A Di Đà Kinh Sớ
Sao Diễn Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần
12
Chủ giảng: Lăo pháp sư Tịnh
Không năm 1984
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Giảo chánh: Huệ Trang và Đức
Phong
Tập 23
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang hai mươi sáu:
(Sớ)
Hựu thù ân phục hàm nhị nghĩa, nhất giả, niệm
Phật thị ân trung chi thù, nhị giả, tŕ danh niệm
Phật, hựu thù ân trung chi thù dă.
(疏) 又殊恩復含二義,一者念佛是恩中之殊,二者持名念佛,又殊恩中之殊也。
(Sớ: Lại nữa, “thù ân”
c̣n bao gồm hai nghĩa: Một, niệm Phật là ân đức
thù thắng nhất, hai, tŕ danh niệm Phật lại là
thù thắng nhất trong các ân thù thắng).
Sách Diễn
Nghĩa có giải thích mấy câu này.
(Diễn)
Niệm Phật ân trung chi thù giả.
(演) 念佛恩中之殊者。
(Diễn:
“Niệm Phật là ân thù thắng nhất” là...)
Ư nghĩa
của chữ “thù ân” đă được
giải thích trong phần trước.
(Diễn)
Niệm Phật chi tỷ kỳ dư pháp môn, cố vi thù
ân.
(演) 念佛之比其餘法門,故為殊恩。
(Diễn: So sánh Niệm Phật
với các pháp môn khác, nên nói là ân thù thắng đặc biệt).
Trong phần
trước, đại sư đă so sánh từng chuyện
một trong quá tŕnh dạy học suốt đời của
Thích Ca Mâu Ni Phật: Dẫu là Nhất Thừa Viên Giáo như
Hoa Nghiêm hay Pháp Hoa, tuy là đại pháp rốt ráo viên măn, nhưng
chẳng khế hợp căn cơ của chúng sanh trong thời
kỳ Mạt Pháp. Nói cách khác, chẳng thể tắt gọn,
nhanh chóng chứng nhập trong một đời. Chúng ta lại
thấy các bộ kinh Đại Thừa quy kết Tây
Phương Tịnh Độ. Nếu có một phương
pháp thật sự thành tựu Tịnh Độ, được
sanh về Tịnh Độ th́ nói cách khác, há chẳng phải
là thơng tay cũng đạt được pháp Nhất Thừa
viên măn ư? Đức Phật nói kinh điển nhiều
dường ấy, có thể nói dụng ư của Ngài là lót đường
cho pháp môn Di Đà, dạy chúng ta so sánh từng pháp môn th́ mới
thật sự phát hiện, thật sự nhận biết
pháp môn này đặc biệt lạ lùng chẳng thể
nghĩ bàn! Do vậy, đức Phật nói Hoa Nghiêm và Pháp
Hoa là “ân đức”, nói pháp môn Di Đà là “thù ân” (ân đức
đặc biệt thù thắng). Đây là so sánh pháp môn Niệm
Phật với các pháp môn khác.
(Diễn)
Nhi Niệm Phật nhất môn, phục hữu đa chủng,
như Quán Tượng, Quán Tưởng, Thật Tướng
đẳng.
(演) 而念佛一門,復有多種,如觀像、觀想、實相等。
(Diễn: Nhưng
một môn Niệm Phật lại có nhiều thứ,
như Quán Tượng, Quán Tưởng, Thật Tướng
v.v...)
Pháp môn Niệm
Phật lại có rất nhiều thứ, ở đây, quy
nạp thành bốn loại: Quán Tượng, Quán Tưởng,
Thật Tướng, Tŕ Danh. Quán Tượng là nh́n tượng
Phật. Do vậy, tượng Phật nhất định
phải tạc trang nghiêm, giống như quy củ tạc
tượng được dạy trong Tạo Tượng
Lượng Độ Kinh[1],
phải khắc họa được ba mươi hai tướng,
tám mươi vẻ đẹp của Phật, chẳng thể
thuận theo sự tưởng tượng trong tâm chính
ḿnh để tạo tượng Phật. Nếu tạc
[theo sự tưởng tượng của chính ḿnh] như
vậy, sẽ là sai, [tạc tượng] có pháp tắc nhất
định. Nói đến tượng Phật th́ cũng có
đồng học đến hỏi: “Chúng con thỉnh một
bức tượng Phật về thờ trong nhà, nghe nói tượng
Phật phải khai quang; không khai quang sẽ chẳng linh?”
Năm ngoái, tôi giảng kinh tại Cựu Kim Sơn (
“Khai quang” chẳng phải là
khai quang cho tượng Phật. Nếu có thể khai quang
cho tượng Phật th́ quư vị lạy Phật sao bằng
lạy tôi! Tôi khai quang cho tượng Phật khiến cho tượng
Phật linh thiêng, tượng sẽ linh; tôi không khai quang, tượng
chẳng linh. Vậy là tôi thiêng hơn tượng Phật nhiều
lắm! Hằng ngày, quư vị mời tôi về nhà cúng
dường tốt hơn, cần ǵ phải thỉnh tượng
Phật bằng đất nặn, gỗ khắc? Đấy
là lầm lẫn quá đỗi! Do vậy, tượng Phật
vừa tạo xong, cử hành một một điển lễ
bắt đầu [đưa tượng Phật] vào sử
dụng, giống như dựng nhà xong làm lễ khánh thành, đến
chúc mừng một phen. Tượng Phật có ư nghĩa càng
đặc biệt hơn! Phải nói rơ ư nghĩa của tượng
Phật. V́ sao phải thờ phụng? Ư nghĩa thờ phụng
là đâu? Do nhờ vào tượng Phật để mở
mang trí huệ quang minh của chính ḿnh, đó gọi là “khai quang”. Nhờ vào tượng
Phật để khơi mở ánh sáng Bát Nhă trong tự tánh
của chính ḿnh, chứ không phải là chúng ta khai quang cho tượng
Phật. Chớ nên điên đảo chuyện này! Chúng ta vừa
thấy [tượng] A Di Đà Phật, liền nghĩ A
Di Đà Phật tượng trưng cho Vô Lượng Giác.
Vừa trông thấy vị Phật ấy chúng ta liền giác
chứ không mê, giác là ánh sáng! Cúng dường tượng Phật
bèn suốt ngày từ sáng đến tối thời thời
khắc khắc khai phát cho tâm địa của chính ḿnh
quang minh, ư nghĩa là như vậy đó. Do vậy, hôm thứ
nhất thỉnh tượng Phật mới toanh để
thờ về, thỉnh pháp sư đến thuyết pháp cho
chúng ta, nói ư nghĩa của tượng Phật, công đức
cúng dường, cách cúng dường đúng pháp là như thế
nào th́ chúng ta mới đạt được lợi ích chân
thật do cúng dường, đó gọi là “khai quang”. Hiện thời, mọi người
đều làm sai, cứ ngỡ là khai quang tượng mới
linh, linh ở chỗ nào? Tượng linh, c̣n quư vị chẳng
linh. Tượng linh, nhưng bản thân quư vị mê hoặc,
điên đảo, lầm lẫn rồi!
Quán Tượng
Niệm Phật th́ phải là người rất có phước
khí v́ sao? Người ấy không cần làm việc, chẳng
phải lo cơm áo, trong nhà tạc một tượng Phật,
suốt ngày từ sáng đến tối nh́n tượng Phật,
đó gọi là Quán Tượng. Phải nhờ vào tượng
Phật bên ngoài để hiển lộ Tánh Đức của
chính ḿnh, đó gọi là Quán Tượng Niệm Phật.
Thường xuyên nghĩ tới sự tu nhân chứng quả
của Phật, chúng ta phải “thấy người hiền,
mong được bằng”, đó là Quán Tượng Niệm
Phật. Do vậy, Quán Tượng Niệm Phật không phải
ai cũng có thể làm được. Nếu quư vị bôn
ba v́ cơm áo, lấy đâu ra thời gian để suốt
ngày từ sáng đến tối quán tượng Phật?
Quán Tưởng
Niệm Phật là mười sáu phép Quán trong Thập Lục
Quán Kinh (c̣n gọi là Quán Vô Lượng Thọ Kinh), nhưng
cách Quán này hết sức tinh tế, miên mật, cũng chẳng
dễ dàng ǵ! Mười sáu thứ cảnh giới, càng về
sau càng sâu hơn. Ví như phép Quán thứ nhất là quán mặt
trời lặn giống như cái trống treo nhằm tưởng
Tây Phương. Khi hoàng hôn, thấy thái dương đỏ
rực lặn xuống núi, quán thành công sẽ ra sao? Bất
luận khi nào, quư vị mở banh mắt hay nhắm tịt
mắt, vầng mặt trời đỏ ấy luôn ở
trước mặt, đó gọi là “quán thành” (quán tưởng thành tựu). Đấy
chẳng phải là tưởng tượng, chẳng phải
là ta tưởng tượng có vầng thái dương ở
trước mặt, không phải vậy! Quư vị mở
banh mắt hay nhắm tịt mắt, vầng thái dương
vẫn ở ngay trước mắt th́ phép Quán thành tựu.
Phép Quán thứ nhất đă thành công, lại quán phép Quán thứ
hai, “biển cả đóng thành
băng”. Nếu phép Quán này thành công, bất luận ở
chỗ nào, quư vị thấy mặt đất đều
là đất lưu ly, phỉ thúy. Đó là ǵ vậy? Dùng sức
quán biến đổi cảnh giới bên ngoài. Cảnh chuyển
theo tâm, nói đơn giản là toàn thể thế giới này
biến thành thế giới Cực Lạc. Người b́nh
thường cũng chẳng thể làm được chuyện
này! Chú sớ kinh Thập Lục Quán, nêu bày lư luận của
Tịnh Độ hết sức tinh vi, sâu xa, thấu triệt
chính là bộ Thập Lục Quán Kinh Diệu Tông Sao. Tuy chúng
ta chẳng thể nương theo phương pháp này để
tu hành, v́ thật sự cách tu này rất khó, nhưng nhất
định phải hiểu những lư luận ấy do chúng
sẽ có ích rất lớn cho việc tŕ danh niệm Phật
của quư vị.
Thật
Tướng Niệm Phật hiện thời chúng ta không làm
được, v́ sao? Phải đạt đến Lư nhất
tâm bất loạn rồi mới có thể Thật Tướng
niệm Phật. Trong bốn loại Niệm Phật, chúng
ta có thể tu pháp Tŕ Danh. Đối với Quán Tưởng
và Quán Tượng th́ quán tượng chúng ta chẳng thể
có thời gian để làm như vậy được, Quán
Tưởng th́ lúc nào, chỗ nào cũng đều có thể
quán, nhưng chẳng thấy ai có thể quán thành tựu!
(Diễn)
Nhi quán tượng, tắc tượng khứ, hoàn vô, nhân
thành gián đoạn.
(演) 而觀像,則像去還無,因成間斷。
(Diễn: Nhưng quán tượng
th́ rời khỏi tượng, lại là không, cái nhân trở
thành gián đoạn).
Quán tượng
chẳng thể gián đoạn, trong mười hai thời
phải đối trước tượng Phật th́ công
phu mới chẳng gián đoạn, mấy ai có phước
báo lớn dường ấy?
(Diễn)
Quán tưởng, tắc tâm thô, cảnh tế, diệu quán
nan thành.
(演) 觀想,則心粗境細,妙觀難成。
(Diễn: Quán
tưởng th́ tâm thô, cảnh vi tế, phép Quán mầu nhiệm
khó thành).
Thật đấy!
Chẳng giả tí nào! Trong tâm chúng ta quá nhiều tạp niệm,
vọng tưởng quá nhiều. Thập Lục Quán Kinh giảng
những cảnh giới vi tế, quả thật chẳng
dễ ǵ quán thành công.
(Diễn)
Thật Tướng, tắc thượng trí năi khắc thừa
đương, trung hạ vị năng lănh hà.
(演) 實相,則上智乃克承當,中下未能領荷。
(Diễn: Thật Tướng
niệm Phật th́ bậc thượng trí mới ḥng tiếp
nhận, căn cơ trung hạ chưa thể nhận
lănh, gánh vác).
Sau khi đắc
Lư nhất tâm bất loạn, niệm Phật mới là Thật
Tướng Niệm Phật, chứ Sự nhất tâm bất
loạn sẽ chẳng thể!
(Diễn)
Duy thử tŕ danh, chí giản, chí dị, phổ nhiếp
chư căn, hạc xung, bằng cử, kư sậu, long phi,
thù ân trung chi thù ân dă.
(演) 唯此持名,至簡至易,普攝諸根,鶴沖鵬舉,驥驟龍飛,殊恩中之殊恩也。
(Diễn: Chỉ có pháp tŕ danh
này, đơn giản nhất, dễ dàng nhất, nhiếp
khắp các căn, hạc tung ḿnh, đại bàng sải cánh,
ngựa Kư phi nước đại, rồng bay lên, là ân thù
thắng nhất trong các ân thù thắng).
Mấy câu
này tán thán công đức của Tŕ Danh Niệm Phật trong
bốn thứ Niệm Phật. Trong pháp môn Niệm Phật,
pháp môn này đơn giản dễ dàng, mà thành tựu thù thắng
chẳng thể nghĩ bàn! Mấy loại Niệm Phật
kể trên nhiếp thọ hết thảy chúng sanh khác nhau.
Ví như Thật Tướng Niệm Phật chỉ có bậc
thượng trí lợi căn mới hành được, kẻ
căn tánh trung hạ chẳng có phần. Quán Tưởng cũng
phải từ trung căn trở lên, kẻ hạ căn không
thể làm được. Tŕ Danh thích hợp khắp ba căn,
thâu tóm lợi căn lẫn độn căn, có thể nói
là hết thảy chúng sanh không ai chẳng thể tu, chỉ
cần chịu tu, không một ai chẳng thành tựu. Cổ
nhân bảo: “Vạn người
tu, vạn người về” chính là nói về pháp môn Tŕ
Danh Niệm Phật. “Phổ
nhiếp chư căn”: Phổ biến nhiếp thọ hết
thảy chúng sanh.
Hai câu tiếp
theo đó là tỷ dụ sự thành tựu của người
ấy, giống như bạch hạc, như chim đại
bàng. Đấy đều là những loài chim bay cao nhất.
Câu tiếp đó tỷ dụ rồng và ngựa, chạy
nhanh, bay cao, đều nhằm h́nh dung pháp môn Niệm Phật
thù thắng nhất, thành tựu chẳng thể nghĩ bàn
nhất. Trong mấy cách Niệm Phật này, Tŕ Danh thành tựu
thù thắng nhất. Nói thật ra, thù thắng hơn Quán Tưởng
rất nhiều. Quán Tưởng rất khó thành tựu, quán
thành công khá khó khăn. Quư vị phải hiểu: Khi đă
quán thành công rồi, nếu quư vị nâng cao cảnh giới
để đến cơi Thật Báo Trang Nghiêm th́ phải bỏ
tướng đă quán thành công ấy. V́ sao? Tướng ấy
là tướng hư vọng. Phàm những ǵ có tướng
đều là hư vọng. Quán Tượng là chấp tướng.
Quán Tưởng lẫn Quán Tượng đều là chấp
tướng, vẫn phải bỏ sự chấp trước
ấy. Chẳng dễ ǵ quán thành tựu, quán thành tựu khó
khăn, bỏ đi cũng khó, v́ ấn tượng quá sâu
nên bỏ ấn tượng ấy cũng khó. Bỏ danh tự
dễ dàng, v́ danh tự là giả danh, đổi tên cũng
được! Do vậy, đến cuối cùng, bỏ đi
danh tự ấy dễ dàng hơn bỏ Quán Tưởng, Quán
Tượng nhiều lắm! V́ thế, trong bốn phương
pháp Niệm Phật, chỉ có Tŕ Danh là gần với Thật
Tướng nhất, đến cuối cùng nhất định
phải cầu Thật Tướng th́ đấy mới là
Lư nhất tâm bất loạn. Do đây, có thể biết: Từ
phương pháp Tŕ Danh đến Thật Tướng Niệm
Phật là con đường tắt. V́ vậy mới có
hai câu tỷ dụ ấy.
Đoạn
thứ nhất là Tán Kinh, được chia thành hai đoạn
lớn, trước hết là Tổng Tán, sau đó Biệt
Tán. Trong phần Biệt Tán có bốn đoạn nhỏ. Đoạn
thứ nhất nói rơ v́ sao Thích Ca Mâu Ni Phật phải nói
kinh này, giới thiệu ư nghĩa đến đây đă
xong. Tiếp theo đây là tiểu đoạn thứ hai, tựa
đề của khoa này là....
Nhị,
thống luận Tịnh Độ công đức.
(Tự) Chỉ tứ thập
bát chi nguyện môn, khai nhất thập lục chi Quán pháp,
nguyện nguyện quy hồ phổ độ, Quán Quán tông
hồ diệu tâm.
二,
統論淨土功德
(序)
指四十八之願門,開一十六之觀法,願願歸乎普度,觀觀宗乎妙心。
(Hai, luận chung về công đức của
Tịnh Độ.
Tựa: Chỉ bày
bốn mươi tám nguyện môn, mở ra mười sáu
phép Quán, nguyện nào cũng quy về phổ độ,
phép Quán nào cũng đề cao diệu tâm).
