A Di Đà Kinh Sớ
Sao Diễn Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 120
Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và
Đức Phong
Tập
239
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang bốn trăm sáu mươi hai:
(Sao)
Đức Vân Niệm Phật môn giả, Hoa Nghiêm Nhập
Pháp Giới phẩm, Đức Vân tỳ-kheo cáo Thiện
Tài ngôn: “Ngă đắc ức niệm nhất thiết
chư Phật cảnh giới trí huệ quang minh phổ kiến
pháp môn”, nhi phục khai nhị thập nhất môn, khởi
ư Trí Quang Phổ Chiếu, chung ư Trụ Hư Không.
(鈔)德雲念佛門者,華嚴入法界品,德雲比丘告善財言,我得憶念一切諸佛境界智慧光明普見法門,而復開二十一門,起於智光普照,終於住虛空。
(Sao: “Pháp môn Niệm Phật
của ngài Đức Vân”: Trong phẩm Nhập Pháp Giới
của kinh Hoa Nghiêm, tỳ-kheo Đức Vân bảo Thiện
Tài: “Ta đắc pháp môn Nghĩ Nhớ Cảnh Giới Của
Hết Thảy Chư Phật, Trí Huệ Quang Minh Thấy
Trọn Khắp”, rồi lại chỉ ra hai mươi mốt
môn [Niệm Phật], bắt đầu bằng môn Trí Quang
Phổ Chiếu, kết thúc bằng môn Trụ Hư Không).
Kinh Hoa Nghiêm là kinh điển
căn bản của Đại Thừa Phật pháp, cổ
đức gọi nó là Căn Bản Pháp Luân. Hết thảy
các kinh đều là cành lá của Hoa Nghiêm, giống như một
cái cây, Hoa Nghiêm là cội cây, tức là căn bản của
cây. “Căn bản của cây” tức là thân chánh, hết thảy
các kinh đều là cành, lá, nhánh nhóc, hoa, quả trên thân cây.
Từ tỷ dụ này, chúng ta liễu giải địa vị
và tánh chất trọng yếu của kinh Hoa Nghiêm trong Phật
pháp. Kinh Hoa Nghiêm giảng rất nhiều pháp môn tu hành. Trong
phẩm Ly Thế Gian, đức Thế Tôn đă giảng
tất cả hơn hai ngàn pháp môn. “Hơn hai ngàn” chỉ là
nêu theo từng loại mà thôi, [tức là] quy nạp [những
pháp môn liên quan] thành từng loại một. Trên thực tế
là nói bất tận, pháp môn vô lượng! Vô lượng
pháp môn quy nạp thành hơn hai ngàn loại, cũng khá cặn
kẽ. Trong khá nhiều pháp môn, chư Phật Như Lai
đề cao pháp môn nào? Đối với hết thảy
các pháp môn, chư vị ắt phải có một quan niệm,
phải khẳng định lời Phật dạy: “Pháp môn b́nh đẳng, chẳng
có cao thấp”, chẳng thể nói pháp môn nào cao, pháp môn nào
thấp, chẳng có lẽ ấy! V́ sao? Thành tựu cuối
cùng của tất cả hết thảy các pháp môn đều
là viên thành Phật đạo, đương nhiên [các pháp
môn] đều là tốt đẹp như nhau. Tuy pháp môn
b́nh đẳng, nhưng căn khí của chúng sanh sai khác; có
những căn khí thích hợp pháp môn này, chẳng thích hợp
pháp môn kia. Chúng sanh có căn tánh khác nhau; do vậy, đức
Phật mở ra nhiều pháp môn. Hiện thời, đức
Phật chẳng trụ thế. Không chỉ là chúng ta chẳng
t́m thấy Phật, mà Bồ Tát cũng t́m chẳng thấy,
thậm chí A La Hán, thiện tri thức cũng chẳng gặp
được. Pháp môn nhiều như vậy, chúng ta chọn
lựa như thế nào để biết pháp môn ấy
thích hợp căn khí của chính ḿnh? Nếu chọn lựa
chẳng thích đáng, sẽ phiền phức to lớn! Pháp
môn giống như các vị thuốc bán trong tiệm thuốc.
Có mấy ngàn, mấy vạn loại thuốc, hễ khế
cơ liền trị được bệnh. Nếu thuốc
đúng bệnh, dùng thuốc bệnh liền hết, bèn khỏi
bệnh. Nếu thuốc chẳng đúng với chứng bệnh,
không chỉ là bệnh nặng thêm, chỉ sợ uống
vào một lần bèn “ô hô, ai
tai” (ôi chao! buồn thay). Pháp môn chẳng khế cơ,
tai hại quá lớn. Uống lầm thuốc, thân mạng
bị hại. Thân này sau khi đă chết, kinh Địa Tạng
nói sau bốn mươi chín ngày lại đầu thai. V́ thế,
trong Phật pháp trọn chẳng coi trọng thân mạng. [Chọn
lựa] pháp môn sai trật, sẽ hại Pháp Thân huệ mạng,
nghiêm trọng lắm, có tánh chất nghiêm trọng lớn
hơn uống sai thuốc quá nhiều lần!
Đức Phật
liễu giải trạng huống hiện thời của
chúng ta, mà cũng biết căn khí của người hiện
thời. Không chỉ là Thích Ca Mâu Ni Phật đề cao
pháp môn Niệm Phật, trong hội Hoa Nghiêm, Phổ Hiền
Bồ Tát cũng đề cao pháp môn này. Từ kinh Vô Lượng
Thọ và kinh Di Đà, chúng ta thấy mười
phương ba đời hết thảy chư Phật
khác miệng cùng tiếng giới thiệu pháp môn này, đều
đề cao pháp môn này. Do vậy có thể biết, chúng ta chẳng
gặp thiện tri thức chân chánh chỉ dạy, hăy tuyển
chọn pháp môn này để tu, quyết định chẳng
sai lầm! Chúng ta hăy lắng ḷng quan sát xă hội hiện thời,
người học Phật rất đông, người học
Phật bị ma dựa cũng lắm! Chúng ta hăy ḍ hỏi
tỉ mỉ, chẳng nghe nói có ai niệm Phật mà bị
ma dựa. Bị ma dựa nhiều nhất là kẻ học
Thiền, học Mật, học Giáo, dễ dàng biến
thành cuồng huệ. Đó cũng gọi là “ma dựa”, đều chẳng
b́nh thường! Chỉ riêng pháp môn Niệm Phật này,
đặc biệt là người thật
thà niệm Phật, hầu như chẳng có một ai không
thành tựu. Điều này chứng tỏ chư Phật,
Bồ Tát đă giới thiệu với chúng ta pháp môn này chẳng
sai lầm! Huống hồ pháp môn này là pháp môn bậc
nhất để Như Lai phổ độ hết thảy
chúng sanh, v́ pháp môn này trên độ Đẳng Giác Bồ
Tát, dưới độ chúng sanh trong địa ngục.
Nếu
mọi người đọc kỹ Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông
Chương, sẽ hiểu rơ. Vừa mở đầu, Bồ
Tát đă nói: “Ngă dữ ngũ
thập nhị đồng luân” (Tôi và năm mươi hai
hạng người cùng hàng). Câu này hết sức trọng
yếu, chớ nên dễ dăi, xem nhẹ, coi lướt qua.
Nói theo cách hiện thời, “đồng
luân” (同倫) là người chí
đồng đạo hợp, bèn gọi là “đồng luân”, [tức là] những kẻ cùng loại.
Loại người nào vậy? Chuyên niệm A Di Đà Phật.
Trong vô lượng pháp môn, chuyên tu một môn này. “Năm mươi hai” là
năm mươi hai tầng cấp Bồ Tát, [bao gồm các]
địa vị Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh,
Thập Hồi Hướng, Thập Địa, lại cộng
thêm Đẳng Giác và Diệu Giác. Diệu Giác bèn thành Phật.
Nói cách khác, từ sơ phát tâm măi cho đến khi thành Phật,
chẳng dùng phương pháp thứ hai, một câu Phật
hiệu cứ niệm đến cùng! Niệm từ sơ
phát tâm cho đến khi thành Phật, quư vị nói xem có
đơn giản, dễ dàng lắm hay không? Lại c̣n ổn
thỏa, thích đáng, nhanh chóng, chẳng có [pháp môn nào khác] mà
ḥng sánh bằng pháp môn này! Quư vị có thể nhận biết
rơ ràng, minh bạch, có thể nghiêm túc nương theo
phương pháp này để tu học, vậy là quư vị
có đại phước báo. Trên cơi trời và nhân gian, chẳng
có ai có phước báo to hơn quư vị. Quư vị không chỉ
là thành tựu thù thắng, mà c̣n thành tựu viên măn ngay trong
một đời, thật sự chẳng thể nghĩ
bàn!
Đại
Thế Chí Bồ Tát đă nói rất rơ ràng, phương pháp
vô cùng đơn giản: “Nhiếp
trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối”, chúng
ta phải chú tâm lănh hội phương pháp này, phải nghiêm
túc thực hành, mấu chốt là “tịnh niệm tiếp nối”. Tịnh (淨) là chẳng thể
xen tạp, hễ tạp sẽ chẳng thanh tịnh. Những
ǵ là xen tạp? Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát đă nói rất
hay, quư vị hăy xem xen tạp là ǵ? Xen tạp chẳng phải
là tịnh niệm, gián đoạn là chẳng liên tục. Bí
quyết niệm Phật là “chẳng
hoài nghi, chẳng xen tạp, chẳng gián đoạn”, quư
vị bèn thành công. Nói theo hiệu quả, “chẳng nhờ vào phương tiện, tự
được tâm khai”, chẳng cần nhờ vào
phương pháp nào khác để phụ trợ, cứ một
câu Phật hiệu niệm đến cùng. Công phu chia thành
ba giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất là “công phu
thành phiến”. Có thể niệm đến mức công phu
thành phiến, quyết định được văng sanh,
nắm chắc văng sanh thế giới Tây Phương. Chúng
ta thường nghe hoặc thấy có người biết trước lúc mất. Công phu tốt
đẹp th́ biết trước cả năm sẽ văng
sanh ngày nào, chẳng ngă bệnh. Công phu cao hơn một tầng
nữa, sẽ là tự tại văng sanh: Muốn ra đi khi
nào bèn đi khi ấy. Chưa muốn đi, muốn ở
thêm mấy năm cũng chẳng trở ngại, hoàn toàn
do chính ḿnh làm chủ. Nếu chúng ta hỏi: Công phu như vậy,
rốt cuộc là niệm Phật đạt đến mức
độ nào? Thưa cùng chư vị, chẳng khó, chúng ta
ai nấy đều có thể làm được. V́ công phu ấy
của người ấy chẳng quá cao, đó là công phu
thành phiến đến mức thượng thừa. Giả
sử chúng ta cũng chia công phu thành phiến thành chín phẩm,
th́ đối với thượng phẩm, công phu [thành phiến]
thượng phẩm sẽ tự tại văng sanh, chúng ta làm
được điều này. Công phu sâu hơn sẽ là nhất
tâm bất loạn. Trong nhất tâm bất loạn có Sự
nhất tâm và Lư nhất tâm, xác thực là rất khó! Đắc
Sự nhất tâm, địa vị của người ấy
bằng A La Hán và Bích Chi Phật. Lư nhất tâm sẽ là Pháp
Thân đại sĩ, sanh trong cơi Thật Báo Trang Nghiêm của
thế giới Tây Phương, là thượng thượng
phẩm văng sanh. Nh́n như vậy, [ta thấy] Đại
Thế Chí Bồ Tát đă nói chẳng sai, “chẳng nhờ vào phương tiện, tự
được tâm khai”.
Nh́n
từ đâu mà thấy pháp môn này thành tựu ổn thỏa,
thích đáng, nhanh chóng? Trong kinh luận, đức Phật
đă nói rất nhiều: Trong thế giới Sa Bà của
chúng ta, t́nh huống trong thế giới Sa Bà và [t́nh huống trong] các thế giới chư Phật
nơi các phương khác chẳng sai khác cho mấy. Tu hành
trong thế giới này, từ phàm phu tu thành Phật đạo,
phải mất ba đại A-tăng-kỳ kiếp, dùng
đơn vị thời gian là kiếp để tính. Thời
gian ba đại A-tăng-kỳ kiếp quá dài, đó là con
số thiên văn, chẳng có cách nào h́nh dung được.
Ba đại A-tăng-kỳ kiếp tính từ ngày nào? Chẳng
giống như cầu sanh Tây Phương. Cầu sanh
Tây Phương th́ có thể nói là tính từ hôm nay: Chúng ta phát
tâm cầu sanh Tịnh Độ, niệm A Di Đà Phật,
bèn có thể tính khởi đầu từ hôm ấy. [C̣n
trong các pháp môn khác], ba đại A-tăng-kỳ kiếp tính
khởi đầu từ ngày nào quư vị chứng đắc
quả Sơ Quả. Nếu quư vị chưa chứng
đắc Sơ Quả, chẳng tính! Sơ Quả là quư vị
phải đoạn tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc
trong tam giới, chứng đắc Vị Bất Thoái. Trong
ba thứ Bất Thoái, quư vị chứng đắc Vị
Bất Thoái, tính từ ngày hôm ấy, ba đại A-tăng-kỳ
kiếp thành Phật! Tông Thiên Thai nói có bốn giáo Tạng,
Thông, Biệt, Viên, ba đại A-tăng-kỳ kiếp
thành Phật là thành Tạng Giáo Phật, chẳng phải là
Viên Giáo. Viên Giáo Phật phải mất bao nhiêu thời gian?
Kinh Hoa Nghiêm có nói: [Phải mất] vô lượng kiếp mới
có thể thành Phật quả trong Viên Giáo. Đức Phật
chẳng thường nói chuyện này, sợ người
ta nghe xong sẽ kinh hăi, ngă ḷng. Vô lượng kiếp mới
có thể thành Phật, thôi đi! Chẳng học nữa!
Đức Phật đành phải nói “ba đại A-tăng-kỳ
kiếp”, Phật chẳng nói dối! Xác thực là thành Phật,
thành Tạng Giáo Phật, chẳng phải là Viên Giáo Phật.
Chúng
ta so sánh sự thật này với Tây Phương Cực Lạc
thế giới, quư vị mới biết pháp môn này chẳng
thể nghĩ bàn, khó trách khá nhiều Bồ Tát chẳng tin
tưởng. Trong kinh Di Đà và kinh Vô Lượng Thọ,
đức Phật bảo thế giới Cực Lạc “chư thượng thiện nhân
câu hội nhất xứ” (các vị thượng thiện
nhân nhóm họp một chỗ), số lượng nhiều
đến nỗi chẳng có cách nào tính toán được!
“Thượng thiện nhân”
là nói tới bậc Đẳng Giác Bồ Tát, từ Thập
Địa trở về trước th́ gọi là “thiện
nhân”, chẳng gọi là “thượng thiện”. Thượng
thiện là Đẳng Giác. Trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới, những vị Bồ Tát giống như Quán
Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền chẳng có cách nào tính
toán, quá nhiều! Đó là những vị đă thành Phật.
Năm mươi hai vị đồng luân với Đại
Thế Chí Bồ Tát đều là Đẳng Giác, gần như
là Diệu Giác. Trên thực tế, Đẳng Giác chính là Diệu
Giác, [v́ các Ngài] đă chứng đắc Phật quả
viên măn.
Chúng
ta phải suy ngẫm: A Di Đà Phật kiến lập thế
giới Tây Phương cho đến nay bất quá mới
là mười kiếp, những vị ấy văng sanh đến
thế giới Cực Lạc, mười kiếp thành tựu.
