A Di Đà Kinh Sớ
Sao Diễn Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 133
Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và
Đức Phong
Tập 265
Xin xem
A Di
Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang
năm trăm ba mươi chín:
(Kinh) Xá Lợi Phất! Bắc phương thế giới,
hữu Diệm Kiên Phật, Tối Thắng Âm Phật, Nan
Trở Phật, Nhật Sanh Phật, Vơng Minh Phật,
như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật.
(Sớ)
Diệm Kiên giả, giải kiến tiền văn.
(Sao) Tiền
hữu Đại tự, nghĩa vô ưu liệt.
(經)舍利弗。北方世界。有燄肩佛。最勝音佛。難沮佛。日生佛。網明佛。如是等恆河沙數諸佛。
(疏)燄肩者。解見前文。
(鈔)前有大字。義無優劣。
(Kinh:
Xá Lợi Phất! Thế giới
phương Bắc có Diệm Kiên Phật, Tối Thắng
Âm Phật, Nan Trở Phật, Nhật Sanh Phật, Vơng Minh Phật,
hằng hà sa số chư Phật như thế.
Sớ: “Diệm Kiên” xem lời giải thích trong phần
trước.
Sao: [Danh hiệu của vị Phật] trong phần
trước có chữ Đại, [trong đoạn này không
có], nhưng ư nghĩa chẳng hơn kém).
Đây là phương Bắc trong sáu
phương Phật. Đối với phương Bắc,
nêu ra đức hiệu của năm vị Phật nhằm
biểu thị Hóa Tha (hóa độ người khác). Sau khi
đă trọn đủ phước huệ th́ mới có thể
thật sự thực hiện viên măn hoằng nguyện do
đức Phật đă phát trong khi c̣n tu nhân. Như chúng ta
học Phật, cũng như chư Phật trong khi tu nhân
đă phát nguyện, đó là [phát nguyện bằng] chân tâm
hay giả tâm, chúng ta tạm thời chẳng bàn đến.
Như trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện, nguyện “chúng sanh vô biên thệ nguyện
độ”, nói thật ra, bốn nguyện đó quy kết
thành một nguyện này, ba nguyện sau đều nhằm
viên măn một nguyện [đầu tiên] này mà phát. Do đó,
trong bốn nguyện, nguyện thứ nhất là chủ chốt,
là trọng yếu nhất. Nguyện thứ nhất, nói thật
ra, cũng là một sức mạnh thúc đẩy chư Phật
viên thành Phật đạo. Chúng ta biết người thế
gian hằng ngày siêng năng nỗ lực làm việc, sức
mạnh nào thúc đẩy họ? Quy nạp lại, chẳng
ngoài sức mạnh “danh lợi”.
Chẳng phải v́ danh th́ là v́ lợi. Nếu danh lẫn lợi
đều chẳng có, tôi nghĩ tuyệt đối là họ
sẽ chẳng muốn làm việc! Chư Phật, Bồ
Tát danh lẫn lợi đều chẳng cần, thảy
đều bỏ hết, sức mạnh nào thúc đẩy
khiến cho các Ngài tinh tấn, nỗ lực, hăng hái, chẳng
biếng nhác? Do chính nguyện này! Do vậy có thể biết:
Bồ Tát phát tâm tự hành (chính ḿnh tu hành), phát tâm hóa độ
kẻ khác, đều do nguyện thứ nhất này [thúc
đẩy]. Cho đến phát tâm mong thành Phật đạo
vẫn nhằm thỏa măn nguyện thứ nhất. V́ nếu
Bồ Tát chẳng thành Phật đạo, dẫu thuộc
địa vị Đẳng Giác Bồ Tát, Đẳng Giác
Bồ Tát chẳng thể hóa độ Đẳng Giác Bồ
Tát, [bởi lẽ] địa vị và tŕnh độ của
các Ngài như nhau. Nhất định là phải thành Phật
th́ mới có thể độ Đẳng Giác Bồ Tát, mới
có thể độ hết thảy chúng sanh tới mức rốt
ráo viên măn. Do vậy, nhất định là trí huệ và
phước đức đều viên măn; khi ấy, sẽ
rộng độ chúng sanh.
Đối với Phật pháp, độ
sanh là sự nghiệp. Nói theo cách hiện thời, “độ” (度) là giúp đỡ,
hiệp trợ họ, giúp họ ĺa khổ được
vui. Trong các nỗi khổ của tam giới, có hai loại
sanh tử: Một loại là Phần Đoạn sanh tử,
loại kia là Biến Dịch sanh tử, hai nỗi khổ ấy!
Thoát khỏi tam giới, từ Tiểu Thừa Tứ Quả
La Hán trở lên, chẳng c̣n có Phần Đoạn sanh tử
trong tam giới. Tuy đă vượt ra ngoài tam giới, măi
cho đến địa vị Đẳng Giác Bồ Tát, vẫn
c̣n có Biến Dịch sanh tử. Nói cách khác, các Ngài sung
sướng hơn chúng ta nhiều lắm, nhưng chẳng
phải là đă đạt đến rốt ráo, chẳng
phải là viên măn. Nhất định là phải giúp chúng
sanh viên thành Phật đạo th́ sự ĺa khổ ấy mới
là ĺa đến rốt ráo, “được vui” mới
đạt đến viên măn. Chư vị ngẫm xem: Muốn
giúp chúng sanh thành Phật, mà chính ḿnh chẳng thành Phật,
làm thế nào được? Chẳng có lẽ ấy! Chính
ḿnh nhất định phải thành Phật!
Cũng
có lẽ mọi người từng nghe nói: “Chính ḿnh chưa độ, đă
độ chúng sanh trước; đấy là Bồ Tát phát
tâm”. Giống như Địa Tạng Bồ Tát, chính
ḿnh chưa thành Phật, đă độ chúng sanh đều
thành Phật, lăo nhân gia vẫn là Bồ Tát. Chúng ta có thể
học theo chuyện ấy hay chăng? Rất nhiều
người hiểu ư nghĩa trong kinh điển theo kiểu
cắt xén chương đoạn, hiểu lệch lạc
ư nghĩa của Phật, cho rằng Địa Tạng Bồ
Tát rất vĩ đại: Chính ḿnh chưa thành Phật, mà
đă độ chúng sanh trước, ta phải học theo
Địa Tạng Bồ Tát. Quư vị có thể học nổi
hay không? Địa Tạng Bồ Tát là hạng người
nào? Đẳng Giác Bồ Tát! Nếu quư vị chứng
đắc Đẳng Giác Bồ Tát bèn có thể học
theo Địa Tạng Bồ Tát: “Ta chẳng thành Phật, độ chúng sanh thành Phật
trước. Chúng sanh chưa độ hết, ta thề chẳng
thành Phật ”. Lời ấy do bậc Đẳng Giác Bồ
Tát thốt ra. Chúng ta chẳng có tư cách! Nếu chúng ta chẳng thành Phật, sẽ phải
đọa trong lục đạo luân hồi, sẽ đọa
trong ba ác đạo. Đọa ba ác đạo, bản thân
quư vị c̣n chưa giữ nổi, làm sao có thể độ
người khác cho được? V́ thế, chớ
nên hiểu cong vạy ư nghĩa trong kinh, chớ nên hiểu
sai ư Phật.
Trên thực tế, Địa Tạng Bồ
Tát đă sớm thành Phật, bất quá lăo nhân gia chẳng
muốn hiện h́nh tướng Phật mà thôi. Học tṛ đă thành Phật đông ngần
ấy, lẽ đâu lăo nhân gia vẫn chẳng thành Phật?
Há có đạo lư ấy? Bất quá là Ngài chẳng biến
ra h́nh dạng Phật, mà biến thành h́nh tướng Bồ
Tát đó thôi! Người ta có năng lực thành Phật
bất cứ lúc nào, chẳng muốn dùng thân Phật để
hóa độ chúng sanh, vị đó gọi là Địa Tạng
Bồ Tát. Chúng ta thật sự phát tâm học theo Địa
Tạng Bồ Tát th́ vẫn là phải tới Tây
Phương Cực Lạc thế giới trước
để gặp A Di Đà Phật. Sau khi đă chứng
đắc viên măn Bồ Đề trong thế giới Cực
Lạc, bèn có thể bắt chước Địa Tạng
Bồ Tát. Đấy là chánh xác, chẳng có vấn đề
ǵ!
Kinh văn cho đến đoạn này, xét
theo sự biểu thị pháp là chú trọng lợi ích chúng
sanh. Danh hiệu của vị Phật thứ nhất là Diệm
Kiên Phật. Trong phần trước, đă từng nói về
Đại Diệm Kiên Phật; ở đây, chúng ta chú trọng
ư nghĩa biểu thị pháp. Kiên (肩) là hai vai, biểu thị ư
nghĩa gánh vác: Vai chúng ta có thể gồng gánh được.
Diệm (燄) là ngọn lửa,
biểu thị ư nghĩa quang minh. Hai vai biểu thị Quyền
Trí và Thật Trí. Có Quyền Trí và Thật Trí th́ mới có thể
gánh vác gia nghiệp của Như Lai. Sự nghiệp của
chư Phật Như Lai là hoằng pháp lợi sanh. Bồ
Tát có hai loại trí huệ ấy. Bồ Tát có tại gia và
xuất gia; ở đây là tại gia lẫn xuất gia thảy
đều được bao gồm. V́ thế, chư vị
đồng tu học Phật phải biết: Không nhất
định là phải xuất gia, tại gia Bồ Tát chứng
đắc rất nhiều! Tại gia Bồ Tát thành Phật
vô lượng vô biên. Chúng ta xem phần năm mươi ba
lần tham học của Thiện Tài đồng tử
trong kinh Hoa Nghiêm, [sẽ thấy] trong năm mươi ba vị
thiện tri thức[1], kể
từ tỳ-kheo Đức Vân, tỳ kheo Đức Vân
đại diện cho hàng Sơ Trụ trong Viên Giáo, là Pháp
Thân đại sĩ, măi cho đến Phổ Hiền Bồ
Tát, trong ấy [bao gồm] viên măn bốn mươi mốt
địa vị Pháp Thân đại sĩ, tức là Thập
Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập
Địa, và Đẳng Giác. Năm mươi ba địa
vị Pháp Thân đại sĩ, thị hiện thân phận
xuất gia chỉ có sáu vị, những vị khác đều
là tại gia. Như vậy th́ chúng ta có thể hiểu rơ: Tại
gia Bồ Tát đông đảo, tại gia thành Phật và xuất
gia thành Phật chẳng khác ǵ nhau!
Xuất
gia chỉ có một chuyện là hoằng dương và hộ
tŕ chánh pháp. Phật giáo là nền giáo dục của đức
Phật, chúng ta phải tiếp nối, duy tŕ nền giáo dục
ấy. Muốn thúc đẩy, phát triển nền giáo dục
ấy, nhất định là phải có nhân viên chuyên nghiệp
để làm chuyện này, giống như mở trường
học: Những vị đảm nhiệm vai tṛ giáo chức
trong nhà trường là những người chuyên nghiệp,
chẳng phải là chức trách kiêm nhiệm. Thúc đẩy
nền giáo dục của đức Phật phát triển mạnh
mẽ, duy tŕ nền giáo dục ấy, cũng ắt phải
do nhân viên chuyên nghiệp tiến hành. Quư vị phát tâm chuyên
môn tiến hành công việc này, theo đuổi “nghề nghiệp”
ấy, bèn xuất gia. Nếu không, chẳng cần phải
xuất gia, tại gia vẫn có thành tựu y hệt. Bất
luận theo đuổi nghề nghiệp nào, đều là
Bồ Tát, đều là Phật. Quư vị đọc kinh
Hoa Nghiêm thuần thục sẽ hiểu rơ, cũng biết:
Chúng ta ở trong xă hội này, bất cứ nghề nghiệp
nào, thân phận nào, làm loại Bồ Tát nào, đều có thể
viên thành Phật đạo.
Hoằng dương và hộ tŕ Phật pháp
đều lấy trí huệ cao độ làm cơ sở,
cho nên là Diệm Kiên. Điều khẩn yếu nhất
trong trí huệ là Thật Trí, đó là trí huệ chân thật.
Kinh Bát Nhă nói “Bát Nhă vô tri”,
cái “vô tri” ấy chính là Thật
Trí, tức là trí huệ chân thật. Tâm Kinh đến cuối
cùng nói: “Vô trí mà cũng vô đắc”.
Đó là tinh hoa của Tâm Kinh, là trung tâm của một bộ
Đại Bát Nhă sáu trăm quyển. V́ vậy, vô tri là chân
trí huệ. Nay chúng ta điều ǵ cũng không biết, có
phải là có chân trí huệ hay không? Chẳng phải! Người
ta rất dễ hiểu lầm ư nghĩa này, tưởng “Bát Nhă vô tri” th́ chúng ta chẳng
đọc sách mà cũng chẳng cần học hành. Đức
Phật nói “chân trí huệ”, chúng ta hiểu ư Phật theo kiểu
đó, tức là đă hiểu sai bét ư Phật mất rồi!
“Vô tri” là tâm thanh tịnh,
trong tâm chẳng sanh một niệm, trong tâm chẳng tồn
tại một vật. Lục Tổ nói: “Vốn chẳng có một vật”. Đó là chân trí
huệ, tâm thanh tịnh, thanh tịnh đến cùng tột.
Tâm thanh tịnh khởi tác dụng là Quyền Trí. Kinh Bát Nhă
nói Quyền Trí là “không ǵ chẳng
biết”. Khi chẳng khởi tác dụng th́ đúng là chẳng
sanh một niệm, cho nên gọi là “vô tri”. Khi khởi tác dụng, bèn “không ǵ chẳng biết”. Nay chúng ta khi chẳng khởi
tác dụng bèn vô tri, mà lúc khởi tác dụng cũng vô tri luôn,
sai mất rồi! Diệm Kiên Phật biểu thị phải
trọn đủ hai thứ trí huệ là Quyền Trí và Thật
Trí. Thật Trí c̣n gọi là Căn Bản Trí, là Bát Nhă vô tri.
Vô tri là Căn Bản Trí. Quyền Trí c̣n gọi là Hậu
Đắc Trí, tức là Căn Bản Trí khởi tác dụng.
Điều này cũng nhằm nói rơ: Toàn thể Phật pháp
được kiến lập trên cơ sở trí huệ
chân thật. Có trí huệ chân thật th́ mới có thể tự
độ, và mới có thể giúp đỡ người
khác.
Vị Phật thứ hai là Tối Thắng Âm Phật (Vaiśvānaranirghōṣa). Phật pháp coi trọng
nhất là khế cơ và khế lư. Diệm Kiên Phật
trong đoạn trước biểu thị sự Khế
Lư, ở đây nói đến sự Khế Cơ. Chúng ta biết
đức Phật thuyết pháp là nói tương ứng với
căn cơ. Có thể suy ra: Đức Phật thuyết
pháp trong thế giới phương khác nhất định
sẽ chẳng giống những ǵ đă được
nói trong thế giới Sa Bà của chúng ta. V́ sao? Căn
cơ khác nhau. Căn tánh của chúng sanh trong thế gian này
là Nhĩ Căn nhạy bén nhất. Trong kinh Lăng Nghiêm,
Văn Thù Bồ Tát đă v́ chúng sanh trong thế giới Sa
Bà chọn lựa pháp môn, Ngài chọn môn Quán Thế Âm Bồ
Tát Nhĩ Căn Viên Thông. Ngài nói:
“Thử phương chân giáo thể, thanh tịnh tại âm
văn” (Chân giáo thể phương này, thanh tịnh tại
nghe tiếng). Mắt thấy chẳng rơ ràng, tai nghe bèn rơ
ràng. Đương nhiên là cũng có thiểu số ngoại
lệ; có một ít người nghe chẳng rơ ràng, nhưng
họ nh́n bèn thấy rất minh bạch. Có hạng người
như vậy, nhưng là thiểu số. Đại đa
số mọi người là Nhĩ Căn nhạy bén
hơn Nhăn Căn. Do vậy, đức Phật giáo hóa chúng
sanh trong thế gian này bèn dùng âm thanh để thuyết
pháp. Thuở tại thế, Thích Ca Mâu Ni Phật chẳng viết
văn chương, chẳng lưu lại tác phẩm nào
cho hậu thế, toàn là diễn giảng. Kinh điển
là sau khi đức Phật đă diệt độ, các
đệ tử họp lại, ghi chép những lời
đức Phật đă giảng trước kia thành
văn tự, biên chép lại, soạn thành kinh điển. Do vậy, thuở đức Phật
tại thế, [trong Phật giáo] chẳng có văn tự.
Thuở Khổng lăo phu tử tại thế dạy học,
cũng dùng âm thanh làm Phật sự, cũng chẳng có sách
vở. Bất quá, Khổng Tử c̣n có trước tác, viết
này nọ, như phần Hệ Từ Truyện[2]
trong kinh Dịch. Ngài c̣n lưu lại văn chương
cho hậu thế, chứ Thích Ca Mâu Ni Phật chẳng có. Vị
Phật thứ hai là nói về phương thức và
phương pháp dạy học, nhất định là dùng
âm thanh để làm Phật sự. Tối Thắng Âm (最勝音) là âm thanh thù thắng
nhất. Âm thanh trong thế gian quá nhiều, hết thảy
các âm thanh ấy đều chẳng có cách nào giúp chúng ta liễu
sanh tử, thoát tam giới. Dẫu âm thanh ấy dễ nghe
cách mấy, đều chẳng thể gọi là Tối Thắng
(thù thắng nhất). V́ thế, Tối Thắng Âm như
Liên Tŕ đại sư giải thích ở đây chỉ là
h́nh dung.
(Sớ) Tối Thắng Âm giả, Phật âm cực
hảo, nhất thiết âm thanh vô năng cập cố.
(Sao) Phật hữu bát âm, nhất cực hảo
âm, nhị nhu nhuyễn âm, năi chí bát bất kiệt âm. Kim cứ
cực hảo, dĩ thích tối thắng, diệc khả
bát âm kiêm bị, cố danh Tối Thắng, tắc nhất
thiết thiên, nhân, Thanh Văn, Bồ Tát sở bất
năng cập dă.
(Diễn)
Bát âm giả, nhất nhị như văn, tam ḥa thích âm, tứ
tôn huệ âm, ngũ bất nữ, lục bất ngộ,
thất thâm viễn, bát như văn.
(疏)最勝音者,佛音極好,一切音聲無能及故。
(鈔)佛有八音。一極好音。二柔軟音。乃至八不竭音。今據極好。以釋最勝。亦可八音兼備。故名最勝。則一切天人聲聞菩薩所不能及也。
(演)八音者。一二如文。三和適音。四尊慧音。五不女。六不誤。七深遠。八如文。
(Sớ: Tối
Thắng Âm: Âm thanh của Phật hay đẹp tột bậc,
hết thảy các âm thanh chẳng thể sánh bằng.
Sao: Phật có tám âm, một là âm thanh tốt đẹp
cùng cực, hai là âm thanh mềm mại, cho đến điều
thứ tám là âm thanh chẳng cạn kiệt. Nay dựa trên
[ư nghĩa] Cực Hảo để giải thích chữ Tối
Thắng, mà cũng có thể dùng trọn cả tám loại
âm thanh để giải thích. V́ thế, gọi là Tối
Thắng, v́ hết thảy người, trời, Thanh
Văn, Bồ Tát đều chẳng thể sánh bằng.
Diễn: Tám âm: Điều thứ nhất và thứ nh́ giống
như trong lời Sao [đă chép], ba là âm thanh ḥa hoăn, thích hợp,
bốn là âm thanh trí huệ cao quư, năm là chẳng có âm
hưởng nữ nhân, sáu là chẳng sai lầm, bảy là
sâu xa, điều thứ tám giống như trong lời
Sao).
Âm thanh hay đẹp tột bậc mà nếu
chẳng thể giúp chúng ta liễu sanh tử, thoát tam giới,
âm thanh hay đẹp tột bậc ấy cũng chẳng
thể gọi là âm thanh thù thắng nhất. [Âm thanh thù thắng
nhất] là ǵ? “Âm” (音) ở đây là
âm thanh thuyết pháp, tức là dùng ngôn ngữ hoặc âm
thanh để nói rơ chân tướng của vũ trụ và
nhân sinh, khiến cho chúng ta nghe xong sẽ hoảng nhiên đại
ngộ, âm thanh ấy là mầu nhiệm. Âm thanh ấy
đúng là thù thắng. Hết thảy các âm thanh trong cơi trời
và nhân gian đều chẳng thể sánh bằng. V́ thế,
Tối Thắng Âm là [âm thanh] thuyết pháp. Thích Ca Mâu Ni Phật
thuyết pháp bốn mươi chín năm, hết thảy
các kinh điển, kể cả kinh Tiểu Thừa, đều
nhằm giúp chúng ta liễu sanh tử, thoát tam giới,
đó là Tối Thắng Âm. Viết thành sách, sẽ là sách vở
thù thắng nhất trong thế gian, chẳng có sách vở
nào khác có thể sánh bằng! Sách ấy có thể giúp chúng ta
thoát tam giới, tất cả hết thảy sách vở
trong thế gian chẳng thể [giúp chúng sanh] thoát khỏi tam
giới. Dẫu là các sách vở tôn giáo, tối đa
cũng chẳng qua là giúp cho chúng sanh đạt đến
thiên đạo mà thôi. Tôn giáo cao cấp của Ấn Độ
có thể giúp quư vị sanh lên Sắc Giới Thiên hoặc
Vô Sắc Giới Thiên, nhưng chẳng thoát khỏi tam giới.
Chỉ riêng Phật pháp là có thể giúp chúng ta thoát tam giới,
liễu sanh tử, vĩnh viễn thoát luân hồi, đó là
Tối Thắng Âm.
Chúng
ta dùng những sách vở ấy để tu học, trong thời
gian ngắn ngủi mấy chục mùa nóng lạnh, có thể
thật sự đạt tới mục tiêu ấy hay không?
Khó lắm! Khó ở chỗ nào? Chẳng phải là pháp môn khó khăn, đức Phật đă
nói rất hay: “Pháp môn b́nh đẳng,
chẳng có cao thấp”. V́ thế, [khó khăn] chẳng
do pháp môn, mà là do căn tánh của chúng sanh. Căn tánh của
cổ nhân chẳng giống người hiện thời,
căn tánh của người phương Đông chẳng
giống người phương Tây. Thậm chí căn tánh
của đồng bào Đài Loan chẳng giống căn
tánh của đồng bào tại Đại Lục. V́ thế,
đối với pháp môn, chẳng thể không chọn lựa!
Đó gọi là “pháp môn có khó, dễ”.
Khó hay dễ chẳng do bản thân pháp môn, mà là do căn tánh
của chúng sanh khác nhau. Căn tánh có thù thắng hay kém cỏi.
