A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

阿彌陀經疏鈔演義

Phần 29

Chủ giảng: Lăo pháp sư Tịnh Không năm 1984

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo chánh: Minh Tiến, Huệ Trang và Đức Phong

 

Tập 57

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang bảy mươi lăm, giảng đến đoạn thứ tư của phần Giáo Khởi Nhân Duyên, nói về nhân duyên thứ tư:

 

      (Huyền Nghĩa) Tứ, hóa đạo Nhị Thừa chấp Không bất tu Tịnh Độ giả, lương dĩ sạ đắc Ngă Không, tức sanh đam trệ, văn thuyết tịnh Phật quốc độ, giáo hóa chúng sanh, tâm bất hỷ nhạo, cố linh hồi Tiểu hướng Đại, phát ư văng sanh.

      (玄義) 四化導二乘執空不修淨土者,良以乍得我空,即生耽滯。聞說淨佛國土,教化眾生,心不喜樂,故令回小向大,發意往生。

      (Huyền Nghĩa: Bốn là giáo hóa, hướng dẫn hàng Nhị Thừa chấp Không chẳng tu Tịnh Độ: Ấy là v́ họ vừa đắc Ngă Không, bèn sanh ḷng đắm chấp, vướng mắc, nghe nói đến cơi nước thanh tịnh của Phật và giáo hóa chúng sanh, ḷng chẳng vui thích, nên [đức Phật nói kinh A Di Đà] làm cho họ hồi Tiểu hướng Đại, dấy lên ư nguyện văng sanh).

 

      Đây là nhân duyên thứ tư: Đặc biệt nói với hàng Tiểu Thừa. “Nhị Thừa” là Thanh Văn và Duyên Giác, những người này chẳng tu Tịnh Độ. Nói cách khác, họ chấp trước khá nặng, được chút ít đă cho là đủ. Trong quá tŕnh tu hành, đạt được thân tâm tự tại bèn rất thỏa măn, ngừng ở đó, chẳng chịu tinh tấn tiến lên nữa! Đức Phật cũng hết sức từ bi đối với những người ấy, biết khuyết điểm của họ, dùng pháp môn Tịnh Độ để tiếp dẫn, thành tựu Phật quả rốt ráo cho họ.

 

      (Diễn) Nhị Thừa chấp Không giả, Nhị Thừa nhân đơn tu chánh quán giả, đản niệm Không, Vô Tướng, Vô Tác.

      () 二乘執空者,二乘人單修正觀者,但念空無相無作。

      (Diễn: “Nhị Thừa chấp Không”: Người Nhị Thừa chỉ tu pháp chánh quán bèn chỉ nghĩ tới Không, Vô Tướng, Vô Tác).

 

      Pháp môn Tiểu Thừa rất nhiều, cũng có Tam Tạng Kinh - Luật - Luận hoàn bị, tông Thiên Thai phán định [Tiểu Thừa] là Tạng Giáo, có kinh Tiểu Thừa, luật Tiểu Thừa, luận Tiểu Thừa ba thứ đầy đủ, họ chiếu theo những thứ ấy để tu hành. Nguyên tắc và nguyên lư tu học của người Tiểu Thừa là phá Ngă Chấp, phá Nhân Ngă Không; do vậy, họ phải niệm “Không, Vô Tướng, Vô Tác”.

 

      (Diễn) Kiêm tu trợ quán giả, đa do Tứ Không dĩ nhập Diệt Tận, cố giai chấp Không.

      () 兼修助觀者,多由四空以入滅盡,故皆執空。

      (Diễn: Người tu kèm thêm những pháp trợ quán th́ phần nhiều dùng Tứ Không để nhập Diệt Tận, nên đều chấp Không).

 

      Tứ Không” là Tứ Không Thiên. Công phu tu hành của người Tiểu Thừa là Cửu Thứ Đệ Định, phải trải qua Tứ Thiền, Tứ Không Định[1] rồi mới vượt thoát [tam giới]. Tứ Thiền và Tứ Không gộp thành Bát Định; tám món Thiền Định này đều là Thiền Định thế gian, chưa thể vượt thoát tam giới. Tu thành công [tám món Định này] bất quá sanh vào Tứ Thiền Thiên[2] hoặc là Tứ Không Thiên. Tứ Thiền Thiên và Tứ Không Thiên thọ mạng rất dài, nhưng trong Tứ Thiền Thiên c̣n có Phật pháp, Tứ Không Thiên chẳng có Phật pháp. Chúng ta thường thấy kinh Phật nói tới “tam đồ bát nạn”, trong bát nạn có Tứ Không Thiên, tức Trường Thọ Thiên. V́ sao gọi là “gặp nạn”? Tuy đời này, quư vị sống trong thế gian, nhưng không có cơ hội nghe Phật pháp, đó là “gặp nạn”. V́ có cơ hội nghe Phật pháp, sẽ có cơ duyên vượt thoát tam giới. Hiện thời quư vị không có duyên phận này, đời này nhất định luống qua nên Phật pháp gọi điều này là “gặp nạn”. Tứ Không Thiên là một trong bát nạn. Bát Nạn là tám trường hợp không có cơ hội tiếp xúc Phật pháp.

      Người Nhị Thừa có lợi căn và độn căn. Bậc lợi căn A La Hán có thể từ Tứ Thiền Thiên mà trực tiếp đốn siêu, nhanh chóng chứng đắc Cửu Thứ Đệ Định. Bậc độn căn A La Hán ắt phải trải qua Tứ Không Thiên, phải mất một thời gian khá dài mới có thể chứng quả A La Hán, đạt đến Cửu Thứ Đệ Định[3]. Do điều này chúng ta biết: Chỉ dựa vào một ḿnh công phu Thiền Định rất sâu th́ chỉ có thể đoạn Phiền Năo Chướng, phá Nhân Ngă Chấp, chưa thể phá Pháp Ngă Chấp, chẳng thể phá Sở Tri Chướng. Do vậy, người ấy chưa thể kiến tánh. Đó là người chỉ tu Thiền Định, từ Tứ Không Thiên mà nhập Diệt Tận Định. Diệt Tận Định chính là Cửu Thứ Đệ Định, trong quá khứ khi giảng kinh Lăng Nghiêm, chúng ta cũng thường thảo luận vấn đề này.

      Do tập khí tu học trong nhiều đời nhiều kiếp, nên người ấy chấp trước Không, tức là chấp trước Pháp Không, biết con người là giả tướng, do nhân duyên Tứ Đại và Ngũ Ấm ḥa hợp mà hiện ra huyễn tướng. Do vậy, vị ấy chẳng chấp trước thân là Ngă. Nói cách khác, người Tiểu Thừa cao minh hơn phàm phu chúng ta nhiều lắm. Phàm phu chúng ta rất đáng thương, chấp trước cái thân này là Ngă, cho nên mới có luân hồi trong lục đạo. Người Tiểu Thừa đă hiểu thân này chẳng phải là ta, thân là Không, nhưng chẳng biết Ngũ Uẩn cũng là Không, chẳng hiểu đạo lư này! Chúng ta đọc Tâm Kinh: “Quán Tự Tại Bồ Tát chiếu kiến Ngũ Uẩn giai không”, đó là Pháp Chấp cũng phá. Phá được Pháp Chấp sẽ minh tâm kiến tánh, người Tiểu Thừa không có cách nào đạt đến cảnh giới này. Đây là điều thứ nhất, nói rơ sự chấp trước của họ.

 

      (Diễn) Hựu phục Thanh Văn nhân, đa ư Tứ Đế trung, cư Diệt dĩ hưu, cánh bất tiền tấn, thành Triền Không chủng.

  () 又復聲聞人,多於四諦中,居滅已休,更不前進,成纏空種。

      (Diễn: Lại nữa, hàng Thanh Văn phần nhiều ngừng nghỉ nơi Trạch Diệt Vô Vi trong Tứ Đế, chẳng c̣n tiến lên nữa, trở thành hạng người bị Không trói buộc).

 

      Đây là căn bệnh lớn thứ hai của người Tiểu Thừa. Phần trên nói về tập khí khó đoạn trong quá tŕnh tu hành, c̣n phần này nói họ lầm lẫn tưởng Thiên Chân Niết Bàn mà họ đă chứng đắc là rốt ráo. Tứ Đế là Khổ - Tập - Diệt - Đạo. Diệt Đế là quả báo xuất thế gian. Đạo là nhân xuất thế gian. Hai thứ Khổ và Tập là nhân quả thế gian; Khổ là quả thế gian, tam giới đều khổ. Tập là phiền năo, là cái nhân của tam giới. Tứ Đế Khổ - Tập - Diệt - Đạo là nói đến hai thứ nhân quả thế gian và xuất thế gian. Nếu chúng ta đọc Tứ Giáo của Thiên Thai Trí Giả đại sư sẽ biết Tứ Đế có Tứ Giáo Tứ Đế, mức độ sâu hay cạn trong ấy khác biệt rất lớn. Người Nhị Thừa tu Tạng Giáo Tứ Đế; nói cách khác là Sanh Diệt Tứ Đế, từ đầu đến cuối họ tuân thủ trong phạm vi ấy. Họ tu đạo, quá nửa là ba mươi bảy Đạo Phẩm. Pháp môn tu tập của người Tiểu Thừa hết sức nhiều, nhưng nói chung, chẳng ra ngoài ba mươi bảy Đạo Phẩm. Giống như trong Đại Thừa có vô lượng pháp môn, nhưng nói chung chẳng ra ngoài Lục Độ. Lục Độ là tổng cương lănh của Đại Thừa, ba mươi bảy đạo phẩm là cương lănh của Tiểu Thừa.

