A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

阿彌陀經疏鈔演義

Phần 141

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và Đức Phong

Tập 281

 

          Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang năm trăm chín mươi hai:

 

          (Sớ) Xứng Lư, tắc tự tánh bất khả thấu bạc, thị nan tín pháp nghĩa.

(Sao) Đương tri tự tánh, bất khả dĩ hữu tâm cầu, bất khả dĩ vô tâm đắc, bất khả dĩ ngữ ngôn tạo, bất khả dĩ tịch mặc thông.

(Diễn) Bất khả dĩ hữu tâm cầu đẳng giả, tự tánh phi hữu, hữu tâm tắc đọa tăng ích chấp. Tự tánh phi vô, vô tâm tắc đọa tổn giảm chấp. Tự tánh ly ngôn thuyết tướng, ngữ ngôn tắc đọa vọng tưởng. Tự tánh ly tâm duyên tướng, tịch mặc tắc đọa vô kư.     

()稱理,則自性不可湊泊,是難信法義。

()當知自性,不可以有心求,不可以無心得,不可以語言造,不可以寂默通。

()不可以有心求等者。自性非有。有心則墮增益執。自性非無。無心則墮損減執。自性離言說相。語言則墮妄想。自性離心緣相。寂默則墮無記。

(Sớ: Xứng Lư th́ tự tánh chẳng thể ḍ lường là ư nghĩa “pháp khó tin”.

          Sao: Hăy nên biết: Tự tánh chẳng thể dùng hữu tâm để cầu, chẳng thể dùng vô tâm để đắc, chẳng thể dùng ngôn ngữ để tạo, chẳng thể dùng lặng lẽ để thông.

Diễn: “Chẳng thể dùng hữu tâm để cầu” v.v… Tự tánh chẳng phải là có, hữu tâm bèn đọa vào chấp trước Tăng Ích. Vô tâm bèn đọa vào chấp trước Tổn Giảm. Tự tánh ĺa tướng ngôn thuyết, nói năng bèn đọa vào vọng tưởng. Tự tánh ĺa tướng tâm duyên, lặng thinh bèn đọa vào vô kư).

 

          Bốn câu này nhằm giải thích ư nghĩa của chữ “thấu bạc” (湊泊). Đối với “tự tánh”, trong kinh Đại Thừa, đức Phật thường dùng chữ “pháp nhĩ tự nhiên” (pháp vốn tự nhiên là như vậy) để h́nh dung nó. Trên thực tế, về căn bản, chẳng có cách nào h́nh dung được. Đối với chuyện chẳng có cách nào để h́nh dung được, đức Phật đă dùng pháp phương tiện khá gần với chân tướng sự thật để chỉ dẫn cho chúng ta. Đó là chỗ khó tin trong Phật pháp, đặc biệt là trong pháp Đại Thừa. V́ tự tánh không chỉ là chẳng thể biểu đạt bằng ngôn ngữ, bởi ngôn ngữ có phạm vi, có giới hạn; tư duy và tưởng tượng cũng là có phạm vi, có giới hạn. Giới hạn ấy, dựa theo cách nói của tông Duy Thức th́ cũng sẽ biện định rất dễ dàng, rất rơ rệt: [Ngôn ngữ và tư tưởng] thuộc vào A Lại Da Thức. Đó chính là giới hạn của nó. Trong A Lại Da Thức, [tông Duy Thức] nói có ba tế tướng và sáu thô tướng. Nếu vượt ra ngoài giới hạn ấy, sẽ chẳng có cách nào [để diễn đạt, h́nh dung bằng ngôn ngữ, văn tự, hoặc tư duy, suy tưởng được], chuyện này được gọi là “ngôn ngữ dứt bặt, tâm hành xứ diệt”.

Hết thảy Đại Thừa liễu nghĩa đều nói về Chân Như bản tánh, đều vượt ngoài giới hạn của A Lại Da. Kinh Di Đà là kinh Đại Thừa của các kinh Đại Thừa, là liễu nghĩa của liễu nghĩa, đương nhiên là khó tin. Tuy kinh toàn nói về sự tướng, nhưng Sự nương theo Lư để nói, Lư quá sâu, khó lường; do vậy, những Sự ấy đều vượt ngoài tầm hiểu biết của kẻ b́nh phàm! Không chỉ là lục đạo phàm phu chẳng có phương pháp nào để ḍ lường, mà Nhị Thừa, Quyền Giáo Bồ Tát cũng chẳng dễ ǵ tin tưởng được! V́ sao? Họ chẳng kiến tánh. Pháp môn này, Phổ Hiền Bồ Tát tuyên dương trong thế giới Hoa Tạng sẽ dễ dàng. V́ sao? V́ các vị Bồ Tát trong thế giới Hoa Tạng đều là bậc minh tâm kiến tánh, Ngài dùng mười đại nguyện vương dẫn họ về Cực Lạc chẳng khó! Chư Phật, Bồ Tát ở trong lục đạo của mười phương thế giới v́ chúng sanh thuyết pháp này, thật sự là “pháp khó tin”.

          Bốn câu giải thích này hết sức hay. “Bất khả dĩ hữu tâm cầu” (chẳng thể dùng hữu tâm để cầu). Hữu tâm th́ tâm ấy là vọng niệm, là vọng tưởng; mà cũng chẳng thể dùng “vô tâm”. Vô tâm chẳng đạt được, [bởi lẽ], vô tâm là vô minh. Quư vị khởi tâm động niệm là vọng tưởng, không khởi tâm động niệm là vô minh. Khi ấy, xin hỏi quư vị làm như thế nào? Xác thực là chúng ta chẳng có cách nào hết!

Phải biết: Phương pháp Niệm Phật của Tịnh Tông là pháp môn mầu nhiệm tuyệt vời. Chúng ta chí thành cung kính niệm câu A Di Đà Phật, quư vị nói là hữu tâm hay vô tâm? Hiện thời, người niệm Phật rất đông, các đồng tu đang hiện diện ai nấy đều niệm Phật, đại khái là niệm đă lâu; v́ sao chẳng có ai đắc Niệm Phật tam-muội? Nếu nói nông cạn hơn một chút, v́ sao chẳng được thọ dụng? Đó là v́ quư vị niệm Phật chẳng đúng pháp, chẳng biết dụng tâm. Quư vị dùng hữu tâm để niệm, sẽ chẳng đắc Niệm Phật tam-muội. Quư vị dùng vô tâm để niệm, cũng chẳng đắc Niệm Phật tam-muội. Then chốt ở ngay chỗ này! Hữu tâm là vọng tưởng, vô tâm là vô minh. Dùng vọng tưởng, hoặc dùng vô minh để cầu Niệm Phật tam-muội, chắc chắn là chẳng cầu được! Cầu nhất tâm bất loạn cũng chẳng cầu được! Nhưng chư vị phải hiểu: Cầu văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, mà dùng hữu tâm để cầu th́ có thể cầu được; đấy là chỗ thuận tiện của pháp môn này.

Hữu tâm cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, sanh vào cơi Phàm Thánh Đồng Cư, hoặc cơi Phương Tiện Hữu Dư của Tây Phương Cực Lạc thế giới, chứ cơi Thật Báo th́ không được. Cơi Thật Báo th́ phải phù hợp tiêu chuẩn này: “Chẳng thể là hữu tâm, mà cũng chẳng thể là vô tâm”. Đó là cơi Thật Báo. Chúng ta hữu tâm cầu, quyết định được văng sanh. Vô tâm cầu, quyết định chẳng văng sanh. Chư vị phải hiểu: Quư vị chẳng mong cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, sẽ chẳng có phần trong Tây Phương Cực Lạc thế giới! Tịnh Tông và các tông phái khác phân định sự khó dễ ở ngay chỗ này. V́ chúng ta dùng hữu tâm cầu, sẽ có thể văng sanh; trong những tông phái khác, hễ dùng hữu tâm, sẽ chẳng thể chứng quả, mà dùng vô tâm, cũng chẳng thể chứng quả! Mới biết các pháp môn khác khó hơn pháp môn này quá nhiều!

Pháp môn này của chúng ta là “tin khó, hành dễ”. Thật sự tin tưởng, thật sự phát nguyện, phát nguyện là hữu tâm, mong muốn văng sanh, đúng là “vạn người tu, vạn người đến”. Chúng ta niệm câu Phật hiệu, thành khẩn niệm, thật thà niệm, chớ nên xen tạp vọng tưởng. Có những kẻ niệm Phật, trong khi niệm Phật c̣n có ư niệm “ta cầu nhất tâm bất loạn”, đó là vọng tưởng, quư vị chẳng thể nào đắc nhất tâm bất loạn. Trong niệm Phật mà xen tạp vọng tưởng, làm sao có thể đắc nhất tâm bất loạn cho được? Nhất tâm bất loạn là nguyện vọng của ta, ta có nguyện ấy, chớ nên có tâm. Tâm và nguyện phải phân định rơ rệt. Ta có nguyện, ta mong cầu đắc nhất tâm, nhưng trong khi niệm Phật, chớ nên có vọng tâm ấy, chớ nên có ư niệm cầu đắc nhất tâm. Hễ xen tạp ư niệm ấy vào đó, Phật hiệu của chúng ta sẽ chẳng thuần, trong ấy có xen tạp. Niệm đến mức công phu thuần thục, tự nhiên nhất tâm hiện tiền. Công phu đă đạt, nó tự nhiên hiện tiền. Công phu chưa đạt mà dấy vọng tưởng, chỉ có hại, chẳng thể thành tựu. V́ vậy, hăy thật thà niệm, thành khẩn niệm, cung kính niệm, đó là đúng.

Trong tâm có câu Phật hiệu, hết thảy các tạp niệm, phân biệt, chấp trước khác đều chẳng có. Dùng một niệm để trừ hết thảy vọng niệm và tạp tưởng, phương pháp này rất mầu nhiệm, có thể làm cho vọng niệm chẳng sanh. Câu Phật hiệu rành mạch, rơ ràng, niệm bốn chữ cũng thế, mà niệm sáu chữ cũng thế, rành mạch, rơ ràng, chẳng đọa trong vô minh. Do vậy, nó cũng chẳng phải là vô tâm, mà cũng chẳng phải là hữu tâm. Trong ấy, hễ có tạp niệm, có vọng tưởng, th́ là hữu tâm. Bốn chữ hoặc sáu chữ ấy rành mạch, rơ ràng, phân minh, nên chẳng phải là vô tâm. Điều ấy được gọi là Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa của hàng Đại Thừa Bồ Tát. Niệm Phật phải biết niệm! Sử dụng công phu ấy thuần thục, dần dần [niệm Phật] sẽ ḥa lẫn với cuộc sống, chúng ta mặc quần áo, ăn cơm, đăi người, tiếp vật, trong hết thảy thời, hết thảy chỗ, hết thảy cảnh giới, đều chẳng phải là hữu tâm, mà cũng chẳng phải là vô tâm, đều trụ trong Trung Đạo, đều là tương ứng, hoàn toàn là công phu, là cảnh giới. Hai câu này nói về sự dụng tâm.

          Hai câu tiếp đó nói về sự dụng công:

1) “Bất khả dĩ ngữ ngôn tạo” (Chẳng thể dùng ngôn ngữ để tạo): Chẳng có cách nào dùng ngôn ngữ để diễn tả rơ ràng, hoặc nói minh bạch. Ngôn ngữ và văn tự đều có phạm vi, đều có giới hạn. Đại Thừa, [đặc biệt là] nghĩa thú viên măn của Nhất Thừa vượt ngoài ngôn ngữ, văn tự. Chẳng thể vứt bỏ ngôn ngữ, văn tự, nhưng ư ở ngoài lời, có nghĩa là quư vị phải biết nghe. Nếu quư vị chỉ nghe ngôn ngữ, chỉ thấy văn tự, sai mất rồi, đă chết cứng nơi câu văn, chẳng thể khai ngộ. Người có thể khai ngộ phải hiểu âm thanh ở ngoài dây đàn, phải hiểu ư ở ngoài lời, như vậy th́ quư vị mới có ngộ xứ. V́ thế, ĺa khỏi ngôn ngữ, văn tự chẳng được, mà chấp trước ngôn ngữ, văn tự cũng chẳng được! Câu này nói về Giáo Hạ sử dụng ngôn ngữ, văn tự; văn tự là kinh điển, giảng kinh thuyết pháp là ngôn ngữ. “Tử tại cú hạ” (chết ngắc trong câu văn) là [chấp trước] chết cứng nơi Giáo Hạ, chẳng thể minh tâm kiến tánh.

2) “Bất khả dĩ tịch mặc thông” (chẳng thể dùng vắng lặng để thông) là chuyên nói về Thiền Tông. Thiền Tông hoàn toàn đổ công dốc sức nơi Thiền Định, chẳng cần đến ngôn ngữ, văn tự, có được hay không? Chẳng được! Dẫu công phu định lực đă đạt tới Tứ Thiền, Bát Định, vẫn chẳng thể kiến tánh. Dẫu lên cao hơn một bậc là Cửu Thứ Đệ Định, đă có năng lực vượt thoát lục đạo luân hồi, vẫn chẳng thể kiến tánh! V́ sao chẳng thể kiến tánh? V́ họ vẫn c̣n chấp trước có Thiền Định. Chỉ cần có mảy may vọng tưởng, chấp trước, tâm tánh đều bị chướng ngại! Do vậy, trong pháp môn Đại Thừa, sử dụng phương pháp, nói trắng ra, đều chỉ nhằm phá chấp trước mà thôi.

 

          (Sao) Ly tứ cú, tuyệt bách phi.

()離四句,絕百非。

(Sao: Ĺa bốn câu, tuyệt bách phi).

 

          Đức Phật dạy “tứ cú, bách phi”. “Tứ cú, bách phi” bao gồm trọn khắp hết thảy vọng tưởng, chấp trước. Đức Phật nêu một thí dụ: Không là một câu, Có là một câu, “cũng Có cũng Không” là một câu, “chẳng phải là Có, chẳng phải là Không” là một câu. Đó gọi là Tứ Cú. Từ bốn câu ấy, lại suy diễn, biến hóa thành một trăm câu[1]. Đức Phật nêu ra thí dụ ấy, thí dụ ấy bao gồm hết thảy các vọng tưởng, chấp trước của chúng sanh, đều chẳng ra ngoài nguyên tắc ấy. Tứ Cú và Bách Phi thảy đều ĺa khỏi, quư vị đă đoạn hết vọng tưởng, chấp trước, tâm tánh tự nhiên hiển hiện, há có mong cầu? Chẳng phải cầu! Tự nhiên hiển hiện. Nhưng chúng ta nghe đức Phật nói đạo lư này, [sẽ cảm thấy] dường như là quá đơn giản. Trên thực tế, chúng ta chẳng có cách nào làm được, nguyên nhân là v́ đối với Tứ Cú, Bách Phi, từ vô thỉ kiếp tới nay, chúng ta đă dưỡng thành thói quen cứng chắc, chẳng thể phá được, muốn ĺa mà chẳng ĺa được, muốn đoạn mà đoạn chẳng nổi! Khởi tâm động niệm luôn rớt vào Tứ Cú và Bách Phi. Để có thể hiểu rơ chân tướng sự thật này, khá khó khăn! Có thể thật sự ĺa khỏi, đoạn hết, há dễ dàng ư? Trong giáo pháp Đại Thừa, người có thể thật sự ĺa khỏi, đoạn hết, chính là từ Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo trở lên, cũng là như chúng ta thường nói: “Đă đoạn phiền năo, phá vô minh, chứng một phần Pháp Thân” th́ mới là “ly tứ cú, tuyệt bách phi”. Chỉ cần Tứ Cú, Bách Phi tồn tại, quư vị chẳng có cách nào phá vô minh, chẳng có cách nào chứng đắc chân tánh.

