A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 26
Chủ giảng:
Lăo pháp sư Tịnh Không năm 1984
Chuyển ngữ:
Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
Giảo chánh: Huệ
Trang và Đức Phong
Tập
51
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang sáu mươi lăm:
(Huyền Nghĩa) Sơ, đại
bi mẫn Mạt Pháp vị tác tân lương giả, Phật
thành đạo thời, dĩ đương trược
thế, huống kim Mạt Pháp, chánh nhập đấu tránh,
chuyển triển lăng di, hậu chi hựu hậu, giai
lại thử kinh thần lực, cứu bạt dư
sanh, khởi phi chí cực bi tâm, dự thùy tế độ.
(玄義) 初大悲憫末法為作津梁者,佛成道時,已當濁世。況今末法,正入鬥爭,轉展陵夷,後之又後,皆賴此經神力,救拔餘生,豈非至極悲心,預垂濟度。
(Huyền Nghĩa:
Thứ nhất, “đại bi thương xót đời Mạt
Pháp mà làm cầu bến”: Khi đức Phật thành đạo
đă nhằm đời trược, huống chi nay là
đời Mạt Pháp, đúng vào lúc tranh đấu, hiếp
đáp lẫn nhau, đời đă sau lại càng sau hơn
nữa, đều nương vào thần lực của
kinh này để cứu vớt các chúng sanh trong đời
sau, há chẳng phải là bi tâm đến tột bậc rủ
ḷng ban sẵn cách tế độ ư?)
Bắt đầu từ chỗ
này, từ đây trở đi có mười tiểu đoạn,
đại sư giảng tỉ mỉ nhân duyên [v́ sao] đức
Phật nói kinh [A Di Đà]. Đây là tiểu đoạn thứ
nhất. Đối với đoạn này, sách Diễn
Nghĩa có lời chú giải như sau:
(Diễn) Vị tác tân
lương giả, tân, tế độ xứ;
lương, kiều dă. Dĩ nhất cú Di Đà, vận thử
ngạn chúng sanh trí ư bỉ ngạn, thị vị tác
tân lương dă.
(演) 為作津梁者 ,津,濟度處 ;梁,橋也 。 以一句彌陀,運此岸眾生置於彼岸,是為作津梁也。
(Diễn: “Làm cầu
bến”: Tân là chỗ tế độ, lương là cầu.
Dùng một câu Di Đà đưa chúng sanh từ bờ này
sang bờ kia, đấy là “làm cầu bến”).
Đây là tỷ dụ, tu học
Phật pháp khác với pháp thế gian. Mục đích của
sự tu học pháp thế gian chẳng ngoài học lấy
một kỹ năng, hoặc là học một số kiến
thức, chúng ta cũng có thể gọi đó là trí huệ,
tức trí huệ thế gian, nhằm vào mục đích ấy.
Tu học Phật pháp nhằm mục đích liễu sanh tử,
xuất tam giới. Do vậy, hoàn toàn khác với pháp thế
gian. Mục đích khác nhau, đương nhiên cách thức
tu học cũng khác nhau. Có những chỗ nh́n vào th́ tu Phật
pháp dường như giống hệt pháp thế gian,
nhưng thật ra đó là nh́n từ bề ngoài, chứ nội
dung thực chất hoàn toàn khác nhau.
Xuất thế thật sự chẳng
đơn giản. Từ kinh điển, chúng ta thường
thấy, nếu chính ḿnh lưu ư một chút, quư vị sẽ
nhận thấy: Chiếu theo cách nói của đức Phật
trong kinh điển, mỗi đồng tu chúng ta không phải
là đời này mới học Phật. “Đời này mới
học Phật” tức là trong đời quá khứ chưa
hề tiếp xúc, quư vị sẽ không thể ngồi ở
đây một tiếng rưỡi được, ngồi
năm phút hay mười lăm phút đă muốn bỏ
đi rồi. Quư vị có thể an tâm ngồi ở đây
một tiếng rưỡi, lần sau vẫn lại tới,
quư vị chẳng đơn giản lắm đâu: Nhiều
đời nhiều kiếp đều học Phật, nhưng
học Phật như thế nào? Chẳng thể vượt
thoát tam giới, vẫn ở trong sanh tử luân hồi. Do
đây, có thể biết: Liễu sanh tử, thoát luân hồi
đích xác là chẳng dễ dàng, chuyện này khó khăn hơn
hết thảy các pháp thế gian rất nhiều! Pháp thế
gian cao nhất là sanh lên trời, trong kinh Phật đă nói
rơ: Có hai mươi tám tầng trời, cao nhất là Phi
Tưởng Phi Phi Tưởng Thiên, [sanh lên trời] chẳng
khó khăn cho lắm! Muốn vượt thoát tam giới,
so ra khó khăn hơn nhiều!
Đức Phật dạy chúng
ta rất nhiều pháp môn, đấy cũng là phương
pháp. Những phương pháp ấy có những thứ ta có
thể chọn lấy, có những thứ ta không có cách ǵ chọn
được, v́ những phương pháp ấy đích xác
là mỗi người mỗi khác, chẳng hề thấy mỗi
thứ phương pháp đều sử dụng thích hợp
cho mọi người chúng ta. Nếu dùng sai phương
pháp, chẳng những chúng ta không đạt được
lợi ích, mà ngược lại c̣n bị hại. Do vậy,
Phật pháp là do Phật, Bồ Tát dùng để cứu
người, nhưng nếu dùng không thích hợp th́ cũng
có thể hại người. Giống như thuốc thang
vậy, thuốc có thể trị bệnh, có thể cứu
người, nhưng dùng không phù hợp, sẽ khiến bệnh
nặng hơn, cũng khiến cho người ta mất mạng.
Tác dụng của Phật pháp đích xác là giống hệt
như tác dụng của thuốc thang. V́ thế, chúng ta nhất
định phải chú tâm cẩn thận, nhất định
phải có thiện tri thức hay người từng trải
chỉ dạy. Trong đại kinh, đại luận,
đức Phật bảo chúng ta: “Phật pháp vô nhân thuyết, tuy trí mạc năng giải”
(Phật pháp không có người nói th́ dù có trí cũng chẳng
thể hiểu được). Người thông minh trí huệ
bậc nhất trong thế gian cầm lấy kinh Phật [để
đọc], cũng chẳng có cách nào [hiểu đúng ư Phật],
họ lư giải theo kiểu dùng tri kiến thế gian
để hiểu Phật pháp, đấy chẳng phải
là chân thật nghĩa trong Phật pháp, giống như trong
bài kệ Khai Kinh đă nói: “Nguyện
giải Như Lai chân thật nghĩa”, khá là khó khăn!
Do vậy, khi đức Phật tại thế th́ không có vấn
đề ǵ, Bồ Tát thị hiện trong thế gian này,
cũng chẳng đến nỗi khiến cho chúng ta mê hoặc,
lệch lạc. Nay chúng ta sống nhằm thời kỳ Mạt
Pháp, Phật chẳng c̣n ở nơi đời, Bồ Tát
lẫn Thanh Văn đều chẳng trụ thế, phiền
phức to lớn. Trong vô lượng pháp môn, chúng ta chọn
lấy phương pháp nào thích hợp, chẳng đến
nỗi sai lệch, chẳng đến nỗi lầm lẫn,
chẳng đến nỗi mắc hại, mà lại c̣n có
thể thành công? Nói đến chỗ này, quư vị bèn hiểu
rơ: Đức Phật nói ra kinh này là v́ ư nghĩa này.
“Đại
bi mẫn niệm Mạt Pháp vị tác tân lương”
(Đại bi thương xót đời Mạt Pháp, làm cầu
bến). Trong kinh, đức Phật đă nói rất rơ ràng
“thời kỳ Mạt Pháp, Tịnh
nghiệp thành tựu”, tu Tịnh Độ sẽ có
thành tựu! Chúng ta sống trong thời Mạt Pháp, nếu
không nghe lời Phật, vẫn tu học các pháp môn khác,
đi theo ngă rẽ, trong tương lai chẳng có thành tựu,
quư vị chẳng thể trách Phật. Đức Phật
đă nói rơ ràng, nhưng chính quư vị không chịu nghe lời!
Chính quư vị thật sự chịu nghe, chiếu theo lời
Phật răn dạy để tu hành, chắc chắn có
thành tựu. Thời kỳ Mạt Pháp, người tu pháp
môn này thành tựu quá nhiều. Chúng ta thấy truyện kư
ghi chép [cũng như thấy] trước mắt, người
niệm Phật tự tại văng sanh, biết trước
lúc mất, không có bệnh khổ, chúng ta thấy không chỉ
một hai người mà thấy rất nhiều người!
Đấy mới thật sự là chở từ bờ này
sanh tử sang bờ kia Tây Phương Cực Lạc thế
giới, vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi, bất
sanh, bất tử. Bộ kinh này là công cụ để
độ thoát chúng ta, “tân
lương” là công cụ.
(Diễn) Phật thành đạo
hạ, tuy văn hữu tam chuyển, thuyết đại
bi hữu tam, nhi chánh ư trọng tại Mạt Pháp, quán đề
trung Mạt Pháp nhị tự khả tri.
(Sớ) Dĩ đương
trược thế giả.
(演) 佛成道下,雖文有三轉,說大悲有三,而正意重在末法,觀題中末法二字可知。
(Diễn: Từ chữ “Phật
thành đạo” trở đi, tuy lời văn có ba lần
chuyển ư, nói ra ḷng đại bi có ba thứ, nhưng ư
nghĩa chánh yếu là nói đến thời Mạt Pháp,
nh́n vào hai chữ Mạt Pháp trong tựa đề, ta có thể
biết được ư nghĩa ấy.
Sớ: “Đă thuộc đời trược”
là...)
Trước hết, chúng ta phải
hiểu thế nào là Trược? Có trược th́
đương nhiên sẽ có lúc “thanh” (trong trẻo). Kinh Phật
dạy chúng ta: Tuổi thọ cao nhất của con người
là tám vạn năm, tuổi thọ ngắn nhất là
mười năm. Cứ mỗi một trăm năm bèn
tăng một tuổi, măi cho đến khi [con người
thọ] tám vạn bốn ngàn năm, bèn từ tám vạn bốn
ngàn năm giảm dần, cứ mỗi một trăm
năm giảm một tuổi, lại giảm đến
mười tuổi. Một chu kỳ tăng giảm
như vậy gọi là một kiếp. Con người
trường thọ nhất định là phước báo
lớn; tuổi thọ ngắn, phước sẽ mỏng.
Từ tám vạn bốn ngàn năm giảm măi xuống hai vạn
năm, cơi nhân gian chẳng tốt đẹp, t́nh h́nh đó
được gọi là “trược
thế” (đời ô trược). Nói cách khác, khi con
người tuổi thọ cao hơn hai vạn năm, lúc ấy
chẳng gọi là “trược
thế”. Từ hai vạn tuổi trở xuống bèn gọi
là “trược thế”.
(Sớ) Nhân thọ nhị vạn
tuế thời, tức nhập Kiếp Trược.
(疏) 人壽二萬歲時,即入劫濁。
(Sớ: Khi con
người thọ hai vạn năm, chính là lúc bước
vào Kiếp Trược).
Đây là lúc bước vào đời
Ngũ Trược.
(Sớ) Thích Ca xuất thời, nhân thọ bách tuế.
(疏) 釋迦出時,人壽百歲。
(Sớ: Khi Phật
Thích Ca ra đời, con người thọ một trăm
tuổi).
Thích Ca Mâu Ni Phật xuất hiện
trong thế gian ba ngàn năm trước, thuở ấy, thọ
mạng của con người là một trăm năm,
đây là tuổi thọ trung b́nh. Cứ mỗi một
trăm năm, [tuổi thọ của nhân loại] giảm
một tuổi. Chiếu theo cách tính toán của Trung Quốc,
Thích Ca Mâu Ni Phật diệt độ đến nay là ba
ngàn lẻ mười hai (3.012) năm, cứ mỗi một
trăm năm giảm một tuổi, từ một
trăm tuổi đă bị giảm mất ba mươi
năm. Do vậy, tuổi thọ trung b́nh của người
trong thế gian hiện thời là bảy mươi tuổi.
Tuy y dược phát triển, có những nơi tuổi thọ
được kéo dài hơn, nhưng nạn đói tại
Phi Châu khiến cho chẳng biết bao nhiêu người chết
đói? Nếu tính trung b́nh, nói chung [tuổi thọ của con
người hiện thời] sợ là chưa đến bảy
mươi năm! V́ thế, trong hiện tại, không chỉ
là đời ác Ngũ Trược, mà c̣n phải kể thêm
sự xấu ác này. Đời ác Ngũ Trược là vậy
đó!
(Diễn) Nhị vạn tuế
thời tức nhập Kiếp Trược giả, dĩ
nhị vạn tuế tiền phiền năo khinh vi, tà kiến
bạc thiểu, nhân thiên chúng thịnh, tam ác đạo hy,
thọ mạng cửu trường, thời do vị
trược cố.
(演) 二萬歲時即入劫濁者,以二萬歲前煩惱輕微邪見薄少,人天眾盛,三惡道稀,壽命久長,時猶未濁故。
(Diễn: “Khi tuổi
thọ c̣n hai vạn năm bèn bước vào Kiếp
Trược”: Do trước khi tuổi thọ của con
người chỉ c̣n hai vạn năm, phiền năo nhẹ
ít, tà kiến mỏng ít, chúng trời
người đông đảo, tam ác đạo thưa thớt,
thọ mạng lâu dài, nên thời kiếp chưa trược).
Khi con người thọ từ
hai vạn năm trở lên, Kiến Tư phiền năo rất
nhẹ, tà kiến cũng ít. Đủ thấy con người
thuở ấy hết sức thuần phác, khi ấy, số
lượng trời người đông đảo, số
lượng chúng sanh trong ba ác đạo ít ỏi. Thuở ấy
là thuở tốt đẹp, chúng sanh có phước báo. Sau
khi [tuổi thọ của con người chỉ là] hai vạn
năm, phiền năo dần dần dấy lên, tà kiến
cũng tăng trưởng, số lượng trời
người dần dần giảm thiểu, số lượng
chúng sanh trong tam ác đạo ngày càng nhiều hơn. Khi
đó bèn bước vào thời Kiếp Trược.
(Diễn) Thích Ca xuất thời
nhân thọ bách tuế giả, ư Trụ Kiếp trung, kim
đương đệ cửu lộc lô tiểu kiếp,
hữu tứ Phật xuất.
(演) 釋迦出時人壽百歲者,於住劫中,今當第九轆轤小劫,有四佛出。
(Diễn: “Khi Phật
Thích Ca ra đời, con người thọ một trăm
tuổi”: Trong Trụ Kiếp, nay đang lần lượt
chuyển đến tiểu kiếp thứ chín, có bốn
vị Phật xuất hiện).
Theo như kinh Phật dạy,
hiện tại có một ngàn vị Phật. Quá khứ có một
ngàn vị Phật, hiện tại có một ngàn vị Phật,
tương lai có một ngàn vị Phật. Chúng ta kể từ
hiện tại để nói th́ kiếp hiện tại
được gọi là Hiền Kiếp, v́ trong kiếp
này có một ngàn vị Phật xuất hiện trong thế
gian. Bậc thánh hiền rất nhiều nên gọi là Hiền
Kiếp (Bhadrakalpa). Một
đại kiếp có bốn trung kiếp là Thành, Trụ, Hoại,
Không. Trong các trung kiếp Thành, Hoại, Không chẳng có Phật
xuất thế, Trụ Kiếp mới có Phật xuất
thế. Trong trung kiếp Trụ Kiếp có hai mươi tiểu
kiếp, hiện thời chính là tiểu kiếp thứ chín
của Trụ Kiếp. Trong một tiểu kiếp có một
ngàn vị Phật xuất thế, v́ thế gọi là Hiền
Kiếp. Đây là một thịnh sự hiếm có. Trong tiểu
kiếp này, trong quá khứ đă có bốn vị Phật xuất
thế.
(Diễn) Kiếp sơ bát vạn
tuế, giảm chí lục vạn tuế.
(演) 劫初八萬歲,減至六萬歲。
(Diễn: Đầu
tiểu kiếp này, [tuổi thọ của con người]
là tám vạn năm, giảm tới sáu vạn năm).
Trong tiểu kiếp thứ
chín, khi tuổi thọ con người là tám vạn năm,
cứ mỗi một trăm năm bèn giảm một tuổi,
khi tuổi thọ giảm xuống c̣n sáu vạn năm, khi
ấy, có một vị Phật xuất thế.
(Diễn) Câu Lưu Tôn Phật xuất.
(演) 拘留孫佛出。
(Diễn: Câu Lưu
Tôn ra đời).
Câu Lưu Tôn (Krakucchanda) là dịch
âm tiếng Phạn của Ấn Độ, [danh hiệu
này] có nghĩa là: Những ǵ nên đoạn Ngài đều
đă đoạn. Kiến Tư, Trần Sa, Vô Minh phiền
năo là những thứ đáng nên đoạn, Ngài đều
đă đoạn sạch. C̣n có một ư nghĩa khác là “thành tựu đẹp đẽ,
mầu nhiệm”, đương nhiên là thành tựu Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
(Diễn) Giảm chí tứ vạn
tuế, Câu Na Hàm Phật xuất.
(演) 減至四萬歲,拘那含佛出。
(Diễn: [Tuổi
thọ] giảm đến bốn vạn năm, Câu Na Hàm
Phật ra đời).
Khi tuổi thọ con người
lại giảm đến bốn vạn năm. Câu Na Hàm (Konāgamana)
cũng là dịch âm tiếng Phạn của Ấn Độ,
có nghĩa là Kim Tịch. Kim (vàng) đứng đầu bảy
món báu, đây là tỷ dụ. Ví như kinh Bát Nhă dùng kim cang
để tỷ dụ, Kim Cang Bát Nhă! [Trong danh hiệu của]
vị Phật này cũng mang ư nghĩa dùng kim cang làm tỷ
dụ. “Tịch” (寂) là thanh tịnh
tịch diệt. Câu Na Hàm có hai ư nghĩa: Một là ư
nghĩa quư báu, hai là ư nghĩa tịch diệt.
(Diễn) Giảm chí nhị vạn
tuế. Ca Diếp Phật xuất.
(演) 減至二萬歲,迦葉佛出。
(Diễn: Giảm
đến hai vạn năm, Ca Diếp Phật ra đời).
