A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

阿彌陀經疏鈔演義

Phần 124

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và Đức Phong

Tập 247

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang bốn trăm tám mươi tư:

 

      (Sao) Phật lực giả, Đại Bổn Pháp Tạng nguyện vân: “Ngă tác Phật thời, thập phương vô ương số thế giới, chư thiên, nhân dân, hữu phát Bồ Đề tâm, tu chư công đức, nguyện sanh ngă sát, lâm thọ chung thời, ngă dữ đại chúng hiện kỳ nhân tiền”. Tam Bối Văng Sanh trung hựu vân: “Kỳ nhân mạng dục chung thời, Phật dữ thánh chúng, tất lai nghênh trí”. Quán Kinh cửu phẩm, hoặc ngôn “A Di Đà Phật chí hành giả tiền”, hoặc vân “chí kỳ nhân sở”, giai hiện tiền ư dă.

()佛力者,大本法藏願云:我作佛時,十方無央數世界,諸天人民,有發菩提心,修諸功德,願生我剎,臨壽終時,我與大眾現其人前。三輩往生中又云:其人命欲終時,佛與聖眾,悉來迎致。觀經九品,或言阿彌陀佛至行者前,或云至其人所,皆現前意也。

(Sao: “Phật lực”: Trong kinh Đại Bổn, ngài Pháp Tạng nguyện rằng: “Khi ta thành Phật, chư thiên, nhân dân trong mười phương vô ương số thế giới, có người phát tâm Bồ Đề, tu các công đức, nguyện sanh về cơi ta, khi lâm chung, ta và đại chúng hiện trước người ấy”. Trong phần Ba Bậc Văng Sanh lại nói: “Khi người ấy lâm chung, Phật và thánh chúng đều đến đón tiếp”. Phần chín phẩm trong Quán Kinh hoặc nói “A Di Đà Phật tới trước hành giả”, hoặc nói “tới chỗ người ấy”, đều là ư nghĩa “hiện tiền” vậy).

 

       Trong đoạn Sao này, đại sư giải thích Tự Lực và Phật Lực. Trong phần trước đă nói về Tự Lực, tiếp theo đó bèn giảng rơ về Phật Lực. “Phật” là A Di Đà Phật. Ở đây, chúng ta ắt cần phải biết, phải hiểu rơ, th́ mới có thể trân quư nhân duyên hết sức tốt đẹp trong một đời này. Hết thảy chúng sanh từ vô thỉ kiếp tới nay, sanh tử luân hồi là chuyện đáng buồn nhất, là chuyện đau đớn nhất, thê thảm nhất, mà cũng là chuyện đáng hổ thẹn nhất. Tuy trong quá khứ, chúng ta cũng đă đời đời kiếp kiếp học Phật, niệm Phật, nhưng đều chẳng thể thành công, cũng có nghĩa là chúng ta chẳng thể vượt thoát luân hồi, nguyên nhân rốt ráo là ǵ? Trước hết, chúng ta phải hiểu: Do đâu mà có luân hồi? Trong kinh luận, đức Phật đă dạy rất minh bạch: Luân hồi do nghiệp lực biến hiện. “Nghiệp lực” là nói tới Kiến Tư phiền năo; do vậy, đoạn Kiến Tư phiền năo bèn vượt thoát luân hồi. Kinh luận cho chúng ta biết: Thánh giả Tiểu Thừa chứng đắc Tứ Quả La Hán, đoạn hết Kiến Tư phiền năo, thoát khỏi luân hồi. Nói cách khác, chúng ta đời đời kiếp kiếp tu hành nhưng đều chẳng thể đạt tới tiêu chuẩn ấy. Đời này tuy được làm thân người, lại c̣n gặp gỡ Phật pháp, hết thảy đều phải làm lại từ đầu. Hăy thử hỏi đời này có năng lực đoạn phiền năo hay không? Đoạn phiền năo cần có Định Huệ kha khá, đó là [xét theo] các pháp môn theo đường lối thông thường. Chúng ta chẳng có công phu định lực sâu như thế, đoạn một phẩm phiền năo chẳng xong. Nói cách khác, tu học các pháp môn khác sẽ gặp khó khăn, hết sức khó khăn. Pháp môn Tịnh Tông thuận tiện nhất trong hết thảy các pháp môn, mà cũng là thù thắng nhất, v́ nó chẳng cần đoạn phiền năo, chỉ cần chế phục phiền năo là được rồi. Chế phục phiền năo th́ mỗi người chúng ta nếu thật sự chịu dụng công đều có thể làm được. Đoạn phiền năo th́ không nhất định, khó lắm! Nhưng quư vị phải chịu chế phục th́ mới được! V́ sao chế phục phiền năo có thể vượt thoát luân hồi? Do bổn nguyện và oai thần của A Di Đà Phật gia tŕ, tiếp dẫn chúng ta văng sanh; do vậy, pháp môn này được gọi là “nhị lực pháp môn”. Bản thân chúng ta có đủ những điều kiện ấy, A Di Đà Phật bèn lôi kéo, dẫn dắt chúng ta văng sanh, nguyên nhân là như thế đó. Pháp môn này tuy dễ dàng, đơn giản, nhưng nhất định là phải trọn đủ tín nguyện. Trong phần trước đă nói sức mạnh của chính ḿnh là tín nguyện, sức mạnh của Phật Di Đà là tiếp dẫn. Chúng ta có tín tâm hết sức thanh tịnh, có nguyện vọng văng sanh thế giới Cực Lạc mạnh mẽ, đó gọi là “tin sâu, nguyện thiết”, sức mạnh tín nguyện ấy nhất định phải vượt trỗi nghiệp lực, quư vị quyết định văng sanh. Do vậy, chúng ta thấy có rất nhiều người niệm Phật, thời gian niệm Phật chẳng nhất định là rất lâu, đương nhiên chúng ta thấy có người niệm vài chục năm, [có kẻ] niệm ba năm, năm năm, cũng thấy có người niệm mấy tháng, đều có thể đứng văng sanh, ngồi văng sanh, biết trước lúc mất, thậm chí c̣n có người [chỉ niệm Phật] vài ngày, phù hợp với điều được nói trong kinh này: “Hoặc một ngày cho đến bảy ngày”. Bảy ngày có thể văng sanh, do nguyên nhân nào? Do tín nguyện vô cùng mạnh mẽ! Trong Yếu Giải, Ngẫu Ích đại sư đă nói: “Có thể văng sanh hay không hoàn toàn do có tín nguyện hay không”. Tin sâu nguyện thiết bèn quyết định được văng sanh! Sức mạnh gia tŕ và oai thần của Phật Di Đà hết sức rơ rệt, phân minh, rành rẽ. Phẩm vị văng sanh trong thế giới Tây Phương tùy thuộc công phu niệm Phật của chúng ta cạn hay sâu, tức là phải nói tới niệm lực. Trong phần sau, chúng tôi sẽ bàn đến.

      Đoạn này trích dẫn kinh văn từ kinh Vô Lượng Thọ và Quán Kinh để chứng minh: Khi người niệm Phật văng sanh, đức Phật nhất định đến tiếp dẫn. Khi Phật đến tiếp dẫn, chính là “hiện tiền kiến Phật” (thấy Phật trong hiện tại). V́ sao? Người ấy vẫn chưa chết, c̣n sống nhăn! C̣n sống mà thấy Phật đến tiếp dẫn người ấy, theo Phật ra đi như thế đó. Thông thường, nói đến “hiện tiền thấy Phật” th́ có ba loại trạng huống:

1) Có một loại là thấy trong Định. Thường thấy nhất là khi chúng ta chỉ tĩnh trong lúc niệm Phật, hoặc là niệm một ḿnh, hoặc niệm Phật cùng với đại chúng, giống như lúc chỉ tĩnh trong Phật Thất, thấy Phật khi ấy th́ đều thuộc về “Định trung kiến Phật” (thấy Phật trong Định).

2) Loại kế tiếp là thấy Phật trong giấc mộng khi ngủ, loại này được coi như “hiện tiền kiến Phật”.

3) [Loại thứ ba là] lâm chung, Phật đến tiếp dẫn. Người phước báo to lớn, tự ḿnh biết sẽ mất ngày nào, chẳng ngă bệnh, tỉnh táo, sáng suốt. Do vậy, trong kinh luận, chư Phật, chư tổ sư thường khuyên dạy chúng ta hăy tu phước, tu phước nhưng đừng hưởng phước. Quư vị tu được một tí phước báo, hưởng hết sạch trong cuộc sống hằng ngày, sẽ chẳng có phước, khi lâm chung phải ngă bệnh. Khi bệnh nặng bèn mê hoặc, điên đảo, bất tỉnh nhân sự, vậy th́ khó lắm; khi ấy, Phật chẳng gia tŕ được! Phật có thể gia tŕ quư vị th́ nhất định là thần trí của quư vị phải hết sức tỉnh táo, chẳng điên đảo th́ Phật Lực mới gia tŕ được. Đến lúc đó, hễ mê hoặc, điên đảo, thậm chí người nhà, quyến thuộc đều chẳng nhận ra, chắc chắn là khi ấy Phật chẳng thể gia tŕ được. Người ấy nhất định lưu chuyển theo nghiệp, đó là chuyện đáng sợ nhất, mà cũng là chuyện kinh hăi nhất. Do vậy, một sát-na lâm chung đúng là “sanh tử sự đại” (sanh tử là chuyện lớn).

      Chư vị nhất định phải hiểu: Trong một đời này, thời gian mấy chục năm, chỉ một sát-na đă qua mất rồi, thời gian rất ngắn ngủi! Hễ luân hồi, phải sanh trong đường khác, thời gian [thọ sanh trong ấy] rất dài. Thọ mạng của ngạ quỷ đạo rất dài, một ngày trong ngạ quỷ đạo là một tháng trong nhân gian. Nếu cũng dùng một năm ba trăm sáu mươi ngày để tính toán, một năm trong quỷ đạo là ba trăm sáu mươi tháng trong nhân gian! Đối với thọ mạng của họ, đoản mạng cũng sống đến một ngàn năm, quư vị nghĩ xem: Điều này đáng sợ lắm! Cuộc sống trong ngạ quỷ đạo rất khổ, chẳng thấy ánh sáng mặt trời. Trong nhân gian, chúng ta thấy mặt trời, ngạ quỷ đạo vĩnh viễn chẳng thấy mặt trời, trạng huống giống như khi trời âm u. V́ thế, chúng ta gọi nó là “âm gian” (陰間: cơi tối tăm, cơi âm) là có đạo lư. Đừng thấy súc sanh đạo thọ mạng rất ngắn [mà tưởng lầm], hễ đọa trong súc sanh đạo, rất khó thoát khỏi! Súc sanh ngu si, hễ có cái thân ấy, chúng bèn vĩnh viễn ghi nhớ thân đó, chẳng có cách nào thoát ĺa! Trong kinh, đức Phật có nói: Thuở ấy, khi xây pḥng ốc tại tinh xá Kỳ Viên, trên mặt đất có tổ kiến, đức Phật trông thấy bèn cười. Các đệ tử hỏi đức Phật cười ǵ thế? Đức Phật bảo họ: “Các ông xem bọn kiến này, chúng nó làm thân kiến. Bảy đức Phật đă xuất thế rồi mà chúng nó vẫn c̣n làm kiến”. Chẳng phải là kiến có thọ mạng dài như thế, mà là chết đi, lại sanh làm kiến, sanh sanh tử tử đều chẳng ĺa khỏi cái tổ ấy, chấp trước kiên cố! Do vậy, trong súc sanh đạo, rất khó thoát khỏi thân h́nh ấy. Địa ngục đạo lại càng chẳng cần phải nói nữa, rất khổ! Trong [Phật Học Giảng Ṭa] Thập Tứ Giảng, cụ Lư Bỉnh Nam đă bảo: Một ngày trong địa ngục bằng hai ngàn bảy trăm năm trong nhân gian. Người Hoa tự xưng là đă có lịch sử lâu tới năm ngàn năm, trong địa ngục chưa tới hai ngày! Thọ mạng trong địa ngục đúng là vạn vạn năm, chẳng giả tí nào! Quư vị bèn hiểu là đáng sợ lắm! Kinh hoàng lắm! V́ thế, một niệm lúc lâm chung sai lầm sẽ phải đọa trong ba ác đạo, hết sức bất hạnh!

      Như thế nào th́ mới có thể bảo đảm đời sau chúng ta sẽ chắc chắn văng sanh Tây Phương, thấy A Di Đà Phật? Vậy th́ quư vị nhất định phải tu phước. Kinh dạy: “Chẳng thể do chút thiện căn, phước đức, nhân duyên, mà được sanh về cơi ấy”. Tu phước, nói thật ra, người chẳng có phước báo vẫn chẳng tu phước được. V́ sao? Phước báo do kẻ ấy đă tu là giả. Trong Liễu Phàm Tứ Huấn có nói, phước báo có thật, có giả, có thiên (: lệch lạc, chẳng trọn vẹn), có viên (: viên măn). V́ vậy, phải có phước báo, phải có trí huệ, quư vị mới gieo phước điền thật sự. Giống như chúng ta gieo trồng thực vật, trồng nơi cuộc đất ph́ nhiêu, sẽ sanh trưởng xum xuê! Trồng nơi cát đá, ngay cả hạt giống cũng bị hư nát, chẳng thể thâu hoạch. Do vậy, nhất định phải biết phân biệt chân, vọng, tà, chánh, đúng, sai, thiện, ác th́ phước điền mới chân thật. Điều này cần đến trí huệ. Chính ḿnh quyết định chẳng hưởng phước báo, ta có phước bèn nhường cho đại chúng hưởng, để dành phước báo đến lúc lâm chung, khi lâm chung sẽ tỉnh táo, sáng suốt. Giống như năm xưa, lăo cư sĩ Lư Tế Hoa thuộc Niệm Phật Đoàn tại đường Long Giang, thành phố Đài Bắc, biết trước ngày văng sanh hai tháng. Ngày cụ văng sanh bèn giảng kinh A Di Đà cho mọi người suốt một tiếng rưỡi. Sau khi đă nói xong, bèn từ tạ mọi người: “Tôi phải về nhà”, bước xuống bục giảng, ngồi trên ghế sofa văng sanh. Quư vị thấy tự tại lắm! Cụ đă nêu tấm gương tốt nhất cho người niệm Phật chúng ta: Cụ đă tám mươi mấy tuổi, tuổi thọ cũng dài, lúc ra đi tiêu sái dường ấy! Cụ tu như thế nào, chúng ta phải lưu ư điều ấy, phải nên học tập theo. Chính ḿnh hội đủ những điều kiện ấy, khi lâm chung nhất định Phật đến nghênh tiếp. Chớ nên hoài nghi, Phật nhất định đến nghênh tiếp, có đáng tin cậy hay chăng? Ba kinh đều nói như vậy, kinh Di Đà nói như vậy, mà kinh Vô Lượng Thọ cũng nói giống như vậy!

       Trong kinh Vô Lượng Thọ, phần bổn nguyện của A Di Đà Phật có nói như vậy. “Pháp Tạng nguyện” chính là bổn nguyện của A Di Đà Phật: “Ngă tác Phật thời, thập phương vô ương số thế giới” (Khi ta thành Phật, mười phương vô ương số thế giới), “vô ương” (無央) là con số vô lượng. Câu này đă bao quát mười phương tất cả hết thảy thế giới của chư Phật, chẳng sót cơi nào, đương nhiên là thế giới của chúng ta cũng được bao gồm trong bổn nguyện của Phật Di Đà. “Chư thiên nhân dân”: Câu này rất quan trọng, hoàn toàn nói đến phàm phu trong lục đạo, trọn chẳng phải là thánh nhân, chẳng nói là Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác. Có thể thấy thế giới Tây Phương xác thực là v́ bọn phàm phu sanh tử chúng ta mà kiến lập, thánh nhân văng sanh là chuyện kèm thêm! Thiện Đạo đại sư nói theo kiểu này. Ngài nói rất chánh xác, kinh văn dạy như vậy đó. “Hữu phát Bồ Đề tâm, tu chư công đức” (có kẻ phát tâm Bồ Đề, tu các công đức), phát Bồ Đề tâm là tâm thật sự giác ngộ, giác ngộ ǵ vậy? Giác ngộ thế gian này là khổ. Người trong thế gian này rất khổ, nhất tâm nhất ư mong ĺa khỏi thế giới này, chúng ta dời sang một thế giới tốt đẹp hơn, cái tâm ấy là Bồ Đề tâm. Trong Yếu Giải, Ngẫu Ích đại sư đă bảo: “Thật sự phát tâm cầu nguyện văng sanh, tâm ấy là vô thượng Bồ Đề tâm”. Bồ Đề (Bodhi) dịch sang tiếng Hán là “giác ngộ”. Tâm Bồ Đề là thật sự giác ngộ. “Tu chư công đức” (Tu các công đức): Nếu nói theo pháp môn thông thường, công đức là nói tới Giới, Định, Huệ. Nói theo pháp môn Niệm Phật, tín nguyện tŕ danh là công đức. Nhưng bất luận là các tông hay là Tịnh Độ, ắt đều cần phải tu Tam Phước và Lục Ḥa. Đấy là cơ sở của hết thảy Phật pháp, giống như xây nhà: Bất luận quư vị xây nhà theo h́nh thức nào, xây nhà cao hay xây nhà thấp, nhất định phải xây nền móng cho vững. Mọi người đều biết: Người niệm Phật rất đông, người văng sanh rất ít, nguyên nhân ở chỗ nào? Tuyệt đối chẳng phải là họ niệm Phật không nỗ lực, [chẳng phải là do] niệm Phật chẳng dụng công! Chúng ta thấy họ tín nguyện hạnh đều trọn đủ và cũng hết sức nỗ lực tinh tấn, đến cuối cùng chẳng thể văng sanh! Nói thật ra, nguyên nhân là do họ chẳng nghiêm túc tu nơi cơ sở, cơ sở chính là Tam Phước. Chuyên tu Tam Phước mà chẳng có tín nguyện tŕ danh, Tam Phước sẽ biến thành phước báo nhân, thiên, tuyệt đối chẳng đọa trong tam đồ, đời sau hưởng phước báo nhân, thiên. Nếu dùng cơ sở Tam Phước, lại c̣n có tín nguyện tŕ danh, người ấy nhất định văng sanh. Phước đức cộng thêm tín nguyện tŕ danh, phước đức sẽ biến thành công đức. Đó là “tu chư công đức”.

