A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

阿彌陀經疏鈔演義

Phần 144

Chủ giảng: Lão pháp sư Thích Tịnh Không

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và Đức Phong

Tập 287

 

          Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang sáu trăm lẻ tám:

 

          Tống Nguyên Gia Thiên Trúc Tam Tạng Cầu Na Bạt Đà La dịch.

          宋元嘉天竺三藏求那跋陀羅譯。

          (Đời Tống, trong niên hiệu Nguyên Gia, Tam Tạng Cầu Na Bạt Đà La người xứ Thiên Trúc dịch).

         

Trong kinh Phật, điều này được gọi là “nhân đề” (人題). Vì kinh Phật do đức Thế Tôn giảng tại Ấn Độ trong thuở ấy; về sau, các đệ tử của Ngài dùng văn tự ghi chép lại, trở thành kinh điển. Những bản ghi chép nguyên thủy đều dùng tiếng Phạn (Sankrit) để viết. Tiếng Phạn là cổ văn Ấn Độ. Sau khi được truyền đến Trung Hoa, nhất định là phải dịch sang tiếng Hán thì mới có thể lưu thông tại Trung Hoa. Do vậy, mỗi bộ kinh đều có “phiên dịch nhân đề”, [tức là] do người nào phiên dịch. Ở chỗ này, chúng ta ắt cần phải hiểu: Phiên dịch kinh Phật là công sức trước tác tập thể, chẳng phải do một người nào đó phiên dịch. Phật pháp truyền đến Trung Hoa là do chính quyền Trung Hoa vời thỉnh. Vào thời cổ, đế vương sai đặc sứ sang Tây Vực thỉnh vời cao tăng đại đức đến Trung Hoa. Vì thế, sau khi các Ngài đã tới Trung Hoa, bèn được đãi ngộ cao nhất bằng phương cách lễ ngộ. Đế vương Trung Hoa dùng lễ quốc sư đối với các vị ấy, [tức là coi các Ngài là] “thầy của đế vương”. Dùng lễ nghi ấy để tiếp đãi, hết sức long trọng. Vì đế vương tôn trọng hàng xuất gia như vậy, tục ngữ thường nói là “thượng hành, hạ hiệu” (trên hành, dưới làm theo), thần dân thấy đế vương tôn trọng người xuất gia dường ấy, dân chúng và quan viên văn võ bèn đặc biệt tôn trọng [người xuất gia]. Do đó, tại Trung Hoa, Phật giáo có địa vị rất cao tột!

          Phiên dịch kinh điển có tổ chức, giống như hội đồng phiên dịch do quốc gia thành lập trong hiện thời. Đã thế, tổ chức ấy khá to lớn, dùng tài lực của quốc gia và nhân lực toàn quốc để duy trì. Gần như các vị chuyên gia ngữ văn, những học giả thế gian và xuất thế gian thuở ấy đều tham gia công tác phiên dịch. Nhưng tựa đề kinh chỉ ghi tên một vị, vị ấy chính là “chủ tịch” của viện dịch kinh, giống như hiệu trưởng trong một trường học, dùng vị ấy làm đại biểu. Đừng nên nghĩ bộ kinh này chỉ do [một mình] Ngài phiên dịch, mà là do dịch trường của Ngài phiên dịch, [hiểu như vậy] là đúng. Sử truyện ghi chép khá cặn kẽ dịch trường của La Thập đại sư, kinh Di Đà do Cưu Ma La Thập đại sư phiên dịch. Dịch trường của La Thập đại sư có hơn bốn trăm người, có thể thấy là biên chế của cơ cấu ấy khá to lớn. Dịch trường của Huyền Trang đại sư đời Đường quy mô còn to hơn nữa, có hơn sáu trăm người!

          Nhìn lại chúng ta trong hiện thời. Hiện thời vì giao thông phát triển, thông tin phát triển, gần như toàn thể địa cầu biến thành một khu vực. Chỗ nào phát sanh một tí sự việc, chúng ta lập tức biết ngay. Địa cầu thu nhỏ, mối quan hệ giữa con người với nhau, mối quan hệ giữa các quốc gia trở nên ngày càng mật thiết. Mối quan hệ giữa nước này với nước kia đúng là giống như xóm giềng. Nếu muốn thật sự đạt tới thế giới hòa bình, cùng tồn tại phát triển, chỉ có cách trao đổi văn hóa thì mới có thể kiến lập một nhận thức chung, mà cũng là [hình thành] một quan niệm cộng đồng. Dựa trên quan niệm ấy thì mới có thể đạt tới sự tồn tại phát triển chung, đối xử hòa thuận với nhau. Nếu không chú trọng phương diện này, thế giới loạn lạc, chúng sanh khổ sở là chuyện chắc chắn chẳng thể tránh khỏi! Xét theo nền văn hóa của toàn thể thế giới, Phật giáo là một mắt xích rất trọng yếu. Kinh điển trên thế giới hiện thời, có kinh điển bằng tiếng Hán hoàn chỉnh, kinh điển bằng tiếng Tây Tạng; đối với kinh điển Tiểu Thừa, trừ Hán văn ra, còn có [kinh điển chép bằng] tiếng Ba Lợi (Pāḷi, tiếng Nam Phạn). Kinh điển bằng tiếng Nhật là dịch từ tiếng Hán, chỉ dịch một phần.

Hiện thời, Phật giáo thuận theo thời đại to lớn này mà truyền sang phương Tây, truyền bá đến mỗi quốc gia, mỗi khu vực trên thế giới. Công tác dịch kinh là một vấn đề to lớn trọng yếu nhất trong hiện thời! Làm thế nào để dịch từ tiếng Hán, từ tiếng Tây Tạng, hoặc tiếng Ba Lợi sang văn tự của các nước khác trên thế giới? Trong nhiều năm qua, cũng có người thực hiện công tác này, nhưng hiệu quả của công tác phiên dịch ấy đều có vấn đề. Thí dụ như lão cư sĩ Trầm Gia Trinh[1] ở Nữu Ước, Hoa Kỳ, hết sức nhiệt tâm hoằng dương Phật pháp, đã thỉnh không ít người làm công tác dịch kinh điển từ tiếng Hán sang tiếng Anh, phiên dịch rất nhiều. Tôi ở Nữu Ước, lão nhân gia bảo tôi: “Những bản dịch ấy chẳng thể xuất bản, nguyên nhân ở chỗ nào?” Người phiên dịch tiếng Hán lẫn tiếng Anh đều thông thạo, nhưng thiếu sự tu dưỡng kha khá nơi Phật pháp, chỉ dựa theo mặt chữ để dịch, nên ý nghĩa chẳng đúng! Đây là một nan đề rất lớn! Do đó, tại dịch trường xưa kia, vì sao có khá nhiều người tham gia? Mọi người cùng nhau nghiên cứu, thảo luận; mỗi chữ, mỗi câu đều phải cân nhắc. Nếu dùng phương pháp phiên dịch tập thể như thời cổ, vấn đề này có thể giải quyết. Hiện thời, dịch kinh do cá nhân thực hiện, mỗi cá nhân có thành kiến của chính mình. Đó là điều then chốt khiến cho bản dịch chẳng thể lưu thông khắp nơi! [Bản dịch] đã được đại chúng nghiên cứu, thảo luận, sẽ là khách quan, sai lầm được giảm thiểu đến mức độ thấp nhất.

Đối với vấn đề này, tôi nêu ra một ý kiến nho nhỏ cùng Trầm lão cư sĩ: Nếu lại có cơ hội phiên dịch, thí dụ như quý vị dịch kinh Kim Cang, quý vị nhất định phải thăm dò, hiện tại trên thế giới, bất cứ nơi nào thuộc quốc gia nào, hễ có vị pháp sư đại đức nào thật sự nghiên cứu, tu học kinh Kim Cang, hãy mời vị ấy đến giảng. Tất cả các nhân viên tham dự dịch kinh đều đến nghe, nghe vị ấy giảng cặn kẽ. Người phiên dịch dụng tâm để nghe, hễ có câu hỏi nào, bèn thưa hỏi, cốt sao đối với ý nghĩa trong kinh thảy đều lý giải thông suốt, chẳng có mảy may chướng ngại nào. Sau đấy, chọn ra mấy người dịch nháp, viết lại bản dịch của họ. Sau đấy, lại dùng bản dịch nháp để các nhân viên tham gia dịch kinh nghiên cứu, thảo luận, cũng giống như xưa kia, từng chữ, từng câu [đều được cân nhắc kỹ lưỡng], khiến cho văn lẫn nghĩa đều có thể đạt tới mức độ rất chánh xác, chẳng đến nỗi hiểu lầm. Phiên dịch như vậy, tôi tin tưởng là lưu thông ở phương Tây sẽ chẳng thành vấn đề.

          Dịch kinh tuyệt đối chẳng phải là một người có thể làm được, tuyệt đối chẳng phải là một hai người, hoặc dăm ba người mà có thể làm được, chẳng được! Vẫn phải là như trước kia, dịch trường gồm mấy trăm người. Đó là [cách thực hiện] cao minh nhất! Do vậy, người Hoa có phước báo lắm! Phương pháp dịch kinh hết sức nghiêm cẩn. Những người tham dự cũng đều là bậc có đạo đức, có học vấn, đối với văn tự của hai nước và Phật pháp đều có sự tu dưỡng kha khá. Kiến lập dịch trường như vậy, dịch kinh điển từ tiếng Phạn sang tiếng Hán, sẽ phiên dịch thật sự tốt đẹp.

Trước kia, tiên sinh Phương Đông Mỹ có lần thảo luận với tôi về chuyện phiên dịch kinh luận, chúng tôi có đề cập một hiện tượng rất kỳ quái. Kinh điển từ Ấn Độ bằng tiếng Phạn truyền sang Trung Hoa với một số lượng lớn, sau khi được dịch thành tiếng Hán, nguyên văn đã đi đâu cả rồi? Kinh điển tiếng Phạn nhiều dường ấy, nghiễm nhiên chẳng bảo lưu, gần như bị thất truyền tại Trung Hoa. Phương tiên sinh có một phỏng đoán, lời phỏng đoán của cụ cũng rất có lý. Cụ nói: “Người Hoa hết sức tự hào, cho rằng: Kinh Phật do chúng ta phiên dịch, không chỉ là bảo tồn viên mãn ý nghĩa, chẳng đánh mất ý nghĩa gốc. Xét theo văn tự, lại còn bóng bảy, đẹp đẽ hơn [bản gốc bằng] tiếng Phạn. Tiếng Hán có thể thay thế trực tiếp tiếng Phạn; chẳng cần đến kinh điển tiếng Phạn nữa”. Đó là kiến giải của Phương tiên sinh, chúng tôi nghe cụ nói cũng cảm thấy hết sức có lý. Xác thực là kinh điển tiếng Hán đã được phiên dịch tốt đẹp.

          “Nhân đề” (人題) là [tên của] người chủ trì dịch trường. Dịch trường lần này là do tôn giả Cầu Na Bạt Đà La làm chủ tịch dịch trường. “Tống” () là triều đại. Triều đại Tống này thuộc thời Nam Bắc Triều, tức các triều đại Tống, Tề, Lương, Trần. Lưu Dụ[2] kiến lập chánh quyền, xưng là Tống, thủ đô là Nam Kinh hiện thời, niên đại của vương triều này từ năm 420 cho đến 479 Công Nguyên. Nguyên Gia (元嘉) là niên hiệu. “Thiên Trúc” là Ấn Độ, là quê hương của pháp sư. “Tam Tạng” là học vị của Ngài, Ngài thông đạt Tam Tạng kinh, luật, luận. Vào thời cổ, nếu chẳng phải là Tam Tạng pháp sư, chẳng có tư cách chủ trì dịch trường. Cầu Na Bạt Đà La là tên Ngài.

 

          (Sớ) Tống giả, Nam Bắc triều quốc danh. Nguyên Gia giả, niên hiệu. Thiên Trúc giả, Tây Vực quốc danh. Cầu Na Bạt Đà La, thử vân Công Đức Hiền.

          ()宋者,南北朝國名。元嘉者,年號。天竺者,西域國名。求那跋陀羅,此云功德賢。

(Sớ: Tống là tên nước thời Nam Bắc Triều. Nguyên Gia là niên hiệu. Thiên Trúc là tên một nước ở Tây Vực. Cầu Na Bạt Đà La cõi này dịch là Công Đức Hiền).

 

          Cầu Na Bạt Đà La (Gunabhadra)[3] là dịch âm tiếng Phạn, dịch sang tiếng Hán là Công Đức Hiền, tên Ngài bao hàm ý nghĩa này.

 

          (Sao) Tống ngôn Nam Bắc giả, thời phương Nam Bắc phân vương.

          ()宋言南北者,時方南北分王。

          (Sao: Đối với nhà Tống mà nói là Nam Bắc, vì thời điểm và nơi chốn khi ấy nhằm đúng thời kỳ đất nước chia thành các vương triều Nam và Bắc khác nhau).

 

          Thời đó là chính là thời đại Nam Bắc Triều[4] nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa, nhằm thời đại Ngũ Hồ Loạn Hoa.

 

          (Sao) Tống vương Giang Nam, vị Lưu Tống dã.

          ()宋王江南,謂劉宋也。

          (Sao: Nhà Tống làm vua ở Giang Nam, gọi là Lưu Tống).

 

          “Vương” có nghĩa là thống trị, nghĩa là triều đại ấy thống trị vùng Giang Nam[5]. Triều đại Tống do Lưu Dụ[6] sáng lập, truyền được tất cả tám đời, tổng cộng là năm mươi chín năm.

 

          (Sao) Nguyên Gia giả, Văn Đế Nguyên Gia mạt niên dã.

          ()元嘉者,文帝元嘉末年也。

          (Sao: Nguyên Gia: Nói tới những năm cuối trong niên hiệu Nguyên Gia thời Văn Đế).

 

          Văn Đế[7] là vua đời thứ hai của nhà Lưu Tống. Trong vương triều ấy, Văn Đế là nhà cai trị sáng suốt nhất, xã hội cũng hết sức an định. Cả triều đại chỉ tồn tại năm mươi chín năm, Văn Đế làm hoàng đế tới ba mươi năm.

 

          (Sao) Thiên Trúc, nhất vân Thân Độc.

          ()天竺,一云身毒。

          (Sao: Thiên Trúc còn gọi là Thân Độc).

 

          “Thân Độc”[8] nay nói là Ấn Độ, âm đọc cũng rất tương cận, đều là phiên âm.

 

          (Sao) Hữu Ngũ Thiên Trúc, giai Tây Vực dã.

          ()有五天竺,皆西域也。

          (Sao: Có năm xứ Thiên Trúc đều thuộc về Tây Vực).

 

          Thời đó, [cổ nhân nói Ấn Độ] ở phía Tây Trung Hoa, nay chúng ta biết Ấn Độ nằm ở phía Tây Nam Trung Hoa. Vì sao nói là phương Tây? Vì giao thông thuở đó đều là theo phương Tây mà đi, sau khi đã đến Thông Lãnh[9] bèn đi theo phương Nam, sẽ đến được Ấn Độ. Tây Vực (西域) thuở ấy chính làm một giải Tân Cương[10] và A Phú Hãn (Afghanistan) hiện thời.

 

          (Sao) Bạt Đà bác thông Tam Tạng, vưu chuyên Đại Thừa, hiệu Ma Ha Diễn.

          ()跋陀博通三藏,尤專大乘,號摩訶衍。

          (Sao: Ngài Cầu Na Bạt Đà La thông hiểu rộng rãi Tam Tạng, nhất là chuyên tinh Đại Thừa, có hiệu là Ma Ha Diễn).

 

          Đây là nói “đức học” (đức hạnh và học vấn) của vị pháp sư này. “Đức” () là sự tu trì của Ngài, “học” () là Ngài có một nền học thức hết sức uyên bác. Tam Tạng kinh điển đều thông đạt. Đối với Đại Thừa, Ngài có bản lãnh đặc biệt sâu xa. “Ma Ha Diễn” (Mahāyāna) là tiếng Phạn, dịch sang tiếng Hán là Đại Thừa.

 

          (Sao) Thần dị phi nhất, bị tải truyện ký, khủng phồn bất tự.

          ()神異非一,備載傳記,恐繁不敘。

          (Sao: Sự thần dị của Ngài chẳng phải chỉ có một, có chép đầy đủ trong truyện ký, do sợ rườm rà nên chẳng thuật).

 

          Trong Cao Tăng Truyện có truyện ký của Ngài. Ở đây, chẳng rườm lời! “Thần dị phi nhất”: Ngài có thần thông, người hiện thời gọi là “công năng đặc dị”. Trong Thần Tăng Truyện, cũng có truyện ký của Ngài. Tại Trung Hoa, từ bộ Cao Tăng Truyện, đối với những vị có biểu hiện thần thông rõ rệt, người đời sau bèn gom [truyện ký của] những vị ấy vào một chỗ, [soạn thành sách] gọi là Thần Tăng Truyện.

 

          (Sao) Nhất bổn Đà hạ vô La tự .

          ()一本陀下無羅字。

          (Sao: Có bản [chép tên người dịch chú Vãng Sanh] sau chữ Đà chẳng có chữ La).

         

[Tức là] Cầu Na Bạt Đà. Chú Vãng Sanh có hai phiên bản, có bản ghi là do ngài Cầu Na Bạt Đà La phiên dịch, bản kia ghi là ngài Cầu Na Bạt Đà phiên dịch. Rốt cuộc là vị nào? Chẳng biết rõ. Vì sao? Hai vị ấy sống cùng một thời đại. Rốt cuộc là vị nào chủ trì dịch trường này, rất khó khảo cứu để đoán định.

 

          (Sao) Hoặc nghi thị Cầu Na Bạt Ma, dĩ nhị sư đồng thời cố, vị thẩm hà sở dịch dã!

()或疑是求那跋摩,以二師同時故,未審何所譯也。

(Sao: Có người nghi là ngài Cầu Na Bạt Ma[11], do hai vị sống đồng thời, chưa thể thẩm định là do vị nào dịch).

          “Thẩm” () là thẩm định, [“vị thẩm” là] chẳng có cách nào xác định là vị nào. Hai vị đều là cao tăng từ Ấn Độ đến Trung Hoa hoằng pháp trong thuở ấy. Đây là giới thiệu người phiên dịch.

          Dưới đây là chánh văn của chú Vãng Sanh. Chú Vãng Sanh có tất cả mười bốn câu. Mỗi vị đồng tu đều niệm chú rất thuộc, nhưng niệm như thế nào để tương ứng, đó là một vấn đề! Chú chẳng thể dịch nghĩa, vì đó là mật ngữ của đức Phật, [cũng có những bài chú] có thể dịch nghĩa, chẳng phải là hoàn toàn không có ý nghĩa. Chẳng dịch, cứ dùng tâm cung kính để thọ trì, dễ dàng đạt được lợi ích. Vì những phương pháp được sử dụng để tu học trong Phật pháp, không gì chẳng nhằm xóa sạch vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, [hễ phân biệt, vọng tưởng, chấp trước xóa sạch thì] mục đích đã đạt được. Chẳng có ý nghĩa, vậy thì quý vị chẳng dấy vọng tưởng, cứ thật thà niệm! Dễ nhiếp tâm, dễ nhập Định. Nếu có ý nghĩa, người ấy (người niệm chú) vừa niệm vừa dấy vọng tưởng; đâm ra, chẳng dễ gì nhập Định!

Đối với sự tu hành, cổ nhân bảo: “Niệm kinh chẳng bằng niệm chú”, vì sao? Kinh có ý nghĩa, vừa niệm, vừa dấy vọng tưởng, chẳng bằng niệm chú! Chú chẳng có ý nghĩa. Chú chẳng có ý nghĩa thì niệm càng dài càng tốt! Như chú Vãng Sanh chẳng sánh bằng chú Đại Bi, chú Đại Bi chẳng sánh bằng chú Lăng Nghiêm. Chú dài, quý vị chẳng thể niệm sai; từng câu, từng chữ đều chẳng thể niệm sai. Khi niệm, chẳng có vọng tưởng, chẳng có tạp niệm; đấy là công đức. Lâu ngày chầy tháng, tâm quý vị sẽ dần dần định, dần dần đạt tới thanh tịnh. Dùng phương pháp này để đạt tới mục tiêu tâm địa thanh tịnh, có ý nghĩa như thế đó. Lại nói: “Niệm chú chẳng bằng niệm Phật”, đúng như vậy đấy! Công đức của Phật hiệu chẳng thể nghĩ bàn!

Rốt cuộc niệm loại nào mới là tốt? Những điều cổ nhân đã nói chính là nguyên tắc, chẳng thể bao gồm căn tánh của hết thảy chúng sanh. Có những người đọc kinh bèn dễ nhiếp tâm hơn. Có người niệm chú dễ nhiếp tâm hơn. Có những người niệm Phật hiệu bèn dễ nhiếp tâm. Căn tánh của mỗi người khác nhau! Bản thân chúng ta chọn lựa pháp môn nào, tự mình nhất định phải biết căn tánh của chính mình. Nếu không biết, có thể thí nghiệm đọc kinh, đọc chú, hay niệm Phật một giai đoạn, dùng thời gian đôi ba tháng để thí nghiệm sẽ biết ngay. Phương pháp nào dễ nhiếp tâm, cũng như dễ thâu hồi cái tâm, thì phương pháp ấy đối với chính mình có hiệu quả, có lợi ích, có thể kiên trì dùng phương pháp ấy. Một mực sử dụng cho đến khi chính mình thật sự đạt tới mức tâm địa thanh tịnh. Tâm thanh tịnh hiện tiền chính là tam-muội hiện tiền. Tam-muội (Samādhi) là tiếng Phạn, dịch sang tiếng Hán là Chánh Thọ (正受), nghĩa là sự hưởng thụ chánh đáng. Sự hưởng thụ chánh đáng chính là sự hưởng thụ khỏe khoắn, thanh tịnh, tự tại. Đó là niềm vui thật sự! Đạt đến mức tâm địa thanh tịnh, tự tại, tự nhiên sanh khởi trí huệ. Đó gọi là “do Giới sanh Định, do Định khai Huệ”. Tâm thanh tịnh là Định. Tôi dựa theo lời giải thích của cổ đức để giới thiệu đại lược ý nghĩa của bài chú này cùng quý vị.

 

            (Kinh) Nam-mô.

          ()南無。

          (Kinh: Namo).

         

“Nam-mô” có nghĩa là cung kính, lễ kính, quy y, quy mạng. Âm đọc cổ của chữ Nam-mô là Nã-ma[12].

 

            (Kinh) A di đa bà dạ.

          ()阿彌多婆夜。

          (Kinh: Amitābhāya).

 

          “A di đa bà dạ” là A Di Đà Phật.

 

            (Kinh) Đá tha già đa dạ.

          ()哆他伽多夜。

          (Kinh: Tathāgatāya).

 

          Câu này dịch là Như Lai. Nói gộp lại sẽ là “quy y A Di Đà Như Lai”. “A di đa bà dạ” dịch sang tiếng Hán là Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang. Trên thực tế, “vô lượng” bao gồm hết thảy các thứ vô lượng.

 

            (Kinh) Đá địa dạ tha.

          ()哆地夜他。

          (Kinh: Tadyathā).

 

          Trong rất nhiều bài chú có câu “đát điệt tha” (怛絰他), hoàn toàn giống như câu này. Âm tiếng Phạn như nhau, phiên âm khác nhau. “Đá địa dạ tha” dịch sang tiếng Hán sẽ là “tức thuyết chú viết” (liền nói chú rằng). Vì thế, những câu trước đó là Phật hiệu, từ câu thứ tư cho đến câu mười bốn mới là chú ngữ.

 

          (Kinh) A di rị đô bà tỳ.

            ()阿彌唎都婆毗。

            (Kinh: Amṛtod-bhave).

 

          “A di rị đô” (Amṛtod) là vô lượng, “bà tỳ” (bhave) là quang minh. Câu này là danh hiệu Vô Lượng Quang. Danh hiệu của A Di Đà Phật là Vô Lượng Quang.

 

          (Kinh) A di rị đá.

          ()阿彌唎哆。

          (Kinh: Amṛta).

 

          Có nghĩa là vô lượng.

 

            (Kinh) Tất đam bà tỳ.

          ()悉耽婆毗。

          (Kinh: Siddhaṃ bhave).

 

          “Tất đam” (Siddhaṃ) dịch sang tiếng Hán là Nhất Thiết Nghĩa Thành (一切義成). “Nghĩa” () là nghĩa lý, “thành” () là thành tựu, [tức là] hết thảy nghĩa lý thành tựu viên mãn. “Bà tỳ” có nghĩa là quang minh. Có thể thấy những chú ngữ này đều nhằm tán thán vô lượng quang thọ của A Di Đà Phật, hết thảy đều vô lượng, đều có ý nghĩa này.

 

            (Kinh) A di rị đá.

          ()阿彌唎哆。

          (Kinh: Amṛta).

 

          Có cùng ý nghĩa như trong câu trước, đều là ca ngợi Vô Lượng Thọ Phật.

 

            (Kinh) Tỳ ca lan đế.

          ()毗迦蘭帝。

          (Kinh: Vikrānte).

 

          Câu này bao hàm nhiều nghĩa, nghĩa thứ nhất là “vô ngại hành”. Phật và các vị đại Bồ Tát độ hết thảy chúng sanh trong mười pháp giới, giống như kinh Hoa Nghiêm đã nói “Lý Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại”, chứa đựng ý nghĩa này. Nó có ý nghĩa “phương tiện”, phương tiện thiện xảo, phổ độ chúng sanh.

 

            (Kinh) A di rị đá.

          ()阿彌唎哆。

          (Kinh: Amṛta).