 

          (Sao) Không lư tài hoa, ba tâm đạp nguyệt, vô nhữ thố thủ túc xứ.

          ()空裡栽華,波心踏月,無汝措手足處。

(Sao: Trồng hoa trên hư không, đạp trăng giữa sóng, chẳng có chỗ để cho ông đặt tay, cất chân).

 

          Đây là tỷ dụ. “Không lư tài hoa” (Trồng hoa trong hư không), hoa phải trồng trên đất, hoặc trồng trong chậu hoa, ở giữa hư không làm sao trồng hoa cho được? “Ba tâm đạp nguyệt” (Đạp trăng giữa sóng): Ban đêm bóng trăng soi trên mặt nước, quư vị đạp trăng giữa sóng. Những điều này đều nhằm nói lên sự khó khăn, chẳng dễ ǵ làm được. “Vô nhữ thố thủ túc xứ” (Không có chỗ cho ông cất tay, đặt chân), tỷ dụ tâm tánh khó thể lư giải, khó thể chứng đắc.

 

          (Sao) Thị cố Linh Sơn thượng đức, chung thành bại Bắc chi khiên. Hán địa Kim Cang, thỉ hữu diệt Nam chi tưởng.

()是故靈山上德,終成敗北之愆;漢地金剛,始有滅南之想。

(Sao: V́ thế, bậc thượng đức trong hội Linh Sơn, rốt cuộc mắc lỗi thảm bại, bậc Kim Cang đất Hán, thoạt đầu mong diệt trừ [thiền phái] phương Nam).

 

          Đây là nêu ra hai câu chuyện để chứng minh. “Linh Sơn thượng đức” là nói tới hội Pháp Hoa, đức Thế Tôn giảng kinh Pháp Hoa tại núi Linh Thứu.

 

          (Diễn) Linh Sơn thượng đức, chung thành bại Bắc giả, Linh Sơn hội thượng, ngũ thiên thoái tịch.

()靈山上德,終成敗北者,靈山會上五千退席。

(Diễn: “Bậc thượng đức trong hội Linh Sơn rốt cuộc thảm bại”: Trong hội Linh Sơn, năm ngàn người rời khỏi pháp hội).

 

          Đây là những người theo Thích Ca Mâu Ni Phật học Tiểu Thừa đă rất nhiều năm, nghe đức Phật giảng kinh Diệu Pháp Liên Hoa, họ nghe xong, chẳng thể lư giải, cho là đức Phật thuyết pháp trái với lẽ thường. “Ngũ thiên thoái tịch” tức là năm ngàn người bỏ về, chẳng nghe nữa!

 

          (Diễn) Cập Hoa Nghiêm hội thượng bất kiến Xá Na chi bối. Bại Bắc giả, quân chiến bại viết Bắc.

          ()及華嚴會上不見舍那之輩。敗北者。軍戰敗曰北。

(Diễn: Cùng những kẻ trong hội Hoa Nghiêm chẳng thấy Phật Lô Xá Na. “Bại Bắc”: Đánh nhau thua trận th́ gọi là Bắc).

 

          Tỷ dụ chuyện này là “bại Bắc”. V́ sao? Chẳng thể kiến tánh. Đức Phật giảng kinh Pháp Hoa, là do thấy một nhóm học tṛ căn tánh đă dần dần chín muồi, Ngài bèn v́ họ mà nói. Kẻ căn tánh chẳng chín muồi, chẳng thể tiếp nhận, chẳng chịu tin tưởng, bèn rút lui, chẳng nghe nữa. Điều này ví như đánh giặc, những kẻ ấy đánh thua trận, bèn rút lui!

 

          (Diễn) Hán địa Kim Cang, thỉ dục diệt Nam giả, Đức Sơn hiệu Châu Kim Cang, bất tín Nam Tông đơn truyền trực chỉ chi thuyết, tác Thanh Long Sao, kính văng Nam Phương, dục diệt Nam Tông. Lộ phùng bà tử mại điểm tâm, bà tử vấn vân: “Sở đảm giả hà vật?” Đáp viết: “Kim Cang Kinh Thanh Long Sao”. Viết: “Kim Cang kinh vân: Tam tâm bất khả đắc, tôn giả dục điểm hà tâm?” Sơn vô đối, chí Long Đàm văng phục khấu kích, hoảng nhiên đại ngộ, năi viết: “Cùng chư huyền biện, nhược nhất hào trí ư thái hư, kiệt thế xu cơ, tự nhất trích đầu ư cự hác”, năi phần Thanh Long Sao vân.

()漢地金剛,始欲滅南者,德山號周金剛,不信南宗單傳直指之說,作青龍鈔,徑往南方,欲滅南宗。路逢婆子賣點心。婆子問云。所擔者何物。答曰。金剛經青龍鈔。曰。金剛經云。三心不可得。尊者欲點何心。山無對。至龍潭往復叩擊。恍然大俉。乃曰窮諸玄辯。若一毫置於太虛。竭世樞機。似一滴投於巨壑。乃焚青龍鈔云。

(Diễn: “Kim Cang đất Hán, thoạt đầu mong diệt [thiền phái ở] phương Nam”. Ngài Đức Sơn[2] [Tuyên Giám] hiệu là Châu Kim Cang, chẳng tin thuyết “đơn truyền trực chỉ” của Nam Tông, soạn bộ Thanh Long Sao, đi về phương Nam, toan diệt trừ Nam Tông. Trên đường, gặp bà lăo bán điểm tâm, bà lăo hỏi: “Ngài gánh vật ǵ vậy?” Sư đáp: “Kim Cang Kinh Thanh Long Sao”. Bà cụ nói: “Kinh Kim Cang nói: Ba tâm chẳng thể được, tôn giả muốn điểm cái tâm nào?” Đức Sơn chẳng đáp được. Đến chỗ ngài Long Đàm [Sùng Tín], thưa hỏi qua lại, bỗng dưng đại ngộ, bèn nói: “Tột cùng các lẽ biện luận huyền diệu, ví như đặt một sợi lông trong vũ trụ. Cạn hết lẽ trọng yếu trong cơi đời, dường như gieo một giọt nước vào trong con suối lớn”. Sư bèn đốt bộ Thanh Long Sao).

 

          Tổ Đạt Ma đến Trung Hoa truyền pháp Thiền, “đơn truyền trực chỉ”. Tông chỉ nhà Thiền là chẳng nương theo câu chữ trong kinh luận, chỉ truyền tâm ấn, chỉ thẳng tâm người, kiến tánh thành Phật. Lục Tổ Huệ Năng hoằng pháp tại Hoàng Mai (Giang Nam), gọi là Nam Tông. Thiền sư Đức Sơn, có hiệu là Châu Kim Cang, v́ họ ngoài đời là Châu, Đức Sơn là pháp danh. Ngài Đức Sơn là chuyên gia về kinh Kim Cang, suốt đời chuyên đổ công dốc sức nơi kinh Kim Cang. Ngài rất bực tức đối với sự truyền thừa của Thiền Tông, bèn soạn chú giải cho kinh Kim Cang, đặt tên là Thanh Long Sao. Khi đó, kinh và chú giải đều là chép tay. Sư chú giải rất tỉ mỉ, phân lượng rất lớn. V́ thế, khi đi đường phải gánh cả một gánh, một đầu là hành lư, đầu kia là trước tác của Sư, chuẩn bị mang bộ chú giải ấy đến biện luận với những bậc đại đức trong Thiền Tông. Đi đường, đói bụng, khéo sao gặp một bà cụ bán điểm tâm, cách đạo tràng Thiền Tông chẳng xa. Sư liền mua điểm tâm của cụ. Bà cụ hỏi Sư: “Gánh vật ǵ đấy?” Sư bảo: “Chú giải kinh Kim Cang, Thanh Long Sớ Sao”. Bà cụ nghe xong, đáp: “Tôi có một nghi vấn trong kinh Kim Cang. Nếu thầy đáp được, tôi sẽ cúng dường thầy đồ điểm tâm. Thầy chẳng đáp được, dẫu có tiền, tôi cũng không bán”. Sư nói: “Được lắm! Ta là chuyên gia về kinh Kim Cang, bà cứ hỏi đi”. Bà cụ liền hỏi: “Kinh Kim Cang nói ‘ba tâm chẳng thể được’, xin hỏi pháp sư, thầy điểm cái tâm nào?” Sư cứng họng, đă bị bắt bí. Sư suy nghĩ, pháp sư của Nam Tông rất giỏi, ngay cả bà lăo này mà ta c̣n chẳng đối phó được, ta c̣n dám đi nữa chăng? Bèn chẳng dám đi, đem đốt sạch bộ Thanh Long Sao, chỉ dùng thân phận học tṛ để đến tham học [với ngài Long Đàm]. [Dùng chữ] “Hán địa Kim Cang” v́ Sư là người Trung Hoa, là người Hán. Châu Kim Cang có ư tưởng diệt trừ Nam Tông!

 

          (Sao) Năng tín thị pháp, khởi bất nan tai?

          ()能信是法,豈不難哉。

(Sao: Có thể tin pháp này, há chẳng khó ư?)

 

          Có thể tin tưởng, quả thật chẳng dễ dàng! Đây là nói rơ “nan tín” nh́n từ quan điểm xứng tánh, xác thực là khó khăn. Sự khó khăn này đúng là có đạo lư của nó!

 

          Tam, tổng kết nan sự.

          (Kinh) Xá Lợi Phất! Đương tri ngă ư Ngũ Trược ác thế, hành thử nan sự, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.

            三、總結難事 。           ()舍利弗。當知我於五濁惡世。行此難事。得阿耨多羅三藐三菩提。

(Ba, tổng kết sự khó.

Kinh: Này Xá Lợi Phất! Hăy nên biết ta ở trong đời ác Ngũ Trược, làm chuyện khó này, đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác).

 

          Ngẫu Ích đại sư bảo chúng ta: Thích Ca Mâu Ni Phật thành Phật là do niệm Phật mà thành Phật. Ngài nói điều này trong bộ Di Đà Kinh Yếu Giải. Đối với cách nói ấy, từ xưa, các vị đại đức chưa hề nói Thích Ca Mâu Ni Phật thành Phật là do niệm Phật mà thành Phật. Ngẫu Ích đại sư là người đầu tiên nói lời ấy, Ngài dựa vào đâu để nói? Chính là dựa vào câu kinh văn này để nói. Lời ấy do chính Thích Ca Mâu Ni Phật bảo ngài Xá Lợi Phất, chính Ngài tự nói. “Hành thử nan sự” (Làm chuyện khó này) chính là niệm Phật, tín nguyện tŕ danh là chuyện khó khăn. “Đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề” là thành Phật. Nếu Ngẫu Ích đại sư chẳng chỉ ra, chúng ta niệm kinh Di Đà hằng ngày, sẽ hàm hồ, lơ mơ, loáng thoáng lướt qua, chưa từng chú ư hai câu kinh văn trọng yếu như thế đó! Thích Ca Mâu Ni Phật do niệm Phật mà thành Phật, mười phương ba đời hết thảy chư Phật chẳng khác Thích Ca Mâu Ni Phật, các Ngài đến cuối cùng thành Phật đều là do pháp môn Niệm Phật này mà thành tựu. Hiểu đạo lư này, hiểu rơ sự thật này, chúng ta mới hiểu v́ sao trong hội Hoa Nghiêm, Văn Thù và Phổ Hiền cũng phải cầu nguyện văng sanh Tịnh Độ, là do đạo lư này. V́ thế, hết thảy chư Phật Như Lai tới cuối cùng thành Phật đều là do niệm Phật thành Phật. Nếu Ngẫu Ích đại sư không nói, xác thực là chúng ta khó ḷng phát hiện. Được người sáng suốt chỉ điểm, bèn xem lại kỹ càng, [sẽ nhận thấy tổ Ngẫu Ích] chẳng sai, có lư!

 

          (Kinh) Vị nhất thiết thế gian thuyết thử nan tín chi pháp.

          ()為一切世間說此難信之法。

(Kinh: V́ hết thảy thế gian nói pháp khó tin này).

 

          “Pháp khó tin này” chính là pháp “niệm Phật thành Phật”.

 

          (Kinh) Thị vi thậm nan.

          ()是為甚難。

          (Kinh: Đó là rất khó).

 

          Câu này là tổng kết hai điều khó trước đó: Tự ḿnh thành Phật là khó, v́ chúng sanh nói pháp thành Phật là khó. Chúng ta xem chú giải:

 

          (Sớ) Thuật chư Phật ngữ, trùng vi thân minh, kiến thử nhị nan, cổ Phật bất hư vị tán từ, kim Phật phi lạm ưng mỹ dự. Thật ngữ, thật hạnh, lưỡng tương phù hợp, vạn đại chúng sanh, đương đế tín nhi vật nghi, cảm ân nhi vô dĩ giả dă, khả vị phản phúc đinh ninh, bà tâm đại thiết hỹ.

()述諸佛語,重為申明。見此二難,古佛不虛為讚辭,今佛非濫膺美譽,實語實行,兩相符合,萬代眾生,當諦信而勿疑,感恩而無已者也,可謂反覆叮嚀,婆心大切矣。

(Sớ: Thuật lời chư Phật, nói rơ ràng lần nữa, ḥng thấy hai sự khó khăn ấy. Cổ Phật chẳng thốt lời tán thán hư dối, vị Phật hiện thời chẳng lạm nhận tiếng khen. Lời thật, hạnh thật, hai đằng đều phù hợp, chúng sanh muôn đời, hăy nên tin chắc, đừng nghi, cảm ân đức khôn cùng, đáng bảo là “dặn đi, dặn lại, ḷng từ bi đau đáu thiết tha tột bậc!”)

 

          Liên Tŕ đại sư nói mấy câu này hết sức khẩn thiết. “Cổ Phật”: Trong bản kinh này, ta đă thấy trong phần trước, sáu phương chư Phật ca ngợi Thích Ca Mâu Ni Phật, đúng là chân thật, chẳng dối. “Kim Phật” là Thích Ca Mâu Ni Phật, tức đức Bổn Sư của chúng ta, Ngài có thể đảm đương lời ca ngợi của hết thảy chư Phật, nhận lănh [những lời khen ngợi ấy] chẳng hổ thẹn. Lời tán thán của chư Phật Như Lai là chân thật ngữ, Thích Ca Mâu Ni Phật tự hành, hóa độ người khác là chân thật hạnh. “Thật ngữ, thật hạnh, lưỡng tương phù hợp” (Thật ngữ, thật hạnh, hai đằng phù hợp).

Tiếp theo đó, Liên Tŕ đại sư khuyên lơn, khích lệ chúng ta, “vạn đại chúng sanh” (chúng sanh muôn đời), không chỉ là khi ấy! Pháp môn này truyền đến đời sau, hy vọng các đồng tu đời sau có duyên gặp gỡ, ngàn muôn phần đừng hoài nghi, nhất định là phải thật sự tin tưởng, phải cảm kích ơn Phật. Cảm ơn chư Phật, đương nhiên chúng ta cũng cảm kích ân đức của Liên Tŕ đại sư. V́ đối với bộ kinh này, nói thật ra, nếu chúng ta chẳng được Liên Tŕ và Ngẫu Ích đại sư chỉ dẫn, dẫu chúng ta niệm như thế nào, cũng chẳng có cách nào liễu giải nghĩa lư sâu thẳm trong kinh. Chúng ta chẳng nh́n ra, những điều này do hai vị tổ sư đại đức chỉ dẫn chúng ta.