      “Nguyện sanh ngă sát” (Nguyện sanh về cơi ta), [nghĩa là] mong sanh về Tây Phương Tịnh Độ. “Lâm thọ chung thời, ngă dữ đại chúng hiện kỳ nhân tiền” (Khi lâm chung, ta và đại chúng hiện trước người ấy). “Ta” là A Di Đà Phật tự xưng, “đại chúng” là Quán Âm, Thế Chí, c̣n có những người theo Tam Thánh cùng đến nghênh tiếp quư vị. Trong các buổi giảng, chúng tôi đă nói rất nhiều lần: Những người ấy đều là người quen biết của quư vị trong đời quá khứ, hoặc trong đời hiện tại, là người nhà quyến thuộc, hoặc đồng tham đạo hữu của chúng ta. Họ đă văng sanh trước, [hiện thời], duyên của chúng ta chín muồi, họ cũng đến, theo A Di Đà Phật cùng đến tiếp dẫn chúng ta. [Là người quen hoặc thân thuộc] trong đời quá khứ, chúng ta chẳng nhận biết, nhưng khi ấy, mọi người vừa giới thiệu, vừa nói ra, ta đều nhận biết. V́ sao? Năng lực thần thông của quư vị hiện tiền, những chuyện trong đời đời kiếp kiếp quá khứ đều nghĩ tới, đều nhớ tới, vừa thấy liền nhận ra. Trong một đời này, ví như cụ Lư Bỉnh Nam tại Đài Trung Liên Xă đă văng sanh. Khi chúng ta văng sanh, cụ Lư Bỉnh Nam nhất định theo A Di Đà Phật cùng đến tiếp dẫn chúng ta. Chúng ta rất thân thuộc với cụ, cụ nhất định đến tiếp dẫn chúng ta. Tại Đài Loan, hoặc là nơi nào khác, chúng ta nghe người nào đó văng sanh, nghe tên người ấy bèn sanh tâm hoan hỷ, [tức là] có duyên với người ấy, người ấy cũng sẽ theo A Di Đà Phật đến, bảo: “Ta là người nào đó”. Khi ấy, ta mới nhớ tới: “Chúng tôi rất kính phục Ngài”. Như lăo cư sĩ Lư Tế Hoa, rất nhiều người tuy chẳng gặp cụ, nhưng tên tuổi cụ rất thân thuộc, cho đến khi ấy: “Ta là Lư Tế Hoa”, cụ bèn trở thành rất thân thuộc. Người theo A Di Đà Phật tới nghênh tiếp đều là người quen. Điều này cho thấy: Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới sẽ chẳng tịch mịch, chẳng xa lạ, người quen rất nhiều, đồng tham đạo hữu trong đời đời kiếp kiếp, [đó là] chư thượng thiện nhân, những người ấy đều theo Phật đến tiếp dẫn. Đấy là “ngă dữ đại chúng hiện kỳ nhân tiền” (ta và đại chúng hiện trước người ấy). Khi [Phật và thánh chúng] hiện ra trước mặt, chúng ta trông thấy rơ ràng, rành rẽ, trong tâm hiểu rơ, hoan hỷ theo Phật ra đi.

      Do vậy, chư vị nhất định phải ghi nhớ: Văng sanh là ra đi trong khi c̣n sống! Theo Phật ra đi, chẳng cần đến cái đăy da hôi thối này, vứt bỏ! Ra đi như thế đó. Chẳng phải là đă chết rồi mới văng sanh. Do vậy, pháp môn này là pháp môn bất tử, ra đi ngay trong khi c̣n sống. Phước báo to lớn, thần trí tỉnh táo, bảo với đại chúng bên cạnh: “Phật đến rồi, ta đă thấy, ta sẽ theo Ngài ra đi”, người ấy quyết định văng sanh. Phước báo kém hơn một chút, có bệnh khổ, khi bệnh nặng hơn, lúc lâm chung, thân thể hết sức suy yếu, tuy thần trí rất sáng suốt, nói chuyện chẳng phát ra tiếng được. Có rất nhiều đồng tu trợ niệm, thấy người ấy văng sanh trong tiếng niệm Phật, quan sát cặn kẽ, khi người ấy sắp ra đi, miệng máy động, nhưng chẳng có âm thanh. Người ấy khi lâm chung, miệng mấp máy, chẳng phải là niệm Phật, mà là muốn bảo với mọi người: “Phật đă đến, ta sẽ theo Ngài ra đi”, nhưng nói chẳng ra tiếng. Đó là phước báo của người ấy c̣n kém hạng người trước rất xa!

      Nói chung, thời gian trong đời này ngắn ngủi, đối với sự hưởng thụ vật chất và tinh thần, xác thực là chúng ta phải bỏ bớt, tu phước cho nhiều, sẽ thật sự có lợi ích, sẽ có lợi ích thật sự, sẽ có điều tốt đẹp thật sự và to lớn cho quư vị. Tham cầu đôi chút hưởng thụ trước mắt, nói thật ra, sẽ có hại to lớn! Đức Phật thường nói người thế gian điên đảo, chẳng biết đến lợi ích thật sự, nh́n sự việc sai lầm, hoàn toàn thấy điên đảo, chẳng nhận ra lợi ích chân thật, chẳng biết những điều tổn hại thật sự! Chỉ có học Phật, thật sự thông hiểu những giáo huấn chân thật của đức Phật trong kinh điển th́ chúng ta mới có thể giác ngộ lợi ích thật sự là ǵ, tai hại thật sự là ǵ; [do đó] khởi tâm động niệm và hành vi của chúng ta sẽ tự nhiên khác hẳn. Một người thật sự phát Bồ Đề tâm tức là đă thật sự giác ngộ, nhất tâm nhất ư hướng tới Tây Phương Cực Lạc thế giới, trước khi ra đi, thời thời khắc khắc dường như luôn ǵn giữ mối liên hệ mật thiết với A Di Đà Phật, tín tâm mạnh mẽ! Cuộc sống tinh thần vui sướng lắm! Người chân tín, nguyện thiết đạt được [niềm vui sướng ấy]. Đấy là những điều được nói trong bốn mươi tám nguyện.

      Kế đó, trích dẫn những điều được nói trong chương Tam Bối Văng Sanh [của kinh Vô Lượng Thọ]: “Kỳ nhân mạng dục chung thời, Phật dữ thánh chúng tất lai nghênh trí” (Người ấy lúc sắp mất, Phật và thánh chúng đều đến đón tiếp), đến đón tiếp giống như trong phần bổn nguyện đă nói. Trong chương Cửu Phẩm Văng Sanh của kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, phép Quán thứ mười sáu trong mười sáu phép Quán nói về chín phẩm văng sanh: “Hoặc ngôn A Di Đà Phật chí hành giả tiền, hoặc vân chí kỳ nhân sở” (Hoặc nói “tới trước hành giả”, hoặc nói “tới chỗ người ấy”), không chỉ là nói một lần, mà nói rất nhiều lượt. “Giai hiện tiền ư” (Đều là ư nghĩa “hiện tiền”): Những phần kinh văn ấy đều nói đến chuyện thấy Phật trong hiện tiền. Đại Thế Chí Bồ Tát bảo chúng ta: “Hiện tiền, đương lai, tất định kiến Phật” (Trong hiện tại và tương lai, nhất định thấy Phật), những điều được nói ở đây đều thuộc loại “hiện tiền thấy Phật”, đều là nói khi lâm chung Phật đến tiếp dẫn.

 

      (Sao) Ngôn chư kinh giả.

      ()言諸經者。

      (Sao: Nói “các kinh” nghĩa là…).

 

      Trong phần trước đă trích dẫn Tịnh Độ Tam Kinh, ngoài Tịnh Độ Tam Kinh, [các kinh luận khác] có nói [đến chuyện tiếp dẫn] hay không? Có chứ! Các kinh nói kèm theo rất nhiều! Trong quá khứ, người Hoa ít đổ công dốc sức khảo cứu, nhưng người Nhật làm rất nhiều. Người Nhật đă tra cứu trong hết thảy các kinh, tra thấy có gần hai trăm năm mươi hoặc hai trăm sáu mươi loại kinh luận, trong ấy, đức Phật đều có nói đến Tây Phương Tịnh Độ. V́ thế, cổ nhân nói: “Ngàn kinh vạn luận, chỗ nào cũng chỉ quy” chẳng giả, xác thực là sự thật. Dưới đây cũng chỉ nêu mấy thí dụ, chứ nếu mỗi kinh luận đều trích dẫn, sẽ quá nhiều, mà cũng quá rườm rà! Nêu lên mấy thí dụ [như dưới đây]:

 

      (Sao) Xưng Dương Chư Phật Công Đức Kinh vân: “Nhược hữu đắc văn Vô Lượng Thọ Như Lai danh giả, nhất tâm tín nhạo, kỳ nhân mạng chung, A Di Đà Phật dữ chư tỳ-kheo trụ kỳ nhân tiền, ma bất năng hoại bỉ chánh giác tâm”.

      ()稱揚諸佛功德經云:若有得聞無量壽如來名者,一心信樂,其人命終,阿彌陀佛與諸比丘住其人前,魔不能壞彼正覺心。

(Sao: Kinh Xưng Dương Chư Phật Công Đức nói: “Nếu có kẻ được nghe danh hiệu của Vô Lượng Thọ Như Lai, nhất tâm tin ưa, người ấy mạng chung, A Di Đà Phật và các tỳ-kheo ở trước mặt người ấy, ma chẳng thể phá hoại tâm Chánh Giác của người ấy”).

 

      Đây là một đoạn trích từ kinh Xưng Dương Chư Phật Công Đức, nhắc cho chúng ta biết một sự thật, giống như trong kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện đă nói: Người b́nh phàm khi lâm chung, chắc chắn sẽ có ma đến nhiễu loạn. Trừ phi trong đời này, quư vị tu phước đức rất lớn. Do đại phước đức ấy, có thiện thần đến bảo hộ quư vị, ma chẳng thể nhiễu loạn quư vị, quư vị nhất định sanh lên cơi trời. Nếu đời sau sanh làm thân người, cũng là bậc đại phú, đại quư, có thần hộ pháp che chở quư vị. Quư vị thật sự tu đại phước, tích lũy đại đức, nên mới được thiện thần che chở quư vị. Những kẻ b́nh phàm chắc chắn là chẳng được, nhất định sẽ có ma đến nhiễu loạn. Ma là ǵ? Oán thân trái chủ. Khi quư vị được hồng vận cao chiếu[1], họ chẳng có cách nào làm ǵ quư vị được, chẳng dám bén mảng tới bên cạnh quư vị. Khi người sắp chết, vận đă suy, gần như suy đến zero; khi ấy, những oán gia trái chủ đó muốn là suy tính cách báo thù quư vị, có thể t́m đến gây khó dễ. V́ vậy, khi lâm chung, vào lúc ấy, sẽ thấy khá nhiều người nhà quyến thuộc, đều là những kẻ đă chết; khi ấy, quư vị sẽ thấy [như thế]. Chúng ta đến bệnh viện thường nghe người vào lúc thoi thóp [kêu lên]: “Người nào đó đứng ở cửa, người nào đó tiến vào”, toàn nhắc đến người nhà quyến thuộc. Có phải là người nhà quyến thuộc thật sự hay chăng? Chẳng phải! Kinh Địa Tạng đă dạy: Họ chính là oán gia trái chủ biến hiện thành h́nh tướng người nhà, quyến thuộc đến dụ dỗ, mê hoặc, bảo người ấy (người sắp chết) đi theo họ. Sau khi theo đi, sẽ tính toán nợ nần. Nói cách khác, thiếu mạng phải đền mạng, thiếu nợ phải đền tiền, sẽ phải báo đền! Chúng ta đọc kinh Địa Tạng, ít nhiều có thể hiểu rơ đôi chút chân tướng sự thật này. Biết chân tướng sự thật, cái tâm xử sự, đăi người, tiếp vật của chúng ta tự nhiên sẽ có cảnh giác. Phải biết là đối với người khác như thế nào, trong tương lai sẽ có người đối xử với ta y hệt, nhân quả báo ứng chẳng sai sót mảy may. Chúng ta có thể lừa người một lúc nào đó, chẳng thể lừa gạt măi măi! Lừa gạt họ một đời này, sau khi đă chết, quỷ sẽ có Ngũ Thông (năm thứ thần thông), chúng ta chẳng lừa họ được! V́ thế, báo oán là đời đời kiếp kiếp chẳng hết, chẳng xong, quư vị mới biết chuyện này đáng sợ lắm! Người niệm Phật nhất tâm niệm Phật, được chư Phật hộ niệm, có thần hộ pháp che chở; cho nên lâm chung ma chẳng có dịp thuận tiện ra tay. Vận của chúng ta tuy đă suy, nhưng được Phật quang gia tŕ. Chỗ khẩn yếu trong kinh văn là một câu này, điều kiện là “nhất tâm tín nhạo” (một ḷng tin ưa). “Nhất tâm tín” là tin sâu, “nhạo” () là ưa thích, mong được thấy A Di Đà Phật, mong văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, nhất tâm mong mỏi chính là “thiết nguyện” (nguyện thiết tha). Do vậy, câu này chính là tin sâu, nguyện thiết, sẽ được A Di Đà Phật gia tŕ, khi lâm chung Phật và đại chúng đến tiếp dẫn.

 

      (Sao) Hựu Cổ Âm Vương Kinh vân: “Nhược hữu tứ chúng, năng chánh thọ tŕ bỉ Phật danh hiệu, lâm mạng chung thời, A Di Đà Phật, tức dữ đại chúng, trụ kỳ nhân tiền, linh kỳ đắc kiến”.

      ()又鼓音王經云:若有四眾,能正受持彼佛名號,臨命終時,阿彌陀佛,即與大眾,住其人前,令其得見。

(Sao: Kinh Cổ Âm Vương lại nói: “Nếu có tứ chúng có thể chân chánh thọ tŕ danh hiệu đức Phật ấy, khi lâm chung, A Di Đà Phật liền cùng đại chúng trụ trước người ấy, khiến cho người ấy trông thấy”).

 