Đoạn
này chỉ có bốn câu. Ư nghĩa được bao hàm trong
bốn câu hết sức rộng lớn.
(Diễn)
Chỉ tứ thập bát nguyện môn giả.
(演) 指四十八願門者。
(Diễn: “Chỉ bày bốn
mươi tám nguyện môn”...)
Câu này nói
về điều ǵ? Nói đến A Di Đà Phật khi c̣n
tu nhân, đây là chuyện [được chép] trong kinh Vô Lượng
Thọ, tức chuyện tu hành của A Di Đà Phật khi
c̣n tu nhân.
(Diễn) Pháp Tạng tỳ-kheo,
ư Thế Tự Tại Vương Phật sở, phát tứ
thập bát nguyện.
(演) 法藏比丘,於世自在王佛所,發四十八願。
(Diễn: Tỳ-kheo Pháp Tạng
ở chỗ Thế Tự Tại Vương Phật, phát
ra bốn mươi tám nguyện).
Đây là
nói lúc A Di Đà Phật xuất gia lần đầu tiên,
Ngài phát tâm học Phật với Thế Tự Tại
Vương Phật, mang thân phận quốc vương, vứt
bỏ ngôi vua, phát tâm xuất gia. Do đây, có thể biết:
Xuất gia c̣n thù thắng hơn làm quốc vương, Ngài
thật sự hiểu công đức và lợi ích xuất
gia. Đấy là thật sự phát tâm. Thuở ấy, khi
Ngài xuất gia đă phát ra bốn mươi tám nguyện;
nguyên văn của bốn mươi tám lời nguyện
được chép trong kinh Vô Lượng Thọ.
(Diễn)
Phật năi nhất nhất niêm xuất, chỉ thị chúng
sanh, cố viết “chỉ tứ thập bát” giả.
(演) 佛乃一一拈出,指示眾生,故曰指四十八者。
(Diễn: Đức Phật
nêu ra từng điều chỉ dạy chúng sanh, nên nói “chỉ
bày bốn mươi tám nguyện”).
Chữ “Phật” chỉ Bổn Sư
Thích Ca Mâu Ni Phật, Ngài đă nêu ra từng điều nhằm
chỉ dạy chúng ta. Không riêng Phật Thích Ca là như vậy,
mà hết thảy chư Phật trong mười
phương thế giới, không vị nào chẳng như
thế. V́ sao chúng ta biết? Qua kinh A Di Đà, chúng ta thấy
mười phương chư Phật khác miệng cùng lời,
không vị nào chẳng tán thán A Di Đà Phật, các Ngài đă
tán thán A Di Đà Phật th́ cũng nhất định khuyên
chúng sanh trong thế giới của các Ngài cầu sanh Tịnh
Độ. Đấy là đạo lư đương nhiên.
(Diễn)
Như quốc trung vô tam ác đạo nguyện, năi chí tối
hậu tức đắc chư Nhẫn cứu cánh nguyện.
(演) 如國中無三惡道願,乃至最後即得諸忍究竟願。
(Diễn: Như nguyện “trong
cơi nước không có ba ác đạo” cho đến nguyện
cuối cùng là “liền rốt ráo đắc các Nhẫn”).
Đây là
nêu đại lược: Nguyện thứ nhất, nếu
Ngài thành Phật, trong cơi nước của Ngài không có ba ác
đạo. V́ sao không có ba ác đạo? Phàm ai sanh về nước
Ngài, quyết định chẳng tạo nghiệp duyên ba ác
đạo. Học Phật, đặc biệt là người
xuất gia, theo kinh điển, truyện kư và bút kư của
cổ nhân qua các đời ghi chép, người xuất gia đọa
lạc quá nhiều, đọa vào địa ngục, đọa
trong ác đạo, v́ duyên đọa lạc quá nhiều, đọa
lạc hết sức dễ dàng! Trong Thích Môn Pháp Giới Lục[3]
ghi chép rất nhiều, đấy chẳng qua là những
trường hợp rành rành. Cuốn sách này do đệ tử
của Ấn Quang đại sư là Quách cư sĩ biên
soạn. Ông ta trích lục từ kinh, luận và truyện kư,
mỗi chuyện đều chân thật. Chúng ta đọc
xong, điều lành phải bắt chước; điều
ác phải nỗ lực phản tỉnh kiểm điểm,
sửa lỗi, đổi mới. Chẳng đọc cuốn
sách này, nói thật ra, chính bản thân chúng ta chẳng biết
chính ḿnh có bao nhiêu tội lỗi, nói chung là cứ ngỡ điều
ǵ ta cũng làm đúng. Chẳng soi gương, chẳng biết
mặt ḿnh bẩn thỉu. Thích Môn Pháp Giới Lục là một
tấm gương, phải đọc hằng ngày nhằm
kiểm điểm tâm hạnh của chính ḿnh, ḥng biết
chính ḿnh có đọa lạc hay không.
Người
thành công, trong mười hai thời tâm luôn nghĩ về đạo.
Pháp môn này tuy là đạo dễ hành, trong mười hai thời,
Phật hiệu chẳng thể gián đoạn, trong mười
hai thời chớ nên khởi một vọng niệm nào, đấy
gọi là “công phu thành phiến”, mới nắm chắc điều
kiện văng sanh. Có điều kiện tốt đẹp dường
ấy, đương nhiên chẳng đọa lạc trong
ba ác đạo. Nói cách khác, chính chúng ta phải luôn ghi nhớ,
chính chúng ta phải biết: Nhân duyên ác đạo chẳng đoạn,
dẫu niệm Phật tốt đẹp đến mấy
cũng chẳng thể văng sanh. Sức mạnh
của ác đạo nơi quư vị quá mạnh, chẳng
tương ứng với Tây Phương Cực Lạc thế
giới, quả báo là trong ngạ quỷ đạo.
Trong thế giới Cực Lạc không có ngạ quỷ
đạo, quư vị không có cách nào [văng sanh Cực Lạc].
Quư vị phải hiểu rơ điều này, tối thiểu
là quư vị phải có đủ tư cách sanh vào hai đường
trời người th́ mới đến được
Tây Phương. Trong Tây Phương Cực Lạc thế
giới có nhân đạo (loài người), ta hội đủ
điều kiện sanh trong nhân đạo th́ mới có tư
cách văng sanh. Tam ác đạo là ǵ? Tham, sân, si, mạn. Trong tâm
chúng ta có những thứ ấy hay không? Nếu c̣n có tham, sân,
si, mạn, sẽ là chướng ngại. Người xuất
gia tạo tội nghiệp càng nhiều, càng nghiêm trọng,
chẳng thể tu học đúng lư, đúng pháp sẽ là tội
nghiệp, là chướng ngại. Cổ đức nói rất
hay: “Thí chủ nhất lạp
mễ, đại như Tu Di sơn, kim sanh bất liễu
đạo, phi mao đới giác hoàn” (Một hạt gạo
thí chủ, to như núi Tu Di, đời này chẳng liễu
đạo, mang lông, đội sừng đền). Chúng ta
phải kiêng sợ!
Giống
như A Di Đà Phật trong lúc tu nhân đă phát ra đại
nguyện như vậy, quả thật là hết sức khó
có. Tuy Phật Phật đạo đồng, nhưng trong
khi tu nhân, mỗi vị Phật đă phát nguyện hoàn toàn
chẳng giống nhau. “Chúng sanh
vô biên thệ nguyện độ” là lời nguyện
chung, cách độ như thế nào là lời nguyện riêng.
Bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật là
nguyện độ chúng sanh đặc biệt, biệt
nguyện ấy không giống với những vị Phật
khác!
(Diễn)
Khai nhất thập lục Quán pháp giả, nhân Vy Đề
khải thỉnh, năi vị tuyên thuyết, kim nhật thỉ
sáng, cố viết “khai”. Nhất thập lục giả, thỉ
tự lạc nhật huyền cổ quán, chung chí tam bối
văng sanh quán. Quán viết Pháp giả, các hữu pháp tắc tu
bất nhất cố.
(演) 開一十六觀法者,因韋提啟請,乃為宣說,今日始創,故曰開。一十六者,始自落日懸鼓觀,終至三輩往生觀。觀曰法者,各有法則修不一故。
(Diễn:
“Mở ra mười sáu phép Quán” là do bà Vy Đề Hy khải
thỉnh, đức Phật bèn v́ bà ta tuyên thuyết, nay mới
bắt đầu thành lập nên gọi là “khai”. Mười
sáu phép Quán bắt đầu bằng phép Quán mặt trời
lặn giống như cái trống treo cho đến phép
Quán cuối cùng là ba bậc văng sanh. Quán được gọi
là Pháp v́ mỗi môn Quán đều có pháp tắc tu tŕ khác
nhau).
Giới
thiệu giản lược Thập Lục Quán Kinh. Nhân duyên
của Thập Lục Quán Kinh cũng hết sức đặc
biệt, bà Vy Đề Hy thỉnh cầu đức Phật,
đức Phật v́ bà ta thị hiện các thứ trang
nghiêm nơi Tây Phương Tịnh Độ. Bà ta thấy
rồi, cầu Thích Ca Mâu Ni Phật dạy bà ta cách văng sanh
cơi Phật như thế nào. Do bản thân bà ta có thân phận
là một vị hoàng hậu, sanh trong gia đ́nh phú quư, thông
minh, lợi căn, đức Phật dạy bà ta phương
pháp này. Do vậy, đối với bà ta, phương pháp này
không khó! Trong kinh ấy có tất cả mười sáu cảnh
giới, “thỉ tự lạc
nhật huyền cổ” (bắt đầu bằng [phép
Quán] mặt trời lặn giống như cái trống
treo), đây là phép Quán thứ nhất, quán mặt trời lặn
lúc hoàng hôn, thái dương đỏ rực giống như
cái trống treo giữa trời. Bắt đầu quán từ
chỗ này, những cảnh giới [trong các phép Quán] sau càng
vi tế, thâm mật hơn cảnh giới trước, đến
phép Quán thứ mười sáu là ba bậc thượng,
trung, hạ văng sanh, cảnh giới ấy hết sức
trang nghiêm, rất chẳng dễ quán cho lắm. Mỗi một
phép Quán trong ấy đều có phương pháp hết sức
tinh tế, hàng hành nhân sơ cơ quyết chẳng thể
tu tập được. Do vậy, cách tu khác nhau.
(Diễn)
Nguyện nguyện quy hồ phổ độ giả,
như Tứ Giáo, Tứ Hoằng các hữu tứ chủng.
(演) 願願歸乎普度者,如四教四弘各有四種。
(Diễn: Nguyện nguyện
quy về phổ độ là như Tứ Hoằng Thệ
Nguyện trong Tứ Giáo mỗi nguyện đều có bốn
loại).
Tứ Hoằng
Thệ Nguyện th́ mỗi giáo trong Tứ Giáo Tạng, Thông,
Biệt, Viên đều có. Tuy tên gọi của Tứ Hoằng
Thệ Nguyện trong Tứ Giáo giống nhau, nhưng cảnh
giới khác nhau.
(Diễn)
Kim tắc thuần thị chúng sanh vô biên thệ nguyện
độ dă.
(演) 今則純是眾生無邊誓願度也。
(Diễn: Nay những nguyện
của A Di Đà Phật thuần là “chúng sanh vô biên thệ
nguyện độ”).
Bốn mươi
tám nguyện của A Di Đà Phật đều là pháp môn đặc
biệt để độ chúng sanh, Ngài nói tường tận
như thế đó!
(Diễn)
Phổ vị thụ cùng hoành biến.
(演) 普謂豎窮橫遍。
(Diễn: Chữ “Phổ”có ư nói: Tột cùng
theo chiều dọc, trọn khắp theo chiều ngang).
Theo chiều
dọc tột cùng ba đời, theo chiều ngang trọn
khắp mười phương.
(Diễn)
Quy giả, vị tuy hữu tứ thập bát chủng bất
đồng.
(演) 歸者,謂雖有四十八種不同。
(Diễn: “Quy” là tuy có bốn
mươi tám thứ khác nhau).
Bốn mươi
tám nguyện đều là “chúng
sanh vô biên thệ nguyện độ” trong Tứ Hoằng
Thệ Nguyện, từ nguyện này khai triển thành bốn
mươi tám phương pháp khác nhau để độ chúng
sanh.
(Diễn)
Nhi yếu kỳ sở quy, tắc vô phi phổ độ
dă.
(演) 而要其所歸,則無非普度也。
(Diễn: Nhưng quy kết về
tánh chất trọng yếu của từng nguyện, không
nguyện nào chẳng nhằm phổ độ).
Nguyện
nào cũng nhằm giúp đỡ và thành tựu chúng sanh, khiến
cho hết thảy chúng sanh thành tựu Vô
Thượng Bồ Đề trong một đời. Chữ
“nguyện nguyện” [trong câu
“nguyện nguyện quy hồ phổ độ giả”]
chỉ bốn mươi tám nguyện,
mỗi một nguyện trong bốn mươi tám nguyện
đều nhằm phổ độ chúng sanh, từ đây
chúng ta có thể hiểu được ḷng đại từ
đại bi của A Di Đà Phật!
(Diễn)
Tông hồ diệu tâm giả, tông do chủ dă, vị tuy hữu
nhất thập lục chủng bất đồng, nhi cứu
kỳ sở chủ, tắc vô phi diệu tâm dă.
(演)
宗乎妙心者,宗猶主也,謂雖有一十六種不同,而究其所主,則無非妙心也。
(Diễn:
“Đề cao diệu tâm”: “Tông” giống như “chủ”, ư
nói: Tuy có mười sáu phép Quán khác nhau, nhưng xét đến
chỗ chủ yếu th́ không phép nào chẳng nhằm lấy
diệu tâm [làm chủ]).
Mười
sáu phép Quán, phép Quán nào cũng đề cao diệu tâm. Tâm được
gọi là Diệu là Diệu ở chỗ nào? Tiếp đó,
sách viết:
(Diễn)
Diệu tâm giả, vị thập lục Quán trung, nhược
y, nhược chánh, giai dĩ pháp giới tâm, quán pháp giới
cảnh, sanh ư pháp giới y chánh sắc tâm dă.
(演) 妙心者,謂十六觀中,若依若正,皆以法界心,觀法界境,生於法界依正色心也。
(Diễn: Diệu tâm là nói trong
mười sáu phép Quán, dù y báo hay chánh báo đều dùng pháp
giới tâm để quán pháp giới cảnh, sanh ra y báo,
chánh báo, sắc và tâm trong pháp giới).
Đây là
tông chỉ của Thập Lục Quán Kinh, hết sức gần
với Pháp Giới Quán trong kinh Hoa Nghiêm. Trong phần trước,
chúng ta nói đến “tế tâm” (tâm vi tế), trên thực tế,
nó là Định cảnh, tâm thanh tịnh mới có thể thành
tựu diệu quán. Y báo, chánh báo trang nghiêm hiện tiền
không ǵ chẳng phải là Nhất Chân pháp giới. “Pháp giới tâm” là chân tâm; nếu
có phân biệt, chấp trước là không được rồi!
“Pháp giới cảnh” là thật
cảnh. Do đây có thể biết: Dùng mười sáu phép
Quán để giúp đỡ và thành tựu quư vị sanh vào
cơi Thật Báo Trang Nghiêm. Cơi Thật Báo Trang Nghiêm và Nhất
Chân pháp giới được nói trong kinh Hoa Nghiêm là cùng một
pháp giới. Câu này nói rơ: A Di Đà Phật độ chúng
sanh với mục tiêu dạy quư vị thành Phật, dạy
quư vị nhập Nhất Chân pháp giới. Câu trước đó
nói về bốn mươi tám nguyện, nguyện nào cũng
nhằm độ chúng sanh; bốn câu này quả thật đă
gồm trọn công đức của Tịnh Độ. Một
đằng là Nguyện, một đằng là Hạnh. Nguyện
và Hạnh đều đạt đến tột cùng.
(Sớ)
Thượng tán Tịnh Độ pháp môn chi thắng, kim
ư Tịnh Độ, tiên xuất dư kinh, nhiên hậu
giảo lượng thử kinh cánh vi thù thắng.
(疏) 上讚淨土法門之勝。今於淨土,先出餘經,然後較量此經更為殊勝。
(Sớ:
Trên đây đă khen ngợi sự thù thắng của pháp
môn Tịnh Độ, nay đối với pháp môn Tịnh
Độ, trước hết nêu ra các kinh khác, rồi mới
so sánh để thấy kinh [A Di Đà] này càng thù thắng
hơn nữa).
Ư
nghĩa rất sâu, phương pháp rất xảo diệu,
v́ bốn mươi tám nguyện được giảng
trong kinh Vô Lượng Thọ, mười sáu phép Quán
được giảng trong Quán Vô Lượng Thọ Phật
Kinh, rồi mới hiển thị phép Tŕ Danh Niệm Phật
của kinh A Di Đà, quư vị thấy rất tuyệt!
Đây là lấy ba kinh Tịnh Độ để so sánh giữa
ba kinh với nhau, “nhiên hậu
giảo lượng thử kinh cánh vi thù thắng” (rồi
mới so sánh để thấy kinh này càng thù thắng
hơn nữa). “Thử kinh”
là kinh A Di Đà, càng thù thắng hơn, so với hai thứ
trước (Quán Kinh và kinh Vô Lượng Thọ) vẫn
thù thắng hơn.
