Diễn:
Tám là niệm với [trí huệ] sáng ngời).
Nhất
tâm khởi tác dụng là trí huệ, “quang diệu” (光耀: chói ngời) biểu
thị trí huệ. Tuy Lục Tổ Huệ Năng đại
sư chẳng học hành, không biết chữ, hằng ngày
lên núi đẵn củi sống qua ngày, cuộc sống rất
nhọc nhằn, tâm Ngài thanh tịnh. V́ thế, nghe người
khác niệm kinh Kim Cang, nghe được mấy câu Ngài bèn
khai ngộ. Đến Hoàng Mai yết kiến Ngũ Tổ,
Ngài thưa: “Trong tâm đệ
tử thường sanh trí huệ”. V́ sao Ngài thường
sanh trí huệ? Tâm Ngài thanh tịnh. Nhất tâm sanh trí huệ.
Chỉ cần đắc nhất tâm, lục căn tiếp
xúc cảnh giới sáu trần chẳng có ǵ không hiểu rơ.
Hiểu rơ là trí huệ, ở đây nói là “quang diệu niệm”.
(Diễn) Cửu,
khả ái nhạo niệm.
(演)九、可愛樂念。
(Diễn: Chín là
đáng ưa thích niệm).
Câu
này chính là pháp hỷ sung măn, thật sự sung sướng,
tự tại, đúng là sự hưởng thụ cao nhất
trong đời người. Chẳng nhập cảnh giới
này, quư vị sẽ chẳng hiểu sự hưởng thụ
cao nhất trong đời người. Người thế
gian ăn đồ bổ, càng ăn, càng lắm bệnh tật!
Thứ dinh dưỡng tốt nhất chính là tâm địa
thanh tịnh, pháp hỷ sung măn. Cổ nhân thường nói: “Nhân phùng hỷ sự tinh thần
sảng” (Người gặp chuyện vui, tâm t́nh sảng
khoái). Tinh thần lẫn thể lực đều tốt
đẹp, hoan hỷ. Hoan hỷ là chất bổ dưỡng
tốt nhất. Thật sự hoan hỷ là từ trong tâm
tánh lưu lộ, chẳng do kích thích bên ngoài, kích thích bên
ngoài chẳng phải là niềm hoan hỷ thật sự. Hằng
ngày đều có giác ngộ, hoan hỷ! Hằng ngày đều
có phát hiện mới, người ấy
bèn rất hoan hỷ. Giống như chúng ta đọc kinh,
mỗi lần đọc là một lần ngộ một ư
nghĩa mới, tự nhiên ngộ, chẳng phải là có cầu,
mỗi lần mỗi khác, cảnh giới mỗi ngày mỗi
khác, lẽ nào chẳng hoan hỷ? Hoan hỷ!
(Diễn) Thập, vô chướng ngại niệm.
(演)十、無障礙念。
(Diễn:
Mười là niệm chẳng chướng ngại).
Nhất tâm đồng nhất với pháp giới.
Nhất tâm th́ hết thảy đều được bao
gồm trong ấy. Tuy Tịnh Độ Tam Kinh nói khác nhau,
nhưng hai chữ “nhất tâm” thảy đều trọn
đủ. Kinh Vô Lượng Thọ dạy chúng ta “một
mực chuyên niệm”, kinh Di Đà dạy “nhất tâm bất
loạn”, Quán Kinh dạy “nhất tâm hệ niệm”, tuy nói
khác nhau, ư nghĩa đều giống như nhau. Do vậy
có thể biết: Bí quyết để thành tựu trong Tịnh
Tông chính là “phát Bồ Đề
tâm, nhất tâm chuyên niệm”, hết sức trọng yếu,
quyết định chớ nên hoài nghi.
Đối
với đoạn giảng về thượng phẩm
thượng sanh trong Tứ Thiếp Sớ, tức bản
chú giải kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật của Thiện
Đạo đại sư, phải đọc nhiều
lượt, phải nhớ kỹ, quư vị sẽ chẳng
bị người ngoài ảnh hưởng. Người ta
nói điều này đúng, điều kia chẳng đúng,
nói quá nhiều, nếu chúng ta chẳng trọn đủ
tín tâm, sẽ bị dao động. Đại sư dạy
chúng ta: Chúng ta quyết định tin vào lời Phật dạy.
A La Hán và Bích Chi Phật là bậc đă chứng quả, các
Ngài tới thuyết pháp cho chúng ta, nếu nói chẳng giống
như kinh dạy, chúng ta có thể chẳng tiếp nhận,
có thể chẳng nghe theo họ, sẽ không bị họ ảnh
hưởng. Bồ Tát đến giảng kinh, thuyết
pháp, nhưng cũng chẳng giảng giống như kinh,
chúng ta cũng chẳng tiếp nhận. Thậm chí bậc
Địa Thượng Bồ Tát (từ Sơ Địa
trở lên), hoặc chư Phật Như Lai tới giảng
cho chúng ta, mà chẳng giống những điều
được nói trong Tịnh Độ Tam Kinh, chúng ta có
thể không tiếp nhận, có thể cự tuyệt, đó
mới là thật sự tin tưởng. Ba kinh đă giảng
đạo lư văng sanh rất rơ ràng, nêu ra phương pháp rất
rơ ràng, trần thuật cảnh giới rất minh bạch.
Vậy là đủ rồi, điều ǵ cũng lấy ba
kinh làm căn cứ. Ngoài ba kinh ra, những ǵ đức Phật
đă giảng chúng ta cũng đều chẳng nghe, v́ sao?
Chúng ta chuyên nương theo lần thuyết pháp này của
đức Phật để làm tiêu chuẩn, chuyên cầu văng
sanh Tây Phương. V́ đức Phật giảng những
kinh khác, tuy cũng giảng hay lắm, nhưng chẳng dạy
quư vị văng sanh Tây Phương! Chúng ta nhất tâm cầu văng
sanh Tây Phương, cho nên quư vị phải tuân theo kinh văng
sanh. “Kinh văng sanh” là năm
kinh một luận. Xác thực là năm kinh một luận
đều khuyên chúng ta văng sanh Tịnh Độ. Phải
hiểu rơ đạo lư này th́ mới chẳng đến nỗi
bị dao động, bị dụ dỗ, mê hoặc!
Tôi
thường có khách đến t́m, làm phiền tôi, nói ra là
những lời lẽ ấy. Nghe người này nói như
thế này, nghe kẻ nọ nói như thế nọ, rốt
cuộc, quư vị nghe lời người ta nói, hay là nghe lời
Phật nói? Quư vị muốn học theo kẻ khác th́ nghe kẻ
khác nói bèn học theo kẻ ấy. Bằng ḷng học theo Phật
th́ ta chẳng nghe lời kẻ khác. Trong thời kỳ Mạt
Pháp, kinh Lăng Nghiêm đă nói rất hay: “Tà sư thuyết pháp nhiều như cát sông Hằng”.
Một người phát tâm niệm Phật
cầu sanh Tịnh Độ, phải hiểu là duyên phận
thành Phật trong một đời này của người ấy
đă chín muồi, “đời này quư vị sẽ làm Phật”.
Oán gia trái chủ đời đời kiếp kiếp trong
quá khứ và trong đời này thấy quư vị sắp
thành Phật, nếu quư vị đă đi rồi, họ sẽ
chẳng có cách nào báo thù, có nợ mạng cũng chẳng
đ̣i được, nợ tiền cũng chẳng
đ̣i lại được, có thể nào họ cam tâm vâng
chịu ư? Họ sẽ dùng đủ mọi
phương pháp để ngăn trở, quấy nhiễu,
mong lôi quư vị trở lại!
