A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

阿彌陀經疏鈔演義

Phần 132

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và Đức Phong

Tập 263

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang năm trăm hai mươi chín:

 

      (Sớ) Chư Phật cáo ngữ chúng sanh, cổ hữu nhị thuyết: Nhất vị chuyển dẫn, nhất vị đồng thời. Kim kiêm dụng chi.

()諸佛告語眾生,古有二說:一謂轉引,一謂同時。今兼用之。

(Sớ: “Chư Phật nói với chúng sanh”. Cổ nhân có hai cách nói: Một là chuyển dẫn, một thuyết khác là đồng thời. Nay dùng cả hai thuyết ấy).

 

Mười phương chư Phật bảo đại chúng: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh” (Chúng sanh các ngươi hăy nên tin kinh Ca Ngợi Công Đức Chẳng Thể Nghĩ Bàn Được Hết Thảy Chư Phật Hộ Niệm này). Đối với lời này, từ xưa tới nay có hai cách nói: Một là “chuyển dẫn” (轉引: kể lại, nhắc lại), loại kia là “đồng thời” (同時: nói cùng một lúc).

 

      (Sao) Chuyển dẫn giả, Từ Ân vị lục phương chư Phật, cáo bổn quốc trung chi ngữ, Thích Ca chuyển dẫn dĩ chứng kỷ ngôn. Linh Chi vị thị Thích Ca thuyết thử kinh thời, lục phương chư Phật đồng thời tán thán.

      ()轉引者,慈恩謂六方諸佛,告本國中之語,釋迦轉引以證己言;靈芝謂是釋迦說此經時,六方諸佛同時讚歎。

(Sao: “Chuyển dẫn”: Ngài Từ Ân nói sáu phương chư Phật nói lời ấy trong cơi ḿnh, đức Phật Thích Ca kể lại lời ấy để chứng minh cho lời nói của chính ḿnh. [“Đồng thời” là như] ngài Linh Chi bảo: Khi Phật Thích Ca nói kinh này, sáu phương chư Phật đồng thời tán thán).

 

      Cổ đức có hai cách nói như vậy. Hai cách ấy đều hợp lẽ, lại cũng là sự thật. Từ Ân đại sư là ngài Khuy Cơ. Khuy Cơ đại sư nói như vậy trong Di Đà Kinh Thông Tán Sớ, đó là tác phẩm chú giải kinh Di Đà của Khuy Cơ đại sư. Ngài nói hết thảy chư Phật trong sáu phương giống như Thích Ca Mâu Ni Phật đối trước chúng ta, v́ chúng ta giới thiệu Tây Phương Cực Lạc thế giới, giới thiệu A Di Đà Phật. Nói cách khác, hết thảy chư Phật giảng Tịnh Độ Tam Kinh trong cơi nước của chính các Ngài, cũng giảng Tịnh Độ Tam Kinh cho nhân dân của chính ḿnh. Đương nhiên, ư nghĩa này của ngài Từ Ân xác thực là sự thật. Thích Ca Mâu Ni Phật trích dẫn những lời tán thán Tịnh Độ của chư Phật khi giảng ba kinh cho đại chúng, trích dẫn những lời lẽ ấy để chứng minh lời Ngài nói giống hệt như chư Phật Như Lai, chẳng khác ǵ nhau! Linh Chi đại sư nói cách khác, nhưng cũng có lư. Ngài nói khi Thích Ca Mâu Ni Phật giảng kinh này, cũng có nghĩa là khi đức Phật giảng ba kinh [Tịnh Độ], hết thảy chư Phật trong sáu phương, chẳng có vị Phật nào không tán thán, đây cũng là sự thật. Nói cách khác, khi Thích Ca Mâu Ni Phật v́ chúng ta giảng kinh này, hết thảy chư Phật đều tán thán. Khi chư Phật giảng kinh này, Thích Ca Mâu Ni Phật cũng tán thán giống hệt. Nhất định là chư Phật tán thán lẫn nhau. Hai ư nghĩa đều là thật. V́ thế, Liên Tŕ đại sư sử dụng cả hai ư nghĩa.

 

      (Sao) Kim kiêm dụng giả, dĩ thử quảng đại tối yếu pháp môn.

      ()今兼用者,以此廣大最要法門。

(Sao: Nay sử dụng cả hai [ư nghĩa ấy] là v́ pháp môn rộng lớn, trọng yếu nhất này).

 

      “Quảng đại tối yếu pháp môn”, câu này rất quan trọng. Nói thật ra, chẳng phải là triệt để hiểu rơ chân tướng sự thật, sẽ không thể thốt lên câu này. Pháp môn Tịnh Độ là pháp môn quảng đại tối yếu, [tức là] pháp môn quan trọng nhất, là pháp môn tinh túy nhất.

 

      (Sao) Chư Phật b́nh thời tất sở thường tán.

      ()諸佛平時必所常讚。

      (Sao: Ắt luôn được chư Phật thường xuyên tán thán).

 

      Giống như Thích Ca Mâu Ni Phật suốt một đời thuyết pháp cả bốn mươi chín năm, giảng kinh hơn ba trăm hội, gần như trong mỗi hội đều nhắc tới sự thù thắng của Tịnh Tông. Cuối kinh Hoa Nghiêm, “mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc”. Trong phẩm Dược Vương của kinh Pháp Hoa cũng khuyên người ta văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương của kinh Lăng Nghiêm nay đă được xếp vào Tịnh Độ Ngũ Kinh. Các vị đại đức của Tịnh Độ Tông Nhật Bản đă tra duyệt Đại Tạng Kinh, thấy [pháp môn Tịnh Độ được] đức Phật nói rơ rệt, nói khẩn thiết trong hơn hai trăm bộ kinh điển, gần đến ba trăm bộ! Điều này chứng tỏ Thích Ca Mâu Ni Phật thường giảng pháp môn quảng đại tối yếu này. V́ thế, cổ đức nói “ngàn kinh vạn luận, nơi nào cũng chỉ quy” là có lư, [bởi lẽ đức Phật và chư Tổ] thường nhắc đến pháp môn này.

 

      (Sao) Nhi chánh đương Thích Ca thuyết thử kinh thời, thập phương chư Phật tề tán, diệc phục hà ngại?

      ()而正當釋迦說此經時,十方諸佛齊讚,亦復何礙。

(Sao: Nhưng ngay trong lúc Phật Thích Ca nói kinh này, mười phương chư Phật đều cùng tán thán, há cũng có trở ngại ǵ ư?)

 

      Chẳng có chướng ngại!

 

      (Sao) Di hiển thử kinh, năi phổ nhăn pháp môn, biến hồ pháp giới, nhất thuyết, nhất thiết thuyết dă.

      ()彌顯此經,乃普眼法門,遍乎法界,一說一切說也。

(Sao: Hiển lộ trọn vẹn kinh này chính là pháp môn phổ nhăn trọn khắp pháp giới. Một vị nói chính là hết thảy các vị đều nói vậy).

 

      Pháp môn phổ nhăn là ǵ?

 

      (Diễn) Phổ nhăn hữu nhị, nhất đại trí phổ nhăn phổ chiếu pháp giới, nhị đại bi phổ nhăn phổ chiếu chúng sanh. Kim tuy kiêm nhị giả, ư trọng đại bi.

      ()普眼有二,一大智普眼普照法界,二大悲普眼普照眾生,今雖兼二者,意重大悲。

(Diễn: Phổ nhăn có hai thứ: Một là đại trí phổ nhăn chiếu khắp pháp giới, hai là đại bi phổ nhăn chiếu khắp chúng sanh. Nay tuy có cả hai thứ, nhưng thiên trọng ư nghĩa đại bi).

 

      Hai ư nghĩa ấy đều có, nhưng thiên về đại bi.

 

(Diễn) Chúng sanh biến pháp giới, tắc đại bi biến pháp giới. Đại bi biến pháp giới, tắc thử pháp môn diệc biến pháp giới.

()眾生遍法界,則大悲遍法界,大悲遍法界,則此法門亦遍法界。

(Diễn: Chúng sanh trọn khắp pháp giới, tức là đại bi trọn khắp pháp giới. Đại bi trọn khắp pháp giới chính là pháp môn này cũng trọn khắp pháp giới).

 

      Đây là ư nghĩa “phổ nhăn trọn khắp pháp giới”.

 

      (Diễn) Nhất thuyết, nhất thiết thuyết dă.

      ()一說一切說也。

      (Diễn: Một vị nói là hết thảy các vị đều nói).

 

      Một vị Phật nói, hết thảy chư Phật đều nói. Thật sự hiển thị pháp môn này là pháp môn tinh yếu để thành Phật.

 

      (Sớ) Xứng Lư, tắc tự tánh bất biến, thị thành thật nghĩa. Tự tánh bất ly, thị hộ niệm nghĩa.

      ()稱理,則自性不變,是誠實義;自性不離,是護念義。

(Sớ: Xứng Lư th́ tự tánh bất biến là ư nghĩa “thành thật”. Tự tánh chẳng ĺa, là ư nghĩa “hộ niệm”).

 

      Đoạn này là nói xứng tánh.

 

      (Sao) Thuần chân tuyệt vọng, vạn kiếp như nhiên. Ngôn thành thật giả, thục quá ư thị!

      ()純真絕妄,萬劫如然。言誠實者,孰過於是。

(Sao: Thuần chân, dứt vọng, muôn kiếp đều là như vậy. Nói đến thành thật th́ không chi hơn điều này được).

 

      Kinh nói “thuyết thành thật ngôn”, chẳng có ǵ thành thật hơn điều này. Thành thật đến tột bậc; v́ thế, bảo là “thuần chân tuyệt vọng”. Đức Phật nói hết thảy các kinh khác có phải cũng là nói lời thành thật hay không? So với kinh này, có sai biệt hay chăng? Xác thực là có sai biệt! Nếu bộ kinh này, pháp môn này, chẳng dẫn về Cực Lạc ngay trong một đời này th́ tuy là lời thành thật, [vẫn là] chẳng đạt đến tột bậc, vẫn c̣n khiếm khuyết một tí. Cổ đức nói: Kinh Hoa Nghiêm nếu chẳng có quyển cuối cùng “mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc”, Hoa Nghiêm sẽ chẳng viên măn, so với kinh Vô Lượng Thọ và kinh A Di Đà xác thực là sẽ thua sút rất nhiều. Do cuối kinh Hoa Nghiêm có “mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc”, kinh Hoa Nghiêm hoàn toàn bằng vai phải lứa với kinh Di Đà và kinh Vô Lượng Thọ, cũng là thuần chân đến mức tột cùng. Chư vị hiểu rơ đạo lư này, dùng tiêu chuẩn này để quan sát hết thảy kinh luận Đại Thừa, mới hiểu rơ [thế nào là] liễu nghĩa và bất liễu nghĩa như đức Phật đă nói. Pháp môn nào là liễu nghĩa rốt ráo? Trong một đời này, văng sanh bất thoái thành Phật, đó gọi là liễu nghĩa rốt ráo. Nếu chẳng đạt được mục tiêu ấy, sẽ chẳng thể coi là liễu nghĩa rốt ráo. V́ thế, mấy câu này cũng là nói đến tột bậc vậy!

 

      (Sao) Tức kim nhất thị, nhất thính, nhất ngôn, nhất động, mạc bất dữ câu.    

      ()即今一視一聽,一言一動,莫不與俱。

(Sao: Tức là nay một cái nh́n, một cái nghe, một lời nói, một hành động, không ǵ chẳng tương ứng).

 

      Mấy câu này hết sức gần gũi với những điều thường được nói trong Thiền Tông. V́ thế, trong kinh Đại Tập, đức Phật đă dạy: “Niệm Phật tức là vô thượng thậm thâm Thiền”. Lời ấy là thật; từ mấy câu này của Liên Tŕ đại sư, chúng ta có thể cảm nghiệm kinh Đại Tập nói có lư.

 

      (Sao) Cắng cổ, cắng kim, thường hộ, thường niệm, hành, trụ, tọa, ngọa, bất ly giá cá, hà đắc thành ngôn bất tín, hộ ngă thiên vi, khả vị tự cuống, tự khi, tự đào, tự thệ.

      (Diễn) Thuần chân tuyệt vọng tứ cú, vị Chân Như bổn vô vọng nhiễm, thử chân thành thật dă. Ngoại giáo dĩ lục thức bất khởi hư ngụy, nhất vị chuyên thành, tiện vi thành thật giả. Phi dă, dĩ thử thức nhân trần nhi hữu, ly trần tắc vô, toàn thể thị vọng cố. Nhất thị, nhất thính đẳng giả, cổ vân: “Nhật dụng sự vô biệt, duy ngô tự ngẫu hài. Đầu đầu phi thủ xả, xứ xứ vật trương quai. Châu, tử thùy vi hiệu, khâu, sơn tuyệt điểm ai. Trước y tịnh khiết phạn, vận thủy cập ban sài”, thị dă. Hựu thị thính ngôn động mạc bất dữ câu giả, sở vị ngô nhân thực tức khởi cư, vô bất thừa tha ân lực dă. Cắng cổ cắng kim thường hộ thường niệm giả, sở vị Chân Như nội huân vô hữu gián đoạn dă. Hành, trụ, tọa, ngọa bất ly giá cá giả, sở vị “dạ dạ băo Phật miên, triêu triêu hoàn cộng khởi” dă. Thượng ước tự tánh xuất triền thuyết bất ly, thử ước tự tánh tại triền thuyết bất ly dă.

      ()亙古亙今,常護常念,行住坐臥,不離這個,何得誠言不信,護我偏違,可謂自誑自欺,自逃自逝。

()純真絕妄四句。謂真如本無妄染。此真誠實也。外教以六識不起虛偽。一味專誠。便為誠實者。非也。以此識因塵而有。離塵則無。全體是妄故。一視一聽等者。古云。日用事無別。唯吾自偶諧。頭頭非取捨。處處勿張乖。朱紫誰為號。邱山絕點埃。著衣并喫飯。運水及搬柴。是也。又視聽言動莫不與俱者。所謂吾人食息起居。無不承他恩力也。亙古亙今常護常念者。所謂真如內熏無有間斷也。行住坐臥不離這箇者。所謂夜夜抱佛眠。朝朝還共起也。上約自性出纏說不離。此約自性在纏說不離也。

(Sao: Suốt xưa, trọn nay, thường hộ tŕ, thường niệm. Đi, đứng, nằm, ngồi, chẳng ĺa điều này, há nên chẳng tin lời thành thật, khăng khăng trái nghịch sự hộ niệm của Phật đối với ta? Đáng gọi là tự lừa, tự dối, tự trốn, tự bỏ đi!

Diễn: Bốn câu “thuần chân tuyệt vọng” là nói Chân Như bổn tánh chẳng có vọng nhiễm, đấy chính là thành thực chân thật. Ngoại giáo cho rằng “sáu thức chẳng khởi hư ngụy, một mực chuyên thành, đó chính là thành thật”. Chẳng đúng! Bởi lẽ thức ấy do trần mà có, ĺa khỏi trần bèn chẳng có, cho nên toàn thể là vọng. “Một cái nh́n, một cái nghe”: Cổ nhân nói: “Chuyện thường ngày chẳng khác, riêng ta tự ḥa hài. Mọi chuyện đừng lấy bỏ, chốn chốn chớ dị kỳ, son, tía ai đặt hiệu, núi, g̣ chẳng mảy trần. Mặc áo và ăn uống. Gánh nước và chẻ củi” chính là nói về ư này. Lại “thấy, nghe, nói năng, cử động, không ǵ chẳng tương ứng” là như đă nói: Chúng ta ăn uống, nghỉ ngơi, hành động, không ǵ chẳng nhờ vào ân lực của nó (Chân Như bản tánh). “Suốt xưa, trọn nay, thường hộ tŕ, thường niệm, có nghĩa là Chân Như huân tập bên trong chẳng hề gián đoạn. “Đi, đứng, ngồi, nằm, chẳng ĺa điều này” là như nói: “Đêm đêm ôm Phật ngủ, sáng sáng cùng nhau thức”. Trong phần trước, dựa theo “tự tánh thoát khỏi triền phược” mà nói “chẳng ĺa”. Ở đây, dựa trên “tự tánh ở trong triền phược” mà nói “chẳng ĺa’ vậy).

 

      Mấy câu cuối này là lời cảm thán vô hạn của Liên Tŕ đại sư đối với người học Phật, đúng là “cảm thán vô hạn”. Học Phật mà chẳng chịu học pháp môn này, thật đáng tiếc, đúng là “ở ngay trước mặt mà bỏ lỡ”. “Cắng cổ cắng kim” (Suốt xưa trọn nay): Từ xưa cho đến nay chưa hề gián đoạn. “Thường hộ”: “Hộ” () là bảo vệ. “Thường niệm”: Niệm () là nghĩ tới, tức là chư Phật Như Lai đối với hết thảy chúng sanh chưa hề gián đoạn. “Hành, trụ, tọa, ngọa, bất ly giá cá” (Đi, đứng, nằm, ngồi, chẳng ĺa điều này (chân tánh), đấy là sự thật. “Hà đắc thành ngôn bất tín” (Há nên chẳng tin lời thành thật): Lời lẽ của chư Phật Như Lai chí thành như vậy, chân thành đến tột cùng như vậy, v́ sao chúng ta vẫn chẳng tin tưởng? Phật hộ niệm chúng ta, chúng ta khăng khăng chống trái Ngài, khăng khăng chẳng chịu tiếp nhận. Nói theo tánh, điều này hết sức chánh xác. Chúng ta niệm Phật, Phật hộ niệm; chúng ta chẳng niệm Phật, Phật vẫn hộ niệm. Phật trước nay chưa hề phân biệt, chẳng chấp trước, b́nh đẳng hộ niệm. “Tự khi, tự cuống, tự đào, tự thệ” (Tự dối, tự lừa, tự trốn, tự bỏ đi), khăng khăng chẳng chịu tiếp nhận, khăng khăng cứ gặp Phật bèn bài xích Ngài, sai lầm to lớn! Người giống như vậy, chẳng cần nói là những kẻ b́nh phàm chẳng tin Phật, ngay trong những người niệm Phật [kẻ có thái độ như thế] vẫn là chiếm đại đa số! Nếu họ thật sự tin tưởng, ai nấy đều văng sanh cả rồi! Cổ nhân nói “vạn người tu, vạn người đến”, nay v́ sao trong vạn người tu, chỉ có một hai người văng sanh? Do vậy có thể biết, đại đa số phạm phải khuyết điểm này, tức là chẳng thể thật sự tin tưởng, vẫn trái nghịch lời khuyên bảo chân thật của đức Phật. Chúng tôi giới thiệu phương Đông tới đây [là hết]. Lại xem tiếp phần sau là phương Nam:

 

      (Kinh) Xá Lợi Phất! Nam phương thế giới, hữu Nhật Nguyệt Đăng Phật, Danh Văn Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tu Di Đăng Phật, Vô Lượng Tinh Tấn Phật, như thị đẳng Hằng hà sa số chư Phật.

      ()舍利弗。南方世界。有日月燈佛。名聞光佛。大燄肩佛。須彌燈佛。無量精進佛。如是等恆河沙數諸佛。

(Kinh: Xá Lợi Phất! Thế giới phương Nam có Nhật Nguyệt Đăng Phật, Danh Văn Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tu Di Đăng Phật, Vô Lượng Tinh Tấn Phật, các vị Phật nhiều như số cát sông Hằng như vậy).

 

      Trước hết, nêu lên danh hiệu của các vị Phật ở phương Nam. Phương Nam cũng có vô lượng vô biên thế giới, đương nhiên cũng là vô lượng vô biên chư Phật Như Lai. Đức Thế Tôn cũng nêu đại lược năm vị Phật. Trong Ngũ Hành, phương Nam thuộc Hỏa. Tướng của Hỏa là quang minh. V́ thế, phương Nam biểu thị trí huệ. Thiện Tài đồng tử tham học, các vị thiện tri thức chỉ dạy Ngài phương hướng [để đến tham phỏng vị thiện tri thức kế tiếp] đều là đến phương Nam. Thiện tri thức đều ở tại phương Nam, chẳng lẽ phương Đông, phương Tây, phương Bắc đều chẳng có thiện tri thức hay sao? Thật ra, phương nào cũng đều có, nhưng thiện tri thức trụ tại phương nào, cũng đều nói [nơi ấy] là phương Nam. “Phương Namở đây chẳng phải là phương Nam trong phương hướng, mà là phương Nam trong sự biểu thị pháp. Phương Nam tượng trưng trí huệ quang minh. Hễ có thiện tri thức trụ tại ở phương nào, phương ấy là phương hướng quang minh, là nơi trí huệ, là nơi quang minh, biểu thị ư nghĩa này [cho nên gọi nơi thiện tri thức trụ là phương Nam].

Trong đoạn này, Phật hiệu của năm vị Phật sung măn quang minh. Nhật Nguyệt Đăng (Candrasūryapradīpa) là quang minh; Danh Văn Quang (Yaśas-prabhā), Đại Diệm Kiên (Mahā-rciskāndha), Diệm () là ngọn lửa, thảy đều biểu thị ư nghĩa quang minh. Có người nói kẻ niệm Phật là Tiểu Thừa, là kẻ chỉ lo tự giải thoát cho riêng ḿnh, là phường trốn tránh hiện thực. Tựa đề kinh Vô Lượng Thọ mở đầu bằng hai chữ Đại Thừa, chẳng phải là Tiểu Thừa! Kinh Vô Lượng Thọ là Đại Thừa, kinh A Di Đà đương nhiên là Đại Thừa, v́ hai kinh cùng là một bản kinh, một đằng nói rộng, một đằng nói đại lược; cổ nhân bảo [hai kinh ấy] là Đại Bổn và Tiểu Bổn. Kinh này là kinh Đại Thừa. Cũng có kẻ nói: Người niệm Phật có lẽ là có thể tu được một chút Định, họ cũng tu nhất tâm bất loạn, nhưng chẳng có Huệ. Quư vị thấy ở đây là sung măn trí huệ, chẳng có Huệ sao được? Bởi lẽ, năm vị Phật ở phương Nam biểu thị sự tu Huệ. Trong phần trước, năm vị Phật ở phương Đông biểu thị căn bản trong tu hành. Điều kiện tiên quyết là như như bất động, đó là bất động giác, tức A Súc Bệ Phật. Trong danh hiệu của ba vị Phật đều có chữ Tu Di, nhằm biểu thị tự tánh, biểu thị ba thân, tức Báo Thân, Pháp Thân, và Ứng Hóa Thân. Cuối cùng, Diệu Âm Phật biểu thị phương pháp tu hành, ư nghĩa này rất rơ rệt.