(Sớ)
Nguyện môn, Quán pháp cụ tại nhị kinh.
(疏) 願門,觀法,具在二經。
(Sớ: Bốn mươi tám
lời nguyện và Quán pháp được chép đầy đủ
trong hai kinh kia).
“Nhị kinh” là Vô Lượng
Thọ Kinh và Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh. Tịnh
Độ có ba kinh, như vậy là đoạn này nói đến
hai bộ kinh kia.
(Sớ)
Ngôn tùng sơ nguyện dĩ chí nguyện chung, vô phi tận
nhiếp chúng sanh đồng sanh Tịnh Độ.
(疏) 言從初願以至願終,無非盡攝眾生同生淨土。
(Sớ: Ư nói: Từ nguyện
đầu tiên cho đến nguyện cuối cùng, không nguyện
nào chẳng nhiếp trọn các chúng sanh cùng sanh về Tịnh
Độ).
Đây là
tông chỉ của kinh Vô Lượng Thọ.
(Sớ)
Tự sơ quán dĩ chí quán mạt, tất thị Không, Giả,
Trung Đạo, viên cực nhất tâm. Diêu thử nhất
tâm, xuất sanh đại nguyện nhi thành Chánh Giác.
(疏) 自初觀以至觀末,悉是空假中道圓極一心,繇此一心,出生大願而成正覺。
(Sớ:
Từ phép Quán đầu tiên cho đến phép Quán cuối
cùng, đều là Không, Giả, Trung Đạo, nhất tâm
viên măn đến tột bậc. Do nhất tâm này, xuất
sanh đại nguyện để thành Chánh Giác).
Đây là tông chỉ
của Thập Lục Quán Kinh.
(Sớ)
Tức dĩ bổn nguyện hoàn độ chúng sanh, nhi quy
nhất tâm Tịnh Độ pháp môn. Nhị kinh đại
giảo, ư cái như thử.
(疏) 即以本願還度眾生,而歸一心淨土法門。二經大較,意蓋如此。
(Sớ: Tức là do bổn
nguyện, trở lại độ chúng sanh để họ
nhất tâm hướng về pháp môn Tịnh Độ. So
sánh đại lược hai kinh th́ ư nghĩa vốn là
như vậy).
“Đại” (大) là đại lược. So sánh đại
khái th́ ư nghĩa là như vậy đó. Đây là nói đến
hai bộ kinh kia trong ba kinh Tịnh Độ, “tất thị Không, Giả, Trung
Đạo, viên cực nhất tâm” (đều là Không, Giả,
Trung Đạo nhất tâm viên măn đến tột bậc).
Đạo lư này có thể giúp chúng ta tŕ danh niệm Phật.
(Diễn)
Tất thị Không, Giả, Trung Đạo viên cực nhất
tâm giả, Quán pháp hữu nhị, hữu Sự, hữu Lư.
Sự Quán giả, thả như nhật quán, hành nhân diện
Tây chánh tọa.
(演) 悉是空假中道圓極一心者,觀法有二,有事有理。事觀者,且如日觀,行人面西正坐。
(Diễn:
“Đều là Không, Giả, Trung Đạo nhất tâm viên
măn đến tột bậc”: Quán pháp có hai loại là Sự
và Lư. Sự Quán là như quán mặt trời, hành nhân quay mặt
về phía Tây).
“Hành nhân” là người tu hành, khi mặt trời
lặn xuống sau núi, quay mặt nh́n về phía Tây.
(Diễn)
Quán nhật dục lạc, trạng như huyền cổ,
bế mục, khai mục, nhật tướng hiện tiền,
danh vi Sự Quán.
(演) 觀日欲落,狀如懸鼓,閉目開目,日相現前,名為事觀。
(Diễn: Quán mặt trời sắp
lặn, có h́nh dạng như cái trống treo, nhắm mắt,
mở mắt, tướng mặt trời hiện tiền,
gọi là Sự Quán).
Thật
sự quán thành công chuyện này. Tôi vừa mới thưa cùng
quư vị. Sự quán thành công th́ chẳng có ǵ hy hữu, lạ
lùng! Phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng,
quư vị phải hiểu đạo lư này. Hôm nay, có một
người học tṛ hỏi tôi: “Trước đây không
lâu, con gặp một vị lạt-ma Tây Tạng có thần
thông, vừa gặp mặt liền biết rất nhiều
chuyện của con, chuyện này là như thế nào?” Tôi bảo
anh ta: “Ông ta có tiểu thần thông, biết một chút những
chuyện nhỏ nhặt, chứ không có đại thần
thông!” Nhưng người trong thế gian ham chuộng chuyện
quái lạ, cho rằng ai có một chút thần thông nhỏ
nhoi bèn là phi phàm, người ấy là siêu nhân rồi! Kinh Lăng
Nghiêm có nói trong thời kỳ Mạt Pháp những hiện tượng
như vậy rất nhiều, yêu ma quỷ quái dựa vào
thân người ta, người ấy (tức người
bị yêu ma dựa vào) bèn có thần thông. Sau khi yêu ma quỷ
quái rời đi, kẻ ấy mất sạch năng lực.
Bởi lẽ, thứ năng lực mà kẻ ấy có chẳng
phải là năng lực chính ḿnh vốn có, mà do tinh linh quỷ
thần dựa vào thân. Kẻ ấy đến khắp nơi
trong thế gian bịa đặt, gạt gẫm, tạo vô
lượng vô biên tội nghiệp; tạo tội nghiệp
như thế nào, chính kẻ ấy chẳng biết. Chính kẻ
ấy mê hoặc, điên đảo, tạo tội nghiệp
dường ấy, mà vẫn ngỡ ḿnh đă tạo rất
nhiều công đức, làm nhiều chuyện tốt, oan uổng
quá! Đến ngày nào đó, chạm mặt vua Diêm La thẩm
vấn, vua Diêm La chỉ ra từng chuyện một, kẻ
ấy mới hiểu chính ḿnh đă phạm sai lầm, đến
khi ấy, có hối cũng chẳng kịp.
Phật dạy cho chúng ta chánh pháp,
giác chứ không mê, chánh chứ không tà, tịnh chứ không
nhiễm, chẳng dạy chúng ta tin tưởng những kẻ
có thần thông. Đức Phật dùng chánh pháp giáo hóa chúng
sanh, trọn chẳng đem những thứ kỳ quái mê hoặc
chúng sanh. Đức Phật có năng lực ấy, nhưng
tuyệt đối chẳng dùng. Bồ Tát, A La Hán đều
có năng lực ấy, đức Phật vẫn dùng chánh
pháp giáo hóa chúng sanh, nhất định chẳng đề
xướng những thứ ấy. Do vậy, [người
nào] thị hiện một chút thần thông mà đă coi người
ấy là phi phàm, gạt chánh pháp qua một bên, chẳng đếm
xỉa tới, đó gọi là “tà
sư thuyết pháp như cát sông Hằng”. Đấy là điềm
báo sẽ gặp kiếp nạn! Trong Tả Truyện, cổ
nhân Trung Quốc có nói: “Quốc
gia tương hưng, thính ư dân”, [tức là] nghe theo ư
kiến của bá tánh để cai trị, quốc gia ấy
sẽ hưng vượng. “Quốc
gia tương vong, thính ư thần”, nghĩa là suốt
ngày từ sáng đến tối hỏi ư thần thánh, quốc
gia ấy sắp diệt vong. Hai câu này của sách Tả
Truyện quả thật đă được chứng thực
trong lịch sử Trung Quốc. Khi một quốc gia nào đó
hưng vượng th́ đều là do con người mưu
tính, tập hợp ư kiến đại chúng: Chúng ta phải
làm theo cách như vậy! Đời Thanh, Từ Hy Thái Hậu
bất luận chuyện lớn hay nhỏ đều cầu
cơ, xin thần giáng bút, nghe theo lệnh thần, bà ta vong
quốc! Chúng ta nghĩ đến tương lai, phải dựa
vào Lư Tánh của chính ḿnh để quyết định, gắng
sức nỗ lực th́ mới có tương lai, chứ quư
vị suốt ngày từ sáng đến tối dựa dẫm
thần thánh, tiền đồ của quư vị sẽ là một
bầu hắc ám. Quư vị dựa dẫm vị thần ấy,
ngày nào đó, thần bỏ đi, hết thảy mọi
chuyện xong luôn! Gia đ́nh quư vị muốn hưng vượng
th́ người trong nhà ḥa thuận, cả nhà hợp tác, cùng
nỗ lực tạo dựng cơ nghiệp, tương
lai của gia đ́nh quư vị mới sáng sủa. Cả nhà
quư vị đều nghe lệnh quỷ thần, nhà ấy chẳng
thể nào không diệt vong, làm sao không suy sụp cho được?
Chớ nên nghe theo lời thần!
Phật dạy
chúng ta tin vào chính ḿnh, chứ không dạy chúng ta nghe lệnh
Ngài. Phật dạy chúng ta tự giác. Do có đồng học
tạc tượng Phật, tôi đặc biệt nêu lên ư
nghĩa khai quang tượng Phật, đừng hiểu lầm.
Phật dạy con người tự giác, dạy con người
tự tin, chỗ vĩ đại của Phật khác với
các thần giáo chính là ở chỗ này. Bất cứ tôn giáo
nào [cũng đều phải là] “các ngươi đều
phải nghe theo lệnh ta, quyết định chớ nên
trái nghịch ta”. Phật chẳng vậy, Phật dạy
chúng ta nghe lệnh của chính ḿnh, quư vị phải tự
giác. Phật không có cách nào độ quư vị, Phật chẳng
độ chúng sanh; nói rơ ràng, minh bạch như thế. Phật
chỉ làm Tăng Thượng Duyên cho chúng ta, chính quư vị
tự độ. Lục Tổ nói rất hay: “Phật pháp là tự ngộ, tự
tu, tự chứng, tự độ”. Trong sách Yếu Giải,
Ngẫu Ích đại sư đă giảng về tín tâm, món
thứ nhất là Tín Tự (tin vào chính ḿnh). Đây là điều
kiện trọng yếu nhất, phải tin tưởng
chính ḿnh; kế đó, điều thứ hai là Tín Tha (tin vào
người khác), chữ Tha chỉ những bậc đă từng
trải, những người ấy có thể thành Phật
th́ ta cũng có thể thành Phật. Họ có thể khai ngộ,
ta cũng có thể khai ngộ, phải tin tưởng điều
này. Tin tưởng con đường do người từng
trải đă đi, đáng cho chúng ta tham khảo, bắt chước,
đấy là Tín Tha. Do vậy, đệ tử Phật chẳng
nương dựa, ỷ lại bất cứ ai, mà hăy nương
cậy chính ḿnh, Phật chẳng dạy chúng ta dựa dẫm
Ngài. Do vậy, [người tu học] Phật pháp là một
“vô y đạo nhân” (người tu đạo không dựa
dẫm) độc lập, tự chủ. Đấy là chỗ
khác biệt giữa Phật pháp và tất cả các tôn giáo. Phật
dạy chúng ta phải tin vào chính ḿnh, kiến lập tín tâm nơi
chính ḿnh th́ mới có thể thành tựu. Do vậy, Sự
Quán thật sự có thể thành tựu, trong Duy Thức gọi
đó là “cảnh chuyển theo
tâm”. Mười sáu phép Sự Quán này đều dựa
trên lư luận này để kiến lập.
(Diễn)
Lư Quán giả hựu nhị.
(演) 理觀者又二。
(Diễn:
Lư Quán lại có hai loại).
Lư Quán hết
sức trọng yếu, đối với pháp môn Niệm
Phật, chúng ta phải nắm được [Lư Quán]. Trong
Thập Lục Quán Kinh, nắm được Lư Quán sẽ
có thể giúp cho chúng ta nhanh chóng thành tựu công phu thành phiến
và nhất tâm bất loạn, nó có thể trợ giúp! Thế
nhưng quư vị phải nhớ: Dùng lư luận, chứ không
dùng phương pháp, vận dụng lư luận vào việc
tŕ danh niệm Phật, phải hiểu ư nghĩa này!
(Diễn)
Thứ Đệ Tam Quán giả.
(演) 次第三觀者。
(Diễn:
Ba phép quán [Không, Giả, Trung] theo thứ tự là...)
Trong Lư Quán,
trước hết nói tới Thứ Đệ Tam Quán, ở
đây nêu lên một ví dụ, thế nào là Thứ Đệ
Tam Quán?
(Diễn)
Tiên quán thử nhật, do tưởng sở thành, toàn thể
tánh Không, vô hữu tự tánh vi Không Quán.
(演) 先觀此日,由想所成,全體性空,無有自性為空觀。
(Diễn:
Trước hết quán mặt trời do tưởng mà
thành, toàn thể tánh là Không, chẳng có tự tánh, đó là
Không Quán).
Sau khi quư
vị quán thành công, mở banh mắt, mặt trời ở
ngay trước mặt; nhắm mắt, mặt trời vẫn
ở ngay trước mặt quư vị. Đúng là ở ngay
trước mặt, quả thật có hiện tượng
ấy. Hiện tượng ấy do đâu mà có? Do chính quư
vị tưởng thành, trọn chẳng phải là vầng
mặt trời thật. Thật sự có h́nh tướng ấy,
h́nh tướng ấy do quư vị tưởng thành. Tưởng
niệm quá sâu, kết thành tướng ấy. Nếu quư vị
hiểu rơ đạo lư này, mới thật sự thấu
hiểu ba tế tướng trong A Lại Da Thức. Tướng
Phần do đâu mà có? Tướng Phần từ Kiến
Phần biến hiện ra, Kiến Phần là quán tưởng,
tưởng ấy thật sự có thể biến thành Tướng
Phần. Do vậy, Tướng là giả, Tướng do Kiến
Phần biến hiện ra. Từ đây, chúng ta có thể thật
sự ngộ nhập ba tế tướng đă nói trong
Duy Thức, hiểu Tánh và Tướng có cùng một nguồn,
Tánh và Tướng bất nhị, đối với điều
này càng hiểu rơ ràng, minh bạch hơn, mà cũng thật
sự giác ngộ những câu “nhất
thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh”,
“phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”
(hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt,
bóng; phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng)
như kinh Kim Cang đă nói. V́ sao? Chúng không có tự tánh, chẳng
có tự thể. Đấy là Không Quán. Nói theo mặt Lư, đấy
là Không Quán. Nói theo mặt Sự, quả thật có sự tướng
tồn tại.
(Diễn)
Phục hữu quán tưởng nhân duyên, thành thử nhật
tướng, tắc bất hoại giả tướng vi
Giả Quán.
(演) 復有觀想因緣,成此日相,則不壞假相為假觀。
(Diễn:
Lại có nhân duyên quán tưởng tạo thành tướng
mặt trời ấy, nên chẳng hoại giả tướng,
đó là Giả Quán).
Giả tướng
ấy có tồn tại hay không? Tồn tại! Giả tướng
thành tựu như thế nào? Chiếu theo phương pháp
đức Phật đă nói. Chiếu theo phương pháp ấy
để quán tưởng khi giả tướng ấy biến
hiện, [sẽ thấy] quả thật có giả tướng
tồn tại, nhưng bản thể của giả tướng
ấy chính là Không.
(Diễn)
Dĩ thử nhị Quán vi phương tiện, thứ quán
Giả xứ toàn Không, Không xứ toàn Giả, phi Không, phi Giả
vi Trung Quán, thị năi tiên Không, thứ Giả, hậu Trung,
vi Thứ Đệ Tam Quán dă.
(演) 以此二觀為方便,次觀假處全空,空處全假,非空非假為中觀。是乃先空次假後中,為次第三觀也。
(Diễn:
Lấy hai phép Quán ấy làm phương tiện, kế
đó, quán nơi Giả toàn là Không, quán nơi Không toàn là Giả,
chẳng phải Không chẳng phải Giả là Trung Quán.
Đấy chính là: Trước hết là Không, kế đến
là Giả, cuối cùng là Trung, đó là Thứ Đệ Tam
Quán).
Nêu ra một
thí dụ. Nếu quư vị biết cách sử dụng th́
trong hiện thời, bất luận mắt quư vị thấy
ǵ, tai nghe tiếng ǵ, thân tiếp xúc ǵ, cho đến tâm suy
nghĩ ǵ, đều có thể dùng phương thức này,
dùng ví dụ này, sẽ thấy thấu suốt chân tướng
của sự thực trước mắt. Đấy là dùng
phương pháp Thứ Đệ Tam Quán để nh́n thấu
suốt muôn h́nh tượng. Sau khi thấy thấu suốt,
tướng c̣n có hay không? Có chứ! Có c̣n chấp trước
hay không? Chẳng chấp trước! Trong tâm quư vị, hết
thảy muôn h́nh tượng đều thanh tịnh, há chẳng
phải là giúp cho quư vị đạt nhất tâm bất loạn
ư? Từ bậc trung căn trở lên mới sử dụng
phương pháp này được. Nhất Tâm Tam Quán c̣n khó
hơn nhiều. Quả thật chúng ta đều có thể
vận dụng Thứ Đệ Tam Quán.
