A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

阿彌陀經疏鈔演義

Phần 133

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và Đức Phong

Tập 265

 

          Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang năm trăm ba mươi chín:

 

          (Kinh) Xá Lợi Phất! Bắc phương thế giới, hữu Diệm Kiên Phật, Tối Thắng Âm Phật, Nan Trở Phật, Nhật Sanh Phật, Vơng Minh Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật.

(Sớ) Diệm Kiên giả, giải kiến tiền văn.

(Sao) Tiền hữu Đại tự, nghĩa vô ưu liệt.

()舍利弗。北方世界。有燄肩佛。最勝音佛。難沮佛。日生佛。網明佛。如是等恆河沙數諸佛。

()燄肩者。解見前文。

()前有大字。義無優劣。

(Kinh: Xá Lợi Phất! Thế giới phương Bắc có Diệm Kiên Phật, Tối Thắng Âm Phật, Nan Trở Phật, Nhật Sanh Phật, Vơng Minh Phật, hằng hà sa số chư Phật như thế.

Sớ: “Diệm Kiên” xem lời giải thích trong phần trước.

Sao: [Danh hiệu của vị Phật] trong phần trước có chữ Đại, [trong đoạn này không có], nhưng ư nghĩa chẳng hơn kém).

 

          Đây là phương Bắc trong sáu phương Phật. Đối với phương Bắc, nêu ra đức hiệu của năm vị Phật nhằm biểu thị Hóa Tha (hóa độ người khác). Sau khi đă trọn đủ phước huệ th́ mới có thể thật sự thực hiện viên măn hoằng nguyện do đức Phật đă phát trong khi c̣n tu nhân. Như chúng ta học Phật, cũng như chư Phật trong khi tu nhân đă phát nguyện, đó là [phát nguyện bằng] chân tâm hay giả tâm, chúng ta tạm thời chẳng bàn đến. Như trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện, nguyện “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”, nói thật ra, bốn nguyện đó quy kết thành một nguyện này, ba nguyện sau đều nhằm viên măn một nguyện [đầu tiên] này mà phát. Do đó, trong bốn nguyện, nguyện thứ nhất là chủ chốt, là trọng yếu nhất. Nguyện thứ nhất, nói thật ra, cũng là một sức mạnh thúc đẩy chư Phật viên thành Phật đạo. Chúng ta biết người thế gian hằng ngày siêng năng nỗ lực làm việc, sức mạnh nào thúc đẩy họ? Quy nạp lại, chẳng ngoài sức mạnh “danh lợi”. Chẳng phải v́ danh th́ là v́ lợi. Nếu danh lẫn lợi đều chẳng có, tôi nghĩ tuyệt đối là họ sẽ chẳng muốn làm việc! Chư Phật, Bồ Tát danh lẫn lợi đều chẳng cần, thảy đều bỏ hết, sức mạnh nào thúc đẩy khiến cho các Ngài tinh tấn, nỗ lực, hăng hái, chẳng biếng nhác? Do chính nguyện này! Do vậy có thể biết: Bồ Tát phát tâm tự hành (chính ḿnh tu hành), phát tâm hóa độ kẻ khác, đều do nguyện thứ nhất này [thúc đẩy]. Cho đến phát tâm mong thành Phật đạo vẫn nhằm thỏa măn nguyện thứ nhất. V́ nếu Bồ Tát chẳng thành Phật đạo, dẫu thuộc địa vị Đẳng Giác Bồ Tát, Đẳng Giác Bồ Tát chẳng thể hóa độ Đẳng Giác Bồ Tát, [bởi lẽ] địa vị và tŕnh độ của các Ngài như nhau. Nhất định là phải thành Phật th́ mới có thể độ Đẳng Giác Bồ Tát, mới có thể độ hết thảy chúng sanh tới mức rốt ráo viên măn. Do vậy, nhất định là trí huệ và phước đức đều viên măn; khi ấy, sẽ rộng độ chúng sanh.

          Đối với Phật pháp, độ sanh là sự nghiệp. Nói theo cách hiện thời, “độ” () là giúp đỡ, hiệp trợ họ, giúp họ ĺa khổ được vui. Trong các nỗi khổ của tam giới, có hai loại sanh tử: Một loại là Phần Đoạn sanh tử, loại kia là Biến Dịch sanh tử, hai nỗi khổ ấy! Thoát khỏi tam giới, từ Tiểu Thừa Tứ Quả La Hán trở lên, chẳng c̣n có Phần Đoạn sanh tử trong tam giới. Tuy đă vượt ra ngoài tam giới, măi cho đến địa vị Đẳng Giác Bồ Tát, vẫn c̣n có Biến Dịch sanh tử. Nói cách khác, các Ngài sung sướng hơn chúng ta nhiều lắm, nhưng chẳng phải là đă đạt đến rốt ráo, chẳng phải là viên măn. Nhất định là phải giúp chúng sanh viên thành Phật đạo th́ sự ĺa khổ ấy mới là ĺa đến rốt ráo, “được vui” mới đạt đến viên măn. Chư vị ngẫm xem: Muốn giúp chúng sanh thành Phật, mà chính ḿnh chẳng thành Phật, làm thế nào được? Chẳng có lẽ ấy! Chính ḿnh nhất định phải thành Phật!

Cũng có lẽ mọi người từng nghe nói: “Chính ḿnh chưa độ, đă độ chúng sanh trước; đấy là Bồ Tát phát tâm”. Giống như Địa Tạng Bồ Tát, chính ḿnh chưa thành Phật, đă độ chúng sanh đều thành Phật, lăo nhân gia vẫn là Bồ Tát. Chúng ta có thể học theo chuyện ấy hay chăng? Rất nhiều người hiểu ư nghĩa trong kinh điển theo kiểu cắt xén chương đoạn, hiểu lệch lạc ư nghĩa của Phật, cho rằng Địa Tạng Bồ Tát rất vĩ đại: Chính ḿnh chưa thành Phật, mà đă độ chúng sanh trước, ta phải học theo Địa Tạng Bồ Tát. Quư vị có thể học nổi hay không? Địa Tạng Bồ Tát là hạng người nào? Đẳng Giác Bồ Tát! Nếu quư vị chứng đắc Đẳng Giác Bồ Tát bèn có thể học theo Địa Tạng Bồ Tát: “Ta chẳng thành Phật, độ chúng sanh thành Phật trước. Chúng sanh chưa độ hết, ta thề chẳng thành Phật ”. Lời ấy do bậc Đẳng Giác Bồ Tát thốt ra. Chúng ta chẳng có tư cách! Nếu chúng ta chẳng thành Phật, sẽ phải đọa trong lục đạo luân hồi, sẽ đọa trong ba ác đạo. Đọa ba ác đạo, bản thân quư vị c̣n chưa giữ nổi, làm sao có thể độ người khác cho được? V́ thế, chớ nên hiểu cong vạy ư nghĩa trong kinh, chớ nên hiểu sai ư Phật.

          Trên thực tế, Địa Tạng Bồ Tát đă sớm thành Phật, bất quá lăo nhân gia chẳng muốn hiện h́nh tướng Phật mà thôi. Học tṛ đă thành Phật đông ngần ấy, lẽ đâu lăo nhân gia vẫn chẳng thành Phật? Há có đạo lư ấy? Bất quá là Ngài chẳng biến ra h́nh dạng Phật, mà biến thành h́nh tướng Bồ Tát đó thôi! Người ta có năng lực thành Phật bất cứ lúc nào, chẳng muốn dùng thân Phật để hóa độ chúng sanh, vị đó gọi là Địa Tạng Bồ Tát. Chúng ta thật sự phát tâm học theo Địa Tạng Bồ Tát th́ vẫn là phải tới Tây Phương Cực Lạc thế giới trước để gặp A Di Đà Phật. Sau khi đă chứng đắc viên măn Bồ Đề trong thế giới Cực Lạc, bèn có thể bắt chước Địa Tạng Bồ Tát. Đấy là chánh xác, chẳng có vấn đề ǵ!

          Kinh văn cho đến đoạn này, xét theo sự biểu thị pháp là chú trọng lợi ích chúng sanh. Danh hiệu của vị Phật thứ nhất là Diệm Kiên Phật. Trong phần trước, đă từng nói về Đại Diệm Kiên Phật; ở đây, chúng ta chú trọng ư nghĩa biểu thị pháp. Kiên () là hai vai, biểu thị ư nghĩa gánh vác: Vai chúng ta có thể gồng gánh được. Diệm () là ngọn lửa, biểu thị ư nghĩa quang minh. Hai vai biểu thị Quyền Trí và Thật Trí. Có Quyền Trí và Thật Trí th́ mới có thể gánh vác gia nghiệp của Như Lai. Sự nghiệp của chư Phật Như Lai là hoằng pháp lợi sanh. Bồ Tát có hai loại trí huệ ấy. Bồ Tát có tại gia và xuất gia; ở đây là tại gia lẫn xuất gia thảy đều được bao gồm. V́ thế, chư vị đồng tu học Phật phải biết: Không nhất định là phải xuất gia, tại gia Bồ Tát chứng đắc rất nhiều! Tại gia Bồ Tát thành Phật vô lượng vô biên. Chúng ta xem phần năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài đồng tử trong kinh Hoa Nghiêm, [sẽ thấy] trong năm mươi ba vị thiện tri thức[1], kể từ tỳ-kheo Đức Vân, tỳ kheo Đức Vân đại diện cho hàng Sơ Trụ trong Viên Giáo, là Pháp Thân đại sĩ, măi cho đến Phổ Hiền Bồ Tát, trong ấy [bao gồm] viên măn bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại sĩ, tức là Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, và Đẳng Giác. Năm mươi ba địa vị Pháp Thân đại sĩ, thị hiện thân phận xuất gia chỉ có sáu vị, những vị khác đều là tại gia. Như vậy th́ chúng ta có thể hiểu rơ: Tại gia Bồ Tát đông đảo, tại gia thành Phật và xuất gia thành Phật chẳng khác ǵ nhau!

Xuất gia chỉ có một chuyện là hoằng dương và hộ tŕ chánh pháp. Phật giáo là nền giáo dục của đức Phật, chúng ta phải tiếp nối, duy tŕ nền giáo dục ấy. Muốn thúc đẩy, phát triển nền giáo dục ấy, nhất định là phải có nhân viên chuyên nghiệp để làm chuyện này, giống như mở trường học: Những vị đảm nhiệm vai tṛ giáo chức trong nhà trường là những người chuyên nghiệp, chẳng phải là chức trách kiêm nhiệm. Thúc đẩy nền giáo dục của đức Phật phát triển mạnh mẽ, duy tŕ nền giáo dục ấy, cũng ắt phải do nhân viên chuyên nghiệp tiến hành. Quư vị phát tâm chuyên môn tiến hành công việc này, theo đuổi “nghề nghiệp” ấy, bèn xuất gia. Nếu không, chẳng cần phải xuất gia, tại gia vẫn có thành tựu y hệt. Bất luận theo đuổi nghề nghiệp nào, đều là Bồ Tát, đều là Phật. Quư vị đọc kinh Hoa Nghiêm thuần thục sẽ hiểu rơ, cũng biết: Chúng ta ở trong xă hội này, bất cứ nghề nghiệp nào, thân phận nào, làm loại Bồ Tát nào, đều có thể viên thành Phật đạo.

          Hoằng dương và hộ tŕ Phật pháp đều lấy trí huệ cao độ làm cơ sở, cho nên là Diệm Kiên. Điều khẩn yếu nhất trong trí huệ là Thật Trí, đó là trí huệ chân thật. Kinh Bát Nhă nói “Bát Nhă vô tri”, cái “vô tri” ấy chính là Thật Trí, tức là trí huệ chân thật. Tâm Kinh đến cuối cùng nói: “Vô trí mà cũng vô đắc”. Đó là tinh hoa của Tâm Kinh, là trung tâm của một bộ Đại Bát Nhă sáu trăm quyển. V́ vậy, vô tri là chân trí huệ. Nay chúng ta điều ǵ cũng không biết, có phải là có chân trí huệ hay không? Chẳng phải! Người ta rất dễ hiểu lầm ư nghĩa này, tưởng “Bát Nhă vô tri” th́ chúng ta chẳng đọc sách mà cũng chẳng cần học hành. Đức Phật nói “chân trí huệ”, chúng ta hiểu ư Phật theo kiểu đó, tức là đă hiểu sai bét ư Phật mất rồi! “Vô tri” là tâm thanh tịnh, trong tâm chẳng sanh một niệm, trong tâm chẳng tồn tại một vật. Lục Tổ nói: “Vốn chẳng có một vật”. Đó là chân trí huệ, tâm thanh tịnh, thanh tịnh đến cùng tột. Tâm thanh tịnh khởi tác dụng là Quyền Trí. Kinh Bát Nhă nói Quyền Trí là “không ǵ chẳng biết”. Khi chẳng khởi tác dụng th́ đúng là chẳng sanh một niệm, cho nên gọi là “vô tri”. Khi khởi tác dụng, bèn “không ǵ chẳng biết”. Nay chúng ta khi chẳng khởi tác dụng bèn vô tri, mà lúc khởi tác dụng cũng vô tri luôn, sai mất rồi! Diệm Kiên Phật biểu thị phải trọn đủ hai thứ trí huệ là Quyền Trí và Thật Trí. Thật Trí c̣n gọi là Căn Bản Trí, là Bát Nhă vô tri. Vô tri là Căn Bản Trí. Quyền Trí c̣n gọi là Hậu Đắc Trí, tức là Căn Bản Trí khởi tác dụng. Điều này cũng nhằm nói rơ: Toàn thể Phật pháp được kiến lập trên cơ sở trí huệ chân thật. Có trí huệ chân thật th́ mới có thể tự độ, và mới có thể giúp đỡ người khác.

          Vị Phật thứ hai là Tối Thắng Âm Phật (Vaiśvānaranirghōṣa). Phật pháp coi trọng nhất là khế cơ và khế lư. Diệm Kiên Phật trong đoạn trước biểu thị sự Khế Lư, ở đây nói đến sự Khế Cơ. Chúng ta biết đức Phật thuyết pháp là nói tương ứng với căn cơ. Có thể suy ra: Đức Phật thuyết pháp trong thế giới phương khác nhất định sẽ chẳng giống những ǵ đă được nói trong thế giới Sa Bà của chúng ta. V́ sao? Căn cơ khác nhau. Căn tánh của chúng sanh trong thế gian này là Nhĩ Căn nhạy bén nhất. Trong kinh Lăng Nghiêm, Văn Thù Bồ Tát đă v́ chúng sanh trong thế giới Sa Bà chọn lựa pháp môn, Ngài chọn môn Quán Thế Âm Bồ Tát Nhĩ Căn Viên Thông. Ngài nói: “Thử phương chân giáo thể, thanh tịnh tại âm văn” (Chân giáo thể phương này, thanh tịnh tại nghe tiếng). Mắt thấy chẳng rơ ràng, tai nghe bèn rơ ràng. Đương nhiên là cũng có thiểu số ngoại lệ; có một ít người nghe chẳng rơ ràng, nhưng họ nh́n bèn thấy rất minh bạch. Có hạng người như vậy, nhưng là thiểu số. Đại đa số mọi người là Nhĩ Căn nhạy bén hơn Nhăn Căn. Do vậy, đức Phật giáo hóa chúng sanh trong thế gian này bèn dùng âm thanh để thuyết pháp. Thuở tại thế, Thích Ca Mâu Ni Phật chẳng viết văn chương, chẳng lưu lại tác phẩm nào cho hậu thế, toàn là diễn giảng. Kinh điển là sau khi đức Phật đă diệt độ, các đệ tử họp lại, ghi chép những lời đức Phật đă giảng trước kia thành văn tự, biên chép lại, soạn thành kinh điển. Do vậy, thuở đức Phật tại thế, [trong Phật giáo] chẳng có văn tự. Thuở Khổng lăo phu tử tại thế dạy học, cũng dùng âm thanh làm Phật sự, cũng chẳng có sách vở. Bất quá, Khổng Tử c̣n có trước tác, viết này nọ, như phần Hệ Từ Truyện[2] trong kinh Dịch. Ngài c̣n lưu lại văn chương cho hậu thế, chứ Thích Ca Mâu Ni Phật chẳng có. Vị Phật thứ hai là nói về phương thức và phương pháp dạy học, nhất định là dùng âm thanh để làm Phật sự. Tối Thắng Âm (最勝音) là âm thanh thù thắng nhất. Âm thanh trong thế gian quá nhiều, hết thảy các âm thanh ấy đều chẳng có cách nào giúp chúng ta liễu sanh tử, thoát tam giới. Dẫu âm thanh ấy dễ nghe cách mấy, đều chẳng thể gọi là Tối Thắng (thù thắng nhất). V́ thế, Tối Thắng Âm như Liên Tŕ đại sư giải thích ở đây chỉ là h́nh dung.

 

          (Sớ) Tối Thắng Âm giả, Phật âm cực hảo, nhất thiết âm thanh vô năng cập cố.

          (Sao) Phật hữu bát âm, nhất cực hảo âm, nhị nhu nhuyễn âm, năi chí bát bất kiệt âm. Kim cứ cực hảo, dĩ thích tối thắng, diệc khả bát âm kiêm bị, cố danh Tối Thắng, tắc nhất thiết thiên, nhân, Thanh Văn, Bồ Tát sở bất năng cập dă.

(Diễn) Bát âm giả, nhất nhị như văn, tam ḥa thích âm, tứ tôn huệ âm, ngũ bất nữ, lục bất ngộ, thất thâm viễn, bát như văn.

()最勝音者,佛音極好,一切音聲無能及故。

            ()佛有八音。一極好音。二柔軟音。乃至八不竭音。今據極好。以釋最勝。亦可八音兼備。故名最勝。則一切天人聲聞菩薩所不能及也。 

()八音者。一二如文。三和適音。四尊慧音。五不女。六不誤。七深遠。八如文。

(Sớ: Tối Thắng Âm: Âm thanh của Phật hay đẹp tột bậc, hết thảy các âm thanh chẳng thể sánh bằng.

Sao: Phật có tám âm, một là âm thanh tốt đẹp cùng cực, hai là âm thanh mềm mại, cho đến điều thứ tám là âm thanh chẳng cạn kiệt. Nay dựa trên [ư nghĩa] Cực Hảo để giải thích chữ Tối Thắng, mà cũng có thể dùng trọn cả tám loại âm thanh để giải thích. V́ thế, gọi là Tối Thắng, v́ hết thảy người, trời, Thanh Văn, Bồ Tát đều chẳng thể sánh bằng.

Diễn: Tám âm: Điều thứ nhất và thứ nh́ giống như trong lời Sao [đă chép], ba là âm thanh ḥa hoăn, thích hợp, bốn là âm thanh trí huệ cao quư, năm là chẳng có âm hưởng nữ nhân, sáu là chẳng sai lầm, bảy là sâu xa, điều thứ tám giống như trong lời Sao).

 

          Âm thanh hay đẹp tột bậc mà nếu chẳng thể giúp chúng ta liễu sanh tử, thoát tam giới, âm thanh hay đẹp tột bậc ấy cũng chẳng thể gọi là âm thanh thù thắng nhất. [Âm thanh thù thắng nhất] là ǵ? “Âm” () ở đây là âm thanh thuyết pháp, tức là dùng ngôn ngữ hoặc âm thanh để nói rơ chân tướng của vũ trụ và nhân sinh, khiến cho chúng ta nghe xong sẽ hoảng nhiên đại ngộ, âm thanh ấy là mầu nhiệm. Âm thanh ấy đúng là thù thắng. Hết thảy các âm thanh trong cơi trời và nhân gian đều chẳng thể sánh bằng. V́ thế, Tối Thắng Âm là [âm thanh] thuyết pháp. Thích Ca Mâu Ni Phật thuyết pháp bốn mươi chín năm, hết thảy các kinh điển, kể cả kinh Tiểu Thừa, đều nhằm giúp chúng ta liễu sanh tử, thoát tam giới, đó là Tối Thắng Âm. Viết thành sách, sẽ là sách vở thù thắng nhất trong thế gian, chẳng có sách vở nào khác có thể sánh bằng! Sách ấy có thể giúp chúng ta thoát tam giới, tất cả hết thảy sách vở trong thế gian chẳng thể [giúp chúng sanh] thoát khỏi tam giới. Dẫu là các sách vở tôn giáo, tối đa cũng chẳng qua là giúp cho chúng sanh đạt đến thiên đạo mà thôi. Tôn giáo cao cấp của Ấn Độ có thể giúp quư vị sanh lên Sắc Giới Thiên hoặc Vô Sắc Giới Thiên, nhưng chẳng thoát khỏi tam giới. Chỉ riêng Phật pháp là có thể giúp chúng ta thoát tam giới, liễu sanh tử, vĩnh viễn thoát luân hồi, đó là Tối Thắng Âm.

Chúng ta dùng những sách vở ấy để tu học, trong thời gian ngắn ngủi mấy chục mùa nóng lạnh, có thể thật sự đạt tới mục tiêu ấy hay không? Khó lắm! Khó ở chỗ nào? Chẳng phải là pháp môn khó khăn, đức Phật đă nói rất hay: “Pháp môn b́nh đẳng, chẳng có cao thấp”. V́ thế, [khó khăn] chẳng do pháp môn, mà là do căn tánh của chúng sanh. Căn tánh của cổ nhân chẳng giống người hiện thời, căn tánh của người phương Đông chẳng giống người phương Tây. Thậm chí căn tánh của đồng bào Đài Loan chẳng giống căn tánh của đồng bào tại Đại Lục. V́ thế, đối với pháp môn, chẳng thể không chọn lựa! Đó gọi là “pháp môn có khó, dễ”. Khó hay dễ chẳng do bản thân pháp môn, mà là do căn tánh của chúng sanh khác nhau. Căn tánh có thù thắng hay kém cỏi. Do vậy, tu học c̣n có hiện tượng khó, dễ. Một pháp môn làm như thế nào để có thể bảo đảm hết thảy chúng sanh đều có thể thành Phật đạo? Đó là pháp thù thắng nhất trong các thứ thù thắng, là Tối Thắng Âm. Như vậy, chúng ta bèn hiểu rơ: Nguyên lai, Tối Thắng Âm chính là một câu danh hiệu “Nam-mô A Di Đà Phật ”. Câu danh hiệu ấy chính là Tối Thắng Âm, trên có thể độ Đẳng Giác Bồ Tát, dưới có thể độ chúng sanh trong địa ngục. Chỉ cần quư vị thật sự tin, thật sự nguyện, thật sự niệm, bèn thật sự văng sanh, thật sự thấy Phật, thật sự bất thoái thành Phật. Kết quy lại, Tối Thắng Âm chính là “Nam-mô A Di Đà Phật”, phải biết điều này. Trong lời chú giải có giải thích Phật có “bát âm”, chư vị tự xem. Chúng tôi chỉ nói đại ư, lời chú sớ kinh chẳng có ư ấy, cho nên tôi nói rơ cùng quư vị. Lại xem vị Phật kế tiếp:

 

          (Sớ) Nan Trở giả, Phật đức kiên mật, bất khả hoại cố.

