A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 28
Chủ giảng:
Lăo pháp sư Tịnh Không
Chuyển ngữ:
Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
Giảo chánh: Huệ
Trang và Đức Phong
Tập
55
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang bảy mươi hai:
(Sớ)
Đắc tật giải thoát giả, Trí Luận vân: “Hữu
chư Bồ Tát, tự niệm báng Đại Bát Nhă, đọa
ác đạo trung, lịch vô lượng kiếp, tuy tu
dư hạnh, bất năng diệt tội, hậu ngộ
tri thức, giáo niệm A Di Đà Phật, năi đắc diệt
chướng, siêu sanh Tịnh Độ”.
(疏) 得疾解脫者,智論云:有諸菩薩,自念謗大般若,墮惡道中,歷無量劫,雖修餘行,不能滅罪,後遇知識,教念阿彌陀佛,乃得滅障,超生淨土。
(Sớ: “Mau chóng được
giải thoát”: Trí Độ Luận nói: “Có các Bồ Tát tự
nghĩ ḿnh hủy báng Đại Bát Nhă, đọa vào trong
ác đạo, trải vô lượng kiếp, tuy tu các hạnh
nhưng chẳng thể diệt tội; sau đấy gặp
tri thức dạy họ niệm A Di Đà Phật, bèn diệt
được chướng, siêu sanh Tịnh Độ).
Đại
sư trích dẫn một đoạn công án trong Đại
Trí Độ Luận nhằm thuyết minh sức diệt
tội giải thoát lớn nhất, hiệu quả rơ ràng
nhất cũng là do niệm Phật. Hiện thời có rất
nhiều người chẳng hiểu rơ đạo lư này,
chẳng tin niệm Phật có công đức to lớn. Tuy
niệm Phật nhưng cũng chẳng tương ứng,
[v́] người ấy thiếu tín tâm! Tu các pháp môn khác có thể
diệt tội hay không? Rất nhiều vấn đề,
hoặc là chính ḿnh tu, hoặc quư vị quán sát người
khác tu học, quư vị thấy rốt cuộc là có thể
diệt tội hay không? Thật ra, tội từ tâm sanh; do lẽ
này, tội vẫn là từ tâm diệt. Nếu tâm có ư niệm
bèn là có tội, diệt tội phải nhờ vào tâm. Trong
các buổi giảng, chúng tôi đă nói rất nhiều, [mà quư
vị cũng] đọc quá nhiều rồi, tâm chẳng
thanh tịnh bèn sanh ra “tội nghiệt” (mầm mống tội
chướng). Nếu tâm thanh tịnh, sẽ diệt tội,
diệt chướng. Nói thật ra, đạo lư này hoàn
toàn chẳng khó hiểu.
Chúng
ta hăy suy nghĩ: Phải làm sao để tâm được
thanh tịnh? Nói thật ra, niệm Phật khiến cho tâm
ta có thể chuyên nhất, được thanh tịnh, thù
thắng hơn hết thảy các pháp môn khác. Vẫn có những
kẻ nói: “Niệm Phật luôn luôn là niệm một câu A Di
Đà Phật, niệm lâu ngày sẽ không có ư nghĩa ǵ hết!”
Kẻ ấy bèn giải đăi, chẳng muốn niệm nữa.
Đấy là chưa hiểu rơ đạo lư! Chúng ta niệm
Phật, tác dụng là ở chỗ nào? Tác dụng [của
niệm Phật] là tâm thanh tịnh. Trong tâm chỉ cần vừa
khởi ư niệm, bất luận thiện niệm hay ác niệm,
chỉ cần có ư niệm, ta liền nhanh chóng thay nó bằng
A Di Đà Phật, đó là đúng. Đúng như cổ đức
đă nói: “Bất phạ niệm
khởi, chỉ phạ giác tŕ” (Chẳng sợ niệm
khởi, chỉ sợ giác chậm). Giác là ǵ? Đổi
thành A Di Đà Phật là giác. Chẳng niệm A Di Đà Phật
th́ đều là vọng tưởng, đều là vọng
niệm. Không chỉ hết thảy các pháp trong thế gian
này đều là vọng niệm, mà ngay cả trong Phật
pháp cũng có rất nhiều vọng niệm. Chúng ta nhất
định phải hiểu điều này. Do vậy, tác dụng
của niệm Phật là không ǵ chẳng nhằm tiêu trừ
vọng niệm mà thôi! Do vọng niệm chẳng ngừng,
cho nên Phật hiệu chẳng thể gián đoạn. Hễ
Phật hiệu gián đoạn, vọng niệm lại dấy
lên.
(Diễn)
Trí Luận trung tội tức thị chướng.
(演) 智論中罪即是障。
(Diễn:
Theo Trí Độ Luận, tội tức là chướng).
Đại
Trí Độ Luận viết: “Tội
tức thị chướng”, [nghĩa là] tội chính là
chướng.
(Diễn) Dĩ tội năng
chướng đạo.
(演) 以罪能障道。
(Diễn: V́ tội có thể chướng ngại
đạo).
“Đạo”
là ǵ? Là nhất tâm. Quư vị phải nhớ điều
này: Đạo là ǵ? Tâm thanh tịnh là đạo. Nhất
tâm bất loạn là đạo. Tội có thể chướng
ngại đạo! Tội nghiệp dấy lên, tâm sẽ
chẳng thanh tịnh, tâm chẳng chuyên nhất.
(Diễn) Cố phục vân
chướng dă.
(演) 故復云障也。
(Diễn: Cho nên lại nói là “chướng”).
Tội chính là chướng.
(Diễn) Thử niệm Phật
năi đắc diệt giả.
(演) 此念佛乃得滅者。
(Diễn: Chướng này do niệm Phật bèn được
diệt trừ).
Đây là trích dẫn
một đoạn văn trong Đại Trí Độ Luận;
trước tiên, chúng
tôi giới thiệu
ư nghĩa của đoạn văn này. Ở đây, chẳng
phải là kẻ tầm thường, mà là hàng Bồ Tát, “hữu chư Bồ Tát” (có các
Bồ Tát), đương nhiên các vị Bồ Tát này chẳng
phải là Ma Ha Tát, chẳng phải là đại Bồ Tát.
Nói thông thường th́ là các Bồ Tát thuộc địa
vị Tam Hiền trong Biệt Giáo, hoặc Bồ Tát thuộc
địa vị Thập Tín trong Viên Giáo. Bồ Tát tự
suy nghĩ: Trong quá khứ, [chính ḿnh đă] “báng Đại Bát Nhă, đọa ác đạo trung, lịch
vô lượng kiếp, tuy tu dư hạnh, bất năng
diệt tội” (hủy báng Đại Bát Nhă, đọa
trong ác đạo, trải qua vô lượng kiếp, tuy tu
các hạnh khác, nhưng chẳng thể diệt tội). Nếu
tội diệt, người ấy sẽ kiến tánh. Sở
dĩ hàng Bồ Tát thuộc địa vị Thập Tín
chưa thể chứng nhập Sơ Trụ, hàng Bồ Tát
thuộc địa vị Tam Hiền trong Biệt Giáo
chưa thể đăng địa, nguyên nhân là ở chỗ
này. Người niệm Phật chúng ta tuy niệm Phật,
nhưng chưa thể chứng đắc Lư nhất tâm bất
loạn th́ cũng giống như vậy, có cùng một
nguyên nhân! Lư nhất tâm bất loạn th́ mới phá một
phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân. Đó là “tội diệt”. Nếu không,
sẽ là chướng đạo, chướng ngại Lư
nhất tâm bất loạn. Tu các pháp môn khác, không có cách nào
thành tựu, chẳng thể diệt tội! Quư vị có thể
đắc Định, vượt thoát tam giới, sanh tử,
luân hồi, nhưng chưa thể kiến tánh, chưa thể
phá vô minh. Nói cách khác, dẫu công phu tu tập tốt đẹp
đến mấy đi nữa, bất quá cũng chỉ bằng
với A La Hán, Bích Chi Phật; công phu đoạn chứng[1] đạt
đến mức đó là cùng, kể như đă rất
khá rồi!
Dùng phương pháp nào để
có thể nhanh chóng diệt tội, trừ chướng,
ḥng minh tâm kiến tánh? Đại Trí Độ Luận cho
biết: Sau này, những vị Bồ Tát ấy gặp thiện
tri thức dạy họ niệm A Di Đà Phật. Quư vị
phải biết: Phàm người nào có thể dạy quư vị
niệm A Di Đà Phật, người ấy là chân thiện
tri thức, chẳng giả tí nào. Ai dạy quư vị tu các
pháp môn khác, chẳng thể coi người ấy là chân thiện
tri thức được! V́ sao? Trong một đời
này, quư vị chẳng thể thành tựu; dạy quư vị
niệm A Di Đà Phật, quư vị quyết định có
thể thành tựu trong một đời này. Đấy là
thiện tri thức thật sự. Nhưng tuy gặp
được thiện tri thức thật
sự, thường là chính ḿnh chẳng tin tưởng, vậy
là không có cách nào hết! Phải tự trách chính ḿnh thiện
căn, phước đức, nhân duyên chưa đầy
đủ. Kinh nói rất hay: Pháp môn này “chẳng thể dùng chút thiện căn, phước
đức, nhân duyên mà được sanh về cơi ấy”.
Nói cách khác, phàm là người văng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới, ngay cả kẻ Hạ Phẩm Hạ
Sanh, cũng đều là nhiều thiện căn, phước
đức, nhân duyên. Nhân duyên là gặp được thiện
hữu khuyên quư vị niệm Phật, quư vị chịu tiếp
nhận, chịu tin tưởng, chịu y giáo phụng
hành, đó là quư vị có nhiều thiện căn, lắm phước
đức. Nếu chẳng tin tưởng, tức là chẳng
có thiện căn, chẳng chịu niệm Phật; đấy
là thiếu phước! Làm như vậy th́ người ấy
mới có thể diệt tội, diệt chướng, “siêu sanh Tịnh Độ”.
Quư vị đọc đoạn
văn này trong Đại Trí Độ Luận, hăy quay lại,
nghĩ xem kinh Hoa Nghiêm có bao giờ chẳng phải là
như vậy hay không? Kinh Hoa Nghiêm đến cuối cùng,
Phổ Hiền Bồ Tát dùng mười đại nguyện
vương dẫn về Cực Lạc, cũng là khuyên các
vị Bồ Tát trong Hoa Tạng hải hội cầu sanh
Tây Phương Tịnh Độ. Văn Thù và Phổ Hiền
là hai vị dẫn đầu. Hai vị đại Bồ
Tát dẫn dắt [đại chúng phát nguyện] cầu sanh
Tây Phương Cực Lạc, v́ sao? Là để diệt tội,
phá căn bản vô minh, chứng Vô Thượng Bồ
Đề! Quư vị mới hiểu sự thù thắng của
pháp môn này, thật sự là thù thắng khôn sánh! Trong hội
Hoa Nghiêm, Văn Thù và Phổ Hiền chẳng khuyên các vị
Bồ Tát tham Thiền, chưa hề thấy, chưa thấy
Văn Thù và Phổ Hiền bảo mọi người hăy
tŕ chú học Mật, chưa hề thấy! Chúng ta chỉ
thấy Văn Thù và Phổ Hiền bảo mọi người
hăy niệm Phật, chúng ta thấy điều này trong hội
Hoa Nghiêm. Nếu quư vị chẳng tin tưởng niệm
Phật th́ không có cách nào hết! Đây chính là căn bản
pháp luân của đức Phật, hiển thị cảnh
giới thù thắng trang nghiêm như thế cho chúng ta thấy.
Chúng ta thấy rồi phải giác ngộ. Thấy xong, phải
nên chọn lựa pháp môn này, chớ nên lầm loạn!
Trong chú giải, [có giải thích] v́ sao Niệm Phật có thể
diệt tội?
(Diễn) Bỉ Phật hữu bất tư nghị
oai thần lực cố, bất tư nghị đại
nguyện lực cố.
(演) 彼佛有不思議威神力故,不思議大願力故。
(Diễn: Vị Phật
ấy có sức oai thần chẳng thể nghĩ bàn, có
đại nguyện lực chẳng thể nghĩ bàn).
Chữ “bỉ Phật” chỉ A Di Đà Phật. A Di
Đà Phật nguyện lực chẳng thể nghĩ bàn,
trí huệ chẳng thể nghĩ bàn, thần thông chẳng
thể nghĩ bàn, các thứ phương tiện thiện
xảo đều chẳng thể nghĩ bàn. V́ vậy,
Ngài có công đức thù thắng dường ấy.
(Diễn) Cố thử niệm A Di Đà Phật, tức
Đại Bát Nhă.
(演) 故此念阿彌陀佛,即大般若。
(Diễn: Do điều này, niệm
A Di Đà Phật chính là Đại
Bát Nhă).
Người ấy trước
kia hủy báng Bát Nhă, tạo nghiệp báng pháp ấy. Đă
báng Pháp, đương nhiên sẽ báng Phật, v́ Pháp do
đức Phật nói. Không chỉ báng Phật, mà đồng
thời cũng báng Tăng. V́ sao? Có không ít người chiếu
theo pháp môn ấy để tu hành. Quư vị báng Pháp,
đương nhiên cũng báng bổ những người
tu hành [pháp môn ấy]. Do vậy, gọi là “hủy báng Tam Bảo”. Tội ấy hết sức
nặng, dẫu chịu tội trong ác đạo đă măn
hạn, thoát ra, trong A Lại Da Thức tội nghiệp ấy
vẫn chưa hoàn toàn tiêu sạch, chưa tẩy xóa hết.
Dùng phương pháp Niệm Phật mới có thể đạt
được thanh tịnh. “Niệm
A Di Đà Phật, tức Đại Bát Nhă” (niệm A Di
Đà Phật chính là Đại Bát Nhă). Nh́n từ ư nghĩa
của danh hiệu, chúng ta thấy A Di Đà Phật là Vô
Lượng Giác, Giác là Bát Nhă. Giác là không mê; hễ mê bèn có tội
chướng. Giác ngộ rồi, tội chướng tiêu
trừ. V́ vậy, chúng ta niệm Phật chính là tu pháp môn
Đại Bát Nhă.
Thiền Tông Trung Quốc, đặc
biệt là chi phái do ngài Đạt Ma truyền sang, hoàn toàn
tu Bát Nhă Ba La Mật. Quư vị đọc Lục Tổ
Đàn Kinh sẽ biết ngay. Tuy gọi là Thiền Tông, hoàn
toàn chẳng phải là tu Thiền Định trong Lục
Độ, mà là tu Bát Nhă Ba La Mật trong Lục Độ.
Về sau, Lục Tổ hoàn toàn lấy kinh Kim Cang làm tông chỉ,
lấy hai câu trong kinh Kim Cang: “Chẳng
giữ lấy tướng, như như bất động”
[làm tông chỉ]. Quư vị hăy nghĩ xem: Điều này có
khác ǵ chúng ta niệm một câu A Di Đà Phật hay không? Nhất
tâm xưng niệm A Di Đà Phật, chẳng phải là tu
Đại Bát Nhă th́ là tu cái ǵ? So với Thiền Tông, c̣n thuận
tiện hơn, c̣n thiện xảo hơn! Tiếp theo
đó là nêu tỷ dụ:
(Diễn) Như nhân tùng địa
đảo, hoàn tùng địa khởi dă, thử tật
đắc giải thoát chi nhất chứng.
(演 ) 如人從地倒,還從地起也,此疾得解脫之一證。
(Diễn: Như
người do đất mà ngă, vẫn phải từ đất
mà đứng dậy. Đây chính là một chứng minh cho
[điều khẳng định] “mau được giải
thoát”).
Đây là chứng minh thứ nhất.
Niệm Phật dễ dàng nhất, nhanh chóng đạt
đến giải thoát nhất, vượt thoát lục
đạo sanh tử luân hồi.
(Sớ) Hựu Thập Trụ
Đoạn Kết Kinh vân: “Thị thời tọa trung, hữu
tứ ức chúng, tự tri tử thử sanh bỉ, khiên
liên bất đoạn, dục vi chi nguyên, nhạo sanh vô dục
quốc độ, Phật ngôn: - Tây Phương khứ thử
vô số quốc độ, hữu Phật danh Vô Lượng
Thọ. Kỳ độ thanh tịnh, vô dâm, nộ, si, liên
hoa hóa sanh, bất diêu phụ mẫu. Nhữ
đương sanh bỉ”. Cố Đại Bổn vân: “Bồ
Tát dục linh chúng sanh tốc tật an trụ Vô Thượng
Bồ Đề giả, ưng đương khởi tinh
tấn lực, thính thử pháp môn”.
(疏) 又十住斷結經云:是時座中,有四億眾,自知死此生彼,牽連不斷,欲為之源,樂生無欲國土。佛言西方去此無數國土,有佛名無量壽,其土清淨,無淫怒痴,蓮華化生,不繇父母,汝當生彼。故大本云:菩薩欲令眾生速疾安住無上菩提者,應當起精進力,聽此法門。
(Sớ: Lại nữa, Thập
Trụ Đoạn Kết Kinh chép: “Hiện diện [trong hội
giảng kinh] khi ấy có bốn ức người tự
biết chết đây, sanh kia, dây dưa chẳng dứt,
mà dục là cội nguồn, [nên họ] thích sanh về cơi
vô dục. Đức Phật dạy: ‘Ở phương
Tây, cách đây vô số cơi nước, có vị Phật tên
là Vô Lượng Thọ, cơi nước của Ngài thanh tịnh,
không có dâm, giận, si, hóa sanh trong hoa sen, chẳng do cha mẹ
[sanh ra], các ông nên sanh về đó’. V́ thế, kinh Đại
Bổn nói: “Bồ Tát muốn làm cho chúng sanh mau chóng an trụ
nơi Vô Thượng Bồ Đề, hăy nên dấy lên sức
tinh tấn, nghe [ta giảng] pháp môn này”).
Đây là một đoạn kinh
văn của Thập Trụ Đoạn Kết Kinh[2]. Bốn ức người
đều là những vị đắc thần thông, đều
có Túc Mạng Thông, đối với sanh tử luân hồi,
quá khứ, hiện tại, vị lai, họ thấy rất
rơ ràng, sự luân hồi ấy vĩnh viễn không ngừng
nghỉ, do nguyên nhân nào tạo thành hiện tượng ấy?
Tiếp đó, kinh văn chép: “Dục
chi vi nguyên” (dục là nguồn cội). Dục là Ngũ
Dục: Tài, sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ.
Trong kinh Phật thường nói: Tài, sắc, danh vọng,
ăn uống, ngủ nghỉ là năm cội rễ của
địa ngục. Quư vị chỉ có một điều [trong
những điều ấy], sẽ chẳng thể thoát
luân hồi được! “Tử
thử, sanh bỉ” (Chết đây, sanh kia) là nói về lục
đạo luân hồi, chết trong đường này, sanh
trong đường kia, chết trong đường kia, lại
sanh vào đường khác, sanh sanh, tử tử vĩnh viễn
chẳng xong, “khiên liên bất
đoạn” (dây dưa không ngớt), cội nguồn là
v́ tham luyến Ngũ Dục.
Chúng ta lại nói tới những
người tu đạo, Tiểu Thừa hay Đại Thừa
đều không ra khỏi tam giới, vẫn luân hồi
trong lục đạo là do nguyên nhân nào? Những người
tu đạo ấy chẳng nhiễm Ngũ Dục Lục
Trần thế gian, nhưng v́ sao vẫn sanh tử luân hồi?