(Diễn)
Nhất Tâm Tam Quán giả, sở quán chi cảnh, tức
Chân, tức Tục, tức Trung.
(演) 一心三觀者,所觀之境,即真即俗即中。
(Diễn:
Nhất Tâm Tam Quán là cảnh được quán chính là Chân,
là Tục, là Trung).
“Tục” là Giả.
(Diễn)
Năng quán chi quán, tức Không, tức Giả, tức Trung.
(演) 能觀之觀,即空即假即中。
(Diễn:
Sự quán chiếu của cái tâm quán tưởng chính là
Không, là Giả, là Trung).
Một mà
ba, ba nhưng một, đồng thời, chẳng theo thứ
tự.
(Diễn)
Dĩ Nhất Tâm Tam Quán, quán Tam Đế nhất cảnh,
nhi cảnh ngoại vô quán, quán ngoại vô cảnh, cảnh
quán song vong, duy nhất diệu tâm.
(演) 以一心三觀,觀三諦一境,而境外無觀,觀外無境,境觀雙忘,唯一妙心。
(Diễn:
Dùng Nhất Tâm Tam Quán để quán cảnh Tam Đế,
ngoài cảnh không có quán, ngoài quán không có cảnh, cảnh và
quán cùng mất, chỉ có một diệu tâm).
Đây là
kiến tánh, cảnh giới ấy là Nhất Chân pháp giới.
(Diễn)
Thử tức dĩ cụ nhật chi tâm, quán ư tức
tâm chi nhật, linh bổn tánh nhật, hiển hiện kỳ
tiền, vi nhất tâm viên diệu chi quán pháp dă.
(演) 此即以具日之心,觀於即心之日,令本性日,顯現其前,為一心圓妙之觀法也。
(Diễn:
Đây chính là dùng cái tâm sẵn có mặt trời để
quán mặt trời trong tâm, khiến cho vầng mặt trời
trong bổn tánh hiển hiện trước mặt, đấy
là cách Quán bằng nhất tâm viên diệu vậy).
Hiện
tại, chúng ta chẳng thể học được điều
này. Nếu hiện thời chúng ta muốn học, hăy học
theo cách Thứ Đệ Tam Quán. Thứ Đệ Tam Quán thành
tựu rồi, sẽ có thể buông cả thân tâm lẫn thế
giới xuống; sau khi tâm thanh tịnh hiện tiền, đến
khi ấy, Nhất Tâm Tam Quán sẽ tự nhiên hiển hiện.
Có thể học Thứ Đệ Tam Quán, chứ Nhất Tâm
Tam Quán chẳng thể. Đây là tinh hoa của mười
sáu phép Quán, mười sáu loại cảnh giới đều
dùng phương pháp này. Dùng Thứ Đệ Tam Quán có thể
đạt công phu thành phiến, có thể đạt Sự
nhất tâm bất loạn. Dùng Nhất Tâm Tam Quán có thể đắc
Lư nhất tâm bất loạn. Nhưng thưa quư vị, nói
chung, [các pháp Quán ấy] chẳng bằng tŕ danh niệm Phật.
Chẳng biết quán những điều ấy, hằng ngày
cứ khởi vọng tưởng, quư vị dùng vọng
tưởng để quán, lầm mất rồi! Đấy
chẳng phải là “tác quán”
(đang thực hành quán tưởng) mà là “tác quái”, phiền phức rất lớn! Chẳng
những quư vị tu không thành, mà đâu đâu cũng biến
thành chướng ngại! Đây chẳng phải là chuyện
dễ dàng đâu nhé! Nếu quư vị tu học Tam Chỉ
Tam Quán, ắt phải nghiên cứu giáo nghĩa Thiên Thai, những
thứ ấy đều phát xuất từ bộ Ma Ha Chỉ
Quán. Bộ Ma Ha Chỉ Quán in theo lối đóng gáy bằng
cách xỏ chỉ, gồm hai mươi quyển, đấy
là phương pháp tu Tam Chỉ Tam Quán của tông Thiên Thai, có
lư luận và phương pháp khá rắc rối. Tiếp theo
là nói về kinh này, trong ba kinh, đă nói đại lược
hai kinh như trong phần trên, đối với kinh này
(kinh A Di Đà), [sách Diễn Nghĩa] giảng tỉ mỉ
hơn.
Tam,
đặc thị tŕ danh vi yếu.
三、特示持名為要。
(Ba là đặc biệt chỉ
ra tánh chất quan trọng của pháp tŕ danh).
Kinh này chủ
trương tŕ danh. Trong các phương pháp tu hành của Tịnh
Độ, cách này mới thật sự là tinh yếu, tâm yếu.
Nếu như chúng ta nói Bát Nhă Tâm Kinh là tâm yếu của bộ
Đại Bát Nhă sáu trăm quyển, mọi người công
nhận điều này. Bát Thức Quy Củ Tụng là tâm yếu
của kinh luận tông Duy Thức, lịch đại tổ
sư đại đức cũng công nhận điều
này, không bàn căi ǵ nữa! Bát Thức Quy Củ Tụng do Huyền
Trang đại sư biên soạn, quả thật phi phàm! “Kinh Di Đà là tâm yếu của
toàn bộ Đại Tạng Kinh”, Ngẫu Ích đại
sư nói như vậy, điều này cũng được
các vị đại đức trong Tịnh Độ sau này
công nhận, đây mới là trọng yếu! Trong phần
này có hai đoạn:
Sơ,
giảo luận yếu ước, nhị cứu minh lợi
ích.
初較論要約,二究明利益。
(Trước hết, so sánh luận
định [để chỉ rơ v́ sao] phải chọn lấy
cách hành tŕ đơn giản, trọng yếu, hai là nêu rơ lợi
ích rốt ráo).
Chúng ta đọc
đoạn thứ nhất.
(Tự) Hựu dĩ nguyện
môn quảng đại, quư tại tri tiên. Quán pháp thâm huyền,
vưu ưng thủ ước. Tri tiên tắc vụ sanh bỉ
quốc, thủ ước tắc duy sự tŕ danh, cử
kỳ danh hề, kiêm chúng đức nhi câu bị, chuyên hồ
tŕ dă, thống bách hạnh dĩ vô di.
(序) 又以願門廣大,貴在知先,觀法深玄,尤應守約。知先則務生彼國,守約則惟事持名,舉其名兮,兼眾德而俱備,專乎持也,統百行以無遺。
(Tựa: Lại do
nguyện môn rộng lớn, cần nhất phải biết
đâu là chỗ cần kíp trước hết. Phép Quán sâu
xa, u huyền, càng phải nên chọn lấy cách đơn
giản. Biết đâu là chỗ cần kíp trước hết,
sẽ chú trọng sanh vào cơi kia, giữ lấy cách hành tŕ giản
ước, sẽ chỉ chăm chú tŕ danh. Nêu lên danh hiệu
ấy, các đức đều được đầy
đủ. Chuyên tŕ sẽ gồm thâu trăm hạnh chẳng
sót).
Mấy câu này nhằm
so sánh ba kinh Tịnh Độ, kinh nào là ách yếu, đơn
giản, dễ dàng, tức là tu học dễ dàng? Chúng ta đọc
lời chú giải trong sách Diễn Nghĩa. Trước hết,
sách Diễn Nghĩa giảng câu “nguyện
môn quảng đại, quư tại tri tiên”.
(Diễn) Quảng dĩ “quảng
đa, quảng bác” vi nghĩa. Quảng đa giả,
Như Lai tánh trung bổn hữu diệu dụng, tiềm
hưng, mật ứng, vô hữu cùng tận.
(演) 廣以廣多廣博為義。廣多者,如來性中本有妙用,潛興密應,無有窮盡。
(Diễn: Quảng có
nghĩa là “rộng nhiều, rộng lớn mênh mông”. “Rộng
nhiều” là trong tánh Như Lai vốn có diệu dụng, ngầm
dấy lên, thầm ứng hiện chẳng cùng tận).
“Như Lai tánh trung” là nói theo mặt Lư, mỗi một
người chúng ta đều trọn đủ. Nếu chẳng
trọn đủ, lẽ nào có y báo và chánh báo trang nghiêm trong
mười pháp giới? Trong cái tâm tự tánh của chúng ta,
có trọn đủ y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười
pháp giới. Lục Tổ nói: “Nào
ngờ tự tánh vốn sẵn đầy đủ” chính
là nói đến ư nghĩa này. “Nào
ngờ tự tánh có thể sanh ra vạn pháp” cũng là ư
nghĩa này. Quư vị phải biết, trong thiên hạ có nhiều
chuyện kỳ quái lắm, có hay không? Có chứ! Do đâu mà
có? Từ trong tự tánh của chúng ta sanh ra, có ǵ đáng ngạc
nhiên! Hiện thời, chuyện bậc nhất trước
mắt là chúng ta phải kiến tánh, đấy mới là
chuyện khẩn yếu. Trước mắt, chúng ta đă
mê mất tự tánh và đức dụng của tự tánh,
chúng ta không c̣n cảm thấy quen thuộc nữa nên kinh ngạc.
Thật ra, chẳng có chuyện ǵ không phải là đức
dụng của tự tánh.
(Diễn) Quảng bác giả,
thử vô tận nguyện, nhất nhất đồng
ư giác tánh, vô hữu phân hạn.
(演) 廣博者,此無盡願,一一同於覺性,無有分限。
(Diễn:
“Rộng răi mênh mông” là nguyện này vô tận, mỗi một
nguyện giống như giác tánh chẳng có giới hạn).
“Bác” (博) là vô
tận, không có cùng tận. “Phân
hạn” là không có phân biệt, không có giới hạn. Hễ
có phân biệt, có giới hạn, sẽ là mê. “Phân” (分) là phân biệt, là thức thứ sáu, tức
Ư thức. “Hạn” (限) là giới hạn,
tức thức thứ bảy chấp trước. Không chấp
trước, lẽ đâu có giới hạn? Không có giới
hạn! Chỉ cần tách ĺa phân biệt, chấp trước,
sẽ tương ứng với giác tánh, đó là Giác. Hễ
có phân biệt, chấp trước bèn mê, chẳng tương
ứng với giác tánh. Giác tánh không có giới hạn, chẳng
có phân hạn. Quư vị có phân biệt, có giới hạn, sẽ
mê mất giác tánh của chính ḿnh.
(Diễn)
Đại dĩ thụ cùng hoành biến vi nghĩa.
(演) 大以豎窮橫遍為義。
(Diễn: “Đại” có nghĩa là tột cùng theo
chiều dọc, trọn khắp theo chiều ngang).
Theo chiều dọc
tột cùng ba đời, theo chiều ngang trọn khắp
mười phương.
(Diễn)
Thụ cùng giả, thử nguyện tận vị lai tế
vô hữu hưu tức. Hoành biến giả, thử nguyện
sung măn thập phương vô hữu biên tế.
(演) 豎窮者,此願盡未來際無有休息。橫遍者,此願充滿十方無有邊際。
(Diễn:
“Tột cùng theo chiều dọc”: Nguyện này trọn hết
đời vị lai không ngưng dứt; “trọn khắp
theo chiều ngang”: Nguyện này tràn ngập mười
phương không có ngằn mé).
Mấy câu
này h́nh dung bốn mươi tám nguyện do A Di Đà Phật
đă phát, nguyện nào cũng đều như vậy. Bốn
mươi tám nguyện chính là tánh Bổn Giác của A Di
Đà Phật, mà cũng chân tâm của Ngài toàn thể hiện
tiền. Nay chúng ta phát cái tâm có phân biệt, có giới hạn,
cho nên nó chẳng phải là toàn bộ giác tánh. Đây là chỗ
chúng ta thua kém Phật, Bồ Tát, sai biệt quá xa! Do vậy,
chúng ta tu học siêng khổ như thế nào đi nữa,
vẫn chẳng có cách nào đạt đến mức thành
tựu lư tưởng, đạo lư là ở chỗ này, chẳng
thể tương ứng với giác tánh mà! Giác tánh là chân tâm,
chân tâm thường trụ, là Chân Như bổn tánh, [tâm chúng
ta] chẳng tương ứng [với giác tánh]. Hăy nhớ:
Chẳng tương ứng ở ngay trong câu này. Các Ngài không
có phân biệt, giới hạn, chúng ta tạo lập phân biệt,
giới hạn. Vốn chẳng có phân biệt, giới hạn,
nhưng chúng ta lại khư khư tạo lập các thứ
phân biệt, các thứ chấp trước; hễ như vậy
bèn mê mất giác tánh.
Đă mê
mất giác tánh th́ tâm lượng quư vị sẽ nhỏ
nhoi, nhỏ đến nỗi chỉ có ḿnh quư vị, chẳng
thể dung nạp một người nào khác! Quư vị nói
xem có đáng thương hay không? Giác tánh của quư vị vốn
là tận hư không, khắp pháp giới, như thường
nói: “Tâm bao khắp thái hư,
lượng trọn khắp các cơi nhiều như cát”.
Hiện thời tâm lượng quư vị quá ư nhỏ bé,
ngay cả một người, một vật ở bên ngoài
cũng chẳng thể dung nạp, làm sao có thể thành Phật
được? Tâm lượng nhỏ xíu như thế, đời
sau có được làm thân người hay không? Chẳng thể
được thân người! Hăy nên nói “người” là
như thế nào? Người có ḷng nhân, do ḷng nhân nên có thể
dung nạp người khác, có thể suy từ ḿnh để
nghĩ đến người, “kỷ
sở bất dục, vật thi ư nhân” (điều ǵ
ta không muốn, đừng làm cho người khác). Đấy
là đạo làm người. Điều kiện cơ bản
của đạo làm người là “nhân, nghĩa, lễ,
trí, tín”, chúng ta không thực hiện được điều
đầu tiên (ḷng nhân) là v́ tâm lượng quá nhỏ, chẳng
dung được người khác! Nhân (仁) là hai người, chứ không phải một
người, trừ chính ḿnh ra, c̣n có người khác; phải
như vậy th́ mới được làm người. Thứ
ǵ cũng v́ chính ḿnh, chẳng có người khác, sẽ chẳng
thể sanh vào loài người trong lục đạo, nguyên
nhân là do tâm lượng quá nhỏ. Do vậy, tự tư tự
lợi chỉ có chính ḿnh, không có người khác, quả báo
chắc chắn là trong tam ác đạo, cũng có thể nói
là “sanh trưởng trong lục đạo được quyết
định bởi tâm lượng lớn hay nhỏ”. Tâm lượng
của chư thiên lớn hơn loài người, tâm lượng
của con người lớn hơn súc sanh, tâm lượng
của súc sanh lớn hơn ngạ quỷ.
Đọc kinh nhất
định phải giác ngộ. Do vậy, đọc đoạn
này, quư vị biết A Di Đà Phật phát tâm trong khi tu nhân người b́nh thường chẳng
thể sánh bằng được. Khi Lục Tổ đại
sư phát tâm, chúng ta đọc Đàn Kinh xong, thấy quả
thật không có ai có khí khái như Ngài, Ngài phát tâm: “Tôi đến
để làm ǵ? Tôi đến làm Phật!” Tâm lượng ấy
hiếm có, nhưng nếu so sánh với bốn mươi
tám nguyện của tỳ-kheo Pháp Tạng tức A Di Đà
Phật trong khi c̣n tu nhân, Lục Tổ chẳng thể nào bén
gót được! Lục Tổ mong cầu toàn thể giác
tánh, không có đại dụng. A Di Đà Phật vừa có
toàn thể vừa có đại dụng. Nói theo mặt Thể,
Lục Tổ và tỳ-kheo Pháp Tạng chẳng khác nhau; nói
theo Dụng, khác biệt rất lớn! Bốn mươi
tám nguyện, nguyện nào cũng phổ độ hết
thảy chúng sanh trong mười phương ba đời,
thật phi phàm! Bốn mươi tám nguyện, nguyện nào
cũng cụ thể dường ấy, chẳng phải
là nói xuông. Sau đây là lời giải thích câu “quư tại tri tiên”.
(Diễn) Tiên hữu thỉ
nghĩa, tức hành viễn tự nhĩ chi ư.
(演) 先有始義,即行遠自邇之意。
(Diễn: “Tiên” có
nghĩa là bắt đầu, ư nói: Đi xa phải bắt
đầu từ chỗ gần).
“Nhĩ” (邇) là
gần; đi xa nhất định phải từ chỗ đặt
chân cất bước.
(Diễn) Hựu tiên hữu cấp
nghĩa, tức tiên vụ chi vi cấp ư.
(演) 又先有急義,即先務之為急意。
(Diễn: “Tiên” lại
có nghĩa là gấp rút, ư nói: Trước hết, phải
chú trọng nơi chuyện cần phải làm gấp).
Gấp nhất, trọng
yếu nhất.
(Diễn) Quư tại tri tiên giả,
do Di Đà ngộ nhập Pháp Tánh, tùng tánh khởi nguyện,
tánh vô tận, cố nguyện diệc vô tận. Cố tri
dục nhập Di Đà nguyện hải, tất tiên ngộ
triệt tự tâm, bất ngộ quảng đại chi
tâm, bất nhập quảng đại nguyện hải cố.