Do vậy,
chúng ta niệm Phật, tuy đạo tràng này chẳng to, nhưng
chuyên tu Tịnh Tông, chuyên cầu Tịnh Độ. Mỗi
Chủ Nhật cuối tháng, chúng ta làm Phật sự Tam Thời
Hệ Niệm một lần để siêu độ hết
thảy chúng sanh, nhằm vào mục đích nào? Đem công
đức ta đă tu học thảy đều hồi
hướng oán thân trái chủ, hy vọng chúng ta niệm Phật,
họ sẽ không đến khuấy rối, đừng
đến nhiễu loạn, trong tương lai, chúng ta văng
sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, nhất
định sẽ độ họ trước. Chúng ta làm Tam
Thời Hệ Niệm, bàn điều kiện với họ,
họ cũng rất vui vẻ tiếp nhận, cũng rất
hoan hỷ. V́ thế, đạo tràng này chẳng có chướng
nạn. Tất cả hết thảy chướng nạn
đều do nghe theo [lời bàn ra tán vào từ] bên ngoài. Khi
họ đến nói cho ta nghe, ta c̣n lăng phí rất nhiều
thời gian để nghe những lời lẽ nhàm chán
đó! V́ thế, tôi thường nói: Kẻ t́m đến
tôi đều chẳng thật thà! Người thật thà
sẽ chẳng có chuyện ǵ. [Những kẻ t́m đến
tôi kể lể ba điều bốn chuyện] đều
là phường chẳng nghe lời, đều là hạng chẳng
tin Phật. Nghe mấy câu nói rỗi hơi phí sức, tâm
bèn dao động, cảm thấy bất an, nhất định
t́m đến hỏi han tôi rồi mới an tâm, quư vị nói
xem có oan uổng hay chăng? Hôm nay, chúng tôi giảng tới
đây!
Tập
238
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang bốn trăm sáu mươi
hai:
(Sao)
Bảo Tích thập tâm giả, giải kiến tiền
văn, tiền vị thập tâm nan cụ, kim vị tâm kư
nhất hỹ, từ bi hỷ xả, bách thiên chủng tâm,
hà sở bất cụ!
(鈔)寶積十心者,解見前文,前謂十心難具,今謂心既一矣,慈悲喜捨,百千種心,何所不具。
(Sao: “Mười tâm
trong kinh Bảo Tích” xem giải thích trong kinh văn thuộc
phần trước. Trong phần trước [của Sớ
Sao] có nói “mười tâm khó thể trọn đủ”, nay
nói: Tâm đă chuyên nhất th́ từ bi, hỷ xả,
trăm ngàn thứ tâm có thứ nào chẳng trọn đủ!)
Kinh Đại Bảo Tích nêu ra
mười tâm, trong phần trước đă nói, ở
đây chẳng nhắc lại nữa. Trong phần trước
từng nói: Rất khó trọn đủ mười loại
tâm ấy. Trong đoạn giảng về nhất tâm bất
loạn này, đại sư bảo chúng ta: Nếu thật
sự niệm đến nhất tâm bất loạn, không
chỉ là mười tâm được nói trong kinh Đại
Bảo Tích, mà các thứ tâm đáng nên trọn đủ của
hàng Bồ Tát do chư Phật, Bồ Tát đă dạy trong
hết thảy các kinh luận thảy đều trọn
đủ. Do vậy có thể biết: Pháp môn này chủ
trương nhất tâm bất loạn, pháp môn nhất tâm là
pháp môn thù thắng nhất trong hết thảy các pháp môn.
Kinh Hoa Nghiêm nói: “Một chính là
hết thảy, hết thảy chính là một”. Từ chỗ
này, chúng ta có thể thấu hiểu ư nghĩa chân thật của
câu kinh văn này, đồng thời cũng có thể thấu
hiểu [v́ sao] chư Phật Như Lai, hết thảy tổ
sư đại đức đă dạy chúng ta: “Pháp môn này
đơn giản, dễ dàng, ổn thỏa, thích đáng,
nhanh chóng”. Ở đây, chúng ta cũng có thể thấy
được những ư nghĩa đó. Đọc đoạn
khai thị này, hăy nên thấu hiểu v́ sao Tịnh Tông thành
tựu chắc thật, ổn thỏa, thích đáng, lẹ
làng dường ấy!
(Sao)
Tịnh Danh bát pháp giả.
(鈔)淨名八法者。
(Sao:
Tám pháp trong kinh Tịnh Danh).
Kinh
Tịnh Danh là Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh. Trưởng
giả Duy Ma (Vimalakīrti) cũng là Như Lai hóa thân, nói
rơ: Tu hành th́ xuất gia và tại gia trọn chẳng sai
khác. Chúng ta mong tu hành chứng quả, văng sanh bất thoái, tại
gia và xuất gia chẳng khác ǵ nhau! Nếu chỉ
đơn thuần nói theo phương diện văng sanh bất
thoái, nói thật ra, tại gia đâm ra c̣n [thành tựu] dễ
dàng hơn xuất gia. Đặc biệt là trong thời cận
đại, có thể thấy sự thật này rất rơ rệt.
Chúng ta đọc Văng Sanh Truyện thời cận đại,
hoặc những ghi chép về chuyện văng sanh, thậm chí
ngay trong tỉnh này (Đài Loan), chúng tôi đích thân mắt
thấy, tai nghe những người niệm Phật văng
sanh Tịnh Độ, thật sự là chúng tại gia
đông hơn hàng xuất gia. Đă thế, tại gia nữ
chúng lại c̣n đông hơn tại gia nam chúng. Điều
này cho thấy: Đối với chuyện tu hành chứng
quả, tại gia có thành tựu y hệt [như người
xuất gia]. V́ sao phải phát tâm xuất gia? Xuất gia có công
đức xuất gia, rốt cuộc công đức xuất
gia là ở chỗ nào? Chúng ta biết: Trong một đời
này, nếu chẳng nghe Phật pháp, chẳng thể nghe Phật
pháp thù thắng bậc nhất như vậy, chúng ta quyết
định chẳng thể thành tựu trong một đời
này. Tu học bất cứ pháp môn nào mà mong thành tựu ngay
trong một đời th́ gần như là chẳng thể
được. Dẫu vào thời cổ, xét theo tỷ lệ
số lượng th́ cũng rất ít. Nguyên nhân ở
nơi đâu? Đoạn phiền năo khó khăn, trừ vọng
tưởng khó khăn! Sở dĩ pháp môn này thành tựu dễ
dàng là v́ chẳng cần đoạn phiền năo, chẳng cần
trừ vọng tưởng, thường nói là “đới
nghiệp văng sanh”, dễ dàng hơn các pháp môn khác quá nhiều.
V́ thế, cổ đức gọi pháp môn này là “vạn người tu, vạn
người đến”. Đạo lư ở chỗ này!
Chúng
ta nghe biết [Phật pháp] như thế nào? Cần phải
cậy vào những người xuất gia đời đời
truyền thừa, chúng ta mới có thể tiếp xúc, mới
có thể nghe pháp môn này. Phật pháp nếu chẳng có ai
truyền, đương nhiên là pháp này cũng tiêu mất
trong thế gian này, người đời sau chẳng có
cơ hội nghe pháp môn này nữa! Do vậy, công đức
xuất gia chẳng có ǵ khác: Đời đời truyền
thừa pháp môn này, giới thiệu, phổ biến pháp môn
này với quảng đại quần chúng, khiến cho hết
thảy mọi người có cơ hội gặp gỡ,
có cơ hội nghe thấy, có cơ hội học tập.
Đấy là trách nhiệm của người xuất gia. Do
đó, người xuất gia phải gánh vác gia nghiệp của
Như Lai, gánh vác là đảm đương trọng trách
ấy. Gia nghiệp của Như Lai là ǵ? Là hoằng pháp lợi
sanh. Trong hết thảy các pháp môn, hoằng pháp thật sự
lợi ích chúng sanh, thật sự khiến cho chúng sanh đạt
được lợi ích chân thật, chỉ có pháp môn này!
Trừ pháp môn này ra, nói thật ra, lợi ích đạt
được đều hữu hạn. V́ sao hữu hạn?
