A Di Đà Kinh Sớ
Sao Diễn Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 132
Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và
Đức Phong
Tập
263
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang năm trăm hai mươi chín:
(Sớ)
Chư Phật cáo ngữ chúng sanh, cổ hữu nhị thuyết:
Nhất vị chuyển dẫn, nhất vị đồng
thời. Kim kiêm dụng chi.
(疏)諸佛告語眾生,古有二說:一謂轉引,一謂同時。今兼用之。
(Sớ: “
Mười
phương chư Phật bảo đại chúng: “Nhữ đẳng chúng sanh
đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư
Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở
Hộ Niệm Kinh” (Chúng sanh các ngươi hăy nên tin kinh
Ca Ngợi Công Đức Chẳng Thể Nghĩ Bàn
Được Hết Thảy Chư Phật Hộ Niệm
này). Đối với lời này, từ xưa tới nay
có hai cách nói: Một là “chuyển
dẫn” (轉引: kể lại, nhắc lại),
loại kia là “đồng thời”
(同時: nói cùng một lúc).
(Sao)
Chuyển dẫn giả, Từ Ân vị lục
phương chư Phật, cáo bổn quốc trung chi ngữ,
Thích Ca chuyển dẫn dĩ chứng kỷ ngôn. Linh Chi vị
thị Thích Ca thuyết thử kinh thời, lục
phương chư Phật đồng thời tán thán.
(鈔)轉引者,慈恩謂六方諸佛,告本國中之語,釋迦轉引以證己言;靈芝謂是釋迦說此經時,六方諸佛同時讚歎。
(Sao: “Chuyển dẫn”:
Ngài Từ Ân nói sáu phương chư Phật nói lời ấy
trong cơi ḿnh, đức Phật Thích Ca kể lại lời
ấy để chứng minh cho lời nói của chính ḿnh.
[“Đồng thời” là như] ngài Linh Chi bảo: Khi Phật
Thích Ca nói kinh này, sáu phương chư Phật đồng
thời tán thán).
Cổ
đức có hai cách nói như vậy. Hai cách ấy đều
hợp lẽ, lại cũng là sự thật. Từ Ân
đại sư là ngài Khuy Cơ. Khuy Cơ đại
sư nói như vậy trong Di Đà Kinh Thông Tán Sớ,
đó là tác phẩm chú giải kinh Di Đà của Khuy Cơ
đại sư. Ngài nói hết thảy chư Phật trong
sáu phương giống như Thích Ca Mâu Ni Phật đối
trước chúng ta, v́ chúng ta giới thiệu Tây
Phương Cực Lạc thế giới, giới thiệu
A Di Đà Phật. Nói cách khác, hết thảy chư Phật
giảng Tịnh Độ Tam Kinh trong cơi nước của
chính các Ngài, cũng giảng Tịnh Độ Tam Kinh cho
nhân dân của chính ḿnh. Đương nhiên, ư nghĩa này của
ngài Từ Ân xác thực là sự thật. Thích Ca Mâu Ni Phật
trích dẫn những lời tán thán Tịnh Độ của
chư Phật khi giảng ba kinh cho đại chúng, trích dẫn
những lời lẽ ấy để chứng minh lời
Ngài nói giống hệt như chư Phật Như Lai, chẳng
khác ǵ nhau! Linh Chi đại sư nói cách khác, nhưng cũng
có lư. Ngài nói khi Thích Ca Mâu Ni Phật giảng kinh này, cũng
có nghĩa là khi đức Phật giảng ba kinh [Tịnh
Độ], hết thảy chư Phật trong sáu
phương, chẳng có vị Phật nào không tán thán, đây
cũng là sự thật. Nói cách khác, khi Thích Ca Mâu Ni Phật
v́ chúng ta giảng kinh này, hết thảy chư Phật
đều tán thán. Khi chư Phật giảng kinh này, Thích Ca
Mâu Ni Phật cũng tán thán giống hệt. Nhất định
là chư Phật tán thán lẫn nhau. Hai ư nghĩa đều
là thật. V́ thế, Liên Tŕ đại sư sử dụng
cả hai ư nghĩa.
(Sao)
Kim kiêm dụng giả, dĩ thử quảng đại tối
yếu pháp môn.
(鈔)今兼用者,以此廣大最要法門。
(Sao: Nay sử dụng
cả hai [ư nghĩa ấy] là v́ pháp môn rộng lớn, trọng
yếu nhất này).
“Quảng đại tối yếu
pháp môn”, câu này rất quan trọng. Nói thật ra, chẳng
phải là triệt để hiểu rơ chân tướng sự
thật, sẽ không thể thốt lên câu này. Pháp môn Tịnh
Độ là pháp môn quảng đại tối yếu, [tức
là] pháp môn quan trọng nhất, là pháp môn tinh túy nhất.
(Sao)
(鈔)諸佛平時必所常讚。
(Sao:
Ắt luôn được chư Phật thường xuyên
tán thán).
Giống
như Thích Ca Mâu Ni Phật suốt một đời thuyết
pháp cả bốn mươi chín năm, giảng kinh hơn
ba trăm hội, gần như trong mỗi hội đều
nhắc tới sự thù thắng của Tịnh Tông. Cuối
kinh Hoa Nghiêm, “mười đại
nguyện vương dẫn về Cực Lạc”. Trong
phẩm Dược Vương của kinh Pháp Hoa cũng
khuyên người ta văng sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới. Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật
Viên Thông Chương của kinh Lăng Nghiêm nay đă
được xếp vào Tịnh Độ Ngũ Kinh. Các
vị đại đức của Tịnh Độ Tông
Nhật Bản đă tra duyệt Đại Tạng Kinh, thấy
[pháp môn Tịnh Độ được] đức Phật
nói rơ rệt, nói khẩn thiết trong hơn hai trăm bộ
kinh điển, gần đến ba trăm bộ! Điều
này chứng tỏ Thích Ca Mâu Ni Phật thường giảng
pháp môn quảng đại tối yếu này. V́ thế, cổ
đức nói “ngàn kinh vạn
luận, nơi nào cũng chỉ quy” là có lư, [bởi lẽ
đức Phật và chư Tổ] thường nhắc
đến pháp môn này.
(Sao)
Nhi chánh đương Thích Ca thuyết thử kinh thời,
thập phương chư Phật tề tán, diệc phục
hà ngại?
(鈔)而正當釋迦說此經時,十方諸佛齊讚,亦復何礙。
(Sao: Nhưng ngay trong
lúc Phật Thích Ca nói kinh này, mười phương chư
Phật đều cùng tán thán, há cũng có trở ngại
ǵ ư?)
Chẳng
có chướng ngại!
(Sao)
Di hiển thử kinh, năi phổ nhăn pháp môn, biến hồ
pháp giới, nhất thuyết, nhất thiết thuyết
dă.
(鈔)彌顯此經,乃普眼法門,遍乎法界,一說一切說也。
(Sao: Hiển lộ trọn
vẹn kinh này chính là pháp môn phổ nhăn trọn khắp pháp
giới. Một vị nói chính là hết thảy các vị đều
nói vậy).
Pháp
môn phổ nhăn là ǵ?
(Diễn)
Phổ nhăn hữu nhị, nhất đại trí phổ
nhăn phổ chiếu pháp giới, nhị đại bi phổ
nhăn phổ chiếu chúng sanh. Kim tuy kiêm nhị giả, ư trọng
đại bi.
(演)普眼有二,一大智普眼普照法界,二大悲普眼普照眾生,今雖兼二者,意重大悲。
(Diễn: Phổ nhăn
có hai thứ: Một là đại trí phổ nhăn chiếu khắp
pháp giới, hai là đại bi phổ nhăn chiếu khắp
chúng sanh. Nay tuy có cả hai thứ, nhưng thiên trọng ư
nghĩa đại bi).
Hai
ư nghĩa ấy đều có, nhưng thiên về đại
bi.
(Diễn) Chúng sanh
biến pháp giới, tắc đại bi biến pháp giới.
Đại bi biến pháp giới, tắc thử pháp môn diệc
biến pháp giới.
(演)眾生遍法界,則大悲遍法界,大悲遍法界,則此法門亦遍法界。
(Diễn: Chúng sanh trọn
khắp pháp giới, tức là đại bi trọn khắp
pháp giới. Đại bi trọn khắp pháp giới chính
là pháp môn này cũng trọn khắp pháp giới).
Đây
là ư nghĩa “phổ nhăn trọn
khắp pháp giới”.
(Diễn)
Nhất thuyết, nhất thiết thuyết dă.
(演)一說一切說也。
(Diễn:
Một vị nói là hết thảy các vị đều
nói).
Một
vị Phật nói, hết thảy chư Phật đều
nói. Thật sự hiển thị pháp môn này là pháp môn tinh yếu
để thành Phật.
(Sớ)
Xứng Lư, tắc tự tánh bất biến, thị thành thật
nghĩa. Tự tánh bất ly, thị hộ niệm
nghĩa.
(疏)稱理,則自性不變,是誠實義;自性不離,是護念義。
(Sớ: Xứng Lư th́
tự tánh bất biến là ư nghĩa “thành thật”. Tự
tánh chẳng ĺa, là ư nghĩa “hộ niệm”).
Đoạn
này là nói xứng tánh.
(Sao)
Thuần chân tuyệt vọng, vạn kiếp như nhiên.
Ngôn thành thật giả, thục quá ư thị!
(鈔)純真絕妄,萬劫如然。言誠實者,孰過於是。
(Sao: Thuần chân, dứt
vọng, muôn kiếp đều là như vậy. Nói đến
thành thật th́ không chi hơn điều này được).
Kinh
nói “thuyết thành thật ngôn”,
chẳng có ǵ thành thật hơn điều này. Thành thật
đến tột bậc; v́ thế, bảo là “thuần chân tuyệt vọng”.
Đức Phật nói hết thảy các kinh khác có phải cũng
là nói lời thành thật hay không? So với kinh này, có sai biệt
hay chăng? Xác thực là có sai biệt! Nếu bộ kinh
này, pháp môn này, chẳng dẫn về Cực Lạc ngay trong
một đời này th́ tuy là lời thành thật, [vẫn
là] chẳng đạt đến tột bậc, vẫn
c̣n khiếm khuyết một tí. Cổ đức nói: Kinh
Hoa Nghiêm nếu chẳng có quyển cuối cùng “mười đại nguyện
vương dẫn về Cực Lạc”, Hoa Nghiêm sẽ
chẳng viên măn, so với kinh Vô Lượng Thọ và kinh A
Di Đà xác thực là sẽ thua sút rất nhiều. Do cuối
kinh Hoa Nghiêm có “mười
đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc”,
kinh Hoa Nghiêm hoàn toàn bằng vai phải lứa với kinh Di
Đà và kinh Vô Lượng Thọ, cũng là thuần chân
đến mức tột cùng.
(Sao) Tức kim nhất thị, nhất thính, nhất
ngôn, nhất động, mạc bất dữ câu.
(鈔)即今一視一聽,一言一動,莫不與俱。
(Sao: Tức là nay một
cái nh́n, một cái nghe, một lời nói, một hành động,
không ǵ chẳng tương ứng).
Mấy
câu này hết sức gần gũi với những điều
thường được nói trong Thiền Tông. V́ thế,
trong kinh Đại Tập, đức Phật đă dạy:
“Niệm Phật tức là vô
thượng thậm thâm Thiền”. Lời ấy là thật;
từ mấy câu này của Liên Tŕ đại sư, chúng ta
có thể cảm nghiệm kinh Đại Tập nói có lư.
(Sao)
Cắng cổ, cắng kim, thường hộ, thường
niệm, hành, trụ, tọa, ngọa, bất ly giá cá, hà
đắc thành ngôn bất tín, hộ ngă thiên vi, khả vị
tự cuống, tự khi, tự đào, tự thệ.
(Diễn)
Thuần chân tuyệt vọng tứ cú, vị Chân Như bổn
vô vọng nhiễm, thử chân thành thật dă. Ngoại giáo
dĩ lục thức bất khởi hư ngụy, nhất
vị chuyên thành, tiện vi thành thật giả. Phi dă,
dĩ thử thức nhân trần nhi hữu, ly trần tắc
vô, toàn thể thị vọng cố. Nhất thị, nhất
thính đẳng giả, cổ vân: “Nhật dụng sự
vô biệt, duy ngô tự ngẫu hài. Đầu đầu
phi thủ xả, xứ xứ vật trương quai. Châu,
tử thùy vi hiệu, khâu, sơn tuyệt điểm ai.
Trước y tịnh khiết phạn, vận thủy cập
ban sài”, thị dă. Hựu thị thính ngôn động mạc
bất dữ câu giả, sở vị ngô nhân thực tức
khởi cư, vô bất thừa tha ân lực dă. Cắng cổ
cắng kim thường hộ thường niệm giả,
sở vị Chân Như nội huân vô hữu gián đoạn
dă. Hành, trụ, tọa, ngọa bất ly giá cá giả, sở
vị “dạ dạ băo Phật miên, triêu triêu hoàn cộng khởi”
dă. Thượng ước tự tánh xuất triền thuyết
bất ly, thử ước tự tánh tại triền thuyết
bất ly dă.
(鈔)亙古亙今,常護常念,行住坐臥,不離這個,何得誠言不信,護我偏違,可謂自誑自欺,自逃自逝。
(演)純真絕妄四句。謂真如本無妄染。此真誠實也。外教以六識不起虛偽。一味專誠。便為誠實者。非也。以此識因塵而有。離塵則無。全體是妄故。一視一聽等者。古云。日用事無別。唯吾自偶諧。頭頭非取捨。處處勿張乖。朱紫誰為號。邱山絕點埃。著衣并喫飯。運水及搬柴。是也。又視聽言動莫不與俱者。所謂吾人食息起居。無不承他恩力也。亙古亙今常護常念者。所謂真如內熏無有間斷也。行住坐臥不離這箇者。所謂夜夜抱佛眠。朝朝還共起也。上約自性出纏說不離。此約自性在纏說不離也。
(Sao: Suốt xưa,
trọn nay, thường hộ tŕ, thường niệm.
Đi, đứng, nằm, ngồi, chẳng ĺa điều
này, há nên chẳng tin lời thành thật, khăng khăng
trái nghịch sự hộ niệm của Phật đối
với ta? Đáng gọi là tự lừa, tự dối, tự
trốn, tự bỏ đi!
Diễn: Bốn câu “thuần chân tuyệt vọng” là nói Chân
Như bổn tánh chẳng có vọng nhiễm, đấy
chính là thành thực chân thật. Ngoại giáo cho rằng “sáu
thức chẳng khởi hư ngụy, một mực
chuyên thành, đó chính là thành thật”. Chẳng đúng!
Bởi lẽ thức ấy do trần mà có, ĺa khỏi
trần bèn chẳng có, cho nên toàn thể là vọng. “Một cái nh́n, một cái nghe”: Cổ nhân nói:
“Chuyện thường ngày chẳng khác, riêng ta tự ḥa
hài. Mọi chuyện đừng lấy bỏ, chốn
chốn chớ dị kỳ, son, tía ai đặt hiệu, núi,
g̣ chẳng mảy trần. Mặc áo và ăn uống. Gánh
nước và chẻ củi” chính là nói về ư này. Lại “thấy,
nghe, nói năng, cử động, không ǵ chẳng
tương ứng” là như đă nói: Chúng ta ăn
uống, nghỉ ngơi, hành động, không ǵ chẳng
nhờ vào ân lực của nó (Chân Như bản tánh).
“Suốt xưa, trọn nay, thường hộ tŕ, thường
niệm, có nghĩa là Chân Như huân tập bên trong chẳng
hề gián đoạn. “Đi, đứng, ngồi,
nằm, chẳng ĺa điều này” là như nói: “Đêm
đêm ôm Phật ngủ, sáng sáng cùng nhau thức”. Trong
phần trước, dựa theo “tự tánh thoát khỏi
triền phược” mà nói “chẳng ĺa”. Ở đây,
dựa trên “tự tánh ở trong triền phược” mà
nói “chẳng ĺa’ vậy).
Mấy
câu cuối này là lời cảm thán vô hạn của Liên Tŕ
đại sư đối với người học Phật,
đúng là “cảm thán vô hạn”.
Học Phật mà chẳng chịu học pháp môn này, thật
đáng tiếc, đúng là “ở
ngay trước mặt mà bỏ lỡ”. “Cắng cổ cắng
kim” (Suốt xưa trọn nay): Từ xưa cho đến
nay chưa hề gián đoạn. “Thường hộ”: “Hộ”
(護) là bảo vệ.
“Thường niệm”: Niệm
(念) là nghĩ tới,
tức là chư Phật Như Lai đối với hết
thảy chúng sanh chưa hề gián đoạn. “Hành, trụ, tọa, ngọa, bất
ly giá cá” (Đi, đứng, nằm, ngồi, chẳng
ĺa điều này (chân tánh), đấy là sự thật. “Hà đắc thành ngôn bất
tín” (Há nên chẳng tin lời thành thật): Lời lẽ
của chư Phật Như Lai chí thành như vậy, chân
thành đến tột cùng như vậy, v́ sao chúng ta vẫn
chẳng tin tưởng? Phật hộ niệm chúng ta,
chúng ta khăng khăng chống trái Ngài, khăng khăng chẳng
chịu tiếp nhận. Nói theo tánh, điều này hết
sức chánh xác. Chúng ta niệm Phật, Phật hộ niệm;
chúng ta chẳng niệm Phật, Phật vẫn hộ niệm.
Phật trước nay chưa hề phân biệt, chẳng
chấp trước, b́nh đẳng hộ niệm. “Tự khi, tự cuống, tự
đào, tự thệ” (Tự dối, tự lừa, tự
trốn, tự bỏ đi), khăng khăng chẳng chịu
tiếp nhận, khăng khăng cứ gặp Phật bèn
bài xích Ngài, sai lầm to lớn! Người giống
như vậy, chẳng cần nói là những kẻ b́nh phàm
chẳng tin Phật, ngay trong những người niệm
Phật [kẻ có thái độ như thế] vẫn là chiếm
đại đa số! Nếu họ thật sự tin
tưởng, ai nấy đều văng sanh cả rồi! Cổ
nhân nói “vạn người tu,
vạn người đến”, nay v́ sao trong vạn
người tu, chỉ có một hai người văng sanh? Do
vậy có thể biết, đại đa số phạm phải
khuyết điểm này, tức là chẳng thể thật
sự tin tưởng, vẫn trái nghịch lời khuyên bảo
chân thật của đức Phật. Chúng tôi giới thiệu
phương Đông tới đây [là hết]. Lại xem tiếp
phần sau là phương
(Kinh)
Xá Lợi Phất! Nam phương thế giới, hữu
Nhật Nguyệt Đăng Phật, Danh Văn Quang Phật,
Đại Diệm Kiên Phật, Tu Di Đăng Phật, Vô
Lượng Tinh Tấn Phật, như thị đẳng
Hằng hà sa số chư Phật.
(經)舍利弗。南方世界。有日月燈佛。名聞光佛。大燄肩佛。須彌燈佛。無量精進佛。如是等恆河沙數諸佛。
(Kinh: Xá Lợi Phất! Thế giới phương Nam
có Nhật Nguyệt Đăng Phật, Danh Văn Quang Phật,
Đại Diệm Kiên Phật, Tu Di Đăng Phật, Vô
Lượng Tinh Tấn Phật, các vị Phật nhiều
như số cát sông Hằng như vậy).
Trước
hết, nêu lên danh hiệu của các vị Phật ở
phương
Trong đoạn
này, Phật hiệu của năm vị Phật sung măn quang
minh. Nhật Nguyệt Đăng (Candrasūryapradīpa) là quang
minh; Danh Văn Quang (Yaśas-prabhā), Đại Diệm Kiên (Mahā-rciskāndha), Diệm
(燄) là ngọn
lửa, thảy đều biểu thị ư nghĩa quang minh. Có
người nói kẻ niệm Phật là Tiểu Thừa,
là kẻ chỉ lo tự giải thoát cho riêng ḿnh, là phường
trốn tránh hiện thực. Tựa đề kinh Vô Lượng
Thọ mở đầu bằng hai chữ Đại Thừa,
chẳng phải là Tiểu Thừa! Kinh Vô Lượng Thọ
là Đại Thừa, kinh A Di Đà đương nhiên là Đại
Thừa, v́ hai kinh cùng là một bản kinh, một đằng
nói rộng, một đằng nói đại lược; cổ
nhân bảo [hai kinh ấy] là Đại Bổn và Tiểu Bổn.
Kinh này là kinh Đại Thừa. Cũng có kẻ nói: Người
niệm Phật có lẽ là có thể tu được một
chút Định, họ cũng tu nhất tâm bất loạn,
nhưng chẳng có Huệ. Quư vị thấy ở đây
là sung măn trí huệ, chẳng có Huệ sao được? Bởi
lẽ, năm vị Phật ở phương
Tuy
nói học Phật là “phước
huệ song tu”, nhưng huệ khẩn yếu hơn phước.
“Tu huệ chẳng tu phước”,
tuy cuộc sống khó khăn đôi chút, nhưng chắc chắn
là chẳng đọa lạc. “La
Hán thác không bát” (La Hán đi khất thực ôm bát rỗng):
La Hán ra ngoài khất thực chẳng xin được thức
ăn, thiếu phước mà! Chứng đắc quả A
La Hán, Ngài có Huệ, so với kẻ tu phước chẳng
tu huệ vẫn tốt đẹp hơn quá nhiều! “Tu phước chẳng tu huệ,
voi to đeo chuỗi ngọc”. Chẳng có trí huệ sẽ
biến thành súc sanh có phước báo. Con voi to được
quốc vương cỡi, khắp thân voi giắt đầy
vàng, bạc, châu báu, chuỗi ngọc, rốt cuộc súc
sanh vẫn là súc sanh! Điều này cho thấy: Người
biết tu hành nhất định coi trọng Huệ
hơn phước, đó là đúng. Nếu coi trọng phước
hơn huệ, sai mất rồi, phiền phức to lớn.