(演) 貴在知先者,由彌陀悟入法性,從性起願,性無盡,故願亦無盡。故知欲入彌陀願海,必先悟徹自心,不悟廣大之心,不入廣大願海故。
(Diễn: “Cần nhất
là phải biết chỗ cần kíp trước hết”:
Do Di Đà ngộ nhập Pháp Tánh, từ tánh khởi ra nguyện,
v́ tánh vô tận nên nguyện cũng vô tận. Do vậy biết:
Muốn nhập Di Đà nguyện hải, ắt trước
hết phải ngộ thấu triệt tự tâm. Chẳng
ngộ cái tâm rộng lớn, chẳng thể vào biển
nguyện rộng lớn được!).
Mấy câu này có ư nghĩa
rất rơ ràng, chẳng khó hiểu. Do vậy, nếu chúng ta
tu pháp môn Tịnh Độ, chẳng thể không khai ngộ,
chẳng thể không giác ngộ, chẳng thể không mở
rộng tâm lượng. Tâm lượng của Phật Di Đà
quá lớn, chúng ta muốn văng sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới, phải có cùng chí, cùng tâm, cùng nguyện, có độ
lượng giống như A Di Đà Phật, những điều
này đều tương ứng, lẽ nào chẳng văng
sanh? Quư vị phải nhớ: Tâm lượng nhỏ nhoi sẽ
chướng ngại văng sanh. Tuy quư vị suốt ngày từ
sáng đến tối niệm Phật hiệu không gián đoạn,
niệm Phật suốt đời, v́ sao chẳng văng sanh?
Tâm lượng quá nhỏ mà! A Di Đà Phật có thể
dung nạp quư vị, nhưng quư vị chẳng thể dung
nạp A Di Đà Phật, không có cách nào hết! Phật Di Đà
có thể dung nạp quư vị, quư
vị cũng có thể dung nạp Ngài th́ mới được!
Tâm lượng nhất định phải to, tâm lượng
to th́ mới có thể phá trừ tất cả giới hạn
bởi phân biệt, chấp trước, mới thành công. Hôm
nay đă hết giờ rồi!
Tập 24
Xin xem A
Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa, trang
hai mươi tám, đoạn này nói về tánh chất trọng
yếu của pháp Tŕ Danh Niệm Phật.
(Tự) Hựu dĩ nguyện
môn quảng đại, quư tại tri tiên. Quán pháp thâm huyền,
vưu ưng thủ ước. Tri tiên tắc vụ sanh bỉ
quốc, thủ ước tắc duy sự tŕ danh, cử
kỳ danh hề, kiêm chúng đức nhi câu bị, chuyên hồ
tŕ dă, thống bách hạnh dĩ vô di.
(序) 又以願門廣大,貴在知先,觀法深玄,尤應守約。知先則務生彼國,守約則惟事持名,舉其名兮,兼眾德而俱備,專乎持也,統百行以無遺。
(Tựa: Lại do
nguyện môn rộng lớn, cần nhất phải biết
đâu là chỗ cần kíp trước tiên. Do phép Quán sâu xa,
u huyền, càng phải nên chọn lấy cách [hành tŕ]
đơn giản. Biết chỗ cần kíp trước
tiên sẽ chú trọng sanh vào cơi kia, giữ lấy cách [hành
tŕ] giản ước sẽ chỉ chăm chú tŕ danh. Nêu
lên danh hiệu ấy, các đức sẽ đều được
đầy đủ. Chuyên tŕ sẽ gồm thâu trăm hạnh
chẳng sót).
Trong đoạn văn
thuộc phần lời tựa trên đây, lần trước,
do thời gian hạn chế, tôi chỉ giảng câu thứ
nhất. Câu thứ nhất nói về kinh Vô Lượng Thọ,
đặc biệt chỉ ra A Di Đà Phật trong khi tu nhân
đă phát bốn mươi tám nguyện, quả thật chẳng
dễ dàng. Trong quá tŕnh chúng ta học Phật, quả thật
chúng ta rất khó thấy nghe những hoằng nguyện thù
thắng như vậy. Nh́n từ chỗ này, chúng ta mới
hiểu thế giới Tây Phương thù thắng là thật
sự có lư. Câu thứ hai nói về kinh Quán Vô Lượng Thọ
Phật. Hai câu này được sách Diễn Nghĩa chú giải
như sau:
(Diễn) “Thâm” vị Quán thâm
diệu, “huyền” vị Lư u huyền. Kinh trung Quán pháp, năi
dĩ pháp giới tâm quán pháp giới cảnh.
(演) 深謂觀深妙,玄謂理幽玄。經中觀法,乃以法界心,觀法界境。
(Diễn: “Thâm” là phép Quán
sâu mầu, “huyền” là Lư huyền diệu, u viễn. Pháp
Quán được nói trong kinh chính là dùng pháp giới tâm
để quán pháp giới cảnh).
Gộp cả ba kinh lại
để nh́n, chúng ta sẽ rất dễ thấu hiểu lư
luận, hành pháp, cảnh giới của pháp môn này. Pháp môn này
là pháp môn Đại Thừa. Điều quan trọng nhất
trong pháp môn Đại Thừa là tâm lượng phải lớn;
tâm lượng chẳng lớn sẽ chẳng tương
ứng với pháp môn này. Thật sự muốn cầu sanh
về Tây Phương Tịnh Độ, chúng ta nhất
định phải chú ư chuyện này, phải mở rộng
tâm lượng của chính ḿnh. “Pháp
giới tâm” là chân tâm, chẳng phải vọng tâm, chữ
“pháp giới” chỉ điều
ǵ? Chỉ Nhất Chân pháp giới. Nếu không có chân tâm, sẽ
chẳng thể thấy toàn thể pháp giới, cho đến
cảnh giới vi tế trong pháp giới. Người b́nh
thường quyết chẳng thể tu [các pháp Quán trong] Thập
Lục Quán Kinh được, đừng nói mười sáu
phép Quán, phép Quán thứ nhất là quán “mặt trời lặn
giống như cái trống treo” đă khá khó thành tựu rồi!
Những cảnh giới trong những phép Quán sau đó, mỗi
một tầng càng sâu mầu hơn. Nói cách khác, mỗi tầng
sau càng khó quán hơn tầng trước. Lư luận [trong
kinh ấy] được nói hết sức châu đáo, tường
tận, do vậy, tuy chúng ta là người tu theo cách Tŕ Danh
Niệm Phật, lịch đại tổ sư đại
đức vẫn thường khuyến khích chúng ta đọc
Quán Kinh Diệu Tông Sao v́ sách này giảng rơ đạo lư Tịnh
Độ.
(Diễn) Sanh ư pháp giới
y chánh sắc tâm, khởi phi thâm diệu? Kinh trung y chánh,
đản Ứng sắc nhất tướng khả chiếu
tam thân, y báo nhất trần tức Tịnh Quang độ,
khởi bất u huyền?
(演) 生於法界依正色心,豈非深妙。經中依正,但應色一相可照三身,依報一塵即寂光土,豈不幽玄。
(Diễn: Sanh ra y báo
và chánh báo, sắc, tâm của pháp giới, há chẳng phải
là sâu mầu? Y báo và chánh báo trong kinh, chỉ một sắc
tướng nơi Ứng Thân đă có thể chiếu ba
thân, một mảy trần của y báo chính là cơi Tịch
Quang, há chẳng u huyền ư?)
Đây là hành pháp, căn
cứ lư luận, đồng thời là cảnh giới của
mười sáu phép Quán. Y báo, chánh báo, sắc pháp, tâm pháp của
mười phương thế giới đều là “duy tâm sở hiện, duy thức
sở biến”. Pháp giới tâm tức chân tâm có thể
hiện, thức tâm có thể biến, biến hóa sâu mầu
quả thật chẳng thể nghĩ bàn! Trong Quán Kinh nói tới
y báo và chánh báo trang nghiêm của thế giới Tây
Phương; ở đây, sách Diễn Nghĩa đă quy nạp
thành câu “đản Ứng sắc
nhất tướng” (chỉ một sắc tướng
nơi Ứng Thân), Ứng (應) là Ứng
Thân, một tướng nơi sắc thân của Ứng Thân
có thể chiếu ba thân. “Y báo
nhất trần” (một hạt bụi nơi y báo) chính
là Thường Tịch Quang Tịnh Độ, lư được
chứa đựng trong ấy hết sức sâu. Từ Yếu
Giải và Sớ Sao, chúng ta đă từng đọc thấy
[bốn cơi Tịnh Độ], tuy nói bốn cơi, nhưng bốn
cơi ấy viên dung. Do đây có thể biết: Trong cảnh
giới, có phải là thật sự có bốn cơi hay chăng?
Nếu thật sự có bốn cơi th́ làm sao bốn cơi có thể
viên dung được? Chúng ta hăy nghĩ kinh Bát Nhă đă nói:
“Phàm những ǵ có h́nh tướng
đều là hư vọng”,
“hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt,
bóng”. Chúng ta hỏi: Bốn cơi có phải là pháp hữu vi
hay không? Bốn cơi có sắc tướng hay không? Đă có sắc
tướng, đương nhiên chẳng thể trái nghịch
định luật này. Do đây có thể biết: Bốn
cơi do đâu mà có? Từ tâm thức của chúng sanh biến
hiện ra. Tây Phương Tịnh Độ là như vậy,
[thế giới] hiện tiền của chúng ta há là ngoại
lệ? Vấn đề ở chỗ tâm uế hay tịnh,
tâm thanh tịnh sẽ hiện Tịnh Độ, tâm ô uế
sẽ hiện uế độ, cảnh giới do chính ḿnh
biến hiện.
Ví như người tâm
địa thiện lương hằng ngày nằm mộng
tốt lành, người ḷng dạ hiểm ác thường
gặp ác mộng. Cảnh mộng ấy từ đâu mà có?
Từ tâm của chính ḿnh biến hiện ra. Những cảnh
giới biến hiện ra để chính ḿnh hưởng
thụ, chính ḿnh biến cho chính ḿnh dùng. Mười phương
thế giới cũng không ra ngoài lệ ấy, Lư và Quán ấy
hết sức sâu mầu! Đặc biệt là Tây
Phương thế giới. Ở Tây Phương thế
giới, chẳng những là bản thân ḿnh giác chứ không
mê, mà c̣n có điều thù thắng nhất là có thể ở
cùng một chỗ với các vị thượng thiện
nhân. Chữ “thượng thiện”
chỉ các vị Đẳng Giác Bồ Tát. Cảnh giới
của các vị Đẳng Giác Bồ Tát là Tịch Quang Tịnh
Độ. Do vậy, sanh về Tây Phương Cực Lạc
thế giới, dẫu là hạ phẩm hạ sanh trong cơi
Phàm Thánh Đồng Cư, cũng đă có thể cùng các vị
Đẳng Giác Bồ Tát nắm tay cùng đi, cho thấy họ
cũng có sự thụ dụng của các cơi Tịch Quang và
Thật Báo. Đấy là chỗ thù thắng chẳng thể
nghĩ bàn của thế giới Tây Phương.
Phép Quán quá sâu, quá huyền,
cho thấy nó rất khó đối với hạng người
tầm thường như chúng ta. Về Lư, chắc chắn
chúng ta có thể tin tưởng, chẳng có nghi vấn, nhưng
cách tu quả thật chẳng dễ dàng. Ở đây, đại
sư dạy chúng ta, đối với phương pháp tu hành,
càng phải nên “thủ ước”
(giữ lấy cách đơn giản). “Ước” (約) là đơn
giản, phương pháp tu hành càng đơn giản càng
hay!
(Diễn) Ước giả,
giản ước dă. Duy thử tứ tự, cánh vô biệt
pháp, hà đẳng giản dị.
(演)
約者,簡約也。唯此四字,更無別法,何等簡易。
(Diễn: “Ước”
là giản ước. Chỉ có bốn chữ, không c̣n pháp
nào khác, đơn giản, dễ dàng chi bằng?)
Chính v́ pháp này quá đơn
giản, quá dễ dàng, cho nên có người đâm ra không
tin tưởng, hoài nghi, đó là một tầng chướng
ngại. C̣n có một tầng chướng ngại khác nữa:
Cảm thấy pháp này đơn giản, dễ dàng, chịu
tu tập, nhưng không nghiên cứu sâu xa đạo lư; do vậy,
tuy miệng niệm bốn chữ Phật hiệu, tâm chẳng
tương ứng, niệm chẳng đúng pháp, nên cũng
chẳng thể thành công. Thật ra, muốn tương ứng
cũng thật sự rất đơn giản, đúng như
tâm pháp do ḥa thượng Biến Dung đời Minh truyền
cho Liên Tŕ đại sư. Khi ấy, lăo ḥa thượng Biến
Dung là bậc đại đức đương thời,
Liên Tŕ đại sư đến chỗ Ngài tham phỏng,
Ngài chỉ dạy cho đại sư ba câu: “Chẳng tham lợi, chẳng tham danh, đừng nắm
níu kẻ quyền quư”. Đối với những kẻ
làm quan, có tiền, có thế lực trong thế gian, trọn
chớ nên bợ đỡ, trọn chớ nên dựa dẫm,
dùng ba câu ấy, thật thà niệm Phật!
Thành tựu một đời
của Liên Tŕ đại sư, theo như lăo nhân gia nói, Ngài
đắc lực nhờ lần giáo huấn ấy của
pháp sư Biến Dung. Ngài đến tham phỏng thật
chẳng dễ dàng, tam bộ nhất bái, lạy miết đến
trước mặt lăo ḥa thượng. Lăo ḥa thượng
dạy Ngài mấy câu như vậy, những người bên
cạnh nghe xong, đều cười nhạo: “Từ chốn
xa xôi, tam bộ nhất bái kiền thành như thế, dập
đầu trước mặt lăo ḥa thượng, chúng tôi đều
cho rằng lăo ḥa thượng sẽ có lời khai thị bất
phàm nào khác, [hóa ra, Ngài chỉ nói những câu] tầm thường
vốn nghe đă nhàm tai!” Đấy chính là như tổ Ấn
Quang đă nói: “Một phần
cung kính được một phần lợi ích, mười
phần cung kính được mười phần lợi
ích”. Liên Tŕ đại sư do tấm ḷng mười phần
cung kính, nên Ngài thật sự được một đời
thành tựu nhờ bốn câu sau đây: “Chẳng tham của, chẳng tham danh, chẳng nắm
níu kẻ quyền quư, thật thà niệm Phật”. Thiền
sư Biến Dung tuy là bậc đại triệt đại
ngộ trong Thiền Tông, cuối cùng Ngài vẫn niệm Phật
cầu sanh Tịnh Độ. Thế nhưng ba câu nói ấy
chẳng dễ ǵ thực hiện! Mấy ai có thể bỏ
tiếng tăm, lợi dưỡng? Bỏ chẳng được,
sẽ chẳng tương ứng; đừng nói chẳng
đắc nhất tâm, ngay cả công phu thành phiến cũng
chẳng thể thành tựu. Đừng nói công phu thành phiến
chẳng thể thành tựu, ngược lại c̣n chuốc
lấy một thân đầy tội nghiệp, quả báo ở
trong tam đồ, chúng ta chẳng thể không cảnh giác điều
này. Nếu nói c̣n chút nào chưa buông xuống được,
tuy văng sanh bị chướng ngại, nhưng c̣n có thể
hưởng phước báo trong đường trời người
th́ kể ra cũng c̣n đỡ! Chẳng những sự văng
sanh của quư vị bị chướng ngại, mà c̣n bị
lôi kéo vào trong ba ác đạo, rắc rối ở chỗ này!
V́ thế,
bốn chữ [A Di Đà Phật] này đơn giản thật
đấy, nhưng thật sự niệm Phật cho tốt
đẹp phải cần đến học vấn. Có thể
buông hết thân tâm, thế giới xuống là có học vấn.
Ngàn kinh, vạn luận nói ǵ cũng chẳng ngoài những điều
như vậy mà thôi!
(Diễn)
Hựu ước giả, yếu ước dă.
(演) 又約者,要約也。
(Diễn: “Ước” c̣n có
nghĩa là giản lược nhưng tinh yếu).
Chữ “yếu” (要) ở đây là tinh yếu.
(Diễn) Niệm Phật công thành,
vô sự bất biện, hà đẳng yếu ước?
(演) 念佛功成,無事不辦,何等要約。
(Diễn: Công Niệm
Phật thành tựu, không chuyện ǵ chẳng hoàn thành, c̣n
ǵ đơn giản mà tinh yếu bằng?)
Câu này cũng là thật.
Một câu Phật hiệu niệm tốt đẹp, văng
sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, vô lượng
vô biên công đức đều viên măn, đúng là không chuyện
ǵ chẳng hoàn tất. Ở đây, đại sư khích lệ
chúng ta:
(Diễn) Vưu ưng thủ
ước giả, dĩ Thập Lục Diệu Quán, năi
toàn tánh thành tu, toàn tu thành tánh, ngộ tâm thượng
sĩ, năi khắc hành tŕ.
(演) 尤應守約者,以十六妙觀,乃全性成修,全修成性。悟心上士,乃克行持。
(Diễn:
“Càng phải nên chọn lấy cách tu tập giản ước”:
Do mười sáu phép Quán mầu nhiệm chính là toàn thể
tánh trở thành tu, toàn thể tu trở thành tánh, bậc
thượng sĩ ngộ tâm mới có thể hành tŕ thành
công được).