Do vậy, tu học c̣n có hiện tượng khó, dễ. Một
pháp môn làm như thế nào để có thể bảo đảm
hết thảy chúng sanh đều có thể thành Phật
đạo? Đó là pháp thù thắng nhất trong các thứ
thù thắng, là Tối Thắng Âm. Như vậy, chúng ta bèn
hiểu rơ: Nguyên lai, Tối Thắng Âm chính là một câu danh
hiệu “Nam-mô A Di Đà Phật
”. Câu danh hiệu ấy chính là Tối Thắng Âm, trên có
thể độ Đẳng Giác Bồ Tát, dưới có
thể độ chúng sanh trong địa ngục. Chỉ cần
quư vị thật sự tin, thật sự nguyện, thật
sự niệm, bèn thật sự văng sanh, thật sự thấy
Phật, thật sự bất thoái thành
Phật. Kết quy lại, Tối Thắng Âm chính là “Nam-mô A Di Đà Phật”, phải
biết điều này. Trong lời chú giải có giải
thích Phật có “bát âm”,
chư vị tự xem. Chúng tôi chỉ nói đại
ư, lời chú sớ kinh chẳng có ư ấy, cho nên tôi nói rơ
cùng quư vị. Lại xem vị Phật kế tiếp:
(Sớ) Nan Trở giả, Phật đức kiên mật,
bất khả hoại cố.
(Sao) Trở
giả, thủy danh. Phật chứng Pháp Thân, dĩ đắc
Kim Cang bất hoại chi thể, cánh vô dư Hoặc. Phiền
năo hoành lưu, mạc năng xung đăng. Cố viết Nan
Trở. Tích nhân vị “Ngô kỳ chiểu hồ”, nan trở
giả, do ngôn bất khả chiểu dă. Hựu Trở trở
thông dụng, chỉ át dă.
(Diễn) “Ngô kỳ chiểu hồ” giả,
Tử Tư ngôn: “Việt thập niên sanh tụ, thập
niên giáo huấn, nhị thập niên hậu, Ngô kỳ chiểu
hồ”. Chỉ át giả, Phật chứng Pháp Thân, đắc
vô tận tạng. Sở hữu thần thông, diệu dụng,
bất khả chỉ át dă. Thượng nghĩa ước
Thể, thử nghĩa ước Dụng.
(疏)難沮者,佛德堅密,不可壞故。
(鈔)沮者。水名。佛證法身。已得金剛不壞之體。更無餘惑。煩惱橫流。莫能衝蕩。故曰難沮。昔人謂吳其沼乎。難沮者。猶言不可沼也。又沮阻通用。止遏也。
(演)吳其沼乎者。子胥言。越十年生聚。十年教訓。二十年後吳其沼乎。止遏者。佛證法身。得無盡藏。所有神通妙用。不可止遏也。上義約體。此義約用。
(Sớ: Nan Trở (Duṣpradharṣa) là Phật đức cứng chắc, kín
đáo, chẳng thể phá hoại được.
Sao: Trở[3]
là tên một con sông. Phật chứng Pháp Thân, đă đắc
cái thể kim cang bất hoại, chẳng c̣n sót phiền hoặc.
Ḍng lũ phiền năo chẳng thể dâng tràn được.
V́ thế nói là Nan Trở. Người xưa nói: “Nước
Ngô trở thành cái ao của họ ư?” Đó là ngăn trở
vậy, ví như [can ngăn] chẳng để cho nước
Ngô biến thành cái ao của họ. Chữ Trở (沮) và Trở (阻) lại
được dùng lẫn cho nhau, [cùng có nghĩa] là ngăn
dứt).
Diễn: “Nước Ngô trở thành cái ao của họ
ư?” Tử Tư[4]
nói: “Nước Việt bồi dưỡng thực lực
mười năm, trải qua mười năm giáo huấn,
hai mươi năm sau, nước Ngô sẽ trở thành
cái ao của họ ư?”[5]
“Ngăn dứt”: Phật chứng Pháp Thân, đắc Vô Tận
Tạng, tất cả thần thông diệu dụng, chẳng
thể ngăn dứt được. Nghĩa trước
là nói theo Thể, nghĩa này nói theo Dụng).
Vị Phật này biểu thị sự hoằng
dương và hộ tŕ chánh pháp, khá là chẳng đơn giản.
Tục ngữ thường nói: “Đạo
cao một thước, ma cao một trượng”; học
Phật có thể thuận buồm xuôi gió, chẳng có ma
chướng, tra khắp Đại Tạng Kinh, chẳng
t́m thấy [có trường hợp tương tự
như vậy]. Trong một đời thị hiện của
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật lăo nhân gia, trong th́ Tăng
đoàn có Lục Quần Tỳ Kheo[6], hằng
ngày nghịch phá, quấy rối, gây tiếng xấu cho
Tăng đoàn, gây nên phiền phức, bên ngoài th́ có chín
mươi sáu thứ ngoại đạo. Có thể thấy
là vào thời ấy, Thích Ca Mâu Ni Phật kiến lập Phật
pháp khá khó khăn. Lịch đại tổ sư đại
đức tu hành, hoằng dương, giáo hóa, có vị nào
chẳng bị chướng ngại hay không? Tại Trung
Hoa, [xét theo] sự hoằng dương và giáo hóa có sức ảnh
hưởng lớn nhất, không ai hơn được Lục
Tổ Huệ Năng đại sư của Thiền Tông.
Quư vị thấy Ngài gặp thử thách: Sau khi đắc
đạo, minh tâm kiến tánh, Ngài hai mươi bốn tuổi.
Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn đại sư truyền y
bát cho Ngài, Ngài c̣n phải tới lánh nạn trong đội
thợ săn, ẩn náu suốt mười lăm năm mới
có thể rời khỏi, gặp bao nhiêu khổ nạn? Ma
chướng nhiều lắm! Nay chúng ta gặp phải một
chút trắc trở bèn ngă ḷng, làm sao quư vị có thể thành
tựu cho được? Chư vị phải hiểu:
Trong lẫn ngoài đều có ma chướng. Đối với
các bạn tại gia học Phật, người nhà là ma
chướng, [tức là] người trong nhà chướng
ngại quư vị. Đối với người xuất
gia học Phật, sư huynh, sư đệ trong Tăng
đoàn chướng ngại quư vị, đó cũng là ma
chướng, chẳng thể tránh né! Chúng ta phải đối
phó như thế nào? Học theo Nan Trở Phật. Trở
(沮) là ngăn trở,
phá hoại. Thứ ǵ chẳng bị phá hoại? Tín tâm bất
hoại, nguyện tâm bất hoại, hạnh tâm bất hoại.
Chỉ cần ba điều Tín, Nguyện, Hạnh của
quư vị bất hoại, quư vị bèn thành công.
Vị
Phật này dạy chúng ta đừng sợ ma vương,
ngoại đạo, chúng ta biết chúng nó tồn tại,
luôn ở quanh chúng ta, thời thời khắc khắc kiếm
chuyện, ngăn trở, chúng ta phải sử dụng trí
huệ cao độ để thông đạt quyền biến:
Nơi này chẳng suông sẻ th́ c̣n có nơi khác để
có thể đến. Ví như quư vị niệm Phật ở
nhà, người nhà đều chán ghét, phản đối
quư vị, [vậy th́] ta cần ǵ cứ chường ra
dáng vẻ là người học Phật? Hăy gạt bỏ
h́nh tướng, họ sẽ chẳng nh́n ra! Ta niệm Phật
bèn niệm trong tâm, chẳng niệm ra miệng. Trong nhà
cũng chẳng thờ tượng Phật, chẳng cần
thắp hương; đối với quư vị, hết thảy
đều tùy duyên. Học Phật kiểu ấy gọi là
“mật hạnh”. Chúng ta công
phu rất đắc lực, mà họ cũng chẳng có
phiền năo, khiến cho họ chẳng nh́n ra [quư vị
đang dụng công]! Đối với mật hạnh, thuở
đức Thế Tôn tại thế, con trai đức Thế
Tôn là tôn giả La Hầu La hành mật hạnh. Ngài mang thân
phận sa-di, suốt ngày từ sáng đến tối
chơi đùa bên ngoài, người khác đều nói “đứa
bé này chẳng dụng công”. Thích Ca Mâu Ni Phật biết tôn
giả dụng công trong tâm, tôn giả tu mật hạnh.
Chúng ta phải nên học theo điều ấy. “Bồ Tát ở chỗ nào
cũng đều khiến cho hết thảy chúng sanh sanh
tâm hoan hỷ”. Dẫu kẻ khác là yêu ma, quỷ quái,
cũng khiến cho họ sanh tâm hoan hỷ, chẳng trở
ngại công phu của chúng ta, không ảnh hưởng tín
nguyện kiên định của chúng ta. Nan Trở Phật
dạy chúng ta phương pháp này.
Vị thứ tư là Nhật
Sanh Phật (Adityasambhava). Hết thảy tà ma ngoại đạo đều
chẳng thể chướng ngại quư vị, quư vị
đă thành tựu, sau đấy mới có thể đạt
tới mức độ “giáo học
tương trưởng” (dạy dỗ và học tập
đều khiến cho chính ḿnh và người khác được
thêm tăng tấn), [khiến cho] chánh pháp tồn tại lâu
dài. Nhật Sanh là tỷ dụ, giống như mặt trời
mọc từ phương Đông, quang minh chiếu trọn
khắp.
(Sớ) Nhật Sanh giả, Phật quang sơ hiện,
như nhật sơ thăng dă, kiêm nhị lợi thuyết.
(Sao) Nhị lợi giả, nhất giả tự
lợi, chúng sanh Bổn Giác, phú tại vô minh. Như đại
dạ trung, nhật quang bất hiện. Phá Hoặc, hiển
Trí, Thỉ Giác lăng chiếu, như nhật Đông sanh cố.
Nhị giả lợi tha, Hoa Nghiêm nhị thập tam kinh
vân: “Thí như nhật thiên tử, bất dĩ sanh manh bất
kiến cố, ẩn nhi bất hiện. Bất dĩ Càn
Thát Bà thành, A Tu La thủ, Diêm Phù Đề thụ, sùng nham,
thúy cốc, trần, vụ, yên, vân đẳng vật phú
chướng cố, ẩn nhi bất hiện. Bất
dĩ thời tiết cải biến cố, ẩn nhi bất
hiện”. Dụ Phật thỉ thành Chánh Giác, thuyết pháp
lợi sanh, huệ quang phổ chiếu, như nhật
Đông sanh cố.
(Diễn) “Thí như nhật thiên tử” hạ,
nhật luân phổ chiếu dụ dă. Dụ ngộ ác bất
tức lợi ích. Kinh trung hợp pháp vân: Bất dĩ chúng
sanh kỳ tánh tệ ác, tà kiến sân trược, nan khả
điều phục, tiện tức khí xả, bất tu hồi
hướng. Bất dĩ chúng sanh bất tri báo ân, thoái Bồ
Tát hạnh. Bất dĩ phàm ngu cộng đồng nhất
xứ, xả ly nhất thiết như thật thiện
căn. Bất dĩ chúng sanh sổ khởi quá ác, nan khả
nhẫn thọ, nhi ư bỉ sở, sanh b́ yếm tâm.
Thích viết: Tệ ác hợp sanh manh, tà kiến hợp Càn
Thát Bà thành, linh nhân vọng vị vi thật cố. Sân
trược hợp Tu La thủ, nhật vi Đế Thích
tiên phong. Bỉ sân cố, phú chướng dă. Bất tri ân,
hợp Diêm Phù thụ, sùng nham, thúy cốc. Phàm ngu cộng
đồng nhất xứ, hợp trần, vụ, yên, vân.
Dĩ vân vụ năng biến hư không, do bỉ phàm ngu
đồng nhất xứ trụ cố. Chúng sanh sổ khởi
quá ác, hợp thời tiết cải biến. Vị tần
khởi quá thắc, sạ thiện, sạ ác, như bỉ
trú dạ âm dương dịch độ đẳng.
(疏)日生者,佛光初現,如日初升也,兼二利說。
(鈔)二利者。一者自利。眾生本覺。覆在無明。如大夜中。日光不現。破惑顯智。始覺朗照。如日東生故。二者利他。華嚴二十三經云。譬如日天子。不以生盲不見故。隱而不現。不以乾闥婆城。阿脩羅手。閻浮提樹。崇巖邃谷。塵霧煙雲等物覆障故。隱而不現。不以時節改變故。隱而不現。喻佛始成正覺。說法利生。慧光普照。如日東生故。
(演)譬如日天子下。日輪普照喻也。喻遇惡不息利益。經中合法云。不以眾生其性弊惡。邪見嗔濁。難可調伏。便即棄捨。不修回向。不以眾生不知報恩。退菩薩行。不以凡愚共同一處。捨離一切如實善根。不以眾生。數起過惡。難可忍受。而於彼所生疲厭心。釋曰弊惡合生盲。邪見合乾闥婆城。令人妄謂為實故。瞋濁合修羅手。日為帝釋先鋒。彼嗔故覆障也。不知恩。合閻浮樹崇巖邃谷。凡愚共同一處。合塵霧煙雲。以雲霧能遍虛空。猶彼凡愚同一處住故。眾生數起過惡。合時節改變。謂頻起過忒。乍善乍惡。如彼晝夜陰陽易度等。
(Sớ:
Nhật Sanh: Phật quang vừa mới hiện, như mặt
trời vừa mọc, nói kèm hai điều lợi.
Sao: Hai điều lợi: Một là tự lợi, Bổn
Giác của chúng sanh bị vô minh che lấp, như trong
đêm sâu, ánh sáng mặt trời chẳng hiện. Phá phiền
năo, hiển lộ trí huệ, Thỉ Giác chiếu rạng
ngời, như mặt trời mọc từ phía Đông.
Hai là lợi tha. Kinh Hoa Nghiêm quyển thứ hai mươi ba
chép: “Như nhật thiên tử (mặt trời) chẳng v́
kẻ đui mù từ lúc lọt ḷng không trông thấy bèn ẩn
mất chẳng hiện. Chẳng v́ các vật như thành
Càn Thát Bà, tay A Tu La, cây Diêm Phù Đề, vách đá cao, hang
sâu, bụi bặm, sương mù, khói, mây v.v… che ngăn, bèn
ẩn mất chẳng hiện. Chẳng v́ thời tiết
biến đổi bèn ẩn mất chẳng hiện”. Ví
như đức Phật lúc vừa mới thành Chánh Giác,
thuyết pháp lợi sanh, huệ quang chiếu trọn khắp,
giống như mặt trời mọc từ phương
Đông.
Diễn: Từ câu “ví như nhật thiên tử” trở
đi, ví như vầng mặt trời chiếu trọn khắp,
sánh ví [chư Phật] dẫu gặp kẻ ác vẫn tạo
lợi ích chẳng ngớt. Phối ứng [những tỷ
dụ đă nói trong kinh Hoa Nghiêm] với những pháp
được biểu thị bèn nói: Chẳng v́ căn tánh
của chúng sanh tệ ác, tà kiến, sân hận, dơ bẩn,
khó thể điều phục rồi liền vứt bỏ
họ, chẳng tu hồi hướng. Chẳng v́ chúng sanh
không biết báo ân mà lui sụt Bồ Tát hạnh. Chẳng
v́ ở chung với phàm ngu cùng một chỗ mà bỏ ĺa hết
thảy thiện căn như thật. Chẳng v́ chúng sanh
nhiều lượt phạm lỗi, tạo ác, khó thể
chịu đựng, mà sanh tâm chán nhàm đối với họ.
Giải rằng: “Tệ ác” ứng với kẻ mù từ
lúc lọt ḷng. “Tà kiến” ứng với thành Càn Thát Bà, do
nó khiến cho người ta lầm tưởng là có thật.
Sân hận, dơ bẩn ứng với tay A Tu La. Mặt trời
là tiên phong của Đế Thích, A Tu La do sân hận bèn che lấp
nó. “Chẳng biết ân” ứng với cây Diêm Phù, vách đá
cao, hang sâu. “Cùng ở chung với phàm ngu một chỗ” ứng
với bụi bặm, sương, mù, khói, mây, v́ mây,
sương mù có thể phủ khắp hư không, giống
như ở cùng một chỗ với kẻ phàm ngu. “Chúng
sanh nhiều lượt tạo lỗi, làm ác”, ứng với
thời tiết biến đổi, nghĩa là liên tiếp
phạm lầm lỗi, thoắt thiện, thoắt ác,
như ngày, đêm, âm, dương thay đổi v.v…).
“Nhị lợi”
là tự lợi và lợi tha. Chỉ có thể khắc phục
hết thảy chướng nạn th́ trí huệ mới có
thể sanh khởi. Nay chúng ta học Phật công phu chẳng
đắc lực, nguyên nhân ở chỗ nào? Chẳng chống
nổi ma quấy nhiễu. “Ma”:
Ngũ Ấm là nội ma, bên ngoài mới có thiên ma. Trong kinh
Bát Đại Nhân Giác, đức Phật nói ma có bốn loại.
Thứ nhất là Ngũ Ấm, thứ hai là phiền năo, thứ
ba là thiên ma, thứ tư là tử ma. Ngoại trừ thiên
ma là bên ngoài, những thứ khác đều là ma chướng
nơi bản thân chúng ta, quư vị có thể khắc phục
hay không? Nói cách khác, nghiệp chướng, bệnh tật của
chính ḿnh, cho đến đoản mạng, đều thuộc
về nghiệp chướng, có thể khắc phục hay
không? Chẳng thể khắc phục, đạo nghiệp
sẽ chẳng thể thành tựu, bị ma lôi đi mất
rồi. Nếu chúng ta hỏi: “Có thể khắc phục
hay không?” Thưa cùng chư vị, quyết định là có
thể. Tôi thường khuyên người mới học Phật,
tốt nhất là trước hết hăy đọc Liễu
Phàm Tứ Huấn ba trăm lần, nguyên nhân là khiến cho
quư vị liễu giải chân tướng sự thật
này, hiểu rơ đạo lư này. Vận mạng có, nghiệp
chướng cũng có, nhưng chúng có thể biến đổi.
Tiên sinh Viên Liễu Phàm dùng đoạn ác, tu thiện, tích lũy
công đức để biến đổi vận mạng,
kéo dài thọ mạng của chính ḿnh. Khổng tiên sinh
đoán thọ mạng của ông Viên chỉ có năm
mươi ba tuổi, ông Viên sống tới bảy
mươi mấy tuổi. Đó là hiệu quả do đoạn
ác, tu thiện, tích lũy công đức. Đă sửa, sửa
với mức độ chẳng lớn, sửa nho nhỏ,
sửa cũng rất khổ, người ấy có thu hoạch.
C̣n có phương pháp càng mầu nhiệm, càng thù thắng
hơn phương pháp ấy, phương pháp ǵ vậy?
Kinh Phật thường nói: “Bồ
Tát thừa nguyện tái lai”. Quư vị thừa nguyện
tái lai, nói chung phải là sau khi đă đến Tây
Phương Cực Lạc thế giới thành Bồ Tát,
bèn thả chiếc bè Từ, trở lại thế gian này.
Vậy là chẳng sai, là bậc thành tựu. Trên thực tế,
nếu hiện thời chúng ta phát nguyện mà nguyện lực
của chúng ta vượt trỗi nghiệp lực, nguyện
lực khởi tác dụng, nghiệp lực chẳng khởi
tác dụng, th́ nói cách khác, đấy chính là “thừa nguyện
tái lai” (nương theo nguyện trở lại). Do đó;
chẳng cần đến thế giới Cực Lạc [mới
có thể] thừa nguyện tái lai.
Trong
cơi này, chúng ta phát tâm, [nếu như] nguyện lực vượt
trỗi nghiệp lực, sẽ chuyển biến, nghiệp
chướng tiêu trừ, sửa đổi tập khí, bệnh
tật và biến hóa sinh lư nơi thân thể cũng biến
đổi tốt đẹp. Những điều này nói
theo khoa học đều thông suốt. Nói thật ra, bệnh
tật do đâu mà có? Bệnh sanh từ suy tưởng loạn
xạ. Trong hết thảy các kinh, đức Phật
đă nói rất rơ ràng: Tâm là chủ tể, vạn pháp duy
tâm. Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Y báo và
chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới, duy tâm sở
hiện, duy thức sở biến”. Thân thể của
chúng ta là một hiện tượng trong mười pháp giới,
hiện tượng này là duy tâm sở hiện. Các thứ
biến hóa sinh lư là do duy thức sở biến. “Thức” là tám thức, chúng ta
gọi nó là “tám tâm vương”.
Tám tâm vương của chúng ta bị hư hỏng, khiến
cho cái thân này cũng bị biến đổi thành hư hoại
theo. Thân thể này liền bệnh tật, rắc rối dấy
lên. Nếu tâm tánh của chúng ta tốt đẹp, nó
cũng sẽ biến đổi sắc thân này thành tốt
đẹp, bệnh tật chẳng c̣n nữa! Tâm thanh tịnh,
thân bèn thanh tịnh, đạo lư là như vậy đó! V́
thế, tin sâu đậm, nguyện thiết tha, tâm chúng ta
chân thành, thanh tịnh, đại từ, đại bi, thân
này bèn biến đổi. Vốn có bệnh mà chẳng cần
đi bác sĩ, bệnh tự lành. V́ sao? Nó tự điều
chỉnh. Đều là dụng công dốc sức nơi tâm
địa, cầu chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng
nơi tâm địa, trí huệ như vậy
đương nhiên sẽ phát khởi. Trên thực tế sẽ
là “nhân Giới sanh Định,
nhân Định khai Huệ” như trong kinh Phật đă
nói.
Thanh tịnh, b́nh đẳng, giác là Giới,
Định, Huệ. Tựa đề kinh Vô Lượng Thọ
là “thanh tịnh, b́nh đẳng,
giác”, thanh tịnh là Giới, b́nh đẳng là Định,
giác là Huệ. Chúng ta dùng “chân
thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, từ bi” để
tu Giới, Định, Huệ; với t́nh h́nh ấy, chúng
ta đă có Định. Định đă có th́ Huệ hiện
tiền, tức là Phật quang xuất hiện. Phật
quang ở đây chẳng phải là Phật quang từ bên
ngoài, mà là Phật quang của chính ḿnh. Phật có nghĩa là
giác, là tự giác. Trí huệ Bát Nhă vốn sẵn có trong bản
tánh của chính ḿnh thấu lộ, đó là Phật quang, “như nhật sơ thăng”
(như mặt trời mới mọc). Đă tự lợi,
lại có thể lợi tha, chỉ có như thế, chánh
pháp mới có thể tồn tại lâu dài trên thế gian, mới
có thể thật sự lợi ích hết thảy chúng sanh.
Chúng ta không hiểu rơ đạo lư này, chẳng hiểu rơ
chân tướng sự thật, cho nên học Phật
thường bị thoái chuyển, hễ gặp phải
chướng ngại bèn nguội lạnh tấm ḷng, gặp
khó khăn bèn chẳng dám tiến lên, bèn thoái chuyển. Hiểu
rơ đạo lư, hiểu rơ chân tướng sự thật,
[điều ấy được biểu thị qua danh hiệu]
Nan Trở Phật trong phần trước, chướng
ngại nào cũng đều chẳng thể ngăn trở
quư vị được, thanh tịnh, b́nh đẳng, giác
bèn thành tựu, sẽ tu thành công Tam Học Giới, Định,
Huệ. Chúng ta lại xem vị Phật cuối cùng.
(Sớ) Vơng Minh giả.
(疏)網明者。
(Sớ: Vơng Minh (Jālinprabha)).