(Sao) Trở giả, thủy danh. Phật chứng Pháp Thân, dĩ đắc Kim Cang bất hoại chi thể, cánh vô dư Hoặc. Phiền năo hoành lưu, mạc năng xung đăng. Cố viết Nan Trở. Tích nhân vị “Ngô kỳ chiểu hồ”, nan trở giả, do ngôn bất khả chiểu dă. Hựu Trở trở thông dụng, chỉ át dă.

          (Diễn) “Ngô kỳ chiểu hồ” giả, Tử Tư ngôn: “Việt thập niên sanh tụ, thập niên giáo huấn, nhị thập niên hậu, Ngô kỳ chiểu hồ”. Chỉ át giả, Phật chứng Pháp Thân, đắc vô tận tạng. Sở hữu thần thông, diệu dụng, bất khả chỉ át dă. Thượng nghĩa ước Thể, thử nghĩa ước Dụng.

          ()難沮者,佛德堅密,不可壞故。

         ()沮者。水名。佛證法身。已得金剛不壞之體。更無餘惑。煩惱橫流。莫能衝蕩。故曰難沮。昔人謂吳其沼乎。難沮者。猶言不可沼也。又沮阻通用。止遏也。

         ()吳其沼乎者。子胥言。越十年生聚。十年教訓。二十年後吳其沼乎。止遏者。佛證法身。得無盡藏。所有神通妙用。不可止遏也。上義約體。此義約用。

(Sớ: Nan Trở (Duṣpradharṣa) là Phật đức cứng chắc, kín đáo, chẳng thể phá hoại được.

Sao: Trở[3] là tên một con sông. Phật chứng Pháp Thân, đă đắc cái thể kim cang bất hoại, chẳng c̣n sót phiền hoặc. Ḍng lũ phiền năo chẳng thể dâng tràn được. V́ thế nói là Nan Trở. Người xưa nói: “Nước Ngô trở thành cái ao của họ ư?” Đó là ngăn trở vậy, ví như [can ngăn] chẳng để cho nước Ngô biến thành cái ao của họ. Chữ Trở () và Trở () lại được dùng lẫn cho nhau, [cùng có nghĩa] là ngăn dứt).

          Diễn: “Nước Ngô trở thành cái ao của họ ư?” Tử Tư[4] nói: “Nước Việt bồi dưỡng thực lực mười năm, trải qua mười năm giáo huấn, hai mươi năm sau, nước Ngô sẽ trở thành cái ao của họ ư?”[5] “Ngăn dứt”: Phật chứng Pháp Thân, đắc Vô Tận Tạng, tất cả thần thông diệu dụng, chẳng thể ngăn dứt được. Nghĩa trước là nói theo Thể, nghĩa này nói theo Dụng).

 

          Vị Phật này biểu thị sự hoằng dương và hộ tŕ chánh pháp, khá là chẳng đơn giản. Tục ngữ thường nói: “Đạo cao một thước, ma cao một trượng”; học Phật có thể thuận buồm xuôi gió, chẳng có ma chướng, tra khắp Đại Tạng Kinh, chẳng t́m thấy [có trường hợp tương tự như vậy]. Trong một đời thị hiện của Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật lăo nhân gia, trong th́ Tăng đoàn có Lục Quần Tỳ Kheo[6], hằng ngày nghịch phá, quấy rối, gây tiếng xấu cho Tăng đoàn, gây nên phiền phức, bên ngoài th́ có chín mươi sáu thứ ngoại đạo. Có thể thấy là vào thời ấy, Thích Ca Mâu Ni Phật kiến lập Phật pháp khá khó khăn. Lịch đại tổ sư đại đức tu hành, hoằng dương, giáo hóa, có vị nào chẳng bị chướng ngại hay không? Tại Trung Hoa, [xét theo] sự hoằng dương và giáo hóa có sức ảnh hưởng lớn nhất, không ai hơn được Lục Tổ Huệ Năng đại sư của Thiền Tông. Quư vị thấy Ngài gặp thử thách: Sau khi đắc đạo, minh tâm kiến tánh, Ngài hai mươi bốn tuổi. Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn đại sư truyền y bát cho Ngài, Ngài c̣n phải tới lánh nạn trong đội thợ săn, ẩn náu suốt mười lăm năm mới có thể rời khỏi, gặp bao nhiêu khổ nạn? Ma chướng nhiều lắm! Nay chúng ta gặp phải một chút trắc trở bèn ngă ḷng, làm sao quư vị có thể thành tựu cho được? Chư vị phải hiểu: Trong lẫn ngoài đều có ma chướng. Đối với các bạn tại gia học Phật, người nhà là ma chướng, [tức là] người trong nhà chướng ngại quư vị. Đối với người xuất gia học Phật, sư huynh, sư đệ trong Tăng đoàn chướng ngại quư vị, đó cũng là ma chướng, chẳng thể tránh né! Chúng ta phải đối phó như thế nào? Học theo Nan Trở Phật. Trở () là ngăn trở, phá hoại. Thứ ǵ chẳng bị phá hoại? Tín tâm bất hoại, nguyện tâm bất hoại, hạnh tâm bất hoại. Chỉ cần ba điều Tín, Nguyện, Hạnh của quư vị bất hoại, quư vị bèn thành công.

Vị Phật này dạy chúng ta đừng sợ ma vương, ngoại đạo, chúng ta biết chúng nó tồn tại, luôn ở quanh chúng ta, thời thời khắc khắc kiếm chuyện, ngăn trở, chúng ta phải sử dụng trí huệ cao độ để thông đạt quyền biến: Nơi này chẳng suông sẻ th́ c̣n có nơi khác để có thể đến. Ví như quư vị niệm Phật ở nhà, người nhà đều chán ghét, phản đối quư vị, [vậy th́] ta cần ǵ cứ chường ra dáng vẻ là người học Phật? Hăy gạt bỏ h́nh tướng, họ sẽ chẳng nh́n ra! Ta niệm Phật bèn niệm trong tâm, chẳng niệm ra miệng. Trong nhà cũng chẳng thờ tượng Phật, chẳng cần thắp hương; đối với quư vị, hết thảy đều tùy duyên. Học Phật kiểu ấy gọi là “mật hạnh”. Chúng ta công phu rất đắc lực, mà họ cũng chẳng có phiền năo, khiến cho họ chẳng nh́n ra [quư vị đang dụng công]! Đối với mật hạnh, thuở đức Thế Tôn tại thế, con trai đức Thế Tôn là tôn giả La Hầu La hành mật hạnh. Ngài mang thân phận sa-di, suốt ngày từ sáng đến tối chơi đùa bên ngoài, người khác đều nói “đứa bé này chẳng dụng công”. Thích Ca Mâu Ni Phật biết tôn giả dụng công trong tâm, tôn giả tu mật hạnh. Chúng ta phải nên học theo điều ấy. “Bồ Tát ở chỗ nào cũng đều khiến cho hết thảy chúng sanh sanh tâm hoan hỷ”. Dẫu kẻ khác là yêu ma, quỷ quái, cũng khiến cho họ sanh tâm hoan hỷ, chẳng trở ngại công phu của chúng ta, không ảnh hưởng tín nguyện kiên định của chúng ta. Nan Trở Phật dạy chúng ta phương pháp này.

          Vị thứ tư là Nhật Sanh Phật (Adityasambhava). Hết thảy tà ma ngoại đạo đều chẳng thể chướng ngại quư vị, quư vị đă thành tựu, sau đấy mới có thể đạt tới mức độ “giáo học tương trưởng” (dạy dỗ và học tập đều khiến cho chính ḿnh và người khác được thêm tăng tấn), [khiến cho] chánh pháp tồn tại lâu dài. Nhật Sanh là tỷ dụ, giống như mặt trời mọc từ phương Đông, quang minh chiếu trọn khắp.

 

          (Sớ) Nhật Sanh giả, Phật quang sơ hiện, như nhật sơ thăng dă, kiêm nhị lợi thuyết.

          (Sao) Nhị lợi giả, nhất giả tự lợi, chúng sanh Bổn Giác, phú tại vô minh. Như đại dạ trung, nhật quang bất hiện. Phá Hoặc, hiển Trí, Thỉ Giác lăng chiếu, như nhật Đông sanh cố. Nhị giả lợi tha, Hoa Nghiêm nhị thập tam kinh vân: “Thí như nhật thiên tử, bất dĩ sanh manh bất kiến cố, ẩn nhi bất hiện. Bất dĩ Càn Thát Bà thành, A Tu La thủ, Diêm Phù Đề thụ, sùng nham, thúy cốc, trần, vụ, yên, vân đẳng vật phú chướng cố, ẩn nhi bất hiện. Bất dĩ thời tiết cải biến cố, ẩn nhi bất hiện”. Dụ Phật thỉ thành Chánh Giác, thuyết pháp lợi sanh, huệ quang phổ chiếu, như nhật Đông sanh cố.

          (Diễn) “Thí như nhật thiên tử” hạ, nhật luân phổ chiếu dụ dă. Dụ ngộ ác bất tức lợi ích. Kinh trung hợp pháp vân: Bất dĩ chúng sanh kỳ tánh tệ ác, tà kiến sân trược, nan khả điều phục, tiện tức khí xả, bất tu hồi hướng. Bất dĩ chúng sanh bất tri báo ân, thoái Bồ Tát hạnh. Bất dĩ phàm ngu cộng đồng nhất xứ, xả ly nhất thiết như thật thiện căn. Bất dĩ chúng sanh sổ khởi quá ác, nan khả nhẫn thọ, nhi ư bỉ sở, sanh b́ yếm tâm. Thích viết: Tệ ác hợp sanh manh, tà kiến hợp Càn Thát Bà thành, linh nhân vọng vị vi thật cố. Sân trược hợp Tu La thủ, nhật vi Đế Thích tiên phong. Bỉ sân cố, phú chướng dă. Bất tri ân, hợp Diêm Phù thụ, sùng nham, thúy cốc. Phàm ngu cộng đồng nhất xứ, hợp trần, vụ, yên, vân. Dĩ vân vụ năng biến hư không, do bỉ phàm ngu đồng nhất xứ trụ cố. Chúng sanh sổ khởi quá ác, hợp thời tiết cải biến. Vị tần khởi quá thắc, sạ thiện, sạ ác, như bỉ trú dạ âm dương dịch độ đẳng.

          ()日生者,佛光初現,如日初升也,兼二利說。

         ()二利者。一者自利。眾生本覺。覆在無明。如大夜中。日光不現。破惑顯智。始覺朗照。如日東生故。二者利他。華嚴二十三經云。譬如日天子。不以生盲不見故。隱而不現。不以乾闥婆城。阿脩羅手。閻浮提樹。崇巖邃谷。塵霧煙雲等物覆障故。隱而不現。不以時節改變故。隱而不現。喻佛始成正覺。說法利生。慧光普照。如日東生故。

()譬如日天子下。日輪普照喻也。喻遇惡不息利益。經中合法云。不以眾生其性弊惡。邪見嗔濁。難可調伏。便即棄捨。不修回向。不以眾生不知報恩。退菩薩行。不以凡愚共同一處。捨離一切如實善根。不以眾生。數起過惡。難可忍受。而於彼所生疲厭心。釋曰弊惡合生盲。邪見合乾闥婆城。令人妄謂為實故。瞋濁合修羅手。日為帝釋先鋒。彼嗔故覆障也。不知恩。合閻浮樹崇巖邃谷。凡愚共同一處。合塵霧煙雲。以雲霧能遍虛空。猶彼凡愚同一處住故。眾生數起過惡。合時節改變。謂頻起過忒。乍善乍惡。如彼晝夜陰陽易度等。

(Sớ: Nhật Sanh: Phật quang vừa mới hiện, như mặt trời vừa mọc, nói kèm hai điều lợi.

Sao: Hai điều lợi: Một là tự lợi, Bổn Giác của chúng sanh bị vô minh che lấp, như trong đêm sâu, ánh sáng mặt trời chẳng hiện. Phá phiền năo, hiển lộ trí huệ, Thỉ Giác chiếu rạng ngời, như mặt trời mọc từ phía Đông. Hai là lợi tha. Kinh Hoa Nghiêm quyển thứ hai mươi ba chép: “Như nhật thiên tử (mặt trời) chẳng v́ kẻ đui mù từ lúc lọt ḷng không trông thấy bèn ẩn mất chẳng hiện. Chẳng v́ các vật như thành Càn Thát Bà, tay A Tu La, cây Diêm Phù Đề, vách đá cao, hang sâu, bụi bặm, sương mù, khói, mây v.v… che ngăn, bèn ẩn mất chẳng hiện. Chẳng v́ thời tiết biến đổi bèn ẩn mất chẳng hiện”. Ví như đức Phật lúc vừa mới thành Chánh Giác, thuyết pháp lợi sanh, huệ quang chiếu trọn khắp, giống như mặt trời mọc từ phương Đông.

Diễn: Từ câu “ví như nhật thiên tử” trở đi, ví như vầng mặt trời chiếu trọn khắp, sánh ví [chư Phật] dẫu gặp kẻ ác vẫn tạo lợi ích chẳng ngớt. Phối ứng [những tỷ dụ đă nói trong kinh Hoa Nghiêm] với những pháp được biểu thị bèn nói: Chẳng v́ căn tánh của chúng sanh tệ ác, tà kiến, sân hận, dơ bẩn, khó thể điều phục rồi liền vứt bỏ họ, chẳng tu hồi hướng. Chẳng v́ chúng sanh không biết báo ân mà lui sụt Bồ Tát hạnh. Chẳng v́ ở chung với phàm ngu cùng một chỗ mà bỏ ĺa hết thảy thiện căn như thật. Chẳng v́ chúng sanh nhiều lượt phạm lỗi, tạo ác, khó thể chịu đựng, mà sanh tâm chán nhàm đối với họ. Giải rằng: “Tệ ác” ứng với kẻ mù từ lúc lọt ḷng. “Tà kiến” ứng với thành Càn Thát Bà, do nó khiến cho người ta lầm tưởng là có thật. Sân hận, dơ bẩn ứng với tay A Tu La. Mặt trời là tiên phong của Đế Thích, A Tu La do sân hận bèn che lấp nó. “Chẳng biết ân” ứng với cây Diêm Phù, vách đá cao, hang sâu. “Cùng ở chung với phàm ngu một chỗ” ứng với bụi bặm, sương, mù, khói, mây, v́ mây, sương mù có thể phủ khắp hư không, giống như ở cùng một chỗ với kẻ phàm ngu. “Chúng sanh nhiều lượt tạo lỗi, làm ác”, ứng với thời tiết biến đổi, nghĩa là liên tiếp phạm lầm lỗi, thoắt thiện, thoắt ác, như ngày, đêm, âm, dương thay đổi v.v…).

 

          “Nhị lợi” là tự lợi và lợi tha. Chỉ có thể khắc phục hết thảy chướng nạn th́ trí huệ mới có thể sanh khởi. Nay chúng ta học Phật công phu chẳng đắc lực, nguyên nhân ở chỗ nào? Chẳng chống nổi ma quấy nhiễu. “Ma”: Ngũ Ấm là nội ma, bên ngoài mới có thiên ma. Trong kinh Bát Đại Nhân Giác, đức Phật nói ma có bốn loại. Thứ nhất là Ngũ Ấm, thứ hai là phiền năo, thứ ba là thiên ma, thứ tư là tử ma. Ngoại trừ thiên ma là bên ngoài, những thứ khác đều là ma chướng nơi bản thân chúng ta, quư vị có thể khắc phục hay không? Nói cách khác, nghiệp chướng, bệnh tật của chính ḿnh, cho đến đoản mạng, đều thuộc về nghiệp chướng, có thể khắc phục hay không? Chẳng thể khắc phục, đạo nghiệp sẽ chẳng thể thành tựu, bị ma lôi đi mất rồi. Nếu chúng ta hỏi: “Có thể khắc phục hay không?” Thưa cùng chư vị, quyết định là có thể. Tôi thường khuyên người mới học Phật, tốt nhất là trước hết hăy đọc Liễu Phàm Tứ Huấn ba trăm lần, nguyên nhân là khiến cho quư vị liễu giải chân tướng sự thật này, hiểu rơ đạo lư này. Vận mạng có, nghiệp chướng cũng có, nhưng chúng có thể biến đổi. Tiên sinh Viên Liễu Phàm dùng đoạn ác, tu thiện, tích lũy công đức để biến đổi vận mạng, kéo dài thọ mạng của chính ḿnh. Khổng tiên sinh đoán thọ mạng của ông Viên chỉ có năm mươi ba tuổi, ông Viên sống tới bảy mươi mấy tuổi. Đó là hiệu quả do đoạn ác, tu thiện, tích lũy công đức. Đă sửa, sửa với mức độ chẳng lớn, sửa nho nhỏ, sửa cũng rất khổ, người ấy có thu hoạch. C̣n có phương pháp càng mầu nhiệm, càng thù thắng hơn phương pháp ấy, phương pháp ǵ vậy? Kinh Phật thường nói: “Bồ Tát thừa nguyện tái lai”. Quư vị thừa nguyện tái lai, nói chung phải là sau khi đă đến Tây Phương Cực Lạc thế giới thành Bồ Tát, bèn thả chiếc bè Từ, trở lại thế gian này. Vậy là chẳng sai, là bậc thành tựu. Trên thực tế, nếu hiện thời chúng ta phát nguyện mà nguyện lực của chúng ta vượt trỗi nghiệp lực, nguyện lực khởi tác dụng, nghiệp lực chẳng khởi tác dụng, th́ nói cách khác, đấy chính là “thừa nguyện tái lai” (nương theo nguyện trở lại). Do đó; chẳng cần đến thế giới Cực Lạc [mới có thể] thừa nguyện tái lai.

Trong cơi này, chúng ta phát tâm, [nếu như] nguyện lực vượt trỗi nghiệp lực, sẽ chuyển biến, nghiệp chướng tiêu trừ, sửa đổi tập khí, bệnh tật và biến hóa sinh lư nơi thân thể cũng biến đổi tốt đẹp. Những điều này nói theo khoa học đều thông suốt. Nói thật ra, bệnh tật do đâu mà có? Bệnh sanh từ suy tưởng loạn xạ. Trong hết thảy các kinh, đức Phật đă nói rất rơ ràng: Tâm là chủ tể, vạn pháp duy tâm. Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới, duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”. Thân thể của chúng ta là một hiện tượng trong mười pháp giới, hiện tượng này là duy tâm sở hiện. Các thứ biến hóa sinh lư là do duy thức sở biến. “Thức” là tám thức, chúng ta gọi nó là “tám tâm vương”. Tám tâm vương của chúng ta bị hư hỏng, khiến cho cái thân này cũng bị biến đổi thành hư hoại theo. Thân thể này liền bệnh tật, rắc rối dấy lên. Nếu tâm tánh của chúng ta tốt đẹp, nó cũng sẽ biến đổi sắc thân này thành tốt đẹp, bệnh tật chẳng c̣n nữa! Tâm thanh tịnh, thân bèn thanh tịnh, đạo lư là như vậy đó! V́ thế, tin sâu đậm, nguyện thiết tha, tâm chúng ta chân thành, thanh tịnh, đại từ, đại bi, thân này bèn biến đổi. Vốn có bệnh mà chẳng cần đi bác sĩ, bệnh tự lành. V́ sao? Nó tự điều chỉnh. Đều là dụng công dốc sức nơi tâm địa, cầu chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng nơi tâm địa, trí huệ như vậy đương nhiên sẽ phát khởi. Trên thực tế sẽ là “nhân Giới sanh Định, nhân Định khai Huệ” như trong kinh Phật đă nói.

          Thanh tịnh, b́nh đẳng, giác là Giới, Định, Huệ. Tựa đề kinh Vô Lượng Thọ là “thanh tịnh, b́nh đẳng, giác”, thanh tịnh là Giới, b́nh đẳng là Định, giác là Huệ. Chúng ta dùng “chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, từ bi” để tu Giới, Định, Huệ; với t́nh h́nh ấy, chúng ta đă có Định. Định đă có th́ Huệ hiện tiền, tức là Phật quang xuất hiện. Phật quang ở đây chẳng phải là Phật quang từ bên ngoài, mà là Phật quang của chính ḿnh. Phật có nghĩa là giác, là tự giác. Trí huệ Bát Nhă vốn sẵn có trong bản tánh của chính ḿnh thấu lộ, đó là Phật quang, “như nhật sơ thăng” (như mặt trời mới mọc). Đă tự lợi, lại có thể lợi tha, chỉ có như thế, chánh pháp mới có thể tồn tại lâu dài trên thế gian, mới có thể thật sự lợi ích hết thảy chúng sanh. Chúng ta không hiểu rơ đạo lư này, chẳng hiểu rơ chân tướng sự thật, cho nên học Phật thường bị thoái chuyển, hễ gặp phải chướng ngại bèn nguội lạnh tấm ḷng, gặp khó khăn bèn chẳng dám tiến lên, bèn thoái chuyển. Hiểu rơ đạo lư, hiểu rơ chân tướng sự thật, [điều ấy được biểu thị qua danh hiệu] Nan Trở Phật trong phần trước, chướng ngại nào cũng đều chẳng thể ngăn trở quư vị được, thanh tịnh, b́nh đẳng, giác bèn thành tựu, sẽ tu thành công Tam Học Giới, Định, Huệ. Chúng ta lại xem vị Phật cuối cùng.

 

          (Sớ) Vơng Minh giả.