“Phản phúc đinh ninh, bà tâm đại thiết” (Dặn đi dặn lại, tâm đau đáu thiết tha tột bậc), “bà tâm” (婆心) là tâm từ bi. Người đă già, biết thời gian của chính ḿnh chẳng c̣n được mấy, cho nên ḷng yêu thương đối với thế hệ sau phát xuất từ chân tâm, chẳng giống như khi c̣n trẻ! Thuở trẻ th́ hăy c̣n hư t́nh giả ư, lúc tuổi già, [nhận biết] đời này của ta sắp hết, sắp ĺa khỏi thế gian này; v́ thế, ḷng yêu thương đối với những người trẻ tuổi thuộc thế hệ sau xuất phát từ ḷng chân thành. Thông thường, để h́nh dung ḷng từ bi chân thật, chúng ta đều gọi là “bà tâm”, tức là ḷng từ bi chân thật của bà cụ già, dùng điều này để tỷ dụ [ḷng đại từ bi của] chư Phật, Bồ Tát, tổ sư đại đức.

 

          (Sao) Đắc đạo chi nan, kỳ nan hữu nhị.

          ()得道之難,其難有二。

          (Sao: Đối với sự khó khăn trong việc đắc đạo, có hai nỗi khó khăn).

 

          Hai điều khó, một là “đắc”, tức là thành Phật khó khăn, điều kia là thuyết pháp khó khăn. Thành Phật khó khăn lại có hai điều.

 

          (Sao) Nhất vị thiện thế đắc đạo, vị túc vi nan, kim ư ác thế.

          ()一謂善世得道,未足為難,今於惡世。

(Sao: Một là đắc đạo trong cơi đời thiện lương, chưa đáng gọi là khó, nay trong đời ác [mà đắc đạo th́ mới là khó]).

 

          Điều này là khó. Nay chúng ta học Phật, có thể buông xuống vạn duyên, được sanh về Tịnh Độ. Thưa cùng chư vị, hiện thời, bày ra trước mặt chúng ta hai loại trạng huống: Một loại là văng sanh, loại kia th́ tuy niệm Phật mà chẳng thể văng sanh. Đây là sự thật, giống như xưa kia, cụ Lư Bỉnh Nam đă nói: “Người niệm Phật trong hiện thời, một vạn người niệm Phật, có thể văng sanh đại khái là dăm ba người mà thôi”. Tuyệt đại đa số chẳng thể văng sanh, nguyên nhân ở chỗ nào? “Ác thế”. Quư vị ở trong đời ác, chính ḿnh chẳng thể độc lập, làm chủ, bị cảnh giới xoay chuyển, niệm Phật kiểu đó sẽ chẳng thể văng sanh. Có thể văng sanh th́ thưa cùng chư vị, công phu của quư vị bèn có thành tựu cao hơn những người đă văng sanh trong quá khứ. V́ sao? Trong quá khứ, những người đó có hoàn cảnh tốt hơn nhiều, chẳng có lắm nỗi ác duyên dường ấy. Nếu những người ấy ở trong hoàn cảnh giống hệt như hiện thời, họ sẽ chẳng thể văng sanh. Chuyện này chẳng giả tí nào! Trong hoàn cảnh này, chúng ta có thể văng sanh, công phu bèn vượt trỗi cổ nhân, đây là sự thật. Như trong phần trước đă nói, làm thế nào để có thể tự lập tự cường trong đời ác Ngũ Trược, chẳng bị ngoại cảnh quấy nhiễu, nhất tâm hướng về đạo? Đạo ấy chính là đại đạo để văng sanh thế giới Cực Lạc. Đó là công phu chân thật. Đây là chỗ khó khăn thứ nhất.

Người niệm Phật trong hiện thời chẳng thể văng sanh, chúng ta chẳng thể trách họ được! Hoàn cảnh bên ngoài đích xác là chướng ngại quá lớn. Xác thực là chẳng phải hạng người tầm thường, lơ mơ mà có thể chống chọi nổi! Trong th́ có phiền năo tập khí, ngoài th́ có ác duyên. Ác duyên ấy bao gồm hoàn cảnh nhân sự và hoàn cảnh vật chất. Hoàn cảnh vật chất là ngũ dục, lục trần dụ dỗ, mê hoặc; đối với hoàn cảnh nhân sự th́ thân thích bằng hữu kết giao của quư vị chẳng học Phật, họ tham cầu tiếng tăm, lợi dưỡng, lôi quư vị đi theo. Quư vị mong học Phật, họ chẳng để cho quư vị thành tựu. Quư vị mong liễu sanh tử, thoát tam giới, thành Phật, làm tổ ngay trong một đời này, họ khăng khăng kéo quư vị vào trong ba ác đạo, khiến cho quư vị hưởng thụ thế giới phồn hoa này. Một phen hảo ư của họ, hậu quả chẳng kham tưởng tượng nổi! Hoàn cảnh nhân sự và hoàn cảnh vật chất chẳng tốt đẹp, bất lợi cho sự tu hành, ở trong ấy mà thành tựu chẳng dễ dàng đâu nhé!

 

(Sao) Nhị vị ác thế đắc đạo, nhi đắc tiểu quả, do vị vi nan, kim đắc Vô Thượng Bồ Đề, thị dĩ nan dă.

()二謂惡世得道,而得小果,猶未為難;今得無上菩提,是以難也。

          (Sao: Hai là đắc đạo trong đời ác, mà đắc tiểu quả th́ vẫn chưa phải là khó. Nay đắc Vô Thượng Bồ Đề, chính là khó khăn vậy).

 

          Tiểu quả, tiểu thiện là đời sau đắc thiện báo trong cơi nhân thiên, có chuyện này. Trong xă hội, chúng ta thấy những người tâm địa rất thiện lương, tận tâm tận lực thực hiện sự nghiệp từ thiện nhằm giúp đỡ xă hội, cứu vớt người nghèo khổ. Đó là tiểu quả nhân thiên, chúng ta thường có thể trông thấy. Nếu tiến cao hơn, cũng chẳng phải là chuyện dễ dàng. Có thể nghiêm tŕ giới luật, thân tâm thanh tịnh, đoạn Kiến Tư phiền năo, đoạn mấy phẩm mà thôi, chưa đoạn sạch sành sanh! Đă đoạn hết sạch, người ấy bèn chứng quả. Trong thời kỳ Mạt Pháp, đă chẳng c̣n thấy có người chứng quả nữa! Nói cách khác, có thể đoạn mấy phẩm phiền năo, nhưng chưa đoạn hết sạch th́ thọ mạng của người ấy đă chấm dứt, do chuyện này, hết sức khó thành tựu! C̣n trong pháp môn này, văng sanh bèn bất thoái, viên măn thành Phật, xác thực là khó nhất trong các điều khó! Hễ sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, thưa cùng chư vị, tuy hết thảy Phật pháp Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa đều chưa hề học, sẽ tự nhiên thông đạt. Nếu quư vị hỏi “v́ sao thông đạt” ư? Chúng tôi xin thưa: Chúng ta văng sanh cơi Phàm Thánh Đồng Cư, sanh đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, xác thực là chẳng minh tâm kiến tánh, v́ sao cũng thông đạt? Ở trong ấy:

1) Nguyên nhân thứ nhất là được bổn nguyện và oai thần của A Di Đà Phật gia tŕ. Đọc phần bốn mươi tám nguyện trong kinh Vô Lượng Thọ, chúng ta đă biết [chuyện ấy].

2) Thứ hai, tuy trong đời này ta chưa từng học, đời trước ta đă học. Trước đời trước, c̣n có đời trước nữa. Những ǵ đă học trong vô lượng kiếp quá khứ, nay đều có thể nhớ lại, đều hiểu. Do Phật lực gia tŕ, những ǵ đă tu hành trong vô lượng kiếp thảy đều có thể hiện tiền, nay đều được thọ dụng. Nguyên nhân là như vậy đó!

 

          (Sao) Thuyết pháp chi nan, kỳ nan diệc nhị.

          ()說法之難,其難亦二。

(Sao: Thuyết pháp khó khăn, sự khó khăn ấy cũng gồm có hai điều).

 

          Thuyết pháp khó khăn cũng có hai loại.

 

          (Sao) Nhất vị thiện thế thuyết pháp, vị túc vi nan, kim ư ác thế.

          ()一謂善世說法,未足為難,今於惡世。

          (Sao: Một là thuyết pháp trong đời tốt lành, chưa đủ coi là khó khăn, nay trong đời ác).

 

          Hiện thời, chúng ta thấu hiểu rất sâu điều này. Trong xă hội vào thời cổ, dẫu là người chẳng đi học, không biết chữ, cũng đă tiếp nhận sự giáo huấn về luân lư và đạo đức, do phong tục tập quán của xă hội đă dưỡng thành một quan niệm về luân thường đạo đức cho người từ thuở bé. Tuy chẳng học hành, không biết chữ, người ấy biết hiếu thuận với cha mẹ, biết nhường nhịn, yêu thương anh em, xử sự, đăi người, tiếp vật đều biết chừng mực. Hiện thời, nh́n từ bề ngoài, [sẽ thấy là] giáo dục phổ cập, gần như mỗi cá nhân đều được tiếp nhận sự giáo dục, nhưng chẳng có quan niệm luân thường, thiên hạ đại loạn, nguyên nhân ở chỗ nào? Trong nền giáo dục xưa kia, tông chỉ giáo dục là dạy chúng ta làm người như thế nào. Nền giáo dục hiện thời chẳng dạy quư vị làm người như thế nào, mà là dạy quư vị kỹ thuật, làm cách nào để kiếm tiền trong xă hội, là nền giáo dục chú trọng hiệu quả và lợi ích bất kể thủ đoạn. Giáo dục xưa kia được gọi là nền giáo dục thánh hiền, nhằm mục đích dạy quư vị làm thánh nhân, làm hiền nhân. Chẳng giống như hiện thời, mục tiêu của giáo dục hiện thời chẳng nhằm dạy quư vị làm thánh hiền, khác hẳn! Thánh hiền được kiến lập trên cơ sở làm người. V́ thế, người thuở trước biết hiếu thảo với cha mẹ, tôn trọng thầy. Học tṛ hiện thời phê b́nh thầy, làm thầy khó lắm! Với tâm thái như thế, thầy c̣n có thể dạy học tṛ hay chăng? Có c̣n mong muốn dạy học tṛ hay không? Sư đạo chẳng có, nói cách khác, chẳng biết làm người như thế nào, chẳng có ai dạy! Mong cho xă hội chẳng loạn, chẳng thể nào được! Do đó, ở trong xă hội này mà nói pháp môn thành Phật, thành Bồ Tát, quá khó khăn! Ai chịu tin tưởng? Phàm nhân mong lợi ích ngay trước mắt; hễ hơi xa xôi một chút, chừng mấy tháng sau, hoặc một hai năm sau [mới thấy lợi ích], họ chẳng muốn! Họ mong đạt được lợi ích ngay lập tức. V́ thế, họ chẳng thể tiếp nhận, chẳng thể tin tưởng.

 

          (Sao) Nhị vị ác thế thuyết pháp, nhi thuyết kỳ dị tín giả, do vị vi nan, kim thuyết nan tín chi pháp, thị dĩ nan dă.

          ()二謂惡世說法,而說其易信者,猶未為難;今說難信之法,是以難也。

(Sao: Hai là thuyết pháp trong đời ác, mà thuyết những pháp dễ tin th́ vẫn chưa phải là khó. Nay nói pháp khó tin th́ mới là khó khăn vậy).

 

          “Dễ tin” là ǵ? [Chính là những pháp môn] mà người ta có thể tư duy, tưởng tượng được, vẫn có thể miễn cưỡng tiếp nhận, [người ta nghe những pháp ấy xong] suy nghĩ: [Pháp này] cũng khá, c̣n có lư. C̣n như pháp môn này, “ngôn ngữ dứt bặt, tâm hành xứ diệt”, làm sao người ấy có thể tin tưởng cho được? Muốn cho người ấy tiếp nhận, quá khó!

          Dưới đây, Liên Tŕ đại sư nêu ra bốn tỷ dụ. Ngài dùng những tỷ dụ nông cạn, dễ thấy, để chúng ta biết hai chỗ khó khăn trong việc tự hành và hóa độ người khác của Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

          (Sao) Lược vi tứ dụ, đệ nhất dụ giả, thí như hữu nhân, thân nhập đại hải, phục thừa phá châu, phục ngộ nghịch phong, phục xung cự lăng, phục trị la sát, ngư vương, độc long, nguy tại khoảnh khắc.   

          ()略為四喻,第一喻者,譬如有人,身入大海,復乘破舟,復遇逆風,復衝巨浪,復值羅剎魚王毒龍,危在頃刻。

(Sao: Nêu đại lược bốn tỷ dụ. Tỷ dụ thứ nhất, ví như có người vào trong biển cả, lại ngồi thuyền hư, lại gặp gió ngược, lại trúng sóng to, lại gặp la-sát, ngư vương, rồng độc, nguy ngập trong khoảnh khắc).

 

          Có người ngồi chiếc thuyền rách nát trên biển, gặp phải gió to, sóng cả, gặp trúng la-sát[3], cá lớn, rồng độc, hết sức nguy hiểm.

 

          (Sao) Nhi năng ư trung, an ổn đắc độ, thị chi vị nan.

          ()而能於中,安穩得渡,是之謂難。

(Sao: Mà có thể ở trong ấy, yên ổn đến tận bờ, đó gọi là khó).

 

Chiếc thuyền rách nát ấy có thể b́nh an vượt biển, khó lắm! Tỷ dụ này h́nh dung sự khó khăn của việc tự độ.

 

          (Sao) Bất đản tự độ, tinh độ chư nhân, trí chi bỉ ngạn, thị nan trung nan.

          ()不但自渡,併渡諸人,置之彼岸,是難中難。

(Sao: Không chỉ là tự ḿnh vượt thoát, mà c̣n giúp người khác vượt thoát đến nơi bờ kia, là sự khó nhất trong các sự khó).

 

          Không chỉ là chính ḿnh có thể vượt qua, mà c̣n thấy những người khác trên thuyền gặp nạn, người ấy c̣n có thể giúp đỡ người khác. Đây là tỷ dụ sự khó khăn trong thuyết pháp.

 

          (Sao) Đại hải, phá châu, nghịch phong, cự lăng, cập la-sát đẳng, thử dụ Ngũ Trược.

          ()大海、破舟、逆風、巨浪,及羅剎等,此喻五濁。

(Sao: Biển cả, thuyền rách, gió ngược, sóng lớn, và la-sát v.v… ví như Ngũ Trược).

 

          Tỷ dụ Ngũ Trược.

 

          (Sao) Tự độ, dụ đắc đạo.

          ()自渡,喻得道。

          (Sao: Tự độ ví như đắc đạo).    

 

Thành Phật.

 

          (Sao) Độ nhân, dụ thuyết pháp dă.

          ()渡人,喻說法也。

          (Sao: Độ người khác, ví như thuyết pháp).

 

          Chúng ta suy nghĩ trạng huống này, [sẽ thấy] chuyện khó khăn dường ấy!

 

          (Sao) Đệ nhị dụ giả, thí như hữu nhân, thân ly trọng bệnh, phục xử phong lộ, phục phạp ẩm thực, phục tao điệt phác, phục trị dung y, ngộ tấn dược nhĩ, nguy tại khoảnh khắc.

()第二喻者,譬如有人,身罹重病,復處風露,復乏飲食,復遭跌撲,復值庸醫,誤進藥餌,危在頃刻。

 (Sao: Tỷ dụ thứ hai, ví như có người thân mắc bệnh nặng, lại ở chỗ gió sương, lại ăn uống thiếu thốn, lại bị vấp ngă, lại gặp thầy thuốc dở, uống lầm thuốc men, nguy ngập trong khoảnh khắc).

 

          Đă bị bệnh nặng, lại nằm ở chỗ trống trải, hứng chịu đủ thứ gió máy, lạnh lẽo, lại chẳng có thức ăn đồ uống, chịu đói khát, lại bị vấp ngă, lại gặp thầy thuốc chẩn đoán sai lầm, lại uống lầm thuốc, bệnh t́nh nguy ngập, sắp chết đến nơi rất nhanh!