Đức hiệu của vị Phật này
được kiến lập từ tỷ dụ. “Vơng” (網: lưới) là cái lưới
Nhân Đà La (Indra) của Đại Phạm Thiên, đức
Phật giảng kinh thường dùng nó làm tỷ dụ. “Minh” (明) là quang minh, cái lưới báu
ấy tỏa ánh sáng.
(Sớ) Trí như bảo vơng, biến chiếu chúng
sanh cố.
(疏)智如寶網,遍照眾生故。
(Sớ: Trí như lưới báu, v́ chiếu khắp
chúng sanh).
Biểu thị phương pháp độ
chúng sanh của Bồ Tát: Dùng vô lượng vô biên pháp môn phổ
độ hết thảy chúng sanh. Đến đây, sáu
phương mới nói đến phương thứ
tư. Bồ Tát tu học xác thực là có công phu rất cao
sâu, chẳng phải là học hỏi nông cạn, vị ấy
mới có năng lực khai hiển vô lượng pháp môn.
Trong thế gian này, như Long Thọ Bồ Tát trong quá khứ,
người Hoa nói Long Thọ Bồ Tát là “Đại Thừa bát tông cộng tổ” (tổ
chung của tám tông Đại Thừa). Tám tông Đại Thừa
đều do Ngài truyền, chuyện này giống cái lưới
Nhân Đà La của Đại Phạm Thiên. Có bao nhiêu vị
Bồ Tát suốt đời chỉ truyền một pháp
môn, c̣n ngài Long Thọ truyền vô lượng vô biên pháp môn,
Ngài có năng lực ấy. Đối với hết thảy
căn tánh bất đồng của chúng sanh, Ngài đều
có phương pháp để dạy họ. Đó là trí huệ
chân thật viên măn hiện tiền, nên Ngài mới có năng
lực ấy. Chuyện này chúng ta chẳng thể học
theo, chẳng có cách nào học được. Trong Văn
Sao, Ấn Quang đại sư thường nói: Đó là bậc
đại thông gia, chẳng phải là phàm nhân! Hết thảy
các pháp thế gian và xuất thế gian Ngài đều thấu
suốt, người như vậy th́ mới được.
Nay chúng ta tu học, chẳng khai ngộ, chẳng chứng
quả, chẳng thoát khỏi tam giới, đều chẳng
được coi là thành tựu. Đă khai ngộ th́ vẫn
chưa được! Đă khai ngộ mà chưa có
năng lực vượt thoát tam giới, liễu đoạn
sanh tử th́ đều chẳng coi là thành tựu.
Đối với Tứ Hoằng Thệ
Nguyện, chúng ta thiên trọng hai nguyện trước.
Chúng ta phải phát đại Bồ Đề tâm, phải
đoạn phiền năo, thâm nhập một môn là đoạn
phiền năo. Giống như kinh Di Đà đă dạy chúng
ta “nhất tâm bất loạn”,
kinh Vô Lượng Thọ dạy chúng ta “một mực chuyên niệm”, chúng ta đi theo một
môn. Đến thế giới Cực Lạc, thấy A Di
Đà Phật, Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư bảo:
“Chỉ được thấy
Di Đà, lo ǵ chẳng khai ngộ”. Thấy A Di Đà Phật,
khai ngộ, chúng ta lại học hai điều sau đó: “Pháp môn vô lượng thệ nguyện
học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện
thành”. Đến thế giới Tây Phương, chúng ta
lại làm hai điều ấy; hiện thời bèn thực
hiện hai điều trước. Đó là ổn thỏa,
thích đáng, tuyệt đối chẳng trở thành xôi hỏng
bỏng không, chúng ta thật sự nắm chắc là có thể
làm được! Hiện thời, chúng ta thấy kẻ
b́nh phàm học Phật điên đảo, họ cũng chẳng
phát tâm. “Chúng sanh vô biên thệ
nguyện độ” là “miệng
có, tâm không”. V́ sao? Thấy chúng sanh này đáng ghét, thấy
kẻ kia ngứa mắt, họ chẳng độ những
kẻ đó. Họ muốn độ những kẻ họ
ưa thích, chẳng độ những kẻ họ thấy
ngứa mắt, chẳng độ kẻ không có lợi ích
ǵ cho họ! Lấy đâu ra cái gọi là “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”? Người
ấy cũng chẳng đoạn phiền năo; tham, sân, si,
mạn hằng ngày tăng trưởng, người ấy
thực hiện từ chỗ nào? Từ “pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật
đạo vô thượng thệ nguyện thành”, người
ấy làm hai chuyện ấy. Chuyện này giống như
chúng ta xây một ṭa cao ốc, cao ốc có bốn tầng lầu,
chẳng cần hai tầng dưới cùng, dựng ngay tầng
thứ ba và tầng thứ tư. Đó là muốn dựng
lầu gác trên không trung, là huyễn tưởng, quyết
định chẳng phải là sự thật, sai bét mất
rồi!
Bồ Tát sau khi trí huệ và đức hạnh
đă viên măn, phương pháp độ chúng sanh sẽ triển
hiện vô lượng vô biên, có thể ứng với hết
thảy các căn tánh bất đồng. Nói thông thường,
từ bậc Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo trở lên
th́ mới có năng lực này. Giống như trong kinh
Lăng Nghiêm, hoặc như trong phẩm Phổ Môn đă
nói: “Nên dùng thân Phật để
độ, bèn hiện thân Phật để thuyết pháp.
Nên dùng thân Bồ Tát bèn hiện
thân Bồ Tát để thuyết pháp”. Ngài có thể tùy
loại hiện thân, có thể tùy duyên thuyết pháp. Đấy
chính là ư nghĩa của đoạn này.
(Sao) Vơng giả, tức Phạm vơng thiên châu. Thiên châu
giao ánh, quang minh đỗng triệt, như Phật trí biến
phú chúng sanh, vô sở bất chiếu cố. Hựu chủng
chủng pháp môn, hỗ tương dung triệt, giác quần
mê cố.
(Diễn) Phạm vơng thiên châu giả, Đại
Phạm thiên cung hữu vơng la tràng, hồng quang hỗ tạ,
thái sắc giao huy. Thời Phật quán chư la vơng, nhân vị
thuyết vô lượng thế giới, do như vơng khổng,
các các bất đồng, biệt dị vô lượng. Phật
giáo môn diệc phục như thị đẳng. Hựu chủng
chủng pháp môn hỗ tương dung triệt giả, nhất
môn thiệp nhập vô lượng môn, vô lượng môn thiệp
nhập nhất môn dă. Thượng nghĩa ước biến
phú thuyết, thử nghĩa ước giao dung thuyết.
(鈔)網者,即梵網千珠。千珠交映,光明洞徹,如佛智遍覆眾生,無所不照故。又種種法門,互相融徹,覺群迷故。
(演)梵網千珠者。大梵天宮有網羅幢。紅光互射。彩色交輝。時佛觀諸羅網。因為說無量世界。猶如網孔。各各不同。別異無量。佛教門亦復如是等。又種種法門互相融徹者。一門涉入無量門。無量門涉入一門也。上義約遍覆說。此義約交融說。
(Sao:
“Vơng” là cái lưới có ngàn hạt châu của Phạm
Thiên. Ngàn hạt châu chiếu rọi lẫn nhau, quang minh chiếu
thấu suốt, như trí Phật bao trùm khắp chúng sanh,
không ǵ chẳng chiếu tới. Lại nữa, các thứ
pháp môn dung thông, thấu triệt lẫn nhau, giác ngộ những
kẻ mê muội.
Diễn: Cái
lưới ngàn viên châu của Phạm Thiên: Trong cung của
Đại Phạm Thiên có vơng la tràng, tỏa ra ánh sáng màu
đỏ xen lẫn, màu sắc rực rỡ chiếu xen.
Khi ấy, đức Phật quán mành lưới ấy, bèn
v́ đó nói vô lượng thế giới ví như những
mắt lưới, mỗi mỗi đều khác nhau, khác
biệt vô lượng. Giáo môn (các pháp môn) của
đức Phật cũng giống như vậy. Lại
nữa, các pháp môn dung thông, thấu triệt lẫn nhau,
một môn tấn nhập vô lượng môn, vô lượng
môn tấn nhập một môn. Nghĩa trước là nói theo
phương diện trùm khắp, nghĩa sau là nói theo
phương diện dung thông lẫn nhau).
Dùng cái lưới Nhân Đà La của Đại
Phạm Thiên để làm tỷ dụ.
(Sớ) Xứng Lư, tắc tự tánh hàm nhiếp bất
khả tận, thị Bắc phương hằng sa Phật
nghĩa.
(Sao) Bắc phương vi Đông.
(疏)稱理,則自性含攝不可盡,是北方恆沙佛義。
(鈔)北方為冬。
(Sớ:
Xứng Lư, tự tánh hàm nhiếp chẳng thể tận
chính là ư nghĩa phương Bắc có hằng sa Phật.
Sao:
Phương Bắc là mùa Đông).
Bốn phương phối
hợp Tứ Quư, tức là phối ứng với bốn
mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông.
(Sao) Đông chủ tàng.
(鈔)冬主藏。
(Sao: Mùa Đông chuyên chủ thâu tàng).
Xuân sanh, Hạ trưởng,
Thu thâu hoạch, Đông ẩn tàng. Mùa Đông chủ tŕ sự
thâu tàng.
(Sao) Vạn vật chi sở
thành chung, nhi sở thành thỉ dă.
(Diễn) Vạn
vật chi sở thành chung thành thỉ giả, ư thời,
tắc vi quần âm bác tận, nhất dương phục
sanh. Ư vật, tắc vi thật lư cụ bị, sanh dục
chi nguyên. Ư nhân, tắc vi trí nhi vi chúng sự chi cán.
(鈔)萬物之所成終,而所成始也。
(演)萬物之所成終成始者。於時。則為群陰剝盡。一陽復生。於物則為實理具備。生育之原。於人。則為智而為眾事之幹。
(Sao:
Đối với muôn vật, [mùa Đông] là kết thúc của
sự sanh thành, mà cũng là khởi đầu cho sự
sanh thành.
Diễn: “Kết thúc của sự sanh thành mà cũng là khởi
đầu của sự sanh thành”: Đối với thời
gian, khi các Âm đă hết sạch, một Dương lại
sanh. Đối với vật th́ Thật lư trọn đủ,
là nguồn cội của sự sanh trưởng. Đối
với người th́ trí là nguồn cội của các sự).
Kết thúc và khởi đầu là cùng một
chuyện. Mùa Thu hái gặt, ví như thâu hoạch lúa, đó
là kết thúc, [lúa] đă trưởng thành, kết quả.
Nhưng những hạt lúa ấy lại là hạt giống
cho năm sau, nó lại là khởi đầu. “Thành chung, thành thỉ” sanh
trưởng chẳng ngừng, vĩnh viễn chẳng diệt.
Chẳng phải là một giai đoạn từ sanh đến
diệt là xong, nó là sanh sôi chẳng ngừng. Mùa Đông
đă qua, mùa Xuân lại đến. Ba Mươi tháng Chạp
đă qua, mồng Một tháng Giêng bèn đến. Ba
Mươi tháng Chạp là kết thúc, mồng Một tháng
Giêng là khởi đầu. Sau kết thúc là khởi đầu,
sanh trưởng chẳng ngớt!
(Sao) Kim tắc bách thiên pháp môn, đồng quy
phương thốn.
(Diễn) Bách thiên pháp môn thị Bát Nhă đức,
vô biên đức dụng thị Giải Thoát đức,
đồng quy phương thốn tổng tại tâm
nguyên. Thị tổng nhất Pháp Thân đức dă.
(鈔)今則百千法門,同歸方寸。
(演)百千法門是般若德。無邊德用是解脫德。同歸方寸總在心源。是總一法身德也。
(Sao:
Nay trăm ngàn pháp môn cùng quy vào một tấc vuông.
Diễn: Trăm ngàn pháp môn là Bát Nhă đức, vô biên đức
dụng là Giải Thoát đức, “cùng quy vào một tấc
vuông” trong một nguồn tâm, tức là gộp tất cả
vào Pháp Thân đức).
“Bách thiên” chẳng phải là con số, mà nhằm biểu thị
vô lượng vô biên pháp môn. Nếu nói đến “chung” (終: kết thúc) của vô lượng
vô biên pháp môn, “chung” là quy, [tức
là] đều quy vào nhất tâm. Kinh Di Đà bảo “nhất tâm bất loạn”. Cổ
đại đức xưng dương Tịnh Tông, bảo:
“Ngàn kinh vạn luận, khác
đường mà cùng về một nơi”, [ư nói] đều
quy vào Tịnh Độ. Do vậy, Tịnh Độ là “thành chung, thành thỉ”; lời
này là thật, mà cũng xác thực là sự thật. V́ từ
kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy vị đạt đến “đăng phong tạo cực”
(tột đỉnh, tuyệt diệu) trong các vị Bồ
Tát là Phổ Hiền Bồ Tát đă dùng “mười đại nguyện vương dẫn
về Cực Lạc”, đó là “thành chung”. Đă tới Tây Phương Cực Lạc
thế giới, viên chứng ba món Bất Thoái, viên thành vô
thượng Bồ Đề, đó là “thành thỉ”. Như vậy th́ chúng ta mới thật
sự hiểu rơ ràng, hiểu minh bạch công đức và
lợi ích thù thắng của Tây Phương Cực Lạc
thế giới, chúng ta sẽ khăng khăng một mực
niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, trọn chẳng
lay động. V́ sao có người bị dao động? Kẻ
ấy chẳng hiểu rơ ràng, vẫn nghĩ là có pháp môn
khác tốt đẹp hơn, thù thắng hơn pháp môn này.
Thật ra, kẻ ấy đă phạm sai lầm. Nếu
quư vị lại chú tâm quan sát, [sẽ thấy] Tông Môn và Giáo
Hạ đều do Văn Thù Bồ Tát truyền. Thiền
Tông chẳng ĺa Văn Thù Bồ Tát, Giáo Hạ cũng chẳng
ĺa Văn Thù Bồ Tát. Tịnh Độ Tông và Mật Tông đều
do Phổ Hiền Bồ Tát truyền. Trong hội Hoa Nghiêm, “mười đại nguyện
vương dẫn về Cực Lạc” chính là Phổ
Hiền Bồ Tát. V́ thế, Phổ Hiền Bồ Tát là Tịnh
Tông Sơ Tổ trong thế giới Sa Bà. Mật Tông do Phổ
Hiền Bồ Tát truyền. Thuở ấy, tại Nam Thiên,
Long Thọ Bồ Tát mở tháp sắt, thấy Kim Cang Tát
Đỏa (Vajrasattva), tức là Kim Cang
Thủ Bồ Tát (Vajrapāṇi), Ngài truyền Mật
pháp cho Long Thọ. Long Thọ truyền lại [cho người
đời sau]. Kim Cang Tát Đỏa là ai? Chính là hóa thân của Phổ Hiền
Bồ Tát. Do vậy có thể biết: Mười tông phái
Đại Thừa đều do hai vị đại Bồ
Tát trong kinh Hoa Nghiêm truyền thừa. Hai vị ấy đều
niệm A Di Đà Phật văng sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới, đấy chẳng phải là “vô lượng vô biên pháp môn tuy
khác đường mà về cùng một chỗ” ư? Ở
đây, chúng ta đă được ấn chứng, đă được
chứng minh, xác thực là quy về Tịnh Độ,
thành Phật trong Tịnh Độ.
“Bách thiên pháp môn,
đồng quy phương thốn” (Trăm ngàn pháp
môn cùng về một tấc vuông): Đồng quy nhất
tâm. Nói cách khác, vô lượng vô biên pháp môn đều từ
nhất tâm lưu xuất. Từ nhất tâm lưu xuất,
trở về nhất tâm. Vậy th́ mới biết: Tất
cả hết thảy các pháp môn đều là tu nhất tâm.
Tuy tên gọi chẳng phải là nhất tâm, nhưng trên thực
tế là nhất tâm. Công phu được sử dụng
trong nhà Thiền, bất luận là dùng quán tâm, hoặc dùng
tham thoại đầu, nếu chẳng quy vào nhất tâm,
sẽ chẳng thể khai ngộ. Đại triệt
đại ngộ là ǵ? Trở về nhất tâm, bèn đại
triệt đại ngộ, bèn thông đạt, hiểu rơ hết
thảy. Từ Lục Tổ Đàn Kinh, chúng ta có được
chứng cứ: Lục Tổ không biết chữ, chưa
từng học hành, mà cũng chưa hề nghe kinh. Ngài chỉ
nghe Ngũ Tổ giảng kinh Kim Cang; giảng một phần
ba, Ngài liền khai ngộ, chẳng cần giảng hết!
Thế mà sau này, Ngài gặp nhiều bộ kinh điển,
người khác đọc cho Ngài nghe, Ngài liền có thể
giảng cho họ nghe, Ngài đều có thể thông đạt!
Đó là đă đắc nhất tâm, hết thảy đều
thông đạt, hết thảy đều hiểu rơ. Đấy
là “đại triệt đại
ngộ” trong Thiền Tông, Tịnh Độ Tông gọi [đại
triệt đại ngộ] là “nhất
tâm bất loạn”, trong Giáo Hạ gọi là “đại khai viên giải”,
trong Mật Tông gọi là “tam mật
tương ứng”. Mỗi tông phái có danh từ thuật
ngữ riêng, trên thực tế là cùng một chuyện. Tuy
là cùng một chuyện, chúng ta lại chú tâm nh́n sâu xa
hơn, [sẽ thấy] Tịnh Tông hay, Tịnh Tông khéo. V́
sao? Trực tiếp tu nhất tâm bất loạn. Những
tông khác tu nhất tâm c̣n phải đi đường ṿng,
c̣n có khá nhiều tầng cấp mới ḥng đạt tới.
Pháp môn này (Tịnh Độ Tông) rất đơn giản,
dùng một câu A Di Đà Phật để trực tiếp
tu nhất tâm bất loạn, pháp môn này thù thắng hơn
những pháp môn khác. V́ thế, nó là tu trực tiếp, chẳng
phải là tu gián tiếp. Tu trực tiếp th́ gọi là “pháp môn viên đốn, thành tựu
trong một đời”. Nếu chẳng phải là tu trực
tiếp, bèn gọi là “tiệm
chứng” (漸證, chứng đắc
dần dần), có tầng lớp, có Thập Tín, Thập Trụ,
Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa,
Đẳng Giác, có năm mươi mốt giai cấp. Tịnh
Tông chẳng có giai cấp; v́ thế, được gọi
là “đốn siêu” (頓超).
(Sao) Vô biên đức dụng, tổng tại tâm
nguyên.
(鈔)無邊德用,總在心源。
(Sao: Vô biên đức dụng đều ở trong
nguồn tâm).
“Đức dụng”,
nói về phía chính ḿnh th́ là Tự Thọ Dụng, hưởng
thụ chân, thiện, mỹ, huệ. Tha Thọ Dụng là
vô lượng trí huệ, vô lượng phương tiện
thiện xảo nhằm giáo hóa hết thảy chúng sanh,
đều ở trong “tâm nguyên”, tức cội nguồn của
cái tâm. “Tâm” là tám thức,
[nói chi tiết sẽ là] tám tâm vương, năm
mươi mốt tâm sở. “Nguyên”
(源) là chân tâm bản
tánh.
(Sao) Mịch chi tắc vô tướng, vô h́nh.
(Diễn)
Mịch chi tắc vô tướng, vô h́nh giả. Dĩ tự
tánh phi hữu tướng, phi vô tướng, phi phi hữu
phi vô tướng, phi diệc hữu diệc vô tướng,
phi nhất tướng, phi dị tướng, phi câu phi
tướng, phi nhất dị câu tướng, viễn ly
nhất thiết chư tướng cố.
(鈔)覓之則無相無形。
(演)覓之則無相無形者。以自性非有相。非無相。非非有非無相。非亦有亦無相。非一相。非異相。非俱非相。非一異俱相。遠離一切諸相故。
(Sao: T́m th́ vô tướng, vô h́nh.
Diễn: “T́m th́ vô tướng, vô h́nh”: Do tự tánh chẳng
phải là có tướng, chẳng phải là vô tướng,
chẳng phải là tướng ‘chẳng phải có, chẳng
phải không’, cũng chẳng phải là ‘vừa có tướng,
vừa không tướng’, chẳng phải là một tướng,
chẳng phải là khác tướng, chẳng phải là ‘không
phải là một tướng và không phải là khác tướng’,
cũng chẳng phải ‘vừa là một tướng vừa
khác tướng’, do xa ĺa hết thảy các tướng vậy).
Chân tâm chẳng có h́nh tướng, chẳng
có h́nh trạng, t́m chẳng thấy!
(Sao) Xuất chi tắc vô cùng, vô tận.
(Diễn) Xuất chi tắc vô cùng vô tận
giả, thử viên giác tánh, bổn hữu quá trần sa chi
diệu dụng, tiềm hưng, mật ứng, vô hữu
hưu tức, vô hữu cùng tận cố.
(鈔)出之則無窮無盡。
(演)出之則無窮無盡者。此圓覺性。本有過塵沙之妙用。潛興密應。無有休息。無有窮盡故。
(Sao:
Khởi tác dụng bèn vô cùng, vô tận.
Diễn: “Khởi tác dụng bèn vô cùng, vô tận”: Tánh viên giác
ấy vốn có diệu dụng nhiều hơn cát, bụi,
thầm hưng khởi, ngầm ứng hợp, chẳng hề
ngưng nghỉ, chẳng có cùng tận).
“Xuất” (出) là khởi tác dụng.
Khi khởi tác dụng bèn vô cùng, vô tận.
(Sao) Bổn lai cụ túc.
(鈔)本來具足。
(Sao:
Vốn trọn đủ).
Câu này hết sức quan trọng, ai nấy
đều có! “Bổn lai cụ
túc” (vốn sẵn trọn đủ): Chẳng thiếu
khuyết chút nào! So sánh giữa chúng ta và hết thảy
chư Phật Như Lai, các Ngài chẳng nhiều hơn
chúng ta tí nào, mà chúng ta cũng chẳng thua kém các Ngài tí nào!
(Sao) Bất giả tha cầu.
(Diễn) Bổn lai cụ túc, bất giả
tha cầu giả, vọng tâm ngoại niệm cầu chi bất
tận, tịnh đức tánh măn vô giả ngoại cầu
dă.
(鈔)不假他求。
(演)本來具足。不假他求者。妄心外念求之不盡。淨德性滿無假外求也。
(Sao:
Chẳng phải cầu chi khác.
Diễn: “Vốn sẵn trọn đủ, chẳng phải
cầu chi khác”: Tâm niệm hư vọng hướng ra
ngoài để cầu th́ [dẫu cầu cách mấy]
cũng vẫn chẳng trọn hết được. Tánh
trọn đủ tịnh đức chẳng cần phải
cầu từ bên ngoài).