Trong cơi này, dẫu mất ba đại A-tăng-kỳ kiếp
vẫn chưa đạt đến địa vị ấy,
phải mất vô lượng kiếp mới có thể
đạt đến địa vị ấy. Trong thế
giới Tây Phương, mười kiếp bèn đạt
được! Quư vị biết là nhanh chóng ngần nào!
Mười kiếp và vô lượng kiếp chẳng thể
sánh tầy! Nếu chúng ta lại quan sát cặn kẽ một
phen, sẽ hiểu thật rơ chân tướng. Nếu nói tu
hành trong thế giới Tây Phương mười kiếp
có thể đạt đến Đẳng Giác, khi A Di
Đà Phật kiến lập thế giới Tây
Phương, người văng sanh trong kiếp thứ nhất
nay đă thành tựu. Người văng sanh trong kiếp thứ
hai, cho đến hiện thời là chín kiếp, [lẽ ra]
vẫn chưa thành tựu. Nhưng kinh dạy rơ ràng: Trong
Tây Phương Cực Lạc thế giới, các vị
thượng thiện nhân chiếm tỷ lệ đại
đa số. Mười kiếp thành tựu th́ chẳng cần
phải nói năng chi nữa. [Những người văng sanh
trong] kiếp thứ hai cũng thành tựu, kiếp thứ
ba cũng thành tựu, cho đến những người [cho
đến khi Cực Lạc đă thành lập] năm kiếp
rồi mới văng sanh, nay cũng đă thành tựu. Tỷ
lệ ấy mới là năm mươi năm mươi,
chẳng thể nói là đại đa số. Đa số
th́ mức độ thấp nhất là kiếp thứ sáu mới
văng sanh, cũng đă thành tựu. Như vậy th́ chúng ta
có thể rút ra một kết luận: Đến Tây
Phương Cực Lạc thế giới, chứng địa
vị Đẳng Giác, đại khái chỉ cần từ
ba kiếp cho đến bốn kiếp. Trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới, thượng
thiện Bồ Tát mới là đại đa số! Quan sát
như vậy, quư vị mới có thể thấy và hiểu
thế giới Tây Phương thù thắng: Trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới, lũ phàm phu chúng
ta văng sanh cũng chẳng quá ba bốn kiếp bèn có địa
vị b́nh đẳng với Văn Thù, Phổ Hiền. C̣n
có thế giới nào khác nhanh chóng như vậy hay chăng?
Quư vị đă hiểu rơ chân tướng sự thật
này, c̣n có thể nói là chẳng sanh về đó hay chăng?
Sức mạnh nào cũng đều chẳng thể
ngăn trở, chẳng văng sanh sẽ không được!
Sanh đến các thế giới ở phương khác, dẫu
cho duyên tốt đẹp, cũng phải mất ba đại
A-tăng-kỳ kiếp hoặc vô lượng kiếp, phải
tốn thời gian lâu ngần ấy. Do vậy, các đồng
tu đọc kinh, hăy tính toán cặn kẽ, quư vị mới
biết [nên làm như thế nào]. Sau đó, tuân thủ giáo
huấn của Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát: “Nhất tâm xưng niệm, buông
xuống muôn duyên”.
Đời
này, quư vị phát nguyện cầu sanh Tây Phương, tu học
pháp môn Niệm Phật, suốt một đời
nương vào một bộ kinh, một câu danh hiệu, quư
vị là bậc thượng thượng căn, chẳng
có ai thù thắng hơn quư vị. Quư vị quyết định
được văng sanh! Quư vị ngại một bộ kinh
rất buồn tẻ, quá ít, được rồi, hăy niệm
Tịnh Độ năm kinh một luận, quư vị là hạng
trung căn. Chê năm kinh một luận c̣n ít, lại thêm một
chút, niệm các kinh sách Tịnh Độ nhiều hơn một
chút, Tịnh Độ Thập Yếu, Ấn Quang Đại
Sư Văn Sao. Hiện thời, Đài Loan biên tập Tịnh
Độ Tùng Thư có tới hai mươi mấy tập,
quư vị phát tâm niệm những thứ ấy, quư vị
là kẻ hạ căn, chắc cũng c̣n có thể văng sanh,
nhưng không nhất định! Nếu nói những thứ
ấy vẫn chưa đủ, vẫn mong niệm [kinh sách
của] Thiên Thai, Duy Thức, Hoa Nghiêm, lại niệm những
kinh luận khác, chỉ có thể nói là quư vị gieo một
tí thiện căn trong Phật môn, quyết định luân
hồi, chẳng thể văng sanh! Cổ nhân thường nói:
“Thân người khó được,
Phật pháp khó nghe”. Nhất là đối với pháp môn
này, lỡ làng đời này, thật sự quá đáng tiếc.
Chúng ta có thiện căn hay không? Có phước đức
hay không? Hăy nh́n từ chỗ này! Thâm nhập một môn,
đó là thiện căn và phước đức sâu dầy
khôn sánh. Hễ c̣n phải học tràn lan khá nhiều pháp môn,
tín tâm sẽ chẳng thể kiến lập, chẳng thể
viên giải, chẳng nhận thức Tịnh Độ rơ
ràng. Đó là thiện căn mỏng manh, mà phước
đức cũng mỏng tanh!
Hoa Nghiêm cũng đề cao pháp
môn này, tỳ-kheo Đức Vân là vị thiện tri thức
thứ nhất mà Thiện Tài đến tham phỏng. Vị
đầu tiên rất quan trọng, thế tục thường
nói: “Tiên nhập vi chủ”,
[ư nói] giáo huấn của vị thiện tri thức đầu
tiên thường tạo ảnh hưởng suốt một
đời người [đến tham học, tiếp
xúc]. Ngài Đức Vân dạy pháp môn Niệm Phật, vị
cuối cùng kết thúc là Phổ Hiền Bồ Tát, càng nói
minh bạch hơn, mười đại nguyện
vương dẫn về Cực Lạc. Vào đời
Thanh trước kia, cư sĩ Bành Tế Thanh đă tổng
hợp các phương pháp tu hành trong kinh Hoa Nghiêm, viết
thành một bài có tựa đề là Hoa Nghiêm Niệm Phật
Tam Muội Luận, chỉ rơ tổng cương lănh và tổng
phương hướng tu hành trong kinh Hoa Nghiêm chính là niệm
Phật cầu sanh Tịnh Độ. Nếu vẫn chẳng
tin tưởng lời này, hết cách! Vậy th́ hăy cứ
thong thả luân hồi, nhiều đời nhiều kiếp
sau, khi thiện căn đă từ từ chín muồi, sẽ
lại gặp gỡ! Đối với sự luân chuyển
ấy, chư vị phải hiểu: Trong các đồng tu
đang hiện diện tại đây, có rất nhiều vị
[lẽ ra] đă thành Phật, đă sớm thành Phật,
nhưng [cho đến nay vẫn phải luân hồi trong lục
đạo] là v́ họ đă bán tín bán nghi pháp môn này. Quư vị
nói xem: Chênh lệch quá lớn! Quá ư to lớn! Những lời
này đều là lời thật thà!
Chúng
ta đọc đoạn kinh văn này, liễu giải ư
nghĩa này, sẽ đạt được lợi ích chân
thật. “Đức Vân tỳ-kheo
cáo Thiện Tài ngôn” (tỳ-kheo Đức Vân bảo Thiện
Tài rằng), Thiện Tài đến tham phỏng, Ngài (tỳ-kheo
Đức Vân) bèn khai thị cho Thiện Tài: “Ngă đắc ức niệm nhất
thiết chư Phật cảnh giới” (Ta đắc
môn nghĩ nhớ cảnh giới của hết thảy
chư Phật). Cảnh giới của chư Phật là cảnh
giới nơi quả địa của Như Lai. Cảnh
giới được chứng đắc bởi một
vị Phật là cảnh giới an trụ của hết
thảy chư Phật. V́ thế, có thể nói là “hết thảy
chư Phật”. Kinh Di Đà nói “chư
Phật”, trong chú giải, tổ Liên Tŕ và Ngẫu Ích
đại sư đă thẳng thừng chỉ ra: “
(Sao)
Kim vị tâm ngoại vô cảnh giới, tâm ngoại vô trí
chiếu, tâm ngoại vô hư không, cố bất xuất nhất
tâm, tất giai cụ túc.
(鈔)今謂心外無境界,心外無智照,心外無虛空,故不出一心,悉皆具足。
(Sao: Nay nói là “ngoài tâm
không có cảnh giới, ngoài tâm chẳng có trí chiếu, ngoài
tâm chẳng có hư không”. V́ thế, chẳng ra ngoài nhất
tâm mà thảy đều trọn đủ).
Đoạn
văn này khẩn yếu, không chỉ là hai mươi mốt
môn [Niệm Phật] do tỳ-kheo Đức Vân đă nói “bất xuất nhất tâm”
(chẳng ra ngoài nhất tâm). Trong phần trước, chúng
ta đă đọc thấy [Liên Tŕ đại sư khẳng
định] mười tâm trong kinh Bảo Tích, tám pháp trong
kinh Tịnh Danh và mười tâm trong kinh Hoa Nghiêm, cho đến
những điều được dạy trong hết thảy
các kinh luận, kể cả Thiền và Mật đều
chẳng ra ngoài nhất tâm. Pháp môn này trực tiếp tu nhất
tâm, dùng phương pháp đơn giản nhất để
tu nhất tâm là “một câu A Di Đà Phật”, c̣n dễ dàng
hơn [so với cách tu của] tỳ-kheo Đức Vân rất
nhiều. Bất cứ cách niệm Phật hay tu học nào
cũng đều rắc rối hơn chấp tŕ danh hiệu.
Người thông minh chọn lựa cách đơn giản
nhất, dễ dàng nhất, thẳng chóng nhất, ổn thỏa,
thích đáng nhất, nhanh lẹ nhất, mới được
coi là người thật sự có trí huệ, đă chọn
lựa đúng đắn. Có người nói: “Ta phải học
nhiều hơn, biết nhiều hơn”, có đúng là quư vị
học nhiều hơn sẽ biết nhiều hơn hay
chăng? Giảng về Huyền Nghĩa kinh Hoa Nghiêm, trong
phần Giải Thích Tựa Đề Kinh, Thanh Lương
đại sư đă nói “hữu
giải vô hạnh”, nghĩa là quư vị học rộng
nghe nhiều, nhưng chẳng có công phu Giới Định
Huệ, chẳng thật sự tu hành, kết quả là “tăng trưởng tà kiến”.
Nếu quư vị hỏi v́ sao tăng trưởng tà kiến
ư? Tâm tà! Do tâm tà, thấy hết thảy các pháp đều
tà, thấy Phật pháp cũng tà, đạo lư là như vậy
đó. Nương theo Giới Định Huệ để
tu hành, tâm bèn tịnh. Tâm tịnh, thấy hết thảy Phật
pháp đều tịnh, thấy hết thảy các pháp thế
gian cũng tịnh. Một tịnh, hết thảy tịnh,
một tà, hết thảy tà, phải hiểu rơ chuyện
này, vàn muôn phần chớ nên đi lầm đường!
Qua
Tứ Hoằng Thệ Nguyện, đức Phật đă
dạy chúng ta thứ tự tu học, tương ứng với
hết thảy những điều được giảng
trong kinh luận Đại Thừa. Điều thứ nhất
trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện là phát tâm độ
chúng sanh, bỏ ḿnh v́ người, phải phát đại
tâm này. Hy sinh chính ḿnh để thành tựu người
khác, đấy là Bồ Tát phát tâm, là Đại Bồ
Đề tâm. Bắt tay vào tu hành, trước hết là
đoạn phiền năo, “phiền
năo vô tận thệ nguyện đoạn”, sau đấy
mới lại học pháp môn. Phiền năo là độc; tham,
sân, si là Tam Độc! Chẳng trừ
hết độc, tuy pháp ấy là Đề Hồ [đă
bị xen tạp chất độc]. Trong kinh thường
có tỷ dụ: Chúng ta lấy cái chén, cái chén ấy
được gọi là “khí”
(器: vật
dụng). Trước kia, nó chứa độc dược. Không
chỉ chẳng trừ sạch độc dược, mà
độc dược vẫn c̣n, rót Đề Hồ vào đó,
Đề Hồ cũng biến thành độc dược,
chuyện là như thế đó. Ắt phải gột rửa
sạch sẽ, độc tiêu trừ hết th́ [cái chén ấy]
mới gọi là Khí, tức pháp khí! Phiền năo vô tận thệ
nguyện đoạn: Đoạn hết phiền năo th́ quư
vị mới là pháp khí, sau đấy mới có thể chứa
Đề Hồ, mới có thể học rộng nghe nhiều.
Người tu học trong hiện thời chẳng nhấn
mạnh điều này. Nói cách khác, đă lấy cái chén chứa
độc dược để đựng Đề Hồ.
Đề Hồ là thứ tốt đẹp, là cam lộ, [thế
mà] uống vào, người ấy chết tươi, chẳng
có kẻ nào không chết! Chẳng lẽ là cam lộ Đề
Hồ có khuyết điểm hay chăng? Chẳng có khuyết
điểm! Quư vị dùng cái chén đă đựng độc
dược, mà chẳng tiêu trừ chất độc ấy,
chẳng rửa sạch sẽ, đạo lư ở ngay chỗ
này. V́ thế, bước đầu tiên trong tu học là
đoạn phiền năo. Đoạn phiền năo là tiêu độc,
thành tựu pháp khí của chính ḿnh, sau đấy mới lại
“pháp môn vô lượng thệ
nguyện học”. Do đó, nó thuộc vào giai đoạn
thứ hai.
Các
vị đại đức từ xưa, người thời
cổ và người hiện thời khác nhau. Thời cổ,
ḷng người thuần hậu, cuộc sống của mọi
người trong xă hội cũng đơn thuần, cảnh
giới bên ngoài chẳng có ǵ dụ dỗ, mê hoặc. Từ
bé đă bồi dưỡng cái tâm hiếu kính, cái tâm thuần
hậu, cho nên thời gian tiêu độc
của họ ngắn ngủi. Cổ nhân học giới
năm năm, có những người [làm như thế] năm
năm hoặc mười năm, đúng là thân tâm thanh tịnh,
tiếp nhận Phật pháp, chẳng cần mất một
thời gian rất dài bèn khai ngộ chứng quả. V́ sao?
Bản thân người ấy là pháp khí, độc tố
ô nhiễm rất nhẹ, rất dễ gột trừ.
Người hiện thời th́ không được, hoàn cảnh
xă hội hiện tại là một cái ṿ nhuộm to, tức
là cái ṿ nhuộm Tam Độc. Trước kia, chẳng cần
nói rất xa, nay tôi đă bảy mươi tuổi. Tôi sanh
trưởng ở nông thôn, đến mười bốn tuổi
tôi mới hiểu chuyện. Trước đó, đúng là
ngây thơ, ngờ nghệch, chuyện ǵ cũng đều
chẳng hiểu. Mỗi ngày, trừ học hành ra bèn chơi
đùa, tuổi thơ hạnh phúc. Trẻ nít hiện thời
đáng ngại quá! Từ lúc mở mắt ra, chúng đă xem
TV, mọi thứ loạn cào cào trong TV chúng đều học
được, thứ ǵ cũng đều hiểu. Trẻ
một hai tuổi thứ ǵ cũng đều hiểu, nó
biết quan sát vẻ mặt, biết nịnh nọt
người khác, c̣n làm sao được nữa! Nói cách
khác, đến mười bốn, mười lăm tuổi,
chúng tôi mới dần dần lây nhiễm bầu không khí
trong xă hội. Trẻ con hiện thời vừa mở mắt
ra bèn bị ô nhiễm, làm thế nào được nữa!
