A Di Đà Kinh Sớ
Sao Diễn Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 144
Chủ giảng: Lão pháp sư Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Hòa
Giảo duyệt: Minh Tiến, Huệ Trang và
Đức Phong
Tập
287
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang sáu trăm lẻ tám:
Tống
Nguyên Gia Thiên Trúc Tam Tạng Cầu Na Bạt Đà La dịch.
宋元嘉天竺三藏求那跋陀羅譯。
(Đời Tống, trong niên
hiệu Nguyên Gia, Tam Tạng Cầu Na Bạt Đà La
người xứ Thiên Trúc dịch).
Trong kinh Phật,
điều này được gọi là “nhân đề” (人題). Vì kinh Phật do đức Thế
Tôn giảng tại Ấn Độ trong thuở ấy; về
sau, các đệ tử của Ngài dùng văn tự ghi chép
lại, trở thành kinh điển. Những bản ghi chép
nguyên thủy đều dùng tiếng Phạn (Sankrit) để
viết. Tiếng Phạn là cổ văn Ấn Độ.
Sau khi được truyền đến Trung Hoa, nhất
định là phải dịch sang tiếng Hán thì mới có
thể lưu thông tại Trung Hoa. Do vậy, mỗi bộ
kinh đều có “phiên dịch
nhân đề”, [tức là] do người nào phiên dịch.
Ở chỗ này, chúng ta ắt cần phải hiểu: Phiên
dịch kinh Phật là công sức trước tác tập thể,
chẳng phải do một người nào đó phiên dịch.
Phật pháp truyền đến Trung Hoa là do chính quyền
Trung Hoa vời thỉnh. Vào thời cổ, đế
vương sai đặc sứ sang Tây Vực thỉnh vời
cao tăng đại đức đến Trung Hoa. Vì thế,
sau khi các Ngài đã tới Trung Hoa, bèn được đãi
ngộ cao nhất bằng phương cách lễ ngộ.
Đế vương Trung Hoa dùng lễ quốc sư đối
với các vị ấy, [tức là coi các Ngài là] “thầy của đế
vương”. Dùng lễ nghi ấy để tiếp
đãi, hết sức long trọng. Vì đế
vương tôn trọng hàng xuất gia như vậy, tục
ngữ thường nói là “thượng
hành, hạ hiệu” (trên hành, dưới làm theo), thần
dân thấy đế vương tôn trọng người
xuất gia dường ấy, dân chúng và quan viên văn võ bèn
đặc biệt tôn trọng [người xuất gia]. Do
đó, tại Trung Hoa, Phật giáo có địa vị rất
cao tột!
Phiên
dịch kinh điển có tổ chức, giống như hội
đồng phiên dịch do quốc gia thành lập trong hiện
thời. Đã thế, tổ chức ấy khá to lớn,
dùng tài lực của quốc gia và nhân lực toàn quốc
để duy trì. Gần như các vị chuyên gia ngữ
văn, những học giả thế gian và xuất thế
gian thuở ấy đều tham gia công tác phiên dịch.
Nhưng tựa đề kinh chỉ ghi tên một vị, vị
ấy chính là “chủ tịch” của viện dịch kinh,
giống như hiệu trưởng trong một trường
học, dùng vị ấy làm đại biểu. Đừng
nên nghĩ bộ kinh này chỉ do [một mình] Ngài phiên dịch,
mà là do dịch trường của Ngài phiên dịch, [hiểu
như vậy] là đúng. Sử truyện ghi chép khá cặn
kẽ dịch trường của La Thập đại
sư, kinh Di Đà do Cưu Ma La Thập đại sư phiên
dịch. Dịch trường của La Thập đại
sư có hơn bốn trăm người, có thể thấy
là biên chế của cơ cấu ấy khá to lớn. Dịch
trường của Huyền Trang đại sư đời
Đường quy mô còn to hơn nữa, có hơn sáu
trăm người!
Nhìn
lại chúng ta trong hiện thời. Hiện thời vì giao
thông phát triển, thông tin phát triển, gần như toàn thể
địa cầu biến thành một khu vực. Chỗ
nào phát sanh một tí sự việc, chúng ta lập tức biết
ngay. Địa cầu thu nhỏ, mối quan hệ giữa
con người với nhau, mối quan hệ giữa các quốc
gia trở nên ngày càng mật thiết. Mối quan hệ giữa
nước này với nước kia đúng là giống
như xóm giềng. Nếu muốn thật sự đạt
tới thế giới hòa bình, cùng tồn tại phát triển,
chỉ có cách trao đổi văn hóa thì mới có thể
kiến lập một nhận thức chung, mà cũng là
[hình thành] một quan niệm cộng đồng. Dựa
trên quan niệm ấy thì mới có thể đạt tới
sự tồn tại phát triển chung, đối xử
hòa thuận với nhau. Nếu không chú trọng
phương diện này, thế giới loạn lạc,
chúng sanh khổ sở là chuyện chắc chắn chẳng
thể tránh khỏi! Xét theo nền văn hóa của toàn thể
thế giới, Phật giáo là một mắt xích rất trọng
yếu. Kinh điển trên thế giới hiện thời,
có kinh điển bằng tiếng Hán hoàn chỉnh, kinh
điển bằng tiếng Tây Tạng; đối với kinh điển Tiểu Thừa, trừ Hán
văn ra, còn có [kinh điển chép bằng] tiếng Ba Lợi
(Pāḷi, tiếng
Nam Phạn). Kinh điển bằng tiếng Nhật
là dịch từ tiếng Hán, chỉ dịch một phần.
Hiện thời,
Phật giáo thuận theo thời đại to lớn này mà
truyền sang phương Tây, truyền bá đến mỗi
quốc gia, mỗi khu vực trên thế giới. Công tác dịch
kinh là một vấn đề to lớn trọng yếu nhất
trong hiện thời! Làm thế nào để dịch từ
tiếng Hán, từ tiếng Tây Tạng, hoặc tiếng Ba Lợi sang văn tự của các
nước khác trên thế giới? Trong nhiều năm qua,
cũng có người thực hiện công tác này, nhưng hiệu
quả của công tác phiên dịch ấy đều có vấn
đề. Thí dụ như lão cư sĩ Trầm Gia Trinh[1] ở
Nữu Ước, Hoa Kỳ, hết sức nhiệt tâm hoằng
dương Phật pháp, đã thỉnh không ít người
làm công tác dịch kinh điển từ tiếng Hán sang tiếng
Anh, phiên dịch rất nhiều. Tôi ở Nữu Ước,
lão nhân gia bảo tôi: “Những bản dịch ấy chẳng
thể xuất bản, nguyên nhân ở chỗ nào?” Người
phiên dịch tiếng Hán lẫn tiếng Anh đều thông
thạo, nhưng thiếu sự tu dưỡng kha khá
nơi Phật pháp, chỉ dựa theo mặt chữ để
dịch, nên ý nghĩa chẳng đúng! Đây là một nan
đề rất lớn! Do đó, tại dịch trường
xưa kia, vì sao có khá nhiều người tham gia? Mọi
người cùng nhau nghiên cứu, thảo luận; mỗi
chữ, mỗi câu đều phải cân nhắc. Nếu
dùng phương pháp phiên dịch tập thể như thời
cổ, vấn đề này có thể giải quyết. Hiện
thời, dịch kinh do cá nhân thực hiện, mỗi cá nhân
có thành kiến của chính mình. Đó là điều then chốt
khiến cho bản dịch chẳng thể lưu thông khắp
nơi! [Bản dịch] đã được đại
chúng nghiên cứu, thảo luận, sẽ là khách quan, sai lầm
được giảm thiểu đến mức độ
thấp nhất.
Đối với
vấn đề này, tôi nêu ra một ý kiến nho nhỏ
cùng Trầm lão cư sĩ: Nếu lại có cơ hội
phiên dịch, thí dụ như quý vị dịch kinh Kim Cang,
quý vị nhất định phải thăm dò, hiện tại
trên thế giới, bất cứ nơi nào thuộc quốc
gia nào, hễ có vị pháp sư đại đức nào thật
sự nghiên cứu, tu học kinh Kim Cang, hãy mời vị ấy
đến giảng. Tất cả các nhân viên tham dự dịch
kinh đều đến nghe, nghe vị ấy giảng cặn
kẽ. Người phiên dịch dụng tâm để nghe,
hễ có câu hỏi nào, bèn thưa hỏi, cốt sao đối
với ý nghĩa trong kinh thảy đều lý giải thông
suốt, chẳng có mảy may chướng ngại nào. Sau
đấy, chọn ra mấy người dịch nháp, viết
lại bản dịch của họ. Sau đấy, lại
dùng bản dịch nháp để các nhân viên tham gia dịch
kinh nghiên cứu, thảo luận, cũng giống như
xưa kia, từng chữ, từng câu [đều được
cân nhắc kỹ lưỡng], khiến cho văn lẫn
nghĩa đều có thể đạt tới mức
độ rất chánh xác, chẳng đến nỗi hiểu
lầm. Phiên dịch như vậy, tôi tin tưởng là
lưu thông ở phương Tây sẽ chẳng thành vấn
đề.
Dịch
kinh tuyệt đối chẳng phải là một người
có thể làm được, tuyệt đối chẳng
phải là một hai người, hoặc dăm ba người
mà có thể làm được, chẳng được! Vẫn
phải là như trước kia, dịch trường gồm
mấy trăm người. Đó là [cách thực hiện] cao
minh nhất! Do vậy, người Hoa có phước báo lắm!
Phương pháp dịch kinh hết sức nghiêm cẩn. Những
người tham dự cũng đều là bậc có đạo
đức, có học vấn, đối với văn tự
của hai nước và Phật pháp đều có sự tu
dưỡng kha khá. Kiến lập dịch trường
như vậy, dịch kinh điển từ tiếng Phạn
sang tiếng Hán, sẽ phiên dịch thật sự tốt
đẹp.
Trước kia,
tiên sinh Phương Đông Mỹ có lần thảo luận
với tôi về chuyện phiên dịch kinh luận, chúng tôi
có đề cập một hiện tượng rất kỳ
quái. Kinh điển từ Ấn Độ bằng tiếng
Phạn truyền sang Trung Hoa với một số lượng
lớn, sau khi được dịch thành tiếng Hán,
nguyên văn đã đi đâu cả rồi? Kinh điển
tiếng Phạn nhiều dường ấy, nghiễm
nhiên chẳng bảo lưu, gần như bị thất
truyền tại Trung Hoa. Phương tiên sinh có một phỏng
đoán, lời phỏng đoán của cụ cũng rất
có lý. Cụ nói: “Người
Hoa hết sức tự hào, cho rằng: Kinh Phật do chúng
ta phiên dịch, không chỉ là bảo tồn viên mãn ý
nghĩa, chẳng đánh mất ý nghĩa gốc. Xét theo
văn tự, lại còn bóng bảy, đẹp đẽ
hơn [bản gốc bằng] tiếng Phạn. Tiếng
Hán có thể thay thế trực tiếp tiếng Phạn;
chẳng cần đến kinh điển tiếng Phạn
nữa”. Đó là kiến giải của Phương
tiên sinh, chúng tôi nghe cụ nói cũng cảm thấy hết
sức có lý. Xác thực là kinh điển tiếng Hán đã
được phiên dịch tốt đẹp.
“Nhân đề” (人題) là [tên của]
người chủ trì dịch trường. Dịch
trường lần này là do tôn giả Cầu Na Bạt
Đà La làm chủ tịch dịch trường. “Tống” (宋) là triều đại.
Triều đại Tống này thuộc thời Nam Bắc
Triều, tức các triều đại Tống, Tề,
Lương, Trần. Lưu Dụ[2] kiến
lập chánh quyền, xưng là Tống, thủ đô là Nam
Kinh hiện thời, niên đại của vương triều
này từ năm 420 cho đến 479 Công Nguyên. Nguyên Gia (元嘉) là niên hiệu. “Thiên Trúc” là Ấn Độ, là
quê hương của pháp sư. “Tam
Tạng” là học vị của Ngài, Ngài thông đạt
Tam Tạng kinh, luật, luận. Vào thời cổ, nếu
chẳng phải là Tam Tạng pháp sư, chẳng có tư
cách chủ trì dịch trường. Cầu Na Bạt Đà
La là tên Ngài.
(Sớ)
Tống giả,
(疏)宋者,南北朝國名。元嘉者,年號。天竺者,西域國名。求那跋陀羅,此云功德賢。
(Sớ: Tống là tên
nước thời
Cầu
Na Bạt Đà La (Gunabhadra)[3] là
dịch âm tiếng Phạn, dịch sang tiếng Hán là Công
Đức Hiền, tên Ngài bao hàm ý nghĩa này.
(Sao)
Tống ngôn Nam Bắc giả, thời phương
(鈔)宋言南北者,時方南北分王。
(Sao:
Đối với nhà Tống mà nói là
Thời
đó là chính là thời đại Nam Bắc Triều[4] nổi
tiếng trong lịch sử Trung Hoa, nhằm thời đại
Ngũ Hồ Loạn Hoa.
(Sao)
Tống vương Giang Nam, vị Lưu Tống dã.
(鈔)宋王江南,謂劉宋也。
(Sao:
Nhà Tống làm vua ở Giang
“Vương” có nghĩa là thống
trị, nghĩa là triều đại ấy thống trị
vùng Giang
(Sao)
Nguyên Gia giả, Văn Đế Nguyên Gia mạt niên dã.
(鈔)元嘉者,文帝元嘉末年也。
(Sao:
Nguyên Gia: Nói tới những năm cuối trong niên hiệu
Nguyên Gia thời Văn Đế).
Văn
Đế[7] là vua đời thứ
hai của nhà Lưu Tống. Trong vương triều ấy,
Văn Đế là nhà cai trị sáng suốt nhất, xã hội
cũng hết sức an định. Cả triều đại
chỉ tồn tại năm mươi chín năm, Văn
Đế làm hoàng đế tới ba mươi năm.
(Sao)
Thiên Trúc, nhất vân Thân Độc.
(鈔)天竺,一云身毒。
(Sao:
Thiên Trúc còn gọi là Thân Độc).
“Thân Độc”[8]
nay nói là Ấn Độ, âm đọc cũng rất
tương cận, đều là phiên âm.
(Sao)
Hữu Ngũ Thiên Trúc, giai Tây Vực dã.
(鈔)有五天竺,皆西域也。
(Sao:
Có năm xứ Thiên Trúc đều thuộc về Tây Vực).
Thời
đó, [cổ nhân nói Ấn Độ] ở phía Tây Trung Hoa, nay chúng ta biết Ấn
Độ nằm ở phía Tây Nam Trung Hoa. Vì sao nói là
phương Tây? Vì giao thông thuở đó đều là theo
phương Tây mà đi, sau khi đã đến Thông Lãnh[9]
bèn đi theo phương
(Sao)
Bạt Đà bác thông Tam Tạng, vưu chuyên Đại Thừa,
hiệu Ma Ha Diễn.
(鈔)跋陀博通三藏,尤專大乘,號摩訶衍。
(Sao:
Ngài Cầu Na Bạt Đà La thông hiểu rộng rãi Tam Tạng,
nhất là chuyên tinh Đại Thừa, có hiệu là Ma Ha Diễn).
Đây
là nói “đức học”
(đức hạnh và học vấn) của vị pháp
sư này. “Đức” (德) là sự tu trì của Ngài, “học” (學) là Ngài có một nền học
thức hết sức uyên bác. Tam Tạng kinh điển
đều thông đạt. Đối với Đại Thừa,
Ngài có bản lãnh đặc biệt sâu xa. “Ma Ha Diễn” (Mahāyāna) là tiếng Phạn,
dịch sang tiếng Hán là Đại Thừa.
(Sao)
Thần dị phi nhất, bị tải truyện ký, khủng
phồn bất tự.
(鈔)神異非一,備載傳記,恐繁不敘。
(Sao:
Sự thần dị của Ngài chẳng phải chỉ có
một, có chép đầy đủ trong truyện ký, do sợ
rườm rà nên chẳng thuật).
Trong
Cao Tăng Truyện có truyện ký của Ngài. Ở đây,
chẳng rườm lời! “Thần
dị phi nhất”: Ngài có thần thông, người hiện
thời gọi là “công năng đặc dị”. Trong Thần
Tăng Truyện, cũng có truyện ký của Ngài. Tại
Trung Hoa, từ bộ Cao Tăng Truyện, đối với
những vị có biểu hiện thần thông rõ rệt,
người đời sau bèn gom [truyện ký của] những
vị ấy vào một chỗ, [soạn thành sách] gọi là
Thần Tăng Truyện.
(Sao)
Nhất bổn Đà hạ vô La tự .
(鈔)一本陀下無羅字。
(Sao:
Có bản [chép tên người dịch chú Vãng Sanh] sau chữ
Đà chẳng có chữ La).
[Tức là] Cầu
Na Bạt Đà. Chú Vãng Sanh có hai phiên bản, có bản ghi là
do ngài Cầu Na Bạt Đà La phiên dịch, bản kia ghi
là ngài Cầu Na Bạt Đà phiên dịch. Rốt cuộc
là vị nào? Chẳng biết rõ. Vì sao? Hai vị ấy sống
cùng một thời đại. Rốt cuộc là vị nào
chủ trì dịch trường này, rất khó khảo cứu
để đoán định.
(Sao)
Hoặc nghi thị Cầu Na Bạt Ma, dĩ nhị sư
đồng thời cố, vị thẩm hà sở dịch
dã!
(鈔)或疑是求那跋摩,以二師同時故,未審何所譯也。
(Sao: Có người
nghi là ngài Cầu Na Bạt Ma[11], do hai vị sống
đồng thời, chưa thể thẩm định là
do vị nào dịch).
“Thẩm” (審) là thẩm định, [“vị thẩm” là] chẳng có
cách nào xác định là vị nào. Hai vị đều là
cao tăng từ Ấn Độ đến Trung Hoa hoằng
pháp trong thuở ấy. Đây là giới thiệu người
phiên dịch.
Dưới
đây là chánh văn của chú Vãng Sanh. Chú Vãng Sanh có tất
cả mười bốn câu. Mỗi vị đồng tu
đều niệm chú rất thuộc, nhưng niệm
như thế nào để tương ứng, đó là một
vấn đề! Chú chẳng thể dịch nghĩa, vì
đó là mật ngữ của đức Phật, [cũng
có những bài chú] có thể dịch nghĩa, chẳng phải
là hoàn toàn không có ý nghĩa. Chẳng dịch, cứ dùng tâm cung
kính để thọ trì, dễ dàng đạt được
lợi ích. Vì những phương pháp được sử
dụng để tu học trong Phật pháp, không gì chẳng
nhằm xóa sạch vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước, [hễ phân biệt, vọng tưởng, chấp
trước xóa sạch thì] mục đích đã đạt
được. Chẳng có ý nghĩa, vậy thì quý vị
chẳng dấy vọng tưởng, cứ thật thà niệm!
Dễ nhiếp tâm, dễ nhập Định. Nếu có ý
nghĩa, người ấy (người niệm chú) vừa
niệm vừa dấy vọng tưởng; đâm ra, chẳng
dễ gì nhập Định!
Đối với
sự tu hành, cổ nhân bảo: “Niệm
kinh chẳng bằng niệm chú”, vì sao? Kinh có ý nghĩa, vừa
niệm, vừa dấy vọng tưởng, chẳng bằng
niệm chú! Chú chẳng có ý nghĩa. Chú chẳng có ý
nghĩa thì niệm càng dài càng tốt! Như chú Vãng Sanh chẳng
sánh bằng chú Đại Bi, chú Đại Bi chẳng sánh bằng
chú Lăng Nghiêm. Chú dài, quý vị chẳng thể niệm
sai; từng câu, từng chữ đều chẳng thể
niệm sai. Khi niệm, chẳng có vọng tưởng, chẳng
có tạp niệm; đấy là công đức. Lâu ngày chầy
tháng, tâm quý vị sẽ dần dần định, dần
dần đạt tới thanh tịnh. Dùng phương pháp
này để đạt tới mục tiêu tâm địa
thanh tịnh, có ý nghĩa như thế đó. Lại nói: “Niệm chú chẳng bằng niệm
Phật”, đúng như vậy đấy! Công đức
của Phật hiệu chẳng thể nghĩ bàn!
Rốt cuộc niệm
loại nào mới là tốt? Những điều cổ
nhân đã nói chính là nguyên tắc, chẳng thể bao gồm
căn tánh của hết thảy chúng sanh. Có những
người đọc kinh bèn dễ nhiếp tâm hơn. Có
người niệm chú dễ nhiếp tâm hơn. Có những
người niệm Phật hiệu bèn dễ nhiếp tâm.
Căn tánh của mỗi người khác nhau! Bản thân
chúng ta chọn lựa pháp môn nào, tự mình nhất định
phải biết căn tánh của chính mình. Nếu không biết,
có thể thí nghiệm đọc kinh, đọc chú, hay niệm
Phật một giai đoạn, dùng thời gian đôi ba
tháng để thí nghiệm sẽ biết ngay. Phương
pháp nào dễ nhiếp tâm, cũng như dễ thâu hồi
cái tâm, thì phương pháp ấy đối với chính mình
có hiệu quả, có lợi ích, có thể kiên trì dùng phương pháp ấy. Một mực sử
dụng cho đến khi chính mình thật sự đạt
tới mức tâm địa thanh tịnh. Tâm thanh tịnh
hiện tiền chính là tam-muội hiện tiền. Tam-muội
(Samādhi) là tiếng
Phạn, dịch sang tiếng Hán là Chánh Thọ (正受),
nghĩa là sự hưởng thụ chánh đáng. Sự
hưởng thụ chánh đáng chính là sự hưởng
thụ khỏe khoắn, thanh tịnh, tự tại. Đó
là niềm vui thật sự! Đạt đến mức
tâm địa thanh tịnh, tự tại, tự nhiên sanh khởi
trí huệ. Đó gọi là “do Giới
sanh Định, do Định khai Huệ”. Tâm thanh tịnh
là Định. Tôi dựa theo lời giải thích của cổ
đức để giới thiệu đại lược
ý nghĩa của bài chú này cùng quý vị.
(Kinh) Nam-mô.
(經)南無。
(Kinh:
Namo).
“Nam-mô” có nghĩa là cung kính, lễ kính, quy y, quy mạng. Âm
đọc cổ của chữ Nam-mô là Nã-ma[12].
(Kinh) A di đa bà dạ.
(經)阿彌多婆夜。
(Kinh: Amitābhāya).
“A di đa bà dạ” là A Di
Đà Phật.
(Kinh) Đá tha già đa dạ.
(經)哆他伽多夜。
(Kinh:
Tathāgatāya).
Câu
này dịch là Như Lai. Nói gộp lại sẽ là “quy y A Di Đà Như Lai”. “A di
đa bà dạ” dịch sang tiếng Hán là Vô Lượng
Thọ, Vô Lượng Quang. Trên thực tế, “vô lượng” bao gồm hết
thảy các thứ vô lượng.
(Kinh) Đá địa dạ tha.
(經)哆地夜他。
(Kinh: Tadyathā).
Trong
rất nhiều bài chú có câu “đát
điệt tha” (怛絰他), hoàn toàn giống
như câu này. Âm tiếng Phạn như nhau, phiên âm khác nhau. “Đá địa dạ tha” dịch
sang tiếng Hán sẽ là “tức
thuyết chú viết” (liền nói chú rằng). Vì thế,
những câu trước đó là Phật hiệu, từ câu
thứ tư cho đến câu mười bốn mới là
chú ngữ.
(Kinh)
A di rị đô bà tỳ.
(經)阿彌唎都婆毗。
(Kinh: Amṛtod-bhave).
“A di rị đô” (Amṛtod) là vô lượng, “bà tỳ” (bhave) là quang minh. Câu này là danh hiệu Vô
Lượng Quang. Danh hiệu của A Di Đà Phật là Vô
Lượng Quang.
(Kinh)
A di rị đá.
(經)阿彌唎哆。
(Kinh: Amṛta).
Có
nghĩa là vô lượng.
(Kinh) Tất đam bà tỳ.
(經)悉耽婆毗。
(Kinh:
Siddhaṃ
bhave).