         

Vô lượng.

 

          (Kinh) Tỳ ca lan đa.

          ()毗迦蘭多。

          (Kinh: Vikrānta).

         

Có ý nghĩa “Chân Như bất thoái”. Hết thảy chúng sanh hễ sanh về thế giới Tây Phương bèn viên chứng ba món Bất Thoái, có ý nghĩa này.

 

(Kinh) Già di nị.

          ()迦彌膩。

          (Kinh: Gāmine).

 

          “Già di nị” (Gāmine) là thế giới Cực Lạc, là Di Đà Tịnh Độ, là cõi An Dưỡng.

 

            (Kinh) Già già na.

            ()伽伽那。

            (Kinh: Gagana).

 

          “Già già na” là tỷ dụ, là tán thán, có ý nghĩa là hư không, hoặc như chúng ta nói là thiên giới, hoặc thiên đạo trong lục đạo, cao cao tại thượng, rộng lớn vô biên. Có ý nghĩa ấy.

 

            (Kinh) Chỉ đa ca lệ.

            ()枳多迦隸。

            (Kinh: Kīrta-kare).

 

          Câu này cũng bao hàm nhiều nghĩa, có ý nghĩa “đế vãng” (諦往). “Đế” () là chân thật, chỉ rõ hết thảy chúng sanh cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, đó là chân thật nhất. “Đế” là đế thật (諦實), [tức là] chân thật, [“đế vãng” là] đi theo con đường ấy sẽ chân thật. Trong hội Hoa Nghiêm, Văn Thù và Phổ Hiền đều phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ. Còn có một ý nghĩa là “nguyện khứ” (nguyện đi [về cõi Cực Lạc]), hết sức hoan hỷ mong cầu vãng sanh.

 

          (Kinh) Sa bà ha.

            ()娑婆訶。

          (Kinh: Svāhā).

 

          Cuối tất cả hết thảy các bài chú đều có câu này, dịch sang tiếng Hán là “viên mãn nhanh chóng”, mang ý nghĩa chúc nguyện, hy vọng nguyện của chúng ta sớm có ngày thành tựu, sớm có ngày viên mãn. Đối với mười bốn câu, cổ đại đức đã nói đại ý của chú ngữ. Ý nghĩa ấy, quý vị liễu giải thì rất tốt, chẳng liễu giải cũng không sao. Chẳng liễu giải thì cứ thật thà niệm. Nếu liễu giải, chúng ta niệm chú này có thể tùy văn nhập quán, niệm đến câu nào, cảnh giới ấy bèn có thể hiện tiền. Hai hàng kế đó thuộc về kinh, đây là kinh văn thuộc thể loại trường hàng, nói rõ năm loại lợi ích do trì chú.

 

          (Kinh) Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân.

          ()若有善男子。善女人。

          (Kinh: Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân).

 

          Trong kinh điển Đại Thừa, hễ khai thị cho chúng ta, đức Phật đều nói “thiện nam tử, thiện nữ nhân”. Vì sao? Rốt cuộc, trì chú có thể đạt được năm thứ lợi ích hay không, then chốt ở ngay chữ Thiện này! Trì chú, có người thật sự chiếu theo điều được nói trong kinh điển này, niệm chú Vãng Sanh ba mươi vạn lần, chẳng có hiệu quả! Người ấy hãy suy nghĩ: Đức Phật nói “thiện nam tử, thiện nữ nhân” niệm ba mươi vạn lần mới hữu hiệu! Chúng ta có phải là thiện nam tử, thiện nữ nhân hay không? Then chốt ở chỗ này. Tiêu chuẩn thiện là ở chỗ nào? Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật nói “Tịnh nghiệp Tam Phước”. Cổ đại đức nói Tây Phương Cực Lạc thế giới là Đại Thừa của Đại Thừa, là Nhất Thừa của Nhất Thừa, là pháp môn chí cao vô thượng, tâm chẳng tốt lành thì làm sao có thể vãng sanh cho được? Đối với Tịnh nghiệp Tam Phước, tối thiểu là phải trọn đủ phước thứ nhất, sẽ đới nghiệp vãng sanh, sanh vào cõi Phàm Thánh Đồng Cư. Nếu đối với Tam Phước, một phước cũng chẳng có, chúng ta suốt một đời này niệm Phật siêng tu, chỉ có thể nói là kết một thiện duyên với Tây Phương Cực Lạc thế giới, rất khó vãng sanh ngay trong một đời này. Vì sao? Chẳng phù hợp tiêu chuẩn do đức Phật đã dạy. Tiêu chuẩn ấy chính là “thiện nam tử, thiện nữ nhân”.

Điều thiện tối thiểu là “hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng giết, tu Thập Thiện nghiệp”. Nếu như cả bốn câu ấy đều chẳng làm được, quý vị niệm kinh, niệm chú, niệm Phật, sẽ đều là kết duyên với Phật, chứ mong vãng sanh trong một đời này rất khó. Làm được cả bốn câu trong điều thiện thứ nhất, sẽ có phần trong cõi Phàm Thánh Đồng Cư. Nếu lại có thể làm được điều thiện thứ hai, “thọ trì Tam Quy, đầy đủ các giới, chẳng phạm oai nghi”, đại khái là cũng có thể có phần trong cõi Phương Tiện Hữu Dư, phẩm vị bèn cao. Nếu có thể ba điều thiện đều đầy đủ, “phát Bồ Đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng Đại Thừa, khuyến tấn hành giả”, thưa cùng chư vị, [sẽ là] thượng thượng phẩm vãng sanh. Có thể thấy chữ này (chữ Thiện) là then chốt, thường là chúng ta sơ sót, khinh thường xem lướt qua. Tới khi niệm mấy trăm lần, mấy chục vạn lần, chẳng có hiệu quả, vẫn trách móc kinh này chẳng linh, cứ trách móc đức Phật nói dối, chẳng đáng tin cậy. Đó là báng Phật, báng Pháp, làm thế nào được nữa! Kẻ đó chẳng tự trách mình, mà chê trách kinh điển, chê trách Phật, Bồ Tát. Nói thật ra, Phật, Bồ Tát đã bảo rõ ràng cùng chúng ta. Chính mình hãy tự ngẫm xem bản thân chúng ta có hội đủ tiêu chuẩn thiện ấy hay không? Các Ngài nói “thiện nam tử, thiện nữ nhân”, ta có phần hay không? Điều này quan trọng lắm! Do vậy, chẳng thể không nhấn mạnh tỉ mỉ Tịnh nghiệp Tam Phước, quý vị mới thật sự hiểu rõ. Đối với “hiếu dưỡng phụ mẫu”, “hiếu” là gì? “Dưỡng” như thế nào? Trong ấy là một môn học vấn to tát. Đó là đại căn, đại bản của Phật pháp. Trọn đủ điều kiện như vậy, đó chính là tiêu chuẩn trong Phật môn, người ấy hoàn toàn phù hợp là thiện nam tử, thiện nữ nhân, chọn lựa pháp môn này, dùng phương pháp này để tu.

 

          (Kinh) Năng tụng thử chú giả, A Di Đà Phật thường trụ kỳ đảnh.

          ()能誦此咒者。阿彌陀佛常住其頂。

(Kinh: Người có thể tụng chú này, A Di Đà Phật thường ở trên đỉnh đầu người ấy).

 

          Đây là lợi ích thứ nhất, A Di Đà Phật thường ở trên đỉnh đầu của quý vị. Đó là được bổn nguyện và oai thần của Phật ngấm ngầm gia trì. Vì Phật ở trên đỉnh đầu, quý vị chẳng thấy, nhưng Ngài thật sự ở trên đỉnh đầu quý vị, thật sự gia hộ, gia trì quý vị. Chư vị phải hiểu: Chúng ta tu Tịnh nghiệp cầu vãng sanh, cơ hội này đúng là khó có, nhất định phải khiến cho chính mình trở thành pháp khí. “Pháp khí”, nói theo cách hiện thời, [sẽ là] nhất định phải đầy đủ những điều kiện mà đức Phật đã yêu cầu. Chúng ta thảy đều đầy đủ [những điều kiện ấy] thì mới có tư cách tiếp nhận pháp môn này. Điều kiện gì vậy? Chính là Tịnh nghiệp Tam Phước. Trong Quán Kinh, đoạn kinh văn này trọng yếu lắm! Phu nhân Vi Đề Hy đích thân trông thấy y báo và chánh báo trang nghiêm của Tây Phương Cực Lạc thế giới, bèn phát khởi tâm ngưỡng mộ, mong mỏi vô hạn, mong cầu sanh về thế giới Cực Lạc, hướng về Thích Ca Mâu Ni Phật thỉnh giáo: “Tu phương pháp gì để có thể vãng sanh?” Trước khi đức Phật dạy bà ta phương pháp tu hành, bèn trước hết dạy bà Tịnh nghiệp Tam Phước. Nói xong, lại căn dặn bà ta: Ba điều kiện ấy “chính là chánh nhân tịnh nghiệp của tam thế chư Phật”. Câu nói này quan trọng lắm! Quá khứ, hiện tại, vị lai, tất cả hết thảy chư Phật tu hành thành Phật, đều lấy những điều này làm cơ sở. Chẳng có cơ sở này, chắc chắn là chẳng thể thành tựu. Thật sự mong tu tập, thật sự mong thành tựu trong một đời này, chẳng thể không chú ý, chẳng thể không nghiêm túc tu tập. Lợi ích thứ hai...

 

          (Kinh) Nhật dạ ủng hộ.

          ()日夜擁護。

          (Kinh: Ngày đêm ủng hộ).

 

          Ban ngày, buổi tối, A Di Đà Phật, chư Phật, Bồ Tát, và hộ pháp thiện thần đều ủng hộ, đều che chở quý vị. Vì sao? Vì quý vị là học trò thật sự của A Di Đà Phật. Câu đầu tiên, “nam-mô a di đa bà dạ”, chính là ta quy y A Di Đà Phật, là học trò thật sự của A Di Đà Phật. Nay chúng ta niệm câu này, A Di Đà Phật chẳng thừa nhận! Chẳng phải là học trò thật sự. Vì sao? Vì chúng ta không đủ tư cách, người ta có tư cách ấy vì họ là thiện nam tử, thiện nữ nhân, còn chúng ta đối với Tam Phước chẳng làm được điều nào! Hễ làm được, quý vị là quy y thật sự, mới là học trò thật sự của A Di Đà Phật. Là học trò của A Di Đà Phật, hết thảy chư Phật đều tôn trọng quý vị; há có lẽ nào Bồ Tát, thiện thần chẳng ủng hộ? Lợi ích thứ ba:

 

          (Kinh) Vô linh oán gia nhi đắc kỳ tiện.

          ()無令怨家而得其便。

(Kinh: Chẳng để cho oán gia có dịp quấy nhiễu).

 

          “Oán gia” là nói tới oán gia trái chủ trong đời quá khứ. Vì quý vị có Phật, Bồ Tát gia hộ, có hộ pháp thiện thần ủng hộ, oán gia trái chủ trong nhiều đời chẳng có cách nào tiếp cận quý vị. Chuyện này tốt đẹp ở chỗ nào? Trong quá trình tu hành, quý vị thuận buồm xuôi gió, chẳng có ma chướng. “Oán gia nhi đắc kỳ tiện” (Oán gia có dịp quấy nhiễu) chính là ma chướng. [Thông thường, trong khi tu hành], ma chướng nhiều lắm, chắc chắn là quý vị chẳng thể tránh khỏi ma chướng, nguyên nhân ở chỗ nào? Từ đời đời kiếp kiếp trong vô lượng kiếp đến nay, chúng ta đã kết oán với chẳng biết bao nhiêu chúng sanh! Nhất là ăn thịt của chúng sanh. Ăn thịt chúng sanh là kết thâm cừu đại hận với chúng nó! Trong kinh Phật đã dạy rất rõ ràng: Ăn nửa cân thịt của chúng, trong tương lai, phải đền tám lạng! Thiếu nợ phải trả tiền, thiếu mạng phải đền mạng. Đời này chẳng trả, đời sau nhất định phải đền. Nếu quý vị nghĩ đến những chuyện nhân quả báo ứng ấy, [sẽ cảm thấy] quá đáng sợ! Trước kia chẳng hiểu, làm những chuyện ác, nay đã hiểu rõ, quyết định chẳng tạo nữa! Chẳng kết oán cùng bất luận kẻ nào, chẳng có tơ hào tranh chấp nợ nần cùng bất cứ ai. Trả nợ sạch sành sanh, trên đường Bồ Đề chúng ta mới ít gặp chướng ngại! Đã biết điều này, còn những món nợ trong đời quá khứ, chẳng biết! Làm như thế nào đây? Chúng ta hãy đem hết thảy công đức tu học của chính mình hồi hướng cho họ hòng bù nợ! “Nguyện dĩ thử công đức, thượng báo tứ trọng ân, hạ tế tam đồ khổ” (Nguyện đem công đức này, trên đền bốn ân nặng, dưới cứu khổ ba đường), đó là bù nợ, trả nợ. Quý vị đừng nên quấy nhiễu tôi, để tôi tu hành thành tựu, lợi ích thảy đều của quý vị. Ý nghĩa trọng yếu nhất của hồi hướng là ở chỗ này. Bản thân quý vị có công đức ấy, Phật, Bồ Tát gia trì, che chở quý vị càng thuận tiện, càng dễ dàng! Đối với chuyện này, chư vị đọc kỹ càng kinh Địa Tạng sẽ hiểu. Loại lợi ích thứ tư:

 

          (Kinh) Hiện thế thường đắc an ổn.

          ()現世常得安穩。

          (Kinh: Trong đời hiện tại, thường được an ổn).

 

          Trong thế gian hiện thời, quý vị thường được “an ổn”, chúng ta nói thông thường] sẽ là “bình an”. Dẫu gặp đại tai, đại nạn, quý vị vẫn có thể yên ổn vượt qua, chẳng hứng chịu những nỗi khổ sở vì tai nạn. Điều này có nghĩa là cộng nghiệp và biệt nghiệp khác nhau. Người chẳng học Phật không hiểu điều này, chứ người có đôi chút tu trì, hơi biết đôi chút kinh luận Phật pháp, đại khái là ít nhiều gì cũng có thể lãnh hội đôi chút!

Do đó, tôi thường nhắc nhở các đồng tu: Tu trì, đọc kinh, niệm Phật, đoạn ác, tu thiện, hết sức trọng yếu. Vì sao? Nay chúng ta đang sống trong đời loạn; trong tương lai, rốt cuộc loạn đến nỗi nào, ai cũng đều chẳng dám tiên đoán! Lại còn chẳng phải là loạn ở một nơi nào, mà là toàn thể thế giới đều loạn. Điều gì là an toàn nhất? Có phước, có đức là an toàn nhất, thật đấy! Quý vị có của cải, “tài vi ngũ gia cộng hữu” (của cải do năm nhà cùng sở hữu). Dẫu giàu có đến mấy, có thể là một ngày nào đó, sẽ mất sạch sành sanh! Xưa nay, những trường hợp giống như vậy quá nhiều, [tài sản] chẳng phải là của quý vị! Quyền thế và địa vị đều là giả trất. Chẳng có gì thật sự bảo đảm, [chẳng có gì] là chỗ dựa thật sự vững chắc. Kho báu vững chắc để nương cậy là mọi người hãy tích đức, có phước, có đức. Tuy trên thân quý vị chẳng có [của cải gì], nhưng quý vị đến nơi nào, người ta vừa trông thấy quý vị bèn sanh tâm hoan hỷ, cung kính, chăm sóc quý vị. Đó là có phước. Người ấy có thể vượt qua tai nạn, “hiện thế thường đắc an ổn” (thường được an ổn trong đời này).

Trong câu này, [có ý nói] quý vị tụng chú bèn được Phật lực gia trì, nhưng quý vị có sự tu trì làm cơ sở, có đức hạnh ấy, tức là một chữ Thiện. Quý vị chính là “thiện nam tử, thiện nữ nhân”, là một người thật sự tu Tịnh nghiệp Tam Phước, thuộc hạng thiện nhân. Vì thế, sẽ được hết thảy chư thiên, thiện thần gia hộ. Đó là thật. Trong các buổi giảng, tôi thường nhắc nhở các đồng tu: Hiện thời, trong xã hội, quý vị có địa vị, có quyền thế, có của cải, những thứ ấy tạm thời hiện hữu trước mắt quý vị trong chốc lát, chứ quý vị chẳng [thật sự] đạt được! Nói cách khác, quý vị tạm thời có quyền phân xử, chẳng phải là vĩnh hằng, [nghĩa là] tạm thời có quyền để chi phối nó, ta dùng nó tốt đẹp, dùng làm việc thiện, tích lũy công đức. Nếu ta sử dụng chẳng ổn thỏa, thích đáng, thì sẽ tạo tác tội nghiệp, phải hiểu đạo lý này. Đời người hết sức ngắn ngủi, tạm bợ, huống chi “trên đường tới suối vàng, không phân biệt già trẻ”, một hơi thở ra chẳng hít vào được, sẽ là đời sau. Vì thế, điều gì cũng phải xem nhẹ, đều phải buông xuống, tận tâm, tận lực vì xã hội, vì đại chúng tạo phước, đừng nghĩ tới chính mình, đừng nghĩ tới gia đình mình.

Quý vị thật sự tích đức, tu phước, gia đình của quý vị tự nhiên được Phật, Bồ Tát chiếu cố, có hộ pháp thiện thần chiếu cố, chu đáo hơn chính mình chiếu cố nhiều lắm, chính mình chẳng chiếu cố được! Thật sự là chỉ có cầu Phật, Bồ Tát, cầu thần hộ pháp tới chiếu cố, mới là đáng tin cậy. Phải nghĩ thông suốt đạo lý này! Sự thật bày ra trước mắt chúng ta, hãy chú tâm quan sát, khiến cho quý vị liễu giải chân tướng sự thật, sau đấy, mới hiểu bản thân chúng ta phải nên thực hiện như thế nào, cũng là phải nên biết tu như thế nào. Như vậy thì sẽ không phạm sai lầm. Đó là nói quý vị đạt được quả báo thù thắng trong hiện tiền. Thù thắng nhất là khi lâm chung:

 

          (Kinh) Lâm mạng chung thời, nhậm vận vãng sanh.

          ()臨命終時。任運往生。

          (Kinh: Khi lâm chung, tùy ý vãng sanh).

         

Trong ấy, có sự thù thắng khôn sánh là “nhậm vận”, “nhậm vận” (任運) là tự tại. Hễ ngã bệnh sẽ chẳng tự tại, chẳng biết sẽ ra đi lúc nào cũng là chẳng tự tại. Chính mình biết sẽ ra đi khi nào, chẳng ngã bệnh, đứng mất, hoặc ngồi mất, chúng ta đã thấy, đã nghe, xác thực là có [những trường hợp như vậy]! Điểm này chẳng giả tí nào, đó mới là chẳng luống uổng một đời này. Một đời này của chúng ta thật sự có ý nghĩa, thật sự có giá trị. Người ta có thể [vãng sanh tự tại], vì sao ta chẳng thể?

Năm xưa, lão cư sĩ Lý Tế Hoa thuộc Đài Bắc Niệm Phật Đoàn, là học trò của Ấn Quang đại sư. Lão nhân gia đã tám mươi mấy tuổi mới vãng sanh. Cụ biết trước lúc vãng sanh hai tháng; vì thế, vào ngày nghỉ cuối tuần, cụ đến thăm các bạn cũ để từ biệt, gặp mặt lần cuối. Hôm cụ vãng sanh, vì các con đều ở Mỹ, [chỉ có] hai vợ chồng già sống tại Đài Loan, [hai cụ] ngồi xe ba bánh đến Niệm Phật Đoàn tham gia cộng tu. Ngồi trên xa ba bánh, cụ bảo vợ: “Tôi sắp vãng sanh, bà trơ trọi một mình có cảm thấy tịch mịch hay không?” Thật ra, bà cụ cũng không biết chồng sẽ vãng sanh hôm đó. Bà cụ là một Phật tử kiền thành, [bèn đáp]: “Ông có thể vãng sanh, quá tốt đẹp! Chẳng cần phải bận tâm vì tôi”, tức là cũng như bà vợ đã đồng ý. Họ cộng tu giống như đả Phật Thất thông thường, bất quá là [thời gian niệm Phật chừng] một nén hương. Trong thời gian một nén hương ấy, có khai thị nửa tiếng đồng hồ. Giảng khai thị là do các vị lão cư sĩ luân phiên giảng. Hôm đó, đến phiên Ngụy lão cư sĩ, cụ đổi phiên với vị lão cư sĩ ấy. Lão nhân gia lên bục giảng, bèn giảng đến một tiếng rưỡi, giảng hết sức cao hứng, hết sức hoan hỷ, rát lòng buốt miệng khuyên mọi người niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Giảng xong, cụ hướng về mọi người cáo từ: “Tôi phải về nhà”. Người khác tưởng cụ đã ngoài tám mươi, giảng một tiếng rưỡi bèn mệt mỏi, muốn về nhà! Không ngờ, cụ bước xuống bục giảng, cạnh giảng đường có một phòng khách nhỏ, cụ ngồi xuống sofa bèn vãng sanh. Tiêu sái lắm, tự tại lắm! Trước lúc vãng sanh, giảng đến một tiếng rưỡi, tùy ý vãng sanh, sanh tử tự tại. Học Phật kiểu đó mới là học Phật chẳng uổng công!

Là quyến thuộc của Bồ Tát, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới bèn là Bồ Tát, thật sự là Bồ Tát. Lại còn chẳng phải là Bồ Tát bình phàm, kinh Di Đà nói “đều là A Bệ Bạt Trí Bồ Tát”. A Bệ Bạt Trí tuyệt diệu thay! A Bệ Bạt Trí là Bồ Tát đã viên chứng ba món Bất Thoái, địa vị ấy cao lắm! Đó là do bổn nguyện và oai thần của A Di Đà Phật gia trì. Kẻ bình phàm nếu muốn tự mình tu đến địa vị ấy, thấp nhất trong các địa vị thuộc A Bệ Bạt Trí là Thất Địa Bồ Tát. Nói theo Biệt Giáo, cũng phải tu trọn hai A-tăng-kỳ đại kiếp thì mới có thể đạt tới địa vị này. Quý vị thấy đó: Trong Tịnh Tông, tu hành một đời bèn thành tựu. Vì thế, pháp môn này đúng là chẳng thể nghĩ bàn. Đó là điều lợi ích thứ năm.

          Chư vị hãy đặc biệt ghi nhớ, then chốt là chữ Thiện, tiêu chuẩn ở chỗ này. Thiện nam tử, thiện nữ nhân thì mới có thể đạt được năm thứ lợi ích ấy. Cùng một đạo lý như vậy, quý vị [thật sự là] thiện nam tử, thiện nữ nhân, thọ trì kinh A Di Đà, hoặc trì thánh hiệu Di Đà, đều có thể đạt được lợi ích y hệt! Hoàn toàn chẳng phải là chỉ có niệm chú Vãng Sanh thì mới có năm thứ lợi ích ấy! Chẳng phải vậy! Đọc kinh hay niệm Phật thảy đều đạt được! Điều kiện then chốt là chữ Thiện. Đối với Tịnh nghiệp Tam Phước, quý vị có thể thực hiện Tam Phước thảy đều viên mãn, sẽ là thượng thượng phẩm.

 

          (Sớ) Chư bổn cú độc sảo dị, kim y cổ bổn, thần chú bất phiên, bất tất cưỡng thích.

          ()諸本句讀稍異,今依古本,神咒不翻,不必強釋。

(Sớ: Cách chấm câu trong các phiên bản hơi khác nhau. Nay tôi chiếu theo văn bản cổ [để chấm câu]. Thần chú chẳng phiên dịch, chẳng cần phải gượng ép giải thích).

 

          Kinh Phật từ thời Nam Bắc Triều được phiên dịch và lưu truyền cho tới hiện thời đã là một ngàn sáu trăm năm. Trải qua các đời sao chép, lưu thông, chuyện chép sai, chép sót chẳng thể tránh khỏi! Trong các văn bản cổ, thường phát hiện có vấn đề này. Do vậy, có rất nhiều phiên bản khác nhau, mặt chữ trong ấy sai khác, câu văn hoặc nhiều, hoặc ít. Đối với chuyện “cú độc” (句讀, chấm câu) càng nhiều vấn đề, “cú độc” chính là thêm dấu chấm câu, vì cổ thư không chấm câu, toàn là do người đọc tự mình ngắt câu. Có người chấm câu sai, đem câu trên đọc liền một mạch với câu dưới. Tình hình điên đảo ấy cũng rất nhiều.

 

          (Sao) Chư bổn bất đồng giả, như “Nam-mô a di đa bà dạ”, nhất bổn tác “Nam-mô a di đa bà dạ đa”, dĩ thứ cú Đa tự liên thuộc thượng cú, cố vân “sảo dị”.

          ()諸本不同者,如南無阿彌多婆夜,一本作南無阿彌多婆夜多,以次句多字連屬上句,故云稍異。

(Sao: “Các phiên bản bất đồng”: Như đối với câu “Nam-mô a di đa bà dạ”, một bản khác ghi là “Nam-mô a di đa bà dạ đa”, tức là đã ghép chữ Đa thuộc câu sau vào câu trước. Vì thế nói là “hơi khác”).

