A Di Đà Kinh Sớ Sao
Diễn Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 134
Chủ giảng: Lão pháp sư Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Hòa
Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và
Đức Phong
Tập
267
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang năm trăm năm
mươi:
Xác
thực là danh hiệu của sáu phương Phật nhằm
chỉ dạy chúng ta là những kẻ niệm Phật tu
pháp môn Tịnh Độ hãy nên đi theo con đường
Bồ Đề đại đạo. Ý nghĩa này hết
sức trọng yếu.
(Sớ)
Xứng Lý tắc tự tánh ngưỡng chi di cao bất khả
tận, thị thượng phương hằng sa Phật
nghĩa.
(Sao) Nhan Uyên thán
đạo, viết: “Ngưỡng chi di cao”, kim tá dụng
chi, ngôn linh tâm trác việt, thể tuyệt phan duyên. Ngưỡng
chi di cần, cao chi ích thậm. Tích Tịnh Danh quá thượng
phương tứ thập nhị hằng hà sa thế giới,
nhi thủ hương phạn; kim vị cánh quá thượng
phương bất khả thuyết hằng hà sa thế giới,
cầu ư tự tánh, thí như tiếp trúc điểm
thiên, dục chí kỳ điên, chung bất khả đắc!
(Diễn) Thể
tuyệt phan duyên giả, vị Bát Nhã như đại hỏa
tụ, chúng sanh chi tâm xứ xứ năng duyên, độc
bất duyên ư Bát Nhã chi thượng dã. Tịnh Danh
thượng phương thủ hương phạn giả,
kinh vân: Thời Duy Ma Cật, tức nhập tam-muội, dụng
thần thông lực, thị chư đại chúng. Thượng
phương giới phận, quá tứ thập nhị hằng
hà sa quốc độ, hữu quốc danh Chúng
Hương, Phật hiệu Hương Tích. Kim hiện tại,
kỳ quốc hương khí, tỷ ư thập
phương chư Phật thế giới nhân thiên chi
hương, tối vi đệ nhất. Bỉ độ
vô hữu Thanh Văn, Bích Chi Phật danh, duy hữu thanh tịnh
đại Bồ Tát chúng, Phật vị thuyết pháp. Nãi
chí cư sĩ, khiển hóa Bồ Tát đáo bỉ, thỉnh
hương phạn viết: “Nguyện đắc Thế
Tôn sở thực chi dư, đương ư Sa Bà thế
giới, thi tác Phật sự” đẳng.
(疏)稱理,則自性仰之彌高不可盡,是上方恆沙佛義。
(鈔)顏淵歎道。曰。仰之彌高。今借用之。言靈心卓越。體絕攀緣。仰之彌勤。高之益甚。昔淨名過上方四十二恆河沙世界。而取香飯。今謂更過上方不可說恆河沙世界。求於自性。譬如接竹點天。欲至其巔。終不可得。 (演)體絕攀緣者。謂般若如大火聚。眾生之心處處能緣。獨不緣於般若之上也。 淨名上方取香飯者。經云。時維摩詰。即入三昧。用神通力。示諸大眾。上方界分過四十二恒河沙國土。有國名眾香。佛號香積。今現在。其國香氣。比於十方諸佛世界人天之香。最為第一。彼土無有聲聞辟支佛名。唯有清淨大菩薩眾。佛為說法。乃至居士。遣化菩薩到彼。請香飯曰。願得世尊所食之餘。當於娑婆世界。施作佛事等。
(Sớ: Xứng
Lý thì càng ngưỡng vọng tự
tánh, càng cảm thấy cao chót vót chẳng
thể cùng tận, chính là ý nghĩa của phương trên
có hằng sa Phật.
Sao: Nhan Uyên cảm thán về đạo[1] [của Khổng Tử], nói: “Ngửa trông lên càng cao”,
nay mượn ý ấy để dùng, hòng nói: Tâm linh thông
chót vót tuyệt diệu, Thể của nó dứt bặt mọi
sự nắm níu. Càng siêng gắng ngưỡng vọng,
càng thấy cao cả. Xưa kia, ngài Tịnh Danh (Duy Ma Cật)
qua khỏi bốn mươi hai ức hằng sa thế giới
để lấy cơm thơm. Nay lại nói qua khỏi bất
khả thuyết hằng sa thế giới trong
phương trên để cầu tự tánh thì ví như nối
tre để khều trời, toan muốn chạm đến
tột đỉnh của bầu trời, trọn chẳng
thể được.
Diễn: “Thể dứt bặt nắm níu”, ý nói Bát Nhã như
đống lửa lớn, tâm chúng sanh chỗ nào cũng có
thể duyên được, chỉ riêng Bát Nhã là chẳng thể
duyên được. “Tịnh Danh lấy cơm thơm
nơi thượng phương”: Kinh nói khi ấy ngài Duy Ma
Cật dùng sức thần thông, liền nhập tam-muội,
thị hiện cho đại chúng thấy trong các thế giới
ở phương trên, qua khỏi bốn mươi hai hằng
hà sa số quốc độ, có một cõi nước tên
là Chúng Hương, Phật hiệu Hương Tích, nay vẫn
còn đang trụ thế. Hương thơm trong cõi ấy
so với mùi hương của trời, người trong
mười phương thế giới chư Phật, sẽ
là thù thắng tột bậc. Cõi ấy chẳng có tên gọi
Thanh Văn, Bích Chi Phật, chỉ có hàng đại Bồ
Tát thanh tịnh, đức Phật vì họ thuyết pháp.
Cư sĩ (ngài Duy Ma Cật) bèn sai hóa Bồ Tát đến
cõi đó, xin cơm thơm, nói như sau: “Mong được
thức ăn còn thừa của đức Thế Tôn để
thực hiện Phật sự trong thế giới Sa Bà”
v.v…).
Liên
Trì đại sư dùng một thành ngữ của Nho gia
để hình dung ý nghĩa “tự
tánh có vô tận công đức”.
(Kinh)
Các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt
tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới,
thuyết thành thật ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh
đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư
Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở
Hộ Niệm Kinh”.
(經)各於其國。出廣長舌相。遍覆三千大千世界。說誠實言。汝等眾生。當信是稱讚不可思議功德一切諸佛所護念經。
(Kinh:
Mỗi vị đều ở trong cõi mình, hiện tướng
lưỡi rộng dài che khắp tam
thiên đại thiên thế giới, nói lời thành thật:
“Chúng sanh các ngươi hãy nên tin kinh Khen Ngợi Công Đức
Chẳng Thể Nghĩ Bàn Được Hết Thảy
Chư Phật Hộ Niệm này”).
Trong một bộ
kinh Di Đà ngắn ngủi này, chúng ta thấy câu này rất
nhiều lần, sáu phương Phật là sáu lần [lặp
lại], trong phần sau, đức Phật vẫn nhắc
tới. Đọc nhiều lần, chúng ta bèn có ấn
tượng hết sức sâu đậm, đấy là
đức Phật đặc biệt nói nhấn mạnh.
Nếu chúng ta có thể thật sự biết đôi chút
đại ý trong tựa đề gốc của bản
kinh này, tín nguyện trì danh sẽ tự nhiên đắc lực.
Công phu niệm Phật chẳng đắc lực; nói cách
khác, [đó là do] vẫn còn chưa thân thuộc đối với
công đức của danh hiệu cho lắm!
(Sớ)
Dĩ thượng lục phương Phật tán, diệc
thị A Di Đà Phật bổn nguyện lực cố.
(疏)以上六方佛讚,亦是阿彌陀佛本願力故。
(Sớ: Sáu
phương Phật tán thán như trên đây cũng là do sức
bổn nguyện của A Di Đà Phật).
Sáu
phương chính là mười phương, mười
phương cũng là ba đời. Đúng là mười
phương ba đời hết thảy chư Phật
đều lễ tán A Di Đà Phật. Vì sao nói hết thảy
chư Phật tán thán cũng là do bổn nguyện của A
Di Đà Phật? Đó là vì trong bốn mươi tám nguyện
có nguyện này.
(Sao)
Bổn nguyện giả, Đại Bổn Pháp Tạng nguyện
vân: “Ngã tác Phật thời, danh văn thập phương
vô ương số thế giới, chư Phật các ư
đại chúng chi trung, xưng ngã công đức cập dữ
quốc độ” đẳng.
(鈔)本願者,大本法藏願云:我作佛時,名聞十方無央數世界,諸佛各於大眾之中,稱我功德及與國土等。
(Sao: “Bổn nguyện”: Trong kinh Đại Bổn,
ngài Pháp Tạng nguyện rằng: “Khi ta làm Phật, tiếng
tăm vang khắp mười phương vô ương số
thế giới, chư Phật mỗi vị đều ở
trong đại chúng khen ngợi công đức và cõi nước
của ta” v.v…)
Phật
Di Đà có nguyện này. Sau mỗi nguyện, lão nhân gia đều
nói: Nếu nguyện ấy chẳng thành tựu, Ngài sẽ
chẳng thành Phật. Vì thế, bốn mươi tám nguyện,
nguyện nào cũng đều thành tựu viên mãn. Ngài ở
trong thế giới Tây Phương thành Phật cho đến
nay đã là mười kiếp.
(Sao)
Cố kim thành Phật, như kỳ sở nguyện.
(鈔)故今成佛,如其所願。
(Sao:
Cho nên nay thành Phật, đúng như sở nguyện).
Đối
với nguyện này, dụng ý chính của Ngài là ở chỗ
nào? Có phải là A Di Đà Phật rất háo danh hay
chăng? Kẻ háo danh mà còn có thể thành Phật ư?
Chúng ta nhất định phải hiểu bổn ý của
Ngài! Phật Di Đà tuyệt đối chẳng mong tiếng
tăm, lợi dưỡng, mà là mong phổ độ hết
thảy chúng sanh, giúp đỡ hết thảy chúng sanh thành
Phật viên mãn ngay trong một đời! Nếu chư Phật
chẳng tán thán, chẳng đề cao, chẳng giới thiệu
Ngài, chúng sanh làm sao biết có A Di Đà Phật? Bổn
Sư Thích Ca Mâu Ni Phật là một trong các vị Phật,
do Thích Ca Mâu Ni Phật giới thiệu cho chúng ta, chúng ta mới
biết có Tây Phương Cực Lạc thế giới, có
một vị Phật tên là A Di Đà. Mười
phương chư Phật ở ngay trong khu vực giáo hóa
của chính mình, đối trước các học trò của
các Ngài, giống như Thích Ca Mâu Ni Phật dạy bảo
chúng ta. Chư Phật cũng khẩn thiết hệt như
Thích Ca Mâu Ni Phật, khuyên dạy chúng ta phải phát nguyện
cầu sanh Tịnh Độ. Đấy chính là ý nghĩa [được
ẩn tàng] trong bổn nguyện công đức của A Di
Đà Phật. Thực ra, Ngài thật sự có thể làm
được, cũng có nghĩa là: Hết thảy chúng
sanh, kể cả chúng sanh trong địa ngục, [dẫu
là] hạng chúng sanh tạo tác tội nghiệp cực nặng,
chỉ cần họ có thể tín nguyện niệm Phật,
cầu sanh Tịnh Độ, cũng nhất định
được vãng sanh ngay trong một đời. Sanh về
Tây Phương Cực Lạc thế giới, vô lượng
tội nghiệp cực nặng đều có thể tiêu trừ
ngay trong một đời. Tây Phương Cực Lạc
thế giới tiêu trừ nghiệp chướng nhanh chóng
nhất, viên thành Phật đạo ngay trong một đời.
Vì thế, chư Phật Như Lai không vị nào chẳng
tán thán, đạo lý ở chỗ này.
(Sớ)
Hữu chấp Lăng Nghiêm, vị Quán Âm Nhĩ Căn, thử
phương giáo thể, Thế Chí niệm Phật, bất
dự Viên Thông, vân hà kim nhật phổ giáo niệm Phật?
Dĩ thử vi nghi giả, chánh diêu bất đạt lục
phương Phật tán cố.
(Diễn)
Quán Âm Nhĩ Căn, thử phương giáo thể giả,
Văn Thù tuyển Viên Thông ký vân: “Thử phương chân
giáo thể, thanh tịnh tại âm văn. Dục thủ
Tam-ma-đề, thật dĩ Văn trung nhập, ly khổ
đắc giải thoát. Lương tai Quán Thế Âm!” Thế
Chí Niệm Phật bất dự Viên Thông giả, kệ
vân: “Chư hành thị vô thường, niệm tánh nguyên sanh
diệt, nhân quả kim thù cảm, vân hà hoạch Viên Thông?”
(疏)有執楞嚴,謂觀音耳根,此方教體,勢至念佛,不與圓通,云何今日普教念佛?以此為疑者,正繇不達六方佛讚故。
(演)觀音耳根。此方教體者。文殊選圓通記云。此方真教體。清淨在音聞。欲取三摩提。實以聞中入。離苦得解脫。良哉觀世音。勢至念佛不與圓通者。偈云。諸行是無常。念性元生滅。因果今殊感。云何獲圓通。
(Sớ: Có kẻ chấp
vào kinh Lăng Nghiêm, bảo: Phép Nhĩ Căn của đức
Quán Âm [khế hợp] giáo thể của cõi này, còn phép Niệm
Phật của ngài Thế Chí chẳng được chọn
là phép Viên Thông, cớ sao nay lại dạy trọn khắp
[hữu tình] niệm Phật? Viện vào điều ấy
rồi nghi ngờ, chính là vì chẳng thấu hiểu [ý
nghĩa của việc] sáu phương Phật đều
tán thán.
Diễn: “Pháp Nhĩ Căn của Quán Âm” [khế hợp] giáo
thể phương này: Kinh ghi lời ngài Văn Thù nói khi chọn
lựa Viên Thông như sau: “Chân giáo thể phương này,
thanh tịnh nơi nghe tiếng. Muốn chứng nhập
Chánh Định, thật sự do Nghe nhập, lìa khổ
được giải thoát. Lành thay Quán Thế Âm”. “Pháp Niệm
Phật của ngài Thế Chí chẳng được chọn
là phép Viên Thông”: Trong bài kệ ấy có đoạn: “Các hành
là vô thường, tánh niệm vốn sanh diệt. Nhân cảm
quả sai khác, làm sao đắc Viên Thông?”)
“Chấp” (執) là chấp trước. Kinh
Lăng Nghiêm là một bộ kinh khá phổ biến tại
Trung Hoa; cổ nhân thường nói: “Khai huệ Lăng Nghiêm, thành Phật Pháp Hoa”. Trong
những kinh điển đã được phiên dịch
tại Trung Hoa, kinh Lăng Nghiêm được coi là hay nhất
về mặt văn chương, nên những kẻ học
Văn Học đều đọc kinh Lăng Nghiêm. Trong
kinh Lăng Nghiêm, Văn Thù Bồ Tát đã vì thế giới
này chọn lựa pháp môn, Ngài chọn pháp Nhĩ Căn Viên
Thông của Quán Thế Âm Bồ Tát. “Bất dự Viên Thông” nghĩa là chẳng chọn
Đại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông Chương;
vì sao nay lại dạy trọn khắp chúng ta niệm Phật?
“Dĩ thử vi nghi” (Do
điều này mà sinh nghi): Xét theo giáo nghĩa của kinh
Lăng Nghiêm, không thể chẳng có nghi vấn! “Chánh diêu bất đạt lục
phương Phật tán cố” (chính là vì chẳng thấu
đạt sáu phương Phật đều tán thán), “đạt” (達) là thông đạt,
hiểu rõ. Vì sao kẻ ấy có nghi hoặc? Chính là vì kẻ
ấy không biết sáu phương Phật tán thán trọn
khắp pháp môn này, hết thảy chư Phật đều
tán thán! Trong hội Lăng Nghiêm, pháp Viên Thông do Văn Thù Bồ
Tát chọn lựa, đó là sự chọn lựa của bậc
Bồ Tát. Còn ở đây là sự chọn lựa của
chư Phật, chẳng phải là chọn lựa của
riêng một vị Phật nào. Tất cả hết thảy
chư Phật đều chọn lựa pháp môn này, chẳng
lẽ [sự chọn lựa ấy] còn chẳng sánh bằng
Văn Thù Bồ Tát ư? Chúng ta nhìn từ chỗ này, nghi hoặc
sẽ chẳng còn nữa, đây là sự chọn lựa của
Phật!
(Sao)
Nghi giả vị Niệm Phật pháp môn, ký bất đậu
thử phương chi cơ.
(鈔)疑者謂念佛法門,既不逗此方之機。
(Sao: Nghi là vì cho rằng
pháp môn Niệm Phật chẳng phù hợp căn cơ của
người phương này).
“Bất đậu” (不逗) là chẳng thích
hợp. Chẳng thích hợp căn cơ của chúng sanh
trong thế giới Sa Bà.
(Sao)
Hựu bất nhập Viên Thông chi tuyển.
(鈔)又不入圓通之選。
(Sao: Lại còn chẳng
được chọn là phép Viên Thông).
Ngài
Văn Thù chọn lựa phép Viên Thông cho chúng ta, chẳng chọn
lựa pháp môn Niệm Phật.
(Sao)
Ký cư thử phương, hà tất niệm Phật?
(鈔)既居此方,何必念佛。
(Sao: [Vậy thì]
đã sống trong cõi này, cần gì phải niệm Phật?)
Nay
chúng ta sống trong thế giới Sa Bà, thế giới Sa Bà
là Nhĩ Căn Viên Thông, cớ gì chúng ta phải niệm Phật?
Kẻ hoài nghi trong tâm có nỗi nghi hoặc như vậy!
Dưới đây, Liên Trì đại sư đã vì chúng ta
đoạn nghi, sanh tín.
(Sao)
Kim quán lục phương chư Phật giai tán thử
kinh.
(鈔)今觀六方諸佛皆讚此經。
(Sao:
Nay xét thấy sáu phương chư Phật đều khen
ngợi kinh này).
Sáu
phương chính là mười phương. Hết thảy
chư Phật, chẳng có vị Phật nào không tán thán bộ
kinh này, chẳng có vị Phật nào không tán thán pháp môn này.
(Sao)
Tắc tri Nhĩ Căn giả, thiên đậu thử
phương chi cơ.
(鈔)則知耳根者,偏逗此方之機。
(Sao: Cho nên biết
Nhĩ Căn phù hợp riêng cho căn cơ của người
trong cõi này).
Nhĩ
Căn Viên Thông rất thích hợp căn cơ của chúng
sanh trong thế giới Sa Bà. Văn Thù Bồ Tát nói: “Thử phương chân giáo thể,
thanh tịnh tại âm văn” (Chân giáo thể
phương này, thanh tịnh nơi nghe tiếng). Ngài chọn
lựa chẳng sai.
(Sao)
Niệm Phật tắc phổ đậu thập
phương thế giới chi cơ dã.
(鈔)念佛則普逗十方世界之機也。
(Sao:
Niệm Phật phù hợp trọn khắp căn cơ của
mười phương thế giới).
Nhĩ
Căn Viên Thông trong thế giới Sa Bà thì được,
đối với các thế giới khác, chưa chắc
đã thích hợp, chưa chắc đã khế cơ,
nhưng trong hết thảy các cõi Phật, pháp môn Niệm
Phật đều khế cơ, khác hẳn!
(Sao)
Đại Bổn vân: “Thập phương chúng sanh,
xưng ngã danh hiệu, tất sanh ngã quốc”, thị dã.
(鈔)大本云:十方眾生,稱我名號,必生我國。是也。
(Sao:
Kinh Đại Bổn nói: “Mười phương chúng
sanh, xưng danh hiệu ta, ắt sanh về cõi ta” chính là ý
này).
Đại
Bổn là kinh Vô Lượng Thọ. “Thập phương” là chúng sanh thuộc chín pháp
giới trong hết thảy các cõi Phật, trên là bao gồm
Đẳng Giác Bồ Tát, dưới là mãi cho đến
chúng sanh trong địa ngục. “Xưng
ngã danh hiệu” (Xưng danh hiệu của ta) là niệm
Phật. Niệm Phật nhất định sanh về Tịnh
Độ, nhất định được sanh về
Tây Phương Cực Lạc thế giới. Điều
này chứng tỏ pháp môn này thích hợp trọn khắp hết
thảy chúng sanh trong mười phương. Đó là so
sánh giữa Nhĩ Căn Viên Thông và Niệm Phật Viên
Thông. Dưới đây là nhìn từ một góc độ
khác.
(Sao)
Nhĩ Căn giả, thiên đậu nhân loại chi cơ,
niệm Phật tắc phổ đậu lục đạo
chúng sanh chi cơ dã.
(鈔)耳根者,偏逗人類之機,念佛則普逗六道眾生之機也。
(Sao: Nhĩ Căn
riêng phù hợp căn cơ của nhân loại, còn niệm
Phật thích hợp trọn khắp căn cơ của
chúng sanh trong lục đạo).
Văn
Thù Bồ Tát chọn lựa pháp Viên Thông cho chúng ta, là vì
Nhĩ Căn của loài người trong thế giới Sa
Bà rất nhạy bén, chứ đối với năm
đường khác thì chẳng phải là như vậy.
Pháp môn Niệm Phật lợi ích khắp cả lục
đạo.
