A Di Đà Kinh Sớ
Sao Diễn Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 143
Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và
Đức Phong
Tập
285
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang sáu trăm lẻ bốn:
(Sớ)
Hựu Đại Bổn cập Pháp Diệt kinh, giai ngôn
pháp diệt chi nhật, độc lưu thử kinh. Cố
tri thử kinh, tổng tŕ Mạt Pháp, như Hoa Nghiêm Luận
trung thuyết.
(疏)又大本及法滅經,皆言法滅之日,獨留此經,故知此經,總持末法,如華嚴論中說。
(Sớ: Lại nữa,
Đại Bổn và kinh Pháp Diệt đều nói khi pháp diệt,
riêng lưu lại kinh này. V́ thế biết kinh này tổng
tŕ Mạt Pháp, như trong Hoa Nghiêm Luận đă nói).
Đại
Bổn là kinh Vô Lượng Thọ. Pháp Diệt Kinh c̣n gọi
là Pháp Diệt Tận Kinh, phân lượng chẳng dài, nói
rơ hiện tượng suy diệt của Phật pháp. Trong Pháp
Diệt Tận Kinh, nói theo cách hiện thời, chính là đức
Phật đă tiên đoán. Những lời tiên đoán có khi là
do suy luận Toán Học, chẳng hạn như bộ Hoàng
Cực Kinh[1] xa xưa của
Trung Hoa. Nói theo Phật pháp, điều này thuộc loại
Tỷ Lượng (比量)[2],
tánh chánh xác của nó chẳng thể đạt tới một
trăm phần trăm. Đương nhiên là cũng có
độ tin cậy kha khá, nhưng chẳng phải là tuyệt
đối. Chỉ riêng lời tiên đoán của đức
Phật chắc chắn là chánh xác, v́ đức Phật
dùng Hiện Lượng (現量) để quan
sát. Đức Phật là ngũ nhăn viên minh, quá khứ, hiện
tại, tương lai, Ngài đều đích thân trông thấy,
chẳng phải là suy đoán. Trong Pháp Diệt Kinh, đức
Phật nói kinh Lăng Nghiêm diệt đầu tiên, kinh diệt
cuối cùng là kinh Vô Lượng Thọ. “Pháp diệt chi nhật, độc lưu thử
kinh” (Khi pháp diệt hết, riêng lưu lại kinh này), “thử kinh” (kinh này) chính là kinh
Vô Lượng Thọ. Vào lúc pháp diệt tận, kinh Vô
Lượng Thọ vẫn c̣n ở trong thế gian này một
trăm năm. Sau một trăm năm ấy, Phật pháp
hoàn toàn diệt mất.
Pháp vận của
Thích Ca Mâu Ni Phật tổng cộng là một vạn hai ngàn
năm, Chánh Pháp một ngàn năm, Tượng Pháp một
ngàn năm, Mạt Pháp một vạn năm. Thật ra, Phật
pháp há có “vận” để
nói ư? “Vận” hoàn toàn là
do chúng sanh. Nếu chúng sanh ai nấy đều có thể tu
đức, tích thiện, hảo vận bèn lâu dài. Mọi
người đều chẳng biết tu thiện, tạo
nhiều ác nghiệp, kiếp vận tốt đẹp bèn
ngắn ngủi, [tức là] thời gian tốt đẹp
bèn ngắn ngủi. V́ thế, [thời gian tồn tại của]
Phật pháp là nói theo phía chúng sanh, chẳng phải là nói theo
phía Phật hay nói theo pháp.
Câu kế tiếp
mới là trung tâm của tiểu đoạn này. “Cố tri thử kinh, tổng tŕ
Mạt Pháp” (v́ thế, biết kinh này tổng tŕ thời
Mạt Pháp), câu này hết sức trọng yếu. Mạt
Pháp [kéo dài] một vạn năm. Trong một vạn năm
ấy, hết thảy chúng sanh nếu muốn “đương sanh thành tựu”,
[nghĩa là thành tựu] ngay trong một đời này, nói “thành tựu” chính là quyết định vượt thoát
lục đạo luân hồi. Đó là thành tựu nhỏ
bé. Nếu chẳng thể vượt thoát lục đạo,
sẽ không kể là thành tựu. Viên măn thành Phật là đại
thành tựu. Trong pháp môn này, có thể nói là hai thứ thành tựu
ấy đều đạt tới rốt ráo viên măn.
Do vậy, thật sự là pháp môn chẳng thể nghĩ
bàn. Trong thời kỳ Mạt Pháp, chúng ta gặp gỡ kinh
này mà có thể tin, nhận, phụng hành, sẽ là bậc
đương cơ trong thời Mạt Pháp của đức
Thế Tôn. Chuyện này đáng khiến cho chính ḿnh vui mừng,
hân hạnh!
(Sao)
Đại Bổn vân: “Đương lai chi thế, kinh
đạo diệt tận, ngă dĩ từ bi, đặc
lưu thử kinh bách tuế, chúng sanh đắc ngộ, vô
bất đắc độ”.
(鈔)大本云:當來之世,經道滅盡,我以慈悲,特留此經百歲,眾生得遇,無不得度。
(Sao: Kinh Đại Bổn
nói: “Trong đời tương lai, kinh đạo diệt
hết, ta do từ bi, đặc biệt lưu lại kinh
này một trăm năm, chúng sanh được gặp gỡ,
không ai chẳng đắc độ”).
“Đương lai chi thế”:
Kể từ sau khi đức Thế Tôn diệt độ
đều gọi “đương
lai chi thế”. “Kinh đạo diệt tận” là nói tới
lúc pháp vận kết thúc sau khi đức Phật đă diệt
độ, cũng có nghĩa là đúng một vạn hai
ngàn năm sau ngày đức Phật diệt độ. [Kể
từ khi] Thích Ca Mâu Ni Phật diệt độ cho đến
hiện tại mới hơn ba ngàn năm. Do vậy, pháp vận
của đức Phật hăy c̣n chín ngàn năm nữa. “Kinh đạo diệt tận”, “kinh” (經) là kinh điển,
trong thế gian này chẳng c̣n kinh điển nữa, “đạo” (道) là người
tu hành, [khi ấy], chẳng có người tu đạo.
Đó là “diệt tận”,
con người khổ sở chẳng thể diễn tả
được!
(Sao)
Nhược hữu chúng sanh, ư thử kinh điển,
thư tả, cúng dường, thọ tŕ, độc tụng,
vị nhân diễn thuyết, lâm mạng chung thời, Phật
dữ thánh chúng, hiện kỳ nhân tiền, kinh tu du gian, tức
sanh bỉ sát.
(鈔)若有眾生,於此經典,書寫供養,受持讀誦,為人演說,臨命終時,佛與聖眾,現其人前,經須臾間,即生彼剎。
(Sao: Nếu có chúng
sanh, đối với kinh điển này, biên chép, cúng
dường, thọ tŕ, đọc tụng, v́ người
khác diễn nói, khi lâm chung, Phật và thánh chúng hiện
trước người ấy, trong khoảnh khắc, liền
sanh sang cơi kia).
Đoạn
này cũng là kinh văn [trong kinh Vô Lượng Thọ].
Đoạn kinh văn này rất trọng yếu. Khá nhiều
đồng tu thường đến hỏi: “Chúng tôi phải
tu học như thế nào th́ trong tương lai mới nắm
chắc văng sanh?” Ở chỗ này, đức Phật đă
nói rất rơ ràng: Chỉ cần chúng ta y giáo phụng hành,
quyết định được văng sanh. Mấy chuyện
được nói ở đây chính là những ǵ [chúng ta cần
phải] tu tập trong cuộc sống hằng ngày:
1) “Ư thử kinh điển” (Đối với
kinh điển này): Câu này khẩn yếu, dạy chúng ta
chuyên tu, [tức là] chuyên tu kinh Vô Lượng Thọ, chuyên
tu kinh A Di Đà. Kinh A Di Đà và kinh Vô Lượng Thọ là
cùng bộ. V́ thế, Liên Tŕ đại sư [gọi hai
kinh ấy] là Đại Bổn và Tiểu Bổn. Kinh Vô
Lượng Thọ nói tỉ mỉ, kinh Di Đà nói
đơn giản, ngắn gọn. Chỉ là văn tự
có dài hay ngắn, cách nói có chi tiết hay đại lược,
chứ nội dung hoàn toàn như nhau. Đây là dạy chúng
ta chuyên tu, dụng công chuyên nhất nơi một bộ
kinh. Kinh Vô Lượng Thọ đương nhiên là thuận
tiện; nói thật ra, kinh Di Đà quá giản lược.
Kẻ sơ học thường chẳng thấy
được nghĩa lư thâm diệu trong bộ kinh [Di Đà]
này. Cho đến khi Liên Tŕ đại sư viết Sớ
Sao, Ngẫu Ích đại sư viết Yếu Giải,
chúng ta mới biết kinh Di Đà có nội dung hết sức
phong phú. Đọc bộ Sớ Sao này, kèm thêm Diễn
Nghĩa, nói thật ra, [mới biết nội dung của
kinh này] trọn chẳng kém Đại Phương Quảng
Phật Hoa Nghiêm Kinh. Thật sự là quá thù thắng! Chúng
ta nhất tâm nhất ư suốt một đời này, học
một bộ kinh điển, quyết định thành
công. Học một bộ kinh điển, thưa cùng
chư vị, tốt đẹp ở chỗ nào? Tam Học
Giới, Định, Huệ quư vị thảy đều trọn
đủ. Giới học: Tŕ giới là vâng giữ pháp tắc,
giữ ǵn quy củ. Đức Phật rát ḷng buốt miệng
khuyên bảo, chỉ dạy chúng ta, nói “ư thử kinh điển”, chúng ta thật sự
tiếp nhận, hoàn toàn tiếp nhận, y giáo phụng hành.
Đó là tŕ giới, là vâng giữ pháp tắc, tuân thủ lời
dạy bảo của đức Phật. Chuyên học một
bộ kinh, cái tâm đă định, bèn có Định học.
Chúng ta học quá nhiều, quá tạp, rất khó đạt
được tâm thanh tịnh. Pháp môn này và kinh điển
này được hết thảy chư Phật tán thán, hết
thảy chư Phật hoằng dương, hết thảy
Bồ Tát lưu truyền. Chúng ta cũng có thể chọn
lựa pháp môn này, đó là trí huệ cao độ, tuyệt
đối chẳng phải là trí huệ nhỏ bé. V́ thế,
quư vị quyết định chọn lựa kinh điển
này và pháp môn này, đó chính là Tam Học Giới, Định,
Huệ thảy đều trọn đủ.
2)
Sau khi đă chọn lựa chắc chắn; ở đây,
đức Thế Tôn dạy chúng ta mấy cương lănh
tu học. Điều thứ nhất là “thư tả cúng dường” (biên chép, cúng dường).
Chúng ta thấy bốn chữ ấy, liền biết pháp
môn này là Đại Thừa, chứ Tiểu Thừa chẳng
có khí thế to tát ấy. “Thư
tả” (書寫) là lưu thông bộ
kinh điển này. Thời kỳ Mạt Pháp lâu dài, từ
nay trở về sau, hăy c̣n có thời gian chín ngàn năm nữa.
Trong chín ngàn năm ấy, chúng sanh đều phải cậy
vào pháp môn này để đắc độ. Nếu pháp môn
này chẳng thể phổ biến, hoằng dương,
th́ nói cách khác, hết thảy chúng sanh thành tựu hoặc
đắc độ trong một đời sẽ hết
sức khó khăn! Có thể nói là chẳng có ǵ để hy
vọng! Do vậy, “thư tả”
hết sức trọng yếu. Thời cổ, để
lưu thông kinh điển, phải cậy vào chép tay. Nay
chúng ta ấn loát kinh điển để lưu thông, bèn
có ư nghĩa “thư tả”.
Lưu thông càng nhiều càng hay. Tu học Phật pháp, mọi
người đều biết: Phải tu phước, tu
huệ. Phước huệ song tu, chẳng thể lệch
vào một bên. Tuy chúng ta niệm Phật rất tốt
đẹp, mà nếu chẳng có phước báo, khi lâm chung
c̣n bị đau bệnh, sẽ tạo thành chướng ngại
cho sự văng sanh. Tu phước th́ loại phước báo
nào là chân thật, đáng tin cậy? Ở đây, đức
Phật dạy chúng ta biên chép, cúng dường. Tiếp
đó, c̣n có câu nữa là “vị
nhân diễn thuyết” (v́ người khác diễn nói).
Hai câu này đều dạy chúng ta tu phước báo chân thật.
“Thọ tŕ độc tụng”
(Thọ tŕ, đọc, tụng) là tu Huệ. Phước
huệ song tu! Do đó, chúng ta phải nghiêm túc nỗ lực
hoằng truyền bộ kinh điển này, tận tâm tận
lực thực hiện, giới thiệu với hết thảy
mọi người, đề cao, quảng bá pháp môn này cùng
đại chúng. Đó là “thư
tả, cúng dường”. Chúng ta giới thiệu, ban tặng
kinh điển, pháp môn cho người khác, đấy là Tài
Bố Thí, mà cũng thuộc về Pháp Bố Thí. Nếu đối
phương tiếp nhận, sanh tâm hoan hỷ, y giáo phụng
hành, chẳng sợ hăi sanh tử, sẽ là Vô Úy Bố Thí.
Do vậy, “thư tả cúng
dường” th́ ba thứ bố thí thảy đều trọn
đủ.
3)
Trong nguyện Quảng Tu Cúng Dường của Phổ Hiền
Hạnh Nguyện Phẩm có nói: “
4)
“Thọ tŕ độc tụng”,
“thọ” (受) là hoàn toàn tiếp
nhận. Những lư luận và phương pháp do đức
Phật đă nói, đă dạy, chúng ta thảy đều
tiếp nhận. “Tŕ” (持) là ǵn giữ. Trọn
hết thọ mạng y giáo phụng hành th́ gọi là “bảo tŕ”. “Độc tụng”
(Đọc tụng), nói thật ra là thân cận Phật, Bồ
Tát. Ta đọc tụng hằng ngày, tức là hằng ngày
ở cùng một chỗ với Phật, Bồ Tát. “Độc” (讀): Đối trước kinh
bổn [để đọc] th́ gọi là Độc, “tụng” (誦) là đọc thuộc ḷng. Niệm
rất thuộc, chẳng cần kinh bổn, vẫn có thể
niệm chẳng sai một chữ nào [th́ gọi là Tụng].
Đọc tụng là tu hành. Nếu quư vị biết dụng
tâm, công đức [đọc tụng] sẽ là vô lượng
vô biên. Kẻ mới học dùng phương pháp đọc
tụng để tu Căn Bản Trí. Căn Bản Trí là tâm
thanh tịnh. Niệm kinh th́ phải thật thà niệm. Niệm
bộ kinh này từ đầu đến cuối, chớ
nên niệm quá nhanh, chớ nên chạy đua với thời
gian, mà cũng chớ nên niệm quá chậm. Niệm từng
chữ phân minh, từng câu rơ ràng. Miệng niệm ra tiếng,
nghe lọt vào tai. Dùng phương pháp này để đọc
kinh. Đọc kinh nhằm nhiếp tâm. Đại Thế
Chí Bồ Tát nói “nhiếp trọn
sáu căn”, chúng ta dùng phương pháp đọc kinh
để nhiếp trọn sáu căn. Khi đọc, chớ
nên mong hiểu nghĩa, chớ nên suy tưởng ư nghĩa
trong kinh, chớ nên nghiên cứu, chớ nên phân biệt kinh.
Khi đọc kinh bèn chẳng có vọng tưởng, chẳng
có tạp niệm; đọc kinh như vậy là tu Định.
Đọc rành mạch, rơ ràng, chính là tu Huệ. Huệ ấy
chính là Căn Bản Trí. Kinh Bát Nhă nói “Bát Nhă vô tri”, vô tri là Căn Bản Trí, tu thứ
này. V́ thế, [đọc kinh] là hoàn thành Giới, Định,
Huệ một lượt. Nếu chúng ta đọc một
tiếng đồng hồ, cung kính niệm một tiếng
đồng hồ, tức là tu Giới, Định, Huệ
một tiếng đồng hồ. Đó là thật sự tu
hành. Chớ nên coi [đọc kinh] như đọc sách thế
gian, [nếu giống như đọc sách thế gian] th́
sai mất rồi, quư vị chẳng có Tam Học. Đấy
là cách đọc của kẻ sơ học. Đọc
đến khi chính ḿnh đă rất quen thuộc, có thể
đọc thuộc ḷng, cái tâm nhất định sẽ
đạt đến mức độ thanh tịnh kha khá.