       “Tứ chúng” (四眾) được nói trong kinh Cổ Âm Vương chính là tại gia nam chúng, tại gia nữ chúng, xuất gia nam chúng, và xuất gia nữ chúng, thật sự phát tâm tu Tịnh Độ. “Năng chánh thọ tŕ” (Có thể chân chánh thọ tŕ), lời tiểu chú [trong sách Diễn Nghĩa] có ghi: “Ly hồ tứ cú, bất tạp dư duyên, thị danh chánh thọ tŕ” (Ĺa khỏi bốn câu[2], chẳng xen tạp các duyên khác th́ gọi là chánh thọ tŕ), kẻ b́nh phàm chúng ta chẳng thể làm được điều này. Chúng ta hạ thấp tiêu chuẩn một chút, kinh Vô Lượng Thọ dạy chúng ta “phát Bồ Đề tâm, một mực chuyên niệm”, kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật dạy chúng ta “nhất tâm hệ niệm”, đó đều là chánh thọ tŕ. Đối với nhất tâm hệ niệm và một mực chuyên niệm, chúng tôi nói rơ ư nghĩa này đôi chút. Trong tâm kẻ b́nh phàm, luôn có những nỗi vướng mắc, những nỗi vướng mắc ấy chính là “hệ niệm” (繫念). Trong thế gian này, có chuyện nào quư vị chẳng buông xuống được? Hết thảy đều có thể buông xuống, nhưng có một chuyện không thể buông xuống, thời thời khắc khắc ghim trong ḷng, đó là “hệ niệm”. Chúng ta đổi chuyện ấy thành A Di Đà Phật là được rồi. Người thế gian thường chẳng thể buông xuống t́nh thân thuộc, không bỏ con cháu được, quư vị hăy đổi [ḷng quyến luyến] con cháu thành [quyến luyến] A Di Đà Phật, đó chính là nhất tâm hệ niệm, là một mực chuyên niệm. Chẳng bỏ tài sản xuống được, quư vị hăy đổi tài sản thành thế giới Cực Lạc, nhất tâm nhất ư vương vấn thế giới Cực Lạc; đó là nhất tâm hệ niệm, hoặc một mực chuyên niệm. Ư nghĩa này liền [trở nên] dễ hiểu. Chư vị phải biết: Hết thảy mọi thứ trong thế gian đều là mây khói trôi qua trước mắt, để cho quư vị ngắm nghía trong thoáng chốc, chẳng có thứ ǵ để có thể đạt được! Đó là sự thật, chẳng có ǵ để quư vị có thể đạt được, kể cả thân thể của chính ḿnh đều chẳng đạt được. Quư vị ban đêm đă ngủ say vùi, người ta khiêng quư vị đi cũng chẳng biết. Đúng hay không? Thân thể này chẳng phải là của chính ḿnh, huống hồ vật ngoài thân! Do vậy, vướng mắc điều ǵ cũng là uổng công nắm níu, chẳng hữu dụng tí ti nào! Quư vị vướng mắc thế giới Cực Lạc, vấn vương A Di Đà Phật, sẽ thật sự hữu dụng. V́ sao? Tới khi mạng chung, A Di Đà Phật thật sự ở trước mặt, tiếp dẫn quư vị. Sanh về thế giới Tây Phương, quư vị đă đọc Tịnh Độ Tam Kinh, đối với sự phú quư hưởng thụ vật chất trong thế giới Tây Phương, [tất cả những hưởng thụ trong thế gian] làm sao có thể sánh bằng? Nay quư vị coi vàng ṛng, đá quư là báu vật vô giá, cất chứa kỹ càng, đeo ở trên thân bèn cảm thấy đẹp đẽ khôn xiết! Trong thế giới Tây Phương, vàng ṛng lót đất, bảy báu là vật dụng để xây dựng giống như xi-măng cốt sắt. [Người trong] Tây Phương Cực Lạc thế giới thấy quư vị đem những thứ ấy đeo giắt khắp người, sẽ cười rụng răng! V́ thế, phải hiểu rơ: Thời gian [sống trong thế gian này] ngắn ngủi, tạm bợ, đừng nên ngu si, mê hoặc như vậy. Những vật ấy là đồ hại người, khiến cho chúng ta tham luyến thế giới Sa Bà, vĩnh viễn chẳng thể xuất ly. Những thứ ấy đều gọi là “ma chướng”, hễ thật sự giác ngộ, sẽ vứt bỏ sạch sành sanh. Đời đời kiếp kiếp trong quá khứ, chúng ta đă bị nó hại, đời này vẫn chịu để nó hại nữa ư? Thấy rơ ràng, thấy minh bạch, bèn thảy đều vứt bỏ, chẳng bị nó hại nữa, đời này chúng ta mới có thể thật sự thoát ly. Người học Phật đông đảo, người nghe kinh cũng thật nhiều, nhưng nghe hiểu, nghe xong bèn hiểu rơ rất ít. Trong một trăm, hai trăm người nghe kinh ở nơi đây, có thể có được hai, ba người hiểu rơ, hai ba người thật sự giác ngộ, chẳng uổng công giảng kinh này! V́ sao? Hai ba người ấy đến thế giới Tây Phương làm Phật. Tuy chẳng nghe hiểu, chẳng thể buông xuống, nhưng cũng có lợi ích nho nhỏ là huân tập một chủng tử trong A Lại Da Thức, đời này chẳng thể thành tựu, đến đời sau, hoặc trong vô lượng kiếp sau, lại có duyên phận gặp gỡ pháp hội này, trở lại! Chỉ đành là như vậy, đó là chuyện chúng ta đă làm đời đời kiếp kiếp trong quá khứ. Đă thật sự giác ngộ, đời này hăy nên vượt thoát, đấy mới là thật sự đáng quư. Chúng ta phải hiểu rơ ràng, minh bạch câu “chánh thọ tŕ” này.

 

      (Sao) Hựu Hoa Nghiêm tứ thập lục kinh vân.

      ()又華嚴四十六經云。

      (Sao: Kinh Hoa Nghiêm, quyển thứ bốn mươi sáu, lại nói).

 

      Trích dẫn quyển bốn mươi sáu của Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh.

 

      (Sao) Như Lai hữu thập chủng Phật sự, nhất giả, nhược hữu chúng sanh chuyên tâm ức niệm, tắc hiện kỳ tiền đẳng.

()如來有十種佛事,一者若有眾生專心憶念,則現其前等。

(Sao: Như Lai có mười thứ Phật sự. Một là nếu có chúng sanh chuyên tâm ức niệm, ắt hiện trước người ấy v.v…).

 

       “Đẳng” () là nói sau đó c̣n có những câu khác, nhưng tỉnh lược[3]. Trong mười thứ Phật sự của Như Lai, thứ nhất là niệm Phật, mới biết pháp môn Niệm Phật được hết thảy chư Phật Như Lai coi trọng, xếp vào hàng đầu. Nếu có chúng sanh chuyên tâm ức niệm, “Phật hiện tiền” cũng có nghĩa là Phật lực gia tŕ, hiện tiền thấy Phật. Hai câu dưới đây là tổng kết.

 

      (Sao) Sở vị “niệm Phật chúng sanh, nhiếp thủ bất xả”, thị dă.

      ()所謂念佛眾生,攝取不捨,是也。

(Sao: Nói “nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật chẳng bỏ” chính là ư này).

 

      Từ hết thảy các kinh luận, đối với chuyện niệm Phật, chúng ta đạt được một kết luận: Quả thật là chư Phật Như Lai chiếu cố chúng sanh niệm Phật chu đáo nhất! Nói theo cách hiện thời, “nhiếp thủ” (攝取) là chiếu cố. Chúng sanh niệm Phật, Phật niệm chúng sanh, kinh Lăng Nghiêm nói “như mẫu ức tử” (như mẹ nhớ con). Phật nghĩ tới chúng sanh chưa hề gián đoạn, chúng sanh niệm Phật có lúc đứt đoạn, có lúc nối tiếp. Nếu cũng có thể giống như Phật nghĩ tới chúng sanh niệm niệm tiếp nối, chẳng gián đoạn, sức mạnh gia tŕ của Phật sẽ viên măn, trong một đời này chúng ta mới thật sự có thể thoát ĺa tam giới, vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi, viên thành Phật đạo.

 

      (Sao) Nhược y Bát Nhă, tắc tự lực phục nhị: Nhất giả, niệm lực, nhị giả bổn hữu Phật tánh lực.

()若依般若,則自力復二:一者念力,二者本有佛性力。

(Sao: Nếu dựa theo Bát Nhă, tự lực lại gồm có hai thứ: Một là niệm lực, hai là Phật tánh lực vốn sẵn có).

 

      Đức Phật nói chuyện này trong hội Bát Nhă. Cách nói này cặn kẽ hơn. Trong phần trước chỉ nói mơ hồ là tự lực, nay tách tự lực thành hai phương diện để quan sát:

1) Một là “niệm lực”, chúng ta phải chú ư chữ Niệm. Chúng ta hằng ngày miệng niệm “nam-mô A Di Đà Phật”, đấy có phải là niệm hay không? Chẳng phải là niệm; mọi người xem kỹ kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật sẽ biết, đó là ǵ? Đó là “xưng danh”. Niệm và xưng danh có sai biệt, niệm là ǵ? Trong tâm quư vị thật sự có, đó là Niệm, chẳng nhất định phải xưng danh. Hoặc là trong tâm nghĩ tới một người nào, hoặc nghĩ tới một chuyện nào đó, bất luận khi nào, trong tâm người ấy luôn có [chuyện ấy, hoặc kẻ đó]. Chữ Niệm thuộc loại Hội Ư [trong Lục Thư], là “kim tâm” (tức là Niệm () gồm Kim () và Tâm () ghép lại), [nghĩa là] cái tâm hiện tại, trong tâm có [chuyện ấy, có ư niệm ấy]. Đó là Niệm. Đấy là điểm sai khác với xưng danh. Nếu quư vị thật sự có niệm, niệm sẽ sanh ra sức mạnh; có thể thấy là niệm ấy sâu xa, chẳng nông cạn. Nếu nông cạn, sẽ chẳng có ấn tượng sâu đậm như vậy. Có ấn tượng sâu đậm, tức là niệm có sức mạnh, quyết định được văng sanh. “Ức Phật, niệm Phật”: “Ức” () là tưởng, có lúc tưởng, có khi chẳng tưởng, c̣n Niệm là chẳng gián đoạn. Ức là đứt nối, Niệm là chẳng gián đoạn. V́ thế, Niệm bèn có sức mạnh. Đó là công phu của người tu Tịnh Độ chúng ta. Tới khi quư vị có niệm lực, công phu niệm Phật bèn thành tựu. Kinh Di Đà nói “nhất tâm bất loạn”, niệm lực là nhất tâm bất loạn, trong tâm người ấy thật sự có.

2) Thứ hai là “bổn hữu Phật tánh lực”, v́ niệm Phật là niệm cho ra Phật Tánh trong Chân Như bản tánh của chính ḿnh. Đó là cái vốn sẵn có. Phật Tánh vốn sẵn có của chúng ta bị phiền năo, vọng tưởng che lấp, từ vô lượng kiếp cho tới nay, Phật tánh chẳng thể hiện tiền. Nay chúng ta dùng niệm lực để niệm cho ra Phật Tánh của chính ḿnh.

Kinh Bát Nhă nói đến hai thứ sức mạnh ấy. [Nay ta đă] có niệm lực, nhưng Phật Tánh lực c̣n chưa hiện tiền, kinh Di Đà gọi t́nh trạng này là Sự nhất tâm bất loạn. Đến khi Phật Tánh lực cũng hiện tiền, chính là Lư nhất tâm bất loạn. Lư nhất tâm, kiến tánh, Phật Tánh lực vốn sẵn có bèn hiện tiền th́ là kiến tánh, đúng như Đại Thế Chí Bồ Tát đă nói: “Chẳng cậy vào phương tiện, tự được tâm khai”. Do sức mạnh ấy hiện tiền, tâm được tự khai.

 

      (Sao) Kiêm dĩ Phật nhiếp thủ lực.

      ()兼以佛攝取力。

      (Sao: Lại kèm thêm sức nhiếp thủ của Phật).

 

      Đấy là Tha Lực, tức là sức mạnh gia tŕ từ bổn nguyện và oai thần của A Di Đà Phật. V́ thế, niệm Phật văng sanh gồm ba thứ lực. Trong phần trước, chúng ta đă nói là [pháp môn Niệm Phật] là pháp môn nhị lực; nói theo kinh Bát Nhă, sẽ biến thành pháp môn tam lực. Do ba thứ sức mạnh này, quư vị chắc chắc được văng sanh.

 

      (Sao) Bổn hữu như châu thuyền.

      ()本有如舟船。

(Sao: [Sức mạnh] vốn sẵn có [trong bản tánh] giống như thuyền ghe).

 

      “Bổn” () là sức mạnh từ bản tánh, giống như một chiếc thuyền.

 

      (Sao) Niệm Phật như phàm tiếp.

      ()念佛如帆楫。

      (Sao: Niệm Phật giống như buồm và mái chèo).

 

      Niệm lực giống như cánh buồm, hoặc mái chèo. Đương nhiên tàu thuyền hiện thời chẳng dùng những thứ này. Nói cách khác, nó giống như động lực, [tức sức mạnh] thúc đẩy khiến cho thuyền chuyển động.

 

      (Sao) Phật nhiếp thủ như tiện phong.

      ()佛攝取如便風。

      (Sao: Sự nhiếp thủ của Phật giống như thuận gió).

 

      Thuận gió, thuận nước, thuyền đi với tốc độ hết sức nhanh chóng.

 

      (Sao) Tam sự châu viên, tất đăng bỉ ngạn hỹ.

     ()三事周圓,必登彼岸矣。

      (Sao: Ba sự đều trọn vẹn, ắt lên được bờ kia).

 

      Đây là nói theo tỷ dụ. Chúng ta trọn đủ niệm lực, Phật Tánh lực, Phật gia tŕ lực, quyết định được sanh về Tịnh Độ.

 

      (Sớ) Phật cập thánh chúng giả, Phật kiêm Báo, Hóa, thánh chúng kiêm Bồ Tát, Thanh Văn đẳng.

      ()佛及聖眾者,佛兼報化,聖眾兼菩薩聲聞等。

      (Sớ: “Phật và thánh chúng”: Phật kiêm Báo Thân và Hóa Thân, thánh chúng bao gồm Bồ Tát và Thanh Văn).

 

      Khi đến nghênh tiếp, chúng ta thấy Phật [như thế nào] th́ cũng phải tùy thuộc công phu của chính ḿnh. Kinh Đại Thừa đă nói rất nhiều, nói rất cặn kẽ, Phật chẳng có tướng nhất định. Phật tướng hiển lộ như thế nào? Chính là “tùy chúng sanh tâm, ứng sở tri lượng” (thuận theo tâm của chúng sanh mà ứng với khả năng nhận biết của họ). Kinh Lăng Nghiêm đă nói thấu triệt: Tùy theo tâm của chính chúng ta mà hiện. Nếu chúng ta niệm Phật đến mức Lư nhất tâm bất loạn, công phu niệm Phật sâu xa, lâm chung sẽ thấy Báo Thân Phật. Phật tướng ấy rất cao lớn, thân tướng của những vị thánh chúng Bồ Tát theo Phật cùng đến nghênh tiếp cũng đều rất cao lớn, giống như đầy ắp khắp hư không. Phẩm vị ấy nhất định là hết sức cao, sanh về cơi Thật Báo Trang Nghiêm. Chúng ta mới vừa có thể chế phục phiền năo, cũng là như chúng ta thường nói “công phu thành phiến”, đó là kẻ có công phu nông cạn, khi văng sanh bèn sanh vào cơi Phàm Thánh Đồng Cư, chúng ta sẽ thấy thân tướng của Phật là kim thân trượng sáu, hoặc là thấy thân tướng cao tám thước. Thân tướng tám thước th́ chiều cao chẳng sai biệt lắm so với người b́nh phàm. Kim thân trượng sáu th́ lớn gấp đôi người b́nh thường. Những người ấy đều văng sanh về cơi Phàm Thánh Đồng Cư, hoặc văng sanh trong cơi Phương Tiện Hữu Dư, nên thấy thân tướng khác nhau. Thân tướng của đại chúng theo Phật cùng đến cũng chẳng giống nhau, thảy đều là “tùy tâm ứng lượng”, [nghĩa là] những tướng ấy thuận theo tâm của chính chúng ta mà hiện, hoàn toàn phù hợp khít khao với tâm lượng của chúng ta theo tỷ lệ thuận.

 

      (Sao) Kiêm Báo Hóa giả, Quán Kinh minh Phật, tiên ngôn lục thập vạn ức, hậu khai trượng lục, thứ ngôn “hạ phẩm Hóa Phật lai nghênh”, tắc tri cửu phẩm sở kiến bất nhất.

     ()兼報化者,觀經明佛,先言六十萬億,後開丈六,次言下品化佛來迎,則知九品所見不一。

      (Sao: “Kiêm Báo Thân và Hóa Thân”: Quán Kinh nói về [thân tướng của] Phật, trước hết là nói thân cao sáu mươi vạn ức, sau đó, nói thân trượng sáu; kế đó, trong phần Hạ Phẩm nói “Hóa Phật đến nghênh tiếp”, cho nên biết chín phẩm thấy Phật chẳng giống nhau).

 

       Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật nói rơ thân tướng Phật mà chúng ta sẽ được thấy khi văng sanh. “Sáu mươi vạn ức” [do-tuần] chính là Báo Thân, đó là thân to lớn; người đắc Lư nhất tâm bất loạn, sanh về cơi Thật Báo trông thấy [thân ấy]. Khi văng sanh, người ấy thấy A Di Đà Phật hiện đến, Quán Âm và Thế Chí cầm đài sen đến tiếp dẫn. Hóa sanh trong hoa sen, bốn cơi ba bậc chín phẩm thảy đều là hóa sanh trong hoa sen, kể cả văng sanh nơi Biên Địa cũng là hóa sanh trong hoa sen. Quyết định thấy [Phật và thánh chúng] cầm đài sen đến tiếp dẫn, thấy chính ḿnh được Phật quang chiếu gội, tự ḿnh rũ bỏ thân thể này, thân thể giống như một bộ quần áo, vứt bỏ, chẳng cần nữa! Thân thể của chính ḿnh theo Phật quang vào trong đài sen. Vừa vào trong đài sen, thân tướng của chính ḿnh giống hệt như thân tướng của Phật và Bồ Tát. Trong thế giới Tây Phương, chẳng có sanh ra rồi từ từ trưởng thành, chẳng có chuyện ấy. [V́ nếu có] như vậy, sẽ biến thành tướng sanh diệt! Thế giới Tây Phương chẳng có tướng sanh diệt, bất sanh, bất diệt. Hễ sanh về đó đều là hóa sanh, thân tướng to bằng thân tướng của Phật, Bồ Tát. “Trượng sáu” là Ứng Thân. Trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư và cơi Phương Tiện Hữu Dư trông thấy Ứng Thân của Phật. Tùy thuộc công phu của chính ḿnh sâu hay cạn khác nhau, mà thấy tướng hảo thù thắng nơi thân tướng của Phật khác nhau. Chẳng phải là Phật có biến hóa, mà là do tâm chúng ta khởi biến hóa. Do vậy, trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, có thể chứng thực hết sức rơ rệt: “Tướng chuyển theo tâm”. Tâm chúng ta càng thanh tịnh, càng rộng lớn, càng chân thật, sẽ thấy tướng Phật, tướng Bồ Tát cũng càng thù thắng, càng trang nghiêm. Tu tâm trọng yếu lắm! V́ thế, đối với sự tu học Phật pháp, chúng tôi đặc biệt nêu ra, khuyên lơn, khích lệ mọi người phải giữ tấm ḷng tốt đẹp, làm chuyện tốt đẹp, nói lời tốt lành, làm người tốt đẹp, tu cái tâm tốt lành! Lâm chung thấy hảo tướng của Phật, đấy là chân thật; những điều khác, nói thật ra, đều là giả trất. “Thứ ngôn hạ phẩm Hóa Phật lai nghênh” (Kế đó, nói Hạ Phẩm được Hóa Phật đến đón), ba phẩm văng sanh thuộc bậc Hạ do Hóa Phật đến nghênh tiếp. “Tắc tri cửu phẩm sở kiến bất nhất” (Nên biết là chín phẩm thấy [thân tướng Phật] chẳng giống nhau). Đối với Hóa Phật và Ứng Thân Phật, nói thật thà, bọn phàm phu chúng ta chẳng có năng lực phân biệt. Hóa Phật và Chân Phật chẳng khác nhau, [Hóa Phật] là Hóa Thân của Phật. Sanh về thế giới Tây Phương, hóa sanh trong hoa sen, thượng thượng phẩm văng sanh, sanh đến nơi ấy, hoa sen liền nở. “Hoa nở, thấy Phật” chính là thấy Báo Thân của Phật, thân thể của chính ḿnh cũng to như thân Phật. Phẩm vị càng thấp, thời gian hoa nở càng trễ. Ở trong hoa có thấy Phật hay không? Thấy Phật, thấy Hóa Thân của Phật. V́ thế, mọi người đừng cho rằng: “Hoa này chẳng nở, ở trong hoa sen tịch mịch lắm, khổ năo lắm”. [Nghĩ như vậy] là quư vị sai mất rồi, trong hoa náo nhiệt khôn cùng! Hoa chẳng nhỏ đâu nhé! Kinh nói hoa sen ấy bé nhất là một do-tuần (yojana). Một do-tuần to cỡ nào? Kinh tuyệt đối chẳng nói một tiểu do-tuần. Hễ nói “một do-tuần”, chắc chắn là một đại do-tuần, một đại do-tuần là tám mươi dặm. Chúng ta nói đường kính là tám mươi dặm, quư vị cứ vẽ một ṿng tṛn, coi nó lớn cỡ nào! C̣n to hơn thành phố Đài Bắc! Tây Phương Tam Thánh cũng thuyết pháp trong đó. Hóa Bồ Tát, hóa thân của A La Hán và trời, người cũng ở trong đó bầu bạn với chúng ta. Tuy chẳng thấy Báo Thân, nhưng thấy Hóa Thân, cùng sống chung với Hóa Thân. Từa tựa như chúng ta trong hiện tại, tuy chúng ta chẳng thấy [sự việc] ở ngay hiện trường, nhưng TV chiếu trọn trước mắt, bất quá TV là [h́nh ảnh] lập thể. V́ thế, chẳng khác ǵ thật. Dụng công tu hành ở trong hoa ấy.