      Họ đoạn hết Kiến Tư phiền năo, chứng Tứ Quả La Hán; do vậy, ở trong cảnh giới ấy, cho rằng không c̣n có chuyện ǵ nữa! Tứ Quả La Hán không c̣n học nữa. Những thứ cần phải học họ đă học toàn bộ, tốt nghiệp rồi. Đích xác đă tốt nghiệp rồi, nhưng chẳng qua vị ấy tốt nghiệp Tiểu Học! Đoạn hết Kiến Tư phiền năo, c̣n có Trần Sa và Vô Minh, nhưng chính vị ấy không biết. Nếu biết, nhất định sẽ hồi Tiểu hướng Đại. Vị ấy không biết, ngỡ ḿnh đă đạt đến rốt ráo. “Cư Diệt dĩ hưu” (ở trong Diệt bèn ngừng nghỉ), “Diệt” là chứng đắc Trạch Diệt Vô Vi, chúng ta thường gọi là Thiên Chân Niết Bàn, chẳng c̣n tiến lên nữa, trụ ở trong ấy. Do vậy, trong kinh điển Đại Thừa, đức Thế Tôn thường quở trách bọn họ “đọa vô vi khanh” (rớt vào hầm vô vi). Thiên Chân Niết Bàn là “hầm vô vi”, đọa lạc trong chỗ này, rất đáng thương! Bất quá, La Hán tuyệt đối chẳng vĩnh viễn đọa trong hầm vô vi, tuy ở đây nói là “cánh bất tiền tấn” (chẳng c̣n tiến lên), nhưng điều này có tánh chất thời gian. Trong kinh điển thường nói: Bậc A La Hán chứng đắc Vô Vi, trụ trong cảnh giới ấy hai vạn đại kiếp rồi mới giác ngộ, mới quay đầu lại, thời gian này khá dài. Bích Chi Phật thông minh hơn La Hán, phải trụ [trong Thiên Chân Niết Bàn] một vạn đại kiếp mới có thể quay đầu. Kinh điển thường nói “định tánh La Hán” là nói đến hạng người này. Thời gian họ trụ trong cảnh giới Thiên Chân Niết Bàn khá dài, chẳng chịu tiến lên. “Thành Triền Không chủng”, bị Không trói buộc. Họ vượt ngoài Hữu, nhưng chẳng thể vượt khỏi Không, bị Không trói buộc. Đây là nói về Tứ Quả Thanh Văn.

 

      (Diễn) Duyên Giác nhân đa ư giác minh trung, tức lập Niết Bàn, nhi bất tiền tấn, sanh bất hóa chủng.

      () 緣覺人多於覺明中,即立涅槃,而不前進,生不化種。

      (Diễn: Hàng Duyên Giác phần nhiều tưởng giác minh là Niết Bàn, chẳng c̣n tiến lên nữa, trở thành chủng tánh chẳng biến đổi).

 

      Duyên Giác là Bích Chi Phật, căn tánh bén nhạy hơn Thanh Văn. Họ tu Quán, từ Thập Nhị Nhân Duyên mà nhập đạo. Thanh Văn tu Định, từ Định nhập môn, đoạn Kiến Tư phiền năo. Duyên Giác thông minh, không chỉ có Định mà c̣n có Giác Quán, từ mười hai nhân duyên mà nhập môn, hiểu “nhân duyên sở sanh pháp, ngă thuyết tức thị Không” (các pháp từ nhân duyên sanh ra, ta nói chúng chính là Không). Đức Phật thường nói như thế! Các pháp sanh từ nhân duyên không có tự tánh, bản thể của nó chính là Không. Vị ấy hiểu được đạo lư này, cho nên có thể bỏ hết thảy pháp, chẳng chấp trước, nhưng cho rằng cảnh giới mà chính ḿnh đă chứng đắc là Niết Bàn viên măn rốt ráo, chẳng biết cảnh giới của ḿnh chẳng khác A La Hán cho mấy, chẳng cao minh hơn bao nhiêu, cũng là ở trong “hầm vô vi”; bởi lẽ, vị ấy cũng không biết rơ. Loại người này “sanh bất hóa chủng”, “hóa” là biến hóa, vị ấy ngừng nghỉ giữa chừng ở chỗ này.

 

      (Diễn) Cố đa chấp Không, bất tu Tịnh Độ giả.

      () 故多執空、不修淨土者。

      (Diễn: V́ thế, họ phần nhiều chấp Không, chẳng tu Tịnh Độ).

 

      Thanh Văn, Duyên Giác, hai hạng người này tu đến quả vị rốt ráo trong Tiểu Thừa, đều chấp trước Không, [cho rằng] Không ấy chính là Niết Bàn, mà cũng là Diệt Đế trong Tứ Đế, chấp trước vào điều này. Do vậy, họ “chẳng tu Tịnh Độ”, tự nghĩ chính ḿnh đă chứng đắc Niết Bàn, c̣n có ǵ để tu nữa sao? Chẳng chịu tu Tịnh Độ!

 

      (Diễn) Tự vị dĩ đắc Niết Bàn cố, hựu phục yếm ly hữu vi cố.

      () 自謂已得涅槃故,又復厭離有為故。

      (Diễn: Tự cho rằng ḿnh đă đắc Niết Bàn, lại c̣n chán ĺa hữu vi).

 

      Một đằng là [cứ tưởng] tự ḿnh đă chứng đắc Niết Bàn, “chứng đắc Niết Bàn” là thành Phật rồi, tự nghĩ ḿnh đă viên măn. Đằng khác là chẳng muốn tu thêm nữa. Đó là căn bệnh của họ, gốc bệnh ở chỗ này. V́ sao đức Phật khuyên hai hạng người này tu Tịnh Độ? Quư vị phải hiểu: Chỉ có pháp môn Tịnh Độ mới có thể giúp chúng ta đạt đến Niết Bàn rốt ráo. Họ chứng đắc Tương Tự Niết Bàn, chứ không phải là Niết Bàn rốt ráo, chỉ đoạn Kiến Tư phiền năo, chưa phá căn bản vô minh. Đức Phật chẳng dùng các pháp môn khác để dạy họ, mà dùng pháp môn Niệm Phật để dạy bảo họ, thật là đại từ đại bi. Nếu họ hồi tâm chuyển ư, niệm Phật, lập tức văng sanh, trừ phi họ chẳng xoay chuyển ư niệm, chứ hễ ư niệm chuyển bèn văng sanh, mà phẩm vị văng sanh lại c̣n cao hơn chúng ta. Với tŕnh độ của họ, văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới không phải là sanh trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư, mà là sanh trong cơi Phương Tiện Hữu Dư. V́ sao? Họ đă đắc Sự nhất tâm bất loạn. Sự nhất tâm bất loạn là đoạn Kiến Tư phiền năo, mỗi vị ấy đều đă đoạn Kiến Tư phiền năo. Do vậy, chỉ cần hồi tâm phát nguyện liền thành bậc thượng thiện nhân trong cơi Phương Tiện Hữu Dư của Tây Phương Cực Lạc thế giới. Đích xác là chẳng có một pháp môn nào thẳng chóng, ổn thỏa, thích đáng bằng pháp môn này. V́ sao đức Phật bảo họ niệm Phật? Đạo lư là ở chỗ này!

      Do đây có thể biết: Nếu chúng ta niệm Phật, dẫu công phu kém một chút, sanh vào cơi Phàm Thánh Đồng Cư, nhưng so với hàng Nhị Thừa chưa hồi Tiểu hướng Đại, chúng ta cao minh hơn họ quá nhiều, họ chẳng bằng chúng ta. Thế nhưng, người Nhị Thừa có mấy ai chịu hồi Tiểu hướng Đại? Chẳng dễ dàng! Thật sự nhập cảnh giới ấy, nếu quư vị muốn khuyên họ hồi Tiểu hướng Đại, quá khó khăn, gần như không thể nào! Đức Phật làm thế nào để khuyên họ? Họ đă thật sự chứng Cửu Thứ Đệ Định, c̣n chưa nhập Niết Bàn; lúc ấy chính là cơ hội để khuyên bảo họ. Do vậy, dụng ư của Phật là nhắm vào bậc A La Hán trong lúc ấy. “Bậc A La Hán vào lúc ấy” là ai vậy? Chính là Thường Tùy Chúng của Thích Ca Mâu Ni Phật thường được nhắc tới trong kinh điển, một ngàn hai trăm năm mươi lăm vị, chính là họ. Kinh này vừa mở đầu liền liệt kê mười sáu vị La Hán thượng thủ, đối với các vị ấy mà nói kinh này. Những vị ấy có văng sanh hay không? Tôi nghĩ họ chắc chắn văng sanh. Bởi lẽ, đức Phật nhắm vào họ mà giảng [kinh này]. Khi đức Phật tại thế, những đệ tử chứng đắc A La Hán đều niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, huống ǵ đời sau!

      Các vị tổ sư đại đức phiên dịch kinh điển và hoằng pháp trải qua các đời tại Trung Quốc, từ đời Tùy - Đường trở về trước gần như là những vị đă chứng Tam Quả, Tứ Quả rất ít thấy, nhưng Tam Quả rất nhiều; cho nên kinh này mới có thể dịch hay như vậy! Dịch kinh quả thật chẳng phải là chuyện dễ dàng! Phước báo của người Trung Quốc lớn hơn người ngoại quốc quá nhiều! Hiện thời người ngoại quốc đem kinh này dịch sang ngôn ngữ của họ hết sức khó khăn. Người tu hành chứng quả mới có năng lực theo đuổi công tác này, người b́nh thường không có năng lực dịch kinh. V́ sao? Trong bài kệ Khai Kinh có câu: “Nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa”. Họ chẳng hiểu ư nghĩa chân thật trong kinh điển, hoàn toàn là phiên dịch văn tự, phiền toái rất lớn. Ư nghĩa của Phật pháp nằm ngoài văn tự, chẳng thể chiếu theo văn tự để phiên dịch. Cổ nhân thường nói: “Y văn giải nghĩa, tam thế Phật oan” (Dựa theo văn tự để hiểu nghĩa th́ ba đời chư Phật bị oan). “Tam thế” là quá khứ, hiện tại, vị lai. Ba đời chư Phật đều kêu oan uổng!