(Sao)
Đại Bổn vân: “Địa ngục, quỷ, súc sanh,
diệc sanh ngã sát trung”, thị dã.
(鈔)大本云:地獄鬼畜生,亦生我剎中。是也。
(Sao: Kinh Đại Bổn nói:
“Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, cũng sanh trong nước ta” chính là ý này).
Đây
là nói về ba ác đạo, tức địa ngục, ngạ
quỷ, súc sanh, nghe pháp môn này, có thể tín, có thể nguyện,
có thể niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ,
cũng đều được vãng sanh. Có thể thấy
là phạm vi nhiếp thọ của Nhĩ Căn Viên Thông
nhỏ bé, chỉ [gói gọn] trong loài người của
thế giới Sa Bà, còn pháp môn Niệm Phật nhiếp thọ
căn cơ rộng lớn, có thể nhiếp trọn khắp
hết thảy chúng sanh trong mười pháp giới, có thể
hàm nhiếp hết thảy chúng sanh trong lục đạo.
(Sao)
Nhiên tắc Nhĩ Căn bất nhiếp Niệm Phật.
(鈔)然則耳根不攝念佛。
(Sao: Vậy thì Nhĩ
Căn chẳng hàm nhiếp Niệm Phật).
Pháp
môn trong Quán Thế Âm Bồ Tát Nhĩ Căn Viên Thông
Chương chẳng thể bao gồm pháp môn Niệm Phật.
(Sao)
Niệm Phật năng nhiếp Nhĩ Căn.
(鈔)念佛能攝耳根。
(Sao:
Niệm Phật có thể bao hàm Nhĩ Căn).
Pháp
môn Niệm Phật có thể bao hàm pháp môn Nhĩ Căn Viên
Thông của Quán Thế Âm Bồ Tát.
(Sao)
Thị cố Nhĩ Căn giả, thử phương
Thích Ca Như Lai sở tán.
(鈔)是故耳根者,此方釋迦如來所讚。
(Sao:
Vì vậy, Nhĩ Căn là pháp được tán thán bởi
Thích Ca Như Lai trong cõi này).
Pháp
được một đức Phật tán thán sẽ
thích ứng cho một khu vực [giáo hóa của chính Ngài],
thích hợp một thời đại, có giới hạn,
có phạm vi [nhất định].
(Sao)
Niệm Phật giả, thập phương hằng sa Như
Lai sở tán.
(鈔)念佛者,十方恆沙如來所讚。
(Sao:
Niệm Phật là pháp được mười
phương hằng sa Như Lai tán thán).
Pháp
này siêu việt thời gian và không gian. Pháp môn này thật sự
chẳng thể nghĩ bàn.
(Sao)
Kim tùng đa tán cố dã.
(鈔)今從多讚故也。
(Sao:
Nay [khuyên khắp mọi người niệm Phật] là thuận
theo pháp được đa số tán thán vậy).
Nay
chúng ta học pháp môn này, chúng ta khuyên trọn khắp mọi
người niệm Phật là do dựa theo sự khuyên dạy
và tán thán của hết thảy chư Phật, có ý nghĩa
như thế đó. Chúng ta hoàn toàn chẳng phạm sai lầm!
(Sao)
Thả kim phổ thiên chi hạ, truy, tố, nam, nữ, tự
nhiên niệm Phật, như tiền văn sở minh đậu
cơ chi quảng, hựu hà nghi tai?
(Diễn)
Nhĩ Căn bất nhiếp niệm Phật, niệm Phật
năng nhiếp Nhĩ Căn giả, nhược luận
pháp môn, Niệm Phật hữu Sự trì, Lý trì. Lý trì tắc
phản Phật tự Phật, tức thị phản
văn tự văn, thị Niệm Phật năng nhiếp
Nhĩ Căn dã. Nhi Nhĩ Căn tắc vô Sự trì chi pháp,
thị Nhĩ Căn bất nhiếp niệm Phật dã.
Nhược luận nhiếp sanh, niệm Phật tắc phổ nhiếp lợi độn
chư căn: Hạ tự địa ngục, quỷ, súc,
du du phàm phu, thượng chí cụ Văn Tư Tu nhập
Tam-ma-địa giả, giai sanh bỉ quốc, thị Niệm
Phật năng nhiếp Nhĩ Căn dã. Nhi Nhĩ Căn
Viên Thông, tắc hạ cơ tuyệt phần, thị
Nhĩ Căn bất nhiếp Niệm Phật dã.
(鈔)且今普天之下,緇素男女,自然念佛,如前文所明逗機之廣,又何疑哉。
(演)耳根不攝念佛。念佛能攝耳根者。若論法門。念佛有事持理持。理持則反佛自佛。即是反聞自聞。是念佛能攝耳根也。而耳根則無事持之法。是耳根不攝念佛也。若論攝生。念佛則普攝利鈍諸根。下自地獄鬼畜悠悠凡夫。上至具聞思修入三摩地者。皆生彼國。是念佛能攝耳根也。而耳根圓通。則下機絕分。是耳根不攝念佛也。
(Sao: Hơn nữa,
nay trọn khắp thiên hạ, tăng, tục, nam, nữ tự
nhiên niệm Phật, như trong phần kinh văn trước
đó đã nói [nguyên do là vì pháp môn này] thích hợp căn
cơ rộng rãi, há còn ngờ chi?
Diễn: “Nhĩ Căn chẳng nhiếp Niệm Phật, Niệm
Phật có thể nhiếp Nhĩ Căn”: Nếu luận
định theo pháp môn, Niệm Phật có Sự trì và Lý trì.
Lý trì là xoay từ đức Phật [bên ngoài để nhận
biết] đức Phật của chính mình, tức là xoay
cái Nghe lại để nghe tự tánh, đấy chính là Niệm
Phật có thể nhiếp Nhĩ Căn. Nhưng môn Nhĩ
Căn chẳng có pháp Sự trì, tức là Nhĩ Căn chẳng
nhiếp Niệm Phật. Nếu luận định theo
phương diện nhiếp độ chúng sanh, Niệm Phật
nhiếp độ trọn khắp các căn lợi và
độn, dưới là từ địa ngục, ngạ
quỷ, súc sanh, phàm phu ngu ngơ, trên là đến bậc
đầy đủ Văn, Tư, Tu, nhập Chánh Định,
đều sanh về cõi ấy. Đó là Niệm Phật có
thể nhiếp Nhĩ Căn; nhưng Nhĩ Căn Viên
Thông thì căn cơ bậc hạ trọn chẳng có phần.
Đấy chính là Nhĩ Căn chẳng nhiếp Niệm Phật
vậy).
“Truy” (緇) là người xuất gia, “tố” (素) là người tại gia, nay
chúng ta nói là tứ chúng đệ tử tại gia và xuất
gia.
(Sao)
Thí thiết nhất dụ, như thử quốc trung, hữu
bách thiên ấp.
(鈔)試設一喻,如此國中,有百千邑。
(Sao:
Thử lập một thí dụ, như trong nước này,
có trăm ngàn ấp).
Dùng
một quốc gia để làm tỷ dụ. Ấp (邑)[2] là
thành thị. “Bách thiên ấp”:
Quốc gia ấy có rất nhiều thành thị, lãnh thổ
của quốc gia ấy rất lớn.
(Sao)
Ư trung, sĩ tử phân tập Ngũ Kinh.
(鈔)於中士子分習五經。
(Sao:
Trong ấy, sĩ tử chia nhau học tập Ngũ Kinh).
“Sĩ” (士) là người đọc
sách. Ngũ Kinh là kinh Dịch, kinh Thư, kinh Thi, Lễ Ký và
Xuân Thu.
(Sao)
Hoặc hữu nhất ấp, sĩ đa tập Thi.
(鈔)或有一邑,士多習詩。
(Sao:
Hoặc có một ấp, sĩ tử phần nhiều học
tập kinh Thi).
Hoặc
là có một khu vực, người đọc sách thích học
kinh Thi.
(Sao)
Hoặc hữu nhất ấp, sĩ đa tập Lễ.
(鈔)或有一邑,士多習禮。
(Sao:
Hoặc có một ấp, sĩ tử phần nhiều học
Lễ Ký).
Trong
một khu vực khác, họ học Lễ Ký.
(Sao)
Sở xưng “đa tập”, cứ bổn ấp cố.
(鈔)所稱多習,據本邑故。
(Sao:
Nói “phần nhiều học tập” là dựa trên ấp
đó).
Ở
trong vùng này, nhiều người học khoa mục ấy,
đó là tánh chất [đặc thù] của vùng này, chẳng
mang tánh chất phổ biến, giống như Văn Thù Bồ
Tát chọn lựa Nhĩ Căn Viên Thông mang tánh chất
địa phương, chẳng mang tánh chất phổ biến.
(Sao)
Như kỳ tham hội chư kinh, thông giảo hợp quốc,
tắc tập chi tối đa, mạc thượng ư Dịch.
(鈔)如其參會諸經,通較合國,則習之最多,莫尚於易。
(Sao: Nếu xét chung
các kinh, so sánh chung cả nước, thì kinh được
học tập nhiều nhất không kinh nào hơn kinh Dịch).
Trong
Ngũ Kinh, kinh Dịch được người đọc
sách ưa thích nhất. Nếu nói theo phạm vi cả
nước, người học kinh Dịch chiếm đại
đa số. Nếu nói theo từng khu vực, có chỗ
thích kinh Thi, có nơi thích Lễ Ký, có nơi chuộng Xuân
Thu[3],
khác nhau!
(Sao)
Kim thử Nhĩ Căn, như Thi, Lễ cố.
(鈔)今此耳根,如詩禮故。
(Sao: Nay pháp Nhĩ
Căn này, như kinh Thi hoặc Lễ Ký [trong thí dụ trên
đây]).
Nó
chiếm đa số trong một khu vực.
(Sao)
Kim thử Niệm Phật, như Châu Dịch cố.
(Diễn)
Kim thử Nhĩ Căn như Thi, Lễ giả, Nhĩ
Căn độc bị thử phương chi cơ, bất
thông dư phương. Như tập Thi, Lễ, cứ nhất
ấp ngôn, phi hợp quốc cố. Kim thử Niệm Phật
như Châu Dịch giả, Niệm Phật thiên đậu
thập phương chi cơ, bất cục nhất
phương, như bỉ Châu Dịch thông hợp quốc
ngôn, phi nhất ấp cố.
(鈔)今此念佛,如周易故。
(演)今此耳根如詩禮者。耳根獨被此方之機。不通餘方。如習詩禮。據一邑言非合國故。今此念佛如周易者。念佛偏逗十方之機。不局一方。如彼周易通合國言非一邑故。
(Sao:
Nay pháp Niệm Phật này giống như Châu Dịch[4] vậy.
Diễn: “Nay pháp Nhĩ Căn này giống như kinh Thi, Lễ
Ký”: Nhĩ Căn chỉ riêng phù hợp căn cơ trong phương
này, chẳng phù hợp những phương khác. Như
người học tập kinh Thi, Lễ Ký là nói theo một
ấp, chẳng phải là xét theo cả nước. “Nay
pháp Niệm Phật như Châu Dịch”: Niệm Phật
riêng thích hợp căn cơ mười phương, chẳng
hạn cuộc trong một phương, giống như
[nói học] Châu Dịch [nhiều nhất] là nói theo cả
nước, chẳng phải là nói theo một ấp).
Nếu
luận định theo cả nước, người học
kinh Dịch nhiều nhất, dùng tỷ dụ này để
sánh ví pháp môn trong Nhĩ Căn Viên Thông Chương là [pháp được
ưa chuộng] trong một khu vực, còn Niệm Phật
Viên Thông là [pháp môn] phổ biến, thông dụng khắp toàn
quốc. Lại lập ra một câu hỏi:
(Sớ)
Vấn: Ký lục phương chư Phật cộng tán Tây
Phương, vân hà Lục Tổ bất tùy Phật tán, phản
tự xích vô, kỳ cố an tại?
(疏)問:既六方諸佛共讚西方,云何六祖不隨佛讚,反似斥無,其故安在?
(Sớ: Hỏi:
Đã nói là sáu phương chư Phật cùng tán thán Tây
Phương, cớ sao Lục Tổ chẳng thuận theo
chư Phật tán dương, mà dường như ngược
ngạo bài xích “chẳng có Tịnh Độ”, nguyên cớ
là vì đâu?)
Lục
Tổ là Huệ Năng đại sư của Thiền
Tông. Vì sao Lục Tổ chẳng thể tùy thuận chư
Phật tán thán Tây Phương, mà ngược lại, trong
ngôn từ dường như có vẻ bài xích Tây
Phương. Vì sao Ngài có loại ngôn luận ấy?
(Sớ)
Đáp: Thử hữu tứ ý.
(疏)答:此有四意。
(Sớ:
Đáp: Chuyện này có bốn ý).
Liên
Trì đại sư giải thích: Chuyện này có bốn ý
nghĩa. Đoạn văn này rất quan trọng, vì có những
kẻ đọc Đàn Kinh bèn chẳng tin tưởng Tịnh
Độ do đã hiểu sai lời Lục Tổ đã
nói trong Đàn Kinh.
(Sớ)
Nhất vị môn bất đồng cố.
(疏)一為門不同故。
(Sớ:
Một là vì pháp môn bất đồng).
Họ
tu hành pháp môn khác biệt.
(Sớ)
Nhị tự hủy thật tán cố.
(疏)二似毀實讚故。
(Sớ: Hai là dường
như hủy báng, nhưng thật ra là tán thán).
Ngài
tợ hồ phê bình Tịnh Độ, trên thực tế
là Ngài tán thán. Lũ bình phàm chúng ta sơ ý, chẳng thể hiểu
ý nghĩa thật sự của Lục Tổ, hiểu lầm
lời nói của Ngài.
(Sớ)
Tam, bất vị sơ cơ cố.
(疏)三不為初機故。
(Sớ:
Ba là [nói như vậy] chẳng vì kẻ sơ cơ).
Đối
tượng tiếp dẫn của Lục Tổ là bậc
thượng thượng căn, chẳng phải là những
kẻ bình phàm.
(Sớ)
Tứ, ký lục hữu ngoa cố.
(疏)四記錄有訛故。
(Sớ: Bốn là ghi
chép có sai lầm).
Có
sai ngoa, lầm lẫn! Vì Lục Tổ Đàn Kinh chẳng
phải do chính Ngài viết. Ngài nói (giảng giải, vấn
đáp), học trò ghi chép lại, ghi chép sẽ chẳng
tránh khỏi phạm sai lầm. Dưới đây, đối
với bốn nguyên nhân bèn giải thích từng điều
một.
(Sao)
Lục Tổ Đàn Kinh vân: “Đông phương nhân tạo
ác, niệm Phật cầu sanh Tây Phương. Tây
Phương nhân tạo ác, niệm Phật cầu sanh hà quốc?”
(鈔)六祖壇經云:東方人造惡,念佛求生西方;西方人造惡,念佛求生何國?
(Sao: Lục Tổ
Đàn Kinh nói: “Người phương Đông tạo ác,
niệm Phật cầu sanh Tây Phương; người Tây
Phương tạo ác, niệm Phật cầu sanh cõi nào?”)
Trong
Đàn Kinh có một đoạn Lục Tổ đại
sư nói như thế.
(Sao)
Hựu vân: “Ngu nhân nguyện Đông, nguyện Tây”.
(鈔)又云:愚人願東願西。
(Sao: Lại nói: “Kẻ
ngu nguyện Đông, nguyện Tây”).
Điều
này có nghĩa là: Quý vị phát nguyện cầu sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới sẽ là kẻ
ngu, chẳng phải là hạng người căn tánh nhạy
bén.
(Sao)
Hậu nhân chấp thử.
(鈔)後人執此。
(Sao: Người
đời sau chấp điều này).
Người
đời sau thấy mấy câu này trong Đàn Kinh, do vậy
bèn chấp trước.
(Sao)
Toại nghi Lục Tổ thuyết vô Tây Phương, cố
vị thử biện.
(鈔)遂疑六祖說無西方,故為此辯。
(Sao:
Bèn nghi Lục Tổ nói “không có Tây Phương”; vì thế,
phải biện định chuyện này).
Mọi
người tưởng Lục Tổ chẳng thừa nhận
có Tây Phương Cực Lạc thế giới, cho nên Liên
Trì đại sư mới có đoạn văn tự này
để biện định, chứng minh.
(Sao) Sơ, vị
môn bất đồng giả, phục hữu nhị
nghĩa: Nhất giả thả cứ Lý Sự nhị môn,
Lục Tổ sở thuyết, thị dĩ Lý đoạt
Sự môn.
(鈔)初為門不同者,復有二義:一者且據理事二門,六祖所說,是以理奪事門。
(Sao: Thứ nhất,
“vì pháp môn khác nhau”, lại có hai nghĩa: Một là xét theo hai
môn Lý và Sự, lời Lục Tổ nói chỉ xét theo Lý, chẳng
xét theo Sự).
Hết
thảy các pháp chẳng ngoài hai môn Lý và Sự, hoặc nói là
hai môn Tánh và Tướng. Tánh là Lý, Tướng là Sự, có
Lý, có Sự. “Dĩ Lý đoạt
Sự môn”: Lục Tổ nói theo Lý, chẳng phải là
nói theo Sự.
(Diễn)
Dĩ Lý đoạt Sự môn giả, Chân Như giới nội
bất lập nhất trần, hữu hà tịnh uế, hà
tất nguyện cầu? Dục hiển Chân Như chi lý, cố
đoạt tịnh, uế, nguyện cầu chi sự, phi
chân vô tịnh, uế, vãng sanh chi sự dã.
(演)以理奪事門者,真如界內不立一塵,有何淨穢,何必願求?欲顯真如之理,故奪淨穢願求之事,非真無淨穢往生之事也。
(Diễn: “Xét theo
phương diện dùng Lý để đoạt Sự”:
Trong Chân Như chẳng lập mảy trần, há có tịnh
hay uế, cần gì phải nguyện cầu? Do muốn hiển
thị lý Chân Như nên chẳng nói đến chuyện tịnh,
uế, nguyện cầu, chứ chẳng phải là thật
sự không có chuyện tịnh, uế, vãng sanh!)
Trong
phần trước của Đàn Kinh, Lục Tổ đã
nói rất rõ ràng: “Vốn chẳng
có một vật”. Có thế giới Tây Phương, há
chẳng phải là có một vật ư? Còn có một vị
A Di Đà Phật, há chẳng phải là có hai vật ư?
Nơi Lý chẳng có, nơi Tánh chẳng có! Chư vị nhất
định phải hiểu đạo lý này: Trong Chân
Như bản tánh, chẳng lập một pháp. “Dục hiển Chân Như chi lý,
cố đoạt tịnh uế, nguyện cầu chi sự”
(Do muốn hiển thị lý Chân Như, nên chẳng nói
đến chuyện tịnh, uế, nguyện cầu). Mục
đích giáo học của Thiền Tông là dạy quý vị
minh tâm kiến tánh. Nếu trong tâm quý vị còn có những
thứ ấy tồn tại, chúng sẽ chướng ngại
quý vị minh tâm kiến tánh. Vì thế, những tri kiến
ấy ắt cần phải đều trừ sạch.
Đó là phương pháp của Thiền Tông. Mục tiêu của
Thiền Tông là khiến cho quý vị minh tâm kiến tánh, cách
nói của Lục Tổ chẳng sai! Trong pháp môn của Ngài
thì nói như vậy. “Phi chân vô
tịnh uế, vãng sanh chi sự” (Chẳng phải thật
sự là không có chuyện tịnh, uế, vãng sanh): Ngài chẳng
nói đến Sự. Người ta nói theo Lý, nói theo tự
tánh thanh tịnh, chẳng bàn luận sự tướng
cùng quý vị.
(Sao)
Nhược dĩ Sự đoạt Lý môn, tắc Phật
sự môn trung, bất xả nhất pháp, an đắc bát vô
Tịnh Độ.
(鈔)若以事奪理門,則佛事門中,不捨一法,安得撥無淨土。
(Sao: Nếu xét theo Sự,
chẳng nói đến Lý, thì trong các Phật sự, chẳng
bỏ một pháp, lẽ nào bác bỏ chẳng có Tịnh
Độ cho được?)
Chúng
ta và Lục Tổ cũng là do pháp môn bất đồng,
pháp môn của Ngài là Lý môn, còn chúng ta đi theo Sự môn.
Nơi Lý, chẳng lập một pháp. Nơi Sự, chẳng
bỏ một pháp. “Phật sự
môn trung, bất xả nhất pháp” (Trong các Phật sự,
chẳng bỏ một pháp), lẽ nào Tịnh Độ chẳng
có cho được? Lẽ nào chẳng có A Di Đà Phật
cho được? Nói theo Sự, hết thảy đều
có; nói theo Lý, hết thảy đều là Không, đạo
lý là như thế đó. Thiền Tông nói “hết thảy đều là Không”, từ Không môn
tiến nhập. Pháp môn này của chúng ta là “hết thảy đều có”, từ Hữu môn tiến
nhập, quyết định là phải tin tưởng có
Tây Phương Cực Lạc thế giới, quyết
định tin tưởng có A Di Đà Phật. Chúng ta từ
Hữu môn tiến nhập, kiến lập từ Sự;
Thiền Tông nói theo Lý, kiến lập từ Tánh. Môn đình
được kiến lập bất đồng!