Đương nhiên, phước huệ song tu là tốt nhất.
Trong phước huệ song tu, phải nhớ thiên trọng
Huệ, chớ nên thiên trọng phước. Thứ tự
của sáu phương bao hàm ư nghĩa rất sâu. Chúng ta trọn
đủ thái độ tu hành tốt đẹp, có mục
tiêu tu học, thực hiện từ chỗ nào? Thực hiện
từ Huệ! V́ thế, chẳng phải là thực hiện
từ phước, mà khởi sự từ Huệ, ư
nghĩa này rất sâu. Trước hết, chúng ta xem đại
sư giải thích danh hiệu của năm vị Phật
này [như thế nào].
(Sớ)
Nhật Nguyệt Đăng giả, đại trí vô tận
cố.
(疏)日月燈者,大智無盡故。
(Sớ:
Nhật Nguyệt Đăng là đại trí vô tận).
Trí
huệ ấy chẳng cùng tận, biểu thị ư
nghĩa này.
(Sao)
Đại trí vô tận giả.
(鈔)大智無盡者。
(Sao: Đại trí vô
tận…)
Nói
rơ đại trí vô tận là ǵ; v́ danh hiệu của Phật
được kiến lập theo tỷ dụ.
(Sao)
Nhật chiếu trú, nguyệt chiếu dạ, đăng
chiếu nhật nguyệt chi sở bất cập, phổ
biến kế tục, cánh vô cùng tận.
(鈔)日照晝,月照夜,燈照日月之所不及,普遍繼續,更無窮盡。
(Sao: Mặt trời
chiếu ban ngày, mặt trăng soi ban đêm, đèn chiếu
những chỗ mặt trời và mặt trăng chẳng
soi thấu, nối tiếp trọn khắp, chẳng có cùng
tận).
Mặt
trời chiếu ban ngày, mặt trăng soi ban đêm. Những
chỗ mặt trời, mặt trăng không chiếu tới,
đèn bèn soi sáng. Dùng Nhật, Nguyệt, Đăng th́ hết
thảy đều được chiếu thấu, dùng
điều này làm tỷ dụ.
(Sao)
Phật chi đại trí, hoành cắng thập
phương, thụ thông tam tế, phương do thị
dă.
(鈔)佛之大智,橫亙十方,豎通三際,方猶是也。
(Sao: Đại
trí của Phật theo chiều ngang cùng tột mười
phương, theo chiều dọc thông suốt ba đời,
cũng giống như thế đó).
Thật
giống như mặt trời, mặt trăng và đèn, tỷ
dụ trí huệ của Phật, mười phương
ba đời không nơi nào chẳng chiếu, không lúc nào chẳng
chiếu!
(Sao)
Hựu nhật quang phá ám, hữu Bát Nhă nghĩa, danh Nhất
Thiết Trí.
(鈔)又日光破暗,有般若義,名一切智。
(Sao: Ánh mặt trời
lại trừ tăm tối, có ư nghĩa Bát Nhă, gọi là
Nhất Thiết Trí).
Từ
một tỷ dụ khác, phối hợp với ba thứ
trí để xét. Mặt trời có thể phá trừ tối
tăm, sánh ví tối tăm như vô minh,
hoặc ví như phiền năo. Trí huệ có thể đoạn
vô minh phiền năo, giống như Nhất Thiết Trí (Sarvajña) vậy!
(Sao)
Nguyệt dĩ thanh lương chiếu dạ, hữu Giải
Thoát nghĩa, danh Đạo Chủng Trí.
(鈔)月以清涼照夜,有解脫義,名道種智。
(Sao: Mặt trăng
dùng sự mát mẻ để chiếu ban đêm, có ư
nghĩa Giải Thoát, gọi là Đạo Chủng Trí).
Giải
Thoát là tự tại, biểu thị ư nghĩa Đạo
Chủng Trí.
(Sao)
Đăng kế nhật nguyệt, thông hồ trú dạ, bất
trụ nhị biên.
(鈔)燈繼日月,通乎晝夜,不住二邊。
(Sao:
Đèn nối tiếp mặt trời, mặt trăng, thông
suốt ngày đêm, chẳng trụ vào hai bên).
Ngày
và đêm là “nhị biên”. Hai
bên đều chiếu, chẳng lệch về bên nào.
(Sao)
Thị Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa Đế,
hữu Pháp Thân nghĩa, danh Nhất Thiết Chủng Trí.
(Diễn)
Đại trí vô tận hữu nhị thích. Sơ nhất
nghĩa ước thụ cùng hoành biến thích. Đệ
nhị nghĩa ước Tam Đức, Tam Trí thích. Đức
trí tương đối giả, dĩ Nhất Thiết
Trí, tức quán Không chi trí, Bát Nhă tảo đăng chư pháp cố.
Đạo Chủng Trí, năi quán Tục chi trí, Giải Thoát
năi kiến lập chư pháp cố. Nhất Thiết Chủng
Trí, quán Trung Đạo chi trí. Pháp Thân huưnh xuất nhị
biên, tuyệt chư đối đăi cố.
(鈔)是中道第一義諦,有法身義,名一切種智。
(演)大智無盡有二釋。初一義約豎窮橫遍釋。第二義約三德三智釋。德智相對者。以一切智。即觀空之智。般若掃蕩諸法故。道種智。乃觀俗之智。解脫乃建立諸法故。一切種智。觀中道之智。法身迥出二邊。絕諸對待故。
(Sao:
Là Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa Đế, có ư
nghĩa Pháp Thân, gọi là Nhất Thiết Chủng Trí
Diễn:
“Đại trí vô tận” có hai cách giải thích: Nghĩa thứ
nhất là dựa theo ư nghĩa “tột cùng theo chiều dọc”
và “trọn khắp theo chiều ngang” để giải
thích. Nghĩa thứ hai là dựa theo Tam Đức và Tam Trí
để giải thích. So sánh giữa Đức và Trí th́:
Dùng Nhất Thiết Trí, tức là cái trí để quán Không,
Bát Nhă quét sạch các pháp. Đạo Chủng Trí chính là trí
để quan sát thế tục, Giải Thoát bèn kiến lập
các pháp. Nhất Thiết Chủng Trí là trí quán Trung Đạo,
Pháp Thân vượt ngoài hai bên, dứt bặt các đối
đăi).
Có
thể thấy danh hiệu này tràn đầy những ư
nghĩa biểu thị pháp, chúng ta nhất định phải
hiểu điều này. Chúng ta thường thấy, thường
nghe danh hiệu và h́nh tướng của chư Phật, Bồ
Tát, hăy thường xuyên cảnh giác chính ḿnh, cảnh tỉnh
chính ḿnh, đó là vô lượng công đức lợi ích.
Biểu thị pháp rơ rệt nhất chính là Tứ Đại
Thiên Vương, họ là các vị Bồ Tát hộ pháp
trong Phật môn. Hiểu sự biểu thị pháp th́ mới
thật sự có thể cảnh giác, nhắc nhở chính ḿnh,
thời thời khắc khắc “giác
chứ không mê”. Vị Phật thứ hai:
(Sớ)
Danh Văn Quang giả, danh xưng phổ văn, như
quang viễn chiếu.
(疏)名聞光者,名稱普聞,如光遠照。
(Sớ:Danh Văn Quang là danh tiếng vang khắp, như ánh
sáng chiếu xa).
Biểu
thị ư nghĩa này.
(Sao)
Thật đại thanh hoằng, cố hữu danh xưng.
(鈔)實大聲宏,故有名稱。
(Sao:
Có thực chất to lớn, đẹp đẽ, thanh danh
sẽ rộng lớn. V́ thế có tiếng tăm).
Người
Hoa nói là “thật chí danh quy” (có
thực chất tốt đẹp, sẽ có thanh danh). “Thật” (實) là người ấy có đạo
đức chân thật, có học vấn chân thật, có công
đức chân thật, tự nhiên là người ấy sẽ
rất nổi tiếng. Nay chúng ta gọi “danh văn” (名聞) là mức độ
nổi tiếng. “Quang” là trí
huệ, người ấy có trí huệ chân thật.
(Sao)
Phổ biến văn ư thập phương vô lượng
thế giới, như nhật quang chiếu, vô sở bất
bị.
(Diễn)
Thật đại thanh hoằng đẳng, danh giả thật
chi tân dă. Phật ư Tăng-kỳ kiếp hải, tu vô
lượng hạnh, cố danh xưng phổ biến
văn ư thập phương.
(鈔)普遍聞於十方無量世界,如日光照,無所不被。
(演)實大聲宏等。名者實之賓也。佛於僧祇劫海。修無量行。故名稱普遍聞於十方。
(Sao: [Thanh danh] vang vọng
trọn khắp mười phương vô lượng thế
giới, như ánh mặt trời soi chiếu, không đâu
chẳng trọn
Diễn: “Có thực chất to lớn, đẹp đẽ,
thanh danh sẽ rộng lớn”: Danh là khách của thực
chất. Trong các Tăng-kỳ kiếp số nhiều
như biển cả, đức Phật đă tu vô lượng
hạnh, cho nên tiếng tăm vang dội khắp mười
phương).
Nói
theo tỷ dụ này. Lại xem vị Phật thứ ba.
(Sao)
Đại Diệm Kiên giả.
(鈔)大燄肩者。
(Sao:
Đại Diệm Kiên là…)
Kiên
(vai) có ư nghĩa gánh vác. Hai vai…
(Sao)
Kiên biểu nhị trí, Diệm dụ chiếu diệu.
(鈔)肩表二智,燄喻照耀。
(Sao:
Kiên (vai) biểu thị hai trí, Diệm (ngọn lửa) sánh
ví sự chiếu rực).
Hai
trí là Quyền Trí và Thật Trí. Diệm (燄) là ngọn lửa, biểu thị
trí huệ. Diệm sánh ví sự chiếu rực.
(Sao)
Nhị trí giả, Quyền Trí chiếu Sự, Thật Trí chiếu
Lư.
(Diễn)
Quyền Trí chiếu Sự giả, quảng hành vạn hạnh,
quảng độ chúng sanh, tri pháp, tri cơ, quán căn thọ
pháp, xí nhiên phân biệt đẳng. Thật Trí chiếu Lư
giả, chánh niệm Chân Như, bất sanh phân biệt, ngôn
ngữ đạo đoạn, trực khế vô vi, Như
Trí bất nhị đẳng.
(鈔)二智者,權智照事,實智照理。
(演)權智照事者。廣行萬行。廣度眾生。知法知機。觀根授法。熾然分別等。實智照理者。正念真如。不生分別。言語道斷。直契無為。如智不二等。
(Sao:
Hai trí: Quyền Trí chiếu Sự, Thật Trí chiếu Lư.
Diễn:
“Quyền Trí chiếu Sự”: Rộng hành vạn hạnh, rộng
độ chúng sanh, biết pháp, biết căn cơ, quán
sát căn cơ để truyền trao pháp [thích hợp],
[do vậy có sự] phân biệt bừng bừng. “Thật
Trí chiếu Lư”: Chánh niệm Chân Như, chẳng sanh phân biệt,
ngôn ngữ dứt bặt, trực tiếp khế nhập
vô vi, Như và Trí b́nh đẳng chẳng hai).
Thật Trí là Căn Bản Trí; Quyền
Trí là Hậu Đắc Trí. Trí huệ có hai loại. Kinh Bát
Nhă thường nói: “Bát Nhă vô
tri, không ǵ chẳng biết”. “Vô tri” là nói về Căn Bản
Trí. “Không ǵ chẳng biết”
là Quyền Trí. Ắt phải là vô tri th́ Lư mới hiện
tiền. Hễ có “tri”, Lư chẳng thể hiện tiền. Lư
là Chân Như bản tánh, cũng là chân tâm, tự tánh. Trong ấy,
chẳng thể có một niệm. Hễ khởi một niệm
bèn là vô minh, ngăn che lư ấy, chẳng thấy nữa! Nếu
quư vị muốn thấy Chân Như bản tánh, nếu muốn
thấy chân tâm th́ phải có Thật Trí. Thật Trí là vô tri.
Nói thật ra “vô tri” là tâm
thanh tịnh. Khi tâm thanh tịnh đến mức tột bậc
th́ kinh Lăng Nghiêm đă nói: “Tịnh
cực quang thông đạt”, đó chính là Thật Trí. Trong
cảnh giới ấy, thế gian và xuất thế gian,
quá khứ, hiện tại, vị lai, tâm giống như một
tấm gương, soi rành rẽ, rơ ràng. Trong ấy, xác thực
là chẳng có khởi tâm động niệm, chẳng có
phân biệt, chấp trước, cho nên người ấy
hoàn toàn hiểu rơ. Nếu chẳng hiểu rơ, sẽ không gọi
là “vô tri”, mà gọi là “vô minh”. Đă hiểu rơ vô minh, “hiểu rơ” là người ấy
chẳng có tí ti phân biệt, chấp trước nào, đó
là vô tri. Khi khởi tác dụng, chẳng phải là chính ḿnh
[dấy lên ư niệm ta sẽ] khởi tác dụng. Chính ḿnh
khởi tác dụng chính là Thật Trí, [sở dĩ] khởi
tác dụng là do có người khác đến hỏi, hễ
người khác đến hỏi bèn “không ǵ chẳng biết”,
người khác chẳng hỏi th́ là “chẳng biết ǵ cả”.
Cảnh giới là như vậy đó! Nếu người
khác chẳng hỏi, mà chính ḿnh cũng biết rất nhiều,
hỏng rồi! Quư vị đă phá tan Căn Bản Trí. Đích
xác là ư cảnh này rất khó hiểu, mọi người hăy chú tâm lănh hội. Một niệm
chẳng sanh mà hiểu rơ ràng, rành mạch, giống như tấm
gương soi cảnh giới bên ngoài. Gương soi cảnh
giới bên ngoài, nhưng nó chẳng có phân biệt, chẳng
có chấp trước. V́ thế, chư Phật, Bồ Tát
dụng tâm giống như tấm gương. Phàm phu chúng
ta dụng tâm là vô minh, là một đống lộn xộn,
điều ǵ cũng đều chẳng biết, tới
khắp nơi để nh́n, đến khắp nơi
để học. Những tri kiến học được
vẫn là sai lầm, hoàn toàn chẳng phải là thật sự
hiểu rơ, nẩy sanh khá nhiều tri kiến sai lầm,
kinh gọi [loại tri kiến ấy] là “tà tri tà kiến”, chẳng phải là trí huệ! Trí
huệ chân thật phải đạt được từ
trong cái tâm thanh tịnh. V́ sao Phật pháp coi trọng tu
Định như vậy? Chính là v́ đạo lư này: Nhân Giới
đắc Định, nhân Định khai Huệ.
Trong
Huệ có hai loại: Một là Thật Trí, loại kia là Quyền
Trí. Thật Trí chiếu Lư, Quyền Trí chiếu Sự. Trong
Quyền Trí có phân biệt, có giảng giải, mà cũng có chấp
trước, nhưng mọi người ngàn muôn phần
đừng nẩy sanh hiểu lầm! Trong giảng
đường chúng tôi nói này nọ, có những người
nghe xong, nẩy sanh hiểu lầm hết sức nghiêm trọng.
Ví dụ như chúng tôi khuyên người học Phật: Để
tiếp dẫn hàng sơ cơ, trước kia, thầy Lư
dạy chúng tôi tiếp dẫn kẻ sơ cơ chẳng
khuyên họ ăn chay, chẳng khuyên họ thọ giới.
V́ sao? Kẻ b́nh phàm nghe nói phải ăn chay, sẽ chẳng
học Phật, chẳng đến nữa. Vừa nghe nói
phải thọ giới, họ cũng chẳng dám đến,
bị dọa sợ nên bỏ đi. V́ thế, đối
với kẻ mới học bèn chẳng nói những chuyện
ấy, cứ khuyên họ đến nghe kinh, khuyên họ
đến học. Đối với chuyện ăn chay và
tŕ giới, người ấy học Phật lâu ngày sẽ
tự nhiên phát tâm. V́ thế, chớ nên khuyên [kẻ sơ học]
những chuyện ấy. Thế mà có kẻ nghe xong bèn hiểu
lầm, nói “pháp sư Tịnh Không chẳng đề xướng
ăn chay, khuyên người ta ăn thịt”, [chê bai] “pháp
sư Tịnh Không chẳng tuân thủ giới luật”, oan
uổng quá! Ở đây, chúng tôi nói “trong Quyền Trí cũng có phân biệt, cũng có chấp
trước”. Người nghe dạy mấy hôm lại
nói tôi ở đây giảng kinh nhăng nhít, giảng sai bét
bè be! Chư Phật, Bồ Tát thuận theo sự phân biệt
của chúng sanh mà phân biệt, chẳng phải là chính các Ngài
có phân biệt. Chúng sanh đến hỏi: “Thưa pháp
sư! Trên tay thầy cầm vật chi đó?” Quư vị đáp
“ta không biết” th́ thành ra thể thống ǵ nữa! Quư vị
ai nấy đều nói “đây là tờ giấy”, th́ tôi
cũng nói là tờ giấy. Thuận theo sự phiền năo
của quư vị mà phân biệt, thuận theo sự chấp
trước của mọi người mà chấp trước.
Do vậy, ở đây, chấp trước là chẳng chấp
trước; phân biệt mà chẳng phân biệt. Phân biệt,
chấp trước v́ hằng thuận chúng sanh, chẳng
có sự phân biệt, chấp trước của chính ḿnh. Nói
về phía chính ḿnh th́ xác thực là chẳng có phân biệt, chấp
trước. Đối với sự thọ dụng của
chính ḿnh th́ là Thật Trí, vô tri. Xử sự, đăi người,
tiếp vật, hết thảy đều hằng thuận
chúng sanh, tùy hỷ công đức. V́ thế, khi tùy thuận,
bèn có phân biệt, có chấp trước, nhưng phải ghi
nhớ: Chẳng phải là thật sự có. Thật sự
có th́ sai mất rồi, sẽ chẳng có trí huệ. Nói theo
phía bản thân người ấy th́ chẳng có, nhưng xét
theo chỗ cùng khởi tác dụng với mọi người
th́ dường như là có. Ư nghĩa là như vậy
đó, quyết định chớ nên nghe sai! V́ thế, Quyền
Trí nhằm ứng phó đại chúng, nhằm hằng thuận
chúng sanh.
(Sao)
Sự Lư bỉnh nhiên, song chiếu bất muội.
(Diễn)
Sự Lư bỉnh nhiên song chiếu bất muội giả,
chánh Quyền Trí chiếu Sự thời, tức Thật Trí
chiếu Lư, xí nhiên phân biệt nhất thiết pháp, ư Đệ
Nhất Nghĩa nhi bất động. Chánh Thật Trí chiếu
Lư thời, tức Quyền Trí chiếu Sự, tâm ngoại
vô pháp, măn mục thanh sơn.
(鈔)事理炳然,雙照不昧。
(演)事理炳然雙照不昧者。正權智照事時。即實智照理。熾然分別一切法。於第一義而不動。正實智照理時。即權智照事。心外無法。滿目青山。
(Sao:
Sự và Lư rạng ngời, cùng chiếu, chẳng lầm lạc.
Diễn: “Sự và Lư rạng ngời, cùng chiếu, chẳng
lầm lạc”: Ngay trong khi Quyền Trí chiếu Sự,
chính là Thật Trí chiếu Lư, bừng bừng phân biệt hết
thảy các pháp, nhưng đối với Đệ Nhất
Nghĩa vẫn bất động. Ngay trong khi Thật Trí
chiếu Lư, chính là Quyền Trí chiếu Sự, ngoài tâm chẳng
có pháp, mắt thấy núi xanh đầy dẫy).
Trong
tâm của chính ḿnh chẳng sanh một niệm, [thế mà
thấu hiểu] rành mạch, rơ ràng. Có người đến
hỏi bèn giải thích rành rẽ, chẳng sai lầm tí nào,
giống như chư Phật thuyết pháp cho chúng sanh, ứng
theo căn cơ để nói, có thể khiến cho chúng
sanh ai nấy đều được lợi ích, [đó
là] “song chiếu bất muội”.
(Sao)
Như lưỡng kiên phát diệm cố.
(鈔)如兩肩發燄故。
(Sao:
Giống như hai vai tỏa sáng).
Giống
như hai bả vai phóng quang.
(Sao)
Hựu thử nhị trí, hà đảm nhất thiết Phật
pháp, hữu kiên nghĩa cố.
(Diễn)
Hà đảm nhất thiết Phật pháp giả, nhất
thiết Phật pháp, bất xuất Nhị Đế, nhị
trí năng đảm, viết Đại Diệm Kiên Phật
dă.
(鈔)又此二智,荷擔一切佛法,有肩義故。
(演)荷擔一切佛法者。一切佛法。不出二諦。二智能擔。曰大燄肩佛也。
(Sao:
Lại nữa, hai trí ấy gánh vác hết thảy Phật
pháp, nên có ư nghĩa như cái vai.
Diễn: “Gánh vác hết thảy Phật pháp”: Hết thảy
Phật pháp chẳng ngoài Nhị Đế. Hai trí có thể
gánh vác bèn gọi là Đại Diệm Kiên Phật).
Do
hai thứ trí huệ ấy th́ mới có thể gánh vác sự
nghiệp giáo hóa chúng sanh của Như Lai.
(Sớ)
Tu Di Đăng giả, Tu Di vi đăng, chiếu Tứ
Thiên Hạ, Phật quang quảng chiếu, diệc như
thị cố.