Đọc nhiều, đọc hằng ngày, tu tâm thanh tịnh
hằng ngày. Đừng nói là [phải tu] nhiều thời
gian, mỗi ngày có thể tu một tiếng đồng hồ
là đă hết sức khó có. Tu hằng ngày, tu dăm ba
năm, tâm t́nh đều định. Tới khi ấy, sự
đọc tụng của chúng ta bèn tiến nhập giai
đoạn thứ hai. Khi đọc trong giai đoạn thứ
hai sẽ chẳng giống như đọc tụng trong
giai đoạn trước. Đọc trong giai đoạn
trước nhằm tu Giới, Định,
Huệ, tu Căn Bản Trí. Sau khi đă có Căn Bản Trí,
ta vẫn đọc tụng, đọc tụng nhằm tu
Hậu Đắc Trí. Hậu Đắc Trí là ǵ? Không ǵ chẳng
biết. Cách tu như thế nào? Cổ đại đức
dạy chúng ta, “tùy văn nhập
quán”, [nghĩa là] khiến cho thân tâm của chính chúng ta
hoàn toàn kết hợp với cảnh giới trong kinh
văn, hoàn toàn ḥa quyện thành cảnh giới trong
kinh. Như thế là đă cao, biến thành ǵ? Kinh là chính
ḿnh, chính ḿnh biến thành kinh Vô Lượng Thọ. Chư
vị ngẫm xem, lẽ nào người ấy chẳng văng
sanh? Ví như chúng tôi nêu thí dụ: Đối với bốn
mươi tám nguyện, bốn mươi tám nguyện biến
thành bổn nguyện của chính ḿnh, chẳng phải là bổn
nguyện của A Di Đà Phật nữa! Nay chúng ta niệm
là niệm bổn nguyện của A Di Đà Phật, chẳng
phải là bổn nguyện của chúng ta! Sau khi niệm
đă lâu, [nguyện ấy] cũng từ trong tự tâm phát
xuất, hoàn toàn có cùng nguyện, cùng giải, cùng hạnh
như đức Phật đă phát, khiến cho tâm nguyện
giải hạnh của ta và A Di Đà Phật hoàn toàn tương
đồng. Nói cách khác, khi ấy, chính ḿnh thật sự là
hóa thân của A Di Đà Phật, chẳng hai, chẳng khác A
Di Đà Phật. Đó là phương pháp đọc tụng
thứ hai; nhưng chư vị phải hiểu: [Đọc
tụng] có thứ tự. Nhất định là cầu Căn
Bản Trí trước đă; sau đấy, mới có thể
đạt được Hậu Đắc Trí. Chẳng
có cơ sở Căn Bản Trí, tâm địa chẳng thanh
tịnh, chẳng chân thành, bất b́nh đẳng, chẳng
từ bi, sẽ chẳng có cách nào tiến nhập giai
đoạn thứ hai! V́ thế, đọc tụng hết
sức trọng yếu. Đọc tụng là tu hành.
5)
“Vị nhân diễn thuyết”
(V́ người khác diễn nói): Chúng ta hồi hướng,
thường niệm “thượng
báo tứ trọng ân, hạ tế tam đồ khổ”
(trên đền bốn ân trọng, dưới cứu khổ
ba đường). Đối với chuyện này, cũng
chớ nên hằng ngày nói suông. Nói suông quá nhiều mà chính
ḿnh cũng phải thẹn thùng! Như thế nào th́ mới
có thể thực hiện được? Phải v́ người
khác diễn nói. “Diễn nói”
không nhất định là phải giảng một bộ
kinh. Giảng một bộ kinh từ đầu đến
cuối cho người khác nghe phải tùy thuộc duyên phận.
Như trong kinh Kim Cang nói “v́
người khác nói bốn câu kệ”, công đức ấy
cũng là chẳng thể nghĩ bàn. Nói cách khác, chúng ta mỗi
ngày từ sáng đến tối, gặp gỡ những ai,
bất luận là gặp người nào, đều có thể
khuyên họ niệm Phật, đều nói với họ mấy
câu Phật pháp, những câu Phật pháp ấy tuyệt
đối chẳng ĺa khỏi kinh Vô Lượng Thọ hoặc
kinh Di Đà th́ là đúng, hoàn toàn tương ứng. V́ sao
chỉ nói bộ kinh này, chẳng nói những kinh khác?
Kinh
dạy năm loại cương lănh tu hành cụ thể: “Thư tả, cúng dường,
thọ tŕ, độc tụng, vị nhân diễn thuyết”
(Biên chép, cúng dường, thọ tŕ, đọc tụng, v́
người khác diễn nói). Các đồng tu Tịnh Độ
chúng ta phải coi năm chuyện ấy là công việc trọng
yếu nhất trong cả một đời, những công
việc khác đều là kèm thêm! Thậm chí, sự nghiệp
làm ăn kiếm sống cũng là chuyện kèm theo, năm
thứ ấy mới là chuyện chánh yếu của chúng
ta. Đó là đúng. “Lâm mạng
chung thời, Phật dữ thánh chúng, hiện kỳ nhân tiền,
kinh tu du gian, tức sanh bỉ quốc” (Khi lâm chung, Phật
và thánh chúng hiện trước người ấy, trong khoảnh
khắc, liền sanh về cơi ấy), mấy câu này chính là
lời bảo đảm của đức Phật. Đó
là giấy bảo đảm. Chỉ cần quư vị thực
hiện năm chuyện trước đó, quư vị chẳng
cần phải hoài nghi, cũng chẳng cần phải hỏi
han, khi lâm chung, Phật nhất định đến tiếp
dẫn. “Tu du” (須臾, khoảnh khắc) là hết sức
nhanh chóng. Tuy thế giới Tây Phương cách chúng ta
mười vạn ức cơi nước, chỉ trong một
cái khảy ngón tay là đă đến nơi. Đại Kinh
dạy như vậy đó!
(Sao)
Pháp Diệt Kinh vân: “Nhĩ thời, Thủ Lăng Nghiêm kinh
tiên diệt, dĩ thứ chư kinh, tất giai diệt tận,
độc lưu Vô Lượng Thọ kinh, độ
chư chúng sanh”.
(鈔)法滅經云:爾時首楞嚴經先滅,以次諸經,悉皆滅盡,獨留無量壽經,度諸眾生。
(Sao: Kinh Pháp Diệt Tận
nói: “Khi ấy, kinh Thủ Lăng Nghiêm diệt trước
hết, sau đó đến các kinh khác thảy đều
diệt hết, riêng lưu lại kinh Vô Lượng Thọ
để độ các chúng sanh).
Đây
là một đoạn kinh văn trong kinh Pháp Diệt Tận,
có ư nghĩa gần giống như kinh Đại Bổn.
(Sao)
Hoa Nghiêm Luận vân: “Chánh pháp diệt thời, dĩ tổng
tŕ tŕ dư tôn pháp, vi giáo lư lưu chuyển chi nhân”.
(Diễn)
Dĩ tổng tŕ tŕ dư tôn pháp, vi giáo lư lưu chuyển
chi nhân giả, thử đồng Dịch quái chi Càn nguyên
nghĩa dă. Cái thế gian xuất thế gian, sơ vô nhị
lư. Thế gian pháp, tắc thỉ tự Càn nguyên tư thỉ,
Trinh đức thâu tàng, vi tương lai phát dục chi
cơ. Xuất thế gian pháp, tắc thỉ tự Hoa
Nghiêm sơ đàm, chung chí Di Đà hậu diệt, vi hậu
kiếp lưu truyền chi bổn. Phi Càn trinh, tắc thế
gian chi sanh cơ tận diệt. Phi Di Đà, tắc xuất
thế chi huệ mạng giai tàn. Tắc thử kinh, thử
lư, vi chư Phật tương truyền huệ mạng,
vi chúng sanh xuất thế chi bổn nguyên, kỳ quan hệ
khởi tiểu nhân duyên da?
(鈔)華嚴論云:正法滅時,以總持持餘尊法,為教理流轉之因。
(演)以總持持餘尊法。為教理流轉之因者。此同易卦之乾元義也。蓋世間出世間。初無二理。世間法。則始自乾元資始。貞德收藏。為將來發育之機。出世間法。則始自華嚴初談。終至彌陀後滅。為後劫流傳之本。非乾貞則世間之生機盡滅。非彌陀則出世之慧命皆殘。則此經此理。為諸佛相傳慧命。為眾生出世之本源。其關係豈小因緣耶。
(Sao: Hoa Nghiêm Luận nói: “Khi chánh pháp diệt, do nhờ sức
tổng tŕ [của kinh này] mà duy tŕ các pháp tôn quư khác, tạo
thành cái nhân khiến cho giáo lư lưu chuyển”.
Diễn: “Do nhờ sức tổng tŕ [của kinh này] mà duy
tŕ các pháp tôn quư khác, tạo thành cái nhân khiến cho giáo lư
lưu chuyển”: Điều này giống như ư nghĩa
Nguyên của quẻ Càn trong kinh Dịch[3]. Ấy là v́ pháp
thế gian và xuất thế gian, thoạt đầu chẳng
phải là hai lư. Pháp thế gian th́ khởi đầu từ
[đức tánh] Nguyên của Càn giúp sức phát khởi,
đức Trinh [có tánh chất] thâu tàng, tạo thành động
lực sanh trưởng trong tương lai. Pháp xuất thế
gian th́ bắt nguồn từ kinh Hoa Nghiêm được
nói đầu tiên, đến cuối là kinh Di Đà diệt
sau cùng, đó là cái gốc để lưu truyền cho
đời sau. Chẳng do đức Trinh của quẻ Càn
th́ động lực sanh thành trong thế gian bị tận
diệt. Chẳng do Phật Di Đà th́ huệ mạng xuất
thế đều mất. V́ thế, kinh này, lư này chính là huệ
mạng được chư Phật truyền thừa, là
cội nguồn để chúng sanh xuất thế. Mối
quan hệ ấy há có phải là nhân duyên nhỏ nhặt
ư?)
Thích
Ca Mâu Ni Phật thị hiện thành Phật trong thế gian
này, bộ kinh được Ngài giảng đầu tiên là
Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Kinh
Hoa Nghiêm là lúc đức Phật mới thành đạo, ngồi
dưới cội Bồ Đề, nói trong Định. Tiểu
Thừa chẳng thừa nhận Đại Thừa Phật
pháp, đức Phật giảng trong Định, ai biết?
Kẻ b́nh phàm thấy Thích Ca Mâu Ni Phật tĩnh tọa
dưới cội cây, ngồi đó một ḿnh, chẳng
biết Ngài giảng kinh Hoa Nghiêm trong Định, c̣n có vô
lượng vô số Bồ Tát vây quanh nghe pháp, phàm phu cũng
chẳng thấy một vị nào! [Do đó], người
Tiểu Thừa chẳng thừa nhận, bảo: “Đại Thừa chẳng phải
do đức Phật nói”. Hàng Tiểu Thừa hoàn toàn nói
theo sự tướng.
Kinh Hoa Nghiêm là
đức Phật đă đem cảnh giới do Ngài
đích thân chứng đắc nói ra, thật sự là đại
cương của toàn thể Phật pháp. Nói theo cách hiện
thời, sẽ là “Phật học
khái luận”. Hết thảy các kinh được nói
trong bốn mươi chín năm sau đó đều chẳng
thể vượt ra ngoài phạm vi của Hoa Nghiêm. Trong
Đại Thừa Phật pháp, Hoa Nghiêm được tôn
xưng là “căn bản pháp
luân”, [nghĩa là] hết thảy các kinh đều là quyến
thuộc của Hoa Nghiêm. Giống như một cái cây to:
Hoa Nghiêm là cội rễ, thân chánh, hết thảy các kinh khác
là cành, lá, hoa, quả, đều từ căn bản ấy
sanh ra. Nhưng Hoa Nghiêm đến cuối cùng, Phổ Hiền
Bồ Tát dùng “mười đại
nguyện vương dẫn về Cực Lạc” th́
Hoa Nghiêm mới viên măn. V́ thế, kết thúc chung cục của
Hoa Nghiêm, Hoa Nghiêm được viên măn nơi thế giới
Tây Phương. Chúng ta dùng h́nh ảnh thu nhỏ này để
nh́n toàn thể Phật pháp của Thích Ca Mâu Ni Phật, [sẽ
thấy pháp vận] một vạn hai ngàn năm xác thực
là khởi đầu từ Hoa Nghiêm cho đến cuối
cùng khi pháp diệt hết. Trong một trăm năm cuối
cùng là kinh Vô Lượng Thọ, kinh Vô Lượng Thọ
chính là h́nh ảnh thu gọn của Hoa Nghiêm. Do kinh Hoa Nghiêm tổng
tŕ hết thảy Phật pháp, kinh Di Đà và kinh Vô Lượng
Thọ cũng tổng tŕ hết thảy Phật pháp.
Vào đầu
đời Thanh, cư sĩ Bành Tế Thanh đă nói: “Kinh Vô Lượng Thọ chính là
Trung Bổn Hoa Nghiêm. Bát Thập Hoa Nghiêm chính là Đại Bổn.
Kinh A Di Đà là Tiểu Bổn Hoa Nghiêm”. Hai bộ kinh
này quán triệt tổng tŕ từ đầu đến cuối
hết thảy các pháp môn. Nhất là trong thời kỳ Mạt
Pháp, hoàn toàn do kinh Vô Lượng Thọ tổng tŕ. Ư
nghĩa trong ấy hết sức sâu rộng, chúng ta phải
chú tâm thấu hiểu, tham cứu; sau đấy, quư vị
mới có thể tin tưởng, mới có thể khẳng
định, sẽ đạt được công đức
và lợi ích to lớn, mới có thể đạt
được lợi ích chân thật.
(Sao)
Kim vị chư kinh tất diệt, thử kinh độc
tồn, niệm Phật nhất môn, quảng độ quần
phẩm, tắc chư kinh dĩ diệt nhi bất diệt,
tức thị dĩ nhất tồn dư, lưu chuyển
vô tận, chánh Tổng Tŕ chi vị dă.
(鈔)今謂諸經悉滅,此經獨存,念佛一門,廣度群品,則諸經已滅而不滅,即是以一存餘,流轉無盡,正總持之謂也。
(Sao: Nay nói các kinh
đều diệt, riêng kinh này hăy c̣n. Pháp môn Niệm Phật
rộng độ các phẩm, cho nên các kinh đă diệt mà
chẳng diệt, tức là do c̣n sót lại một kinh
lưu chuyển vô tận, nên gọi đó là Tổng Tŕ vậy).
Ở
đây, ư nghĩa “Tổng Tŕ” đă
được hiển thị hết sức rơ ràng cho chúng
ta thấy. Kinh Hoa Nghiêm thường nói: “Một chính là hết thảy, hết thảy chính là
một”, rốt cuộc “một”
là nói đến điều ǵ? “Một”
chẳng phải là chuyên nhất (một điều ǵ
đó hoặc một pháp nào đó chuyên biệt). Nếu
chuyên nhất th́ chẳng viên dung, chẳng phải là pháp giới
“Lư Sự vô ngại, Sự Sự
vô ngại” của Hoa Nghiêm. “Một”
là bất cứ pháp nào, pháp nào cũng đều có thể
tổng tŕ hết thảy các pháp. Đấy mới là
nghĩa thú chân chánh của Hoa Nghiêm. Ở đây, dường
như là tổ sư chuyên chỉ kinh Vô Lượng Thọ,
chẳng phải là bất cứ một pháp nào, chuyện
này lại nên nói như thế nào đây? Chính là v́ khế
cơ. Nói theo Lư, tám vạn bốn ngàn pháp môn, do bất cứ
pháp môn nào cũng đều có thể thành đạo quả
vô thượng. Bởi lẽ, pháp môn b́nh đẳng, chẳng
có cao thấp, “bất cứ một
pháp nào” chính là nói theo Lư. “Chuyên
nhất” là nói theo Sự. Xét theo Sự, căn tánh của
chúng sanh khác nhau, đặc biệt là đại đa số
chúng sanh đều là hạng phàm phu sát đất, nghiệp
chướng sâu nặng. Đối với
họ, khá nhiều pháp môn rất khó khăn, khó ở chỗ
nào? Khó ở chỗ bản thân họ có nghiệp chướng.