      Mười mấy năm trước, thầy Lư gặp một người ngoại quốc cầm theo một cuốn Phật Học Từ Điển bằng tiếng Anh; thầy Lư bảo người ấy tra hai danh từ rồi nói ư nghĩa của chúng. Thầy Lư hỏi: “Lưỡng Túc Tôn là ǵ?” Người ấy nói: “Cái tôn quư nhất ở giữa hai đùi!” Thật Tướng là ǵ? Người ấy nói: “Vẻ ngoài chân thật”. [Người ấy hiểu nghĩa theo mặt văn tự của từng chữ]: Thật là chân thật, Tướng là h́nh dáng bên ngoài! Hoàn toàn dựa theo văn tự để suy đoán ư nghĩa, làm sao dịch kinh được? Bởi đó, có thể h́nh dung người ngoại quốc dịch kinh ra sao, đích xác là chẳng dễ dàng! Người Hoa may mắn, các vị đại đức thuở dịch kinh, chú giải, giảng kinh đều là người tu hành chứng quả, có rất nhiều vị là Phật, Bồ Tát tái lai...

      Đức Phật dùng pháp môn này để khuyên hàng Tiểu Thừa hăy mau chóng chứng đắc rốt ráo viên măn. Đoạn này nhằm nêu rơ dụng ư của Ngài.

      Tiếp theo đó là phân tích cặn kẽ: V́ sao họ chẳng tu Tịnh Độ? “Lương dĩ sạ đắc Ngă Không” (ấy là v́ vừa đắc Ngă Không), “sạ đắc” là vừa mới chứng đắc, hoan hỷ! Đoạn sạch phiền năo khó có lắm, niềm vui ấy chúng ta chẳng thể tưởng tượng được! Đoạn sạch phiền năo, vui sướng lắm! Nếu cảnh giới Niết Bàn chẳng vui sướng, họ đă sớm vứt bỏ rồi! Người Tiểu Thừa chứng cảnh giới ấy hết sức sung sướng, chẳng muốn vứt bỏ, quư vị khuyên họ tu ǵ họ cũng chẳng chịu tu. Đến khi ấy, đức Phật khuyên họ cũng chẳng được.

     

      (Diễn) Sạ đắc Ngă Không giả, Không hữu tứ chủng: Nhất Nhân Không, nhị Pháp Không, tam Không Không, tứ Không Không Diệc Không.

      () 乍得我空者,空有四種:一人空,二法空,三空空,四空空亦空。

      (Diễn: “Vừa đắc Ngă Không”: Có bốn loại Không: Một là Nhân Không, hai là Pháp Không, ba là Không Không, bốn là Không Không Cũng Là Không).

 

      Do đây có thể biết: Có bốn tầng cấp. Tiểu Thừa A La Hán mới chứng đắc tầng thứ nhất. Tầng thứ hai là chứng đắc của Bồ Tát, chứng đắc Pháp Không, gọi là Quyền Giáo Bồ Tát. Thật Giáo Bồ Tát mới chứng đắc Không Không. Không Không Diệc Không là cảnh giới của Địa Thượng Bồ Tát, thật sự thanh tịnh.

      Sạ đắc Ngă Không” chứng đắc cảnh giới ấy, “tức sanh đam trệ” (liền sanh đắm trước, vướng mắc), ngừng ở nơi đó, sanh ḷng tham đắm, chấp trước.

 

      (Diễn) Tức sanh đam trệ giả, vị trầm không trệ tịch, đọa vô vi khanh, ẩm tam-muội tửu dă.

      () 即生耽滯者,謂沈空滯寂,墮無為坑,飲三昧酒也。

      (Diễn: “Liền sanh đắm trước, vướng mắc” nghĩa là ch́m đắm nơi Không, vướng mắc nơi Tịch, đọa trong hầm vô vi, uống rượu tam-muội).

 

      Hai câu này đều là tỷ dụ. Tam-muội (Samādhi) là tiếng Phạn, dịch sang nghĩa tiếng Hán là Chánh Thọ, c̣n dịch là Định. Tôi vừa mới nhắc tới Cửu Thứ Đệ Định, Chánh Thọ là sự hưởng thụ đúng mực, b́nh thường. Sự hưởng thụ của chúng ta chẳng đúng mực, bất b́nh thường, có năm thứ khổ, lạc, ưu, hỷ, xả. Khổ, lạc, ưu, hỷ là bất b́nh thường. Xả Thọ là tâm t́nh rất b́nh tĩnh, không có khổ, lạc, ưu, hỷ, tuy rất tốt, nhưng thời gian ngắn ngủi, tạm bợ, chẳng thể giữ ǵn vĩnh viễn. Vĩnh viễn giữ được cảnh giới ấy th́ là Định, tạm thời có cảnh giới ấy th́ là Xả Thọ. Trên thực tế, Định là Xả Thọ. Tâm không có ưu, hỷ, thân không có khổ, sướng. Đó gọi là sự hưởng thụ đúng mực, b́nh thường. Nay bậc A La Hán đă hoàn toàn chứng đắc, hoàn toàn đạt đến cảnh giới ấy. Do vậy, họ ngừng nghỉ nơi cảnh giới ấy. Cảnh giới ấy thoải mái, hết sức tự tại. Đức Phật phê b́nh bọn họ “đọa vô vi khanh, ẩm tam-muội tửu” (đọa hầm vô vi, uống rượu tam-muội). Đă say tít rượu ấy, bất động, [dùng h́nh ảnh ấy] để h́nh dung bọn họ [đắm ch́m trong Không Tịch].

 

      (Diễn) Tịnh Phật quốc độ giáo hóa chúng sanh giả.

      () 淨佛國土教化眾生者。

      (Diễn: “Cơi Phật thanh tịnh, giáo hóa chúng sanh” là....).

     

      Tuy nghe pháp Đại Thừa, họ cũng chẳng có hứng thú lắm, v́ sao? V́ Bồ Tát đạo khó hành! Người Tiểu Thừa bỏ ĺa hết thảy cảnh giới, đạt được thanh tịnh tự tại, thanh tịnh tịch diệt, c̣n Bồ Tát ắt phải tâm địa thanh tịnh tự tại ngay trong cảnh ồn náo, công phu cao hơn người Tiểu Thừa quá nhiều. Bồ Tát có thể chống lại sự dụ dỗ, mê hoặc, c̣n người Tiểu Thừa chưa thể, tôi né tránh anh, tôi không qua lại với anh, mong sao thanh tịnh tịch diệt! V́ vậy, người Tiểu Thừa chẳng có ư nguyện độ sanh. Chẳng phải là nói họ không độ chúng sanh, mà là nếu quư vị t́m đến họ, nếu họ ưa thích quư vị th́ sẽ dạy bảo, nhất quyết chẳng chủ động dạy dỗ người khác. Quư vị đến t́m họ, nếu chẳng có duyên phận với họ, họ cũng chẳng tiếp nhận quư vị. Có duyên phận bèn tiếp nhận, chẳng giống như Bồ Tát đại từ đại bi dạy dỗ không phân biệt. Đấy là tâm lượng bất đồng!

      Chính v́ người Tiểu Thừa chẳng muốn hóa độ chúng sanh, nên đối với cơi Phật thanh tịnh (tức Tây Phương Cực Lạc thế giới), họ chẳng có hứng thú. V́ sao chúng ta muốn văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, phải hiểu rơ điều này! Nếu chẳng hiểu rơ, trong tương lai sẽ chẳng thể văng sanh! V́ trong tương lai muốn hóa độ chúng sanh th́ quư vị phải hoàn thành “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ” trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện. Nếu quư vị không có nguyện như vậy, sẽ chẳng đến thế giới Tây Phương được! Bởi lẽ, người trong thế giới Tây Phương ai nấy đều có tâm lượng rộng lớn, đều phát nguyện phổ độ chúng sanh. Quư vị phát nguyện về đó hưởng phước th́ không được rồi! Mọi người không có cách nào dung nạp quư vị cả! Tâm của người Tiểu Thừa là muốn tự ḿnh hưởng phước, chẳng muốn chuốc lấy phiền phức, chẳng muốn độ chúng sanh. Do chí thú chẳng hợp nhau, nên họ chẳng muốn văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới.

 

      (Diễn) Tịnh Danh Kinh vân.

      () 淨名經云。

      (Diễn: Kinh Tịnh Danh nói).

 

      Tịnh Danh Kinh chính là Duy Ma Cật Kinh.

     

      (Diễn) Bồ Tát thủ ư tịnh quốc, giai vị nhiêu ích chư chúng sanh cố.

      () 菩薩取於淨國,皆為饒益諸眾生故。

      (Diễn: Bồ Tát giữ lấy cơi tịnh đều nhằm lợi ích các chúng sanh).

 

      Duyên cớ như vậy, tiếp theo đây là nói về ba thứ Bồ Đề tâm.

 

      (Diễn) Bảo Tích[4], đương tri trực tâm thị Bồ Tát Tịnh Độ, Bồ Tát thành Phật thời, bất siểm chúng sanh lai sanh kỳ quốc.

      () 寶積。當知直心是菩薩淨土,菩薩成佛時,不諂眾生來生其國。

      (Diễn: Này Bảo Tích! Hăy nên biết trực tâm là Tịnh Độ của Bồ Tát. Khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sanh chẳng siểm khúc sẽ sanh về cơi Ngài).

 

      Ở chỗ này, tuy là cảnh giới của Phật, Bồ Tát, nhưng hiện thời chúng ta phải hiểu rơ, phải học v́ đại hoàn cảnh và tiểu hoàn cảnh rất tương tự. A Di Đà Phật kiến lập thế giới Cực Lạc tại Tây Phương, đó là một đại đạo tràng, nay chúng ta ở trong cái thư viện nhỏ này là một tiểu đạo tràng. Tuy A Di Đà Phật có hoằng nguyện tiếp dẫn chúng sanh niệm Phật phát nguyện cầu văng sanh trong mười phương, Ngài hoàn toàn chẳng siểm mị, bợ đỡ họ: “Các vị nhất định phải sanh về chỗ tôi”, chẳng phải vậy! Quư vị muốn đến th́ tôi hoan nghênh, chẳng muốn đến, tôi quyết chẳng ép buộc! Như vậy là đúng, Phật tâm mới thanh tịnh. Nếu thấy quư vị muốn đến bèn hoan hỷ, chẳng muốn đến bèn phiền năo th́ Phật vẫn là phàm phu! Quư vị hiểu rơ đạo lư này, chúng ta kiến lập đạo tràng bất luận lớn hay nhỏ ở chỗ này đều cũng giống như vậy. Tự viện tùng lâm vào thời cổ ở Trung Quốc, người đến học bèn hoan nghênh, người chẳng muốn đến bèn chẳng mảy may cưỡng ép họ, quyết chẳng đi ra ngoài quảng cáo, đó là thái độ học Phật.