(Sao)
Nhị giả Tấn, Tống nhi hạ, cạnh dĩ Thiền
Quán tương cao, trực chỉ đơn truyền chi
ý, kỷ ư hối tắc, ư thời Đạt Ma thỉ
xướng, chư Tổ kế hưng, duy dục đại
minh thử đạo, nhi thử đạo vô Phật, vô
chúng sanh.
(鈔)二者晉宋而下,競以禪觀相高,直指單傳之意,幾於晦塞,於時達摩始唱,諸祖繼興,惟欲大明此道,而此道無佛無眾生。
(Sao: Hai là kể từ
thời Tấn, Tống trở đi, [người đời]
đua nhau đề cao Thiền Quán, nhưng đối với
ý chỉ “trực chỉ đơn truyền” [người
học Thiền Quán] gần như mờ mịt [chẳng
thông đạt]. Khi ấy, tổ Đạt Ma khởi
đầu đề xướng, chư Tổ kế tục
chấn hưng [Thiền Tông], chỉ mong sao đạo ấy
được rạng ngời, nhưng trong đạo ấy
chẳng có Phật, chẳng có chúng sanh).
Phật pháp truyền
sang Trung Hoa vào năm Vĩnh Bình thứ mười (67)[5]
đời Hậu Hán, khi ấy vừa đúng lúc Thích Ca Mâu
Ni Phật đã diệt độ một ngàn năm. Thời
kỳ Chánh Pháp của đức Phật đã qua, bắt
đầu Tượng Pháp. Trong kinh, đức Phật
đã tiên đoán: “Thời kỳ
Chánh Pháp, Giới Luật thành tựu; thời kỳ Tượng
Pháp, Thiền Định thành tựu; thời kỳ Mạt
Pháp, Tịnh Độ thành tựu”. Phật giáo truyền
sang Trung Hoa nhằm thời kỳ Tượng Pháp, cho nên tại
Trung Hoa, phong khí Thiền hết sức hưng thịnh,
hưng thịnh hơn một ngàn năm. Kể từ
đời Tấn, Tống trở đi, người học
Phật đều nghĩ Thiền là cao, một mực
tham Thiền. “Trực chỉ
đơn truyền chi ý, kỷ ư hối tắc” (Đối
với ý chỉ trực chỉ đơn truyền gần
như mờ mịt), ai nấy đều tham Thiền,
nhưng Thiền là gì cũng chẳng hiểu rõ, há có thể
thành tựu được ư? Phong khí Thiền hưng thịnh
như thế, người hy vọng học Thiền
đông đảo ngần ấy, nhưng chẳng hiểu
rõ Thiền là gì? Người Hoa có cảm, tổ Đạt
Ma bèn có ứng. Tổ Đạt Ma đến Trung Hoa nhằm
nói rõ đại ý “trực chỉ
đơn truyền”.
(Diễn)
Trực chỉ đơn truyền giả, Thiền Tông trực
chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật, đơn truyền
tâm ấn, bất lập văn tự.
(演)直指單傳者,禪宗直指人心,見性成佛,單傳心印,不立文字。
(Diễn:
“Trực chỉ đơn truyền”: Thiền Tông chỉ
thẳng tâm người, kiến tánh thành Phật, chỉ
truyền tâm ấn, chẳng lập văn tự).
Đây
là tông chỉ nhà Thiền, phương
thức của Thiền và phương thức của Giáo
Hạ hoàn toàn khác nhau. “Bất
lập văn tự” là chẳng chấp trước
văn tự, chẳng phải là không cần đến
văn tự. Trong Đại Tạng Kinh, từ xưa tới
nay, những ngữ lục, trước tác của các tổ
sư, các tác phẩm của Thiền Tông chiếm hơn một
nửa. Thiền chẳng lập văn tự, [thế mà]
văn tự của Thiền nhiều hơn bất cứ
tông nào khác, nhiều gấp mấy lần! “Bất lập” là đừng chấp trước,
hoàn toàn là “ý tại ngôn ngoại”
(ý ở ngoài lời). Không chỉ là chẳng chấp trước
văn tự, mà ngôn ngữ đều chẳng chấp
trước. Hai vị Thiền sư trò chuyện, chúng ta ở
bên cạnh lắng nghe, chẳng hiểu họ đang nói những
gì! Họ đáp chẳng nhằm câu hỏi, quý vị chẳng
hiểu ý họ, ý của họ nằm ngoài ngôn ngữ. Sau
thời Đạt Ma đến Trung Hoa, chư tổ truyền
cho nhau cũng là “trực chỉ”
(chỉ thẳng).
(Diễn)
Thử đạo vô Phật, vô chúng sanh giả, thử
đạo Phật lai dã sát, ma lai dã sát, thượng vô Phật
đạo khả thành, hạ vô chúng sanh khả độ
cố.
(演)此道無佛無眾生者,此道,佛來也殺,魔來也殺,上無佛道可成,下無眾生可度故。
(Diễn: “Trong đạo
ấy, chẳng có Phật, chẳng có chúng sanh”: Trong đạo
ấy, Phật đến cũng giết, ma đến
cũng giết, trên là chẳng có Phật đạo để
có thể thành, dưới là chẳng có chúng sanh để
có thể độ).
Xét
theo pháp môn ấy, Ngài tuyệt đối là chánh xác. Vì sao? Nếu
có Phật, có ma, Phật và ma là hai pháp; hai pháp thì chẳng phải
là Phật pháp! Hai pháp là mê, chẳng phải là giác. Có Phật
đạo, có chúng sanh, đó lại là hai pháp. Trong Đàn
Kinh, khi Lục Tổ và Ấn Tông vừa mới gặp mặt,
Ấn Tông phát hiện Ngài là Lục Tổ, là truyền nhân
của Hoàng Mai Ngũ Tổ. Do vậy, Sư hết sức
hoan hỷ, hết sức lễ kính đối với Ngài,
hướng về Ngài thỉnh giáo: Thông thường,
Ngũ Tổ dạy đại chúng, có nói tới giải
thoát hay không? Có nói tới Thiền Định hay chăng?
Có dạy mọi người những phương pháp ấy
hay chăng? Lục Tổ trả lời: “Thiền Định và giải thoát là hai pháp, Phật
pháp là pháp bất nhị”. Phật và ma là hai pháp, Phật
pháp là pháp bất nhị. Vì thế, chẳng có Phật, mà
cũng chẳng có ma! Chúng sanh và Phật đạo cũng
là hai pháp, Phật pháp có phải là hai pháp hay không? Do vậy
có thể biết: Thiền tâm chân chánh là chân thanh tịnh,
chân bình đẳng, họ hoàn toàn đạt được
viên mãn “thanh tịnh, bình đẳng,
giác” của kinh Vô Lượng Thọ. Tịnh Tông chứng
“thanh tịnh, bình đẳng,
giác” từng phần, Thiền Tông là đốn chứng,
chuyện này rất khó! Nếu người tham Thiền còn
có phân biệt, chấp trước, sẽ chẳng phải
là Thiền, giả trất, chẳng thật. Vì sao? Kẻ ấy
chẳng nhập pháp môn Bất Nhị, vẫn còn rớt
vào hai, ba. Rớt vào hai, ba thì chẳng phải là Thiền,
nói theo Giáo Hạ thì được, ở trong Thiền thì chẳng
thể! Kẻ ấy còn có phân biệt, chấp trước,
tâm kẻ ấy chẳng phải là Thiền tâm. Thiền
tâm quyết định chẳng có phân biệt, chấp
trước. Nếu kẻ ấy còn nói “Thiền cao, Tịnh
không được” thì Thiền và Tịnh là hai pháp, [thế
nhưng] Phật pháp là pháp Bất Nhị. Nói như thế
với kẻ ấy, dùng ngay thí dụ trong Lục Tổ
Đàn Kinh để trả lời kẻ đó là
được rồi, bớt được rất nhiều
rắc rối!
(Sao)
Kim Tây Phương giả, chánh khai thị chúng sanh thú hướng
Phật cố.
(鈔)今西方者,正開示眾生趣向佛故。
(Sao: Nay [pháp môn] Tây
Phương chính là vì khai thị chúng sanh hướng đến
Phật).
Pháp
môn này có Phật, có chúng sanh, còn pháp môn của họ (người
tu Thiền) là pháp môn “chẳng
có Phật, chẳng có chúng sanh”, được kiến
lập trên tự tánh, kiến lập trên Lý. Chúng ta kiến
lập từ Tướng, kiến lập từ Sự, có
Phật, có chúng sanh, khuyên hết thảy chúng sanh niệm Phật
vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới để
thấy A Di Đà Phật, khác nhau! Do pháp môn bất đồng
[nên cách nói sẽ bất đồng], nhất định
phải hiểu rõ ràng.
(Sao)
Thử đạo cử tâm tức thác, động niệm
tức quai.
(鈔)此道舉心即錯,動念即乖。
(Sao: Đạo ấy
hễ khởi tâm bèn lỗi, động niệm bèn sai).
“Thử đạo” (đạo
này) là nói tới Thiền Tông. Trong Thiền, hễ khởi
tâm động niệm bèn sai, chẳng thể khởi tâm
động niệm.
(Sao)
Kim Tây Phương giả, chánh giáo nhân khởi tâm niệm
Phật cố.
(鈔)今西方者,正教人起心念佛故。
(Sao: Nay [pháp môn] Tây
Phương chính là nhằm dạy người ta khởi
tâm niệm Phật).
Pháp
môn này của chúng ta nhằm cổ vũ, khích lệ, khuyên
lơn mọi người khởi tâm động niệm,
niệm A Di Đà Phật. “Khởi
tâm” là phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ, “động niệm” là niệm
Phật, cầu sanh thế giới Cực Lạc. Môn
đình kiến lập khác biệt!
(Sao)
Thử đạo tâm cảnh câu tịch.
(Diễn)
Thử đạo tâm cảnh câu tịch giả, cổ vân:
“Ngoại tức chư duyên, nội tâm vô suyễn. Tâm
như tường bích, khả dĩ nhập đạo”. Hựu
vân: “Xuất tức bất thiệp chúng duyên, nhập tức
bất cư Ấm, Giới đẳng”. (鈔)此道心境俱寂。
(演)此道心境俱寂者。古云。外息諸緣。內心無喘。心如牆壁。可以入道。又云。出息不涉眾緣。入息不居陰界等。
(Sao:
Đạo ấy, tâm lẫn cảnh đều vắng lặng.
Diễn: “Đạo ấy tâm và cảnh đều vắng
lặng”: Cổ nhân nói: “Ngoài thì dứt các duyên, trong thì tâm
chẳng máy động. Tâm như tường vách, có thể
nhập đạo”. Lại nói: “Thở ra chẳng dính dáng các
duyên, hít vào chẳng ở trong Ấm, Giới” v.v…)
“Thử đạo” là nói tới
Thiền Tông, “tâm” là bên trong,
“cảnh” là bên ngoài. Tâm thanh
tịnh, cảnh thanh tịnh, đó là Thiền. Hoàn cảnh
bên ngoài chẳng thanh tịnh, chẳng thanh tịnh là vì tâm
quý vị không thanh tịnh. Nếu tâm quý vị thật sự
thanh tịnh, cảnh giới bên ngoài cũng nhất định
thanh tịnh. Vì sao? Quý vị chẳng có tâm phân biệt, chẳng
có tâm chấp trước, thanh tịnh hoặc chẳng
thanh tịnh là do phân biệt, chấp trước sanh ra.
Lìa khỏi hết thảy phân biệt, chấp trước,
há có thanh tịnh và chẳng thanh tịnh? Hai bên tịnh và bất
tịnh đều bỏ sạch, đó là chân thanh tịnh;
nhưng trong Tịnh Tông, nhiễm và tịnh phân chia rất
rõ ràng. Thế giới Sa Bà của chúng ta là nhiễm, Tây
Phương Cực Lạc thế giới là tịnh.
(Sao)
Kim Tây Phương giả, chánh dĩ Phật quốc vi cảnh,
phát tâm cầu sanh cố.
(鈔)今西方者,正以佛國為境,發心求生故。
(Sao:
Nay [pháp môn] Tây Phương chính là lấy Phật quốc
làm cảnh, phát tâm cầu được sanh về).
Đây
là chỉ rõ chỗ khác nhau cơ bản giữa Thiền và
Tịnh. Đó là sự khác biệt nơi Tướng:
Phương pháp khác nhau, nhưng Lý như nhau. Điều họ
mong cầu là minh tâm kiến tánh, chúng ta mong cầu vãng sanh
Tây Phương. Xét theo điều mong cầu, dường
như khác biệt, chúng ta đến Tây Phương để
làm gì? Đến Tây Phương gặp A Di Đà Phật
bèn minh tâm kiến tánh, giống hệt như họ. Họ
mong minh tâm kiến tánh ở nơi đây, chúng ta chẳng
thể minh tâm, chẳng kiến tánh trong cõi này được,
bèn tới Tây Phương Cực Lạc thế giới,
nương cậy vào sự giúp đỡ và giáo huấn của
A Di Đà Phật để minh tâm kiến tánh trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới. Vì thế, mục
tiêu cuối cùng hoàn toàn giống nhau, nhưng phương
pháp tu hành và đường lối khác nhau.
(Sao)
Thị tuy Lý vô nhị trí, nhi môn đình thi thiết bất
đồng.
(鈔)是雖理無二致,而門庭施設不同。
(Sao:
Tức là xét theo Lý thì chẳng hai, nhưng môn đình kiến
lập khác nhau).
Chúng
ta xét theo Lý thì [Tịnh Độ] giống hệt [như
Thiền], mục tiêu mong cầu cũng là như nhau. “Môn đình thi thiết bất
đồng”: Chúng ta theo cửa ngõ khác biệt để
vào; họ vào từ cửa này, chúng ta tiến vào từ cửa
kia.
(Sao)
Tùy thời trục cơ, pháp tự ưng nhĩ.
(鈔)隨時逐機,法自應爾。
(Sao: Tùy thuộc thời
tiết và căn cơ, pháp đáng nên là như vậy).
Tùy
thuận thời tiết nhân duyên, tùy thuận căn tánh của
hết thảy chúng sanh, tự nhiên là như vậy.
(Sao)
Giả sử tài hoằng trực chỉ, phục tán Tây
Phương, tắc trực chỉ chi ý, chung vô diêu minh hỹ.
(鈔)假使纔弘直指,復讚西方,則直指之意,終無繇明矣。
(Sao: Giả sử vừa
mới hoằng truyền pháp Trực Chỉ, lại ca ngợi
Tây Phương thì ý chỉ Trực Chỉ trọn chẳng
thể do đâu mà tỏ rạng được).
Đối
với một người thuộc Thiền Tông, nhấn mạnh
“tâm và cảnh đều vắng
lặng, chẳng sanh một niệm”, nếu lại
khuyên kẻ ấy niệm Phật cầu sanh Tây
Phương, sẽ phá hoại cái tâm thanh tịnh của kẻ
đó, làm sao có thể làm như vậy được? Trực
Chỉ là minh tâm kiến tánh, điều này đã bị phá
hoại. Cùng một đạo lý giống y hệt, hoằng
dương pháp môn Tịnh Độ, nhất định
là khuyên mọi người: Khẳng định là thật
sự có Tây Phương Cực Lạc thế giới. Kinh
Di Đà dạy: “Qua khỏi
mười vạn ức cõi Phật, có một thế giới
tên là Cực Lạc”. Có [cõi ấy]! “Cõi ấy có Phật hiệu Di Đà”, khẳng
định như vậy, có! Thiền Tông là chẳng có,
chúng ta có! Chúng ta nói theo Sự, thật sự có! Môn đình
khác nhau, giáo học Thiền Tông và giáo học Tịnh Độ
khác nhau. Chúng ta nhất định phải hiểu đạo
lý này.
Làm
một vị pháp sư, làm một vị thiện tri thức,
tham học trong hết thảy các đạo tràng, phải
hiểu điều thường thức này. Tôi là một
người tu Di Đà Tịnh Độ, hễ tôi tham phỏng
đạo tràng Thiền Tông, nhất định là cực
lực khen ngợi Thiền, trọn chẳng nhắc đến
Tịnh Độ. Hễ nhắc đến Tịnh Độ,
sẽ phá hoại ý niệm của họ. Trong quá khứ,
tôi đến thăm chùa Bảo Lâm tại Đại Dữ
Sơn[6],
Hương Cảng, đó là đạo tràng của pháp
sư Thánh Nhất, là đạo tràng Thiền Tông. Thiền
Đường của họ mỗi ngày đều tuân
theo quy củ tọa hương, có bốn mươi mấy
người, rất khó có, quy củ rất nghiêm. Pháp sư
Thánh Nhất mời tôi đến Thiền Đường
khai thị, kết duyên với mọi người. Tôi hoàn
toàn chẳng thể khuyên họ niệm Phật, [nếu
khuyên họ], chẳng phải là đã hoàn toàn phá hoại
công phu của họ ư? May là tôi còn có mấy câu Khẩu
Đầu Thiền có thể ứng phó, tán thán họ. Họ
hỏi tôi: “Thưa pháp sư! Thầy đã tán thán Thiền
Tông dường ấy, sao chẳng tham Thiền mà lại
niệm Phật?” Tôi thật thà đáp lời: “[Để
tu] Thiền phải là người thượng căn, tôi
là kẻ hạ hạ căn”. Đề cao họ, các ông là
thượng thượng căn, tôi là kẻ hạ hạ
căn. Ở Tân Gia Ba, tôi đến thăm đạo tràng
của pháp sư Diễn Bồi. Đạo tràng của
ngài Diễn Bồi tu Di Lặc Tịnh Độ, tôi tu Di
Đà Tịnh Độ, khác nhau. Mục đích của họ
là trong tương lai sanh lên trời Đâu Suất, thân cận
Di Lặc Bồ Tát; còn chúng ta đến Tây Phương Cực
Lạc thế giới thân cận A Di Đà Phật. Sư
đã dạy tại đó hơn hai mươi năm, tôi
chẳng thể khuyên mọi người niệm A Di Đà
Phật. Vì thế, đến đạo tràng của Sư,
tôi phải đặc biệt ca ngợi Di Lặc Bồ
Tát. Đấy là quy củ, nhất định phải biết.
Họ đang học gì, chúng ta nhất định phải
tán thán pháp môn ấy, phải khiến cho họ sanh tâm hoan hỷ,
phải khiến cho họ tăng trưởng tín tâm đối
với pháp môn ấy, chúng ta giúp đỡ họ. Quyết
định chớ nên phá hoại đạo tràng, chớ
nên phá hoại sự tu học của chúng sanh. Họ đã
tu nhiều năm ngần ấy, nếu khiến cho họ
nghi hoặc, nếu khiến cho tâm địa của họ
lay động, tội lỗi đó to lắm! Phật môn
có một câu tục ngữ: “Ninh
động thiên giang thủy, bất động đạo
nhân tâm” (Thà động nước ngàn sông, chẳng
động tâm người tu đạo). Nếu quý vị
phá hoại tín niệm của người tu đạo, tội
lỗi ấy quá nặng!
(Sao)
Cố Lục Tổ dữ Tịnh Độ chư sư,
dịch địa tắc giai nhiên dã.
(Diễn)
Dịch địa tắc giai nhiên giả, Lục Tổ xử
Tịnh Độ chư sư chi thời, Lục Tổ diệc
tán Tây Phương. Tịnh Độ chư sư xử Lục
Tổ thời, Tịnh Độ chư sư diệc
đơn hoằng trực chỉ hỹ.
(鈔)故六祖與淨土諸師,易地則皆然也。
(演)易地則皆然者。六祖處淨土諸師之時。六祖亦贊西方。淨土諸師處六祖時。淨土諸師亦單弘直指矣。
(Sao: Vì thế, Lục
Tổ và các sư Tịnh Độ, nếu đổi chỗ
cho nhau thì đều cũng vậy.
Diễn: “Nếu đổi chỗ cho nhau thì đều
cũng vậy”: Lục Tổ sống vào thời của
các sư Tịnh Độ, Lục Tổ cũng khen ngợi
Tây Phương. Các sư Tịnh Độ ở vào thời
Lục Tổ thì các sư Tịnh Độ cũng chỉ
hoằng truyền Trực Chỉ vậy).
Nếu
thay đổi địa vị để xử sự, biểu
hiện sẽ đều giống hệt như nhau. Chúng
ta lại xem đoạn thứ hai:
(Sao)
Nhị tự hủy thật tán giả.
(鈔)二似毀實讚者。
(Sao: Hai là dường
như hủy báng, nhưng thật ra là tán thán).
“Tự” (似) là dường như. Lời
lẽ của Lục Tổ dường như báng bổ Tịnh
Độ; trên thực tế là tán thán Tịnh Độ. Kẻ
hời hợt sẽ chẳng nghe ra!
(Sao)
Lục Tổ Đông Tây chi thuyết.
(鈔)六祖東西之說。
(Sao: Lục Tổ nói
Đông, nhắc Tây).
Lục
Tổ nói tới phương Đông, phương Tây.
(Sao)
Kỳ thị khuyến nhân yếu tu thật tâm vi thiện,
không nguyện vô ích, hà tằng thuyết vô Tây Phương.