          ()網明者。

          (Sớ: Vơng Minh (Jālinprabha)).

 

          Đức hiệu của vị Phật này được kiến lập từ tỷ dụ. “Vơng” (: lưới) là cái lưới Nhân Đà La (Indra) của Đại Phạm Thiên, đức Phật giảng kinh thường dùng nó làm tỷ dụ. “Minh” () là quang minh, cái lưới báu ấy tỏa ánh sáng.

 

          (Sớ) Trí như bảo vơng, biến chiếu chúng sanh cố.

          ()智如寶網,遍照眾生故。

          (Sớ: Trí như lưới báu, v́ chiếu khắp chúng sanh).

 

          Biểu thị phương pháp độ chúng sanh của Bồ Tát: Dùng vô lượng vô biên pháp môn phổ độ hết thảy chúng sanh. Đến đây, sáu phương mới nói đến phương thứ tư. Bồ Tát tu học xác thực là có công phu rất cao sâu, chẳng phải là học hỏi nông cạn, vị ấy mới có năng lực khai hiển vô lượng pháp môn. Trong thế gian này, như Long Thọ Bồ Tát trong quá khứ, người Hoa nói Long Thọ Bồ Tát là “Đại Thừa bát tông cộng tổ” (tổ chung của tám tông Đại Thừa). Tám tông Đại Thừa đều do Ngài truyền, chuyện này giống cái lưới Nhân Đà La của Đại Phạm Thiên. Có bao nhiêu vị Bồ Tát suốt đời chỉ truyền một pháp môn, c̣n ngài Long Thọ truyền vô lượng vô biên pháp môn, Ngài có năng lực ấy. Đối với hết thảy căn tánh bất đồng của chúng sanh, Ngài đều có phương pháp để dạy họ. Đó là trí huệ chân thật viên măn hiện tiền, nên Ngài mới có năng lực ấy. Chuyện này chúng ta chẳng thể học theo, chẳng có cách nào học được. Trong Văn Sao, Ấn Quang đại sư thường nói: Đó là bậc đại thông gia, chẳng phải là phàm nhân! Hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian Ngài đều thấu suốt, người như vậy th́ mới được. Nay chúng ta tu học, chẳng khai ngộ, chẳng chứng quả, chẳng thoát khỏi tam giới, đều chẳng được coi là thành tựu. Đă khai ngộ th́ vẫn chưa được! Đă khai ngộ mà chưa có năng lực vượt thoát tam giới, liễu đoạn sanh tử th́ đều chẳng coi là thành tựu.

          Đối với Tứ Hoằng Thệ Nguyện, chúng ta thiên trọng hai nguyện trước. Chúng ta phải phát đại Bồ Đề tâm, phải đoạn phiền năo, thâm nhập một môn là đoạn phiền năo. Giống như kinh Di Đà đă dạy chúng ta “nhất tâm bất loạn”, kinh Vô Lượng Thọ dạy chúng ta “một mực chuyên niệm”, chúng ta đi theo một môn. Đến thế giới Cực Lạc, thấy A Di Đà Phật, Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư bảo: “Chỉ được thấy Di Đà, lo ǵ chẳng khai ngộ”. Thấy A Di Đà Phật, khai ngộ, chúng ta lại học hai điều sau đó: “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”. Đến thế giới Tây Phương, chúng ta lại làm hai điều ấy; hiện thời bèn thực hiện hai điều trước. Đó là ổn thỏa, thích đáng, tuyệt đối chẳng trở thành xôi hỏng bỏng không, chúng ta thật sự nắm chắc là có thể làm được! Hiện thời, chúng ta thấy kẻ b́nh phàm học Phật điên đảo, họ cũng chẳng phát tâm. “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”“miệng có, tâm không”. V́ sao? Thấy chúng sanh này đáng ghét, thấy kẻ kia ngứa mắt, họ chẳng độ những kẻ đó. Họ muốn độ những kẻ họ ưa thích, chẳng độ những kẻ họ thấy ngứa mắt, chẳng độ kẻ không có lợi ích ǵ cho họ! Lấy đâu ra cái gọi là “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”? Người ấy cũng chẳng đoạn phiền năo; tham, sân, si, mạn hằng ngày tăng trưởng, người ấy thực hiện từ chỗ nào? Từ “pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”, người ấy làm hai chuyện ấy. Chuyện này giống như chúng ta xây một ṭa cao ốc, cao ốc có bốn tầng lầu, chẳng cần hai tầng dưới cùng, dựng ngay tầng thứ ba và tầng thứ tư. Đó là muốn dựng lầu gác trên không trung, là huyễn tưởng, quyết định chẳng phải là sự thật, sai bét mất rồi!

          Bồ Tát sau khi trí huệ và đức hạnh đă viên măn, phương pháp độ chúng sanh sẽ triển hiện vô lượng vô biên, có thể ứng với hết thảy các căn tánh bất đồng. Nói thông thường, từ bậc Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo trở lên th́ mới có năng lực này. Giống như trong kinh Lăng Nghiêm, hoặc như trong phẩm Phổ Môn đă nói: “Nên dùng thân Phật để độ, bèn hiện thân Phật để thuyết pháp. Nên dùng thân Bồ Tát bèn hiện thân Bồ Tát để thuyết pháp”. Ngài có thể tùy loại hiện thân, có thể tùy duyên thuyết pháp. Đấy chính là ư nghĩa của đoạn này.

 

          (Sao) Vơng giả, tức Phạm vơng thiên châu. Thiên châu giao ánh, quang minh đỗng triệt, như Phật trí biến phú chúng sanh, vô sở bất chiếu cố. Hựu chủng chủng pháp môn, hỗ tương dung triệt, giác quần mê cố.

          (Diễn) Phạm vơng thiên châu giả, Đại Phạm thiên cung hữu vơng la tràng, hồng quang hỗ tạ, thái sắc giao huy. Thời Phật quán chư la vơng, nhân vị thuyết vô lượng thế giới, do như vơng khổng, các các bất đồng, biệt dị vô lượng. Phật giáo môn diệc phục như thị đẳng. Hựu chủng chủng pháp môn hỗ tương dung triệt giả, nhất môn thiệp nhập vô lượng môn, vô lượng môn thiệp nhập nhất môn dă. Thượng nghĩa ước biến phú thuyết, thử nghĩa ước giao dung thuyết.

          ()網者,即梵網千珠。千珠交映,光明洞徹,如佛智遍覆眾生,無所不照故。又種種法門,互相融徹,覺群迷故。

()梵網千珠者。大梵天宮有網羅幢。紅光互射。彩色交輝。時佛觀諸羅網。因為說無量世界。猶如網孔。各各不同。別異無量。佛教門亦復如是等。又種種法門互相融徹者。一門涉入無量門。無量門涉入一門也。上義約遍覆說。此義約交融說。

(Sao: “Vơng” là cái lưới có ngàn hạt châu của Phạm Thiên. Ngàn hạt châu chiếu rọi lẫn nhau, quang minh chiếu thấu suốt, như trí Phật bao trùm khắp chúng sanh, không ǵ chẳng chiếu tới. Lại nữa, các thứ pháp môn dung thông, thấu triệt lẫn nhau, giác ngộ những kẻ mê muội.

Diễn: Cái lưới ngàn viên châu của Phạm Thiên: Trong cung của Đại Phạm Thiên có vơng la tràng, tỏa ra ánh sáng màu đỏ xen lẫn, màu sắc rực rỡ chiếu xen. Khi ấy, đức Phật quán mành lưới ấy, bèn v́ đó nói vô lượng thế giới ví như những mắt lưới, mỗi mỗi đều khác nhau, khác biệt vô lượng. Giáo môn (các pháp môn) của đức Phật cũng giống như vậy. Lại nữa, các pháp môn dung thông, thấu triệt lẫn nhau, một môn tấn nhập vô lượng môn, vô lượng môn tấn nhập một môn. Nghĩa trước là nói theo phương diện trùm khắp, nghĩa sau là nói theo phương diện dung thông lẫn nhau).

 

          Dùng cái lưới Nhân Đà La của Đại Phạm Thiên để làm tỷ dụ.

 

          (Sớ) Xứng Lư, tắc tự tánh hàm nhiếp bất khả tận, thị Bắc phương hằng sa Phật nghĩa.

          (Sao) Bắc phương vi Đông.

          ()稱理,則自性含攝不可盡,是北方恆沙佛義。

()北方為冬。

(Sớ: Xứng Lư, tự tánh hàm nhiếp chẳng thể tận chính là ư nghĩa phương Bắc có hằng sa Phật.

Sao: Phương Bắc là mùa Đông).

 

          Bốn phương phối hợp Tứ Quư, tức là phối ứng với bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông.

 

          (Sao) Đông chủ tàng.

          ()冬主藏。

(Sao: Mùa Đông chuyên chủ thâu tàng).

 

          Xuân sanh, Hạ trưởng, Thu thâu hoạch, Đông ẩn tàng. Mùa Đông chủ tŕ sự thâu tàng.

 

          (Sao) Vạn vật chi sở thành chung, nhi sở thành thỉ dă.

          (Diễn) Vạn vật chi sở thành chung thành thỉ giả, ư thời, tắc vi quần âm bác tận, nhất dương phục sanh. Ư vật, tắc vi thật lư cụ bị, sanh dục chi nguyên. Ư nhân, tắc vi trí nhi vi chúng sự chi cán.

          ()萬物之所成終,而所成始也。

()萬物之所成終成始者。於時。則為群陰剝盡。一陽復生。於物則為實理具備。生育之原。於人。則為智而為眾事之幹。

(Sao: Đối với muôn vật, [mùa Đông] là kết thúc của sự sanh thành, mà cũng là khởi đầu cho sự sanh thành.

Diễn: “Kết thúc của sự sanh thành mà cũng là khởi đầu của sự sanh thành”: Đối với thời gian, khi các Âm đă hết sạch, một Dương lại sanh. Đối với vật th́ Thật lư trọn đủ, là nguồn cội của sự sanh trưởng. Đối với người th́ trí là nguồn cội của các sự).

 

          Kết thúc và khởi đầu là cùng một chuyện. Mùa Thu hái gặt, ví như thâu hoạch lúa, đó là kết thúc, [lúa] đă trưởng thành, kết quả. Nhưng những hạt lúa ấy lại là hạt giống cho năm sau, nó lại là khởi đầu. “Thành chung, thành thỉ” sanh trưởng chẳng ngừng, vĩnh viễn chẳng diệt. Chẳng phải là một giai đoạn từ sanh đến diệt là xong, nó là sanh sôi chẳng ngừng. Mùa Đông đă qua, mùa Xuân lại đến. Ba Mươi tháng Chạp đă qua, mồng Một tháng Giêng bèn đến. Ba Mươi tháng Chạp là kết thúc, mồng Một tháng Giêng là khởi đầu. Sau kết thúc là khởi đầu, sanh trưởng chẳng ngớt!

 

          (Sao) Kim tắc bách thiên pháp môn, đồng quy phương thốn.

          (Diễn) Bách thiên pháp môn thị Bát Nhă đức, vô biên đức dụng thị Giải Thoát đức, đồng quy phương thốn tổng tại tâm nguyên. Thị tổng nhất Pháp Thân đức dă.

          ()今則百千法門,同歸方寸。

         ()百千法門是般若德。無邊德用是解脫德。同歸方寸總在心源。是總一法身德也。

(Sao: Nay trăm ngàn pháp môn cùng quy vào một tấc vuông.

Diễn: Trăm ngàn pháp môn là Bát Nhă đức, vô biên đức dụng là Giải Thoát đức, “cùng quy vào một tấc vuông” trong một nguồn tâm, tức là gộp tất cả vào Pháp Thân đức).

 

            “Bách thiên” chẳng phải là con số, mà nhằm biểu thị vô lượng vô biên pháp môn. Nếu nói đến “chung” (: kết thúc) của vô lượng vô biên pháp môn, “chung” là quy, [tức là] đều quy vào nhất tâm. Kinh Di Đà bảo “nhất tâm bất loạn”. Cổ đại đức xưng dương Tịnh Tông, bảo: “Ngàn kinh vạn luận, khác đường mà cùng về một nơi”, [ư nói] đều quy vào Tịnh Độ. Do vậy, Tịnh Độ là “thành chung, thành thỉ”; lời này là thật, mà cũng xác thực là sự thật. V́ từ kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy vị đạt đến “đăng phong tạo cực” (tột đỉnh, tuyệt diệu) trong các vị Bồ Tát là Phổ Hiền Bồ Tát đă dùng “mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc”, đó là “thành chung”. Đă tới Tây Phương Cực Lạc thế giới, viên chứng ba món Bất Thoái, viên thành vô thượng Bồ Đề, đó là “thành thỉ”. Như vậy th́ chúng ta mới thật sự hiểu rơ ràng, hiểu minh bạch công đức và lợi ích thù thắng của Tây Phương Cực Lạc thế giới, chúng ta sẽ khăng khăng một mực niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, trọn chẳng lay động. V́ sao có người bị dao động? Kẻ ấy chẳng hiểu rơ ràng, vẫn nghĩ là có pháp môn khác tốt đẹp hơn, thù thắng hơn pháp môn này. Thật ra, kẻ ấy đă phạm sai lầm. Nếu quư vị lại chú tâm quan sát, [sẽ thấy] Tông Môn và Giáo Hạ đều do Văn Thù Bồ Tát truyền. Thiền Tông chẳng ĺa Văn Thù Bồ Tát, Giáo Hạ cũng chẳng ĺa Văn Thù Bồ Tát. Tịnh Độ Tông và Mật Tông đều do Phổ Hiền Bồ Tát truyền. Trong hội Hoa Nghiêm, “mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc” chính là Phổ Hiền Bồ Tát. V́ thế, Phổ Hiền Bồ Tát là Tịnh Tông Sơ Tổ trong thế giới Sa Bà. Mật Tông do Phổ Hiền Bồ Tát truyền. Thuở ấy, tại Nam Thiên, Long Thọ Bồ Tát mở tháp sắt, thấy Kim Cang Tát Đỏa (Vajrasattva), tức là Kim Cang Thủ Bồ Tát (Vajrapāṇi), Ngài truyền Mật pháp cho Long Thọ. Long Thọ truyền lại [cho người đời sau]. Kim Cang Tát Đỏa là ai? Chính là hóa thân của Phổ Hiền Bồ Tát. Do vậy có thể biết: Mười tông phái Đại Thừa đều do hai vị đại Bồ Tát trong kinh Hoa Nghiêm truyền thừa. Hai vị ấy đều niệm A Di Đà Phật văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, đấy chẳng phải là “vô lượng vô biên pháp môn tuy khác đường mà về cùng một chỗ” ư? Ở đây, chúng ta đă được ấn chứng, đă được chứng minh, xác thực là quy về Tịnh Độ, thành Phật trong Tịnh Độ.

Bách thiên pháp môn, đồng quy phương thốn” (Trăm ngàn pháp môn cùng về một tấc vuông): Đồng quy nhất tâm. Nói cách khác, vô lượng vô biên pháp môn đều từ nhất tâm lưu xuất. Từ nhất tâm lưu xuất, trở về nhất tâm. Vậy th́ mới biết: Tất cả hết thảy các pháp môn đều là tu nhất tâm. Tuy tên gọi chẳng phải là nhất tâm, nhưng trên thực tế là nhất tâm. Công phu được sử dụng trong nhà Thiền, bất luận là dùng quán tâm, hoặc dùng tham thoại đầu, nếu chẳng quy vào nhất tâm, sẽ chẳng thể khai ngộ. Đại triệt đại ngộ là ǵ? Trở về nhất tâm, bèn đại triệt đại ngộ, bèn thông đạt, hiểu rơ hết thảy. Từ Lục Tổ Đàn Kinh, chúng ta có được chứng cứ: Lục Tổ không biết chữ, chưa từng học hành, mà cũng chưa hề nghe kinh. Ngài chỉ nghe Ngũ Tổ giảng kinh Kim Cang; giảng một phần ba, Ngài liền khai ngộ, chẳng cần giảng hết! Thế mà sau này, Ngài gặp nhiều bộ kinh điển, người khác đọc cho Ngài nghe, Ngài liền có thể giảng cho họ nghe, Ngài đều có thể thông đạt! Đó là đă đắc nhất tâm, hết thảy đều thông đạt, hết thảy đều hiểu rơ. Đấy là “đại triệt đại ngộ” trong Thiền Tông, Tịnh Độ Tông gọi [đại triệt đại ngộ] là “nhất tâm bất loạn”, trong Giáo Hạ gọi là “đại khai viên giải”, trong Mật Tông gọi là “tam mật tương ứng”. Mỗi tông phái có danh từ thuật ngữ riêng, trên thực tế là cùng một chuyện. Tuy là cùng một chuyện, chúng ta lại chú tâm nh́n sâu xa hơn, [sẽ thấy] Tịnh Tông hay, Tịnh Tông khéo. V́ sao? Trực tiếp tu nhất tâm bất loạn. Những tông khác tu nhất tâm c̣n phải đi đường ṿng, c̣n có khá nhiều tầng cấp mới ḥng đạt tới. Pháp môn này (Tịnh Độ Tông) rất đơn giản, dùng một câu A Di Đà Phật để trực tiếp tu nhất tâm bất loạn, pháp môn này thù thắng hơn những pháp môn khác. V́ thế, nó là tu trực tiếp, chẳng phải là tu gián tiếp. Tu trực tiếp th́ gọi là “pháp môn viên đốn, thành tựu trong một đời”. Nếu chẳng phải là tu trực tiếp, bèn gọi là “tiệm chứng” (漸證, chứng đắc dần dần), có tầng lớp, có Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, có năm mươi mốt giai cấp. Tịnh Tông chẳng có giai cấp; v́ thế, được gọi là “đốn siêu” (頓超).

 

          (Sao) Vô biên đức dụng, tổng tại tâm nguyên.

          ()無邊德用,總在心源。

          (Sao: Vô biên đức dụng đều ở trong nguồn tâm).

 

          “Đức dụng”, nói về phía chính ḿnh th́ là Tự Thọ Dụng, hưởng thụ chân, thiện, mỹ, huệ. Tha Thọ Dụng là vô lượng trí huệ, vô lượng phương tiện thiện xảo nhằm giáo hóa hết thảy chúng sanh, đều ở trong “tâm nguyên”, tức cội nguồn của cái tâm. “Tâm” là tám thức, [nói chi tiết sẽ là] tám tâm vương, năm mươi mốt tâm sở. “Nguyên” () là chân tâm bản tánh.

 

          (Sao) Mịch chi tắc vô tướng, vô h́nh.         

(Diễn) Mịch chi tắc vô tướng, vô h́nh giả. Dĩ tự tánh phi hữu tướng, phi vô tướng, phi phi hữu phi vô tướng, phi diệc hữu diệc vô tướng, phi nhất tướng, phi dị tướng, phi câu phi tướng, phi nhất dị câu tướng, viễn ly nhất thiết chư tướng cố.

          ()覓之則無相無形。

()覓之則無相無形者。以自性非有相。非無相。非非有非無相。非亦有亦無相。非一相。非異相。非俱非相。非一異俱相。遠離一切諸相故。

          (Sao: T́m th́ vô tướng, vô h́nh.

Diễn: “T́m th́ vô tướng, vô h́nh”: Do tự tánh chẳng phải là có tướng, chẳng phải là vô tướng, chẳng phải là tướng ‘chẳng phải có, chẳng phải không’, cũng chẳng phải là ‘vừa có tướng, vừa không tướng’, chẳng phải là một tướng, chẳng phải là khác tướng, chẳng phải là ‘không phải là một tướng và không phải là khác tướng’, cũng chẳng phải ‘vừa là một tướng vừa khác tướng’, do xa ĺa hết thảy các tướng vậy).

 

          Chân tâm chẳng có h́nh tướng, chẳng có h́nh trạng, t́m chẳng thấy!

 

          (Sao) Xuất chi tắc vô cùng, vô tận.

          (Diễn) Xuất chi tắc vô cùng vô tận giả, thử viên giác tánh, bổn hữu quá trần sa chi diệu dụng, tiềm hưng, mật ứng, vô hữu hưu tức, vô hữu cùng tận cố.

          ()出之則無窮無盡。

         ()出之則無窮無盡者。此圓覺性。本有過塵沙之妙用。潛興密應。無有休息。無有窮盡故。

(Sao: Khởi tác dụng bèn vô cùng, vô tận.

Diễn: “Khởi tác dụng bèn vô cùng, vô tận”: Tánh viên giác ấy vốn có diệu dụng nhiều hơn cát, bụi, thầm hưng khởi, ngầm ứng hợp, chẳng hề ngưng nghỉ, chẳng có cùng tận).

 

          “Xuất” () là khởi tác dụng. Khi khởi tác dụng bèn vô cùng, vô tận.

 

          (Sao) Bổn lai cụ túc.

          ()本來具足。

(Sao: Vốn trọn đủ).

 

          Câu này hết sức quan trọng, ai nấy đều có! “Bổn lai cụ túc” (vốn sẵn trọn đủ): Chẳng thiếu khuyết chút nào! So sánh giữa chúng ta và hết thảy chư Phật Như Lai, các Ngài chẳng nhiều hơn chúng ta tí nào, mà chúng ta cũng chẳng thua kém các Ngài tí nào!

 

          (Sao) Bất giả tha cầu.

          (Diễn) Bổn lai cụ túc, bất giả tha cầu giả, vọng tâm ngoại niệm cầu chi bất tận, tịnh đức tánh măn vô giả ngoại cầu dă.

          ()不假他求。

()本來具足。不假他求者。妄心外念求之不盡。淨德性滿無假外求也。

(Sao: Chẳng phải cầu chi khác.

Diễn: “Vốn sẵn trọn đủ, chẳng phải cầu chi khác”: Tâm niệm hư vọng hướng ra ngoài để cầu th́ [dẫu cầu cách mấy] cũng vẫn chẳng trọn hết được. Tánh trọn đủ tịnh đức chẳng cần phải cầu từ bên ngoài).

