A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

阿彌陀經疏鈔演義

Phần 21

Chủ giảng: Lăo pháp sư Tịnh Không năm 1984

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo chánh: Huệ Trang và Đức Phong

 

Tập 41

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang năm mươi mốt.

 

      (Sớ) Vị năng tự lợi, tiên năng lợi nhân giả, Bồ Tát phát tâm. Cố bất nhẫn độc thiện kỳ thân, tâm hoài kiêm lợi dă. Kiêm lợi chi đạo, hoằng pháp vi tiên. Nhi thử kinh chú sớ, kim đa mẫn một, kê cổ vô diêu, tuy nhất nhị cẩn tồn, lược cử đại đoan, vị sướng quyết chỉ. Hoằng công giả, tức bất khả tư nghị công đức dă. Bất tri thử kinh cụ hữu như thị công đức, tắc nghi nhi bất tín, tín diệc bất chân, Sớ Sao chi tác, bất dung dĩ dă.

      () 未能自利,先能利人者,菩薩發心。故不忍獨善其身,心懷兼利也。兼利之道,弘法為先。而此經註疏,今多泯沒,稽古無繇,雖一二僅存,略舉大端,未暢厥旨。宏功者,即不可思議功德也,不知此經具有如是功德,則疑而不信,信亦不真,疏鈔之作,不容已也。

      (Sớ: Chưa thể tự lợi mà đă có thể làm lợi cho người khác trước, đấy là Bồ Tát phát tâm. V́ thế, chẳng nỡ hưởng tốt lành cho riêng ḿnh, nặng ḷng toan làm lợi cho người khác. Đạo làm lợi cho người khác lấy hoằng pháp làm đầu; nhưng chú thích, sớ giải của kinh này nay phần nhiều đă thất lạc, không có cách nào t́m được [trọn vẹn]. Các bản chú giải cổ tuy hăy c̣n một hai bản, nhưng những bản ấy chỉ nêu đại lược đầu mối, chưa diễn giải thông suốt tông chỉ của kinh này. “Hoằng công” tức là công đức chẳng thể nghĩ bàn. Chẳng biết kinh này trọn đủ công đức như thế, sẽ nghi ngờ chẳng tin. Dẫu có tin th́ cũng chẳng tin thật sự, nên tôi chẳng đặng đừng phải viết Sớ Sao).

 

      Đoạn này là trần thuật, Liên Tŕ đại sư tự nói rơ cặn kẽ nhân duyên soạn bộ Sớ Sao. Chúng ta phải chú trọng nghiên cứu đoạn này kỹ hơn, v́ sao? Sợ hiểu lầm! “Vị năng tự lợi” (chưa thể tự lợi): Tự lợi là tự độ; như thế nào th́ mới là tự lợi? Nhất định phải văng sanh th́ mới là tự lợi. Chưa văng sanh thế giới Tây Phương, chẳng thể nói là đă thực hiện tự lợi! “Tiên năng lợi nhân” (có thể làm lợi cho người khác trước) là bỏ ḿnh v́ người, đó gọi là “Bồ Tát phát tâm”. Nay chúng ta chưa thể tự lợi, mà cũng phát tâm lợi người, thử hỏi chúng ta có phải là Bồ Tát hay không? Nếu chúng ta nghiên cứu, thảo luận vấn đề này, quư vị phải hiểu: Câu nào của Liên Tŕ đại sư cũng là lời khiêm hư, khách sáo, chúng ta đừng tưởng lời khách sáo là thật! Ngài là bậc tái lai, Ngài nói “chưa thể tự lợi”, th́ “tự lợi” chính là thành Phật, Ngài c̣n chưa thành Phật. Chưa thành Phật, nhưng có thể Ngài là bậc đại Bồ Tát tái lai. Lăo nhân gia lui tới thế giới Tây Phương tự tại, c̣n chúng ta có làm được hay không? Chúng ta không có năng lực ấy. Do vậy, phải là như vậy th́ mới gọi là “Bồ Tát phát tâm”, Ngài đă là Bồ Tát rồi!

      Bồ Tát phát tâm, mức độ thấp nhất là Quyền Giáo Bồ Tát, tối thiểu cũng là Sơ Tín Bồ Tát trong địa vị Thập Tín, đây là cấp bậc thấp nhất. Năm mươi mốt cấp bậc Bồ Tát là Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, và Đẳng Giác. Địa vị Sơ Tín chưa thể tự lợi, họ phát tâm làm Bồ Tát. Nói theo Viên Giáo, địa vị Sơ Tín là địa vị như thế nào? Chúng ta phải hiểu rơ ràng. Theo cách phán giáo của tông Thiên Thai và tông Hiền Thủ, địa vị Sơ Tín trong Viên Giáo tương đương với Tiểu Thừa Sơ Quả Tu Đà Hoàn (Srotāpanna) trong Tạng Giáo. Tu Đà Hoàn đă đoạn hết tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc trong tam giới, nhưng chưa đoạn Tư Hoặc. Đă đoạn hết Kiến Hoặc, tức là Thân Kiến, Biên Kiến, Kiến Thủ Kiến, Giới Thủ Kiến và Tà Kiến đều đoạn sạch. Chúng ta một phẩm [vô minh] chưa đoạn, là hạng phàm phu lè tè sát đất, muốn học đ̣i những vị Bồ Tát ấy phát tâm th́ quá ư là khó! Nhưng quư vị phải hiểu rơ Lư, chính ḿnh hăy tự cân nhắc tŕnh độ của chính ḿnh, quả thật có đủ [để học đ̣i hạnh Bồ Tát] hay không? [Nếu là] hạng người giống như đại sư th́ không c̣n ǵ phải nói nữa, Ngài có thể! Do vậy, Ngài phát tâm viết bản chú giải này. Chúng ta phát tâm th́ có thể viết được chú giải hay chăng? Ngài phát tâm viết bộ chú giải này, chúng ta đọc c̣n chưa hiểu, nói ǵ tới viết! Do vậy, biết rằng: Chúng ta không có cách nào học theo hạng người như vậy, học không được! Nói thật ra, chúng ta cũng nên bắt chước tấm ḷng từ bi của Bồ Tát. Nếu là người có ḷng riêng tư, bản thân người ấy đă chứng địa vị Sơ Tín, vẫn mong đạt Nhị Tín, đạt đến Nhị Tín lại mong vượt lên một cấp cao hơn nữa là Tam Tín. Người ấy tạm thời đem chuyện nâng cao địa vị của chính ḿnh gác qua một bên ḥng giúp đỡ hết thảy chúng sanh, đó gọi là “Bồ Tát phát tâm”. Đó là “vị năng tự lợi, tiên năng lợi nhân” (chưa thể tự lợi mà đă làm lợi người khác trước), nhưng chính ḿnh đă có chỗ đặt chân vững vàng rồi!

      Nói theo hiện thời, chẳng phải là chúng ta không thể học, hễ có bản lănh ấy th́ có thể học theo [các vị Bồ Tát], nhưng bản lănh tối thiểu là chúng ta niệm Phật đến mức công phu thành phiến. Nói cách khác, chúng ta có tư cách đới nghiệp văng sanh, sanh vào cơi Phàm Thánh Đồng Cư, dẫu chỉ Hạ Phẩm Hạ Sanh vẫn được! Ta có thể nắm chắc điều này, ta chẳng cầu Thượng Phẩm Thượng Sanh, ta chẳng cầu tăng cao phẩm vị, ta nhằm lợi ích chúng sanh, giúp đỡ mọi người, vậy là cũng có thể nói “vị năng tự lợi, tiên năng lợi nhân” (chưa thể tự lợi, mà đă có thể lợi người trước). Đấy là Bồ Tát phát tâm. Nếu ngay cả Hạ Phẩm Hạ Sanh trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư mà quư vị chẳng nắm chắc, quư vị chẳng thể phát cái tâm ấy, quư vị chẳng thể làm chuyện này! Chúng ta cần phải biết điều này, hễ chính ḿnh đạt đến tŕnh độ ấy th́ hăy phát tâm, hăy nên giúp đỡ mọi người.

      Cố bất nhẫn độc thiện kỳ thân” (v́ thế, chẳng nỡ hưởng tốt lành cho riêng ḿnh): Chính ḿnh thật sự đạt được chỗ tốt lành và đạt được lợi ích trong Phật môn, muốn cho hết thảy chúng sanh cùng hưởng lợi ích và những điều tốt đẹp ấy, đó là [tâm hạnh của] Bồ Tát, tuyệt đối chớ nên hưởng riêng ḿnh. “Tâm hoài kiêm lợi”: Kiêm lợi là muốn tạo lợi ích cho người khác. Bản thân tôi đă đạt được điều tốt đẹp nơi pháp môn này, cũng muốn làm cho người khác được hưởng sự tốt đẹp ấy. Nói tới kiêm lợi th́ quan trọng nhất là hoằng pháp, đem pháp môn này giới thiệu với người khác. Chúng ta đạt được lợi ích nơi pháp môn này, nhưng người khác hoặc là đă học Phật, hoặc là chưa học Phật, hay người đă học Phật nhưng học các pháp môn khác, chúng ta thấy họ chẳng dễ ǵ đạt được lợi ích thật sự. Nói cách khác, họ chưa thể liễu sanh tử, thoát tam giới, chưa đạt được lợi ích chân chánh ấy. Chúng ta giới thiệu pháp môn này với họ, đó là “hoằng pháp”. “Kiêm lợi chi đạo”: “Đạo” () là phương pháp, phương pháp lợi ích chúng sanh này lấy hoằng pháp làm đầu.

      Sát nghiệp của Đài Loan quá nặng! Mỗi năm giết những động vật như lợn, ḅ, dê, gà, vịt, tính theo tỷ lệ thống kê dân số th́ cao nhất thế giới, nhưng người Đài Loan tu phước nơi cửa Phật cũng đứng đầu thế giới. Bất quá là tu phước bao nhiêu năm, nhưng tu tạp, tu loạn. Giảng kinh là chuyện tốt đẹp! In kinh, in tạo h́nh Phật để lưu thông, cũng là chuyện tốt; nhưng giảng kinh có khi chẳng phải là giảng kinh Phật giáo, trong ấy cũng có khi kinh Phật giáo bị giảng thành pháp ngoại đạo! Đấy là chẳng thuần, vừa tạp vừa loạn! In kinh cũng giống như vậy, tuy là kinh Phật, dù cho là kinh điển lấy từ Đại Tạng Kinh, nhưng quư vị phải biết: Kinh điển trong Đại Tạng Kinh nhiều đến mấy ngàn bộ, có những kinh thích hợp với cuộc sống của con người hiện đại chúng ta, chúng ta học những kinh ấy quả thật hữu dụng, nhưng phần lớn [những kinh khác] không vận dụng vào thời đại hiện tại được. Nếu quư vị in ra để lưu thông, chẳng có ư nghĩa ǵ hết! Đó gọi là “ứng bệnh dữ dược” (theo đúng căn bệnh mà cho thuốc). Con người hiện thời đang bị bệnh, nếu quư vị dâng lên họ loại thuốc phù hợp chứng bệnh, thuốc ấy sẽ cứu được mọi người. Nếu đưa ra nhiều loại thuốc quư nổi tiếng, nhưng không hợp với chứng bệnh th́ tặng món thuốc ấy có ích ǵ hay chăng? Vô ích!

      Quư vị phải biết: Đại Tạng Kinh là thuốc; nhằm chữa bệnh cho hết thảy chúng sanh trong thuở ấy nên đức Phật nói ra, có những thứ thích hợp với thời đại của chúng ta, có những thứ chẳng phù hợp thời đại. Do vậy, in kinh phải chọn lựa, nhất định phải chọn lựa thận trọng. Chẳng những phải chọn lựa kinh, mà chú giải cũng phải chọn lựa. Thông thường, những kinh luận trọng yếu được mọi người đọc tụng đă qua nhiều đời như kinh Kim Cang, kinh Lăng Nghiêm, kinh Pháp Hoa, đó là những bản kinh lưu truyền phổ biến được người Hoa ưa thích. Nói chung, từ xưa đến nay có hơn một trăm vị cổ đức chú giải những kinh điển ấy, chúng ta có thể thấy điều này qua Đại Tạng Kinh. Chú giải nhiều ngần ấy, mỗi một vị chú giải phát biểu kiến giải tâm đắc của chính ḿnh, rốt cuộc những thứ ấy có ích cho chúng ta hay không? Rất khó nói! Do vậy, chọn lựa những bản chú giải cũng là một môn đại học vấn.

      Trong những năm qua, những sách do Đồ Thư Quán của chúng ta ấn hành đều do tôi chọn lựa cẩn thận. Chú giải của người hiện thời tuy viết bằng văn Bạch Thoại, nhưng kiến giải chưa thấu triệt, chưa viên măn, cũng có chỗ c̣n giải thích lệch lạc, hiểu lầm ư nghĩa kinh. Do vậy, tôi rất ít in những trước tác của người hiện thời. Tôi luôn chọn lựa những bản chú giải cổ, những bản được chọn đều là những chú giải đầy thẩm quyền được mọi người công nhận, tức là những bản chú giải hay nhất. Tuy Văn Ngôn khó hơn [văn Bạch Thoại] một chút, nhưng nếu quư vị đọc quen sẽ thấy chẳng khó, quư vị đọc sẽ hiểu được. Có rất nhiều vị cư sĩ chẳng biết chữ, chưa từng đi học, nhưng có thể tụng kinh, hễ đổi sang sách khác họ sẽ không đọc được. Đó là “có cảm ứng”. Do vậy, nếu chúng ta thường đọc kinh, thường xem chú giải, xem dăm ba năm, quư vị sẽ tự nhiên thông đạt, chẳng thấy khó khăn ǵ nữa! Trong ấy có cảm ứng, chính quư vị đừng sợ, phải có tín tâm!

      In kinh cũng là một mắt xích trọng yếu trong hoằng pháp. Hiện thời có thể nói là chúng ta có quan hệ rất mật thiết với Phật giáo quốc tế. Những kinh điển của chúng ta in, chẳng phải chỉ giảng ở Đài Loan mà chúng tôi c̣n giảng ở ngoại quốc, công đức ấy càng lớn hơn. Chúng tôi không chỉ in sách cho người ta xem, mà c̣n giảng những thứ đă in, đồng thời c̣n nhờ vào những phương tiện khoa học hiện thời, mỗi lần chúng tôi giảng đều thâu âm lưu lại, cũng có băng thâu h́nh, những thứ này cũng được lưu thông rộng răi. Người ta lấy sách c̣n có thể lấy thêm băng thâu âm, giống như đến nghe trong giảng đường vậy. Do vậy, nay chúng tôi giảng kinh ở chỗ này, thính chúng tuyệt đối không chỉ là ngần này người đang ngồi ở nơi đây. V́ sao? Băng thâu âm của chúng tôi lưu thông trong ngoài nước, bản kinh này cũng được lưu thông trong ngoài nước, không biết có bao nhiêu người đọc, bao nhiêu người nghe? Điều này cũng khích lệ chúng ta phải phát tâm hoằng pháp.

      Tự ḿnh đọc tụng, y giáo phụng hành, có thể ảnh hưởng tới người khác, đó là hoằng pháp. Chính ḿnh phát tâm giảng kinh là hoằng pháp, giống như Liên Tŕ đại sư phát tâm soạn chú giải, dùng văn tự để lưu thông, đấy cũng là hoằng pháp. Hiện thời lại c̣n có nhiều h́nh thức hơn, quư vị phát tâm thâu h́nh, thâu âm, lưu thông băng thâu h́nh và băng thâu âm, đó cũng là hoằng pháp. Do vậy, phương pháp hoằng pháp hết sức nhiều! Quư vị giới thiệu thân thích, bằng hữu nghe kinh, giới thiệu kinh cho họ đọc, [những chuyện đó] đều là hoằng pháp. Đây là nói “hoằng pháp vi tiên” (hoằng pháp đứng đầu). Trong kinh Kim Cang đă so sánh công đức, nói: Pháp Bố Thí là cao nhất, dùng bảy báu đầy ắp đại thiên thế giới để bố thí, vẫn chẳng bằng công đức diễn nói cho người khác nghe bốn câu kệ trong kinh điển. Điều này có cùng một ư nghĩa với lời Liên Tŕ đại sư đă nói ở đây: “Kiêm lợi chi đạo, hoằng pháp vi tiên” (đạo làm lợi cho người khác th́ hoằng pháp đứng đầu).

      Thử kinh chú sớ, kim đa mẫn một” (chú thích, sớ giải của kinh này nay phần nhiều đă thất lạc): Từ xưa đến nay có nhiều bản chú giải bị thất lạc, có rất nhiều bản tàn khuyết không trọn vẹn. Tuy có một vài bản hoàn chỉnh, nhưng văn tự giản lược, ư nghĩa quá sâu, chẳng thuận tiện cho kẻ sơ học, chẳng có cách nào khơi gợi, phát khởi ḷng tin của người ta được. Dựa trên lư do này, Liên Tŕ đại sư cảm thấy chẳng thể không viết Sớ Sao. Do vậy, những lời nói trong đoạn tiếp theo đó [của lời Tựa] đặc biệt chỉ ra công đức chẳng thể nghĩ bàn của bộ kinh này. “Hoằng công” là công đức chẳng thể nghĩ bàn.

