A
Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 123
Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và
Đức Phong
Tập
245
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang bốn trăm bảy
mươi lăm:
(Sao) Diệc phân ngũ giáo giả, dĩ liên
phân cửu phẩm, tắc tiểu, đại, thiển,
thâm, tự hữu sai đẳng. Như Tiểu Giáo dĩ
diêu tâm tạo nghiệp nhi cảm tiền cảnh vi nhất
tâm. Thỉ Giáo dĩ A Lại Da Thức sở biến vi nhất
tâm. Chung Giáo dĩ thức cảnh như mộng, duy Như
Lai Tạng vi nhất tâm. Đốn Giáo dĩ nhiễm tịnh
câu mẫn vi nhất tâm. Viên Giáo dĩ tổng cai vạn hữu
tức thị nhất tâm.
(鈔)亦分五教者,以蓮分九品。則小大淺深,自有差等。如小教以繇心造業而感前境為一心。始教以阿賴耶識所變為一心;終教以識境如夢,唯如來藏為一心;頓教以染淨俱泯為一心;圓教以總該萬有即是一心。
(Sao: Cũng chia thành
năm giáo, v́ chia thành chín phẩm sen. Cho nên phải có sai
khác nhỏ, lớn, cạn, sâu. Như Tiểu Giáo coi “do tâm
tạo nghiệp mà cảm tiền cảnh” là nhất tâm.
Thỉ Giáo coi cái được biến bởi A Lại Da
Thức là nhất tâm. Chung Giáo coi “thức cảnh như mộng,
chỉ có Như Lai Tạng” là nhất tâm. Đốn Giáo
coi “nhiễm và tịnh cùng mất” là nhất tâm. Viên Giáo coi
“bao trùm vạn hữu” chính là nhất tâm).
Trong đoạn
này, Liên Tŕ đại sư dùng cách phán giáo của tông Hiền
Thủ. Tông Hiền Thủ c̣n gọi là tông Hoa Nghiêm. Các vị
tổ sư đại đức của tông phái này, đối
với hết thảy các kinh do Thích Ca Mâu Ni Phật đă
nói trong suốt bốn mươi chín năm bèn xếp
đặt thứ tự cạn, sâu, giống như chúng ta
sắp xếp các môn học trong nhà trường hiện thời:
Môn học nào đáng nên xếp vào bậc Tiểu Học
để học sinh Tiểu Học tiếp nhận, môn học
nào nên xếp vào bậc Trung Học, môn học nào đáng
nên xếp vào bậc Đại Học. Nhưng chư vị
ắt cần phải biết: Thuở Thích Ca Mâu Ni Phật
tại thế, đích xác là chẳng có những ư nghĩa
này, trọn chẳng có cách sắp xếp như vậy, do
nguyên nhân nào? Thuở đức Phật tại thế, v́
chúng sanh giảng kinh, thuyết pháp, do thời điểm,
do nơi chốn, do [căn cơ của] người hỏi
[khác nhau] mà [mỗi kinh] có chỗ sai khác. Người hướng
về đức Phật thỉnh giáo, hoàn toàn chẳng phải
là tŕnh độ rất ngang nhau, có thể là người trước
có tŕnh độ rất thấp, người sau có tŕnh
độ rất cao. Đức Phật bèn ứng cơ
thuyết pháp (thuyết pháp tương ứng với căn
cơ), đấy là t́nh huống trong thuở ấy. Về
sau, kinh điển sau khi đă được chỉnh
đốn liên tục, truyền sang Trung Hoa, những vị
đại đức tại Trung Hoa nhằm dạy học
thuận tiện, bèn làm giống như trong nhà trường
hiện thời, căn cứ theo thứ tự [nội
dung của từng môn học] là cạn hay sâu mà ấn
định một thứ tự. Tông Hiền Thủ chia [toàn
bộ giáo pháp của đức Phật] thành năm giáo,
tông Thiên Thai chia thành bốn giáo, dựa theo thứ tự cạn
hay sâu sai khác; nhưng những kinh ấy đều hoàn toàn
là do đức Phật đă nói. Chúng ta thấy đức
Phật nói những lời ấy, bèn biết là Ngài nói với
những người thuộc một tŕnh độ nào
đó!
Tiểu
Giáo là nói với hàng sơ học tiểu căn khí, đó
là “do tâm tạo nghiệp”. Tiểu
Thừa tŕnh độ nông cạn, đức Phật v́ họ
thuyết pháp chỉ nói đến thức thứ sáu, tức
ư thức, họ có thể lănh hội điều này. Giống
như người hiện thời nói về ư thức và tiềm
ư thức (unconscious mind), họ có thể hiểu, [v́ đó]
là những danh từ trong khoa học hiện tại. Nói với
họ về thức thứ tám, hoặc thức thứ bảy,
họ mê hoặc, chẳng biết là chuyện ǵ. [Do
đó], chỉ nói đến ư thức, chẳng nhắc
đến tám thức. Hoặc là có những kinh luận, trong
kinh Tiểu Thừa đôi khi nhắc đến tám thức,
nhưng vẫn lấy sáu thức làm chánh yếu, [hai thức
kia] chỉ được nhắc kèm thêm mà thôi. Họ chấp
trước thân này là thực tại, chấp trước cảnh
giới bên ngoài cũng là thực tại. Quả thật là
đại đa số mọi người có sự phân biệt,
chấp trước ấy, v́ họ là “do tâm tạo nghiệp”
nên mới cảm khá nhiều cảnh giới trong tam giới
lục đạo. [V́ thế], họ coi những thứ ấy
là nhất tâm.
Người
thuộc loại căn tánh Đại Thừa Thỉ Giáo
thông minh hơn người Tiểu Giáo, cũng có thể
nói là họ có tư tưởng phóng khoáng hơn, chẳng
bảo thủ, chấp trước như người Tiểu
Thừa. Do vậy, đức Phật nói tám thức với
họ. Nói tới Duy Thức (Vijñāptimātratā) th́ theo
cách nói hiện thời, [Duy Thức] là Tâm Lư Học. Nói càng
sâu, càng rộng hơn sáu thức, bảo cho chúng ta biết là có tám thức:
Ngoài sáu thức, c̣n có A Lại Da và c̣n có Mạt Na. Tuy đă
biết tám thức, đây là Đại Thừa vừa mới
khởi đầu! Trong cái tâm tám thức, cất giữ chủng
tử thiện ác từ vô lượng kiếp tới nay. “Chủng tử” (種子, Bīja) là danh từ
trong Pháp Tướng Duy Thức, người hiện thời
gọi nó là “tiềm ư thức”,
gặp duyên sẽ lôi kéo, kích thích [nghiệp tướng]
sanh khởi. Do vậy, bèn khởi tác dụng. Hễ khởi
tác dụng bèn gọi là “hiện hành” (現行, adhyācāratā). Đức Phật nói:
Trong A Lại Da Thức có đủ chủng tử của
mười pháp giới. Chủng tử nào có sức mạnh
to lớn, sẽ khởi tác dụng trước, [chủng
tử nào] mạnh sẽ lôi [thần thức] đi trước,
đấy là t́nh h́nh hứng chịu quả báo trong lục
đạo mười pháp giới. Do vậy, Thỉ Giáo
coi cái được biến bởi A Lại Da Thức là
nhất tâm.
Chung
Giáo là Đại Thừa cao cấp, có tŕnh độ cao; Thỉ
Giáo là Đại Thừa sơ học. Đại
Thừa thuộc giai đoạn cao, đức Phật nói
tới Như Lai Tạng (Tathāgatagarbha) nói rơ A Lại
Da Thức là Chân Như (Tathatā) bản tánh, tùy thuộc duyên nhiễm
hay tịnh mà biến hiện, nêu ra bản chất của A
Lại Da Thức, nói rơ tám thức và năm mươi mốt
Tâm Sở đều chẳng phải là chân thật, đều
là hư huyễn. V́ thế, nói: “Thức
như mộng huyễn, duy nhất Chân Như” (Thức
như mộng huyễn, chỉ có Chân Như). Nói thật
ra, kinh Lăng Nghiêm đă nêu tỏ đạo lư này, nêu rơ sự
thật này. Như Lai Tạng: “Tạng”
(藏, Garbha) có nghĩa là chứa
đựng, “Như Lai” (Tathāgata) là nói về Chân
Như bản tánh. Chân Như bản tánh ở nơi
đâu? Chứa ngay trong A Lại Da Thức. Nói thật ra,
đối với A Lại Da thức, hễ ngộ bèn gọi
là Chân Như bản tánh, mê bèn gọi là A Lại Da, là một
thứ, chẳng phải là hai thứ. Nói thật ra, Chân
Như bản tánh chẳng có mê hay ngộ. Mê hay ngộ là do
con người, chứ Chân Như, chân tánh, bản tánh đều
chẳng có mê hay ngộ. Đấy là coi “Như Lai Tạng là nhất tâm”, tầng cấp mỗi lúc một cao hơn,
nhưng mỗi tầng cấp chân thật hơn!
Chung
Giáo vẫn chưa phải là chân thật rốt ráo. Trong Đốn
Giáo (tông Thiên Thai gộp Đốn Giáo và Viên Giáo thành một,
gọi là Viên Giáo, tông Hiền Thủ tách ra, nói càng cặn kẽ
hơn), nhiễm và tịnh đều chẳng có. “Nhiễm” là tám thức, “tịnh” là Như Lai Tạng.
A Lại Da có hai phần là tịnh và nhiễm; trong Đốn
Giáo, cả hai phần đều mất, có thể thấy
là tâm họ càng thanh tịnh hơn, thật sự đạt
đến “một niệm chẳng
sanh”. Duy Thức Luận nói: “Ngũ
pháp, tam tự tánh giai không; bát thức, nhị vô ngă câu khiển”
(năm pháp, ba tự tánh đều không; tám thức, hai vô
ngă đều mất). Hai câu này đă bao quát trọn hết
Pháp Tướng Duy Thức, cũng có thể nói là tổng
cương lănh của Pháp Tướng Duy Thức. “Ngũ pháp” là quy nạp vạn
pháp trong hết thảy các pháp thành năm loại lớn, tức
là Tâm Pháp, Tâm Sở Hữu Pháp, Sắc Pháp, Bất Tương
Ứng Hành Pháp, và Vô Vi Pháp. “Tam
tự tánh” là Y Tha Khởi Tánh, Biến Kế Sở Chấp
Tánh, và Viên Thành Thật Tánh. Bất cứ pháp ǵ cũng
đều có ba tự tánh. Những thứ ấy đều
rỗng không, v́ sao? V́ chúng toàn là pháp hữu vi. Kinh Kim Cang đă
nói rất rơ ràng: “Hết thảy
pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng”, đó
là Không. Do vậy, Bát Nhă là Đốn Giáo, Duy Thức là Tiệm
Giáo, [nghĩa là] Duy Thức học dần dần. Kinh Kim
Cang ngay lập tức là Không, thẳng thừng, triệt
để ngần ấy! “Nhị
vô ngă” là Nhân Vô Ngă và Pháp Vô Ngă. Trong Duy Thức Tông nói đến
Nhân Ngă và Pháp Ngă, cuối cùng bảo: “Nhân pháp giai không, câu bất khả đắc”
(Nhân và Pháp đều Không, đều chẳng thể
được). Khi ấy, một niệm chẳng sanh. Niệm
ấy là vọng niệm, chẳng phải là không có chánh niệm.
Nếu chánh niệm cũng chẳng có, hỏng rồi, đă
biến thành Vô Tưởng Định. Quả báo của Vô
Tưởng Định là trong Vô Tưởng Thiên.
Viên Giáo là như
trong kinh Hoa Nghiêm đă nêu tỏ: “Lư
Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại”, đây là [giáo
pháp] đă đạt tới tột cùng. V́ trong các giáo
trước, dẫu nói đến Đốn Giáo, nói thật
ra, vẫn có phân biệt, chấp trước. V́ sao thấy
được [điều ấy]? Nếu chẳng có phân
biệt, chấp trước, đương nhiên hết
thảy vạn pháp viên dung. Những giáo trước vẫn
chưa thể viên dung, c̣n có tầng cấp cao thấp. Hễ
có tầng cấp cao, thấp, cạn, sâu khác nhau, những
điều ấy chẳng do phân biệt, chấp trước
mà có, th́ chúng sẽ do đâu mà có? V́ thế, chúng vẫn sanh
khởi từ phân biệt, chấp trước. Xác thực
là Viên Giáo đă ĺa hết thảy vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước, gọi là “vạn pháp viên dung, đây kia chẳng trở ngại
lẫn nhau”. Kinh Hoa Nghiêm nói tới sự viên dung trọn
khắp, Sự Sự vô ngại, một chính là hết thảy,
hết thảy chính là một. Cái Một ấy chính là bất
cứ một pháp nào, chẳng phải là đặc biệt
chỉ một pháp nào. Bất cứ pháp nào cũng đều
viên măn trọn đủ hết thảy các pháp, đấy
mới là cảnh giới đại viên măn của Hoa
Nghiêm. Ở đây, những điều này chẳng nói cặn
kẽ. V́ sao chẳng nói cặn kẽ? Trong đoạn
văn này có nói:
(Sao)
Nhi Phật thuyết thử kinh, bổn vị hạ phàm
chúng sanh, đản niệm Phật danh, kính đăng Bất
Thoái, trực chí thành Phật, chánh thuộc Đốn Viên.
(鈔)而佛說此經,本為下凡眾生,但念佛名,徑登不退,直至成佛,正屬頓圓。
(Sao: Nhưng đức
Phật nói kinh này, vốn v́ chúng sanh hạ căn phàm phu, chỉ
niệm danh hiệu Phật mà nhanh chóng tiến lên địa
vị Bất Thoái, thẳng tiến đến thành Phật,
vốn thuộc về Đốn Viên).
Căn
cứ lư luận và phương pháp tu học của bộ
kinh A Di Đà này rốt cuộc thuộc loại nào trong
năm giáo? Nó thuộc loại viên đốn; [nếu xét
theo] tứ giáo của tông Thiên Thai, nó thuộc vào Viên Giáo. Nói
cách khác, nhất định phải là người căn
tánh viên đốn mới học pháp môn này, hết sức
thích hợp. Có những vị học giả hết sức
có hứng thú đối với Tánh Tông hoặc Tướng
Tông, bỏ ra rất nhiều thời gian và tinh lực
để nghiền ngẫm, nghiên cứu kinh điển.
Đó là căn tánh ǵ? Đó là căn tánh Đại Thừa
Thỉ Giáo hoặc Chung Giáo, hoặc nói theo tông Thiên Thai sẽ
là căn tánh Biệt Giáo, hoặc là căn tánh Thông Giáo và Biệt
Giáo. Có những người đầu óc đơn giản,
sợ phiền phức, sợ suy nghĩ, ngại đọc
kinh, nghe nói “thật thà niệm
Phật sẽ có thể văng sanh”, họ bèn khăng
khăng một mực niệm câu A Di Đà Phật, hạng
người ấy thuộc căn tánh viên đốn.
Người căn tánh viên đốn có thành tựu cao
hơn, nhanh hơn căn tánh Thông Giáo và Biệt Giáo. Những
người đó nghiên cứu vài chục năm sợ là vẫn
chẳng có kết luận ǵ, người viên đốn niệm
Phật mấy năm bèn thật sự thành công, đă kết
nối đường dây thông tin với A Di Đà Phật,
nhanh lắm! Nhanh hơn bất cứ điều ǵ! V́ thế,
có thể thật sự tin nhận, phụng hành pháp môn này,
có thể buông xuống vạn duyên, quư vị chính là người
có căn tánh viên đốn.
(Sao)
Hựu Nhị Thừa chủng bất sanh.
(鈔)又二乘種不生。
(Sao:
Lại nữa, chủng tánh Nhị Thừa chẳng sanh [về
Cực Lạc]).
Chẳng
phải là nói tới hàng Nhị Thừa, mà là nói người
có chủng tánh Nhị Thừa. Chủng tánh Nhị Thừa
là ǵ? Kẻ thích phân biệt, chấp trước bèn thuộc
về chủng tánh Nhị Thừa. Người chủng tánh
Nhị Thừa chỉ biết tự lợi, chẳng chịu
lợi tha. Chủng tánh ấy không thể văng sanh. V́ sao? Người
trong Tây Phương Cực Lạc thế giới đều
thuộc loại viên đốn Đại Thừa.