 

          Như câu đầu tiên của chú Vãng Sanh, có bản khác chấm câu chẳng giống như bản này. Sau chữ “đa bà dạ”, họ ghép chữ Đa vốn thuộc câu dưới vào câu trên để chấm câu. Phiên bản khác nhau, làm như thế nào? Do đây là chú, chẳng có cách nào lý giải, phương pháp duy nhất là tìm nhiều văn bản, đối chiếu những văn bản bất đồng với nhau, văn bản nào được sử dụng nhiều hơn, chúng ta bèn chọn lấy bản ấy. Nếu là kinh văn, chúng ta có thể suy nghĩ ý nghĩa, [để xét xem] chấm câu kiểu nào thì ý nghĩa sẽ viên mãn hơn, dễ nói hơn, minh bạch hơn, chúng ta bèn chọn lấy bản ấy.

 

          (Sao) Kim bất tất khổ cứu thị phi, đản y nhất bổn.

          ()今不必苦究是非,但依一本。

(Sao: Nay chẳng cần vất vả tìm tòi đúng sai, chỉ y theo một phiên bản).

 

          Đại sư đề nghị: Chẳng cần phải nhọc sức truy cứu, chỉ cần chọn lựa một bản tốt đẹp. Chúng ta thường gọi bản như vậy là “thiện bổn” (善本), có nghĩa là “phiên bản tốt lành”. Như đối với bản này, nhất định là Liên Trì đại sư lão nhân gia đã xem khá nhiều văn bản. Ở đây, Ngài ghép chú ngữ vào phía sau kinh, cách chấm câu này đã được chính Liên Trì đại sư thẩm tra. Chúng ta nương theo bản này của đại sư; đó cũng là một phương pháp tốt đẹp.

 

          (Sao) Chí tâm tụng trì, tự thành lợi ích.

          ()至心誦持,自成利益。

          (Sao: Chí tâm tụng trì, tự thành tựu lợi ích).

 

          “Chí tâm” là thành tâm, thành tâm thành ý niệm, tự nhiên có thể đạt được lợi ích. Nhưng ở đây, quý vị ngàn muôn phần phải ghi nhớ, “thiện nam tử, thiện nữ nhân”. Đó là một tiêu chuẩn cơ bản, bất luận như thế nào, chúng ta phải nâng cao phẩm đức của chính mình lên tới tiêu chuẩn này. Chúng ta chẳng có cách nào thực hiện Tam Phước, mức độ thấp nhất chúng ta phải tăng [phẩm đức của chính mình] lên tới phước thứ nhất; bất luận như thế nào, phải làm được phước thứ nhất. Nhưng ở đây, nhất định phải nghiêm túc nhấn mạnh [Tam Phước] rất cặn kẽ. Nếu không, quý vị sẽ nẩy sanh hiểu lầm. Chẳng hạn như “hiếu dưỡng phụ mẫu”, hằng ngày cung kính cha mẹ, chăm sóc chuyện ăn uống và các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống của họ, đó có phải là hiếu dưỡng hay không? Chẳng phải! Không đủ! [Nếu] chấm điểm về sự hiếu dưỡng, [làm kiểu đó] tối đa được hai mươi điểm, chẳng đạt! Vậy thì phải dưỡng như thế nào? Dưỡng cái tâm, dưỡng cái chí của cha mẹ. Cha mẹ hằng ngày canh cánh lo cho con cái, thời thời khắc khắc nghĩ đến con. Kẻ chẳng làm cha mẹ, sẽ không hiểu được! Anh em bất hòa, cha mẹ bận lòng, đó là bất hiếu. Học hành chẳng dụng công, đi thi chẳng đỗ đạt, cha mẹ lại lo phiền, bất hiếu! Làm việc bên ngoài chẳng tận hết trách nhiệm, chẳng nghiêm túc, bị cấp trên xử phạt, cha mẹ lo lắng, bất hiếu! Quý vị mới biết hiếu dưỡng có phạm vi hết sức rộng lớn, chẳng phải chỉ là chăm lo cái ăn, cái uống, và nhu cầu cần thiết trong cuộc sống hằng ngày [là đủ]! Làm thế nào để cha mẹ đỡ nặng lòng, làm sao khiến cho cha mẹ tâm tình vui sướng, đấy mới là trọn hết một chút lòng hiếu. Những chuyện này nhất định phải được nhấn mạnh cặn kẽ.

Trong thế gian, thật sự làm một người có phẩm đức tốt đẹp, học hành, tu dưỡng tốt đẹp, đối đãi với người khác hòa thuận, đối với công việc bèn nghiêm túc, trọn hết trách nhiệm, được đại chúng trong xã hội khen ngợi, cha mẹ mới hoan hỷ. Đấy mới là trọn hết một chút lòng hiếu. Làm càn, làm quấy khiến cho người ta phê bình, khiến cho người ta khinh dễ, trong tâm cha mẹ lắm nỗi khổ sở, đấy chẳng phải là hiếu thuận. Mức độ thấp nhất là quý vị phải làm được bốn câu trong phước thứ nhất, phải đạt đến mức độ phù hợp tiêu chuẩn này, sau đấy mới là thiện nam tử, thiện nữ nhân thật sự. Vì đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, nơi ấy là chỗ các vị thượng thiện nhân nhóm họp, chúng ta một tí phước cũng chẳng có, sẽ cách biệt, chẳng hòa nhập với họ được! Họ là thượng thiện, chúng ta cũng chẳng khác bậc thượng thiện cho mấy thì mới được! Chẳng thể không có một tí thiện nào! “Thiện nam tử, thiện nữ nhân” ở chỗ này hết sức trọng yếu. Chí tâm tụng trì, tự thành tựu lợi ích. Hôm nay, tôi giảng tới chỗ này!

 

Tập 288

 

          Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang sáu trăm lẻ chín:

 

          (Sao) Hựu hữu vị “Nam-mô a di đà đa bà dạ”, thử vân “quy mạng Vô Lượng Thọ”.

()又有謂南無阿彌陀多婆夜,此云皈命無量壽。

(Sao: Lại có bản chép là “nam-mô a di đà đa bà dạ”, cõi này dịch là “quy mạng Vô Lượng Thọ”).

 

          Chú ngữ là tiếng Phạn phiên âm, có nghĩa là “quy mạng Vô Lượng Thọ Phật”, tức là “quy mạng A Di Đà Phật”. “Quy mạng” (皈命) cũng có nghĩa là “quy y”.

 

          (Sao) Đa tha già đa dạ, tức “đa tha a già độ”, thử vân Như Lai.

         ()多他伽多夜,即多他阿伽度,此云如來。

(Sao: “Đa tha già đa dạ” (Tathāgatāya) tức “đa tha a già độ”, cõi này dịch là Như Lai).

 

          Phiên âm có đôi chút sai khác, nguyên văn tiếng Phạn như nhau, người dịch khác nhau, đạo tràng dịch kinh khác nhau, danh từ, thuật ngữ chẳng có tiêu chuẩn thống nhất. Câu này dịch sang tiếng Hán là Như Lai.

 

          (Sao) “Đa địa dạ tha”, tân dịch vân “tha đích dã thát”, cựu vân “đát điệt tha”. Điệt, âm điệt, tức địa dạ nhị hợp dã. Thử vân “tức thuyết chú viết”, tự hậu phương thị mật ngữ.

          ()哆地夜他,新譯云他的也撻,舊云怛絰他。絰,音迭,即地夜二合也。此云即說咒曰。自後方是密語。

(Sao: “Đa địa dạ tha” (Tadyathā): Phiên âm theo lối tân dịch là “tha đích dã thát”, cựu dịch là “đát điệt tha”. Chữ Điệt () đọc là Điệt (), tức là Địa và Dạ đọc dính lại, cõi này dịch là “liền nói chú rằng”, từ đấy trở đi là mật ngữ).

 

          [Nguyên văn] tiếng Phạn vẫn là cùng một chữ. Một chữ mà có vài cách phiên âm khác nhau, do người phiên dịch phiên âm khác nhau, nhưng ý nghĩa đều như nhau. Sau chữ “đá địa dạ tha” tức là từ “a di rị đô bà tỳ” trở về sau chính là mật chú. Do vậy có thể biết: Trong mười bốn câu chú ngữ, ba câu đầu là hiển thuyết, những câu sau đó mới là mật chú.

 

          (Sao) Nhiên thần chú tùng cổ bất phiên, lược hữu ngũ ý.

          ()然神咒從古不翻,略有五意。

          (Sao: Nhưng thần chú từ xưa chẳng dịch, nói đại lược thì có năm ý).

 

          Có năm ý nghĩa [khiến cho] cổ nhân chẳng dịch chú ngữ, chỉ phiên âm, không dịch ý nghĩa. Trong phần trước, chúng tôi cũng đã nói với quý vị ý nghĩa của mỗi câu. Thật ra, chú này vẫn có ý nghĩa, trọn chẳng phải là hoàn toàn không có ý nghĩa[13]. Chú ngữ hoàn toàn chẳng có ý nghĩa cũng có, loại này vẫn chiếm số lượng rất lớn trong các mật chú.

 

          (Sao) Nhất, như vương mật chỉ, vật vọng tuyên truyền, đản nghi khâm phụng cố.

          ()一、如王密旨,勿妄宣傳,但宜欽奉故。

(Sao: Một là như mật chỉ của vua, chớ tuyên truyền bừa bãi, chỉ nên kính cẩn phụng hành).

 

          Giống như ý chỉ bí mật của đế vương xưa kia, quý vị chỉ chiếu theo đó mà làm, chẳng cần hỏi han ý nghĩa như thế nào, cứ y giáo phụng hành là được rồi. Thần chú giống như mật chỉ của Như Lai, chẳng cần hỏi ý nghĩa là gì, chỉ cần thật thà niệm, tam mật tương ứng là được rồi!

 

          (Sao) Nhị, hoặc nhất ngữ quảng hàm đa nghĩa, như Tiên Đà Bà cố.

          (Diễn) Tiên Đà Bà giả, thị Phạn ngữ, hữu diêm, thủy, mã, khí, tứ danh. Duy hữu trí thần nãi năng biện thức, như vương thực thời, hô Tiên Đà Bà, tắc tri yếu diêm. Như vương tẩy quán, hô Tiên Đà Bà, tắc tri yếu thủy. Như vương tác chúng vụ thời, hô Tiên Đà Bà, tắc tri yếu khí. Như vương xuất du, sách Tiên Đà Bà, tắc tri yếu mã.

          ()二、或一語廣含多義,如僊陀婆故。

         ()仙陀婆者。是梵語。有鹽水馬器四名。惟有智臣乃能辨識。如王食時。呼仙陀婆。則知要鹽。如王洗盥。呼仙陀婆。則知要水。如王作眾務時。呼仙陀婆。則知要器。如王出游。索仙陀婆。則知要馬。

(Sao: Hai là một chữ bao hàm rộng rãi nhiều nghĩa, như Tiên Đà Bà.

          Diễn: Tiên Đà Bà là tiếng Phạn, tương ứng với tên gọi của bốn thứ là muối, nước, ngựa và vật dụng, chỉ có kẻ bầy tôi có trí mới có thể phân biệt. Như khi vua ăn, gọi Tiên Đà Bà, biết là cần muối. Như vua tắm gội, kêu Tiên Đà Bà, liền biết là cần nước. Như vua làm các việc, gọi Tiên Đà Bà, liền biết là vua cần vật dụng. Như vua xuất du, đòi Tiên Đà Bà, biết là muốn có ngựa).

 

          Tiên Đà Bà (Saindhava) là tiếng Phạn. Trong chữ này bao hàm rất nhiều ý nghĩa, trong phần chú giải sau đó có nói. Trong tình huống nào, nói chữ này thì có ý nghĩa là gì. Tình hình đó không phải chỉ là trong tiếng Phạn mới có, trong ngôn ngữ của Trung Hoa cũng có. Muốn thật sự hiểu rõ ý nghĩa, không chỉ là phải xét xem âm đọc như thế nào, chữ Hán có rất nhiều chữ “phá âm”[14], mà còn phải xét xem sự biểu lộ qua ngữ khí thì mới thật sự suy lường ý nghĩa của nó.

 

          (Sao) Tam, hoặc thử phương sở vô, như Diêm Phù Đề cố.

          ()三、或此方所無,如閻浮提故。

(Sao: Ba, hoặc là do phương này không có, như Diêm Phù Đề[15] vậy).

 

          Ở Ấn Độ có, tại Trung Hoa chẳng có. Thí dụ như Trung Hoa là xứ ôn đới, Ấn Độ là nhiệt đới, trong miền nhiệt đới có khá nhiều loại động thực vật mà Trung Hoa chẳng có.

 

          (Sao) Tứ, hoặc thuận cổ văn, như A Nậu Bồ Đề cố.

          ()四、或順古文,如阿耨菩提故。

(Sao: Bốn là thuận theo cổ văn như A Nậu Bồ Đề).

 

          Thuận theo lệ cổ không dịch. Chữ A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề có thể phiên dịch, nhưng do thời cổ chẳng dịch, mà dùng cách phiên âm, sau đấy mới giải thích thêm.

 

          (Sao) Ngũ, hoặc tôn trọng, phi Đường ngôn khả đối, như Bát Nhã cố.

          ()五、或尊重,非唐言可對,如般若故。

(Sao: Năm là hoặc do tôn trọng, chẳng có tiếng Hán tương ứng để diễn tả trọn vẹn ý nghĩa, như chữ Bát Nhã).

 

          Đây là thuộc loại “tôn trọng chẳng dịch”.

 

          (Sao) Nhất vân: Diệc khả cưỡng phiên.

          ()一云:亦可強翻。

(Sao: Có người nói: Cũng có thể miễn cưỡng phiên dịch).

 

          “Nhất vân” là lại có một cách nói khác nữa, chú cũng có thể miễn cưỡng dịch ra.

 

          (Sao) Ký vị chi cưỡng, hạt nhược dĩ chi.

          ()既謂之強,曷若已之。

          (Sao: Đã nói là miễn cưỡng, cần gì phải làm vậy?)

 

          Nếu đã miễn cưỡng, cần gì phải làm? Chúng ta biết: Dài nhất trong các bài thần chú là thần chú Lăng Nghiêm trích từ kinh Lăng Nghiêm. Từ xưa đến nay, kinh Lăng Nghiêm đã có hơn một trăm vị chú giải, mỗi vị chú giải đều chẳng dịch nghĩa chú Lăng Nghiêm, chỉ giới thiệu đơn giản, khái lược. Chỉ riêng pháp sư Từ Vân Quán Đảnh đời Thanh là dịch nghĩa thần chú Lăng Nghiêm. Cổ nhân có vị dịch nghĩa thần chú, có vị không dịch. Không dịch vẫn chiếm đa số.

 

          (Sớ) Kinh chú tương liên, chánh Hiển Mật viên thông nghĩa.

          ()經咒相聯,正顯密圓通義。

(Sớ: Kinh và chú liên quan với nhau, chính là ý nghĩa Hiển Mật viên thông).

 

          Chú Vãng Sanh không thuộc về bộ kinh này, vì sao ghép vào đây? Liên Trì đại sư muốn dạy chúng ta: Hiển và Mật là viên dung, thông đạt, chẳng có chướng ngại. Kinh là chú hiển thuyết, chú là kinh mật thuyết, phương thức biểu đạt khác nhau, nội dung chẳng hai, chẳng khác. Nội dung của phần dịch nghĩa chú Vãng Sanh xác thực là nhằm dạy chúng ta hãy niệm A Di Đà Phật, cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ, chỉ thú giống hệt như kinh Di Đà. Đại sư làm cách này, đúng là khổ tâm tốn sức! Chúng sanh trong cõi Diêm Phù Đề tánh tình bất định, thay đổi thất thường, nay thích điều này, mai ưa điều khác, niệm Phật chẳng thật thà. Thấy kẻ khác tham Thiền, bèn mong tĩnh tọa tham Thiền. Thấy người ta học Mật, cũng muốn niệm chú, tu học như vậy sẽ chẳng thành tựu! Không chỉ là niệm Phật chẳng tốt đẹp, mà bất luận tu học pháp môn nào, cũng đều chẳng thể học tốt đẹp được! Đại sư làm cách này, không gì chẳng nhằm dạy chúng ta khăng khăng một mực thật thà niệm Phật. Sau mỗi đoạn Sớ Sao, đều có phần đàm luận xứng tánh. Phần xứng tánh ấy thuộc về Thiền Tông, nhằm bảo rõ với chúng ta: Có đoạn nào, câu nào trong kinh Di Đà chẳng phải là thượng thượng Thiền? Chẳng cần phải tu Thiền nữa. Chẳng phải là quý vị đã học Mật rồi đó ư? Chú Vãng Sanh là vô thượng mật chú; ở đây, chúng ta cũng có chú ấy. Vì thế, chỉ là một dụng ý, một mục tiêu, nhằm dạy chúng ta nhận biết rõ ràng hết thảy các pháp môn, thật thà niệm Phật. Thật thà niệm Phật, chẳng có ai không thành tựu! Cổ đức bảo pháp môn này là “vạn người tu, vạn người đến” chẳng giả!

 

          (Sao) Tường trần bỉ quốc, y chánh trang nghiêm, tín, hạnh, nguyện môn, như kinh sở minh, thị chi vị Hiển.

          ()詳陳彼國,依正莊嚴,信行願門,如經所明,是之謂顯。    

          (Sao: Nói cặn kẽ y báo và chánh báo trang nghiêm trong ấy, các môn Tín, Hạnh, Nguyện được giảng rõ trong kinh, đó gọi là Hiển).

 

          “Trần” là trần thuyết (陳說, tường thuật, giải thích), nói rõ tường tận, cặn kẽ trạng huống trong Tây Phương Cực Lạc thế giới. “Y” () là trạng huống nơi hoàn cảnh sống. “Chánh” () là nói đến A Di Đà Phật, cũng như trạng huống tu học tại Tây Phương của những người từ mười phương vãng sanh đến thế giới Tây Phương, đều nói rất rõ ràng, rất minh bạch. Nhất là chúng ta hợp ba kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật và kinh Di Đà lại để xem, sẽ mười phần liễu giải trạng huống trong Tây Phương Cực Lạc thế giới. Chỉ có thật sự liễu giải, thật sự hiểu rõ, tín tâm của chúng ta mới sanh khởi. Tín tâm chẳng thể sanh khởi chính là vì chẳng hiểu rõ trạng huống trong Tây Phương cho mấy. Nghe nói [cõi ấy] tốt đẹp, rốt cuộc là thật hay giả? Kẻ ấy ôm nỗi nghi hoặc, tín tâm chẳng thanh tịnh. Nhất định là phải hiểu rõ ràng, nhất định phải hiểu minh bạch, tín tâm bèn thanh tịnh.

Có tín tâm, có nguyện vọng mạnh mẽ, nguyện sanh về Tịnh Độ, nguyện thấy Di Đà. Nguyện này hết sức trọng yếu, có Tín, có Nguyện thì mới thật sự chịu làm, đó là có Hạnh. Hạnh là dùng niệm Phật làm Chánh Hạnh. Kinh Vô Lượng Thọ từ phẩm ba mươi hai tới phẩm ba mươi bảy dạy chúng ta đoạn ác tu thiện, trì giới niệm Phật, đó là Trợ Hạnh. Tam Phước và [nhân hạnh của] chín phẩm trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật cũng thuộc loại Trợ Hạnh. Chánh Trợ song tu, quyết định được vãng sanh. Kinh đã nói rõ ràng về Tín, Nguyện, Hạnh cho chúng ta. Đó gọi là Hiển Giáo, hết sức rõ rệt.

 

          (Sao) Tuân Phật bí sắc, đản trì thử chú, tức đắc vãng sanh, thị chi vị Mật.

          ()遵佛祕敕,但持此咒,即得往生,是之謂密。

(Sao: Tuân theo sắc lệnh bí mật của đức Phật, chỉ trì chú này, liền được vãng sanh, đó gọi là Mật).

 

          Trong Mật, điều kiện trọng yếu nhất là tín tâm tuyệt đối, tuyệt đối chẳng thể có mảy may nghi hoặc nào! Trong Hiển Giáo, có nghi hoặc vẫn chẳng sao, kinh giáo có thể giúp quý vị giải quyết [nỗi nghi hoặc ấy]. Trong Mật Giáo mà có nghi hoặc thì không được rồi, quyết định chẳng thể thành tựu, phải là có tín tâm tuyệt đối. Vì sao? Trong chú chẳng có giải thích, đức Phật nói như thế nào, quý vị bèn thật thà trì chú, dùng phương pháp này.

“Đản trì thử chú, tức đắc vãng sanh” (Chỉ trì chú này, liền được vãng sanh), giống như trong kinh đã nói: Quý vị có thể trì chú Vãng Sanh ba mươi vạn lần, chắc chắn được vãng sanh. Từ xưa đến nay, xác thực là có không ít người thấy kinh dạy như vậy, họ cũng niệm, sau khi đã niệm đủ ba mươi vạn lần, chẳng có hiệu quả! Do nguyên nhân gì? Kẻ ấy chẳng có tín tâm tuyệt đối, vừa niệm vừa hoài nghi, làm thử xem, ba mươi vạn lần rốt cuộc là giả hay thật? Kẻ ấy chẳng có chân tâm, dùng cái tâm “thử xem” để niệm chú, niệm ba mươi vạn lần, hay ba trăm vạn lần cũng chẳng được! Khuyết điểm là do cái tâm “thử xem”. Thử xem có linh hay không, kết quả là chẳng linh. Do đó, cái tâm trì chú chớ nên giả dối, chớ nên [dùng cái tâm] thăm dò, chớ nên dùng cái tâm suy đoán. Người trì chú, nói tới thật thà, chúng ta thường nói “thật thà niệm Phật”, còn phải thật thà hơn người niệm Phật thì mới được. Hễ có mảy may chẳng thật thà, ba mươi vạn lần đều là niệm uổng công, chẳng thể thành tựu, đạo lý ở chỗ này. Chẳng phải là chú không linh!

Như trong Liễu Phàm Tứ Huấn đã nói, ông ta (Viên Liễu Phàm) đã nêu tỷ dụ “vẽ bùa, niệm chú”. Biết vẽ bùa, sẽ vẽ được một đạo bùa linh ứng; chẳng biết cách vẽ bùa, sẽ bị quỷ thần chê cười. Bùa vẽ như thế nào sẽ linh? “Thành tắc linh” (Có lòng thành, ắt linh thiêng). Tiêu chuẩn của Thành là gì? Trong Độc Thư Bút Ký (bút ký đọc sách), ông Tăng Quốc Phiên đã định nghĩa chữ Thành như sau: “Một niệm chẳng sanh thì gọi là Thành”. Trong tâm chẳng có ý niệm nào, đó là Thành. Trong tâm có một niệm thì chẳng thành. Kẻ vẽ bùa ấy, lúc bình thời phải luyện tập, luyện rất thuần thuộc; đối với mỗi đạo bùa, hễ hạ bút liền vẽ một mạch. Không thông thuộc, vẽ tới chỗ nào đó rồi lại dấy lên ý niệm suy nghĩ trong chốc lát [phải vẽ tiếp như thế nào, đạo bùa ấy] sẽ chẳng linh. Người ấy hạ bút liền vẽ một mạch thì sẽ vẽ đạo bùa ấy thành công. Chẳng có một vọng niệm nào, đạo bùa ấy sẽ linh. Hễ dấy lên một vọng niệm, sẽ chẳng linh. Do đó, chẳng biết vẽ bùa, sẽ bị quỷ thần cười cợt. “Chẳng biết vẽ bùa” là khi vẽ bùa có xen lẫn ý niệm trong ấy.

Cùng một đạo lý như vậy, niệm chú có người niệm linh ứng, có người niệm chú, âm đọc cũng chẳng sai một chữ nào, thế mà chẳng linh! Cùng một đạo lý: Hễ thành sẽ linh. Chư vị phải biết: Chú càng dài càng khó, vì thời gian dài, dễ dấy lên vọng tưởng. Hễ vọng tưởng nẩy sanh, chú ấy sẽ không linh. Vì thế, cổ nhân nói: “Niệm kinh chẳng bằng niệm chú, niệm chú chẳng bằng niệm Phật”. Trong bốn chữ A Di Đà Phật, chẳng có một vọng tưởng thì được, rất dễ dàng làm được, [cho nên niệm Phật sẽ] linh! Vì thế, tôi khuyên mọi người dùng pháp Thập Niệm để tu trì, đối với mười câu A Di Đà Phật, thời gian chỉ cần một phút, nhiếp tâm dễ dàng. Trong mười câu Phật hiệu, chẳng có một vọng niệm, thời gian công khóa tuy ngắn ngủi, nhưng linh ứng. Quý vị niệm Phật, mỗi ngày niệm mấy ngàn câu, mấy vạn câu, trong ấy có vọng tưởng, có tạp niệm, sẽ chẳng linh! Vì thế, đối với cách Thập Niệm này, quý vị hãy thật sự khéo niệm, chừng một, hai tuần, sẽ cảm nhận hiệu quả. Do nguyên nhân nào? Đạo lý ở ngay chỗ này! Thời gian ngắn ngủi, dễ nhiếp tâm, phù hợp “tịnh niệm tiếp nối”, phù hợp “nhiếp trọn sáu căn”, phù hợp tiêu chuẩn ấy. Vì thế, hiệu quả hết sức rõ rệt. Trì chú, niệm Phật, phải hiểu bí quyết trọng yếu ở trong ấy.

 

          (Sao) Hiển giả, hiển thử mật dã; mật giả, mật thử hiển dã.

          ()顯者,顯此密也;密者,密此顯也。

(Sao: Hiển là hiển lộ bí mật này, Mật là ẩn mật hiển pháp này).

 

          Hiển Mật viên dung là cùng một chuyện, một phương pháp, đức Phật dùng hai phương thức bất đồng để biểu đạt: Một đằng là hiển thuyết, một đằng là mật thuyết.

 

          (Sao) Kiêm trì tắc song mỹ tất cụ, đơn cử diệc giao nhiếp bất di, cố viết Viên Thông.