“Tất đam” (Siddhaṃ) dịch sang tiếng Hán là Nhất
Thiết Nghĩa Thành (一切義成). “Nghĩa” (義) là nghĩa lý, “thành” (成) là thành tựu,
[tức là] hết thảy nghĩa lý thành tựu viên mãn. “Bà tỳ” có nghĩa là quang
minh. Có thể thấy những chú ngữ này đều nhằm
tán thán vô lượng quang thọ của A Di Đà Phật,
hết thảy đều vô lượng, đều có ý
nghĩa này.
(Kinh) A di rị đá.
(經)阿彌唎哆。
(Kinh:
Amṛta).
Có cùng ý nghĩa như trong
câu trước, đều là ca ngợi Vô Lượng Thọ
Phật.
(Kinh) Tỳ ca lan đế.
(經)毗迦蘭帝。
(Kinh: Vikrānte).
Câu
này bao hàm nhiều nghĩa, nghĩa thứ nhất là “vô ngại hành”. Phật và các
vị đại Bồ Tát độ hết thảy chúng
sanh trong mười pháp giới, giống như kinh Hoa
Nghiêm đã nói “Lý Sự vô ngại,
Sự Sự vô ngại”, chứa đựng ý nghĩa
này. Nó có ý nghĩa “phương
tiện”, phương tiện thiện xảo, phổ
độ chúng sanh.
(Kinh) A di rị đá.
(經)阿彌唎哆。
(Kinh:
Amṛta).
Vô lượng.
(Kinh)
Tỳ ca lan đa.
(經)毗迦蘭多。
(Kinh:
Vikrānta).
Có ý nghĩa “Chân Như bất thoái”. Hết
thảy chúng sanh hễ sanh về thế giới Tây
Phương bèn viên chứng ba món Bất Thoái, có ý nghĩa
này.
(Kinh) Già di nị.
(經)迦彌膩。
(Kinh:
Gāmine).
“Già di nị” (Gāmine) là thế giới Cực Lạc, là
Di Đà Tịnh Độ, là cõi An Dưỡng.
(Kinh) Già già na.
(經)伽伽那。
(Kinh: Gagana).
“Già già na” là tỷ dụ, là tán
thán, có ý nghĩa là hư không, hoặc như chúng ta nói là
thiên giới, hoặc thiên đạo trong lục đạo,
cao cao tại thượng, rộng lớn vô biên. Có ý
nghĩa ấy.
(Kinh) Chỉ đa ca lệ.
(經)枳多迦隸。
(Kinh: Kīrta-kare).
Câu
này cũng bao hàm nhiều nghĩa, có ý nghĩa “đế vãng” (諦往). “Đế” (諦) là chân thật,
chỉ rõ hết thảy chúng sanh cầu sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới, đó là chân thật
nhất. “Đế” là đế
thật (諦實), [tức là] chân
thật, [“đế vãng” là]
đi theo con đường ấy sẽ chân thật. Trong
hội Hoa Nghiêm, Văn Thù và Phổ Hiền đều phát
nguyện cầu sanh Tịnh Độ. Còn có một ý
nghĩa là “nguyện khứ”
(nguyện đi [về cõi Cực Lạc]), hết sức hoan
hỷ mong cầu vãng sanh.
(Kinh)
Sa bà ha.
(經)娑婆訶。
(Kinh: Svāhā).
Cuối
tất cả hết thảy các bài chú đều có câu này, dịch
sang tiếng Hán là “viên mãn nhanh chóng”, mang ý nghĩa chúc nguyện,
hy vọng nguyện của chúng ta sớm có ngày thành tựu,
sớm có ngày viên mãn. Đối với mười bốn
câu, cổ đại đức đã nói đại ý của
chú ngữ. Ý nghĩa ấy, quý vị liễu giải thì rất
tốt, chẳng liễu giải cũng không sao. Chẳng liễu
giải thì cứ thật thà niệm. Nếu liễu giải,
chúng ta niệm chú này có thể tùy văn nhập quán, niệm
đến câu nào, cảnh giới ấy bèn có thể hiện
tiền. Hai hàng kế đó thuộc về kinh, đây là kinh
văn thuộc thể loại trường hàng, nói rõ
năm loại lợi ích do trì chú.
(Kinh)
Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân.
(經)若有善男子。善女人。
(Kinh:
Nếu có thiện nam tử,
thiện nữ nhân).
Trong
kinh điển Đại Thừa, hễ khai thị cho
chúng ta, đức Phật đều nói “thiện nam tử, thiện nữ nhân”. Vì sao? Rốt
cuộc, trì chú có thể đạt được năm
thứ lợi ích hay không, then chốt ở ngay chữ Thiện
này! Trì chú, có người thật sự chiếu theo điều
được nói trong kinh điển này, niệm chú Vãng
Sanh ba mươi vạn lần, chẳng có hiệu quả!
Người ấy hãy suy nghĩ: Đức Phật nói “thiện nam tử, thiện nữ
nhân” niệm ba mươi vạn lần mới hữu
hiệu! Chúng ta có phải là thiện nam tử, thiện nữ
nhân hay không? Then chốt ở chỗ này. Tiêu chuẩn thiện
là ở chỗ nào? Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật nói
“Tịnh nghiệp Tam Phước”.
Cổ đại đức nói Tây Phương Cực Lạc
thế giới là Đại Thừa của Đại Thừa,
là Nhất Thừa của Nhất Thừa, là pháp môn chí cao
vô thượng, tâm chẳng tốt lành thì làm sao có thể
vãng sanh cho được? Đối với Tịnh nghiệp
Tam Phước, tối thiểu là phải trọn đủ
phước thứ nhất, sẽ đới nghiệp vãng
sanh, sanh vào cõi Phàm Thánh Đồng Cư. Nếu đối
với Tam Phước, một phước cũng chẳng
có, chúng ta suốt một đời này niệm Phật
siêng tu, chỉ có thể nói là kết một thiện duyên với
Tây Phương Cực Lạc thế giới, rất khó
vãng sanh ngay trong một đời này. Vì sao? Chẳng phù hợp
tiêu chuẩn do đức Phật đã dạy. Tiêu chuẩn
ấy chính là “thiện nam tử,
thiện nữ nhân”.
Điều thiện
tối thiểu là “hiếu
dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng,
từ tâm chẳng giết, tu Thập Thiện nghiệp”.
Nếu như cả bốn câu ấy đều chẳng
làm được, quý vị niệm kinh, niệm chú, niệm
Phật, sẽ đều là kết duyên với Phật, chứ
mong vãng sanh trong một đời này rất khó. Làm
được cả bốn câu trong điều thiện
thứ nhất, sẽ có phần trong cõi Phàm Thánh Đồng
Cư. Nếu lại có thể làm được điều
thiện thứ hai, “thọ trì
Tam Quy, đầy đủ các giới, chẳng phạm
oai nghi”, đại khái là cũng có thể có phần
trong cõi Phương Tiện Hữu Dư, phẩm vị
bèn cao. Nếu có thể ba điều thiện đều đầy
đủ, “phát Bồ Đề
tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng Đại Thừa,
khuyến tấn hành giả”, thưa cùng chư vị, [sẽ
là] thượng thượng phẩm vãng sanh. Có thể thấy
chữ này (chữ Thiện) là then chốt, thường là
chúng ta sơ sót, khinh thường xem lướt qua. Tới
khi niệm mấy trăm lần, mấy chục vạn lần,
chẳng có hiệu quả, vẫn trách móc kinh này chẳng
linh, cứ trách móc đức Phật nói dối, chẳng đáng
tin cậy. Đó là báng Phật, báng Pháp, làm thế nào
được nữa! Kẻ đó chẳng tự trách
mình, mà chê trách kinh điển, chê trách Phật, Bồ Tát. Nói
thật ra, Phật, Bồ Tát đã bảo rõ ràng cùng chúng
ta. Chính mình hãy tự ngẫm xem bản thân chúng ta có hội
đủ tiêu chuẩn thiện ấy hay không? Các Ngài nói “thiện nam tử, thiện nữ
nhân”, ta có phần hay không? Điều này quan trọng lắm!
Do vậy, chẳng thể không nhấn mạnh tỉ mỉ
Tịnh nghiệp Tam Phước, quý vị mới thật
sự hiểu rõ. Đối với “hiếu dưỡng phụ mẫu”, “hiếu” là gì? “Dưỡng” như thế nào? Trong ấy là một
môn học vấn to tát. Đó là đại căn, đại
bản của Phật pháp. Trọn đủ điều
kiện như vậy, đó chính là tiêu chuẩn trong Phật
môn, người ấy hoàn toàn phù hợp là thiện nam tử,
thiện nữ nhân, chọn lựa pháp môn này, dùng phương
pháp này để tu.
(Kinh)
Năng tụng thử chú giả, A Di Đà Phật thường
trụ kỳ đảnh.
(經)能誦此咒者。阿彌陀佛常住其頂。
(Kinh: Người có
thể tụng chú này, A Di Đà Phật thường ở
trên đỉnh đầu người ấy).
Đây
là lợi ích thứ nhất, A Di Đà Phật thường
ở trên đỉnh đầu của quý vị. Đó là
được bổn nguyện và oai thần của Phật
ngấm ngầm gia trì. Vì Phật ở trên đỉnh
đầu, quý vị chẳng thấy, nhưng Ngài thật
sự ở trên đỉnh đầu quý vị, thật sự
gia hộ, gia trì quý vị.
(Kinh)
Nhật dạ ủng hộ.
(經)日夜擁護。
(Kinh:
Ngày đêm ủng hộ).
Ban
ngày, buổi tối, A Di Đà Phật, chư Phật, Bồ
Tát, và hộ pháp thiện thần đều ủng hộ,
đều che chở quý vị. Vì sao? Vì quý vị là học
trò thật sự của A Di Đà Phật. Câu đầu
tiên, “nam-mô a di đa bà dạ”,
chính là ta quy y A Di Đà Phật, là học trò thật sự
của A Di Đà Phật. Nay chúng ta niệm câu này, A Di
Đà Phật chẳng thừa nhận! Chẳng phải là
học trò thật sự. Vì sao? Vì chúng ta không đủ
tư cách, người ta có tư cách ấy vì họ là thiện
nam tử, thiện nữ nhân, còn chúng ta đối với Tam
Phước chẳng làm được điều nào! Hễ
làm được, quý vị là quy y thật sự, mới
là học trò thật sự của A Di Đà Phật. Là học
trò của A Di Đà Phật, hết thảy chư Phật
đều tôn trọng quý vị; há có lẽ nào Bồ Tát, thiện
thần chẳng ủng hộ? Lợi ích thứ ba:
(Kinh)
Vô linh oán gia nhi đắc kỳ tiện.
(經)無令怨家而得其便。
(Kinh: Chẳng để
cho oán gia có dịp quấy nhiễu).
“Oán gia” là nói tới oán gia trái
chủ trong đời quá khứ. Vì quý vị có Phật, Bồ
Tát gia hộ, có hộ pháp thiện thần ủng hộ, oán
gia trái chủ trong nhiều đời chẳng có cách nào tiếp
cận quý vị. Chuyện này tốt đẹp ở chỗ
nào? Trong quá trình tu hành, quý vị thuận buồm xuôi gió, chẳng
có ma chướng. “Oán gia nhi
đắc kỳ tiện” (Oán gia có dịp quấy nhiễu)
chính là ma chướng. [Thông thường, trong khi tu hành], ma
chướng nhiều lắm, chắc chắn là quý vị
chẳng thể tránh khỏi ma chướng, nguyên nhân ở
chỗ nào? Từ đời đời kiếp kiếp trong
vô lượng kiếp đến nay, chúng ta đã kết
oán với chẳng biết bao nhiêu chúng sanh! Nhất là
ăn thịt của chúng sanh. Ăn thịt chúng sanh là kết
thâm cừu đại hận với chúng nó! Trong kinh Phật
đã dạy rất rõ ràng: Ăn nửa cân thịt của
chúng, trong tương lai, phải đền tám lạng! Thiếu
nợ phải trả tiền, thiếu mạng phải
đền mạng. Đời này chẳng trả, đời
sau nhất định phải đền. Nếu quý vị
nghĩ đến những chuyện nhân quả báo ứng ấy,
[sẽ cảm thấy] quá đáng sợ! Trước kia chẳng
hiểu, làm những chuyện ác, nay đã hiểu rõ, quyết
định chẳng tạo nữa! Chẳng kết oán cùng
bất luận kẻ nào, chẳng có tơ hào tranh chấp
nợ nần cùng bất cứ ai. Trả nợ sạch
sành sanh, trên đường Bồ Đề chúng ta mới
ít gặp chướng ngại! Đã biết điều
này, còn những món nợ trong đời quá khứ, chẳng
biết! Làm như thế nào đây? Chúng ta hãy đem hết
thảy công đức tu học của chính mình hồi
hướng cho họ hòng bù nợ! “Nguyện dĩ thử công đức, thượng
báo tứ trọng ân, hạ tế tam đồ khổ”
(Nguyện đem công đức này, trên đền bốn
ân nặng, dưới cứu khổ ba đường),
đó là bù nợ, trả nợ. Quý vị đừng nên quấy
nhiễu tôi, để tôi tu hành thành tựu, lợi ích thảy
đều của quý vị. Ý nghĩa trọng yếu nhất
của hồi hướng là ở chỗ này. Bản thân
quý vị có công đức ấy, Phật, Bồ Tát gia trì,
che chở quý vị càng thuận tiện, càng dễ dàng!
Đối với chuyện này, chư vị đọc kỹ
càng kinh Địa Tạng sẽ hiểu. Loại lợi
ích thứ tư:
(Kinh)
Hiện thế thường đắc an ổn.
(經)現世常得安穩。
(Kinh:
Trong đời hiện tại, thường được
an ổn).
Trong thế gian hiện thời, quý vị
thường được “an
ổn”, chúng ta nói thông thường] sẽ là “bình an”. Dẫu gặp đại
tai, đại nạn, quý vị vẫn có thể yên ổn
vượt qua, chẳng hứng chịu những nỗi khổ
sở vì tai nạn. Điều này có nghĩa là cộng nghiệp
và biệt nghiệp khác nhau. Người chẳng học
Phật không hiểu điều này, chứ người có
đôi chút tu trì, hơi biết đôi chút kinh luận Phật
pháp, đại khái là ít nhiều gì cũng có thể lãnh hội
đôi chút!
Do đó, tôi
thường nhắc nhở các đồng tu: Tu trì, đọc
kinh, niệm Phật, đoạn ác, tu thiện, hết sức
trọng yếu. Vì sao? Nay chúng ta đang sống trong đời
loạn; trong tương lai, rốt cuộc loạn đến
nỗi nào, ai cũng đều chẳng dám tiên đoán! Lại
còn chẳng phải là loạn ở một nơi nào, mà là toàn
thể thế giới đều loạn. Điều gì là
an toàn nhất? Có phước, có đức là an toàn nhất,
thật đấy! Quý vị có của cải, “tài vi ngũ gia cộng hữu”
(của cải do năm nhà cùng sở hữu). Dẫu giàu
có đến mấy, có thể là một ngày nào đó, sẽ
mất sạch sành sanh! Xưa nay, những trường hợp
giống như vậy quá nhiều, [tài sản] chẳng phải
là của quý vị! Quyền thế và địa vị
đều là giả trất. Chẳng có gì thật sự bảo
đảm, [chẳng có gì] là chỗ dựa thật sự
vững chắc. Kho báu vững chắc để
nương cậy là mọi người hãy tích đức,
có phước, có đức. Tuy trên thân quý vị chẳng
có [của cải gì], nhưng quý vị đến nơi nào,
người ta vừa trông thấy quý vị bèn sanh tâm hoan hỷ,
cung kính, chăm sóc quý vị. Đó là có phước. Người
ấy có thể vượt qua tai nạn, “hiện thế thường đắc an ổn”
(thường được an ổn trong đời này).
Trong câu này, [có ý
nói] quý vị tụng chú bèn được Phật lực gia
trì, nhưng quý vị có sự tu trì làm cơ sở, có đức
hạnh ấy, tức là một chữ Thiện. Quý vị
chính là “thiện nam tử, thiện
nữ nhân”, là một người thật sự tu Tịnh
nghiệp Tam Phước, thuộc hạng thiện nhân. Vì
thế, sẽ được hết thảy chư thiên,
thiện thần gia hộ. Đó là thật. Trong các buổi
giảng, tôi thường nhắc nhở các đồng tu:
Hiện thời, trong xã hội, quý vị có địa vị,
có quyền thế, có của cải, những thứ ấy
tạm thời hiện hữu trước mắt quý vị
trong chốc lát, chứ quý vị chẳng [thật sự]
đạt được! Nói cách khác, quý vị tạm thời
có quyền phân xử, chẳng phải là vĩnh hằng,
[nghĩa là] tạm thời có quyền để chi phối
nó, ta dùng nó tốt đẹp, dùng làm việc thiện, tích
lũy công đức. Nếu ta sử dụng chẳng ổn
thỏa, thích đáng, thì sẽ tạo tác tội nghiệp,
phải hiểu đạo lý này. Đời người hết
sức ngắn ngủi, tạm bợ, huống chi “trên đường tới suối
vàng, không phân biệt già trẻ”, một hơi thở ra
chẳng hít vào được, sẽ là đời sau. Vì thế,
điều gì cũng phải xem nhẹ, đều phải
buông xuống, tận tâm, tận lực vì xã hội, vì
đại chúng tạo phước, đừng nghĩ tới
chính mình, đừng nghĩ tới gia đình mình.
Quý vị thật
sự tích đức, tu phước, gia đình của quý
vị tự nhiên được Phật, Bồ Tát chiếu
cố, có hộ pháp thiện thần chiếu cố, chu
đáo hơn chính mình chiếu cố nhiều lắm, chính
mình chẳng chiếu cố được! Thật sự
là chỉ có cầu Phật, Bồ Tát, cầu thần hộ
pháp tới chiếu cố, mới là đáng tin cậy. Phải
nghĩ thông suốt đạo lý này! Sự thật bày ra
trước mắt chúng ta, hãy chú tâm quan sát, khiến cho quý
vị liễu giải chân tướng sự thật, sau
đấy, mới hiểu bản thân chúng ta phải nên thực
hiện như thế nào, cũng là phải nên biết tu
như thế nào. Như vậy thì sẽ không phạm sai lầm.
Đó là nói quý vị đạt được quả báo
thù thắng trong hiện tiền. Thù thắng nhất là khi lâm
chung:
(Kinh)
Lâm mạng chung thời, nhậm vận vãng sanh.
(經)臨命終時。任運往生。
(Kinh:
Khi lâm chung, tùy ý vãng sanh).
Trong ấy, có sự
thù thắng khôn sánh là “nhậm
vận”, “nhậm vận”
(任運) là tự tại. Hễ ngã bệnh sẽ chẳng tự
tại, chẳng biết sẽ ra đi lúc nào cũng là chẳng
tự tại. Chính mình biết sẽ ra đi khi nào, chẳng
ngã bệnh, đứng mất, hoặc ngồi mất,
chúng ta đã thấy, đã nghe, xác thực là có [những
trường hợp như vậy]! Điểm này chẳng
giả tí nào, đó mới là chẳng luống uổng một
đời này. Một đời này của chúng ta thật
sự có ý nghĩa, thật sự có giá trị. Người
ta có thể [vãng sanh tự tại], vì sao ta chẳng thể?
Năm xưa, lão
cư sĩ Lý Tế Hoa thuộc Đài Bắc Niệm Phật
Đoàn, là học trò của Ấn Quang đại sư.
Lão nhân gia đã tám mươi mấy tuổi mới vãng
sanh. Cụ biết trước lúc vãng sanh hai tháng; vì thế,
vào ngày nghỉ cuối tuần, cụ đến thăm
các bạn cũ để từ biệt, gặp mặt lần
cuối. Hôm cụ vãng sanh, vì các con đều ở Mỹ,
[chỉ có] hai vợ chồng già sống tại Đài Loan,
[hai cụ] ngồi xe ba bánh đến Niệm Phật
Đoàn tham gia cộng tu. Ngồi trên xa ba bánh, cụ bảo
vợ: “Tôi sắp vãng sanh, bà trơ trọi một mình có cảm
thấy tịch mịch hay không?” Thật ra, bà cụ
cũng không biết chồng sẽ vãng sanh hôm đó. Bà cụ
là một Phật tử kiền thành, [bèn đáp]: “Ông có thể
vãng sanh, quá tốt đẹp! Chẳng cần phải bận
tâm vì tôi”, tức là cũng như bà vợ đã đồng
ý. Họ cộng tu giống như đả Phật Thất
thông thường, bất quá là [thời gian niệm Phật
chừng] một nén hương. Trong thời gian một nén
hương ấy, có khai thị nửa tiếng đồng
hồ. Giảng khai thị là do các vị lão cư sĩ
luân phiên giảng. Hôm đó, đến phiên Ngụy lão
cư sĩ, cụ đổi phiên với vị lão cư
sĩ ấy. Lão nhân gia lên bục giảng, bèn giảng
đến một tiếng rưỡi, giảng hết sức
cao hứng, hết sức hoan hỷ, rát lòng buốt miệng
khuyên mọi người niệm Phật cầu sanh Tịnh
Độ. Giảng xong, cụ hướng về mọi
người cáo từ: “Tôi phải về nhà”. Người khác
tưởng cụ đã ngoài tám mươi, giảng một
tiếng rưỡi bèn mệt mỏi, muốn về nhà!
Không ngờ, cụ bước xuống bục giảng, cạnh
giảng đường có một phòng khách nhỏ, cụ
ngồi xuống sofa bèn vãng sanh. Tiêu sái lắm, tự tại
lắm! Trước lúc vãng sanh, giảng đến một
tiếng rưỡi, tùy ý vãng sanh, sanh tử tự tại.
Học Phật kiểu đó mới là học Phật chẳng
uổng công!
Là quyến thuộc
của Bồ Tát, sanh về Tây Phương Cực Lạc
thế giới bèn là Bồ Tát, thật sự là Bồ Tát.
Lại còn chẳng phải là Bồ Tát bình phàm, kinh Di Đà
nói “đều là A Bệ Bạt
Trí Bồ Tát”. A Bệ Bạt Trí tuyệt diệu thay! A
Bệ Bạt Trí là Bồ Tát đã viên chứng ba món Bất
Thoái, địa vị ấy cao lắm! Đó là do bổn
nguyện và oai thần của A Di Đà Phật gia trì. Kẻ
bình phàm nếu muốn tự mình tu đến địa vị
ấy, thấp nhất trong các địa vị thuộc A
Bệ Bạt Trí là Thất Địa Bồ Tát. Nói theo Biệt
Giáo, cũng phải tu trọn hai A-tăng-kỳ đại
kiếp thì mới có thể đạt tới địa vị
này. Quý vị thấy đó: Trong Tịnh Tông, tu hành một
đời bèn thành tựu. Vì thế, pháp môn này đúng là chẳng
thể nghĩ bàn. Đó là điều lợi ích thứ
năm.
(Sớ)
Chư bổn cú độc sảo dị, kim y cổ bổn,
thần chú bất phiên, bất tất cưỡng thích.
(疏)諸本句讀稍異,今依古本,神咒不翻,不必強釋。
(Sớ: Cách chấm
câu trong các phiên bản hơi khác nhau. Nay tôi chiếu theo văn
bản cổ [để chấm câu]. Thần chú chẳng
phiên dịch, chẳng cần phải gượng ép giải
thích).
Kinh
Phật từ thời Nam Bắc Triều được
phiên dịch và lưu truyền cho tới hiện thời
đã là một ngàn sáu trăm năm. Trải qua các đời
sao chép, lưu thông, chuyện chép sai, chép sót chẳng thể
tránh khỏi! Trong các văn bản cổ, thường phát
hiện có vấn đề này. Do vậy, có rất nhiều
phiên bản khác nhau, mặt chữ trong ấy sai khác, câu
văn hoặc nhiều, hoặc ít. Đối với chuyện
“cú độc” (句讀, chấm câu) càng
nhiều vấn đề, “cú
độc” chính là thêm dấu chấm câu, vì cổ
thư không chấm câu, toàn là do người đọc tự
mình ngắt câu. Có người chấm câu sai, đem câu trên
đọc liền một mạch với câu dưới.
Tình hình điên đảo ấy cũng rất nhiều.
(Sao)
Chư bổn bất đồng giả, như “Nam-mô a di
đa bà dạ”, nhất bổn tác “Nam-mô a di đa bà dạ
đa”, dĩ thứ cú Đa tự liên thuộc thượng
cú, cố vân “sảo dị”.