 

          (Sao) Nhi năng ư trung, điều lư thuyên an, thị chi vị nan.

          ()而能於中,調理痊安,是之謂難。

(Sao: Mà có thể ở trong ấy, chữa trị thuyên giảm, lành bệnh, đó gọi là khó khăn).

 

          Trong trạng huống ấy, người ấy có thể nghiễm nhiên chuyển biến tốt đẹp, có thể khôi phục, chuyện này chẳng dễ dàng, khó lắm!

 

          (Sao) Bất đản tự liệu, tinh dư bệnh giả, giai sử b́nh phục, thị nan trung nan.

          ()不但自療,併餘病者,皆使平復,是難中難。

(Sao: Không chỉ tự chữa lành, mà c̣n khiến cho những bệnh nhân khác đều được b́nh phục, đó gọi là “chuyện khó nhất trong những chuyện khó”).

 

          Bệnh nặng, ở nơi gió máy, thiếu ăn khát uống, té ngă, gặp thầy thuốc dốt, uống lầm thuốc thang, ví như đời ác Ngũ Trược. Chính ḿnh chữa lành, tỷ dụ [người ấy] đă thành Phật, lại c̣n giúp đỡ người khác, tỷ dụ thuyết pháp quả thật chẳng dễ dàng!

 

          (Sao) Đệ tam dụ giả, thí như hữu nhân, thân tại linh ngữ, phục ưng sở thát, phục hệ già nữu, phục nhiễm tật dịch, phục bị giam áp, tương lâm tru lục, nguy tại khoảnh khắc.

          ()第三喻者,譬如有人,身在囹圄,復膺楚撻,復繫枷杻,復染疾疫,復被監押,將臨誅戮,危在頃刻。

(Sao: Tỷ dụ thứ ba, ví như có người thân trong tù ngục, lại bị đánh đập, lại bị gông cùm trói buộc, lại mắc bệnh dịch, lại bị giam cầm, sắp bị chém giết, nguy ngập trong khoảnh khắc).

 

          Có người bị nhốt trong lao ngục, chẳng được tự do, “sở thát” (楚撻) là đánh đập, “già nữu” (枷杻) là cùm chân, c̣ng tay, thân thể c̣n nhiễm bệnh, lại bị phán tội tử h́nh, mạng nguy ngập trong sớm tối.

 

          (Sao) Nhi năng ư trung, hốt nhiên giải thoát, thị chi vị nan.

          ()而能於中,忽然解脫,是之謂難。

(Sao: Mà có thể ở trong ấy, bỗng dưng giải thoát, đó gọi là khó khăn).

 

Trong lúc tánh mạng hiểm nghèo, bỗng được đại xá, có thể thoát khỏi nhà tù, khó lắm! Rất khó khăn!

 

          (Sao) Bất đản tự thoát, tinh chư tội nhân, tất đắc miễn ly, thị nan trung nan.

          ()不但自脫,併諸罪人,悉得免離,是難中難。

(Sao: Không chỉ là tự ḿnh thoát khỏi, lại c̣n cùng các tội nhân đều được thoát ĺa, đó là chuyện khó nhất trong các sự khó).

 

Điều này tỷ dụ sự thuyết pháp.

 

          (Sao) Đệ tứ dụ giả, thí như hữu nhân, thân đọa tỉnh trung, phục ngộ độc xà, phục khốn kinh cức, phục yêm hàn thủy, phục trị ác nhân phao trịch thổ thạch, nguy tại khoảnh khắc.

          ()第四喻者,譬如有人,身墮井中,復遇毒蛇,復困荊棘,復淹寒水,復值惡人拋擲土石,危在頃刻。

(Sao: Tỷ dụ thứ tư, ví như có người, thân rơi xuống giếng, lại gặp rắn độc, lại bị vướng mắc trong gai góc, lại bị ngập trong nước lạnh, lại gặp kẻ ác quăng ném đất, đá, nguy ngập trong khoảnh khắc).

 

          Người ấy rơi xuống giếng, đáy giếng có rắn độc, lại có những loài thực vật gai góc, nước giếng lạnh buốt, lại gặp kẻ ác ném đá xuống giếng.

 

          (Sao) Nhi năng ư trung, đằng dược nhi xuất, thị chi vị nan.

          ()而能於中,騰躍而出,是之謂難。

(Sao: Mà có thể ở trong ấy, nhảy vọt lên thoát ra, đó gọi là khó khăn).

 

          Trong trạng huống đó, người ấy có thể thoát khỏi giếng, khó lắm. Những thứ như rắn độc v.v… nhằm sánh ví đời ác Ngũ Trược. “Đằng dược nhi xuất” (Nhảy vọt lên thoát ra), tỷ dụ sự khó khăn khi chính ḿnh thành Phật!

 

          (Sao) Bất đản tự xuất, tinh dư đồng đọa, câu thời thượng thăng, thị nan trung nan.

          ()不但自出,併餘同墮,俱時上升,是難中難。

(Sao: Không chỉ là tự thoát ra, mà c̣n khiến cho những kẻ cùng té trong giếng cùng lúc được vọt lên trên, đó là chuyện khó nhất trong những sự khó).

 

          Đây là tỷ dụ thuyết pháp khó khăn.

 

          (Sao) Ngũ Trược đẳng dụ, nghĩa thuyết đồng thượng.

          ()五濁等喻,義說同上。

          (Sao: Các tỷ dụ về Ngũ Trược, nói lên ư nghĩa giống như trong phần trước).

 

          Trong ba đoạn sau, ư nghĩa về Ngũ Trược hoàn toàn giống như đă nói trong đoạn thứ nhất, chúng ta đọc xong, sẽ tự nhiên suy ra được, cho nên tỉnh lược.

 

          (Sao) Thử chi tứ dụ.

          ()此之四喻。

(Sao: Bốn tỷ dụ này).

 

          Bốn tỷ dụ được nói trên đây.

 

          (Sao) Lược dụ Thích Ca nhị chủng nan sự, minh thiển dị hiểu.

          ()略喻釋迦二種難事,明淺易曉。

(Sao: Nhằm sánh ví sơ lược rơ ràng, gần gũi, dễ hiểu hai chuyện khó khăn của Phật Thích Ca).

 

          Từ tỷ dụ, chúng ta có thể tưởng tượng trạng huống khó khăn ấy. Trong đời ác Ngũ Trược, đức Thế Tôn thị hiện thành Phật, v́ hết thảy chúng sanh nói pháp môn văng sanh Tịnh Độ, khó khăn như trong các tỷ dụ trên đây [đă diễn tả]. Nói theo thực tế, chỉ có khó hơn, chẳng hề thua kém!

 

          (Sao) Sử tri Như Lai bất đạn cù lao, bị lịch gian khổ, vị ngă đẳng cố, hành nan trung nan, nhất chí ư thử.

          ()使知如來不憚劬勞,備歷艱苦,為我等故,行難中難,一至於此。

(Sao: Khiến cho [người nghe] biết Như Lai chẳng sợ nhọc nhằn, trải đủ mọi nỗi gian khổ, v́ bọn chúng ta hành chuyện khó nhất trong các chuyện khó đến mức như thế).

 

          Chúng ta chỉ có thật sự liễu giải, thật sự hiểu rơ th́ đối với Phật mới cảm ơn đội đức. Phật có ân đức sâu nặng đối với chúng ta, xác thực là vượt trỗi cha mẹ. Những nỗi gian nan, khốn khổ ấy, cha mẹ của chúng ta chẳng làm được, nhưng Phật, Bồ Tát có thể làm được!

 

          (Sao) Văn tư nan giả, giai ưng hỷ bi giao tập.

          ()聞斯難者,皆應喜悲交集。

          (Sao: Kẻ nghe những nỗi khó khăn ấy, hăy đều nên vui buồn xen lẫn).

 

          Thật sự hiểu rơ chân tướng sự thật này, nhất định sẽ xuất hiện thái độ ấy. “Hỷ” () là hoan hỷ. Hoan hỷ v́ đời này chúng ta hữu duyên đọc bộ kinh điển này, hữu duyên nghe pháp môn này. Phạm vi của Bi rộng lớn:

1) Một là cảm kích Phật, Tổ đă chịu đựng hết muôn vàn cay đắng, khổ sở, thành tựu Phật đạo, nói kinh điển. Đó là các Ngài v́ độ chúng ta [mà làm như thế].

2) Lịch đại tổ sư đại đức đời đời truyền thừa, cũng là v́ độ chúng ta.

3) Thứ ba là xót xa chính ḿnh trong đời quá khứ chẳng có trí huệ. Đă từng nghe pháp môn này mà chẳng thể tín, chẳng thể phát nguyện, chẳng thể tu hành, đến nỗi luống uổng! Lại thương xót hết thảy chúng sanh đang ở trong t́nh h́nh giống hệt ta trong quá khứ. Hiện thời, pháp môn này đang được phổ biến, tuyên dương. Họ nghe xong chẳng tin, hoặc tin, nhưng chẳng phát nguyện, hoặc phát nguyện, nhưng không chịu niệm Phật!

 

          (Sao) Cảm cực hô hào, thanh chấn tam thiên đại thiên thế giới, dũng mănh tinh tấn, tư báo Phật ân.

          ()感極呼號,聲震三千大千世界,勇猛精進,思報佛恩。

(Sao: Cảm kích cùng cực, bèn hô hào, tiếng vang rền tam thiên đại thiên thế giới, dũng mănh, tinh tấn, nghĩ báo ơn Phật).

 

          Người thật sự đă hiểu, thật sự minh bạch, bèn có biểu hiện tự nhiên là như vậy. Nếu chẳng thể hiện cảm t́nh ấy, nói cách khác, đối với kinh điển này, kẻ ấy vẫn chưa hiểu rơ, chẳng thấu triệt. V́ sao? Vẫn chai ĺ y như cũ. Thật sự hiểu rơ, liễu giải, [sẽ là] “bi hỷ giao tập, dũng mănh, tinh tấn” (buồn vui chen lẫn, dũng mănh, tinh tấn). Nhất định là có thái độ ấy, chẳng cần kẻ khác khuyên lơn, khích lệ, dặn ḍ. Báo ân Phật như thế nào? Báo ân tổ sư như thế nào? Ở đây, đại sư đă bảo cho chúng ta biết. Câu này hết sức quan trọng. Khá nhiều đệ tử Phật, nay đă biết pháp môn này, chiếu theo pháp môn này để tu học, đạt được đôi chút lợi ích, đều mong báo ân Phật, mà chẳng cách biết cách báo đáp như thế nào.

 

          (Sao) Dục báo Phật ân, bất việt nhị sự: Nhất giả tự lợi, nhị giả lợi nhân.

          ()欲報佛恩,不越二事:一者自利,二者利人。

          (Sao: Muốn báo ân Phật, chẳng ngoài hai sự: Một là tự lợi, hai là lợi lạc người khác).

 

          Quư vị ghi nhớ nguyên tắc này th́ là đúng. Thật sự báo ân Phật, phải tự lợi, lợi tha. Nay chúng ta thật sự chẳng có trí huệ. Tự lợi là ǵ, lợi tha là ǵ, chẳng hiểu rơ ràng! Coi tự hại là tự lợi, coi hại người là lợi tha. Đó là ngu si!

 

          (Sao) Tự lợi giả, ư thử ác thế, lực hành thử đạo, nhân đắc văng sanh, diệc vân vi nan.

()自利者,於此惡世,力行此道,因得往生,亦云為難。

(Sao: Tự lợi là trong đời ác này, tận lực hành đạo này; do vậy, được văng sanh, [chuyện này] cũng gọi là khó khăn).

 

          Tự lợi là ǵ? “Lực hành thử đạo” (Tận lực hành đạo này), nỗ lực tu học pháp môn này. Đối với pháp môn này, trong kinh, đức Phật đă dạy ba điều kiện: Tín, Nguyện, Tŕ Danh. Chúng ta phải tin sâu, phải thật sự phát nguyện cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Trong mười hai thời (suốt ngày từ sáng đến tối), trong tâm chỉ chuyên chú câu Phật hiệu này, quư vị quyết định được văng sanh. Khó lắm! Khó ở chỗ nào? Khó ở chỗ hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian đều buông xuống. Chẳng chịu buông xuống, khó lắm! Quư vị chẳng thể thành tựu.

Đối với buông xuống, chư vị chớ nên hiểu lầm ư nghĩa. Chẳng phải là nói “buông xuống nơi Sự”. Sự cố nhiên là có chướng ngại, nhưng chướng ngại chẳng lớn. Trong tâm phải buông xuống, điều này quan trọng! Rất nhiều người xuống tóc xuất gia, đă buông xuống nơi mặt Sự, nhưng sau khi xuất gia, càng lắm chuyện phiền toái hơn thuở tại gia. Buông xuống ở chỗ nào? Đức Phật dạy chúng ta hăy buông xuống từ trong tâm, quyết định chẳng dính mắc, đó là đúng. Trong hết thảy thời, hết thảy chỗ, hết thảy cảnh giới, trong tâm chỉ có A Di Đà Phật. Trừ A Di Đà Phật ra, chuyện ǵ cũng đều chẳng ghim giữ trong tâm. Đó là tự lợi, là chuyên niệm. V́ thế, chuyên niệm chẳng phải là nơi đằng miệng. Miệng suốt ngày từ sáng đến tối niệm “A Di Đà Phật, A Di Đà Phật”, trong tâm c̣n có tiếng tăm, lợi dưỡng, c̣n có chuyện vướng mắc trong bụng dạ, niệm Phật kiểu đó chẳng thể văng sanh. Cổ đức thường nói: “Gào toạc cổ họng vẫn uổng công”, chẳng thể văng sanh. Trong tâm thật sự có [A Di Đà Phật], người ấy chẳng niệm mà vẫn có thể văng sanh, v́ niệm kiểu ấy là tâm niệm, chẳng phải là khẩu niệm, trong tâm người ấy thật sự có Phật.

          Có một cư sĩ hỏi tôi: “Phải niệm Phật như thế nào th́ mới có thể đắc lực?” Ông ta niệm vài năm, cảm thấy công phu chẳng đắc lực. Tôi bèn bảo ông ta: “Hăy buông xuống! Chẳng buông xuống th́ làm sao công phu đắc lực cho được? Không buông xuống, niệm Phật c̣n có xen tạp”. Ông ta nói: “Thưa sư phụ! Điều ǵ con cũng có thể buông xuống, chứ không thể buông mấy đứa cháu xuống được!” Tôi nói: “Vậy là chẳng có cách nào hết!” Tôi bảo ông ta: “Ông hăy đổi cái tâm vương vấn con cháu thành A Di Đà Phật, ông sẽ nhất định văng sanh”. Chư vị ngẫm lại xem, ông ta chẳng thể lải nhải “cháu nội, cháu nội”, chẳng thể nói như vậy suốt ngày từ sáng đến tối. Ông ta chẳng niệm, nhưng trong tâm thật sự có. Miệng suốt ngày từ sáng đến tối niệm “A Di Đà Phật, A Di Đà Phật” mà trong tâm chẳng có, vô dụng! Trong tâm có, nơi miệng chẳng có, hữu dụng! Điều này hết sức trọng yếu.