          ()兼持則雙美畢具,單舉亦交攝不遺,故曰圓通。

(Sao: Trì cả hai ắt đẹp đẽ, trọn vẹn cả đôi đường, chỉ nêu riêng một pháp thì pháp này dung nhiếp pháp kia chẳng sót. Vì thế nói là Viên Thông).

 

          “Kiêm trì”: Nay chúng ta đều chọn dùng phương pháp này. Niệm xong kinh Di Đà bèn niệm ba biến chú Vãng Sanh, có Hiển, có Mật. Đó gọi là “kiêm trì”. Đấy là “song mỹ”, “tất cụ”, chẳng có mảy may thiếu khuyết nào! “Đơn cử” là chỉ niệm kinh, hoặc chỉ niệm chú cũng đều được! Niệm kinh là Hiển, trong Hiển có Mật. Tuy chẳng niệm chú, nhưng mật nghĩa đều ở trong kinh. Chỉ trì chú Vãng Sanh cũng được, tuy là Mật, hiển kinh cũng ở trong mật nghĩa. Vì Mật là Mật của Hiển, Hiển là Hiển của Mật. Do vậy, quý vị chỉ trì một loại, ý nghĩa vẫn là viên mãn. Đó mới gọi là Viên Thông.

          Viên Thông là từ ngữ trong kinh Lăng Nghiêm. Trong Hoa Nghiêm, câu này được gọi là Vô Ngại. Vô ngại bèn viên thông; có chướng ngại sẽ chẳng thông, sẽ chẳng viên. Trong kinh Hoa Nghiêm, Thanh Lương đại sư nói là “tứ vô chướng ngại pháp giới”, Viên Thông là pháp giới vô chướng ngại. Pháp giới vô chướng ngại là cảnh giới sở chứng của Như Lai và các vị đại Bồ Tát. “Đại Bồ Tát” là bậc Địa Thượng Bồ Tát trong Viên Giáo, [nói Viên Thông] là nói tới [cảnh giới] sở chứng của các Ngài. Kinh Hoa Nghiêm nói “Lý vô ngại, Sự vô ngại, Lý Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại”. Kinh Lăng Nghiêm dùng hai chữ Viên Thông để nói trọn hết.

 

          (Sớ) Tuy vân giao nhiếp, nhi chuyên trì danh hiệu, do thắng trì chú, diệc thắng dư chú, diệc thắng nhất thiết chư dư công đức.

          ()雖云交攝,而專持名號,猶勝持咒,亦勝餘咒,亦勝一切諸餘功德。

          (Sớ: Tuy nói là “nhiếp lẫn nhau”, nhưng chuyên trì danh hiệu vẫn thù thắng hơn trì chú [Vãng Sanh], mà cũng thù thắng hơn các chú khác, cũng thù thắng hơn hết thảy các công đức).

 

          Trong đoạn khai thị này, nói thật ra, nếu Liên Trì đại sư chẳng giảng cho chúng ta rõ ràng, minh bạch như vậy, thật sự là chúng ta chẳng biết danh hiệu có công đức chẳng thể nghĩ bàn. Danh hiệu có công đức chẳng thể nghĩ bàn, chúng ta cũng thường nghe, cũng thường thấy trong chú sớ của các vị tổ sư nói kiểu này, rốt cuộc là chẳng thể nghĩ bàn như thế nào, chẳng biết! Trong đoạn này, Liên Trì đại sư đã nêu bày chẳng thể nghĩ bàn như thế nào, chẳng thể nghĩ bàn đến mức độ nào, đúng là khó có! Chúng ta có thể gặp gỡ, thật sự là có đại phước báo. Từng câu dưới đây đều nhằm giải thích [vì sao chư Phật, Bồ Tát, lịch đại tổ sư đặc biệt ca ngợi pháp trì danh].

 

          (Sao) Thiên tán trì danh dã.

          ()偏讚持名也。

          (Sao: Đặc biệt ca ngợi trì danh).

 

          “Tán” là tán thán (讚歎). Trong tất cả hết thảy các pháp môn, tám vạn bốn ngàn pháp môn, hoặc vô lượng pháp môn, chư Phật Như Lai, tổ sư đại đức đặc biệt tán thán “trì danh”, lại còn chuyên trì danh hiệu A Di Đà Phật, đạo lý ở chỗ nào? Rốt cuộc vì sao phải tán thán như vậy?

 

          (Sao) Dĩ chú vân: “Tụng tam thập vạn biến, tắc kiến A Di Đà Phật”.

          ()以咒云:誦三十萬遍,則見阿彌陀佛。

(Sao: Do trong kinh văn giảng về chú Vãng Sanh đã nói: “Tụng ba mươi vạn lần, sẽ thấy A Di Đà Phật”).

 

          Chú Vãng Sanh phải niệm ba mươi vạn lần thì mới thấy A Di Đà Phật.

 

          (Sao) Nhi trì danh, tắc nhất nhật nhất tâm, tức Phật hiện tiền cố.

          ()而持名,則一日一心,即佛現前故。

          (Sao: Nhưng trì danh thì một ngày nhất tâm, Phật bèn hiện tiền).

 

          Chú Vãng Sanh chẳng bằng Phật hiệu; đối với Phật hiệu, chí tâm xưng danh một ngày, một đêm, A Di Đà Phật bèn hiện tiền, bèn đắc nhất tâm bất loạn. Chú Vãng Sanh còn phải niệm ba mươi vạn lần, Phật mới hiện tiền, chứng tỏ chú chẳng bằng Phật hiệu. Liên Trì đại sư nói lời này chẳng phải là nói tùy tiện, mà đều là có kinh điển để làm căn cứ. Niệm ba mươi vạn lần chú Vãng Sanh phải tốn thời gian rất dài. Niệm câu Phật hiệu này một ngày một đêm vượt trỗi ba mươi vạn lần chú Vãng Sanh. Đó là chỗ thua kém của chú Vãng Sanh.

 

          (Sao) Hựu chú vân: “Trú dạ lục thời, các tụng tam thất biến, năng diệt Ngũ Nghịch đẳng tội, nhi trì danh, tắc chí tâm niệm Phật nhất thanh, tức diệt bát thập ức kiếp sanh tử trọng tội cố.

          ()又咒云:晝夜六時,各誦三七遍,能滅五逆等罪。而持名,則至心念佛一聲,即滅八十億劫生死重罪故。

(Sao: Chú lại nói: Ngày đêm sáu thời, mỗi thời tụng hai mươi mốt lần, có thể diệt các tội như Ngũ Nghịch v.v… Nhưng trì danh thì chí tâm niệm Phật một tiếng liền diệt trọng tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử).

 

          Niệm chú Vãng Sanh còn phải “trú dạ lục thời, các tụng tam thất biến” (ngày đêm sáu thời, mỗi thời tụng hai mươi mốt biến), “tam thất” là hai mươi mốt biến. “Trú dạ lục thời” (Ngày đêm sáu thời), mỗi thời niệm hai mươi mốt lần, một ngày đêm niệm sáu lượt. Ngày ba thời: Sơ nhật phần niệm một lần, trung nhật phần niệm một lần, hậu nhật phần niệm một lần. Ban đêm cũng thế, sơ dạ phần niệm một lần, trung dạ phần niệm một lần, hậu dạ phần niệm một lần, thì mới “năng diệt Ngũ Nghịch đẳng tội” (có thể diệt tội như Ngũ Nghịch v.v…). “Trì danh” là thành tâm niệm một câu A Di Đà Phật liền “diệt bát thập ức kiếp sanh tử trọng tội” (diệt trọng tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử). Chú chẳng bằng Phật hiệu, trong kinh đức Phật có nói điều này. Có người không niệm Phật mà muốn niệm chú, có cách nào? Chẳng có cách nào hết! Chúng ta chỉ đành nói là mỗi người có nhân duyên riêng.

Trong ấy, điều then chốt là Thành, tức chân thành. Đó là nhân. Phật hiện tiền, diệt tội Ngũ Nghịch, đó là quả. Trong ấy còn có duyên. Nếu chẳng có duyên, quả chẳng thể hiện tiền. Chúng ta mỗi ngày không chỉ niệm một câu Phật hiệu, [thế mà] Phật cũng chẳng hiện tiền. Do duyên cớ gì? Đương nhiên, điều thứ nhất là do cái nhân chẳng chánh đáng, duyên khuyết thiếu. Duyên là gì? Kinh nói “thiện nam tử, thiện nữ nhân”, đó là duyên. Chúng ta thật sự là thiện nam tử, thiện nữ nhân, lại có thành tâm, sẽ linh. Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, đức Phật đã giảng về tiêu chuẩn thiện rất rõ ràng, rất minh bạch, chính là Tịnh nghiệp Tam Phước. Đấy là tiêu chuẩn của thiện. Phải thật sự làm được điều thiện nhân thiên, tức là “hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng giết, tu Thập Thiện nghiệp”, phải thật sự làm được! Hằng ngày niệm Phật suông [không tu điều phước thứ nhất trong Tịnh nghiệp Tam Phước] sẽ vô dụng, chẳng được coi là “thiện nam tử, thiện nữ nhân”, phải làm được! Đó là nhân thiên thiện. Nhị Thừa thiện thì còn phải thêm ba điều, “thọ trì Tam Quy, đầy đủ các giới, chẳng phạm oai nghi”, sẽ là thiện nam tử, thiện nữ nhân theo Tiểu Thừa.

Pháp môn này và kinh điển này là pháp của Đại Thừa Bồ Tát. Không chỉ là pháp Đại Thừa, cổ đại đức dạy chúng ta: Pháp môn này là Đại Thừa của Đại Thừa, là Nhất Thừa của Nhất Thừa, là pháp môn vô thượng chân thật bậc nhất. Tiêu chuẩn thiện của nó càng cao hơn; vì thế, còn phải thêm vào: “Phát Bồ Đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng Đại Thừa, khuyến tấn hành giả”. Những điều này chúng ta đều làm được, dùng cái tâm chân thành để niệm câu Phật hiệu, xác thực là niệm một tiếng Phật hiệu “diệt trọng tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử”, vãng sanh Tịnh Độ sẽ là thượng thượng phẩm vãng sanh.

          Có những người thoạt trông dường như rất ngu si, như người đồ đệ làm thợ vá nồi của pháp sư Đế Nhàn. Ông ta chẳng biết chữ, chẳng có kiến thức, trung niên xuất gia. Lão pháp sư dạy ông ta niệm một câu A Di Đà Phật. Người ta niệm ba năm, biết trước lúc mất, đứng vãng sanh. Ông ta chưa từng học Tam Phước, cớ sao có thể vãng sanh thù thắng như vậy? Nói thật ra, đối với mười một điều trong Tam Phước, ông ta thảy đều làm được, thảy đều trọn đủ, nhưng quý vị hỏi ông ta, ông ta sẽ chẳng thốt nên lời, không biết! Đó là người như cổ nhân đã bảo “ngu không ai bằng”. Tuy ông ta ngu ngơ, điều gì cũng chẳng biết, nhưng chúng ta chẳng bằng ông ta! Ông ta tâm địa thanh tịnh, thiện lương, so sánh từng điều trong tiêu chuẩn ấy, ông ta thảy đều trọn đủ. Nghe lời thầy, [vì thế] “phụng sự sư trưởng” ông ta làm được. Thầy dạy ông ta làm như thế nào, ông ta giảm bớt một chút cũng chẳng có, cứ thật thà làm theo, vâng theo một trăm phần trăm, thứ gì cũng làm được, cho nên duyên của ông ta đầy đủ. Tâm địa chân thành, trừ câu A Di Đà Phật ra, ý niệm gì cũng đều chẳng có, nhân đầy đủ! Ông ta nhân duyên đầy đủ, quả báo hiện tiền, quả báo thù thắng khôn sánh. Chúng ta nhất định phải hiểu điều này. Nếu không, chúng ta sẽ cảm thấy: Sao mà có người niệm thì linh, có kẻ niệm chẳng linh? Rốt cuộc người niệm linh ứng thì có phải là người đó rất may mắn hay không? Có phải là người ấy rất hên hay không? Chẳng phải vậy! Mảy may vận hên cũng chẳng có! Vì thế, sau khi đã hiểu rõ lý luận và chân tướng sự thật, chúng ta bèn biết phải tu như thế nào! Do đó, Tam Phước hết sức trọng yếu. Đấy là nói niệm danh hiệu A Di Đà Phật mạnh mẽ hơn niệm chú Vãng Sanh.

 

          (Sao) Nhị, thắng dư chú giả.

          ()二、勝餘咒者。

(Sao: Hai là thù thắng hơn các chú khác).

 

          “Dư chú” là những chú khác. Hết thảy các chú do đức Phật đã nói trong bốn mươi chín năm, kể cả chú Đại Bi, chú Lăng Nghiêm, chú Chuẩn Đề v.v… đều chẳng sánh bằng danh hiệu A Di Đà Phật.

 

          (Sao) Chuyên trì danh hiệu, tức đại thần chú, đại minh chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú.

          ()專持名號,即大神咒、大明咒、無上咒、無等等咒。

          (Sao: Chuyên trì danh hiệu, chính là đại thần chú, đại minh chú, vô thượng chú, chú không có gì sánh bằng).

 

          Danh hiệu A Di Đà Phật là “đại thần chú, đại minh chú, vô thượng chú, chú không có gì sánh bằng”, vì sao?

 

          (Sao) Dĩ thập niệm tiện đắc vãng sanh, nhất sanh tiện đắc bất thoái, oai linh bất trắc, tư danh đại thần.

          ()以十念便得往生,一生便得不退,威靈不測,斯名大神。

(Sao: Do mười niệm bèn được vãng sanh, trong một đời bèn đắc Bất Thoái, oai linh chẳng lường được, nên gọi là “đại thần”).

 

          Nhìn từ những ý nghĩa được bao hàm trong danh tự thì sáu chữ hồng danh chẳng thẹn gọi là “đại thần chú”! “Thập niệm vãng sanh” là nguyện thứ mười tám trong bốn mươi tám nguyện. Nguyện thứ mười tám nói: Kẻ tạo tác Ngũ Nghịch, Thập Ác, lâm chung gặp thiện hữu khuyên người ấy niệm Phật, do một niệm hoặc mười niệm bèn có thể vãng sanh. Chú nào có thể sánh bằng một câu Phật hiệu? Dẫu các thần chú khác cũng có năng lực ấy, nhưng “nhất sanh tiện đắc Bất Thoái” (trong một đời bèn đắc Bất Thoái), đại khái là chẳng thể tìm thấy trong các chú khác. Sanh về thế giới Tây Phương, dẫu là hạ hạ phẩm vãng sanh trong cõi Phàm Thánh Đồng Cư cũng chứng trọn vẹn ba món Bất Thoái, điều này chẳng thể tìm thấy trong tất cả hết thảy các thần chú. Đây là nói rõ ràng, nói minh bạch cùng chúng ta: “Trì chú chẳng bằng niệm Phật”.

Bao nhiêu kẻ mê đắm nơi thần chú, chẳng biết danh hiệu có công đức thù thắng, chẳng nhận biết giá trị, chẳng nhận thức! Thật sự nhận biết rõ ràng, nhận biết minh bạch, thật sự là chẳng dễ dàng! Chẳng phải là người có đại phước đức, đại thiện căn, đại nhân duyên, làm sao quý vị có thể hiểu rõ cho được? Kinh Di Đà chẳng dài, Sớ Sao chẳng ngắn. Giảng bộ Sớ Sao to như vậy một lượt, khá khó khăn! Thiện căn, phước đức, và nhân duyên chẳng phải là ai nấy đều trọn đủ, họ làm sao hiểu nổi? Chẳng hiểu sự thù thắng của danh hiệu. “Oai linh bất trắc” (Oai linh chẳng lường), [nói tới sự] oai đức linh cảm là nói tới mười niệm vãng sanh, bất thoái ngay trong một đời. Đó là đại thần chú.

 

          (Sao) Dư khả lệ tri cố.

          ()餘可例知故。

          (Sao: Đối với những điều khác, cứ phỏng theo đó suy ra sẽ biết).

 

          Những điều khác, đại sư tỉnh lược. Trong phần tiểu chú, pháp sư Cổ Đức có bổ sung.

 

          (Diễn) Dư khả lệ tri giả, nhất tâm bất loạn, đoạn vô minh, kiến tự tánh, đại minh chú dã.

()餘可例知者,一心不亂,斷無明見自性,大明咒也。

(Diễn: “Những điều khác cứ phỏng theo đó, suy ra mà biết”: Nhất tâm bất loạn, đoạn vô minh, thấy tự tánh, tức là đại minh chú).

 

          “Minh” là minh tâm kiến tánh. Chư vị hãy lắng lòng suy nghĩ cặn kẽ. Nếu trong quá khứ hoặc hiện tại, quý vị học Mật đôi chút, Thượng Sư Nhân Ba Thiết (Rinpoche) dạy quý vị mấy bài chú, quý vị cũng thọ trì hằng ngày, sáng tối đều niệm chú, có phải là tâm quý vị ngày càng sáng suốt hơn hay chăng? Nếu chúng ta càng niệm, tâm càng hồ đồ, càng niệm càng phiền não, càng niệm càng vô tri, chú ấy chẳng linh, xác thực là chẳng bằng một câu danh hiệu!

Để thành tựu công đức nơi danh hiệu, bí quyết trọng yếu là chuyên tinh. Danh hiệu dễ trì, nó rất ngắn, [niệm] câu ấy dễ dàng, nên gọi là “dị hành đạo” (易行道, đạo dễ hành). So sánh các thứ khác với Phật hiệu, chúng đều gọi là “đạo khó hành”, chẳng dễ dàng như cách này. “Dị” () là gì? Dễ dàng nhiếp tâm. Cũng có nghĩa là khi chúng ta luyện tập, niệm Phật là thực hiện công phu, trì chú cũng là luyện công phu, đọc kinh cũng là đang hành công phu. Điều khẩn yếu nhất trong luyện tập công phu là nhiếp tâm. Nhiếp tâm là như Đại Thế Chí Bồ Tát đã dạy: “Nhiếp trọn sáu căn”. Chúng ta có thể nhiếp hay không, đó là vấn đề! Càng đơn giản, ngắn gọn, càng tinh yếu, càng dễ nhiếp tâm. Chư vị nhất định phải hiểu: Nói Lý thì phải tỉ mỉ, càng cặn kẽ càng tốt. Chúng ta phải thật sự hiểu rõ ràng, phải hiểu minh bạch; tu hành thì càng đơn giản càng hay, đơn giản mới là dễ dàng. Hành chớ nên phức tạp, chớ nên rất khó, chớ nên ham nhiều!

Một câu Phật hiệu đúng là phải thật thà niệm. Thật sự thật thà niệm, dẫu quý vị chẳng thể đắc nhất tâm bất loạn, quyết định là công phu thành phiến chẳng có vấn đề gì! Nếu quý vị đắc công phu thành phiến, trước mắt sẽ có đại thọ dụng, đạt được lợi ích chân thật nơi Phật pháp. Rốt cuộc công phu thành phiến có ưu điểm gì? Có những lợi ích gì?

1) Thứ nhất là phiền não nhẹ nhàng. Phiền não chưa đoạn; hễ đoạn được, sẽ là nhất tâm bất loạn. Chưa đoạn, nhưng nhẹ bớt, chẳng nặng nề như trước kia.

2) Thứ hai, vọng niệm bớt đi. Có vọng niệm, nhưng chẳng nhiều như trước kia.

3) Thứ ba, trí huệ tăng trưởng, người bỗng dưng thông minh. Trước kia, đối với người, đối với sự, đối với vật, đều hồ đồ, mờ mịt, nay bèn hiểu rõ, chẳng hồ đồ.

4) Thứ tư, pháp hỷ sung mãn. Bất luận khi nào, bất luận nơi nào, trong tâm hoan hỷ, pháp hỷ. Pháp hỷ chính là chất dinh dưỡng thù thắng nhất mà chúng ta nhấn mạnh trong đạo lý dưỡng sanh, nó thật sự có thể khiến cho quý vị giữ mãi vẻ thanh xuân, chẳng già, chẳng bệnh.

Thật sự có thể đạt được, đạt được công phu thành phiến, tiền đồ lại còn là một bầu quang minh. Phàm phu rất đáng thương, chẳng biết sanh từ đâu đến, chết không biết đi về đâu? Hồ đồ, mờ mịt đến, hồ đồ, mờ mịt mà đi. Đáng thương! Quý vị đạt được công phu thành phiến, bèn hiểu rõ ràng, minh bạch, tiền đồ là một bầu quang minh, làm sao có thể giống [như cũ] được? Đại minh chú đấy nhé! Dẫu trong một đời này, chúng ta chẳng đạt được nhất tâm bất loạn, nhất tâm bất loạn xác thực là chẳng dễ dàng, nó là công phu bậc cao, nhưng công phu thành phiến thì chúng ta nhất định có thể đạt được. Đến khi chúng ta vãng sanh, Phật đến tiếp dẫn. Phật quang vừa chiếu, ngay lập tức, một chút công phu thành phiến của chúng ta được nâng lên thành nhất tâm bất loạn. Đó là do Phật lực gia trì. Nếu chúng ta đắc Sự nhất tâm bất loạn, Phật quang vừa chiếu bèn nâng lên thành Lý nhất tâm bất loạn. La Thập đại sư phiên dịch bộ kinh này, dịch thành “nhất tâm bất loạn”, hoàn toàn chẳng dịch sai! Nhưng phải hiểu: Trong kinh điển bằng tiếng Phạn, chẳng nói ý nghĩa “nhất tâm bất loạn”, bản dịch của Huyền Trang đại sư ghi là “nhất tâm hệ niệm”, chẳng phải là nhất tâm bất loạn. Nhưng nhất tâm bất loạn, xác thực là khi vãng sanh, do Phật lực gia trì, khiến cho công phu của quý vị tăng cao hơn. Vì thế, cũng chẳng thể nói Ngài dịch theo ý nghĩa ấy là dịch sai. Do “đoạn vô minh, thấy tự tánh”, nên câu A Di Đà Phật chính là đại minh chú.

 

          (Diễn) Vãng sanh bỉ quốc, cứu cánh thành Phật, vô thượng chú dã.

          ()往生彼國究竟成佛,無上咒也。

(Diễn: Vãng sanh cõi ấy, rốt ráo thành Phật là vô thượng chú).

 

          Sở dĩ mật chú có thể hấp dẫn người khác là vì nó đề xướng “tức thân thành Phật” (thành Phật ngay trong thân này), cho nên mọi người đều như ong vỡ tổ kéo đến! Thành Phật ngay trong một đời là thành Phật gì vậy? Thật sự tu thành công trong Mật Tông, chiếu theo Mật pháp để thật sự tu hành, thành Phật ngay trong một đời, chính là thành Tạng Giáo Phật, tương đương với A La Hán của Tiểu Thừa, còn cách biệt Đại Thừa Bồ Tát một khoảng to lớn, chẳng phải là một vị Phật viên mãn rốt ráo. Trong Ấn Quang Đại Sư Văn Sao, Ấn Quang đại sư đã giảng chuyện này rất nhiều. Ấn Quang đại sư là Đại Thế Chí Bồ Tát ở Tây Phương tái lai, làm sao có thể sai lầm cho được? Thành Phật há dễ dàng như vậy sao? Chẳng có chuyện may mắn đâu nhé!

Để thành Phật, phải phá Trần Sa phiền não, phải đoạn Vô Minh phiền não. Nói cách khác, bất luận quý vị dùng công phu gì, bất luận tu học pháp môn nào, nếu chẳng đoạn phiền não, chắc chắn là chẳng thể chứng quả. Nếu có kẻ nào bảo “chẳng đoạn phiền não, vẫn có thể chứng quả”, đó là gạt người, chẳng có lẽ ấy! Chẳng đoạn phiền não, vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, đó gọi là “đới nghiệp vãng sanh”. Pháp môn này cũng nói rành mạch: Chỉ mang theo nghiệp cũ, chẳng mang theo nghiệp hiện hành. Đừng nghĩ [đã là] đới nghiệp vãng sanh, [vậy thì] cứ liều mạng tạo nghiệp, chẳng sao hết, trong tương lai vẫn có thể vãng sanh. [Nghĩ như vậy], quý vị đã lầm lẫn quá đỗi. Mang theo nghiệp cũ, chẳng phải là mang theo nghiệp mới. “Đới” () là mang theo nghiệp quá khứ, chẳng thể mang theo nghiệp hiện tại, như vậy thì mới có thể vãng sanh. Người niệm Phật đông đảo, người vãng sanh ít ỏi, vì sao họ chẳng thể vãng sanh? Họ đã hiểu lầm “đới nghiệp”, cứ nghĩ hiện tiền tạo nghiệp vẫn có thể mang theo, sai mất rồi!

          Chúng ta tham Thiền, hoặc là học Giáo, hoặc là trì chú, đều phải đoạn Kiến Tư phiền não thì mới có thể thành tựu. Nay chúng ta hãy suy ngẫm, có thể đoạn Kiến Tư phiền não hay không? Không chỉ là đoạn, mà đè nén nó còn chẳng được, quý vị còn có hy vọng thành tựu hay chăng? Mọi người phải hiểu rõ lý này, biết chân tướng sự thật, mới biết chuyện này thật khó! Đừng nói là chúng ta gặp khó khăn, [ngay cả] A La Hán cũng gặp khó khăn, Bồ Tát cũng khó khăn. Nói thật thà, ngay như Văn Thù và Phổ Hiền Bồ Tát cũng đều lắc đầu, khó lắm! Khó thì làm như thế nào? Niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới.

