A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

阿彌陀經疏鈔演義

Phần 122

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và Đức Phong

Tập 243

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang bốn trăm bảy mươi mốt:

 

      (Sao) Sở vị vô sanh vô diệt, tất cánh không tướng, tập như thị Quán, Ngũ Dục tự đoạn, Ngũ Cái tự trừ, Ngũ Căn tăng trưởng, tức đắc Thiền Định.

()所謂無生無滅,畢竟空相,習如是觀,五欲自斷,五蓋自除,五根增長,即得禪定。

(Sao: Đó gọi là “vô sanh vô diệt”, tướng rốt ráo là Không. Tu tập pháp Quán như thế, Ngũ Dục tự đoạn, Ngũ Cái tự trừ, Ngũ Căn tăng trưởng, liền đắc Thiền Định).

 

      Đoạn văn này trích từ kinh Pháp Hoa Tam Muội Quán. [Dùng câu] “vô sanh vô diệt, tất cánh không tướng” (chẳng sanh, chẳng diệt, tướng Không rốt ráo) để giải thích “nhất tướng, nhất môn” được nói trong phần trước. Cách nói này rất phổ biến trong hết thảy các kinh giáo Đại Thừa, nhất là kinh luận [thuộc hệ thống] Bát Nhă đă nói nhiều nhất, mà cũng là nói tỉ mỉ nhất. Có thể nói là bộ kinh Đại Bát Nhă gồm sáu trăm quyển nhằm giảng rơ chân tướng sự thật này. Chân tướng sự thật là hết thảy các pháp bất sanh bất diệt. “Không” chẳng có nghĩa là do “không có tướng” cho nên gọi là Không; chẳng phải vậy, [mà là] “đương thể tức không” (chính cái bản thể của nó là Không), cảnh giới này rất sâu, rất cao. “Tập như thị Quán” (Tu tập pháp Quán như thế), thường có thể quán tưởng như thế. “Quán như thế” th́ kinh Kim Cang Bát Nhă quen thuộc nhất đối với mọi người. Các kinh thuộc hệ thống Bát Nhă rất nhiều; trong đó, quen thuộc nhất đối với chúng ta là kinh Kim Cang Bát Nhă và Bát Nhă Tâm Kinh. Hai loại này thật sự là tinh hoa và cương yếu của Bát Nhă. Kinh Kim Cang dạy chúng ta: “Hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng, như sương, cũng như chớp, hăy nên quán như thế”. Đó là “tập như thị Quán” (tu tập pháp Quán như thế). Đức Phật đă dùng sáu chuyện ấy (mộng, huyễn, bọt, bóng, sương, chớp) để tỷ dụ hết thảy vạn pháp:

1) “Mộng” (): Phàm phu đều có thể nằm mộng. Thời gian nằm mộng rất ngắn ngủi. Sau khi tỉnh giấc, biết mộng là rỗng tuếch! Chẳng biết một đời người của chúng ta tuy là mấy chục năm nóng lạnh, nhưng trong khoảng thời gian và không gian vô tận, xác thực là ngắn ngủi như cảnh trong mộng! Quư vị thường tưởng như vậy, đó là sự thật, trọn chẳng phải là hư cấu.

2) Chúng ta thường nói “huyễn” () là làm tṛ ảo thuật. Ảo thuật được gọi là “huyễn thuật”, đương nhiên là giả, chẳng thật! Nhưng thủ pháp (kỹ xảo, tay nghề) của người ấy (người làm ảo thuật) rất cao minh; tuy giả, quư vị chẳng thể nhận biết, ngỡ nó là thật, thật ra là giả.

3) “Bào” () là bọt nước, giống như [bong bóng] xà pḥng. Trẻ nhỏ thổi bóng xà pḥng, thời gian [chúng tồn tại] rất ngắn, [trong khoảnh khắc] bèn vỡ tan.

4) “Ảnh” () là h́nh bóng.

5) “Lộ” () là sương sớm, mặt trời vừa mọc bèn chẳng c̣n!

6) “Điện” () là tia chớp.

Sáu thứ ấy đều có thời gian tồn tại rất ngắn, tỷ dụ những ǵ hư huyễn, chẳng thật!

      Nếu quư vị có thể thường học tập và quan sát như vậy, dùng tiêu chuẩn này để quan sát hết thảy vạn pháp trong vũ trụ và nhân sinh, tự nhiên đoạn được Ngũ Dục. Ngũ Dục là tài, sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ nghê; tự nhiên sẽ chẳng khởi tâm tham luyến đối với những thứ ấy. V́ sao? Hiểu chúng là giả, chẳng thật, sẽ có thể buông xuống. Đức Phật nói “chúng sanh mê” là mê những ǵ? Ngỡ thật là giả, coi giả là thật, hoàn toàn là điên đảo, nên gọi là “điên đảo vọng tưởng”. Hết thảy vạn pháp trong thế gian vô thường, giả trất, chúng ta ngỡ chúng nó là thật. Thường trụ chân tâm, bất sanh, bất diệt, đó là thật; trong kinh, đức Phật thường dạy như thế, chúng ta khăng khăng nghĩ nó là giả, chẳng lưu ư đến nó, đó là điên đảo. Đối với chân, vọng, tà, chánh, thị, phi, thiện, ác đều điên đảo! Đă hiểu rơ chân tướng sự thật, sẽ tự nhiên đoạn được ư niệm tham luyến đối với ngũ dục lục trần. Chư vị phải biết “Ngũ Dục chi đoạn” (đoạn Ngũ Dục) chẳng phải là không có Ngũ Dục! Ngũ Dục chẳng gây trở ngại, cái gây trở ngại chính là tâm tham luyến Ngũ Dục! Phải đoạn cái tâm ấy, phải hiểu rơ đạo lư này! “Ngũ Cái tự trừ”, Ngũ Cái (五蓋) là tham, sân, si, ngủ nghê, điệu hối (掉悔,trạo hối, tức tâm lao chao, hay hối hận), năm thứ ấy. Tham, sân, si là Tam Độc phiền năo, [cùng với] ngủ nghê và điệu hối đều có thể che lấp bản tánh, khiến cho tâm tánh của chúng ta chẳng thể thấu lộ. Do vậy, chúng được gọi là Ngũ Cái (năm thứ che đậy). Ngũ Cái cũng mang ư nghĩa phiền năo. Ngủ nghê là hôn trầm, tinh thần chẳng thể phấn chấn. “Điệu” () là điệu cử (掉舉: lao chao), “điệu cử” có nghĩa là tâm chẳng thể định, trong tâm quá nhiều vọng tưởng, quá nhiều ư niệm. Đặc biệt là khi chúng ta tĩnh tọa, hoặc lúc chỉ tĩnh trong khi niệm Phật, vọng niệm trong tâm đặc biệt nhiều. Đó là “điệu cử”. “Hối” () là nghi hối (疑悔: nghi ngờ, hối hận). Thường là kẻ làm chuyện ǵ, hoặc là tu hành, học theo pháp môn này, thấy pháp môn của kẻ khác bèn có ḷng hối hận [sao ta chẳng học pháp môn ấy, sao lại tu tập pháp môn này]. Hậu hối (hối hận) thuộc loại hoài nghi, chúng ta thường nói là “nghi hối”, thảy đều là chướng ngại, chướng ngại cái tâm thanh tịnh của quư vị, khiến cho tâm chẳng thanh tịnh. Nói theo pháp Niệm Phật, th́ là: Chẳng thể thành tựu Niệm Phật tam-muội, bị nó (nghi hối) chướng ngại. Nếu chúng ta thật sự có thể thấy thấu suốt những phiền năo ấy, sẽ tự nhiên buông xuống, Ngũ Cái tự trừ. “Ngũ Căn tăng trưởng”: Ngũ Căn là Tín, Tấn, Niệm, Định, Huệ. Đă đắc Thiền Định, Thiền Định ấy chính là Pháp Hoa tam-muội.

 

      (Sao) Thích viết: Nhất xưng thành Phật giả, quy mạng nhất tâm, vô bất thành Phật.

      ()釋曰:一稱成佛者,歸命一心,無不成佛。

(Sao: Giải thích rằng: “Vừa xưng bèn thành Phật” chính là quy mạng nhất tâm, chẳng có ai không thành Phật).

 

      “Thích viết” (釋曰) là giải thích. Kinh nói: “Nhất xưng nam-mô Phật, giai đương tác Phật” (Vừa xưng Nam-mô Phật, đều sẽ thành Phật), đạo lư ở chỗ nào? Ở đây, đă nói rơ: Đạo lư là “quy mạng nhất tâm”. Nhất tâm là bản tánh, là chân tâm. Nhà Thiền nói “minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật”, chính là đạo lư như thế đó. V́ thế, tám vạn bốn ngàn pháp môn, môn nào cũng đều có thể thành tựu Phật đạo. Nói cách khác, mục đích cuối cùng của pháp môn nào cũng đều là minh tâm kiến tánh. Không chỉ Thiền Tông là như thế, mà các pháp môn khác cũng chẳng có ngoại lệ. Tịnh Độ Tông cũng chẳng phải là ngoại lệ. Lư nhất tâm bất loạn được nói trong Tịnh Độ Tông chính là minh tâm kiến tánh. Nói cách khác, danh từ khác nhau, cảnh giới thực tế giống hệt! Điểm thù thắng của Tịnh Tông là trực tiếp tu nhất tâm. Thiền Tông cũng thù thắng, Thiền Tông cũng là trực tiếp tu nhất tâm, nhưng nó sử dụng phương pháp khác với Tịnh Tông. Thiền sử dụng phương pháp trực tiếp là quán tâm, hoặc tham thoại đầu. Nhất là quán tâm, đích xác là trực tiếp; nhưng kẻ căn tánh trung hạ chẳng dùng được. Kẻ căn tánh trung hạ vọng tưởng quá nhiều, phiền năo quá nặng, quán chẳng thành công, gặp chướng ngại. Do có Ngũ Cái chướng ngại quư vị, quư vị chẳng thể thành tựu. So giữa pháp môn Tịnh Tông và pháp môn Thiền Tông, nói thật ra, [Tịnh Tông] cũng là trực tiếp, nhưng phương cách thù thắng hơn Thiền Tông, thù thắng ở chỗ nào? Chúng ta lấy ngay Như Lai quả địa, thường gọi là “quả địa giác” (sự giác ngộ khi đă chứng quả), một câu A Di Đà Phật chính là sự chánh giác được thành tựu nơi quả địa Như Lai, chúng ta dùng ngay điều này làm “nhân địa tâm” (cái tâm trong khi tu nhân), cho nên thù thắng! Tu trực tiếp từ nơi quả, chẳng như các pháp môn khác tu nhân để chứng quả, tức là từ nhân đạt đến quả. Chúng ta tu tập ngay nơi quả, trực tiếp tu từ nơi quả, nhất định phải nhận thức rơ ràng điều này! Khá nhiều kẻ do chẳng hiểu rơ nên có lắm ư kiến, lắm nỗi hiểu lầm, lắm điều hoài nghi, khiến cho pháp môn thù thắng này ngay trước mặt mà bỏ lỡ, thật đáng tiếc quá! Kinh Di Đà dạy chúng ta “nhất tâm bất loạn”, cả một đoạn văn rất dài này nhằm giải thích một câu “nhất tâm bất loạn”, chiếm đến một phần tám của cả bộ Sớ Sao của Liên Tŕ đại sư. Nguyên lai bộ kinh này là sách được khâu gáy bằng chỉ gồm bốn quyển, chỉ riêng phần giảng về “nhất tâm bất loạn” đă chiếm hết nửa quyển. Do vậy, đối với phân lượng như vậy, quư vị nghĩ xem: Nó chiếm một tỷ lệ khá lớn. Nói cách khác, câu “nhất tâm bất loạn” trong kinh Di Đà hết sức quan trọng. Chúng ta dùng phương pháp “tín nguyện tŕ danh” [để đạt đến] mục tiêu “quy mạng nhất tâm”. Đắc nhất tâm bèn thành Phật, đạo lư là như thế đó!

 

(Sao) Dĩ ly tự tâm nhất tướng nhất môn ngoại, cánh vô hữu pháp khả tác quy y.

()以離自心一相一門外,更無有法可作皈依。

(Sao: Bởi ĺa ngoài “nhất tướng, nhất môn” nơi tự tâm ra, chẳng có pháp nào khác để có thể quy y).

 

      Chúng ta phải nhớ kỹ câu này. Trong tu học Phật pháp, có một câu thường nói rất hay: “Pháp môn b́nh đẳng, chẳng có cao thấp”. Đó là thật, chẳng giả! Nhưng trong tu học, nhất định phải thâm nhập một môn. V́ sao? Nhất môn nhất tướng sẽ dễ đắc nhất tâm. Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát nói rất hay: “Niệm Phật kỵ nhất là xen tạp”. Chúng ta hỏi: Tham Thiền kỵ nhất điều ǵ? Cũng là xen tạp! Tu Chỉ Quán kỵ nhất vẫn là xen tạp. Cũng thế, đối với tám vạn bốn ngàn pháp môn, quư vị phải tu sao cho hễ tu một pháp môn bèn chuyên ṛng nơi pháp môn ấy, chẳng thể xen tạp pháp môn khác. Nếu quư vị hỏi v́ sao ư? V́ xen tạp pháp môn khác, sẽ chẳng phải là “nhất môn, nhất tướng”, muốn đắc nhất tâm khó lắm! Nếu hành theo pháp môn Thiền th́ phải chuyên tâm nơi Thiền. Tông phái trong Giáo Hạ rất nhiều, học Hiền Thủ bèn chuyên tâm nơi Hoa Nghiêm, học Thiên Thai bèn chuyên tâm nơi Pháp Hoa, thảy đều có thể khai ngộ, đều có thể minh tâm kiến tánh, chớ nên học tràn lan quá nhiều! Học tràn lan quá nhiều, sẽ biến thành Phật học thường thức, nay chúng ta gọi [kẻ như vậy] là nhà Phật học. Nhà Phật học chẳng thể thành Phật, vẫn phải luân hồi trong lục đạo, chớ nên không biết điều này! “Ly tự tâm nhất tướng nhất môn ngoại” (Ĺa ngoài nhất tướng nhất môn nơi tự tâm ra), chẳng có chỗ để quy y! Chúng ta học Phật bèn từ Tam Quy để nhập môn. Tam Quy phải quy nhất th́ quư vị mới có thể thành tựu.

 

      (Sao) Tất cánh không tịch, như thị quán giả, Ngũ Dục tự đoạn, năi chí Lục Độ, vạn hạnh, tất giai thành tựu.

      ()畢竟空寂,如是觀者,五欲自斷。乃至六度萬行,悉皆成就。

(Sao: Rốt ráo không tịch, quán như thế th́ Ngũ Dục tự đoạn, cho đến lục độ, vạn hạnh thảy đều thành tựu).

 

      Thường có thể quán như thế, phép Quán ấy là trí huệ, là học vấn, chúng ta thường nói là “thấy thấu suốt”. Quán như thế là thấy thấu suốt. Dùng kinh Kim Cang [để giải thích] th́ sẽ hết sức dễ hiểu: “Phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng”, quư vị thật sự thấy thấu suốt. Đă thấy thấu suốt, quư vị sẽ chẳng chấp trước, đoạn trừ Ngũ Dục và Ngũ Cái rất dễ dàng!

 

      (Sao) Như thượng sở thuyết, phi Lư nhất tâm nhi hà?

      ()如上所說,非理一心而何。

(Sao: Những điều vừa nói trên đây nếu chẳng phải là Lư nhất tâm th́ sẽ là ǵ vậy?)

 

      Nói theo Pháp Hoa Tam Muội Quán Kinh, cảnh giới ấy xác thực là Lư nhất tâm, chẳng phải là Sự nhất tâm, cảnh giới ấy hết sức cao. Sự nhất tâm là đắc Thiền Định, Lư nhất tâm là khai trí huệ. Chỉ có trí huệ th́ mới có thể chiếu tan vô minh phiền năo, khiến nó chẳng c̣n nữa!

 

      (Sao) Hựu Phật Danh kinh vân: “Nhất văn Phật danh, diệt vô lượng kiếp sanh tử chi tội”. “Nhất văn” tắc bất đăi xưng niệm, “vô lượng” tắc bất chỉ bát thập ức kiếp.

      ()又佛名經云:一聞佛名,滅無量劫生死之罪。一聞則不待稱念,無量則不止八十億劫。

(Sao: Kinh Phật Danh lại nói: “Vừa nghe danh hiệu Phật bèn diệt tội trong vô lượng kiếp sanh tử”. Chỉ là nghe, chưa đợi tới lúc xưng niệm, [kinh nói] “vô lượng” tức là [do nghe danh hiệu, sẽ diệt tội] không chỉ là tám mươi ức kiếp).

      Trong Quán Kinh có nói: “Xưng danh hiệu A Di Đà Phật một lượt, diệt trọng tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử”. Trong phần trên đă có nói, [xưng niệm bằng] Lư nhất tâm th́ mới có hiệu quả ấy. Nay chúng ta niệm A Di Đà Phật chẳng có hiệu quả ấy! Chẳng cần nói là tám mươi ức kiếp, niệm một vạn tiếng cũng chẳng thể diệt tội trong một ức kiếp! Đó là chân lư, v́ sao? Tâm chẳng thanh tịnh; do vậy, chẳng tương ứng. Kinh Phật Danh nói: “Nhất văn Phật danh”, [nghĩa là] c̣n chưa niệm, chỉ nghe danh hiệu của một vị Phật. Toàn thể kinh Phật Danh đều là danh hiệu Phật, tổng cộng gồm một vạn hai ngàn mấy danh hiệu các vị Phật. Quư vị nghe danh hiệu của một vị Phật bèn diệt tội trong vô lượng kiếp sanh tử, c̣n chưa niệm, chỉ nghe đôi chút! Do đó, vào dịp Tết, trong các đạo tràng người ta đều lạy Vạn Phật Sám, nghe [danh hiệu] của một vị Phật bèn diệt tội trong vô lượng kiếp sanh tử; nghe [danh hiệu của] một vạn hai ngàn mấy vị Phật sẽ diệt tội hằng sa! Đạo tràng nhỏ này của chúng ta hằng năm chọn Thiên Phật Sám, gồm ba ngàn danh hiệu Phật, tức là một ngàn vị Phật trong quá khứ, một ngàn vị Phật trong hiện tại, một ngàn vị Phật trong vị lai. Nghe danh hiệu của một vị Phật sẽ diệt tội trong vô lượng kiếp sanh tử, kinh nói như vậy có đáng tin hay không? Nếu tương ứng, chắc chắn là đáng tin cậy, đó là sự thật. Chẳng tương ứng th́ không được. Chúng ta xem lời giải thích dưới đây của Liên Tŕ đại sư sẽ hiểu ngay!

 

      (Sao) Nhân di ước nhi quả di quảng.

     ()因彌約而果彌廣。

      (Sao: Nhân quá đơn giản, mà quả quá rộng lớn).

 

      “Ước” () là đơn giản. “Nhân” quá đơn giản, nghe một câu danh hiệu Phật, niệm một câu danh hiệu Phật, cái nhân này quá đơn giản! “Quả di quảng”, nghĩa là chẳng ngờ quả rộng lớn dường ấy!

 

      (Sao) Phi Lư nhất tâm, an đắc trí thử.

      ()非理一心,安得致此。

      (Sao: Chẳng phải là Lư nhất tâm th́ làm sao đạt đến như vậy được?)