(疏)須彌燈者,須彌為燈,照四天下,佛光廣照,亦如是故。
(Sớ: Tu Di Đăng (Mērupradīpa): Tu Di làm đèn, chiếu
Tứ Thiên Hạ. Phật quang chiếu rộng khắp
cũng giống như thế).
Tu Di là tỷ dụ; trong một
đơn vị thế giới, núi Tu Di cao lớn nhất.
Sánh ví núi Tu Di như đèn. Nếu thắp sáng ngọn
đèn ấy, sẽ chiếu trọn khắp một Tứ
Thiên Hạ, v́ nó ở trung tâm thế giới này, là chót
đỉnh cao nhất, dùng theo ư nghĩa này.
(Sao)
Tu Di vi đăng giả, như vân “Tu Di vi bút, Tu Di vi chùy”
đẳng, cực ngôn đăng lượng chi quảng
đại dă.
(鈔)須彌為燈者,如云須彌為筆,須彌為椎等,極言燈量之廣大也。
(Sao: “Tu Di làm đèn” là
như nói “Tu Di làm bút, Tu Di làm vồ” v.v… nhằm cực lực
diễn tả sự rộng lớn của đèn).
Đây
là tỷ dụ.
(Sao)
Tu Di tại trung, quang chiếu tứ bộ.
(鈔)須彌在中,光照四部。
(Sao:
Núi Tu Di ở chính giữa, chiếu sáng bốn đại bộ
châu).
Kinh
thường nói tới bốn đại bộ châu.
(Sao)
Phật dĩ Trung Đạo đại trí, chiếu
chư chúng sanh, như Tu Di đăng dă.
(鈔)佛以中道大智,照諸眾生,如須彌燈也。
(Sao: Phật dùng đại
trí Trung Đạo để chiếu các chúng sanh như đèn
Tu Di vậy).
[Danh
hiệu] Tu Di Đăng Phật nhằm tỷ dụ quang
minh của Phật chiếu trọn khắp.
(Sao)
Nhiên Duy Ma kinh ngôn: “Tu Di Đăng Vương Phật, thân
cao bát vạn tứ thiên do-tuần”, nhi cứu kỳ quốc
độ, năi Đông phương quá tam thập lục Hằng
hà sa thế giới, kim tại Nam phương, dĩ Phật
đồng danh giả chúng cố.
(鈔)然維摩經言:須彌燈王佛,身高八萬四千由旬,而究其國土,乃東方過三十六恆河沙世界,今在南方,以佛同名者眾故。
(Sao: Nhưng kinh Duy Ma
nói: Tu Di Đăng Vương Phật thân cao tám vạn bốn
ngàn do-tuần; xét ra, cơi nước ấy ở
phương Đông vượt quá [thế giới Sa Bà] ba
mươi sáu Hằng hà sa thế giới, nay [kinh này nêu tên
đức Phật này] ở phương Nam là do chư Phật
có cùng danh hiệu rất nhiều).
Đây
là sự thật. Đức hạnh tương đồng,
hạnh nguyện tương đồng, danh hiệu bèn
tương đồng. V́ chư Phật, Bồ Tát chẳng
có danh hiệu, danh hiệu do đâu mà có? Có khi là do đức
năng mà có, có khi là từ sự ứng hóa chúng sanh mà kiến
lập. Chúng ta phải hiểu điều này: Phật, Bồ
Tát chẳng có danh hiệu nhất định. Giống
như danh hiệu của đức Bổn Sư là Thích Ca
Mâu Ni, v́ sao Ngài kiến lập [danh hiệu] Thích Ca Mâu Ni? Do
được kiến lập dựa trên tông chỉ và mục
tiêu giáo hóa chúng sanh trong thời kỳ này và trong khu vực
này. Nói cách khác, được kiến lập dựa theo
tông chỉ giáo dục của Ngài. Người trong thế giới này thiếu khuyết ḷng từ
bi, cho nên Ngài dùng danh hiệu Thích Ca. [Ư nghĩa thứ nhất],
Thích Ca (Śākya) là tiếng Phạn,
có nghĩa là “nhân từ”,
đề xướng giáo dục nhân từ, có ư nghĩa
này. Thứ hai, chúng sanh trong thế gian
này tâm ô nhiễm, chẳng thanh tịnh, cho nên dùng chữ Mâu
Ni. Mâu Ni (Muni) có nghĩa là tâm
thanh tịnh. Có thể thấy danh hiệu này được
Ngài sử dụng trong giai đoạn này, là tông chỉ giáo
học trong khu vực này mà thôi. Có ư nghĩa như thế; đấy
chẳng phải là tên vốn có của Ngài.
Nếu
Thích Ca Mâu Ni Phật đến Tây Phương Cực Lạc
thế giới làm Phật, bốn chữ Thích Ca Mâu Ni sẽ
chẳng dùng được. V́ sao? Người trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới ai nấy đều
nhân từ, ai nấy đều thanh tịnh, danh hiệu ấy
há có tác dụng ǵ? Vô dụng! Nhất định là phải
thay đổi danh xưng, phải đổi thành Vô Lượng
Giác. A Di Đà Phật dịch nghĩa là Vô Lượng
Giác, như vậy là đúng. Do vậy có thể biết: Danh
hiệu của Phật, Bồ Tát đến một nơi
nào đó liền biến đổi, khác hẳn! Giống
như người trong thế gian này, một người
lắm tài nhiều nghề, vào trường dạy học,
dạy môn Quốc Văn, người ta gọi người
ấy là thầy giáo Quốc Văn. Đến trường
nọ dạy tiếng Anh, người ta gọi người
ấy là thầy dạy Anh Văn. Đến ngôi trường
thứ ba dạy Toán, người ta gọi người ấy
là thầy dạy Toán. Danh xưng của người ấy
thay đổi; thật ra, những danh xưng ấy đều
chẳng phải là tên của chính người ấy. Danh
hiệu của chư Phật, Bồ Tát cũng giống
như vậy. V́ thế, những vị Phật, Bồ Tát
đồng danh đồng hiệu quá nhiều. Như trong
thế giới của chúng ta mà hỏi thầy dạy Quốc
Văn là ai? Thầy dạy Quốc Văn quá nhiều,
người có cùng danh hiệu quá nhiều! Tu Di Đăng
Vương Phật được nói trong kinh Duy Ma ở
phương Đông; trong kinh Di Đà, đức Thế Tôn
giới thiệu Tu Di Đăng Vương Phật là vị
Phật ở phương
(Sớ)
Vô Lượng Tinh Tấn giả, “tinh tấn” giải kiến
Tự phần.
(疏)無量精進者,精進解見序分。
(Sớ:
Vô Lượng Tinh Tấn (Anantavīrya): Xem lời giải
thích chữ “tinh tấn” trong phần Tự).
Đă
giải thích trong phần trước, trong phần trước
[chữ Tinh Tấn đă được giải thích] khi
nói về Thường Tinh Tấn Bồ Tát.
(Sớ)
Đản bỉ ngôn thường.
(疏)但彼言常。
(Sớ:
Nhưng trong phần ấy [chỉ nói là] Thường).
Trong
phần trước là Thường Tinh Tấn Bồ Tát, ở
đây là Vô Lượng Tinh Tấn, sai biệt ở điểm
này.
(Sao)
Vô lượng nhị nghĩa.
(鈔)無量二義。
(Sao:
Vô lượng gồm hai nghĩa).
“Vô lượng” có hai ư
nghĩa.
(Sao)
Nhất giả, thời vô lượng, tức thị
thường nghĩa. Nhị giả, sự vô lượng,
tự lợi, lợi tha, trí hạnh vô biên cố.
(鈔)一者,時無量,即是常義。二者,事無量,自利利他,智行無邊故。
(Sao: Một là thời
vô lượng, tức là ư nghĩa “thường”. Hai là sự
vô lượng, do tự lợi, lợi tha, trí hạnh vô
biên).
Năm
vị Phật này biểu thị trí huệ. Nhật Nguyệt
Đăng Phật biểu thị trí huệ viên măn rốt
ráo, v́ trí huệ ấy không ǵ chẳng chiếu, chẳng có
chỗ nào không chiếu đến. Trí huệ viên măn chính là
điều chúng ta mong cầu, mà cũng là mục tiêu chung,
tức Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác như kinh
đă dạy, biểu thị điều này, tức là
điều chúng ta mong cầu. Đấy chính là nói rơ: Tu hành
th́ lấy việc cầu trí huệ làm quan niệm chánh xác
nhất. Cầu huệ từ chỗ nào? Cầu Huệ từ
Định, cầu từ tâm thanh tịnh. Làm thế nào
để có thể đắc tâm thanh tịnh? Tâm thanh tịnh
do tŕ giới mà có. Tŕ giới là như thế nào? Tŕ giới
là phải tuân theo những điều Phật răn dạy.
Đức Phật dạy chúng ta làm như thế nào, bèn
làm như thế đó, đấy là Tŕ Giới. Trong Quán
Kinh Tứ Thiếp Sớ, Thiện Đạo đại
sư chú giải phần “thượng
phẩm thượng sanh chương” có nói mấy câu hết
sức hay: Đức Phật bảo chúng ta bỏ, chúng ta bỏ
ngay. Đức Phật bảo chúng ta giữ, chúng ta liền
giữ. Đức Phật bảo chúng ta bỏ thế giới
Sa Bà, chúng ta bỏ ngay. Đức Phật bảo chúng ta cầu
sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, chúng ta liền
vâng giữ. Đó là đúng, hoàn toàn vâng theo lời đức
Phật chỉ dạy. Tâm chúng ta định, như thế
th́ mới có thể đắc Định, do Định mới
có thể khai Huệ. Nếu chẳng đi theo đường
lối này, muốn khai Huệ sẽ chẳng dễ dàng, quá
khó khăn! V́ sao chúng tôi nói khẳng định là khó
khăn như vậy? Khó khăn là v́ tâm người ấy
loạn, vọng tưởng nhiều, phân biệt nhiều,
chấp trước nhiều, lấy đâu ra trí huệ? Lấy
đâu ra cái tâm thanh tịnh? Chúng ta biết đạo lư này,
biết sự thật này, tự nhiên sẽ khẳng định.
Tu
hành mà trí huệ thấu lộ th́ mới được
coi là có thành tích. Nhà Phật thường nói “phiền năo nhẹ, trí huệ tăng trưởng”.
Vọng tưởng và phiền năo của chúng ta mỗi
năm một nhẹ hơn, trí huệ nhất định
là mỗi năm một tăng trưởng. Phiền năo và
trí huệ giống như quang minh và hắc ám. Quang minh nhiều
thêm một phần, hắc ám bớt đi một phần.
Hắc ám nhiều thêm một phần, quang minh ít đi một
phần. Phiền năo nhiều, trí huệ ít đi; trí huệ
nhiều, phiền năo bèn ít đi, [đó là] đạo lư nhất
định. Từ chỗ này có thể trắc nghiệm sự
thành tựu trong việc tu hành của chính ḿnh. Nếu thật
sự là phiền năo mỗi năm một ít hơn, vọng
tưởng ít đi, bớt vướng mắc, bớt
ưu lự, tâm thanh nhàn tự tại, trí huệ tăng
trưởng, đó là hiện tượng công phu đắc
lực, là cảnh giới tốt đẹp. Nếu chẳng
vậy, nhất định phải quay lại nghiêm túc kiểm
điểm, phản tỉnh, nhất định là chính
ḿnh tu hành đă phạm sai lầm. Nếu không, nhất
định sẽ đạt được hiệu quả
ấy. Chẳng đạt được hiệu quả
là do chúng ta tu hành sai lầm. Khi tu huệ có chút thành tựu,
cũng là lúc có đôi chút tiếng tăm, khi ấy là một
giai đoạn hết sức nguy hiểm. V́ sao? Rất dễ
dàng đọa lạc trong tiếng tăm, lợi dưỡng.
Đó là sự thật. Bao nhiêu người xưa nay, trong
ngoài nước, đến giai đoạn ấy đă bị
đọa lạc. V́ thế, trong giai đoạn ấy, phải
đặc biệt đề cao cảnh giác, phải có thể
bỏ tiếng tăm, lợi dưỡng. Tuy có tiếng
tăm mà nếu có thể buông bỏ tiếng tăm, trong
tâm chẳng vương vấn, biết sự thành tựu
thật sự đối với chính ḿnh hăy c̣n là một nẻo
đường xa vời vợi, hễ giậm chân ở chỗ
này, chẳng tiến lên, sẽ bị đọa lạc. V́
thế, phải có sự cảnh giác rất sâu, chớ
để danh tiếng tổn hại chính ḿnh. Tiến thêm
bước nữa là nâng cao [cảnh giới] của chính
ḿnh, đó là Quyền Trí và Thật Trí hiện tiền; khi ấy,
có thể gánh vác gia nghiệp của Như Lai, có thể thực
hiện sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh. Có thể
thấy toàn là trí huệ, chẳng ĺa khỏi trí huệ.
Tu
Di Đăng Phật biểu thị “chuyển thức thành trí, phá mê khai ngộ”. Không
chỉ là chính ḿnh thành tựu, mà cũng có năng lực giúp
đỡ người khác phá mê khai ngộ. Vị Phật cuối
cùng dạy chúng ta phương pháp tu hành trọng yếu ở
chỗ “tinh tấn”, chúng ta
phải coi trọng hai chữ ấy. “Tấn” (進) là tiến bộ,
mong cầu tiến bộ không ngừng. Sự tiến bộ
ấy phải tinh thuần; nói cách khác, chẳng phải là
tạp tấn, chẳng phải là loạn tấn. Người
thế gian cũng cầu tiến bộ, nhưng chẳng thuần,
chẳng ṛng rặt, học rất nhiều, học rất
tạp. Tạp tấn và loạn tấn kiểu đó chẳng
thể thành tựu ǵ, chẳng có ích ǵ cho Định và Huệ.
Nếu nói đến chỗ tốt đẹp [của tinh
tấn kiểu đó] th́ có thể nói là người ấy
kiến thức rất rộng, thường thức phong
phú. Nói khó nghe một chút, sẽ là vọng tưởng rất
nhiều, tạp niệm rất nhiều, phân biệt, chấp
trước rất nhiều. Nói cách khác, quả báo sẽ
là vẫn phải luân hồi, cho nên chẳng có ích chi hết!
Tấn phải là tinh tấn. Tinh tấn trọng yếu lắm!
Muốn thành tựu trí huệ chân thật, phải là vô lượng
tinh tấn. Ư nghĩa của Vô Lượng Tinh Tấn là
tinh tấn chẳng có giới hạn, mang ư nghĩa ấy.
Chẳng thể nói là đạt đến một giai
đoạn nào đó bèn tự măn, [mà phải là] vĩnh viễn
tinh tấn chẳng có giới hạn. Đó là căn bản
trong phương pháp tu học.
(Sớ) Xứng
Lư, tắc tự tánh quang minh bất khả tận, thị
Nam phương hằng sa Phật nghĩa.
(疏)稱理,則自性光明不可盡,是南方恆沙佛義。
(Sớ: Xứng Lư th́
tự tánh quang minh chẳng thể trọn hết là ư
nghĩa “phương
Phương
(Sao)
Nam phương vi Ly, Ly vi hỏa.
(Diễn)
Nam phương vi Ly giả, Dịch vân: “Ly dă giả, minh
dă. Vạn vật giai tương kiến,
(鈔)南方為離,離為火。
(演)南方為離者。易云。離也者。明也。萬物皆相見。南方之卦也。
(Sao:
Phương
Diễn:
“Phương
Trong
Bát Quái, [phương
(Sao)
Hỏa nội ám nhi ngoại minh.
(Diễn)
Hỏa nội ám nhi ngoại minh giả, Ly, lệ dă, nhất
Âm lệ ư nhị Dương chi trung, kỳ tượng
vi hỏa, thể Âm nhi dụng Dương dă.
(鈔)火內暗而外明。
(演)火內暗而外明者。離。麗也。一陰麗於二陽之中。其象為火。體陰而用陽也。
(Sao:
Lửa th́ trong tối ngoài sáng.
Diễn: “Lửa th́ trong tối ngoài sáng”: Ly là sáng rực. Một
Âm sáng rực trong hai Dương[2], Tượng[3] của Ly là Hỏa,
tức bản thể của [quẻ Ly] là Âm, mà tác dụng
của nó là Dương).
“Nội
ám” (內暗) biểu thị Thật Trí, vô tri, Bát
Nhă vô tri. “Ngoại minh” (外明) biểu thị
Quyền Trí, biểu thị “không
ǵ chẳng biết”.
(Sao)
Thị Tịch nhi thường Chiếu dă.
(鈔)是寂而常照也。
(Sao:
Là tịch mà thường chiếu).
Thật
Trí là Tịch, là tâm thanh tịnh.
(Sao)
Chân tri bất muội.
(鈔)真知不昧。
(Sao: Hiểu biết
chân thật, chẳng sai lầm).
“Chân tri” là Thật Trí.
(Sao)
Linh diệm hà cùng.
(鈔)靈燄何窮。
(Sao:
Linh minh giác tri rạng ngời, há có cùng tận).
“Linh” (靈) là linh minh giác tri, “diệm”
(燄) là tỷ dụ
trí huệ. Đại dụng (tác dụng to lớn) của
linh minh giác tri chẳng có cùng tận.
(Sao)
Hoa Nghiêm Quang Minh Giác phẩm ngôn.
(鈔)華嚴光明覺品言。
(Sao: Phẩm Quang Minh
Giác trong kinh Hoa Nghiêm có nói).
Đây
cũng là một phẩm trọng yếu của kinh Hoa
Nghiêm.
(Sao)
Như Lai quang minh quá nhất thế giới.
(鈔)如來光明過一世界。
(Sao:
Quang minh của Như Lai vượt trỗi một thế
giới).
“Quá” (過) là vượt qua, “một
thế giới” là một tam thiên đại thiên quốc
độ.
(Sao)
Thập thế giới.
(鈔)十世界。
(Sao: Mười thế
giới).
Vượt
qua mười đại thiên thế giới.
(Sao)
Năi chí bất khả thuyết thế giới.
(鈔)乃至不可說世界。
(Sao:
Cho đến bất khả thuyết[4] thế giới).
Quang
minh của A Di Đà Phật vượt trỗi vô lượng
vô biên thế giới của chư Phật.
(Sao)
Giai thị tự kỷ tâm quang giác chiếu, nhất thiết
bất tùng ngoại đắc.
(鈔)皆是自己心光覺照,一切不從外得。
(Sao: Đều là tâm quang của chính ḿnh giác chiếu,
hết thảy chẳng do từ bên ngoài mà có).
Quang
minh nhỏ bèn chiếu một thế giới, lớn th́ chiếu
vô biên thế giới. Đó là chuyện như thế nào?
Liên quan đến cái tâm thanh tịnh, liên quan đến hoằng
nguyện độ sanh. Dựa vào đâu mà nói là có liên quan
đến tâm thanh tịnh?
1) Chúng ta nói tới
Phật th́ tông Thiên Thai bảo có bốn loại Phật là
Tạng, Thông, Biệt, Viên. Tạng Giáo Phật vẫn
chưa kiến tánh, đương nhiên là có quang minh,
nhưng quang minh nhỏ bé. Thông Giáo Phật thù thắng
hơn Tạng Giáo Phật một chút, vẫn chưa kiến
tánh. Biệt Giáo Phật bằng Bồ Tát thuộc địa
vị Nhị Hạnh trong Viên Giáo, phá mười hai phẩm
vô minh. Vô minh có bốn mươi mốt phẩm, Biệt
Giáo Phật mới phá mười hai phẩm; cho thấy
tâm vị Phật này có chỗ thanh tịnh và chỗ chẳng
thanh tịnh. Đạt đến Viên Giáo Phật, sẽ là
thanh tịnh tối cực, Biệt Giáo Phật vẫn
chưa thanh tịnh. Do vậy, quang minh lớn hay nhỏ khác
nhau.
2) Thứ hai, tuy
cùng là Viên Giáo Phật, Tự Thọ Dụng hoàn toàn như nhau,
tức là Thật Trí hoàn toàn tương đồng, tác dụng
của Quyền Trí sẽ khác nhau. Tác dụng của Quyền
Trí [khác biệt] là do chư Phật lúc tu nhân đă phát nguyện
độ sanh khác nhau. A Di Đà Phật phát nguyện phổ
độ hết thảy chúng sanh trong pháp giới. Nguyện
ấy quá lớn, hết thảy chúng sanh chẳng sót một
ai! Đối với chúng sanh trong hết thảy các thế
giới của chư Phật, Ngài đều muốn độ,
phát nguyện to lớn dường ấy. Có những vị
khi tu nhân phát nguyện: Ta muốn độ chúng sanh trong một
đại thiên thế giới. [Chỉ độ chúng sanh
trong] một đại thiên thế giới th́ nguyện ấy
nhỏ nhoi, sai biệt ở chỗ này. Chẳng phải là
do năng lực của các Ngài có sai biệt, chẳng phải
là do trí huệ của các Ngài có sai biệt, mà là do các Ngài kết
duyên cùng chúng sanh có sai biệt. Phát nguyện trong lúc tu nhân
chính là kết duyên cùng chúng sanh. Duyên được kết
khác nhau. Nếu quư vị mong trong tương lai làm Phật,
quang minh sẽ vượt trỗi một thế giới,
hoặc mười thế giới, cho đến bất
khả thuyết thế giới, nay quư vị phải phát
tâm rộng lớn, phải kết pháp duyên rộng răi cùng hết
thảy chúng sanh. Cho đến lúc quư vị thành Phật,
quang minh của quư vị bèn vượt trỗi vô lượng
chư Phật quốc độ, đạo lư là như vậy
đó. Xác thực là chân tâm của chính ḿnh vốn sẵn có
quang minh từ nơi trí huệ Bát Nhă, quyết định
chẳng phải là do bên ngoài mà có. Bên ngoài thứ ǵ cũng
chẳng có. Kinh Lăng Nghiêm đă nói rất hay: “Viên măn Bồ Đề, quy vô sở
đắc” (Viên măn Bồ Đề, trở về chỗ
không có ǵ để đạt được). Những ǵ
quư vị đạt được toàn là vốn sẵn có
trong tự tánh; bất quá khi ấy sẽ là hoàn toàn chẳng
có chướng ngại, chính ḿnh ứng dụng tự tại!