(鈔)祇是勸人要須實心為善,空願無益,何曾說無西方。
(Sao: Ngài chỉ là
khuyên người khác cần phải thật tâm làm lành, [đừng]
nguyện suông, vô ích, chứ Ngài có bao giờ nói “không có Tây
Phương”?)
Lục
Tổ chẳng phủ định Tây Phương, hoàn toàn
chẳng phải là Ngài không thừa nhận có Tây
Phương tồn tại, Ngài chẳng nói kiểu ấy.
Dụng ý của Ngài là khuyên người khác hãy nghiêm túc tu
hành. Nếu chẳng phải là chân tâm tu tập, chỉ nguyện
suông, sẽ chẳng đạt được lợi ích.
Nguyện thì nhất định là phải dùng hạnh
để thực hiện nguyện, nhất định là
phải thực tiễn, có công phu thì mới được.
(Sao)
Dụ như Khổng Tử sanh ư Đông Lỗ.
(鈔)喻如孔子生於東魯。
(Sao:
Ví như Khổng Tử sanh tại Đông Lỗ).
Đây
là tỷ dụ. Khổng Tử sanh ở nước Lỗ[7],
nay thuộc về tỉnh Sơn Đông.
(Sao)
Kim hữu nhân ngôn: Tề nhân tạo ác, mộ Khổng Tử
cầu cư Lỗ bang.
(鈔)今有人言:齊人造惡,慕孔子求居魯邦。
(Sao:
Nay có kẻ nói: Người nước Tề tạo ác, kẻ
hâm mộ Khổng Tử bèn cầu sống tại nước
Lỗ).
Khổng
lão phu tử đức cao vọng trọng. Ngài ở
nơi đâu, nhân dân nơi đó được Ngài giáo
hóa, ai nấy đều giữ lễ, đều hết sức
thiện lương, xã hội thuần phác, nhân dân đều
an cư lạc nghiệp. Nước Tề[8] ở
phía Bắc tỉnh Sơn Đông, nước Lỗ ở
phía Nam tỉnh Sơn Đông, Lỗ là một nước
nhỏ. Giả sử có người nói như thế này:
Người sống ở nước Tề tạo ác, nay
chúng ta nói là “xã hội chẳng an định”, bèn hâm mộ
sự giáo hóa của Khổng Tử, di cư sang nước
Lỗ, thân cận Khổng lão phu tử.
(Sao)
Lỗ nhân tạo ác, mộ Khổng Tử cầu cư hà
quốc?
(鈔)魯人造惡,慕孔子求居何國。
(Sao: Người
nước Lỗ tạo ác, kẻ hâm mộ Khổng Tử
bèn cầu sống ở nước nào?)
Ý nghĩa này từa
tựa như khi Lục Tổ nói phương Đông,
phương Tây. Nếu người nước Lỗ tạo
ác, kẻ hâm mộ Khổng Tử làm như thế nào? Họ
đến nơi đâu?
(Sao)
Cái vị vi thiện thị chân học Trọng Ni, hà tằng
thuyết vô Đông Lỗ?
(鈔)蓋謂為善是真學仲尼,何曾說無東魯?
(Sao:
Đấy là nói “làm lành” chính là thật sự học theo
ngài Trọng Ni, chứ có bao giờ nói là không có nước
Đông Lỗ?)
Trọng
Ni[9] là
biệt hiệu của Khổng lão phu tử. Thật sự
học theo Khổng Tử chính là học theo đức hạnh
của Khổng Tử.
(Sao)
Lục Tổ thử ngôn, chánh kinh trung tất dĩ đa
thiện căn đắc sanh bỉ quốc chi vị dã, ô[10] đắc vân hủy?
(鈔)六祖此言,正經中必以多善根得生彼國之謂也,惡得云毀?
(Sao: Lời ấy của
Lục Tổ chính là như kinh đã nói: “Ắt là do nhiều
thiện căn bèn được sanh về cõi ấy”. Há
nên bảo là hủy báng?)
Không
thể nói Lục Tổ hủy báng Tịnh Tông, Lục Tổ
chẳng hủy báng Tịnh Tông. Lục Tổ nói lời ấy
nhằm khuyên làm lành, mục đích ở chỗ này. Tợ
hồ hủy báng, nhưng trên thực tế là Ngài tán thán.
(Sao)
Tam, bất vị sơ cơ giả.
(鈔)三不為初機者。
(Sao: Ba là chẳng vì
hàng sơ cơ).
Điều
này cũng hết sức quan trọng.
(Sao)
Lục Tổ tự vân: “Ngô Giới, Định, Huệ tiếp
tối thượng thừa nhân”.
(鈔)六祖自云:吾戒定慧接最上乘人。
(Sao:
Lục Tổ tự nói: “Giới, Định, Huệ của
ta nhằm tiếp độ người thuộc căn
cơ tối thượng thừa”).
Điều
này được nói trong Đàn Kinh. Đối tượng
giáo hóa của Lục Tổ là “tối
thượng thừa nhân”. Nói cách khác, kẻ căn tánh
Đại Thừa đều chẳng có cách nào dự vào
hàng môn đệ của Ngài, phải là bậc tối
thượng thừa đến chỗ Ngài thì mới có lợi
ích. Giống như trong nhà trường, Ngài mở lớp
dành cho Tiến Sĩ, kẻ có trình độ Tiểu Học
hoặc Trung Học chẳng thể theo học được,
có ý nghĩa này!
(Sao)
Kim sơ tâm hạ phàm, dĩ thu hào thế trí, miểu thị
Tây Phương, vọng đàm Bát Nhã, phi đồ vô ích,
nhi hựu hại chi!
(鈔)今初心下凡,以秋毫世智,藐視西方,妄談般若,非徒無益,而又害之。
(Sao: Nay kẻ sơ
tâm, phàm phu căn tánh bậc hạ, cậy vào cái trí thế
gian bé tí như mảy lông mùa Thu mà rẻ rúng Tây
Phương, bàn xằng Bát Nhã, chẳng phải là chỉ uổng
công vô ích, mà lại còn có hại).
Kẻ
sơ học trí huệ rất nông cạn, chẳng nhận
thức rõ ràng. Cổ nhân chẳng giảng kinh Bát Nhã cho kẻ
sơ học, mà cũng chẳng giảng Đàn Kinh. Vì sao?
Họ sẽ hiểu cong vạy ý nghĩa của các kinh
sách ấy, không chỉ là vô ích mà còn hại cả một đời
họ! Đó gọi là “điều
gì được tiếp xúc đầu tiên, sẽ trở
thành [tri kiến] chánh yếu”, đạo lý ở chỗ
này.
(Sao)
Cố Đàn Kinh giả, thận vật thị chi sơ
cơ. Cẩu đầu phi khí, tiện lạc cuồng ma,
thành khả thán tích.
(鈔)故壇經者,慎勿示之初機,茍投非器,便落狂魔,誠可歎惜。
(Sao: Vì thế, hãy cẩn
thận đừng dạy Đàn Kinh cho kẻ sơ
cơ. Nếu cẩu thả dạy [kinh ấy cho] những
kẻ căn cơ chẳng thích hợp, họ sẽ bị
đọa lạc, trở thành cuồng ma, thật đáng
than tiếc).
Đối
với Đàn Kinh, kinh Kim Cang, hoặc các kinh thuộc loại
giống như kinh Bát Nhã, cổ nhân đối với hàng
sơ học hết sức thận trọng, chẳng
đàm luận những kinh luận ấy với kẻ
sơ học. Hiện thời, vừa học Phật bèn
ngay lập tức học kinh Bát Nhã hoặc Lục Tổ
Đàn Kinh, học rồi kẻ nào cũng là cuồng vọng,
là ma, chẳng phải là Phật. Kiêu căng, ngã mạn,
khinh thường Giáo Hạ, coi rẻ Tịnh Độ, tự
nghĩ là đã thành Phật, hoặc thành Bồ Tát, chẳng
biết tương lai bị đọa lạc, đúng là
đáng thương, đáng xót!
(Sao)
Tứ, ký lục hữu ngoa giả.
(鈔)四記錄有訛者。
(Sao:
Bốn là biên chép có sai lầm).
Có
sai lạc, lầm lẫn.
(Sao)
Đàn Kinh hựu ngôn: “Tây Phương khứ thử thập
vạn bát thiên lý”. Thị thác dĩ Ngũ Thiên Trúc đẳng
vi Cực Lạc dã.
(鈔)壇經又言:西方去此十萬八千里。是錯以五天竺等為極樂也。
(Sao: Đàn Kinh lại
nói: “Tây Phương cách đây mười vạn tám ngàn dặm”.
Tức là đã lầm lẫn coi Ngũ Thiên Trúc như là Cực
Lạc”).
Mười
vạn tám ngàn dặm là từ Trung Hoa đến Ấn
Độ, nói theo lộ trình ấy. Kinh Di Đà dạy Tây
Phương Cực Lạc thế giới cách chúng ta mười
vạn ức cõi Phật, chẳng phải là mười vạn
tám ngàn dặm. Ngũ Thiên Trúc là năm xứ Ấn Độ.
Coi Ấn Độ là Tây Phương Cực Lạc thế
giới, hiển nhiên là do biên chép sai lầm.
(Sao)
Ngũ Thiên, Chấn Đán.
(鈔)五天震旦。
(Sao:
Ngũ Thiên Trúc, Chấn Đán).
Ngũ Thiên là
Ngũ Thiên Trúc[11].
Khi ấy, Ấn Độ chia thành năm bộ phận là
Đông, Nam, Tây, Bắc, và Trung. Ngũ Thiên Trúc chính là Ấn
Độ hiện thời. Chấn Đán là Trung Hoa, vì Trung
Hoa ở phía Đông của đại lục châu Á.
Phương Đông thuộc về quẻ Chấn, mặt
trời mọc từ phía này, nên gọi là xứ Chấn
Đán.
(Sao
Đồng vi Sa Bà uế độ.
(鈔)同為娑婆穢土。
(Sao:
Cùng là Sa Bà uế độ).
Ấn
Độ và Trung Hoa đều thuộc vào thế giới
Sa Bà, đều là uế độ, đều chẳng phải
là Tịnh Độ.
(Sao)
Hà tu phân biệt, nguyện Đông, nguyện Tây?
(鈔)何須分別,願東願西。
(Sao: Cần gì phải
phân biệt, nguyện Đông, nguyện Tây?)
Đông
và Tây chẳng khác nhau.
(Sao)
Nhi Cực Lạc tự khứ thử Sa Bà thập vạn
ức độ, cái Đàn Kinh giai học nhân ký lục,
ninh bảo vô ngoa!
(鈔)而極樂自去此娑婆十萬億土,蓋壇經皆學人記錄,寧保無訛。
(Sao: Nhưng Cực Lạc
cách Sa Bà mười vạn ức cõi Phật! Do Đàn Kinh
toàn là do học trò ghi chép, làm sao bảo đảm không sai lầm
cho được).
Đàn
Kinh là bút ký của học trò Lục Tổ đại
sư, khó đảm bảo chẳng có chỗ bị ghi
sai. Điều này có thể là do ghi chép sai lầm.
(Sao)
Bất nhiên, tắc tá thử chi Tây Vực, dĩ dụ bỉ
chi Tây Phương nhĩ.
(鈔)不然,則借此之西域,以喻彼之西方耳。
(Sao: Nếu chẳng phải vậy, thì chính là mượn
xứ Tây Vực trong cõi này để tỷ dụ Tây
Phương trong cõi kia vậy).
Nếu
chẳng vậy thì chính là mượn xứ Ấn Độ
để tỷ dụ Tây Phương Cực Lạc thế
giới, có ý nghĩa ấy.
(Sao)
Cổ vị tận tín thư, bất như vô thư giả,
thử dã.
(鈔)古謂盡信書,不如無書者,此也。
(Sao:
Cổ nhân nói “hoàn toàn tin vào sách, chẳng bằng không có
sách” chính là ý này).
Vì
thế, chúng ta đọc sách phải có trí huệ. Đức
Phật dạy chúng ta “y
nghĩa, bất y ngữ”, [nghĩa là] nương theo ý
nghĩa trong kinh, chớ nên chấp trước văn tự,
ngôn ngữ; đó là đúng. Vì thế, hoàn toàn tin tưởng
sách, chẳng bằng không có sách!
(Sao) Huống Tây
Phương thiên Phật sở tán, kim nãi nghi thiên Phật
chi ngôn, tín nhất tổ chi ngữ, Phật thượng bất
túc tín, huống ư tổ hồ?
(鈔)況西方千佛所讚,今乃疑千佛之言,信一祖之語,佛尚不足信,況於祖乎。
(Sao: Huống chi Tây
Phương được ngàn vị Phật khen ngợi.
Nay bèn nghi lời của ngàn vị Phật, tin lời của
một vị Tổ! Phật mà còn chẳng đáng tin, huống
là Tổ ư?)
“Ngàn” chẳng phải là một
con số, mà là biểu thị pháp, biểu thị mười
phương thế giới vô lượng vô biên chư Phật
đều tán thán bộ kinh này, đều tán thán pháp môn
này. Quý vị chẳng tin lời hết thảy chư Phật,
mà tin lời một vị tổ sư. Lỗi lầm này,
những kẻ bình phàm chúng ta đều có thể thông hiểu!
Cũng cùng vào thời Đường, Thiện Đạo
đại sư sống vào thời đại sớm
hơn Lục Tổ đôi chút, Ngài sanh trước Lục
Tổ[12], đại khái là
đã sớm biết những nỗi nghi hoặc được
nhắc tới trong Đàn Kinh. Trong phần chú giải cho
chương Thượng Phẩm Thượng Sanh của
kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, Ngài đã nói rất
rõ ràng: Dẫu là A La Hán, Bồ Tát, Địa Thượng
Bồ Tát, hoặc Đẳng Giác Bồ Tát vì chúng ta thuyết
pháp mà chẳng tương ứng với kinh điển,
chúng ta thảy đều chớ nên tiếp nhận. Vì sao?
Chúng ta phải tin lời Phật. Trí huệ của Bồ
Tát chẳng viên mãn, còn kém Phật một bậc. Chúng ta phải
tin tưởng Phật, chớ nên tin tưởng Bồ
Tát. Nếu chư Phật đến trước mặt
chúng ta, đều nói “chẳng có Tây Phương Tịnh
Độ”, [nói kiểu ấy] chẳng tương ứng
với kinh này, nói chẳng giống như lời Thích Ca Mâu
Ni Phật đã dạy; [vậy thì] vị Phật ấy
chẳng phải là Phật thật sự, đại khái
là yêu ma quỷ quái biến thành một vị Phật giả!
Lời dạy của một vị Phật thật sự
quyết định sẽ giống hệt [lời dạy
của Phật Thích Ca]. Lục Tổ là tổ sư của
Thiền Tông, chỉ là một vị Pháp Thân đại
sĩ mà thôi, Ngài đâu có phải là Phật. Mấy câu
dưới đây hết sức quan trọng!
(Sao)
Minh trí giả.
(鈔)明智者。
(Sao: Kẻ
trí sáng).
Một
người hiểu rõ, thông đạt rõ ràng, có trí huệ.
(Sao)
Đương vi thế nhân quyết nghi khởi tín.
(鈔)當為世人決疑起信。
(Sao:
Hãy nên dứt nghi, khởi phát tín tâm cho người đời).
Quý
vị thông minh, có trí huệ, hiểu rõ chân tướng sự
thật, hãy nên giúp người đời đoạn nghi
sanh tín.
(Sao)
Tại tại xứ xứ, hoằng tán lưu thông.
(鈔)在在處處,弘讚流通。
(Sao: Nơi nơi chốn
chốn, hoằng dương, tán thán, lưu thông).
Hết
thảy lúc, hết thảy chỗ, nhất định là
phải hoằng dương, tán thán Tịnh Độ. Quý
vị có thể làm như vậy:
(Sao)
Tức thị đại chư Phật xuất quảng
trường thiệt, tức thị báo Phật thâm ân.
(鈔)即是代諸佛出廣長舌,即是報佛深恩。
(Sao: Tức là thay
chư Phật hiện tướng lưỡi rộng dài,
chính là báo ân sâu của Phật).
Quý
vị làm theo kiểu ấy chắc chắn là chánh xác. Ở
đây, Liên Trì đại sư phó chúc, khuyến khích chúng ta,
mà cũng là niềm kỳ vọng không chi lớn hơn
đối với chúng ta.
(Sao) Như kỳ vi bội
thánh ngôn, cố vi ma thuyết, kỳ vi tội dã, hà khả
ngôn tận!
(鈔)如其違背聖言,故為魔說,其為罪也,何可言盡。
(Sao: Nếu trái nghịch
thánh ngôn, sẽ là ma thuyết, sẽ gây tội chẳng sao
nói hết cho được).
Nếu
chúng ta trái nghịch ý nghĩa của hết thảy chư
Phật, hiểu cong vạy ý nghĩa của tổ sư,
nói “chẳng có Tây Phương Tịnh Độ, Tây
Phương Tịnh Độ là giả thiết, chẳng
phải là chân thật”, hoặc nói “Tây Phương Tịnh
Độ chẳng phải là rốt ráo”, khuyên kẻ khác chớ
nên tu hành, tội lỗi ấy nặng lắm! Trong đời
này, người ấy gặp gỡ cơ duyên này, có thể
liễu sanh tử, thoát tam giới, quý vị ngay lập tức
ngăn chặn, kéo ngược kẻ ấy lại. Tội
lỗi ấy nặng lắm! Hết thảy các tội
nghiệp đã tạo trong thế gian chẳng có gì nặng
hơn tội này! Giết người, đoạn thân mạng
của người ta, sau bốn mươi chín ngày, người
ấy lại đầu thai, cho nên tội đoạn dứt
thân mạng của người khác còn nhỏ! Tội này là
tội đoạn Pháp Thân huệ mạng của kẻ
khác, tội ấy nặng lắm! Chỉ có kẻ ngu si mới
tạo tội nghiệp này. Người thật sự có
trí huệ quyết định chẳng tạo tội nghiệp
này.
(Sao) Kim dĩ dụ minh.
(鈔)今以喻明。
(Sao:
Nay dùng tỷ dụ để nêu rõ).
Nêu
tỷ dụ.
(Sao)
Ư thử hữu nhân, nhật xuất vạn ngôn.
(鈔)於此有人,日出萬言。
(Sao: Ở nơi
đây có kẻ mỗi ngày thốt ra một vạn lời).
Nói
nhiều lắm! Mỗi ngày nói tới một vạn câu!
(Sao)
Dĩ báng vạn Phật.
(鈔)以謗萬佛。
(Sao:
Để hủy báng một vạn vị Phật).
Hủy
báng hết thảy các vị Phật.
(Sao)
Tích mãn thiên tuế, thị nhân tội nghiệp, vô lượng
vô biên.
(鈔)積滿千歲,是人罪業,無量無邊。
(Sao: Trọn một
ngàn năm, tội nghiệp của kẻ ấy vô lượng
vô biên).
Đây
là nói một kẻ mỗi ngày chửi một vạn tiếng,
chửi hết thảy chư Phật, lại còn chửi
suốt một ngàn năm, tội lỗi ấy rất nặng.
(Sao)
Nhi phục hữu nhân xuất nhất ác ngôn, trở nhân niệm
Phật.
(鈔)而復有人出一惡言,阻人念佛。
(Sao: Lại có kẻ
thốt một lời nói ác, ngăn trở người
khác niệm Phật).
Có
một kẻ khác, chỉ nói một câu, bảo người
khác là “chẳng có Tịnh Độ, chẳng có Tây
Phương”, ngăn trở người khác niệm Phật
cầu sanh Tịnh Độ.
(Sao)
Thị nhân tội nghiệp, quá ư tiền nhân bách thiên vạn
bội, nãi chí vô toán.
(鈔)是人罪業,過於前人百千萬倍,乃至無算。
(Sao: Tội nghiệp
của kẻ đó vượt hơn người trước
trăm ngàn vạn lần, cho đến chẳng thể
tính toán được).
Người
ấy tội lỗi nặng hơn người trước
trăm ngàn vạn lần!
(Sao)
Hà dĩ cố? Vi trần chư Phật, tán thán Tây
Phương, duy dục nhân nhân thành Phật.
(鈔)何以故?微塵諸佛,讚歎西方,惟欲人人成佛。
(Sao: Vì lẽ nào? Vi trần
chư Phật tán thán Tây Phương chỉ vì mong cho ai nấy
đều thành Phật).
Đấy
mới là bổn nguyện độ sanh của chư Phật.
Tâm nguyện của hết thảy chư Phật là mong mỏi
hết thảy chúng sanh mau chóng thành Phật. Quyết định
chớ nên ngăn trở kẻ khác thành Phật.
(Sao) Nhữ độc sanh báng, tức thị
biến báng vi trần Như Lai, hãm hại chúng sanh, thường
trầm khổ hải, bất đắc thành Phật, cố
tội như thị, kỳ thận từ tai!
(鈔)汝獨生謗,即是遍謗微塵如來,陷害眾生,常沉苦海,不得成佛,故罪如是,其慎辭哉。
(Sao: Chỉ
riêng ngươi sanh lòng báng bổ, tức là đã hủy
báng trọn khắp vi trần Như Lai, hãm hại chúng sanh
thường bị chìm trong biển khổ, chẳng
được thành Phật, cho nên tội như vậy
đó. Ăn nói hãy thận trọng nhé!)