Câu này khẩn yếu. Nếu cầu điều
ǵ khác, sai lầm quá đỗi! Phật pháp là cầu
nơi chân tâm bản tánh của chính ḿnh, chẳng cầu những
thứ bên ngoài. Phật pháp được gọi là Nội
Học là do đạo lư này, hết thảy cầu từ
tâm địa! Trạng huống thân thể và hoàn cảnh sống
của chúng ta đều cầu từ tâm địa, chớ
nên cầu từ bên ngoài. Dẫu cầu được từ
bên ngoài, cũng rất dễ dàng mất đi. Bên ngoài có
được, mất, chẳng phải là vốn sẵn có.
Cái vốn có th́ chẳng có được, mất. Của
chính ḿnh th́ làm sao có thể nói là “được”? Chẳng
thể nói là được! Đă là chẳng có được,
lấy đâu ra “mất”? V́ thế, bảo là chẳng có
“được, mất”. Hết thảy đều cầu
từ tự tánh, cầu từ chân tâm; đấy là
đúng.
(Sao) Thị cố chúng
sanh tâm, tức danh Như Lai Tạng.
(Diễn) Chúng sanh tâm, tức phàm phu bổn cụ
Tánh Đức. Như Lai Tạng, thị quả Phật
viên minh chi Thể, nhi chúng sanh Tánh Đức chi Phật, phi
tự, phi tha, phi nhân, phi quả, tức thị viên thường
đại giác chi Thể. Cố tức danh Như Lai Tạng.
Hựu chúng sanh tâm giả, tức thị sanh diệt môn
trung bất giác nghĩa. Y nhất niệm vô minh, toại
thành nghiệp thức, phục tùng nghiệp thức, chuyển
khởi sự thức. Dĩ tùy sự ban duyên, phân biệt
lục trần, thị chúng sanh tâm tướng dă. Hựu
Như Lai Tạng giả, tức thị sanh diệt môn
trung giác nghĩa, vị tâm thể ly niệm, pháp giới nhất
tướng, tức thị Như Lai b́nh đẳng Pháp
Thân. Thị tức danh vi Như Lai Tạng dă. Nhi chúng sanh
tâm, tức danh Như Lai Tạng giả. Dĩ bất giác
tâm bất ly bổn giác cố. Luận vân: “Nhược ly
giác tánh, tắc vô bất giác. Nhược ly bất giác chi
tâm, diệc vô chân giác tự tướng khả thuyết”.
Hựu vân: “Thí như chủng chủng ngơa khí, giai đồng
vi trần tánh tướng. Như thị vô lậu vô minh chủng
chủng nghiệp huyễn, giai đồng Chân Như tánh
tướng”, thị dă.
(鈔)是故眾生心,即名如來藏。
(演)眾生心。即凡夫本具性德。如來藏。是果佛圓明之體。而眾生性德之佛。非自非他。非因非果。即是圓常大覺之體。故即名如來藏。又眾生心者。即是生滅門中不覺義。依一念無明。遂成業識。復從業識。轉起事識。以隨事扳緣。分別六塵。是眾生心相也。又如來藏者。即是生滅門中覺義。謂心體離念。法界一相。即是如來平等法身。是即名為如來藏也。而眾生心。即名如來藏者。以不覺心不離本覺故。論云。若離覺性。則無不覺。若離不覺之心。亦無真覺自相可說。又云。譬如種種瓦器。皆同微塵性相。如是無漏無明種種業幻。皆同真如性相。是也。
(Sao:
V́ thế, cái tâm của chúng sanh được gọi là Như
Lai Tạng.
Diễn: “Tâm chúng sanh” chính là Tánh Đức vốn sẵn có
của phàm phu. Như Lai Tạng là cái Thể viên minh của
Phật quả, là vị Phật nơi Tánh Đức của
chúng sanh, chẳng phải tự, chẳng phải tha, chẳng
phải nhân, chẳng phải quả, tức là cái Thể của
đại giác viên thường. V́ thế, gọi là Như
Lai Tạng. Lại nữa, tâm chúng sanh chính là ư nghĩa Bất
Giác trong Sanh Diệt môn. Do nương theo một niệm vô
minh, bèn thành nghiệp thức. Lại từ nghiệp thức,
chuyển biến, dấy lên sự thức. Do phan duyên theo
Sự mà phân biệt sáu trần. Đó là cái tướng của
tâm chúng sanh. Lại nữa, Như Lai Tạng chính là ư
nghĩa Giác trong Sanh Diệt môn, ư nói: Tâm thể ly niệm,
pháp giới nhất tướng chính là Pháp Thân b́nh đẳng
của Như Lai, đó gọi là Như Lai Tạng.
Nhưng tâm chúng sanh được gọi là Như Lai Tạng
là v́ cái tâm bất giác chẳng ĺa Bổn Giác. Văng Sanh Luận
nói: “Nếu ĺa giác tánh th́ chẳng có bất giác. Nếu ĺa cái tâm bất giác, cũng chẳng
có tự tướng của chân giác để có thể nói
được!” Luận lại nói: “Ví như các món đồ
bằng sành đều có cùng tánh và tướng với
vi trần, các thứ nghiệp vô lậu vô minh hư huyễn
như vậy, đều có cùng tánh và tướng với
Chân Như” chính là nói về ư này).
Như Lai Tạng là tiếng xưng hô đối
với Phật. Tạng (藏) là giống như kho chứa, giống như ở
trong tâm Phật bao hàm vô lượng vô biên trí huệ, đức
năng, tài nghệ. Cái tâm của bọn chúng sanh chúng ta là Như
Lai Tạng. V́ sao nay chúng ta chẳng thể khởi tác dụng?
Do tâm chúng ta loạn, nên chẳng khởi tác dụng. Loạn
nhưng hoàn toàn chẳng mất đi, vẫn là vốn trọn
đủ. Đức Phật dạy chúng ta phương
pháp để điều chỉnh nó. Trong kinh điển
Đại Thừa Phật pháp, đức Phật có nói lời
chân thật: “Phật chẳng
độ chúng sanh”. Chúng sanh do ai độ? Chính ḿnh
độ, tự ngộ, tự độ. Xác thực là
chính ḿnh độ, chẳng phải do Phật độ, Phật
chẳng thể độ chúng sanh. Nếu Phật có thể
độ chúng sanh, chúng ta cần ǵ phải tu hành nữa?
Đức Phật đại từ đại bi giúp chúng
ta tu hành là được rồi! Ắt cần phải
điều chỉnh chính ḿnh, điều chỉnh loạn
tâm thành tâm thanh tịnh, khôi phục cái tâm ô nhiễm thành
thanh tịnh, điều chỉnh loạn thành định,
điều chỉnh nhiễm thành tịnh, là được
rồi. Bất luận phương pháp nào, bất luận
pháp môn nào, tổng cương lănh, tổng nguyên tắc
đơn giản như vậy đó, sẽ thành công!
(Kinh) Các ư kỳ quốc, xuất quảng trường
thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế
giới, thuyết thành thật ngôn: “Nhữ đẳng
chúng sanh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả
Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật
Sở Hộ Niệm Kinh”.
(經)各於其國。出廣長舌相。遍覆三千大千世界。說誠實言。汝等眾生。當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。
(Kinh:
Mỗi vị ở trong nước ḿnh hiện tướng
lưỡi rộng dài che khắp tam thiên đại thiên thế
giới, nói lời thành thật: “Chúng sanh các ngươi hăy
nên tin kinh Khen Ngợi Công Đức Chẳng Thể
Nghĩ Bàn Được Hết Thảy Chư Phật Hộ
Niệm này”).
Nhằm đặc biệt nhắc nhở:
Chúng ta phải coi trọng. Mở Đại Tạng Kinh
ra, trong tất cả hết thảy các kinh, kinh nào có tựa
đề như vậy? “Xưng
Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức”, ai
xưng tán? Hết thảy chư Phật Như Lai xưng
tán. “Công đức chẳng thể
nghĩ bàn” là ǵ? Là công đức chẳng thể
nghĩ bàn của A Di Đà Phật từ nhân đến quả,
từ sơ phát tâm măi cho đến khi đă thành Phật,
rộng độ chúng sanh. Đó là nói theo Sự. Nói theo Lư,
đấy là công đức chẳng thể nghĩ bàn mà bản
thân chúng ta vốn sẵn trọn đủ, [công đức
ấy] tức là chân tâm, là bản tánh của chính ḿnh. “Nhất Thiết Chư Phật
Sở Hộ Niệm Kinh”: Câu này cũng là nói theo mặt
Sự. Đă là hết thảy chư Phật đều hộ
niệm bộ kinh này; nói cách khác, hết thảy chư Phật
nhất định phải tuyên giảng bộ kinh này. “Hộ niệm” là ǵ? Hộ niệm
là tuyên giảng, chẳng phải là coi bộ kinh này như
bảo bối, canh giữ cho thật kỹ. Tướng của
tất cả hết thảy các vật đều là “thành,
trụ, hoại, không”, đều chẳng ǵn giữ
được. Tuyên giảng, lưu thông bộ kinh này,
đó là “hộ niệm”. Những
kinh khác chẳng nói “hết thảy
chư Phật hộ niệm”, chỉ riêng bộ kinh này
là được hết thảy chư Phật hộ niệm,
quư vị mới biết: Trong toàn thể Phật pháp, trong
pháp giới của hết thảy chư Phật, không chỉ
là một ḿnh Thích Ca Mâu Ni Phật, mà là vô lượng vô biên
hết thảy chư Phật, trong đại hoàn cảnh ấy,
kinh này là kinh bậc nhất, cho nên được hết
thảy chư Phật hộ niệm. Nay chúng ta đọc
bộ kinh này, thọ tŕ bộ kinh này, chiếu theo bộ
kinh này tu hành, đương nhiên là được hết
thảy chư Phật hộ niệm. Được hết
thảy chư Phật hộ niệm, lẽ nào quư vị
chẳng tự tại? Lẽ nào quư vị chẳng sung
sướng? Quư vị c̣n gặp khó khăn chi nữa? Chẳng
thể nào có chuyện ấy! Hễ quư vị gặp
chướng nạn, chẳng sung sướng; nói cách khác,
quư vị chẳng được hết thảy chư Phật
hộ niệm, quư vị đă hoàn toàn trái nghịch kinh này!
Dẫu niệm Phật, do “miệng
có, tâm không”, cho nên chẳng có cảm ứng. Đă thật
sự hiểu rơ, hiểu minh bạch, quư vị tu học
pháp môn này, đời hiện tại này sẽ vui sướng
khôn sánh! Đối với thế giới Cực Lạc,
[quư vị] hiện đang là người trong thế giới
Cực Lạc. Hiện tại vui sướng khôn sánh th́ mới
tương ứng với thế giới Cực Lạc.
Hôm nay, chúng tôi giảng đến chỗ này!
Tập 266
Xin xem
A Di
Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang
năm trăm bốn mươi ba:
(Kinh) Xá Lợi Phất! Hạ phương thế giới
hữu Sư Tử Phật, Danh Văn Phật, Danh Quang Phật,
Đạt Ma Phật, Pháp Tràng Phật, Tŕ Pháp Phật,
như thị đẳng Hằng hà sa số chư Phật.
(經)舍利弗。下方世界。有師子佛。名聞佛。名光佛。達摩佛。法幢佛。持法佛。如是等恆河沙數諸佛。
(Kinh:
Xá Lợi Phất! Thế giới phương dưới
có Sư Tử Phật, Danh Văn Phật, Danh Quang Phật,
Đạt Ma Phật, Pháp Tràng Phật, Tŕ Pháp Phật. Hằng
hà sa số chư Phật như thế).
Ở đây nói đến “hạ phương thế giới”, đức Thế
Tôn nêu đại lược đức hiệu của sáu
vị Phật. Danh hiệu của sáu vị Phật này biểu
thị đại hạnh giáo hóa, phổ độ chúng
sanh. Đó là sự nghiệp của đại Bồ Tát.
Nói thông thường, mức độ thấp nhất
cũng là Sơ Địa Bồ Tát th́ mới có thể
gánh vác, giống như chư Phật Như Lai phổ
độ chúng sanh. Đức hiệu của vị Phật
thứ nhất là Sư Tử Phật (Sinha), biểu
thị
Pháp Thân. Chúng ta thấy trong kinh thường gọi đệ
tử của đức Phật là “pháp vương tử”. Đức Phật là Pháp
Vương. Các vị Pháp Thân đại sĩ như vậy
có thể kế thừa sự nghiệp hoằng pháp lợi
sanh của đức Phật, thuyết pháp giống
như Phật chẳng khác, nên gọi là “pháp vương tử”. Trong lời chú giải,
Liên Tŕ đại sư chú giải đă giải thích đại
ư của danh hiệu như sau:
(Sớ) Sư Tử giả, như sư tử phục
quần thú cố.
(疏)師子者,如師子伏群獸故。
(Sớ:
“Sư Tử”: Như sư tử hàng phục các loài thú).
Sư tử là vua trong loài thú.
(Sao) Sư tử nhị nghĩa: Nhất giả
sư tử chúng thú trung vương, du hành vô úy, như Phật
phàm thánh độc tôn, xuất nhập tam giới tự tại
vô ngại cố. Nhị giả sư tử nhất hống,
bách thú úy cụ, như Phật thuyết pháp, thiên ma ngoại
đạo giai tín phục cố. Hựu vô ngũ chủng
bố, cụ tứ vô úy, giai sư tử nghĩa.
(Diễn) Xuất nhập tam giới tự
tại vô ngại giả, phàm phu nhập tam giới, vị
sanh tử phược, bất đắc tự tại. Nhị
Thừa xuất tam giới, vị Niết Bàn phược,
bất đắc tự tại. Phật bi trí song hành, văng
lai tự tại cố. Sư tử nhất hống, bách
thú úy cụ giả. Vĩnh Gia vân: “Sư tử hống, vô
úy thuyết, bách thú văn chi giai năo liệt. Hương
tượng bôn ba thất khước oai, thiên long tịch
thính sanh hân duyệt”. Ngũ chủng bố giả, nhất
bất hoạt, nhị ác danh, tam tử, tứ ác đạo,
ngũ oai đức. Tứ vô úy giả, nhất nhất
thiết trí vô úy, nhị lậu tận vô úy, tam quyết
nghi vô úy, tứ thuyết khổ tận đạo vô úy.
(鈔)師子二義:一者師子眾獸中王,遊行無畏,如佛凡聖獨尊,出入三界,自在無礙故。二者師子一吼,百獸畏懼,如佛說法,天魔外道皆信服故;又無五種怖,具四無畏,皆師子義。
(演)出入三界自在無礙者。凡夫入三界。為生死縛。不得自在。二乘出三界。為涅槃縛。不得自在。佛悲智雙行。往來自在故。師子一吼。百獸畏懼者。永嘉云。師子吼。無畏說。百獸聞之皆腦裂。香象奔波失卻威。天龍寂聽生欣悅。五種怖者。一不活。二惡名。三死。四惡道。五威德。四無畏者。一一切智無畏。二漏盡無畏。三決疑無畏。四說苦盡道無畏。
(Sao:
Sư tử có hai nghĩa: Một, sư tử là vua trong
các loài thú, dạo chơi không sợ hăi. Như Phật là bậc
độc tôn trong phàm và thánh, ra vào ba cơi tự tại vô ngại.
Hai, hễ sư tử rống lên, trăm loài thú kinh hăi,
như đức Phật thuyết pháp, thiên ma ngoại
đạo thảy đều tin phục. Lại chẳng
có năm nỗi sợ, đủ bốn món vô úy. [Những
điều ấy] đều là ư nghĩa của sư tử.
Diễn: “Ra vào ba cơi tự tại vô ngại”: Phàm phu vào tam giới
bị sanh tử trói buộc, chẳng được tự
tại. Nhị Thừa thoát khỏi tam giới, bị Niết
Bàn trói buộc, chẳng tự tại. Phật th́ Bi và Trí
song hành, qua lại [tam giới] tự tại. “Hễ sư
tử rống lên, trăm loài thú đều kinh hăi”: Ngài
Vĩnh Gia nói: “Sư tử rống, nói vô úy. Trăm thú nghe
tiếng đầu óc rúng nứt, hương tượng
rảo chạy, chân luống cuống. Trời, rồng yên
lặng nghe, sanh ḷng vui thích”. Năm thứ sợ hăi là: Một
là chẳng sống được, hai là mang tiếng xấu,
ba là chết, bốn là ác đạo, năm là [kinh hăi
trước] oai đức [của người khác]. Bốn
thứ vô úy là: Một, Nhất Thiết Trí vô úy, hai là lậu
tận vô úy, ba là quyết nghi vô úy (đoạn trừ nghi
hoặc chẳng sợ hăi), bốn là nói đạo hết
khổ chẳng sợ hăi).
Chẳng có năm thứ sợ hăi, trọn đủ bốn món vô úy, được
biểu thị Sư Tử. Chúng ta nh́n từ ư nghĩa biểu
thị pháp, [sẽ thấy] trong lịch tŕnh tu học của
hàng Bồ Tát, sẽ đạt tới một cảnh giới
như vậy. Phần trước là hai thứ trí huệ
Quyền Trí và Thật Trí trọn đủ, bắt đầu
lấy chuyện hóa độ chúng sanh làm chánh yếu. Hai
trí chẳng hiện tiền th́ lấy việc tự độ
làm chánh yếu. Trí huệ đă viên măn th́ mới thật sự
phát tâm giống như Địa Tạng Bồ Tát: Chính
ḿnh chưa thể đắc độ mà độ chúng
sanh trước đă. “Chính
ḿnh chưa thể đắc độ” có nghĩa là
thành Phật [nhưng không thị hiện thành Phật].
Chính ḿnh [thật sự] c̣n chưa thành Phật mà đă
độ chúng sanh trước, có năng lực hay không? Có
năng lực, người ấy đă là Đăng Địa
Bồ Tát, đương nhiên là có năng lực độ
chúng sanh. Đấy gọi là “Bồ
Tát phát tâm”, chẳng phải là hạng Bồ Tát b́nh phàm,
cũng chẳng phải là hạng Pháp Thân đại sĩ
thông thường, mà là Bồ Tát Ma Ha Tát. Tiểu Bồ Tát
th́ không được, tự độ khẩn yếu
hơn! Đại Bồ Tát th́ được, chính ḿnh
đă đắc độ, chẳng qua là chưa viên măn
(thành Phật mới là viên măn), phát đại tâm giúp đỡ
người khác trước đă, thay Phật thuyết
pháp. Pháp do vị ấy nói sẽ giống như do chính
đức Phật nói, v́ vị ấy hết sức gần
với [địa vị đă] thành Phật. Điều
này có nghĩa là Bồ Tát từ Thất Địa hoặc
Bát Địa trong Viên Giáo trở lên bèn đạt đến
cảnh giới này, hăy nên làm theo cách như vậy!
(Sớ)
Danh Văn giả, thích nghĩa đồng tiền.
(Sao) Tiền
Danh Văn Quang, kim vô Quang tự. Danh văn giả đức,
quang giả dụ. Tuy vô kỳ dụ, bất dị kỳ
đức.
(Sớ)
Danh Quang giả, danh như nhật quang, vô sở bất bị,
diệc khả tịnh xưng, dĩ danh hiển quang xí cố.
(Sao)
Như quang nghĩa đồng thượng. Danh hiển giả,
như A Di Đà Phật, danh xưng phổ văn. Thập
phương tam thế, vô bất chiêm niệm cố. Quang
xí giả, như A Di Đà Phật, quang minh phổ chiếu.
Thập phương tam thế, vô sở chướng ngại
cố.
(疏)名聞者。釋義同前。
(鈔)前名聞光。今無光字。名聞者德。光者喻。雖無其喻
。不異其德。
(疏)名光者。名如日光。無所不被。亦可並稱。以名顯光熾故。
(鈔)如光義同上。名顯者。如阿彌陀佛。名稱普聞。十方三世。無不瞻念故。光熾者。如阿彌陀佛。光明普照。十方三世。無所障礙故。
(Sớ: Danh Văn: Giải
thích ư nghĩa giống như trong phần trước.
Sao: Phần trước là Danh Văn Quang, danh hiệu
của vị Phật trong phần này không có chữ Quang.
Danh Văn là nói về Đức, Quang là tỷ dụ. Tuy
không có tỷ dụ ấy, phẩm đức của hai vị
Phật chẳng khác nhau.
Sớ: Danh Quang: Tiếng tăm như ánh mặt trời,
không đâu chẳng soi thấu, cũng có thể cùng nói tới
[danh lẫn quang] v́ danh tiếng rạng rỡ, quang minh chói
ngời.
Sao: “Quang” có ư nghĩa như trên. “Danh tiếng rạng rỡ”:
Như A Di Đà Phật, mười phương ba đời,
không ai chẳng chiêm niệm. “Quang minh chói ngời”: Như A
Di Đà Phật, quang minh chiếu khắp. Mười
phương ba đời, không ǵ chướng ngại
được).
Vị thứ hai là Danh Văn Phật (Yaśas). Nay chúng ta gọi “danh văn” (名聞) là nổi tiếng.
Bồ Tát có mức độ nổi tiếng rất cao, tiếng
tăm vang dội, nhắc tới Ngài chẳng ai không biết.
Ví như Quán Thế Âm Bồ Tát, tiếng tăm rất lớn,
chẳng có người học Phật nào không biết Quán
Thế Âm Bồ Tát. Do vậy có thể biết: Trong đoạn
này, kinh nói đến sự phổ độ chúng sanh của
hàng Bồ Tát, chính là nói đến những vị Đẳng
Giác Bồ Tát, [chẳng hạn như] Văn Thù, Phổ Hiền,
Quán Âm, Thế Chí, Di Lặc, Địa Tạng, các Ngài
đều là Đẳng Giác Bồ Tát. Danh tiếng của
những vị Bồ Tát đều được người
trong hết thảy các cơi Phật tận hư không khắp
pháp giới hay biết. Tiếng tăm
của chư Phật, Bồ Tát, thánh hiền đều “thật chí danh quy” (thực chất
đạt đến tột bậc, nên tiếng tăm dồn
về), chắc chắn chẳng phải là hư danh. “Danh xưng phổ văn” cho
thấy sự giáo hóa của Ngài có sức ảnh hưởng
sâu rộng, nhiều người ngưỡng mộ
Bồ Tát, nhiều người vui thích theo Bồ Tát học
tập. Đó là ư nghĩa thật sự được bao
hàm [trong danh hiệu của đức Phật này].
(Sớ) Đạt
Ma giả, thử vân Pháp, diệc kiêm nhị lợi.
(Sao)
Pháp giả, quỹ tŕ nghĩa. Dĩ pháp quỹ tŕ kỷ
đức, thành kỷ Pháp Thân. Dĩ pháp quỹ tŕ tha thân,
linh chư chúng sanh giai chứng Pháp Thân cố.
(Diễn)
Quỹ tŕ nghĩa giả, nhược Lư, Pháp tắc
năng quỹ sanh vật giải, nhậm tŕ tự tánh,
như học nhân tùng duyên nhất niệm, đắc ngộ
tự tánh, tức thử ngộ do, năi tùng tánh quỹ sanh,
phi ngoại đắc cố. Nhược giáo hạnh
đẳng pháp, tắc năng quỹ chánh thân tâm, tŕ linh bất
thất dă.