(鈔)諸本不同者,如南無阿彌多婆夜,一本作南無阿彌多婆夜多,以次句多字連屬上句,故云稍異。
(Sao: “Các phiên bản bất
đồng”: Như đối với câu “Nam-mô a di đa bà
dạ”, một bản khác ghi là “Nam-mô a di đa bà dạ đa”,
tức là đã ghép chữ Đa thuộc câu sau vào câu
trước. Vì thế nói là “hơi khác”).
Như
câu đầu tiên của chú Vãng Sanh, có bản khác chấm câu
chẳng giống như bản này. Sau chữ “đa bà dạ”, họ ghép chữ
Đa vốn thuộc câu dưới vào câu trên để chấm
câu. Phiên bản khác nhau, làm như thế nào? Do đây là chú,
chẳng có cách nào lý giải, phương pháp duy nhất là
tìm nhiều văn bản, đối chiếu những văn
bản bất đồng với nhau, văn bản nào được
sử dụng nhiều hơn, chúng ta bèn chọn lấy bản ấy. Nếu là kinh
văn, chúng ta có thể suy nghĩ ý nghĩa, [để xét
xem] chấm câu kiểu nào thì ý nghĩa sẽ viên mãn hơn,
dễ nói hơn, minh bạch hơn, chúng ta bèn chọn lấy
bản ấy.
(Sao)
Kim bất tất khổ cứu thị phi, đản y nhất bổn.
(鈔)今不必苦究是非,但依一本。
(Sao: Nay chẳng cần
vất vả tìm tòi đúng sai, chỉ y theo một phiên bản).
Đại
sư đề nghị: Chẳng cần phải nhọc sức
truy cứu, chỉ cần chọn lựa một bản tốt
đẹp. Chúng ta thường gọi bản như vậy
là “thiện bổn” (善本), có nghĩa là “phiên
bản tốt lành”. Như đối với bản này, nhất
định là Liên Trì đại sư lão nhân gia đã xem khá
nhiều văn bản. Ở đây, Ngài ghép chú ngữ vào
phía sau kinh, cách chấm câu này đã được chính Liên
Trì đại sư thẩm tra. Chúng ta nương theo bản
này của đại sư; đó cũng là một
phương pháp tốt đẹp.
(Sao)
Chí tâm tụng trì, tự thành lợi ích.
(鈔)至心誦持,自成利益。
(Sao:
Chí tâm tụng trì, tự thành tựu lợi ích).
“Chí tâm” là thành tâm, thành tâm thành
ý niệm, tự nhiên có thể đạt được lợi
ích. Nhưng ở đây, quý vị ngàn muôn phần phải ghi
nhớ, “thiện nam tử, thiện
nữ nhân”. Đó là một tiêu chuẩn cơ bản, bất
luận như thế nào, chúng ta phải nâng cao phẩm
đức của chính mình lên tới tiêu chuẩn này. Chúng
ta chẳng có cách nào thực hiện Tam Phước, mức
độ thấp nhất chúng ta phải tăng [phẩm
đức của chính mình] lên tới phước thứ
nhất; bất luận như thế nào, phải làm
được phước thứ nhất. Nhưng ở
đây, nhất định phải nghiêm túc nhấn mạnh
[Tam Phước] rất cặn kẽ. Nếu không, quý vị
sẽ nẩy sanh hiểu lầm. Chẳng hạn như “hiếu dưỡng phụ mẫu”,
hằng ngày cung kính cha mẹ, chăm sóc chuyện ăn uống
và các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống của
họ, đó có phải là hiếu dưỡng hay không? Chẳng
phải! Không đủ! [Nếu] chấm điểm về
sự hiếu dưỡng, [làm kiểu đó] tối
đa được hai mươi điểm, chẳng
đạt! Vậy thì phải dưỡng như thế
nào? Dưỡng cái tâm, dưỡng cái chí của cha mẹ.
Cha mẹ hằng ngày canh cánh lo cho con cái, thời thời khắc
khắc nghĩ đến con. Kẻ chẳng làm cha mẹ,
sẽ không hiểu được! Anh em bất hòa, cha mẹ
bận lòng, đó là bất hiếu. Học hành chẳng dụng
công, đi thi chẳng đỗ đạt, cha mẹ lại
lo phiền, bất hiếu! Làm việc bên ngoài chẳng tận
hết trách nhiệm, chẳng nghiêm túc, bị cấp trên xử
phạt, cha mẹ lo lắng, bất hiếu! Quý vị mới
biết hiếu dưỡng có phạm vi hết sức rộng
lớn, chẳng phải chỉ là chăm lo cái ăn, cái uống,
và nhu cầu cần thiết trong cuộc sống hằng
ngày [là đủ]! Làm thế nào để cha mẹ đỡ
nặng lòng, làm sao khiến cho cha mẹ tâm tình vui sướng,
đấy mới là trọn hết một chút lòng hiếu.
Những chuyện này nhất định phải được
nhấn mạnh cặn kẽ.
Trong thế gian,
thật sự làm một người có phẩm đức
tốt đẹp, học hành, tu dưỡng tốt đẹp,
đối đãi với người khác hòa thuận, đối
với công việc bèn nghiêm túc, trọn hết trách nhiệm,
được đại chúng trong xã hội khen ngợi,
cha mẹ mới hoan hỷ. Đấy mới là trọn hết
một chút lòng hiếu. Làm càn, làm quấy khiến cho
người ta phê bình, khiến cho người ta khinh dễ,
trong tâm cha mẹ lắm nỗi khổ sở, đấy chẳng
phải là hiếu thuận. Mức độ thấp nhất
là quý vị phải làm được bốn câu trong
phước thứ nhất, phải đạt đến
mức độ phù hợp tiêu chuẩn này, sau đấy
mới là thiện nam tử, thiện nữ nhân thật sự.
Vì đến Tây Phương Cực Lạc thế giới,
nơi ấy là chỗ các vị thượng thiện nhân
nhóm họp, chúng ta một tí phước cũng chẳng
có, sẽ cách biệt, chẳng hòa nhập với họ
được! Họ là thượng thiện, chúng ta
cũng chẳng khác bậc thượng thiện cho mấy
thì mới được! Chẳng thể không có một tí
thiện nào! “Thiện nam tử,
thiện nữ nhân” ở chỗ này hết sức trọng
yếu. Chí tâm tụng trì, tự thành tựu lợi ích. Hôm
nay, tôi giảng tới chỗ này!
Tập
288
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang sáu trăm lẻ chín:
(Sao)
Hựu hữu vị “Nam-mô a di đà đa bà dạ”, thử
vân “quy mạng Vô Lượng Thọ”.
(鈔)又有謂南無阿彌陀多婆夜,此云皈命無量壽。
(Sao: Lại có bản
chép là “nam-mô a di đà đa bà dạ”, cõi này dịch là “quy mạng
Vô Lượng Thọ”).
Chú
ngữ là tiếng Phạn phiên âm, có nghĩa là “quy mạng Vô Lượng Thọ
Phật”, tức là “quy mạng
A Di Đà Phật”. “Quy mạng”
(皈命) cũng có nghĩa là “quy
y”.
(Sao)
Đa tha già đa dạ, tức “đa tha a già độ”, thử
vân Như Lai.
(鈔)多他伽多夜,即多他阿伽度,此云如來。
(Sao: “Đa tha già
đa dạ” (Tathāgatāya) tức
“đa tha a già độ”, cõi này dịch là Như Lai).
Phiên
âm có đôi chút sai khác, nguyên văn tiếng Phạn như
nhau, người dịch khác nhau, đạo tràng dịch
kinh khác nhau, danh từ, thuật ngữ chẳng có tiêu chuẩn
thống nhất. Câu này dịch sang tiếng Hán là Như Lai.
(Sao)
“Đa địa dạ tha”, tân dịch vân “tha đích dã
thát”, cựu vân “đát điệt tha”. Điệt, âm
điệt, tức địa dạ nhị hợp dã. Thử
vân “tức thuyết chú viết”, tự hậu
phương thị mật ngữ.
(鈔)哆地夜他,新譯云他的也撻,舊云怛絰他。絰,音迭,即地夜二合也。此云即說咒曰。自後方是密語。
(Sao: “Đa địa
dạ tha” (Tadyathā): Phiên
âm theo lối tân dịch là “tha đích dã thát”, cựu dịch
là “đát điệt tha”. Chữ Điệt (絰) đọc là Điệt (迭), tức là Địa và Dạ đọc dính lại,
cõi này dịch là “liền nói chú rằng”, từ đấy
trở đi là mật ngữ).
[Nguyên
văn] tiếng Phạn vẫn là cùng một chữ. Một
chữ mà có vài cách phiên âm khác nhau, do người phiên dịch
phiên âm khác nhau, nhưng ý nghĩa đều như nhau. Sau
chữ “đá địa dạ
tha” tức là từ “a di rị
đô bà tỳ” trở về sau chính là mật chú. Do vậy
có thể biết: Trong mười bốn câu chú ngữ, ba
câu đầu là hiển thuyết, những câu sau đó mới
là mật chú.
(Sao)
Nhiên thần chú tùng cổ bất phiên, lược hữu
ngũ ý.
(鈔)然神咒從古不翻,略有五意。
(Sao:
Nhưng thần chú từ xưa chẳng dịch, nói đại
lược thì có năm ý).
Có
năm ý nghĩa [khiến cho] cổ nhân chẳng dịch
chú ngữ, chỉ phiên âm, không dịch ý nghĩa. Trong phần
trước, chúng tôi cũng đã nói với quý vị ý
nghĩa của mỗi câu. Thật ra, chú này vẫn có ý
nghĩa, trọn chẳng phải là hoàn toàn không có ý
nghĩa[13]. Chú ngữ hoàn toàn
chẳng có ý nghĩa cũng có, loại này vẫn chiếm
số lượng rất lớn trong các mật chú.
(Sao)
Nhất, như vương mật chỉ, vật vọng
tuyên truyền, đản nghi khâm phụng cố.
(鈔)一、如王密旨,勿妄宣傳,但宜欽奉故。
(Sao: Một là như
mật chỉ của vua, chớ tuyên truyền bừa bãi,
chỉ nên kính cẩn phụng hành).
Giống
như ý chỉ bí mật của đế vương xưa
kia, quý vị chỉ chiếu theo đó mà làm, chẳng cần
hỏi han ý nghĩa như thế nào, cứ y giáo phụng
hành là được rồi. Thần chú giống như mật
chỉ của Như Lai, chẳng cần hỏi ý nghĩa
là gì, chỉ cần thật thà niệm, tam mật
tương ứng là được rồi!
(Sao) Nhị, hoặc nhất ngữ quảng hàm
đa nghĩa, như Tiên Đà Bà cố.
(Diễn) Tiên Đà Bà giả, thị Phạn
ngữ, hữu diêm, thủy, mã, khí, tứ danh. Duy hữu
trí thần nãi năng biện thức, như vương thực
thời, hô Tiên Đà Bà, tắc tri yếu diêm. Như vương
tẩy quán, hô Tiên Đà Bà, tắc tri yếu thủy.
Như vương tác chúng vụ thời, hô Tiên Đà Bà, tắc
tri yếu khí. Như vương xuất du, sách Tiên Đà
Bà, tắc tri yếu mã.
(鈔)二、或一語廣含多義,如僊陀婆故。
(演)仙陀婆者。是梵語。有鹽水馬器四名。惟有智臣乃能辨識。如王食時。呼仙陀婆。則知要鹽。如王洗盥。呼仙陀婆。則知要水。如王作眾務時。呼仙陀婆。則知要器。如王出游。索仙陀婆。則知要馬。
(Sao: Hai là một chữ
bao hàm rộng rãi nhiều nghĩa, như Tiên Đà Bà.
Diễn:
Tiên Đà Bà là tiếng Phạn, tương ứng với
tên gọi của bốn thứ là muối, nước, ngựa
và vật dụng, chỉ có kẻ bầy tôi có trí mới
có thể phân biệt. Như khi vua ăn, gọi Tiên Đà
Bà, biết là cần muối. Như vua tắm gội, kêu
Tiên Đà Bà, liền biết là cần nước. Như
vua làm các việc, gọi Tiên Đà Bà, liền biết là vua
cần vật dụng. Như vua xuất du, đòi Tiên
Đà Bà, biết là muốn có ngựa).
Tiên
Đà Bà (Saindhava) là tiếng Phạn. Trong chữ này bao hàm rất
nhiều ý nghĩa, trong phần chú giải sau đó có nói.
Trong tình huống nào, nói chữ này thì có ý nghĩa là gì. Tình
hình đó không phải chỉ là trong tiếng Phạn mới
có, trong ngôn ngữ của Trung Hoa cũng có. Muốn thật
sự hiểu rõ ý nghĩa, không chỉ là phải xét xem âm
đọc như thế nào, chữ Hán có rất nhiều chữ
“phá âm”[14],
mà còn phải xét xem sự biểu lộ qua ngữ khí thì mới
thật sự suy lường ý nghĩa của nó.
(Sao)
Tam, hoặc thử phương sở vô, như Diêm Phù
Đề cố.
(鈔)三、或此方所無,如閻浮提故。
(Sao: Ba, hoặc là do
phương này không có, như Diêm Phù Đề[15] vậy).
Ở
Ấn Độ có, tại Trung Hoa chẳng có. Thí dụ
như Trung Hoa là xứ ôn đới, Ấn Độ là nhiệt
đới, trong miền nhiệt đới có khá nhiều
loại động thực vật mà Trung Hoa chẳng có.
(Sao)
Tứ, hoặc thuận cổ văn, như A Nậu Bồ
Đề cố.
(鈔)四、或順古文,如阿耨菩提故。
(Sao: Bốn là thuận
theo cổ văn như A Nậu Bồ Đề).
Thuận
theo lệ cổ không dịch. Chữ A Nậu Đa La Tam
Miệu Tam Bồ Đề có thể phiên dịch, nhưng
do thời cổ chẳng dịch, mà dùng cách phiên âm, sau
đấy mới giải thích thêm.
(Sao)
Ngũ, hoặc tôn trọng, phi Đường ngôn khả
đối, như Bát Nhã cố.
(鈔)五、或尊重,非唐言可對,如般若故。
(Sao: Năm là hoặc
do tôn trọng, chẳng có tiếng Hán tương ứng
để diễn tả trọn vẹn ý nghĩa, như
chữ Bát Nhã).
Đây
là thuộc loại “tôn trọng
chẳng dịch”.
(Sao)
Nhất vân: Diệc khả cưỡng phiên.
(鈔)一云:亦可強翻。
(Sao: Có người
nói: Cũng có thể miễn cưỡng phiên dịch).
“Nhất vân” là lại có một
cách nói khác nữa, chú cũng có thể miễn cưỡng
dịch ra.
(Sao)
Ký vị chi cưỡng, hạt nhược dĩ chi.
(鈔)既謂之強,曷若已之。
(Sao:
Đã nói là miễn cưỡng, cần gì phải làm vậy?)
Nếu
đã miễn cưỡng, cần gì phải làm? Chúng ta biết:
Dài nhất trong các bài thần chú là thần chú Lăng Nghiêm
trích từ kinh Lăng Nghiêm. Từ xưa đến nay,
kinh Lăng Nghiêm đã có hơn một trăm vị chú giải,
mỗi vị chú giải đều chẳng dịch
nghĩa chú Lăng Nghiêm, chỉ giới thiệu đơn
giản, khái lược. Chỉ riêng pháp sư Từ Vân
Quán Đảnh đời Thanh là dịch nghĩa thần
chú Lăng Nghiêm. Cổ nhân có vị dịch nghĩa thần
chú, có vị không dịch. Không dịch vẫn chiếm
đa số.
(Sớ)
Kinh chú tương liên, chánh Hiển Mật viên thông
nghĩa.
(疏)經咒相聯,正顯密圓通義。
(Sớ: Kinh và chú liên
quan với nhau, chính là ý nghĩa Hiển Mật viên thông).
Chú
Vãng Sanh không thuộc về bộ kinh này, vì sao ghép vào
đây? Liên Trì đại sư muốn dạy chúng ta: Hiển
và Mật là viên dung, thông đạt, chẳng có chướng
ngại. Kinh là chú hiển thuyết, chú là kinh mật thuyết,
phương thức biểu đạt khác nhau, nội dung
chẳng hai, chẳng khác. Nội dung của phần dịch
nghĩa chú Vãng Sanh xác thực là nhằm dạy chúng ta hãy niệm
A Di Đà Phật, cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ,
chỉ thú giống hệt như kinh Di Đà. Đại
sư làm cách này, đúng là khổ tâm tốn sức! Chúng
sanh trong cõi Diêm Phù Đề tánh tình bất định, thay
đổi thất thường, nay thích điều này, mai
ưa điều khác, niệm Phật chẳng thật thà.
Thấy kẻ khác tham Thiền, bèn mong tĩnh tọa tham
Thiền. Thấy người ta học Mật, cũng muốn
niệm chú, tu học như vậy sẽ chẳng thành tựu!
Không chỉ là niệm Phật chẳng tốt đẹp,
mà bất luận tu học pháp môn nào, cũng đều chẳng
thể học tốt đẹp được! Đại
sư làm cách này, không gì chẳng nhằm dạy chúng ta
khăng khăng một mực thật thà niệm Phật.
Sau mỗi đoạn Sớ Sao, đều có phần
đàm luận xứng tánh. Phần xứng tánh ấy thuộc
về Thiền Tông, nhằm bảo rõ với chúng ta: Có
đoạn nào, câu nào trong kinh Di Đà chẳng phải là thượng
thượng Thiền? Chẳng cần phải tu Thiền
nữa. Chẳng phải là quý vị đã học Mật rồi
đó ư? Chú Vãng Sanh là vô thượng mật chú; ở
đây, chúng ta cũng có chú ấy. Vì thế, chỉ là một
dụng ý, một mục tiêu, nhằm dạy chúng ta nhận
biết rõ ràng hết thảy các pháp môn, thật thà niệm
Phật. Thật thà niệm Phật, chẳng có ai không thành
tựu! Cổ đức bảo pháp môn này là “vạn người tu, vạn
người đến” chẳng giả!
(Sao)
Tường trần bỉ quốc, y chánh trang nghiêm, tín, hạnh,
nguyện môn, như kinh sở minh, thị chi vị Hiển.
(鈔)詳陳彼國,依正莊嚴,信行願門,如經所明,是之謂顯。
(Sao: Nói cặn kẽ y báo và chánh
báo trang nghiêm trong ấy, các môn Tín, Hạnh, Nguyện
được giảng rõ trong kinh, đó gọi là Hiển).
“Trần” là trần thuyết
(陳說, tường thuật,
giải thích), nói rõ tường tận, cặn kẽ trạng
huống trong Tây Phương Cực Lạc thế giới.
“Y” (依) là trạng huống nơi hoàn cảnh sống. “Chánh” (正) là nói đến A Di Đà Phật, cũng như trạng
huống tu học tại Tây Phương của những
người từ mười phương vãng sanh đến
thế giới Tây Phương, đều nói rất rõ
ràng, rất minh bạch. Nhất là chúng ta hợp ba kinh Vô
Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật và
kinh Di Đà lại để xem, sẽ mười phần
liễu giải trạng huống trong Tây Phương Cực
Lạc thế giới. Chỉ có thật sự liễu giải,
thật sự hiểu rõ, tín tâm của chúng ta mới sanh khởi.
Tín tâm chẳng thể sanh khởi chính là vì chẳng hiểu
rõ trạng huống trong Tây Phương cho mấy. Nghe nói
[cõi ấy] tốt đẹp, rốt cuộc là thật hay
giả? Kẻ ấy ôm nỗi nghi hoặc, tín tâm chẳng
thanh tịnh. Nhất định là phải hiểu rõ ràng,
nhất định phải hiểu minh bạch, tín tâm bèn thanh
tịnh.
Có tín tâm, có nguyện
vọng mạnh mẽ, nguyện sanh về Tịnh Độ,
nguyện thấy Di Đà. Nguyện này hết sức trọng
yếu, có Tín, có Nguyện thì mới thật sự chịu
làm, đó là có Hạnh. Hạnh là dùng niệm Phật làm Chánh
Hạnh. Kinh Vô Lượng Thọ từ phẩm ba
mươi hai tới phẩm ba mươi bảy dạy chúng
ta đoạn ác tu thiện, trì giới niệm Phật,
đó là Trợ Hạnh. Tam Phước và [nhân hạnh của]
chín phẩm trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật
cũng thuộc loại Trợ Hạnh. Chánh Trợ song tu,
quyết định được vãng sanh. Kinh đã nói rõ
ràng về Tín, Nguyện, Hạnh cho chúng ta. Đó gọi là
Hiển Giáo, hết sức rõ rệt.
(Sao)
Tuân Phật bí sắc, đản trì thử chú, tức
đắc vãng sanh, thị chi vị Mật.
(鈔)遵佛祕敕,但持此咒,即得往生,是之謂密。
(Sao: Tuân theo sắc lệnh
bí mật của đức Phật, chỉ trì chú này, liền
được vãng sanh, đó gọi là Mật).
Trong
Mật, điều kiện trọng yếu nhất là tín tâm
tuyệt đối, tuyệt đối chẳng thể có
mảy may nghi hoặc nào! Trong Hiển Giáo, có nghi hoặc vẫn
chẳng sao, kinh giáo có thể giúp quý vị giải quyết
[nỗi nghi hoặc ấy]. Trong Mật Giáo mà có nghi hoặc
thì không được rồi, quyết định chẳng
thể thành tựu, phải là có tín tâm tuyệt đối.
Vì sao? Trong chú chẳng có giải thích, đức Phật
nói như thế nào, quý vị bèn thật thà trì chú, dùng phương
pháp này.
“Đản trì thử chú, tức đắc vãng sanh” (Chỉ trì chú
này, liền được vãng sanh), giống như trong
kinh đã nói: Quý vị có thể trì chú Vãng Sanh ba mươi
vạn lần, chắc chắn được vãng sanh. Từ
xưa đến nay, xác thực là có không ít người thấy
kinh dạy như vậy, họ cũng niệm, sau khi
đã niệm đủ ba mươi vạn lần, chẳng
có hiệu quả! Do nguyên nhân gì? Kẻ ấy chẳng có
tín tâm tuyệt đối, vừa niệm vừa hoài nghi,
làm thử xem, ba mươi vạn lần rốt cuộc
là giả hay thật? Kẻ ấy chẳng có chân tâm, dùng
cái tâm “thử xem” để niệm chú, niệm ba
mươi vạn lần, hay ba trăm vạn lần cũng
chẳng được! Khuyết điểm là do cái tâm “thử
xem”. Thử xem có linh hay không, kết quả là chẳng linh.
Do đó, cái tâm trì chú chớ nên giả dối, chớ nên [dùng
cái tâm] thăm dò, chớ nên dùng cái tâm suy đoán. Người
trì chú, nói tới thật thà, chúng ta thường nói “thật thà niệm Phật”,
còn phải thật thà hơn người niệm Phật thì
mới được. Hễ có mảy may chẳng thật
thà, ba mươi vạn lần đều là niệm uổng
công, chẳng thể thành tựu, đạo lý ở chỗ
này. Chẳng phải là chú không linh!
Như trong Liễu
Phàm Tứ Huấn đã nói, ông ta (Viên Liễu Phàm) đã nêu
tỷ dụ “vẽ bùa, niệm chú”. Biết vẽ bùa, sẽ
vẽ được một đạo bùa linh ứng; chẳng
biết cách vẽ bùa, sẽ bị quỷ thần chê
cười. Bùa vẽ như thế nào sẽ linh? “Thành tắc linh” (Có lòng thành, ắt
linh thiêng). Tiêu chuẩn của Thành là gì? Trong Độc
Thư Bút Ký (bút ký đọc sách), ông Tăng Quốc Phiên đã
định nghĩa chữ Thành như sau: “Một niệm chẳng sanh thì gọi là Thành”. Trong
tâm chẳng có ý niệm nào, đó là Thành. Trong tâm có một
niệm thì chẳng thành. Kẻ vẽ bùa ấy, lúc bình thời
phải luyện tập, luyện rất thuần thuộc;
đối với mỗi đạo bùa, hễ hạ bút liền
vẽ một mạch. Không thông thuộc, vẽ tới chỗ
nào đó rồi lại dấy lên ý niệm suy nghĩ trong
chốc lát [phải vẽ tiếp như thế nào, đạo
bùa ấy] sẽ chẳng linh. Người ấy hạ bút
liền vẽ một mạch thì sẽ vẽ đạo
bùa ấy thành công. Chẳng có một vọng niệm nào,
đạo bùa ấy sẽ linh. Hễ dấy lên một vọng
niệm, sẽ chẳng linh. Do đó, chẳng biết vẽ
bùa, sẽ bị quỷ thần cười cợt. “Chẳng
biết vẽ bùa” là khi vẽ bùa có xen lẫn ý niệm
trong ấy.