(Sao)
Cố lược tiền tam, bất phục phân ngũ, Thiên
Thai tứ giáo lệ thử.
(鈔)故略前三,不復分五。天台四教例此。
(Sao:
V́ thế, lược đi ba loại đầu, chẳng
chia thành năm loại nữa. Đối với tứ
giáo của tông Thiên Thai, phỏng theo lệ này).
Tỉnh
lược ba loại [nhất tâm bất loạn xét theo] ba
giáo trước (Tiểu, Thỉ, Chung).
(Sớ)
Hựu thử Sự Lư nhị tŕ, Khởi Tín trung cụ hữu
thử ư.
(疏)又此事理二持,起信中具有此意。
(Sớ:
Lại nữa, đối với hai loại Sự tŕ và Lư
tŕ được nói trong kinh này, trong Khởi Tín Luận có
ư nghĩa này).
Khởi
Tín chính là Đại Thừa Khởi Tín Luận. Cuốn
sách này chẳng dày, nhưng rất nổi tiếng. V́ những
điều được nói trong luận ấy chính là
cơ sở của tám tông phái lớn trong Đại Thừa.
Do đó, được gọi là Đại Thừa Khởi
Tín Luận, tức là sách giáo khoa để nhập môn Đại
Thừa. Do vậy có thể biết, đối với việc
tu học Đại Thừa, luận ấy khá quan trọng.
Bộ luận này do Mă Minh Bồ Tát soạn. Trong Khởi
Tín Luận, kinh văn chẳng nói rơ, nhưng có ư nghĩa ấy,
có Sự tŕ và Lư tŕ. Chúng ta đọc tụng Đại Thừa
Phật pháp, quư ở chỗ lănh hội ư, nắm được
ư nghĩa. Đó là điều đáng quư.
(Sao)
Luận vân: Chuyên niệm A Di Đà Phật, tức đắc
văng sanh giả, thử song hàm Sự Lư nhi ngôn dă.
(鈔)論云專念阿彌陀佛,即得往生者,此雙含事理而言也。
(Sao: Luận nói:
“Chuyên niệm A Di Đà Phật bèn được văng sanh”,
đấy chính là nói bao hàm cả Sự và Lư).
Trong Khởi Tín Luận, Mă Minh Bồ
Tát nói “chuyên niệm A Di Đà
Phật, tức đắc văng sanh” (chuyên niệm A Di
Đà Phật bèn được văng sanh). Câu này bảo là Sự
tŕ cũng hợp lẽ, mà bảo là Lư tŕ cũng hợp lẽ.
Hoàn toàn chẳng nói là Sự hay Lư, chỉ cần quư vị thật
thà chuyên niệm, nhất định có thể văng sanh;
nhưng trong Luận cũng có nói:
(Sao)
Thứ vân nhược niệm bỉ Phật Chân Như
Pháp Thân, hựu vân tuy niệm diệc vô năng niệm khả
niệm, giai chỉ Lư nhất tâm dă.
(鈔)次云若念彼佛真如法身,又云雖念亦無能念可念,皆指理一心也。
(Sao: Kế đó nói: “Nếu
niệm Chân Như Pháp Thân của đức Phật ấy”,
lại nói: “Tuy niệm mà cũng chẳng có năng niệm
(chủ thể niệm) để có thể niệm”, [những
câu ấy] đều là nói về Lư nhất tâm).
Hai
câu ấy đều là nói theo kiểu Lư nhất tâm, chẳng
phải là Sự nhất tâm. Một câu trong đoạn
trước bao gồm Sự nhất tâm [lẫn Lư nhất
tâm], hai câu sau [trong đoạn này] đích xác thuộc về
Lư nhất tâm. Lư nhất tâm và Sự nhất tâm, xét theo mặt
chữ chẳng có, nhưng xét theo ư nghĩa th́ có. Đây là
dùng Khởi Tín Luận để dẫn chứng: Xác thực
là nhất tâm có hai loại!
(Sớ)
Hựu thử Sự Lư nhị tŕ, tức Hiển Mật
nhị ư.
(疏)又此事理二持,即顯密二意。
(Sớ: Lại nữa,
Sự tŕ và Lư tŕ chính là hai ư nghĩa Hiển và Mật).
Thông thường, cuối kinh Di
Đà chẳng kèm thêm chú Văng Sanh. Cuối bộ Di Đà Kinh
Sớ Sao, Liên Tŕ đại sư kèm thêm chú Văng Sanh, cuối
sách Yếu Giải không có. Dụng ư của Liên Tŕ đại
sư là khiến cho chúng ta liễu giải: Ngài đă
đem pháp môn Tŕ Danh Niệm Phật trong bộ kinh Di Đà
này thông Tông, thông Giáo, thông Hiển, thông Mật. Pháp môn này
đích xác là viên dung. V́ thế, mỗi đoạn chú sớ
đều có phần Xứng Lư. Đoạn Xứng Lư ấy
có cùng ư nghĩa với “xứng
tánh nhi thuyết” (nói xứng tánh) trong Thiền Tông.
Đó là chỗ rất đặc biệt trong bản chú giải
của Ngài, mà cũng là điểm đặc sắc của
Sớ Sao. Chúng ta đọc những bản chú giải
thông thường khác, [sẽ thấy] chẳng có cách nói ấy,
[c̣n trong bản chú giải này], mỗi câu, mỗi đoạn
đều hội quy tự tánh. Đây là nói Sự và Lư
chính là Hiển và Mật.
(Sao)
Tứ tự danh hiệu, toàn giai Phạn ngữ, đản
niệm bất vong, dữ tŕ chú đồng, thị danh viết
Mật.
(鈔)四字名號,全皆梵語,但念不忘,與持咒同,是名曰密。
(Sao: Bốn chữ
danh hiệu toàn là tiếng Phạn, chỉ niệm chẳng
quên, sẽ giống như tŕ chú, nên gọi là Mật).
Niệm
một câu Di Đà đến cùng, bất luận là bốn
chữ hay sáu chữ, danh hiệu này xác thực là tiếng
Phạn được phiên âm, là chú ngữ. Do vậy, thích
học Mật th́ một câu A Di Đà Phật là vô thượng
chú. “Đại thần chú,
đại minh chú, vô thượng chú” được nói
trong Tâm Kinh, nói thật ra là một câu “Nam-mô A Di Đà Phật”, hoàn toàn giống như mật
chú. Công lực của tất cả hết thảy các thần
chú trong Mật Tông đều chẳng thể sánh bằng
công lực của danh hiệu. Quư vị đọc kỹ
lưỡng ba kinh Tịnh Độ sẽ hiểu rơ
điều này!
(Sao)
Thả niệm, thả tham, quán tâm, cứu lư, thị danh viết
Hiển.
(鈔)且念且參,觀心究理,是名曰顯。
(Sao:
Vừa niệm, vừa tham, quán tâm, tham cứu Lư, th́ gọi
là Hiển).
Đối
với chú, quyết định chẳng cầu hiểu
nghĩa. Đối với chú ngữ mà nhất định
muốn hiểu ư nghĩa là ǵ sẽ khó lắm! Chẳng gọi
là mật chú nữa! V́ thế, chú chỉ có âm, chẳng có ư
nghĩa. Chỉ cần phát âm cho chuẩn xác bèn có cảm ứng.
Trong chú ngữ có rất nhiều danh hiệu quỷ thần;
v́ thế, Mật Tông có mối quan hệ qua lại với
quỷ thần hết sức mật thiết! Chú ngữ
phải được niệm với âm thanh chánh xác th́ mới
có thể triệu vời quỷ thần. Quư vị niệm
chẳng chánh xác, họ nghe cũng chẳng hiểu, sẽ
không đến. Chúng ta xem ghi chép trong truyện kư: Vào thời
Đường, trong Mật Tông có những vị đại
sư từ Ấn Độ đến, họ niệm chú
xác thực là hô phong hoán vũ (gọi gió, kêu mưa), sai khiến
quỷ thần, có thể sai phái quỷ thần làm việc.
Hiện thời trong Đại Tạng kinh, chú hăy c̣n,
nhưng chúng ta niệm chẳng linh. Chẳng có chú nào linh cả!
Nguyên nhân là ở chỗ nào? Phát âm chẳng chuẩn xác! Do vậy,
chú ngữ nhất định phải là khẩu truyền.
Khẩu truyền th́ hiện thời có rất nhiều vị
Kim Cang Thượng Sư truyền dạy, cớ sao cũng
chẳng linh? Khẩu truyền đă truyền qua hai ngàn
năm, âm thanh đă bị biến đổi từ lâu. V́
thế, chẳng phải là chú không linh, mà do âm thanh chẳng
chuẩn xác, quỷ thần nghe chẳng hiểu! Nhưng trong
một t́nh h́nh th́ có thể giao tiếp cùng quỷ thần,
tức là tâm địa thanh tịnh, hễ thành bèn linh nghiệm.
Tuy ngôn ngữ nghe không hiểu, nhưng do tâm linh của người
ấy có cảm ứng, hễ chân thành bèn linh nghiệm.
Đó là một loại chú ngữ. C̣n có một loại chú
ngữ nữa là một biện pháp hết sức cao minh của
đức Thế Tôn dùng để chữa bệnh. Thân thể
quư vị bị bệnh, Ngài dạy quư vị niệm chú, bệnh
bèn lành. Chuyện này có thật hay không? Thật đấy,
hết sức phù hợp đạo lư khoa học. Khoa học
hiện thời vẫn chưa đạt tới cảnh
giới này. Nói cách khác, đức Phật liễu giải quá
rơ kết cấu thân thể con người, bộ vị
nào bị bệnh. Nói thật ra, bệnh tật chính là do các
vi huyết quản (capillary) bị tắc nghẽn, chẳng
thông suốt, cho nên phát sanh bệnh tật. Vào thời cổ
tại Trung Hoa, người ta dùng châm cứu để
đả thông chỗ bế tắc ấy, huyết dịch
tuần hoàn b́nh thường, thân thể bèn khỏe mạnh.
Phật pháp cao minh hơn, dùng âm thanh để chấn
động. Khi niệm chú ngữ rất chánh xác, âm thanh
phát ra có thể chấn động bộ vị ấy,
đả thông chỗ bế tắc. Chú ngữ chữa bệnh
như vậy trong Đại Tạng Kinh rất nhiều,
nay chúng ta niệm chú chẳng linh, nguyên nhân ở chỗ
nào? Chúng ta phát âm chẳng chánh xác. Phát ra âm thanh nào sẽ chấn
động bộ vị nào, điều này hết sức
phù hợp khoa học. Điều hết sức đáng tiếc
là đă thất truyền. Đúng là có Hiển, có Mật; ở
đây là Hiển, trong khi chúng ta niệm Phật bèn có ngộ
xứ.
“Tham” (參) ở đây
cũng chẳng phải là nghiên cứu, hễ nghiên cứu
th́ sai mất rồi! “Thả
niệm, thả tham, quán tâm, cứu lư” (Vừa niệm,
vừa tham, quán tâm, xét lư), đấy là trong niệm Phật
đă kèm thêm phương pháp của Thiền, chúng ta thường
nói là Thiền Tịnh song tu. Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư dạy người
tham Thiền: “Có Thiền, có Tịnh
Độ”, tức là dùng phương pháp này. Niệm Phật
mà trong mỗi niệm đều tham cứu “người niệm Phật là
ai?” Đó là “vừa niệm,
vừa tham”, chẳng thuộc về Mật, mà thuộc
về Hiển. Thật thà niệm Phật, điều
ǵ cũng không màng, suốt ngày từ sáng đến tối
niệm A Di Đà Phật đến cùng. Đó là Mật,
công phu ấy giống như Mật. Nếu trong ấy khởi
lên nghi t́nh, phải tham cứu “người
niệm Phật là ai”, bèn biến thành Thiền.
Đương nhiên, Thiền, Giáo, Mật, Luật, Tịnh,
tùy thuộc quư vị dùng phương pháp nào? Trong một
câu danh hiệu này, thứ ǵ cũng đều trọn
đủ. Nói cách khác, tám vạn bốn ngàn pháp môn, vô lượng
pháp môn đều ở trong một câu danh hiệu này; danh
hiệu có công đức chẳng thể nghĩ bàn!
(Sao)
Vi môn thiểu dị, quy nguyên tắc đồng.
(鈔)為門少異,歸元則同。
(Sao:
Về phương diện thực hiện th́ sai khác
đôi chút, trở về nguồn th́ giống nhau).
“Môn” là nói đến “môn kính” (門徑: đường
nẻo).
Phương pháp có hơi chút sai khác, nhưng văng sanh Tịnh
Độ như nhau, đều là văng sanh Tịnh Độ.
(Sao)
Hiển Mật viên thông, Sự Lư vô ngại.
(鈔)顯密圓通,事理無礙。
(Sao:
Hiển Mật viên thông, Sự Lư vô ngại).
Khai
thị của đại sư có mục đích chủ yếu
là không ǵ chẳng nhằm hiển thị pháp môn Niệm Phật
xác thực là chẳng thể nghĩ bàn, khiến cho chúng ta
thật sự nhận thức, liễu giải pháp môn này, khăng
khăng một mực thọ tŕ, [ngơ hầu] trong một
đời này có thể đạt được lợi
ích chân thật, vĩnh viễn thoát khỏi sanh tử, viên thành
Phật đạo, thật sự làm được trong một
đời này! Ngài nói nhiều như thế, đúng là buốt
ḷng rát miệng nhằm mục đích khiến cho quư vị
tin tưởng, chớ nên hoài nghi, chớ nên xen tạp, thật
thà niệm Phật, thế là được rồi, pháp
môn này đă được nói trọn hết. Do quư vị
không tin, chẳng chịu khăng khăng một mực
[hành tŕ], vẫn cứ nghi thần nghi quỷ, suy Đông
nghĩ Tây, cho nên mới nói lắm lời lẽ dường
ấy. [Nếu hành nhân] đă thật sự thật thà, cả
một đống lớn lời lẽ này sẽ trở
thành lời lẽ thừa thăi, vô ích, quyển sách này
cũng gọi là giấy lộn! V́ thế phải hiểu
mục tiêu và dụng ư của Ngài là ở nơi đâu!
(Sớ)
Hựu thử Sự Lư nhị tŕ, tuy thượng tường
phân thắng liệt, hữu chuyên Sự giả, hữu
chuyên Lư giả, cơ diệc hỗ thông, bất tất
nghi trở.
(疏)又此事理二持,雖上詳分勝劣,有專事者,有專理者,機亦互通,不必疑阻。
(Sớ: Lại nữa,
đối với Sự tŕ và Lư tŕ ở đây, tuy trong phần
trên đă phân tích tường tận sự hơn kém, có
người chuyên Sự tŕ, có kẻ chuyên Lư tŕ, nhưng
căn cơ dung thông lẫn nhau, chớ nên trở ngại,
ngờ vực lẫn nhau).
Điều
này rất quan trọng, thường phát sanh trong cuộc sống
hằng ngày, hoặc là chính ḿnh có những chuyện ấy,
hoặc là những đồng tham đạo hữu quanh
ta nẩy sanh chuyện này nọ. V́ thế, nhất định
phải nhận thức rơ ràng: Trong Niệm Phật,
phương pháp và lư luận tương đồng,
nhưng căn tánh của hết thảy chúng sanh chẳng
giống nhau, chúng ta phải quan tâm điều này. Ta dùng
phương pháp này chưa chắc đă thích hợp cho
người khác, phương pháp do người khác sử
dụng chưa chắc đă thích hợp với ta. Nay chúng
ta thường nói tới chuyện cộng tu, đặc
biệt là Phật Thất, đôi bên phải nhường
nhịn lẫn nhau, đôi bên phải nhượng bộ lẫn
nhau. Nếu chẳng nhượng bộ, đạo tràng sẽ
rối loạn. Công phu thật sự đắc lực là
một người niệm, chẳng bị bất cứ
ai quấy nhiễu, niệm đến mức hoan hỷ,
niệm đến mức tâm thanh tịnh, công phu bèn đắc
lực. “Có người chuyên Sự”, “có kẻ chuyên Lư” là nói phân biệt
tổng quát hai loại căn tánh bất đồng.