Khi giảm đến hai vạn
năm, đă bước vào thời Kiếp Trược. Vừa
mới bước vào Kiếp Trược, vị Phật
thứ ba là Ca Diếp Phật (Kāśyapa Buddha) xuất
thế. Ca Diếp dịch sang nghĩa tiếng Hán là Ẩm
Quang (nuốt mất ánh sáng). Quang minh của Ngài đặc
biệt thù thắng, chỉ cần Ngài ở nơi đâu,
những quang minh khác đều chẳng c̣n thấy nữa.
Ví như buổi tối thắp đèn, cảm thấy rất
sáng sủa, nhưng nếu ban ngày thắp một ngọn
đèn điện hay thắp một ngọn nến dưới
ánh nắng mặt trời, v́ ánh sáng mặt trời quá mạnh,
quang minh của chúng sẽ bị khuất lấp. Chữ
Ca Diếp có ư nghĩa như thế này: Quang minh thanh tịnh
thù thắng nhất.
(Diễn) Giảm chí bách tuế,
Thích Ca Phật xuất.
(演) 減至百歲,釋迦佛出。
(Diễn: Giảm
đến một trăm tuổi, Phật Thích Ca ra đời).
Tuổi thọ giảm c̣n một
trăm năm, khi ấy, Thích Ca Mâu Ni Phật ra đời.
Thích Ca Mâu Ni dịch sang nghĩa tiếng Hán là Năng Nhân Tịch
Mặc. Nhân (仁) là nhân từ, Ngài dùng ḷng nhân từ đối
đăi với con người, dùng ḷng nhân từ b́nh đẳng
để đối đăi hết thảy chúng sanh, nên gọi
là Thích Ca. Mâu Ni là Tịch Mặc (寂默), cũng có
nghĩa là nói tâm Ngài hết sức thanh tịnh, chẳng
sanh một niệm. Nói đến chỗ này, chúng ta ắt
phải hiểu, Phật không có danh hiệu, danh là giả
danh. Người Trung Quốc cũng biết: “Danh khả danh, phi thường
danh”. Danh là giả, chẳng thật! Danh hiệu của
Phật, Bồ Tát thuận theo tâm của chúng sanh mà kiến
lập. Ngày nay chúng ta lập ra danh hiệu nói chung là do chính
ḿnh ưa thích. Trước kia, cổ nhân có quan niệm khác
với con người hiện thời. Đối với
người thuở trước, cha mẹ đặt tên
cho con cái nhằm nói lên ḷng mong mỏi, mong con khôn lớn sẽ
phải giống như thế. Người hiện thời
đặt tên th́ tên gọi phải tốt lành, kể ra
cũng không sai! Nếu tên gọi ấy đem đi xem Bát
Tự[1], xem nét bút th́ sẽ
trở thành mê tín. V́ sao? Hoàn toàn bị cảnh giới bên
ngoài thao túng, chính ḿnh chẳng thể làm chủ. Chính ḿnh có
thể làm chủ th́ phiền năo nhẹ nhàng; chính ḿnh chẳng
thể làm chủ, phiền năo sẽ nặng nề!
Danh hiệu của Phật v́
chúng sanh mà kiến lập, đức Phật xuất hiện
trong thế gian lấy việc giáo hóa chúng sanh làm chức
trách, danh hiệu là tông chỉ giáo học của Ngài. Ngài
dùng điều ǵ để dạy chúng sanh, ắt Ngài phải
nêu ra một tông chỉ. Tông chỉ ấy chính là danh hiệu
của Ngài. Trong giai đoạn hiện tiền, giống
như trong giai đoạn này của Thích Ca Mâu Ni Phật, bất
luận vị nào đến đây để làm Phật,
đến giáo hóa chúng sanh, vị ấy nhất định
phải dùng danh hiệu này, nhất định phải dùng
danh hiệu Thích Ca Mâu Ni. Ví như Tây Phương Cực Lạc
thế giới A Di Đà Phật đến đây giáo hóa,
Ngài dùng danh hiệu nào? Ngài sẽ lấy tên là Thích Ca Mâu Ni,
xưng là A Di Đà Phật có được hay không? Không!
Chẳng thích hợp để sử dụng! V́ sao chẳng
thích hợp để sử dụng? Trong giai đoạn
hiện tiền, chúng sanh mắc bệnh: Thứ nhất là
thiếu tâm từ bi, tự tư, tự lợi, cho nên Ngài
đặc biệt nêu ra ḷng nhân, mong mọi người có
thể nhân từ. Đấy chính là như trong Phật môn
thường nói: “Từ bi làm gốc,
phương tiện làm cửa”.
Mục tiêu giáo học này nhằm
thích hợp với thời đại của chúng ta,
đem danh hiệu này qua Tây Phương Cực Lạc thế
giới sẽ chẳng thích ứng. V́ sao? Người trong
thế giới Tây Phương ai nấy đều nhân từ,
nếu quư vị vẫn bảo họ “lấy từ bi làm gốc” th́ không dùng được,
đối với họ chẳng có ư nghĩa ǵ hết.
Đối với chúng ta là những kẻ thiếu ḷng từ
bi, nói “từ bi làm gốc”,
như vậy th́ có ư nghĩa, cho nên nhất định phải
dùng danh hiệu này. Kế đó, chúng sanh ở nơi
đây ḷng người tán loạn, chẳng thanh tịnh! V́
vậy nêu ra Mâu Ni, Mâu Ni là tâm thanh tịnh. Nói cách khác, mục
tiêu giáo học trong giai đoạn hiện tại là “từ
bi, thanh tịnh”. Đấy là những ư nghĩa bao hàm trong
danh hiệu Thích Ca Mâu Ni Phật. Nhằm thích ứng khít
khao với giai đoạn hiện tiền, đối ứng
căn bệnh của chúng sanh mà nói. V́ thế, chúng ta niệm
Phật hiệu, Nam-mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, nếu
quư vị đối với người khác thiếu từ
bi, tâm địa chẳng thanh tịnh, quư vị niệm
danh hiệu Phật bao nhiêu đi nữa cũng uổng
công, cũng vô ích. V́ thế, niệm một câu danh hiệu
nhằm niệm cho ra ḷng từ bi và cái tâm thanh tịnh của
chính ḿnh!
Thích Ca Mâu Ni Phật đến
Tây Phương Cực Lạc thế giới thành Phật,
Ngài nhất định đổi danh hiệu, đổi
thành A Di Đà Phật, v́ sao? Là v́ danh hiệu này đến
nơi ấy chẳng thích hợp. Mỗi người trong
Tây Phương Cực Lạc thế giới đều từ
bi, thanh tịnh, nên danh hiệu này qua bên đó chẳng khởi
tác dụng; do vậy, nhất định phải đổi
danh hiệu, tức là đổi mục tiêu và tông chỉ dạy
học, phải là vô lượng giác, đối với hết
thảy pháp thế gian và xuất thế gian phải giác chứ
không mê, A Di Đà Phật có nghĩa là Vô Lượng Giác. Thấy
danh hiệu Phật này, bèn có thể nghĩ tới thời
đại đức Phật xuất hiện, có thể biết
chúng sanh có những căn bệnh ǵ. Giống như chúng ta
hiểu dược tánh, trông thấy món thuốc ấy, liền
biết người đó mắc bệnh ǵ!
(Diễn) Giảm chí tam thập
tuế, tiểu tam tai tức khởi.
(演) 減至三十歲,小三災即起。
(Diễn: [Tuổi
thọ] giảm đến ba mươi tuổi, tiểu
tam tai bèn dấy lên).
Cứ mỗi một trăm
năm bèn giảm một tuổi, giảm cho đến khi
tuổi thọ trung b́nh [của con người] là ba
mươi năm; nói cách khác, bốn ngàn năm sau, thế
gian này bèn có tiểu tam tai dấy lên. Tiểu tam tai là
đao binh kiếp (chiến tranh), đói kém, ôn dịch
lưu hành rộng khắp cả thế giới. Trong quá khứ,
khi tôi đọc kinh thấy nói tiểu tam tai, tôi rất
nghi hoặc, khi tuổi thọ con người là ba
mươi năm mới có đao binh kiếp. Trong Đệ
Nhị Thế Chiến, Trung Hoa và Nhật Bản đánh
nhau suốt tám năm, chiến tranh trên cả thế giới
chết chóc nhiều ngần ấy, sao chẳng gọi là
đao binh kiếp? Nghĩ thế nào cũng chẳng thông,
kết quả là khi đi một ṿng quanh Nhật Bản,
hoảng nhiên đại ngộ! Tôi đến Trường
Kỳ (Nagasaki)[2] và Quảng
Đảo (Hiroshima) mới hiểu đao binh kiếp là
đại chiến hạch nhân (chiến tranh bom nguyên tử,
nuclear war). Đức Phật đă sớm biết chiến
tranh hạch nhân. Kinh nói đao binh kiếp chỉ có bảy
ngày, tiếp theo là bảy tháng lẻ bảy ngày ôn dịch,
đấy chính là những căn bệnh do bụi bức
xạ nguyên tử. Sau khi ôn dịch, bảy năm bảy
tháng lẻ bảy ngày là nạn đói, chết đói.
Nơi bom nguyên tử nổ, trong ṿng sáu bảy năm đầu,
cỏ cây không mọc được. Trong kinh Phật nói
đến tiểu tam tai, quả thật là nói về đại
chiến hạch nhân. Cuộc chiến tranh ấy chỉ có
bảy ngày, cả thế giới bị hủy diệt. Không
chết trực tiếp th́ cũng gián tiếp chẳng
tránh khỏi kiếp nạn này. Phàm những ai nhiễm phải
bụi bức xạ nguyên tử da dẻ thảy đều
nứt toác, trạng huống thê thảm. Cây cỏ trên mặt
đất chẳng mọc, đương nhiên chết
đói. Chúng ta hiểu rơ chuyện này, đúng là phải khéo
tu phước. Nếu như chúng sanh đều tạo mầm
tội, tội nghiệp nặng nề, tai nạn ấy sẽ
xảy ra nhanh hơn. Mọi người đều tu
phước th́ tai nạn ấy sẽ chậm trễ. Tiểu
tam tai chính là nói về chuyện này, quả thật đáng
sợ.
(Diễn) Chí ư thập tuế,
giảm chi cực dă.
(演) 至於十歲,減之極也。
(Diễn: Cho đến
[khi tuổi thọ chỉ c̣n] mười năm tức là đă
giảm đến tột cùng).
Tuổi thọ của con
người giảm đến mười tuổi, đấy
là giảm đến tột cùng.
(Diễn) Hựu quá bách niên
tăng nhất tuế, tăng chí bát vạn tứ thiên tuế.
(演) 又過百年增一歲,增至八萬四千歲。
(Diễn: Lại qua
một trăm năm bèn tăng một tuổi, tăng cho
đến [khi tuổi thọ của con người là] tám
vạn bốn ngàn năm).
Vào thời ấy, phước
báo của con người lại hiện tiền.
(Diễn) Kim Luân Vương xuất
thế, tăng chi cực dă.
(演) 金輪王出世,增之極也。
(Diễn: Khi Kim Luân
Vương ra đời [là lúc tuổi thọ con người]
tăng đến tột cùng).
Một chu kỳ tăng giảm
như vậy là một kiếp. Khi tuổi thọ con người
dài nhất là tám vạn bốn ngàn năm, khi ngắn nhất
là mười năm. “Kim Luân
Vương xuất thế”: Vị quốc vương ấy
có đại phước đức, cho nên gọi là Luân
Vương (Cakravarti-raja). Phạm vi thống trị của một Luân
Vương chẳng phải là quả địa cầu
như nay ta thường nói, địa cầu chỉ là một
phần lănh thổ thống trị của Ngài. Nếu dựa
theo kinh để nói th́ [khu vực thống trị của
Luân Vương] được gọi là một “tứ
thiên hạ”. Một tứ thiên hạ gần giống
như một Thái Dương Hệ ngày nay, hoặc một
tinh hệ (galaxy). Vua có phước báo lớn dường ấy,
có năng lực lớn ngần ấy, thống trị một
khu vực to dường ấy. Nói đến thống trị
th́ trước hết chánh lệnh của nhà vua phải thấu
đạt; v́ thế, công cụ giao thông của nhà vua là
Luân Bảo (Cakra-ratna). Luân Bảo giống
như đĩa bay, tốc độ hết sức nhanh,
rất nhiều người tin tưởng có người
ngoài không gian. Kim Luân Vương đại khái là người
ngoài không gian. Địa cầu của chúng ta cũng nằm
trong phạm vi hoạt động của vua, thuộc vào lănh
thổ của nhà vua. Đây là Kim Luân Vương, nhỏ
hơn một chút là Ngân Luân Vương, Đồng Ngân
Vương và Thiết Luân Vương. Thiết Luân
Vương cai quản một châu.
(Diễn) Quá thị dĩ hậu,
đệ thập tiểu kiếp, hựu quá bách niên giảm
nhất tuế, giảm chí bát vạn tuế thời, Di Lặc
hạ sanh.
(演) 過是以後,第十小劫,又過百年減一歲,減至八萬歲時,彌勒下生。
(Diễn: Sau thời
gian ấy, trong tiểu kiếp thứ mười, [tuổi
thọ của con người] sau một trăm năm giảm
một tuổi, giảm đến khi tuổi thọ là tám
vạn năm, Di Lặc Phật hạ sanh).
Con người thọ tám vạn
bốn ngàn năm, cứ mỗi trăm năm giảm một
tuổi, giảm đến khi c̣n tám vạn tuổi, khi ấy,
Di Lặc Bồ Tát ra đời. Thích Ca Mâu Ni là vị thứ
tư trong Hiền Kiếp, Di Lặc là vị Phật thứ
năm. Khi ấy, Ngài mới xuất hiện trong thế
gian, Ngài đến thành Phật. Nhất Quán Đạo nói
ngài Di Lặc hiện thời đă thành Phật, đấy
chính là ăn nói quàng xiên, chẳng hề có chuyện ấy!
Di Lặc Bồ Tát thành Phật trong tiểu kiếp thứ
mười, Thích Ca Mâu Ni Phật thành Phật trong tiểu
kiếp thứ chín. Ngài Di Lặc hiện đang làm Bổ
Xứ Bồ Tát, mang thân phận Đẳng Giác Bồ Tát.
(Diễn) Thử hậu phục
hữu cửu bách cửu thập ngũ Phật
tương kế nhi xuất, tận nhị thập tiểu
kiếp măn.
(演) 此後復有九百九十五佛相繼而出,盡二十小劫滿。
(Diễn: Sau đấy
lại có chín trăm chín mươi lăm vị Phật kế
tiếp nhau xuất thế, cho đến hết hai
mươi tiểu kiếp mới xong).
Đây là nói trong trung kiếp Trụ
Kiếp có nhiều vị Phật xuất hiện như vậy.
Hết hai mươi tiểu kiếp xong, đại tam tai
bèn dấy lên.
(Diễn) Đại tam tai khởi,
hoại thế giới dă.
(演) 大三災起,壞世界也。
(Diễn: Đại
tam tai dấy lên, thế giới bị hư hoại).
Sau Trụ Kiếp là Hoại Kiếp,
thế giới này bị hư hoại. Đoạn này nhằm
nói rơ ư nghĩa này, đặc biệt yêu cầu chúng ta hăy
thấu hiểu: [Từ hiện tại cho tới khi] Di Lặc
Phật xuất thế là một giai đoạn thời
gian khá dài, chẳng phải trong hiện thời. Ngàn vạn
phần đừng bị những lời đồn thổi
mê hoặc! Trong thời gian này, chúng ta muốn thành tựu
th́ quư vị phải tuân thủ giáo huấn của Bổn
Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, chiếu theo bộ kinh Di Đà
này để tu pháp môn Tịnh Độ, chắc chắn
có thành tựu. Giống như gần đây nhất, lăo
pháp sư Quảng Khâm đă làm chứng cho chúng ta: Niệm
Phật quả thật văng sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới, đó mới gọi là “hễ liễu thoát,
sẽ vĩnh viễn liễu thoát”. Điều này là chân thật,
chính là điều những người học Phật
chúng ta mong cầu.
Trong đoạn văn này, đại
sư nói rơ: Trong thời kỳ Mạt Pháp, phải
nương cậy bộ kinh này để cứu độ
hết thảy chúng sanh tội khổ. Đây là ḷng từ
bi của Thích Ca Mâu Ni Phật đă đạt đến mức
cùng cực, v́ chúng ta nói ra bộ kinh này, truyền dạy
pháp môn này.
(Sớ) Chánh nhập đấu
tránh giả, tiền ngũ bách niên.
(疏) 正入鬥爭者,前五百年。
(Sớ: “Đúng là
lúc bước vào thời tranh đấu”: Năm trăm
năm trước....)
Sau khi Thích Ca Mâu Ni Phật diệt
độ, pháp vận của Phật chia thành năm giai
đoạn, giống như kinh Kim Cang đă nói “ngũ ngũ bách niên” (năm lần
năm trăm năm). Năm lần năm trăm năm là
cứ mỗi năm trăm năm lại có một lần
biến hóa. “Biến hóa” chẳng
phải là Phật pháp có biến hóa, mà quư vị phải biết:
Lẽ nào Phật pháp bị biến hóa? Phật pháp thuần
chân, chẳng vọng, chẳng bị biến hóa; nhưng
phiền năo của chúng sanh ngày càng nặng hơn. Do vậy,
cách dạy học của Phật pháp qua mỗi một thời
kỳ ắt phải điều chỉnh thích đáng th́
chúng sanh mới có thể đạt được lợi
ích. Giống như trị bệnh, phải căn cứ
trên bệnh t́nh để điều chỉnh [cách chữa
trị]. Trong năm trăm đầu tiên, tức là sau khi
Thích Ca Mâu Ni Phật đă diệt độ năm trăm
năm, cách Phật vẫn chưa xa, trong năm trăm ấy....
(Sớ) Giải thoát kiên cố.
(疏) 解脫堅固。
(Sớ: Giải thoát kiên cố).
“Giải thoát”: “Giải” là giải trừ, tức giải trừ
phiền năo. “Thoát” là thoát khỏi
sanh tử luân hồi. Trong giai đoạn này, những người
như vậy rất nhiều, chiếu theo Phật pháp tu
hành, thật sự chứng quả. Chúng ta nói tới chứng
quả, đoạn phiền năo th́ Giải là đoạn
phiền năo, thoát tam giới; Thoát là ra khỏi tam giới.