(Sao)
Cố viết: Ngă kiến Đăng Minh Phật, bổn
quang thụy như thử.
(Diễn) Bổn
quang, thị chúng sanh bổn lai hữu thử quang minh dă.
(鈔)故曰:我見燈明佛,本光瑞如此。
(演)本光。是眾生本來有此光明也。
(Sao:
V́ thế nói: “Ta thấy quang minh nơi bản tánh của
Đăng Minh Phật tốt lành như thế”.
Diễn: “Bổn quang” nghĩa là chúng sanh vốn có quang minh ấy).
Kinh
nói: Ta thấy Đăng Minh Phật Như Lai, “bổn quang” là quang minh từ
bản tánh của chính ḿnh. Phật do đâu mà có? Phật vẫn
là do tự tâm của chúng ta biến hiện. Không chỉ Tây
Phương Cực Lạc thế giới là “duy tâm Tịnh Độ, tự tánh
Di Đà”, mười phương hết thảy các cơi
Phật đều là duy tâm sở hiện, đều là tự
tánh sở biến. Thân thể của chính ḿnh trong hiện
tiền, không gian sống đang vây quanh chúng ta trong hiện
thời, hết thảy đều là “duy tâm sở hiện, tự tánh sở biến”.
Ĺa khỏi tự tánh, sẽ chẳng có một pháp nào để
có thể đạt được. V́ thế, tu học Phật
pháp chẳng có ǵ khác, chỉ là chứng thực tự tánh
mà thôi!
(Kinh)
Các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt
tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới.
(經)各於其國。出廣長舌相。遍覆三千大千世界。
(Kinh: Mỗi vị
đều ở trong nước ḿnh, hiện tướng
lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế
giới).
Đọc
kinh văn này phải dùng tâm t́nh chí thành, cung kính, muôn phần
cảm tạ để lănh nhận. Vô lượng vô biên
chư Phật Như Lai ở phương Nam ở trong cơi
của chính ḿnh, hiện tướng lưỡi rộng
dài, v́ hết thảy chúng sanh giới thiệu Tây
Phương Tịnh Độ, khuyên dạy đại
chúng niệm Phật cầu sanh thế giới Cực Lạc.
Đấy là một đại sự cảm động
dường ấy. Mỗi vị Phật trong chư Phật:
(Kinh)
Thuyết thành thật ngôn.
(經)說誠實言。
(Kinh: Nói lời thành
thật).
Đều
khuyến cáo chúng ta như vậy.
(Kinh)
Nhữ đẳng chúng sanh, đương tín thị.
(經)汝等眾生。當信是。
(Kinh:
Chúng sanh các ngươi hăy nên tin tưởng điều này).
Chữ Thị (是) chỉ bộ kinh này. Trong bộ
kinh này, đối với những lời giới thiệu
của đức Phật, chúng ta phải thật sự tin
tưởng. Tin tưởng bộ kinh này là…
(Kinh)
Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất
Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh.
(經)稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。
(Kinh:
Kinh Khen Ngợi Công Đức Chẳng Thể Nghĩ Bàn
Được Hết Thảy
Trong
phần trước, đoạn này đă được
giảng hết sức cặn kẽ, đă hiểu rơ ư
nghĩa được nêu ra trong phần trước, mỗi
lần niệm đến đoạn kinh văn này, chúng ta
sẽ bị cảm động rất sâu, nhất định
là sẽ cảm kích vô tận. Đức Phật rát miệng
buốt ḷng khuyên dạy chúng ta như vậy, duyên phận
của chúng ta trong một đời này đúng là chẳng
thể nghĩ bàn, có thể gặp kinh độ chúng sanh bậc
nhất của chư Phật. Do bộ kinh này, chúng ta quyết
định văng sanh bất thoái thành Phật trong một đời
này!
Tam, Tây
phương.
(Kinh)
Xá Lợi Phất! Tây phương thế giới hữu Vô
Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Tướng Phật,
Vô Lượng Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại
Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Tịnh Quang Phật,
như thị đẳng Hằng hà sa số chư Phật.
三、西方。
(經)舍利弗。西方世界。有無量壽佛。無量相佛。無量幢佛。大光佛。大明佛。寶相佛。淨光佛。如是等恆河沙數諸佛。
(Ba, phương Tây.
Kinh: Xá Lợi Phất! Thế giới ở
phương Tây có Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng
Tướng Phật, Vô Lượng Tràng Phật, Đại
Quang Phật, Đại Minh Phật, Bảo Tướng Phật,
Tịnh Quang Phật, các vị Phật như thế nhiều
như số cát trong sông Hằng).
Trong
phương Đông và phương
Vị Phật
thứ nhất là Vô Lượng Thọ Phật (Amitāyus). Vô
Lượng Thọ Phật ở đây rốt cuộc có
phải là A Di Đà Phật hay không? Hay là một vị
đồng
danh đồng hiệu với A Di Đà Phật? Kinh chẳng
nói rơ ràng, có lẽ là hai ư nghĩa ấy đều có. Đức
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật giới thiệu Tây
Phương Cực Lạc thế giới Vô Lượng
Thọ Phật, nói như vậy hợp lẽ, v́ ở
đây chẳng phải là Vô Lượng Thọ Phật tự
tán thán chính ḿnh. Thật ra, vượt ngoài phương Tây
c̣n có phương Tây xa hơn nữa. Trong các thế giới
ở phương Tây có vô lượng vô biên chư Phật
Như Lai, tôi tin là những vị đồng danh đồng
hiệu với A Di Đà Phật chắc chắn là không ít!
Nói theo sự thật này th́ cũng hợp lẽ. Liên Tŕ
đại sư đă gộp chung hai ư nghĩa này, cả
hai ư nghĩa đều có.
Tu phước,
chư vị phải biết: Thọ mạng là phước
bậc nhất. Trong phước báo, thọ mạng được
xếp hàng đầu. Quư vị có vô lượng của cải,
có địa vị cao ngất ngưởng, mà nếu chẳng
có thọ mạng, chết sớm, chẳng phải là hết
thảy đều rỗng tuếch hay sao? Phẩm Phổ
Hiền Hạnh Nguyện đă nói là “thứ ǵ cũng chẳng
mang theo được!” Nhất định là phải có trường
thọ th́ mới có thể thật sự hưởng thụ
phước báo và trí huệ. V́ thế, thọ mạng
được xếp hàng đầu trong phước báo.
Thọ mạng là phước bậc nhất. Từ
xưa tới nay, những vị đại đức
đều nói: Vô Lượng Thọ là điều đạt
được bậc nhất khi chúng sanh sanh vào Tây
Phương, v́ đạt được vô lượng thọ,
hết thảy đều đạt được. V́ sao
để thành Phật trong thế giới này, chúng ta phải
tốn ba đại A-tăng-kỳ kiếp? Ba đại A-tăng-kỳ
kiếp th́ chẳng biết là đă phải trải qua sanh
tử luân hồi bao nhiêu lần! Đă đến Tây
Phương Cực Lạc thế giới, đối với
chúng ta mà nói, ba đại A-tăng-kỳ kiếp chẳng
hề bận ḷng mảy may! V́ sao? Bản thân chúng ta đă
có thọ mạng vô lượng, ba đại A-tăng-kỳ
kiếp so với vô lượng thọ mà nói, thời gian ấy
rất ngắn ngủi, tạm bợ. Ví như quư vị có
tuổi thọ một trăm năm, học pháp này chỉ
cần thời gian ba ngày bèn thành công, đấy không phải
là chuyện quá dễ dàng, chẳng tốn công phí sức ư?
Thọ mạng là điều đạt được bậc
nhất. Nhất định phải hiểu rơ điều
này, chứ tu các pháp môn khác, quư vị sẽ chẳng đạt
được [thọ mạng dài lâu như thế]. Chỉ
cậy vào một điều này, một lợi ích này, một
ưu điểm này, chúng ta bèn quyết định phải
đến Tây Phương. Đă có thọ mạng, những
chuyện khác đều dễ thực hiện, học vô
lượng pháp môn chẳng khó, có đủ thời gian mà!
Thế giới này thọ mạng ngắn ngủi, học thứ
ǵ chúng ta cũng đều cảm thấy chẳng đủ
thời gian, chẳng có cách nào thành tựu. Những điều
này đều là sự thật, chúng ta chớ nên không biết.
Hôm nay chúng tôi nói tới chỗ này.
Tập 264
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang năm trăm ba mươi bốn:
(Sớ) Vô Lượng Thọ, nhân
dữ bổn Phật đồng danh. Cổ hữu nhị
thuyết, diệc câu hữu lư.
(Sao) Nhị thuyết
giả.
(疏)無量壽。因與本佛同名。古有二說。亦俱有理。
(鈔)二說者。
(Sớ:
Vô Lượng Thọ v́ có cùng tên với A Di Đà Phật,
nên từ xưa đă có hai thuyết, cũng đều là
hữu lư.
Sao:
Hai thuyết là…).
Để giải
thích danh hiệu Vô Lượng Thọ Phật, từ
xưa tới nay đă có hai cách giảng.
(Sao)
Linh Chi vị chư Phật đồng danh thậm đa,
quyết phi Pháp Tạng sở thành chi Phật, dĩ thị
bổn Phật bất ưng tự tán cố.
(鈔)靈芝謂諸佛同名甚多,決非法藏所成之佛,以是本佛不應自讚故。
(Sao: Ngài Linh Chi bảo
chư Phật có cùng danh hiệu rất nhiều, [Vô Lượng
Thọ Phật được nói trong đoạn kinh này] quyết
chẳng phải là vị Phật do ngài Pháp Tạng tu thành;
bởi lẽ, Phật chẳng nên tự ca ngợi ḿnh).
Đây
là cách nh́n của Linh Chi đại sư, Ngài giải thích
như vậy đó.
(Sao)
Từ Ân vị thiết nhược tự tán, lư diệc
vô phương, dĩ đạo dẫn chúng sanh, linh sanh thắng
ư cố.
(Diễn)
Đạo dẫn chúng sanh, linh sanh thắng ư giả, chúng
sanh trí thiển bất tri Phật cảnh, nhược bất
tán dương, thắng ư bất sanh. Cố dục dẫn
đạo chúng sanh, linh sanh thắng ư, tất tu tự tán
dă. Như Thích Ca Thế Tôn diệc tự tán vân: “Ngă thị
Như Lai Ứng Cúng giả, ngă thị tri đạo giả,
khai đạo giả, thuyết đạo giả” đẳng,
diệc phổ triệu quần cơ, linh sanh thắng ư
dă.
(鈔)慈恩謂設若自讚,理亦無妨,以導引眾生,令生勝意故。
(演)導引眾生。令生勝意者。眾生智淺不知佛境。若不贊揚。勝意不生。故欲引導眾生。令生勝意。必須自贊也。如釋迦世尊。亦自贊云。我是如來應供者。我是知道者。開道者。說道者等。亦普召群機。令生勝意也。
(Sao: Ngài Từ Ân bảo:
Dẫu là tự khen ngợi, xét theo Lư cũng chẳng ngại
ǵ. V́ để hướng dẫn chúng sanh khiến cho họ
sanh ư niệm thù thắng.
Diễn: “Hướng dẫn chúng sanh khiến cho họ sanh
ư niệm thù thắng”: Chúng sanh trí nông cạn, chẳng biết
cảnh Phật. Nếu chẳng tán dương, ư niệm
thù thắng sẽ chẳng sanh khởi. V́ thế, muốn
hướng dẫn chúng sanh khiến cho họ sanh ư niệm
thù thắng, ắt cần phải tự khen ngợi.
Như Thích Ca Thế Tôn cũng tự khen ngợi rằng:
“Ta là đấng Như Lai Ứng Cúng, là bậc biết đạo,
là bậc mở đạo, là bậc thuyết đạo”
v.v… cũng là nhằm triệu tập trọn khắp các
căn cơ khiến cho họ sanh ư niệm thù thắng).
Khuy
Cơ đại sư nói: Đức Phật tự khen ngợi
ḿnh, nói theo Lư cũng chẳng trở ngại ǵ, mục
đích là để tiếp dẫn chúng sanh. Có rất nhiều
phương tiện và pháp môn để tiếp dẫn chúng
sanh, có thể làm như vậy. Ư nghĩa này cũng hết
sức hay!
(Sao)
Kim song thủ nhị thuyết.
(鈔)今雙取二說。
(Sao: Nay chọn cả
hai thuyết).
Hai
cách nói ấy đều có lư, đều nói thông suốt. Cả
hai cách giải thích đều hay!
(Sao)
Vị cứ Đại Bổn.
(鈔)謂據大本。
(Sao:
Nghĩa là dựa theo kinh Đại Bổn).
Căn
cứ trên kinh Vô Lượng Thọ.
(Sao)
Quá vô biên Phật sát, đồng danh Thích Ca Mâu Ni giả, bất
khả thắng số.
(鈔)過無邊佛剎,同名釋迦牟尼者,不可勝數。
(Sao:
Qua khỏi vô biên cơi Phật, các vị có cùng danh hiệu
Thích Ca Mâu Ni Phật chẳng thể kể xiết).
Các
vị Phật có danh hiệu trùng nhau quả thật rất
nhiều. Trong thế gian này, chúng ta có danh hiệu giống
nhau cũng rất nhiều, cũng thường có thể
trông thấy.
(Sao)
Hựu, Quán Âm sư Quán Âm Như Lai đẳng.
(Diễn)
Quán Âm sư Quán Âm giả, Lăng Nghiêm vân: “Ngă ư quá khứ,
ngộ Quán Thế Âm Như Lai, bỉ Phật giáo ngă Như
Huyễn Văn Huân Văn Tu Kim Cang tam-muội”.
(鈔)又觀音師觀音如來等。
(演)觀音師觀音者。楞嚴云。我於過去。遇觀世音如來。彼佛教我。如幻聞熏聞修金剛三昧。
(Sao:
Lại như thầy của ngài Quán Âm là Quán Âm Như Lai
v.v…
Sao: “Thầy của ngài Quán Âm là Quán Âm Như Lai”: Kinh
Lăng Nghiêm chép: “Trong quá khứ, ta gặp Quán Âm Như Lai,
đức Phật ấy dạy ta môn Như Huyễn
Văn Huân Văn Tu tam-muội”).
Thầy
của Quán Thế Âm Bồ Tát là ai? Quán Âm Như Lai! Thầy
và tṛ có cùng danh hiệu.
(Sao)
Tắc Vô Lượng Thọ chi danh, hà chỉ nhất Phật?
Bách thiên vạn ức, bất khả cùng tận.
(鈔)則無量壽之名,何止一佛?百千萬億,不可窮盡。
(Sao:
Vậy th́ Vô Lượng Thọ làm sao chỉ là một vị
Phật cho được? Trăm ngàn vạn ức, chẳng
thể cùng tận).
Nói
rơ: Xác thực là có những vị Phật đồng danh
đồng hiệu. Không chỉ là có, mà lại c̣n là rất
nhiều.
(Sao)
Nhược cứ Phật phân biên sự, yên đắc
dĩ phàm thường lệ chi, tương vô tự tán hủy
tha, phạm Bồ Tát thập trọng giới da?
(鈔)若據佛分邊事,焉得以凡常例之,將無自讚毀他,犯菩薩十重戒耶。
(Sao: Đối với
những chuyện thuộc về địa vị Phật,
há nên suy luận theo lẽ thông thường! [Nếu cứ
suy b́ theo lẽ thường] sao tránh khỏi [chê trách Ngài mắc
lỗi] khen ḿnh, hủy báng kẻ khác, phạm mười
trọng giới của Bồ Tát ư?)
Phật
và đại Bồ Tát tâm địa thanh tịnh, trước
nay chưa hề phân biệt, chấp trước, trước
nay chưa hề có vọng tưởng, lấy đâu ra lầm
lỗi? V́ thế, chẳng thể dùng phàm phu để so
sánh Phật, Bồ Tát. Phàm phu phiền năo tập khí sâu nặng,
nhất là những kẻ thuộc địa vị giống
như chúng ta trong hiện tại, một phẩm Kiến
Tư phiền năo cũng chẳng đoạn. Đức Phật
chế định khá nhiều giới luật nhằm giúp
chúng ta đắc Định, khai Huệ, giúp chúng ta minh tâm
kiến tánh. Giới luật là một loại phương
tiện, chẳng phải là mục đích! Nếu chúng ta
muốn tự khen ngợi ḿnh, hủy báng kẻ khác, như
vậy là đă phạm mười trọng giới của
hàng Bồ Tát[5], đă phạm giới!
Chư Phật Như Lai thanh tịnh vô nhiễm, chẳng
ngại tự ḿnh tán thán chính ḿnh, chẳng sao cả! Chúng
ta tán thán chính ḿnh, tâm ngạo mạn dấy lên, khinh rẻ
người khác, phiền năo dấy lên. Đức Phật
tự tán thán chính ḿnh, chẳng phải là có tâm ngạo mạn,
mà là nhằm khơi gợi, phát khởi tín tâm của chúng
sanh đối với Phật, có ǵ mà chẳng được!
(Sao)
Ngă vi Pháp Vương, ư pháp tự tại.
(鈔)我為法王,於法自在。
(Sao: Ta là Pháp
Vương, tự tại nơi pháp).
Chúng
ta thấy điều này trong kinh, đức Phật tự
khen ḿnh: Ngài đắc đại tự tại trong hết
thảy các pháp.
(Sao) Tung hoành
dư đoạt, Quyền Thật song chương.
(鈔)縱橫予奪,權實雙彰。
(Sao: Dọc, ngang, ban
cho, đoạt lấy, Quyền lẫn Thật cùng phô bày).
Chỉ
rơ phương pháp độ chúng sanh của Phật và đại
Bồ Tát có những kỹ xảo hết sức xảo diệu.
Chỉ cần chúng sanh có thể đạt được
lợi ích, hết thảy mọi kỹ xảo đều
có thể vận dụng! Chúng ta có thể thấy những
trường hợp giống như vậy trong Tứ Thập
Hoa Nghiêm, cũng như trong phẩm cuối cùng là phẩm
Nhập Pháp Giới của Bát Thập Hoa Nghiêm. Trong năm
mươi ba lần tham học của Thiện Tài đồng
tử, năm mươi ba vị thiện tri thức ấy
đều là Pháp Thân đại sĩ. Nếu nói theo tiêu chuẩn
của kinh Kim Cang, các Ngài đều là chư Phật Như
Lai. Chúng ta đọc xong năm mươi ba lần tham học
bèn hoảng nhiên đại ngộ: “Tung, hoành, dư, đoạt, Quyền Thật song
chương” (dọc, ngang, ban cho, đoạt lấy,
Quyền lẫn Thật cùng phô bày). Hai câu này chính là tổng
cương lănh của năm mươi ba lần tham học.
Tám chữ ấy đă nói trọn vẹn năm mươi
ba lần tham học.
(Sao)
Cẩu hữu lợi ư chúng sanh, diệc hà thi nhi bất
khả.
(鈔)苟有利於眾生,亦何施而不可。
(Sao: Nếu có lợi
cho chúng sanh, cũng có ǵ mà không thể làm được).
Thật
sự lợi ích chúng sanh th́ phương pháp ấy có thể
sử dụng. Nếu chúng ta hỏi, những ǵ là lợi
ích chúng sanh? Phải hiểu đạo lư này. Chẳng phải
là làm cho chúng sanh được sung sướng, chẳng
phải là ư nghĩa này. Tiêu chuẩn của lợi ích chúng sanh
là làm cho chúng sanh phá mê khai ngộ; đấy mới là lợi
ích thật sự, lợi ích chân thật.
(Sao)
Thiên thượng thiên hạ, duy ngô độc tôn.
(Diễn)
Duy ngă độc tôn giả, Tất Đạt thái tử
sơ giáng sanh thời, nhất thủ chỉ thiên, nhất
thủ chỉ địa, châu hành thất bộ, mục cố
tứ phương, viết: “Thiên thượng, thiên hạ,
duy ngă độc tôn”.
(鈔)天上天下,唯吾獨尊。
(演)唯我獨尊者。悉達太子初降生時。一手指天。一手指地。周行七步。目顧四方。曰天上天下。唯我獨尊。
(Sao:
Trên trời dưới đất, chỉ có Ngă là độc
tôn.
Diễn: “Chỉ có Ngă là độc tôn”: Thái Tử Tất
Đạt lúc mới giáng sanh, một tay chỉ trời, một
tay chỉ đất, đi trọn khắp các
phương, mỗi phương đều đi bảy
bước, mắt nh́n bốn phương, nói: “Trên trời,
dưới đất, chỉ có Ngă là tôn quư”)
Đây
là khi Thích Ca Mâu Ni Phật giáng thế [đă nói như vậy].