Niệm Phật là trong tâm thật sự có A Di Đà Phật. Niệm kinh là trong tâm thật sự có kinh Vô Lượng Thọ, chẳng phải là có kinh Vô Lượng Thọ ngoài miệng, có kiểu đó vô dụng! Phải là có trong tâm th́ mới hữu dụng. Đây là nói tự lợi như thế nào, văng sanh như thế nào. Đối với chuyện trong thế gian, hăy tùy duyên. Trông thấy chuyện tốt, gật đầu, rất hoan hỷ; thấy chuyện xấu, cũng gật đầu hoan hỷ, tuyệt đối chẳng vướng mắc trong tâm. Đương nhiên là đệ tử Phật phải có trách nhiệm “quy quá, khuyến thiện” (uốn nắn điều sai lệch, khuyên hành thiện). Gặp kẻ làm chuyện xấu, khuyên kẻ ấy mấy câu. Kẻ ấy nghe lời, tốt lắm; chẳng nghe lời, coi như xong chuyện, chẳng cần phải so đo nữa, chớ nên ghim chuyện ấy trong ḷng. Đó là đúng. Trong tâm nhất định phải vương vấn A Di Đà Phật. Kinh Vô Lượng Thọ dạy chúng ta “nhất hướng chuyên niệm” (một mực chuyên niệm), kinh Di Đà nói “nhất tâm bất loạn”, Quán Kinh nói “nhất tâm hệ niệm”, có thể thấy: Trong tâm có Phật th́ chính là thật sự niệm Phật.

 

          (Sao) Lợi nhân giả, ư thử ác thế, phục khuyến chư nhân, cộng hành thử đạo, đồng đắc văng sanh, thị tắc diệc vân nan trung nan dă.

          ()利人者,於此惡世,復勸諸人,共行此道,同得往生,是則亦云難中難也。

(Sao: “Lợi người”: Trong đời ác này, lại khuyên mọi người cùng hành đạo này để cùng được văng sanh, đấy cũng gọi là “khó nhất trong các sự khó”).

 

          Lợi tha như thế nào? Lợi ích chúng sanh, chư vị phải biết: Những pháp môn khác lợi ích nhỏ nhoi, chỉ có thể gieo một chủng tử Phật pháp trong A Lại Da Thức mà thôi. Trong một đời này, nếu muốn vượt thoát tam giới lục đạo luân hồi, nếu mong bất thoái thành Phật, nói thật thà, chỉ có pháp môn Niệm Phật. [Pháp này] ở ngoài tám vạn bốn ngàn pháp môn, được gọi là “môn dư đại đạo” (đại đạo ở ngoài các pháp môn). Trừ pháp này ra, chẳng có pháp môn thứ hai, quư vị muốn t́m pháp môn thứ hai để có thể thành tựu, sai mất rồi!

Nay chúng ta nếu muốn giúp đỡ và lợi ích người khác, tôi nhất định phải giới thiệu pháp môn bậc nhất với quư vị, pháp môn này quyết định hữu hiệu. Nếu tôi nói với quư vị các pháp môn khác, [tu tập] những pháp môn ấy chắc chắn là chẳng thể thành tựu, làm sao tôi chẳng có lỗi với quư vị? Có thể nào chẳng có lỗi đối với Phật, Bồ Tát? Phật, Bồ Tát đối với chúng ta có ân đức như vậy, chúng ta đối với người khác bèn khấu trừ mấy phần, tức là chẳng tương ứng với tâm nguyện của Phật. Lại c̣n có kẻ cố ư đến làm phiền, đến gây khó dễ. Có kẻ nói: “Các vị chỉ đề xướng pháp môn Niệm Phật, chỉ đề xướng kinh A Di Đà, [chẳng phải là] Phật pháp thảy đều bị diệt sạch trong tay quư vị ư?” Họ nói [thoạt nghe] cũng rất có lư. Thật ra, đấy là thiên kiến. Pháp môn này, nhất định là người thiện căn, phước đức, nhân duyên đă chín muồi [th́ mới có thể tiếp nhận, hành tŕ]. Nói cách khác, pháp môn này để độ người sẽ thành Phật. Quư vị chẳng thuộc dạng người thành Phật, đối với pháp môn này, quư vị chỉ gieo thiện căn, chẳng thể thành tựu! Trong một đời này, quư vị xác thực là có tư cách thành Phật, pháp môn này sẽ khởi tác dụng đối với quư vị.

V́ thế, chúng ta biết: Hết thảy các pháp môn đều nhằm vun bồi thiện căn, phước đức cho chúng sanh, c̣n pháp môn này dành cho người có hết thảy thiện căn, phước đức, nhân duyên đă chín muồi, quyết định đắc độ trong một đời này. Do vậy, pháp môn này là pháp môn vô thượng, là pháp môn bậc nhất. Chúng ta dùng pháp môn này để khuyên người khác, người ta thiện căn chín muồi, bèn tạo duyên cho người ấy, quá tốt đẹp! Người ấy bèn thành tựu. Dẫu người ấy chẳng thể tiếp nhận, cũng gọi là “một phen thoảng qua tai, vĩnh viễn trở thành hạt giống đạo”, gieo duyên thù thắng của thế giới Tây Phương trong tám thức điền. Đó là vô lượng công đức. Đời sau, hoặc nhiều đời, nhiều kiếp sau nữa, chủng tử ấy nhất định sẽ chín muồi, người ấy nhất định sẽ do chủng tử ấy mà đắc độ. Thật sự chẳng thể nghĩ bàn! Trong tỷ dụ này, đại sư đă v́ chúng ta nói rơ nỗi khó khăn trong việc thành đạo và thuyết pháp của đức Thế Tôn. Chúng ta báo ân, chỉ có tự lợi và lợi tha; đấy mới là thật sự báo ân. Hôm nay, chúng tôi nói tới chỗ này!

 

Tập 282

 

          Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang năm trăm chín mươi lăm:

 

          (Sớ) Hựu Pháp Hoa cực tán thuyết kinh chi nan, diệc đồng thử ư.

          (Sao) Pháp Hoa cực tán giả, vị tận thuyết dư kinh, thủ trịch Tu Di, túc động đại thiên, giai vị vi nan, năng ư ác thế, thuyết Pháp Hoa kinh, thị tắc vi nan. Kim kinh nan thuyết, diệc phục như thị.

          (Diễn) Vị tận thuyết dư kinh, thủ trịch Tu Di, túc động đại thiên đẳng giả, thị Đa Bảo phẩm, Như Lai phổ cáo đại chúng chi từ. Tận thuyết dư kinh như hằng hà sa, cố thị nan sự, nhiên giai xứng cơ chi đàm, nhân diệc dị tín, bất túc vi nan. Nhược dĩ thủ chưởng tiếp Tu Di, nhi trịch phương ngoại, hựu dĩ túc chỉ động đại thiên, nhi trịch tha quốc, tuy giai nan sự, nhiên hữu thần thông đạo lực giả, tức năng vi chi, do vị vi nan.

()又法華極讚說經之難,亦同此意。

()法華極讚者,謂盡說餘經,手擲須彌,足動大千,皆未為難,能於惡世說法華經是則為難,今經難說亦復如是。

()謂盡說餘經。手擲須彌。足動大千等者。是多寶品。如來普告大眾之辭。盡說餘經如恆河沙。固是難事。然皆稱機之談。人亦易信。不足為難。若以手掌接須彌而擲方外。又以足指動大千而擲他國。雖皆難事。然有神通道力者。即能為之。猶未為難。

(Sớ: Lại nữa, kinh Pháp Hoa tán thán tột bậc sự khó khăn do nói kinh là cũng có cùng ư nghĩa này.

          Sao: “Kinh Pháp Hoa tột bậc tán thán”, nghĩa là: Nói trọn hết các kinh khác, tay quăng núi Tu Di, chân đạp rúng động đại thiên thế giới, đều chưa phải là khó. Có thể ở trong đời ác nói kinh Pháp Hoa mới là khó. Nay kinh này khó nói, cũng giống như thế.

Diễn: “Nghĩa là nói trọn hết các kinh khác, tay quăng Tu Di, chân động đại thiên v.v…” chính là lời đức Như Lai bảo khắp đại chúng trong phẩm Đa Bảo. Nói trọn hết các kinh khác số nhiều như cát sông Hằng, cố nhiên là chuyện khó khăn, nhưng đều là bàn luận xứng hợp căn cơ, người ta cũng dễ tin, chẳng đáng coi là khó! Nếu dùng bàn tay đỡ lấy núi Tu Di, quăng ra ngoài phương khác. Lại dùng ngón chân lay động đại thiên, đá văng nó sang cơi nước khác, tuy đều là chuyện khó khăn, nhưng kẻ có thần thông đạo lực bèn có thể làm được, vẫn chưa phải là khó).

 

          Kinh Pháp Hoa có một đoạn nói như vậy. “Tận thuyết dư kinh” (Nói trọn hết các kinh khác), “dư kinh” (餘經) là những kinh điển khác, cũng là trừ kinh Pháp Hoa ra. Kinh Pháp Hoa đến tột cùng nói điều ǵ? Nói đến sự thành tựu Phật quả viên măn, cũng có nghĩa là nói một bộ kinh thành Phật, khó lắm! Nếu là dạy kẻ khác làm Bồ Tát, làm A La Hán, hoặc đạt được phước báo trong cơi nhân thiên, kinh luận như vậy hết sức nhiều, chẳng khó! Chỉ riêng kinh nói về đạo [tu hành] thành Phật th́ khó.

Hai câu kế đó là tỷ dụ, “thủ trịch Tu Di” (tay quăng núi Tu Di). Núi Tu Di là một quả núi lớn nhất trong thế gian này, chúng ta giống như ném bóng rổ, cầm quả núi ấy trên tay quăng qua, ném lại. Đây là nêu tỷ dụ, chuyện ấy chẳng đáng coi là khó khăn. Nói thật ra, đó là chuyện chẳng thể nào có được! “Túc động đại thiên” (Chân lay động đại thiên thế giới): Tam thiên đại thiên thế giới là khu vực giáo hóa của một vị Phật. Chân chúng ta đạp lên đại thiên thế giới, có thể khiến cho toàn thể đại thiên thế giới đều chấn động. Đấy cũng chẳng phải là chuyện dễ dàng. H́nh dung tột bậc chuyện ấy đều chẳng phải là chuyện khó khăn! Chỉ riêng trong đời ác nói kinh Pháp Hoa, hoặc những kinh thuộc cùng loại với kinh Pháp Hoa, “thị tắc vi nan” (th́ là khó khăn). Kinh này và kinh Pháp Hoa thuộc cùng một loại, đều là kinh giảng giải về pháp viên thành Phật đạo.

 

          (Diễn) Duy ư ác thế tuyên thuyết thử kinh, tối vi nan sự.

          ()唯於惡世宣說此經,最為難事。

          (Diễn: Chỉ có trong đời ác, tuyên nói kinh này là chuyện khó nhất).

 

          Khó ở chỗ nào?

 

          (Diễn) Nhân bất tín cố, sanh oán tật cố, chiêu mạ lỵ cố, gia trượng mộc cố, nhược vô đại nguyện, sanh thoái khuất cố.

()人不信故,生怨嫉故,招罵詈故,加杖木故,若無大願生退屈故。

(Diễn: Do người ta chẳng tin, bèn sanh ḷng oán ghét, ganh tỵ, [người nói kinh] chuốc lấy tiếng chửi bới, bị đánh đập. Nếu chẳng có đại nguyện, sẽ sanh ḷng thoái khuất).

 

          Quư vị nói kinh này cho họ nghe, người ta không chỉ là chẳng tin tưởng, chẳng thể tiếp nhận, mà c̣n oán hận. Nghe xong, tâm họ bực bội, lại c̣n ganh tỵ, c̣n chửi bới quư vị. “Trượng mộc” (杖木) là họ c̣n đánh đập quư vị. Nếu chẳng có đại nguyện chân thật, nghe [nói những nỗi gian nan như vậy] xong, cũng rất dễ ngă ḷng.

 

          (Diễn) Kim kinh nan thuyết diệc phục như thị giả, chúng sanh ngă mạn tâm cao, vô minh kiên hậu, bất khẳng tín thọ, đa sanh oán tật, diệc do thị dă.

          ()今經難說亦復如是者,眾生我慢心高,無明堅厚,不肯信受,多生怨嫉,亦猶是也。

(Diễn: Kinh này khó nói cũng giống như vậy, chúng sanh tâm ngă mạn cao ngất, vô minh dầy chắc, chẳng chịu tin nhận, sanh lắm nỗi oán hận, ganh tỵ, cũng giống như vậy đấy).

 

          “Chúng sanh ngạo mạn tâm cao, vô minh kiên hậu” (chúng sanh tâm ngă mạn cao ngất, vô minh dầy chắc): Chúng ta thấy trong xă hội hiện tiền, đại sư nói hai câu ấy xác thực là đă miêu tả hết sức chánh xác. “Bất khẳng tín thọ, đa sanh oán tật” (Chẳng chịu tin nhận, sanh lắm nỗi oán ghét, ganh tỵ): Trạng huống hoàn toàn giống như kinh Pháp Hoa đă nói trong phần trước.

 

          (Sớ) Phục hữu nhị nghĩa.

          ()復有二義。

          (Sớ: Lại có hai ư nghĩa).

 

          C̣n có hai ư nghĩa.

 

          (Sớ) Tiền nan phản hiển Cực Lạc đắc đạo vi dị, hậu nan phản hiển Cực Lạc thuyết pháp vi dị.

()前難反顯極樂得道為易,後難反顯極樂說法為易。

(Sớ: Chuyện khó thứ nhất nêu bật sự tương phản: Trong Cực Lạc, đắc đạo dễ dàng. Điều khó sau đó nêu bật sự tương phản: Trong Cực Lạc, thuyết pháp dễ dàng).

 

          “Tiền nan”: Trong phần trước đă nói, đức Thế Tôn thành Phật và thuyết pháp trong thế gian này khó khăn. Ngược lại, ta thấy trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, thành Phật dễ dàng. Văn Thù, Phổ Hiền, bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại sĩ trong hội Hoa Tạng đều bằng ḷng cầu sanh Tịnh Độ. Đạo lư ở chỗ nào? Thành Phật trong Tây Phương Cực Lạc thế giới dễ dàng, thuyết pháp dễ dàng.

 

          (Sao) Đắc đạo dị giả, Bà Sa Luận vị niệm Phật văng sanh, thừa Phật nguyện lực, vi dị hành đạo.

          ()得道易者,婆沙論謂念佛往生,乘佛願力,為易行道。

(Sao “Đắc đạo dễ dàng”: Tỳ Bà Sa Luận bảo niệm Phật văng sanh, nương cậy nguyện lực của Phật là “đạo dễ hành”).

 

          Thành tựu rất dễ dàng. Chúng ta đọc phần bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật trong kinh Vô Lượng Thọ, [sẽ thấy] nguyện nào cũng đều nhằm giúp đỡ hết thảy chúng sanh chứng đắc viên măn Vô Thượng Bồ Đề ngay trong một đời. Đó là bổn nguyện công đức của A Di Đà Phật. Chúng ta niệm Phật văng sanh chính là nương nhờ nguyện lực của Phật, mà cũng là do A Di Đà Phật gia tŕ, giúp đỡ, khiến cho chúng ta rất dễ chứng đắc Phật quả. Đó gọi là “dị hành đạo” (đạo dễ hành).

 

          (Sao) Ngũ Trược ác thế, gian ư tu tấn, vi nan hành đạo cố.

          ()五濁惡世,艱於修進,為難行道故。

          (Sao: Đời ác Ngũ Trược khó thể tấn tu, là “đạo khó hành”).

 

          Thế giới hiện thời trược ác tột bậc. Chúng ta trong th́ có phiền năo, có tập khí, rất khó đoạn trừ; bên ngoài bèn có ngũ dục, lục trần dụ dỗ, mê hoặc, rất khó bài trừ. Trong có phiền năo, ngoài có dụ hoặc, đạo nghiệp rất khó thành tựu. Một vạn người tu hành, khó có được đôi ba người thành tựu; nguyên nhân ở chỗ nào? Chẳng có cách nào bài trừ phiền năo và sự dụ dỗ, mê hoặc. Chẳng thể chống nổi sự dẫn dụ, mê hoặc của phiền năo. V́ thế, tu hành thường bị thất bại. Kế đó, nói về sự khó dễ trong thuyết pháp. Trong Tây Phương Cực Lạc, thuyết pháp dễ dàng.