Vài hôm trước, có người kể với tôi, đạo tràng nọ trong quá khứ niệm A Di Đà Phật, nay chẳng niệm A Di Đà Phật, đổi thành niệm Tỳ Lô Giá Na Phật. Tôi nói: “Niệm Tỳ Lô Giá Na Phật cũng tốt! Thật sự có thể đến chỗ Tỳ Lô Giá Na Phật, Văn Thù và Phổ Hiền lại khuyên họ niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ”. Vấn đề là họ có thể đến chỗ Tỳ Lô Giá Na Phật hay không? Đây là một vấn đề lớn. Hàng phục phiền não chẳng được, quý vị còn mong đến đó (đến thế giới Hoa Tạng của Tỳ Lô Giá Na Phật) hay chăng? Phải thật sự đề cao cảnh giác chuyện này. Sáng tối, khi thức dậy vào buổi sáng, trước khi đi ngủ vào buổi tối, hãy suy nghĩ cho nhiều: Thị phi, nhân ngã, tham, sân, si, mạn của chúng ta, chẳng có thứ nào có thể buông xuống được! Nói cách khác, ngay cả niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới mà còn có chướng ngại, huống hồ [tu tập] những pháp môn khác? Đó gọi là “tâm chẳng thanh tịnh”. Tâm tịnh, ắt cõi nước tịnh. Nay chúng ta nói theo thực tại: Mục tiêu bậc nhất, mục tiêu duy nhất của chúng ta chỉ có mục tiêu này. Hễ có thể làm thông suốt điều này, bèn cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, những điều khác đều chẳng cần nghĩ tới! Đối với những điều khác, quý vị nghĩ xem, nói thật thà, đều là vọng tưởng! Nếu quý vị chẳng tin, hãy suy nghĩ cặn kẽ: Quý vị có buông thị phi, nhân ngã xuống được chưa? Tiếng tăm, lợi dưỡng, quý vị có buông xuống hay không? Tham, sân, si, mạn, quý vị đã buông xuống hay chưa? Nếu những thứ ấy thảy đều chẳng buông xuống, chẳng phải là quý vị đang si tưởng, đang dấy vọng tưởng ư? Ngoại trừ thật thà niệm Phật, còn có con đường nào để có thể đi được nữa? Thật sự nghĩ thông suốt, suy nghĩ rành rẽ, sẽ buông xuống vạn duyên. Đó là thật sự nghĩ thông suốt, thật sự nghĩ minh bạch.

Vào lúc tuổi già, Liên Trì đại sư bảo: “Tam Tạng mười hai bộ, nhường cho người khác ngộ”, đã nghĩ thông suốt! Nghĩ thông suốt, các pháp môn khác đều chẳng được, mà cũng chẳng thể thành tựu, các vị muốn gì, bèn nhường cho quý vị điều ấy. Lão nhân gia lúc tuổi già, một câu A Di Đà Phật, một quyển kinh A Di Đà. Đấy là người thật sự nghĩ thông suốt, thật sự giác ngộ, Ngài mới làm như thế. Nếu còn thấy phải học, phải tu những kinh luận, pháp môn khác, tức là trong tâm còn so đo, người ấy vẫn chưa nghĩ thông suốt, vẫn chưa hiểu rõ ràng. Nếu người ấy thật sự hiểu rõ, thật sự nghĩ thông suốt, nhất định sẽ giống như Liên Trì đại sư, nhất định giống như Văn Thù và Phổ Hiền. Vì thế, cầu sanh Tịnh Độ là mục tiêu duy nhất của chúng ta. Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới bèn bảo đảm! A Di Đà Phật là ông chủ lớn của công ty bảo hiểm, [chúng ta] quyết định thành Phật ngay trong một đời. “Thành Phật” ở đây chính là thành một vị Phật viên mãn rốt ráo, “tức thân thành Phật” của Mật Tông chẳng thể sánh bằng! Do vậy, một câu “Nam-mô A Di Đà Phật” xác thực là “vô thượng chú”, làm sao có thể coi thường cho được?

 

(Diễn) Chứng Vô Sanh Nhẫn, hồi nhập Sa Bà, phổ độ chúng sanh, vô đẳng đẳng chú dã.

()證無生忍,回入娑婆,普度眾生,無等等咒也。

(Diễn: Chứng Vô Sanh Nhẫn, quay trở lại Sa Bà, phổ độ chúng sanh, chính là chú không có gì sánh bằng).

 

          “Vô đẳng đẳng”, thưa cùng chư vị, chính là vô thượng của vô thượng. “Vô thượng” thì há còn có gì hòng sánh bằng nó ư? Chẳng có gì có thể sánh bằng nó thì mới là vô thượng của vô thượng. Chẳng có gì bình đẳng với nó, chẳng có gì ngang hàng với nó. Vì sao? “Chứng Vô Sanh Nhẫn”. Khi nào sẽ chứng Vô Sanh Nhẫn? Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới bèn chứng Vô Sanh Nhẫn, trong tất cả hết thảy các kinh luận và pháp môn đều chẳng có điều này. Vì chiếu theo pháp môn và kinh luận bình thường để nói, Vô Sanh Nhẫn [tối thiểu] là sở chứng của Thất Địa Bồ Tát, [hay nói chi tiết hơn] sẽ là [sở chứng của] Thất Địa, Bát Địa, và Cửu Địa. Thất Địa Bồ Tát là hạ phẩm Vô Sanh Nhẫn, Bát Địa là trung phẩm, Cửu Địa là thượng phẩm. Lên cao hơn nữa là Tịch Diệt Nhẫn. Thập Địa Bồ Tát là hạ phẩm Tịch Diệt, Đẳng Giác Bồ Tát là trung phẩm, Phật là thượng phẩm. Vì sao chúng ta hễ được sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới bèn là Vô Sanh Nhẫn Bồ Tát? Kinh Di Đà có nói, mà kinh Vô Lượng Thọ cũng là nói như thế. Sanh về thế giới Tây Phương chính là A Bệ Bạt Trí Bồ Tát. A Bệ Bạt Trí là Vô Sanh Nhẫn Bồ Tát. Đây chẳng phải là do chúng ta tu được, mà là do bổn nguyện và oai thần của A Di Đà Phật gia trì quý vị, khiến cho quý vị tới Tây Phương Cực Lạc thế giới, thần thông, đạo lực và trí huệ của quý vị bằng với Thất Địa Bồ Tát; do Phật lực gia trì, chẳng phải là chính mình có! Chẳng phải do chính mình tu được, điều này chẳng dễ hiểu!

Ví như quý vị tốt số, đầu thai vào gia đình phú quý, cha quý vị đại phú, đại quý. Khi quý vị đi học, chính mình chẳng kiếm ra tiền, nhưng hoàn cảnh sống tốt đẹp nhất, ra khỏi cửa đi xe tốt nhất. Những thứ đó là của bố quý vị, chẳng phải là của quý vị, có ý nghĩa như thế đó. Chúng ta tới cõi ấy, tất cả hết thảy sự hưởng thụ đều là hưởng thụ từ A Di Đà Phật, có ý nghĩa như thế ấy! Đợi đến khi chính mình đã đoạn Kiến Tư phiền não, đoạn Trần Sa Hoặc, đoạn Vô Minh, vô minh còn phải đoạn hơn ba mươi phẩm, [lần lượt chứng đắc các địa vị] Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng. Khi đã đạt đến Thất Địa, tức là đã đoạn ba mươi bảy phẩm vô minh, khi ấy, [sự hưởng thụ] là của chính quý vị. Khi quý vị chưa đạt đến mức độ ấy, [hết thảy thọ dụng trong Tây Phương Cực Lạc thế giới] là do Phật lực gia trì. Cũng giống như khi chính bản thân quý vị đã có năng lực, làm việc trong xã hội, cũng có thể kiếm tiền, hết thảy những gì quý vị thọ dụng là của chính mình, chẳng phải dựa dẫm vào cha nữa! Khi quý vị chẳng có năng lực ấy, hoàn toàn dựa dẫm cha, bèn có lợi ích như thế đó. Trong các thế giới chư Phật khác, chẳng có sự tốt đẹp này. Do vậy, [nếu ở trong các thế giới khác], quý vị đang trong giai đoạn tu học sẽ rất khổ sở, chẳng thể hưởng thụ tốt đẹp dường ấy! Vì vậy, sự thù thắng của thế giới Tây Phương chẳng có bất cứ thế giới Phật nào có thể sánh bằng! Chúng ta ắt phải hiểu điều này thì tín tâm của chúng ta mới thanh tịnh, mới kiên định, nguyện lực mới thật sự khẩn thiết. Chẳng thể không đến cõi ấy! Đây là nói đến sự thù thắng trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, đồng thời đều đạt được, đạt được ngay trong một đời!

          “Hồi nhập Sa Bà”: Chúng sanh trong thế giới này sở dĩ chẳng thể thoát khỏi tam giới là do tình quá nặng, bị tình làm hại. Tình nặng nề, chẳng thể liễu sanh tử, chẳng thể thoát khỏi tam giới. Đã xuất gia mà vẫn còn vương vấn tục gia, đó là sai lầm lớn nhất! Những nỗi vướng mắc, lo âu ấy đều là “dấy vọng tưởng”. Đối với thân nhân, đối với con cháu của quý vị, quý vị có thể giúp đỡ hay không? Giúp chẳng được, chỉ lo lắng suông! Thật sự mong giúp đỡ họ, hãy bảo họ thật thà niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Thật sự thật thà niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, người ta vừa thấy bèn nói: “Đó là quyến thuộc của Bồ Tát”. Chư Phật hộ niệm, long thiên thiện thần chiếu cố, còn chu đáo hơn chính mình chiếu cố! Há có quyến thuộc của Bồ Tát chẳng được hộ pháp thiện thần chiếu cố? Chẳng có chuyện ấy! Đó là thật sự chiếu cố. [Chính mình] chẳng chiếu cố [người thân] mà thật ra có khá nhiều Phật, Bồ Tát, thiện thần chiếu cố. Bản thân chúng ta một lòng một dạ nghĩ tới họ (người nhà, quyến thuộc), Phật, Bồ Tát cũng chẳng chiếu cố, mà thiện thần cũng chẳng chiếu cố. Không chỉ là chẳng chiếu cố họ, mà ngay cả bản thân ta cũng chẳng có ai chiếu cố. Đó mới là thua thiệt to tát! Kẻ ngu trong thế gian rất nhiều, chẳng hiểu chân tướng sự thật này, thật sự đáng thương!

Tới Tây Phương Cực Lạc thế giới, được sự gia trì thù thắng khôn sánh của A Di Đà Phật, quý vị có thể lập tức trở lại thế giới Sa Bà; khi đó, quý vị có thể chiếu cố người nhà, quyến thuộc. “Hồi nhập Sa Bà”, câu này nhằm đặc biệt nói với những chúng sanh nặng tình với thế giới Sa Bà. Thật ra, đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, quý vị tâm khai ý giải, tức là “đại triệt đại ngộ” như Thiền Tông thường nói, tâm lượng sẽ khác hẳn hiện tại. Tầm nhìn mở rộng đến hư không pháp giới, nguyên lai, trong mười phương thế giới có khá nhiều người nhà, quyến thuộc của ta, chẳng phải [chỉ vỏn vẹn] mấy người ở chỗ này, quý vị có thể đồng thời giúp đỡ họ.

“Hồi nhập Sa Bà”: Trở về thì có lìa khỏi A Di Đà Phật hay không? Chẳng lìa khỏi! A Di Đà Phật ở ngay cạnh quý vị. Thế giới Sa Bà cũng có quý vị, quý vị hóa thân tới đó. Đến thế giới Tây Phương bèn có năng lực hóa thân trăm ngàn ức giống như Thích Ca Mâu Ni Phật, tự tại lắm! Trong mười phương thế giới, đối với những người quý vị quen biết, có quan hệ, hoặc là người nhà, quyến thuộc của quý vị, quý vị đều có thể hóa ra vô lượng vô biên thân, đáng nên dùng thân gì để đắc độ [bèn hiện thân ấy], giống hệt như Quán Thế Âm Bồ Tát “phổ độ chúng sanh”. Do vậy, câu danh hiệu này là “vô đẳng đẳng chú”, quý vị phải nên tin tưởng. Vì lẽ đó, danh hiệu có công đức chẳng thể nghĩ bàn. Sau khi chúng ta đọc đoạn này, mới hiểu: Đúng là chẳng thể nghĩ bàn!

 

          (Sao) Vấn: Chuẩn Đề công đức chí quảng, chí đại, như hà đản trì Phật danh nhi năng thắng bỉ?

          ()問:準提功德至廣至大,如何但持佛名而能勝彼。

(Sao: Chú Chuẩn Đề có công đức tột bậc rộng lớn, cớ sao chỉ trì danh hiệu Phật mà có thể trỗi vượt chú ấy?)

 

          Tại Trung Hoa, từ xưa tới nay, người trì chú Chuẩn Đề rất đông. Quý vị thấy thiền sư Vân Cốc dạy cư sĩ Liễu Phàm, chẳng dạy ông ta niệm Phật, mà dạy ông ta niệm chú Chuẩn Đề. Nêu ra một câu hỏi như thế, vì sao danh hiệu cũng có thể trỗi vượt thần chú Chuẩn Đề?

 

          (Sao) Đáp: Chuẩn Đề nhân địa Bồ Tát, Di Đà quả vị Như Lai, trì Chuẩn Đề ký hữu thần công, niệm Di Đà ninh vô diệu ứng?

          ()答:準提因地菩薩,彌陀果位如來,持準提既有神功,念彌陀寧無妙應。

          (Sao: Đáp: Chuẩn Đề là Bồ Tát còn đang tu nhân, Di Đà là quả vị Như Lai. Trì chú Chuẩn Đề đã có công đức thần diệu, há lẽ nào Di Đà chẳng có cảm ứng mầu nhiệm?)

 

          Lời đáp rất hay. Chuẩn Đề Bồ Tát[16] thuộc về Mật Tông. Chuẩn Đề Bồ Tát trong Mật Tông là hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát, là Bồ Tát còn đang tu nhân, chẳng phải là quả địa Phật.

 

          (Sao) Thị cố kinh vân: Trì lục thập nhị ức hằng hà sa Bồ Tát danh hiệu, bất như nhất xưng Quán Thế Âm Bồ Tát, kỳ phước chánh đẳng.

          ()是故經云:持六十二億恆河沙菩薩名號,不如一稱觀世音菩薩,其福正等。

          (Sao: Vì thế, kinh nói: “Trì danh hiệu của sáu mươi hai ức hằng hà sa Bồ Tát, chẳng bằng xưng danh hiệu Quán Thế Âm một tiếng, hai phước ấy như nhau”).

 

          Danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát chẳng thể nghĩ bàn. Niệm một câu Quán Thế Âm bằng niệm danh hiệu của sáu mươi hai ức hằng hà sa các vị Bồ Tát bình phàm.

 

          (Sao) Hựu vân: Trì vô lượng vô số Quán Thế Âm Bồ Tát danh hiệu, bất như nhất xưng Địa Tạng Bồ Tát, kỳ phước chánh đẳng, huống Như Lai hồ?

          ()又云:持無量無數觀世音菩薩名號,不如一稱地藏菩薩,其福正等,況如來乎。

          (Sao: Lại nói: “Trì vô lượng vô số danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, chẳng bằng niệm một tiếng Địa Tạng Bồ Tát, hai phước ấy bằng nhau”, huống hồ [xưng danh] Như Lai ư?)

 

          Quý vị niệm A Di Đà Phật thì danh hiệu của mười phương ba đời hết thảy chư Phật và danh hiệu của hết thảy Bồ Tát đều được bao gồm trọn hết, chẳng cần dấy vọng tưởng nữa! Niệm một danh hiệu này chính là [tất cả các danh hiệu] thảy đều niệm hết, chẳng sót một [danh hiệu] nào! Quý vị niệm danh hiệu khác thì niệm danh hiệu này, bèn sót danh hiệu kia, bỏ sót quá ư là nhiều! Vì thế, đấy mới là thật sự hiểu rõ danh hiệu có công đức chẳng thể nghĩ bàn. Chúng ta gặp gỡ pháp môn này, biết chân tướng sự thật này, đó gọi là thật sự “đáng mừng rỡ”.

          Đoạn thứ ba tiếp theo đây là “trì danh hiệu A Di Đà Phật vượt trỗi hết thảy các pháp môn khác”. Hôm nay, tôi giảng tới chỗ này.

 

Tập 289

 

          Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang sáu trăm mười một.

 

          (Sao) Tam, diệc thắng chư dư công đức giả, lục độ vạn hạnh, pháp môn vô lượng, nhi chuyên trì danh hiệu, tắc chủng chủng công đức, nhiếp vô bất tận, dĩ bất xuất nhất tâm cố, như tiền văn trung quảng thuyết.

()三、亦勝諸餘功德者,六度萬行,法門無量,而專持名號,則種種功德,攝無不盡,以不出一心故,如前文中廣說。

(Sao: Ba, cũng thù thắng hơn các công đức khác. Lục Độ, vạn hạnh, pháp môn vô lượng, nhưng chuyên trì danh hiệu thì các thứ công đức đều được nhiếp trọn chẳng hết, do chẳng ra ngoài nhất tâm, như trong phần kinh văn trước đã nói rộng rãi).

 

          Đây là Liên Trì đại sư đã chỉ ra cho chúng ta biết chỗ thù thắng chẳng sánh bằng thứ ba của pháp môn Niệm Phật. Trong phần trước đã nói: Điều thù thắng thứ nhất là niệm Phật thù thắng hơn trì chú Vãng Sanh; điều thù thắng thứ hai là nói rõ niệm Phật còn thù thắng hơn trì hết thảy các thần chú, tức là hết thảy các thần chú đều chẳng sánh bằng [danh hiệu Phật]. Nay trong đoạn thứ ba này, đại sư dạy chúng ta: Danh hiệu A Di Đà Phật siêu thắng vô lượng vô biên pháp môn. Không chỉ là các loại pháp môn do Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đã nói trong bốn mươi chín năm đều chẳng sánh bằng công đức và lợi ích của một câu thánh hiệu A Di Đà Phật, mà cho đến vô lượng vô biên pháp môn do mười phương ba đời hết thảy chư Phật Như Lai đã vì hết thảy chúng sanh tuyên thuyết cũng chẳng thể vượt ra ngoài sáu chữ hồng danh này. Vì thế, một câu Phật hiệu thật sự là pháp môn đại tổng trì của hết thảy chư Phật trong tận hư không khắp pháp giới. Khi chúng ta đã [học tập] viên mãn Di Đà Sớ Sao, [do Sớ Sao] đã hiển thị công đức của danh hiệu chẳng còn sót, thật sự giãi bày trọn hết, chúng ta mới nhận biết pháp môn này rõ ràng, mới thật sự hiểu lợi ích do trì danh niệm Phật.

          “Lục độ vạn hạnh, pháp môn vô lượng”, hai câu này bao quát trọn hết tất cả hết thảy các pháp môn, Đại Thừa bao gồm Tiểu Thừa. Lục Độ là tổng cương lãnh của toàn thể pháp Đại Thừa. “Pháp môn vô lượng”, vô lượng vô biên pháp môn, Lục Độ vạn hạnh của Bồ Tát bao gồm trọn hết. “Chuyên trì danh hiệu”, “danh hiệu” là nói về danh tự A Di Đà Phật. Hãy chú trọng một chữ Chuyên, chữ này hết sức trọng yếu. Nay chúng ta chẳng đạt được các thứ lợi ích và công đức của Niệm Phật, vấn đề là đối với chữ Chuyên, chúng ta làm chẳng đủ, thậm chí còn chưa hề làm! Chỉ cần lắng lòng phản tỉnh một phen, sẽ biết điều này, [sẽ nhận thấy: Chẳng đạt được lợi ích và công đức do trì danh] cũng là do “xen tạp” như Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát đã nói. Chúng ta niệm Phật xen tạp quá nhiều thứ, xen tạp vô lượng vô biên pháp thế gian. Vướng mắc, bận tâm là xen tạp, còn xen tạp khá nhiều Phật pháp! Vì thế, công đức và lợi ích của việc trì danh chẳng thể hiển lộ được!

Nếu chúng ta có thể chuyên, bỏ sạch hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian, chuyên trì danh hiệu, công đức và lợi ích ấy sẽ hết sức rõ rệt. Lại còn trong một thời gian rất ngắn, đã thấy hiệu quả. Ngắn đến mức độ nào? Trong kinh này, đức Phật đã nói: “Hoặc một ngày, hoặc hai ngày”, tối đa là bảy ngày liền thấy hiệu quả. Nếu quý vị hỏi: “Thật ư? Có thể ư?” Xác thực là thật, xác thực là có thể. Từ Tịnh Độ Thánh Hiền Lục và Vãng Sanh Truyện, chúng ta đã thấy những tấm gương như vậy, đã thấy sự thật ấy. Chúng ta chớ nên không hiểu rõ, chớ nên không phản tỉnh sâu xa, vì “xen tạp” và “chẳng chuyên” đã gây tổn hại quá nghiêm trọng.

Từ vô lượng kiếp đến nay, chúng ta luân hồi sanh tử trong lục đạo, chẳng thể thoát lìa. Trong cái nhìn của chư Phật, Bồ Tát, chúng ta thật sự đáng gọi là “kẻ đáng thương xót”, mê mẩn trong tam giới lục đạo. Tam giới lục đạo giống như mê cung, đích xác là thời thời khắc khắc mong thoát ra, nhưng chẳng tìm thấy cửa nẻo hoặc đường lối, vĩnh viễn xoay chuyển trong ấy. Tuy đức Phật đã nói rõ ràng, nói minh bạch, nếu quý vị mong thoát ra, hãy là “một môn, chuyên tinh”. Chúng ta nghe lời này đã nhiều, cũng thấy quá nhiều, nhưng chưa hề thực hiện! Nghe nhiều, xem nhiều, mà vẫn giống y hệt như cũ, chẳng khởi tác dụng, chính mình nhất định phải nghiêm túc thực hiện!

          Vào thời cổ, chúng ta thấy những gương rõ rệt nhất, trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục và Vãng Sanh Truyện đều có ghi chép [những tấm gương ấy]. Pháp sư Oánh Kha đời Tống niệm Phật ba ngày bèn vãng sanh, “nhược nht nht, nhược nh nht, nhược tam nht”, chẳng sai! Ba ngày bèn thành công, có thể thấy kinh nói “từ một ngày cho đến bảy ngày” chẳng phải là gạt người. Đó là thật sự buông xuống, triệt để buông xuống, nhất tâm chuyên niệm. Thông thường, kẻ bình phàm niệm Phật, từ truyện ký, chúng ta thấy từ nửa năm đến ba năm đại khái đều thành tựu. Vì vậy, trong quá khứ, đã từng có người hỏi tôi, vì họ đọc Vãng Sanh Truyện, [nhận thấy] những người niệm Phật nói chung là niệm ba năm đều vãng sanh, bèn nói: “Cớ sao lại khéo phù hợp như vậy? Chẳng lẽ là họ niệm Phật ba năm, thọ mạng đã hết ư?” Chẳng thể nào có chuyện phù hợp vừa khéo như vậy được! [Họ chất vấn]: “Chẳng có chuyện phù hợp khéo léo như vậy, cớ sao niệm ba năm đều vãng sanh cả rồi?” [Thật ra], do ba năm công phu đã thành tựu, những người ấy có thể vãng sanh. Họ cũng có thể chẳng vãng sanh [ngay lập tức như thế], chúng ta nghĩ: “Hễ có thể chưa vãng sanh, bèn chẳng ra đi”. Người ta là hễ có thể vãng sanh, bèn vãng sanh ngay lập tức. Vì sao? Hai thế giới chẳng thể sánh tầy! [Đối với người thật sự niệm Phật], chẳng thể vãng sanh thì đành chịu, chứ thật sự có cách đi gặp Phật [lẽ nào bỏ lỡ cơ hội]. Đối với sự thù thắng trang nghiêm do sanh về thế giới Cực Lạc, chẳng cần nói chi khác, chỉ nói một chuyện thôi: Tới Tây Phương Cực Lạc thế giới, quý vị có năng lực trăm ngàn ức hóa thân, tự tại lắm! Quý vị có năng lực ấy. Do vậy, người ta công phu thành tựu bèn đi ngay lập tức, chẳng muốn trì hoãn thêm một giờ, một khắc nào trong thế giới này!

Phàm những kẻ vẫn chẳng muốn ra đi cho lắm, [nguyên do là vì] vẫn mê hoặc, điên đảo y hệt như cũ, không nỡ lìa khỏi hoàn cảnh xấu ác này, vẫn muốn ở trong cái vò nhuộm để được nhuộm màu thêm vài ngày nữa! Đó là tình huống thật sự của người niệm Phật có công phu xác thực thành tựu. Đã thành tựu mà vẫn chưa ra đi, vẫn ở lại trong thế gian này, đó là do bi tâm đặc biệt của người ấy. Vì sao có thể vãng sanh mà chưa vãng sanh? Người ấy phải ở lại đây để độ chúng sanh, giúp đỡ người khác, tiếp dẫn đại chúng. Nhưng tiếp dẫn đại chúng thì phải có duyên, có người thành tựu nào mà chẳng có tâm từ bi? Người đã thành tựu, chính mình có thể vãng sanh, cớ sao chẳng mang thêm mấy người đi vãng sanh? Do chẳng có duyên! Duyên là gì? Tôi khuyên quý vị, quý vị chịu nghe, đó là “có duyên”. Tôi khuyên quý vị, quý vị không tin tưởng, tức là chẳng có duyên. Chẳng có duyên thì vãng sanh, chẳng có lý do gì để ở trong thế gian này nữa! Hễ có duyên, người ấy có lý do để ở trong thế gian này thêm mấy năm nữa. Có duyên thì nhất định phải ở lâu hơn. Chẳng có duyên, bèn sớm có ngày gặp Phật, bèn sớm có ngày đến thế giới Tây Phương, thân cận A Di Đà Phật.