Đối
với ngôn ngữ, lời lẽ, chúng ta chẳng thể
không cẩn thận, tuyệt đối chớ nên báng Phật,
báng Pháp. Ví như in kinh sách, cuối sách lại in “giữ sở hữu bản quyền,
in lại sẽ bị truy cứu trách nhiệm”. Đó
là hủy báng Tam Bảo, tội nghiệp quá nặng. Hôm nay
chúng tôi giảng đến chỗ này!
Tập
268
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang năm trăm năm
mươi sáu:
(Sớ)
Xứng Lý, tắc tự tánh biến chiếu, thị lục
phương Phật tán nghĩa.
(疏)稱理,則自性遍照,是六方佛讚義。
(Sớ:
Xứng Lý thì tự tánh chiếu trọn khắp chính là ý
nghĩa sáu phương Phật tán thán).
Chúng
ta xem đại sư chú giải:
(Sao)
Linh quang độc diệu, huýnh tuyệt trung biên, chân chiếu
vô tư, hà phân bỉ thử? Cố đắc nhất
đa vô ngại, chủ bạn giao thành. Vô ngại, tắc
thiên sai tuy cách nhi phi thù. Giao thành, tắc vạn pháp bất
kỳ nhi tự hội. Nhiên tắc lục phương bất
ly ư chỉ xích, chư Phật tất hiện ư hào
đoan, kim giả thử kinh, đương tại hà xứ?
(Diễn)
Linh quang độc diệu nhị cú, linh quang đối vọng
thức ngôn, vọng thức tức bát thức chi quang. Bát
thức các duyên tự cảnh, cố bất ly trung biên dã. Linh
quang tức chân tánh chi quang. Chân tánh tuyệt hồ đối
đãi, cố huýnh tuyệt trung biên. Chân chiếu vô tư nhị
cú, chân chiếu đối vọng chiếu ngôn. Vọng chiếu
tức lục thức chi chiếu. Lục thức đối
cảnh chi chiếu. Cố bất ly bỉ thử. Chân chiếu
tức tự thể chi chiếu, tự thể bổn vô
năng sở, cố viết bất phân bỉ thử. Huýnh
tuyệt trung biên, cố nhất Phật tức đa Phật,
đa Phật tức nhất Phật, nhất đa vô hữu
chướng ngại. Dĩ nhất
đa tận vọng thức phân biệt, linh quang phi vọng
thức cố. Hà phân bỉ thử? Cố Di Đà chủ
tức chư Phật bạn, chư Phật bạn tức
Di Đà chủ. Chủ bạn giao tương thành tựu,
dĩ chủ bạn giai vọng chiếu an lập,
chân chiếu vô chủ bạn cố. Vô ngại, tắc
thiên sai tuy cách nhi phi thù. Như đế võng thiên châu trùng trùng
thiệp nhập cố. Giao thành, tắc vạn pháp bất
kỳ nhi tự hội. Như vạn tượng sâm la bất
ly thái hư không cố.
(鈔)靈光獨耀,迥絕中邊,真照無私,何分彼此,故得一多無礙,主伴交成。無礙,則千差雖隔而非殊;交成,則萬法不期而自會。然則六方不離於咫尺,諸佛悉現於毫端,今者此經,當在何處。
(演)靈光獨耀二句。靈光對妄識言。妄識即八識之光。八識各緣自境。故不離中邊也。靈光即真性之光。真性絕乎對待。故迥絕中邊。真照無私二句。真照對妄照言。妄照即六識之照。六識對境之照。故不離彼此。真照即自體之照。自體本無能所。故曰不分彼此。逈絕中邊故一佛即多佛。多佛即一佛。一多無有障礙。以一多盡妄識分別。靈光非妄識故。何分彼此故彌陀主即諸佛伴。諸佛伴即彌陀主。主伴交相成就。以主伴皆妄照安立。真照無主伴故。無礙。則千差雖隔而非殊。如帝網千珠重重涉入故。交成。則萬法不期而自會。如萬象森羅不離太虛空故。
(Sao: Linh quang riêng chiếu,
dứt sạch chính giữa và hai bên, chân thật chiếu
khắp, chẳng riêng tư, há phân chia đây đó? Vì thế,
đạt được một và nhiều vô ngại, chủ
và bạn thành tựu lẫn nhau. Do vô ngại cho nên [vạn
pháp] sai khác ngàn phần, dẫu cách biệt nhưng chẳng
khác nhau. Do thành tựu lẫn nhau, nên muôn pháp chẳng hẹn
mà tự hợp lại. Vì thế, sáu phương chẳng
lìa gang tấc, chư Phật ắt hiện trong đầu
sợi lông, vậy thì nay kinh này sẽ ở nơi đâu?
Diễn: Đối với hai câu “linh quang độc diệu”,
linh quang là do so với vọng thức mà nói. Vọng thức
chính là quang minh của tám thức. Mỗi thức trong tám thức
duyên với cảnh của riêng nó, cho nên chúng chẳng thể
lìa khỏi chính giữa và hai bên. Linh quang là quang minh của
chân tánh; chân tánh dứt bặt đối đãi, nên dứt
sạch chính giữa và hai bên. Đối với hai câu “chân
chiếu vô tư” (chân thật chiếu khắp, chẳng
riêng tư), chân chiếu là nói đối ứng với vọng
chiếu. Vọng chiếu chính là tác dụng Chiếu của
sáu thức. Sáu thức do đối ứng với cảnh
mà phát khởi tác dụng Chiếu. Vì thế, nó chẳng thể
lìa khỏi đây và kia. Chân chiếu là tác dụng Chiếu
của tự thể. Tự thể vốn chẳng có
Năng và Sở, cho nên chẳng phân chia đây và kia. Do tuyệt
dứt chính giữa và hai bên nên một Phật chính là nhiều
Phật, nhiều Phật chính là một Phật. Một và
nhiều chẳng có chướng ngại; bởi lẽ, một
và nhiều hoàn toàn là do vọng thức phân biệt. Linh
quang chẳng phải là vọng thức, nên há có phân chia
đây kia? Do vậy, Di Đà là chủ chính là chư Phật
là bạn, chư Phật là bạn chính là Di Đà là chủ.
Chủ và bạn thành tựu lẫn nhau là vì chủ và bạn
đều do vọng chiếu an lập. Chân chiếu chẳng
có chủ và bạn! Vô ngại thì ngàn muôn sai khác tuy cách biệt
nhưng chẳng khác nhau, giống như ngàn viên châu trong cái
lưới của Đế Thích trùng trùng xen nhập lẫn
nhau. Do thành tựu lẫn nhau, nên muôn pháp chẳng hẹn mà
tự lãnh hội, như sâm la vạn tượng chẳng
lìa khỏi vũ trụ).
Trong
đoạn này, Liên Trì đại sư dùng cách nói theo lối
Thiền cơ của các vị đại đức trong
Tông Môn để giải thích. Câu nào trong đoạn này
cũng đều là những câu thoại đầu trong
Tông môn. “Linh quang” là trí huệ
Bát Nhã vốn sẵn có trong tự tánh, do đối ứng
với vọng thức mà nói [bằng danh xưng như thế].
Phàm phu mê mất tự tánh, trong thường nhật, chẳng
phải là chân tâm khởi tác dụng, mà là vọng tâm. Trong Tướng
Tông, vọng tâm được gọi là “tám thức”. Do mê
mất tự tánh, tự tánh biến thành tám thức.
Chư vị phải hiểu: Tám thức và chân tánh là cùng một
chuyện, chẳng phải là hai chuyện. Khi ngộ bèn gọi
là “tự tánh”, lúc mê bèn gọi là “tám thức”. Nói cách khác, chỉ
có phân biệt giữa mê và ngộ, [nói theo] danh xưng thì là
danh xưng mê hay ngộ, chứ tự thể của chân
tánh chẳng có mê hay ngộ.
“Huýnh tuyệt trung biên” (Dứt bặt chính giữa và hai
bên), “huýnh” (迥) là xa xôi, [“huýnh tuyệt” là] vượt
xa khỏi chính giữa và hai bên. Chính giữa và hai bên là
tương đối. Nói cách khác, trong Chân Như tự
tánh, chẳng có phân biệt, chẳng có chấp trước,
lấy đâu ra chính giữa và hai bên? Chính giữa và hai bên
là do đối lập mà hình thành. Hiện thời, do chẳng
có sự đối lập giữa hai bên, cho nên chính giữa
và hai bên đều chẳng có. Nhiễm, tịnh cũng chẳng
có, Phật và chúng sanh cũng chẳng có, [nói nhiễm, tịnh,
Phật, chúng sanh] đều là nói theo phương diện
đối lập. Lìa khỏi tương đối, chẳng
thể thốt lên một câu nào được! Đó gọi
là “ngôn ngữ dứt bặt,
tâm hành xứ diệt”. Phần chú giải [trong sách Diễn
Nghĩa] có nói: “Huýnh tuyệt
trung biên, cố nhất Phật tức đa Phật,
đa Phật tức nhất Phật” (Do dứt tuyệt
chính giữa và hai bên, nên một Phật chính là nhiều Phật,
nhiều Phật chính là một Phật), chắc chắn là
chẳng có phân biệt, chẳng có chấp trước.
“Chân chiếu vô tư, hà phân bỉ
thử” (Chân thật chiếu chẳng riêng tư, há có
phân chia đây, kia). Chân là nói đối ứng với Vọng.
Chư Phật, Bồ Tát dùng chân tâm. Chân tâm là thanh tịnh,
bình đẳng; do đó, chẳng có riêng tư. Phàm phu sử
dụng vọng tâm, mê vọng! Vì sao gọi là mê? Trong tự
tánh thanh tịnh, vốn chẳng có phân biệt, nếu kẻ
ấy khởi lên một phân biệt, dấy lên một chấp
trước, bèn mê. Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Tri kiến lập tri, thị vô minh bổn” (Từ
nơi tri kiến mà lập ra một cái biết, đó là
cái gốc của vô minh). Vô minh liền dấy lên! Thứ ấy
chẳng thật, giả trất, nhưng kẻ bình phàm
luôn ngỡ nó là thật. Phật dạy lẽ thật, họ
coi là giả, chẳng tin tưởng, không thể tiếp
nhận. Phàm phu phân chia đây, kia; còn người kiến
tánh chẳng phân đây, kia. Nói cách khác, kẻ còn phân chia
đây, kia thì vẫn chưa kiến tánh. Hễ còn có đây,
kia, còn có đúng, sai, còn có ta, người, kẻ ấy là
phàm phu thứ thiệt, chắc chắn chẳng phải là
đã khai ngộ. Đã khai ngộ, sẽ tuyệt đối
chẳng có hiện tượng này.
“Thị cố đắc nhất
đa vô ngại” (Vì thế, được một nhiều
vô ngại). Ở đây, “một” chỉ A Di Đà Phật,
“nhiều” là chỉ mười phương hằng sa
chư Phật. A Di Đà Phật là hằng sa chư Phật,
hằng sa chư Phật là A Di Đà Phật, quyết
định chẳng có phân biệt, chấp trước.
Nơi Sự, có A Di Đà Phật hay không? Có! Có hằng sa
chư Phật hay không? Cũng có! Nơi Sự tuy có, xét theo
Lý, quyết định là một, cách nhìn như vậy là
đúng! Xét theo Lý là viên dung, cho nên nơi Sự tuy có, chẳng
cần phải chấp trước. Tuy có, cũng chẳng
cần phải phân biệt. Đấy là chỗ khác biệt
trong cách nhìn và cách nghĩ đối với vũ trụ và
nhân sinh của chư Phật, Bồ Tát so với chúng ta.
Chúng ta có phân biệt, có chấp trước; các Ngài chẳng
có phân biệt, chẳng có chấp trước.
“Chủ bạn giao thành” (Chủ và bạn thành tựu lẫn
nhau), “giao” (交) là lẫn nhau.
Coi A Di Đà Phật là chủ, tất cả hết thảy
chư Phật đều là bạn. Giống như trong
đại hội, A Di Đà Phật là chủ tịch, hết
thảy các vị Phật khác đều ngồi ở
dưới đài làm thính chúng. Bất cứ vị Phật
nào cũng đều có thể làm chủ. Nếu Thích Ca Mâu
Ni Phật làm chủ, A Di Đà Phật cũng ngồi ở
phía dưới; chủ bạn dung thông lẫn nhau. Quán Thế
Âm Bồ Tát làm chủ, A Di Đà Phật cũng ngồi ở
phía dưới. “Giao thành” (交成): Thành tựu lẫn
nhau. Hết thảy chúng sanh trong mười pháp giới, bất
cứ ai cũng đều có thể làm chủ. Phật
pháp nói: “Một tức là nhiều,
nhiều tức là một”, vạn pháp quy nhất. Cái Nhất
ấy là bất cứ một điều nào, chẳng phải
là chuyên nhất, chẳng phải là duy nhất, mà là bất
cứ cái nhất nào, pháp ấy mới là viên dung. Ví như
một quả cầu, bất cứ điểm nào trên mặt
cầu cũng đều có thể làm điểm trung tâm.
Vì thế, nó mới là viên mãn.
“Vô ngại, tắc
thiên sai tuy cách nhi phi thù” (Do vô ngại
nên ngàn phần sai khác, tuy cách biệt nhưng chẳng
khác nhau), y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới
tuy thiên sai vạn biệt, thể tánh của
chúng là một. Chúng ta đọc kinh thấy nói: “Mười phương tam thế
Phật, cùng chung một Pháp Thân”. Hết thảy chư
Phật cùng chung một Pháp Thân, hết thảy chúng sanh và
chư Phật có phải là cùng một Pháp Thân hay không?
Cũng vậy! Không chỉ là hết thảy hữu tình
chúng sanh và chư Phật có cùng một Pháp Thân, mà vô tình
cũng giống vậy. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tình và vô tình, cùng viên thành Chủng Trí”. Tất cả
hết thảy động vật, thực vật, khoáng vật,
hiện tượng trong đại tự nhiên, hư không,
thế giới đều do tự tánh biến hiện, tự
tánh là năng biến (cái có thể biến), hết thảy
vạn vật là sở biến (cái được biến).
Năng Biến là một. Tuy Sở Biến muôn vàn sai khác,
trên thực tế đều là như nhau, đều do tự
tánh biến. Lìa khỏi tự tánh, chẳng có một pháp
để có thể được.
Trong kinh, đức
Phật thường nói: Hết thảy các pháp là bình đẳng,
vạn pháp bình đẳng, vạn pháp đều Như, chẳng
có một pháp nào không Như! Như gì vậy? Như Tánh của
nó, như Thể của nó, Thể là một. Vạn pháp
đều Như, tức là vạn pháp đều bình đẳng.
“Giao thành, tắc vạn pháp bất
kỳ nhi tự hội” (Do thành tựu lẫn nhau, nên
muôn pháp chẳng hẹn mà tự hội họp). “Kỳ” (期) là dự kỳ (預期, dự tính kỳ hạn để đạt
được điều gì đó), tức là có kế hoạch.
“Bất kỳ” là tự
nhiên, có ý nghĩa giống như cách nói “sanh thái tự nhiên” của người hiện thời.
Hiện thời, sanh thái tự nhiên trên địa cầu bị
con người phá hoại, địa cầu phát sanh trục
trặc nghiêm trọng, thiên tai xảy ra dồn dập, sanh
thái bất ổn định, cân bằng, gây ảnh hưởng
khiến khí hậu bất bình thường. Cổ nhân hiểu
đạo lý này, họ tỉ mỉ quan sát thiên nhiên, hết
thảy đều tùy thuận, tìm được nghĩa
lý thật sự trong ấy, họ có thể lãnh hội.
Đó là ý nghĩa “bất kỳ
tự hội” (tự nhiên lãnh hội). Chúng ta nói một
địa cầu thì [phạm vi] thảo luận nhỏ
nhoi; nếu nói rộng hơn, [sẽ là] vô lượng tinh
cầu đang vận hành trong vũ trụ. “Bất kỳ nhi tự hội”:
Mỗi tinh cầu có quỹ đạo của chính mình, nó sẽ
chẳng rối loạn, rất có trật tự. Có những
kẻ thấy hiện tượng ấy, cảm thấy
rất chẳng thể nghĩ bàn, [chấp trước là]
nhất định phải có một người đang thiết
kế, có một người đang chi phối, bèn gọi
người ấy là Thượng Đế. Vì thế,
Thượng Đế nẩy sanh từ tưởng
tượng như vậy, [nhân loại cứ ngỡ] ông
ta là chúa tể của vũ trụ. Thật ra, chẳng phải
vậy! Đấy chính là quy tắc tự nhiên trong vũ
trụ, “vạn pháp bất kỳ
nhi tự hội” (muôn pháp tự nhiên chẳng hẹn mà tự
lãnh hội), chúng thành tựu lẫn nhau!
Biết
đạo lý này, biết hiện tượng này, mới biết
“lục phương bất ly
ư chỉ xích” (sáu phương chẳng lìa gang tấc),
gang tấc rất ngắn, khoảng cách rất ngắn.
Không gian thuộc sáu phương quá to! Mấy câu này có
nghĩa là “chẳng có xa gần,
xa gần đồng thời đạt đến”. Ví
như giảng đường này, ban đêm tối
tăm, chúng ta thắp ở đây một ngọn đèn.
Đèn thắp lên, bên này gần, bên kia xa, ánh sáng đồng
thời soi tới. Chúng tôi nêu một thí dụ rất nông cạn,
rõ rệt như vậy, có thể tỷ dụ khít khao thích
đáng hay chăng? Chẳng sánh ví được! Chỉ
có thể sánh ví phảng phất, vì sao? Ánh sáng vẫn là có tốc
độ, tốc độ nhanh chóng một tí [so với tốc
độ của những vật thể khác]. Nói thật
ra, tự tánh chẳng có tốc độ, đúng là chẳng
có xa hay gần. Thật sự là xa hay gần đều
đồng thời chiếu tới. Công đức trong tự
tánh chẳng thể nghĩ bàn!
“Chư Phật tất hiện ư hào đoan” (Chư Phật ắt
hiện trong đầu sợi lông), “hào đoan” (毫端) là chót đầu của sợi
lông. Đó là nói đến sự gần gũi. Mười
phương chư Phật cách nơi này của chúng ta không
chỉ là mười vạn ức cõi Phật, thế mà
đều ở trong đầu sợi lông. Đầu một
sợi lông chẳng phình to, các thế giới của mười
phương chư Phật (tức pháp giới) chẳng
thu nhỏ. Vì sao thế giới to đùng có thể bỏ
vào đầu sợi lông bé tẹo? Đó là vì tự tánh chẳng
có lớn hay nhỏ. Nay chúng ta chẳng thể tiếp nhận
chuyện này, chấp trước trong ấy có một lớn,
một nhỏ, lớn làm sao có thể vào trong nhỏ cho
được? Chẳng thể nào! Chúng ta có chấp
trước như thế, có chướng ngại như
thế. Vì vậy, vĩnh viễn chẳng quan sát thấy
chân tướng sự thật. Bồ Tát đã hiểu, Bồ
Tát đã vĩnh viễn lìa khỏi phân biệt, chấp
trước. “Huýnh tuyệt
trung biên, linh quang độc diệu” (Dứt bặt
chính giữa và hai bên, linh quang riêng chiếu). Các Ngài đã
chiếu kiến, đức Phật nói chẳng sai tí nào!
Đấy hoàn toàn là cảnh giới Sự Sự vô ngại
được nói trong kinh Hoa Nghiêm: Lý Sự vô ngại, Sự
Sự vô ngại! Trong cảnh giới ấy, Liên Trì đại
sư bèn nêu ra một câu để nói:
(Sao)
Kim giả thử kinh, đương tại hà xứ?
(Diễn) Kim giả
thử kinh đương tại hà xứ giả, lục
phương vi năng tán, thử kinh vi sở tán. Năng
tán chi Phật, bất ly chỉ xích hào đoan. Sở tán chi
kinh, đương tại hà xứ? Di! Bất ly
đương xứ thường trạm nhiên, mịch tức
tri quân bất khả kiến dã!
(鈔)今者此經,當在何處。
(演)今者此經當在何處者。六方為能贊。此經為所贊。能贊之佛。不離咫尺毫端。所贊之經。當在何處。咦。不離當處常湛然。覓即知君不可見也。
(Sao: Vậy thì nay bộ
kinh này sẽ ở chỗ nào?
Diễn: “Nay thì bộ kinh này sẽ ở chỗ nào”: Sáu
phương [chư Phật] là Năng Tán (người tán
thán), kinh này là Sở Tán (đối tượng được
tán thán). Chư Phật là người tán thán chẳng lìa
gang tấc, mảy lông. Kinh được tán thán sẽ ở
chỗ nào? Ôi! Chẳng lìa chỗ này mà thường trong lặng,
hễ tìm sẽ biết là ông chẳng thể thấy
được).
Phật
Thuyết A Di Đà Kinh ở chỗ nào? Tiếp đó, Ngài
chẳng trả lời, để cho mọi người tự
tham cứu. Đây là hoàn toàn dùng giọng điệu của
Thiền Tông để thuyết pháp.