      Hạ hạ phẩm văng sanh phải mất mười hai kiếp hoa mới nở, đương nhiên “mười hai kiếp” là [tính theo] đại kiếp, hoa nở, thấy Phật. Chúng ta thoạt nghe “mười hai kiếp”, [bèn cảm thấy] thời gian ấy dài quá! Nhưng quư vị phải suy ngẫm, trong kinh, đức Phật thường nói: Chúng ta tu hành trong thế gian này, nếu muốn tu đến cảnh giới ấy, phải mất bao lâu? Ba đại A-tăng-kỳ kiếp. Thế giới Tây Phương chỉ cần mười hai kiếp, quư vị mới biết người ta ở nơi ấy nhanh chóng hơn nhiều lắm! Hạ phẩm trung sanh là sáu kiếp. Do vậy, trong mười phương thế giới, hết thảy Bồ Tát, Thanh Văn, Bích Chi Phật, chẳng có vị nào không mong văng sanh Tây Phương Tịnh Độ, nhằm rút ngắn thời gian tu hành thành Phật trên một mức độ lớn. V́ thế, có những người hỏi tôi: “V́ sao bậc Đẳng Giác Bồ Tát trong thế giới Hoa Tạng như Văn Thù, Phổ Hiền c̣n phải cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới?” Quư vị đọc kỹ lưỡng ba kinh này một lượt, sẽ biết: Câu trả lời ở ngay trong ấy. Tu hành trong thế giới Hoa Tạng muốn đoạn một phẩm sanh tướng vô minh cuối cùng để viên thành Phật đạo, phải tốn thời gian rất lâu! Nếu vị ấy sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, sẽ là thượng thượng phẩm văng sanh trong cơi Thật Báo Trang Nghiêm, sanh sang bên ấy bèn hoa nở thấy Phật, đă thành công, cũng là rút ngắn thời gian. Văn Thù, Phổ Hiền là bậc thông minh, nên đă làm chuyện của người thông minh! Do vậy, quư vị phải hiểu: Thành Phật nhanh chóng nhất là Tây Phương Cực Lạc thế giới, chẳng có nơi nào thuận tiện, nhanh chóng hơn được. V́ sao? Trong thế giới ấy, hết thảy các chướng ngại đều chẳng có. Do vậy, thành tựu hết sức nhanh chóng. Cũng chính v́ sự thật này mà hết thảy chư Phật Như Lai trong mười phương thế giới, chẳng có vị Phật nào không khuyên người ta cầu sanh Tịnh Độ, đạo lư ở chỗ này!

      Kinh nói “mười thứ Phật sự” của Như Lai, “Phật sự” là giáo học. Phật chẳng có chuyện ǵ khác, Phật là giáo hóa chúng sanh. Giáo hóa chúng sanh chính là sự nghiệp của Phật. Trong mười loại giáo học, dạy người ta niệm Phật là bậc nhất, là pháp môn bậc nhất để hết thảy chư Phật độ chúng sanh thành Phật đạo. Có người hỏi tôi: Pháp môn bậc nhất này do ai nói? Họ cứ tưởng tôi bịa chuyện đơm đặt ở nơi đây, [cứ tưởng] ở nơi đây tôi học theo thói “lăo Vương bán dưa, tự bán tự khoe”. Nay từ chỗ này, đă thấy: Điều ấy được nói trong kinh Hoa Nghiêm, đó là pháp môn bậc nhất. Do vậy, pháp môn Niệm Phật được hết thảy chư Phật niệm niệm chẳng quên, niệm niệm ǵn giữ, bảo vệ. Đấy chính là “được chư Phật hộ niệm”. Chư Phật đều hộ niệm quư vị, há lẽ nào long thiên thiện thần chẳng che chở? Do vậy, trong hết thảy các tai nạn, quư vị đều có thể gặp dữ hóa lành, đều có thể tránh khỏi kiếp nạn. Hiện thời có nhiều người lo lắng về kiếp nạn trong thế gian này! Mấy vị đồng tu tại Hương Cảng kể với tôi, pháp sư Thánh Nhất đă khuyên dạy họ hăy nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, lỡ tai nạn xảy đến, chúng ta sẽ có chỗ tốt đẹp để sanh về. Chẳng đến nỗi luống cuống chân tay, xoay sở chẳng kịp, vấn đề bèn nghiêm trọng. Do vậy, trong tâm phải có chuẩn bị, nơi hành vi, chúng ta phải tận tâm nỗ lực tu phước; hễ kiếp nạn xảy đến, quư vị có muốn tu phước cũng chẳng kịp. V́ thế, tu phước phải kịp thời, phải là tu mau lên! Khi họa đă xảy đến, muốn tu phước cũng chẳng thể được, làm chẳng được! V́ thế, phải biết tích cực, nghiêm túc nỗ lực thực hiện, phải làm ngay trong hiện thời!

Đối với bốn cơi, chín phẩm, mỗi người văng sanh thấy Phật khác nhau, xác thực là tùy thuộc công phu tu hành của chính ḿnh cạn hay sâu, chúng ta thấy tướng hảo và sự trang nghiêm của Phật khác nhau, nhưng [những thân tướng khác nhau ấy] thảy đều là A Di Đà Phật. A Di Đà Phật có Báo Thân, Ứng Thân và Hóa Thân. Nhưng sau khi đă tới Tây Phương Cực Lạc thế giới, thưa cùng chư vị, nhất định là b́nh đẳng, đấy mới là phù hợp bổn nguyện của Phật Di Đà. Chúng ta xem bốn mươi tám nguyện, [sẽ biết] sau khi đă tới Tây Phương bèn b́nh đẳng. Trong khi tiếp dẫn th́ c̣n có sai khác, đă tới thế giới Tây Phương bèn b́nh đẳng.

 

      (Sao) Nhiếp Luận diệc vân đăng địa phương kiến Báo Thân, triển chuyển tế diệu.

      ()攝論亦云登地方見報身,展轉細妙。

(Sao: Nhiếp Đại Thừa Luận[4] cũng nói: Từ Sơ Địa trở lên mới thấy Báo Thân, lần lượt [càng chứng lên địa vị cao hơn sẽ thấy thân Phật] vi tế, mầu nhiệm hơn).

 

      Câu này cũng nói lên sự thật, đặc biệt là sự thật về tu hành trong các tông phái thông thường. Người tu hành thông thường, nhất định phải là “đăng địa” (chứng nhập từ Sơ Địa trở lên), đây là nói tới Biệt Giáo, phá một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân, đó là “đăng địa”. Sơ Địa trong Biệt Giáo bằng với Sơ Trụ của Viên Giáo, phá một phẩm vô minh, chứng một phần tự tánh, bèn thấy Báo Thân của Phật, thấy Báo Thân là đă thấy Pháp Thân. Từ Sơ Địa đến Thập Địa gồm mười giai tầng công phu cạn hay sâu khác nhau. Bồ Tát có địa vị càng cao, thấy tướng hảo của Phật càng thù thắng. Nếu nói theo Viên Giáo, từ Sơ Trụ đến Đẳng Giác là bốn mươi mốt giai cấp. Tuy mỗi tầng cấp đều ở cùng một chỗ với A Di Đà Phật, nhưng sự cảm nhận của mọi người đối với tướng hảo được thấy [nơi thân tướng của] A Di Đà Phật khác nhau. Quư vị có thể tin tưởng chuyện này hay không? Người tâm tư tinh tế, kỹ lưỡng sẽ có thể tin tưởng. V́ sao? Sự cư xử giữa lũ phàm nhân chúng ta cũng giống như vậy. Nếu chúng ta nhận biết một người càng rơ ràng, chúng ta gặp mặt người ấy và gặp người khác sẽ có cảm nhận khác nhau, sẽ có cảm nhận rất mạnh mẽ về phẩm đức, tu dưỡng và phong độ của người ấy. Đối với kẻ chẳng có mảy may nhận thức nào, sẽ thấy kẻ ấy là như kẻ b́nh phàm, cũng chẳng có một tí cảm nhận [đặc biệt] nào, đạo lư là như vậy đó! Chúng tôi đă được gặp một vị thầy tốt; thuở ấy, tôi thân cận Chương Gia đại sư, đặc biệt có sự cảm nhận này. Dẫu ở cùng một chỗ với Chương Gia đại sư, chẳng nói câu nào, tôi ngồi bên Ngài cảm thấy hết sức thoải mái, hết sức thanh lương, tự tại. Nếu ở chung với những kẻ b́nh phàm, chẳng có hiện tượng ấy. V́ thế, tôi rất thích thân cận Ngài. Lăo nhân gia cũng hết sức từ bi, cũng chẳng cự tuyệt tôi. Bất cứ khi nào tôi t́m đến Ngài, chỉ cần Ngài có thời gian rảnh rỗi, nhất định sẽ tiếp kiến tôi, trước nay chưa hề cự tuyệt. Trừ phi Ngài bận chuyện ǵ, có khách đặc biệt phải họp mặt th́ chẳng có cách nào. Nếu không, Ngài nhất định tiếp tôi! Do vậy nói là trong [việc tiếp xúc với] những người b́nh phàm, chúng ta luôn có cảm nhận bất đồng. Cũng có khi tôi cũng dẫn theo mấy người bạn, dẫn họ đến gặp Chương Gia đại sư, họ chẳng có cảm nhận mạnh mẽ như tôi. Đạo lư ở chỗ này.

      Cùng một đạo lư như vậy, chúng ta đọc kinh, văn tự trong kinh trước nay chẳng thay đổi, nhưng tâm chúng ta càng thanh tịnh, công lực tu hành càng sâu, đọc kinh sẽ có cảm nhận khác hẳn. Tôi tin là rất nhiều đồng tu đều có sự thể nghiệm này: Quư vị đọc kinh, mỗi lượt bèn cảm nhận khác nhau. Tôi giảng bộ kinh này ba lần, mỗi lần giảng, cảnh giới đều khác nhau, càng xem càng hoan hỷ, càng giảng càng thấy ư vị, hoàn toàn tương đồng với cảnh giới của chính ḿnh. Cảnh giới sâu, quư vị có thể thấy được chỗ sâu xa; công phu nông cạn bèn thấy nông cạn. V́ thế, quyết định chớ nên hoài nghi, quyết định đừng phân biệt, đừng chấp trước. Lâm chung Phật đến tiếp dẫn, chúng ta hoan hỷ theo Ngài ra đi là đúng. Đấy là chánh xác, chớ nên dấy tâm phân biệt. Hôm nay, chúng tôi giảng tới chỗ này.

 

Tập 248

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang bốn trăm tám mươi sáu:

 

      (Sao) Kiêm Bồ Tát, Thanh Văn giả, như Quán Kinh thượng phẩm thượng sanh vân: “Phật dữ Quán Âm, Thế Chí, vô số hóa Phật, bách thiên tỳ-kheo, Thanh Văn đại chúng, vô lượng chư thiên, hiện kỳ nhân tiền, nhi diệc hữu Phật bất lai nghênh, Bồ Tát lai giả, kim tùng đa phần.

()兼菩薩聲聞者,如觀經上品上生云:佛與觀音勢至,無數化佛,百千比丘,聲聞大眾,無量諸天,現其人前;而亦有佛不來迎,菩薩來者,今從多分。

(Sao: “Kiêm Bồ Tát, Thanh Văn”: Như trong phần thượng phẩm thượng sanh của Quán Kinh có nói: “Phật và Quán Âm, Thế Chí, vô số hóa Phật, trăm ngàn tỳ-kheo, Thanh Văn đại chúng, vô lượng chư thiên, hiện trước người ấy”. Cũng có trường hợp, Phật chẳng đến đón, Bồ Tát đến đón, nay nói theo đa số).

 

Tiếp tục nói về trạng huống “kỳ nhân lâm mạng chung thời” (khi người ấy sắp lâm chung) Phật đến tiếp dẫn. Trong kinh có nói Bồ Tát, Thanh Văn, đại chúng theo A Di Đà Phật cùng đến tiếp dẫn. Ở đây, đại sư trích dẫn kinh văn trong phần Thượng Phẩm Thượng Sanh của kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật: “Phật và Quán Âm, Thế Chí”, đấy là Tây Phương Tam Thánh, “vô số Hóa Phật” đó là thượng phẩm thượng sanh, “bách thiên tỳ-kheo, Thanh Văn đại chúng, vô lượng chư thiên” (trăm ngàn tỳ-kheo, Thanh Văn đại chúng, vô lượng chư thiên). Văng sanh, Phật đến nghênh tiếp, Bồ Tát, Thanh Văn bao nhiêu, gần như là mỗi người mỗi khác. Có người được Phật, Bồ Tát đến rất đông, có người th́ Phật, Bồ Tát tới rất ít. Đấy chẳng phải là Phật, Bồ Tát không công bằng, mà là do chính bản thân người niệm Phật chúng ta cảm ứng đạo giao khác nhau. Chúng sanh có cảm, Phật, Bồ Tát có ứng. Sức năng cảm có cạn hay sâu khác nhau, chư Phật, Bồ Tát ứng hiện cũng có thù thắng hay kém cỏi chẳng b́nh đẳng; trong ấy, tuân theo tỷ lệ thuận khít khao. Nếu chúng ta lắng ḷng suy nghĩ những chuyện này, [sẽ thấy] chẳng khó lư giải. Trong thế gian này, chúng ta nói tới chuyện hoằng pháp lợi sanh th́ pháp duyên cũng là mỗi người một khác. V́ sao? Chính là v́ trong kiếp quá khứ và đời này, mỗi cá nhân kết duyên cùng hết thảy chúng sanh khác biệt. Nếu chúng ta kết duyên rất sâu, rất rộng, pháp duyên sẽ hết sức thù thắng. Kết duyên cạn, kết duyên rất ít, pháp duyên chẳng thù thắng! Do vậy có thể biết: Phải tự hỏi chính ḿnh, chẳng cần hỏi ai khác. Mạnh Tử nói là “phản cầu chư kỷ” (quay lại cầu nơi chính ḿnh). Cũng có trường hợp “Phật bất lai nghênh” (Phật chẳng đến đón). Chúng ta xem phần hạ phẩm hạ sanh trong Quán Kinh, [sẽ thấy] Phật chẳng đến, mà là Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát đến nghênh tiếp, cũng có t́nh h́nh ấy. Quá nửa t́nh h́nh ấy là do người đó có duyên rất sâu với Bồ Tát, có duyên khá nhạt mỏng đối với Phật. Có những người trong nhà thờ phụng Quán Thế Âm Bồ Tát, niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, quên bẵng A Di Đà Phật. Khi lâm chung, đương nhiên là Quán Âm Bồ Tát đến tiếp dẫn, đúng như kinh Lăng Nghiêm đă dạy: “Thuận theo cái tâm của chúng sanh, ứng với khả năng nhận lănh của họ”, đúng là cảm ứng đạo giao.

 

      (Sớ) Vấn: Lâm chung Phật hiện, diệc hữu ma phủ?

      ()問:臨終佛現,亦有魔否。

      (Sớ: Hỏi: Lâm chung Phật hiện, cũng có trường hợp là ma hóa hiện hay chăng?)