Trong kinh, đức Phật có dạy: Lỗi lầm của
họ là những sai trái về mặt kiến giải.
Người thế gian có Ngũ Dục, đó là căn bản
sanh tử. Người học Phật chẳng thể liễu
sanh tử, thoát tam giới là do có kiến giải sai trái: Kiến
Thủ Kiến và Giới Thủ Kiến. Quư vị cần
phải biết, hai thứ kiến giải này thuộc về
Kiến Hoặc. Kiến Hoặc chưa trừ th́ người
Tiểu Thừa chẳng thể chứng Sơ Quả, [tức
là] chẳng thể chứng đắc quả Tu Đà Hoàn.
Nếu nói theo phía Viên Giáo Đại Thừa, hàng Bồ Tát
thuộc địa vị Sơ Tín đă đoạn Kiến
Hoặc. Nói cách khác, [người chưa đoạn Kiến
Hoặc] vẫn ở ngoài địa vị Thập Tín,
chưa chứng đắc Sơ Tín.
Hai thứ kiến giải này:
Giới Thủ Kiến là thành kiến nơi tu nhân; Kiến
Thủ Kiến là thành kiến nơi quả báo. Có những
thành kiến ấy, nhất định sanh ra tranh chấp,
nhất định có hủy báng, giống như các vị
Bồ Tát được nhắc đến trong phần
trên, v́ sao họ hủy báng Bát Nhă? Là do có hai thứ sai lầm
về kiến giải này. Kẻ tu Thiền hủy báng
người học Giáo, kẻ học Hiển Giáo hủy
báng người học Mật; kẻ học Mật hủy
báng người học Hiển Giáo, cho rằng học Hiển
Giáo chẳng thể thành công, tam mật gia tŕ “tức thân thành Phật” (thành
Phật ngay trong cái thân hiện đời). Họ tin họ
sẽ tức thân thành Phật, đấy là Kiến Thủ
Kiến. Họ tin chỉ có Mật Tông mới có thể
thành tựu, những pháp môn khác đều chẳng thể
thành tựu; đó là Giới Thủ Kiến. Chỉ cần
có hai thứ kiến giải này tồn tại, chuyện ǵ
cũng chẳng thể thành tựu, vẫn phải sanh tử
luân hồi y như cũ, chuyện này phiền phức lắm!
Do vậy, người học đạo phải trừ khử
Kiến Hoặc, người không học đạo phải
ly dục th́ mới có thể vượt thoát sanh tử
luân hồi. Chỉ cần có một thứ nào trong Dục
và Kiến chưa buông xuống được, sẽ chẳng
thể vượt thoát sanh tử luân hồi, chúng ta phải
nên hiểu điều này!
Bốn ức người thông
minh thấy chân tướng sự thật này, muốn sanh
vào một cơi nước vô dục, có thể t́m một
nơi nào không có Ngũ Dục lục trần, nơi ấy
tốt lắm, chúng ta chẳng tạo tội nghiệp nữa.
Họ có ư nghĩ ấy, đức Phật liền bảo
họ: “Tây Phương khứ
thử vô số quốc độ” (Ở Tây
phương cách đây vô số cơi nước). Kinh Di
Đà bảo là [cơi Cực Lạc cách Sa Bà] mười vạn
ức cơi Phật. “Vô số”
là một con số lớn, là một nơi khá xa xôi. Nơi
ấy “hữu Phật danh Vô Lượng
Thọ” (có Phật hiệu Vô Lượng Thọ), tức
là A Di Đà Phật. “Kỳ
độ thanh tịnh, vô dâm, nộ, si” (cơi ấy thanh tịnh,
không có dâm, giận, si), chúng ta thường nói “dâm, nộ, si” là tham, sân, si.
Chúng sanh nơi ấy không có Tam Độc, [tức là] không
có tham, sân, si. Trong tâm chúng sanh không có tham, sân, si, quư vị
nghĩ xem: Xă hội của họ thanh tịnh lắm! Tất
cả hết thảy tội chướng đều sanh từ
tham, sân, si; không có tham, sân, si th́ trong xă hội ấy không có
người tạo tội, không có kẻ làm ác. Do vậy, gọi
là “chư thượng thiện
nhân”. Không tham, sân, si là thiện, là thiện nhân, huống
hồ lại theo A Di Đà Phật học Phật, nên gọi
là “thượng thiện”. Bởi
đó, Tây Phương Cực Lạc thế giới toàn là
thượng thiện nhân.
“Liên
hoa hóa sanh, bất diêu phụ mẫu” (hóa sanh trong hoa sen,
chẳng do cha mẹ sanh thành): Chúng ta có được cái
thân này th́ cha mẹ là duyên. Không có cha mẹ làm Tăng
Thượng Duyên, chúng ta chẳng thể có thân người.
Thế giới Tây Phương không cần, thế giới
Tây Phương là liên hoa hóa sanh. Chúng ta có cần vay mượn
hoa sen hay chăng? Không cần! Chúng ta ở nơi đây
sanh một niệm muốn cầu sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới, trong ao bảy báu nơi thế giới
Cực Lạc liền trổ một đóa sen, tự tại
lắm! Chẳng phải là mượn hoa sen của người
khác để sanh vào cơi ấy, mà là hoa sen của chính ḿnh. Khởi
tâm động niệm ở nơi đây, trong ao bảy
báu liền có hoa sen. Nếu quư vị tín tâm rất kiên
cường, nguyện rất thiết tha, niệm rất
siêng năng, hoa sen ấy ngày càng lớn, ánh sáng và màu sắc
ngày một tốt đẹp. Nếu quư vị ngă ḷng, hoặc
đổi sang học pháp môn khác, chẳng niệm Phật
nữa, mà tham Thiền, học Mật, hoa sen ấy sẽ
dần dần chết khô, không c̣n nữa! V́ thế, liên hoa
hóa sanh là hoa sen do cái tâm của chính ḿnh biến hiện ra,
chứ không do ai khác, mà cũng chẳng phải do A Di Đà
Phật trồng đóa sen ấy ban cho quư vị. Chẳng
phải vậy! Chân thật là “duy
tâm Tịnh Độ, tự tánh Di Đà”, là cảnh giới
được biến hiện bởi tự tánh. Đức
Phật khuyên họ “nhữ
đương sanh bỉ” (các ông hăy nên sanh về đó),
khuyên những người ấy văng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới. Đoạn kinh này trích từ Thập
Trụ Đoạn Kết Kinh.
“Cố
Đại Bổn vân” (v́ thế, kinh Đại Bổn
nói): Lại trích dẫn kinh. Đại Bổn là kinh Vô
Lượng Thọ. Kinh Vô Lượng Thọ chép: “Bồ Tát dục linh chúng sanh tốc
tật an trụ Vô Thượng Bồ Đề giả”
(Bồ Tát muốn cho chúng sanh mau chóng an trụ Vô Thượng
Bồ Đề), Bồ Tát luôn đại từ đại
bi phổ độ chúng sanh, mong chúng sanh ai nấy mau chóng
thành tựu. Không chỉ muốn thành tựu, mà c̣n hy vọng
họ có thể thành tựu viên măn rốt ráo. Thành tựu
viên măn rốt ráo là Vô Thượng Bồ Đề. Phải
như thế nào th́ mới đạt được mục
đích ấy? “Ưng
đương khởi tinh tấn lực thính thử pháp
môn” (Hăy nên dấy lên sức tinh tấn nghe pháp môn này). Ở
đây đặc biệt chú trọng nơi nghe, v́ sao? Nếu
chẳng hiểu rơ ràng, thấu triệt lư luận, chẳng
rơ phương pháp, chẳng nhận biết cảnh giới,
quư vị chẳng tránh khỏi thoái chuyển nơi pháp môn
này, quư vị thấy các cảnh giới khác cũng chẳng
tránh khỏi động tâm, như vậy th́ sẽ chẳng
thể thành tựu nơi pháp môn này. Do vậy, nhất
định phải hiểu rơ ràng lư luận, phương
pháp, cảnh giới; sau đấy quư vị mới thật
sự chịu chết sạch so đo, khăng khăng
thâm nhập một môn, quyết định thành tựu
trong một đời này!
(Diễn) Thập Trụ Đoạn
Kết Kinh trung, tử thử sanh bỉ, giai nhân dục cố.
(演) 十住斷結經中,死此生彼,皆因欲故。
(Diễn: Trong kinh Thập
Trụ Đoạn Kết có nói: Chết đây sanh kia đều
v́ ḷng dục).
Đều v́ Ngũ Dục Lục
Trần.
(Diễn) Tây Phương vô dục, cố đốn
siêu sanh tử, thử tật đắc giải thoát chi nhị
chứng.
(演) 西方無欲,故頓超生死,此疾得解脫之二證。
(Diễn: Tây
Phương không có dục, nên nhanh chóng vượt thoát sanh
tử. Đây là chứng minh thứ hai cho sự giải
thoát nhanh chóng).
Đây là chứng minh thứ
hai.
(Diễn) Khởi tinh tấn lực thính thử pháp
môn giả, thính pháp hữu tam: Nhĩ thính, tâm thính, cập
ư thần thính.
(演) 起精進力聽此法門者,聽法有三:耳聽、心聽及於神聽。
(Diễn: “Dấy
lên sức tinh tấn nghe pháp môn này”: Nghe pháp có ba loại:
Nghe bằng tai, nghe bằng tâm thức, và nghe bằng chân tâm).
Tuy đều đang nghe,
nhưng mỗi người sử dụng cái tâm khác nhau. “Nhĩ thính” là nghe như gió
thoảng qua tai, nghe là nghe vậy, nghe xong rồi thôi, chẳng
có ấn tượng ǵ, đó gọi là “nhĩ thính”. Người ấy chẳng nhớ,
cũng chẳng liễu giải ư nghĩa, càng chẳng nói
tới chuyện y giáo phụng hành. “Tâm thính” là thật sự dùng tâm, nghe xong có thể
ghi nhớ, có thể tư duy những đạo lư đă được
kinh nói tới, có thể thành tựu. Cuối cùng là “thần thính”.
(Diễn) Hạ sĩ nhĩ thính,
như phong quá nhĩ, trung sĩ tâm thính, phả năng giải
nghĩa, thượng sĩ thần thính, thâm ngộ Thật
Tướng.
(演) 下士耳聽,如風過耳;中士心聽,頗能解義;上士神聽,深悟實相。
(Diễn: Kẻ
căn cơ bậc hạ nghe bằng tai, như gió thoảng
qua tai, người căn cơ bậc trung chú tâm nghe, khá hiểu
ư nghĩa; người căn cơ bậc thượng nhất
tâm nghe, ngộ Thật Tướng sâu xa).
Kinh chú trọng nơi “thần thính”. Thần thính và
tâm thính có khác nhau hay chăng? “Tâm”
là tâm ư thức, chúng ta thường nói “chú ư nghe”, tức là Ư
Thức chuyên chú, nhằm bảo quư vị đừng “nghe
tai nọ lọt qua tai kia”, đừng nghe như gió thoảng
qua tai mà hăy chú ư! B́nh thường khi chúng ta không chú ư, tai tuy cũng
nghe, nhưng nghe không rơ ràng, đấy là điều
đích xác. Khi tôi mới học Phật, lúc ấy c̣n đang
đi làm, tôi ở tại Bắc Đầu, đến
Đài Bắc nghe kinh phải ngồi xe lửa. Buổi tối
trở về, thấy xe lửa c̣n nửa tiếng nữa
mới tới, bèn ngồi chờ trên băng ghế dài ở
phía sau ga xe lửa. Đường rầy ở ngay sau đó,
cách một tấm ván, cửa sổ đều mở toang
ra, nửa giờ hăy c̣n sớm mà! Chúng tôi mang theo kinh, đọc
tại đó, chú ư xem kinh, chẳng chú ư nghe tiếng xe lửa.
Xem kinh một chốc, nh́n thấy đă đến giờ
rồi mà sao xe lửa vẫn chưa tới? Người
trong ga bảo tôi: “Xe lửa vừa mới đến, lại
chạy mất rồi!” Thế mà tôi không biết! V́ sao?
Không chú ư! Tôi tin rằng các vị cũng đă từng gặp
t́nh cảnh như vậy. Không chú ư! Không chú ư nh́n th́ tuy có
nh́n nhưng chẳng thấy rơ; chẳng chú ư nghe, tuy có nghe,
âm thanh của xe lửa to như thế mà trọn chẳng
nghe! “Tâm thính” chính là chú ư nghe.
“Thần
thính” là ǵ? Thần thính là nhất tâm lắng nghe, càng tuyệt
diệu hơn nữa! Tức là bỏ đi cái tâm ư thức,
ĺa tâm ư thức. Tham Thiền phải ĺa tâm ư thức để
tham, nghe kinh cũng ĺa tâm ư thức để nghe. Như vậy
là cao minh! Nếu quư vị biết nghe, nói thật ra, biết
nói chẳng bằng biết nghe. Nói thật ra, có thể
dùng nhất tâm để nghe, dù người nói là tốt
hay xấu cũng chẳng sao cả! Nhưng nếu quư vị
“tâm thính” (nghe bằng tâm ư thức), th́ người nói là tốt
hay xấu sẽ có ảnh hưởng rất lớn. Đấy
là v́ công phu của quư vị chưa đạt đến mức
[đắc lực], nên cần có thiện tri thức giúp
đỡ, làm Tăng Thượng Duyên cho quư vị. Nếu
chính ḿnh nhất tâm, cảnh giới bên ngoài chẳng quan trọng
nữa! V́ sao? Quư vị nhất tâm nghe, nhất tâm là chân
tâm. Quư vị sử dụng chân tâm. Trong cảnh giới,
không ǵ chẳng phải là “trải
qua sự việc để luyện tâm”. Luyện điều
ǵ? Luyện sử dụng chân tâm. Như vậy th́ mới
có thể đắc Thật Tướng. “Thâm ngộ Thật Tướng” (ngộ Thật
Tướng sâu xa). Nhà Thiền gọi [thâm ngộ] Thật
Tướng là “kiến tánh,
minh tâm kiến tánh”, Giáo Hạ nói “thâm ngộ Thật Tướng”, c̣n người
niệm Phật gọi là “Lư nhất
tâm bất loạn”, có thể chứng Lư nhất tâm bất
loạn.
(Diễn) Kim ngôn tinh tấn thính
pháp, thị bất dĩ duyên tâm thính pháp, dĩ thần
thính dă.
(演) 今言精進聽法,是不以緣心聽法,以神聽也。
(Diễn: Nay nói “tinh
tấn nghe pháp” th́ chẳng phải là dùng cái tâm phan duyên
để nghe pháp, mà là dùng nhất tâm để nghe).
“Duyên tâm” là thức thứ sáu,
tức Ư Thức. Thức thứ sáu tức Ư Thức và thức
thứ bảy (Mạt Na Thức) đều là “duyên tâm”, tức là cái tâm phan
duyên (nắm níu): Dùng Ư Thức duyên theo Thanh Trần. Đây
là nói rơ ba cách nghe!
Do đây, có thể biết rằng:
Chẳng thấu triệt Giáo là không được! Thứ
tự tu học trong những pháp môn khác nhất định
phải là Tín, Giải, Hành, Chứng, chẳng thể lầm
loạn! Thế nhưng pháp môn này đặc biệt; nếu
quư vị tin tưởng, sẽ có thể gộp chung Giải
và Hành, không cần phải [theo thứ tự] trước
sau, chẳng có trước sau. Đấy là chỗ thuận
tiện của pháp môn này. Ta một mặt niệm Phật,
niệm Phật là Hành. Ta tin tưởng, ta muốn sanh về
Tây Phương Cực Lạc thế giới, ta hằng
ngày niệm A Di Đà Phật, đó là Hành. Một mặt
Hành, một mặt cầu Giải, tức là Giải và Hành
đồng thời. Những pháp môn khác là “Giải trước,
Hành sau”. Nếu không, quư vị chẳng Giải mà Hành sẽ
là “tu mù, luyện đui”. Nhất định phải Giải
trước rồi mới hiểu cách Hành ra sao. Dưới
đây là tỷ dụ:
(Sớ) Thị tri nghĩ sơn phong thủy, tŕ tật
thiên thù.
(疏) 是知蟻山風水,遲疾天殊。
(Sớ: Do vậy biết:
Con kiến trèo lên núi và thuyền đă thuận gió lại c̣n
thuận nước, nhanh hay chậm khác biệt một trời
một vực).
“Nghĩ
sơn”: Nghĩ (蟻) là con kiến.
Giống như con kiến trèo lên núi, trèo rất chậm chạp.
“Phong thủy” là nói tới
chuyện giong thuyền. Chúng ta đi xa ngồi thuyền,
thuyền buồm đă thuận gió, lại xuôi con nước,
tốc độ hết sức nhanh chóng. Đây là tỷ dụ
sự nhanh - chậm khác nhau. Nhanh và chậm sai khác một
trời một vực, khác biệt quá lớn!
(Diễn) Nghĩ sơn phong thủy
giả, Liên Tông Bảo Giám vân: “Dư môn học đạo,
như nghĩ tử thượng ư cao sơn”.
(演) 蟻山風水者,蓮宗寶鑑云:餘門學道,如蟻子上於高山。
(Diễn: “Nghĩ sơn phong
thủy”: Sách Liên Tông Bảo
Giám viết: “Học đạo trong các môn khác, như con kiến
trèo lên non cao”).
Tu học các pháp môn khác, tu học
thành công sẽ chậm chạp, giống như con kiến
trèo lên núi cao, phải rất lâu mới trèo tới nơi.
(Diễn) Niệm Phật văng
sanh, tự phong phàm dương ư thuận thủy.
(演) 念佛往生,似風帆揚於順水。
(Diễn: Niệm Phật
văng sanh giống như buồm căng gió, lướt theo
con nước thuận).
Tốc độ hết sức
nhanh chóng, rất nhanh chóng tới nơi. Cổ nhân có
thơ rằng: “Thiên lư Giang
Lăng nhất nhật hoàn” (Giang Lăng ngàn dặm một
ngày về), tức là vừa thuận nước lại
được thuận gió, một ngày có
thể đi cả ngàn dặm. Trước kia, đó
là tốc độ nhanh nhất.
(Sớ) Cổ vị dục
đắc nhất sanh thủ biện, tiện ư thị
pháp lưu tâm, thị danh tối thắng đệ tứ
phương tiện.
(疏) 古謂欲得一生取辦,便於是法留心,是名最勝第四方便。
(Sớ: Cổ nhân
nói: “Muốn được thành tựu trong một đời
th́ phải lưu tâm nơi pháp này”. Đấy gọi là
phương tiện tối thắng thứ tư).
Ở đây, chúng ta phải
đặc biệt chú ư câu nói này. Nếu quư vị thật
sự muốn thành tựu trong một đời này, “thủ biện” là thành tựu.
“Tôi muốn đạt được, muốn lo liệu
thỏa đáng” th́ quư vị phải đặc biệt
lưu ư phương pháp Tịnh Độ Niệm Phật
này, chớ nên coi thường bỏ qua. Học các pháp môn
khác, quả thật không được! Nếu quư vị
không tin, hăy quan sát kỹ càng, tạm thời chúng ta không hỏi
đến cổ nhân, hăy xem những người có thành tựu
trong hiện tại, họ tu pháp môn nào? Pháp sư Quảng
Khâm thuở trẻ tham Thiền, v́ sao Ngài không nêu
gương nơi Thiền? Thiền không xong! Về sau Ngài
vẫn phải quay lại chuyên tu Tịnh Độ, niệm
A Di Đà Phật th́ mới thành công. Đây là một
trường hợp bày ra ngay trước mặt chúng ta gần
đây nhất.