      Cho đến việc giảng kinh th́ thính chúng nghe giảng kinh cũng là tự họ đến, cũng chẳng đi ra ngoài lôi kéo, chẳng giống như các tôn giáo khác phải đi ra ngoài lôi kéo người ta đến nghe, Phật giáo không có như thế! Phật giáo chỉ là tôi bảo quư vị: Nay ở đây chúng tôi có giảng kinh, đến hay không đến là chuyện của quư vị. Tôi chẳng báo cho quư vị biết, tức là tôi có lỗi với quư vị. Nói chung, tôi phải báo cho quư vị biết cơ hội này, quư vị muốn đến th́ hoan nghênh, không muốn đến tôi cũng chẳng trách móc quư vị. Xưa kia, tùng lâm tự viện giảng kinh bèn đem cái tràng treo trên cột cờ, người bên ngoài trông thấy: “Hôm nay chùa ấy có giảng kinh!” Ai thích nghe kinh th́ đến, [nhà chùa] quyết chẳng đi ra ngoài lôi kéo người khác. Đó là trực tâm! Tuy hoằng pháp lợi sanh, lợi lạc hết thảy chúng sanh, chớ nên đánh mất trực tâm của chính ḿnh, đó là Tịnh Độ của Bồ Tát, tâm địa thanh tịnh lại lợi ích chúng sanh, lợi ích chúng sanh quyết chẳng đánh mất cái tâm thanh tịnh của chính ḿnh.

     

      (Diễn) Thâm tâm thị Bồ Tát Tịnh Độ, Bồ Tát thành Phật thời, cụ túc công đức chúng sanh lai sanh kỳ quốc.

      () 深心是菩薩淨土,菩薩成佛時,具足功德眾生來生其國。

      (Diễn: Thâm tâm là Tịnh Độ của Bồ Tát. Khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh đầy đủ công đức sẽ sanh về cơi Ngài).

 

      Nói đơn giản, “thâm tâm” là ưa thiện chuộng đức, đó là thâm tâm. Ưa thích hết thảy pháp lành. Bồ Tát thuần thiện, Phật là “chỉ ư chí thiện[5], phàm những chúng sanh ưa thích thiện hạnh sẽ tự nhiên kéo đến, Tây Phương Tịnh Độ có đạo lư như vậy đó. Lục đạo luân hồi có nguyên lư như thế này: Thật ra, quư vị sanh vào đường nào, chắc chắn chẳng phải do vua Diêm La phán quyết quư vị đi vào đường đó, cũng chẳng phải do Phật, Bồ Tát làm chủ tể bảo quư vị đi vào đó, mà do quư vị tự động đi vào! Đi vào bằng cách nào? Quư vị rất có hứng thú đối với nơi đó, chính là như Khổng lăo phu tử đă nói trong phần Hệ Từ của kinh Dịch: “Nhân dĩ loại tụ, vật dĩ quần phân” (người nhóm theo loài, vật tụ theo bầy)[6], chí đồng đạo hợp mà! Kẻ thích làm ác, đều đi vào ác đạo, thấy cảnh giới ấy là “chí đồng đạo hợp”, bèn đi vào. Ưa thích thiện hạnh bèn đi vào thiện đạo.

      Cố nhiên nghiệp nhân trong lục đạo rất phức tạp, nhưng chủ yếu nhất th́ [nghiệp nhân của] thiên đạo là Thập Thiện Nghiệp Đạo, [nghiệp nhân của] nhân đạo là Ngũ Giới. Trong đời quá khứ, tu Ngũ Giới, Ngũ Thường, “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín” như Nho gia đă nói có cùng một tinh thần với Ngũ Giới [nhà Phật], đó gọi là “nhân cách”; trong lục đạo giữ được tư cách của nhân đạo. Tư cách để sanh lên trời là Thập Thiện, Tứ Thiền, Bát Định, Tứ Vô Lượng Tâm. Cơi trời có hai mươi tám tầng, sáu tầng ở phía dưới [thuộc về] Dục Giới Thiên lấy Thập Thiện làm chủ yếu, Tứ Thiền Thiên và Tứ Không Thiên lấy Thiền Định và Tứ Vô Lượng Tâm (từ, bi, hỷ, xả) làm chủ. Nghiệp nhân của ngạ quỷ đạo là keo kiệt, tham lam, [nghiệp nhân của] súc sanh đạo là ngu si, chẳng thể hiểu rơ đúng - sai, thiện - ác, lợi - hại, [nghiệp nhân của] địa ngục đạo là nóng giận. Trong kinh luận, đức Phật thường giảng về nghiệp nhân của lục đạo, chúng ta chớ nên không hiểu rơ! Nghiệp nhân của Thanh Văn là tu pháp Tứ Đế, Duyên Giác tu Thập Nhị Nhân Duyên, Bồ Tát tu Lục Độ, Phật là tâm b́nh đẳng. Chân từ b́nh đẳng là cái nhân thành Phật. Nh́n từ chỗ này, Tây Phương Cực Lạc thế giới cũng là nơi chí đồng đạo hợp. “Cụ túc công đức” (đầy đủ công đức), công đức là Tín - Nguyện - Hạnh.

 

      (Diễn) Năi chí lục độ vạn hạnh đẳng.

      () 乃至六度萬行等。

      (Diễn: Cho đến lục độ vạn hạnh v.v...)

 

      Bồ Tát văng sanh cơi ấy. Đối với Bồ Tát, nếu nói theo Biệt Giáo th́ các Bồ Tát thuộc địa vị Tam Hiền văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới sẽ sanh vào cơi Phàm Thánh Đồng Cư hoặc sanh vào cơi Phương Tiện Hữu Dư. Bậc Địa Thượng Bồ Tát nhất định sanh vào cơi Thật Báo Trang Nghiêm. Do vậy, văng sanh Tây Phương Tịnh Độ nhất định phải phát nguyện giáo hóa chúng sanh, phải phát ra đại nguyện ấy. Đó là nói tới “đầy đủ công đức, đầy đủ nhân lành”. Người Tiểu Thừa thiếu khuyết chuyện này, chỉ độ chính ḿnh, chẳng độ chúng sanh. V́ thế, họ rất khó tiếp nhận điều kiện này!

 

      (Diễn) Tâm bất hỷ nhạo giả, hướng do trước Hữu.

      () 心不喜樂者,向由著有。

      (Diễn: Tâm chẳng vui thích v́ c̣n chấp Hữu).

 

      Một mực chấp vào Có.

 

      (Diễn) Cố thọ luân hồi.   

      () 故受輪迴。

      (Diễn: Nên hứng chịu luân hồi).

 

      Trước khi chứng đắc A La Hán, người ấy ở trong sanh tử luân hồi, nguyên nhân của sanh tử luân hồi là chấp Có: Có thiện, có ác, có tham, có sân, có si. Những thứ này quả thật đều chẳng có, chỉ là huyễn giác trong mê tâm của quư vị. Nói theo cách bây giờ, chúng thuần túy là một thứ vọng tưởng trừu tượng chẳng có thật. Ví như tham, quư vị hăy hồi quang phản chiếu cặn kẽ, tham ở nơi đâu? Trong bộ phận nào, tế bào nào của thân thể có tham? T́m chẳng ra! Kinh Kim Cang nói: “Tam tâm bất khả đắc” (ba tâm chẳng thể được). Tâm tham chẳng thể được, tâm si chẳng thể được, tâm sân khuể chẳng thể được, thiện tâm chẳng thể được, ác tâm chẳng thể được, quư vị t́m không ra. Những tâm ấy ở chỗ nào? Nếu biết chúng ở chỗ nào, sẽ dễ giải quyết lắm! Hiện thời kỹ thuật giải phẫu rất tiến bộ, tế bào nào có tâm tham bèn cắt bỏ đi, tâm tham chẳng c̣n nữa! T́m chẳng ra, không hề có!

      Thế nhưng có mấy ai trong bọn phàm nhân chúng ta hồi quang phản chiếu, t́m ṭi phiền năo của chính ḿnh rốt cuộc là ở chỗ nào? T́m Tham trọn chẳng thể được! Ví như chúng ta dấy lên ư niệm Tham nơi cảnh giới, cổ đại đức thường nói: “Chẳng sợ niệm khởi, chỉ sợ biết chậm”. Quư vị dấy lên tâm tham, đừng lo lắng, hễ tâm tham dấy lên bèn ngay lập tức xoay chuyển nó, tâm tham ở nơi đâu? Quư vị t́m nó, nó sẽ không c̣n nữa. Đó gọi là Quán Chiếu. Chẳng thể quán chiếu th́ dùng một câu Phật hiệu để thay thế, v́ cái tâm quán chiếu phải rất vi tế, kẻ tâm ư thô tháp, hời hợt sẽ không thể làm được, công phu này rất khó thành tựu! Thực tại là chẳng thể được! V́ thế, oan uổng luân hồi trong lục đạo, chẳng có thứ ấy, chính ḿnh ngỡ nó là có. Ngỡ là có? Chẳng phải là thật sự có ư? Chẳng phải thật sự có! Giả có! Chúng ta cần phải giác ngộ điều này!

      Người Tiểu Thừa đến khi ấy cũng được coi là đă giác ngộ, đă chứng đắc Chánh Giác. Chánh Giác là biết Nhân Ngă Không, biết Kiến Tư phiền năo đều là Không, người ấy mới có thể đoạn được. Nếu chẳng biết là Không, sẽ chẳng đoạn được! Người ấy biết Kiến Tư phiền năo là trừu tượng, trọn chẳng thể được, đấy chỉ là một thứ quan niệm sai lầm mà thôi! Thật ra, đâu có chuyện ấy! Hiện tại, họ đă nhập cảnh giới này.

 

      (Diễn) Luân hồi sạ tức.

      () 輪迴乍息。

      (Diễn: Luân hồi vừa dứt).