 

      Nói lời chân thật! Nếu quư vị chẳng phải là Lư nhất tâm, dẫu nghe danh hiệu Phật, hoặc niệm danh hiệu Phật cũng đều chẳng thể diệt tội, phải biết điều này. Do đó, điều then chốt là nhất tâm. Nay chúng ta niệm Phật, chính là loạn tâm niệm Phật. Loạn tâm niệm Phật, có lợi ích ǵ chăng? Gieo chủng tử Phật vào A Lại Da Thức. Đời này gặp quả báo ǵ, vẫn phải hứng chịu quả báo ấy, quyết định là chẳng tránh được, sanh tử luân hồi quyết định chẳng tránh khỏi. V́ sao? Quư vị chẳng đắc nhất tâm.

 

(Sao) Đản hoạn tâm chi bất nhất, hà lự tội chi bất diệt.

()但患心之不一,何慮罪之不滅。

(Sao: Chỉ lo chẳng nhất tâm, lo chi tội chẳng diệt!)

 

      Sau khi đă nói toạc chân tướng sự thật này, trong câu cuối cùng này, Liên Tŕ đại sư đă khích lệ chúng ta, rất khẩn yếu: Nay chúng ta sợ là sợ chẳng nhất tâm, chẳng sợ tội không diệt. Hễ nhất tâm, tội liền diệt. Đạo lư này chẳng khó hiểu. Nếu chư vị cẩn thận quan sát sự thật, sẽ rất dễ dàng phát hiện! Chúng tôi nêu một thí dụ đơn giản nhất: Người tâm địa thanh tịnh, vẻ mặt thường lộ vẻ tươi cười. Người tâm địa thanh tịnh chẳng dễ ǵ suy lăo. Người tâm địa thanh tịnh chẳng dễ mắc bệnh. Có thể thấy quả báo ở mức độ nông cạn, dễ thấy đó. Do vậy có thể biết: Tâm càng thanh tịnh, cảnh giới càng tốt đẹp. Thanh tịnh đến tột bậc bèn thành Phật. V́ thế có thể biết: Thành Phật là tiêu diệt sạch sành sanh tội nghiệp! Từ đây, chúng ta có được một kết luận: Tâm thanh tịnh một phần bèn diệt tội một phần, tâm thanh tịnh hai phần bèn diệt tội hai phần. Đạo lư là như vậy đó. Nghe danh hiệu Phật, xưng danh hiệu Phật, diệt tội hằng sa, đó là tâm thanh tịnh đă đạt đến mức độ kha khá th́ mới có công lực ấy. Bậc Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo phá một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân, chân tâm hiển lộ. Chân tâm là tâm thanh tịnh, tuy mới lộ chút ít, chút ít ấy chính là chân tâm, chẳng phải là vọng tâm. Vọng tâm có giới hạn, có phân biệt, có chấp trước, có phạm vi. Chân tâm chẳng có phân biệt, chẳng có chấp trước, chẳng có phạm vi. Do đó, nó có hiệu quả diệt tội to tát. Nay phạm vi diệt tội của chúng ta rất bé. V́ sao? Tâm lượng của quư vị rất nhỏ hẹp, đó là chân tướng sự thật. Do vậy, tâm quư vị càng lớn, diệt tội càng nhiều; tâm lượng càng bé, diệt tội cũng ít đi. Do chân tâm và vọng tâm chẳng giống nhau, hiệu quả và tác dụng của chúng cũng chẳng giống nhau!

 

      (Sớ) Cố tri cổ nhân tri kiến bất phổ chi luận, năi chí định tâm chuyên tâm chi biện, lương diêu thả tựu Sự chi nhất tâm, phi Lư nhất cố.

      ()故知古人知見不普之論,乃至定心專心之辨,良繇且就事之一心,非理一故。

(Sớ: V́ thế biết là cổ nhân có lời luận định [những kẻ cầu sanh Tịnh Độ] là do tri kiến chẳng trọn khắp, cho đến biện luận về định tâm và chuyên tâm, chính là dựa theo Sự nhất tâm [để phán định], chẳng phải là dựa theo Lư nhất tâm).

      Trong lời Sao có giải thích đoạn văn này.

 

      (Sao) Tri kiến bất phổ giả, Hoa Nghiêm Luận vân: “Nhất Thừa đại đạo, phi nhạo sanh Tịnh Độ Bồ Tát cảnh giới, dĩ t́nh tồn tịnh uế, tri kiến bất phổ”.

      ()知見不普者,華嚴論云:一乘大道,非樂生淨土菩薩境界,以情存淨穢,知見不普。

(Sao: “Tri kiến chẳng trọn khắp”: Hoa Nghiêm Hợp Luận nói: “Nhất Thừa đại đạo chẳng phải là cảnh giới của hàng Bồ Tát thích sanh về Tịnh Độ, [v́ ưa thích cầu sanh về Tịnh Độ] tức là c̣n có t́nh kiến tịnh và uế, cho nên tri kiến chẳng trọn khắp”).

 

      “Hoa Nghiêm Luận” chính là Hoa Nghiêm Hợp Luận, tức là tác phẩm chú giải [kinh Hoa Nghiêm] của Lư Trưởng Giả[1]. Trưởng Giả cũng là người rất lỗi lạc, thế nhưng bản kinh Hoa Nghiêm do lăo nhân gia xem thuở sinh tiền là bản chưa hoàn chỉnh, cũng có nghĩa là Ngài chẳng thấy phần kết luận cuối cùng của kinh Hoa Nghiêm. V́ thế, kiến giải đối với Hoa Nghiêm có phần lệch lạc. Chẳng như Thanh Lương đại sư, Thanh Lương đại sư đă xem Tứ Thập Hoa Nghiêm[2]. Cuối bộ Tứ Thập Hoa Nghiêm, Phổ Hiền Bồ Tát dùng mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc, Hoa Nghiêm mới viên măn. Lư Trưởng Giả chẳng thấy phần kinh điển này; v́ thế, Ngài mới nói đến “Nhất Thừa đại đạo”. Chữ “Nhất Thừa đại đạo” chỉ Hoa Nghiêm. Đối với hết thảy các kinh do Thích Ca Mâu Ni Phật đă nói trong bốn mươi chín năm, các vị cổ đức đă phán định Hoa Nghiêm là Nhất Thừa, phán định Pháp Hoa là Nhất Thừa, [cũng như] kinh Phạm Vơng được phán định là Nhất Thừa. Kinh Nhất Thừa chỉ có ba bộ, những kinh khác giảng về Đại Thừa hoặc Tiểu Thừa. Tại Trung Hoa, kinh Đại Thừa nhiều hơn kinh Tiểu Thừa. [Lư Trưởng Giả cho rằng] “Nhất Thừa đại đạo” chẳng phải là cảnh giới của hàng Bồ Tát thích sanh về Tịnh Độ. Chữ “Nhạo” () nên hiểu là ưa thích. [“Nhạo sanh Tịnh Độ”] là nói tới hàng Bồ Tát ưa thích cầu sanh Tịnh Độ. V́ sao? V́ cầu sanh Tịnh Độ, [tức là c̣n thấy] tịnh và uế đối lập. Tịnh và uế là hai pháp, Lục Tổ bảo “hai pháp chẳng phải là Phật pháp”. Nói cách khác, tâm chẳng thật sự thanh tịnh. Thật sự thanh tịnh th́ hai bên tịnh và uế đều chẳng lập, đó mới là chân tịnh. V́ thế bảo là “tri kiến bất phổ” (tri kiến chẳng trọn khắp). [Trong cách nh́n của Lư Trưởng Giả], những vị Bồ Tát một mực cầu sanh Tịnh Độ vẫn c̣n thiên kiến, tri kiến chẳng viên. “Phổ” () có nghĩa là viên, [“tri kiến bất phổ”] là tri kiến chẳng viên. Chúng ta hăy xem Liên Tŕ đại sư nói như thế nào!

 

      (Sao) Kim vị thử chỉ cẩn đắc Sự nhất tâm giả, nhược đắc Lư nhất, tắc diệu ngộ nhất tâm, hữu hà tịnh uế.

      ()今謂此指僅得事一心者,若得理一,則妙悟一心,有何淨穢。

(Sao: Nay tôi nói: Đấy là nói về người chỉ đắc Sự nhất tâm, chứ nếu đă đắc Lư nhất tâm bèn diệu ngộ nhất tâm, há c̣n có tịnh uế chi nữa!)

 

      Lời phản bác của Liên Tŕ đại sư hết sức mạnh mẽ, hợp lư lắm! Lư Trưởng Giả nh́n theo Sự nhất tâm bất loạn. Trong Sự nhất tâm bất loạn, thật sự có Năng, có Sở, xác thực là “tri kiến bất phổ”. Nếu là Lư nhất tâm, sẽ chẳng hai, chẳng khác “Nhất Thừa đại đạo” như Hoa Nghiêm đă nói. Nói thật ra, Lư Trưởng Giả chẳng thấy Tứ Thập Hoa Nghiêm. Nếu thấy Tứ Thập Hoa Nghiêm, thấy Văn Thù và Phổ Hiền đều phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ, Ngài cũng chẳng dám nói câu này! Văn Thù, Phổ Hiền là nhân vật cỡ nào? Các Ngài đều nóng ḷng muốn nhanh chóng cầu sanh Tịnh Độ, làm sao có thể nói Nhất Thừa đại đạo chẳng phải là cảnh giới của hàng Bồ Tát thích sanh về Tịnh Độ cho được? Ngài chẳng thể thấy đoạn sau của kinh ấy, cho nên mới hiểu lầm như vậy. Nếu thấy trong phần sau [kinh Hoa Nghiêm], Văn Thù Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát đều phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ, nhất định là Lư Trưởng Giả chẳng đến nỗi nói theo kiểu ấy. Bởi lẽ, trong nhất tâm có Sự nhất tâm và Lư nhất tâm, tuy nói tới Niệm Phật tam-muội, nói nhất tâm bất loạn, tuy cùng là đắc nhất tâm bất loạn như nhau, nhưng mức độ trong ấy cạn hay sâu sai khác rất lớn. Nói theo Lư nhất tâm, bậc Sơ Trụ trong Viên Giáo là Lư nhất tâm, Đẳng Giác Bồ Tát cũng là Lư nhất tâm. Trong Viên Giáo, từ Sơ Trụ đến Đẳng Giác là bốn mươi mốt đẳng cấp. Do vậy có thể biết: Lư nhất tâm gồm bốn mươi mốt đẳng cấp cạn hay sâu khác biệt. Lư nhất tâm là như thế, đương nhiên Sự nhất tâm cũng chẳng phải là ngoại lệ. Sự nhất tâm cũng có thứ tự cạn hay sâu sai khác. Chúng ta thường nói “công phu thành phiến”, đó là Sự nhất tâm nông cạn. Kiến Tư phiền năo đều đoạn, đó là Sự nhất tâm ở mức độ sâu. Những đẳng cấp này đều chưa kiến tánh, vẫn c̣n có Năng và Sở.

      Pháp môn thù thắng, thù thắng ở chỗ nào? Chúng ta ắt cần phải biết điều này: Đối với các pháp môn khác, kể cả Thiền Tông trong ấy, nếu chẳng thể tu thành công Cửu Thứ Đệ Định, sẽ chẳng thể thoát tam giới, quư vị biết là khó khăn lắm! [Chứng đắc] Tứ Thiền Bát Định bất quá sanh lên Tứ Thiền Thiên hoặc Tứ Không Thiên mà thôi, chẳng thoát khỏi tam giới. Chẳng thoát khỏi tam giới, sẽ chẳng tránh khỏi luân hồi, nhất định phải hứng chịu quả báo luân hồi, mới biết thoát tam giới thật khó! Trong hết thảy các pháp môn, chỉ riêng pháp môn Tịnh Tông, chỉ cần đắc Sự nhất tâm ở mức độ nông cạn, là đă có thể đới nghiệp văng sanh. Pháp môn này thù thắng ở ngay chỗ này. Chúng ta xem kinh luận hoặc chú sớ của cổ đại đức, đều thấy nói chỗ thù thắng của Tây Phương Tịnh Độ không thuộc hai cơi trên. “Hai cơi trên” chính là cơi Phương Tiện Hữu Dư và cơi Thật Báo Trang Nghiêm, hai cơi ấy chẳng khác ǵ [các cơi Tịnh Độ trong] mười phương thế giới, chỗ thù thắng nhất trong [Tây Phương Cực Lạc Tịnh Độ] là cơi Phàm Thánh Đồng Cư. Cơi Đồng Cư trong các thế giới của tất cả hết thảy chư Phật đều chẳng thể sánh bằng cơi Phàm Thánh Đồng Cư của Cực Lạc, [thù thắng là v́] có đới nghiệp văng sanh. Hễ sanh vào cơi Phàm Thánh Đồng Cư [của Cực Lạc] th́ Bồ Tát trong cả bốn cơi quư vị đều thấy; đó là chỗ thù thắng bậc nhất. Như thế giới của chúng ta là cơi Phàm Thánh Đồng Cư của Thích Ca Mâu Ni Phật, chúng ta sống trong thế gian này, nghe nói có Quán Âm Bồ Tát, có Địa Tạng Bồ Tát, Văn Thù, Phổ Hiền, có những vị đại Bồ Tát như vậy, nhưng ai đă từng thấy? Có th́ có đấy, nhưng quá ít! [Những người được thấy là do] nhân duyên đặc thù; tuy thấy, bất quá thời gian rất ngắn ngủi, ngẫu nhiên thấy một lát rồi chẳng thấy nữa. Chẳng giống như trong thế giới Tây Phương, những vị đại Bồ Tát ấy hằng ngày ở cùng một chỗ với quư vị, thời thời khắc khắc chẳng ĺa. Duyên thù thắng như vậy t́m chẳng thấy trong khắp mười phương thế giới, chỉ riêng Tây Phương [là có]! Bởi lẽ, bốn cơi Tịnh Độ của Cực Lạc xếp thành hàng ngang, chẳng phải là xếp theo chiều dọc, mà là xếp ngang nhau, bốn cơi đều ở cùng một chỗ. Bốn cơi của những vị Phật khác chẳng ở cùng một chỗ. Thế giới Sa Bà của Thích Ca Mâu Ni Phật cũng có cơi Thật Báo, cũng có cơi Phương Tiện, nhưng không ở cùng một chỗ. V́ thế, trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư, chúng ta chẳng thấy Bồ Tát trong cơi Phương Tiện và cơi Thật Báo. Nhất định phải hiểu rơ sự thù thắng của Tịnh Độ. Sau khi đă hiểu rơ, nguyện vọng cầu sanh của chúng ta mới khẩn thiết. V́ sao phải sanh về thế giới Tây Phương? Chính là v́ hằng ngày được ở cùng chỗ với chư Phật, Bồ Tát, được nhóm họp cùng một chỗ với các vị thượng thiện nhân. Từ xưa tới nay, người thế gian thường nói: “Làm việc khó, làm người càng khó hơn”. Làm việc rất khó, đối xử với người khác càng khó hơn, t́nh cảm của con người biến hóa quá lớn, khổ nạn trong ấy càng nhiều. Tâm địa của mỗi cá nhân trong Tây Phương Cực Lạc thế giới đều thanh tịnh, cư xử với nhau rất tốt đẹp; đây cũng là như tục ngữ thường nói: “Thiên thời chẳng bằng địa lợi, địa lợi chẳng bằng nhân ḥa”. Nhân ḥa trong Tây Phương Cực Lạc thế giới đạt tới đỉnh cao nhất. Nếu nhân ḥa đă viên măn; khi ấy, c̣n phải bàn đến thiên thời và địa lợi chi nữa! V́ thế, nếu nói đến thiên thời, địa lợi, và nhân ḥa, thế giới Tây Phương bậc nhất, cơi Phật nào cũng chẳng thể sánh bằng! Do vậy, ở đây, đại sư đă minh bạch chỉ rơ: Nếu đắc Lư nhất tâm bất loạn, sẽ chẳng hai, chẳng khác cảnh giới Hoa Nghiêm. “Nhược đắc Lư nhất, tắc diệu ngộ nhất tâm, hữu hà tịnh uế” (Nếu đắc Lư nhất tâm, sẽ diệu ngộ nhất tâm, c̣n có tịnh uế chi nữa).

 

      (Sao) Nhiên tuy tri b́nh đẳng pháp giới, vô sanh khả độ, nhi thường tu Tịnh Độ, giáo hóa chúng sanh, chánh sở vị Nhất Thừa đại đạo dă.

      ()然雖知平等法界,無生可度,而常修淨土,教化眾生,正所謂一乘大道也。

(Sao: Nhưng tuy biết pháp giới b́nh đẳng, không có chúng sanh để có thể độ, nhưng thường tu Tịnh Độ, giáo hóa chúng sanh, điều ấy được gọi là Nhất Thừa đại đạo).

 

      Phật pháp thường nói tới đại từ đại bi. Chẳng cần nói tới quả địa Như Lai, Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo vừa mới đắc Lư nhất tâm đă kiến tánh. Kiến tánh bèn đạt đến cảnh giới này, toàn bộ ư niệm thị phi, nhân ngă, Năng, Sở đều chẳng có. Sơ Trụ trong Viên Giáo thuộc về cảnh giới này; khi ấy, Ngài nhập pháp giới b́nh đẳng. Trong Ngũ Châu Nhân Quả (năm tầng nhân quả) của kinh Hoa Nghiêm, tầng thứ ba là nhân quả b́nh đẳng, khế nhập cảnh giới này. Vạn pháp b́nh đẳng, chúng sanh và Phật đương nhiên b́nh đẳng. Do vậy, đức Phật “vô sanh khả độ” (không có chúng sanh để có thể độ), đức Phật chẳng độ chúng sanh. Tuy chẳng độ chúng sanh, vẫn thường nêu gương độ chúng sanh, vẫn thường phải làm những chuyện độ chúng sanh, đó là “thường tu Tịnh Độ, giáo hóa chúng sanh”. Do nguyên nhân nào? Đó là đại từ đại bi. Ta đă nhập cảnh giới này, nhưng c̣n có rất nhiều kẻ mê hoặc, điên đảo, chúng ta phải giúp đỡ họ, đó gọi là “thả chiếc bè Từ, nương theo nguyện trở lại”. Đấy là đại từ đại bi, mới thật sự là “Nhất Thừa đại đạo”, là Lư Sự viên dung. Đối với kinh Hoa Nghiêm, Thanh Lương đại sư nêu ra bốn pháp giới chẳng thể nghĩ bàn, tức là [Lư vô ngại, Sự vô ngại], Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại. Nếu thành Phật, thành Bồ Tát mà chẳng độ chúng sanh, sẽ chẳng khác Tiểu Thừa, đọa trong Thiên Chân Niết Bàn, có Lư mà chẳng có Sự. Tiểu Thừa chẳng dám độ chúng sanh, v́ sao? Độ chúng sanh quá phiền phức. Chúng sanh khó độ, ương ngạnh, khó thể giáo hóa, họ chẳng mong chuốc lấy nỗi phiền phức ấy. Sở dĩ họ chẳng mong chuốc lấy phiền phức, là v́ chính họ c̣n vướng phiền phức. Nói cách khác, chính họ c̣n có chướng ngại, đối với Lư Sự có chướng ngại, đối với Sự Sự có chướng ngại, cho nên thôi đi, chẳng độ [chúng sanh] nữa! Lư nhất tâm bất loạn Bồ Tát, tâm địa đạt tới thanh tịnh thật sự, Lư Sự chẳng có chướng ngại, Sự Sự cũng chẳng có chướng ngại, độ mà chẳng độ, chẳng độ mà độ, độ chúng sanh và chẳng độ là cùng một chuyện, chẳng phải là hai chuyện. Đối với hàng Tiểu Thừa, độ và chẳng độ là hai chuyện. Đối với Bồ Tát [đă đắc Lư nhất tâm], độ và chẳng độ là một chuyện. V́ thế, Ngài chẳng có chướng ngại, đó mới là “Lư Sự viên dung, Sự Sự viên dung, chẳng có chướng ngại”. Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo đă nhập cảnh giới này, há có lẽ nào chẳng độ chúng sanh? Ngài độ chúng sanh, đối với chính Ngài có trở ngại ǵ không? Quyết định là chẳng bị trở ngại! V́ lẽ đó, Quán Âm Bồ Tát là “ngàn xứ khẩn cầu, ngàn xứ ứng”, cảm ứng đạo giao; chúng sanh có cảm, Bồ Tát bèn có ứng. Quán Âm Bồ Tát là như thế, mà tất cả hết thảy Bồ Tát đều là như thế. Đó gọi là Nhất Thừa đại đạo.