Lại nói đến thầy Lư
ở Đài Trung, năm nay cụ đă chín mươi tám
tuổi, năm ba mươi mốt tuổi cụ bắt
đầu học Phật. Khi ấy, cụ ở Trung Quốc
Đại Lục, thân cận không ít thiện tri thức.
Ngài tham Thiền tám năm, được Thiền sư nổi
danh ở Đại Lục chỉ dạy mà chẳng khai
ngộ. Sau đấy, Ngài lại học Mật, theo học
với các vị Hô Đồ Khắc Đồ[3] Tây Tạng và
Mông Cổ, chúng ta thường gọi họ là Hoạt Phật
(Phật sống). Học Mật tám năm, cụ từng
bảo chúng tôi: Cụ học hơn hai trăm pháp môn, học
những thứ ấy quả thật hết sức nghiêm
túc, lũ chúng ta chắc chắn chẳng thể sánh bằng.
Học Mật tám năm chẳng tương ứng! Khi ở
chung với các đồng học chúng tôi, trong Mật Tông
có bài chú Ẩn Thân, cụ học chú ấy, cũng niệm
tới mười vạn biến, chiếu theo
phương pháp ấy tu tập. Cụ niệm chú ấy một
lượt, hỏi chúng tôi c̣n thấy cụ hay không? Chúng
tôi vẫn trông thấy cụ, [thần chú] chẳng linh rồi!
Không có cách nào hết! Cụ cũng học Giáo mười
mấy năm, những vị thầy chỉ dạy cụ
đều là những nhà Phật học lừng lẫy thời
đầu Dân Quốc. Cụ học Duy Thức với cụ
Mai Quang Hy[4], thân cận rất
nhiều thiện tri thức, nhưng đều chẳng
thông suốt! Lăng phí thời gian nhiều năm, mà thuở ấy
chính là thời đại hoàng kim [trong đời cụ],
lúc tuổi c̣n trẻ. Cuối cùng, cụ gặp được
pháp sư Ấn Quang, đúng là cứu mạng. Pháp sư Ấn
Quang dạy cụ thật thà niệm A Di Đà Phật, cụ
được thành tựu hoàn toàn do niệm Phật. Từ
đấy trở đi, cụ bỏ sạch những pháp
môn đă học, chuyên niệm A Di Đà Phật. Đấy
cũng là nêu gương cho chúng ta trong hiện tại!
Cụ
tự nói cụ “sanh tử tự tại”, đương
nhiên chẳng phải là gạt người. Nếu lừa
dối người khác tức là đại vọng ngữ.
Cụ học Phật kiền thành như thế, tuyệt
đối chẳng thể phạm đại vọng ngữ,
trên giảng đài, cụ công khai nói với mọi người:
Cụ muốn đi lúc nào sẽ ra đi lúc ấy. Muốn
ở lại bao nhiêu năm sẽ ở lại đời
bấy nhiêu năm. Thành tựu v́ đâu? Do niệm Phật
mà thành tựu! Lũ học tṛ chúng ta nghe thầy nói lời
này, hy vọng thầy trụ thế thêm vài năm nữa. Làm
thế nào để giữ cụ trụ thế lâu hơn?
Cụ trụ thế để giảng kinh, chẳng giảng
kinh sẽ không trụ thế. Do vậy, các đồng học
thương lượng, khi ấy chúng tôi có tám người,
đề xướng, tôi là một trong số đó, thỉnh
cụ giảng kinh Hoa Nghiêm. Kinh Hoa Nghiêm giảng chưa
xong, chắc là cụ sẽ chẳng tiện ra đi. Dùng
cách này để giữ thầy nhiều năm nữa.
Ngài thành tựu ước chừng năm bảy
mươi mấy tuổi, thành tựu vào lúc ấy, sanh tử
tự tại. Khi tôi theo học với lăo nhân gia, cụ
đă bảy mươi tuổi.
Do
đây, có thể biết: Pháp môn Niệm Phật đúng là
thành tựu trong một đời, điều này chẳng
giả! Nếu quư vị chẳng tin, quư vị đă bỏ
lỡ cơ hội trong một đời này. Đời
này bỏ lỡ, mong có cơ hội này lần nữa trong
tương lai chẳng dễ dàng đâu nhé! V́ thế, chính
quư vị phải khéo phản tỉnh, sau khi chấm dứt
một đời này, ta c̣n có thể được làm thân
người trong đời sau hay chăng? Đó là một
vấn đề lớn! Dẫu đời sau được
làm thân người, Phật giáo hiện thời đă rối
loạn dường ấy, quư vị có thể gặp
được một vị thiện tri thức chỉ dạy
quư vị pháp môn Tịnh Độ hay chăng? Dẫu có thể
gặp gỡ, quư vị có chịu tin tưởng hay không?
Quư vị có tiếp nhận hay không? Những câu hỏi lớn
này đều là ẩn số, nghĩ đến [những
điều ấy], quả thật đáng sợ lắm! Nếu
muốn thành tựu, chắc chắn chẳng thể đợi
đến đời sau, kiếp sau; nhất định
phải thành công trong một đời này.
Nghe
kinh không ǵ chẳng nhằm đoạn nghi sanh tín mà thôi! Nếu
quư vị chẳng ngờ vực pháp môn này, thật sự
sanh khởi tín tâm, kiên định, nghe kinh hay không nghe
cũng không sao. Thật sự có thể thành công là do một
câu A Di Đà Phật, bốn chữ thôi, đơn giản
lắm! Do không buông xuống được, nên mới nghe
kinh, không ngừng un đúc, dần dần thông hiểu
đạo lư, thấy rốt ráo nên hay không nên buông xuống,
vấn đề là như vậy đó! Do vậy, nhất
định phải giác ngộ, phải cảnh giác, phải
sốt sắng niệm. Đó là nhân duyên thứ hai. Lại
xem điều thứ ba.
(Huyền Nghĩa) Tam, khích dương sanh tử phàm
phu linh khởi hân yếm giả.
(玄義) 三、激揚生死凡夫令起欣厭者。
(Huyền Nghĩa:
Ba là kích động hàng phàm phu sanh tử dấy ḷng ưa
chán).
Đây là lư do thứ ba khiến
đức Phật nói bộ kinh Di Đà này. “Khích” (激) là khích động,
Dương (揚) có nghĩa là cổ vũ, khích lệ.
Khích động, cổ vũ bọn phàm phu sanh tử chúng
ta biết chán ĺa thế giới Sa Bà cực khổ, sanh
ḷng hâm mộ cơi Tây Phương thù thắng trang nghiêm. V́ thế,
đức Phật nói ra pháp môn này.
(Huyền Nghĩa) Dĩ chư
chúng sanh trầm mê tự tánh.
(玄義) 以諸眾生沈迷自性。
(Huyền Nghĩa:
Do các chúng sanh trầm luân, mê mất tự tánh).
“Trầm”
là trầm luân, “mê” là mê mất.
(Huyền Nghĩa) Cam thọ luân
hồi, khoáng kiếp chí kim, tằng vô tỉnh lệ.
(玄義) 甘受輪迴,曠劫至今,曾無省勵。
(Huyền Nghĩa:
“Tỉnh”
là phản tỉnh, “lệ” là
cố gắng.
(Huyền Nghĩa) Cố thị
khổ lạc lưỡng độ, viên khai Chiết Nhiếp
nhị môn, khích chi, dương chi, tỉ hân, tỉ yếm,
thắng tâm kư phát, tịnh nghiệp tư thành.
(玄義) 故示苦樂兩土,爰開折攝二門,激之揚之,俾欣俾厭,勝心既發,淨業斯成。
(Huyền Nghĩa: V́
thế, chỉ bày hai cơi khổ vui, bèn mở hai môn Chiết -Nhiếp, khích động, cổ vũ,
khiến cho [chúng sanh] vui mừng, chán nhàm. Tâm thù thắng
đă phát, Tịnh nghiệp bởi đó được
thành tựu).
Lời văn không nhiều,
nhưng ư nghĩa hết sức phong phú!
(Diễn) Khích dương sanh tử
phàm phu giả, sanh nhi tử, tử nhi sanh.
(演) 激揚生死凡夫者,生而死,死而生。
(Diễn: “Khích động,
cổ vũ hàng phàm phu sanh tử”: Sống rồi chết,
chết rồi sống).
Đây là nói về sanh tử
luân hồi, nói tới hiện tượng sanh tử nhọc
nhằn.
(Diễn) Vạn kiếp thiên
sanh, vô hữu cùng dĩ, cố danh sanh tử phàm phu.
(演) 萬劫千生,無有窮已,故名生死凡夫。
(Diễn: Muôn kiếp
vạn đời chẳng có cùng tận, nên gọi là “sanh
tử phàm phu”).
Trong kinh Phật thường nói
“sanh tử b́ lao” (sống chết
mệt mỏi, nhọc nhằn), chẳng ngưng nghỉ,
hết sức khổ. Kinh Địa Tạng nói người
chết chưa đầy bốn mươi chín ngày lại
đầu thai, đầu thai xong lại sanh, già, bệnh,
chết. Chết rồi lại sanh, già, bệnh, chết,
vĩnh viễn luân hồi chẳng ngưng nghỉ. Chỉ
cần chẳng thoát khỏi luân hồi, nói chung, quư vị
phải ghi nhớ: Sanh tử luân hồi mỗi lúc càng tệ
hơn, đời sau chẳng bằng đời trước,
đời sau khổ hơn đời trước. V́ sao
biết? Chúng ta cũng chẳng cần nghĩ đến
đời quá khứ, cũng chẳng cần suy xét đời
vị lai, mà hăy suy nghĩ một đời này, quư vị sẽ
hiểu ngay chân tướng sự thật ấy. Trong một
đời, chúng ta khởi tâm động niệm đăi
người tiếp vật là thiện nhiều hay ác nhiều?
Nếu trong một đời khởi lên nhiều ác niệm,
thấy lắm kẻ gai mắt, ít kẻ hợp nhăn, thiện
niệm ít, đương nhiên quả báo đời sau sẽ
là ác nhiều hơn thiện, khổ nhiều hơn vui, nhất
định là như vậy! Hiện tại tạo tác cái
nhân ra sao, đời sau sẽ mắc quả báo như thế
ấy. Chúng ta từ vô lượng kiếp măi cho đến
nay, đời sau kém đời trước, chất chồng
lại! Chúng ta cảm thấy đời này khổ sở,
nếu chẳng thoát luân hồi, đời sau c̣n khổ
hơn đời này, chỉ có một bề khổ sở
hơn! Tuyệt đối chẳng có chuyện khổ măi,
đến cuối cùng sẽ được vui sướng,
không có chuyện ấy đâu nhé! Sung sướng đến
tột bậc sẽ biến thành đau thương,
nhưng đau thương tột bậc chẳng sanh ra
vui sướng, phải hiểu đạo lư này! V́ thế,
chẳng thoát luân hồi, đúng là không thể [chịu đựng]
được!
(Diễn) Khích giả, khích lệ.
(演) 激者,激勵。
(Diễn: “Khích” là khích lệ).
Kích thích, phát khởi chúng ta.
(Diễn) Linh nhân khởi yếm.
(演) 令人起厭。
(Diễn: Khiến cho con người sanh ḷng chán
ngán).
Biết thế giới này
đáng sợ. Nỗi sợ hăi trong thế giới chẳng
phải là v́ hoàn cảnh hiện thời đáng sợ, mà
là sanh tử đáng sợ. Đấy là nỗi sợ hăi “hễ
luân hồi trong thế gian này th́ đời sau tệ
hơn đời trước!”
(Diễn) Dương giả, cổ
dương, linh nhân khởi hăn.
(演) 揚者,鼓揚,令人起忻。
(Diễn:
Dương là cổ vũ, tán dương, khiến cho con
người dấy ḷng hớn hở).
[Chữ “dương”] mang ư nghĩa cổ vũ, khích lệ.
(Diễn) Trầm mê tự tánh giả,
mê giả, hôn mê, trầm giả, mê chi cực dă. Tự tánh,
tức chú trung b́nh đẳng pháp môn.
(演) 沈迷自性者,迷者,昏迷;沈者,迷之極也。自性,
即註中平等法門。
(Diễn: “Trầm mê tự
tánh”: “Mê” là hôn mê, “trầm” là mê đến tột cùng. Tự
tánh chính là pháp môn b́nh đẳng được nhắc tới
trong lời chú giải).
Quư vị phải hiểu: Tâm
b́nh đẳng là tự tánh. Hễ là người tu học
Đại Thừa th́ đều phải phát Bồ Đề
tâm. Theo như Đại Thừa Khởi Tín Luận đă
nói, Bồ Đề tâm thứ nhất là trực tâm.
Đây chính là bản thể của Bồ Đề tâm.
Thâm tâm và đại bi tâm đều là tác dụng của Bồ
Đề tâm. Có Thể, có Dụng. Thông thường, đối
với những danh từ này, chúng ta xem xong [cảm thấy]
rất khó thấu hiểu! Do vậy, trong các buổi giảng,
chúng tôi thường nói phương tiện, dùng cách nói hiện
thời để nói th́ trực tâm là ǵ? Chính là tâm b́nh đẳng.
Tâm b́nh đẳng là trực tâm. Thâm tâm là ǵ? Tâm thanh tịnh
là thâm tâm. Đại bi tâm là tâm từ bi. Có thể đồng
cảm với hết thảy chúng sanh, thương xót hết
thảy chúng sanh, đó là đại bi tâm. V́ thế, đại
bi tâm là tha thụ dụng của b́nh đẳng tâm, dùng
để đăi người tiếp vật; c̣n tâm b́nh
đẳng để chính ḿnh hưởng thụ thanh tịnh,
nhất tâm bất loạn. Do vậy, tâm b́nh đẳng là
Thể.
Trong hết thảy cảnh giới,
chúng ta đều thấy là bất b́nh đẳng. Tâm bất
b́nh là vọng tâm. Bất b́nh đẳng chính là tâm phàm phu.
Tâm b́nh đẳng là tâm Phật. Chúng ta đă học Phật,
phải tu cái tâm b́nh đẳng trong hết thảy cảnh
giới bất b́nh đẳng. Tu hành th́ quư vị tu cái hạnh
ǵ? Trong tâm hạnh của chúng ta có những lầm lạc
th́ phải sửa đổi, đó gọi là tu hành. Tâm vốn
là b́nh đẳng, nay nó bất b́nh đẳng th́ bất
b́nh đẳng là sai lầm. Nếu có thể hồi quang
phản chiếu để khôi phục sự b́nh đẳng,
đó gọi là “chân tu hành”. Dốc sức nơi nội
tâm, đó là chân tu, tu b́nh đẳng nơi chỗ hết sức
bất b́nh đẳng. V́ thế, tu học Phật pháp phải
thực hiện từ nơi đâu? Nơi oán thân b́nh đẳng.
Oán thân là một điều vô cùng bất b́nh đẳng,
tu b́nh đẳng ở ngay nơi bất b́nh đẳng nhất.
Đó là một phương pháp tốt đẹp!
“Trầm
mê tự tánh”: Hiện thời mê mất cái vốn sẵn
b́nh đẳng, biến thành bất b́nh đẳng; trong hết
thảy các pháp, sanh tâm cao hạ, khởi tâm động niệm
phân biệt, chấp trước, đấy là trầm
luân, mê muội đến tột cùng. V́ lẽ nào bị mê
mất? Ở đây cũng có mấy câu giảng giải rơ
ràng:
(Diễn) Do tối sơ nhất
niệm vô minh, sanh khởi lục thô, tam tế, toại tánh
tâm thất chân, điên đảo hành sự, luân hồi thị
trung, tự thủ lưu chuyển dă.
(演) 由最初一念無明,生起六粗三細。遂性心失真,顛倒行事,輪迴是中,自取流轉也。
(Diễn: Do một
niệm vô minh lúc thoạt đầu mà sanh khởi sáu
tướng thô, ba tướng tế, cho nên tánh tâm mất
đi sự chân thật, làm việc điên đảo, luân
hồi ở trong ấy, tự ḿnh giữ lấy sự
lưu chuyển).
Luân hồi sanh tử trong lục
đạo do chính ḿnh tạo ra, do chính ḿnh tạo tác, chính
ḿnh chịu khổ ở trong ấy. Tự làm, tự chịu.
Đây là nói về cảnh giới hiện tiền của
chúng ta và chân tướng của cuộc sống trong hiện
tại.
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
giảng cho chúng ta bộ kinh này, chỉ dạy chúng ta:
(Diễn) Thị khổ lạc
lưỡng độ giả, vị Lạc Bang chi dữ
khổ vực.
(演) 示苦樂兩土者,謂樂邦之與苦域。
(Diễn: “Chỉ
bày hai cơi khổ vui”: Nói tới Lạc Bang và cơi khổ sở).
Chữ “Lạc Bang” chỉ Tây Phương Cực Lạc
thế giới; chữ “khổ
vực” chỉ thế giới Sa Bà hiện tiền của
chúng ta.
(Diễn) Kim bảo chi dữ nê
sa.
(演) 金寶之與泥沙。
(Diễn: Vàng, chất báu và bùn, cát).
Nói về hoàn
cảnh. Tây Phương Cực Lạc thế giới là bảy
báu, c̣n đất ở cơi này là bùn, đất, cát, đá,
chẳng thể sánh bằng. Đường sá của chúng
ta trải nhựa đường, c̣n đường của
người ta lát bằng vàng ṛng. Thật sự nghĩ
đến điều này, những thứ châu báu hoàng kim của
quư vị sẽ đều bỏ hết, v́ sao? Đến
thế giới Cực Lạc, khó thể chấp nhận! Đó
là những thứ người ta dùng để lót
đường, quư vị quấn lên cổ mang sang đó sẽ
cảm thấy rất khó coi. Những thứ đó người ta dùng làm vật liệu
xây dựng, là miếng gạch, ḥn ngói, quư vị giắt
đầy trên thân, rất khó coi! Câu này nhằm nói hai thế
giới khác nhau, sự thụ dụng về mặt vật
chất khác nhau.
(Diễn) Thai ngục chi vọng
hoa tŕ.
(演) 胎獄之望華池。
(Diễn: Trong thai ngục ngóng về ao hoa).
Đây là nói về chỗ để
sanh ra. Đầu thai vào thế giới này, mẹ mang thai
mười tháng. Ở trong bào thai như trong địa ngục,
khổ chẳng thể nói nổi! Chỗ để sanh về
trong Tây Phương Cực Lạc thế giới là hoa sen
trong ao bảy báu, làm sao có thể sánh bằng được?
(Diễn) Cức lâm chi tỷ quỳnh
thụ.
(演) 棘林之比瓊樹。
(Diễn: So sánh rừng gai góc
với cây quỳnh).
“Cức
lâm”: Cức (棘) là “kinh cức” (荊棘:gai góc), [“cức lâm”] là rừng cây có gai. “Cức lâm” là nói về thế giới này của
chúng ta. Chúng ta đi vào rừng cây ấy, chỗ nào cũng
đều có thể gặp nguy hiểm. Bảy hàng cây trong
Tây Phương Cực Lạc thế giới đều do
bảy báu hợp thành, tuyệt đối an toàn; điều
này cũng chẳng thể sánh bằng.