 

      Đây cũng là một đại sự được khá nhiều người quan tâm. Khi lâm chung, nếu ma biến thành A Di Đà Phật đến tiếp dẫn chúng ta, chúng ta có thể bị mắc lừa to lớn! Có thể nào khi lâm chung sẽ có t́nh h́nh này hay chăng? Ở đây, Liên Tŕ đại sư đă giải đáp.

 

      (Sớ) Cổ vị vô ma, thoát hoặc hữu chi, quư tại biện thức.

      ()古謂無魔,脫或有之,貴在辨識。

      (Sớ: Cổ nhân nói ‘chẳng có ma’. Nếu như là có th́ cốt yếu là phân biệt để nhận biết).

 

      Từ thời cổ tới nay luôn nói như vậy, người niệm Phật chẳng bị ma đến quấy nhiễu. Người thật sự niệm Phật, xác thực là chẳng có ma đến quấy nhiễu. Nếu người niệm Phật c̣n có ma đến quấy nhiễu, nhất định là có nguyên nhân khác, nguyên nhân ǵ vậy? Tín tâm đối với Tây Phương Tịnh Độ A Di Đà Phật chẳng kiên định, nguyện tâm chẳng thiết tha, sẽ có thể gặp phải ma sự. Nếu là chân tín, nguyện thiết, chắc chắn là chẳng có ma sự. “Thoát hoặc hữu chi”: “Thoát” () là giả thiết, [“thoát hoặc hữu chi”] là giả sử, nếu như là có, “quư tại biện thức” [nghĩa là] quư vị có thể nhận biết, điều này hết sức quan trọng. Trong lời Sao dưới đây, đại sư dạy chúng ta làm thế nào để phân biệt cảnh giới Phật và cảnh giới ma.

 

      (Sao) Vô ma giả, đơn tu Thiền Định, hoặc khởi Ấm Ma, như Lăng Nghiêm Chỉ Quán chư kinh luận trung biện chi thậm tất.

()無魔者,單修禪定,或起陰魔,如楞嚴止觀諸經論中辨之甚悉。

(Sao: “Chẳng có ma”: [Hành nhân] chỉ tu Thiền Định, có lẽ bị Ấm Ma dấy lên, như trong Lăng Nghiêm, Chỉ Quán, và các kinh luận đă biện định rất tường tận).

 

Ma đến quấy nhiễu, nói thật ra, người học Thiền dễ gặp phải, người học Mật cũng rất dễ gặp phải. Trong Sớ Sao, đại sư nhắc tới Thiền rất nhiều, nhắc tới Mật rất ít, chúng ta đọc lịch sử bèn hiểu: Vào thời đại nhà Minh, Mật bị chánh quyền cấm đoán, cho nên trong xă hội chẳng có người học Mật, chỉ có học Thiền. Cơ hội Mật bị ma dựa c̣n nhiều hơn Thiền, chúng ta phải đặc biệt chú tâm cẩn thận điều này.

 

      (Sao) Kim vị niệm Phật giả, Phật oai thần lực, Phật bổn nguyện lực, đại quang minh trung, tất vô ma sự.

      ()今謂念佛者,佛威神力,佛本願力,大光明中,必無魔事。

      (Sao: Nay nói: Người niệm Phật do sức oai thần, sức bổn nguyện của Phật, ở trong đại quang minh [của Phật], ắt chẳng có ma sự).

 

      Nói rơ v́ sao người niệm Phật chẳng bị ma dựa. Chúng ta niệm Phật bất luận hữu tâm hay vô tâm, bất luận nhất tâm hay tán tâm, chỉ cần niệm Phật, nhất định sẽ được Phật quang chiếu gội. Quang minh của đức Phật chiếu đến chúng ta, bản thân chúng ta chẳng thể nhận biết; đặc biệt là tán tâm niệm Phật, niệm kiểu ấy sức lực rất mỏng yếu, và sức lực chiếu gội của Phật quang cũng chẳng mạnh, rất khó cảm nhận! Nếu là nhất tâm niệm, dùng tâm chân thành, tâm cung kính để niệm, sức gia tŕ của Phật quang rất mạnh, gần như chính ḿnh luôn có thể cảm nhận được. V́ thế, chắc chắn là ma chẳng có cơ hội giở tṛ, chẳng thể nào tiếp cận. Đấy là nguyên nhân khiến [hành giả niệm Phật] chẳng bị ma dựa. Tiếp theo đây, [sẽ nói đến] trường hợp cũng có thể bị ma dựa.

 

      (Sao) Nhiên diệc hữu túc chướng thâm hậu, hoặc bất thiện dụng tâm.

      ()然亦有宿障深厚,或不善用心。

(Sao: Nhưng cũng có kẻ do nghiệp chướng đời trước sâu dày, hoặc chẳng khéo dụng tâm).

 

Túc chướng thâm hậu” nghĩa là đời quá khứ tạo tác tội nghiệp rất nặng. “Bất thiện dụng tâm” (chẳng khéo dụng tâm) là Tín, Nguyện, Hạnh của chúng ta đều chẳng đắc lực. Trong Tín có hoài nghi, trong Nguyện có xen tạp, tŕ danh lúc đứt, lúc nối, đó là công phu chẳng đắc lực, chẳng được bổn nguyện và oai thần của Phật gia tŕ, có thể bị ma sự hiện tiền.

 

      (Sao) Dung hữu ma khởi, cố vị khả định, tu dự biện thức.

      ()容有魔起,固未可定,須預辨識。

(Sao: Cho nên có thể gặp ma sự dấy lên. Do đó, chẳng thể nói nhất định [là có bị ma dựa hay không], cần phải chuẩn bị nhận biết sẵn).

 

      Đây là nói chẳng nhất định, nhưng nhất định phải chuẩn bị biết sẵn, hăy nhận biết nó.

 

      (Sao) Như kinh luận thuyết: Hành nhân kiến Phật, biện chi hữu nhị.

      ()如經論說:行人見佛,辨之有二。

(Sao: Như trong kinh luận nói: Biện định về chuyện người tu hành thấy Phật th́ có hai điều).

 

      Dạy chúng ta một nguyên tắc để phân biệt, ở đây, nói là có hai chuyện.

 

      (Sao) Nhất, bất dữ Tu Đa La hợp giả, thị vi ma sự.

     ()一、不與脩多羅合者,是為魔事。

(Sao: Một là nếu chẳng phù hợp Khế Kinh th́ là ma sự).

 

      Trong khi niệm Phật mà thấy cảnh giới, cảnh giới ấy chẳng giống như kinh dạy, đó là ma sự. Bất luận là thấy trong hiện tiền, hoặc thấy trong Định, hoặc thấy trong mộng, hễ thấy khác với kinh dạy, quư vị chẳng quan tâm tới là được rồi. Quyết định chẳng bị dao động bởi nó, ma chẳng thể tổn hại quư vị. Sợ nhất là quư vị bị nó ảnh hưởng, hoặc là sanh tâm hoan hỷ, tâm tham ái, hoặc tâm kinh hăi, tâm kiêng sợ, tức là bị nó lừa. Khi nó hiện tiền, quư vị như như bất động, sẽ chẳng có chuyện ǵ. Hăy nhớ kinh Kim Cang đă dạy: “Phàm những ǵ có h́nh tướng, toàn là hư vọng”, chúng ta phải dùng thái độ như vậy để đối phó. Nghe nói ngoài thị trường có một cuốn sách nhỏ, nói là do một kẻ nào đó từng đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, có viết thành bài Du Kư ghi chép chuyến viếng thăm Tây Phương Cực Lạc thế giới. Những điều nói trong sách ấy “bất dữ Tu Đa La hợp” (chẳng phù hợp Khế Kinh). Tu Đa La (Sūtra, Khế Kinh) là Tịnh Độ Tam Kinh. [“Bất dữ Tu Đa La hợp”]) là thấy nói khác với ba kinh, so sánh những điều kẻ ấy nói sẽ thấy chẳng giống như trong kinh điển. Chư vị phải biết: Hễ khác nhau th́ là giả, chẳng thật! Từ Cao Tăng Truyện, chúng ta thấy: Thuở Huệ Viễn đại sư sanh tiền, từ trong Định, chúng ta gọi là “chỉ tĩnh khi niệm Phật”, Ngài từng ba lần trông thấy Tây Phương Cực Lạc thế giới. Ngài hé lộ tin tức, cảnh giới Ngài trông thấy hoàn toàn giống như kinh Vô Lượng Thọ đă nói, giống nhau th́ là thật. Chẳng giống nhau th́ là giả trất, là ma sự.

 

      (Sao) Nhị, bất dữ bổn sở tu hợp giả, thị vi ma sự.

      ()二、不與本所修合者,是為魔事。

(Sao: Hai là chẳng phù hợp với những ǵ ta vốn tu tập th́ là ma sự).

 

Bổn sở tu”: Chúng ta tu tŕ danh niệm Phật, hy vọng thấy A Di Đà Phật, Quán Âm, Thế Chí. Trong phần tiểu chú [trong sách Diễn Nghĩa] có nói: A Di Đà Phật quyết định thị hiện tại phương Tây, nay A Di Đà Phật ở phương Đông, hoặc A Di Đà Phật ở phương Nam, chẳng tương ứng với điều chúng ta đang tu tập. Đó là giả! Ma thị hiện cảnh giới Phật để gạt người là chuyện có thật. Ma hiện cảnh tương ứng với những ǵ chúng ta ham thích để dụ dỗ, mê hoặc quư vị; nhưng ma quyết định chẳng thể biến hiện h́nh dáng Bổn Tôn để lừa gạt quư vị, đó là phạm pháp. Giống như nay chúng ta nói là giả mạo thương tiêu (商標: nhăn hiệu cầu chứng, trademark), giả mạo là phạm tội. Quư vị cầu A Di Đà Phật, ma hiện thành Thích Ca Mâu Ni Phật đến tiếp dẫn quư vị, chẳng phạm pháp. Hắn chẳng thể hiện thành Bổn Tôn. Bổn Tôn của quư vị là A Di Đà Phật. Hắn hiện h́nh dáng Dược Sư Phật để tiếp dẫn quư vị, chắc chắn là giả. Chúng ta niệm niệm cầu sanh Tây Phương, lâm chung nhất định là Tây Phương Tam Thánh đến tiếp dẫn, quyết định chẳng phải là các vị Phật, Bồ Tát khác. V́ thế, khi ấy, nếu thấy Phật, Bồ Tát khác, đều là giả, đều chẳng thật. Từ chỗ này, chúng ta phân biệt chẳng khó!

 

      (Sao) Sở dĩ nhiên giả? Dĩ đơn tu Thiền nhân, bổn sở tu nhân, duy tâm vô cảnh cố. Ngoại hữu Phật hiện, tất trí bất luận, dĩ quả bất hiệp nhân cố.

      ()所以然者,以單修禪人,本所修因,唯心無境故。外有佛現,悉置不論,以果不協因故。

(Sao: V́ lẽ nào? Người chỉ tu Thiền, vốn tu cái nhân “chỉ là tâm, chẳng có cảnh”. Bên ngoài có Phật hiện, bèn bỏ mặc chẳng hỏi tới, do quả chẳng tương ứng nhân vậy).

 

Do vậy, Thiền Tông gặp cảnh giới, chỉ cần là người tu hành có thể tự ḿnh nắm chắc. Thiền cầu cái tâm thanh tịnh. Trong tâm thanh tịnh, chẳng có mảy may tham nhiễm, chẳng có mảy may tốt xấu; v́ lẽ đó, Thiền Tông nói: “Ma đến phải chém, Phật đến cũng chém”, thảy đều chẳng cần, “duy tâm vô cảnh” (chỉ có tâm, chẳng có cảnh). Nếu đối với ngoại cảnh, dấy lên một tí ư niệm tham, sân, sẽ bị ma dựa. Tôi vừa mới nói: Mật càng dễ bị ma dựa hơn Thiền! Mật có cảnh giới, có cảnh giới Phật, có cảnh giới của hộ pháp minh vương[5], có cảnh giới quỷ thần, cảnh giới của họ quá nhiều, quá phức tạp. Nói cách khác, ma rất dễ dàng thừa cơ xâm nhập. Nếu quư vị chẳng có năng lực phân biệt, muốn chẳng bị lừa sẽ khá khó khăn. Do vậy, chúng ta thấy rất nhiều người học Mật bị ma dựa, tại Đài Loan và ngoại quốc thường gặp chuyện này. Đó là chẳng khéo dụng tâm, chẳng có năng lực phân biệt là Phật hay là ma!

 

      (Sao) Kim niệm Phật nhân, nhất sanh ức Phật, lâm chung kiến Phật, nhân quả tương phù.

()今念佛人,一生憶佛,臨終見佛,因果相符。

(Sao: Nay người niệm Phật suốt đời nhớ Phật, lâm chung thấy Phật, nhân quả phù hợp).

 

      Người niệm Phật thấy cảnh giới Tây Phương, thấy Phật Di Đà, Quán Âm, Thế Chí, đó là b́nh thường. Trong khá nhiều luận điển, cổ đức đă khai thị: Phật, Bồ Tát hiện tiền nhằm chứng minh, ḥng tăng trưởng tín niệm của chúng ta. Ma cảnh hiện tiền nhằm lừa gạt, dụ dỗ, mê hoặc quư vị, ḥng phá hoại đạo tâm, mục đích và dụng ư khác nhau. Do vậy, thời gian Phật cảnh hiện tiền nhất định là sẽ rất ngắn. Sau khi hiện tiền, quư vị sẽ chẳng c̣n thấy nữa. Đó là Phật, Bồ Tát thị hiện cảnh giới theo lẽ thông thường, chẳng phải là thường xuyên trông thấy. Suốt một đời Viễn công đại sư (Sơ Tổ Huệ Viễn), chỉ thấy ba lượt! Nếu thời gian hiện cảnh giới rất dài, sau khi cảnh giới biến mất, cách một thời gian chẳng lâu sau lại hiện, sẽ là bất b́nh thường, có thể đoán định nó là ma cảnh, chẳng phải là Phật cảnh. Thường thấy cảnh giới ấy, chắc chắn chẳng phải là chuyện tốt đẹp! Có các đồng tu từng nói với tôi: Lúc họ mới học Phật, có rất nhiều thụy tướng, ngửi thấy mùi hương lạ, trong mộng thấy Phật, Bồ Tát đến thuyết pháp, xoa đầu. Sau khi đă niệm Phật nhiều năm, chẳng c̣n thấy nữa. Họ hỏi: “Có phải là tôi ngă ḷng hay chăng? Có phải là công phu chẳng đắc lực hay không?” Tôi nói: “Các vị thường mong trông thấy ư? Thường trông thấy th́ hỏng bét! Sở dĩ Phật, Bồ Tát chẳng thường hiện tiền, nói thật ra, cũng là do đại từ đại bi đối với chúng ta, chân thật hộ niệm chúng ta. Thường trông thấy, chúng ta chẳng tiếp nhận được! Phiền năo tập khí nhất định sẽ hiện hành, tự nghĩ: “Các ngươi xem đó, ta thường thấy Phật, các ngươi đâu có thấy! Công phu của ta tốt đẹp hơn bọn ngươi!” Phiền năo kiêu căng ngă mạn đă sanh khởi! Đức Phật dạy quư vị đoạn phiền năo, kẻ giúp quư vị tăng trưởng phiền năo là ma, chắc chắn chẳng phải là Phật. Do vậy, nếu chẳng phải là lúc tất yếu, Phật sẽ chẳng đến quấy nhiễu, chẳng đến nhiễu loạn quư vị. Chúng ta học Phật, niệm Phật, điều quan trọng nhất là chúng ta mong cầu nhất tâm bất loạn, mong cầu tâm thanh tịnh, chẳng phải là cầu hằng ngày thấy Phật. V́ thế, kinh chỉ nói “khi lâm chung, Phật đến tiếp dẫn”, chẳng có nói: Thường thị hiện cho quư vị trông thấy.

 

      (Sao) Vấn: Kư viết phi ma, đương thị chân Phật, nhi cổ vị Phật vô khứ lai, vân hà hữu Phật hiện tại kỳ tiền?

()問:既曰非魔,當是真佛,而古謂佛無去來,云何有佛現在其前。

(Sao: Hỏi: Đă nói chẳng phải là ma, th́ phải là Phật thật sự, nhưng cổ nhân nói “Phật chẳng đến đi”, sao lại có Phật hiện ra trước người ấy?)

 

      Câu hỏi này hay lắm! Đích xác cũng là sự thật. Cổ đức nói về chuyện văng sanh Tịnh Độ, đă bảo: “Sanh tắc quyết định sanh, khứ tắc thật bất khứ” (Sanh th́ quyết định sanh, đi th́ thật sự chẳng đi). Nếu chẳng phải là thật sự thấy chân tướng sự thật, sẽ chẳng thốt lên câu này! Sanh th́ quyết định sanh, nhưng đi th́ chẳng đi, lời này nên nói ra sao? Cổ nhân muốn thấu hiểu ư này, đúng là chẳng dễ dàng. Người hiện thời cậy vào tỷ dụ trong khoa học kỹ thuật bèn có thể lănh hội dễ dàng. Ví như chúng ta xem TV, màn h́nh TV ở ngay trước mặt chúng ta. Ở đây, chúng ta nhấn nút xem chương tŕnh TV của Mỹ, nước Mỹ xác thực ở ngay trước mắt chúng ta. Chúng ta có đi hay không? Chúng ta chẳng đi, nó (người và cảnh nước Mỹ) cũng chẳng đến [chỗ chúng ta]. Chẳng đến chẳng đi mà ở ngay trước mặt. Trong tương lai, khoa học kỹ thuật lại tiến thêm một bước nữa, chỉ sợ có thể cùng người trong màn h́nh TV đối diện chuyện gẫu. Người ấy cũng chẳng đến, chúng ta cũng chẳng đi, chúng ta gặp mặt nói chuyện phiếm dường như ở cùng một chỗ. Nếu dùng thuật ngữ khoa học để giải thích, nói thật ra là thuộc vào các không gian có kích thước khác nhau. Các nhà khoa học công nhận chúng ta đang ở trong không gian ba chiều, [ngoài ra c̣n có] không gian bốn chiều, không gian năm chiều, không gian sáu chiều, không gian vô hạn chiều! Đúng là chẳng có đến đi, mà là tiến nhập một không gian khác. Do vậy “sanh th́ quyết định sanh, đi th́ thật sự chẳng đi”. Khoa học hiện đại đă phát hiện sự thật này.