(Kinh)
Xá Lợi Phất! Ư nhữ ý vân hà? Hà cố danh vi Nhất
Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh?
(經)舍利弗。於汝意云何。何故名為一切諸佛所護念經。
(Kinh:
Này Xá Lợi Phất! Ý ông nghĩ sao? Do vì lẽ nào mà có tên
là kinh được hết thảy chư Phật hộ
niệm?)
Trong
Khoa Phán, đại sư đặt tựa đề cho phần
này là Thích Kinh Ưng Tán (釋經應讚), [nghĩa là] giải
thích [nguyên do vì sao] phải nên tán thán bộ kinh này. Vì nó xác
thực là kinh bậc nhất, là pháp môn bậc nhất
để hết thảy chư Phật Như Lai độ
chúng sanh, thành Phật đạo; do đó, phải nên tán
thán. Đức Phật gọi Xá Lợi Phất, hỏi: Ý
ông nghĩ ra sao? Vì sao bộ kinh này được gọi
là kinh được hết thảy chư Phật hộ
niệm? Ngài Xá Lợi Phất cũng chẳng đáp nổi,
vẫn là đức Phật tự mình giải thích.
(Sớ)
Danh tất hữu nghĩa, chương xiển kỳ
nghĩa, phương khắc phụng hành, vô sở nghi cố.
(疏)名必有義,彰闡其義,方克奉行,無所疑故。
(Sớ: Danh ắt có
nghĩa, nêu bày rõ ràng nghĩa ấy thì mới có thể quyết
ý phụng hành, chẳng nghi ngờ).
“Danh” (名) là tựa đề của
kinh, tức tên kinh. Tên thì nhất định có ý nghĩa. “Chương xiển kỳ
nghĩa” [nghĩa là] ý nghĩa đó phải rất rõ
ràng, rất rõ rệt thì chúng ta mới có thể nhìn vào danh
nghĩ đến nghĩa, tin nhận phụng hành, chúng ta
mới có thể làm được. Chư vị phải
hiểu: Kinh Phật coi trọng thực hành, chú trọng tu
hành. Thanh Lương đại sư phán định kinh
Hoa Nghiêm có bốn phần là Tín, Giải, Hành, Chứng. Chẳng
có đủ bốn phần ấy, chúng ta sẽ chẳng
thể đạt được lợi ích chân thật từ
bộ kinh ấy. Nhập môn từ Tín: “Tín vi đạo nguyên, công đức mẫu” (Tín
là nguồn đạo, mẹ công đức). Tín là cội
nguồn để nhập đạo, vô lượng vô
biên công đức đều sanh từ Tín. “Mẹ công đức” là có thể sanh ra hết thảy
công đức. Vì thế, từ Tín mà tiến nhập.
Đã tin rồi bèn có thể hiểu. Nếu chẳng hiểu,
chỉ tin tưởng, lòng tin ấy là cảm tình, chúng ta
thường nói là “mê tín”, miễn
cưỡng tin tưởng.
Trong pháp môn Tịnh
Độ, chẳng hiểu ý nghĩa, chuyên tín, chuyên nguyện,
chuyên niệm, vẫn có thể vãng sanh! Nhưng chư vị
phải hiểu: [Người như vậy chỉ có thể]
sanh vào cõi Phàm Thánh Đồng Cư, chẳng thể sanh
trong cõi Thật Báo Trang Nghiêm. Cõi Thật Báo Trang Nghiêm phải
là khai ngộ thì mới được. Nếu Lý và Sự
đều thông đạt, đều hiểu rõ mà niệm
Phật, phẩm vị vãng sanh bèn cao, đạo lý là
như vậy đó. Vì thế, Giải rất quan trọng!
Sau khi đã Giải (hiểu) thì phải hành. Hành là những
gì quý vị đã tin, đã hiểu thảy đều làm
được. Trong cuộc sống hằng ngày, quý vị
chẳng thực hiện được [những điều
đã tin và hiểu ấy], vô dụng! Những thứ tín
giải ấy chẳng phải là của chính quý vị, nhất
định là phải làm được! Tín, Giải, Hành
dung hợp thành một thì gọi là Chứng. Chứng chẳng
có chi khác, Tín được chứng thực bởi Hành và
Giải, Hành được chứng thực bởi Tín và
Giải. Chứng thực lẫn nhau, chứng minh chẳng
sai tí nào, đó gọi là Chứng, sẽ đạt
được sự thọ dụng chân thật. Vì thế,
kinh Phật chẳng giống sách vở thế gian; kinh Phật
chẳng phải là huyền đàm (đàm luận những
chuyện huyền hoặc), mà là hoàn toàn nói lên chân tướng
sự thật, đều nói đến Thật Tế. Do
vậy, Hành hết sức trọng yếu, hãy y giáo tu hành.
(Sao)
Đề thập lục tự, đản trưng hạ
chi bát tự giả.
(鈔)題十六字,但徵下之八字者。
(Sao: Tựa đề
kinh gồm mười sáu chữ, nhưng chỉ gạn hỏi
tám chữ sau).
[Tựa
đề kinh gồm] mười sáu chữ, tám chữ
trước là Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công
Đức bị tỉnh lược, đức Phật
chỉ nói tám chữ sau đó: Nhất Thiết Chư Phật
Sở Hộ Niệm Kinh.
(Sao)
Dĩ bất khả tư nghị, Thích Ca sở tán, kỳ
nghĩa dĩ minh.
(鈔)以不可思議,釋迦所讚,其義已明。
(Sao: Do “chẳng thể
nghĩ bàn” là do Phật Thích Ca khen ngợi, nghĩa ấy
đã rõ ràng).
Giải
thích vì sao ở đây đức Phật chỉ nói nửa
sau của tựa đề kinh, chẳng nói tới nửa
trước: Ý nghĩa của nửa trước đã
được nói minh bạch trong những phần trước.
(Sao) Tha phương Phật tán, tăng thử bát
tự, cố trưng kỳ nghĩa.
(鈔)他方佛讚,增此八字,故徵其義。
(Sao: Chư
Phật ở phương khác tán thán, tăng thêm tám chữ
ấy, nên gạn hỏi nghĩa đó).
“Trưng” là trưng vấn (徵問: cật vấn,
gạn hỏi). Vì kinh này được mười
phương hết thảy chư Phật đều tán
thán, cho nên ở đây, đức Phật đặc biệt
nhắc nhở tôn giả Xá Lợi Phất, nhằm ý
nghĩa nêu lên: Vì sao bộ kinh này được hết thảy
chư Phật đều tán thán? Có thể thấy là câu này
rất quan trọng.
(Sao)
Vân hà Phật hộ, vân hà Phật niệm?
(鈔)云何佛護,云何佛念。
(Sao: Phật hộ
trì là như thế nào? Phật niệm là như thế
nào?)
Vì
sao chư Phật hộ trì? Vì sao chư Phật hộ niệm?
Người hiện thời cũng nói “niệm” là “hệ niệm”
(繫念, luôn nghĩ tới,
luôn bận tâm). Niệm nào đức Phật cũng đặt
chuyện này trong tâm, những chuyện khác Phật chẳng
màng tới, chỉ riêng chuyện này được giữ
trong tâm. Chuyện này tuyệt đối chẳng phải
là chuyện bình phàm! Chuyện gì vậy? Bổn nguyện của
đức Phật, bổn nguyện của hết thảy
chư Phật đều là “độ
chúng sanh thành Phật đạo”. Nguyện thứ nhất
trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện là “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”, phương
pháp cụ thể để độ thoát chúng sanh ở
ngay trong bộ kinh này. Đức Phật muốn độ
hết thảy chúng sanh thành Phật đạo; do vậy,
trong tâm đức Phật thường hệ niệm bộ
kinh này. Do thường nghĩ tới bèn thường nói,
thường tuyên dương, thường khuyên kẻ khác
niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, giống
như Thích Ca Mâu Ni Phật. Đạo lý là như vậy
đó.
(Sao)
Dĩ tiền, giáo đương tín thị kinh.
(鈔)以前教當信是經。
(Sao: Trong các phần
trước, dạy hãy nên tin kinh này).
Trong
các phần kinh văn trước đó, đức Phật
dạy chúng ta hãy nên tin tưởng bộ kinh này.
(Sao)
Kim vị nghĩa minh, nhiên hậu tín cố dã.
(鈔)今謂義明,然後信固也。
(Sao: Nay nói: Ý nghĩa
đã rõ ràng, sau đấy sẽ tin tưởng vững chắc).
Hiện
thời nói đến chỗ này, ý nghĩa càng nói càng rõ
ràng, càng nói càng minh bạch. Tín tâm của quý vị
đương nhiên càng ngày càng kiên cố. Đức Phật
nói lời này, trong ấy bao hàm ý nghĩa sâu xa như vậy
đó. Ngài Xá Lợi Phất chẳng đáp được,
ý nghĩa quá sâu, vẫn là Thích Ca Mâu Ni Phật tự mình giải
thích.
(Kinh)
Xá Lợi Phất! Nhược hữu thiện nam tử,
thiện nữ nhân, văn thị kinh, thọ trì giả, cập
văn chư Phật danh giả.
(經)舍利弗。若有善男子善女人。聞是經受持者。及聞諸佛名者。
(Kinh:
Này Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện
nữ nhân nghe kinh này, thọ trì, và nghe danh hiệu chư Phật).
Trong
phần giải thích, kinh văn được chia thành ba
đoạn[13], đây là đoạn
thứ nhất, nói đến sự nghe kinh và trì kinh.
(Sớ)
Văn thị kinh giả, điệp thượng y chánh
tín nguyện, trì danh vãng sanh đẳng.
(疏)聞是經者,牒上依正信願。持名往生等。
(Sớ: “Nghe kinh này”: Nhắc lại
y báo, chánh báo, tín, nguyện, trì danh vãng sanh v.v… trong các phần
trên).
“Văn” (聞) là nghe giảng. Đối với
y báo và chánh báo trang nghiêm của Tây Phương Cực Lạc
thế giới đã được nói trong các phần
trước, tổ sư đã phán định bộ kinh
này thành ba đoạn lớn là Tín, Nguyện, Hạnh. Ba
điều ấy được gọi “ba tư lương Tịnh Độ”. Tín và Nguyện
đã nói viên mãn, trì danh vãng sanh là Hạnh. Tín, Nguyện, Hạnh
đều đã nói xong!
(Sớ)
Văn thọ trì.
(疏)聞受持。
(Sớ:
Nghe rồi thọ trì).
Sau
khi nghe xong, tin tưởng, lý giải, hiểu rõ. Sau khi
đã hiểu rõ, có thể tiếp nhận hay không? Có thể
gìn giữ hay chăng? “Thọ”
(受) là gì? Sau khi nghe
xong, ta thật sự mong đến Tây Phương Cực
Lạc thế giới, thật sự muốn thấy A Di
Đà Phật. Đó là Thọ, thật sự muốn vãng
sanh. Đấy là phát nguyện cầu sanh. Tâm mong muốn
đến đó, tâm mong thấy A Di Đà Phật hết sức
khẩn thiết, đó là Thọ. Hiện thời, người
niệm Phật tại Đài Loan có nhân duyên thù thắng, có
nhiều người giảng kinh, giảng rất rõ ràng, rất
minh bạch. Đó là nhân duyên, nhân duyên trọn đủ. Mọi
người nghe xong, nghe rất thông hiểu, cũng tin
tưởng, cũng phát nguyện, cũng niệm Phật,
nhưng vẫn chẳng thể vãng sanh, nguyên nhân rốt cuộc
là ở chỗ nào? Ở ngay chỗ ý niệm vãng sanh của
chúng ta chẳng tha thiết. Vừa mong vãng sanh, nhưng danh
lợi ở nơi đây lại không buông xuống
được! Phiền phức ở chỗ này! Những
người vãng sanh khác hẳn chúng ta, họ chỉ có một
nguyện vọng là cầu sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới, [đối với tất cả những
gì] thuộc thế giới này thảy đều buông xuống,
chẳng tiêm nhiễm mảy may nào. Vì thế, họ ra
đi rất thuận lợi. Tuy chúng ta rất mong muốn,
hằng ngày niệm Phật hồi hướng “nguyện sanh Tây Phương Tịnh
Độ trung”, thứ gì cũng đều chẳng nỡ
bỏ! Đó là cái gốc bệnh, [khiến cho] chúng ta chẳng
có cách nào đi được, sai lầm ở chỗ này.
Sai lầm chẳng phải là một lần này, trong quá khứ
đã sai lầm như vậy chẳng biết bao nhiêu
lượt? Lần này vẫn phạm khuyết điểm
ấy thì đời này lại tích lũy một chút thiện
căn, chẳng thể thành tựu trong một đời
này. Đối với kinh điển này, vì sao phải giới
thiệu lý luận và chân tướng sự thật của
Tây Phương Cực Lạc thế giới rõ ràng, minh bạch
ngần ấy? Nhằm khiến cho quý vị dấy lên cái
tâm chân thật hướng về, sau đấy mới có
thể buông trần duyên trong thế giới này xuống
được. Đạo lý ở chỗ này! Chẳng được
có mảy may tiêm nhiễm nào!
Ở
đây, các đồng tu chớ nên hiểu lầm. Chẳng
phải là dạy quý vị hết thảy đều buông
xuống thì ngày mai quý vị cũng chẳng đi làm, chuyện
trong nhà cũng chẳng làm nữa, chỉ niệm Phật
mà thôi. [Làm kiểu đó] sẽ trở thành đứa con
ngây ngốc của đức Phật, đứa con ngây ngốc
của Phật sẽ chẳng thể vãng sanh đâu nhé!
Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới
đều là Bất Thoái Bồ Tát, chẳng có kẻ nào
đầu óc ngây ngô! “Buông xuống”
là dạy chúng ta trong tâm hãy buông xuống, chẳng phải
là buông xuống nơi Sự. Trong tâm khởi tâm động
niệm là chướng ngại, chứ nơi Sự chẳng
có chướng ngại. “Một
tức là nhiều, nhiều tức là một”, Sự há
có chướng ngại? Vô ngại, thành tựu lẫn nhau.
Một và nhiều vô ngại! Sự chẳng có chướng
ngại, Lý cũng chẳng có chướng ngại. Lý Sự
và Sự Sự thảy đều chẳng có chướng
ngại. Ý niệm phân biệt, chấp trước, ưu
lự, vướng mắc, những thứ ấy là
chướng ngại, trong tâm chúng ta quyết định chẳng
có những thứ ấy. Trong tâm chỉ có một vị A
Di Đà Phật, trong tâm chỉ có bộ kinh A Di Đà này.
Kinh Vô Lượng Thọ là Đại Bổn A Di Đà
Kinh, Đại Bổn và Tiểu Bổn hoàn toàn như nhau.
Trong tâm chúng ta chỉ cần một bộ kinh, chỉ cần
một vị Phật, những thứ khác đều buông
xuống, chẳng còn phân biệt, chấp trước nữa,
tâm của quý vị bèn thanh tịnh. Tâm tịnh, ắt cõi tịnh;
đó là điều kiện ắt phải trọn đủ
để vãng sanh. Tham luyến thế gian này thì không
được! Phàm những gì khiến cho quý vị dấy
lên tâm tham, đó là ma cảnh. Ma chẳng mong quý vị thành
Phật, chẳng mong quý vị lìa khỏi lục đạo
luân hồi. Ma tới nhiễu loạn, ngăn trở con
người, không cho quý vị đến thế giới Cực
Lạc. Phàm những gì khiến cho quý vị khởi tâm
động niệm, hoàn toàn thuộc về ma chướng.
“Thọ” là chúng ta thật sự
tiếp nhận. “Trì” là gìn
giữ chẳng để mất đi. Nay đã tiếp
nhận, sau khi đã tiếp nhận, nhất định
phải trọn đời gìn giữ, trọn hết sanh mạng
trong một đời này, chúng ta sống một ngày liền
gìn giữ một ngày, quyết định chớ nên để
mất đi. Đó gọi là Thọ Trì.
(Sớ)
Tức tiền Tam Huệ, Tam Tư Lương cố.
(疏)即前三慧三資糧故。
(Sớ:
Tức là Tam Huệ, Tam Tư Lương trong phần
trước).
Văn,
Tư, Tu là Tam Huệ, Tam Tư Lương được
nói trong phần trước.
(Sao)
Văn tức Văn Huệ, Thọ tức Tư Huệ,
Trì tức Tu Huệ.
(鈔)聞即聞慧,受即思慧,持即修慧。
(Sao:
Văn là Văn Huệ, Thọ là Tư Huệ, Trì là Tu Huệ).
Văn,
Tư, Tu là cương lãnh tu hành của Đại Thừa
Bồ Tát. Cương lãnh tu hành của hàng Tiểu Thừa
là Tam Học Giới, Định, Huệ.
(Sao)
Văn tức Tín nghĩa, Tư tức Nguyện nghĩa,
Trì tức Hạnh nghĩa.
(鈔)聞即信義,思即願義,持即行義。
(Sao:
Văn có nghĩa là Tín, Tư nghĩa là Nguyện, Trì
nghĩa là Hạnh).
Văn
là Tín, Thọ là Nguyện, Trì là Hạnh. Tín, Nguyện, Hạnh
là ba điều kiện để vãng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới, được gọi là ba tư
lương. Tư lương (資糧) là tỷ dụ.
Trước kia, ra ngoài đi xa thì phải mang theo
lương khô, chi phí đi lại, nên [những gì cần phải
có để thành tựu bất cứ một sự việc
gì đều] gọi là “tư
lương”. Đây là tỷ dụ chúng ta tu hành từ
Sa Bà thế giới đến Tây Phương Cực Lạc
thế giới, phải mang theo chi phí đi đường
như thế nào? Tín, Nguyện, Hạnh, ba điều này
giống như tư lương vậy!
(Sớ)
Văn chư Phật danh, điệp thượng lục
phương chư Phật danh dã. Văn kinh thọ trì,
văn Phật danh giả, diệc ưng thọ trì cố.
(疏)聞諸佛名,牒上六方諸佛名也。聞經受持,聞佛名者,亦應受持故。
(Sớ: Nghe danh hiệu
chư Phật: Nhắc lại danh hiệu của sáu
phương Phật trong phần trên. Nghe kinh thọ trì,
nghe danh hiệu Phật cũng nên thọ trì).
Đại
sư giả lập một cuộc vấn đáp:
(Sao)
Vấn: Thử kinh văn A Di Đà Phật danh hiệu vi
vãng sanh nhân, hà kiêm chư Phật?
(鈔)問:此經聞阿彌陀佛名號為往生因,何兼諸佛。
(Sao: Hỏi: Kinh này lấy
nghe danh hiệu A Di Đà Phật làm cái nhân vãng sanh, sao lại
kèm thêm chư Phật?)
[Chánh
kinh dạy] “cập văn
chư Phật danh giả” (và nghe danh hiệu chư Phật):
Ngẫu Ích đại sư giải thích “chư Phật” là A Di Đà Phật, A Di Đà Phật
là chư Phật. Liên Trì đại sư giải thích:
Chư Phật chỉ sáu phương chư Phật
được nói trong phần trước. Cách nói của
hai vị đều chẳng sai. Liên Trì đại sư
nói theo Sự, Ngẫu Ích đại sư nói theo Lý. Theo Lý
thì “một chính là nhiều, nhiều
chính là một”, [do vậy] chư Phật là A Di Đà Phật.
(Sao) Đáp: Di Đà công đức, vị hằng
sa chư Phật chi sở cộng tán, tắc văn chư
Phật danh, tri chư Phật tán, tín thọ thử kinh, bội
phục thân thiết, cố song cử dã.
(鈔)答:彌陀功德,為恆沙諸佛之所共讚,則聞諸佛名,知諸佛讚,信受此經,倍復親切,故雙舉也。
(Sao: Đáp: Công đức
Di Đà được hằng sa chư Phật cùng
xưng tán, cho nên nghe danh hiệu chư Phật, biết
chư Phật tán thán, tin nhận kinh này càng thêm thân thiết
gấp bội, cho nên nêu ra song song).
Ý
nghĩa này của Liên Trì đại sư cũng rất
hay. Thích Ca Mâu Ni Phật giới thiệu y báo và chánh báo trang
nghiêm trong thế giới Tây Phương, giới thiệu
vô lượng công đức của đấng Tây
Phương giáo chủ A Di Đà Phật, tức là một
vị Phật nói. Chúng ta kính ngưỡng, hâm mộ Thích Ca
Mâu Ni Phật vô hạn, tôn kính đức Phật chẳng
còn gì hơn được nữa. Đức Thế Tôn
đã giới thiệu, đương nhiên là chúng ta hoan hỷ
tiếp nhận, nay lại thấy trong kinh đức Phật
cho biết: Không chỉ là một mình lão nhân gia giới thiệu
như vậy, mà mười phương hết thảy
chư Phật đều khác miệng cùng tiếng đề
cao, giới thiệu như vậy, khiến cho tín tâm của
chúng ta càng thêm tăng trưởng, có ý nghĩa này. Biết
bộ kinh điển này chẳng phải là do một vị
Phật nói, mà là hết thảy chư Phật đều
nói ba kinh Tịnh Độ, chẳng có vị Phật nào chẳng
dùng pháp môn này để khuyên dạy người học. Trừ
phi kẻ ấy chẳng chịu tiếp nhận, nếu
người ấy có thể tiếp nhận tức là duyên
Tịnh Độ đã chín muồi. Duyên đã chín muồi,
đức Phật nhất định dùng pháp môn này để
tiếp dẫn, giúp họ ngay trong một đời vãng
sanh, bất thoái thành Phật. Nếu họ không thể tiếp
nhận, lại dùng pháp môn khác, tức là [sử dụng các
pháp môn] kém hơn, hoặc kém hơn một bậc nữa.