(Diễn) Thành do tâm phân cấu tịnh,
kiến lưỡng độ chi thăng trầm dă.
(演) 誠由心分垢淨,見兩土之升沈也。
(Diễn: Thật sự
là do tâm chia ra nhơ và sạch, nên thấy có sự thăng
trầm nơi hai cơi).
V́ sao thế giới này khác hẳn?
Thưa quư vị, cảnh chuyển theo tâm đấy! Do vậy,
kinh Hoa Nghiêm mới dạy chúng ta: “T́nh dữ vô t́nh, đồng viên Chủng Trí” (Hữu
t́nh và vô t́nh cùng viên thành Nhất Thiết Chủng Trí). Chẳng
phải là cảnh giới chuyển tâm, mà là tâm chuyển cảnh
giới! Nếu quư vị thật sự biết “tâm chuyển cảnh giới”
th́ c̣n có Phong Thủy hay chăng? Hiện thời chúng ta nói
đến Địa Lư, Phong Thủy, có đấy! Từ
đâu mà có? Do cái tâm biến hiện ra. Tâm chuyển Phong Thủy,
chứ không phải là Phong Thủy có thể chuyển biến
chúng ta. Phong Thủy chuyển chúng ta th́ chúng ta đáng
thương quá! Vật do chính ḿnh biến hiện, mà kết
quả chính ḿnh lại bị nó trói buộc, giống
như con tằm kéo kén để tự nhốt ḿnh trong ấy,
c̣n có ǵ ngu si hơn nữa? Thật sự hiểu rơ đạo
lư này, c̣n có Phong Thủy hay không? Có! Quả thật có!
Nhưng chúng ta có cần phải kiếm [một nơi] có
Phong Thủy và Địa Lư tốt đẹp hay chăng?
Không cần thiết! Tu từ cái tâm của quư vị! Tâm
quư vị tốt đẹp, quư vị đi đến chỗ
nào, Phong Thủy sẽ chuyển theo tâm quư vị. Quư vị
đến ngồi nơi chỗ Phong Thủy xấu, hai
ngày sau nó sẽ chuyển biến thành tốt đẹp! Nếu
tâm quư vị không tốt, t́m một chỗ Phong Thủy tốt,
quư vị ở đó chưa đầy hai ngày nó đă chuyển
thành xấu. Phong Thủy chuyển theo tâm của quư vị
mà!
Đại hoàn cảnh do cộng
nghiệp của chúng sanh cảm thành. Trong đại hoàn cảnh,
tâm địa của đại đa số con người
trong thế giới này không thanh tịnh, đều là phàm
phu, cho nên mới có cơi khổ, bùn, cát, rừng gai. Tâm địa
của con người nơi Tây Phương Cực Lạc
thế giới thanh tịnh, chẳng có tham, sân, si! Tâm địa
ai nấy đều thiện lương, v́ ai nấy đều
phát Bồ Đề tâm. Chẳng phát Bồ Đề tâm, sẽ
chẳng thể văng sanh thế giới Tây Phương. Thế
giới Tây Phương là Đại Thừa Phật pháp,
nhất định phải phát Bồ Đề tâm [mới
có thể văng sanh]. V́ lẽ đó, người trong thế
giới Tây Phương ai nấy đều thanh tịnh,
chân thành, từ bi; bởi vậy, hoàn cảnh vật chất
do cộng nghiệp cảm thành cũng hết sức thù thắng.
Đấy là do tâm phân cấu - tịnh mà hai thế giới
khác nhau.
(Diễn) Khai Chiết - Nhiếp
nhị môn giả.
(演) 開折攝二門者。
(Diễn: “Mở hai môn Chiết và Nhiếp” là...)
“Khai”
là khai khải (開啟: mở ra,
khơi gợi), đức Phật khai thị cho chúng ta.
(Diễn) Chúng sanh đam luyến
Sa Bà, Phật tắc cực ngôn Sa Bà chi khổ dĩ chiết
phục chi.
(演) 眾生耽戀娑婆,佛則極言娑婆之苦以折伏之。
(Diễn: Chúng sanh
say đắm, quyến luyến Sa Bà, đức Phật bèn
cực lực nêu ra nỗi khổ trong Sa Bà để chiết
phục).
Chúng sanh đang khổ mà chẳng
biết khổ, vẫn chẳng nỡ ĺa, vẫn lưu
luyến, vẫn không buông xuống được! Khổ
như vậy mà họ trọn chẳng buông xuống, c̣n có
cách nào nữa đây? Do vậy, đức Phật chẳng
thể không đem từng nỗi khổ nói cho họ nghe,
ḥng khiến họ giác ngộ!
(Diễn) Chúng sanh vơng tri Tịnh
Độ.
(演) 眾生罔知淨土
(Diễn: Chúng sanh chẳng biết
Tịnh Độ).
“Vơng”
là không hay biết, chẳng biết Tây Phương có Cực
Lạc Tịnh Độ; v́ thế, đức Phật giới
thiệu cho chúng ta.
(Diễn) Phật tắc cực
ngôn Tịnh Độ chi lạc dĩ nhiếp thọ chi.
(演) 佛則極言淨土之樂以攝受之。
(Diễn: Đức
Phật bèn cực lực giảng về niềm vui nơi
cơi Tịnh Độ để nhiếp thọ họ).
Chuyện này chỉ nên tin tưởng
vào Thánh Ngôn Lượng của Phật. Dựa vào đâu mà
ta có thể tin tưởng Phật? Dựa vào sự kiện
đức Phật chẳng vọng ngữ. Vọng ngữ
là đại giới của chư Phật, chắc chắn
Phật chẳng lừa dối chúng ta. Đức Phật
nói câu nào cũng đều chân thật, giống như kinh
Kim Cang có nói: “Phật thị
chân ngữ giả” (Đức Phật là bậc nói lời
chân thật), “chân” là chẳng
giả; “thật ngữ giả”, “thật” là chẳng hư dối;
“như ngữ giả”, “như” là nhất định
giống hệt với sự việc, không tăng, không giảm,
nói đúng sự việc, sự việc đúng như lời
nói; “bất vọng ngữ giả,
bất cuống ngữ giả” (là bậc chẳng nói láo,
chẳng nói gạt gẫm). Chúng ta phải tin tưởng.
Không tin lời Phật th́ thật sự là ngu si! Chúng ta hăy
suy nghĩ thêm, đức Phật chẳng thể lừa dối
chúng ta. Phàm là kẻ dối gạt người khác, hắn
nhất định có mong cầu, nhất định có mục
đích, đức Phật cầu mong điều ǵ nơi
chúng ta? Đức Phật mong chúng ta cúng dường, mong
chúng ta lạy lục Ngài ư? Không có đạo lư ấy! Ngài
chẳng mong cầu ǵ hết! Đức Phật chẳng
mong cầu điều ǵ nơi chúng ta, nên chẳng có lư do
ǵ để lừa gạt chúng ta! V́ thế, Ngài nói ra câu
nào cũng tốt lành cho chúng ta, nói toàn lời chân thật.
(Diễn) Thị ư niệm Phật
nhất pháp, cụ Chiết Nhiếp nhị môn dă.
(演) 是於念佛一法,具折攝二門也。
(Diễn: Trong một
pháp niệm Phật có đủ cả hai môn Chiết và Nhiếp).
Nói về pháp môn Niệm Phật
th́ Chiết là muốn cho chúng ta cảnh giác, ĺa khỏi chuyện
khổ tột bậc này. “Nhiếp”
(攝) là nhiếp thọ, làm cho chúng ta
hâm mộ cầu sanh về thế giới Cực Lạc.
Câu này nhằm giải thích câu “viên
khai Chiết Nhiếp nhị môn, khích chi, dương chi”
(bèn mở hai môn Chiết và Nhiếp để khích động,
cổ vũ) [trong lời Sớ], mong mỏi chúng ta sẽ
ưa thích Cực Lạc, chán ngán Sa Bà.
“Thắng
tâm kư phát” (tâm thù thắng đă phát), “thắng” là thù thắng. “Thắng tâm” là ǵ?
(Diễn) Thắng tâm, vị
dũng mănh tâm, tinh tấn tâm.
(演) 勝心,謂勇猛心、精進心。
(Diễn: Tâm thù thắng
là tâm dũng mănh, tâm tinh tấn).
Đấy là “thắng tâm”.
(Diễn) Tịnh nghiệp sở
dĩ bất đắc thành tựu, giai do du du dương
dương, tâm bất mănh lợi nhĩ.
(演) 淨業所以不得成就,皆由悠悠揚揚,心不猛利耳。
(Diễn: Sở
dĩ Tịnh nghiệp chẳng thành tựu đều là v́
cái tâm lần chần, do dự, chẳng mạnh mẽ, quả
quyết vậy).
Nguyên nhân là ở chỗ này. V́
sao chẳng thể thành tựu? Nay chúng ta nói là hờ hững,
thờ ơ. Như vậy là không được rồi!
Chẳng thể thành công, nhất định phải sốt
sắng. Khi Thích Ca Mâu Ni thị hiện thành đạo
dưới cội Bồ Đề, Ngài cũng hạ quyết
tâm: Chẳng chứng Bồ Đề, sẽ chẳng bằng
ḷng đứng lên. Ngồi dưới gốc cây, nguyện
thà chịu chết cũng chẳng đứng dậy! Ngài
có quyết tâm như thế, nên mới thành công. Xưa kia
có nhiều vị đại đức phát tâm niệm Phật,
đóng cửa nhất tâm niệm A Di Đà Phật, chẳng
thành công sẽ không mở cửa. Nghị lực quyết
tâm như thế mới có thành tựu. Từ Tịnh Độ
Thánh Hiền Lục và Văng Sanh Truyện, chúng ta thấy rất
nhiều [trường hợp như vậy], thông thường
là bao nhiêu ngày? Quá nửa là bảy ngày thành công. Ngày nay chúng
ta không có quyết tâm ấy!
“Tấn”,
phải tinh tấn. “Tinh” là
chẳng có mảy may xen tạp, tức là phải thật
sự buông xuống vạn duyên. Chẳng những hết
thảy pháp thế gian phải buông xuống, chẳng có mảy
may vướng mắc nào, mà Phật pháp cũng phải
buông xuống! Ngàn kinh vạn luận, vô lượng pháp môn
thảy đều buông xuống, một câu A Di Đà Phật
niệm đến tột cùng, như vậy th́ mới có
thể thành công.
(Diễn) Quả năng nhất
nhật dụng lực, phát đại dũng mănh, phát
đại tinh tấn, công phu vô bất thành tựu.
(演) 果能一日用力,發大勇猛,發大精進,工夫無不成就。
(Diễn: Nếu có
thể dùng sức trong một ngày, phát đại dũng
mănh, phát đại tinh tấn, không ai chẳng thành tựu
công phu).
Tương lai, khi giảng
đến phần kinh văn “nhất
tâm bất loạn” sẽ có một đoạn
chú giải rất dài để thảo luận vấn
đề này. Người lợi căn một ngày bèn thành
công, kẻ tội chướng oan nghiệt dẫu nặng
đến đâu đi nữa, kẻ Ngũ Nghịch, Thập
Ác, bảy ngày cũng có thể thành công. V́ thế, kinh
đă định kỳ hạn cho chúng ta “hoặc một ngày, cho đến
bảy ngày”, bảy ngày là tội nặng nhất, tức
Ngũ Nghịch, Thập Ác. Theo Đại Trí Độ Luận
đă dẫn trong phần trước, quư vị tạo tội
nghiệp, tu các pháp môn khác trải qua vô lượng kiếp,
tội vẫn chưa diệt hết, nhưng pháp môn này trong
bảy ngày có thể diệt tội, được văng sanh.
Sách Tây Quy Trực Chỉ trong bộ An Sĩ Toàn Thư
đă nêu ra rất nhiều trường hợp. T́nh h́nh cổ
nhân niệm Phật văng sanh có nhiều vị biết chính
ḿnh tội lỗi oan nghiệt sâu nặng, đóng cửa, giống
như “dũng mănh, tinh tấn”
đang được nhắc tới ở nơi đây.
Niệm dăm ba ngày liền cảm được A Di
Đà Phật hiện đến, tự tại văng sanh. Do
vậy, niệm Phật phải tuân theo cách niệm như
vậy.
(Diễn) Cố vân thắng tâm kư
phát, Tịnh nghiệp tư thành.
(Diễn: Cho nên nói:
“Tâm thù thắng đă phát, Tịnh nghiệp nhờ đấy
mà thành”).
Tâm này thù thắng nhất! “Tịnh nghiệp tư thành”
văng sanh Tịnh Độ, quư vị đă thành công, đă gặp
A Di Đà Phật. Sự thù thắng sau khi đă văng sanh
càng chẳng cần phải nói nữa. Chúng ta phải nhớ
kỹ! V́ thế, làm chuyện khác, tốn hao tinh thần,
thời gian như thế, nói thật ra là lăng phí, đáng tiếc
quá! V́ sao chẳng chuyên tu pháp môn Niệm Phật? Hôm nay chúng
tôi giảng đến chỗ này.
Tập
56
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản trang bảy mươi tư:
(Sớ) Nhược cứ b́nh
đẳng pháp môn, phi cấu, phi tịnh, tắc hân yếm
vô địa, Chiết Nhiếp hà thi? Đản kim sanh tử
phàm phu, mê tâm trục cảnh, bị lịch luân hồi,
đầu xuất, đầu một, cam tâm nhẫn thọ,
tằng vô nhất niệm tỉnh phát phấn lệ, cầu
nguyện xuất ly, nhi phục giá kỳ hân yếm, dục
linh trực ngộ tự tâm, thị do điền oa, tỉnh
phụ, bất dữ chi thủy, nhi phản trách dĩ xung
tiêu, chỉ ích trầm luân, ư sự hà tế?
(疏) 若據平等法門,非垢非淨,則欣厭無地,折攝何施。但今生死凡夫,迷心逐境,備歷輪迴,頭出頭沒,甘心忍受,曾無一念省發奮勵,求願出離,而復遮其欣厭,欲令直悟自心,是猶田蛙井鮒,不與之水,而反責以沖霄,祇益沈淪,於事何濟。
(Sớ: Nếu dựa
trên pháp môn b́nh đẳng chẳng cấu, chẳng tịnh
th́ ưa thích và chán nhàm chẳng c̣n chỗ tồn tại,
hai môn Chiết và Nhiếp thi thố vào đâu? Chỉ v́ hàng
phàm phu sanh tử hiện thời, mê tâm đuổi theo cảnh,
trải đủ mọi nỗi luân hồi, thoạt ra,
thoạt vào, cam tâm chịu đựng, chưa hề có một
niệm phản tỉnh, phát tâm dũng mănh, cầu nguyện
thoát ĺa. Thế nhưng lại ngăn lấp cái tâm ưa -
chán [của họ], mà cứ muốn làm cho họ ngộ trực
tiếp cái tâm th́ sẽ giống như chẳng ban nước
cho con ếch ngoài đồng hay con cá diếc dưới
giếng, lại ngược ngạo trách chúng chẳng thể
tung ḿnh vọt lên tận trời thẳm. [Hóa độ kiểu
đó] chỉ càng [làm cho kẻ phàm phu sanh tử] tăng thêm
trầm luân, có ích ǵ đâu?)
Đây là phần giải thích
cho nhân duyên thứ ba trong phần trước. Phật pháp
là pháp b́nh đẳng, nhưng trong pháp b́nh đẳng,
đức Phật v́ chúng ta mà phương tiện nói ra rất
nhiều pháp môn bất b́nh đẳng. Nói “bất b́nh đẳng”
là v́ trong con mắt thịt của lũ phàm phu chúng ta thấy
dường như [những pháp môn ấy] bất b́nh đẳng,
chứ thật ra, chúng là b́nh đẳng. V́ sao? Chúng
được kiến lập trên tánh b́nh đẳng.
Đoạn Sớ này đă giảng rất rơ v́ sao chúng ta
thấy [những pháp môn ấy] bất b́nh đẳng? V́
tâm chúng ta chẳng thanh tịnh. Chúng ta dùng tri kiến phàm
phu để nh́n Phật th́ Phật cũng là phàm phu, mắt
Phật nh́n chúng sanh, thấy phàm phu đều là chư Phật.
T́nh h́nh khác biệt phát sanh từ chỗ này! Do vậy, nói
chân thật th́ [mọi pháp đều] b́nh đẳng.
Trong pháp b́nh đẳng chẳng
có cấu hay tịnh. Nếu nói thế giới Sa Bà là một
thế giới cấu uế, thế giới Cực Lạc
là thế giới thanh tịnh, đó là nói phương tiện.
C̣n nói chân thật, sẽ chẳng có [cấu uế hay thanh
tịnh], chắc chắn không có t́nh h́nh ấy. Chẳng những
không nói đến nhiễm, ngay cả tịnh cũng chẳng
có. V́ sao? [Biện định là] nhiễm hay tịnh tức
là đă lập ra tương đối. Không có nhiễm, lẽ
đâu có tịnh? Không có tịnh,
đương nhiên cũng chẳng có nhiễm! Những
điều này hoàn toàn là những hiện tượng do tâm
địa của chính ḿnh mê hay ngộ mà sanh ra. Giác ngộ
rồi th́ phảng phất là hết thảy thanh tịnh[5].
Khi nhiễm ô, dường như hết thảy đều
dơ xấu! Đấy đều là huyễn tướng
sanh từ kiến giải lầm lạc của chúng sanh,
chẳng phải là chân tướng. Chân tướng là
tướng b́nh đẳng.
Từ
kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy cảnh giới của Phật
và các đại Bồ Tát là Nhất Chân pháp giới, đấy
là thật, c̣n mười pháp giới chẳng chân thật.
Mười pháp giới đều là nói phương tiện.
Đừng nói lục đạo phàm phu, ngay cả Phật
[pháp giới trong mười pháp giới] cũng là nói
phương tiện. V́ sao? Trong Nhất Chân pháp giới, chẳng
có Phật mà cũng chẳng có chúng sanh. Quư vị phải
hiểu rơ ư nghĩa này, v́ đối với chúng sanh mới
nói Phật, đối với Phật mới nói có chúng
sanh. Không có chúng sanh, sẽ chẳng có Phật. Không có Phật,
cũng chẳng có chúng sanh. Trong Đàn Kinh, Lục Tổ
đă diễn tả ư nghĩa này như sau: “Vốn chẳng có một vật”.
Trong tâm thanh tịnh chẳng có một vật nào; đó mới
gọi là thật sự thanh tịnh. Nếu cảm thấy
ta rất thanh tịnh, thôi rồi! Trong cái tâm thanh tịnh
có thêm một sự thanh tịnh, sự thanh tịnh ấy
chính là “có vật”; sự
thanh tịnh ấy chẳng phải là thanh tịnh nữa.
Vật ấy là ǵ vậy? Vô minh đấy!
Kinh Lăng Nghiêm nói rất hay: “Tri kiến lập tri, thị vô
minh bổn” (từ trên tri kiến lập thêm một cái
biết, đó là cội gốc của vô minh). Trong hội
Lăng Nghiêm, tôn giả Phú Lâu Na thỉnh giáo Thích Ca Mâu Ni: “Vô
minh v́ sao mà có? Vô minh sanh ra khi nào?” Trong kinh Phật cũng
thường nói “vô thỉ vô
minh”. Lời nói này hết sức có ư vị, “vô thỉ” là không có mở
đầu. V́ không có mở đầu, nên vô minh là hư vọng,
chẳng chân thật. Nếu thật sự có mở đầu,
chuyện ấy sẽ phiền phức, chẳng dễ ǵ
đoạn được; bởi lẽ, mê không có khởi
đầu, ngộ là vốn có, c̣n mê chẳng có mở
đầu. Nói cách khác, mê hoàn toàn là hư vọng.