 

      Vượt thoát lục đạo luân hồi, đắc tự tại. Người Nhị Thừa được giải thoát nửa phần, chưa giải thoát rốt ráo. Họ vượt thoát lục đạo luân hồi, chẳng c̣n thọ sanh trong tam giới nữa. Nếu họ lại sanh trong tam giới là do “thừa nguyện tái lai” (theo bổn nguyện trở lại), chứ không phải do nghiệp lực mà trở lại, họ do nguyện lực mà sanh. Phàm là những bậc do nguyện lực mà sanh th́ đều đă hồi Tiểu hướng Đại. Nếu không hồi Tiểu hướng Đại, họ chẳng chịu trở lại, v́ sao? Họ sanh vào đây nhằm giáo hóa chúng sanh. Nếu không, họ sanh vào thế giới này chẳng có ư nghĩa ǵ hết! V́ thế, chẳng hồi Tiểu hướng Đại, sẽ chẳng thể quay lại.

     

      (Diễn) Vị trước thiên không Niết Bàn chi lạc.

      () 味著偏空涅槃之樂。

      (Diễn: Tham đắm niềm vui nơi Thiên Không Niết Bàn).

 

       Do trong Thiền có pháp vị, họ bèn hưởng thụ. Chữ “vị” () tượng trưng cho sự hưởng thụ; sự hưởng thụ tối cao vô thượng [đối với Tiểu Thừa] là “Thiên Không Niết Bàn chi lạc”. Cái Không này chẳng thể gọi là Chân Không, chỉ có thể gọi là Thiên Không, tức là chưa viên măn Chân Không, chỉ có thể chứng đắc một phần. Do chẳng viên măn nên gọi là Thiên Không (cái Không thiên lệch).

 

      (Diễn) Văn thuyết Bồ Tát quảng hành vạn hạnh, Tịnh Độ hóa sanh, tự nhiên bất sanh nhất niệm háo nhạo chi tâm dă.

      () 聞說菩薩廣行萬行,淨土化生,自然不生一念好樂之心也。

      (Diễn: Nghe nói Bồ Tát rộng hành muôn hạnh, Tịnh Độ hóa sanh, tự nhiên chẳng sanh một tâm niệm ưa thích nào!)

 

      Nghe nói Tịnh Độ phải thệ nguyện học vô lượng pháp môn, phải thệ nguyện độ vô biên chúng sanh, [họ bèn cảm thấy] chuyện này phiền phức quá, nhiều thêm một chuyện chẳng bằng bớt đi một chuyện, bớt đi một chuyện chẳng bằng không có chuyện ǵ. Đấy là ư niệm của bậc A La Hán. V́ thế, đương nhiên họ chẳng muốn tiếp nhận, hứng thú chẳng dấy lên! Trạng huống của người Tiểu Thừa nói chung là như thế; nhưng đức Phật vẫn dùng các thứ phương tiện thiện xảo để dẫn dụ họ, khiến cho họ quay đầu. “Cố linh hồi Tiểu hướng Đại, phát ư văng sanh” (nên khiến cho họ hồi Tiểu hướng Đại, phát tâm văng sanh). Đấy là ư nghĩa thứ tư v́ sao đức Phật nói kinh này. Chúng ta lại xem đoạn tiếp theo, Liên Tŕ đại sư tự ḿnh chú giải đoạn văn của Ngài.

 

      (Sớ) Sạ đắc Ngă Không giả.

      () 乍得我空者。

      (Sớ: Vừa đắc Ngă Không là...)

 

      Ngài chú giải rất cặn kẽ, quả thật khiến cho chúng ta có thể thâm nhập kinh giáo. Quư vị thật sự đọc kỹ càng bộ Sớ Sao này th́ hết thảy các kinh luận hễ tiếp xúc liền thông hiểu, bởi lẽ, tất cả những nguyên lư và nguyên tắc trong các kinh luận Đại Tiểu Thừa đều giống nhau, đúng là “một kinh thông, hết thảy kinh thông”. Nhưng quán thông bộ kinh này quả thật chẳng dễ dàng, nếu chúng ta không có bộ Sớ Sao của Liên Tŕ đại sư và sách Diễn Nghĩa của pháp sư Cổ Đức, chúng ta chẳng dễ ǵ nh́n ra ư nghĩa trong kinh Di Đà.

     

      (Sớ) Tiểu Thừa đản ngộ Uẩn trung vô ngă, bất tri Uẩn diệc thị Không.

      () 小乘但悟蘊中無我,不知蘊亦是空。

      (Sớ: Tiểu Thừa chỉ ngộ vô ngă trong Uẩn, chẳng biết Uẩn cũng là Không).

     

      Uẩn là Ngũ Uẩn, tức Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Năm loại này là phân chia tổng quát. Nếu chia tỉ mỉ, bất cứ một pháp nào sanh khởi đều có vô lượng nhân duyên, đúng như kinh Hoa Nghiêm đă nói, hết sức phức tạp. Đức Phật quy nạp vô lượng nhân duyên thành năm loại lớn, gọi là Ngũ Uẩn. Ngũ Uẩn triển khai thành Bách Pháp, nhưng Bách Pháp vẫn là quy nạp của hết thảy các pháp. Trong Bách Pháp Minh Môn Luận, Thiên Thân Bồ Tát đă giảng rất rơ ràng. V́ thế, Ngũ Uẩn là hết thảy các pháp quy nạp lại, quy nạp thành năm loại lớn. Hết pháp thế gian và xuất thế gian chẳng ra ngoài năm loại lớn này. Hữu t́nh chúng sanh là hiện tượng do năm loại nhân duyên lớn này ḥa hợp sanh khởi. Sắc là vật chất, hiện thời chúng ta quy nạp Thọ, Tưởng, Hành, Thức thành tinh thần. Phàm là động vật, trừ nhục thể vật chất ra, c̣n có một bộ phận là tinh thần th́ mới là một vật thể sống. Nếu là thực vật và khoáng vật th́ không có bộ phận tinh thần, chỉ có Sắc. Trong Sắc lại nói đến Tứ Đại là Địa, Thủy, Hỏa, Phong. Mấy ngàn năm trước khoa học hoàn toàn chưa phát hiện kết cấu của vật chất, nhưng đức Phật đă nói đến Tứ Đại. Trong kinh điển, đức Phật thường nói: Hết thảy các tướng là một hiệp tướng. Một hiệp tướng mới là tướng thật sự b́nh đẳng, tức là tất cả hết thảy hiện tượng đều cùng do một loại vật chất tổ hợp thành.

      Tứ Đại là bốn yếu tố vật chất. Địa là một vật thể, ngay cả vật nhỏ đến đâu đi nữa, nó vẫn là vật thể. Địa tượng trưng cho Thể, tức vật thể. Hỏa Đại tượng trưng cho ôn độ (độ ấm nóng), con người hiện thời gọi Hỏa là “dương điện” (positive). Thủy Đại tượng trưng cho độ ẩm, Thủy là [những vật chất] tích âm điện (negative). Phong Đại là sự chuyển động, chẳng ngưng lặng. Nay chúng ta gọi chúng là nguyên tử, điện tử, các hạt cơ bản (elementary particles), trong tương lai khoa học lại phân tích, c̣n có thể phát hiện những hạt nhỏ hơn nữa. Thật ra, từ mấy ngàn năm trước, đức Phật đă thấy được vật chất cơ bản, trong kinh đă nói rất rơ ràng. Vật chất nhỏ nhất được gọi là “cực vi vi”, Thiên Nhăn của A La Hán không thể thấy được, nhưng Ngũ Nhăn viên minh của Phật trông thấy rơ ràng. Tất cả vật chất đều do những vật chất cơ bản này (cực vi vi) sắp xếp, tổ hợp thành, nhưng chúng có công thức cấu tạo khác nhau. Do vậy, Phật pháp thấy hết thảy hiện tượng hoàn toàn b́nh đẳng. Cổ nhân tỷ dụ: “Dùng vàng chế đồ vật, món nào cũng là vàng”. Vật chất đều là hoàng kim, tuy làm thành các món đồ vật khác nhau, mấy ngàn thứ, mấy vạn h́nh thể khác nhau, nhưng nguyên liệu hoàn toàn tương đồng, giá trị giống hệt như nhau.

      Ngũ Uẩn được chia thành hai loại: Một là tinh thần, hai là vật chất. V́ vậy, Ngũ Uẩn lại được quy nạp thành hai pháp là Sắc và Tâm. Sắc là nói về vật chất; trong Ngũ Uẩn, Tâm được chia ra thành bốn, Thọ, Tưởng, Hành, Thức đều là Tâm; nhưng Thức là bản thể của Tâm, Thọ, Tưởng, Hành là tác dụng. A La Hán hiểu rơ Ngũ Uẩn vốn là có, trong Ngũ Uẩn không có Ngă, Ngă là giả. Ví như cái nhà, nhà là giả, những vật liệu xây dựng là thật. Nhà do những ǵ tạo thành? Vốn là cốt sắt, xi-măng, gạch, ngói, những thứ ấy là thật. Chúng ta xếp đặt những vật liệu xây dựng, cất thành một căn nhà. Vật liệu chất một đống th́ chẳng gọi là “nhà”. Thật ra, nhà có sanh diệt hay không? Chẳng sanh, chẳng diệt. Sắp xếp lại th́ vật liệu nhiều dường ấy, mà tách ra th́ cũng là chừng ấy vật liệu, nhà chẳng có sanh diệt, chỉ có sự kết hợp là tụ hay tán mà thôi!

