A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

阿彌陀經疏鈔演義

Phần 139

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và Đức Phong

Tập 277

 

          Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang năm trăm tám mươi:

 

          (Sao) Tam Tai cảm triệu giả, tham cảm cơ cẩn, sân cảm đao binh, si cảm tật dịch, năi chí thủy hỏa phong chi đại nạn, giai dĩ loại tùng, cố danh Trược dă. Phản hiển Cực Lạc quốc trung, nhân tất trí huệ, phi Phiền Năo Trược cố.

          (Diễn) Tam Tai cảm triệu giả, nhất Tiểu Tam Tai. Sơ cơ cẩn, nhân thọ giảm chí tam thập tuế thời, thiên bất giáng vũ, do đại hạn cố, thảo thái bất sanh, tư dục kiến thủy, thượng bất khả đắc, hà huống ẩm thực! Dĩ thị nhân duyên, thế gian nhân dân, cơ cẩn tử giả, kỳ số vô lượng. Nhị tật dịch, nhân thọ giảm chí nhị thập tuế thời, hữu đại tật dịch, chủng chủng chư bệnh, nhất thiết giai khởi. Dĩ thị nhân duyên, thế gian nhân dân, tật dịch tử giả, kỳ số vô lượng. Tam đao binh, nhân thọ giảm chí thập tuế thời, chư nhân các khởi đấu tranh, thủ chấp thảo mộc, tức thành đao thương, hỗ tương tàn hại. Dĩ thị nhân duyên, thế gian nhân dân, đao binh tử giả, kỳ số vô lượng. Nhị Đại Tam Tai giả, nhất Hỏa Tai, vị ư kiếp hoại thời, hữu thất nhật xuất hiện, đại địa, Tu Di, tiệm tiệm băng hoại. Tứ đại hải thủy, tiệm tiệm tiêu tận. Đại thiên thế giới cập Sơ Thiền Thiên, giai tất đỗng nhiên, vô hữu di dư. Thị danh Hỏa Tai. Nhị Thủy Tai, vị Sơ Thiền dĩ hạ, thất phiên Hỏa Tai, hoại ư thế giới chi hậu, thế giới phục thành. Hựu ư hoại kiếp chi thời, tiệm giáng đại vũ, trích như xa trục, cánh kiêm địa hạ thủy luân, dũng phí thượng đằng, đại thiên thế giới, năi chí Nhị Thiền Thiên, thủy giai di măn. Nhất thiết hoại diệt, như thủy tiêu diêm. Thị danh Thủy Tai. Tam Phong Tai, vị Nhị Thiền dĩ hạ, thất phiên Thủy Tai dĩ hậu, thế giới phục thành, hựu ư hoại kiếp chi thời, tùng hạ phong luân, hữu mănh phong khởi, kiêm dĩ chúng sanh nghiệp lực tận cố, xứ xứ sanh phong. Đại thiên thế giới, năi chí Tam Thiền Thiên, tất giai phiêu kích, đăng tận vô dư. Thị danh Phong Tai. Hựu phục đương tri, hỏa thiêu Sơ Thiền, hữu ngũ thập lục phiên, thủy yểm Nhị Thiền, hữu thất phiên, phong quát Tam Thiền, hữu nhất phiên. Hợp chi cộng lục thập tứ phiên dă.

          ()三災感召者,貪感饑饉,瞋感刀兵,痴感疾疫,乃至水火風之大難,皆以類從,故名濁也。反顯極樂國中,人悉智慧,非煩惱濁故。

         ()三災感召者。一小三災。初飢饉。人壽減至三十歲時。天不降雨。由大旱故。草菜不生。思欲見水尚不可得。何況飲食。以是因緣。世間人民飢饉死者。其數無量。二疾疫。人壽減至二十歲時。有大疾疫。種種諸病一切皆起。以是因緣。世間人民疾疫死者。其數無量。三刀兵。人壽減至十歲時。諸人各起鬥爭。手執草木即成刀鎗。互相殘害。以是因緣。世間人民刀兵死者。其數無量。二大三災者。一火災。謂於劫壞時。有七日出現。大地須彌漸漸崩壞。四大海水漸漸消盡。大千世界及初禪天。皆悉洞然無有遺餘。是名火災。二水災。謂初禪以下。七番火災。壞於世界之後。世界復成。又於壞劫之時。漸降大雨。滴如車軸。更兼地下水輪。涌沸上騰。大千世界乃至二禪天。水皆彌滿。一切壞滅。如水消鹽。是名水災。三風災。謂二禪以下。七番水災以後。世界復成。又於壞劫之時。從下風輪有猛風起。兼以眾生業力盡故。處處生風。大千世界乃至三禪天。悉皆飄擊。蕩盡無餘。是名風災。又復當知火燒初禪。有五十六番。水渰二禪有七番。風刮三禪有一番。合之共六十四番也。

(Sao: “Tam Tai cảm vời”: Tham cảm vời sự đói kém, sân cảm vời binh đao, si cảm vời bệnh dịch. Cho đến các tai nạn lớn như nước, lửa, gió, đều do những phiền năo tương ứng mà sanh ra. V́ thế, gọi là Trược. Nêu rơ sự tương phản: Trong cơi Cực Lạc, ai nấy đều có trí huệ, chẳng phải là Phiền Năo Trược.

          Diễn: “Tam Tai cảm vời”: Một là Tiểu Tam Tai. Thứ nhất là đói kém, khi con người chỉ c̣n thọ ba mươi tuổi, trời chẳng đổ mưa. Do vậy bị hạn hán to, cây cỏ chẳng mọc. Nghĩ mong thấy nước c̣n chưa thể được, huống là ăn uống! Do nhân duyên ấy, nhân dân trong thế gian chết v́ đói khát, số đến vô lượng. Hai là bệnh dịch, khi tuổi thọ con người giảm xuống c̣n hai mươi tuổi, có bệnh dịch lớn. Hết thảy các thứ bệnh tật đều cùng dấy lên. Do nhân duyên ấy, nhân dân trong thế gian chết v́ bệnh dịch, số đến vô lượng. Ba là đao binh, khi tuổi thọ con người giảm đến mười tuổi, mọi người ai nấy dấy ḷng tranh đấu. Cây cỏ cầm trong tay liền biến thành đao, thương, tàn hại lẫn nhau. Do nhân duyên ấy, nhân dân trong thế gian chết v́ đao binh, số đến vô lượng. Thứ hai là Đại Tam Tai. Một là Hỏa Tai, nghĩa là lúc kiếp hoại, có bảy mặt trời xuất hiện. Đại địa, núi Tu Di dần dần băng hoại, nước trong bốn biển cả dần dần cạn khô. Đại thiên thế giới cho đến trời Sơ Thiền đều rỗng tuếch, chẳng c̣n sót ǵ. Đó gọi là Hỏa Tai. Hai là Thủy Tai, nghĩa là từ trời Sơ Thiền trở xuống, bảy phen gặp Hỏa Tai. Thế giới sau khi đă hư hoại, lại khôi phục. Lại vào lúc Hoại Kiếp, dần dần đổ mưa to, giọt mưa to như trục bánh xe. Lại c̣n Thủy Luân ở dưới mặt đất, dâng vọt trào lên trên. Đại thiên thế giới cho đến trời Nhị Thiền, đều tràn ngập nước. Hết thảy hoại diệt, như nước ḥa tan muối. Đó gọi là Thủy Tai. Ba là Phong Tai, nghĩa là từ trời Nhị Thiền trở xuống, sau bảy phen Thủy Tai, thế giới lại khôi phục. Lại vào thời Hoại Kiếp, từ Phong Luân ở phía dưới [đại địa], có gió mạnh dấy lên. Lại do nghiệp lực của chúng sanh, gió nổi khắp nơi. Đại thiên thế giới, cho đến trời Tam Thiền, thảy đều bị gió vùi dập, tan nát hết sạch, chẳng c̣n sót ǵ. Đó là Phong Tai. Lại c̣n nên biết: Lửa cháy tới trời Sơ Thiền có năm mươi sáu lần, nước ngập tới trời Nhị Thiền bảy lần, gió trùm tới trời Tam Thiền một lần. Tính gộp chung là sáu mươi bốn lần [tai họa]).

 

          Trong đoạn khai thị này, đại sư đă nêu bày minh bạch. Trong kinh Đại Thừa, đức Phật thường nói: “Y báo chuyển theo chánh báo”. Chánh báo là ḷng người. Y báo là hoàn cảnh sống của chúng ta. Hoàn cảnh sống thiện hay ác, trên thực tế, lệ thuộc ḷng người. Ḷng người thiện, bèn cảm vời mưa ḥa, gió thuận. Ḷng người bất thiện, cảm vời Tam Tai Thủy, Hỏa, Phong. Đạo lư này, trừ Phật pháp ra, trong những nơi khác, bất luận là triết học hay khoa học, cho đến tôn giáo, đều vẫn chưa thể phát hiện. V́ thế, từ xưa tới nay, bất luận là Trung Hoa hay ngoại quốc, đối với những tai nạn tự nhiên, vĩnh viễn chẳng t́m thấy một phương pháp đối trị v́ chẳng hiểu các tai nạn ấy từ đâu sanh ra. Nói là “do ḷng người cảm ứng”, rất nhiều kẻ trong hiện thời chẳng thể tiếp nhận, chẳng thể tin tưởng. Họ nói chúng ta mê tín Phật pháp. Chúng ta cũng có thể chê ngược lại là họ mê tín khoa học. Rốt cuộc, ai mê, ai chẳng mê? Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật đă giảng đạo lư cảm ứng rất rơ ràng. Đối với những tai nạn ấy, ba câu trước nói về Tiểu Tam Tai, các đại nạn nước, lửa, gió trong phần sau là Đại Tam Tai. Sách Diễn Nghĩa đă chú giải [cặn kẽ]. Đối với “đao binh kiếp” trong Tiểu Tam Tai như kinh dạy, “đao binh” (刀兵) là chiến tranh, [kéo dài] bảy ngày bảy đêm. Tiếp theo đó sẽ là “tật dịch” (疾疫), tức tật bệnh, ôn dịch, bảy tháng lẻ bảy ngày, lại tiếp theo đó là cơ cẩn” (饑饉), [tức là] nạn đói kém suốt bảy năm bảy tháng.

          Đức Phật nói kiểu này, trước kia, người ta thật sự chẳng hiểu, chẳng có cách nào lư giải, nay th́ chúng ta đă hiểu rơ. Chư vị phải biết: Đại chiến thế giới lần thứ ba chính là Tiểu Tam Tai. Thời gian chiến tranh sẽ chẳng rất dài. Đúng là bảy ngày bảy đêm, chiến tranh bằng vũ khí nguyên tử mà! Sau khi chiến tranh kết thúc, bụi phóng xạ đầy ắp không trung, rơi xuống chỗ nào, người nơi ấy sẽ tử vong, bị bệnh v́ nhiễm phóng xạ, phải mất nửa năm, hoặc bảy tháng bảy ngày, có thể vượt qua được th́ người ấy coi như thoát khỏi một tai kiếp. Nếu không vượt qua được, chẳng có cách nào hết! Phàm là bom nguyên tử nổ ở chỗ nào, hoặc là nơi bị ô nhiễm bởi một số lượng lớn bụi phóng xạ, cỏ cây chẳng mọc được! Sau bảy năm bảy tháng, mặt đất mới có thể mọc cỏ. Đức Phật nói Tiểu Tam Tai, chính là thế gian này phát sanh chiến tranh vũ khí nguyên tử, Ngài nói đến sự kiện ấy.

Hai mươi năm trước, tôi đến thăm Trường Kỳ (Nagasaki, 長崎) và Quảng Đảo (Hiroshima, 廣島), lúc ấy vừa đúng tám năm [sau khi hai nơi ấy bị dội bom nguyên tử], mặt đất mới mọc cây cỏ. Tôi thấy t́nh h́nh ấy, bỗng dưng nghĩ tới Tiểu Tam Tai được nói trong kinh Phật, vỡ lẽ: Vốn là chuyện như thế đó, hết sức đáng sợ! Hiện thời, người phương Tây thường có tư tưởng rất ngờ nghệch, cho rằng mỗi quốc gia đều có thể chế tạo vũ khí nguyên tử, thế lực về phương diện vũ khí hạch nhân sẽ cân bằng, chiến tranh chẳng thể bùng nổ được! Họ liều mạng phát triển vũ khí nguyên tử, c̣n nói sẽ chẳng phát sanh chiến tranh. Mọi người đều biết: Cuộc chiến tranh ấy là cuộc chiến mang tánh chất hủy diệt, là cuộc chiến tranh chẳng có thua hay thắng, là một loại chiến tranh cùng nhau chết sạch! Đương nhiên, kẻ có đầu óc rất tỉnh táo, thần trí b́nh thường, sẽ chẳng phát động, nhưng trong thế giới hiện thời, chúng ta lắng ḷng quan sát, sẽ thấy rất đáng sợ. V́ sao? Có chẳng ít kẻ bất b́nh thường, nếu trong tay kẻ bất b́nh thường có vũ khí nguyên tử, sẽ rắc rối to lớn! Rất có thể là sẽ thấy tai nạn này xảy ra trong một đời này của chúng ta!

          Chúng ta nh́n vào xă hội hiện tại và ḷng người hiện thời, Tam Độc phiền năo tham, sân, si chẳng giảm thiểu, mỗi năm một tăng trưởng, tăng trưởng với tốc độ nhanh hơn, quả báo sẽ là Tam Tai. Mắt thấy Tam Tai ngày một gần hơn, chẳng biết phát sanh lúc nào, hết sức đáng sợ! Con đường sống sót duy nhất của chúng ta là buông xuống vạn duyên, thật thà niệm Phật. Không chỉ là niệm Phật, mà c̣n phải toàn tâm toàn lực khuyên mọi người niệm Phật. Người niệm Phật đông đảo, dẫu chẳng thể tiêu trừ kiếp nạn này, nhưng chúng ta có thể tin tưởng kiếp nạn này sẽ giảm nhẹ, [bởi lẽ] trong cộng nghiệp c̣n có biệt nghiệp. Nay chúng ta đă hiểu minh bạch, hiểu rơ ràng: Trong các pháp của mười phương ba đời hết thảy chư Phật Như Lai, Niệm Phật Văng Sanh Tịnh Độ là pháp môn bậc nhất. Trong nhiều năm qua, coi như là chúng ta thấy rơ ràng, thấy minh bạch điều này, tạm thời những kinh luận và pháp môn khác đều buông xuống hết. Chẳng phải là những pháp ấy không hay, nhưng chúng không cứu văn kịp chứng bệnh trong hiện thời. Chỉ có ḿnh bộ kinh này và pháp môn này là có thể cứu giúp trong cơn ngặt nghèo! Nhất định là phải tín nguyện tŕ danh, cầu sanh Tịnh Độ. Tiếng tăm, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần trong thế gian hăy buông xuống, chớ nên ghim trong ḷng, hăy buông xuống từ trong tâm. Nếu chính ḿnh c̣n có chút năng lực, hăy làm nhiều chuyện tốt đẹp. Nếu không, trong tương lai, Tam Tai hiện tiền, mong làm chuyện tốt sẽ chẳng c̣n có cơ hội nữa. Để làm chuyện tốt, cũng phải nắm bắt cơ hội! Tới khi ấy, mong làm chuyện tốt, chẳng c̣n có cơ hội nữa, đó mới là thật sự đáng tiếc, thật sự đáng than thở! Trong hiện tại, khi thân thể chúng ta khỏe mạnh, đầu óc rất sáng suốt, khi hăy c̣n có một chút phước báo nhỏ nhoi, phải nghiêm túc nỗ lực.

Chiến tranh, ôn dịch, đói kém là do nghiệp lực cảm vời, do tham, sân, si cảm vời. Đại Tam Tai cũng là do ba thứ nghiệp ấy cảm thành, đương nhiên càng phải nặng nề hơn so với hiện thời. Trong chú giải có [đề cập] Đại Tam Tai, gần như là đến khi đại kiếp sắp tận. Trong một đại kiếp, có bốn trung kiếp, tức là Thành, Trụ, Hoại, Không. Khi Hoại Kiếp bắt đầu, [Đại Tam Tai] sẽ hiện tiền vào khi ấy. Khi nhân loại tham, sân, si đạt tới tột đỉnh, thế giới này sẽ hoại. Từ chỗ này, chúng ta có thể liên tưởng: Thành, Trụ, Hoại, Không của thế giới này đều do nghiệp lực của chúng sanh biến hiện. Thế giới này chẳng phải là do Thượng Đế sáng tạo, chẳng phải là do Phật, Bồ Tát tạo ra, mà là do cộng nghiệp của chúng ta cảm vời, do nghiệp lực biến hiện.

 

          (Diễn) Giai dĩ loại tùng giả, sân cảm Hỏa Tai, tham cảm Thủy Tai, si cảm Phong Tai.

          ()皆以類從者,瞋感火災,貪感水災,痴感風災。

(Diễn: “Đều do một loại phiền năo mà sanh ra”: Sân cảm Hỏa Tai, tham cảm Thủy Tai, si cảm Phong Tai).

 

          Tướng của Si là tướng động, nó chẳng phải là tĩnh lặng. Si là vô minh. Đức Phật bảo chúng ta: Hỏa Tai trong Đại Tam Tai có thể cháy tới Sơ Thiền Thiên, toàn bộ sáu tầng trời của Dục Giới đều hủy hoại. Dục Giới chẳng c̣n nữa, cho đến tầng trời Sơ Thiền cũng bị hủy hoại. Thủy Tai có thể ngập đến Nhị Thiền Thiên, Phong Tai có thể thổi hư nát Tam Thiền Thiên. Điều này thật sự chẳng thể nghĩ bàn. Chư vị ngẫm xem, Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, người có công phu định lực khá sâu mới có thể sanh đến những nơi ấy. Người tu Thiền Định trong hiện thời, dẫu tu thành công, sanh lên Sơ Thiền, Nhị Thiền, hoặc Tam Thiền, vẫn chẳng tránh khỏi gặp nạn Tam Tai. Măi cho đến Đệ Tứ Thiền Thiên mới là ổn thỏa, chẳng gặp Tam Tai. V́ thế, Đệ Tứ Thiền Thiên gọi là Phước Thiên, thật sự có phước báo.

Tuy [Đệ Tứ Thiền Thiên] chẳng có Tam Tai, nhưng chư vị phải hiểu: Tứ Thiền và Tứ Không[1] vẫn có thọ mạng. Thọ mạng đă hết, vẫn phải đọa lạc xuống dưới. V́ thế, Sắc Giới và Vô Sắc Giới đều chẳng phải là rốt ráo, phải biết điều này. Nếu sanh về đó, tốn nhiều công tu Định, tu Thập Thiện, tu Tứ Vô Lượng Tâm, đạt được quả báo trọn chẳng phải là viên măn rốt ráo. V́ thế, hết thảy chư Phật khuyên dạy chúng ta: Nhất định phải cầu sanh Tịnh Độ. Cầu sanh Tịnh Độ, nói thật ra, chúng ta sử dụng công phu [đỡ tốn sức] hơn sanh lên Sơ Thiền Thiên rất nhiều! Điều này cho thấy: Sanh về Tịnh Độ dễ dàng, sanh lên Sơ Thiền Thiên khó khăn. Không chỉ là sanh lên Sơ Thiền Thiên khó khăn, mà sanh vào Đao Lợi Thiên trong Dục Giới Thiên đều chẳng dễ dàng. V́ thế, pháp môn này được gọi là “pháp khó tin” là có lư. Há lẽ nào [sanh về nơi có] quả báo thù thắng viên măn như vậy lại dễ hơn sanh về Đao Lợi Thiên? Thật đấy, chẳng giả đâu nhé!