Người chuyên Sự niệm chẳng cần phải
đ̣i hỏi người chuyên Lư [niệm Phật] giống
hệt như ḿnh; người chuyên Lư niệm cũng chẳng
cần phải buộc kẻ chuyên Sự niệm giống
như ta. Chớ nên miễn cưỡng kẻ khác, chỉ
cốt sao công phu đắc lực. Biểu hiện của
đắc lực là tâm thanh tịnh, niệm rất hoan hỷ
bèn đắc lực. Niệm chẳng hoan hỷ, niệm
rất đau khổ, sẽ chẳng đắc lực, vậy
th́ ắt cần phải sửa đổi thêm, luôn luôn là
phải niệm rất hoan hỷ. Niềm hoan hỷ ấy
nhất định phải được hiển lộ
trong cuộc sống hằng ngày, cuộc đời quư vị
hạnh phúc, sung sướng, khiến cho người khác
hâm mộ quư vị. Trong xă hội hiện tại, mọi
người đều sống rất khổ sở. Cớ
sao quư vị sống sung sướng dường ấy? V́
thế, quư vị niệm Phật tốt đẹp, tự
nhiên sẽ ảnh hưởng người khác. Người
ta thấy quư vị sung sướng dường ấy, liền
hỏi han: “V́ sao quư vị vui sướng ngần ấy?”
Quư vị có thể bảo họ: “Tôi niệm A Di Đà Phật”,
truyền bá pháp môn này cho người khác, họ sẽ học
tập theo. Nếu quư vị học Phật mà học rất
đau khổ, nói cách khác, quư vị gây phản tác dụng.
Người khác thoạt trông thấy, [sẽ tự nhủ]:
“Ngàn muôn phần chớ nên học Phật, ngươi thấy
học Phật sẽ lâm vào t́nh trạng như thế
đó!” Như vậy là quư vị đă tạo tội nghiệp
to tát, đă đoạn mất nhân duyên học Phật của
chúng sanh. V́ thế, đoạn Sớ này cũng rất quan
trọng, “cơ diệc hỗ
thông, bất tất nghi trở” (căn cơ đều
dung thông lẫn nhau, chớ nên trở ngại, ngờ vực
lẫn nhau).
(Sao)
Thử khủng cẩn năng Sự niệm giả, tự
nghi Lư tánh bất minh, sở vi vô ích, cố ngôn Sự đắc
thông Lư, dĩ quyết kỳ nghi.
(鈔)此恐僅能事念者,自疑理性不明,所為無益,故言事得通理,以決其疑。
(Sao: Đây là sợ kẻ
chỉ có thể hành Sự Niệm, tự ngờ vực
chính ḿnh chẳng thông hiểu Lư tánh, làm chuyện vô ích, cho
nên nói “hễ đă đạt được Sự bèn
thông hiểu Lư” để giải quyết nỗi nghi ấy).
Nếu
chúng ta chẳng thể hiểu rơ pháp môn này, hoặc tuy hiểu
nhưng chẳng thấu triệt, sẽ có nghi vấn, mà
Nghi là một chướng ngại rất lớn. Do vậy,
chúng tôi thường nói: “Bí quyết
niệm Phật là chẳng hoài nghi, không xen tạp, không gián
đoạn”. Đó là bí quyết tu học. Có những kẻ
thiện căn và phước đức hết sức sâu
dầy, chẳng hiểu Lư, tuy không hiểu cũng chẳng
cần hiểu, cũng chẳng mong nghiên cứu, cũng chẳng
mong hiểu rơ, một mực thật thà niệm măi câu Phật
hiệu, đó là Sự tŕ. Thường là hạng người
như vậy thành tựu hết sức nhanh chóng, những
kẻ thông minh tài trí b́nh phàm chẳng thể sánh bằng! Bọn
người thế gian chúng ta ngỡ những người
ấy là ngu si, hạ hạ căn, trọn chẳng biết
thành tựu của thượng thượng căn và hạ
hạ căn là b́nh đẳng, chẳng khác ǵ nhau! Đáng
sợ nhất là e rằng chúng ta thường hoài nghi: “Ta
niệm Phật mà vẫn chưa thể thấu triệt
giáo lư trong ba kinh hoặc năm kinh [Tịnh Độ], văng
sanh có gặp vấn đề ǵ hay chăng?” [Nghi như vậy]
th́ văng sanh sẽ thật sự có vấn đề. Vấn
đề ở đâu ra? Do quư vị có hoài nghi, nên trở
thành vấn đề. Chẳng hoài nghi, không có vấn đề
ǵ. Hễ hoài nghi, bèn có vấn đề. Nghi th́ làm như
thế nào? Ắt cần phải đoạn trừ! Vậy
th́ phải thâm nhập kinh tạng. Kinh tạng có tác dụng
giúp chúng ta phá mê, sanh khởi tín tâm. Nếu chẳng hoài nghi
tí nào, nói thật thà, chẳng cần nghe kinh, chẳng cần
đọc kinh, chẳng cần phải chuốc lấy những
nỗi phiền phức ấy. Do v́ cái tâm chưa thể
buông xuống được, nên hằng ngày mới phải
làm chuyện ấy. Do vậy, phải giải quyết mối
nghi th́ mới có thể sanh ḷng tin.
(Sao)
Đại Thế Chí Viên Thông Chương vân: “Bất giả
phương tiện, tự đắc tâm khai”.
(鈔)大勢至圓通章云:不假方便,自得心開。
(Sao:
Đại Thế Chí Viên Thông Chương có nói: “Chẳng cậy
vào phương tiện, mà tự được tâm khai”).
Trích
dẫn hai câu khai thị rất trọng yếu trong chương
Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông của
kinh Lăng Nghiêm. “Giả” (假) là nhờ cậy, [“bất giả phương tiện”]
là chẳng cần nhờ vào bất cứ phương pháp
[nào khác]. Phương pháp tham cứu của Thiền Tông hay
phương pháp thâm nhập nghiên cứu, t́m ṭi của Giáo
Hạ đều chẳng cần thiết, cứ một câu
A Di Đà Phật niệm đến cùng. Bồ Tát nói rất
minh bạch: “Ức Phật, niệm
Phật, hiện tiền, đương lai, tất định
kiến Phật” (Nhớ Phật, niệm Phật, hiện
tiền, tương lai, nhất định thấy Phật),
“hiện tiền” (現前) là thấy Phật
trong hiện tại, “đương
lai” (當來) là sẽ thấy Phật sau khi văng sanh, nhất
định trông thấy! Giọng điệu hết sức
khẳng định, chẳng có mảy may hoài nghi nào! “Hiện tiền thấy” là thấy
trong hiện tại. Thấy Phật trong hiện tại th́
có hiện tiền kiến, có trường hợp thấy
trong Định, có khi thấy trong mộng, đều thuộc
loại “thấy trong hiện tiền” (hiện tiền kiến).
Chuyện như vậy xưa nay rất nhiều, chúng ta chẳng
thấy, chẳng phải là Phật không ở trước
mặt! Chỉ cần chúng ta niệm A Di Đà Phật, A
Di Đà Phật ở ngay trước mặt. Ở ngay trước
mặt, cớ sao quư vị chẳng thấy? Là v́ quư vị
có nghiệp chướng. Tiêu trừ nghiệp chướng,
quư vị sẽ thấy. V́ thế, người niệm Phật
tiêu trừ nghiệp chướng, trong mộng bèn thấy
Phật, mộng thấy Phật giảng kinh, thuyết
pháp, mộng thấy Phật xoa đỉnh đầu thọ
kư. Công phu sâu hơn một chút, nghiệp chướng lại
tiêu trừ nhiều hơn một chút; trong khi niệm Phật
chúng ta chỉ tĩnh, sẽ thấy Phật trong Định.
Nghiệp chướng càng nhẹ, công phu càng đắc lực,
mở mắt thấy Phật ở ngay trước mặt,
những điều này đều là cảm ứng! Ở
đây, ta ắt phải hiểu: Phật, Bồ Tát cảm
ứng, thời gian rất ngắn ngủi, mấy giây, đó
là thật. Sau đó, chẳng c̣n thấy nữa! Quư vị đừng
hoài nghi: “Đă lâu rồi sao chẳng thấy, có lẽ là ta
đă thoái tâm”. [Nghi ngờ như vậy] là sai mất rồi!
Nếu quư vị thường trông thấy, thời gian lại
rất dài, đó là ma biến hiện, chẳng thật! Từ
truyện kư, chúng ta thấy Tịnh Tông Sơ Tổ Huệ
Viễn đại sư trong một đời từng ba
lượt ở trong Định thấy Tây Phương Cực
Lạc thế giới, Ngài thấy t́nh h́nh bên ấy hoàn
toàn giống hệt như trong kinh đă dạy. Suốt một
đời chỉ thấy ba lượt, chẳng phải
là một tháng thấy ba lần! Mỗi ngày thấy ba lần,
phiền phức to lớn. Sau khi đă thấy, phải biết
“thấy mà như chẳng thấy”, đó là cảnh giới
tốt đẹp, kinh Lăng Nghiêm dạy như vậy
đó, [như vậy sẽ là] cảnh giới tốt
đẹp. Sau khi đă thấy, quư vị bèn dấy lên phân
biệt, chấp trước, sẽ đọa trong ma cảnh.
Chúng ta niệm Phật, v́ sao Phật chẳng hiện tiền?
Đừng nói là trong Định, ngay cả trong mộng
cũng chẳng thấy, công lực của chúng ta chẳng
đủ! Vừa thấy Phật, tâm chúng ta rối loạn,
như thế nào? Vừa hoan hỷ, vừa cao hứng,
Định mất tiêu! Chẳng dễ ǵ đắc Định
đôi chút, Phật vừa hiện đến, quư vị ngay
lập tức phá sạch công phu! Đáng tiếc quá! Phật
hiểu rất rơ, chẳng hiện đến, chẳng phá
hoại, chẳng nhiễu loạn quư vị. Đến khi
nào quư vị đă có công phu định lực kha khá, thấy
Phật mà chẳng động tâm, Phật
bèn hiện thân một lần để chứng minh cho quư
vị, nhằm tăng cường tín nguyện cho quư
vị, có ư nghĩa như thế đó. Do vậy, phải
nên phân biệt ma và Phật, phải biết phân biệt!
Phải
ghi nhớ, phải chú tâm lănh hội hai câu ấy. Tâm chúng ta
đă định, chẳng cần cậy vào bất cứ
pháp môn hay phương pháp nào để giúp đỡ, một
câu danh hiệu cứ niệm đến cùng. Đó là
phương pháp của Đại Thế Chí Bồ Tát, từ
sơ phát tâm măi cho đến khi thành Phật, chỉ là một
câu A Di Đà Phật, những điều khác đều chẳng
biết, có biết cũng chẳng nói tới! Nếu quư vị
hỏi: V́ sao chẳng nói? Nói ra đều là lời lẽ
thừa thăi, nói để làm ǵ? Do vậy, quư vị sẽ
thật sự hiểu rơ, mới hiểu những điều
do Thích Ca Mâu Ni Phật đă nói trong bốn mươi chín
năm toàn là lời lẽ thừa thăi, cả một bộ
Đại Tạng Kinh là rác rưởi, đấy là nói thật
với quư vị! [Tất cả kinh điển] thảy
đều nhằm dạy quư vị nhận biết A Di
Đà Phật. Do quư vị chẳng nhận biết A Di
Đà Phật, cho nên mới thuyết pháp suốt bốn mươi
chín năm. Đă thật sự hiểu rơ, khẳng định,
lời lẽ nào cũng chẳng cần phải nói nữa!
V́ sao? Vài hôm sau, quư vị đă thấy A Di Đà Phật, đă
thành Phật. Kinh Di Đà nói “hoặc
một ngày, hoặc hai ngày” cho đến bảy ngày, quư
vị bèn thành công, c̣n cần phải nói năng chi nữa? Bảy
ngày thành công là thật, chẳng giả! Từ Tịnh
Độ Thánh Hiền Lục, chúng ta đă thấy: Niệm
Phật ba ngày bèn thành tựu, niệm năm ngày, sáu ngày bèn thành
tựu, đều có! Do vậy có thể biết: Ngàn kinh vạn
luận, không ǵ chẳng nhằm khuyên quư vị hăy thật
thà niệm Phật.
(Sao)
Không Cốc vân: “Bất tham niệm Phật thị thùy, trực
nhĩ thuần nhất niệm khứ, diệc hữu ngộ
nhật”, thị dă.
(鈔)空谷云:不參念佛是誰,直爾純一念去,亦有悟日,是也。
(Sao: Ngài Không Cốc[1] nói: “Chẳng tham
cứu người niệm Phật là ai, cứ thẳng thừng
thuần nhất niệm miết, cũng sẽ có ngày khai
ngộ” là nói về ư này).
“Ngộ” là khai ngộ, “ngộ nhật” (悟日) là có ngày khai ngộ.
Đây là một vị đại đức trong Thiền
Tông, sống vào đời Minh, cùng thời đại với
Liên Tŕ đại sư, cũng là bậc cao tăng trong Thiền
Tông thuở ấy. Ngài từng khuyên người ta hăy thật
thà niệm Phật, chẳng cần tham cứu, chẳng cần
“tham người niệm Phật
là ai”, cứ một câu A Di Đà Phật, “thuần nhất niệm khứ”
(thuần nhất niệm miết), “thuần nhất” là thật thà. Tham Thiền nhằm
mục đích cầu khai ngộ. Quư vị cứ thật
thà niệm câu Phật hiệu, cũng có ngày khai ngộ. Lời
lẽ này do bậc đại đức trong Thiền Tông
nói ra, Liên Tŕ đại sư đă trích dẫn ở
đây.
(Sao)
Hựu khủng duy cần Lư niệm giả, tự nghi
xưng Phật danh thiểu, hoặc trí lạc không, cố
ngôn Lư đắc thông Sự, dĩ quyết kỳ nghi.
(鈔)又恐唯勤理念者,自疑稱佛名少,或致落空,故言理得通事,以決其疑。
(Sao: Lại chỉ sợ
kẻ chỉ siêng năng Lư niệm, tự nghi do ít xưng
danh hiệu Phật, chắc có lẽ sẽ xôi hỏng bỏng
không, nên nói “hễ đắc Lư sẽ thông hiểu Sự” nhằm
giải quyết mối nghi ấy).
Nghi
vấn giống nhau, nhưng căn nguyên của nghi vấn
khác nhau. Người trước th́ chuyên môn hành nơi Sự,
hành Sự niệm mà chẳng hiểu Lư; ở đây là Lư
niệm, trong ấy thiếu sót Sự, hai đằng khác
nhau. Do thiếu khuyết Sự niệm, có lẽ sẽ
hoài nghi chính ḿnh niệm Phật quá ít, chỉ sợ văng sanh
sẽ bị “lạc không”
(chẳng đạt được kết quả ǵ). Nói
thật ra, vấn đề là ở chỗ quư vị có niệm
hay không, chẳng do Sự tŕ hay Lư tŕ. Sự tŕ là hành
nơi sự tướng, một câu A Di Đà Phật từ
tâm sanh khởi, từ miệng niệm ra, nghe lọt vào tai,
đó là Sự. Lư niệm th́ khác. Trong phần trước,
chúng ta đă thấy, ở đây lại thấy: Chính là
hoàn toàn thông đạt, hiểu rơ cảnh giới Tây
Phương, chẳng có mảy may hoài nghi nào, nhưng có niệm
Phật hay chăng? Chẳng niệm. Có nguyện vọng cầu
sanh hay chăng? Có! Đấy là như Ngẫu Ích đại
sư đă nói: “Có thể văng
sanh hay không được quyết định bởi có
tín nguyện hay không?” Quư vị có ḷng tin thật sự,
có nguyện thiết tha, niệm Phật dẫu ít, quyết
định được văng sanh. Sanh về thế giới
Tây Phương, “phẩm vị
cao hay thấp là do công phu tŕ danh sâu hay cạn”. Nay ta chẳng
tŕ danh, niệm Phật rất ít, tổ sư chẳng nói niệm
Phật nhiều hay ít, mà nói là công phu sâu hay cạn. Nói cách
khác, công phu Lư niệm có cạn hay sâu, công phu Sự niệm
cũng có cạn hay sâu, phẩm vị cao hay thấp được
quyết định bởi công phu sâu hay cạn, chẳng
phải do Sự tŕ nhiều hay ít. Hiểu đạo lư
này, chúng ta sẽ an ḷng. Tuy niệm Phật ít một chút, hoặc
là kẻ bận rộn suốt ngày, pháp sư Từ Vân Quán
Đảnh đă dạy pháp Sáng Tối Mười Niệm.