Hằng
ngày, chúng ta niệm bài kệ hồi hướng: “Nguyện tiêu tam chướng chư
phiền năo” (Nguyện tiêu các phiền năo thuộc về
Tam Chướng). Chỉ là nguyện, có thể tiêu
được hay không? Chẳng tiêu được chút nào!
Không chỉ là chẳng tiêu, mà Tam Chướng hằng ngày
c̣n tăng trưởng! Tam Chướng là mê hoặc, tạo
nghiệp, thọ báo, [nói gọn lại sẽ là] Hoặc, Nghiệp,
Khổ, sự thật ấy bày ra trước mặt chúng
ta. Nay tuy gặp gỡ pháp môn vô thượng, pháp môn bậc
nhất, tức là pháp môn Niệm Phật, nhưng vừa
niệm A Di Đà Phật, vừa dấy vọng tưởng,
quư vị mới biết khó khăn lắm thay! Khó hay dễ
tuyệt đối chẳng phải là nói theo phía pháp môn, mà
là nói theo căn tánh của chúng sanh. V́ chúng sanh nghiệp
chướng tập khí hết sức sâu nặng, nhất
định phải t́m một pháp môn vừa dễ dàng, vừa
ổn thỏa, lại [thành tựu] rất nhanh chóng, th́ mới
có thể thích hợp với những kẻ nghiệp
chướng tập khí sâu nặng trong hiện thời. Nếu
chẳng phải là một pháp môn như vậy, hết thảy
bọn chúng sanh chúng ta mong đắc độ trong một
đời, khó lắm! Trong điều kiện ấy,
đức Thế Tôn và chư Phật, Bồ Tát, lịch
đại tổ sư đều chỉ điểm pháp
môn này là thích hợp. Do đó, đức Phật chẳng
lưu lại kinh điển nào khác, chỉ lưu lại kinh
Vô Lượng Thọ. Xét theo thần lực của đức
Phật, pháp của ta đă diệt hết, ta riêng lưu lại
kinh Lăng Nghiêm một trăm năm có được hay
không? Đương nhiên là có thể, đức Phật xác
thực là có năng lực ấy, nhưng đối với
chúng sanh, kinh ấy quá khó khăn, chẳng thích hợp. Chúng
ta phải hiểu đạo lư này: Đức Phật riêng
lưu lại kinh Vô Lượng Thọ, chẳng lưu lại
những kinh khác là do “ứng
cơ thuyết pháp”.
(Sao)
Nhất thiết chúng sanh, ưng đương tôn trọng,
cung kính, tín thọ, phụng hành, kinh sở tại xứ,
như Phật kiến tại.
(鈔)一切眾生,應當尊重恭敬,信受奉行,經所在處,如佛見在。
(Sao: Hết thảy
chúng sanh, hăy nên tôn trọng, cung kính, tin nhận, phụng
hành. Kinh ở chỗ nào, [chỗ đó] như có Phật hiện
diện).
Thời
cổ, chữ Kiến (見) và Hiện (現) dùng lẫn cho
nhau, [đều có nghĩa là] “hiện
tại”. Nếu kinh điển được lưu
thông nhiều, th́ nói cách khác, Vô Lượng Thọ Phật
sẽ nhiều, mọi người sẽ có nhiều
cơ hội gặp gỡ. Ai nấy đều có thể
đọc tụng kinh Vô Lượng Thọ, ai nấy
đều có thể tuân theo giáo huấn trong kinh để tu
hành, có thể chuyển biến kiếp nạn, xă hội
có thể an định. Nay chúng ta biết xă hội loạn
lạc, không chỉ là Đài Loan loạn lạc, mà toàn thể
thế giới đều loạn. Để có thể tiêu
trừ hiện tượng này, giảm thấp kiếp vận,
chỉ có cách đề xướng pháp môn này. Đầu đời
Thanh, pháp sư Từ Vân Quán Đảnh đă viết trong
bộ Quán Kinh Trực Chỉ: “Kiếp
nạn trong thế gian, tất cả các kinh pháp đều
chẳng thể tiêu trừ, cuối cùng c̣n có một câu chân
ngôn sáu chữ Nam-mô A Di Đà Phật này là có thể tiêu trừ
hết thảy các kiếp nạn”. Ngài nói kiểu này khiến
cho chúng tôi nghĩ đến trong Phật môn có kiểu nói: “Niệm kinh chẳng bằng niệm
chú, niệm chú chẳng bằng niệm Phật”. Phật
hiệu có công đức chẳng thể nghĩ bàn! Kinh chẳng
tiêu nghiệp chướng được, chú cũng chẳng
thể tiêu nghiệp chướng, Phật hiệu có thể
tiêu! V́ thế, nhất định phải khuyên kẻ khác niệm
Phật, nhất định phải nỗ lực làm cho hết
thảy chúng sanh đều có cơ duyên tiếp xúc pháp môn Tịnh
Tông, đều biết ưu điểm của pháp Niệm
Phật, đều biết niệm Phật th́ mới ḥng tiêu
tai miễn nạn.
Người hiện
thời công việc bận rộn, thời đại càng
về sau, do khoa học kỹ thuật phát triển lại
càng bận bịu, há có thời gian niệm Phật? Chẳng
niệm lại không được! Phải làm như thế
nào để có thể đạt tới tiêu chuẩn “tịnh niệm tiếp nối”?
V́ thế, hết sức khó khăn! Gần đây, tôi dạy
mọi người pháp Thập Niệm, niệm chín lần
mỗi ngày, hết sức thích hợp với thời đại
này. Một ngày chín lượt công khóa, chẳng thể thiếu
một khóa nào, mỗi lượt công khóa chỉ cần một phút, cho nên có thể làm được! Khi
đi làm, nếu ngồi nơi bàn làm việc, c̣n chưa bắt
đầu làm việc, trước hết, thân tâm hăy buông
xuống hết thảy, chắp tay niệm mười câu
A Di Đà Phật, một lần công khóa đă viên măn. Niệm
xong mười câu A Di Đà Phật rồi mới bắt
đầu lo liệu công việc trong một ngày. Khi tan tầm,
làm xong việc, dọn dẹp xong, lại chắp tay
niệm mười câu A Di Đà Phật.
Tôi dạy người ta sáng sớm thức dạy bèn niệm
một lượt, khi ăn điểm tâm bèn niệm một
lượt, buổi sáng vào làm việc và lúc nghỉ trưa
bèn niệm một lượt. Khi ăn cơm buổi
trưa niệm một lượt, buổi chiều vào làm
tiếp và lúc tan tầm, mỗi lúc niệm một lượt,
ăn cơm tối lại niệm một lượt nữa,
buổi tối đi ngủ niệm một lượt nữa.
Mỗi ngày chín lượt, mỗi lượt một
phút, phương pháp này thực dụng, thích hợp cho
người hiện thời tu hành. Lại c̣n hết sức
có hiệu quả, v́ trong một phút ấy, xác thực là “tịnh niệm tiếp nối”.
Nếu thời gian niệm [trong mỗi lần công khóa khá]
dài, chẳng tránh khỏi dấy vọng tưởng, tâm chẳng
thanh tịnh. Do mười niệm ấy, nhiếp tâm dễ
dàng, thời gian ngắn ngủi, “A Di Đà Phật, A Di Đà Phật”. Mười
câu Phật hiệu nối tiếp nhau, xác thực là chẳng
có tạp niệm, chẳng có vọng tưởng, đúng là
“tịnh niệm tiếp nối”.
Sau hai ba giờ, lại niệm một lượt nữa.
Mỗi ngày thật sự niệm chín lượt chẳng
thiếu, ba tháng sẽ khác hẳn, quư vị sẽ cảm
nhận được. Đây là một phương pháp
đề ra cho người hiện thời. Nhất định
phải tôn trọng, phải cung kính kinh giáo, phải tin nhận,
phụng hành. Biết kinh điển ở chỗ nào, chỗ
ấy chính là nơi Phật ngự. Giống như tôi vừa
mới nói với mọi người hai phương pháp
đọc tụng, một là để tu Căn Bản Trí,
hoàn thành Tam Học Giới, Định, Huệ một
lượt. Phật, Bồ Tát âm thầm gia tŕ quư vị.
Cách kia để tu Hậu Đắc Trí, tâm và cảnh giao
ḥa, sự cảm ứng của chư Phật bèn hết sức
rơ rệt.
(Sao)
Vấn: Độc lưu thử kinh, thử kinh cái chỉ
Đại Bổn.
(鈔)問:獨留此經,此經蓋指大本。
(Sao:
Hỏi: Riêng lưu lại kinh này, “kinh này” là nói tới
Đại Bổn).
“Riêng lưu lại kinh này”,
“kinh này” là kinh Vô Lượng Thọ, ăn nhằm ǵ tới
kinh A Di Đà?
(Sao)
Đáp: Tiền bất vân hồ, văn hữu phồn giản,
nghĩa vô thắng liệt, tường ngôn chi tắc
Đại Bổn, lược ngôn chi tắc kim kinh nhĩ,
phi hữu nhị dă.
(鈔)答:前不云乎,文有繁簡,義無勝劣,詳言之則大本,略言之則今經耳,非有二也。
(Sao: Đáp: Chẳng
phải là trong những phần trước đă nói rồi
đó sao? Kinh văn có rườm rà hay đơn giản, nhưng
ư nghĩa chẳng hơn kém. Nói tường tận th́ là
Đại Bổn, nói đại lược th́ là kinh này,
[ư nghĩa trong hai kinh] chẳng hề sai khác).
Kinh
Vô Lượng Thọ và bộ kinh này là cùng một bộ.
(Sớ)
Xứng Lư, tắc tự tánh vô năo, thị hoan hỷ tín thọ
nghĩa. Tự tánh vô trụ, thị tác lễ nhi khứ
nghĩa.
(Diễn)
Tự tánh vô năo, thị hoan hỷ tín thọ giả, nhược
vân văn pháp nhi hỷ, lănh pháp nhi thọ, thị vi ngoại
tùy cảnh giới sở thiên, phi chân hoan hỷ tín thọ
dă. Tự tánh cụ hữu quá hằng sa đẳng phiền
năo chi nghĩa, thị chân hoan hỷ tín thọ dă. Tự
tánh vô trụ, thị tác lễ nhi khứ nghĩa giả,
nhược vân kiều cần nhi lễ, thoái tịch nhi khứ,
thị vi vọng duyên phong lực nhi chuyển, phi chân tác lễ
nhi khứ dă. Tự tánh vô trụ, liễu vô căn bản,
thị chân tác lễ nhi khứ dă.
(疏)稱理,則自性無惱,是歡喜信受義;自性無住,是作禮而去義。
(演)自性無惱。是歡喜信受者。若云聞法而喜。領法而受。是為外隨境界所遷。非真歡喜信受也。自性具有過恒沙等煩惱之義。是真歡喜信受也。自性無住。是作禮而去義者。若云翹勤而禮。退席而去。是為妄緣風力而轉。非真作禮而去也。自性無住了無根本。是真作禮而去也。
(Sớ: Xứng Lư th́
tự tánh chẳng có phiền năo là ư nghĩa “hoan hỷ tin
nhận”. Tự tánh chẳng trụ là ư nghĩa “làm lễ
rời đi”.
Diễn: “Tự tánh chẳng có phiền năo là ư nghĩa hoan hỷ,
tin nhận”: Nếu bảo nghe pháp vui mừng [là Hỷ],
lănh nhận là Thọ, tức là bị cảnh giới bên
ngoài xoay chuyển, chẳng phải là hoan hỷ tín thọ
thật sự. Tự tánh có ư nghĩa trọn đủ các
phiền năo nhiều hơn số cát trong sông Hằng,
đó là hồi hướng tín thọ thật sự. “Tự
tánh chẳng trụ là ư nghĩa làm lễ, rời đi”: Nếu
bảo kính cẩn, trân trọng là Lễ, rời khỏi chỗ
ngồi là Khứ, đó là bị xoay chuyển bởi sức
gió vọng duyên, chẳng phải là “làm lễ, rời
đi” thật sự. Tự tánh vô trụ, trọn chẳng
có căn bản chính là “làm lễ, rời đi” thật sự).
Cuối
mỗi đoạn kinh văn, đại sư đều
có một đoạn bàn luận xứng tánh, thể lệ
này rất ít thấy trong các bản chú giải của cổ
đức. Cuối bản chú giải, Ngài kèm thêm chú Văng
Sanh. Đó là Hiển Mật viên dung. Có [phần luận
định] xứng tánh, tức là “Tông, Giáo viên dung, Tánh Tướng viên dung”.
(Sao)
Phiền năo bổn tịch, hoan hỷ diệc không, tắc
khổ độ thùy phi lạc độ.
(鈔)煩惱本寂,歡喜亦空,則苦土誰非樂土。
(Sao:
Phiền năo vốn vắng lặng, hoan hỷ cũng rỗng
không, có cơi khổ nào chẳng phải là cơi lạc).
Chân
Như bản tánh, chẳng lập một pháp. Lục Tổ
Huệ Năng đại sư nói rất hay: “Vốn chẳng có một vật”.
Phiền năo là một vật, hoan hỷ cũng là một vật,
vốn chẳng có! Há có uế độ, há có lạc độ
ư? Đây là nh́n từ chân tâm bản tánh.
(Sao)
Lai thật vô lai, khứ diệc hà khứ, tắc văng sanh tất
cánh vô sanh.
(鈔)來實無來,去亦何去,則往生畢竟無生。
(Sao: Đi th́ thật sự chẳng
đi, đến th́ cũng chẳng đến nơi
đâu, nên văng sanh mà rốt cuộc vô sanh).
Cổ
nhân có [Tịnh Độ] Sanh Vô Sanh Luận, trong ấy có
nói “Sanh th́ quyết định
sanh, mà đi th́ thật sự chẳng đi”. Kẻ học
Phật nông cạn, nghe những lời ấy bèn nẩy
sanh khá nhiều nỗi nghi hoặc, ta có c̣n nên tu học pháp
môn này hay chăng? Rốt cuộc trong tương lai có thể
văng sanh hay không? Nhất định phải hiểu rơ ràng.
Trong ấy có Lư, có Sự; sau khi Lư và Sự đă viên dung, mới
biết tâm tánh của chúng ta trọn khắp mười
phương pháp giới. Uế độ của Phật
Thích Ca là do tâm tánh của chúng ta biến hiện, Di Đà Tịnh
Độ vẫn do tâm tánh của chúng ta biến hiện.
Ĺa khỏi tâm tánh này, ở đâu có Thích Ca? Ở đâu có Di
Đà? Thảy đều ở trong một tự tánh, há có
đến, đi? Há có tịnh, uế? Đều chẳng
có. Nói theo tánh thể, th́ là thanh tịnh, là như nhau, vạn
pháp đều như một, chẳng có một pháp nào không
Như. Nói theo sự tướng, nói theo tác dụng, bèn có
sai biệt.
Chúng ta quyết
định phải văng sanh, nhất định phải ĺa
uế độ, giữ lấy Tịnh Độ. Biết
Thể, sẽ giúp cho quư vị khai ngộ, có thể giúp quư
vị ĺa khỏi hết thảy phân biệt, chấp
trước. Tốt đẹp ở chỗ này, tốc
độ thành tựu viên măn Bồ Đề mau chóng! Nếu
chấp trước “nhất định là có tịnh, uế”,
chẳng biết tâm và cảnh như một, tự và tha bất
nhị, hoàn toàn chấp trước nơi sự tướng,
tu chứng sẽ rất khó khăn. Giống như năm
mươi mốt tầng cấp Bồ Tát, hoặc Tứ
Quả, Tứ Hướng của Tiểu Thừa là do chấp
trước mà có, nếu ĺa khỏi hết thảy phân biệt,
chấp trước, bèn thuộc vào Đốn Giáo, đốn
siêu, chẳng vướng mắc nơi các tầng cấp.