 

          (Sao) Thuyết pháp dị giả, bỉ quốc chư thượng thiện nhân.

          ()說法易者,彼國諸上善人。

(Sao: Thuyết pháp dễ dàng: Các vị thượng thiện nhân trong cơi ấy).

 

          Nếu chẳng phải là bậc thượng thiện, sẽ chẳng thể văng sanh. Kinh chẳng lập giới hạn đối với hai chữ “thượng thiện”, nhưng cổ đại đức bảo: Thượng thiện là bậc Đẳng Giác Bồ Tát, v́ trên Pháp Vân Địa (Thập Địa) Bồ Tát c̣n có Đẳng Giác, chẳng thể coi [Thập Địa Bồ Tát] là tối thượng. Tối thượng trong hàng Bồ Tát là Đẳng Giác Bồ Tát, lên cao hơn nữa là thành Phật, chẳng tính. V́ thế, cách nói ấy cũng thông suốt.

Đối với “thượng thiện”, tôi có cách nh́n khác biệt. Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ, đức Phật đă nói “Tịnh nghiệp tam phước”, điều thứ nhất là nhân thiên thiện, điều thứ hai là Nhị Thừa thiện, điều thứ ba là Bồ Tát thiện. Nếu chúng ta chia ba điều ấy thành ba cấp thượng, trung, hạ, th́ Bồ Tát thiện là thượng thiện. Tôi nói theo kiểu này, chúng ta đều có phần. Nếu giải thích là Đẳng Giác, chúng ta chẳng có phần! Tôi nói kiểu này có tương ứng hay không? Tôi nghĩ cũng có thể là tương ứng, v́ kinh nói như vậy. Do vậy có thể biết: Chúng ta phát nguyện niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, ắt cần phải thực hiện từ Tam Phước trong Quán Kinh. Do vậy, chẳng phải là thượng thiện, chẳng thể văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới.

Từ chương Hạ Phẩm Hạ Sanh của Quán Kinh, chúng ta thấy kẻ phạm Ngũ Nghịch Thập Ác trong thế gian, lâm chung một niệm quay đầu, đều có thể văng sanh. Chư vị phải biết: Người ấy một niệm quay đầu, chính là chân thật sám hối, bèn trọn đủ thượng thiện. Thật đấy, chẳng giả đâu nhé! Tục ngữ trong thế gian có câu: “Lăng tử hồi đầu kim bất hoán” (Lăng tử quay đầu, vàng chẳng đổi). Người ấy quay đầu, sẽ là người tốt chánh cống, chẳng phải là người xấu. Thật sự quay đầu, hết sức đáng quư. Do vậy, người ấy có thể văng sanh. Chúng ta cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, nhất định phải tu thượng thiện. “Thượng thiện” chính là đối với mười một câu thuộc phần Tịnh Nghiệp Tam Phước trong Quán Kinh, phải nghiêm túc nỗ lực thực hiện.

 

          (Sao) Huệ thâm, chướng thiển.

          ()慧深障淺。

          (Sao: Huệ sâu, chướng cạn).

 

          Các vị thượng thiện nhân trong cơi ấy, trí huệ sâu xa, nghiệp chướng cạn mỏng.

 

          (Sao) Chí ư điều nhu.

          ()志意調柔。

          (Sao: Điều phục chí ư nhu ḥa).

 

          “Chí” () là chí nguyện, chí hướng, “ư” () là tâm ư, t́nh tự. Người ta chí hướng kiên định, t́nh tự cũng ổn định, biểu lộ sự ôn nhu. “Điều” (調) là điều lư (調理, sửa sang, điều phục, sắp xếp), tánh t́nh ḥa thuận, ôn nhu.

 

          (Sao) Phong thụ, điểu âm, tất tư giải ngộ.

          ()風樹鳥音,悉資解悟。

          (Sao: Gió rung cây, tiếng chim hót, đều cậy vào đó mà giải ngộ).

 

          [Âm thanh của] gió luồn qua cây, [tiếng] nước chảy trong thế giới Tây Phương đều là vô t́nh thuyết pháp; các loài chim là hữu t́nh thuyết pháp. Trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, những ǵ mắt chúng ta thấy, tai chúng ta nghe, đều là âm thanh thuyết pháp; những thứ ấy đều giúp chúng ta khai ngộ. “Giải ngộ” [ở đây] là khai ngộ. Tuy trong lục căn, chỉ nói hai thứ là Nhăn Căn và Nhĩ Căn; trên thực tế, sáu căn tiếp xúc sáu loại cảnh giới bên ngoài, toàn bộ đều là âm thanh thuyết pháp. V́ sao [nhân dân trong] thế giới Tây Phương bất thoái chuyển, đạo lư ở ngay chỗ này. Chẳng như chúng ta, chúng ta ở trong thế gian này, cơ hội sáu căn tiếp xúc Phật pháp ít ỏi, thời gian rất ngắn. Thời gian tiếp xúc dụ dỗ, mê hoặc từ ngoại giới lâu dài, chúng có sức mạnh rất lớn, đạo tâm chẳng chống cự nổi t́nh dục, thường bị đọa lạc, thất bại.

Trong thế giới Tây Phương, căn bản là chẳng tiếp xúc t́nh dục. Những ǵ sáu căn được tiếp xúc toàn là Phật pháp. Hơn nữa, kỹ xảo thuyết pháp của Phật, Bồ Tát hết sức cao minh. Nếu hằng ngày [chư Phật, Bồ Tát] ngồi giảng trên ṭa, [thính chúng] nghe ở dưới, nghe lâu bèn chán mệt. Cách thuyết pháp trong thế giới Tây Phương đă thăng hoa đến cảnh giới nghệ thuật cao nhất, có ca, có múa, có động, có tĩnh, điều ḥa khéo léo như vậy, chắc chắn là quư vị chẳng chán ngán, mệt mỏi. Quư vị sẽ thật sự cảm thấy cuộc sống hạnh phúc, sung sướng. Trong hạnh phúc, vui sướng, thành tựu viên măn Phật pháp, đoạn phiền năo, khai trí huệ, chứng Vô Thượng Bồ Đề. V́ thế, chẳng khó khăn!

 

          (Sao) Phi tỷ thử độ.

          ()非比此土。

(Sao: Chẳng như cơi này).

 

          Không giống như thế gian này của chúng ta.

 

          (Sao) Cang cường, nan phục.

          (Diễn) Cang cường nan phục giả, Pháp Hoa vân: “Thị Sa Bà quốc trung, nhân đa tệ ác, hoài tăng thượng mạn, công đức thiển bạc, sân trược siểm khúc, tâm bất thật cố”. Tịnh Danh vân: “Thử độ chúng sanh, cang cường nan hóa. Cố Phật vị thuyết cang cường chi ngữ, nhi điều phục chi. Ngôn thị địa ngục, thị ngạ quỷ, thị súc sanh. Năi chí vân: Thí như tượng mă, lung lệ bất điều, gia chư sở độc, nhiên hậu điều phục. Như thị cang cường nan hóa chúng sanh, cố dĩ nhất thiết khổ thiết chi ngôn, năi khả nhập luật.

          ()剛強難伏。

         ()剛強難伏者。法華云。是娑婆國中人多弊惡。懷增上慢。功德淺薄。嗔濁諂曲。心不實故。淨名云。此土眾生剛強難化。故佛為說剛強之語。而調伏之。言是地獄。是餓鬼。是畜生。乃至云。譬如象馬。儱悷不調。加諸楚毒。然後調伏。如是剛強難化眾生。故以一切苦切之言。乃可入律。

(Sao: Ương ngạnh, khó hàng phục.

Diễn: “Ương ngạnh, khó hàng phục”: Kinh Pháp Hoa nói: “Người trong cơi Sa Bà này, đa số là tệ ác, ôm ḷng tăng thượng mạn, công đức nông cạn, mỏng manh, sân trược, dua vạy, tâm chẳng chân thật”. Kinh Tịnh Danh (kinh Duy Ma Cật) nói: “Chúng sanh trong cơi này ương ngạnh, khó giáo hóa. V́ thế, đức Phật nói lời cứng cỏi để điều phục họ”. Nói tới địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, cho đến nói: Ví như voi, ngựa, hung hăng chẳng thuần, bèn dùng roi vọt, sau đấy, chúng nó sẽ thuần phục. Chúng sanh ương ngạnh khó giáo hóa như thế; do vậy, bèn dùng những lời lẽ nặng nề, gắt gao [để điều phục] th́ họ mới có thể tuân thủ luật nghi được).

 

          Căn tánh của chúng sanh trong thế gian này ương ngạnh, khó giáo hóa.

 

          (Sao) Cố cử nan, hiển dị.

          ()故舉難顯易。

(Sao: Do vậy, nêu ra điều khó, để tỏ lộ chuyện dễ).

 

          Nói rơ: Trong thế gian này, chúng ta tu hành chứng quả, thuyết pháp khó khăn, tương phản rơ rệt với Tây Phương Cực Lạc thế giới, những chuyện ấy đều dễ dàng.

 

          (Sao) Chánh thị Cực Lạc quyết nghi cầu dă.

          ()正示極樂決宜求也。

          (Sao: Chỉ dạy thẳng thừng: Quyết định là phải nên cầu sanh Cực Lạc).

 

          Dụng ư thật sự của những lời lẽ ấy là nhằm khiến cho chúng ta biết: Nhất định phải văng sanh thế giới Cực Lạc, nhất định phải lập vững chí hướng ấy, chúng ta sẽ chẳng phí uổng một đời này. Cuộc sống trong đời này sẽ rất có ư nghĩa, rất có giá trị. Nếu chẳng sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, nói thật ra, nhất định sẽ phí uổng đời này! Điều này đáng để chúng ta cảnh giác cao độ.

 

          (Sớ) Xứng Lư, tắc tự tánh tâm cảnh song dung, thị hành thử nhị nan nghĩa.

          (Diễn) Tâm cảnh song dung thị hành thử nhị nan nghĩa giả, đắc đạo năi triệt ngộ nội tâm.     

          ()稱理,則自性心境雙融,是行此二難義。

         ()心境雙融是行此二難義者,得道乃徹悟內心。

          (Sớ: Xứng Lư th́ tâm và cảnh trong tự tánh dung hội lẫn nhau. Đó chính là ư nghĩa “hành hai sự khó”.

          Diễn: “Tâm cảnh dung hội lẫn nhau là ư nghĩa của hành hai sự khó”: Đắc đạo bèn ngộ thấu triệt nội tâm).

 

          Đắc đạo là ǵ? Đắc đạo ǵ thế? Nói “đắc đạo” chính là triệt ngộ nội tâm. Nội tâm là tâm tánh, là chân tâm bản tánh của chính ḿnh. Đă hiểu rơ tâm tánh, bèn gọi là “đắc đạo”. Người tu hành hiểu tâm tánh có thứ lớp cạn sâu khác nhau. Do vậy, đắc đạo có sai biệt, có danh xưng cạn hay sâu khác nhau, [chẳng hạn như] đắc A La Hán đạo, đắc Bích Chi Phật đạo, đắc Bồ Tát đạo, đắc Phật đạo, đều gọi là “đắc đạo”. Tiểu Thừa A La Hán c̣n có Tứ Quả, Tứ Hướng. Danh xưng trong Tiểu Thừa [gọi những quả vị này] là Tứ Song Bát Bối (四雙八輩: bốn cặp hợp thành tám bậc). Sơ Quả Hướng và Sơ Quả là một cặp, Nhị Quả Hướng và Nhị Quả lại là một cặp, cho đến Tứ Quả Hướng và Tứ Quả. Càng chia tỉ mỉ hơn, Bồ Tát chia thành năm mươi mốt đẳng cấp, Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, lại c̣n thêm Đẳng Giác, [cộng chung là] năm mươi mốt địa vị. Những quả vị ấy đều gọi là “đắc đạo”.

Trong pháp Đại Thừa, tức Viên Giáo Đại Thừa, đoạn Kiến Hoặc là địa vị Sơ Tín Bồ Tát. Đoạn Kiến Hoặc bèn chứng quả, chứng quả ǵ? Trong năm mươi mốt địa vị, địa vị đầu tiên là Sơ Tín vị Bồ Tát. Chúng ta đừng nên xem nhẹ Ngài. V́ sao? Chứng đắc địa vị Sơ Tín, đối với ba thứ Bất Thoái như kinh đă nói, Ngài đă chứng đắc Vị Bất Thoái. Tuy Ngài vẫn chưa thể thoát ly tam giới luân hồi, vẫn ở trong lục đạo, quyết định chẳng đọa trong ba ác đạo, sẽ chẳng thoái chuyển, chẳng thoái đọa trong ba ác đạo. Ngài ở trong hai đường trời người tiếp tục nỗ lực tu hành, chẳng phải ở trong nhân đạo, bèn ở trong thiên đạo, chẳng đọa vào tam đồ, nên gọi là Vị Bất Thoái Bồ Tát. V́ thế, đối với “đắc đạo”, chúng ta phải hiểu rơ, hiểu rành mạch, đạo ấy ở trong Phật pháp.

Ngoài Phật pháp, có rất nhiều lũ ngoại đạo cũng nói đến “đắc đạo”. Thành thần, hoặc thành tiên, họ đều bảo là đắc đạo, hoàn toàn khác với định nghĩa được nói trong Phật pháp. Họ nói “đắc đạo” là đạt được một quả vị, đắc một địa vị. C̣n trong Phật pháp, [đắc đạo] là nói tới mức độ thấu hiểu tâm tánh; sự đắc đạo ấy khó khăn. Đắc đạo là trừ khử chướng ngại. Nếu chẳng đoạn tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc trong tam giới, đối với pháp Đại Thừa, chúng ta sẽ chẳng thể chứng đắc Sơ Tín vị Bồ Tát!

 

          (Diễn) Thuyết pháp năi hóa tha ngoại cảnh cố.

()說法乃化他外境故。

(Diễn: Thuyết pháp chính là hóa độ người khác, thuộc về ngoại cảnh).

 

          “Đắc đạo” là tự tu, là chuyện của chính ḿnh. “Thuyết pháp” là chuyện đối với người khác. Đương nhiên thuyết pháp và đắc đạo đều chẳng dễ dàng. Bản thân quư vị chẳng đắc đạo, quư vị lấy ǵ để dạy người khác? Trong thời đại hiện tại, dân chủ tự do, cởi mở, bất cứ ai cũng đều có thể lên giảng đài giảng kinh, thuyết pháp, ngôn luận tự do, xuất bản tự do. Trước kia, chẳng thể được! Trước đời Thanh, nếu quư vị chẳng thật sự khai ngộ, chẳng thật sự chứng quả, sẽ chẳng có tư cách thuyết pháp. Nói thật ra, chính ḿnh cũng chẳng dám thuyết pháp. Tất cả các trước tác đều phải qua sự thẩm tra của quốc gia, xét thấy kiến giải của quư vị xác thực chẳng sai lầm, [quư vị] đúng là một người hữu tu, khai ngộ, th́ mới có thể lưu thông. Nếu không, chẳng thể tùy tiện ra sách, chẳng thể tùy tiện thuyết pháp, có tiêu chuẩn trong ấy. Hiện thời, dân chủ tự do rộng mở, chẳng có tiêu chuẩn!