 

      (Sao) Đáp: Cảm ứng đạo giao, bất phương bất lai nhi lai, vô kiến nhi kiến.

      ()答:感應道交,不妨不來而來,無見而見。

(Sao: Đáp: Cảm ứng đạo giao, chẳng ngại ǵ không đến mà đến, chẳng thấy mà thấy).

 

      Chính là nói tới đạo lư mà tôi vừa mới đề cập. Liên Tŕ đại sư là người sống vào đời Minh. Thuở ấy, khoa học kỹ thuật trong thế gian này chẳng bàn tới [đạo lư ấy] được! V́ thế, cảnh giới này hết sức khó hiểu, chỉ có người thật sự tu hành có công phu định lực mới có thể lư giải. Cảnh giới trong Định xác thực là chuyển biến chúng ta đến không gian vô hạn chiều. Đó là cảnh giới trong Định, người ấy có thể tự do qua lại. V́ thế, thấy rất nhiều thế giới bất đồng.

 

      (Sao) Cố Vĩnh Minh vị “như huyễn, phi thật, tắc tâm Phật lưỡng vong, nhi bất vô huyễn tướng, tắc bất hoại tâm Phật”.

()故永明謂如幻非實,則心佛兩忘,而不無幻相,則不壞心佛。

(Sao: V́ thế, ngài Vĩnh Minh bảo là “như huyễn, chẳng thật, cho nên tâm và Phật cùng mất. Do huyễn tướng chẳng không, cho nên chẳng hoại tâm và Phật”).

 

      Những lời này do Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư nói. Chúng ta biết Ngài là Hóa Thân của A Di Đà Phật, những điều Ngài nói đương nhiên là có đạo lư rất sâu, mà cũng thật sự là chân tướng sự thật. “Tâm Phật lưỡng vong” (Tâm và Phật cùng mất) chính là năng cảm, tâm đă thanh tịnh, chẳng có phân biệt. Tâm và Phật là hai pháp; nay chúng ta gọi hai pháp là “tương đối”. Sau khi đă bỏ sạch tương đối, tuyệt đối cũng chẳng có. Hễ nói tuyệt đối và tương đối, lại biến thành một cặp [đối lập]. V́ thế, trong Phật pháp có nói: “Nhị biên bất lập, Trung Đạo bất tồn” (Hai bên chẳng lập, Trung Đạo chẳng tồn tại). Trung Đạo cũng chẳng có, cái tâm ấy mới là chân tâm, mới là tâm thật sự thanh tịnh. Lục Tổ nói: “Vốn chẳng có một vật”. Thế là tất cả hết thảy chướng ngại đều chẳng có. Chẳng có giới hạn th́ mới có thể vượt thoát thời gian và không gian vô hạn chiều! Nay chúng ta chẳng thể vượt thoát là v́ có phân biệt, có chấp trước. Trong kinh Hoa Nghiêm, đức Phật đă nói: “Hết thảy chúng sanh chỉ v́ vọng tưởng, chấp trước, nên chẳng thể chứng đắc”. Nếu trừ bỏ vọng tưởng, chấp trước, sẽ giống như chư Phật Như Lai, không gian vô hạn thảy đều hiện ở trước mắt. Tất cả hết thảy sâm la vạn tượng, kinh Đại Thừa nói “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”, cũng có nghĩa là: Y báo và chánh báo trang nghiêm như trong Phật pháp đă nói, kẻ b́nh phàm chúng ta nói là “vạn hữu trong vũ trụ” do đâu mà có? Do tự tánh biến hiện. Tự tánh là cái có thể biến (năng biến), vạn tướng là cái được biến (sở biến). Năng biến là thật, sở biến là huyễn tướng. Do vậy, kinh Kim Cang nói hết thảy các tướng, tướng là pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng. Trong tâm chúng ta nghĩ ǵ sẽ biến ra nấy. Chúng ta tưởng Phật, Phật tướng liền hiện tiền. Tưởng Bồ Tát, tướng Bồ Tát liền hiện tiền. Kinh Lăng Nghiêm cũng gọi điều này là “tùy tâm ứng lượng”, chẳng sai tí nào!

 

      (Sao) Hựu vân: “Pháp Thân chân Phật, bổn vô sanh diệt”.

      ()又云:法身真佛,本無生滅。

      (Sao: Lại nói: “Vị Phật chân thật nơi Pháp Thân vốn chẳng có sanh diệt”).

 

      Pháp Thân là bản thể, là Chân Như bản tánh. Triết học hiện thời gọi nó là “bản thể của vạn hữu trong vũ trụ”, trong Phật pháp gọi nó là Pháp Thân. Pháp Thân nghĩa là hết thảy vạn pháp đều nương vào nó để sanh khởi, có ư nghĩa hoàn toàn giống như Bản Thể đang nói trong hiện tại, bất quá danh xưng khác nhau. “Pháp Thân chân Phật, bổn vô sanh diệt”, [nghĩa là] từ Pháp Thân biến hiện ra đức Phật, chúng ta gọi [đức Phật ấy] là Báo Thân Phật. Báo Thân Phật hữu sanh, vô diệt.

 

      (Sao) Từ Chân khởi Hóa, tiếp dẫn mê căn.

     ()從真起化,接引迷根。

(Sao: Từ Chân Phật sanh khởi Hóa Phật để tiếp dẫn những căn cơ đang mê muội).

 

      Xác thực là Pháp Thân có bản năng này, nghĩa là năng lực ấy vốn sẵn có, chẳng do tu được. Chúng sanh ở nơi đâu có cảm, Ngài bèn hiện thân nơi ấy, tức là Ứng. “Tiếp dẫn mê căn” tức là v́ lục đạo phàm phu mà nói. V́ lục đạo mê hoặc, điên đảo, người thuộc loại căn tánh này được gọi là lục đạo phàm phu.

 

      (Sao) Thử năi Như Lai bổn nguyện công đức, linh bỉ hữu duyên chúng sanh, chuyên tâm tưởng niệm, năng ư tự tâm kiến Phật lai nghênh, bất thị chư Phật thật khiển Hóa Thân nhi lai nghênh tiếp.

      ()此乃如來本願功德,令彼有緣眾生,專心想念,能於自心見佛來迎,不是諸佛實遣化身而來迎接。

(Sao: Đây chính là bổn nguyện công đức của Như Lai, khiến cho chúng sanh hữu duyên chuyên tâm tưởng niệm, có thể từ tự tâm thấy Phật đến đón tiếp, chẳng phải là chư Phật thật sự sai Hóa Thân đến đón tiếp).

 

      Hăy nên biết sự thật này! Chúng ta hằng ngày tưởng Phật, đến khi lâm chung, quư vị sẽ thấy Phật. Do đâu mà có Phật? Phật do tự tánh của chúng ta biến hiện, biến hiện như thế nào? Do bổn nguyện và oai thần của A Di Đà Phật gia tŕ mà biến hiện. Do vậy, đấy là Hóa Thân của Phật, chẳng phải là đức Phật từ Tây Phương Cực Lạc thế giới biến ra một thân, vội vă đến đây. Chẳng phải là ư nghĩa ấy, nếu nói [Phật từ Cực Lạc đến tiếp đón] theo kiểu như vậy th́ sai mất rồi! Hóa Thân của Phật ở chỗ nào? Hóa hiện từ ngay trước mặt. Do vậy, Phật thật sự chẳng có đến hay đi. Nhưng thân tướng của Phật xác thực là hiện diện ngay trước mặt chúng ta; chính chúng ta cũng cảm thấy ta theo Phật tới Tây Phương. Chỉ cần quư vị theo Phật, bèn lập tức đến Tây Phương. V́ vậy, kinh thường nói “đàn chỉ khoảnh” (彈指頃: trong khoảng khảy ngón tay). Thời gian khảy ngón tay hết sức nhanh chóng! Trong một cái khảy ngón tay đă đến nơi, đă tới Tây Phương! Do đó, mười vạn ức cơi Phật chẳng xa, khảy ngón tay một cái đă tới, như tôi vừa mới nói, chỉ là chuyển biến không gian trong chốc lát, từ trong không gian ba chiều của chúng ta chuyển sang không gian vô hạn chiều của A Di Đà Phật. Hễ chuyển biến sẽ chính là [Cực Lạc], có ư nghĩa như vậy đó.

 

      (Sao) Tắc Phật thân trạm nhiên thường tịch, chúng sanh kiến hữu khứ lai.

      ()則佛身湛然常寂,眾生見有去來。

      (Sao: Phật thân trong lặng, thường tịch, mà chúng sanh thấy có đến đi).

 

      Hai cảnh giới khác nhau. Phật là tâm tánh viên măn hiển lộ, nhưng bọn phàm phu chúng ta chẳng đoạn một phẩm phiền năo. Tŕnh độ chênh lệch quá lớn. Trong cảnh giới của Phật, tận hư không khắp pháp giới là một Thể, nhưng trong tâm chúng ta có quá nhiều phân biệt, chấp trước, nên giống như có đến, có đi. Nói cách khác, chúng ta đă thấy Phật, nhưng tập khí phân biệt, chấp trước vẫn c̣n. Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, các tập khí ấy có gây trở ngại hay chăng? Chẳng trở ngại, đó gọi là “đới nghiệp văng sanh”, mang qua đó cũng chẳng gây trở ngại! Giống như trong kinh đă nói: Chúng ta mặc áo, ăn cơm. Mặc áo, ăn cơm là tập khí, đến khi đó, sẽ tự nhiên nghĩ tưởng. Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới có c̣n phải ăn uống hay không? Chẳng cần thiết! Không cần, nhưng đôi khi bỗng nhớ tới: “Khá lâu rồi mà chưa ăn uống ǵ!” Nghĩ đến chuyện ăn uống, vật dụng để ăn uống và cơm nước bèn bày ra trước mặt. Chỉ cần dấy lên ư niệm, chúng bèn hiện tiền. Một chốc sau, do chúng đă hiện ra trước mặt, bèn nghĩ: “Ta đang ở Tây Phương Cực Lạc thế giới, nay đă thành Bồ Tát, chẳng cần những thứ này”, những thứ ấy bèn chẳng c̣n nữa! Đó là tập khí biến hiện huyễn tướng (幻相: h́nh tướng hư huyễn) tại đó. Do vậy, cảnh giới của Phật và chúng sanh khác nhau, nhưng đôi bên chẳng trở ngại lẫn nhau. Tại Tây Phương Cực Lạc thế giới sẽ dần dần chẳng ngừng nâng cao cảnh giới của chúng ta.

 

      (Sao) Như kính trung h́nh, phi nội, phi ngoại, như mộng trung sự, bất hữu, bất vô.

      ()如鏡中形,非內非外,如夢中事,不有不無。

(Sao: Như h́nh trong gương, chẳng phải trong, chẳng phải ngoài; như chuyện trong mộng, chẳng có, chẳng không).

 

      Tỷ dụ này rất hay, chúng ta dùng màn h́nh TV để so sánh cũng có ư nghĩa này. Chẳng phải trong, chẳng phải ngoài, chẳng có, chẳng không, đó là chân tướng sự thật. Thế giới trước mắt chúng ta cũng là t́nh trạng này, đáng tiếc là có rất nhiều người chẳng thể cảm nhận, ngỡ huyễn tướng là chân tướng, coi huyễn hữu là chân hữu, phân biệt, chấp trước trong ấy, lại c̣n mong chiếm hữu, khổ sở thay! Đă dùng hết tâm cơ, chịu hết mọi nỗi khổ sở, có đạt được hay chăng? Thứ ǵ cũng chẳng đạt được. V́ sao chẳng đạt được? V́ sự thật là “chẳng phải có, chẳng phải không”, cho nên quư vị chẳng thể đạt được! Kể cả thân thể của chúng ta, chúng ta đều không thể đạt được thân thể! Người thật sự giác ngộ điều này, coi thân thể như y phục. Y phục đă bẩn thỉu, cởi ra giặt giũ, lại bẩn thỉu, bèn cởi ra vứt đi, chẳng cần nữa, thay một bộ khác! Người thật sự giác ngộ có cách nh́n như thế đối với thân thể, thân thể chẳng đáng coi trọng cho lắm. Chúng ta cần sử dụng nó, chớ nên chấp trước nó. Giống như y phục, chúng ta phải sử dụng chúng, chớ nên chấp trước, khi nên quăng đi bèn vứt bỏ. Khi văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, quần áo bên thế giới Cực Lạc tốt hơn nơi này quá nhiều, những thứ dơ bẩn chớ nên mang đi, phải vứt bỏ! Đến thọ sanh trong thế giới Cực Lạc, quư vị thấy kinh nói là thể chất của cái thân là “tử ma chân kim” (vàng ṛng được trau giồi sáng bóng), tướng hảo, quang minh. Chúng ta mang cái đăy da thối này qua đó, chẳng có ai ưa thích! V́ thế, đến Tây Phương Cực Lạc thế giới phải vứt bỏ, phải quăng nó đi, quư vị sẽ đạt được một thân thể mới hoàn toàn giống hệt như A Di Đà Phật. Phần bốn mươi tám nguyện trong kinh Vô Lượng Thọ đă nói rất rơ ràng: Thân Phật có vô lượng tướng hảo, quang minh. Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, thân tướng của chúng ta giống hệt như A Di Đà Phật, thế giới ấy là một thế giới b́nh đẳng. V́ thế, đối với hiện tiền, thân thể và hoàn cảnh sống của chúng ta, hết thảy đều phải xem nhạt một chút, chớ nên xem chúng rất thật, chớ nên chấp trước, đó là đúng, chúng ta niệm Phật mới có thể đắc nhất tâm, mới có thể đạt được tâm thanh tịnh.

 

      (Sao) Hựu kinh vân: “Ưng dĩ Phật thân đắc độ giả, tức hiện Phật thân nhi vị thuyết pháp”, diệc thử ư dă.

      ()又經云:應以佛身得度者,即現佛身而為說法。亦此意也。

(Sao: Kinh lại nói: “Nên dùng thân Phật để đắc độ, bèn hiện thân Phật để thuyết pháp” cũng là ư này).

 

      Chúng ta thấy Phật, thấy Bồ Tát, hai ba người cùng tu với nhau, mỗi người thấy mỗi khác. Tại Phạm Âm Động ở núi Phổ Đà bên Đại Lục, có người kiền thành lễ bái ngoài động, Quán Âm Bồ Tát bèn hiện tướng. Cũng có người đến lễ rất lâu, chẳng thấy ǵ cả. Có người lạy mười mấy phút, hoặc nửa giờ, bèn thấy Quán Âm Bồ Tát hiện thân. Pháp sư Thánh Nhất ở Hương Cảng kể với tôi: Ba người bọn họ tới Phạm Âm Động ở núi Phổ Đà để lễ bái Quán Âm Bồ Tát. Lạy nửa tiếng đồng hồ, Bồ Tát hiện thân, ba người đều hết sức hoan hỷ. Khi trở về, hỏi han lẫn nhau: “Ông thấy Quán Âm Bồ Tát có h́nh dạng ra sao?” Kết quả là ba người đều nói khác nhau. Pháp sư Thánh Nhất thấy tướng thù thắng: Bồ Tát hiện thân nam tử, toàn thân kim sắc, đội măo Tỳ Lô. Vị pháp sư kia thấy Ngài dưới h́nh tướng nữ nhân, là h́nh dạng Bạch Y Đại Sĩ. Vị khác nữa thấy Ngài có h́nh tướng xuất gia, mặc áo hải thanh, đắp y. Ba người đồng thời thấy, nhưng thấy h́nh tướng khác nhau. Đúng như phẩm Phổ Môn đă nói: “Nên dùng thân ǵ để độ bèn hiện thân tướng ấy”. Có thể thấy ba vị ấy tâm địa thanh tịnh khác nhau, công phu tu hành cạn hay sâu khác nhau, nhưng toàn là tâm chính ḿnh có thể cảm, Bồ Tát có thể ứng, do cảm ứng đạo giao mà hiện tướng. V́ vậy, đáng nên dùng thân Phật để độ bèn hiện thân Phật.