      Tuy nói học Phật là “phước huệ song tu”, nhưng huệ khẩn yếu hơn phước. “Tu huệ chẳng tu phước”, tuy cuộc sống khó khăn đôi chút, nhưng chắc chắn là chẳng đọa lạc. “La Hán thác không bát” (La Hán đi khất thực ôm bát rỗng): La Hán ra ngoài khất thực chẳng xin được thức ăn, thiếu phước mà! Chứng đắc quả A La Hán, Ngài có Huệ, so với kẻ tu phước chẳng tu huệ vẫn tốt đẹp hơn quá nhiều! “Tu phước chẳng tu huệ, voi to đeo chuỗi ngọc”. Chẳng có trí huệ sẽ biến thành súc sanh có phước báo. Con voi to được quốc vương cỡi, khắp thân voi giắt đầy vàng, bạc, châu báu, chuỗi ngọc, rốt cuộc súc sanh vẫn là súc sanh! Điều này cho thấy: Người biết tu hành nhất định coi trọng Huệ hơn phước, đó là đúng. Nếu coi trọng phước hơn huệ, sai mất rồi, phiền phức to lớn. Đương nhiên, phước huệ song tu là tốt nhất. Trong phước huệ song tu, phải nhớ thiên trọng Huệ, chớ nên thiên trọng phước. Thứ tự của sáu phương bao hàm ư nghĩa rất sâu. Chúng ta trọn đủ thái độ tu hành tốt đẹp, có mục tiêu tu học, thực hiện từ chỗ nào? Thực hiện từ Huệ! V́ thế, chẳng phải là thực hiện từ phước, mà khởi sự từ Huệ, ư nghĩa này rất sâu. Trước hết, chúng ta xem đại sư giải thích danh hiệu của năm vị Phật này [như thế nào].

 

      (Sớ) Nhật Nguyệt Đăng giả, đại trí vô tận cố.

      ()日月燈者,大智無盡故。

      (Sớ: Nhật Nguyệt Đăng là đại trí vô tận).

 

      Trí huệ ấy chẳng cùng tận, biểu thị ư nghĩa này.

 

      (Sao) Đại trí vô tận giả.

      ()大智無盡者。

(Sao: Đại trí vô tận…)

 

      Nói rơ đại trí vô tận là ǵ; v́ danh hiệu của Phật được kiến lập theo tỷ dụ.

 

      (Sao) Nhật chiếu trú, nguyệt chiếu dạ, đăng chiếu nhật nguyệt chi sở bất cập, phổ biến kế tục, cánh vô cùng tận.

      ()日照晝,月照夜,燈照日月之所不及,普遍繼續,更無窮盡。

(Sao: Mặt trời chiếu ban ngày, mặt trăng soi ban đêm, đèn chiếu những chỗ mặt trời và mặt trăng chẳng soi thấu, nối tiếp trọn khắp, chẳng có cùng tận).

 

      Mặt trời chiếu ban ngày, mặt trăng soi ban đêm. Những chỗ mặt trời, mặt trăng không chiếu tới, đèn bèn soi sáng. Dùng Nhật, Nguyệt, Đăng th́ hết thảy đều được chiếu thấu, dùng điều này làm tỷ dụ.

 

      (Sao) Phật chi đại trí, hoành cắng thập phương, thụ thông tam tế, phương do thị dă.

      ()佛之大智,橫亙十方,豎通三際,方猶是也。

(Sao: Đại trí của Phật theo chiều ngang cùng tột mười phương, theo chiều dọc thông suốt ba đời, cũng giống như thế đó).

 

      Thật giống như mặt trời, mặt trăng và đèn, tỷ dụ trí huệ của Phật, mười phương ba đời không nơi nào chẳng chiếu, không lúc nào chẳng chiếu!

 

      (Sao) Hựu nhật quang phá ám, hữu Bát Nhă nghĩa, danh Nhất Thiết Trí.

      ()又日光破暗,有般若義,名一切智。

(Sao: Ánh mặt trời lại trừ tăm tối, có ư nghĩa Bát Nhă, gọi là Nhất Thiết Trí).

 

      Từ một tỷ dụ khác, phối hợp với ba thứ trí để xét. Mặt trời có thể phá trừ tối tăm, sánh ví tối tăm như vô minh, hoặc ví như phiền năo. Trí huệ có thể đoạn vô minh phiền năo, giống như Nhất Thiết Trí (Sarvajña) vậy!

 

      (Sao) Nguyệt dĩ thanh lương chiếu dạ, hữu Giải Thoát nghĩa, danh Đạo Chủng Trí.

      ()月以清涼照夜,有解脫義,名道種智。

(Sao: Mặt trăng dùng sự mát mẻ để chiếu ban đêm, có ư nghĩa Giải Thoát, gọi là Đạo Chủng Trí).

 

      Giải Thoát là tự tại, biểu thị ư nghĩa Đạo Chủng Trí.

 

      (Sao) Đăng kế nhật nguyệt, thông hồ trú dạ, bất trụ nhị biên.

      ()燈繼日月,通乎晝夜,不住二邊。

      (Sao: Đèn nối tiếp mặt trời, mặt trăng, thông suốt ngày đêm, chẳng trụ vào hai bên).

 

      Ngày và đêm là “nhị biên”. Hai bên đều chiếu, chẳng lệch về bên nào.

 

      (Sao) Thị Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa Đế, hữu Pháp Thân nghĩa, danh Nhất Thiết Chủng Trí.

      (Diễn) Đại trí vô tận hữu nhị thích. Sơ nhất nghĩa ước thụ cùng hoành biến thích. Đệ nhị nghĩa ước Tam Đức, Tam Trí thích. Đức trí tương đối giả, dĩ Nhất Thiết Trí, tức quán Không chi trí, Bát Nhă tảo đăng chư pháp cố. Đạo Chủng Trí, năi quán Tục chi trí, Giải Thoát năi kiến lập chư pháp cố. Nhất Thiết Chủng Trí, quán Trung Đạo chi trí. Pháp Thân huưnh xuất nhị biên, tuyệt chư đối đăi cố.

      ()是中道第一義諦,有法身義,名一切種智。

()大智無盡有二釋。初一義約豎窮橫遍釋。第二義約三德三智釋。德智相對者。以一切智。即觀空之智。般若掃蕩諸法故。道種智。乃觀俗之智。解脫乃建立諸法故。一切種智。觀中道之智。法身迥出二邊。絕諸對待故。

      (Sao: Là Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa Đế, có ư nghĩa Pháp Thân, gọi là Nhất Thiết Chủng Trí

      Diễn: “Đại trí vô tận” có hai cách giải thích: Nghĩa thứ nhất là dựa theo ư nghĩa “tột cùng theo chiều dọc” và “trọn khắp theo chiều ngang” để giải thích. Nghĩa thứ hai là dựa theo Tam Đức và Tam Trí để giải thích. So sánh giữa Đức và Trí th́: Dùng Nhất Thiết Trí, tức là cái trí để quán Không, Bát Nhă quét sạch các pháp. Đạo Chủng Trí chính là trí để quan sát thế tục, Giải Thoát bèn kiến lập các pháp. Nhất Thiết Chủng Trí là trí quán Trung Đạo, Pháp Thân vượt ngoài hai bên, dứt bặt các đối đăi).

 

      Có thể thấy danh hiệu này tràn đầy những ư nghĩa biểu thị pháp, chúng ta nhất định phải hiểu điều này. Chúng ta thường thấy, thường nghe danh hiệu và h́nh tướng của chư Phật, Bồ Tát, hăy thường xuyên cảnh giác chính ḿnh, cảnh tỉnh chính ḿnh, đó là vô lượng công đức lợi ích. Biểu thị pháp rơ rệt nhất chính là Tứ Đại Thiên Vương, họ là các vị Bồ Tát hộ pháp trong Phật môn. Hiểu sự biểu thị pháp th́ mới thật sự có thể cảnh giác, nhắc nhở chính ḿnh, thời thời khắc khắc “giác chứ không mê”. Vị Phật thứ hai:

 

      (Sớ) Danh Văn Quang giả, danh xưng phổ văn, như quang viễn chiếu.

()名聞光者,名稱普聞,如光遠照。

(Sớ:Danh Văn Quang là danh tiếng vang khắp, như ánh sáng chiếu xa).

 

      Biểu thị ư nghĩa này.

 

      (Sao) Thật đại thanh hoằng, cố hữu danh xưng.

     ()實大聲宏,故有名稱。

      (Sao: Có thực chất to lớn, đẹp đẽ, thanh danh sẽ rộng lớn. V́ thế có tiếng tăm).

 

      Người Hoa nói là “thật chí danh quy” (có thực chất tốt đẹp, sẽ có thanh danh). “Thật” () là người ấy có đạo đức chân thật, có học vấn chân thật, có công đức chân thật, tự nhiên là người ấy sẽ rất nổi tiếng. Nay chúng ta gọi “danh văn” (名聞) là mức độ nổi tiếng. “Quang” là trí huệ, người ấy có trí huệ chân thật.

 

      (Sao) Phổ biến văn ư thập phương vô lượng thế giới, như nhật quang chiếu, vô sở bất bị.

      (Diễn) Thật đại thanh hoằng đẳng, danh giả thật chi tân dă. Phật ư Tăng-kỳ kiếp hải, tu vô lượng hạnh, cố danh xưng phổ biến văn ư thập phương.

()普遍聞於十方無量世界,如日光照,無所不被。

()實大聲宏等。名者實之賓也。佛於僧祇劫海。修無量行。故名稱普遍聞於十方。

(Sao: [Thanh danh] vang vọng trọn khắp mười phương vô lượng thế giới, như ánh mặt trời soi chiếu, không đâu chẳng trọn

Diễn: “Có thực chất to lớn, đẹp đẽ, thanh danh sẽ rộng lớn”: Danh là khách của thực chất. Trong các Tăng-kỳ kiếp số nhiều như biển cả, đức Phật đă tu vô lượng hạnh, cho nên tiếng tăm vang dội khắp mười phương).

 

      Nói theo tỷ dụ này. Lại xem vị Phật thứ ba.

 

      (Sao) Đại Diệm Kiên giả.

      ()大燄肩者。

      (Sao: Đại Diệm Kiên là…)

 

      Kiên (vai) có ư nghĩa gánh vác. Hai vai…

 

      (Sao) Kiên biểu nhị trí, Diệm dụ chiếu diệu.

      ()肩表二智,燄喻照耀。

      (Sao: Kiên (vai) biểu thị hai trí, Diệm (ngọn lửa) sánh ví sự chiếu rực).

 

      Hai trí là Quyền Trí và Thật Trí. Diệm () là ngọn lửa, biểu thị trí huệ. Diệm sánh ví sự chiếu rực.

 

      (Sao) Nhị trí giả, Quyền Trí chiếu Sự, Thật Trí chiếu Lư.

      (Diễn) Quyền Trí chiếu Sự giả, quảng hành vạn hạnh, quảng độ chúng sanh, tri pháp, tri cơ, quán căn thọ pháp, xí nhiên phân biệt đẳng. Thật Trí chiếu Lư giả, chánh niệm Chân Như, bất sanh phân biệt, ngôn ngữ đạo đoạn, trực khế vô vi, Như Trí bất nhị đẳng.

      ()二智者,權智照事,實智照理。

     ()權智照事者。廣行萬行。廣度眾生。知法知機。觀根授法。熾然分別等。實智照理者。正念真如。不生分別。言語道斷。直契無為。如智不二等。

      (Sao: Hai trí: Quyền Trí chiếu Sự, Thật Trí chiếu Lư.

      Diễn: “Quyền Trí chiếu Sự”: Rộng hành vạn hạnh, rộng độ chúng sanh, biết pháp, biết căn cơ, quán sát căn cơ để truyền trao pháp [thích hợp], [do vậy có sự] phân biệt bừng bừng. “Thật Trí chiếu Lư”: Chánh niệm Chân Như, chẳng sanh phân biệt, ngôn ngữ dứt bặt, trực tiếp khế nhập vô vi, Như và Trí b́nh đẳng chẳng hai).  

 

       Thật Trí là Căn Bản Trí; Quyền Trí là Hậu Đắc Trí. Trí huệ có hai loại. Kinh Bát Nhă thường nói: “Bát Nhă vô tri, không ǵ chẳng biết”. “Vô tri” là nói về Căn Bản Trí. “Không ǵ chẳng biết” là Quyền Trí. Ắt phải là vô tri th́ Lư mới hiện tiền. Hễ có “tri”, Lư chẳng thể hiện tiền. Lư là Chân Như bản tánh, cũng là chân tâm, tự tánh. Trong ấy, chẳng thể có một niệm. Hễ khởi một niệm bèn là vô minh, ngăn che lư ấy, chẳng thấy nữa! Nếu quư vị muốn thấy Chân Như bản tánh, nếu muốn thấy chân tâm th́ phải có Thật Trí. Thật Trí là vô tri. Nói thật ra “vô tri” là tâm thanh tịnh. Khi tâm thanh tịnh đến mức tột bậc th́ kinh Lăng Nghiêm đă nói: “Tịnh cực quang thông đạt”, đó chính là Thật Trí. Trong cảnh giới ấy, thế gian và xuất thế gian, quá khứ, hiện tại, vị lai, tâm giống như một tấm gương, soi rành rẽ, rơ ràng. Trong ấy, xác thực là chẳng có khởi tâm động niệm, chẳng có phân biệt, chấp trước, cho nên người ấy hoàn toàn hiểu rơ. Nếu chẳng hiểu rơ, sẽ không gọi là “vô tri”, mà gọi là “vô minh”. Đă hiểu rơ vô minh, “hiểu rơ” là người ấy chẳng có tí ti phân biệt, chấp trước nào, đó là vô tri. Khi khởi tác dụng, chẳng phải là chính ḿnh [dấy lên ư niệm ta sẽ] khởi tác dụng. Chính ḿnh khởi tác dụng chính là Thật Trí, [sở dĩ] khởi tác dụng là do có người khác đến hỏi, hễ người khác đến hỏi bèn “không ǵ chẳng biết”, người khác chẳng hỏi th́ là “chẳng biết ǵ cả”. Cảnh giới là như vậy đó! Nếu người khác chẳng hỏi, mà chính ḿnh cũng biết rất nhiều, hỏng rồi! Quư vị đă phá tan Căn Bản Trí. Đích xác là ư cảnh này rất khó hiểu, mọi người hăy chú tâm lănh hội. Một niệm chẳng sanh mà hiểu rơ ràng, rành mạch, giống như tấm gương soi cảnh giới bên ngoài. Gương soi cảnh giới bên ngoài, nhưng nó chẳng có phân biệt, chẳng có chấp trước. V́ thế, chư Phật, Bồ Tát dụng tâm giống như tấm gương. Phàm phu chúng ta dụng tâm là vô minh, là một đống lộn xộn, điều ǵ cũng đều chẳng biết, tới khắp nơi để nh́n, đến khắp nơi để học. Những tri kiến học được vẫn là sai lầm, hoàn toàn chẳng phải là thật sự hiểu rơ, nẩy sanh khá nhiều tri kiến sai lầm, kinh gọi [loại tri kiến ấy] là “tà tri tà kiến”, chẳng phải là trí huệ! Trí huệ chân thật phải đạt được từ trong cái tâm thanh tịnh. V́ sao Phật pháp coi trọng tu Định như vậy? Chính là v́ đạo lư này: Nhân Giới đắc Định, nhân Định khai Huệ.

      Trong Huệ có hai loại: Một là Thật Trí, loại kia là Quyền Trí. Thật Trí chiếu Lư, Quyền Trí chiếu Sự. Trong Quyền Trí có phân biệt, có giảng giải, mà cũng có chấp trước, nhưng mọi người ngàn muôn phần đừng nẩy sanh hiểu lầm! Trong giảng đường chúng tôi nói này nọ, có những người nghe xong, nẩy sanh hiểu lầm hết sức nghiêm trọng. Ví dụ như chúng tôi khuyên người học Phật: Để tiếp dẫn hàng sơ cơ, trước kia, thầy Lư dạy chúng tôi tiếp dẫn kẻ sơ cơ chẳng khuyên họ ăn chay, chẳng khuyên họ thọ giới. V́ sao? Kẻ b́nh phàm nghe nói phải ăn chay, sẽ chẳng học Phật, chẳng đến nữa. Vừa nghe nói phải thọ giới, họ cũng chẳng dám đến, bị dọa sợ nên bỏ đi. V́ thế, đối với kẻ mới học bèn chẳng nói những chuyện ấy, cứ khuyên họ đến nghe kinh, khuyên họ đến học. Đối với chuyện ăn chay và tŕ giới, người ấy học Phật lâu ngày sẽ tự nhiên phát tâm. V́ thế, chớ nên khuyên [kẻ sơ học] những chuyện ấy. Thế mà có kẻ nghe xong bèn hiểu lầm, nói “pháp sư Tịnh Không chẳng đề xướng ăn chay, khuyên người ta ăn thịt”, [chê bai] “pháp sư Tịnh Không chẳng tuân thủ giới luật”, oan uổng quá! Ở đây, chúng tôi nói “trong Quyền Trí cũng có phân biệt, cũng có chấp trước”. Người nghe dạy mấy hôm lại nói tôi ở đây giảng kinh nhăng nhít, giảng sai bét bè be! Chư Phật, Bồ Tát thuận theo sự phân biệt của chúng sanh mà phân biệt, chẳng phải là chính các Ngài có phân biệt. Chúng sanh đến hỏi: “Thưa pháp sư! Trên tay thầy cầm vật chi đó?” Quư vị đáp “ta không biết” th́ thành ra thể thống ǵ nữa! Quư vị ai nấy đều nói “đây là tờ giấy”, th́ tôi cũng nói là tờ giấy. Thuận theo sự phiền năo của quư vị mà phân biệt, thuận theo sự chấp trước của mọi người mà chấp trước. Do vậy, ở đây, chấp trước là chẳng chấp trước; phân biệt mà chẳng phân biệt. Phân biệt, chấp trước v́ hằng thuận chúng sanh, chẳng có sự phân biệt, chấp trước của chính ḿnh. Nói về phía chính ḿnh th́ xác thực là chẳng có phân biệt, chấp trước. Đối với sự thọ dụng của chính ḿnh th́ là Thật Trí, vô tri. Xử sự, đăi người, tiếp vật, hết thảy đều hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức. V́ thế, khi tùy thuận, bèn có phân biệt, có chấp trước, nhưng phải ghi nhớ: Chẳng phải là thật sự có. Thật sự có th́ sai mất rồi, sẽ chẳng có trí huệ. Nói theo phía bản thân người ấy th́ chẳng có, nhưng xét theo chỗ cùng khởi tác dụng với mọi người th́ dường như là có. Ư nghĩa là như vậy đó, quyết định chớ nên nghe sai! V́ thế, Quyền Trí nhằm ứng phó đại chúng, nhằm hằng thuận chúng sanh.

 

      (Sao) Sự Lư bỉnh nhiên, song chiếu bất muội.

      (Diễn) Sự Lư bỉnh nhiên song chiếu bất muội giả, chánh Quyền Trí chiếu Sự thời, tức Thật Trí chiếu Lư, xí nhiên phân biệt nhất thiết pháp, ư Đệ Nhất Nghĩa nhi bất động. Chánh Thật Trí chiếu Lư thời, tức Quyền Trí chiếu Sự, tâm ngoại vô pháp, măn mục thanh sơn.

      ()事理炳然,雙照不昧。

     ()事理炳然雙照不昧者。正權智照事時。即實智照理。熾然分別一切法。於第一義而不動。正實智照理時。即權智照事。心外無法。滿目青山。

      (Sao: Sự và Lư rạng ngời, cùng chiếu, chẳng lầm lạc.

Diễn: “Sự và Lư rạng ngời, cùng chiếu, chẳng lầm lạc”: Ngay trong khi Quyền Trí chiếu Sự, chính là Thật Trí chiếu Lư, bừng bừng phân biệt hết thảy các pháp, nhưng đối với Đệ Nhất Nghĩa vẫn bất động. Ngay trong khi Thật Trí chiếu Lư, chính là Quyền Trí chiếu Sự, ngoài tâm chẳng có pháp, mắt thấy núi xanh đầy dẫy).

 

      Trong tâm của chính ḿnh chẳng sanh một niệm, [thế mà thấu hiểu] rành mạch, rơ ràng. Có người đến hỏi bèn giải thích rành rẽ, chẳng sai lầm tí nào, giống như chư Phật thuyết pháp cho chúng sanh, ứng theo căn cơ để nói, có thể khiến cho chúng sanh ai nấy đều được lợi ích, [đó là] “song chiếu bất muội”.

 

      (Sao) Như lưỡng kiên phát diệm cố.

      ()如兩肩發燄故。

      (Sao: Giống như hai vai tỏa sáng).

 

      Giống như hai bả vai phóng quang.

 

      (Sao) Hựu thử nhị trí, hà đảm nhất thiết Phật pháp, hữu kiên nghĩa cố.