 

          Câu này khẩn yếu. Nếu cầu điều ǵ khác, sai lầm quá đỗi! Phật pháp là cầu nơi chân tâm bản tánh của chính ḿnh, chẳng cầu những thứ bên ngoài. Phật pháp được gọi là Nội Học là do đạo lư này, hết thảy cầu từ tâm địa! Trạng huống thân thể và hoàn cảnh sống của chúng ta đều cầu từ tâm địa, chớ nên cầu từ bên ngoài. Dẫu cầu được từ bên ngoài, cũng rất dễ dàng mất đi. Bên ngoài có được, mất, chẳng phải là vốn sẵn có. Cái vốn có th́ chẳng có được, mất. Của chính ḿnh th́ làm sao có thể nói là “được”? Chẳng thể nói là được! Đă là chẳng có được, lấy đâu ra “mất”? V́ thế, bảo là chẳng có “được, mất”. Hết thảy đều cầu từ tự tánh, cầu từ chân tâm; đấy là đúng.

 

          (Sao) Thị cố chúng sanh tâm, tức danh Như Lai Tạng.

          (Diễn) Chúng sanh tâm, tức phàm phu bổn cụ Tánh Đức. Như Lai Tạng, thị quả Phật viên minh chi Thể, nhi chúng sanh Tánh Đức chi Phật, phi tự, phi tha, phi nhân, phi quả, tức thị viên thường đại giác chi Thể. Cố tức danh Như Lai Tạng. Hựu chúng sanh tâm giả, tức thị sanh diệt môn trung bất giác nghĩa. Y nhất niệm vô minh, toại thành nghiệp thức, phục tùng nghiệp thức, chuyển khởi sự thức. Dĩ tùy sự ban duyên, phân biệt lục trần, thị chúng sanh tâm tướng dă. Hựu Như Lai Tạng giả, tức thị sanh diệt môn trung giác nghĩa, vị tâm thể ly niệm, pháp giới nhất tướng, tức thị Như Lai b́nh đẳng Pháp Thân. Thị tức danh vi Như Lai Tạng dă. Nhi chúng sanh tâm, tức danh Như Lai Tạng giả. Dĩ bất giác tâm bất ly bổn giác cố. Luận vân: “Nhược ly giác tánh, tắc vô bất giác. Nhược ly bất giác chi tâm, diệc vô chân giác tự tướng khả thuyết”. Hựu vân: “Thí như chủng chủng ngơa khí, giai đồng vi trần tánh tướng. Như thị vô lậu vô minh chủng chủng nghiệp huyễn, giai đồng Chân Như tánh tướng”, thị dă.

          ()是故眾生心,即名如來藏。

    ()眾生心。即凡夫本具性德。如來藏。是果佛圓明之體。而眾生性德之佛。非自非他。非因非果。即是圓常大覺之體。故即名如來藏。又眾生心者。即是生滅門中不覺義。依一念無明。遂成業識。復從業識。轉起事識。以隨事扳緣。分別六塵。是眾生心相也。又如來藏者。即是生滅門中覺義。謂心體離念。法界一相。即是如來平等法身。是即名為如來藏也。而眾生心。即名如來藏者。以不覺心不離本覺故。論云。若離覺性。則無不覺。若離不覺之心。亦無真覺自相可說。又云。譬如種種瓦器。皆同微塵性相。如是無漏無明種種業幻。皆同真如性相。是也。

(Sao: V́ thế, cái tâm của chúng sanh được gọi là Như Lai Tạng.

Diễn: “Tâm chúng sanh” chính là Tánh Đức vốn sẵn có của phàm phu. Như Lai Tạng là cái Thể viên minh của Phật quả, là vị Phật nơi Tánh Đức của chúng sanh, chẳng phải tự, chẳng phải tha, chẳng phải nhân, chẳng phải quả, tức là cái Thể của đại giác viên thường. V́ thế, gọi là Như Lai Tạng. Lại nữa, tâm chúng sanh chính là ư nghĩa Bất Giác trong Sanh Diệt môn. Do nương theo một niệm vô minh, bèn thành nghiệp thức. Lại từ nghiệp thức, chuyển biến, dấy lên sự thức. Do phan duyên theo Sự mà phân biệt sáu trần. Đó là cái tướng của tâm chúng sanh. Lại nữa, Như Lai Tạng chính là ư nghĩa Giác trong Sanh Diệt môn, ư nói: Tâm thể ly niệm, pháp giới nhất tướng chính là Pháp Thân b́nh đẳng của Như Lai, đó gọi là Như Lai Tạng. Nhưng tâm chúng sanh được gọi là Như Lai Tạng là v́ cái tâm bất giác chẳng ĺa Bổn Giác. Văng Sanh Luận nói: “Nếu ĺa giác tánh th́ chẳng có bất giác. Nếu ĺa cái tâm bất giác, cũng chẳng có tự tướng của chân giác để có thể nói được!” Luận lại nói: “Ví như các món đồ bằng sành đều có cùng tánh và tướng với vi trần, các thứ nghiệp vô lậu vô minh hư huyễn như vậy, đều có cùng tánh và tướng với Chân Như” chính là nói về ư này).

 

          Như Lai Tạng là tiếng xưng hô đối với Phật. Tạng () là giống như kho chứa, giống như ở trong tâm Phật bao hàm vô lượng vô biên trí huệ, đức năng, tài nghệ. Cái tâm của bọn chúng sanh chúng ta là Như Lai Tạng. V́ sao nay chúng ta chẳng thể khởi tác dụng? Do tâm chúng ta loạn, nên chẳng khởi tác dụng. Loạn nhưng hoàn toàn chẳng mất đi, vẫn là vốn trọn đủ. Đức Phật dạy chúng ta phương pháp để điều chỉnh nó. Trong kinh điển Đại Thừa Phật pháp, đức Phật có nói lời chân thật: “Phật chẳng độ chúng sanh”. Chúng sanh do ai độ? Chính ḿnh độ, tự ngộ, tự độ. Xác thực là chính ḿnh độ, chẳng phải do Phật độ, Phật chẳng thể độ chúng sanh. Nếu Phật có thể độ chúng sanh, chúng ta cần ǵ phải tu hành nữa? Đức Phật đại từ đại bi giúp chúng ta tu hành là được rồi! Ắt cần phải điều chỉnh chính ḿnh, điều chỉnh loạn tâm thành tâm thanh tịnh, khôi phục cái tâm ô nhiễm thành thanh tịnh, điều chỉnh loạn thành định, điều chỉnh nhiễm thành tịnh, là được rồi. Bất luận phương pháp nào, bất luận pháp môn nào, tổng cương lănh, tổng nguyên tắc đơn giản như vậy đó, sẽ thành công!

 

          (Kinh) Các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thật ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh”.

          ()各於其國。出廣長舌相。遍覆三千大千世界。說誠實言。汝等眾生。當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。

(Kinh: Mỗi vị ở trong nước ḿnh hiện tướng lưỡi rộng dài che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời thành thật: “Chúng sanh các ngươi hăy nên tin kinh Khen Ngợi Công Đức Chẳng Thể Nghĩ Bàn Được Hết Thảy Chư Phật Hộ Niệm này”).

 

          Nhằm đặc biệt nhắc nhở: Chúng ta phải coi trọng. Mở Đại Tạng Kinh ra, trong tất cả hết thảy các kinh, kinh nào có tựa đề như vậy? “Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức”, ai xưng tán? Hết thảy chư Phật Như Lai xưng tán. “Công đức chẳng thể nghĩ bàn” là ǵ? Là công đức chẳng thể nghĩ bàn của A Di Đà Phật từ nhân đến quả, từ sơ phát tâm măi cho đến khi đă thành Phật, rộng độ chúng sanh. Đó là nói theo Sự. Nói theo Lư, đấy là công đức chẳng thể nghĩ bàn mà bản thân chúng ta vốn sẵn trọn đủ, [công đức ấy] tức là chân tâm, là bản tánh của chính ḿnh. “Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh”: Câu này cũng là nói theo mặt Sự. Đă là hết thảy chư Phật đều hộ niệm bộ kinh này; nói cách khác, hết thảy chư Phật nhất định phải tuyên giảng bộ kinh này. “Hộ niệm” là ǵ? Hộ niệm là tuyên giảng, chẳng phải là coi bộ kinh này như bảo bối, canh giữ cho thật kỹ. Tướng của tất cả hết thảy các vật đều là “thành, trụ, hoại, không”, đều chẳng ǵn giữ được. Tuyên giảng, lưu thông bộ kinh này, đó là “hộ niệm”. Những kinh khác chẳng nói “hết thảy chư Phật hộ niệm”, chỉ riêng bộ kinh này là được hết thảy chư Phật hộ niệm, quư vị mới biết: Trong toàn thể Phật pháp, trong pháp giới của hết thảy chư Phật, không chỉ là một ḿnh Thích Ca Mâu Ni Phật, mà là vô lượng vô biên hết thảy chư Phật, trong đại hoàn cảnh ấy, kinh này là kinh bậc nhất, cho nên được hết thảy chư Phật hộ niệm. Nay chúng ta đọc bộ kinh này, thọ tŕ bộ kinh này, chiếu theo bộ kinh này tu hành, đương nhiên là được hết thảy chư Phật hộ niệm. Được hết thảy chư Phật hộ niệm, lẽ nào quư vị chẳng tự tại? Lẽ nào quư vị chẳng sung sướng? Quư vị c̣n gặp khó khăn chi nữa? Chẳng thể nào có chuyện ấy! Hễ quư vị gặp chướng nạn, chẳng sung sướng; nói cách khác, quư vị chẳng được hết thảy chư Phật hộ niệm, quư vị đă hoàn toàn trái nghịch kinh này! Dẫu niệm Phật, do “miệng có, tâm không”, cho nên chẳng có cảm ứng. Đă thật sự hiểu rơ, hiểu minh bạch, quư vị tu học pháp môn này, đời hiện tại này sẽ vui sướng khôn sánh! Đối với thế giới Cực Lạc, [quư vị] hiện đang là người trong thế giới Cực Lạc. Hiện tại vui sướng khôn sánh th́ mới tương ứng với thế giới Cực Lạc. Hôm nay, chúng tôi giảng đến chỗ này!

 

Tập 266

 

          Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang năm trăm bốn mươi ba:

 

          (Kinh) Xá Lợi Phất! Hạ phương thế giới hữu Sư Tử Phật, Danh Văn Phật, Danh Quang Phật, Đạt Ma Phật, Pháp Tràng Phật, Tŕ Pháp Phật, như thị đẳng Hằng hà sa số chư Phật.

          ()舍利弗。下方世界。有師子佛。名聞佛。名光佛。達摩佛。法幢佛。持法佛。如是等恆河沙數諸佛。

(Kinh: Xá Lợi Phất! Thế giới phương dưới có Sư Tử Phật, Danh Văn Phật, Danh Quang Phật, Đạt Ma Phật, Pháp Tràng Phật, Tŕ Pháp Phật. Hằng hà sa số chư Phật như thế).

 

          Ở đây nói đến “hạ phương thế giới”, đức Thế Tôn nêu đại lược đức hiệu của sáu vị Phật. Danh hiệu của sáu vị Phật này biểu thị đại hạnh giáo hóa, phổ độ chúng sanh. Đó là sự nghiệp của đại Bồ Tát. Nói thông thường, mức độ thấp nhất cũng là Sơ Địa Bồ Tát th́ mới có thể gánh vác, giống như chư Phật Như Lai phổ độ chúng sanh. Đức hiệu của vị Phật thứ nhất là Sư Tử Phật (Sinha), biểu thị Pháp Thân. Chúng ta thấy trong kinh thường gọi đệ tử của đức Phật là “pháp vương tử”. Đức Phật là Pháp Vương. Các vị Pháp Thân đại sĩ như vậy có thể kế thừa sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh của đức Phật, thuyết pháp giống như Phật chẳng khác, nên gọi là “pháp vương tử”. Trong lời chú giải, Liên Tŕ đại sư chú giải đă giải thích đại ư của danh hiệu như sau:

 

          (Sớ) Sư Tử giả, như sư tử phục quần thú cố.

          ()師子者,如師子伏群獸故。

(Sớ: “Sư Tử”: Như sư tử hàng phục các loài thú).

 

          Sư tử là vua trong loài thú.

 

          (Sao) Sư tử nhị nghĩa: Nhất giả sư tử chúng thú trung vương, du hành vô úy, như Phật phàm thánh độc tôn, xuất nhập tam giới tự tại vô ngại cố. Nhị giả sư tử nhất hống, bách thú úy cụ, như Phật thuyết pháp, thiên ma ngoại đạo giai tín phục cố. Hựu vô ngũ chủng bố, cụ tứ vô úy, giai sư tử nghĩa.

          (Diễn) Xuất nhập tam giới tự tại vô ngại giả, phàm phu nhập tam giới, vị sanh tử phược, bất đắc tự tại. Nhị Thừa xuất tam giới, vị Niết Bàn phược, bất đắc tự tại. Phật bi trí song hành, văng lai tự tại cố. Sư tử nhất hống, bách thú úy cụ giả. Vĩnh Gia vân: “Sư tử hống, vô úy thuyết, bách thú văn chi giai năo liệt. Hương tượng bôn ba thất khước oai, thiên long tịch thính sanh hân duyệt”. Ngũ chủng bố giả, nhất bất hoạt, nhị ác danh, tam tử, tứ ác đạo, ngũ oai đức. Tứ vô úy giả, nhất nhất thiết trí vô úy, nhị lậu tận vô úy, tam quyết nghi vô úy, tứ thuyết khổ tận đạo vô úy.

()師子二義:一者師子眾獸中王,遊行無畏,如佛凡聖獨尊,出入三界,自在無礙故。二者師子一吼,百獸畏懼,如佛說法,天魔外道皆信服故;又無五種怖,具四無畏,皆師子義。

()出入三界自在無礙者。凡夫入三界。為生死縛。不得自在。二乘出三界。為涅槃縛。不得自在。佛悲智雙行。往來自在故。師子一吼。百獸畏懼者。永嘉云。師子吼。無畏說。百獸聞之皆腦裂。香象奔波失卻威。天龍寂聽生欣悅。五種怖者。一不活。二惡名。三死。四惡道。五威德。四無畏者。一一切智無畏。二漏盡無畏。三決疑無畏。四說苦盡道無畏。

(Sao: Sư tử có hai nghĩa: Một, sư tử là vua trong các loài thú, dạo chơi không sợ hăi. Như Phật là bậc độc tôn trong phàm và thánh, ra vào ba cơi tự tại vô ngại. Hai, hễ sư tử rống lên, trăm loài thú kinh hăi, như đức Phật thuyết pháp, thiên ma ngoại đạo thảy đều tin phục. Lại chẳng có năm nỗi sợ, đủ bốn món vô úy. [Những điều ấy] đều là ư nghĩa của sư tử.

Diễn: “Ra vào ba cơi tự tại vô ngại”: Phàm phu vào tam giới bị sanh tử trói buộc, chẳng được tự tại. Nhị Thừa thoát khỏi tam giới, bị Niết Bàn trói buộc, chẳng tự tại. Phật th́ Bi và Trí song hành, qua lại [tam giới] tự tại. “Hễ sư tử rống lên, trăm loài thú đều kinh hăi”: Ngài Vĩnh Gia nói: “Sư tử rống, nói vô úy. Trăm thú nghe tiếng đầu óc rúng nứt, hương tượng rảo chạy, chân luống cuống. Trời, rồng yên lặng nghe, sanh ḷng vui thích”. Năm thứ sợ hăi là: Một là chẳng sống được, hai là mang tiếng xấu, ba là chết, bốn là ác đạo, năm là [kinh hăi trước] oai đức [của người khác]. Bốn thứ vô úy là: Một, Nhất Thiết Trí vô úy, hai là lậu tận vô úy, ba là quyết nghi vô úy (đoạn trừ nghi hoặc chẳng sợ hăi), bốn là nói đạo hết khổ chẳng sợ hăi).

 

          Chẳng có năm thứ sợ hăi, trọn đủ bốn món vô úy, được biểu thị Sư Tử. Chúng ta nh́n từ ư nghĩa biểu thị pháp, [sẽ thấy] trong lịch tŕnh tu học của hàng Bồ Tát, sẽ đạt tới một cảnh giới như vậy. Phần trước là hai thứ trí huệ Quyền Trí và Thật Trí trọn đủ, bắt đầu lấy chuyện hóa độ chúng sanh làm chánh yếu. Hai trí chẳng hiện tiền th́ lấy việc tự độ làm chánh yếu. Trí huệ đă viên măn th́ mới thật sự phát tâm giống như Địa Tạng Bồ Tát: Chính ḿnh chưa thể đắc độ mà độ chúng sanh trước đă. “Chính ḿnh chưa thể đắc độ” có nghĩa là thành Phật [nhưng không thị hiện thành Phật]. Chính ḿnh [thật sự] c̣n chưa thành Phật mà đă độ chúng sanh trước, có năng lực hay không? Có năng lực, người ấy đă là Đăng Địa Bồ Tát, đương nhiên là có năng lực độ chúng sanh. Đấy gọi là “Bồ Tát phát tâm”, chẳng phải là hạng Bồ Tát b́nh phàm, cũng chẳng phải là hạng Pháp Thân đại sĩ thông thường, mà là Bồ Tát Ma Ha Tát. Tiểu Bồ Tát th́ không được, tự độ khẩn yếu hơn! Đại Bồ Tát th́ được, chính ḿnh đă đắc độ, chẳng qua là chưa viên măn (thành Phật mới là viên măn), phát đại tâm giúp đỡ người khác trước đă, thay Phật thuyết pháp. Pháp do vị ấy nói sẽ giống như do chính đức Phật nói, v́ vị ấy hết sức gần với [địa vị đă] thành Phật. Điều này có nghĩa là Bồ Tát từ Thất Địa hoặc Bát Địa trong Viên Giáo trở lên bèn đạt đến cảnh giới này, hăy nên làm theo cách như vậy!

 

(Sớ) Danh Văn giả, thích nghĩa đồng tiền.

(Sao) Tiền Danh Văn Quang, kim vô Quang tự. Danh văn giả đức, quang giả dụ. Tuy vô kỳ dụ, bất dị kỳ đức.

(Sớ) Danh Quang giả, danh như nhật quang, vô sở bất bị, diệc khả tịnh xưng, dĩ danh hiển quang xí cố.

(Sao) Như quang nghĩa đồng thượng. Danh hiển giả, như A Di Đà Phật, danh xưng phổ văn. Thập phương tam thế, vô bất chiêm niệm cố. Quang xí giả, như A Di Đà Phật, quang minh phổ chiếu. Thập phương tam thế, vô sở chướng ngại cố.

            ()名聞者。釋義同前。 

()前名聞光。今無光字。名聞者德。光者喻。雖無其喻

。不異其德。

         ()名光者。名如日光。無所不被。亦可並稱。以名顯光熾故。 

()如光義同上。名顯者。如阿彌陀佛。名稱普聞。十方三世。無不瞻念故。光熾者。如阿彌陀佛。光明普照。十方三世。無所障礙故。

            (Sớ: Danh Văn: Giải thích ư nghĩa giống như trong phần trước.

          Sao: Phần trước là Danh Văn Quang, danh hiệu của vị Phật trong phần này không có chữ Quang. Danh Văn là nói về Đức, Quang là tỷ dụ. Tuy không có tỷ dụ ấy, phẩm đức của hai vị Phật chẳng khác nhau.

Sớ: Danh Quang: Tiếng tăm như ánh mặt trời, không đâu chẳng soi thấu, cũng có thể cùng nói tới [danh lẫn quang] v́ danh tiếng rạng rỡ, quang minh chói ngời.

Sao: “Quang” có ư nghĩa như trên. “Danh tiếng rạng rỡ”: Như A Di Đà Phật, mười phương ba đời, không ai chẳng chiêm niệm. “Quang minh chói ngời”: Như A Di Đà Phật, quang minh chiếu khắp. Mười phương ba đời, không ǵ chướng ngại được).

 

          Vị thứ hai là Danh Văn Phật (Yaśas). Nay chúng ta gọi “danh văn” (名聞) là nổi tiếng. Bồ Tát có mức độ nổi tiếng rất cao, tiếng tăm vang dội, nhắc tới Ngài chẳng ai không biết. Ví như Quán Thế Âm Bồ Tát, tiếng tăm rất lớn, chẳng có người học Phật nào không biết Quán Thế Âm Bồ Tát. Do vậy có thể biết: Trong đoạn này, kinh nói đến sự phổ độ chúng sanh của hàng Bồ Tát, chính là nói đến những vị Đẳng Giác Bồ Tát, [chẳng hạn như] Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Thế Chí, Di Lặc, Địa Tạng, các Ngài đều là Đẳng Giác Bồ Tát. Danh tiếng của những vị Bồ Tát đều được người trong hết thảy các cơi Phật tận hư không khắp pháp giới hay biết. Tiếng tăm của chư Phật, Bồ Tát, thánh hiền đều “thật chí danh quy” (thực chất đạt đến tột bậc, nên tiếng tăm dồn về), chắc chắn chẳng phải là hư danh. “Danh xưng phổ văn” cho thấy sự giáo hóa của Ngài có sức ảnh hưởng sâu rộng, nhiều người ngưỡng mộ Bồ Tát, nhiều người vui thích theo Bồ Tát học tập. Đó là ư nghĩa thật sự được bao hàm [trong danh hiệu của đức Phật này].

 

            (Sớ) Đạt Ma giả, thử vân Pháp, diệc kiêm nhị lợi.

(Sao) Pháp giả, quỹ tŕ nghĩa. Dĩ pháp quỹ tŕ kỷ đức, thành kỷ Pháp Thân. Dĩ pháp quỹ tŕ tha thân, linh chư chúng sanh giai chứng Pháp Thân cố.

(Diễn) Quỹ tŕ nghĩa giả, nhược Lư, Pháp tắc năng quỹ sanh vật giải, nhậm tŕ tự tánh, như học nhân tùng duyên nhất niệm, đắc ngộ tự tánh, tức thử ngộ do, năi tùng tánh quỹ sanh, phi ngoại đắc cố. Nhược giáo hạnh đẳng pháp, tắc năng quỹ chánh thân tâm, tŕ linh bất thất dă.

()達摩者。此云法。亦兼二利。 

()法者。軌持義。以法軌持己德。成己法身。以法軌持他身。令諸眾生皆證法身故。 

()軌持義者。若理法則能軌生物解。任持自性。如學人從緣一念。得悟自性。即此悟由。乃從性軌生。非外得故。若教行等法。則能軌正身心。持令不失也。

            (Sớ: Đạt Ma, cơi này dịch là Pháp, cũng bao gồm hai điều lợi.