Chẳng thể liễu sanh tử, chẳng thể thoát khỏi
tam giới. Tuy gieo một chút thiện căn trong tám thức
điền, vẫn y như cũ chẳng thể tránh khỏi
luân hồi, lợi ích rất hữu hạn! Chỉ có pháp
môn này là có thể thoát khỏi tam giới theo chiều ngang,
văng sanh bất thoái thành Phật, thành tựu ngay trong một
đời, cho nên pháp môn này cũng gọi là “đương sanh thành tựu pháp
môn” (pháp môn thành tựu ngay trong một đời). Công
đức xuất gia là ở chỗ này. Do vậy, chúng ta
cũng hiểu: Nếu xuất gia mà chẳng thể hoằng
pháp lợi sanh, chẳng bằng làm người tại gia!
V́ sao? Kẻ tại gia chẳng tiếp nhận mười
phương cúng dường, dựa vào sự lao lực của
chính ḿnh để sống, tay làm hàm nhai, niệm Phật cầu
văng sanh sẽ dễ dàng hơn nhiều! Người xuất
gia tiếp nhận mười phương cung kính cúng
dường. Cổ đức có nói lời cảnh cáo:
Người xuất gia “đời
này chẳng liễu đạo, mang lông, đội sừng
đền”. Người xuất gia thiếu nợ thí
chủ quá nhiều. Nếu quư vị chẳng nghiêm túc tu
hành, một bát cơm của người xuất gia sẽ
rất khó nuốt! C̣n khó nuốt hơn kẻ ăn mày ôm
bát xin cơm ở ngoài phố rất nhiều! Đối
với kẻ ăn mày, người ta bố thí cho hắn
một bát cơm, tuyệt đối chẳng mong báo
đáp. Thí chủ cúng dường một bát cơm, trong
ḷng họ, quư vị là phước điền chân chánh, tôi
cúng dường để được phước, họ
mong cầu được báo đáp. Chúng ta hăy ngẫm xem:
[Bản thân chúng ta] có phải là phước điền hay
không? Có thể cho hết thảy chúng sanh gieo phước
hay chăng? Hai chúng xuất gia (tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni) hăy
phản tỉnh thật sâu chuyện này. Đă phát tâm xuất
gia, nhất định phải gánh vác gia nghiệp của Như
Lai.
Trưởng
giả Duy Ma thị hiện cùng thời với Thích Ca Mâu Ni
Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật thị hiện xuất gia
thành Phật, cư sĩ Duy Ma thị hiện tại gia
thành Phật, dùng thân phận cư sĩ để thành Phật,
nhằm nói rơ: Trên phương diện tu học, tại gia
và xuất gia b́nh đẳng; cũng nhằm chỉ rơ: Phật
pháp là pháp b́nh đẳng. Không chỉ thế giới Cực
Lạc là một thế giới b́nh đẳng, mà Phật
pháp thị hiện trong thế gian này cũng là pháp b́nh
đẳng. Phật đạo là sư đạo, sư
đạo [trong Phật pháp] giống như [sư đạo
của] cổ nhân, ắt phải tôn sư trọng đạo.
Tứ chúng đệ tử hướng về đức Thế
Tôn thỉnh giáo, trong Phật môn gọi là “thỉnh pháp”, c̣n người thế gian thường
nói là “thỉnh giáo”. Dùng chữ
“thỉnh giáo” cho mọi
người dễ hiểu hơn một chút! Thỉnh pháp là
thỉnh giáo, thái độ hết sức cung kính. Học
tṛ của đức Thế Tôn đến chỗ cư
sĩ Duy Ma thỉnh giáo, tâm cung kính cho đến lễ tiết
đều chẳng khác ǵ gặp đức Phật. Đệ
tử đức Phật gặp Phật th́ lễ tiết
là đảnh lễ ba lạy, nhiễu theo chiều bên phải
ba ṿng, đó là lễ kính nhất. Chúng ta đọc kinh
điển, [sẽ thấy] đệ tử đức Phật,
bất luận đệ tử tại gia hay xuất gia, khi
hướng về đức Phật thỉnh giáo đều
có lễ tiết ấy. Lại thấy khi Xá Lợi Phất
và Mục Kiền Liên hướng về cư sĩ Duy Ma
thỉnh giáo, cũng là đảnh lễ ba lạy, nhiễu
theo chiều bên phải ba ṿng, hoàn toàn giống như đến
gặp đức Phật, chẳng khác chi cả! Điều
này tỏ rơ: Phật pháp là sư đạo. Bất luận
là thân phận tại gia hay xuất gia, chỉ cần thuộc
vào địa vị thầy, học tṛ gặp thầy cái
tâm cung kính chẳng có sai biệt, lễ tiết cũng hoàn
toàn giống nhau. Chúng ta nhất định phải ghi nhớ,
nhất định phải học tập điều này.
(Diễn)
Tịnh Danh bát pháp giả, nhất, nhiêu ích chúng sanh, nhi bất
vọng báo.
(演)淨名八法者,一、饒益眾生,而不望報。
(Diễn: “Tám pháp trong
kinh Tịnh Danh”: Một là nồng nhiệt lợi ích chúng
sanh, chẳng mong báo đáp).
Kinh Tịnh Danh nói tám pháp, cũng
là do cư sĩ Duy Ma dạy người ta hăy thường
giữ tám loại tâm ấy. “Ích”
(益) là lợi ích.
Trong mỗi niệm, chúng ta đều phải có tâm lợi
ích chúng sanh, phải lợi ích như thế nào? Phải khiến
cho chúng sanh đạt được lợi ích tốt nhất.
“Nhiêu” (饒) là “phong
nhiêu” (豐饒: tràn trề, phong
phú), cũng là như nay chúng ta nói là “lợi ích tốt nhất”.
Chúng ta phải tận tâm tận lực giúp đỡ đại
chúng trong xă hội, quyết chẳng mong được
đền đáp. Đó gọi là: Chỉ trọn hết nghĩa
vụ, mà chẳng tiếp nhận, chẳng hưởng thụ
quyền lực. Người hiện thời nói: “Hễ có
nghĩa vụ bèn có quyền lực”, nhưng Bồ Tát là
có nghĩa vụ, trong tâm chẳng trông mong quyền lực.
Phải giữ tấm ḷng ấy! Tâm ấy là tâm thanh tịnh.
Trong Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ, Thiện Đạo
đại sư bảo tâm ấy là “chân thật tâm trung tác” (làm bằng cái tâm chân thật).
Nhất tâm là tâm chân thật, niệm niệm mong nhiêu ích chúng sanh. Chúng
ta có làm được hay không? Kinh này là “hành kinh” (行經: kinh dạy về
cách tu hành, chuyên chú trọng phương diện tu tŕ), chẳng
nói về lư luận, mà nhằm giảng về hành vi của
chúng ta trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta nhất
định phải làm được! Làm không được,
chẳng có tác dụng! Chúng ta có làm đúng như vậy hay
không? Có phải là tận tâm tận lực làm như vậy
hay không? Điều này hết sức trọng yếu! Đă
làm như vậy th́ tốt lắm, vẫn phải càng thêm nỗ
lực. Nếu chúng ta đă tận tâm tận lực nhưng
chẳng đạt tới viên măn, càng phải nỗ lực.
Người chẳng làm được, từ nay trở
đi, nhất định phải phát tâm, khởi tâm động
niệm nghĩ tới lợi ích của người khác,
nghĩ tới đại chúng trong toàn thể xă hội,
nghĩ tới chúng sanh trên toàn thể thế giới, thường
có thể nghĩ như vậy, tâm lượng của chúng
ta bèn mở rộng. Tâm lượng đă mở mang, chẳng
cần nghĩ tới chính ḿnh, niệm nào cũng đều
nghĩ tới quảng đại quần chúng. Đó là hạn
độ thấp nhất. Chúng ta phải nghĩ tới xă
hội, nghĩ tới thế giới này. Tâm lượng của
chư Phật Như Lai to hơn chúng ta nhiều lắm,
trong tâm các Ngài nghĩ tưởng nhiêu ích hết thảy chúng sanh tận hư không khắp pháp giới.