(疏)達摩者。此云法。亦兼二利。
(鈔)法者。軌持義。以法軌持己德。成己法身。以法軌持他身。令諸眾生皆證法身故。
(演)軌持義者。若理法則能軌生物解。任持自性。如學人從緣一念。得悟自性。即此悟由。乃從性軌生。非外得故。若教行等法。則能軌正身心。持令不失也。
(Sớ: Đạt Ma, cơi này dịch là Pháp, cũng
bao gồm hai điều lợi.
Sao: Pháp có nghĩa là g̣ ép vào
khuôn khổ. Dùng pháp để uốn nắn phẩm đức
của chính ḿnh, thành tựu Pháp Thân cho chính ḿnh. Dùng pháp
để uốn nắn thân người khác khiến cho
các chúng sanh đều chứng Pháp Thân.
Diễn: “Có nghĩa là quỹ tŕ”: Nếu xét theo Lư
th́ Pháp có thể khiến cho người vâng giữ pháp sanh
ra sự liễu giải đối với căn nguyên của
vạn vật, mà chẳng làm mất đi tánh chất của
bất cứ pháp nào. Như kẻ học do một niệm
mà ngộ tự tánh, tức là cội nguồn của cái Ngộ
ấy chính là nương vào tánh mà sanh, chẳng phải là
có được từ bên ngoài. Như các pháp giáo, hạnh
v.v… có thể uốn nắn, giữ ǵn thân tâm, chẳng
để mất đi).
Vị Phật kế tiếp là Đạt
Ma Phật. Đạt Ma (Dharma) là tiếng Phạn, dịch
sang nghĩa tiếng Hán là Pháp. Vị này biểu thị
đại pháp nhất định là do sư thừa
chư Phật, như vậy th́ mới có thể nêu
gương, làm khuôn mẫu cho hết thảy chúng sanh. Ở
đây, chúng ta cũng có thể hiểu sâu hơn một tầng
nữa: Bất luận là chính ḿnh tu học, hay bất luận
là giáo hóa chúng sanh, đều phải “y pháp, bất y nhân”, pháp là kinh điển. Kinh
điển nhiều lắm, rốt cuộc dùng loại kinh
điển nào để giúp đỡ chúng sanh th́ chúng sanh
mới có thể đạt được lợi ích chân
thật? Trong ấy có mối quan hệ hết sức to lớn,
giống như bệnh nhân phát bệnh, phải dùng thuốc
th́ mới có thể trị lành bệnh. Chúng ta đến
tiệm thuốc, thấy mấy ngàn loại, mấy vạn
loại thuốc, phải chọn lựa loại thuốc
nào th́ mới có thể trị lành bệnh cho người
ta? Nếu chúng ta chọn lầm thuốc, thuốc chẳng
đúng chứng bệnh, không chỉ là chẳng thể chữa
bệnh, mà nhất định lại c̣n ngược ngạo
khiến cho bệnh nặng thêm, thậm chí hại chết
người ta! Chúng ta có những kiến thức thông
thường ấy, nhưng sơ sót! Kinh điển là
pháp dược; kinh cũng thường sánh ví đức Phật
là đại y vương. Pháp do đức Phật đă
nói chính là pháp dược, chúng sanh đều là bệnh
nhân. Đức Phật thuyết pháp, đức Phật là
một vị thầy thuốc hết sức cao minh,
đáng tin cậy. Được Ngài chẩn đoán, hễ
Ngài cắt thuốc, thuốc uống vào, bệnh liền
khỏi. Nghe đức Phật thuyết pháp, chẳng có ai
không khai ngộ, chẳng có ai không chứng quả, đều
có thể đạt được lợi ích chân thật.
Sau khi đức Phật diệt độ, vị thầy
thuốc ấy chẳng c̣n nữa, lưu lại toa thuốc
cả một đống lớn. Đại Tạng Kinh
chính là toa thuốc. Toa thuốc nhiều ngần ấy,
chúng ta mắc bệnh ǵ chính ḿnh chẳng biết. Nếu uống
thuốc bừa băi, chẳng thể lành bệnh được.
Có nghĩa là: Sau khi đức Phật diệt độ,
người học Phật đông đảo, người
khai ngộ ít ỏi, người chứng quả càng ít
hơn!
Phật pháp đă truyền thừa hơn ba
ngàn năm, chúng ta thấy trong xă hội hiện tiền: Người
học Phật không chỉ là chẳng có người chứng
quả, mà người khai ngộ cũng là “lông phượng, sừng lân”. Nguyên nhân ở chỗ
nào? Nói thật ra, chắc chắn là chẳng thể nói “người
trong đời này chẳng bằng cổ nhân”. Nếu quư vị
nói kiểu đó, tôi tuyệt đối chẳng thừa
nhận, tôi cảm thấy người hiện thời
càng thông minh hơn người xưa. V́ sao thành tựu tu học
của chúng ta thua kém cổ nhân? Chẳng có ǵ khác, uống
sai thuốc! Nếu uống đúng thuốc, hiện thời,
chúng ta sẽ khai ngộ, chứng quả nhanh hơn cổ
nhân! Thậm chí [người hiện thời] hiểu sai be
bét ư nghĩa trong kinh điển, thật đấy! Bài kệ
Khai Kinh có câu “nguyện giải
Như Lai chân thật nghĩa”, nay chúng ta hiểu sai ư
nghĩa chân thật của Như Lai. Không chỉ là xem kinh
hiểu sai bét ư nghĩa, mà nghe giảng cũng thường
hiểu lầm ư nghĩa. Những ǵ tôi nói ở đây,
đợi một lát để người khác nhắc lại
cho tôi nghe, hoàn toàn chẳng giống những ǵ tôi đă nói!
Hiện diện ngay tại chỗ mà c̣n hiểu trật ư
nghĩa! Nguyện hiểu nghĩa chân thật của Như
Lai, khó quá! Khó ở chỗ chúng ta dụng tâm sai lầm!
Chư Phật, Bồ Tát sử dụng chân tâm, chúng ta dùng vọng
tâm. Chư Phật, Bồ Tát hoàn toàn chẳng có thành kiến,
chúng ta là “tiên nhập vi chủ”
(những ǵ được tiếp xúc trước tiên sẽ
đóng vai tṛ quyết định), khó lắm! T́m đến
tận nguồn cội, gốc bệnh ở ngay chỗ
này. Có bệnh đừng sợ! Sợ là chẳng gặp
được thầy thuốc giỏi. Gặp được
thầy thuốc giỏi, bèn sợ là chẳng thể tín
nhiệm ông ta, nếu vậy th́ bó tay mất rồi!
Chúng ta nhận biết chính ḿnh có bệnh, gặp
gỡ Phật pháp, đó là thầy thuốc giỏi, điều
mấu chốt là chúng ta có thể tin tưởng hay không?
Có thể chọn lựa hay không? Sự chọn lựa có mối
quan hệ lớn nhất. Trong vô lượng pháp môn, rốt
cuộc chúng ta chọn lựa pháp môn nào? Chúng ta chẳng có
trí huệ, chẳng có năng lực, cũng chẳng gặp
gỡ thiện tri thức; trong trạng huống ấy,
làm như thế nào đây? Phật, Bồ Tát đă sớm
biết những sự tao ngộ và hoàn cảnh của
chúng ta. Từ ba ngàn năm trước, đức Thế
Tôn đă chọn sẵn cho chúng ta. Trong kinh Đại Tập,
đức Phật nói: “Thời
kỳ Chánh Pháp, Giới Luật thành tựu”, trong một
ngàn năm đầu tiên sau khi đức Phật diệt
độ, tŕ giới có thể thành tựu. “Thời kỳ Tượng Pháp,
Thiền Định thành tựu”, một ngàn năm thứ
hai sau khi đức Phật diệt độ, chỉ tŕ
giới sẽ chẳng thể thành tựu, phải tu Định.
Phật giáo được truyền sang Trung Hoa nhằm thời
kỳ đầu của thời Tượng Pháp. V́ thế,
Thiền Tông Trung Hoa hết sức phát triển, hoàn toàn
tương ứng với lời dạy của Thích Ca Mâu
Ni Phật. Thứ ba, “thời
kỳ Mạt Pháp, Tịnh Độ thành tựu”, Mạt
Pháp gồm một vạn năm. Đó là ḷng từ bi triệt
để của đức Thế Tôn. Sau khi lăo nhân gia diệt
độ, ĺa khỏi thế giới này, người học
Phật hăy nên chọn lựa pháp môn như thế nào, Ngài
đă chỉ cho chúng ta một con đường. Nay chúng
ta sanh nhằm thời kỳ Mạt Pháp, nếu chẳng chọn
lựa Tịnh Độ, tức là đă vi phạm giáo huấn
của đức Phật. Đức Phật bảo chúng
ta chọn lựa Tịnh Độ, chúng ta khăng
khăng muốn chọn Thiền, hoặc chọn pháp khác,
pháp ấy chẳng khế cơ, trách nhiệm ấy do chính
ḿnh gánh lấy, đức Phật chẳng chịu trách nhiệm.
Chúng ta sanh trong thời kỳ Mạt Pháp, tuân thủ giáo huấn
của đức Phật chọn lựa pháp môn này, há có
sai lầm?
Đối với kinh điển Tịnh
Tông, Đạt Ma được nói ở đây là nói về
kinh điển Tịnh Độ. Nguyên bản [kinh điển
Tịnh Độ] chỉ có ba kinh do Thích Ca Mâu Ni Phật dạy.
Thứ tự của ba kinh là:
1)
Thoạt đầu, đức Phật giảng kinh Vô
Lượng Thọ, giới thiệu tường tận Tây
Phương Cực Lạc thế giới. V́ thế, kinh
Vô Lượng Thọ là khái luận của Tịnh Độ,
lại c̣n được tuyên giảng nhiều lần,
chúng ta phải đặc biệt coi trọng điều
này. V́ thuở đức Thế Tôn tại thế giảng
kinh, mỗi bộ kinh chỉ giảng một lần, chẳng
trùng lặp, chỉ riêng kinh Vô Lượng Thọ [được
giảng] trùng lặp rất nhiều lần. Căn cứ
trên các bản dịch c̣n giữ được hiện thời,
hiện nay, trong Đại Tạng Kinh có năm loại bản
dịch gốc. Cổ đức đă so sánh cặn kẽ,
phát hiện: Tối thiểu là có ba bản tiếng Phạn
bất đồng. Nói cách khác, tối thiểu là đức
Phật giảng kinh này ba lượt. Trong hội
Phương Đẳng, đức Phật giảng Thanh Tịnh
B́nh Đẳng Giác Kinh và kinh Vô Lượng Thọ. Trong
kinh Đại Bảo Tích, hội Vô Lượng Thọ Như
Lai, đức Phật lại đặc biệt giới
thiệu Tây Phương Tịnh Độ. Xác thực là
đă chứng minh: Thuở tại thế, đức Phật
đă nhiều lần tuyên giảng kinh này. Theo mục lục
trong Kinh Tạng, kinh Vô Lượng Thọ có tất cả
mười hai loại bản dịch, nay chỉ c̣n lưu
lại năm loại, bảy loại đă thất truyền.
Nếu bảy loại kia đều c̣n, lại so sánh, có thể
là c̣n phát hiện có những văn bản khác với ba loại
[Phạn bản] ấy. Điều này chứng tỏ
đức Phật đă nói [kinh ấy] rất nhiều lần.
Trong một đời, đức Phật đă nói pháp môn
này rất nhiều lần. Pháp môn này đặc biệt trọng
yếu, đặc biệt khế cơ, nên Ngài mới
tuyên nói nhiều lượt.
2)
Tiếp đó, Ngài lại nói kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật,
chuyên môn dạy chúng ta phương pháp văng sanh Tịnh Độ.
Trong kinh Vô Lượng Thọ có nói đơn giản, kinh
Quán Vô Lượng Thọ Phật nói cặn kẽ, quư vị
hành theo cách như thế nào. Quán Kinh dạy chúng ta lư luận,
phương pháp tu hành, và nhân quả của chín phẩm
[văng sanh].
3)
Cuối cùng, đức Phật nói kinh A Di Đà, khuyên chúng
ta phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ. Trong bộ
kinh này, đức Phật ba lượt khuyên chúng ta “ưng đương phát nguyện,
cầu sanh bỉ quốc” (hăy nên phát nguyện cầu
sanh về cơi ấy), một lần rồi hai lần, hai lần
rồi ba lần, rát miệng buốt ḷng khuyên bảo, khích
lệ chúng ta. Hợp ba kinh lại để xem, [sẽ thấy]
đó là bi tâm triệt để của đức Thế
Tôn khiến cho hết thảy chúng sanh được viên
thành Phật đạo ngay trong một đời này, chỉ
riêng pháp môn này [là có thể thực hiện viên măn những điều
đó]! Pháp môn này lại c̣n hết sức khế hợp [căn
cơ của] chúng sanh trong thời kỳ Mạt Pháp. Pháp vận
của đức Phật là một vạn hai ngàn năm,
nay đă qua ba ngàn năm, c̣n có chín ngàn năm. Kinh Pháp Diệt
Tận dạy: Trong tương lai, khi Phật pháp đều
diệt, tất cả các kinh điển
đều chẳng c̣n nữa, kinh Vô Lượng Thọ
c̣n tồn tại. Kinh Vô Lượng Thọ diệt cuối
cùng, nó sẽ c̣n tồn tại thêm một trăm năm.
Sau một trăm năm ấy, kinh Vô Lượng Thọ
cũng chẳng c̣n, nhưng hăy c̣n có một câu “Nam-mô A Di Đà Phật”, sáu chữ ấy lưu lại
trong thế gian. Người hữu duyên, người thiện
căn sâu dầy, gặp câu danh hiệu này mà có thể
chuyên tŕ th́ cũng có thể văng sanh. Có thể thấy là
pháp môn này thật sự chẳng thể nghĩ bàn!
Nói tới chuyện chọn lựa pháp môn,
chúng ta chọn lựa pháp môn Tịnh Tông, kinh điển
để y cứ chính là Tịnh Độ Tam Kinh. Về
sau, cư sĩ Ngụy Nguyên là người sống trong
niên hiệu Hàm Phong đời Thanh, đă ghép Phổ Hiền
Hạnh Nguyện Phẩm vào sau ba kinh, gọi là Tịnh
Độ Tứ Kinh. Đầu thời Dân Quốc, Ấn
Quang đại sư đă ghép chương Đại Thế
Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông của kinh Lăng
Nghiêm vào sau bốn kinh, gọi là Tịnh Độ Ngũ
Kinh. Đến đây, có thể nói là kinh điển Tịnh
Tông đă thật sự viên măn. Nay chúng ta tuân thủ giáo
nghĩa trong năm kinh, chiếu theo giáo huấn trong kinh
điển để tu hành, chắc chắn chẳng sai lầm.
Nương vào Tịnh Độ Ngũ Kinh để khuyên
dạy hết thảy chúng sanh, sẽ chẳng khác ǵ
chư Phật tiếp dẫn đại chúng. Huống hồ
pháp môn này được mười phương hết thảy
chư Phật Như Lai tán thán, giới thiệu, lấy
đâu ra sai lầm! Chúng ta giới thiệu kinh điển
khác cho chúng sanh, thưa cùng chư vị, quư vị phải
cẩn thận, phải gánh lấy trách nhiệm nhân quả.
Thật đúng như người ta ngă bệnh, nếu quư
vị giới thiệu thuốc cho người ấy,
người ấy uống vào lành bệnh, kẻ ấy rất
cảm tạ quư vị. Nếu họ uống vào chết ngắc,
quư vị cũng lănh phần trách nhiệm. Giới thiệu
một toa thuốc khác, chúng ta chẳng nắm chắc, nay
chúng ta chẳng có năng lực ấy, chẳng có trí huệ
để quan sát căn cơ. Nói cách khác, chẳng thông thạo
dược tánh cho lắm bèn không dám dùng, cũng chẳng
dám tùy tiện giới thiệu với người khác. Uống
thuốc [Tịnh Độ] này tốt lắm! Bất luận
bệnh ǵ cũng trị được; sau khi dùng, chắc
chắn chẳng có tác dụng phụ. Do vậy, an tâm lớn
mật, ổn thỏa, thích đáng mà sử dụng. Bản
thân chúng ta dùng, đạt được lợi ích, bèn
cũng giới thiệu với người khác, quyết
định sẽ chẳng sai lầm. Đạt Ma Phật
biểu thị ư nghĩa này.
(Sớ)
Pháp Tràng giả. Pháp như tràng cố.
(Sao)
Pháp như tràng giả, Phật pháp cao hiển, nhân thiên
ngưỡng chi vi tông, tà ngoại vọng chi nhi phục.
Tường như tiền văn Vô Lượng Tràng
nghĩa.
(疏)法幢者。法如幢故。
(鈔)法如幢者。佛法高顯。人天仰之為宗。邪外望之而伏。詳如前文無量幢義。
(Sớ: Pháp Tràng: Pháp giống như tràng.
Sao: “Pháp như tràng”: Phật pháp cao hiển, trời,
người ngưỡng mộ tôn sùng, tà ma, ngoại đạo
vừa thấy bèn khuất phục. Giải thích tường
tận ư nghĩa th́ như trong phần nói về Vô Lượng
Tràng trong phần trước).
Vị
Phật kế tiếp là Pháp Tràng Phật (Dharmadhvaja), biểu thị sự kiến lập
pháp tràng. Cổ nhân nói: “Dựng
pháp tràng, lập tông chỉ”, ban bố lợi ích cho chúng
sanh. Tràng (幢) là cờ xí. Phật
pháp kiến lập pháp tràng, nói theo cách hiện thời sẽ
là kiến lập chế độ (quy chế) trong đạo
tràng, quan trọng nhất là đạo phong và học phong. “Học phong” (學風) là nói họ
căn cứ theo lư luận và cảnh giới đă
được giảng trong những bộ kinh điển
nào đó. “Đạo phong” (道風) là nói tới
phương pháp và thành quả tu hành. Chúng ta thường
nói “giải hạnh
tương ứng”, Giải
(解) là học, Hạnh
(行) là đạo. Kiến
lập tông chỉ như vậy, có thể đề xướng
rộng răi Phật pháp, hoằng dương rạng rỡ
Phật pháp, lợi ích hết thảy chúng sanh, giúp chư Phật
Như Lai giáo hóa hết thảy chúng sanh.
(Sớ)
Tŕ Pháp giả, nhị nghĩa: Nhất giả chấp trung
danh tŕ, nhị giả chấp thủ danh tŕ.
(Sao) Chấp
trung giả, bất đọa Hữu biên, bất đọa
Vô biên, thiện tŕ Trung Đạo diệu pháp cố. Chấp
thủ giả, tŕ thử diệu pháp, lưu thông tam thế,
sử bất đoạn tuyệt cố.
(疏)持法者。二義。一者執中名持。二者執守名持。
(鈔)執中者。不墮有邊。不墮無邊。善持中道妙法故。執守者。持此妙法。流通三世。使不斷絕故。
(Sớ: Tŕ Pháp có hai nghĩa: Một là chấp trung
bèn gọi là Tŕ. Hai là chấp thủ bèn gọi là Tŕ.
Sao: Chấp
Trung là chẳng rớt vào bên Có, chẳng rớt vào bên Không,
khéo giữ diệu pháp Trung Đạo. Chấp Thủ là giữ
diệu pháp ấy, lưu thông ba đời khiến chẳng
đoạn tuyệt).
Vị cuối cùng là Tŕ Pháp Phật,
biểu thị “y giáo phụng
hành, thật thà niệm Phật”. Danh hiệu của vị
Phật này hiển thị: Để đề cao rộng
răi Phật pháp ḥng lợi ích hết thảy chúng sanh, hăy nên dùng
phương thức ǵ? Ở đây, đức Phật dạy
chúng ta phải Tŕ Pháp, [nghĩa là] chúng ta học, hiểu,
do nương theo năm kinh một luận, đạo
phong phải thực hiện bằng thật thà niệm Phật.
Chúng ta hành tŕ là chuyên tín, chuyên nguyện, chuyên tŕ danh hiệu.
Đó gọi là thật thà niệm Phật, đó là
đúng, so với chư Phật giáo hóa chúng sanh sẽ chẳng
hai, chẳng khác. Thời cổ, chúng ta gọi bậc đại
đức hoằng pháp là “pháp sư”. Gọi bậc phiên dịch
kinh điển là “Tam Tạng pháp sư” v́ Ngài thông đạt
Tam Tạng. Người thừa truyền Thiền Tông
được gọi là “Thiền sư”. Người chỉ
dạy giới luật được gọi là “Luật
sư”, gọi thầy của hoàng đế là Quốc
Sư. Chỉ có tổ sư của Tịnh Độ Tông
được người ta tôn xưng là Đại
Sư. Đại Sư là tiếng để gọi Phật.
Hàng Đẳng Giác Bồ Tát đều chẳng thể
gánh vác cách xưng hô này, Bồ Tát được gọi là
Đại Sĩ, ví dụ như Quán Âm đại sĩ. Hiện
thời, có những kẻ tự xưng là “đại
sư”, quá đáng! Dẫu được người khác
tôn kính [mà gọi như vậy], vẫn chẳng thể
đảm trách được. Ví như quư vị chưa học
tới Trung Học, người ta hễ gặp mặt bèn
gọi quư vị là “tiến sĩ tiên sinh”, có phải là chửi
người ta hay không? Chúng ta là kẻ xuất gia b́nh phàm,
người ta gặp mặt bèn gọi là “đại
sư này nọ”, có ư vị ấy, chửi bới người
ta! Danh và thực cách biệt quá xa! V́ sao có thể gọi tổ
sư của Tịnh Độ Tông là đại sư? V́
pháp môn bậc nhất để chư Phật Như Lai
giáo hóa chúng sanh là khuyên họ niệm Phật, v́ chúng sanh giới
thiệu ba kinh. Tịnh Tông Tổ Sư cũng giảng giải
ba kinh, cũng khuyên người khác niệm Phật, chẳng
sai khác chư Phật Như Lai cho mấy. Do đó, người
đời sau tôn xưng các Ngài là đại sư, nhưng
chư vị phải ghi nhớ: [Các Ngài] được
người đời sau tôn xưng, chẳng phải là
thuở sanh tiền tại thế. Nếu thuở tại
thế mà có người gọi các Ngài như vậy, các vị
ấy nhất định sẽ quở trách, sẽ nổi
nóng! [Tôn xưng các Ngài là đại sư] chính là nói tổ
sư Tịnh Độ Tông tự hành, hóa tha đều chẳng
hai, chẳng khác chư Phật Như Lai. Đoạn kế
tiếp:
(Sớ) Xứng Lư, tắc tự tánh trắc chi di
thâm bất khả tận, thị hạ phương hằng
sa Phật nghĩa.
(Sao) Văn Thù thủ bát, diêu thùy hữu thủ
quá hạ phương tứ thập nhị hằng hà sa thế
giới. Kim vị cánh quá hạ phương bất khả
thuyết hằng hà sa thế giới, cầu ư tự
tánh. Thí như tŕ can thám hải, dục cùng kỳ để,
chung bất khả đắc.