Tiểu Thừa A La Hán làm được [điều này],
nói theo Đại Thừa th́ bậc Thất Tín Bồ Tát
trong Viên Giáo cũng làm được; nhưng [sự chứng
quả trong giai đoạn này như đă chép] trong kinh Phật
đều là nói về Tiểu Thừa. Thật ra, Đại
Thừa được phát dương quang đại tại
Trung Quốc, chứ thuở ấy, tại Ấn Độ,
Tiểu Thừa thịnh hành, Đại Thừa rất ít.
(Sớ) Tiệm thứ ngũ bách, Thiền Định
đa văn nhi cập tháp tự.
(疏) 漸次五百,禪定多聞而及塔寺。
(Sớ:
Trong những giai đoạn năm trăm năm lần
lượt kế tiếp là các thời Thiền Định,
đa văn và chùa tháp [kiên cố]).
Đây
là nói tới mấy giai đoạn sau đó. Trong năm
trăm năm thứ hai là thời “Thiền Định kiên cố”, người giải
thoát ít, tức là người có thể đoạn phiền
năo thoát tam giới rất ít, rất hiếm có, nhưng
người đắc Thiền Định đông đảo.
Đắc Thiền Định, nhưng chưa giải
thoát, có ǵ tốt đẹp? Chắc chắn chẳng đọa
trong tam ác đạo! Thiền Định tu thành tựu, quả
báo là Tứ Thiền Thiên hay Tứ Không Thiên trên cơi trời,
tuyệt đại đa số là ở trong Tứ Thiền
Thiên, tức Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền và
Tứ Thiền. Sanh lên trời hưởng phước trời,
chứ vượt thoát tam giới hiếm lắm. Đây
là năm trăm năm thứ hai sau khi Phật diệt
độ, tức là một ngàn năm sau.
Trong
năm trăm năm thứ ba là thời “đa văn kiên cố”, tức là sau khi Phật diệt
độ một ngàn năm trăm năm, người
đắc Thiền Định chẳng nhiều, nhưng
mọi người làm ǵ? Đa văn, giảng kinh, thuyết
pháp, chú giải kinh điển, phong khí ấy rất thịnh
hành. Đức Phật diệt độ một ngàn
năm, Phật giáo truyền sang Trung Quốc, khi ấy là
cuối thời kỳ Thiền Định kiên cố, bắt
đầu thời kỳ đa văn. Do vậy, Thiền
được truyền sang Trung Quốc như thế
đó, vào các đời Ngụy, Tấn, Tùy, Đường,
Đại Thừa Phật giáo thịnh hành, mỗi một
đạo tràng giảng kinh, thuyết pháp, những kinh luận
trọng yếu được rất nhiều người
chú sớ. Đây là thời đa văn kiên cố. Nói theo
pháp thế gian, “đa văn”
chính là thời đại hoàng kim của Phật pháp, dường
như đời sau hưng thịnh hơn đời
trước, nhưng xét theo thành tựu để nói th́
đời sau chẳng bằng đời trước!
Năm
trăm năm thứ tư là thời “tháp tự kiên cố”, đa văn cũng chẳng
được nữa, con người phiền năo nặng
nề, tà kiến ngày càng nhiều, chẳng có năng lực
nghiên cứu Phật pháp, mà cũng chẳng có hứng thú,
đi các nơi cất chùa, dựng tháp, làm chuyện ấy,
nên gọi là “tháp tự kiên cố”,
chuyên môn tu phước! Mỗi ngày làm pháp hội, làm pháp hội
để tu phước. Ngày nay tổ chức Phật thất
hay Thiền Thất đều là pháp hội, đều nhằm
tu phước, v́ sao? Chẳng đúng pháp! Phật
đường thật sự đả Phật Thất
th́ trong bảy ngày bảy đêm ấy chỉ có một câu
Phật hiệu, chẳng thể khởi lên ư niệm thứ
hai, trong miệng chỉ có một câu Nam-mô A Di Đà Phật,
chẳng thể nói chuyện ǵ khác. Niệm vừa xong một
cây hương bèn nhà họ Trương hay, nhà họ Lư dở,
đó là pháp hội, chẳng phải là Phật Thất!
Trong khi đả Phật Thất, nhất định chẳng
cho nói năng, mà tiếng niệm Phật trong suốt bảy
ngày bảy đêm chẳng thể gián đoạn.
Chúng
ta không có tinh thần ấy, không có thể lực ấy,
làm như thế nào đây? Luân lưu, thay phiên nhau đến
niệm. Mỗi người niệm tám tiếng đồng
hồ, đặt ra ba ban, luân phiên niệm như vậy.
Trong Niệm Phật Đường tiếng Phật hiệu
quyết định chẳng thể gián đoạn, làm như
vậy đó! Trước kia tại núi Linh Nham của Ấn
Quang đại sư, buổi tối có bốn người
trực ban niệm Phật trong đại điện. Do vậy,
tiếng Phật hiệu chẳng gián đoạn. Suốt
năm từ đầu đến cuối không gián đoạn,
đó gọi là đạo tràng niệm Phật. Một
năm ba trăm sáu mươi lăm ngày, hằng ngày trong
Niệm Phật Đường tối thiểu có bốn
người đang niệm Phật; do vậy, họ có thể
giữ cho tiếng Phật từ đầu năm đến
cuối năm nhất định không gián đoạn,
đó gọi là Niệm Phật Đường. Do đây có
thể biết Thiền Đường cũng phải
như thế, bất cứ lúc nào nh́n vào, nói chung luôn có
người đang tọa Thiền tại đó, cũng
là luân phiên. V́ thế, dựng tháp, xây chùa, làm pháp hội là
tu phước báo. Tu phước chẳng tu Huệ, tu
phước báo rất lớn, hưởng hết phước
ấy, nhất định đọa lạc, nhưng
người ấy đến đời sau vẫn có thể
hưởng phước, chứ đời sau nữa th́
không đảm bảo.
Đến
năm trăm năm thứ năm, càng tệ hơn,
phước cũng chẳng tu, mà tu chuyện ǵ?
(Sớ)
Kim đương đấu tránh kiên cố chi thời,
cánh vi khả mẫn.
(疏) 今當鬥爭堅固之時,更為可憫。
(Sớ:
Nay đang là lúc tranh đấu kiên cố, càng đáng
thương lắm!)
Liên
Tŕ đại sư ra đời vào thời ấy, nhằm
đúng lúc thời kỳ tranh đấu kiên cố bắt
đầu. Tranh đấu bắt đầu từ
đâu? Thưa quư vị, bắt đầu từ quy y. Do vậy,
quư vị học Phật liền tham gia vào đường
lối tranh đấu kiên cố. Đây là sư phụ, là
môn phái của tôi, kia chẳng phải là sư phụ, chẳng
phải là môn phái của tôi, hễ vạch giới hạn
trong ấy, bèn có tranh đấu. Do v́ Ngẫu Ích đại
sư trông thấy hiện tượng ấy, Hoằng Nhất
đại sư khi biên tập cuốn Ngũ Giới
Tướng Kinh Thiển Yếu đă trích yếu ngữ lục
của Ngẫu Ích đại sư ghép vào sách ấy, [đọc
thiên pháp ngữ ấy], chúng ta thấy Ngẫu Ích đại
sư hết sức cảm thán! Ngài cho rằng đấy
là sự sai lầm to lớn nhất!
Người
học Phật trước kia là giác chứ không mê, quy y Tam
Bảo là quy y Giác - Chánh - Tịnh. Chương Truyền
Hương Sám Hối trong Lục Tổ Đàn Kinh dạy
về phương pháp tu hành, chia thành năm quá tŕnh theo thứ
tự, giảng hết sức rơ ràng. Khi truyền trao Tam
Quy, Ngài nói: “Quy y Giác, quy y Chánh,
quy y Tịnh”, hoàn toàn dịch sang nghĩa tiếng Hán, v́
sợ nói “quy y Phật, quy y
Pháp, quy y Tăng”, quư vị nghe xong sẽ mê hoặc, chẳng
hiểu Phật, Pháp, Tăng, nghĩ Tăng là một
người, quy y vị xuất gia ấy, đó là sai lầm!
Quy y Phật, trông thấy tượng Phật bèn nghĩ là
Phật, đó cũng là sai lầm! Phật là Giác, giác chứ
không mê. V́ thế, Lục Tổ nói “quy y Giác, quy y Chánh”, Chánh là chánh tri chánh kiến, từ
tà tri tà kiến quay về nương tựa chánh tri chánh kiến.
Quy y Tăng, Tăng tượng trưng thanh tịnh, sáu
căn thanh tịnh, chẳng nhiễm mảy trần, từ
nhiễm ô mà quay trở lại, nương vào thanh tịnh.
Tăng c̣n tượng trưng cho ḥa hợp,
Tăng đoàn Lục Ḥa Kính. Từ chẳng ḥa hợp quay
về nương tựa ḥa hợp. Nay chúng ta nói đến
“đoàn kết” th́ ḥa hợp chính là ư nghĩa đoàn kết,
đừng nên phân hóa một đoàn thể!
Vào đời Minh của Liên Tŕ đại sư,
hiện tượng quái lạ ấy bắt đầu
phát sanh, tức là phân chia xé lẻ, vấn đề này khá
nghiêm trọng. Nếu chẳng nghiêm trọng, tổ sư
chẳng nói lời này. V́ thế, Tăng đoàn bị phá hoại,
đó là tranh đấu, tạo mầm tội to lớn. V́
thế, học Phật thọ Tam Quy nếu chẳng
đúng pháp th́ thọ Tam Quy bèn ghi danh trong sổ bộ của
địa ngục A Tỳ, v́ sao? Quư vị tham gia tranh
đấu kiên cố, tham gia tiêu diệt Phật pháp. Diệt
Phật pháp, phá ḥa hợp Tăng là tội Ngũ Nghịch.
Quả báo của tội Ngũ Nghịch là địa ngục
A Tỳ. V́ thế, quư vị nhất định phải có
tâm cảnh giác. Chúng ta học Phật, phát cái tâm tốt
lành, tương lai học vào địa ngục, quả thật
chẳng đáng tí nào! V́ sao lại vào địa ngục? Vẫn
là không biết chi cả, cứ hồ đồ đi theo.
V́ thế, nghiệp lực chẳng thể nghĩ bàn,
thường là chính ḿnh tạo nghiệp mà chính ḿnh chẳng
biết!
Khi
Tam Quy, phải biết quư vị quy y Tam Bảo, nhất là
trông thấy Trụ Tŕ Tam Bảo, ngay lập tức phải
trở về Tự Tánh Tam Bảo th́ công đức Tam Quy
vô lượng vô biên. Quư vị thấy Trụ Tŕ Tam Bảo,
tức là thấy h́nh tướng của Tam Bảo, lập
tức hồi quang phản chiếu trở về Tự
Tánh Tam Bảo, quư vị sẽ được ba
mươi sáu vị thần hộ pháp bảo vệ, v́
sao? Quư vị thật sự là đệ tử Phật. Nếu
quư vị nói “vị pháp sư nọ, vị đại
đức kia là sư phụ của tôi” th́ thưa quư vị,
chẳng có vị thần hộ pháp nào ngó tới quư vị!
Ai đến t́m quư vị? Yêu ma quỷ quái, v́ sao? Quư vị
mạo nhận là đệ tử Phật, chẳng phải
là đệ tử chân chánh của Phật. V́ thế, khi
Tam Quy, người xuất gia đại diện Tăng
đoàn, đại diện Tam Bảo chứng minh cho quư vị,
tuyệt đối chẳng phải là quy y với người
đó! Nhất định phải hiểu ư nghĩa này!
Ngàn vạn phần chớ nên hiểu lầm! V́ thế,
tranh đấu kiên cố bắt đầu từ Tam Quy.
Truyền thọ Tam Quy Ngũ Giới chẳng đúng pháp,
nên Phật pháp mới suy vi, bại hoại. Nếu trao truyền
Tam Quy Ngũ Giới đúng pháp, Phật pháp quyết định
hưng vượng.
“Kim đương đấu tránh
kiên cố chi thời, cánh vi khả mẫn” (nay đang
thời tranh đấu kiên cố, càng đáng
thương): Chúng sanh càng đáng thương hơn, v́ sao?
Cơ hội đọa lạc ác đạo quá nhiều, hết
sức khổ! Một người trong một đời,
khởi tâm động niệm, nói năng mà chẳng đọa
trong ác đạo gần như là chuyện không thể nào
xảy ra. Quư vị bất tri bất giác hủy diệt Phật
giáo, c̣n tưởng là chính ḿnh đang làm chuyện tốt
đẹp trong cửa Phật, quả thật đáng
thương!
(Sớ)
Hậu chi hựu hậu giả.
(疏) 後之又後者。
(Sớ:
“Đă sau lại c̣n sau hơn” là...
Liên
Tŕ đại sư nói t́nh huống này càng về sau càng tệ.
(Sớ)
Năi chí pháp diệt, bội cánh khả mẫn.
(疏) 乃至法滅,倍更可憫。
(Sớ:
Cho đến khi pháp diệt, càng đáng thương gấp
nhiều lần).
Khi
Phật pháp sắp diệt, nếu hiện thời chúng ta
chẳng thật sự hiểu ư nghĩa của Phật
pháp th́ chẳng thể nào hộ tŕ tốt đẹp
được, Phật pháp cũng bị hủy diệt với
tốc độ nhanh hơn, chính chúng ta phải cảnh
giác điều này. Chúng ta có thể nghe chánh pháp, nhất
định phải ghé vai gánh vác sứ mạng hộ tŕ
chánh pháp, trước hết phải ǵn giữ Giác - Chánh -
Tịnh của chính ḿnh, đó là hộ tŕ pháp của chính
ḿnh, rồi mới giúp đỡ người khác, hộ
tŕ Giác - Chánh - Tịnh của chính người đó. Đó
gọi là hộ tŕ Phật pháp của đại chúng. Có thể
hộ tŕ chính ḿnh, hộ tŕ đại chúng chính là hộ
tŕ chánh pháp của mười phương chư Phật.
Chúng ta không làm sẽ chẳng có ai làm, công tác này phải bắt
đầu từ bản thân chúng ta.
(Sớ) Cố Phật thuyết
thử kinh, lược nhi kế chi, đại bi hữu
tam.
(疏) 故佛說此經,略而計之,大悲有三。
(Sớ:
V́ thế, đức Phật nói kinh, nếu tính đại
lược th́ có ba thứ tâm đại bi).
Do v́ duyên này, đức Phật
mới v́ chúng ta mà nói ra bộ kinh này, v́ chúng ta tuyên
dương pháp môn này nhằm cứu độ chúng sanh khổ
nạn trong thời kỳ Mạt Pháp. Ở đây, đại
sư nói ra ba thứ tâm đại bi của Phật.
(Sớ) Nhất giả, Phật
tại thế thời, lân thử Ngũ Trược, thuyết
nan tín pháp, thị vị đệ nhất trọng đại
bi mẫn niệm chúng sanh.
(疏) 一者佛在世時,憐此五濁,說難信法,是為第一重大悲憫念眾生。
(Sớ: Một là
thuở Phật tại thế, do thương xót đời
Ngũ Trược này mà nói pháp khó tin. Đây là ḷng đại
bi lớn lao nghĩ thương chúng sanh thứ nhất).
Kinh này chẳng nói trong thời
hiện tại, mà được nói trong thuở đức
Phật tại thế. Nói cách khác, kinh được nói
ngay trong thời Chánh Pháp của Thích Ca Mâu Ni Phật, chỉ
v́ khi Thích Ca Mâu Ni xuất hiện trong thế gian, cơi đời
đă thuộc đời ác Ngũ Trược đă lâu,
chúng sanh đă khá đáng thương. Từ lịch sử
của Ấn Độ, chúng ta có thể thấy được
điều này. Khi đức Phật giáng thế, nhằm đúng
thời kỳ tư tưởng tại Ấn Độ hết
sức hỗn loạn, có tới chín mươi sáu thứ
ngoại đạo. Nếu dùng pháp thế gian để
nói th́ là “thời đại
tư tưởng, học thuật bùng nổ”, giống
như thời đại Bá Gia Chư Tử vào thuở Xuân
Thu Chiến Quốc tại Trung Hoa. Nói theo Phật pháp, đó
là thời đại tà tri tà kiến hết sức hỗn
loạn! Phật pháp có cách nh́n khác với pháp thế gian. V́
thế, khi đức Phật xuất hiện, nêu ra chánh
tri chánh kiến, nói ra pháp môn này. Người chiếu theo
pháp môn này tu hành, đắc độ văng sanh hết sức
đông đảo. Từ kinh điển chúng ta có thể
thấy được điều này!
(Sớ) Nhị giả, Phật diệt độ hậu,
phước huệ nhật thiển, tội chướng
ích thâm, cố thuyết thử kinh, hàm linh vị lai tuy bất
kiến Phật, Phật diệt, pháp tồn, đản hữu
tín giả, tốc siêu sanh tử, thị vi đệ nhị
trọng đại bi mẫn niệm chúng sanh.
(疏) 二者佛滅度後,福慧日淺,罪障益深。故說此經,咸令未來雖不見佛,佛滅法存,但有信者,速超生死,是為第二重大悲憫念眾生。
(Sớ: Hai là sau khi đức
Phật diệt độ, phước huệ [của
chúng sanh] ngày càng nông cạn, tội chướng càng sâu, v́
thế, nói kinh này để cho các chúng sanh trong đời
mai sau tuy chẳng thấy Phật, đức Phật
đă diệt, nhưng pháp vẫn c̣n, chỉ cần có ḷng
tin sẽ mau vượt thoát sanh tử. Đây là ḷng đại
bi to lớn nghĩ thương chúng sanh thứ hai vậy).
Đức Phật đă sớm
nghĩ: Sau khi Ngài diệt độ, tuy đức Phật
chẳng c̣n ở trên đời, nhưng kinh này lưu thông
tới đời sau, chiếu theo phương pháp này tu
hành sẽ chẳng khác ǵ Phật c̣n ở trên đời.
Sau khi đức Phật diệt độ, quả thật
chúng sanh phước huệ dần dần giảm thiểu.
Quư vị phải biết: Thế giới hiện thời
là thế giới nổi tiếng về khoa học kỹ
thuật, chúng ta thấy chúng sanh hiện thời phước
báo lớn hơn thời cổ, trí huệ cũng thông minh hơn
cổ nhân, đó là Thế Trí Biện Thông, chứ không phải
phước huệ như trong Phật pháp đă nói. V́ sao?
Con người hiện thời thông minh, nhưng phiền
năo cũng nhiều, tăng trưởng đối đăi.