          Đó gọi là Trược, trược ác, Ngũ Trược ác thế. Phơi bày sự tương phản: Tây Phương Cực Lạc thế giới “nhân tất trí huệ” (ai nấy đều có trí huệ). Người có trí huệ bèn chẳng có tâm tham. Có trí huệ bèn chẳng có sân khuể, ganh tỵ. Nếu chúng ta c̣n có tâm tham, tâm sân khuể, quư vị phải ghi nhớ, chẳng có trí huệ! Người thật sự có trí huệ, chẳng có tham, sân, si, trí huệ mới hiện tiền. “Phi Phiền Năo Trược” (Chẳng phải là Phiền Năo Trược), người trong Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng có tham, sân, si. V́ vậy, thế giới ấy không chỉ là chẳng có Đại Tam Tai, mà ngay cả Tiểu Tam Tai cũng chẳng có.

 

          (Sớ) Chúng Sanh Trược giả, nhất vân A Hàm tam nghĩa vi Thể, hựu vân lăm Ngũ Ấm, kiến, mạn, quả báo vi thể. Ác danh uế xưng, tức kỳ tướng dă.

          ()眾生濁者,一云阿含三義為體,又云攬五陰見慢果報為體,惡名穢稱,即其相也。

(Sớ: Chúng Sanh Trược (Sattvakaṣāya): Một thuyết nói là dùng ba nghĩa trong kinh A Hàm để làm Thể [của Chúng Sanh Trược]. Lại nói: Ḥa hợp Ngũ Ấm, kiến, mạn, quả báo để làm Thể. Danh xưng xấu ác chính là tướng của nó vậy).

 

          Trong Phật môn thường nghe nói theo hai cách này. Trong pháp Đại Thừa, ư nghĩa thứ hai được nói nhiều hơn.

 

          (Sao) Tam nghĩa giả, A Hàm kinh vân: Nhất giả, kiếp sơ Quang Âm hạ sanh; nhị giả, lăm chúng Ấm nhi sanh; tam giả, xứ xứ thọ sanh. Cố vân chúng sanh.

()三義者,阿含經云:一者,劫初光音下生;二者,攬眾陰而生;三者,處處受生,故云眾生。

(Sao: “Ba nghĩa” là như kinh A Hàm nói: Một là thuở kiếp sơ, [chúng sanh từ] cơi trời Quang Âm hạ sanh. Thứ hai là do Ngũ Ấm ḥa hợp sanh ra. Ba là thọ sanh trong các chỗ [thuộc sáu đường], nên gọi là “chúng sanh”).

 

          Đức Phật dạy điều này trong kinh A Hàm.

1) Thứ nhất, “kiếp sơ” (劫初) là nói đến Thành Kiếp (成劫), tức là thế giới này đă thành tựu, [trong bốn trung kiếp] Thành, Trụ, Hoại, Không, Thành Kiếp là “kiếp sơ”. Trên thế giới này, thuở ban đầu không có ai, con người từ đâu đến? Con người từ Quang Âm Thiên hạ sanh. Hiện thời, bên ngoại quốc, rất nhiều nhà khoa học đồng ư với cách nói này. Họ chẳng nói là Quang Âm Thiên, mà nói là “người từ ngoài vũ trụ”. Họ lại c̣n t́m thấy khá nhiều chứng cứ khoa học [chứng tỏ] con người từ ngoài không gian đến địa cầu này. Có thể là sau khi đă đến đây, công cụ phi hành của họ bị trục trặc, chẳng trở về được nữa. Sau đấy, họ ở lại địa cầu, đó là tổ tiên của nhân loại. Vào thuở ấy, địa cầu là một vùng hoang phế, phương thức sống của họ cũng chẳng khác các loài dă thú cho mấy! Kinh Phật cũng nói theo kiểu như vậy: [Con người] từ Quang Âm Thiên [hạ sanh]. Quang Âm Thiên là Nhị Thiền Thiên, người từ trời Nhị Thiền đến nơi này.

2) Thứ hai, “lăm chúng Ấm nhi sanh” (ḥa hợp các Ấm mà sanh); đấy là nói theo Lư. Điều thứ nhất trong phần trước là nói nhân loại rốt cuộc từ đâu tới? Nhân loại sanh ra như thế nào? “Lăm chúng Ấm” (Ḥa hợp các Ấm), “chúng Ấm” là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Thân thể hiện thời của chúng ta, tất cả hết thảy động vật, nói theo Phật pháp là “hữu t́nh chúng sanh”, đều do Ngũ Ấm ḥa hợp hiện ra thân tướng.

3) Thứ ba là “xứ xứ thọ sanh” (thọ sanh trong các chỗ). Chữ “xứ xứ” (處處) chỉ lục đạo. Lục đạo không chỉ ở trên địa cầu này, phạm vi của nó là một tam thiên đại thiên thế giới. Một đại thiên thế giới có mười ức đơn vị thế giới (một hệ Ngân Hà là một đơn vị thế giới). Có những vị Phật khi đă thành Phật, khu vực giáo hóa của Ngài là hai đại thiên thế giới, hoặc ba đại thiên thế giới, cho đến mười mấy đại thiên thế giới, chẳng giống nhau! Một vị Phật trước khi thành Phật, kết pháp duyên rộng răi cùng chúng sanh, sau khi thành Phật, khu vực giáo hóa bèn rộng răi. Kết duyên ít, khu vực giáo hóa bèn nhỏ. “Xứ xứ thọ sanh” là nói rơ chúng ta chẳng có năng lực vượt thoát lục đạo, tức là chẳng có năng lực vượt thoát đại thiên thế giới này. Nói cách khác, không gian hoạt động của chúng ta là trong mười ức hệ Ngân Hà. Hiện thời, dân cư trên địa cầu tăng mạnh, những người ấy từ đâu tới? Từ các tinh cầu khác đầu thai đến đây. Hiện thời, bên ngoại quốc, dùng phương pháp thôi miên khiến cho người được thôi miên nói ra đời trước của họ (ngôn ngữ và văn tự [do họ sử dụng trong lúc bị thôi miên] hoàn toàn khác với chúng ta), rất nhiều người là từ các tinh cầu khác đến. Điều này cũng được chứng minh. Loài người chúng ta ở nơi này sau khi chết đi, cũng có thể đến tinh cầu khác đầu thai. Do vậy, đại thiên thế giới này chính là không gian sống của bọn phàm phu chúng ta, tức là những chúng sanh chưa đoạn tham, sân, si, mạn. Nếu vượt thoát lục đạo luân hồi, sẽ vượt thoát đại thiên thế giới, thường gọi là “tận hư không khắp pháp giới”, phạm vi hoạt động bèn rộng lớn.

          Nói theo pháp Đại Thừa, hiện tượng do các duyên ḥa hợp sanh khởi được gọi là “chúng sanh”. Định nghĩa này bao gồm động vật, thực vật, và khoáng vật, cho đến các hiện tượng tự nhiên. “Duyên” là điều kiện, “chúng duyên ḥa hợp” là khá nhiều điều kiện [kết hợp lại]. Kinh Hoa Nghiêm nói, lớn như hư không, nhỏ như vi trần, đều do vô lượng nhân duyên thành tựu. Các duyên ấy chẳng đơn giản, chẳng đơn thuần, mà hết sức phức tạp. Kinh Hoa Nghiêm giảng chuyện này đích xác là có đạo lư rất sâu, chúng ta càng nghĩ, càng thấy chân thật; càng nghĩ, càng cảm thấy kinh dạy hợp t́nh hợp lư. Một vi trần tuy bé, thế giới tuy to, chúng được thành tựu phức tạp giống hệt như nhau. Đối với mức độ phức tạp ấy, tuyệt đối chẳng thể nói là thế giới [phức tạp] nhiều hơn một chút, vi trần ít hơn một chút, chẳng có chuyện ấy! Kinh Hoa Nghiêm nói “một và nhiều chẳng hai”. Bản thân mỗi người chúng ta biết vũ trụ rất phức tạp, thế giới rất phức tạp, sự phức tạp của vọng niệm trong đầu óc chúng ta hoàn toàn tỷ lệ thuận với sự phức tạp ấy (sự phức tạp của thế giới và vũ trụ). Đây là sự thật ngàn muôn phần xác thực. Đó gọi là “các duyên ḥa hợp mà sanh”, nên gọi là “chúng sanh”. Các duyên hết sức phức tạp, [đức Phật] quy nạp chúng thành năm loại lớn, tức là Ngũ Ấm. Giới thiệu và thuyết minh như vậy th́ sẽ thuận tiện hơn!

 

          (Sao) Ngũ Ấm, tức Sắc, Thọ đẳng.

          ()五陰,即色受等。

          (Sao: Ngũ Ấm chính là Sắc, Thọ v.v…)

 

          Ngũ Ấm là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, những điều này được kinh Đại Thừa, đặc biệt là kinh Bát Nhă giảng hết sức nhiều. Nay chúng ta gọi Sắc trong Ngũ Uẩn là “vật chất”. Chúng ta chia hết thảy các pháp thành hai loại lớn: Một loại là vật chất, loại kia là tinh thần. Đấy là cách phân loại hiện thời. Phật pháp cũng chia theo cách như vậy, tức là chia [các pháp] thành Sắc và Tâm. Sắc (Rūpa) là vật chất, Tâm (Citta) là tinh thần. Đức Phật lại chia tâm pháp thành bốn loại: Thọ, Tưởng, Hành, Thức.

1) Thọ (, Vedanā) có nghĩa là cảm nhận, lănh nạp. Sáu căn của chúng ta tiếp xúc cảnh giới bên ngoài, gặp cảnh giới vừa ḷng bèn có cảm nhận vui sướng, thoải mái. Gặp cảnh trái ư, sẽ có cảm nhận chán ghét. Loại này được gọi là Thọ, tức là cảm giác khi quư vị tiếp xúc. Đó là Thọ.

2) Tưởng (, Samjñā) là ư niệm, nay chúng ta nói tới kiến giải hoặc tư tưởng, chúng đều gộp trong loại này. Đấy cũng là nói tới cách nghĩ và cách nh́n của chúng ta đối với vũ trụ và nhân sinh. Loại này thuộc về tâm lư.

3) Thứ ba là Hành (, Samskāra), mang ư nghĩa “chẳng trụ”, cũng có nghĩa là nó chẳng ngừng. Người thế gian thường nói “thanh xuân chẳng c̣n măi, chẳng giữ được”. Đó chính là ư nghĩa của Hành. Hành là mỗi niệm đều dời đổi, biến hóa trong mỗi niệm, chẳng dừng nghỉ.

4) Thức (, Vijñāna) là bản thể của Tâm. Ba loại trước là tác dụng của cái tâm.

 

          (Sao) Kiến giả, hoành kế chủ tể vi Kiến Ngă.

          (Diễn) Hoành kế chủ tể vi kiến Ngă giả, “hoành kế” vị hoành sanh kế độ. Chủ tể tức Ngă Chấp dă. Thử tức Phân Biệt Ngă Chấp. Duy Thức vân: Phân Biệt Ngă Chấp thị do hiện tại ngoại duyên lực cố, phi dữ thân câu. Yếu đăi tà giáo, cập tà phân biệt, nhiên hậu phương khởi. Cố danh Phân Biệt, duy tại đệ lục ư thức trung hữu thị dă. Kiến Ngă, như kế “tức Sắc thị Ngă, ly Sắc thị Ngă, Ngă đại Sắc tiểu, Sắc tại Ngă trung, Sắc đại Ngă tiểu, Ngă tại Sắc trung đẳng”. Thử tùng tà sư huấn hối, nhi thành Phân Biệt Ngă dă.

()見者,橫計主宰為見我。

()橫計主宰為見我者。橫計謂橫生計度。主宰即我執也。此即分別我執。唯識云。分別我執。是由現在外緣力故。非與身俱。要待邪教。及邪分別然後方起。故名分別。唯在第六意識中有是也。見我。如計即色是我。離色是我。我大色小。色在我中。色大我小。我在色中等。此從邪師訓誨。而成分別我也

          (Sao: Kiến: Ngang ngạnh nẩy sanh Ngă Chấp, đó là Kiến Ngă (cái Ngă hư vọng nẩy sanh do kiến giải sai lầm).

Diễn: “Hoành kế chủ tể vi kiến Ngă”: “Hoành kế” là ngang ngược nẩy sanh sự so đo. “Chủ tể” là Ngă Chấp. Đây chính là Phân Biệt Ngă Chấp. Duy Thức nói Phân Biệt Ngă Chấp là do sức của ngoại duyên trong hiện tại, chẳng phải là bẩm sinh, phải chờ đến sau khi được dạy dỗ tà vạy và do phân biệt tà vạy th́ nó mới sanh khởi. V́ thế, gọi là Phân Biệt. Chấp trước này chỉ tồn tại trong ư thức, tức thức thứ sáu. “Kiến Ngă” là so đo “Sắc chính là Ngă, ĺa Sắc là Ngă, Ngă lớn Sắc nhỏ, Sắc ở trong Ngă, Sắc lớn Ngă nhỏ, Ngă ở trong Sắc” v.v… Những điều này đều do tà sư dạy dỗ mà thành phân biệt Ngă).

 

          Trong hết thảy các kiến giải sai lầm, có hai điều nghiêm trọng nhất, khiến cho chúng ta bị vây hăm chặt chẽ trong sanh tử luân hồi, vĩnh viễn chẳng thể xuất ly. Một là Kiến Ngă, hai là Mạn Ngă. Hai thứ này là chấp trước kiên cố. “Hoành kế” (橫計): “Kế” () là so đo, phân biệt, “hoành” () là chẳng có lư do, chẳng có căn cứ, nhưng cứ khăng khăng chấp trước như thế. Chấp trước thân này là Ta, Ta là chúa tể. Đó là sai lầm. Phật pháp nói Vô Ngă. Vô Ngă là để phá chấp trước này, phá Thân Kiến, phá Ngă Kiến.

Kinh Kim Cang nói: “Bồ Tát có Ngă Kiến, Nhân Kiến, Chúng Sanh Kiến, Thọ Giả Kiến th́ chẳng phải là Bồ Tát”. Chủ yếu nhất là Ngă Kiến, ba thứ sau đó là phụ trợ. V́ có ta th́ mới có người, ta và người đối lập. Chẳng có ta, lấy đâu ra người? Có ta th́ mới có chúng sanh, mới đối lập với chúng sanh. Có ta th́ mới có ham muốn mong cầu thọ mạng, cầu trường thọ. Ta đă chẳng có, th́ ba thứ sau đó đều chẳng có.

Phật pháp nói: Nếu phá trừ Ngă Kiến, bèn chứng quả Tu Đà Hoàn, tức Tiểu Thừa Sơ Quả. Tiểu Thừa Sơ Quả là thánh nhân, chứng đắc Vị Bất Thoái trong ba thứ Bất Thoái. Vị Bất Thoái nghĩa là quư vị tuyệt đối chẳng lùi trở lại thành phàm phu. Cũng có nghĩa là tính từ ngày chứng đắc Tu Đà Hoàn, sau khi đă phá trừ Ngă Kiến, tính từ ngày ấy, nếu học Tiểu Thừa, qua lại bảy lần trong cơi trời và nhân gian xong, sẽ nhất định chứng quả A La Hán. Cũng có nghĩa là đă vượt thoát lục đạo luân hồi, đột phá phạm vi của tam thiên đại thiên thế giới, không gian sống của quư vị bèn to lớn. Chuyện là như thế đó. Trong Đại Thừa Viên Giáo, quư vị là bậc Bồ Tát thuộc địa vị Sơ Tín. Trong năm mươi mốt tầng cấp của Đại Thừa Bồ Tát, quư vị dự vào địa vị Sơ Tín. Địa vị Sơ Tín là đoạn Kiến Hoặc. So sánh địa vị Sơ Tín và Tiểu Thừa Sơ Quả, công phu đoạn chứng bằng nhau, đều là đoạn Kiến Hoặc; nhưng nói theo phương diện trí huệ, hoàn toàn khác nhau. Đại Thừa trí huệ cao, Tiểu Thừa trí huệ ít ỏi, chẳng có cách nào so sánh được! V́ thế, kiến chấp này là một sai lầm rất lớn, nẩy sanh sự so sánh ngang ngạnh, sanh ra một thứ Ngă Chấp.

 

          (Sao) Mạn giả, câu sanh chủ tể vi Mạn Ngă.

          (Diễn) Câu sanh chủ tể vi Mạn Ngă giả, câu sanh đối phân biệt nhi ngôn. Dữ sanh câu sanh, phi cưỡng tư kế độ khởi cố. Chủ tể giả, Ngă Chấp dă. Thử tức Câu Sanh Ngă Chấp. Duy Thức vân: Câu Sanh Ngă Chấp, vô thỉ thời lai, hư vọng huân tập nội nhân lực cố, hằng dữ thân câu, bất đăi tà giáo, cập tà phân biệt, nhậm vận nhi chuyển. Cố danh Câu Sanh. Thử phục nhị chủng: Nhất thường tương tục, tại đệ thất thức. Nhị hữu gián đoạn, tại đệ lục thức, thị dă. Mạn Ngă hữu thất: Nhất, ngă mạn; nhị, mạn; tam, quá mạn; tứ, mạn quá mạn; ngũ, tăng thượng mạn; lục ty liệt mạn; thất, tà mạn. Thử thất chủng, giai y Ngă tướng nhi sanh, giai vi Mạn Ngă. Thử tắc bất dụng giáo hối, sanh lai tức hữu, câu sanh ngă dă.

            ()慢者,俱生主宰為慢我。

         ()俱生主宰為慢我者。俱生對分別而言。與生俱生。非強思計度起故。主宰者。我執也。此即俱生我執。唯識云。俱生我執。無始時來。虛妄熏習內因力故。恒與身俱。不待邪教。及邪分別。任運而轉。故名俱生。此復二種。一常相續。在第七識。二有間斷。在第六識。是也。慢我有七。一、我慢。二、慢。三、過慢。四、慢過慢。五、增上慢。六、卑劣慢。七、邪慢。此七種皆依我相而生。皆為慢我。此則不用教誨。生來即有。俱生我也。

         (Sao: Mạn (Māna): Cái ngă chấp bẩm sinh là Mạn Ngă.

          Diễn: “Câu sanh chủ tể vi Ngă Mạn”: Câu Sanh là nói phối ứng với phân biệt, có nghĩa là hễ sanh ra là đă có, chẳng phải tốn công sức suy lường để dấy lên. “Chủ tể” là Ngă Chấp. Đấy chính là Câu Sanh Ngă Chấp. Duy Thức nói: Câu Sanh Ngă Chấp là do sức huân tập hư vọng của cái nhân bên trong từ thời vô thỉ. Nó luôn sanh cùng cái thân, chẳng cần đợi được dạy dỗ tà vạy và tà phân biệt, tùy ư xoay chuyển. V́ thế, gọi là Câu Sanh (bẩm sinh). Thứ này lại có hai loại: Một là thường liên tục trong thức thứ bảy; hai là có lúc gián đoạn, ở trong thức thứ sáu. Mạn có bảy loại: Một là Ngă Mạn, hai là Mạn, ba là Quá Mạn, bốn là Mạn Quá Mạn, năm là Tăng Thượng Mạn, sáu là Ty Liệt Mạn, bảy là Tà Mạn[2]. Bảy loại này đều nương vào Ngă tướng để sanh, đều là Mạn Ngă. Những thứ này chẳng cần phải dạy dỗ, sanh ra đă có, là cái Ngă bẩm sanh vậy).