Cùng một đạo
lý như vậy, niệm chú có người niệm linh ứng,
có người niệm chú, âm đọc cũng chẳng sai
một chữ nào, thế mà chẳng linh! Cùng một đạo
lý: Hễ thành sẽ linh.
(Sao)
Hiển giả, hiển thử mật dã; mật giả, mật
thử hiển dã.
(鈔)顯者,顯此密也;密者,密此顯也。
(Sao: Hiển là hiển
lộ bí mật này, Mật là ẩn mật hiển pháp
này).
Hiển
Mật viên dung là cùng một chuyện, một phương
pháp, đức Phật dùng hai phương thức bất
đồng để biểu đạt: Một đằng
là hiển thuyết, một đằng là mật thuyết.
(Sao)
Kiêm trì tắc song mỹ tất cụ, đơn cử diệc
giao nhiếp bất di, cố viết Viên Thông.
(鈔)兼持則雙美畢具,單舉亦交攝不遺,故曰圓通。
(Sao: Trì cả hai ắt
đẹp đẽ, trọn vẹn cả đôi
đường, chỉ nêu riêng một pháp thì pháp này dung nhiếp
pháp kia chẳng sót. Vì thế nói là Viên Thông).
“Kiêm trì”: Nay chúng ta đều
chọn dùng phương pháp này. Niệm xong kinh Di Đà bèn
niệm ba biến chú Vãng Sanh, có Hiển, có Mật. Đó gọi
là “kiêm trì”. Đấy là “song mỹ”, “tất cụ”, chẳng
có mảy may thiếu khuyết nào! “Đơn cử” là chỉ niệm kinh, hoặc
chỉ niệm chú cũng đều được! Niệm
kinh là Hiển, trong Hiển có Mật. Tuy chẳng niệm
chú, nhưng mật nghĩa đều ở trong kinh. Chỉ
trì chú Vãng Sanh cũng được, tuy là Mật, hiển
kinh cũng ở trong mật nghĩa. Vì Mật là Mật của
Hiển, Hiển là Hiển của Mật. Do vậy, quý vị
chỉ trì một loại, ý nghĩa vẫn là viên mãn. Đó
mới gọi là Viên Thông.
Viên
Thông là từ ngữ trong kinh Lăng Nghiêm. Trong Hoa Nghiêm, câu
này được gọi là Vô Ngại. Vô ngại bèn viên
thông; có chướng ngại sẽ chẳng thông, sẽ chẳng
viên. Trong kinh Hoa Nghiêm, Thanh Lương đại sư nói
là “tứ vô chướng ngại
pháp giới”, Viên Thông là pháp giới vô chướng ngại.
Pháp giới vô chướng ngại là cảnh giới sở
chứng của Như Lai và các vị đại Bồ Tát.
“Đại Bồ Tát” là bậc
Địa Thượng Bồ Tát trong Viên Giáo, [nói Viên Thông]
là nói tới [cảnh giới] sở chứng của các
Ngài. Kinh Hoa Nghiêm nói “Lý vô ngại,
Sự vô ngại, Lý Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại”.
Kinh Lăng Nghiêm dùng hai chữ Viên Thông để nói trọn
hết.
(Sớ)
Tuy vân giao nhiếp, nhi chuyên trì danh hiệu, do thắng trì
chú, diệc thắng dư chú, diệc thắng nhất thiết
chư dư công đức.
(疏)雖云交攝,而專持名號,猶勝持咒,亦勝餘咒,亦勝一切諸餘功德。
(Sớ: Tuy nói là “nhiếp lẫn
nhau”, nhưng chuyên trì danh hiệu vẫn thù thắng hơn
trì chú [Vãng Sanh], mà cũng thù thắng hơn các chú khác,
cũng thù thắng hơn hết thảy các công đức).
Trong
đoạn khai thị này, nói thật ra, nếu Liên Trì
đại sư chẳng giảng cho chúng ta rõ ràng, minh bạch
như vậy, thật sự là chúng ta chẳng biết danh
hiệu có công đức chẳng thể nghĩ bàn. Danh hiệu
có công đức chẳng thể nghĩ bàn, chúng ta cũng
thường nghe, cũng thường thấy trong chú sớ
của các vị tổ sư nói kiểu này, rốt cuộc
là chẳng thể nghĩ bàn như thế nào, chẳng biết!
Trong đoạn này, Liên Trì đại sư đã nêu bày chẳng
thể nghĩ bàn như thế nào, chẳng thể nghĩ
bàn đến mức độ nào, đúng là khó có! Chúng ta
có thể gặp gỡ, thật sự là có đại
phước báo. Từng câu dưới đây đều nhằm
giải thích [vì sao chư Phật, Bồ Tát, lịch đại
tổ sư đặc biệt ca ngợi pháp trì danh].
(Sao)
Thiên tán trì danh dã.
(鈔)偏讚持名也。
(Sao:
Đặc biệt ca ngợi trì danh).
“Tán” là tán thán (讚歎). Trong tất cả
hết thảy các pháp môn, tám vạn bốn ngàn pháp môn, hoặc
vô lượng pháp môn, chư Phật Như Lai, tổ
sư đại đức đặc biệt tán thán “trì danh”, lại còn chuyên trì
danh hiệu A Di Đà Phật, đạo lý ở chỗ
nào? Rốt cuộc vì sao phải tán thán như vậy?
(Sao)
Dĩ chú vân: “Tụng tam thập vạn biến, tắc kiến
A Di Đà Phật”.
(鈔)以咒云:誦三十萬遍,則見阿彌陀佛。
(Sao: Do trong kinh văn
giảng về chú Vãng Sanh đã nói: “Tụng ba mươi vạn
lần, sẽ thấy A Di Đà Phật”).
Chú
Vãng Sanh phải niệm ba mươi vạn lần thì mới
thấy A Di Đà Phật.
(Sao)
Nhi trì danh, tắc nhất nhật nhất tâm, tức Phật
hiện tiền cố.
(鈔)而持名,則一日一心,即佛現前故。
(Sao:
Nhưng trì danh thì một ngày nhất tâm, Phật bèn hiện
tiền).
Chú
Vãng Sanh chẳng bằng Phật hiệu; đối với
Phật hiệu, chí tâm xưng danh một ngày, một
đêm, A Di Đà Phật bèn hiện tiền, bèn đắc
nhất tâm bất loạn. Chú Vãng Sanh còn phải niệm ba
mươi vạn lần, Phật mới hiện tiền,
chứng tỏ chú chẳng bằng Phật hiệu. Liên Trì
đại sư nói lời này chẳng phải là nói tùy tiện,
mà đều là có kinh điển để làm căn cứ.
Niệm ba mươi vạn lần chú Vãng Sanh phải tốn
thời gian rất dài. Niệm câu Phật hiệu này một
ngày một đêm vượt trỗi ba mươi vạn lần
chú Vãng Sanh. Đó là chỗ thua kém của chú Vãng Sanh.
(Sao)
Hựu chú vân: “Trú dạ lục thời, các tụng tam thất
biến, năng diệt Ngũ Nghịch đẳng tội,
nhi trì danh, tắc chí tâm niệm Phật nhất thanh, tức
diệt bát thập ức kiếp sanh tử trọng tội
cố.
(鈔)又咒云:晝夜六時,各誦三七遍,能滅五逆等罪。而持名,則至心念佛一聲,即滅八十億劫生死重罪故。
(Sao: Chú lại nói:
Ngày đêm sáu thời, mỗi thời tụng hai
mươi mốt lần, có thể diệt các tội
như Ngũ Nghịch v.v… Nhưng trì danh thì chí tâm niệm
Phật một tiếng liền diệt trọng tội
trong tám mươi ức kiếp sanh tử).
Niệm
chú Vãng Sanh còn phải “trú dạ
lục thời, các tụng tam thất biến” (ngày
đêm sáu thời, mỗi thời tụng hai mươi mốt
biến), “tam thất” là hai
mươi mốt biến. “Trú
dạ lục thời” (Ngày đêm sáu thời), mỗi thời
niệm hai mươi mốt lần, một ngày đêm niệm
sáu lượt. Ngày ba thời: Sơ nhật phần niệm
một lần, trung nhật phần niệm một lần,
hậu nhật phần niệm một lần. Ban đêm
cũng thế, sơ dạ phần niệm một lần,
trung dạ phần niệm một lần, hậu dạ phần
niệm một lần, thì mới “năng diệt Ngũ Nghịch đẳng tội”
(có thể diệt tội như Ngũ Nghịch v.v…). “Trì danh” là thành tâm niệm một
câu A Di Đà Phật liền “diệt
bát thập ức kiếp sanh tử trọng tội” (diệt
trọng tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử).
Chú chẳng bằng Phật hiệu, trong kinh đức Phật
có nói điều này. Có người không niệm Phật mà
muốn niệm chú, có cách nào? Chẳng có cách nào hết! Chúng
ta chỉ đành nói là mỗi người có nhân duyên riêng.
Trong ấy, điều
then chốt là Thành, tức chân thành. Đó là nhân. Phật hiện
tiền, diệt tội Ngũ Nghịch, đó là quả.
Trong ấy còn có duyên. Nếu chẳng có duyên, quả chẳng
thể hiện tiền. Chúng ta mỗi ngày không chỉ niệm
một câu Phật hiệu, [thế mà] Phật cũng chẳng
hiện tiền. Do duyên cớ gì? Đương nhiên, điều
thứ nhất là do cái nhân chẳng chánh đáng, duyên khuyết
thiếu. Duyên là gì? Kinh nói “thiện
nam tử, thiện nữ nhân”, đó là duyên. Chúng ta thật
sự là thiện nam tử, thiện nữ nhân, lại có thành
tâm, sẽ linh. Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật,
đức Phật đã giảng về tiêu chuẩn thiện
rất rõ ràng, rất minh bạch, chính là Tịnh nghiệp Tam
Phước. Đấy là tiêu chuẩn của thiện. Phải
thật sự làm được điều thiện nhân
thiên, tức là “hiếu dưỡng
phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ
tâm chẳng giết, tu Thập Thiện nghiệp”, phải
thật sự làm được! Hằng ngày niệm Phật
suông [không tu điều phước thứ nhất trong Tịnh
nghiệp Tam Phước] sẽ vô dụng, chẳng
được coi là “thiện
nam tử, thiện nữ nhân”, phải làm được!
Đó là nhân thiên thiện. Nhị Thừa thiện thì còn phải
thêm ba điều, “thọ trì Tam
Quy, đầy đủ các giới, chẳng phạm oai nghi”,
sẽ là thiện nam tử, thiện nữ nhân theo Tiểu
Thừa.
Pháp môn này và kinh
điển này là pháp của Đại Thừa Bồ Tát.
Không chỉ là pháp Đại Thừa, cổ đại
đức dạy chúng ta: Pháp môn này là Đại Thừa của
Đại Thừa, là Nhất Thừa của Nhất Thừa,
là pháp môn vô thượng chân thật bậc nhất. Tiêu chuẩn
thiện của nó càng cao hơn; vì thế, còn phải thêm
vào: “Phát Bồ Đề tâm, tin
sâu nhân quả, đọc tụng Đại Thừa, khuyến
tấn hành giả”. Những điều này chúng ta đều
làm được, dùng cái tâm chân thành để niệm câu
Phật hiệu, xác thực là niệm một tiếng Phật
hiệu “diệt trọng tội
trong tám mươi ức kiếp sanh tử”, vãng sanh Tịnh Độ sẽ
là thượng thượng phẩm vãng sanh.
Có
những người thoạt trông dường như rất
ngu si, như người đồ đệ làm thợ vá
nồi của pháp sư Đế Nhàn. Ông ta chẳng biết
chữ, chẳng có kiến thức, trung niên xuất gia. Lão
pháp sư dạy ông ta niệm một câu A Di Đà Phật.
Người ta niệm ba năm, biết trước lúc mất,
đứng vãng sanh. Ông ta chưa từng học Tam Phước,
cớ sao có thể vãng sanh thù thắng như vậy? Nói thật
ra, đối với mười một điều trong Tam
Phước, ông ta thảy đều làm được, thảy
đều trọn đủ, nhưng quý vị hỏi ông
ta, ông ta sẽ chẳng thốt nên lời, không biết!
Đó là người như cổ nhân đã bảo “ngu không ai bằng”. Tuy ông ta
ngu ngơ, điều gì cũng chẳng biết, nhưng
chúng ta chẳng bằng ông ta! Ông ta tâm địa thanh tịnh,
thiện lương, so sánh từng điều
trong tiêu chuẩn ấy, ông ta thảy đều trọn đủ.
Nghe lời thầy, [vì thế] “phụng
sự sư trưởng” ông ta làm được. Thầy
dạy ông ta làm như thế nào, ông ta giảm bớt một
chút cũng chẳng có, cứ thật thà làm theo, vâng theo một
trăm phần trăm, thứ gì cũng làm được,
cho nên duyên của ông ta đầy đủ. Tâm địa
chân thành, trừ câu A Di Đà Phật ra, ý niệm gì
cũng đều chẳng có, nhân đầy đủ! Ông
ta nhân duyên đầy đủ, quả báo hiện tiền,
quả báo thù thắng khôn sánh. Chúng ta nhất định phải
hiểu điều này. Nếu không, chúng ta sẽ cảm thấy:
Sao mà có người niệm thì linh, có kẻ niệm chẳng
linh? Rốt cuộc người niệm linh ứng thì có phải
là người đó rất may mắn hay không? Có phải là
người ấy rất hên hay không? Chẳng phải vậy!
Mảy may vận hên cũng chẳng có! Vì thế, sau khi
đã hiểu rõ lý luận và chân tướng sự thật,
chúng ta bèn biết phải tu như thế nào! Do đó, Tam
Phước hết sức trọng yếu. Đấy là
nói niệm danh hiệu A Di Đà Phật mạnh mẽ
hơn niệm chú Vãng Sanh.
(Sao)
Nhị, thắng dư chú giả.
(鈔)二、勝餘咒者。
(Sao: Hai là thù thắng
hơn các chú khác).
“Dư chú” là những chú khác. Hết
thảy các chú do đức Phật đã nói trong bốn
mươi chín năm, kể cả chú Đại Bi, chú Lăng
Nghiêm, chú Chuẩn Đề v.v… đều chẳng sánh bằng
danh hiệu A Di Đà Phật.
(Sao)
Chuyên trì danh hiệu, tức đại thần chú, đại
minh chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú.
(鈔)專持名號,即大神咒、大明咒、無上咒、無等等咒。
(Sao:
Chuyên trì danh hiệu, chính là đại thần chú, đại
minh chú, vô thượng chú, chú không có gì sánh bằng).
Danh
hiệu A Di Đà Phật là “đại
thần chú, đại minh chú, vô thượng chú, chú không có
gì sánh bằng”, vì sao?
(Sao)
Dĩ thập niệm tiện đắc vãng sanh, nhất
sanh tiện đắc bất thoái, oai linh bất trắc,
tư danh đại thần.
(鈔)以十念便得往生,一生便得不退,威靈不測,斯名大神。
(Sao: Do mười niệm
bèn được vãng sanh, trong một đời bèn đắc
Bất Thoái, oai linh chẳng lường được,
nên gọi là “đại thần”).
Nhìn
từ những ý nghĩa được bao hàm trong danh tự
thì sáu chữ hồng danh chẳng thẹn gọi là “đại
thần chú”! “Thập niệm vãng
sanh” là nguyện thứ mười tám trong bốn
mươi tám nguyện. Nguyện thứ mười tám
nói: Kẻ tạo tác Ngũ Nghịch, Thập Ác, lâm chung gặp
thiện hữu khuyên người ấy niệm Phật, do
một niệm hoặc mười niệm bèn có thể vãng
sanh. Chú nào có thể sánh bằng một câu Phật hiệu?
Dẫu các thần chú khác cũng có năng lực ấy,
nhưng “nhất sanh tiện
đắc Bất Thoái” (trong một đời bèn đắc
Bất Thoái), đại khái là chẳng thể tìm thấy
trong các chú khác. Sanh về thế giới Tây Phương, dẫu
là hạ hạ phẩm vãng sanh trong cõi Phàm Thánh Đồng
Cư cũng chứng trọn vẹn ba món Bất Thoái, điều
này chẳng thể tìm thấy trong tất cả hết thảy
các thần chú. Đây là nói rõ ràng, nói minh bạch cùng chúng ta:
“Trì chú chẳng bằng niệm
Phật”.
Bao nhiêu kẻ mê
đắm nơi thần chú, chẳng biết danh hiệu
có công đức thù thắng, chẳng nhận biết giá
trị, chẳng nhận thức! Thật sự nhận biết
rõ ràng, nhận biết minh bạch, thật sự là chẳng
dễ dàng! Chẳng phải là người có đại phước
đức, đại thiện căn, đại nhân duyên,
làm sao quý vị có thể hiểu rõ cho được? Kinh
Di Đà chẳng dài, Sớ Sao chẳng ngắn. Giảng bộ
Sớ Sao to như vậy một lượt, khá khó
khăn! Thiện căn, phước đức, và nhân duyên
chẳng phải là ai nấy đều trọn đủ,
họ làm sao hiểu nổi? Chẳng hiểu sự thù thắng
của danh hiệu. “Oai linh bất
trắc” (Oai linh chẳng lường), [nói tới sự]
oai đức linh cảm là nói tới mười niệm vãng
sanh, bất thoái ngay trong một đời. Đó là đại
thần chú.
(Sao)
Dư khả lệ tri cố.
(鈔)餘可例知故。
(Sao:
Đối với những điều khác, cứ phỏng
theo đó suy ra sẽ biết).
Những
điều khác, đại sư tỉnh lược. Trong
phần tiểu chú, pháp sư Cổ Đức có bổ
sung.
(Diễn)
Dư khả lệ tri giả, nhất tâm bất loạn,
đoạn vô minh, kiến tự tánh, đại minh chú dã.
(演)餘可例知者,一心不亂,斷無明見自性,大明咒也。
(Diễn: “Những
điều khác cứ phỏng theo đó, suy ra mà biết”:
Nhất tâm bất loạn, đoạn vô minh, thấy tự
tánh, tức là đại minh chú).
“Minh” là minh tâm kiến tánh.
Để thành tựu
công đức nơi danh hiệu, bí quyết trọng yếu
là chuyên tinh. Danh hiệu dễ trì, nó rất ngắn, [niệm]
câu ấy dễ dàng, nên gọi là “dị hành đạo” (易行道, đạo dễ
hành). So sánh các thứ khác với Phật hiệu, chúng đều
gọi là “đạo khó hành”,
chẳng dễ dàng như cách này. “Dị” (易) là gì? Dễ dàng
nhiếp tâm. Cũng có nghĩa là khi chúng ta luyện tập,
niệm Phật là thực hiện công phu, trì chú cũng là
luyện công phu, đọc kinh cũng là đang hành công phu.
Điều khẩn yếu nhất trong luyện tập công
phu là nhiếp tâm. Nhiếp tâm là như Đại Thế
Chí Bồ Tát đã dạy: “Nhiếp
trọn sáu căn”. Chúng ta có thể nhiếp hay không,
đó là vấn đề! Càng đơn giản, ngắn gọn,
càng tinh yếu, càng dễ nhiếp tâm.
Một câu Phật
hiệu đúng là phải thật thà niệm. Thật sự
thật thà niệm, dẫu quý vị chẳng thể đắc
nhất tâm bất loạn, quyết định là công phu
thành phiến chẳng có vấn đề gì! Nếu quý vị
đắc công phu thành phiến, trước mắt sẽ
có đại thọ dụng, đạt được lợi
ích chân thật nơi Phật pháp. Rốt cuộc công phu
thành phiến có ưu điểm gì? Có những lợi ích
gì?
1) Thứ nhất
là phiền não nhẹ nhàng. Phiền não chưa đoạn;
hễ đoạn được, sẽ là nhất tâm bất
loạn. Chưa đoạn, nhưng nhẹ bớt, chẳng
nặng nề như trước kia.
2) Thứ hai, vọng
niệm bớt đi. Có vọng niệm, nhưng chẳng
nhiều như trước kia.
3) Thứ ba, trí huệ
tăng trưởng, người bỗng dưng thông minh.
Trước kia, đối với người, đối
với sự, đối với vật, đều hồ
đồ, mờ mịt, nay bèn hiểu rõ, chẳng hồ
đồ.
4) Thứ tư,
pháp hỷ sung mãn. Bất luận khi nào, bất luận
nơi nào, trong tâm hoan hỷ, pháp hỷ. Pháp hỷ chính là chất
dinh dưỡng thù thắng nhất mà chúng ta nhấn mạnh
trong đạo lý dưỡng sanh, nó thật sự có thể
khiến cho quý vị giữ mãi vẻ thanh xuân, chẳng
già, chẳng bệnh.
Thật sự có
thể đạt được, đạt được
công phu thành phiến, tiền đồ lại còn là một
bầu quang minh. Phàm phu rất đáng thương, chẳng
biết sanh từ đâu đến, chết không biết
đi về đâu? Hồ đồ, mờ mịt đến,
hồ đồ, mờ mịt mà đi. Đáng
thương! Quý vị đạt được công phu
thành phiến, bèn hiểu rõ ràng, minh bạch, tiền đồ
là một bầu quang minh, làm sao có thể giống [như
cũ] được? Đại minh chú đấy nhé! Dẫu
trong một đời này, chúng ta chẳng đạt
được nhất tâm bất loạn, nhất tâm bất
loạn xác thực là chẳng dễ dàng, nó là công phu bậc
cao, nhưng công phu thành phiến thì chúng ta nhất định
có thể đạt được. Đến khi chúng ta
vãng sanh, Phật đến tiếp dẫn. Phật quang vừa
chiếu, ngay lập tức, một chút công phu thành phiến
của chúng ta được nâng lên thành nhất tâm bất
loạn. Đó là do Phật lực gia trì. Nếu chúng ta đắc
Sự nhất tâm bất loạn, Phật quang vừa chiếu
bèn nâng lên thành Lý nhất tâm bất loạn. La Thập đại
sư phiên dịch bộ kinh này, dịch thành “nhất tâm bất loạn”, hoàn toàn chẳng dịch sai!
Nhưng phải hiểu: Trong kinh điển bằng tiếng
Phạn, chẳng nói ý nghĩa “nhất
tâm bất loạn”, bản dịch của Huyền Trang
đại sư ghi là “nhất
tâm hệ niệm”, chẳng phải là nhất tâm bất
loạn. Nhưng nhất tâm bất loạn, xác thực là
khi vãng sanh, do Phật lực gia trì, khiến cho công phu của
quý vị tăng cao hơn. Vì thế, cũng chẳng thể
nói Ngài dịch theo ý nghĩa ấy là dịch sai. Do “đoạn vô minh, thấy tự
tánh”, nên câu A Di Đà Phật chính là đại minh chú.
(Diễn)
Vãng sanh bỉ quốc, cứu cánh thành Phật, vô thượng
chú dã.
(演)往生彼國究竟成佛,無上咒也。
(Diễn: Vãng sanh cõi ấy,
rốt ráo thành Phật là vô thượng chú).
Sở
dĩ mật chú có thể hấp dẫn người khác là
vì nó đề xướng “tức
thân thành Phật” (thành Phật ngay trong thân này), cho nên mọi
người đều như ong vỡ tổ kéo đến!
Thành Phật ngay trong một đời là thành Phật gì vậy?
Thật sự tu thành công trong Mật Tông, chiếu theo Mật
pháp để thật sự tu hành, thành Phật ngay trong một
đời, chính là thành Tạng Giáo Phật, tương
đương với A La Hán của Tiểu Thừa, còn
cách biệt Đại Thừa Bồ Tát một khoảng
to lớn, chẳng phải là một vị Phật viên mãn
rốt ráo. Trong Ấn Quang Đại Sư Văn Sao, Ấn
Quang đại sư đã giảng chuyện này rất nhiều.