 

      (Diễn) Bất khả tư nghị, bất xuất y chánh nhân quả.

      () 不可思議,不出依正因果。

      (Diễn: “Chẳng thể nghĩ bàn” chẳng ra ngoài y báo, chánh báo và nhân quả).

 

      “Y” () là y báo của Tây Phương Cực Lạc thế giới, tức là hoàn cảnh. Chánh báo là thân thể quư vị sẽ có khi đến nơi ấy, liên hoa hóa sanh! Chẳng giống như trong thế giới này, thân thể này là cái thân xác thịt do cha mẹ sanh ra. Nhục thân này có sanh, lăo, bệnh, tử, thân trong Tây Phương Cực Lạc thế giới là liên hoa hóa sanh, không có sanh, lăo, bệnh, tử, không có những nỗi khổ ấy, sự thù thắng nơi hoàn cảnh y báo càng chẳng cần phải nói nữa! Quư vị có thể đọc kinh Hoa Nghiêm. Cổ nhân nói: “Chẳng đọc kinh Hoa Nghiêm, chẳng biết sự phú quư trong nhà Phật”. Sự phú quư của người học Phật, các thứ trang nghiêm như trong kinh Hoa Nghiêm đă diễn tả chính là sự trang nghiêm nơi Tây Phương Cực Lạc thế giới. Tiếp theo đó, sách nói rơ về y báo, chánh báo và nhân quả.

     

      (Diễn) Y tắc Đồng Cư tức Tịch Quang.

      () 依則同居即寂光。

      (Diễn: Y báo th́ cơi Đồng Cư chính là cơi Tịch Quang).

 

      Điều này chẳng thể nghĩ bàn! Chúng ta văng sanh, năng lực của chúng ta chỉ có thể sanh vào cơi Đồng Cư, tức là đới nghiệp văng sanh. Chúng ta chỉ có bản lănh này. Trong đời này, sợ rằng chúng ta không thể niệm đạt đến mức Lư nhất tâm hay Sự nhất tâm, những người làm được như vậy vô cùng ít, đó chẳng phải là chuyện kẻ tầm thường có thể làm được. Niệm đến mức công phu thành phiến, đới nghiệp văng sanh, ai cũng có phần, đấy chính là như Vĩnh Minh đại sư đă nói: “Vạn người tu, vạn người đến”, chẳng sót một ai! Thế nhưng chỗ chẳng thể nghĩ bàn là cơi Đồng Cư chính là cơi Thường Tịch Quang, điều này chẳng thể nghĩ bàn! Cơi Thường Tịch Quang là cơi Tịnh Độ cao nhất, thù thắng nhất. Lư nhất tâm bất loạn Thượng Phẩm Thượng Sanh mới sanh vào Thường Tịch Quang Tịnh Độ; nhưng nơi này rất đặc biệt, đới nghiệp văng sanh Hạ Phẩm Hạ Sanh trong cơi Đồng Cư sẽ hưởng thụ hoàn cảnh y báo hệt như cơi Thường Tịch Quang. Kiểm khắp Đại Tạng Kinh, quư vị cũng không t́m thấy cách nói như thế ấy [khi giảng về các cơi Phật khác], chỉ riêng Tây Phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật là có loại Tịnh Độ này. Mười phương đều có các thế giới của chư Phật, nhưng chẳng khuyên quư vị văng sanh các cơi Phật ấy, mà cứ khăng khăng khuyên quư vị văng sanh Tây Phương Tịnh Độ là do điều tốt lành này. Thích Ca Mâu Ni Phật và mười phương chư Phật tuyệt đối chẳng gạt gẫm chúng ta.

 

      (Diễn) Chánh tắc Ứng Hóa tức Pháp Thân.

      () 正則應化即法身。

      (Diễn: Chánh báo th́ Ứng Thân và Hóa Thân chính là Pháp Thân).

 

      Di Đà, Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, Di Lặc đều ở trong Tây Phương Cực Lạc thế giới. Các Ngài có Hóa Thân và Ứng Thân. Ứng Thân và Hóa Thân cũng là Pháp Thân [lưu lộ ra], do vậy nói “nhất Thể tam thân”, chẳng thể nghĩ bàn! Y báo chẳng thể nghĩ bàn, chánh báo chẳng thể nghĩ bàn, Phật, Bồ Tát là như thế, bản thân chúng ta sanh về nơi ấy cũng giống như thế, mầu nhiệm là mầu nhiệm ở chỗ này! Chúng ta tu các pháp môn khác, chứng Pháp Thân chẳng dễ dàng, v́ sao? Dựa trên các pháp môn theo đường lối thông thường để nói, nhất định phải phá một phẩm vô minh mới thấy một phần Pháp Thân. Quư vị chẳng phá vô minh, không có cách nào chứng đắc Pháp Thân! Trước khi phá vô minh, nhất định phải đoạn Kiến Tư phiền năo và đoạn Trần Sa phiền năo. Sau đấy mới có năng lực phá vô minh, đây cũng chẳng phải là chuyện chúng sanh trong thời đại này dễ dàng thực hiện được! Trong ngàn vạn người, khó có được một người! Cũng có khi t́m chẳng được một người nào, quá ư là khó! Văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, chỉ cần đến được nơi đó liền chứng Pháp Thân, thật sự chẳng thể nghĩ bàn!

 

      (Diễn) Nhân tắc thất nhật tiện đắc công thành.

      () 因則七日便得功成。

      (Diễn: Nhân th́ bảy ngày liền được thành công).

 

      Tu pháp môn này, phải tu bao lâu? Trong kinh, đức Phật thường nói: Phàm phu từ sơ học cho đến khi thành Phật phải tu ba đại A-tăng-kỳ kiếp mới có thể thành Phật. Thành vị Phật ǵ vậy? Thành Tạng Giáo Phật! [Quả vị] Phật có Tạng, Thông, Biệt, Viên. Vị Phật do ba đại A-tăng-kỳ kiếp tu thành là Tạng Giáo Phật. Hết thảy các kinh Tiểu Thừa đă nói như vậy. Viên Giáo Phật như kinh Hoa Nghiêm đă nói th́ phải mất vô lượng A-tăng-kỳ kiếp mới tu thành, nhưng trong Tây Phương Tịnh Độ chỉ có bảy ngày. Bảy ngày bèn thành công! Trong pháp môn Niệm Phật, đả Phật Thất chính là [làm theo lời] kinh dạy: “Nhược nhất nhật, nhược nhị nhật” (hoặc một ngày, hoặc hai ngày) cho đến “nhược thất nhật” (hoặc bảy ngày). Bảy ngày thành công mang ư nghĩa “ấn định thời hạn để mong chứng đắc”.

      Cũng có các vị chẳng tin tưởng! Quư vị cũng đả Phật Thất không ít lần; kết quả chỉ sợ là sau khi đả Phật thất, phiền năo càng nhiều hơn, nghiệp chướng tập khí càng nặng hơn, ngay cả tin tức cũng chẳng có. Do vậy, quư vị chẳng tin tưởng. V́ sao bảy ngày chẳng đạt hiệu quả? Thưa cùng quư vị, do quư vị niệm Phật chẳng đúng cách, nên quư vị niệm mà chẳng đạt hiệu quả, chẳng thể thành công! Nếu thật sự là một đạo tràng đúng pháp, treo chiêu bài đả Phật Thất “bảy ngày liền văng sanh”, tôi tin là quư vị cũng tuyệt đối chẳng đến tham dự! Đến nơi ấy, tu bảy ngày xong phải chết mất rồi, làm sao có thể đến được? Chẳng thể đến được! Đủ thấy quư vị đả Phật Thất là “miệng có, tâm không”, về căn bản chẳng mong văng sanh! Ḷng tin chẳng thật, nguyện chẳng thiết tha, niệm cũng chẳng đúng pháp, làm sao có thể thành công? Nếu ba điều kiện Tín - Nguyện - Hạnh của pháp môn này đều đúng pháp, bảy ngày sẽ thành công. Không riêng ǵ tổ sư Tịnh Độ Tông nói như thế, mà những vị đại đức trong các tông phái khác cũng nói như vậy. Chúng ta đọc cuốn Di Đà Kinh Thông Tán Sớ của Khuy Cơ đại sư, Ngài thuộc Pháp Tướng Tông, trong lời tựa của bản chú giải ấy, Ngài tán thán pháp môn này đến cùng cực, nhận định pháp môn này là “chí viên, chí đốn” và cũng tán thán kinh này: “Bảy ngày thành công, không có pháp môn nào nhanh chóng hơn!”

      Nếu chúng ta hỏi: Trong bảy ngày có thể thành công, vậy th́ trong quá khứ có ai làm được hay chăng? Quư vị đọc Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, Văng Sanh Truyện, [sẽ thấy] thật sự có! Trong tâm chúng ta mong tưởng cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ, nhưng chẳng mong đi ngay trong hiện tại. Nếu A Di Đà Phật hiện đến, chúng ta sẽ kèo nài, mặc cả với A Di Đà Phật: “Con c̣n phải sống mấy năm nữa, đợi khi con sống đủ tuổi thọ rồi sẽ đi”. Tâm ấy chẳng chân thành. Phật Thất hiện thời chỉ là thừa dịp bồi dưỡng tập quán niệm Phật, trừ điều này ra, thứ ǵ cũng chẳng thể đạt được!

      Trong quá khứ tôi ở Đài Trung, thầy Lư bảo tôi: Thật sự đả Phật Thất th́ số người [tham dự] nhất định chẳng thể vượt quá mười người. Hơn mười người, Chủ Thất Sư chẳng đủ tinh thần để chiếu cố trọn hết. Giống như thầy giáo dạy học sinh trong nhà trường, lớp ít học sinh, chỉ có từ mười mấy em đến hai mươi em, thầy có thể dốc trọn tinh thần vào từng em học sinh, đương nhiên học vấn của những học sinh ấy sẽ tốt đẹp. Nếu học sinh trong lớp là sáu chục, bảy chục, tám chục em, thầy đâu có đủ tinh thần! Chấm bài tập, quẹt một cái là xong, v́ sao? Không có thời gian đọc! Do vậy, hiện thời rất nhiều học sinh trong trường làm bài tập, thầy chưa hề sửa lỗi. Chẳng giống như chúng tôi thuở trước! Thuở xưa, khi chúng tôi đi học, nói tới bài tập làm văn, thầy không chỉ sửa lỗi mà c̣n đến trước mặt chúng tôi chỉ dạy, giảng giải từng câu: V́ sao thầy phải sửa theo cách như vậy? Giảng cho chúng tôi nghe. V́ sao? Học tṛ ít! Chỉ có mười mấy đứa, thầy có thời gian. Năm sáu chục đứa học tṛ th́ thầy không có cách nào hết! Do vậy, Phật Thất chẳng thể hơn mười người, đó gọi là thật sự dụng công tu đạo.

      Đồng thời, tôi cảm thấy nếu đả Phật Thất th́ tốt nhất là trước hết phải nghiên cứu thảo luận kinh Di Đà kỹ càng một phen, giống như giảng giải tỉ mỉ sách Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa một lượt. Giảng xong chúng ta mới cử hành Phật Thất, hoặc mở liên tiếp bảy Phật Thất. Lư luận, phương pháp và cảnh giới đều hiểu rơ, nay chúng ta thực hành, chúng ta thực hiện. Phật Thất giống như đi thi, không học mà bắt đi thi th́ thi cái ǵ? Đương nhiên lănh zéro. Do vậy, trước hết nhất định phải giảng kinh, rồi mới tổ chức Phật Thất. Cách này khá đúng pháp, bảy ngày liền thành công, đó là nói về Nhân.

 

      (Diễn) Quả tắc nhất sanh tiện tức Bất Thoái.

      () 果則一生便即不退。

      (Diễn: Quả th́ hễ văng sanh liền Bất Thoái).

 

      Điều này cũng chẳng thể nghĩ bàn! Kinh nói: Văng sanh liền viên chứng ba thứ Bất Thoái, tức Vị Bất Thoái, Hạnh Bất Thoái, và Niệm Bất Thoái. Nếu chiếu theo đường lối thông thường để luận định th́ Tiểu Thừa Tu Đà Hoàn mới là Vị Bất Thoái, tuyệt đối chẳng đọa trong tam ác đạo, bảy lần sanh trong cơi trời và nhân gian mới chứng quả A La Hán, đó là Vị Bất Thoái. Hạnh Bất Thoái công phu càng cao hơn nữa, phải chứng từ A La Hán trở lên mới là Hạnh Bất Thoái. Đủ thấy đắc Tu Đà Hoàn th́ Vị Bất Thoái, nhưng Hạnh có thể lui sụt, mà Niệm cũng có thể thoái chuyển. C̣n như A La Hán là Vị Bất Thoái và Hạnh Bất Thoái, nhưng Niệm có thể thoái chuyển. Mức độ thấp nhất là Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo cũng như Sơ Địa Bồ Tát trong Biệt Giáo mới thật sự là Vị Bất Thoái, Hạnh Bất Thoái, Niệm Bất Thoái, ba thứ chẳng thoái chuyển. Tuy chứng ba thứ Bất Thoái, nhưng chẳng viên măn, chưa phải là viên chứng (chứng đắc viên măn). Ai viên chứng ba thứ Bất Thoái? Thấp nhất cũng phải là Thập Địa tức Pháp Vân Địa Bồ Tát hay Đẳng Giác Bồ Tát th́ mới kể là viên chứng ba thứ Bất Thoái. Chẳng văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới th́ thôi, hễ văng sanh th́ dẫu là Hạ Phẩm Hạ Sanh trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư, người ấy cũng viên chứng ba thứ Bất Thoái. Ở đây có nghĩa là: Quư vị đến nơi ấy, dẫu là phàm phu trong loài người, mang thân phận trời người, nhưng bằng với Đẳng Giác Bồ Tát, bằng với Thập Địa Bồ Tát, điều này chẳng thể nghĩ bàn! Tuần sau là Đại Chuyên Giảng Ṭa, chúng tôi sẽ giảng Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm và Di Đà Kinh Đại Ư, tôi sẽ giảng tường tận cho quư vị ba thứ Bất Thoái và cảnh giới trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư của Tây Phương Cực Lạc thế giới. Nếu quư vị thật sự hiểu rơ, quư vị mới biết pháp môn này chẳng thể không tu. Hết thảy các kinh chúng ta đều có thể cột lại, cất trên gác cao, bỏ qua một bên, nhưng bộ kinh và bản chú giải này chẳng thể không đọc. Do vậy, chúng ta lưu thông bộ kinh điển này có vô lượng vô biên công đức.   

     

      (Diễn) Hà khả tư nghị?

      () 何可思議。

      (Diễn: Sao có thể nghĩ bàn được?)

 

      Hà khả tư nghị”: Chẳng thể nghĩ bàn được! Bốn chuyện sau đây đều chẳng thể nghĩ bàn: Y báo chẳng thể nghĩ bàn, chánh báo chẳng thể nghĩ bàn, nhân chẳng thể nghĩ bàn, quả chẳng thể nghĩ bàn, hoàn toàn tương ứng với tựa đề gốc của kinh này, đó là công đức chẳng thể nghĩ bàn.

      Bất tri thử kinh cụ hữu như thị công đức” (Chẳng biết kinh này trọn đủ công đức như thế), nói thật ra, người không biết quá nhiều, thật là đáng tiếc! Pháp môn thù thắng như thế ở ngay trước mặt mà bỏ lỡ. “Nghi nhi bất tín” (nghi ngờ chẳng tin): Hiện thời tuy Phật giáo rất phổ biến, bao nhiêu người học Thiền? Bao nhiêu người học Mật? Những tệ trạng trong Thiền chẳng ít, trong Mật lại càng nhiều hơn! So ra, Mật c̣n có lắm tệ trạng hơn Thiền. V́ sao? Có nhiều thứ giả vờ là Mật, yêu ma, quỷ quái, hoàn toàn dùng phù chú, thần thông để lừa gạt người ta ở khắp mọi nơi. Những người bị lường gạt quá nhiều! Họ chẳng tin tưởng pháp môn Niệm Phật mà tin vào những thứ ấy.

      Tín diệc bất chân” (ḷng tin cũng chẳng thật): Đây là nói về tu pháp môn Tịnh Độ. Tại Đài Loan, pháp môn Tịnh Độ rất thịnh hành, rất nhiều nơi thường xuyên đả Phật Thất, đương nhiên họ tin [pháp môn] này; nếu chẳng tin, sẽ không thể tham gia Phật Thất, nhưng tin như thế nào? Không chân thật! Do vậy, chẳng đạt được hiệu quả. Ḷng tin cũng không chân thật, v́ sao không chân thật? Chưa thấu triệt lư luận, chẳng thật sự hiểu rơ công đức lợi ích của pháp môn này. Do vậy, “Sớ Sao chi tác bất dung dĩ dă” (chẳng đặng đừng phải viết Sớ Sao), Liên Tŕ đại sư nói Ngài chẳng thể không viết bản chú giải này, đó là chuyện tất yếu phải làm. Mục đích soạn bộ Sớ Sao này là làm cho người ta sanh khởi ḷng tin, đoạn nghi sanh tín, tăng trưởng tín tâm đối với pháp môn Niệm Phật, giúp họ thành tựu trong một đời. Đây là mục đích viết Sớ Sao của lăo nhân gia, chính là v́ tự lợi, lợi tha.