Tâm lượng ấy quá to! Quả địa cầu này thấm
vào đâu? Giữa không gian, nói thật ra, chẳng thấy
[quả địa cầu] đâu hết, quá nhỏ! Nay chúng
ta khởi tâm động niệm đều nghĩ đến
phước lợi của chúng sanh trên cả thế giới,
cái tâm ấy vẫn là nhỏ bé, vẫn là nhỏ nhoi đến
mức đáng thương! Chẳng thể sánh bằng Phật,
Bồ Tát! Nếu khởi tâm động niệm chỉ nghĩ
đến lợi ích của chính ḿnh, chư vị nhất
định phải biết: Quyết định chẳng
thể văng sanh! Có một câu nói cửa miệng rất hay: “Người niệm Phật đông
đảo, kẻ văng sanh ít ỏi”. V́ sao họ niệm
Phật tốt đẹp như vậy mà vẫn chẳng
thể văng sanh? Tâm lượng quá nhỏ, khởi tâm động
niệm toàn là tự tư tự lợi. Trong thế giới
Tây Phương, kinh đă dạy rất rơ ràng: “
(Diễn)
Nhị, đại nhất thiết chúng sanh thọ chư
khổ năo, sở tác công đức tận dĩ thí chi.
(演)二、代一切眾生受諸苦惱,所作功德盡以施之。
(Diễn:
Hai là thay chúng sanh nhận lănh các khổ năo, những công
đức đă làm đều thí sạch hết).
Phải
biết tu Bố Thí Ba La Mật, phải có thể chịu
khổ thay cho chúng sanh. Cách chịu thay là như thế nào? Có
thể bố thí chính là chịu thay. Ví như quư vị hiện
thời sống rất sung túc, có thể sống cuộc
đời rất thoải mái. Thấy rất nhiều
chúng sanh khổ nạn, bèn giảm thấp mức hưởng
thụ trong cuộc sống của chính ḿnh, đem những
thứ dư ra giúp đỡ các chúng sanh khổ nạn.
Đó là chịu khổ thay cho chúng sanh. Tại Trung Hoa, tấm
gương điển h́nh nhất là ông Phạm Trọng
Yêm vào đời Tống. Ông ta làm đến Tể Tướng,
làm đến Đại Nguyên Soái, bổng lộc chẳng
thể nói là không hậu hĩnh, nhưng cuộc sống trong
gia đ́nh rất nghèo khổ. V́ sao khổ sở dường
ấy? Vốn là do ông dùng hết thu nhập để cứu
giúp dân nghèo, giúp đỡ người khác. Trong bộ Cổ
Văn Quán Chỉ có bài Nghĩa Điền Kư ghi chép chuyện
Phạm tiên sinh ưa thiện, chuộng thí. Suốt đời,
tự ḿnh sống rất kham khổ, đúng là trà thô,
cơm nhạt, dùng thu nhập của chính ḿnh để cứu
tế xă hội. Một ḿnh ông ta ra sức nuôi hơn ba
trăm gia đ́nh, đích xác là chẳng dễ dàng! Ông c̣n mở
trường nghĩa học, [tức là] chi phí của học
tṛ và giáo viên đều do ông cung cấp. Thấy những kẻ
trẻ tuổi, rất thông minh, rất ưu tú, nhưng gia
cảnh bần hàn, ông ta tập hợp họ lại để
dạy bảo. Kinh phí do một ḿnh ông đảm
đương, đều lấy từ bổng lộc của
chính ḿnh. Chẳng giống như hiện thời, hễ
làm sự nghiệp từ thiện bèn đi khắp nơi
hóa duyên, quyên tiền, chẳng phải là như vậy. Đó
là chịu đựng các nỗi khổ năo thay cho chúng sanh,
các công đức đă làm thảy đều bố thí. Gia
tộc họ Phạm rất lỗi lạc, con cháu đều
tuân thủ gia giáo của Phạm lăo tiên sinh. Từ Ấn
Quang Đại Sư Văn Sao, chúng ta thấy tổ Ấn
Quang hết sức tán thán ông Phạm. V́ sao? Đạo tràng
của Ấn Quang đại sư ở ngay quê
hương của Phạm tiên sinh, tức Tô Châu, khoảng
cách rất gần. Từ đời Tống cho măi đến
những năm đầu thời Dân Quốc, suốt tám trăm
năm, gia tộc ông Phạm chẳng suy, đời đời
xuất hiện nhân tài, đời đời đều
sanh ra người tốt, đều chuộng thiện ham
thí giống như Phạm tiên sinh, hết sức đáng
cho kẻ khác tôn kính. Phạm tiên sinh là một Phật tử
kiền thành, thật sự làm được giáo huấn
của đức Phật, chúng ta hăy nên học tập
điều này. Bản thân chúng ta có thể giảm bớt
một phần hưởng thụ vật chất, sẽ
có thể giúp thêm một phần chúng sanh khổ nạn. Hăy
thường nghĩ tới điều này, những khoản
chi tiêu chẳng cần thiết hăy tận lực tiết
giảm, chịu khổ nạn thay cho chúng sanh.
(Diễn)
Tam, đẳng tâm chúng sanh khiêm hạ vô ngại, ư
chư Bồ Tát thị chi như Phật.
(演)三、等心眾生謙下無礙,於諸菩薩視之如佛。
(Diễn: Ba là tâm b́nh
đẳng đối với chúng sanh, khiêm hư, vô ngại,
coi các vị Bồ Tát như Phật).
Đây
là tu lễ kính. Trong Lễ Kư có định nghĩa về Lễ.
Tinh thần của Lễ là “tự
ty nhi tôn nhân” (hạ thấp chính ḿnh, tôn trọng người
khác), ở đây, kinh đă dạy chúng ta ư nghĩa ấy.
“Đẳng tâm” (等心) là tâm b́nh đẳng,
dùng tâm b́nh đẳng để đối đăi hết
thảy chúng sanh; chính ḿnh phải khiêm hư, phải nhún
nhường. Chính ḿnh có thể khiêm hư, nhún nhường,
đương nhiên là có thể tôn kính người khác. Quư
vị có thể tôn kính người khác, người khác
cũng tôn kính quư vị. “Kính
nhân giả, nhân hằng kính chi” (Kẻ kính trọng
người khác, người khác luôn kính trọng kẻ ấy).
Bất luận quư vị làm chuyện ǵ, nhất định
là sẽ có rất nhiều người giúp đỡ, chẳng
bị chướng ngại. Tiếp đó, nêu lên một
thí dụ, “ư chư Bồ
Tát thị chi như Phật” (coi các vị Bồ Tát
như Phật). Chúng ta cung kính đức Phật nhất. “
(Diễn)
Tứ, sở vị văn kinh, văn chi vô nghi.
(演)四、所未聞經,聞之無疑。
(Diễn: Bốn là
đối với kinh chưa được nghe, hễ
nghe bèn chẳng nghi).
Câu
này nên hiểu như thế nào?
Nay
chúng ta có duyên phận tiếp xúc kinh điển này, chúng ta có nghi hay
không? Mọi người đều lắc đầu: “Chẳng
nghi!” Thật ra, lắng ḷng suy nghĩ, [sẽ thấy]: Hăy
c̣n rất nhiều nghi hoặc! Nh́n từ chỗ nào? Quư vị
vẫn chưa thể chuyên tâm, hăy c̣n tam tâm nhị ư, [tức
là] hăy c̣n có nghi, vẫn chưa thể khăng khăng một
dạ tu một môn này. Vẫn mong niệm kinh Kim Cang, kinh
Lăng Nghiêm, kinh Hoa Nghiêm, c̣n mong học Thiền, học Mật.