Pháp này là trực tiếp thành Phật, thành Phật viên mãn
trong một đời, cho nên gọi là “pháp môn bậc nhất”.
Do vậy có thể biết: Trong một đời này, chúng
ta có duyên phận gặp gỡ pháp môn này, có duyên phận
nghe pháp môn này, quyết định chẳng phải là chuyện
nhỏ nhặt, kinh Pháp Hoa bảo là “đại sự nhân duyên”. Kinh Vô Lượng Thọ
đã nói: Đấy là do thiện căn của chính mình từ
đời quá khứ trong vô lượng kiếp đã chín
muồi, [cho nên] mới có cơ hội gặp gỡ, có
cơ hội nghe thấy, nghe rồi có thể sanh tâm hoan hỷ.
Đấy là thiện căn, phước đức, nhân
duyên từ vô lượng kiếp đến nay, quyết
định chẳng phải là ngẫu nhiên! Chỉ cần
chúng ta trong một đời này có thể buông duyên thế
gian xuống. Đối với lòng tham ái hoặc sân khuể
tương ứng với hoàn cảnh nhân sự và hoàn cảnh
vật chất trong thế gian này: Hễ ưa thích bèn tham
ái, chẳng ưa thích bèn sân khuể; hễ có thể buông
xuống những thứ ấy, sẽ quyết định
vãng sanh trong một đời này, những thứ chướng
ngại vãng sanh bèn chẳng còn nữa. Phải hiểu những
thứ ấy sẽ gây chướng ngại vãng sanh, phải
dẹp trừ chúng từ tâm địa, chứ chẳng liên
can gì đến sự tướng, trong tâm quyết định
chẳng nên có [những thứ ấy].
(Sao)
Hoa Nghiêm đệ lục Hồi Hướng vân.
(鈔)華嚴第六回向云。
(Sao: Chương
Đệ Lục Hồi Hướng trong kinh Hoa Nghiêm có
nói).
Phẩm
kinh nói về địa vị Hồi Hướng thứ
sáu[14]
trong kinh Hoa Nghiêm.
(Sao)
Phục ư Phật sở, đắc văn Phật danh,
chuyển cánh trị ngộ vô số chư Phật, tức
văn thử kinh, hựu văn chư Phật danh chi ý dã.
(Diễn)
Đáp Di Đà công đức hạ hữu nhị nghĩa,
tiền nghĩa nãi quyển đa quy nhất, hậu
nghĩa nãi triển nhất vi đa. Tuy hữu nhị
nghĩa, thật nhất đa tương tức, triển
quyển vô ngại, dĩ chư Phật đồng nhất
Pháp Thân cố.
(鈔)復於佛所,得聞佛名,轉更值遇無數諸佛,即聞此經,又聞諸佛名之意也。
(演)答彌陀功德下有二義。前義乃卷多歸一。後義乃展一為多。雖有二義。實一多相即。展卷無礙。以諸佛同一法身故。
(Sao: “Lại ở chỗ
Phật được nghe danh hiệu Phật, lần
lượt gặp gỡ vô số chư Phật”. Đấy
chính là ý nghĩa “nghe kinh này, lại nghe danh hiệu chư
Phật” trong kinh này vậy
Diễn: Đáp: Công đức của Phật Di Đà có hai
nghĩa: Nghĩa trước là thâu nhiều về một,
nghĩa sau là mở rộng một thành nhiều. Tuy có hai
nghĩa, thật ra là một chính là nhiều, nhiều chính
là một. Mở rộng hay rút gọn vô ngại, vì chư Phật
có cùng một Pháp Thân).
Hiện
thời, chúng ta là phàm phu nghiệp chướng sâu nặng,
đức Phật đã vì chúng ta đề cao, giới thiệu,
nhưng Ngài chỉ có thể chỉ dạy đơn giản
đề cương yếu lãnh, chẳng thể nói cặn
kẽ. Chỉ bày cặn kẽ, chúng ta sẽ không thể
tiếp nhận nổi! Đối với mười
phương hằng sa thế giới vô lượng vô biên
chư Phật, nếu đức Phật nói những danh
hiệu ấy, nói từng câu tiếp nối nhau, nói đến
một vạn năm cũng chẳng nói xong, làm sao chúng ta
có thể tiếp nhận cho được? Chúng ta cũng
chẳng có thọ mạng dài như vậy. Vì thế,
đối với vô lượng Phật trong mỗi
phương, chỉ nêu ra năm hoặc sáu vị Phật,
nhiều nhất là chỉ giới thiệu mười vị
Phật thì chúng ta có thể tiếp nhận. Nhiều
hơn nữa, sẽ chẳng thể tiếp nhận
được. Nếu chúng ta sanh về Tây Phương Cực
Lạc thế giới, là hạ hạ phẩm vãng sanh, là
phẩm vị thấp nhất. Tới Tây Phương Cực
Lạc thế giới, chư vị phải biết: Nghiệp
chướng của chúng ta tiêu trừ. Vì sao nghiệp
chướng tiêu trừ?
Tâm chúng ta thanh tịnh,
đó là nhân tố thứ nhất. Vì hiện thời chúng
ta chuyên tín, chuyên nguyện, chỉ nguyện sanh về Tây Phương
Cực Lạc thế giới, chỉ nguyện đọc
kinh Di Đà, những kinh khác ta đều chẳng để
trong lòng, đều buông xuống, “chuyên” mà! Chẳng chuyên sẽ không được,
nhất định phải chuyên. Chuyên tín, chuyên nguyện,
chuyên niệm A Di Đà Phật. Hễ chuyên thì tâm liền
thanh tịnh, tâm thanh tịnh có thể diệt tội nghiệp.
Tội nghiệp là gì? Tội nghiệp là vọng niệm,
là suy nghĩ loạn xạ, là tham, sân, si, mạn, những
thứ ấy là tội nghiệp. Hễ chuyên, những thứ
ấy đều chẳng có. Dẫu có, cũng rất nhẹ
nhàng, chẳng nghiêm trọng như trước kia. Vì thế,
tâm thanh tịnh là tịnh niệm.
Đại Thế
Chí Bồ Tát dạy chúng ta: “Tịnh
niệm tiếp nối”, tịnh niệm bèn tiêu nghiệp.
Nay chúng ta đạt được “tịnh niệm tiếp nối” thì hiện thời
Phật quang chiếu đến chúng ta, chẳng phải là
chờ đến khi vãng sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới, mà là ngay trong hiện thời, Phật quang
chiếu soi, Phật quang tưới gội quý vị. Hễ
Phật quang chiếu tới, sẽ giúp chúng ta tiêu nghiệp.
Chư vị phải hiểu: Bản thân chúng ta ắt phải
có năng lực tiêu trừ [tội nghiệp], Phật
quang mới gia trì được. Bản thân chúng ta chẳng
có năng lực, cứ suốt ngày từ sáng đến tối
suy nghĩ loạn xạ, Phật quang tuy chiếu, vô dụng!
Tâm tư tạp loạn là chướng ngại, ngăn
chướng Phật quang, quý vị chẳng thể thọ
dụng. Tâm thanh tịnh bèn chẳng có chướng ngại;
Phật quang chiếu tới, chúng ta sẽ trực tiếp
cảm nhận được. Quang minh của Phật giúp
chúng ta tiêu nghiệp chướng, khai trí huệ, chẳng
đợi tới vãng sanh, mà đạt được ngay
trong hiện thời! Do vậy có thể biết: Tịnh
niệm quan trọng lắm! Giác Minh Diệu Hạnh Bồ
Tát dạy chúng ta niệm Phật, Ngài bảo: “Đừng hoài nghi, đừng
xen tạp, đừng gián đoạn”. Chẳng hoài
nghi, không xen tạp là “tịnh niệm”; chẳng gián đoạn
là “tiếp nối”. Ba câu gồm chín chữ ấy nhằm
giải thích lời dạy “tịnh
niệm tiếp nối” của Đại Thế Chí Bồ
Tát. Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới,
thấy A Di Đà Phật, trực tiếp đẫm mình
trong Phật quang, trí huệ rộng mở. Do vậy, danh
hiệu của mười phương vô lượng vô
biên chư Phật thảy đều hiện tiền.
Trong
kinh, đức Phật nói cho chúng ta biết trạng huống
cuộc sống trong thế giới Tây Phương. Người
thế gian chúng ta, thuở trẻ đi học, học hành
khá vất vả, [đến khi] bước chân vào xã hội
làm việc, càng vất vả hơn! Trong tương lai, kết
hôn, sanh con, có gia đình càng khổ! Người trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới hằng ngày nghe
kinh, niệm Phật, tham Thiền, kinh hành, hoặc là những
người chí đồng đạo hợp cùng nhau nghiên
cứu, thảo luận, hoặc là đến các thế giới
ở phương khác tham phỏng, cúng dường chư
Phật, nghe kinh, nghe pháp. Gặp kẻ hữu duyên, bèn giúp
Phật tiếp dẫn chúng sanh, họ làm những chuyện
ấy, đúng là tiêu dao tự tại! Thần tiên cũng
chẳng sánh bằng họ. Thần tiên tuy tự tại,
không gian hoạt động hữu hạn, chẳng thể
vượt thoát lục đạo. Đại thiên thế
giới này là phạm vi hoạt động của họ;
vượt ra ngoài đại thiên thế giới, họ sẽ
chẳng đạt đến.
Đối với
người hạ hạ phẩm vãng sanh trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới, không gian hoạt
động của họ là tận hư không khắp pháp
giới. Vì thế, thần tiên hay chư thiên cũng đều
chẳng sánh bằng họ. Họ thấy một vị Phật
chính là thấy hết thảy chư Phật, nghe danh hiệu
một vị Phật, hiện thời nghe danh hiệu là
nghe danh hiệu của một mình A Di Đà Phật, [mai
sau] sanh vào Tây Phương Cực Lạc thế giới,
danh hiệu của mười phương ba đời hết
thảy chư Phật thảy đều hiện tiền.
Vì thế, họ thảy đều nghe thấy. “Văn chư Phật danh” (Nghe
danh hiệu chư Phật) là [nghe] chẳng sót [danh hiệu
của] một vị Phật nào. Đấy chính là
nghĩa lý được nói trong kinh Hoa Nghiêm và kinh này.
(Sớ)
Đại Bổn vân: “Đa hữu Bồ Tát, dục
văn thử kinh, nhi bất đắc văn”.
(疏)大本云:多有菩薩,欲聞此經,而不得聞。
(Sớ:
Kinh Đại Bổn nói: “Có nhiều vị Bồ Tát muốn
nghe kinh này mà chẳng được nghe”).
Đoạn
này trích từ kinh Vô Lượng Thọ. “Đa hữu Bồ Tát” (Có nhiều vị Bồ
Tát), chẳng phải là thiểu số! Mong nghe kinh này, cớ
sao chẳng được nghe? Đúng là có rất nhiều
vị Bồ Tát chẳng biết có kinh A Di Đà, chẳng
biết có kinh Vô Lượng Thọ. Họ làm sao có thể
mong tưởng kinh này cho được? Họ nghĩ tốt
nhất là có một pháp môn dạy chúng ta thành tựu trong một
đời, mong muốn pháp môn ấy, trọn chẳng biết
pháp môn ấy chính là bộ kinh này. Do vậy, nghe kinh phải
có duyên phận, phải có phước báo. Người chẳng
có phước báo, sẽ chẳng thể nghe! Người
chẳng có duyên phận, sẽ chẳng thể tiếp xúc,
trọn chẳng phải là chuyện dễ dàng. Có bao nhiêu
đồng tu học Phật tại thành phố Đài Bắc
của Đài Loan? Mấy ai nghe bộ kinh này? Dẫu khóa tối
mỗi ngày đều niệm kinh A Di Đà, [thế mà] họ
chẳng hiểu ý nghĩa, tín tâm chẳng kiến lập,
chẳng có nguyện tâm. [Vậy thì] cũng như chẳng
niệm. Có thể thấy chuyện này đúng là khó
khăn!
Có hai hạng
người được thọ dụng thật sự:
1) Một là
người thật sự hiểu rõ chân tướng sự
thật, hạ quyết tâm chọn lựa pháp môn này.
2) Loại người
kia tuy chẳng hiểu rõ lý luận và chân tướng sự
thật, nhưng thiện căn và phước đức
của người ấy hết sức sâu dầy, nghe
pháp môn này, tiếp xúc pháp môn này, liền nắm thật chặt,
khăng khăng một mực, suốt cả một đời
cũng chẳng thay đổi. Niệm câu Phật hiệu
tới cùng bèn vãng sanh.
Hai loại người
ấy là bậc đương cơ của pháp môn này. Những
người khác, tín tâm như sương buổi sớm, giống
như bèo trôi chẳng có rễ, chỉ có thể gieo một
chút thiện căn trong Tịnh Tông mà thôi, chẳng thể
thành tựu trong một đời này, do chao đảo, bất
định đấy mà! Năm trước, chúng tôi mở
Phật Thất tại Dallas, nước Mỹ, cũng có
không ít đồng tu bên đó nghe tôi giới thiệu pháp
môn Tịnh Độ. Nghe xong, hết sức hoan hỷ, tới
nói với tôi: “Chúng con sẽ thật sự chuyên tâm, sẽ
chuyên cầu Tịnh Độ, sẽ thật thà niệm
Phật”. Sau khi chúng tôi rời khỏi Dallas nửa năm,
họ có những bằng hữu học Mật, hoặc học
Thiền khuyên nhủ, lôi kéo họ, họ lại đến
những chỗ đó, bèn vứt bỏ, quên bẵng A Di
Đà Phật. Tình hình như vậy rất nhiều. Có những
người là làm Phật sự theo cảm tình: Bạn bè
thân thiết lôi kéo, không đi thì ngại quá! Vừa đến
đó, bèn cảm thấy nơi ấy cũng khá, tín tâm bị
dao động! Tương lai sẽ như thế nào? Bên Tịnh
chẳng thể thành tựu, mà bên Thiền cũng chẳng
thể thành công, đáng tiếc lắm! Đấy gọi
là ma đến quấy nhiễu, ma lôi quý vị đi mất
rồi! Chúng tôi nghĩ tới trong kinh đức Phật
đã nói: Có nhiều vị Bồ Tát mong cầu một pháp
môn thành tựu viên mãn trong một đời. Vì thiện
căn, phước đức, nhân duyên thiếu sót, chẳng
có cơ duyên gặp gỡ pháp môn này, chẳng có cơ duyên
nghe nói tới pháp môn này. Do vậy, cơ hội gặp gỡ
pháp môn này, nghe pháp môn này, chẳng dễ dàng đâu nhé! Cổ
đức nói: “Một ngày hiếm
có khó gặp từ vô lượng kiếp đến nay”.
Nay chúng ta được nghe, đấy chính là một ngày
hiếm có, khó gặp từ vô lượng kiếp đến
nay. Chẳng phải là người thật sự có thiện
căn, phước đức và nhân duyên sâu dầy, quý vị
sẽ chẳng thể gặp! Vì thế, phải quý tiếc!
(Sớ)
Hựu kinh vân: “Ninh ư địa ngục đắc
văn Phật danh”.
(疏)又經云:寧於地獄得聞佛名。
(Sớ: Kinh lại
nói: “Thà ở trong địa ngục mà được nghe
danh hiệu Phật”).
Kinh
nói điều này, nêu ra một tỷ dụ: Thà nguyện
đọa địa ngục, chỉ cần có thể
được nghe danh hiệu A Di Đà Phật, dẫu đọa
địa ngục cũng cam lòng tình nguyện. Đấy
mới là thấu hiểu giá trị của một câu danh
hiệu này. Danh hiệu có công đức đúng là chẳng
thể nghĩ bàn. Đọa địa ngục chịu khổ,
chịu khổ nạn thì có lúc sẽ xong, sợ gì chứ?
Nghe danh hiệu A Di Đà Phật, phát nguyện vãng sanh, sẽ
được vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi, chẳng
còn hứng chịu nỗi khổ địa ngục. Thọ
tội một lần rồi sẽ chẳng còn bị nữa!
(Sớ)
Tắc tri văn thử kinh, văn chư Phật danh,
đại phi dị sự.
(Diễn)
Bồ Tát dục văn nhi bất đắc văn giả,
hoặc vấn vân: - Kim bác địa phàm phu, văn giả
thậm đa, tương siêu Bồ Tát da? Đáp: - Văn
kinh đại hữu sai đẳng. Phàm phu nhĩ tuy
văn danh, tâm bất san thái, hoặc tâm tuy tư duy, bất
dũng dược đốc hành. Thử đản
nhĩ thính ngôn thuyên, tâm bất đắc chỉ, như bất
văn dã. Kim sở vị văn giả, nhân thuyên đắc
chỉ. Bi hỷ giao tập, đốc tín lực hành, nãi
tâm văn dã, khởi bất siêu phàm tiểu da?
(疏)則知聞此經,聞諸佛名,大非易事。
(演)菩薩欲聞而不得聞者。或問云。今博地凡夫。聞者甚多。將超菩薩耶。答。聞經大有差等。凡夫耳雖聞名。心不飧采。或心雖思惟。不踴躍篤行。此但耳聽言詮。心不得旨。如不聞也。今所謂聞者。因詮得旨。悲喜交集。篤信力行。乃心聞也。豈不超凡小耶。
(Sớ:
Cho nên biết là nghe kinh này, nghe danh hiệu chư Phật,
thật chẳng phải là chuyện dễ dàng
Diễn: “Bồ Tát muốn nghe mà chẳng được
nghe”: Có lẽ sẽ có kẻ hỏi: “Nay hạng phàm phu sát
đất được nghe rất nhiều, họ sẽ
vượt trỗi hàng Bồ Tát ư?” Đáp: - Nghe kinh có
sự sai biệt to lớn. Phàm phu tuy nghe tên (tên kinh hoặc
nghe danh hiệu Phật), nhưng tâm chẳng thấu hiểu.
Hoặc là tuy tâm suy nghĩ, chẳng hớn hở, dốc
sức hành trì. Đấy chỉ là tai nghe lời giảng
giải, tâm chẳng lãnh hội ý chỉ, cũng giống
như chẳng nghe vậy. Nay nói đến Nghe, [phải
hiểu là] do lời giảng giải mà đạt
được ý chỉ, buồn vui xen lẫn, dốc lòng
tin tưởng, tận lực hành trì, đấy chính là “nghe
bằng cái tâm” vậy. Há chẳng phải là vượt trỗi
phàm phu, tiểu căn ư?)
Nói
rõ: [Đây là chuyện] rất khó khăn! Nay chúng ta nghe câu
Phật hiệu này dường như dễ quá! Đó là vì
thiện căn, phước đức, nhân duyên trong quá khứ
đã chín muồi! Nếu quý vị chẳng tin tưởng,
[cứ xem] những người hàng xóm sát vách chúng ta chẳng
đến [đây nghe kinh hoặc cộng tu cùng chúng ta]!
Chúng tôi giảng ở đây cả mười mấy
năm, họ cũng chưa hề tới một lần,
quý vị mới biết là thật sự khó! Vì thế, phải
biết quý trọng. Đệ tử Phật Di Đà, học
trò của chư Phật, có trách nhiệm giới thiệu trọn
khắp pháp môn này cùng đại chúng, họ tiếp nhận
hay không là chuyện của họ. Người nào có thể
tiếp nhận, chúng ta liền chúc mừng người ấy
có thể thành tựu trong một đời. Người
nào chẳng tiếp nhận, chúng ta chẳng có lỗi với
người ấy. Chính mình gặp gỡ pháp môn tốt
đẹp dường ấy mà chẳng giới thiệu
cho người khác, tức là có lỗi với họ.
(Sao)
Bồ Tát dục văn nhi bất đắc, tắc Nhị
Thừa, phàm phu khả tri hỹ.
(鈔)菩薩欲聞而不得,則二乘凡夫可知矣。
(Sao: Bồ Tát muốn
nghe mà chẳng được nghe, vậy thì Nhị Thừa
và phàm phu có thể suy ra mà biết vậy).
Bồ
Tát mong cầu pháp môn này đều chẳng dễ gì cầu
được. Người Nhị Thừa, hàng phàm phu mong cầu pháp môn này, đương
nhiên là càng khó hơn, càng chẳng dễ dàng hơn!
(Sao)
Đại Bổn kệ vân: “Nhược bất vãng tích tu
phước huệ, ư thử chánh pháp bất năng
văn, dĩ tằng khâm phụng chư Như Lai, cố hữu
nhân duyên văn thử nghĩa”.
(鈔)大本偈云:若不往昔修福慧,於此正法不能聞,已曾欽奉諸如來,故有因緣聞此義。
(Sao: Kinh Đại Bổn
có bài kệ: “Nếu xưa kia chẳng tu phước huệ,
chẳng thể nghe đến chánh pháp này, đã từng
khâm phụng chư Như Lai, nên có nhân duyên nghe nghĩa
này”).