          Do vậy, hễ chuyên thì chuyên tinh sẽ có lợi ích chẳng thể nghĩ bàn. Chúng ta chẳng thể chuyên, tức là chẳng triệt để buông xuống. Chẳng thể triệt để buông xuống là vì còn chưa thể thấy thấu suốt. Nói cách khác, còn chưa hiểu rõ tình huống nơi hai thế giới. Nếu chúng ta hiểu triệt để, rành mạch thế giới Tây Phương và thế giới Sa Bà, sẽ khác hẳn. Triệt để hiểu rõ, quyết định chẳng nhiễm hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian. Vì sao? Quý vị đã hoàn toàn chứng thực lời đức Phật dạy trong kinh Kim Cang. Đức Phật nói: “Phàm những gì có hình tướng đều là hư vọng”, “hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng”. Quý vị còn có gì chẳng thể buông xuống? Hai câu ấy không chỉ là nói về pháp thế gian, Phật pháp cũng là hư vọng! Kinh Kim Cang chẳng nói: “Phàm tất cả pháp đều là hư vọng, ngoại trừ Phật pháp”, chẳng nói kiểu ấy. Hết thảy Phật pháp do đức Phật đã giảng trong thế gian cũng là pháp hữu vi. Vì thế, pháp thế gian và xuất thế gian thảy đều phải buông xuống. Sau khi đã buông xuống, chân tâm hiển lộ. Hễ còn mảy may chưa thể buông xuống, sẽ là chướng ngại, toàn là phiền phức. Chướng ngại gì vậy? Chướng ngại tự tánh, chướng ngại bổn tâm. Học Phật thì mục đích cuối cùng và nguyện vọng lớn nhất là thành Phật. Thành Phật là gì? Minh tâm kiến tánh, tâm tánh hiển lộ viên mãn thì là Phật, là vị Phật rốt ráo viên mãn, hiển lộ viên mãn rốt ráo, trong ấy chẳng có mảy may chướng ngại!

Đại Thừa Phật pháp thường nói: “Chỉ cần trừ vọng, chẳng cần cầu chân”. Ý niệm cầu Chân vẫn là vọng niệm, cho nên chẳng cần cầu. Chúng ta cầu sanh Tịnh Độ, đó là nguyện. Trong công phu hằng ngày, chúng ta chẳng có ý niệm này, thật thà niệm một câu Phật hiệu đến cùng, vì sao quý vị niệm? Niệm để cầu sanh Tịnh Độ! Đừng nên vừa niệm, vừa mong cầu sanh Tịnh Độ. Vừa niệm vừa có chướng ngại trong ấy, cái tâm đó rất khó thanh tịnh. Chúng ta nói là công phu rất khó thành phiến, chẳng dễ gì đắc nhất tâm bất loạn. Do vậy, phải phân biệt rành rẽ giữa Nguyện và Cầu. Có nguyện, chẳng có cầu, tâm bèn thanh tịnh. Trong Đại Thừa, bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật và nguyện của hết thảy chư Phật, Bồ Tát thường được quy nạp thành Tứ Hoằng Thệ Nguyện. Tứ Hoằng Thệ Nguyện là tổng nguyện, là cương lãnh trong đại nguyện của chư Phật, Bồ Tát. Có nguyện, chớ nên có cầu, như vậy thì mới có thể thật sự thực hiện lời Phổ Hiền Bồ Tát đã dạy: “Hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức”. Hằng thuận và tùy hỷ đều là tâm thanh tịnh, tùy duyên chứ chẳng phan duyên. Phan duyên là đã khởi tâm động niệm. Tùy duyên thì chẳng khởi tâm, không động niệm, tự nhiên thành tựu.

          “Chủng chủng công đức, nhiếp vô bất tận” (Các thứ công đức nhiếp trọn chẳng sót): Các thứ công đức, không chỉ là công đức của vô lượng các pháp môn do Thích Ca Mâu Ni Phật đã nói. Trên thực tế, nó bao gồm công đức của hết thảy chư Phật Như Lai. Vì sao? “Dĩ bất xuất nhất tâm cố” (Do chẳng ra ngoài nhất tâm). Câu này có ý nghĩa rất sâu, lại rất chân thật. Do vậy, mọi người đừng nghĩ: Công đức tu học của chính mình quá ít, đến ngày nào thì mới có thể thành tựu? Thật vậy! Nếu chúng ta đắc nhất tâm, công đức của quý vị là vô lượng vô biên. Vì sao là vô lượng vô biên? Hết thảy chư Phật Như Lai là nhất tâm, quý vị cũng là nhất tâm. Tâm quý vị và tâm hết thảy chư Phật là một cái tâm, quyết định chẳng có phân biệt, chẳng có giới hạn. Quý vị ngẫm xem: Công đức do hết thảy chư Phật đã tu từ vô lượng kiếp đến nay đều biến thành công đức của chính mình. Chuyện là như vậy đó!

Nhưng quý vị phải biết, nếu quý vị đã mê, mê đến rốt cùng, tâm của kẻ mê và tâm ta là cùng một cái tâm, tất cả tội nghiệp do kẻ mê gây tạo đều biến thành tội nghiệp của ta. Chư vị ngẫm xem, có phải là đạo lý này hay chăng? Có phải là sự thật này hay chăng? Trong kinh Đại Thừa đã dạy: “Một chính là hết thảy, hết thảy chính là một”. Ý nghĩa này sâu rộng lắm! Đó là chân tướng sự thật. Do đó, chúng sanh mới có cộng nghiệp. Quý vị đã giác ngộ, dần dần buông bỏ mê hoặc, ngộ tánh mỗi ngày tăng thêm, quý vị quay đầu, tức là trong cộng nghiệp xuất hiện biệt nghiệp, đạo lý là như thế đó. Do vậy, mê hay ngộ là then chốt thật sự, là then chốt của khổ hay lạc, là then chốt của thăng hay đọa, là then chốt của thánh hay phàm; chúng ta nhất định phải hiểu điều này.

          Trong tất cả hết thảy các pháp, quý vị có thể chọn lựa pháp môn Niệm Phật, trong hết thảy các kinh, quý vị chọn lựa kinh A Di Đà. Đó là thật sự giác ngộ, triệt để giác ngộ, rốt ráo giác ngộ, chư Phật Như Lai đều tán thán. Nếu quý vị chẳng tin, hãy xem kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật. Phu nhân Vi Đề Hy ở trong thế gian này hứng chịu khổ sở, gặp phải tai nạn, mong cầu giải thoát, cầu cứu Thích Ca Mâu Ni Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật chẳng dạy bà ta, chỉ đem tình trạng trong hết thảy các cõi Phật triển hiện cho bà ta trông thấy, giống như chúng ta xem TV trong hiện thời vậy. Đức Phật dùng thần lực, biến hiện các cõi Phật trước mặt để bà ta có thể trông thấy. Sau khi đã xem trọn hết, bà ta chọn lựa thế giới Cực Lạc, Thích Ca Mâu Ni Phật hoan hỷ, vui mừng, bà chọn chẳng sai tí nào! Một vị Phật hoan hỷ, hết thảy chư Phật đều hoan hỷ. Một vị Phật đã tán thán, hết thảy chư Phật đều tán thán, đã chọn lựa đúng rồi! Một niệm giác thật sự chẳng thể nghĩ bàn, thật sự tuyệt diệu. Vì đã luân hồi vô lượng kiếp, đời này quý vị đã chọn đúng pháp môn, quyết định vượt thoát. Lại còn thành Phật viên mãn ngay trong một đời, khó có ngần ấy, thù thắng ngần ấy! Bất cứ pháp môn nào, dẫu quý vị chọn một pháp môn mà quý vị có đủ năng lực để tu học, chẳng thể thành Phật ngay trong một đời. Chư vị ắt phải hiểu điều này!

Mật Tông nói “nhất sanh thành Phật” (thành Phật ngay trong thân này) chính là thành Tạng Giáo Phật. Năng lực của vị Phật ấy chẳng khác A La Hán cho mấy! Mọi người đọc Ấn Quang Đại Sư Văn Sao, [sẽ thấy] Ấn Quang đại sư đã giảng rất rõ ràng. Tổ Ấn Quang là Tây Phương Đại Thế Chí Bồ Tát hóa thân, lời lão nhân gia nói chính là lời Đại Thế Chí Bồ Tát nói. Đại Thế Chí Bồ Tát là Tịnh Tông Sơ Tổ. Chúng ta đọc Đại Thế Chí Bồ Tát Viên Thông Chương của kinh Lăng Nghiêm, [sẽ thấy] Ngài thật sự chuyên, chuyên tới cùng cực. Từ sơ phát tâm mãi cho đến khi thành Phật, Ngài dùng phương pháp gì? Chính là một câu A Di Đà Phật, chuyên đến mức cùng cực. Chúng ta còn phải niệm kinh A Di Đà, Ngài thì ngay cả kinh A Di Đà cũng chẳng cần, chỉ là một câu A Di Đà Phật, từ sơ phát tâm cho đến khi thành Vô Thượng Đạo. Sau khi đã thành Vô Thượng Đạo, đến mười phương thế giới giáo hóa chúng sanh, Ngài vẫn dùng pháp môn này để tự hành, hóa độ người khác, vĩnh viễn không thay đổi! Từ hết thảy các kinh, chúng ta đã thấy: Lão nhân gia xác thực đúng là bậc nhất. Chuyện này đáng để chúng ta học tập theo, đáng cho chúng ta bắt chước. Chúng ta gặp gỡ bậc thiện tri thức như vậy mà nếu vẫn chẳng tin tưởng, đúng là ngu si đến cùng cực, đúng là Nhất Xiển Đề như kinh đã nói. Nhất Xiển Đề là chẳng có thiện căn. Gặp gỡ bậc đại thiện tri thức như vậy mà vẫn chẳng thể tin nhận, phụng hành!

          Do đó, phải hiểu: Ở đây, đã nêu ra lý thuyết căn bản, [tức là] nhất tâm! Nhất tâm bao hàm nghĩa lý sâu rộng vô tận. Chúng ta và Phật có cùng một tâm; chúng ta cùng hết thảy chúng sanh là một tâm. Chúng ta và địa ngục A Tỳ cũng là một tâm. Nhân, duyên, quả của mười pháp giới chẳng có thứ gì không trọn đủ. Quả báo nào sẽ dấy lên hiện hành, xác thực là chẳng phải do người khác quyết định, mà là do chính mình. Tùy thuộc chính quý vị chọn lựa như thế nào. Sự chọn lựa ấy là duyên, nhân bèn được viên mãn. Ở đây, đại sư chẳng nói cặn kẽ ý nghĩa này, nhưng trong các phần trước đã nói quá nhiều.

Hôm nay chúng tôi hết sức hoan hỷ, Sớ Sao giảng lần này là lần thứ ba. Chúng tôi bắt đầu giảng từ năm Dân Quốc 73 (1984), năm nay là năm Dân Quốc 83 (1994) mới viên mãn. Nói thật ra, hoàn toàn chẳng phải là thật sự giảng Sớ Sao mất mười năm, mà là trong mười năm ấy, cứ gián đoạn rồi lại tiếp tục. Thời gian chúng tôi ở trong nước rất ít, thời gian ở ngoại quốc rất dài. Trong thời gian ấy, chúng tôi đã giảng xen lẫn kinh Vô Lượng Thọ, Quán Kinh, giảng những kinh luận khác, cuối cùng đến hôm nay, chúng tôi giảng Sớ Sao lần thứ ba viên mãn. Tuy nửa bộ sau chẳng nói cặn kẽ, nếu giảng cặn kẽ, tôi nghĩ có thể giảng đến bốn trăm buổi, nay chúng tôi thấy là hai trăm tám mươi chín buổi giảng, tốt lắm! Giảng lần thứ hai, chúng tôi có băng thâu âm, giảng tới ba trăm ba mươi sáu lượt. Lần thứ ba, đối với nửa bộ sau, tuy chẳng nói cặn kẽ, nhưng kinh nghĩa và tinh hoa đều được nêu ra. Người hiện thời thích tinh giản, chẳng thích rườm rà, cho nên cũng hết sức phù hợp nguyện vọng của mọi người, càng tinh giản càng tốt. Chúng tôi rút gọn thời gian, toàn bộ trọng điểm yếu nghĩa của kinh đều nắm được, đều giữ vững. Trong đoạn khai thị tiếp theo, chúng ta đọc xong, chẳng có ai không cảm động. Liên Trì đại sư đặt niềm kỳ vọng nơi chúng ta, rát miệng buốt lòng khuyên dạy, có thể nào chẳng cảm kích ư?

 

          (Sao) Nguyện tịnh nghiệp đệ tử, chuyên kỳ tín, bất nhị kỳ tâm.

          ()願淨業弟子,專其信,不二其心。

          (Sao: Nguyện hàng đệ tử tu tập Tịnh Nghiệp, hãy chuyên nhất tín tâm, chớ có hai lòng).

 

          Tu Tịnh nghiệp có thể thành tựu trong một đời hay không; đây là then chốt: Phải “chuyên kỳ tín” (lòng tin chuyên nhất), chớ nên tam tâm nhị ý. Có thể chuyên tín, chuyên nguyện, tự nhiên buông xuống vạn duyên. Sáng nay, có một vài vị lão bằng hữu đến gặp tôi, hỏi tôi có viết nhật ký hay không, hỏi tôi có đem sự tích tu học và hoằng pháp ghi lại hay chăng, để trong tương lai lưu lại một bộ truyện ký cho người đời sau. Tôi bảo họ: Tôi chẳng có nhật ký, mà cũng chẳng có bút ký. Bất cứ khi nào giảng kinh, giảng xong đều chẳng biết đến nữa. Không chỉ là giảng kinh xong bèn chẳng biết, mà tôi bước xuống bục giảng, cũng không biết là trong một tiếng rưỡi trên bục giảng đã nói những gì! Nhớ những thứ ấy để làm gì? “Phàm những gì có hình tướng đều là hư vọng”, những thứ hư vọng mà còn phải nghiêm túc ghi lại, chúng ta mong đạt công phu thành phiến sẽ khó lắm! Nhưng người thế gian ưa chuộng chuyện này! Do ưa thích chuyện này, nên chẳng ra khỏi tam giới, chẳng vượt thoát luân hồi, chỗ nào cũng chấp trước, mong mỏi biểu hiện thành tích. Chúng ta có thành tích nào? Trong tâm thứ gì cũng đều chẳng có, đó là thành tích. Tâm tịnh, ắt cõi nước tịnh, tâm địa sạch làu. Đó là thành tích. Nay tôi nghe nói có chẳng ít người chép lại băng thâu âm của tôi, còn có một số người phát tâm chỉnh lý để trong tương lai in thành sách. Đó là chuyện của họ, chẳng liên can gì đến tôi. Chúng ta phải là tâm địa thanh tịnh, chẳng nhiễm mảy trần, sớm có ngày thấy A Di Đà Phật. Trừ chuyện này ra, thế gian này chẳng có gì đáng cho chúng ta mong muốn, chẳng có gì để chúng ta mong cầu.

 

          (Sao) Như kinh vân: “Thiết hữu nhất pháp, quá ư Niết Bàn, diệc sở bất cố”.

          ()如經云:設有一法,過於涅槃,亦所不顧。

          (Sao: Như kinh nói: “Giả sử có một pháp, vượt trỗi Niết Bàn, cũng chẳng đoái hoài”).

 

          Đây là kinh nêu ra một tỷ dụ. Niết Bàn là Phật quả viên mãn rốt ráo. Kinh nói giả thiết, đức Phật nói nếu còn có một pháp môn còn thù thắng hơn cực quả của Như Lai, chúng ta nghe xong sẽ như thế nào? Chúng ta nghe xong vẫn chẳng cần! Chuyên đến mức độ này! Hiện thời, lũ bình phàm chúng ta sai sót ở chỗ này! Người ta bảo quý vị: “Còn có pháp hay hơn pháp Niệm Phật, thành tựu còn nhanh chóng hơn niệm Phật”. Tâm bị động ngay lập tức, chẳng cần A Di Đà Phật nữa, theo kẻ đó học pháp môn khác! Gió thổi, cỏ rạp, tín tâm dao động như vậy; kẻ tu học kiểu đó, bất luận tu học pháp môn nào cũng đều chẳng thể thành tựu. Do vậy, quyết định chẳng lay động. Đức Phật đến khuyên quý vị, Thích Ca Mâu Ni Phật đến trước mặt quý vị khuyên bảo: “Ta còn có một pháp môn hay hơn pháp môn niệm A Di Đà Phật”, chúng ta nghe xong bèn như thế nào? “Cám ơn Thích Ca Mâu Ni Phật, con nay niệm A Di Đà Phật đến cùng, chẳng mong đổi sang pháp môn khác”. Phải có tín tâm như vậy thì mới có thể thành công.

 

          (Sao) Thiền Tông tri thức, hữu giáo nhân đản trì thoại đầu, nhất thiết bất tác.

()禪宗知識,有教人但持話頭,一切不作。

(Sao: Bậc tri thức trong Thiền Tông có vị dạy người khác chỉ giữ câu thoại đầu, chẳng làm hết thảy những chuyện khác).

 

          Vị đại đức Thiền Tông như vậy chính là thiện tri thức chân chánh. Ngài “giáo nhân đản trì thoại đầu” (dạy người khác chỉ trì câu thoại đầu). Các vị phải xem rõ chữ này. Thiền Tông là “tham” thoại đầu; ở đây, chẳng phải là Tham, mà là Trì. “Trì thoại đầu” là gì? “Thoại đầu” [ở đây] là A Di Đà Phật, “trì thoại đầu” là trì danh niệm Phật. Thoại đầu chẳng cần tham, cứ chăm chỉ trì là được rồi. Quý vị thấy chữ chủ yếu [trong câu nói trên đây] là Trì, quý vị thấy chữ ấy rất có ý vị![17] Chẳng cần tham cứu, cứ thật thà niệm Phật là được rồi! Đấy chính là gọi người tham Thiền quay về, bảo họ hãy thật thà niệm Phật. “Đản trì thoại đầu” là thật thà niệm Phật. “Nhất thiết bất tác”: Chẳng cần tham cứu nữa, chẳng cần tham Thiền, cứ thật thà niệm Phật sẽ thành tựu.

 

          (Sao) Cố tri nguyên nghiệp dư môn giả, thượng đương cải tu niệm Phật.

          ()故知原業餘門者,尚當改修念佛。

(Sao: Vì thế biết kẻ vốn chuyên tu tập các môn khác hãy còn nên đổi sang tu niệm Phật).

 

          Đây là nói rõ những vị đại đức thật sự, những vị giác ngộ chân chánh, thật sự hiểu rõ. Nói thật ra, chỉ có một môn này là có thể thành tựu ngay trong một đời. Những pháp môn khác tuy tu tập, chỉ là gieo thiện căn mà thôi, mong liễu sanh tử, thoát tam giới ngay trong một đời này sẽ chẳng thể được! Đó gọi là thiện tri thức thật sự. Trước kia, quý vị tham Thiền, niệm chú, trì giới, hay học Giáo, toàn bộ đều khuyên quý vị hãy quay về thật thà niệm Phật, buông xuống những gì đã học trong quá khứ.

“Nguyên nghiệp dư môn giả” (Kẻ vốn chuyên tu tập những pháp môn khác), “nghiệp” () là tu học. Vốn tu học những pháp môn khác đều “cải tu niệm Phật” (đổi sang tu Niệm Phật). Từ Tịnh Độ Thánh Hiền Lục ta thấy chuyện này rất nhiều, các vị tổ sư trong Tịnh Tông cũng thị hiện như vậy. Quý vị thấy Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư là bậc đại đức trong Thiền Tông, Ngài từ Thiền Tông quay lại chuyên tu Tịnh Độ, chuyên hoằng dương Tịnh Độ, biến thành tổ sư của Tịnh Độ Tông, là tổ sư đời thứ sáu của Tịnh Độ Tông. Ngẫu Ích đại sư chẳng bộc lộ thân phận, không biết Ngài là vị nào? Từ truyện ký của Ngài, chúng ta thấy Ngài từ tông Thiên Thai quay lại. Ngài học Thiên Thai, đến tuổi già, chuyên tu Tịnh Độ, chuyên hoằng dương Tịnh Độ. Lão nhân gia viết Di Đà Kinh Yếu Giải, cuối sách có một bài Bạt ngắn, trần thuật quá trình Ngài viết Yếu Giải, viết xong trong chín ngày! Tổ Ấn Quang tán thán: “Dẫu cổ Phật tái lai để viết chú giải kinh Di Đà, cũng chẳng thể hay hơn tác phẩm này được!” Đấy là tán thán đến tột đỉnh. Chúng ta biết tổ Ấn Quang là Đại Thế Chí Bồ Tát tái lai. Đại Thế Chí Bồ Tát tán thán như vậy, Ngẫu Ích đại sư là người nào? Chúng tôi suy đoán: Nếu chẳng phải là A Di Đà Phật, nhất định là Quán Thế Âm Bồ Tát tái lai. Nếu không, chẳng thể giải thích hay như vậy! Ý nghĩa trong kinh Di Đà đều được Ngài chỉ ra, chú giải hoàn toàn chẳng dài, đơn giản, trọng yếu, ngắn gọn, thế mà ý nghĩa của từng câu, từng chữ trong kinh đều được chỉ ra, xác thực là chẳng dễ dàng! Vì thế, chúng tôi nói trong các bản chú giải kinh Di Đà qua các thời đại, Yếu Giải xác thực là bậc nhất.

          Liên Trì đại sư là thầy của Ngẫu Ích đại sư, nhưng Ngẫu Ích đại sư và Liên Trì đại sư chẳng hề gặp mặt. Ngài Ngẫu Ích kính ngưỡng, hâm mộ tổ Liên Trì. Ngẫu Ích đại sư tu học pháp môn Tịnh Độ, Liên Trì đại sư đã vãng sanh, Tổ đọc sách của Liên Trì đại sư, tự mình phát nguyện làm học trò của Liên Trì đại sư, làm tư thục đệ tử. Có thể thấy là Ngài ngưỡng mộ Liên Trì đại sư, nhất định là Ngài đọc rất nhuần nhuyễn Sớ Sao và Diễn Nghĩa, tuyệt đối không chỉ là đọc một lần. Vì thế, Ngài tán thán Sớ Sao “rộng lớn, tinh vi, sâu xa”. Đúng như vậy đó! Khuyên người khác hồi tâm chuyển ý, chuyên tin Tịnh Tông, chuyên tu Tịnh Tông thì Sớ Sao hay lắm, Sớ Sao giảng giải mọi khía cạnh. Nếu đã tin tưởng Tịnh Độ, hy vọng quyết định được vãng sanh ngay trong một đời này, Yếu Giải hay lắm. Sách Yếu Giải đơn giản, trọng yếu, ngắn gọn, giúp quý vị quyết định được vãng sanh ngay trong một đời này. Đó là chỗ khác biệt giữa Sớ Sao và Yếu Giải.

         

(Sao) Hà huống nguyên niệm Phật nhân, nãi biến kỳ sở thủ, nhi phục tha thượng, tâm hoài nhị lộ, chí bất quy nhất, vân hà tam-muội, nhi đắc thành tựu?

()何況原念佛人,乃變其所守,而復他尚,心懷二路,志不歸一,云何三昧,而得成就?

(Sao: Huống hồ kẻ vốn niệm Phật, lại thay đổi điều vâng giữ, lại noi theo pháp khác, lòng ôm ấp hai nẻo, chí chẳng quy nhất, làm sao thành tựu tam-muội cho được?)

 

          Mấy câu ở đây đã [vạch ra] điều đáng kiêng dè nhất của người niệm Phật. Vì sao niệm Phật chẳng thể đắc công phu thành phiến? Vì sao chẳng thể đạt được cái tâm thanh tịnh? Vì sao chẳng thể vãng sanh? Ở đây, đại sư bằng một lời đã nói toạc ra. Chúng ta phải thường ghi nhớ trong tâm, phải thường dùng điều này để phản tỉnh, kiểm điểm. Nếu chúng ta phạm phải khuyết điểm này, niệm Phật sẽ chẳng có hy vọng vãng sanh! Người ta học pháp môn khác, đến cuối cùng còn buông xuống, quay về chuyên niệm A Di Đà Phật, cầu sanh Tịnh Độ. Chúng ta vốn niệm A Di Đà Phật, nghe người khác nói nhăng nhít mấy câu, bèn vứt bỏ chuyện niệm Phật của chính mình để hành pháp môn khác. Sai mất rồi! Lầm lẫn quá đỗi! Đó là “tâm hoài nhị lộ, chí bất quy nhất” (tâm ôm ấp hai đường, chí chẳng quy nhất). Huống hồ người hiện thời không chỉ là “tâm hoài nhị lộ”! Trong tâm có đến mười con đường, tám con đường, trăm con đường, ngàn con đường, [là chuyện] thường thấy, “hai con đường” kể ra còn khá lắm! Nhưng quý vị phải hiểu, hai con đường thì cũng chẳng thể thành tựu, huống chi nhiều? Điều này nhằm nói rõ: Nếu chúng ta thật sự mong vãng sanh trong một đời này, thật sự mong vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi, nhất định là phải y giáo phụng hành.