 

      (Sao) Tri kiến chi phổ, thục quá ư thị?         

      ()知見之普,孰過於是。

(Sao: Tri kiến trọn khắp, có ǵ trỗi vượt điều này được nữa?)

 

      “Phổ” () là viên, “tri kiến” viên măn, há c̣n có thể vượt trỗi pháp này (Lư nhất tâm) được ư?

 

      (Sao) Hựu Phổ Hiền Bồ Tát vi Hoa Nghiêm trưởng tử, phi Nhất Thừa cảnh giới hồ?

      ()又普賢菩薩為華嚴長子,非一乘境界乎。

      (Sao: Phổ Hiền Bồ Tát lại là trưởng tử trong hội Hoa Nghiêm, há chẳng phải là cảnh giới Nhất Thừa ư?)

 

      Lời phản bác này có sức thuyết phục mạnh mẽ nhất [đối với luận định “Nhất Thừa đại đạo chẳng phải là cảnh giới của hàng Bồ Tát thích sanh về Tịnh Độ” của Lư Trưởng Giả, Liên Tŕ đại sư đă vận dụng ngay] kinh văn của kinh Hoa Nghiêm. Trong kinh Hoa Nghiêm, Phổ Hiền Bồ Tát là bậc nhất, Văn Thù Bồ Tát thứ hai. Phổ Hiền là con trưởng của đức Phật, Văn Thù là con trai thứ của đức Phật, xếp hạng nh́. Trong Phật môn, thứ tự sắp xếp danh hiệu của Bồ Tát và La Hán trước hay sau [trong một bản kinh] có mối quan hệ rất lớn. Xem cách sắp xếp danh hiệu bèn biết trọng điểm của một bộ kinh là ở chỗ nào. Nếu Văn Thù xếp hạng nhất, Phổ Hiền xếp hạng hai, kinh ấy coi trọng Giải môn (v́ Văn Thù Bồ Tát trí huệ bậc nhất), Hành môn ít trọng yếu hơn. Phổ Hiền xếp hạng nhất, chỉ rơ kinh ấy coi trọng Hành môn, Giải là thứ yếu, Giải là hạnh phụ trợ. Do vậy, [xét theo kinh Hoa Nghiêm], Văn Thù và Phổ Hiền có thuộc về cảnh giới Nhất Thừa hay chăng? Hai vị này là Hậu Bổ Phật của Tỳ Lô Giá Na Phật, đương nhiên thuộc vào cảnh giới Nhất Thừa của kinh Hoa Nghiêm!

 

      (Sao) Nhi dục diện kiến Di Đà, văng sanh An Lạc, vị chi t́nh tồn tịnh uế khả hồ?

      ()而欲面見彌陀,往生安樂,謂之情存淨穢可乎。

(Sao: Vậy th́ có thể nói “muốn gặp mặt Phật Di Đà, văng sanh cơi An Lạc” là hăy c̣n t́nh kiến tịnh uế hay chăng?)

 

      Hai vị ấy trong hội Hoa Nghiêm c̣n phải phát nguyện cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ. Không chỉ là hai vị ấy phát nguyện muốn văng sanh, mà c̣n khuyên dạy bốn mươi địa vị Pháp Thân đại sĩ trong hội Hoa Nghiêm niệm A Di Đà Phật, cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Quư vị nói xem: Hai vị ấy tri kiến là viên hay chẳng viên? Trong tâm các Ngài c̣n có tịnh uế hay chăng? Chất vấn ngược lại như thế này quá hay! Đáng tiếc là hai Ngài chẳng phải là người cùng thời! Lư Trưởng Giả là người sống vào đầu đời Đường, Liên Tŕ đại sư sống vào những năm cuối triều Minh, cách nhau quá xa! Do vậy, học Phật đúng là phải thâm nhập kinh tạng, phải thấu hiểu trọn vẹn Lư, phải thật sự thấu triệt. Nếu không, nghi nan trùng trùng, chướng ngại nhân duyên rất tốt đẹp của chúng ta, quá đáng tiếc!

      Văn Thù, Phổ Hiền cầu sanh Tịnh Độ, người hiện thời đều thấy [chuyện này] trong kinh điển, nhưng vẫn c̣n có kẻ thắc mắc! Tôi thường gặp người đến hỏi: “Văn Thù, Phổ Hiền là Đẳng Giác Bồ Tát trong Viên Giáo, chẳng lẽ các Ngài không thể thành Phật trong thế giới Hoa Tạng ư? V́ sao vẫn phải sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới?” Câu hỏi này hay lắm, nhưng họ đến hỏi tôi th́ sai mất rồi! Họ có nghi vấn là tốt, nhà Phật thường nói: “Tiểu nghi tiểu ngộ, đại nghi đại ngộ”, do nghi t́nh sẽ có thể khai ngộ. Họ đến hỏi tôi, tôi giải thích cho họ, họ vĩnh viễn chẳng thể ngộ. V́ sao? Đă đóng lấp cửa ngộ của họ. Nếu tôi chẳng giải thích, họ sẽ có rất nhiều phiền năo. Giảng giải cho họ, sẽ lấp chặt ngộ môn của họ! Thời xưa, các vị đại đức trong Tông Môn do đại từ đại bi nên chẳng nói, bảo quư vị hăy tham cứu. Đó là phương pháp dạy học tốt nhất. Người hiện thời chẳng hiểu tham cứu là ǵ, cứ ngỡ suy nghĩ loạn xạ là tham cứu, có hỏng bét hay là không? Hằng ngày dấy vọng tưởng, càng sai lầm hơn! Chẳng thà nói rơ ràng với họ, đóng lấp cửa ngộ của họ, khiến cho họ thật thà niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ th́ cũng c̣n chấp nhận được. Chẳng cầu sanh về Tịnh Độ, chẳng có cách nào hết. Có thể cầu sanh Tịnh Độ th́ c̣n được. Chẳng khai ngộ cũng không sao, đến Tây Phương Cực Lạc thế giới rồi mới khai ngộ. Đúng như cổ đức đă nói: “Đản đắc kiến Di Đà, hà sầu bất khai ngộ” (Chỉ cần thấy Di Đà, lo chi chẳng khai ngộ). V́ thế, hễ có người đến hỏi, tôi cũng giảng cho họ. Trong ấy, có hai nguyên nhân:

1) Nguyên nhân thứ nhất là nêu tấm gương tốt đẹp cho hết thảy chúng sanh. Văn Thù và Phổ Hiền là Đẳng Giác Bồ Tát trong thế giới Hoa Tạng, c̣n phải cầu sanh Tịnh Độ. Quư vị hăy ngẫm xem, quư vị có nên văng sanh hay không? Các Ngài lấy thân làm gương, tạo tác dụng dẫn đầu. Đó là ḷng đại từ đại bi.

2) Ư nghĩa thứ hai, trong thế giới Hoa Tạng, phải phá một phẩm sanh tướng vô minh ḥng viên thành Phật đạo, vẫn phải tốn một khoảng thời gian khá dài. Đến Tây Phương Tịnh Độ ḥng rút ngắn thời gian. Thành tựu trong thế giới Tây Phương vẫn nhanh hơn trong thế giới Hoa Tạng, thời gian c̣n rút ngắn. Đó là lợi ích chân thật.

V́ hai nguyên nhân này, các Ngài nhất định phải phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ, đạo lư là như vậy đấy!

 

(Sao) Định tâm, chuyên tâm giả.

()定心專心者。

(Sao: Định tâm và chuyên tâm).

 

      Giải thích cho chúng ta biết hai chuyện này, định tâm và chuyên tâm [là như thế nào].

 

      (Sao) Vĩnh Minh vị cửu phẩm thượng hạ, bất xuất nhị tâm: Nhất giả định tâm, như tu Định tập Quán, thượng phẩm thượng sanh. Nhị giả chuyên tâm, như đản niệm danh hiệu, đắc thành mạt phẩm. Kim vị kư vân “đản niệm”, “đản” chi nhất tự, chánh duy đắc Sự, vị đắc Lư cố.

      ()永明謂九品上下,不出二心:一者定心,如修定習觀,上品上生;二者專心,如但念名號,得成末品。今謂既云但念,但之一字,正唯得事,未得理故。

(Sao: Ngài Vĩnh Minh nói chín phẩm cao hay thấp, chẳng ngoài hai tâm: Một là định tâm, như người tu tập Thiền Định hay quán tưởng, bèn thuộc về thượng phẩm thượng sanh; hai là chuyên tâm, như người chỉ niệm danh hiệu, đạt được phẩm vị văng sanh thấp hơn. Nay tôi nói: Chữ “chỉ” trong câu “chỉ niệm” có nghĩa là [hành nhân] chỉ đắc Sự nhất tâm, chẳng đắc Lư nhất tâm).

 

      Vĩnh Minh là Diên Thọ đại sư[3]. Chúng ta thường gọi Ngài là Vĩnh Minh Diên Thọ, Ngài là thầy của Ngô Việt Vương Tiền Thục[4]. Đọc truyện kư, chúng ta thấy Ngài là A Di Đà Phật tái lai, chư vị xem bộ Di Đà Kinh Yếu Giải Giảng Nghĩa của pháp sư Bảo Tĩnh có giới thiệu [thân thế ngài Vĩnh Minh] rất tỉ mỉ. Chư Phật, Bồ Tát thị hiện hóa thân tại Trung Hoa rất nhiều, nhưng những vị bộc lộ thân phận chẳng nhiều; những vị chẳng bộc lộ thân phận đông lắm! Vĩnh Minh đại sư xác thực là một nhân vật truyền kỳ. Trước khi Ngài xuất gia, trông nom việc thâu thuế, quản lư việc thu chi, tiền bạc qua tay rất nhiều. Ngài lấy trộm tiền trong quốc khố để phóng sanh. Về sau bị phát hiện, Ngài cũng chẳng nói dối, thừa nhận đă lấy trộm. V́ sao trộm? Để phóng sanh. Có biết là phạm tội hay không? Biết chứ! Có biết là sẽ bị chặt đầu hay không? Biết! Cấp trên tâu lên Ngô Việt Vương. Chiếu theo pháp luật, phải phán tội tử h́nh. Ngô Việt Vương[5] bảo viên quan hành h́nh tại h́nh trường (刑場: chỗ hành h́nh) hăy quan sát: “Nếu khi bị xử tử, hắn cảm thấy rất kinh hoảng bèn giết ngay. Nếu hắn chẳng thay đổi sắc mặt, hăy đem hắn về gặp ta”. Quả thật là trước khi bị giết, Ngài chẳng đổi sắc mặt, lại c̣n rất hoan hỷ. Viên quan hành h́nh hỏi Ngài: “V́ sao?” Ngài đáp: “Mất một cái mạng của tôi để đổi ngàn ngàn vạn vạn cái mạng, rất đáng giá!” Giám trảm quan bèn đưa Ngài đến chỗ Ngô Việt Vương, Ngô Việt Vương hỏi Ngài: “Ngươi có chí nguyện như thế nào?” Ngài đáp: “Tôi có chí nguyện xuất gia”. Ngô Việt Vương chấp thuận, làm hộ pháp cho Ngài. Về sau, tôn Ngài làm thầy.

      Sau này vua mới biết Ngài là A Di Đà Phật tái lai. Chuyện phát sanh là khi Ngô Việt Vương Tiền Thục có một hôm cúng dường trai tăng một ngàn vị Tăng. Theo Phật pháp, cúng trai tăng cho một ngàn vị Tăng là cách tu phước có quy mô lớn nhất, thù thắng nhất, đấy là dùng tâm thanh tịnh, tâm b́nh đẳng cúng dường hết thảy người xuất gia. Tuy nói là b́nh đẳng, chỗ ngồi vẫn có ghế trên, ghế dưới. Ghế trên vẫn dành cho bậc trưởng lăo ngồi, vẫn là bất b́nh đẳng. Nhưng ngày hôm ấy, bậc trưởng lăo cũng rất đông, mọi người cứ nhường nhau, ai cũng chẳng muốn ngồi ghế chủ tọa. Đang trong lúc mọi người thoái thác, nhường nhau, bên ngoài một vị ḥa thượng tiến vào, mọi người cũng chẳng biết Ngài là ai, cũng chẳng biết Ngài từ đâu đến, ăn mặc rách nát, tả tơi. Ngài thấy mọi người cứ thoái thác, nhường nhau, bèn chẳng khách sáo, tiến vào ngồi ngay chính giữa. Trong tâm Ngô Việt Vương cũng rất khó chịu, cứ nghĩ thầy ḿnh đáng nên ngồi ghế chủ tọa, cớ sao lại nhường ghế chủ tọa cho kẻ khác ngồi? Sau khi dùng cơm xong, chư tăng giải tán, Ngô Việt Vương hỏi Vĩnh Minh đại sư: “Hôm nay trẫm cúng dường chư Tăng, có vị thánh hiền nào đến ứng cúng hay không?” “Thánh hiền” là Phật, Bồ Tát, A La Hán. Nếu có những vị ấy đến ứng cúng, phước báo của nhà vua sẽ to lớn! Vĩnh Minh đại sư bảo vua: “Hôm nay có chứ!” Vua hỏi: “Vị nào đến ứng cúng?” Sư đáp: “Định Quang Cổ Phật”. “Vị nào vậy?” “Chính là vị ḥa thượng ngồi ghế chủ tọa”. Vua mới biết vốn là Định Quang Cổ Phật tới dự. Định Quang Cổ Phật thị hiện h́nh dạng ấy, tai đặc biệt to. V́ mọi người chẳng biết pháp hiệu của Ngài, bèn gọi Ngài là Đại Nhĩ ḥa thượng. Do vậy, Ngô Việt Vương lập tức sai người truy t́m. Sư trụ trong một hang núi, họ đuổi theo tới đó, mọi người biết Ngài là Định Quang Cổ Phật, hết sức cung kính Ngài, lễ bái tại đó, thỉnh Ngài tới hoàng cung ứng cúng. Đại Nhĩ ḥa thượng bèn nói một câu: “Di Đà nhạy miệng” rồi viên tịch, đă mất. Những người đến t́m chẳng biết làm sao! Biết Ngài là Định Quang Cổ Phật, cổ Phật đă nhập diệt. Nghĩ lại Ngài nói “Di Đà nhạy miệng”, A Di Đà Phật nhiều chuyện! Vậy là người được nêu rơ thân phận chính là Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư, họ bèn nghĩ ra, Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư vốn là A Di Đà Phật, vội vă trở về tâu tŕnh. Ngô Việt Vương nghe nói Định Quang Phật đă nhập diệt, chẳng có cách nào! Nghe nói Vĩnh Minh đại sư là A Di Đà Phật tái lai, ngay lúc ấy hoan hỷ khôn cùng, chẳng đợi [người hầu chuẩn bị xe ngựa] kịp, bèn đi bộ đến gặp Vĩnh Minh đại sư. Vừa ra khỏi cửa cung, bên ngoài có người đến báo tin, cũng là hoang mang, vội vă, gần như đụng phải nhà vua. Vua hỏi: “Chuyện ǵ mà hoảng hốt vậy?” [Người ấy tâu]: “Vĩnh Minh đại sư đă viên tịch rồi!” Đấy là quy củ trong Phật môn: Thân phận chưa lộ th́ c̣n có thể ở trong thế gian; thân phận bộc lộ, phải đi ngay lập tức. Vĩnh Minh đại sư là A Di Đà Phật tái lai, Thiện Đạo đại sư đời Đường cũng là A Di Đà Phật tái lai. Hàn Sơn, Thập Đắc là Văn Thù và Phổ Hiền, ḥa thượng Phong Can là A Di Đà Phật tái lai. Đấy là mấy vị bộc lộ thân phận mà chúng ta biết được!

Lời Vĩnh Minh đại sư nói, đương nhiên là do đích thân A Di Đà Phật dạy. Trong chú giải kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, tức là trong bộ Tứ Thiếp Sớ, Thiện Đạo đại sư đă nói rất rơ ràng; Ngài nói chín phẩm trong Cực Lạc đều là phàm phu văng sanh. Do phàm phu “gặp duyên bất đồng, nên có chín phẩm sai khác”, giống như điều đang nói ở đây. “Định tâm, như tu Định tập Quán” (Định tâm là như tu Định, tu quán tưởng), tức là nói đến Lư nhất tâm bất loạn, văng sanh Tây Phương thế giới bèn là thượng phẩm thượng sanh. Chư vị phải hiểu, “định tâm” văng sanh chính là thượng phẩm thượng sanh trong cơi Thật Báo Trang Nghiêm. “Chuyên tâm” niệm Phật chính là Sự nhất tâm bất loạn, sanh về thế giới Tây Phương, bèn sanh trong cơi Phương Tiện Hữu Dư hoặc cơi Phàm Thánh Đồng Cư. Trong đó, cũng là chín phẩm khác nhau, chuyện là như vậy đó. Định tâm tu Quán, như trong Thập Lục Quán Kinh đă nói. Phương pháp niệm Phật đều ở trong Quán Kinh. Quán Kinh nói Quán Tưởng Niệm Phật, Quán Tượng Niệm Phật, và Tŕ Danh Niệm Phật. Kinh Vô Lượng Thọ và kinh A Di Đà đều đề xướng Tŕ Danh Niệm Phật, nguyên nhân là do Tŕ Danh Niệm Phật đơn giản, dễ dàng. Văng sanh Tây Phương Tịnh Độ ai nấy đều có phần, thù thắng ở chỗ này!     

Tu Quán, tâm người hiện thời rất thô, rất loạn, cảnh giới để quán hết sức vi tế. V́ vậy, tu Quán rất khó thành tựu, phải biết điều này. Nói theo Lư chẳng sai, nhưng xét theo Sự, tùy mỗi người mỗi khác. Chúng ta chẳng nói ai khác, lấy ngay Thiên Thai đại sư làm thí dụ. Trí Giả đại sư là tổ sư tông Thiên Thai. Nói thật ra, tông Thiên Thai được hoàn thiện bởi chính tay Ngài. Nói nghiêm ngặt, xét trong tông Thiên Thai, Ngài là [tổ sư] đời thứ ba của tông Thiên Thai, nhưng [giáo nghĩa hoàn chỉnh của tông Thiên Thai] do chính Ngài hoàn thành. Giống như Hiền Thủ đại sư, trước ngài Hiền Thủ có Vân Hoa, có Đỗ Thuận, ngài Hiền Thủ là tổ sư đời thứ ba của tông Hoa Nghiêm, nhưng tông Hoa Nghiêm thật sự được kiến lập thành một tông phái là nhờ chính tay Hiền Thủ đại sư thành tựu. Do vậy, [tông Hoa Nghiêm] cũng gọi là tông Hiền Thủ, chẳng gọi là tông Vân Hoa, mà cũng chẳng gọi là tông Đỗ Thuận. Trí Giả đại sư thành tựu tông phái Thiên Thai, lăo nhân gia niệm Phật văng sanh, sử dụng phương pháp tu Quán. Tại Trung Hoa, người sử dụng mười sáu phép Quán để tu hành chẳng nhiều, Trí Giả đại sư là một vị trong số đó. Trí Giả đại sư văng sanh thuộc phẩm vị nào? Chẳng phải là thượng phẩm thượng sanh! Khi Ngài lâm chung, học tṛ thưa hỏi phẩm vị văng sanh của Ngài, lăo nhân gia đương nhiên cũng rất khiêm hư, chúng tôi nghĩ Ngài cũng chẳng đến nỗi dối gạt chúng ta, Ngài nói Ngài văng sanh trong địa vị Ngũ Phẩm. Văng sanh thuộc địa vị Ngũ Phẩm là sanh trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư, địa vị hoàn toàn chẳng cao cho mấy; nhưng lăo nhân gia có lưu lại một câu cho người đời sau: Nếu Ngài chẳng lănh chúng, chính ḿnh chuyên tâm tu hành, phẩm vị sẽ rất cao. V́ lănh chúng phải quản người, quản sự, những chuyện vặt vănh quá nhiều, bỏ ḿnh v́ người. Nói cách khác, hy sinh phẩm vị cao của chính ḿnh để giúp đỡ đại chúng. Do đó, phẩm vị văng sanh của Ngài chẳng cao! Đấy là Bồ Tát phát tâm. V́ vậy, Bồ Tát phát tâm phải có bản lănh văng sanh, ta sanh về Tây Phương Tịnh Độ là hạ hạ phẩm văng sanh, ta có năng lực ấy, nắm chắc điều ấy, ta có thể [làm được]. Ta vốn có thể thượng thượng phẩm văng sanh, nhưng hy sinh phẩm vị, [chọn lấy] hạ hạ phẩm văng sanh để ta có thể giúp đỡ nhiều người. Đó gọi là Bồ Tát phát tâm. Nếu giúp người khác, mà chính ḿnh chẳng thể văng sanh, sai lầm to lớn! Vậy là chẳng đúng rồi! V́ thế, chính ḿnh phải quyết định nắm chắc văng sanh th́ mới có thể học đ̣i Trí Giả đại sư.