      Hôm qua, có một người đến hỏi tôi. Người ấy hỏi giùm một đồng tu khác, là một vị nam cư sĩ, ông ta hỏi: Có một vị nữ đồng tu, bà ta vẫn mong dùng thân nữ để văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, hỏi xem có thể hay không? Tôi nói: “Đại khái là chẳng thể được! Kinh chẳng có cách nói như vậy”. Ông ta nói: “Nếu đến thế giới Tây Phương, chẳng phải là dùng thân nữ để đến th́ chính là rất bất b́nh đẳng! V́ sao nhất định phải là thân nam? V́ sao thân nữ chẳng thể đến Tây Phương Cực Lạc thế giới?” Nói thật ra, chẳng phải là người ta bất b́nh đẳng, mà là quư vị phân biệt, chấp trước quá nặng! Quư vị hằng ngày dấy vọng tưởng. Dùng cái tâm vọng tưởng, chấp trước ấy để niệm Phật, chắc chắn là chẳng thể văng sanh. Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, quư vị thích thân nữ. Quư vị hăy xem chỗ này: “Đáng nên dùng thân nữ để đắc độ, bèn hiện thân nữ để thuyết pháp”. Quư vị đến mười phương các cơi nước trong tận hư không khắp pháp giới, chẳng biết là có thể hiện bao nhiêu thân nữ, tự tại lắm! Nếu quư vị chẳng đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, thân ǵ cũng chẳng thể hiện, mà phải thuận theo nghiệp lực để biến hiện, đấy mới là khổ! Bởi lẽ, thế giới Tây Phương là nguyện lực, nhất định phải hiểu điều này. Nhưng trong thế giới Tây Phương, quyết định là b́nh đẳng, hễ có nam nữ sẽ là bất b́nh đẳng. Từ kinh Vô Lượng Thọ, chúng ta cũng đă đọc và thảo luận, v́ sao A Di Đà Phật phát nguyện trong thế giới Tây Phương toàn là thân nam, lại c̣n là thân tướng giống hệt như nhau? Nhằm tránh phân biệt, tránh được khá nhiều phiền năo. Khá nhiều kinh đă nói, thế giới nào có nam nữ sống lẫn lộn với nhau, thế giới ấy quyết định có địa ngục. Nếu thế giới ấy thuần nhất là nam giới, hay thuần nhất là nữ giới, thế giới ấy chẳng có địa ngục!

      Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng có ba ác đạo! Không chỉ hoàn toàn là nam chúng, mà vóc dáng, tướng mạo đều như nhau, đó mới là thật sự b́nh đẳng. V́ sao? Người thế gian, thân thể tráng kiện, tướng mạo đẹp đẽ bèn kiêu ngạo. Thể chất yếu đuối, diện mạo, h́nh thể kém cỏi hơn một chút, trong tâm sẽ có mặc cảm tự ty! Đó là bất b́nh đẳng. A Di Đà Phật thấy rất rơ ràng, chẳng cần sự bất b́nh đẳng đó, hễ đến thế giới Tây Phương của ta đều là b́nh đẳng, mọi người sống chung với nhau đều chẳng có tự ty, mà cũng chẳng có ngạo mạn. V́ vậy, thế giới ấy chẳng có ba ác đạo. Nếu quư vị chẳng mong đến đó, trong những thế giới ở phương khác, có những chỗ là ba ác đạo rất nhiều, quư vị cứ mặc t́nh mà đến! Đă vậy, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, c̣n có năng lực hóa thân theo từng loài. Hóa thân theo từng loài, chẳng phải là trong thế giới Tây Phương, mà là đến những thế giới phương khác. Quư vị đến mười phương thế giới cúng dường Phật, tùy tiện quư vị hóa thân ǵ, thích hóa thân nào cũng đều có thể. Đến độ chúng sanh, đương nhiên là hóa thân thuận theo tâm lượng của chúng sanh, chính là “nên dùng thân Phật để độ bèn hiện thân Phật, nên dùng thân Bồ Tát để độ bèn hiện thân Bồ Tát”. Nên dùng thân ǵ để độ, bèn hiện thân ấy. Đúng là đắc đại tự tại! Trở về Tây Phương Cực Lạc thế giới, vẫn có thân tướng giống như A Di Đà Phật, quyết định là b́nh đẳng, thân tướng b́nh đẳng trong thế giới Tây Phương. Tiếp theo đây, dùng một tỷ dụ để nói.

 

      (Sao) Thị cố thủy thanh tắc nguyệt tự lai, tâm tịnh tắc Phật tự hiện, sở vị cảm ứng đạo giao nan tư nghị dă.

      ()是故水清則月自來,心淨則佛自現,所謂感應道交難思議也。

(Sao: Do vậy, nước trong nên trăng tự hiện bóng, tâm tịnh ắt Phật tự hiện. Đó gọi là “cảm ứng đạo giao khó thể nghĩ bàn” vậy).

 

      “Nan tư nghị” là chẳng thể nghĩ bàn! Nước trong liền hiện bóng trăng, Vầng trăng có vào trong nước hay không? Chẳng vào! Chẳng vào mà hiện, đó là “chẳng đến mà đến”. Tâm chúng ta thanh tịnh, Phật bèn hiện. Trong tâm thanh tịnh, không chỉ hiện cảnh giới của chư Phật, mà y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới thảy đều hiện tiền, lại c̣n đều là cảnh giới Hiện Lượng, chân thật nhất, chẳng có tí ti sai lầm nào! Trước kia, có một quyển sách tên là Tạo Hóa Thông, người viết sách ấy rất có học vấn, xác thực là học rộng nghe nhiều. Trong ấy có hai thiên sách thảo luận về những lời tiên đoán. Tiên đoán do đâu mà có? Tác giả nêu ra hai nguồn gốc:

1) Một là từ suy luận Toán Học. Trung Hoa có rất nhiều tác phẩm tiên đoán, như tác phẩm nổi tiếng nhất là bộ Hoàng Cực Kinh của Thiệu Khang Tiết[6]. Ông ta suy tính, chẳng phải là tính toán các triều đại của một quốc gia, mà c̣n suy tính mạng vận của toàn thể địa cầu. Suy tính cũng khá chuẩn xác, nhưng cũng có khi chẳng chuẩn xác. Do nguyên nhân nào? Ông ta suy luận bằng Lư Số. Lư Số có khi biến hóa, lại có mức độ tăng giảm, nhân chia quá lớn, sẽ thay đổi, chẳng hoàn toàn đáng tin cậy được, nhưng phần lớn có thể tin tưởng được!

2) Một nguồn gốc khác là cảnh giới Hiện Lượng do thánh nhân đă thấy trong Định. Điều này quyết định đáng tin cậy, v́ ở trong Định, quá khứ, hiện tại, vị lai các Ngài đều thấy, quyết định chẳng có sai lầm. Tâm thanh tịnh, những hiện tượng trong quá khứ, hiện tại, vị lai đều ở trước mắt, quư vị bèn trông thấy.

Tại cơi này, hay nơi phương khác, không chỉ là Phật pháp giới, “tâm tịnh tắc Phật tự hiện” (tâm tịnh ắt Phật tự hiện). Tâm tịnh th́ y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới muốn hiện bèn hiện, mong thấy bèn thấy. Đó là cảm ứng đạo giao chẳng thể nghĩ bàn! Thông thường, muốn đạt tới cảnh giới này, mức độ thấp nhất phải là từ Sơ Quả trở lên. Sơ Quả có công phu định lực kha khá, Định có thể phục đoạn[7] phiền năo, phục đoạn tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc trong tam giới. Trong sáu loại thần thông, Ngài đă đắc hai loại tức là Thiên Nhăn Thông và Thiên Nhĩ Thông. Đạt đến Nhị Quả, bèn có Túc Mạng Thông, biết chuyện trong đời quá khứ của chính ḿnh, có Tha Tâm Thông biết người khác trong tâm nghĩ ǵ. Tam Quả có Thần Túc Thông, tức là phi hành biến hóa. Bảy mươi hai phép biến hóa của Tôn Ngộ Không thuộc loại Thần Túc Thông. Năng lực của Tam Quả không chỉ là bảy mươi hai phép biến hóa, Ngài có thể biến hóa, có thể phân thân. Tứ Quả đắc Lậu Tận Thông, đoạn hết tám mươi mốt phẩm Tư Hoặc, vượt thoát tam giới. Có thể thấy: Để đắc tâm thanh tịnh, định lực hết sức trọng yếu! Đức Phật nói những năng lực ấy đều là bản năng (năng lực sẵn có), chẳng do từ bên ngoài. Tâm thanh tịnh, những năng lực vốn sẵn có của chúng ta bèn khôi phục. Hiện thời, các năng lực ấy mất đi, bị những phiền năo vọng tưởng, phân biệt, chấp trước chướng ngại bản năng của chúng ta, [khiến chúng] chẳng thể hiện tiền. Đạo lư như thế đó.

 

      (Sớ) Cố tri lâm chung thiết tượng trợ niệm, văn tải thánh kinh, pháp truyền Tây Vực, bất ưng nghi trở.

      ()故知臨終設像助念,文載聖經,法傳西域,不應疑阻。

(Sớ: V́ thế, biết là “lâm chung, bày tượng Phật để trợ niệm”, kinh văn đă được ghi chép trong thánh kinh, pháp ấy được lưu truyền tại Tây Vực, chớ nên nghi ngờ, ngăn trở).

 

      Nói tới lúc lâm chung. Đối trước người lâm chung, chúng ta trần thiết tượng A Di Đà Phật, hoặc tượng Tây Phương Tam Thánh để người ấy quán tưởng. Kinh Hoa Nghiêm có nói chuyện này. Lâm chung làm như thế nào, cũng là từ Ấn Độ truyền tới. Chúng ta chớ nên hoài nghi, chớ nên ngăn cản, quấy nhiễu những phương pháp ấy, hăy hành theo phương pháp ấy, nhất định có lợi ích.

 

      (Sao) Hoa Nghiêm thập ngũ kinh tụng vân.

      ()華嚴十五經頌云。

      (Sao: Trong quyển mười lăm của kinh Hoa Nghiêm có bài kệ tụng như sau).

 

      Kệ tụng trong quyển mười lăm của kinh Hoa Nghiêm.

 

      (Sao) Kiến hữu lâm chung khuyến niệm Phật.

     ()見有臨終勸念佛。

      (Sao: Thấy kẻ lâm chung, khuyên niệm Phật).

 

      Nay chúng ta nói là “lâm chung trợ niệm”, khuyên người ấy niệm Phật.

 

      (Sao) Hựu thị tôn tượng linh chiêm kính.

      ()又示尊像令瞻敬。

(Sao: Lại bày tôn tượng để người ấy chiêm ngưỡng, tôn kính).

 

      Tượng Phật th́ tượng đắp cũng được mà tượng vẽ cũng được, nhất định phải làm cho người lâm chung thấy rơ ràng. Khi lâm chung, t́nh h́nh rất đặc thù, người bệnh nằm ở trên giường, tượng đặt ở phía trên chân người bệnh, người đó nằm đấy có thể trông thấy. Khi ấy, chẳng có cung kính hay không cung kính, nhất định phải rất thuận tiện cho người bệnh, hễ mở mắt bèn thấy, phải đặt ở vị trí ấy, giúp cho người ấy quán tưởng, nhắc nhở người ấy niệm Phật, điều này hết sức trọng yếu. Hai câu kế đó nói lên mục đích.

 

      (Sao) Tỷ ư Phật sở thâm quy ngưỡng, thị cố đắc thành thử quang minh.

      ()俾於佛所深歸仰,是故得成此光明。

(Sao: Khiến cho quy ngưỡng Phật sâu xa, nên được thành tựu quang minh này).

 

      Khiến cho người ấy có thể sanh tín tâm đối với Phật, có thể sanh khởi nguyện tâm, thật sự quy mạng, thật sự cầu sanh, người ấy quyết định được văng sanh.

 

      (Sao) Sớ vân.

      ()疏云。

(Sao: Lời Sớ ghi).

 

Sớ là lời chú giải [kinh Hoa Nghiêm] của Thanh Lương đại sư. Bộ Hoa Nghiêm Kinh Sớ Sao do Thanh Lương đại sư soạn.

 

      (Sao) Tây Vực pháp.

      ()西域法。

(Sao: Pháp tắc bên Tây Vực).

 

      Từ Ấn Độ truyền sang phương pháp này.

 

      (Sao) Hữu dục xả mạng giả, linh diện Tây.

      ()有欲捨命者,令面西。

(Sao: Hễ có người sắp xả mạng, bèn bảo họ hướng về phương Tây).

 

Người ấy khi lâm chung, nhất định phải ngoảnh mặt về phương Tây để cầu cảm ứng.

 

      (Sao) Ư tiền an nhất lập tượng.

      ()於前安一立像。

(Sao: Trước mặt, đặt một tượng đứng).

 

      “Tượng đứng” là tượng A Di Đà Phật tiếp dẫn. Lâm chung, Phật đến tiếp dẫn, cho nên dùng tượng đứng.

 

      (Sao) Tượng diệc diện Tây.

      ()像亦面西。

(Sao: Tượng cũng ở phương Tây).

 

      Tượng Phật đặt ở phương Tây, khiến cho người bệnh hướng mặt về phương Tây.

 

      (Sao) Dĩ phan đảnh quải tượng thủ chỉ, linh bệnh nhân thủ tróc phan cước.

      ()以旛頂掛像手指,令病人手捉旛腳。

(Sao: Treo đỉnh lá phan nơi ngón tay của tượng, bảo bệnh nhân nắm lấy đuôi lá phan).

 

      Khi người ấy đang lâm chung th́ Phật sự trợ niệm thù thắng nhất là Tam Thời Hệ Niệm. Đức Phật x̣e tay tiếp dẫn, trên tay treo một lá phan dài, biểu thị ư nghĩa tiếp dẫn. Để cho người bệnh nắm lấy đuôi phan, Phật đến tiếp dẫn, theo Phật ra đi, mang ư nghĩa này.

 

      (Sao) Tác tùy Phật văng sanh tưởng, kiêm dữ thiêu hương, minh khánh, trợ xưng Phật danh.

      ()作隨佛往生想,兼與燒香鳴磬,助稱佛名。

      (Sao: Tưởng theo Phật văng sanh, kèm thêm thắp hương, gơ khánh, xưng danh hiệu Phật trợ niệm).

 

      Niệm Phật nhằm giúp đỡ người ấy. Đó là trợ niệm, giúp người ấy cầu sanh Tịnh Độ.

 

      (Sao) Phi trực vong giả đắc sanh Phật tiền, diệc chung thành kiến Phật quang dă.

      ()非直亡者得生佛前,亦終成見佛光也。

(Sao: Dẫu chẳng thể trực tiếp làm cho người chết được sanh về trước Phật, th́ rốt cuộc cũng trở thành trông thấy quang minh của Phật).

 

      Lâm chung, khi ấy, nghiệp lực trong cả một đời thảy đều hiện tiền. Nếu chúng ta chú tâm quan sát, sẽ phát hiện chuyện này chẳng khó. Trong số người nhà, quyến thuộc, bằng hữu của chúng ta, khi họ lâm chung, hăy chú ư quan sát, [sẽ thấy] học Phật và chẳng học Phật sai biệt rất lớn. Học Phật, mà học các pháp môn khác và học pháp môn Niệm Phật lại hoàn toàn bất đồng. Người niệm Phật, công phu tu hành cạn hay sâu cũng khác nhau, trong khi ấy đều có thể trông thấy [rơ rệt]. Công phu niệm Phật tốt đẹp, lâm chung có thụy tướng hết sức tốt đẹp. Công phu b́nh thường kém một chút, nếu trong khi lâm chung gặp duyên thù thắng, cũng có thể có thụy tướng rất tốt đẹp. Đó là lâm chung trợ duyên đắc lực. Khi ấy, người đó thật sự buông xuống, thật sự phát nguyện cầu sanh. V́ thế, lúc người ấy ra đi, tướng trạng hoàn toàn khác hẳn. Hoặc là sau khi đă mất, diện mạo tươi tắn, rạng rỡ, thân thể mềm mại, c̣n dễ coi, c̣n thù thắng hơn lúc đang bị bệnh. Điều này có thể chứng tỏ người ấy quyết định văng sanh, chứng tỏ trợ niệm thật sự đắc lực. Do vậy, nói thật ra, trợ niệm là chuyện rất cần phải có, công đức trợ niệm cũng chẳng thể nghĩ bàn. Phương pháp này xác thực là có căn cứ, chẳng phải do các vị đại đức tại Trung Hoa tự chế ra, mà là từ Ấn Độ truyền sang.

 

      (Sao) Nhược thần du đại phương, khứ lưu vô ngại giả, trí chi ngôn ngoại.

      ()若神遊大方,去留無礙者,置之言外。

(Sao: Nếu là bậc thần thông dạo chơi khắp các cơi, đi, ở vô ngại, th́ hăy để đó, chẳng bàn tới nữa).

 

      Thần thông du ngoạn khắp các cơi, đến đi vô ngại là đă đắc tự tại. Đối với lời tiểu chú cho bài kệ tụng này trong kinh Hoa Nghiêm, quư vị tự xem lời tiểu chú là được rồi[8], có thể thấy điều này xác thực là có căn cứ. Đến đi vô ngại là bậc tùy nguyện văng sanh, [nghĩa là] tùy thuộc nguyện vọng của người ấy khi lâm chung, mong sanh về cơi Phật nào, nhất định văng sanh cơi Phật ấy. Mong sanh lên trời cũng quyết định được sanh. Người ấy mong đời sau hưởng phú quư trong nhân gian cũng nhất định đạt được. V́ sao? Người ấy đắc đại tự tại, nên đến đi vô ngại. “Trí chi ngôn ngoại” là chẳng cần phải bàn tới nữa!

 

      (Sao) Bất nhĩ.

      ()不爾。

      (Sao: Nếu chẳng phải vậy).

 

      Nói cách khác.

 

      (Sao) Miễn chiên tư hạnh, như thượng, tắc đặc vị thiết tượng, dĩ trợ văng sanh. Hà huống nhất tâm bất loạn, cảm Phật hiện tiền, năi lự vi ma, tự sanh nghi trở.