Trong
kinh Vô Lượng Thọ, đức Phật đã nói rành
mạch chuyện này. Nếu chẳng phải là nhiều
đời, nhiều kiếp tu phước, tu huệ, quý vị
sẽ chẳng có cơ hội nghe pháp môn này. Dẫu trao
pháp môn này cho quý vị, quý vị nghe rồi cũng chẳng
hiểu, nghe xong cũng chẳng thể sanh khởi tâm hoan
hỷ, tín nguyện hoàn toàn chẳng sanh khởi. Do nguyên
nhân nào? Trong đời quá khứ tu phước huệ quá
ít.
“Dĩ tằng khâm phụng chư Như Lai” (Đã từng
khâm kính, tuân phụng các đức Như Lai): Vua A Xà Thế
và năm trăm vị trưởng giả trong đời
quá khứ đã từng cúng dường bốn trăm ức
Phật; nhưng cúng dường bốn trăm ức Phật,
phước huệ vẫn chẳng đủ! Vì vậy, họ
nghe Thích Ca Mâu Ni Phật giảng bộ kinh này, họ nghe hết
sức hoan hỷ, trong tâm dấy lên ý niệm: “Trong
tương lai ta thành Phật, phải giống như A Di
Đà Phật”, vẫn chẳng thể phát tâm niệm Phật
hòng ngay lập tức vãng sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới thân cận A Di Đà Phật. Chẳng có
nguyện ấy! Nói cách khác, cúng dường bốn trăm
ức Phật, trong ba tư lương chỉ có mỗi
Tín, chẳng có Nguyện, quý vị mới biết chuyện
này khó lắm! Nay chư vị gặp gỡ pháp môn này, có thể
tin, có thể nguyện, chứng tỏ trong đời quá
khứ, quý vị đã từng cúng dường chư Phật
Như Lai không chỉ là bốn trăm ức vị. Vì sao?
Vì phước huệ của quý vị vượt trỗi
vương tử A Xà Thế. Vương tử A Xà Thế
chẳng phát nguyện cầu sanh, nay quý vị phát nguyện
cầu sanh, phước huệ của quý vị vượt
trỗi họ. “Cố hữu
nhân duyên văn thử nghĩa” (Cho nên có nhân duyên nghe kinh
này). Quý vị mới có duyên phận này, mới có phước
báo nghe bộ kinh này.
(Sao)
Địa ngục văn Phật giả, Hoa Nghiêm kệ vân:
“Ninh thọ địa ngục khổ, đắc văn
chư Phật danh, bất nguyện sanh thiên trung, nhi bất
văn Phật danh”.
(鈔)地獄聞佛者,華嚴偈云:寧受地獄苦,得聞諸佛名,不願生天中,而不聞佛名。
(Sao:
“Ở trong địa ngục được nghe nói tới
Phật”: Kinh Hoa Nghiêm có bài kệ rằng: “Thà chịu địa
ngục khổ, được nghe tên chư Phật, chẳng
mong sanh cõi trời, chẳng nghe danh hiệu Phật”).
Trong
kinh Hoa Nghiêm, đức Phật đã nói mấy câu như vậy.
(Sao)
Cố tri thử kinh, cập dữ Phật danh, bất dị
văn dã.
(鈔)故知此經,及與佛名,不易聞也。
(Sao: Do vậy biết
kinh này và danh hiệu Phật chẳng dễ nghe).
Dẫn
kinh điển để làm chứng, nói rõ kinh điển
và pháp môn này duyên phận khó có, thật sự chẳng dễ
dàng! Chẳng phải là Đài Loan không có kiếp nạn, kiếp
nạn rất nặng! Trong những năm qua, từ Nam
đến Bắc có nhiều người thọ trì kinh Vô
Lượng Thọ, niệm A Di Đà Phật, kiếp nạn
này mới dần dần hóa giải. Những chuyện này
đều là sự thật, hy vọng chúng ta càng nỗ lực,
càng nghiêm túc tu học, tận tâm tận lực đề
xướng rộng rãi, giới thiệu phổ biến
kinh điển và pháp môn này với đại chúng, mọi
người đều chiếu theo pháp môn này để tu
học, nơi này chắc chắn chẳng gặp tai nạn.
Vì sao? Kinh đã nói rất rõ ràng: “Được
hết thảy chư Phật hộ niệm”. Tôi niệm
kinh này được chư Phật hộ niệm, quý vị
niệm kinh này cũng được chư Phật hộ
niệm. Toàn bộ đồng bào Đài Loan đều niệm
kinh này, ai nấy đều được chư Phật
hộ niệm, hết thảy tai nạn đều chẳng
có. Chúng ta ắt phải biết điều này; đấy
mới là nhân tố bậc nhất để tiêu tai miễn
nạn, bảo đảm an toàn cho bản thân, gia đình
và xã hội của chúng ta. Hai câu cuối cùng là lời tổng
kết.
(Sao)
Kim đắc văn chi, khả phất tín thọ.
(鈔)今得聞之,可弗信受。
(Sao:
Nay đã được nghe, há nên chẳng tin nhận
ư?)
Nay chúng ta có thể
nghe, cơ duyên ấy thật sự hết sức khó
khăn. Sau khi nghe xong, có lẽ nào chẳng tin tưởng?
Có thể nào chẳng tiếp nhận? Hôm nay chúng tôi nói tới
chỗ này!
A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
Phần 134 hết
[1]Thiên Tử Cán sách Luận Ngữ chép: “Nhan Uyên vị nhiên thán viết:
Ngưỡng chi di cao, toản chi di kiên, chiêm chi tại
tiền, hốt yên tại hậu, Phu Tử tuần
tuần nhiên dụ nhân, bác ngã dĩ văn, ước ngã
dĩ lễ, dục bãi bất năng, ký kiệt ngô tài,
như hữu sở lập trác nhĩ, vị do dĩ dã”
(Nhan Uyên cảm thán nói: “Học vấn của thầy ta
càng dõi nhìn càng cảm thấy cao ngất, càng dùi mài nghiên
cứu, càng cảm thấy sâu dầy. Vừa trông thấy
đằng trước, bỗng dưng đã ở
đằng sau. Thầy hướng dẫn chúng ta từng
bước một, khiến cho kiến thức của ta
thêm phong phú, dùng lễ nghi để ước thúc chúng ta,
nếu chẳng học theo Ngài sẽ chẳng thể có
thành tựu. Tôi đã dốc trọn toàn lực, vẫn
cảm thấy dường như có một quả núi cao
sừng sững trước mắt, chỉ cảm
thấy chẳng biết tiến lên như thế nào). Chúng
tôi dịch đoạn này theo cách diễn giải của
trang nhà Trung Quốc Triết Học Thư Điện
Tử Hóa Kế Hoạch (ctext.org)
[2] Trong Hán ngữ, Ấp chỉ một khu
vực quần cư lớn (không có nghĩa là một phần
nhỏ của một làng, một xóm như trong tiếng Việt).
Ấp có thể mang ý nghĩa thành thị, đô thành,
quận, huyện v.v... Theo Thuyết Văn Giải Tự,
chữ Ấp (邑) thuộc loại Hội Ý, phía trên là chữ Vi (囗), mang ý nghĩa cương vực, phía dưới
là chữ Ba (巴), tức là biến
thể của hình người đang quỳ. Do vậy, Ấp
mang ý nghĩa một khu vực quản lý. Thời Xuân Thu Liệt
Quốc, đất được thiên tử phong cho
chư hầu thường gọi là Ấp. Đoàn Ngọc
Tải khi chú giải sách Thuyết Văn đã chỉ rõ: “Tả Truyện phàm xưng nhân
viết đại quốc, phàm tự xưng viết Tệ
Ấp, cổ quốc Ấp thông xưng” (Trong sách Tả
Truyện, khi nói về nước của người khác
đều gọi là Đại Quốc, hễ nói về
nước mình bèn bảo là Tệ Quốc. Thời cổ,
các nước đều gọi chung là Ấp). Vì thế,
sau này, khi các quan to hoặc đại thần, được
vua phong đất (tức là được quyền quản
trị, thâu thuế các hộ dân cư sống trong vùng
đất phong ấy, thường gọi là “ăn lộc”)
thì vùng đất phong ấy thường gọi là “thái ấp”.
Ý nghĩa thứ hai của chữ Ấp là chỉ thủ
đô của đất nước, như khi nhắc
đến kinh đô của nhà Thương thường gọi
là Thương Ấp, tuy danh xưng chánh thức là Triều
Ca. Về sau, nhằm phân biệt rõ, nơi thiên tử
đang trị vì gọi là Đô, kinh đô cũ gọi là Ấp.
Dần dần, chữ Ấp được chỉ chung
các thành thị. Thành thị lớn gọi là Đô, thành thị
nhỏ gọi là Ấp. Về sau, chỉ riêng kinh đô gọi
là Đô, thành thị lớn hoặc nơi giữ vai trò quản
lý cả khu vực thì gọi là Thành, các khu vực nhỏ
hơn gọi là Ấp.
[3] Xuân Thu là một bộ biên niên sử
từ thời Tiên Tần (trước khi Tần Thủy
Hoàng thống nhất Trung Hoa), chép về lịch sử
nước Lỗ từ năm đầu thời Lỗ
Ẩn Công (722 trước Công Nguyên) cho đến năm
thứ mười bốn đời Lỗ Ai Công (481
trước Công Nguyên), tức là trải khắp
mười hai đời vua nước Lỗ. Đây là
một bộ biên niên sử sớm nhất tại Trung Hoa.
Sở dĩ có tên gọi là Xuân Thu vì thời đó, đa
phần các sự kiện quan trọng, các đại
lễ được tiến hành vào hai mùa Xuân và Thu, nên
từ ngữ Xuân Thu dần dần được dùng
để chỉ chung các sách vở ghi chép các sự
kiện quan trọng của một đất nước
vào thời đó. Theo truyền thống, kinh Xuân Thu
được coi là do Khổng Tử trước tác,
nhưng theo các nhà nghiên cứu, với khối lượng
sự kiện được ghi trong ấy, tác phẩm này
phải là công trình biên soạn và chỉnh lý của
nhiều người, tuy mỗi sự kiện được
ghi rất vắn tắt chỉ vài dòng.
[4] Kinh Dịch bản hiện thời
được gọi là Châu Dịch, vì theo truyền
thống, người Hoa cho rằng có ba loại kinh
Dịch: Liên Sơn (連山, tương
truyền do Phục Hy và Thần Nông trước tác vào
đời Hạ), Quy Tàng (歸藏, được
sáng tác vào thời Hoàng Đế), và Châu Dịch. Hai
loại đầu đã thất truyền. Châu Dịch
được coi là công trình trước tác, chỉnh lý và
hoàn thiện bởi Châu Văn Vương. Phần này
được gọi là Kinh; sau đó, hậu nhân chú
giải thêm vào các phần Dịch Truyện, Thoán Truyện,
Tượng Truyện, Hệ Từ Truyện, Văn Ngôn
Truyện, Tự Quái Truyện, Tạp Quái Truyện…
[5] Vĩnh Bình là niên hiệu của Hán Minh
Đế (Lưu Trang) từ năm 58 đến năm 75.
Lưu Trang là con trai thứ tư của Hán Quang Vũ
Đế (Lưu Tú, người tái lập nhà Hán sau khi
diệt Vương Mãng).
[6] Đại Dữ (Dự) Sơn (大嶼山, núi đảo
lớn), còn gọi là Đại Hào Đảo (大濠島), thuộc quần đảo Vạn Sơn,
tên xưa kia là Lạn Đầu (爛頭. Do đó trong tiếng Anh
hòn đảo này thường
được gọi là Lantao Island). Đây là một hòn
đảo lớn nhất trong các hòn đảo thuộc
lãnh thổ Hong Kong, nhưng do địa hình lẫn giao
thông bất tiện, mật độ dân cư khá thấp.
Trong quá khứ, hòn đảo này có rất nhiều tên
gọi như Đại Khê Sơn, Đại Dụ
Sơn, Đại Ngư Sơn, Đại Dữu Sơn,
Nam Đầu Đảo, Lạn Đầu Đảo,
Truân Môn Đảo, Đại Hào Sơn, Đại Hào
Đảo, Cương Châu v.v…
[7] Trong lịch sử Trung Hoa, có hai
nước Lỗ, một là Tây Lỗ tồn tại vào các
triều đại Hạ và Thương, nhưng không
được ghi chép nhiều, ngoại trừ một
số ít dữ liệu ít ỏi, vụn vặt, sơ
lược trong Giáp Cốt Văn. Nước Lỗ
thứ hai (sử thường gọi là Đông Lỗ)
được kiến lập sau khi Châu Công Cơ Đán
(em Châu Vũ Vương Cơ Phát) phù tá Châu Thành Vương
dẹp tan cuộc phản loạn do Vũ Canh (con trai
Trụ Vương) xướng suất. Để
thưởng công cho bầy tôi, Châu Thành Vương (Cơ
Tụng) đã chia đất đai thuộc con cháu nhà Ân
Thương thành nhiều phần, một phần phong cho
con trưởng của Châu Công là Cơ Bá Cầm, tạo
thành nước Lỗ. Nước Lỗ truyền
được hai mươi lăm đời, tồn
tại khoảng tám trăm năm. Kinh đô là Khúc Phụ.
Lãnh thổ nước Lỗ nằm ở phía nam Thái
Sơn, tức là toàn bộ phía Nam tỉnh Sơn Đông,
một phần nhỏ các tỉnh Hà Nam, Giang Tô và An Huy
hiện thời. Nước Lỗ bị Sở Khảo Liệt
Vương (Hùng Nguyên) diệt quốc vào năm 256
trước Công Nguyên dưới đời Lỗ
Khoảnh Công (Cơ Thù).
[8] Nước Tề là một trong
những nước chư hầu hùng mạnh thời Xuân
Thu Chiến Quốc, lãnh thổ bao gồm toàn bộ
miền Bắc tỉnh Sơn Đông, Đông Nam tỉnh Hà
Bắc và Đông Bắc tỉnh Hà Nam, kinh đô là Lâm Truy.
Nước Tề vốn là đất phong của
Khương Thượng (Khương Tử Nha). Sau khi
diệt Trụ, Châu Vũ Vương (Cơ Phát) đã phong
cho Khương Thượng đất Doanh Khâu (tức là
Lâm Truy sau này). Khương Tử Nha siêng năng cai trị,
phát triển công thương nghiệp, đổ công
dốc sức khai thác muối, biến Tề thành một
đại quốc, Sử thường gọi thời
kỳ này là Khương Tề. Nước Tề cực
thịnh dưới thời Tề Hoàn Công (Khương
Tiểu Bạch). Tề Hoàn Công từng xưng bá, cai
quản tất cả chư hầu thời ấy,
nhiều lượt triệu tập chư hầu lập
minh thệ cũng như dẫn liên quân chư hầu chinh
phạt các nước phản loạn. Về già, Hoàn Công
bệnh nặng, các con tranh nhau giành ngôi, xây tường
nhốt kín đến nỗi Tề Hoàn Công chết đói.
Những cuộc đấu đá quyền lực liên
tiếp đã đẩy nước Tề vào cuộc
nội chiến, khiến cho thế lực của Tề
suy yếu rất nhanh. Vào khoảng năm 391 trước
Công Nguyên, quyền thần là Tướng Quốc
Điền Hòa đày vua Tề Khang Công (Khương
Đại) sang một hải đảo, tự lập làm
vua, xưng hiệu là Tề Thái Công, chánh thức xưng
hầu, nhưng vẫn giữ quốc hiệu là Tề,
Sử gọi giai đoạn này là Điền Tề.
Nước Tề bị Tần Thủy Hoàng diệt
quốc dưới thời Tề Vương Điền
Kiến (năm 221 trước Công Nguyên). Sau đó, Tần
Thủy Hoàng chia nước Tề thành hai quận là Tề
Quận và Lang Da Quận.
[9] Cha Khổng Tử là Khổng Hột
(Ngột), tự là Thúc Lương (nên Sử thường
gọi là Thúc Lương Ngột, 叔梁纥)
làm quan đại phu tại Trâu Ấp nước Lỗ.
Do vợ cả của Thúc Lương Ngột là Thí Thị
chỉ sanh chín người con gái, Thúc Lương Ngột
bèn lấy thêm vợ kế, sanh được một trai
là Mạnh Bì (孟皮), có tật ở chân, không thể kế
thừa gia nghiệp được. Đến năm
bảy mươi hai tuổi, Thúc Lương Ngột
lại lấy bà Nhan Trưng Tại (颜征在)
mới mười tám tuổi, sanh ra Khổng Tử. Do
trước đó, hai vợ chồng từng cầu con
tại núi Ni Khâu, nên đặt tên con là Khổng Khâu,
đặt tên tự là Trọng Ni.
[10] Chữ 惡 ở
đây dùng như một thán từ hoặc nghi vấn
từ, phải đọc là Ô, không đọc là Ác hay
Ố.
[11] Thiên Trúc là từ ngữ cổ
để gọi Ấn Độ. Danh xưng này đã có
từ thời Hán, trong phần Đại Uyển
Truyện của Sử Ký Tư Mã Thiên có ghi thêm một cách
đọc khác là Thân Độc. Cả hai âm này đều
phát xuất từ tiếng Phạn Sindhu (tức sông Indus
hiện thời, kinh Hoa Nghiêm gọi sông này là “Tín Độ
hà”). Theo các nhà nghiên cứu, do các thương nhân Ba Tư
đọc trại Sindhu thành Hinduš hoặc Indu. Khi Alexander
đại đế chiếm lãnh Ấn Độ, đã
gọi sông này là Indos dựa theo cách phát âm của
người Ba Tư, dần dà cư dân địa
phương cũng sử dụng cách phát âm này. Do đó,
từ đời Đường trở đi, trong thư
tịch Trung Hoa, Thiên Trúc còn được phiên âm là
Hiền Đậu, Càn Đốc, Quyên Đốc v.v… Danh
xưng Ấn Độ được nhắc tới
lần đầu trong sách vở Trung Hoa là do ngài Huyền
Trang ghi trong Đại Đường Tây Vực Ký. Ngài
viết: “Danh xưng Thiên Trúc
được bàn luận nhiều lẽ, nói theo lối
xưa là Thân Độc, hoặc là Thiên Trúc, nay căn
cứ trên âm đọc chính thức, hãy nên đọc là
Ấn Độ”.
[12] Thiện Đạo đại sư
sinh năm 613 (nhằm năm Đại Nghiệp thứ chín
đời Tùy Dượng Đế), tịch năm 681 (tức
năm Vĩnh Long thứ hai đời Đường Cao
Tông), tức là sống qua hai triều đại Tùy và
Đường, trải bốn đời vua. Lúc mới
xuất gia, Tổ dốc sức nghiên cứu các bộ kinh
Pháp Hoa, Duy Ma v.v… Vào năm Trinh Quán thứ mười
lăm (641) đời Đường Thái Tông, tổ
Thiện Đạo đến chùa Huyền Trung tại Tây
Hà, nghe tổ Đạo Xước giảng kinh Quán Vô
Lượng Thọ bèn chuyên tâm dốc ý nơi Tịnh
Độ. Ngài Huệ Năng sinh năm 638 (tức năm
Trinh Quán 12 đời Đường Thái Tông), tịch
năm 713 (năm Khai Nguyên đời Đường Huyền
Tông). Lục Tổ Huệ Năng gặp sư Ấn Tông
nhằm vào năm Nghi Phụng nguyên niên (675) đời
Đường Cao Tông.
[13] Trong nguyên văn của bộ Sớ
Sao, tổ Liên Trì chia phần này thành ba tiểu đoạn:
Văn Trì (nghe và thọ trì), Lợi Ích và Khuyến Tín (khuyên
tin tưởng).
[14] Đây là phẩm vị thứ sáu trong
phần Thập Hồi Hướng. Trong kinh Bát Thập Hoa
Nghiêm, phẩm thứ hai mươi lăm là phẩm
Thập Hồi Hướng (kéo dài từ quyển 23
đến quyển 33). Pháp hội này được
giảng trong cung trời Đâu Suất. Trong pháp hội ấy,
Kim Cang Tràng Bồ Tát nương vào oai thần của
Tỳ Lô Giá Na Phật (Pháp Thân Phật) và mười
phương chư Phật, nói ra mười phẩm
vị Hồi Hướng là: 1) Cứu hộ nhất
thiết chúng sanh ly chúng sanh tướng hồi hướng,
2) Bất hoại hồi hướng, 3) Đẳng
nhất thiết chư Phật hồi hướng, 4) Chí
nhất thiết xứ hồi hướng, 5) Vô tận
công đức tạng hồi hướng, 6) Nhập
nhất thiết bình đẳng thiện căn hồi
hướng, 7) Đẳng tùy thuận nhất thiết
chúng sanh hồi hướng, 8) Chân Như tướng
hồi hướng, 9) Vô phược vô trước
giải thoát hồi hướng, 10) Nhập pháp giới vô
lượng hồi hướng. Phần kinh văn trích
dẫn trên đây xuất phát từ địa vị
Hồi Hướng thứ sáu (Nhập nhất thiết
bình đẳng thiện căn hồi hướng).