      (Diễn) Hà đảm nhất thiết Phật pháp giả, nhất thiết Phật pháp, bất xuất Nhị Đế, nhị trí năng đảm, viết Đại Diệm Kiên Phật dă.

      ()又此二智,荷擔一切佛法,有肩義故。

()荷擔一切佛法者。一切佛法。不出二諦。二智能擔。曰大燄肩佛也。

      (Sao: Lại nữa, hai trí ấy gánh vác hết thảy Phật pháp, nên có ư nghĩa như cái vai.

Diễn: “Gánh vác hết thảy Phật pháp”: Hết thảy Phật pháp chẳng ngoài Nhị Đế. Hai trí có thể gánh vác bèn gọi là Đại Diệm Kiên Phật).

 

      Do hai thứ trí huệ ấy th́ mới có thể gánh vác sự nghiệp giáo hóa chúng sanh của Như Lai. Chư vị phải biết: Thật Trí nhằm độ chính ḿnh, giống như Tâm Kinh đă nói: “Chiếu kiến Ngũ Uẩn đều không, vượt qua hết thảy khổ ách”. Đó là Thật Trí. Quyền Trí để độ chúng sanh. Quyền Trí nhằm giúp đỡ và chỉ dạy hết thảy chúng sanh. Quyền Trí và Thật Trí giống như hai vai gánh vác gia nghiệp của Như Lai. Gia nghiệp của Như Lai là tự độ, độ người. Vị Phật thứ tư…

 

      (Sớ) Tu Di Đăng giả, Tu Di vi đăng, chiếu Tứ Thiên Hạ, Phật quang quảng chiếu, diệc như thị cố.

()須彌燈者,須彌為燈,照四天下,佛光廣照,亦如是故。

(Sớ: Tu Di Đăng (Mērupradīpa): Tu Di làm đèn, chiếu Tứ Thiên Hạ. Phật quang chiếu rộng khắp cũng giống như thế).

 

       Tu Di là tỷ dụ; trong một đơn vị thế giới, núi Tu Di cao lớn nhất. Sánh ví núi Tu Di như đèn. Nếu thắp sáng ngọn đèn ấy, sẽ chiếu trọn khắp một Tứ Thiên Hạ, v́ nó ở trung tâm thế giới này, là chót đỉnh cao nhất, dùng theo ư nghĩa này.

 

      (Sao) Tu Di vi đăng giả, như vân “Tu Di vi bút, Tu Di vi chùy” đẳng, cực ngôn đăng lượng chi quảng đại dă.

      ()須彌為燈者,如云須彌為筆,須彌為椎等,極言燈量之廣大也。

(Sao: “Tu Di làm đèn” là như nói “Tu Di làm bút, Tu Di làm vồ” v.v… nhằm cực lực diễn tả sự rộng lớn của đèn).

 

      Đây là tỷ dụ.

 

      (Sao) Tu Di tại trung, quang chiếu tứ bộ.

      ()須彌在中,光照四部。

      (Sao: Núi Tu Di ở chính giữa, chiếu sáng bốn đại bộ châu).

 

      Kinh thường nói tới bốn đại bộ châu.

 

      (Sao) Phật dĩ Trung Đạo đại trí, chiếu chư chúng sanh, như Tu Di đăng dă.

      ()佛以中道大智,照諸眾生,如須彌燈也。

(Sao: Phật dùng đại trí Trung Đạo để chiếu các chúng sanh như đèn Tu Di vậy).

 

      [Danh hiệu] Tu Di Đăng Phật nhằm tỷ dụ quang minh của Phật chiếu trọn khắp.

 

      (Sao) Nhiên Duy Ma kinh ngôn: “Tu Di Đăng Vương Phật, thân cao bát vạn tứ thiên do-tuần”, nhi cứu kỳ quốc độ, năi Đông phương quá tam thập lục Hằng hà sa thế giới, kim tại Nam phương, dĩ Phật đồng danh giả chúng cố.

      ()然維摩經言:須彌燈王佛,身高八萬四千由旬,而究其國土,乃東方過三十六恆河沙世界,今在南方,以佛同名者眾故。

(Sao: Nhưng kinh Duy Ma nói: Tu Di Đăng Vương Phật thân cao tám vạn bốn ngàn do-tuần; xét ra, cơi nước ấy ở phương Đông vượt quá [thế giới Sa Bà] ba mươi sáu Hằng hà sa thế giới, nay [kinh này nêu tên đức Phật này] ở phương Nam là do chư Phật có cùng danh hiệu rất nhiều).

 

      Đây là sự thật. Đức hạnh tương đồng, hạnh nguyện tương đồng, danh hiệu bèn tương đồng. V́ chư Phật, Bồ Tát chẳng có danh hiệu, danh hiệu do đâu mà có? Có khi là do đức năng mà có, có khi là từ sự ứng hóa chúng sanh mà kiến lập. Chúng ta phải hiểu điều này: Phật, Bồ Tát chẳng có danh hiệu nhất định. Giống như danh hiệu của đức Bổn Sư là Thích Ca Mâu Ni, v́ sao Ngài kiến lập [danh hiệu] Thích Ca Mâu Ni? Do được kiến lập dựa trên tông chỉ và mục tiêu giáo hóa chúng sanh trong thời kỳ này và trong khu vực này. Nói cách khác, được kiến lập dựa theo tông chỉ giáo dục của Ngài. Người trong thế giới này thiếu khuyết ḷng từ bi, cho nên Ngài dùng danh hiệu Thích Ca. [Ư nghĩa thứ nhất], Thích Ca (Śākya) là tiếng Phạn, có nghĩa là “nhân từ”, đề xướng giáo dục nhân từ, có ư nghĩa này. Thứ hai, chúng sanh trong thế gian này tâm ô nhiễm, chẳng thanh tịnh, cho nên dùng chữ Mâu Ni. Mâu Ni (Muni) có nghĩa là tâm thanh tịnh. Có thể thấy danh hiệu này được Ngài sử dụng trong giai đoạn này, là tông chỉ giáo học trong khu vực này mà thôi. Có ư nghĩa như thế; đấy chẳng phải là tên vốn có của Ngài.

      Nếu Thích Ca Mâu Ni Phật đến Tây Phương Cực Lạc thế giới làm Phật, bốn chữ Thích Ca Mâu Ni sẽ chẳng dùng được. V́ sao? Người trong Tây Phương Cực Lạc thế giới ai nấy đều nhân từ, ai nấy đều thanh tịnh, danh hiệu ấy há có tác dụng ǵ? Vô dụng! Nhất định là phải thay đổi danh xưng, phải đổi thành Vô Lượng Giác. A Di Đà Phật dịch nghĩa là Vô Lượng Giác, như vậy là đúng. Do vậy có thể biết: Danh hiệu của Phật, Bồ Tát đến một nơi nào đó liền biến đổi, khác hẳn! Giống như người trong thế gian này, một người lắm tài nhiều nghề, vào trường dạy học, dạy môn Quốc Văn, người ta gọi người ấy là thầy giáo Quốc Văn. Đến trường nọ dạy tiếng Anh, người ta gọi người ấy là thầy dạy Anh Văn. Đến ngôi trường thứ ba dạy Toán, người ta gọi người ấy là thầy dạy Toán. Danh xưng của người ấy thay đổi; thật ra, những danh xưng ấy đều chẳng phải là tên của chính người ấy. Danh hiệu của chư Phật, Bồ Tát cũng giống như vậy. V́ thế, những vị Phật, Bồ Tát đồng danh đồng hiệu quá nhiều. Như trong thế giới của chúng ta mà hỏi thầy dạy Quốc Văn là ai? Thầy dạy Quốc Văn quá nhiều, người có cùng danh hiệu quá nhiều! Tu Di Đăng Vương Phật được nói trong kinh Duy Ma ở phương Đông; trong kinh Di Đà, đức Thế Tôn giới thiệu Tu Di Đăng Vương Phật là vị Phật ở phương Nam. Có thể thấy là danh hiệu Phật giống nhau, nhưng là hai vị [khác nhau], chẳng phải là cùng một vị. Vị Phật thứ năm…

 

      (Sớ) Vô Lượng Tinh Tấn giả, “tinh tấn” giải kiến Tự phần.

      ()無量精進者,精進解見序分。

      (Sớ: Vô Lượng Tinh Tấn (Anantavīrya): Xem lời giải thích chữ “tinh tấn” trong phần Tự).

 

      Đă giải thích trong phần trước, trong phần trước [chữ Tinh Tấn đă được giải thích] khi nói về Thường Tinh Tấn Bồ Tát.

 

      (Sớ) Đản bỉ ngôn thường.

      ()但彼言常。

      (Sớ: Nhưng trong phần ấy [chỉ nói là] Thường).

 

      Trong phần trước là Thường Tinh Tấn Bồ Tát, ở đây là Vô Lượng Tinh Tấn, sai biệt ở điểm này.

 

      (Sao) Vô lượng nhị nghĩa.

      ()無量二義。

      (Sao: Vô lượng gồm hai nghĩa).

 

      “Vô lượng” có hai ư nghĩa.

 

      (Sao) Nhất giả, thời vô lượng, tức thị thường nghĩa. Nhị giả, sự vô lượng, tự lợi, lợi tha, trí hạnh vô biên cố.

()一者,時無量,即是常義。二者,事無量,自利利他,智行無邊故。

(Sao: Một là thời vô lượng, tức là ư nghĩa “thường”. Hai là sự vô lượng, do tự lợi, lợi tha, trí hạnh vô biên).

 

      Năm vị Phật này biểu thị trí huệ. Nhật Nguyệt Đăng Phật biểu thị trí huệ viên măn rốt ráo, v́ trí huệ ấy không ǵ chẳng chiếu, chẳng có chỗ nào không chiếu đến. Trí huệ viên măn chính là điều chúng ta mong cầu, mà cũng là mục tiêu chung, tức Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác như kinh đă dạy, biểu thị điều này, tức là điều chúng ta mong cầu. Đấy chính là nói rơ: Tu hành th́ lấy việc cầu trí huệ làm quan niệm chánh xác nhất. Cầu huệ từ chỗ nào? Cầu Huệ từ Định, cầu từ tâm thanh tịnh. Làm thế nào để có thể đắc tâm thanh tịnh? Tâm thanh tịnh do tŕ giới mà có. Tŕ giới là như thế nào? Tŕ giới là phải tuân theo những điều Phật răn dạy. Đức Phật dạy chúng ta làm như thế nào, bèn làm như thế đó, đấy là Tŕ Giới. Trong Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ, Thiện Đạo đại sư chú giải phần “thượng phẩm thượng sanh chương” có nói mấy câu hết sức hay: Đức Phật bảo chúng ta bỏ, chúng ta bỏ ngay. Đức Phật bảo chúng ta giữ, chúng ta liền giữ. Đức Phật bảo chúng ta bỏ thế giới Sa Bà, chúng ta bỏ ngay. Đức Phật bảo chúng ta cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, chúng ta liền vâng giữ. Đó là đúng, hoàn toàn vâng theo lời đức Phật chỉ dạy. Tâm chúng ta định, như thế th́ mới có thể đắc Định, do Định mới có thể khai Huệ. Nếu chẳng đi theo đường lối này, muốn khai Huệ sẽ chẳng dễ dàng, quá khó khăn! V́ sao chúng tôi nói khẳng định là khó khăn như vậy? Khó khăn là v́ tâm người ấy loạn, vọng tưởng nhiều, phân biệt nhiều, chấp trước nhiều, lấy đâu ra trí huệ? Lấy đâu ra cái tâm thanh tịnh? Chúng ta biết đạo lư này, biết sự thật này, tự nhiên sẽ khẳng định.

      Tu hành mà trí huệ thấu lộ th́ mới được coi là có thành tích. Nhà Phật thường nói “phiền năo nhẹ, trí huệ tăng trưởng”. Vọng tưởng và phiền năo của chúng ta mỗi năm một nhẹ hơn, trí huệ nhất định là mỗi năm một tăng trưởng. Phiền năo và trí huệ giống như quang minh và hắc ám. Quang minh nhiều thêm một phần, hắc ám bớt đi một phần. Hắc ám nhiều thêm một phần, quang minh ít đi một phần. Phiền năo nhiều, trí huệ ít đi; trí huệ nhiều, phiền năo bèn ít đi, [đó là] đạo lư nhất định. Từ chỗ này có thể trắc nghiệm sự thành tựu trong việc tu hành của chính ḿnh. Nếu thật sự là phiền năo mỗi năm một ít hơn, vọng tưởng ít đi, bớt vướng mắc, bớt ưu lự, tâm thanh nhàn tự tại, trí huệ tăng trưởng, đó là hiện tượng công phu đắc lực, là cảnh giới tốt đẹp. Nếu chẳng vậy, nhất định phải quay lại nghiêm túc kiểm điểm, phản tỉnh, nhất định là chính ḿnh tu hành đă phạm sai lầm. Nếu không, nhất định sẽ đạt được hiệu quả ấy. Chẳng đạt được hiệu quả là do chúng ta tu hành sai lầm. Khi tu huệ có chút thành tựu, cũng là lúc có đôi chút tiếng tăm, khi ấy là một giai đoạn hết sức nguy hiểm. V́ sao? Rất dễ dàng đọa lạc trong tiếng tăm, lợi dưỡng. Đó là sự thật. Bao nhiêu người xưa nay, trong ngoài nước, đến giai đoạn ấy đă bị đọa lạc. V́ thế, trong giai đoạn ấy, phải đặc biệt đề cao cảnh giác, phải có thể bỏ tiếng tăm, lợi dưỡng. Tuy có tiếng tăm mà nếu có thể buông bỏ tiếng tăm, trong tâm chẳng vương vấn, biết sự thành tựu thật sự đối với chính ḿnh hăy c̣n là một nẻo đường xa vời vợi, hễ giậm chân ở chỗ này, chẳng tiến lên, sẽ bị đọa lạc. V́ thế, phải có sự cảnh giác rất sâu, chớ để danh tiếng tổn hại chính ḿnh. Tiến thêm bước nữa là nâng cao [cảnh giới] của chính ḿnh, đó là Quyền Trí và Thật Trí hiện tiền; khi ấy, có thể gánh vác gia nghiệp của Như Lai, có thể thực hiện sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh. Có thể thấy toàn là trí huệ, chẳng ĺa khỏi trí huệ.

      Tu Di Đăng Phật biểu thị “chuyển thức thành trí, phá mê khai ngộ”. Không chỉ là chính ḿnh thành tựu, mà cũng có năng lực giúp đỡ người khác phá mê khai ngộ. Vị Phật cuối cùng dạy chúng ta phương pháp tu hành trọng yếu ở chỗ “tinh tấn”, chúng ta phải coi trọng hai chữ ấy. “Tấn” () là tiến bộ, mong cầu tiến bộ không ngừng. Sự tiến bộ ấy phải tinh thuần; nói cách khác, chẳng phải là tạp tấn, chẳng phải là loạn tấn. Người thế gian cũng cầu tiến bộ, nhưng chẳng thuần, chẳng ṛng rặt, học rất nhiều, học rất tạp. Tạp tấn và loạn tấn kiểu đó chẳng thể thành tựu ǵ, chẳng có ích ǵ cho Định và Huệ. Nếu nói đến chỗ tốt đẹp [của tinh tấn kiểu đó] th́ có thể nói là người ấy kiến thức rất rộng, thường thức phong phú. Nói khó nghe một chút, sẽ là vọng tưởng rất nhiều, tạp niệm rất nhiều, phân biệt, chấp trước rất nhiều. Nói cách khác, quả báo sẽ là vẫn phải luân hồi, cho nên chẳng có ích chi hết! Tấn phải là tinh tấn. Tinh tấn trọng yếu lắm! Muốn thành tựu trí huệ chân thật, phải là vô lượng tinh tấn. Ư nghĩa của Vô Lượng Tinh Tấn là tinh tấn chẳng có giới hạn, mang ư nghĩa ấy. Chẳng thể nói là đạt đến một giai đoạn nào đó bèn tự măn, [mà phải là] vĩnh viễn tinh tấn chẳng có giới hạn. Đó là căn bản trong phương pháp tu học.

     

(Sớ) Xứng Lư, tắc tự tánh quang minh bất khả tận, thị Nam phương hằng sa Phật nghĩa.

()稱理,則自性光明不可盡,是南方恆沙佛義。

(Sớ: Xứng Lư th́ tự tánh quang minh chẳng thể trọn hết là ư nghĩa “phương Nam có Phật nhiều như số cát trong sông Hằng”).

 

      Phương Nam biểu thị quang minh.

 

      (Sao) Nam phương vi Ly, Ly vi hỏa.

      (Diễn) Nam phương vi Ly giả, Dịch vân: “Ly dă giả, minh dă. Vạn vật giai tương kiến, Nam phương chi quái dă”.

      ()南方為離,離為火。

     ()南方為離者。易云。離也者。明也。萬物皆相見。南方之卦也。

      (Sao: Phương Nam thuộc quẻ Ly, Ly là lửa.

      Diễn: “Phương Nam thuộc quẻ Ly”: Kinh Dịch nói: “Ly có nghĩa là sáng, mọi vật trông thấy nhau, là quẻ thuộc về phương Nam”).

 

      Trong Bát Quái, [phương Nam] tương ứng quẻ Ly[1], Ly là lửa.

 

      (Sao) Hỏa nội ám nhi ngoại minh.

      (Diễn) Hỏa nội ám nhi ngoại minh giả, Ly, lệ dă, nhất Âm lệ ư nhị Dương chi trung, kỳ tượng vi hỏa, thể Âm nhi dụng Dương dă.

      ()火內暗而外明。

     ()火內暗而外明者。離。麗也。一陰麗於二陽之中。其象為火。體陰而用陽也。

      (Sao: Lửa th́ trong tối ngoài sáng.

Diễn: “Lửa th́ trong tối ngoài sáng”: Ly là sáng rực. Một Âm sáng rực trong hai Dương[2], Tượng[3] của Ly là Hỏa, tức bản thể của [quẻ Ly] là Âm, mà tác dụng của nó là Dương).

 

       “Nội ám” (內暗) biểu thị Thật Trí, vô tri, Bát Nhă vô tri. “Ngoại minh” (外明) biểu thị Quyền Trí, biểu thị “không ǵ chẳng biết”.

 

      (Sao) Thị Tịch nhi thường Chiếu dă.

      ()是寂而常照也。

      (Sao: Là tịch mà thường chiếu).

 

      Thật Trí là Tịch, là tâm thanh tịnh.

 

      (Sao) Chân tri bất muội.

      ()真知不昧。

(Sao: Hiểu biết chân thật, chẳng sai lầm).

 

“Chân tri” là Thật Trí.

 

      (Sao) Linh diệm hà cùng.

      ()靈燄何窮。

      (Sao: Linh minh giác tri rạng ngời, há có cùng tận).

 

      “Linh” () là linh minh giác tri, “diệm” () là tỷ dụ trí huệ. Đại dụng (tác dụng to lớn) của linh minh giác tri chẳng có cùng tận.

 

      (Sao) Hoa Nghiêm Quang Minh Giác phẩm ngôn.

      ()華嚴光明覺品言。

(Sao: Phẩm Quang Minh Giác trong kinh Hoa Nghiêm có nói).

 

      Đây cũng là một phẩm trọng yếu của kinh Hoa Nghiêm.

 

      (Sao) Như Lai quang minh quá nhất thế giới.

      ()如來光明過一世界。

      (Sao: Quang minh của Như Lai vượt trỗi một thế giới).

 

      “Quá” () là vượt qua, “một thế giới” là một tam thiên đại thiên quốc độ.

 

      (Sao) Thập thế giới.

      ()十世界。

(Sao: Mười thế giới).

 

      Vượt qua mười đại thiên thế giới.

 

      (Sao) Năi chí bất khả thuyết thế giới.

      ()乃至不可說世界。

      (Sao: Cho đến bất khả thuyết[4] thế giới).

 

      Quang minh của A Di Đà Phật vượt trỗi vô lượng vô biên thế giới của chư Phật.

 

      (Sao) Giai thị tự kỷ tâm quang giác chiếu, nhất thiết bất tùng ngoại đắc.

()皆是自己心光覺照,一切不從外得。

 (Sao: Đều là tâm quang của chính ḿnh giác chiếu, hết thảy chẳng do từ bên ngoài mà có).

 

      Quang minh nhỏ bèn chiếu một thế giới, lớn th́ chiếu vô biên thế giới. Đó là chuyện như thế nào? Liên quan đến cái tâm thanh tịnh, liên quan đến hoằng nguyện độ sanh. Dựa vào đâu mà nói là có liên quan đến tâm thanh tịnh?

1) Chúng ta nói tới Phật th́ tông Thiên Thai bảo có bốn loại Phật là Tạng, Thông, Biệt, Viên. Tạng Giáo Phật vẫn chưa kiến tánh, đương nhiên là có quang minh, nhưng quang minh nhỏ bé. Thông Giáo Phật thù thắng hơn Tạng Giáo Phật một chút, vẫn chưa kiến tánh. Biệt Giáo Phật bằng Bồ Tát thuộc địa vị Nhị Hạnh trong Viên Giáo, phá mười hai phẩm vô minh. Vô minh có bốn mươi mốt phẩm, Biệt Giáo Phật mới phá mười hai phẩm; cho thấy tâm vị Phật này có chỗ thanh tịnh và chỗ chẳng thanh tịnh. Đạt đến Viên Giáo Phật, sẽ là thanh tịnh tối cực, Biệt Giáo Phật vẫn chưa thanh tịnh. Do vậy, quang minh lớn hay nhỏ khác nhau.