Còn có một hạng người ăn nói thoạt nghe cũng rất có đạo lý, họ nói như thế nào? Họ nói như thế này: “Người niệm Phật đúng là chẳng có một tí cảm tình nào! Người nhà, quyến thuộc, con cái đều chẳng cần đến. Cứ nhất tâm niệm A Di Đà Phật vãng sanh, quá ích kỷ, quá lạnh lùng, tàn khốc!” Nghe ra cũng rất có đạo lý, thật ra là “dường như đúng, nhưng hoàn toàn sai bét!” Chúng ta ở trong tam giới lục đạo bị nghiệp lực làm chủ tể, bản thân còn khó giữ gìn, quý vị có thể giữ nổi người nhà, quyến thuộc, con cháu hay không? Quý vị có thể chiếu cố họ được chăng? Oan uổng dụng tâm, chẳng có năng lực! Quý vị thường ghim trong lòng, bất quá là một đống phiền não to đùng mà thôi, chắc chắn là chẳng thể giải quyết vấn đề. Do đó, cách nghĩ và cách nhìn của họ đã sai bét, chẳng thấy sự thật!

Chuyên tâm niệm Phật, nhất tâm cầu vãng sanh, từ nhà quý vị nẩy sanh một vị Bồ Tát, hoặc sanh ra một vị Phật, trong Phật môn thường nói “một đứa con thành Phật, tổ tiên chín đời sanh lên trời”. Do vậy, người nhà, quyến thuộc của quý vị được chư Phật, Bồ Tát hộ niệm, có long thiên thiện thần chiếu cố. Bản thân chúng ta mong chiếu cố họ, chẳng thể chiếu cố nổi! Phật, Bồ Tát, thần hộ pháp thật sự có thể chiếu cố, người thế gian không hiểu điều này. Người thế gian ngu si, chẳng trông thấy! Chúng ta thường nghe những lời ấy, trong tâm hiểu rõ, chẳng bị họ lay động. Họ chỉ thấy một mặt, chẳng thấy mặt khác. Một người tu hành có thành tựu, cả nhà, cả họ sẽ được hưởng phước của người ấy. Từ xưa đến nay, nếu chư vị quan sát cặn kẽ, sẽ thấy đấy là sự thật, quý vị đều có thể chính mắt trông thấy.

          Chúng tôi nêu ra một thí dụ nông cạn, dễ hiểu nhất. Trong Niệm Phật Luận, Đàm Hư đại sư có nói tới chuyện vãng sanh của vị nữ cư sĩ họ Trương thuộc chùa Trạm Sơn ở Thanh Đảo. Bà ta có hai đứa con nhỏ, đứa lớn mới mười tuổi, đứa nhỏ đương nhiên càng bé hơn. Bà có chồng, cuộc sống hết sức kham khổ. Vào thời đó, chồng bà là phu kéo xe, làm việc ở bến tàu. Mỗi ngày nhọc nhằn kiếm được một chút tiền để cả nhà sống qua một ngày. Ngày nào chẳng đi làm, ngày ấy chẳng có cơm ăn. Sống cuộc đời khổ sở như vậy. Bà ta học Phật, tham dự hội Niệm Phật ở chùa Trạm Sơn, mỗi tuần đều đến tham dự. Gia cảnh nghèo khổ như vậy, trong Niệm Phật Đường, đương nhiên cũng chẳng có ai coi trọng bà ta. Bà làm tạp vụ trong Niệm Phật Đường, rửa chén trong nhà bếp, làm việc này. Quý vị thấy bà ta niệm Phật thành công, vãng sanh tự tại lắm, tiêu sái lắm! Biết trước lúc mất, ngồi vãng sanh. Trước khi vãng sanh mấy tiếng đồng hồ, còn dặn dò chồng, giao phó mấy đứa con thơ. Bà ta vãng sanh, thật sự buông xuống. Con còn thơ bé dường ấy mà vãng sanh, có phải là nhẫn tâm hay không? Bà ta ra đi như thế, vãng sanh trong tình hình ấy, các vị ngẫm xem, các đồng tu thuộc Niệm Phật Đoàn tại chùa Trạm Sơn có ai chẳng chiếu cố các con của bà? Con bà ta ngay lập tức có phước báo, đó gọi là thật sự chiếu cố. Thấy mẹ của mấy đứa trẻ ấy niệm Phật thành tựu như vậy, chẳng có một ai không hoan hỷ, chẳng có ai không tận tâm tận lực giúp đỡ, chiếu cố bà ta. Đấy là thật sự thông minh, thật sự có trí huệ, thật sự có thể chiếu cố gia đình, chiếu cố con cái. Vì thế, chí hướng chuyên nhất hết sức trọng yếu. Chí chẳng chuyên nhất, tam tâm nhị ý, chẳng thể thành tựu Niệm Phật tam-muội.

“Niệm Phật tam-muội” là nói chung; Lý nhất tâm bất loạn, Sự nhất tâm bất loạn, và công phu thành phiến, đều gọi là Niệm Phật tam-muội. Trong Niệm Phật tam-muội, công phu có cạn hay sâu sai khác. Nông cạn nhất là công phu thành phiến; có thể niệm đến thành phiến, chắc chắn vãng sanh, nắm chắc vãng sanh. Theo như chúng tôi thấy, rất nhiều người biết trước lúc mất, ra đi rất tự tại, lìa thoát [Sa Bà] rất tiêu sái, đứng mất, ngồi mất. Nếu quý vị hỏi: Rốt cuộc họ niệm đến mức độ công phu nào? Chín mươi chín phần trăm là công phu thành phiến. Công phu thành phiến loại giỏi, nếu chúng ta chia công phu thành phiến thành chín phẩm, ba phẩm thượng có thể đạt tới sanh tử tự tại. “Tự tại” là muốn đi khi nào bèn vãng sanh khi ấy, muốn trụ thêm trong thế gian này bao nhiêu năm nữa, quyết định chẳng bị trở ngại. Chuyện này chẳng phải là đã đạt nhất tâm bất loạn; [đã đạt] nhất tâm bất loạn thì đương nhiên là càng tự tại. Công phu thành phiến bèn có thể đạt tới cảnh giới này, cho thấy mỗi người chúng ta đều có thể làm được chuyện này. Nếu nói “nhất tâm bất loạn” thì chẳng phải là mỗi người chúng ta đều có thể làm được. Công phu thành phiến thì ai nấy đều có thể làm được. Đó gọi là “vạn người tu, vạn người đến”. Nếu chẳng chiếu theo phương pháp này, chúng ta nửa tin, nửa ngờ, có lúc niệm Phật, có lúc trì chú, có khi lại tu những pháp môn khác, suốt một đời này chỉ gieo một tí thiện căn nơi Phật môn, chẳng thể khởi tác dụng.

 

          (Sao) Trực chí vô thường, không vô sở hoạch.

          ()直至無常,空無所獲。

          (Sao: Thẳng cho đến khi vô thường, trắng tay, chẳng đạt được gì).

 

          “Vô thường” là đến ngày chết. Mãi cho đến lúc chết, quý vị chẳng đạt được gì! Nói cách khác, cuộc đời quý vị vẫn bị nghiệp lực chi phối y như cũ. Sanh tử có mạng, đại hạn xảy đến, vẫn y như cũ lưu chuyển theo nghiệp lực. Đó gọi là “không vô sở hoạch” (trắng tay, chẳng đạt được gì).

 

          (Sao) Võng tư kỷ quá, phản khởi báng ngôn. Ô hô mậu tai!

          ()罔思己過,反起謗言,嗚呼謬哉。

(Sao: Chẳng nghĩ đến lỗi mình, ngược ngạo thốt lời phỉ báng. Ôi chao, lầm lạc thay!)

 

          Đại sư cảm thán, người niệm Phật ấy đến lúc lâm chung, vua Diêm La sai tiểu quỷ đến bắt, người ấy vẫn chẳng phục, vẫn báng bổ Phật: “Các ngươi coi đó! Ta suốt đời làm chuyện tốt, luôn niệm Phật, [thế mà] chẳng thể vãng sanh, vẫn phải đến chầu Diêm Vương. Phật lừa ta, kinh pháp chẳng linh”, báng Phật, báng Pháp! Kẻ ấy chẳng biết chính mình tu học chẳng đúng lý, đúng pháp, tạo thành khuyết điểm, vẫn cứ báng Phật, báng Pháp, tội càng thêm tội!

 

          (Sớ) Xứng Lý, tắc tự tánh không, thị bạt nghiệp chướng nghĩa; tự tánh hữu, thị đà la ni nghĩa; tự tánh bất hữu bất không, thị sanh Tịnh Độ nghĩa.

(Diễn) Tự tánh Không, tức Không Như Lai Tạng. Sở vị “nhất không, nhất thiết không”. Vô Giả, vô Trung, vô bất không dã. Tự tánh Hữu, tức bất không Như Lai Tạng. Sở vị “nhất giả, nhất thiết giả”. Vô Không, vô Trung, vô bất Giả dã. Tự tánh bất hữu, bất không, tức không bất không Như Lai Tạng. Sở vị “nhất trung, nhất thiết trung”. Vô Không, vô Giả, vô bất Trung dã.

()稱理,則自性空,是拔業障義;自性有,是陀羅尼義;自性不有不空,是生淨土義。

         ()自性空。即空如來藏。所謂一空一切空。無假無中無不空也。自性有。即不空如來藏。所謂一假一切假。無空無中無不假也。自性不有不空。即空不空如來藏。所謂一中一切中。無空無假無不中也。

(Sớ: Xứng Lý, tự tánh Không là ý nghĩa dẹp trừ nghiệp chướng, tự tánh Hữu là ý nghĩa đà la ni. Tự tánh chẳng Có, chẳng Không là ý nghĩa sanh Tịnh Độ).

          Diễn: Tự Tánh Không, tức Như Lai Tạng cũng là Không. Đó gọi là “một thứ là Không, hết thảy đều là Không”. Chẳng có Giả và chẳng có Trung thì cũng chẳng có cái “chẳng phải là Không”. Tự Tánh Hữu tức là Như Lai Tạng chẳng phải là Không. Đó gọi là “một thứ là Giả, hết thảy đều là Giả”. Chẳng có Không và chẳng có Trung thì cũng chẳng có “chẳng phải là Giả”. Tự Tánh chẳng Có, chẳng Không, chính là Như Lai Tạng không mà chẳng không, đó gọi là “một thứ là Trung, hết thảy đều là Trung”. Chẳng có Không, chẳng có Giả thì chẳng có “không phải là Trung”).

 

          Mấy câu này nói hết sức viên mãn. Tự tánh xác thực là Không. Nói cách khác, trong Chân Như bản tánh, lấy đâu ra nghiệp chướng? Có thể thấy là nghiệp chướng vốn là Vô. Vốn là vô, nhất định là có thể dẹp trừ, nhất định là có thể đoạn sạch. Tự tánh là Có thì quyết định có thể chứng đắc. Đà la ni là Tổng Trì, pháp môn Đại Tổng Trì của hết thảy chư Phật Như Lai là gì? Chính là câu “Nam-mô A Di Đà Phật”, chúng ta quyết định có thể chứng đắc. Không là nói theo Thể, Có là nói theo Tướng; “chẳng phải Có, chẳng phải Không” là nói theo Dụng. Nói theo Dụng, há có lẽ nào chẳng sanh Tịnh Độ? Đoạn Sao dưới đây đã dùng ý nghĩa của Thiền Tông để nói.

 

          (Sao) Mịch tâm liễu bất khả đắc, nhất thiết nghiệp chướng, thùy vi căn bản?

          (Diễn) Mịch tâm liễu bất khả đắc giả, Nhị Tổ tham Sơ Tổ, thời đương long đông, tích tuyết chí tất, kiên lập bất động. Sơ Tổ vấn dục cầu hà sự? Nhị Tổ viết: “Khất sư vị ngã an tâm”. Sơ Tổ viết: “Tương tâm lai, vị nhữ an”. Nhị Tổ vân: “Mịch tâm liễu bất khả đắc”. Cái dĩ đắc tâm không, dĩ đáo giác tâm sơ khởi, tâm vô sơ tướng địa vị dã.

          ()覓心了不可得,一切業障,誰為根本?

         ()覓心了不可得者。二祖參初祖。時當隆冬。積雪至膝。堅立不動。初祖問欲求何事。二祖曰。乞師為我安心。初祖曰。將心來為汝安。二祖云。覓心了不可得。蓋已得心空。已到覺心初起。心無初相地位也。

          (Sao: Tìm tâm trọn chẳng thể được, căn bản của hết thảy nghiệp chướng là gì?

          Diễn: “Tìm tâm trọn chẳng thể được”: Nhị Tổ tham yết Sơ Tổ, nhằm lúc trời đang giữa Đông, tuyết ngập đến gối, [Nhị Tổ] đứng vững, bất động. Sơ Tổ hỏi: “Muốn cầu chuyện gì?” Nhị Tổ thưa: “Xin thầy an cái tâm cho con”. Sơ Tổ bảo: “Ông lấy cái tâm ra đây, ta sẽ an cho ông”. Nhị Tổ thưa: “Tìm tâm trọn chẳng thể được”. Do vậy đã được tâm không, đã đạt đến địa vị giác tâm mới dấy lên, tâm chẳng có tướng ban đầu).

 

          “Tâm” chính là ba tâm như kinh Kim Cang đã nói, tức là quá khứ tâm, hiện tại tâm và vị lai tâm. “Tam tâm bất khả đắc” (Ba tâm trọn chẳng thể được), lấy đâu ra nghiệp chướng? Thật vậy! Nay vì sao có nghiệp chướng? Quý vị hiểu lầm, dấy vọng tưởng trong ấy, cứ ngỡ ba tâm thật sự có thể đạt được, tưởng ba tâm thật sự có! Đó chính là mê hoặc, điên đảo, tạo thành nghiệp chướng. Ba tâm xác thực là chẳng có. Do vậy có thể biết: Nghiệp chướng giống như mây trôi, chẳng phải là thực tại. Nhưng khi quý vị mê, nó khởi tác dụng, mây trôi thật sự che khuất mặt trời, xác thực là đã mê mờ bản tánh. Một niệm giác, nghiệp chướng bèn rỗng không, nghiệp chướng chẳng còn nữa. Một niệm mê, nghiệp chướng bèn hiện tiền. Chân tâm tự tánh, một niệm giác, chân tâm tự tánh là có. Một niệm mê, chân tâm tự tánh vẫn có, nó chẳng thuộc về mê hay ngộ. Nghiệp chướng thuộc về mê ngộ, khi mê thì có, lúc ngộ chẳng có. Vì thế, nó là giả, chẳng phải là thật. Ở đây, đại sư hỏi một câu: Gì là căn bản?

 

          (Sao) Tức tâm vô sở bất cụ, nhất thiết công đức, hà phất tổng trì?

          (Diễn) Tức tâm vô sở bất cụ giả, sở vị tự thể hữu đại trí huệ quang minh nghĩa cố, biến chiếu pháp giới nghĩa cố, chân thật thức tri nghĩa cố. Tự tánh thanh tịnh nghĩa cố, thường lạc ngã tịnh nghĩa cố, thanh lương bất biến tự tại nghĩa cố, cụ túc như thị quá ư hằng sa bất tư nghị Phật pháp, nãi chí mãn túc vô hữu sở thiểu nghĩa cố, danh vi Pháp Thân Như Lai Tạng dã.

          ()即心無所不具,一切功德,何弗總持?

         ()即心無所不具者。所謂自體有大智慧光明義故。遍照法界義故。真實識知義故。自性清淨義故。常樂我淨義故。清涼不變自在義故。具足如是過於恒沙不思議佛法。乃至滿足無有所少義故。名為法身如來之藏也。

(Sao: Tâm không gì chẳng trọn đủ, hết thảy công đức có gì chẳng được tổng trì?

Diễn: “Tâm không gì chẳng trọn đủ” nghĩa là nói tới ý nghĩa tự thể có quang minh đại trí huệ, ý nghĩa chiếu khắp pháp giới, ý nghĩa chân thật hay biết, ý nghĩa tự tánh thanh tịnh, ý nghĩa thường, lạc, ngã, tịnh, ý nghĩa trong mát, chẳng biến đổi, tự tại, có chẳng thể nghĩ bàn Phật pháp vượt trỗi số cát trong sông Hằng như thế, cho đến trọn đủ, chẳng có nghĩa nào thiếu sót. Đó gọi là Pháp Thân Như Lai Tạng).

 

          Đây là nói tự tánh chẳng có hình tướng. Khi nó khởi tác dụng, bèn có thể hiện hết thảy tướng. Y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới đều do chân tâm bản tánh biến hiện. Các nhà khoa học hiện thời nói rất hay: Hết thảy các tướng đều là hiện tượng dao động. Hiện tượng dao động là chẳng thật, là giả, giống như kinh Kim Cang đã nói: “Phàm những gì có hình tướng đều là hư vọng”, “hết thảy các pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng”, ý nghĩa hết sức gần gũi. Các nhà khoa học đã nhìn thấy chân tướng sự thật này, [các tướng] là giả, chẳng thật, về căn bản là chẳng tồn tại. Vì thế, tướng là huyễn hóa, là huyễn tướng, chẳng phải là chân tướng. Mười pháp giới là do mức độ mê hay ngộ sai biệt khác nhau mà biến hiện cảnh giới bất đồng. Mê ít, ngộ nhiều, bèn hiện ra tứ thánh pháp giới. Mê nhiều, giác ít, bèn hiện ra lục phàm pháp giới. Hoàn toàn là mê, chẳng giác thì là A Tỳ địa ngục pháp giới. “Tức tâm vô sở bất cụ” (Tâm không gì chẳng trọn đủ): Bổn tâm vốn sẵn trọn đủ mười pháp giới, do mê hay ngộ mà hiện. “Nhất thiết công đức”: Trên từ chư Phật cho tới dưới là ác đạo chúng sanh đều được bao gồm. Đó là Tổng Trì.

 

          (Sao) Đương tổng trì nhi bất lập tiêm trần.

          ()當總持而不立纖塵。

          (Sao: Trong tổng trì chẳng lập một mảy trần).

         

Điểm này chính là nguyên tắc chỉ đạo cao nhất trong sự tu dưỡng của chúng ta, vì chúng ta hiểu sự thật là “Tướng có, Thể không”. Thể là Không, Tâm Kinh bảo là Sắc Không, “Sắc hữu, Tánh không” (Sắc có, Tánh không). Do vậy, có thể thọ dụng, chứ chẳng thể chiếm hữu, cũng có nghĩa là “chớ nên chấp trước”. Thọ dụng: Chư Phật, Bồ Tát thọ dụng rất tự tại! Do chẳng có chấp trước, cho nên các Ngài tự tại. Nay chúng ta đối với sự thọ dụng bèn khởi chấp trước, khuyết điểm ở chỗ chấp trước, chẳng phải là nói thọ dụng [có khuyết điểm]. Có thể thọ dụng, cái đáng sợ là chấp trước. Kinh Hoa Nghiêm có nói: “Chỉ vì vọng tưởng, chấp trước, mà chẳng thể chứng đắc”. Có thể thấy: Chớ nên có vọng tưởng, chớ nên có chấp trước. Vậy thì trong mười pháp giới, quý vị sẽ thọ dụng tự tại, giống như chư Phật, Bồ Tát du hý thần thông trong chín pháp giới, rộng độ chúng sanh.

 

          (Sao) Hữu thị tức Không chi hữu.

          ()有是即空之有。

(Sao: Hữu là cái Có chính là Không).

 

          Hữu là Không.

 

          (Sao) Vô căn bản nhi xuất sanh vạn pháp.

          ()無根本而出生萬法。

(Sao: Chẳng có căn bản mà sanh ra vạn pháp).

 

          Chẳng có căn bản. Hết thảy vạn pháp “pháp nhĩ tự nhiên” (pháp tự nhiên là như vậy) biến hiện ra, chẳng cần phải truy cứu. Truy cứu chẳng ra! Chỉ có từ trong cảnh Định rất sâu, vừa nhìn bèn hiểu rõ ngay, tuyệt đối chẳng phải là do nghiên cứu, thăm dò mà có thể lần mò tìm được chân tướng. Làm như vậy, vĩnh viễn chẳng tìm thấy chân tướng. Nhất định là phải từ công phu định lực, tâm thanh tịnh, cảnh giới ấy bèn hiển lộ rành mạch, rõ ràng!

 

          (Sao) Không thị tức Hữu chi không.

          ()空是即有之空。

          (Sao: Không là cái không chính là có).

 

          “Không” chẳng phải là Ngoan Không (cái Không trơ trơ). Không chẳng phải là Vô, chẳng phải là thứ gì cũng đều chẳng có, mà là “tức Hữu chi Không” (cái Không chính là Có).

 

(Sao) Tức Hữu tắc Bất Không, tức Không tắc Bất Hữu, Bất Không Bất Hữu, duy thị nhất tâm, bất việt nhất tâm, thị danh Tịnh Độ.

(Diễn) Đương tổng trì nhi bất lập tiêm trần giả, Diệu Hữu tức thị Chân Không dã. Cố hữu thị tức không chi hữu, vô căn bản nhi xuất sanh vạn pháp giả. Chân Không tức thị Diệu Hữu dã. Cố không thị tức hữu chi không. Tức hữu tắc bất không, thị như thật bất không dã. Tức không tắc bất hữu, thị như thật không dã, nhi như thật bất không, dữ như thật không, bất ly nhất Chân Như tâm, nhi nhất Chân Như tâm, chánh thị Tịch Quang Tịnh Độ. Cố viết duy thị nhất tâm, thị danh Tịnh Độ.

()即有則不空,即空則不有,不空不有,惟是一心,不越一心,是名淨土。

()當總持而不立纖塵者。妙有即是真空也。故有是即空之有。無根本而出生萬法者。真空即是妙有也。故空是即有之空。即有則不空。是如實不空也。即空則不有。是如實空也。而如實不空。與如實空。不離一真如心。而一真如心。正是寂光淨土。故曰唯是一心。是名淨土。

          (Sao: Tức là Có thì chẳng phải là Không, chính là Không thì chẳng phải Có, chẳng phải Có, chẳng phải Không, chỉ là nhất tâm, chẳng ra ngoài nhất tâm, bèn gọi là Tịnh Độ.

Diễn: “Trong tổng trì chẳng lập mảy trần”: Diệu Hữu chính là Chân Không. Vì thế, Hữu chính là “cái Hữu tức là Không”. “Vô căn bản mà xuất sanh vạn pháp”: Chân Không chính là Diệu Hữu. Vì thế, Không chính là “cái Không tức là Có”. “Hữu chính là chẳng Không” là như thật bất không. “Không chính là chẳng Có” là như thật Không. Nhưng Như Thật Bất Không và Như Thật Không đều chẳng lìa khỏi một tâm Chân Như, cái tâm Chân Như chính là Tịch Quang Tịnh Độ. Vì thế nói “chỉ là nhất tâm, gọi là Tịnh Độ”).

 

          Trưởng giả Duy Ma bảo chúng ta: “Tâm tịnh, ắt cõi nước tịnh”. Đoạn này có thể dùng để giải thích câu kinh văn ấy, [tức câu] “tâm tịnh, ắt cõi nước tịnh” là gì, ý nghĩa bèn hết sức viên mãn. Chúng ta thật sự hiểu rõ, thật sự minh bạch, lập tức đối với chính mình và hoàn cảnh sống của chính mình, quan niệm ngay lập tức thay đổi. “Quan” là cách nhìn, “niệm” là cách nghĩ. Cách nhìn và cách nghĩ của chúng ta ngay lập tức thay đổi, bèn nhập Phật tri Phật kiến. Cách nghĩ và cách nhìn của chúng ta hoàn toàn tương đồng với Phật và các vị đại Bồ Tát, đó gọi là “nhập Phật tri kiến”. Chớ nên xem nhẹ kinh Di Đà, cảnh giới cao nhất của Thiền Tông là “nhập Phật tri kiến”. Kinh Pháp Hoa nói rõ ràng hơn: “Khai thị ngộ nhập Phật chi tri kiến” (Khai thị ngộ nhập tri kiến của Phật), chẳng thuận tiện như kinh Di Đà. Chẳng dễ dàng như câu Phật hiệu! Đối với câu Phật hiệu này, Đại Thế Chí Bồ Tát nói: “Chẳng cậy vào phương tiện, tự được tâm khai”. Hễ tâm khai, bèn nhập Phật tri kiến.

Ba hàng cuối của lời Sao văn tự không nhiều, nghĩa lý đúng là rốt ráo viên mãn, càng đọc càng có ý vị, càng thấu hiểu, càng chân thật, có thể giúp chúng ta thành tựu Niệm Phật tam-muội trong một thời gian ngắn ngủi. Vì thế, ba hàng này cần phải đọc mấy lượt, tham cứu tường tận. Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa giảng lần thứ ba đến đây đã viên mãn, cảm ơn chư vị đồng tu.