Sức
dụ dỗ, mê hoặc trong xă hội vượt trỗi
xưa kia mấy trăm lần, mấy ngàn lần! Trong quá
khứ, năm năm [học giới] có thể gột rửa
sạch sẽ thân tâm, hiện thời, tôi thấy tốn
năm mươi năm vẫn chẳng gột sạch
được! Lời tôi nói là thật, làm thế nào
đây? Do vậy, tôi thường khuyên lơn, khích lệ mọi
người: Hăy đem nửa đoạn sau [trong Tứ Hoằng
Thệ Nguyện] là “pháp môn vô
lượng thệ nguyện học” và “Phật đạo vô thượng thệ nguyện
thành” sang thực hiện bên Tây Phương Cực Lạc
thế giới. Trong cuộc đời này, chuyên môn gột
rửa thân tâm của chính ḿnh. Tâm tịnh, cơi nước tịnh,
như vậy th́ mới có thể văng sanh. Tâm chẳng thanh
tịnh, chẳng thể văng sanh, phải biết điều
này. Cổ nhân có thể học rộng nghe nhiều, v́ sao? Độc
tố cạn, từ năm năm đến mười
năm có thể gột sạch; sau đó, họ mới có
thể học rộng nghe nhiều, có thể thành tựu. Người
hiện thời không được, người hiện
thời đúng là năm mươi năm vẫn chẳng
thể gột sạch! Gột rửa không sạch, học
rộng nghe nhiều sẽ đạt được kết
quả như Thanh Lương đại sư đă giảng:
“Tăng trưởng tà kiến”.
Cớ ǵ cứ phải làm như vậy? Người ấy
chẳng tăng trưởng trí huệ, mà tăng trưởng
tà kiến. Điều này rất đáng sợ, trong tương
lai vẫn phải tiếp tục luân hồi trong lục
đạo. Chúng ta phải hiểu rơ đạo lư này,
cũng phải hiểu rơ chân tướng sự thật,
chính ḿnh có thể hạ quyết tâm: Trong đời này,
chúng ta học hai câu đầu trong Tứ Hoằng Thệ
Nguyện, nguyện phải rộng lớn, kiên cố, phải
nghiêm túc niệm Phật. Dùng câu Phật hiệu để
tiêu trừ nghiệp chướng, gột rửa thân tâm, trong
tương lai, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế
giới thấy A Di Đà Phật. Khi ấy, sẽ là pháp môn
vô lượng thệ nguyện học, rất nhanh chóng!
Như vậy th́ văng sanh mới nắm chắc, không đến
nỗi bỏ lỡ cơ duyên khó có trong một đời
này, duyên phận ấy hết sức khó có. Một câu Phật
hiệu bao gồm trọn hết pháp môn Niệm Phật của
tỳ-kheo Đức Vân.
“Kim vị” (nay nói), “kim” (今) là nói tới những
điều được nói trong kinh này. “Tâm ngoại vô cảnh giới, tâm ngoại vô trí chiếu”
(Ngoài tâm chẳng có cảnh giới, ngoài tâm chẳng có trí
chiếu): Quang minh của chư Phật Như Lai chiếu
trọn khắp, cảnh giới viên măn do chư Phật
Như Lai đă chứng đều thuộc trong nhất
tâm xưng niệm. V́ vậy, điều khẩn yếu nhất
trong niệm Phật là phải nhất tâm xưng niệm.
Niệm Phật chớ nên dấy vọng tưởng, dấy
vọng tưởng là xen tạp, công phu chẳng đạt
được. Nhưng có ai niệm Phật chẳng dấy
vọng tưởng? Đây là một vấn đề rất
nghiêm trọng. Dấy vọng tưởng là xen tạp nghiêm
trọng, công phu chẳng đắc lực. Nếu muốn
không dấy vọng tưởng, ắt phải buông xuống
vạn duyên, nhưng trần duyên thường khăng
khăng chẳng buông xuống được! Có một vị
đồng tu rất cảm khái nói: “Tôi chuyện ǵ cũng
có thể buông xuống, nhưng chẳng bỏ con cháu
được”. Vậy là chẳng có cách nào hết! Hễ
có chuyện ǵ không bỏ xuống được, sẽ là
đại chướng ngại, chẳng thể không
lưu ư điều này. Hết thảy buông xuống, tạp
niệm của quư vị tự nhiên ít đi.
Trong
hoàn cảnh thực tế, trong thời gian dài, vọng niệm
lại xen tạp. Trong thời gian ngắn, khống chế
dễ dàng. Quư vị bèn hiểu: Thời gian tu hành ngắn
bèn có sức mạnh, chúng ta chọn lấy thời gian ngắn.
Tôi dạy các đồng tu pháp Thập Niệm. Pháp Thập
Niệm là [niệm Phật] mười câu, không giống
cách của pháp sư Từ Vân Quán Đảnh. Pháp Thập Niệm
do pháp sư Từ Vân truyền dạy th́ một hơi
được gọi là một niệm, chỉ dùng trong
công khóa sớm tối. Tôi dạy “mười niệm” chính
là mười câu danh hiệu, trong một hơi đă niệm
xong, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật,
câu này tiếp theo câu kia, xác thực là chẳng có tạp niệm.
Mười câu là một lần công khóa viên măn, chẳng có tạp
niệm. Nhưng một ngày phải thực hiện chín lần
th́ mới có hiệu quả, nghĩa là cách một khoảng
thời gian, chẳng dài, ta lại tu một lần. Chín lần
tu hành chẳng thể thiếu lần nào; thời gian ấn
định vào khi nào? Buổi sáng thức dậy, sau khi rửa
mặt, súc miệng, chắp tay cung kính, buông hết thảy
niệm xuống, niệm Phật mười tiếng.
Đó là “tịnh niệm tiếp
nối”, xác thực là “nhiếp
trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối”
như Đại Thế Chí Bồ Tát đă nói, thời gian
chỉ cần một phút. Lần thứ hai là khi ăn
điểm tâm, giáo đồ nhà Phật thường niệm
chú cúng dường: “Cúng dường
Phật, cúng dường Pháp, cúng dường Tăng, cúng
dường hết thảy chúng sanh”. Nói thật ra là “miệng
có, tâm không”, ăn cơm bèn ca xướng một chút, chẳng
có tác dụng ǵ, chẳng bằng chắp tay cung kính, vạn
duyên buông xuống, niệm mười câu Phật hiệu, thân
tâm thanh tịnh. Ăn cơm như vậy sẽ hữu
ích cho tiêu hóa, lợi ích rất nhiều. Lần thứ ba
là lúc đi làm, trước khi bắt đầu làm việc,
trước hết, chắp tay niệm mười câu Phật
hiệu, đầu óc sáng suốt, xử sự càng có lớp
lang. Lần thứ tư là khi đă làm xong công việc buổi
sáng, khi tan tầm lại niệm một lần. Lần thứ
năm là khi ăn cơm trưa, lần thứ sáu khi trở
lại làm việc vào buổi chiều, lần thứ bảy
là buổi chiều lúc tan sở, lần thứ tám là niệm
khi ăn cơm chiều, lần thứ chín là niệm
trước khi ngủ. Một ngày chín lần công khóa, chẳng
thể thiếu lần nào, nhưng mỗi lần công khóa
chỉ cần một phút. Chúng ta dùng chín lần ấy làm “định khóa” (定課: công khóa nhất
định), coi những lần khác là “tán khóa” (散課). Tán khóa niệm Phật
là hễ chẳng có việc ǵ bèn niệm Phật. Tôi dạy
phương pháp này cho không ít người, họ tu trong hai
tuần liền cho tôi biết: “Hết sức hoan hỷ, rất
có thọ dụng”. Đây là thích ứng với thời
đại này, mọi người công việc bận rộn,
[tu kiểu này] chẳng trễ tràng công việc của quư vị,
chắc chắn là hữu ích cho công việc. Trong khi quư vị
tâm t́nh bất ổn, vừa niệm mười tiếng Phật
hiệu, tâm b́nh khí ḥa, hết sức hữu hiệu. Chuyện
này phù hợp “nhiếp trọn
sáu căn, tịnh niệm tiếp nối”, dùng phương
pháp này hết sức tốt đẹp. Quư vị tự
ḿnh tu, đạt được lợi ích, lại giới
thiệu cho người khác. Giới thiệu những
phương pháp khác cho người khác, người ta rất
khó tiếp nhận, thời gian quá dài! Khóa sớm phải
niệm rất nhiều kinh, rất nhiều chú, niệm rất
nhiều danh hiệu Phật, Bồ Tát, họ đâu có nhiều
thời gian như vậy. Cách này chỉ cần một
phút, họ sẽ vui vẻ thực hiện.
Nhất
tâm xưng niệm, cảnh giới và trí chiếu của Như
Lai thảy đều ở trong đó. “Bất xuất nhất tâm, tất giai cụ túc” (Chẳng
ra ngoài nhất tâm, thảy đều trọn đủ), vô
lượng vô biên pháp môn của chư Phật Như Lai thảy
đều trọn đủ. Do đó, mười câu này có
công đức chẳng thể nghĩ bàn!
(Sao)
Na Tiên kinh vân: “
(鈔)那先經云:諸善之中,獨有一心,最為第一。
(Sao: Kinh Na Tiên[2] chép: “Trong các
điều thiện, chỉ có nhất tâm thật là bậc
nhất”).
Niệm
Phật là tu nhất tâm trực tiếp. Đắc nhất
tâm, hết thảy các pháp thảy đều trọn đủ.
V́ thế nói là “chẳng cậy
vào phương tiện, tự được tâm khai”.
Tâm khai ư giải chính là đại triệt đại ngộ
trong Thiền Tông, hoặc đại khai viên giải trong Giáo
Hạ. Nhập cảnh giới ấy, hễ quư vị tiếp
xúc hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian
bèn thông đạt, hiểu rơ.
(Sao)
Nhất kỳ tâm giả, chư thiện tùy chi, chánh thử
ư dă.
(鈔)一其心者,諸善隨之,正此意也。
(Sao: Cái tâm đă chuyên
nhất th́ các điều thiện đều thuận theo,
chính là ư này vậy).
Thật
sự đắc nhất tâm, hết thảy thiện pháp thế
gian và xuất thế gian tự nhiên trọn đủ.
Không chỉ là trọn đủ, mà c̣n tự nhiên viên măn,
đúng là “một tu, hết thảy
tu”.
(Sớ)
Hựu thử nhất tâm, tức tác thị nhị
nghĩa cố.
(疏)又此一心,即作是二義故。
(Sớ:
Nhất tâm lại chính là hai nghĩa “làm” và “là”).
“Tác thị” là ǵ? Kinh Quán Vô
Lượng Thọ Phật nói: “Thị
tâm tác Phật, thị tâm thị Phật” (Tâm này làm Phật,
tâm này là Phật). Nhất tâm có ư nghĩa này, trong phần lời
Sao sẽ giảng cặn kẽ.
(Sao)
Quán Kinh vân.
(鈔)觀經云。
(Sao:
Quán Kinh nói).
Điều
này phát xuất từ kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật.
(Sao)
Tâm tưởng Phật thời, thị tâm tác Phật, thị
tâm thị Phật. Kim vị thử kinh nhất tâm tŕ danh,
diêu thử nhất tâm, chung đương tác Phật, tùng
nhân chí quả, danh chi viết Tác.
(鈔)心想佛時,是心作佛,是心是佛。今謂此經一心持名,繇此一心,終當作佛,從因至果,名之曰作。
(Sao: “Khi tâm tưởng
Phật, tâm này làm Phật, tâm này là Phật”. Nay kinh này nói
“nhất tâm tŕ danh”, do nhất tâm ấy, cuối cùng sẽ
thành Phật. Từ nhân đến quả, nên gọi là
Làm).
Sớ
và Sao đều do Liên Tŕ đại sư tự viết. Lời
giải thích này đúng là đơn giản, minh bạch. V́
hai câu ấy trong Quán Kinh rất khó hiểu. Thoạt xem th́
dường như rất nông cạn, dễ hiểu; thật
ra, hết sức sâu xa, uyên áo. Trong kinh Đại Thừa,
đức Phật thường nói: “Hết thảy các pháp do tâm tưởng sanh”.
Đức Phật nói câu này rất nhiều lượt, [v́
thế], câu này hết sức trọng yếu. Hết thảy
các pháp, bao gồm pháp thế gian và pháp xuất thế gian.
Pháp xuất thế gian như y báo và chánh báo trang nghiêm của
Tỳ Lô Giá Na Phật hoặc Tây Phương Cực Lạc
thế giới của A Di Đà Phật. Đó là nh́n lên
trên. Nh́n xuống dưới, th́ là lục đạo chúng
sanh trong hết thảy các thế giới, cho đến ba
ác đạo. Hết thảy các pháp do đâu mà có? Từ
tâm tạo ra. Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Ưng quán pháp giới tánh, nhất thiết duy tâm tạo”
(Hăy nên quán tánh pháp giới, hết thảy chỉ do tâm tạo).
Kinh luận Pháp Tướng Duy Thức bảo chúng ta: “Tâm năng hiện tướng,
thức năng biến dị” (tâm có thể hiện
tướng, thức có thể biến đổi khác), hiện
tướng là tác dụng của tâm, đó gọi là “vạn pháp duy tâm”. Tâm hiện
ra, sau khi đă hiện ra, tướng ấy bèn dấy lên
sự biến hóa. Biến hóa là tác dụng của điều
ǵ? Thức. “Vạn pháp duy thức”,
duy tâm sở hiện, duy thức sở biến. Mười
pháp giới bất đồng là do thức biến. Thức
là tâm tưởng sanh khởi. Tâm tưởng là thức, thức
có thể tưởng. Chân tâm bản tánh chẳng tưởng,
trong ấy chẳng có tưởng; hiện tướng th́
chẳng có tưởng. Do tưởng bèn khởi biến
hóa, đó là chân lư. Biết chân lư này, mười pháp giới
sanh từ tâm tưởng, tâm chúng ta tưởng Phật bèn
biến ra Phật pháp giới. Tưởng A Di Đà Phật
bèn biến ra pháp giới của A Di Đà Phật, tưởng
Dược Sư Phật bèn biến ra pháp giới của Dược
Sư Phật, tưởng ǵ biến nấy!
Mười
pháp giới do đâu mà có? Chẳng phải do Phật, Bồ
Tát kiến tạo mười pháp giới ḥng thưởng
phạt chúng ta. [Nếu nghĩ như vậy], sai mất rồi!
Chẳng có lẽ ấy! [Mười pháp giới] do tâm của
chính ḿnh biến hiện. [Những điều] chúng tôi
nghĩ: Nói thật ra, quá phức tạp, đặc biệt
là đối với người học Phật; do người
học Phật hằng ngày suy tưởng, nên mười pháp
giới đều có. Niệm A Di Đà Phật, tưởng
Phật, đó là Phật pháp giới. Đợi một lát
sau, quên bẵng, muốn đi kiếm tiền, kiếm nhiều
hơn một chút, tâm tham dấy lên, ngay lập tức
đọa trong ngạ quỷ pháp giới. Gặp chuyện
chẳng như ư, nổi cáu, sân hận, đó là địa
ngục pháp giới. Nh́n sai sự việc, coi giả là thật,
ngỡ thật là giả, chẳng rơ đúng sai, đen trắng
điên đảo, đó là súc sanh pháp giới. Từ sáng
đến tối, niệm nào cũng đều tưởng.
Quư vị tưởng pháp giới nào trong thời gian dài, sức
mạnh của sự tưởng pháp giới ấy sẽ
to lớn, trong tương lai sẽ là “cường giả tiên khiên” (cái nào mạnh bèn lôi
đi trước). Khi quư vị thọ quả báo, cái tưởng
nào có sức mạnh sẽ lôi quư vị đi thọ báo
trước, đạo lư là như vậy đó. Tâm tham nặng
nề biến thành ngạ quỷ, tâm sân khuể nặng nề
sẽ đọa địa ngục, do ngu si nặng nề
bèn biến thành súc sanh. Do nhân luân, đạo đức, Ngũ
Giới, Thập Thiện, sẽ được làm thân
người, thượng phẩm [Thập Thiện] bèn
sanh trong Dục Giới Thiên. Do vậy, hết thảy các
pháp đều sanh từ tâm tưởng.