 

      (Sớ) Phu kiến giả.

      () 膚見者。

(Sớ: Kiến giải hời hợt).

 

Phu kiến” (kiến giải ngoài da) là thiển kiến (kiến giải nông cạn), đây là cách nói khiêm hư [của Liên Tŕ đại sư].

 

(Sớ) Cơ phu tại biểu, sở nhập bất thâm, dụ thiển kiến dă.

() 肌膚在表,所入不深,喻淺見也。

      (Sớ: Da thịt ở bên ngoài, sở nhập chẳng sâu, [dùng h́nh ảnh này] để sánh ví kiến giải nông cạn).

 

      Tỷ dụ thiển kiến.

 

      (Sớ) Thiển kiến hề năng trắc Phật thâm nghĩa.

      () 淺見奚能測佛深義。

      (Sớ: Kiến giải nông cạn th́ làm sao có thể suy lường nghĩa lư sâu xa của Phật?)

 

      Đă là thiển kiến, mà ư nghĩa của kinh này lại quá sâu, quá áo diệu, làm sao có thể biết được? “Trắc” () là suy lường. Tuy chẳng thể hiểu rơ nghĩa thú rất sâu của bộ kinh này, nhưng mà như thế nào?

 

      (Sớ) Nhi dĩ cứu thế tâm ân, đốn vong kỳ lậu dă!

      () 而以救世心殷,頓忘其陋也。

      (Sớ: Nhưng do tâm cứu đời tha thiết, nhanh chóng quên mất chính ḿnh thô hèn).

     

      Đây là đại sư nói khiêm hư: Tuy chính ḿnh kiến giải chẳng sâu, chẳng thấy tường tận, trọn vẹn, nhưng tâm lợi người rất thiết tha, cho nên cũng quên phứt những khuyết điểm của chính ḿnh. Ư nghĩa là như vậy đó!

 

      (Diễn) Cơ phu tại biểu, sở nhập bất thâm giả, Sơ Tổ dục phản Thiên Trúc, mạng môn nhân viết: “Nhữ đẳng tận ngôn sở đắc”.

      () 肌膚在表,所入不深者。初祖欲返天竺,命門人曰,汝等盡言所得。

      (Diễn: “Da thịt ở bên ngoài, sở nhập chẳng thâm”: Sơ Tổ (Bồ Đề Đạt Ma) sắp quay về Thiên Trúc, bảo các môn nhân: “Các ông hăy nói hết những ǵ ḿnh đă đạt được”).

 

      Đây là một công án. “Công án” (公案) là một danh từ trong Phật học, nói theo cách bây giờ th́ là “cố sự” (故事: câu chuyện cũ), tức chuyện trong quá khứ, nhưng chuyện này là chuyện thật sự xảy ra. “Sơ Tổ” là Đạt Ma Tổ Sư, tức Sơ Tổ của Thiền Tông. Khi Ngài sắp trở về, bảo các đệ tử: “Các ông thân cận ta đă nhiều năm dường ấy, chính ḿnh hăy nói xem rốt ráo các ông đă đạt được những ǵ?”

 

      (Diễn) Đạo Phó đối viết.

      () 道付對曰。

      (Diễn: Đạo Phó thưa).

 

      Đạo Phó là tên một môn đệ của Tổ Sư.

 

      (Diễn) “Như ngă sở kiến, bất chấp văn tự, bất ly văn tự, nhi vi đạo dụng”.

      () 如我所見,不執文字,不離文字,而為道用。

      (Diễn: “Như con thấy th́ chẳng chấp vào văn tự, chẳng ĺa văn tự là tác dụng của đạo”).

 

      Đây là tâm đắc, là kiến giải của Ngài. Theo thầy đă nhiều năm như thế, Ngài thấu hiểu một điều “tức văn tự, ly văn tự” [nghĩa là] chẳng chấp trước văn tự chính là ĺa tướng văn tự. “Bất ly văn tự” chính là dùng văn tự, chẳng bỏ ĺa văn tự. Văn tự là kinh điển. Kinh điển có cần thiết hay không? Cần chứ! Hằng ngày đọc kinh điển, nhưng hằng ngày chẳng chấp trước kinh điển. Điều này chẳng dễ dàng! Nhưng Tổ Sư nói như thế nào? Khá lắm! Ông có tâm đắc đấy!

 

      (Diễn) Tổ viết: “Nhữ đắc ngă b́”.

      () 祖曰:汝得我皮。

      (Diễn: Tổ nói: “Ông được phần da của ta”).

 

      Ông chỉ hiểu được một chút bên ngoài, ở ngoài da.

     

      (Diễn) Ni Tổng Tŕ viết:

      () 尼總持曰。

      (Diễn: Ni sư Tổng Tŕ nói).

 

      Ni” là tỳ-kheo-ni, pháp danh là Tổng Tŕ.

 

      (Diễn) “Ngă kim sở giải, như Khánh Hỷ kiến A Súc Phật quốc, nhất kiến cánh bất tái kiến”.

      () 我今所解,如慶喜見阿閦佛國,一見更不再見。

      (Diễn: Sự hiểu biết của con hiện nay giống như ngài A Nan thấy cơi nước của A Súc Phật, đă thấy rồi th́ chẳng c̣n thấy nữa).

 

      Khánh Hỷ là tôn giả A Nan. Tâm đắc của vị tỳ-kheo-ni này c̣n mạnh hơn ngài Đạo Phó một chút, bà ta nêu tỉ dụ: [Trong Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh], tôn giả A Nan nương vào sức thần thông của Thích Ca Mâu Ni Phật thấy được cơi nước của A Súc Phật ở phương Đông. “Nhất kiến cánh bất tái kiến”, quư vị phải hiểu, “nhất kiến” là thấy bằng tánh Thấy, “tái kiến” là thấy bằng Nhăn Thức. Cảnh giới này cao hơn cảnh giới trước (cảnh giới của ngài Đạo Phó). Trong cảnh giới trước, thụ dụng chưa chân thật, cảnh giới này là thụ dụng chân thật.

 

      (Diễn) Tổ viết: “Nhữ đắc ngă nhục”.

      () 祖曰:汝得我肉。

      (Diễn: Tổ nói: “Bà được phần thịt của ta”).

     

      Tỷ dụ sâu hơn một tầng nữa, nhưng hai thứ này đều gọi là “cơ phu” (da dẻ). Thấy và nhập chưa sâu!

 

      (Diễn) Đạo Dục viết: “Tứ Đại bổn không, Ngũ Ấm phi hữu, nhi ngă kiến xứ, vô nhất pháp khả đắc”.

      () 道育曰:四大本空,五陰非有,而我見處,無一法可得。

      (Diễn: Đạo Dục nói: “Tứ Đại vốn là Không, Ngũ Ấm chẳng có, nhưng theo chỗ con thấy, không có pháp nào để có thể đạt được”).

 

      Quư vị hăy suy nghĩ, cảnh giới này giống như Tâm Kinh đă nói: Đă có trí huệ kha khá, “chiếu kiến Ngũ Uẩn giai không”. Lại giống như Lục Tổ đă nói: “Bổn lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai” (Vốn chẳng có một vật, nào sợ nhuốm bụi trần).

 

      (Diễn) Tổ viết: “Nhữ đắc ngô cốt”.

      () 祖曰:汝得吾骨。

      (Diễn: Tổ nói: “Ông được phần xương của ta”).

 

      Xương ở bên trong. Vị này đă đụng đến xương, h́nh dung kiến giải đă sâu, thấu hiểu rất sâu.

 

      (Diễn) Tối hậu, Huệ Khả lễ bái.

      () 最後慧可禮拜。

      (Diễn: Cuối cùng, Huệ Khả lễ bái).

 

Huệ Khả là truyền pháp Nhị Tổ, chặt tay cầu pháp, Ngài nói như thế nào?

 

      (Diễn) Y vị nhi lập.

      () 依位而立。

(Diễn: Đứng yên tại chỗ).

 

      Ngài Huệ Khả chẳng nói câu nào. Hỏi Ngài, Ngài lạy xong, vẫn đứng tại chỗ, chẳng nói câu nào.

 

      (Diễn) Tổ viết: “Nhữ đắc ngă tủy”.

      () 祖曰:汝得我髓。

      (Diễn: Tổ nói: “Ông được phần tủy của ta”).

 

       Truyền địa vị Tổ Sư cho Ngài (Huệ Khả). Ngài không nói một câu nào, càng cao hơn những người trước đó. Sự thấu hiểu của Ngài triệt để nhất, viên măn nhất. V́ sao? Thật sự đạt được tâm thanh tịnh, chẳng sanh mảy niệm. Những vị trước đó c̣n khởi một niệm, nhưng Ngài th́ một niệm chẳng sanh. Bát Nhă thật sự là “ngôn ngữ dứt bặt, tâm hành xứ diệt”. “Khai khẩu tiện thác, động niệm tức quai” (mở miệng liền trật, dấy niệm liền sai). Ngài chẳng mở miệng, chẳng động niệm, Đạt Ma Tổ Sư ấn chứng cho Ngài, Ngài đă đạt được tinh tủy của Phật pháp. Do vậy, truyền địa vị Tổ Sư cho Ngài.

 

      (Diễn) Kim ngôn phu giả, vị sở kiến thậm thiển dă.

      () 今言膚者,謂所見甚淺也。

      (Diễn: Nay nói đến “da”, hàm ư: Sở kiến quá nông cạn).

 

      Liên Tŕ đại sư dùng tỷ dụ này, chính ḿnh khiêm hư, nói kiến giải của chính ḿnh rất nông cạn. Chúng ta đọc Sớ Sao, rốt cuộc kiến giải của Liên Tŕ đại sư có nông cạn hay không? Nếu kiến giải của Ngài nông cạn th́ chúng ta hổ thẹn quá. Ngài c̣n có thể hiểu đến phần “da thịt”, nhưng chúng ta c̣n chưa ṃ tới ngoài ŕa! Điều này thật đáng răn dè! Sự khiêm hư cung kính của đại sư cũng đáng cho chúng ta học tập.

      Đạo nghiệp chẳng thể thành tựu, mấu chốt là do sư thừa; hy vọng các đồng tu đặc biệt chú ư điều này! Từ xưa đến nay, không có sư thừa mà có thể thành tựu, chắc chắn chẳng thể nào được! Sư thừa chắc chắn chẳng thể miễn cưỡng, đó là duyên phận. Chúng ta cầu học có thể thành tựu hay không, nhất định phải hỏi chính ḿnh: Tâm ta đối với thầy được mấy phần cung kính? Ấn Quang đại sư dạy chúng ta: “Một phần thành kính được một phần lợi ích, hai phần thành kính được hai phần lợi ích”.

     Chúng ta vừa mới nói đến một đoạn công án trong sách Diễn Nghĩa, bốn người sở đắc bất đồng, chắc chắn chẳng phải do Đạt Ma Tổ Sư giáo hóa khác nhau, chẳng b́nh đẳng, mà là do bốn người đối với thầy có tâm cung kính khác nhau! Một phần cung kính được một phần lợi ích, hai phần cung kính được hai phần lợi ích, mười phần cung kính được mười phần lợi ích. Do vậy, chúng ta t́m thầy ở nơi đâu? T́m người nào? T́m người nào trong tâm quư vị cung kính nhất, kính ngưỡng nhất, quư vị đến bái người đó làm thầy, sẽ có thâu hoạch viên măn. Nếu đối với thầy chẳng cung kính, dù học vấn và đạo đức của vị thầy ấy tốt đẹp đến đâu đi nữa, quư vị theo vị ấy học suốt đời cũng chẳng đạt được ǵ!

      Trong tương lai quư vị có thành tựu, muốn ra ngoài hoằng pháp lợi sanh. Ví như Lục Tổ, học tṛ của Lục Tổ đại sư sau khi đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh trong hội của Ngài, Ngài thường bảo họ ra ngoài hoằng hóa một phương, đến nơi đâu vậy? Đến địa phương nào mới là đạo tràng để người ấy hoằng hóa? Nói cách khác, chỗ nào có duyên với người ấy? Phải coi người ở nơi ấy có mấy phần cung kính đối với người ấy; giả sử có hai nơi, một nơi cũng rất cung kính, nơi kia cung kính hơn một chút, phàm là chúng sanh đối với người ấy có tâm cung kính thật sự, có tâm cung kính mười phần, nhân duyên của người ấy quyết định là ở nơi đó. Người ấy chẳng có tâm phân biệt. Đây tức là nói: Đạo là do cung kính mà có, tuyệt đối chẳng phải là thầy mong người khác cung kính ḿnh, [nếu hiểu là thầy mong ta cung kính] th́ sai mất rồi! Cung kính ǵ vậy? Cung kính tự tánh của thầy. Do cung kính là Tánh Đức, nó là lương tri lương năng trong bổn tánh của quư vị, gặp duyên bên ngoài sẽ dễ phát khởi, Phật pháp gọi nó là “công đức xứng tánh”. Đạo lư là như vậy đó!

      Lúc mới học bèn chọn lựa thầy, sau khi thành tựu phải chọn lựa đạo tràng, đều kiến lập trên cái tâm cung kính. Chính quư vị đă thành tựu rồi, nhưng ḷng cung kính đối với hết thảy chúng sanh nhất định là b́nh đẳng. Chỉ có chúng sanh chẳng cung kính Phật, Bồ Tát, chứ không có vị Phật, Bồ Tát nào chẳng cung kính chúng sanh. Phật, Bồ Tát đối với chúng sanh b́nh đẳng, chúng sanh đối với Phật, Bồ Tát chẳng b́nh đẳng. Do vậy, họ mới là chúng sanh, v́ chúng sanh dùng cái tâm phân biệt, Phật, Bồ Tát dùng cái tâm b́nh đẳng; họ dùng cái tâm khác nhau. V́ thế, chúng sanh ở nơi nào kiền thành cung kính như vậy th́ họ tương ứng với Tánh Đức của cái tâm b́nh đẳng, đă tương ứng th́ đương nhiên phải giúp đỡ họ trước, khiến cho họ được thành thục sớm hơn một chút. Đấy là điều chúng ta cần phải biết khi mới học và khi hoằng hóa trong tương lai. Từ xưa đến nay, những vị đại thiện tri thức không có vị nào chẳng như vậy. Đức Phật giáng sanh trong thế gian này cũng phải chọn lựa nơi chốn, v́ sao? Chọn nhằm nơi nào đó, người ta chẳng tin tưởng và cung kính Ngài, Ngài giáng thế nơi đó vô ích, chẳng khởi tác dụng. Chọn lựa một nơi nào tôn sư trọng đạo, thật sự có ḷng chí thành cung kính đối với sư đạo để thị hiện th́ mới có thể khởi tác dụng, thật sự có thể hóa độ chúng sanh.

 

      (Sớ) Tâm tư giả, tâm chi quan tắc tư.

      () 心思者,心之官則思。

      (Sớ: “Tâm tư”: Công năng của tâm là suy nghĩ).

 

      Giải thích chữ “tâm tư” trong câu “kiệt tận tâm tư” [trong lời Tựa] ở phần trước, trọn hết năng lực tư duy của chính ḿnh, toàn bộ những ǵ chúng ta có thể suy tưởng được đều dâng hiến, nhất định chẳng giữ lại điều nào. Nói cách khác, đối với bộ kinh này, những ư nghĩa mà Ngài (Liên Tŕ đại sư) đă liễu giải, đă thấu hiểu đều giăi bày trọn vẹn, chẳng giấu diếm mảy may nào, mà là dâng hiến toàn bộ. Đoạn tiếp theo này nhằm giải thích tâm tư là “tâm chi quan tắc tư”. Chữ “tâm” này không phải là quả tim của chúng ta, tim không có công năng tư duy. Hiện thời chúng ta thường nói tư duy bằng năo, thật ra, chẳng phải là năo! Nếu năo có thể tư duy th́ người vừa mới chết, năo c̣n chưa hư, sao không tư duy? Nếu nó có thể suy nghĩ th́ chẳng gọi người ấy là người chết. Do vậy, chẳng phải là năo tư duy. Chữ Tâm ở đây chỉ tám thức, tám thức đều có công năng tư duy, A Lại Da, Mạt Na, thức thứ sáu, năm thức trước. Tiếp theo đây, Ngài nêu một thí dụ.

 

      (Sớ) Nghiêu Thuấn chi thánh, thượng kiệt tâm tư, ngă hà nhân tư, dung khả hốt dă.

      () 堯舜之聖,尚竭心思,我何人斯,庸可忽也。

      (Sớ: Nghiêu Thuấn là thánh nhân mà c̣n phải dốc cạn tâm tư, tôi là hạng người như thế nào mà dám dễ dăi [chẳng suy nghĩ cặn kẽ]).