 

          “Mạn” () là phiền năo. Loại phiền năo dấy lên hiện hành vào lúc tối sơ chính là loại này. Nếu chúng ta chú tâm quan sát, sẽ có thể nhận thấy. Quan sát trẻ thơ, hoặc những đứa bé, khi chúng c̣n chưa biết tham, mà cũng chưa biết sân, chúng đă có cái Mạn này, chúng có thể biểu hiện ra. Mạn là bẩm sinh, chúng nó chẳng cần phải học. Có những nghiệp nhân ấy, đương nhiên là có quả báo.

 

          (Sao) Quả báo giả, tiền sở tác nhân, kim thọ quả báo, diệc thượng thọ sanh nghĩa dă.

          ()果報者,前所作因,今受果報,亦上受生義也。

(Sao: Quả báo: Do cái nhân đă tạo từ trước, nay nhận lănh quả báo, cũng là ư nghĩa “thọ sanh” trong phần trước).

 

          Đây cũng là ư nghĩa Thọ Sanh trong Ngũ Ấm. Trong Duy Thức Luận có nói hết thảy hữu t́nh chúng sanh lănh chịu “quả báo”. Báo có hai loại:

1) Một loại gọi là Dẫn Nghiệp (引業), sẽ dẫn dắt quư vị đến đầu thai trong đường nào. Như hiện thời chúng ta đều đầu thai trong loài người, [là do có] Dẫn Nghiệp giống nhau. Đó là Cộng Nghiệp dẫn chúng ta đều vào nhân đạo, đầu thai nơi này.

2) Sanh vào thế gian này, mỗi người chúng ta tướng mạo khác nhau, trạng huống sức khỏe của thân thể khác nhau, hoàn cảnh sống của mỗi người khác nhau. Đó gọi là Măn Nghiệp (滿業).

Măn Nghiệp thuộc về biệt nghiệp, biệt báo; Dẫn Nghiệp thuộc loại cộng nghiệp, cộng báo, khác nhau! Hết thảy chúng sanh, kể cả chư Phật, Bồ Tát, đều chẳng có cách nào ĺa khỏi nhân duyên quả báo. Đă thành Phật, có phải lănh chịu quả báo hay không? Thưa cùng chư vị, vẫn phải lănh chịu. Chẳng thể nói là “đă thành Phật, sẽ không bị”, chẳng có đạo lư ấy! Chư Phật, Bồ Tát lănh chịu quả báo chẳng giống chúng ta. Chúng ta nhận lănh quả báo mà chẳng cam ḷng, chẳng ưng chịu, lúc hứng chịu bèn oán trời hờn người, lại tạo vô lượng tội nghiệp. Chư Phật, Bồ Tát hứng chịu quả báo, lănh nhận rất cam tâm, lănh nhận rất t́nh nguyện, rất vui sướng lănh nhận. V́ sao? Giống như thiếu nợ th́ phải trả tiền. Sau khi đă trả xong bèn hết chuyện. Đó là sự khác biệt giữa mê và ngộ. Chư Phật, Bồ Tát hứng chịu quả báo, hiểu rơ tiền căn, hậu quả. Lũ phàm phu chúng ta hồ đồ, mờ mịt hứng chịu; trong khi hứng chịu, lại tạo nghiệp. Lại c̣n tạo càng nặng hơn, quả báo trong đời sau càng khổ, mỗi lúc một tệ hơn, cuộc sống rất khổ sở! Chẳng như Phật, Bồ Tát chịu quả báo, mỗi lần đều đền trả xong xuôi, mỗi lần đều kết thúc, các Ngài không ngừng tiến cao hơn, c̣n chúng ta không ngừng đọa lạc. Do vậy, khởi tâm động niệm, ngôn ngữ, tạo tác, chẳng thể không cẩn thận, chớ nên chẳng chú ư! Hại chính ḿnh th́ vẫn chưa sao, tổn hại người khác, tổn hại xă hội, tổn hại đại chúng, tội lỗi ấy nặng nề lắm! Trong kinh Phật đă nói những đạo lư và chân tướng sự thật này rất nhiều.

 

         (Sao) Ác danh uế xưng giả, sanh Phật tương đối, chúng sanh chi danh, hạ liệt bỉ lậu, luân hồi lục đạo, bị thọ chư khổ, cố vân Trược dă. Phản hiển Cực Lạc quốc trung, chư thượng thiện nhân đồng hội nhất xứ, phi Chúng Sanh Trược cố.

          ()惡名穢稱者,生佛相對,眾生之名,下劣鄙陋,輪迴六道,備受諸苦,故云濁也。反顯極樂國中,諸上善人同會一處,非眾生濁故。

(Sao: “Danh xưng xấu ác”: So sánh chúng sanh và Phật th́ danh xưng của chúng sanh kém hèn, thô lậu, luân hồi trong lục đạo, chịu đủ mọi nỗi khổ. V́ thế nói là Trược. Nêu rơ sự tương phản với cơi Cực Lạc, [trong cơi ấy], các vị thượng thiện nhân nhóm họp một chỗ, chẳng phải là Chúng Sanh Trược).

 

          Thế giới Tây Phương được gọi là Thanh Thái, Thanh Lương, hoặc An Khang. Nhất là trong kinh, đức Phật đă giới thiệu “chư thượng thiện nhân”, “thượng thiện” chỉ bậc Đẳng Giác Bồ Tát, nói rơ người chứng quả vị Đẳng Giác trong thế giới Tây Phương hết sức đông. Phàm phu chúng ta đến Tây Phương Cực Lạc thế giới thành tựu hết sức nhanh chóng! Chiếu theo trạng huống do đức Phật đă nói trong kinh, đại khái, chúng ta có thể suy ra: Do đức Phật đă nói bậc thượng thiện nhân trong Tây Phương Cực Lạc thế giới rất đông, chẳng có cách nào tính toán được; chỉ có thể nói là “vô lượng vô biên A-tăng-kỳ”. Nói cách khác, nhất định là phải hơn một nửa th́ mới nói là đa số. Số lượng thượng thiện nhân chiếm đa số!

A Di Đà Phật thành Phật tới nay mới mười kiếp, [tức là] những vị Đẳng Giác Bồ Tát ấy đều thành tựu trong ṿng mười kiếp. Mười kiếp thành tựu th́ khi A Di Đà Phật thành Phật, người văng sanh trong kiếp thứ nhất nay đă chứng đắc Đẳng Giác, vậy th́ trong mười kiếp, họ (những người phải mất mười kiếp mới thành Đẳng Giác Bồ Tát) chỉ chiếm một phần mười. Người văng sanh trong kiếp thứ hai cũng thành Đẳng Giác, số người ấy phải nên là hai phần mười. Người văng sanh từ kiếp thứ năm trở đi cũng thành Đẳng Giác, th́ Đẳng Giác Bồ Tát trong thế giới Tây Phương sẽ chiếm một nửa, chiếm nửa số [nhân dân]. Kiếp thứ sáu văng sanh, nay cũng thành Đẳng Giác, như vậy sẽ là hơn phân nửa. Quan sát từ chỗ này, người b́nh phàm sanh về thế giới Tây Phương, đại khái là trong hai ba kiếp bèn có thể thật sự chứng đắc quả vị Đẳng Giác. Thật sự là pháp khó tin!

Quán Kinh cho biết: Hạ hạ phẩm văng sanh trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư, sanh về Tây Phương, phải mất mười hai kiếp mới có thể thành tựu. Đó là hạ hạ phẩm văng sanh, là thiểu số, chẳng phải là đa số. Hạ phẩm trung sanh, sáu kiếp bèn hoa nở, thấy Phật, ngộ Vô Sanh. Chư vị ngẫm xem, sáu kiếp bèn thành tựu. Vậy th́ văng sanh trong kiếp thứ nhất, văng sanh trong kiếp thứ hai, kiếp thứ ba, kiếp thứ tư, kiếp thứ năm đều thành tựu. Quư vị cứ tính như thế, mới hiểu Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng thể nghĩ bàn! Thành tựu nhanh chóng, trong bất cứ cơi Phật nào, cũng đều chưa hề nghe nói, Thích Ca Mâu Ni Phật chưa hề nói [có chuyện tương tự như vậy trong các cơi Phật khác]. Chỉ có trong cơi ấy (cơi Cực Lạc) là thành tựu mau chóng. V́ sao? Viên chứng ba món Bất Thoái, chư thượng thiện nhân nhóm họp một chỗ, hằng ngày ở cùng một chỗ với Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Thế Chí, làm sao quư vị thoái chuyển cho được? Chẳng thể nào có chuyện ấy! Thầy tốt, A Di Đà Phật, và mười phương chư Phật Như Lai là thầy, Đẳng Giác Bồ Tát là bạn học. Hoàn cảnh tu học như vậy th́ đương nhiên là thành tựu nhanh chóng.

 

          (Sớ) Mạng Trược giả, dĩ sắc tâm liên tŕ vi thể, thôi niên giảm thọ, tức kỳ tướng dă.

          ()命濁者,以色心連持為體,催年減壽,即其相也。

(Sớ: Mạng Trược (Āyuskaṣāya) là dùng Sắc và Tâm duy tŕ lẫn nhau liên tục để làm Thể, năm tháng giục giă tuổi thọ suy giảm chính là tướng trạng của nó vậy).

 

          “Mạng” () là thọ mạng. Hiện tượng thọ mạng là ǵ? Mấy câu nói của Liên Tŕ đại sư ở đây có ư nghĩa hoàn toàn tương ứng với kinh Phật. Trong kinh Đại Thừa, đức Phật dạy chúng ta: Thọ mạng chẳng thật, chỉ là một thứ “tương tục tướng” (tướng liên tục) mà thôi. Ở đây nói: “Sắc tâm liên tŕ, thôi niên giảm thọ” (Sắc và Tâm duy tŕ lẫn nhau liên tục, năm tháng giục giă tuổi thọ suy giảm). Liên Tŕ đại sư và đức Phật đều nói chân tướng, nhưng Liên Tŕ nói kiểu này càng khiến cho chúng ta dễ cảnh giác hơn, càng có thể nhận rơ sự thật, có nghĩa là Ngài nói thọ mạng của con người giảm thiểu hằng ngày. Trong bài kệ cảnh tỉnh của Phổ Hiền Bồ Tát có câu: “Như thiểu thủy ngư, tư hữu hà lạc” (Như cá thiếu nước, há có vui chi), đúng vậy đấy! Giả sử quư vị có thọ mạng là một trăm năm, tính từ ngày được sanh ra, sống mỗi ngày tức là [thọ mạng] giảm bớt một ngày; sống một năm là [thọ mạng] giảm bớt một tuổi. Bọn người thế gian chúng ta mê hoặc, điên đảo, [sống đến] bảy mươi, tám mươi, c̣n muốn làm lễ mừng thọ, c̣n muốn chúc mừng, chúc mừng thọ mạng của quư vị mỗi ngày một giảm thiểu, chẳng phải là ư nghĩa ấy hay sao? Người thế gian điên đảo, điên đảo ở chỗ này. Thọ mạng chẳng thể tăng trưởng, giảm thiểu từng ngày một! Dùng bốn chữ “thôi niên giảm thọ” (năm tháng giục giă tuổi thọ suy giảm) hết sức hay, đó là chân tướng của đời sống con người. Thọ mạng của kẻ b́nh phàm đều do nghiệp lực khống chế, là nghiệp báo. Thân thể của chúng ta là thân nghiệp báo. Do vậy, kẻ xem tướng đoán mạng, [nếu có khả năng] xem tướng rất chuẩn xác, xác thực là sẽ có thể dự đoán, chẳng phải là gạt người! Thọ mạng do nghiệp lực của chính ḿnh làm chủ tể. Do vậy, chính ḿnh cũng có thể biến đổi nó, chẳng phải là không thể biến đổi. Đức Phật dạy chúng ta điều này. Phật pháp dạy: Ai nấy đều có vận mạng, nhưng đức Phật chẳng nói theo kiểu Túc Mạng Luận. Đức Phật dạy chính ḿnh có thể sáng tạo vận mạng, chính ḿnh có thể biến đổi nó. Chỉ cần quư vị hiểu lư luận, hiểu phương pháp, xác thực là sẽ có thể sửa đổi nó. Như trong quá khứ, thiền sư Vân Cốc đă dạy ông Viên Liễu Phàm phương pháp sửa đổi cũng rất hữu hiệu. Tiên sinh Viên Liễu Phàm đă viết lại sự thật về chuyện sửa đổi vận mạng của chính ḿnh, mọi người đều biết [tác phẩm ấy]. Người thành tựu như tiên sinh Liễu Phàm chẳng biết là bao nhiêu, [nhưng họ] chẳng viết ra, chẳng công bố, cho nên quư vị không biết. Những người ấy đă sửa đổi thù thắng hơn và có thành tựu cao hơn tiên sinh Liễu Phàm cũng rất nhiều.

          “Sắc tâm liên tŕ” (Sắc và tâm là duy tŕ lẫn nhau liên tục), Sắc là thân này. Thân thể là vật chất. Tinh thần ở trong thân thể th́ thân thể này c̣n sống. Tinh thần ĺa khỏi, thân thể liền mục nát. Do vậy, có thể biết: Sắc thân chịu sự điều khiển và chi phối của tâm lư. Nếu quư vị có thể quan sát đến chỗ này, quư vị đă có mức độ [lănh hội] khá sâu. Sau đấy, nhất định là quư vị sẽ nghĩ: Do thiện niệm, thân thể của chúng ta khỏe mạnh. Do một ác niệm, thân thể sẽ có bệnh tật. Nếu là thanh tịnh niệm, thân thể này có thể sống đến một trăm tuổi, có thể giữ măi tuổi xuân, đều là do đă thấu hiểu đạo lư này. Sự thật xác thực là có t́nh h́nh như vậy. Suy nghĩ lung tung, suốt ngày từ sáng đến tối sanh phiền năo, gây tạo tham, sân, si, mạn, khiến cho thân thể của chính ḿnh chẳng kham chịu được! Cách suy nghĩ khỏe mạnh nhất là niệm A Di Đà Phật. V́ sao? A Di Đà Phật vô lượng thọ, quư vị niệm A Di Đà Phật, quư vị sẽ là vô lượng thọ. A Di Đà Phật vô lượng quang, kẻ học Khí Công nói trên thân có Khí, Phật pháp gọi nó là Quang. Quư vị niệm A Di Đà Phật sẽ là vô lượng quang. A Di Đà Phật có vô lượng tướng, mỗi tướng có vô lượng hảo, quư vị niệm A Di Đà Phật, tướng của quư vị bèn trang nghiêm. Chân tín, chân nguyện, nhất tâm tŕ danh, quư vị có thể đạt đến viên măn rốt ráo. Kẻ chẳng thể tin tưởng, chẳng thể tiếp nhận, [tức là] chẳng có phước báo. Trong kinh, đức Phật đă nói rất rơ ràng, “Chẳng thể do chút ít thiện căn, phước đức, nhân duyên mà được sanh về cơi ấy”. Do vậy, có thể biết: Người có thể tín, có thể nguyện, chịu niệm Phật, đều là nhiều thiện căn, nhiều phước đức, nhiều nhân duyên.

 

          (Sao) Liên tŕ giả.

          ()連持者。

          (Sao: Duy tŕ lẫn nhau liên tục).

         

Tŕ” () là ǵn giữ, “liên” () là liên tục.

 

          (Sao) Y nghiệp sở dẫn đệ bát thức chủng.

          (Diễn) Đệ bát thức, tức Lê Da bổn thức. Chủng thị chủng tử, vị bổn thức trung thân sanh tự quả, công năng sai biệt giả. Thích vân: Thân sanh tự quả giả, tùng tự chủng tử thân sanh hiện hành quả cố. Công năng sai biệt giả, hiển thử chủng tử phi nhất chủng cố. Nhiên thử chủng tử, dữ đệ bát thức, cập sở sanh quả, bất nhất, bất dị. Thể thị bổn thức, quả thị hiện hành. Thức thể vọng chủng vi dụng. Hiện quả vọng chủng vi nhân. Cố thử tam pháp, lư ưng bất nhất, bất dị dă. Tông Kính vân: “Bổn thức thị Thể, chủng tử thị Dụng, chủng tử thị nhân, sở sanh thị quả. Thử tam lư ưng bất nhất, bất dị”. Y nghiệp sở dẫn giả, vị tùy túc nhân lực sanh thiện ác đẳng, công năng quyết định phương thành chủng tử dă.

            ()依業所引第八識種。

         ()第八識。即黎耶本識。種是種子。謂本識中親生自果。功能差別者。釋云。親生自果者。從自種子親生現行果故。功能差別者。顯此種子非一種故。然此種子。與第八識。及所生果。不一不異。體是本識。果是現行。識體望種為用。現果望種為因。故此三法。理應不一不異也。宗鏡云。本識是體。種子是用。種子是因。所生是果。此三理應不一不異。依業所引者。謂隨宿因力生善惡等。功能決定方成種子也。

          (Sao: Nương theo nghiệp dẫn khởi các chủng tử trong thức thứ tám.

          Diễn: Thức thứ tám chính là A Lại Da Thức. “Chủng” là chủng tử, ư nói từ trong bổn thức đích thân sanh ra cái quả, có công năng sai khác. Giải rằng: “Đích thân sanh ra cái quả” [nghĩa là] từ chủng tử, đích thân sanh cái quả hiện hành. “Công năng sai khác”: Chỉ rơ những chủng tử ấy không chỉ là một loại. Nhưng chủng tử ấy, thức thứ tám, và cái quả được sanh chẳng một, chẳng khác. Thể là bổn thức, quả là hiện hành. Đối với cái Thể của thức th́ chủng tử hư vọng là Dụng, đối với cái quả hiện hành th́ chủng tử hư vọng là Nhân. Do vậy, ba pháp xét theo Lư th́ phải là chẳng một, chẳng khác. Sách Tông Kính Lục viết: “Bổn thức là Thể, chủng tử là Dụng, chủng tử là nhân, cái được sanh là quả. Ba thứ ấy theo Lư phải là chẳng một, chẳng khác”. “Nương theo nghiệp mà dẫn khởi”, nghĩa là do sức của túc nhân mà sanh ra thiện, ác v.v… công năng quyết định mới thành chủng tử).

 

          Người thế gian gọi “đệ bát thức”“linh hồn”. Thật ra, gọi nó là “linh hồn” là sai lầm, v́ sao? V́ nó chẳng linh. Nếu nó linh, nó làm sao có thể chịu đến đầu thai trong ba ác đạo? Nó đến đầu thai trong ba ác đạo, có thể thấy là nó chẳng linh! Nhà Phật nói là mê hoặc, điên đảo, [gọi nó là] “mê hồn” là đúng, [gọi nó là] “linh hồn” là sai lầm, Khổng lăo phu tử gọi nó là “du hồn” (遊魂, cái hồn bềnh bồng trôi nổi). Nói kiểu này rất chánh xác, v́ tốc độ của nó hết sức to lớn. Đại thiên thế giới này là phạm vi hoạt động của du hồn. Trong phần Hệ Từ Truyện của kinh Dịch, Khổng Tử bảo: “Tinh khí vi vật, du hồn vi biến” (Tinh khí là vật, cái hồn bồng bềnh biến đổi), cách quan sát này hoàn toàn giống như kinh Phật đă nói. “Tinh khí vi vật” là giải thích nguồn gốc của vật chất. Đối với vật chất, tuy hiện thời đă phát hiện được những hạt rất nhỏ, những hạt ấy do đâu mà có? Khổng phu tử nói “tinh khí vi vật”, có nghĩa là từ tinh khí biến hiện. Phật pháp nói Tướng Phần do Kiến Phần biến hiện, “y nghiệp sở dẫn đệ bát thức chủng” (nương theo nghiệp, dẫn khởi chủng tử trong thức thứ tám), “chủng” () là chủng tử (hạt giống, mầm mống), “đệ bát thức chủng” là chủng tử được chứa đựng trong A Lại Da Thức.