Có những người chẳng chịu tham cứu Phật
pháp sâu xa, nghe nói như vậy bèn chê Thích Ca Mâu Ni Phật quá
đỗi tự đại, quá sức ngạo mạn. Làm
sao có thể là trên trời, dưới đất, chỉ
có ta là tôn quư độc nhất cho được? Đấy
là v́ chẳng hiểu ư nghĩa của chữ Ta. Ta ở
đây là Chân Ngă, chẳng phải là Cái Tôi trong khái niệm của
bọn phàm phu chúng ta. Đức Phật nói Vô Ngă, có thể
thấy Ngă chẳng phải là nói về cái thân này! Ngă chỉ
điều ǵ? Chỉ Thường, Lạc, Ngă, Tịnh
trong Tam Đức. Tam Đức là Pháp Thân, Bát Nhă, Giải Thoát.
Trong Pháp Thân có Thường, Lạc, Ngă, Tịnh; Bát Nhă
cũng có Thường, Lạc, Ngă, Tịnh; Giải Thoát
cũng có Thường, Lạc, Ngă, Tịnh
(Nitya, Sukha, Ātmā, Śubha). Đó là “bốn tịnh đức”,
là chân thật. “Ngă” (Ātmā) có nghĩa
là chủ tể, tự tại, quyết định chẳng phải
là ngạo mạn, mà cũng chẳng phải là tự khen
ngợi ḿnh!
(Sao)
Tiền chi nhất thuyết, khủng nhân bất tri chư
Phật số như vi trần, câu chấp nhất thiên cố.
(鈔)前之一說,恐人不知諸佛數如微塵,拘執一偏故。
(Sao: Thuyết trước
là v́ sợ có kẻ chẳng biết chư Phật số
nhiều như vi trần, bèn câu nệ, chấp trước
phiến diện).
Cách
nói thứ nhất nhằm bảo quư vị: Chư Phật
đồng danh đồng hiệu quá nhiều, chớ nên
có thiên kiến, chớ nên chấp trước chuyện
này!
(Sao)
Hậu chi nhất thuyết, khủng nhân nệ ư bất
ưng tự tán, muội Phật thần dụng cố.
(鈔)後之一說,恐人泥於不應自讚,昧佛神用故。
(Sao: Thuyết sau là do
sợ có kẻ câu nệ “chớ nên tự khen ngợi”, mờ
mịt chẳng biết đến diệu dụng thần
kỳ của Phật).
“Bất ưng tự tán” (chớ
nên tự khen ngợi) cũng là một loại chấp
trước. “Muội Phật
thần dụng cố”, [nghĩa là] chẳng biết
đại dụng thần thông của Phật, Bồ Tát
nhằm lợi khắp quần sanh.
(Sao)
Nhị thuyết kiêm thành, lư cố vô ngại.
(鈔)二說兼成,理固無礙。
(Sao:
Hai thuyết bổ sung lẫn nhau, cố nhiên, xét theo Lư, chẳng
trở ngại ǵ).
Cả
hai cách giải thích của cổ đức đều hay.
Chúng ta có cách nh́n viên dung, ư nghĩa càng rơ rệt hơn.
Vô
Lượng Thọ Phật tượng trưng cho phước
thọ, là mục tiêu mong cầu bậc nhất của
chúng ta. Chúng ta cầu phước, cầu trường thọ,
nhưng phải ghi nhớ: Chẳng phải là sự
trường thọ trong thế gian này! Trường thọ
trong thế gian này vô dụng! Sống lâu rất khổ, khổ
sở v́ tuổi già. Trường thọ trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới tốt đẹp
lắm, v́ sao? Người trong cơi ấy chẳng già,
vĩnh viễn là tuổi thanh xuân, đấy chính là phước
báo thật sự. Chúng ta trường thọ trong cơi này
hoàn toàn chẳng phải là phước báo thật sự.
Trường thọ nhất định phải kèm thêm khỏe
mạnh; khỏe mạnh, sống lâu th́ mới là phước.
C̣n phải kèm thêm điều kiện; chẳng có khỏe mạnh
đi kèm theo, sống lâu rất khổ! Ắt cần phải
hiểu điều này, [như vậy th́ mới tha thiết]
mong cầu trường thọ trong Tây Phương Cực
Lạc thế giới, Vô Lượng Thọ. Vị Phật
tiếp theo…
(Sớ)
Vô Lượng Tướng giả, tướng hảo vô tận
cố.
(Sao)
Tướng hảo giả, hoặc tam thập nhị
tướng.
(疏)無量相者,相好無盡故。
(鈔)相好者,或三十二相。
(Sớ: Vô Lượng Tướng (Amitālakṣaṇa) là tướng hảo
vô tận.
Sao: “Tướng hảo”: Hoặc
là ba mươi hai tướng).
Đó
là [nói theo quan niệm về tướng hảo của]
người thế gian chúng ta, [sẽ là] ba mươi hai
tướng.
(Sao)
Hoặc bát vạn tứ thiên tướng, hoặc vi trần
tướng.
(鈔)或八萬四千相,或微塵相。
(Sao: Hoặc là tám vạn
bốn ngàn tướng, hoặc tướng hảo nhiều
như vi trần).
Tướng
hảo thù thắng, là cảnh giới của Phật và Đại
Bồ Tát, chẳng phải là cảnh giới của phàm
phu. Trong cảnh giới phàm phu, kể cả Đại Phạm
Thiên Vương, Đại Phạm Thiên Vương [là
người có địa vị] tột đỉnh trong Tứ
Thiền Thiên cũng chỉ là ba mươi hai tướng,
tám mươi thứ hảo. Đó là tướng hảo cực
hạn trong thế giới Sa Bà.
(Sao)
Phước đức vô lượng, tướng diệc
vô lượng dă. Tích Chí Công hiện thập nhất diện
Quán Âm tướng, Tăng Diêu bất năng cử bút, huống
Phật tướng hồ!
(Diễn)
Chí Công hiện thập nhất diện giả, Lương
Vũ Đế, thường triệu họa công
Trương Tăng Diêu tả Chí Công tượng. Chí Công
dĩ chỉ phân phi diện môn, tác thập nhất diện
Quán Âm tướng, hoặc từ, hoặc oai, hoặc
Định, hoặc Huệ, Tăng Diêu cánh bất năng
hạ bút.
(鈔)福德無量,相亦無量也。昔誌公現十一面觀音相,僧繇不能舉筆,況佛相乎。
(演)誌公現十一面者。梁武帝。嘗召畫工張僧繇。寫誌公像。誌公以指分披面門。作十一面觀音相。或慈或威。或定或慧。僧繇竟不能下筆。
(Sao: Phước
đức vô lượng, tướng cũng vô lượng.
Xưa ngài Bảo Chí Công hiện tướng Quán Âm mười
một mặt, ông Tăng Diêu[6] chẳng thể
vẽ được, huống hồ là tướng Phật
ư?
Diễn: “Chí Công hiện mười một mặt”:
Lương Vũ Đế từng sai thợ vẽ
Trương Tăng Diêu vẽ h́nh tượng Chí Công. Ngài Chí
Công dùng ngón tay xoa mặt, biến thành h́nh tướng Quán
Âm muời một mặt, hoặc từ bi, hoặc oai mănh,
hoặc Định, hoặc Huệ, Tăng Diêu trọn chẳng
thể vẽ được).
Ở
đây có một câu chuyện, trong sách Diễn Nghĩa có chú
giải chuyện này. Trước hết, chúng tôi phải
nói đến nguyên do của tướng hảo. Tướng
liên quan đến phước. V́ thế, chúng ta thường
nói là “phước tướng”
hoặc “quư tướng”. Ba
mươi hai tướng, tám mươi thứ hảo là tướng
phú quư. Nh́n vào tướng hảo của người khác,
bèn biết phước báo của người ấy.
Tướng của người có phước và tướng
của kẻ không có phước rất rơ rệt, vừa nh́n
bèn biết ngay. Muốn có tướng hảo, nhất
định là phải tu phước. Chẳng tu phước,
mong sửa sắc đẹp, giả trất, sửa kiểu
nào cũng đều chẳng có phước báo; đâm ra,
chuốc lấy một thân đầy bệnh tật, một
thân đầy trục trặc. Có thể sửa đổi
cho tướng mạo tốt đẹp hơn hay không? Có
thể! Chỉ cần quư vị chịu tu. Đức Phật
dạy chúng ta một nguyên lư: “Tướng
chuyển theo tâm”. Đấy là nói rơ: Tướng của
chính ḿnh có thể tu được. Tâm địa từ
bi, tướng cũng rất hiền lành. Tâm địa hiểm
ác, tướng rất hung tợn, khiến cho người
ta trông thấy buốt xương rởn ốc, xác thực
là có thể biến hóa. Cổ nhân thường
nói: Tướng mạo sau năm bốn mươi tuổi
sẽ do chính ḿnh chịu trách nhiệm. Trước bốn
mươi tuổi là “tiên thiên”
(先天, bẩm
sinh), người hiện thời nói là “được di truyền
từ cha mẹ”. Phật pháp chẳng nói “di truyền”, Phật pháp
nói là khi một người đến đầu thai,
người ấy thích ai, tướng mạo của kẻ
đó in vào A Lại Da Thức của người ấy,
biến ra tướng mạo đó. Ví như khi người
ấy đến đầu thai, ưa thích cha mẹ,
tướng người ấy sẽ giống như cha mẹ
của chính ḿnh. [Tướng mạo] được quyết
định vào lúc ấy, chẳng do di truyền. Sau bốn
mươi tuổi, sẽ là “hậu
thiên” (後天), [nghĩa là] từ
bốn mươi tuổi trở đi, [tướng mạo]
được quyết định bởi tâm hạnh tạo
tác các nghiệp thiện ác. Một người thật sự
có thể đoạn hết thảy ác, tu hết thảy
thiện, tướng mạo nhất định là mỗi
năm một tốt đẹp hơn, tướng mạo
biến đổi, thể chất cũng biến đổi,
thân tâm thanh tịnh, đấy là khỏe mạnh, trường
thọ thật sự.
Vô
Lượng Tướng Phật, biểu thị phú quư. Phú
quư cũng là điều đại chúng mong cầu. “Đức phước vô lượng,
tướng diệc vô lượng” (Phước đức
vô lượng, tướng cũng vô lượng). Đức
Thế Tôn tán thán Tây Phương thế giới A Di Đà Phật:
“Phật có vô lượng tướng,
mỗi tướng có vô lượng hảo”. Không chỉ
là ba mươi hai tướng, tám mươi thứ hảo!
Những tướng ấy do đâu mà có? A Di Đà Phật
phước đức vô lượng vô biên. V́ thế, cảm
vời tướng mạo cũng là thù thắng khôn sánh! “Tích” (昔) là quá khứ. “Chí Công”
là ngài Bảo Chí Công[7], tức
là một vị cao tăng vào thời Lương Vũ
Đế. Truyện kư chép ngài Bảo Chí Công là hóa thân của
Quán Thế Âm Bồ Tát. Do cộng nghiệp thù thắng, cộng
nghiệp tốt đẹp của chúng sanh trong thế gian
này, cảm vời chư Phật, Bồ Tát ứng hóa trụ
thế. Thời ngài Bảo Chí Công trụ thế nhằm
đúng thời đại Lương Vũ Đế.
Lương Vũ Đế là một Phật tử kiền
thành, hết sức tôn kính ngài Bảo Chí Công. Tại Đài
Loan, người lạy Lương Hoàng Sám rất nhiều,
Lương Hoàng tức là Lương Vũ Đế. Lương
Vũ Đế siêu độ phi tử. Khi c̣n sống, phi
tử của ông ta từng tạo ác nghiệp, đọa vào
súc sanh đạo. Nhà vua thỉnh cầu ngài Bảo Chí Công
tác pháp siêu độ cho cô ta. Phật sự siêu độ của
ngài Bảo Chí Công dành cho cô ta, nay được gọi là
Lương Hoàng Sám. Lương Hoàng Sám do ngài Bảo Chí Công
biên soạn. Bảo Chí Công là Quán Âm Bồ Tát. Quán Âm Bồ
Tát siêu độ cô ta, cũng chỉ có thể siêu độ
đến cơi trời Đao Lợi. Lên cao hơn nữa,
chẳng được! Trong kinh Địa Tạng, cô gái
Bà-la-môn và cô Quang Mục đều là tiền thân của Địa
Tạng Bồ Tát, siêu độ thân nhân cũng là siêu độ
về Đao Lợi Thiên. Trước đây, chúng tôi giảng
A Nan Vấn Phật Sự Cát Hung Kinh, kinh ấy do đại
sư An Thế Cao phiên dịch. Sau khi công tác phiên dịch kết
thúc, ngài An Thế Cao đến Giang
(Sớ) Vô Lượng
Tràng giả.
(疏)無量幢者。
(Sớ: Vô Lượng Tràng - Amitadhvaja).
Tràng (幢) là cao, rơ rệt, h́nh dung người có địa vị
hiển hách, cao vời trong xă hội, là bậc đại
quư.
(Sớ)
Công đức cao hiển, dụ chi như tràng. Cực kỳ
cao hiển, danh vô lượng dă. Hựu vô lượng giả,
quảng đa nghĩa.
(疏)功德高顯,喻之如幢。極其高顯,名無量也。又無量者,廣多義。
(Sớ:
Công đức cao vời, rơ rệt, ví như tràng. Cao vời,
rơ rệt tột bậc, gọi là vô lượng. Vô lượng
lại có nghĩa là rộng nhiều).
“Tràng” (幢) là tỷ dụ. Ở Đài Loan ít thấy tràng, tại
Đại Lục hoặc Nhật Bản th́ thường
thấy. Tràng và Phan (旛) thuộc cùng một
loại, đều treo trên cột cờ, thuộc loại
cờ xí. Phan dẹp, tràng h́nh tṛn, giống như ống
thoát gió ở phi trường. Vào thời cổ, Phật
môn là sư đạo. Sư đạo th́ chẳng chiêu
sinh. Sư đạo có tôn nghiêm của sư đạo: “Chỉ nghe tṛ t́m đến thầy
xin học, chưa nghe nói thầy phải t́m tṛ đến
nghe thầy dạy”, chẳng thể triệu tập mọi
người tới. Nhưng chúng ta có hoạt động ở
đây cũng chẳng thể không thông báo cho mọi người
biết. Thông báo cho quư vị biết, quư vị thích th́
đến. Chẳng thích, quư vị có thể không đến,
chẳng có mảy may miễn cưỡng nào! Phương
pháp thông báo là trước cửa chùa miếu đều có
cột cờ; cột cờ để treo phan hoặc
tràng. Nếu ở chỗ chúng ta có pháp hội bèn treo phan.
Người ta thấy phan, [biết là] hôm nay đạo
tràng ấy có pháp hội, người thích tham gia pháp hội
bèn đến. Nếu giảng kinh th́ dùng tràng, h́nh tṛn, treo
trên cột cờ, [nhằm thông báo] hôm nay đạo tràng
này có giảng kinh, ai thích nghe kinh th́ đến. Đấy
là nhằm báo với đại chúng đạo tràng chúng tôi
hôm nay có hoạt động ǵ. Hiện thời, không cần
đến những thứ ấy. Hiện thời, thông tin
rất thuận tiện, có thể gởi thông cáo, hoặc
đăng quảng cáo trên báo, thay thế tác dụng của
tràng và phan xưa kia. Tràng treo ở cột cờ bèn treo rất
cao, gọi là “pháp tràng cao thụ”
(dựng cao pháp tràng), biểu thị pháp hội giảng
kinh.
(Sao)
Tràng giả, phan thuộc, hựu vân kỳ thuộc.
(鈔)幢者,旛屬,又云旗屬。
(Sao: Tràng thuộc loại
phan, lại là một loại cờ).
Thuộc
loại cờ xí[9].
(Sao)
San Định Kư, tràng hữu thất nghĩa, ước
chi thành ngũ.
(鈔)刊定記,幢有七義,約之成五。
(Sao: Theo San Định
Kư[10], tràng có bảy
nghĩa, nói giản ước th́ thành năm nghĩa).
“Ước” (約) là quy nạp, quy nạp bảy
ư nghĩa lại th́ tối thiểu là có năm ư nghĩa.
(Sao)
Nhất, cao hiển nghĩa, dụ Phật vị cực
tôn cố. Nhị, kiến lập nghĩa, dụ Phật
bi trí, kiến lập chúng sanh, cập Bồ Đề cố.
(Diễn)
Kiến lập nghĩa giả, thượng dĩ đại
trí kiến lập Bồ Đề, hạ dĩ đại
bi kiến lập chúng sanh cố.
(鈔)一、高顯義,喻佛位極尊故。二、建立義,喻佛悲智,建立眾生,及菩提故。
(演)建立義者。上以大智建立菩提。下以大悲建立眾生故。
(Sao: Một là
nghĩa cao hiển, ví như địa vị Phật tôn
quư tột cùng. Hai là nghĩa kiến lập, ví như bi và
trí của Phật kiến lập chúng sanh và Bồ Đề.
Diễn: “Nghĩa kiến lập”: Trên là dùng đại trí tạo
dựng Bồ Đề, dưới là dùng đại bi
để dựng yên chúng sanh).
Chúng
ta thường nói “kiến pháp
tràng”. Kiến pháp tràng có nghĩa là kiến lập đạo
tràng. “Kiến pháp tràng” [thuở
trước] và “kiến lập
đạo tràng” trong hiện thời có ư nghĩa khác
nhau. Người hiện thời xây dựng một ngôi
chùa, đó có phải là “kiến
lập đạo tràng” hay không? Không nhất định!
Chùa xây dựng hoàn tất, nhưng chẳng có đạo trong
ấy, chẳng thể gọi là đạo tràng. Trong ấy
phải có đạo th́ mới được. “Kiến pháp
tràng” th́ trong ấy nhất
định là có đạo. Lập tông chỉ, xác định
phương pháp và mục tiêu tu học, dùng phương
pháp ấy để đạt tới mục tiêu tu học
th́ cần phải thành lập tông chỉ. Giống như
trong Tịnh Tông, chúng ta theo pháp môn Niệm Phật, “tín nguyện tŕ danh” là
phương pháp tu hành, “văng sanh
bất thoái thành Phật” là mục tiêu tu hành. Đó là
tông chỉ của Tịnh Tông. Đấy là ư nghĩa “kiến lập”.
(Sao)
Tam, quy hướng nghĩa, dụ Phật vị chúng sanh sở
tông ngưỡng cố.
(鈔)三、歸向義,喻佛為眾生所宗仰故。
(Sao:
Ba là ư nghĩa quy hướng, ví như Phật được
chúng sanh kính trọng, ngưỡng mộ).
Có ư
nghĩa quy y trong ấy.
(Sao)
Tứ, tồi điễn nghĩa, hàng phục nhất thiết
chư ma quân cố.
(鈔)四、摧殄義,降伏一切諸魔軍故。
(Sao:
Bốn là ư nghĩa đập tan, trừ sạch, hàng phục
hết thảy các ma quân).
V́ Phật
pháp có thể giúp chúng ta phân biệt tà , chánh, hiểu rơ đúng, sai, cho nên có ư nghĩa
hàng phục tà tri tà kiến trong ấy.
(Sao)
Ngũ, diệt bố nghĩa.
(鈔)五、滅怖義。
(Sao:
Năm là ư nghĩa diệt trừ sự sợ hăi).
“Bố” (怖) là kinh sợ. Nếu chúng ta
có thể ĺa khỏi hết thảy ưu lự, bất
an, hoảng sợ, đó là được Phật pháp hộ
niệm.
(Sao)
Như Đế Thích cáo chư thiên chúng, nhữ dữ Tu La
chiến thời, thiết hữu khủng bố,
đương niệm ngă thất bảo tràng, kỳ bố
tức diệt.
(鈔)如帝釋告諸天眾,汝與修羅戰時,設有恐怖,當念我七寶幢,其怖即滅。
(Sao: Như Đế
Thích bảo chư thiên: “Khi các ông cùng A Tu La giao chiến, nếu
sợ hăi, hăy nên nghĩ tới tràng bảy báu của ta, nỗi
sợ hăi ấy sẽ diệt”).
Đây
là tỷ dụ, [ư nói] chúng sanh niệm Phật có thể rời
khỏi hết thảy các thứ kinh sợ.
(Sao)
Dụ Phật đắc vô sở úy, chúng sanh niệm Phật,
tức ly khủng bố cố. Kim duy thủ cao hiển nhất
nghĩa, nhiếp dư nghĩa dă.
(鈔)喻佛得無所畏,眾生念佛,即離恐怖故。今唯取高顯一義,攝餘義也。
(Sao: Ví như Phật
đắc vô sở úy (không sợ hăi điều ǵ), chúng sanh
niệm Phật bèn ĺa sợ hăi. Nay chỉ dùng một
nghĩa là cao hiển để bao gồm những nghĩa
khác).
Đối
với năm ư nghĩa ấy, nói một ư nghĩa, những
ư nghĩa khác cũng đều được bao gồm
trong ấy.
(Sao)
Quảng đa giả, kỳ tràng đa nhi vô lượng.
Như kinh ngôn, tràng phan, bảo cái, biến măn hư không, Phật
thụ vô lượng diệu nghĩa, chỉ thị chúng
sanh, diệc phục như thị.
(鈔)廣多者,其幢多而無量。如經言,幢旛寶蓋,遍滿虛空,佛豎無量妙義,指示眾生,亦復如是。
(Sao: “Rộng nhiều”:
Tràng ấy nhiều vô lượng. Như kinh nói: “Tràng phan,
lọng báu đầy khắp hư không”. Đức Phật
kiến lập vô lượng nghĩa mầu nhiệm
để chỉ dạy chúng sanh cũng giống như thế).