Cũng
có lẽ phải hỏi: Phật nhiều ngần ấy,
thế giới Phật lắm như thế, v́ sao cứ
khăng khăng bảo chúng ta tưởng A Di Đà Phật?
Thật ra, không nhất định! Quư vị tưởng
đức Phật khác vẫn được, đều
có thể thành tựu. Chúng ta khăng khăng tưởng A
Di Đà Phật là v́ chúng ta tuân theo lời thầy răn dạy.
Thầy dạy như vậy, chúng ta học theo như vậy,
chúng ta tôn sư trọng đạo. Huống hồ Bổn
Sư Thích Ca giáo huấn chúng ta như vậy, lại c̣n
được mười phương hết thảy
chư Phật Như Lai khuyên dạy [như vậy],
[tưởng, niệm] A Di Đà Phật há c̣n có thể sai
lầm được ư? Chúng ta đọc kinh luận
văng sanh, biết Phật Di Đà và thế giới chúng ta
đặc biệt hữu duyên, lại c̣n có chuyện thù thắng
nhất, khó có nhất là đới nghiệp văng sanh. Trong
các cơi của chư Phật Như Lai khác, chẳng hề
nói đới nghiệp văng sanh. Nói cách khác, nếu quư vị
chuyên tưởng, tưởng sẽ sanh ra sức mạnh
to lớn, mạnh mẽ. Sức mạnh ǵ vậy? Đoạn
phiền năo. Trong tâm quư vị chỉ có một vị Phật
này, hết thảy các tạp niệm khác đều chẳng
có. Đó là Định. Hễ có công phu định lực
này, quyết định có thể văng sanh.
Chúng
ta tưởng A Di Đà Phật mà chẳng đắc Định,
là v́ sao? Tưởng A Di Đà Phật mà phần lớn thời
gian vẫn c̣n dấy vọng tưởng, cũng có thể
văng sanh, đó gọi là “đới
nghiệp văng sanh”. V́ sao dấy những vọng tưởng
khác mà vẫn có thể văng sanh? Kinh Vô Lượng Thọ
đă dạy điều kiện để văng sanh là “phát Bồ Đề tâm, một
mực chuyên niệm”. Chúng ta tin tưởng có Tây
Phương Cực Lạc thế giới, tin có A Di Đà Phật,
tin A Di Đà Phật tiếp dẫn hết thảy chúng sanh,
bao gồm cả bản thân chúng ta trong số đó, phát
nguyện quyết định cầu sanh Tịnh Độ,
đó là “phát Bồ Đề
tâm”. Công phu tu hành là “một
mực chuyên niệm”. Trong chú giải kinh Vô Lượng
Thọ, cư sĩ Hoàng Niệm Tổ khi chú giải đoạn
kinh này, đă trích dẫn khai thị của cổ đức:
Người dẫu công việc rất bề bộn, chọn
lựa pháp Sáng Chiều Mười Niệm của pháp
sư Từ Vân, thọ tŕ cho đến hết đời
chẳng thiếu ngày nào, cũng phù hợp với [yếu
chỉ] “một mực chuyên niệm”.
Dựa trên trường hợp này để suy diễn,
tôi dạy chư vị đồng tu pháp Thập Niệm,
mỗi ngày chín lượt, chẳng thiếu lượt
nào, đương nhiên càng phù hợp [yếu chỉ] “một mực chuyên niệm”.
Nếu thật sự suốt đời chẳng thiếu
một lượt nào, quyết định được
văng sanh. Cách niệm này so với cách niệm mười
hơi của ngài Từ Vân Quán Đảnh, mỗi ngày chỉ
niệm hai lần, hiệu quả phải to hơn. V́ sao? Thời
thời khắc khắc nhắc nhở [chúng ta] tưởng
A Di Đà Phật. Khi tâm tưởng Phật, thời gian ngăn
cách rất ngắn, lập tức buông xuống hết thảy
để chuyên tưởng Phật. Tuy thời gian rất
ngắn, người ấy chuyên ṛng, chẳng có tạp niệm;
v́ thế, hiệu quả hết sức mạnh mẽ mà hữu
lực. Quư vị hăy dùng phương pháp này để tu. Khi
tâm tưởng Phật, tâm chúng ta bèn hiện cảnh giới
Phật; đó là “tâm này làm Phật,
tâm này là Phật”. Đối với “tâm làm, tâm là”, sách Diễn Nghĩa có chú giải.
(Diễn)
Tâm tưởng Phật thời, thị tâm tác Phật giả,
Quán Kinh vân: “Nhữ đẳng tâm tưởng Phật thời,
thị tâm tức thị tam thập nhị tướng,
bát thập tùy h́nh hảo, thị tâm tác Phật, thị tâm
thị Phật”.
(演)心想佛時,是心作佛者,觀經云:汝等心想佛時,是心即是三十二相八十隨形好,是心作佛,是心是佛。
(Diễn: “Khi tâm
tưởng Phật, tâm này là Phật”: Quán Kinh nói: “Khi tâm
các ông tưởng Phật, tâm này chính là ba mươi hai tướng,
tám mươi tùy h́nh hảo, tâm này làm Phật, tâm này là Phật”).
Đó
là kinh văn trích từ Quán Kinh.
(Diễn)
Kim thích thị tâm tác Phật giả, Tác hữu nhị
nghĩa.
(演)今釋是心作佛者,作有二義。
(Diễn: Nay giải
thích câu “tâm này làm Phật”, Tác có hai nghĩa).
“Tác” có hai ư nghĩa.
(Diễn) Nhất, tịnh tâm năng cảm tha
phương ứng Phật, cố danh “thị tâm tác Phật”,
tức sớ văn sở vị “Phật bổn thị
vô, tâm tịnh cố hữu” dă.
(演)一、淨心能感他方應佛,故名是心作佛,即疏文所謂佛本是無,心淨故有也。
(Diễn: Một là tịnh
tâm có thể cảm ứng Phật ở phương khác,
nên gọi là “tâm này làm Phật”, tức là như lời Sớ
đă viết: “Phật vốn là không, do tâm tịnh mà có”).
Phật
chẳng có thân, người sơ học nghe nói “chẳng
có thân” đều sợ hăi. Chẳng có thân đáng ngán quá! Luôn
mong có cái thân, đó là ǵ? Thân Kiến, Ngă Chấp, v́ quan niệm
ấy quá kiên cố, khiến cho quư vị từ vô lượng
kiếp tới nay đời đời kiếp kiếp
đều lưu chuyển trong luân hồi, vĩnh viễn
chẳng thể vượt thoát. Do nguyên nhân ǵ? Đó là do sức
mạnh to lớn, mạnh mẽ lôi kéo quư vị, quư vị
chẳng có cách nào thoát ĺa. Khi Phật giáo chưa truyền
đến Trung Hoa, Lăo Tử của Đạo Gia đă từng
nói một câu: “Ngô hữu đại
hoạn, vị ngô hữu thân”, [tức là] Ngài nói ta có mối
lo âu lớn nhất là ta có thân. Thân đúng là mối họa
hoạn lớn! Chẳng trừ Thân Kiến, không chỉ chẳng
thể thoát khỏi tam giới, mà Sơ Quả c̣n trọn chẳng
thể chứng đắc, v́ Sơ Quả phải đoạn
Hoặc. Trong tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc,
điều thứ nhất là đoạn Thân Kiến. Do vậy,
Phật chẳng có thân, Phật là tận hư không khắp
pháp giới không nơi đâu chẳng tồn tại, giống
như hư không, nơi nào có cảm, liền hiện thân nơi
đó, tuyệt diệu! V́ chẳng có thân, cho nên có thể
hiện hết thảy thân. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Tùy chúng sanh tâm, ứng sở tri
lượng” (Tùy thuận cái tâm của chúng sanh mà ứng
hiện phù hợp với khả năng nhận biết của
họ). “Ứng” (應) là Ứng Thân, Ứng
là tương ứng với tâm cảm của chúng sanh. Tâm
chúng sanh có cảm, Phật bèn có ứng. Phật và Bồ
Tát, như Quán Thế Âm Bồ Tát đều là chẳng có
thân; nơi nào có niệm, các Ngài bèn hiện thân nơi
đó. Các Ngài không nơi đâu chẳng tồn tại, không
chỗ nào chẳng hiện thân, điều này được
gọi là “đắc đại
tự tại”! Chúng ta luôn chấp trước thân này là chính
ḿnh. V́ thế, chẳng thể hiện thân thứ hai, chẳng
thể hiện thân tận hư không khắp pháp giới,
khổ quá! Tổn thất to tát! V́ thế, [phải biết]
Phật là chân tâm, là bản tánh. Đây là ư nghĩa thứ
nhất [của chữ Tác]. Nói theo Lư, tâm chúng ta thanh tịnh,
tâm thanh tịnh bèn có cảm ứng. V́ sao? V́ chẳng có chướng
ngại.
Phật,
Bồ Tát chẳng có thân tướng, tận hư không khắp
pháp giới đều là [thân tướng của các Ngài],
có mối quan hệ hết sức mật thiết với
chúng ta. Chướng ngại ở chính bản thân chúng ta. Bản
thân chúng ta tâm chẳng thanh tịnh, chướng ngại ở
chính nơi chúng ta. Tâm chúng ta chẳng thanh tịnh, đó là
chướng ngại. V́ thế, Phật, Bồ Tát chẳng
thể hiện thân, sự cảm ứng giữa chúng ta và
các Ngài bị ngăn ngại. Tâm thanh tịnh, sự chướng
ngại ấy chẳng c̣n nữa. V́ thế, ta tưởng
Phật, Phật liền hiện tiền; tưởng Bồ
Tát, Bồ Tát liền hiện tiền, cảm ứng đạo
giao.
(Diễn)
Nhị, tam-muội năng thành kỷ chi quả Phật.
(演)二、三昧能成己之果佛。
(Diễn: Hai là tam-muội
có thể thành tựu quả Phật của chính ḿnh).
Cảnh
giới này cao lắm, tự ḿnh thành Phật.
(Diễn)
Cố danh thị tâm tác Phật, tức Sớ văn sở
vị diệc nhân tam muội tâm chung thành tác Phật dă.
Sơ tác tha Phật, thứ tác kỷ Phật.
(演)故名是心作佛,即疏文所謂亦因三昧心終成作佛也。初作他佛,次作己佛。
(Diễn: Cho nên gọi
là “tâm này làm Phật”, tức là như lời Sớ đă
nói: “Cũng do cái tâm tam-muội mà rốt cuộc thành Phật”.
Thoạt đầu là làm vị Phật khác, kế đó là
làm vị Phật của chính ḿnh).
Hai ư
nghĩa ấy. Chính ḿnh thành Phật, Thiền Tông nói hay lắm:
“Minh tâm kiến tánh, kiến tánh
thành Phật”. Nơi nào cơ duyên chín muồi, “đáng nên dùng thân Phật để
đắc độ, bèn hiện thân Phật để thuyết
pháp”. Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo bèn có năng lực
hiện thân Phật có ba mươi hai tướng, tám
mươi thứ hảo để v́ chúng sanh thuyết
pháp. Đó là ư nghĩa thứ hai của “tâm này làm Phật”. Hôm nay chúng tôi giảng tới
chỗ này.
Tập
240
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang bốn trăm sáu mươi bốn:
(Diễn)
Thị tâm thị Phật giả, Thị diệc nhị
nghĩa.
(演)是心是佛者,是亦二義。
(Diễn: “Tâm này là Phật”,
chữ Là cũng có hai nghĩa).
Chữ
“Thị” cũng có hai ư
nghĩa.
(Diễn)
Nhất, tâm tức Ứng Phật, cố danh “thị tâm thị
Phật”, tức Sớ văn sở vị “hướng
văn Phật bổn thị vô, tâm tịnh cố hữu”,
tiện vị điều nhiên hữu dị. Cố ngôn tức
thị Ứng Phật, tâm ngoại vô Phật dă.
(演)一、心即應佛,故名是心是佛,即疏文所謂向聞佛本是無,心淨故有,便謂條然有異,故言即是應佛,心外無佛也。
(Diễn: Một, tâm
chính là Ứng Thân của Phật, nên gọi là “tâm này là Phật”,
tức là như lời Sớ đă viết: “Từng nghe Phật
vốn là chẳng có, do tâm tịnh bèn có Phật”, cho nên nói
là rành rành có sai khác. Do vậy nói “[tâm] chính là Ứng Phật,
ngoài tâm chẳng có Phật”).
“Tâm này là Phật” cũng có hai
ư nghĩa. Một là Ứng Hóa Thân của Phật. Tâm vốn
chẳng có tướng. Tuy chẳng có tướng, nó có thể
tùy duyên hiện tướng. Tướng hiện ra
được gọi là Ứng Thân Phật. V́ sao gọi
là Ứng Thân? Do cảm ứng mà hiện. Giống như
cái chuông này, chuông chẳng có âm thanh, khi quư vị gơ nó bèn có
âm thanh. Gơ mạnh, tiếng chuông kêu to, gơ nhẹ, tiếng
chuông kêu nhỏ. Quư vị gơ chuông là cảm, tiếng chuông
là ứng. Quư vị chẳng gơ, do không gơ bèn chẳng có âm
thanh. Phật cũng giống như thế, khi chúng sanh chẳng
có cảm, Phật chẳng hiện thân, Phật chẳng có
thân tướng. Chúng sanh có cảm, Phật bèn hiện
tướng, Ngài bèn hồi ứng giống hệt. Đúng
như kinh Lăng Nghiêm đă nói: “Tùy
thuận cái tâm của chúng sanh, ứng với khả
năng nhận biết của họ”. Tâm chúng sanh bất
đồng; v́ thế, Phật hiện h́nh tướng khác
nhau. Chúng sanh trong chín pháp giới có cảm, Phật liền
hiện thân trong chín pháp giới, giống như phẩm Phổ
Môn đă nói: “Đáng nên dùng thân
Phật để độ, bèn hiện thân Phật để
thuyết pháp”, “hiện” (現) là ứng hiện.
Quyết chẳng phải là Phật hữu tâm, Phật nói:
“Người ấy cầu ta, ta phải ngay lập tức
hiện đến”. Nếu Ngài có tâm ấy, sẽ là vọng
tâm, chẳng phải là chân tâm, v́ chân tâm chẳng có niệm.
V́ Ngài chẳng có niệm, nên mới có ứng. Lại c̣n ứng
rất nhanh chóng, do nguyên nhân nào? V́ chân tâm trọn khắp hết
thảy mọi chỗ, không đâu chẳng tồn tại.
Do vậy, sự ứng hiện của Ngài là “sanh ra từ nơi đâu, bèn diệt
mất ngay nơi đó”, chẳng có đến đi.
Chúng ta là người niệm Phật văng sanh Tây
Phương, A Di Đà Phật từ Tây Phương Cực
Lạc thế giới đến đón tiếp chúng ta, có chuyện
như vậy hay không? Chẳng phải vậy! Từ nơi
xa xôi ngần ấy cớ sao Phật có thể đến
nơi đây? Thân tướng của Phật ngay lập tức
ở trước mắt, v́ sao? Pháp Thân của A Di Đà Phật
tận hư không khắp pháp giới. Chúng ta ở nơi
đây có cảm, Phật ngay lập tức có ứng. Cổ
nhân nói: “Sanh th́ quyết định
sanh, đi th́ thật sự chẳng đi”. Do v́ chẳng
có đến đi, chuyện này rất kỳ diệu, kiến
thức thông thường của lũ phàm phu chúng ta chẳng
thể hiểu được. V́ thế, đó là cảnh
giới chẳng thể nghĩ bàn, là chân thật. Tâm có thể
hiện tướng, có thể hiện hết thảy các
tướng. Đó là Ứng Phật (Ứng Hóa Thân của
Phật). “Tâm này là Phật”,
tâm ấy là Ứng Phật. Ngoài tâm chẳng có Phật, ngoài
Phật cũng chẳng có tâm. Đó là ư nghĩa thứ nhất.