      “Chuyên tâm, như đản niệm danh hiệu, đắc thành mạt phẩm” (Chuyên tâm, như chỉ niệm danh hiệu, thành tựu phẩm vị thấp). Chữ Mạt () chẳng có nghĩa là hạ hạ phẩm. “Mạt” là ǵ? Từ thượng phẩm trung sanh trở xuống. Do đối với thượng phẩm thượng sanh, những phẩm vị ấy là Mạt. Chữ Mạt chỉ tám phẩm dưới đó, tùy thuộc công phu niệm Phật của quư vị sâu hay cạn. Ngẫu Ích đại sư nói rất hay! Ấn Quang đại sư tán thán bộ Yếu Giải của Ngẫu Ích đại sư đến tột bậc. Thân phận của Ấn Quang đại sư cũng bị bộc lộ, Ngài là Đại Thế Chí Bồ Tát tái lai. Lăo nhân gia tán thán bộ Yếu Giải: “Dẫu cổ Phật tái lai để viết chú giải cho kinh Di Đà vẫn chẳng thể hay hơn tác phẩm này”, Ngài đă tán thán bộ Yếu Giải đến tột đỉnh. Ngẫu Ích đại sư chẳng bộc lộ thân phận, Đại Thế Chí Bồ Tát tán thán Ngài như vậy, Ngài là vị nào? Ngài chẳng phải là A Di Đà Phật, chắc cũng là Quán Thế Âm Bồ Tát. Chúng tôi nghĩ Ngài là chắc chắn là bậc ngang hàng với Quán Âm, hoặc Thế Chí Bồ Tát, nhất định chẳng phải là kẻ b́nh phàm! Do vậy, Ngài viết viên măn dường ấy, có thể giúp đỡ nhiều người tín nguyện văng sanh, đúng là vô lượng công đức. Sách Yếu Giải bảo chúng ta: Điều kiện để văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới là tín nguyện. Chân tín, thiết nguyện, nhất định được văng sanh. Sanh về thế giới Tây Phương, phẩm vị cao hay thấp được quyết định bởi công phu tŕ danh sâu hay cạn. Chư vị phải nghe cho rơ ràng, chẳng phải là nói tŕ danh nhiều hay ít, mà là công phu tŕ danh sâu hay cạn! Công phu sâu là như thế nào? Có thể đoạn phiền năo, công phu bèn sâu xa. Có thể chế phục phiền năo, công phu bèn nông cạn. Có thể chế phục phiền năo bèn nhập phẩm vị, quyết định được văng sanh, nắm chắc văng sanh. Chẳng thể chế phục phiền năo, bèn tùy thuộc vào một sát-na khi lâm chung. Trong sát-na lâm chung, điều quan trọng nhất là đầu óc tỉnh táo, tín nguyện cầu sanh, người ấy quyết định được văng sanh, lâm chung dẫu một niệm vẫn có thể văng sanh. Khi lâm chung, đầu óc rất sáng suốt, người Hoa nói đó là phước báo lớn nhất trong ngũ phước, phước báo lớn nhất trong một đời người là chết an lành. Khi mất, tỉnh táo, sáng suốt, chết tốt lành, nhất định sẽ sanh tốt lành, v́ sao? Người ấy sẽ tuyệt đối chẳng vào trong ba ác đạo. Phàm là những người vào trong ba ác đạo, đều hồ đồ, mê muội sanh vào đó. Há có người hiểu biết nào lại đi làm súc sanh, đi làm ngạ quỷ? Chẳng thể nào! Mơ hồ, điên đảo, hồ đồ, mê muội mà sanh vào đó. Do vậy, tu phước hết sức quan trọng. Chúng ta tu phước suốt cả một đời, chẳng cần hưởng phước. Tu được một chút phước bèn hưởng hết, lúc lâm chung sẽ chẳng có phước. Chúng ta tu phước mà chẳng hưởng, là v́ hy vọng khi lâm chung sẽ hưởng phước.

      Khi lâm chung, điều thứ nhất là chẳng sanh bệnh. Người chẳng sanh bệnh mà ra đi, có chứ! Trong những năm qua, tại Đài Loan, chúng ta thấy chẳng ít người biết trước lúc mất. Người công phu giỏi biết trước cả năm. Thông thường, người niệm Phật đại khái biết trước một, hai tháng, có đủ thời gian để dặn ḍ hậu sự. Như tại Đài Bắc, lăo cư sĩ Lư Tế Hoa thuộc Liên Hữu Niệm Phật Đoàn, biết trước lúc văng sanh hai tháng. V́ thế, cụ lợi dụng ngày nghỉ mỗi tuần để đến thăm bạn bè cũ, đó là từ biệt để ra đi, ra đi tiêu sái, ra đi tự tại. Hôm cụ mất, cụ đến Liên Hữu Niệm Phật Đoàn để tham gia cộng tu. Khi đó, thành phố Đài Bắc chưa có xe taxi, cụ và vợ ngồi trên xe ba bánh. Ngồi trên xe, cụ bảo vợ: “Nếu tôi văng sanh thế giới Cực Lạc, bỏ bà lại một ḿnh, có cảm thấy tịch mịch hay không?” Bà vợ thuận miệng đáp: “Nếu ông có thể văng sanh, chẳng cần phải lo cho tôi”. Trong khi niệm Phật, họ cộng tu giống như tổ chức Phật nhất (niệm Phật suốt một ngày), mỗi cây hương là một tiếng rưỡi. Khi chỉ tĩnh có giảng khai thị. Đạo tràng của họ là đạo tràng cư sĩ, do mấy vị lăo cư sĩ thay phiên nhau giảng khai thị. Hôm đó, đến phiên Ngụy lăo cư sĩ, cụ Lư bèn thương lượng với cụ Ngụy: “Hai người chúng ta đổi phiên, hôm nay tôi nói, lần sau để cụ nói”. Đương nhiên là cụ Ngụy rất tôn trọng cụ Lư, cụ Lư đă tám mươi mấy tuổi, bèn nhường cho cụ Lư giảng. Thông thường khai thị là nửa tiếng, hôm đó lăo nhân gia bèn nói tới một tiếng rưỡi, kéo dài thời gian niệm Phật. Cụ càng nói càng cao hứng, tận t́nh khuyên bảo chỉ dạy mọi người. Sau khi nói xong, bèn hướng về mọi người cáo biệt: “Tôi phải về nhà đây”. Mọi người tưởng cụ là cụ già tám mươi tuổi, nói cả một tiếng rưỡi đồng hồ, nói đă mệt phải về nhà nghỉ ngơi. Lăo nhân gia bước xuống bục giảng, Niệm Phật Đường có một pḥng khách nhỏ. Pḥng khách rất hẹp, chỉ có một bộ sofa, cụ ngồi đó, ra đi, văng sanh. Quư vị thấy có tự tại lắm hay không! Mảy may bệnh tật cũng chẳng có! Sau khi giảng xong, bảo mọi người: “Tôi phải về nhà” là quay về cố hương nơi thế giới Cực Lạc. V́ thế, đó gọi là phước báo thật sự, biết trước lúc mất, thân thể khỏe mạnh, chẳng có mảy may bệnh khổ, nói đi bèn đi, đó là đại phước báo. Nếu quư vị tu một chút phước, thông thường là hưởng hết sạch, khi lâm chung sẽ đau khổ! V́ thế, đây là quyết định văng sanh, thật sự ngay trong một sát-na cuối cùng. Chúng ta phải nên ghi nhớ điều này, phải nên nỗ lực tu học.

      “Đản niệm” (Chỉ niệm), chữ “đản” () này mọi người trong bọn chúng ta đều có thể làm được. “Đản niệm” (但念) là chuyên niệm, hết thảy vọng tưởng, phân biệt, chấp trước trong tâm thảy đều buông xuống, chỉ vương vấn A Di Đà Phật, chỉ niệm A Di Đà Phật. Trừ A Di Đà Phật ra, hết thảy ta đều chẳng nghĩ tới. Cuộc sống của chúng ta có thể sống được là tốt rồi, có dư ra bèn giúp đỡ người khác. Giúp đỡ người khác th́ điều khẩn yếu nhất là giúp họ học Phật, giúp họ niệm Phật, bố thí kiểu này là pháp bố thí. Kinh Hoa Nghiêm nói rất hay, trong hết thảy các sự bố thí, pháp bố thí cao nhất, công đức và phước đức [của pháp bố thí] thù thắng bậc nhất. Do vậy, phải biết bố thí, phải biết tu phước. Nay chúng ta giới thiệu, đề cao, hoằng dương Tịnh Tông trên toàn thể thế giới, đó là tu phước báo chân thật. Chúng ta mong mỏi khi lâm chung sẽ giống như lăo cư sĩ Lư Tế Hoa, sáng suốt, tỉnh táo, tự tại văng sanh. Được rồi, chúng ta niệm Phật hồi hướng.

 

Tập 244

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang bốn trăm bảy mươi ba:

 

      (Sao) Nhị giả chuyên tâm, như đản niệm danh hiệu, đắc thành mạt phẩm. Kim vị kư vân “đản niệm”, “đản” chi nhất tự, chánh duy đắc Sự, vị đắc Lư cố.

      ()二者專心,如但念名號,得成末品。今謂既云但念,但之一字,正唯得事,未得理故。

(Sao: Hai là chuyên tâm, như người chỉ niệm danh hiệu, đạt được phẩm vị văng sanh thấp. Nay tôi nói: Chữ “chỉ” trong câu “chỉ niệm” có nghĩa là [hành nhân] chỉ đắc Sự nhất tâm, chẳng đắc Lư nhất tâm).

 

      Đây là một khái niệm hết sức quan trọng trong phương pháp Niệm Phật. Chúng ta niệm Phật, công phu niệm phải như thế nào th́ mới có thể đắc lực? Đại sư dạy chúng ta: Ắt cần phải có định tâm, hoặc là chuyên tâm. Đương nhiên là “định tâm” rất khó, chẳng phải là chuyện kẻ b́nh phàm mà ḥng làm được! Nhưng “chuyên tâm” th́ có thể nói là ai nấy đều có thể làm được. Định tâm, chắc chắn là có thể thượng bối văng sanh. Kinh Vô Lượng Thọ nói “tam bối” (ba bậc): Thượng bối văng sanh [cần phải có định tâm], c̣n chuyên tâm th́ trung bối và hạ bối cũng quyết định có thể thành công. Chuyên tâm là “đản niệm danh hiệu, đắc thành mạt phẩm” (chỉ niệm danh hiệu, thành tựu phẩm vị thấp hơn). “Mạt” () chẳng phải là nói tới hạ hạ phẩm, mà v́ đối với thượng phẩm thượng sanh ở trên, nên từ thượng phẩm trung sanh trở xuống, đều là Mạt, cũng có nghĩa là tám phẩm dưới trong chín phẩm, hễ chuyên tâm đều có thể đạt được. “Kim vị kư vân đản niệm” (Nay đă nói là “chỉ niệm”), trong kinh Đại Thừa thường thấy chữ “đản niệm”. Nói thật ra, “đản niệm” là niệm theo mặt Sự, hoàn toàn chẳng chú trọng nói theo Lư, chẳng phải là Lư niệm.

 

      (Sớ) Cố tri cổ vân ngu nhân cầu Tịnh nghiệp giả, phi duy bất chỉ Lư chi nhất tâm, diệc phục bất chỉ Sự nhất tâm cố.

      ()故知古云愚人求淨業者,非唯不指理之一心,亦復不指事一心故。

(Sớ: V́ vậy biết: Cổ nhân nói “người ngu cầu Tịnh nghiệp”, không chỉ là chẳng nói tới Lư nhất tâm, mà cũng chẳng nói tới Sự nhất tâm).

 

      Người thật sự niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, cứ thật thà niệm là được rồi, chẳng cần bận tâm là Sự nhất tâm hay Lư nhất tâm; [cứ quan tâm] th́ sẽ đâm ra khiến cho cái tâm bị loạn, rất khó đạt được nhất tâm, chỉ cần chuyên tâm niệm. Bất luận là Lư nhất tâm hay Sự nhất tâm, công phu đă thành thục, quư vị thấy bao nhiêu người đứng văng sanh, hay ngồi văng sanh, quư vị hỏi họ niệm đạt đến loại nhất tâm nào, họ đâu có biết! Người ta có thụy tướng (瑞相: tướng tốt lành) như vậy, đó là thật sự có thành tựu. Do vậy, câu này rất quan trọng. Dưới đây, Liên Tŕ đại sư c̣n giải nói cặn kẽ:

 

      (Sao) Cổ đức vị hữu tham Thiền bất linh, cự biến tiền nhân, triêu mộ kháp số châu, cầu Tịnh nghiệp.

()古德謂有參禪不靈,遽變前因,朝暮掐數珠,求淨業。

(Sao: Cổ đức nói: - Có người tham Thiền chẳng hiệu nghiệm, liền thay đổi cái nhân [tu tập] trước đó, sáng chiều lần tràng hạt, cầu Tịnh nghiệp).

 

      Đây là nêu lên mấy thí dụ. Những thí dụ ấy đích xác là có. Vào thời xưa đă có, mà hiện thời cũng có. Tham Thiền chẳng thể đắc Định, đừng nói là khai ngộ, ngay cả Thiền Định cũng chẳng đạt được. Nói thật ra, [những trường hợp giống như vậy] rất ư là nhiều. Do vậy, họ buông bỏ Thiền, quay lại niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ; ở đây nói đến hạng người này.

 

      (Sao) Hựu vân: “Niệm kỷ thanh Phật, dục miễn Diêm lăo tử thủ trung thiết bổng, năi ngu nhân sở vi”. Chấp thử ngữ giả, toại sanh nghi báng, bất tri thử vị tham Thiền chí bất quy nhất, triếp tự cải đồ giả thuyết, phi ha Tịnh nghiệp cố.

()又云念幾聲佛,欲免閻老子手中鐵棒,乃愚人所為。執此語者,遂生疑謗,不知此為參禪志不歸一,輒自改途者說,非呵淨業故。

(Sao: Lại nói: “Niệm Phật mấy tiếng, muốn thoát khỏi gậy sắt trong tay cụ già Diêm La chính là việc làm của kẻ ngu”. Kẻ chấp vào lời ấy, bèn sanh hoài nghi, phỉ báng, chẳng biết lời ấy dành để nói với kẻ tham Thiền tâm chí không quy nhất, liền vội vă thay đổi đường lối, chẳng phải là quở trách Tịnh nghiệp vậy).

 

      Đây là uốn nắn những hiểu lầm đối với Phật pháp của kẻ b́nh phàm tu học chẳng đắc lực trong xă hội, nhất là những chỉ trích do hiểu lầm. Loại người thứ hai “niệm Phật mấy tiếng”, nhằm mục đích nào? Nhằm mục đích chẳng bị đọa trong ba ác đạo. “Diêm lăo tử” là Diêm La vương, “thủ trung thiết bổng” (gậy sắt trong tay) là [nói tới chuyện] chịu đựng những h́nh phạt và khổ nạn ấy trong ngạ quỷ hay địa ngục; do niệm Phật có thể tránh khỏi. Cũng có nghĩa là niệm Phật có thể chẳng đọa trong ba ác đạo, ư nghĩa thật sự ở chỗ này. Hạng người ấy từ Thiền quay trở lại, hoặc do sợ đọa trong ba ác đạo nên mới niệm Phật. Nói thật ra, động cơ (motivation) niệm Phật cầu văng sanh tuy khác nhau, nhân duyên muôn ngàn sai khác, nhưng hễ sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, quả báo y hệt. Nhân khác nhau, quả giống nhau, chỉ cần niệm đến mức công phu thành phiến, mong văng sanh, đều có thể sanh về Tịnh Độ. Nếu như [niệm Phật] chỉ nhằm tránh khỏi ác đạo, vẫn mong mỏi phước báo nhân thiên trong đời sau, [chẳng mong sanh về Tịnh Độ] th́ sai mất rồi! Dùng cái nhân rất thù thắng để đổi lấy quả báo vặt vănh, rất đáng tiếc! Nếu nói theo nhân địa, dường như là “ngu nhân sở vi” (việc làm của kẻ ngu). “Ngu” ở đây [có nghĩa] là chẳng thông đạt, chẳng hiểu rơ chân tướng Sự Lư, chấp trước những luận điệu ấy; do vậy, sanh khởi nghi hoặc, hủy báng. Đại sư chỉ ra: [Lời lẽ ấy] nhằm nói với những kẻ b́nh phàm chẳng liễu giải, do tham Thiền mà tâm chẳng “quy nhất”, cho nên chẳng thể đắc Thiền Định, người ấy quay về dùng phương pháp niệm Phật để cầu sanh Tịnh Độ. Đó là chuyện tốt, tuyệt đối chẳng phải là nói Thiền chẳng bằng Tịnh Độ, chẳng thể nói theo kiểu ấy được.

 

      (Sao) Đản ngôn ngu nhân triêu mộ kháp số châu cầu Tịnh nghiệp, bất ngôn ngu nhân triêu mộ nhất tâm bất loạn cầu tịnh nghiệp dă.

      ()但言愚人朝暮掐數珠求淨業,不言愚人朝暮一心不亂求淨業也。

(Sao: Chỉ nói kẻ ngu sáng tối lần tràng hạt cầu Tịnh nghiệp, chẳng nói kẻ ngu sáng tối nhất tâm bất loạn cầu Tịnh nghiệp).