2) Thứ hai, tuy cùng là Viên Giáo Phật, Tự Thọ Dụng hoàn toàn như nhau, tức là Thật Trí hoàn toàn tương đồng, tác dụng của Quyền Trí sẽ khác nhau. Tác dụng của Quyền Trí [khác biệt] là do chư Phật lúc tu nhân đă phát nguyện độ sanh khác nhau. A Di Đà Phật phát nguyện phổ độ hết thảy chúng sanh trong pháp giới. Nguyện ấy quá lớn, hết thảy chúng sanh chẳng sót một ai! Đối với chúng sanh trong hết thảy các thế giới của chư Phật, Ngài đều muốn độ, phát nguyện to lớn dường ấy. Có những vị khi tu nhân phát nguyện: Ta muốn độ chúng sanh trong một đại thiên thế giới. [Chỉ độ chúng sanh trong] một đại thiên thế giới th́ nguyện ấy nhỏ nhoi, sai biệt ở chỗ này. Chẳng phải là do năng lực của các Ngài có sai biệt, chẳng phải là do trí huệ của các Ngài có sai biệt, mà là do các Ngài kết duyên cùng chúng sanh có sai biệt. Phát nguyện trong lúc tu nhân chính là kết duyên cùng chúng sanh. Duyên được kết khác nhau. Nếu quư vị mong trong tương lai làm Phật, quang minh sẽ vượt trỗi một thế giới, hoặc mười thế giới, cho đến bất khả thuyết thế giới, nay quư vị phải phát tâm rộng lớn, phải kết pháp duyên rộng răi cùng hết thảy chúng sanh. Cho đến lúc quư vị thành Phật, quang minh của quư vị bèn vượt trỗi vô lượng chư Phật quốc độ, đạo lư là như vậy đó. Xác thực là chân tâm của chính ḿnh vốn sẵn có quang minh từ nơi trí huệ Bát Nhă, quyết định chẳng phải là do bên ngoài mà có. Bên ngoài thứ ǵ cũng chẳng có. Kinh Lăng Nghiêm đă nói rất hay: “Viên măn Bồ Đề, quy vô sở đắc” (Viên măn Bồ Đề, trở về chỗ không có ǵ để đạt được). Những ǵ quư vị đạt được toàn là vốn sẵn có trong tự tánh; bất quá khi ấy sẽ là hoàn toàn chẳng có chướng ngại, chính ḿnh ứng dụng tự tại!

 

      (Sao) Cố viết: Ngă kiến Đăng Minh Phật, bổn quang thụy như thử.

(Diễn) Bổn quang, thị chúng sanh bổn lai hữu thử quang minh dă.

      ()故曰:我見燈明佛,本光瑞如此。

     ()本光。是眾生本來有此光明也。

      (Sao: V́ thế nói: “Ta thấy quang minh nơi bản tánh của Đăng Minh Phật tốt lành như thế”.

Diễn: “Bổn quang” nghĩa là chúng sanh vốn có quang minh ấy).

 

      Kinh nói: Ta thấy Đăng Minh Phật Như Lai, “bổn quang” là quang minh từ bản tánh của chính ḿnh. Phật do đâu mà có? Phật vẫn là do tự tâm của chúng ta biến hiện. Không chỉ Tây Phương Cực Lạc thế giới là “duy tâm Tịnh Độ, tự tánh Di Đà”, mười phương hết thảy các cơi Phật đều là duy tâm sở hiện, đều là tự tánh sở biến. Thân thể của chính ḿnh trong hiện tiền, không gian sống đang vây quanh chúng ta trong hiện thời, hết thảy đều là “duy tâm sở hiện, tự tánh sở biến”. Ĺa khỏi tự tánh, sẽ chẳng có một pháp nào để có thể đạt được. V́ thế, tu học Phật pháp chẳng có ǵ khác, chỉ là chứng thực tự tánh mà thôi!

 

      (Kinh) Các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới.

()各於其國。出廣長舌相。遍覆三千大千世界。

(Kinh: Mỗi vị đều ở trong nước ḿnh, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới).

 

      Đọc kinh văn này phải dùng tâm t́nh chí thành, cung kính, muôn phần cảm tạ để lănh nhận. Vô lượng vô biên chư Phật Như Lai ở phương Nam ở trong cơi của chính ḿnh, hiện tướng lưỡi rộng dài, v́ hết thảy chúng sanh giới thiệu Tây Phương Tịnh Độ, khuyên dạy đại chúng niệm Phật cầu sanh thế giới Cực Lạc. Đấy là một đại sự cảm động dường ấy. Mỗi vị Phật trong chư Phật:

 

      (Kinh) Thuyết thành thật ngôn.

      ()說誠實言。

(Kinh: Nói lời thành thật).

 

      Đều khuyến cáo chúng ta như vậy.

 

      (Kinh) Nhữ đẳng chúng sanh, đương tín thị.

      ()汝等眾生。當信是。

      (Kinh: Chúng sanh các ngươi hăy nên tin tưởng điều này).

 

       Chữ Thị () chỉ bộ kinh này. Trong bộ kinh này, đối với những lời giới thiệu của đức Phật, chúng ta phải thật sự tin tưởng. Tin tưởng bộ kinh này là…

 

      (Kinh) Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh.

      ()稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。

      (Kinh: Kinh Khen Ngợi Công Đức Chẳng Thể Nghĩ Bàn Được Hết Thảy Chư Phật Hộ Niệm).

 

      Trong phần trước, đoạn này đă được giảng hết sức cặn kẽ, đă hiểu rơ ư nghĩa được nêu ra trong phần trước, mỗi lần niệm đến đoạn kinh văn này, chúng ta sẽ bị cảm động rất sâu, nhất định là sẽ cảm kích vô tận. Đức Phật rát miệng buốt ḷng khuyên dạy chúng ta như vậy, duyên phận của chúng ta trong một đời này đúng là chẳng thể nghĩ bàn, có thể gặp kinh độ chúng sanh bậc nhất của chư Phật. Do bộ kinh này, chúng ta quyết định văng sanh bất thoái thành Phật trong một đời này!

 

      Tam, Tây phương.

      (Kinh) Xá Lợi Phất! Tây phương thế giới hữu Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Tướng Phật, Vô Lượng Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Tịnh Quang Phật, như thị đẳng Hằng hà sa số chư Phật.

      三、西方。

     ()舍利弗。西方世界。有無量壽佛。無量相佛。無量幢佛。大光佛。大明佛。寶相佛。淨光佛。如是等恆河沙數諸佛。

(Ba, phương Tây.

Kinh: Xá Lợi Phất! Thế giới ở phương Tây có Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Tướng Phật, Vô Lượng Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Tịnh Quang Phật, các vị Phật như thế nhiều như số cát trong sông Hằng).

 

      Trong phương Đông và phương Nam thuộc phần trên, chúng ta thấy có danh hiệu của năm vị Phật. Phương Tây có danh hiệu của bảy vị Phật. “Bảy” biểu thị sự viên măn. “Tây Phương” biểu thị sự tu phước. Sau khi đă tu huệ, đối với phước báo cũng chớ nên vứt bỏ. Chúng ta thường nói “phước huệ song tu”, v́ người thế gian rất coi trọng phước, coi phước quan trọng hơn huệ. Đức Phật tùy thuận Thế Đế (Saṃvṛti-satya), [nghĩa là] tùy thuận thế tục mà nói “phước huệ song tu”. Ở đây, chẳng tùy thuận Tục Đế, mà là tùy thuận Chân Đế (Paramārtha-satya). Tùy thuận Chân Đế th́ phải xếp huệ ra trước, xếp phước đằng sau. “Bảy” biểu thị phước báo viên măn, có ư nghĩa này!

Vị Phật thứ nhất là Vô Lượng Thọ Phật (Amitāyus). Vô Lượng Thọ Phật ở đây rốt cuộc có phải là A Di Đà Phật hay không? Hay là một vị đồng danh đồng hiệu với A Di Đà Phật? Kinh chẳng nói rơ ràng, có lẽ là hai ư nghĩa ấy đều có. Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật giới thiệu Tây Phương Cực Lạc thế giới Vô Lượng Thọ Phật, nói như vậy hợp lẽ, v́ ở đây chẳng phải là Vô Lượng Thọ Phật tự tán thán chính ḿnh. Thật ra, vượt ngoài phương Tây c̣n có phương Tây xa hơn nữa. Trong các thế giới ở phương Tây có vô lượng vô biên chư Phật Như Lai, tôi tin là những vị đồng danh đồng hiệu với A Di Đà Phật chắc chắn là không ít! Nói theo sự thật này th́ cũng hợp lẽ. Liên Tŕ đại sư đă gộp chung hai ư nghĩa này, cả hai ư nghĩa đều có.

      Tu phước, chư vị phải biết: Thọ mạng là phước bậc nhất. Trong phước báo, thọ mạng được xếp hàng đầu. Quư vị có vô lượng của cải, có địa vị cao ngất ngưởng, mà nếu chẳng có thọ mạng, chết sớm, chẳng phải là hết thảy đều rỗng tuếch hay sao? Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện đă nói là “thứ ǵ cũng chẳng mang theo được!” Nhất định là phải có trường thọ th́ mới có thể thật sự hưởng thụ phước báo và trí huệ. V́ thế, thọ mạng được xếp hàng đầu trong phước báo. Thọ mạng là phước bậc nhất. Từ xưa tới nay, những vị đại đức đều nói: Vô Lượng Thọ là điều đạt được bậc nhất khi chúng sanh sanh vào Tây Phương, v́ đạt được vô lượng thọ, hết thảy đều đạt được. V́ sao để thành Phật trong thế giới này, chúng ta phải tốn ba đại A-tăng-kỳ kiếp? Ba đại A-tăng-kỳ kiếp th́ chẳng biết là đă phải trải qua sanh tử luân hồi bao nhiêu lần! Đă đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, đối với chúng ta mà nói, ba đại A-tăng-kỳ kiếp chẳng hề bận ḷng mảy may! V́ sao? Bản thân chúng ta đă có thọ mạng vô lượng, ba đại A-tăng-kỳ kiếp so với vô lượng thọ mà nói, thời gian ấy rất ngắn ngủi, tạm bợ. Ví như quư vị có tuổi thọ một trăm năm, học pháp này chỉ cần thời gian ba ngày bèn thành công, đấy không phải là chuyện quá dễ dàng, chẳng tốn công phí sức ư? Thọ mạng là điều đạt được bậc nhất. Nhất định phải hiểu rơ điều này, chứ tu các pháp môn khác, quư vị sẽ chẳng đạt được [thọ mạng dài lâu như thế]. Chỉ cậy vào một điều này, một lợi ích này, một ưu điểm này, chúng ta bèn quyết định phải đến Tây Phương. Đă có thọ mạng, những chuyện khác đều dễ thực hiện, học vô lượng pháp môn chẳng khó, có đủ thời gian mà! Thế giới này thọ mạng ngắn ngủi, học thứ ǵ chúng ta cũng đều cảm thấy chẳng đủ thời gian, chẳng có cách nào thành tựu. Những điều này đều là sự thật, chúng ta chớ nên không biết. Hôm nay chúng tôi nói tới chỗ này.

 

Tập 264

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang năm trăm ba mươi bốn:

 

       (Sớ) Vô Lượng Thọ, nhân dữ bổn Phật đồng danh. Cổ hữu nhị thuyết, diệc câu hữu lư.

(Sao) Nhị thuyết giả.

()無量壽。因與本佛同名。古有二說。亦俱有理。 

()二說者。

      (Sớ: Vô Lượng Thọ v́ có cùng tên với A Di Đà Phật, nên từ xưa đă có hai thuyết, cũng đều là hữu lư.

      Sao: Hai thuyết là…).

 

Để giải thích danh hiệu Vô Lượng Thọ Phật, từ xưa tới nay đă có hai cách giảng.

 

      (Sao) Linh Chi vị chư Phật đồng danh thậm đa, quyết phi Pháp Tạng sở thành chi Phật, dĩ thị bổn Phật bất ưng tự tán cố.

      ()靈芝謂諸佛同名甚多,決非法藏所成之佛,以是本佛不應自讚故。

(Sao: Ngài Linh Chi bảo chư Phật có cùng danh hiệu rất nhiều, [Vô Lượng Thọ Phật được nói trong đoạn kinh này] quyết chẳng phải là vị Phật do ngài Pháp Tạng tu thành; bởi lẽ, Phật chẳng nên tự ca ngợi ḿnh).

 

      Đây là cách nh́n của Linh Chi đại sư, Ngài giải thích như vậy đó.

 

      (Sao) Từ Ân vị thiết nhược tự tán, lư diệc vô phương, dĩ đạo dẫn chúng sanh, linh sanh thắng ư cố.

      (Diễn) Đạo dẫn chúng sanh, linh sanh thắng ư giả, chúng sanh trí thiển bất tri Phật cảnh, nhược bất tán dương, thắng ư bất sanh. Cố dục dẫn đạo chúng sanh, linh sanh thắng ư, tất tu tự tán dă. Như Thích Ca Thế Tôn diệc tự tán vân: “Ngă thị Như Lai Ứng Cúng giả, ngă thị tri đạo giả, khai đạo giả, thuyết đạo giả” đẳng, diệc phổ triệu quần cơ, linh sanh thắng ư dă.

()慈恩謂設若自讚,理亦無妨,以導引眾生,令生勝意故。

()導引眾生。令生勝意者。眾生智淺不知佛境。若不贊揚。勝意不生。故欲引導眾生。令生勝意。必須自贊也。如釋迦世尊。亦自贊云。我是如來應供者。我是知道者。開道者。說道者等。亦普召群機。令生勝意也。

(Sao: Ngài Từ Ân bảo: Dẫu là tự khen ngợi, xét theo Lư cũng chẳng ngại ǵ. V́ để hướng dẫn chúng sanh khiến cho họ sanh ư niệm thù thắng.

Diễn: “Hướng dẫn chúng sanh khiến cho họ sanh ư niệm thù thắng”: Chúng sanh trí nông cạn, chẳng biết cảnh Phật. Nếu chẳng tán dương, ư niệm thù thắng sẽ chẳng sanh khởi. V́ thế, muốn hướng dẫn chúng sanh khiến cho họ sanh ư niệm thù thắng, ắt cần phải tự khen ngợi. Như Thích Ca Thế Tôn cũng tự khen ngợi rằng: “Ta là đấng Như Lai Ứng Cúng, là bậc biết đạo, là bậc mở đạo, là bậc thuyết đạo” v.v… cũng là nhằm triệu tập trọn khắp các căn cơ khiến cho họ sanh ư niệm thù thắng).

 

      Khuy Cơ đại sư nói: Đức Phật tự khen ngợi ḿnh, nói theo Lư cũng chẳng trở ngại ǵ, mục đích là để tiếp dẫn chúng sanh. Có rất nhiều phương tiện và pháp môn để tiếp dẫn chúng sanh, có thể làm như vậy. Ư nghĩa này cũng hết sức hay!

 

      (Sao) Kim song thủ nhị thuyết.

      ()今雙取二說。

(Sao: Nay chọn cả hai thuyết).

 

      Hai cách nói ấy đều có lư, đều nói thông suốt. Cả hai cách giải thích đều hay!

 

      (Sao) Vị cứ Đại Bổn.

     ()謂據大本。

      (Sao: Nghĩa là dựa theo kinh Đại Bổn).

 

      Căn cứ trên kinh Vô Lượng Thọ.

 

      (Sao) Quá vô biên Phật sát, đồng danh Thích Ca Mâu Ni giả, bất khả thắng số.

      ()過無邊佛剎,同名釋迦牟尼者,不可勝數。

      (Sao: Qua khỏi vô biên cơi Phật, các vị có cùng danh hiệu Thích Ca Mâu Ni Phật chẳng thể kể xiết).

 

      Các vị Phật có danh hiệu trùng nhau quả thật rất nhiều. Trong thế gian này, chúng ta có danh hiệu giống nhau cũng rất nhiều, cũng thường có thể trông thấy.

 

      (Sao) Hựu, Quán Âm sư Quán Âm Như Lai đẳng.

      (Diễn) Quán Âm sư Quán Âm giả, Lăng Nghiêm vân: “Ngă ư quá khứ, ngộ Quán Thế Âm Như Lai, bỉ Phật giáo ngă Như Huyễn Văn Huân Văn Tu Kim Cang tam-muội”.

()又觀音師觀音如來等。

()觀音師觀音者。楞嚴云。我於過去。遇觀世音如來。彼佛教我。如幻聞熏聞修金剛三昧。

      (Sao: Lại như thầy của ngài Quán Âm là Quán Âm Như Lai v.v…

Sao: “Thầy của ngài Quán Âm là Quán Âm Như Lai”: Kinh Lăng Nghiêm chép: “Trong quá khứ, ta gặp Quán Âm Như Lai, đức Phật ấy dạy ta môn Như Huyễn Văn Huân Văn Tu tam-muội”).

 

      Thầy của Quán Thế Âm Bồ Tát là ai? Quán Âm Như Lai! Thầy và tṛ có cùng danh hiệu.

 

      (Sao) Tắc Vô Lượng Thọ chi danh, hà chỉ nhất Phật? Bách thiên vạn ức, bất khả cùng tận.

      ()則無量壽之名,何止一佛?百千萬億,不可窮盡。

      (Sao: Vậy th́ Vô Lượng Thọ làm sao chỉ là một vị Phật cho được? Trăm ngàn vạn ức, chẳng thể cùng tận).

 

      Nói rơ: Xác thực là có những vị Phật đồng danh đồng hiệu. Không chỉ là có, mà lại c̣n là rất nhiều.

 

      (Sao) Nhược cứ Phật phân biên sự, yên đắc dĩ phàm thường lệ chi, tương vô tự tán hủy tha, phạm Bồ Tát thập trọng giới da?

      ()若據佛分邊事,焉得以凡常例之,將無自讚毀他,犯菩薩十重戒耶。

(Sao: Đối với những chuyện thuộc về địa vị Phật, há nên suy luận theo lẽ thông thường! [Nếu cứ suy b́ theo lẽ thường] sao tránh khỏi [chê trách Ngài mắc lỗi] khen ḿnh, hủy báng kẻ khác, phạm mười trọng giới của Bồ Tát ư?)

 

      Phật và đại Bồ Tát tâm địa thanh tịnh, trước nay chưa hề phân biệt, chấp trước, trước nay chưa hề có vọng tưởng, lấy đâu ra lầm lỗi? V́ thế, chẳng thể dùng phàm phu để so sánh Phật, Bồ Tát. Phàm phu phiền năo tập khí sâu nặng, nhất là những kẻ thuộc địa vị giống như chúng ta trong hiện tại, một phẩm Kiến Tư phiền năo cũng chẳng đoạn. Đức Phật chế định khá nhiều giới luật nhằm giúp chúng ta đắc Định, khai Huệ, giúp chúng ta minh tâm kiến tánh. Giới luật là một loại phương tiện, chẳng phải là mục đích! Nếu chúng ta muốn tự khen ngợi ḿnh, hủy báng kẻ khác, như vậy là đă phạm mười trọng giới của hàng Bồ Tát[5], đă phạm giới! Chư Phật Như Lai thanh tịnh vô nhiễm, chẳng ngại tự ḿnh tán thán chính ḿnh, chẳng sao cả! Chúng ta tán thán chính ḿnh, tâm ngạo mạn dấy lên, khinh rẻ người khác, phiền năo dấy lên. Đức Phật tự tán thán chính ḿnh, chẳng phải là có tâm ngạo mạn, mà là nhằm khơi gợi, phát khởi tín tâm của chúng sanh đối với Phật, có ǵ mà chẳng được!

 

      (Sao) Ngă vi Pháp Vương, ư pháp tự tại.

      ()我為法王,於法自在。

(Sao: Ta là Pháp Vương, tự tại nơi pháp).

 

      Chúng ta thấy điều này trong kinh, đức Phật tự khen ḿnh: Ngài đắc đại tự tại trong hết thảy các pháp.

 

(Sao) Tung hoành dư đoạt, Quyền Thật song chương.

()縱橫予奪,權實雙彰。

(Sao: Dọc, ngang, ban cho, đoạt lấy, Quyền lẫn Thật cùng phô bày).

 

      Chỉ rơ phương pháp độ chúng sanh của Phật và đại Bồ Tát có những kỹ xảo hết sức xảo diệu. Chỉ cần chúng sanh có thể đạt được lợi ích, hết thảy mọi kỹ xảo đều có thể vận dụng! Chúng ta có thể thấy những trường hợp giống như vậy trong Tứ Thập Hoa Nghiêm, cũng như trong phẩm cuối cùng là phẩm Nhập Pháp Giới của Bát Thập Hoa Nghiêm. Trong năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài đồng tử, năm mươi ba vị thiện tri thức ấy đều là Pháp Thân đại sĩ. Nếu nói theo tiêu chuẩn của kinh Kim Cang, các Ngài đều là chư Phật Như Lai. Chúng ta đọc xong năm mươi ba lần tham học bèn hoảng nhiên đại ngộ: “Tung, hoành, dư, đoạt, Quyền Thật song chương” (dọc, ngang, ban cho, đoạt lấy, Quyền lẫn Thật cùng phô bày). Hai câu này chính là tổng cương lănh của năm mươi ba lần tham học. Tám chữ ấy đă nói trọn vẹn năm mươi ba lần tham học.

 

      (Sao) Cẩu hữu lợi ư chúng sanh, diệc hà thi nhi bất khả.

()苟有利於眾生,亦何施而不可。

(Sao: Nếu có lợi cho chúng sanh, cũng có ǵ mà không thể làm được).

 

      Thật sự lợi ích chúng sanh th́ phương pháp ấy có thể sử dụng. Nếu chúng ta hỏi, những ǵ là lợi ích chúng sanh? Phải hiểu đạo lư này. Chẳng phải là làm cho chúng sanh được sung sướng, chẳng phải là ư nghĩa này. Tiêu chuẩn của lợi ích chúng sanh là làm cho chúng sanh phá mê khai ngộ; đấy mới là lợi ích thật sự, lợi ích chân thật.