Đó là nghi căn chưa đoạn, tâm chẳng định,
tâm không chuyên. Dẫu gặp gỡ pháp môn này, rất khó
đạt được lợi ích. Người nào sau khi
nghe xong sẽ đạt được lợi ích? Thật
sự chẳng nghi, chính là đoạn nghi sanh tín. Tâm người
ấy đă định, tâm chuyên nhất, thâm nhập một
môn. Thật sự thâm nhập một môn, sẽ nhanh chóng đạt
được lợi ích cũng là thật sự chẳng
thể nghĩ bàn. Người căn tánh nhạy bén th́ ba
tháng. Người căn tánh bậc trung, sáu tháng bèn đạt
được lợi ích. Đạt được lợi
ích ǵ vậy? Tâm thanh tịnh. Từ chỗ nào mà biết
tâm thanh tịnh? Vọng niệm ít, phiền năo ít, đêm ngủ
ít nằm mộng, tối thiểu là chẳng gặp ác mộng.
Trước kia, mỗi ngày từ sáng đến tối
đều gặp ác mộng. Hơn nữa, cảnh trong mộng
rất hỗn loạn. Nay nằm mơ, chẳng bị ác
mộng, cảnh giới trong mộng rành rẽ, chẳng tạp
loạn, chứng tỏ là cảnh giới tốt đẹp.
Trí huệ tăng trưởng, thấy sự việc rơ
ràng, minh bạch hơn trước kia khá nhiều, đó là
hiệu quả. Tôi thưa cùng chư vị, từ ba tháng
đến sáu tháng sẽ đạt được hiệu
quả này, thật sự hữu hiệu! Sợ là quư vị
ôm ḷng nghi, tâm chẳng định, chẳng chuyên, như vậy
th́ sẽ chẳng đạt được! Chẳng
chuyên, chẳng định, nói thật thà, học ba
mươi năm cũng chẳng có hiệu quả, học
đến cuối cùng, [chê bai] “Phật, Bồ Tát chẳng
linh”, “kinh điển lừa gạt ta”, báng Phật, báng Pháp,
đời sau cũng văng sanh, nhưng là sanh vào địa
ngục. Quư vị nói xem có oan uổng hay không! Trong Đại
Kinh, đức Phật đă nói: Nghi là đại chướng
ngại của Bồ Tát. Nghi được xếp vào loại
căn bản phiền năo. Sau tham, sân, si, mạn là nghi, hoài
nghi thánh giáo. Lợi ích thù thắng khôn sánh ở ngay trước
mặt mà bỏ lỡ, quư vị nói xem: Tai hại lớn cỡ
nào?
(Diễn) Ngũ, bất dữ Thanh Văn nhi
tương vi bội.
(演)五、不與聲聞而相違背。
(Diễn:
Năm là chẳng chống trái Thanh Văn).
Điều
này rất quan trọng! Thường có những kẻ tự
cho chính ḿnh là Đại Thừa, khi dễ Tiểu Thừa,
khinh mạn Tiểu Thừa, lầm lẫn đặc biệt
to tát! Mạn (慢) là đại phiền năo, học
Phật lẽ nào tăng trưởng phiền năo? Chư Phật,
Bồ Tát đều chẳng coi thường kẻ sơ
học, chẳng coi rẻ kẻ sơ học, làm sao có thể
coi thường Tiểu Thừa cho được? Người
Tiểu Thừa tinh chuyên nghiên cứu Tam Học Giới,
Định, Huệ đáng được tôn kính! Bản
thân chúng ta hăy suy nghĩ đôi chút, Tam Học Giới, Định,
Huệ của chúng ta có thể sánh bằng họ hay
chăng? Nếu chúng ta phế bỏ Tam Học, học các
kinh giáo Đại Thừa, th́ cổ đại đức
bảo kẻ như vậy là cuồng huệ. Cuồng huệ
chẳng thể liễu sanh tử, chẳng thể thoát tam
giới. Phật pháp từ đầu tới cuối chú trọng
thực tiễn, chúng ta nhất định phải nghiêm
túc thực hiện lời răn dạy của đức
Phật, nhất định phải biến những lời
dạy ấy thành hành vi trong cuộc sống của chính
ḿnh th́ mới hữu dụng, chính ḿnh mới thật sự
được thọ dụng. Sự chân thật thọ dụng
ấy thật sự là tự tại, sung sướng.
Nơi quả địa Như Lai có nói tới ba đức
là Pháp Thân, Bát Nhă, Giải Thoát. Giải Thoát là tự tại,
sung sướng, Trí Huệ là thông đạt, hiểu rơ hết
thảy, chẳng mê hoặc. Đối với hai thứ ấy,
một người thật sự y giáo tu hành sẽ dần
dần chứng đắc, từ ít phần đạt tới
nhiều phần, cho tới quả địa Như Lai mới
là viên măn rốt ráo. Do vậy, trong Tiểu Thừa giáo, có
nhiều quy củ chẳng thể vi phạm, nhất định
phải tuân thủ!
Nói
thông thường, Tiểu Thừa là bảo thủ, Đại
Thừa là cởi mở. Tuy cởi mở, có những quy củ
cơ bản nhất định phải tuân thủ. Nói thật
ra, người giữ quy củ chính là tự tôn trọng
chính ḿnh, tự ḿnh trang nghiêm chính ḿnh. Ngàn muôn phần đừng
ngỡ chẳng tuân thủ quy củ chính là biểu thị
một thứ đặc quyền, sai mất rồi! Lầm
lẫn đặc biệt to tát! Trong một đoàn thể,
ai nấy đều giữ quy củ, đoàn thể ấy
nhất định hưng vượng, nhất định
có thành quả. Chẳng thể tuân thủ quy củ th́ làm
như thế nào? Tốt nhất là hăy tự động rời
khỏi đoàn thể ấy, v́ sao? Ta chẳng hại chính
ḿnh, mà cũng chẳng hại ai khác, đó là đúng. Phá hoại
quy củ là phá hoại đoàn thể, đặc biệt
là đối với tăng đoàn. Nếu Tăng đoàn ấy
tu Lục Ḥa Kính, quư vị đă phá ḥa hợp Tăng, quả
báo rất nặng. Kinh đă dạy rất rơ ràng, phá ḥa hợp
Tăng, quả báo là trong địa ngục A Tỳ, hết
sức đáng sợ! Bởi lẽ, Tăng đoàn ḥa hợp
được chư Phật hộ niệm, long thiên ủng
hộ.
Vâng
giữ quy củ là quan niệm quan trọng nhất; sự
tu tŕ của cá nhân, Phật pháp hưng hay suy đều do một
niệm này. Có thể thấy là ư niệm ấy có mối
quan hệ trọng đại! Pháp thế gian cũng chẳng
ra ngoài lệ ấy. Phẩm đức cá nhân, học vấn,
sự nghiệp, gia đ́nh, xă hội, cho đến quốc
gia, thế giới ḥa b́nh cũng đều thuộc trong quan
niệm này. Mỗi người đều
tuân thủ pháp tắc, thiên hạ thái b́nh. V́ thế, quyết
định chớ nên khinh mạn pháp Tiểu Thừa.
Chư Phật Như Lai cũng chẳng thể trái phạm
những quy củ đă được thành lập trong pháp
Tiểu Thừa. Trong Phật pháp, nói cụ thể, sẽ
là mười giới Sa Di, hai mươi bốn môn oai
nghi, chư Phật Như Lai và các đại Bồ Tát
đều chẳng phạm, đều tuân thủ. Chẳng
phải là nói: Hễ đạt tới một đẳng
cấp cao, là Pháp Thân đại sĩ, là Địa Thượng
Bồ Tát, hoặc thành Phật, bèn có thể bỏ sạch,
chẳng cần những thứ ấy nữa, chẳng có
lẽ đó! Lúc tôi mới học Phật, Chương Gia
đại sư đă dạy tôi. Ngài nêu một tỷ dụ:
Giới Tiểu Thừa như Sa Di Luật Nghi, Ngũ Giới
của hàng tại gia, Thập Giới, Bát Quan Trai Giới, những
giới nho nhỏ ấy giống như mua vé xe lửa từ
Đài Bắc đến Cao Hùng. Quư vị mua vé mới có thể
lên xe. Trên xe, phải thường giữ kỹ tấm vé ấy,
chẳng thể vứt bỏ, đến trạm c̣n phải
giao trả lại cho họ. Từ sơ phát tâm măi cho đến
khi thành Phật, chẳng thể vứt bỏ tấm vé ấy.