Người thông minh nhất trong thế gian hiện thời
sợ chiến tranh hạch nhân nhất, v́ vũ khí hạch
nhân do chính họ phát minh. Phát minh ra rồi suốt ngày từ
sáng đến tối phập phồng, chẳng phải là
chính ḿnh tự chuốc lấy phiền muộn ư? Có
khoa học gia nào chẳng lo lắng về đại chiến
nguyên tử? Vẫn cứ miệt mài muốn phát minh,
đó chẳng phải là phước, chẳng phải là
trí huệ chân chánh. Người thật sự có trí huệ
biết lư luận, nhưng không nói, đó là có trí huệ, v́
sao? Chẳng bận ḷng v́ chiến tranh hạch nhân. V́ thế,
người Tây Phương không có trí huệ, người
Trung Quốc có trí huệ!
Khoa học kỹ thuật của
Trung Quốc theo lịch sử ghi chép th́ vào thời Hán đă
học kỹ thuật phi hành bằng tàu lượn (glider),
Gia Cát Lượng chế tạo mộc ngưu lưu mă
(trâu ngựa gỗ có thể cử động được),
tức là những phương tiện chuyển vận
được cơ giới hóa. V́ thế, có thể nói khoa
học kỹ thuật của Trung Quốc sớm hơn
người phương Tây rất nhiều, nhưng
người Trung Quốc có trí huệ, hủy bỏ những
thứ ấy, chẳng để cho chúng được lưu
truyền. Nguyên nhân là v́ sau khi những thứ khí cụ khoa
học ấy bị những kẻ có dă tâm lợi dụng
th́ chúng sanh trên thế giới sẽ mắc không biết
bao nhiêu hoạn nạn to lớn. Người Trung Quốc
nghĩ xa, mong giữ b́nh an cho người đời sau.
Nói cách khác, họ phải có trách nhiệm đối với
lịch sử, có trách nhiệm với đời sau. V́ thế, họ biết
những thứ ấy, nhưng không nói ra, chẳng làm,
đó là đại từ đại bi, đó là trí huệ
lưu lộ. Người phương Tây rốt cuộc
theo tư tưởng công lợi (Utilitarianism), hễ biết
bèn ngay
lập tức bộc lộ ra, ngay lập tức chế tạo,
hậu quả là hiện thời hối hận chẳng kịp,
đấy là thiếu trí huệ, thiếu phước báo.
Nếu nói đến hứng thú
về mặt t́nh cảm trong cuộc sống th́ chúng ta ngày
nay chẳng bằng cổ nhân. Tuy đèn điện sáng rực
như thế rất tiện cho chúng ta, nhưng nó thiếu
ư vị thơ mộng như nến. Phi cơ lẹ làng dường
ấy, nhưng không có ư vị ngất ngây rất đặc
biệt như dong thuyền. T́nh thơ ư mộng trong cuộc
sống của cổ nhân quả thật là chân thiện mỹ,
có sự hưởng thụ như vậy! Hiện thời
không c̣n nữa, hiện thời suốt ngày từ sáng đến
tối là cuộc sống tất bật, khổ năo v́ đủ
thứ áp lực. Đời sống của con người
trong thế gian này thua xa những con vật cưng (pet). Tôi
nh́n những con vật cưng, cảm thấy chúng nó rất
vui sướng, con người chẳng bằng súc sanh! Nhất
là quư vị thấy những con thú cưng ở ngoại quốc,
người ngoại quốc nuôi chó, bất luận là chó
hoang hay chó nuôi trong nhà, chúng có phước báo lớn hơn
con người, v́ sao? Con người phải hầu hạ
chúng nó, chúng nó đâu phải hầu hạ con người!
Người tu phước phải chú ư, đừng để
đời sau biến thành súc sanh hưởng phước,
[nếu bị như vậy th́] cũng chẳng tốt
đẹp ǵ! V́ thế, đường lối giải
thoát duy nhất vẫn là phải niệm Phật. Đây là
ḷng từ bi thứ hai. Kinh văn này càng đọc càng thấy
hợp lư, đủ thấy cổ nhân đúng là thấy xa
trông rộng.
(Sớ) Tam giả, như Đại
Bổn ngôn: “Phật diệt cửu viễn,
đương lai chi thế, kinh đạo diệt tận,
độc lưu thử kinh trụ thế độ sanh,
tối hậu phương diệt, tắc tri thao thiên chi tế,
thượng tác từ hàng. Đại dạ phương
trầm, do xứng pháp cự. Thị vi đệ tam trọng
đại bi mẫn niệm chúng sanh dă.
(疏) 三者如大本言,佛滅久遠,當來之世,經道滅盡,獨留此經住世度生,最後方滅,則知滔天之際,尚作慈 航,大夜方沈,猶稱法炬,是為第三重大悲憫念眾生也。
(Sớ:
Thứ ba là như kinh Đại Bổn nói: “Phật diệt
độ đă lâu xa, trong đời tương lai, kinh
đạo diệt hết, riêng lưu lại kinh này trong
cơi đời để độ chúng sanh, diệt mất
sau cùng, nên biết là khi nước ngập tận trời,
c̣n làm chiếc bè Từ, thuở đêm sâu tối mịt, vẫn
xứng làm đuốc pháp. Đây là ḷng đại bi
nghĩ thương chúng sanh to lớn thứ ba vậy).
Đây
là tầng ư nghĩa thứ ba, nói về lúc toàn bộ Phật
pháp đă diệt sạch.
(Diễn)
Kinh đạo diệt tận giả, thỉ tự Thủ
Lăng Nghiêm Kinh, Ban Châu Tam Muội Kinh, chung chí thập nhị
phần giáo, tất giai diệt tận, độc lưu A
Di Đà Kinh trụ thế bách niên, tối hậu
phương diệt dă.
(演) 經道滅盡者,始自首楞嚴經,般舟三昧經,終至十二分教,悉皆滅盡,獨留阿彌陀經住世百年,最後方滅也。
(Diễn:
“Kinh đạo diệt hết”: Bắt đầu từ
kinh Thủ Lăng Nghiêm và kinh Ban Châu Tam Muội, cuối
cùng đến mười hai phần giáo thảy đều
diệt sạch, riêng lưu lại kinh A Di Đà tồn tại
trên đời một trăm năm, diệt mất cuối
cùng).
Đây
là nói về quá tŕnh toàn bộ Phật pháp diệt mất
trong tương lai. Diệt mất đầu tiên là kinh
Lăng Nghiêm. Kinh Lăng Nghiêm chẳng diệt th́ Phật
pháp chẳng diệt. V́ sao? Nếu quư vị đọc kỹ
kinh Lăng Nghiêm th́ hiện thời bất cứ loài yêu ma
quỷ quái nào mạo danh Phật pháp trong thế gian, quư vị
vừa nh́n liền thấy thấu suốt, có thể phân
biệt được! V́ thế, kinh này nhất định
bị diệt trước. Trong quá khứ, tôi giảng kinh
Lăng Nghiêm, đă nói kinh Lăng Nghiêm là kính chiếu yêu. Nếu
kính chiếu yêu chẳng diệt, yêu ma quỷ quái chẳng
dám xuất hiện. V́ thế, nếu kinh này bị phá hoại
trước tiên th́ mọi người chẳng thể phân
biệt [đâu là ma, đâu là Phật] nên yêu ma quỷ quái mới
có thể xuất hiện. Đặc biệt là nửa phần
sau của quyển thứ sáu trong kinh Lăng Nghiêm, tức
chương Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối (bốn
loại giáo huấn thanh tịnh rơ ràng) dạy quư vị
phân biệt Phật và ma như thế nào, phân biệt tà và
chánh như thế nào. Cuối kinh
Lăng Nghiêm từ nửa sau quyển chín cho đến quyển
thứ mười, kinh văn gồm một quyển
rưỡi giảng về năm mươi thứ Ấm
Ma, giảng về những cảnh giới mà quư vị sẽ
nhất định gặp phải trong quá tŕnh tu hành.
Năm mươi loại [Ấm Ma] chính là ma chướng!
Số lượng trong mỗi một loại là vô lượng
vô biên, quư vị nói tu hành chẳng gặp ma chướng
ư? Không có chuyện ấy đâu nhé. Nếu quư vị có
năng lực biện định, nếu quư vị
nhận biết chúng nó, nhận biết chúng nó chẳng
đáng sợ, chúng nó sẽ chẳng thể chướng
ngại quư vị. Sợ rằng quư vị chưa nhận
biết, sẽ bị mắc lừa!
Trong quá khứ, chúng tôi đă giảng
kinh Lăng Nghiêm rất nhiều lần, hiện thời vẫn
có người t́m tôi xin giảng, tôi không giảng nữa.
Tôi nói hiện thời tôi giảng kinh Di Đà, nhất tâm cầu
sanh Tịnh Độ. Do đây có thể biết: Kinh Di
Đà công đức vô lượng vô biên. Khi hết thảy
kinh pháp đă diệt sạch, kinh này vẫn c̣n lại trên
đời suốt một trăm năm, diệt mất
sau cùng. Do đây có thể biết rằng: Bộ kinh này
công đức lợi ích chẳng thể nghĩ bàn! Học
Phật chỉ có nương theo bộ kinh này th́ c̣n có hy vọng,
c̣n có thể văng sanh Tịnh Độ. Thật sự chẳng
thể nghĩ bàn, đúng là từ bi đến mức cùng
cực.
(Diễn) Pháp diệt thời,
ca-sa tự nhiên biến bạch.
(演) 法滅時袈裟自然變白。
(Diễn: Khi pháp diệt,
áo ca-sa tự nhiên đổi thành trắng).
Đây là nói theo h́nh tướng.
Ca-sa (Kasāya) là “nhiễm sắc y” (y nhuộm
màu xậm), đến khi pháp diệt, không ai mặc y nhiễm
sắc nữa!
(Diễn) Tạng kinh tự nhiên
vô tự, thập lục La Hán tận thâu thế gian nhất
thiết kinh pháp, trữ ư đồng tháp, nhiễu tháp
kinh hành, thán ngôn: “Thích Ca pháp diệt”.
(演) 藏經自然無字,十六羅漢盡收世間一切經法貯於銅塔,遶塔經行。歎言:釋迦法滅。
(Diễn: Tạng
kinh tự nhiên không c̣n chữ. Mười sáu vị La Hán
gom sạch hết thảy các kinh pháp trong thế gian chứa
trong tháp đồng, đi kinh hành quanh tháp, than thở: “Pháp
của Phật Thích Ca đă diệt”).
“Thán”
(歎) là khôn ngăn xúc cảm than thở;
lúc ấy, mười sáu vị đại đệ tử
của Thích Ca Mâu Ni Phật, tức là mười sáu vị
Đại A La Hán thâu cất các kinh điển, chứa
trong cái tháp bằng đồng.
(Diễn) Nhiên hậu thử tháp
trầm chí Kim Cang tế, tắc thế giới pháp diệt
dă.
(演) 然後此塔沈至金剛際,則世界法滅也。
(Diễn: Sau đó,
tháp ấy ch́m xuống tận Kim Cang tế[3],
tức là pháp diệt mất trên toàn thế giới).
Giáo pháp của cả một
đời Thích Ca Mâu Ni Phật cáo chung, ắt phải đợi
đến năm mươi sáu ức vạn năm sau. Di
Lặc Phật đến thế gian này thị hiện
thành Phật, lại giảng kinh, thuyết pháp. Quư vị
phải biết: Thời gian mà thế gian này có Phật pháp
rất ngắn ngủi, tạm bợ; nói chung là một vạn
hai ngàn năm. Thời gian không có Phật pháp hết sức
dài, tức là cách một khoảng thời gian gồm
năm mươi sáu ức vạn năm không có Phật
pháp. Không có Phật pháp, chúng sanh chẳng có cơ hội
vượt thoát tam giới, chẳng có cơ hội thoát
sanh tử luân hồi. V́ thế thời gian luân hồi dài
lâu!
Trong một đời này, chúng
ta may mắn gặp gỡ pháp môn này, nói cách khác, có
được cơ duyên này, chúng ta có thể đắc
độ trong một đời này, có thể giải quyết
vấn đề, nếu bỏ lỡ một đời
này, phiền phức sẽ to lắm. Tuy đời sau quư vị
có phước báo, nhưng có thể gặp Phật pháp hay
không, đó là một vấn đề lớn! Thế giới
ngày nay có bốn mươi mấy ức người, có
bao nhiêu người được nghe kinh hay nghe một
câu A Di Đà Phật trong một đời? V́ thế, có thể
đọc bộ kinh này, nghe một câu A Di Đà Phật,
chẳng dễ dàng đâu nhé! Lấy ngay Đài Bắc
để nói th́ gần tới hai trăm vạn người,
nếu quư vị kiểm tra trọn khắp, trong hai
trăm vạn người, trong đời này có mấy
người nghe kinh này một lần? Có mấy người
niệm một câu A Di Đà Phật? Tuyệt đại
đa số, sợ rằng đến tám mươi phần
trăm, trong một đời này chưa hề nghe kinh,
chưa hề niệm một câu Phật hiệu. Nơi Phật
giáo hưng thịnh nhất mà c̣n như thế, huống hồ
những nơi khác? V́ thế, nhất định phải
trân quư nhân duyên khó được này, quả thật là
trăm ngàn vạn kiếp khó gặp gỡ, nhưng nay
chúng ta có thể gặp gỡ th́ phải trân quư điều
này!
“Độc lưu thử kinh” (riêng
lưu lại kinh này) là đến lúc cuối cùng trong pháp vận
của Thích Ca Mâu Ni Phật, đại sư nói “tắc tri thao thiên chi tế,
thượng tác từ hàng. Đại dạ
phương trầm, do xứng pháp cự” (nên biết lúc nước ngập tận trời,
c̣n làm chiếc bè Từ, thuở đêm sâu tối mịt,
vẫn xứng làm đuốc pháp). Hai câu này là dùng tỷ dụ
để nói.
(Diễn) Thao thiên chi tế, đại dạ
phương trầm giả: Dụ chúng sanh phiền năo nhật
thâm, vô minh nhật hậu. Cổ vân: “Si vân ái đăi tánh
thiên hôn, thức hỏa giao tiên tâm đỉnh phất” thị
dă.
(演) 滔天之際、大夜方沈者,喻眾生煩惱日深,無明日厚,古云痴雲靉靆性天昏,識火交煎心鼎沸是也。
(Diễn: “Khi nước ngập
tận trời, thuở đêm sâu tối mịt”: Sánh ví chúng
sanh phiền năo ngày một sâu, vô minh ngày càng dầy. Cổ
nhân nói: “Mây si dồn phủ khiến bầu trời chân tánh
tối om, lửa thức chen nhau nung cái vạc tâm sôi sùng sục”
là nói về chuyện này).
“Ái đăi” (靉靆) là
mây mù bốc lên, nay chúng ta đi trên xa lộ, có đoạn
thường thấy có sương mù, đi lại trong
sương mù khá nguy hiểm. Ở đây là nói ngu si phiền
năo khiến cho chúng ta mê mất chánh đạo, bất tri bất
giác đi vào đường tà, ngỡ tà là chánh. Câu cuối
cùng nhằm h́nh dung phiền năo, Ngũ Ấm lừng lẫy.
Đây là do ba tầng đại bi nghĩ thương chúng
sanh mà đức Phật giảng kinh này.
(Sớ) Thí chi từ phụ,
ưu niệm hậu côn.
(疏) 譬之慈父,憂念後昆。
(Sớ: Ví như cha
lành, nghĩ lo cho con cháu).
“Hậu
côn” là hậu duệ.
(Sớ) Tâm vô tận cố.
(疏) 心無盡故。
(Sớ: Do tâm vô tận vậy).
Đối với con cháu đời
sau, Ngài nghĩ hết sức sâu xa, làm thế nào để
con cháu đời đời kiếp kiếp đều có
thể bảo toàn, đều đạt được hạnh
phúc. Người Trung Quốc dụng tâm ở chỗ này
nhiều hơn người ngoại quốc. Người
ngoại quốc suy tính cho con cháu quả thật không nhiều
lắm. Cổ thánh tiên hiền Trung Quốc nghĩ giùm con
cháu quá nhiều, nếu nay chúng ta không khéo học sẽ chẳng
xứng với tổ tiên. Điều đầu tiên là
văn chương Văn Ngôn, mọi người chẳng
học văn chương Văn Ngôn, làm sao có thể xứng
với tổ tiên? Đấy là tổ tiên đă suy nghĩ
thay cho chúng ta, đấy là một thứ công cụ để
truyền trao trí huệ và kinh nghiệm. Hôm nay đă hết
thời gian rồi.
Tập
52
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang sáu mươi bảy, đoạn
thứ hai của phần Giáo Khởi Nhân Duyên.
(Huyền Nghĩa) Nhị, đặc
ư vô lượng pháp môn xuất thắng phương tiện
giả, nhập đạo đa môn, bổn vô giản trạch,
hiểm di khúc trực, nan dị du phân, tắc vô lượng
môn trung, Niệm Phật nhất môn, tối vi phương
tiện. Lược trần hữu tứ: Nhất, bất
trị Phật thế, đắc thường kiến Phật
phương tiện. Nhị, bất đoạn Hoặc
nghiệp, đắc xuất luân hồi phương tiện.
Tam, bất tu dư hạnh, đắc Ba La Mật phương
tiện. Tứ, bất kinh đa kiếp, đắc tật
giải thoát phương tiện.
(玄義) 二、特於無量法門出勝方便者,入道多門,本無揀擇,險夷曲直,難易攸分,則無量門中,念佛一門,最為方便。略陳有四:一不值佛世,得常見佛方便;二不斷惑業,得出輪迴方便;三不修餘行,得波羅密方便;四不經多劫,得疾解脫方便。
(Huyền Nghĩa: Hai, “đặc
biệt trong vô lượng pháp môn nêu ra phương tiện
thù thắng”: Có nhiều môn để vào đạo, vốn
không chọn lựa, nhưng chia ra thành [các đường
lối] hiểm trở, thông suốt, cong, thẳng, khó, dễ
rất khác nhau, nên trong vô lượng môn, một môn Niệm
Phật là thuận tiện nhất. Nêu đại lược
th́ có bốn điều như sau: Một, [đây là]
phương tiện [khiến cho hành giả] dù không gặp
lúc Phật tại thế mà vẫn thường được
thấy Phật. Hai, [đây là] phương tiện [khiến
cho hành giả] chẳng đoạn Hoặc nghiệp mà vẫn
thoát luân hồi. Ba, [đây là] phương tiện [khiến
cho hành giả] chẳng tu các hạnh khác, mà đắc Ba La
Mật. Bốn, [đây là] phương tiện [khiến
cho hành giả] chẳng trải nhiều kiếp, mau
được giải thoát).