      Thân người chúng ta cũng là hiện tướng (tướng được biến hiện) do Tứ Đại và Ngũ Uẩn tụ tập, con người chúng ta có sanh diệt hay chăng? Chẳng có sanh diệt! Thật sự là không có! Nếu quư vị nghĩ con người có sanh diệt, có già chết, th́ đó là huyễn giác, quư vị đă thấy lầm rồi! Không có sanh diệt, giống như cuốn sách này, đóng lại thành tập th́ là một cuốn sách, sau khi tách ra th́ chừng đó trang tách rời, hỏi quư vị có sách hay không? Không có sách! Sách có sanh hay chăng? Không có! Đóng lại th́ chẳng tăng thêm một trang nào, xả ra cũng chẳng bớt đi trang nào, nó là nhân duyên tụ hay tán mà thôi! Khi tụ tập chẳng tăng, lúc tán chẳng giảm. Chẳng tăng, chẳng giảm, bất sanh, bất diệt. Tướng chân thật của hết thảy các pháp là như thế. Sanh th́ hoan hỷ, diệt th́ đau khổ. Đó là quư vị thấy lầm, hiểu lầm, chính ḿnh chẳng liễu giải chân tướng sự thật, nên mới tự chuốc lấy phiền phức! Nếu thật sự hiểu rơ chân tướng sự thật này, đâu có sanh tử! Nếu ư niệm sanh tử của một cá nhân đă bỏ được và ư niệm được - mất cũng chẳng c̣n nữa, người ấy sung sướng lắm! A La Hán chứng đắc cảnh giới này; v́ thế, các Ngài hết sức sung sướng. Các Ngài hiểu Ngũ Uẩn vô ngă, nhưng chẳng hiểu Ngũ Uẩn cũng là Không. Ví như, chúng ta hiểu rơ cái nhà là giả, do các vật liệu xây dựng tụ hay tán mà hiện tướng sanh diệt. Thật ra, t́m chẳng được tướng sanh diệt. Nếu nghiên cứu những vật liệu ấy th́ chúng cũng do nhân duyên tụ hợp, không có một pháp nào chẳng phải là nhân duyên tụ hợp. Đă do nhân duyên sanh th́ nó hoàn toàn không có tự tánh. Tuy kinh Phật nói đến vật chất cơ bản, nhưng vật chất cơ bản do đâu mà có? Vẫn do nhân duyên hiển hiện, bởi vậy, bản thể của chúng chính là Không!

      Vật chất cơ bản từ nơi nào đến? Từ Kiến Phần biến hiện, cũng là trong Không sanh ra Có. Nếu nói tới ba tế tướng trong A Lại Da Thức th́ do một niệm bất giác trong bổn tánh nên có vô minh, từ vô minh sanh ra nghiệp tướng. Nghiệp tướng là tướng Động, từ trong cái Động ấy mà sanh ra Kiến, tức là tướng Thấy; nay chúng ta nói tướng Thấy là một bộ phận của tinh thần. Do vậy, vật chất do tinh thần biến hiện. Nói cách khác, tâm và vật có cùng một nguồn. Tâm và vật có thể chuyển biến lẫn nhau, nhưng các nhà khoa học hiện thời chưa đạt đến cảnh giới này. Hiện nay, các nhà khoa học biết năng lực và vật chất có thể chuyển biến thành lẫn nhau, nhưng đó là năng lực vật chất, chứ chưa phải tâm năng. Phật pháp nói tâm năng và vật chất có thể chuyển biến trở thành lẫn nhau. Nếu có thể đạt đến mục tiêu này, chúng ta sẽ tùy tâm sở dục (thuận theo ḷng muốn) trong hết thảy các thứ thụ dụng.

      Tây Phương Cực Lạc thế giới và các cơi nước Phật v́ sao trang nghiêm dường ấy? Muốn mặc áo, y phục bèn ở trên thân. Muốn ăn ǵ, đồ ăn bèn hiện trước mặt, ăn xong cũng chẳng cần rửa chén, không hề có, biến mất. Trong cái nh́n của chúng ta, đúng là chuyện thần thoại tiểu thuyết! Thật ra, xét theo lư luận th́ hoàn toàn hợp lư! Ngày nào chúng ta thật sự đạt đến mức tâm năng và vật chất có thể chuyển biến trở thành lẫn nhau, không có thứ ǵ chẳng phải là “tùy tâm sở dục”. V́ thế, Tây Phương Cực Lạc thế giới là nơi khoa học tiến triển đến mức tột cùng. Các nhà khoa học trong thế giới chúng ta tốt nhất là nên du học trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, học lấy những môn khoa học cao minh nhất, viên măn nhất, rốt ráo nhất. Đó là thật, chẳng phải giả! Những đại khoa học gia của phương Tây đích thực là những người thông minh bậc nhất của nhân loại, đáng tiếc là họ chưa hề tiếp xúc Phật pháp, chưa nghe kinh Phật. Nếu nghe kinh Phật, tiếp xúc Phật pháp, họ càng thông minh, nhất định sẽ phát minh nhiều thứ hơn nữa! Trong kinh Phật có rất nhiều khải thị chẳng thể nghĩ bàn, khoa học càng tiến bộ, càng có ích cho Phật pháp. Những thứ đức Phật đă giảng đều có thể chứng thực!

      Do họ (Thanh Văn, Duyên Giác) chẳng biết Ngũ Uẩn là Không, Ngũ Uẩn đă là Không th́ bộ phận tinh thần chẳng cần phải nói nữa! Ngay cả Sắc cũng là Không, Sắc cũng chẳng phải là chân thật. Chúng ta nói đến vật chất cơ bản nhất, chúng cũng chẳng thật sự tồn tại, cũng là pháp sanh bởi nhân duyên, duyên của chúng là nghiệp tướng, kiến tướng. Do vậy, mới biến hiện ra Tướng Phần, biến hiện tướng cảnh giới. Chẳng những phải có Thiền Định rất sâu, mà c̣n phải có trí huệ thật sự, th́ mới có thể thấy rơ chân tướng sự thật này, giống như trong Tâm Kinh đă nói: “Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhă Ba La Mật Đa thời”. Đó chẳng phải là Bát Nhă nông cạn, mà là Bát Nhă sâu, trí huệ rất sâu! “Hành” là quán chiếu, chiếu kiến. “Chiếu kiến Ngũ Uẩn giai Không”, hai pháp Sắc và Tâm đều trọn chẳng thể được! Đấy là “chiếu kiến Ngũ Uẩn giai Không”. Họ cũng chẳng có Pháp Chấp, mà cũng chẳng chấp trước pháp, như vậy th́ mới có thể chứng đắc Bồ Đề viên măn rốt ráo. Người Nhị Thừa không có công phu này!

     

      (Diễn) Đản ngộ Uẩn trung vô Ngă, bất tri Uẩn diệc thị Không giả, Không hữu nhị: Nhất Ngă Không, vị vô ngă, nhân, chúng sanh, thọ giả, thử thị Nhị Thừa sở chứng. Nhị Pháp Không, vị vô Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Thử thị Bồ Tát sở chứng. Kim văn “Uẩn trung vô Ngă”, thị Ngă Không dă. “Uẩn diệc thị Không” thị Pháp Không dă. Tiểu Thừa quán thân bất tịnh, quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô Ngă. Cố ngộ Uẩn trung vô ngă. Nhược chiếu kiến Ngũ Uẩn giai Không, tắc thị đại Bồ Tát cảnh giới, cố bỉ bất tri.

      () 但悟蘊中無我不知蘊亦是空者,空有二:一我空,謂無我、人、眾生、壽者,此是二乘所證。二法空,謂無色受想行識,此是菩薩所證。今文蘊中無我,是我空也;蘊亦是空,是法空也。小乘觀身不淨,觀受是苦,觀心無常,觀法無我,故悟蘊中無我。若照見五蘊皆空,則是大菩薩境界,故彼不知。

      (Diễn: “Nhưng ngộ Uẩn vô Ngă, chẳng biết Uẩn cũng là Không”. Không có hai thứ: Một là Ngă Không, tức là không có ta, người, chúng sanh, thọ giả; đây là điều được chứng bởi hàng Nhị Thừa. Hai là Pháp Không tức là không có Sắc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức, đây là sở chứng của Bồ Tát. Câu “trong Uẩn không có Ngă” trong đoạn văn này chính là Ngă Không. Câu “Uẩn cũng là Không” chính là Pháp Không. Tiểu Thừa quán thân bất tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngă; cho nên ngộ trong Uẩn không có Ngă. Nếu chiếu kiến Ngũ Uẩn đều là Không th́ đó là cảnh giới của bậc đại Bồ Tát, cho nên họ (những người Tiểu Thừa) chẳng biết) .

     

      Trong kinh Kim Cang, nửa bộ đầu nhằm phá Tứ Tướng: “Nhược Bồ Tát hữu Ngă Tướng, Nhân Tướng, Chúng Sanh Tướng, Thọ Giả Tướng, tức phi Bồ Tát” (Nếu Bồ Tát có Ngă Tướng, Nhân Tướng, Chúng Sanh Tướng, Thọ Giả Tướng th́ chẳng phải là Bồ Tát), chẳng phải là Bồ Tát! Tiêu chuẩn thấp nhất của Bồ Tát là phải phá Tứ Tướng. Bồ Tát phá Tứ Tướng có công phu b́nh đẳng với bậc Tiểu Thừa A La Hán. Tiểu Thừa A La Hán phá Tứ Tướng, vô ngă! [Chỉ chứng đắc] vô ngă th́ địa vị Bồ Tát ấy trong Đại Thừa không cao, thuộc vào địa vị Tam Hiền Bồ Tát, là địa vị Thất Tín trong Viên Giáo. Địa vị Sơ Tín Bồ Tát trong Viên Giáo là giai đoạn đầu của năm mươi mốt địa vị Bồ Tát trong Viên Giáo, giống như đi học: Lớp Một là Tiểu Thừa Sơ Quả Tu Đà Hoàn, đă phá Thân Kiến, chẳng c̣n chấp cái thân này là ta, nhưng c̣n có Ngă Chấp. Ắt phải đạt đến Tứ Quả, mới phá Ngă Chấp. V́ sao? Đoạn Tư Hoặc rồi, tức là đă đoạn tham, sân, si, mạn, mới thật sự đạt đến Vô Ngă. V́ thế, cảnh giới của kinh Kim Cang là cảnh giới của địa vị Thất Tín Bồ Tát trong Viên Giáo trở lên. Cảnh giới trong nửa sau của bộ kinh ấy cao lắm, phá Tứ Kiến. “Nhược Bồ Tát hữu Ngă Kiến, Nhân Kiến, Chúng Sanh Kiến, Thọ Giả Kiến, tức phi Bồ Tát”. Cảnh giới này c̣n cao hơn cảnh giới trước. Trong phần trước là Phá Tướng, nhưng chưa Phá Kiến; trong phần sau là Phá Kiến, triệt để phá trừ, nhà Thiền gọi [cảnh giới này] là “minh tâm kiến tánh”. Bồ Tát thuộc địa vị Sơ Trụ trong Viên Giáo trở lên được gọi là Pháp Thân đại sĩ, chiếu kiến Ngũ Uẩn đều Không. Đó là cảnh giới của nửa sau bộ kinh Kim Cang.