Pháp b́nh đẳng là thật,
thuần chân, chẳng vọng. Nếu chúng ta hỏi pháp
b́nh đẳng ở chỗ nào? Tôi thưa cùng quư vị: Nếu
trong cảnh giới, quư vị sử dụng chân tâm, chẳng
dùng vọng tâm th́ cảnh giới hiện tiền là pháp
b́nh đẳng. Vọng tâm là ǵ? Vọng tâm là tâm sanh diệt.
Cái tâm hiện thời của chúng ta là “ư niệm này khởi
lên, ư niệm kia diệt mất”. Ư niệm sanh diệt gọi
là “sanh diệt tâm”. Tâm sanh diệt là hư vọng, chúng ta lập
tức có thể thấu hiểu [điều này]. Ví như
nay chúng ta thấy sắc, nghe tiếng, chẳng dùng cái tâm
sanh diệt có được hay chăng? Chẳng dùng cái
tâm sanh diệt th́ chúng ta có thấy cảnh giới bên ngoài
rơ ràng hay chăng? Nghe có rơ ràng hay chăng? Thứ ǵ cũng
thấy rơ ràng, nghe rơ ràng, tức là dùng chân tâm.
Chân tâm th́ ví như kinh Lăng
Nghiêm đă lấy Nhăn Căn trong sáu căn để làm tỷ
dụ, Nhăn Căn thấy sắc, tánh Thấy của Nhăn
Căn là chân tâm. Nơi mắt là tánh Thấy, nơi tai là
tánh Nghe; căn tánh của sáu căn là chân tâm. Dùng chân tâm th́
pháp giới b́nh đẳng. Dùng chân tâm, không có phân biệt,
không có chấp trước, chẳng khởi tâm, chẳng
động niệm. V́ thế, con mắt thấy sắc
tướng bên ngoài, ư niệm thứ nhất là chân tâm,
không dấy lên phân biệt, không động ư niệm,
đó là chân tâm. Đến ư niệm thứ hai, vọng tâm
dấy lên, nổi lên phân biệt, dấy lên chấp trước.
V́ thế, ư niệm thứ hai là mê. Ư niệm thứ nhất
chẳng mê, ư niệm thứ hai là mê, càng về sau mê càng
sâu. Hễ thấy [sắc tướng, hay sự t́nh] mà
hoan hỷ, tâm tham dấy lên; [c̣n như thấy sắc tướng
hay sự việc] chẳng ưa thích, tâm sân khuể nổi
lên. Một chuỗi những Tâm Sở tương ứng
liên đới sanh khởi! Vọng tâm đă là hư vọng
th́ những Tâm Sở liên đới càng hư vọng
hơn! Quư vị phải biết: Mừng, giận, buồn,
vui, thất t́nh, Ngũ Dục là những thứ hư vọng
nhất trong các thứ hư vọng, trong chân tâm của
chúng ta vốn không có những thứ này, vốn chẳng có
một vật mà!
Chư Phật, Bồ Tát khác với
chúng ta, các Ngài hoàn toàn dùng niệm thứ nhất, chẳng
dùng niệm thứ hai. Niệm thứ nhất gọi là nhất
tâm. Pháp môn này tu nhất tâm bất loạn, trực tiếp
tu nhất tâm. Chỗ thù thắng của pháp môn này là ở
chỗ này, không quanh quẹo ṿng vo. Nếu trong hết thảy
cảnh giới, sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần,
thời thời khắc khắc giữ vững niệm thứ
nhất, chẳng bao lâu quư vị sẽ làm Phật, sẽ thành
Phật. Chính v́ tập khí phiền năo từ vô thỉ kiếp
đến nay của chúng ta quá nặng, nên chẳng giữ
được niệm thứ nhất, vừa tiếp xúc,
niệm thứ hai bèn nhanh chóng nổi lên, lập tức mê
ngay, dấy lên phân biệt, chấp trước, khởi
tham, sân, si, mạn. Hiểu rơ đạo lư này, nó chẳng
phải thật, mà là vọng, lầm lẫn mong sao “vọng”
chẳng sanh, th́ nó càng khăng khăng sanh ra, chúng ta muốn
đoạn dứt cách nào, vẫn chẳng thể đoạn
dứt được! Phiền năo ở chỗ này, mà gốc
bệnh cũng ở chỗ này!
Pháp môn này dạy
chúng ta phương pháp niệm Phật, tức là hễ ư
niệm dấy lên, bất luận là ư niệm ǵ, thiện
niệm cũng thế, mà ác niệm cũng thế. Nói chung,
thiện hay ác đều chẳng phải là chánh niệm,
đều là những thứ thuộc về vô minh. Chánh niệm
là vô niệm; vô niệm th́ cảnh giới bên ngoài lại
càng rơ ràng, sống động, chứ không phải là lặng
lẽ, chết cứng. Dùng phương pháp nào? Dùng một
câu A Di Đà Phật để thay thế [ư niệm ấy].
Câu Phật hiệu ấy là niệm ǵ vậy? Vẫn là vọng
niệm. Trong tâm thanh tịnh đâu có A Di Đà Phật! Bởi
thế, một niệm [A Di Đà Phật] này vẫn là vọng
niệm; phương pháp [Niệm Phật] là dùng một vọng
niệm để thay thế hết thảy vọng niệm,
dùng một niệm dứt hết thảy vọng niệm,
sử dụng phương pháp này!
Ngoài việc thay thế hết
thảy vọng niệm ra, một câu A Di Đà Phật c̣n
có hai thứ công đức:
-
Công đức thứ nhất là nhắc nhở chính ḿnh hăy
chánh niệm, v́ Nam-mô A Di Đà Phật là tiếng Phạn,
dịch sang nghĩa tiếng Hán là “quy y Vô Lượng Giác”.
Nói cách khác, thường nhắc nhở chính ḿnh phải
giác, đừng mê! Giác tâm bất động, giác tâm là thanh
tịnh; mê mới vọng động. V́ thế, niệm một
câu Phật hiệu này ḥng nhắc nhở chính ḿnh, tâm chúng
ta làm sao c̣n động nữa?
-
Công đức thứ hai là ở Tây Phương Cực Lạc
thế giới quả thật có một vị Phật,
danh hiệu của Ngài là A Di Đà Phật. Theo như kinh
nói, trong khi tu nhân, Ngài đă từng phát nguyện, kiến lập
một đạo tràng tu hành như thế đó trong thế
giới ấy, hoan nghênh các đồng tu niệm Phật
trong mười phương đều đến nơi
đó tấn tu. Ngài có lời nguyện như thế. Hơn
nữa, đạo tràng ấy đă kiến lập xong, là
thật, chẳng phải giả. V́ thế, chúng ta niệm
Phật hiệu của Ngài sẽ có duyên với Ngài; đấy
là như chúng tôi đă nói: Văng sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới là tham dự cộng tu trong đạo tràng ấy.
Trong kinh điển, Thích Ca Mâu
Ni Phật đă nói đến sự trang nghiêm thù thắng
nơi đạo tràng ấy và t́nh h́nh tu tập trong bao kiếp
của A Di Đà Phật khi Ngài c̣n đang tu nhân, đều
nói rất rơ ràng, minh bạch. Nếu chúng ta thật sự
liễu giải, không những là đối với Tây
Phương Cực Lạc thế giới tin sâu chẳng
ngờ, mà sau đó, chính ḿnh quả thật cũng nắm
chắc và có tín tâm đối với sự tu hành. Tu học
như vậy mới thật sự đạt đến
“ĺa khổ, được vui”, thật sự đạt
đến pháp hỷ sung măn. Nỗi vui sướng ấy
sanh từ cái tâm thanh tịnh, chứ không phải do Ngũ
Dục Lục Trần bên ngoài kích thích. Do vậy, pháp môn này
là pháp trực tiếp để cầu b́nh đẳng, trực
tiếp tu Nhất Chân pháp giới. V́ thế, Nhất Chân
pháp giới và mười pháp giới đồng thời tồn
tại.
Thật ra, pháp giới chẳng
có chân hay vọng. Chân hay vọng là do chính cái tâm của chúng
ta biến hiện. Chúng ta dùng chân tâm để nh́n thế
giới này, thế giới này sẽ là chân thật, là Nhất
Chân pháp giới, là pháp giới b́nh đẳng. Trong ấy
không có tịnh hay uế, tất cả hết thảy
tương đối, cao, thấp, thảy đều chẳng
tồn tại. Đó gọi là “b́nh
đẳng chân pháp giới”. Chúng ta vừa dấy lên một
niệm, chân pháp giới (Nhất Chân pháp giới) ngay lập
tức biến thành các thứ pháp giới chẳng b́nh
đẳng. Đức Phật nói lời chân thật: “Cảnh chuyển theo tâm”, chứ
không phải là tâm chúng ta chuyển theo cảnh! Chúng ta dùng
chân tâm sẽ thấy chân pháp giới; dùng vọng tâm sẽ
thấy tứ thánh lục phàm; nhưng Nhất Chân pháp giới
vĩnh viễn không biến đổi, tứ thánh lục
phàm có thể biến, thuận theo cái tâm của chúng ta mà
thay đổi.
Nếu nói đến công phu tu
hành của chúng ta th́ Thiền gia nói “minh tâm kiến tánh”, tánh là ǵ? Tánh ở đâu? Tánh
có h́nh dạng ra sao? “Minh” là
chẳng mê. Minh và Vô Minh là tương đối kiến lập.
Cái tâm hiện thời của chúng ta là vô minh, do vô minh nên mới
sanh phiền năo, mới sanh ra các thứ chướng ngại,
mới biến hiện lục đạo luân hồi. Chúng
đều từ trong vô minh biến hiện ra! Nếu trừ
bỏ vô minh, sẽ minh, tức là minh tâm, trong tâm đă khử
sạch vô minh, tâm quư vị liền khôi phục sự sáng
suốt. Nói cách khác, giác chứ không mê bèn gọi là “minh tâm”. Hễ minh tâm sẽ kiến
tánh. Tánh là thuần chân, chẳng vọng. Tánh là ǵ? Không có một
thứ ǵ chẳng phải là tánh. Sáu căn, sáu trần, sáu
thức đều cùng là Pháp Tánh, đúng như cổ nhân
đă sánh ví: “Dùng vàng chế
đồ vật, món nào cũng là vàng”. Hễ quư vị
biết giá trị, mới biết tất cả những
món đồ vốn đều là vàng. Cổ nhân ví những
món đồ ấy như Tướng, tức những
tướng được hiện như sâm la vạn
tượng, nhân sinh, vũ trụ; vàng ví như Tánh. Tánh và
Tướng là một, không hai; bản thể của sâm la
vạn tượng trong tận hư không, trọn pháp giới
là Tánh. Tướng trạng của Tánh gọi là Tướng.
Do vậy, Tánh và Tướng chẳng hai, Lư và Sự hệt
như một, là một, không phải hai!
Nay chúng ta đang mê, tách rời Tánh
và Tướng, chấp vào Tướng. Chấp Tướng
chẳng thấy Tánh, căn bệnh ở chỗ này. Ví
như tôi hỏi quư vị, trong nhà quư vị có vàng hay không?
[Quư
vị đáp]: - Không có!
-
Thật sự là không có ư? Quư vị có ṿng đeo tay, có
nhẫn hay chăng?
-
Rất nhiều!
-
Rất nhiều ư? Vậy chúng chẳng phải là vàng
th́ là ǵ vậy? Chấp vào Tướng! Ṿng đeo tay, nhẫn,
đồ trang sức cài đầu rất nhiều,
nhưng không có vàng?
Phàm
phu chúng ta hiện thời mê hoặc đến mức
độ ấy, tách rời hiện tượng ra [khỏi
bản chất], đấy là mê hoặc, điên đảo!
Bởi vậy, cuộc sống của người kiến
tánh hết sức hoạt bát, hết sức tự tại,
cho nên gọi là giải thoát, gọi là tự tại! Họ
thật sự nhận biết chính ḿnh, tận hư không
trọn pháp giới là chính ḿnh. Đó là cảnh giới hết
sức kỳ diệu, chúng ta không có cách nào lư giải
được. V́ thế, trong kinh Phật thường
dùng tỷ dụ, mong chúng ta sẽ từ tỷ dụ mà thấu
hiểu, ngộ nhập.
Kinh Phật thường lấy
mộng làm tỷ dụ. Tỷ dụ mộng cảnh quả
thật đă ban cho chúng ta một sự khải thị rất
lớn v́ mỗi cá nhân chúng ta đều có kinh nghiệm nằm
mộng. Thời gian nằm mộng rất ngắn, cho nên
quư vị tỉnh giấc liền biết nó là giả, chẳng
thật. Nếu giấc mộng rất dài, quư vị sẽ
chẳng cảm thấy mộng là giả, nhất định
ngỡ nó là thật. Do thời gian rất ngắn, khi quư vị
tỉnh giấc, nhớ lại những
chuyện trong mộng, [biết đó] là giả, chẳng
thật. Thế nhưng quư vị có nghĩ thêm “giấc mộng
ấy do đâu mà có” hay không? Nếu quư vị suy nghĩ
đến nơi đến chốn, sẽ thấy giấc
mộng ấy từ trong tâm của chính ḿnh biến
hiện. Cái tâm biến hiện ấy giống như Tánh, cảnh
được biến hiện trong mộng chính là cái mà nay
ta gọi là “y báo và chánh báo trang
nghiêm, sâm la vạn tượng”. Núi, sông, đại
địa, hư không trong mộng, rất nhiều nhân vật
từ đâu mà có? Đều do tâm của quư vị biến
hiện.
Đă do tự tâm của quư vị
biến hiện th́ chúng ta phải hỏi: Có thứ nào trong
mộng cảnh của quư vị chẳng phải là chính
ḿnh? Trong mộng có chính quư vị, đúng là chính ḿnh không
sai! Ngoài chính ḿnh ra, tất cả những nhân vật khác có
phải là chính ḿnh hay không? Vẫn là chính ḿnh, do chính ḿnh biến
ra mà! Núi, sông, đại địa trong mộng do chính ḿnh
biến ra. Hư không trong mộng cũng do chính ḿnh biến
ra, không có thứ ǵ chẳng phải là chính ḿnh! V́ thế,
người thật sự minh tâm kiến tánh, thưa quư vị,
nhân sinh quan và vũ trụ quan của người ấy khác
hẳn chúng ta, v́ sao? Người ấy thật sự thấu
hiểu hết thảy các pháp trong tận hư không, trọn
pháp giới là do tự tánh của người ấy biến
hiện.
Khi Lục Tổ khai ngộ,
Ngài hướng về Ngũ Tổ nói ra cảnh giới
ngộ nhập của chính ḿnh. Ngài chỉ nói năm câu,
Ngũ Tổ liền ấn chứng, tức là Ngài nói về
công năng của tự tánh. Tự tánh là chân tâm, công
năng của chân tâm là: “Hà kỳ
tự tánh bổn lai thanh tịnh” (Nào ngờ tự tánh
vốn sẵn thanh tịnh) tương ứng với lời
Ngài đă nói [trước đó]: “Vốn chẳng có một vật, chỗ nào nhuốm
bụi trần?” [Chân tâm] vốn sẵn thanh tịnh, chẳng
do tu mà có. Vốn sẵn thanh tịnh, hiện thời là
thanh tịnh hay chẳng thanh tịnh? Vẫn là thanh tịnh,
quyết định chẳng nhơ! Nếu quư vị nói là
ô nhiễm th́ “ô nhiễm” là nói phương tiện, là giả,
chẳng thật. Giống như chúng ta nói: “Mây quá dầy
che lấp ánh mặt trời, hôm nay trời âm u!” Mây có thật
sự che lấp mặt trời hay chăng? Không có! Mây cách
mặt trời quá xa, mặt trời quá lớn, mây làm sao có
thể che lấp được? Đấy là nói
phương tiện. Mê là một hiện tượng tạm
thời, tự tánh quả thật chẳng mê, vốn sẵn
thanh tịnh.
Ngài lại nói: “Hà kỳ tự tánh, bổn lai cụ túc” (Nào ngờ
tự tánh vốn sẵn đầy đủ). Hết thảy
trí huệ, hết thảy đức năng, hết thảy
tài nghệ, chẳng phải do bên ngoài đưa tới, mà
tự tánh vốn sẵn có đủ, đó gọi là Tánh Đức,
chẳng phải là Tu Đức. “Hà kỳ tự tánh, bổn vô động dao” (Nào
ngờ tự tánh vốn chẳng lay động), ư
nghĩa này lại càng chẳng thể nghĩ bàn! Chúng ta nói
“có đến, có đi”; thật ra, chẳng đến, chẳng
đi! Không có đến - đi chính là như kinh Lăng
Nghiêm đă nói: “Đương
xứ xuất sanh, tùy xứ diệt tận”. Không có
đến - đi, đó là nói thật. Đến, đi là
do quư vị thấy lầm, do quư vị mê hoặc. Không có
đến, đi! Câu cuối lại càng hay hơn nữa: “Hà kỳ tự tánh, năng sanh vạn
pháp” (Nào ngờ tự tánh có thể sanh ra muôn pháp). Giống
như chúng ta nằm mộng, trong mộng biến ra các cảnh
giới nhiều dường ấy, nó có thể sanh, có thể
biến ra.
Do vậy, người giác ngộ
đối đăi hết thảy chúng sanh bằng cái tâm b́nh
đẳng, dùng cái tâm đại từ đại bi, v́
sao? Là v́ ta và người không hai, lợi người là lợi
chính ḿnh. Ta và người chẳng phải là hai người,
mà là một người, là vật được biến
hiện trong tự tánh. Do vậy, ḷng từ bi của Phật
được gọi là Đồng Thể Đại Bi,
nhất là kinh Hoa Nghiêm đă nói rơ ràng: “T́nh dữ vô t́nh, đồng viên Chủng Trí” (Hữu
t́nh và vô t́nh cùng viên thành Nhất Thiết Chủng Trí). Không
chỉ hữu t́nh chúng sanh có cùng một Thể, mà vô t́nh
chúng sanh vẫn là cùng một Thể. Từ cảnh trong mộng,
chúng ta có thể thấu hiểu chuyện này. Thức thứ
sáu, tức Ư Thức của chúng ta, khi nằm mộng
đă biến hiện mộng cảnh. Sau khi chân tâm của
chúng ta bị mê, nó biến hiện ra vũ trụ, tinh cầu,
vô lượng vô biên thế giới, hết thảy chúng
sanh, vốn chỉ là một chuyện như vậy đó
thôi!
Tự ḿnh biến hiện th́
chính ḿnh có thể hưởng dụng. Hễ giác ngộ
bèn có sự hưởng dụng thanh tịnh ấy. Nếu
mê hoặc, sẽ chịu đựng rất khổ. Ví
như địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh cũng do
chính ḿnh biến hiện, biến hiện để chịu
khổ trong đó! Đấy là sự thụ dụng do mê muội
đến cùng cực. Đối với Phật, Bồ
Tát, nhất là chúng ta thấy y báo và chánh báo trang nghiêm của
Tỳ Lô Giá Na Phật trong kinh Hoa Nghiêm, thấy các thứ
trang nghiêm trong Tây Phương Cực Lạc thế giới,
đó là sự thụ dụng giác ngộ. Hai thứ thụ
dụng khác nhau, nói “thụ dụng khác nhau” th́ vẫn là dựa
theo cái nh́n thuộc cảnh giới phàm phu chúng ta!