Đó là tối thiểu. Trong Yếu Giải, Ngẫu Ích
đại sư có nói: Nếu suốt đời chẳng
thiếu mười niệm ấy, cũng phù hợp “một mực chuyên niệm” như
kinh Vô Lượng Thọ đă nói. V́ cho đến lúc ấy,
những ǵ người ấy nghĩ đều phù hợp
với “một mực chuyên niệm”.
Có thể thấy là chân tín, nguyện thiết, niệm danh
hiệu Phật ít ỏi vẫn có thể văng sanh; công phu thật
sự đắc lực, phẩm vị cũng chẳng thấp.
Hai đoạn văn này đều nhằm bài trừ nỗi
nghi hoặc và kiên định tín nguyện của chúng ta.
Tôi
dạy mọi người pháp Thập Niệm, hiệu quả
c̣n to hơn cách Sáng Tối Mười Niệm của pháp
sư Quán Đảnh, chư vị phải nghiêm túc học,
phải vận dụng trong cuộc sống. Nếu quư vị
có khóa tụng sáng tối, vẫn có thể tu pháp Thập Niệm
này, chẳng mâu thuẫn với khóa tụng của quư vị.
Quư vị công việc hết sức bận rộn, về
căn bản là chẳng có thời gian để niệm
khóa sáng tối, hăy dùng pháp Thập Niệm này, quyết
định thành công. Pháp Thập Niệm này là mười
câu Phật hiệu, quư vị niệm bốn chữ
cũng được, mà niệm sáu chữ cũng
được, tùy thuộc thói quen của chính ḿnh. Liên Tŕ
đại sư nói rất hay, nếu quyết tâm mong cầu
sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới
trong một đời này, chúng ta có thể gạt bỏ lời
lẽ khách sáo. Lời lẽ khách sáo là hai chữ Nam-mô.
Nam-mô có nghĩa là “quy y”, nghĩa là “cung kính”, hoặc
nghĩa là “lễ kính”. Danh hiệu là bốn chữ A Di
Đà Phật, kinh dạy chúng ta chấp tŕ danh hiệu; danh
hiệu là bốn chữ. V́ thế, có thể niệm bốn
chữ. Bất quá thời gian khóa tụng của chúng ta rất
ngắn, chỉ cần thời gian một phút; v́ thế,
thêm vào chữ Nam-mô cũng hết sức hay, do thời gian
ngắn ngủi mà! Nam-mô A Di Đà Phật, nam-mô A Di Đà Phật,
niệm mười câu. Mười câu ấy chính là “tịnh niệm nối tiếp”
như Đại Thế Chí Bồ Tát đă nói. V́ khi chúng
ta niệm mười câu ấy, hết thảy vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước thảy
đều buông xuống, tâm địa thật sự thanh
tịnh. Dùng cái tâm thanh tịnh niệm mười câu, một
thời khóa của chúng ta đă viên măn. Nếu quư vị hỏi:
Có cần phải hồi hướng hay chăng ư? Chẳng
cần! V́ sao? Ta niệm câu “nam-mô
A Di Đà Phật” nhằm cầu sanh Tây Phương Tịnh
Độ, những câu ấy đều là hồi hướng.
V́ thế, pháp môn này được gọi là “pháp môn chẳng hồi hướng”.
Ta niệm Phật với mục đích mong thấy A Di
Đà Phật, mong được văng sanh Tây Phương Tịnh
Độ. Pháp Thập Niệm này mỗi ngày phải làm
chín lần, mỗi lần chỉ tốn một phút, quyết
định chẳng trở ngại công việc của quư
vị. Sáng sớm thức dậy niệm một lần, khi
ăn điểm tâm làm một lần.
Thông thường, khi chúng ta dùng cơm bèn niệm chú Cúng
Dường: “Cúng dường
Phật, cúng dường Pháp, cúng dường Tăng, cúng
dường hết thảy chúng sanh” đều niệm
theo kiểu ấy. Niệm kiểu ấy khá lắm! Nhưng
nói thật ra, hiệu quả chẳng lớn. V́ sao? Miệng
có, tâm không! Cho nên chẳng bằng dùng cái tâm thanh tịnh để
niệm A Di Đà Phật, niệm mười câu rồi mới
ăn cơm. Đó là thời khóa thứ hai. Buổi sáng
đi làm, trước khi làm việc lại niệm một
lần, là thời khóa thứ ba. Trước khi nghỉ
trưa cũng niệm một lần, đó là thời khóa
thứ tư. Khi ăn cơm trưa, niệm một lần,
chính là thời khóa thứ năm. Buổi chiều vào làm tiếp,
khi tan tầm, ăn cơm tối, trước khi ngủ
[mỗi lúc niệm một lượt], đó là chín lượt
công khóa trong một ngày. Chẳng thiếu lần nào, hiệu
quả cũng rất to, có hiệu lực c̣n to hơn
người thông thường dành hai ba tiếng đồng
hồ để tụng niệm công khóa sáng tối, do
nguyên nhân nào? V́ thời gian gián cách rất ngắn, cách một
khoảng thời gian rất ngắn lại lập tức
tu tập một lần. V́ thời gian công khóa ngắn, số
lượt nhiều, mỗi ngày làm chín lần, thời thời
khắc khắc dùng cái tâm thanh tịnh để chấp
tŕ danh hiệu, xác thực là đạt tới “tịnh niệm nối tiếp”, ở đây là mười niệm
nối tiếp. Mười niệm, niệm nào cũng
đều thanh tịnh, xác thực là “nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm nối
tiếp”. Lũ phàm phu chúng ta nghiệp chướng rất
nặng, thời gian niệm dài, sẽ bị xen tạp
trong ấy, bèn c̣n có vọng tưởng, c̣n có vọng niệm.
Trong một phút ấy, có thể giữ cho mười câu Phật
hiệu chẳng có vọng tưởng, chẳng có tạp
niệm, th́ có thể giữ ǵn được! Đừng
nên thấy mười câu ấy quá ngắn ngủi, chúng là
tịnh niệm nối tiếp, cho nên lợi ích hết sức
to lớn. Chẳng hoài nghi, chẳng xen tạp, chẳng
gián đoạn, mười câu chẳng gián đoạn, mỗi
ngày chín lần chẳng gián đoạn, phương pháp tu
học này hết sức thích hợp với người hiện
thời, ai nấy đều có thể tu.
(Sao)
Niệm niệm Lư nhất, thị niệm niệm Di Đà
dă, kỳ vi xưng danh, bất diệc đại hồ?
(鈔)念念理一,是念念彌陀也,其為稱名,不亦大乎。
(Sao: Niệm nào
cũng đều là Lư nhất tâm, tức là niệm nào
cũng là Di Đà, đấy cũng chẳng phải là
xưng danh to tát ư?).
Lư niệm
khó hơn! Chúng ta thường nói Lư niệm là “niệm mà vô niệm, vô niệm
mà niệm”, đó là Lư niệm. Lư là tự tánh, là Chân
Như bản tánh, niệm nào cũng tương ứng với
tự tánh, thuộc loại Lư niệm, đó là “niệm niệm Di Đà”. Tôi
vừa mới nói pháp Thập Niệm cùng mọi người,
thời gian rất ngắn, nhưng muốn khiến cho Sự
niệm tương ứng với Lư niệm, khá dễ
dàng. V́ sao? V́ trong mười câu ấy, chẳng khởi một
vọng niệm nào. Làm thế nào để có thể hợp
nhất với Lư? Năng lẫn Sở đều quên mất
là Lư. Quên mất Năng lẫn Sở chính là “niệm mà vô niệm”. “Niệm”
là mười câu Phật hiệu của ta rành rẽ, từng
chữ phân minh, đó là Niệm. Tuy niệm mười câu
Phật hiệu, trong thời gian ngắn ngủi ấy,
tam luân thể không, chẳng có phân biệt, chấp trước
“ta là năng niệm”, mà cũng chẳng có phân biệt, chấp
trước “Phật hiệu được niệm”, cho nên
tương ứng với Lư, đó chính là “vô niệm”. Vô niệm: “Vô” là không chấp trước. Không chấp
trước bèn chẳng có năng niệm, chẳng có sở
niệm. Chẳng chấp trước năng niệm mà cũng
chẳng chấp trước sở niệm, niệm và vô
niệm là một, không hai. Niệm và vô niệm là hai th́ sẽ
chẳng tương ứng, vẫn là Sự niệm. Niệm
và vô niệm hợp thành một, sẽ là Lư. Chúng ta có cần
phải học hay chăng? Chẳng cần học! Cố
ư học, quư vị đă thuộc vào trong phân biệt, chấp
trước, đă có dụng tâm. Khi niệm đến mức
công phu thuần thục, tự nhiên nhập cảnh giới
này, đó là Lư niệm. Tuy niệm Phật hiệu chẳng
nhiều, xác thực là “nhiếp
trọn sáu căn, tịnh niệm nối tiếp”, công
phu ấy rất sâu. Nói cách khác, phẩm vị văng sanh
cũng rất cao! Chúng ta đọc kỹ kinh Quán Vô Lượng
Thọ Phật sẽ hiểu rơ điều này. Phẩm vị
văng sanh cao, thời gian thành Phật rút ngắn. Thượng
phẩm hạ sanh, trong ba tiểu kiếp ở thế giới
Tây Phương sẽ thành tựu; hạ phẩm hạ
sanh là thấp nhất, mười hai đại kiếp
cũng thành tựu. Chẳng như trong kinh, đức Phật
nói tu hành trong thế giới Sa Bà hoặc trong các thế giới
phương khác của chư Phật, cứ hở ra là
nói “ba đại A-tăng-kỳ kiếp”, hoặc vô lượng
kiếp, thời gian được nêu ra đúng là quá dài.
Thời gian lâu nhất trong thế giới Tây Phương là
mười hai đại kiếp; ngắn nhất là thượng
phẩm thượng sanh, sanh về nơi ấy, hoa nở,
thấy Phật, đă thành tựu. Đó là sự thù thắng
của thế giới Tây Phương. Chúng ta hăy ghi nhớ,
điều khẩn yếu là “công
phu sâu hay cạn”, sâu hay cạn là nh́n từ chỗ nào?
Nh́n từ tâm địa thanh tịnh. Tâm chúng ta mỗi
năm một thanh tịnh hơn, năm nay so với
năm trước, xác thực là thanh tịnh hơn năm
trước; đó là công phu có tiến bộ. Tháng này so với
tháng trước, cảm thấy thanh tịnh hơn tháng
trước. So sánh từng tháng, công phu của quư vị tiến
bộ hết sức rơ rệt, nhất định là phẩm
vị văng sanh rất cao! Nh́n từ chỗ ấy, tự
ḿnh biết, chẳng cần hỏi ai khác! Hỏi người
khác, nói thật thà, người hiện thời bợ
đỡ nhiều lắm, người nói lời thật
với quư vị ít lắm! V́ sao? Nói lời thật, quư vị
bực ḿnh; nói ve vuốt quư vị, quư vị khoái chí! [Họ
nói lấy ḷng]: “Quư vị tốt lắm! Quư vị rất
có tiến bộ!” Nghe xong bèn mê hoặc, điên đảo;
tưởng chính ḿnh thật sự có tiến bộ, thật
sự khá lắm! Điều này chẳng cần phải hỏi
ai khác, chính ḿnh hiểu rơ ràng, rành rẽ! Do đó, tổ
sư kết luận:
(Sao)
Thị cố nhiếp tâm, thể tâm, lưỡng chủng
niệm Phật, Sự Lư hỗ thông, bổn bất nhị
cố.
(鈔)是故攝心體心,兩種念佛,事理互通,本不二故。
(Sao: V́ thế, nhiếp
tâm và thấu hiểu cái tâm, hai loại niệm Phật, Sự
Lư dung thông, vốn là chẳng hai).
Khi Sự
niệm mà niệm mức thành thục sẽ biến thành Lư
niệm. Trong Lư niệm cũng kiêm Sự niệm, trong Lư có
Sự, trong Sự có Lư, chúng có thể dung thông. V́ thế, chẳng
cần phải hoài nghi.
(Sớ)
Hựu thử Sự Lư nhị tŕ, hoặc tiệm tấn,
hoặc đốn nhập, diệc tùy cơ bất định.
(疏)又此事理二持,或漸進,或頓入,亦隨機不定。
(Sớ: Lại nữa,
Sự tŕ và Lư tŕ, hoặc là tiến từ từ, hoặc
tiến nhập ngay lập tức, cũng tùy thuộc căn
cơ, chẳng nhất định).
Cổ
nhân nói “con người quư ở
chỗ tự biết”. Một người quư nhất
là tự biết ḿnh, biết căn tánh và tŕnh độ của
chính ḿnh. Có thể tự biết, chúng ta chọn lựa
pháp môn nhất định được lợi ích. Đối
với các thứ tông phái trong Phật môn, hễ chúng ta học
lan man đôi chút, hăy phản tỉnh cặn kẽ xem có
thích hợp với chính ḿnh hay không? Trong Giáo Hạ, tông Thiên
Thai [đ̣i hỏi] phải học thuộc ba bộ kinh
sách lớn (Pháp Hoa Huyền Nghĩa, Pháp Hoa Văn Cú và Ma Ha
Chỉ Quán); tông Hiền Thủ phải thuộc ḷng kinh Hoa
Nghiêm, chúng ta có năng lực ấy hay không? Hăy suy ngẫm!
Phân lượng [những kinh sách ấy] quá nhiều; nay
để đọc sách, thuộc sách th́ đă quá tuổi
rồi, khó lắm! Những môn ấy khó khăn! Thiền
Tông, đừng nói là khai ngộ, chúng ta ngồi xếp bằng,
chẳng nhập Định được! C̣n có thể
khai ngộ hay chăng? Chẳng đắc Định. Ngồi
xếp bằng tại đó, vẫn là suy nghĩ loạn xạ,
vẫn dấy vọng tưởng. Nói cách khác, hành môn này
cũng chẳng hành suông sẻ được! Trong Mật
có khá nhiều chú ngữ, dẫu gặp thiện tri thức
thật sự, chú ngữ rất nhiều, nghi quỹ rất
nhiều, hăy nh́n lại hoàn cảnh sống của chính
ḿnh, có năng lực để tu học hay không? Chẳng
có năng lực, sẽ chẳng thể thành công. Nh́n lại
Tịnh Độ, pháp môn Tịnh Độ thật sự
được chư Phật, Bồ Tát, tổ sư đại
đức khen ngợi, gọi là “đạo dễ hành”! Một câu Phật hiệu
đúng là quá đơn giản, quá dễ dàng. Chúng ta công việc
rất bận bịu, tôi vừa mới dạy quư vị pháp
Thập Niệm, quyết định chẳng trở ngại
công việc. Mỗi lần công khóa chỉ cần một
phút, trở ngại công việc quư vị ở chỗ nào?
Biết căn tánh của chính ḿnh, bèn biết chọn lựa
pháp môn hữu ích nhất cho chính ḿnh. Chúng ta thực hiện
th́ nhất định phải tiến hành từ nơi sự
tướng, chẳng cần phải học đ̣i người
ta mỗi ngày niệm mười vạn câu Phật hiệu.
Có rất nhiều người nghe nói cổ đại
đức mỗi ngày niệm mười vạn câu Phật
hiệu, có vị mỗi ngày niệm mười mấy vạn
câu Phật hiệu, trong tâm hâm mộ khôn cùng, một dạ
mong học theo, chẳng bắt buộc phải như vậy!
Những vị đó có hoàn cảnh khác hẳn, họ suốt
ngày từ sáng đến tối chẳng phải làm ǵ! Họ
chẳng phải làm việc, chẳng niệm Phật sẽ
suy nghĩ loạn xạ! Bản thân quư vị suốt ngày
từ sáng đến tối công việc hết sức bận
rộn, đêm không ngủ để niệm Phật, niệm
đến hôm sau mệt bở hơi tai, chuyện ǵ
cũng đều chẳng làm được, sai mất rồi!