Nói
rất rơ ràng! Bậc thượng sĩ ngộ tâm là ai? Chính
là người đại triệt đại ngộ mới
có thể tu tập được.
(Diễn)
Sơ học hành nhân, vô do thấu bạc cố.
(演) 初學行人,無由湊泊故。
(Diễn:
Hành nhân vừa mới học không cách nào chen chân
được).
Học
nhân sơ phát tâm quyết chẳng thể tu Quán Tưởng
Niệm Phật. [Tổ khẳng định] điều này
nhằm khích lệ chúng ta là hàng sơ phát tâm càng phải nên
tuân thủ pháp môn Tŕ Danh Niệm Phật.
Trong
lời tựa có nói “tri tiên, tắc
vụ sanh bỉ quốc” (biết được điều
nào là cần kíp trước tiên, sẽ chăm chú sanh về
cơi ấy). Đối với yếu lănh (cương lănh
quan trọng) của ba kinh, kinh Vô Lượng Thọ quả
thật chú trọng nơi phát tâm. Trong đoạn trước,
[sách Diễn Nghĩa] đă bảo chúng ta: “Dục nhập Di Đà nguyện hải, tất tiên
ngộ triệt tự tâm, bất ngộ quảng đại
chi tâm, bất nhập quảng đại nguyện hải
cố” (Muốn nhập
Di Đà nguyện hải, ắt trước hết phải
ngộ thấu triệt tự tâm. Chẳng ngộ cái tâm rộng
lớn sẽ chẳng thể nhập biển nguyện rộng
lớn). Mấy câu này nói hết sức thấu triệt. Nói
thật ra, Quán Kinh cũng dạy chúng ta tŕ danh niệm Phật.
“Thủ ước tắc duy sự
tŕ danh” (giữ lấy cách tu tập giản ước
th́ chỉ có chuyên chú tŕ danh). Nh́n theo cách này, ba kinh có công
đức chẳng thể nghĩ bàn! Tŕ danh có những chỗ
tốt đẹp ǵ vậy? Mấy câu tiếp theo đây sẽ
nêu ra các công đức và lợi ích của tŕ danh. “Cử kỳ danh hề, kiêm chúng
đức nhi câu bị” (nêu lên danh hiệu ấy th́ các
đức đều được trọn đủ),
xin xem lời giải thích:
(Diễn) Cử
danh kiêm chúng đức giả, do danh triệu Thể.
(演) 舉名兼眾德者,由名召體。
(Diễn:
“Nêu danh kiêm các đức” là do [niệm] Phật hiệu mà
cảm vời Thể).
“Thể” là Chân Như bổn
tánh, tức là bổn tánh của chính ḿnh. Danh hiệu A Di
Đà Phật chính là danh xưng của bổn tánh. Niệm
danh hiệu này, sao cho Thật Thể, Thật Tướng,
Thật Dụng của danh hiệu đều niệm ra được
th́ mới là “thật sự tŕ
danh”. Tự tánh thanh tịnh tâm vốn là giác chứ không
mê. Trong Khởi Tín Luận, Mă Minh Bồ Tát gọi nó là Bổn
Giác, “Bổn Giác vốn có”.
Danh hiệu ấy hoàn toàn là tiếng Phạn dịch âm, có
nghĩa là Vô Lượng Giác. Niệm một câu danh hiệu
là niệm giác tánh của chính ḿnh, từng tiếng lay tỉnh
tánh giác của chúng ta, giác chứ không mê, đó gọi là “chấp tŕ danh hiệu”, quư vị
phải hiểu đạo lư này.
Nếu
mỗi ngày cầm xâu chuỗi niệm danh hiệu, câu nào cũng
mê chứ không giác, đó chẳng gọi là tŕ danh, chẳng
gọi là niệm Phật. Phật nghĩa là giác; niệm Phật
là niệm giác, niệm niệm giác chứ không mê, đó gọi
là “niệm Phật”. Quư vị niệm niệm mê chứ không
giác, làm sao có thể gọi là “niệm Phật”? Điều
này chứng tỏ bốn chữ [danh hiệu] này chẳng
dễ dàng! Chẳng trách người hiện thời nói: “Người
niệm Phật th́ nhiều, người văng sanh ít ỏi!”
Người ấy niệm Phật là niệm Danh Tự Phật,
chẳng niệm Quán Hạnh Phật. Niệm Quán Hạnh Phật
phải có phương cách. Chỉ niệm danh tự, ngay cả
danh tự có nghĩa là ǵ cũng không hiểu, mê hoặc, điên
đảo, niệm Phật kiểu đó làm sao thành công cho
được? Niệm Quán Hạnh Phật là niệm niệm
tự ḿnh đề cao cảnh giác: Chúng ta vừa mới
khởi một niệm phân biệt, chấp trước nơi
cảnh giới, đó là mê, đó là vô minh; vô minh liên tục
phát triển không ngừng, sẽ biến thành Kiến Tư
phiền năo, sẽ tạo nghiệp, thọ báo. Do vậy,
một câu Phật hiệu nhằm kéo chúng ta từ mê muội
quay trở lại. “Nam-mô” là
quy y, từ trong mê quay đầu trở lại, trở về!
Nương theo giác ngộ, nương vào giác tâm, giác tâm là
thanh tịnh, giác tâm là b́nh đẳng, giác tâm là rộng lớn.
Như vậy th́ mới có thể thành công. Người thật
sự giác ngộ, nhất định biết đời người
ngắn ngủi, khổ sở, sao cứ phải tạo
nghiệp? Thời gian mấy chục năm trong khoảng
khảy ngón tay đă hết, rộng tạo tội nghiệp
chẳng đáng tí nào, đúng là ngu si, mê hoặc, điên
đảo! Càng phải nên giác ngộ [đúng như] cổ
nhân thường nói: “Hoàng tuyền
lộ thượng vô lăo thiếu” (Đường đến
suối vàng không phân biệt già hay trẻ). Đừng tưởng
ta hiện thời vẫn trẻ, mai sau sẽ trưởng
thành, quư vị có kư hợp đồng với vua Diêm La hay không?
Hăy nh́n vào tháp thờ cốt trong rất nhiều chùa miếu,
bao nhiêu người trẻ tuổi? Chúng ta phải đặc
biệt đề cao cảnh giác điều này!
Thể
của giác tâm là bản thể của Chân Như bổn tánh.
Kinh thường nói “trạm tịch
hư linh” để h́nh dung nó. Lục Tổ đại
sư nói: “Vốn chẳng có một
vật”. Đấy đều là nói về bản thể,
tánh thể, Tướng của nó là thanh tịnh, b́nh đẳng,
tác dụng (Dụng) của nó là đại từ đại
bi. Do vậy, chúng ta phải nương vào bốn chữ này,
niệm cho ra Thể - Tướng - Dụng nơi chân tánh
của chính ḿnh. Thể - Tướng - Dụng của chân
tánh là con người thật sự [của mỗi người
chúng ta], Thiền Tông gọi [chân tánh] là “diện mục sẵn có trước khi cha mẹ
sanh ra”; trong các kinh Đại Thừa, nó được
gọi là “bổn hữu gia
trân” (của báu sẵn có trong nhà), hoặc Như Như Phật.
Kinh Hoa Nghiêm, kinh Viên Giác gọi nó là “bổn lai thành Phật” (vốn sẵn thành Phật),
đều nhằm ư nghĩa này. Ở đây, [sách Diễn
Nghĩa] nói đến chuyện dùng danh hiệu [của A
Di Đà Phật] để chiêu cảm Thể.
(Diễn)
Thể ngoại vô danh, Thể cụ chúng đức, tắc
danh diệc kiêm chúng đức. Cố nhất xưng danh,
tức xưng Phật chúng đức dă.
(演) 體外無名,體具眾德,則名亦兼眾德。故一稱名,即稱佛眾德也。
(Diễn:
Ngoài Thể không có danh, Thể có đủ các đức,
nên danh cũng kèm theo các đức. V́ thế, xưng danh
chính là xưng niệm các đức hạnh của Phật
vậy).
Ở
đây, chữ Phật mang ư nghĩa kép: Tự Phật và
Tha Phật. Tha Phật là tán thán Tây Phương giáo chủ
A Di Đà Phật, Tự Phật là tâm thanh tịnh của
chính ḿnh, tức Phật Tánh của chính ḿnh. Nhất định
phải hiểu rơ điều này.
Câu
“chuyên hồ tŕ dă, thống bách
hạnh dĩ vô di” (Chuyên tŕ danh, gồm thâu trăm hạnh
chẳng sót) là nói:
(Diễn)
Dĩ nhất tâm tŕ danh, vạn duyên tự xả, tức Bố
Thí hạnh. Nhất tâm tŕ danh, tam nghiệp tự tịnh,
tức Tŕ Giới hạnh đẳng.
(演) 以一心持名,萬緣自捨,即布施行。一心持名,三業自淨,即持戒行等。
(Diễn:
Do nhất tâm tŕ danh nên tự bỏ vạn duyên, đấy
là hạnh Bố Thí. Nhất tâm tŕ danh, ba nghiệp tự tịnh,
đấy là hạnh Tŕ Giới v.v...)
Ở
đây, chỉ nêu lên hai điều trong Lục Ba La Mật,
những điều khác bị tỉnh lược. Một
câu A Di Đà Phật thâu nhiếp viên măn lục độ vạn
hạnh. Do vậy, nói tới chuyên tŕ danh hiệu th́ “bách hạnh” mà chúng ta thường
gọi là “lục độ, vạn hạnh”, toàn bộ đều
được bao gồm trong ấy. Thế nhưng quư vị
phải đặc biệt chú ư chữ Chuyên và chữ Tŕ. “Chuyên” (專) là chuyên nhất, tức
nhất tâm tŕ danh. “Tŕ” (持) là niệm niệm
chẳng quên, chẳng thể gián đoạn. Đó gọi
là công phu. Thật sự quyết tâm muốn văng sanh, phải
buông thân tâm thế giới xuống, phải buông sạch sành
sanh, chẳng nhiễm mảy trần, niệm niệm đều
mong sanh về Tây Phương. Thế giới Tây
Phương tốt đẹp hơn thế giới này quá
nhiều, quư vị phải hiểu điều này! Chỉ
cần quư vị có mảy may tham luyến, sẽ chẳng
chuyên. Tuy tŕ danh, nhưng không nhất tâm, tức là không nhất
tâm tŕ danh, sự thành tựu của quư vị sẽ có vấn
đề. Công phu thành phiến rất gần với nhất
tâm, công phu thành phiến là giai đoạn nào vậy? Kinh nói
rất rơ ràng, tuy chưa đoạn phiền năo, nhưng một
câu Phật hiệu quả thật có thể chế phục
phiền năo. Kinh Kim Cang nói “vân
hà hàng phục kỳ tâm?” (hàng phục cái tâm như thế
nào?), cái tâm vọng tưởng thật sự bị một
câu Phật hiệu chế ngự. Có năng lực như
vậy th́ mới gọi là “công
phu thành phiến, đới nghiệp văng sanh”. Nếu công
phu niệm Phật của chúng ta mà ngay cả phiền năo cũng
không chế ngự được, sẽ chẳng thể
văng sanh!
Thật
ra, trong đời đời kiếp kiếp từ vô lượng
kiếp trước, các vị đồng tu đang hiện
diện đều niệm A Di Đà Phật, nhưng chẳng
thể văng sanh, nguyên nhân là v́ đâu? Đời đời
kiếp kiếp đều chưa đạt công phu thành
phiến, một câu Phật hiệu của quư vị chẳng
thể chèn ép phiền năo. Sức niệm Phật quá mỏng
yếu, sức phiền năo quá mạnh mẽ, chèn ép không nổi;
do vậy, không thể văng sanh được! V́ sao không chế
ngự được? Quư vị không có tâm buông bỏ, không
thật sự bỏ phiền năo được; đấy
là một nguyên nhân lớn. Nguyên nhân thứ hai là công phu niệm
Phật của quư vị không liên tục, trở thành hiện
tượng “đứt đứt, nối nối”, nên công
phu chẳng đắc lực! Muốn công phu đắc lực,
danh hiệu phải niệm niệm liên tục, đừng
để gián đoạn. Hễ đoạn th́ phiền năo
nổi dậy, tham, sân, si, mạn trỗi lên. Công phu chẳng
đoạn, tâm tâm niệm niệm đều là một câu A
Di Đà Phật, như vậy mới có thể áp chế tập
khí phiền năo, chẳng cho nó dấy lên hiện hành. Đàn
áp lâu ngày, Phật hiệu có sức mạnh th́ mới có thể
đới nghiệp văng sanh.
C̣n
có một nhân tố trọng yếu nữa, kinh nói “tâm chẳng điên đảo”.
Người niệm Phật sợ nhất là lúc lâm chung
nghiệp chướng hiện tiền. Đó là ǵ? Có bệnh
khổ! Hễ có bệnh khổ sẽ nguy hiểm, chuyện
này là chuyện phiền phức to lớn. Khi lâm chung cầu
ǵ? Cầu qua đời tốt lành. Cổ nhân Trung Quốc
nói tới Ngũ Phước, tức là phước báo gồm
có năm thứ; trong Ngũ Phước có “thọ khảo chung”, nghĩa là khi chết không bị
bệnh khổ, tỉnh táo, sáng suốt, hiểu biết rơ
ràng, đó là đại phước báo. Trong Ngũ Phước,
phước báo lớn nhất là điều này. Khi lâm chung
tỉnh táo, sáng suốt, hiểu biết rơ ràng, chẳng đau
khổ chút nào, dẫu người ấy chẳng học Phật,
cũng trọn chẳng đọa trong ba ác đạo, v́ người
ấy sáng suốt. Phàm những ai đọa ác đạo,
[lâm chung] đều mê hoặc, điên đảo. Nếu người
ấy tỉnh táo, sáng suốt, làm sao có thể nh́n vào đường
súc sanh [mà ưa thích], làm sao có thể yêu mến ngạ quỷ
đạo được? Đó là chuyện không thể có!
Người sáng mắt sẽ khéo chọn lựa. Do vậy,
người ấy cũng đến hưởng phước
báo trong hai đường trời - người. Nếu là
người học Phật, quyết định văng sanh, quư
vị chọn sanh vào Tây Phương Cực Lạc thế
giới. Do vậy, quư vị muốn phán đoán một người
có thật sự văng sanh hay không, hăy xem lúc lâm chung người
ấy có tỉnh táo hay không, có thể [dựa vào đó] để
phán đoán gần đúng tám chín phần trong mười phần.
Khi lâm chung bị đau khổ là không được rồi!
Trong
quá khứ, khi tôi xuất gia chưa được bao lâu,
Phó Hội Trưởng Cư Sĩ Lâm của Hội Niệm
Phật chùa Lâm Tế tại Viên Sơn[4]
văng sanh, tướng trạng rất tệ. Ông ta b́nh thường
hướng dẫn người khác niệm Phật, đến
khi chết đau khổ cực điểm. Chẳng những
chính ḿnh không thể niệm Phật, mà người khác niệm
Phật cho ông ta nghe, ông ta c̣n chửi họ. Khi ấy, hết
thảy Phật hiệu đều cự tuyệt, chẳng
nghe, quư vị nói xem c̣n có cách ǵ nữa đây! Nghiệp chướng
quá nặng! Chúng tôi trông thấy hiện tượng này, mới
hiểu văng sanh chẳng dễ dàng! Từ cổ đến
nay, tổ sư đại đức dạy chúng ta tu phước,
tu phước báo chẳng cần hưởng
phước, để dành đến lúc lâm chung
phước báo hiện tiền, tâm chẳng điên đảo,
có thể chọn lựa thế giới Cực Lạc để
an ổn văng sanh. Hiện thời, trong thế gian này, cắn
chặt răng chịu khổ đôi chút, coi sự khổ
ấy chẳng thấm vào đâu, đời đời kiếp
kiếp đều bị những nhân tố ấy làm hỏng
đại sự của chính ḿnh, đời này giác ngộ
rồi, phải nên quay đầu! Do vậy, phải sốt
sắng tu phước, nhưng chớ nên hưởng phước,
phải mở rộng tâm lượng của chính ḿnh, phải
buông xuống hết thảy các duyên, tự bỏ vạn
duyên. Trừ phi quư vị chẳng nhất tâm, hễ nhất
tâm, đương nhiên sẽ bỏ được! Trong tâm
có vướng mắc sẽ chẳng phải là nhất tâm
tŕ danh. Trong nhất tâm tŕ danh, chắc chắn không có một
vọng niệm nào, không có tơ hào vướng mắc nào!
Bố Thí Ba La Mật của quư vị được viên măn,
tức là tu tâm bố thí. Nhất tâm tŕ danh, tam nghiệp tự
nhiên thanh tịnh, đấy là Tŕ Giới Ba La Mật. Nhất
tâm tŕ danh, chắc chắn quư vị chẳng tranh chấp với
người khác, “đối với
người chẳng tranh, đối với cơi đời
chẳng cầu”, đấy là Nhẫn Nhục Ba La Mật.
Niệm niệm tiếp nối, đấy là Tinh Tấn Ba
La Mật.