 

      Nói thật ra, người niệm Phật thật sự dụng công, thật sự niệm Phật, sẽ chẳng khoe khoang chính ḿnh. Người ta bảo ḿnh ngu, bảo ḿnh đần, rất tốt! Chúng ta nghe xong rất tự tại. Ngu, ngu chẳng ai bằng, hành tŕ của kẻ ngu mọi người chẳng sánh bằng! V́ sao? Người ấy có thể buông xuống vạn duyên, có thể chuyên tâm nơi Tịnh nghiệp, đó là chỗ khiến cho kẻ ngu chẳng ai sánh bằng được! Người thật sự có trí huệ học theo kẻ ngu c̣n học chẳng nổi! V́ thế, chớ nên coi rẻ kẻ ngu. Thường là kẻ ngu có thượng thượng trí, những kẻ b́nh phàm chẳng biết, thật vậy đó! Nói thật ra, Liên Tŕ đại sư nói cho chúng ta biết một phương diện mà kẻ ở ngoài [pháp môn Tịnh Độ] chẳng biết. Người ta là “triêu mộ nhất tâm bất loạn” (sáng tối nhất tâm bất loạn), cầu Tịnh nghiệp như vậy, cho nên, chẳng mất thời gian bao lâu, người ấy thành tựu Tịnh nghiệp. “Tịnh nghiệp thành tựu”: Hoàn toàn không nhất định là nói đến chuyện văng sanh. Quư vị phải ghi nhớ chuyện này. Tịnh nghiệp thành tựu là đă đạt được cái tâm thanh tịnh, đă đắc nhất tâm bất loạn; đó là Tịnh nghiệp thành tựu. Đương nhiên là đă đắc nhất tâm bất loạn, c̣n nhất tâm bất loạn cạn hay sâu họ chẳng màng tới, về căn bản là họ chẳng quan tâm. Nếu thường mong mỏi nhất tâm bất loạn, c̣n [phân biệt] có Sự nhất tâm, c̣n có Lư nhất tâm, c̣n có ba bậc, chín phẩm, tâm người ấy đă loạn từ lâu rồi, chẳng đắc nhất tâm. Nói tới Lư, nói tới Sự, nói tới chín phẩm, chính là nói theo Giáo Hạ, chứ xét theo công phu thật sự, sẽ chẳng bàn tới [những chuyện phức tạp ấy]. Khi đối với công phu mà bàn những điều ấy, công phu bị phá hoại toàn bộ. Xét theo công phu, chư vị phải ghi nhớ, trong phần trước đă nói: “Cầu tịnh nghiệp giả, phi duy bất chỉ Lư nhất tâm, diệc bất chỉ Sự nhất tâm” (Cầu tịnh nghiệp th́ không chỉ chẳng nói đến Lư nhất tâm mà Sự nhất tâm cũng chẳng nói tới). Về căn bản là chẳng quan tâm Lư nhất tâm hoặc Sự nhất tâm là ǵ. Lư nhất tâm hay Sự nhất tâm chính là những suy nghĩ lung tung, nói nhăng nói cuội của người nói theo Giáo, thật vậy đó! Người dụng công, công phu thật sự đắc lực, tâm địa thanh tịnh, điều này rất quan trọng!

 

      (Sao) Quán Kinh vân: Đản văn Phật cập nhị Bồ Tát danh.

      ()觀經云:但聞佛及二菩薩名。

      (Sao: Quán Kinh nói: “Chỉ nghe danh hiệu của Phật và hai vị Bồ Tát”).

 

      “Phật” là A Di Đà Phật, “nhị Bồ Tát” là Quán Thế Âm và Đại Thế Chí; đấy là Tây Phương Tam Thánh. Chúng ta nghe danh hiệu của Tây Phương Tam Thánh, có thể diệt tội trong vô lượng lần sanh tử. Trong phần trước cũng đă từng nói lời này, người như thế nào nghe danh hiệu của Phật, Bồ Tát sẽ có thể diệt tội? Người có tâm thanh tịnh, người chẳng có vọng niệm, người ít phiền năo, nghe danh hiệu của Phật, Bồ Tát, sanh tâm hoan hỷ, bèn diệt tội. Lũ b́nh phàm chúng ta chẳng đạt được lợi ích này v́ chúng ta có quá nhiều vọng tưởng, phân biệt và chấp trước quá nhiều! V́ thế, người học Giáo thành tựu chẳng nhiều bằng người tham Thiền, càng chẳng thành tựu nhiều như người niệm Phật, nguyên nhân ở chỗ nào? Người học Giáo ưa suy nghĩ lung tung, họ phải nghiên cứu kinh điển; ở đây, đức Phật nói thế nào? Ở kia, nói như thế nào? Vị tổ sư này nói ra sao? Vị thiện tri thức nọ nói như thế nào? Suốt ngày từ sáng đến tối suy nghĩ lung tung, quư vị ngẫm xem, làm sao tâm người ấy có thể định cho được? Phương pháp của Thiền Tông là hết thảy các duyên đều buông xuống, căn bản là chẳng cho quư vị khởi tâm động niệm. Quư vị nêu ra nghi vấn, lăo ḥa thượng vung hương bản đập liền. Chẳng hề trả lời, dùng hương bản để “cúng dường” nhằm trừ sạch niềm nghi vấn của quư vị, chẳng cho phép quư vị có nghi vấn! Tâm quư vị đă định, đă thanh tịnh. Phương pháp ấy trực tiếp, nhanh chóng! Giáo Hạ phải nói cả nửa ngày, có những vấn đề nói tới mấy năm vẫn chưa thể giải quyết. Chẳng giải quyết được khối nghi, người ấy sẽ chẳng buông xuống được! Hương bản của Thiền Tông giáng xuống, [khối nghi ấy] liền trừ ngay! Tịnh Tông dạy quư vị hăy buông thân, tâm, thế giới xuống, hết thảy vạn duyên đều buông xuống, một câu Di Đà niệm đến cùng, tất cả hết thảy ư niệm đều quy vào A Di Đà Phật, dùng một niệm ấy để thay thế hết thảy các vọng niệm. Cách này thuận tiện, dễ dàng hơn Thiền Tông. Do vậy, tâm thanh tịnh, ít phiền năo, nghe Phật hiệu th́ mới có công đức diệt tội.

 

      (Sao) Hà huống ức niệm.

     ()何況憶念。

      (Sao: Huống chi ức niệm).

 

      Nghe danh hiệu Phật, Bồ Tát được công đức to ngần ấy. Lại c̣n thêm “ức niệm”, đương nhiên là công đức càng to hơn nữa!

 

      (Sao) Ức niệm giả, thả chỉ Sự nhất tâm dă.

()憶念者,且指事一心也。

      (Sao: Ức niệm c̣n là nói đến Sự nhất tâm).

 

      “Ức niệm” hoàn toàn thuộc về sự tướng.

 

      (Sao) Tắc tri Sự nhất, dĩ phi ngu nhân, hà huống Lư nhất.

     ()則知事一,已非愚人,何況理一。

(Sao: Cho nên biết [người đắc] Sự nhất tâm đă chẳng phải là kẻ ngu, huống hồ [người đắc] Lư nhất tâm).

 

      “Ngu nhân” là người thế gian, người nào trong thế gian? Trong cái nh́n của kẻ ngu trong thế gian, kẻ ngu thấy hết thảy mọi người đều là kẻ ngu. Phật pháp thường nói: Phật thấy hết thảy chúng sanh đều là Phật, Bồ Tát thấy hết thảy chúng sanh đều là Bồ Tát. Vậy th́ kẻ ngu thấy hết thảy chúng sanh đều là kẻ ngu! Trong cái nh́n của kẻ ngu, điều đó là sự thật. Chẳng phải là kẻ ngu niệm Phật, mà kẻ nói “người niệm Phật là kẻ ngu” th́ mới là kẻ ngu thật sự! Người niệm Phật, bất luận là Sự niệm hay Lư niệm, đều là người có trí huệ vượt trỗi kẻ khác. Cớ sao nói là trí huệ vượt trỗi kẻ khác? Chúng ta đọc Hoa Nghiêm, mọi người hăy suy nghĩ kỹ càng, Văn Thù Bồ Tát có phải là trí huệ vượt trỗi kẻ khác hay không? Trong hết thảy các vị Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát trí huệ bậc nhất. Văn Thù Bồ Tát phát nguyện niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, vậy th́ có thể thấy: Cầu sanh Tịnh Độ phải là người trí huệ vượt trỗi kẻ khác mới làm được! Kẻ chẳng có trí huệ vượt trỗi kẻ khác sẽ chẳng làm được! Tuy là một bà cụ già chẳng biết chữ, cũng chưa từng học hành, điều ǵ cũng chẳng hiểu, cụ tin tưởng niệm Phật, thật thà niệm Phật, xét theo chuyện niệm Phật, bà cụ chẳng thua kém Văn Thù Bồ Tát. Những điều khác cụ đều chẳng sánh bằng Văn Thù Bồ Tát, chỉ có chuyện niệm Phật là chẳng kém Văn Thù Bồ Tát, có trí huệ giống như Văn Thù Bồ Tát. Do đâu mà thấy vậy? Chỉ có niệm Phật được sanh về Tịnh Độ th́ sẽ thành Phật ngay trong một đời; chẳng phải là bậc đại trí huệ, làm sao có thể thấu đạt cho được? Do vậy, đây là pháp môn thành Phật trong một đời, chúng ta nhất định phải biết.

      Đoạn kế tiếp hết sức quan trọng, công phu niệm Phật của chúng ta có thể đắc lực hay không, then chốt ở ngay trong đoạn khai thị ngắn ngủi này của Liên Tŕ đại sư.

 

      (Sớ) Cố tri tu Tịnh nghiệp nhân, phục nghiệp dư hạnh, phi duy bất tri Lư nhất, thượng vị năng tŕ Sự nhất tâm cố.      

      ()故知修淨業人,復業餘行,非唯不知理一,尚未能持事一心故。

(Sớ: Do vậy biết: Kẻ tu Tịnh nghiệp mà c̣n tu học các hạnh khác, không chỉ là chẳng biết ǵ về Lư nhất tâm, mà c̣n là chưa thể hành tŕ Sự nhất tâm).

 

      Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát nói người niệm Phật kỵ nhất là xen tạp; ở đây, Liên Tŕ đại sư cũng nói theo cách ấy. Người tu Tịnh nghiệp “phục nghiệp dư hạnh”, “nghiệp” () là tu học. Hễ c̣n tu học những pháp khác, đó là xen tạp. Tu học như vậy, không chỉ là chẳng hiểu Lư nhất tâm, mà ngay cả Sự nhất tâm cũng không hiểu. Trong đoạn dưới đây, Liên Tŕ đại sư giải thích hai câu ấy.

 

      (Sao) Niệm niệm niệm Phật, cánh vô tạp niệm, thị danh nhất tâm.

     ()念念念佛,更無雜念,是名一心。

(Sao: Niệm nào cũng đều niệm Phật, trọn chẳng có tạp niệm, th́ gọi là nhất tâm).

 

“Niệm Phật” quư nhất là thật thà niệm; “thật thà niệm” là chẳng có nghi vấn nào! Có người đến hỏi tôi: “Niệm Phật th́ phải niệm theo cách nào? Khi nào tôi mới có thể đắc nhất tâm?” Đấy là chẳng thật thà, toàn là xen tạp vọng niệm! Quư vị cứ từng câu “A Di Đà Phật, A Di Đà Phật” niệm miết là được rồi, cớ sao trong ấy c̣n có lắm nỗi nghi vấn dường ấy? Trong các buổi giảng, chúng tôi thường khuyên lơn, khích lệ mọi người: Niệm Phật phải là chẳng hoài nghi, chẳng xen tạp, chẳng gián đoạn, sẽ phù hợp [lời dạy] “nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối” của Đại Thế Chí Bồ Tát. Hoài nghi, xen tạp, tâm chẳng thanh tịnh, niệm Phật mà chẳng có công đức, gián đoạn là chẳng liên tục. Đại Thế Chí Bồ Tát dùng phương pháp này từ sơ phát tâm măi cho đến khi thành Phật, chưa hề thay đổi. Không chỉ riêng Ngài đă thành tựu, người dùng phương pháp ấy đạt thành tựu chẳng biết là bao nhiêu! Trong chương Viên Thông, lăo nhân gia đă nói: Ngài và năm mươi hai vị đồng luân (đồng luân (同倫) là kẻ chí đồng đạo hợp), đều là dùng phương pháp “nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối”. Năm mươi hai địa vị, từ sơ phát tâm cho đến thành Phật, [bao gồm] Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, Diệu Giác, năm mươi hai địa vị ấy, chẳng biết có bao nhiêu người, c̣n đông hơn số người tu các pháp môn khác rất nhiều lần. Họ đều dùng pháp môn này để thành tựu, chúng ta c̣n có thể hoài nghi ư?

 

      (Sao) Nhất tâm niệm Phật, hựu nhất tâm tu dư chủng chủng pháp môn, thị nhị tâm dă.

      ()一心念佛,又一心修餘種種法門,是二心也。

      (Sao: Đă nhất tâm niệm Phật, lại c̣n nhất tâm tu các thứ pháp môn khác, đó là nhị tâm).

 

      Nhất tâm bất loạn chẳng đạt được, đó là “nhị tâm”. Nhị tâm niệm Phật, văng sanh khó lắm, tùy thuộc một niệm cuối cùng trong khi người ấy lâm chung. Nếu niệm cuối cùng ấy quy nhất bèn có thể văng sanh. Nếu niệm cuối cùng ấy vẫn là nhị tâm, niệm Phật suốt đời [chỉ] là kết một thiện duyên với A Di Đà Phật trong A Lại Da Thức, trong một đời này chẳng thể văng sanh. Chúng ta ắt phải thời thời khắc khắc dấy ḷng cảnh giác chuyện này. V́ sao? V́ trong đời quá khứ, chúng ta đă đời đời kiếp kiếp niệm Phật nhưng luôn luôn là chẳng thể văng sanh, do nguyên nhân nào? Lâm chung vẫn là nhị tâm, tam tâm nhị ư, chẳng thể văng sanh thành công! Trong một đời này, duyên của chúng ta thù thắng, gặp được Liên Tŕ đại sư, được xem đoạn khai thị quư báu này của Liên Tŕ đại sư, chúng ta hiểu nguyên nhân khiến cho đời đời kiếp kiếp chẳng thể văng sanh là do chuyện này. Sau khi đă hiểu rơ, từ nay trở đi, quyết định chẳng c̣n đi theo con đường sai lầm, nhất tâm niệm đến cùng, điều này quan trọng lắm! Quyết định chớ nên tu những pháp môn khác, Thiền cũng thế, Mật cũng thế, Giáo cũng thế. Trong Giáo có Thiên Thai, Hiền Thủ, Bát Nhă, Tam Luận, những tông phái ấy xác thực là có thể rất hấp dẫn, khiến cho chúng ta nghe, thấy, sanh tâm ngưỡng mộ, có tốt đẹp hay không? Chẳng tốt đẹp! Chúng đều có đủ sức chướng ngại chúng ta văng sanh Tịnh Độ. Phải biết: Trong thế gian này, chúng ta khổ nạn trùng trùng. Đă thế, khổ nạn trong thế gian này mỗi năm một nhiều hơn, mỗi năm càng khổ hơn, thọ mạng của chúng ta rất hữu hạn. Nếu chẳng cầu sanh Tây Phương, đấy mới là kẻ ngu thật sự! Cổ đức nói: “Chẳng phải ngu th́ là cuồng”, trước kia, thầy Lư giảng kinh Vô Lượng Thọ cũng nói theo cách ấy. Một người học Phật, chẳng biết cầu sanh Tịnh Độ, nếu chẳng phải là ngu si, th́ sẽ là cuồng vọng. Nói cách khác là bất b́nh thường! Kẻ đầu óc sáng suốt, là người b́nh thường, chẳng có ai không mong mỏi cầu sanh Tịnh Độ. V́ thế, chớ nên xen tạp, hăy nên buông xuống, buông hết thảy các pháp môn xuống, hăy bỏ đi. Tuyệt đối chẳng phải là hết thảy các pháp môn không hay, chẳng phải là coi thường, mà là v́ bản thân chúng ta chẳng có năng lực tu học, chờ chúng ta đến Tây Phương Cực Lạc thế giới gặp A Di Đà Phật, mong học ǵ cũng đều chẳng trễ, đều có thể viên măn. Cổ đức nói: “Chỉ được thấy Di Đà, lo ǵ chẳng khai ngộ”. V́ thế, nay được thấy A Di Đà Phật chính là một đại sự trọng yếu nhất!

 

      (Sao) Phù vô tạp niệm giả, chỉ đắc Sự chi nhất tâm, kim thả vị năng, hà huống Lư nhất.

      ()夫無雜念者,止得事之一心,今且未能,何況理一。

(Sao: Phàm là chẳng có tạp niệm th́ chỉ đắc Sự nhất tâm, nay c̣n chưa thể đắc [Sự nhất tâm], huống hồ Lư nhất tâm).

 

      Đây là nói về kẻ niệm Phật lại xen tạp các pháp môn khác, chẳng phải là chuyên tâm tu. [Lời Sao] chỉ rơ: Phải đạt đến “chẳng có tạp niệm” th́ mới đắc Sự nhất tâm. Sự nhất tâm đă chẳng đạt được th́ làm sao có thể đắc Lư nhất tâm cho được? Dưới đây là kết luận:

 

      (Sao) Cố niệm Phật giả, thủ chí bất nhị, vật nhân tam-muội nan thành, nhi triếp cải tu dư hạnh.

      ()故念佛者,守志不二,勿因三昧難成,而輒改修餘行。

(Sao: V́ thế, người niệm Phật hăy giữ chí hướng chẳng hai, đừng v́ tam-muội khó thành liền đổi ngay sang tu các hạnh khác).

 

      Chúng ta nhất định phải ghi nhớ điều này. Trong hết thảy các pháp môn, Niệm Phật xác thực là đạo dễ hành. Đạo dễ hành mà quư vị cũng chẳng thể thành tựu th́ đừng trông cậy vào đạo khó hành, chẳng có phần đâu nhé! Đạo dễ hành mà chẳng thể thành tựu, bèn biết chính ḿnh nghiệp chướng nặng nề dường ấy! Hăy nên làm như thế nào? Tiếp tục nỗ lực niệm Phật chẳng ngừng. Cổ đức dạy: Chúng sanh nghiệp chướng sâu nặng, hết thảy các kinh pháp đều chẳng thể tiêu trừ; cuối cùng, một câu Phật hiệu có thể diệt tội. Nói cách khác, quư vị niệm Phật chẳng phải là Phật hiệu không thể diệt tội, mà do quư vị tội ác quá nặng, chẳng phải là do mấy câu Phật hiệu bèn diệt được. Quư vị phải niệm chẳng ngừng, phải có tín tâm, phải có ḷng kiên nhẫn, phải có cái tâm dài lâu mà niệm Phật. Niệm suốt hai ba năm, nghiệp chướng sẽ tiêu trừ. Trong hai ba năm ấy, phải trọn đủ tín tâm, có tâm nhẫn nại, có cái tâm thường hằng th́ mới được. Quyết định chẳng thay đổi, biết [chính ḿnh] nghiệp chướng quá nặng, [do niệm Phật mà] có thể tiêu trừ [tội nghiệp dần dần] trong từng niệm. V́ thế, phải “thủ chí bất nhị” (giữ vững chí hướng chẳng hai), tức là chuyên cần tinh tấn, trong phần trước nói là “chuyên tâm, chuyên niệm”. Ngàn muôn phần đừng nghĩ: Niệm Phật chẳng đắc nhất tâm bèn thay đổi, lại đổi sang pháp khác, lại hành tham Thiền, lại đi học Mật, hỏng bét! [Như thế th́] suốt một đời này, chẳng thành tựu được chuyện ǵ cả! Dẫu chẳng đạt được, vẫn quyết định chẳng thay đổi. Chẳng thay đổi th́ do công phu đă sâu, tự nhiên sẽ đạt được. Dưới đây là dẫn chứng:

 

      (Sao) Tiên nho hữu ngôn.

      ()先儒有言。

      (Sao: Bậc tiên nho có nói).

 

      Bậc đại đức Nho gia thời cổ đă nói.

 

(Sao) Bất khả dĩ nhân chi nan thục, nhi cam vi tha đạo chi hữu thành, thử chi vị dă.

()不可以仁之難熟,而甘為他道之有成,此之謂也。

(Sao: “Chớ nên v́ ḷng nhân khó thể thành tựu mà đành ḷng hành theo đạo khác để có thành tựu” chính là nói về điều này vậy).