V́ thế, người nhàn rỗi có phương pháp tu hành
dành cho người nhàn rỗi, người bận rộn
có cách tu hành dành cho người bận rộn, nhất
định phải thích hợp hoàn cảnh cuộc sống
của chúng ta. Như thế th́ sẽ tốt đẹp,
chớ nên miễn cưỡng, công phu mới có thể
đắc lực.
Có “tiệm tấn” và có “đốn nhập”, tùy thuộc
căn cơ, chẳng nhất định. Tiệm và Đốn
có mối quan hệ rất lớn đối với
căn tánh. Căn tánh chính là cơ sở tu học trong quá
khứ. Tuy đời này được làm thân người,
nghe Phật pháp, lại phải học từ đầu,
quên sạch sành sanh những thứ trong kiếp trước.
Bất quá lợi căn và đốn căn đích xác là rất
rạch ṛi. Trong đời quá khứ, nếu vun bồi
căn cơ chẳng sâu, một đời này sẽ tỏ
ra rất chậm lụt. Đời đời kiếp kiếp
trong quá khứ vun bồi căn cơ sâu dày, nay sẽ cảm
thấy căn cơ rất nhạy bén, vừa nghe bèn hiểu
rơ, thông đạt, thuộc loại lợi căn. Do vậy,
nhất định là phải tự ḿnh biết căn tánh
của chính ḿnh, chẳng có một ai không thành công. Căn
tánh độn chẳng sợ. Thật đấy! Thiền
sư Không Cốc nói: “Chỉ cần
quư vị niệm một câu Phật hiệu đến
cùng, quư vị sẽ có ngày khai ngộ”. Tiêu nghiệp
chướng chẳng có ǵ khác, chính là chuyên tâm, chuyên nhất
[mà thôi]! Nghiệp chướng tiêu trừ. Tiêu trừ nghiệp
chướng th́ sợ nhất là làm quá nhiều, quá tạp,
tâm chẳng thanh tịnh, nghiệp chướng sẽ chẳng
tiêu được! Hễ “nhất”,
tâm bèn thanh tịnh. V́ thế, “nhất”
quá trọng yếu. Trong Ảnh Trần Hồi Ức Lục,
[pháp sư Đàm Hư có nhắc tới] vị sư trông coi
đèn nến [trong chánh điện] đă đem phơi
đèn cầy[2] chính là một
người độn căn. Lăo ḥa thượng của vị
ấy rất tinh tế, nhận biết người ấy thật thà, người thật
thà th́ có thể dạy được! Ngài dạy vị
sư ấy chẳng cần làm ǵ cả, hăy đến chùa
Dục Vương lạy xá-lợi. Nơi ấy có
thờ xá-lợi của Thích Ca Mâu Ni Phật, mỗi ngày lạy
ba ngàn lạy. Vị sư ấy thật thà! Lễ bái chẳng
thiếu sót, mỗi ngày lễ ba ngàn lạy. Lạy suốt
ba năm, vị ấy khai ngộ, người thật thà có
thể khai ngộ. Đối với người đồ
đệ làm thợ vá nồi của pháp sư Đế
Nhàn, Sư dạy ông ta hăy niệm một câu Nam-mô A Di Đà
Phật, hăy thật thà niệm. Lăo nhân gia bèn thật thà niệm.
Niệm ba năm, đứng văng sanh, quư vị thấy có lỗi
lạc hay chăng? Phiền phức nhất là bọn
người chúng ta, người xưa chê [chúng ta] là “hạng
người dở dở ương ương”, thượng
không ra thượng, hạ chẳng thành hạ, khó tu hành nhất.
Thích Ca Mâu Ni Phật rát miệng buốt ḷng thuyết pháp bốn
mươi chín năm chính là v́ lũ người chúng ta. C̣n
như người thật thà th́ có cần phải đổ
công tốn sức [dạy bảo nhọc nhằn] như thế
hay chăng? Do mấy câu bèn giải quyết vấn đề,
người ấy bèn thành công. Chúng ta là lũ người
phiền toái nhất, là bọn người khiến Thích Ca
Mâu Ni Phật đau đầu nhất, nhưng Ngài vẫn
phải hóa độ. Hôm nay chúng tôi nói tới chỗ này!
Tập
246
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang bốn trăm bảy
mươi chín:
(Sao)
Tiệm tấn giả, căn sảo độn nhân, tiên cần
Sự tŕ, hậu tiệm cứu Lư. Nhược căn tánh
đại lợi, kính tựu Lư tŕ, cố danh “đốn
nhập”, tác dụng tiểu thù, cập kỳ thành công, nhất
dă.
(鈔)漸進者,根稍鈍人,先勤事持,後漸究理;若根性大利,徑就理持,故名頓入;作用小殊,及其成功,一也。
(Sao: Tiệm tấn
là người căn tánh hơi độn, trước hết
bèn siêng năng Sự tŕ, sau đó dần dần tham cứu
Lư. Nếu là căn tánh rất bén nhạy, sẽ nhanh chóng
hành theo Lư tŕ, nên gọi là “đốn nhập”. Tác dụng
khác biệt đôi chút, nhưng xét đến sự thành
công th́ là một).
Chúng
ta phải hiểu rơ ràng, minh bạch đạo lư và sự
thật này; sau đấy chúng ta niệm Phật th́ tâm mới
có thể định được. Ở đây, đại
sư đă nói rất rơ ràng, bất luận là Sự tŕ hay
Lư tŕ, căn tánh của chính ḿnh nhạy bén hay chậm lụt
khác nhau, nhưng sau khi đă niệm đến mức công
phu thuần thục, hiệu quả như nhau. “Tiệm tấn” (漸進: tiến từ
từ)
là tùy thuận căn tánh của chính ḿnh. Nếu chẳng phải
là kẻ thượng thượng lợi căn, chúng ta tu
tập theo đường lối Sự tŕ. Sự tŕ
cũng do kinh dạy, chúng ta tin sâu xa từ phương Tây
của thế giới Sa Bà qua khỏi mười vạn ức
cơi Phật, xác thực là có thế giới Cực Lạc.
Trong thế giới Cực Lạc, xác thực là có A Di
Đà Phật. “Hữu Phật
hiệu A Di Đà, kim hiện tại thuyết pháp” (Có Phật
hiệu A Di Đà, nay đang thuyết pháp). Tín nguyện tŕ
danh, một câu danh hiệu niệm đến cùng, đó là
Sự tŕ. Đến khi nào chúng ta mới từ Sự tŕ
tiến nhập Lư tŕ? Chẳng cần lo lắng chuyện
này, cũng chẳng cần phải hỏi tới, ngày nào
niệm đến Lư nhất tâm, khi ấy, quư vị niệm
câu A Di Đà Phật sẽ từ Sự tŕ biến thành Lư
trí. V́ sao? Lư nhất tâm sẽ kiến tánh. Lư là kiến tánh;
chẳng kiến tánh, sẽ chẳng gọi là Lư tŕ. Bất
luận Sự tŕ hay Lư tŕ, cảnh giới nơi Sự nhất
tâm bất loạn đều gọi là Sự tŕ. Sau khi
đă kiến tánh, bất luận là Lư tŕ hay Sự tŕ,
đều gọi là Lư tŕ. Do vậy, tuy tác dụng chẳng
giống nhau, phương pháp tu học nơi Lư và Sự khác
nhau, thành tựu như nhau, đều là công phu thành phiến,
Sự nhất tâm bất loạn hay Lư nhất tâm bất loạn,
hoàn toàn giống nhau. Đối với người căn
tánh nhạy bén, Lư tŕ tốt lắm, do Lư tŕ sẽ khai ngộ
nhanh chóng. Nhưng phải ghi nhớ, căn tánh chúng ta có phải
rất nhạy bén hay chăng? Nếu chính ḿnh xác thực là
căn tánh trung hạ, lầm tưởng là căn tánh
thượng thượng, quư vị dụng công từ Lư
tŕ, chỉ sợ một đời này ngay cả hạ hạ
phẩm cũng chẳng đạt được, đáng
tiếc lắm! Chẳng bằng Sự tŕ, người thật
thà niệm một câu Phật hiệu đến cùng,
thường là đều có thể văng sanh. Đă có thể
văng sanh, phẩm vị sẽ chẳng rất thấp,
đại khái là từ trung phẩm trở lên.
(Sớ)
Hựu nhất tâm bất loạn hạ, hữu bổn gia
“chuyên tŕ danh hiệu” nhị thập nhất tự, kim sở
bất dụng, dĩ văn nghĩa bất an cố,
nhưng y cổ bổn bất gia.
(疏)又一心不亂下,有本加專持名號二十一字,今所不用,以文義不安故,仍依古本不加。
(Sớ: Lại nữa,
sau chữ “nhất tâm bất loạn”, có phiên bản thêm
vào hai mươi mốt chữ “chuyên tŕ danh hiệu….” nay
tôi chẳng dùng theo cách ấy, bởi văn và nghĩa chẳng
ổn thỏa, vẫn y theo bản xưa, chẳng thêm
vào).
Đoạn
này nói tới “Tương
Dương thạch kinh”, Tương Dương thuộc
tỉnh Hồ Bắc, [ở đây nói tới] là kinh
văn kinh A Di Đà được khắc trên đá [tại
Tương Dương][3]. Bản
ấy so với bản kinh Di Đà được lưu
thông hiện thời nhiều hơn hai mươi mốt chữ.
Có người chủ trương hai mươi mốt chữ
ấy do người đời sau thêm vào, có người
quan niệm [hai mươi mốt chữ ấy] có thể
là nguyên văn lời dịch kinh Di Đà trong thuở ấy.
Có thể là hai mươi mốt chữ ấy bị bỏ
sót khi sao chép. Có hai cách nói như vậy. Liên Tŕ đại
sư cũng thấy bản ấy. Hai mươi mốt
chữ là: “Chuyên tŕ danh hiệu,
dĩ xưng danh cố, chúng tội tiêu diệt, tức thị
đa thiện căn, phước đức, nhân duyên”
(chuyên tŕ danh hiệu, do xưng danh nên các tội tiêu diệt.
Đấy chính là nhiều thiện căn, phước
đức, nhân duyên). Bản kinh khắc đá ở
Tương Dương có hai mươi mốt chữ ấy,
ư nghĩa của kinh đúng là rơ rệt hơn rất nhiều.
Liên Tŕ đại sư chẳng chọn dùng, v́ sao? “Dĩ văn nghĩa bất an”
[ư nói] văn tự và ư nghĩa [của những chữ ấy]
so với toàn bộ kinh Di Đà chẳng thỏa đáng cho
lắm, “bất an” là chẳng
thỏa đáng cho mấy. Theo cách nh́n của Liên Tŕ đại
sư, [những chữ ấy] có thể là do người
đời sau thêm vào, cho nên “nhưng
y cổ bổn bất gia” (vẫn tuân theo bản xưa
chẳng thêm vào). Bản được truyền lại từ
xưa chính là bản dịch kinh Di Đà của Cưu Ma La
Thập đại sư mà nay chúng ta đang đọc. Vào
những năm cuối đời Thanh, thời đầu
Dân Quốc, có chẳng ít vị đại đức cho rằng
hai mươi mốt chữ ấy đă làm sáng tỏ kinh
nghĩa hết sức trọng yếu! Lăo cư sĩ Hạ
Liên Cư hội tập hai bản dịch của kinh Di
Đà, cũng thêm hai mươi mốt chữ ấy vào; thoạt
nh́n, ư nghĩa càng thêm sáng tỏ, rơ rệt. Kinh dạy chúng
ta: “Chẳng thể do chút thiện
căn, phước đức, nhân duyên mà được
sanh về cơi ấy”. Hai mươi mốt chữ ấy
đă nói rơ ràng: Chuyên tâm tŕ danh là nhiều thiện căn,
nhiều phước đức, nhiều nhân duyên, đă
ban cho chúng ta một câu trả lời hết sức khẳng
định đối với tín nguyện tŕ danh, khiến
cho chúng ta có thể kiên định tín tâm.
(Sớ)
Nhi dĩ tức thị thiện phước chi ư, ngôn ngoại
bổ nhập, tư vi doăn đáng.
(疏)而以即是善福之意,言外補入,斯為允當。
(Sớ: Coi [những
chữ ấy] chính là những lời [do người đời
sau] thêm vào nhằm bổ sung ư nghĩa cho [câu kinh] “nhiều
thiện căn, nhiều phước đức” th́ sẽ
thích đáng).
Ư của
Liên Tŕ đại sư là: Hăy nên coi hai mươi mốt chữ
ấy là chú giải của kinh Di Đà. Đó là thích hợp,
xác đáng nhất, chứ coi chúng là kinh văn sẽ hoàn toàn
chẳng thỏa đáng.
(Sao)
Văn nghĩa bất an giả, thượng văn dĩ
hữu chấp tŕ danh hiệu tứ tự, bất khả
cánh trước chuyên tŕ danh hiệu nhất cú, thượng
hạ trùng phục, bất thành văn nghĩa.
(鈔)文義不安者,上文已有執持名號四字,不可更著專持名號一句,上下重復,不成文義。
(Sao: “Văn nghĩa bất
an”: Trong đoạn kinh văn trước đó đă có bốn
chữ “chấp tŕ danh hiệu”, không thể lại có câu
“chuyên tŕ danh hiệu”, trên dưới trùng lặp, chẳng
thành văn nghĩa!)
V́
sao nói là kinh văn và ư nghĩa chẳng ổn thỏa, xác
đáng? Trong đoạn văn trước đó đă có
câu “chấp tŕ danh hiệu”,
đoạn sau lại có “chuyên
tŕ danh hiệu”, xét theo kinh văn và ư nghĩa hăy c̣n có chỗ
chẳng ổn thỏa, thích đáng. Văn chương thời
cổ rất kỵ trùng lặp, nhắc đi nhắc lại,
v́ [viết như thế] sẽ chẳng phải là văn
chương hay! Văn tự trên dưới trùng lặp,
[tức là không phù hợp với cách hành văn, nhất là mỗi
bản dịch kinh đều đă được gọt
giũa bởi người đảm trách vai tṛ Bút Thọ
và Nhuận Văn trong đạo tràng dịch kinh, cho nên khó
thể có chuyện trùng lặp trong câu chữ]; cách nói và
cách nh́n của Liên Tŕ đại sư là như vậy
đó. Cũng có vị cổ đại đức có cách
nh́n khác, họ cũng lập luận rất hợp lư: V́
sao văn nghĩa trùng lặp? Tức là khi đức Phật
giảng kinh, thuyết pháp, nhằm tỏ ư nhấn mạnh,
đối với chỗ trọng yếu, chẳng ngại
lặp đi, lặp lại. Nói theo kiểu này th́ cũng
suông sẻ! Rốt cuộc [hai mươi mốt chữ ấy]
là kinh văn, hay là lời chú giải của cổ nhân? Chỉ
có thể đánh dấu hỏi, xếp vào loại tồn
nghi (c̣n đang nghi ngờ, chẳng đoan quyết). Cả
hai cách nói đều hay, đều có lư, chúng ta dùng chúng
để làm tham khảo là được rồi!
(Sao)
Cựu truyền thử nhị thập nhất tự, thị
Tương Dương thạch khắc, đương
tri thị tiền nhân giải kinh chi ngữ, Tương bổn
ngoa nhập chánh văn, hỗn thư bất biệt
nhĩ.
(鈔)舊傳此二十一字,是襄陽石刻,當知是前人解經之語,襄本訛入正文,混書不別耳。
(Sao: Có lời truyền
tụng từ xưa rằng: Hai mươi mốt chữ
ấy xuất phát từ bản khắc đá tại
Tương Dương, hăy nên biết đó là lời chú giải
kinh văn của tiền nhân, bản khắc ở
Tương Dương đă đưa nhầm vào chánh
văn, viết lẫn lộn chẳng phân biệt).
Liên
Tŕ đă nêu rơ lư do v́ sao Ngài không dùng những chữ ấy.