(Diễn)
Nhị, tâm tức Quả Phật, cố danh “thị tâm thị
Phật”, tức Sớ văn sở vị
“diệc vô Phật chi nhân” dă. Sơ thị Ứng Phật,
nhị thị Quả Phật, thử ước tức Ứng
tức Quả thích Thị dă.
(演)二、心即果佛,故名是心是佛,即疏文所謂亦無佛之因也。初是應佛,二是果佛,此約即應即果釋是也。
(Diễn:
Hai, tâm chính là Quả Phật, v́ thế gọi là “tâm này là Phật”, tức là như lời Sớ đă viết:
“Cũng không có cái nhân của Phật vậy”. Thứ nhất
là Ứng Thân Phật, thứ hai là Quả Phật. Đây
là ước theo ư nghĩa [nhất tâm] chính là Ứng Phật
và Quả Phật để giải thích chữ Thị).
Nhà
Thiền thường nói: “Minh
tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật”. Quả Phật
là chính ḿnh. Khi hết thảy chướng ngại trong tâm
tánh của chính ḿnh đều trừ hết sạch, lúc Tánh
Đức viên măn hiện tiền, bèn gọi là “thành Phật”. Tâm là Phật, Phật
là tâm, đấy là chính ḿnh thành Phật. Ứng Phật
trong phần trước là Tha Phật, thuận theo tâm chúng
sanh mong mỏi [Phật sẽ] sanh khởi mà hiện ra Ứng
Thân Phật. Tự Phật và Tha Phật đều là ư
nghĩa “tâm này là Phật”.
(Sao)
Kim vị thử kinh nhất tâm tŕ danh, diêu thử nhất
tâm, chung đương tác Phật, tùng nhân chí quả, danh
chi viết Tác.
(鈔)今謂此經一心持名,繇此一心,終當作佛,從因至果,名之曰作。
(Sao: Nay nói đến
nhất tâm tŕ danh trong kinh này, do nhất tâm mà cuối cùng sẽ
thành Phật, từ nhân cho đến quả, nên gọi là
Làm).
Ở
đây, Liên Tŕ đại sư giảng giải ư nghĩa thật
sự. Trong phần trước, Ngài đă trích dẫn Quán
Kinh để làm một đại tiền đề, rồi
mới nói đến điều khai thị khẩn yếu
trong bộ kinh này. Chủ trương của kinh này là “nhất tâm tŕ danh”, hăy chú ư “nhất tâm”. “Nhất tâm” là chẳng
có tạp niệm, chẳng có hoài nghi, chính là “tịnh niệm” như Đại
Thế Chí Bồ Tát đă nói. “Tịnh
niệm” là nhất tâm, chẳng hoài nghi, không xen tạp.
Câu này hết sức quan trọng, là mấu chốt tu hành
trong tông này. Nếu quư vị hiểu rơ và làm được,
lúc cái tâm tưởng Phật sẽ là tâm này làm Phật. Giống
như Quán Kinh đă nói: “Tâm này
chính là ba mươi hai tướng, tám mươi tùy h́nh hảo”,
ngay lập tức [tâm này] chính là [Phật]! “Ngay lập tức chính là” (Đương hạ
tức thị) th́ bản thân chúng ta chẳng có cách nào phát
hiện. V́ sao? V́ thời gian quá ngắn ngủi, tạm bợ,
đến niệm thứ hai, niệm thứ ba, vọng
tưởng lại dấy lên, lại chẳng làm Phật
được! Nguyên nhân là ở chỗ này. Nếu có thể
liên tục nhất tâm tŕ danh, niệm niệm liên tục,
chẳng gián đoạn, “làm Phật” sẽ hết sức
rơ rệt. Có thể bất thoái chuyển, sẽ một mực
làm Phật, chẳng bị thoái đọa vào lục đạo.
Không chỉ là chẳng thoái đọa trong lục đạo,
ngay cả Tiểu Thừa lẫn Đại Thừa cũng
đều chẳng làm, chỉ làm Phật. Mấu chốt ở
ngay trong câu này. V́ thế, câu này hết sức trọng yếu,
chính là nhất tâm xưng niệm.
“Diêu thử nhất tâm, chung
đương tác Phật, tùng nhân chí quả” (Do bởi
nhất tâm, cuối cùng sẽ làm Phật, từ nhân tới
quả), câu này có ư nghĩa hàm súc sâu xa. Chỉ cần có thể
ǵn giữ nhất tâm, “từ
nhân tới quả” là chẳng gián đoạn, là liên tục.
Tín, nguyện, nhất tâm xưng niệm, đó là nhân, v́ chỉ
cần ǵn giữ cái nhân ấy, niệm niệm chẳng
để mất, điều quư vị đạt
được trong giai đoạn thứ nhất là công
phu thành phiến. Công phu thành phiến là công phu cạn nhất
trong Niệm Phật tam-muội, cổ đại đức
cũng gọi cảnh giới ấy là nhất tâm bất
loạn, nhưng là nhất tâm bất loạn ở mức
độ nông cạn. Nhất tâm bất loạn có thứ
tự cạn hay sâu, cũng chia ra rất nhiều cấp bậc.
Kinh thường nói là chín bậc, tức là chia Sự nhất
tâm thành chín cấp bậc. Đây là cấp bậc đầu
tiên, sơ đẳng, tức là công phu thành phiến. Gọi
là “công phu thành phiến”, có nghĩa là tín, nguyện, tŕ danh của
chúng ta có thể hàng phục phiền năo, chưa đoạn,
nhưng đă chế ngự phiền năo. Đó là Sự nhất
tâm sơ cấp, do công phu này bèn có thể văng sanh. Chế phục
phiền năo bèn có thể văng sanh. Có thể thấy sự tu
tŕ trong Tịnh Tông dễ hơn những pháp môn khác. Trong
các pháp môn khác, với công phu này, sẽ chẳng thể thành
tựu, nhất định là phải đoạn phiền
năo th́ mới có thể thoát tam giới. Chẳng đoạn
phiền năo, chẳng có lẽ nào thoát khỏi tam giới
được! Tam Quả trong Tiểu Thừa rất lỗi
lạc, đă đoạn Kiến Hoặc, đoạn một
nửa Tư Hoặc, chẳng thoát khỏi tam giới, vẫn
ở trong nhân gian, qua lại trong cơi trời người
để tu hành. Nhưng vị ấy quyết định
chẳng đọa trong ba ác đạo, nhất định
phải là đến mức đoạn sạch Tư Hoặc,
đoạn sạch Kiến Tư phiền năo, th́ mới có
thể vượt thoát lục đạo luân hồi, rất
ư là khó! Rốt cuộc là khó như thế nào, mọi
người hăy tự thử xem sẽ biết! Quư vị
chẳng thử, sẽ chẳng biết khó khăn ở chỗ
nào. Có làm thử mới biết một phẩm phiền năo
cũng đoạn không xong! Đối với Kiến
Tư phiền năo, trước hết là đoạn Kiến
Hoặc, rồi đoạn Tư Hoặc. Trong Kiến Hoặc,
điều thứ nhất là Thân Kiến. Thân Kiến là ǵ?
Coi thân thể này là ta, khởi tâm động niệm đều
ngỡ đó là ta. Quư vị hăy thử xem, khi nào quư vị
thật sự đạt được vô ngă, vô ngă th́ mới
là đoạn hết Thân Kiến, thật là khó! Sau đó,
nh́n lại Tịnh Tông, quư vị mới biết nó dễ
dàng, mới biết v́ sao chư Phật, Bồ Tát phải
tán thán pháp môn này. Pháp môn này dễ dàng, chỉ cần chế
phục, sơ phẩm Sự nhất tâm thường được
người Hoa gọi thông tục là “công phu thành phiến”.
Trong kinh, xác thực là chẳng có danh từ “công phu thành phiến”,
đó là Sự nhất tâm ở mức độ nông cạn
nhất, sanh vào cơi Phàm Thánh Đồng Cư. Sự nhất
tâm ở mức độ sâu, tức Sự nhất tâm thượng
phẩm, đoạn hết Kiến Tư phiền năo, sanh
vào cơi Phương Tiện Hữu Dư, khác hẳn! Tịnh
Độ thù thắng không do hai cơi trên, mà ở ngay trong cơi
Phàm Thánh Đồng Cư, hết sức đặc thù, bất
đồng vời vợi so với những cơi Phàm Thánh
Đồng Cư trong các thế giới của mười
phương chư Phật. V́ thế, [pháp môn Tịnh Độ]
mới có thể phổ độ chúng sanh.
Nhất
tâm tŕ danh, từ nhân tới quả, liên tục chẳng
đoạn, bèn gọi là Tác. Rơ rệt nhất là như Đại
Thế Chí Bồ Tát đă nói. Đại Thế Chí Bồ
Tát xác thực từ nhân tới quả là nhất tâm tŕ danh.
Ngài chẳng dùng pháp môn thứ hai, một câu Phật hiệu
cứ niệm đến cùng, từ sơ phát tâm măi cho
đến khi viên thành Phật đạo, sau đấy phổ
độ chúng sanh. Phương pháp đơn giản
như thế đó, thật sự chẳng thể nghĩ
bàn, tâm này làm Phật. “Tâm này làm
Phật, tâm này là Phật” có thể thấy thật rơ
ràng, thật minh bạch trong cảnh giới của Đại
Thế Chí Bồ Tát.
(Sao)
Tức thử nhất tâm, toàn thể thị Phật, phi
nhân, phi quả, danh chi viết Thị.
(Diễn)
Tức thử nhất tâm, toàn thể thị Phật tứ
cú, nhất tâm tức Chân Như pháp tánh thân dă.
(鈔)即此一心,全體是佛,非因非果,名之曰是。
(演)即此一心,全體是佛四句,一心即真如法性身也。
(Sao: Tức là toàn thể
của nhất tâm chính là Phật, chẳng phải là nhân,
chẳng phải là quả, nên gọi là Thị.
Diễn:
Bốn câu “toàn thể của nhất tâm chính là Phật”: Nhất
tâm chính là Chân Như pháp tánh thân).
Đại
Thừa Phật pháp thường nói đến nhất tâm,
chân tâm, bản tánh, Chân Như, pháp giới, Pháp Thân, cả một
đống lớn những danh từ ấy đều nhằm
nói về một chuyện. Là một chuyện, cớ sao
đức Phật nói ra lắm danh từ ngần ấy?
Đó là phương pháp dạy học thù thắng của
đức Phật nhằm phá trừ sự chấp trước
của lũ chúng ta, bảo cho chúng ta biết những danh
từ và danh tướng đều là giả, chỉ cần
thấu hiểu ư nghĩa thật sự được biểu
đạt bởi chúng, chớ nên chấp trước danh
tướng, chớ nên chấp trước ngôn ngữ. Những
thứ ấy đều là giả, đều chẳng có ư
nghĩa, quư vị phải từ giả danh và ngôn từ mà
lănh hội ư nghĩa chân thật của chúng. Đó là sự
khéo léo trong phương pháp giáo học. Chẳng như những
danh từ trong thế gian vẫn phải thống nhất,
thống nhất là ǵ? Thống nhất là một thứ chấp
trước. Thống nhất là một loại thành kiến,
phiền toái! Đức Phật phá tan thành kiến và chấp
trước của chúng ta, đó là chỗ khác biệt với
pháp thế gian. V́ vậy, cùng một chuyện mà đức
Phật dùng khá nhiều phương pháp để nói rơ, dùng
khá nhiều danh từ và thuật ngữ để thuyết
minh.
Sau
đấy, chúng ta hiểu: Nhất tâm là Chân Như, nhất
tâm là Pháp Thân, chân tâm, bản tánh, Pháp Thân, há c̣n có tu hay chứng
ǵ nữa? Trong Đàn Kinh, Lục Tổ chỗ nào cũng chỉ
bảo, cảnh tỉnh chúng ta: Hăy quyết định chớ
nên chấp trước. Khi kiến tánh, Ngài nói: “Nào ngờ tự tánh, vốn sẵn
thanh tịnh”. Nếu trong tâm thanh tịnh có tu và có chứng,
sẽ là hai pháp. Tổ bảo pháp sư Ấn Tông: “Phật pháp là pháp bất nhị.
Nhị sẽ chẳng phải là Phật pháp”. Hai là mê, một
là giác ngộ. Đối với cái Một ấy, nếu “một”
là do đối ứng với hai mà chấp một, th́ vẫn
là mê! Hễ có một bèn có hai, vẫn rớt vào trong hai
pháp. Cái Một ấy là một tuyệt đối, chẳng
phải là Một trong tương đối. Một
tương đối th́ vẫn là mê. Bọn phàm phu chúng ta
đọc Đàn Kinh, đọc câu này của Tổ vẫn
mê, [bởi lẽ, nó] chẳng phải là cảnh giới của
chính ḿnh. Câu nói ấy được dẫn khởi như
thế nào? Sư Ấn Tông nghe nói tổ Huệ Năng
đắc pháp từ ngài Hoàng Mai (Ngũ Tổ), muốn hỏi
ḍ: “Thông thường, Ngũ Tổ thuyết pháp có nói đến
giải thoát và Thiền Định hay không?” Lục Tổ
bảo Sư: “Thiền Định
và giải thoát là hai pháp, Phật pháp là pháp bất nhị”.
Chỉ điểm, cảnh tỉnh Sư: Trong tâm ông vẫn
là cầu pháp bên ngoài. “Hai” chính là cầu pháp ngoài tâm.
Nhất
tâm chẳng dễ hiểu, v́ sao? Chúng ta thấy nhất tâm,
c̣n có ư niệm: “Đây là nhất tâm”, có một cảnh giới,
có một quan niệm, đă chẳng phải là nhất tâm
từ lâu mất rồi! Đúng là nhất tâm th́ trong ấy
quyết định chẳng có một niệm, đó là nhất
tâm tŕ danh, là thật thà niệm Phật. Có rất nhiều
người đến chỗ tôi hỏi này hỏi nọ,
tôi dùng một câu để trả lời chung: “Đều chẳng phải là thật
thà, đều chẳng phải là nhất tâm, mà là đang loạn
tâm niệm Phật”. Nếu kẻ ấy nhất tâm niệm,
lấy đâu ra vấn đề? Tuyệt đối sẽ
chẳng có vấn đề nào! Nhất tâm niệm, người
ấy sẽ thật sự là thật thà, sẽ chẳng hỏi
ai khác. Đừng nói là họ chẳng cần hỏi tôi,
[ngay cả] A Di Đà Phật ngồi nơi đó, người
ấy cũng chẳng hỏi, chẳng thưa hỏi một
câu nào cả! Hễ c̣n có khởi tâm động niệm, đều
là không thật thà, đều là loạn tâm, chẳng phải
là nhất tâm. Do vậy, ở trong ấy phải chú tâm lănh
hội: Trong nhất tâm, chẳng có tu, chẳng có chứng.
Tu và chứng là hai pháp. Hai pháp sẽ chẳng phải là Phật
pháp, lấy đâu ra tu và chứng?
(Diễn)
Bất thiệp tŕnh đồ.
(演)不涉程途。
(Diễn: Chẳng
dính dáng đến khoảng cách xa hay gần).