 

      Mạnh Tử nói lời này. Đây là tỷ dụ, ngạn ngữ thường nói: “Chỉ cần công phu sâu, chày sắt cũng mài thành kim”, cũng là nói lên ư nghĩa này. Chúng ta chẳng có thành tựu là do công phu chưa đến nơi đến chốn, c̣n thua kém một chút. Hăy tiếp tục nỗ lực, chẳng phải là sẽ đạt được hay sao? Thua kém một chút, chính ḿnh thiếu ḷng kiên nhẫn, buông bỏ, lại đi làm chuyện khác, sẽ trở thành chẳng có chuyện ǵ thành công được!

 

(Sớ) Hựu thử tứ tự, nhược ly hợp thích chi, tắc tương tức, cố danh nhất tâm. Tương phi, cố danh bất loạn.

()又此四字,若離合釋之,則相即,故名一心;相非,故名不亂。

(Sớ: Lại nữa, đối với bốn chữ này, nếu dùng cách tách ra hoặc gộp lại để giải thích th́ do chúng chính là lẫn nhau, bèn nói là “nhất tâm”; do chẳng phải là lẫn nhau bèn gọi là “bất loạn”).

 

      “Ly” () là tách ra để nói. “Hợp” () là nói gộp lại. Tức là bốn chữ “nhất tâm bất loạn” có thể nói gộp lại, hoặc nói tách rời. Nói tách rời th́ nhất tâm là nhất tâm, bất loạn là bất loạn. Nói gộp lại th́ nhất tâm là bất loạn; bất loạn là nhất tâm. Nhưng khi tách ra th́ [mỗi phần trong bốn chữ ấy] cũng có ư nghĩa riêng biệt. Tách ra th́ nhất tâm là Định, bất loạn là Huệ. Vậy th́ có thể nói gộp lại như thế nào? Nói thật ra, Định là Huệ, Huệ là Định. Do vậy, có thể gộp lại để nói, mà cũng có thể nói tách ra. Dưới đây, lời Sao sẽ giảng về ư nghĩa “tương tức, tương phi”.

 

      (Sao) Tương tức giả, tức Không, tức Giả, tức Trung.

      ()相即者,即空即假即中。

      (Sao: “Chính là lẫn nhau” là tức Không, tức Giả, tức Trung).

 

      Giải thích nhất tâm. Trong phần trên đă nói: “Tương tức, cố danh nhất tâm” (Chính là lẫn nhau, nên gọi là nhất tâm). H́nh trạng của Tương Tức là ǵ? Ở đây nói rơ h́nh tướng của Tương Tức chính là “tức Không, tức Giả, tức Trung”. Đấy chính là Tam Quán nói theo tông Thiên Thai. Nhất Tâm Tam Quán, Không, Giả, Trung đồng thời, chẳng có trước hay sau, chẳng có thứ tự.

 

      (Sao) Tắc như tiền sở minh.

      ()則如前所明。

      (Sao: Như đă nói trong phần trước).

 

      Như trong phần trước đă nói.

 

      (Sao) Thử năng niệm, sở niệm, tức hữu nhi vô, tức vô nhi hữu, nhị biên phả đắc, trung diệc bất tồn.

()此能念所念,即有而無,即無而有,二邊叵得,中亦不存。

(Sao: Năng niệm và sở niệm chính là hữu mà vô, tuy vô mà hữu, hai bên đều chẳng đạt được th́ cái chính giữa cũng chẳng tồn tại).

 

      “Năng niệm” (Chủ thể niệm Phật) là cái tâm linh minh giác tri của chúng ta. “Sở niệm” (Đối tượng được niệm) là câu danh hiệu A Di Đà Phật, chúng ta thường nói là “sáu chữ hồng danh”. Đối với Năng Niệm và Sở Niệm, Năng và Sở là một, không hai. Năng Niệm là giác tri, Sở Niệm là lư thể. Năng Niệm và Sở Niệm, “tức hữu nhi vô, tức vô nhi hữu, nhị biên phả đắc, trung diệc bất tồn” (chính là hữu mà vô, tuy vô mà hữu, hai bên đều chẳng đạt được, cái chính giữa cũng chẳng tồn tại). Khi chúng ta bắt đầu niệm, bèn có Năng Niệm và Sở Niệm, Năng và Sở rạch ṛi, phân minh, tức là chưa đắc nhất tâm, vừa mới khởi đầu. Khi đă niệm lâu ngày, thường nói là “niệm mà vô niệm, vô niệm mà niệm”, tự nhiên người ấy đạt đến cảnh giới này. Cảnh giới này chính là cảnh giới nhất tâm. Do vậy, chỉ cần một mực niệm măi, chuyện ǵ cũng chẳng cần hỏi đến, sẽ đạt được cảnh giới này rất nhanh. Nếu vừa niệm, vừa thường hoài nghi, thường thắc mắc, thường muốn truy t́m tận cùng nguồn cội, suốt một đời này chẳng thể đạt tới cảnh giới này! Do nguyên nhân nào? Chính là v́ xen tạp như trong phần trước đă nói! Quư vị xen tạp, tức là đă xen lẫn hoài nghi, xen lẫn vọng tưởng, chẳng dễ ǵ đắc [nhất tâm]. Điều khẩn yếu là nhất tâm niệm đến cùng, chuyện ǵ cũng đừng hỏi tới!

 

      (Sao) Tam Đức hồn nhiên, bất khả phân biệt, thị danh nhất tâm.

(Diễn) Tương Tức hạ thập nhất cú, thích Tương Tức, danh nhất tâm.

       ()三德渾然,不可分別,是名一心。

()相即下十一句,釋相即,名一心。

(Sao: Tam Đức ḥa quyện trọn vẹn với nhau, chẳng thể phân biệt, nên gọi là nhất tâm.

      Diễn: Mười một câu từ chữ Tương Tức trở đi nhằm giải thích: “Tương tức được gọi là nhất tâm”).

 

      Hai câu Sao trên đây nhằm giải thích lời Sớ “Tương Tức, danh nhất tâm” (chính là lẫn nhau, nên gọi là nhất tâm).

 

      (Diễn) Tức hữu nhi vô giả, duyên khởi tức Tánh Không cố. Tức vô nhi hữu giả, Tánh Không tức duyên khởi cố.

      ()即有而無者,緣起即性空故;即無而有者,性空即緣起故。

(Diễn: “Chính là hữu mà vô”: Duyên khởi chính là Tánh Không. “Tuy vô mà hữu”: Tánh Không chính là duyên khởi).

 

      Bản thể của hết thảy muôn h́nh tướng chính là Không. Tâm Kinh nói: “Sắc chính là Không, Không chính là Sắc, Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc” là nói đến chuyện này. Hoàn toàn nói về chân tướng sự thật, nhưng phàm phu chúng ta chẳng thấy. V́ sao chẳng thấy? V́ quư vị có phân biệt, có chấp trước, ngỡ huyễn tướng là chân thật, chẳng biết bản thể của hết thảy các tướng chính là Không, chẳng biết, cứ ngỡ chúng có thật. V́ thế, ở trong ấy bèn sanh khởi vọng niệm, sanh khởi phiền năo. Đối với hết thảy các pháp, trước hết là có cái tâm phân biệt, kế đó là cái tâm lấy bỏ, nay chúng ta nói là “dục vọng chiếm hữu”. Dục vọng chiếm hữu là cái tâm lấy bỏ, phiền năo bèn sanh khởi. Tướng là hư vọng, quư vị sanh phiền năo cũng là hư vọng, há có phải là thật sự tồn tại! Thảy đều là hư vọng, quyết định chẳng phải là sự thật. Bởi lẽ, bản thể của chúng chính là Không, Hữu chính là Không. Chính là Vô mà Hữu, chính là Hữu mà Vô. “Tức hữu nhi vô” là nói bản thể của hết thảy muôn vàn h́nh tướng chính là Không. “Tức vô nhi hữu”: Không chẳng phải là Sắc hay sao? Tánh Không chính là duyên khởi. Do vậy, chớ nên hiểu Không là chẳng có ǵ hết! Tâm Kinh đă nói rơ chân tướng sự thật này, nó chẳng phải là không có ǵ, nó có thể biến hiện hết thảy muôn tướng.

 

      (Diễn) Nhị biên phả đắc nhị cú, hỗ đoạt lưỡng vong, duyên khởi, Tánh Không kư câu bất khả đắc, tắc phi duyên khởi Tánh Không chi Trung Đạo diệc bất tồn cố.

      ()二邊叵得二句,互奪兩亡,緣起性空既俱不可得,則非緣起性空之中道亦不存故。

(Diễn: Hai câu “hai bên đều chẳng thể được” [ư nói]: Do chúng đoạt lẫn nhau, hai bên (Vô và Hữu) cùng mất, duyên khởi lẫn Tánh Không đă đều chẳng thể được th́ Trung Đạo vốn chẳng phải là duyên khởi lẫn Tánh Không cũng chẳng tồn tại).

 

      Hai bên Không và Hữu đều chẳng thể được. Duyên khởi là Tánh Không, duyên khởi chẳng thể được. Tánh Không là duyên khởi, Tánh Không chẳng thể được, đấy mới là chân tướng sự thật. Đó gọi là “nhị biên bất trụ, Trung Đạo bất tồn” (hai bên đều chẳng trụ, Trung Đạo chẳng tồn tại), tâm thanh tịnh lắm! Đấy chẳng phải là Sự nhất tâm, mà là Lư nhất tâm, thật sự thanh tịnh.

 

      (Diễn) Tam Đức hồn nhiên, bất khả phân biệt giả.

     ()三德渾然,不可分別者。

      (Diễn: Tam Đức ḥa quyện trọn vẹn với nhau, chẳng thể phân biệt).

 

      Tam Đức là Pháp Thân, Bát Nhă, và Giải Thoát, đức Phật đă nói những điều này. Trong Chân Như bản tánh của chúng ta vốn trọn đủ ba tác dụng ấy. Triết học hiện thời gọi Pháp Thân là “bản thể của vạn hữu trong vũ trụ”, sâm la vạn tượng trong mười pháp giới do nó biến hiện. V́ thế, nó là cái “thân” của hết thảy vạn pháp, hết thảy vạn pháp sanh từ nó, nên gọi là Pháp Thân. Tự tánh của chúng ta vốn sẵn trọn đủ. Bát Nhă là hiểu rơ. Vốn hiểu rơ sâm la vạn tượng trong mười pháp giới, vốn hiểu rơ ràng. Giải Thoát là tự tại, Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại, vốn là như vậy. Nay chúng ta chẳng hiểu rơ hết thảy; chẳng hiểu rơ là vô minh, đă hiểu rơ bèn gọi là Bát Nhă. Nay chúng ta chẳng được tự tại, Lư lẫn Sự đều bị trở ngại, giữa Sự với nhau càng bị trở ngại. Vốn chẳng có trở ngại, mà nay đă biến thành vô lượng vô biên trở ngại, do đâu mà ra? Đều do mê mất tự tánh. Tất cả hết thảy chướng ngại và khổ nạn đều sanh từ vọng tưởng, chấp trước. Vọng tưởng diễn biến thành Sở Tri Chướng, chấp trước diễn biến thành Phiền Năo Chướng, đó là cội nguồn của hai chướng. Vốn là Sự Sự vô ngại, vốn là hết thảy hiểu rơ. Giáo học trong Phật pháp chẳng có ǵ khác, không ǵ chẳng nhằm khôi phục bản năng sẵn có nơi Tánh Đức của chúng ta mà thôi. Pháp Thân Đức hiện tiền, quư vị sẽ có thể tùy loại hóa thân. Đấy là bản năng, tức là năng lực vốn có. Như chư Phật, Bồ Tát hóa độ chúng sanh trong mười pháp giới, đáng nên dùng thân ǵ để độ bèn hiện thân ấy, năng lực ấy do đâu mà có? Bản năng (năng lực vốn sẵn có)! Tức là bản năng của Pháp Thân. Hết thảy pháp thế gian và xuất thế gian đều hiểu rơ, thông đạt hết thảy, đó là Bát Nhă nơi bản năng. Đắc đại tự tại trong hết thảy các pháp chính là Giải Thoát vốn có trong bản tánh. Mục đích giáo học của Phật pháp là ở chỗ này, nhằm khôi phục bản năng của chính chúng ta mà thôi. “Tam Đức hồn nhiên, bất khả phân biệt” (Tam Đức ḥa quyện trọn vẹn với nhau, chẳng thể phân biệt), một chính là ba, ba chính là một, tánh là một, nêu rơ: Ba thứ đức dụng của tánh là một chuyện! Chẳng thể nói chúng là ba, chúng là một Thể trọn đủ [ba tác dụng], mà cũng chẳng thể nói chúng là một, đích xác là có ba tác dụng. V́ thế, nói là ba bèn chẳng đúng, nói là một cũng sai luôn! Nếu quư vị đă hiểu rơ th́ nói là ba cũng đúng, nói là một cũng đúng. Hễ chấp trước bèn sai; không chấp trước, nói kiểu nào cũng đúng!

 

      (Diễn) Hữu tức vạn pháp tề chương, thuộc Giải Thoát Đức.

      ()有即萬法齊彰,屬解脫德。

(Diễn: Hữu chính là muôn pháp cùng hiện bày, thuộc về Giải Thoát Đức).

 

“Chương” () là biến hiện rơ rệt, sâm la vạn tượng rành rành. Đó là Hữu, thuộc về Giải Thoát Đức.

 

      (Diễn) Vô tức nhất trần bất lập, thuộc Bát Nhă Đức.

      ()無即一塵不立,屬般若德。

(Diễn: Vô chính là chẳng lập mảy trần, thuộc về Bát Nhă Đức).

 

      “Vô” là nói theo tánh. “Hữu” là nói theo tướng. Nói theo tánh, xác thực là chẳng lập mảy trần, trong chân tánh chẳng lập mảy trần.

 

      (Diễn) Trung tức Không Hữu nan tư, thuộc Pháp Thân Đức.

      ()中即空有難思,屬法身德。

(Diễn: Trung chính là Không lẫn Hữu khó nghĩ tưởng, thuộc về Pháp Thân Đức).

 

      Chẳng thể nghĩ bàn, biến hiện tự tại.

 

      (Diễn) Tức hữu nhi vô, Giải Thoát tức Bát Nhă. Tức vô nhi hữu, Bát Nhă tức Giải Thoát. Nhị biên phả đắc, Bát Nhă Giải Thoát tức Pháp Thân. Trung diệc bất tồn, Pháp Thân tức Bát Nhă, Giải Thoát. Cử nhất tức tam, ngôn tam tức nhất.

()即有而無,解脫即般若;即無而有,般若即解脫;二邊叵得,般若解脫即法身;中亦不存,法身即般若解脫。舉一即三,言三即一。

(Diễn: “Chính là Hữu mà Vô”: Giải Thoát chính là Bát Nhă. “Chính là Vô mà Hữu”: Bát Nhă tức là Giải Thoát. “Hai bên đều chẳng thể được”: Bát Nhă và Giải Thoát chính là Pháp Thân. “Cái chính giữa cũng chẳng tồn tại”: Pháp Thân tức Bát Nhă và Giải Thoát. Nêu ra một bèn chính là ba; nói ba chính là một).

 

      Tam Đức ḥa quyện vào nhau. Quư vị phải hiểu rơ ràng, hiểu minh bạch chân tướng sự thật này, chẳng có mảy may phân biệt, chấp trước, đó là đúng. Nếu có phân biệt, chấp trước, chẳng thà không nói, chẳng thà không đọc kinh. Không đọc kinh, tâm c̣n thanh tịnh. Hễ đọc, đọc rồi phiền phức đầy dẫy, đọc rồi có khá nhiều tri kiến, sai lầm đặc biệt to tát! Phải biết: Đức Phật thuyết kinh chính là “nói mà chẳng nói, chẳng nói mà nói”. V́ thế, đức Phật dạy chúng ta nghe kinh, phải là “nghe mà chẳng nghe, chẳng nghe mà nghe” đó là đúng. Đấy mới là ư nghĩa của Phật, vàn muôn phần chớ nên phân biệt, chấp trước.

      “Tương tức” là ư nghĩa nhất tâm, “tương phi” là ư nghĩa bất loạn. “Tương phi, cố danh bất loạn” (Chẳng phải là lẫn nhau, nên gọi là bất loạn).

 

      (Sao) Tương phi giả, Giả phi thị Không, Không phi thị Giả, Trung phi Giả Không.

()相非者,假非是空,空非是假,中非假空。

(Sao: “Chẳng phải là lẫn nhau”: Giả chẳng phải là Không, Không chẳng phải là Giả, Trung chẳng phải là Giả và Không).

 

      Giả chẳng phải là Không, Không chẳng phải là Giả, Trung chẳng phải là Giả mà cũng chẳng phải là Không. Ba điều ấy xác thực là có định nghĩa độc lập.

 

      (Sao) Tắc năng niệm sở niệm song vong, thành Bát Nhă Đức.

      ()則能念所念雙亡,成般若德。

(Sao: Tức là năng niệm và sở niệm cùng mất, nên thành Bát Nhă Đức).

 

      Thường là trong tâm có [ư niệm] ta là năng niệm, [tức là] hôm nay ta niệm mấy vạn câu Phật hiệu, Phật hiệu là cái được ta niệm (sở niệm). Năng và Sở rành rành, Năng và Sở phân minh. Khi nào niệm Phật dẫu một ngày niệm mấy vạn câu Phật hiệu, mà có thể chẳng nghĩ ta là năng niệm, cũng chẳng nghĩ đức Phật là sở niệm, nhưng miệng niệm Phật hiệu chẳng ngớt, niệm nào cũng niệm liên tục, chẳng hề gián đoạn. Đó chính là “Năng Sở song vong” (Năng lẫn Sở cùng mất), tâm đă định. Định tâm khởi tác dụng là Bát Nhă; đó là trí huệ.

 

      (Sao) Năng niệm, sở niệm song lập, thành Giải Thoát Đức.

     ()能念所念雙立,成解脫德。

      (Sao: Năng niệm và sở niệm cùng lập, thành Giải Thoát Đức).

 

      Năng và Sở rành mạch, hết sức tự tại, hết sức tự tại. Giải Thoát là tự tại, nhưng chư vị phải hiểu: Đối với ba thứ ấy, tuyệt đối chẳng phải là ta chỉ đắc một thứ trong ba thứ ấy. Chẳng có lẽ ấy! Hễ đạt được một, nhất định sẽ đạt được hai thứ kia. Ngàn muôn phần đừng nghĩ nay ta có cái Ngă năng niệm, có Phật hiệu là sở niệm (cái được niệm), rành mạch, phân minh là đă đắc Giải Thoát, chẳng có Bát Nhă, chẳng có Pháp Thân. Quư vị hiểu như vậy tức là đă hoàn toàn hiểu sai bét ư nghĩa. V́ sao? Một tức là ba, ba tức là một, vận dụng tự tại, đó là Giải Thoát, Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại.

 

      (Sao) Câu tồn, câu mẫn, hiển hồ Trung Đạo.

      ()俱存俱泯,顯乎中道。

      (Sao: Cùng tồn tại, cùng mất đi, hiển lộ Trung Đạo).

 

      “Câu tồn” (俱存: cùng tồn tại): Năng và Sở cùng lập là “câu tồn”. “Câu mẫn” (俱泯: cùng mất đi): Năng và Sở cùng mất là “câu mẫn”. Tồn tại và mất đi đồng thời, chẳng có trước sau, đấy mới là Trung Đạo. Tâm Kinh dạy: “Sắc tức là Không, Không tức là Sắc, Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc”, là đồng thời, chẳng có trước sau, Tịnh Tông bảo đó là cảnh giới Lư nhất tâm, cũng là bốn vô ngại pháp giới được nói trong kinh Hoa Nghiêm, bốn vô ngại pháp giới là đồng thời. Ở đây nói Tam Đức Bí Tạng, Bát Nhă, Pháp Thân, Giải Thoát là đồng thời.