Hai câu kinh này
cũng bảo cho chúng ta biết đôi chút về trạng
huống chân thật trong Tây Phương Cực Lạc thế
giới. Tràng là tiêu chí (biểu tượng, logo) của việc
giảng kinh, thuyết pháp. Ví như chúng tôi giảng kinh Vô
Lượng Thọ, trên cái tràng ấy nhất định
đề “Nam-mô Vô Lượng
Thọ Kinh”. Giảng kinh Hoa Nghiêm, trên tràng nhất định
viết là “Nam-mô Đại
Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh”. Tràng phan, lọng
báu vô lượng vô biên nhằm bảo chúng ta: Trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới, hết thảy
các kinh pháp đều đang được tuyên giảng. Nói
cách khác, nếu chúng ta hết sức hâm mộ kinh giáo, thảy
đều mong học hết, những thứ [tràng phan, lọng
báu] ấy đă nói rất rơ rệt: Trong Tây Phương Cực
Lạc thế giới, bất luận quư vị tu học
pháp môn nào, ở bên ấy thảy đều trọn đủ,
có thầy tốt nhất, bạn học tốt nhất,
hoàn cảnh tu học tốt đẹp nhất. V́ sao chẳng
đến nơi đó để tu học? Hai câu ấy bao
hàm ư nghĩa rất sâu, bảo cho chúng ta biết t́nh huống
giảng kinh, thuyết pháp sôi nổi, phong phú trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới. Nói thật ra,
các thế giới phương khác chẳng thể sánh bằng.
Lại xem vị Phật kế tiếp:
(Sớ)
Đại Quang giả, quang huy quảng bị cố.
(疏)大光者,光輝廣被故。
(Sớ:
Đại Quang (Mahāprabhā) là chiếu sáng rực rỡ
rộng khắp).
Danh
hiệu này biểu thị đại trí.
(Sao)
Quang chỉ hóa tha chi dụng, chư thiên nhân diệc hữu
thân quang, bất giả nhật nguyệt.
(鈔)光指化他之用,諸天人亦有身光,不假日月。
(Sao: Quang là nói đến
tác dụng hóa độ người khác. Thân các vị trời
cũng có quang minh, chẳng cần nhờ đến mặt
trời, mặt trăng [soi sáng]).
Hiện
thời, quang minh trong thế gian này xuất phát từ mặt
trời. Mặt trăng phản chiếu ánh sáng, chứ bản
thân mặt trăng chẳng tỏa sáng. Bản thân chư
thiên có quang minh; phước báo của họ to lớn, vật
chất [trong cơi trời] cũng tỏa ánh sáng.
(Sao)
Nhị Thừa tiểu quả, nhân địa Bồ Tát,
giai hữu quang minh, tỷ Phật vi tiểu.
(鈔)二乘小果,因地菩薩,皆有光明,比佛為小。
(Sao: Hàng Nhị Thừa
tiểu quả, các Bồ Tát c̣n đang tu nhân đều có
quang minh, nhỏ hơn quang minh của Phật).
A La
Hán có quang minh, thân của Bích Chi Phật và các vị Bồ
Tát đều có quang minh. Có [hai loại quang minh là] thường
quang và phóng quang, nhưng đều thua kém Phật.
(Sao)
Phật quang ánh tế nhất thiết, cố vân đại
dă.
(Diễn)
Phật quang ánh tế nhất thiết giả, thiên nhân chi
quang đản tế nhật nguyệt. Thanh Văn chi quang
kiêm tế thiên nhân, Chi Phật chi quang kiêm tế Thanh
Văn, Bồ Tát chi quang kiêm tế Chi Phật, duy Phật
quang minh, ánh tế nhất thiết chi đại quang dă.
(鈔)佛光映蔽一切,故云大也。
(演)佛光映蔽一切者。天人之光但蔽日月。聲聞之光兼蔽天人。支佛之光兼蔽聲聞。菩薩之光兼蔽支佛。唯佛光明。映蔽一切之大光也。
(Sao:
Quang minh của Phật chiếu rực, che lấp hết thảy
[các ánh sáng khác], nên nói là “đại”.
Diễn: “Phật quang che lấp hết thảy”: Quang minh của
chư thiên chỉ che lấp mặt trời, mặt
trăng. Quang minh của Thanh Văn [ngoài che lấp mặt
trời mặt trăng] c̣n kèm thêm che lấp quang minh của
chư thiên. Quang minh của Bích Chi Phật c̣n kèm thêm che lấp
quang minh của Thanh Văn. Quang minh của Bồ Tát c̣n kèm
thêm che lấp quang minh của Bích Chi Phật, chỉ có quang
minh của Phật là to lớn che lấp hết thảy).
Được
gọi là Đại Quang Phật.
(Sớ)
Đại Minh giả, vị Phật dĩ đại trí,
phá chư Hoặc tận cố.
(疏)大明者,謂佛以大智,破諸惑盡故。
(Sớ:
Đại Minh (Mahānirbhāsa), ư nói Phật dùng trí huệ
phá sạch các Hoặc).
Biểu
thị tác dụng của trí huệ.
(Sao)
Phá chư Hoặc tận giả.
(鈔)破諸惑盡者。
(Sao: Phá hết sạch
các Hoặc).
Phá
hết sạch. Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, chưa đoạn
hết sạch Hoặc, vẫn c̣n thừa sót, chỉ có nơi
quả địa Như Lai là hoàn toàn đoạn sạch.
(Sao)
Nhất Thiết Trí, phá Kiến Tư Hoặc tận; Đạo
Chủng Trí, phá Trần Sa Hoặc tận; Nhất Thiết
Chủng Trí, phá Vô Minh Hoặc tận.
(Diễn)
Kiến Tư Hoặc giả, kiến giả, nhược
vân kiến Lư thời, năng đoạn thử Hoặc, tức
tùng giải đắc danh. Nhược vân kiến chỉ
thị Giả, Giả giả bất thật vi nghĩa, tức
đương thể thọ xưng. Tư Hoặc nhập
tu đạo vị, trọng lự duyên chân, thử Hoặc
tức trừ, danh Tư Duy Hoặc. Thử tùng giải
đắc danh. Nhược vân tư giả cập ái hoặc
giả, thử đương thể thọ xưng. Nhiên
Kiến Hoặc tùng Pháp Trần khởi, năng chướng
chân lư. Tư Hoặc tùng ngũ trần khởi, năng
khiên tam giới. Thử giai ước Dục Giới
đa phần thuyết, tế luận bất câu. Trần
Sa Hoặc giả, vị chúng sanh Kiến Tư số
đa như trần sa, năi tha nhân phận thượng chi
Hoặc. Bồ Tát chi hạnh, chuyên vị hóa tha. Nhược
linh chúng sanh năng đoạn Kiến Tư chi hoặc,
ư Bồ Tát tức thị đoạn Trần Sa Hoặc,
diệc danh Biệt Hoặc giả, biệt tại Bồ
Tát sở đoạn cố dă. Vô Minh Hoặc giả, vị
ư nhất thiết pháp vô sở minh liễu, cố viết
vô minh. Thử Hoặc năi nghiệp thức chủng tử,
phiền năo căn bản. Thanh Văn, Duyên Giác bất tri kỳ
danh. Biệt tại Đại Thừa Bồ Tát, Định
Huệ song tu, vạn hạnh cụ túc, phương đoạn
thử Hoặc. Cố diệc danh Biệt Hoặc dă. Nội
pháp, nội danh, ngoại pháp, ngoại danh, năng tri,
năng giải, danh Nhất Thiết Trí. Năng tri nhất
thiết đạo chủng sai biệt, phân biệt vô mậu,
danh Đạo Chủng Trí. Phật trí trung tất song chiếu,
tam trí cụ túc, danh Nhất Thiết Chủng Trí. Thử
tam trí thị quả, Tam Quán thị nhân, thỉ chung tâm yếu
vân. Không Quán giả, phá Kiến Tư Hoặc, chứng Nhất
Thiết Trí, thành Bát Nhă đức. Giả Quán giả, phá Trần
Sa Hoặc, chứng Đạo Chủng Trí, thành Giải Thoát
đức. Trung Quán giả, phá Vô Minh Hoặc, chứng Nhất
Thiết Chủng Trí, thành Pháp Thân đức. Nhiên phi trí bất
đoạn, phi đoạn bất trí. Tâm yếu tiên ngôn phá
Hoặc, hậu ngôn chứng trí. Thị phi đoạn bất
thành trí dă. Kim Sao tiên ngôn trí chứng, hậu ngôn phá Hoặc
giả, thị phi trí bất năng đoạn dă.
(鈔)一切智,破見思惑盡;道種智,破塵沙惑盡;一切種智,破無明惑盡。
(演)見思惑者。見者。若云見理時。能斷此惑。即從解得名。若云見祇是假。假者不實為義。即當體受稱。思惑入修道位。重慮緣真。此惑即除。名思惟惑。此從解得名。若云思假及愛惑者。此當體受稱。然見惑從法塵起。能障真理。思惑從五塵起。能牽三界。此皆約欲界多分說。細論不拘。塵沙惑者。謂眾生見思數多如塵沙。乃他人分上之惑。菩薩之行。專為化他。若令眾生能斷見思之惑。於菩薩即是斷塵沙惑。亦名別惑者。別在菩薩所斷故也。無明惑者。謂於一切法無所明了。故曰無明。此惑乃業識種子。煩惱根本。聲聞緣覺不知其名。別在大乘菩薩。定慧雙修。萬行具足。方斷此惑。故亦名別惑也。內法內名。外法外名。能知能解。名一切智。能知一切道種差別。分別無謬。名道種智。佛智中必雙照。三智具足。名一切種智。此三智是果。三觀是因。始終心要云。空觀者。破見思惑。證一切智。成般若德。假觀者。破塵沙惑。證道種智。成解脫德。中觀者。破無明惑。證一切種智。成法身德。然非智不斷。非斷不智。心要先言破惑。後言證智。是非斷不成智也。今鈔先言智證。後言破惑者。是非智不能斷也。
(Sao:
Nhất Thiết Trí phá hết Kiến Tư Hoặc, Đạo
Chủng Trí phá hết Trần Sa Hoặc, Nhất Thiết
Chủng Trí phá hết Vô Minh Hoặc.
Diễn: “Kiến Tư Hoặc”: Nếu nói theo lúc thấy Lư,
Kiến sẽ có thể đoạn Hoặc này, tức [danh
xưng Kiến Hoặc] là từ Giải mà gọi tên. Nếu
nói Kiến chỉ là giả, giả có nghĩa là chẳng
thật, tức là [phiền năo này] được gọi
tên theo Thể. Đối với Tư Hoặc, th́ dự
vào địa vị Tu Đạo, những mối ưu lự
nặng nề đều duyên theo lẽ chân, phiền năo
này bèn trừ. Gọi nó là Tư Duy Hoặc chính là gọi
tên theo Giải. Nếu nói Tư là giả và Ái Hoặc th́
phiền năo này được gọi tên theo Thể, nhưng
Kiến Hoặc do Pháp Trần sanh khởi, có thể chướng
ngại chân lư. Tư Hoặc do Ngũ Trần sanh khởi,
có thể lôi kéo [chúng sanh] vào tam giới. Những điều
này phần lớn là nói theo Dục Giới. Nếu luận
định tỉ mỉ, sẽ chẳng hạn định
trong một cơi nào [của tam giới]. Trần Sa Hoặc có
nghĩa là Kiến Hoặc và Tư Hoặc của chúng sanh
số lượng nhiều như cát bụi, thuộc về
phiền hoặc của người khác. Hạnh Bồ Tát
chuyên v́ hóa độ người khác. Nếu có thể khiến
cho chúng sanh đoạn trừ Kiến Tư Hoặc th́
đó chính là Bồ Tát đoạn Trần Sa Hoặc. [Phiền
năo này] c̣n gọi là Biệt Hoặc v́ nó [là phiền năo] dành
riêng cho Bồ Tát phải đoạn. Vô Minh Hoặc có
nghĩa là do chẳng hiểu rơ hết thảy các pháp, nên gọi
là Vô Minh. Phiền năo này chính là chủng tử của nghiệp
thức, là căn bản phiền năo. Thanh Văn, Duyên Giác
chẳng biết đến danh xưng của phiền năo
này. Chỉ riêng Đại Thừa Bồ Tát cùng tu Định
và Huệ, vạn hạnh trọn đủ, mới đoạn
Hoặc này, nên nó cũng được gọi là Biệt
Hoặc. Đối với nội pháp, nội danh, ngoại
pháp, ngoại danh đều có thể biết, có thể hiểu,
th́ gọi là Nhất Thiết Trí. Có thể biết hết
thảy các đạo chủng sai biệt, phân biệt chẳng
sai lầm th́ gọi là Đạo Chủng Trí. Trong Phật
trí, ắt song chiếu, ba trí cùng trọn đủ, bèn gọi
là Nhất Thiết Chủng Trí. Ba trí ấy chính là quả,
ba phép Quán là nhân. Sách Thỉ Chung Tâm Yếu nói: “Không Quán phá
Kiến Tư Hoặc, chứng Nhất Thiết Trí, thành
Bát Nhă đức. Giả Quán phá Trần Sa Hoặc, chứng
Đạo Chủng Trí, thành Giải Thoát đức. Trung
Quán phá Vô Minh Hoặc, chứng Nhất Thiết Chủng
Trí, thành Pháp Thân đức”. Nhưng chẳng có trí, sẽ
chẳng thể đoạn; chẳng có đoạn, bèn chẳng
có trí. Sách Tâm Yếu trước là nói đến chuyện
phá Hoặc, sau là nói đến chuyện “chứng trí”;
đó là [nói theo khía cạnh] “chẳng đoạn sẽ
không thể thành trí”. Nay lời Sao trước hết là nói
đến chuyện chứng đắc trí, rồi mới
nói đến chuyện phá Hoặc, là nói theo phương diện
“chẳng có trí, sẽ không thể đoạn”).
Đều
là nói về sự phá trừ hết sạch [các Hoặc]. Từ
kinh Tiểu Thừa, chúng ta thấy Tứ Quả La Hán
đoạn sạch Kiến Tư phiền năo, chứng Nhất
Thiết Trí. Có phải là thật sự đoạn hết
hay không? Kinh Đại Thừa cho biết [hàng Tiểu Thừa]
đoạn hết các Hoặc trong tam giới, nhưng chẳng
đoạn được tế hoặc (細惑: những phiền
năo vi tế) ở ngoài tam giới. Hoặc thuộc tam giới
là thô, Hoặc ở ngoài tam giới là tế, vẫn phải
là cho đến khi thành Phật mới đoạn trừ
hết được. Dưới đây là một tỷ
dụ:
(Sao)
Cảo nhật đương không, vô sở bất chiếu,
vân Đại Minh dă.
(鈔)杲日當空,無所不照,云大明也。
(Sao: Vầng mặt
trời rạng rỡ giữa không trung, không đâu chẳng
chiếu đến bèn gọi là Đại Minh).
Giống
như vầng mặt trời. Mặt trời hoàn toàn chẳng
bị mây che lấp, ánh nắng mặt trời tỏa rạng
hoàn toàn, soi khắp đại địa. Dùng chuyện này
để tỷ dụ Phật. Bồ Tát và La Hán tuy đoạn
Hoặc, chẳng đoạn hết, hăy c̣n một tầng
mây mỏng che khuất. Quang minh tuy rất rơ rệt, chẳng
phải là viên măn, hăy c̣n có một tầng mây mỏng, nên chẳng
gọi là Đại Minh. Phải là ngay cả vi tế Hoặc
thảy đều đoạn sạch th́ mới gọi là
quang minh viên măn, gọi là Đại Minh.
(Sao)
Tuy tiền tự giác tha, thử tự tự giác.
(鈔)雖前似覺他,此似自覺。
(Sao:
Tuy vị Phật trước dường như là giác tha,
vị Phật này dường như là tự giác).
Đại
Quang dường như là Giác Tha, Đại Minh dường
như là Tự Giác.
(Sao)
Các cử nhất đức, nghĩa thật hỗ cụ,
như thượng tổng thuyết trung biện.
(鈔)各舉一德,義實互具,如上總說中辯。
(Sao: Tuy là đối
với mỗi vị Phật chỉ nêu một đức,
nhưng vị nào cũng thật sự trọn vẹn các
nghĩa ấy như đă biện định trong phần
Tổng Thuyết thuộc phần trước).
Hai
thứ ư nghĩa ấy (tự giác và giác tha) đều có,
Đại Quang có ư nghĩa tự giác, giác tha. Đại
Minh cũng là ư nghĩa tự giác, giác tha, chớ nên
khăng khăng chấp trước. Chúng ta nói theo sự
biểu thị pháp: Đại Quang biểu thị đại
trí, Đại Minh biểu thị đại trí khởi dụng
(phát sanh tác dụng). Ư nghĩa này tương đối dễ
hiểu.
(Sớ)
Bảo Tướng giả, tướng hảo thù đặc,
như bảo tôn quư cố.
(疏)寶相者,相好殊特,如寶尊貴故。
(Sớ:
Bảo Tướng là tướng hảo thù thắng đặc
biệt, như chất báu tôn quư vậy).
Bảo Tướng
(Ratnalakṣaṇā) biểu
thị
sự tôn thắng, tôn quư thù thắng.
(Sao)
Tướng hảo như bảo giả, Phật hữu
vô lượng tướng, cô cử nhất nhị. Mục
tướng, như kinh ngôn: “Bát vạn tứ thiên thanh tịnh
bảo mục”. Hào tướng như kinh ngôn “lưu ly
đồng”. Hung tướng như kinh ngôn “tử ma kim”.
Nhục kế tướng, như kinh ngôn Chân Thúc Ca, giai sở
vị bảo tướng dă.
(鈔)相好如寶者,佛有無量相,姑舉一二。目相,如經言:八萬四千清淨寶目;毫相,如經言:琉璃筒;胸相,如經言:紫磨金;肉髻相,如經言:甄叔迦。皆所謂寶相也。
(Sao: “Tướng hảo
như chất báu”: Phật có vô lượng tướng, chỉ
nêu một hai tướng. Tướng mắt là như kinh
nói: “Tám vạn bốn ngàn mắt báu thanh tịnh”. Tướng
bạch hào là như kinh nói “ống lưu ly”. Tướng
ngực là như kinh nói “vàng tía được giồi mài”,
tướng nhục kế là như kinh nói “Chân Thúc Ca”, những
tướng ấy đều được gọi là “bảo
tướng”).
“Mục” (目) là mắt, “hào” (毫) là bạch hào. Các tỷ dụ đều dùng bảy
báu để h́nh dung. Tám vạn bốn ngàn mắt báu thanh tịnh
được nói trong kinh Lăng Nghiêm.
(Diễn)
Lăng Nghiêm vân: Do ngă hoạch đắc diệu diệu
văn tâm, cố ngă năng hiện chúng đa diệu dung,
năi chí nhị mục, tam mục, tứ mục, cửu mục,
bát vạn tứ thiên thanh tịnh bảo mục, hoặc từ,
hoặc oai, hoặc Định, hoặc Huệ, cứu hộ
chúng sanh đắc đại tự tại. Hào tướng
như lưu ly đồng giả, Như Lai hiện tướng,
sơ sanh thời khiên trường ngũ xích, khổ hạnh
thời trường nhất trượng tứ xích
ngũ thốn. Thành đạo thời trường nhất
trượng ngũ xích, trung không, ngoại minh, như
lưu ly đồng.
(演)楞嚴云:由我獲得妙妙聞心,故我能現眾多妙容,乃至二目三目、四目九目,八萬四千清淨寶目,或慈或威,或定或慧,救護眾生得大自在。毫相如琉璃筒者。如來現相。初生時牽長五尺。苦行時長一丈四尺五寸。成道時長一丈五尺。中空外明。如琉璃筒。
(Diễn: Kinh Lăng
Nghiêm nói: “Do ta đạt được cái tâm diệu diệu
văn[11],
nên ta có thể hiện các thứ dung mạo nhiệm mầu,
cho đến hai mắt, ba mắt, bốn mắt, chín mắt,
tám vạn bốn ngàn mắt báu thanh tịnh, hoặc từ
bi, hoặc oai mănh, hoặc Định, hoặc Huệ, cứu
giúp, bảo vệ chúng sanh đắc đại tự tại”.
“Tướng bạch hào như ống lưu ly”: Như Lai
hiện tướng, lúc mới sanh, bạch hào kéo ra dài
năm thước. Khi khổ hạnh dài một trượng
bốn thước năm tấc. Khi thành đạo dài một
trượng năm thước. Ở giữa rỗng, bên
ngoài sáng ngời, như ống lưu ly vậy).
Đây
là kinh văn trong phần Quán Thế Âm Bồ Tát Nhĩ
Căn Viên Thông Chương trong kinh Lăng Nghiêm, do chính Quán
Thế Âm Bồ Tát nói. Trong kinh Lăng Nghiêm, Quán Thế Âm Bồ
Tát thuộc địa vị Sơ Trụ trong Viên Giáo.
Trong kinh Hoa Nghiêm, Quán Thế Âm Bồ Tát là Bồ Tát thuộc
địa vị Đệ Thất Hồi Hướng.
Trong kinh Pháp Hoa, Quán Âm Bồ Tát là Đẳng Giác Bồ Tát.
Theo kinh Lăng Nghiêm, bậc Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên
Giáo c̣n có năng lực to tát như thế, đáng nên dùng
thân ǵ để thuyết pháp bèn có thể hiện thân ấy.
“Nên dùng thân Phật để
độ bèn hiện thân Phật để thuyết pháp”.