Trong
kinh, đức Phật đă nói: Tây Phương Cực Lạc
thế giới cách nơi đây mười vạn ức
cơi Phật, đó gọi là “tŕnh
đồ”. “Tŕnh” (程) là lộ tŕnh, [ư
nói] đường sá xa xôi. Trong nhất tâm chẳng có xa, gần,
chẳng có lớn, nhỏ. Lớn và nhỏ là hai pháp. Xa, gần
là hai pháp. Nói chung, hai pháp chẳng phải là Phật pháp. Chẳng
phải là Phật pháp sẽ không phải là nhất tâm, nhất
tâm là Phật pháp. Do vậy có thể biết: Trong tâm chúng
ta có hai niệm; hễ có hai niệm, sẽ chẳng phải
là chân tâm. Trong chân tâm, quyết định chẳng có hai niệm,
đó là then chốt [quyết định] mê hay ngộ trong
tu hành. Người ngộ là ngộ như thế nào? Kẻ
mê là mê như thế nào? Mấu chốt ở ngay nơi
đây. Do vậy có thể biết: Trong kinh luận, chư
Phật, Bồ Tát thường nói, loạn tâm chẳng thể
thành tựu! “Từ nhân tới
quả” hoàn toàn là chuyện của chính ḿnh, Phật, Bồ
Tát chẳng thể giúp đỡ được, nhất
định phải cậy vào chính ḿnh. A Di Đà Phật từ
bi đến tột bậc, vẫn phải là chính ḿnh chế
phục phiền năo th́ Ngài mới giúp đỡ được.
Quư vị chẳng chế phục phiền năo, dẫu A Di
Đà Phật từ bi cũng chẳng thể giúp
được. So với các pháp môn khác, pháp này đúng là dễ
dàng hơn nhiều lắm. Trong các pháp môn khác, quư vị ắt
phải đoạn trừ Kiến Tư phiền năo, Phật,
Bồ Tát mới có thể giúp quư vị. Chưa đoạn
Kiến Tư phiền năo, chẳng thể giúp được!
[Trong pháp môn Tịnh Độ], A Di Đà Phật chỉ cần
quư vị chế phục [phiền năo], chẳng cần
đoạn; hễ chế phục sẽ giúp đỡ
được! Có thể thấy là công phu cơ bản nhất
định phải cậy vào chính ḿnh. Cậy vào người
khác sẽ không được, phải biết điều
này. Nhất tâm là chân tâm, bản tánh; triết học gọi
nó là bản thể của vũ trụ, trong ấy chẳng
có tu chứng, chẳng có gần xa (“tŕnh đồ” là xa hay gần).
(Diễn)
Toàn thể thị Phật.
(演)全體是佛。
(Diễn:
Toàn thể là Phật).
“Phật” có nghĩa là giác. Nói cách
khác, toàn thể của nhất tâm là giác. Nếu Ngài chẳng
giác, chúng sanh có cảm, làm sao Ngài có thể ứng cho
được? Có giác th́ mới có ứng. Giác chẳng phải
là biết, trong ấy có sai biệt, giác là trí huệ chân thật,
tức trí huệ Bát Nhă. Thuở tại thế, Thích Ca Mâu
Ni Phật giảng kinh thuyết pháp bốn mươi chín
năm, thời gian giảng Bát Nhă chiếm hai mươi
hai năm, gần như chiếm mất nửa thời
gian Ngài hoằng pháp lợi sanh. Mọi người biết
Bát Nhă giảng Không, [nếu] Không [chỉ đơn giản]
là “thứ ǵ cũng đều chẳng có”, đứa trẻ
lên ba cũng hiểu, cần ǵ phải giảng mất hai
mươi hai năm? Lăo nhân gia giảng Không, Không là Có, Có là
Không. Có và Không là một chuyện, chẳng phải là hai
chuyện. Nói kiểu này khiến cho chúng ta hồ đồ,
càng nói càng khó hiểu, cho nên mới tốn thời gian hai
mươi hai năm để khiến cho chúng ta thật sự
hiểu rơ Không và Có là một chuyện. “Không” là Căn Bản Trí, “Có” là Hậu Đắc Trí. Tổng cương
lănh của Bát Nhă là “Bát Nhă vô
tri, không ǵ chẳng biết”. Vô tri là Không, không ǵ chẳng
biết là Có. Vô tri và hữu tri đều gọi là Giác. V́
thế, Giác ở đây chẳng phải là giác như trong
quan niệm hiện thời của chúng ta. Giác trong quan niệm
hiện thời của chúng ta sanh từ ư thức. Giác
như đức Phật đă nói th́ ĺa tâm ư thức, vốn
trọn đủ trong tự tánh, đó mới là Chánh Giác,
chẳng do tu được. Toàn thể là giác, toàn thể
là Phật, toàn thể đều có thể hiện tướng.
(Diễn)
Nhược ngôn thị nhân, đối quả ngôn nhân, kư vô
đương quả, nhân thị thùy nhân.
(演)若言是因,對果言因,既無當果,因是誰因。
(Diễn: Nếu nói
là nhân [th́ là] đối với quả mà nói nhân. Đă không
là quả th́ nhân là cái nhân nào?)
Nhân
và quả là hai pháp, hai pháp chẳng phải là Phật pháp. Trong
tự tánh, chẳng nói tới quả. Chẳng nói tới
quả, lấy đâu ra nhân? Do vậy, cũng chẳng có
nhân quả. Chư vị phải hiểu: Chứng đắc
đến quả vị rốt ráo, nhân lẫn quả chẳng
có, đó là cảnh giới Thường Tịch Quang Tịnh
Độ trong Tịnh Độ. Từ Thật Báo trở
xuống đều có nhân quả; chúng có tướng, hễ
có tướng bèn có nhân quả. Trong kinh, đức Phật
có nói: Tướng của cơi Thật Báo là hữu sanh vô diệt;
hiện tướng (tướng biến hiện) của cơi
Phương Tiện và cơi Đồng Cư là có sanh, có diệt.
Đối với các hiện tượng như chúng ta thấy
trong hiện thời, hết thảy muôn h́nh tượng
đều có sanh và diệt. Cơi Thật Báo hữu sanh vô diệt;
cơi Thường Tịch Quang chẳng có sanh mà cũng chẳng
có diệt, sanh lẫn diệt đều chẳng có. Đấy
là nói tới cảnh giới Thường Tịch Quang, nói
đến sự viên măn rốt ráo. Do vậy, nhân lẫn quả
cũng chẳng có.
(Diễn)
Nhược ngôn thị quả, đối nhân ngôn quả,
kư vô tiền nhân, quả thị thùy quả? Cố danh Thị
dă.
(演)若言是果,對因言果,既無前因,果是誰果。故名是也。
(Diễn: Nếu nói
là quả, là do đối với nhân mà nói quả. Đă
không có nhân trước th́ quả là quả nào? V́ thế, gọi
là Thị).
Nhân
quả cũng chẳng có, rốt cuộc là ǵ? Bất
đắc dĩ nói một câu: “Chỉ là nhất tâm”, hoặc
nói “chỉ là nhất giác”, “chỉ là nhất Phật”. Những
lời ấy đều rất miễn cưỡng, rất
bất đắc dĩ mà thốt ra, quyết định
chớ nên chấp trước. Nghe xong, quyết định
chớ nên khởi tâm động niệm. Đó là Thị, “tâm này là Phật”.
Tôi
nói đoạn này, tự ḿnh cảm thấy đă nói rất
minh bạch, nói rất rơ ràng. Sợ là quư vị nghe xong vẫn
mơ mơ màng màng, vẫn chẳng hiểu rơ lắm! Xác
thực là khó hiểu, khó ở chỗ nào? Chúng ta có thể nói:
Chẳng nói tới quá khứ, quá khứ đều quên hết.
Nói về một đời này th́ từ lúc sanh ra cho đến
nay đều chưa có kinh nghiệm ấy, đều chẳng
có kiến thức thông thường ấy, đột ngột
nghe tới cảnh giới này, đúng là “đọa trong
sương mù dày năm dặm”, có hiện tượng ấy!
Hiện tượng ấy cũng là b́nh thường, ắt
cần phải có công phu từng trải kha khá, “từng trải” là niệm Phật.
Khi niệm đến mức tâm thanh tịnh, quư vị có
thể lănh hội đôi chút ư nghĩa, đó là chân tướng
của vũ trụ và nhân sinh.
(Sớ)
Hựu thử nhất tâm, tức Định trung chi Định
cố.
(Sao)
Định trung Định giả, dĩ định tán
phán chi.
(疏)又此一心,即定中之定故。
(鈔)定中定者,以定散判之。
(Sớ:
Lại nữa, nhất tâm chính là Định trong các loại
Định.
Sao: “Định trong các loại Định” là dùng Định
và Tán để xét đoán).
Tương
phản của Định là tán loạn, cái đối lập
với tán loạn là Định.
(Sao)
Tu dư thiểu thiện phước giả, tán thiện
dă. Nhất tâm bất loạn giả, định thiện
dă.
(鈔)修餘少善福者,散善也;一心不亂者,定善也。
(Sao: Tu những điều
thiện phước ít ỏi khác, sẽ là tán thiện. Nhất
tâm bất loạn là định thiện).
“Tán thiện” là ǵ? “Định thiện” là ǵ? Nói
thật ra, mấu chốt trong tu hành là tâm. Tán tâm th́ tu pháp
môn ǵ cũng đều tản mạn. Tâm định, tu hết
thảy các pháp đều là định. Trong phẩm Phổ
Hiền Hạnh Nguyện đă nêu bày điều này rơ ràng
nhất, hạnh Phổ Hiền từ lễ kính cho đến
hồi hướng, những ǵ Ngài đă tu có khác với
phàm phu hay chăng? Chúng ta thấy tượng Phật bèn cung
kính đảnh lễ ba lạy, Phổ Hiền Bồ Tát thấy
tượng Phật cũng đảnh lễ ba lạy, chẳng
phải là giống hệt như nhau ư? V́ sao chúng ta tu đảnh
lễ ba lạy chẳng gọi là “lễ kính chư Phật”, c̣n Ngài đảnh lễ
ba lạy bèn gọi là “lễ
kính chư Phật”? Sự giống nhau, tâm khác nhau! Tâm
lượng của chúng ta rất nhỏ, có phân biệt, chấp
trước, thấy là tượng Phật th́ mới lạy,
chẳng phải là tượng Phật sẽ không lạy.
Có phân biệt, chấp trước th́ tâm chẳng rộng;
tâm Phổ Hiền Bồ Tát chẳng có phân biệt, chấp
trước, tâm Ngài rộng lớn, tận hư không khắp
pháp giới là nhất tâm của Ngài. Tâm Phổ Hiền Bồ
Tát chính là nhất tâm bất loạn như chúng ta đang nói
ở đây, nhất tâm bất loạn là tâm Phổ Hiền.
Dùng nhất tâm bất loạn để tu hết thảy
các pháp, sẽ đều là Phổ Hiền hạnh, mới
hiểu tông này và Phổ Hiền Bồ Tát có mối quan hệ
chặt chẽ như thế nào!
Tán
tâm tu hết thảy các hạnh th́ đều thuộc loại
tán thiện, tán thiện đều gộp chung vào phước
báo. V́ sao nói là phước báo? Chẳng thể thoát tam giới,
chẳng thể liễu sanh tử, quả báo tu được
chính là hưởng phước trong tam giới lục
đạo, đó là “tán thiện”.
Tu tập bằng tán tâm chính là tu bằng cái tâm tạp loạn.
Nói rơ ràng hơn, nói minh bạch hơn một chút, nếu chẳng
đoạn vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước th́ hết thảy các thiện pháp đă tu
đều là tán thiện, quả báo sẽ là phước
báo hữu lậu trong lục đạo. Nhất tâm bất
loạn khác hẳn, trong đoạn tiếp theo c̣n nói rơ rệt,
cặn kẽ hơn: Nhất tâm là Định, tức là Định
trong Định. “Định
trong Định” là tự tánh vốn định. Trong
kinh Lăng Nghiêm, đức Phật thay đổi tên gọi
của nó thành Thủ Lăng Nghiêm Đại Định. Ở
đây gọi Thủ Lăng Nghiêm Đại Định là
“Định trung Định”,
cũng là nói đến Lư nhất tâm trong nhất tâm bất
loạn. Nhất tâm là Định, bất loạn là Huệ.
Nhất tâm bất loạn là Định, mà cũng là Huệ,
Huệ là Định. Nhất tâm bèn bất loạn, bất
loạn bèn nhất tâm. Nhưng quư vị phải hiểu: Bất
loạn là Huệ, nhất tâm là Định; Định là Huệ,
Huệ là Định. Do vậy có thể biết: Rất
nhiều kẻ hiểu lầm, tưởng người niệm
Phật chỉ tu một tí Định, hoàn toàn chẳng có
trí huệ. Kẻ ấy đă sai lầm, chẳng biết
Định tâm khởi tác dụng là Huệ. Người niệm
Phật xác thực là “Định
huệ đẳng tŕ” (giữ cân bằng Định và
Huệ). Trong câu Phật hiệu có đại định
viên măn, có Bát Nhă viên măn, nhưng rất nhiều kẻ chẳng
biết, không chịu tu học, ở ngay trước mặt
mà bỏ lỡ. V́ sao bỏ lỡ? Ít thiện căn và
phước đức!
(Diễn)
Nhất tâm bất loạn danh Định giả, tâm duyên
nhất cảnh, vô hữu dị niệm, cố ngôn định
thiện.
(演)一心不亂名定者,心緣一境,無有異念,故言定善。
(Diễn: “Nhất tâm
bất loạn gọi là Định”: Tâm duyên một cảnh,
chẳng có niệm khác, nên nói là Định Thiện).
Câu
này khiến cho chúng ta được thức tỉnh mạnh
mẽ, chúng ta niệm Phật mà chẳng biết định
tâm nơi một cảnh giới. Miệng niệm A Di
Đà Phật mà tâm duyên khá nhiều cảnh giới, làm sao
có thể thành tựu cho được? Ư chí tinh thần chẳng
thể tập trung, dùng tâm tán loạn niệm Phật sẽ
chẳng thể thành tựu. Dùng tâm tán loạn để
tham Thiền, dùng tâm tán loạn để nghiên cứu Giáo
cũng chẳng thể thành tựu. Cổ đức nhấn
mạnh “phải thâm nhập một
môn”, đạo lư ở
ngay chỗ này. Thâm nhập một môn là tâm duyên một cảnh
giới, dễ dàng thành công, không cần thời gian rất
dài, tâm đă được thu thập. Phật pháp nhấn
mạnh nguyên tắc này, giáo học của Nho gia cũng chẳng
phải là ngoại lệ. Mạnh Tử nói: “Học vấn chi đạo vô
tha, cầu kỳ phóng tâm nhi dĩ” (Đạo học vấn
chẳng có ǵ khác, cốt sao thu hồi cái tâm buông lung mà
thôi). “Phóng tâm” (放心) là ǵ? Tâm tán loạn,
tâm ấy hướng theo bên ngoài. Học vấn (學問) là ǵ? Thu hồi
cái tâm ấy lại, khiến cho nó quy nhất, có ư nghĩa
này. “Tâm duyên một cảnh” chính
là như Mạnh Tử nói “thâu hồi cái tâm buông lung”, nói
thông tục là “thâu tâm” (thu hồi
cái tâm), có ư nghĩa này. Chỉ
cần duyên một cảnh sẽ là Định; tu như vậy
th́ hết thảy đều là thiện pháp, là Định
Thiện. V́ sao? Tâm định. Tâm định tu hết thảy
thiện pháp sẽ là định thiện. Tâm tán loạn,
tu hết thảy thiện pháp là tán thiện. Tán thiện là
phước đức, định thiện là công đức.