(Sao)
Dĩ thử vô sanh, sanh bỉ quốc độ, phi sanh bỉ
độ, thật sanh hồ tự tâm dă. Nhiên hậu vô vấn
tự thuyết, Thế Tôn miễn phó không đàm, độc
nhiệm đương cơ, Thân Tử bất cô trọng
thác, thị chân hoan hỷ, thị chân tín thọ, thị
danh chân pháp tác lễ Như Lai.
(Diễn)
Phiền năo bổn tịch giả, thượng vân vô năo thị
hỷ nghĩa, thượng hữu hỷ tại. Hỷ
phi lạc độ dă. Kim tắc phiền năo bổn tịch,
hoan hỷ diệc không, tắc khổ độ thùy phi lạc
độ. Thượng vân vô trụ thị khứ
nghĩa, thượng hữu khứ tại, khứ phi văng
sanh dă. Kim tắc lai thật vô lai, khứ diệc hà khứ,
tắc văng sanh tất cánh vô sanh. Dĩ hữu sanh, sanh bỉ
độ giả, thị sanh bỉ độ, phi sanh tự
tâm dă. Dĩ vô sanh, sanh bỉ độ giả, phi sanh bỉ
độ, thật sanh tự tâm dă. Nhiên hậu vô vấn tự
thuyết, Thế Tôn miễn phó không đàm. Thử thượng
bất phụ hoằng pháp chi chủ. Độc nhiệm
đương cơ, Thân Tử bất cô trọng thác. Thử
hạ bất phụ thọ chúc chi nhân.
(鈔)以此無生,生彼國土,非生彼土,實生乎自心也。然後無問自說,世尊免付空談,獨任當機,身子不孤重託,是真歡喜,是真信受,是名真法作禮如來。
(演)煩惱本寂者。上云無惱是喜義。尚有喜在。喜非樂土也。今則煩惱本寂。歡喜亦空。則苦土誰非樂土。上云無住是去義。尚有去在。去非往生也。今則來實無來。去亦何去。則往生畢竟無生。以有生生彼土者。是生彼土。非生自心也。以無生生彼土者。非生彼土。實生自心也。然後無問自說。世尊免付空談。此上不負弘法之主。獨任當機身子不孤重託。此下不負受矚之人。
(Sao: “Dùng vô sanh để
sanh vào cơi nước ấy”: Chẳng sanh vào cơi ấy, mà
thật ra là sanh trong tự tâm. Sau đấy, chẳng hỏi
mà tự nói, đức Thế Tôn chẳng đến nỗi
[gặp cảnh] giao phó, bàn luận suông. Một ḿnh gánh lấy
trách nhiệm làm bậc đương cơ, ngài Xá Lợi
Phất chẳng cô phụ trọng trách được giao
phó. Đó là chân hoan hỷ, chân tín thọ, chân pháp lễ kính
Như Lai.
Diễn: “Phiền năo vốn vắng lặng”: Trong phần
trên có nói “vô năo” là ư nghĩa của Hỷ, [tức là] vẫn
c̣n có Hỷ, Hỷ th́ chẳng phải là cơi vui sướng.
Nay phiền năo vốn vắng lặng, hoan hỷ cũng là
không, nên có cơi khổ nào chẳng phải là cơi lạc? Trong
phần trước có nói “vô trụ là Khứ”, [tức là] vẫn
có Khứ tồn tại, Khứ th́ chẳng phải là văng
sanh. Nay th́ thật sự chẳng đến, đi cũng
chẳng về đâu, cho nên văng sanh rốt ráo là vô sanh. Dùng
“có sanh” để sanh vào cơi ấy, tức là sanh trong cơi ấy,
chẳng sanh trong tự tâm! Dùng vô sanh để sanh vào cơi ấy
th́ chẳng phải là sanh trong cơi ấy, mà thật sự là
sanh trong tự tâm. Sau đấy, chẳng hỏi mà tự
nói, đức Thế Tôn chẳng đến nỗi gặp
cảnh giao phó, bàn luận suông. Đó là trên th́ chẳng cô
phụ đấng hoằng pháp. Một ḿnh gánh lấy trách
nhiệm đương cơ, Thân Tử chẳng cô phụ
trọng trách được giao phó. Đấy là dưới
th́ chẳng cô phụ bậc nhận lănh lời phó chúc).
Sách
Diễn Nghĩa có chú giải mấy câu này, tuy văn tự
dùng để chú giải không nhiều, nhưng ư nghĩa rất
rơ ràng. Kinh này kể từ lúc khai kinh cho tới nay, những
lời lẽ bàn luận xứng tánh đă được
nói rất nhiều. Đối với đạo lư “tự tánh duy tâm”, dẫu chẳng
hiểu rơ mười phần, cũng chẳng đến
nỗi xa lạ. Đoạn này chính là đoạn khai thị
cuối cùng [cho phần chánh kinh], “sanh hồ tự tâm” (sanh trong tự tâm) là “tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh
Độ”. Đấy là nói theo Lư. “Nhiên hậu vô vấn tự thuyết” (Sau đấy,
chẳng có ai hỏi mà tự nói), chính là ḷng từ bi triệt
để, là ḷng đại từ bi viên măn trong tâm tánh tự
nhiên lưu lộ, c̣n cần phải có người đến
thưa hỏi hay chăng? Tự nhiên lưu lộ. Chúng ta
cũng phải học theo đức Phật, trong hết
thảy thời, hết thảy chỗ, chẳng cần
đợi người khác hỏi chúng ta, chúng ta sẽ chủ
động giới thiệu A Di Đà Phật với họ.
Người có trí huệ, có thiện căn, sẽ tự
nhiên tiếp nhận.
“Đương cơ” là tôn giả Xá Lợi Phất. Chữ Xá Lợi Phất (Śāriputra) dịch sang nghĩa tiếng
Hán là Thân Tử (身子). Ngài đại
diện cho mọi người chúng ta. Trong kinh, đức
Phật gọi ngài Xá Lợi Phất, chính là gọi bậc
đương cơ. Đối với pháp môn này và kinh
điển này, chúng ta có thể sanh tâm hoan hỷ, có thể
tin tưởng, có thể tiếp nhận, có thể y giáo phụng
hành, bản thân chúng ta là bậc đương cơ của
bản kinh này. Chúng ta tôn ngài Xá Lợi Phất làm đại
biểu, cho nên đức Phật gọi Ngài nhằm dạy
chúng ta. Đó là “chân hoan hỷ,
chân tín thọ”, đấy là “tác
lễ Như Lai” chân chánh, là lễ kính đức Phật.
(Sao)
Nhược kỳ ngoại Cực Lạc cửu liên chi
độ, biệt thuyết duy tâm, xả Di Đà vạn
đức chi danh, lánh cầu tự tánh, khả vị
đương độ nhi vấn tân, đối
đăng nhi mịch hỏa giả hỹ.
(Diễn)
Tuy nhiên, Lư phi Sự ngoại, Tánh tức Tướng biên.
Nhược kỳ ngoại Cực Lạc cửu liên chi
độ, biệt thuyết duy tâm, xả Di Đà vạn
đức chi danh, biệt cầu tự tánh, thị
đương độ vấn tân, đối đăng
mịch hỏa hỹ. Cố viết: “Bất thức bỉ
quan tân, cách giang do vấn thiệp, tảo tri đăng thị
hỏa, phạn thục dĩ đa thời”.
(鈔)若其外極樂九蓮之土,別說唯心,捨彌陀萬德之名,另求自性,可謂當渡而問津,對燈而覓火者矣。
(演)雖然。理非事外。性即相邊。若其外極樂九蓮之土。別說唯心。捨彌陀萬德之名。別求自性。是當渡問津。對燈覓火矣。故曰不識彼關津。隔江猶問涉。早知燈是火。飯熟已多時。
(Sao: Nếu ở
ngoài cơi Cực Lạc chín phẩm sen mà riêng nói duy tâm, bỏ
danh hiệu Di Đà vạn đức để cầu tự
tánh nào khác, có thể nói là đă vượt lên bờ mà c̣n
hỏi bến, đối trước đèn t́m lửa vậy.
Diễn: Tuy nhiên, Lư chẳng ở ngoài Sự, Tánh ở ngay
bên Tướng. Nếu ở ngoài Cực Lạc là cơi chín
phẩm sen mà nói tới một cái duy tâm nào khác, bỏ danh
hiệu Di Đà vạn đức để cầu tự
tánh khác, chính là đă vượt sông mà c̣n hỏi bến
đ̣, đối trước đèn mà đi t́m lửa! V́
thế nói: “Do chẳng biết cửa ải, bến sông trọng
yếu, cho nên đă qua khỏi sông mà vẫn hỏi chuyện
lặn lội, đă sớm biết đèn chính là lửa,
cơm đă chín từ lâu!”)
Câu
này nói đến những kẻ mê chấp, chẳng hiểu
Phật pháp, tưởng Tây Phương Cực Lạc thế
giới ở ngoài tâm tánh, chẳng bằng ḷng tiếp nhận
pháp môn này. Ngỡ ngoài kinh Vô Lượng Thọ, ngoài A Di
Đà Phật ra, c̣n có Chân Như tự tánh [khác biệt]. Thưa
cùng chư vị, lời lẽ ấy dường như
đúng, thật ra là sai, rất có thể sẽ khiến
cho kẻ khác mê hoặc! Cớ sao nói là dường như
đúng mà thật ra là sai? Ví như [ở trong] biển cả,
chúng ta lấy một chén nước từ biển cả.
Đấy là nước biển, chẳng sai! Chúng ta ĺa khỏi
chỗ này, t́m một chỗ khác [trong biển] để lấy,
vẫn có thể lấy được nước biển.
Đó là đa sự! Đều là như nhau, chẳng biết
“có chỗ nào không phải là biển” [cần ǵ phải bỏ
nơi này, t́m nơi kia]! Quư vị bảo nơi đây chẳng
phải [là biển], đến bên kia để t́m cầu
th́ bên kia chắc chắn cũng chẳng phải. Một
thứ đă là [Chân Như tự tánh], th́ hết thảy
đều là [Chân Như tự tánh]. Một thứ đă chẳng
phải th́ hết thảy đều chẳng phải. Chẳng
thể nói cái này là đúng, cái kia là sai, chẳng có [chuyện
đó]. Hiểu đạo lư này, tâm chúng ta bèn định, tín
tâm sẽ chẳng bị mê hoặc, nguyện vọng cầu
được văng sanh chẳng bị dao động bởi
các thứ ngôn thuyết của kẻ khác.
Kế đó là hai
tỷ dụ: “Đương
độ nhi vấn tân”, [nghĩa là] vượt sông,
đă đến bến đ̣ rồi mà c̣n hỏi: “Chúng ta
sẽ từ chỗ nào ngồi thuyền để vượt
qua?” [Thắc mắc] quá thừa! “Đối đăng nhi mịch hỏa”: Đèn
thuở xưa giống như đèn cầy vậy. Đèn
chính là lửa, đối trước đèn đi t́m lửa,
có thể suy ra mà biết kẻ ấy ngốc nghếch
dường nào! Dùng hai tỷ dụ ấy để chỉ
rơ ư nghĩa được nói trong đại kinh, “một tức là nhiều, nhiều
tức là một, Tánh và Tướng như nhau, Lư Sự bất
nhị”. Chúng ta phải t́m một phương pháp tu hành
khế cơ nhất, thích hợp nhất, thâm nhập một
môn. Hễ đạt được một pháp ấy th́ tất
cả hết thảy các pháp đều đạt được.
Hôm
nay, giảng đến chỗ này, [phần giảng giải
về chánh] kinh đă viên măn. Phần sau là chú. Chú vốn chẳng
thuộc vào kinh, Liên Tŕ đại sư đặc biệt
đem chú Văng Sanh ghép vào sau kinh này, nhằm dạy chúng ta: Hiển
Mật bất nhị, Hiển Mật viên dung. Một câu A
Di Đà Phật, không chỉ là kinh A Di Đà, hoặc kinh Vô
Lượng Thọ, mà c̣n là Bạt Nhất Thiết Nghiệp
Chướng Căn Bản Đắc Sanh Tịnh Độ
Đà La Ni Chú. Một câu A Di Đà Phật là chú, chẳng cần
phải hỏi là kinh hay là chú, cứ nắm chắc sáu chữ
hồng danh, quư vị sẽ thành tựu. Dụng ư của
lăo nhân gia ở ngay chỗ này. Hôm nay, tôi giảng tới
đây.
Tập
286
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang sáu trăm lẻ bảy:
Tam, kết
thích chú ư.
(Chú)
Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản
Đắc Sanh Tịnh Độ Đà La Ni.
三結釋咒意。
(咒)拔一切業障根本得生淨土陀羅尼。
(Ba, là kết luận bằng
giải thích ư nghĩa của bài chú.
Chú:
Đà La Ni để dẹp trừ căn bản của hết
thảy các nghiệp chướng, được sanh về
Tịnh Độ).
Trong
phần chú giải, Liên Tŕ đại sư đă bảo:
(Sớ)
Thích chú ư giả.
(疏)釋咒意者。
(Sớ: Giải thích
ư nghĩa của bài chú).
Giải thích chú
Văng Sanh. Chú vốn chẳng thuộc vào kinh Di Đà,
nhưng chú Văng Sanh cũng là dùng Mật pháp để chuyên
tu Tịnh Độ. Liên Tŕ đại sư ghép chú này vào
kinh là có dụng ư đặc biệt. Trong Sớ Sao, sau mỗi
đoạn, chúng ta đều thấy phần Xứng Lư.
Lư chính là cách giảng giải tâm tánh theo Thiền Tông. Xứng
Lư là bàn luận xứng tánh, thuộc về Thiền Tông. Do
vậy, phương thức chú giải của Ngài là “Thiền Tịnh bất nhị”.
Cuối bản chú giải lại thêm vào chú Văng Sanh, mang ư
nghĩa “Hiển Mật bất
nhị”. Do vậy, mới thấy Tịnh Tông thật sự
viên dung khôn sánh. Từ xưa đến nay, rất nhiều
bản chú giải chẳng theo thể lệ này. V́ thế,
đây là một phen khổ tâm của Liên Tŕ đại
sư lăo nhân gia, không ǵ chẳng nhằm mong mỏi chúng ta
ai nấy đều có thể tin hiểu, ai nấy đều
có thể niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, đó
là đại sự! Một ḷng đau đáu, chân thật từ
bi!
(Sớ)
Dĩ chú phụ kinh, kinh đắc chú nhi di hiển, dĩ
kinh tiên chú, chú đắc kinh nhi dũ linh, giao tương
vi dụng, ưng kết thích dă.
(疏)以咒附經,經得咒而彌顯,以經先咒,咒得經而愈靈,交相為用,應結釋也。
(Sớ: Dùng chú ghép vào
kinh, kinh nhờ chú mà càng thêm rơ rệt. Do đặt kinh
trước chú, chú nhờ kinh mà càng linh, sử dụng xen
lẫn với nhau, cho nên phải giải thích thần chú
để kết thúc [bản chú giải này]).
“Dĩ chú phụ kinh” [nghĩa
là] trước hết là giảng kinh, sau đấy, kèm
thêm chú, chú ở phía sau kinh. “Kinh đắc chú nhi di hiển”
(Kinh nhờ chú mà càng thêm rơ rệt), câu này nên nói như thế
nào? Chúng ta ắt cần phải biết: Thuở đức
Phật tại thế thuyết pháp là ứng theo căn
cơ để nói. Nếu đức Phật nói với
hàng sơ cơ (người mới học), đức Phật
sẽ nói rất rơ ràng, rất đơn giản, hoàn toàn
chẳng khó hiểu, khiến cho kẻ sơ cơ có thể
tiếp nhận. Người căn khí to lớn, thông minh, trí
huệ, có sức lănh ngộ rất mạnh, đức Phật
sẽ thuyết pháp khá thâm nhập. Nay chúng ta thấy đích
xác là khá sâu, thường là chúng ta thấy rất khó lư giải,
rất khó hiểu. Thông thường, khi nói đại kinh,
trên thực tế, nhục nhăn của chúng ta chẳng thấy:
C̣n có những vị quỷ thần, thiên long bát bộ
cũng tham dự pháp hội ấy. Đức Phật nói
với chúng ta là hiển thuyết! Phải dùng ngôn ngữ của
chúng ta để nói th́ chúng ta mới nghe hiểu. Những
vị quỷ thần đều có Ngũ Thông; do vậy,
hàng quỷ thần đều có thể hiểu ngôn ngữ
nhân gian. Họ cũng hết sức thích nghe đức Phật
giảng kinh, thuyết pháp. Trong một bộ kinh, sau khi
đă giảng viên măn, đức Phật thường dùng
chú. Chú ngữ hoàn toàn chẳng phải là tiếng Ấn
Độ, mà cũng chẳng phải là tiếng Phạn.