Đó là nói về những giới nho nhỏ nhất định
phải tuân thủ. Tỷ dụ ấy đă gây cho chúng tôi
ấn tượng rất sâu. Con người nhất định
phải tŕ giới, nhất định phải giữ quy
củ.
(Diễn)
Lục, bất tật bỉ cúng, bất cao kỷ lợi,
nhi ư kỳ trung điều phục kỳ tâm.
(演)六、不嫉彼供,不高己利,而於其中調伏其心。
(Diễn: Sáu là chẳng
ganh ghét sự cúng dường của người khác, chẳng
đề cao lợi ích của chính ḿnh, điều phục
cái tâm ở trong ấy).
Điều
này nói tới cái tật xấu thời thời khắc khắc
ḍm ngó [kẻ khác] trong cuộc sống hằng ngày. Thấy
người khác được cúng dường nhiều,
trong tâm ganh tỵ, khó chịu. Người xuất gia chẳng
tránh khỏi, thấy người ta xây đạo tràng to,
trong tâm chẳng thoải mái. Thấy người ta tín
đồ đông đảo ngần ấy, pháp duyên thù thắng
ngần ấy, cúng dường nhiều ngần ấy, tâm
ganh tỵ thường nẩy sanh. Người xuất gia
c̣n có ganh tỵ hay chăng? Người xuất gia là phàm
phu, lại chưa thành Phật, lại chưa thành Bồ
Tát, làm sao chẳng có cho được? Tham, sân, ganh tỵ
là phiền năo bẩm sanh, là tập khí phiền năo đă
mang theo từ vô lượng kiếp đến nay, hễ
thấy cảnh giới bên ngoài bèn dẫn khởi phiền
năo. Ở đây, đức Phật dạy chúng ta, vàn muôn
phần chớ nên [có tâm niệm ấy], chính ḿnh phải có
tâm cảnh giác. Nói tới những thứ chính ḿnh đă có
được, chớ nên kiêu căng, ngạo mạn, chớ
nên đem lợi dưỡng khoe khoang cùng kẻ khác, đó
là “bất cao kỷ lợi” (chẳng
đề cao lợi ích của chính ḿnh), phải biết “điều phục cái tâm”
trong ấy.
Cận
đại, lăo ḥa thượng Hư Vân đă nêu một tấm
gương tốt đẹp cho chúng ta. Lăo nhân gia suốt
đời là một vị Tăng khổ hạnh, đạo
đức, học vấn của Ngài được
người đời kính ngưỡng, bội phục.
Không chỉ là người Hoa, tại ngoại quốc,
người ngưỡng mộ Ngài rất đông. Pháp
duyên của lăo ḥa thượng thù thắng, mỗi lần
đến nơi nào, người quy y đông đảo,
cúng dường nhiều. Nhưng Ngài suốt đời mặc
quần áo toàn là vá chằng vá đụp, chẳng lẽ Ngài
chẳng có một bộ quần áo mới
để mặc ư? Quần áo do những vị tại
gia hộ pháp đệ tử may cho Ngài đă đi đâu
hết cả rồi? Thật ra, Ngài nhận rất nhiều,
nhưng cúng dường hết cho kẻ sơ học.
Người mới xuất gia, chẳng có ai cúng dường,
cuộc sống rất khổ, lăo ḥa thượng nhận
lấy các vật cúng dường, đem tặng cho họ.
Cúng dường người khác, chính ḿnh vẫn mặc bộ
quần áo ấy. Ngài mặc rất thoải mái, rất tự
tại. Tất cả tiền bạc dùng để dựng
chùa. Một đời Ngài đă xây dựng rất nhiều
đạo tràng, tu bổ rất nhiều đạo tràng.
Chỉ cần đạo tràng ấy đă sửa chữa
xong, Ngài nhất định sẽ thỉnh người
khác làm Trụ Tŕ, Ngài liền rời khỏi, ra đi. Suốt
đời lăo nhân gia tu bổ đạo tràng, lập đạo
tràng, chưa hề trụ tŕ đạo tràng, hễ tu bổ
xong bèn ra đi. Đó là “bất
tật bỉ cúng, bất cao kỷ lợi, nhi ư kỳ
trung điều phục kỳ tâm” (chẳng ganh ghét
người khác được cúng dường, chẳng
đề cao lợi lộc của chính ḿnh, điều phục
cái tâm ở trong ấy), Ngài thật sự làm được.
Xác thực là chẳng nói “nơi đây là của ta”; lăo ḥa
thượng Hư Vân chẳng có ư niệm ngă và ngă sở
(cái của ta). Tâm Ngài đă định. V́ thế, Ngài có thể
lên trời Đâu Suất thân cận Di Lặc Bồ Tát, có
duyên với Di Lặc Bồ Tát, Ngài chẳng cầu sanh Tịnh
Độ, mà sanh lên trời Đâu Suất.
(Diễn)
Thất, thường tỉnh kỷ quá, bất tụng bỉ
đoản.
(演)七、常省己過,不訟彼短。
(Diễn:
Bảy là thường phản tỉnh lỗi ḿnh, chẳng
rêu rao lỗi người khác).
“Tụng” (訟) là tố tụng (訴訟). Ở đây là
thường ưa thích bươi móc lỗi của người
khác, đó là lầm lẫn to lớn. Lục Tổ đại
sư cũng dạy chúng ta: “Nếu
ai thật tu đạo, chẳng thấy lỗi kẻ khác”.
Thường trông thấy khuyết điểm của
người khác, đó là khuyết điểm lớn nhất
của chính ḿnh, người biết điều này chẳng
có mấy ai! Kẻ tu đạo phải thường phản
tỉnh lầm lỗi của chính ḿnh. Trong các buổi giảng,
tôi cũng thường nói, trong Phật môn chúng ta thường
nói là “khai ngộ”, khai ngộ là ǵ? Rất nhiều người
hiểu lầm danh từ “khai ngộ”, cứ ngỡ khai ngộ
là chuyện rất thần bí, là chuyện rất tuyệt
diệu. Trong Thiền Tông nói “đại triệt đại
ngộ”, Giáo Hạ nói “đại khai viên giải”, danh từ
nghe rất quen thuộc. Rốt cuộc khai ngộ rốt
ráo là t́nh h́nh như thế nào? Chẳng biết! Năm 1984,
tôi giảng kinh tại Lạc Sam Cơ (
(Diễn)
Bát, hằng dĩ nhất tâm, cầu chư công đức.
(演)八、恆以一心,求諸功德。
(Diễn:
Tám là luôn dùng nhất tâm để cầu các công đức).
Nói
nhiều cách mấy mà chẳng nói đến nhất tâm sẽ
không viên măn, hễ nhất tâm bèn viên măn. “Hằng dĩ nhất tâm, cầu chư công đức”
(Luôn dùng nhất tâm để cầu các công đức), lời
tổng kết này kết luận quá hay. Nhất tâm là tâm
thanh tịnh, nhất tâm là chân tâm, nhất tâm là bản tánh,
nhất tâm là viên măn rốt ráo, giống như trong phần
trước đă nói: “Từ
bi hỷ xả, trăm ngàn các thứ tâm của Bồ Tát,
trong nhất tâm thảy đều trọn đủ”. Nhất
tâm là Thể, hết thảy các tâm là tác dụng. Đă
đạt được Thể, đương nhiên là
tác dụng viên măn. “Hằng
dĩ nhất tâm, cầu chư công đức” (Luôn dùng
nhất tâm cầu các công đức), hết thảy các
công đức đều đạt đến rốt ráo
viên măn. Đây là tám pháp thành tựu của Bồ Tát
được nói trong kinh Duy Ma.
(Sao)
Hạnh vô sang vưu, sanh ư Tịnh Độ.
(鈔)行無瘡疣,生於淨土。
(Sao:
Hạnh chẳng thiếu khuyết, sanh trong Tịnh Độ).