 

      Vua Nghiêu, vua Thuấn là thánh vương khai quốc trước nhất của dân tộc Trung Hoa, là những đại thánh nhân, các Ngài c̣n phải dốc sạch tâm tư tạo phước cho trăm họ. Thánh nhân mà c̣n như thế, chúng ta là phàm phu, là hạng người tầm thường, làm sao chẳng thể dụng tâm? Câu này có ư nghĩa như vậy đó!

 

      (Diễn) Nghiêu Thuấn thượng kiệt tâm tư giả, Thư vân.

      () 堯舜尚竭心思者,書云。

      (Diễn: “Nghiêu, Thuấn c̣n phải dốc cạn tâm tư”: Kinh Thư chép).

 

      “Thư” là kinh Thư trong Ngũ Kinh, tức là sách Thượng Thư.

 

      (Diễn) Nghiêu Thuấn chi đạo, bất dĩ nhân chánh, bất năng b́nh trị thiên hạ.

() 堯舜之道,不以仁政,不能平治天下。

      (Diễn: Đạo của Nghiêu Thuấn là nếu chẳng cai trị bằng ḷng nhân sẽ chẳng thể b́nh trị thiên hạ).

 

      “Đạo” là căn cứ lư luận, là phương pháp và chánh sách để cai trị quốc gia của họ. “Nhân chánh”: “Nhân” () là suy từ ḿnh mà nghĩ đến người, luôn luôn nghĩ thay cho trăm họ, đó là “nhân chánh” (cai trị bằng ḷng nhân). Như thường nói “thôi kỷ cập nhân” (suy từ ḿnh mà nghĩ đến người), “kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (điều ǵ chính ḿnh chẳng muốn, đừng áp đặt lên người khác), đó là thực hành “nhân chánh”. Sách Tả Truyện[1] viết: “Quốc chi tương hưng, thính ư dân” (đất nước sẽ hưng thịnh nếu [nhà cầm quyền] nghe theo ư dân), nghe theo ư kiến của dân chúng, quốc gia sẽ cường thịnh, sẽ hưng vượng. “Quốc chi tương vong, thính ư thần” (Nước nhà sẽ mất nếu nghe theo lệnh thần), chuyện ǵ cũng nghe theo lệnh thần thánh, quốc gia ấy chắc chắn diệt vong!

      Chư vị đồng tu phải nhớ: Chúng ta hiện thời có nhiều người chẳng nghe theo lời của con người, mà nghe theo lời thần thánh, chuyện ǵ cũng phải van vái, thậm chí đoán mạng, xem tướng, coi Phong Thủy, luôn nghe theo những thứ ấy. Nếu một gia đ́nh nghe theo những thứ đó, nhà ấy nhất định sẽ suy sụp nhanh chóng. Nếu ḿnh quư vị nghe theo những thứ đó, cá nhân quư vị chẳng có tương lai. V́ sao? Toàn bộ vận mạng của quư vị bị quỷ thần khống chế, bị họ xếp đặt, tự ḿnh chẳng thể làm chủ được! Nếu quư vị muốn bản thân phát đạt, gia đ́nh hưng vượng th́ chính ḿnh phải làm chủ tể. Một nhà hưng vượng th́ phải nghe theo ư kiến của người trong gia đ́nh, gia đ́nh ấy mới có thể ḥa thuận. Một đoàn thể hưng vượng, phải tôn trọng ư kiến của đại chúng trong đoàn thể th́ đoàn thể sẽ hưng vượng. Nghe theo lời thần, để thần xếp đặt, chắc chắn sẽ hỏng việc, đấy là lời dạy của cổ thánh tiên hiền.

      “Nhân chánh” th́ phải nghe dân, tức là nghe ư kiến của bá tánh, chuyện ǵ cũng đều phải trao đổi với dân chúng. Do vậy, “bất dĩ nhân chánh, bất năng b́nh trị thiên hạ” (chẳng cai trị dân bằng ḷng nhân, chẳng thể b́nh trị thiên hạ). “B́nh” () là công bằng, “trị” () là cai trị. [B́nh trị là] cai trị thiên hạ công bằng, hợp t́nh, hợp lư, đúng cách, nay chúng ta gọi là “nhân quyền”. Quư vị phải hiểu: Từ xưa đến nay, những vị cổ thánh tiên hiền của Trung Quốc đều tôn trọng quyền lợi của dân. Trong số các hoàng đế của lịch sử Trung Quốc, nói thật ra những kẻ chuyên chế không có mấy người, tuyệt đại đa số là tôn trọng dân quyền, những người nghiên cứu chế độ chánh trị của Trung Quốc đều biết điều này.

 

      (Diễn) Hựu viết: Kư kiệt tâm tư yên, kế chi dĩ bất nhẫn nhân chi chánh, nhi nhân phú thiên hạ hỹ.

      () 又曰:既竭心思焉,繼之以不忍人之政,而仁覆天下矣。

      (Diễn: Lại c̣n chép: “Đă dốc cạn tâm tư, lại c̣n cai trị bằng chánh sách chẳng tàn nhẫn đối với con người, ḷng nhân trùm khắp thiên hạ vậy!”)

 

      Những người lănh đạo dân chúng nhất định phải dốc cạn tâm tư, chỉ sợ chính ḿnh chưa suy nghĩ chu đáo khiến cho bá tánh chịu khổ. Do vậy, “bất nhẫn nhân chi chánh” (cai trị bằng chánh sách chẳng tàn nhẫn đối với con người), “chánh” () là chánh sự (政事: những sự việc thuộc vấn đề cai trị), làm cho hết thảy mọi sự đều chánh (đúng mực, chánh đáng), chánh () là chẳng tà, chẳng lệch lạc. “Nhân phú thiên hạ” (ḷng nhân bao trùm thiên hạ), “nhân” là nhân từ, đối với mỗi một chúng sanh, đối với mỗi một người dân đều b́nh đẳng, nhân từ, đó là đạo của tiên vương. Nghĩ đến chỗ này, cổ thánh tiên hiền đều làm như vậy, chúng ta phải nên bắt chước, họ nêu gương như vậy, là khuôn mẫu cho chúng ta.

      Trong xă hội này, nếu chính chúng ta nghĩ đến cương vị, công việc của chính ḿnh, trọn hết bổn phận của chúng ta, ai nấy đều dốc cạn tâm tư trọn hết bổn phận, lẽ đâu nước nhà chẳng hưng vượng? Nh́n từ địa vị của chính ḿnh, luôn luôn nghĩ giùm người khác. Ví như chúng ta buôn bán, chính ḿnh kinh doanh, nhất định phải tận hết tâm lực nghĩ giùm cho khách hàng, chúng ta nhất định bán những hàng hóa có phẩm chất chân thật, chẳng để cho khách hàng bị thua thiệt, mắc lừa. Chúng ta mua vào bán ra nhất định phải dụng tâm, phải tôn trọng người khác, phải tôn trọng xă hội, phải có cống hiến cho xă hội, phải tạo lợi ích cho đại chúng. Đấy là Bồ Tát, thương nhân ấy chính là Bồ Tát thương nhân. Chúng ta làm thợ, những sản phẩm cũng nhất định phải chân thật, nhất định chớ nên làm quấy quá, ăn bớt vật liệu, đó là Bồ Tát công nhân. Cho đến làm người nội trợ trong gia đ́nh cũng phải dốc cạn tâm tư, đối với người già trẻ nhỏ trong gia đ́nh đều chiếu cố, khiến cho họ thân tâm đều an ổn, đó là Bồ Tát nội trợ. Có điều ǵ nghĩ chẳng chu đáo, chưa nghĩ tới, chính ḿnh phải nên tự trách, tự trách là sám hối, nhất định phải sửa đổi cho tốt đẹp hơn!

      Cùng một đạo lư ấy, Liên Tŕ đại sư là người xuất gia, Ngài thấy chú giải của bộ kinh này từ xưa đến nay có những chú giải quá sâu, hoặc là văn tự chú giải quá giản lược, đến nỗi công đức chẳng thể nghĩ bàn trong kinh bị ẩn khuất, chẳng thể hiển hiện, thấu lộ, khiến cho người đọc tụng chẳng thể sanh ḷng tin kiên định. Chính Ngài đă nhập cảnh giới này, nên cũng tận tâm trọn hết năng lực và bổn phận của chính ḿnh ḥng nêu rơ những công đức chẳng thể nghĩ bàn của kinh này cho chúng ta thấy, khiến chúng ta đọc xong, sau khi hiểu rơ sẽ sanh ḷng tin, y giáo phụng hành, trong một đời này cũng có thể văng sanh cơi Phật, Ngài đă thay Phật tuyên dương, giáo hóa chúng sanh.

      Nếu chúng ta thật sự thấu hiểu ư nghĩa này, chẳng những hết thảy các kinh khác sẽ cột lại cất trên gác cao, mà c̣n như Liên Tŕ đại sư đă nói: “Tam Tạng thập nhị bộ nhượng cấp biệt nhân ngộ, bát vạn tứ thiên hạnh nhiêu dữ biệt nhân hành” (Tam Tạng mười hai bộ dành cho kẻ khác ngộ, tám vạn bốn ngàn hạnh dành cho người khác hành). Lăo nhân gia chỉ có một bộ kinh này, chỉ có một câu A Di Đà Phật, đó là hạnh môn, tâm Ngài đă định. Từ nay trở đi, hết thảy các pháp môn Ngài không c̣n nghe, không hỏi tới nữa, một câu A Di Đà niệm đến tột cùng, có như vậy th́ mới có thể thành công. Pháp môn quư ở chỗ chuyên nhất. Chỉ có chuyên nhất th́ mới có thể thành tựu. Ngài nói ra dụng ư, nhân duyên và lư do chú giải bản kinh này .

      Tiếp theo đó, Ngài lại phải nói chỗ y cứ để chú giải bộ kinh này là ǵ? Chẳng phải là Ngài tùy tiện nói ra! Khi Thích Ca Mâu Ni Phật diệt độ, đă dạy các đệ tử chúng ta bốn nguyên tắc để y cứ (Tứ Y Pháp): Thứ nhất, y pháp bất y nhân; thứ hai, y nghĩa bất y ngữ; thứ ba, y liễu nghĩa, bất y bất liễu nghĩa; thứ tư, y trí, bất y thức. Liên Tŕ đại sư tuân thủ pháp Tứ Y của Thích Ca Mâu Ni Phật, do vậy, chẳng thể tùy tiện viết chú giải. Ngài có chỗ y cứ, y pháp bất y nhân (nương theo pháp, chẳng dựa theo người), Ngài y pháp, pháp ǵ vậy? Ngài nêu ra năm bộ kinh điển chủ yếu, tức là Tịnh Độ Tam Kinh, Cổ Âm Vương Kinh và Hậu Xuất Di Đà Kệ Kinh, năm thứ này là chỗ y cứ chủ yếu. Ngoài ra, những thứ tham khảo kèm thêm hết sức nhiều, từ Sớ Sao chúng ta cũng thường thấy những kinh luận mà Ngài trích dẫn đều là những kinh luận chủ yếu trong Đại Thừa, lấy chúng làm chỗ y cứ.      

      Xét theo công phu, Ngài cũng có y cứ, cũng chẳng phải là nói tùy tiện, Ngài dựa theo Nhất Hạnh tam-muội của Văn Thù Bồ Tát trong hội Bát Nhă, lấy đó làm nguyên tắc chỉ đạo tối cao cho Hạnh Môn của bộ Sớ Sao này, thật sự bất phàm! Chẳng dùng kiến giải hay ư tưởng của chính ḿnh để chú giải, chúng ta hết sức bội phục Ngài ở chỗ này. Ngoài ra, quan trọng nhất là kinh Hoa Nghiêm, nói thật ra, kinh Hoa Nghiêm và kinh này hầu như có cùng một Thể. Kinh Hoa Nghiêm đến cuối cùng cũng lấy Tây Phương Cực Lạc thế giới làm chỗ quy túc, mười đại nguyện vương của Phổ Hiền Bồ Tát dẫn về Cực Lạc, lấy Di Đà Tịnh Độ làm chỗ quy túc. Những chỗ trích dẫn kinh Hoa Nghiêm để chứng minh trong bộ Sớ Sao này đặc biệt nhiều, những chỗ giảng đến những điều khẩn yếu hầu như đều dẫn dụng kinh Hoa Nghiêm. Hôm nay đă hết thời gian rồi, chúng tôi giảng đến chỗ này.

 

Tập 42

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang năm mươi hai:

 

      (Sớ) Bộ loại giả, chuyên đàm Cực Lạc Đại Bổn đẳng ngũ kinh dă. Văn Thù giả, Văn Thù Bát Nhă kinh, chuyên xưng danh tự Nhất Hạnh tam-muội dă.

      () 部類者,專談極樂大本等五經也。文殊者,文殊般若經,專稱名字一行三昧也。

      (Sớ: “Bộ loại” là những kinh chuyên giảng về Cực Lạc như năm kinh [Tịnh Độ]: Đại Bổn v.v... Nói “Văn Thù” là chỉ kinh Văn Thù Bát Nhă, [kinh này giảng về] Nhất Hạnh tam-muội chuyên xưng niệm danh hiệu Phật).

 

      “Bộ” là cùng một bộ (cùng giảng về một hạnh môn) chỉ cho Tịnh Độ Ngũ Kinh mà chúng ta đang nhắc đến. Danh xưng Ngũ Kinh[2] trong đoạn văn trên đây không phải là cuốn Tịnh Độ Ngũ Kinh đang được chúng ta lưu thông hiện thời. Bản thường lưu thông hiện thời th́ kinh Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ là Tịnh Độ Tam Kinh, người đời sau thêm vào Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương của kinh Lăng Nghiêm và Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm [của kinh Hoa Nghiêm], gọi chung là Tịnh Độ Ngũ Kinh. Gần đây có người nói chẳng nên xếp phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện của kinh Hoa Nghiêm vào Tịnh Độ Ngũ Kinh, mà nên dùng Bát Nhă Tâm Kinh. Điều này thật ra rất vô lư. Mấy năm gần đây nhất, Phật giáo trên thế giới hết sức rối loạn, bản thân chúng ta phải hết sức dè chừng, những ǵ cổ đại đức chọn lựa nhất định có lư!

      Tịnh Độ Tam Kinh, Cổ Âm Vương Kinh, và Hậu Xuất Di Đà Kệ Kinh là căn cứ giáo lư để Liên Tŕ đại sư viết bộ chú giải này, đây là những kinh điển để Ngài y cứ. Ngài lấy năm kinh này làm chánh, đủ thấy chú giải và giảng đều chẳng dễ dàng, nhất định phải lấy kinh điển làm căn cứ. Giảng đến Hạnh Môn th́ cách niệm Phật như thế nào? Phương pháp Niệm Phật rất nhiều, nói tổng quát th́ có bốn loại lớn, trong mỗi một loại đều có rất nhiều phương pháp niệm, rốt cuộc là y cứ loại nào? Mà loại ấy là do ai truyền lại? Đấy đều là những chuyện mà người niệm Phật chúng ta hết sức quan tâm. Trong kinh này, phương pháp niệm Phật do đại sư dạy cho chúng ta dựa trên “Nhất Hạnh tam-muội chuyên xưng niệm danh hiệu” trong kinh Văn Thù Bát Nhă. Nh́n từ phương diện này, bất luận về mặt kinh luận, hay về mặt phương pháp, chỗ y cứ của lăo nhân gia đều có thể nói là tối thượng thừa, đáng cho chúng ta tin tưởng, nương cậy. Khi dẫn dụng kinh điển th́ kinh được dẫn dụng nhiều nhất là kinh Hoa Nghiêm.

 

      (Sớ) Tạp Hoa giả.

      () 雜華者。

      (Sớ: Tạp Hoa là...).

 

      Tạp Hoa là kinh Hoa Nghiêm.

           

      (Sớ) Dĩ Hoa Nghiêm tánh hải vi Tông, minh giáo phi quyền thiển dă.

      () 以華嚴性海為宗,明教非權淺也。

      (Sớ: Lấy Hoa Nghiêm tánh hải làm Tông, nhằm chỉ rơ giáo pháp này chẳng phải là quyền biến hay nông cạn).

 

      Hoa Nghiêm là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, “Tánh hải vi Tông” (Tánh hải làm Tông) chính là nói về tông chỉ của kinh Hoa Nghiêm. Kinh Hoa Nghiêm từ đầu đến cuối đều nói về Chân Như bổn tánh.

 

      (Diễn) Tánh hải vi Tông giả, Hoa Nghiêm tứ phần.

      () 性海為宗者,華嚴四分。

      (Diễn: “Tánh hải làm Tông”: Kinh Hoa Nghiêm có bốn phần).

 

      Kinh Hoa Nghiêm gồm bốn phần “Tín, Giải, Hành, Chứng”, nói lên trọn vẹn Phật pháp, bất cứ phần nào cũng đều giảng rơ ràng, hết sức thấu triệt, tường tận. Đây chính là căn bản pháp luân của Phật pháp.

 

      (Diễn) Ngũ châu.

      () 五周。

      (Diễn: Và năm tầng [nhân quả]).

 

      “Ngũ châu” là nói tới nhân quả, kinh Hoa Nghiêm có năm tầng nhân quả[3].

 

      (Diễn) Lục tướng, thập huyền, tứ chủng pháp giới, nhị thập chủng Hoa Tạng, cập vô lượng hương thủy hải, giai tùng nhất tâm lưu xuất, cố dĩ “Tánh hải vi Tông” dă.