Trên thực tế, chú ngữ là ngôn ngữ của quỷ
thần. Đức Phật nói mấy câu ấy, nhằm
nói với những quỷ thần đến tham gia pháp hội,
dùng ngôn ngữ của họ để nói mấy câu. Nói
theo phía họ, [những câu ấy] hết sức thân thiết,
có ư nghĩa này. Nội dung đă nói [trong mấy câu “chú” ấy]
chính là cương lănh trong kinh. V́ thế, chú chính là mật
thuyết của kinh, kinh là hiển thuyết của chú, nội
dung thật ra như nhau. Một đằng nói rất tỉ
mỉ, một đằng là nêu ra cương lănh, giống
như giảng mấy đề mục, có ư nghĩa
như thế đó. Mật chú trong kinh Phật bèn trở
thành một loại thể lệ đặc biệt, trong
văn học thông thường của Ấn Độ chẳng
có.
Quỷ thần đối
với những kẻ b́nh phàm như chúng ta mà nói th́ có cảm
ứng. Thiện thần có cảm ứng với con người,
mà tà thần, ác quỷ cũng có cảm ứng với loài
người. Trong ấy có cát, hung, họa, phước sai khác
rất lớn. Sự cảm ứng ấy có phải là do
niệm chú bèn có cảm ứng hay không? Niệm chú là một
phương thức, nhưng chẳng phải là chủ yếu
nhất. Điều chủ yếu, nói theo cách hiện thời,
sẽ là “tâm điện cảm
ứng”, c̣n ở Trung Hoa, vào thời cổ th́ nói là “thành tắc linh”, [nghĩa là]
chí thành sẽ linh. Trong cái ḷng Thành ấy, rốt cuộc là
thiện hay ác chẳng nhất định! Chỉ nói đến
“thành” th́ trong Thành chẳng có thiện hay ác, nhưng trên
cơ sở ḷng Thành, nguyện cầu của chúng sanh có thiện
hay ác! Có người tâm địa rất từ bi, cầu
thiện phước cho hết thảy chúng sanh. Cái tâm ấy
là thiện lương. Có kẻ cầu quỷ thần chỉ
nhằm cầu lợi ích cho chính ḿnh, chẳng sợ tổn
hại kẻ khác. Cái tâm ấy chẳng lành. Do vậy, ḷng
Thành có thể cảm chư Phật, Bồ Tát, mà cũng có
thể cảm hết thảy thiện thần, cũng có
thể cảm hết thảy ác thần. Sau khi đă cảm,
trong sự nguyện cầu ấy bèn có thiện hay ác, có
cát, hung, họa, phước. Chúng ta chớ nên chẳng biết
điều này!
Kinh
và chú hợp lại, cũng như là nói “Hiển Mật viên dung”. V́ thế, nghĩa thú của
kinh phi thường “minh hiển”.
“Hiển” là hiển lộ. Tuy nói như vậy cũng
chẳng phải là nói sai, nhưng muốn thật sự nhằm
hiển lộ ư nghĩa của kinh, mà nếu tâm chúng ta chẳng
thành, sẽ chẳng thể hiển lộ được!
Nếu quư vị hỏi v́ sao ư? Câu “nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa” trong
bài kệ khai kinh phải giải thích như thế nào? Chỉ
là dùng suy nghĩ để hiểu, chẳng có cách nào đạt
được. Chúng ta đọc nhiều, nghiên cứu nhiều,
tư duy nhiều, có thể hiểu nổi hay chăng? Chẳng
thể hiểu! Do nguyên nhân ǵ? Ngôn ngữ của Phật và
hết thảy các kinh do đức Phật đă nói đều
là từ trong chân tâm tự tánh tự nhiên lưu lộ, chẳng
thêm vào mảy may phân biệt, tưởng tượng nào.
Chúng ta dùng cái tâm phân biệt, dùng cái tâm suy xét, làm sao có thể
thấu hiểu nghĩa chân thật cho được? Dụng
tâm chẳng tương ứng! Giống như nguồn
nước, nguồn nước của người ta là
nước trong, nguồn nước của chúng ta là nguồn
đục. Nước đục mong liễu giải nước
trong, chảy vào nước trong, nước trong cũng biến
thành đục. Nay chúng ta hiểu sai ư nghĩa chân thật
của Như Lai, hiểu cong quẹo nghĩa chân thật của
Như Lai, chẳng thể thật sự lư giải. Mong thật
sự lư giải, dùng phương pháp ǵ? Tâm thanh tịnh. Phật
tâm là thanh tịnh, tâm chúng ta cũng là thanh tịnh th́
được, quư vị bèn lư giải, bèn thông hiểu ư
nghĩa của Như Lai. Tâm giống như Phật tâm, giải
giống như Phật giải, th́ mới có thể tương
ứng. Nói tóm gọn một câu, nhất định phải
tu Định.
Trong tựa đề
kinh Vô Lượng Thọ của Tịnh Tông, nửa
trước dạy chúng ta ba đại cương lănh của
tu hành: “Thanh tịnh, b́nh đẳng,
giác”. Đối với ba đại cương lănh,
chúng ta chỉ cần nắm được một điều
là được rồi. Thí dụ như chúng ta tu tâm thanh
tịnh, tâm đă thanh tịnh, đương nhiên là b́nh
đẳng. Tâm chẳng b́nh đẳng, tuyệt đối
chẳng thể thanh tịnh. Tâm chẳng thanh tịnh, chắc
chắn chẳng thể nào giác. Ba điều ấy tuy một
mà ba, tuy ba mà một. Dụng công từ b́nh đẳng
cũng được, mà dụng công từ giác cũng
được, nhưng đối với hàng phàm phu nghiệp
chướng sâu nặng như chúng ta mà nói, dụng công từ
cái tâm thanh tịnh sẽ thuận tiện hơn, dễ
dàng hơn.
Tôi
khuyên dạy mọi người: Nhập Phật môn,
trước hết hăy đọc một bộ kinh suốt
ba năm, hết thảy những thứ khác đều
buông xuống. V́ sao phải làm như vậy? Nhằm tu cái
tâm thanh tịnh. Niệm một bộ kinh, tâm dễ dàng
thanh tịnh. Quư vị niệm nhiều, xem nhiều [bộ
kinh khác nhau], tự nhiên sẽ suy nghĩ loạn xạ. Nói
cách khác, lợi ích ǵ quư vị cũng đều chẳng
đạt được! Phật môn nói tới công đức:
“Công” (功) là công phu, “đức” (德) là đạt
được cái tâm thanh tịnh, đạt được
tâm b́nh đẳng, khai trí huệ. Giác là khai trí huệ. Trong
tâm quư vị có lắm nỗi vọng tưởng, chấp
trước, phân biệt ngần ấy, dẫu tu hành siêng
khổ cách mấy, vẫn là phiền năo một đống
to đùng! Vọng tưởng một đống to kềnh!
Hoàn toàn chẳng có trí huệ! Đó là “tu uổng công”, nói thật
ra, sẽ là “tu hành chẳng đắc pháp”.
Đối với
kẻ chẳng mong tu hành thật sự, chúng ta thấy họ
bèn cười cho xong chuyện. Đối với kẻ thật
sự muốn tu, họ đến gặp ta, ta sẽ dạy
họ phương pháp. Hôm nay có mấy người bạn
đến gặp tôi, trong đó, có một vị là Phật
tử học Mật, cũng học chẳng ít năm, kể
với tôi: “Vọng tưởng quá nhiều, phiền năo
quá nhiều, mong đè nén, nhưng chẳng đè nén
được! Niệm chú cũng không được, niệm
Phật cũng không được, xem kinh cũng không
được. Nói huỵch toẹt là chẳng biết làm
sao!” Tôi cười cho qua chuyện. Người ấy chẳng
phải là chân tâm! Đến chỗ tôi, thấy cuốn
sách này cũng thích, thấy tác phẩm kia cũng thích.
Người ấy thích quá nhiều thứ! Thứ ǵ
cũng đều chẳng buông xuống được.
Đó chẳng phải là người chân tu. Người thật
sự tu hành, không chỉ là hết thảy trong thế gian
này đều buông xuống, [ngay cả] Phật pháp cũng
phải buông xuống. Chọn một bộ kinh, thâm nhập
một môn, từ một bộ kinh mà thành tựu Giới,
Định, Huệ, thành tựu Căn Bản Trí. Đă
đạt được Căn Bản Trí, sau đấy
mới cầu giải. “Giải”
ấy sẽ là chánh giải, chẳng trở thành hiểu
cong quẹo, chẳng hiểu sai be bét! Quư vị chẳng có
Căn Bản Trí, nói cách khác, tâm quư vị chẳng thanh tịnh.
Đừng nói là quư vị xem kinh bèn hiểu cong vạy, mà quư
vị đến nghe giảng cũng nghe hiểu sai bét ư
nghĩa của tôi! Ngay cả ư nghĩa
do tôi nói mà kẻ ấy c̣n hiểu sai, làm sao kẻ ấy
chẳng hiểu sai be bét ư nghĩa của Phật, Bồ
Tát, tổ sư đại đức cho được?
Có thể thấy: Mấu chốt là ở chỗ dụng
tâm.
Nếu
muốn “kinh đắc chú nhi di hiển” (kinh nhờ có chú mà càng thêm rơ rệt),
chúng ta nhất định phải tu học đúng pháp, phải
tu cái tâm thanh tịnh chân thật. Tâm thanh tịnh khởi
tác dụng là trí huệ. Trong khá nhiều kinh luận, đức
Phật đă giảng về tâm hạnh của mười
pháp giới. Mười pháp giới dùng cái tâm ǵ? Tâm Phật
là “thanh tịnh, b́nh đẳng”.
Chúng ta mong học Phật, mong tu Tịnh Độ. Tịnh
Độ là pháp môn để phàm phu trực tiếp thành Phật.
Chúng ta đọc kinh, niệm Phật, nhằm mục tiêu
niệm cho ra sự “thanh tịnh,
b́nh đẳng, giác” nơi chính ḿnh. Thanh tịnh, b́nh
đẳng, giác vốn sẵn có, chẳng phải là do bên
ngoài mà có, nó là chân tâm, là bản tánh. Tâm Bồ Tát là Lục
Độ. Bồ Tát tuyệt đối chẳng có chính
ḿnh, sẽ không nghĩ tới “có chính ḿnh”. Nếu nghĩ
“có chính ḿnh”, kẻ ấy chắc chắn chẳng phải
là Bồ Tát. Kinh Kim Cang dạy: “Bồ
Tát có ngă tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng,
thọ giả tướng, tức chẳng phải là Bồ
Tát”, nói rất minh bạch. Bồ Tát quyết định
chẳng có chính ḿnh, khởi tâm động niệm đều
nghĩ tới hết thảy chúng sanh.
Bồ Tát nhập
thế, tiếp xúc đại chúng, nhất định là
phù hợp nguyên tắc Lục Độ. “Bố thí, tŕ giới”, tŕ giới là vâng giữ pháp
tắc. Bồ Tát nhất định sẽ tuân theo quy củ,
nhất định sẽ nương theo phương pháp chánh
xác để giáo hóa chúng sanh, chẳng bày ra những tṛ mới
mẻ, lạ lùng! “Nhẫn nhục”:
Quyết định có ḷng kiên nhẫn. Nhẫn nhục
độ sân khuể, nuôi dưỡng tâm từ bi, chẳng
oán hận, chẳng báo thù. “Tinh
tấn”, Tấn (進) là tiến bộ.
Hằng ngày cầu tiến bộ. Tinh (精) là thuần, chẳng
tạp, quyết định biểu hiện bằng thâm nhập
một môn. V́ người ấy muốn dạy người
khác, chính ḿnh phải nêu gương, dạy kẻ khác tu một
môn, mà chính ḿnh tu rất nhiều môn, người khác nh́n vào
sẽ dấy ḷng ngờ vực. Thiền Định: Trong
chẳng sanh phiền năo, ngoài chẳng bị cảnh giới
bên ngoài dụ dỗ, mê hoặc. “Bát
Nhă” là lư trí, nay chúng ta nói là lư tánh. Người ấy chẳng
dấy động cảm t́nh, hết sức tỉnh táo,
b́nh tĩnh, thấy hết thảy Sự Lư rơ ràng, rành rẽ.
Bồ Tát quyết định phù hợp sáu nguyên tắc ấy.
Người thật
sự tu hành, tâm biến đổi, tâm mỗi ngày một thanh
tịnh hơn, ngày một từ bi hơn, ngày càng tăng
trưởng trí huệ, phiền năo nhẹ bớt. Trí huệ
tăng trưởng, tướng mạo ngày càng viên măn
hơn, ngày càng tươi sáng hơn. Tướng chuyển
theo tâm. Từ dung mạo và oai nghi của người ấy,
có thể nh́n ra [những điều đó], chẳng phải
là giả vờ, mà là tự nhiên. Nếu thấy người
tu hành khoe là tu hành rất khá, mà thấy kẻ ấy mặt
mũi tối om, oai nghi thiếu trang nhă, bèn biết: Dẫu
người ấy hết sức dụng công, cũng là
đă đi lạc đường, tu hành chẳng đúng
pháp! Nếu thật sự khế nhập Phật pháp, xác
thực là “phá mê, khai ngộ, ĺa khổ, được vui”,
sẽ ngày càng vui sướng hơn, mỗi năm một
vui sướng hơn! Đó là người ấy thật
sự đạt được pháp hỷ, công phu đắc
lực. Nếu học Phật mà ngày càng khổ năo hơn,
hăy khéo kiểm điểm, phản tỉnh! Chẳng phải
là Phật pháp sai lầm, mà là chính ḿnh đă phạm sai lầm.
“Dĩ kinh tiên chú”: Trước
là giảng kinh, sau lại nói chú. Đức Phật thuyết
pháp trong nhân gian, đương nhiên là trước hết
phải quan tâm đến loài người, sau đó mới
chiếu cố quỷ thần. Trong nhân gian, [đức Phật
thuyết pháp là] v́ loài người mà thuyết pháp, quỷ
thần tới nghe ké, là kẻ kèm theo. Nếu đức Phật
thuyết pháp trên cơi trời, sẽ lấy chư thiên làm
[đối tượng] chủ yếu.
“Chú đắc kinh nhi dũ linh” (Chú nhờ vào kinh
mà càng linh). Chúng ta đọc kinh có hai cách đọc, [nhằm
đạt tới] hai loại mục đích:
1) Loại thứ
nhất là chúng ta cầu Căn Bản Trí. Đọc theo kiểu
này là cung kính, mở quyển kinh ra, từ “như thị ngă văn” một mực niệm
đến chữ cuối cùng là “tín
thọ phụng hành”, chẳng đọc sai chữ nào,
từng chữ rơ ràng, chẳng cần mong hiểu, cứ cung
kính niệm, chẳng có vọng tưởng, chẳng có
phân biệt, chẳng có chấp trước, chẳng có
hoài nghi. Đọc kinh kiểu đó là tu Định, tu Căn
Bản Trí. Căn Bản Trí là như kinh Bát Nhă đă nói: “Bát Nhă vô tri”. Chúng ta tu vô tri. Nếu
khi đọc kinh, ngẫm nghĩ câu này nghĩa là ǵ, đoạn
kia giải thích như thế nào, hỏng mất rồi. Mục
đích đọc kinh đă bị phá hỏng, quư vị coi
kinh điển như sách thế gian để đọc,
chẳng đạt được hiệu quả. V́ chúng
ta đọc kinh nhằm tu Định. Đọc một tiếng
đồng hồ là tu Định một tiếng đồng
hồ. Phương pháp để tu Định rất nhiều.