Ấn Quang đại sư là Đại Thế Chí Bồ
Tát ở Tây Phương tái lai, làm sao có thể sai lầm
cho được? Thành Phật há dễ dàng như vậy
sao? Chẳng có chuyện may mắn đâu nhé!
Để thành Phật,
phải phá Trần Sa phiền não, phải đoạn Vô Minh
phiền não. Nói cách khác, bất luận quý vị dùng công phu
gì, bất luận tu học pháp môn nào, nếu chẳng
đoạn phiền não, chắc chắn là chẳng thể
chứng quả. Nếu có kẻ nào bảo “chẳng đoạn
phiền não, vẫn có thể chứng quả”, đó là gạt
người, chẳng có lẽ ấy! Chẳng đoạn
phiền não, vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế
giới, đó gọi là “đới
nghiệp vãng sanh”. Pháp môn này cũng nói rành mạch: Chỉ
mang theo nghiệp cũ, chẳng mang theo nghiệp hiện
hành. Đừng nghĩ [đã là] đới nghiệp vãng
sanh, [vậy thì] cứ liều mạng tạo nghiệp, chẳng
sao hết, trong tương lai vẫn có thể vãng sanh.
[Nghĩ như vậy], quý vị đã lầm lẫn quá
đỗi. Mang theo nghiệp cũ, chẳng phải là mang
theo nghiệp mới. “Đới”
(帶) là mang theo nghiệp quá khứ, chẳng thể mang
theo nghiệp hiện tại, như vậy thì mới có thể
vãng sanh. Người niệm Phật đông đảo,
người vãng sanh ít ỏi, vì sao họ chẳng thể vãng
sanh? Họ đã hiểu lầm “đới
nghiệp”, cứ nghĩ hiện tiền tạo nghiệp
vẫn có thể mang theo, sai mất rồi!
Chúng
ta tham Thiền, hoặc là học Giáo, hoặc là trì chú,
đều phải đoạn Kiến Tư phiền não thì
mới có thể thành tựu. Nay chúng ta hãy suy ngẫm, có thể
đoạn Kiến Tư phiền não hay không? Không chỉ
là đoạn, mà đè nén nó còn chẳng được, quý
vị còn có hy vọng thành tựu hay chăng? Mọi
người phải hiểu rõ lý này, biết chân tướng
sự thật, mới biết chuyện này thật khó! Đừng
nói là chúng ta gặp khó khăn, [ngay cả] A La Hán cũng gặp
khó khăn, Bồ Tát cũng khó khăn. Nói thật thà, ngay
như Văn Thù và Phổ Hiền Bồ Tát cũng đều
lắc đầu, khó lắm! Khó thì làm như thế nào? Niệm
A Di Đà Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới.
Vài hôm trước,
có người kể với tôi, đạo tràng nọ trong
quá khứ niệm A Di Đà Phật, nay chẳng niệm A
Di Đà Phật, đổi thành niệm Tỳ Lô Giá Na Phật.
Tôi nói: “Niệm Tỳ Lô Giá Na Phật cũng tốt! Thật
sự có thể đến chỗ Tỳ Lô Giá Na Phật, Văn
Thù và Phổ Hiền lại khuyên họ niệm A Di Đà Phật
cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ”. Vấn đề
là họ có thể đến chỗ Tỳ Lô Giá Na Phật
hay không? Đây là một vấn đề lớn. Hàng phục
phiền não chẳng được, quý vị còn mong đến
đó (đến thế giới Hoa Tạng của Tỳ
Lô Giá Na Phật) hay chăng? Phải thật sự đề
cao cảnh giác chuyện này. Sáng tối, khi thức dậy
vào buổi sáng, trước khi đi ngủ vào buổi tối,
hãy suy nghĩ cho nhiều: Thị phi, nhân ngã, tham, sân, si, mạn
của chúng ta, chẳng có thứ nào có thể buông xuống
được! Nói cách khác, ngay cả niệm Phật cầu
sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới mà còn có
chướng ngại, huống hồ [tu tập] những
pháp môn khác? Đó gọi là “tâm chẳng thanh tịnh”. Tâm tịnh,
ắt cõi nước tịnh. Nay chúng ta nói theo thực tại:
Mục tiêu bậc nhất, mục tiêu duy nhất của
chúng ta chỉ có mục tiêu này. Hễ có thể làm thông suốt
điều này, bèn cầu sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới, những điều khác đều chẳng
cần nghĩ tới! Đối với những điều
khác, quý vị nghĩ xem, nói thật thà, đều là vọng
tưởng! Nếu quý vị chẳng tin, hãy suy nghĩ cặn
kẽ: Quý vị có buông thị phi, nhân ngã xuống
được chưa? Tiếng tăm, lợi dưỡng,
quý vị có buông xuống hay không? Tham, sân, si, mạn, quý vị
đã buông xuống hay chưa? Nếu những thứ ấy
thảy đều chẳng buông xuống, chẳng phải
là quý vị đang si tưởng, đang dấy vọng
tưởng ư? Ngoại trừ thật thà niệm Phật,
còn có con đường nào để có thể đi
được nữa? Thật sự nghĩ thông suốt,
suy nghĩ rành rẽ, sẽ buông xuống vạn duyên.
Đó là thật sự nghĩ thông suốt, thật sự
nghĩ minh bạch.
Vào lúc tuổi già,
Liên Trì đại sư bảo: “Tam
Tạng mười hai bộ, nhường cho người
khác ngộ”, đã nghĩ thông suốt! Nghĩ thông suốt,
các pháp môn khác đều chẳng được, mà cũng
chẳng thể thành tựu, các vị muốn gì, bèn nhường
cho quý vị điều ấy. Lão nhân gia lúc tuổi già, một
câu A Di Đà Phật, một quyển kinh A Di Đà. Đấy
là người thật sự nghĩ thông suốt, thật
sự giác ngộ, Ngài mới làm như thế. Nếu còn
thấy phải học, phải tu những kinh luận, pháp
môn khác, tức là trong tâm còn so đo, người ấy vẫn
chưa nghĩ thông suốt, vẫn chưa hiểu rõ ràng. Nếu
người ấy thật sự hiểu rõ, thật sự
nghĩ thông suốt, nhất định sẽ giống
như Liên Trì đại sư, nhất định giống
như Văn Thù và Phổ Hiền. Vì thế, cầu sanh Tịnh
Độ là mục tiêu duy nhất của chúng ta. Sanh về
Tây Phương Cực Lạc thế giới bèn bảo
đảm! A Di Đà Phật là ông chủ lớn của
công ty bảo hiểm, [chúng ta] quyết định thành Phật
ngay trong một đời. “Thành
Phật” ở đây chính là thành một vị Phật
viên mãn rốt ráo, “tức thân
thành Phật” của Mật Tông chẳng thể sánh bằng!
Do vậy, một câu “Nam-mô A Di
Đà Phật” xác thực là “vô
thượng chú”, làm sao có thể coi thường cho
được?
(Diễn) Chứng
Vô Sanh Nhẫn, hồi nhập Sa Bà, phổ độ chúng
sanh, vô đẳng đẳng chú dã.
(演)證無生忍,回入娑婆,普度眾生,無等等咒也。
(Diễn: Chứng Vô Sanh Nhẫn, quay trở lại Sa Bà, phổ
độ chúng sanh, chính là chú không có gì sánh bằng).
“Vô đẳng đẳng”, thưa
cùng chư vị, chính là vô thượng của vô thượng.
“Vô thượng” thì há còn có
gì hòng sánh bằng nó ư? Chẳng có gì có thể sánh bằng
nó thì mới là vô thượng của vô thượng. Chẳng
có gì bình đẳng với nó, chẳng có gì ngang hàng với
nó. Vì sao? “Chứng Vô Sanh Nhẫn”.
Khi nào sẽ chứng Vô Sanh Nhẫn? Sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới bèn chứng Vô
Sanh Nhẫn, trong tất cả hết thảy các kinh luận
và pháp môn đều chẳng có điều này. Vì chiếu
theo pháp môn và kinh luận bình thường để nói, Vô
Sanh Nhẫn [tối thiểu] là sở chứng của Thất
Địa Bồ Tát, [hay nói chi tiết hơn] sẽ là [sở
chứng của] Thất Địa, Bát Địa, và Cửu
Địa. Thất Địa Bồ Tát là hạ phẩm Vô
Sanh Nhẫn, Bát Địa là trung phẩm, Cửu Địa
là thượng phẩm. Lên cao hơn nữa là Tịch Diệt
Nhẫn. Thập Địa Bồ Tát là hạ phẩm Tịch
Diệt, Đẳng Giác Bồ Tát là trung phẩm, Phật
là thượng phẩm. Vì sao chúng ta hễ được
sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới bèn
là Vô Sanh Nhẫn Bồ Tát? Kinh Di Đà có nói, mà kinh Vô Lượng
Thọ cũng là nói như thế. Sanh về thế giới
Tây Phương chính là A Bệ Bạt Trí Bồ Tát. A Bệ
Bạt Trí là Vô Sanh Nhẫn Bồ Tát. Đây chẳng phải
là do chúng ta tu được, mà là do bổn nguyện và oai
thần của A Di Đà Phật gia trì quý vị, khiến
cho quý vị tới Tây Phương Cực Lạc thế
giới, thần thông, đạo lực và trí huệ của
quý vị bằng với Thất Địa Bồ Tát; do Phật
lực gia trì, chẳng phải là chính mình có! Chẳng phải
do chính mình tu được, điều này chẳng dễ
hiểu!
Ví như quý vị
tốt số, đầu thai vào gia đình phú quý, cha quý vị
đại phú, đại quý. Khi quý vị đi học,
chính mình chẳng kiếm ra tiền, nhưng hoàn cảnh sống
tốt đẹp nhất, ra khỏi cửa đi xe tốt
nhất. Những thứ đó là của bố quý vị, chẳng
phải là của quý vị, có ý nghĩa như thế
đó. Chúng ta tới cõi ấy, tất cả hết thảy
sự hưởng thụ đều là hưởng thụ
từ A Di Đà Phật, có ý nghĩa như thế ấy! Đợi
đến khi chính mình đã đoạn Kiến Tư phiền
não, đoạn Trần Sa Hoặc, đoạn Vô Minh, vô minh
còn phải đoạn hơn ba mươi phẩm, [lần
lượt chứng đắc các địa vị] Thập
Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng. Khi
đã đạt đến Thất Địa, tức là
đã đoạn ba mươi bảy phẩm vô minh, khi ấy,
[sự hưởng thụ] là của chính quý vị. Khi quý
vị chưa đạt đến mức độ ấy,
[hết thảy thọ dụng trong Tây Phương Cực
Lạc thế giới] là do Phật lực gia trì. Cũng
giống như khi chính bản thân quý vị đã có năng
lực, làm việc trong xã hội, cũng có thể kiếm
tiền, hết thảy những gì quý vị thọ dụng
là của chính mình, chẳng phải dựa dẫm vào cha nữa!
Khi quý vị chẳng có năng lực ấy, hoàn toàn dựa
dẫm cha, bèn có lợi ích như thế đó. Trong các thế
giới chư Phật khác, chẳng có sự tốt đẹp
này. Do vậy, [nếu ở trong các thế giới khác], quý
vị đang trong giai đoạn tu học sẽ rất
khổ sở, chẳng thể hưởng thụ tốt
đẹp dường ấy! Vì vậy, sự thù thắng
của thế giới Tây Phương chẳng có bất cứ
thế giới Phật nào có thể sánh bằng! Chúng ta ắt
phải hiểu điều này thì tín tâm của chúng ta mới
thanh tịnh, mới kiên định, nguyện lực mới
thật sự khẩn thiết. Chẳng thể không đến
cõi ấy! Đây là nói đến sự
thù thắng trong Tây Phương Cực Lạc thế giới,
đồng thời đều đạt được,
đạt được ngay trong một đời!
“Hồi nhập Sa Bà”: Chúng sanh
trong thế giới này sở dĩ chẳng thể thoát khỏi tam
giới là do tình quá nặng, bị tình làm hại. Tình nặng
nề, chẳng thể liễu sanh tử, chẳng thể
thoát khỏi tam giới. Đã xuất gia mà vẫn còn
vương vấn tục gia, đó là sai lầm lớn nhất!
Những nỗi vướng mắc, lo âu ấy đều
là “dấy vọng tưởng”.
Đối với thân nhân, đối với con cháu của
quý vị, quý vị có thể giúp đỡ hay không? Giúp chẳng
được, chỉ lo lắng suông! Thật sự mong giúp
đỡ họ, hãy bảo họ thật thà niệm Phật
cầu sanh Tịnh Độ. Thật sự thật thà niệm
Phật cầu sanh Tịnh Độ, người ta vừa
thấy bèn nói: “Đó là quyến thuộc của Bồ Tát”.
Chư Phật hộ niệm, long thiên
thiện thần chiếu cố, còn chu đáo hơn chính
mình chiếu cố! Há có quyến thuộc của Bồ Tát
chẳng được hộ pháp thiện thần chiếu
cố? Chẳng có chuyện ấy! Đó là thật sự chiếu
cố. [Chính mình] chẳng chiếu cố [người thân]
mà thật ra có khá nhiều Phật, Bồ Tát, thiện thần
chiếu cố. Bản thân chúng ta một lòng một dạ
nghĩ tới họ (người nhà, quyến thuộc), Phật,
Bồ Tát cũng chẳng chiếu cố, mà thiện thần
cũng chẳng chiếu cố. Không chỉ là chẳng chiếu
cố họ, mà ngay cả bản thân ta cũng chẳng có
ai chiếu cố. Đó mới là thua thiệt to tát! Kẻ
ngu trong thế gian rất nhiều, chẳng hiểu chân
tướng sự thật này, thật sự đáng
thương!
Tới Tây
Phương Cực Lạc thế giới, được
sự gia trì thù thắng khôn sánh của A Di Đà Phật,
quý vị có thể lập tức trở lại thế giới
Sa Bà; khi đó, quý vị có thể chiếu cố người
nhà, quyến thuộc. “Hồi
nhập Sa Bà”, câu này nhằm đặc biệt nói với
những chúng sanh nặng tình với thế giới Sa Bà. Thật
ra, đến Tây Phương Cực Lạc thế giới,
quý vị tâm khai ý giải, tức là “đại triệt đại ngộ” như Thiền
Tông thường nói, tâm lượng sẽ khác hẳn hiện
tại. Tầm nhìn mở rộng đến hư không pháp
giới, nguyên lai, trong mười phương thế giới
có khá nhiều người nhà, quyến thuộc của ta,
chẳng phải [chỉ vỏn vẹn] mấy người
ở chỗ này, quý vị có thể đồng thời
giúp đỡ họ.
“Hồi nhập Sa Bà”: Trở về thì có lìa khỏi A Di
Đà Phật hay không? Chẳng lìa khỏi! A Di Đà Phật
ở ngay cạnh quý vị. Thế giới Sa Bà cũng có quý
vị, quý vị hóa thân tới đó. Đến thế giới
Tây Phương bèn có năng lực hóa thân trăm ngàn ức
giống như Thích Ca Mâu Ni Phật, tự tại lắm!
Trong mười phương thế giới, đối với
những người quý vị quen biết, có quan hệ, hoặc
là người nhà, quyến thuộc của quý vị, quý vị
đều có thể hóa ra vô lượng vô biên thân, đáng nên
dùng thân gì để đắc độ [bèn hiện thân ấy],
giống hệt như Quán Thế Âm Bồ Tát “phổ độ chúng sanh”. Do
vậy, câu danh hiệu này là “vô
đẳng đẳng chú”, quý vị phải nên tin
tưởng. Vì lẽ đó, danh hiệu có công đức chẳng
thể nghĩ bàn. Sau khi chúng ta đọc đoạn này, mới
hiểu: Đúng là chẳng thể nghĩ bàn!
(Sao)
Vấn: Chuẩn Đề công đức chí quảng, chí
đại, như hà đản trì Phật danh nhi năng thắng
bỉ?
(鈔)問:準提功德至廣至大,如何但持佛名而能勝彼。
(Sao: Chú Chuẩn Đề
có công đức tột bậc rộng lớn, cớ sao
chỉ trì danh hiệu Phật mà có thể trỗi vượt
chú ấy?)
Tại
Trung Hoa, từ xưa tới nay, người trì chú Chuẩn
Đề rất đông. Quý vị thấy thiền sư
Vân Cốc dạy cư sĩ Liễu Phàm, chẳng dạy
ông ta niệm Phật, mà dạy ông ta niệm chú Chuẩn
Đề. Nêu ra một câu hỏi như thế, vì sao danh
hiệu cũng có thể trỗi vượt thần chú Chuẩn
Đề?
(Sao)
Đáp: Chuẩn Đề nhân địa Bồ Tát, Di
Đà quả vị Như Lai, trì Chuẩn Đề ký hữu
thần công, niệm Di Đà ninh vô diệu ứng?
(鈔)答:準提因地菩薩,彌陀果位如來,持準提既有神功,念彌陀寧無妙應。
(Sao:
Đáp: Chuẩn Đề là Bồ Tát còn đang tu nhân, Di
Đà là quả vị Như Lai. Trì chú Chuẩn Đề
đã có công đức thần diệu, há lẽ nào Di
Đà chẳng có cảm ứng mầu nhiệm?)
Lời
đáp rất hay. Chuẩn Đề Bồ Tát[16]
thuộc về Mật Tông. Chuẩn Đề Bồ Tát
trong Mật Tông là hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát, là Bồ
Tát còn đang tu nhân, chẳng phải là quả địa
Phật.
(Sao)
Thị cố kinh vân: Trì lục thập nhị ức hằng
hà sa Bồ Tát danh hiệu, bất như nhất xưng
Quán Thế Âm Bồ Tát, kỳ phước chánh đẳng.
(鈔)是故經云:持六十二億恆河沙菩薩名號,不如一稱觀世音菩薩,其福正等。
(Sao:
Vì thế, kinh nói: “Trì danh hiệu của sáu mươi hai ức
hằng hà sa Bồ Tát, chẳng bằng xưng danh hiệu
Quán Thế Âm một tiếng, hai phước ấy như
nhau”).
Danh
hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát chẳng thể nghĩ bàn.
Niệm một câu Quán Thế Âm bằng niệm danh hiệu
của sáu mươi hai ức hằng hà sa các vị Bồ
Tát bình phàm.
(Sao)
Hựu vân: Trì vô lượng vô số Quán Thế Âm Bồ
Tát danh hiệu, bất như nhất xưng Địa Tạng
Bồ Tát, kỳ phước chánh đẳng, huống Như
Lai hồ?
(鈔)又云:持無量無數觀世音菩薩名號,不如一稱地藏菩薩,其福正等,況如來乎。
(Sao:
Lại nói: “Trì vô lượng vô số danh hiệu Quán Thế
Âm Bồ Tát, chẳng bằng niệm một tiếng Địa
Tạng Bồ Tát, hai phước ấy bằng nhau”, huống
hồ [xưng danh] Như Lai ư?)
Quý
vị niệm A Di Đà Phật thì danh hiệu của mười
phương ba đời hết thảy chư Phật và
danh hiệu của hết thảy Bồ Tát đều
được bao gồm trọn hết, chẳng cần
dấy vọng tưởng nữa! Niệm một danh hiệu
này chính là [tất cả các danh hiệu] thảy đều
niệm hết, chẳng sót một [danh hiệu] nào! Quý vị
niệm danh hiệu khác thì niệm danh hiệu này, bèn sót
danh hiệu kia, bỏ sót quá ư là nhiều! Vì thế,
đấy mới là thật sự hiểu rõ danh hiệu
có công đức chẳng thể nghĩ bàn. Chúng ta gặp
gỡ pháp môn này, biết chân tướng sự thật
này, đó gọi là thật sự “đáng mừng rỡ”.
Đoạn
thứ ba tiếp theo đây là “trì
danh hiệu A Di Đà Phật vượt trỗi hết thảy
các pháp môn khác”. Hôm nay, tôi giảng tới chỗ này.
Tập
289
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang sáu trăm mười một.
(Sao)
Tam, diệc thắng chư dư công đức giả, lục
độ vạn hạnh, pháp môn vô lượng, nhi chuyên
trì danh hiệu, tắc chủng chủng công đức, nhiếp
vô bất tận, dĩ bất xuất nhất tâm cố,
như tiền văn trung quảng thuyết.
(鈔)三、亦勝諸餘功德者,六度萬行,法門無量,而專持名號,則種種功德,攝無不盡,以不出一心故,如前文中廣說。
(Sao: Ba, cũng thù thắng
hơn các công đức khác. Lục Độ, vạn hạnh,
pháp môn vô lượng, nhưng chuyên trì danh hiệu thì các thứ
công đức đều được nhiếp trọn
chẳng hết, do chẳng ra ngoài nhất tâm, như trong
phần kinh văn trước đã nói rộng rãi).
Đây
là Liên Trì đại sư đã chỉ ra cho chúng ta biết
chỗ thù thắng chẳng sánh bằng thứ ba của
pháp môn Niệm Phật. Trong phần trước đã nói:
Điều thù thắng thứ nhất là niệm Phật thù
thắng hơn trì chú Vãng Sanh; điều thù thắng thứ
hai là nói rõ niệm Phật còn thù thắng hơn trì hết
thảy các thần chú, tức là hết thảy các thần
chú đều chẳng sánh bằng [danh hiệu Phật]. Nay
trong đoạn thứ ba này, đại sư dạy chúng
ta: Danh hiệu A Di Đà Phật siêu thắng vô lượng
vô biên pháp môn. Không chỉ là các loại pháp môn do Bổn
Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đã nói trong bốn mươi
chín năm đều chẳng sánh bằng công đức và
lợi ích của một câu thánh hiệu A Di Đà Phật,
mà cho đến vô lượng vô biên pháp môn do mười
phương ba đời hết thảy chư Phật Như
Lai đã vì hết thảy chúng sanh tuyên thuyết cũng chẳng
thể vượt ra ngoài sáu chữ hồng danh này. Vì thế,
một câu Phật hiệu thật sự là pháp môn đại
tổng trì của hết thảy chư Phật trong tận
hư không khắp pháp giới. Khi chúng ta đã [học tập]
viên mãn Di Đà Sớ Sao, [do Sớ Sao] đã hiển thị
công đức của danh hiệu chẳng còn sót, thật sự
giãi bày trọn hết, chúng ta mới nhận biết pháp
môn này rõ ràng, mới thật sự hiểu
lợi ích do trì danh niệm Phật.
“Lục độ vạn hạnh,
pháp môn vô lượng”, hai câu này bao quát trọn hết tất
cả hết thảy các pháp môn, Đại Thừa bao gồm
Tiểu Thừa. Lục Độ là tổng cương
lãnh của toàn thể pháp Đại Thừa. “Pháp môn vô lượng”, vô
lượng vô biên pháp môn, Lục Độ vạn hạnh
của Bồ Tát bao gồm trọn hết. “Chuyên trì danh hiệu”,
“danh hiệu” là nói về danh tự A Di Đà Phật. Hãy chú trọng
một chữ Chuyên, chữ này hết sức trọng yếu.
Nay chúng ta chẳng đạt được các thứ lợi
ích và công đức của Niệm Phật, vấn đề
là đối với chữ Chuyên, chúng ta làm chẳng đủ,
thậm chí còn chưa hề làm! Chỉ cần lắng lòng
phản tỉnh một phen, sẽ biết điều này,
[sẽ nhận thấy: Chẳng đạt được
lợi ích và công đức do trì danh] cũng là do “xen tạp” như Giác Minh Diệu
Hạnh Bồ Tát đã nói. Chúng ta niệm Phật xen tạp
quá nhiều thứ, xen tạp vô lượng vô biên pháp thế
gian. Vướng mắc, bận tâm là xen tạp, còn xen tạp
khá nhiều Phật pháp! Vì thế, công đức và lợi
ích của việc trì danh chẳng thể hiển lộ
được!
Nếu chúng ta có thể chuyên, bỏ sạch hết thảy
các pháp thế gian và xuất thế gian, chuyên trì danh hiệu,
công đức và lợi ích ấy sẽ hết sức rõ rệt.