Thuyết pháp là lợi ích chúng sanh, nhất định là chính ḿnh phải có thành tựu. Nếu đặt tiêu chuẩn là đắc đạo, chỉ sợ trên thế gian này, chẳng có ai thuyết pháp! Hiện thời, thuyết pháp khó lắm! Làm như thế nào? Bất đắc dĩ dùng cách thức kém hơn: Chính ḿnh chẳng đắc đạo, cổ nhân đă đắc đạo. Liên Tŕ đại sư đắc đạo, pháp sư Cổ Đức cũng đắc đạo, ta chẳng đắc đạo, mà cũng chẳng khai ngộ, ta bèn giảng giải, giới thiệu những trước tác của những vị đă đắc đạo khai ngộ. Cũng có nghĩa là ở đây, tôi thưa tŕnh cùng quư vị đồng tu những điều tâm đắc nông cạn, dễ hiểu do đọc những trước tác của các Ngài, để mọi người dùng làm tham khảo. Nay năng lực của chúng tôi chỉ có thể làm được đến đó. Có rất nhiều người hỏi tôi: “Thưa pháp sư! Thầy đă giảng kinh nhiều năm như vậy, sao không viết mấy cuốn sách?” Quư vị hăy nghĩ xem, tôi có thể viết sách ǵ? Tu hành chẳng khai ngộ, chẳng chứng quả, làm sao có thể ra sách cho được? Chẳng thể nào! Khổng lăo phu tử suốt một đời khiêm hư, “thuật nhi bất tác” (thuật lại, chẳng sáng tác), Ngài [tự khiêm, nói chính ḿnh] chẳng có trước tác, toàn là thuật lại những điều của người khác. Nay chúng tôi chẳng phải là khiêm hư; hiện thời, chúng tôi xác thực là chẳng có năng lực sáng tác. Truyền thuật chú sớ của cổ nhân là đă hết sức khó có rồi!

 

          (Diễn) Tâm giả đắc đạo nghĩa, cảnh giả thuyết pháp nghĩa.

          ()心者得道義,境者說法義。

          (Diễn: Tâm nghĩa là đắc đạo, cảnh nghĩa là thuyết pháp).

 

          Minh tâm kiến tánh có nghĩa là “đắc đạo”. “Tâm” tức là chân tâm bản tánh, chính là ư nghĩa đắc đạo”. “Cảnh”: Công phu của chính chúng ta đă đạt đến một cảnh giới nào đó, quư vị mới có thể nói ra, mới có thể thấu hiểu. Bản thân chúng ta chẳng có công phu thật chứng, nhưng đọc sách của cổ nhân, có thể lănh hội mấy phần, đó cũng là cảnh giới tương tự. Sự lănh ngộ cảnh giới hoàn toàn tỷ lệ thuận với sự hiểu rơ tâm địa. Quư vị nghe băng thâu âm của tôi trong quá khứ, sẽ thấy ư nghĩa hiện thời viên măn hơn, sâu sắc hơn những ǵ đă nói trước kia. Cùng là một bộ kinh này, cùng là một bản [chú sớ], tôi giảng lần này là lần thứ ba, giảng lần này xác thực là viên dung hơn lần trước nhiều. Do nguyên nhân ǵ vậy? Xác thực là tôi chẳng giữ lại mảy may! Trong lần giảng trước, tuy [những ư nghĩa ấy tồn tại] trong văn bản này, nhưng tôi chẳng nh́n ra! Giảng lần này viên măn hơn lần trước, do lần này phát hiện những ư nghĩa thâm diệu trong ấy. Phát hiện như thế nào? Năm nay tâm thanh tịnh hơn năm trước đôi chút. Tâm chẳng thanh tịnh, sách bày ngay trước mặt, giống như kẻ mù mở banh mắt mà chẳng thấy ư nghĩa! Tâm càng thanh tịnh, càng chân thành, quư vị xem thứ ǵ, đều thấy càng sâu, càng rộng hơn. Công phu của chúng ta mỗi năm một tiến bộ, cảnh giới mỗi năm cũng khác hẳn. Do vậy, “cảnh” có ư nghĩa là thuyết pháp.

 

          (Diễn) Kim tánh trung tâm cảnh song dung, thị nhị nan tịnh vận nghĩa.

          ()今性中心境雙融是二難並運義。

(Diễn: Nay tâm và cảnh trong tánh cùng dung hội, chính là ư nghĩa “hai thứ khó khăn cùng được vận dụng”).

 

          Tâm và cảnh trong bản tánh cùng dung hội, đó là hai ư nghĩa đắc đạo và thuyết pháp, v́ kiến tánh khó khăn. Ngược lại, thuyết pháp cũng chẳng dễ dàng.

 

          (Sao) Tâm trục cảnh sanh, tâm thể bổn tịch, tắc vô sở đắc giả, danh đắc Bồ Đề. Cảnh tùy tâm hiện, cảnh thể tự không, tắc vô pháp khả thuyết, thị danh thuyết pháp.

          (Diễn) Tâm trục đẳng giả, tâm trục cảnh sanh, tắc tâm vô tự tánh, tâm thể bổn tịch dă. Đắc đạo năi triệt ngộ nội tâm. Kim tâm thể bổn tịch, tắc vô sở đắc giả, danh đắc Bồ Đề. Cảnh tùy tâm hiện, tắc cảnh vô tự tánh, cảnh thể tự không dă. Thuyết pháp năi hóa tha ngoại cảnh. Kim cảnh thể tự không, tắc vô pháp khả thuyết giả, thị danh thuyết pháp.

          ()心逐境生,心體本寂,則無所得者,名得菩提。境隨心現,境體自空,則無法可說,是名說法。

         ()心逐等者。心逐境生。則心無自性。心體本寂也。得道乃徹悟內心。今心體本寂。則無所得者。名得菩提。境隨心現。則境無自性。境體自空也。說法乃化他外境。今境體自空。則無法可說者。是名說法。

(Sao: Tâm thuận theo cảnh mà sanh, bản thể của tâm vốn vắng lặng, nên chẳng có ǵ để đắc th́ gọi là “đắc Bồ Đề”. Cảnh thuận theo tâm mà hiện, bản thể của cảnh vốn là Không, nên chẳng có pháp ǵ để có thể nói, bèn gọi là “thuyết pháp”.

Diễn: “Tâm thuận theo cảnh v.v…”: Tâm thuận theo cảnh mà sanh, tức là tâm chẳng có tự tánh. Bản thể của tâm vốn là Tịch. Đắc đạo bèn triệt ngộ tự tâm. Nay bản thể của cái tâm vốn là Tịch, nên không có ǵ để đắc, bèn gọi là “đắc Bồ Đề”. Cảnh thuận theo tâm mà hiện, nên cảnh chẳng có tự tánh. Bản thể của cảnh vốn là Không. Thuyết pháp chính là hóa độ người khác, thuộc về ngoại cảnh. Nay bản thể của cảnh là Không, nên chẳng có pháp nào để có thể nói, bèn gọi là thuyết pháp).

 

          Ư nghĩa này được nói rất sâu! Trong pháp Đại Thừa, nó được diễn tả là “nói mà chẳng nói, chẳng nói mà nói”. Quư vị hiểu rơ ràng ư nghĩa đoạn này, sẽ hiểu ư nghĩa của hai câu ấy. “Tâm trục cảnh sanh”: Tâm chính là tám tâm, tám thức như trong Duy Thức đă nói. Nếu chẳng có cảnh giới hiện tiền, nó sẽ chẳng khởi tâm động niệm. Do vậy, nó là “cảnh sanh” (do cảnh mà sanh khởi). Có lẽ sẽ có đồng tu nói: “Đêm ngủ, mắt nhắm tịt, chẳng có cảnh giới, v́ sao vẫn nằm mộng?” Trong khi ngủ, vẫn có cảnh giới, chẳng có cảnh giới thuộc về năm trần bên ngoài [mà thôi]. Cảnh có sáu loại, [tức là] Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc bên ngoài chẳng có, quư vị chẳng khởi cái tâm ấy, chẳng động niệm ấy; nhưng đối với Pháp ở trong ư thức, quư vị chẳng có cách nào khống chế. Cảnh ấy lại sanh khởi, hễ nó sanh khởi bèn nằm mộng. Lục căn đối ứng sáu cảnh, chúng ta ngủ th́ năm căn trước chẳng khởi tác dụng, năm cảnh trước cũng chẳng khởi tác dụng, nhưng Ư Căn đối ứng pháp cảnh bèn nằm mộng, ngày đêm đều chẳng ngưng ngớt. Do vậy, tâm theo cảnh mà sanh.

Nhưng “tâm thể bổn tịch” (bản thể của tâm vốn là Tịch), chân tâm bổn tánh là “tâm thể” (bản thể của tâm) thanh tịnh, tịch diệt, xác thực là chẳng nhiễm mảy trần, giống như Lục Tổ đă nói: “Vốn chẳng có một vật, nơi nào nhuốm bụi bặm”. Đó là nói về chân tâm, bản tánh, ở đây nói là “tâm thể bổn tịch”. Nói theo tâm thể, nó là “vô sở đắc” (không có ǵ để có thể đạt được). Bát Nhă Tâm Kinh đến cuối cùng, bèn nói “vô trí mà cũng vô đắc”, đó là nói về tâm thể. Nếu nói về tác dụng của tâm, sẽ là “hữu trí mà cũng hữu đắc”. Nói theo Thể, bèn là “vô trí mà cũng vô đắc”. “Vô sở đắc giả, danh đắc Bồ Đề” (Do chẳng có ǵ để đạt được, gọi là đắc Bồ Đề). Thích Ca Mâu Ni Phật tu hành chứng quả, đắc Vô Thượng Bồ Đề, đấy là do chúng ta nói, chứ trong cảnh giới của chính Ngài, sẽ là “vô trí mà cũng vô đắc”, Ngài nhập cảnh giới ấy. Chúng ta gọi [cảnh giới ấy] là Vô Thượng Bồ Đề, đắc Vô Thượng Phật quả. Đó gọi là “đắc Bồ Đề”.

          “Cảnh tùy tâm hiện” (Cảnh theo tâm hiện), cảnh do đâu mà có? Cảnh do tâm biến hiện. Duy Thức Luận nói “vô minh bất giác sanh tam tế”: Ba tế tướng, thứ nhất là Nghiệp Tướng, thứ hai là Chuyển Tướng, thứ ba là Cảnh Giới Tướng. Nghiệp là động; hễ động, bèn khởi biến hóa. Chuyển Tướng c̣n gọi là Kiến Phần, hễ động bèn là “có biết, có cảm thấy”. Từ “có biết, có cảm thấy”, biến hiện ra Hiện Tướng. Hiện Tướng được gọi là Cảnh Giới Tướng. Đấy là ba tế tướng. Từ ba tế tướng, lại diễn biến, lại phát triển, trở thành y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới. V́ thế, cảnh do tâm hiện. Cảnh Giới Tướng trong ba tế tướng cũng do tâm biến hiện.

“Cảnh thể tự không” (Bản thể của cảnh vốn là Không): Bản thể của tâm vốn vắng lặng, bản thể của cảnh vốn là Không, hoàn toàn có cùng một ư nghĩa. Tâm và cảnh có cùng căn nguyên phát sanh, [căn nguyên ấy chính là] Chân Như bản tánh. Tâm và cảnh có cùng nguồn, Kiến Phần và Tướng Phần có cùng một Tự Chứng Phần[4]. Do đó, tinh thần có thể biến thành vật chất, vật chất có thể biến hóa thành tinh thần. Chúng có thể biến thành lẫn nhau, v́ sao? V́ có cùng một nguồn! Khoa học hiện thời vẫn chưa thể đạt tới cảnh giới này. Khoa học hiện thời có thể chuyển biến năng lượng và vật chất, điều đó chỉ thuộc về Cảnh Giới Tướng, vẫn chưa có năng lực chuyển biến tinh thần thành vật chất. Nếu đạt tới cảnh giới ấy, đúng là “tùy tâm sở dục” (thuận ḷng mong muốn).

Tây Phương Cực Lạc thế giới đă đạt tới cảnh giới ấy. Do đó, quư vị nghĩ tới y phục, y phục là vật chất, khi quư vị động một niệm ấy, y phục ưa thích đă khoác trên thân. Tây Phương Cực Lạc thế giới đă đạt tới tiêu chuẩn ấy, có thể vận dụng tâm năng (năng lực của cái tâm) để biến hóa thành vật chất. Chẳng ưa thích, nó lập tức chẳng c̣n nữa. Vật chất quy hoàn tâm năng, chẳng c̣n nữa! Khoa học kỹ thuật trong thế giới Tây Phương đă đạt tới mức viên măn thật sự, viên măn đến mức mỗi cá nhân đều có thể thọ dụng, hoàn toàn chẳng phải là một nhóm nhỏ các nhà khoa học [mới có thể hưởng thụ]. Ai nấy đều có thể [sử dụng], ai nấy đều sử dụng rất tự tại. Do vậy, trong cuộc sống của họ, chẳng có mảy may thiếu khuyết nào!

Bản thể của cảnh là Không, bản thể của cảnh là chân tâm, là bản tánh. “Tắc vô pháp khả thuyết, thị danh thuyết pháp” (Cho nên chẳng có pháp nào để có thể nói, bèn gọi là thuyết pháp). Há có pháp nào để có thể nói? Thuở ấy, Thích Ca Mâu Ni Phật xuất hiện trên thế gian, thuyết pháp bốn mươi chín năm, đức Phật bảo Ngài chẳng nói một chữ. Nếu có ai nói đức Phật thuyết pháp, đó là báng Phật! Xác thực là đức Phật chẳng thuyết pháp, đấy là nói theo tâm và cảnh. Xác thực là đức Phật vô trí mà cũng vô đắc, càng không có ǵ để nói. Chúng ta nói đức Phật đắc đạo, hoặc nói đức Phật thuyết pháp, hoàn toàn là nói theo tướng, chẳng phải là nói theo tánh thể.

 

          (Sao) Tâm ngoại vô cảnh, cảnh ngoại vô tâm.

          (Diễn) Nội tâm ngoại cảnh, hỗ đoạt lưỡng vong, tự giác, giác tha, nhị giác câu mẫn hỹ.

          ()心外無境,境外無心。

         ()內心外境。互奪兩亡。自覺覺他。二覺俱泯矣。

          (Sao: Ngoài tâm chẳng có cảnh, ngoài cảnh chẳng có tâm.         

          Diễn: Nội tâm, ngoại cảnh, đoạt lẫn nhau, nên cả hai cùng mất. Tự giác, giác tha, hai giác đều cùng mất).

 

          Tâm và cảnh là một, chẳng hai. Chướng ngại lớn nhất của chúng ta trong hiện thời là chẳng thể minh tâm, chẳng thể kiến tánh, chẳng thể đắc đạo, chẳng thể chứng quả, nguyên nhân ở chỗ nào? Chúng ta nh́n hết thảy các pháp đều thấy thành hai phần: Tâm chẳng phải là cảnh, cảnh chẳng phải là tâm, tánh chẳng phải là tướng, tướng chẳng phải là tánh. Đối với hết thảy các pháp, chấp trước kiên cố, đức Phật bảo đó là vọng tưởng, chấp trước. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Hết thảy chúng sanh chỉ v́ vọng tưởng, chấp trước, mà chẳng thể chứng đắc”. Chúng ta vọng tưởng kiên cố, chấp trước kiên cố, chẳng biết hết thảy các pháp sanh từ cùng một căn nguyên. Trong hết thảy các pháp, quyết định là chẳng có chướng ngại. Kinh Hoa Nghiêm hiển thị Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại, nhưng chư vị nhất định phải hiểu: Vô chướng ngại thật sự chính là “ngoài tâm chẳng có cảnh, ngoài cảnh chẳng có tâm” th́ mới là vô ngại. Nếu tâm và cảnh là hai phần, chắc chắn là có chướng ngại.