      Được nêu ra ở đây là Tiểu Thừa, người Tiểu Thừa tu ba mươi bảy đạo phẩm, chia thành bảy khoa mục. Bất luận tu học bất cứ pháp môn nào, đối với mười hai mục trong ba khoa Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ư Túc, chẳng thể thiếu khuyết; pháp môn Niệm Phật của chúng ta cũng không phải là ngoại lệ! Đó gọi là Chánh Trợ Song Tu. Niệm Phật là chánh tu, nếu trong cuộc sống có thể thêm vào mười hai hạng mục thuộc ba khoa ấy th́ chúng sẽ giúp chúng ta đắc nhất tâm, giúp chúng ta thành tựu “công phu thành phiến”.

      Trong Tứ Niệm Xứ, điều thứ nhất là “quán thân bất tịnh”. Chướng ngại lớn nhất của chúng sanh là quá yêu tiếc thân thể của chính ḿnh, đây là v́ chẳng liễu giải chân tướng sự thật. Chẳng yêu tiếc thân thể của chính ḿnh cũng là lầm lỗi, sai lầm, nhưng quá yêu tiếc thân thể cũng là sai lầm! Nhà Phật thường nói “tá giả tu chân” (nhờ cái giả để tu cái thật), [nếu chúng ta hiểu câu này có nghĩa là] chúng ta phải khéo ǵn giữ thân thể này, dùng nó để tu Chân, [hiểu như vậy] là hiểu lầm! “Tá giả” th́ Giả là ǵ? Phật pháp là giả, nhờ vào Phật pháp giả để tu chân tánh, chứ không phải là nhờ vào thân thể giả tạm. Do vậy, chỗ này đúng là chớ nên hiểu lầm chút nào! Hễ lầm lẫn sẽ sai lệch quá xa. V́ thế, phải hiểu: Thân bất tịnh. Đối với thân thể này, quư vị nhất định phải có một cách nh́n khác, có nhân sinh quan khác hẳn. Ta biết thân thể này bất tịnh, là công cụ mà thôi; nay ta phải khéo lợi dụng công cụ này. Ta muốn một phen thành tựu sự nghiệp, hăy khéo sử dụng cái thân này. Kẻ chẳng liễu giải chân tướng, coi thân này là chính ḿnh. Đối với người liễu giải chân tướng, thân là công cụ của ta, là công cụ để ta thành Phật, liễu sanh tử, đoạn phiền năo. Ta phải khéo lợi dụng nó, đừng làm hỏng nó, mà cũng chẳng yêu tiếc nó. Coi nó như tánh mạng th́ vô ích, phải khéo vận dụng nó th́ mới nên!

      Thân thể quả thật là một cỗ máy. Nay chúng ta nói đến nhuyễn thể (software) và ngạnh thể (hardware). Cỗ máy thân thể của chúng ta cũng giống như thế, nhuyễn thể lẫn ngạnh thể đều có, tổ hợp lại. Nếu khéo sử dụng bộ máy này, nó sẽ sống một trăm, hai trăm năm là chuyện b́nh thường. Hễ đoản mạng th́ nói cách khác là chưa khéo vận dụng, chẳng biết bảo dưỡng (maintain), tự ḿnh làm hư hỏng. Y học Trung Quốc quả thật phi phàm! Thầy tôi nghiên cứu y học Trung Quốc rất kỹ, cụ nói: “Y học Trung Quốc chẳng phải là trị bệnh, mà dạy con người làm thế nào để chẳng ngă bệnh, ngơ hầu có thể sống hai ba trăm tuổi!” Dự pḥng thích đáng lúc b́nh thường th́ khi thật sự có bệnh, dùng châm cứu, như hiện thời nói tới phương pháp “chỉ áp” (bấm huyệt). Trên thực tế, quả thật là bất đắc dĩ mới dùng thuốc. Thuốc thang là phương pháp trị liệu rất thấp kém, cách trị liệu bậc cao chẳng dùng đến thuốc! Hễ bị bệnh tật, nói chung là ở nơi nào đó bị chướng ngại! Chẳng hạn như huyết dịch tuần hoàn không tốt, bị bế tắc ở chỗ nào đó. Đả thông chỗ bế tắc ấy, người đó sẽ khôi phục sức khỏe, trở lại b́nh thường. Thầy thuốc thật sự cao minh nghe tiếng nói của quư vị, nh́n vào cử chỉ hành động của quư vị sẽ phán đoán mười năm, hai mươi năm sau quư vị bị bệnh ở đâu! Quán thân bất tịnh, khéo lợi dụng thân thể này, chẳng làm hỏng nó, giống như chúng ta có một chiếc xe, hoàn toàn hiểu rơ tánh năng (functionalities) của chiếc xe ấy, ta khéo lợi dụng nó để làm công cụ giao thông, tuổi thọ của nó sẽ lâu dài!

      Thứ hai, “quán thọ thị khổ”: Đối với chính ḿnh có sự cảnh giác càng lớn hơn nữa! Chẳng c̣n tham luyến sự luân hồi trong tam giới lục đạo, biết tam giới đều khổ, trong ấy chỉ có khổ, chẳng có vui.

      Thứ ba, “quán tâm vô thường”: Tâm ở đây là tâm sanh diệt, tâm sanh diệt là vô thường, thoạt nghĩ Đông rồi thoạt nghĩ Tây, chẳng thể nghĩ măi một chuyện ǵ. Nếu có thể nghĩ măi một chuyện ǵ tức là người ấy đắc Định. Đó gọi là tam-muội. Đức Phật dạy chúng ta chỉ nghĩ tới A Di Đà Phật. Nếu chúng ta suốt ngày từ sáng đến tối chỉ nghĩ tới A Di Đà Phật th́ công phu đă thành phiến, hay nhất tâm bất loạn, thành tựu rồi! Phải mất bao lâu? Nếu trong một  ngày quư vị thành công th́ đích thực ngày hôm ấy quư vị đă thực hiện xong chuyện liễu sanh tử, văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Nhưng nói th́ rất đơn giản, quư vị hăy nghĩ xem, chẳng cần nói nhiều, năm phút là xong rồi, quư vị A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, một mặt A Di Đà Phật, một mặt vẫn suy nghĩ loạn xạ; v́ thế, chẳng có cách nào hết! Chúng ta thường phải rèn luyện điều này!

      V́ sao có vọng tưởng? Vẫn là v́ chưa buông xuống, chưa thấy thấu suốt. Chẳng biết chân tướng sự thật của hết thảy, chưa thấy thấu suốt! Chưa thấy thấu suốt, nên không buông xuống được! Nếu quư vị thật sự thấy thấu suốt, không ǵ chẳng buông xuống được! Thấy thấu suốt, sẽ buông xuống được! Buông xuống giúp quư vị thấy thấu suốt, thấy thấu suốt lại giúp quư vị buông xuống. Do vậy, chúng ta thấy thấu suốt một chút, hăy nhanh chóng buông xuống một chút. Nói là đă thấy thấu suốt mà vẫn chưa chịu buông xuống th́ sự thấy thấu suốt của quư vị chỉ là thấy thấu suốt một tí xíu, công phu chẳng thể tiến bộ. Do vậy, hai điều này (thấy thấu suốt và buông xuống) giúp đỡ lẫn nhau, thành tựu lẫn nhau. Càng buông xuống nhiều, cảnh giới thấy thấu suốt càng cao. V́ thế, một mặt thấy thấu suốt, một mặt phải buông xuống, tuyệt đối chớ nên tham luyến. Đừng nghĩ rằng: Thứ ǵ ta cũng buông xuống th́ ta chẳng có thứ ǵ hết! Ngày mai chúng ta sống sót bằng cách nào đây? Quư vị c̣n chưa buông xuống, tức là vẫn chưa thấy thấu suốt. Thật sự thấy thấu suốt, phước báo tự nhiên! Buông xuống, trong mạng quư vị đă có th́ tới lúc nó sẽ tự nhiên đưa tới. Dẫu trong mạng sẵn có, [tài vật] đưa tới, chúng ta chỉ cần ăn no, mặc ấm, những thứ dư ra đều phải buông xuống. Bởi lẽ, tích trữ trong pháp giới là đáng tin cậy nhất, chẳng bị biến chất, mà cũng chẳng bị mất giá. Để ở chỗ nào cũng đều chẳng đáng tin cậy. Để ở trong ngân hàng có thể bị mất giá, để trong công ty hay cửa hàng của người ta có thể bị đóng cửa, đều là phiền toái, vẫn chẳng bằng đem bố thí. Bố thí hết, do quư vị không thụ dụng, nên phước báo vẫn c̣n. Không chỉ vẫn c̣n, mà c̣n tăng trưởng. Đó là người thông minh nhất.

      Thứ tư là “quán pháp vô Ngă”, “pháp” là hết thảy vạn pháp. Hết thảy vạn pháp đều không có tự tánh, không có tự thể. V́ thế, Phật pháp nói “vạn pháp đều Không”, do đạo lư này. Chiếu kiến Ngũ Uẩn đều là Không. Đó là cảnh giới của đại Bồ Tát. Đối với người Tiểu Thừa, Ngũ Uẩn đều chẳng Không, nhưng nhân ngă đă Không rồi. Do vậy, đây là hai thứ cảnh giới khác nhau.

 

      (Diễn) Diệc thị Không giả, dĩ Ngũ Ấm pháp, tự tánh bất sanh, tắc vô hữu diệt, bổn lai Niết Bàn cố.

      () 亦是空者,以五陰法,自性不生,則無有滅,本來涅槃故。

      (Diễn: “Cũng là Không”: Do tự tánh của pháp Ngũ Ấm chẳng sanh, nên chẳng có diệt, vốn là Niết Bàn).

 

      Niết Bàn là tịch diệt.