Đây là nhân duyên thứ hai khiến
đức Phật nói kinh này. Tuy Phật pháp có rất nhiều
pháp môn, có thể nói chúng đều là pháp phương tiện,
nhưng trong các pháp phương tiện, phương pháp [Niệm
Phật] này là pháp môn phương tiện thù thắng nhất.
Pháp này rốt ráo thù thắng như thế nào? Tiếp
đó, Ngài nêu ra bốn điều. Bốn điều này
quả thật là bốn thứ chẳng thể nghĩ
bàn. Vừa mở đầu, Ngài bèn nói theo Lư: “Nhập đạo đa môn, bổn
vô giản trạch” (Có nhiều môn để vào đạo,
vốn không chọn lựa). Tám vạn bốn ngàn pháp môn,
môn nào cũng đều b́nh đẳng, môn nào cũng đều
có thể chứng Vô Thượng Đạo, cho nên nói: Pháp
môn b́nh đẳng, không hai, không khác!
(Diễn) Nhập đạo
đa môn giả, như Lăng Nghiêm, nhị thập ngũ
nhân các thuyết Viên Thông phương tiện.
(演) 入道多門者,如楞嚴,二十五人各說圓通方便。
(Diễn: “Có nhiều
môn để nhập đạo”: Như trong kinh Lăng
Nghiêm, hai mươi lăm vị [thánh giả], mỗi vị
đều nói phương tiện Viên Thông).
Trong kinh Lăng Nghiêm, đức
Phật hỏi các vị Bồ Tát rốt ráo dùng
phương pháp nào tu hành để chứng quả, ngay khi
ấy, hai mươi lăm vị Bồ Tát, mỗi vị
đều nói ra phương pháp tu hành chứng quả của
ḿnh, nhưng mỗi một vị đều nói pháp môn của
ḿnh là bậc nhất. V́ thế, không có thứ hai, môn nào
cũng là bậc nhất! Hai mươi lăm vị Bồ
Tát này tượng trưng cho vô lượng pháp môn do đức
Phật đă nói. Cớ sao vô lượng pháp môn chỉ có
hai mươi lăm vị Bồ Tát đại diện?
Quy nạp vô lượng pháp môn thành hai mươi lăm loại;
hai mươi lăm loại ấy gồm sáu căn, sáu trần,
sáu thức, bảy đại. Gộp chung tất cả
các pháp môn, nói chung chẳng ngoài hai mươi lăm loại
lớn này, tức là mười tám giới cộng thêm bảy
đại. V́ thế, [hai mươi lăm pháp Viên Thông]
đại diện cho tám vạn bốn ngàn pháp môn. Vô lượng
pháp môn, môn nào cũng đều có thể nhập đạo,
môn nào cũng là bậc nhất. Nói theo Lư, pháp môn thật sự
b́nh đẳng, chẳng cần phải chọn lựa, chẳng
cần chọn lọc. Nói theo Sự, do căn tánh của
chúng ta khác nhau, cho nên phải chọn lựa. V́ thế, nói
“hiểm di khúc trực, nan dị
du phân” (chia ra hiểm trở, thông suốt, cong, thẳng,
khó, dễ rất khác nhau), đạo lư ở chỗ này.
Có những pháp môn rất khó tu học,
người b́nh thường chẳng thể tu học
được. Có những pháp môn tu học dễ dàng hơn.
Dẫu dễ dàng, nhưng nói thật ra, căn tánh của
mỗi người vẫn khác nhau. Ví như có người
thích niệm Phật, suốt ngày từ sáng đến tối
Phật hiệu liên tục không gián đoạn, người
ấy niệm rất hoan hỷ. Có kẻ chẳng thích niệm
Phật, niệm một chút bèn gián đoạn. Quư vị bảo
họ tụng niệm khóa tụng sáng tối, niệm một
tiếng rưỡi đồng hồ th́ họ niệm
được! Quư vị bảo họ suốt ngày từ
sáng đến tối niệm Phật, họ chẳng làm
được! Đủ thấy căn tánh khác nhau. Có những
người thích tụng kinh, càng tụng càng thấy thú vị.
Tụng kinh th́ được, cả ngày tụng suốt
mười tiếng đồng hồ cũng chẳng mệt,
chẳng chán; nhưng bảo họ niệm Phật, niệm
một tiếng đồng hồ bèn ngủ gục.
Căn tánh của mỗi người khác nhau, do vậy mà
pháp môn này có khó, dễ! Đủ thấy khó hay dễ chẳng
phải do chính pháp môn! Chính v́ như thế, Phật, Bồ
Tát, tổ sư đại đức bảo chúng ta: Nhất
định phải chọn lựa [pháp môn] phù hợp
căn tánh và sự ưa thích của chính ḿnh. Thế nhưng
chọn lựa th́ chúng ta thường là chưa thâm nhập
toàn bộ Phật pháp, chưa thể liễu giải, pháp
môn nhiều ngần ấy, chọn pháp môn nào mới là tốt
đẹp đây? Nếu mỗi pháp môn đều thử,
thử xong rồi sẽ quay lại chọn lựa, sợ
rằng dẫu chúng ta sống đến hai trăm năm
vẫn thử chưa xong! Đấy cũng là một vấn
đề khó khăn trong thực tế. Chúng ta không có thọ
mạng dài lâu như vậy, không có thời gian dài như vậy,
há chẳng lầm lỡ đại sự của chính ḿnh
ư? V́ thế, Phật, Bồ Tát phải chọn lựa
thay cho chúng ta.
Tuy dạy chúng ta pháp môn này,
nhưng trong pháp môn này c̣n có phương tiện, ví như vừa
mới nói đến niệm Phật, niệm Phật có bốn
loại: Tŕ Danh, Quán Tưởng, Quán Tượng, Thật Tướng.
Có bốn loại lớn. Trong mỗi một loại, lại
có rất nhiều phương tiện, thật sự là “đại khai phương tiện
môn” (mở rộng cửa phương tiện)! Chỗ
thù thắng của pháp môn này được nêu ra trong bốn
điều kế tiếp, tức là bốn món chẳng thể
nghĩ bàn. Món thứ nhất là “bất
trị Phật thế, đắc thường kiến Phật
phương tiện” (phương tiện chẳng gặp
lúc đức Phật tại thế mà thường
được thấy Phật). Học Phật mà nếu
chẳng gặp Phật, rất khó thành tựu!
(Diễn) Bất trị Phật
thế, vị Thích Ca dĩ quá.
(演) 不值佛世,謂釋迦已過。
(Diễn: “Chẳng
gặp Phật tại thế”, ư nói: Phật Thích Ca đă
diệt độ).
Thích Ca Mâu Ni Phật đă không
c̣n ở trên đời, đă diệt độ.
(Diễn) Từ Thị vị
lai.
(演) 慈氏未來。
(Diễn: Di Lặc Phật chưa giáng thế).
“Từ
Thị” là Di Lặc Phật, Ngài c̣n chưa xuất thế.
Trong Di Lặc Hạ Sanh Kinh, đức Phật bảo
chúng ta: Năm mươi sáu ức vạn năm sau, Di Lặc
Bồ Tát mới giáng sanh, thời gian ấy khá dài. Di Lặc
Bồ Tát c̣n chưa giáng sanh; do vậy, hiện thời
chúng ta chẳng có cơ hội gặp Phật.
(Diễn) Đắc thường
kiến Phật hữu tam nghĩa.
(演) 得常見佛有三義。
(Diễn: “Thường
được thấy Phật” có ba ư nghĩa).
Thế nhưng tu pháp môn này có thể
thấy Phật, trong ấy có ba ư nghĩa.
(Diễn) Nhất, lâm chung chi tế,
Phật lai tiếp dẫn.
(演) 一、臨終之際,佛來接引。
(Diễn: Một,
lúc lâm chung, Phật đến tiếp dẫn).
Quư vị thấy Phật, nhất
định thấy Phật đến dẫn quư vị về
Tây Phương Cực Lạc thế giới. Gần
đây nhất, khi lăo pháp sư Quảng Khâm văng sanh, thấy
Tây Phương Tam Thánh dẫn các vị thượng thiện
nhân trong thế giới Tây Phương đến tiếp
dẫn Ngài văng sanh, đó là “thấy
Phật”.
(Diễn) Nhị, dĩ sanh chi hậu,
thường kiến Di Đà.
(演) 二、已生之後,常見彌陀。
(Diễn: Hai là sau
khi đă văng sanh, thường gặp Phật Di Đà).
Sau khi quư vị văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới, hằng ngày gặp
Phật. Không chỉ thấy A Di Đà Phật, mà chư Phật
Như Lai trong mười phương thế giới đều
thường gặp gỡ. Trong kinh nói rất rơ ràng,
người trong Tây Phương Cực Lạc thế giới
có thói quen mỗi sáng sớm đều đi lễ Phật,
lễ bao nhiêu vị Phật? Lễ mười vạn ức
Phật! Lại thưa cùng quư vị: Mỗi ngày lễ
mười vạn ức Phật khác nhau. Phật vô lượng
vô biên, mỗi ngày lễ mười vạn ức, do vậy,
họ có thể gặp vô lượng Phật. Duy nhất
pháp môn này mới có phương tiện thù thắng ấy,
học các pháp môn khác sẽ không có cách nào thấy Phật
nhiều ngần ấy, rất khó thành tựu trong một
đời!
(Diễn) Tam, Thiền Quán chi
trung, đắc đổ thánh tướng.
(演) 三、禪觀之中,得睹聖相。
(Diễn: Ba là trong
lúc Thiền Quán, được thấy h́nh tướng của
chư thánh).
Quư vị phải nhớ: Nói “Thiền Quán” chẳng phải
là bảo quư vị tham Thiền! Thiền Quán là nhất tâm,
khi trong tâm thanh tịnh, quư vị niệm Phật đến
mức tâm thanh tịnh, niệm đến mức nhất
tâm; khi ấy, quư vị cũng thấy Phật, thấy Bồ
Tát. Rất nhiều vị đồng tu chúng ta có được
cảnh giới như vậy, c̣n có rất nhiều vị
đồng tu tự ḿnh thật sự thấy Phật, thấy
Bồ Tát, họ mới tin tưởng. V́ thế, tâm thanh
tịnh mới có cảm ứng với Phật, nhất
tâm bất loạn là Thiền Định vô thượng rất
sâu, chúng ta cần phải hiểu điều này. Đây là
điều chẳng thể nghĩ bàn thứ nhất.
Thứ hai là “bất đoạn Hoặc nghiệp, đắc xuất
luân hồi phương tiện” (phương tiện chẳng
đoạn Hoặc nghiệp mà có thể thoát luân hồi).
(Diễn) Bất đoạn Hoặc
phương tiện giả, như Tiểu Thừa tất
đoạn tận Kiến Tư, phương xuất tam
giới.
(演) 不斷惑方便者,如小乘必斷盡見思,方出三界。
(Diễn:
“Phương tiện chẳng đoạn Hoặc”: Như
Tiểu Thừa ắt phải đoạn hết Kiến
Tư phiền năo th́ mới ra khỏi tam giới).
Đây là nói về thánh nhân Tiểu
Thừa. Tứ Quả A La Hán nhất định phải
đoạn sạch Kiến Tư phiền năo rồi mới
có thể vượt thoát tam giới, vượt thoát lục
đạo. Nếu đoạn sạch Kiến Tư phiền
năo th́ nói thật ra, chắc chắn là phàm phu chẳng thể
thực hiện trong một đời được!
Đừng nói Kiến Tư phiền năo, bất cứ một
điều nào trong Kiến Hoặc cũng đều chẳng
dễ ǵ đoạn trừ trong một đời! Đối
với Thân Kiến, Biên Kiến, Kiến Thủ Kiến, Giới
Thủ Kiến, Tà Kiến, quư vị có thể đoạn
sạch sành sanh bất cứ một thứ nào trong một
đời, quả thật chẳng dễ dàng! Nói cách khác,
quư vị tu các pháp môn khác, tu những pháp Tiểu Thừa,
có thể thoát tam giới, liễu sanh tử hay chăng? Chẳng
thể nào!
(Diễn) Đại Thừa nhân
trực chí mạng căn đoạn tận, nghiệp thức
khô can, thỉ xuất sanh tử.
(演) 大乘人直至命根斷盡,業識枯乾,始出生死。
(Diễn: Người
Đại Thừa th́ măi cho đến khi mạng căn
đoạn sạch, nghiệp thức khô ran, mới ra khỏi
sanh tử).
Điều kiện này chẳng
khác người Tiểu Thừa. Lấy Viên Giáo để
nói th́ Bồ Tát thuộc địa vị Thất Tín đă
đoạn sạch Kiến Tư phiền năo, nghiệp thức
khô khan, vượt thoát tam giới. Địa vị Sơ
Tín Bồ Tát trong Viên Giáo có mức độ đoạn Hoặc
tương đương với quả Tu Đà Hoàn bên Tiểu
Thừa, tức là bằng với Sơ Quả. Sơ Tín Bồ
Tát của Viên Giáo bằng với Sơ Quả trong Tiểu
Thừa. Thất Tín Bồ Tát trong Viên Giáo bằng với Tứ
Quả trong Tiểu Thừa. Quư vị biết [để đạt
tới những quả vị ấy] thật sự khó
khăn, chẳng dễ dàng! Sơ Quả thánh nhân có hai điều
đảm bảo: Thứ nhất là đảm bảo
không đọa trong tam ác đạo, đảm bảo thứ
hai là sanh trong cơi trời cơi người bảy lần rồi
sẽ nhất định chứng quả A La Hán. Thế
nhưng con người trong thế gian thọ mạng ngắn
ngủi, cơi trời thọ mạng lâu dài, thời gian ấy
tính ra đều là những con số thiên văn. V́ thế,
chúng ta cần phải hiểu rơ, phải thấu triệt,
liễu sanh tử xuất tam giới chẳng hề dễ
dàng!
(Diễn) Cố vân: “Hào ly hệ
niệm, tam đồ nghiệp nhân, miết nhĩ t́nh sanh,
vạn kiếp ky tỏa”.
(演) 故云毫釐繫念,三途業因,瞥爾情生,萬劫羈鎖。
(Diễn: Cho nên nói:
“Mảy may hệ niệm là nghiệp nhân trong tam đồ,
t́nh sanh trong chớp mắt, ràng buộc vạn kiếp”).
Chúng ta phải đọc bài kệ
này nhiều lần, phải học thuộc. Mười
sáu chữ này đơn giản, nhưng đă nói lên căn
bản sanh tử luân hồi. V́ sao quư vị chẳng thể
thành tựu? Phía trên đă nói “pháp
môn b́nh đẳng, không có cao hay thấp”, chẳng sai!
Cái gốc bệnh khiến cho quư vị chẳng thể
thành tựu là ở chỗ này. Nói theo cách bây giờ, “hệ niệm” là trong tâm quư vị
vướng mắc, quư vị chỉ có tơ hào vướng
mắc, sẽ chẳng ra khỏi lục đạo. Chẳng
ra khỏi lục đạo, sẽ phần nhiều ở
trong tam đồ, ít khi sanh trong tam thiện đạo. Chuyện
này rất phiền phức. Khi nào tâm quư vị mới chẳng
có vướng mắc ǵ? Người học Phật chúng
ta phải dè chừng sâu xa!
Chúng ta học Phật nhằm mục
đích nào? Cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ, nhằm
mục tiêu ấy. Đă là cầu sanh Tây Phương Tịnh
Độ, những chuyện chẳng liên can với Tây
Phương Tịnh Độ đều buông xuống hết.
Không chỉ buông xuống pháp thế gian, mà pháp Đại
Thừa, pháp Tiểu Thừa, Hiển Giáo, Mật Giáo đều
buông xuống hết. Đấy mới là thật sự
tin tưởng. Kinh chỉ niệm một bộ. Nói thật
ra, một bộ kinh là đủ rồi. Pháp môn là một
câu A Di Đà Phật, niệm mệt rồi bèn đọc
kinh, đọc mệt rồi bèn niệm Phật. Đấy
là đại sự duy nhất của chúng ta trong một
đời, như vậy th́ mới có thể văng sanh. Đấy
mới gọi là “ḷng tin chân thành, nguyện thiết tha”, nhất
định văng sanh. Chúng ta hăy suy nghĩ xem những chuyện
vướng mắc trong bụng dạ có quét sạch
được hay không?
“Miết
nhĩ t́nh sanh, vạn kiếp ky tỏa” (T́nh sanh trong chớp
mắt, ràng buộc vạn kiếp): Tỏa (鎖: xiềng) là h́nh cụ (dụng cụ để tra
tấn), là một loại gông cùm, c̣ng tay, xiềng chân,
đây là tỷ dụ. Ngay cả trong một thời gian cực
ngắn, sáu căn của quư vị tiếp xúc cảnh giới
sáu trần bên ngoài bèn khởi lên vọng niệm. “T́nh sanh” là khởi ư niệm, dấy
vọng niệm. Câu trước là nói lúc sáu căn chưa
tiếp xúc cảnh giới bên ngoài, chính ḿnh khởi vọng
tưởng, tập khí phiền năo, vướng mắc
trong ḷng chưa buông xuống được! Hai câu sau là nói
khi quư vị đối cảnh nẩy sanh t́nh thức,
cũng là đối trước cảnh dấy lên ư niệm.
Trong kinh Kim Cang, đức Phật dạy chúng ta: “Bất thủ ư tướng,
như như bất động” (chẳng giữ lấy
tướng, như như bất động). Như
như bất động là nói tới hai câu trên [trong bài kệ
ở đây], chân tâm của chính ḿnh thanh tịnh, vướng
mắc ǵ cũng chẳng có, chẳng động tâm. Hai câu
kệ sau là chẳng chấp tướng. Ngoài chẳng chấp
tướng, trong chẳng động tâm, như vậy mới
là đúng! Nếu nói “ngoài chấp tướng, bên trong
động tâm”, đấy chính là căn bản của luân
hồi trong tam đồ lục đạo, chúng ta không có
cách nào thoát ĺa được! Phương pháp Niệm Phật
nói “đới nghiệp văng sanh”, chính là nói “chẳng đoạn Hoặc nghiệp”, chưa
đoạn được những thứ này! Tuy chưa
đoạn nhưng phải thế nào? Phải chế phục
nó!
(Diễn) Kim thử niệm Phật,
đản năng phục vọng, tức đắc văng
sanh cố.
(演) 今此念佛,但能伏妄,即得往生故。
(Diễn: Nay pháp niệm Phật này, chỉ cần
khuất phục vọng niệm, liền được
văng sanh).