Lại còn trong một thời gian rất ngắn, đã thấy
hiệu quả. Ngắn đến mức độ nào? Trong
kinh này, đức Phật đã nói: “Hoặc một ngày, hoặc hai ngày”, tối đa
là bảy ngày liền thấy hiệu quả. Nếu quý vị
hỏi: “Thật ư? Có thể ư?” Xác thực là thật,
xác thực là có thể. Từ Tịnh Độ Thánh Hiền
Lục và Vãng Sanh Truyện, chúng ta đã thấy những
tấm gương như vậy, đã thấy sự thật
ấy. Chúng ta chớ nên không hiểu rõ, chớ nên không phản
tỉnh sâu xa, vì “xen tạp” và “chẳng chuyên” đã gây tổn
hại quá nghiêm trọng.
Từ vô lượng
kiếp đến nay, chúng ta luân hồi sanh tử trong lục
đạo, chẳng thể thoát lìa. Trong cái nhìn của chư
Phật, Bồ Tát, chúng ta thật sự đáng gọi là “kẻ đáng thương xót”,
mê mẩn trong tam giới lục đạo. Tam giới lục
đạo giống như mê cung, đích xác là thời thời
khắc khắc mong thoát ra, nhưng chẳng tìm thấy cửa
nẻo hoặc đường lối, vĩnh viễn xoay
chuyển trong ấy. Tuy đức Phật đã nói rõ ràng,
nói minh bạch, nếu quý vị mong thoát ra, hãy là “một môn, chuyên tinh”. Chúng ta
nghe lời này đã nhiều, cũng thấy quá nhiều,
nhưng chưa hề thực hiện! Nghe nhiều, xem nhiều,
mà vẫn giống y hệt như cũ, chẳng khởi
tác dụng, chính mình nhất định phải nghiêm túc thực
hiện!
Vào
thời cổ, chúng ta thấy những gương rõ rệt
nhất, trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục và Vãng Sanh
Truyện đều có ghi chép [những tấm gương ấy].
Pháp sư Oánh Kha đời Tống niệm Phật ba ngày
bèn vãng sanh, “nhược nhất nhật, nhược nhị nhật, nhược tam nhật”, chẳng sai! Ba ngày bèn thành công, có thể thấy
kinh nói “từ một ngày cho
đến bảy ngày” chẳng phải là gạt người.
Đó là thật sự buông xuống, triệt để buông
xuống, nhất tâm chuyên niệm. Thông thường, kẻ
bình phàm niệm Phật, từ truyện ký, chúng ta thấy
từ nửa năm đến ba năm đại khái
đều thành tựu. Vì vậy, trong quá khứ, đã từng
có người hỏi tôi, vì họ đọc Vãng Sanh Truyện,
[nhận thấy] những người niệm Phật nói
chung là niệm ba năm đều vãng sanh, bèn nói: “Cớ
sao lại khéo phù hợp như vậy? Chẳng lẽ là họ
niệm Phật ba năm, thọ mạng đã hết
ư?” Chẳng thể nào có chuyện phù hợp vừa khéo
như vậy được! [Họ chất vấn]: “Chẳng
có chuyện phù hợp khéo léo như vậy, cớ sao niệm
ba năm đều vãng sanh cả rồi?” [Thật ra], do
ba năm công phu đã thành tựu, những người ấy
có thể vãng sanh. Họ cũng có thể chẳng vãng sanh
[ngay lập tức như thế], chúng ta nghĩ: “Hễ có
thể chưa vãng sanh, bèn chẳng ra đi”. Người ta
là hễ có thể vãng sanh, bèn vãng sanh ngay lập tức. Vì
sao? Hai thế giới chẳng thể sánh tầy! [Đối
với người thật sự niệm Phật], chẳng
thể vãng sanh thì đành chịu, chứ thật sự có
cách đi gặp Phật [lẽ nào bỏ lỡ cơ hội].
Đối với sự thù thắng trang nghiêm do sanh về
thế giới Cực Lạc, chẳng cần nói chi khác,
chỉ nói một chuyện thôi: Tới Tây Phương Cực
Lạc thế giới, quý vị có năng lực trăm
ngàn ức hóa thân, tự tại lắm! Quý vị có năng
lực ấy. Do vậy, người ta công phu thành tựu
bèn đi ngay lập tức, chẳng muốn trì hoãn thêm một
giờ, một khắc nào trong thế giới này!
Phàm những kẻ
vẫn chẳng muốn ra đi cho lắm, [nguyên do là vì] vẫn
mê hoặc, điên đảo y hệt như cũ, không nỡ
lìa khỏi hoàn cảnh xấu ác này, vẫn muốn ở
trong cái vò nhuộm để được nhuộm màu
thêm vài ngày nữa! Đó là tình huống thật sự của
người niệm Phật có công phu xác thực thành tựu.
Đã thành tựu mà vẫn chưa ra đi, vẫn ở lại
trong thế gian này, đó là do bi tâm đặc biệt của
người ấy. Vì sao có thể vãng sanh mà chưa vãng
sanh? Người ấy phải ở lại đây để
độ chúng sanh, giúp đỡ người khác, tiếp
dẫn đại chúng. Nhưng tiếp dẫn đại
chúng thì phải có duyên, có người thành tựu nào mà chẳng
có tâm từ bi? Người đã thành tựu, chính mình có thể
vãng sanh, cớ sao chẳng mang thêm mấy người
đi vãng sanh? Do chẳng có duyên! Duyên là gì? Tôi khuyên quý vị,
quý vị chịu nghe, đó là “có duyên”. Tôi khuyên quý vị, quý
vị không tin tưởng, tức là chẳng có duyên. Chẳng
có duyên thì vãng sanh, chẳng có lý do gì để ở trong thế
gian này nữa! Hễ có duyên, người ấy có lý do
để ở trong thế gian này thêm mấy năm nữa.
Có duyên thì nhất định phải ở lâu hơn. Chẳng
có duyên, bèn sớm có ngày gặp Phật, bèn sớm có ngày
đến thế giới Tây Phương, thân cận A Di
Đà Phật.
Do
vậy, hễ chuyên thì chuyên tinh sẽ có lợi ích chẳng
thể nghĩ bàn. Chúng ta chẳng thể chuyên, tức là chẳng
triệt để buông xuống. Chẳng thể triệt
để buông xuống là vì còn chưa thể thấy thấu
suốt. Nói cách khác, còn chưa hiểu rõ tình huống
nơi hai thế giới. Nếu chúng ta hiểu triệt
để, rành mạch thế giới Tây Phương và thế
giới Sa Bà, sẽ khác hẳn. Triệt để hiểu
rõ, quyết định chẳng nhiễm hết thảy
các pháp thế gian và xuất thế gian. Vì sao? Quý vị đã
hoàn toàn chứng thực lời đức Phật dạy
trong kinh Kim Cang. Đức Phật nói: “Phàm những gì có hình tướng đều là hư
vọng”, “hết thảy
pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng”. Quý
vị còn có gì chẳng thể buông xuống? Hai câu ấy
không chỉ là nói về pháp thế gian, Phật pháp cũng
là hư vọng! Kinh Kim Cang chẳng nói: “Phàm tất cả pháp đều là hư vọng, ngoại
trừ Phật pháp”, chẳng nói kiểu ấy. Hết
thảy Phật pháp do đức Phật đã giảng
trong thế gian cũng là pháp hữu vi. Vì thế, pháp thế
gian và xuất thế gian thảy đều phải buông xuống.
Sau khi đã buông xuống, chân tâm hiển lộ. Hễ còn mảy
may chưa thể buông xuống, sẽ là chướng ngại,
toàn là phiền phức. Chướng ngại gì vậy?
Chướng ngại tự tánh, chướng ngại bổn
tâm. Học Phật thì mục đích cuối cùng và nguyện
vọng lớn nhất là thành Phật. Thành Phật là gì? Minh
tâm kiến tánh, tâm tánh hiển lộ viên mãn thì là Phật, là
vị Phật rốt ráo viên mãn, hiển lộ viên mãn rốt
ráo, trong ấy chẳng có mảy may chướng ngại!
Đại Thừa
Phật pháp thường nói: “Chỉ
cần trừ vọng, chẳng cần cầu chân”. Ý niệm
cầu Chân vẫn là vọng niệm, cho nên chẳng cần
cầu. Chúng ta cầu sanh Tịnh
Độ, đó là nguyện. Trong công phu hằng ngày, chúng
ta chẳng có ý niệm này, thật thà niệm một câu Phật
hiệu đến cùng, vì sao quý vị niệm? Niệm
để cầu sanh Tịnh Độ! Đừng nên vừa
niệm, vừa mong cầu sanh Tịnh Độ. Vừa
niệm vừa có chướng ngại trong ấy, cái tâm đó
rất khó thanh tịnh. Chúng ta nói là công phu rất khó thành
phiến, chẳng dễ gì đắc nhất tâm bất loạn.
Do vậy, phải phân biệt rành rẽ giữa Nguyện
và Cầu. Có nguyện, chẳng có cầu, tâm bèn thanh tịnh.
Trong Đại Thừa, bốn mươi tám nguyện của
A Di Đà Phật và nguyện của hết thảy chư
Phật, Bồ Tát thường được quy nạp
thành Tứ Hoằng Thệ Nguyện. Tứ Hoằng Thệ
Nguyện là tổng nguyện, là cương lãnh trong đại
nguyện của chư Phật, Bồ Tát. Có nguyện, chớ
nên có cầu, như vậy thì mới có thể thật sự
thực hiện lời Phổ Hiền Bồ Tát đã dạy:
“Hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ
công đức”. Hằng thuận và tùy hỷ đều
là tâm thanh tịnh, tùy duyên chứ chẳng phan duyên. Phan duyên
là đã khởi tâm động niệm. Tùy duyên thì chẳng
khởi tâm, không động niệm, tự nhiên thành tựu.
“Chủng chủng công đức,
nhiếp vô bất tận” (Các thứ
công đức nhiếp trọn chẳng sót): Các thứ công
đức, không chỉ là công đức của vô lượng
các pháp môn do Thích Ca Mâu Ni Phật đã nói. Trên thực tế,
nó bao gồm công đức của hết thảy chư Phật
Như Lai. Vì sao? “Dĩ bất
xuất nhất tâm cố” (Do chẳng ra ngoài nhất
tâm). Câu này có ý nghĩa rất sâu, lại rất chân thật.
Do vậy, mọi người đừng nghĩ: Công đức
tu học của chính mình quá ít, đến ngày nào thì mới
có thể thành tựu? Thật vậy! Nếu chúng ta đắc
nhất tâm, công đức của quý vị là vô lượng
vô biên. Vì sao là vô lượng vô biên? Hết thảy chư Phật
Như Lai là nhất tâm, quý vị
cũng là nhất tâm. Tâm quý vị và tâm hết thảy
chư Phật là một cái tâm, quyết định chẳng
có phân biệt, chẳng có giới hạn. Quý vị ngẫm
xem: Công đức do hết thảy chư Phật
đã tu từ vô lượng kiếp đến nay đều
biến thành công đức của chính mình. Chuyện là
như vậy đó!
Nhưng quý vị
phải biết, nếu quý vị đã mê, mê đến rốt
cùng, tâm của kẻ mê và tâm ta là cùng một cái tâm, tất
cả tội nghiệp do kẻ mê gây tạo đều biến
thành tội nghiệp của ta.
Trong
tất cả hết thảy các pháp, quý vị có thể chọn
lựa pháp môn Niệm Phật, trong hết thảy các kinh,
quý vị chọn lựa kinh A Di Đà. Đó là thật sự
giác ngộ, triệt để giác ngộ, rốt ráo giác ngộ,
chư Phật Như Lai đều tán thán. Nếu quý vị
chẳng tin, hãy xem kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật. Phu
nhân Vi Đề Hy ở trong thế gian này hứng chịu
khổ sở, gặp phải tai nạn, mong cầu giải
thoát, cầu cứu Thích Ca Mâu Ni Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật
chẳng dạy bà ta, chỉ đem tình trạng trong hết
thảy các cõi Phật triển hiện cho bà ta trông thấy,
giống như chúng ta xem TV trong hiện thời vậy.
Đức Phật dùng thần lực, biến hiện các
cõi Phật trước mặt để bà ta có thể trông
thấy. Sau khi đã xem trọn hết, bà ta chọn lựa
thế giới Cực Lạc, Thích Ca Mâu Ni Phật hoan hỷ,
vui mừng, bà chọn chẳng sai tí nào! Một vị Phật
hoan hỷ, hết thảy chư Phật đều hoan hỷ.
Một vị Phật đã tán thán, hết thảy chư
Phật đều tán thán, đã chọn lựa đúng rồi!
Một niệm giác thật sự chẳng thể nghĩ
bàn, thật sự tuyệt diệu. Vì đã luân hồi vô
lượng kiếp, đời này quý vị đã chọn
đúng pháp môn, quyết định vượt thoát. Lại
còn thành Phật viên mãn ngay trong một đời, khó có ngần
ấy, thù thắng ngần ấy! Bất cứ pháp môn nào,
dẫu quý vị chọn một pháp môn mà quý vị có đủ
năng lực để tu học, chẳng thể thành Phật
ngay trong một đời.
Mật Tông nói “nhất sanh thành Phật”
(thành Phật ngay trong thân này) chính là thành Tạng Giáo Phật.
Năng lực của vị Phật ấy chẳng khác A
La Hán cho mấy! Mọi người đọc Ấn Quang Đại
Sư Văn Sao, [sẽ thấy] Ấn Quang đại sư đã
giảng rất rõ ràng. Tổ Ấn Quang là Tây Phương Đại
Thế Chí Bồ Tát hóa thân, lời lão nhân gia nói chính là lời
Đại Thế Chí Bồ Tát nói. Đại Thế Chí Bồ
Tát là Tịnh Tông Sơ Tổ. Chúng ta đọc Đại
Thế Chí Bồ Tát Viên Thông Chương của kinh Lăng
Nghiêm, [sẽ thấy] Ngài thật sự chuyên, chuyên tới
cùng cực. Từ sơ phát tâm mãi cho đến khi thành Phật,
Ngài dùng phương pháp gì? Chính là một câu A Di Đà Phật,
chuyên đến mức cùng cực. Chúng ta còn phải niệm
kinh A Di Đà, Ngài thì ngay cả kinh A Di Đà cũng chẳng
cần, chỉ là một câu A Di Đà Phật, từ sơ
phát tâm cho đến khi thành Vô Thượng Đạo. Sau
khi đã thành Vô Thượng Đạo, đến mười
phương thế giới giáo hóa chúng sanh, Ngài vẫn dùng pháp
môn này để tự hành, hóa độ người khác, vĩnh
viễn không thay đổi! Từ hết thảy các kinh,
chúng ta đã thấy: Lão nhân gia xác thực đúng là bậc
nhất. Chuyện này đáng để chúng ta học tập
theo, đáng cho chúng ta bắt chước. Chúng ta gặp gỡ
bậc thiện tri thức như vậy mà nếu vẫn
chẳng tin tưởng, đúng là ngu si đến cùng cực,
đúng là Nhất Xiển Đề như kinh đã nói. Nhất
Xiển Đề là chẳng có thiện căn. Gặp gỡ
bậc đại thiện tri thức như vậy mà vẫn
chẳng thể tin nhận, phụng hành!
Do
đó, phải hiểu: Ở đây, đã nêu ra lý thuyết
căn bản, [tức là] nhất tâm! Nhất tâm bao hàm
nghĩa lý sâu rộng vô tận. Chúng ta và Phật có cùng một
tâm; chúng ta cùng hết thảy chúng sanh là một tâm. Chúng ta
và địa ngục A Tỳ cũng là một tâm. Nhân,
duyên, quả của mười pháp giới chẳng có thứ
gì không trọn đủ. Quả báo nào sẽ dấy lên hiện
hành, xác thực là chẳng phải do người khác quyết
định, mà là do chính mình. Tùy thuộc chính quý vị chọn
lựa như thế nào. Sự chọn lựa ấy là
duyên, nhân bèn được viên mãn. Ở đây, đại
sư chẳng nói cặn kẽ ý nghĩa này, nhưng trong
các phần trước đã nói quá nhiều.
Hôm nay chúng tôi hết
sức hoan hỷ, Sớ Sao giảng lần này là lần thứ
ba. Chúng tôi bắt đầu giảng từ năm Dân Quốc
73 (1984), năm nay là năm Dân Quốc 83 (1994) mới viên
mãn. Nói thật ra, hoàn toàn chẳng phải là thật sự
giảng Sớ Sao mất mười năm, mà là trong
mười năm ấy, cứ gián đoạn rồi lại
tiếp tục. Thời gian chúng tôi ở trong nước rất
ít, thời gian ở ngoại quốc rất dài. Trong thời
gian ấy, chúng tôi đã giảng xen lẫn kinh Vô Lượng
Thọ, Quán Kinh, giảng những kinh luận khác, cuối
cùng đến hôm nay, chúng tôi giảng Sớ Sao lần thứ
ba viên mãn. Tuy nửa bộ sau chẳng nói cặn kẽ, nếu
giảng cặn kẽ, tôi nghĩ có thể giảng đến
bốn trăm buổi, nay chúng tôi thấy là hai trăm tám
mươi chín buổi giảng, tốt lắm! Giảng lần
thứ hai, chúng tôi có băng thâu âm, giảng tới ba
trăm ba mươi sáu lượt. Lần thứ ba, đối
với nửa bộ sau, tuy chẳng nói cặn kẽ,
nhưng kinh nghĩa và tinh hoa đều được nêu
ra. Người hiện thời thích tinh giản, chẳng
thích rườm rà, cho nên cũng hết sức phù hợp
nguyện vọng của mọi người, càng tinh giản
càng tốt. Chúng tôi rút gọn thời gian, toàn bộ trọng
điểm yếu nghĩa của kinh đều nắm
được, đều giữ vững. Trong đoạn
khai thị tiếp theo, chúng ta đọc xong, chẳng có ai
không cảm động. Liên Trì đại sư đặt
niềm kỳ vọng nơi chúng ta, rát miệng buốt
lòng khuyên dạy, có thể nào chẳng cảm kích ư?
(Sao)
Nguyện tịnh nghiệp đệ tử, chuyên kỳ
tín, bất nhị kỳ tâm.
(鈔)願淨業弟子,專其信,不二其心。
(Sao:
Nguyện hàng đệ tử tu tập Tịnh Nghiệp,
hãy chuyên nhất tín tâm, chớ có hai lòng).
Tu
Tịnh nghiệp có thể thành tựu trong một đời
hay không; đây là then chốt: Phải “chuyên kỳ tín” (lòng tin chuyên nhất), chớ nên
tam tâm nhị ý. Có thể chuyên tín, chuyên nguyện, tự
nhiên buông xuống vạn duyên. Sáng nay, có một vài vị
lão bằng hữu đến gặp tôi, hỏi tôi có viết
nhật ký hay không, hỏi tôi có đem sự tích tu học
và hoằng pháp ghi lại hay chăng, để trong
tương lai lưu lại một bộ truyện ký cho
người đời sau. Tôi bảo họ: Tôi chẳng có
nhật ký, mà cũng chẳng có bút ký. Bất cứ khi nào
giảng kinh, giảng xong đều chẳng biết đến
nữa. Không chỉ là giảng kinh xong bèn chẳng biết,
mà tôi bước xuống bục giảng, cũng không biết
là trong một tiếng rưỡi trên bục giảng
đã nói những gì! Nhớ những thứ ấy để
làm gì? “Phàm những gì có hình tướng
đều là hư vọng”, những thứ hư vọng
mà còn phải nghiêm túc ghi lại, chúng ta mong đạt công
phu thành phiến sẽ khó lắm! Nhưng người thế
gian ưa chuộng chuyện này! Do ưa thích chuyện này,
nên chẳng ra khỏi tam giới, chẳng vượt thoát
luân hồi, chỗ nào cũng chấp trước, mong mỏi
biểu hiện thành tích. Chúng ta có thành tích nào? Trong tâm thứ
gì cũng đều chẳng có, đó là thành tích. Tâm tịnh,
ắt cõi nước tịnh, tâm địa sạch làu.
Đó là thành tích. Nay tôi nghe nói có chẳng ít người chép
lại băng thâu âm của tôi, còn có một số người
phát tâm chỉnh lý để trong tương lai in thành sách.
Đó là chuyện của họ, chẳng liên can gì đến
tôi. Chúng ta phải là tâm địa thanh tịnh, chẳng
nhiễm mảy trần, sớm có ngày thấy A Di Đà Phật.
Trừ chuyện này ra, thế gian này chẳng có gì đáng cho
chúng ta mong muốn, chẳng có gì để chúng ta mong cầu.
(Sao)
Như kinh vân: “Thiết hữu nhất pháp, quá ư Niết
Bàn, diệc sở bất cố”.
(鈔)如經云:設有一法,過於涅槃,亦所不顧。
(Sao:
Như kinh nói: “Giả sử có một pháp, vượt trỗi
Niết Bàn, cũng chẳng đoái hoài”).
Đây
là kinh nêu ra một tỷ dụ. Niết Bàn là Phật quả
viên mãn rốt ráo. Kinh nói giả thiết, đức Phật
nói nếu còn có một pháp môn còn thù thắng hơn cực
quả của Như Lai, chúng ta nghe xong sẽ như thế
nào? Chúng ta nghe xong vẫn chẳng cần! Chuyên đến
mức độ này! Hiện thời, lũ bình phàm chúng ta
sai sót ở chỗ này! Người ta bảo quý vị: “Còn
có pháp hay hơn pháp Niệm Phật, thành tựu còn nhanh
chóng hơn niệm Phật”. Tâm bị động ngay lập
tức, chẳng cần A Di Đà Phật nữa, theo kẻ
đó học pháp môn khác! Gió thổi, cỏ rạp, tín tâm
dao động như vậy; kẻ tu học kiểu
đó, bất luận tu học pháp môn nào cũng đều
chẳng thể thành tựu. Do vậy, quyết định
chẳng lay động. Đức Phật đến
khuyên quý vị, Thích Ca Mâu Ni Phật đến trước
mặt quý vị khuyên bảo: “Ta còn có một pháp môn hay
hơn pháp môn niệm A Di Đà Phật”, chúng ta nghe xong bèn
như thế nào? “Cám ơn Thích Ca Mâu Ni Phật, con nay niệm
A Di Đà Phật đến cùng, chẳng mong đổi
sang pháp môn khác”. Phải có tín tâm như vậy thì mới có
thể thành công.
(Sao)
Thiền Tông tri thức, hữu giáo nhân đản trì thoại
đầu, nhất thiết bất tác.
(鈔)禪宗知識,有教人但持話頭,一切不作。
(Sao: Bậc tri thức
trong Thiền Tông có vị dạy
người khác chỉ giữ câu thoại đầu, chẳng
làm hết thảy những chuyện khác).
Vị
đại đức Thiền Tông như vậy chính là thiện
tri thức chân chánh. Ngài “giáo
nhân đản trì thoại đầu” (dạy người
khác chỉ trì câu thoại đầu). Các vị phải xem
rõ chữ này. Thiền Tông là “tham” thoại
đầu; ở đây, chẳng phải là Tham, mà là Trì. “Trì thoại đầu” là gì? “Thoại đầu” [ở
đây] là A Di Đà Phật, “trì
thoại đầu” là trì danh niệm Phật. Thoại
đầu chẳng cần tham, cứ chăm chỉ trì là
được rồi. Quý vị thấy chữ chủ yếu
[trong câu nói trên đây] là Trì, quý vị thấy chữ ấy
rất có ý vị![17]
Chẳng cần tham cứu, cứ thật thà niệm Phật
là được rồi! Đấy chính là gọi người
tham Thiền quay về, bảo họ hãy thật thà niệm
Phật. “Đản trì thoại
đầu” là thật thà niệm Phật. “Nhất thiết bất tác”:
Chẳng cần tham cứu nữa, chẳng cần tham Thiền,
cứ thật thà niệm Phật sẽ thành tựu.
(Sao)
Cố tri nguyên nghiệp dư môn giả, thượng
đương cải tu niệm Phật.
(鈔)故知原業餘門者,尚當改修念佛。
(Sao: Vì thế biết
kẻ vốn chuyên tu tập các môn khác hãy còn nên đổi
sang tu niệm Phật).