Pháp giới thật sự vô chướng ngại, Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại. Xác thực là từ bậc Sơ Trụ Bồ Tát của Viên Giáo trở lên bèn nhập cảnh giới ấy. Tại Trung Hoa, Lục Tổ Huệ Năng đă nhập cảnh giới ấy. Những kẻ chẳng cùng hàng với ngài Huệ Năng th́ vẫn là chỗ nào cũng đều bị chướng ngại. Tuy trên sự thật, chúng ta chẳng làm được, nhưng chúng ta phải hiểu rơ đạo lư này. Hiểu rơ đạo lư này th́ có lợi ích ǵ? Bụng dạ của chúng ta có thể rộng mở, chẳng đến nỗi chấp trước như vậy, chẳng đến nỗi hẹp ḥi dường ấy. Nói cách khác, có thể giúp chúng ta sớm khai ngộ, có lợi ích ấy!

 

          (Sao) Tự giác, giác tha, giác hạnh viên măn.

          ()自覺覺他,覺行圓滿。

          (Sao: Tự giác, giác ngộ người khác, giác hạnh viên măn).

 

          Ắt cần phải đạt tới mức tâm và cảnh dung hội lẫn nhau th́ mới là giác hạnh viên măn. Nếu tâm và cảnh chẳng dung nhập, vẫn là hai chuyện, vẫn là đối lập, chúng ta chẳng thể đạt tới cảnh giới “tự giác, giác tha viên măn”.

 

          Tam, lưu thông phần.

          (Kinh) Phật thuyết thử kinh dĩ, Xá Lợi Phất, cập chư tỳ-kheo, nhất thiết thế gian, thiên, nhân, A Tu La đẳng.

          三、流通分

()佛說此經已。舍利弗。及諸比丘。一切世間天人阿修羅等。

(Ba là phần Lưu Thông.

Kinh: Đức Phật nói kinh này xong, ngài Xá Lợi Phất và các vị tỳ-kheo, hết thảy thế gian, trời, người, A Tu La v.v…)

 

          Trong phần Lưu Thông, chia thành hai đoạn, mấy câu kinh văn này là một đoạn. Đoạn này là “trùng cử thính chúng” (重舉聽眾, nhắc lại thành phần thính chúng). Thuở ấy, khi đức Phật tuyên giảng kinh A Di Đà, trong phần khai kinh, tức Tự Phần, đă giới thiệu cùng chư vị về đại chúng dự hội, có những vị nào tham gia. Sau khi giảng kinh xong, lại đề cập cùng chúng ta, trong phần đề cập, có bổ sung đôi chút. Tuy trong phần trước chẳng nói, nhưng đến chỗ này, hết thảy đều nói viên măn th́ phải là “nhất thiết thế gian, thiên, nhân, A Tu La đẳng”, bổ sung thiên long bát bộ [trong hàng thính chúng nghe pháp].

 

          (Sớ) Pháp tất lưu thông, dĩ Phật thuyết pháp, vị phổ độ chúng sanh cố.

          ()法必流通,以佛說法,為普度眾生故。

          (Sớ: Pháp ắt phải được lưu thông, do đức Phật thuyết pháp nhằm phổ độ chúng sanh).

         

Trong câu này, Liên Tŕ đại sư giảng rơ phần Lưu Thông, [nêu rơ] ư nghĩa của Lưu Thông. Mục đích của Phật pháp là quảng lợi chúng sanh, tức là lợi ích đại chúng rộng khắp. Chữ “chúng sanh” bao gồm chúng sanh trong chín pháp giới. Trong hội này, có Văn Thù Bồ Tát, có Di Lặc Bồ Tát, đương nhiên c̣n có nhiều vị đại Bồ Tát, nhưng chẳng nêu tên. Có Bồ Tát pháp giới, có A La Hán, tỉnh lược Duyên Giác. Trong pháp hội ấy, có chúng Bồ Tát, có chúng Duyên Giác, có chúng Thanh Văn, có lục đạo chúng sanh. “Nhất thiết thiên, nhân, A Tu La” là nói đến lục đạo chúng sanh.

Có thể thấy đức Phật thuyết pháp, chúng sanh trong chín pháp giới hữu duyên với pháp hội kinh điển ấy đều góp mặt, đều đến tham dự pháp hội ấy, đều đắc lợi ích. Do vậy, đức Phật thuyết pháp nhằm phổ độ chúng sanh. Nếu Phật pháp chẳng lưu thông, sẽ hoàn toàn mâu thuẫn với tông chỉ và nguyện vọng thuyết pháp của đức Phật. Chính ḿnh đạt được lợi ích nơi Phật pháp, mà chướng ngại kẻ khác, chẳng để cho người khác cũng đạt được [lợi ích ấy], người ấy có thể thành Phật hay không, có thể thành Bồ Tát hay không? Quyết định là chẳng thể, v́ sao? V́ tự tư tự lợi, chẳng chịu làm lợi cho kẻ khác, đó là đại chướng ngại, có thể thấy là chính người ấy tự chướng ngại chính ḿnh. Không chỉ là chướng ngại đắc đạo, ngay cả khai ngộ cũng chẳng thể. Không chỉ là chẳng thể khai ngộ, mà xem chú giải của cổ nhân, kẻ ấy cũng chẳng hiểu. V́ sao? Tâm lượng quá nhỏ, tâm địa chẳng thanh tịnh. Xem chú giải không hiểu, kinh văn lại càng chẳng cần phải nói nữa! Người ấy có thể đạt được ǵ? Nói thật ra, ngay cả da lông (ư nói bề ngoài) của Phật pháp kẻ ấy đều chẳng đạt được. Những ǵ kẻ đó đạt được chỉ là tro bụi dính ngoài da lông! Đại khái là có thể đạt được những thứ ấy! V́ sao? Bụi đất ô nhiễm cái tâm thanh tịnh của kẻ ấy, đúng vậy đó! Đối với pháp, chỉ cần là lợi ích chúng sanh, chúng ta nhất định tận tâm tận lực lưu thông. Nói theo cách hiện thời, phải phổ biến giới thiệu, “lăng-xê” cùng đại chúng, tận tâm tận lực thực hiện. Đó gọi là Lưu Thông. Giúp đỡ chư Phật, giúp đỡ hết thảy tổ sư đại đức phổ độ chúng sanh. Chuyện này khẩn yếu!

 

          (Sớ) Phục liệt chúng giả, kinh sơ minh chúng thính pháp, kinh chung minh chúng thọ pháp dă.

()復列眾者,經初明眾聽法,經終明眾受法也。

(Sớ: Lại liệt kê đại chúng: Đầu kinh là nói về đại chúng nghe pháp, cuối kinh là nói rơ đại chúng tiếp nhận pháp).

 

          Khởi đầu kinh điển này, trong Tự Phần có nói tới đại chúng nghe kinh, bảo cho chúng ta biết: Người nghe kinh đông đảo ngần ấy. Sau khi đă nghe kinh xong, lại trần thuật đại chúng sau khi nghe đức Phật thuyết pháp đă đạt được lợi ích như thế nào. Liệt kê [những lợi ích ấy] nhằm tạo tác dụng khơi gợi, khích lệ. Họ nghe kinh xong đạt được lợi ích, chúng ta nghe xong có đạt được lợi ích hay không?

 

          (Sớ) Độc cử Thân Tử giả, dĩ đương cơ cố.

          ()獨舉身子者,以當機故。

          (Sớ: Chỉ nêu tên ḿnh ngài Xá Lợi Phất, v́ Ngài là bậc đương cơ).

 

          Phần cuối kinh được tổng kết khá đơn giản, chỉ nói “Xá Lợi Phất cập chư tỳ-kheo” (Xá Lợi Phất và các tỳ-kheo).

 

(Sớ) Bất ngôn Bồ Tát giả, nhiếp tỳ-kheo trung cố. A Tu La giả, thử vân Phi Thiên. Đẳng giả, đẳng bát bộ lục đạo dă.

          ()不言菩薩者,攝比丘中故。阿修羅者,此云非天。等者,等八部六道也。

(Sớ: Chẳng nói tới Bồ Tát v́ Bồ Tát được gộp trong tỳ-kheo. A Tu La, cơi này dịch là Phi Thiên, “đẳng” là nói tám bộ, lục đạo).

 

          Chúng sanh thuộc chín pháp giới đều bao gồm trong ấy.

 

          (Sao) Lưu Thông giả, Quang Minh Sớ vân.

          ()流通者,光明疏云

(Sao: Lưu Thông: Quang Minh Sớ nói).

 

          Trong chú giải kinh Kim Quang Minh[5] có nói.

 

          (Sao) Lưu giả, hạ chú, Thông giả, bất ủng.

          ()流者下澍,通者不壅。

(Sao: Lưu là rót xuống, Thông là chẳng bế tắc).

 

          “Lưu” (): Giống như nước, nước chảy xuôi. “Thông” () là chẳng có trở ngại, chẳng có chướng ngại.

 

          (Sao) Hựu Khuê Phong vân.

          ()又圭峰云。

          (Sao: Ngài Khuê Phong lại nói).

 

          Ngài Khuê Phong [Tông Mật] là tổ sư đời thứ năm của tông Hoa Nghiêm, là học tṛ của Thanh Lương đại sư.

 

          (Sao) Đô vô nhân truyền tắc bất lưu.

          ()都無人傳則不流。

          (Sao: Chẳng có người truyền thừa, sẽ chẳng lưu thông).

 

          Nếu Phật pháp chẳng có ai truyền, pháp ấy sẽ chẳng thể truyền bá, chẳng thể lưu lại cho thế hệ kế tiếp.

 

          (Sao) Lưu giả bất trụ.

          ()流者不住。

(Sao: Lưu là chẳng trụ [một chỗ]).

 

          “Lưu” () có nghĩa là chẳng ngừng. Pháp ấy phải được tuyên dương ra ngoài, chớ để nó ngưng dứt!

 

          (Sao) Truyền chi ngộ chướng tắc bất thông.

          ()傳之遇障則不通。

(Sao: Truyền mà gặp phải chướng ngại, ắt chẳng thông suốt).

 

          Chúng ta truyền pháp, tuyên truyền gặp phải chướng ngại, nên chẳng thông suốt!

 

          (Sao) Thông giả, bất tắc.

          ()通者不塞。

(Sao: Thông là chẳng tắc nghẽn).

 

          “Bất tắc” (不塞) là chẳng bị trở ngại, chính là thông đạt vô ngại, đă thông suốt. Vào thời cổ, có thể nói là cổ đức đă tận tâm tận lực lưu truyền Phật pháp. Cách Bắc Kinh hơn hai giờ lái xe là Pḥng Sơn, trước kia chẳng lâu, đă phát hiện thạch kinh tại đó, tức là kinh Phật được khắc trên các phiến đá, khắc toàn bộ Đại Tạng Kinh. Thạch kinh được khắc kể từ đời Đường, khắc măi cho đến thời đại Liêu - Kim sau triều đại Nam Tống, gần như là gần đến thời nhà Nguyên mới hoàn tất. Tổng cộng khắc suốt bốn trăm năm. Đương nhiên là sử dụng nhân công rất đông, tổng cộng có mấy chục vạn phiến đá được khắc. Mỗi phiến đá c̣n to rộng hơn cây cột này một chút, khắc chữ cả hai mặt. Cổ nhân dùng phương pháp ấy để lưu truyền kinh Phật cho hậu thế, chỉ sợ kinh điển bị thất truyền. Khổ sở dụng tâm, siêng năng ra sức, chúng ta trông thấy chẳng thể không cảm kích. Nay chúng ta có thể dùng computer để sắp chữ, in lại một bản Đại Tạng Kinh mới, có thể lưu thông trên toàn thế giới. Đấy chính là công tác ắt phải thực hiện của hàng đệ tử Phật chúng ta trong hiện thời khi đọc đến chữ Lưu Thông.

 

          (Sao) Phổ độ giả, lưu thông thập phương, dĩ cập tam thế, phi cẩn vị nhất xứ, nhất thời chi chúng sanh dă.

          ()普度者,流通十方,以及三世,非僅為一處一時之眾生也。

(Sao: Phổ độ là lưu thông mười phương cho đến ba đời, chẳng phải chỉ là v́ chúng sanh trong một chỗ, một thời).

 

          Câu này rất trọng yếu. Nếu v́ một thời, v́ một nơi, người ta cũng chẳng cần phải khắc Đại Tạng Kinh trên bia đá. V́ mười phương ba đời hết thảy chúng sanh mà suy nghĩ, đấy là nói đến lưu thông Phật pháp thật sự. Hôm nay, chúng tôi nói đến chỗ này.

A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

Phần 141 hết

 

 



[1] Bách phi: Thông thường, Bách Phi được giải thích như sau, đối với Tứ Cú, mỗi câu lại bao gồm Tứ Cú, nên bốn lần bốn hợp thành mười sáu câu. Mười sáu câu ấy phối hợp với ba đời (quá khứ, hiện tại, vị lai) thành 16x3=48 câu. Bốn mươi tám câu ấy, mỗi câu ấy lại phối hợp với vị khởi (chưa dấy lên) và dĩ khởi (đă dấy lên), cho nên 48x2=96 câu, cộng với Tứ Cú ban đầu, thành một trăm câu. Do các quan điểm chấp trước ấy đều là vọng huyễn, so đo hư vọng, cho nên gọi chung là Bách Phi.

[2] Vị này có pháp hiệu đầy đủ là Đức Sơn Tuyên Giám (782-865), người xứ Giản Châu, họ Châu. Xuất gia từ bé, chuyên nghiên cứu Luật Tông, sau học Thiền theo Bắc Tông. Khi nghe nói về thiền phái Nam Tông của tổ Huệ Năng, Sư cho đó là lư lẽ của bọn cuồng huệ, phá hoại thánh giáo, nên đi về phương Nam, toan biện bác, chiết phục họ. Sau khi được bà lăo chỉ điểm, Sư dẹp hết tâm ngạo mạn, đến tham học với thiền sư Long Đàm Sùng Tín ở quận Phong Dương, ngộ đạo. Về sau, Sư dạy Thiền chuyên dùng gậy đánh để giúp học tṛ khai ngộ nên trong nhà Thiền có từ ngữ “Đức Sơn bổng” (gậy Đức Sơn).

[3] La-sát (Rākṣasa) là một loại quỷ dữ, thích ăn thịt người. Nam la-sát thân h́nh xấu ác, to lớn, hung dữ, răng nhọn, móng tay sắc như vuốt chim ưng, mắt đỏ, tóc đỏ, thích uống máu người. La-sát nữ xinh đẹp, thường dụ dỗ đàn ông háo sắc để ăn thịt.

[4] Tướng Phần (相分): Đối tượng được nhận thức của Thức, nên c̣n gọi là Sở Thủ Phần (所取分), tức là đối tượng được nhận biết của Tâm Vương, thuộc về Sắc pháp.

Kiến Phần (見分): Chính là chủ thể có tác dụng nhận biết Tướng Phần (thường được diễn tả bằng từ ngữ Chiếu Tri, 照知), c̣n gọi là Năng Thủ Phần (能取分). Tướng Phần bao gồm Tâm pháp, tức là tám tâm vương và năm mươi mốt tâm sở.

Tự Chứng Phần (自證分): Chính là bản thể của Kiến Phần.

Chứng Tự Chứng Phần (證自證分): Chính là trí huệ Bát Nhă trong bản tánh.

[5] Bộ chú giải này có tên gọi đầy đủ là Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh Sớ do ngài Huệ Chiểu (?-714) soạn vào đời Đường, căn cứ theo bản dịch kinh Kim Quang Minh của ngài Nghĩa Tịnh. Lập luận trong bản chú giải chủ yếu dựa theo lập trường Tam Thừa và Ngũ Tánh của Pháp Tướng Tông để luận định, nhấn mạnh tính chất hộ quốc của kinh này giống như kinh Nhân Vương Hộ Quốc vậy.