Pháp
môn Niệm Phật thật sự đơn giản, nhưng
trọng yếu, danh xứng với Thật, chẳng sai chút
nào! Ai cũng có thể tu, ai cũng có thể thành tựu, tùy
thuộc quư vị có chịu tu hay không! Nói cách khác, Vô Thượng
Bồ Đề ai nấy đều có phần. Đừng
nghĩ ta rất ngu si, rất nghèo hèn, không ai chẳng có phần! Pháp này thích hợp khắp ba căn, thâu
tóm độn căn lẫn lợi căn. Nói thành thật,
kẻ nghèo túng hèn kém đâm ra dễ thành công hơn, v́ sao? Họ
bỏ dễ dàng, chẳng có phiền năo! Càng giàu có, sang trọng,
càng khó tu pháp môn này! Vướng mắc càng nhiều, không buông
xuống được! Do vậy, phải xả, phải
bỏ sạch, bỏ ǵ? Bỏ những thứ gây chướng
ngại văng sanh, những thứ ấy quư vị không bỏ
được! Chúng đều là những thứ gây chướng
ngại văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới,
chuyện này phiền phức to lớn; do vậy, giác ngộ
chính là giác ngộ chuyện này!
(Sớ) Tức
tiền Đại Bổn, Quán Kinh, giảo nhi luận chi.
(疏) 即前大本觀經,較而論之。
(Sớ:
Trên đây là so sánh để định luận Đại
Bổn A Di Đà Kinh và Quán Kinh).
Chữ
“tức tiền” chỉ đoạn
lời tựa ở phía trên, Đại Bổn là kinh Vô Lượng
Thọ, Quán Kinh là Thập Lục Quán Kinh. Gộp cả ba
kinh Tịnh Độ lại để nh́n, so sánh chúng để
nói.
(Sớ)
Tri tŕ danh vưu vi yếu ước dă.
(疏)
知持名尤為要約也。
(Sớ:
Biết tŕ danh thật là tinh yếu, đơn giản vậy).
Đây
mới là thật sự phát hiện phép Tŕ Danh thật là đơn
giản, thật khẩn yếu, giản ước.
(Sớ) Quảng đại giả, dĩ tứ thập
bát nguyện, b́nh bao u hiển, thống quát thánh phàm, quảng
đại khôi hoằng, mang vô bạn ngạn, nhập chi tất
hữu diêu tiệm, cố quư tri tiên.
(疏) 廣大者,以四十八願,帡包幽顯,統括聖凡,廣大恢宏,茫無畔岸,入之必有繇漸,故貴知先。
(Sớ: “Rộng lớn” là do bốn mươi tám
nguyện phủ trọn u, hiển, gồm hết thánh,
phàm, rộng lớn, bao la, mênh mông không bờ bến, vào
trong ấy ắt sẽ có thể chứng nhập dần
dần; v́ thế, cốt yếu là phải biết điều
nào là cần kíp trước tiên).
Mấy câu này nói về kinh Vô Lượng Thọ,
tức [A Di Đà] Đại Kinh. Trong Đại Kinh, chúng
ta có thể thấy được sự vĩ đại
của A Di Đà Phật, mười phương ba đời
hết thảy chư Phật chẳng thể sánh bằng,
đạo lư này hết sức hiển nhiên. Từ kinh luận,
chúng ta đọc thấy [chuyện như thế này] rất
nhiều: Hễ nói đến thành Phật, bất luận
là luận theo mặt Sự hay nói theo mặt Lư, không ǵ chẳng
phải là phá sạch hai thứ chấp, tức là đoạn
sạch Ngă Chấp, Pháp Chấp cũng phải đoạn
hết, Kiến Tư, Trần Sa, Vô Minh thảy đều
đoạn sạch, chứng trọn vẹn ba đức
(Pháp Thân, Bát Nhă, Giải Thoát), đó gọi là Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác. Tám vạn bốn ngàn pháp môn chỉ
là những mánh khóe nhằm tu chứng mà thôi, bất luận
dùng phương pháp nào cũng đều có thể thành Vô Thượng
Đạo. Lục Ba La Mật, tùy tiện dùng điều
nào cũng đều được cả! Ví như dùng Bố
Thí, tức Xả, ta có thể bỏ sạch Ngă Chấp lẫn
Pháp Chấp; Kiến Tư, Trần Sa, Vô Minh đều bỏ
sạch, sẽ thành Phật. Pháp môn nào cũng được,
pháp môn b́nh đẳng, tuy khác đường lối nhưng
cùng về một nơi. Sau khi thành Phật, Phật Phật
đạo đồng, trí huệ, đức tướng
hoàn toàn chẳng khác nhau!
Thế nhưng, hết thảy chư Phật lúc
tu nhân phát tâm mỗi vị mỗi khác. Hiện thời, chúng
ta phát tâm quá bé, chẳng những không thể gọi là Bồ
Đề tâm, mà chúng ta phát ra cái tâm “công lợi”[5], v́
sao chúng ta học Phật? Hy vọng “ĺa khổ, được
vui”. Ĺa khổ, được vui là cái tâm công lợi. Hiện
tại chúng ta khổ quá, hy vọng cuộc sống thoải
mái một chút, hy vọng học Phật có thể phát tài,
hy vọng học Phật sẽ có thể trường thọ,
hy vọng học Phật người nhà được b́nh
an, v́ những lẽ đó. Nói cách khác, từ trước đến
nay, chưa hề phát tâm liễu sanh tử, thoát tam giới,
không hề có! Miệng đúng, tâm sai, miệng nói ta muốn
thoát tam giới, nhưng tâm chẳng hề mong thoát khỏi
tam giới. Miệng nói muốn văng sanh, chúng ta đả Phật
thất tại đây, bảy ngày sẽ văng sanh, chẳng một
ai đến cả. Không được đâu! Bảy ngày
sau sẽ chết, mạng tôi c̣n dài lắm! Chẳng có ai đến
hết, miệng đúng, tâm sai!
Chúng ta thấy Lục Tổ phát tâm quá hy hữu!
Theo Đàn Kinh chép, Ngài đến núi Hoàng Mai, Ngũ Tổ hỏi
Ngài: “Ngươi đến để làm ǵ?” Ngài thưa: “Con đến làm Phật!” Không
cầu chi khác, chỉ muốn đến làm Phật! Phát tâm
như vậy, khẩu khí như thế đó, đúng là từ
trước đến giờ chúng ta chưa hề thấy,
chưa hề nghe nói tới. Điều này thật sự chẳng
thể nghĩ bàn, khiến cho người khác kính phục;
nhưng đem so Lục Tổ với A Di Đà Phật, Lục
Tổ sai kém quá xa! Lục Tổ nói “con đến làm Phật”,
rất mơ hồ, không rơ ràng cho lắm. Bốn mươi
tám nguyện của A Di Đà Phật, mỗi một điều
đều rất cụ thể, rất thực tế, Lục
Tổ chẳng thể nào sánh bằng được! Nh́n
như vậy th́ tuy Phật Phật đạo đồng,
nhưng do khi tu nhân phát tâm khác nhau, phát tâm nhất định
có kết pháp duyên. Do phát tâm khi tu nhân, mỗi một vị Phật
kết pháp duyên với hết thảy chúng sanh khác nhau.
Bốn mươi tám nguyện của A Di
Đà Phật quá sức rộng lớn. Phát tâm trong khi tu nhân
đă phát ra cái tâm ấy, quả thật rất khó có, thật
sự chẳng dễ dàng! Chúng ta đọc kinh Vô Lượng
Thọ, đọc bốn mươi tám nguyện phải
thấu hiểu được một chút ư nghĩa, tâm ấy
quả thật đại từ bi, quá thanh tịnh, quá rộng
lớn, không ai sánh bằng! Chúng ta cũng có cái tâm thanh tịnh
ấy, cũng có ḷng từ bi ấy, cũng có cái tâm rộng
lớn ấy, nhưng không phát được, v́ sao không phát
được? Bị vô minh mê hoặc, bị nghiệp
chướng gây chướng ngại, tuy có, chẳng thể
hiển lộ, chẳng phát ra được!
(Diễn) U hiển thánh phàm giả, u chỉ tam đồ,
hiển chỉ nhân thiên, thánh chỉ tam thừa, phàm chỉ
lục đạo.
(演) 幽顯聖凡者,幽指三途,顯指人天,聖指三乘,凡指六道。
(Diễn: “U hiển thánh phàm”:
“U” chỉ tam đồ, “hiển” chỉ trời người,
“thánh” chỉ tam thừa, “phàm” chỉ sáu đường).
Bốn
mươi tám nguyện bao gồm trọn khắp, hữu
t́nh chúng sanh trong chín pháp giới đều được
bao gồm trong ấy. Quư vị thấy tâm người ta lớn
dường ấy! Tôi thường khuyến khích các đồng
tu cầu văng sanh, nhất định phải bắt đầu
bằng tu cái tâm b́nh đẳng. Bắt đầu tu cái tâm
b́nh đẳng từ đâu? Từ oán thân b́nh đẳng,
chướng ngại trong tâm lượng của chúng ta mới
có thể trừ sạch. Oán thân là bất b́nh đẳng lớn
nhất! Nếu tâm quư vị trọn chẳng dung nạp kẻ
oan gia đối đầu, làm sao quư vị có thể dung nạp
Tam Thừa lục đạo? Ắt phải trừ sạch
[những quan niệm, chấp trước oán thân]! Trừ
sạch sẽ khiến cho chính quư vị mau chóng thành Phật.
Quư vị có thể chướng ngại kẻ oán gia đối
đầu hay không? Chẳng thể chướng ngại hắn!
Thật ra, hắn cũng chẳng thể chướng ngại
quư vị! Tự ḿnh sanh chướng ngại, đáng thương
thay! Ngẫu Ích đại sư nói rất hay: “Cảnh duyên vô hảo xú”, tức
là cảnh giới bên ngoài không có tốt hay xấu, chẳng
có thiện hay ác, chúng đều là trung lập. Hết thảy
thiện, ác, tốt, xấu đều do cái tâm của chính
ḿnh sanh ra, chính ḿnh chướng ngại chính ḿnh. Nói ngược
lại sẽ là: Chính ḿnh thành tựu chính ḿnh. Do vậy, nghiệp
chướng quyết chẳng phải do người bên
ngoài chướng ngại ḿnh. Nếu quư vị nói người
ngoài chướng ngại ḿnh, tức là trên chướng lại
chồng thêm chướng, đă mê càng thêm mê, bên ngoài làm sao
có thể chướng ngại quư vị được? Nếu
người ngoài có thể chướng ngại khiến quư
vị chẳng thành tựu, hay người bên ngoài thật
sự có thể giúp đỡ quư vị, mười
phương chư Phật đại từ đại bi
cũng giúp cho quư vị thành Phật rồi! Chính là v́ chư
Phật Như Lai chẳng thể giúp quư vị thành Phật,
yêu ma quỷ quái cũng chẳng thể chướng ngại
quư vị thành Phật. Chướng ngại không được!
Nói chung, chuyện này là chuyện của chính ḿnh.
Trong
Đàn Kinh, Lục Tổ nói rất hay: “Người học Phật phải tự ngộ, tự
tu, tự chứng”, chẳng phải là người khác
giúp quư vị thành tựu! Do vậy mới nói: “Mười
phương ba đời chư Phật chẳng độ
chúng sanh”. Thật đấy! Phật chẳng độ
chúng sanh, v́ quư vị tự độ! Quư vị tự ngộ,
tự tu, tự chứng, tự độ, Phật đâu
có độ quư vị? Phật chỉ làm Tăng Thượng
Duyên cho chúng ta mà thôi, nhắc nhở bản thân chúng ta hăy [tự
ngộ, tự tu, tự chứng], tự ḿnh làm như vậy
th́ mới có thể tự độ. Do vậy, thành công hay
thất bại hoàn toàn do ḿnh chịu trách nhiệm! Người
giác ngộ, kẻ hiểu rơ, quyết chẳng oán trời
hờn người. Nay chúng ta từ phải trừ sạch
tội chướng trong tâm từ vô thỉ kiếp đến
nay, tội chướng lớn nhất là bất b́nh đẳng.
Quư vị vốn có B́nh Đẳng Tánh Trí, nhưng do quư vị
không b́nh đẳng, nó chuyển biến thành Mạt Na thức.
Nay học Phật, Phật bảo quư vị chuyển thức
thành trí; khi mê bèn chuyển trí thành thức, chúng ta biến thành
t́nh trạng như hiện tại. Sau khi giác ngộ, chuyển
thức thành trí, khôi phục diện mục vốn có của
chúng ta, đó mới gọi là học Phật.
Tôi
thường khuyên người ta, đối với kẻ
oán gia đối đầu số một, hăy viết một
tấm Trường Sanh Lộc Vị cho hắn, đem thờ
bên cạnh tượng Phật, mỗi ngày sáng tối lễ
Phật đều lễ hắn, coi hắn như Phật
vậy, quư vị có chịu làm hay không? Quư vị không chịu
làm, tội chướng của chính ḿnh đừng mong dẹp
trừ! Có người cũng làm theo, làm được mấy
ngày, đến nói với tôi: “Không được rồi!
Sân tâm của con vẫn c̣n, thấy kẻ ấy vẫn nổi
nóng, làm sao bây giờ?” Tôi bảo anh ta: “Anh mới thờ mấy
bữa, công phu chưa đến mức! Đối đăi
với kẻ oán gia đối đầu như Phật, Bồ
Tát, tâm sẽ b́nh. Tâm b́nh khí ḥa, thân thể cũng khỏe mạnh,
công phu tăng tấn, hết sức khẩn yếu!”
Mấy
câu tiếp theo đây nói về tâm lượng rộng lớn,
nguyện lực vô cùng. Dưới đây là mấy câu hết
sức trọng yếu!
(Sớ) Cố
quư tri tiên.
(疏) 故貴知先。
(Sớ:
Cho nên điều cốt yếu là phải biết đâu
là chuyện cần kíp trước tiên).
Đây
là nói: Học Phật th́ trước tiên là phát đại
nguyện, trước tiên phải phát đại tâm.
(Sớ) Truyền viết: “Tri
sở tiên hậu, tắc cận đạo hỹ”.
(疏) 傳曰:知所先後,則近道矣。
(Sớ:
Có lời dạy rằng: “Biết trước sau th́ gần
với đạo vậy”).
Đây
là lời Khổng lăo phu tử nói. Câu này trích từ Luận
Ngữ. “Truyền” (傳)
là lời hay đẹp, cách ngôn của tiền nhân để
lại. Quư vị biết chuyện nào trước, chuyện
nào sau, th́ sẽ gần với đạo. Do vậy,
người học đạo, trước hết phải
mở rộng tâm lượng, trước hết phải
phát đại nguyện. Ngày nay, có rất nhiều người
trong chúng ta phát nguyện giả dối, là vọng ngữ,
cứ một lần phát nguyện là một lần tạo
tội nghiệt. “Chúng sanh vô
biên thệ nguyện độ”, nguyện ấy lớn
lắm! Ta vẫn c̣n có kẻ thù, hễ trông thấy là nổi
nóng, ta độ chúng sanh, ta chẳng độ kẻ ấy!
Đủ thấy nguyện ấy là vọng ngữ, mỗi
lần phát nguyện là một lần gây trọng tội, tự
ḿnh tạo nghiệp chướng mà chẳng hiểu! Trong
tương lai, gặp vua Diêm La, vua Diêm La phán tội vào địa
ngục, nói kẻ ấy phạm tội, [liền căi] “tôi đâu
có tội!” Đâu có biết hằng ngày khởi vọng ngữ
là tội. Quen thói trở thành tự nhiên, chẳng biết chính
ḿnh đang tạo tội: Hằng ngày đối trước
Phật, Bồ Tát, buổi sáng dối gạt một lần,
buổi tối dối gạt lần nữa, làm sao không có
tội? Buổi sáng quư vị đọc Tam Quy Y, buổi tối
đọc Tam Quy Y, Tam Quy Y là quy y Phật, Phật là giác chứ
không mê, nhưng chính ḿnh hằng ngày vẫn đang mê chẳng
giác, hết cách rồi! Lần này, tôi lưu thông cuốn Thích
Môn Pháp Giới Lục, trong ấy chỉ có một trăm
hai mươi bốn điều, đính kèm phần trích lục
pháp ngữ của Liên Tŕ đại sư, quư vị đọc
kỹ sẽ hiểu. Trong ấy có những tấm gương:
Có người xuất gia chết đi bị vua Diêm La lôi
ra thẩm vấn, người ấy cứ ngỡ ḿnh chẳng
có tội lỗi ǵ, kết quả khi bị vua Diêm La moi ra
từng điều một, hoàn toàn là tội lỗi. Do vậy,
nhất định phải tin tưởng nhân quả. Đại
sư nói rất đúng, trước hết, phải phát đại
nguyện, pháp môn này lấy Tín, Nguyện, Hạnh làm ba món tư
lương. Điều đầu tiên là phải mở rộng
tâm lượng, “tâm bao khắp
thái hư, lượng trọn khắp các cơi nước
nhiều như cát”, có thể thật sự phát tâm to lớn
ngần ấy, th́ nguyện lực của quư vị và nguyện
lực của A Di Đà Phật sẽ chẳng sai khác cho mấy.