Chế phục vọng niệm,
chúng ta làm được điều này. Muốn đoạn
trừ nó, quả thật chẳng dễ dàng! Chính ḿnh thật
sự nỗ lực một chút, sẽ có thể chế phục
Hoặc nghiệp. Ngoài chẳng chấp tướng, trong
chẳng động tâm, tạm thời chế ngự, tạm
thời “chẳng chấp
tướng, chẳng động tâm” th́ làm được,
như vậy là sẽ có thể đới nghiệp văng
sanh. Pháp môn này so với các pháp môn khác thật sự thuận
tiện hơn ở chỗ này, hết sức khó có!
“Bất
tu dư hạnh, đắc Ba La Mật phương tiện”
(là phương tiện chẳng tu các hạnh khác mà đắc
Ba La Mật). Ba La Mật (Pāramitā) là tiếng Phạn,
dịch sang nghĩa tiếng Hán là “công đức viên măn”.
(Diễn) Bất tu dư hạnh
phương tiện giả, như Bố Thí, tất tu tam
luân không tịch.
(演) 不修餘行方便者,如布施,必須三輪空寂。
(Diễn:
“Phương tiện chẳng tu các hạnh khác”: Như Bố
Thí ắt cần phải tam luân không tịch).
Đấy mới là Bố Thí
Ba La Mật, tức là Bố Thí Độ viên măn.
(Diễn) Tŕ Giới, tắc bất
khuyết, bất phá.
(演) 持戒,則不缺不破。
(Diễn: Tŕ Giới
th́ chẳng thiếu sót, chẳng phá giới).
Tŕ Giới nhất định
phải chẳng thiếu sót, chẳng phá giới th́ Tŕ Giới
mới là viên măn.
(Diễn) Năi chí tùy Định cụ
túc, phương viết Ba La Mật.
(演) 乃至隨定具足,方曰波羅密。
(Diễn: Cho đến
Định phải đầy đủ th́ mới gọi
là Ba La Mật).
Trong Lục Độ chỉ
nêu lên hai điều, sau đó c̣n có Nhẫn Nhục, Tinh Tấn,
Thiền Định và Bát Nhă, muốn thực hiện viên
măn thứ nào cũng đều chẳng dễ dàng!
(Diễn)
Thành phi dị tu dă.
(演) 誠非易修也。
(Diễn:
Thật chẳng dễ tu vậy!)
Nay
chúng ta nói tới tu Lục Độ, mỗi một điều
chỉ có thể thực hiện được một hai
phần trong ngàn vạn phần mà thôi, không có cách nào thực
hiện viên măn. Tu thành tựu rất khó khăn, nhưng
đối với pháp môn này th́...
(Diễn)
Kim tư niệm Phật, bất xuất nhất tâm, vạn
hạnh cụ túc cố.
(演) 今茲念佛,不出一心,萬行具足故。
(Diễn:
Nay pháp niệm Phật này chẳng ra ngoài nhất tâm, mà muôn
hạnh đầy đủ).
Điều
này chẳng thể nghĩ bàn! Dùng một câu A Di Đà Phật,
nếu quư vị niệm đến mức nhất tâm bất
loạn th́ Lục Độ vạn hạnh thảy đều
viên măn, chẳng cần phải tu những hạnh khác. Tám
vạn bốn ngàn pháp môn chẳng cần phải tu trọn,
một môn này đầy đủ hết thảy các pháp
môn; đây là điều chẳng thể nghĩ bàn thứ
ba.
Điều thứ tư là “bất kinh đa kiếp, đắc
tật giải thoát phương tiện” (là phương
tiện chẳng cần trải nhiều kiếp, mà mau
chóng đạt giải thoát). “Tật”
(疾) là mau chóng, chúng
ta xem lời chú giải của đoạn này.
(Diễn) Y dư pháp tu, thiên sanh luyện
tánh, bách kiếp điều tâm, phương đắc giải
thoát.
(演) 依餘法修,千生煉性,百劫調心,方得解脫。
(Diễn:
Nương theo pháp khác để tu th́ ngàn đời luyện
tánh, trăm kiếp điều phục cái tâm, mới ḥng
giải thoát).
Đây là nói về các pháp môn
thông thường. Quư vị tu các pháp môn khác, thời gian dài
lắm! Thông thường, trong kinh Tiểu Thừa, đức
Phật nói là ba đại A-tăng-kỳ kiếp, nhưng
trong kinh Hoa Nghiêm, đức Phật nói là vô lượng kiếp.
Luận theo phía phàm phu chúng ta, để tu thành Phật phải
trải qua một thời gian rất dài. Dù đă thành Phật
rồi, kinh c̣n nói: Bồ Tát tu thành Vô Thượng Đạo
c̣n phải dùng một trăm kiếp để tu tướng
hảo, tu phước, v́ sao? Thiếu phước báo sẽ
chẳng thể độ chúng sanh, vẫn phải đặc
biệt dùng thời gian một trăm kiếp để tu
phước như vậy mới ḥng phổ độ chúng
sanh.
(Diễn) Thiền môn tuy vân nhất
sanh liễu đạo, diệc năi đa kiếp huân tu.
(演) 禪門雖云一生了道,亦乃多劫熏修。
(Diễn: Thiền
môn tuy nói liễu đạo trong một đời, vẫn
là nhiều kiếp huân tu).
Thiền và Mật đều giống
nhau, Mật Tông nói “tức thân
thành Phật” (thành Phật ngay nơi thân này), nhà Thiền
nói “nhất sanh liễu đạo”,
chẳng phải là trong một đời mà tu thành! Đời
đời kiếp kiếp trong quá khứ người ấy
đều tu, đời này thành thục nên mới có thể
thành tựu! Đời quá khứ không có cơ sở thiện
căn sâu dầy, chỉ dựa vào sự
huân tu trong đời này, sẽ chẳng thể thành công. Trong
lịch sử Thiền Tông Trung Quốc, người thành tựu
cao nhất là Lục Tổ đại sư. Trong lịch sử
Thiền Tông Trung Quốc, không có một vị tổ
sư [Thiền Tông] nào có thể sánh bằng Ngài. Một
đời Ngài độ người thành tựu có bốn
mươi ba người minh tâm kiến tánh đại triệt
đại ngộ, chẳng phải là ai cũng đều
có thể thành tựu. Lục Tổ trụ tại chùa Nam
Hoa[4] ba mươi bảy
năm, khi ấy, chùa có tên là Bảo Lâm, suốt đời
Ngài chẳng ĺa khỏi đạo tràng ấy. Ba
mươi bảy năm dạy học, chẳng biết
có bao nhiều người tu theo, người thành tựu mới
chỉ là bốn mươi ba vị. Há có phải là ai
cũng có phần ư? Do vậy, phải hiểu rằng:
Bốn mươi ba vị ấy đều đă nhiều
kiếp huân tu, nhân duyên chín muồi trong hội của đại
sư nên mới đắc độ. Chẳng phải là hạng
phàm phu lè tè sát đất mà ḥng thành tựu!
Nhưng pháp môn Niệm Phật
này thật sự khác hẳn! Chúng ta thấy Huệ Viễn
đại sư thời Tấn là người đầu
tiên đề xướng pháp môn Niệm Phật. Ngài lập
liên xă tại Lô Sơn tỉnh Giang Tây, trên thực tế là
một cái am tranh, có một trăm hai mươi ba người
cùng tu, ai nấy đều văng sanh. Một trăm phần
trăm thành tựu! Những người thành tựu
nơi Lục Tổ đại sư có thể nói là thành tựu
một phần vạn, trong một vạn người chỉ
có một người [thành tựu], nhưng Lô Sơn Liên Xă
của Viễn Công là một trăm phần trăm thành tựu,
không ai chẳng thành tựu. Nh́n từ chỗ này, khó và dễ
rành rành! Tu pháp môn này, chắc chắn có thể thành tựu;
tu các pháp môn khác, chưa chắc đă có thể thành tựu,
tùy thuộc vào thiện căn, phước đức, và
nhân duyên của quư vị trong quá khứ. Tiếp đó, Ngài
dẫn lời Vĩnh Gia đại sư:
(Diễn) Như Vĩnh Gia vân.
(演) 如永嘉云。
(Diễn: Như ngài Vĩnh Gia nói).
Trong Chứng Đạo Ca,
Vĩnh Gia đại sư đă nói về chính ḿnh.
(Diễn) “Ngô tảo tằng kinh đa kiếp tu, bất
thị đẳng nhàn sanh cuống hoặc”, thị dă.
(演) 吾早曾經多劫修,不是等閒生誑惑是也。
(Diễn: “Tôi đă
tu qua bao nhiêu kiếp từ lâu, chẳng phải là chuyện
dễ dăi mà ḥng dối gạt, mê hoặc [người
đời][5]”, chính là nói về chuyện này).
Vĩnh Gia đại sư là một
trong bốn mươi ba người [đắc độ]
trong hội của Lục Tổ. Ngài tự nói: Ngài đă
tu hành nhiều đời nhiều kiếp, chẳng phải
là hạng người ơ hờ, chẳng phải là trong
một đời này, mà là tu hành nhiều đời nhiều
kiếp. Nói cách khác, bất cứ pháp môn nào khác đều
là tu nhiều đời nhiều kiếp, chẳng hề nói
“thành tựu trong một đời!” Thật sự nói “thành
tựu trong một đời” chỉ có pháp môn này. Điều
này thật sự chẳng thể nghĩ bàn, mà cũng là “pháp
khó tin” được nhắc đến một lần nữa
trong kinh này.
(Diễn) Kim tư niệm Phật,
đản xưng niệm Di Đà, tật đăng bỉ
ngạn cố.
(演) 今茲念佛,但稱念彌陀,疾登彼岸故。
(Diễn: Nay pháp Niệm
Phật này chỉ xưng niệm Di Đà bèn mau chóng lên bờ
kia).
Đây là pháp môn phương tiện
cầu được giải thoát nhanh chóng nhất. Nói thật
ra, bất cứ một pháp môn nào cũng đều chẳng
nhanh hơn pháp môn này, bất cứ một pháp môn nào
cũng đều chẳng thể ổn thỏa, thích
đáng hơn pháp môn này. Pháp môn này ổn thỏa, thích
đáng, viên đốn, thẳng chóng, nhanh lẹ. Đối
với chúng ta mà nói, quả thật là pháp môn bậc nhất!
(Sớ) Pháp môn giả, đạo
thể u huyền, tùng môn thỉ nhập, vị môn bất
đồng, cố vân vô lượng.
(疏) 法門者,道體幽玄,從門始入,為門不同,故云無量。
(Sớ: “Pháp môn”:
Đạo thể sâu xa, huyền diệu, từ cửa mà
bắt đầu tiến vào. Do cửa vào khác nhau, nên nói là
“vô lượng”).
Trước hết giải
thích chữ “pháp môn”, rồi
nói số lượng của pháp môn quả thật quá nhiều.
Pháp là ǵ? Môn là ǵ? Xin hăy xem chú giải.
(Diễn) Pháp môn giả, quỹ
sanh vật giải viết “pháp”, thánh trí thông du viết “môn”.
(演) 法門者,軌生物解曰法,聖智通游曰門。
(Diễn: “Pháp môn”:
Tuân theo sẽ khiến cho hữu t́nh chúng sanh nẩy sanh sự
hiểu biết th́ gọi là “pháp”; nhờ đó mà thông
đạt trí của chư thánh th́ gọi là “môn”).
Đây là định nghĩa của
hai chữ “pháp môn”. Quư vị
phải nhớ, trong tương lai, bất luận quư vị
đọc kinh luận nào, chỉ cần thấy chữ “pháp môn” đều hiểu theo
cách giảng ở đây, không có cách giải thích thứ
hai. “Quỹ” (軌) là quy tắc, có nghĩa là “quỹ đạo”, nay chúng ta thường gọi
là “nguyên lư, nguyên tắc”. Chữ “vật” (物) chỉ hữu
t́nh chúng sanh. Ngài không nói “người”, v́ nói “người”
th́ những loài chúng sanh trong thiên đạo, súc sanh, quỷ,
địa ngục không có phần. Ngài nói “vật” th́ hữu t́nh chúng sanh trong lục đạo
đều bao gồm. Hữu t́nh chúng sanh trong lục đạo
chiếu theo “quỹ đạo” này, tức là chiếu theo
pháp tắc, “quỹ” có
nghĩa là pháp tắc, phương pháp, nguyên lư, nguyên tắc,
sẽ có thể sanh Giải, tức là có thể lư giải,
thông hiểu, đó gọi là “quỹ
sanh vật giải” (tuân theo quy tắc sẽ khiến
cho hữu t́nh chúng sanh thông hiểu). Đó gọi là “pháp”. “Môn” là khai trí huệ. Quư vị từ
phương pháp này mà mở mang trí huệ, đó gọi là
Môn. Trí huệ ấy chẳng phải là trí huệ thông
thường, mà là trí huệ của Phật, Bồ Tát; do vậy
gọi là “thánh trí”. Chư Phật,
Bồ Tát đều dựa theo phương pháp ấy
để khai trí huệ, nên gọi là “thánh trí thông du”, “thông”
(通) là thông đạt, thông suốt,
chẳng trở ngại, đó gọi là Môn. Đây là định
nghĩa của hai chữ “pháp
môn”. Dưới đây là lời giải thích những ư
nghĩa được bao hàm [trong hai câu Sớ].
(Diễn) Đạo thể u huyền
giả.
(演) 道體幽玄者。
(Diễn: “Đạo thể u huyền” là...)
Nói thật ra, chữ “đạo” chỉ Chân Như
tự tánh của chúng ta, mà cũng là bản thể của
hết thảy muôn pháp. Nói cách khác, toàn thể vũ trụ
và nhân sinh, kể cả bản thân chúng ta từ đâu mà
có? Từ chỗ này mà có, từ đây mà sanh. Bản thể
có thể sanh, trong Phật pháp gọi [bản thể] là “tự
tánh, bổn tánh”. Bổn tánh có thể sanh, nó là bản thể
của đại đạo, hết thảy vạn pháp được
sanh bởi nó. Cái có thể sanh (năng sanh) và những cái
được sanh (sở sanh) là một, không hai. Nếu luận
theo Thể th́ “năng sanh”
không có h́nh tướng, không có nơi chốn.
(Diễn) Đạo vô h́nh tướng,
vô phương sở.
(演) 道無形相,無方所。
(Diễn: Đạo
không có h́nh tướng, không có nơi chốn).
Mắt chúng ta không thấy
được, tai không nghe thấy, cũng chẳng ṃ
được, thậm chí cũng chẳng nghĩ tưởng
được!
(Diễn) Bất khả thấu
bạc, vô dung nghĩ nghị.
(演) 不可湊泊,無容擬議。
(Diễn: Chẳng
thể nắm bắt, không thể suy tưởng, bàn luận
được).
“Bất
khả thấu bạc” là mảy may miễn cưỡng
cũng chẳng thể được! “Vô dung nghĩ nghị”: Không có cách nào suy tưởng
hay bàn luận. Đó gọi là “ngôn
ngữ dứt bặt, tâm hành xứ diệt”. H́nh dung
Chân Như bổn tánh như vậy đó. Thật ra, h́nh
dung như thế nào th́ cũng chẳng có cách nào h́nh dung cho
khít khao. Chúng ta phải tự chú tâm thấu hiểu điều
này .
(Diễn) Luận Ngữ vân:
“Ngưỡng chi di cao, toản chi di kiên, chiêm chi tại tiền,
hốt yên tại hậu”, thị dă.
(演) 論語云:仰之彌高,鑽之彌堅,瞻之在前,忽焉在後是也。
(Diễn: Sách Luận
Ngữ có chép: “Càng ngẩng lên trông, càng thấy cao, càng khoét
th́ càng cứng, mới nh́n thấy đằng trước,
chợt ở đằng sau” là nói về ư này vậy).
Mấy câu này nhằm h́nh dung
đạo của Khổng phu tử chẳng thể
nghĩ bàn! Ở đây, dùng mấy câu này để tỷ
dụ đạo thể; đạo thể u huyền chẳng
thể nghĩ bàn!
(Diễn) Tùng môn thỉ nhập
giả.
(演) 從門始入者。
(Diễn: “Từ cửa mà bắt đầu tiến
vào” là...)
“Môn”
là pháp môn, nhất định có phương pháp th́ quư vị
mới có thể khế nhập, quư vị mới có thể
thấu hiểu.
(Diễn) Lăng Nghiêm vân: “Hốt
mông thiên vương tứ dữ hoa ốc, yếu nhân môn
nhập”.
(演) 楞嚴云:忽蒙天王賜與華屋,要因門入。
(Diễn: Kinh
Lăng Nghiêm chép: “Chợt được vua trời ban cho
căn nhà đẹp đẽ, phải do cửa để
vào”).
Đây là mấy câu do ngài A Nan bạch
cùng Thích Ca Mâu Ni Phật. Nếu chẳng t́m được
cửa, sẽ không có cách nào khế nhập. Nhất định
phải có đường lối th́ chúng con mới có thể
chứng nhập!
(Diễn): Luận Ngữ vân: “Bất đắc kỳ
môn nhi nhập, bất kiến tông miếu chi mỹ, bách
quan chi phú”.
(演) 論語云:不得其門而入,不見宗廟之美、百官之富。
(Diễn: Sách Luận
Ngữ chép: “Chẳng t́m được cửa để
vào, chẳng thấy tông miếu đẹp đẽ,
trăm quan giàu có”).
Những điều này đều
nhằm nói lên: Học Phật nhất định phải có
đường lối. Đường lối khác nhau, nên
có vô lượng vô biên [pháp môn] giống như hai
mươi lăm môn Viên Thông của kinh Lăng Nghiêm đă
được nhắc đến trong phần trước.
Có người từ sáu căn mà nhập đạo, có người
từ sáu thức mà nhập đạo, có người từ
bảy đại mà nhập đạo. Chẳng hạn
như Quán Thế Âm Bồ Tát từ Nhĩ Căn mà nhập,
Đại Thế Chí Bồ Tát từ Kiến Đại
trong bảy đại mà nhập. Bảy đại là
Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không, Kiến, Thức.