(疏)稱理,則自性測之彌深不可盡,是下方恆沙佛義。
(鈔)文殊取缽。遙垂右手過下方四十二恆河沙世界。今謂更過下方不可說恆河沙世界。求於自性。譬如持竿探海。欲窮其底。終不可得。
(Sớ: Xứng Lư th́ tự tánh nếu thăm ḍ sẽ
thấy sâu xa chẳng thể cùng tận, đó là ư nghĩa
của phương dưới có hằng sa Phật.
Sao: Ngài Văn Thù cầm bát, thơng tay phải qua khỏi
bốn mươi hai hằng hà sa thế giới ở
phương dưới. Nay lại nói qua khỏi bất khả
thuyết hằng hà sa thế giới ở phương
dưới để cầu tự tánh, ví như cầm
sào thăm ḍ biển, mong thấu tận đáy, trọn chẳng
thể được).
Liên Tŕ đại sư chú giải Sớ
Sao, dụng tâm hết sức khổ sở. V́ trong thời
đại của lăo nhân gia, Tịnh Tông đă suy vi tới
tận cùng, những kẻ b́nh phàm trong xă hội đều
coi thường Tịnh Tông. Pháp môn thù thắng và kinh điển
bậc nhất trong Phật môn như thế mà chẳng có
ai biết, không có ai nhận thức, cứ một mực
tham Thiền. Thuở ấy, Thiền Tông cực thịnh,
sự hưng thịnh ấy là ǵ? Hưng thịnh ngoài mặt,
bề ngoài rất hưng vượng, người học
đông đảo, người thật sự khai ngộ rất
ít! Không chỉ là ít kẻ khai ngộ, mà người đắc
Định cũng ít. Nếu lăo nhân gia khuyên những kẻ
ấy học theo Tịnh Độ niệm Phật, mọi
người chẳng thể tiếp nhận. V́ thế,
để hoằng dương Tịnh Độ Tông, trong
bộ Sớ Sao, trích dẫn kinh Hoa Nghiêm chiếm từ một
phần ba [dung lượng sách Sớ Sao] trở lên, mục
đích là dùng Hoa Nghiêm để đề cao Tịnh Tông,
khiến cho mọi người có thể tin tưởng. Bởi
lẽ, đệ tử Phật chẳng có ai không tôn trọng
Hoa Nghiêm, [tổ Liên Tŕ] dùng Hoa Nghiêm để giải thích
kinh Di Đà. Cuối cùng là Xứng Tánh, tức là hội quy
tự tánh, [quy vào] Thiền Tông, nói rơ “Tịnh và Thiền là một, không hai”. Niệm Phật
chẳng ĺa khỏi tự tánh, Xứng Lư là xứng tánh. “Tự tánh trắc chi di thâm bất
khả tận” (Thăm ḍ tự tánh sẽ thấy sâu xa
chẳng thể cùng tận), v́ “hạ
phương” là nói đến sự sâu xa, chẳng có
đáy, mang ư nghĩa này. Nói theo sự hiển thị
nơi Sự th́ chư Phật, Bồ Tát hóa độ chúng
sanh chẳng có cùng tận, chúng sanh vô biên thệ nguyện
độ!
(Kinh) Các ư kỳ quốc, xuất quảng trường
thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế
giới, thuyết thành thật ngôn: “Nhữ đẳng
chúng sanh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả
Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật
Sở Hộ Niệm Kinh”.
(經)各於其國。出廣長舌相。遍覆三千大千世界。說誠實言。汝等眾生。當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。
(Kinh:
Mỗi vị đều ở nước ḿnh, hiện
tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên
đại thiên thế giới, nói lời thành thật:
“Chúng sanh các ngươi hăy nên tin kinh Ca Ngợi Công Đức
Chẳng Thể Nghĩ Bàn Được Hết Thảy
Chư Phật Hộ Niệm này”).
Chúng ta lại xem đoạn kinh văn kế
tiếp:
Lục, thượng phương.
(Kinh) Xá Lợi Phất! Thượng
phương thế giới, hữu Phạm Âm Phật, Tú
Vương Phật, Hương Thượng Phật,
Hương Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tạp
Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân Phật, Sa La Thụ Vương
Phật, Bảo Hoa Đức Phật, Kiến Nhất Thiết
Nghĩa Phật, Như Tu Di Sơn Phật, như thị
đẳng hằng hà sa số chư Phật.
六、上方。
(經)舍利弗。上方世界。有梵音佛。宿王佛。香上佛。香光佛。大燄肩佛。雜色寶華嚴身佛。娑羅樹王佛。寶華德佛。見一切義佛。如須彌山佛。如是等恆河沙數諸佛。
(Sáu,
phương trên.
Kinh: Xá Lợi Phất! Phía trên thế giới có Phạm
Âm Phật, Tú Vương Phật, Hương Thượng
Phật, Hương Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật,
Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân Phật, Sa La Thụ
Vương Phật, Bảo Hoa Đức Phật, Kiến
Nhất Thiết Nghĩa Phật, Như Tu Di Sơn Phật,
hằng hà sa số chư Phật như thế).
Đoạn kinh văn này là tổng kết của
cả một đoạn lớn [phần sáu phương
Phật tán thán], nêu ra đức hiệu của mười
vị Phật. “Mười”
biểu thị sự viên măn, biểu thị pháp môn này là
pháp môn đại viên măn. Chư Phật trong mỗi
phương [nhiều] vô lượng vô biên, hằng hà sa số.
Đức Phật chỉ nêu ra mấy vị đại diện,
[nêu tên] mấy vị ấy, nhất định là có dụng
ư đặc biệt, chắc chắn chẳng phải là
nói tùy tiện, nhất định là có ư nghĩa biểu thị
pháp. Chúng ta chú trọng quan sát từ góc độ này, quả
nhiên chẳng sai! Sáu phương Phật là quá tŕnh theo thứ
tự kể từ khi chúng ta sơ phát tâm măi cho đến
khi chứng Vô Thượng Bồ Đề. Từ các danh
hiệu ấy, chúng ta có thể thấy, chẳng khác ǵ
năm mươi ba lần tham học ở cuối kinh Hoa
Nghiêm. Năm mươi ba lần tham học là nói rơ rệt.
Phật hiệu được sử dụng ở đây
ngầm phù hợp ư nghĩa ấy, mật thuyết đấy
nhé! Vị Phật đầu tiên trong thượng
phương thế giới là…
(Sớ) Phạm Âm giả, Phật âm thanh tịnh, vô
tạp nhiễm cố.
(疏)梵音者,佛音清淨,無雜染故。
(Sớ: Phạm Âm (Brahmāghōṣa): Âm thanh của Phật thanh tịnh, v́ chẳng có tạp
nhiễm).
“Phạm” (梵) có nghĩa là
thanh tịnh. “Tạp nhiễm”
(雜染) chỉ điều
ǵ? Chỉ tâm địa. Tâm tạp nhiễm, thân và ngữ
sẽ chẳng thanh tịnh. Nếu tâm thanh tịnh, thân bèn
thanh tịnh, ngữ cũng thanh tịnh, ba nghiệp đều
thanh tịnh. Ở đây, Ngài nói đến ư nghĩa trọng
yếu là “thuyết pháp thanh tịnh”.
Nếu muốn đạt tới thuyết pháp thanh tịnh,
nhất định là tâm địa chẳng nhiễm đắm,
giống như Lục Tổ đại sư đă nói: “Vốn chẳng có một vật,
nơi nào nhuốm bụi bặm”. “Bụi bặm” tượng trưng cho nhiễm
trước. Nhất định phải đạt
được thanh tịnh, b́nh đẳng, từ bi, âm
thanh bèn thanh tịnh.
(Sao) Vô tạp nhiễm giả, dư thừa thuyết
pháp, thị vi tạp nhiễm nhi bất thanh tịnh. Kim Phật
duy dĩ Nhất Thừa pháp, hóa đạo chư quần
sanh, sở vị “thuần nhất bất tạp, cụ
túc thanh bạch phạm hạnh chi tướng”, cố danh
Phạm Âm.
(Diễn) Dư thừa thuyết pháp, thị
vi tạp nhiễm giả, Luân Vương thuyết giới
thiện, Đế Thích thuyết xuất dục, thật
hữu thiện đương hành, hữu ác
đương chỉ. Nhị Thừa thuyết Tứ
Đế, thập nhị nhân duyên pháp, diệc thật hữu
sanh tử khả yếm, Niết Bàn khả hân, giai tạp
vô minh chi nhiễm, nhi bất thanh tịnh. Nhược Phật
thuyết Nhất Thừa chi pháp, tắc nhiễm ô, thanh tịnh,
tổng thuộc không hoa; sanh tử, Niết Bàn vô phi mộng
huyễn, duy thử nhất sự thật. Dư nhị tắc
phi chân, sở vị thuần nhất bất tạp, cụ
túc thanh bạch phạm hạnh chi tướng dă.
(鈔)無雜染者,餘乘說法,是為雜染而不清淨。今佛唯以一乘法,化導諸群生,所謂純一不雜,具足清白梵行之相,故名梵音。
(演)餘乘說法。是為雜染者。輪王說戒善。帝釋說出欲。實有善當行。有惡當止。二乘說四諦。十二因緣法。亦實有生死可厭。涅槃可欣。皆雜無明之染。而不清淨。若佛說一乘之法。則染污清淨。總屬空花。生死涅槃無非夢幻。唯此一事實。餘二則非真。所謂純一不雜。具足清白梵行之相也。
(Sao:
“Chẳng có tạp nhiễm”: Các thừa khác thuyết pháp
th́ là tạp nhiễm, chẳng thanh tịnh. Nay đức Phật
chỉ dùng pháp Nhất Thừa hóa độ, chỉ dạy
các chúng sanh, đó gọi là tướng phạm hạnh thuần
nhất, chẳng tạp, trọn đủ thanh bạch.
V́ thế gọi là Phạm Âm.
Diễn: “Các thừa khác thuyết pháp th́ là tạp nhiễm”:
Luân Vương nói giới thiện, Đế Thích nói ĺa dục,
thật sự “có thiện nên hành, có ác nên dứt”. Nhị
Thừa nói pháp Tứ Đế, mười hai nhân duyên,
cũng là thật sự có “sanh tử đáng chán, Niết
Bàn đáng ưa”, đều là tạp nhiễm vô minh, chẳng
thanh tịnh. Nếu đức Phật nói pháp Nhất Thừa
th́ nhiễm ô và thanh tịnh đều
là hoa đốm trên hư không, sanh tử và Niết Bàn không
ǵ chẳng phải là mộng huyễn, chỉ có một
sự thật ấy. Những thứ khác hễ có hai th́ là
chẳng thật. Đó gọi là “tướng phạm hạnh
thuần nhất chẳng tạp, trọn đủ thanh bạch”).
Nói theo Tánh, tức chân tánh, bản tánh thanh tịnh
vô nhiễm. Nói theo Tướng, so giữa Đại Thừa
và Tiểu Thừa, Tiểu Thừa là tạp nhiễm,
Đại Thừa là thanh tịnh. So giữa Đại Thừa
và Thiền, Thiền thanh tịnh, Đại Thừa tạp
nhiễm. So giữa Thiền và Tịnh Độ, Thiền
chẳng thanh tịnh, Tịnh Tông thuần tịnh vô nhiễm.
“Phạm Âm”: Vị Phật
thứ nhất biểu thị tổng cương lănh “tự
hành, hóa độ người khác”. B́nh thường, chúng
ta niệm câu Phật hiệu này, phải dùng cái tâm thanh tịnh
để niệm, dùng tâm b́nh đẳng để niệm,
đó là “tự hành”. Nếu c̣n kèm thêm cái tâm đại từ
bi để niệm, đó là hóa tha. Tự hành và hóa tha là một
câu Phật hiệu này, đấy là Phạm Âm. Vị thứ
hai:
(Sớ) Tú Vương giả, nhất
vân nguyệt vi tú vương; nhất vân tức tú trung
vương, như Bắc Thần cố. Nhị
nghĩa giai đắc.
(Sao) Nguyệt vi tú vương. Sở vị
vạn điểm tinh quang, bất như cô nguyệt, nguyệt
phi tinh loại. Dụ Phật vi đại giác, giác phi mê loại,
thắng nhất thiết cố, tức tú trung vương
giả. Luận Ngữ vân: “Thí như Bắc Thần,
cư kỳ sở nhi chúng tinh củng chi”. Ngôn Bắc Thần
tú loại, nhi xuất hồ kỳ loại, dụ Phật
tức chúng sanh, xuất hồ chúng sanh. Dĩ sanh sở quy
y cố, giai đắc giả. Nhất dĩ tinh nguyệt
đối hiển xưng Vương, nhất tựu tinh
trung độc thắng xưng Vương. Kim ngôn Phật
tại dị loại, dị loại trung vương. Phật
tại đồng loại, đồng loại trung
vương, cố giai đắc dă.
(Diễn)
Giác phi mê loại giả, phàm phu Tam Đế câu mê, Nhị
Thừa bất mê Chân nhi mê Tục, Bồ Tát bất mê Chân,
Tục nhi mê Trung. Phật năi Tam Đế tề giác, siêu cửu
giới chúng sanh cố. Phật tức chúng sanh giả,
nhược y sanh Phật đối thuyết, tắc cửu
giới vi sanh, Phật năi đại giác. Kim ngôn Phật tức
chúng sanh giả, kinh vân “chúng sanh vô thượng giả, Phật
thị”, tắc Phật năi vô thượng chúng sanh dă. Phật
tại dị loại giả, đối cửu giới
vân, Phật vi dị loại. Nhược thập giới
giai sanh, tắc Phật vi đồng loại dă.
(疏)宿王者。一云月為宿王。一云即宿中王。如北辰故。二義皆得。
(鈔)月為宿王。所謂萬點星光。不如孤月。月非星類。喻佛為大覺。覺非迷類。勝一切故。即宿中王者。論語云。譬如北辰。居其所而眾星拱之。言北辰宿類。而出乎其類。喻佛即眾生。出乎眾生。以生所歸依故。皆得者。一以星月對顯稱王。一就星中獨勝稱王。今言佛在異類。異類中王。佛在同類。同類中王。故皆得也。
(演)覺非迷類者。凡夫三諦俱迷。二乘不迷真而迷俗。菩薩不迷真俗而迷中。佛乃三諦齊覺。超九界眾生故。佛即眾生者。若依生佛對說。則九界為生。佛乃大覺。今言佛即眾生者。經云眾生無上者佛是。則佛乃無上眾生也。佛在異類者。對九界云。佛為異類。若十界皆生。則佛為同類也。
(Sớ: Tú Vương: Một nghĩa là mặt
trăng là vua trong các ngôi sao. Nghĩa thứ hai là vua trong các
tinh tú, như sao Bắc Thần vậy. [Hiểu theo cả]
hai nghĩa đều được.
Sao: Mặt trăng là vua trong các ngôi sao, ư nói: Ánh sáng của
muôn vàn đốm sao chẳng bằng một vầng
trăng lẻ loi. Trăng chẳng cùng loại với sao,
ví như Phật là bậc đại giác, do giác nên chẳng
thuộc loại mê, thù thắng hơn hết thảy. “Là
vua trong các tinh tú”: Sách Luận Ngữ viết: “Ví như sao
Bắc Thần[7]
ngự ở nơi đâu, các ngôi sao khác đều chầu
về”. Ư nói Bắc Thần thuộc loại tinh tú,
nhưng vượt trỗi các tinh tú. Ví như Phật chính
là chúng sanh mà vượt trỗi chúng sanh, là chỗ để
chúng sanh quy y. “Đều được”: Một đằng
là so sánh mặt trăng rạng rỡ hơn các ngôi sao mà
nói là Vua, một đằng là do [mặt trăng] thù thắng
độc nhất trong các ngôi sao nên gọi là Vua. Nay nói: Phật
ở trong dị loại bèn là vua trong dị loại; Phật
ở trong đồng loại bèn là vua của đồng
loại. V́ thế [nói theo cả hai kiểu] đều
được.
Diễn: “Giác th́ chẳng thuộc loại mê”: Phàm phu đối
với Tam Đế đều mê, Nhị Thừa chẳng
mê Chân, mà mê Tục, Bồ Tát chẳng mê Chân và Tục,
nhưng mê Trung. Phật là Tam Đế đều giác, siêu
việt chúng sanh trong chín pháp giới. “Phật chính là chúng
sanh”: Nếu nói so sánh giữa chúng sanh và Phật th́ chín pháp
giới là chúng sanh, Phật là bậc Đại Giác. Nay nói “Phật
chính là chúng sanh”, kinh dạy “bậc vô thượng trong
chúng sanh là Phật”, tức là so trong các chúng sanh th́ Phật
là vô thượng. “Phật ở trong dị loại” là nói
theo chín pháp giới, Phật là dị loại. Nếu coi
mười pháp giới đều là chúng sanh, Phật là
đồng loại).
“Tú” (宿) là tinh tú. Tú
Vương Phật (Nakṣatrarāja) biểu thị Đại Thừa Phật pháp, là
đường tắt để thành Phật, sánh ví vô
lượng pháp môn của Phật giống như ánh sáng của
hết thảy các ngôi sao. Các pháp môn của Phật đều
là quang minh. Trong các quang minh, quang minh của pháp nào lớn nhất?
Tú Vương là Đại Thừa. So giữa Đại
Thừa và Tiểu Thừa, Đại Thừa trí huệ
cao, quang minh lớn. Tú Vương Phật biểu thị
pháp môn Đại Thừa. Đại Thừa là con
đường tắt để thành Phật. Giữa
Đại Thừa và Tiểu Thừa, quan niệm và sự
tu hành đều khác nhau. Tiểu Thừa bảo thủ,
quư vị nói cho họ nghe pháp Đại Thừa, họ chẳng
thể tiếp nhận, cho đó là cuồng vọng, chẳng
thể tu hành! Thời đại hiện tại là dân chủ,
tự do, cởi mở, thích hợp Đại Thừa Phật
pháp. Nay dùng pháp Tiểu Thừa để dạy chúng sanh, họ
chẳng thể tiếp nhận, [họ sẽ chê là] quá khô
khan, quá bó buộc! Trong Phật pháp, khế lư là điều
trọng yếu, nhưng khế cơ cũng chẳng thể
sơ sót, phải xét căn tánh, phải xem hoàn cảnh sống
và h́nh thái ư thức của họ. Chúng ta nh́n về
tương lai, mười năm sau toàn thể thế giới
tiến nhập thời đại điện toán,
phương thức sống của chúng ta sẽ biến
đổi rất lớn. Phật pháp là giáo dục trí huệ,
là giáo học trí huệ, tuyệt đối chẳng bị
đào thải bởi thời đại. Trong bất cứ
thời đại nào, nó cũng đều có thể phát
huy trí huệ cao độ, có thể khiến cho hết thảy
chúng sanh viên thành Phật đạo. Vị Phật thứ
ba:
(Sớ) Hương Thượng giả, Phật
thánh trung thánh, như hương trung hương, tối
thượng vô tỷ cố.
(Sao)
Hương trung hương giả, như chiên đàn
hương. Vân: “Thử hương lục thù, giá trị
tam thiên đại thiên thế giới”. Hựu vân: “Thử
hương nhất phần, tứ thập lư ngoại, vô bất
văn giả”. Thị hương chi tối thượng
giả dă. Phật chứng ngũ phần Pháp Thân chi
hương. Kỳ hương phổ huân vô lượng thế
giới, nhất thiết nhân, thiên, Tu La, ngoại đạo,
Nhị Thừa chi hương, vô năng cập giả. Cố
viết Hương Thượng.
(Diễn)
Ngũ phần Pháp Thân thông Đại Tiểu Thừa, kim
vân “ngũ phần”, năi Đại Thừa chuyển Ngũ Ấm
thân tâm, đắc ngũ phần Pháp Thân. Nhất thiết
nhân, thiên, Tu La, ngoại đạo, Nhị Thừa chi
hương giả, nhân thiên hữu giới thiện hương,
Tu La hữu hạ phẩm Thập Thiện hương. Ngoại
đạo diệc hữu tà định tà huệ chi
hương. Nhị Thừa hữu Giới, Định, Huệ,
Giải Thoát, Giải Thoát Tri Kiến Hương.
(疏)香上者。佛聖中聖。如香中香。最上無比故。
(鈔)香中香者。如栴檀香。云此香六銖。價值三千大千世界。又云。此香一焚。四十里外無不聞者。是香之最上者也。佛證五分法身之香。其香普熏無量世界。一切人天脩羅外道二乘之香。無能及者。故曰香上。
(演)五分法身。通大小乘。今云五分。乃大乘轉五陰身心。得五分法身。一切人天修羅外道二乘之香者。人天有戒善香。修羅有下品十善香。外道亦有邪定邪慧之香。二乘有戒定慧解脫解脫知見香。
(Sớ: Hương Thượng (Gandhottama): Phật
là bậc thánh của các thánh, giống như hương bậc
nhất trong các loại hương, tối thượng
khôn sánh.
Sao: “Hương bậc nhất trong các loại
hương”: Như hương Chiên Đàn, [kinh] nói “sáu thù
của hương ấy giá trị bằng tam thiên đại
thiên thế giới”. Lại nói: “Hương ấy vừa
đốt lên, ngoài bốn mươi dặm, không ai chẳng
ngửi thấy mùi”. Đó là loại hương tối
thượng vậy. Đức Phật chứng năm phần
Pháp Thân hương, hương ấy xông khắp vô lượng
thế giới, hết thảy hương của người,
trời, Tu La, ngoại đạo, Nhị Thừa chẳng
thể sánh bằng. V́ vậy gọi là Hương Thượng.
Diễn: Năm phần Pháp Thân chung cho Đại
Thừa lẫn Tiểu Thừa. Nay nói “năm phần”,
chính là Đại Thừa do chuyển thân tâm Ngũ Ấm
mà được năm phần Pháp Thân. “Hết thảy
các loại hương của người, trời, Tu La,
ngoại đạo, Nhị Thừa”: Người và trời
có hương giới thiện, Tu La có hương hạ phẩm
Thập Thiện, ngoại đạo cũng có hương
tà định tà huệ, Nhị Thừa có hương Giới,
Định, Huệ, Giải Thoát, Giải Thoát Tri Kiến
Hương).
Phần chú giải (phần Sao) đề cập
Ngũ Phần Pháp Thân Hương, [vị Phật này] biểu
thị Thiền Tông. Đại Thừa là đường
tắt, Thiền Tông là đường tắt nhất trong
các con đường tắt, nên gọi là “kính trung kính” (徑中徑: Đường tắt nhất
trong các con đường tắt). [Thế mà] đường
tắt ấy lại c̣n có một con đường nhanh tắt
hơn nữa, nên bảo là “hựu
kính” (又徑: lại tắt
hơn), được biểu thị bằng vị Phật
kế tiếp là Hương Quang Phật. Vị Phật thứ
tư:
(Sớ) Hương Quang giả, kỳ hương
phát quang, như Đoạn Trí nhị đức cố.
(Diễn)
Đoạn Trí nhị đức giả, Như Lai quả
thượng hữu Trí, Đoạn, Ân tam đức, kim
lược Ân đức dă.