“Sang vưu” (瘡疣: ghẻ chốc,
u nhọt) tỷ dụ chỗ khuyết hăm. Bồ Tát có thể
trọn đủ tám hạnh hành tŕ này, đấy cũng
là tám nguyên tắc và cương lănh trong hành môn, chúng ta nghiêm
túc tu học [các nguyên tắc và cương lănh ấy], tu
hành sẽ chẳng bị khuyết hăm. Nói cách khác, tâm hạnh
của chúng ta chẳng tương ứng, trái nghịch tám
điều ấy, dẫu tu Bồ Tát hạnh, Bồ Tát hạnh
chẳng viên măn, có khiếm khuyết, khiếm khuyết quá
nhiều. Giống như thân thể một người,
thân thể ấy cũng khá, nhưng trên thân thể ấy
nẩy sanh ghẻ độc, có khối u bướu, sẽ
chẳng phải là một thân thể khỏe mạnh, mỹ
măn, mà là một thân thể khuyết hăm, bệnh tật. Tỷ
dụ này nhằm nói lên ư nghĩa ấy.
(Sao)
Kim kư nhất tâm, bách thiên chủng pháp, hà sở bất cụ.
(鈔)今既一心,百千種法,何所不具。
(Sao:
Nay đă nhất tâm th́ trăm ngàn loại pháp, có ǵ chẳng
trọn đủ).
Kết
luận này nhằm nói: Cuối cùng quy kết vào nhất
tâm, hết thảy các pháp thảy đều trọn đủ.
(Sao)
Đức Vân Niệm Phật môn giả, Hoa Nghiêm Nhập Pháp
Giới phẩm.
(鈔)德雲念佛門者,華嚴入法界品。
(Sao:
“Môn niệm Phật của ngài Đức Vân”: Trong phẩm
Nhập Pháp Giới của kinh Hoa Nghiêm).
Đây
là phẩm cuối cùng của Bát Thập Hoa Nghiêm, tức phẩm
Nhập Pháp Giới.
(Sao)
Đức Vân tỳ-kheo cáo Thiện Tài ngôn.
(鈔)德雲比丘告善財言。
(Sao: Tỳ-kheo Đức
Vân bảo Thiện Tài rằng).
Thiện
Tài đồng tử tham phỏng tỳ-kheo Đức Vân.
Kinh Hoa Nghiêm là sách giáo khoa viên măn nhất trong nền giáo dục
của đức Phật. Nói theo cách hiện thời, nó là
khái luận Phật pháp. Khái luận rất quan trọng, phương
pháp được cô đọng trong tài liệu giảng dạy
này. Từ đây mới chia thành tông phái. Tất cả hết
thảy các tông phái đều lưu xuất từ Hoa
Nghiêm. Trong bộ kinh này, Thanh Lương đại sư đă
chia thành bốn đoạn lớn là Tín, Giải, Hành, Chứng.
Kinh Hoa Nghiêm có tất cả ba mươi chín phẩm, đoạn
lớn thứ nhất gồm tổng cộng sáu phẩm
kinh, chiếm đến mười một quyển. Đoạn
lớn thứ hai nói về Giải. Đoạn thứ nhất
là phô bày y báo và chánh báo trang nghiêm nơi quả địa Như
Lai cho chúng ta thấy, người thượng căn vừa
thấy liền hiểu rơ, người căn cơ trung hạ
xem chẳng hiểu. Giống như chúng ta đến
thăm viện Bảo Tàng trong Cố Cung, thấy những
đồ bằng đồng từ đời
Thương - Châu, đúng là những thứ đồng vụn
sắt nát danh phù hợp thực, chúng ta chẳng nẩy
sanh hứng thú: “Cái thứ đồng nát sắt vụn ấy
chẳng đáng một đồng!” Người biết
giá trị trông thấy, biết đó là của báu vô giá. Kẻ
chẳng hiểu giá trị, thấy đồ bằng ngọc
thời Minh - Thanh rất đẹp, rất xinh xắn. Thật
ra, chúng chẳng đáng giá, đồng nát sắt vụn
đáng giá! Chúng ta chẳng hiểu giá trị, cần phải
được giải thích thêm. V́ thế, phần thứ
hai [của kinh Hoa Nghiêm] là phần Giải. Kinh văn
cũng rất dài, gồm có ba mươi mốt phẩm,
giảng về Giải. Phần thứ ba, chúng ta đă thật
sự nhận thức, hiểu rơ quả địa Như
Lai thật sự rất thù thắng, chúng ta cũng có thể
đạt được sự hưởng thụ ấy
bằng cách nào? Chuyện này quan trọng nhất. Nếu
chúng ta chẳng đạt được, hết thảy
đều rỗng tuếch! Khi nào chúng ta có thể chứng
đắc sự thọ dụng nơi y báo và chánh báo của
Tỳ Lô Giá Na Phật? Phần thứ ba dạy chúng ta
phương pháp tu hành, giảng về phương pháp, tức
là một phẩm Ly Thế Gian. Phần thứ tư là Chứng,
tu hành nhằm mục đích mong chứng quả. Để
chứng quả, phải thật sự nhập pháp giới
th́ mới được. Quư vị chẳng thể khế
nhập, sẽ chẳng thể thọ dụng. Nhất
định là phải thọ dụng chân thật th́ chúng ta
mới chẳng uổng công tu hành!
Phẩm
Nhập Pháp Giới là phẩm cuối cùng, là phẩm thứ
ba mươi chín của kinh Hoa Nghiêm. Kinh văn của phẩm
này rất dài, có tất cả hai mươi quyển. Đó
là nói theo Bát Thập Hoa Nghiêm. Bản phiên dịch [phẩm
này của] kinh Hoa Nghiêm trong niên hiệu Trinh Nguyên[7] là
bản dịch hoàn chỉnh, chẳng bị khiếm khuyết.
V́ thế, toàn bộ kinh văn của [phẩm] kinh này có tất
cả bốn mươi quyển, [thường gọi là]
bản Trinh Nguyên. Đoạn trên đây trích dẫn từ
bản Bát Thập, tỳ-kheo Đức Vân là người
đầu tiên [trong năm mươi ba vị thiện tri
thức]. Bản Trinh Nguyên không gọi Ngài là Đức Vân
mà gọi là Cát Tường Vân, là cùng một người, [danh
xưng được] phiên dịch khác nhau. Cát Tường
có nghĩa là Đức. Phẩm kinh cuối cùng này rất
quan trọng, phẩm kinh này dạy chúng ta phương thức
tu học. Xưa kia, tiên sinh Phương Đông Mỹ
đă chẳng ngớt khen ngợi ưu điểm lớn
nhất của kinh Hoa Nghiêm. Cụ nói: Tất cả những
sách giáo khoa trên thế giới đều chẳng thể
sánh bằng kinh Hoa Nghiêm. [Kinh được] biên soạn rất
đầy đủ, có sự thật, có lư luận, có
phương pháp, lại c̣n kèm thêm biểu diễn. Phẩm
cuối cùng nhằm biểu diễn “hạnh thành, chứng nhập”, biểu diễn
cho chúng ta xem: Một đệ tử Phật học Phật
sẽ tu như thế nào qua hành vi, xử sự, đăi
người, tiếp vật trong cuộc sống hằng
ngày, nêu gương cho chúng ta xem. Do vậy, cuộc biểu
diễn ấy rất khó có!
Trong
phẩm kinh ấy, lại chia thành hai đoạn lớn,
chia thành bổn hội (本會: hội gốc, hội căn bản,
hội đầu tiên) và mạt hội (末會: hội cuối,
hội đằng ngọn). Bổn hội là Thiện Tài
đồng tử học với Văn Thù Bồ Tát. Ngài Văn
Thù là thầy, người thế gian chúng ta gọi Ngài là “vị
thầy vỡ ḷng”. Thầy dạy vỡ ḷng phải là cao
thủ. Vỡ ḷng mà gặp phải kẻ chẳng ra ǵ, cả
đời quư vị bị ảnh hưởng. Vị thầy
dạy vỡ ḷng có ảnh hưởng lớn nhất
trong một đời người, pháp thế gian thường
nói: “Tiên nhập vi chủ”, [có
nghĩa là] thường là những ǵ được tiếp
nhận từ vị thầy ấy sẽ trở thành tiêu
chuẩn quan niệm chủ quan trong suốt một đời
người ấy. V́ thế, vị thầy ấy hết
sức quan trọng, có sức ảnh hưởng quá to lớn.