Người thật sự giác ngộ
sẽ thấy sự thụ dụng trong thiên đường
và địa ngục tự tại như nhau, v́ sao? V́
người ấy tự biết, tự ḿnh biết, cho
nên sự thụ dụng của người ấy là b́nh
đẳng, trong hết thảy cảnh giới chắc chắn
không có khổ, lạc, ưu, hỷ, xả. Người mê
hoặc mới có năm thứ cảm nhận ấy,
người giác ngộ sẽ không có. V́ thế, cảm nhận
của người giác ngộ gọi là Chánh Thọ, trong
kinh Phật gọi [sự cảm nhận của người
giác ngộ] là tam-muội. Tam-muội (Samādhi) là tiếng Phạn, dịch sang
nghĩa tiếng Hán là Chánh Thọ. Chánh Thọ là trong hết
thảy cảnh giới không có khổ, lạc, ưu, hỷ,
xả; sự cảm nhận ấy mới gọi là Chánh
Thọ; bởi lẽ, tâm người ấy là tâm thanh tịnh,
tâm b́nh đẳng. Đây là nói về pháp giới b́nh đẳng
và pháp môn b́nh đẳng.
Pháp b́nh đẳng nói với
ai? Phải nói với Pháp Thân đại sĩ. Họ đều
đă kiến tánh, nói với họ th́ họ mới có thể
thấu hiểu, v́ đó chính là cảnh giới của họ.
Hễ chưa minh tâm kiến tánh, chúng ta cũng chỉ là
nghe nói sao bèn biết như vậy mà thôi, rốt cuộc chẳng
phải là cảnh giới của bản thân chúng ta, không có
cách nào đạt đến được. Đây là lư do v́
sao kinh điển phải giảng về khổ, vui, phải
nói tới hai thế giới khác nhau, bảo chúng ta hăy nhàm
chán Sa Bà, ưa cầu Cực Lạc. Đủ thấy những
lời ấy hoàn toàn để nói với lũ phàm phu chúng
ta, chúng ta phải hiểu đó là đức Phật nói
phương tiện; nhưng cách nói phương tiện
này thật sự hữu ích đối với chúng ta, có
công đức chẳng thể nghĩ bàn. Trong pháp giới
b́nh đẳng, đương nhiên chán và ưa cũng chẳng
có, nhiễm và tịnh cũng chẳng có, há c̣n có Chiết
và Nhiếp nữa ư? Đương nhiên chẳng nói tới!
Vẫn là trước hết nói Chân, rồi mới kéo lui cảnh
giới lại, nói về cảnh giới hiện tiền
của chúng ta.
Hiện thời, chúng ta là phàm
phu sanh tử, tự ḿnh phải thừa nhận điều
này. Tuy sanh tử là hư vọng, chẳng chân thật,
nhưng chúng ta giống như đang nằm mộng, cảm
thấy nó rất thật, chẳng thấy được
nó là giả. Trong giấc mộng, bản thân quư vị
cũng chẳng biết ḿnh đang nằm mộng, trong mộng
có khổ, có vui, quư phải hứng chịu giống hệt.
Nếu trong khi đang nằm mộng mà hiểu là ta
đang nằm mộng, mộng là giả, trong mộng có thể
coi nó thoải mái là giấc mộng, quư vị sẽ rất
vui sướng, du hư trong mộng mà! Trong mộng có cọp
đến xơi quư vị, chẳng sao cả! Ta cho nó xơi,
phát tấm ḷng từ bi ấy, nhưng quư vị cũng bận
tâm. V́ sao? Quư vị biết tất cả đều chẳng
thật, cọp cũng chẳng phải là thật, là do mộng
biến hiện, chính ḿnh cũng là mộng cảnh biến
hiện, cho nên quư vị ưng chịu, chẳng bận
tâm. Quư vị chẳng biết là mộng cảnh, sẽ sanh
tâm hoảng sợ, sanh phiền năo. V́ thế, người
giác ngộ và người chưa giác ngộ khác nhau! Nay
chúng ta bất giác, chưa giác bèn có sanh, có tử, mà sanh tử
quả thật là vấn đề lớn nhất, nghiêm trọng
nhất, nên gọi là “sanh tử
đại sự”.
Mấy câu dưới đây nói
về căn nguyên sanh tử, “mê
tâm trục cảnh”, bốn chữ này là nguồn cội
của sanh tử. V́ sao có lục đạo luân hồi? Tổ
sư nói toạc ra cho chúng ta biết: Nếu tâm chúng ta chẳng
mê, chẳng đuổi theo cảnh giới bên ngoài, sẽ
chẳng có sanh tử!
(Diễn) Mê tâm trục cảnh giả,
bất tri tâm chi bổn không, tùng thỉ kịp chung, niệm
niệm sanh diệt, thị vị mê tâm.
(演) 迷心逐境者,不知心之本空,從始洎終,念念生滅,是謂迷心。
(Diễn: Mê tâm đuổi
theo cảnh, chẳng biết tâm vốn là không, từ đầu
đến cuối niệm niệm sanh diệt, đó là mê
tâm).
“Mê
tâm” là sanh diệt tâm.
(Diễn) Bất thức cảnh
chi bổn tịch.
(演) 不識境之本寂。
(Diễn: Chẳng biết cảnh vốn vắng
lặng).
“Cảnh”
là cảnh giới bên ngoài, “tịch”
nghĩa là rỗng không, bản thể của nó chính là
Không.
(Diễn) Tùy trục lục trần,
đối cảnh tạo nghiệp, thị vị trục
cảnh.
(演) 隨逐六塵,對境造業,是謂逐境。
(Diễn: Chạy
theo sáu trần, đối cảnh tạo nghiệp th́ gọi
là “đuổi theo cảnh”).
“Mê
tâm” là chẳng nhận biết chính ḿnh, chẳng liễu
giải chính ḿnh. “Trục cảnh”
là chẳng liễu giải cảnh giới bên ngoài. Trong lẫn
ngoài đều mê; do vậy mới có sanh tử luân hồi.
Sự giáo học của Phật pháp nhằm phá tan cả
hai cái ải mê muội này, [khiến cho] trong lẫn ngoài
đều giác. Tôi vừa mới nói lắm lời như vậy,
nhưng đều là nói về tâm. Tâm là thanh tịnh, trong
tâm chẳng có một vọng niệm nào. Trong chân tâm không có
vọng niệm. Thưa quư vị, bản thể của cảnh
giới là Không. Đây chẳng phải là nói “cảnh giới
tiêu mất mới là Không”. Chẳng phải vậy! Mà [là
nói] bản thể của nó chính là Không.
Nhưng hiện thời chúng ta
không có cách nào chứng thực tướng cảnh giới
chân thật này, v́ sao chẳng thể chứng thực? Tâm
chúng ta chẳng Không! V́ thế, quư vị thấy cảnh giới
dường như là chân thật, mà cũng chẳng Không. Khi
nào tâm của quư vị đă là Không, ngoại cảnh
cũng là Không. Tâm Không, cảnh Không, kinh Hoa Nghiêm nói đó là
“Sự Sự vô ngại”. Vách
tường ở đây chúng ta có thể xuyên qua hay
chăng? Đương nhiên có thể xuyên qua, v́ sao? Thân thể
của chúng ta là Không, bản thể của nó là Không. Bản
thể của tường cũng là Không. Không và Không chẳng
trở ngại lẫn nhau, thần thông có nguyên lư như vậy
đó. Nay chúng ta v́ sao không thể xuyên qua được?
Chúng ta ngỡ thân thể là thật, nghĩ vách tường
cũng là thật, chẳng xuyên qua được! Quả
thật là như thế!
Trong quá khứ, khi c̣n đang cầu
học, thầy dạy chúng tôi một phương pháp, bảo
tôi hăy thí nghiệm. Thầy nói: Khi anh nằm mộng, có lúc
nhận biết ḿnh đang nằm mộng. Nếu nhận
biết t́nh h́nh ấy, anh có thể làm thí nghiệm. Mộng
là giả, vách tường cũng là giả, thân ta cũng
là giả, đụng phải [tường vách] có xuyên qua
được hay chăng? Quả nhiên là vừa đụng
phải bèn xuyên qua được. V́ sao? V́ quư vị biết
nó là giả, giả và giả chẳng trở ngại lẫn
nhau. Hiện thời chúng ta không có cách nào quán thân thành Không,
quán thành Giả, mà cũng chẳng có cách nào quán vách tường
thành Không, hay Giả. V́ thế, hễ anh đụng phải
liền đụng đến vỡ đầu tuôn máu mà vẫn
chẳng xuyên qua được! Thật sự đạt
đến cảnh giới này, sẽ xuyên qua được.
V́ sao chúng ta không xuyên qua được? V́ quư vị có tâm,
có ư niệm. Hễ thật sự đạt đến vô
niệm th́ sẽ được. V́ thế, chuyện này chẳng
có ǵ là phi phàm, mà là một thứ năng lực vặt vănh!
Qua truyện kư, chúng ta thấy
lăo ḥa thượng Hư Vân có kinh nghiệm ấy, pháp
sư Viên Anh cũng có kinh nghiệm đó. Trong lời tựa
của bộ Lăng Nghiêm Kinh Giảng Kư, pháp sư Viên Anh
kể: Có một lần Ngài đang tịnh tọa trong liêu
pḥng, khóa cửa lại, chẳng cho người khác quấy
nhiễu. Ngồi một lúc, chợt nghĩ đến chuyện
ǵ đó bèn bước ra, nhưng Ngài hoàn toàn chẳng
nghĩ là cửa đă khóa, cứ đi ra, đi ra xong, chợt
nhớ lại, ta chưa mở cửa, nh́n lại th́ quả
nhiên cửa đă đóng, làm sao ta đi ra được?
Trong sát-na ấy, Ngài không có ư niệm ǵ, vô tâm, vô niệm, liền
đi qua được. Thật ra, hoàn toàn chẳng phải
là thần thông, Ngài không có năng lực ấy. Trong lúc vô
niệm, quên mất cái thân, mà cửa cũng quên luôn, cửa
đóng chặt chưa mở mà vẫn đi ra được.
Nếu Ngài có một niệm nghĩ đến cái thân,
nghĩ đến cái cửa, ắt Ngài phải mở cửa
mới đi ra được. Cửa chẳng mở, Ngài
sẽ chẳng bước ra được! Quư vị
nghĩ xem có phải là cảnh chuyển theo tâm hay chăng?
Tâm chuyển theo cảnh là phàm
phu. Ngày nay qua báo chí, chúng ta thấy nhân viên ngân hàng thụt
két đều là do mắc lừa bởi những kẻ giả
danh quỷ thần, bị ngoại cảnh xoay chuyển.
Phong Thủy, tướng mạng có hay không? Thật sự
có, nhưng những thứ ấy có thể biến đổi
theo tâm của chính ḿnh, tướng chuyển theo tâm mà! Tâm
quư vị thay đổi, tướng sẽ thay đổi,
mạng cũng thay đổi, Phong Thủy cũng thay
đổi theo. Chỉ có kẻ ngu si mới cầm tiền
đưa cho thầy Phong Thủy xin giúp sửa đổi
Phong Thủy. Có đổi được hay không? Tuyệt
đối chẳng thể thay đổi được!
Thay đổi từ chỗ nào? Thay đổi từ tâm
địa của quư vị th́ mới thật sự có thể
thay đổi. Không chỉ những kẻ ấy chẳng
có năng lực thay đổi, mà thiên thần, quỷ thần,
chư Phật, Bồ Tát cũng đều chẳng có
năng lực giúp quư vị thay đổi. Phật, Bồ
Tát bảo cho quư vị biết nguyên lư là muốn cho quư vị
thay đổi vận mạng của chính ḿnh, nhất
định phải hiểu đạo lư này!
Trong Phật pháp, chắc chắn
không có mê tín. Do vậy, trước hết, quư vị phải
tạo dựng ḷng tự tín, từ cái tâm mê mà khai ngộ,
sau đấy sẽ được thụ dụng tự
tại nơi cảnh giới, chẳng cần phải theo
đuổi. Nói “thụ dụng tự tại” là tâm có thể
an trụ trong cảnh giới, phú quư th́ yên phận phú quư,
nghèo hèn bèn yên phận nghèo hèn. Đó là đạo. Muốn
thay đổi hoàn cảnh của chính ḿnh cho tốt đẹp
hơn, ắt phải thay đổi từ nội tâm th́ mới
có hạnh phúc thật sự, chẳng cầu hết thảy
quỷ thần giúp đỡ, đấy mới là chánh
pháp. Chúng ta đánh mất ḷng tin nơi chính ḿnh, đến
khắp nơi cầu quỷ thần, cầu Phật, cầu
Bồ Tát, toàn là “mê tâm chạy
theo cảnh”, chắc chắn chẳng thể vượt
thoát sanh tử luân hồi.
“Đầu
xuất, đầu một” (thoạt vào, thoạt ra) là
thăng trầm trong lục đạo, tạo thiện
nghiệp bèn thọ sanh trong ba đường lành, tạo
ác nghiệp bèn thọ báo trong ba đường ác. Quả
báo thiện - ác chẳng sai mảy may. Thường nói: Con
người trước lúc bốn mươi tuổi chịu
ảnh hưởng mạnh nhất của nghiệp lực
đời trước. Trước khi đầy bốn
mươi tuổi bèn chịu quả báo của đời
trước. Có những kẻ tuổi trẻ phát đạt,
đó là do phước báo từ đời trước. Nếu
kẻ ấy lúc phát đạt bèn làm càn làm quấy, chẳng
làm chuyện tốt, từ tuổi trung niên trở đi sẽ
dần dần suy bại. Thậm chí đến tuổi xế
chiều suy sụp chẳng kham, hết sức đáng
thương! Do đời này chẳng tu đấy! Phước
báo thuộc đời trước, đời này nhất
định phải thật sự tu tập tốt đẹp
th́ tuổi già mới thong dong. Do vậy, từ bốn
mươi tuổi trở đi, sẽ chịu ảnh
hưởng to lớn bởi [nghiệp lực trong] đời
này, sức mạnh của [nghiệp lực] đời
trước rất yếu mỏng. V́ thế, tuổi bốn
mươi có chuyển biến rất lớn! Tuổi già tốt
đẹp là do đời này tu tập, tuổi trẻ tốt
đẹp là do đời trước tu tập. Chúng ta phải
hiểu rơ đạo lư này. Chính ḿnh nắm giữ vận mạng
trong tay, vận mạng do chính ḿnh sáng tạo, chính ḿnh kiến
lập, nhất định phải hiểu đạo lư
này.
Không chỉ chớ nên làm chuyện
ác, mà ư niệm ác cũng chớ nên khởi lên. V́ vậy,
pháp môn này dạy chúng ta đổi mọi khởi tâm động
niệm thành A Di Đà Phật, dùng phương pháp này để
tu cái tâm thanh tịnh, cái tâm b́nh đẳng của chúng ta.
Nói thông thường, con người sanh tử luân hồi
trong lục đạo, chẳng giác ngộ, chẳng
nghĩ xuất ly, những người như vậy chiếm
số lượng rất lớn. V́ thế, nhân duyên
được nghe pháp khá khó khăn, trong kinh, đức Phật
đă từng nói: “Thân người
khó được, Phật pháp khó nghe”. Được
làm thân người, được nghe Phật pháp là có
cơ hội thoát ĺa sanh tử, vượt thoát luân hồi.
Nếu quư vị chẳng được nghe Phật pháp, sẽ
chẳng có cơ hội ấy. Người trong thế
gian chẳng nghe Phật pháp, chỉ biết sanh lên trời
là tốt đẹp, [cho đó] là tối thượng thừa.
Mức độ thấp hơn là chuẩn bị làm quỷ,
muốn làm một con quỷ có phước báo! Lúc c̣n sống,
thấy tuổi tác đă cao, bèn làm như thế nào? Đốt
giấy tiền vàng mă nhiều một chút, chuẩn bị
cho tương lai chết đi làm quỷ sẽ có cái để
tiêu dùng thoải mái. Kẻ ấy chuẩn bị sẵn tài
sản trong ngạ quỷ đạo, đă dự bị
cho chính ḿnh ở trong ấy. Trong tương lai, đọa
lạc trong quỷ đạo có thể hưởng thụ
hay chăng? Rất khó đảm bảo! Những kẻ
đó đều là ngu si! Rành rành có lục đạo, v́ sao
lại tính làm quỷ sau khi chết? V́ sao chẳng tính toán ḥng
đời sau lại được làm thân người, lại
hưởng phú quư trong nhân gian, mà cam tâm t́nh nguyện làm quỷ?
Toàn là ngu si! Tệ hơn nữa c̣n có địa ngục và
súc sanh. V́ thế, phải biết luân hồi trong lục
đạo đáng sợ, thật sự đáng sợ! Sanh
lên trời chẳng dễ dàng, phải có đủ tư
cách để sanh lên trời. Có một biện pháp để
vượt thoát luân hồi lục đạo là tu pháp môn
này, đới nghiệp văng sanh, tu các pháp môn khác rất khó!
Nay đang nhằm thời kỳ
Mạt Pháp, có thể nói là thế gian này tà tri tà kiến
đă đầy ắp cả xă hội. Đối với
người học Phật mà nói th́ là gặp khó khăn, bị
quấy nhiễu rất lớn, mà cũng gặp chướng
ngại rất lớn, chẳng dễ ǵ thành tựu! Hiện
thời, ngay cả một đạo tràng thanh tịnh mà chúng
ta t́m măi không ra. Nói tới “đạo tràng thanh tịnh”, đó
là đạo tràng chuyên tu một pháp môn, quyết định
có thể thành công. Nếu trong một đạo tràng có mấy
pháp môn, dẫu thường xuyên giảng kinh, nhưng không
giảng một thứ, các thứ kinh luận đều
giảng, đạo tràng ấy chẳng thanh tịnh. Đạo
tràng giảng kinh của cổ nhân chuyên hoằng
dương một bộ kinh, giảng xong một bộ liền
bắt đầu giảng lại từ đầu. Đó
gọi là “đạo tràng thanh tịnh”.
Qua truyện kư, chúng ta thấy
Thanh Lương quốc sư giảng kinh Hoa Nghiêm, kinh Hoa
Nghiêm có phân lượng thật lớn! Lăo nhân gia cả
đời giảng kinh Hoa Nghiêm năm mươi lần.
Tôi bắt đầu giảng từ năm Dân Quốc 60
(1971) đến nay là năm Dân Quốc 75 (1986), vẫn
chưa giảng xong một lần! Lăo nhân gia giảng
năm mươi lần như thế nào? Đạo tràng
của Ngài thù thắng, mỗi ngày giảng tám tiếng
đồng hồ. Sự tu hành trong tự viện xưa
kia đúng là khác hẳn [hiện thời], ai đến ở
trong đó ba năm nhất định sẽ thay đổi
h́nh dạng, v́ sao? Người ta công khóa mỗi ngày mười
sáu tiếng đồng hồ, vào giảng đường
nghe giảng tám tiếng đồng hồ, đó là Giải
Môn. Tám tiếng tu hành, tu hành thông thường gồm hai loại:
Một là niệm Phật, hai là tham Thiền. Niệm Phật
là Niệm Phật Đường, tham Thiền là Thiền
Đường. Tám tiếng đồng hồ tịnh tọa
hay chạy hương[6] trong Thiền
Đường, tám tiếng đồng hồ nghe kinh, thời
gian c̣n sót lại để ăn cơm, giặt quần
áo, ngủ nghê. V́ thế, không có thời gian để suy xằng
nghĩ bậy.