          Sao: Pháp có nghĩa là g̣ ép vào khuôn khổ. Dùng pháp để uốn nắn phẩm đức của chính ḿnh, thành tựu Pháp Thân cho chính ḿnh. Dùng pháp để uốn nắn thân người khác khiến cho các chúng sanh đều chứng Pháp Thân.

          Diễn: “Có nghĩa là quỹ tŕ”: Nếu xét theo Lư th́ Pháp có thể khiến cho người vâng giữ pháp sanh ra sự liễu giải đối với căn nguyên của vạn vật, mà chẳng làm mất đi tánh chất của bất cứ pháp nào. Như kẻ học do một niệm mà ngộ tự tánh, tức là cội nguồn của cái Ngộ ấy chính là nương vào tánh mà sanh, chẳng phải là có được từ bên ngoài. Như các pháp giáo, hạnh v.v… có thể uốn nắn, giữ ǵn thân tâm, chẳng để mất đi).

 

          Vị Phật kế tiếp là Đạt Ma Phật. Đạt Ma (Dharma) là tiếng Phạn, dịch sang nghĩa tiếng Hán là Pháp. Vị này biểu thị đại pháp nhất định là do sư thừa chư Phật, như vậy th́ mới có thể nêu gương, làm khuôn mẫu cho hết thảy chúng sanh. Ở đây, chúng ta cũng có thể hiểu sâu hơn một tầng nữa: Bất luận là chính ḿnh tu học, hay bất luận là giáo hóa chúng sanh, đều phải “y pháp, bất y nhân”, pháp là kinh điển. Kinh điển nhiều lắm, rốt cuộc dùng loại kinh điển nào để giúp đỡ chúng sanh th́ chúng sanh mới có thể đạt được lợi ích chân thật? Trong ấy có mối quan hệ hết sức to lớn, giống như bệnh nhân phát bệnh, phải dùng thuốc th́ mới có thể trị lành bệnh. Chúng ta đến tiệm thuốc, thấy mấy ngàn loại, mấy vạn loại thuốc, phải chọn lựa loại thuốc nào th́ mới có thể trị lành bệnh cho người ta? Nếu chúng ta chọn lầm thuốc, thuốc chẳng đúng chứng bệnh, không chỉ là chẳng thể chữa bệnh, mà nhất định lại c̣n ngược ngạo khiến cho bệnh nặng thêm, thậm chí hại chết người ta! Chúng ta có những kiến thức thông thường ấy, nhưng sơ sót! Kinh điển là pháp dược; kinh cũng thường sánh ví đức Phật là đại y vương. Pháp do đức Phật đă nói chính là pháp dược, chúng sanh đều là bệnh nhân. Đức Phật thuyết pháp, đức Phật là một vị thầy thuốc hết sức cao minh, đáng tin cậy. Được Ngài chẩn đoán, hễ Ngài cắt thuốc, thuốc uống vào, bệnh liền khỏi. Nghe đức Phật thuyết pháp, chẳng có ai không khai ngộ, chẳng có ai không chứng quả, đều có thể đạt được lợi ích chân thật. Sau khi đức Phật diệt độ, vị thầy thuốc ấy chẳng c̣n nữa, lưu lại toa thuốc cả một đống lớn. Đại Tạng Kinh chính là toa thuốc. Toa thuốc nhiều ngần ấy, chúng ta mắc bệnh ǵ chính ḿnh chẳng biết. Nếu uống thuốc bừa băi, chẳng thể lành bệnh được. Có nghĩa là: Sau khi đức Phật diệt độ, người học Phật đông đảo, người khai ngộ ít ỏi, người chứng quả càng ít hơn!

          Phật pháp đă truyền thừa hơn ba ngàn năm, chúng ta thấy trong xă hội hiện tiền: Người học Phật không chỉ là chẳng có người chứng quả, mà người khai ngộ cũng là “lông phượng, sừng lân”. Nguyên nhân ở chỗ nào? Nói thật ra, chắc chắn là chẳng thể nói “người trong đời này chẳng bằng cổ nhân”. Nếu quư vị nói kiểu đó, tôi tuyệt đối chẳng thừa nhận, tôi cảm thấy người hiện thời càng thông minh hơn người xưa. V́ sao thành tựu tu học của chúng ta thua kém cổ nhân? Chẳng có ǵ khác, uống sai thuốc! Nếu uống đúng thuốc, hiện thời, chúng ta sẽ khai ngộ, chứng quả nhanh hơn cổ nhân! Thậm chí [người hiện thời] hiểu sai be bét ư nghĩa trong kinh điển, thật đấy! Bài kệ Khai Kinh có câu “nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa”, nay chúng ta hiểu sai ư nghĩa chân thật của Như Lai. Không chỉ là xem kinh hiểu sai bét ư nghĩa, mà nghe giảng cũng thường hiểu lầm ư nghĩa. Những ǵ tôi nói ở đây, đợi một lát để người khác nhắc lại cho tôi nghe, hoàn toàn chẳng giống những ǵ tôi đă nói! Hiện diện ngay tại chỗ mà c̣n hiểu trật ư nghĩa! Nguyện hiểu nghĩa chân thật của Như Lai, khó quá! Khó ở chỗ chúng ta dụng tâm sai lầm! Chư Phật, Bồ Tát sử dụng chân tâm, chúng ta dùng vọng tâm. Chư Phật, Bồ Tát hoàn toàn chẳng có thành kiến, chúng ta là “tiên nhập vi chủ” (những ǵ được tiếp xúc trước tiên sẽ đóng vai tṛ quyết định), khó lắm! T́m đến tận nguồn cội, gốc bệnh ở ngay chỗ này. Có bệnh đừng sợ! Sợ là chẳng gặp được thầy thuốc giỏi. Gặp được thầy thuốc giỏi, bèn sợ là chẳng thể tín nhiệm ông ta, nếu vậy th́ bó tay mất rồi!

          Chúng ta nhận biết chính ḿnh có bệnh, gặp gỡ Phật pháp, đó là thầy thuốc giỏi, điều mấu chốt là chúng ta có thể tin tưởng hay không? Có thể chọn lựa hay không? Sự chọn lựa có mối quan hệ lớn nhất. Trong vô lượng pháp môn, rốt cuộc chúng ta chọn lựa pháp môn nào? Chúng ta chẳng có trí huệ, chẳng có năng lực, cũng chẳng gặp gỡ thiện tri thức; trong trạng huống ấy, làm như thế nào đây? Phật, Bồ Tát đă sớm biết những sự tao ngộ và hoàn cảnh của chúng ta. Từ ba ngàn năm trước, đức Thế Tôn đă chọn sẵn cho chúng ta. Trong kinh Đại Tập, đức Phật nói: “Thời kỳ Chánh Pháp, Giới Luật thành tựu”, trong một ngàn năm đầu tiên sau khi đức Phật diệt độ, tŕ giới có thể thành tựu. “Thời kỳ Tượng Pháp, Thiền Định thành tựu”, một ngàn năm thứ hai sau khi đức Phật diệt độ, chỉ tŕ giới sẽ chẳng thể thành tựu, phải tu Định. Phật giáo được truyền sang Trung Hoa nhằm thời kỳ đầu của thời Tượng Pháp. V́ thế, Thiền Tông Trung Hoa hết sức phát triển, hoàn toàn tương ứng với lời dạy của Thích Ca Mâu Ni Phật. Thứ ba, “thời kỳ Mạt Pháp, Tịnh Độ thành tựu”, Mạt Pháp gồm một vạn năm. Đó là ḷng từ bi triệt để của đức Thế Tôn. Sau khi lăo nhân gia diệt độ, ĺa khỏi thế giới này, người học Phật hăy nên chọn lựa pháp môn như thế nào, Ngài đă chỉ cho chúng ta một con đường. Nay chúng ta sanh nhằm thời kỳ Mạt Pháp, nếu chẳng chọn lựa Tịnh Độ, tức là đă vi phạm giáo huấn của đức Phật. Đức Phật bảo chúng ta chọn lựa Tịnh Độ, chúng ta khăng khăng muốn chọn Thiền, hoặc chọn pháp khác, pháp ấy chẳng khế cơ, trách nhiệm ấy do chính ḿnh gánh lấy, đức Phật chẳng chịu trách nhiệm. Chúng ta sanh trong thời kỳ Mạt Pháp, tuân thủ giáo huấn của đức Phật chọn lựa pháp môn này, há có sai lầm?

          Đối với kinh điển Tịnh Tông, Đạt Ma được nói ở đây là nói về kinh điển Tịnh Độ. Nguyên bản [kinh điển Tịnh Độ] chỉ có ba kinh do Thích Ca Mâu Ni Phật dạy. Thứ tự của ba kinh là:

1) Thoạt đầu, đức Phật giảng kinh Vô Lượng Thọ, giới thiệu tường tận Tây Phương Cực Lạc thế giới. V́ thế, kinh Vô Lượng Thọ là khái luận của Tịnh Độ, lại c̣n được tuyên giảng nhiều lần, chúng ta phải đặc biệt coi trọng điều này. V́ thuở đức Thế Tôn tại thế giảng kinh, mỗi bộ kinh chỉ giảng một lần, chẳng trùng lặp, chỉ riêng kinh Vô Lượng Thọ [được giảng] trùng lặp rất nhiều lần. Căn cứ trên các bản dịch c̣n giữ được hiện thời, hiện nay, trong Đại Tạng Kinh có năm loại bản dịch gốc. Cổ đức đă so sánh cặn kẽ, phát hiện: Tối thiểu là có ba bản tiếng Phạn bất đồng. Nói cách khác, tối thiểu là đức Phật giảng kinh này ba lượt. Trong hội Phương Đẳng, đức Phật giảng Thanh Tịnh B́nh Đẳng Giác Kinh và kinh Vô Lượng Thọ. Trong kinh Đại Bảo Tích, hội Vô Lượng Thọ Như Lai, đức Phật lại đặc biệt giới thiệu Tây Phương Tịnh Độ. Xác thực là đă chứng minh: Thuở tại thế, đức Phật đă nhiều lần tuyên giảng kinh này. Theo mục lục trong Kinh Tạng, kinh Vô Lượng Thọ có tất cả mười hai loại bản dịch, nay chỉ c̣n lưu lại năm loại, bảy loại đă thất truyền. Nếu bảy loại kia đều c̣n, lại so sánh, có thể là c̣n phát hiện có những văn bản khác với ba loại [Phạn bản] ấy. Điều này chứng tỏ đức Phật đă nói [kinh ấy] rất nhiều lần. Trong một đời, đức Phật đă nói pháp môn này rất nhiều lần. Pháp môn này đặc biệt trọng yếu, đặc biệt khế cơ, nên Ngài mới tuyên nói nhiều lượt.

2) Tiếp đó, Ngài lại nói kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, chuyên môn dạy chúng ta phương pháp văng sanh Tịnh Độ. Trong kinh Vô Lượng Thọ có nói đơn giản, kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật nói cặn kẽ, quư vị hành theo cách như thế nào. Quán Kinh dạy chúng ta lư luận, phương pháp tu hành, và nhân quả của chín phẩm [văng sanh].

3) Cuối cùng, đức Phật nói kinh A Di Đà, khuyên chúng ta phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ. Trong bộ kinh này, đức Phật ba lượt khuyên chúng ta “ưng đương phát nguyện, cầu sanh bỉ quốc” (hăy nên phát nguyện cầu sanh về cơi ấy), một lần rồi hai lần, hai lần rồi ba lần, rát miệng buốt ḷng khuyên bảo, khích lệ chúng ta. Hợp ba kinh lại để xem, [sẽ thấy] đó là bi tâm triệt để của đức Thế Tôn khiến cho hết thảy chúng sanh được viên thành Phật đạo ngay trong một đời này, chỉ riêng pháp môn này [là có thể thực hiện viên măn những điều đó]! Pháp môn này lại c̣n hết sức khế hợp [căn cơ của] chúng sanh trong thời kỳ Mạt Pháp. Pháp vận của đức Phật là một vạn hai ngàn năm, nay đă qua ba ngàn năm, c̣n có chín ngàn năm. Kinh Pháp Diệt Tận dạy: Trong tương lai, khi Phật pháp đều diệt, tất cả các kinh điển đều chẳng c̣n nữa, kinh Vô Lượng Thọ c̣n tồn tại. Kinh Vô Lượng Thọ diệt cuối cùng, nó sẽ c̣n tồn tại thêm một trăm năm. Sau một trăm năm ấy, kinh Vô Lượng Thọ cũng chẳng c̣n, nhưng hăy c̣n có một câu “Nam-mô A Di Đà Phật”, sáu chữ ấy lưu lại trong thế gian. Người hữu duyên, người thiện căn sâu dầy, gặp câu danh hiệu này mà có thể chuyên tŕ th́ cũng có thể văng sanh. Có thể thấy là pháp môn này thật sự chẳng thể nghĩ bàn!

          Nói tới chuyện chọn lựa pháp môn, chúng ta chọn lựa pháp môn Tịnh Tông, kinh điển để y cứ chính là Tịnh Độ Tam Kinh. Về sau, cư sĩ Ngụy Nguyên là người sống trong niên hiệu Hàm Phong đời Thanh, đă ghép Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm vào sau ba kinh, gọi là Tịnh Độ Tứ Kinh. Đầu thời Dân Quốc, Ấn Quang đại sư đă ghép chương Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông của kinh Lăng Nghiêm vào sau bốn kinh, gọi là Tịnh Độ Ngũ Kinh. Đến đây, có thể nói là kinh điển Tịnh Tông đă thật sự viên măn. Nay chúng ta tuân thủ giáo nghĩa trong năm kinh, chiếu theo giáo huấn trong kinh điển để tu hành, chắc chắn chẳng sai lầm. Nương vào Tịnh Độ Ngũ Kinh để khuyên dạy hết thảy chúng sanh, sẽ chẳng khác ǵ chư Phật tiếp dẫn đại chúng. Huống hồ pháp môn này được mười phương hết thảy chư Phật Như Lai tán thán, giới thiệu, lấy đâu ra sai lầm! Chúng ta giới thiệu kinh điển khác cho chúng sanh, thưa cùng chư vị, quư vị phải cẩn thận, phải gánh lấy trách nhiệm nhân quả. Thật đúng như người ta ngă bệnh, nếu quư vị giới thiệu thuốc cho người ấy, người ấy uống vào lành bệnh, kẻ ấy rất cảm tạ quư vị. Nếu họ uống vào chết ngắc, quư vị cũng lănh phần trách nhiệm. Giới thiệu một toa thuốc khác, chúng ta chẳng nắm chắc, nay chúng ta chẳng có năng lực ấy, chẳng có trí huệ để quan sát căn cơ. Nói cách khác, chẳng thông thạo dược tánh cho lắm bèn không dám dùng, cũng chẳng dám tùy tiện giới thiệu với người khác. Uống thuốc [Tịnh Độ] này tốt lắm! Bất luận bệnh ǵ cũng trị được; sau khi dùng, chắc chắn chẳng có tác dụng phụ. Do vậy, an tâm lớn mật, ổn thỏa, thích đáng mà sử dụng. Bản thân chúng ta dùng, đạt được lợi ích, bèn cũng giới thiệu với người khác, quyết định sẽ chẳng sai lầm. Đạt Ma Phật biểu thị ư nghĩa này.

 

(Sớ) Pháp Tràng giả. Pháp như tràng cố.

(Sao) Pháp như tràng giả, Phật pháp cao hiển, nhân thiên ngưỡng chi vi tông, tà ngoại vọng chi nhi phục. Tường như tiền văn Vô Lượng Tràng nghĩa.

()法幢者。法如幢故。

()法如幢者。佛法高顯。人天仰之為宗。邪外望之而伏。詳如前文無量幢義。

(Sớ: Pháp Tràng: Pháp giống như tràng.

Sao: “Pháp như tràng”: Phật pháp cao hiển, trời, người ngưỡng mộ tôn sùng, tà ma, ngoại đạo vừa thấy bèn khuất phục. Giải thích tường tận ư nghĩa th́ như trong phần nói về Vô Lượng Tràng trong phần trước).

 

Vị Phật kế tiếp là Pháp Tràng Phật (Dharmadhvaja), biểu thị sự kiến lập pháp tràng. Cổ nhân nói: “Dựng pháp tràng, lập tông chỉ”, ban bố lợi ích cho chúng sanh. Tràng () là cờ xí. Phật pháp kiến lập pháp tràng, nói theo cách hiện thời sẽ là kiến lập chế độ (quy chế) trong đạo tràng, quan trọng nhất là đạo phong và học phong. “Học phong” (學風) là nói họ căn cứ theo lư luận và cảnh giới đă được giảng trong những bộ kinh điển nào đó. “Đạo phong” (道風) là nói tới phương pháp và thành quả tu hành. Chúng ta thường nói “giải hạnh tương ứng”, Giải () là học, Hạnh () là đạo. Kiến lập tông chỉ như vậy, có thể đề xướng rộng răi Phật pháp, hoằng dương rạng rỡ Phật pháp, lợi ích hết thảy chúng sanh, giúp chư Phật Như Lai giáo hóa hết thảy chúng sanh.

 

(Sớ) Tŕ Pháp giả, nhị nghĩa: Nhất giả chấp trung danh tŕ, nhị giả chấp thủ danh tŕ.

(Sao) Chấp trung giả, bất đọa Hữu biên, bất đọa Vô biên, thiện tŕ Trung Đạo diệu pháp cố. Chấp thủ giả, tŕ thử diệu pháp, lưu thông tam thế, sử bất đoạn tuyệt cố.

()持法者。二義。一者執中名持。二者執守名持。

()執中者。不墮有邊。不墮無邊。善持中道妙法故。執守者。持此妙法。流通三世。使不斷絕故。

(Sớ: Tŕ Pháp có hai nghĩa: Một là chấp trung bèn gọi là Tŕ. Hai là chấp thủ bèn gọi là Tŕ.

Sao: Chấp Trung là chẳng rớt vào bên Có, chẳng rớt vào bên Không, khéo giữ diệu pháp Trung Đạo. Chấp Thủ là giữ diệu pháp ấy, lưu thông ba đời khiến chẳng đoạn tuyệt).

 

          Vị cuối cùng là Tŕ Pháp Phật, biểu thị “y giáo phụng hành, thật thà niệm Phật”. Danh hiệu của vị Phật này hiển thị: Để đề cao rộng răi Phật pháp ḥng lợi ích hết thảy chúng sanh, hăy nên dùng phương thức ǵ? Ở đây, đức Phật dạy chúng ta phải Tŕ Pháp, [nghĩa là] chúng ta học, hiểu, do nương theo năm kinh một luận, đạo phong phải thực hiện bằng thật thà niệm Phật. Chúng ta hành tŕ là chuyên tín, chuyên nguyện, chuyên tŕ danh hiệu. Đó gọi là thật thà niệm Phật, đó là đúng, so với chư Phật giáo hóa chúng sanh sẽ chẳng hai, chẳng khác. Thời cổ, chúng ta gọi bậc đại đức hoằng pháp là “pháp sư”. Gọi bậc phiên dịch kinh điển là “Tam Tạng pháp sư” v́ Ngài thông đạt Tam Tạng. Người thừa truyền Thiền Tông được gọi là “Thiền sư”. Người chỉ dạy giới luật được gọi là “Luật sư”, gọi thầy của hoàng đế là Quốc Sư. Chỉ có tổ sư của Tịnh Độ Tông được người ta tôn xưng là Đại Sư. Đại Sư là tiếng để gọi Phật. Hàng Đẳng Giác Bồ Tát đều chẳng thể gánh vác cách xưng hô này, Bồ Tát được gọi là Đại Sĩ, ví dụ như Quán Âm đại sĩ. Hiện thời, có những kẻ tự xưng là “đại sư”, quá đáng! Dẫu được người khác tôn kính [mà gọi như vậy], vẫn chẳng thể đảm trách được. Ví như quư vị chưa học tới Trung Học, người ta hễ gặp mặt bèn gọi quư vị là “tiến sĩ tiên sinh”, có phải là chửi người ta hay không? Chúng ta là kẻ xuất gia b́nh phàm, người ta gặp mặt bèn gọi là “đại sư này nọ”, có ư vị ấy, chửi bới người ta! Danh và thực cách biệt quá xa! V́ sao có thể gọi tổ sư của Tịnh Độ Tông là đại sư? V́ pháp môn bậc nhất để chư Phật Như Lai giáo hóa chúng sanh là khuyên họ niệm Phật, v́ chúng sanh giới thiệu ba kinh. Tịnh Tông Tổ Sư cũng giảng giải ba kinh, cũng khuyên người khác niệm Phật, chẳng sai khác chư Phật Như Lai cho mấy. Do đó, người đời sau tôn xưng các Ngài là đại sư, nhưng chư vị phải ghi nhớ: [Các Ngài] được người đời sau tôn xưng, chẳng phải là thuở sanh tiền tại thế. Nếu thuở tại thế mà có người gọi các Ngài như vậy, các vị ấy nhất định sẽ quở trách, sẽ nổi nóng! [Tôn xưng các Ngài là đại sư] chính là nói tổ sư Tịnh Độ Tông tự hành, hóa tha đều chẳng hai, chẳng khác chư Phật Như Lai. Đoạn kế tiếp:

 

          (Sớ) Xứng Lư, tắc tự tánh trắc chi di thâm bất khả tận, thị hạ phương hằng sa Phật nghĩa.

          (Sao) Văn Thù thủ bát, diêu thùy hữu thủ quá hạ phương tứ thập nhị hằng hà sa thế giới. Kim vị cánh quá hạ phương bất khả thuyết hằng hà sa thế giới, cầu ư tự tánh. Thí như tŕ can thám hải, dục cùng kỳ để, chung bất khả đắc.

          ()稱理,則自性測之彌深不可盡,是下方恆沙佛義。

         ()文殊取缽。遙垂右手過下方四十二恆河沙世界。今謂更過下方不可說恆河沙世界。求於自性。譬如持竿探海。欲窮其底。終不可得。

          (Sớ: Xứng Lư th́ tự tánh nếu thăm ḍ sẽ thấy sâu xa chẳng thể cùng tận, đó là ư nghĩa của phương dưới có hằng sa Phật.