 

      (Sao) Thiên thượng thiên hạ, duy ngô độc tôn.

      (Diễn) Duy ngă độc tôn giả, Tất Đạt thái tử sơ giáng sanh thời, nhất thủ chỉ thiên, nhất thủ chỉ địa, châu hành thất bộ, mục cố tứ phương, viết: “Thiên thượng, thiên hạ, duy ngă độc tôn”.

      ()天上天下,唯吾獨尊。

     ()唯我獨尊者。悉達太子初降生時。一手指天。一手指地。周行七步。目顧四方。曰天上天下。唯我獨尊。

      (Sao: Trên trời dưới đất, chỉ có Ngă là độc tôn.

Diễn: “Chỉ có Ngă là độc tôn”: Thái Tử Tất Đạt lúc mới giáng sanh, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, đi trọn khắp các phương, mỗi phương đều đi bảy bước, mắt nh́n bốn phương, nói: “Trên trời, dưới đất, chỉ có Ngă là tôn quư”)

 

      Đây là khi Thích Ca Mâu Ni Phật giáng thế [đă nói như vậy]. Có những người chẳng chịu tham cứu Phật pháp sâu xa, nghe nói như vậy bèn chê Thích Ca Mâu Ni Phật quá đỗi tự đại, quá sức ngạo mạn. Làm sao có thể là trên trời, dưới đất, chỉ có ta là tôn quư độc nhất cho được? Đấy là v́ chẳng hiểu ư nghĩa của chữ Ta. Ta ở đây là Chân Ngă, chẳng phải là Cái Tôi trong khái niệm của bọn phàm phu chúng ta. Đức Phật nói Vô Ngă, có thể thấy Ngă chẳng phải là nói về cái thân này! Ngă chỉ điều ǵ? Chỉ Thường, Lạc, Ngă, Tịnh trong Tam Đức. Tam Đức là Pháp Thân, Bát Nhă, Giải Thoát. Trong Pháp Thân có Thường, Lạc, Ngă, Tịnh; Bát Nhă cũng có Thường, Lạc, Ngă, Tịnh; Giải Thoát cũng có Thường, Lạc, Ngă, Tịnh (Nitya, Sukha, Ātmā, Śubha). Đó là “bốn tịnh đức”, là chân thật. “Ngă” (Ātmā) có nghĩa là chủ tể, tự tại, quyết định chẳng phải là ngạo mạn, mà cũng chẳng phải là tự khen ngợi ḿnh!

 

      (Sao) Tiền chi nhất thuyết, khủng nhân bất tri chư Phật số như vi trần, câu chấp nhất thiên cố.

()前之一說,恐人不知諸佛數如微塵,拘執一偏故。

(Sao: Thuyết trước là v́ sợ có kẻ chẳng biết chư Phật số nhiều như vi trần, bèn câu nệ, chấp trước phiến diện).

 

      Cách nói thứ nhất nhằm bảo quư vị: Chư Phật đồng danh đồng hiệu quá nhiều, chớ nên có thiên kiến, chớ nên chấp trước chuyện này!

 

      (Sao) Hậu chi nhất thuyết, khủng nhân nệ ư bất ưng tự tán, muội Phật thần dụng cố.

      ()後之一說,恐人泥於不應自讚,昧佛神用故。

(Sao: Thuyết sau là do sợ có kẻ câu nệ “chớ nên tự khen ngợi”, mờ mịt chẳng biết đến diệu dụng thần kỳ của Phật).

 

      “Bất ưng tự tán” (chớ nên tự khen ngợi) cũng là một loại chấp trước. “Muội Phật thần dụng cố”, [nghĩa là] chẳng biết đại dụng thần thông của Phật, Bồ Tát nhằm lợi khắp quần sanh.

 

      (Sao) Nhị thuyết kiêm thành, lư cố vô ngại.

      ()二說兼成,理固無礙。

      (Sao: Hai thuyết bổ sung lẫn nhau, cố nhiên, xét theo Lư, chẳng trở ngại ǵ).

 

      Cả hai cách giải thích của cổ đức đều hay. Chúng ta có cách nh́n viên dung, ư nghĩa càng rơ rệt hơn.

      Vô Lượng Thọ Phật tượng trưng cho phước thọ, là mục tiêu mong cầu bậc nhất của chúng ta. Chúng ta cầu phước, cầu trường thọ, nhưng phải ghi nhớ: Chẳng phải là sự trường thọ trong thế gian này! Trường thọ trong thế gian này vô dụng! Sống lâu rất khổ, khổ sở v́ tuổi già. Trường thọ trong Tây Phương Cực Lạc thế giới tốt đẹp lắm, v́ sao? Người trong cơi ấy chẳng già, vĩnh viễn là tuổi thanh xuân, đấy chính là phước báo thật sự. Chúng ta trường thọ trong cơi này hoàn toàn chẳng phải là phước báo thật sự. Trường thọ nhất định phải kèm thêm khỏe mạnh; khỏe mạnh, sống lâu th́ mới là phước. C̣n phải kèm thêm điều kiện; chẳng có khỏe mạnh đi kèm theo, sống lâu rất khổ! Ắt cần phải hiểu điều này, [như vậy th́ mới tha thiết] mong cầu trường thọ trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, Vô Lượng Thọ. Vị Phật tiếp theo…

 

      (Sớ) Vô Lượng Tướng giả, tướng hảo vô tận cố.

      (Sao) Tướng hảo giả, hoặc tam thập nhị tướng.

       ()無量相者,相好無盡故。

()相好者,或三十二相。

(S: Vô Lượng Tướng (Amitālakṣaṇa) là tướng hảo vô tận.

      Sao: “Tướng hảo”: Hoặc là ba mươi hai tướng).

 

      Đó là [nói theo quan niệm về tướng hảo của] người thế gian chúng ta, [sẽ là] ba mươi hai tướng.

 

      (Sao) Hoặc bát vạn tứ thiên tướng, hoặc vi trần tướng.

      ()或八萬四千相,或微塵相。

(Sao: Hoặc là tám vạn bốn ngàn tướng, hoặc tướng hảo nhiều như vi trần).

 

      Tướng hảo thù thắng, là cảnh giới của Phật và Đại Bồ Tát, chẳng phải là cảnh giới của phàm phu. Trong cảnh giới phàm phu, kể cả Đại Phạm Thiên Vương, Đại Phạm Thiên Vương [là người có địa vị] tột đỉnh trong Tứ Thiền Thiên cũng chỉ là ba mươi hai tướng, tám mươi thứ hảo. Đó là tướng hảo cực hạn trong thế giới Sa Bà.

 

      (Sao) Phước đức vô lượng, tướng diệc vô lượng dă. Tích Chí Công hiện thập nhất diện Quán Âm tướng, Tăng Diêu bất năng cử bút, huống Phật tướng hồ!

      (Diễn) Chí Công hiện thập nhất diện giả, Lương Vũ Đế, thường triệu họa công Trương Tăng Diêu tả Chí Công tượng. Chí Công dĩ chỉ phân phi diện môn, tác thập nhất diện Quán Âm tướng, hoặc từ, hoặc oai, hoặc Định, hoặc Huệ, Tăng Diêu cánh bất năng hạ bút.

      ()福德無量,相亦無量也。昔誌公現十一面觀音相,僧繇不能舉筆,況佛相乎。

     ()誌公現十一面者。梁武帝。嘗召畫工張僧。寫誌公像。誌公以指分披面門。作十一面觀音相。或慈或威。或定或慧。僧竟不能下筆。

(Sao: Phước đức vô lượng, tướng cũng vô lượng. Xưa ngài Bảo Chí Công hiện tướng Quán Âm mười một mặt, ông Tăng Diêu[6] chẳng thể vẽ được, huống hồ là tướng Phật ư?

Diễn: “Chí Công hiện mười một mặt”: Lương Vũ Đế từng sai thợ vẽ Trương Tăng Diêu vẽ h́nh tượng Chí Công. Ngài Chí Công dùng ngón tay xoa mặt, biến thành h́nh tướng Quán Âm muời một mặt, hoặc từ bi, hoặc oai mănh, hoặc Định, hoặc Huệ, Tăng Diêu trọn chẳng thể vẽ được).

 

      Ở đây có một câu chuyện, trong sách Diễn Nghĩa có chú giải chuyện này. Trước hết, chúng tôi phải nói đến nguyên do của tướng hảo. Tướng liên quan đến phước. V́ thế, chúng ta thường nói là “phước tướng” hoặc “quư tướng”. Ba mươi hai tướng, tám mươi thứ hảo là tướng phú quư. Nh́n vào tướng hảo của người khác, bèn biết phước báo của người ấy. Tướng của người có phước và tướng của kẻ không có phước rất rơ rệt, vừa nh́n bèn biết ngay. Muốn có tướng hảo, nhất định là phải tu phước. Chẳng tu phước, mong sửa sắc đẹp, giả trất, sửa kiểu nào cũng đều chẳng có phước báo; đâm ra, chuốc lấy một thân đầy bệnh tật, một thân đầy trục trặc. Có thể sửa đổi cho tướng mạo tốt đẹp hơn hay không? Có thể! Chỉ cần quư vị chịu tu. Đức Phật dạy chúng ta một nguyên lư: “Tướng chuyển theo tâm”. Đấy là nói rơ: Tướng của chính ḿnh có thể tu được. Tâm địa từ bi, tướng cũng rất hiền lành. Tâm địa hiểm ác, tướng rất hung tợn, khiến cho người ta trông thấy buốt xương rởn ốc, xác thực là có thể biến hóa. Cổ nhân thường nói: Tướng mạo sau năm bốn mươi tuổi sẽ do chính ḿnh chịu trách nhiệm. Trước bốn mươi tuổi là “tiên thiên” (先天, bẩm sinh), người hiện thời nói là “được di truyền từ cha mẹ”. Phật pháp chẳng nói “di truyền”, Phật pháp nói là khi một người đến đầu thai, người ấy thích ai, tướng mạo của kẻ đó in vào A Lại Da Thức của người ấy, biến ra tướng mạo đó. Ví như khi người ấy đến đầu thai, ưa thích cha mẹ, tướng người ấy sẽ giống như cha mẹ của chính ḿnh. [Tướng mạo] được quyết định vào lúc ấy, chẳng do di truyền. Sau bốn mươi tuổi, sẽ là “hậu thiên” (後天), [nghĩa là] từ bốn mươi tuổi trở đi, [tướng mạo] được quyết định bởi tâm hạnh tạo tác các nghiệp thiện ác. Một người thật sự có thể đoạn hết thảy ác, tu hết thảy thiện, tướng mạo nhất định là mỗi năm một tốt đẹp hơn, tướng mạo biến đổi, thể chất cũng biến đổi, thân tâm thanh tịnh, đấy là khỏe mạnh, trường thọ thật sự.

      Vô Lượng Tướng Phật, biểu thị phú quư. Phú quư cũng là điều đại chúng mong cầu. “Đức phước vô lượng, tướng diệc vô lượng” (Phước đức vô lượng, tướng cũng vô lượng). Đức Thế Tôn tán thán Tây Phương thế giới A Di Đà Phật: “Phật có vô lượng tướng, mỗi tướng có vô lượng hảo”. Không chỉ là ba mươi hai tướng, tám mươi thứ hảo! Những tướng ấy do đâu mà có? A Di Đà Phật phước đức vô lượng vô biên. V́ thế, cảm vời tướng mạo cũng là thù thắng khôn sánh! “Tích” () là quá khứ. “Chí Công” là ngài Bảo Chí Công[7], tức là một vị cao tăng vào thời Lương Vũ Đế. Truyện kư chép ngài Bảo Chí Công là hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát. Do cộng nghiệp thù thắng, cộng nghiệp tốt đẹp của chúng sanh trong thế gian này, cảm vời chư Phật, Bồ Tát ứng hóa trụ thế. Thời ngài Bảo Chí Công trụ thế nhằm đúng thời đại Lương Vũ Đế. Lương Vũ Đế là một Phật tử kiền thành, hết sức tôn kính ngài Bảo Chí Công. Tại Đài Loan, người lạy Lương Hoàng Sám rất nhiều, Lương Hoàng tức là Lương Vũ Đế. Lương Vũ Đế siêu độ phi tử. Khi c̣n sống, phi tử của ông ta từng tạo ác nghiệp, đọa vào súc sanh đạo. Nhà vua thỉnh cầu ngài Bảo Chí Công tác pháp siêu độ cho cô ta. Phật sự siêu độ của ngài Bảo Chí Công dành cho cô ta, nay được gọi là Lương Hoàng Sám. Lương Hoàng Sám do ngài Bảo Chí Công biên soạn. Bảo Chí Công là Quán Âm Bồ Tát. Quán Âm Bồ Tát siêu độ cô ta, cũng chỉ có thể siêu độ đến cơi trời Đao Lợi. Lên cao hơn nữa, chẳng được! Trong kinh Địa Tạng, cô gái Bà-la-môn và cô Quang Mục đều là tiền thân của Địa Tạng Bồ Tát, siêu độ thân nhân cũng là siêu độ về Đao Lợi Thiên. Trước đây, chúng tôi giảng A Nan Vấn Phật Sự Cát Hung Kinh, kinh ấy do đại sư An Thế Cao phiên dịch. Sau khi công tác phiên dịch kết thúc, ngài An Thế Cao đến Giang Nam để độ một đồng học trong đời trước. Người đồng học ấy cũng tạo tác ác nghiệp, đọa vào thần đạo, làm long vương hồ Cung Đ́nh, tức là hồ Bà Dương (鄱陽)[8] hiện thời, thuộc huyện Cửu Giang [tỉnh Giang Tây]. Sư siêu độ long vương ấy, cũng giúp cho ông ta sanh lên trời Đao Lợi. Cho thấy: Do công đức siêu độ, chỉ có thể đạt tới Đao Lợi Thiên. Lên tầng trời cao hơn Đao Lợi, phải cậy vào sự tu hành của chính ḿnh, hoàn toàn nhờ vào người khác tu phước sẽ chẳng thể đạt được! Nhất định phải là do chính ḿnh có công phu tu hành th́ mới có thể sanh vào tầng trời thứ ba trở lên trong Dục Giới! Lương Vũ Đế rất kính nể, bội phục ngài Bảo Chí Công; khi ấy, chẳng có máy chụp h́nh, nhà vua rất muốn giữ lại h́nh ảnh ngài Bảo Chí Công, bèn mời họa sĩ đến vẽ, họa h́nh Sư giữ lại để thờ phụng. Ngài Bảo Chí Công có thần thông, trong chốc lát biến hiện mười một loại gương mặt khác nhau, người vẽ chân dung chẳng có cách nào vẽ được, chẳng thể vạch nét bút nào. Trong Cao Tăng Truyện có một câu chuyện như vậy. Ngài Bảo Chí Công có thần thông biến hóa, có thể biến hóa các gương mặt khác biệt, chúng ta thường gọi [tướng biến hiện ấy] là Thập Nhất Diện Quán Âm.

 

(Sớ) Vô Lượng Tràng giả.

()無量幢者。

(Sớ: Vô Lượng Tràng - Amitadhvaja).

 

       Tràng () là cao, rơ rệt, h́nh dung người có địa vị hiển hách, cao vời trong xă hội, là bậc đại quư.

 

      (Sớ) Công đức cao hiển, dụ chi như tràng. Cực kỳ cao hiển, danh vô lượng dă. Hựu vô lượng giả, quảng đa nghĩa.

      ()功德高顯,喻之如幢。極其高顯,名無量也。又無量者,廣多義。

      (Sớ: Công đức cao vời, rơ rệt, ví như tràng. Cao vời, rơ rệt tột bậc, gọi là vô lượng. Vô lượng lại có nghĩa là rộng nhiều).

 

      “Tràng” () là tỷ dụ. Ở Đài Loan ít thấy tràng, tại Đại Lục hoặc Nhật Bản th́ thường thấy. Tràng và Phan () thuộc cùng một loại, đều treo trên cột cờ, thuộc loại cờ xí. Phan dẹp, tràng h́nh tṛn, giống như ống thoát gió ở phi trường. Vào thời cổ, Phật môn là sư đạo. Sư đạo th́ chẳng chiêu sinh. Sư đạo có tôn nghiêm của sư đạo: “Chỉ nghe tṛ t́m đến thầy xin học, chưa nghe nói thầy phải t́m tṛ đến nghe thầy dạy”, chẳng thể triệu tập mọi người tới. Nhưng chúng ta có hoạt động ở đây cũng chẳng thể không thông báo cho mọi người biết. Thông báo cho quư vị biết, quư vị thích th́ đến. Chẳng thích, quư vị có thể không đến, chẳng có mảy may miễn cưỡng nào! Phương pháp thông báo là trước cửa chùa miếu đều có cột cờ; cột cờ để treo phan hoặc tràng. Nếu ở chỗ chúng ta có pháp hội bèn treo phan. Người ta thấy phan, [biết là] hôm nay đạo tràng ấy có pháp hội, người thích tham gia pháp hội bèn đến. Nếu giảng kinh th́ dùng tràng, h́nh tṛn, treo trên cột cờ, [nhằm thông báo] hôm nay đạo tràng này có giảng kinh, ai thích nghe kinh th́ đến. Đấy là nhằm báo với đại chúng đạo tràng chúng tôi hôm nay có hoạt động ǵ. Hiện thời, không cần đến những thứ ấy. Hiện thời, thông tin rất thuận tiện, có thể gởi thông cáo, hoặc đăng quảng cáo trên báo, thay thế tác dụng của tràng và phan xưa kia. Tràng treo ở cột cờ bèn treo rất cao, gọi là “pháp tràng cao thụ” (dựng cao pháp tràng), biểu thị pháp hội giảng kinh.

 

      (Sao) Tràng giả, phan thuộc, hựu vân kỳ thuộc.

      ()幢者,旛屬,又云旗屬。

(Sao: Tràng thuộc loại phan, lại là một loại cờ).

 

      Thuộc loại cờ xí[9].

 

      (Sao) San Định Kư, tràng hữu thất nghĩa, ước chi thành ngũ.

      ()刊定記,幢有七義,約之成五。

(Sao: Theo San Định Kư[10], tràng có bảy nghĩa, nói giản ước th́ thành năm nghĩa).

 

      “Ước” () là quy nạp, quy nạp bảy ư nghĩa lại th́ tối thiểu là có năm ư nghĩa.

 

      (Sao) Nhất, cao hiển nghĩa, dụ Phật vị cực tôn cố. Nhị, kiến lập nghĩa, dụ Phật bi trí, kiến lập chúng sanh, cập Bồ Đề cố.

      (Diễn) Kiến lập nghĩa giả, thượng dĩ đại trí kiến lập Bồ Đề, hạ dĩ đại bi kiến lập chúng sanh cố.

()一、高顯義,喻佛位極尊故。二、建立義,喻佛悲智,建立眾生,及菩提故。

       ()建立義者。上以大智建立菩提。下以大悲建立眾生故。

(Sao: Một là nghĩa cao hiển, ví như địa vị Phật tôn quư tột cùng. Hai là nghĩa kiến lập, ví như bi và trí của Phật kiến lập chúng sanh và Bồ Đề.

Diễn: “Nghĩa kiến lập”: Trên là dùng đại trí tạo dựng Bồ Đề, dưới là dùng đại bi để dựng yên chúng sanh).

 

      Chúng ta thường nói “kiến pháp tràng”. Kiến pháp tràng có nghĩa là kiến lập đạo tràng. “Kiến pháp tràng” [thuở trước] và “kiến lập đạo tràng” trong hiện thời có ư nghĩa khác nhau. Người hiện thời xây dựng một ngôi chùa, đó có phải là “kiến lập đạo tràng” hay không? Không nhất định! Chùa xây dựng hoàn tất, nhưng chẳng có đạo trong ấy, chẳng thể gọi là đạo tràng. Trong ấy phải có đạo th́ mới được. “Kiến pháp tràng” th́ trong ấy nhất định là có đạo. Lập tông chỉ, xác định phương pháp và mục tiêu tu học, dùng phương pháp ấy để đạt tới mục tiêu tu học th́ cần phải thành lập tông chỉ. Giống như trong Tịnh Tông, chúng ta theo pháp môn Niệm Phật, “tín nguyện tŕ danh” là phương pháp tu hành, “văng sanh bất thoái thành Phật” là mục tiêu tu hành. Đó là tông chỉ của Tịnh Tông. Đấy là ư nghĩa “kiến lập”.

 

      (Sao) Tam, quy hướng nghĩa, dụ Phật vị chúng sanh sở tông ngưỡng cố.

      ()三、歸向義,喻佛為眾生所宗仰故。

      (Sao: Ba là ư nghĩa quy hướng, ví như Phật được chúng sanh kính trọng, ngưỡng mộ).

 

      Có ư nghĩa quy y trong ấy.

 

      (Sao) Tứ, tồi điễn nghĩa, hàng phục nhất thiết chư ma quân cố.

      ()四、摧殄義,降伏一切諸魔軍故。

      (Sao: Bốn là ư nghĩa đập tan, trừ sạch, hàng phục hết thảy các ma quân).

 

      V́ Phật pháp có thể giúp chúng ta phân biệt tà      , chánh, hiểu rơ đúng, sai, cho nên có ư nghĩa hàng phục tà tri tà kiến trong ấy.

 

      (Sao) Ngũ, diệt bố nghĩa.

      ()五、滅怖義。

      (Sao: Năm là ư nghĩa diệt trừ sự sợ hăi).

 

      “Bố” () là kinh sợ. Nếu chúng ta có thể ĺa khỏi hết thảy ưu lự, bất an, hoảng sợ, đó là được Phật pháp hộ niệm.

 

      (Sao) Như Đế Thích cáo chư thiên chúng, nhữ dữ Tu La chiến thời, thiết hữu khủng bố, đương niệm ngă thất bảo tràng, kỳ bố tức diệt.