 

          (Sao) Ngoại Sắc nội tâm, hỗ tương liên thuộc.

          ()外色內心,互相連屬。

          (Sao: Sắc bên ngoài, tâm bên trong liên quan, lệ thuộc lẫn nhau).

 

          “Bên ngoài” là vật chất, tức là cái thân thể này, nhục thân này. “Bên trong” là tâm, tức là Thọ, Tưởng, Hành, Thức, liên tiếp với nhau.

 

          (Sao) Tức tức, noăn, thức, tam, tương tŕ bất tán, thị vi Mạng Căn.

          (Diễn) Ngoại sắc tức tức, noăn, thuộc đệ bát thân Tướng Phần, nội tâm tức đệ bát hiện hành thức, thuộc đệ bát Kiến Phần. Do chủng tử nghiệp lực, thử tam tương tŕ bất tán, danh Mạng Căn bất đoạn.

          ()即息煖識三,相持不散,是為命根。

         ()外色即息煖。屬第八親相分。內心即第八現行識。屬第八見分。由種子業力。此三相持不散。名命根不斷。

(Sao: Tức là ba thứ gồm hơi thở, thức và hơi nóng duy tŕ lẫn nhau, chẳng tan hoại th́ là Mạng Căn.

Diễn: Ngoại sắc chính là hơi thở và sức ấm, thuộc về Tướng Phần của đích thân thức thứ tám. Nội tâm chính là thức thứ tám hiện hành, thuộc về Kiến Phần của thức thứ tám. Do nghiệp lực của chủng tử mà ba thứ ấy (hơi thở, sức ấm và thức) duy tŕ lẫn nhau, chẳng tan hoại, bèn gọi là Mạng Căn chẳng đoạn).

 

          Điều này gọi là Mạng Căn hoặc Thọ Mạng. “Tức” () là hô hấp, “noăn” () là độ ấm, tức nhiệt độ cơ thể. Thức () là tâm. Ba thứ ấy kết hợp với nhục thân thành một Thể, “tương tŕ” (duy tŕ lẫn nhau), giữ ǵn lẫn nhau, chẳng tách rời. Đó gọi là Mạng Căn.

 

          (Sao) Nhất bất liên tŕ, Mạng Căn tức đoạn, cố dĩ vi Thể.

          (Diễn) Nhất bất tương tŕ, hoặc noăn khí ly thân, hoặc xuất nhập tức đoạn, hoặc Kiến Phần ly thể, danh Mạng Căn đoạn dă.

          ()一不連持,命根即斷,故以為體

()一不相持。或煖氣離身。或出入息斷。或見分離體。名命根斷也。

          (Sao: Nếu một thứ [trong ba thứ, tức hơi thở, sức ấm và thức] chẳng duy tŕ liên tục, Mạng Căn liền đoạn, nên coi chúng là Thể.

          Diễn: Một thứ chẳng duy tŕ: Hoặc là hơi ấm ĺa thân thể, hoặc ngừng hô hấp, hoặc Kiến Phần ĺa thân, th́ gọi là Mạng Căn chấm dứt).

 

          Trong ba thứ này, hễ chẳng có hô hấp, người bèn chết. Chẳng có hô hấp, nhất định là độ ấm chẳng c̣n. Người đă chết, thân thể lạnh ngắt. Độ ấm chẳng c̣n, thức đă ĺa khỏi. Trong ba thứ này, trước hết là hô hấp ngưng dứt, tiếp theo đó, chẳng có độ ấm, thức ĺa khỏi cuối cùng. Phật pháp nói: Sau khi người đă chết, sau khi đă tắt hơi tám tiếng đồng hồ, thức của người ấy mới rời khỏi. Nói cách khác, trong tám tiếng đồng hồ sau khi ngừng thở, người ấy vẫn có cảm giác. Nếu chúng ta động vào họ, họ sẽ cảm thấy đau khổ. Hễ đau khổ, sẽ dễ dẫn đến sân hận. Do dấy lên một niệm sân hận ấy, người ấy sẽ đọa trong địa ngục, hoặc đọa trong ác đạo. Do vậy, đức Phật cảnh cáo chúng ta: “Đối với người chết, trong ṿng tám tiếng đồng hồ, đừng động đến họ” là do nguyên nhân này.

“Thức” đến trước, tức là khi đầu thai th́ nó đến trước; khi ra đi, th́ nó rời đi cuối cùng. Duy Thức Luận nói: “Lai tiên, khứ hậu, tác chủ công” (Đến trước, đi sau, làm ông chủ). Tâm là chủ, thân chẳng phải là chủ. Tâm là chủ, [sanh mạng của một cá nhân] lấy nó làm Thể. Thể của Mạng Căn là A Lại Da Thức, tức là thức thứ tám. “Đầu thai” là thức đi đầu thai. Nhục thân đúng là giống như quần áo, chúng ta dùng đă lâu, quá cũ kỹ, có thể bỏ đi, thay đổi một bộ mới. Thức là chính ḿnh, nó có thể thay đổi thân thể, [giống như] do quần áo đă rách, bèn thay đổi một bộ quần áo mới. Bỏ thân, thọ thân giống hệt như cởi quần áo [cũ ra] để thay quần áo [mới]. Nếu chúng ta hiểu rơ ràng, minh bạch sự thật này, sẽ chẳng kinh hoảng, chẳng sợ hăi đối với sanh tử. Có ai quần áo đă cũ, bảo quư vị thay đổi quần áo liền sợ hăi, kinh hoảng? Chẳng có. Chỉ có trẻ nít vô tri, bảo nó thay quần áo, nó vừa khóc vừa quấy, chẳng chịu thay đổi, chỉ có loại người đó, chứ người b́nh thường sẽ chẳng như vậy!

 

         (Sao) Thôi niên giảm thọ giả, đương thử giảm kiếp, bất măn bách niên.

          ()摧年減壽者,當此減劫,不滿百年。

(Sao: “Năm tháng giục giă tuổi thọ suy giảm”: Đang trong thời giảm kiếp, [tuổi thọ] chẳng đủ trăm năm).

 

Chẳng đủ trăm năm, thông thường, có thể sống đến bảy mươi tuổi khá khó khăn! Hiện thời, nói là y dược phát triển, kéo dài tuổi thọ của loài người, quư vị cảm thấy nói kiểu đó là thật hay giả? Giả trất, chẳng thật! Thọ mạng dài chính là biệt báo của cá nhân. Người ta do đời trước tu phước, đời trước vô úy bố thí, nên được quả báo khỏe mạnh, sống lâu. Y dược chỉ có thể chữa bệnh, chẳng thể chữa mạng. Chắc chắn là y dược không thể kéo dài thọ mạng của quư vị được. Thọ mạng xác thực là do đời trước tu được, chẳng phải do công lao của y dược.

 

          (Sao) Nhi phục bào mạt, phong đăng.

          ()而復泡沫風燈。

          (Sao: Lại c̣n như bọt nước, đèn trước gió).

         

Bọt nước, đèn trước gió” đều rất ngắn ngủi, tạm bợ, rất [dễ gặp phải] nguy hiểm [đến nỗi mất mạng dễ dàng]. Thắp một ngọn nến đặt trước cơn gió lớn, chẳng biết sẽ tắt lụi lúc nào. Đấy là tỷ dụ.

 

(Sao) Sát-na bất trụ, vưu vi đoản xúc.

()剎那不住,尤為短促。

(Sao: Trong khoảng sát-na bèn chẳng tồn tại, càng là ngắn ngủi).

 

          Chúng ta nh́n từ toàn thể để xét tuổi thọ b́nh quân, [sẽ thấy] tuổi thọ con người chẳng dài. Xét theo biệt nghiệp, có khá nhiều người trường thọ. Xét theo cộng nghiệp, thọ mạng b́nh quân của chúng sanh xác thực là mỗi năm một thấp hơn, đang trong thời giảm kiếp mà!

 

          (Sao) Cố vân Trược dă.

          ()故云濁也。

(Sao: Cho nên nói là Trược).

 

          Gọi là Mạng Trược. Thọ mạng ngắn ngủi, lại c̣n có thiên tai nhân họa.

 

          (Sao) Phản hiển Cực Lạc quốc trung, nhân dân thọ mạng, đồng Phật vô lượng, phi Mạng Trược cố.

          ()反顯極樂國中,人民壽命,同佛無量,非命濁故。

          (Sao: Nêu bật tương phản: Trong cơi Cực Lạc, nhân dân thọ mạng vô lượng giống như Phật, chẳng phải là Mạng Trược).

 

          Tương phản, chúng ta xem Tây Phương Cực Lạc thế giới. Trong kinh, đức Phật đă dạy chúng ta: Thế giới Tây Phương thù thắng nhất, đặc biệt nhất. Cơi ấy một là thế giới b́nh đẳng thật sự. Con người có thọ mạng hoàn toàn giống như đức Phật. Trong thế giới Tây Phương, chẳng có cơ cấu chánh phủ, cũng chẳng có các chánh đảng (政黨, đảng phái chánh trị) hằng ngày đấu đá với nhau. Người trong thế giới Tây Phương đông đảo, hoàn cảnh cư trụ đẹp đẽ, tốt lành. Kinh dạy rất rơ ràng: Thế giới Tây Phương có đường sá, nhưng chẳng có tên đường, cũng chẳng có số nhà. Nay chúng tôi suy nghĩ, có thể là sau bao nhiêu năm nữa, thế giới này cũng chẳng cần đường sá, mà cũng chẳng cần biển số nữa. V́ sao? Tiến nhập thời đại điện toán. Trong tương lai, máy điện toán sẽ nối liền mỗi gia đ́nh trên thế giới. Quư vị muốn t́m ai, ở trong nhà nhấn một nút, trên màn ảnh của máy computer bèn hiện h́nh ảnh. Quư vị muốn đến thăm bè bạn, chẳng cần đến nhà họ, đối trước máy computer bèn có thể tṛ chuyện. Nhưng chúng ta phải dùng máy móc, Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng cần dùng máy móc, hoàn toàn dùng sức mạnh của ư niệm trong tâm là có thể biến hiện ngay trước mặt. Đường sá cần tên gọi để làm chi nữa? Cần biển số để làm ǵ? Đó mới là hạnh phúc thật sự, vui sướng thật sự, chẳng giống như trong thế giới này. Hôm nay, chúng tôi giảng đến chỗ này!

 

Tập 278

 

          Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang năm trăm tám mươi ba:

 

          (Sớ) Thử chi Ngũ Trược, thả cứ quả ngôn, nhược Lăng Nghiêm sở vân: Hoặc phối tam tế, lục thô , hoặc phối Ngũ Ấm, nghĩa diệc bất dị.

(Diễn) Thử chi Ngũ Trược, thả cứ quả ngôn giả, vị thượng văn sở giải Ngũ Trược, thả nhất văng tựu quả biên thuyết, phi nhược Lăng Nghiêm sở thuyết, thông hồ nhân quả dă. Hoặc phối tam tế giả, thị chư sư dĩ tam tế, lục thô thích Ngũ Trược dă, hoặc phối Ngũ Ấm, thị Cô Sơn ước Ngũ Ấm vọng tưởng vi Ngũ Trược dă. Nghĩa diệc bất dị giả, vị pháp tướng tuy bất đồng, nhi nghĩa lư tắc vô biệt dă.

          ()此之五濁,且據果言,若楞嚴所云:或配三細六粗,或配五陰,義亦不異。

            ()此之五濁。且據果言者。謂上文所解五濁。且一往就果邊說。非若楞嚴所說。通乎因果也。或配三細者。是諸師以三細六粗釋五濁也。或配五陰。是孤山。約五陰妄想為五濁也。義亦不異者。謂法相雖不同。而義理則無別也。

(Sớ: Năm món Trược ấy là nói theo quả. Nếu theo như kinh Lăng Nghiêm đă nói, th́ hoặc là phối ứng với ba tế tướng, sáu thô tướng, hoặc phối ứng với Ngũ Ấm, nhưng ư nghĩa cũng chẳng khác.

Diễn: “Năm món trược ấy là nói theo quả”, nghĩa là Ngũ Trược như đă giải thích trong đoạn văn trên đây chính là một mực dựa theo phía quả để nói, chẳng dung thông cả nhân lẫn quả như trong kinh Lăng Nghiêm đă nói. “Hoặc phối ứng với ba tế tướng” là các Sư dùng ba tế tướng và sáu thô tướng để giải thích Ngũ Trược. “Hoặc phối ứng với Ngũ Ấm” là như ngài Cô Sơn coi vọng tưởng thuộc Ngũ Ấm là Ngũ Trược. “Nghĩa cũng chẳng khác” ư nói: Pháp tướng tuy khác nhau, nghĩa lư chẳng sai khác).

 

          Câu này nhằm tổng kết “Ngũ Trược ác thế” đă nói trong phần trước. “Trược ác” là nói theo quả; hễ có quả, nhất định là có nguyên nhân. Đức Phật thuyết kinh, có khi thiên trọng nơi tạo nhân, có lúc chú trọng nói đến quả báo. Như trong đoạn này là nói về quả báo, cũng có khi là nhân và quả đều nói. Do t́nh h́nh ấy, chúng ta có thể thấu hiểu rơ ràng: Đức Phật thuyết pháp là ứng theo căn cơ để nói, Ngài xem xét [căn cơ] của đại chúng tham dự pháp hội khi ấy. Nói đến nhân, chúng ta sẽ nghĩ đến quả báo; nói đến quả, cũng giống như vậy, chúng ta cũng biết nhân duyên nào tạo thành quả báo ấy. Nhất là trong thời đại hiện tại, đối với quả báo trược ác, chẳng cần phải nêu cặn kẽ như đức Phật đă nói trong kinh, gần như mỗi người chúng ta đều có cảm xúc rất sâu đậm. Hiện thời, y báo của chúng ta chẳng tốt đẹp, hoàn cảnh sống chẳng tốt đẹp. Chẳng cần nói là so với thời cổ, chỉ so với ba mươi năm trước. Ba mươi năm trước, hoàn cảnh sống của chúng ta xác thực là vẫn rất đẹp đẽ, đại chúng trong xă hội cũng rất tốt lành. Tuy chưa thể nói là “chân thiện mỹ đạt đến tiêu chuẩn rất cao”, nhưng vẫn c̣n có một chút ư nghĩa. Trong hoàn cảnh sống hiện tại, có thể nói là đă chẳng t́m được mảy may nào. Tuy điều kiện vật chất ưu việt hơn trước kia, của cải gia tăng, nhưng hoàn cảnh sống của chúng ta thua kém quá khứ rất xa. Tục ngữ Trung Hoa thường nói: “Giàu mà chẳng vui”. Đâm ra, thời thời khắc khắc bận tâm, lo lắng, chẳng có cảm giác an toàn. Điều này thuộc về quả báo, tức là cơi đời trược ác.

Nhân duyên của sự trược ác là do thiên tai ư? Là do tai nạn tự nhiên ư? Hiện thời, xác thực là có lắm kẻ tưởng là do thiên tai, là tự nhiên, sức người chẳng có cách nào chống chọi. Các nhà khoa học và triết gia đều nói theo kiểu này, mọi người tin theo, cho là thật, nghĩ cách nói ấy là chánh xác. Trọn chẳng biết trong kinh, đức Phật đă dạy: Hoàn cảnh sống của chúng ta tốt hay xấu tùy thuộc ḷng người thiện hay ác mà chuyển biến. Ḷng người thiện hay ác chính là nguyên do khiến cho hoàn cảnh xă hội tốt hay xấu. Kinh cũng thường dạy: “Y báo chuyển theo chánh báo”. Chánh báo ở đây chính là ḷng người thiện hay ác, c̣n y báo là hoàn cảnh tốt hay xấu. Chỉ có đức Phật nói rơ ràng, minh bạch chuyện này. Chúng ta thấy người hiện thời tạo cái nhân ǵ? Cũng có nghĩa là thông thường họ nghĩ tưởng những ǵ, nói những ǵ, làm những ǵ, chúng ta sẽ biết quả báo trong tương lai như thế nào. Đức Phật bảo: Hết thảy ác nhân và ác duyên đều phát sanh từ Tam Độc. Kiến Trược, Phiền Năo Trược là nhân, Kiếp Trược, Chúng Sanh Trược, và Mạng Trược thuộc về quả báo. Chúng ta thấy người hiện thời kiến giải sai lầm mỗi ngày một sâu hơn, phiền năo ngày một tăng trưởng, một mực như vậy, quả báo trong tương lai sẽ càng đáng sợ hơn hiện thời!

Người trên thế gian hiện thời truy cầu của cải, truy cầu quyền lực, địa vị, truy cầu hưởng thụ. Truy cầu mù quáng là tạo tội nghiệp. Những thứ ấy có thể cầu hay không? Có thể chứ! Đức Phật đă nói rất minh bạch: “Phật thị môn trung, hữu cầu tất ứng” (Trong cửa nhà Phật, có cầu ắt ứng). Cầu của cải, được của cải; chẳng có ǵ không cầu được! Cầu th́ phải đúng lư, đúng pháp, phải biết mối quan hệ giữa nhân, duyên và quả. Cầu như vậy là cầu chánh đáng, sẽ cầu được quả báo tốt đẹp, cũng là như chúng ta thường nói: “Cuộc sống hạnh phúc mỹ măn”. Đó là do đúng lư, đúng pháp mà cầu được. Nếu cứ cầu mù quáng, chắc chắn chẳng đạt được hạnh phúc. Hạnh phúc c̣n chẳng có, th́ mỹ măn càng chẳng cần phải bàn đến nữa! Kẻ chẳng học Phật không biết, chứ đối với người học Phật, hăy nên hiểu rành mạch, rơ ràng.

          Nói theo kinh Lăng Nghiêm, Ngũ Trược có thể “phối tam tế, lục thô” (phối ứng với ba tế tướng và sáu thô tướng), cũng có thể “phối Ngũ Ấm” (phối ứng với Ngũ Ấm), Ngũ Ấm là Ngũ Uẩn. Do vậy, có thể biết: Phật pháp xác thực là như kinh Hoa Nghiêm đă nói: “Một chính là hết thảy, hết thảy chính là một”. Phật pháp viên dung, thông đạt, chẳng có chướng ngại, tỏ rơ pháp môn b́nh đẳng, chẳng có cao thấp.

 

          (Sao) Phối tam tế đẳng giả, dĩ Kiếp Trược phối Nghiệp Tướng, vị vô minh sơ khởi, tánh toại hồn trược cố.

          (Diễn) Tam tế đẳng giả, Khởi Tín Luận vân: “Bất như thật tri Chân Như pháp nhất cố, bất giác tâm khởi nhi hữu kỳ niệm. Y bất giác cố, sanh tam chủng tướng: Nhất giả Vô Minh Nghiệp Tướng, dĩ y bất giác cố, tâm động, thuyết danh vi Nghiệp. Giác tắc bất động, động tắc hữu khổ, quả bất ly nhân cố. Nhị giả Năng Kiến Tướng, dĩ y động, cố năng kiến, bất động tắc vô kiến. Tam giả Cảnh Giới Tướng, dĩ y năng kiến, cố cảnh giới vọng hiện. Ly kiến, tắc vô cảnh giới”. Dĩ hữu cảnh giới duyên cố, phục sanh lục chủng tướng: Nhất giả Trí Tướng, y ư cảnh giới tâm khởi phân biệt, ái dữ bất ái cố. Nhị giả Tương Tục Tướng, y ư Trí cố, sanh kỳ khổ lạc giác, tâm khởi niệm tương ứng bất đoạn cố. Tam giả Chấp Thủ Tướng, y ư tương tục duyên niệm cảnh giới, trụ tŕ khổ lạc, tâm khởi trước cố. Tứ giả Kế Danh Tự Tướng, y ư vọng chấp, phân biệt giả danh ngôn tướng cố. Ngũ giả Khởi Nghiệp Tướng, y ư danh tự, tầm danh thủ trước, tạo chủng chủng nghiệp cố. Lục giả Nghiệp Hệ Khổ Tướng, dĩ y nghiệp thọ báo, bất tự tại cố. Dĩ Kiếp Trược phối Nghiệp Tướng giả. Kiếp giả, thời dă. Tâm tánh bổn tịnh, do vô minh sơ động thời tức hồn trược. Cố viết Kiếp Trược. Kim Nghiệp Tướng diệc nhiên, vô minh sơ khởi, thành Nghiệp Tướng cố.          