 

      (Sao) Tam Đức lịch nhiên, bất khả hỗn tạp, thị danh bất loạn.

     ()三德歷然,不可混雜,是名不亂。

      (Sao: Tam Đức rành rành, chẳng thể hỗn tạp, nên gọi là bất loạn).

 

      Trong ấy, Sự và Lư rành mạch, phân minh. Đó là “bất loạn”. Kinh Lăng Nghiêm nói “tự tánh vốn định” là Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm. Tự tánh vốn định cũng là ư nghĩa đang được nói ở đây. Đoạn này nói rất sâu, chẳng phải là nói về văn tự, mà trên thực tế là nói về cảnh giới, là cảnh giới đích thân chứng đắc bởi chư Phật và các vị đại Bồ Tát. Đại Bồ Tát tối thiểu là Sơ Trụ trong Viên Giáo hoặc Sơ Địa trong Biệt Giáo. Do thuộc vào địa vị ấy, Tịnh Tông phán định là cảnh giới Lư nhất tâm, chính là cảnh giới ấy. Qua đoạn văn này, Liên Tŕ đại sư đă nêu rơ giá trị và địa vị của Tịnh Tông hoàn toàn chẳng kém Thiền và Giáo. Chẳng thể nói học Thiền mà chẳng học thành công, học Giáo cũng học chẳng thể thành công, [chỉ đành]: “Ta là kẻ quá đần, nghiệp chướng quá nặng, thôi th́ ta niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ!” Những điều được nói trong đoạn này chẳng dung nạp hạng người có tri kiến sai lầm ấy. Tịnh Tông bất luận xét theo Sự hay Lư, tuyệt đối chẳng kém Thiền hoặc Giáo, có ư nghĩa như vậy đó.

 

      (Sớ) Hựu thử nhất tâm bất loạn, diệc phân ngũ giáo, kim bất tự giả, dĩ chánh chỉ đốn viên cố.

      ()又此一心不亂,亦分五教,今不敘者,以正指頓圓故。

      (Sớ: Lại nữa, nhất tâm bất loạn cũng chia thành năm giáo, nay tôi chẳng tŕnh bày, v́ nhất tâm bất loạn được nói trong kinh này chính là pháp đốn viên).

 

      Liên Tŕ đại sư viết bộ Di Đà Kinh Sớ Sao này, hoàn toàn chọn lựa phương cách [chú giải kinh điển] của tông Hiền Thủ, tức là [phương thức của] tông Hoa Nghiêm. Ngài chọn lựa phương thức “thập môn khai khải” (十門開), tức là dùng Thập Huyền để giải thích ư nghĩa của kinh. Mục đích của Ngài hết sức hiển nhiên, chúng ta cũng phải biết bối cảnh trong thời đại ấy. Liên Tŕ đại sư sống vào niên hiệu Vạn Lịch nhà Minh, tức là vào những năm cuối nhà Minh. Trong xă hội thuở ấy, phong khí nhà Thiền rất mạnh mẽ, mọi người đều tham Thiền, rẻ rúng Tịnh Độ. Thuở ấy, giáo pháp Tịnh Độ bị Thiền coi thường, mà Giáo cũng coi thường. Pháp môn thù thắng như vậy bị người ta hiểu lầm, quư vị nói xem có đáng tiếc lắm hay không! V́ thế, đại sư cực lực đề xướng Tịnh Độ, phải làm như thế nào để mọi người có nhận thức mới mẻ, tái khẳng định [pháp môn ấy], Ngài bèn dùng h́nh thức [chú giải] kinh Hoa Nghiêm để giải thích [kinh Di Đà]. Bởi lẽ, bất luận Tông Môn hay Giáo Hạ, đều tôn Hoa Nghiêm là “vua của các kinh”, bộ Sớ Sao của đại sư hoàn toàn viết theo h́nh thức kinh Hoa Nghiêm, dùng kinh nghĩa trong kinh Hoa Nghiêm để giải thích. Đấy chính là đề cao kinh Di Đà, đề cao kinh này giống hệt như kinh Hoa Nghiêm. Quư vị đă coi trọng kinh Hoa Nghiêm, sẽ coi trọng kinh Di Đà; khinh thường kinh Di Đà tức là khinh thường kinh Hoa Nghiêm! Dùng phương thức ấy để nâng cao địa vị của Tịnh Tông. Đây là một phen khổ tâm của lăo nhân gia, mà cũng là kiệt tác trí huệ của lăo nhân gia.

      Thật ra, dùng Hoa Nghiêm ngũ giáo có thể phán thích hết thảy các giáo. Nó giống như một công thức Toán Học. Ngẫu Ích đại sư chú thích kinh, [viết thành tác phẩm] Di Đà Kinh Yếu Giải đă dùng Thiên Thai tứ giáo, Liên Tŕ đại sư chọn dùng Hiền Thủ ngũ giáo. Nay đại sư chẳng tŕnh bày Ngũ Giáo cặn kẽ, v́ sao chẳng nói [chi tiết]? V́ xét theo ngũ giáo, kinh này đích xác thuộc về Đốn Giáo, thuộc loại Viên Giáo. Tuy chẳng giải thích, nhưng sợ người đời sau đọc đến sẽ nẩy sanh hoài nghi, vẫn mong tra cứu tài liệu, phiền phức quá! V́ thế, tiếp đó, Ngài nói đại lược đôi chút. Trong sách Diễn Nghĩa, pháp sư Cổ Đức nói rơ ràng hơn, thuận tiện rất nhiều cho những người nghiên cứu giáo pháp như chúng ta.

 

      (Sao) Diệc phân ngũ giáo giả, dĩ liên phân cửu phẩm.

      ()亦分五教者,以蓮分九品。

      (Sao: Cũng chia thành năm giáo, v́ chia thành chín phẩm sen).

 

      Đây là điều được nói trong Quán Kinh.

 

      (Sao) Tắc tiểu đại thiển thâm, tự hữu sai đẳng.

      ()則小大淺深,自有差等。

      (Sao: Cho nên phải có nhỏ, lớn, cạn, sâu sai khác).

 

      Chín phẩm, từ thượng thượng phẩm cho đến hạ hạ phẩm, có thứ tự cạn sâu phân biệt khác nhau.

 

      (Sao) Như Tiểu Giáo dĩ diêu tâm tạo nghiệp nhi cảm tiền cảnh vi nhất tâm.

()如小教以繇心造業而感前境為一心。

(Sao: Như Tiểu Giáo coi “do tâm tạo nghiệp mà cảm tiền cảnh” là nhất tâm)[6].

 

      Công phu nhất tâm có cạn hay sâu khác biệt, dùng ngũ giáo để phối hợp với [các mức độ ấy] th́ có thể phù hợp khít khao.

 

      (Sao) Thỉ Giáo dĩ A Lại Da Thức sở biến vi nhất tâm. Chung Giáo dĩ thức cảnh như mộng, duy Như Lai Tạng vi nhất tâm. Đốn Giáo dĩ nhiễm tịnh câu mẫn vi nhất tâm. Viên Giáo dĩ tổng cai vạn hữu tức thị nhất tâm.

      ()始教以阿賴耶識所變為一心;終教以識境如夢,唯如來藏為一心;頓教以染淨俱泯為一心;圓教以總該萬有即是一心。

(Sao: Thỉ Giáo coi cái được biến bởi A Lại Da Thức là nhất tâm. Chung Giáo coi “thức cảnh như mộng, chỉ có Như Lai Tạng” là nhất tâm. Đốn Giáo coi “nhiễm và tịnh cùng mất là nhất tâm”. Viên Giáo coi “bao trùm vạn hữu” chính là nhất tâm)[7].

 

      Đây là nói đại lược theo ngũ giáo, xác thực là nhất tâm có [mức độ] lớn, nhỏ, sâu, cạn khác nhau. V́ thế, chúng ta nói đến nhất tâm, quư vị đắc nhất tâm loại nào? Thành Phật là thành Phật loại nào? [Xét theo] Ngũ giáo của tông Hiền Thủ, sẽ là năm loại Phật bất đồng, có Tiểu Giáo Phật, Thỉ Giáo Phật, Chung Giáo Phật, Đốn Giáo Phật, và Viên Giáo Phật, quư vị thành Phật loại nào? Lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ nói: “Mật Tông thường nói ‘tức thân thành Phật’ (thành Phật ngay trong cái thân này), nếu có thể thành th́ được, chẳng thành th́ không được” Cụ Hoàng Niệm Tổ nói hay quá. Cụ là truyền nhân trong Mật Giáo, cũng là truyền nhân của Tịnh Độ Tông. Cả đời cụ, cống hiến lớn nhất đối với Tịnh Tông là viết chú giải cho kinh Vô Lượng Thọ, tổng hợp hoàn thiện những ư kiến chú giải xưa nay. Để viết chú giải [cho kinh Kim Cang], cư sĩ Giang Vị Nông đă sưu tập tài liệu, ư kiến của mấy trăm vị [chú giải trước đó] đều được thâu thập lại. V́ thế, trước đây, khi giới thiệu cùng chúng tôi, thầy Lư đă nói bộ Kim Cang Kinh Giảng Nghĩa của Giang cư sĩ là đại từ điển của kinh Kim Cang. Có thể nói bản chú giải kinh Vô Lượng Thọ của cụ Hoàng Niệm Tổ là đại từ điển của kinh Vô Lượng Thọ, đối với những người nghiên cứu giáo hoặc nghiên cứu bộ kinh này, đó là một tài liệu hết sức hay.

      Trong đại bối cảnh đương thời, Liên Tŕ đại sư đă chọn lựa [giáo nghĩa của tông] Hoa Nghiêm nhiều nhất, kế đó là Thiên Thai, Pháp Tướng, Duy Thức, Bát Nhă, Tam Luận trong Giáo Hạ thảy đều trích dẫn, lại c̣n trích dẫn Nho gia và Đạo gia [để viết Sớ Sao. V́ thế, tác phẩm này] khó có nhất. Cuối [mỗi đoạn] c̣n có phần Xứng Tánh. Xứng Tánh là nói theo nhà Thiền. Có thể nói là trong bản chú giải này, Ngài đă dung hội Thiền, Giáo, Mật, Luận; pháp thế gian và xuất thế gian cũng hoàn toàn được dung hội trong Sớ Sao. V́ vậy, Ngẫu Ích đại sư khen Sớ Sao là “bác đại tinh thâm” (mênh mông, rộng lớn, tinh tường, sâu xa), bốn chữ ấy đích xác là hết sức thích hợp, chẳng khoa trương tí nào! Văn tự trong Di Đà Kinh Sớ Sao kể ra chẳng nhiều lắm, nhưng đúng là bác đại tinh thâm. Do đó, chúng ta nghiên cứu giáo, học giảng kinh, đối với những chú sớ ấy, nhất định phải nhận thức rơ ràng, sau đấy mới có thể ứng dụng chúng, sử dụng chúng rất thích đáng. Nhờ đó, trong các buổi giảng, sẽ tiện lợi rất nhiều, sẽ hữu ích rất nhiều. Quư vị chẳng biết dùng, sử dụng sai lầm, sẽ biến thành một món hổ lốn, tốn sức mà chẳng đạt được kết quả tốt đẹp, phải biết điều này. Dẫu là [khi giảng kinh, chỉ sử dụng] một bộ chú giải, ví như chúng ta giảng kinh Di Đà, chúng ta tham khảo, dựa theo bộ Sớ Sao của Liên Tŕ đại sư, khi chúng ta giảng giải kinh Di Đà vẫn phải quan sát thính chúng, xem xét căn tánh và tŕnh độ của họ, xét trạng huống tu học thường ngày của họ [để phán đoán]: Chúng ta giảng kinh ấy, chỗ nào cần nói cặn kẽ, chỗ nào phải nói đại lược, người nghe kinh mới có thể thật sự đạt được lợi ích. Nói cách khác, toàn thể bộ Sớ Sao này đă cung cấp một tài liệu tham khảo cho chúng ta, bản thân chúng ta phải biết chọn lọc, chẳng thể hoàn toàn giảng rập khuôn theo đó. Nay ở đây chúng tôi chẳng phải là giảng kinh Di Đà, mà là giảng bộ Sớ Sao Diễn Nghĩa, cho nên giảng toàn bộ. Đó là chỗ khác biệt! Nếu giảng kinh Di Đà, sẽ chẳng thể giảng theo kiểu này! V́ thế, giảng kinh th́ phải biết chọn lọc từ chú giải, chọn lọc thích đáng, người ta nghe xong, ai nấy đều được lợi ích, ai nấy đều hoan hỷ. Chọn lọc chẳng thích đáng, [thính chúng sẽ cảm thấy] “nghe những thứ ấy vô dụng, lăng phí thời gian, lăng phí tinh lực”. Đương nhiên là lần sau người ta chẳng tới nữa. Để chọn lọc đích xác th́ phải có trí huệ kha khá. Điều này thuộc loại học vấn, phải biết chọn lọc!

 

      (Sao) Nhi Phật thuyết thử kinh, bổn vị hạ phàm chúng sanh.

()而佛說此經,本為下凡眾生。

(Sao: Nhưng đức Phật nói kinh này, vốn v́ chúng sanh phàm phu hạ căn).

 

      Liên Tŕ đại sư nói câu này hay lắm! Lăo nhân gia nói kiểu này hoàn toàn giống như cách nói của Thiện Đạo đại sư đời Đường trong bản chú giải kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, chúng ta phải đặc biệt coi trọng. V́ ai mà đức Phật nói kinh này? Đức Phật v́ chúng ta mà nói. Chúng ta xác thực là “hạ phàm” (phàm phu hạ căn). Chẳng chiếu theo pháp môn này, sẽ khó thành tựu. Đạt Ma tổ sư truyền dạy Thiền, trong Đàn Kinh, Lục Tổ Huệ Năng đại sư đă nói rất hay, đó là v́ ai mà nói? V́ kẻ thượng thượng căn mà nói; do vậy, chúng ta chẳng có phần. Chúng ta tham Thiền, đừng nói là khai ngộ, ngay cả Định cũng chẳng đắc! Không tin ư? Cứ ngồi xếp bằng nh́n vào vách để coi quư vị có thể ngồi nổi ba ngày hay không? Có thể ngồi ba ngày là tiểu định đấy nhé! Người ta hễ ngồi bèn nhập Định. Quư vị hăy xem [hành trạng của] lăo ḥa thượng Hư Vân. Từ Niên Phổ, chúng ta thấy Ngài nhập Định là nửa tháng hoặc một tháng, c̣n phải có người khác phát hiện, dùng dẫn khánh gơ bên tai Ngài mấy lượt, Ngài mới xuất Định. Người ta hỏi Ngài: “Thưa lăo ḥa thượng! Thời gian nhập Định của Ngài quá lâu!” “Đâu có! Tôi cảm thấy mới mười phút hoặc hai mươi phút thôi mà!” Trên thực tế đă qua nửa tháng! Có một năm, Ngài ở trên núi. Nhằm dịp Giao Thừa, Ngài nấu một nồi khoai môn. Gom lửa phía trên nồi để um khoai [cho chín kỹ], lăo nhân gia ngồi cạnh bếp nhập Định. Lần ấy, Ngài nhập Định hai mươi mấy ngày, Tết đă qua từ lâu. Người ta nói: “Lăo ḥa thượng làm sao mà đă qua Tết lâu rồi chẳng thấy ra ngoài, chẳng thấy Ngài đâu hết”. Đến lều tranh kiếm Ngài, thấy khoai môn nấu trong nồi đă nổi đầy mốc, dưới đáy bếp ḷ đă mọc cỏ, lăo nhân gia đang nhập Định, lại gơ khánh đánh thức Ngài. Sau khi được đánh thức, Ngài nói: “Tôi đă luộc khoai môn, hăy cùng ăn nhé”, [Ngài cảm thấy thời gian nhập Định] mới bất quá hai mươi phút. Khi Ngài mở nồi, thấy khoai [mốc meo] như vậy, người ta bảo Ngài đă hơn nửa tháng rồi! Chúng ta chẳng có cách nào [tu như vậy được]! Do vậy, Thiền là để cho người thượng thượng căn tu. Phàm phu hạ căn chúng ta chớ nên xem thường niệm Phật. Niệm Phật thành tựu vượt trỗi Ngài. Lăo ḥa thượng Hư Vân văng sanh Đâu Suất Thiên Nội Viện, đến chỗ Di Lặc Bồ Tát. Nhưng phàm phu hạ căn chúng ta th́…

 

      (Sao) Đản niệm Phật danh.

      ()但念佛名。

      (Sao: Chỉ niệm danh hiệu Phật).

 

      Chúng ta sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, Tây Phương Cực Lạc thế giới thù thắng hơn Đâu Suất Thiên quá nhiều; nói thẳng thừng là [Đâu Suất Thiên] chẳng thể sánh bằng! Di Lặc Bồ Tát từ Đâu Suất Thiên đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, Ngài là học tṛ, có thân phận giống như chúng ta, là học tṛ của A Di Đà Phật. Lăo ḥa thượng Hư Vân đến Đâu Suất Thiên là học tṛ của Di Lặc Bồ Tát, chúng ta văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, Di Lặc Bồ Tát và chúng ta là bạn học. Bối phận (vai vế) của chúng ta c̣n cao hơn lăo ḥa thượng Hư Vân một bậc, chúng ta và thầy Ngài có cùng bối phận! Quư vị ngẫm xem, thế giới Tây Phương thù thắng [như thế đó]. Dễ dàng sanh về! Đâu Suất Thiên tuy gần, rất khó đến, chẳng có công phu định lực như cụ Hư Vân sẽ chẳng đến đó được. Do vậy, người niệm Phật:

 

      (Sao) Kính đăng bất thoái, trực chí thành Phật.

      ()徑登不退,直至成佛。

      (Sao: Nhanh chóng đạt tới địa vị Bất Thoái, tiến thẳng đến địa vị Phật).

 

      Lại c̣n đến thế giới Tây Phương thành Phật hết sức nhanh chóng. Cuối bộ Sớ Sao cũng nói tới chuyện này, trích dẫn kinh văn từ Quán Kinh để nói rơ: Trong thế giới Tây Phương, thời gian để bất thoái thành Phật hết sức nhanh chóng. Thành Phật trong thế giới Sa Bà của chúng ta, mọi người đều biết, trong kinh đức Phật thường nói: Phải mất ba [đại] A-tăng-kỳ kiếp. A-tăng-kỳ kiếp là đại kiếp, ba đại A-tăng-kỳ kiếp mới có thể thành Phật. Chúng ta thường dch A-tăng-kỳ (Asaṃkhyeya) là Vô Ương Số (無央數), là một con số quá lớn, chẳng nói rơ ràng con số ấy lớn cỡ nào! Đến thế giới Tây Phương để thành Phật, dẫu là hạ hạ phẩm văng sanh cũng chẳng quá mười hai đại kiếp. Mười hai đại kiếp và ba đại A-tăng-kỳ kiếp chẳng thể so sánh được! Nói rơ: Thành Phật trong thế giới Tây Phương dễ dàng, rất nhanh chóng. Vậy th́ chúng ta văng sanh thế giới Tây Phương có phải là hạ hạ phẩm hay không? Chắc chắn là không phải! V́ sao biết là không phải? Hạ hạ phẩm là chúng sanh tạo tác tội nghiệp Ngũ Nghịch, Thập Ác cực nặng, lập tức phải đọa địa ngục A Tỳ, khi lâm chung, nghe thiện tri thức khuyến cáo, nhất niệm hồi tâm. Người như vậy niệm Phật văng sanh thế giới Tây Phương mới là hạ hạ phẩm. Chúng ta suốt một đời này tuy tạo chẳng ít tội nghiệp, vẫn chưa tạo tội nghiệp nặng nề dường ấy. Nói cách khác, không văng sanh th́ thôi, hễ văng sanh, quyết định chẳng phải là hạ hạ phẩm, đại khái là hạ phẩm thượng sanh. Hạ phẩm trung sanh th́ sao? Sáu kiếp đă thành Phật, thật mau! Nếu là hạ phẩm thượng sanh, hoặc là trung phẩm hạ sanh, tốc độ c̣n nhanh hơn nữa! Các thế giới phương khác chẳng có cách nào sánh bằng!