      () 六相,十玄,四種法界,二十重華藏,及無量香水海,皆從一心流出,故以性海為宗也。

      (Diễn: Sáu tướng, mười huyền môn, bốn thứ pháp giới, hai mươi thứ Hoa Tạng, và vô lượng biển nước thơm, đều từ nhất tâm lưu xuất, v́ thế, lấy Tánh hải làm Tông).

 

      Nguyên tắc và nguyên lư của nhân sinh và vũ trụ được giảng trong kinh Hoa Nghiêm, nói chung chẳng ngoài “lục tướng, thập huyền, tứ pháp giới”. Hai mươi thứ thế giới Hoa Tạng[4] cũng mang ư nghĩa biểu thị pháp. Thế giới Hoa Tạng v́ sao có hai mươi thứ? Trong hội Hoa Nghiêm, đức Phật dùng “mười” để biểu thị đại viên măn, kinh này dùng “bảy” để biểu thị đại viên măn. Do vậy, chúng đều chẳng phải là con số, mà mang ư nghĩa biểu thị pháp. “Nhị thập chủng” là nói thế gian và xuất thế gian, thế gian có mười thứ, xuất thế gian có mười thứ, biểu thị đại viên măn của xuất thế gian lẫn thế gian. Đồng thời c̣n hiển thị tự lợi và lợi tha. Tự lợi có mười thứ đại viên măn, lợi tha cũng có mười thứ đại viên măn. Kinh nói thế giới Sa Bà ở tầng thứ mười ba, tức tầng thứ mười ba trong hai mươi tầng [của thế giới Hoa Tạng], đương nhiên là tự lợi trước rồi mới lợi tha. Điều này có nghĩa là lợi tha vượt trỗi tự lợi. Những con số này chẳng phải là thật sự chỉ có tầng cấp nhiều ngần ấy mà nhằm biểu thị pháp. Nếu nói đến tầng cấp [thật sự] th́ có vô lượng vô biên.

      Nếu nói toàn bộ vũ trụ và nhân sinh, nói theo thuật ngữ Phật học là “y chánh trang nghiêm”, tức là y báo và chánh báo đều “tùng nhất tâm lưu xuất” (lưu xuất từ nhất tâm). Nhất tâm là bổn tánh, nhất tâm rộng lớn chẳng có ngằn mé. Do vậy, nó được sánh ví như biển. Trong thế gian của chúng ta, biển rộng nhất. V́ thế, lấy biển để tỷ dụ bổn tánh của chúng ta, hoàn toàn là từ Chân Như bổn tánh biến hiện ra. Rời khỏi tâm tánh, sẽ không có một vật nào khác, hết thảy kinh điển Đại Thừa đều nói như vậy. Bởi thế, lấy Tánh hải làm tông chỉ.

      Trong đoạn này, chúng ta hăy đặc biệt chú ư “nhất tâm”. Nhất tâm lưu xuất pháp giới. Do vậy, pháp giới được gọi là Nhất Chân pháp giới. Đă là Nhất Chân th́ Nhất Chân là chân thật, quyết định không có sai lầm, v́ sao kinh lại nói tới mười pháp giới, hoặc nói vô lượng pháp giới? Những điều này do đâu mà có, chúng ta nhất định phải hiểu rơ ràng. Nói mười pháp giới hay nói vô lượng pháp giới đều là nói phương tiện, v́ chúng chẳng chân thật. Đă không chân thật th́ sao lại phải nói? Tuy chẳng chân thật, nhưng có chuyện ấy tồn tại. Ví như nằm mộng, mộng chẳng phải là chân thật, nhưng mộng có hay không? Thật sự có! Tuyệt đại đa số con người đêm ngủ đều nằm mộng, mộng là có, nhưng chẳng phải là chân thật. Mười pháp giới, vô lượng pháp giới giống như nằm mộng. Kinh Kim Cang nói rất hay, “nhất thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh” (hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng). Pháp hữu vi là mười pháp giới, vô lượng pháp giới. Đây là v́ hàng sơ học chúng ta nên [đức Phật] chẳng thể không sử dụng pháp phương tiện để nói rơ những hiện tượng huyễn hữu này. “Huyễn hữu” là chẳng phải thật sự có, thật sự có chính là Nhất Chân pháp giới.

      Pháp giới đă từ nhất tâm biến hiện, nên tu nhất tâm rất trọng yếu. Tám vạn bốn ngàn pháp môn đều là tu nhất tâm. Bất luận một pháp môn nào, danh xưng khác nhau, tuy danh tự khác nhau, nhưng cảnh giới đạt đến do tu học đều hoàn toàn tương đồng. Thế nhưng trong tám vạn bốn ngàn pháp môn, tu nhất tâm bất loạn thẳng chóng, ổn thỏa, thích đáng th́ chính là bộ kinh này. Hai câu quan trọng nhất trong kinh Di Đà là “nhất tâm bất loạn, tâm bất điên đảo”. Tám chữ này là chủ thể và trung tâm của toàn bộ bản kinh. Dùng phương pháp nào để tu? Dùng một câu Phật hiệu, niệm sáu chữ “Nam-mô A Di Đà Phật”, hoặc niệm bốn chữ “A Di Đà Phật”. Dùng phương pháp ấy, trực tiếp, ổn thỏa, thích đáng để tu nhất tâm bất loạn, tu tâm không điên đảo. Khi bắt đầu tu học, đương nhiên tâm vẫn bị loạn, vẫn bị điên đảo, nhưng nếu quư vị nắm được, nhất định chẳng vứt bỏ, chẳng lui sụt, nhất định dấy lên tinh thần nắm chắc câu Phật hiệu này để niệm; niệm rồi quư vị mới biết hiệu quả chẳng thể nghĩ bàn, thật sự có thể đạt tới nhất tâm bất loạn, tâm chẳng điên đảo!

      Nhất tâm bất loạn là Thiền Định tối cao, là Tánh Định, tức đại định xứng tánh, tâm chẳng điên đảo là trí huệ tối cao. Do vậy, mỗi tiếng niệm Phật đều là phước huệ song tu, Định là phước. Chúng ta ở trong thế gian, phước báo chân chánh là ǵ? Định là phước báo chân chánh. Bất luận trong cảnh giới nào, đều chẳng bị cảnh giới xoay chuyển, ở trong cảnh giới như như bất động, người ấy có phước. Nếu tâm chuyển theo cảnh giới bên ngoài sẽ khá khổ sở. V́ sao? Quư vị bị vận mạng xoay chuyển, bị Phong Thủy xoay chuyển; vận mạng và Phong Thủy [bèn trở thành] có thật. Nếu quư vị tu Định thành công, vận mạng và Phong Thủy không c̣n nữa, v́ sao? Vận mạng và Phong Thủy bị quư vị chuyển. Phong Thủy không tốt, quư vị đến ngồi nơi đó, Phong Thủy sẽ chuyển biến tốt đẹp. Nó chuyển theo tâm của quư vị, chứ chúng ta không bị chuyển theo nó. Đây là như kinh Lăng Nghiêm đă dạy: “Nhược năng chuyển cảnh, tắc đồng Như Lai” (Nếu chuyển được cảnh, sẽ giống như Như Lai”). Phật pháp thừa nhận con người có vận mạng, thế gian này có Phong Thủy, nhưng Phật pháp chẳng đề cao vận mạng và Phong Thủy! Phật pháp đề cao nhất tâm bất loạn, tâm chẳng điên đảo, tự chuyển vận mạng, tự chuyển Phong Thủy, tự tại lắm! Do vậy, học Phật nhất định phải hiểu rơ đạo lư này.

      Hôm trước, tôi gặp một đồng tu, tuổi rất trẻ, làm nghề buôn bán. Có một tay tướng số muốn giúp anh ta đoán mạng, nhưng đ̣i tiền công ba mươi vạn. Tôi bảo anh ta: “Ông rất đáng thương, mạng ông chỉ đáng ba mươi vạn ư?” Người này rất thông minh, anh ta nói: “Tôi có ba mươi vạn đem làm công đức, tôi chẳng đưa tiền cho gă thầy bói”. Như vậy là đúng, anh ta có thể xoay chuyển vận mạng. V́ thế, nhất định phải hiểu rơ đạo lư này. C̣n có người xem Phong Thủy, tôi nghe nói mỗi lần coi cũng tốn mấy chục vạn. Nếu đem mấy chục vạn ấy bố thí, cứu tế, làm chuyện tốt, Phong Thủy sẽ chuyển theo quư vị, quư vị chẳng bị Phong Thủy chuyển. Học Phật nhất định phải hiểu lư!

      V́ vậy, trong vô lượng pháp môn, trực tiếp tu nhất tâm là bộ kinh này, cái hay của bộ kinh này là ở chỗ này: Nếu quư vị đắc nhất tâm, đương nhiên sẽ nhập Nhất Chân pháp giới. Tôi giảng Hoa Nghiêm và khi giảng các kinh, thường nói gộp lại: Nhất Chân pháp giới là sở nhập, tức cảnh giới được nhập, nhất tâm bất loạn là năng nhập. Chỉ cần chúng ta đắc nhất tâm, quư vị liền nhập Nhất Chân pháp giới. Nhập Nhất Chân pháp giới chẳng phải là người tầm thường! Theo như kinh Hoa Nghiêm nói: Đó là Pháp Thân đại sĩ, là đại Bồ Tát. Chư Phật, Bồ Tát, lịch đại tổ sư đại đức cực lực đề xướng pháp môn này, khuyên dạy chúng ta tu học pháp môn này. Nếu hoài nghi pháp môn này, sẽ chẳng thể sanh ḷng tin, chẳng thể y giáo phụng hành, giống như lăo pháp sư Ấn Quang đă nói: “Nghiệp chướng sâu nặng!” Phàm những ai có thể tiếp nhận, có thể y giáo phụng hành th́ đều là người có thiện căn, phước đức, và nhân duyên đầy đủ. Nếu có đủ ba điều kiện này, quư vị sẽ có thể ổn thỏa, thích đáng thành tựu trong một đời này.

      Có một ngày Hè, chùa Thiền Lâm mở khóa đại chuyên giảng ṭa, cư sĩ Lam Cát Phú đến hỏi tôi một câu: “Kinh Phật nói thành Phật phải mất ba đại A-tăng-kỳ kiếp, lời ấy là thật hay giả?” Cách nói ấy trong kinh Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa đều có, Phật c̣n có thể nói dối hay sao? Nhưng ông ta hoài nghi, ông ta đến hỏi tôi. Tôi bảo ông ta: “Vừa thật vừa giả!” Ông ta ngẩn ngơ, v́ sao vừa thật vừa giả? Tôi bảo ông ta: “Nếu ba điều kiện thiện căn, phước đức, nhân duyên đều đầy đủ th́ ông có thể thành Phật ngay trong một đời, chẳng cần đến ba đại A-tăng-kỳ kiếp. Trong ba điều ấy, nếu thiếu một điều, đời này sẽ chẳng thể thành tựu”. Tôi bảo ông ta hăy tự suy nghĩ, trong một đời, nếu ba điều kiện ấy đều đầy đủ th́ có bao nhiêu người được như vậy? Ông ta suy nghĩ: Quả thật là phải mất ba đại A-tăng-kỳ kiếp! Quả thật chẳng dễ dàng!

      Thiện căn là ǵ? Thiện căn là tín giải (tin, hiểu), quyết định chẳng hoài nghi, hoàn toàn tin tưởng khẳng định. Không chỉ tin tưởng, mà c̣n có thể lư giải. V́ thế, tín giải là thiện căn. Phước đức là ǵ? Y giáo tu hành là phước. Chẳng chịu y giáo tu hành, dẫu có tin, dẫu có giải, nhưng chẳng chịu làm th́ người ấy tuy có thiện căn, nhưng chẳng có phước đức! Nhân duyên là Tăng Thượng Duyên. Ví như người thật sự có thiện căn và phước đức, nhưng trong một đời chẳng gặp gỡ Phật pháp, mà gặp ngoại đạo, người ấy cũng có thể tin, có thể hiểu pháp ngoại đạo, người ấy cũng sốt sắng tu hành, tu trở thành một gă ngoại đạo, đáng tiếc! Thiếu nhân duyên mà!

      Trong nhân duyên, Phật pháp có tám vạn bốn ngàn pháp môn, làm sao có thể gặp được pháp môn Tịnh Độ? Pháp môn Tịnh Độ thành tựu trong một đời, những pháp môn khác chẳng thể thành tựu trong một đời; đời đời kiếp kiếp tu tập, vẫn là phải mất ba đại A-tăng-kỳ kiếp. Điều này chứng tỏ: Nếu quư vị tin tưởng pháp môn này, chiếu theo pháp môn này tu hành, quư vị sẽ thành Phật trong một đời, chẳng cần phải mất ba đại A-tăng-kỳ kiếp. Nếu chẳng tu pháp môn Tịnh Độ, mà học Thiền, học Mật, học những pháp môn khác, th́ thưa cùng quư vị, vẫn là phải ba đại A-tăng-kỳ kiếp. Điều này tuyệt đối chẳng phải là gạt người!

 

      (Sớ) Minh giáo phi quyền thiển dă.

      () 明教非權淺也。

      (Sớ: Nói rơ giáo pháp này chẳng phải là quyền biến, nông cạn).

 

      “Giáo” là pháp môn Tịnh Độ. “Giáo” là giáo học, giáo học này chẳng phải là Quyền. Quyền () là pháp phương tiện, chẳng phải là Quyền th́ là ǵ? Chân thật! Chẳng phải là “thiển” (), tức là có mức độ khá sâu. Điều này là xác thực, cổ đại đức thường nói pháp môn này “chỉ có Phật và Phật mới có thể thấu hiểu rốt ráo, hàng Đẳng Giác Bồ Tát đều chẳng thể hiểu thấu triệt”; đủ thấy giáo này chẳng nông cạn, đừng coi pháp này là pháp nông cạn.

      Có những người tự cậy ḿnh thông minh, chẳng cam tâm tu pháp môn Niệm Phật, đại khái là họ thấy tu hành pháp môn Niệm Phật rất dễ dàng: Niệm một câu A Di Đà Phật chẳng cần phải quán tưởng, cũng chẳng cần phải tham cứu, chẳng cần đến bất cứ nghi thức nào, đi, đứng, nằm, ngồi trong tâm tưởng Phật, miệng niệm Phật là được rồi, thật sự quá dễ dàng! Trên mặt Sự th́ thực hành quá dễ dàng, nhưng trên lư luận lại rất sâu. Pháp môn này hết sức thích hợp với cuộc sống của con người hiện đại; con người hiện đại khá bận bịu, niệm Phật chẳng trở ngại công việc. Đây là nói về giáo học.

 

      (Sớ) Quần điển giả, dẫn chư kinh luận dĩ chứng minh, ngôn phi ức kiến dă.

      () 群典者,引諸經論以證明,言非臆見也。

      (Sớ: “Quần điển”: Dẫn các kinh luận để chứng minh, ư nói chẳng phải là đoán ṃ).

 

      Chú giải của đại sư chỗ nào cũng có kinh điển dẫn chứng, không có câu nào chẳng có căn cứ. Đây là chỗ hay của lăo nhân gia, trọn chẳng do chính ḿnh giả định, suy đoán rồi nói với người đời sau. Những điều do chính Ngài suy tưởng cũng vốn sẵn có trong kinh luận, vẫn là dẫn dụng kinh điển để làm sáng tỏ [chứ không nói là ư tưởng của chính ḿnh], thật sự là “y pháp, bất y nhân”.

 

      (Sớ) Tường như nghĩa lư bộ loại nhị môn, cập hậu kinh văn trung biện.

      () 詳如義理部類二門,及後經文中辯。

      (Sớ: Muốn biết tường tận nghĩa lư của hai môn Bộ và Loại th́ đến phần kinh văn ở phía sau sẽ biện định).

 

      Tới phần sau, Ngài sẽ giảng tường tận cho chúng ta h́nh thái của Sớ Sao và dẫn chứng bằng những thí dụ trong kinh luận.

     

      (Sớ) Tiêu quy tự kỷ giả, minh bất chuyên sự tướng, cứu kỳ quy trước, tất giai tiêu hóa, dung hội, quy ư ngă chi bổn tánh.

      () 消歸自己者,明不專事相,究其歸著,悉皆消化融會,歸於我之本性。

      (Sớ: “Tiêu quy tự kỷ” ư nói: Chẳng chuyên luận về sự tướng, xét đến chỗ quy kết, ắt sẽ tiêu hóa, dung hội, gộp về bổn tánh của ta).

 

      Tiêu quy tự tánh, câu này hết sức trọng yếu trong “nghe pháp, tu hành”. Chúng ta nghe kinh [được lợi ích hay không là do] có biết nghe hay là không? Người biết nghe, nghe xong sẽ khai ngộ; người không biết nghe, nghe xong rồi bèn tăng trưởng tà kiến, đó gọi là “tử tại ngôn hạ” (chết cứng nơi lời nói), chẳng khai ngộ. Đọc kinh cũng như vậy, đọc kinh th́ là “tử tại cú hạ” (chết cứng nơi câu văn), chết cứng nơi từng ḍng chữ, đọc sách chết cứng. Tất cả kinh luận đều nhằm khơi gợi, phát khởi ngộ tánh của chúng ta, giúp chúng ta khai ngộ. Kết quả là chúng ta càng đọc càng chẳng thể khai ngộ, càng đọc càng lắm chướng ngại, đấy là không biết đọc! Thế nào mới là biết đọc? Biết tiêu quy tự tánh th́ gọi là biết đọc, điều này rất quan trọng!