Một ngày tám tiếng đồng
hồ th́ chúng ta tính xem, một năm là giảng xong rồi!
Một bộ kinh Hoa Nghiêm có thể giảng viên măn. Giảng
một bộ kinh Hoa Nghiêm từ đầu đến cuối
là ba ngàn giờ. Do vậy, vừa khít một năm. Lăo nhân
gia giảng năm mươi lần là giảng năm
mươi năm, Ngài rất thọ, sống hơn
trăm tuổi. Bộ kinh lớn là như thế, mà một
bộ kinh nhỏ cũng chẳng ra ngoài lệ ấy. Có
nhiều vị tổ sư của Tịnh Độ Tông
suốt đời chuyên giảng kinh Di Đà, giảng mấy
trăm lần, tức là cũng chẳng
ra ngoài lệ ấy. Như ngài Trí Giả chuyên giảng kinh
Pháp Hoa trên núi Thiên Thai, “cửu
tuần đàm diệu” (đàm luận lẽ huyền
diệu trong chín mươi ngày), người đời sau
truyền tụng là “mỹ
đàm” (giảng giải hay khéo), chỉ giảng tựa
đề kinh Pháp Hoa đă giảng đến ba tháng. Trong
đạo tràng thuở trước, một bộ kinh giảng
xong bèn giảng lại từ đầu, nay chúng tôi cũng
bắt chước cổ nhân: Giảng xong một biến
Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa, sẽ bắt đầu
giảng lại từ đầu. Đạo tràng của
chúng ta giảng bộ kinh này, ngày Chủ Nhật mọi
người cùng nhau niệm Phật cộng tu. Nói chung, có
thể coi đạo tràng của chúng ta là một đạo
tràng thanh tịnh, quư vị nhất định phải khéo
duy tŕ, bảo vệ, [đạo tràng này] hết sức khó
có!
Chẳng thỉnh pháp sư bên
ngoài tới giảng là có đạo lư, v́ nếu thỉnh sẽ
như thế nào? Nhiễu loạn tín niệm của mọi
người. Vị ấy giảng một pháp môn khác, giảng
một phương pháp khác, chúng ta nghe xong sẽ ra sao? Rốt
cuộc là có nên học theo hay không? V́ thế, khi có người
khác đến giảng, công phu của chúng ta bị gián
đoạn, bị xen tạp, chẳng thuần, có chướng
ngại rất lớn đối với sự thành tựu
trong tu học của chúng ta. V́ nguyên nhân này, nhất định
chẳng thể thỉnh người khác đến giảng.
Đồng thời, tôi quyết định chẳng thể
giảng kinh điển khác, chỉ có thể giảng một
bộ này, khiến cho mọi người nhất tâm nhất
ư tu học, như vậy th́ mới có thành tựu, mới thành
tựu nhanh chóng, có thể chết sạch ḷng mong ngóng, khăng
khít tu học pháp môn này, trong thời gian ba năm, nhất
định thành công.
Nhưng nói đến đây,
quư vị cũng đừng sợ hăi, nhất định
thành công, “vậy th́ tôi đến đây, ba năm nữa sẽ
phải chết, làm thế nào đây?” Ngay lập tức
đánh trống rút lui, chẳng muốn đến nữa!
Ba năm thành công, thưa quư vị, là sau ba năm nhất
định có thể văng sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới, khi nào ra đi tùy thuộc quư vị, tự
tại mà! Quư vị thích đi sớm một chút, được
chứ, đi thành công! Thích ở lại thêm mấy năm
cũng được, đó gọi là “sanh tử tự tại,
thật sự liễu sanh tử”. Sanh tử tự tại,
[tu tập chuyên nhất trong] thời gian ba năm là đủ
rồi. Sở dĩ chúng ta tu học ba năm chẳng thể
thành công là v́ công phu gián đoạn, xen tạp, chẳng
chuyên tâm, không sốt sắng tu học. Do vậy, nhất
định phải cảnh giác, biết luân hồi thật
sự khổ sở, muốn cầu mong xuất ly.
Phật, Tổ đă thấy rơ
ràng t́nh trạng hiện thời của chúng ta, dùng pháp môn
phương tiện này để kích khích, cổ vũ
chúng ta, ḥng chúng ta chán nhàm Sa Bà (tức là muốn tách ĺa lục
đạo luân hồi), ưa cầu Cực Lạc;
nhưng đây chỉ là pháp phương tiện, c̣n pháp
chân thật th́ sao? Nhất định phải làm cho quư vị
ngộ nhập b́nh đẳng, đó là pháp chân thật. Chỗ
khác biệt giữa pháp môn này và các pháp môn Đại Thừa
khác là nó chia quá tŕnh tu hành thành hai phần:
1)
Trước tiên bảo quư vị hăy đến Tây
Phương Cực Lạc thế giới. Khi đến
đó, chúng ta vẫn mang thân phận trời hay người,
hoàn toàn chẳng phải là thành Phật. Văng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới là phàm phu, vẫn
mang thân phận trời, người, v́ sanh vào cơi Phàm Thánh
Đồng Cư ở bên đó.
2)
Sau khi đă đến đó, lại dạy quư vị chứng
nhập pháp môn b́nh đẳng.
V́
thế, chia thành hai giai đoạn, không giống các pháp môn
Đại Thừa khác! Những pháp môn Đại Thừa
khác đều phải chứng nhập b́nh đẳng ở
nơi đây, ví như Thiền Tông, đại triệt
đại ngộ, minh tâm kiến tánh, như vậy rồi
th́ mới có thể vượt thoát sanh tử luân hồi;
nhưng trong thế gian này mà đ̣i hỏi
nâng cảnh giới của chính ḿnh lên cao ngần ấy, chắc
chắn không phải kẻ b́nh thường nào cũng đều
có thể làm được. Về Lư th́ nói thông suốt,
nhưng trên thực tế th́ chẳng làm được!
Tham Thiền, trước tiên,
quư vị phải hiểu rơ Thiền là ǵ, cách tham như thế
nào cũng phải hiểu rơ, quyết chẳng thể tu mù,
luyện đui! Định nghĩa của Thiền là “ngoài chẳng chấp tướng,
trong chẳng động tâm”. Nói “tham” [Thiền] là ĺa cái
tâm ư thức, người b́nh thường quyết chẳng
thể làm được! Tâm ư thức là ǵ? Nói đơn giản,
thức là tâm phân biệt. Trong hết thảy cảnh giới,
chúng ta thấy sắc, nghe tiếng, chẳng dùng cái tâm phân
biệt, đó là “ĺa thức”. Ư là chấp trước, Mạt
Na là chấp trước: Nhân ngă chấp, pháp ngă chấp.
Trong hết thảy các pháp chẳng chấp trước,
tách ĺa chấp trước là “ĺa ư”. Tâm càng khó hơn nữa!
Tâm là ǵ? Giữ ấn tượng. Quư vị hăy nghĩ xem:
Thấy sắc, nghe tiếng mà chẳng giữ lại ấn
tượng, quư vị có thể làm được hay
chăng? Chẳng dễ dàng! Ĺa tâm ư thức, nói cách khác là
chẳng phân biệt, chẳng chấp trước, chẳng
giữ lại ấn tượng, đó là tâm thanh tịnh,
đó mới gọi là “tham Thiền”. Chúng ta có thể làm
được hay không? Ngũ Dục, lục trần, tài,
sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ nghê bày ra trước
mắt, thật sự chẳng động tâm hay không? Nếu
vẫn c̣n động tâm th́ nói cách khác, ngay cả Sơ Thiền
quư vị cũng chẳng có tư cách, v́ sao? Trong tam giới,
quư vị vẫn c̣n trong Dục Giới, vẫn khởi tâm
động niệm đối với Ngũ Dục lục
trần, Thiền chắc chắn chẳng thể thành tựu!
Dẫu có một chút Định, nhưng Định ấy
vẫn chưa đạt đến mức, vẫn
chưa đạt đến Sơ Thiền, chúng ta nhất
định phải hiểu rơ đạo lư này!
Chánh pháp và tà pháp, nói thật ra,
chẳng khó phân biệt. Trong chánh pháp, không có tham, sân, si, mạn,
tâm thanh tịnh. Trong tà pháp có ô nhiễm, kèm theo những thứ
như tham, sân, si, danh văn, lợi dưỡng. Dẫu bản
thân quư vị có công phu cao đến đâu đi nữa mà
vẫn c̣n có cái tâm cầu danh cầu lợi, c̣n cái tâm lôi
kéo tín đồ, c̣n có tâm làm chuyện náo nhiệt, th́ là giả,
là gạt người! Tâm địa thanh tịnh, tùy duyên,
chứ không phan duyên, đó là chánh pháp. Trước hết,
phải biện định chính ḿnh đang tu tập chánh
hay tà? Người khác tu tập, họ tu chánh hay tà chẳng
liên quan ǵ đến ta, đó là chuyện của họ!
Chính ḿnh có đi theo đường tà hay không, điều
này liên quan đến ta rất lớn! V́ vậy, biện
định tà hay chánh là v́ chính ḿnh, chứ không v́ người
khác.
Chúng ta hăy suy nghĩ căn tánh của
chính ḿnh, có tư cách học Thiền hay chăng? Bản
thân tôi suy nghĩ, tôi không có tư cách, v́ sao? Trong Ngũ Dục
Lục Trần, tôi khởi tâm động niệm! Những
người học Thiền rất cao, tôi chỉ đành bội
phục họ, họ có thể làm được, tôi làm chẳng
được! Tôi tuyệt đối chẳng lừa gạt
chính ḿnh, tôi vẫn thật thà niệm Phật, cầu
đới nghiệp văng sanh. Thiền Tông không có đới
nghiệp! Tôi cũng hiểu Mật đôi chút, tôi cũng
chẳng dám học, v́ sao? Quá cao! Học không nổi!
Chương Gia đại sư truyền cho tôi một câu
chú, tôi làm không được. Ngài truyền cho tôi chú Lục
Tự Đại Minh, tôi nghĩ rất nhiều đồng
học đều biết niệm, nhưng biết niệm
không có tác dụng, phải làm được (ư nói tŕ niệm
đúng pháp) th́ mới được! Chú ấy chẳng phải
là hễ niệm bèn linh, mà là tâm chính ḿnh phải
tương ứng với chú. V́ thế, Mật pháp nói
“tương ứng”; hễ chẳng tương ứng th́
giống như miệng ca hát vậy, chẳng có tác dụng
ǵ!
Ư nghĩa của chú Lục Tự
Đại Minh là: “Giữ ǵn sao cho thân tâm của chúng ta giống
như hoa sen chẳng dính mảy trần!” Aum là thân, Mani là
hoa sen, Padme là bảo tŕ, Hum là ư. Đấy là văn phạm
của ngoại quốc. Dịch theo cách hành văn của
Trung Quốc sẽ là: Giữ ǵn thân, ư (ư là tâm) giống
như hoa sen. Hoa sen vượt khỏi bùn lầy, chẳng
ô nhiễm! Bùn tượng trưng cho lục phàm; Ngũ Dục,
lục trần, tượng trưng cho phàm phu, phía trên bùn
c̣n có nước trong, nước tượng trưng cho tứ
thánh. Mười pháp giới đều chẳng tiêm nhiễm,
không chỉ chẳng nhiễm lục phàm, mà ngay cả tứ
thánh cũng chẳng nhiễm. Nói cách khác, thế gian và xuất
thế gian thảy đều chẳng nhiễm. Đó là
ǵ? Nhất Chân pháp giới. Niệm câu chú này th́ phải nâng
cao cảnh giới của chính ḿnh lên đến cảnh giới
cao cả dường ấy. V́ thế, Mật pháp là miệng
phải tụng chú, ư phải quán tưởng, tay phải kết
ấn, tam mật tương ứng!
Tôi nghĩ pháp môn ấy quá phiền
phức, chẳng dễ ǵ làm được, không thuận
tiện như niệm Phật. Do vậy, nếu suy nghiệm
kỹ càng nhiều pháp môn, sẽ thấy pháp môn này thuận
tiện, ổn thỏa, thích đáng, chắc chắn chẳng
“xôi hỏng, bỏng không”; bởi lẽ, các pháp môn khác ắt
phải đạt đến cảnh giới kha khá, tâm thật
sự chẳng nhiễm trần, mới có thể vượt
thoát. Pháp môn này chẳng cần cảnh giới cao dường
ấy, chỉ cần chế ngự phiền năo. Phiền
năo chưa đoạn, chế ngự là được rồi!
Chế phục phiền năo, tôi nghĩ mỗi cá nhân chúng ta
đều có thể làm được, đoạn phiền
năo chẳng phải là chuyện mỗi cá nhân đều có
thể làm được. Đấy là sự thật ngàn
vạn phần xác đáng. V́ thế, chúng tôi chọn lựa
pháp môn này là có lư, pháp môn này thật sự phổ độ.
V́ thế, đến chỗ
này, tổ sư lại khuyến khích chúng ta lần nữa.
Chúng ta giống như “điền
oa, tỉnh phụ”. “Phụ”
(鮒) là “tức ngư” (鯽魚: cá diếc), là một loại cá nhỏ sống trong
giếng. Chúng ta nay là loại căn tánh ấy. Đối
với hạng người có căn tánh ấy, hăy nhanh
chóng cho nó một chút nước, nó có thể hớp không
khí, có thể sống sót là tốt rồi, chẳng thể
sánh với đại bằng kim xí điểu (Garuda)[7]
được! Chúng ta phải tự nhận rơ căn tánh
của chính ḿnh, phải nhận rơ hoàn cảnh sống hiện
thời của chính ḿnh. Trong vô lượng pháp môn, chúng ta
chọn lấy một pháp môn thích đáng, thích hợp với
căn tánh của ḿnh, lại chẳng gây trở ngại
quá lớn đối với hoàn cảnh hiện thực và
hoàn cảnh sống của chính ḿnh. Tu học như thế
sẽ dễ dàng. Pháp môn này đặc biệt nói đến
hai thứ cảnh giới khổ và lạc khác nhau.
(Sớ) Ư thị vô khổ lạc
trung.
(疏) 於是無苦樂中。
(Sớ: Do vậy, trong không có khổ và vui).
“Vô
khổ lạc” là Nhất Chân, đấy là cái vốn
có.
(Sớ) Thị khổ, thị lạc.
(疏) 示苦示樂。
(Sớ: Thị hiện khổ vui).
“Thị”
là thị hiện.
(Sớ) Khổ dĩ chiết phục,
lạc dĩ nhiếp thọ.
(疏) 苦以折伏,樂以攝受。
(Sớ: Dùng khổ
để chiết phục, dùng vui để nhiếp thọ).
Từ trong cảnh giới khổ
mà chúng ta tỉnh ngộ, tiếp nhận sự nhiếp thọ
của Tây Phương Cực Lạc thế giới.
(Sớ) Chiết tắc khích kỳ
ngoan mê, nhi linh khởi yếm ly.
(疏) 折則激其頑迷,而令起厭離。
(Sớ: Chiết là
khích động kẻ u mê, bướng bỉnh, khiến họ
khởi ḷng chán ĺa).
Dụng ư thuyết pháp của
đức Phật là ở chỗ này, khích lệ chúng ta.
Chúng ta thật sự liễu giải hoàn cảnh hiện
thực th́ mới phát tâm rời khỏi thế giới
này.
(Sớ) Nhiếp tắc
dương kỳ giải đăi, nhi tỉ sanh hân nhạo.
(疏) 攝則揚其懈怠,而俾生欣樂。
(Sớ: Nhiếp là cổ
vũ khiến kẻ biếng nhác phấn chấn, ngơ hầu
họ sẽ sanh ḷng vui ưa).
Tinh tấn và giải đăi,
đây cũng là hai thứ đối lập. V́ sao người
ta giải đăi? Quư vị chẳng có hứng thú làm việc,
đương nhiên sẽ giải đăi. Nếu quư vị
thấy công việc rất hứng thú, chẳng cần
người khác đốc thúc, quư vị sẽ ngày đêm
đều chẳng gián đoạn. Ví như đi học
trong nhà trường, đọc sách giáo khoa, nếu những
thứ ấy quá sâu, chẳng dễ ǵ thấu hiểu, quư
đọc thấy chẳng thú vị ǵ, bèn biếng nhác, chẳng
muốn đọc nữa. Quư vị xem tiểu thuyết,
bảo quư vị đừng xem, đến đêm vẫn
lén lút xem, xem đến sáng bạch vẫn không mệt mỏi.
V́ sao? Quư vị cảm thấy rất hứng thú. Hễ
điều ǵ khiến quư vị hứng thú, quư vị sẽ
quên tuốt mệt nhọc, tự nhiên tinh tấn. Nếu
quư vị chẳng thông hiểu thứ ǵ, quư vị sẽ cảm
thấy nhạt nhẽo, không có cách nào tinh tấn được!
Do điều này chúng ta học
Phật, đối với pháp môn này, ắt phải bồi
dưỡng hứng thú. Bồi dưỡng hứng thú từ
chỗ nào? Lư giải! Thật sự lư giải sẽ có hứng
thú. Do vậy, không có hứng thú, chẳng thể dấy khởi
Phật hiệu, đều là v́ thiếu lư giải, nhận
thức chưa rơ rệt. Thật sự nhận biết rơ
rệt, giống những vị tổ sư đại
đức từ xưa đến nay, người ta mỗi
ngày niệm mười vạn câu Phật hiệu, họ
niệm mười vạn câu Phật hiệu ra sao? Hứng
thú niệm, chẳng mệt, chẳng ngán! Nếu quư vị
mệt mỏi, thiếu tinh thần, niệm Phật hiệu
mấy câu tinh thần bèn khôi phục, quả thật là
như thế! Đấy là thật sự có nhận thức,
thật sự hiểu rơ ư nghĩa ở trong đó. V́ thế,
càng niệm càng hoan hỷ. Kinh điển cũng giống
như vậy, nếu quư vị thật sự nhập môn, sẽ
thấy ư vị trong đó c̣n có sức hấp dẫn lớn
hơn tiểu thuyết. Bản thân tôi cảm nhận
được điều này!
Tôi đọc kinh cả trăm
lần, ngàn lần vẫn không chán, tôi xem tiểu thuyết
tới mười lần, hai mươi lần. Từ hai
mươi lần trở lên không muốn xem nữa. Sức
mạnh của nó chỉ có ngần ấy! Đây là nói những
bộ tiểu thuyết trứ danh. Có những tác phẩm
viết dở hơn một chút, đọc một lần
xong chẳng muốn đọc lần thứ hai. Bốn bộ
tiểu thuyết lớn[8] của Trung Quốc
như Tam Quốc Diễn Nghĩa, Thủy Hử Truyện,
Tây Du Kư, tôi có thể đọc mười lần những
bộ tiểu thuyết trứ danh ấy. Đó là những
sách tôi xem lúc nhỏ, thuở học Tiểu Học. Tôi học
lên Sơ Trung (Trung Học đệ nhất cấp) không
đọc nữa, chẳng c̣n hứng thú, chúng chẳng thể
hấp dẫn tôi nữa! Nay xem kinh Phật khác hẳn. Kinh
Phật là đọc lần nào cũng thấy thú vị, mỗi
lượt xem đều có ư nghĩa mới, mỗi lượt
xem đều có ngộ xứ. Đấy mới là pháp hỷ
sung măn, ư nghĩa trong ấy không hề có cùng tận.