Chẳng hạn như Thiền Tông là tĩnh tọa quán
tâm, hoặc tham thoại đầu, Giáo Hạ dùng
phương pháp đọc kinh. Tịnh Độ Tông có khi
dùng đọc kinh, có khi dùng niệm Phật. Mật Tông tŕ
chú, đều là những phương pháp để tu Căn
Bản Trí. Phương pháp rất nhiều, tám vạn bốn
ngàn pháp môn, vô lượng pháp môn. “Pháp” (法) là phương pháp, “môn” là “môn kính” (門徑, đường
nẻo, cửa ngơ), thảy đều là tu Định.
Chúng ta chỉ cần chọn lấy một hoặc hai thứ,
rất thích hợp với cách sống của chính ḿnh trong
hiện thời, chúng ta tu tập rất thuận tiện
th́ được rồi. Đọc kinh là tu Định,
chẳng khác ǵ người ta tĩnh tọa trong Thiền đường,
quyết định chớ nên có vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước, [hễ có vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước] th́ sai mất rồi!
Chúng ta đọc trong hai tiếng đồng hồ tức
là tu hai tiếng đồng hồ. Đó là phương
pháp thứ nhất.
2) Phương
pháp thứ hai, thâm nhập sâu hơn một tầng, chính là
“tùy văn nhập quán”. Ắt
cần phải là đă đắc Căn Bản Trí, đă đắc
Định th́ mới có năng lực này. Chẳng đắc
Định, chẳng có năng lực này! Đă đắc
Định, sẽ có năng lực dung hợp lư luận
và cảnh giới do đức Phật đă giảng trong
kinh với cái tâm của chính ḿnh thành một Thể. Đọc
kinh Di Đà, bèn đạt đến thế giới Cực
Lạc, y báo và chánh báo trang nghiêm trong thế giới Tây
Phương cùng với thân tâm của chính ḿnh dung hợp
thành một khối. Cảnh giới ấy cao lắm, lợi
ích hết sức to tát.
“Chú đắc kinh nhi dũ linh” (chú nhờ có kinh
mà càng linh): Chú là mật thuyết, kinh là hiển thuyết.
Bất luận là kinh hay chú, thảy đều dung hợp
với tâm và cảnh của chính ḿnh thành một khối.
Đấy là công phu chân thật. Tâm nguyện giải hạnh
chẳng khác A Di Đà Phật, hoàn toàn dung hợp thành một
khối. Đó là cách đọc thứ hai.
Hiện thời,
chỉ sợ là đại đa số chúng ta cả hai
cách đọc ấy đều chẳng có. V́ thế, quư vị
học rất lâu, công phu chẳng đắc lực. Nguyên
nhân ở chỗ nào? Chẳng biết dụng tâm, áp dụng
sai phương pháp. Quư vị hăy nghe kinh, nghe một thời
gian lâu dài. Mỗi lần nghe kinh đều nhằm nhắc
nhở quư vị một lần, huân tập một lần.
Có thể thấy là sức mạnh của phiền năo tập
khí quá lớn, một chút huân tập yếu ớt của
chúng ta chẳng thể chống nổi! Cảnh giới vừa
hiện tiền, ngay lập tức mê muội. Không chỉ là
mê trong cảnh giới b́nh thường, đang trong khi
đọc kinh cũng mê luôn, đang niệm Phật
cũng mê, chuyện này khó lắm! Đại sư nói “giao tương vi dụng” tức
là kinh và chú cùng phối hợp. Ư nghĩa này hết sức
hay!
(Sớ)
Thử chú tường kiến Bất Tư Nghị Thần
Lực Truyện.
(疏)此咒詳見不思議神力傳。
(Sớ: Xem chi tiết
về chú này trong Bất Tư Nghị Thần Lực Truyện).
Đây
là nêu ra xuất xứ của chú Văng Sanh. Nó chẳng ở
trong kinh Di Đà, mà cũng chẳng ở trong kinh Vô Lượng
Thọ. Trong ba kinh Tịnh Độ đều chẳng có
chú này. Nó xuất phát từ bộ sách Bất Tư Nghị
Thần Lực Truyện[4].
(Sớ)
Tŕ thử chú giả, diệt tội văng sanh, cố dĩ Bạt
Nghiệp Chướng Sanh Tịnh Độ vi danh.
(疏)持此咒者,滅罪往生,故以拔業障生淨土為名。
(Sớ:
Người tŕ chú này sẽ được diệt tội,
văng sanh. V́ thế, lấy Bạt Nghiệp Chướng
Sanh Tịnh Độ làm tên).
Đức
Phật nói rất rơ ràng, rất minh bạch: Nếu chuyên
tu pháp môn này, chuyên tŕ chú Văng Sanh, xác thực là có thể diệt
tội, xác thực là có thể được Phật tiếp
dẫn, văng sanh Tây Phương. Trong Ngũ Kinh Độc Bản
của chúng ta có bao gồm cả chú này. Có lẽ chư vị
đă xem thấy, kinh nói rất rơ ràng: Niệm chú Văng Sanh ba
mươi vạn lần, sẽ cảm được A
Di Đà Phật hiện tiền. Trong quá khứ, tại
đạo tràng của chúng ta, lăo cư sĩ Trương
Linh, bài hát Tổng Thống Kỷ Niệm Ca[5] do
cụ viết lời. Hai vợ chồng cụ hằng
ngày đều tới nghe tôi giảng kinh. Cụ thấy
câu “niệm chú Văng Sanh ba
mươi vạn lần, sẽ cảm được Phật
hiện tiền”, bèn nghiêm túc niệm mỗi ngày. Niệm
đủ ba mươi vạn lần xong, cụ đến
nói với tôi: “Pháp sư ơi! Chẳng linh! Đức Phật
chẳng hiện tiền, cảm ứng ǵ cũng chẳng
có”. Đấy là tạo tội rất nặng. V́ sao? Báng
pháp! Chẳng phải là chú không linh, mà là do quư vị [tŕ niệm]
chẳng đúng pháp.
Quư vị niệm
chú này, trước hết phải hỏi có diệt tội
hay không? Tội là ǵ? Vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước, phiền năo; đó là tội. Suốt ngày từ
sáng đến tối miệng luôn niệm chú ngữ, vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước thảy
đều chẳng sanh, tội bèn diệt. [Tŕ tụng] ba
mươi vạn biến chú Văng Sanh phải mất một
thời gian khá dài. Trong thời gian dài ngần ấy, quư vị
chẳng khởi một vọng niệm, kinh nói là “nhất tâm bất loạn, tâm chẳng
điên đảo” th́ mới hữu dụng, mới có
cảm ứng. Vừa niệm chú Văng Sanh, vừa dấy vọng
tưởng, làm sao được? Đó là chẳng
đúng pháp.
Vô
lượng pháp môn, đặc biệt là pháp môn Đại
Thừa, mục đích là minh tâm kiến tánh. Lư nhất tâm
bất loạn trong Tịnh Tông chính là minh tâm kiến tánh, sử
dụng danh từ chẳng giống Thiền Tông, nhưng cảnh
giới hoàn toàn giống nhau. Họ nói “đại triệt đại ngộ, kiến tánh
thành Phật”, chúng ta nói “Lư nhất
tâm bất loạn, văng sanh cơi Thật Báo Trang Nghiêm”,
đó chính là kiến tánh thành Phật. Có thể thấy
nguyên lư giống nhau, nhất định phải làm
được “tịnh niệm
tiếp nối”, “tịnh”
là tâm thanh tịnh. Lục Tổ của Thiền Tông có nói: “Vốn chẳng có một vật”.
Trong tâm quư vị chẳng có một vật nào, cái tâm ấy
chính là tâm thanh tịnh hiện tiền. Nếu quư vị hiểu
lầm, trong tâm thứ ǵ cũng chẳng có, “thứ ǵ cũng chẳng có”
chính là vô minh! Ngỡ vô minh là “vốn
chẳng có một vật”, lại phạm sai lầm mất
rồi! Chớ nên có mảy may hiểu
lầm!
Tâm Phật
thanh tịnh, xác thực là chẳng có ư niệm. Tuy Phật
chẳng có ư niệm, nhưng Ngài chẳng có ǵ không hiểu
rơ, đó gọi là “tịch tịch
tinh tinh” (寂寂惺惺). “Tịch” là thanh tịnh, tịch
diệt, “tinh” (惺) là chiếu soi
rành mạch, chẳng có ǵ không hiểu rơ. Đấy mới
là chân tâm. “Tịch” là chẳng
rơi vào vọng tưởng, chẳng có vọng tưởng.
“Tinh” là chẳng rơi vào vô
minh. Chẳng rớt vào hai bên, đó là chân tâm. Bọn phàm
phu chúng ta rất tệ, chẳng đọa vào bên vọng
tưởng, bèn đọa vào bên vô minh. Đấy chính là
nhân tố khiến cho công phu tu hành của chúng ta rất khó
có thành tựu. Chúng ta đọc kinh chính là chiếu theo nguyên
lư này để chọn lựa phương pháp tu hành. Ví
như chúng ta niệm kinh Di Đà, kinh Di Đà chẳng dài.
Chúng ta đọc kinh, đọc từng chữ phân minh, từng
câu rành rẽ, chẳng rơi vào vô minh. Khi đọc kinh, chẳng
có một tạp niệm, chẳng có một vọng tưởng,
tâm địa thanh tịnh, tịch diệt, phương
pháp ấy đă sử dụng đúng. V́ thế, đọc
kinh chớ nên có phân biệt, chớ nên có vọng tưởng,
chớ nên suy nghĩ ư nghĩa trong kinh. Điều này rất trọng yếu!
Đọc
kinh là thật sự tu hành, là thật sự cúng dường.
C̣n có những kẻ mê hoặc, điên đảo, ngỡ
ta đọc kinh là đọc cho Phật, Bồ Tát nghe; Phật,
Bồ Tát thấy ta rất ngoan ngoăn, sẽ phù hộ ta. Ta hằng
ngày niệm kinh cho Ngài nghe. Đấy là hồ đồ,
sai lầm quá đỗi! Kinh do Phật, Bồ Tát nói, các Ngài c̣n
phải nghe những thứ ấy hay sao? Các Ngài mới chẳng
cần nghe! V́ thế, đây là một phương pháp tu
hành hết sức hay, [thế mà] chúng ta chẳng biết
dùng phương pháp này, hiểu sai phương pháp, cho nên
hiệu quả đạt được thường là tương
phản!
V́
thế, để diệt tội, phải hiểu tội
là ǵ? Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước,
phiền năo là tội. Thật sự có hiệu quả là những
thứ ấy bớt đi: Ít vọng tưởng, phiền
năo nhẹ bớt, đó là hiện tượng tội tiêu
diệt. Sau khi niệm ba mươi vạn biến chú Văng
Sanh, tâm xác thực đạt tới mức độ khá
thanh tịnh, chúng tôi thường nói: “Dẫu chẳng thể
đạt đến nhất tâm bất loạn, tối
thiểu cũng là công phu thành phiến”. Có công phu ấy, chắc
chắn được văng sanh. Kinh nói chẳng sai, nhưng
chính ḿnh chẳng biết dụng công. Hôm nay niệm một
ngàn lần chú Văng Sanh, ghi xuống, hôm nay ta niệm một
ngàn lần, ngày mai ta phải niệm hai ngàn lần. Quư vị
thấy: Niệm kiểu đó, trong tâm xen tạp vọng
tưởng nhiều ngần ấy, xen tạp dục vọng
nhiều ngần ấy, nhất là cái tâm cầu cảm ứng,
tâm cầu thần thông tha thiết dường ấy. Kể
ra người ấy c̣n may lắm, chưa gặp phải yêu
ma, quỷ quái! Phàm những kẻ cầu thần thông, cầu
cảm ứng, đều rất dễ bị ma nhiễu
loạn, bị yêu ma quỷ quái tới lừa phỉnh! Diệt
tội, văng sanh, chú thật sự có công hiệu ấy, có
công đức ấy!
(Sớ) Đà-la-ni giả, thử vân tổng tŕ dă.
(疏)陀羅尼者,此云總持也。
(Sớ: Đà La Ni cơi
này dịch là Tổng Tŕ).
“Đà La Ni” (Dhāraṇī) là tiếng Phạn, dịch
sang tiếng Hán là Tổng Tŕ: “Tổng
nhất thiết pháp, tŕ nhất thiết nghĩa” (Bao gồm
hết các pháp, tŕ hết thảy các nghĩa), cũng chính
là “cương lănh” như
chúng ta nói trong hiện thời. [Tổng tŕ] là cương
lănh của Phật pháp.
(Sao)
Nghiệp chướng giả, phàm chướng hữu tam,
nhất Phiền Năo Chướng, nhị Nghiệp Chướng,
tam Báo Chướng.
(鈔)業障者,凡障有三,一煩惱障,二業障,三報障。
(Sao: Nghiệp chướng:
Phàm là chướng th́ có ba: Một là Phiền Năo Chướng,
hai là Nghiệp Chướng, ba là Báo Chướng).
Các
đồng tu học Phật, nhất định phải
hiểu rơ nghiệp chướng là ǵ? “Chướng” (障) là chướng
ngại, chướng ngại ǵ vậy? Chướng ngại
chân tâm, chướng ngại bản tánh. Chướng này
cũng rất nghiêm trọng. Chướng là ǵ? Nghiệp là
chướng. Nghiệp là ǵ? Nghiệp là sự nghiệp. Kẻ
nào chẳng thích tạo sự nghiệp? Hy vọng sự
nghiệp của chính ḿnh càng to càng tốt. Sự nghiệp
càng to, chướng cũng lớn, phiền năo cũng lớn.
Đời người ngày càng rất đáng thương!
Hễ vào trường học hành th́ nhà trường cho bài
tập, phải làm xong bài tập[6]. Kể
từ nhập học bèn bắt đầu làm bài tập, làm
măi cho đến chết vẫn làm không xong. Đó là tạo
nghiệp. Con người v́ sao chẳng thoát khỏi lục
đạo luân hồi? Chính là v́ họ đă tạo nghiệp
chưa hề gián đoạn, dốc hết tánh mạng để
tạo. Tạo thiện nghiệp, đầu thai trong ba thiện
đạo; tạo ác nghiệp, thọ báo trong ba ác đạo,
luân hồi trong lục đạo. Ngày nào chúng ta có thể
chẳng tạo nghiệp, vậy là tốt.
Chiều nay c̣n có
mấy đồng tu đến gặp tôi, họ đến
đây lần đầu, [trong số ấy], có vị xuất
gia lăo tỳ-kheo-ni, rất phát tâm, chính ḿnh ăn tiêu dè sẻn
để đi khắp nơi, giúp người khác dựng
chùa, bỏ tiền, ra sức. Bà ta cũng đă tám
mươi bốn tuổi rồi. Tôi khuyên bà ta niệm Phật,
chớ nên tạo nghiệp ấy nữa. Dựng chùa là tạo
nghiệp ư? Quư vị hăy nghĩ xem có phải là tạo
nghiệp hay không? Đài Loan có quá nhiều chùa, không cần
dựng thêm nữa. Điều khẩn yếu là phải
niệm Phật cầu văng sanh! Không chỉ là chớ nên tạo
ác nghiệp, mà thiện nghiệp cũng chớ nên tạo!
V́ quư vị tạo tác, nói thật ra, dẫu tạo tác mà
tâm địa vẫn thanh tịnh, th́ chính là bậc Bồ
Tát tái lai, chẳng phải là phàm phu. Vào thời cổ, tại
Trung Hoa, các đạo tràng được kiến lập,
thưa cùng chư vị, chẳng phải là do phàm phu tạo
dựng, mà đều là do Phật, Bồ Tát, A La Hán hóa thân
kiến tạo. Phàm phu là tạo nghiệp, làm sao có thể
thoát khỏi tam giới cho được? Làm sao có thể
liễu sanh tử cho được? Chư Phật, Bồ
Tát “làm mà không làm, không làm mà làm”,
các Ngài đến tạo lợi ích cho chúng sanh, đến
giúp đỡ chúng sanh. Do vậy, [tạo dựng đạo
tràng] đều do Phật, Bồ Tát ứng hóa mà đến.
Nay bản thân chúng ta là phàm phu, chẳng phải là Phật,
Bồ Tát tái lai! Học theo sự nghiệp của Phật,
Bồ Tát, chúng ta sẽ hỏng bét!