          ()配三細等者,以劫濁配業相,謂無明初起,性遂渾濁故。

            ()三細等者。起信論云。不如實知真如法一故。不覺心起而有其念。依不覺故。生三種相。一者無明業相。以依不覺故心動。說名為業。覺則不動。動則有苦。果不離因故。二者能見相。以依動故能見。不動則無見。三者境界相。以依能見故境界妄現。離見則無境界。以有境界緣故。復生六種相。一者智相。依於境界心起分別。愛與不愛故。二者相續相。依於智故。生其苦樂覺心起念相應不斷故。三者執取相。依於相續緣念境界。住持苦樂。心起著故。四者計名字相。依於妄執。分別假名言相故。五者起業相。依於名字。尋名取著。造種種業故。六者業繫苦相。以依業受報。不自在故。以劫濁配業相者。劫者時也。心性本淨。由無明初動時即渾濁。故曰劫濁。今業相亦然。無明初起成業相故。

(Sao: “Phối ứng với ba tế tướng”: Đem Kiếp Trược phối ứng với Nghiệp Tướng, có nghĩa là vô minh vừa mới khởi lên, tánh bèn bị vẩn đục.

Diễn: “Ba tế tướng v.v…”: Khởi Tín Luận nói: “Chẳng đúng như thật biết pháp Chân Như là một, cái tâm bất giác dấy lên bèn có niệm. Nương vào sự bất giác ấy, sanh ra ba thứ tướng. Một là Vô Minh Nghiệp Tướng, do nương vào bất giác nên tâm động, nên gọi tên là Nghiệp. Hễ giác, sẽ chẳng động. Hễ động, sẽ có khổ, quả chẳng ĺa nhân vậy. Hai là Năng Kiến Tướng, do nương vào động nên có thấy. Chẳng động, sẽ không thấy. Ba là Cảnh Giới Tướng, do nương vào cái có thể thấy (Năng Kiến) mà hư vọng hiện ra cảnh giới. Ĺa cái thấy, sẽ chẳng có cảnh giới. Do có cảnh giới để duyên vào, lại sanh ra sáu thứ tướng. Một là Trí Tướng, [nghĩa là] nương vào cảnh giới mà tâm dấy lên sự phân biệt yêu thích và chẳng yêu thích. Hai là Tương Tục Tướng, do nương vào trí, bèn sanh cái tâm nhận biết khổ, lạc, dấy lên ư niệm tương ứng chẳng ngừng. Ba là Chấp Thủ Tướng, nương vào sự duyên niệm cảnh giới liên tục mà duy tŕ khổ hay vui, tâm dấy lên sự đắm trước. Bốn là Kế Danh Tự Tướng, nương vào chấp trước hư vọng, mà phân biệt tướng ngôn ngữ giả danh. Năm là Khởi Nghiệp Tướng, nương vào danh tự, theo đuổi cái danh, nắm giữ, chấp trước, tạo đủ mọi nghiệp. Sáu là Nghiệp Hệ Khổ Tướng, do nương theo nghiệp mà thọ báo, chẳng tự tại”. “Đem Kiếp Trược phối hợp với Nghiệp Tướng”: Kiếp là Thời. Tâm tánh vốn tịnh, do vô minh dấy động lúc ban sơ, [tâm tánh] bèn vẩn đục, nên gọi là Kiếp Trược. Nay Nghiệp Tướng cũng thế, lúc vô minh vừa mới dấy động bèn trở thành Nghiệp Tướng). 

 

Phần chú giải đă chú thích rất tỉ mỉ, ở đây, tôi chỉ nói đại ư. “Nghiệp” là tạo tác, khởi tâm động niệm là sự tạo tác nơi ư, ngôn ngữ là sự tạo tác nơi miệng, nhất cử nhất động nơi thân thể là sự tạo tác nơi thân nghiệp. Đó gọi là sự tạo tác nơi ba nghiệp thân khẩu ư. Ba nghiệp tạo tác bèn có lầm lỗi, lầm lỗi là ǵ vậy? Nói cách khác sẽ là chẳng tương ứng với Tánh Đức. Tương ứng với Chân Như bản tánh, sẽ chẳng có lầm lỗi, chúng ta gọi loại tạo tác đó là “tịnh nghiệp”, tức là nghiệp thanh tịnh. V́ sao? Nó chẳng có quả báo trong tam giới, lục đạo, cho đến quả báo trong mười pháp giới đều chẳng có, đức Phật bất đắc dĩ gọi nó là Nhất Chân pháp giới, như Tây Phương Cực Lạc thế giới thuộc về Nhất Chân pháp giới. Hết thảy đại chúng trong ấy, từ A Di Đà Phật cho đến tất cả những người văng sanh thế giới Tây Phương, tư tưởng, kiến giải, ngôn ngữ, và tạo tác của họ đều thuận theo Chân Như bản tánh. V́ thế gọi là “tịnh nghiệp”. Nay chúng ta khởi tâm động niệm, hết thảy tạo tác đều trái nghịch, tương phản Chân Như bản tánh, bèn có lầm lỗi trong ấy. Đă có lầm lỗi, cái nhân là bất thiện, sẽ ảnh hưởng đến hoàn cảnh y báo. Đó gọi là Kiếp Trược.

Hai câu kế tiếp trong lời chú giải hết sức hay, đơn giản, mà trọng yếu, ngắn gọn. “Vô minh sơ khởi” (Vô minh vừa mới dấy lên). Vấn đề phát sanh ở chỗ này. Vô minh là ǵ? Đối với vũ trụ và nhân sinh bèn mê hoặc, chẳng liễu giải. Giáo dục trong Phật pháp, nói thật ra, chỉ nhằm dạy chúng ta một chuyện: Dạy chúng ta nhận thức, thông hiểu vũ trụ và nhân sinh. Như vậy th́ sẽ chẳng đến nỗi vô minh. Vũ trụ là hoàn cảnh sống của chúng ta. Nhân sinh là chính con người. Nói cách khác, mục tiêu cao nhất của nền giáo học Phật pháp là dạy chúng ta nhận rơ chính ḿnh, nhận rơ hoàn cảnh sống; chỉ là như thế mà thôi. Nội dung của cả một bộ Đại Tạng Kinh là nói về chuyện này. Quư vị thật sự nhận thức rơ ràng, minh bạch, bèn phá trừ vô minh, chẳng có vô minh nữa. Chẳng có vô minh th́ sẽ giống như chư Phật, Bồ Tát. Chư Phật, Bồ Tát chẳng giống chúng ta, phàm phu có vô minh, chư Phật, Bồ Tát chẳng có vô minh, các Ngài điều ǵ cũng hiểu rơ. Vô minh là chẳng hiểu rơ: Chẳng hiểu rơ chính ḿnh; đối với hoàn cảnh sống, cũng chẳng hiểu rơ. Như thế th́ sẽ khiến cho Chân Như tự tánh, Chân Như tự tánh vốn thanh tịnh, dường như [trở thành] chẳng thanh tịnh, bị vẩn đục. Thứ ǵ vẩn đục nó? Chính là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, sanh ra những lời lẽ và hành vi trái nghịch tự tánh, những thứ ấy khiến cho tự tánh bị vẩn đục.

Cách nói ấy khiến cho các đồng tu sơ học vẫn thấy rất khó lư giải. Chúng tôi lại nói đơn giản hơn đôi chút, lại nói thô thiển, dễ hiểu hơn một chút, v́ chẳng thể không biết những chuyện này. Ví như chúng ta tâm tâm niệm niệm mong cầu của cải, thấy người khác phát tài, sẽ tự nhiên hâm mộ, nghĩ ta cũng phải nên có của cải. Của cải do đâu mà có? Tuyệt đối chẳng phải là do kẻ ấy có năng lực. [Nếu nghĩ] người ấy rất có khả năng, vận may rất tốt, quư vị đă thấy sai mất rồi, đă thấy lệch lạc mất rồi! Nguyên nhân thật sự là trong đời quá khứ, người ấy tu tài bố thí, đó là cái nhân. Đời này, người ấy hoặc là buôn bán, hoặc làm thợ. Đó là duyên. Người ấy mua một tờ vé số, trúng giải độc đắc; đó là duyên. Cái nhân thật sự để phát tài là tài bố thí trong quá khứ; nhân và duyên gặp gỡ, quả báo hiện tiền. Chuyện là như thế đó. V́ thế, nếu chúng ta muốn có của cải, quư vị hăy tu tài bố thí. Quư vị bố thí càng nhiều, đạt được càng nhiều. Chỉ tu tài bố thí, đă phát tài; nếu chẳng vận dụng thích đáng, quư vị cũng bị hại thảm lắm. Vận dụng như thế nào? Đó là trí huệ. Đức Phật dạy người ta phước huệ song tu, chẳng thể lệch về một bên. Nếu lệch sang một bên, thà thiên trọng huệ, chớ nên thiên trọng tài. V́ có tài mà chẳng có huệ, sẽ tạo nghiệp, sẽ bị đọa lạc. Có huệ mà chẳng có tài, chẳng sao cả! Mức độ tệ nhất là cuộc sống kham khổ đôi chút, chẳng đến nỗi tạo tội nghiệp, chẳng đến nỗi đọa trong tam đồ. Do vậy, có thể biết: Huệ quan trọng hơn phước.

          Chúng ta nh́n rộng ra xă hội hiện thời, thấy điều ǵ? Thấy mọi người đang tạo nhân. Người Đài Loan đứng đầu thế giới về tài bố thí. Ai nấy đều có thể bỏ ra tiền tài, ai nấy đều thích xả tài. Trong tương lai, của cải ở nơi đây sẽ c̣n hưng vượng hơn hiện thời. Mọi người tu nhân, sau này, nhất định có quả báo. Nhưng ở trong ấy, chẳng thể nói là không có vấn đề. Vấn đề ǵ vậy? Rất nhiều người chẳng thể phân biệt tà, chánh! Tuy tu tài, nhưng chẳng tu nơi chánh pháp, mà tu nơi tà đạo. Những kẻ ấy tuy có của cải, chúng sẽ đem lại rất nhiều nỗi khó chịu. V́ thế, phải phân định rơ tà và chánh, có phải là phước điền thật sự hay không? Những ǵ là phước điền chánh pháp? Những ǵ chẳng phải là phước điền chánh pháp? Chúng ta phải phân biệt rơ ràng. Chỉ có chánh pháp th́ mới có thể đem lại an định, phồn vinh cho xă hội, mang lại hạnh phúc thật sự cho hết thảy đại chúng. Nhân duyên của trí huệ là phải hành pháp bố thí. Nay chúng ta thấy một điều hết sức đau đầu; có thể nói là một trào lưu thời đại, ai cũng chẳng thể nào ngăn cản được! Trào lưu ǵ vậy? Bảo vệ quyền tài sản trí huệ; quả báo là ǵ? Ngu si. Bảo hộ quyền tài sản trí huệ là không chịu hành pháp bố thí, do pháp bố thí th́ mới tăng trưởng trí huệ. Nay họ rất thông minh, rất có tư tưởng, có kiến giải, viết rất nhiều bộ sách hay, phía sau ghi: “Giữ bản quyền sở hữu, in lại ắt truy cứu trách nhiệm”. Chuyển sang đời sau, họ sẽ là kẻ ngu si, v́ sao? Chẳng thể hành pháp bố thí. Chẳng thể bố thí pháp, sẽ mắc quả báo ngu si!

          Trong kinh Di Đà, đối với mười sáu vị tôn giả [được kể tên] trong phần đầu, ngài Châu Lợi Bàn Đà Già hết sức ngu si. Đức Phật dạy tôn giả hai câu kệ, dạy Ngài thuộc câu trước th́ câu sau chẳng biết. Dạy câu sau, Ngài quên khuấy câu trước. Đức Phật bảo mọi người: Đời trước, tôn giả là một vị Tam Tạng pháp sư, pháp thế gian và xuất thế gian đều thông đạt. V́ sao chuyển thế bèn biến thành ngu si dường ấy? Keo kiệt pháp! Ngài dạy người khác mà chẳng chịu dạy hoàn toàn, chính ḿnh c̣n giấu diếm đôi chút. Nay chúng ta đối với quyền tài sản trí huệ, phía sau [có ghi] “Giữ bản quyền sở hữu, in lại ắt truy cứu trách nhiệm”, chính là tự ḿnh giữ riêng đôi chút, quả báo trong vị lai sẽ như ngài Châu Lợi Bàn Đà Già, như vậy th́ mới là đáng thương. Do vậy, chuyện này chính là trào lưu h́nh thành trong thế giới hiện thời, chẳng có cách nào ngăn chặn, đúng như thầy Lư đă nói, chư Phật, Bồ Tát, thần tiên đều chẳng cứu được. Sanh lộ duy nhất của chúng ta là “thật thà niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ”. V́ mỗi người trong Tây Phương Cực Lạc thế giới đều hành pháp bố thí, tuyệt đối chẳng có “giữ bản quyền sở hữu, in lại ắt truy cứu”. Đó là v́ cái nhỏ nhặt mà đánh mất cái lớn lao. Những phần tử trí thức chỉ tham cầu một tí lợi ích rất nhỏ trước mắt, chẳng biết đă tạo thành khó khăn to lớn cho xă hội, chính ḿnh trong tương lai sẽ bị đọa lạc, thật sự là chẳng thể kham suy tưởng được. Tầm nh́n của chúng ta hướng ra xa, sẽ liễu giải chân tướng sự thật này.

          Vô úy bố thí bèn đạt được quả báo là khỏe mạnh, sống lâu. Vô úy là ǵ? Chúng ta thời thời khắc khắc, nơi nơi chốn chốn, đều có thể nghĩ đến sự an toàn và hạnh phúc của đại chúng trong xă hội, tận tâm tận lực giúp đỡ, hiệp trợ người khác. Những điều ấy đều thuộc loại vô úy bố thí, quả báo là được khỏe mạnh, sống lâu. Chúng ta dùng cái tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm từ bi để tu tài bố thí, pháp bố thí, vô úy bố thí, quư vị đạt được quả báo tự nhiên là hết sức mỹ măn. Hạnh phúc mỹ măn là do tu được, người chẳng học Phật không hiểu rơ đạo lư này. Người học Phật mà chẳng thấu triệt, sẽ chẳng tin tưởng lời Phật dạy, chính là như kinh này đă nói: “Thiện căn, phước đức, nhân duyên ít ỏi”, chẳng nhiều! Kẻ ấy tuy tiếp xúc Phật pháp, nghe đức Phật giáo huấn, nhưng chẳng thể tin tưởng, chẳng thể làm theo, [dẫu] nghe mà giống như chẳng nghe, hết sức đáng tiếc!

 

          (Sao) Thứ dĩ Kiến Trược phối Chuyển Tướng, Hiện Tướng.

          (Diễn) Thứ dĩ Kiến Trược phối Chuyển Hiện giả. Kiến giả năng kiến, sở kiến dă. Tiền Nghiệp Tướng Năng Sở vị phân, thứ thành Chuyển Hiện. Tuy vô phân biệt, Năng Sở uyển nhiên, tâm cảnh cụ túc. Cố dĩ Kiến Trược phối Chuyển Hiện.

()次以見濁配轉相,現相。

         ()次以見濁配轉現者。見者能見所見也。前業相能所未分。次成轉現。雖無分別。能所宛然。心境具足。故以見濁配轉現。

(Sao: Kế đó, phối ứng Kiến Trược với Chuyển Tướng và Hiện Tướng.

Diễn: “Kế đó, phối ứng Kiến Trược với Chuyển Tướng và Hiện Tướng”: Kiến là năng kiến (chủ thể trông thấy) và sở kiến (đối tượng được thấy). Đối với Nghiệp Tướng trong phần trước, Năng và Sở chưa phân, kế đó, trở thành Chuyển Tướng và Hiện Tướng. Tuy chẳng có phân biệt, nhưng Năng và Sở rành rành, tâm và cảnh trọn đủ. V́ thế phối hợp Kiến Trược với Chuyển Tướng và Hiện Tướng).

 

          Đây là ba tế tướng. Tướng thứ nhất trong ba tế tướng là Nghiệp Tướng, Nghiệp là động. Trong hội Lăng Nghiêm, đức Phật đă nói: “Một niệm bất giác bèn có vô minh”. Bất giác là động, điều ǵ động? Tâm đă động. Tâm động như thế nào? Khởi niệm. Chư vị phải biết: Tâm khởi niệm là vô minh, chẳng khởi niệm cũng là vô minh. Càng nói, chúng ta càng khó hiểu. V́ sao nói động và chẳng động đều là vô minh? Khi chẳng động, bến nước (ư nói tâm thủy) của quư vị bị vẩn đục, chẳng thanh tịnh. Hễ động, sẽ cuộn sóng. Tuy nó bất động, giống như đắc Định, Tứ Thiền, Bát Định, A La Hán đắc Cửu Thứ Đệ Định, công phu định lực càng sâu, [thế nhưng] A La Hán chẳng có trí huệ. V́ sao? Tâm thủy của họ chẳng thanh tịnh. Nếu định đạt đến một mức độ kha khá, tâm thủy đă trong, chẳng có vô minh, Thiền Tông gọi chuyện này là “minh tâm kiến tánh, đại triệt đại ngộ”, hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian, quá khứ, hiện tại, vị lai đều thông đạt, đều hiểu rơ, đó mới là phá vô minh. Nếu không, Định cũng là vô minh, mà chẳng Định cũng vẫn là ở trong vô minh. Chúng ta nhất định phải hiểu: Động cũng là vẩn đục, mà bất động cũng là vẩn đục. Nay chúng ta chẳng niệm Phật, chẳng cầu sanh Tịnh Độ, chẳng nương cậy A Di Đà Phật, nói thẳng thừng chẳng có cách nào! Bất luận quư vị tu pháp môn nào, [chỉ đơn độc] mong cậy vào sức của chính ḿnh để ĺa khỏi vẩn đục, sợ rằng chẳng có một ai có thể làm được!

Kiến” () là phân biệt. Vô minh và nghiệp vẫn chưa có phân biệt, chẳng có chấp trước, chỉ là động. Hễ động, bèn vẩn đục hết sức mỏng nhẹ. Đến đây, do đă có phân biệt, cho nên có Kiến. Sau khi đă có phân biệt, bèn hiện tướng. Khoa học hiện thời đă chia hết thảy các pháp thành hai loại lớn: Một loại là vật chất, loại kia là tinh thần. Phật pháp cũng chia hết thảy các pháp thành hai loại lớn: Một loại là tâm pháp, loại kia là sắc pháp. Chuyển Tướng là tâm pháp, tức là tinh thần, Hiện Tướng là vật chất, là sắc pháp. Tâm và vật có cùng nguồn. Phật pháp nói “Sắc và Tâm cùng một Thể”, cùng do một thứ biến hiện, thứ ǵ vậy? Vô Minh Nghiệp Tướng. Từ Nghiệp Tướng biến hiện, biến hiện ra hai loại là tâm và vật, nay chúng ta nói là tinh thần và vật chất.