(Sao)
Đoạn đức giả, hương năng tỵ
ác, hữu diệt uế nghĩa. Chư ác tịnh tận,
danh chi vi Hương. Trí đức giả, quang năng phá
ám, hữu trí huệ nghĩa. Linh minh quảng chiếu, danh
chi vi Quang. Hựu thường hương chỉ bị tỵ
căn, hương trung phát quang, kiêm bị nhăn căn, dụ
Thanh Văn chỉ năng diệt ác, hữu Thể vô Dụng.
Phật diệt chư ác, năng cụ chư thiện, cụ
túc Đoạn Trí, như hương quang dă.
(Diễn)
Chỉ năng diệt ác, hữu Thể vô Dụng giả,
Thanh Văn tuy đoạn phiền năo, chứng Niết Bàn,
bất năng tùng Không xuất Giả, quảng độ
chúng sanh. Đản hữu ngũ phần Pháp Thân chi
hương, nhi vô đại dụng chi quang, hữu Thể
vô Dụng dă. Phật tắc nội đoạn phiền
năo, cụ công đức chi hương; ngoại độ
chúng sanh, xuất đại dụng chi quang, Thể Dụng
song chương dă.
(疏)香光者。其香發光。如斷智二德故。
(演)斷智二德者。如來果上有智斷恩三德。今略恩德也。
(鈔)斷德者。香能避惡。有滅穢義。諸惡淨盡。名之為香
。智德者。光能破暗。有智慧義。靈明廣照。名之為光。又常
香止被鼻根。香中發光。兼被眼根。喻聲聞止能滅惡。有體無用。佛滅諸惡。能具諸善。具足斷智。如香光也。
(演)止能滅惡。有體無用者。聲聞雖斷煩惱證涅槃。不能從空出假。廣度眾生。但有五分法身之香。而無大用之光。有體無用也。佛則內斷煩惱。具功德之香。外度眾生。出大用之光。體用雙彰也。
(Sớ: Hương Quang: Hương ấy tỏa
sáng, như hai đức Đoạn và Trí.
Diễn: “Hai đức Đoạn và Trí”: Nơi quả
địa Như Lai có ba đức là Đoạn, Trí và Ân,
nay tỉnh lược Ân đức.
Sao: “Đoạn đức”: Nhờ hương có thể
tránh được mùi hôi thối, nên hương có ư
nghĩa diệt uế. Hết sạch các điều ác th́
gọi là Hương. “Trí đức”: Ánh sáng có thể trừ
tối tăm, có ư nghĩa trí huệ. Linh thông, sáng suốt,
chiếu rộng răi, nên gọi là Quang. Lại nữa,
hương b́nh thường chỉ có thể tương ứng
với Tỵ Căn. Trong hương tỏa sáng tức kèm
thêm tác dụng tương ứng với Nhăn Căn. Ví
như Thanh Văn chỉ có thể diệt ác, có Thể mà
không có Dụng. Phật diệt các ác, có thể trọn
đủ các điều thiện, trọn đủ Đoạn
đức và Trí đức như Hương Quang vậy.
Diễn: “Chỉ có thể diệt ác, có Thể mà không có Dụng”:
Thanh Văn tuy đoạn phiền năo, chứng Niết Bàn,
chẳng thể từ Không xuất hiện Giả để
rộng độ chúng sanh, chỉ có năm phần Pháp Thân
hương, chẳng có quang minh khởi tác dụng lớn
lao, nên là “có Thể mà không có Dụng”. Phật th́ trong là
đoạn phiền năo, trọn đủ hương công
đức, ngoài là độ chúng sanh, phát ra quang minh đại
dụng, Thể và Dụng cùng tỏ lộ).
Hương Quang (Gandhaprabhā) biểu thị Tịnh.
Đại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông Chương
có nói “hương quang trang
nghiêm”. Từ xưa tới nay, có rất nhiều đạo
tràng tu hành, nếu đặt tên là Hương Quang Thất,
hoặc có hai chữ Hương Quang, ta biết đạo
tràng ấy tu pháp môn Niệm Phật. Hương Quang Phật
biểu thị pháp môn Niệm Phật. Hương quang
trang nghiêm là đường tắt hơn con đường
tắt nhất trong các con đường tắt, là con
đường gần nhất để thành Phật.
Không chỉ là gần nhất, lại c̣n là con đường
ổn thỏa, thích đáng nhất. Thiền cố nhiên là
con đường gần, nhưng chưa chắc đă ổn
thỏa, thích đáng. [Lư do] thứ nhất, [để tu
Thiền] ắt phải là căn cơ thượng thượng.
Lục Tổ độ người căn cơ thượng
thượng. Chẳng phải là kẻ thượng
thượng căn, sẽ chẳng thích hợp học pháp
môn ấy. Thứ hai, trong Thiền có rất nhiều ma sự.
Năm mươi loại ấm ma được nói trong
kinh Lăng Nghiêm đều là cảnh giới trong Thiền
Định. Cổ nhân nói pháp môn Niệm Phật đơn
giản nhất, dễ dàng nhất, ổn thỏa thích
đáng nhất, viên nhất, đốn nhất, tức là
đă tán thán pháp môn này đến cùng cực. Vị Phật
thứ năm:
(Sớ)
Đại Diệm Kiên giả, thích nghĩa đồng tiền.
(Sao) Diệm
Kiên chi danh lũ xuất, chánh diêu Phật đồng danh hiệu,
vô lượng vô biên cố.
(疏)大燄肩者。釋義同前。
(鈔)燄肩之名屢出。正繇佛同名號。無量無邊故。
(Sớ: Đại Diệm Kiên: Giải thích ư
nghĩa giống như phần trước.
Sao: Danh hiệu Diệm Kiên xuất hiện nhiều lần
chính là v́ vô lượng vô biên chư Phật có cùng danh hiệu).
Biểu thị ư nghĩa này, đề
xướng, giới thiệu pháp môn thượng thượng
cho đại chúng, khuyên khắp mọi người niệm
Phật, thành tựu trong một đời. Trong phần
trước, Đại Diệm Kiên Phật (Maharciskandha) [biểu thị ư nghĩa] gánh vác
gia nghiệp của Như Lai, [trong phần này], Đại
Diệm Kiên là đại pháp bậc nhất của Như
Lai. Chúng ta nhất định phải hiểu rơ, phải
khẳng định, pháp môn này là đại pháp bậc nhất
của Như Lai, v́ kinh Vô Lượng Thọ xác thực là
cô đọng, tinh hoa của kinh Hoa Nghiêm. Kinh Hoa Nghiêm có tám
mươi quyển, kinh Vô Lượng Thọ chỉ có một
quyển, nhưng nghĩa lư và cảnh giới chẳng hai,
chẳng khác kinh Hoa Nghiêm, hoàn toàn như nhau. Ta mới biết
bộ kinh này đáng quư, hàm nhiếp viên măn vô lượng
vô biên pháp môn trong ấy. Niệm kinh Vô Lượng Thọ
từ đầu tới cuối một lượt, sẽ
giống như niệm kinh Hoa Nghiêm một lượt. Vị
Phật thứ sáu:
(Sớ) Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân giả, vạn
hạnh nhân hoa, trang nghiêm Pháp Thân cố.
(Sao) Vạn
hạnh trang nghiêm giả, tuy chứng Pháp Thân, nhược
vô vạn hạnh, danh tố Pháp Thân. Phật xưng Nhất
Thiết Chủng Trí, cố tu Tứ Đẳng, Lục
Độ, chủng chủng hạnh môn, vô bất bị tập,
tích công lũy đức, trợ hiển Pháp Thân, như vạn
chủng bảo hoa trang nghiêm sắc thân dă. Dĩ Pháp Thân bổn
cụ hằng sa Tánh Đức cố.
(Diễn)
Dĩ Pháp Thân bổn cụ Tánh Đức giả, tuy vân vạn
đức nghiêm thân, nhiên thử vạn đức thuộc
Tu. Tu vô biệt tu, giai tùng tánh khởi tu. Dĩ hữu hằng
sa Tánh Đức, phương hữu hằng sa Tu Đức.
Bất nhiên, tu bất tùng tánh, năi hữu tác chi tu, vô can tánh
thể, vân hà năng nghiêm Pháp Thân da?
(疏)雜色寶華嚴身者。萬行因華。莊嚴法身故。
(鈔)萬行莊嚴者。雖證法身。若無萬行。名素法身。佛稱一切種智。故須四等六度。種種行門。無不備集。積功累德。助顯法身。如萬種寶華莊嚴色身也。以法身本具恆沙性德故。
(演)以法身本具性德者。雖云萬德嚴身。然此萬德屬修。修無別修。皆從性起修。以有恒沙性德。方有恒沙修德。不然。修不從性。乃有作之修。無干性體。云何能嚴法身耶。
(Sớ: Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân (Ratnakusuma-sampush-pitagatra): Vạn hạnh nhân hoa trang nghiêm Pháp Thân.
Sao: “Vạn hạnh trang nghiêm”: Tuy chứng Pháp
Thân, nếu chẳng có vạn hạnh, sẽ gọi là Pháp
Thân suông! Phật được gọi là bậc Nhất
Thiết Chủng Trí; v́ thế, cần phải có Tứ Đẳng,
Lục Độ, các thứ hạnh môn, không pháp nào chẳng
tu tập trọn đủ. Tích lũy công đức để
giúp hiển lộ Pháp Thân. Như muôn thứ hoa báu trang
nghiêm sắc thân, do Pháp Thân vốn sẵn trọn đủ
hằng sa Tánh Đức vậy.
Diễn: “Do Pháp Thân vốn sẵn trọn đủ
Tánh Đức”: Tuy nói là vạn đức trang nghiêm cái
thân, nhưng vạn đức ấy thuộc về Tu. Tu
mà chẳng tu chi khác, đều là khởi tu từ tánh. Do
có hằng sa Tánh Đức, nên mới có hằng sa Tu Đức.
Nếu chẳng phải vậy, tu chẳng từ tánh bèn là
tu hữu tác, chẳng dính dáng ǵ đến tánh thể, sao
có thể nói là trang nghiêm Pháp Thân cho được?)
Thật
ra, đức hiệu của vị Phật này biểu thị
Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh trong
pháp môn căn bản. Cổ nhân thường nói: “Thành Phật viên măn trong một
đời, chỉ có ḿnh kinh Hoa Nghiêm”. Đức Phật
giảng hết thảy các kinh, đối với chuyện
từ [địa vị] phàm phu tu thành Phật trong một
đời, kinh giảng giải lư luận, phương
pháp, và cảnh giới rành mạch, viên măn, quả thật
là kinh Hoa Nghiêm. Do vậy, có thể nói Hoa Nghiêm là Phật
pháp khái luận của toàn thể Phật pháp, hết thảy
các kinh đă được nói đều là một bộ
phận đặc biệt của kinh Hoa Nghiêm nhằm giới
thiệu chi tiết mà thôi, tổng cương lănh là Hoa
Nghiêm. Vị Phật này biểu thị ư nghĩa ấy.
Trong Hoa Nghiêm, [các nhân vật giữ vai tṛ] khẩn yếu
nhất là Văn Thù, Phổ Hiền, và Thiện Tài đồng
tử, các Ngài học ǵ? Các Ngài tu ǵ? Đạt được
kết quả ǵ? Nếu chúng ta có thể quan sát từ chỗ
này, hiểu rơ ràng, sẽ thật sự có thâu hoạch.
Trong kinh Hoa Nghiêm, trọng yếu nhất là Văn Thù Bồ
Tát dạy chúng ta trong cuộc sống hằng ngày, đối
với chuyện xử sự, đăi người, tiếp
vật, phải tuân thủ mười nguyên tắc,
[thường gọi là] Thập Ba La Mật. Đó là đại
hạnh trí huệ viên măn, trong cuộc sống hằng ngày,
hành vi của chúng ta sung măn trí huệ viên măn.
1)
Thứ nhất là Bố Thí, có nghĩa là buông xuống. Thân,
tâm, thế giới, hết thảy đều buông xuống,
tâm chúng ta thanh tịnh, trong tâm chẳng nhiễm mảy trần.
Bố thí là bỏ, là buông xuống. Chẳng phải là bảo
quư vị buông xuống những thứ khác; buông tiếng
tăm, lợi dưỡng xuống, vô dụng! Vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước, ưu lự,
vướng mắc trong tâm địa, phải buông những
thứ ấy xuống, phải triệt để bố
thí. Đă buông xuống những thứ bên trong th́ đối
với vật ở ngoài thân sẽ chẳng có trở ngại
ǵ. Kinh Đại Thừa nói “Lư
Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại”. Trở ngại
ở chỗ nào? Nếu trong tâm có vướng mắc, sẽ
bị trở ngại, vấn đề bèn nghiêm trọng.
Trong tâm chẳng có vướng mắc bèn gọi là Bố
Thí.
2)
Tŕ Giới: Tŕ giới là vâng giữ pháp. Bất luận là
pháp thế gian hay pháp xuất thế gian, nhất định
phải tuân thủ.
3)
Nhẫn Nhục là kiên nhẫn, phải nhẫn nại. Nếu
có thể kiên nhẫn, sẽ chẳng bị lay động
bởi thuận cảnh hay nghịch cảnh.
4)
Tinh Tấn: Tấn (進) là tiến bộ, chẳng thoái chuyển. Đối
với tiến bộ, nhấn mạnh Tinh (精), [nghĩa là] tinh
thuần chẳng tạp, tiến bộ như vậy là đúng.
Tiến bộ của người thế gian trong hiện
thời là tạp tấn, loạn tấn. V́ vậy, họ
chẳng thể thành tựu. Họ thật sự dụng
công, thật sự nỗ lực, suốt ngày từ sáng
đến tối chẳng nghỉ ngơi, tới cuối
cùng chẳng có kết quả, điều ǵ cũng chẳng
thể thành tựu.
5)
Thiền Định: Chẳng lay động, bất thoái
chuyển.
6)
Bát Nhă: Trí huệ hiện tiền. Bản thân chúng ta xử
thế, đăi người phải dùng lư trí, chớ nên xử
sự theo cảm t́nh. Cảm t́nh là mê, lư trí là Bát Nhă.
7)
Sau đó là Phương Tiện, Nguyện, Lực và Trí.
Đấy
là nguyên tắc chỉ đạo, đều là dạy chúng
ta nên làm như thế nào trong cuộc sống nơi thế
gian này, Văn Thù Bồ Tát dạy chúng ta những việc ấy.
Đấy là phương pháp tu học cơ sở.
Phổ Hiền Bồ Tát mở rộng
cơ sở ấy, mở rộng đến tận hư
không khắp pháp giới, hoàn toàn tương ứng với
tự tánh, viên thành Phật đạo. Đối với
mười điều ấy, nếu chúng ta thật sự
dùng cái tâm thanh tịnh, tâm chân thành, tâm b́nh đẳng, tâm
đại từ bi để tu, sẽ là mười nguyện
Phổ Hiền. Phổ Hiền Bồ Tát nêu lên mười
khuôn mẫu, gọi là “mười
đại nguyện vương”. Điều thứ nhất
là dạy chúng ta “lễ kính
chư Phật ”. Chư Phật: Trừ chính ḿnh ra, [bất
cứ ǵ khác] đều gọi là “chư Phật ”. Không chỉ hết thảy hữu
t́nh là chư Phật, mà vô t́nh cũng là chư Phật. Trong
kinh Hoa Nghiêm, đức Phật đă dạy: “T́nh và vô t́nh, cùng viên thành Chủng
Trí”. V́ thế, chúng ta phải lễ kính hữu t́nh, mà
đối với vô t́nh cũng phải lễ kính, quyết
định chẳng có phân biệt, chẳng thấy có sai
biệt, phải vận dụng cái tâm b́nh đẳng. Lễ
kính theo cách nào? Có phải là thấy người khác liền
ḅ rạp xuống đất, dập đầu ba lạy?
Nếu quư vị tu theo kiểu như vậy, đức Phật
trông thấy sẽ ứa lệ, quư vị đă hiểu lầm
ư nghĩa chân thật của Phật, ư nghĩa của Phật
đều bị quư vị hiểu sai bét hết rồi! Về
Sự th́ phải thuận theo thế tục, “Phật pháp trong thế gian, chẳng
hoại pháp thế gian”, đối với pháp thế
gian phải tùy thuận thế tục. Phật pháp dùng tâm
trí huệ, tâm thanh tịnh, sử dụng đại trí huệ,
thanh tịnh chân thật để tùy thuận hết thảy
sự vụ thế tục. Đó là Phổ Hiền hạnh,
mầu nhiệm chẳng thể nói được! V́ vậy,
Đại Thừa Phật pháp, nhất là nói đến
pháp Nhất Thừa tối cao, chính là nhân sinh viên măn, là hạnh
phúc chân thật. Trong phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh
Nguyện đă nói rất rơ ràng về lễ kính: Chủ thể
thực hiện sự lễ kính bèn “ngă dĩ thanh tịnh thân, ngữ, ư” (tôi dùng thân,
ngữ, ư thanh tịnh). Do vậy có thể biết: Tam nghiệp
thanh tịnh chính là lễ kính. Tam nghiệp chẳng thanh tịnh,
dù thấy người khác bèn dập đầu lễ bái,
vẫn chẳng phải là Phổ Hiền Hạnh. Tam nghiệp
thanh tịnh, thấy người khác bèn gật đầu
đều là lễ kính chư Phật. Nói thật ra,
như kinh Vô Lượng Thọ đă nói “thanh tịnh, b́nh đẳng, giác”, mười
nguyện [Phổ Hiền] đều là “thanh tịnh, b́nh đẳng, giác” được
ứng dụng trong cuộc sống hằng ngày. V́ thế,
vị Phật này biểu thị kinh Hoa Nghiêm viên măn trong một
đời. Chúng ta phải lấy Văn Thù, Phổ Hiền,
Thiện Tài đồng tử làm gương, làm tiêu chuẩn
cho sự tu học trong cuộc sống, biểu thị ư
nghĩa này. Do vậy, Phật pháp hết sức sống
động, hết sức viên măn. Đối với chuyện “liễu sanh tử, thoát tam giới,
văng sanh bất thoái thành Phật ”, chính ḿnh có tín tâm sung
măn, cuộc sống của quư vị sẽ vui sướng
khôn sánh. Vị Phật thứ bảy:
(Sớ) Sa La Thụ Vương giả. Sa La, thử
vân kiên cố, diệc vân tối thắng. Đức bất
biến dịch, tam giới độc tôn, như thụ
vương cố.
(疏)娑羅樹王者。娑羅。此云堅固。亦云最勝。德不變易。三界獨尊。如樹王故。
(Sớ: Sa La Thụ Vương (Śalendrarājā): Sa La cơi này dịch là Kiên Cố, c̣n dịch là Tối
Thắng (thù thắng nhất). Do đức chẳng biến
đổi, tôn quư độc nhất trong tam giới,
như vua của loài cây vậy).
Trong
phần trước, Hiển Giáo đă được nói
xong, c̣n có một pháp môn rất đặc biệt, vị Phật
này tượng trưng cho Mật. Sa La Thụ Vương
mang ư nghĩa tỷ dụ sự kiên cố.
(Sao) Kiên cố giả, thử thụ tuế hàn bất
điêu, phủ cân bất tổn, hữu kiên cố
nghĩa. Như Phật chứng Pháp Thân, Hoặc bất
năng dao, cảnh bất năng động cố. Tối
thắng giả, thử thụ cao đại, nhất thiết
lâm mộc vô năng cập giả, như Phật siêu tam giới,
chúng thánh trung tôn cố. Cụ tư nhị đức, danh
Thụ Vương dă.
(鈔)堅固者。此樹歲寒不彫。斧斤不損。有堅固義。如佛證法身。惑不能搖。境不能動故。最勝者。此樹高大。一切林木無能及者。如佛超三界。眾聖中尊故。具斯二德。名樹王也。
(Sao:
“Kiên cố”: Loại cây này đến mùa lạnh chẳng rụng
lá, búa ŕu chẳng thể gây tổn hại được,
nên có ư nghĩa kiên cố. Như Phật chứng Pháp Thân,
phiền năo chẳng thể lay, cảnh chẳng thể
động. “Tối thắng”: Cây này cao to, hết thảy
cây cối chẳng thể sánh bằng. Như Phật
vượt trỗi tam giới, là bậc tôn quư nhất
trong các vị thánh. Do có đủ hai đức ấy, nên
gọi là Thụ Vương).
Tại Trung Hoa, cây tùng, cây bách mùa Đông cũng
chẳng rụng lá, hết sức kiên cố, mang ư nghĩa
này. Mật Thừa vô thượng, nói thật ra, vẫn là
một câu Phật hiệu. Câu Phật hiệu chính là vô
thượng chú. Cuối Tâm Kinh có nói: “Là chú vô thượng, là chú không có ǵ sánh bằng”.
Chú ấy chính là Nam-mô A Di Đà Phật. Sáu chữ ấy
hoàn toàn phiên âm từ tiếng Phạn, chính là vô thượng
mật chú. Trong kinh Đại Tập, đức Phật
đă nói: Câu Phật hiệu là “vô
thượng thậm thâm Thiền”, cũng là vô thượng,
vô đẳng đẳng chú (chú không có ǵ sánh bằng). Kinh
Hoa Nghiêm nói “nhiều chính là một,
một chính là nhiều”. “Một”
là câu danh hiệu này, “nhiều”
là vô lượng vô biên pháp môn. Một câu Phật hiệu
triển khai sẽ là vô lượng vô biên pháp môn, vô lượng
vô biên pháp môn quy nạp thành một câu Phật hiệu. V́ thế
mới biết danh hiệu có công đức chẳng thể
nghĩ bàn. Vị Phật thứ tám:
(Sớ) Bảo Hoa Đức giả, Phật đức
như bảo hoa cố.
(Sao) Tiền
vân “nghiêm thân”, nghiêm hữu nhân nghĩa; kim đản ngôn “hoa”,
dĩ hoa dụ đức. Phật chi vạn đức,
quư trọng, hoa mỹ, như bảo hoa dă. Nhất vân
Thường, Lạc, Ngă, Tịnh. Phật chi tứ đức:
Thường như bảo hoa, vô điêu lạc cố. Lạc
như bảo hoa, duyệt nhân ư cố. Ngă như bảo
hoa, vô đăi ngoại cố. Tịnh như bảo hoa, thể
oánh khiết cố. Phú hữu vạn đức, quư trọng
hoa mỹ, khả lệ tri hỹ.
(Diễn)
Phật chi tứ đức, phiên phá phàm phu vô thường
kế thường đẳng tứ đảo. Nhị
Thừa thường kế vô thường đẳng tứ
đảo. Phật duy Tam Đức bí tạng, bất vị
tứ tướng sở thiên, viết Thường. Do
như bảo hoa, bất dĩ Xuân sanh, bất dĩ Thu tụy,
cụ vô thượng Bồ Đề giác pháp lạc, vô
thượng Niết Bàn tịch tĩnh lạc, viết Lạc.
Do như bảo hoa, trân kỳ túy mỹ, thích duyệt nhân
tâm, cụ bát tự tại ngă, bất đăi ư ngoại,
viết Ngă. Do như bảo hoa, bất giả dương
ḥa, bất tư vũ lộ, bất vi ngũ trụ sở
nhiễm, nhị tử sở lụy, viết Tịnh. Do
như bảo hoa, tinh kim mỹ ngọc, tịnh vô tiêm trần
cố.