Sao: Ngài Văn Thù cầm bát, thơng tay phải qua khỏi bốn mươi hai hằng hà sa thế giới ở phương dưới. Nay lại nói qua khỏi bất khả thuyết hằng hà sa thế giới ở phương dưới để cầu tự tánh, ví như cầm sào thăm ḍ biển, mong thấu tận đáy, trọn chẳng thể được).

 

          Liên Tŕ đại sư chú giải Sớ Sao, dụng tâm hết sức khổ sở. V́ trong thời đại của lăo nhân gia, Tịnh Tông đă suy vi tới tận cùng, những kẻ b́nh phàm trong xă hội đều coi thường Tịnh Tông. Pháp môn thù thắng và kinh điển bậc nhất trong Phật môn như thế mà chẳng có ai biết, không có ai nhận thức, cứ một mực tham Thiền. Thuở ấy, Thiền Tông cực thịnh, sự hưng thịnh ấy là ǵ? Hưng thịnh ngoài mặt, bề ngoài rất hưng vượng, người học đông đảo, người thật sự khai ngộ rất ít! Không chỉ là ít kẻ khai ngộ, mà người đắc Định cũng ít. Nếu lăo nhân gia khuyên những kẻ ấy học theo Tịnh Độ niệm Phật, mọi người chẳng thể tiếp nhận. V́ thế, để hoằng dương Tịnh Độ Tông, trong bộ Sớ Sao, trích dẫn kinh Hoa Nghiêm chiếm từ một phần ba [dung lượng sách Sớ Sao] trở lên, mục đích là dùng Hoa Nghiêm để đề cao Tịnh Tông, khiến cho mọi người có thể tin tưởng. Bởi lẽ, đệ tử Phật chẳng có ai không tôn trọng Hoa Nghiêm, [tổ Liên Tŕ] dùng Hoa Nghiêm để giải thích kinh Di Đà. Cuối cùng là Xứng Tánh, tức là hội quy tự tánh, [quy vào] Thiền Tông, nói rơ “Tịnh và Thiền là một, không hai”. Niệm Phật chẳng ĺa khỏi tự tánh, Xứng Lư là xứng tánh. “Tự tánh trắc chi di thâm bất khả tận” (Thăm ḍ tự tánh sẽ thấy sâu xa chẳng thể cùng tận), v́ “hạ phương” là nói đến sự sâu xa, chẳng có đáy, mang ư nghĩa này. Nói theo sự hiển thị nơi Sự th́ chư Phật, Bồ Tát hóa độ chúng sanh chẳng có cùng tận, chúng sanh vô biên thệ nguyện độ!

 

          (Kinh) Các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thật ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh”.

          ()各於其國。出廣長舌相。遍覆三千大千世界。說誠實言。汝等眾生。當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。

(Kinh: Mỗi vị đều ở nước ḿnh, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời thành thật: “Chúng sanh các ngươi hăy nên tin kinh Ca Ngợi Công Đức Chẳng Thể Nghĩ Bàn Được Hết Thảy Chư Phật Hộ Niệm này”).

 

          Chúng ta lại xem đoạn kinh văn kế tiếp:

 

          Lục, thượng phương.

          (Kinh) Xá Lợi Phất! Thượng phương thế giới, hữu Phạm Âm Phật, Tú Vương Phật, Hương Thượng Phật, Hương Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân Phật, Sa La Thụ Vương Phật, Bảo Hoa Đức Phật, Kiến Nhất Thiết Nghĩa Phật, Như Tu Di Sơn Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật.         

六、上方。

()舍利弗。上方世界。有梵音佛。宿王佛。香上佛。香光佛。大燄肩佛。雜色寶華嚴身佛。娑羅樹王佛。寶華德佛。見一切義佛。如須彌山佛。如是等恆河沙數諸佛。

          (Sáu, phương trên.          

Kinh: Xá Lợi Phất! Phía trên thế giới có Phạm Âm Phật, Tú Vương Phật, Hương Thượng Phật, Hương Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân Phật, Sa La Thụ Vương Phật, Bảo Hoa Đức Phật, Kiến Nhất Thiết Nghĩa Phật, Như Tu Di Sơn Phật, hằng hà sa số chư Phật như thế).

 

          Đoạn kinh văn này là tổng kết của cả một đoạn lớn [phần sáu phương Phật tán thán], nêu ra đức hiệu của mười vị Phật. “Mười” biểu thị sự viên măn, biểu thị pháp môn này là pháp môn đại viên măn. Chư Phật trong mỗi phương [nhiều] vô lượng vô biên, hằng hà sa số. Đức Phật chỉ nêu ra mấy vị đại diện, [nêu tên] mấy vị ấy, nhất định là có dụng ư đặc biệt, chắc chắn chẳng phải là nói tùy tiện, nhất định là có ư nghĩa biểu thị pháp. Chúng ta chú trọng quan sát từ góc độ này, quả nhiên chẳng sai! Sáu phương Phật là quá tŕnh theo thứ tự kể từ khi chúng ta sơ phát tâm măi cho đến khi chứng Vô Thượng Bồ Đề. Từ các danh hiệu ấy, chúng ta có thể thấy, chẳng khác ǵ năm mươi ba lần tham học ở cuối kinh Hoa Nghiêm. Năm mươi ba lần tham học là nói rơ rệt. Phật hiệu được sử dụng ở đây ngầm phù hợp ư nghĩa ấy, mật thuyết đấy nhé! Vị Phật đầu tiên trong thượng phương thế giới là…

 

          (Sớ) Phạm Âm giả, Phật âm thanh tịnh, vô tạp nhiễm cố.

          ()梵音者,佛音清淨,無雜染故。

          (Sớ: Phạm Âm (Brahmāghōṣa): Âm thanh của Phật thanh tịnh, v́ chẳng có tạp nhiễm).

         

Phạm” () có nghĩa là thanh tịnh. “Tạp nhiễm” (雜染) chỉ điều ǵ? Chỉ tâm địa. Tâm tạp nhiễm, thân và ngữ sẽ chẳng thanh tịnh. Nếu tâm thanh tịnh, thân bèn thanh tịnh, ngữ cũng thanh tịnh, ba nghiệp đều thanh tịnh. Ở đây, Ngài nói đến ư nghĩa trọng yếu là “thuyết pháp thanh tịnh”. Nếu muốn đạt tới thuyết pháp thanh tịnh, nhất định là tâm địa chẳng nhiễm đắm, giống như Lục Tổ đại sư đă nói: “Vốn chẳng có một vật, nơi nào nhuốm bụi bặm”. “Bụi bặm” tượng trưng cho nhiễm trước. Nhất định phải đạt được thanh tịnh, b́nh đẳng, từ bi, âm thanh bèn thanh tịnh.

 

          (Sao) Vô tạp nhiễm giả, dư thừa thuyết pháp, thị vi tạp nhiễm nhi bất thanh tịnh. Kim Phật duy dĩ Nhất Thừa pháp, hóa đạo chư quần sanh, sở vị “thuần nhất bất tạp, cụ túc thanh bạch phạm hạnh chi tướng”, cố danh Phạm Âm.

          (Diễn) Dư thừa thuyết pháp, thị vi tạp nhiễm giả, Luân Vương thuyết giới thiện, Đế Thích thuyết xuất dục, thật hữu thiện đương hành, hữu ác đương chỉ. Nhị Thừa thuyết Tứ Đế, thập nhị nhân duyên pháp, diệc thật hữu sanh tử khả yếm, Niết Bàn khả hân, giai tạp vô minh chi nhiễm, nhi bất thanh tịnh. Nhược Phật thuyết Nhất Thừa chi pháp, tắc nhiễm ô, thanh tịnh, tổng thuộc không hoa; sanh tử, Niết Bàn vô phi mộng huyễn, duy thử nhất sự thật. Dư nhị tắc phi chân, sở vị thuần nhất bất tạp, cụ túc thanh bạch phạm hạnh chi tướng dă.

          ()無雜染者,餘乘說法,是為雜染而不清淨。今佛唯以一乘法,化導諸群生,所謂純一不雜,具足清白梵行之相,故名梵音。

         ()餘乘說法。是為雜染者。輪王說戒善。帝釋說出欲。實有善當行。有惡當止。二乘說四諦。十二因緣法。亦實有生死可厭。涅槃可欣。皆雜無明之染。而不清淨。若佛說一乘之法。則染污清淨。總屬空花。生死涅槃無非夢幻。唯此一事實。餘二則非真。所謂純一不雜。具足清白梵行之相也。

(Sao: “Chẳng có tạp nhiễm”: Các thừa khác thuyết pháp th́ là tạp nhiễm, chẳng thanh tịnh. Nay đức Phật chỉ dùng pháp Nhất Thừa hóa độ, chỉ dạy các chúng sanh, đó gọi là tướng phạm hạnh thuần nhất, chẳng tạp, trọn đủ thanh bạch. V́ thế gọi là Phạm Âm.

Diễn: “Các thừa khác thuyết pháp th́ là tạp nhiễm”: Luân Vương nói giới thiện, Đế Thích nói ĺa dục, thật sự “có thiện nên hành, có ác nên dứt”. Nhị Thừa nói pháp Tứ Đế, mười hai nhân duyên, cũng là thật sự có “sanh tử đáng chán, Niết Bàn đáng ưa”, đều là tạp nhiễm vô minh, chẳng thanh tịnh. Nếu đức Phật nói pháp Nhất Thừa th́ nhiễm ô và thanh tịnh đều là hoa đốm trên hư không, sanh tử và Niết Bàn không ǵ chẳng phải là mộng huyễn, chỉ có một sự thật ấy. Những thứ khác hễ có hai th́ là chẳng thật. Đó gọi là “tướng phạm hạnh thuần nhất chẳng tạp, trọn đủ thanh bạch”).

 

          Nói theo Tánh, tức chân tánh, bản tánh thanh tịnh vô nhiễm. Nói theo Tướng, so giữa Đại Thừa và Tiểu Thừa, Tiểu Thừa là tạp nhiễm, Đại Thừa là thanh tịnh. So giữa Đại Thừa và Thiền, Thiền thanh tịnh, Đại Thừa tạp nhiễm. So giữa Thiền và Tịnh Độ, Thiền chẳng thanh tịnh, Tịnh Tông thuần tịnh vô nhiễm. “Phạm Âm”: Vị Phật thứ nhất biểu thị tổng cương lănh “tự hành, hóa độ người khác”. B́nh thường, chúng ta niệm câu Phật hiệu này, phải dùng cái tâm thanh tịnh để niệm, dùng tâm b́nh đẳng để niệm, đó là “tự hành”. Nếu c̣n kèm thêm cái tâm đại từ bi để niệm, đó là hóa tha. Tự hành và hóa tha là một câu Phật hiệu này, đấy là Phạm Âm. Vị thứ hai:

 

          (Sớ) Tú Vương giả, nhất vân nguyệt vi tú vương; nhất vân tức tú trung vương, như Bắc Thần cố. Nhị nghĩa giai đắc.

          (Sao) Nguyệt vi tú vương. Sở vị vạn điểm tinh quang, bất như cô nguyệt, nguyệt phi tinh loại. Dụ Phật vi đại giác, giác phi mê loại, thắng nhất thiết cố, tức tú trung vương giả. Luận Ngữ vân: “Thí như Bắc Thần, cư kỳ sở nhi chúng tinh củng chi”. Ngôn Bắc Thần tú loại, nhi xuất hồ kỳ loại, dụ Phật tức chúng sanh, xuất hồ chúng sanh. Dĩ sanh sở quy y cố, giai đắc giả. Nhất dĩ tinh nguyệt đối hiển xưng Vương, nhất tựu tinh trung độc thắng xưng Vương. Kim ngôn Phật tại dị loại, dị loại trung vương. Phật tại đồng loại, đồng loại trung vương, cố giai đắc dă.

(Diễn) Giác phi mê loại giả, phàm phu Tam Đế câu mê, Nhị Thừa bất mê Chân nhi mê Tục, Bồ Tát bất mê Chân, Tục nhi mê Trung. Phật năi Tam Đế tề giác, siêu cửu giới chúng sanh cố. Phật tức chúng sanh giả, nhược y sanh Phật đối thuyết, tắc cửu giới vi sanh, Phật năi đại giác. Kim ngôn Phật tức chúng sanh giả, kinh vân “chúng sanh vô thượng giả, Phật thị”, tắc Phật năi vô thượng chúng sanh dă. Phật tại dị loại giả, đối cửu giới vân, Phật vi dị loại. Nhược thập giới giai sanh, tắc Phật vi đồng loại dă.

         ()宿王者。一云月為宿王。一云即宿中王。如北辰故。二義皆得。

         ()月為宿王。所謂萬點星光。不如孤月。月非星類。喻佛為大覺。覺非迷類。勝一切故。即宿中王者。論語云。譬如北辰。居其所而眾星拱之。言北辰宿類。而出乎其類。喻佛即眾生。出乎眾生。以生所歸依故。皆得者。一以星月對顯稱王。一就星中獨勝稱王。今言佛在異類。異類中王。佛在同類。同類中王。故皆得也。

         ()覺非迷類者。凡夫三諦俱迷。二乘不迷真而迷俗。菩薩不迷真俗而迷中。佛乃三諦齊覺。超九界眾生故。佛即眾生者。若依生佛對說。則九界為生。佛乃大覺。今言佛即眾生者。經云眾生無上者佛是。則佛乃無上眾生也。佛在異類者。對九界云。佛為異類。若十界皆生。則佛為同類也。

          (Sớ: Tú Vương: Một nghĩa là mặt trăng là vua trong các ngôi sao. Nghĩa thứ hai là vua trong các tinh tú, như sao Bắc Thần vậy. [Hiểu theo cả] hai nghĩa đều được.

Sao: Mặt trăng là vua trong các ngôi sao, ư nói: Ánh sáng của muôn vàn đốm sao chẳng bằng một vầng trăng lẻ loi. Trăng chẳng cùng loại với sao, ví như Phật là bậc đại giác, do giác nên chẳng thuộc loại mê, thù thắng hơn hết thảy. “Là vua trong các tinh tú”: Sách Luận Ngữ viết: “Ví như sao Bắc Thần[7] ngự ở nơi đâu, các ngôi sao khác đều chầu về”. Ư nói Bắc Thần thuộc loại tinh tú, nhưng vượt trỗi các tinh tú. Ví như Phật chính là chúng sanh mà vượt trỗi chúng sanh, là chỗ để chúng sanh quy y. “Đều được”: Một đằng là so sánh mặt trăng rạng rỡ hơn các ngôi sao mà nói là Vua, một đằng là do [mặt trăng] thù thắng độc nhất trong các ngôi sao nên gọi là Vua. Nay nói: Phật ở trong dị loại bèn là vua trong dị loại; Phật ở trong đồng loại bèn là vua của đồng loại. V́ thế [nói theo cả hai kiểu] đều được.

Diễn: “Giác th́ chẳng thuộc loại mê”: Phàm phu đối với Tam Đế đều mê, Nhị Thừa chẳng mê Chân, mà mê Tục, Bồ Tát chẳng mê Chân và Tục, nhưng mê Trung. Phật là Tam Đế đều giác, siêu việt chúng sanh trong chín pháp giới. “Phật chính là chúng sanh”: Nếu nói so sánh giữa chúng sanh và Phật th́ chín pháp giới là chúng sanh, Phật là bậc Đại Giác. Nay nói “Phật chính là chúng sanh”, kinh dạy “bậc vô thượng trong chúng sanh là Phật”, tức là so trong các chúng sanh th́ Phật là vô thượng. “Phật ở trong dị loại” là nói theo chín pháp giới, Phật là dị loại. Nếu coi mười pháp giới đều là chúng sanh, Phật là đồng loại).

 

          “Tú” (宿) là tinh tú. Tú Vương Phật (Nakṣatrarāja) biểu thị Đại Thừa Phật pháp, là đường tắt để thành Phật, sánh ví vô lượng pháp môn của Phật giống như ánh sáng của hết thảy các ngôi sao. Các pháp môn của Phật đều là quang minh. Trong các quang minh, quang minh của pháp nào lớn nhất? Tú Vương là Đại Thừa. So giữa Đại Thừa và Tiểu Thừa, Đại Thừa trí huệ cao, quang minh lớn. Tú Vương Phật biểu thị pháp môn Đại Thừa. Đại Thừa là con đường tắt để thành Phật. Giữa Đại Thừa và Tiểu Thừa, quan niệm và sự tu hành đều khác nhau. Tiểu Thừa bảo thủ, quư vị nói cho họ nghe pháp Đại Thừa, họ chẳng thể tiếp nhận, cho đó là cuồng vọng, chẳng thể tu hành! Thời đại hiện tại là dân chủ, tự do, cởi mở, thích hợp Đại Thừa Phật pháp. Nay dùng pháp Tiểu Thừa để dạy chúng sanh, họ chẳng thể tiếp nhận, [họ sẽ chê là] quá khô khan, quá bó buộc! Trong Phật pháp, khế lư là điều trọng yếu, nhưng khế cơ cũng chẳng thể sơ sót, phải xét căn tánh, phải xem hoàn cảnh sống và h́nh thái ư thức của họ. Chúng ta nh́n về tương lai, mười năm sau toàn thể thế giới tiến nhập thời đại điện toán, phương thức sống của chúng ta sẽ biến đổi rất lớn. Phật pháp là giáo dục trí huệ, là giáo học trí huệ, tuyệt đối chẳng bị đào thải bởi thời đại. Trong bất cứ thời đại nào, nó cũng đều có thể phát huy trí huệ cao độ, có thể khiến cho hết thảy chúng sanh viên thành Phật đạo. Vị Phật thứ ba:

 

          (Sớ) Hương Thượng giả, Phật thánh trung thánh, như hương trung hương, tối thượng vô tỷ cố.

(Sao) Hương trung hương giả, như chiên đàn hương. Vân: “Thử hương lục thù, giá trị tam thiên đại thiên thế giới”. Hựu vân: “Thử hương nhất phần, tứ thập lư ngoại, vô bất văn giả”. Thị hương chi tối thượng giả dă. Phật chứng ngũ phần Pháp Thân chi hương. Kỳ hương phổ huân vô lượng thế giới, nhất thiết nhân, thiên, Tu La, ngoại đạo, Nhị Thừa chi hương, vô năng cập giả. Cố viết Hương Thượng.

(Diễn) Ngũ phần Pháp Thân thông Đại Tiểu Thừa, kim vân “ngũ phần”, năi Đại Thừa chuyển Ngũ Ấm thân tâm, đắc ngũ phần Pháp Thân. Nhất thiết nhân, thiên, Tu La, ngoại đạo, Nhị Thừa chi hương giả, nhân thiên hữu giới thiện hương, Tu La hữu hạ phẩm Thập Thiện hương. Ngoại đạo diệc hữu tà định tà huệ chi hương. Nhị Thừa hữu Giới, Định, Huệ, Giải Thoát, Giải Thoát Tri Kiến Hương.

()香上者。佛聖中聖。如香中香。最上無比故。 

()香中香者。如栴檀香。云此香六銖。價值三千大千世界。又云。此香一焚。四十里外無不聞者。是香之最上者也。佛證五分法身之香。其香普熏無量世界。一切人天脩羅外道二乘之香。無能及者。故曰香上。 

()五分法身。通大小乘。今云五分。乃大乘轉五陰身心。得五分法身。一切人天修羅外道二乘之香者。人天有戒善香。修羅有下品十善香。外道亦有邪定邪慧之香。二乘有戒定慧解脫解脫知見香。

          (Sớ: Hương Thượng (Gandhottama): Phật là bậc thánh của các thánh, giống như hương bậc nhất trong các loại hương, tối thượng khôn sánh.

Sao: “Hương bậc nhất trong các loại hương”: Như hương Chiên Đàn, [kinh] nói “sáu thù của hương ấy giá trị bằng tam thiên đại thiên thế giới”. Lại nói: “Hương ấy vừa đốt lên, ngoài bốn mươi dặm, không ai chẳng ngửi thấy mùi”. Đó là loại hương tối thượng vậy. Đức Phật chứng năm phần Pháp Thân hương, hương ấy xông khắp vô lượng thế giới, hết thảy hương của người, trời, Tu La, ngoại đạo, Nhị Thừa chẳng thể sánh bằng. V́ vậy gọi là Hương Thượng.

          Diễn: Năm phần Pháp Thân chung cho Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa. Nay nói “năm phần”, chính là Đại Thừa do chuyển thân tâm Ngũ Ấm mà được năm phần Pháp Thân. “Hết thảy các loại hương của người, trời, Tu La, ngoại đạo, Nhị Thừa”: Người và trời có hương giới thiện, Tu La có hương hạ phẩm Thập Thiện, ngoại đạo cũng có hương tà định tà huệ, Nhị Thừa có hương Giới, Định, Huệ, Giải Thoát, Giải Thoát Tri Kiến Hương).

 

          Phần chú giải (phần Sao) đề cập Ngũ Phần Pháp Thân Hương, [vị Phật này] biểu thị Thiền Tông. Đại Thừa là đường tắt, Thiền Tông là đường tắt nhất trong các con đường tắt, nên gọi là “kính trung kính” (徑中徑: Đường tắt nhất trong các con đường tắt). [Thế mà] đường tắt ấy lại c̣n có một con đường nhanh tắt hơn nữa, nên bảo là “hựu kính” (又徑: lại tắt hơn), được biểu thị bằng vị Phật kế tiếp là Hương Quang Phật. Vị Phật thứ tư:

 

          (Sớ) Hương Quang giả, kỳ hương phát quang, như Đoạn Trí nhị đức cố.

(Diễn) Đoạn Trí nhị đức giả, Như Lai quả thượng hữu Trí, Đoạn, Ân tam đức, kim lược Ân đức dă.

(Sao) Đoạn đức giả, hương năng tỵ ác, hữu diệt uế nghĩa. Chư ác tịnh tận, danh chi vi Hương. Trí đức giả, quang năng phá ám, hữu trí huệ nghĩa. Linh minh quảng chiếu, danh chi vi Quang. Hựu thường hương chỉ bị tỵ căn, hương trung phát quang, kiêm bị nhăn căn, dụ Thanh Văn chỉ năng diệt ác, hữu Thể vô Dụng. Phật diệt chư ác, năng cụ chư thiện, cụ túc Đoạn Trí, như hương quang dă.