Đây
là nói rõ những vị đại đức thật sự,
những vị giác ngộ chân chánh, thật sự hiểu
rõ. Nói thật ra, chỉ có một môn này là có thể thành tựu
ngay trong một đời. Những pháp môn khác tuy tu tập,
chỉ là gieo thiện căn mà thôi, mong liễu sanh tử,
thoát tam giới ngay trong một đời này sẽ chẳng
thể được! Đó gọi là thiện tri thức
thật sự. Trước kia, quý vị tham Thiền, niệm
chú, trì giới, hay học Giáo, toàn bộ đều khuyên
quý vị hãy quay về thật thà niệm Phật, buông xuống
những gì đã học trong quá khứ.
“Nguyên nghiệp dư môn giả” (Kẻ vốn
chuyên tu tập những pháp môn khác), “nghiệp” (業) là tu học. Vốn
tu học những pháp môn khác đều “cải tu niệm Phật” (đổi sang tu Niệm
Phật). Từ Tịnh Độ Thánh Hiền Lục ta thấy
chuyện này rất nhiều, các vị tổ sư trong Tịnh
Tông cũng thị hiện như vậy. Quý vị thấy
Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư là bậc đại
đức trong Thiền Tông, Ngài từ Thiền Tông quay lại
chuyên tu Tịnh Độ, chuyên hoằng dương Tịnh
Độ, biến thành tổ sư của Tịnh Độ
Tông, là tổ sư đời thứ sáu của Tịnh
Độ Tông. Ngẫu Ích đại sư chẳng bộc
lộ thân phận, không biết Ngài là vị nào? Từ truyện
ký của Ngài, chúng ta thấy Ngài từ tông Thiên Thai quay lại.
Ngài học Thiên Thai, đến tuổi già, chuyên tu Tịnh
Độ, chuyên hoằng dương Tịnh Độ. Lão
nhân gia viết Di Đà Kinh Yếu Giải, cuối sách có một
bài Bạt ngắn, trần thuật quá trình Ngài viết Yếu
Giải, viết xong trong chín ngày! Tổ Ấn Quang tán thán: “Dẫu cổ Phật tái lai để
viết chú giải kinh Di Đà, cũng chẳng thể hay
hơn tác phẩm này được!” Đấy là tán
thán đến tột đỉnh. Chúng ta biết tổ Ấn
Quang là Đại Thế Chí Bồ Tát tái lai. Đại Thế
Chí Bồ Tát tán thán như vậy, Ngẫu Ích đại
sư là người nào? Chúng tôi suy đoán: Nếu chẳng
phải là A Di Đà Phật, nhất định là Quán Thế
Âm Bồ Tát tái lai. Nếu không, chẳng thể giải
thích hay như vậy! Ý nghĩa trong kinh Di Đà đều
được Ngài chỉ ra, chú giải hoàn toàn chẳng
dài, đơn giản, trọng yếu, ngắn gọn, thế
mà ý nghĩa của từng câu, từng chữ trong kinh
đều được chỉ ra, xác thực là chẳng
dễ dàng! Vì thế, chúng tôi nói trong các bản chú giải kinh
Di Đà qua các thời đại, Yếu Giải xác thực
là bậc nhất.
Liên
Trì đại sư là thầy của Ngẫu Ích đại
sư, nhưng Ngẫu Ích đại sư và Liên Trì đại
sư chẳng hề gặp mặt. Ngài Ngẫu Ích kính
ngưỡng, hâm mộ tổ Liên Trì. Ngẫu Ích đại
sư tu học pháp môn Tịnh Độ, Liên Trì đại
sư đã vãng sanh, Tổ đọc sách của Liên Trì
đại sư, tự mình phát nguyện làm học trò của
Liên Trì đại sư, làm tư thục đệ tử.
Có thể thấy là Ngài ngưỡng mộ Liên Trì đại
sư, nhất định là Ngài đọc rất nhuần
nhuyễn Sớ Sao và Diễn Nghĩa, tuyệt đối
không chỉ là đọc một lần. Vì thế, Ngài tán
thán Sớ Sao “rộng lớn,
tinh vi, sâu xa”. Đúng như vậy đó! Khuyên người
khác hồi tâm chuyển ý, chuyên tin Tịnh Tông, chuyên tu Tịnh
Tông thì Sớ Sao hay lắm, Sớ Sao giảng giải mọi
khía cạnh. Nếu đã tin tưởng Tịnh Độ,
hy vọng quyết định được vãng sanh ngay
trong một đời này, Yếu Giải hay lắm. Sách Yếu
Giải đơn giản, trọng yếu, ngắn gọn,
giúp quý vị quyết định được vãng sanh
ngay trong một đời này. Đó là chỗ khác biệt
giữa Sớ Sao và Yếu Giải.
(Sao) Hà huống
nguyên niệm Phật nhân, nãi biến kỳ sở thủ,
nhi phục tha thượng, tâm hoài nhị lộ, chí bất
quy nhất, vân hà tam-muội, nhi đắc thành tựu?
(鈔)何況原念佛人,乃變其所守,而復他尚,心懷二路,志不歸一,云何三昧,而得成就?
(Sao: Huống hồ kẻ
vốn niệm Phật, lại thay đổi điều
vâng giữ, lại noi theo pháp khác, lòng ôm ấp hai nẻo,
chí chẳng quy nhất, làm sao thành tựu tam-muội cho
được?)
Mấy
câu ở đây đã [vạch ra] điều đáng kiêng dè
nhất của người niệm Phật. Vì sao niệm Phật
chẳng thể đắc công phu thành phiến? Vì sao chẳng
thể đạt được cái tâm thanh tịnh? Vì sao chẳng
thể vãng sanh? Ở đây, đại sư bằng một
lời đã nói toạc ra. Chúng ta phải thường ghi
nhớ trong tâm, phải thường dùng điều này
để phản tỉnh, kiểm điểm. Nếu
chúng ta phạm phải khuyết điểm này, niệm Phật
sẽ chẳng có hy vọng vãng sanh! Người ta học pháp
môn khác, đến cuối cùng còn buông xuống, quay về chuyên
niệm A Di Đà Phật, cầu sanh Tịnh Độ.
Chúng ta vốn niệm A Di Đà Phật, nghe người
khác nói nhăng nhít mấy câu, bèn vứt bỏ chuyện niệm
Phật của chính mình để hành pháp môn khác. Sai mất
rồi! Lầm lẫn quá đỗi! Đó là “tâm hoài nhị lộ, chí bất
quy nhất” (tâm ôm ấp hai đường, chí chẳng
quy nhất). Huống hồ người hiện thời
không chỉ là “tâm hoài nhị lộ”!
Trong tâm có đến mười con đường, tám con
đường, trăm con đường, ngàn con
đường, [là chuyện] thường thấy, “hai con
đường” kể ra còn khá lắm! Nhưng quý vị
phải hiểu, hai con đường thì cũng chẳng
thể thành tựu, huống chi nhiều? Điều này nhằm
nói rõ: Nếu chúng ta thật sự mong vãng sanh trong một
đời này, thật sự mong vĩnh viễn thoát khỏi
luân hồi, nhất định là phải
y giáo phụng hành.
Còn có một
hạng người ăn nói thoạt nghe cũng rất có
đạo lý, họ nói như thế nào? Họ nói như
thế này: “Người niệm Phật đúng là chẳng
có một tí cảm tình nào! Người nhà, quyến thuộc,
con cái đều chẳng cần đến. Cứ nhất
tâm niệm A Di Đà Phật vãng sanh, quá ích kỷ, quá lạnh lùng, tàn khốc!”
Nghe ra cũng rất có đạo lý, thật ra là “dường
như đúng, nhưng hoàn toàn sai bét!” Chúng ta ở trong tam
giới lục đạo bị nghiệp lực làm chủ
tể, bản thân còn khó giữ gìn, quý vị có thể giữ
nổi người nhà, quyến thuộc, con cháu hay không? Quý
vị có thể chiếu cố họ được
chăng? Oan uổng dụng tâm, chẳng có năng lực!
Quý vị thường ghim trong lòng, bất quá là một
đống phiền não to đùng mà thôi, chắc chắn là
chẳng thể giải quyết vấn đề. Do
đó, cách nghĩ và cách nhìn của họ đã sai bét, chẳng
thấy sự thật!
Chuyên tâm niệm Phật,
nhất tâm cầu vãng sanh, từ nhà quý vị nẩy sanh một
vị Bồ Tát, hoặc sanh ra một vị Phật, trong
Phật môn thường nói “một
đứa con thành Phật, tổ tiên chín đời sanh lên
trời”. Do vậy, người nhà, quyến thuộc của
quý vị được chư Phật, Bồ Tát hộ niệm,
có long thiên thiện thần chiếu cố. Bản thân chúng
ta mong chiếu cố họ, chẳng thể chiếu cố
nổi! Phật, Bồ Tát, thần hộ pháp thật sự
có thể chiếu cố, người thế gian không hiểu
điều này. Người thế gian ngu si, chẳng trông
thấy! Chúng ta thường nghe những lời ấy,
trong tâm hiểu rõ, chẳng bị họ lay động. Họ
chỉ thấy một mặt, chẳng thấy mặt
khác. Một người tu hành có thành tựu, cả nhà, cả
họ sẽ được hưởng phước của
người ấy. Từ xưa đến nay, nếu chư
vị quan sát cặn kẽ, sẽ thấy đấy là sự
thật, quý vị đều có thể chính mắt trông thấy.
Chúng
tôi nêu ra một thí dụ nông cạn, dễ hiểu nhất.
Trong Niệm Phật Luận, Đàm Hư đại sư
có nói tới chuyện vãng sanh của vị nữ cư
sĩ họ Trương thuộc chùa Trạm Sơn ở
Thanh Đảo. Bà ta có hai đứa con nhỏ, đứa
lớn mới mười tuổi, đứa nhỏ
đương nhiên càng bé hơn. Bà có chồng, cuộc sống
hết sức kham khổ. Vào thời đó, chồng bà là
phu kéo xe, làm việc ở bến tàu. Mỗi ngày nhọc nhằn
kiếm được một chút tiền để cả
nhà sống qua một ngày. Ngày nào chẳng đi làm, ngày ấy
chẳng có cơm ăn. Sống cuộc đời khổ
sở như vậy. Bà ta học Phật, tham dự hội
Niệm Phật ở chùa Trạm Sơn, mỗi tuần
đều đến tham dự. Gia cảnh nghèo khổ
như vậy, trong Niệm Phật Đường,
đương nhiên cũng chẳng có ai coi trọng bà ta.
Bà làm tạp vụ trong Niệm Phật Đường, rửa
chén trong nhà bếp, làm việc này. Quý vị thấy bà ta niệm
Phật thành công, vãng sanh tự tại lắm, tiêu sái lắm!
Biết trước lúc mất, ngồi vãng sanh. Trước
khi vãng sanh mấy tiếng đồng hồ, còn dặn dò
chồng, giao phó mấy đứa con thơ. Bà ta vãng sanh,
thật sự buông xuống. Con còn thơ bé dường ấy
mà vãng sanh, có phải là nhẫn tâm hay không? Bà ta ra đi
như thế, vãng sanh trong tình hình ấy, các vị ngẫm
xem, các đồng tu thuộc Niệm Phật Đoàn tại
chùa Trạm Sơn có ai chẳng chiếu cố các con của
bà? Con bà ta ngay lập tức có phước báo, đó gọi
là thật sự chiếu cố. Thấy mẹ của mấy
đứa trẻ ấy niệm Phật thành tựu
như vậy, chẳng có một ai không hoan hỷ, chẳng
có ai không tận tâm tận lực giúp đỡ, chiếu cố
bà ta. Đấy là thật sự thông minh, thật sự có
trí huệ, thật sự có thể chiếu cố gia
đình, chiếu cố con cái. Vì thế, chí hướng
chuyên nhất hết sức trọng yếu. Chí chẳng
chuyên nhất, tam tâm nhị ý, chẳng thể thành tựu
Niệm Phật tam-muội.
“Niệm Phật tam-muội” là nói chung; Lý nhất
tâm bất loạn, Sự nhất tâm bất loạn, và công
phu thành phiến, đều gọi là Niệm Phật tam-muội.
Trong Niệm Phật tam-muội, công phu có cạn hay sâu sai
khác. Nông cạn nhất là công phu thành phiến; có thể niệm
đến thành phiến, chắc chắn vãng sanh, nắm chắc
vãng sanh. Theo như chúng tôi thấy, rất nhiều người
biết trước lúc mất, ra đi rất tự tại,
lìa thoát [Sa Bà] rất tiêu sái, đứng mất, ngồi mất.
Nếu quý vị hỏi: Rốt cuộc họ niệm
đến mức độ công phu nào? Chín mươi chín
phần trăm là công phu thành phiến. Công phu thành phiến loại
giỏi, nếu chúng ta chia công phu thành phiến thành chín phẩm,
ba phẩm thượng có thể đạt tới sanh tử
tự tại. “Tự tại”
là muốn đi khi nào bèn vãng sanh khi ấy, muốn trụ
thêm trong thế gian này bao nhiêu năm nữa, quyết định
chẳng bị trở ngại. Chuyện này chẳng phải
là đã đạt nhất tâm bất loạn; [đã đạt]
nhất tâm bất loạn thì đương nhiên là càng tự
tại. Công phu thành phiến bèn có thể đạt tới
cảnh giới này, cho thấy mỗi người chúng ta
đều có thể làm được chuyện này. Nếu
nói “nhất tâm bất loạn” thì chẳng phải là mỗi
người chúng ta đều có thể làm được.
Công phu thành phiến thì ai nấy đều có thể làm được.
Đó gọi là “vạn người
tu, vạn người đến”. Nếu chẳng chiếu
theo phương pháp này, chúng ta nửa tin, nửa ngờ, có
lúc niệm Phật, có lúc trì chú, có khi lại tu những pháp
môn khác, suốt một đời này chỉ gieo một tí
thiện căn nơi Phật môn, chẳng thể khởi tác
dụng.
(Sao)
Trực chí vô thường, không vô sở hoạch.
(鈔)直至無常,空無所獲。
(Sao:
Thẳng cho đến khi vô thường, trắng tay, chẳng
đạt được gì).
“Vô thường” là đến
ngày chết. Mãi cho đến lúc chết, quý vị chẳng
đạt được gì! Nói cách khác, cuộc đời
quý vị vẫn bị nghiệp lực chi phối y
như cũ. Sanh tử có mạng, đại hạn xảy
đến, vẫn y như cũ lưu chuyển theo nghiệp
lực. Đó gọi là “không vô
sở hoạch” (trắng tay, chẳng đạt
được gì).
(Sao)
Võng tư kỷ quá, phản khởi báng ngôn. Ô hô mậu tai!
(鈔)罔思己過,反起謗言,嗚呼謬哉。
(Sao: Chẳng nghĩ
đến lỗi mình, ngược ngạo thốt lời
phỉ báng. Ôi chao, lầm lạc thay!)
Đại
sư cảm thán, người niệm Phật ấy đến
lúc lâm chung, vua Diêm La sai tiểu quỷ đến bắt,
người ấy vẫn chẳng phục, vẫn báng bổ
Phật: “Các ngươi coi đó! Ta suốt đời làm
chuyện tốt, luôn niệm Phật, [thế mà] chẳng
thể vãng sanh, vẫn phải đến chầu Diêm
Vương. Phật lừa ta, kinh pháp chẳng linh”, báng Phật,
báng Pháp! Kẻ ấy chẳng biết chính mình tu học chẳng
đúng lý, đúng pháp, tạo thành khuyết điểm, vẫn
cứ báng Phật, báng Pháp, tội càng thêm tội!
(Sớ)
Xứng Lý, tắc tự tánh không, thị bạt nghiệp
chướng nghĩa; tự tánh hữu, thị đà la ni
nghĩa; tự tánh bất hữu bất không, thị sanh Tịnh
Độ nghĩa.
(Diễn) Tự
tánh Không, tức Không Như Lai Tạng. Sở vị “nhất
không, nhất thiết không”. Vô Giả, vô Trung, vô bất
không dã. Tự tánh Hữu, tức bất không Như Lai Tạng.
Sở vị “nhất giả, nhất thiết giả”. Vô
Không, vô Trung, vô bất Giả dã. Tự tánh bất hữu,
bất không, tức không bất không Như Lai Tạng. Sở
vị “nhất trung, nhất thiết trung”. Vô Không, vô Giả,
vô bất Trung dã.
(疏)稱理,則自性空,是拔業障義;自性有,是陀羅尼義;自性不有不空,是生淨土義。
(演)自性空。即空如來藏。所謂一空一切空。無假無中無不空也。自性有。即不空如來藏。所謂一假一切假。無空無中無不假也。自性不有不空。即空不空如來藏。所謂一中一切中。無空無假無不中也。
(Sớ: Xứng Lý, tự
tánh Không là ý nghĩa dẹp trừ nghiệp chướng,
tự tánh Hữu là ý nghĩa đà la ni. Tự tánh chẳng
Có, chẳng Không là ý nghĩa sanh Tịnh Độ).
Diễn: Tự Tánh Không, tức Như
Lai Tạng cũng là Không. Đó gọi là “một thứ là
Không, hết thảy đều là Không”. Chẳng có Giả
và chẳng có Trung thì cũng chẳng có cái “chẳng phải
là Không”. Tự Tánh Hữu tức là Như Lai Tạng chẳng
phải là Không. Đó gọi là “một thứ là Giả, hết
thảy đều là Giả”. Chẳng có Không và chẳng có
Trung thì cũng chẳng có “chẳng phải là Giả”. Tự
Tánh chẳng Có, chẳng Không, chính là Như Lai Tạng không
mà chẳng không, đó gọi là “một thứ là Trung, hết
thảy đều là Trung”. Chẳng có Không, chẳng có Giả
thì chẳng có “không phải là Trung”).
Mấy
câu này nói hết sức viên mãn. Tự tánh xác thực là Không.
Nói cách khác, trong Chân Như bản tánh, lấy đâu ra nghiệp
chướng? Có thể thấy là nghiệp chướng vốn
là Vô. Vốn là vô, nhất định là có thể dẹp trừ,
nhất định là có thể đoạn sạch. Tự
tánh là Có thì quyết định có thể chứng đắc.
Đà la ni là Tổng Trì, pháp môn Đại Tổng Trì của
hết thảy chư Phật Như Lai là gì? Chính là câu “Nam-mô A Di Đà Phật”, chúng
ta quyết định có thể chứng đắc. Không
là nói theo Thể, Có là nói theo Tướng; “chẳng phải
Có, chẳng phải Không” là nói theo Dụng. Nói theo Dụng,
há có lẽ nào chẳng sanh Tịnh Độ? Đoạn
Sao dưới đây đã dùng ý nghĩa của Thiền
Tông để nói.
(Sao)
Mịch tâm liễu bất khả đắc, nhất thiết
nghiệp chướng, thùy vi căn bản?
(Diễn)
Mịch tâm liễu bất khả đắc giả, Nhị
Tổ tham Sơ Tổ, thời đương long đông,
tích tuyết chí tất, kiên lập bất động.
Sơ Tổ vấn dục cầu hà sự? Nhị Tổ
viết: “Khất sư vị ngã an tâm”. Sơ Tổ viết:
“Tương tâm lai, vị nhữ an”. Nhị Tổ vân: “Mịch
tâm liễu bất khả đắc”. Cái dĩ đắc
tâm không, dĩ đáo giác tâm sơ khởi, tâm vô sơ tướng
địa vị dã.
(鈔)覓心了不可得,一切業障,誰為根本?
(演)覓心了不可得者。二祖參初祖。時當隆冬。積雪至膝。堅立不動。初祖問欲求何事。二祖曰。乞師為我安心。初祖曰。將心來為汝安。二祖云。覓心了不可得。蓋已得心空。已到覺心初起。心無初相地位也。
(Sao:
Tìm tâm trọn chẳng thể được, căn bản
của hết thảy nghiệp chướng là gì?
Diễn:
“Tìm tâm trọn chẳng thể được”: Nhị Tổ
tham yết Sơ Tổ, nhằm lúc trời đang giữa
Đông, tuyết ngập đến gối, [Nhị Tổ]
đứng vững, bất động. Sơ Tổ hỏi:
“Muốn cầu chuyện gì?” Nhị Tổ thưa: “Xin thầy
an cái tâm cho con”. Sơ Tổ bảo: “Ông lấy cái tâm ra đây,
ta sẽ an cho ông”. Nhị Tổ thưa: “Tìm tâm trọn chẳng
thể được”. Do vậy đã được tâm
không, đã đạt đến địa vị giác tâm mới
dấy lên, tâm chẳng có tướng ban đầu).
“Tâm” chính là ba tâm như kinh Kim
Cang đã nói, tức là quá khứ tâm, hiện tại tâm và vị
lai tâm. “Tam tâm bất khả
đắc” (Ba tâm trọn chẳng thể được),
lấy đâu ra nghiệp chướng? Thật vậy! Nay
vì sao có nghiệp chướng? Quý vị hiểu lầm, dấy
vọng tưởng trong ấy, cứ ngỡ ba tâm thật
sự có thể đạt được, tưởng ba
tâm thật sự có! Đó chính là mê hoặc, điên đảo,
tạo thành nghiệp chướng. Ba tâm xác thực là chẳng
có. Do vậy có thể biết: Nghiệp chướng giống
như mây trôi, chẳng phải là thực tại. Nhưng
khi quý vị mê, nó khởi tác dụng, mây trôi thật sự
che khuất mặt trời, xác thực là đã mê mờ bản
tánh. Một niệm giác, nghiệp chướng bèn rỗng
không, nghiệp chướng chẳng còn nữa. Một niệm
mê, nghiệp chướng bèn hiện tiền. Chân tâm tự
tánh, một niệm giác, chân tâm tự tánh là có. Một niệm
mê, chân tâm tự tánh vẫn có, nó chẳng thuộc về mê
hay ngộ. Nghiệp chướng thuộc về mê ngộ,
khi mê thì có, lúc ngộ chẳng có. Vì thế, nó là giả, chẳng
phải là thật. Ở đây, đại sư hỏi một
câu: Gì là căn bản?
(Sao)
Tức tâm vô sở bất cụ, nhất thiết công
đức, hà phất tổng trì?
(Diễn)
Tức tâm vô sở bất cụ giả, sở vị tự
thể hữu đại trí huệ quang minh nghĩa cố,
biến chiếu pháp giới nghĩa cố, chân thật thức
tri nghĩa cố. Tự tánh thanh tịnh nghĩa cố,
thường lạc ngã tịnh nghĩa cố, thanh
lương bất biến tự tại nghĩa cố, cụ
túc như thị quá ư hằng sa bất tư nghị Phật
pháp, nãi chí mãn túc vô hữu sở thiểu nghĩa cố,
danh vi Pháp Thân Như Lai Tạng dã.
(鈔)即心無所不具,一切功德,何弗總持?
(演)即心無所不具者。所謂自體有大智慧光明義故。遍照法界義故。真實識知義故。自性清淨義故。常樂我淨義故。清涼不變自在義故。具足如是過於恒沙不思議佛法。乃至滿足無有所少義故。名為法身如來之藏也。
(Sao: Tâm không gì chẳng
trọn đủ, hết thảy công đức có gì chẳng
được tổng trì?
Diễn: “Tâm không gì chẳng trọn đủ” nghĩa là nói
tới ý nghĩa tự thể có quang minh đại trí huệ,
ý nghĩa chiếu khắp pháp giới, ý nghĩa chân thật
hay biết, ý nghĩa tự tánh thanh tịnh, ý nghĩa thường,
lạc, ngã, tịnh, ý nghĩa trong mát, chẳng biến đổi,
tự tại, có chẳng thể nghĩ bàn Phật pháp vượt
trỗi số cát trong sông Hằng như thế, cho đến
trọn đủ, chẳng có nghĩa nào thiếu sót. Đó
gọi là Pháp Thân Như Lai Tạng).
Đây
là nói tự tánh chẳng có hình tướng. Khi nó khởi
tác dụng, bèn có thể hiện hết thảy tướng.
Y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới đều
do chân tâm bản tánh biến hiện. Các nhà khoa học hiện
thời nói rất hay: Hết thảy các tướng đều
là hiện tượng dao động. Hiện tượng
dao động là chẳng thật, là giả, giống
như kinh Kim Cang đã nói: “Phàm
những gì có hình tướng đều là hư vọng”, “hết thảy các pháp hữu
vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng”, ý nghĩa hết
sức gần gũi. Các nhà khoa học đã nhìn thấy
chân tướng sự thật này, [các tướng] là giả,
chẳng thật, về căn bản là chẳng tồn tại.