Lăo nhân gia cho những chữ ấy là mấy câu giải
thích kinh Di Đà của cổ nhân, chẳng phải là kinh
văn. Bản khắc đá ở Tương Dương
đă hiểu lầm, coi chúng là kinh văn rồi khắc lẫn
vào kinh văn.
(Sao)
Nghĩa văn nghĩa giả, đương tự kiến
đắc.
(鈔)義文義者,當自見得。
(Sao:
Những người thông thạo văn nghĩa sẽ tự
thấy rơ).
Đối
với những người thông hiểu văn
chương, trong pháp tắc hành văn, hai mươi mốt
chữ ấy quá dư thừa. Có những người quan
niệm khác với Liên Tŕ đại sư, họ cho rằng
hai mươi mốt chữ ấy xác thực là kinh
văn.
(Sớ)
Xứng Lư.
(疏)稱理。
(Sớ:
Tương xứng với Lư).
Xứng
Lư là “tiêu quy tự tánh”. Đoạn
văn Xứng Lư trong bộ Sớ Sao của Liên Tŕ đại
sư là điểm đặc sắc của Ngài, cũng
là một đoạn rất tinh túy.
(Sớ)
Tắc tự tánh phi ức, phi vong, thị chấp tŕ
nghĩa.
(疏)則自性非憶非忘,是執持義。
(Sớ:
Tự tánh chẳng phải nhớ, chẳng phải quên,
chính là ư nghĩa “chấp tŕ”).
“Tự tánh” là Chân Như bản
tánh. Trong Chân Như bản tánh, chẳng có Ức, chẳng
có Vong. Ức và Vong là đối lập: Ức niệm (nghĩ
nhớ) bèn chẳng quên. Đă quên bẵng sẽ chẳng có
nghĩ nhớ. Hai điều ấy là đối lập.
Đối lập là hai pháp, Lục Tổ nói: “Hai pháp chẳng phải là Phật
pháp”. Phật pháp như Lục Tổ đă nói là ǵ? Phật
pháp là Chân Như bản tánh. Trong Chân Như bản tánh, chẳng
lập một pháp, chẳng bỏ một pháp. Đó là
tướng trạng của Tánh Đức. Nếu có thứ
ǵ đối lập, sẽ trái nghịch Tánh Đức, chẳng
phải là tự tánh. Ở đây nói có nhớ, có quên;
nhưng nếu nói theo tự tánh th́ chẳng có nghĩ nhớ,
mà cũng chẳng có quên mất. Đó mới là ư nghĩa “chấp tŕ” thật sự.
(Sớ)
Phi kim, phi tạc, thị thất nhật nghĩa.
(疏)非今非昨,是七日義。
(Sớ: Chẳng phải
nay, chẳng phải xưa, chính là ư nghĩa “bảy ngày”).
“Thất nhật” là nói theo Sự,
bèn có một ngày, hai ngày, ba ngày. Kinh Di Đà nói bảy ngày,
v́ sao chẳng nói sáu ngày, chẳng nói tám ngày, chẳng nói chín
ngày, cứ khăng khăng nói bảy ngày? Nói theo Lư, “bảy” biểu thị sự
viên măn, biểu thị pháp, chẳng phải là một con số.
Nói theo Sự tŕ, bèn coi nó như một con số; nói theo Lư,
nó chẳng phải là một con số, mà nhằm biểu
thị đại viên măn. Bảy do đâu mà có? Bốn phương,
trên, dưới và chính giữa, bèn viên măn. V́ thế, Bảy
tượng trưng cho sự viên măn. “Phi kim, phi tạc”: Chẳng có quá khứ, chẳng
có vị lai th́ mới là viên măn.
(Sớ)
Phi nhất, phi đa, thị nhất tâm nghĩa.
(疏)非一非多,是一心義。
(Sớ:
Chẳng một, chẳng nhiều là ư nghĩa “nhất tâm”).
Nói “một” th́ đối lập
của nó là “nhiều”.
Tương phản của “nhiều” là “một”. Thảy
đều là tương đối, đều là đối
lập, nói cách khác, đều là hai pháp. Hai pháp th́ đức
Phật mới có thể nói được. Hễ là một
pháp, Phật chẳng thể thốt nên lời! Đức
Phật đă h́nh dung trạng huống “nhất pháp” như sau: “Ngôn
ngữ dứt bặt, tâm hành xứ diệt”, ngôn ngữ
bèn thốt chẳng nên lời. Không chỉ là ngôn ngữ chẳng
nói năng ǵ được, mà ngay cả suy nghĩ cũng
chẳng thể được! Điều ǵ cũng chẳng
nghĩ tưởng, hết thảy ư niệm đều dứt
bặt, đều chẳng có, một câu cũng chẳng nói
được, đó mới là Nhất. Hễ động
niệm, hễ mở miệng, cổ nhân bảo là đă rớt
trong hai, ba, thường nói là: “Mở
miệng liền trật, động niệm bèn sai”. Hễ
có nói năng, động niệm, là đă rớt vào hai, ba,
đă chẳng phải là một! Nếu chúng ta chú tâm thấu
hiểu những điều này, sẽ biết những
điều ấy là chánh lư, tức là những đạo
lư hết sức chánh xác, là chân tướng sự thật.
Nay chúng ta chẳng làm được, suốt ngày từ
sáng đến tối luôn dấy vọng tưởng, cho
nên đức Phật dạy chúng ta một phương
pháp rất xảo diệu: Chẳng phải là quư vị
đang dấy vọng tưởng ư? Hễ dấy vọng
tưởng bèn nghĩ tới A Di Đà Phật,
phương pháp này rất nhiệm mầu! Chuyên tưởng
A Di Đà Phật, những vọng tưởng khác đều
buông xuống. Chuyên niệm A Di Đà Phật, những ư niệm
khác cũng đều buông xuống. Dùng một niệm để
đoạn hết thảy vọng niệm, dùng một
tưởng để đoạn hết thảy vọng
tưởng. Tịnh Tông dùng phương pháp này, đó gọi
là Sự tŕ, là Sự nhất tâm bất loạn. Sự tŕ sau
khi đă thuần thục, đă khai ngộ, niệm ấy
cũng trừ sạch, bèn nhập Lư tŕ, công đức viên
măn, thật sự đạt tới nhất tâm bất loạn.
Do vậy có thể biết: Sự tŕ là phương tiện
để tu hành, là giai đoạn tu học thứ nhất.
Chẳng tuân theo thứ tự ấy, không đổ công dốc
sức nơi giai đoạn này, vĩnh viễn chẳng
đạt được minh tâm kiến tánh.
(Sớ)
Phi định, phi loạn, thị bất loạn nghĩa.
(疏)非定非亂,是不亂義。
(Sớ:
Chẳng định, chẳng loạn chính là ư nghĩa “bất
loạn”).
Kinh
nói “nhất tâm bất loạn”,
ư nghĩa thật sự là nói lên điều này. Đoạn
giải thích Xứng Lư này hoàn toàn là cảnh giới Thiền
Tông. Đại sư chú giải bộ kinh này, cuối mỗi
đoạn đều có cách nói Xứng Lư như vậy. Ngài
khổ tâm nhằm dụng ư bảo cho người ta biết
“Thiền, Tịnh bất nhị”.
Niệm Phật là tham Thiền, chỉ là phương thức
khác nhau, nhưng thành tựu chẳng khác ǵ nhau, dụng ư ở
chỗ này!
(Sao)
Bổn vô sanh diệt, hà hữu ức vong.
(鈔)本無生滅,何有憶忘。
(Sao:
Vốn chẳng sanh diệt, có ǵ là quên và nhớ?)
Tự
tánh chẳng có sanh diệt, có ǵ là nhớ và quên? V́ nhớ
và quên là tướng sanh diệt. Bản thể của tự
tánh là bất sanh, bất diệt, làm sao có thể có hiện
tượng này cho được? Hiện tượng ấy
nẩy sanh, hoàn toàn là sanh từ ư thức. Tám thức, năm
mươi mốt Tâm Sở là pháp sanh diệt, có nhớ, có
quên. Do vậy, tám thức là vọng tâm, chẳng phải là
chân tâm. Trong vọng tâm có hiện tượng ấy. Trong
Bách Pháp Minh Môn, cổ đại đức đă quy nạp
hết thảy vạn pháp thành một trăm pháp. Chín
mươi bốn pháp trước gọi là pháp hữu vi.
Sáu pháp cuối gọi là pháp vô vi. Pháp hữu vi có sanh, có diệt,
pháp vô vi chẳng có sanh diệt. Loại thứ nhất
trong pháp hữu vi là Tâm Pháp, tức tám Tâm Vương, gồm
A Lại Da, Mạt Na, Ư Thức, và năm thức trước.
Kế đó là năm mươi mốt Tâm Sở Pháp,
cũng đều là có sanh, có diệt. Tự tánh chẳng
có sanh diệt, tự tánh là pháp vô vi. Trong một trăm
pháp, nó thuộc về pháp cuối cùng, tức là Chân Như
vô vi. Ở đây, chúng ta gọi Chân Như vô vi là “tự tánh”,
bất sanh, bất diệt. Trong ấy, chẳng có nghĩ
nhớ.
(Sao)
Thể tuyệt khứ lai, thùy thành kim tạc.
(鈔)體絕去來,誰成今昨。
(Sao: Thể trọn
chẳng có đến, đi, lấy đâu ra xưa và nay).
“Thể” là nói tới tự tánh,
hoặc bản thể, bản thể là tự tánh. Tự tánh
trọn khắp hết thảy mọi nơi, há có đến
đi? Đến và đi cũng là hai pháp; chẳng có đến
đi th́ mới là thật sự Một! Chẳng có đến
đi, lấy ǵ làm xưa, nay? Ngày hôm qua đă qua, ngày hôm nay
đưa đến, có tướng đến đi. Trên
thực tế, trong tự tánh bản thể chẳng có hiện
tượng này. V́ thế, tướng đến đi
cũng là pháp sanh diệt. Chúng ta gọi điều này là “thời gian”. Trong trăm pháp,
thời gian thuộc loại Bất Tương
Ứng Hành Pháp (Citta-viprayukta-saṃskāra). Nói theo cách hiện thời,
Bất Tương Ứng Hành Pháp là khái niệm trừu
tượng, trọn chẳng phải là sự thật, chỉ
là khái niệm trừu tượng mà thôi.
(Sao)
Nhất diệc bất vi nhất, đa thượng hề
tồn.
(鈔)一亦不為一,多尚奚存。
(Sao: Một cũng chẳng
phải là một, làm sao có nhiều cho được).
“Một” đă chẳng thể
nói được. Nói Một th́ đối lập của
nó là Nhiều! Đă chẳng thể nói Một được,
c̣n lấy đâu ra Nhiều tồn tại? Trước khi
kiến tánh, xác thực là có một, có nhiều, có sanh, có diệt,
có đến, có đi, những điều ấy thảy
đều tồn tại, đều bày ra trước mặt.
Sau khi đă kiến tánh, chúng đều chẳng có. Đấy
là tiêu chuẩn. Hễ có thể lấy ra từng cặp
tương đối, bèn biết là bản thân chúng ta
chưa kiến tánh. Chúng ta c̣n có thị phi, nhân ngă, c̣n có các
thứ phân biệt, chấp trước, [tức là]
chưa kiến tánh. Đối với người kiến
tánh, những thứ ấy hoàn toàn đều chẳng có.
C̣n có một hạng người, ư niệm ǵ cũng chẳng
có, bèn nhập Vô Tưởng Định. Người nhập
Vô Tưởng Định cũng chẳng có phân biệt,
chấp trước, tâm địa thanh tịnh, chẳng
sanh một niệm. Vô Tưởng Định và kiến
tánh có ǵ khác nhau? Nếu xét theo phương diện “chẳng lập một pháp”, Vô
Tưởng Định và kiến tánh rất giống nhau.
Nếu xét theo phương diện “chẳng bỏ một pháp”, hai bên hoàn toàn chẳng
giống nhau! Người kiến tánh thông đạt, hiểu
rơ hết thảy vạn pháp. Người nhập Vô Tưởng
Định, tâm tuy rất thanh tịnh, buông xuống hết
thảy, nhưng điều ǵ cũng chẳng biết!
Người kiến tánh tâm địa thanh tịnh, chẳng
nhiễm mảy trần, đối với quá khứ, hiện
tại, vị lai, cơi này, phương khác, chẳng có ǵ
không hiểu rơ ràng. Nói cách khác, người kiến tánh có
trí huệ viên măn; người Vô Tưởng Định chẳng
có trí huệ. Đó là tướng trạng khác biệt vời
vợi [giữa Vô Tưởng Định và kiến tánh].
(Sao)
Định thả vô định h́nh, loạn tương
an kư?
(鈔)定且無定形,亂將安寄。
(Sao: Định c̣n chẳng
có h́nh trạng nhất định, loạn nương vào
đâu?)
Tương
phản của Định là loạn. Trong Lục Độ
của Bồ Tát, Thiền Định nhằm độ tán
loạn. Định có h́nh tướng như thế nào?
Định chẳng có h́nh tướng. Phàm phu chúng ta nhập
Định bèn có h́nh tướng, ngồi xếp bằng
nh́n vào vách. Chúng ta tạc h́nh tượng Phật, Bồ
Tát ngồi trên đài sen, đó là h́nh tướng nhập Định.
Tự tánh vốn Định thật sự chẳng có h́nh
tướng, như trong kinh Đại Thừa thường
nói: “Na Già thường tại
Định, vô hữu bất định thời” (Bậc
long tượng thường ở trong Định, chẳng
có lúc nào không định). Ngài đi, đứng, ngồi, nằm
đều ở trong Định, chúng ta chẳng nh́n ra
Định ấy. Đấy mới là đại định!
Thủ Lăng Nghiêm Đại Định được
nói trong kinh Thủ Lăng Nghiêm chính là tự tánh vốn định.
Nếu Định chẳng có h́nh tướng, lấy
đâu ra loạn? Định thật sự th́ Định
và loạn là một chuyện, chẳng phải là hai chuyện.
Đấy mới là tánh định.
(Sao)
Như tư hội đắc, chung nhật niệm Phật,
chung nhật niệm tâm.
(鈔)如斯會得,終日念佛,終日念心。
(Sao:
Hiểu như vậy th́ suốt ngày niệm Phật chính
là suốt ngày niệm tâm).
“Chung nhật niệm Phật” (suốt
ngày niệm Phật) là chuyện trong Tịnh Độ
Tông. “Chung nhật niệm tâm” (suốt
ngày niệm tâm) là chuyện trong Thiền Tông. Thiền Tông tham
thoại đầu, quán tâm, đều là niệm tâm. Điều
này cho thấy: Chúng ta niệm Phật và quán tâm, hoặc tham
thoại đầu chẳng khác ǵ cả, là cùng một chuyện.
Hợp Thiền và Tịnh thành một Thể, Tịnh là Tịnh
của Thiền, Thiền là Thiền của Tịnh, là một,
không hai, chỉ là phương pháp tu hành và cách thức khác
nhau. Phương pháp và cách thức của chúng ta dễ
hơn [phương pháp] tham cứu của nhà Thiền.
(Sao)
Chung nhật niệm tâm, chung nhật vô niệm.
(鈔)終日念心,終日無念。
(Sao:
Suốt ngày niệm tâm, suốt ngày vô niệm).
Trong phần chú giải,
đă giảng hai câu này rất rơ ràng, tôi chẳng nói nhiều!
(Sao)
Tức tâm, tức Phật, phi Phật, phi tâm, thị tắc
danh vi chân niệm Phật giả.
(鈔)即心即佛,非佛非心,是則名為真念佛者。
(Sao: Chính là tâm, chính là
Phật, chẳng phải là tâm, chẳng phải là Phật,
do vậy gọi là thật sự niệm Phật).
Chúng
ta chớ nên học điều này. Học rồi chắc
chắn sẽ chẳng thể văng sanh, sẽ thất bại.
Chúng ta vẫn là Sự niệm, thật thà chấp tŕ danh
hiệu cầu sanh Tịnh Độ, đó là đúng. Chẳng
vất vả tham cứu! Trong đoạn này, đại
sư bảo chúng ta: [Cảnh giới chứng đắc của
Tịnh Độ Tông] và cảnh giới thượng
thượng thừa của Thiền Tông bằng nhau. Chúng
ta dùng phương pháp “lập
phương, chấp tướng” để đạt
tới cảnh giới thượng thượng Thiền.