Từ lúc mới phát tâm, chúng ta
đọc bộ kinh này, đọc măi cho đến [chứng
nhập địa vị] Đẳng Giác Bồ Tát vẫn
đọc bộ kinh này, càng đọc càng thú vị, càng
đọc càng thấy ư nghĩa trong ấy chẳng có cùng
tận. V́ thế, chẳng thể giải đăi. Khi quư vị
đọc mà chẳng thấy thú vị sẽ giải
đăi. Quư vị đọc không thấy thú vị, đừng
sợ, tuyệt đối chẳng phải là vừa mở
đầu đọc mấy biến đă đọc thấy
ư vị, giống như ăn cơm hay nhai thức ăn vậy,
b́nh thường phải thong thả nhấm nháp thưởng
thức hương vị, chứ [ăn theo kiểu] “nuốt
trộng quả táo” chắc chắn sẽ chẳng thể
phát hiện ư vị, phải đọc kỹ lưỡng,
nhẫn nại đọc, quư vị mới phát hiện thú
vị ở trong ấy, mới thật sự có ngộ xứ.
(Sớ) Nhiên hậu, cửu tại
nê đồ, thỉ hiềm ô uế, sạ văn tịnh
diệu, tuấn khởi nguyện cầu. Thử đại
hỏa tụ, bỉ thanh lương tŕ, viêm thiêu chúng sanh bất
đắc bất tỵ thử nhi xu bỉ hỹ. Phương
tiện độ sanh, pháp tự ưng nhĩ. Sanh bỉ
quốc dĩ, kiến Phật văn pháp, đắc Vô Sanh
Nhẫn, phương ngộ thử tâm bổn lai b́nh đẳng.
(疏) 然後久在泥塗,始嫌污穢,乍聞淨妙,浚起願求。此大火聚,彼清涼池,炎燒眾生不得不避此而趨彼矣。方便度生,法自應爾,生彼國已,見佛聞法,得無生忍,方悟此心本來平等。
(Sớ: Sau đấy, ở
trong đường bùn lầy đă lâu mới hiềm ô uế,
vừa nghe sự tịnh diệu, liền hăng hái nguyện
cầu. Cơi này là đống lửa lớn, cơi kia là ao thanh
lương, chúng sanh bị lửa dữ thiêu đốt,
chẳng thể không tránh né nơi này, hướng về nơi kia. Phương tiện độ sanh pháp vốn
là như thế. Sanh sang cơi ấy
rồi, thấy Phật, nghe pháp, đắc Vô Sanh Nhẫn,
mới ngộ tâm này vốn sẵn b́nh đẳng).
Đây là nhân duyên thứ ba.
Đại ư của đoạn này là: Từ vô thỉ kiếp
đến nay chúng sanh luân hồi trong lục đạo của
thế gian này, đời đời kiếp kiếp đều
là như thế, đấy cũng là phương thức
sinh hoạt quen thuộc của chúng ta trong hiện tại.
Thật ra, nếu suy nghĩ kỹ, lục đạo luân
hồi rất đáng sợ. V́ sao? Đời sau tốt
đẹp hơn đời này, quá ư là ít! Luân hồi là
lần sau kém hơn lần trước, v́ sao? Quư vị hăy
suy nghĩ, sẽ thấy đạo lư này chẳng khó hiểu,
chẳng khó lănh hội, mỗi một đời chúng ta tạo
bao nhiêu tội nghiệp? Đời đời tích lũy lại,
có tăng, chứ chẳng giảm, cuộc sống của
quư vị càng về sau có dễ sống hơn ư? Chẳng
thể dễ sống được!
Thưa cùng quư vị, thứ tội
nghiệp ấy chẳng tiêu được! Phật môn nói
tiêu tai, có lư luận và phương pháp tiêu tai, nhưng hiện
thời mọi người đều hiểu lầm,
tưởng là đến cửa Phật lạy lục Phật,
niệm Phật, làm Phật sự kinh sám sẽ tiêu những
tai nạn ấy. Nếu tội nghiệp nặng nề,
thỉnh mấy vị pháp sư lạy Lương Hoàng Sám
có tiêu tội hay chăng? Đâu có đơn giản như
vậy! Quư vị thấy: Không những chẳng tiêu tai, mà
tai nạn c̣n tăng thêm, v́ sao? Sử dụng Phật pháp
sai lạc, thật sự là khó khăn, chẳng hiểu lư
mà! Lầm lạc hiểu ư nghĩa theo mặt văn tự,
ba đời chư Phật đều kêu oan uổng! Tiêu
tai nạn từ chỗ nào? Tâm thanh tịnh. Tội từ
tâm khởi, dùng tâm sám! Tâm quư vị mê, tâm ô nhiễm sẽ
có vô lượng vô biên tai nạn, nhưng mê và nhiễm ấy
mỗi đời sau càng nghiêm trọng hơn đời
trước; v́ thế, rất khó giác ngộ! Tâm thanh tịnh,
tâm giác ngộ, tai nạn bèn tiêu trừ. Đạo lư ở
chỗ này! Những vấn đề này trong phần chú giải
kinh điển ở phần sau, sẽ lại thảo luận
cặn kẽ.
Nay chúng ta mới nghe, “sạ văn tịnh diệu”
(vừa nghe sự tịnh diệu), nghe nói tại Tây
Phương có thế giới như vậy, có chỗ tốt
lành như thế, chúng ta mới phát tâm cầu nguyện. Tiếp
theo đó là tỷ dụ. Chữ “thử” chỉ thế giới của chúng ta, “đại hỏa tụ”
(đống lửa lớn) tỷ dụ phiền năo, tỷ
dụ tội chướng. “Bỉ
thanh lương tŕ” (cơi kia là ao nước trong mát), chữ
“bỉ” chỉ Tây
Phương Cực Lạc thế giới, là xứ sở
thanh lương tự tại. “Viêm
thiêu chúng sanh bất đắc bất tỵ thử nhi xu bỉ
hỹ” (Chúng sanh bị ngọn lửa dữ thiêu đốt
chẳng thể không tránh né cơi này, hướng về cơi
kia), khuyên chúng ta hăy nên giác ngộ, phát tâm rời khỏi Sa
Bà, cầu sanh Cực Lạc. Phương thức y như
cũ vẫn là pháp phương tiện, “phương tiện độ sanh, pháp tự ưng
nhĩ”; [nghĩa là] pháp môn phương tiện lẽ
đương nhiên là như thế!
Đến Tây Phương Cực
Lạc thế giới, thấy Phật, nghe pháp, nói thật
ra, đấy mới là chính thức tu hành. Nay chúng ta tu Tây
Phương Tịnh Độ có được tính là tu
hành hay chăng? Chẳng tính là thật sự tu hành! Chỉ
tính là học chuẩn bị để thi vào trường
(học luyện thi) mà thôi! Vào trường rồi mới
chính thức theo học, hiện thời là công phu dự bị.
Thật sự học Phật là học với ai? Học với
A Di Đà Phật. Đến học trong Tây Phương Cực
Lạc thế giới, chứ không phải ở nơi
đây. Ở đây, chúng ta chỉ có một mục tiêu, tức
là làm thế nào để đến được Tây
Phương Cực Lạc thế giới, mà mục tiêu ấy
nhất định phải hoàn thành trong một đời
này, quyết định làm được! Người thật
sự chiếu theo phương pháp này để tu hành,
chúng tôi đă đích thân trông thấy, thật sự có người
văng sanh. Trong quá tŕnh học Phật của tôi, thưa cùng
quư vị, tôi thấy năm người đều là kẻ
tại gia, chẳng giả tí nào, chẳng nhờ vào người
khác trợ niệm để văng sanh. Họ biết trước
lúc mất, không bệnh tật qua đời. Cậy vào
người khác trợ niệm th́ chưa chắc, vẫn
c̣n phải đánh dấu hỏi, rốt cuộc người
ấy có thật sự văng sanh hay chăng, ai cũng chẳng
dám nói [chắc chắn]. Chết rồi đem thiêu lưu lại
xá-lợi hoặc lưu lại nhục thân, chỉ có thể
chứng tỏ người ấy có chút công phu tu hành,
chưa thể chứng minh người ấy đă văng
sanh. Xá-lợi thật sự sẽ kiên cố, chẳng thể
nghiền nát được. Nếu xá-lợi mà dùng búa sắt
đập liền vỡ, chẳng phải là chân thật. Ắt
cần phải biết trước lúc mất, không bệnh
tật qua đời, đấy mới là thật, chẳng
giả. Văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới
là khẩn yếu.
“Kiến
Phật văn pháp, đắc Vô Sanh Nhẫn” ngộ Vô
Sanh là minh tâm kiến tánh, là Lư nhất tâm bất loạn, mà
cũng là cơi Thật Báo Trang Nghiêm trong bốn cơi Tây
Phương, hoa nở thấy Phật ngộ Vô Sanh, khi ấy
quư vị trở thành Pháp Thân đại sĩ, chẳng khác
các vị Bồ Tát trong hội Hoa Nghiêm. Tầng cấp ấy
nhất định phải đến Tây Phương Cực
Lạc thế giới mới hoàn thành được! Do vậy,
chỗ khác biệt lớn nhất giữa pháp môn Tịnh
Độ và các pháp môn khác là ở chỗ này, tức là chia
thành hai giai đoạn để tu học:
Giai đoạn thứ nhất là hiện thời giữ lấy
Tây Phương Tịnh Độ, giai đoạn thứ
hai là đến Tây Phương Cực Lạc thế giới
mới thành tựu. Những pháp môn khác không giống
pháp môn này, phải thành tựu ở nơi đây! Điều
này hết sức khó khăn. Hôm nay chúng tôi giảng đến
đây!
A Di
Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
Phần
28 hết
[1] Đoạn chứng: Đoạn vọng
tưởng phiền năo, chứng đắc quả thù thắng
(theo Phật Học Đại Từ Điển).
[2] Thập Trụ Đoạn Kết Kinh
có tên gọi đầy đủ là Tối Thắng Vấn
Bồ Tát Thập Trụ Trừ Cấu Đoạn Kết
Kinh gồm ba mươi ba phẩm do ngài Trúc Phật Niệm
dịch vào thời Diêu Tần. Trong kinh này, đức Phật
Thích Ca ngự tại Kỳ Viên, phóng quang chiếu suốt
mười phương pháp giới. Lúc ấy từ
phương Đông có Chấp Chí Thông Huệ Bồ Tát và
năm vạn Bồ Tát vây quanh đến nơi đây nghe
pháp. Trong số ấy, có một vị Bồ Tát tên là Tối
Thắng Bồ Tát bèn hỏi Phật pháp yếu. Thích Ca Mâu
Ni Phật bèn dùng pháp Thập Trụ để đáp.
[3] Hô Đồ Khắc Đồ (Xutugtu,
Khutukhtu, Khutagt) là tiếng Mông Cổ, có nghĩa là “thánh giả”,
là danh xưng để gọi các vị lạt-ma cao cấp
người Mông Cổ hoặc Tây Tạng sống trong các
khu vực thuộc quyền quản trị của nhà Thanh,
thường được coi là hóa thân của Phật, Bồ
Tát, A La Hán theo truyền thống Phật giáo Tây Tạng.
Theo quy chế nhà Thanh, những lạt-ma nào thuộc cấp
bậc này đều được chép vào sổ bộ của
viện Lư Phiên. Mỗi khi một Hô Đồ Khắc Đồ
qua đời, các đệ tử t́m được một
đứa trẻ mới “hóa thân” của vị Hô Đồ
Khắc Đồ tiền nhiệm, phải được
triều đ́nh nhà Thanh phê chuẩn. Hai vị Hô Đồ
Khắc Đồ nổi tiếng nhất của Mông Cổ là Triết Bố Tôn Đan Ba
(Jetsundampa) cai quản vùng Bắc Mông Cổ và Chương
Gia Hoạt Phật (lCang-skya Khutukhtu). Vị sau cai quản
vùng Nam Mông Cổ và có quan hệ mật thiết với triều
đ́nh nhà Thanh. Chương Gia Hoạt Phật
được coi là hóa thân của vị A La Hán Đạt
Tôn (tức tôn giả Xa Nặc, người đánh xe ngựa
của Thái Tử Tất Đạt Đa). Jetsumdamba
Khutukhtu được coi là hóa thân của học giả
Taranatha Anandagarbha (1575-1634) của Tây Tạng. Ngài Taranatha từng
sang Mông Cổ truyền giáo và lập nhiều tu viện tại
đây nên được coi như là một trong những vị
tổ sư khai sáng của Phật giáo Mông Cổ.
[4] Cụ Mai Quang Hy (1880-1947), tự Hiệt
Vân, là một nhà Phật học nổi tiếng đầu
thời Dân Quốc, sở trường về Duy Thức.
Cụ Mai là cậu của cư sĩ Hoàng Niệm Tổ,
quê ở Nam Xương, tỉnh Giang Tây, thuở bé học
Nho, từng đỗ kỳ thi Hương, rất
được Tổng Đốc Hồ Quảng
Trương Chi Đồng coi trọng, đề cử
làm Giám Đốc trường Vơ Bị. Cụ từng
được ông Trương Chi Đồng gởi sang du
học Nhật Bản, theo học tại trường Lục
Quân Chấn Vũ, được huấn luyện thành
sĩ quan chỉ huy. Sau khi tốt nghiệp, cụ lại
học tại đại học Tảo Đạo Điền
về ngành kinh tế chính trị. Cụ không màng công danh, do
được người đồng hương là Khuê
Bá Hoa khuyên giải, bèn theo học Phật với tiên sinh
Dương Nhân Sơn, dốc sức nghiên cứu các bộ
Đại Thừa Khởi Tín Luận, Pháp Hoa, Tam Luận
cũng như các kinh điển trọng yếu của các
tông. Từ đấy, cụ chuyên học Phật, từng
tuyên bố: “Nếu chẳng phải
sách Phật chẳng đọc, chẳng phải Phật hạnh
chẳng làm”. Cụ hợp tác chặt chẽ với
Thái Hư đại sư trong phong trào chấn hưng Phật
giáo, viết nhiều bài có giá trị cho tờ Hải Triều
Âm. Những tác phẩm tiêu biểu của cụ là Tướng
Tông Cương Yếu, Tướng Tông Cương Yếu
Tục Biên, Đại Thừa Tướng Tông Thập Thắng
Luận, Tướng Tông Sử Truyện Lược Lục,
Nhân Minh Nhập Chánh Lư Luận Giải Lục Tập Chú,
Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương Duy Thức Chú v.v...
[5] Nói là “phảng phất” v́ phải đạt
đến Phật quả mới thật sự thấy hết
thảy pháp đều thanh tịnh. Từ Đẳng Giác
trở xuống, do vẫn c̣n vi tế vô minh nhiều hay ít,
nên chưa thể thấy hết thảy các pháp thanh tịnh
trọn vẹn như Phật được.
[6] Chạy hương (băo hương) là một
trong bốn quy củ của Thiền Đường, nhất
là trong Thiền Thất: Hành hương, băo hương, tọa
hương và tham Thoại Đầu. Hành hương là
bước nhanh, băo hương là đi rảo thật
nhanh, gần như chạy lúp xúp, tọa hương là tịnh
tọa. Sở dĩ ba quy củ này đều có chữ
Hương v́ dùng thời gian tàn một nén nhang làm hạn
(một cây nhang dài cháy hết trong ṿng một tiếng cho đến
một tiếng rưỡi). Theo pháp sư Tâm Đạo,
Băo Hương có từ thời hoàng đế Ung Chánh nhà
Thanh. Vua Ung Chánh đặc biệt kính ngưỡng quốc
sư Ngọc Lâm. Sau khi ngài Ngọc Lâm viên tịch, có pháp
sư Thiên Huệ từ chùa Cao Mân vâng chỉ tiến kinh
đàm Thiền. Qua đối đáp, vua thấy Thiên Huệ
hầu như chẳng lănh hội được ư chỉ
của ngài Ngọc Lâm, bực tức quở: “Ngươi
c̣n biết ǵ về tông chỉ của quốc sư Ngọc
Lâm hay chăng?” Sư ngây người, không trả lời
được. Do vậy, vua hạ lệnh Sư phải
ngồi Thiền bảy ngày trong cung, tham cho thấu công án;
nếu không, sẽ chém đầu ngay lập tức. Thiên
Huệ tham Thiền suốt sáu ngày không thấu triệt,
đến hôm cuối cùng, túng quá, chạy quanh Thiền
Đường, chạy đến nỗi gần như
mê đi, té lăn ra, va đầu vào cột, liền tỉnh
ngộ, trở về trả lời câu hỏi của vua.
Vua hứa khả, từ đấy Thiền môn lập ra
quy chế Băo Hương. Cũng từ câu chuyện này, có
thuyết nói, hương bản dùng trong Thiền Đường
để cảnh tỉnh Thiền giả hiện thời
chính là phỏng theo h́nh cây kiếm gỗ cầm trong tay của
người lính canh chờ hết thời hạn bảy
ngày sẽ chém đầu sư Thiên Huệ. Hiện thời,
Băo Hương thường được áp dụng sau
khi ăn cơm, hoặc sau khi ngồi Thiền. Tuy gọi
là “chạy”, nhưng chỉ là rảo bước nhanh, lẹ
hơn so với hành hương (đi kinh hành).
[7] Garuda (kinh thường phiên âm là Ca Lâu La,
hoặc dịch nghĩa là đại bằng kim xí điểu
- 大鵬金翅鳥) là một loại chim rất to, thân
người có sắc vàng óng, có khuôn mặt là mặt người,
trắng bóng, nhưng có mỏ chim ưng, đầu đội
vương miện, cánh vàng pha sắc đỏ, giống
như vàng ṛng. Sải cánh rất to, có thể quạt
nước biển tách ra làm đôi để bắt rồng
ăn thịt. Trong Mật Tông, Ca Lâu La là vật để
cưỡi của Bắc Phương Bất Không Thành Tựu
Phật. Các chùa ở Thái, Lào, Miên, Miến thường tạc
h́nh tượng Ca Lâu La (người Thái hay Lào gọi trại
thành Krut, c̣n tiếng Indonesia/Mă Lai gọi trại thành geroda)
ở các đầu kèo đỡ mái chùa vừa để
trang trí vừa bảo vệ chùa. Nam Dương
và Thái Lan dùng h́nh tượng Ca Lâu La làm biểu tượng
quốc gia, nhưng h́nh tượng chim Ca Lâu La trong quốc
huy Nam Dương có h́nh chim thuần túy, sắc vàng óng, không
phải là h́nh tượng ḿnh người, có cánh và chân
chim, sắc đỏ như trong quốc huy Thái Lan.
[8] Bốn bộ tiểu thuyết lớn
của Trung Quốc, c̣n gọi là Tứ Đại Danh Trước,
gồm Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung, Thủy
Hử Truyện của Thi Nại Am, Tây Du Kư của Ngô Thừa
Ân và Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần. Ở
đây, ḥa thượng Tịnh Không không nhắc tới Hồng
Lâu Mộng.