      Tiêu quy tự tánh như thế nào? Ở đây, chúng tôi nói đơn giản dễ hiểu th́ thứ nhất là chẳng chấp tướng, tức là “bất chuyên sự tướng” (chẳng chuyên chú nơi sự tướng). Con người hiện thời chuyên môn nghiên cứu danh tướng; danh từ, thuật ngữ dù hiểu rơ đến đâu đi nữa, bất quá chỉ là một bộ Phật Học Từ Điển sống mà thôi, chẳng thể khai ngộ! Do vậy, học ǵ đều chớ nên ghi nhớ chết cứng danh tướng. Trong Phật pháp, danh tướng là công cụ để dạy học, là thủ đoạn, là phương pháp, chẳng phải là mục đích. Quư vị phải vận dụng nó để đạt đến mục đích, mục đích là khai trí huệ. Do vậy, chớ nên chuyên chú nơi danh tướng, phải từ danh tướng mà tham cứu, quy kết (quy túc, đạt đến). Trong nhà Phật nói “tham cứu”, chẳng bảo quư vị nghiên cứu! Nghiên cứu và tham cứu khác nhau, nghiên cứu là dùng Ư Thức, tức thức thứ sáu, dùng khảo sát, suy nghĩ. Phật pháp chẳng dùng khảo cứu và suy nghĩ. Khảo cứu và suy nghĩ là phân biệt, chấp trước. Phật pháp dạy quư vị ĺa hết thảy phân biệt, chấp trước, nay quư vị cứ khăng khăng dùng hết thảy phân biệt, chấp trước, tức là đă hoàn toàn trái nghịch với Phật pháp mất rồi!

      Dùng tâm ư thức là đại chướng ngại trong khai ngộ. Tham Thiền, ĺa tâm ư thức gọi là “tham cứu”. Dùng tâm ư thức th́ chẳng gọi là “tham”. Tâm ư thức là ǵ? “Tâm” là A Lại Da Thức, tác dụng của A Lại Da Thức là ghi ấn tượng, giữ lại chủng tử. Ư là Mạt Na Thức, công năng của nó là chấp trước, tức Ngă Chấp và Pháp Chấp. “Thức” là thức thứ sáu, tác dụng của thức thứ sáu là phân biệt. Nói cách khác, ĺa tâm ư thức là ǵ? Nói đơn giản là chẳng phân biệt, chẳng chấp trước, chẳng ghi lại ấn tượng, đó gọi là “tham”, hay “tham cứu”. Tham Thiền phải dùng phương pháp này, nghe kinh cũng phải dùng phương pháp này, đọc tụng vẫn là dùng phương pháp này. Thậm chí chúng ta niệm một câu “Nam-mô A Di Đà Phật” cũng chẳng rời phương pháp này, quư vị mới có thể niệm đến mức nhất tâm bất loạn, tâm chẳng điên đảo. Nhất tâm bất loạn là đại định, là đại định xứng tánh; tâm chẳng điên đảo là khai huệ, đại triệt, đại ngộ.

      Chúng ta không hiểu nguyên lư và nguyên tắc, hằng ngày niệm một câu A Di Đà Phật vẫn là dùng phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, đó gọi là “tu mù, luyện đui”; chỉ có thể nói là niệm th́ tốt hơn chẳng niệm, v́ sao? Tu mù luyện đui, trong A Lại Da Thức giữ lại chủng tử Phật. Nói như vậy là cảnh giới khá cao, dường như chẳng khác Tối Thượng Thượng Thiền và Mật tối cao. Nói như vậy th́ sợ rằng kẻ sơ học chúng ta suốt một đời này chẳng có hy vọng văng sanh. Quư vị hăy hết sức an tâm, v́ sao? Tôi vừa mới nói: “Ĺa tâm ư thức, tiêu quy tự tánh” đích xác là Thượng Phẩm Thượng Sanh trong Tịnh Độ, đấy là đă đắc Lư nhất tâm bất loạn, sanh vào cơi Thật Báo Trang Nghiêm. Nếu quư vị hiểu đường nẻo ấy, hăy ĺa tâm ư thức mà niệm Phật. Chỗ thù thắng nhất trong pháp môn này chính là đới nghiệp văng sanh trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư, chúng ta ai cũng có phần. V́ sao? Có thể phân biệt, chấp trước, cũng như có thể khởi vọng tưởng mà vẫn có thể văng sanh! Chúng ta vừa nghe nói như vậy, trong ḷng rất khoan khoái, vậy th́ ta cũng có phần, ta cũng có thể văng sanh. Ai nấy đều có phần trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư, c̣n cơi Thật Báo Trang Nghiêm th́ chẳng phải là ai cũng có phần. Những người như vậy [hiếm hoi như] lông phượng, sừng lân, nhưng điều chẳng thể nghĩ bàn nhất trong pháp môn Tịnh Độ là sanh vào cơi Phàm Thánh Đồng Cư th́ sự hưởng thụ, thụ dụng và cảnh giới trong ấy gần như chẳng khác ǵ cơi Thật Báo, cũng giống như đă sanh vào cơi Thật Báo, điều này chẳng thể nghĩ bàn!

      Do vậy, không chỉ rất nhiều người không tin Tịnh Độ, mà ngay cả nhiều vị Bồ Tát cũng không tin tưởng. Lư quá sâu, nhưng Sự đúng là như vậy. Nếu quư vị không tin, chẳng chịu văng sanh Tịnh Độ, nhân duyên thù thắng này ở ngay trước mặt mà bỏ lỡ, thật là đáng tiếc! Cổ nhân có tỷ dụ, giống như chúng ta bị bệnh quá nặng, hiện thời gặp được một thầy lang. Thầy lang chẩn đoán, ngay lập tức cắt thuốc, quư vị uống vào sẽ khỏi bệnh. Nếu quư vị chẳng chịu uống thuốc, mà hỏi thầy lang ấy: “Tôi bị bệnh ǵ? Bệnh do đâu mà có? Sanh bệnh v́ nguyên nhân nào? Thuốc của ông do đâu mà có? Thuốc có tánh chất ǵ? V́ sao có thể trị lành bệnh này?” Những điều ấy đều muốn hiểu rơ th́ phải theo học mấy năm ở đại học Y Khoa, chưa đến lúc hiểu rơ, quư vị đă mất mạng rồi! Lư Tịnh Độ là như vậy, cho nên quư vị hăy tin tưởng Thích Ca Mâu Ni Phật, tin tưởng A Di Đà Phật là được rồi, đừng hỏi tới những chuyện khác! Một câu Di Đà niệm cho tốt đẹp, niệm đến đới nghiệp văng sanh là thành công rồi!

     Sau khi công phu thành phiến, quả thật có năng lực văng sanh, lúc ấy tùy thuộc vào chính quư vị: Quư vị có muốn văng sanh sớm hơn một chút hay không? Hay là muốn sống thêm vài năm nữa? Thưa cùng quư vị, sống thêm vài năm nữa, chẳng nhằm tham cầu hưởng thụ thế giới này! Phải hiểu đạo lư ấy, v́ sao? Do tu hành trong thế giới Sa Bà khó hơn tu trong thế giới Cực Lạc, đă là khó khăn th́ thành tựu sẽ cao. V́ thế, kinh dạy: “Tu hành một trăm năm trong thế giới Cực Lạc bằng tu hành ở nơi đây một ngày”. Chúng ta gạn hỏi: Tu hành ở nơi đây một ngày bằng người ta tu hành ở bên kia một trăm năm, th́ nói cách khác: Nếu chúng ta sanh vào cơi Phàm Thánh Đồng Cư, muốn nâng cao hơn một cấp tức là sanh vào cơi Phương Tiện Hữu Dư th́ gần như phải tu một vài đại kiếp, thời gian rất dài. Nếu chúng ta tu hành ở nơi đây, tốn công phu mấy năm là được rồi!

      Nếu quư vị niệm Phật đến mức công phu thành phiến, lại mong đạt đến Sự nhất tâm bất loạn th́ tốn thời gian năm năm hay mười năm sẽ đạt được. Như vậy th́ văng sanh Tây Phương sẽ chiếm tiện nghi rất lớn. Như vậy là đă nắm chắc văng sanh nhưng chưa văng sanh, vẫn tiếp tục tu hành ở nơi đây, không ǵ chẳng nhằm nâng cao cảnh giới của chính ḿnh, chứ không phải để tiếp tục hưởng thụ. Thế giới Sa Bà khổ sở, đâu có thứ ǵ tốt đẹp để hưởng thụ? Niệm đến mức Sự nhất tâm bất loạn, c̣n có thể nâng cao lên thành Lư nhất tâm bất loạn, chúng ta nhất định phải hiểu rơ điều này. Đến công phu thành phiến, lập tức mong văng sanh, cố nhiên là chuyện tốt, chẳng phải là chuyện xấu, nhưng chẳng bằng ở nơi đây, trong một thời gian hết sức ngắn ngủi, nâng cao cảnh giới và phẩm vị của chính ḿnh. Nhất định phải hiểu lư này; chẳng hiểu rơ th́ việc nâng cao cảnh giới sẽ bị chướng ngại.

      Tiêu quy”: Tiêu () là tiêu hóa, dung hội. Tiêu hóa điều ǵ? Lư tiêu hóa nơi Sự, Sự dung hội với Lư. Lư và Sự là một, không hai. Đấy là cảnh giới Hoa Nghiêm: “Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại”. Nếu chẳng thể tiêu hóa, dung hội, sẽ có chướng ngại! Rất nhiều đồng tu học Phật nói với tôi: “Đạo lư Phật pháp quả thật quá tốt đẹp, nhưng chẳng ăn khớp với cuộc sống của chúng tôi, chẳng thể áp dụng vào cuộc sống thường ngày”. Đấy chính là “Lư là Lư, Sự là Sự”, Sự là cuộc sống thường ngày của chúng ta. Chưa thể tiêu hóa, dung hội những đạo lư ấy trong cuộc sống thường nhật, cho nên chúng ta chẳng thể thụ dụng trong cuộc sống được! Không thể thụ dụng th́ học Phật sẽ học rất khổ. Nếu quư vị có thể thụ dụng th́ học Phật sẽ vui sướng và tự tại lắm! Giống như chúng ta ăn món ǵ đó, ruột gan của chúng ta rất tốt, sức tiêu hóa rất mạnh, hoàn toàn hấp thu, biến thành dưỡng chất, bồi bổ thân thể, thân thể của quư vị sẽ cường tráng. Nếu quư vị ăn món ǵ chẳng tiêu hóa được, bệnh sẽ mỗi ngày một nghiêm trọng hơn, càng ăn càng khổ! Học Phật là như thế, phải biến một câu A Di Đà Phật thành cuộc sống của chúng ta. Cuộc sống của chúng ta là A Di Đà Phật, như vậy th́ sẽ tự tại!

      Biến A Di Đà Phật thành cuộc sống của chúng ta như thế nào? Quư vị nhất định phải hiểu ư nghĩa của A Di Đà Phật. Ư nghĩa của câu danh hiệu này nói đơn giản nhất là Vô Lượng Giác. Danh hiệu này dịch âm từ tiếng Phạn của Ấn Độ. A dịch là Vô, Di Đà dịch là Lượng, Phật dịch là Giác, Vô Lượng Giác, thứ ǵ cũng đều phải giác ngộ, giác chứ không mê! Giác là sung sướng, mê bèn khổ sở. Sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần, mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, cho đến trong tâm khởi tâm động niệm, thảy đều là giác chứ không mê. Nói thô thiển một chút th́ đăi người, tiếp vật, mặc áo, ăn cơm, chẳng có thứ ǵ mê hoặc, thảy đều là giác chứ không mê, biến A Di Đà Phật thành cuộc sống của chính ḿnh. Nếu nói cặn kẽ, bộ Sớ Sao này từ đầu đến cuối đều nhằm nói về chuyện này, một bộ Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh cũng nhằm nói về chuyện này, nhất định phải biến Phật pháp thành cuộc sống của chính ḿnh, thật sự đạt đến “ĺa khổ, được vui”.

      Ví như tôi vừa mới nêu một thí dụ: Các vị đồng tu muốn đi xem bói, giá một lần xem bói là ba chục vạn đồng. Nếu gặp phải kẻ mê, hắn ta sẽ thật sự chịu để cho kẻ khác xem bói: “Nói chung, mạng ta khá lắm, để cho hắn ta coi bói thử! Trong tương lai ta sẽ kiếm được ba ngàn vạn, tốn ba chục vạn coi bói cũng đáng lắm chứ!” Kẻ ấy mê rồi, đem tiền cúng cho gă thầy bói. Hắn đoán mạng cho quư vị, nhưng hắn đâu có đảm bảo về mặt pháp luật. Tương lai quư vị chẳng phát tài, đến t́m hắn, hắn lại xủ một quẻ khác: “Ông bị tổn âm đức ở chỗ nào đó, làm chuyện ǵ bất hảo ở đâu đó, cho nên phước báo dần dần giảm bớt!” Miệng người là hai nếp thịt, mặc cho hắn nói cách nào cũng đều có lư hết! Tiền quư vị dâng suông cho hắn xơi! V́ vậy, chớ nên mê! Người giác chứ không mê th́ “ta có tiền nhiều dường ấy, ta đem làm chuyện tốt, thật sự làm công đức”.

      Người giác ngộ chẳng tích cóp tiền, có tiền bèn làm chuyện tốt. Người giác ngộ chẳng ky cóp tiền trong ngân hàng, mà cất tại đâu? Cất trong pháp giới, cất nơi hết thảy chúng sanh, người ấy tự tại lắm. Quư vị đọc Liễu Phàm Tứ Huấn cũng có thể hiểu rơ đạo lư này đôi chút, có thể tăng trưởng tín tâm. Của cải do đâu mà có? Trong kinh luận, đức Phật đă nói rất nhiều. Của cải do bố thí mà có. Bố thí là gieo nhân, Tài Bố Thí được của cải. Do vậy, người trong thế gian phát tài to lớn, quư vị chẳng cần phải ngưỡng mộ kẻ ấy. Trong mạng kẻ đó có của cải nhiều ngần ấy là do đời trước kẻ ấy tu Tài Bố Thí rất nhiều. Có những người có học vấn, có trí huệ, nhưng chẳng có tiền của ǵ hết, trí huệ do đâu mà có? Do đời trước tu Pháp Bố Thí. Pháp Bố Thí đắc thông minh, trí huệ, Tài Bố Thí đắc tiền của, Vô Úy Bố Thí đắc trường thọ, khỏe mạnh. Tu nhân nhất định đạt được quả báo.

      Người thật sự hiểu đạo lư này th́ của cải để ở nơi đâu sẽ có lợi tức lớn nhất? Thưa cùng quư vị, bố thí hết thảy chúng sanh sẽ có lợi tức lớn nhất. Phật môn nói: “Xả nhất, đắc vạn báo” (xả một, được quả báo cả vạn), thật đấy! Nhưng người ta chẳng tin, đấy là v́ kẻ ấy chẳng đủ thiện căn. Tín giải là thiện căn, sau khi tin, nếu quư vị chịu làm, chịu làm th́ quư vị có phước báo. Tài, Pháp, Vô Úy, ba thứ bố thí này luôn “tuy một mà ba, tuy ba nhưng là một”. Ví như in kinh th́ in kinh cần phải có tiền, Tài Bố Thí đấy. Kinh điển là pháp, Pháp Bố Thí đấy! Người khác chiếu theo pháp đó tu hành, đấy là Vô Úy Bố Thí. Tu một thứ bố thí bao gồm ba thứ bố thí, đó gọi là công đức bố thí viên măn. Nhất định phải hiểu đạo lư này. Ví như ở Đài Loan có rất nhiều người phát tâm phóng sanh, phóng sanh thuộc về Vô Úy Bố Thí; nhưng quư vị tự ḿnh phóng sanh, chẳng bằng khuyên mọi người phóng sanh, công đức ấy càng lớn hơn! Do vậy, tôi thường khuyên các đồng tu phóng sanh in cuốn Hộ Sanh Họa Tập[5], in nhiều sách vở, tranh ảnh khuyên mọi người phóng sanh. Thậm chí những tranh ảnh, văn tự tốt đẹp có thể đưa vào những đoạn phim quảng cáo trong rạp chiếu bóng, xem lâu ngày họ sẽ bị cảm động. V́ thế, khuyên người khác ăn chay, khuyên mọi người yêu thương bảo vệ loài vật chính là phóng sanh theo ư nghĩa càng rộng lớn hơn, công đức càng lớn hơn!