Điều này nêu rơ cửa vào nhập đạo của từng
người. Pháp môn là phương pháp; phương pháp khác
nhau, nhưng phải biết: Tuy phương pháp khác nhau,
nhưng cảnh giới sau khi chứng nhập chẳng
khác. Giống như giảng đường của chúng ta
có rất nhiều cửa, bất luận quư vị theo cửa
nào bước vào, cửa tuy khác nhau, nhưng bước
vào sẽ thấy [bên trong] hoàn toàn giống nhau, chẳng
khác! Do vậy, Phật pháp là “phương
tiện hữu đa môn, quy nguyên vô nhị lộ” (phương
tiện có nhiều môn, về nguồn không hai đường).
Trở về nguồn là một, chắc chắn chẳng
có sai khác. Cửa vào rất nhiều vậy!
(Sớ) Quyền xảo tiếp
dẫn, linh đắc nhập môn, danh vi phương tiện.
(疏) 權巧接引,令得入門,名為方便。
(Sớ: Quyền xảo
tiếp dẫn khiến cho được vào cửa, gọi
là phương tiện).
Giải thích “phương tiện” là ǵ, phàm là pháp môn th́ đều
gọi là “phương tiện”.
(Diễn) Quyền xảo tiếp
dẫn linh đắc nhập môn giả, thử môn biến
nhất thiết xứ.
(演) 權巧接引令得入門者,此門遍一切處。
(Diễn: Quyền
biến khéo léo tiếp dẫn, khiến vào được
cửa”: Môn này trọn khắp hết thảy các nơi).
Đây là nói tới pháp môn trong
Phật pháp, vô lượng vô biên pháp môn đúng là “biến nhất thiết xứ”
(trọn khắp hết thảy mọi nơi). Sáu căn,
sáu thức, sáu trần, bảy đại bao gồm hết
thảy các pháp thế gian và xuất thế gian, chẳng
sót một pháp nào, quả thật là “trọn khắp hết thảy mọi nơi”.
(Diễn) Đầu đầu
khả nhập, pháp pháp kham quy.
(演) 頭頭可入,法法堪歸。
(Diễn: Thứ ǵ
cũng đều có thể nhập, pháp nào cũng đáng
về).
Vấn đề là quư vị có
biết cách sử dụng hay không. Không biết sẽ chẳng
có cách nào. Phải biết sử dụng th́ đúng là thứ
ǵ cũng là đạo.
(Diễn) Cổ vân.
(演) 古云。
(Diễn: Cổ nhân nói).
Đây là mấy câu “cơ phong” trong nhà Thiền.
(Diễn) Xứ xứ lục
dương kham hệ mă, gia gia hữu lộ thấu
Trường An”. Kỳ như chúng sanh bất tri, xứ xứ
phùng cừ, đầu đầu thác quá dă.
(演)處處綠楊堪繫馬,家家有路透長安,其如眾生不知,處處逢渠,頭頭錯過也。
(Diễn: “Chốn
chốn dương xanh kham buộc ngựa, nhà nhà có lối
thấu Trường An”. Nếu chúng sanh chẳng biết,
th́ ở đâu cũng vướng mắc, đối với
bất cứ chuyện ǵ cũng lỡ làng).
Vào thời ấy, Trường
An là kinh đô. Nói thật ra, chẳng có một pháp nào không
thể nhập đạo, đáng tiếc là chúng sanh chẳng
tự ḿnh nhận biết, tự ḿnh mê hoặc, do vậy
“xứ xứ phùng cừ”. “Cừ” (渠) là chỗ
nước đọng, không vượt qua được.
“Đầu đầu thác quá”
(Chỗ nào cũng bỏ lỡ): Nhân duyên này quá tốt
đẹp [mà chúng sanh luôn bỏ lỡ], đức Phật
tiếp dẫn hết thảy chúng sanh đích xác là tùy
cơ tiếp dẫn, hoàn toàn chẳng có phương pháp cố
định. Nếu có một phương pháp cố định,
lẽ nào cả đời lăo nhân gia phải nói kinh nhiều
ngần ấy? Cớ sao Ngài phải nói ra các pháp môn nhiều
ngần ấy? Đích xác là không có một phương pháp
cố định nào để nói, mà cũng không có
phương pháp cố định nào để tiếp dẫn
chúng sanh. Đúng là “tùy cơ tiếp
dẫn” (tiếp dẫn thuận theo căn cơ của
từng đối tượng), người nào gặp
được Phật cũng đều đắc độ.
Hiện thời, chúng ta muốn
bàn đến “thắng
phương tiện” (phương tiện thù thắng,
tuyệt diệu nhất) trong những pháp phương tiện.
Chữ “thắng” là nhằm
thẳng vào chúng ta để nói. Nói cách khác, [pháp môn
được đức Phật dạy trong kinh này] rất
thích hợp hoàn cảnh hiện tiền, căn tánh và tŕnh
độ của chúng ta. Chúng ta chiếu theo phương
pháp này để tu hành, trong một đời này nhất
định có thành tựu. Đối với chúng ta mà nói
th́ pháp phương tiện này là phương tiện thù thắng.
(Sớ) Nhi ngôn thắng giả,
phương tiện trung phương tiện dă.
(疏) 而言勝者,方便中方便也。
(Sớ: Nói “thắng”
tức là [pháp này] là phương tiện bậc nhất
trong các phương tiện).
Đó gọi là “thắng phương tiện”.
(Sớ) Tức Quán Kinh sở vị
“dị” dă.
(疏) 即觀經所謂異也。
(Sớ: Chính là
như Quán Kinh gọi là “dị” (khác lạ) vậy).
Liên Tŕ đại sư nói đến
“thắng phương tiện”,
tức là như Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh gọi
là “dị phương tiện”
(phương tiện lạ lùng).
(Sớ) Đa môn giả, hoặc
vị môn môn khả dĩ nhập đạo, hà tất niệm
Phật văng sanh.
(疏) 多門者,或謂門門可以入道,何必念佛往生。
(Sớ: “Nhiều
môn”: Có kẻ nói: “Môn nào cũng đều có thể nhập
đạo, sao cứ phải niệm Phật văng sanh?”)
Người nói như vậy có
thể nói là từ xưa đến nay đều có, mà c̣n
là số đông nữa, chúng ta thường gặp họ.
Học Phật, thấy Phật, cần ǵ cứ phải
nhất định thấy A Di Đà Phật? Cầu sanh
cơi Phật, cớ ǵ cứ nhất định phải sanh
về Tây Phương Tịnh Độ? Thế giới của
chư Phật vô lượng vô biên, có thế giới Phật
nào chẳng đáng sanh về? V́ sao cứ khăng khăng
phải sanh vào Tây Phương Cực Lạc thế giới?
Những lời ấy dường như rất hợp
lư, thật ra chẳng phải, v́ sao? Trong ấy có khó, dễ,
sai khác rất lớn!
(Sớ) Nhi hữu dị hữu
nan.
(疏) 而有易有難。
(Sớ: Nhưng các pháp môn có dễ, có khó).
Đă có khó và dễ th́ phải
chọn lựa!
(Sớ) Bất phương vô giản
trạch trung nhi thuyết giản trạch.
(疏) 不妨無揀擇中而說揀擇。
(Sớ: Chẳng ngại
ǵ nói “chọn lựa” trong cái “vốn không chọn lựa”).
Về Lư th́ không có chọn lựa,
nhưng chiếu theo căn tánh của chúng ta mà nói th́ cần
phải chọn lựa!
(Sớ) Hiểm giả khi khu nan
hành, khúc giả hu hồi nan đáo, dụ dư môn dă.
(疏) 險者崎嶇難行,曲者紆迴難到,喻餘門也。
(Sớ: “Hiểm” là
gập ghềnh khó đi, “khúc” là ngoắt ngoéo khó đến.
[Dùng chữ “hiểm khúc”] để sánh ví các pháp môn khác).
Tỷ dụ các pháp môn khác. Lời
chú giải ở đây hết sức đơn giản,
nhưng ư nghĩa hết sức sâu rộng.
(Diễn) Khi khu nan hành giả, như tiền hạo
bác nan tŕ, u thâm vơng thố đẳng.
(演) 崎嶇難行者,如前浩博難持,幽深罔措等。
(Diễn: “Gập ghềnh
khó đi” là như trong phần trước đă nói: Mênh
mông, bát ngát khó nắm giữ, sâu thẳm khó thể thực
hiện v.v...)
Bất luận Hiển Giáo, Mật
Giáo, kinh điển vừa nhiều, vừa khó, lại vừa
sâu, chúng ta muốn lư giải, tu học, quả thật chẳng
dễ dàng!
(Diễn) Hu hồi nan đáo giả.
(演) 紆迴難到者。
(Diễn: “Ngoắt ngoéo khó đến”
là...)
Nếu quư vị
không đi đường thẳng, mà đi theo con
đường quanh co, ṿng vèo, ngoắt ngoéo, sẽ phải
qua rất nhiều đường ṿng mới ḥng đến
nơi. V́ thế, phải trải qua thời gian rất
lâu.
(Diễn) Như Tăng-kỳ
tích hạnh, khoáng kiếp cần tu đẳng.
(演) 如僧祇積行,曠劫勤修等。
(Diễn: Như tích
tập công hạnh trong A-tăng-kỳ kiếp, siêng tu bao
kiếp dài lâu v.v...)
Tu học các pháp môn khác, hao phí thời
gian quá nhiều.
(Sớ) Di thản tắc dị
hành, dụ niệm Phật nhân giai khả vi.
(疏) 夷坦則易行,喻念佛人皆可為。
(Sớ: Bằng phẳng
th́ dễ đi, ví như niệm Phật ai cũng có thể
làm được).
“Di thản” (夷坦) là tỷ dụ.
Tỷ dụ con đường bằng phẳng,
đường to, thẳng thớm, chẳng có ngơ rẽ,
quư vị không biết đường cũng có thể đến
nơi. V́ sao? Chỉ có một con đường, noi theo
con đường ấy mà đi, cứ đi tới phía
trước sẽ đến. Nếu có nhiều khúc quanh,
ngoắt ngoéo, sẽ chẳng dễ ǵ kiếm lối
được, dễ bị lạc đường! Quư vị
tu pháp môn này chẳng đến nỗi lạc lối. Nói
cách khác, tu các pháp môn khác, ma chướng rất nhiều, dễ
gặp ma chướng. Tu pháp môn này dễ dàng, v́ pháp môn này
là con đường thẳng, chỉ cần quư vị thật
sự tin là được rồi! Hạ quyết tâm chẳng
thay đổi chủ ư, sẽ chẳng đến nỗi
chuốc lấy ma chướng, pháp này dễ dàng hơn rất
nhiều!
(Sớ) Trực tiệp tắc dị
đáo, dụ niệm Phật tốc siêu sanh tử.
(疏) 直捷則易到,喻念佛速超生死。
(Sớ: Thẳng tắt
sẽ dễ đến, ví như niệm Phật mau vượt
thoát sanh tử).
Pháp môn này là pháp môn thẳng
chóng. Từ kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy: Người đầu
tiên từ nhục thân mà thành Phật trong một đời
là Thiện Tài đồng tử, v́ sao Ngài có thể làm
được? Ngài tu pháp môn thẳng chóng này! Trong kinh Hoa
Nghiêm, bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân
đại sĩ thuộc thế giới Hoa Tạng tu những
pháp môn khác, đến cuối cùng Phổ Hiền Bồ Tát
dùng mười đại nguyện vương dẫn họ
về Cực Lạc. Bọn họ đi ṿng vèo quanh co về
Tây Phương Cực Lạc thế giới. Nh́n từ
kinh Hoa Nghiêm, Tây Phương Cực Lạc thế giới là
chỗ quy y cuối cùng trong Đại Thừa Phật
pháp. Bất luận quư vị tu một pháp môn nào, đến
cuối cùng đều quay về Tây Phương Tịnh
Độ. Đă quay về Tây Phương Tịnh Độ
th́ niệm A Di Đà Phật là phương pháp thẳng
chóng nhất. Chúng ta phải nên hiểu điều này! Dưới
đây, Ngài dẫn một đoạn công án.
(Sớ) Như Vy Đề Hy, diệc
biến quán thập phương thế giới, nhi duy nguyện
sanh Cực Lạc dă.
(疏) 如韋提希,亦遍觀十方世界,而惟願生極樂也。
(Sớ: Như bà Vy
Đề Hy cũng quán khắp mười phương thế
giới, nhưng chỉ nguyện sanh về Cực Lạc).
Đây là một thí dụ hết
sức rơ rệt! Phu nhân Vy Đề Hy (Vaidehi) cũng thuộc
ḍng dơi vua chúa. Trong thời đức Phật tại thế,
bà ta là mẹ của vua A Xà Thế (Ajatasatru). Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh được
nói ra là do nhân duyên này.
(Diễn) Vy Đề biến
quán nguyện sanh Cực Lạc giả.
(演) 韋提遍觀願生極樂者。
(Diễn: “Vy Đề Hy quán
khắp [mười phương thế giới chư Phật],
nguyện sanh về Cực Lạc” là....)
Bà ta gặp nạn,
con bất hiếu, cấu kết với Đề Bà Đạt
Đa. Đề Bà Đạt Đa muốn hại Thích Ca
Mâu Ni Phật, chính ḿnh muốn làm vị Phật mới, xúi
giục A Xà Thế phản bội cha, mưu hại cha ruột,
tự ḿnh đoạt lấy ngôi vua, trở thành tân
vương, Hai người âm mưu với nhau, tạo vô
lượng vô biên tội nghiệp. Mẹ ông ta bị giam chặt
trong cung cấm, chẳng cho ai đến thăm viếng.
Bà ta là một đệ tử kiền thành của Phật,
ở trong cung không biết làm sao, bèn hướng lên hư
không van vái, cầu xin Thích Ca Mâu Ni Phật cứu bà ta. Đức
Phật biết chuyện này, liền phái vị [đệ
tử] thần thông đệ nhất là Mục Kiền
Liên đi thăm bà, rồi đích thân đức Thế
Tôn cũng đến hoàng cung.
(Diễn) Thế Tôn tùng đảnh
phóng quang, chiếu thập phương giới.
(演) 世尊從頂放光,照十方界。
(Diễn: Đức
Thế Tôn từ đỉnh đầu phóng quanh, chiếu
mười phương cơi nước).
Đức Thế Tôn thị hiện
thần thông.
(Diễn) Phục thâu bảo quang, kết vi kim
đài, kỳ trung phổ hiện thập phương Phật
độ, linh Vy Đề biến quán, Vy Đề độc
nguyện sanh ư Cực Lạc dă.
(演) 復收寶光,結為金臺,其中普現十方佛土,令韋提遍觀,韋提獨願生於極樂也。
(Diễn: Lại thâu
quang minh báu, kết thành đài vàng, trong ấy hiện khắp
các cơi Phật trong mười phương, bảo Vy Đề
Hy hăy nh́n trọn khắp, nhưng Vy Đề Hy chỉ
mong sanh vào Cực Lạc).
Thích Ca Mâu Ni Phật dùng sức
thần thông thị hiện, đem toàn bộ Tịnh Độ
của mười phương chư Phật thị hiện
trong không trung cho phu nhân Vy Đề Hy đều có thể
thấy được. [Đức Phật dạy]: “Sau
khi nh́n xong, bà hăy tự chọn lựa thế giới của
vị Phật nào mà bà ưa thích”. Phu nhân Vy Đề Hy nh́n
từng cơi xong, chọn Tây Phương Cực Lạc thế
giới. Đức Phật dạy cho bà ta phương pháp
cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới,
dùng phương pháp Quán Tưởng. V́ thế, Thập Lục
Quán Kinh là do Thích Ca Mâu Ni Phật nói với phu nhân Vy Đề
Hy, truyền xuống như vậy, bà ta nguyện sanh Cực
Lạc.
(Sớ) Đắc thường
kiến Phật giả, Khởi Tín Luận kư thị Chân
Như tam-muội, cập nhị môn Chỉ Quán cánh, phục
vân: “Hữu sơ học thị pháp, kỳ tâm khiếp
nhược. Dĩ Sa Bà bất thường trị Phật,
cụ vị tín tâm nan tựu. Như Lai hữu thắng
phương tiện, nhiếp hộ tín tâm, vị chuyên ư niệm
Phật, tức sanh Phật độ, thường kiến
ư Phật. Như Tu Đa La thuyết: “Chuyên niệm Tây
Phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật,
tức đắc văng sanh, chung vô hữu thoái”. Thử kinh tắc
thất nhật nhất tâm, Phật hiện tại tiền,
thị dă. Cố tri Linh Sơn dĩ quá, Long Hoa vị lai, vô
Phật thế trung nhi đắc kiến Phật, thị
danh tối thắng đệ nhất phương tiện.
(疏) 得常見佛者,起信論既示真如三昧,及二門止觀竟。復云:有初學是法,其心怯弱,以娑婆不常值佛,懼謂信心難就。如來有勝方便,攝護信心,謂專意念佛,即生佛土,常見於佛。如修多羅說:專念西方極樂世界阿彌陀佛,即得往生,終無有退,此經則七日一心,佛現在前,是也。故知靈山已過,龍華未來,無佛世中而得見佛,是名最勝第一方便。
(Sớ: “Thường
được thấy Phật”: Khởi Tín Luận đă
dạy Chân Như tam-muội và hai môn Chỉ - Quán xong, lại
nói: “Có kẻ mới học pháp này, tâm kẻ ấy khiếp
hăi, yếu ớt, v́ trong cơi Sa Bà chẳng thường gặp
Phật, hoảng sợ cho rằng tín tâm khó trọn.
Như Lai bèn có phương tiện thù thắng để nhiếp
tŕ, bảo vệ tín tâm, đó là: Dốc trọn ư niệm
Phật, liền được sanh vào cơi Phật, thường
thấy Phật. Như kinh có dạy: “Chuyên niệm Tây
Phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật,
liền được văng sanh, trọn chẳng thoái chuyển”.
Kinh này nói bảy ngày nhất tâm, Phật bèn hiện ra trước
mặt, chính là nói tới ư đó. V́ thế biết: Hội
Linh Sơn đă qua, thời Long Hoa chưa tới, trong
đời không có Phật mà được thấy Phật,
nên gọi là phương tiện tối thắng bậc nhất).
“Tu
Đa La” là Kinh, “Linh Sơn
dĩ quá” là Thích Ca Mâu Ni Phật đă diệt độ.