(疏)寶華德者。佛德如寶華故。
(鈔)前云嚴身。嚴有因義。今但言華。以華喻德。佛之萬德。貴重華美。如寶華也。一云常樂我淨。佛之四德。常如寶華無彫落故。樂如寶華悅人意故。我如寶華無待外故。淨如寶華體瑩潔故。富有萬德。貴重華美。可例知矣。
(演)佛之四德。翻破凡夫無常計常等四倒。二乘常計無常等四倒。佛維三德祕藏。不為四相所遷曰常。猶如寶華。不以春生。不以秋瘁。具無上菩提覺法樂。無上涅槃寂靜樂。曰樂。猶如寶華。珍奇粹美。適悅人心。具八自在我。不待於外曰我。猶如寶華。不假陽和。不資雨露。不為五住所染。二死所累曰淨。猶如寶花。精金美玉。淨無纖塵故。
(Sớ: Bảo
Hoa Đức (Ratnophūlaśri): Phật đức
như hoa báu.
Sao: Phần trước nói là Nghiêm Thân, Nghiêm có ư
nghĩa “nhân” ở trong ấy. Nay chỉ nói Hoa, dùng hoa
để tỷ dụ đức. Vạn đức của
Phật, quư trọng, đẹp đẽ như hoa báu. Một
nghĩa là Thường, Lạc, Ngă, Tịnh, tức bốn
đức của Phật. Thường là như hoa báu, chẳng
tàn rụng. Lạc là như hoa báu khiến cho người
ta vui sướng. Ngă là như hoa báu chẳng vướng mắc
bên ngoài. Tịnh là như hoa báu thể chất sáng sạch,
phong phú vạn đức. Có thể suy ra mà biết sự
quư trọng, đẹp đẽ ấy.
Diễn: “Bốn đức của Phật ” lật nhào, phá
vỡ bốn quan niệm điên đảo[8] vô thường
mà chấp là thường v.v… của phàm phu và bốn quan niệm
điên đảo “thường mà chấp là vô thường”
của Nhị Thừa. Chỉ có Tam Đức bí tạng của
Phật là chẳng bị bốn tướng[9] dời đổi
nên nói là Thường. Giống như hoa báu, chẳng v́ Xuân
mà sanh, chẳng v́ Thu mà rơi rụng, có đủ niềm
vui nơi giác pháp vô thượng Bồ Đề, niềm
vui tịch tĩnh nơi Vô Thượng Niết Bàn, đó
là Lạc. Ví như hoa báu, quư báu, lạ lùng, tinh túy, đẹp
đẽ, vui sướng ḷng người, có đủ tám
món tự tại Ngă[10], chẳng phụ
thuộc vào bên ngoài nên gọi là Ngă. Ví như hoa báu, chẳng
cần ánh mặt trời ấp ủ, chẳng nhờ
mưa, sương để tưới tắm, chẳng
bị nhuốm bẩn bởi Ngũ Trụ, chẳng bị
vướng mắc bởi hai thứ Tử (Phần Đoạn
và Biến Dịch), đó là Tịnh. Ví như hoa báu, vàng ngọc
đẹp đẽ, tinh tế, tinh sạch, chẳng có mảy
trần).
Vị
Phật này biểu thị Báo Thân viên măn. Ba vị Phật
cuối cùng đều biểu thị sự viên măn rốt
ráo.
(Sớ) Kiến Nhất Thiết Nghĩa giả,
chư pháp chi nghĩa, vô bất tri cố.
(Sao) Nhất
thiết giả, thế xuất thế gian chư pháp vô
lượng, tắc nghĩa vô lượng. Hữu tri cận
nghĩa, bất tri viễn nghĩa giả. Hữu tri thiên
nghĩa, bất tri viên nghĩa giả. Hữu tri tổng
nghĩa, bất tri biệt nghĩa giả. Hữu tri thật
nghĩa, bất tri quyền nghĩa giả. Phật vô bất
kiến, như Tất Đạt thái tử, danh Nhất
Thiết Nghĩa Thành, tức thử ư dă.
(Diễn)
Thế xuất thế gian chư pháp vô lượng, tắc
nghĩa vô lượng giả. Thế gian chi pháp, thị Ấm,
Nhập, Xứ, Giới đẳng. Thế gian chi
nghĩa, tắc tích tụ, thiệp nhập đẳng. Xuất
thế chi pháp, thị Đế, Duyên, Lục Độ
đẳng. Xuất thế chi nghĩa, tắc bức bách,
chiêu cảm đẳng. Phàm phu tri cận, bất tri viễn,
đản tri thế gian pháp, bất tri xuất thế gian
pháp cố. Nhị Thừa tri thiên, bất tri viên, yếm hữu,
trước không, bất tri không hữu vô ngại cố.
Sơ tâm Bồ Tát, tri tổng, bất tri biệt, đản
ngộ Niết Bàn tâm, bất tri sai biệt nghĩa cố.
Tri thật, bất tri quyền, đản tri Chân Như giới
nội, bất tri Phật sự môn đầu cố. Phật
năi ngũ nhăn viên minh, tam trí viên hiển, vô bất kiến
dă.
(疏)見一切義者。諸法之義。無不知故。
(鈔)一切者。世出世間。諸法無量。則義無量。有知近義。不知遠義者。有知偏義。不知圓義者。有知總義。不知別義者。有知實義。不知權義者。佛無不見。如悉達太子。名一切義成。即此意也。
(演)世出世間諸法無量。則義無量者。世間之法。是陰入處界等。世間之義。則積聚涉入等。出世之法。是諦緣六度等。出世之義。則逼迫招感等。凡夫知近不知遠。但知世間法。不知出世間法故。二乘知偏不知圓。厭有著空。不知空有無礙故。初心菩薩。知總不知別。但悟涅槃心。不知差別義故。知實不知權。但知真如界內。不知佛事門頭故。佛乃五眼圓明。三智圓顯。無不見也。
(Sớ:
Kiến Nhất Thiết Nghĩa (Sarvārthadarśa): Nghĩa của chư
pháp, không ǵ chẳng biết.
Sao: Nhất Thiết: Các pháp thế gian và xuất thế
gian vô lượng, cho nên nghĩa vô lượng. Có kẻ
biết nghĩa gần, chẳng biết nghĩa xa. Có kẻ
biết nghĩa thiên lệch, chẳng biết nghĩa viên
măn. Có kẻ biết nghĩa tổng quát, chẳng hiểu
nghĩa riêng biệt. Có kẻ biết thật nghĩa, chẳng
biết quyền nghĩa. Phật không ǵ chẳng thấy.
Như thái tử Tất Đạt (Siddhārtha) tên là Nhất
Thiết Nghĩa Thành, chính là v́ ư này.
Diễn: “Các pháp thế gian và xuất thế gian vô lượng,
cho nên nghĩa vô lượng”: Pháp thế gian là Ấm, Nhập,
Xứ, Giới v.v… Nghĩa thế gian là như tích lũy,
tu tập, xen nhập v.v… Pháp xuất thế là Tứ Đế,
Thập Nhị Nhân Duyên, Lục Độ v.v… Nghĩa xuất
thế là như bức bách, chiêu cảm v.v… Phàm phu biết
gần, mà chẳng biết xa, chỉ biết pháp thế
gian, chẳng biết pháp xuất thế gian. Nhị Thừa
biết Thiên (thiên chấp, lệch về một bên), chẳng
biết Viên, chán Có, chấp Không, chẳng biết Không và Hữu
vô ngại. Sơ tâm Bồ Tát biết Tổng, chẳng biết
Biệt, chỉ biết Niết Bàn tâm, chẳng biết
nghĩa sai biệt, biết Thật, chẳng biết Quyền,
chỉ biết trong phạm vi Chân Như, chẳng biết
những chuyện thuộc về Phật sự. Phật
là ngũ nhăn viên minh, tam trí hiển lộ trọn vẹn,
không ǵ chẳng thấy).
Biểu thị trăm ngàn ức Hóa Thân.
(Sớ) Như Tu Di Sơn giả, Tu Di vi chúng sơn
chi vương, Phật đức siêu tuyệt như Tu Di
cố.
(Sao) Tiền
ngôn Tu Di Tướng, cố chỉ tướng hảo. Kim
vô Tướng tự, chuyên tựu đức ngôn. Hợp vạn
đức nhi giao la, như Tu Di dĩ bảo thành xưng Diệu.
Trung thiên hạ nhi độc lập, như Tu Di dĩ tối
thượng xưng Cao. Tu Di vương ư chúng sơn, Như
Lai vương ư tam giới, kỳ nghĩa nhất dă.
(疏)如須彌山者。須彌為眾山之王。佛德超絕。如須彌故。
(鈔)前言須彌相。故指相好。今無相字。專就德言。合萬德而交羅。如須彌以寶成稱妙。中天下而獨立。如須彌以最上稱高。須彌王於眾山。如來王於三界。其義一也。
(Sớ: Như Tu Di
Sơn (Sumērukalpa): Tu Di là vua trong các quả núi. Phật đức
siêu tuyệt như Tu Di.
Sao: Trong phần trước nói Tu Di Tướng là nói về
tướng hảo, nay không có chữ Tướng là chuyên
nói về đức. Hợp vạn đức kết
thành, như núi Tu Di do các chất báu tạo thành, được
gọi là Diệu. Đứng sừng sững một ḿnh
giữa thiên hạ, như núi Tu Di tối thượng nên gọi
là Cao. Tu Di là vua của các núi, Như Lai là vua của tam giới,
có cùng một nghĩa).
Biểu thị Pháp Thân viên măn thanh tịnh.
Báo Thân là Tự Thọ Dụng Thân, Hóa Thân là Tha Thọ Dụng
Thân, dùng để hóa độ chúng sanh. Lư Thể là thanh tịnh
Pháp Thân. Học Phật đến chỗ này mới là thật
sự đạt đến viên măn rốt ráo, chứng
đắc viên măn ba thân Pháp, Báo, Ứng.
Kinh văn trước sau tương ứng
trọn vẹn. Phương Đông biểu
thị thái độ học Phật cơ bản. A Súc Bệ
Phật biểu thị bất động, tín tâm thanh tịnh
bèn sanh Thật Tướng. Tâm chẳng định,
chẳng thể học điều ǵ! Tâm phải định,
nếu tâm bất động, chẳng bị hết thảy
lay động, quư vị sẽ có thể học. Ba vị Phật
kế tiếp [biểu thị] những mục tiêu chúng ta
mong cầu. Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật,
Tu Di Quang Phật chính là ba thân. Trước hết là những
ǵ trong tâm hướng tới, Tu Di Tướng là Báo Thân,
Đại Tu Di là Pháp Thân, Tu Di Quang là Ứng Hóa Thân. Đến
cuối cùng, ở đây chúng ta đă viên măn, đă đạt
được. Trong phần trước là mong cầu
đạt đến, phần sau là thật sự đạt
được. Đức hiệu của sáu phương Phật
đă hiển thị sự tu học trong Tịnh Tông từ
sơ phát tâm măi cho đến khi thành Phật trong
tương lai, toàn thể lịch tŕnh tu học là như
thế đó. Đoạn kinh văn này thật sự hết
sức hay, nếu mọi người hời hợt, hờ
hững xem lướt qua, quá đáng tiếc! Hôm nay, chúng
tôi giảng đến chỗ này!
A Di Đà Kinh Sớ Sao
Diễn Nghĩa
Phần 133
hết
[1] Theo Bát Thập Hoa Nghiêm, năm
mươi ba vị thiện tri thức là: Tỳ-kheo
Đức Vân, tỳ-kheo Hải Vân, tỳ-kheo Thiện
Trụ, đại sĩ Di Già, trưởng giả
Giải Thoát, tỳ-kheo Hải Tràng, ưu-bà-di Hưu
Xả, tiên nhân Tỳ Mục Cù Sa, bà-la-môn Thắng
Nhiệt, đồng nữ Từ Hạnh, tỳ-kheo
Thiện Kiến, đồng tử Tự Tại Chủ,
ưu-bà-di Cụ Túc, cư sĩ Minh Trí, trưởng
giả Pháp Bảo Kế, trưởng giả Phổ Nhăn,
vua Vô Yếm Túc, vua Đại Quang, ưu-bà-di Bất
Động, ưu-bà-di Biến Hành, trưởng giả
Dục Hương, thuyền sư (thuyền
trưởng) Bà Thi La, trưởng giả Vô Thượng
Thắng, tỳ-kheo-ni Sư Tử Tần Thân, cô gái Bà Tu
Mật Đa, cư sĩ Bệ Sắt Chi La, Quán Tự
Tại Bồ Tát, Chánh Thú Bồ Tát, Đại Thiên
Thần, địa thần An Trụ, chủ dạ
thần Bà San Bà Diễn Để, chủ dạ thần
Phổ Đức Tịnh Quang, chủ dạ thần
Hỷ Mục Quán Sát Chúng Sanh, chủ dạ thần Phổ
Cứu Chúng Sanh Diệu Đức, chủ dạ thần Tịch
Tĩnh Âm Hải, chủ dạ thần Thủ Hộ Nhất Thiết Thành
Tăng Trưởng Oai Lực, chủ dạ thần Khai
Phu Nhất Thiết Thụ Hoa, chủ dạ thần
Đại Nguyện Tinh Tấn Lực Cứu Hộ
Nhất Thiết Chúng Sanh, chủ thần vườn Lâm
Tỳ Ni là Diệu Đức Viên Măn, cô gái Thích Ca Cù Ba,
Phật mẫu Ma Da phu nhân, vương nữ Thiên Chủ
Quang, đồng tử sư Biến Hữu, đồng
tử Thiện Tri Chúng Nghệ, ưu-bà-di Hiền
Thắng, trưởng giả Kiên Cố Giải Thoát,
trưởng giả Diệu Nguyệt, trưởng
giả Vô Thắng Quân, bà-la-môn Tối Tịch Tĩnh,
đồng tử Đức Sanh, đồng nữ
Hữu Đức, Di Lặc Bồ Tát, Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát, và Phổ Hiền Bồ Tát.
[2] Kinh Dịch dùng chữ Truyện (傳) với ư
nghĩa chú giải phần chánh kinh. Hệ Từ (繫辭) có
nghĩa là lời lẽ gắn liền với từng
quẻ một. Đây là phần chú giải tổng quan
về toàn thể kinh Dịch, tương đương
với phần Khái Luận trong các bộ chú giải sau này.
[3] Chữ Trở này có nhiều cách
đọc (đúng ra, khi đọc tên sông hoặc họ
người (như Thư Cừ Mông Tốn, vua
nước Bắc Lương thời Ngũ Đại Thập Quốc) th́ phải
đọc thành Thư hoặc Tự, khi đọc thành âm
Trở th́ có nghĩa là ngăn trở. Trở Thủy là tên
một con sông bắt nguồn từ tỉnh Hồ
Bắc, chảy theo phía Đông Nam, đến Tương
Dương bèn hợp lưu với sông Chương Thủy,
tiếp tục xuôi về Nam đến Giang Lăng th́
đổ vào Trường Giang (Dương Tử Giang). Con
sông này hay gây lụt lội.
[4] Ngũ Viên, tự là Tử Tư, là
tướng quốc nước Ngô thời Xuân Thu. Ông
vốn là người nước Sở, cha là Ngũ Xa
(giữ chức Thái Phó nước Sở). Ngũ Xa làm thái
phó dạy học thái tử Kiến (con trai Sở B́nh
Vương Hùng Khí Tật). Về sau, Sở B́nh
Vương lấy Bá Doanh nước Tần làm thiếp
th́ say đắm Bá Doanh, lại nghe lời gièm pha của
Phí Vô Cực, đày thái tử Kiến ra huyện Thành
Phụ gần biên giới. Về sau, Phí Vô Cực vu cáo thái
tử Kiến làm phản, Sở B́nh Vương gọi
Ngũ Xa đến hỏi ư. Do Ngũ Xa thẳng thắn
khuyên can, ông bị vua bắt giam vào ngục, lại bị
buộc viết thư gọi hai con là Ngũ Thượng
và Ngũ Viên về Sở. Ngũ Viên khôn ngoan chẳng quay về,
nên thoát nạn. Sau đó, vua Sở giết chết Ngũ
Xa và Ngũ Thượng. Sau thời gian lưu lạc, có
lúc phải đi ăn xin, ông đến nước Ngô
được tướng quốc nước Ngô là công
tử Quang tin dùng. Ông đă bàn mưu tính kế giúp công
tử Quang chiếm ngôi, trở thành vua Ngô Hạp Lư sau
này. Khi trở thành Tướng Quốc, ông đă đem quân
Ngô về đánh Sở, chiếm cứ Dĩnh Đô,
đào xác Sở B́nh Vương lên đánh ba trăm roi
để trả mối thù giết cha. Khi Hạp Lư
chết trận, ông tiếp tục phù tá Phù Sai (con Hạp
Lư) và đánh bại nước Việt nhằm báo thù
nước Việt đă bắn trọng thương
Hạp Lư trước đó. Phù Sai nghe lời xu
nịnh của Bá Hy cho nước Việt giảng ḥa,
bắt Việt Vương Câu Tiễn sang làm nô lệ.
Ngũ Tử Tư chủ trương diệt cỏ
tận gốc, nhưng Phù Sai không nghe. Do thái tể Bá Hy gièm
pha, Ngô Phù Sai buộc Ngũ Tử Tư tự tử, ông
đă nói: “Hăy móc mắt ta treo trên cửa thành phía Đông
để ta được thấy giặc Việt vào tiêu
diệt nước Ngô”. Quả nhiên mười năm sau,
Câu Tiễn diệt Ngô và bắt Phù Sai phải tự sát
ngay, chứ không cho làm nô lệ, dù Phù Sai hết sức van
xin.
[5] Đây là lời can gián vua Ngô Phù Sai
của Ngũ Viên (Ngũ Tử Tư) sau khi vua Ngô đánh
bại Việt Vương Câu Tiễn. Câu Tiễn bại
trận, dùng tiền bạc mua chuộc các đại
thần nước Ngô để xin được làm nô
lệ tại nước Ngô mười năm ngơ hầu
Ngô đừng diệt quốc nước Việt, chỉ
biến Việt thành chư hầu. Tham đắm mỹ
nữ và của cải dâng cống, cũng như nghe lời
sàm nịnh của Bá Hy, Phù Sai đă chấp thuận
để yên nước Việt. Ngũ Tử Tư cảnh
tỉnh Phù Sai về hiểm họa Việt sẽ diệt
Ngô trong tương lai bằng những lời lẽ trên
đây.
[6] Đây là nhóm sáu vị tỳ-kheo thường kéo bè kéo đảng, quấy phá Tăng đoàn, làm những hành vi trái nghịch giới luật. Thật ra, họ thị hiện nghịch hạnh để đức Phật có dịp chế giới. Tên sáu người ấy là Nan Đà (Nanda), Bạt Nan Đà (Upananda), Ca Lưu Đà Di (Kālodāyin), Xiển Na (Chanda, c̣n phiên âm là Xa Nặc), A Thuyết Ca (Aśvaka) và Phất Na Bạt (Punarvasu)
[7] Bắc Thần là tên gọi khác của
Bắc Cực Tinh (Polaris Star, Pole Star, Guiding Star). Chỉ có
người ở Bắc bán cầu mới thấy
được ngôi sao này. Hiện thời Bắc Cực
Tinh chính là ngôi sao Alpha Ursa Minoris trong chùm sao Tiểu Hùng (Ursa
Minor). Thật ra ngôi sao này là cả một cḥm sao, bao
gồm một ngôi sao chính gọi là Umi Aa, và bốn phụ
tinh gọi là alpha Umi B, alpha Umi Ab, alpha Umi C và alpha Umi D. Sao
này được gọi tên như vậy v́ nó dùng
để định vị phương hướng trong
hàng hải hoặc lữ hành trên sa mạc từ thời
cổ, và được nhiều dân tộc biết
đến. Nền văn hóa Hy La gọi nó là Stella Polaris
(ngôi sao phương Bắc), hoặc Cynosura (sao đuôi chó),
người Ấn gọi nó là Dhruva Tara (định tinh)…
[8] Bốn quan niệm điên đảo là
bốn thứ chấp trước về Thường và
Vô Thường của chúng sanh: Một là chấp vạn
pháp luôn thường hằng (Thường Kiến), hai là
chấp trước vạn pháp đều vô thường,
không có đời sau, không có nhân quả v.v… (Đoạn
Kiến), ba là chấp vạn pháp là thường mà cũng
là vô thường, bốn là chấp vạn pháp chẳng
phải là thường, chẳng phải là vô
thường.
[9] Bốn tướng ở đây chính là
thành, trụ, hoại, diệt.
[10] Bát Tự Tại Ngă có hai
cách hiểu:
1. Theo kinh Đại Niết
Bàn th́ Bát Tự Tại Ngă chính là tám đặc tánh tự tại
nơi Ngă trong Tứ Đức của Như Lai:
1) Có thể thị hiện
một thân thành nhiều thân.
2) Có thể thị hiện
một thân nhỏ như vi trần mà đầy khắp
tam thiên đại thiên thế giới.
3) Hiện thân to lớn có
thể nhẹ nhàng đến nơi xa xôi nhất.
4) Hiện thân thường
sống trong vô lượng chủng loại chúng sanh.
5) Có thể sử dụng
các căn lẫn nhau không trở ngại, như dùng mắt
để nghe, dùng tai để nếm v.v… Mỗi căn trọn
đủ tác dụng của năm căn kia.
6) Đạt được
Vô Đắc Tưởng trong hết thảy các pháp.
7) Nói nghĩa của một
bài kệ trải qua vô lượng kiếp.
8) Thân trọn khắp các
nơi giống như hư không.
2. Sách Pháp Giới Thứ
Đệ lại nói Bát Tự Tại là:
1) Có thể hiện nhỏ,
tức là dùng sức biến hóa khiến cho thân chính ḿnh và
những pháp khác đều cực nhỏ như tiểu vi
trần.
2) Có thể hiện lớn,
tức là dùng sức biến hóa khiến cho thân ḿnh và mọi
người, mọi vật đều to lớn đầy
ắp hư không chẳng ngăn ngại lẫn nhau.
3) Có thể hiện nhẹ,
tức là dùng sức biến hóa khiến cho thân ḿnh, mọi
người, vạn pháp, thế giới v.v… đều nhẹ
như lông hồng.
4) Có thể tự tại,
tức là chuyển hóa tự tại từ nhỏ sang lớn,
dài sang ngắn, nhẹ sang nặng và ngược lại tự
tại vô ngại.
5) Có thể làm chủ, tức
là có thể tự biến hóa thành thân lớn nhỏ,
nhưng tâm chẳng phân biệt, chấp trước, hàng
phục và nhiếp thọ hết thảy.
6) Có thể đến
nơi xa, tức là có thể biến hóa đến bất
cứ nơi xa xôi nào.
7) Có thể động, tức
là có thể biến hóa khiến cho đại địa
sáu thứ chấn động hoặc mười tám thứ
chấn động.
8) Tùy ư, tức là tự tại biến hóa một thân thành nhiều thân, nhiều thân thành một thân, đi xuyên qua tường vách, núi non, chuyển biến tứ đại như biến đất thành nước, lửa v.v...