Vị lăo tỳ-kheo-ni
ấy đă tám mươi bốn tuổi, tu hành hết sức
nghiêm túc, buổi sáng vẫn thức dậy rất sớm.
Chính ḿnh c̣n làm duy-na, âm thanh xướng tụng vẫn c̣n
sang sảng, đúng là khó có. Hôm nay, tôi gặp bà ta rất
hoan hỷ, tám mươi mấy tuổi mà có thân thể khỏe
mạnh dường ấy, rất khó có! Bà ta bảo tôi: Nhất
tâm mong cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới,
nhưng cháu của bà chẳng ít, chẳng buông xuống
được, vẫn bận ḷng v́ đứa này, lo lắng
cho đứa nọ. C̣n có đứa ở ngoại quốc,
thường hỏi thăm t́nh h́nh hiện tại ra sao.
Trong tâm vướng mắc những chuyện ấy. Hôm
nay, tôi bảo bà ta: “Đó là nghiệp chướng, toàn là
ma, là ma chướng, khiến cho bà chẳng thể văng
sanh!” Bà ta hỏi: “Làm như thế nào?” [Tôi đáp]: “Hăy
buông xuống, chẳng cần lo cho chúng nó. Bà hăy nhất
tâm, nhất ư niệm Phật cầu về Tây Phương
Cực Lạc thế giới”. [Bà ta than]: “Chẳng bỏ
con cháu được”. Tôi nói: “Bà tới thế giới Tây
Phương th́ bà là Bồ Tát. Con cháu của Bồ Tát sẽ
được Bồ Tát chiếu cố, sẽ có thần
hộ pháp che chở, chiếu cố chu đáo hơn bà nhiều
lắm! Nếu bà chẳng thể văng sanh, sẽ phải
luân hồi trong lục đạo. Con cháu bà ai cũng chẳng
chiếu cố được, mà chính bà cũng chẳng có
cách nào cả!” Hôm nay, bà ta nghe hiểu rồi, rất hoan hỷ
rời đi. Tôi nói toàn lời thật với bà ta! V́ thế,
[nghiệp chướng chính là] đă nghĩ sai, đă làm
sai. Há có quyến thuộc của vị Phật, Bồ Tát nào
mà chẳng có ai chiếu cố? Chẳng có lẽ ấy! Kẻ
tạo tội nghiệp cực nặng, c̣n có thần hộ
pháp chiếu cố. Nhà Phật thường nói: “Một đứa con thành Phật,
tổ tiên chín đời sanh lên trời”, toàn là lời
thật, chẳng phải là gạt người! Quư vị
mong thật sự chiếu cố người nhà, quyến
thuộc của chính ḿnh, biện pháp tốt đẹp duy
nhất là nhất tâm nhất ư cầu sanh Tịnh Độ,
gặp A Di Đà Phật, chuyện ǵ cũng đều
được giải quyết! Nếu quư vị chẳng
thể sanh về Tịnh Độ, những vấn đề
của quư vị sẽ tuyệt đối chẳng phải
là tưởng tượng, quư vị phải hao tâm tổn
trí giải quyết. Học Phật phải có trí huệ.
Nghiệp
chướng có ba loại lớn. Nói thật ra, nghiệp
chướng vô lượng vô biên. Ba loại lớn ấy
chính là Hoặc, Nghiệp, Khổ như kinh thường
nói. “Hoặc” (惑) là mê hoặc, “Nghiệp” (業) là tạo tác, “Khổ” (苦) là thọ báo. Tam
Chướng là Phiền Năo Chướng, Nghiệp Chướng
và Báo Chướng. Đối với phiền năo, chúng ta
không nói những cái nhỏ nhiệm, mà nói những phiền
năo thô. Phiền năo nhỏ nhiệm rất khó hiểu! Phiền
năo thô là hai mươi sáu loại phiền năo được
nói trong Bách Pháp Minh Môn Luận, [bao gồm] sáu Căn Bản
Phiền Năo và hai mươi Tùy Phiền Năo. Hai mươi
sáu phiền năo ấy tạo thành lục đạo luân hồi.
Nếu hai mươi sáu món phiền năo ấy đều
đoạn, chẳng c̣n nữa, lục đạo luân hồi
sẽ chẳng có! Đừng nói quư vị phải thoát ra
như thế nào, tới khi đó, lục đạo luân hồi
cũng t́m chẳng thấy! V́ thế, cái có thể tạo
ra lục đạo luân hồi chính là hai mươi sáu món
phiền năo ấy. Do đó, phiền năo là chướng; trong
có phiền năo, bên ngoài bèn tạo tác. Đọc bài kệ
sám hối trong phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm,
[ta thấy] tạo những ǵ? Thân, ngữ, ư. Động
tác nơi thân thể là tạo tác; nơi miệng là ngôn ngữ,
nơi ư là ư niệm. Khởi tâm động niệm là ư đang
tạo nghiệp, nói năng là khẩu đang tạo nghiệp,
động tác nơi thân thể là thân tạo nghiệp. Phiền
năo biểu hiện, tỏ lộ qua thân, ngữ, ư nghiệp,
khởi tác dụng. Thân, ngữ, ư là công cụ để phiền
năo tạo nghiệp, chúng ta phải biết điều này.
Chúng ta thời thời khắc khắc phải cảnh
giác, nương theo những điều đức Phật
răn dạy, chẳng tạo ác nghiệp, đó là tốt.
Đă có tạo
tác, sau đó, nhất định là có quả báo. Thiện
nhân sẽ có thiện quả, tức ba thiện đạo.
Ác nhân nhất định có ác báo, là tam đồ, tức
địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Từ đời
đời kiếp kiếp trong vô lượng kiếp
đến nay, chúng ta đều chẳng có cách nào ĺa thoát
luân hồi, đều trôi lăn trong lục đạo. Lại
c̣n mỗi đời sau thua kém đời trước. Ở
trong lục đạo, giống như con ốc một mực
xoáy xuống dưới, càng ngày càng thấp hơn, chẳng
thể vặn lên trên. Do nguyên nhân nào? Chúng ta tạo ác nghiệp
nhiều hơn thiện nghiệp, từ đời này sang
đời kia tích lũy lại, càng ch́m đắm sâu
hơn, chẳng thể nổi lên trên! Đối với sự
thật này, chỉ cần chúng ta lắng ḷng suy nghĩ
đôi chút, suy ngẫm, chẳng cần nghĩ ngợi xa
xôi, chỉ nghĩ mỗi ngày từ sáng đến tối,
ta khởi tâm động niệm, dấy lên bao nhiêu thiện
niệm? Dấy lên bao nhiêu ác niệm? Quư vị biết
ngay! Thiện niệm là ǵ? Ác niệm là ǵ? V́ hết thảy
chúng sanh, v́ đại chúng trong xă hội mà tạo lợi
ích th́ chính là thiện niệm. V́ chính ḿnh, v́ cá nhân, v́ gia
đ́nh ta, đó là ác niệm. Quư vị khởi lên ư niệm,
rốt cuộc ư niệm nào nhiều? Ư niệm v́ chính ḿnh
nhiều, nói cách khác, quư vị ngày càng đọa xuống,
chẳng phải là nổi lên trên! Điều này cho thấy
lục đạo luân hồi đáng sợ, thật sự
đáng sợ! Chúng ta ở trong lục đạo mỗi đời
một kém hơn, mỗi đời một khổ hơn.
Đó là chân tướng sự thật, chẳng thể nào
không biết!
(Sao)
Kim ngôn Nghiệp Chướng.
(鈔)今言業障。
(Sao:
Nay nói đến Nghiệp Chướng).
Rơ
ràng là Tam Chướng, Ngài chẳng nói “bạt trừ Tam Chướng, sanh Tịnh Độ”,
chỉ nói “bạt trừ Nghiệp
Chướng”.
(Sao)
Tắc trung nhiếp tiền hậu.
(鈔)則中攝前後。
(Sao:
V́ cái chướng chính giữa bao gồm chướng
trước và sau nó).
Trong Tam Chướng,
Nghiệp Chướng ở chính giữa. Chẳng có phiền
năo, sẽ không thể tạo nghiệp. Chẳng tạo
nghiệp, sẽ chẳng có báo. Do vậy, Nghiệp Chướng
ở chính giữa, liên quan đến [hai loại] chướng
trước và sau nó. Nói theo nhân, duyên, quả, th́ nghiệp
là nhân, báo là quả, phiền năo là duyên. Cái liên quan mật
thiết với quả báo th́ gọi là Nhân, cái liên quan gián
tiếp bèn gọi là Duyên. Quan hệ giữa nghiệp và quả
báo mật thiết nhất, chứ phiền năo c̣n cách biệt
một tầng. Giống như cha con, cha là nhân, ông nội
là duyên, xa hơn một chút! Đối với Tam Chướng,
nói đến Nghiệp Chướng là hợp lư nhất.
(Sao)
Phiền năo giả nghiệp chi nhân, báo giả nghiệp chi
quả dă. Nghiệp tất hữu nhân, nghiệp tất
chiêu quả, cố nhiếp nhị chướng.
(鈔)煩惱者業之因,報者業之果也,業必有因,業必招果,故攝二障。
(Sao: Phiền năo là
nhân của nghiệp, báo là quả của nghiệp. Nghiệp
ắt có nhân, nghiệp ắt chuốc lấy quả. V́ thế,
Nghiệp Chướng bao gồm hai thứ chướng
kia).
Nói
một ḿnh Nghiệp Chướng là đă bao gồm phiền
năo trước đó và quả báo sau đó.
(Sao)
Trừ chướng quư trừ kỳ bổn, như căn
tuyệt bất sanh nha. Nha bất sanh, tắc chi, diệp,
hoa, quả tất bất sanh cố.
(鈔)除障貴除其本,如根絕不生芽,芽不生,則枝葉華果悉不生故。
(Sao: Trừ chướng
quư ở chỗ trừ tận gốc, như rễ đă
đứt chẳng thể nẩy mầm. Mầm chẳng
nẩy th́ cành, lá, hoa, quả ắt chẳng sanh nữa).
“Trừ chướng”: Có kẻ
trừ nơi cành lá, có người trừ nơi cội rễ,
tùy thuộc căn tánh của mỗi người. Bậc
thượng thượng căn, hàng lợi căn, biết
tu từ căn bản, biết đổ công dốc sức
từ căn bản. Kẻ căn cơ trung hạ chẳng
hiểu rơ đạo lư này, cũng chẳng có cách nào tu từ
căn bản. Đức Phật bèn dạy họ tu từ
nơi cành lá. Ví như chúng ta thấy một cái cây, chúng ta
chẳng muốn cái cây ấy. Người thông minh trừ
tận gốc rễ, đào rễ lên, cây đă được
bỏ đi rồi. Người ngốc nghếch bèn vặt
từng chiếc lá, sau đó, xén từng cành, từng nhánh, cuối
cùng mới dần dần trừ tận gốc rễ cây ấy.
Quư vị nói xem: [Có phải là] tốn lắm công sức, tốn
nhiều thời gian hay không? Trong Phật pháp gọi chuyện
này là “tiệm tu”. Tiệm tu
là dùng phương pháp này, đổ công dốc sức
nơi cành, lá.
Phương pháp
tu hành ở mức độ cao là đổ công dốc sức
nơi căn bản. Thiền là từ căn bản. Thiền
có hai hệ phái lớn: Thần Tú và Huệ Năng đại
sư. Đối tượng tiếp dẫn của Thần
Tú đại sư là người căn tánh Đại Thừa,
vẫn là từ cành, nhánh. Lục Tổ Huệ Năng
đại sư tu tập từ căn bản, Ngài tiếp
dẫn bậc thượng thượng căn. Tịnh
Độ Tông là tu từ căn bản, phải biết
điều này. Mật Tông có kẻ tu từ căn bản,
mà cũng có kẻ tu từ cành, lá, cho nên thành tựu khác
nhau. Tịnh Tông th́ bất luận thuộc loại căn tánh
nào, thảy đều là tu từ căn bản. V́ sao? Một
câu A Di Đà Phật là căn bản của căn bản;
bậc thượng căn dùng phương pháp này, kẻ hạ
căn cũng dùng phương pháp này. Văn Thù, Phổ Hiền
dùng phương pháp này; chúng sanh trong địa ngục A Tỳ
cũng dùng phương pháp này. Sanh về Tây Phương Cực
Lạc thế giới, tuy có bốn cơi, ba bậc, chín phẩm,
có thể nói là về Lư th́ có, nơi Sự chẳng có! Quư vị
xem kinh Vô Lượng Thọ bèn biết: Nơi Sự là b́nh
đẳng. Thế giới Tây Phương là một thế
giới b́nh đẳng, b́nh đẳng nơi Sự. Trong
thế giới này, mỗi người cao hay thấp khác
nhau, tướng mạo cũng không giống nhau. Tới Tây
Phương Cực Lạc thế giới, người
trong Tây Phương Cực Lạc thế giới vóc dáng như
nhau, tướng mạo hoàn toàn như nhau, đều
như A Di Đà Phật. Kinh Vô Lượng Thọ đă giảng
chuyện này rành mạch, rơ ràng.
Thế giới ấy
gọi là thế giới b́nh đẳng, bốn cơi, ba bậc,
chín phẩm là sự bất b́nh đẳng nơi lư luận,
trên sự thật là b́nh đẳng. V́ sao b́nh đẳng
nơi Sự? Do bổn nguyện và oai thần của A Di
Đà Phật gia tŕ. Nói thật thà, chúng ta đới nghiệp
văng sanh, chẳng đoạn phiền năo, làm sao có thể
b́nh đẳng cho được? Quyết định là chẳng
thể b́nh đẳng, nhưng do bổn nguyện và oai thần
của A Di Đà Phật gia tŕ [mà b́nh đẳng], chuyện
này thật sự chẳng thể nghĩ bàn, trong mười
phương hết thảy các cơi Phật đều chẳng
có chuyện này. Chúng ta gặp gỡ pháp môn này, nhất
định phải trân quư. Nếu đời này bỏ lỡ,
mong sau này lại được gặp gỡ, đó là chuyện
hết sức khó có, đúng là trăm ngàn vạn kiếp
khó gặp gỡ! Do đó, trừ chướng phải trừ
tận gốc.
(Sao)
Kim thử chú tŕ chi, tắc phiền năo bất khởi, thị
bạt nghiệp chướng căn bản dă.
(鈔)今此咒持之,則煩惱不起,是拔業障根本也。
(Sao: Nay tŕ chú này, phiền
năo chẳng khởi, đó chính là dẹp trừ căn bản
của nghiệp chướng vậy).
Tŕ chú, quư vị phải
hiểu: Nếu chú này thật sự dằn ép vọng
tưởng, tạp niệm của chính ḿnh, th́ gọi là “tŕ chú”. Đó là công phu đắc
lực. Nếu vừa niệm chú Văng Sanh, vừa dấy vọng
tưởng, đừng nói là ba mươi vạn lần,
dẫu ba trăm vạn lần, hoặc ba ngàn vạn lần
cũng đều vô dụng. Cổ nhân bảo: “Gào toác cổ họng vẫn uổng
công”. Vô dụng! V́ sao? Quư vị tŕ chẳng đúng pháp,
chẳng biết dụng tâm! Tu học trong Phật pháp, bất
luận pháp môn nào, bất luận tông phái nào, điều khẩn
yếu nhất là biết dụng tâm, điều này rất
trọng yếu! Chẳng biết dụng tâm, bắt
chước h́nh thức, đó là chẳng sát thực tế,
chẳng thể thành tựu. [Bởi lẽ], chỉ có bề
ngoài, chẳng có nội dung thực tế! Phật pháp nhấn
mạnh thực chất, nói thật ra, hoàn toàn chẳng coi
trọng bề ngoài!
(Sao)
Như truyện ngôn.
(鈔)如傳言。
(Sao:
Như trong truyện có nói).
Bất
Tư Nghị Thần Lực Truyện đă nói.
(Sao)
Nhật dạ các tŕ tam thất biến.
(鈔)日夜各持三七遍。
(Sao: Ngày đêm đều
tŕ hai mươi mốt lần).
“Tam thất” là hai mươi mốt
lần.
(Sao) Diệt Ngũ Nghịch báng pháp đẳng tội,
thị dă.
(鈔)滅五逆謗法等罪,是也。
(Sao:
“Diệt các tội như Ngũ Nghịch, báng pháp” v.v… là
như vậy đó).