Dụng ư của đoạn này là ở chỗ này!
Kinh
văn giảng đến chỗ này là đă giới thiệu
xong bốn chữ “nhất tâm
bất loạn”. Đoạn này chiếm đến một
phần tám toàn bộ lời văn trong Sớ Sao. Sớ
Sao có tất cả bốn quyển, nhất tâm bất loạn
chiếm mất nửa quyển, tức là nửa quyển
ba. Lại xem tới quyển bốn, đây là quyển cuối
cùng. Kinh văn như sau:
(Kinh)
Kỳ nhân lâm mạng chung thời, A Di Đà Phật, dữ
chư thánh chúng, hiện tại kỳ tiền.
(Sớ) Kỳ nhân, chỉ tŕ danh giả, thừa
thượng đản năng nhất tâm bất loạn,
mạng chung chi thời, Phật tất hiện tiền dă.
(經)其人臨命終時。阿彌陀佛。與諸聖眾。現在其前。
(疏)其人,指持名者,承上但能一心不亂,命終之時,佛必現前也。
(Kinh: Người ấy khi lâm chung, A Di Đà Phật
và các thánh chúng hiện ra trước mặt.
Sớ:
“Người ấy” là nói tới người tŕ danh, nối
tiếp ư trong đoạn kinh văn trước đó: Chỉ
cần có thể nhất tâm bất loạn, khi mạng
chung, Phật ắt hiện tiền).
“Tŕ danh”: Tịnh Tông có ba điều kiện, đây là điều
kiện thứ ba. Điều kiện thứ nhất là “thâm tín” (tin sâu), quyết định
chớ nên hoài nghi. Điều kiện thứ hai là “thiết nguyện” (nguyện
thiết tha), nguyện vọng hết sức khẩn thiết,
mong sanh về Tây Phương, mong thấy Di Đà. Điều
kiện thứ ba là nhất tâm tŕ danh. Đó là ba tư
lương của Tịnh Độ. Nói đến “tư lương” (資糧), rất nhiều
người hiện thời chẳng hiểu, chúng tôi nói [ba
tư lương] là ba điều kiện để
được văng sanh Tịnh Độ. Ba điều kiện
ấy, hễ thiếu một sẽ chẳng thể văng
sanh. Đă nói tới tŕ danh, đương nhiên là trọn
đủ hai điều kiện trước đó. V́ sao? Đă
tin, chưa chắc đă muốn văng sanh. Muốn văng sanh,
chưa chắc đă chịu niệm Phật. Đă niệm
Phật th́ đương nhiên là có tín, có nguyện. Do vậy,
hễ nói tới tŕ danh, bèn trọn đủ ba điều
kiện “tín, nguyện, tŕ danh”.
“Thừa thượng” (承上) là tiếp theo ư
của đoạn kinh văn trong phần trước.
Trong đoạn kinh văn trước đó đă nói tới
nhất tâm bất loạn. “Đản
năng nhất tâm bất loạn”, [nghĩa là] chỉ cần
có thể đắc nhất tâm bất loạn. Nhất tâm
bất loạn ở đây bao gồm Sự nhất tâm và
Lư nhất tâm, tức là “công phu
tŕ danh cạn hay sâu” như Ngẫu Ích đại sư đă
nói. Công phu sâu là Lư nhất tâm, công phu cạn là Sự nhất
tâm. Trong đạo tràng, thông thường chúng ta cũng nói
tới công phu thành phiến. Công phu thành phiến là cảnh
giới ǵ? Là Sự nhất tâm ở mức độ nông
cạn, chẳng sâu. Nhất tâm cạn hay sâu, nói thật ra,
sai khác rất lớn. Nói tới Lư nhất tâm th́ Lư nhất
tâm là đă minh tâm kiến tánh. Nói theo Viên Giáo, Sơ Trụ
Bồ Tát trong Viên Giáo phá một phẩm vô minh, thấy một
phần chân tánh, đó là Lư nhất tâm. Vô minh có bốn
mươi mốt phẩm, bốn mươi phẩm vô
minh đều phá sạch, bèn đạt đến Đẳng
Giác Bồ Tát, Đẳng Giác Bồ Tát vẫn là Lư nhất
tâm. Nói cách khác, trong Lư nhất tâm chia thành bốn mươi
mốt đẳng cấp. Đó là đẳng cấp cạn
hay sâu sai khác. Sự sai biệt trong Lư nhất tâm rất lớn,
Sơ Trụ của Viên Giáo là Lư nhất tâm, Đẳng
Giác Bồ Tát cũng là Lư nhất tâm. Sự nhất tâm
cũng chẳng phải là ngoại lệ. Nói theo Tiểu
Thừa, từ Sơ Quả tới Tứ Quả đều
thuộc về Sự nhất tâm. Chưa đạt
được Sơ Quả, trước Sơ Quả bèn gọi
là Sơ Quả Hướng, [hàm ư] hướng theo
phương hướng của Sơ Quả, chưa đạt
tới Sơ Quả. “Công phu
thành phiến” như chúng ta thường nói thuộc vào
địa vị này. Có chứng đắc Sơ Quả
hay chưa? Chẳng có! V́ chứng đắc Sơ Quả
là đă đoạn sạch tám mươi tám phẩm Kiến
Hoặc trong tam giới, chúng ta chưa đoạn! Chúng ta
chỉ là công phu đắc lực nơi một câu Phật
hiệu, “đắc lực”
là đă chế phục các phiền năo ấy. Phiền năo vẫn
c̣n, tạm thời chúng nó chẳng khởi tác dụng, tâm
địa đạt được tương tự
thanh tịnh. Đó gọi là “công
phu thành phiến”.
“Mạng chung chi thời, Phật
tất hiện tiền” (Khi lâm chung, Phật ắt hiện
tiền): Phật đến tiếp dẫn là bổn nguyện
của Phật. Ngài đă từng phát lời thề này, lập
nguyện này; nếu Ngài chẳng đến tiếp dẫn,
sẽ trái nghịch bổn nguyện. Do vậy, Phật nhất
định đến tiếp dẫn. Có những kẻ hoài
nghi, người niệm Phật trên thế giới quá đông!
Lại nghe nói không chỉ là thế giới này niệm Phật,
mà người niệm Phật trong mười
phương vô lượng vô biên chư Phật thế giới
đông đảo ngần ấy, A Di Đà Phật đến
tiếp dẫn từng người một, há Ngài có lắm
thời gian dường ấy? Cho đến lúc ấy có
thể quên mất ta hay chăng? Người ôm mối nghi
hoặc ấy rất nhiều, tôi thường gặp lắm!
Cứ ngỡ đầu óc Phật chẳng khác chúng ta cho mấy,
rất dễ quên mất chuyện này việc nọ! Coi Phật
như phàm phu, cứ ngỡ Ngài chẳng khác ta cho mấy, tội
lỗi ấy rất to! Trí huệ, thần thông và đạo
lực của Phật viên măn, Pháp Thân của Phật tận
hư không khắp pháp giới. Mười phương vô
lượng vô biên chúng sanh, bất cứ một chúng sanh nào
có cảm, Phật lập tức có ứng, cảm ứng đạo
giao chẳng thể nghĩ bàn, quyết định chẳng
sai lầm, quyết định chẳng bỏ sót một
ai! Chúng ta nhất định phải tin tưởng điều
này, chớ nên nghi hoặc. Niệm Phật, khi lâm chung, Phật
nhất định hiện tiền.
Người
phước báo to, thật sự văng sanh. V́ sao? Chúng tôi
đă trông thấy. Người phước báo to, khi lâm
chung, đầu óc sáng suốt, bảo người bên cạnh:
“Phật đă đến, ta trông thấy. Phật đến
tiếp dẫn ta, ta theo Phật ra đi”. Đó là quyết
định văng sanh. Phước báo kém hơn, nghiệp
chướng nặng hơn, khi lâm chung, người ấy
bị bệnh khổ. Phật đến tiếp dẫn, người
ấy trông thấy, cũng muốn nói cho người nhà biết,
miệng mấp máy, muốn nói mà chẳng thốt ra tiếng,
miệng máy động là muốn bảo người nhà: “Ta
thấy Phật đến tiếp dẫn ta”. Thường
là khi chúng ta trợ niệm, dường như thấy
người ấy mấp máy miệng niệm theo chúng ta.
Thật ra, trong sát-na cuối cùng, người ấy chẳng
phải là niệm Phật, mà là thấy Phật đến
tiếp dẫn, [cố gắng] nói mà chẳng phát ra âm
thanh, những tướng trạng này đều là quyết
định văng sanh. Sợ nhất là trong một sát-na lâm
chung, thần trí chẳng sáng suốt, mê hoặc, điên
đảo, người trong trạng huống ấy, thông
thường là lưu chuyển theo nghiệp, bị nghiệp
lực lôi đi, đó là chuyện rất đáng sợ.
Đây là chuyện thật sự then chốt trong cả một
đời chúng ta, đại sự bậc nhất trong cả
một đời ở ngay trong lúc ấy! Nếu chúng ta muốn
hoàn thành viên măn đại sự bậc nhất này, nhất
định phải hiểu: Trong một đời này,
chúng ta đối với khởi tâm động niệm,
ngôn ngữ, tạo tác phải biết tu phước,
đoạn hết thảy ác, tu hết thảy thiện.
Tu thiện đắc phước báo, quyết định
chẳng hưởng thụ phước báo, lưu lại
phước báo để dùng trong một sát-na lâm chung. Trong
sát-na ấy, chẳng sanh bệnh, biết trước lúc mất,
biết chính ḿnh sẽ ra đi vào hôm nào, ra đi rất tự
tại, ra đi rất tiêu sái, đấy là phước
báo! Người ra đi như vậy, trong hơn bốn
mươi năm nay, chúng tôi thấy rất nhiều tại
Đài Loan. Đài Loan xác thực là phước địa,
là đảo báu! Trong lịch sử Trung Hoa, từ xưa tới
nay, trong một khu vực như vậy, trong ṿng bốn
mươi năm ngắn ngủi, người niệm Phật
văng sanh đông ngần ấy, vẫn là chưa hề nghe
nói tới. Đứng mất, ngồi mất, chẳng
sanh bệnh!
Thành
phố Đài Bắc, vào năm Dân Quốc 51-52 (1962-1963),
Liên Hữu Niệm Phật Đoàn [đặt trụ sở]
tại đường Long Giang. Người sáng lập
Liên Hữu Niệm Phật Đoàn là lăo cư sĩ Lư Tế
Hoa văng sanh, vị này cách chúng ta chẳng quá lâu! Hai vợ chồng
lăo cư sĩ tham gia hội Niệm Phật. Hội Niệm
Phật của họ [cộng tu] theo phương thức
giống như chúng ta thường niệm một cây
hương (một tiếng rưỡi) trong khi đả
Phật Thất. Khi chỉ tĩnh bèn giảng khai thị.
Thông thường, giảng khai thị nửa tiếng. Hôm ấy,
lăo cư sĩ cao hứng giảng khai thị tới một
tiếng rưỡi. Giảng xong, từ tạ mọi
người: “Tôi phải về nhà”. Cụ đă tám
mươi mấy tuổi. Sau khi bước xuống giảng
ṭa, đến pḥng khách nhỏ ở bên cạnh Niệm Phật
Đường, ngồi trên sofa, ngồi xong bèn tịch, đă
văng sanh. Quư vị thấy có tự tại lắm hay không? Về
sau, chúng tôi hỏi ḍ, lăo nhân gia biết trước hai tháng
sẽ ra đi vào ngày nào, cho nên vào ngày nghỉ mỗi tuần
đều đến thăm và chào từ biệt bạn
cũ. Hôm lăo nhân gia văng sanh, cư sĩ Từ Tỉnh Dân
cũng có mặt tận nơi. Hôm đó, ông Từ cũng
tham gia niệm Phật hội. Thuở ấy, ông Từ là
kư giả của báo Tân Sanh (đời sống mới),
đích thân tận mắt thấy chuyện này, hôm sau viết
một bức thư bảo đảm gởi cho tôi, tôi ở
Đài Trung, cho tôi biết niệm Phật văng sanh là thật,
chẳng giả tí nào, ông ta đích thân trông thấy mà!
Phước báo của chúng ta phải dành để hưởng
khi ấy. Hiện thời có phước báo bèn hưởng
hết sạch, lúc lâm chung sẽ chẳng có phước, đúng
là chẳng có phước! Hiện tiền có phước, phước
báo của chúng ta để cho mọi người hưởng,
chính ḿnh chẳng cần hưởng, phước báo của
chúng ta vĩnh viễn c̣n tại đó. Lâm chung biết
trước lúc mất, chẳng ngă bệnh, đứng mất,
ngồi mất, tùy thuộc ư nghĩ của chính ḿnh, đó
là đúng. Đấy mới là người thông minh thật
sự.
(Sớ)
Dĩ tự lực, Phật lực, cảm ứng đạo
giao cố. Như nhị bộ kinh, cập chư kinh trung
thuyết.
(疏)以自力佛力,感應道交故。如二部經,及諸經中說。
(Sớ: Do tự lực
và Phật lực cảm ứng đạo giao, như trong
hai bộ kinh và các kinh đă nói).
Hai
bộ kinh là kinh Vô Lượng Thọ và kinh Quán Vô Lượng
Thọ Phật. trong ấy đều có nói rất rơ ràng.
(Sao)
Tự lực giả, phàm nhân mạng chung, tiền hữu
tương tạ, hậu hữu vị sanh, b́nh sanh thiện
ác, tự nhiên hiện tiền.
(鈔)自力者,凡人命終,前有將謝,後有未生,平生善惡,自然現前。
(Sao: Tự lực là
phàm nhân khi mạng chung, tiền hữu sắp tan, hậu hữu
chưa sanh, những điều thiện ác trong đời
này tự nhiên hiện tiền).
Nếu
chúng ta hơi lưu ư, sẽ có thể thấy hiện
tượng này, đúng là sự thật. Chúng ta thấy
người bệnh nặng, nh́n vào hiện tượng lúc
sắp chết của người ấy, quư vị sẽ
thấy được. Trong thời gian sót lại ấy,
trước khi tắt hơi, “tiền
hữu tương tạ, hậu hữu vị sanh” (tiền
hữu sắp tan, hậu hữu chưa sanh): “Tiền hữu” (前有) là nói tới thần thức của chúng ta
(người Hoa gọi [thần thức] là “linh hồn”) vẫn
chưa rời khỏi thân thể, sắp phải tách ĺa
thân thể. “Tạ” (謝) là rời khỏi, [“tương tạ” là] sắp
phải rời khỏi, nhưng c̣n chưa rời khỏi,
ở trong lúc ấy. “Hậu hữu”
(後有) là đă tách ĺa, đă
rời
khỏi thân thể, chúng ta nói là “sau khi đă chết”. Khi sắp
chết, hăy c̣n chưa chết, trước khi tắt
hơi, “b́nh sanh thiện ác, tự
nhiên hiện tiền”, những việc thiện ác do quư
vị đă tạo trong một đời này, khi ấy thảy
đều hiện tiền. Người thiện tâm,
người b́nh sanh làm chuyện tốt đẹp, sẽ thấy
Phật, Bồ Tát, thấy thiên thần, thấy thụy
tướng rất tốt đẹp. Kẻ chẳng học
Phật bèn thấy chư thiên đến tiếp dẫn,
trông thấy hảo tướng. Khi ác nghiệp hiện tiền,
bèn thấy oán gia trái chủ, những oán gia trái chủ nào vậy?
Kinh Địa Tạng đă nói rất minh bạch, thấy
người nhà quyến thuộc của quư vị, đều
là những người đă chết, hoặc thấy tổ
phụ, cha mẹ đă qua đời, hoặc thấy những
hiện tượng hết sức kinh sợ, vậy là chẳng
tốt đẹp! Những người nhà quyến thuộc
ấy là thật hay giả? Trong kinh Địa Tạng,
đức Phật đă dạy chúng ta: Đó là giả, chẳng
thật. Sau khi chúng ta đă chết, người nhà quyến
thuộc ở trong quỷ đạo cũng chẳng thể
đến tiếp dẫn chúng ta, ngàn muôn phần đừng
lầm lẫn! Những người đó là ai? Oán gia trái
chủ! Nếu họ dùng bộ mặt thật của chính
họ để đến, quư vị trông thấy sẽ sợ
hăi, sẽ chẳng theo họ! Họ biến thành h́nh dạng
người nhà quyến thuộc của quư vị để
dụ dỗ, mê hoặc quư vị, quư vị bèn đi theo họ.