      ()勉旃斯行,如上,則特為設像,以助往生。何況一心不亂,感佛現前,乃慮為魔,自生疑阻。

(Sao: Hăy gắng sức làm theo hạnh ấy, [tuân theo những điều đă nói] như trên đây, đặc biệt v́ [người lâm chung ấy] mà bày tượng, ḥng giúp cho người ấy văng sanh. Huống hồ là đối với người đă đắc nhất tâm bất loạn, cảm Phật hiện tiền, lại lo là ma hiện, để rồi tự sanh nghi hoặc, chướng ngại ư?)

 

      Đó là hiện tượng xấu nhất khi lâm chung, cũng có thể nói là ma chướng lớn nhất. Tức là khi lâm chung, hoặc là chính ḿnh nghi hoặc, hay là người nhà chẳng tin tưởng. Không chỉ chẳng thể giúp đỡ quư vị, ngược lại, c̣n ngăn trở, quấy nhiễu, chuyện này phiền phức, là chuyện rất đáng sợ. Do vậy, đều phải là công phu tu tập thường nhật. Thường ngày, chính ḿnh và người nhà phải bàn bạc, phải nói rơ với họ, khi lâm chung phải nên làm theo cách nào th́ mới đúng pháp, mới chẳng khởi chướng ngại. Giống như mấy giờ trước có một đồng tu đến hỏi tôi: Cả nhà người ấy chỉ có một ḿnh người ấy niệm Phật, người già trong nhà người ấy văng sanh, trong các anh em trai, chị em gái, có người theo Đạo Giáo, có kẻ theo Cơ Đốc Giáo, mỗi người chủ trương khác nhau, đều nghĩ chính ḿnh làm đúng, người chết sẽ khổ lắm! Một ḿnh người ấy học Phật, lại c̣n là kẻ nhỏ tuổi nhất trong các anh chị em, đến hỏi tôi làm như thế nào? Tôi nói: Chẳng có cách nào khác. Trong nhà, tiếng nói của quư vị chẳng có trọng lượng, chỉ đành niệm Phật hồi hướng cho người ấy là được rồi. Những chuyện khác quư vị chẳng làm chủ được, vẫn để cho anh chị em lo liệu. Đó là khó khăn nhất, đúng là ma chướng! Đương nhiên tốt đẹp nhất là chính ḿnh niệm Phật thật sự có công phu, giống như trong phần trước đă nói: “Thần du đại phương, khứ lưu vô ngại” (Thần thức đi khắp nơi, đến đi vô ngại) th́ được rồi. Giống như Hà Đông tước sĩ phu nhân tại Đông Liên Giác Uyển ở Hương Cảng đă thực hiện một chiêu rất cao minh. Khi lâm chung, bà biết trước lúc mất, bị bệnh đôi chút, nhưng căn bệnh ấy chẳng gây trở ngại, bà vẫn ngồi ra đi, thần trí rất sáng suốt. Hôm bà ra đi, mời hết thân thích, bằng hữu tới, mở đại hội văng sanh trong nhà, khiến cho các thân thích bằng hữu thấy bà ta văng sanh. V́ cả nhà chỉ có ḿnh bà niệm Phật, cả nhà đều là tín đồ Cơ Đốc kiền thành, bà dùng chiêu ấy để độ cả nhà. Người nhà thật sự trông thấy, niệm Phật ra đi như vậy, bèn tin tưởng. Do đó, con cái và con dâu đều quay đầu, c̣n đem nhà họ quyên tặng làm đạo tràng, chẳng dễ dàng! Bà cụ ấy rất thông minh, rất cao minh: “Thời tiết nhân duyên chưa chín muồi, các ngươi cứ đi nhà thờ của các ngươi, căn bản là chẳng hỏi tới”. Đến lúc đó, biểu hiện một chiêu này, toàn bộ đều quay đầu, độ rất nhiều người! V́ chuyện này được đăng tải trên báo chí, rất nhiều người thấy hiện tượng ấy, biết niệm Phật thật sự văng sanh, chẳng phải là giả, là thật. Ở Đài Loan, người có công lực giống như bà ta chẳng ít! Chúng ta thường nghe nói, c̣n có vị đứng mất, công phu c̣n cao hơn bà ta. Tôi nghe nói tại Đài Loan có mấy vị đứng ra đi! Gần đây nhất, tôi nghe nói ở Cao Hùng c̣n có một vị đứng văng sanh, biết trước lúc mất, người ấy chỉ niệm Phật bảy tháng. Chẳng phải là giả, xác thực là thật. Vậy là chẳng sao cả, khi lâm chung người nhà bất đồng ư kiến cũng chẳng thể chướng ngại người ấy, người ấy đến đi tự do!

 

      (Sớ) Xứng Lư, tắc tự tánh vọng cùng chân lộ, thị lâm chung Phật hiện nghĩa.

     ()稱理,則自性妄窮真露,是臨終佛現義。

      (Sớ: Xứng Lư th́ tự tánh vọng hết, chân tánh tỏ lộ, đó là ư nghĩa “lâm chung, Phật hiện”).

 

      Trong tiết này, đoạn kinh văn này bàn luận xứng tánh, cũng nhằm nêu bày nguyên cớ v́ sao khi lâm chung, Phật hiện tiền. “Tự tánh vọng cùng” (Tự tánh hết sạch vọng), “cùng” () có nghĩa là hết sạch. “Chân” là chân tánh, chân tánh đă hiển lộ. Trong một câu này, có cảnh giới cạn hay sâu sai khác. Sự nhất tâm th́ vọng tưởng và phiền năo bị chế phục, chưa đoạn, chân tánh chẳng hiển lộ, chỉ là khuất phục phiền năo mà thôi, chẳng khởi tác dụng. Phật, Bồ Tát đại từ đại bi, trong các pháp môn khác, đối với cảnh giới này sẽ chẳng thấy Phật, vô dụng. Đối với pháp môn Tịnh Độ, ở trong cảnh giới này là được rồi, có thể cảm ứng Phật hiện thân, gọi là “đới nghiệp văng sanh”, sanh vào cơi Phàm Thánh Đồng Cư. Đấy là chỗ thù thắng bậc nhất của Tịnh Tông. Nếu [chân tánh] thật sự hiển lộ, lộ một phần, đó là Lư nhất tâm bất loạn. Đích xác là đoạn một phần vọng, bèn hiển lộ một phần chân, chân tâm hiển lộ một phần. Trong các tông phái khác, đó là Sơ Trụ Bồ Tát của Viên Giáo hoặc Sơ Địa Bồ Tát của Biệt Giáo, xác thực là khác nhau. Đạt đến cảnh giới này, trong phần trước đă nói là “đi, ở vô ngại”, đó là đắc đại tự tại. Tịnh Tông thù thắng chẳng phải là thù thắng ở chỗ này, mà thù thắng ở chỗ chế phục phiền năo, chẳng đoạn, mà đới nghiệp văng sanh, thù thắng ở chỗ này. Công phu như vậy, trong một đời này, mỗi người chúng ta thảy đều làm được. Nếu nói đoạn phiền năo, phải đoạn trừ vọng, phải hiển lộ chân, đích xác là chẳng phải ai nấy đều có thể làm được trong một đời, quá khó khăn! Nếu chỉ khuất phục, chẳng đoạn, đích xác là ai nấy đều có thể làm được. Đương nhiên chúng ta thấy Phật, [hoặc thấy] Tây Phương Tam Thánh đều là Hóa Thân. Hóa Thân hay Ứng Thân, chư vị nhất định phải ghi nhớ, đều là chân Phật. Ngàn muôn phần đừng nghĩ Pháp Thân hay Báo Thân mới là chân Phật, Ứng Hóa Thân là giả Phật. Nếu quư vị có mối nghi hoặc ấy, phiền phức to lớn! Nếu nghi hoặc nặng nề, đời này chẳng thể văng sanh. Dẫu nghi hoặc chẳng nặng, có nỗi nghi hoặc nông cạn, cũng bị văng sanh trong Biên Địa, chẳng thể dự vào phẩm vị văng sanh. Kinh Đại Thừa thường nói: “Nghi vi Bồ Tát trọng chướng”, [nghĩa là] nghi hoặc là chướng ngại trọng đại trong sự tu hành của hàng Bồ Tát, chúng ta nhất định phải đoạn nghi sanh tín. Bộ Sớ Sao của Liên Tŕ đại sư nói thật sự hết sức tường tận, mục đích của Ngài là giúp chúng ta đoạn nghi, sanh tín. Từ xưa tới nay, những chỗ có thể gây nên nghi hoặc, Ngài đều nêu ra, đều giải đáp rất tường tận cho chúng ta. Do vậy, mục đích hết sức hiển nhiên là giúp chúng ta đoạn nghi sanh tín, kiên cố nguyện vọng cầu sanh. Qua Sớ Sao, đại sư đă thật sự hiển thị ḷng từ bi chân chánh, thật sự tạo lợi ích, thật sự giúp đỡ chúng ta. Hôm nay chúng tôi giảng tới chỗ này!

A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

Phần 124 hết

 



[1] Ư nói đang lúc rất may mắn.

[2] Bốn câu là “có, không, cũng có cũng không, chẳng phải có chẳng phải không”. Bốn câu này chính là sự khái quát các quan niệm chấp trước, tương đối của con người.

[3] Đoạn này trích từ phẩm Phật Bất Tư Nghị Pháp (các pháp chẳng thể nghĩ bàn của Phật) trong Bát Thập Hoa Nghiêm. Khi ấy, các vị Bồ Tát dự hội chợt nghĩ về các điều chẳng thể nghĩ bàn nơi Phật quốc độ, Phật bổn nguyện, Phật chủng tánh, Phật xuất hiện, Phật thân, Phật âm thanh v.v… Do được thần lực của Tỳ Lô Giá Na Phật gia tŕ, Thanh Liên Hoa Tạng Bồ Tát trụ trong sự vô úy của Phật, nhập Phật pháp giới, được hưởng oai đức của Phật, thần thông tự tại, đắc sự quán sát quảng đại vô ngại của Phật, bèn giảng giải các pháp chẳng thể nghĩ bàn của đức Phật cho các vị Bồ Tát trong thế giới Hoa Tạng. Xin trích đoạn nói về mười thứ Phật sự như sau: “Các Phật tử! Chư Phật Thế Tôn trong hết thảy thế giới, hết thảy thời, có mười thứ Phật sự. Những ǵ là mười? Một là nếu có chúng sanh chuyên tâm ức niệm bèn hiện trước người ấy. Hai là nếu có chúng sanh tâm chẳng điều thuận, bèn v́ kẻ ấy thuyết pháp. Ba là nếu có chúng sanh có thể sanh ḷng tin thanh tịnh, ắt khiến cho người ấy có được vô lượng thiện căn. Bốn là nếu có chúng sanh có thể nhập pháp vị, thảy đều làm cho người ấy chứng nhập trong hiện tại, không ǵ chẳng hiểu rơ. Năm là giáo hóa chúng sanh chẳng mỏi mệt. Sáu là dạo các cơi Phật, qua lại vô ngại. Bảy là đại bi chẳng bỏ hết thảy chúng sanh. Tám là hiện thân biến hóa, hằng chẳng đoạn tuyệt. Chín là thần thông tự tại, chưa từng ngơi nghỉ. Mười là an trụ pháp giới, có thể quan sát trọn khắp”.

[4] Nhiếp Đại Thừa Luận (Mahāyāna-samgraha) thường được gọi tắt là Nhiếp Luận, do Vô Trước Bồ Tát biên soạn nhằm giải thích phẩm Nhiếp Đại Thừa trong A Tỳ Đạt Ma Đại Thừa Kinh. Khi truyền sang Trung Hoa, bộ luận này được phiên dịch ba lần bởi các vị Phật Đà Phiến Đa (thời Bắc Ngụy), Chân Đế (thời Trần), và Huyền Trang (đời Đường). Bản dịch của ngài Huyền Trang được sử dụng phổ biến nhất. Hiện thời c̣n có một bản dịch nữa do Lữ Trừng dịch từ tiếng Tây Tạng sang tiếng Hán có nhan đề là Tây Tạng Truyền Bổn Nhiếp Đại Thừa Luận. Nội dung của luận này rất phức tạp, luận định về bản thể của danh tướng, A Lại Da, Tướng Phần, Kiến Phần, Vô Phân Biệt Trí, Duy Thức Tánh v.v… nhưng đều lấy A Lại Da làm khởi điểm.

[5] Minh Vương (Vidyā-rāja), c̣n gọi là Kim Cang Minh Vương, Tŕ Minh Vương, Phẫn Nộ Tôn, hoặc Phẫn Nộ Vương, là thần hộ pháp của Phật giáo trong Mật Tông. Những vị này thường là hóa thân của Phật, Bồ Tát, có h́nh dạng phẫn nộ, hung ác, mang ư nghĩa chuyển hóa tam độc thành từ bi, trí huệ. Kinh điển Mật Tông thường gọi những vị này là Giáo Lệnh Luân Thân (敎令輪身) chủ yếu nhằm hóa độ chúng sanh căn tánh ương ngạnh. Các Ngài khéo sử dụng oai lực và phẫn nộ khiến cho chúng sanh kính sợ, hàng phục, quy y Phật pháp. Tương ứng với các vị Minh Vương là Minh Phi, thông thường là phối ngẫu của Minh Vương. Các vị Heruka (Hách Lỗ Ca, Đại Lực Kim Cang Thần) trong Phật Giáo Tây Tạng cũng là một dạng Minh Vương. Theo truyền thống Đông Mật có ba mươi bốn vị Minh Vương, nhưng năm vị sau đây quan trọng nhất (do các ngài là hóa thân của Ngũ Trí Như Lai): Bất Động Minh Vương (Acalanātha, hóa thân của Tỳ Lô Giá Na Như Lai), Hàng Tam Thế Minh Vương (Trailokya-vijaya-rāja, hóa thân của Bất Động Như Lai), Quân Trà Lợi Minh Vương (Kuṇḍali Vidyārāja, hóa thân của Bảo Sanh Như Lai), Đại Oai Đức Minh Vương (Yamāntaka Vajrabhairava, Diễm Man Đắc Ca, hóa thân của A Di Đà Như Lai. Tạng Truyền Phật giáo lại coi vị này là hóa thân của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát), và Kim Cang Dạ Xoa Minh Vương (Vajra Krodha Mahābala Ucchuṣma, c̣n gọi là Hỏa Thủ Kim Cang, Trừ Uế Kim Cang, Uế Tích Kim Cang, hoặc Ô Sô Sắt Ma, hóa thân của Bất Không Thành Tựu Như Lai). Ngoài ra, những vị sau đây cũng thường được Đông Mật thờ phụng, hành tŕ nghi quỹ khá phổ biến là Ái Nhiễm Minh Vương (Rāgarāja), Khổng Tước Minh Vương (Mahamayuri), Mă Đầu Minh Vương (Hayagrīva, hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát), Đại Luân Minh Vương (Mahā-cakra), Đại Nguyên Soái Minh Vương (Āṭavaka) v.v…

[6] Hoàng Cực Kinh có tên gọi đầy đủ là Hoàng Cực Kinh Thế (皇極經世) do Thiệu Ung (Thiệu Khang Tiết) soạn vào đời Bắc Tống. Những suy luận và dự đoán dựa trên thuật Hà Lạc (Hà Đồ, Lạc Thư) và Tượng Số. Sách gồm mười hai quyển, sáu mươi bốn thiên, chia thành các phần Nguyên Hội Vận Thế, Thanh Âm Luật Phẩm, Quán Vật Nội Thiên, và Quán Vật Ngoại Thiên. Nổi tiếng nhất là phần Nguyên Hội Vận Thế gồm rất nhiều lời luận đoán về các triều đại. Ông là người đầu tiên đă đưa ra khái niệm chu kỳ diễn biến lịch sử như sau: Cứ hết một Nguyên, mọi việc sẽ lặp lại từ đầu. Một Nguyên gồm mười hai Hội, một Hội gồm ba mươi Vận, một Vận là mười hai Thế. Mỗi Thế là ba mươi năm. Do vậy, một Nguyên là mười hai vạn chín ngàn sáu trăm năm.

Thiệu Ung (1011-1077), tự là Nghiêu Phu, tự xưng là An Lạc Tiên Sinh, hoặc Bách Nguyên Tiên Sinh, thụy hiệu là Khang Tiết, là một nhà Dịch Học và tư tưởng nổi tiếng sống vào thời Bắc Tống. Ông giao du thân thiết với Tư Mă Quang, Châu Đôn Di và Trương Tải, Tŕnh Hạo và Tŕnh Di (là những nhà Lư Học nổi tiếng thời ấy), nên người đời thường gọi gộp chung là Bắc Tống Ngũ Tử. Ông viết rất nhiều, nhưng chỉ có bộ Hoàng Cực Kinh Thế là nổi tiếng nhất.

[7] Phục đoạn: Chế phục, chế ngự, hàng phục, chẳng cho phiền năo dấy lên hiện hành, hoàn toàn chưa đoạn trừ.

[8] Đối với phần này, sách Diễn Nghĩa chú giải rất sơ sài: “Từ chữ ‘thần du đại phương’ trở đi nhằm giải thích sự chẳng trở ngại. Bài tụng trong kinh Hoa Nghiêm như sau: ‘Hựu phóng quang minh danh kiến Phật, thử quang giác ngộ tương một giả, linh bỉ tùy niệm kiến Như Lai, mạng chung đắc sanh kỳ tịnh quốc’ (Lại phóng quang minh tên thấy Phật, quang ấy giác ngộ kẻ sắp chết, khiến cho tùy niệm thấy Như Lai, mạng hết được sanh cơi tịnh ấy)”.