Thường
có những đồng học thấy những câu này, trong
tâm sanh ngờ vực. Chú Văng Sanh chẳng dài, mỗi ngày buổi
sáng niệm hai mươi mốt lần, buổi tối niệm
hai mươi mốt lần, chẳng khó! Tội Ngũ Nghịch,
báng pháp cực nặng, đọa trong địa ngục
A Tỳ, làm như vậy mà có thể diệt tội ư?
Có thật hay chăng? Quư vị nói thử xem: Thật hay giả?
Quư vị có thể thử xem. Cư sĩ Trương Linh
niệm ba mươi vạn lần, chẳng có hiệu quả!
Đức Phật nói chẳng sai! Tôi vẫn nói một câu:
“Chúng ta hiểu sai bét ư nghĩa chân thật của Như
Lai”.
Đối với
khóa tụng sáng tối, tôi cũng đă nói rất nhiều
lượt. Dụng ư của khóa tụng sáng tối nhằm
nhắc nhở chúng ta: Ngày hôm nay, chúng ta khởi tâm động
niệm, ngôn ngữ, tạo tác, phải tuân thủ giáo huấn
của Phật, Bồ Tát. Sáng sớm là nhắc nhở,
khóa tối là phản tỉnh. Ngày hôm nay, ta đă làm
được chỗ nào, chỗ nào chẳng làm được.
Làm được th́ phải tiếp tục ǵn giữ. Chẳng
làm được, ngày mai phải sửa đổi. Đấy
mới gọi là “tu tập công khóa sáng tối”. Chẳng phải
là buổi sáng niệm kinh chú một lần cho Phật, Bồ
Tát nghe, buổi tối lại niệm một lần nữa
cho các Ngài nghe, căn bản là chẳng liên quan ǵ tới
ngôn ngữ, tạo tác, tư tưởng và hành vi của bản
thân chúng ta! Tụng niệm công khóa sáng tối kiểu
đó, nói thật ra là có tội lỗi. Tội lỗi ǵ vậy?
Buổi sáng lừa Phật, Bồ Tát một lần; buổi
tối lừa lần nữa. Hằng ngày lừa gạt Phật,
Bồ Tát, tội lỗi ấy nặng nề!
Nếu quư vị
hiểu rơ ư nghĩa này, biết thực hiện công khóa sáng
tối như vậy, buổi sáng niệm hai mươi mốt
biến Văng Sanh Chú đến mức thân tâm thanh tịnh, phải
ǵn giữ sự thanh tịnh ấy suốt cả ngày. Chẳng
phải là niệm xong bèn hết chuyện. Đó mới gọi
là “tŕ chú Văng Sanh”. Quư vị đă
học mà chẳng thể vận dụng trong cuộc sống
hằng ngày, học kiểu đó vô dụng, phải học
sao cho có thể áp dụng được. Khóa tối lại
niệm hai mươi mốt lần, đêm nằm mộng
chẳng điên đảo. Ngày đêm thân tâm thanh tịnh, ba
mươi vạn lần như vậy, lẽ nào người
ấy chẳng văng sanh? Lẽ đâu người ấy chẳng
tiêu tội nghiệp? Do vậy, chẳng phải là Ngài
(đức Phật) [dạy] sai, mà là do chúng ta hiểu sai
bét ư nghĩa. [Cứ tưởng bở] “buổi sáng niệm
hai mươi mốt lần, buổi tối cứ niệm
hai mươi mốt lần là đủ rồi, dẫu tạo
tác tội Ngũ Nghịch báng pháp cũng chẳng sao cả!
Do ta niệm hai mươi mốt lần chú Văng Sanh, tội
ấy sẽ tiêu tan!” Sai lầm quá đỗi! Đó là đại
tà kiến.
Kinh chú và Phật
hiệu xác thực là có công đức và oai thần chẳng
thể nghĩ bàn. Nói thật ra, người tu hành chúng ta đều
hiểu sai ư nghĩa, toàn làm theo h́nh thức,
làm bề ngoài, chẳng nghiêm túc và đổ công dốc sức
nơi tâm địa trên thực tế. Nếu thật sự
dụng công nơi tâm địa, nói thật ra, sẽ thâu
hoạch chẳng có cách nào h́nh dung được! Do vậy,
lợi ích chân thật trong Phật pháp chẳng phải là
đạt được trong tương lai, mà là đạt
được ngay trong hiện tại! Quư vị hoàn toàn
chuyển biến cảnh giới, tuyệt đối chẳng
giống như trong quá khứ khi chưa học Phật, mà
cũng chẳng giống hết thảy mọi người
trong thế gian này; xác thực là đă khế nhập cảnh
giới ứng hóa trên thế gian của Phật, Bồ Tát.
Ở trong thế gian này, ḥa quang đồng trần với
mọi người, du hư thần thông, sung sướng khôn
sánh! Tâm địa thanh tịnh, chẳng nhiễm mảy trần,
sung sướng lắm! Đó là sự hưởng thụ
chân thật. Quư vị chẳng nhập cảnh giới, sẽ
chẳng đạt được lợi ích ấy, mà
cũng chẳng đạt được niềm hoan hỷ
ấy. Do đó, đọc kinh, niệm chú Văng Sanh, hay niệm
danh hiệu A Di Đà Phật đều được, [nghĩa
là] đều có thể đạt tới cảnh giới ấy,
tức là quư vị phải biết dụng công, tu hành
đúng lư, đúng pháp. Phải hiểu lư luận và đạo
lư được nói trong kinh điển, phải
tương ứng với Lư. Chúng ta phải hiểu rơ những
phương pháp đă dạy trong kinh điển, phải
thực hiện được, phải tương ứng
với pháp, quư vị mới có thể đạt được
lợi ích và công đức chân thật trong Phật pháp.
(Sao)
Đắc sanh Tịnh Độ giả, luân hồi Sa Bà,
giai diêu nghiệp chướng.
(鈔)得生淨土者,輪迴娑婆,皆繇業障。
(Sao: “Được
sanh về Tịnh Độ”: Luân hồi Sa Bà, đều
do nghiệp chướng).
Hiểu
cái nhân sanh tử luân hồi ở chỗ nào? “Nhân” (因) là tạo nghiệp.
V́ sao có thể tạo nghiệp? V́ có phiền năo. Tạo
nghiệp, sau đấy mới có quả báo luân hồi
trong lục đạo. Nếu nghiệp chướng
đă không c̣n, đương nhiên là phiền năo cũng chẳng
có. Phiền năo vẫn c̣n, chắc chắn là nghiệp
chướng chẳng rỗng không! V́ thế, để tiêu
nghiệp chướng, nhất định là phải đoạn
phiền năo. Phiền năo đă đoạn, nhất định
là sẽ tiêu nghiệp chướng.
(Sao)
Nghiệp chướng kư không, uế độ chủng diệt.
(鈔)業障既空,穢土種滅。
(Sao:
Nghiệp chướng đă rỗng không, hạt giống
của uế độ bèn diệt).
“Uế độ” là lục
đạo luân hồi. Chủng tử lục đạo
luân hồi chẳng có, cái nhân của lục đạo luân
hồi chẳng có, đương nhiên là hiện tượng
của quả báo lục đạo luân hồi chẳng có.
Vĩnh Gia đại sư nói: “Giác
hậu, không không vô đại thiên” (Giác rồi ba cơi rỗng
toang hoang). “Đại thiên”
là lục đạo.
(Sao)
Tùy nguyện văng sanh.
(鈔)隨願往生。
(Sao:
Tùy nguyện văng sanh).
Văng
sanh nhất định là thuận theo nguyện vọng của
chính ḿnh, mong nhất định đạt tới Tây
Phương Cực Lạc thế giới.
(Sao)
Cố đắc sanh A Di Đà Phật Cực Lạc quốc
độ.
(鈔)故得生阿彌陀佛極樂國土。
(Sao:
V́ thế, được sanh về cơi nước Cực
Lạc của A Di Đà Phật).
Đây
là nói nghiệp chướng của quư vị tiêu trừ, nhất
định được văng sanh.
Đấy là chỗ
thù thắng của pháp môn này so với hết thảy các
pháp môn khác. Nói thật ra, trong những pháp môn khác, ngay cả
nghiệp quá khứ cũng chẳng thể mang theo. Nhất
định là phải tiêu trừ sạch sành sanh th́ mới
có thể thoát khỏi tam giới. A La Hán thoát khỏi tam giới,
Tứ Quả A La Hán đoạn sạch Kiến Tư phiền
năo, cũng có nghĩa là hai mươi sáu loại phiền
năo được nói trong Bách Pháp Minh Môn thảy đều
đoạn tận, Ngài mới có thể vượt thoát lục
đạo luân hồi. Do Trần Sa phiền năo và Vô Minh phiền
năo đều chưa phá, cho nên Ngài chưa thể kiến tánh.
Đối với pháp môn này, chúng ta chẳng cần đoạn
hết Kiến Tư phiền năo, chỉ cần đoạn
trừ hiện hành là được rồi. Hiện hành là
ǵ? Nay chẳng phát khởi, thế là được rồi!
Chứ nay vừa niệm Phật, vừa phát tác [những
phiền năo], vô dụng!
(Sao)
Tổng tŕ giả, tổng thống nhiếp tŕ, cánh vô di thất,
tức chú chi biệt danh dă.
(鈔)總持者,總統攝持,更無遺失,即咒之別名也。
(Sao: “Tổng tŕ”: Bao
gồm, duy tŕ hết thảy, trọn chẳng để
sót mất. Đấy chính là tên gọi khác của Chú).
Chú
c̣n gọi là Tổng Tŕ. Đấy chính là ư nghĩa của
chữ Đà La Ni.
(Sao)
Truyện danh Bất Tư Nghị Thần Lực giả, tức
kinh danh Bất Tư Nghị Công Đức dă.
(鈔)傳名不思議神力者,即經名不思議功德也。
(Sao:
Truyện có tên là Bất Tư Nghị Thần Lực, tức
là nói đến trong danh hiệu của kinh có chữ “công
đức chẳng thể nghĩ bàn”).
Kinh
này (kinh Di Đà) là Bất Tư Nghị Công Đức Kinh,
nên chú Văng Sanh cũng là Bất Tư Nghị Thần Lực
Chú.
(Sao)
Tŕ chú, tŕ danh, tức đắc văng sanh, cố đồng
danh Bất Tư Nghị.
(鈔)持咒持名,即得往生,故同名不思議。
(Sao:
Tŕ chú hay tŕ danh bèn được văng sanh, nên cùng gọi là
Bất Tư Nghị).
Chú,
nói thật ra, là mật thuyết của kinh, có thể nói
là tông chỉ và nghĩa thú hoàn toàn giống như kinh. Hôm
nay chúng tôi nói đến chỗ này.
A Di Đà Kinh Sớ Sao
Diễn Nghĩa
Phần 143
hết
[1] Hoàng Cực Kinh có tên gọi đầy
đủ là Hoàng Cực Kinh Thế Thư do Thiệu Ung
(Thiệu Khang Tiết) viết vào đời Tống.
Nội dung bao gồm những tiên đoán suy diễn
dựa theo Dịch Số, nhất là do chiêm nghiệm Hà
Đồ Lạc Thư, đồng thời tŕnh bày
những quan điểm triết học, xă hội được
diễn giải theo Dịch Lư của chính Thiệu Ung. Ông
quan niệm các diễn biến lịch sử sẽ xảy
theo chu kỳ và đề ra khái niệm “nguyên, hội, vận, thế”, cứ hết một
Nguyên lịch sử sẽ tái diễn. Theo đó, cứ ba
mươi năm là một Thế, mười hai Thế
là một Vận, ba mươi Vận là một Hội,
mười hai Hội là một Nguyên. Như vậy một
Nguyên là 12x30x12x30=129.600 năm. Cũng từ khái niệm này,
Đạo giáo diễn dịch thành các khái niệm
Thượng Nguyên, Trung Nguyên, Hạ Nguyên, rồi dẫn
đến khái niệm Hạ Nguyên Mạt Thế, thế
giới tận diệt trong các giáo phái Bạch Liên Giáo, Trai
Giáo, Minh Lư, Minh Sư, hoặc Nhất Quán Đạo sau này.
[2] Tỷ Lượng là sự nhận
biết, phán đoán các hiện tượng dựa trên
sự hiểu biết, kiến thức tích lũy của
chính ḿnh.
[3] Để giải thích quẻ Thuần
Càn (純乾), phần Quái Từ
của kinh Dịch đă dùng bốn chữ “nguyên, hanh, lợi, trinh” để h́nh dung. Theo Khổng
Dĩnh Đạt, Nguyên (元) nghĩa là khởi
đầu, Hanh (亨) là thông suốt, Lợi (利) là ḥa hợp,
Trinh (貞) là ngay thẳng,
bền vững. Nói rộng hơn, phẩm đức của
Càn là có tánh chất Thuần Dương, tự nhiên có thể
dùng dương khí sanh khởi vạn vật, nó thông suốt,
khiến cho vạn vật hài ḥa (được diễn tả bằng chữ Lợi),
lại có thể khiến cho vạn vật sanh
trưởng đúng lẽ (Hanh), tồn tại bền
vững (Trinh).
[4] Trong Đại Chánh Tân Tu Đại
Tạng Kinh, tập 12, kinh văn số 368 mang tựa
đề Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng
Căn Bản Đắc Sanh Tịnh Độ Thần Chú
có chú thích “xuất tự
Tiểu Vô Lượng Thọ Kinh”. Như vậy có
lẽ là ngoài hai bản kinh Di Đà như chúng ta biết,
hăy c̣n có một bản kinh Di Đà nữa, trong ấy,
đức Phật nói chú này, nhưng bản kinh thứ ba
này đă bị thất truyền.
[5] Sau khi Tưởng Giới Thạch (tên
thật là Tưởng Trung Chánh, tên hồi bé là Thụy
Nguyên, tự là Giới Thạch), mất vào ngày 05 tháng 04 năm
1975, bộ Giáo Dục Đài Loan đă mở cuộc thi
sáng tác ca khúc kỷ niệm ông dành cho các học sinh trung
học hát trong các buổi lễ. Cuối cùng ca khúc
được chọn có phần nhạc do Lư Trung Ḥa
viết, lời ca do Trương Linh viết. Sau khi Lư
Đăng Huy lên làm Tổng Thống, bài hát này không c̣n
được lưu hành trong nhà trường nữa,
nhưng vẫn sử dụng trong các buổi lễ
của Quốc Dân Đảng.
Trương Linh (1919-1979), tên
tự là Kiếm Phân, hiệu Vô Tranh Cư Sĩ,
người huyện Tương Đàm, tỉnh Hồ Nam.
Ông từng giữ chức vụ Phó Kinh Lư trong Ngân Hàng
Đài Loan, và dạy học tại các trường
đại học Đông Ngô và Minh Truyền. Ông khéo
viết câu đối nên có mỹ hiệu là Liễn
Vương (vua câu đối), đă từng phát nguyện
cúng dường các chùa một vạn câu đối. Tuy
rất có tiếng tăm trong giới Phật giáo v́
viết nhiều, giảng diễn nhiều, niềm
tin của ông không được tinh thuần, vẫn mang nặng
tính cách tŕnh diễn, phô trương. Vào năm 1972, khi vợ
mất, cụ đă từng nhờ đồng cốt cầu
cơ để nói chuyện với linh hồn vợ, sau đó,
soạn tác phẩm Tiên Thất Sanh Tây Kư (kư sự văng sanh
Tây Phương của bà vợ quá cố) nhằm gián tiếp
khoe khoang chính ḿnh đă tụng chú Văng Sanh đến ba mươi
vạn biến, cũng như khẳng định bà vợ
đă văng sanh.
[6] Vở bài tập được gọi
là “tác nghiệp bạ” (作業簿), làm bài tập bèn gọi là “tác nghiệp” (作業). Ḥa Thượng chơi chữ ở
chỗ này, thuở nhỏ đi học phải làm bài
tập là “tác nghiệp”, bước chân vào xă hội, do công
việc, do các mối quan hệ, do mưu sinh v.v… tạo
nghiệp vô biên, đều là “tác
nghiệp”. V́ thế mới nói là một mực tác
nghiệp đến chết vẫn chưa xong.