(Diễn) Chỉ năng diệt ác, hữu Thể vô Dụng giả, Thanh Văn tuy đoạn phiền năo, chứng Niết Bàn, bất năng tùng Không xuất Giả, quảng độ chúng sanh. Đản hữu ngũ phần Pháp Thân chi hương, nhi vô đại dụng chi quang, hữu Thể vô Dụng dă. Phật tắc nội đoạn phiền năo, cụ công đức chi hương; ngoại độ chúng sanh, xuất đại dụng chi quang, Thể Dụng song chương dă.

         ()香光者。其香發光。如斷智二德故。

()斷智二德者。如來果上有智斷恩三德。今略恩德也。

()斷德者。香能避惡。有滅穢義。諸惡淨盡。名之為香

。智德者。光能破暗。有智慧義。靈明廣照。名之為光。又常

香止被鼻根。香中發光。兼被眼根。喻聲聞止能滅惡。有體無用。佛滅諸惡。能具諸善。具足斷智。如香光也。 

()止能滅惡。有體無用者。聲聞雖斷煩惱證涅槃。不能從空出假。廣度眾生。但有五分法身之香。而無大用之光。有體無用也。佛則內斷煩惱。具功德之香。外度眾生。出大用之光。體用雙彰也。

          (Sớ: Hương Quang: Hương ấy tỏa sáng, như hai đức Đoạn và Trí.

Diễn: “Hai đức Đoạn và Trí”: Nơi quả địa Như Lai có ba đức là Đoạn, Trí và Ân, nay tỉnh lược Ân đức.

Sao: “Đoạn đức”: Nhờ hương có thể tránh được mùi hôi thối, nên hương có ư nghĩa diệt uế. Hết sạch các điều ác th́ gọi là Hương. “Trí đức”: Ánh sáng có thể trừ tối tăm, có ư nghĩa trí huệ. Linh thông, sáng suốt, chiếu rộng răi, nên gọi là Quang. Lại nữa, hương b́nh thường chỉ có thể tương ứng với Tỵ Căn. Trong hương tỏa sáng tức kèm thêm tác dụng tương ứng với Nhăn Căn. Ví như Thanh Văn chỉ có thể diệt ác, có Thể mà không có Dụng. Phật diệt các ác, có thể trọn đủ các điều thiện, trọn đủ Đoạn đức và Trí đức như Hương Quang vậy.

Diễn: “Chỉ có thể diệt ác, có Thể mà không có Dụng”: Thanh Văn tuy đoạn phiền năo, chứng Niết Bàn, chẳng thể từ Không xuất hiện Giả để rộng độ chúng sanh, chỉ có năm phần Pháp Thân hương, chẳng có quang minh khởi tác dụng lớn lao, nên là “có Thể mà không có Dụng”. Phật th́ trong là đoạn phiền năo, trọn đủ hương công đức, ngoài là độ chúng sanh, phát ra quang minh đại dụng, Thể và Dụng cùng tỏ lộ).

         

Hương Quang (Gandhaprabhā) biểu thị Tịnh. Đại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông Chương có nói “hương quang trang nghiêm”. Từ xưa tới nay, có rất nhiều đạo tràng tu hành, nếu đặt tên là Hương Quang Thất, hoặc có hai chữ Hương Quang, ta biết đạo tràng ấy tu pháp môn Niệm Phật. Hương Quang Phật biểu thị pháp môn Niệm Phật. Hương quang trang nghiêm là đường tắt hơn con đường tắt nhất trong các con đường tắt, là con đường gần nhất để thành Phật. Không chỉ là gần nhất, lại c̣n là con đường ổn thỏa, thích đáng nhất. Thiền cố nhiên là con đường gần, nhưng chưa chắc đă ổn thỏa, thích đáng. [Lư do] thứ nhất, [để tu Thiền] ắt phải là căn cơ thượng thượng. Lục Tổ độ người căn cơ thượng thượng. Chẳng phải là kẻ thượng thượng căn, sẽ chẳng thích hợp học pháp môn ấy. Thứ hai, trong Thiền có rất nhiều ma sự. Năm mươi loại ấm ma được nói trong kinh Lăng Nghiêm đều là cảnh giới trong Thiền Định. Cổ nhân nói pháp môn Niệm Phật đơn giản nhất, dễ dàng nhất, ổn thỏa thích đáng nhất, viên nhất, đốn nhất, tức là đă tán thán pháp môn này đến cùng cực. Vị Phật thứ năm:

 

(Sớ) Đại Diệm Kiên giả, thích nghĩa đồng tiền.

(Sao) Diệm Kiên chi danh lũ xuất, chánh diêu Phật đồng danh hiệu, vô lượng vô biên cố.

()大燄肩者。釋義同前。 

()燄肩之名屢出。正繇佛同名號。無量無邊故。

          (Sớ: Đại Diệm Kiên: Giải thích ư nghĩa giống như phần trước.

Sao: Danh hiệu Diệm Kiên xuất hiện nhiều lần chính là v́ vô lượng vô biên chư Phật có cùng danh hiệu).

 

          Biểu thị ư nghĩa này, đề xướng, giới thiệu pháp môn thượng thượng cho đại chúng, khuyên khắp mọi người niệm Phật, thành tựu trong một đời. Trong phần trước, Đại Diệm Kiên Phật (Maharciskandha) [biểu thị ư nghĩa] gánh vác gia nghiệp của Như Lai, [trong phần này], Đại Diệm Kiên là đại pháp bậc nhất của Như Lai. Chúng ta nhất định phải hiểu rơ, phải khẳng định, pháp môn này là đại pháp bậc nhất của Như Lai, v́ kinh Vô Lượng Thọ xác thực là cô đọng, tinh hoa của kinh Hoa Nghiêm. Kinh Hoa Nghiêm có tám mươi quyển, kinh Vô Lượng Thọ chỉ có một quyển, nhưng nghĩa lư và cảnh giới chẳng hai, chẳng khác kinh Hoa Nghiêm, hoàn toàn như nhau. Ta mới biết bộ kinh này đáng quư, hàm nhiếp viên măn vô lượng vô biên pháp môn trong ấy. Niệm kinh Vô Lượng Thọ từ đầu tới cuối một lượt, sẽ giống như niệm kinh Hoa Nghiêm một lượt. Vị Phật thứ sáu:

 

          (Sớ) Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân giả, vạn hạnh nhân hoa, trang nghiêm Pháp Thân cố.

(Sao) Vạn hạnh trang nghiêm giả, tuy chứng Pháp Thân, nhược vô vạn hạnh, danh tố Pháp Thân. Phật xưng Nhất Thiết Chủng Trí, cố tu Tứ Đẳng, Lục Độ, chủng chủng hạnh môn, vô bất bị tập, tích công lũy đức, trợ hiển Pháp Thân, như vạn chủng bảo hoa trang nghiêm sắc thân dă. Dĩ Pháp Thân bổn cụ hằng sa Tánh Đức cố.

(Diễn) Dĩ Pháp Thân bổn cụ Tánh Đức giả, tuy vân vạn đức nghiêm thân, nhiên thử vạn đức thuộc Tu. Tu vô biệt tu, giai tùng tánh khởi tu. Dĩ hữu hằng sa Tánh Đức, phương hữu hằng sa Tu Đức. Bất nhiên, tu bất tùng tánh, năi hữu tác chi tu, vô can tánh thể, vân hà năng nghiêm Pháp Thân da?

          ()雜色寶華嚴身者。萬行因華。莊嚴法身故。 

()萬行莊嚴者。雖證法身。若無萬行。名素法身。佛稱一切種智。故須四等六度。種種行門。無不備集。積功累德。助顯法身。如萬種寶華莊嚴色身也。以法身本具恆沙性德故。 

()以法身本具性德者。雖云萬德嚴身。然此萬德屬修。修無別修。皆從性起修。以有恒沙性德。方有恒沙修德。不然。修不從性。乃有作之修。無干性體。云何能嚴法身耶。

         (Sớ: Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân (Ratnakusuma-sampush-pitagatra): Vạn hạnh nhân hoa trang nghiêm Pháp Thân.

          Sao: “Vạn hạnh trang nghiêm”: Tuy chứng Pháp Thân, nếu chẳng có vạn hạnh, sẽ gọi là Pháp Thân suông! Phật được gọi là bậc Nhất Thiết Chủng Trí; v́ thế, cần phải có Tứ Đẳng, Lục Độ, các thứ hạnh môn, không pháp nào chẳng tu tập trọn đủ. Tích lũy công đức để giúp hiển lộ Pháp Thân. Như muôn thứ hoa báu trang nghiêm sắc thân, do Pháp Thân vốn sẵn trọn đủ hằng sa Tánh Đức vậy.

          Diễn: “Do Pháp Thân vốn sẵn trọn đủ Tánh Đức”: Tuy nói là vạn đức trang nghiêm cái thân, nhưng vạn đức ấy thuộc về Tu. Tu mà chẳng tu chi khác, đều là khởi tu từ tánh. Do có hằng sa Tánh Đức, nên mới có hằng sa Tu Đức. Nếu chẳng phải vậy, tu chẳng từ tánh bèn là tu hữu tác, chẳng dính dáng ǵ đến tánh thể, sao có thể nói là trang nghiêm Pháp Thân cho được?)

 

Thật ra, đức hiệu của vị Phật này biểu thị Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh trong pháp môn căn bản. Cổ nhân thường nói: “Thành Phật viên măn trong một đời, chỉ có ḿnh kinh Hoa Nghiêm”. Đức Phật giảng hết thảy các kinh, đối với chuyện từ [địa vị] phàm phu tu thành Phật trong một đời, kinh giảng giải lư luận, phương pháp, và cảnh giới rành mạch, viên măn, quả thật là kinh Hoa Nghiêm. Do vậy, có thể nói Hoa Nghiêm là Phật pháp khái luận của toàn thể Phật pháp, hết thảy các kinh đă được nói đều là một bộ phận đặc biệt của kinh Hoa Nghiêm nhằm giới thiệu chi tiết mà thôi, tổng cương lănh là Hoa Nghiêm. Vị Phật này biểu thị ư nghĩa ấy. Trong Hoa Nghiêm, [các nhân vật giữ vai tṛ] khẩn yếu nhất là Văn Thù, Phổ Hiền, và Thiện Tài đồng tử, các Ngài học ǵ? Các Ngài tu ǵ? Đạt được kết quả ǵ? Nếu chúng ta có thể quan sát từ chỗ này, hiểu rơ ràng, sẽ thật sự có thâu hoạch. Trong kinh Hoa Nghiêm, trọng yếu nhất là Văn Thù Bồ Tát dạy chúng ta trong cuộc sống hằng ngày, đối với chuyện xử sự, đăi người, tiếp vật, phải tuân thủ mười nguyên tắc, [thường gọi là] Thập Ba La Mật. Đó là đại hạnh trí huệ viên măn, trong cuộc sống hằng ngày, hành vi của chúng ta sung măn trí huệ viên măn.

1) Thứ nhất là Bố Thí, có nghĩa là buông xuống. Thân, tâm, thế giới, hết thảy đều buông xuống, tâm chúng ta thanh tịnh, trong tâm chẳng nhiễm mảy trần. Bố thí là bỏ, là buông xuống. Chẳng phải là bảo quư vị buông xuống những thứ khác; buông tiếng tăm, lợi dưỡng xuống, vô dụng! Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, ưu lự, vướng mắc trong tâm địa, phải buông những thứ ấy xuống, phải triệt để bố thí. Đă buông xuống những thứ bên trong th́ đối với vật ở ngoài thân sẽ chẳng có trở ngại ǵ. Kinh Đại Thừa nói “Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại”. Trở ngại ở chỗ nào? Nếu trong tâm có vướng mắc, sẽ bị trở ngại, vấn đề bèn nghiêm trọng. Trong tâm chẳng có vướng mắc bèn gọi là Bố Thí.

2) Tŕ Giới: Tŕ giới là vâng giữ pháp. Bất luận là pháp thế gian hay pháp xuất thế gian, nhất định phải tuân thủ.

3) Nhẫn Nhục là kiên nhẫn, phải nhẫn nại. Nếu có thể kiên nhẫn, sẽ chẳng bị lay động bởi thuận cảnh hay nghịch cảnh.

4) Tinh Tấn: Tấn () là tiến bộ, chẳng thoái chuyển. Đối với tiến bộ, nhấn mạnh Tinh (), [nghĩa là] tinh thuần chẳng tạp, tiến bộ như vậy là đúng. Tiến bộ của người thế gian trong hiện thời là tạp tấn, loạn tấn. V́ vậy, họ chẳng thể thành tựu. Họ thật sự dụng công, thật sự nỗ lực, suốt ngày từ sáng đến tối chẳng nghỉ ngơi, tới cuối cùng chẳng có kết quả, điều ǵ cũng chẳng thể thành tựu.

5) Thiền Định: Chẳng lay động, bất thoái chuyển.

6) Bát Nhă: Trí huệ hiện tiền. Bản thân chúng ta xử thế, đăi người phải dùng lư trí, chớ nên xử sự theo cảm t́nh. Cảm t́nh là mê, lư trí là Bát Nhă.

7) Sau đó là Phương Tiện, Nguyện, Lực và Trí.

Đấy là nguyên tắc chỉ đạo, đều là dạy chúng ta nên làm như thế nào trong cuộc sống nơi thế gian này, Văn Thù Bồ Tát dạy chúng ta những việc ấy. Đấy là phương pháp tu học cơ sở.

          Phổ Hiền Bồ Tát mở rộng cơ sở ấy, mở rộng đến tận hư không khắp pháp giới, hoàn toàn tương ứng với tự tánh, viên thành Phật đạo. Đối với mười điều ấy, nếu chúng ta thật sự dùng cái tâm thanh tịnh, tâm chân thành, tâm b́nh đẳng, tâm đại từ bi để tu, sẽ là mười nguyện Phổ Hiền. Phổ Hiền Bồ Tát nêu lên mười khuôn mẫu, gọi là “mười đại nguyện vương”. Điều thứ nhất là dạy chúng ta “lễ kính chư Phật ”. Chư Phật: Trừ chính ḿnh ra, [bất cứ ǵ khác] đều gọi là “chư Phật ”. Không chỉ hết thảy hữu t́nh là chư Phật, mà vô t́nh cũng là chư Phật. Trong kinh Hoa Nghiêm, đức Phật đă dạy: “T́nh và vô t́nh, cùng viên thành Chủng Trí”. V́ thế, chúng ta phải lễ kính hữu t́nh, mà đối với vô t́nh cũng phải lễ kính, quyết định chẳng có phân biệt, chẳng thấy có sai biệt, phải vận dụng cái tâm b́nh đẳng. Lễ kính theo cách nào? Có phải là thấy người khác liền ḅ rạp xuống đất, dập đầu ba lạy? Nếu quư vị tu theo kiểu như vậy, đức Phật trông thấy sẽ ứa lệ, quư vị đă hiểu lầm ư nghĩa chân thật của Phật, ư nghĩa của Phật đều bị quư vị hiểu sai bét hết rồi! Về Sự th́ phải thuận theo thế tục, “Phật pháp trong thế gian, chẳng hoại pháp thế gian”, đối với pháp thế gian phải tùy thuận thế tục. Phật pháp dùng tâm trí huệ, tâm thanh tịnh, sử dụng đại trí huệ, thanh tịnh chân thật để tùy thuận hết thảy sự vụ thế tục. Đó là Phổ Hiền hạnh, mầu nhiệm chẳng thể nói được! V́ vậy, Đại Thừa Phật pháp, nhất là nói đến pháp Nhất Thừa tối cao, chính là nhân sinh viên măn, là hạnh phúc chân thật. Trong phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh Nguyện đă nói rất rơ ràng về lễ kính: Chủ thể thực hiện sự lễ kính bèn “ngă dĩ thanh tịnh thân, ngữ, ư” (tôi dùng thân, ngữ, ư thanh tịnh). Do vậy có thể biết: Tam nghiệp thanh tịnh chính là lễ kính. Tam nghiệp chẳng thanh tịnh, dù thấy người khác bèn dập đầu lễ bái, vẫn chẳng phải là Phổ Hiền Hạnh. Tam nghiệp thanh tịnh, thấy người khác bèn gật đầu đều là lễ kính chư Phật. Nói thật ra, như kinh Vô Lượng Thọ đă nói “thanh tịnh, b́nh đẳng, giác”, mười nguyện [Phổ Hiền] đều là “thanh tịnh, b́nh đẳng, giác” được ứng dụng trong cuộc sống hằng ngày. V́ thế, vị Phật này biểu thị kinh Hoa Nghiêm viên măn trong một đời. Chúng ta phải lấy Văn Thù, Phổ Hiền, Thiện Tài đồng tử làm gương, làm tiêu chuẩn cho sự tu học trong cuộc sống, biểu thị ư nghĩa này. Do vậy, Phật pháp hết sức sống động, hết sức viên măn. Đối với chuyện “liễu sanh tử, thoát tam giới, văng sanh bất thoái thành Phật ”, chính ḿnh có tín tâm sung măn, cuộc sống của quư vị sẽ vui sướng khôn sánh. Vị Phật thứ bảy:

 

          (Sớ) Sa La Thụ Vương giả. Sa La, thử vân kiên cố, diệc vân tối thắng. Đức bất biến dịch, tam giới độc tôn, như thụ vương cố.

          ()娑羅樹王者。娑羅。此云堅固。亦云最勝。德不變易。三界獨尊。如樹王故。

          (Sớ: Sa La Thụ Vương (Śalendrarājā): Sa La cơi này dịch là Kiên Cố, c̣n dịch là Tối Thắng (thù thắng nhất). Do đức chẳng biến đổi, tôn quư độc nhất trong tam giới, như vua của loài cây vậy).

 

Trong phần trước, Hiển Giáo đă được nói xong, c̣n có một pháp môn rất đặc biệt, vị Phật này tượng trưng cho Mật. Sa La Thụ Vương mang ư nghĩa tỷ dụ sự kiên cố.

 

          (Sao) Kiên cố giả, thử thụ tuế hàn bất điêu, phủ cân bất tổn, hữu kiên cố nghĩa. Như Phật chứng Pháp Thân, Hoặc bất năng dao, cảnh bất năng động cố. Tối thắng giả, thử thụ cao đại, nhất thiết lâm mộc vô năng cập giả, như Phật siêu tam giới, chúng thánh trung tôn cố. Cụ tư nhị đức, danh Thụ Vương dă.

         ()堅固者。此樹歲寒不彫。斧斤不損。有堅固義。如佛證法身。惑不能搖。境不能動故。最勝者。此樹高大。一切林木無能及者。如佛超三界。眾聖中尊故。具斯二德。名樹王也。

(Sao: “Kiên cố”: Loại cây này đến mùa lạnh chẳng rụng lá, búa ŕu chẳng thể gây tổn hại được, nên có ư nghĩa kiên cố. Như Phật chứng Pháp Thân, phiền năo chẳng thể lay, cảnh chẳng thể động. “Tối thắng”: Cây này cao to, hết thảy cây cối chẳng thể sánh bằng. Như Phật vượt trỗi tam giới, là bậc tôn quư nhất trong các vị thánh. Do có đủ hai đức ấy, nên gọi là Thụ Vương).

 

          Tại Trung Hoa, cây tùng, cây bách mùa Đông cũng chẳng rụng lá, hết sức kiên cố, mang ư nghĩa này. Mật Thừa vô thượng, nói thật ra, vẫn là một câu Phật hiệu. Câu Phật hiệu chính là vô thượng chú. Cuối Tâm Kinh có nói: “Là chú vô thượng, là chú không có ǵ sánh bằng”. Chú ấy chính là Nam-mô A Di Đà Phật. Sáu chữ ấy hoàn toàn phiên âm từ tiếng Phạn, chính là vô thượng mật chú. Trong kinh Đại Tập, đức Phật đă nói: Câu Phật hiệu là “vô thượng thậm thâm Thiền”, cũng là vô thượng, vô đẳng đẳng chú (chú không có ǵ sánh bằng). Kinh Hoa Nghiêm nói “nhiều chính là một, một chính là nhiều”. “Một” là câu danh hiệu này, “nhiều” là vô lượng vô biên pháp môn. Một câu Phật hiệu triển khai sẽ là vô lượng vô biên pháp môn, vô lượng vô biên pháp môn quy nạp thành một câu Phật hiệu. V́ thế mới biết danh hiệu có công đức chẳng thể nghĩ bàn. Vị Phật thứ tám:

 

          (Sớ) Bảo Hoa Đức giả, Phật đức như bảo hoa cố.

(Sao) Tiền vân “nghiêm thân”, nghiêm hữu nhân nghĩa; kim đản ngôn “hoa”, dĩ hoa dụ đức. Phật chi vạn đức, quư trọng, hoa mỹ, như bảo hoa dă. Nhất vân Thường, Lạc, Ngă, Tịnh. Phật chi tứ đức: Thường như bảo hoa, vô điêu lạc cố. Lạc như bảo hoa, duyệt nhân ư cố. Ngă như bảo hoa, vô đăi ngoại cố. Tịnh như bảo hoa, thể oánh khiết cố. Phú hữu vạn đức, quư trọng hoa mỹ, khả lệ tri hỹ.

(Diễn) Phật chi tứ đức, phiên phá phàm phu vô thường kế thường đẳng tứ đảo. Nhị Thừa thường kế vô thường đẳng tứ đảo. Phật duy Tam Đức bí tạng, bất vị tứ tướng sở thiên, viết Thường. Do như bảo hoa, bất dĩ Xuân sanh, bất dĩ Thu tụy, cụ vô thượng Bồ Đề giác pháp lạc, vô thượng Niết Bàn tịch tĩnh lạc, viết Lạc. Do như bảo hoa, trân kỳ túy mỹ, thích duyệt nhân tâm, cụ bát tự tại ngă, bất đăi ư ngoại, viết Ngă. Do như bảo hoa, bất giả dương ḥa, bất tư vũ lộ, bất vi ngũ trụ sở nhiễm, nhị tử sở lụy, viết Tịnh. Do như bảo hoa, tinh kim mỹ ngọc, tịnh vô tiêm trần cố.    