      ()如帝釋告諸天眾,汝與修羅戰時,設有恐怖,當念我七寶幢,其怖即滅。

(Sao: Như Đế Thích bảo chư thiên: “Khi các ông cùng A Tu La giao chiến, nếu sợ hăi, hăy nên nghĩ tới tràng bảy báu của ta, nỗi sợ hăi ấy sẽ diệt”).

 

      Đây là tỷ dụ, [ư nói] chúng sanh niệm Phật có thể rời khỏi hết thảy các thứ kinh sợ.

 

      (Sao) Dụ Phật đắc vô sở úy, chúng sanh niệm Phật, tức ly khủng bố cố. Kim duy thủ cao hiển nhất nghĩa, nhiếp dư nghĩa dă.

      ()喻佛得無所畏,眾生念佛,即離恐怖故。今唯取高顯一義,攝餘義也。

(Sao: Ví như Phật đắc vô sở úy (không sợ hăi điều ǵ), chúng sanh niệm Phật bèn ĺa sợ hăi. Nay chỉ dùng một nghĩa là cao hiển để bao gồm những nghĩa khác).

 

      Đối với năm ư nghĩa ấy, nói một ư nghĩa, những ư nghĩa khác cũng đều được bao gồm trong ấy.

 

      (Sao) Quảng đa giả, kỳ tràng đa nhi vô lượng. Như kinh ngôn, tràng phan, bảo cái, biến măn hư không, Phật thụ vô lượng diệu nghĩa, chỉ thị chúng sanh, diệc phục như thị.

      ()廣多者,其幢多而無量。如經言,幢旛寶蓋,遍滿虛空,佛豎無量妙義,指示眾生,亦復如是。

(Sao: “Rộng nhiều”: Tràng ấy nhiều vô lượng. Như kinh nói: “Tràng phan, lọng báu đầy khắp hư không”. Đức Phật kiến lập vô lượng nghĩa mầu nhiệm để chỉ dạy chúng sanh cũng giống như thế).

 

Hai câu kinh này cũng bảo cho chúng ta biết đôi chút về trạng huống chân thật trong Tây Phương Cực Lạc thế giới. Tràng là tiêu chí (biểu tượng, logo) của việc giảng kinh, thuyết pháp. Ví như chúng tôi giảng kinh Vô Lượng Thọ, trên cái tràng ấy nhất định đề “Nam-mô Vô Lượng Thọ Kinh”. Giảng kinh Hoa Nghiêm, trên tràng nhất định viết là “Nam-mô Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh”. Tràng phan, lọng báu vô lượng vô biên nhằm bảo chúng ta: Trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, hết thảy các kinh pháp đều đang được tuyên giảng. Nói cách khác, nếu chúng ta hết sức hâm mộ kinh giáo, thảy đều mong học hết, những thứ [tràng phan, lọng báu] ấy đă nói rất rơ rệt: Trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, bất luận quư vị tu học pháp môn nào, ở bên ấy thảy đều trọn đủ, có thầy tốt nhất, bạn học tốt nhất, hoàn cảnh tu học tốt đẹp nhất. V́ sao chẳng đến nơi đó để tu học? Hai câu ấy bao hàm ư nghĩa rất sâu, bảo cho chúng ta biết t́nh huống giảng kinh, thuyết pháp sôi nổi, phong phú trong Tây Phương Cực Lạc thế giới. Nói thật ra, các thế giới phương khác chẳng thể sánh bằng. Lại xem vị Phật kế tiếp:

 

      (Sớ) Đại Quang giả, quang huy quảng bị cố.

      ()大光者,光輝廣被故。

      (Sớ: Đại Quang (Mahāprabhā) là chiếu sáng rực rỡ rộng khắp).

 

      Danh hiệu này biểu thị đại trí.

 

      (Sao) Quang chỉ hóa tha chi dụng, chư thiên nhân diệc hữu thân quang, bất giả nhật nguyệt.

      ()光指化他之用,諸天人亦有身光,不假日月。

(Sao: Quang là nói đến tác dụng hóa độ người khác. Thân các vị trời cũng có quang minh, chẳng cần nhờ đến mặt trời, mặt trăng [soi sáng]).

 

      Hiện thời, quang minh trong thế gian này xuất phát từ mặt trời. Mặt trăng phản chiếu ánh sáng, chứ bản thân mặt trăng chẳng tỏa sáng. Bản thân chư thiên có quang minh; phước báo của họ to lớn, vật chất [trong cơi trời] cũng tỏa ánh sáng. Chư thiên c̣n như thế, đương nhiên là Tây Phương Cực Lạc thế giới càng chẳng cần phải nói nữa!

 

      (Sao) Nhị Thừa tiểu quả, nhân địa Bồ Tát, giai hữu quang minh, tỷ Phật vi tiểu.

()二乘小果,因地菩薩,皆有光明,比佛為小。

(Sao: Hàng Nhị Thừa tiểu quả, các Bồ Tát c̣n đang tu nhân đều có quang minh, nhỏ hơn quang minh của Phật).

      A La Hán có quang minh, thân của Bích Chi Phật và các vị Bồ Tát đều có quang minh. Có [hai loại quang minh là] thường quang và phóng quang, nhưng đều thua kém Phật.

 

      (Sao) Phật quang ánh tế nhất thiết, cố vân đại dă.

      (Diễn) Phật quang ánh tế nhất thiết giả, thiên nhân chi quang đản tế nhật nguyệt. Thanh Văn chi quang kiêm tế thiên nhân, Chi Phật chi quang kiêm tế Thanh Văn, Bồ Tát chi quang kiêm tế Chi Phật, duy Phật quang minh, ánh tế nhất thiết chi đại quang dă.

      ()佛光映蔽一切,故云大也。

     ()佛光映蔽一切者。天人之光但蔽日月。聲聞之光兼蔽天人。支佛之光兼蔽聲聞。菩薩之光兼蔽支佛。唯佛光明。映蔽一切之大光也。

      (Sao: Quang minh của Phật chiếu rực, che lấp hết thảy [các ánh sáng khác], nên nói là “đại”.

Diễn: “Phật quang che lấp hết thảy”: Quang minh của chư thiên chỉ che lấp mặt trời, mặt trăng. Quang minh của Thanh Văn [ngoài che lấp mặt trời mặt trăng] c̣n kèm thêm che lấp quang minh của chư thiên. Quang minh của Bích Chi Phật c̣n kèm thêm che lấp quang minh của Thanh Văn. Quang minh của Bồ Tát c̣n kèm thêm che lấp quang minh của Bích Chi Phật, chỉ có quang minh của Phật là to lớn che lấp hết thảy).

 

      Được gọi là Đại Quang Phật.

 

      (Sớ) Đại Minh giả, vị Phật dĩ đại trí, phá chư Hoặc tận cố.

      ()大明者,謂佛以大智,破諸惑盡故。

      (Sớ: Đại Minh (Mahānirbhāsa), ư nói Phật dùng trí huệ phá sạch các Hoặc).

 

      Biểu thị tác dụng của trí huệ.

 

      (Sao) Phá chư Hoặc tận giả.

      ()破諸惑盡者。

(Sao: Phá hết sạch các Hoặc).

 

      Phá hết sạch. Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, chưa đoạn hết sạch Hoặc, vẫn c̣n thừa sót, chỉ có nơi quả địa Như Lai là hoàn toàn đoạn sạch.

 

      (Sao) Nhất Thiết Trí, phá Kiến Tư Hoặc tận; Đạo Chủng Trí, phá Trần Sa Hoặc tận; Nhất Thiết Chủng Trí, phá Vô Minh Hoặc tận.

      (Diễn) Kiến Tư Hoặc giả, kiến giả, nhược vân kiến Lư thời, năng đoạn thử Hoặc, tức tùng giải đắc danh. Nhược vân kiến chỉ thị Giả, Giả giả bất thật vi nghĩa, tức đương thể thọ xưng. Tư Hoặc nhập tu đạo vị, trọng lự duyên chân, thử Hoặc tức trừ, danh Tư Duy Hoặc. Thử tùng giải đắc danh. Nhược vân tư giả cập ái hoặc giả, thử đương thể thọ xưng. Nhiên Kiến Hoặc tùng Pháp Trần khởi, năng chướng chân lư. Tư Hoặc tùng ngũ trần khởi, năng khiên tam giới. Thử giai ước Dục Giới đa phần thuyết, tế luận bất câu. Trần Sa Hoặc giả, vị chúng sanh Kiến Tư số đa như trần sa, năi tha nhân phận thượng chi Hoặc. Bồ Tát chi hạnh, chuyên vị hóa tha. Nhược linh chúng sanh năng đoạn Kiến Tư chi hoặc, ư Bồ Tát tức thị đoạn Trần Sa Hoặc, diệc danh Biệt Hoặc giả, biệt tại Bồ Tát sở đoạn cố dă. Vô Minh Hoặc giả, vị ư nhất thiết pháp vô sở minh liễu, cố viết vô minh. Thử Hoặc năi nghiệp thức chủng tử, phiền năo căn bản. Thanh Văn, Duyên Giác bất tri kỳ danh. Biệt tại Đại Thừa Bồ Tát, Định Huệ song tu, vạn hạnh cụ túc, phương đoạn thử Hoặc. Cố diệc danh Biệt Hoặc dă. Nội pháp, nội danh, ngoại pháp, ngoại danh, năng tri, năng giải, danh Nhất Thiết Trí. Năng tri nhất thiết đạo chủng sai biệt, phân biệt vô mậu, danh Đạo Chủng Trí. Phật trí trung tất song chiếu, tam trí cụ túc, danh Nhất Thiết Chủng Trí. Thử tam trí thị quả, Tam Quán thị nhân, thỉ chung tâm yếu vân. Không Quán giả, phá Kiến Tư Hoặc, chứng Nhất Thiết Trí, thành Bát Nhă đức. Giả Quán giả, phá Trần Sa Hoặc, chứng Đạo Chủng Trí, thành Giải Thoát đức. Trung Quán giả, phá Vô Minh Hoặc, chứng Nhất Thiết Chủng Trí, thành Pháp Thân đức. Nhiên phi trí bất đoạn, phi đoạn bất trí. Tâm yếu tiên ngôn phá Hoặc, hậu ngôn chứng trí. Thị phi đoạn bất thành trí dă. Kim Sao tiên ngôn trí chứng, hậu ngôn phá Hoặc giả, thị phi trí bất năng đoạn dă.

      ()一切智,破見思惑盡;道種智,破塵沙惑盡;一切種智,破無明惑盡。

       ()見思惑者。見者。若云見理時。能斷此惑。即從解得名。若云見祇是假。假者不實為義。即當體受稱。思惑入修道位。重慮緣真。此惑即除。名思惟惑。此從解得名。若云思假及愛惑者。此當體受稱。然見惑從法塵起。能障真理。思惑從五塵起。能牽三界。此皆約欲界多分說。細論不拘。塵沙惑者。謂眾生見思數多如塵沙。乃他人分上之惑。菩薩之行。專為化他。若令眾生能斷見思之惑。於菩薩即是斷塵沙惑。亦名別惑者。別在菩薩所斷故也。無明惑者。謂於一切法無所明了。故曰無明。此惑乃業識種子。煩惱根本。聲聞緣覺不知其名。別在大乘菩薩。定慧雙修。萬行具足。方斷此惑。故亦名別惑也。內法內名。外法外名。能知能解。名一切智。能知一切道種差別。分別無謬。名道種智。佛智中必雙照。三智具足。名一切種智。此三智是果。三觀是因。始終心要云。空觀者。破見思惑。證一切智。成般若德。假觀者。破塵沙惑。證道種智。成解脫德。中觀者。破無明惑。證一切種智。成法身德。然非智不斷。非斷不智。心要先言破惑。後言證智。是非斷不成智也。今鈔先言智證。後言破惑者。是非智不能斷也。

      (Sao: Nhất Thiết Trí phá hết Kiến Tư Hoặc, Đạo Chủng Trí phá hết Trần Sa Hoặc, Nhất Thiết Chủng Trí phá hết Vô Minh Hoặc.

Diễn: “Kiến Tư Hoặc”: Nếu nói theo lúc thấy Lư, Kiến sẽ có thể đoạn Hoặc này, tức [danh xưng Kiến Hoặc] là từ Giải mà gọi tên. Nếu nói Kiến chỉ là giả, giả có nghĩa là chẳng thật, tức là [phiền năo này] được gọi tên theo Thể. Đối với Tư Hoặc, th́ dự vào địa vị Tu Đạo, những mối ưu lự nặng nề đều duyên theo lẽ chân, phiền năo này bèn trừ. Gọi nó là Tư Duy Hoặc chính là gọi tên theo Giải. Nếu nói Tư là giả và Ái Hoặc th́ phiền năo này được gọi tên theo Thể, nhưng Kiến Hoặc do Pháp Trần sanh khởi, có thể chướng ngại chân lư. Tư Hoặc do Ngũ Trần sanh khởi, có thể lôi kéo [chúng sanh] vào tam giới. Những điều này phần lớn là nói theo Dục Giới. Nếu luận định tỉ mỉ, sẽ chẳng hạn định trong một cơi nào [của tam giới]. Trần Sa Hoặc có nghĩa là Kiến Hoặc và Tư Hoặc của chúng sanh số lượng nhiều như cát bụi, thuộc về phiền hoặc của người khác. Hạnh Bồ Tát chuyên v́ hóa độ người khác. Nếu có thể khiến cho chúng sanh đoạn trừ Kiến Tư Hoặc th́ đó chính là Bồ Tát đoạn Trần Sa Hoặc. [Phiền năo này] c̣n gọi là Biệt Hoặc v́ nó [là phiền năo] dành riêng cho Bồ Tát phải đoạn. Vô Minh Hoặc có nghĩa là do chẳng hiểu rơ hết thảy các pháp, nên gọi là Vô Minh. Phiền năo này chính là chủng tử của nghiệp thức, là căn bản phiền năo. Thanh Văn, Duyên Giác chẳng biết đến danh xưng của phiền năo này. Chỉ riêng Đại Thừa Bồ Tát cùng tu Định và Huệ, vạn hạnh trọn đủ, mới đoạn Hoặc này, nên nó cũng được gọi là Biệt Hoặc. Đối với nội pháp, nội danh, ngoại pháp, ngoại danh đều có thể biết, có thể hiểu, th́ gọi là Nhất Thiết Trí. Có thể biết hết thảy các đạo chủng sai biệt, phân biệt chẳng sai lầm th́ gọi là Đạo Chủng Trí. Trong Phật trí, ắt song chiếu, ba trí cùng trọn đủ, bèn gọi là Nhất Thiết Chủng Trí. Ba trí ấy chính là quả, ba phép Quán là nhân. Sách Thỉ Chung Tâm Yếu nói: “Không Quán phá Kiến Tư Hoặc, chứng Nhất Thiết Trí, thành Bát Nhă đức. Giả Quán phá Trần Sa Hoặc, chứng Đạo Chủng Trí, thành Giải Thoát đức. Trung Quán phá Vô Minh Hoặc, chứng Nhất Thiết Chủng Trí, thành Pháp Thân đức”. Nhưng chẳng có trí, sẽ chẳng thể đoạn; chẳng có đoạn, bèn chẳng có trí. Sách Tâm Yếu trước là nói đến chuyện phá Hoặc, sau là nói đến chuyện “chứng trí”; đó là [nói theo khía cạnh] “chẳng đoạn sẽ không thể thành trí”. Nay lời Sao trước hết là nói đến chuyện chứng đắc trí, rồi mới nói đến chuyện phá Hoặc, là nói theo phương diện “chẳng có trí, sẽ không thể đoạn”).

 

      Đều là nói về sự phá trừ hết sạch [các Hoặc]. Từ kinh Tiểu Thừa, chúng ta thấy Tứ Quả La Hán đoạn sạch Kiến Tư phiền năo, chứng Nhất Thiết Trí. Có phải là thật sự đoạn hết hay không? Kinh Đại Thừa cho biết [hàng Tiểu Thừa] đoạn hết các Hoặc trong tam giới, nhưng chẳng đoạn được tế hoặc (細惑: những phiền năo vi tế) ở ngoài tam giới. Hoặc thuộc tam giới là thô, Hoặc ở ngoài tam giới là tế, vẫn phải là cho đến khi thành Phật mới đoạn trừ hết được. Dưới đây là một tỷ dụ:

 

      (Sao) Cảo nhật đương không, vô sở bất chiếu, vân Đại Minh dă.

      ()杲日當空,無所不照,云大明也。

(Sao: Vầng mặt trời rạng rỡ giữa không trung, không đâu chẳng chiếu đến bèn gọi là Đại Minh).

 

      Giống như vầng mặt trời. Mặt trời hoàn toàn chẳng bị mây che lấp, ánh nắng mặt trời tỏa rạng hoàn toàn, soi khắp đại địa. Dùng chuyện này để tỷ dụ Phật. Bồ Tát và La Hán tuy đoạn Hoặc, chẳng đoạn hết, hăy c̣n một tầng mây mỏng che khuất. Quang minh tuy rất rơ rệt, chẳng phải là viên măn, hăy c̣n có một tầng mây mỏng, nên chẳng gọi là Đại Minh. Phải là ngay cả vi tế Hoặc thảy đều đoạn sạch th́ mới gọi là quang minh viên măn, gọi là Đại Minh.

 

      (Sao) Tuy tiền tự giác tha, thử tự tự giác.

      ()雖前似覺他,此似自覺。

      (Sao: Tuy vị Phật trước dường như là giác tha, vị Phật này dường như là tự giác).

 

      Đại Quang dường như là Giác Tha, Đại Minh dường như là Tự Giác.

 

      (Sao) Các cử nhất đức, nghĩa thật hỗ cụ, như thượng tổng thuyết trung biện.

     ()各舉一德,義實互具,如上總說中辯。

(Sao: Tuy là đối với mỗi vị Phật chỉ nêu một đức, nhưng vị nào cũng thật sự trọn vẹn các nghĩa ấy như đă biện định trong phần Tổng Thuyết thuộc phần trước).

 

      Hai thứ ư nghĩa ấy (tự giác và giác tha) đều có, Đại Quang có ư nghĩa tự giác, giác tha. Đại Minh cũng là ư nghĩa tự giác, giác tha, chớ nên khăng khăng chấp trước. Chúng ta nói theo sự biểu thị pháp: Đại Quang biểu thị đại trí, Đại Minh biểu thị đại trí khởi dụng (phát sanh tác dụng). Ư nghĩa này tương đối dễ hiểu.

 

      (Sớ) Bảo Tướng giả, tướng hảo thù đặc, như bảo tôn quư cố.

      ()寶相者,相好殊特,如寶尊貴故。

      (Sớ: Bảo Tướng là tướng hảo thù thắng đặc biệt, như chất báu tôn quư vậy).

 

       Bảo Tướng (Ratnalakṣaṇā) biểu thị sự tôn thắng, tôn quư thù thắng.

 

      (Sao) Tướng hảo như bảo giả, Phật hữu vô lượng tướng, cô cử nhất nhị. Mục tướng, như kinh ngôn: “Bát vạn tứ thiên thanh tịnh bảo mục”. Hào tướng như kinh ngôn “lưu ly đồng”. Hung tướng như kinh ngôn “tử ma kim”. Nhục kế tướng, như kinh ngôn Chân Thúc Ca, giai sở vị bảo tướng dă.

      ()相好如寶者,佛有無量相,姑舉一二。目相,如經言:八萬四千清淨寶目;毫相,如經言:琉璃筒;胸相,如經言:紫磨金;肉髻相,如經言:甄叔迦。皆所謂寶相也。 

(Sao: “Tướng hảo như chất báu”: Phật có vô lượng tướng, chỉ nêu một hai tướng. Tướng mắt là như kinh nói: “Tám vạn bốn ngàn mắt báu thanh tịnh”. Tướng bạch hào là như kinh nói “ống lưu ly”. Tướng ngực là như kinh nói “vàng tía được giồi mài”, tướng nhục kế là như kinh nói “Chân Thúc Ca”, những tướng ấy đều được gọi là “bảo tướng”).

 

“Mục” () là mắt, “hào” () là bạch hào. Các tỷ dụ đều dùng bảy báu để h́nh dung. Tám vạn bốn ngàn mắt báu thanh tịnh được nói trong kinh Lăng Nghiêm.

 

      (Diễn) Lăng Nghiêm vân: Do ngă hoạch đắc diệu diệu văn tâm, cố ngă năng hiện chúng đa diệu dung, năi chí nhị mục, tam mục, tứ mục, cửu mục, bát vạn tứ thiên thanh tịnh bảo mục, hoặc từ, hoặc oai, hoặc Định, hoặc Huệ, cứu hộ chúng sanh đắc đại tự tại. Hào tướng như lưu ly đồng giả, Như Lai hiện tướng, sơ sanh thời khiên trường ngũ xích, khổ hạnh thời trường nhất trượng tứ xích ngũ thốn. Thành đạo thời trường nhất trượng ngũ xích, trung không, ngoại minh, như lưu ly đồng.

      ()楞嚴云:由我獲得妙妙聞心,故我能現眾多妙容,乃至二目三目、四目九目,八萬四千清淨寶目,或慈或威,或定或慧,救護眾生得大自在。毫相如琉璃筒者。如來現相。初生時牽長五尺。苦行時長一丈四尺五寸。成道時長一丈五尺。中空外明。如琉璃筒。

(Diễn: Kinh Lăng Nghiêm nói: “Do ta đạt được cái tâm diệu diệu văn[11], nên ta có thể hiện các thứ dung mạo nhiệm mầu, cho đến hai mắt, ba mắt, bốn mắt, chín mắt, tám vạn bốn ngàn mắt báu thanh tịnh, hoặc từ bi, hoặc oai mănh, hoặc Định, hoặc Huệ, cứu giúp, bảo vệ chúng sanh đắc đại tự tại”. “Tướng bạch hào như ống lưu ly”: Như Lai hiện tướng, lúc mới sanh, bạch hào kéo ra dài năm thước. Khi khổ hạnh dài một trượng bốn thước năm tấc. Khi thành đạo dài một trượng năm thước. Ở giữa rỗng, bên ngoài sáng ngời, như ống lưu ly vậy).