      Dung hội lư luận vào cuộc sống khiến cho cuộc sống của chúng ta hoàn toàn tuân theo lư luận Phật pháp, học Phật pháp như vậy mới là hữu dụng. Nếu học Phật pháp mà chẳng liên quan ǵ đến cuộc sống của chúng ta th́ quư vị hăy suy nghĩ: Chúng ta học để làm ǵ? Học Phật pháp là v́ đời sau, nhưng đời sau c̣n chưa đến, chúng ta cũng chẳng cần phải lo lắng đến thế! Nếu Phật pháp là cuộc sống của chúng ta trong hiện tại, là cuộc sống hạnh phúc, viên măn và sung sướng nhất, tôi nghĩ ai nấy đều muốn học!

     

      (Sớ) Lương diêu thế xuất thế gian, vô nhất pháp xuất ư tâm ngoại. Tịnh Độ sở hữu y báo, chánh báo, nhất nhất giai thị Bổn Giác diệu minh.

      () 良繇世出世間,無一法出於心外,淨土所有依報正報,一一皆是本覺妙明。

      (Sớ: Ấy là v́ trong thế gian lẫn xuất thế gian, không một pháp nào ra ngoài tâm. Tất cả y báo và chánh báo của Tịnh Độ, mỗi thứ đều là Bổn Giác diệu minh).

 

      Câu này nêu rơ đạo lư nguyên do, tức là nói rơ v́ sao phải tiêu quy tự tánh? Chẳng thể nào không tiêu quy tự tánh ư? Chẳng tiêu quy tự tánh th́ quả thật chẳng được! V́ sao? Pháp thế gian và xuất thế gian, “thế gian” là nói [những pháp] thuộc tam giới lục đạo, “xuất thế gian” là nói tứ thánh pháp giới, Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, trong nhà Phật gọi chung là mười pháp giới. Y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới “vô nhất pháp xuất ư tâm ngoại” (chẳng có một pháp nào ra ngoài tâm), đạo lư này rất sâu! Trong những bộ kinh lớn như Hoa Nghiêm, Viên Giác, đức Phật dạy chúng ta: “Duy tâm sở hiện”. V́ sao có mười pháp giới? Chúng là Tướng Phần trong tâm quư vị, “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”. Nguyên lư của hết thảy biến hóa là thức, thức có thể biến, tâm có thể hiện. Thức và tâm là một, không hai. Nói “tâm” là nói đến Thể, nói “thức” là nói đến tác dụng. Bản thể có thể hiện, tác dụng có thể biến, nên mới có y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới, sâm la vạn tượng, nhưng nói chung đều chẳng ra ngoài nhất tâm.

      Tâm đă thanh tịnh th́ chẳng những hết thảy sự vật trước mắt quư vị đều hiểu rất rơ, mà quá khứ, vị lai cũng đều biết rơ. Nếu cho rằng người biết quá khứ vị lai là thần tiên th́ lầm mất rồi! Chẳng có ǵ siêu phàm cả! Đấy là những năng lực mà chúng ta có sẵn, mỗi một người chúng ta đều có! V́ sao người ta có, mà chính ḿnh th́ không? Tâm người ta thanh tịnh nên người ta có. Tâm chúng ta chẳng thanh tịnh nên năng lực ấy mất đi. Túc Mạng Thông, Tha Tâm Thông, những thứ thần thông này đều từ Định mà có. Nói cách khác, đấy là những công năng vốn có trong Định. Định là tâm thanh tịnh, chúng ta nói tới nhất tâm bất loạn; tâm càng thanh tịnh sẽ càng gần với nhất tâm, năng lực ấy sẽ dần dần khôi phục. Do vậy, chẳng có ǵ là kỳ quái cả!

      Nhưng loại thần thông này, trừ bản năng (năng lực vốn có) của chính ḿnh và công phu định lực thật sự ra, c̣n có loại thần thông do quỷ thần dựa vào thân mà có. Tâm của người ấy trọn chẳng thanh tịnh, trọn chẳng đạt được công phu định lực, nhưng do có quỷ thần dựa vào thân nên kẻ đó cũng có năng lực ấy, cũng có thể biết quá khứ, hiện tại, vị lai, giống như kinh Lăng Nghiêm đă nói. Nếu quỷ thần ĺa bỏ thân thể kẻ đó, ngay lập tức kẻ đó mất sạch thần thông. V́ sao? Chẳng phải do chính kẻ đó có, mà do quỷ thần dựa vào thân thể kẻ đó để khởi tác dụng thần thông. Hiện nay, trong thế gian này, những chuyện như vậy quá nhiều, bất luận tại Trung Quốc hay tại ngoại quốc, rất nhiều yêu ma quỷ quái dựa thân, nhưng chuyện này rất dễ nhận biết, chứ không phải là khó nhận biết, v́ sao? Tâm thuật của kẻ ấy bất chánh, hành vi, cử chỉ đều chẳng đúng với chánh đạo, thường muốn hiếp đáp người khác, buộc quư vị phải làm việc cho hắn, hắn muốn xây chùa dựng miếu, muốn hóa duyên, muốn quư vị phải quyên tặng bao nhiêu tiền. Nói cách khác, quư vị bị hắn lợi dụng. Đó là những kẻ bị yêu ma quỷ quái dựa thân.

      Phật pháp nhất định chẳng phải giống như vậy, v́ sao? Mục tiêu lớn nhất trong Phật pháp là muốn cầu nhất tâm bất loạn, muốn cầu tâm không điên đảo. Nói cách khác, đó là tu Định, tu Huệ. Nếu thường nắm níu th́ quư vị hăy nghĩ xem: Làm sao quư vị có thể đắc Định? Tâm quư vị làm sao thanh tịnh được? Chẳng thể nào! Do vậy, đức Phật dạy chúng ta tùy duyên, đừng phan duyên, tâm chúng ta mới có thể thanh tịnh. Đạo tràng này từ lúc kiến tạo măi cho đến ngày nay, chúng tôi chưa hề đi hóa duyên. Mọi người giúp đỡ đạo tràng này [chi tiêu] cũng vừa khít, mỗi tháng đạo tràng chẳng có tiền dư ra, tháng nào chi tiêu cũng vừa đủ, tốt lắm! Tuyệt khéo! Chúng tôi muốn làm thêm một ít chuyện, thu nhập tháng ấy bèn nhiều hơn một chút. Không làm ǵ, thâu nhập bèn ít hơn, tuyệt diệu vô cùng! Chẳng bận ḷng! Phàm là muốn làm chuyện ǵ, nhất định làm thành công chuyện ấy, chẳng phan duyên, chẳng tích cóp. Thân tâm thanh tịnh, không có bất cứ áp lực nào, như vậy mới là tự tại! Chúng ta nhất định phải làm cách nào, làm như thế nào, muốn nghĩ cách để kiếm tiền, muốn đi hóa duyên, mệt chết luôn! Làm như vậy th́ “được chẳng bù nổi mất”, tuyệt đối là sai lầm! Điều này cho thấy: Tâm chúng ta thanh tịnh là bậc nhất, trong tâm thanh tịnh, tự nhiên sanh trí huệ, có thể khôi phục những khả năng sẵn có của chúng ta. Không riêng ǵ hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian, đương nhiên Tây Phương Tịnh Độ cũng bao gồm trong ấy; Tây Phương Tịnh Độ cũng ở trong nhất tâm, mà cũng chẳng ra ngoài mười pháp giới.

      Câu “Tịnh Độ sở hữu y báo chánh báo” (tất cả y báo và chánh báo trong Tịnh Độ) chỉ thế giới của Tây Phương A Di Đà Phật, “nhất nhất giai thị Bổn Giác diệu minh” (mỗi mỗi đều là Bổn Giác diệu minh) đặc biệt nêu ra chỗ thù thắng. Phần trước nói “vô nhất pháp xuất ư tâm ngoại” (không có pháp nào ra ngoài tâm), cái tâm chúng ta có tịnh, có uế, có mê, có ngộ; do vậy mới có mười pháp giới. Tịnh Độ chỉ có ngộ mà không có mê, chỉ có tịnh, chứ không có nhiễm, đây là điều kiện cần phải hội đủ để văng sanh Tây Phương Tịnh Độ. Tâm tịnh th́ cơi nước tịnh. Phải nghĩ đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, thời thời khắc khắc giữ ǵn cái tâm thanh tịnh của chính ḿnh, đừng để nó bị ô nhiễm bởi cảnh giới. Nói “ô nhiễm” tức là nói động tâm; khởi tham, sân, si, mạn là bị ô nhiễm. Thuận với tâm ḿnh bèn khởi tham ái, quư vị đă bị ô nhiễm [bởi tham ái]. Chẳng hợp ư ḿnh bèn dấy lên nóng giận, quư vị bị sân khuể ô nhiễm. Quư vị phải hiểu: Thất t́nh, ngũ dục là tướng trạng và h́nh dạng của ô nhiễm. Nếu đối với hết thảy cảnh giới, chúng ta chẳng khởi thất t́nh, ngũ dục, giữ tâm thanh tịnh, b́nh đẳng, hiểu rành rẽ, rơ ràng hết thảy cảnh giới, điều nào nên làm chúng ta bèn tận tâm tận lực làm, làm cho viên măn, tâm ấy là tâm thanh tịnh. Tâm như vậy mới có thể sanh về Tịnh Độ, tương ứng với Tịnh Độ, đấy là “Bổn Giác diệu minh”. Bốn chữ “Bổn Giác diệu minh” phát xuất từ kinh Lăng Nghiêm, kinh Viên Giác cũng có. Dưới đây là một tỷ dụ:

 

      (Sớ) Thí chi b́nh, hoàn, thoa, xuyến, khí khí duy kim.

      () 譬之瓶環釵釧,器器唯金。

      (Sớ: Thí như b́nh, hoa tai, thoa, xuyến, món nào cũng chỉ là vàng).

 

       Cổ đức thường dùng tỷ dụ này: “Dĩ kim tác khí, khí khí giai kim” (dùng vàng làm đồ vật, món nào cũng đều là vàng). Vàng ví như Thể, những món đồ ví như Tướng. Tướng tuy khác nhau, nhưng Thể là một. “B́nh” () là b́nh đựng nước hoặc b́nh cắm hoa. “Hoàn” () là ṿng đeo tai, “thoa” () là trâm cài đầu, “xuyến” () là ṿng đeo tay, những món này đều bằng vàng. Đồ vật tuy khác, nhưng chất liệu giống nhau, món nào cũng đều bằng vàng.

 

      (Sớ) Khê giản giang hà, lưu lưu nhập hải.

      () 溪澗江河,流流入海。

      (Sớ: Khe, ng̣i, rạch, sông, ḍng nước nào cũng đều đổ vào biển cả).

 

      Đây là tỷ dụ thứ hai, dùng nước làm tỷ dụ. “Khê giản” là những ḍng sông nhỏ. “Giang hà” là những con sông lớn. Bất kể là sông cái hoặc suối nhỏ, nước giống nhau; đă thế, những ḍng nước ấy đều chảy vào biển cả.

 

      (Sớ) Vô bất tùng thử pháp giới lưu, vô bất hoàn quy thử pháp giới dă.

() 無不從此法界流,無不還歸此法界也。

      (Sớ: Không ǵ chẳng từ pháp giới này lưu xuất. Không có ǵ chẳng trở về pháp giới này).

 

      Đây là nói rơ y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới, bao gồm cả hai pháp y báo và chánh báo trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, đều là “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”, từ nhất tâm biến hiện ra, trở về nhất tâm, chẳng ĺa ngoài nhất tâm. V́ vậy, nhất tâm là bản thể, là bản thể của vạn hữu trong vũ trụ. Nhất tâm th́ tâm ở nơi đâu? Đây là một câu hỏi rất lớn, nếu quư vị nói tâm ở trong thân thể của chúng ta, nếu quư vị đọc kinh Lăng Nghiêm sẽ biết: Đức Phật gạn hỏi ngài A Nan tâm ở chỗ nào? A Nan trước hết nói tâm ở bên trong, bị Thích Ca Mâu Ni Phật hỏi dồn đến mức không nói ǵ được, ép đến nỗi A Nan không có cách ǵ hết. Đại khái tâm chẳng ở bên trong, chẳng ở ngoài thân, ở bên ngoài chẳng phải, bên trong cũng không phải, khoảng giữa cũng không phải. Ngài A Nan rất thông minh, nghĩ đến bảy chỗ, nhưng Thích Ca Mâu Ni Phật đều bác sạch, bảy chỗ đều trật, rốt cuộc tâm ở nơi đâu? Nếu có thể hiểu được đoạn văn ấy, quư vị sẽ hoảng nhiên đại ngộ, tâm không đâu chẳng tồn tại!

      Trong phần trên đă có nói, “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”, những thứ được hiện và biến có thể vượt ra ngoài phạm vi của tâm hay không? Vượt không được! Do vậy, trong kinh đức Phật bảo chúng ta: “Tâm bao thái hư, lượng châu sa giới”. Tâm chúng ta quá lớn, tận hư không, khắp pháp giới đều nằm trong tâm chúng ta, tâm lượng to lớn! Hiện thời, tâm lượng của chúng ta quá nhỏ, hai người chẳng thể dung nạp lẫn nhau, đáng thương! Thật sự đáng thương! Mê rồi! V́ sao hai người chẳng thể dung nạp lẫn nhau? V́ họ khởi lên phân biệt, khởi lên chấp trước. Phân biệt, chấp trước chẳng phải là tâm (chân tâm), trong tâm (chân tâm) không có phân biệt, chấp trước, trong thức mới có phân biệt, chấp trước. Do vậy, chúng ta nói “tâm” tức là nói tới chân tâm, thức là vọng tâm. Trong vọng tâm có phân biệt, chấp trước, trong chân tâm không có. Chân tâm là thanh tịnh, b́nh đẳng. Khi tâm chúng ta thanh tịnh, b́nh đẳng, hết thảy pháp giới quả thật là một, không hai, nên mới có thể thật sự tiêu hóa, dung hội. V́ vậy, tâm lượng nhỏ bé, sẽ không có cách nào tiêu hóa, dung hội, v́ sao? Giới hạn quá nhiều, phân biệt, chấp trước quá nhiều. Nếu bỏ được phân biệt, chấp trước, th́ sẽ tiêu hóa, sẽ dung hội, vạn pháp quy nhất chính là dung hội. Trong Phật pháp c̣n có một danh từ khác [để gọi] sự dung hội ấy: Quư vị chứng đắc thanh tịnh Pháp Thân. Thanh tịnh Pháp Thân là y báo và chánh báo dung thông vô ngại. Chúng ta thường nói chứng đắc Pháp Thân là thành Phật. Chỉ có Phật mới có thể chứng đắc Pháp Thân.

 

      (Diễn) Thế xuất thế gian bất xuất tâm ngoại giả, thế gian nhiễm pháp, xuất thế gian tịnh pháp.

      () 世出世間不出心外者,世間染法,出世間淨法。

      (Diễn: “Thế gian và xuất thế gian chẳng ra ngoài tâm”: Thế gian là nhiễm pháp, xuất thế gian là tịnh pháp).

 

      Thế gian là nhiễm pháp, là lục phàm pháp giới; xuất thế gian là tịnh pháp, tứ thánh pháp giới. Địa vị thấp nhất trong tứ thánh là A La Hán, A La Hán đă đoạn Kiến Tư phiền năo. Kiến Hoặc có năm loại lớn:

      - Thân Kiến: Chấp trước thân này là ta. Hiện thời có ai chẳng nói thân là ta? Hết sức yêu thương, bảo vệ cái thân này, cho rằng thân là ta, đấy là sai lầm. V́ quư vị có thứ chấp trước này, nên quư vị chẳng thể đắc nhất tâm, chẳng thể đắc thanh tịnh, chẳng thể liễu sanh thoát tử, v́ sao? Quư vị chấp thân này là ta, thân là sanh diệt, nó nhất định phải sanh tử. Khi nào quư vị hiểu cái thân này chẳng phải là ta th́ hăy hỏi: Cái ǵ sanh tử? Không có sanh tử. Sanh tử thật ra không có. Trên thực tế, thân này chẳng phải là ta, trong thân không có Ngă, có đạo lư rất sâu ở nơi đây.

      - Biên Kiến: Biên Kiến cũng là phân biệt, chấp trước. Phàm cái ǵ là tương đối th́ đều là Biên Kiến. Có lớn phải có nhỏ. Có ta th́ phải có người. Có đúng th́ phải có sai. Có chánh th́ phải có tà. Đó là Biên Kiến.

      - Kiến Thủ Kiến và Giới Thủ Kiến: Hai thứ này chúng ta thường gọi là “thành kiến”, [chúng ta hay nói] người nào đó có thành kiến rất sâu. Có thành kiến về phương diện tu nhân hay phương diện tu hành th́ gọi là Giới Thủ Kiến. Có thành kiến nơi quả báo th́ gọi là Kiến Thủ Kiến.

      - Tà Kiến: Hết thảy những kiến giải sai lầm chẳng thuộc vào bốn loại lớn trên đây th́ gọi là Tà Kiến.

      A La Hán không có năm loại kiến giải sai lầm to lớn này, tâm thật sự thanh tịnh.