Công đức và phước đức sai khác ở chỗ
này. Tu định thiện là công đức, tu tán thiện
là phước đức. V́ sao? Người ấy chẳng
có Định, chẳng có Huệ, nhưng có phước
báo. Phước báo có ba loại: Thứ nhất là của cải,
loại thứ hai là thông minh, trí huệ, loại thứ ba
là khỏe mạnh, sống lâu. Công đức khác hẳn, do
công đức bèn đắc Thiền Định, khai trí huệ.
Khai trí huệ bèn đoạn phiền năo, phá vô minh, hoàn toàn khác
biệt.
(Sao)
Hựu dĩ nhất tâm nhi phân định tán, Sự nhất
tâm giả, định thiện trung chi tán thiện dă. Lư nhất
tâm giả, định thiện trung chi định thiện
dă.
(鈔)又以一心而分定散,事一心者,定善中之散善也;理一心者,定善中之定善也。
(Sao: Lại dùng nhất
tâm để phân biệt Định và Tán. Sự nhất
tâm là tán thiện trong định thiện, c̣n Lư nhất tâm
là định thiện trong định thiện).
Ở
đây, nói “Định trong
Định” là nói tới Lư nhất tâm. Nói cách khác, thực
tại là nói công phu định lực sâu hay cạn mà thôi!
Công phu định lực cạn, đó là tán thiện. Công
phu định lực sâu th́ là định thiện, đấy
là so sánh ở một tầng cấp sâu hơn. Giả sử
chúng ta chia nhất tâm thành hai loại là Lư và Sự, trong Sự
nhất tâm có chín phẩm, trong Lư nhất tâm cũng có chín phẩm.
Tánh định viên măn hiện tiền, đó là Lư nhất
tâm thượng thượng phẩm. Lư nhất tâm thượng
thượng phẩm bèn thành Phật, thượng trung phẩm
là Đẳng Giác, thượng hạ phẩm là Thập
Địa Bồ Tát. Địa vị Thập Trụ trong
Viên Giáo là Lư nhất tâm hạ phẩm, v́ địa vị Thập
Tín thuộc về Sự nhất tâm. Từ Sơ Trụ trở
lên sẽ thuộc về Lư nhất tâm. Lư nhất tâm Bồ
Tát có tất cả bốn mươi mốt địa vị,
trên đó c̣n có địa vị Phật; tổng cộng
là bốn mươi hai địa vị. Bốn
mươi hai địa vị đều là Lư nhất tâm.
V́ sao có bốn mươi hai? Do tŕnh độ Lư nhất
tâm cạn hay sâu khác biệt!
(Diễn)
Sự nhất tâm giả, do vị ly lục thức, cố
vi định trung tán. Lư nhất tâm giả, tắc thị
thường trụ chân tâm, cố vi định trung định.
(演)事一心者,猶未離六識,故為定中散;理一心者,則是常住真心,故為定中定。
(Diễn: Sự nhất
tâm là v́ c̣n chưa ĺa sáu thức, nên là tán thiện trong định
thiện. Lư nhất tâm là thường trụ trong chân tâm
nên là định thiện trong định thiện).
Chẳng
ĺa khỏi tâm ư thức th́ là Sự nhất tâm; hoàn toàn ĺa
khỏi tâm ư thức bèn thuộc về Lư nhất tâm. Nói
cách khác, Sự nhất tâm là tâm ư thức nắm quyền
làm chủ, Lư nhất tâm là chân tâm, là tự tánh nắm quyền
làm chủ. Đó là v́ dụng tâm khác nhau. Cái tâm được
Phổ Hiền Bồ Tát sử dụng là chân tâm, là tự
tánh, mà cũng là Lư nhất tâm được nói trong kinh
này, cho nên [những hành vi của Ngài] được gọi
là “Phổ Hiền hạnh”. Thánh giả Đại Tiểu
Thừa, các vị Bồ Tát thuộc địa vị Tam
Hiền trong Biệt Giáo vẫn là sáu thức khởi tác dụng.
Do vậy, dẫu đạt được Thiền Định
rất sâu, vẫn là Sự nhất tâm. Liên Tŕ đại
sư nói là “định trung
tán” và “định trung định”
là do phân biệt như vậy.
(Sớ)
Hựu thử nhất tâm, tức Bồ Tát Niệm Phật
tam-muội cố.
(Diễn)
Tức Bồ Tát niệm Phật giả, dĩ hữu phàm
phu Niệm Phật tam-muội, Nhị Thừa Niệm Phật
tam-muội. Kim thị Bồ Tát Niệm Phật tam-muội
cố.
(疏)又此一心,即菩薩念佛三昧故。
(演)即菩薩念佛者,以有凡夫念佛三昧,二乘念佛三昧,今是菩薩念佛三昧故。
(Sớ:
Lại nữa, nhất tâm chính là Niệm Phật tam-muội
của hàng Bồ Tát.
Diễn:
“Tức là Niệm Phật [tam-muội] của hàng Bồ
Tát”: Do có Niệm Phật tam-muội của phàm phu và Niệm
Phật tam-muội của hàng Nhị Thừa. nay [nói rơ nhất
tâm] là Niệm Phật tam-muội của hàng Bồ Tát vậy).
Do vậy
có thể biết: Niệm Phật tam-muội là danh xưng
tổng quát. Cảnh giới trong ấy rất phức tạp,
rất nhiều tầng cấp, chẳng phải là nói một
loại Niệm Phật tam-muội là đă bao trùm trọn
hết, [nếu nghĩ như vậy th́] đă sai mất rồi.
Niệm Phật tam-muội cũng có cạn, sâu, rộng, hẹp
khác nhau. Niệm Phật tam-muội của phàm phu thường
được gọi là công phu thành phiến, pháp hỷ
sung măn. Niệm Phật rất hoan hỷ, niệm đến
mức tinh thần sung măn, niệm đến mức tự
tại, vui sướng. Đó là Niệm Phật tam-muội
của phàm phu. Có hữu dụng hay không? Có chứ! Đới
nghiệp văng sanh, sanh về cơi Phàm Thánh Đồng Cư. Gần
như là ai nấy đều có thể làm được
chuyện này; cổ đức nói “vạn người tu, vạn người đến”
chính là nói về chuyện này. Niệm Phật tam-muội của
hàng Nhị Thừa là thượng phẩm Sự nhất
tâm bất loạn, Niệm Phật Tam-muội của Bồ
Tát là Lư nhất tâm bất loạn, phân biệt chẳng khó
ǵ!
(Sao)
Hoặc nghi Phật Thuyết Bồ Tát Niệm Phật Tam
Muội Kinh, kỳ gian tịnh vô “tín nguyện văng sanh”
đẳng ngữ, duy ngôn “chánh niệm chư pháp Thật
Tướng, thị danh Niệm Phật”, tự dữ thử
kinh, ư nghĩa tương lệ. Kim vị: Bỉ chuyên chủ
Lư, thử kiêm Lư Sự. Lư nhất tâm giả, niệm nhi vô
niệm, tức Thật Tướng dă. Cái bỉ dĩ vô
niệm chánh nhập, thử dĩ hữu niệm xảo
nhập, tác dụng sảo biệt, cứu cánh bất thù.
Thị cố, đồng danh Niệm Phật tam-muội.
(鈔)或疑佛說菩薩念佛三昧經,其間並無信願往生等語,惟言正念諸法實相,是名念佛,似與此經意義相戾。今謂彼專主理,此兼理事。理一心者,念而無念,即實相也。蓋彼以無念正入,此以有念巧入,作用稍別,究竟不殊,是故同名念佛三昧。
(Sao: Hoặc có kẻ
ngờ vực: Trong kinh Phật Thuyết Bồ Tát Niệm
Phật Tam Muội trọn chẳng nói các từ ngữ “tín,
nguyện, tŕ danh” v.v… chỉ nói “chánh niệm Thật Tướng
của các pháp th́ gọi là Niệm Phật”, tợ hồ
mâu thuẫn với ư nghĩa của kinh này. Nay nói: Kinh ấy
chuyên chủ về Lư, kinh này kiêm Lư lẫn Sự. Lư nhất
tâm là niệm mà vô niệm, tức là Thật Tướng. Ấy
là v́ kinh ấy dùng vô niệm để trực tiếp tiến
nhập, kinh này dùng hữu niệm để khéo léo tiến
nhập. Tác dụng hơi sai khác, nhưng mục đích cuối
cùng chẳng khác. V́ thế, cùng gọi là Niệm Phật
tam-muội).
Đoạn
khai thị này của đại sư giảng hết sức
hay khéo! Nếu chẳng phải là bậc từng trải,
sẽ chẳng có cách nào nói đơn giản, dễ hiểu
dường ấy. Lời này của bậc từng trải
thốt ra. Trong Đại Tạng Kinh có một bộ kinh
tên là Phật Thuyết Bồ Tát Niệm Phật Tam Muội
Kinh[3].
V́ ở đây nói đến Niệm Phật tam-muội của
hàng Bồ Tát, mà kinh Bồ Tát Niệm Phật Tam Muội lại
giảng khác với những ǵ chúng ta đang nói ở
đây, sẽ dễ gây nên hoài nghi, khiến cho tranh luận
dấy lên. Do trong Bồ Tát Niệm Phật Tam Muội Kinh
chẳng nói “tín, nguyện, tŕ
danh”, chỉ nói “chánh niệm
Thật Tướng của các pháp” bèn gọi là Niệm
Phật. Thoạt nh́n, dường như hoàn toàn chẳng tương
ứng với cách nói trong Tịnh
Độ Tông, nhưng nay chúng ta nghe lời này [đă cảm
thấy] tương đối dễ tiếp nhận
hơn. V́ sao? V́ danh hiệu A Di Đà Phật là tên gọi
khác của Thật Tướng các pháp. Niệm một câu A
Di Đà Phật là niệm Thật Tướng của các
pháp, có khác ǵ đâu? Thật ra chẳng khác ǵ nhau! Chúng ta
đổ công dốc sức nhiều năm ngần ấy
nơi giáo pháp Tịnh Độ mới hiểu rơ. Người
chẳng đổ công dốc sức ở nơi đây, vẫn
thuộc trong t́nh huống chấp trước Lư và Sự
chẳng thể viên dung, sẽ rất khó tiếp nhận.
“Kim vị bỉ chuyên chủ Lư”
(Nay nói kinh kia chuyên chủ về Lư), [nghĩa là] kinh Bồ
Tát Niệm Phật Tam Muội hoàn toàn nói theo Lư. Kinh này (kinh
A Di Đà) quá nửa là nói theo Sự. Kinh xác thực là có hai
loại lớn khác nhau. Nói thông thường, kinh nói theo Sự
dường như rất nông cạn, kể chuyện xưa
tích cũ, dễ hiểu, rất cạn cợt! Kinh nói theo
Lư rất sâu, rất huyền, rất khó hiểu. Đó là
cách nh́n của kẻ nông cạn! Trong cách nh́n của người
sâu xa, hoàn toàn trái ngược với cách nh́n của lũ
nông cạn chúng ta: Kinh nói theo Lư dễ hiểu, kinh giảng
theo Sự chẳng dễ hiểu. Kinh giảng về Sự
th́ trong Sự có Lư. Nếu chẳng nói rơ Lư, ai tin được
Sự ấy? Tại Đài Trung, thầy Lư bảo tôi: Suốt
một đời thầy, sợ nhất là giảng kinh A
Di Đà và kinh Địa Tạng, khó giảng nhất, v́
các kinh ấy toàn nói theo Sự. Có người hỏi: “Sự
h́nh thành như thế nào? V́ sao có Sự?”
Phiền phức lắm! Kinh Lăng Nghiêm giảng Lư, kinh
Kim Cang giảng Lư. Kinh nói về Lư dễ giảng, dễ hiểu.
Kinh nói về Sự hết sức khó giảng, v́ nó có Lư rất
sâu. Nếu chẳng thấu triệt Lư, Sự sẽ
chẳng thể nói viên măn được, chẳng có cách
nào khiến cho người khác tin tưởng! Lư giảng
không viên măn, th́ có thể giảng một phần, người
ta có thể tin một phần, giảng hai phần, người
ta có thể tin hai phần, rất thú vị! Giảng kinh
nói về Sự mà nếu chẳng hoàn toàn thấu triệt,
sẽ chẳng có cách nào khiến cho người ta tiếp
nhận, sẽ chẳng có cách nào khiến cho người
ta tin tưởng.
Chúng
ta cũng phải liễu giải sự khó dễ khác biệt.
Tịnh Tông nổi tiếng là “khó tin, dễ hành”, tu rất
dễ dàng, lư quá sâu. Kinh luôn nói đấy là cảnh giới
nơi quả địa của Như Lai, chỉ có Phật
và Phật mới có thể thấu hiểu rốt ráo. Chỉ
có thành Phật th́ mới có thể liễu giải triệt
để viên măn lư Tịnh Độ. Hữu t́nh chúng sanh
trong chín pháp giới, chín pháp giới bao gồm Đẳng
Giác Bồ Tát, nếu cậy vào sức của chính ḿnh, sẽ
chẳng có cách nào giảng giải viên măn [pháp môn này]. Trong số
[những người chẳng thể giảng viên măn pháp môn
này], bao gồm cả Đẳng Giác Bồ Tát! Mới biết
Lư này sâu rộng chẳng thể nghĩ bàn. Kinh điển
sâu như vậy, nay chúng tôi cũng giảng ở nơi
đây, mọi người cũng nghe ở nơi đây,
[cảm thấy] dường như chẳng khó, thật ra
rất khó! Chúng tôi há có năng lực để giảng, không
chỉ là chẳng có năng lực để giảng, mà
[quư vị] cũng chẳng có năng lực để nghe.
Năng lực nói và nghe đều do oai thần của
chư Phật gia tŕ. Tách ĺa sự gia tŕ của chư Phật,
Bồ Tát th́ Bồ Tát c̣n chẳng thốt nên lời, huống
hồ bọn phàm phu chúng ta! Chúng tôi có thể nói, mọi
người có thể nghe, nghe xong hoan hỷ, đều do Phật
lực gia tŕ, do oai thần và bổn nguyện của Phật
gia tŕ. Do thiện căn, phước đức của
chính ḿnh đă tu tập, tích lũy trong quá khứ, duyên đến
nay đă chín muồi, được Phật gia tŕ, nên [pháp
này] được gọi là pháp môn Nhị Lực. Phật
gia tŕ chúng ta, người thiện căn sâu có thể cảm
nhận, người thiện căn kém hơn, nghiệp
chướng dầy hơn, sẽ chẳng cảm nhận
được. Tuy chẳng cảm nhận được,
Phật vẫn gia tŕ quư vị. Trong tất cả hết
thảy các pháp môn, pháp môn dễ được Phật lực
gia tŕ nhất chính là pháp môn này. V́ quư vị tu học pháp môn
này, chẳng có một đức Phật nào không hoan hỷ.
Phật hoan hỷ, đương nhiên sẽ giúp đỡ
quư vị, thương xót quư vị, hy vọng quư vị
thành tựu viên măn ngay trong một đời này. Đạo
lư ở ngay chỗ này.
Kẻ b́nh phàm
trong thế gian, phàm là Phật giáo đồ học Phật,
chẳng có một ai không hằng ngày cầu Phật, cầu
Bồ Tát gia hộ. Thật ra, đại đa số là
đang dấy vọng tưởng, Phật, Bồ Tát cậy
vào đâu để gia hộ quư vị? Dựa vào quư vị
dập đầu binh binh mấy cái, cúng dăm ba quả
chuối, trái cây, Phật liền gia hộ quư vị, há có
chuyện thuận tiện như thế ư? Thật sự
niệm Phật, thật sự phát nguyện cầu sanh, quư
vị chẳng cầu Phật, Bồ Tát gia hộ, Phật,
Bồ Tát thảy đều đến gia hộ quư vị.