 

      Đây là kinh văn trong phần Quán Thế Âm Bồ Tát Nhĩ Căn Viên Thông Chương trong kinh Lăng Nghiêm, do chính Quán Thế Âm Bồ Tát nói. Trong kinh Lăng Nghiêm, Quán Thế Âm Bồ Tát thuộc địa vị Sơ Trụ trong Viên Giáo. Trong kinh Hoa Nghiêm, Quán Thế Âm Bồ Tát là Bồ Tát thuộc địa vị Đệ Thất Hồi Hướng. Trong kinh Pháp Hoa, Quán Âm Bồ Tát là Đẳng Giác Bồ Tát. Theo kinh Lăng Nghiêm, bậc Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo c̣n có năng lực to tát như thế, đáng nên dùng thân ǵ để thuyết pháp bèn có thể hiện thân ấy. “Nên dùng thân Phật để độ bèn hiện thân Phật để thuyết pháp”. Đấy chính là bậc Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo có thể dùng thân phận ba mươi hai tướng, tám mươi thứ hảo để v́ chúng sanh thuyết pháp. Trong bộ Kim Cang Kinh Giảng Nghĩa, cư sĩ Giang Vị Nông đă chú giải “chư Phật” trong kinh Kim Cang là từ Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo cho đến Phật quả rốt ráo, đều gọi là “chư Phật”, v́ Viên Giáo Sơ Trụ có thể thị hiện tám tướng thành đạo. Chữ “chư Phật” chỉ bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại sĩ. Thiền Tông thường nói “minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật”. Bậc Sơ Trụ trong Viên Giáo đă kiến tánh, kiến tánh là thành Phật, có ư nghĩa này. Vị Phật cuối cùng…

 

      (Sớ) Tịnh Quang giả.

      ()淨光者。

      (S: Tịnh Quang (Śuddharaśmi-prabhā)…)

 

      Sáu vị trước đều biểu thị tu phước. Trong tu phước, Vô Lượng Thọ Phật biểu thị trường thọ, Vô Lượng Tướng Phật biểu thị phú quư, Vô Lượng Tràng Phật biểu thị địa vị cao vời, hiển hách, Đại Quang Phật biểu thị đầy đủ đại trí huệ. Đại Minh Phật biểu thị xử sự, đăi người, tiếp vật đều tuân theo lư tánh, chẳng phải là cảm t́nh. “Lư tánh” là trí huệ, tức là lư trí nắm quyền, chẳng có tâm riêng tư. Bảo Tướng Phật biểu thị ḷng tôn trọng, sùng kính, ngưỡng mộ của chúng sanh đối với Ngài, đều là biểu thị phước đức. Vị Phật cuối cùng dạy chúng ta phương pháp tu phước, phải tu đại phước đức như thế nào? Phải tịnh, phải quang. Tâm phải thanh tịnh, tâm địa quang minh; thanh tịnh quang minh, quư vị bèn có thể tu đại phước báo. Tu phước báo hết sức khó khăn!

      Sáng nay có người đến phỏng vấn tôi, người ấy muốn làm máy niệm Phật, muốn dùng băng thâu tiếng niệm Phật của Đồ Thư Quán chúng ta, dùng làm băng gốc để làm máy niệm Phật. Đó là chuyện tốt đẹp. Người ấy kể: Trong quá khứ đă từng làm những tấm cạc (card) nhỏ in h́nh Phật, thần chú Lăng Nghiêm, hoặc làm tượng Quán Thế Âm Bồ Tát, làm những thứ nho nhỏ có thể đeo trên thân. Người ấy làm rất nhiều. Sau đấy mới nói đến chuyện bản quyền, v́ bọn họ tốn nhiều công sức thiết kế, cũng mong trong tương lai chính ḿnh có bản quyền, chẳng cho phép kẻ khác làm nhái theo. Tôi bảo người ấy: “Ông làm kiểu đó, phước báo rất nhỏ. Ông chỉ có thể kiếm lợi một chút”. Tôi nhắc nhở người ấy, nói: Ông hăy đọc kỹ Liễu Phàm Tứ Huấn. Chúng sanh trong lục đạo, kể cả Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Thiên, phước báo là nhất định. “Một hớp uống, một miếng ăn, không ǵ chẳng được định sẵn”. Ông vắt óc suy nghĩ, rất thông minh, rất có phương pháp, kiếm tiền khá lắm. Thật ra [tiền ấy] đă được định sẵn trong mạng. Trong mạng chẳng có th́ một đồng ông cũng chẳng kiếm được! Oan uổng quá! Hằng ngày luôn tính toán, tính đến nỗi hết sạch một chút phước báo tu được trong đời trước. Phước báo do đâu mà có? Đức Phật đă dạy chúng ta rất rơ ràng, Phật chẳng gạt người! Của cải là do tài bố thí mà có. Tiền bạc, vật chất trong một đời này là do đời quá khứ tu tài bố thí, đời này được quả báo. Trong đời quá khứ chẳng tu tài bố thí, đời này quư vị sẽ bị bần tiện, khổ sở, chẳng có cách nào hết, chẳng tránh được! Bản lănh lớn, trí huệ cao, vô dụng! Quư vị bần cùng th́ vẫn phải bần cùng. Trước kia, thầy tôi là tiên sinh Phương Đông Mỹ thật sự có trí huệ. Trong thời gian chiến tranh tại Đại Hàn, thầy rất tự hào bảo tôi: “Một ḿnh tôi tối thiểu có thể chống lại binh lực của mười sư đoàn”. Thầy có đầu óc, có trí huệ! Nhưng như thế nào? Vẫn là một vị giáo viên nghèo túng, sống qua ngày bằng tiền lương, chẳng đủ tiền mua sách! Đấy là v́ đời trước thầy tu huệ, chẳng tu phước. Thầy rất thông minh, chẳng có phước báo, cuộc sống rất kham khổ. V́ thế, muốn có của cải, hăy tu tài bố thí. Muốn thông minh, trí huệ, hăy tu pháp bố thí. Muốn khỏe mạnh, sống lâu, hăy tu vô úy bố thí. Đức Phật dạy chúng ta, ba thứ phước báo do như vậy mà có!

      Quư vị làm ra những thứ ấy đúng là có công đức, giúp cho bao nhiêu người niệm Phật được lợi ích, nhưng sở hữu bản quyền th́ công đức mất sạch, toàn bộ đều bị gột sạch, biến thành phước báo nhỏ tí t́ ti! Chút phước báo ấy chẳng phải là do đời này, mà là do đời trước tu thành, đời sau có phước báo hay không? Đời sau chẳng có phước báo! Không chỉ là chẳng có phước báo, nay tôi nói lời thật, quư vị nghe xong sẽ sợ hăi. Chuyện là như thế nào? Quư vị c̣n mắc tội lỗi, tội lỗi ǵ vậy? Buôn bán Như Lai! Những thứ thuộc về Phật pháp th́ phải để lợi ích trọn khắp hết thảy chúng sanh, quư vị cướp đoạt lấy, chiếm giữ để làm của riêng ḿnh, đem ra mua bán, quả báo là ở trong địa ngục A Tỳ, quư vị nói xem có đáng thương lắm không? Tôi nói lời này chẳng phải là hù dọa quư vị, tôi nói lời chân thật. Trong tương lai, quư vị đọa vào địa ngục, tới khi ấy bèn trách móc: “Thuở đó, tôi gặp pháp sư Tịnh Không, ông ta chẳng nói với tôi, hại tôi khổ sở ngần ấy!” Tôi đă bảo quư vị, tôi nói lời thật cùng quư vị. Quyết định chớ nên “giữ bản quyền sở hữu, tái bản sẽ bị truy cứu trách nhiệm”. Hai câu ấy là chứng cớ tội trạng để vua Diêm La phán quư vị đọa địa ngục. Chẳng có cách nào chống lại chứng cớ gây tội ấy! V́ thế, hết sức nghiêm trọng. V́ sao chẳng mở rộng tâm lượng? Làm một đệ tử Phật thật sự, giúp Phật lưu thông đại pháp, lợi ích chúng sanh, phước báo sẽ chẳng cùng tận. V́ thế, người ấy làm [như vậy] chẳng ít năm, mà tướng mạo cũng chẳng tốt đẹp, khí sắc cũng chẳng tốt đẹp, thân thể cũng lắm bệnh tật. Tôi nói: “Ông tu hành có vấn đề, đă đâm vào lối rẽ. Thật sự tu hành đúng pháp, hiện tiền sẽ đạt được quả báo tốt đẹp, tướng mạo nhất định là mỗi năm một tốt hơn, mỗi năm thân thể một khỏe mạnh hơn, mặt mũi hồng hào. Phải nên là như vậy th́ mới là đúng, [v́] ông đă làm nhiều chuyện tốt đẹp dường ấy mà! Có thể thấy là những ǵ ông đă làm chẳng phải là chuyện tốt đẹp, phải biết điều này! V́ thế, tâm địa phải thanh tịnh, phải quang minh, cũng là phải có lư trí, phải có trí huệ và lư tánh th́ quư vị mới có thể thật sự tu được phước báo!

      Ông ta nh́n đạo tràng của chúng ta, nói đạo tràng của chúng ta chẳng đáng kể. Tôi nói: “Chúng tôi kiến lập đạo tràng từ năm Dân Quốc 68 (1979), không ngừng phát triển mở rộng, phát triển cho tới t́nh trạng như hiện thời. So với các đạo tràng khác, chúng tôi thua kém xa [về quy mô vật chất nguy nga, tráng lệ]. Đạo tràng của chúng tôi chẳng chèo kéo tín đồ, không ép người khác quyên tiền. Chúng tôi bảo vệ một nguyên tắc: ‘Đạo tràng nhỏ, chi tiêu ít, an tâm thoải mái!’ Chúng tôi đi theo con đường chánh đáng. Có dư sức th́ thay mọi người tu phước, chúng tôi in kinh bố thí, làm hết thảy sự nghiệp Phật giáo, thay mọi người tu phước. Người ta tặng tiền nhiều bèn làm nhiều, ít tiền bèn làm ít, chẳng có tiền th́ không làm! Không làm là tốt nhất! Khi không làm, chúng tôi chẳng có chuyện ǵ để làm, hằng ngày niệm A Di Đà Phật, rất tốt! Chúng tôi giữ vững nguyên tắc này, cho nên chẳng mong phát triển [cơ sở vật chất đồ sộ], an tâm thoải mái, cuộc sống hết sức hạnh phúc, hết sức vui sướng, chẳng gánh lấy nhân quả!”

 

      (Sớ) Phật đức thanh tịnh, phát quang minh cố. Hựu kỳ quang thanh tịnh, danh Tịnh Quang cố.

      (Sao) Thanh tịnh phát quang giả, hữu nhiễm chi trí bất phát diệu quang.

      (Diễn) Hữu nhiễm chi trí, bất phát diệu quang giả, ngoại đạo tà trí, Nhị Thừa thiên trí, giai vô minh vi Thể, bất phát diệu quang. Phật năi ngũ trụ cứu tận, tịnh cực quang thông đạt dă.

      ()佛德清淨,發光明故。又其光清淨,名淨光故。

     ()清淨發光者,有染之智,不發妙光。

     ()有染之智。不發妙光者。外道邪智。二乘偏智。皆無明為體。不發妙光。佛乃五住究盡。淨極光通達也。

(Sớ: Phật đức thanh tịnh, nên phát ra quang minh. Quang minh ấy lại thanh tịnh nên gọi là Tịnh Quang.

      Sao: “Do thanh tịnh nên phát ra quang minh”: Trí bị nhiễm sẽ chẳng phát ra diệu quang”.

Diễn: “Trí bị nhiễm chẳng phát ra diệu quang”: Trí tà vạy của ngoại đạo và trí lệch lạc của Nhị Thừa đều dùng vô minh làm Thể, chẳng phát ra diệu quang. Phật đă thấu suốt tột cùng Ngũ Trụ, tịnh đến cùng cực, quang minh bèn thông đạt).

 

      “Hữu nhiễm chi trí” là ǵ? “Nhiễm” () là vọng tưởng, phiền năo. Nói cách khác, vọng tưởng chẳng phá, phiền năo chẳng đoạn. Phiền năo là tham, sân, si, mạn, chẳng đoạn những ư niệm ấy, tâm sẽ chẳng thanh tịnh. Trí huệ từ tâm sanh ra. Trí huệ sanh từ cái tâm, trí huệ sanh từ [trong cái tâm] chẳng thanh tịnh sẽ là tà trí huệ, chẳng phải là chánh trí huệ, chẳng phải là chân trí huệ. Tà trí huệ cũng có thể gạt người, cũng có thể khởi tác dụng rất lớn. Chúng tôi thường nói: “Tin tà, chẳng tin chánh; nghe lừa, chẳng nghe khuyên”. Tà trí cũng có thể mê hoặc kẻ khác nhất thời, nhưng rốt cuộc sẽ bị vạch trần, tới cuối cùng bị người ta phát hiện là họ đang bị lừa, bị gạt gẫm, họ sẽ giác ngộ, sẽ quay đầu, sẽ xa ĺa! V́ thế, hễ là tà tri kiến th́ sẽ chẳng thể tồn tại lâu dài. Mắc hại cạn hay sâu, nói thật ra, có liên quan tới sự ngu mê của kẻ ấy. Bị hại nông cạn bèn giác ngộ, quay đầu, đấy là kẻ thông minh, có thiện căn. Chấp mê chẳng ngộ, đó là kẻ mê muội sâu xa, chẳng có thiện căn, nghiệp chướng sâu nặng. Do vậy có thể biết, trong giáo hóa, v́ sao Phật pháp coi trọng đoạn phiền năo như vậy, đạo lư ở ngay chỗ này! Tứ Hoằng Thệ Nguyện dạy chúng ta thứ tự trong tu học; trước hết là phải “phiền năo vô tận thệ nguyện đoạn”. Sau khi đă đoạn phiền năo th́ mới học pháp môn. “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học”. Đoạn phiền năo, học pháp môn, giới hạn ở chỗ nào? Phải đoạn phiền năo đến tŕnh độ nào th́ mới có thể học pháp môn? Nói theo tiêu chuẩn trong kinh Đại Thừa, hăy quên đi ư niệm học pháp môn trong một đời này. V́ sao? Chẳng thể nào đạt tới. Khuôn mẫu trong kinh Đại Thừa là năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài đồng tử trong kinh Hoa Nghiêm. Thiện Tài đồng tử đắc Căn Bản Trí trong hội của Văn Thù Bồ Tát. Căn Bản Trí là ǵ? Là tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh là ǵ? Đoạn hết Kiến Tư phiền năo th́ mới có tư cách ra ngoài tham học. Thật sự đoạn hết phiền năo, đi tham học sẽ là “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”, giới hạn ở chỗ ấy. Chẳng đoạn hết Kiến Tư phiền năo, chẳng có tư cách đi tham học. Nếu quư vị đi tham học, sẽ học được toàn là tà tri tà kiến. V́ sao? Quư vị chẳng đoạn Tam Độc phiền năo, nhào trộn lẫn lộn, biến chánh kiến thành tà kiến, quư vị sẽ nghĩ sai lời Phật, sẽ hiểu sai bét ư nghĩa, vận dụng sai be bét, với t́nh h́nh như vậy quư vị thường là chẳng tránh khỏi tạo tội nghiệp. Đây là nói đến tiêu chuẩn chân chánh do kinh Hoa Nghiêm đă dạy; nhưng lũ phàm phu b́nh phàm chúng ta xác thực là chẳng thể đạt tới tiêu chuẩn này. Chẳng đạt tới tiêu chuẩn th́ làm như thế nào? Do vậy, người đời sau lại hạ thấp tiêu chuẩn này; nói thật ra, hạ đến mức thấp nhất, hạn độ thấp nhất cũng là Tiểu Thừa Sơ Quả. Tiểu Thừa Sơ Quả phải đoạn hết tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc, tiêu chuẩn ấy đă bị hạ thấp quá nhiều! Từ Tiểu Thừa Tứ Quả giáng xuống Sơ Quả. Nếu đă nói đến Tứ Quả Tứ Hướng, [đặt ra tiêu chuẩn là Tiểu Thừa Sơ Quả] tức là đă hạ thấp xuống bảy tầng cấp, không thể hạ thấp hơn được nữa, có thể miễn cưỡng học điều này! Nhưng đối với tiêu chuẩn ấy, trong một đời này, chúng ta vẫn chẳng làm được, nói thật thà đấy nhé!

      Chúng ta muốn nghiên cứu giáo pháp, làm như thế nào? Đúng là chẳng có cơ hội. Trước kia, chúng tôi theo thầy Lư học giảng kinh ở Đài Trung. Chúng tôi đâu có giảng kinh! Chẳng phải là giảng kinh, mà là ǵ? Giảng chú giải! Hoàn toàn nương theo chú giải của cổ nhân để giảng. Cổ nhân viết chú sớ bằng Văn Ngôn, chúng tôi dịch sang văn nói Bạch Thoại, [giảng chú giải] tức là dịch chú giải của cổ nhân [từ Văn Ngôn sang tiếng Bạch Thoại] trên giảng đài! Nếu giảng trật là do cổ đức chú giải sai, là chuyện của các Ngài, chẳng liên quan ǵ đến chúng tôi, chúng tôi làm công tác phiên dịch mà thôi! Lăo nhân gia dạy chúng tôi học giảng kinh phải dùng thái độ như vậy th́ sẽ chẳng có lầm lỗi, v́ sao? Chúng tôi chẳng thể đoạn phiền năo, chưa thể khai ngộ. Tôi dạy mọi người đọc kinh, bắt đầu học Phật th́ trước hết hăy niệm kinh Vô Lượng Thọ ba ngàn lần. Có kẻ nghe xong, hiểu lầm ư nghĩa, bảo: “Pháp sư Tịnh Không dạy người ta niệm kinh Vô Lượng Thọ ba ngàn lần sẽ khai ngộ”. Tôi chẳng hề nói lời ấy, chính kẻ đó hiểu lầm ư nghĩa. Nói thật ra, tôi dạy người khác niệm ba ngàn lần, chắc chắn là chẳng khai ngộ. Chẳng khai ngộ, cớ sao niệm ba ngàn lần? Ba ngàn lần nhằm thâu hồi cái tâm, ư nghĩa ở chỗ này. Tâm chúng ta tán loạn quá mức, niệm kinh ba ngàn lần để thâu liễm, thâu hồi cái tâm. Nói cách khác, giúp cho tâm quư vị thanh tịnh. Chưa thể đạt tới tiêu chuẩn thanh tịnh, nói chung là chúng ta đang tu tập. Nếu tiêu chuẩn của tâm thanh tịnh đ̣i hỏi sáu mươi điểm, nay chúng ta có tối thiểu năm điểm hoặc mười điểm, nói chung, chẳng phải là không có điểm nào, mà là có được mấy điểm, có ư nghĩa như thế đó! Sau khi tâm đă thâu liễm, niệm Phật hiệu sẽ dễ có cảm ứng, mà cũng dễ đắc lực, mục đích ở chỗ này! V́ thế, ngàn muôn phần đừng hiểu lầm ư nghĩa.

      “Tịnh” là hết sạch phiền năo, “Quang” là trí huệ hiện tiền. Phiền năo tiêu, trí huệ tăng trưởng. Diệt mt phn phiền năo, tăng trưởng một phần trí huệ. Nói cách khác, phiền năo tăng trưởng mt phn, trí huệ giảm bớt một phần; phiền năo giảm mt phn, trí huệ tăng trưởng mt phn. Đấy là lư do v́ sao đức Phật coi trọng chuyện đoạn phiền năo như thế ấy. “Nhiễm” là phiền năo, “hữu nhiễm chi trí” chẳng đáng coi là quư, chúng ta cũng chẳng cần giữ lấy nó, nhất định phải là trước hết đoạn phiền năo, tu tâm thanh tịnh, tu b́nh đẳng, đó là điều trọng yếu. Thật sự đạt tới thanh tịnh, b́nh đẳng, sau đó sẽ nhất định là có giác, giác ấy là trí huệ. Tựa đề kinh Vô Lượng Thọ đă phô rơ cho chúng ta thấy chuyện này.

 

      (Sao) Phật đức chí tịnh.

      ()佛德至淨。

      (Sao: Phật đức thanh tịnh tột bậc).

 

      Tâm Phật thanh tịnh đến cùng cực.

 

(Sao) Xuất đại quang minh, thí như kính thể thanh tịnh, năng giám h́nh cố.

()出大光明,譬如鏡體清淨,能鑑形故。

(Sao: Tỏa đại quang minh, ví như do thể của gương là thanh tịnh, nên có thể chiếu soi h́nh tướng).

 

      Sánh ví [tâm] như một tấm gương. Tấm gương sạch làu, chẳng có mảy may ô nhiễm nào. “Giám” () là chiếu, chiếu bên ngoài rơ ràng rành mạch.

 

      (Sao) Kỳ quang thanh tịnh giả, thí như dă thiêu, diệc hữu quang minh, tỷ chi nhật nguyệt, bất danh tịnh cố.

     ()其光清淨者,譬如野燒,亦有光明,比之日月,不名淨故。

(Sao: “Quang minh ấy thanh tịnh”: Ví như đốt rẫy, cũng có quang minh, nhưng so với mặt trời, mặt trăng th́ [quang minh ấy] chẳng thể gọi là tịnh được).