Vì thế, tướng là huyễn hóa, là huyễn tướng,
chẳng phải là chân tướng. Mười pháp giới
là do mức độ mê hay ngộ sai biệt khác nhau mà biến
hiện cảnh giới bất đồng. Mê ít, ngộ
nhiều, bèn hiện ra tứ thánh pháp giới. Mê nhiều,
giác ít, bèn hiện ra lục phàm pháp giới. Hoàn toàn là mê, chẳng
giác thì là A Tỳ địa ngục pháp giới. “Tức tâm vô sở bất cụ”
(Tâm không gì chẳng trọn đủ): Bổn tâm vốn sẵn
trọn đủ mười pháp giới, do mê hay ngộ
mà hiện. “Nhất thiết
công đức”: Trên từ chư Phật cho tới dưới
là ác đạo chúng sanh đều được bao gồm.
Đó là Tổng Trì.
(Sao)
Đương tổng trì nhi bất lập tiêm trần.
(鈔)當總持而不立纖塵。
(Sao:
Trong tổng trì chẳng lập một mảy trần).
Điểm này
chính là nguyên tắc chỉ đạo cao nhất trong sự
tu dưỡng của chúng ta, vì chúng ta hiểu sự thật
là “Tướng có, Thể không”.
Thể là Không, Tâm Kinh bảo là Sắc Không, “Sắc hữu, Tánh không” (Sắc có, Tánh không). Do vậy,
có thể thọ dụng, chứ chẳng thể chiếm
hữu, cũng có nghĩa là “chớ nên chấp trước”.
Thọ dụng:
(Sao)
Hữu thị tức Không chi hữu.
(鈔)有是即空之有。
(Sao: Hữu là cái Có
chính là Không).
Hữu
là Không.
(Sao)
Vô căn bản nhi xuất sanh vạn pháp.
(鈔)無根本而出生萬法。
(Sao: Chẳng có
căn bản mà sanh ra vạn pháp).
Chẳng
có căn bản. Hết thảy vạn pháp “pháp nhĩ tự nhiên” (pháp tự nhiên là như vậy) biến hiện
ra, chẳng cần phải truy cứu. Truy cứu chẳng
ra! Chỉ có từ trong cảnh Định rất sâu, vừa
nhìn bèn hiểu rõ ngay, tuyệt đối chẳng phải
là do nghiên cứu, thăm dò mà có thể lần mò tìm
được chân tướng. Làm như vậy, vĩnh
viễn chẳng tìm thấy chân tướng. Nhất định
là phải từ công phu định lực, tâm thanh tịnh,
cảnh giới ấy bèn hiển lộ rành mạch,
rõ ràng!
(Sao)
Không thị tức Hữu chi không.
(鈔)空是即有之空。
(Sao:
Không là cái không chính là có).
“Không” chẳng phải là Ngoan
Không (cái Không trơ trơ). Không chẳng phải là Vô, chẳng
phải là thứ gì cũng đều chẳng có, mà là “tức Hữu chi Không” (cái
Không chính là Có).
(Sao) Tức Hữu
tắc Bất Không, tức Không tắc Bất Hữu, Bất
Không Bất Hữu, duy thị nhất tâm, bất việt nhất
tâm, thị danh Tịnh Độ.
(Diễn) Đương
tổng trì nhi bất lập tiêm trần giả, Diệu Hữu
tức thị Chân Không dã. Cố hữu thị tức không
chi hữu, vô căn bản nhi xuất sanh vạn pháp giả.
Chân Không tức thị Diệu Hữu dã. Cố không thị
tức hữu chi không. Tức hữu tắc bất không,
thị như thật bất không dã. Tức không tắc bất
hữu, thị như thật không dã, nhi như thật bất
không, dữ như thật không, bất ly nhất Chân Như
tâm, nhi nhất Chân Như tâm, chánh thị Tịch Quang Tịnh
Độ. Cố viết duy thị nhất tâm, thị danh
Tịnh Độ.
(鈔)即有則不空,即空則不有,不空不有,惟是一心,不越一心,是名淨土。
(演)當總持而不立纖塵者。妙有即是真空也。故有是即空之有。無根本而出生萬法者。真空即是妙有也。故空是即有之空。即有則不空。是如實不空也。即空則不有。是如實空也。而如實不空。與如實空。不離一真如心。而一真如心。正是寂光淨土。故曰唯是一心。是名淨土。
(Sao:
Tức là Có thì chẳng phải là Không, chính là Không thì chẳng
phải Có, chẳng phải Có, chẳng phải Không, chỉ
là nhất tâm, chẳng ra ngoài nhất tâm, bèn gọi là Tịnh
Độ.
Diễn: “Trong tổng trì chẳng lập mảy trần”: Diệu
Hữu chính là Chân Không. Vì thế, Hữu chính là “cái Hữu
tức là Không”. “Vô căn bản mà xuất sanh vạn pháp”:
Chân Không chính là Diệu Hữu. Vì thế, Không chính là “cái Không
tức là Có”. “Hữu chính là chẳng Không” là như thật
bất không. “Không chính là chẳng Có” là như thật Không.
Nhưng Như Thật Bất Không và Như Thật Không đều
chẳng lìa khỏi một tâm Chân Như, cái tâm Chân Như chính
là Tịch Quang Tịnh Độ. Vì thế nói “chỉ là nhất
tâm, gọi là Tịnh Độ”).
Trưởng
giả Duy Ma bảo chúng ta: “Tâm
tịnh, ắt cõi nước tịnh”. Đoạn này
có thể dùng để giải thích câu kinh văn ấy, [tức
câu] “tâm tịnh, ắt cõi
nước tịnh” là gì, ý nghĩa bèn hết sức
viên mãn. Chúng ta thật sự hiểu rõ, thật sự minh
bạch, lập tức đối với chính mình và hoàn cảnh
sống của chính mình, quan niệm ngay lập tức thay
đổi. “Quan” là cách nhìn, “niệm” là cách nghĩ. Cách
nhìn và cách nghĩ của chúng ta ngay lập tức thay đổi,
bèn nhập Phật tri Phật kiến. Cách nghĩ và cách
nhìn của chúng ta hoàn toàn tương đồng với Phật
và các vị đại Bồ Tát, đó gọi là “nhập Phật tri kiến”.
Chớ nên xem nhẹ kinh Di Đà, cảnh giới cao nhất
của Thiền Tông là “nhập
Phật tri kiến”. Kinh Pháp Hoa nói rõ ràng hơn: “Khai thị ngộ nhập Phật
chi tri kiến” (Khai thị ngộ nhập tri kiến của
Phật), chẳng thuận tiện như kinh Di Đà. Chẳng
dễ dàng như câu Phật hiệu! Đối với câu
Phật hiệu này, Đại Thế Chí Bồ Tát nói: “Chẳng cậy vào phương
tiện, tự được tâm khai”. Hễ tâm khai, bèn
nhập Phật tri kiến.
Ba hàng cuối của
lời Sao văn tự không nhiều, nghĩa lý đúng là rốt
ráo viên mãn, càng đọc càng có ý vị, càng thấu hiểu,
càng chân thật, có thể giúp chúng ta thành tựu Niệm Phật
tam-muội trong một thời gian ngắn ngủi. Vì thế,
ba hàng này cần phải đọc mấy lượt, tham
cứu tường tận. Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa giảng lần thứ ba đến đây đã
viên mãn, cảm ơn chư vị đồng tu.
A Di Đà Kinh Sớ Sao
Diễn Nghĩa
Trọn Bộ
(Hoàn thành cảo bản
ngày 24 tháng 05 năm 2015)
Tái giảo duyệt
lần thứ nhất ngày 16 tháng 12 năm 2015
Thay lời tri ân và hồi
hướng
Kể từ khi khởi sự
chuyển ngữ phần thứ nhất của bài giảng
này vào tháng 11 năm 2011, đến nay đã gần bốn
năm, chúng con mới chuyển ngữ xong bộ Di Đà Sớ
Sao Diễn Nghĩa này tuy nguyên tác chỉ gồm 289 buổi
giảng. Trong gần suốt bốn năm ấy, các liên hữu
Minh Tiến, Đức Phong, Huệ Trang, Trịnh Lộc,
Vạn Từ đã không tiếc công phí sức giảo duyệt,
góp ý sửa chữa, nhất là sư huynh Đức Phong đã
tốn rất nhiều công sức trình bày, ấn tống và
lưu thông. Cũng xin chân thành cảm tạ những đạo
hữu gần xa đã khích lệ chúng con có đủ quyết
tâm thực hiện công việc này. Nhìn lại bản dịch,
chúng con hết sức hổ thẹn vì thế học lẫn
đạo học đều quá kém cỏi, không thể chuyển
ngữ lưu loát, mạch lạc, nêu bật văn phong
trang trọng, ưu nhã của Tổ, chẳng thể diễn
giải trong sáng, rõ ràng những diệu nghĩa do Tổ chỉ
dạy, cũng như chẳng thể hiện được
phong cách giảng giải rất độc đáo của Hòa
Thượng Tịnh Không. Do sự ngu độn của chính
mình, chẳng biết đã có bao nhiêu ý nghĩa đã bị
hiểu lầm, dịch sai, đến nỗi hoàn toàn tương
phản với ý tổ, ý thầy. Chắc chắn là công chẳng
được mấy, tội lỗi vô biên. Chúng con chân thành
sám hối, ngưỡng mong sẽ có bậc cao minh thương
xót phủ chính. Nhất là khi đọc đến phần
cuối của bài giảng, Hòa Thượng có nói việc
phiên dịch kinh sách không chỉ là một vài người có
thể thực hiện được, càng thêm hổ thẹn,
đau xót muôn phần. Chỉ xuất phát từ lòng tham pháp,
tiếc pháp, mong muốn chia sẻ phần nào pháp nhũ mà
chúng con liều lĩnh làm chuyện quá phận này. Chỉ
mong dịch phẩm thô vụng này có thể giúp đỡ các
đồng tu lãnh hội phần nào diệu nghĩa Tịnh
Độ và dốc lòng trân quý bảo điển A Di Đà
Kinh. Nếu việc làm liều lĩnh, quá phận này có chút
công đức nào, đều xin hồi hướng về
thầy, tổ, quá khứ hiện tại sư trưởng,
phụ mẫu, lịch đại tổ tiên, các vị thiện
hữu Đức Phong, Minh Tiến, Huệ Trang, Trịnh Lộc,
Vạn Từ, các đồng tu niệm Phật khắp mười
phương pháp giới, hết thảy hữu tình chúng
sanh đều cùng được ân triêm Phật quang, phiền
não tiêu trừ, cùng hội ngộ nơi An Dưỡng Quốc.
Bửu Quang Tự đệ tử
Như Hòa đê đầu, hòa-nam bái bạch.
[1] Trầm Gia Trinh (1913-2007), sanh ở Hàng
Châu, quê ở huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết
Giang. Cụ là một doanh nhân rất thành công tại Trung
Hoa và Mỹ, đồng thời là một đại cư
sĩ Phật giáo, đã có công lao to lớn trong việc
truyền bá Phật giáo tại vùng Nữu Ước.
Năm 1937, cụ tốt nghiệp trường đại
học giao thông Thượng Hải về ngành điện
cơ, làm việc trong Tư Nguyên Ủy Viên Hội (ủy
hội Tài Nguyên) của chánh quyền Quốc Dân
Đảng. Cụ được chánh quyền Dân Quốc
giao phó công tác làm đại diện liên lạc với công
ty Siemens của Đức tại Berlin để mua
sắm thiết bị. Sau khi trở về nước,
cụ đảm nhiệm chức công trình sư tại
công xưởng điện Trung Ương ở Côn Minh
(Vân
[2] Ở đây, trong nguyên bản,
người ghi lại lời giảng đã chép sai chỗ
này! Người sáng lập nhà Lưu Tống là Lưu
Dụ (劉裕), không phải là Lưu Dự (劉豫).
[3] Cầu Na Bạt Đà La (394-468) là
một vị pháp sư Đại Thừa xuất thân
từ vương quốc Ma Kiệt Đà (
[4] Nam Bắc Triều là thời kỳ
lịch sử phức tạp nhất trong lịch sử
Trung Hoa kéo dài từ năm 420 đến năm 589, kể
từ khi Lưu Dụ soán ngôi nhà Đông Tấn, lập ra
nhà Tống, cho đến khi nhà Tùy diệt nhà Trần
của Nam Triều vào năm 589. Do Trung Hoa lúc ấy bị
chia thành hai triều đại song song giữa hai miền
[5] Giang
[6] Lưu Dụ (363-422), tự là
Đức Dư, biệt danh Đức Hưng, tiểu
tự là Ký Nô, người huyện Bành Thành. Để
tăng oai thế, ông tự xưng là cháu đời
thứ hai mươi hai của Sở Vương (Lưu
Giao, em ruột Hán Cao Tổ Lưu Bang). Tuy gia cảnh
bần hàn, học thức rất kém, chỉ biết
đọc nhấp nhem vài chữ, nhưng Lưu Dụ là
người thông minh, quả quyết. Ông đầu quân
dưới trướng của tướng Tôn Vô Chung,
lập nhiều công lao, dễ dàng chiếm được
lòng tin cậy của tướng nhà Tấn là Lưu Kính
Tuyên, lần lượt thăng tiến rất nhanh.
Cuối cùng trở thành quyền thần của nhà Đông
Tấn, nhất là khi giúp vua Tấn diệt phản
thần Hoàn Huyền. Do tham vọng, ông tìm cách giết
chết Tấn An Đế (Tư Mã Đức Tông),
đưa em trai Tấn An Đế (Tư Mã Đức
Văn) lên ngôi, tức Tấn Cung Đế, để
dễ bề khống chế. Cuối cùng, năm 420, ông ép
Cung Đế nhường ngôi cho mình làm hoàng đế,
đổi quốc hiệu là Tống, đặt niên
hiệu là Vĩnh Sơ, nhưng Lưu Dụ chỉ làm vua
được hai năm thì mất.
[7] Tống Văn Đế (407-453) làm vua
từ năm 424 đến năm 453, tên thật là Lưu
Nghĩa Long, tên hồi bé là Xa Nhi, là con trai thứ ba của
Tống Vũ Đế (Lưu Dụ). Ông được
tôn lên làm vua sau khi Tống Thiếu Đế (Lưu
Nghĩa Phù, con trưởng của Lưu Dụ) bị bá
quan phế truất.
[8] Thân Độc là phiên âm của Sindhu
(tức sông
[9] Thông Lãnh chính là vùng cao nguyên thuộc
bồn địa
[10] Tân Cương có tên gọi chính thức
hiện thời là Tân Cương Duy Ngô Nhĩ Tự
Trị Khu (Xinjiang Uyghur Autonomous Region), bao gồm toàn bộ
vùng đất gọi là
[11] Ngài Cầu Na Bạt Ma (Gunavarman, 367-431),
Hán dịch là Công Đức Khải, là người xứ
Kế Tân, thuộc dòng dõi hoàng tộc, thông minh, mẫn
tiệp. Năm mười bốn tuổi, Sư đã
nổi danh tài hoa xuất chúng, nhưng đức hạnh
hết sức nghiêm cẩn. Từ bé, mẹ của Sư
thích ăn thịt rừng, Sư can gián: “Phàm những
thứ có sanh mạng, không loài nào chẳng ham sống. Tàn
hại sanh mạng không phải là phẩm đức
của người có lòng nhân”. Bà mẹ tức giận, quát:
“Nếu đắc tội với thần linh, tao sẽ
chịu tội thay cho mày!” Sư nín lặng. Một hôm, do
chiên nấu, dầu văng lên tay, Sư bị bỏng, bèn
bảo mẹ: “Mẹ hãy thay con chịu đựng nỗi
đau khổ này”, bà mẹ nạt: “Đau khổ trên thân
mày, tao chịu thay sao được?” Sư bèn đáp:
“Nỗi khổ nhỏ trước mắt mà còn chẳng
chịu thay được, huống hồ nỗi khổ
trong tam đồ?” Bà mẹ nghe nói, giật mình, tỉnh
ngộ, từ đó thôi sát sanh. Năm hai mươi
tuổi, Sư xuất gia, thọ giới, tinh thông chín
bộ kinh, đặc biệt là Tứ A Hàm. Sư
chuộng Luật, tinh tường luật điển,
đồng thời tinh thông Thiền pháp. Năm Sư ba
mươi tuổi, quốc vương qua đời, không
có người kế tự, quần thần suy cử
Sư lên ngôi. Ba lượt thỉnh cầu Sư
đều từ chối. Để khỏi bị ép lên
ngôi, Sư trốn sang nước Sư Tử, hoằng
dương Phật pháp nơi đó. Sau đấy, Sư
lại sang Java hoằng pháp, được quốc
vương nước ấy sùng mộ. Khi vua đánh
trận bị thương, Sư tụng chú vào
nước sai người đem rửa vết
thương, thương tích bèn lành. Sau đó, Sư đáp
ứng lời thỉnh cầu đi truyền pháp các
nơi, ngồi thuyền của thương nhân Trúc Nan
Đề, thuận gió đến Quảng Châu. Tống
Văn Đế nghe tin, cấp tốc sai người
thỉnh Sư lên Kiến Khang (Nam Kinh). Trên
đường, đi qua núi Hổ Thị, thấy hình
thế giống núi Kỳ Xà Quật, Sư bèn xin vua
đổi tên núi thành Linh Thứu Sơn, lập chùa tại
đó. Khi Sư trụ nơi đó, lập Thiền
Thất cách chùa chính mấy dặm. Gõ chuông tại chùa chính,
trong Thiền Thất chẳng thể nghe tiếng, nhưng
hễ gõ chuông đều thấy Sư đến. Có
lần mưa giông dữ dội, Sư đến mà thân
mình chẳng ướt chút nào. Có lần đường sá
lầy lội, thảo hài của Sư vẫn chẳng
nhuốm bẩn chút nào. Ngài dịch các bộ kinh luận
như Bồ Tát Thiện Giới, Tạp Tâm Kinh, Tứ
Phần Yết Ma, Ưu Bà Tắc Ngũ Giới Luận
Lược, Ưu Bà Tắc Nhị Thập Nhị Giới
v.v… cũng như giảng giải kinh Pháp Hoa và phẩm
Thập Địa của kinh Hoa Nghiêm.
[12] Đây chỉ là diễn tả ý
nghĩa ‘phải đọc chữ “南無” thành Nam-mô’, chứ không phải nhìn vào
mặt chữ rồi đọc theo âm Quan Thoại
hiện thời thành Nán-wú (tức Nam-vô). Chữ “Nã Ma” (拿摩) có âm đọc là Ná-mó gần giống
chữ Nam-mô. Do nhìn theo mặt chữ, có người đã
giải thích quàng xiên “nam-vô A Di Đà Phật” là nước
[13] Theo các cổ đức, chú luôn có
nghĩa, nhưng ý nghĩa ấy quá súc tích, quá sâu xa,
chẳng thể diễn tả bằng ngôn ngữ
được, vượt ngoài tầm hiểu biết và
cảnh giới của phàm phu. Lama Govinda từng nói:
Nếu giải thích tỉ mỉ từng ý nghĩa trong
một chữ Aum thì dù có nói cả đời vẫn không
thể trọn hết.
[14] “Phá âm
tự” (破音字) chính là những chữ khi để
phân biệt những ý nghĩa khác nhau, phải đọc
khác nhau. Thí dụ phổ biến thường
được nêu ra để minh họa chữ Phá Âm là
chữ “不”.
Nó có các âm đọc là Bất, Phầu, Phủ, Phi và Phu tùy
theo ngữ cảnh. Chẳng hạn khi dùng với ý
nghĩa trợ từ nêu nghi vấn, phải đọc là
Phủ, như trong kinh Kim Cang, đức Phật hỏi tôn giả Tu Bồ Đề: “Tu Bồ Đề! Ư nhữ
ý vân hà? Khả dĩ thân tướng kiến Như Lai
phủ” (須菩提!於意云何?可以身相見如來不?: Này Tu Bồ
Đề! Ý ông nghĩ sao, có thể dùng thân tướng để
thấy Như Lai hay chăng?). Dùng chữ này với ý
nghĩa phủ định thì đọc là Bất như
“bất sanh, bất diệt”. Khi dùng với ý nghĩa mô
tả trạng thái lưỡng lự thì đọc là
Phầu như “đương
phục như thử phầu?” (當復如此不, sẽ lại như thế
hay chăng?). Một âm nữa là Phi khi diễn tả ý
nghĩa to lớn (theo Thiều Chửu), như “phi hiển tai Văn Vương
mưu” (不顯哉文王謀, mưu lược của Văn Vương to lớn rõ rệt
thay!) Tuy thế, có tác giả giải thích chữ “不” trong trường hợp này không có
nghĩa gì, chỉ là trợ từ làm tăng ngữ khí cho
câu nói mạnh mẽ hơn. Âm cuối cùng là Phu, có nghĩa
là cuống hoa, như kinh Thi có câu: “Thường lệ chi hoa, ngạc phu vĩ vĩ”
(常棣之華,鄂不韡韡, hoa cây thường lệ, cuống,
đài rạng rỡ).
[15] Diêm Phù Đề (Jambud) là một
loại cây. Theo thần thoại Ấn Độ, chính
giữa thế giới này, có một vùng rừng toàn là cây
Diêm Phù, lá cây rụng xuống biến thành một loại
vàng rất quý gọi là vàng Diêm Phù Đàn. Địa
cầu này được gọi tên theo loài cây ấy, tức
Diêm Phù Đề Châu.
[16] Chuẩn Đề Bồ Tát (Cundhi,
thường được dịch là Thanh Tịnh
hoặc Minh Giác. Tên Ngài còn được phiên âm là Chuẩn
Nê, Tôn Nê, hoặc Tôn Na, nhưng danh xưng Chuẩn
Đề phổ biến nhất). Ngài còn có danh xưng
Thiên Nhân Trượng Phu Quán Âm, Chuẩn Đề Phật
Mẫu v.v… mật hiệu là Tối Thắng Kim Cang,
hoặc Hàng Phục Kim Cang, là một trong sáu tôn Quán Âm chánh
yếu của Đông Mật (Thánh Quán Âm, Thiên Thủ Quán
Âm, Mã Đầu Quán Âm, Thập Nhất Diện Quán Âm,
Chuẩn Đề Quán Âm và Như Ý Luân Quán Âm). Ngài là bộ
mẫu của Liên Hoa Bộ, xuất sanh bảy câu-chi
(bảy ức) đức Thế Tôn, nên còn có danh xưng là
Thất Câu Chi Phật Mẫu Chuẩn Đề. Ngài
được tạc tượng dưới nhiều
hình thức, từ hai tay, bốn tay, cho đến
mười tám tay, nhưng hình tượng được
thờ phổ biến nhất là mười tám tay
(biểu thị mười tám pháp bất cộng).
Ngoại trừ hai tay kết ấn Chuẩn Đề
đặt trước ngực, các tay còn lại lần
lượt cầm các món pháp khí hoặc kết ấn,
nếu kể từ dưới lên, bên phải sẽ là
kết ấn Thí Vô Úy, trí huệ kiếm, xâu chuỗi, thiên
diệu quả (quả báu cõi trời), phủ việt (búa
lệnh), thiết câu (móc sắt), kim cang xử, tràng hoa báu.
Bên trái lần lượt là tràng báu Như Ý, hoa sen, tháo bình
(bình xối để rửa tay), dây quyến sách (thòng
lọng), pháp luân, pháp loa (ốc, tù và), hiền bình,
rương kinh Bát Nhã. Mỗi món pháp khí đều có ý nghĩa
biểu pháp. Chẳng hạn, thiên diệu quả có
đến một vạn hạt, biểu thị chủng
tử của vạn hạnh thiện pháp thành tựu viên
mãn, phủ việt biểu thị sự chẻ tan, phá
trừ hết thảy vô minh, chướng ngại,
phiền não. Dây quyến sách trói bắt các ác ma, biểu
thị sự hàng phục các tâm thái tham, sân, si, mạn
của chúng sanh v.v…
[17] Trong tu học, người hành Thiền
thường được dạy “tham thoại
đầu”, nhưng ở đây lại nói bậc tri
thức trong Thiền Tông dạy hành giả “trì thoại
đầu” tức là niệm Phật, tức là nhà
Thiền vẫn dạy hành nhân niệm Phật.