V́ sao? Đấy là chuyện chư Phật, Bồ Tát thích trông
thấy nhất! Quư vị tu học những Phật pháp Đại
Thừa khác, chưa chắc đă cảm ứng hết thảy
chư Phật hộ niệm, đương nhiên cũng
có khi được chư Phật, Bồ Tát hộ niệm,
nhưng là thiểu số, rất ít. Tương ứng với
pháp môn ấy bèn có cảm ứng đạo giao.
Pháp
môn Niệm Phật của Tịnh Tông được hết
thảy chư Phật đều cảm ứng. Từ phần
sáu phương Phật [tán thán] trong kinh Di Đà, quư vị
thấy sáu phương Phật là do La Thập đại
sư phiên dịch giản lược. Trong bản dịch
của Huyền Trang đại sư, ghi là mười
phương Phật. Pháp môn Niệm Phật được
hết thảy chư Phật đều tán thán, hết thảy
chư Phật đều hoằng dương, hết thảy
chư Phật đều mong mỏi chúng sanh tiếp nhận
và tu học pháp môn này. Quư vị thật sự tin nhận,
phụng hành, chẳng có vị Phật nào không hoan hỷ,
chẳng có vị Phật nào không gia hộ quư vị, xác thực
là khác hẳn! Quư vị phải lắng ḷng đôi chút, quan
sát trong một thời gian dài, xem thử giữa người
niệm Phật và người tu các pháp môn khác, thành tựu
trong tương lai chúng ta chẳng nh́n thấy, chỉ nh́n
vào hiện tại. Nh́n từ chỗ nào? Tục ngữ
thường nói: “Tướng
chuyển theo tâm”, quư vị nh́n vào tướng trạng
của họ. So giữa người niệm Phật và
người học pháp môn khác chẳng giống nhau! Người
niệm Phật rơ ràng là càng ngày càng có phước báo, càng
ngày càng có trí huệ, càng ngày càng khỏe mạnh. Quan sát từ
chỗ này, quư vị có thể thấu hiểu sức mạnh
do được Phật, Bồ Tát gia tŕ khác hẳn, toàn
là do Phật lực gia tŕ. Hết thảy các kinh luận có
cảm ứng đạo giao cùng Phật, Bồ Tát, [nhưng
chỉ là cảm ứng đạo giao] một phần! Chỉ
riêng pháp môn này, cảm ứng toàn thể Phật, Bồ Tát,
chẳng sót một vị Phật nào. Người thật
sự biết ưu điểm của pháp môn này chẳng
nhiều! Sau khi hội tập Đại Kinh, lăo cư
sĩ Hạ Liên Cư có viết một bài kệ chỉ
rơ: “Phật vân nan tín, thành nan
tín. Vạn ức nhân trung nhất nhị tri” (Phật
nói khó tin, thật khó tin. Trong ức vạn người, một
hai biết). Lời ấy chẳng giả tí nào! Nay chúng ta
gặp gỡ pháp môn này, đúng là may mắn lớn,
đúng là chẳng dễ dàng!
Bản
thân tôi, khi mới học Phật, hết sức ngưỡng
mộ Hoa Nghiêm và Pháp Hoa. Dụng công nơi kinh Pháp Hoa ít
hơn, đó là do duyên phận gặp thiện tri thức
khác biệt. Tôi đến Đài Trung mong được học
kinh Pháp Hoa với thầy Lư, tôi mang theo hai mươi mấy
thứ chú giải, mang theo tài liệu rất phong phú đến
Đài Trung. Thầy Lư ở Đài Trung trông thấy lắc
đầu, thầy nói: “Phiền phức quá! Tôi phải t́m
thời gian để dạy riêng một ḿnh anh, t́m không ra nhiều
thời gian như thế”. Thầy nói: “Nay tôi đang giảng
kinh Lăng Nghiêm, anh học kinh Lăng Nghiêm th́ hay lắm,
tôi đỡ tốn công sức”. Tôi thưa: “Cũng
được ạ! Lăng Nghiêm và Pháp Hoa phân lượng
cũng chẳng sai khác nhau mấy, trong các kinh Đại Thừa,
địa vị của kinh ấy cũng từa tựa”.
Cổ nhân nói: “Khai trí huệ Lăng
Nghiêm, thành Phật Pháp Hoa”. Tôi nói được lắm,
tôi chấp nhận theo thầy học Lăng Nghiêm. Khi ấy,
tôi chẳng sưu tập tài liệu tham khảo cho kinh
Lăng Nghiêm. Ở Đài Loan, có thể t́m được
hai bản là bộ Giảng Nghĩa của pháp sư Viên
Anh và bộ Trực Giải của cư sĩ Tôn Trọng
Hà, do Khánh Phương thư cục ấn hành, chỉ có
hai loại ấy. Sau khi đă tới Đài Trung, vừa
nghe kinh, vừa t́m tài liệu tham khảo. Đắc lực
nhất là pháp sư Trí Khai thuộc Hương Cảng Phật
Kinh Lưu Thông Xứ đă giúp đỡ tôi rất lớn.
Đúng là Sư ở Hương Cảng đă toàn tâm toàn lực
sưu tập giùm tôi, trong một năm gom góp đến
mười mấy loại, đều là những bản
chú giải nổi tiếng của kinh Lăng Nghiêm. Về
sau, những bản chú giải kinh Lăng Nghiêm do chính ḿnh sưu
tập khắp nơi đại khái cũng có đến
ba mươi loại. Đó là tài liệu tham khảo để
học kinh. Trong sự tu học, duyên thật sự là mấu
chốt quyết định thành bại. Thâm nhập một
môn, nhất tâm thâm nhập, nhất định là sẽ có thành
tựu.
“Thử kiêm Lư Sự” (Kinh này
kiêm Lư và Sự), kinh này có Lư và Sự. Lư nhất tâm nói đến
cảnh giới cao nhất là “niệm mà vô niệm”, đó
là Thật Tướng. Vô niệm là ǵ? Vô niệm là nhất
tâm, nhất tâm là Thật Tướng, là chân tướng. Nhất
tâm là Lư, niệm là Sự. Sự chẳng trở ngại Lư,
Lư chẳng trở ngại Sự, “Lư Sự vô ngại” được nói trong kinh Hoa
Nghiêm đă hoàn toàn phơi bày trong kinh này. Ông Bành Tế Thanh nói
kinh Vô Lượng Thọ chính là Trung Bổn Hoa Nghiêm, kinh A Di
Đà là Tiểu Bổn Hoa Nghiêm. Chúng tôi hiểu rơ sự thật
này, nên bỏ qua kinh Hoa Nghiêm để chuyên tâm, chuyên chú
nơi kinh này. Kinh này không chỉ là tinh hoa của kinh Hoa
Nghiêm, mà c̣n là tinh hoa của kinh Lăng Nghiêm và Pháp Hoa. Bộ
kinh này là tinh hoa của ba bộ đại kinh. Ta niệm bản
tinh hoa hay hơn nhiều, cần ǵ phải chuốc phiền
phức học lắm thứ ngần ấy? Hao phí thời
gian, lăng phí tinh thần. Đây là lư do v́ sao cổ đại
đức đến tuổi xế chiều thảy đều
bỏ hết, thâm nhập một môn, đều niệm A Di
Đà Phật, là do có đạo lư như vậy đó. Thuở
trẻ v́ sao phải học nhiều thứ ngần ấy?
Vô tri! Kinh Địa Tạng bảo: “Cang cường nan hóa, nghiệp chướng thâm trọng”
(Ương ngạnh, khó dạy, nghiệp chướng sâu
nặng). Tuy thầy rát miệng buốt ḷng khuyên bảo, dạy
dỗ, vẫn y như cũ là bề ngoài tuân phụng,
trong ḷng chống trái, tới khi chính ḿnh thật sự hiểu
rơ, minh bạch, mới cảm tạ thầy, mới hối
hận chẳng kịp. Thuở ấy, nếu nghe lời
thầy, sẽ đỡ phải đi rất nhiều chặng
đường oan uổng, thành tựu của chính ḿnh nhất
định sẽ cao hơn hiện tại rất nhiều
tầng cấp! Do chính ḿnh đă trải nghiệm, lăng phí
khá nhiều thời gian nơi đại kinh, đại luận,
lầm lỡ rất nhiều thời gian, chẳng biết
lợi ích do chuyên công dốc sức và chuyên ṛng!
Nay
tôi cũng rát miệng buốt ḷng khuyên người khác. Tôi
là người đă trải qua, mấy ai tin tưởng?
Mấy ai chịu nghe theo? Chẳng chịu nghe, không tin, tôi
cũng liễu giải, v́ sao? Thuở ấy, thầy dạy
tôi, tôi cũng là như vậy! Do đó, làm sao tôi chẳng
biết tâm lư học tập của quư vị cho được?
Tôi đă đi qua con đường ấy. Người chịu
tin, chịu nghe là có phước. Kẻ không chịu nghe,
không chịu tin th́ phải đi theo con đường oan
uổng. Nếu thật sự có thể quay lại từ
con đường ấy, may mắn lắm! Chẳng quay lại
được, vĩnh viễn lạc lối, đại
khái chiếm tới chín mươi chín phần trăm, chẳng
quay lại được. Người quay lại quá ít,
tôi rất may mắn chuyển ḿnh quay lại được
nên mới có một chút thành tựu. Nếu chẳng quay về
được là thôi rồi! Kẻ chẳng quay lại th́
nhiều, người quay lại ít ỏi. Tôi có thể quay
đầu, nói thật ra, thật sự đắc lực
bởi Lăng Nghiêm và Hoa Nghiêm. Từ hai bộ kinh ấy,
biết Tịnh Tông là tinh hoa và tinh yếu của đại
kinh, hoàn toàn chẳng khác đại kinh, lại c̣n đơn
giản hơn đại kinh, càng dễ dàng khiến cho
chúng ta nắm được cương lănh của toàn bộ
các kinh. Nương theo phương pháp này để tu hành
th́ mới có thể trong một thời gian rất ngắn
đạt được lợi ích thù thắng thật sự.
“Thử kiêm Lư Sự” chính là
Lư Sự vô ngại trong kinh Hoa Nghiêm.
“Cái bỉ dĩ vô niệm chánh nhập,
thử dĩ hữu niệm xảo nhập” (Ấy là
v́ kinh kia dùng vô niệm để trực tiếp tiến
nhập, kinh này dùng hữu niệm để khéo léo tiến
nhập). Trực tiếp tiến nhập hay lắm,
nhưng khó khăn! V́ sao? Niệm cho hết Kiến Tư
phiền năo, đoạn Trần Sa phiền năo, cũng phá một
phẩm vô minh th́ mới tiến nhập. V́ sao niệm Phật
là xảo nhập? Chúng ta chẳng cần đoạn một
phẩm phiền năo nào, chỉ cần chế phục bèn tiến
nhập. Đă tiến nhập bèn như nhau! Quư vị nhập
trực tiếp, tốn nhiều thời gian và tinh thần
như vậy. Tôi xảo nhập, chẳng cần tốn
nhiều thời gian như vậy, mà cũng chẳng tốn
lắm tinh thần như thế, chúng ta đạt được
hiệu quả như nhau. Tác dụng khác nhau, phương
pháp xảo diệu khác nhau, “cứu
cánh bất thù” (đạt đến mục đích cuối
cùng chẳng khác nhau), đạt được công đức
lợi ích hoàn toàn giống nhau. “Thị
cố đồng danh Niệm Phật tam-muội” (V́ thế,
cùng gọi là Niệm Phật tam-muội). Chúng ta phải thật
sự suy nghĩ cặn kẽ, chú tâm lănh hội lời lẽ
khổ tâm khuyên dạy của Liên Tŕ đại sư. Do vậy,
tôi nói: Những lời lẽ này, nếu chẳng phải
là bậc từng trải, sẽ chẳng thể thốt
ra được, chẳng thể thấu hiểu
được! A! Chúng ta niệm Phật hồi hướng.
A Di Đà Kinh Sớ Sao
Diễn Nghĩa
Phần 120
hết
[1] Do ḥa thượng Tịnh Không lược
đi không giảng phần này, chúng tôi sao lục từ sách
Diễn Nghĩa lời chú giải về hai mươi
mốt môn Niệm Phật của tỳ-kheo Đức Vân
như sau:
“Ta đắc pháp môn Ức
Niệm Nhất Thiết Chư Phật Cảnh Giới Trí
Huệ Quang Minh Phổ Kiến”: ‘
Hai mươi mốt môn
niệm Phật là: Một, trí quang phổ chiếu, hai là
‘khiến cho hết thảy chúng sanh [niệm Phật]’, ba
là ‘khiến cho an trụ nơi lực’, bốn là ‘khiến
cho an trụ nơi pháp’. năm là ‘sáng ngời các
phương’, sáu là ‘vào chỗ chẳng thể thấy’,
bảy là ‘trụ trong các kiếp’, tám là ‘trụ trong
hết thảy thời’, chín là ‘trụ trong hết thảy
cơi’, mười là ‘trụ trong hết thảy đời’,
mười một là ‘trụ trong hết thảy cảnh’,
mười hai là ‘trụ tịch diệt’, mười ba là
‘trụ nơi viễn ly’, mười bốn là ‘trụ
rộng lớn’, mười lăm là ‘trụ vi tế’,
mười sáu là ‘trụ trang nghiêm’, mười bảy là
‘trụ năng sự’, mười tám là ‘trụ nơi tâm
tự tại’, mười chín là ‘trụ trong nghiệp
của chính ḿnh’, hai mươi là ‘trụ nơi thần
biến’, hai mươi mốt là ‘trụ hư không’. Trí
quang phổ chiếu là thường thấy hết
thảy các cơi Phật, các thứ cung điện thảy
đều trang nghiêm, thanh tịnh. Trụ hư không là quan
sát thân Như Lai nhiều như mây, trang nghiêm pháp giới
hư không”. Nếu muốn
t́m hiểu chi tiết hơn về hai mươi mốt
môn Niệm Phật này, xin hăy tham khảo bài giảng về
Tứ Thập Hoa Nghiêm Cát Tường Vân Tỳ Kheo
Chương của ḥa thượng Tịnh Không.
[2] Kinh này c̣n có tên là Di Lan Đà Vương
Vấn Kinh, gồm hai quyển, thường gọi
tắt là Na Tiên Kinh, được dịch sang tiếng Hán
dưới thời Đông Tấn, đă mất tên
người dịch. Kinh này ghi lại cuộc vấn
đáp giữa tỳ-kheo Na Tiên (Nāgasena, c̣n phiên âm là Na
Già Thê Na, Na Già Tư Na, dịch nghĩa là Long Quân, hoặc
Tượng Quân) và vua Di Lan Đà (Milinda hoặc Menandros),
quốc vương xứ Đại Hạ ở Tây
Bắc Ấn Độ. Qua cuộc vấn đáp ấy,
ngài Na Tiên đă hóa độ nhà vua quy kính Phật pháp.
Nội dung cuộc vấn đáp này xoay quanh những giáo
nghĩa duyên khởi, vô ngă, nghiệp báo, luân hồi v.v…
[3] Kinh này gồm sáu quyển do ngài Công Đức
Trực xứ Thiên Trúc cùng với ngài Huyền Sướng
dịch ra tiếng Hán vào đời Lưu Tống (tức
nhà Nam Tống thời Nam Bắc Triều, do Lưu Dụ
sáng lập). Kinh chủ yếu dạy về cách tu Thật
Tướng Niệm Phật tam-muội. Kinh này c̣n có
một bản dịch khác mang tên là Phật Thuyết
Đại Phương Đẳng Đại Tập
Bồ Tát Niệm Phật Tam Muội Kinh gồm
mười quyển do ngài Tam Tạng Đạt Ma Cấp
Đa xứ Thiên Trúc dịch vào đời Tùy.