 

      Lửa cháy đồng hoang thiêu núi cũng có quang minh, cũng có ánh lửa, nhưng quang minh ấy chẳng thanh tịnh. Trong quang minh ấy có ô nhiễm, có rất nhiều bụi bặm trong đó, chẳng thanh tịnh như quang minh của mặt trời, mặt trăng.

      Vị Phật này biểu thị cương lănh trọng yếu trong tu hành: Phải dùng cái tâm thanh tịnh, phải dùng trí huệ th́ mới có thể tu phước. Chẳng có trí huệ, phước tu được là giả, người ấy đă thấy sai mất rồi! Hôm nay, có một vị cư sĩ đến hỏi tôi. V́ thân thể ông ta không khỏe, thường bị bệnh, gặp phải tai nạn, có người khuyên ông ta lạy Lương Hoàng Sám, lạy Thủy Sám, làm đàn Thủy Lục, ông ta đều làm cả. Ông ta hỏi tôi: Ông ta đă thực hiện khá nhiều phương pháp để tiêu tai, nhưng chẳng tiêu tai được. Nhà Phật thường nói “tiêu nghiệp chướng”, tôi hỏi ông ta: Nghiệp chướng là ǵ? Ông ta chẳng thốt nên lời! Chúng ta học Giáo đă nhiều năm như thế, chớ nên chẳng hiểu rơ! Nghiệp là ǵ? Đang trong lúc tạo tác th́ gọi là Sự. Sự sau khi đă làm xong, kết quả của nó là Nghiệp. Học hành trong nhà trường, học xong, đă tốt nghiệp. Khi c̣n chưa tốt nghiệp, ngay trong lúc đang học tập trong trường, quư vị thấy tập vở, vở bài tập, đứa học tṛ ấy đang tạo nghiệp. Nghiệp tạo xong, tốt nghiệp, rời khỏi nhà trường, vào xă hội lại bắt đầu tác nghiệp. Trong nhà trường có vở bài tập rất rơ ràng, quư vị hằng ngày làm những nghiệp ǵ, đặt chân vào xă hội, tuy chẳng có tập vở, chẳng ghi chép, nhưng trong A Lại Da Thức đă ghi từng khoản một, giống như nhập hết dữ liệu vào computer, chẳng sót một khoản nào! Quư vị hằng ngày đang tạo nghiệp, khởi tâm động niệm là tạo nghiệp, miệng nói năng là tạo nghiệp, hết thảy động tác nơi thân thể là tạo nghiệp, thân miệng ư đều đang tạo nghiệp. Nghiệp có thiện, có ác, có vô kư, tạo thiện nghiệp có thiện quả, tạo ác nghiệp có ác báo, đó là nghiệp. Nếu chúng ta muốn tiêu nghiệp chướng, đương nhiên là chẳng thể nào tiêu thiện nghiệp, nói chung là phải tiêu trừ nghiệp chướng của ác nghiệp. Hiểu rơ điều này, quư vị lạy Lương Hoàng Sám, sau khi lạy xong, có phải là chẳng có ác niệm nào hay không? Nếu như sau khi đă lạy xong Lương Hoàng Sám, chẳng có ác niệm nào, nói chuyện với người khác, chẳng nói một câu dơ bẩn hay bại hoại nào, quư vị đă thật sự tiêu nghiệp! Nếu lạy xong, trong tâm vẫn dấy vọng tưởng, vẫn luôn nghĩ chuyện lợi ḿnh tổn người, nghiệp của quư vị chẳng thể tiêu được. Không chỉ là chẳng thể tiêu trừ, mà nghiệp c̣n tăng trưởng, v́ sao? Đă bái Lương Hoàng Sám, tốn nhiều tiền dường ấy, tốn tinh thần lắm ngần ấy, ta chẳng tiêu nghiệp chướng được, [bèn nghi ngờ sám pháp] chẳng linh, ngay cả Phật, Bồ Tát cũng đều bị chê trách, chẳng phải là tội nghiệp nặng thêm hơn ư? Ngu si đấy mà!

      Sau khi đă thật sự hiểu rơ th́ mới thật sự biết một câu A Di Đà Phật đúng là đă tiêu trừ nghiệp chướng của chúng ta. Trong tâm chúng ta khởi một ác niệm, [bèn niệm] A Di Đà Phật để chèn ép ác niệm ấy, [khiến cho] cái tâm b́nh lặng. Nói một lời xấu xa bèn “A Di Đà Phật”, chèn ép lời nói xấu xa ấy, đó là thật sự tiêu trừ nghiệp chướng. Lâu ngày chầy tháng, trải qua một năm, nửa năm, hai năm, ba năm, đúng là ác niệm ít đi, hành vi ác ít đi, thiện niệm tăng trưởng, hành vi thiện tăng trưởng, đó là hiệu quả thật sự. V́ thế, tu phước, tâm địa chẳng thanh tịnh, chẳng có trí huệ, chẳng thể nào tu được phước báo thật sự.

 

      (Sớ) Xứng Lư, tắc tự tánh thanh tịnh bất khả tận, thị Tây phương hằng sa Phật nghĩa.

      (Diễn) Tự tánh thanh tịnh giả, dĩ tánh ly hoặc nhiễm, tùng bổn dĩ lai, nhất thiết nhiễm pháp bất tương ứng cố.

      ()稱理,則自性清淨不可盡,是西方恆沙佛義。

     ()自性清淨者。以性離惑染。從本以來。一切染法不相應故。

      (Sớ: Xứng Lư th́ tự tánh thanh tịnh chẳng thể tận, là ư nghĩa của hằng sa Phật ở Tây phương.

Diễn: “Tự tánh thanh tịnh”: Do tánh ĺa Hoặc nhiễm, trước nay vốn chẳng tương ứng với hết thảy các nhiễm pháp).

 

      Ư nghĩa của Tây Phương đă được nói trong phần trước.

 

      (Sao) Tây Phương nghĩa kiến tiền giải, lương dĩ Chân Như tự thể, trạm nhược hư không, tuyệt điểm thuần thanh, tằng hà nhai tế.

      (Diễn) Trạm nhược hư không giả, như thật không trung, ly nhất thiết pháp sai biệt chi tướng, vô hư vọng tâm niệm cố, tằng hà nhai tế giả, ly niệm tướng giả, đẳng hư không giới, vô sở bất biến cố.

()西方義見前解,良以真如自體,湛若虛空,絕點純清,曾何涯際。

()湛若虛空者。如實空中。離一切法差別之相。無虛妄心念故。曾何涯際者。離念相者。等虛空界。無所不遍故。

(Sao: Đối với ư nghĩa của Tây Phương, hăy xem lời giải thích trong phần trước, ấy là v́ tự thể của Chân Như lặng trong như hư không, thuần thanh tột bậc, chẳng hề có ngằn mé.

Diễn: “Lặng trong như hư không”: Trong cái Không như thật, ĺa tướng sai biệt của hết thảy các pháp, do chẳng có tâm hư vọng, há từng có ngằn mé ư? Ĺa tướng niệm, bằng với hư không giới, không ǵ chẳng trọn khắp vậy).

 

      “Nhai tế” (涯際) là rộng lớn chẳng có ngằn mé.

 

      (Sao) Tiêm trần sạ khởi.

      ()纖塵乍起。

(Sao: Mảy trần vừa dấy lên).

 

      Mảy may trần duyên mới vừa dấy lên.

 

      (Sao) Phật diệt đa thời.

      ()佛滅多時。

      (Sao: Th́ Phật đă diệt từ lâu).

 

       Phật là giác tánh; một vọng niệm dấy lên, giác tánh liền mê mất.

 

      (Sao) Tâm cấu đốn trừ, cổ Phật tùy hiện.

      ()心垢頓除,古佛隨現。

      (Sao: Chất dơ trong tâm vừa trừ, cổ Phật liền hiện).

 

      “Cổ Phật” là tự tánh, là con người thật sự của chính ḿnh. Chỉ cần tâm thanh tịnh, thanh tịnh đến tột bậc, giống như tỷ dụ ở chỗ này, “tuyệt điểm thuần thanh” [nghĩa là] thanh tịnh đến cùng cực, vô lượng vô biên trí huệ, vô lượng vô biên công đức trong tự tánh thảy đều hiện tiền. Thành Phật là thành vị Phật nào vậy? Tự tánh Phật. Trong kinh Hoa Nghiêm và Viên Giác, đức Phật đă dạy: “Hết thảy chúng sanh vốn đă thành Phật”, thành vị Phật vốn sẵn có. Xin hăy xem kinh văn.

 

      (Kinh) Các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thật ngôn, nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh.

      ()各於其國。出廣長舌相。遍覆三千大千世界。說誠實言。汝等眾生。當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。

(Kinh: Mỗi vị đều ở trong nước ḿnh hiện tướng lưỡi rộng dài che khắp tam thiên đại thiên, nói lời thành thật: “Chúng sanh các ngươi hăy nên tin kinh Khen Ngợi Công Đức Chẳng Thể Nghĩ Bàn Được Hết Thảy Chư Phật Hộ Niệm này”).

 

      Ư nghĩa này giống như trong phần trước. Mỗi lần chúng tôi đọc đoạn kinh văn này đều bị cảm động rất sâu. Đức Phật đối với chúng ta vô tận từ bi, ban cho chúng ta lời khuyên chân thành trung thực nhất, chúng ta nhất định phải tin tưởng, chẳng cô phụ sự hộ niệm của đức Phật dành cho chúng ta.

A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

Phần 132 hết

 

 

 



[1] Bát Quái lại có hai loại Tiên Thiên và Hậu Thiên, quẻ số và ư nghĩa giống nhau, chỉ khác phương vị. Hiện thời lưu hành phổ biến là Hậu Thiên Bát Quái. Trong Hậu Thiên Bát Quái, Ly ở phía Nam, c̣n trong Tiên Thiên Bát Quái, Ly ở phương Đông. Xét theo Quái Tượng lẫn Ngũ Hành, Ly đều là Hỏa. Do Ly có đặc tính là sáng, nên các vật biểu thị bởi quẻ Ly đều ngụ ư ấy. Chẳng hạn, Quái Tượng của Ly là lửa, thuộc về Hỏa trong Ngũ Hành. Trong thân thể, Ly ứng với mắt. Trong động vật ứng với chim Trĩ (loài chim có màu sắc rực rỡ, thích đậu trên cao)…

[2] Đây là nói về h́nh tượng của quẻ Ly. Quẻ Ly gồm có hai vạch liền ở ngoài cùng (vạch liền thuộc về Dương), một vạch đứt ở chính giữa là Âm. Do đó, nói một Âm sáng ngời giữa hai Dương.

[3] “Tượng” () ở đây là thuật ngữ được dùng trong kinh Dịch. Đối với mỗi quẻ (Quái, ), trong sáu mươi bốn quẻ của kinh Dịch (gồm có ba vạch đứt hoặc nối liền (đơn quái), hoặc sáu vạch như thế (phức quái)), mỗi một vạch như vậy được gọi là Hào (). Các nhà Dịch học quan niệm mỗi hào, mỗi quái đều có ư nghĩa biểu thị một sự vật nào đó trong vũ trụ. Sự vật được biểu thị bởi Hào sẽ được gọi là Tiểu Tượng (hoặc Hào Tượng), sự vật được biểu thị bởi một Quái sẽ gọi là Đại Tượng (hoặc Quái Tượng). Trong phần Hệ Từ Truyện, có giảng: “Tại thiên thành Tượng, tại địa thành h́nh” (ở trên trời là Tượng, dưới đất là h́nh). Chẳng hạn, quái tượng của Càn là trời, quái tượng của quẻ Khôn là đất, quái tượng của quẻ Chấn là sấm, quái tượng của Tốn là gió, quái tượng của Khảm là nước v.v…

[4] Bất khả thuyết có thể hiểu theo hai ư nghĩa:

1) Là một con số lớn thời cổ Ấn Độ, nếu tính từ Câu Chi là 10.000.000 (mười triệu) th́ Câu Chi lần Câu Chi là một A Dữu Đa, A Dữu Đa lần A Dữu Đa là một Na Do Tha, cứ tính lần lượt như thế đến con số thứ một trăm mười tám là Bất Khả Lượng Chuyển lần Bất Khả Lượng Chuyển sẽ là một Bất Khả Thuyết. Cụ thể, con số này là sau số 1, sẽ bao gồm 4.652.297.985.247.205.555.163.324.710.981.206.016 con số 0. Tuy rất lớn, vẫn là hữu hạn!

2) Không thể diễn tả được, vượt ngoài khả năng mô tả bằng ngôn ngữ, không có cách nào sánh ví được để h́nh dung, bèn nói là Bất Khả Thuyết.

[5] Mười giới trọng nói ở đây chính là mười giới trọng theo kinh Phạm Vơng Bồ Tát Giới, bao gồm sát sanh, trộm cướp, dâm dục, vọng ngữ, bán rượu, rêu rao lỗi của tứ chúng, tự khen ḿnh chê người, bỏn xẻn (keo kiệt, đă chẳng bố thí lại c̣n mắng chửi người xin bố thí), giận hờn không chịu sám hối, và hủy báng Tam Bảo.

[6] Trương Tăng Diêu (张僧繇) người xứ Ngô Trung (nay là Tô Châu, tỉnh Giang Tô) là một họa sĩ nổi tiếng thời Lương, được phong làm Thị Lang cho Vũ Lăng Vương (tức Tiêu Kỷ, con trai thứ tám của Lương Vũ Đế), chưởng quản mọi việc hội họa của triều đ́nh. Hai con trai của ông (Thiện Quả và Nho Đồng) cũng là họa sĩ nổi tiếng thời ấy. Tăng Diêu sở trường vẽ tranh tôn giáo, nhất là thể loại bích họa, đặc biệt là tranh chân dung. Phong cách vẽ tượng Phật của ông trở thành một trường phái riêng được người đời gọi là Trương Gia Dạng (cách thức vẽ tranh của họ Trương). Nhiều bức vẽ của ông được chọn làm mẫu để đắp hay khắc tượng. Ông c̣n giỏi vẽ rồng, chim ưng, hoa cỏ, sơn thủy v.v… Tranh vẽ rồng của ông được khen là sống động như thật. Do vậy có truyền thuyết: Tăng Diêu vẽ bốn con rồng tại chùa An Lạc ở Kim Lăng, khi vừa điểm nhăn cho hai con, chúng bèn hóa thành rồng thật bay lên trời, chỉ c̣n sót lại hai con chưa kịp vẽ mắt. Các bức họa nổi tiếng của ông c̣n giữ được cho đến hiện thời là Lương Vũ Đế Tượng (h́nh Lương Vũ Đế), Hành Đạo Thiên Vương Đồ, Ngũ Tinh Nhị Thập Bát Tú Đồ v.v...

[7] Ngài Bảo Chí không rơ năm sinh và mất chính xác, thường được coi là sống từ năm 418 đến năm 514 đời Lương. Ngài thường được gọi là Chí Công Thiền Sư, hay Chí Công Tổ Sư. Ngài cùng với Đạt Ma Tổ Sư và Phó Đại Sĩ được sử truyện tôn xưng là “Lương đại tam đại sĩ” (ba vị đại sĩ đời Lương). Năm bảy tuổi, Ngài y chỉ, xuất gia với pháp sư Tăng Kiệm tại Tử Kim Sơn. Sau khi xuất gia, Ngài trụ tại chùa Đạo Lâm, chuyên tâm Thiền Quán. Người đương thời thường nói phẩm đức, tu tŕ và ngôn ngữ của Ngài chẳng kém vị danh tăng đương thời là ngài Phật Đồ Trừng, lại có nhiều chuyện thần dị. Sư đến đi vô ngại, không ở nơi cố định nào, có thể mấy ngày chẳng ăn mà sắc mặt vẫn như thường. Sư hay đề thơ tặng cho người khác, hoặc nói những câu khó hiểu, đến khi xảy ra chuyện mới biết Ngài nói dự ngôn. Thoạt đầu, Lương Vũ Đế cho Sư là kẻ “yêu ngôn hoặc chúng” (dùng lời lẽ yêu dị mê hoặc quần chúng), sai người nhốt vào ngục, nhưng hằng ngày vẫn thấy Sư la cà khắp phố. Vào ngục xem, vẫn thấy Sư nằm yên trong ấy. Về sau, Lương Vũ Đế tặng Sư một khu vườn, yêu cầu Sư ở yên trong đó, sai người vây chặt, nhưng vẫn thấy Sư hiện diện tại các ngôi chùa Long Quang, Kế Tân, Hưng Hoàng, Tịnh Danh v.v… Sau khi lên ngôi, sau nhiều lần hỏi đạo, Lương Vũ Đế nhận biết Sư là một vị thiện tri thức thật sự, bèn tôn Ngài làm quốc sư, hết sức sùng tín. Ngài và Phó Đại Sĩ được coi là những vị đi tiên phong nhằm mở đường cho tổ Đạt Ma đại khai Thiền học tại Trung Hoa về sau này. Lương Hoàng Sám có tên gọi là Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp do Ngài biên soạn nhằm siêu độ phi tử Hy Thị của Lương Vũ Đế. Có sách chép Sư tịch năm Thiên Giám mười ba, thọ chín mươi sáu tuổi. Vua sai lập chùa Khai Thiện cạnh mộ Sư, ban tặng thụy hiệu là Quảng Tế Đại Sư. Các đời sau lần lượt tôn xưng Ngài là Diệu Giác đại sư, rồi Đạo Lâm Chân Giác Bồ Tát, Từ Ứng Huệ Cảm Đại Sư.

[8] Hồ Bà Dương là hồ lớn thứ hai trong Ngũ Đại Hồ của Trung Quốc (năm cái hồ lớn chứa nước ngọt đó lần lượt có tên là Bà Dương, Động Đ́nh, Thái Hồ, Hồng Trạch và Sào Hồ). Hồ Bà Dương nhận nước của năm con sông là Cám, Phủ, Tín, Nhiêu, Tu. Hồ rộng đến 162.000 km2. Chỗ sâu nhất đến 25,1 mét, độ sâu b́nh quân là 8,4 mét. Giữa hồ có bốn mươi mốt ḥn đảo, ḥn đảo lớn nhất mang tên Liên Hồ Sơn.

[9] Cờ xí (kỳ xí) là tên gọi chung các loại cờ, nhưng có phân biệt đôi chút. Các loại cờ có bề ngang và bề rộng gần bằng nhau, to bản, treo dọc trên cột cờ, hoặc treo ngang lồng vào cán cờ, th́ gọi là Kỳ (). Một đặc điểm nữa là Kỳ thường có nhiều màu (thường là màu của ngũ hành), ghi đại tự (thường là một chữ, như tên gọi của vương triều như Tống, Đường, Tề, hoặc tên gọi của đất phong như Bảo Định, hoặc chức tước như chữ Soái). Loại hẹp và dài, luôn treo dọc th́ gọi là Xí (). Xí có thể ghi nhiều chữ nhằm ca ngợi, hoặc để trống, hoặc có thêu vẽ một phù hiệu hoặc biểu tượng. Xí thường không có tua viền trong khi Kỳ thường viền đuôi nheo chung quanh. Thời cổ c̣n một loại cờ nữa chuyên dùng để biểu hiện uy quyền, kết bằng đuôi trâu và lông chim gọi là Tinh (). Tùy theo cấp bậc quyền lực mà quy định số Tinh được cắm trên xe, cũng như đài chỉ huy. Cũng giống như Tinh là Tiết (), nhưng Tiết biểu thị người được nhà vua trao quyền, thường được cầm hoặc rước cùng với các thứ binh khí tượng trưng quyền lực khác như phủ việt. Thoạt đầu, Tiết cũng là đuôi trâu buộc vào cán gỗ, về sau, trở thành h́nh thức kết nhiều quả cầu bằng tơ, cán có h́nh đầu rồng, treo chuông đồng v.v… Về sau, hễ nói đến các loại cờ quạt nói chung dùng trong nghi lễ hay trang trí, người ta thường gọi chung là “tinh kỳ” hoặc “kỳ xí”, không c̣n gọi tách bạch như thời cổ.

[10] San Định Kư là gọi tắt của Hoa Nghiêm Lược Sớ San Định Kư do ngài Huệ Uyển soạn vào đời Đường. Thật ra tác phẩm này do ngài Pháp Tạng khởi xướng: Sau khi Tân Hoa Nghiêm (Bát Thập Hoa Nghiêm được dịch xong), ngài Pháp Tạng viết chú thích, nhưng chỉ chú giải được hai phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm và Thập Định đă thị tịch, ngài Huệ Uyển bèn viết tiếp. Ngài Huệ Uyển san định những phần do ngài Pháp Tạng viết, đồng thời đề xướng giáo nghĩa “hai loại Thập Huyền Môn”.

[11] “Diệu diệu văn tâm” chính là chân tâm hoặc tự tâm. Trong bài giảng Quán Thế Âm Bồ Tát Nhĩ Căn Viên Thông Chương, lăo pháp sư Tịnh Không đă nói: “Nhĩ căn tiếp xúc thanh trần là Thỉ Giác. Mắt thấy sắc, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân chạm xúc trần, ư đối pháp trần, hễ một thứ giác, hết thảy đều giác, phải hiểu đạo lư này. V́ thế, quư vị biết dùng một căn th́ cả sáu căn đều biết dùng, sẽ đạt được ǵ? Diệu diệu văn tâm. Nhất định là khi đă đạt đến sự xoay trở lại cái Nghe để nghe nơi tánh, cái Nghe nghe nơi tự tánh ấy chính là tánh của Thỉ Giác trong tự tánh, mà cũng là Thỉ Giác và Bổn Giác hợp nhất. Không chỉ là Bổn Giác diệu, mà Thỉ Giác cũng diệu. Bổn Giác là tâm, Thỉ Giác cũng là tâm. V́ thế gọi là Diệu Diệu Văn Tâm. Chữ Diệu thứ nhất là Thỉ Giác, chữ Diệu thứ hai là Bổn Giác, cả hai đều diệu!”