      Trong kinh này, Thích Ca Mâu Ni Phật bảo: “Ngă kiến thị lợi” (Ta thấy điều lợi này), “ngă” là Thích Ca Mâu Ni Phật tự xưng. Đức Phật nói ta thấy lợi ích thù thắng dường ấy, trong hết thảy các cơi Phật khắp mười phương thế giới, chẳng có lợi ích ấy, há có cơi nào nhanh chóng ngần ấy? V́ thế, thượng thượng phẩm văng sanh, vừa sanh về đó bèn là hoa nở thấy Phật. Nói cách khác, đến thế giới Tây Phương bèn thành Phật. V́ lẽ này, Văn Thù và Phổ Hiền phải gấp rút văng sanh, v́ sanh vào Tây Phương Cực Lạc thế giới, những vị đại Bồ Tát như các Ngài sanh về đó, đương nhiên là thượng thượng phẩm văng sanh trong cơi Thật Báo Trang Nghiêm, đến đó bèn thành Phật. Nếu các Ngài chẳng về đó, ở trong thế giới Hoa Tạng, vẫn phải chờ một khoảng thời gian khá dài mới có thể thành Phật, đâu có nhanh chóng, thuận tiện ngần ấy như trong thế giới Tây Phương? Đối với những đoạn kinh văn nói rành mạch, rơ ràng như thế, khi đọc, chúng ta phải lưu ư, chớ nên hàm hồ, lơ mơ, coi thường, xem lướt qua, rất đáng tiếc. V́ sao tín tâm của chúng ta chẳng thể tăng trưởng? Đọc kinh quá đỗi qua quít, chẳng thấy được những điều trọng yếu. [Những điểm trọng yếu] bày ra ngay trước mắt, miệng đọc [ào ào] mà vẫn chẳng giác ngộ, quư vị nói xem có cách ǵ nữa chăng? Bảo là ngu si th́ đúng là ngu si! Bày ra ngay trước mặt mà chẳng thấy; do vậy, nhất định phải hiểu!

      Câu nào của tổ sư cũng đều có căn cứ trong ba kinh Tịnh Độ, chẳng vượt ra ngoài ba kinh, ba kinh quyết định là đáng tin cậy. Hiện thời có kẻ đơm đặt, bảo kinh A Di Đà là giả, là do con người ngụy tạo. Nghe nói lập luận này từ Nhật Bản truyền tới, bịa đặt đồn thổi, phá hoại Tịnh Độ. Chúng ta quyết định đừng nên nghe theo, tin tưởng lời đồn. Để chứng minh kinh này quyết định là đáng tin cậy, quyết định là chân thật, có thể nhờ vào thầy tṛ Huyền Trang đại sư để chứng minh. Người phiên dịch bộ kinh này là La Thập đại sư, thuộc thời đại Diêu Tần, người Hoa gọi thời kỳ đó là Nam Bắc Triều[8]. Huyền Trang đại sư là người đời Đường, hai vị đại sư cách nhau một khoảng thời gian mấy trăm năm. Tại Ấn Độ, Huyền Trang đại sư thấy nguyên văn kinh A Di Đà bằng tiếng Phạn, có thể thấy là kinh này chẳng giả. Ngài c̣n đem về [Trung Hoa], dịch thành bản mới một lần nữa. Tuy Ngài có phiên dịch, đồ đệ của Ngài là Khuy Cơ đại sư soạn chú giải cho kinh Di Đà, vẫn chọn bản của ngài La Thập, chẳng dùng bản dịch của thầy ḿnh. Quư vị xem A Di Đà Kinh Thông Tán Sớ do Khuy Cơ đại sư soạn nhằm chú giải kinh Di Đà, [sẽ thấy] Ngài đă chọn lựa bản chúng ta đang đọc. Nói cách khác, thầy tṛ Ngài đều thừa nhận bản dịch này hay lắm. Cho nên ngài Khuy Cơ mới soạn chú giải; [tức là công nhận ngài La Thập] dịch khá lắm, chứng tỏ bản này là thật, quyết định chẳng giả, chẳng do người ta ngụy tạo. Do vậy, chúng ta nhất định phải tin tưởng Tịnh Độ Tam Kinh, nhất định phải tin tưởng Tịnh Độ Ngũ Kinh, quyết định chớ nên hoài nghi, phỏng theo kiểu nói của Cơ Đốc Giáo sẽ là “hễ tin bèn có phước”. Đúng là có phước, y giáo phụng hành, chẳng có ai không thành tựu. V́ lẽ đó, “kính đăng Bất Thoái, trực chí thành Phật”.

 

       (Sao) Chánh thuộc viên đốn.

      ()正屬圓頓。

(Sao: Thật sự thuộc về pháp viên đốn).

 

      Xét theo sự phán định và phân biệt theo ngũ giáo, xác thực là thuộc loại Đốn Giáo. “Đốn” () là nhanh chóng, chẳng có ǵ nhanh hơn. “Viên” () là viên măn, mảy may khiếm khuyết đều chẳng có. Hôm nay chúng tôi giảng tới chỗ này.

A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

Phần 122 hết

 

 



[1] Lư Trưởng Giả là danh xưng tôn trọng đối với Lư Thông Huyền (635-730). Lư Thông Huyền tên thật là Lư Hoằng (Thông Huyền là mỹ hiệu do Vơ Tắc Thiên ban tặng). Lư Thông Huyền sở dĩ được gọi là Lư Trưởng Giả là v́ sau này, Tống Huy Tông đă truy tặng mỹ hiệu Hiển Giáo Diệu Nghiêm Trưởng Giả. Ông c̣n được gọi là Táo Bá Đại Sĩ, xuất thân thuộc ḍng dơi hoàng tộc nhà Đường, quê ở Luân Châu (nay là Luân Huyện thuộc tỉnh Hà Bắc. Có thuyết nói ông quê ở Thương Châu). Ông bẩm tánh thông duệ, tính t́nh phóng khoáng, tinh thông Dịch Lư, đến lúc ngoài bốn mươi tuổi bèn chuyên nghiên cứu kinh Phật, đặc biệt hâm mộ kinh Hoa Nghiêm. Khi Bát Thập Hoa Nghiêm được dịch xong, vào năm Khai Nguyên thứ bảy (719), ông mang kinh đến vùng núi sâu thuộc thôn Đại Hiền, làng Đồng Dĩnh, Vu Huyện, tỉnh Thái Nguyên, để chuyên viết luận sớ chú giải. Suốt ba năm không rời khỏi chỗ ở, mỗi ngày chỉ ăn mười trái táo và một tấm bánh bé tí làm bằng bột nhào với lá cây bách nghiền, nên người đời gọi ông là Táo Bá Đại Sĩ (có thuyết nói ông chỉ ăn táo và nhai lá cây bách cho khỏi đói). Sau đó, ông mang bản thảo chuyển sang hang đất (có thuyết nói hang đất ấy do cọp nhường cho ông) trong núi Thọ Dương cũng thuộc Thái Nguyên để tiếp tục biên soạn suốt năm năm mới hoàn thành. Đó chính là bộ Tân Hoa Nghiêm Kinh Luận gồm bốn mươi quyển, sau đó lại tiếp tục viết Lược Thích Tân Hoa Nghiêm Kinh Tu Hành Thứ Đệ Quyết Nghi Luận gồm bốn quyển. Ngoài hai bộ luận quan trọng trên đây, ông c̣n viết khá nhiều chú giải về kinh Hoa Nghiêm như bộ Hội Thích (bảy quyển), Lược Thích (Hoa Nghiêm Kinh Trung Quyển Đại Ư Lược Tự), Giải Mê Hiển Trí Thành Bi Thập Minh Luận, Thập Huyền Lục Tướng, Bách Môn Nghĩa Hải, Phổ Hiền Hạnh Môn, Hoa Nghiêm Quán, Thập Môn Huyền Nghĩa Bài Khoa Lược Thích, Nhăn Minh Luận v.v… Sau khi Lư Trưởng Giả đă mất bốn năm, bộ Tân Hoa Nghiêm Kinh Luận mới được một nhóm tỳ-kheo do Quảng Siêu cầm đầu giảo chánh, hoằng truyền. Tới năm Đại Trung đời Đường Tuyên Tông, do tỳ-kheo Chí Ninh ghép chánh kinh vào lời luận để hành giả tiện theo dơi, đồng thời biên tập, chỉnh lư, nên có bộ luận này mới có tên gọi là Hoa Nghiêm Kinh Hợp Luận gồm một trăm quyển. Do bộ này quá lớn, nên đến đời Minh, Lư Chí bèn soạn bộ Hoa Nghiêm Kinh Hợp Luận Giản Yếu để học nhân tiện nghiên cứu bộ luận này. Về sau, Phương Trạch lại soạn bộ Hoa Nghiêm Kinh Hợp Luận Toản Yếu gồm ba quyển.

[2] Tứ Thập Hoa Nghiêm do ngài Bát Nhă dịch vào đời Đường Đức Tông trong niên hiệu Trinh Nguyên (785-805), trong khi Bát Thập Hoa Nghiêm được dịch vào thời Vơ Tắc Thiên nhiếp chánh. Lư Trưởng Giả mất năm 730, như vậy là tối thiểu Ngài đă mất ba mươi lăm năm trước khi Tứ Thập Hoa Nghiêm được dịch ra tiếng Hán. Thanh Lương Trừng Quán đại sư sinh năm 737, mất năm 838, nên có cơ duyên đọc kinh Hoa Nghiêm hoàn chỉnh. Tứ Thập Hoa Nghiêm tức là phẩm Nhập Bất Tư Nghị Giải Thoát Cảnh Giới Phổ Hiền Hạnh Nguyện. Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện thường được lưu hành thật ra chỉ là quyển bốn mươi của bộ kinh này.

[3] Vĩnh Minh đại sư, húy Diên Thọ, hiệu Xung Nguyên, do trụ tại chùa Vĩnh Minh nên gọi là Vĩnh Minh Diên Thọ. Khi mới xuất gia, Ngài y chỉ thiền sư Thúy Nham Lệnh Tham, đă từng nhập Thiền suốt chín mươi ngày tại đỉnh Thiên Trụ trong rặng Thiên Thai, nhưng phải đến khi tham yết Thiên Thai Sơn Đức Thiều quốc sư mới phát minh tâm địa, được quốc sư ấn khả làm pháp tự của tông Pháp Nhăn. Năm 961, Sư dời sang chùa Vĩnh Minh ở núi Huệ Nhật, có đến hơn hai ngàn người theo học, cho nên người đương thời thường gọi Ngài là Vĩnh Minh Diên Thọ. Khi vua xứ Cao Ly đọc bộ Tông Kính Lục của Ngài đă hết sức khâm ngưỡng, sai sứ sang Trung Hoa ban tặng Sư một bộ ca-sa quư.

[4] Ngô Việt là một quốc gia ở miền Nam Trung Hoa vào thời Ngũ Đại Thập Quốc, được kiến lập vào năm 907 bởi Tiền Liêu, có kinh đô là Tiền Đường (nay là thành phố Hàng Châu), có địa bàn bao gồm toàn bộ tỉnh Chiết Giang hiện thời, phía Đông Nam tỉnh Giang Tô và phần Đông Bắc tỉnh Phước Kiến. Do vào thời Chiến Quốc, những nơi này là lănh thổ của hai nước Ngô và Việt, nên Tiền Liêu đặt tên cho quốc gia của ḿnh là Ngô Việt Quốc để phân biệt với nước Ngô (c̣n gọi là Dương Ngô, Nam Ngô, hoặc Hoài Nam, do Dương Hành Mật sáng lập, đóng đô ở Dương Châu, bao gồm tỉnh Giang Tô, An Huy, Giang Tây, một phần tỉnh Hồ Bắc). Tiền Thục có tên gọi đầy đủ là Tiền Hoằng Thục, là vua cuối cùng của nước này.

[5] Thật ra, ngài Vĩnh Minh Diên Thọ làm quan dưới đời Ngô Việt Văn Mục Vương (Tiền Nguyên Quán), và chính nhà vua đă giới thiệu ngài Vĩnh Minh đến y chỉ thiền sư Thúy Nham Lệnh Tham tại núi Tứ Minh. Măi cho đến năm 952, Ngô Việt Trung Ư Vương Tiền Thục (Tiền Hoằng Thục) ngưỡng mộ đức hạnh của Ngài mới tôn Ngài làm quốc sư. Tiền Hoằng Thục là con thứ chín của Tiền Nguyên Quán. Tiền Hoằng Thục được tôn lên làm vua kế nghiệp hai anh là Trung Hiến Vương (Tiền Hoằng Tá) và Trung Tốn Vương (Tiền Hoằng Tông, ông này chỉ làm vua được một năm th́ bị truất phế).

[6] Câu này được sách Diễn Nghĩa giảng tường tận hơn như sau: “Tiểu Giáo chẳng biết đến tám thức. Do sáu thức tạo tác các nghiệp thiện ác, cảm thành các cảnh khổ vui trong ba cơi, sáu đường. V́ thế nói là nhất tâm. Đấy là giả danh nhất tâm, chẳng phải là nhất tâm thật sự, do chẳng thấu đạt lư duy tâm, [nên cho rằng] ngoài tâm thật sự có tiền cảnh”. Xin nói thêm “tiền cảnh” (前境) là thuật ngữ để chỉ cảnh được nhận biết bởi tâm thức.

[7] Sách Diễn Nghĩa giảng đoạn này như sau:

“Thỉ Giáo biết có tám thức, nhưng chẳng biết tám thức chính là Chân Như. Bởi họ thấy Chân Như là ngưng lặng, bất biến, chẳng tùy duyên, c̣n tám thức là sanh diệt, chứa đựng các thứ được biến hiện hữu lậu và vô lậu; như nói: ‘Các cơi từ vô thỉ mà có, là chỗ nương tựa b́nh đẳng của hết thảy các pháp, do vậy mà có các đường (lục đạo) và chứng đắc Niết Bàn…’ Đấy là coi tám thức sanh diệt là nhất tâm.

Chung Giáo thấu hiểu tám thức, tức Chân Như tùy duyên chính là A Lại Da Thức. Thức như huyễn mộng, chỉ là một Chân Như. Đấy chính là coi Như Lai Tạng là nhất tâm vậy.

Đốn Giáo coi ‘nhiễm và tịnh cùng mất’ là nhất tâm: Nhiễm chính là sáu thức, và tám thức sanh diệt v.v… Tịnh chính là Như Lai Tạng. Do Chung Giáo đă quy [tất cả các thức] vào Như Lai Tạng, tuy nói là ‘tịnh đến tột cùng’, nhưng vẫn thấy có Như Lai Tạng tồn tại, vẫn là chưa ly niệm. Trong giáo này (Đốn Giáo), năm pháp, ba tự tánh đều Không, tám thức, hai vô ngă cùng mất, một niệm chẳng sanh th́ mới là nhất tâm.

Viên Giáo coi ‘bao trùm trọn khắp vạn hữu là nhất tâm’: Trong bốn giáo trước th́ giáo trước nông cạn, giáo sau sâu xa, nhưng chẳng dung nhiếp lẫn nhau, nay Viên Giáo dung thông, chứa đựng trọn khắp, trùng trùng vô tận, tùy tiện nêu ra một trần, phô bày trọn vẹn pháp giới. Do đó, bao trùm trọn khắp vạn hữu là nhất tâm vậy”.

[8] Nam Bắc Triều là một giai đoạn rối ren nhất trong lịch sử Trung Hoa kéo dài từ năm 420 đến năm 589, và chỉ kết thúc khi Dương Kiên (tức Tùy Văn Đế, vua sáng lập nhà Tùy) diệt các nước, thống nhất Trung Hoa. Trong giai đoạn này, các lănh chúa quân phiệt, tướng lănh nổi lên chiếm đất xưng đế, chia nhỏ Trung Hoa thành nhiều quốc gia, chiến tranh liên miên. Gọi là Nam Bắc Triều v́ Nam và Bắc Trung Hoa lần lượt thuộc những triều đại khác nhau, thường xuyên tấn công lẫn nhau. Bắc Triều gồm Bắc Ngụy, Đông Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Tề và Bắc Châu. Nam Triều gồm Tống, Tề, Lương và Trần. Thật ra, nhà Diêu Tần thuộc thời kỳ Ngũ Hồ Thập Lục Quốc (304-439), tức giai đoạn các sắc dân du mục tràn vào Trung Hoa thành lập các vương triều khi nhà Đông Tấn suy vi. Sở dĩ nói nhà Hậu Tần thuộc vào giai đoạn Thập Lục Quốc v́ nhà Hậu Tần (Diêu Tần) thành lập vào năm 384 và bị nhà Đông Tấn tiêu diệt năm 417 (tức là ba năm trước khi giai đoạn Nam Bắc Triều bắt đầu). Nói là Thập Lục Quốc, tức là chỉ kể những nước chánh yếu trong giai đoạn đó, gồm mười sáu nước. Để dễ nhớ, người ta hay nói như thế này: “Ngũ Lương, Tứ Yên, Tam Tần, Nhị Triệu, Thành Hán, Hồ Hạ, cộng vi thập lục” (Năm nước Lương, bốn nước Yên, ba nước Tần, hai nước Triệu, nhà Thành Hán và Hồ Hạ cộng thành mười sáu). Năm nước Lương là Tiền Lương (do Trương Thật người Hán sáng lập), Hậu Lương (do Lữ Quang thuộc sắc dân Đê sáng lập), Nam Lương (do Thốc Phát Ô Cô sắc dân Tiên Ty sáng lập), Tây Lương (do Lư Cảo sắc dân Hán sáng lập) và Bắc Lương (do Đoàn Nghiệp thuộc sắc dân Lô Thủy Hồ sáng lập). Tứ Yên là Tiền Yên (do Mộ Dung Hoảng sắc dân Tiên Ty sáng lập), Hậu Yên (do Mộ Dung Thùy sắc dân Tiên Ty sáng lập), Nam Yên (do Mộ Dung Đức sắc dân Tiên Ty sáng lập), và Bắc Yên (do Mộ Dung Vân sáng lập). Tam Tần là Tiền Tần (c̣n gọi là Phù Tần, do Phù Kiên thuộc sắc dân Đê sáng lập), Hậu Tần (c̣n gọi là Diêu Tần, do Diêu Trành thuộc sắc dân Khương sáng lập), và Tây Tần (do Khất Phục Quốc Nhân thuộc sắc dân Tiên Ty sáng lập). Nhị Triệu là Tiền Triệu (của sắc dân Hung Nô, do Lưu Uyên sáng lập) và Hậu Triệu (do Thạch Lặc thuộc sắc dân Yết sáng lập). Thành Hán (do Lư Hùng, sắc dân Đê sáng lập), Hồ Hạ (do Hách Liên Bột Bột thuộc sắc dân Hung Nô sáng lập). Đó là chưa kể nhà Đông Tấn và các vương triều nhỏ hơn của các sắc dân khác (không gây ảnh hưởng to lớn trong lịch sử Trung Hoa) như Tiền Cừu Tŕ, Hậu Cừu Tŕ, Đăng Xương, Đặng Chí, Nhiễm Ngụy, Tiều Thục, Hoàn Sở, Trác Ngụy, Đại, Tây Yên, Vũ Văn Bộ, Đoàn Bộ v.v…