Công phu chẳng bằng Ngài, nhưng tâm lượng của
ta chẳng nhỏ hơn Ngài. Thật đấy, chẳng
giả đâu! Có thể dung người, có thể bao hàm người
khác th́ hạng người ấy có phước.
“Tiên hậu”: Trước phát
nguyện, sau tŕ danh. Phát nguyện là chân tâm hiện tiền,
tŕ danh là niệm niệm gọi ra chân tâm. A Di Đà Phật
là vô lượng giác tâm, giác là chân tâm, mê là vọng tâm. Nếu
biết trước sau th́ sẽ gần với đạo.
Câu nói này của Khổng lăo phu tử có tánh nguyên tắc, bất
luận dùng vào đâu cũng đều thích đáng; nếu
áp dụng vào pháp môn niệm Phật th́ đạo này sẽ
là vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, Vô Thượng Bồ
Đề đại đạo.
(Sớ) Thâm huyền giả.
(疏)
深玄者。
(Sớ: Sâu thẳm u huyền là...)
Bắt
đầu từ chỗ này, dùng Quán Kinh để so sánh.
(Sớ)
Dĩ môn phân thập lục.
(疏)
以門分十六。
(Sớ:
Do môn quán tưởng này được chia thành mười
sáu pháp).
Quán
Vô Lượng Thọ Phật Kinh chia thành mười sáu phép
Quán.
(Sớ) Sự
phỉ nhất đoan, nhi phục diệu quán tinh vi, sơ
tâm mị cập, thao chi tất đắc kỳ yếu, cố
ưng thủ ước.
(Diễn)
Sơ tâm mị cập giả, Diệu Tông Sao vân: “Quán tuy
thâm diệu, bổn bị sơ tâm, nhược năng tấn
công, hà ưu bất tựu?”
(疏) 事匪一端,而復妙觀精微,初心靡及,操之必得其要,故應守約。
(演) 初心靡及者,妙宗鈔云:觀雖深妙,本被初心,若能進功,何憂不就。
(Sớ:
Sự chẳng phải chỉ có một mối, phép Quán mầu
nhiệm lại tinh vi, hàng sơ tâm chẳng thể thực
hiện được. Hễ tu tập, ắt phải nhận
biết chỗ quan trọng, v́ thế, phải nên chọn
lấy cách giản ước.
Diễn: “Hàng sơ tâm chẳng thể thực hiện
được”: Sách Diệu Tông Sao viết: “Phép Quán tuy sâu
mầu, nhưng cũng thích hợp cho hàng sơ tâm. Nếu
có thể gắng công, lo ǵ chẳng thành tựu?”).
Đây
lời Trí Giả đại sư nói khi chú giải Quán
Kinh. Trong phần trên đă có nói pháp Quán gồm Thứ Đệ
Tam Quán và Nhất Tâm Tam Quán. Pháp Quán tuy sâu mầu, nhưng
chiếu theo Lư để nói th́ người mới phát tâm
cũng có thể tu tập được. Ngài vốn
cũng v́ hàng sơ phát tâm mà nói, tuân theo thứ tự định
sẵn, từ cạn đến sâu, “nhược năng tấn công”, “tấn” (進) là tinh tấn, “công” (功) là công phu. Nếu có
thể tinh tấn th́ “hà ưu
bất tựu” (lo ǵ chẳng thành tựu), “tựu” (就) là thành tựu. Lẽ
đâu chẳng thành tựu?
(Diễn)
Nhi đại sư như thử thuyết giả.
(演) 而大師如此說者。
(Diễn: Nhưng đại
sư nói như vậy).
Chữ “đại
sư” chỉ Liên Tŕ đại sư, Ngài nói hàng sơ
phát tâm sợ chẳng thể tu tập được [các
phép Quán] v́ hai ư nghĩa như sau:
(Diễn) Nhất giả, dĩ kim chánh kiến lập
Tŕ Danh pháp môn cố.
(演) 一者,以今正建立持名法門故。
(Diễn: Một là v́ nay đang kiến lập pháp
môn Tŕ Danh).
V́ pháp được lăo nhân gia đề xướng
là Tŕ Danh Niệm Phật. Tŕ Danh Niệm Phật dễ dàng
hơn pháp Quán rất nhiều.
(Diễn) Nhị giả, sơ tâm diệc thậm bất
đồng, hữu cụ túc viên giải chi sơ tâm, năi
chí hữu mang nhiên vị thức chi sơ tâm cố.
(演) 二者,初心亦甚不同,有具足圓解之初心,乃至有茫然未識之初心故。
(Diễn: Hai là v́ hàng sơ tâm hết sức khác
nhau. Có người là sơ tâm nhưng trọn đủ sự
hiểu biết trọn vẹn, cho đến có hàng sơ
tâm hoang mang chẳng hiểu biết ǵ).
Lời này hết sức có lư. Kẻ sơ phát
tâm thật sự chẳng giống nhau. Lấy Tứ Giáo của
tông Thiên Thai để luận định th́ Sơ Phát Tâm
trong Tạng, Thông, Biệt, Viên khác nhau. Có người nghe
kinh Hoa Nghiêm nói tới hàng Sơ Tín Bồ Tát, Thập Tín, Thập
Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập
Địa, rất nhiều đồng tu đến hỏi
tôi: “Chúng con hiện thời có được coi là Sơ Tín
Bồ Tát hay không?” Kinh Hoa Nghiêm là Viên Giáo. Trong kinh giảng rất
rơ ràng điều kiện để thuộc về hàng Sơ
Tín Bồ Tát của Viên Giáo. Điều kiện ǵ vậy?
Tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc trong tam giới đă
đoạn sạch th́ mới gọi là Bồ Tát thuộc địa
vị Sơ Tín. Chúng ta xem nhé, tám mươi tám phẩm Kiến
Hoặc đoạn sạch th́ giống như Tu Đà Hoàn
trong Tiểu Thừa. Nếu Tiểu Thừa của Tu Đà
Hoàn hồi Tiểu hướng Đại, hướng tới
Viên Giáo, họ sẽ là Sơ Tín vị Bồ Tát, chúng ta
đâu có đủ tư cách! Nếu nói theo Tạng Giáo, đại
khái là không sai khác lắm. Chúng ta là hạng Sơ Phát Tâm mơ
mơ màng màng, mờ mịt chẳng hiểu biết như
vậy th́ cũng có thể nói quư vị là hàng Sơ Phát Tâm Bồ
Tát trong Tạng Giáo. Do vậy, Sơ Phát Tâm chẳng dễ
dàng đâu nhé!
Trong Đại Thừa Khởi Tín Luận, bắt
đầu tin tưởng vào Đại Thừa, bắt đầu
tin tưởng th́ đương nhiên là sơ tâm, nhưng điều
kiện cao lắm. Địa vị Kiến Đạo
trong Đại Thừa là phải phá một phẩm vô minh,
thấy một phần chân tánh. Do vậy, chuẩn mực
này là cao nhất. Địa vị Bồ Tát được
nói trong kinh Kim Cang giống như Đại Thừa Khởi
Tín Luận, đấy là tiêu chuẩn cao nhất. Địa
vị Sơ Phát Tâm Bồ Tát trong bốn mươi mốt
địa vị Pháp Thân đại sĩ chính là Sơ Trụ
trong Viên Giáo. Do v́ Sơ Phát Tâm khác nhau, “sơ tâm diệc thậm bất đồng” (sơ
tâm hết sức khác nhau), chẳng thể nói hàm hồ, luông
tuồng: Chúng ta đều gọi là Sơ Phát Tâm, chẳng
thể nói như vậy được! “Hữu cụ túc viên giải chi sơ tâm” (có hàng sơ
tâm trọn đủ sự hiểu biết trọn vẹn)
chính là Sơ Tín Bồ Tát trong Viên Giáo. Đối với Sơ
Tín Bồ Tát trong Viên Giáo th́ không có vấn đề ǵ, đừng
nói là Thứ Đệ Tam Quán, ngay cả Nhất Tâm Tam Quán,
Ngài đều có thể tu, có thể học được,
chỉ cần người ấy thật sự tinh tấn
không biếng nhác, quả thật sẽ thành tựu. Thế
nhưng, đối với hết thảy những kẻ
sơ tâm vô tri mờ mịt Phật pháp, bảo họ tu pháp
môn Niệm Phật th́ được! Quả thật dễ
dàng, chứ giảng những lư luận, phương pháp và
cảnh giới trong Thập Lục Quán Kinh cho họ, sợ
rằng họ nghe không hiểu, v́ kinh ấy thật sự
có mức độ khá sâu.
“Thao chi tất
đắc kỳ yếu, cố ưng thủ ước”:
Ư nói chúng ta thật sự muốn đạt được
công đức, lợi ích chân thật trong Phật pháp, thành
tựu công đức và lợi ích chân thật ngay trong một
đời th́ quư vị nhất định phải hiểu
đạo lư này. Nếu chẳng thành tựu trong một đời
này, bất luận đạt được lợi ích như
thế nào cũng đều uổng công. Quư vị đắc
Thiền Định cũng hay khai ngộ cũng thế, đều
vô ích, hễ đầu thai lại bị mê muội khi cách ấm.
Do vậy, công đức lợi ích thật sự là trong Tây
Phương Tịnh Độ. Thật sự sanh về Tây
Phương Tịnh Độ mới được coi là
thật sự đạt được công đức, lợi
ích. Trừ điều này ra, những thứ khác đều
chẳng thể gọi là công đức lợi ích chân thật,
chúng ta phải đặc biệt chú ư điều này.
Những ǵ chúng ta đạt được trước
mắt toàn là cảnh giới trong mộng; nếu thật
sự giác ngộ, chúng hoàn toàn rỗng tuếch! Tuy nay vẫn
c̣n chưa chết, chết rồi mới hiểu cổ nhân
nói “vạn ban tương bất
khứ, duy hữu nghiệp tùy thân” (mọi thứ không
mang được, chỉ có nghiệp theo thân), không mang
theo được thứ ǵ hết! Thế nhưng chúng ta
có giác ngộ hay không? Mỗi ngày, tối đến quư vị
đi ngủ là một lần chết nhẹ nhàng, cứ cách
vài tiếng đồng hồ quư vị phải chết nhẹ
nhàng một bận, quư vị có giác ngộ hay chưa? Quư vị
ngủ say vùi, có đem theo thứ ǵ vào dùng trong mộng được
hay chăng? Chẳng mang theo ǵ cả! Không có thứ ǵ là của
quư vị, ngay cả thân thể, quư vị ngủ rồi,
người ta khiêng cái thân quư vị đi, quư vị cũng
không biết, thân chẳng phải là chính ḿnh, huống hồ
vật ngoài thân! Mỗi ngày tỉnh giấc phải khéo suy
nghĩ một phen, thế gian này chẳng có thứ ǵ là của
chính ḿnh, quư vị phải thường nghĩ đến điều
này, quư vị sẽ giác ngộ, mà cũng chẳng c̣n tạo
tội nghiệp nữa! Chính ḿnh chẳng kiếm phiền
phức cho chính ḿnh, sau đấy, quư vị mới giác ngộ
rằng: Hết thảy người trong thế gian và xuất
thế gian cũng không có cách nào tạo phiền phức cho
quư vị được, mà cũng chẳng có cách nào giúp đỡ
quư vị. Tự ḿnh giúp chính ḿnh, mà tự ḿnh cũng chướng
ngại chính ḿnh. Trong Phật pháp có câu “vô y đạo nhân”, tức là không dựa dẫm,
không ỷ lại, chuyện ǵ cũng cậy vào chính ḿnh th́
mới gọi là “vô y đạo
nhân”! Phật pháp dạy chúng ta phải tự ḿnh nương
tựa chính ḿnh, chẳng dối người, đó là không
mê tín, là chân thật vậy!
(Sớ) Kha thị viết: “Thủ ước nhi thí
bác giả, thiện đạo dă”.
(疏) 軻氏曰:守約而施博者,善道也。
(Sớ: Mạnh Kha nói: “Tiết kiệm,
nhưng bố thí rộng răi, th́ là thiện đạo”).
Đây
là lời Mạnh Tử nói.
(Diễn)
Thủ ước vị tu thân.
(演)
守約謂修身。
(Diễn: “Thủ ước” nghĩa là tu thân).
Tự
ḿnh phải khắc khổ, phải cần kiệm.
(Diễn)
Thí bác vị thiên hạ b́nh.
(演)
施博謂天下平。
(Diễn:
“Bố thí rộng răi” ư nói: thiên hạ yên b́nh).
“Thí” (施) là
bố thí, chịu hy sinh chính ḿnh để giúp đỡ người
khác, ai nấy đều có thể làm như vậy th́ thiên
hạ thái b́nh, thiên hạ mới đạt đến công
b́nh. Người khác chưa thể làm, chứ chúng ta nhất
định phải làm. Đối với hết thảy mọi
người trong thiên hạ, chúng ta đều đối xử
bằng tấm ḷng b́nh đẳng, đối đăi bằng
cái tâm công chánh. Giản ước là tu phước, cần
kiệm là tu phước. Dùng cái tâm công chánh, tâm công b́nh, tâm thanh
tịnh để đối đăi hết thảy mọi
người, đó gọi là Bố Thí. Đấy là Bố
Thí Ba La Mật trong Lục Độ, là thiện đạo,
là đạo đạt tốt lành tột cùng, ở đây
là nói tới “đạo thành Phật, đạo văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới”. Nếu chúng ta
nghe hiểu, thật sự hiểu rơ, từ hôm nay trở đi,
hăy thực hiện đúng như thật, quư vị sẽ đạt
được đạo thành Phật và đạo văng
sanh Tây Phương. Nếu chịu làm theo, chịu tu theo; sau
đấy mới có thể thành đạo. Hôm nay hết
giờ rồi, chúng tôi giảng đến chỗ này.
A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa
Phần 12
hết
[1] Tạo Tượng Lượng Độ
Kinh do quan Tổng Quản Nghi Tân Chưởng Dịch Phiên
Mông Chư Văn Tây Phiên Học của Nội Các nhà Thanh dịch,
được đánh số 28 trong tập 1 của Vạn
Tục Tạng Kinh. Chúng tôi xin trích một đoạn
như sau: “Dĩ tự thủ
chỉ lượng, bách hữu nhị thập chỉ, nhục
kế sùng tứ chỉ, phát tế diệc như thử,
diện luân thụ tung độ, đới bán thập nhị
chỉ, phân tam vi ngạch tỵ, cập hài câu đắc
nhất... Ấn đường bạch hào địa, quảng
đới bán nhất chỉ, mi như sơ nguyệt nha,
trung cao trường tứ chỉ, nhĩ quảng hữu
nhị chỉ, tiêm đẳng mi trung tế, đỗng
minh khoan tứ túc, khiếu khổng đắc bán chỉ,
nhĩ đóa cao tứ mạch, quảng phân ưng măn chỉ”
(Lấy ngón tay của chính ḿnh để làm đơn vị
đo, th́ tượng Phật cao một trăm hai
mươi ngón tay, nhục kế cao bốn ngón tay, mí tóc
cũng giống như vậy, độ rộng của
khuôn mặt là mười hai ngón rưỡi, chia khuôn mặt
thành ba phần là trán, mũi và cằm, mỗi phần đều
nhau... Giữa hai chân mày là chỗ đặt tướng bạch
hào, rộng chừng nửa ngón tay, lông mày như mảnh
trăng non, chính giữa cao rộng khoảng bốn ngón
tay. Tai có bề ngang bằng hai ngón tay, đỉnh tai ngang bằng
với lông mày, vành tai rộng bằng bốn bàn chân [của
tượng], lỗ tai rộng nửa ngón tay, trái tai có bề
dày bằng bốn hạt lúa mạch, trái tai to bằng cả
ngón tay).
[2] Nguyên văn “xích”, xích là đơn vị
đo lường chiều dài của Trung Hoa, gần bằng
một phần ba mét.
[3] Thích Môn Pháp Giới Lục do cư
sĩ Quách Hàm Trai người tỉnh Hồ
[4] Viên Sơn là một rặng núi nhỏ nằm
phía Nam sông Cơ Long, phụ cận Đài Bắc. Chùa Lâm Tế
này có tên gọi đầy đủ là Lâm Tế Hộ Quốc
Thiền Tự, do sư Mai Sơn Tú Huyền (Mai Sơn
Đằng Am) thuộc thiền phái Diệu Tâm Tự của
tông Lâm Tế Nhật Bản khai sơn vào thời Đài
Loan bị Nhật Bản chiếm đóng.
[5] Công lợi, gọi đầy đủ
là “công lợi chủ nghĩa” (Utilitarianism, hoặc Utilism) là một
học thuyết được đề xướng bởi
John Stuart Mill và Jeremy Bentham. Nói tóm gọn, giá trị luân lư của
một hành động được biện minh bởi mục
đích mang lại hạnh phúc, sung sướng cho nhiều
người nhất. Nó thường được dùng với
mục đích ngụy biện cho những hành động
bất kể hậu quả nếu những hành động
ấy đem lại hạnh phúc, hưởng thụ cho một
nhóm người nào đó. Ta thường nói là “cứu cánh biện minh cho hành
động”.