Đấy chính là bậc Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo
có thể dùng thân phận ba mươi hai tướng, tám
mươi thứ hảo để v́ chúng sanh thuyết
pháp. Trong bộ Kim Cang Kinh Giảng Nghĩa, cư sĩ Giang
Vị Nông đă chú giải “chư
Phật” trong kinh Kim Cang là từ Sơ Trụ Bồ Tát
trong Viên Giáo cho đến Phật quả rốt ráo, đều
gọi là “chư Phật”, v́
Viên Giáo Sơ Trụ có thể thị hiện tám tướng
thành đạo. Chữ “chư
Phật” chỉ bốn mươi mốt địa vị
Pháp Thân đại sĩ. Thiền Tông thường nói “minh tâm kiến tánh, kiến tánh
thành Phật”. Bậc Sơ Trụ trong Viên Giáo đă kiến
tánh, kiến tánh là thành Phật, có ư nghĩa này. Vị Phật
cuối cùng…
(Sớ)
Tịnh Quang giả.
(疏)淨光者。
(Sớ: Tịnh
Quang (Śuddharaśmi-prabhā)…)
Sáu
vị trước đều biểu thị tu phước.
Trong tu phước, Vô Lượng Thọ Phật biểu
thị trường thọ, Vô Lượng Tướng Phật
biểu thị phú quư, Vô Lượng Tràng Phật biểu
thị địa vị cao vời, hiển hách, Đại
Quang Phật biểu thị đầy đủ đại
trí huệ. Đại Minh Phật biểu thị xử sự,
đăi người, tiếp vật đều tuân theo lư tánh,
chẳng phải là cảm t́nh. “Lư
tánh” là trí huệ, tức là lư trí nắm quyền, chẳng
có tâm riêng tư. Bảo Tướng Phật biểu thị
ḷng tôn trọng, sùng kính, ngưỡng mộ của chúng
sanh đối với Ngài, đều là biểu thị
phước đức. Vị Phật cuối cùng dạy
chúng ta phương pháp tu phước, phải tu đại
phước đức như thế nào? Phải tịnh,
phải quang. Tâm phải thanh tịnh, tâm địa quang
minh; thanh tịnh quang minh, quư vị bèn có thể tu đại
phước báo. Tu phước báo hết sức khó khăn!
Sáng
nay có người đến phỏng vấn tôi, người
ấy muốn làm máy niệm Phật, muốn dùng băng
thâu tiếng niệm Phật của Đồ Thư Quán
chúng ta, dùng làm băng gốc để làm máy niệm Phật.
Đó là chuyện tốt đẹp. Người ấy kể:
Trong quá khứ đă từng làm những tấm cạc
(card) nhỏ in h́nh Phật, thần chú Lăng Nghiêm, hoặc
làm tượng Quán Thế Âm Bồ Tát, làm những thứ
nho nhỏ có thể đeo trên thân. Người ấy làm rất
nhiều. Sau đấy mới nói đến chuyện bản
quyền, v́ bọn họ tốn nhiều công sức thiết
kế, cũng mong trong tương lai chính ḿnh có bản quyền,
chẳng cho phép kẻ khác làm nhái theo. Tôi bảo người
ấy: “Ông làm kiểu đó, phước báo rất nhỏ.
Ông chỉ có thể kiếm lợi một chút”. Tôi nhắc nhở người ấy,
nói: Ông hăy đọc kỹ Liễu Phàm Tứ Huấn.
Chúng sanh trong lục đạo, kể cả Phi Tưởng
Phi Phi Tưởng Thiên, phước báo là nhất định.
“Một hớp uống, một
miếng ăn, không ǵ chẳng được định
sẵn”. Ông vắt óc suy nghĩ, rất thông minh, rất
có phương pháp, kiếm tiền khá lắm. Thật ra [tiền
ấy] đă được định sẵn trong mạng.
Trong mạng chẳng có th́ một đồng ông cũng chẳng
kiếm được! Oan uổng quá! Hằng ngày luôn tính toán,
tính đến nỗi hết sạch một chút phước
báo tu được trong đời trước. Phước
báo do đâu mà có? Đức Phật đă dạy chúng ta rất
rơ ràng, Phật chẳng gạt người! Của cải
là do tài bố thí mà có. Tiền bạc, vật chất trong
một đời này là do đời quá khứ tu tài bố
thí, đời này được quả báo. Trong đời
quá khứ chẳng tu tài bố thí, đời này quư vị
sẽ bị bần tiện, khổ sở, chẳng có cách
nào hết, chẳng tránh được! Bản lănh lớn,
trí huệ cao, vô dụng! Quư vị bần cùng th́ vẫn phải
bần cùng. Trước kia, thầy tôi là tiên sinh Phương
Đông Mỹ thật sự có trí huệ. Trong thời gian
chiến tranh tại Đại Hàn, thầy rất tự
hào bảo tôi: “Một ḿnh tôi tối
thiểu có thể chống lại binh lực của mười
sư đoàn”. Thầy có đầu óc, có trí huệ! Nhưng
như thế nào? Vẫn là một vị giáo viên nghèo túng, sống
qua ngày bằng tiền lương, chẳng đủ tiền
mua sách! Đấy là v́ đời trước thầy tu huệ,
chẳng tu phước. Thầy rất thông minh, chẳng
có phước báo, cuộc sống rất kham khổ. V́ thế,
muốn có của cải, hăy tu tài bố thí. Muốn thông
minh, trí huệ, hăy tu pháp bố thí. Muốn khỏe mạnh,
sống lâu, hăy tu vô úy bố thí. Đức Phật dạy chúng
ta, ba thứ phước báo do như vậy mà có!
Quư
vị làm ra những thứ ấy đúng là có công đức,
giúp cho bao nhiêu người niệm Phật được
lợi ích, nhưng sở hữu bản quyền th́ công
đức mất sạch, toàn bộ đều bị gột
sạch, biến thành phước báo nhỏ tí t́ ti! Chút
phước báo ấy chẳng phải là do đời này,
mà là do đời trước tu thành, đời sau có
phước báo hay không? Đời sau chẳng có phước
báo! Không chỉ là chẳng có phước báo, nay tôi nói lời
thật, quư vị nghe xong sẽ sợ hăi. Chuyện là
như thế nào? Quư vị c̣n mắc tội lỗi, tội
lỗi ǵ vậy? Buôn bán Như Lai! Những thứ thuộc
về Phật pháp th́ phải để lợi ích trọn khắp
hết thảy chúng sanh, quư vị cướp đoạt lấy,
chiếm giữ để làm của riêng ḿnh, đem ra mua
bán, quả báo là ở trong địa ngục A Tỳ, quư vị
nói xem có đáng thương lắm không? Tôi nói lời này chẳng
phải là hù dọa quư vị, tôi nói lời chân thật. Trong
tương lai, quư vị đọa vào địa ngục,
tới khi ấy bèn trách móc: “Thuở đó, tôi gặp pháp
sư Tịnh Không, ông ta chẳng nói với tôi, hại tôi
khổ sở ngần ấy!” Tôi đă bảo quư vị,
tôi nói lời thật cùng quư vị. Quyết định chớ
nên “giữ bản quyền sở
hữu, tái bản sẽ bị truy cứu trách nhiệm”.
Hai câu ấy là chứng cớ tội trạng để
vua Diêm La phán quư vị đọa địa ngục. Chẳng
có cách nào chống lại chứng cớ gây tội ấy!
V́ thế, hết sức nghiêm trọng. V́ sao chẳng mở
rộng tâm lượng? Làm một đệ tử Phật
thật sự, giúp Phật lưu thông đại pháp, lợi
ích chúng sanh, phước báo sẽ chẳng cùng tận. V́ thế,
người ấy làm [như vậy] chẳng ít năm, mà
tướng mạo cũng chẳng tốt đẹp, khí
sắc cũng chẳng tốt đẹp, thân thể cũng
lắm bệnh tật. Tôi nói: “Ông tu hành có vấn đề,
đă đâm vào lối rẽ. Thật sự tu hành đúng
pháp, hiện tiền sẽ đạt được quả
báo tốt đẹp, tướng mạo nhất định
là mỗi năm một tốt hơn, mỗi năm thân thể
một khỏe mạnh hơn, mặt mũi hồng hào. Phải
nên là như vậy th́ mới là đúng, [v́] ông đă làm nhiều
chuyện tốt đẹp dường ấy mà! Có thể
thấy là những ǵ ông đă làm chẳng phải là chuyện
tốt đẹp, phải biết điều này! V́ thế,
tâm địa phải thanh tịnh, phải quang minh,
cũng là phải có lư trí, phải có trí huệ và lư tánh th́
quư vị mới có thể thật sự tu được
phước báo!
Ông
ta nh́n đạo tràng của chúng ta, nói đạo tràng của
chúng ta chẳng đáng kể. Tôi nói: “Chúng tôi kiến lập
đạo tràng từ năm Dân Quốc 68 (1979), không ngừng
phát triển mở rộng, phát triển cho tới t́nh trạng
như hiện thời. So với các đạo tràng khác, chúng
tôi thua kém xa [về quy mô vật chất nguy nga, tráng lệ].
Đạo tràng của chúng tôi chẳng chèo kéo tín đồ,
không ép người khác quyên tiền. Chúng tôi bảo vệ một
nguyên tắc: ‘Đạo tràng nhỏ, chi tiêu ít, an tâm thoải
mái!’ Chúng tôi đi theo con đường chánh đáng. Có
dư sức th́ thay mọi người tu phước,
chúng tôi in kinh bố thí, làm hết thảy sự nghiệp Phật
giáo, thay mọi người tu phước. Người ta
tặng tiền nhiều bèn làm nhiều, ít tiền bèn làm
ít, chẳng có tiền th́ không làm! Không làm là tốt nhất!
Khi không làm, chúng tôi chẳng có chuyện ǵ để làm, hằng
ngày niệm A Di Đà Phật, rất tốt! Chúng tôi giữ
vững nguyên tắc này, cho nên chẳng mong phát triển
[cơ sở vật chất đồ sộ], an tâm thoải
mái, cuộc sống hết sức hạnh phúc, hết sức
vui sướng, chẳng gánh lấy nhân quả!”
(Sớ)
Phật đức thanh tịnh, phát quang minh cố. Hựu
kỳ quang thanh tịnh, danh Tịnh Quang cố.
(Sao)
Thanh tịnh phát quang giả, hữu nhiễm chi trí bất
phát diệu quang.
(Diễn)
Hữu nhiễm chi trí, bất phát diệu quang giả, ngoại
đạo tà trí, Nhị Thừa thiên trí, giai vô minh vi Thể,
bất phát diệu quang. Phật năi ngũ trụ cứu tận,
tịnh cực quang thông đạt dă.
(疏)佛德清淨,發光明故。又其光清淨,名淨光故。
(鈔)清淨發光者,有染之智,不發妙光。
(演)有染之智。不發妙光者。外道邪智。二乘偏智。皆無明為體。不發妙光。佛乃五住究盡。淨極光通達也。
(Sớ: Phật đức
thanh tịnh, nên phát ra quang minh. Quang minh ấy lại thanh tịnh
nên gọi là Tịnh Quang.
Sao:
“Do thanh tịnh nên phát ra quang minh”: Trí bị nhiễm sẽ
chẳng phát ra diệu quang”.
Diễn: “Trí bị nhiễm chẳng phát ra diệu quang”: Trí
tà vạy của ngoại đạo và trí lệch lạc của
Nhị Thừa đều dùng vô minh làm Thể, chẳng
phát ra diệu quang. Phật đă thấu suốt tột
cùng Ngũ Trụ, tịnh đến cùng cực, quang minh
bèn thông đạt).
“Hữu nhiễm chi trí” là ǵ? “Nhiễm” (染) là vọng tưởng, phiền
năo. Nói cách khác, vọng tưởng chẳng phá, phiền
năo chẳng đoạn. Phiền năo là tham, sân, si, mạn,
chẳng đoạn những ư niệm ấy, tâm sẽ chẳng
thanh tịnh. Trí huệ từ tâm sanh ra. Trí huệ sanh từ
cái tâm, trí huệ sanh từ [trong cái tâm] chẳng thanh tịnh
sẽ là tà trí huệ, chẳng phải là chánh trí huệ, chẳng
phải là chân trí huệ. Tà trí huệ cũng có thể gạt
người, cũng có thể khởi tác dụng rất lớn.
Chúng tôi thường nói: “Tin tà,
chẳng tin chánh; nghe lừa, chẳng nghe khuyên”. Tà trí
cũng có thể mê hoặc kẻ khác nhất thời, nhưng
rốt cuộc sẽ bị vạch trần, tới cuối
cùng bị người ta phát hiện là họ đang bị
lừa, bị gạt gẫm, họ sẽ giác ngộ, sẽ
quay đầu, sẽ xa ĺa! V́ thế, hễ là tà tri kiến
th́ sẽ chẳng thể tồn tại lâu dài. Mắc hại
cạn hay sâu, nói thật ra, có liên quan tới sự ngu mê của
kẻ ấy. Bị hại nông cạn bèn giác ngộ, quay
đầu, đấy là kẻ thông minh, có thiện căn.
Chấp mê chẳng ngộ, đó là kẻ mê muội sâu xa,
chẳng có thiện căn, nghiệp chướng sâu nặng.
Do vậy có thể biết, trong giáo hóa, v́ sao Phật pháp coi
trọng đoạn phiền năo như vậy, đạo
lư ở ngay chỗ này! Tứ Hoằng Thệ Nguyện dạy
chúng ta thứ tự trong tu học; trước hết là
phải “phiền năo vô tận
thệ nguyện đoạn”. Sau khi đă đoạn phiền năo th́ mới học pháp môn. “Pháp môn vô lượng thệ nguyện
học”. Đoạn phiền năo, học pháp môn, giới
hạn ở chỗ nào? Phải đoạn phiền năo
đến tŕnh độ nào th́ mới có thể học pháp
môn? Nói theo tiêu chuẩn trong kinh Đại Thừa, hăy quên
đi ư niệm học pháp môn trong một đời này. V́
sao? Chẳng thể nào đạt tới. Khuôn mẫu trong kinh
Đại Thừa là năm mươi ba lần tham học
của Thiện Tài đồng tử trong kinh Hoa Nghiêm. Thiện
Tài đồng tử đắc Căn Bản Trí trong hội
của Văn Thù Bồ Tát. Căn Bản Trí là ǵ? Là tâm thanh
tịnh. Tâm thanh tịnh là ǵ? Đoạn hết Kiến
Tư phiền năo th́ mới có tư cách ra ngoài tham học.
Thật sự đoạn hết phiền năo, đi tham học
sẽ là “pháp môn vô lượng
thệ nguyện học”, giới hạn ở chỗ ấy.
Chẳng đoạn hết Kiến Tư phiền năo, chẳng
có tư cách đi tham học. Nếu quư vị đi tham học,
sẽ học được toàn là tà tri tà kiến. V́ sao? Quư
vị chẳng đoạn Tam Độc phiền năo, nhào
trộn lẫn lộn, biến chánh kiến thành tà kiến,
quư vị sẽ nghĩ sai lời Phật, sẽ hiểu
sai bét ư nghĩa, vận dụng sai be bét, với t́nh h́nh
như vậy quư vị thường là chẳng tránh khỏi
tạo tội nghiệp. Đây là nói đến tiêu chuẩn
chân chánh do kinh Hoa Nghiêm đă dạy; nhưng lũ phàm phu
b́nh phàm chúng ta xác thực là chẳng thể đạt tới
tiêu chuẩn này. Chẳng đạt tới tiêu chuẩn th́
làm như thế nào? Do vậy, người đời sau lại
hạ thấp tiêu chuẩn này; nói thật ra, hạ đến
mức thấp nhất, hạn độ thấp nhất cũng
là Tiểu Thừa Sơ Quả. Tiểu Thừa Sơ Quả
phải đoạn hết tám mươi tám phẩm Kiến
Hoặc, tiêu chuẩn ấy đă bị hạ thấp quá
nhiều! Từ Tiểu Thừa Tứ Quả giáng xuống
Sơ Quả. Nếu đă nói đến Tứ Quả Tứ
Hướng, [đặt ra tiêu chuẩn là Tiểu Thừa
Sơ Quả] tức là đă hạ thấp xuống bảy
tầng cấp, không thể hạ thấp hơn được
nữa, có thể miễn cưỡng học điều
này! Nhưng đối với tiêu chuẩn ấy, trong một
đời này, chúng ta vẫn chẳng làm được,
nói thật thà đấy nhé!
Chúng
ta muốn nghiên cứu giáo pháp, làm như thế nào? Đúng
là chẳng có cơ hội. Trước kia, chúng tôi theo thầy
Lư học giảng kinh ở Đài Trung. Chúng tôi đâu có giảng
kinh! Chẳng phải là giảng kinh, mà là ǵ? Giảng chú giải!
Hoàn toàn nương theo chú giải của cổ nhân để
giảng. Cổ nhân viết chú sớ bằng Văn Ngôn,
chúng tôi dịch sang văn nói Bạch Thoại, [giảng chú
giải] tức là dịch chú giải của cổ nhân [từ
Văn Ngôn sang tiếng Bạch Thoại] trên giảng
đài! Nếu giảng trật là do cổ đức chú giải
sai, là chuyện của các Ngài, chẳng liên quan ǵ đến
chúng tôi, chúng tôi làm công tác phiên dịch mà thôi! Lăo nhân gia dạy
chúng tôi học giảng kinh phải dùng thái độ
như vậy th́ sẽ chẳng có lầm lỗi, v́ sao?
Chúng tôi chẳng thể đoạn phiền năo, chưa thể
khai ngộ. Tôi dạy mọi người đọc kinh, bắt
đầu học Phật th́ trước hết hăy niệm
kinh Vô Lượng Thọ ba ngàn lần. Có kẻ nghe xong, hiểu
lầm ư nghĩa, bảo: “Pháp sư Tịnh Không dạy
người ta niệm kinh Vô Lượng Thọ ba ngàn lần
sẽ khai ngộ”. Tôi chẳng hề nói lời ấy, chính
kẻ đó hiểu lầm ư nghĩa. Nói thật ra, tôi dạy
người khác niệm ba ngàn lần, chắc chắn là chẳng
khai ngộ. Chẳng khai ngộ, cớ sao niệm ba ngàn lần?
Ba ngàn lần nhằm thâu hồi cái tâm, ư nghĩa ở chỗ
này. Tâm chúng ta tán loạn quá mức, niệm kinh ba ngàn lần
để thâu liễm, thâu hồi cái tâm. Nói cách khác, giúp cho
tâm quư vị thanh tịnh. Chưa thể đạt tới
tiêu chuẩn thanh tịnh, nói chung là chúng ta đang tu tập.
Nếu tiêu chuẩn của tâm thanh tịnh đ̣i hỏi sáu
mươi điểm, nay chúng ta có tối thiểu năm
điểm hoặc mười điểm, nói chung, chẳng
phải là không có điểm nào, mà là có
được mấy điểm, có ư nghĩa như thế
đó! Sau khi tâm đă thâu liễm, niệm Phật hiệu sẽ
dễ có cảm ứng, mà cũng dễ đắc lực,
mục đích ở chỗ này! V́ thế, ngàn muôn phần
đừng hiểu lầm ư nghĩa.
“Tịnh” là hết sạch phiền
năo, “Quang” là trí huệ hiện tiền. Phiền năo tiêu, trí huệ
tăng trưởng. Diệt một phần phiền
năo, tăng trưởng một phần trí huệ. Nói cách
khác, phiền năo tăng trưởng một phần, trí huệ giảm bớt một phần;
phiền năo giảm một phần, trí huệ tăng trưởng
một phần. Đấy là lư do v́ sao
đức Phật coi trọng chuyện đoạn phiền
năo như thế ấy. “Nhiễm”
là phiền năo, “hữu nhiễm chi
trí” chẳng
đáng coi là quư, chúng ta cũng chẳng cần giữ lấy
nó, nhất định phải là trước hết đoạn
phiền năo, tu tâm thanh tịnh, tu b́nh đẳng, đó là điều
trọng yếu. Thật sự đạt tới thanh tịnh,
b́nh đẳng, sau đó sẽ nhất định là có giác,
giác ấy là trí huệ. Tựa đề kinh Vô Lượng
Thọ đă phô rơ cho chúng ta thấy chuyện này.
(Sao)
Phật đức chí tịnh.
(鈔)佛德至淨。
(Sao:
Phật đức thanh tịnh tột bậc).
Tâm Phật
thanh tịnh đến cùng cực.
(Sao) Xuất đại
quang minh, thí như kính thể thanh tịnh, năng giám h́nh cố.
(鈔)出大光明,譬如鏡體清淨,能鑑形故。
(Sao: Tỏa đại
quang minh, ví như do thể của gương là thanh tịnh,
nên có thể chiếu soi h́nh tướng).
Sánh
ví [tâm] như một tấm gương. Tấm
gương sạch làu, chẳng có mảy may ô nhiễm nào.
“Giám” (鑑) là chiếu, chiếu bên ngoài rơ
ràng rành mạch.
(Sao)
Kỳ quang thanh tịnh giả, thí như dă thiêu, diệc hữu
quang minh, tỷ chi nhật nguyệt, bất danh tịnh cố.
(鈔)其光清淨者,譬如野燒,亦有光明,比之日月,不名淨故。
(Sao: “Quang minh ấy
thanh tịnh”: Ví như đốt rẫy, cũng có quang
minh, nhưng so với mặt trời, mặt trăng th́ [quang
minh ấy] chẳng thể gọi là tịnh được).
Lửa
cháy đồng hoang thiêu núi cũng có quang minh, cũng có ánh
lửa, nhưng quang minh ấy chẳng thanh tịnh. Trong
quang minh ấy có ô nhiễm, có rất nhiều bụi bặm
trong đó, chẳng thanh tịnh như quang minh của mặt
trời, mặt trăng.