      Tư Hoặc gồm năm loại lớn: Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi. Tham ái, nóng giận, ngu si. Ngu si là tà - chánh, đúng - sai, chân - vọng chẳng thể phân biệt. Mạn là ngạo nghễ, ngă mạn. Nghi là hoài nghi Phật pháp và chánh pháp. Năm loại tư tưởng sai lầm này A La Hán cũng không có. Đủ thấy khi ấy, tâm vị ấy thật sự thanh tịnh, Phật học gán cho vị ấy một danh từ là Chánh Giác. A La Hán là Chánh Giác, Bồ Tát là Chánh Đẳng Chánh Giác, Phật là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Đó gọi là “xuất thế tịnh pháp”. Trên A La Hán c̣n có Bích Chi Phật, Bồ Tát, Phật, đương nhiên khỏi cần phải bàn tới rồi!

 

      (Diễn) Nhiễm tịnh tuy thù.

      () 染淨雖殊。

      (Diễn: Nhiễm và tịnh tuy khác).

 

      Thù” () là không giống nhau.

 

      (Diễn) Bất ly tự tâm.

      () 不離自心。

      (Diễn: Chẳng ĺa tự tâm).

 

      Nhiễm” do tự tâm biến hiện, “tịnh” cũng do tự tâm biến hiện. Tự tâm tịnh biến thành tứ thánh pháp giới, tự tâm nhiễm biến thành lục phàm pháp giới. Toàn là do một tâm biến ra.

 

      (Diễn) Dĩ ly tâm vô lục đạo, ly tâm vô tam thừa cố.

      () 以離心無六道,離心無三乘故。

      (Diễn: Do ĺa khỏi tâm không có lục đạo, ĺa khỏi tâm, chẳng có tam thừa).

     

      Tam thừa” là Tiểu Thừa, Trung Thừa, Đại Thừa.

 

      (Diễn) Tịnh Độ y chánh, giai thị Bổn Giác giả.

      () 淨土依正,皆是本覺者。

      (Diễn: Y báo và chánh báo của Tịnh Độ đều là Bổn Giác).

 

      Dựa trên những điều được giảng trong kinh này, kinh Vô Lượng Thọ và Quán Kinh th́...

     

      (Diễn) Y tức bảo tŕ, hàng thụ đẳng, chánh tức Phật cập Bồ Tát, tam bối cửu phẩm đẳng.

      () 依即寶池行樹等,正即佛及菩薩三輩九品等。

      (Diễn: Y báo là ao báu, hàng cây v.v... Chánh báo là Phật, Bồ Tát và ba bậc chín phẩm văng sanh v.v...)

 

      Phàm là những người văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới đều thuộc về chánh báo.

 

      (Diễn) Như hậu văn sở minh, bảo tŕ tức tự tánh chi uông dương xung dung, hàng thụ tức tự tánh chi xuất sanh chúng thiện.

      () 如後文所明。寶池即自性之汪洋沖融,行樹即自性之出生眾善。

      (Diễn: Như trong phần sau [của Sớ Sao] sẽ giảng: Ao báu chính là tự tánh mênh mông, bát ngát, hàng cây chính là tự tánh xuất sanh các điều lành).

 

      Thụ” () nghĩa là “thụ lập” (樹立: dựng lên), kiến tạo, kiến lập. Kiến lập hết thảy thiện pháp, dùng theo ư nghĩa này.

 

      (Diễn) Thanh Văn tức tự tánh Chân, Bồ Tát tức tự tánh Tục, Phật tức tự tánh Trung.

      () 聲聞即自性真,菩薩即自性俗,佛即自性中。

      (Diễn: Thanh Văn là Chân trong tự tánh, Bồ Tát là Tục trong tự tánh, Phật là Trung trong tự tánh).

 

      “Trung” là Trung Đạo. Đây là nói về Tam Đế: Chân Đế, Tục Đế và Trung Đế.

 

      (Diễn) Hựu phục nhất niệm cụ túc tam thiên, nhi tam thiên trung, sanh ấm nhị thiên vi chánh.

      () 又復一念具足三千,而三千中,生陰二千為正。

      (Diễn: Lại nữa, nhất niệm trọn đủ ba ngàn điều, nhưng trong ba ngàn điều ấy, chúng sanh và Ngũ Ấm gồm hai ngàn điều là chánh báo).

 

      Sanh” là chúng sanh, tức hữu t́nh chúng sanh. “Ấm” là Ngũ Ấm. Thân của hết thảy chúng sanh đều là thân Ngũ Ấm: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. “Tam thiên” biểu thị hết thảy các pháp thiện, ác, Tánh, Tướng trong thế gian và xuất thế gian.

     

      (Diễn) Quốc độ nhất thiên thuộc y.

      () 國土一千屬依。

      (Diễn: Một ngàn điều trong phạm vi cơi nước thuộc về y báo).

 

      Nói tới y báo.

 

      (Diễn) Quốc độ y chánh kư cư nhất tâm, nhất tâm khởi phân Năng, Sở, cố viết nhất nhất giai thị. Khí khí duy kim, thị toàn vọng toàn chân nghĩa. Lưu lưu nhập hải, thị hội vọng quy chân nghĩa.

  () 國土依正既居一心,一心豈分能所,故曰一一皆是。器器唯金,是全妄全真義。流流入海,是會妄歸真義。

      (Diễn: Cơi nước, y báo, và chánh báo đă thuộc trong nhất tâm th́ làm sao có thể chia nhất tâm thành Năng và Sở. Cho nên nói “mỗi pháp đều là”. “Món nào cũng chỉ là vàng” tức là ư nghĩa toàn chân tức vọng, toàn vọng tức chân. “Ḍng nào cũng đổ vào biển” là ư nghĩa dung thông vọng để quy kết vào chân).

 

      Chúng ta phải thấu hiểu ư nghĩa trong đoạn kinh văn này.

 

      (Diễn) Vô bất tùng thử pháp giới lưu, vô bất hoàn quy thử pháp giới giả, pháp giới vị Nhất Chân pháp giới, tức Khởi Tín Tâm Chân Như môn. Lưu hữu lưu xuất nghĩa, vị tùng b́nh đẳng pháp giới, nhất niệm bất giác, lưu xuất tam tế lục thô chủng chủng cảnh giới. Hoàn hữu hoàn chuyển nghĩa, vị: Nhược ly tâm niệm, tắc vô nhất thiết cảnh giới chi tướng, nhi nhất thiết cảnh giới toàn thị diệu minh.

      () 無不從此法界流,無不還歸此法界者,法界謂一真法界,即起信心真如門。流有流出義,謂從平等法界,一念不覺,流出三細六粗種種境界。還有還轉義,謂若離心念,則無一切境界之相,而一切境界全是妙明。

      (Diễn: Không ǵ chẳng từ pháp giới này lưu xuất, không ǵ chẳng trở về pháp giới này. Nói “pháp giới” nghĩa là Nhất Chân pháp giới, tức là Tâm Chân Như môn trong Khởi Tín Luận. “Lưu” có nghĩa là lưu xuất, ư nói: Từ pháp giới b́nh đẳng do một niệm bất giác mà lưu xuất tam tế, lục thô và các thứ cảnh giới. “Hoàn” có nghĩa là hoàn chuyển (xoay trở về), ư nói: Nếu ĺa tâm niệm th́ không có tướng của hết thảy các cảnh giới, mà hết thảy cảnh giới hoàn toàn là diệu minh).

 

      Ư nghĩa này rất sâu, lần sau chúng tôi sẽ giảng tường tận, hôm nay đă hết thời gian rồi.    

 

A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

Phần 21 hết

 

     

 

 

     

     



[1] Tả Truyện (tên gọi đầy đủ là Xuân Thu Tả Thị Truyện), c̣n gọi là Tả Thị Xuân Thu, vốn là một bộ biên niên sử cổ của Trung Quốc nhằm chú giải kinh Xuân Thu do sử quan nước Lỗ là Tả Khâu Minh biên soạn. Nội dung sách lấy kinh Xuân Thu (do Khổng Tử san định làm gốc), thâu thập các sự kiện từ các bộ sử khác như Châu Chí, Tấn Thừa, Trịnh Thư, Sở Ngột, chủ yếu ghi chép những sự kiện lịch sử trong thời Xuân Thu.

[2] Chữ Tịnh Độ Ngũ Kinh trong lời Sớ của tổ Liên Tŕ chỉ ba kinh Tịnh Độ (A Di Đà Kinh, Vô Lượng Thọ Phật Kinh, Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh), Cổ Âm Thanh Vương Kinh và Hậu Xuất A Di Đà Kệ Kinh.

[3] Ngũ châu nhân quả: Sở Tín Nhân Quả, Sai Biệt Nhân Quả, B́nh Đẳng Nhân Quả, Thành Hạnh Nhân Quả và Chứng Nhập Nhân Quả. Sở Tín Nhân Quả là phần giảng quả báo về mặt y báo và chánh báo của Như Lai (từ quyển một đến quyển mười một, gồm sáu phẩm). Sai Biệt Nhân Quả là nói đến lộ tŕnh tu chứng thành Phật, nêu rơ nhân quả tu chứng của bốn mươi mốt địa vị tu chứng của hàng Pháp Thân đại sĩ (từ quyển mười hai đến quyển bốn mươi tám, gồm hai mươi chín phẩm). B́nh Đẳng Nhân Quả là nói về nhân do tu Phổ Hiền Hạnh và quả nơi cảnh giới Như Lai, nhân quả tương dung, b́nh đẳng vô sai biệt (gồm hai phẩm, từ quyển bốn mươi chín đến quyển năm mươi hai). Thành Hạnh Nhân Quả tuyên thuyết nhân quả xuất thế, trước hết giảng ngũ vị nhân hạnh, sau luận về tám tướng thành đạo (gồm một phẩm, từ quyển năm mươi ba đến quyển năm mươi chín). Chứng Nhập Nhân Quả tuyên thuyết diệu môn nhập pháp giới (bao gồm toàn bộ những quyển c̣n lại), trước hết nêu rơ đại dụng tự tại nơi Phật quả, và nêu lên sự khởi dụng tu nhân của hàng Bồ Tát (mà điển h́nh là năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài Đồng Tử).

[4] Theo phẩm Hoa Tạng Thế Giới trong Bát Thập Hoa Nghiêm Kinh, Hoa Tạng Trang Nghiêm Thế Giới Hải được nghiêm tịnh bởi việc tu tŕ thanh tịnh thế giới vi trần số đại nguyện do đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai đối trước mỗi đức Phật trong khi Ngài c̣n tu hạnh Bồ Tát, thân cận vi trần số Phật trong vi trần vô số kiếp trước. Hoa Tạng Thế Giới Hải được Tu Di Sơn vi trần số phong luân nhiếp tŕ. Trên tầng phong luân cao nhất là biển hương thủy (nước thơm), trong biển ấy có một hoa sen to tên là Chủng Chủng Quang Minh Hương Tràng. Hoa Tạng Trang Nghiêm Thế Giới Hải ở ngay trên hoa sen ấy được bao quanh bằng Kim Cang Luân Sơn. Đất ở phía trong Kim Cang Luân Sơn đều do chất Kim Cang hợp thành. Trên đất ấy lại có bất khả thuyết Phật sát vi trần số biển nước thơm, mỗi một biển nước thơm được bao quanh bởi tứ thiên hạ vi trần số sông nước thơm. Trong mỗi sông nước thơm lại có bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới chủng. Trong mỗi thế giới chủng lại có bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới. Biển nước thơm ở ngay trung tâm có tên là Vô Biên Diệu Hoa Quang, trong đó có một hoa sen lớn. Trên hoa sen ấy có một thế giới chủng tên là Phổ Chiếu Thập Phương Xí Nhiên Bảo Quang Minh, hai mươi thứ thế giới trang nghiêm đều xuất hiện trong thế giới chủng ấy, xếp chồng lên nhau. Mỗi thứ thế giới trang nghiêm như vậy đều bao gồm Phật sát vi trần số thế giới. Hai mươi thứ thế giới ấy kể từ dưới lên trên như sau:

1. Tối Thắng Quang Biến Chiếu Hoa Tạng Thế Giới, dùng các thứ bảo ma-ni để trụ, Phật hiệu Ly Cấu Đăng.

2. Chủng Chủng Hương Liên Hoa Diệu Trang Nghiêm Hoa Tạng Thế Giới, dùng lưới hoa sen báu để trụ, Phật hiệu Sư Tử Quang Thắng Chiếu.

3. Nhất Thiết Bảo Trang Nghiêm Phổ Chiếu Quang Hoa Tạng Thế Giới, nương vào các thứ anh lạc báu để trụ, Phật hiệu Tịnh Quang Trí Thắng Tràng.

4. Chủng Chủng Quang Minh Hoa Trang Nghiêm Hoa Tạng Thế Giới, nương vào biển Kim Cang Thi La Tràng nhiều màu để trụ, Phật hiệu Kim Cang Quang Minh Vô Lượng Tinh Tấn Lực Thiện Xuất Hiện.

5. Phổ Phóng Diệu Hoa Quang Hoa Tạng Thế Giới, nương vào biển hết thảy cây cối được trang nghiêm bởi lưới bánh xe báu để trụ, Phật hiệu Hương Quang Hỷ Lực Hải.

6. Tịnh Diệu Quang Minh Hoa Tạng Thế Giới, nương vào biển cung điện Kim Cang để trụ, Phật hiệu Phổ Quang Tự Tại.

7. Chúng Hoa Diệm Trang Nghiêm Hoa Tạng Thế Giới, nương vào biển hết thảy các ngọn lửa có màu giống như các thứ báu để trụ, Phật hiệu Hoan Hỷ Hải Công Đức Danh Xưng Tự Tại Quang.

8. Xuất Sanh Oai Lực Địa Hoa Tạng Thế Giới, nương vào biển các thứ ṭa hoa sen bảo sắc [rộng lớn như] hư không để trụ, Phật hiệu Quảng Đại Danh Xưng Trí Hải Tràng.

9. Xuất Diệu Âm Thanh Hoa Tạng Thế Giới, nương vào biển Ma Ni Vương thường lưu xuất mây hết thảy âm thanh nhiệm mầu trang nghiêm để trụ, Phật hiệu Thanh Tịnh Nguyệt Quang Tướng Vô Năng Tồi Phục.

10. Kim Cang Tràng Hoa Tạng Thế Giới, nương vào biển hết thảy trang nghiêm sư tử ṭa Ma Ni để trụ, Phật hiệu Nhất Thiết Pháp Hải Tối Thắng Vương.

11. Hằng Xuất Hiện Đế Thanh Bảo Quang Minh Hoa Tạng Thế Giới, nương vào biển các thứ hoa đặc biệt lạ lùng để trụ, Phật hiệu Vô Lượng Công Đức Hải.

12. Quang Minh Chiếu Diệu Hoa Tạng Thế Giới, nương vào biển Hoa Toàn Hương Thủy để trụ, Phật hiệu Siêu Thích Phạm.

13. Sa Bà Hoa Tạng Thế Giới, nương vào lưới hoa sen được ǵn giữ bởi các phong luân nhiều màu để trụ, Phật hiệu Tỳ Lô Giá Na Như Lai Thế Tôn.

14. Tịch Tĩnh Ly Trần Quang Hoa Tạng Thế Giới, nương vào biển các thứ y báu để trụ, Phật hiệu Biến Pháp Giới Thắng Âm.

15. Chúng Diệu Quang Minh Đăng Hoa Tạng Thế Giới, nương vào lưới tịnh hoa để trụ, Phật hiệu Bất Khả Tồi Phục Lực Phổ Chiếu Tràng.

16. Thanh Tịnh Quang Biến Chiếu Hoa Tạng Thế Giới, nương vào biển hoa sen các thứ hương diệm để trụ, Phật hiệu Thanh Tịnh Nhật Công Đức Nhăn.

17. Bảo Trang Nghiêm Hoa Tạng Thế Giới, nương vào biển Quang Minh Tạng Ma Ni Tạng để trụ, Phật hiệu Vô Ngại Trí Quang Minh Biến Chiếu Thập Phương.

18. Ly Trần Hoa Tạng Thế Giới, nương vào biển diệu hoa sư tử ṭa để trụ, Phật hiệu Vô Lượng Phương Tiện Tối Thắng Tràng.

19. Thanh Tịnh Quang Phổ Chiếu Hoa Tạng Thế Giới, nương vào biển Vô Lượng Sắc Hương Diệm Tu Di Sơn để trụ, Phật hiệu Phổ Chiếu Pháp Giới Hư Không Quang.

20. Diệu Bảo Diệm Hoa Tạng Thế Giới, nương vào biển Nhất Thiết Chư Thiên H́nh Ma Ni Vương để trụ, Phật hiệu Phước Đức Tướng Quang Minh.

[5] Hộ Sanh Họa Tập là một tập sách do họa sĩ “mạn họa” (manga) Phong Tử Khải, đệ tử của pháp sư Hoằng Nhất, vẽ theo sự hướng dẫn của ngài Hoằng Nhất. Dưới mỗi bức vẽ, ngài Hoằng Nhất chọn một bài thơ hay một đoạn văn ngắn nhằm khuyên đại chúng “bảo vệ tánh mạng loài vật chính là bảo vệ tánh mạng của chính ḿnh”. Tập sách này được ra mắt lần đầu tiên vào năm 1929.