()寶華德者。佛德如寶華故。 

()前云嚴身。嚴有因義。今但言華。以華喻德。佛之萬德。貴重華美。如寶華也。一云常樂我淨。佛之四德。常如寶華無彫落故。樂如寶華悅人意故。我如寶華無待外故。淨如寶華體瑩潔故。富有萬德。貴重華美。可例知矣。

         ()佛之四德。翻破凡夫無常計常等四倒。二乘常計無常等四倒。佛維三德祕藏。不為四相所遷曰常。猶如寶華。不以春生。不以秋瘁。具無上菩提覺法樂。無上涅槃寂靜樂。曰樂。猶如寶華。珍奇粹美。適悅人心。具八自在我。不待於外曰我。猶如寶華。不假陽和。不資雨露。不為五住所染。二死所累曰淨。猶如寶花。精金美玉。淨無纖塵故    

(Sớ: Bảo Hoa Đức (Ratnophūlaśri): Phật đức như hoa báu.

Sao: Phần trước nói là Nghiêm Thân, Nghiêm có ư nghĩa “nhân” ở trong ấy. Nay chỉ nói Hoa, dùng hoa để tỷ dụ đức. Vạn đức của Phật, quư trọng, đẹp đẽ như hoa báu. Một nghĩa là Thường, Lạc, Ngă, Tịnh, tức bốn đức của Phật. Thường là như hoa báu, chẳng tàn rụng. Lạc là như hoa báu khiến cho người ta vui sướng. Ngă là như hoa báu chẳng vướng mắc bên ngoài. Tịnh là như hoa báu thể chất sáng sạch, phong phú vạn đức. Có thể suy ra mà biết sự quư trọng, đẹp đẽ ấy.

Diễn: “Bốn đức của Phật ” lật nhào, phá vỡ bốn quan niệm điên đảo[8] vô thường mà chấp là thường v.v… của phàm phu và bốn quan niệm điên đảo “thường mà chấp là vô thường” của Nhị Thừa. Chỉ có Tam Đức bí tạng của Phật là chẳng bị bốn tướng[9] dời đổi nên nói là Thường. Giống như hoa báu, chẳng v́ Xuân mà sanh, chẳng v́ Thu mà rơi rụng, có đủ niềm vui nơi giác pháp vô thượng Bồ Đề, niềm vui tịch tĩnh nơi Vô Thượng Niết Bàn, đó là Lạc. Ví như hoa báu, quư báu, lạ lùng, tinh túy, đẹp đẽ, vui sướng ḷng người, có đủ tám món tự tại Ngă[10], chẳng phụ thuộc vào bên ngoài nên gọi là Ngă. Ví như hoa báu, chẳng cần ánh mặt trời ấp ủ, chẳng nhờ mưa, sương để tưới tắm, chẳng bị nhuốm bẩn bởi Ngũ Trụ, chẳng bị vướng mắc bởi hai thứ Tử (Phần Đoạn và Biến Dịch), đó là Tịnh. Ví như hoa báu, vàng ngọc đẹp đẽ, tinh tế, tinh sạch, chẳng có mảy trần).

         

Vị Phật này biểu thị Báo Thân viên măn. Ba vị Phật cuối cùng đều biểu thị sự viên măn rốt ráo.

 

          (Sớ) Kiến Nhất Thiết Nghĩa giả, chư pháp chi nghĩa, vô bất tri cố.

(Sao) Nhất thiết giả, thế xuất thế gian chư pháp vô lượng, tắc nghĩa vô lượng. Hữu tri cận nghĩa, bất tri viễn nghĩa giả. Hữu tri thiên nghĩa, bất tri viên nghĩa giả. Hữu tri tổng nghĩa, bất tri biệt nghĩa giả. Hữu tri thật nghĩa, bất tri quyền nghĩa giả. Phật vô bất kiến, như Tất Đạt thái tử, danh Nhất Thiết Nghĩa Thành, tức thử ư dă.

(Diễn) Thế xuất thế gian chư pháp vô lượng, tắc nghĩa vô lượng giả. Thế gian chi pháp, thị Ấm, Nhập, Xứ, Giới đẳng. Thế gian chi nghĩa, tắc tích tụ, thiệp nhập đẳng. Xuất thế chi pháp, thị Đế, Duyên, Lục Độ đẳng. Xuất thế chi nghĩa, tắc bức bách, chiêu cảm đẳng. Phàm phu tri cận, bất tri viễn, đản tri thế gian pháp, bất tri xuất thế gian pháp cố. Nhị Thừa tri thiên, bất tri viên, yếm hữu, trước không, bất tri không hữu vô ngại cố. Sơ tâm Bồ Tát, tri tổng, bất tri biệt, đản ngộ Niết Bàn tâm, bất tri sai biệt nghĩa cố. Tri thật, bất tri quyền, đản tri Chân Như giới nội, bất tri Phật sự môn đầu cố. Phật năi ngũ nhăn viên minh, tam trí viên hiển, vô bất kiến dă.

          ()見一切義者。諸法之義。無不知故。 

()一切者。世出世間。諸法無量。則義無量。有知近義。不知遠義者。有知偏義。不知圓義者。有知總義。不知別義者。有知實義。不知權義者。佛無不見。如悉達太子。名一切義成。即此意也。 

()世出世間諸法無量。則義無量者。世間之法。是陰入處界等。世間之義。則積聚涉入等。出世之法。是諦緣六度等。出世之義。則逼迫招感等。凡夫知近不知遠。但知世間法。不知出世間法故。二乘知偏不知圓。厭有著空。不知空有無礙故。初心菩薩。知總不知別。但悟涅槃心。不知差別義故。知實不知權。但知真如界內。不知佛事門頭故。佛乃五眼圓明。三智圓顯。無不見也。

(Sớ: Kiến Nhất Thiết Nghĩa (Sarvārthadarśa): Nghĩa của chư pháp, không ǵ chẳng biết.

Sao: Nhất Thiết: Các pháp thế gian và xuất thế gian vô lượng, cho nên nghĩa vô lượng. Có kẻ biết nghĩa gần, chẳng biết nghĩa xa. Có kẻ biết nghĩa thiên lệch, chẳng biết nghĩa viên măn. Có kẻ biết nghĩa tổng quát, chẳng hiểu nghĩa riêng biệt. Có kẻ biết thật nghĩa, chẳng biết quyền nghĩa. Phật không ǵ chẳng thấy. Như thái tử Tất Đạt (Siddhārtha) tên là Nhất Thiết Nghĩa Thành, chính là v́ ư này.

Diễn: “Các pháp thế gian và xuất thế gian vô lượng, cho nên nghĩa vô lượng”: Pháp thế gian là Ấm, Nhập, Xứ, Giới v.v… Nghĩa thế gian là như tích lũy, tu tập, xen nhập v.v… Pháp xuất thế là Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Lục Độ v.v… Nghĩa xuất thế là như bức bách, chiêu cảm v.v… Phàm phu biết gần, mà chẳng biết xa, chỉ biết pháp thế gian, chẳng biết pháp xuất thế gian. Nhị Thừa biết Thiên (thiên chấp, lệch về một bên), chẳng biết Viên, chán Có, chấp Không, chẳng biết Không và Hữu vô ngại. Sơ tâm Bồ Tát biết Tổng, chẳng biết Biệt, chỉ biết Niết Bàn tâm, chẳng biết nghĩa sai biệt, biết Thật, chẳng biết Quyền, chỉ biết trong phạm vi Chân Như, chẳng biết những chuyện thuộc về Phật sự. Phật là ngũ nhăn viên minh, tam trí hiển lộ trọn vẹn, không ǵ chẳng thấy).

 

          Biểu thị trăm ngàn ức Hóa Thân.

 

          (Sớ) Như Tu Di Sơn giả, Tu Di vi chúng sơn chi vương, Phật đức siêu tuyệt như Tu Di cố.

(Sao) Tiền ngôn Tu Di Tướng, cố chỉ tướng hảo. Kim vô Tướng tự, chuyên tựu đức ngôn. Hợp vạn đức nhi giao la, như Tu Di dĩ bảo thành xưng Diệu. Trung thiên hạ nhi độc lập, như Tu Di dĩ tối thượng xưng Cao. Tu Di vương ư chúng sơn, Như Lai vương ư tam giới, kỳ nghĩa nhất dă.

          ()如須彌山者。須彌為眾山之王。佛德超絕。如須彌故。 

()前言須彌相。故指相好。今無相字。專就德言。合萬德而交羅。如須彌以寶成稱妙。中天下而獨立。如須彌以最上稱高。須彌王於眾山。如來王於三界。其義一也。

(Sớ: Như Tu Di Sơn (Sumērukalpa): Tu Di là vua trong các quả núi. Phật đức siêu tuyệt như Tu Di.

Sao: Trong phần trước nói Tu Di Tướng là nói về tướng hảo, nay không có chữ Tướng là chuyên nói về đức. Hợp vạn đức kết thành, như núi Tu Di do các chất báu tạo thành, được gọi là Diệu. Đứng sừng sững một ḿnh giữa thiên hạ, như núi Tu Di tối thượng nên gọi là Cao. Tu Di là vua của các núi, Như Lai là vua của tam giới, có cùng một nghĩa).

 

         Biểu thị Pháp Thân viên măn thanh tịnh. Báo Thân là Tự Thọ Dụng Thân, Hóa Thân là Tha Thọ Dụng Thân, dùng để hóa độ chúng sanh. Lư Thể là thanh tịnh Pháp Thân. Học Phật đến chỗ này mới là thật sự đạt đến viên măn rốt ráo, chứng đắc viên măn ba thân Pháp, Báo, Ứng.

          Kinh văn trước sau tương ứng trọn vẹn. Phương Đông biểu thị thái độ học Phật cơ bản. A Súc Bệ Phật biểu thị bất động, tín tâm thanh tịnh bèn sanh Thật Tướng. Tâm chẳng định, chẳng thể học điều ǵ! Tâm phải định, nếu tâm bất động, chẳng bị hết thảy lay động, quư vị sẽ có thể học. Ba vị Phật kế tiếp [biểu thị] những mục tiêu chúng ta mong cầu. Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật chính là ba thân. Trước hết là những ǵ trong tâm hướng tới, Tu Di Tướng là Báo Thân, Đại Tu Di là Pháp Thân, Tu Di Quang là Ứng Hóa Thân. Đến cuối cùng, ở đây chúng ta đă viên măn, đă đạt được. Trong phần trước là mong cầu đạt đến, phần sau là thật sự đạt được. Đức hiệu của sáu phương Phật đă hiển thị sự tu học trong Tịnh Tông từ sơ phát tâm măi cho đến khi thành Phật trong tương lai, toàn thể lịch tŕnh tu học là như thế đó. Đoạn kinh văn này thật sự hết sức hay, nếu mọi người hời hợt, hờ hững xem lướt qua, quá đáng tiếc! Hôm nay, chúng tôi giảng đến chỗ này!

A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

Phần 133 hết

 

 

 

 

 



[1] Theo Bát Thập Hoa Nghiêm, năm mươi ba vị thiện tri thức là: Tỳ-kheo Đức Vân, tỳ-kheo Hải Vân, tỳ-kheo Thiện Trụ, đại sĩ Di Già, trưởng giả Giải Thoát, tỳ-kheo Hải Tràng, ưu-bà-di Hưu Xả, tiên nhân Tỳ Mục Cù Sa, bà-la-môn Thắng Nhiệt, đồng nữ Từ Hạnh, tỳ-kheo Thiện Kiến, đồng tử Tự Tại Chủ, ưu-bà-di Cụ Túc, cư sĩ Minh Trí, trưởng giả Pháp Bảo Kế, trưởng giả Phổ Nhăn, vua Vô Yếm Túc, vua Đại Quang, ưu-bà-di Bất Động, ưu-bà-di Biến Hành, trưởng giả Dục Hương, thuyền sư (thuyền trưởng) Bà Thi La, trưởng giả Vô Thượng Thắng, tỳ-kheo-ni Sư Tử Tần Thân, cô gái Bà Tu Mật Đa, cư sĩ Bệ Sắt Chi La, Quán Tự Tại Bồ Tát, Chánh Thú Bồ Tát, Đại Thiên Thần, địa thần An Trụ, chủ dạ thần Bà San Bà Diễn Để, chủ dạ thần Phổ Đức Tịnh Quang, chủ dạ thần Hỷ Mục Quán Sát Chúng Sanh, chủ dạ thần Phổ Cứu Chúng Sanh Diệu Đức, chủ dạ thần Tịch Tĩnh Âm Hải, chủ dạ thần Thủ Hộ Nhất Thiết Thành Tăng Trưởng Oai Lực, chủ dạ thần Khai Phu Nhất Thiết Thụ Hoa, chủ dạ thần Đại Nguyện Tinh Tấn Lực Cứu Hộ Nhất Thiết Chúng Sanh, chủ thần vườn Lâm Tỳ Ni là Diệu Đức Viên Măn, cô gái Thích Ca Cù Ba, Phật mẫu Ma Da phu nhân, vương nữ Thiên Chủ Quang, đồng tử sư Biến Hữu, đồng tử Thiện Tri Chúng Nghệ, ưu-bà-di Hiền Thắng, trưởng giả Kiên Cố Giải Thoát, trưởng giả Diệu Nguyệt, trưởng giả Vô Thắng Quân, bà-la-môn Tối Tịch Tĩnh, đồng tử Đức Sanh, đồng nữ Hữu Đức, Di Lặc Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, và Phổ Hiền Bồ Tát.

[2] Kinh Dịch dùng chữ Truyện () với ư nghĩa chú giải phần chánh kinh. Hệ Từ (繫辭) có nghĩa là lời lẽ gắn liền với từng quẻ một. Đây là phần chú giải tổng quan về toàn thể kinh Dịch, tương đương với phần Khái Luận trong các bộ chú giải sau này.

[3] Chữ Trở này có nhiều cách đọc (đúng ra, khi đọc tên sông hoặc họ người (như Thư Cừ Mông Tốn, vua nước Bắc Lương thời Ngũ Đại Thập Quốc) th́ phải đọc thành Thư hoặc Tự, khi đọc thành âm Trở th́ có nghĩa là ngăn trở. Trở Thủy là tên một con sông bắt nguồn từ tỉnh Hồ Bắc, chảy theo phía Đông Nam, đến Tương Dương bèn hợp lưu với sông Chương Thủy, tiếp tục xuôi về Nam đến Giang Lăng th́ đổ vào Trường Giang (Dương Tử Giang). Con sông này hay gây lụt lội.

[4] Ngũ Viên, tự là Tử Tư, là tướng quốc nước Ngô thời Xuân Thu. Ông vốn là người nước Sở, cha là Ngũ Xa (giữ chức Thái Phó nước Sở). Ngũ Xa làm thái phó dạy học thái tử Kiến (con trai Sở B́nh Vương Hùng Khí Tật). Về sau, Sở B́nh Vương lấy Bá Doanh nước Tần làm thiếp th́ say đắm Bá Doanh, lại nghe lời gièm pha của Phí Vô Cực, đày thái tử Kiến ra huyện Thành Phụ gần biên giới. Về sau, Phí Vô Cực vu cáo thái tử Kiến làm phản, Sở B́nh Vương gọi Ngũ Xa đến hỏi ư. Do Ngũ Xa thẳng thắn khuyên can, ông bị vua bắt giam vào ngục, lại bị buộc viết thư gọi hai con là Ngũ Thượng và Ngũ Viên về Sở. Ngũ Viên khôn ngoan chẳng quay về, nên thoát nạn. Sau đó, vua Sở giết chết Ngũ Xa và Ngũ Thượng. Sau thời gian lưu lạc, có lúc phải đi ăn xin, ông đến nước Ngô được tướng quốc nước Ngô là công tử Quang tin dùng. Ông đă bàn mưu tính kế giúp công tử Quang chiếm ngôi, trở thành vua Ngô Hạp Lư sau này. Khi trở thành Tướng Quốc, ông đă đem quân Ngô về đánh Sở, chiếm cứ Dĩnh Đô, đào xác Sở B́nh Vương lên đánh ba trăm roi để trả mối thù giết cha. Khi Hạp Lư chết trận, ông tiếp tục phù tá Phù Sai (con Hạp Lư) và đánh bại nước Việt nhằm báo thù nước Việt đă bắn trọng thương Hạp Lư trước đó. Phù Sai nghe lời xu nịnh của Bá Hy cho nước Việt giảng ḥa, bắt Việt Vương Câu Tiễn sang làm nô lệ. Ngũ Tử Tư chủ trương diệt cỏ tận gốc, nhưng Phù Sai không nghe. Do thái tể Bá Hy gièm pha, Ngô Phù Sai buộc Ngũ Tử Tư tự tử, ông đă nói: “Hăy móc mắt ta treo trên cửa thành phía Đông để ta được thấy giặc Việt vào tiêu diệt nước Ngô”. Quả nhiên mười năm sau, Câu Tiễn diệt Ngô và bắt Phù Sai phải tự sát ngay, chứ không cho làm nô lệ, dù Phù Sai hết sức van xin.

[5] Đây là lời can gián vua Ngô Phù Sai của Ngũ Viên (Ngũ Tử Tư) sau khi vua Ngô đánh bại Việt Vương Câu Tiễn. Câu Tiễn bại trận, dùng tiền bạc mua chuộc các đại thần nước Ngô để xin được làm nô lệ tại nước Ngô mười năm ngơ hầu Ngô đừng diệt quốc nước Việt, chỉ biến Việt thành chư hầu. Tham đắm mỹ nữ và của cải dâng cống, cũng như nghe lời sàm nịnh của Bá Hy, Phù Sai đă chấp thuận để yên nước Việt. Ngũ Tử Tư cảnh tỉnh Phù Sai về hiểm họa Việt sẽ diệt Ngô trong tương lai bằng những lời lẽ trên đây.

[6] Đây là nhóm sáu vị tỳ-kheo thường kéo bè kéo đảng, quấy phá Tăng đoàn, làm những hành vi trái nghịch giới luật. Thật ra, họ thị hiện nghịch hạnh để đức Phật có dịp chế giới. Tên sáu người ấy là Nan Đà (Nanda), Bạt Nan Đà (Upananda), Ca Lưu Đà Di (Kālodāyin), Xiển Na (Chanda, c̣n phiên âm là Xa Nặc), A Thuyết Ca (Aśvaka) và Phất Na Bạt (Punarvasu)

[7] Bắc Thần là tên gọi khác của Bắc Cực Tinh (Polaris Star, Pole Star, Guiding Star). Chỉ có người ở Bắc bán cầu mới thấy được ngôi sao này. Hiện thời Bắc Cực Tinh chính là ngôi sao Alpha Ursa Minoris trong chùm sao Tiểu Hùng (Ursa Minor). Thật ra ngôi sao này là cả một cḥm sao, bao gồm một ngôi sao chính gọi là Umi Aa, và bốn phụ tinh gọi là alpha Umi B, alpha Umi Ab, alpha Umi C và alpha Umi D. Sao này được gọi tên như vậy v́ nó dùng để định vị phương hướng trong hàng hải hoặc lữ hành trên sa mạc từ thời cổ, và được nhiều dân tộc biết đến. Nền văn hóa Hy La gọi nó là Stella Polaris (ngôi sao phương Bắc), hoặc Cynosura (sao đuôi chó), người Ấn gọi nó là Dhruva Tara (định tinh)…

[8] Bốn quan niệm điên đảo là bốn thứ chấp trước về Thường và Vô Thường của chúng sanh: Một là chấp vạn pháp luôn thường hằng (Thường Kiến), hai là chấp trước vạn pháp đều vô thường, không có đời sau, không có nhân quả v.v… (Đoạn Kiến), ba là chấp vạn pháp là thường mà cũng là vô thường, bốn là chấp vạn pháp chẳng phải là thường, chẳng phải là vô thường.

[9] Bốn tướng ở đây chính là thành, trụ, hoại, diệt.

[10] Bát Tự Tại Ngă có hai cách hiểu:

1. Theo kinh Đại Niết Bàn th́ Bát Tự Tại Ngă chính là tám đặc tánh tự tại nơi Ngă trong Tứ Đức của Như Lai:

1) Có thể thị hiện một thân thành nhiều thân.

2) Có thể thị hiện một thân nhỏ như vi trần mà đầy khắp tam thiên đại thiên thế giới.

3) Hiện thân to lớn có thể nhẹ nhàng đến nơi xa xôi nhất.

4) Hiện thân thường sống trong vô lượng chủng loại chúng sanh.

5) Có thể sử dụng các căn lẫn nhau không trở ngại, như dùng mắt để nghe, dùng tai để nếm v.v… Mỗi căn trọn đủ tác dụng của năm căn kia.

6) Đạt được Vô Đắc Tưởng trong hết thảy các pháp.

7) Nói nghĩa của một bài kệ trải qua vô lượng kiếp.

8) Thân trọn khắp các nơi giống như hư không.

2. Sách Pháp Giới Thứ Đệ lại nói Bát Tự Tại là:

1) Có thể hiện nhỏ, tức là dùng sức biến hóa khiến cho thân chính ḿnh và những pháp khác đều cực nhỏ như tiểu vi trần.

2) Có thể hiện lớn, tức là dùng sức biến hóa khiến cho thân ḿnh và mọi người, mọi vật đều to lớn đầy ắp hư không chẳng ngăn ngại lẫn nhau.

3) Có thể hiện nhẹ, tức là dùng sức biến hóa khiến cho thân ḿnh, mọi người, vạn pháp, thế giới v.v… đều nhẹ như lông hồng.

4) Có thể tự tại, tức là chuyển hóa tự tại từ nhỏ sang lớn, dài sang ngắn, nhẹ sang nặng và ngược lại tự tại vô ngại.

5) Có thể làm chủ, tức là có thể tự biến hóa thành thân lớn nhỏ, nhưng tâm chẳng phân biệt, chấp trước, hàng phục và nhiếp thọ hết thảy.

6) Có thể đến nơi xa, tức là có thể biến hóa đến bất cứ nơi xa xôi nào.

7) Có thể động, tức là có thể biến hóa khiến cho đại địa sáu thứ chấn động hoặc mười tám thứ chấn động.

8) Tùy ư, tức là tự tại biến hóa một thân thành nhiều thân, nhiều thân thành một thân, đi xuyên qua tường vách, núi non, chuyển biến tứ đại như biến đất thành nước, lửa v.v...