Vị
Phật này biểu thị cương lănh trọng yếu
trong tu hành: Phải dùng cái tâm thanh tịnh, phải dùng trí huệ
th́ mới có thể tu phước. Chẳng có trí huệ, phước
tu được là giả, người ấy đă thấy
sai mất rồi! Hôm nay, có một vị cư sĩ đến
hỏi tôi. V́ thân thể ông ta không khỏe, thường bị
bệnh, gặp phải tai nạn, có người khuyên ông
ta lạy Lương Hoàng Sám, lạy Thủy Sám, làm đàn
Thủy Lục, ông ta đều làm cả. Ông ta hỏi tôi:
Ông ta đă thực hiện khá nhiều phương pháp
để tiêu tai, nhưng chẳng tiêu tai được.
Nhà Phật thường nói “tiêu
nghiệp chướng”, tôi hỏi ông ta: Nghiệp
chướng là ǵ? Ông ta chẳng thốt nên lời! Chúng ta
học Giáo đă nhiều năm như thế, chớ nên
chẳng hiểu rơ! Nghiệp là ǵ? Đang trong lúc tạo
tác th́ gọi là Sự. Sự sau khi đă làm xong, kết quả
của nó là Nghiệp. Học hành trong nhà trường, học
xong, đă tốt nghiệp. Khi c̣n chưa tốt nghiệp,
ngay trong lúc đang học tập trong trường, quư vị
thấy tập vở, vở bài tập, đứa học
tṛ ấy đang tạo nghiệp. Nghiệp tạo xong, tốt
nghiệp, rời khỏi nhà trường, vào xă hội lại
bắt đầu tác nghiệp. Trong nhà trường có vở
bài tập rất rơ ràng, quư vị hằng ngày làm những nghiệp
ǵ, đặt chân vào xă hội, tuy chẳng có tập vở,
chẳng ghi chép, nhưng trong A Lại Da Thức đă ghi từng
khoản một, giống như nhập hết dữ liệu
vào computer, chẳng sót một khoản nào! Quư vị hằng
ngày đang tạo nghiệp, khởi tâm động niệm
là tạo nghiệp, miệng nói năng là tạo nghiệp,
hết thảy động tác nơi thân thể là tạo
nghiệp, thân miệng ư đều đang tạo nghiệp.
Nghiệp có thiện, có ác, có vô kư, tạo thiện nghiệp
có thiện quả, tạo ác nghiệp có ác báo, đó là nghiệp.
Nếu chúng ta muốn tiêu nghiệp chướng,
đương nhiên là chẳng thể nào tiêu thiện nghiệp,
nói chung là phải tiêu trừ nghiệp chướng của
ác nghiệp. Hiểu rơ điều này, quư vị lạy Lương
Hoàng Sám, sau khi lạy xong, có phải là chẳng có ác niệm
nào hay không? Nếu như sau khi đă lạy xong Lương
Hoàng Sám, chẳng có ác niệm nào, nói chuyện với
người khác, chẳng nói một câu dơ bẩn hay bại
hoại nào, quư vị đă thật sự tiêu nghiệp! Nếu
lạy xong, trong tâm vẫn dấy vọng tưởng, vẫn
luôn nghĩ chuyện lợi ḿnh tổn người, nghiệp
của quư vị chẳng thể tiêu được. Không
chỉ là chẳng thể tiêu trừ, mà nghiệp c̣n tăng
trưởng, v́ sao? Đă bái Lương Hoàng Sám, tốn nhiều
tiền dường ấy, tốn tinh thần lắm ngần
ấy, ta chẳng tiêu nghiệp chướng được,
[bèn nghi ngờ sám pháp] chẳng linh, ngay cả Phật, Bồ
Tát cũng đều bị chê trách, chẳng phải là tội
nghiệp nặng thêm hơn ư? Ngu si đấy mà!
Sau
khi đă thật sự hiểu rơ th́ mới thật sự
biết một câu A Di Đà Phật đúng là đă tiêu trừ
nghiệp chướng của chúng ta. Trong tâm chúng ta khởi
một ác niệm, [bèn niệm] A Di Đà Phật để
chèn ép ác niệm ấy, [khiến cho] cái tâm b́nh lặng. Nói
một lời xấu xa bèn “A Di Đà Phật”, chèn ép lời
nói xấu xa ấy, đó là thật sự tiêu trừ nghiệp
chướng. Lâu ngày chầy tháng, trải qua một
năm, nửa năm, hai năm, ba năm, đúng là ác niệm
ít đi, hành vi ác ít đi, thiện niệm tăng trưởng,
hành vi thiện tăng trưởng, đó là hiệu quả
thật sự. V́ thế, tu phước, tâm địa chẳng
thanh tịnh, chẳng có trí huệ, chẳng thể nào tu
được phước báo thật sự.
(Sớ)
Xứng Lư, tắc tự tánh thanh tịnh bất khả tận,
thị Tây phương hằng sa Phật nghĩa.
(Diễn)
Tự tánh thanh tịnh giả, dĩ tánh ly hoặc nhiễm,
tùng bổn dĩ lai, nhất thiết nhiễm pháp bất
tương ứng cố.
(疏)稱理,則自性清淨不可盡,是西方恆沙佛義。
(演)自性清淨者。以性離惑染。從本以來。一切染法不相應故。
(Sớ:
Xứng Lư th́ tự tánh thanh tịnh chẳng thể tận,
là ư nghĩa của hằng sa Phật ở Tây phương.
Diễn: “Tự tánh thanh tịnh”: Do tánh ĺa Hoặc nhiễm,
trước nay vốn chẳng tương ứng với
hết thảy các nhiễm pháp).
Ư
nghĩa của Tây Phương đă được nói
trong phần trước.
(Sao)
Tây Phương nghĩa kiến tiền giải,
lương dĩ Chân Như tự thể, trạm nhược
hư không, tuyệt điểm thuần thanh, tằng hà
nhai tế.
(Diễn)
Trạm nhược hư không giả, như thật không
trung, ly nhất thiết pháp sai biệt chi tướng, vô hư
vọng tâm niệm cố, tằng hà nhai tế giả, ly
niệm tướng giả, đẳng hư không giới,
vô sở bất biến cố.
(鈔)西方義見前解,良以真如自體,湛若虛空,絕點純清,曾何涯際。
(演)湛若虛空者。如實空中。離一切法差別之相。無虛妄心念故。曾何涯際者。離念相者。等虛空界。無所不遍故。
(Sao: Đối với
ư nghĩa của Tây Phương, hăy xem lời giải thích
trong phần trước, ấy là v́ tự thể của
Chân Như lặng trong như hư không, thuần thanh tột
bậc, chẳng hề có ngằn mé.
Diễn: “Lặng trong như hư không”: Trong cái Không như
thật, ĺa tướng sai biệt của hết thảy các
pháp, do chẳng có tâm hư vọng, há từng có ngằn mé ư?
Ĺa tướng niệm, bằng với hư không giới,
không ǵ chẳng trọn khắp vậy).
“Nhai tế” (涯際) là rộng lớn
chẳng có ngằn mé.
(Sao)
Tiêm trần sạ khởi.
(鈔)纖塵乍起。
(Sao: Mảy trần vừa
dấy lên).
Mảy
may trần duyên mới vừa dấy lên.
(Sao)
Phật diệt đa thời.
(鈔)佛滅多時。
(Sao:
Th́ Phật đă diệt từ lâu).
Phật là giác tánh; một vọng
niệm dấy lên, giác tánh liền mê mất.
(Sao)
Tâm cấu đốn trừ, cổ Phật tùy hiện.
(鈔)心垢頓除,古佛隨現。
(Sao:
Chất dơ trong tâm vừa trừ, cổ Phật liền
hiện).
“Cổ Phật” là tự tánh, là
con người thật sự của chính ḿnh. Chỉ cần
tâm thanh tịnh, thanh tịnh đến tột bậc, giống
như tỷ dụ ở chỗ này, “tuyệt điểm thuần thanh” [nghĩa là]
thanh tịnh đến cùng cực, vô lượng vô biên trí
huệ, vô lượng vô biên công đức trong tự tánh thảy
đều hiện tiền. Thành Phật là thành vị Phật
nào vậy? Tự tánh Phật. Trong kinh Hoa Nghiêm và Viên Giác,
đức Phật đă dạy: “Hết thảy chúng sanh vốn đă thành Phật”,
thành vị Phật vốn sẵn có. Xin hăy xem kinh văn.
(Kinh)
Các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt
tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới,
thuyết thành thật ngôn, nhữ đẳng chúng sanh
đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư
Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở
Hộ Niệm Kinh.
(經)各於其國。出廣長舌相。遍覆三千大千世界。說誠實言。汝等眾生。當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。
(Kinh: Mỗi vị
đều ở trong nước ḿnh hiện tướng
lưỡi rộng dài che khắp tam thiên đại thiên,
nói lời thành thật: “Chúng sanh các ngươi hăy nên tin kinh
Khen Ngợi Công Đức Chẳng Thể Nghĩ Bàn
Được Hết Thảy
Ư
nghĩa này giống như trong phần trước. Mỗi
lần chúng tôi đọc đoạn kinh văn này đều
bị cảm động rất sâu. Đức Phật
đối với chúng ta vô tận từ bi, ban cho chúng ta lời
khuyên chân thành trung thực nhất, chúng ta nhất định
phải tin tưởng, chẳng cô phụ sự hộ niệm
của đức Phật dành cho chúng ta.
A Di Đà Kinh Sớ Sao
Diễn Nghĩa
Phần 132
hết
[1] Bát Quái lại có hai loại Tiên Thiên và
Hậu Thiên, quẻ số và ư nghĩa giống nhau, chỉ
khác phương vị. Hiện thời lưu hành phổ
biến là Hậu Thiên Bát Quái. Trong Hậu Thiên Bát Quái, Ly
ở phía
[2] Đây là nói về h́nh tượng
của quẻ Ly. Quẻ Ly gồm có hai vạch liền
ở ngoài cùng (vạch liền thuộc về
Dương), một vạch đứt ở chính giữa
là Âm. Do đó, nói một Âm sáng ngời giữa hai
Dương.
[3] “Tượng”
(象) ở
đây là thuật ngữ được dùng trong kinh
Dịch. Đối với mỗi quẻ (Quái, 卦),
trong sáu mươi bốn quẻ của kinh Dịch (gồm
có ba vạch đứt hoặc nối liền (đơn
quái), hoặc sáu vạch như thế (phức quái)),
mỗi một vạch như vậy được
gọi là Hào (爻). Các nhà Dịch học quan niệm
mỗi hào, mỗi quái đều có ư nghĩa biểu
thị một sự vật nào đó trong vũ trụ.
Sự vật được biểu thị bởi Hào
sẽ được gọi là Tiểu Tượng
(hoặc Hào Tượng), sự vật được
biểu thị bởi một Quái sẽ gọi là
Đại Tượng (hoặc Quái Tượng). Trong
phần Hệ Từ Truyện, có giảng: “Tại thiên thành Tượng, tại địa thành
h́nh” (ở trên trời là Tượng, dưới
đất là h́nh). Chẳng hạn, quái tượng của
Càn là trời, quái tượng của quẻ Khôn là đất,
quái tượng của quẻ Chấn là sấm, quái
tượng của Tốn là gió, quái tượng của
Khảm là nước v.v…
[4] Bất khả thuyết có thể
hiểu theo hai ư nghĩa:
1) Là một con số lớn thời cổ Ấn
Độ, nếu tính từ Câu Chi là 10.000.000 (mười
triệu) th́ Câu Chi lần Câu Chi là một A Dữu Đa, A
Dữu Đa lần A Dữu Đa là một Na Do Tha,
cứ tính lần lượt như thế đến con số
thứ một trăm mười tám là Bất Khả
Lượng Chuyển lần Bất Khả Lượng
Chuyển sẽ là một Bất Khả Thuyết. Cụ
thể, con số này là sau số 1, sẽ bao gồm 4.652.297.985.247.205.555.163.324.710.981.206.016
con số 0. Tuy rất lớn, vẫn là hữu hạn!
2) Không thể diễn tả được,
vượt ngoài khả năng mô tả bằng ngôn
ngữ, không có cách nào sánh ví được để h́nh
dung, bèn nói là Bất Khả Thuyết.
[5] Mười giới trọng nói ở
đây chính là mười giới trọng theo kinh Phạm
Vơng Bồ Tát Giới, bao gồm sát sanh, trộm
cướp, dâm dục, vọng ngữ, bán rượu, rêu
rao lỗi của tứ chúng, tự khen ḿnh chê
người, bỏn xẻn (keo kiệt, đă chẳng
bố thí lại c̣n mắng chửi người xin bố
thí), giận hờn không chịu sám hối, và hủy báng
Tam Bảo.
[6] Trương Tăng Diêu (张僧繇) người xứ
Ngô Trung (nay là Tô Châu, tỉnh Giang Tô) là một họa sĩ
nổi tiếng thời Lương, được phong
làm Thị Lang cho Vũ Lăng Vương (tức Tiêu Kỷ, con trai thứ tám của
Lương Vũ Đế), chưởng quản mọi
việc hội họa của triều đ́nh. Hai con trai
của ông (Thiện Quả và Nho Đồng) cũng là
họa sĩ nổi tiếng thời ấy. Tăng Diêu
sở trường vẽ tranh tôn giáo, nhất là thể
loại bích họa, đặc biệt là tranh chân dung. Phong
cách vẽ tượng Phật của ông trở thành
một trường phái riêng được người
đời gọi là Trương Gia Dạng (cách thức
vẽ tranh của họ Trương). Nhiều bức
vẽ của ông được chọn làm mẫu
để đắp hay khắc tượng. Ông c̣n
giỏi vẽ rồng, chim ưng, hoa cỏ, sơn
thủy v.v… Tranh vẽ rồng của ông được
khen là sống động như thật. Do vậy có
truyền thuyết: Tăng Diêu vẽ bốn con rồng
tại chùa An Lạc ở Kim Lăng, khi vừa
điểm nhăn cho hai con, chúng bèn hóa thành rồng thật bay
lên trời, chỉ c̣n sót lại hai con chưa kịp
vẽ mắt. Các bức họa nổi tiếng của ông
c̣n giữ được cho đến hiện thời là
Lương Vũ Đế Tượng (h́nh Lương
Vũ Đế), Hành Đạo Thiên Vương
Đồ, Ngũ Tinh Nhị Thập Bát Tú Đồ v.v...
[7] Ngài Bảo Chí không rơ năm sinh và
mất chính xác, thường được coi là sống
từ năm 418 đến năm 514 đời
Lương. Ngài thường được gọi là Chí
Công Thiền Sư, hay Chí Công Tổ Sư. Ngài cùng với
Đạt Ma Tổ Sư và Phó Đại Sĩ
được sử truyện tôn xưng là “Lương đại tam
đại sĩ” (ba vị đại sĩ đời
Lương). Năm bảy tuổi, Ngài y chỉ, xuất
gia với pháp sư Tăng Kiệm tại Tử Kim
Sơn. Sau khi xuất gia, Ngài trụ tại chùa Đạo
Lâm, chuyên tâm Thiền Quán. Người đương
thời thường nói phẩm đức, tu tŕ và ngôn ngữ của Ngài chẳng kém vị danh
tăng đương thời là ngài Phật Đồ
Trừng, lại có nhiều chuyện thần dị. Sư
đến đi vô ngại, không ở nơi cố
định nào, có thể mấy ngày chẳng ăn mà
sắc mặt vẫn như thường. Sư hay
đề thơ tặng cho người khác, hoặc nói
những câu khó hiểu, đến khi xảy ra chuyện
mới biết Ngài nói dự ngôn. Thoạt đầu,
Lương Vũ Đế cho Sư là kẻ “yêu ngôn hoặc chúng” (dùng lời
lẽ yêu dị mê hoặc quần chúng), sai người nhốt
vào ngục, nhưng hằng ngày vẫn thấy Sư
la cà khắp phố. Vào ngục xem, vẫn thấy Sư
nằm yên trong ấy. Về sau, Lương Vũ
Đế tặng Sư một khu vườn, yêu cầu
Sư ở yên trong đó, sai người vây chặt,
nhưng vẫn thấy Sư hiện diện tại các
ngôi chùa Long Quang, Kế Tân, Hưng Hoàng, Tịnh Danh v.v… Sau
khi lên ngôi, sau nhiều lần hỏi đạo,
Lương Vũ Đế nhận biết Sư là
một vị thiện tri thức thật sự, bèn tôn Ngài
làm quốc sư, hết sức sùng tín. Ngài và Phó
Đại Sĩ được coi là những vị đi
tiên phong nhằm mở đường cho tổ
Đạt Ma đại khai Thiền học tại Trung Hoa
về sau này. Lương Hoàng Sám có tên gọi là Từ Bi
Đạo Tràng Sám Pháp do Ngài biên soạn nhằm siêu
độ phi tử Hy Thị của Lương Vũ
Đế. Có sách chép Sư tịch năm Thiên Giám
mười ba, thọ chín mươi sáu tuổi. Vua sai
lập chùa Khai Thiện cạnh mộ Sư, ban tặng
thụy hiệu là Quảng Tế Đại Sư. Các
đời sau lần lượt tôn xưng Ngài là Diệu
Giác đại sư, rồi Đạo Lâm Chân Giác Bồ
Tát, Từ Ứng Huệ Cảm Đại Sư.
[8] Hồ Bà Dương là hồ lớn
thứ hai trong Ngũ Đại Hồ của Trung Quốc
(năm cái hồ lớn chứa nước ngọt đó
lần lượt có tên là Bà Dương, Động
Đ́nh, Thái Hồ, Hồng Trạch và Sào Hồ). Hồ Bà
Dương nhận nước của năm con sông là Cám,
Phủ, Tín, Nhiêu, Tu. Hồ rộng đến 162.000 km2.
Chỗ sâu nhất đến 25,1 mét, độ sâu b́nh quân
là 8,4 mét. Giữa hồ có bốn mươi mốt ḥn
đảo, ḥn đảo lớn nhất mang tên Liên Hồ
Sơn.
[9] Cờ xí (kỳ xí) là tên gọi chung các
loại cờ, nhưng có phân biệt đôi chút. Các
loại cờ có bề ngang và bề rộng gần
bằng nhau, to bản, treo dọc trên cột cờ,
hoặc treo ngang lồng vào cán cờ, th́ gọi là Kỳ (旗). Một đặc điểm nữa
là Kỳ thường có nhiều màu (thường là màu của
ngũ hành), ghi đại tự (thường là một
chữ, như tên gọi của vương triều
như Tống, Đường, Tề, hoặc tên gọi
của đất phong như Bảo Định, hoặc
chức tước như chữ Soái). Loại hẹp và
dài, luôn treo dọc th́ gọi là Xí (幟). Xí có thể ghi nhiều chữ
nhằm ca ngợi, hoặc để trống, hoặc có
thêu vẽ một phù hiệu hoặc biểu tượng.
Xí thường không có tua viền trong khi Kỳ
thường viền đuôi nheo chung quanh. Thời cổ
c̣n một loại cờ nữa chuyên dùng để biểu
hiện uy quyền, kết bằng đuôi trâu và lông chim gọi
là Tinh (旌). Tùy theo cấp bậc quyền lực mà quy định
số Tinh được cắm trên xe, cũng như đài
chỉ huy. Cũng giống như Tinh là Tiết (節), nhưng Tiết
biểu thị người được nhà vua trao quyền,
thường được cầm hoặc rước cùng
với các thứ binh khí tượng trưng quyền lực
khác như phủ việt. Thoạt đầu, Tiết
cũng là đuôi trâu buộc vào cán
gỗ, về sau, trở thành h́nh thức kết nhiều
quả cầu bằng tơ, cán có h́nh đầu rồng,
treo chuông đồng v.v… Về sau, hễ nói đến các
loại cờ quạt nói chung dùng trong nghi lễ hay trang
trí, người ta thường gọi chung là “tinh kỳ” hoặc “kỳ xí”, không c̣n gọi tách
bạch như thời cổ.
[10] San Định Kư là gọi tắt
của Hoa Nghiêm Lược Sớ San Định Kư do ngài
Huệ Uyển soạn vào đời Đường.
Thật ra tác phẩm này do ngài Pháp Tạng khởi xướng:
Sau khi Tân Hoa Nghiêm (Bát Thập Hoa Nghiêm được
dịch xong), ngài Pháp Tạng viết chú thích, nhưng
chỉ chú giải được hai phẩm Thế
Chủ Diệu Nghiêm và Thập Định đă thị
tịch, ngài Huệ Uyển bèn viết tiếp. Ngài Huệ
Uyển san định những phần do ngài Pháp Tạng
viết, đồng thời đề xướng giáo
nghĩa “hai loại Thập
Huyền Môn”.
[11] “Diệu
diệu văn tâm” chính là chân tâm hoặc tự tâm. Trong
bài giảng Quán Thế Âm Bồ Tát Nhĩ Căn Viên Thông
Chương, lăo pháp sư Tịnh Không đă nói: “Nhĩ căn tiếp xúc thanh
trần là Thỉ Giác. Mắt thấy sắc, mũi
ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân chạm
xúc trần, ư đối pháp trần, hễ một thứ
giác, hết thảy đều giác, phải hiểu
đạo lư này. V́ thế, quư vị biết dùng một
căn th́ cả sáu căn đều biết dùng, sẽ
đạt được ǵ? Diệu diệu văn tâm.
Nhất định là khi đă đạt đến
sự xoay trở lại cái Nghe để nghe nơi tánh,
cái Nghe nghe nơi tự tánh ấy chính là tánh của Thỉ
Giác trong tự tánh, mà cũng là Thỉ Giác và Bổn Giác hợp
nhất. Không chỉ là Bổn Giác diệu, mà Thỉ Giác
cũng diệu. Bổn Giác là tâm, Thỉ Giác cũng là tâm.
V́ thế gọi là Diệu Diệu Văn Tâm. Chữ
Diệu thứ nhất là Thỉ Giác, chữ Diệu
thứ hai là Bổn Giác, cả hai đều diệu!”