 

          (Sao) Thứ dĩ Phiền Năo Trược phối Trí, Tương Tục, Chấp Thủ, Kế Danh Tự Tướng.

          (Diễn) Thứ dĩ phiền năo phối Trí Tướng, Tương Tục Tướng, Chấp Thủ, Kế Danh giả, phiền năo bất xuất ngă pháp nhị chấp. Ngă pháp phục phân câu sanh, phân biệt. Kim Trí vi câu sanh pháp, Tương Tục vi phân biệt pháp, Chấp Thủ vi câu sanh ngă, Danh Tự vi phân biệt ngă, tứ tướng giai thuộc phiền năo đạo cố.

            ()次以煩惱濁配智、相續、執取、計名字相。

         ()次以煩惱配智相。相續相。執取。計名者。煩惱不出我法二執。我法復分俱生分別。今智為俱生法。相續為分別法。執取為俱生我。名字為分別我。四相皆屬煩惱道故。

          (Sao: Kế đến là phối ứng Phiền Năo Trược với Trí Tướng, Tương Tục Tướng, Chấp Thủ Tướng, Kế Danh Tự Tướng.

          Diễn: “Kế đến, đem phiền năo phối ứng với Trí Tướng, Tương Tục Tướng, Chấp Thủ Tướng, Kế Danh Tự Tướng”: Phiền năo chẳng ngoài hai thứ chấp là Ngă Chấp và Pháp Chấp. Ngă Chấp và Pháp Chấp lại chia thành Câu Sanh và Phân Biệt. Nay Trí Tướng là Câu Sanh Pháp Chấp, Tương Tục Tướng là Phân Biệt Pháp Chấp, Chấp Thủ Tướng là Câu Sanh Ngă Chấp, Danh Tự là Phân Biệt Ngă Chấp. Bốn tướng đều thuộc về phiền năo).

 

          Từ đây trở đi là sáu thô tướng. Trong phần trước là ba tế tướng, ở đây là sáu thô tướng. Trong thô tướng có chấp trước; trong tế tướng chẳng có chấp trước, chúng có phân biệt, nhưng chẳng có chấp trước. Ở đây là có chấp trước, tức là có Trí. Tâm Kinh nói “vô trí mà cũng vô đắc”, “vô trí” là đoạn hết sáu thô tướng. Tự cho chính ḿnh là có Trí, hỏng rồi! Quư vị đọa trong sáu thô tướng, là phàm phu thứ thiệt, chẳng phải là thánh nhân. Tương Tục (相續) là phân biệt, chấp trước chẳng gián đoạn, niệm niệm tiếp nối. Chấp Thủ: Chấp () là chấp trước, Thủ () là chiếm hữu, nay chúng ta nói là “dục vọng chiếm hữu”. Dục vọng chiếm hữu do đâu mà có? Do Chấp Thủ Tướng mà ra. Kế Danh Tự Tướng là đối với hết thảy vạn pháp đều đặt cho chúng một cái tên. Danh là giả danh, chẳng thật. Lăo Tử đă nói: “Danh khả danh, phi thường danh” (Cái tên mà gọi được th́ chẳng phải là cái tên thường hằng), Ngài biết danh là giả, chẳng thật, chớ nên chấp trước. Chẳng liễu giải sự thật này, chấp trước kiên cố đối với tướng danh tự, cũng sẽ tạo ra khá nhiều tội nghiệp, nguyên nhân là do cứ ngỡ danh tự là chân thật, chẳng biết là [danh tự của mọi pháp] đều là những cái tên giả đặt.

 

          (Sao) Thứ dĩ Chúng Sanh Trược phối Khởi Nghiệp Tướng.

          (Diễn) Thứ dĩ chúng sanh phối Khởi Nghiệp Tướng giả, chúng sanh giả, chúng pháp tương sanh, diệc xứ xứ thọ sanh, cố viết chúng sanh. Dĩ do tạo thiện ác bất động đẳng nghiệp, phương cảm chúng pháp, xứ xứ thọ sanh cố.

          ()次以眾生濁配起業相。

         ()次以眾生配起業相者。眾生者。眾法相生。亦處處受生。故曰眾生。以由造善惡不動等業。方感眾法。處處受生故。

(Sao: Kế đó, đem Chúng Sanh Trược phối ứng với Khởi Nghiệp Tướng.

Diễn: “Kế đó, đem Chúng Sanh Tướng phối ứng với Khởi Nghiệp Tướng”: Chúng sanh là do các pháp ḥa hợp mà sanh, lại cũng thọ sanh các nơi, nên gọi là “chúng sanh”. Do tạo các nghiệp thiện, ác, bất động v.v… nên mới cảm vời các pháp, thọ sanh các nơi).

 

          Hoặc, Nghiệp, Khổ, [các tướng] Trí, Tương Tục, Chấp Thủ, Kế Danh Tự đều thuộc loại mê hoặc. Sau khi đă mê hoặc bèn tạo nghiệp, tức là Khởi Nghiệp Tướng. Sau khi đă tạo nghiệp, bèn có quả báo.

 

          (Sao) Thứ dĩ Mạng Trược phối Nghiệp Hệ Khổ Tướng.

          (Diễn) Thứ dĩ Mạng Trược phối Nghiệp Hệ Khổ giả, Mạng Trược tức bát thức mạng căn, vi nhất kỳ chúng sanh chi tổng báo chủ, vi nghiệp sở hệ trụ thời quyết định bất đắc giải thoát cố.

          ()次以命濁配業繫苦相。

()次以命濁配業繫苦者。命濁即八識命根。為一期眾生之總報主。為業所繫住時決定不得解脫故。

          (Sao: Kế đó, phối ứng Mạng Trược với Nghiệp Hệ Khổ Tướng.

          Diễn: “Kế đó, phối ứng Mạng Trược với Nghiệp Hệ Khổ Tướng”, Mạng Trược là tám thức, mạng căn, là cái chủ yếu trong quả báo nói chung của chúng sanh trong một giai đoạn [thọ sanh], khi bị nghiệp ràng buộc th́ chắc chắn là chẳng được giải thoát).

 

          Đây là quả báo. Chúng ta thường nói chuyện này là lục đạo luân hồi. Chúng ta phải biết lục đạo luân hồi v́ sao mà có? Ba tế tướng thuyết minh sự h́nh thành của vũ trụ, [nêu rơ] nguồn gốc của vũ trụ. Sáu thô tướng nhằm chỉ rơ v́ sao có lục đạo luân hồi, xác thực là nói rất rành mạch. Ở đây, nhất định phải hiểu: Nhân như thế nào, sẽ có quả như thế ấy. Thiện nhân đắc thiện quả, do ác nhân đắc ác báo, nhân duyên quả báo chẳng sai sót mảy may. Đoạn tiếp theo là phối hợp [Ngũ Trược] tương ứng với Ngũ Ấm. Ngũ Ấm là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức.

 

          (Sao) Phối Ngũ Ấm giả, dĩ Kiếp Trược phối Sắc Ấm.     

          ()配五陰者,以劫濁配色陰。   

   (Sao: Phối ứng với Ngũ Ấm: Đem Kiếp Trược ghép với Sắc Ấm).

         

          Sắc là vật chất, nay chúng ta nói là thế giới và hoàn cảnh thiên nhiên.

 

(Sao) Vị không kiến bất phân, vọng kiến không nhi lưỡng vô kỳ thật, tánh vị hồn trược cố.

          (Diễn) Dĩ Kiếp Trược phối Sắc Ấm giả, Lăng Nghiêm vân: “Nhữ kiến hư không, biến thập phương giới, Không Kiến bất phân, hữu Không vô thể. Hữu Kiến vô giác, tương chức vọng thành. Thị đệ nhất trùng danh vi Kiếp Trược”. Thử tức thị dĩ Kiếp Trược phối Sắc Ấm dă. Dĩ tương chức vọng thành, thị Không dữ Kiến tương chức, nhi vọng thành Sắc Ấm. Thử tức danh vi Kiếp Trược, khởi bất thị dĩ Kiếp Trược phối Sắc Ấm? Cái Tứ Đại căn trần đồng danh Sắc Ấm, nhi Không Kiến bất phân chi thời, căn trần hồn loạn, phi Kiếp Trược nhi hà? Phân Không, phân Kiến, bổn vô biên bạn. Cố vân Không Kiến bất phân. Dĩ vô thể chi Không, chức vô giác chi Kiến. Dĩ vô giác chi Kiến, chức vô thể chi Không, năi vọng kiến không nhi lưỡng vô kỳ thật. Thử trạm viên minh tâm, vi ngoan không sở hồn, nhi thành Kiếp Trược, thị tánh vị hồn trược.

()謂空見不分,妄見空而兩無其實,性為渾濁故。

()以劫濁配色陰者。楞嚴云。汝見虛空。遍十方界。空見不分。有空無體。有見無覺。相織妄成。是第一重名為劫濁。此即是以劫濁配色陰也。以相織妄成。是空與見相織。而妄成色陰。此即名為劫濁。豈不是以劫濁配色陰。蓋四大根塵同名色陰。而空見不分之時。根塵渾亂。非劫濁而何。分空分見。本無邊畔。故云空見不分。以無體之空。織無覺之見。以無覺之見。織無體之空。乃妄見空而兩無其實。此湛圓明心。為頑空所渾。而成劫濁。是性為渾濁。

(Sao: Nghĩa là Không và Kiến chẳng phân, hư vọng thấy có Không, nên cả hai đều chẳng thật, tánh bị vẩn đục vậy.

Diễn: “Đem Kiếp Trược ghép với Sắc Ấm”: Kinh Lăng Nghiêm nói: “Ông thấy hư không trọn khắp các cơi trong mười phương. Do Kiến và Không chẳng tách ĺa, chỉ có Không [mà chẳng có Kiến] th́ chẳng có Thể, có Kiến [mà chẳng có Không] th́ chẳng có Giác. Do Không và Kiến đan xen lẫn nhau, mà hư vọng tạo thành. Đấy là tầng thứ nhất, gọi là Kiếp Trược”[3]. Đấy chính là đem Kiếp Trược phối ứng với Sắc Ấm. “Do chúng đan xen vào nhau mà hư vọng tạo thành” tức là Không và Kiến đan xen vào nhau, hư vọng tạo thành Sắc Ấm. Điều này được gọi là Kiếp Trược. Há chẳng phải là đem Kiếp Trược phối ứng với Sắc Ấm ư? Bởi lẽ, Tứ Đại, Căn, Trần cùng gọi là Sắc Ấm, cho nên khi Không và Kiến chẳng phân, Căn và Trần lẫn lộn, chẳng phải là Kiếp Trược th́ là ǵ? Chia ra Không và Kiến, vốn chẳng ngằn mé, nên nói là “Không và Kiến chẳng phân”. Do cái Không chẳng có Thể đan xen với cái Kiến chẳng có Giác, hoặc dùng cái Kiến không có Giác để xen kết với cái Không chẳng có Thể, cho nên cả hai thứ Kiến và Không đều là hư vọng, chẳng thật. Cái tâm lắng trong, viên minh ấy bị vẩn đục bởi cái ngoan không (cái Không trơ trơ), nên tạo thành Kiếp Trược, đó là tánh bị vẩn đục).

 

          Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật đă giảng Ngũ Trược tỉ mỉ hơn kinh này, v́ kinh văn của kinh Lăng Nghiêm dài, trong hội Lăng Nghiêm đều là hàng Bồ Tát có trí huệ cao sâu, sung măn. Đức Phật nói với các vị Bồ Tát ấy, đương nhiên cách nói chẳng giống như khi nói với chúng ta là những kẻ sơ học. Đối với chúng ta, nói đơn giản là được rồi, chứ đối với những vị ấy, phải nói chi tiết. Để nghiên cứu Lăng Nghiêm, có thể nhập môn từ bộ Lăng Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa của pháp sư Viên Anh. “Không Kiến bất phân”: Không là hư không, Kiến là năng kiến (chủ thể để thấy), hư không là sở kiến (đối tượng được thấy). [Không Kiến bất phân] là Năng và Sở là một, chẳng hai. “Vọng Kiến Không nhi lưỡng vô kỳ thật” (Kiến và Không hư vọng, cả hai đều chẳng thật), Không chẳng phải là thật. Không vốn là thật; ĺa khỏi Kiến, Không là thật. Hễ có Kiến trong ấy, Không sẽ biến thành Ngoan Không (cái Không trơ trơ, rỗng tuếch), chẳng phải là Chân Không. Hỏng ở chỗ có Kiến. Hiện thời, có ai trong chúng ta chẳng có Kiến? Do vậy, chúng ta đều chẳng thể thành Phật. Nếu chúng ta chẳng có Ngă Kiến, chúc mừng quư vị, nếu quư vị chẳng phải là Phật, th́ đại khái cũng thuộc hàng Pháp Thân đại sĩ, hoặc hàng Đẳng Giác Bồ Tát. Hễ gặp vấn đề bèn “cách nh́n của ta là như thế nào?” Kết quả, “cách nh́n của ta” chính là Kiến, tức là quư vị có Kiến. “Cách nghĩ của ta như thế nào” chính là phiền năo, tức Phiền Năo Chướng, tức là Phiền Năo Trược trong Ngũ Trược. Kiến giải của ta như thế nào? Cách nh́n của ta như thế nào? Quư vị liền vướng vào Kiến Trược.

Lời đức Phật dạy xác thực là chân tướng sự thật. Chúng sanh mê như thế nào, đức Phật hiểu rơ ràng, rành rẽ. Bản thân chúng ta hồ đồ, năng kiến đă chẳng thật, đương nhiên là sở kiến càng hư vọng, nhưng chúng ta chấp trước, ngỡ là thật sự có năng kiến và sở kiến.

“Tánh vị hồn trược” (Tánh bị vẩn đục), tâm tánh vốn sẵn thanh tịnh bèn mê, chẳng trông thấy. Cái mê ấy phiền toái lắm, càng mê càng sâu hơn. Thứ này rất đáng ghét. Trong các buổi giảng, chúng tôi thường nhắc nhở các đồng tu: Trong đời này, nếu chúng ta chẳng thể văng sanh, quả báo trong đời sau chắc chắn sẽ thua kém đời này, sẽ chẳng thể tốt đẹp bằng đời này. Dẫu quư vị rất thích tu phước, tu bố thí, nhưng quư vị chẳng biết tu huệ. Có phước mà chẳng có huệ, quá nguy hiểm! Nhà Phật nói “tam thế oán”, đời thứ nhất tu phước, đời thứ hai hưởng phước, đời thứ ba đọa lạc, đọa trong tam đồ, chính là v́ chẳng nghiêm túc tu huệ, chuyên môn tu phước.

 

          (Sao) Thứ dĩ Kiến Trược phối Thọ Ấm.

          (Diễn) Thứ dĩ Kiến Trược phối Thọ Ấm giả, Lăng Nghiêm vân: “Nhữ thân hiện đoàn Tứ Đại vi Thể, kiến, văn, giác, tri, ung linh lưu ngại, thủy, hỏa, phong, thổ, toàn linh giác tri, tương chức vọng thành. Thị đệ nhị trùng, danh vi Kiến Trược”. Thử tức thị dĩ Kiến Trược phối Thọ Ấm dă. Dĩ tương chức vọng thành, thị lục căn dữ Tứ Đại tương chức, nhi vọng thành Thọ Ấm. Dĩ kỳ kiến cảnh lănh nạp, hồn trược chân tánh, tức danh Kiến Trược, khởi bất thị dĩ Kiến Trược phối Thọ Ấm?

          ()次以見濁配受陰。

         ()次以見濁配受陰者。楞嚴云。汝身現摶四大為體。見聞覺知壅令留礙。水火風土旋令覺知。相織妄成。是第二重名為見濁。此即是以見濁配受陰也。以相織妄成。是六根與四大相織。而妄成受陰。以其見境領納。渾濁真性。即名見濁。豈不是以見濁配受陰。

         (Sao: Kế đó, đem Kiến Trược ghép tương ứng với Thọ Ấm.

          Diễn: “Kế đó, ghép Kiến Trược tương ứng với Thọ Ấm”: Kinh Lăng Nghiêm nói: “Thân ông nay do gom góp Tứ Đại làm Thể. Thấy, nghe, hay, biết do bị ngăn lấp mà trở thành chướng ngại, nước, lửa, gió, đất bị chuyển thành có hay biết, đan xen hư vọng mà thành. Đó là tầng thứ hai, gọi là Kiến Trược”[4]. Đấy chính là đem Kiến Trược phối ứng với Thọ Ấm. “Đan xen hư vọng mà thành” tức là sáu căn và Tứ Đại đan quyện vào nhau, hư vọng tạo thành Thọ Ấm. Do nó thấy cảnh bèn lănh nạp, khiến cho chân tánh bị vẩn đục, nên gọi là Kiến Trược. Há chẳng phải là đem Kiến Trược phối ứng với Thọ Ấm ư?)

 

          Trong Ngũ Uẩn, Sắc pháp nói khá đơn giản, chỉ có một điều, c̣n Tâm pháp nói khá cặn kẽ, bao gồm Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Nói Tâm pháp tỉ mỉ, chính là v́ đức Phật nói với kẻ mê Sắc nhẹ, mê tâm nặng nề. Kiến được nói ở đây chính là “thành kiến” như chúng ta thường gọi, tức là quan niệm chủ quan. Kẻ có thành kiến, có quan niệm chủ quan, người có quan niệm rất nặng nề th́ sự cảm nhận của người ấy cũng đặc biệt nhạy bén.

“Thọ” là ǵ? Khổ, lạc, ưu, hỷ, xả, kẻ ấy cảm nhận rất dễ dàng. Năm thứ cảm nhận ấy cũng chẳng thật. Từ khóa học dành cho sinh viên các trường đại học và chuyên nghiệp của Đài Trung Liên Xă, [thầy Lư] đă biên soạn Thập Tứ Giảng Biểu, [trong ấy], bài giảng thứ tư [nói về đề tài] “quán Thọ là khổ”. “Thọ” trong ấy là thuần túy nói về Thọ của lục đạo phàm phu, thật sự khổ! Khổ, lạc, ưu, hỷ, xả: Khổ là Khổ Khổ, Lạc là Hoại Khổ, lạc chẳng thật. V́ sao? Lạc chẳng lâu dài, Khổ là dài lâu, Lạc là tạm thời, Ưu là lâu dài, Hỷ là ngắn ngủi, tạm bợ. Đời người sống trong ưu khổ, hoạn nạn, phải giác ngộ điều này. Đời này của chúng ta là như thế, phải biết là đời đời kiếp kiếp đều là như vậy. Đời sau c̣n mong làm người nữa hay chăng? Vẫn mong luân hồi trong lục đạo hay chăng? Lục đạo luân hồi giống như một con ốc vít, một mực vặn xuống, chẳng thể vặn lên trên được. Do đó, mỗi đời sau sẽ kém hơn đời trước, đời sau khổ hơn đời trước. Nếu quư vị hỏi: “V́ sao thầy nói chắc nịch như vậy, mỗi đời sau sẽ khổ hơn đời trước?” Thật ra, đạo lư này rất đơn giản. Chỉ cần quư vị tự nghiêm túc suy nghĩ, phản tỉnh. Chúng ta từ sáng đến tối, từ ngày đầu năm cho đến Ba Mươi tháng Chạp, khởi tâm động niệm nghĩ tưởng những ǵ? Chúng ta mở miệng bèn nói ǵ? Chúng ta làm những ǵ? Quư vị biết ngay. Ba nghiệp chúng ta tạo thiện nhiều hay làm ác nhiều? Nếu ba nghiệp tạo ác nhiều hơn thiện, đời sau chẳng bằng đời này! Nếu như ba nghiệp của chúng ta tạo thiện nhiều hơn ác, đời sau nhất định tốt đẹp hơn đời này. Tiêu chuẩn của thiện ác là ở chỗ nào? Lợi ích chúng sanh, lợi ích xă hội, đó là thiện. Lợi ích chính ḿnh, lợi ích gia đ́nh của ta, đó là ác. V́ thế, phàm đối với chuyện ǵ, nếu ư niệm đầu tiên là suy xét coi nó có lợi ích cho chính ḿnh hay không; đó là đại ác, chẳng phải là chuyện tốt đẹp. Phải học theo Phật, Bồ Tát, khởi tâm động niệm bèn nghĩ tới hết thảy chúng sanh, chẳng nghĩ tới chính ḿnh. Hiện thời, có mấy ai khởi tâm động niệm bèn nghĩ tới hết thảy chúng sanh, nghĩ đến đại chúng trong xă hội, chẳng nghĩ tới chính ḿnh? Một người làm, đó là biệt nghiệp, biệt báo; mọi người cùng nhau tạo tác, sẽ là cộng nghiệp, cộng báo. Chuyện này phiền phức to tát.