“Long Hoa vị lai” là nói Di Lặc
Phật chưa ra đời. Trước tiên, đại
sư dẫn lời văn từ Khởi Tín Luận để
nói. Chân Như tam-muội và “hai
môn Chỉ Quán” đều là những thứ hàng sơ học
chúng ta mong đạt được. Chân Như tam-muội
là ǵ? Chúng ta phải nhận biết chính xác định
nghĩa của danh từ thuật ngữ này. Chân Như
(Tathāta) là tiếng Phạn dịch ra, Chân là chẳng vọng,
Như là Sự và Lư hoàn toàn tương ứng. Ví như “dùng vàng chế đồ vật,
món nào cũng đều là vàng”, Tánh giống như
Tướng, Tướng giống như Tánh, nhất
như, vô nhị như. Trong kinh Pháp Hoa, đức Phật
nói mười món như thị (thập như thị),
đấy là nói về Chân Như. “Tam-muội” (Samādhi) là tiếng Phạn dịch
âm, có nghĩa là Chánh Thọ, tức sự hưởng thụ
đúng mức, b́nh thường. Đúng mức, b́nh thường
là ǵ? Ngoài chẳng chấp tướng, trong tâm bất
động. Sự thụ dụng ấy đúng mực,
b́nh thường. Nếu chấp tướng động
tâm sự cảm nhận ấy không đúng mực, bất
b́nh thường! Năm thứ cảm nhận “khổ, lạc,
ưu, hỷ, xả” là những thứ hưởng thụ
không đúng mực, bất b́nh thường của phàm phu
trong tam giới lục đạo. Sự hưởng thụ
của chư Phật, Bồ Tát, A La Hán là đúng mực,
b́nh thường, trong tâm các Ngài không có khổ, lạc,
ưu, hỷ, xả, đối với hết thảy pháp
đều có cái nh́n b́nh đẳng. V́ sao? Không có một
pháp nào chẳng thật, không có một pháp nào chẳng
Như!
(Diễn) Chân Như tam-muội, hữu
chánh quán, hữu phương tiện.
(演) 真如三昧,有正觀、有方便。
(Diễn: Chân Như
tam-muội có chánh quán và phương tiện).
Tức là nói Chân Như tam-muội
gồm hai thứ.
(Diễn) Chánh Quán, tức pháp giới
nhất tướng, nhất thiết chư pháp, b́nh đẳng
vô nhị.
(演) 正觀,即法界一相,一切諸法,平等無二。
(Diễn: Chánh Quán là
pháp giới một tướng, hết thảy các pháp b́nh
đẳng không hai).
Đây là Chánh Quán. Quư vị biết
hết thảy pháp b́nh đẳng, không hai. Do vậy, trong
hết thảy các pháp quư vị mới chẳng khởi
tâm, chẳng động niệm, chẳng phân biệt, chẳng
chấp trước, v́ sao? Nó là một, không hai, khởi tâm
động niệm liền rớt vào hai, ba. Nếu khi nó
đă là một, chắc chắn chẳng có khởi tâm
động niệm, đó là Chánh Quán. Chúng ta niệm Phật,
niệm đến mức nhất tâm bất loạn th́ mới
có thể nhập cảnh giới này, đó gọi là “chứng
nhập”, thật sự được thọ dụng, là “chứng
ngộ”. Phương tiện là nói tới giải ngộ;
tuy được thụ dụng, nhưng không chân thành, thiết
tha như trong phần trên (tức chứng ngộ), chưa
thật sự được như vậy.
(Diễn) Phương tiện giả,
vị thôi cầu Ngũ Ấm, Sắc chi dữ tâm, chung bất
khả đắc.
(演) 方便者,謂推求五陰色之與心,終不可得。
(Diễn:
Phương tiện là truy t́m Ngũ Ấm, sắc và tâm, trọn
chẳng thể được!)
Ví như Tâm Kinh nói “chiếu kiến Ngũ Uẩn
giai không”, đấy chính là Phương Tiện Chân
Như tam-muội. Kinh Kim Cang nói: Tâm quá khứ, tâm hiện tại,
tâm vị lai, “ba tâm chẳng thể
được”. Tâm quá khứ đă qua đi, tâm hiện
tại chẳng trụ. Nói tới hiện tại th́ hiện
tại đă trở thành quá khứ, tâm vị lai vẫn
chưa sanh, vẫn chưa xảy đến. Ba tâm đều
chẳng thể được. Thử hỏi quư vị
dùng cái tâm nào? Quả thật chẳng thể được!
Suốt ngày từ sáng đến tối khởi vọng
tưởng, về căn bản là không có chuyện ấy,
tự sanh phiền năo! Trong hoàn toàn hư vọng, tự
ḿnh cho là có chuyện như vậy, thật sự là không,
quyết định là hư vọng.
(Diễn) Nhược năng quán
sát tri tâm vô niệm, tức đắc tùy thuận nhập
Chân Như môn cố.
(演) 若能觀察知心無念,即得隨順入真如門故。
(Diễn: Nếu có
thể quán sát biết tâm vô niệm, liền được
tùy thuận nhập Chân Như môn).
Nếu bản thân chúng ta có thể
khéo quán sát th́ đây là “quán chiếu”
như trong Phật môn thường nói. “Quán sát” là quán chiếu, biết chân tâm vô niệm, bổn
tánh vô niệm. Lục Tổ nói: “Vốn chẳng có một vật, chỗ nào nhuốm
bụi trần”. Vốn chẳng có ư niệm, hữu niệm
là có vọng niệm. Vốn là vô niệm, ư niệm của
quư vị sẽ ngưng dứt, dứt bặt hết thảy
vọng niệm, chân tâm bổn tánh của quư vị sẽ
hiện tiền; đấy là Chân Như tam-muội hiện
tiền, chẳng khác ǵ chư Phật, Bồ Tát. Đấy
là nói về Chân Như tam-muội.
(Diễn) Nhị môn Chỉ Quán giả.
(演) 二門止觀者。
(Diễn: Hai môn Chỉ và Quán là...)
Đây đều là nguyên tắc
trong dụng công, mà cũng là đại cương của
pháp môn. Chính là v́ từ pháp môn này có thể chia thành rất
nhiều pháp môn, có thể gọi nó là tổng cương
lănh của các pháp môn.
(Diễn) Chỉ, vị chỉ
nhất thiết cảnh giới tướng.
(演) 止,謂止一切境界相。
(Diễn: “Chỉ”
là dứt hết thảy các tướng cảnh giới).
“Chỉ”
là đ́nh chỉ, ngưng nghỉ. Ngưng cái ǵ? Ngưng hết
thảy vọng niệm, tức là Định, tức là nhất
tâm, “ngưng hết thảy các
tướng cảnh giới”.
(Diễn) Hữu ly cảnh, trừ
tâm, nhị pháp.
(演) 有離境、除心,二法。
(Diễn: Có hai pháp
Chỉ là ĺa cảnh và trừ tâm).
Hai thứ phương pháp, một
là “ĺa cảnh”, hai là “trừ tâm”. Giống như
cách tu hành của người Tiểu Thừa. Người
mới học quá nửa là dùng phương pháp ĺa cảnh,
v́ sao? Sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần bèn khởi
vọng niệm, vậy th́ làm sao? T́m nơi núi sâu chẳng
in dấu chân người, t́m nơi ấy để tu
hành. Xa ĺa cảnh giới thành thị phồn hoa, xa ĺa cảnh
giới, như vậy th́ tâm người ấy sẽ dần
dần b́nh tịnh. Đấy là lư do v́ sao người mới
học phải trụ nơi tịch tĩnh. A Lan Nhă (Aranya)
là tiếng Phạn, dịch sang nghĩa tiếng Hán là Tịch
Tĩnh Xứ. Người tu hành phải chọn lựa
nơi này làm đạo tràng, đó là ĺa cảnh; nhưng
ĺa cảnh trị đằng ngọn chứ chưa trị
tận gốc. Quan trọng nhất là trừ tâm. Trừ
tâm là trừ bỏ phân biệt, vọng tưởng, chấp
trước trong tâm, đó mới là căn bản. Trong Chỉ
lại có nhiều phương pháp, phía sau sẽ c̣n nói thêm.
Nếu nói đến Quán th́ Quán
là quán chiếu, tức là vận dụng trí huệ, c̣n Chỉ
đặt nặng nơi Định, dùng công phu định
lực. Quán là dùng trí huệ để quán chiếu.
(Diễn) Quán vị phân biệt
nhân duyên sanh diệt tướng.
(演) 觀謂分別因緣生滅相。
(Diễn: Quán là phân
biệt tướng nhân duyên sanh diệt).
“Quán sát” chính là
quán sát hết thảy pháp, hết thảy các pháp đều
từ nhân duyên sanh và cũng do nhân duyên mà diệt. Nói
cách khác, nếu quư vị nhận biết hết thảy các
pháp không có tự thể, th́ đó là cách quán sát trí huệ.
Chúng ta thường nói “thấy
thấu suốt, buông xuống”, Chỉ là buông xuống,
Quán là thấy thấu suốt. V́ thế, Chỉ và Quán
đôi bên giúp đỡ lẫn nhau, giúp cho nhau thành tựu:
Buông xuống giúp quư vị thấy thấu suốt, thấy
thấu suốt giúp quư vị buông xuống. Quư vị thật
sự có thể thấy hết thảy các pháp do nhân duyên
sanh và do nhân duyên mà diệt; nói cách khác, hết thảy các pháp
không có tự tánh, không có tự thể độc lập.
Nói tới “nhân duyên” th́ có rất
nhiều điều kiện kết hợp thành, nó không có tự
thể. Hiện thời khoa học phát triển, chúng ta
đối với hết thảy vật thể, hết thảy
h́nh tướng, cho đến hết thảy sinh vật
đều có sự hiểu biết kha khá, tuy hiểu biết
chúng, nhưng vẫn chưa giác ngộ, vẫn mê nơi
đó. Quán là dùng trí huệ chân chánh. Quán rồi phải giác
ngộ. Giác ngộ hết thảy pháp vốn không có tự
tánh; do vậy, đối với hết thảy các pháp chẳng
phân biệt, chẳng chấp trước, thật sự
buông xuống. Đó là tác dụng của Quán.
(Diễn) Hữu pháp tướng,
đại bi, đại nguyện, tinh tấn, tứ hạnh.
(演) 有法相、大悲、大願、精進,四行。
(Diễn: Quán có bốn
hạnh là pháp tướng, đại bi, đại nguyện
và tinh tấn).
Có bốn thứ phương
pháp tu hành.
(Diễn) Thị pháp, chỉ tu hành
ngũ môn.
(演) 是法,指修行五門。
(Diễn: Chữ “thị pháp”
(pháp này) [trong đoạn văn trích dẫn từ Khởi
Tín Luận trong lời Sớ] chỉ năm môn tu hành).
“Phục
vân” là lại nói. “Hữu
sơ học thị pháp, kỳ tâm khiếp nhược”
(lại có kẻ mới học pháp này, tâm kẻ ấy kinh
hăi, yếu ớt): Đối với câu “sơ học thị pháp”, lời chú giải giảng:
“Chữ ‘thị pháp’ chỉ
năm môn tu hành”, [năm môn tu hành] chính là Bố Thí, Tŕ Giới,
Nhẫn Nhục, Tinh Tấn và Chỉ Quán. Chỉ Quán là Thiền
Định, [“năm môn”] là những phương pháp tu hành ấy.
(Diễn) Sơ học thị
pháp giả, chỉ Bất Định Tụ chúng sanh, tu tín
vị măn giả.
(演) 初學是法者,指不定聚眾生,修信未滿者。
(Diễn: Từ ngữ
“kẻ mới học pháp này” chỉ Bất Định Tụ
chúng sanh, thuộc địa vị tu tín chưa viên măn).
Đây là nói tới kẻ mới
học. “Bất Định Tụ”
là tâm quư vị c̣n do dự, chưa định, lúc nghĩ học
cái này, lúc toan học cái khác, nghe nói cái này cũng hay lắm,
cái kia cũng khá, đó gọi là “Bất Định Tụ”. Đây là hiện tượng
của kẻ mới học. Khi nào tâm quư vị định
lại, công phu của quư vị mới đắc lực. Nếu
đối với pháp môn, tâm quư vị do dự, chẳng dứt
khoát, bất luận quư vị tu pháp môn nào, bất luận
quư vị tu trong một thời gian lâu chừng nào, công phu
chẳng đắc lực, giống như con phù du trên mặt
nước, vật vờ cuốn theo chiều gió, chẳng
có cội rễ! Nhất định phải chọn lấy
một pháp môn trong hết thảy các pháp môn, cố định
tại một pháp môn. Tu học như thế, quư vị sẽ
nhận thấy công phu dần dần đắc lực, cảnh
giới mỗi năm mỗi khác, mỗi tháng chẳng giống
nhau. Thậm chí quư vị xem kinh, mỗi ngày có ngộ xứ,
cùng là một bộ kinh mà mỗi lần xem là một lần
thấy được ư nghĩa mới mẻ, đấy
là quư vị có sở đắc. Không có cảnh giới ấy,
chứng tỏ tâm quư vị vẫn chưa định. Chân
tâm thật sự định th́ hằng ngày niệm Phật
hiệu, thân tâm càng sung sướng, mỗi lúc đọc
kinh th́ lần nào đọc cũng đều có ngộ xứ.
Đích xác khác hẳn!
(Diễn) Kỳ tâm khiếp
nhược, thị tâm kư liệt, Sa Bà bất thường
trị Phật, thị ngoại khuyết thắng duyên, cố
tín hạnh nan thành, tương dục thoái dă.
(演) 其心怯弱,是心既劣,娑婆不常值佛,是外缺勝緣,故信行難成,將欲退也。
(Diễn: Tâm kẻ ấy
khiếp nhược là cái tâm đă kém hèn. Sa Bà chẳng
thường gặp Phật là bên ngoài thiếu duyên thù thắng,
v́ thế, tín hạnh khó thành, sắp bị thoái chuyển).
Kẻ Bất Định Tụ
công phu tiến tiến, lùi lùi, thường là tiến ít,
lùi nhiều, đây là hiện tượng nơi đại
đa số con người. C̣n tiến nhiều, lùi ít là do
quư vị đời quá khứ túc căn sâu dầy. Hôm nay
đă hết thời gian rồi!
A Di
Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
Phần
26 hết
[1] Bát Tự (c̣n gọi
là Tứ Trụ) là cách đoán vận mạng dựa trên bốn
yếu tố năm, tháng, ngày, giờ, từ bốn yếu
tố ấy tính ra Can và Chi của chúng nên thành ra tám chữ,
v́ thế gọi là Bát Tự. Dựa trên Ngũ Hành
tương sanh, tương khắc mà luận đoán vận
mạng.
“Đếm
nét bút” là dựa theo cách viết tên gọi trong tiếng
Hán có bao nhiêu nét bút mà vận dụng Âm Dương Ngũ
Hành để thiết lập quẻ Dịch tương ứng
ḥng đoán vận mạng.
[2] Đúng ra chữ 崎
trong danh xưng 長崎 phải đọc là Khi, nhưng do các
sách báo Việt Ngữ thường phiên âm là Kỳ nên chúng
tôi tuân thủ cách đọc này.
[3]
Kim Cang Tế (Vajra-tala-sthāna): Theo luận Câu Xá, phía
dưới đại địa là Kim Cang Tế, tức
là vật chất ngưng đọng khi thế giới mới
thành lập. Kim Cang có nghĩa là kiên cố. Có thể hiểu
đại lược Kim Cang Tế chính là phần cốt
lơi nâng đỡ mặt đất, hoặc nếu hiểu
hạn hẹp, thô thiển theo chỉ riêng địa cầu
th́ Kim Cang Tế chính là phần ở giữa bao quanh lơi quả
đất, nằm phía dưới mặt đất.
[4] Chùa Nam Hoa thuộc thành phố Thiều
Quan, tỉnh Quảng Đông, nằm bên bờ sông Tào Khê.
Chùa này do Tam Tạng Trí Dược khai sơn vào năm Thiên
Giám nguyên niên (502) đời Lương, đến thời
Lục Tổ trụ tích, hoằng dương Thiền Tông
tại Tào Khê, chùa có tên là Bảo Lâm. Năm Thần Long
nguyên niên (705), Đường Trung Tông hạ chiếu đổi
tên chùa thành Trung Hưng Tự. Năm Thần Long thứ ba
(707), lại đổi tên thành Pháp Tuyền Tự. Năm
Khai Bảo nguyên niên (968) đời Tống, Tống Thái Tổ
hạ chiếu đổi thành Nam Hoa Thiền Tự và chùa
giữ tên này cho đến ngày nay. Chùa trải qua nhiều
cơn biến động, có lúc bỏ hoang như vào cuối
đời Tùy, hoặc cháy sạch như vào năm Long Sóc
nguyên niên (661) đời Đường Cao Tông. Chùa tiếp
tục bị cháy nhiều lần dưới đời
Nguyên. Chùa được trùng tu quy mô như hiện thời
do công sức của ḥa thượng Hư Vân vào năm Dân
Quốc 22 (1933).
[5] Chúng tôi dịch câu này theo cách giải
thích của lăo pháp sư Trạm Sơn Đàm Hư trong bài
Vĩnh Gia Huyền Giác Thiền Sư Chứng Đạo
Ca Lược Giải. Lăo pháp sư Đàm Hư giảng
như sau: “Hoặc thị hoặc
phi nhân bất thức, nghịch hành, thuận hạnh thiên
mạc trắc. Ngô tảo tằng kinh đa kiếp tu, bất
thị đẳng nhàn tương cuống hoặc: Trên thế
giới dù đúng hay sai, không ǵ chẳng phải do sức
Bát Nhă, nhưng nhân gian đều chẳng biết. C̣n đối
với thuận hạnh hay nghịch hạnh, dù bậc cao
nhân trên cơi trời cũng chẳng suy lường
được. Thiên thượng nhân gian đều chẳng
thể nhận biết suy lường th́ tôi là một ông
Tăng nghèo hèn, làm sao có thể nhận biết, suy lường
được? Cần phải biết Phật pháp, chẳng
do đông người, cũng chẳng v́ cao quư, mà chỉ
do tin tưởng, ngưỡng vọng chân thật. Nhiều
đời, nhiều kiếp huân tập, mới có thể tự
liễu giải thấu triệt. Tôi nay đă liễu giải
là do đă từng tu hành nhiều kiếp trong quá khứ.
Đây không phải là chuyện dễ dăi, lơ mơ mà toan
đem chuyện này dối gạt, mê hoặc người
đời. Đây là chuyện kiến lập đạo
tràng, há phải là chuyện phù phiếm ư?” Cũng xin
lưu ư là các bản Chứng Đạo Ca đang lưu
hành đều chép là “bất thị
đẳng nhàn, tương
cuống hoặc”, riêng sách Diễn Nghĩa chép là “bất thị đẳng nhàn, sanh cuống hoặc” (có lẽ
là do lỗi ấn loát).