A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

          Trọn Bộ

(Hoàn thành cảo bản ngày 24 tháng 05 năm 2015)

Tái giảo duyệt lần thứ nhất ngày 16 tháng 12 năm 2015

 

 

Thay lời tri ân và hồi hướng

         

          Kể từ khi khởi sự chuyển ngữ phần thứ nhất của bài giảng này vào tháng 11 năm 2011, đến nay đã gần bốn năm, chúng con mới chuyển ngữ xong bộ Di Đà Sớ Sao Diễn Nghĩa này tuy nguyên tác chỉ gồm 289 buổi giảng. Trong gần suốt bốn năm ấy, các liên hữu Minh Tiến, Đức Phong, Huệ Trang, Trịnh Lộc, Vạn Từ đã không tiếc công phí sức giảo duyệt, góp ý sửa chữa, nhất là sư huynh Đức Phong đã tốn rất nhiều công sức trình bày, ấn tống và lưu thông. Cũng xin chân thành cảm tạ những đạo hữu gần xa đã khích lệ chúng con có đủ quyết tâm thực hiện công việc này. Nhìn lại bản dịch, chúng con hết sức hổ thẹn vì thế học lẫn đạo học đều quá kém cỏi, không thể chuyển ngữ lưu loát, mạch lạc, nêu bật văn phong trang trọng, ưu nhã của Tổ, chẳng thể diễn giải trong sáng, rõ ràng những diệu nghĩa do Tổ chỉ dạy, cũng như chẳng thể hiện được phong cách giảng giải rất độc đáo của Hòa Thượng Tịnh Không. Do sự ngu độn của chính mình, chẳng biết đã có bao nhiêu ý nghĩa đã bị hiểu lầm, dịch sai, đến nỗi hoàn toàn tương phản với ý tổ, ý thầy. Chắc chắn là công chẳng được mấy, tội lỗi vô biên. Chúng con chân thành sám hối, ngưỡng mong sẽ có bậc cao minh thương xót phủ chính. Nhất là khi đọc đến phần cuối của bài giảng, Hòa Thượng có nói việc phiên dịch kinh sách không chỉ là một vài người có thể thực hiện được, càng thêm hổ thẹn, đau xót muôn phần. Chỉ xuất phát từ lòng tham pháp, tiếc pháp, mong muốn chia sẻ phần nào pháp nhũ mà chúng con liều lĩnh làm chuyện quá phận này. Chỉ mong dịch phẩm thô vụng này có thể giúp đỡ các đồng tu lãnh hội phần nào diệu nghĩa Tịnh Độ và dốc lòng trân quý bảo điển A Di Đà Kinh. Nếu việc làm liều lĩnh, quá phận này có chút công đức nào, đều xin hồi hướng về thầy, tổ, quá khứ hiện tại sư trưởng, phụ mẫu, lịch đại tổ tiên, các vị thiện hữu Đức Phong, Minh Tiến, Huệ Trang, Trịnh Lộc, Vạn Từ, các đồng tu niệm Phật khắp mười phương pháp giới, hết thảy hữu tình chúng sanh đều cùng được ân triêm Phật quang, phiền não tiêu trừ, cùng hội ngộ nơi An Dưỡng Quốc.

Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa đê đầu, hòa-nam bái bạch.



[1] Trầm Gia Trinh (1913-2007), sanh ở Hàng Châu, quê ở huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang. Cụ là một doanh nhân rất thành công tại Trung Hoa và Mỹ, đồng thời là một đại cư sĩ Phật giáo, đã có công lao to lớn trong việc truyền bá Phật giáo tại vùng Nữu Ước. Năm 1937, cụ tốt nghiệp trường đại học giao thông Thượng Hải về ngành điện cơ, làm việc trong Tư Nguyên Ủy Viên Hội (ủy hội Tài Nguyên) của chánh quyền Quốc Dân Đảng. Cụ được chánh quyền Dân Quốc giao phó công tác làm đại diện liên lạc với công ty Siemens của Đức tại Berlin để mua sắm thiết bị. Sau khi trở về nước, cụ đảm nhiệm chức công trình sư tại công xưởng điện Trung Ương ở Côn Minh (Vân Nam). Do đầu óc thực tiễn và tháo vát, cụ đã thành lập nhiều công ty cá nhân rất thành công, đồng thời có đủ tiền để bảo trợ giáo sư Tạ Dục Tấn nghiên cứu chế thành công thuốc trị bạch hầu tại Trung Hoa. Năm 1950, do sang Ấn Độ, quen biết giáo sư Trương Trừng Cơ, hai người trở thành bạn tâm giao và tích cực cộng tác với nhau trong việc hoằng dương Phật pháp. Năm 1952, cụ dời gia đình sang Luân Đôn, sau đó di cư sang Mỹ. Khi đến Mỹ, toàn bộ tài sản tích lũy trước đó đã bị tiêu mất trong thời chiến tranh Quốc Cộng tại Hoa Lục, cả gia đình phải sống chen chúc trong một căn apartment nhỏ hẹp. Không nản lòng, cụ mày mò tìm cách chế tạo tủ kem và các máy móc làm kem. Sau đó, thành lập công ty Tín Dụng Đại Tây Dương, thành công ký kết thương vụ thuyền vận tải với Thổ Nhĩ Kỳ, bắt đầu kinh doanh ngành vận chuyển. Nhận lời mời của Roger Kyes (phó tổng giám đốc hãng General Motors thời ấy), cụ cùng với bạn hữu thành lập công ty vận chuyển, thành công ký kết thương vụ chuyên chuyển dầu cho Đài Loan. Cụ thành lập liên tiếp nhiều công ty, nổi tiếng nhất là công ty vận chuyển GATC của Hoa Kỳ, trở thành nhà đại tư bản. Tuy rất thành công trong kinh doanh, kể từ năm 1960, cụ vẫn dành nhiều thời gian để vận động và xúc tiến thành lập Mỹ Quốc Phật Giáo Hội, Thế Giới Tôn Giáo Nghiên Cứu Viện, và Dịch Kinh Viện. Năm 1965, cụ và vợ cùng đứng tên mua đứt một tòa cao ốc lớn ở Nữu Ước, quyên tặng cho hội Phật giáo Mỹ Quốc để tạo lập chùa Đại Trang Nghiêm. Trước đó, ba vị pháp sư Nhân Tuấn, Thánh Nghiêm và Mẫn Trí đã xướng suất ý tưởng lập tự viện tại Nữu Ước, nhưng mãi cho đến khi được vợ chồng cụ quyên tặng tòa cao ốc, xúc tiến các thủ tục pháp lý, cũng như bảo trợ tài chánh, chùa Đại Trang Nghiêm mới xây dựng thành công. Cụ đã tiên phong trọng việc computer hóa các tài liệu kinh điển Phật giáo, cũng như dùng CD để bảo tồn hình chụp các văn bản quý. Cụ đã hợp tác với pháp sư Ấn Thuận thành lập Dịch Kinh Viện tại Phước Nghiêm Tinh Xá, dịch kinh Đại Bảo Tích sang tiếng Anh và xuất bản tại Nữu Ước.

[2] Ở đây, trong nguyên bản, người ghi lại lời giảng đã chép sai chỗ này! Người sáng lập nhà Lưu Tống là Lưu Dụ (劉裕), không phải là Lưu Dự (劉豫).

[3] Cầu Na Bạt Đà La (394-468) là một vị pháp sư Đại Thừa xuất thân từ vương quốc Ma Kiệt Đà (Magadha). Sư thuộc dòng Bà La Môn, do đọc Tạp A Tỳ Đàm Tâm Luận bèn quy y Phật pháp. Ngài tinh thông giáo nghĩa Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa. Do Ngài hoằng dương Đại Thừa, nên còn có mỹ hiệu là Ma Ha Diễn (Đại Thừa). Ngài đã từng sang tận Tích Lan để học pháp. Ngài đến Trung Hoa năm 435 cùng với pháp sư Cầu Na Bạt Ma (Gunavarma). Cả hai vị đều được Tống Văn Đế (Lưu Nghĩa Long) dùng lễ quốc sư đối đãi. Ngài dịch rất nhiều bản kinh, trong đó nổi tiếng nhất là kinh Lăng Già, và do vậy, Ngài được tôn xưng là thỉ tổ của những vị giảng sư về kinh Lăng Già. Tổ Bồ Đề Đạt Ma là học trò của Ngài. Ngoài kinh Lăng Già, một bộ kinh khác do Ngài dịch đặc biệt được người học Giáo tại Trung Hoa hâm mộ, nghiên cứu và chú sớ khá nhiều là bộ Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện Phương Quảng Kinh.

[4] Nam Bắc Triều là thời kỳ lịch sử phức tạp nhất trong lịch sử Trung Hoa kéo dài từ năm 420 đến năm 589, kể từ khi Lưu Dụ soán ngôi nhà Đông Tấn, lập ra nhà Tống, cho đến khi nhà Tùy diệt nhà Trần của Nam Triều vào năm 589. Do Trung Hoa lúc ấy bị chia thành hai triều đại song song giữa hai miền Nam và Bắc nên gọi là Nam Bắc Triều. Nam Triều bao gồm bốn triều đại Tống (do Lưu Dụ sáng lập), Tề (do Tiêu Đạo Thành sáng lập), Lương (do Tiêu Diễn sáng lập), Trần (do Trần Bá Tiên sáng lập) nối tiếp nhau. Bắc Triều bao gồm Bắc Ngụy (do Thác Bạt Khuê sáng lập, còn gọi là nhà Nguyên Ngụy), Đông Ngụy (do Nguyên Thiện Kiến (chắt của Thác Bạt Khuê) sáng lập. Thật ra, nhà vua là con rối trong tay quyền thần Cao Hoan), Tây Ngụy (do Nguyên Bảo Cự sáng lập, thật ra cũng là một con rối khác do quyền thần Vũ Văn Thái điều khiển. Cả hai nhà Ngụy này đều do Bắc Ngụy tách ra), Bắc Tề (do Cao Dương sáng lập) và Bắc Châu (do Vũ Văn Giác sáng lập) lần lượt cai trị miền Hoa Bắc. Nói cách khác, Tề và Châu chính là hai nước Đông Ngụy và Tây Ngụy bị quyền thần soán vị rồi đổi tên. Thật ra, Ngũ Hồ Loạn Hoa là giai đoạn trước thời kỳ này, khi các dân tộc ngoài biên cương vào Trung Hoa sáng lập ra mười sáu nước lớn nhỏ, Sử gọi chung là thời Ngũ Hồ Thập Lục Quốc. Trong các triều đại thời Nam Bắc Triều, các dòng họ Thác Bạt (đến đời vua Ngụy Hiến Văn Đế (Thác Bạt Hoành) bèn đổi họ Thác Bạt thành Nguyên), Vũ Văn, và Cao đều thuộc sắc tộc Tiên Ty.

[5] Giang Nam là từ ngữ chỉ chung miền Nam Trung Hoa kể từ bờ Nam của Trường Giang (sông Dương Tử), đôi khi còn được gọi không chánh xác là Mân Việt (tuy Mân Việt chỉ là một phần của Giang Nam). Nói chung, từ ngữ Giang Nam chỉ các tỉnh Nam Trung Hoa, chủ yếu là phần lãnh thổ thuộc trung và hạ lưu Trường Giang, bao gồm phía Nam tỉnh Giang Tô, Chiết Giang, phía Nam tỉnh An Huy, Giang Tây, Hồ Nam, Hồ Bắc, Phước Kiến, không kể các tỉnh Vân Nam, Quảng Đông và Quảng Tây. Hiểu theo nghĩa rất hẹp, Giang Nam chỉ bao gồm phía Nam tỉnh Giang Tô, phía Bắc Chiết Giang và phía Nam sông Hoàn, tức là vùng lưu vực sử dụng tiếng Ngô, bao gồm Tô Châu, Thường Châu, Tùng Giang, Gia Hưng, Hồ Châu, Hàng Châu, Thiệu Hưng, Ninh Ba, Huy Châu v.v… Trong thời Nam Bắc Triều, lãnh thổ nhà Lưu Tống rộng nhất, phía Bắc đến tận bờ Nam của Hoàng Hà, phía Tây đến rặng Tuyết Sơn của Tứ Xuyên, phía Nam bao gồm Quảng Đông, Vân Nam, Quảng Tây, Bắc Bộ Việt Nam (đến tận ranh giới nước Lâm Ấp).

[6] Lưu Dụ (363-422), tự là Đức Dư, biệt danh Đức Hưng, tiểu tự là Ký Nô, người huyện Bành Thành. Để tăng oai thế, ông tự xưng là cháu đời thứ hai mươi hai của Sở Vương (Lưu Giao, em ruột Hán Cao Tổ Lưu Bang). Tuy gia cảnh bần hàn, học thức rất kém, chỉ biết đọc nhấp nhem vài chữ, nhưng Lưu Dụ là người thông minh, quả quyết. Ông đầu quân dưới trướng của tướng Tôn Vô Chung, lập nhiều công lao, dễ dàng chiếm được lòng tin cậy của tướng nhà Tấn là Lưu Kính Tuyên, lần lượt thăng tiến rất nhanh. Cuối cùng trở thành quyền thần của nhà Đông Tấn, nhất là khi giúp vua Tấn diệt phản thần Hoàn Huyền. Do tham vọng, ông tìm cách giết chết Tấn An Đế (Tư Mã Đức Tông), đưa em trai Tấn An Đế (Tư Mã Đức Văn) lên ngôi, tức Tấn Cung Đế, để dễ bề khống chế. Cuối cùng, năm 420, ông ép Cung Đế nhường ngôi cho mình làm hoàng đế, đổi quốc hiệu là Tống, đặt niên hiệu là Vĩnh Sơ, nhưng Lưu Dụ chỉ làm vua được hai năm thì mất.

[7] Tống Văn Đế (407-453) làm vua từ năm 424 đến năm 453, tên thật là Lưu Nghĩa Long, tên hồi bé là Xa Nhi, là con trai thứ ba của Tống Vũ Đế (Lưu Dụ). Ông được tôn lên làm vua sau khi Tống Thiếu Đế (Lưu Nghĩa Phù, con trưởng của Lưu Dụ) bị bá quan phế truất.

[8] Thân Độc là phiên âm của Sindhu (tức sông Indus hiện thời); đó là tên cổ bằng tiếng Phạn của Ấn Độ. Do thời cổ, chữ Độc và Trúc đọc gần giống nhau, nên thường viết trại chữ Thân Độc thành Thiên Trúc. Cổ thư đôi khi phiên âm chữ này thành Hiền Đậu, Quyên Đốc, hoặc Kiền Đốc do mô phỏng chữ Hindu là cách đọc trại âm chữ Sindhu thành Hinduš của người Ba Tư. Tới khi người Hy Lạp xâm chiếm Ấn Độ, họ lại đọc trại chữ Hindu lần nữa thành chữ Indos, và cư dân bản xứ cũng chấp nhận cách gọi này. Từ đó mới hình thành tên gọi India khi người Anh biến Ấn Độ thành thuộc địa.

[9] Thông Lãnh chính là vùng cao nguyên thuộc bồn địa Pamir. Đây là một nơi bắt buộc phải đi qua khi từ Trung Hoa sang Ấn Độ vào thời cổ. Theo cổ thư, do vùng cao nguyên này trồng nhiều hành nên gọi là Thông Lãnh (蔥嶺, rặng củ hành). Pamir là vùng núi phát xuất sơn mạch chính của nhiều rặng núi nổi tiếng tại châu Á như Hy Mã Lạp Sơn, Hưng Đô Khố Thập Sơn (Hindu Kush), Thiên Sơn, Côn Luân Sơn, Khách Lạt Côn Luân Sơn (Karakoram) v.v… nên được gọi là “xương sống của châu Á” hoặc “mái nhà thế giới”. Vùng này hiện thời chủ yếu thuộc tỉnh Gorno Badakhshan của nước Tajikistan (Çumhurii Toçikiston, còn phiên âm là Tháp Cát Khắc Tư Thản), một phần thuộc về nước Kyrgyzstan (Cát Nhĩ Cát Tư), A Phú Hãn, và một phần thuộc vùng Tân Cương của Trung Hoa.

[10] Tân Cương có tên gọi chính thức hiện thời là Tân Cương Duy Ngô Nhĩ Tự Trị Khu (Xinjiang Uyghur Autonomous Region), bao gồm toàn bộ vùng đất gọi là East Turkestan (Đông Đột Quyết) thời cổ. Đây là một tỉnh nằm ở phía Tây Bắc Trung Hoa, thủ phủ là Ô Lỗ Mục Tề (Ürümqi), có diện tích chiếm đến một phần sáu lãnh thổ Trung Hoa. Tỉnh này chính là địa bàn của nhiều vương triều cổ, thường gọi chung là Tây Vực, như Nhục Chi, Lâu Lan (Nhu Nhiên, Thiện Thiện), Nhược Khương, Ô Xá, Tây Dạ, Tử Hợp, Tiểu Uyển, Tinh Tuyệt, Thả Mạt, Vu Điền, Nhung Lô, Cừ Lặc, Quy Tư, Sớ Lặc, Úy Đầu, Cao Xương v.v… Tên gọi Tân Cương được đặt ra khi vua Càn Long sai tướng dẹp tan các cuộc nổi dậy của dân Hồi và Mông Cổ, sát nhập vùng đất này vào bản đồ của đế quốc Đại Thanh. Chính quyền Hoa Lục gọi vùng này là Duy Ngô Nhĩ Tự Trị Khu vì người Uighur (Duy Ngô Nhĩ) chiếm đa số ở vùng này.

[11] Ngài Cầu Na Bạt Ma (Gunavarman, 367-431), Hán dịch là Công Đức Khải, là người xứ Kế Tân, thuộc dòng dõi hoàng tộc, thông minh, mẫn tiệp. Năm mười bốn tuổi, Sư đã nổi danh tài hoa xuất chúng, nhưng đức hạnh hết sức nghiêm cẩn. Từ bé, mẹ của Sư thích ăn thịt rừng, Sư can gián: “Phàm những thứ có sanh mạng, không loài nào chẳng ham sống. Tàn hại sanh mạng không phải là phẩm đức của người có lòng nhân”. Bà mẹ tức giận, quát: “Nếu đắc tội với thần linh, tao sẽ chịu tội thay cho mày!” Sư nín lặng. Một hôm, do chiên nấu, dầu văng lên tay, Sư bị bỏng, bèn bảo mẹ: “Mẹ hãy thay con chịu đựng nỗi đau khổ này”, bà mẹ nạt: “Đau khổ trên thân mày, tao chịu thay sao được?” Sư bèn đáp: “Nỗi khổ nhỏ trước mắt mà còn chẳng chịu thay được, huống hồ nỗi khổ trong tam đồ?” Bà mẹ nghe nói, giật mình, tỉnh ngộ, từ đó thôi sát sanh. Năm hai mươi tuổi, Sư xuất gia, thọ giới, tinh thông chín bộ kinh, đặc biệt là Tứ A Hàm. Sư chuộng Luật, tinh tường luật điển, đồng thời tinh thông Thiền pháp. Năm Sư ba mươi tuổi, quốc vương qua đời, không có người kế tự, quần thần suy cử Sư lên ngôi. Ba lượt thỉnh cầu Sư đều từ chối. Để khỏi bị ép lên ngôi, Sư trốn sang nước Sư Tử, hoằng dương Phật pháp nơi đó. Sau đấy, Sư lại sang Java hoằng pháp, được quốc vương nước ấy sùng mộ. Khi vua đánh trận bị thương, Sư tụng chú vào nước sai người đem rửa vết thương, thương tích bèn lành. Sau đó, Sư đáp ứng lời thỉnh cầu đi truyền pháp các nơi, ngồi thuyền của thương nhân Trúc Nan Đề, thuận gió đến Quảng Châu. Tống Văn Đế nghe tin, cấp tốc sai người thỉnh Sư lên Kiến Khang (Nam Kinh). Trên đường, đi qua núi Hổ Thị, thấy hình thế giống núi Kỳ Xà Quật, Sư bèn xin vua đổi tên núi thành Linh Thứu Sơn, lập chùa tại đó. Khi Sư trụ nơi đó, lập Thiền Thất cách chùa chính mấy dặm. Gõ chuông tại chùa chính, trong Thiền Thất chẳng thể nghe tiếng, nhưng hễ gõ chuông đều thấy Sư đến. Có lần mưa giông dữ dội, Sư đến mà thân mình chẳng ướt chút nào. Có lần đường sá lầy lội, thảo hài của Sư vẫn chẳng nhuốm bẩn chút nào. Ngài dịch các bộ kinh luận như Bồ Tát Thiện Giới, Tạp Tâm Kinh, Tứ Phần Yết Ma, Ưu Bà Tắc Ngũ Giới Luận Lược, Ưu Bà Tắc Nhị Thập Nhị Giới v.v… cũng như giảng giải kinh Pháp Hoa và phẩm Thập Địa của kinh Hoa Nghiêm.

[12] Đây chỉ là diễn tả ý nghĩa ‘phải đọc chữ “南無” thành Nam-mô’, chứ không phải nhìn vào mặt chữ rồi đọc theo âm Quan Thoại hiện thời thành Nán-wú (tức Nam-vô). Chữ “Nã Ma” (拿摩) có âm đọc là Ná-mó gần giống chữ Nam-mô. Do nhìn theo mặt chữ, có người đã giải thích quàng xiên “nam-vô A Di Đà Phật” là nước Nam không có Phật A Di Đà!

[13] Theo các cổ đức, chú luôn có nghĩa, nhưng ý nghĩa ấy quá súc tích, quá sâu xa, chẳng thể diễn tả bằng ngôn ngữ được, vượt ngoài tầm hiểu biết và cảnh giới của phàm phu. Lama Govinda từng nói: Nếu giải thích tỉ mỉ từng ý nghĩa trong một chữ Aum thì dù có nói cả đời vẫn không thể trọn hết.

[14] “Phá âm tự” (破音字) chính là những chữ khi để phân biệt những ý nghĩa khác nhau, phải đọc khác nhau. Thí dụ phổ biến thường được nêu ra để minh họa chữ Phá Âm là chữ “”. Nó có các âm đọc là Bất, Phầu, Phủ, Phi và Phu tùy theo ngữ cảnh. Chẳng hạn khi dùng với ý nghĩa trợ từ nêu nghi vấn, phải đọc là Phủ, như trong kinh Kim Cang, đức Phật hỏi tôn giả Tu Bồ Đề: “Tu Bồ Đề! Ư nhữ ý vân hà? Khả dĩ thân tướng kiến Như Lai phủ” (須菩提!於意云何?可以身相見如來不?: Này Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao, có thể dùng thân tướng để thấy Như Lai hay chăng?). Dùng chữ này với ý nghĩa phủ định thì đọc là Bất như “bất sanh, bất diệt”. Khi dùng với ý nghĩa mô tả trạng thái lưỡng lự thì đọc là Phầu như “đương phục như thử phầu?” (當復如此不, sẽ lại như thế hay chăng?). Một âm nữa là Phi khi diễn tả ý nghĩa to lớn (theo Thiều Chửu), như “phi hiển tai Văn Vương mưu” (不顯哉文王謀, mưu lược của Văn Vương to lớn rõ rệt thay!) Tuy thế, có tác giả giải thích chữ “” trong trường hợp này không có nghĩa gì, chỉ là trợ từ làm tăng ngữ khí cho câu nói mạnh mẽ hơn. Âm cuối cùng là Phu, có nghĩa là cuống hoa, như kinh Thi có câu: “Thường lệ chi hoa, ngạc phu vĩ vĩ” (常棣之華,鄂不韡韡, hoa cây thường lệ, cuống, đài rạng rỡ).

[15] Diêm Phù Đề (Jambud) là một loại cây. Theo thần thoại Ấn Độ, chính giữa thế giới này, có một vùng rừng toàn là cây Diêm Phù, lá cây rụng xuống biến thành một loại vàng rất quý gọi là vàng Diêm Phù Đàn. Địa cầu này được gọi tên theo loài cây ấy, tức Diêm Phù Đề Châu.

[16] Chuẩn Đề Bồ Tát (Cundhi, thường được dịch là Thanh Tịnh hoặc Minh Giác. Tên Ngài còn được phiên âm là Chuẩn Nê, Tôn Nê, hoặc Tôn Na, nhưng danh xưng Chuẩn Đề phổ biến nhất). Ngài còn có danh xưng Thiên Nhân Trượng Phu Quán Âm, Chuẩn Đề Phật Mẫu v.v… mật hiệu là Tối Thắng Kim Cang, hoặc Hàng Phục Kim Cang, là một trong sáu tôn Quán Âm chánh yếu của Đông Mật (Thánh Quán Âm, Thiên Thủ Quán Âm, Mã Đầu Quán Âm, Thập Nhất Diện Quán Âm, Chuẩn Đề Quán Âm và Như Ý Luân Quán Âm). Ngài là bộ mẫu của Liên Hoa Bộ, xuất sanh bảy câu-chi (bảy ức) đức Thế Tôn, nên còn có danh xưng là Thất Câu Chi Phật Mẫu Chuẩn Đề. Ngài được tạc tượng dưới nhiều hình thức, từ hai tay, bốn tay, cho đến mười tám tay, nhưng hình tượng được thờ phổ biến nhất là mười tám tay (biểu thị mười tám pháp bất cộng). Ngoại trừ hai tay kết ấn Chuẩn Đề đặt trước ngực, các tay còn lại lần lượt cầm các món pháp khí hoặc kết ấn, nếu kể từ dưới lên, bên phải sẽ là kết ấn Thí Vô Úy, trí huệ kiếm, xâu chuỗi, thiên diệu quả (quả báu cõi trời), phủ việt (búa lệnh), thiết câu (móc sắt), kim cang xử, tràng hoa báu. Bên trái lần lượt là tràng báu Như Ý, hoa sen, tháo bình (bình xối để rửa tay), dây quyến sách (thòng lọng), pháp luân, pháp loa (ốc, tù và), hiền bình, rương kinh Bát Nhã. Mỗi món pháp khí đều có ý nghĩa biểu pháp. Chẳng hạn, thiên diệu quả có đến một vạn hạt, biểu thị chủng tử của vạn hạnh thiện pháp thành tựu viên mãn, phủ việt biểu thị sự chẻ tan, phá trừ hết thảy vô minh, chướng ngại, phiền não. Dây quyến sách trói bắt các ác ma, biểu thị sự hàng phục các tâm thái tham, sân, si, mạn của chúng sanh v.v…

[17] Trong tu học, người hành Thiền thường được dạy “tham thoại đầu”, nhưng ở đây lại nói bậc tri thức trong Thiền Tông dạy hành giả “trì thoại đầu” tức là niệm Phật, tức là nhà Thiền vẫn dạy hành nhân niệm Phật.