Thầy của Ngài (Thiện Tài) là Văn Thù Bồ Tát. Trong
các vị Bồ Tát, ngài Văn Thù trí huệ bậc nhất,
từng làm thầy của bảy vị Phật trong quá khứ.
Thiện Tài rất may mắn gặp gỡ một vị
thiện tri thức tốt đẹp như vậy, theo học
với một vị đại thiện tri thức. Nếu
chư vị chú tâm đọc kỹ phần kinh văn thuộc
bổn hội, trong ba quyển [đầu tiên] của bộ
Tứ Thập Hoa Nghiêm, quư vị hăy chú tâm xét xem Văn Thù Bồ
Tát dạy Thiện Tài điều ǵ? Điều này rất
khẩn yếu. Trong hội Văn Thù, Thiện Tài đồng
tử thành tựu Tam Học Giới, Định, Huệ. Huệ
là ǵ? Huệ là Căn Bản Trí. Giới: Tuân thủ lời
thầy răn dạy. Thầy chỉ dạy như thế
nào, quyết định phải tuân thủ, đó là Giới.
Định là tâm đă định, chỉ học theo một
vị thầy, tâm đă định. Thầy dẫn dắt
quư vị, khiến cho quư vị đắc Căn Bản
Trí. Căn Bản Trí là ǵ? Vô tri, Bát Nhă vô tri. Trước hết,
Văn Thù Bồ Tát huấn luyện Thiện Tài vô tri, tức
là tâm địa thanh tịnh, chẳng nhiễm mảy trần.
Trong giai đoạn thứ hai, sẽ khiến cho Ngài khởi
tác dụng không ǵ chẳng biết. Đó chính là vô tri thành tựu,
đă đạt được, mới có thể học
không ǵ chẳng biết.
Trong
Tứ Hoằng Thệ Nguyện, đă bày ra rất rơ ràng, mọi
người phải ghi nhớ. “Chúng
sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền năo vô tận
thệ nguyện đoạn”. Văn Thù Bồ Tát dạy
Thiện Tài hai điều: Dạy Ngài phát đại tâm, dạy
Ngài đoạn phiền năo. Đă đoạn phiền năo,
tâm bèn định. “Pháp môn vô
lượng thệ nguyện học” là từ tỳ-kheo
Đức Vân cho đến Phổ Hiền Bồ Tát, tham
phỏng năm mươi ba vị thiện tri thức,
thành tựu Hậu Đắc Trí, đó là “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”, không
ǵ chẳng biết. Mọi người nhất định
phải biết: Trước hết là vô tri, sau đấy
mới là không ǵ chẳng biết. Nếu vừa mở
đầu mà có biết, sẽ là thứ ǵ cũng đều
chẳng biết, những ǵ đă biết đều là hiểu
lầm. Hiểu lầm ư nghĩa chân thật của Như
Lai, rất oan uổng! Tu học mà nếu quư vị chẳng
tuân theo thứ tự này, có thể nói là suốt một
đời quư vị chẳng đạt được mảy
may nào. Những ǵ quư vị đă đạt được
toàn là tà tri tà kiến. Lời này chẳng do tôi nói. Trong chú
giải kinh Hoa Nghiêm, Thanh Lương đại sư đă
nói [như thế]. Nếu quư vị chẳng có cái tâm thanh tịnh,
chẳng có Căn Bản Trí, quư vị tiếp xúc Phật
pháp, cũng sẽ tăng trưởng tà tri tà kiến. Đúng
là phải dấy lên tâm cảnh giác, nhất định phải
đi theo đúng con đường của Phật, Bồ
Tát, cổ thánh tiên hiền, trong một đời này chúng
ta mới có thể thành tựu. Hôm nay, tôi giảng tới
chỗ này.
A Di Đà Kinh Sớ Sao
Diễn Nghĩa
Phần 119
[1] Địa Tiền Bồ Tát bao gồm
các địa vị Pháp Thân Bồ Tát chưa chứng
đắc Sơ Địa, tức là ba mươi
địa vị thuộc Thập Trụ, Thập Hạnh
và Thập Hồi Hướng. Từ Sơ Địa
trở lên th́ gọi là Địa Thượng Bồ Tát.
[2] Kinh này được ngài Tăng Già Bà
La xứ Phù
[3] Nguyên văn “出家非世間將相之所能為”, chữ Tướng (將) thứ nhất chỉ vị
tướng cầm quân, chữ Tướng(相) thứ hai chỉ chức vụ
thừa tướng, đứng đầu bá quan.
[4] Nói đầy đủ, đây là
phẩm Thập Vô Tận Tạng của kinh Hoa Nghiêm (Bát
Thập Hoa Nghiêm). Gọi là Vô Tận Tạng v́ mười
loại pháp này giống như cái kho chứa vô tận công
đức. Đúng như tên gọi, trong phẩm kinh
đó, Công Đức Lâm Bồ Tát đă giảng về
mười vô tận tạng của Bồ Tát là Tín
Tạng, Giới Tạng, Tàm Tạng, Quư Tạng, Văn
Tạng, Thí Tạng, Huệ Tạng, Niệm Tạng, Tŕ
Tạng, và Biện Tạng. Trong Niệm Tạng, Công
Đức Lâm Bồ Tát lại giảng mười
loại niệm, nên gọi là Thập Niệm Tạng.
[5] Nhân-ba-thiết là cách người Hoa
phiên âm chữ Rinpoche trong tiếng Tây Tạng. Rinpoche (c̣n
viết là Rimboche hoặc Rinboqê) có nghĩa là “quư báu”. Đây
là một danh xưng tôn kính để gọi các vị
lạt-ma hóa thân, hoặc các trưởng lăo, có thành
tựu, giới đức kiêm ưu, hoặc các tu viện
trưởng, nhưng về sau, chữ này bị lạm
dụng, hầu như các lạt-ma đều
được tín đồ gọi là Rinpoche hết.
[6] Hoạt Phật (Phật sống) là cách
gọi sai lầm của người Hoa đối với
những vị được coi là hóa thân (Tulku) trong
truyền thống Phật giáo Tây Tạng. Chữ Tulku
đôi khi được phiên âm thành Châu Cổ, Tổ
Cố, hoặc c̣n gọi là Hô Đồ Khắc Đồ
(qutukhutu, hutukhtu theo tiếng Mông Cổ). Người Tây
Tạng tin các vị hành giả, tu viện trưởng,
tổ sư tông phái sau khi xả mạng, sẽ có năng lực
tái sanh trở lại nhân gian để tiếp tục
hoằng pháp độ sanh. Mỗi khi vị ấy mất,
dựa trên những lời tiên đoán do vị ấy
để lại (thường là dưới h́nh thức sấm
kư), các đệ tử sẽ đi t́m xem hóa thân kế
tiếp ở đâu. Đứa trẻ t́m được
thường gọi là “linh đồng” (xubilgan). Các vị đệ
tử cao cấp sẽ tiến hành những xét nghiệm
cần thiết rồi tấn phong đứa trẻ
ấy thừa kế ngôi vị. Đôi khi t́m được
nhiều đứa trẻ, có sự tranh chấp giữa nội
bộ th́ phải bắt thăm để chọn lựa.
[7] Trinh Nguyên là niên hiệu của
Đường Đức Tông (từ năm 785 cho
đến tháng Tám năm 805). Đường Đức
Tông sử dụng ba niên hiệu là Kiến Trung (780-783),
Hưng Nguyên (784) và Trinh Nguyên.