 

          (Sao) Thứ dĩ Phiền Năo Trược phối Tưởng Ấm.

          (Diễn) Thứ dĩ Phiền Năo Trược phối Tưởng Ấm giả, kinh vân: “Hựu nhữ tâm trung ức thức, tụng tập, tánh phát tri kiến dung hiện lục trần. Ly trần vô tướng, ly giác vô tánh, tương chức vọng thành. Thị đệ tam trùng, danh Phiền Năo Trược”. Thử tức thị dĩ Phiền Năo Trược phối Tưởng Ấm dă. Dĩ tương chức vọng thành, thị tri kiến dữ lục trần tương chức, nhi vọng thành Tưởng Ấm. Kư thủ trước sở lănh, tắc nhiễu loạn thậm tiền. Kư hồn chân tánh, tức danh Phiền Năo Trược, khởi bất thị dĩ phiền năo phối Tưởng Ấm?

          ()次以煩惱濁配想陰。

         ()次以煩惱濁配想陰者。經云。又汝心中憶識誦習。性發知見容現六塵。離塵無相。離覺無性。相織妄成。是第三重名煩惱濁。此即是以煩惱濁配想陰也。以相織妄成。是知見與六塵相織。而妄成想陰。既取著所領。則擾亂甚前。既渾真性即名煩惱濁。豈不是以煩惱配想陰。

          (Sao: Kế đó, đem Phiền Năo Trược ghép với Tưởng Ấm.

Diễn: “Kế đó, đem Phiền Năo Trược ghép với Tưởng Ấm”: Kinh nói: “Lại do trong tâm ông nhớ tưởng, nhận biết, ôn luyện, tánh bèn dấy lên tri kiến ḥa nhập sáu trần. Ĺa trần th́ không có tướng, ĺa giác th́ không có tánh, đan xen hư vọng mà thành. Đó là tầng thứ ba gọi là Phiền Năo Trược”[5]. Đấy chính là đem Phiền Năo Trược phối ứng với Tưởng Ấm. “Do đan xen hư vọng mà thành”, tức là tri kiến và lục trần đan quyện vào nhau, hư vọng tạo thành Tưởng Ấm. Do chấp trước những ǵ đă tiếp nhận, nên nó quấy nhiễu chân tánh mạnh hơn [những thứ Trược] trước đó. Do nó vẩn đục chân tánh, nên gọi là Phiền Năo Trược. Há chẳng phải là đă ghép phối ứng Phiền Năo Trược với Tưởng Ấm ư?)

 

Đây cũng là chỉ rơ: Phiền năo sanh từ vọng tưởng. Quư vị chẳng dấy vọng tưởng, lấy đâu ra phiền năo? Phiền năo là ǵ? Quá nhiều! Vô lượng vô biên. Đức Phật thuyết pháp, đă quy nạp phiền năo thành hai mươi sáu loại, giống như hai mươi sáu món phiền năo được nói trong Bách Pháp Minh Môn Luận. Trong hai mươi sáu món ấy, có sáu món được gọi là Căn Bản Phiền Năo[6], những món khác được gọi là Tùy Phiền Năo. Trong Tùy Phiền Năo, có Đại Tùy Phiền Năo, Trung Tùy Phiền Năo, và Tiểu Tùy Phiền Năo[7], tổng cộng hai mươi món. Đấy là hai mươi loại lớn. Lại quy nạp, sẽ là tham, sân, si trong Căn Bản Phiền Năo, những món này được gọi là Tam Độc. Những thứ này độc địa nhất, chẳng có ǵ độc địa hơn. Bất cứ độc dược nào trong thế gian cũng đều chẳng thể sánh bằng ba điều này, thua kém quá xa, đơn giản là chẳng thể sánh bằng. Nay chúng ta đều đang trúng độc, lại c̣n trúng độc rất sâu. V́ thế, tiếp nhận Phật pháp khá khó khăn.

Phật pháp là pháp thanh tịnh, chắc chắn là tương phản với Tam Độc. Cổ đức tỷ dụ: Phật pháp là đề-hồ, đề-hồ là thức uống ngon nhất. Chúng ta dùng một cái chén để tiếp nhận đề-hồ. Cái chén ấy vốn để đựng thuốc độc. Thuốc độc chưa rửa sạch, đổ đề-hồ vào đó, đề-hồ cũng biến thành độc dược. Chuyện này ví như trạng huống học Phật của chúng ta trong hiện thời. Chúng ta đă tiếp nhận Phật pháp, nhưng đem chứa nó trong đồ đựng Tam Độc. V́ thế, Phật pháp vào trong tâm chúng ta bèn biến chất. Nó vốn là thanh lương, là vô thượng pháp bảo, tiến nhập cái tâm của chúng ta cũng biến thành Tam Độc. Có những kẻ càng học Phật, phiền năo càng nặng nề. Hăy nên biết điều này, v́ đồ chứa của họ chẳng sạch sẽ.

          V́ thế, tu học Phật pháp th́ học khởi đầu từ đâu? Học khởi đầu từ đoạn phiền năo. Tứ Hoằng Thệ Nguyện dạy chúng ta tŕnh tự tu học chẳng thể đảo loạn, chẳng thể điên đảo. Nhập Phật môn, điều thứ nhất là khuyên quư vị phát nguyện. V́ sao? Nguyện là động lực tu học, nó có thể thúc đẩy quư vị vĩnh viễn tinh tấn chẳng biếng nhác. Quư vị chẳng có nguyện lực, sẽ mệt mỏi, chán nản, sẽ thoái chuyển. Điều thứ nhất trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện là “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”, điều này là động lực. V́ sao quư vị chịu nghiêm túc nỗ lực tu học, chẳng sợ hết thảy khó khăn, vĩnh viễn chẳng thoái chuyển? Do nguyện lực này thôi thúc quư vị.

Học bắt đầu từ nơi đâu? Học khởi đầu từ đoạn phiền năo, “phiền năo vô tận thệ nguyện đoạn”. Sau khi đă đoạn phiền năo, mới có thể học pháp môn. Chẳng đoạn phiền năo, chẳng thể học pháp môn. Từ xưa tới nay, tổ tổ tương truyền, đều dạy quư vị thâm nhập một môn. Thâm nhập một môn, nhằm mục đích nào? Nhằm đoạn phiền năo. Nói cách khác, chỉ có một môn th́ mới có thể tu tâm thanh tịnh. Quư vị có phiền năo, tâm sẽ chẳng thanh tịnh. Dùng một môn để tu cái tâm thanh tịnh, bất luận tông phái nào hay pháp môn nào đều chẳng thể trái nghịch nguyên tắc này. Nguyên tắc này xuất phát từ Tứ Hoằng Thệ Nguyện, cho đến khi phiền năo nhẹ nhàng, trí huệ tăng trưởng, khi ấy bèn có thể “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”.

Kinh Hoa Nghiêm là một tấm gương tốt nhất [về chuyện “thâm nhập một môn”]. Thiện Tài đồng tử và chư đại Bồ Tát đă nêu gương và biểu diễn cho chúng ta thấy. Thiện Tài đồng tử ở trong hội của Văn Thù Bồ Tát, so với năm mươi ba lần tham học, hội ấy được gọi là “bổn hội” (hội gốc). Thiện Tài đồng tử tham phỏng Văn Thù Bồ Tát, thâm nhập một môn, đoạn phiền năo. Phiền năo đă đoạn, trí huệ mở mang, Văn Thù Bồ Tát cho Ngài đi tham học, đó gọi là “năm mươi ba lần tham học”. Tham học chính là “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”. Chẳng đoạn phiền năo, chẳng có tư cách tham học. Đă đoạn phiền năo, trí huệ hiện tiền; khi ấy, bèn có tư cách tham học. Tham học chẳng đơn giản, chẳng phải là ai nấy hễ học Phật bèn có thể tham học, chẳng có lẽ ấy! Đây là nói rơ tầm quan trọng của việc đoạn phiền năo, cũng như [nói rơ] phiền năo đối với chuyện chướng ngại minh tâm kiến tánh có mức độ to lớn dường nào!

 

          (Sao) Thứ dĩ Chúng Sanh Trược phối Hành Ấm.

          (Diễn) Thứ dĩ Chúng Sanh Trược phối Hành Ấm giả, kinh vân: “Hựu nhữ triêu tịch sanh diệt bất đ́nh, tri kiến mỗi dục lưu ư thế gian, nghiệp vận mỗi thường thiên ư quốc độ, tương chức vọng thành. Thị đệ tứ trùng, danh Chúng Sanh Trược”. Thử tức thị dĩ Chúng Sanh Trược phối Hành Ấm dă. Dĩ tương chức vọng thành, thị tri kiến dữ nghiệp vận tương chức, nhi vọng thành Hành Ấm, nhi khứ lưu giả hợp, hồn trược chân tánh, tức danh Chúng Sanh Trược, khởi bất thị dĩ Chúng Sanh Trược phối Hành Ấm?

          ()次以眾生濁配行陰。

()次以眾生濁配行陰者。經云。又汝朝夕生滅不停。知見每欲留於世間。業運每常遷於國土。相織妄成。是第四重名眾生濁。此即是以眾生濁配行陰也。以相織妄成。是知見與業運相織。而妄成行陰。而去留假合。渾濁真性。即名眾生濁。豈不是以眾生濁配行陰。

          (Sao: Kế đó, đem Chúng Sanh Trược ghép với Hành Ấm.

Diễn: “Kế đó, đem Chúng Sanh Trược ghép với Hành Ấm”: Kinh nói: “Ông lại sáng tối sanh diệt chẳng ngừng, tri kiến thường mong ở trong thế gian, nghiệp vận thường đổi dời trong cơi nước, đan xen hư vọng mà thành. Đó là tầng thứ tư, gọi là Chúng Sanh Trược”[8]. Đây chính là đem Chúng Sanh Trược phối ứng với Hành Ấm. “Do đan xen hư vọng mà thành” tức là tri kiến và nghiệp vận đan xen, hư vọng tạo thành Hành Ấm, nhưng bỏ, giữ, giả hợp, vẩn đục chân tánh, bèn gọi là Chúng Sanh Trược. Há chẳng phải là dùng Chúng Sanh Trược phối ứng với Hành Ấm ư?)

 

Hành” ở đây là tạo tác, Hành () là hành vi. Trong Phật pháp, thường nói là “tu hành”. Đối với Ngũ Uẩn, tức Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, chẳng nói tu Sắc, tu Tưởng, hoặc tu Thọ. Hằng ngày nói đến “tu hành”, chính là nhằm nói rơ: Trong năm loại lớn ấy, Hành hết sức trọng yếu. Nói với ai? Nói với bọn phàm phu chúng ta! Nói cách khác, hành vi của bọn phàm phu chúng ta chẳng kiểm điểm nhất, dễ phạm lỗi nhất. V́ thế, đức Phật đặc biệt đổ công dốc sức nơi chữ này, dạy quư vị phải tu hành. Đương nhiên là chúng ta hiểu rơ: Trong năm chữ ấy, tùy tiện nói một chữ, thảy đều bao gồm toàn bộ. Hễ nói “tu hành” th́ bao gồm Sắc, Thọ, Tưởng trước đó, và bao gồm Thức sau đó.

Đây là nói với hàng phàm phu, hành tŕ chẳng thể không kiểm điểm. Đức Phật yêu cầu chúng ta phải nghiêm tŕ giới luật. Nghiêm tŕ giới luật là nói phối ứng với Hành Ấm. Tư tưởng, lời nói, hành vi tạo tác, khởi tâm động niệm của chúng ta đều phải tương ứng với giáo huấn trong kinh điển. Nói cách khác, giáo huấn trong kinh điển là tiêu chuẩn để chúng ta tu hành. Tuy chúng ta tu Tịnh Độ, tin tưởng Tịnh Độ, yêu thích Tịnh Độ, chúng ta có thể tiếp nhận, cũng nguyện sanh Tịnh Độ, nay vẫn chưa mong văng sanh! [Nếu như] hiện tại đă mong văng sanh, vậy th́ đơn giản lắm! Một câu Phật hiệu A Di Đà Phật là được rồi, những thứ khác đều chẳng cần thiết. V́ hiện thời quư vị chẳng mong văng sanh, cho nên tôi mới khuyên quư vị niệm kinh Vô Lượng Thọ. Quư vị phải hiểu đạo lư này! Hiện thời, [đă là] thật sự mong văng sanh th́ chẳng cần niệm kinh Vô Lượng Thọ, một câu Phật hiệu là được rồi.

Hiện thời, chẳng mong văng sanh, vẫn c̣n lưu luyến thế giới này; do vậy, mới bảo quư vị đọc kinh Vô Lượng Thọ. Đọc kinh Vô Lượng Thọ nhằm dụng ư ǵ? Vun bồi cơ sở Giới, Định, Huệ của quư vị, khiến cho Tam Học Giới, Định, Huệ của quư vị tăng trưởng hằng ngày. Kinh niệm rất thuộc, nhớ kỹ từng câu rất minh bạch, trong cuộc sống, đối với khởi tâm động niệm, ngôn ngữ, tạo tác, sẽ nghĩ trong kinh đức Phật đă nói như thế nào? Ta khởi ư niệm, ư niệm ấy có nên dấy lên hay chăng? Ta nói lời này, lời ấy có nên nói hay chăng? Ta có một tiêu chuẩn, tiêu chuẩn ấy chính là kinh Vô Lượng Thọ. Kinh Vô Lượng Thọ là A Di Đà Phật, chúng ta dùng A Di Đà Phật làm tiêu chuẩn để tu hành, như vậy th́ trong tương lai, sẽ văng sanh dễ dàng. V́ sao? Tâm nguyện giải hạnh của chúng ta tương ứng với A Di Đà Phật, há có lẽ nào chẳng văng sanh? Không chỉ là được văng sanh, mà phẩm vị c̣n nhất định rất cao. Đấy là mục đích của việc đọc tụng kinh Vô Lượng Thọ.

Một bộ kinh sẽ chuyên chú dễ dàng, chuyên tâm niệm, tâm sẽ được thanh tịnh, có thể đoạn phiền năo! Phiền năo, vọng tưởng, phân biệt, chấp trước chẳng cần đoạn, tự nhiên chúng sẽ giảm nhẹ, dùng phương pháp này để đạt tới “phiền năo vô tận thệ nguyện đoạn”. Từ trên cơ sở này, đặt vững “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”. Trong một đời này, chúng ta chẳng có thời gian để tu học hết thảy các pháp môn, nhưng sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, y báo và chánh báo ở bên đó đều đạt tới mức viên măn rốt ráo. V́ thế, vô lượng vô biên pháp môn đều được hoàn thành trong hội của Tây Phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật. Chúng ta thực hiện hai nguyện đầu của Tứ Hoằng Thệ Nguyện trong hiện thời, đối với hai nguyện sau là “tu pháp môn, thành Phật đạo”, đến Tây Phương Cực Lạc thế giới sẽ lại thực hiện. Như vậy th́ sẽ ổn thỏa, thích đáng.

 

          (Sao) Thứ dĩ Mạng Trược phối Thức Ấm.

          (Diễn) Thứ dĩ Mạng Trược phối Thức Ấm giả, kinh vân: “Nhữ đẳng kiến văn nguyên vô dị tánh, chúng trần cách việt, vô trạng dị sanh. Tánh trung tương tri, dụng trung tương bối, đồng dị thất chuẩn, tương chức vọng thành. Thị đệ ngũ trùng, danh vi Mạng Trược”. Thử tức thị dĩ Mạng Trược phối Thức Ấm dă, dĩ tương chức vọng thành, thị nhất đồng, nhất dị, như kinh vĩ mật chức, nhi thành Thức Ấm. Nhi thức trụ mạng tồn, thức khứ mạng tạ, hồn trược chân tánh, tức danh Mạng Trược, khởi bất thị dĩ Mạng Trược phối Thức Ấm?

          ()次以命濁配識陰。

         ()次以命濁配識陰者。經云。汝等見聞元無異性。眾塵隔越無狀異生。性中相知。用中相背。同異失準。相織妄成。是第五重名為命濁。此即是以命濁配識陰也。以相織妄成。是一同一異。如經緯密織。而成識陰。而識住命存。識去命謝。渾濁真性。即名命濁。豈不是以命濁配識陰。

          (Sao: Kế đó, đem Mạng Trược ghép với Thức Ấm.

          Diễn: “Kế đó, đem Mạng Trược ghép với Thức Ấm”: Kinh nói: “Cái Thấy và cái Nghe của các ông vốn chẳng khác tánh, do các trần cách biệt mà không ǵ chẳng dường như là khác tánh. Luận theo tánh th́ biết là [tánh của sáu căn] thông tỏ lẫn nhau [nên là tương đồng], xét theo Dụng th́ chúng trái nghịch nhau, đồng và dị mất chuẩn định, đan xen hư vọng mà thành. Đấy là tầng thứ năm gọi là Mạng Trược”[9]. Đây chính là đem Mạng Trược phối hợp với Thức Ấm. “Do đan xen hư vọng tạo thành”: Một đồng, một dị, như sợi dọc và sợi ngang đan bện chặt chẽ, tạo thành Thức Ấm. Thức trụ, mạng c̣n; thức rời đi, mạng mất. Vẩn đục chân tánh, nên gọi là Mạng Trược. Há chẳng phải là đem Mạng Trước phối ứng với Thức Ấm ư?)