Khi họ chuyển lại mặt thật, oán gia đối
đầu sẽ tính toán nợ nần với chúng ta.
Đó gọi là “thiếu mạng
phải đền mạng, thiếu nợ phải đền
tiền”. Họ đến báo thù quư vị. Khi ấy,
nghiệp báo thiện ác hiện tiền, sẽ là hiện
tượng hết sức đáng sợ. Dưới
đây là nêu thí dụ.
(Sao)
Như Thập Ác, Ngũ Nghịch, địa ngục hiện
tiền.
(鈔)如十惡五逆,地獄現前。
(Sao:
Như [phạm tội] Thập Ác, Ngũ Nghịch, địa
ngục hiện tiền).
Tạo
ác nghiệp quá nặng; khi ấy, sẽ thấy tướng
địa ngục. Thấy ngưu đầu mă diện, thấy
núi đao, vạc dầu, thấy những tướng ấy.
(Sao)
Xan, tham, tật đố, ngạ quỷ hiện tiền.
(鈔)慳貪嫉妒,餓鬼現前。
(Sao:
[Phạm thói] keo kiệt, tham lam, ganh tỵ, ngạ quỷ
hiện tiền).
Đại
khái là trông thấy người nhà, quyến thuộc biến
hiện. Khi loại này biến hiện, quá nửa là rớt
vào trong ngạ quỷ đạo. Trong ngạ quỷ đạo,
họ cũng trước hết phải tính sổ với
quư vị, trước hết [quư vị] phải tiếp
nhận sự báo thù của oán gia trái chủ. Đấy là
quả báo trong ác đạo hiện tiền.
(Sao)
Năi chí Ngũ Giới, Thập Thiện, nhân thiên hiện tiền.
(鈔)乃至五戒十善,人天現前。
(Sao: Cho đến năm
giới, mười thiện, nhân thiên hiện tiền).
Đây
là người chẳng niệm Phật, tu phước,
tích đức, thiện tâm, thiện hạnh, quả báo trong
đời sau thuộc vào đường nhân, thiên. Đại
phước báo, sẽ lên cơi trời hưởng thiên phước.
Người ấy có thể sanh lên cơi trời cao nhất
là Đao Lợi Thiên. V́ sao? Cậy vào tu thiện, tích đức,
sanh thiên bằng phước báo. Do phước báo sanh thiên
th́ sanh trong hai tầng trời Tứ Thiên Vương Thiên
và Đao Lợi Thiên. Lên cao hơn, chỉ cậy vào phước
báo sẽ chưa đủ, c̣n phải có thêm công phu định
lực. Người ấy đă từng tu hành, từng tu
Định, nhưng do tu Định chẳng thành, [nên sanh
trong Dục Giới]. Nếu tu Định thành công, sẽ
sanh lên Sắc Giới Thiên, chẳng ở trong Dục Giới.
Do Định chưa tu thành, tùy thuộc công phu định
lực sâu hay cạn: Công phu cạn sanh vào Dạ Ma Thiên. Sâu
hơn một chút, sanh vào Đâu Suất Thiên, lên cao hơn nữa
là Hóa Lạc Thiên, Tha Hóa Tự Tại Thiên, đều là chưa
đắc Định, tu Định chưa thành công. Tu Định
thành công, sẽ sanh lên Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam
Thiền, Tứ Thiền, đạt tới Sắc Giới
Thiên. Những nhân quả này chúng ta đều phải hiểu
rơ ràng, rành rẽ. Do vậy, người ấy lâm chung thấy
người hoặc trời đến đón tiếp, đó
là hưởng phước báo trong nhân, thiên.
(Sao)
Kim chuyên niệm Phật, nhất tâm bất loạn, tắc
tịnh niệm thành tựu.
(鈔)今專念佛,一心不亂,則淨念成就。
(Sao:
Nay chuyên niệm Phật, nhất tâm bất loạn, tịnh
niệm thành tựu).
Đời
này chúng ta hết sức may mắn, gặp gỡ Đại
Thừa Phật pháp, gặp được đại pháp
thù thắng nhất của Đại Thừa, tín nguyện
tŕ danh, công phu thành tựu. “Nhất
tâm bất loạn” ở đây bao gồm công phu thành phiến.
Công phu thành phiến là nhất tâm bất loạn thuộc mức
độ nông cạn nhất, là tương tự nhất
tâm bất loạn, chẳng thật. Tương tự là
được rồi, có thể văng sanh. Điều này hoàn
toàn phải bồi dưỡng, tu hành trong cuộc sống
hằng ngày. Tu hành là sửa đổi những hành vi sai lầm
của chúng ta. Ở đây, hành vi sai lầm được
nói tới chính là ác nghịch (Thập Ác, Ngũ Nghịch),
keo kiệt, tham lam, ganh tỵ, thị phi, nhân ngă, đều
chẳng b́nh thường. Đó đều là những tập
khí ác, phải diệt trừ những thứ ấy, vun bồi
thiện tâm, thiện hạnh. Tu hành ngay trong cuộc sống
hằng ngày, tu hành ngay trong ư niệm đối xử với
người, đối xử với sự, đối xử
với vật, đó gọi là tu hành thật sự. Ngàn
muôn phần đừng hiểu lầm tu hành là rất thành
tâm tụng niệm công khóa sáng tối, niệm cho Phật,
Bồ Tát nghe; Phật, Bồ Tát trông thấy sẽ ưa
thích ta, nói “đây là một đồ đệ tốt,
đồ đệ rất ngoan ngoăn”. Tụng niệm công
khóa xong xuôi, tham, sân, ganh tỵ, hết thảy đều dấy
lên, chẳng có lợi ích tí ti nào! Giả trất! Công khóa
sáng tối kiểu đó, tôi đă từng nói rất nhiều
lần: “Tạo tội nghiệp”. Cớ sao gọi là tạo
tội nghiệp? Sáng sớm lừa Phật, Bồ Tát một
lần, buổi tối lại lừa lần nữa. Mỗi
ngày lừa hai lần, lừa suốt một đời,
quư vị hăy ngẫm xem, tiền đồ trong tương
lai sẽ đi về đâu? Trong xă hội Trung Hoa có câu tục
ngữ: “Trước cửa
địa ngục, tăng, đạo đông”. Tăng
là người xuất gia. Tục ngữ nói tới ḥa
thượng và đạo sĩ. Ḥa thượng và đạo
sĩ đều là người tu hành, v́ sao vào địa
ngục? Ḥa thượng lừa Phật, Bồ Tát, đạo
sĩ lừa thần tiên; tạo tội nghiệp nặng
nề như vậy bèn đọa địa ngục. Chúng
ta nhất định phải hiểu điều này. Do vậy,
tu hành chẳng do hai khóa tụng sáng tối, mà là nơi khởi
tâm động niệm trong cuộc sống hằng ngày.
Khóa sáng có dụng ư nhắc nhở chúng ta, chúng ta đọc
những kinh luận ấy, khóa sáng đọc kinh nhằm
nhắc nhở chúng ta: Kinh điển là giáo huấn của
Phật, Bồ Tát. Ngày hôm nay ta xử sự, đăi người,
tiếp vật phải tuân thủ giáo huấn của Phật,
Bồ Tát, đó là công khóa buổi sáng. Khóa tối nhằm
phản tỉnh, sám hối, nghĩ xem ngày hôm nay từ sáng
đến tối, ta có thật sự làm được lời
giáo huấn của Phật, Bồ Tát hay không? Làm được
th́ ngày mai càng nỗ lực. Chẳng làm được,
ngày mai nhất định phải làm. Phải ǵn giữ
thiện hạnh, phải biết sửa đổi ác hạnh.
Đó là tu hành. Nhất định phải hiểu! Chớ
nên lừa ḿnh dối người, đương nhiên càng chớ
nên tự lừa ḿnh, dối gạt Phật, Bồ Tát. Phật,
Bồ Tát chẳng ngự tại đó, đắp h́nh
tượng [các Ngài thờ phụng] ở đây, đối
với tượng thờ mà c̣n nhẫn tâm lừa gạt,
quư vị nghĩ xem hạng người có cái tâm ấy đáng
nên tru lục! V́ thế, người niệm Phật chúng
ta tu điều ǵ? Chính là tu tâm thanh tịnh; tựa đề
của kinh Vô Lượng Thọ đă nêu bày rất rơ ràng:
Thanh tịnh, b́nh đẳng, giác. Khóa tối mỗi ngày,
chúng ta phản tỉnh: Tâm chúng ta có thanh tịnh hơn ngày
hôm qua mấy phần hay không? Có b́nh đẳng hay không? Có
giác ngộ hay không? Mỗi ngày niệm “thanh tịnh, b́nh
đẳng, giác”, mà chẳng học thanh tịnh, b́nh đẳng,
giác, đó gọi là niệm uổng công, niệm vô dụng.
Cổ nhân nói: “Gào toạc cổ
họng vẫn uổng công”, chẳng làm được!
Biết mà không thể hành th́ cũng như chẳng biết!
Nhất định phải thật thà thực hiện,
như vậy th́ cái tâm thanh tịnh của chúng ta sẽ thành
tựu.
(Sao)
Tắc tịnh niệm thành tựu, thanh tịnh tâm trung,
ninh bất Phật hiện tiền hồ?
(鈔)則淨念成就,清淨心中,寧不佛現前乎。
(Sao:
Tịnh niệm thành tựu, trong tâm thanh tịnh, lẽ nào
Phật chẳng hiện tiền ư?)
Trong
cái tâm thanh tịnh, chẳng có giới hạn, chẳng có
phân biệt, chẳng có chấp trước, chẳng có
hoài nghi. Khi ấy, tâm bèn hoàn toàn tương ứng với
tâm Phật. Tâm Phật thanh tịnh, chẳng có hoài nghi, chẳng
có vọng tưởng, chẳng có phân biệt, chẳng có chấp
trước, tâm chúng ta cũng chẳng có, đó gọi là cảm
ứng đạo giao. Tâm chúng ta có cảm, tâm Phật bèn có
ứng. Chúng ta một niệm cầu sanh, Tịnh Độ
của Phật lập tức hiện tiền, đó là “hiện tại kỳ tiền”.
Do vậy, đây là thật, chẳng giả.
(Sao)
Lăng Nghiêm vân: “Ức Phật, niệm Phật, hiện
tiền, đương lai tất định kiến Phật”,
thị dă.
(鈔)楞嚴云:憶佛念佛,現前當來必定見佛。是也。
(Sao: Kinh Lăng Nghiêm
nói: “Nhớ Phật, niệm Phật, hiện tiền,
tương lai, nhất định thấy Phật”, chính
là ư này).
Đây
là hai câu khai thị quan trọng nhất trong Đại Thế
Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương. “Ức” là trong tâm nghĩ nhớ,
“niệm” là trong tâm có. Trong Lục
Thư[4],
chữ Niệm (念) thuộc loại Hội Ư, phía trên
là chữ Kim (今), phía dưới là chữ Tâm (心), tức “kim tâm” (cái tâm hiện tại),
trong cái tâm hiện tại bèn thật sự có, đó là Niệm,
chẳng phải là miệng niệm. Miệng niệm, mà
trong tâm chẳng có, không gọi là niệm Phật. Trong tâm
thật sự có, miệng chẳng niệm, vẫn gọi
là niệm Phật. Ở đây, “ức
Phật, niệm Phật”, chẳng nói là miệng niệm,
đều là trong tâm thường nghĩ tưởng.
Thường nghĩ tưởng, đó là Ức. Trong tâm thật
sự có, đó là Niệm. Như vậy th́ tịnh nghiệp
rất dễ dàng thành tựu, sẽ có cảm ứng. “Hiện tiền” là nói chúng ta
trong hiện tại, duyên của mỗi người khác
nhau. Nếu duyên đặc biệt thù thắng, Phật hiện
đang ở trước mặt chúng ta, chúng ta thấy rơ
ràng, rành rẽ, mở mắt thấy Phật hiện đang
ở trước mặt, “hiện
tiền thấy Phật”. Kém hơn một bậc là
trong Định, giống như khi chúng ta chỉ tĩnh
trong lúc niệm Phật, khi tĩnh tọa, nhắm mắt,
chẳng mở mắt, Phật hiện tiền, rành mạch,
rơ ràng, đó là “định
trung kiến Phật” (trong Định thấy Phật).
Loại thứ ba là “mộng
trung kiến Phật” (trong mộng thấy Phật), những
điều này đều là “hiện
tiền kiến Phật”. Hiện tiền c̣n có loại
thứ tư là khi văng sanh, khi hơi thở chưa dứt,
người ấy c̣n có thể nói năng. Người c̣n
có thể nói năng, đương nhiên là người sống!
Thấy Phật hiện đến, khi ấy là “hiện tiền kiến Phật”,
thấy Phật đến, theo Phật ra đi, chẳng cần
thân thể này nữa, buông bỏ!
A Di Đà Kinh Sớ Sao
Diễn Nghĩa
Phần 123
hết
[1] Thiền sư Không Cốc Cảnh Long,
húy Cảnh Long, tự Tổ Đ́nh, hiệu Không Cốc,
họ ngoài đời là Trần, quê ở Nguyên Sơn,
Động Đ́nh, Cô Tô. Từ bé, Sư đă ăn chay,
thích ngồi xếp bằng tĩnh tọa. Về sau,
Sư y chỉ ḥa thượng Bạch Liên Lăn Vân để
học Thiền. Tuy chưa xuất gia, Ngài đă thông
đạt thâm sâu lẽ Thiền. Sau đó, Ngài xuất gia
tại núi Hổ Khâu. Về sau, Sư thọ đại
giới tại chùa Chiêu Khánh, Hàng Châu, chuyên tu Thiền. Sau
đó, có ngộ, tŕnh lên ngài Lăn Vân, được ấn
khả, được phó pháp đời thứ hai
mươi bốn của tông Lâm Tế. Sư có
trước tác bộ Không Cốc Tập gồm ba
mươi quyển.
[2] Vị này quá thật thà đến
nỗi ngốc nghếch. Tại miền Bắc Trung Hoa,
khi chuyển từ mùa Đông sang mùa Xuân, hoặc từ Xuân
sang Hạ, đồ đạc dễ bị ẩm
mốc; do đó người ta thường đem mền,
đệm, quần áo, màn cửa ra phơi nắng cho
khỏi bị mốc. Có người đùa bỡn bảo
Sư: “Nến không phơi cũng bị mốc”, Sư
tưởng thật, đem nến ra phơi, sáp bị
chảy hết, chỉ c̣n tim đèn!
[3] Bản khắc kinh này đă có rất
lâu đời, được khắc trên bia đá tại
chùa Long Hưng, do Triêu Tán Lang Trần Nhân Lăng viết vào
đời Tùy, nét chữ cực đẹp, ai nấy
đều ưa thích. Ngài Linh Chi Nguyên Hiểu khi có
được bản rập của bản kinh này,
hết sức trân quư, nhờ người khắc vào đá
dựng trong chùa Linh Chi Sùng Phước tại Tiền
Đường, nhưng tấm bia ấy đă bị
hủy hoại trong chiến tranh. Tương Dương
là một địa danh nổi tiếng trong lịch
sử Trung Hoa, nằm ở phía Nam sông Tương (chi
lưu chính của sông Dương Tử) là nơi hợp
lưu của Hán Thủy, Đan Giang và Tích Thủy. Đây
là nơi đă xảy ra cuộc chiến lớn giữa
Tôn Kiên và Lưu Biểu thời Tam Quốc. Do vị trí
chiến lược, nơi này đă xảy ra cuộc
tấn công dữ dội của quân Mông Cổ kéo dài
suốt sáu năm (1267-1273) trong nỗ lực tiêu diệt
nhà Nam Tống.
[4] Lục Thư: Sáu cách cấu tạo
chữ Hán, tức tượng h́nh, chỉ sự, hội
ư, h́nh thanh, chuyển chú và giả tá.