 

          Chúng ta là hữu t́nh chúng sanh, nói theo cách hiện thời th́ là “động vật”. Con người thuộc loại động vật, thọ mạng của động vật do Thức [quyết định]. Người thế gian gọi Thức là “tinh thần”, dân gian Trung Hoa gọi Thức là “linh hồn”. Linh hồn ĺa khỏi thân thể, thân thể này sẽ là xác chết. Thời gian tồn tại [của thân xác sau khi thức đă rời khỏi] rất ngắn ngủi, chừng mấy giờ hoặc một, hai ngày liền mục nát, c̣n có mùi thối! Con người có thể sống là do linh hồn ở trong nhục thể. Phật giáo chẳng gọi nó là “linh hồn”, mà gọi là Thức. Kinh nói là “thức thần”, Duy Thức nói nó chính là thức thứ tám, tức A Lại Da Thức. Nó “đến trước, đi sau”, đầu thai th́ nó đến đầu tiên. Đến lúc chết, nó đi cuối cùng. Người đă chết, đă ngừng hô hấp, nhưng trên người c̣n có độ ấm, chứng tỏ A Lại Da Thức chưa rời đi. Nếu thức hoàn toàn rời khỏi, chẳng c̣n có độ ấm nữa. Đức Phật bảo chúng ta, sanh tử là đại sự trong đời người! Sau khi một người đă tắt hơi, nói thông thường, trong ṿng tám tiếng đồng hồ, thức thần của người ấy hoàn toàn chưa ĺa khỏi. Nói cách khác, nếu quư vị đụng chạm, sờ mó người ấy, tuy người ấy chẳng thể nói năng, vẫn nhận biết rơ ràng, rành mạch. V́ thức bao gồm tám thức, [các thức nơi] mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư đều ĺa khỏi, [nhưng A Lại Da Thức vẫn c̣n]. Nói cách khác, [các thức khác] thảy đều chẳng khởi tác dụng, thức thứ tám là A Lại Da vẫn khởi tác dụng. Thông thường là sau tám tiếng đồng hồ, thức sẽ ĺa khỏi, lúc ấy mới là thật sự đă chết. Các sách Sức Chung Tu Tri (những điều cần biết để giúp đỡ người lâm chung) và Sức Chung Tân Lương (hướng dẫn về sự giúp đỡ dành cho người lâm chung), đă căn cứ trên những điều được dạy trong kinh luận nhà Phật mà giảng giải chuyện này rất rơ ràng, chớ nên không biết. Quư vị hiểu rơ, sẽ có thể giúp đỡ người ấy. Sau khi người ấy đă chết, sẽ sanh đến chỗ tốt đẹp, chớ nên chướng ngại, gây khó khăn cho người ấy. Nếu khiến cho người ấy sân hận, khiến cho người ấy tham luyến; nói cách khác, quư vị giúp người ấy vào trong ba ác đạo. Quư vị tạo cái nhân ác đó, trong tương lai cũng phải hứng chịu quả báo ấy. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta tạo nhân, bất luận hữu ư hay vô ư, đều phải lănh nhận quả báo, chẳng thể nói “vô ư th́ sẽ không hứng chịu quả báo”, chẳng có lẽ ấy!

          “Mạng”, nói thông thường là thọ mạng. Thọ mạng dài hay ngắn cũng là có nhất định, phải biết điều này. Ai định sẵn [thọ mạng] cho quư vị? Chính là những nghiệp thiện ác trong đời quá khứ quyết định, chẳng phải do vua Diêm La quyết định, cũng chẳng phải do Thượng Đế định đoạt, càng chẳng dính dáng ǵ đến Phật, Bồ Tát, hoàn toàn là tự làm, tự chịu. Cùng một đạo lư như vậy, vận mạng đă do sự tạo tác của chính ḿnh mà định sẵn, đương nhiên là chính ḿnh có thể sửa đổi. Tự làm th́ nhất định là tự chịu, người khác chẳng thể giúp đỡ quư vị sửa đổi. Nếu người khác có thể giúp quư vị sửa chữa; hiện thời, chúng ta chẳng cần học Phật nữa! Chư Phật, Bồ Tát đại từ, đại bi, nhất định là sẽ sửa đổi rất tốt đẹp cho chúng ta. Nếu các Ngài chẳng thay chúng ta sửa chữa, [tức là] các Ngài chẳng từ bi. V́ vậy, Phật, Bồ Tát cũng chẳng có sức mạnh để sửa đổi cho chúng ta.

Chư vị hiểu đạo lư này, đối với những gă thầy bói xem tướng đoán mạng b́nh phàm trong xă hội đ̣i phê bát tự, đ̣i sửa đổi vận mạng cho quư vị, quư vị biết ngay là giả trất, chẳng thật! Nếu hắn thật sự có thể sửa đổi vận mạng, sao hắn không sửa đổi cho chính ḿnh? V́ thế, người học Phật đầu óc phải tỉnh táo, đừng bị kẻ khác lừa gạt. Chư Phật, Bồ Tát giúp đỡ chúng ta, chỉ là nói rơ ràng chân tướng sự thật này, ngơ hầu bản thân chúng ta hiểu nên làm như thế nào. Liễu Phàm Tứ Huấn là một tấm gương tốt lành trong chuyện sửa đổi vận mạng. Chư vị hăy xem cho nhiều, đọc cho nhiều, sẽ hiểu rơ. Bất quá, cách sửa đổi của cư sĩ Liễu Phàm rất nhọc nhằn, là phương cách rất ngốc nghếch, chẳng phải là một phương pháp thông minh và rất nhanh chóng. Có cách nào thông minh, nhanh lẹ hơn hay không? Có chứ! Có [phương pháp để trong] một niệm mà từ phàm phu bèn thành Phật, tiên sinh Liễu Phàm làm sao có thể sánh bằng được, thua kém quá xa! Trong Phật pháp thường nói đến phương pháp này, đức Phật thường khuyên “phát nguyện”. Nếu nguyện lực của quư vị vượt trỗi nghiệp lực, nghiệp lực của quư vị chẳng khởi tác dụng, dùng nguyện lực thay thế [nghiệp lực] th́ chính là “thừa nguyện tái lai”.

          Chúng ta chẳng sửa đổi vận mạng được, là do đạo lư nào? Tuy chúng ta cũng phát nguyện, nguyện lực của chúng ta nhỏ bé, nghiệp lực to lớn. So sánh hai đằng, nghiệp lực áp đảo nguyện lực, nguyện lực chẳng khởi tác dụng, vẫn nghe theo sự chi phối của nghiệp lực. Nếu nguyện lực của chúng ta thật sự thanh tịnh, kiên cố, nguyện lực vượt trội nghiệp lực, nghiệp lực chẳng khởi tác dụng, nguyện lực khởi tác dụng. V́ thế, sẽ là thừa nguyện tái lai. Không nhất định là sau khi đă sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới mới thả chiếc bè Từ trở lại, cũng đúng là như thế, nhưng ngay trong hiện tiền, khi tâm niệm của ta vừa chuyển, nguyện lực của ta thật sự vượt trỗi nghiệp lực, ngay trong một niệm hiện tại, đă là “thừa nguyện tái lai”. Thừa nguyện tái lai th́ thọ mạng dài hay ngắn tự tại, ở trong thế gian, muốn trụ bao nhiêu năm, bèn trụ bấy nhiêu năm, mong ra đi lúc nào, bèn đi lúc ấy. Đó gọi là “liễu sanh tử, đắc đại tự tại”. Chúng ta làm được chuyện này, chẳng phải là không làm được, vấn đề là quư vị có chịu làm hay không? Bộ kinh luận nào, pháp môn nào giảng chuyện này thấu triệt nhất, viên măn nhất? Kinh A Di Đà.

Trong hết thảy các kinh, kinh A Di Đà bậc nhất. Trong hết thảy danh hiệu của chư Phật, Bồ Tát, A Di Đà bậc nhất! Do vậy, nếu thật sự hiểu rơ, thật sự lư giải ư nghĩa của kinh, thật sự tin tưởng, y giáo phụng hành, mỗi cá nhân trong hiện tiền đều có thể dùng nguyện lực để chuyển đổi nghiệp lực, xác thực là đắc đại tự tại. V́ thế, trong hết thảy các pháp, đối với chuyện khó nhất, ngay cả vận mạng mà c̣n chuyển được, th́ đối với những chuyện vặt vănh khác, lẽ nào chẳng chuyển được? Thứ ǵ cũng đều chuyển được. Vấn đề sanh tử người ấy c̣n giải quyết được, th́ những chuyện cùng quẫn, hanh thông, phú quư trong thế gian này sẽ đều là chuyện nhỏ nhặt như lông gà, vỏ tỏi, chẳng có chuyện ǵ không viên măn! Hôm nay chúng tôi giảng tới chỗ này.

A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

Phần 139 hết

 



[1] Tứ Không chính là bốn cơi trời thuộc Vô Sắc Giới Thiên bao gồm Không Vô Biên Xứ (Ākāśānantyāyatana), Thức Vô Biên Xứ (Vijñānānantyāyatana), Vô Sở Hữu Xứ (Ākiṃcanyāyatana), và Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ (Naivasaṃjñānāsaṃjñāyatana). Tứ Thiền Thiên bao gồm chín tầng trời thuộc Sắc Giới Thiên là Vô Vân (Anabhraka), Phước Sanh (Puṇyaprasava), Quảng Quả (Bṛhatphala), Vô Phiền (Atapa), Vô Nhiệt (Avṛha), Thiện Kiến (Sudarśana), Thiện Hiện (Sudṛśa), Sắc Cứu Cánh (Akaniṣṭha), cộng thêm Vô Tưởng Thiên (Asaññasatta).

[2] Theo từ điển Phật Học, các loại Mạn ấy được mô tả như sau:

1) Ngă Mạn: Chấp trước thân tâm do Ngũ Uẩn ḥa hợp giả tạm là Ngă và Ngă Sở. Do vậy, kiêu ngạo, tự đại.

2) Mạn: Đối với kẻ chẳng bằng ta, bèn khinh rẻ. Đối với kẻ bằng ta, tuy thừa nhận, vẫn cứ khinh rẻ họ.

3) Quá Mạn: Đối với kẻ bằng ta, vẫn cứ tự hào họ thua kém ta rồi khinh rẻ họ.

4) Mạn Quá Mạn (Quá Quá Mạn): Dẫu đối phương hơn hẳn ta, chẳng thừa nhận, cứ ngược ngạo nói ta ưu việt hơn kẻ đó quá nhiều.

5) Tăng Thượng Mạn: Kẻ tu hành chưa đắc mà bảo là đắc, chưa chứng mà khoe là đă chứng.

6) Ty Liệt Mạn: Cam chịu thua kém người khác. Đối với kẻ trỗi hơn ḿnh, bèn tự nhủ: “Hơn ta th́ sao?”, thiếu hẳn ư chí “thấy người hiền mong được bằng”.

7) Tà Mạn: Đối với Mạn khởi lên tà kiến, chính ḿnh chẳng có đức mà ngược ngạo nói: “Phật, Bồ Tát bất quá cũng là như vậy mà thôi!” Thậm chí chẳng tin nhân quả, hủy báng Tam Bảo.

[3] Chúng tôi dịch đoạn này theo cách diễn giải của pháp sư Viên Anh trong bộ Lăng Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa. Pháp sư Viên Anh giảng: “Nhữ kiến hư không: Nêu lên cái Không để biểu thị Tứ Đại như Địa Đại v.v… nêu lên Kiến để biểu thị năm món như Kiến Tinh (cái thấy trong trẻo, sáng suốt, tinh thuần, tức là tánh Thấy) v.v… Riêng nêu ra Kiến và Không v́ hai thứ này đều trọn khắp mười phương thế giới, tướng trạng của chúng liên kết chặt chẽ hư vọng, dễ nhận biết. “Không Kiến bất phân”: Đồng thời cùng trọn khắp, chẳng thể tách rời, chỗ nào là giới hạn của Không? Chỗ nào là giới hạn của Kiến? Hai câu này nói lên cái Thể của Trược. ‘Hữu Không vô Thể, hữu Kiến vô giác’: Nếu chỉ có Không mà chẳng có Kiến, th́ cái Không sẽ chẳng có cái Thể để được. Bởi lẽ, chẳng có Kiến th́ lấy ǵ để nêu tỏ cái Thể của Không? Nếu chỉ có Kiến mà chẳng có Không, th́ Kiến sẽ chẳng có cái được giác, tức là chẳng có Trần để hiển lộ Căn. ‘Tương chức vọng thành’: Do Kiến và Không đan xen lẫn nhau, như từng sợi ngang, từng sợi dọc [trong một tấm vải], đan bện chặt chẽ, chẳng tách rời. Kiến và Không đă là như vậy th́ Kiến và Sắc cũng vậy. Nhăn Căn đă là như vậy th́ các căn khác cũng vậy. Căn và Trần phối ứng với nhau, vẩn đục chân tánh, che lấp diệu minh, nên trở thành cái tướng của Kiếp Trược”.

[4] Pháp sư Viên Anh giảng: “Nhữ thân hiện đoàn, Tứ Đại vi thể: Hai câu này nói tới cái Thể của Kiến Trược. Nghĩa là cái thân hiện tại của các ông do gom góp Tứ Đại giả hợp, dùng chúng làm tự thể. Đă có thân tướng, bèn có sáu căn. Do từ một cái tinh minh (chân tánh bổn tâm) chia ra, mà thành thấy, nghe, hay, biết v.v… lục tinh (sáu thứ tinh minh, tức chân tánh khởi tác dụng qua đặc tánh của sáu căn). Vốn là một tinh minh, do bị Tứ Đại đất, nước, gió, lửa ngăn ngại, bèn trở thành sáu căn, chia thành sáu thứ ḥa hợp. Vốn chẳng bị ngăn ngại, mà thành có ngăn ngại. Mắt chỉ có thể thấy, cho đến thức chỉ có thể biết. Tứ Đại đất, nước, gió, lửa vốn là vật vô tri, có thể chuyển biến thành giác tri. ‘Toàn’ () là xoay chuyển, tức là chúng bị lục tinh xoay chuyển, chuyển cái chẳng có giác tri thành có giác tri. ‘Đan xen hư vọng mà thành’: Tri và vô tri, đan kết chặt chẽ với nhau, cũng như từng sợi ngang, sợi dọc [trong một tấm vải], đan bện chặt chẽ, chẳng tách rời, nhiễu loạn chân tánh, hư vọng tạo thành tướng Kiến Trược, tổng cộng là sáu mươi hai món Kiến, lấy Thân Kiến làm đầu”.

[5] Pháp sư Viên Anh giảng: “Hựu nhữ tâm trung, ức thức, tụng tập, ư nói: Trong cái tâm sáu thức vọng tưởng, nghĩ nhớ cảnh duyên quá khứ, nhớ kỹ chẳng quên. Nhận biết, nắm giữ cảnh được duyên (sở duyên cảnh) trong hiện tại, đắm nhiễm chẳng bỏ, ôn luyện cảnh vị lai để chuẩn bị tính toán. Hai câu này nêu ra cái Thể của Phiền Năo Trược. ‘Tánh phát tri kiến, dung hiện lục trần’: Tánh chính là cái tánh có thể tưởng của sáu thức, nương vào sáu căn, phát khởi sáu thứ vọng tưởng thấy, nghe, ngửi, nếm, hay, biết. Năm thứ đầu là đồng thời ư thức, v́ sanh khởi cùng một lúc với năm thức. C̣n Biết là độc đầu ư thức (chẳng cùng sanh khởi với năm thức kia). Nêu ra hai chữ Tri Kiến là đă bao gồm cả sáu thức. ‘Dung’ là do tưởng tướng trạng của sáu trần, mà hiện ra có sáu trần cảnh. ‘Ly trần vô tướng, ly giác vô tánh’: Nếu sáu thức ĺa khỏi cảnh giới sáu trần, th́ các trần để cho thức duyên vào đă mất, cái thức có tác dụng duyên theo các trần ấy cũng bị mất đi. V́ thế, chẳng có thức tướng để có thể được. Nếu sáu trần ĺa khỏi vọng giác của sáu thức, th́ chủ thể để chấp giữ chẳng sanh, đối tượng được chấp giữ cũng là không, chẳng có tánh của trần nữa. ‘Tương chức vọng thành’: Vọng giác và vọng trần đan xen lẫn nhau, cũng như sợi ngang và sợi dọc, đan bện chặt chẽ, chẳng tách rời. V́ thế, duyên trần tưởng niệm, tham luyến chẳng ngưng nghỉ, tạo thành tướng của Phiền Năo Trược”.

[6] Căn Bản Phiền Năo là tham, sân, si, mạn, nghi và bất chánh kiến. Bất Chánh Kiến thật ra bao gồm năm loại lợi sử (tức Thân Kiến, Biên Kiến, Tà Kiến, Kiến Thủ Kiến và Giới Thủ Kiến).

[7] Đại Tùy Phiền Năo gồm Bất Tín, Giải Đăi, Hôn Trầm, Điệu Cử (lao chao), Phóng Dật (buông lung), Thất Niệm (không giữ được chánh niệm), Tán Loạn và Oa Tri (hiểu biết lệch lạc, tà vạy).

Trung Tùy Phiền Năo gồm: Vô Tàm và Vô Quư (Tàm và Quư đều là hổ thẹn, Tàm là tự thẹn, Quư là hổ thẹn đối với người khác).

Tiểu Tùy Phiền Năo gồm: Phẫn, Hận, Năo, Phú (giấu diếm), Cuống (dối trá), Siểm (dua nịnh), Kiêu, Hại, Tật (ganh ghét), Xan (keo kiệt).

[8] Pháp sư Viên Anh giảng: “Tri kiến thường mong ở trong thế gian: Do phàm phu không ai chẳng là tham sống, sợ chết. V́ thế, nương vào cái tri kiến từ Ngă Chấp, thường muốn ở măi trong thế gian. Đă tṛn một trăm tuổi, vẫn mong sống đến một trăm hai mươi tuổi. Đấy là nói theo cái tâm. Hiềm rằng Hành Ấm dời chuyển khít khao, nghiệp vận thường thúc đẩy, chẳng có chút tự do nào, bỏ mạng chỗ này, sanh sang chỗ kia, cơi nước đổi dời. Đó là nói theo cái thân. ‘Đan xen mà hư vọng tạo thành’: Thân hư vọng, tâm hư vọng, thường đổi dời mà muốn giữ măi, đan xen lẫn nhau, cũng như từng sợi ngang, sợi dọc, đan bện chặt chẽ, chẳng tách ĺa, nhiễu loạn chân tánh, hư vọng tạo thành tướng của Chúng Sanh Trược”.

[9] Pháp sư Viên Anh giảng: “Món Trược này nương vào Thức Ấm, tức là nói đến thức thứ tám. Thức thứ bảy thuộc về Hành Ấm, thức thứ sáu thuộc về Tưởng Ấm. Bởi lẽ, xét theo phía chúng sanh, thức thứ tám là ‘đến trước, đi sau, làm ông chủ’. Thọ mạng và thức thức tám có mối quan hệ liên đới. Người sống mà thức thứ tám chưa ĺa khỏi th́ thọ mạng chưa tận. Thức thứ tám rời khỏi thân thể, thọ mạng liền chấm dứt. V́ thế, Mạng Trược nương vào Thức Ấm. ‘Cái Thấy và cái Nghe của ông tánh vốn chẳng khác’: Cái Thấy, Nghe, Hay, Biết của các ông chính là Kiến Tinh, Văn Tinh v.v… nơi các căn, chẳng phải là sự thấy nghe từ sáu thức. Chúng vốn là một thể, chẳng phải là khác tánh. ‘Các trần cách biệt’: ‘Các trần’ chỉ sáu trần sáng, tối, động, tĩnh v.v… Các căn ḥa hợp với Trần, mỗi mỗi đều mở bày. Do vậy, cách ĺa Nhất Thể, trở thành lục tinh (sáu cái trong suốt, tinh túy), không ǵ chẳng dường như là khác tánh. Nhưng xét theo tánh để luận, sáu tác dụng vốn là cùng một Thể, là chuyện trong cùng một nhà. Tri giác thông tỏ lẫn nhau, là tương đồng, chẳng khác. Nếu xét theo Dụng để luận định, một Thể đă trở thành sáu tác dụng, không ǵ là chẳng có đây kia, chống trái lẫn nhau, tức là sai khác, chẳng đồng. ‘Đồng và dị mất chuẩn định’, ‘đan xen mà hư vọng tạo thành’: Đối với chuẩn định th́ đồng chẳng phải là nhất định đồng, mà dị th́ chẳng phải là nhất định dị. V́ thế nói là ‘đồng và dị mất chuẩn định’. Một đồng, một dị, đan quyện vào nhau, cũng như sợi ngang xen lẫn sợi dọc, đan bện chặt chẽ chẳng tách rời, nhiễu loạn chân tánh, hư vọng tạo thành tướng của Mạng Trược”.