 

      (Sớ) Chấp cảnh vi Hữu, duy dục tỵ cảnh xu tịch, cố văn Tịnh Độ hóa sanh, tâm bất hỷ nhạo.

      () 執境為有,唯欲避境趨寂,故聞淨土化生,心不喜樂。

      (Sớ: Chấp cảnh là Có, chỉ muốn tránh né cảnh, hướng về vắng lặng, nên nghe đến chuyện hóa sanh trong Tịnh Độ tâm chẳng vui ưa).

 

      Vị ấy chưa thật sự triệt để hiểu rơ chân tướng sự thật, cho nên mới có sự hiểu lầm này. Hôm nay đă hết thời gian rồi, chúng tôi giảng tới chỗ này.

 

Tập 58

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang bảy mươi sáu:

     

      (Sớ) Như chư Thanh Văn, bất kiến Xá Na thần lực, bất dự Bồ Tát đại hội, dĩ bổn bất tán thuyết thập phương Phật sát thanh tịnh công đức cố.

      () 如諸聲聞,不見舍那神力,不與菩薩大會,以本不讚說十方佛剎清淨功德故。

      (Sớ: Như các Thanh Văn chẳng thấy thần lực của Lô Xá Na Phật, chẳng dự đại hội của Bồ Tát, v́ họ vốn chẳng khen nói công đức thanh tịnh của mười phương cơi Phật).

 

      Trong đoạn này, đại sư dẫn kinh Hoa Nghiêm để nói; thuở Phật tại thế, hàng Tiểu Thừa hạn cuộc trong phạm vi nhỏ bé, nên đức Phật rất ít khi bảo họ: “Có mười phương thế giới, có mười phương chư Phật”, v́ sao? Họ chẳng thể tiếp nhận, cho nên đức Phật chỉ nói với họ về thế giới Sa Bà. Măi cho đến ngày nay, những quốc gia Tiểu Thừa như Thái Lan chỉ thừa nhận có một vị Phật là Thích Ca Mâu Ni Phật. Trừ Thích Ca Mâu Ni Phật ra, chẳng thừa nhận có Phật ở phương khác, càng chẳng thừa nhận con người có thể tu hành thành Phật. Họ cho rằng tu hành tối đa chỉ có thể thành A La Hán, chẳng thể thành Phật. Thật ra, trong các kinh Đại Thừa, đức Phật đă nói rơ ràng: Đây là tập khí nhiều đời nhiều kiếp của họ, chứ không phải là ngẫu nhiên. Giống như người Trung Quốc, nói đến chư Phật nơi phương khác, thế giới nơi phương khác, chúng ta đều có thể tiếp nhận, đấy cũng chẳng phải là chuyện dễ dàng. Đúng như trong xă hội hiện tại, có rất nhiều người nói chuyện quỷ thần với họ th́ có người tin tưởng, có kẻ nhất quyết không tin tưởng, về căn bản là chẳng thể nào làm cho họ tin tưởng được; điều này cũng có quan hệ mật thiết với nhân duyên trong quá khứ.

      Hạng người Tiểu Thừa do nhiều đời nhiều kiếp chưa từng tiếp xúc Phật pháp Đại Thừa, cũng chưa từng tham dự đại hội Bồ Tát nào (tức là pháp hội Đại Thừa), v́ sao? V́ có những người từ bao kiếp lâu xa đến nay chưa hề tán thán Phật, Bồ Tát, họ chẳng có tí xíu ư nghĩ cung kính nào. Tuy chư Phật, Bồ Tát đại từ đại bi đối với họ, nhưng v́ căn tánh của họ chưa chín muồi, tạm thời để họ qua một bên, chẳng hỏi tới. V́ sao Phật, Bồ Tát chẳng dùng pháp Đại Thừa để tiếp dẫn họ? Quư vị phải hiểu: Họ gặp gỡ pháp Đại Thừa, chẳng những không tán thán mà c̣n hủy báng, hủy báng là tạo tội nghiệp. Do đó, chư Phật, Bồ Tát vẫn v́ ḷng đại từ đại bi, tránh cho họ khỏi tạo tác ác nghiệp. Do vậy, chẳng nói tới mười phương Phật, cũng chẳng nói Phật pháp Đại Thừa với họ. Có phải là Phật, Bồ Tát chẳng quan tâm đến họ hay không? Chẳng phải vậy! Phật, Bồ Tát ứng hóa trước mặt bọn họ, nên dùng Tiểu Thừa để độ họ th́ Phật, Bồ Tát bèn hiện thân Tiểu Thừa để độ thoát. Từ chỗ này mới thấy được ḷng từ bi thật sự của Phật, Bồ Tát, lũ tầm thường chúng ta chẳng thể nào tưởng tượng được! Chúng ta lại xem đoạn văn tiếp theo, đoạn văn ấy càng nói rơ hơn nữa:

 

      (Sớ) Cổ vị Tiểu Thừa vô tha Phật chi thuyết, đại giáo hữu sát hải chi đàm.

      () 古謂小乘無他佛之說,大教有剎海之談。

      (Sớ: Cổ nhân nói: “Tiểu Thừa không nói đến vị Phật nào khác, giáo pháp Đại Thừa bàn đến sát hải[7]”).

 

      Đây cũng là dẫn lời cổ đức để làm chứng.

 

      (Sớ) Tư danh độc thiện chi lưu, diệc hiệu Độn A La Hán, thị dĩ giáo linh hồi đoạn diệt tâm, tu Tịnh Độ hạnh. Năi tri chư Phật, Bồ Tát, bi trí hạnh nguyện, như thị quảng đại, như thị vô tận, tâm bất ngại cảnh, cảnh bất ngại tâm, nhất thiết chư pháp, bổn tánh tự không, chung nhật độ sanh, chung nhật vô độ, nhi đơn tu Thiền Định, bất nguyện văng sanh, thị vi đại thất hỹ.

      () 斯名獨善之流,亦號鈍阿羅漢,是以教令回斷滅心,修淨土行。乃知諸佛菩薩,悲智行願,如是廣大,如是無盡,心不礙境,境不礙心。一切諸法,本性自空,終日度生,終日無度,而單修禪定,不願往生,是為大失矣。    

(Sớ: Hạng người này được gọi là “hạng người chỉ biết tốt lành cho riêng ḿnh”, c̣n gọi là Độn Căn A La Hán, cho nên phải dạy cho họ xoay cái tâm đoạn diệt lại, tu Tịnh Độ hạnh. Do vậy biết bi trí hạnh nguyện của chư Phật, Bồ Tát rộng lớn như thế, vô tận như thế, tâm chẳng ngại cảnh, cảnh chẳng ngại tâm. Hết thảy các pháp, bổn tánh của chúng tự rỗng không, suốt ngày độ sanh mà suốt ngày chẳng độ. Chỉ tu Thiền Định, chẳng nguyện văng sanh, sẽ bị mất mát to lớn vậy).

 

       Câu nào cũng là lời chân thật.

 

      (Diễn) Cổ vị hạ, dẫn cổ ngữ vi chứng.  

      () 古謂下,引古語為證。

      (Diễn: Từ chữ “cổ nhân nói” trở đi, dẫn lời người xưa để làm chứng).

 

      Từ câu “cổ vị Tiểu Thừa vô tha Phật chi thuyết” trở đi.

 

      (Diễn) Vô tha Phật chi thuyết giả, Tiểu Thừa đản tri hữu Thích Ca, bất tri thập phương chư Phật, thử cú ảnh lược Đại giáo hữu tha phương chư Phật.

      () 無他佛之說者,小乘但知有釋迦,不知十方諸佛,此句影略大教有他方諸佛。

      (Diễn: “Vô tha Phật chi thuyết”: Tiểu Thừa chỉ biết có Phật Thích Ca, chẳng biết đến mười phương chư Phật. Câu này nói đại lược: Theo giáo pháp Đại Thừa, có chư Phật ở những phương khác).

     

      Nhất định có chư Phật ở những phương khác th́ về mặt giáo nghĩa mới có thể nói thông suốt được! Nhất là Phật pháp được kiến lập trên quan niệm tuyệt đối b́nh đẳng. Nếu không có chư Phật ở những phương khác th́ sẽ giống như các tôn giáo thông thường rồi: Chỉ có một Thượng Đế, không có vị Thượng Đế thứ hai! Nói như vậy sẽ chẳng thông. Phật pháp nhằm dạy con người tôn kính sự b́nh đẳng ấy: Hết thảy chúng sanh đều có thể thành Phật. Huống chi trong kinh Hoa Nghiêm, đức Phật thẳng thừng bảo chúng ta: “Hết thảy chúng sanh vốn đă thành Phật”. Kinh Viên Giác cũng có câu giống như thế; đấy mới thật sự là b́nh đẳng, là lời luận định rốt ráo.

 

      (Diễn) Hữu sát hải chi đàm giả.

      () 有剎海之談者。

      (Diễn: Có bàn đến “sát hải” là....)

 

      Đây là Phật pháp Đại Thừa.

 

      (Diễn) Như Hoa Tạng Thế Giới phẩm.

      () 如華藏世界品。

      (Diễn: Như trong phẩm Hoa Tạng Thế Giới)

 

      Đây là nói đến kinh Hoa Nghiêm, [trong kinh ấy], đức Phật dạy:

 

      (Diễn) Hữu thập bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới chủng.

      () 有十不可說佛剎微塵數世界種。

      (Diễn: Có các thế giới chủng số lượng nhiều bằng số vi trần trong mười bất khả thuyết cơi Phật).

 

      Chủng” là chủng tử, có chủng tử lại có thể biến hiện ra vô lượng vô biên thế giới; v́ vậy, thế giới quả thật vô lượng vô biên!

 

      (Diễn) Nhất nhất thế giới chủng hữu nhị thập chủng vô tận thế giới.

      () 一一世界種有二十重無盡世界。

      (Diễn: Mỗi một thế giới chủng có hai mươi thứ thế giới vô tận).

 

      Kinh Hoa Nghiêm nêu ra vũ trụ quan của Đại Thừa Phật giáo, quả thật chẳng thể nghĩ bàn!

 

      (Diễn) Thử cú ảnh lược Tiểu Thừa duy tri hữu Sa Bà.

      () 此句影略小乘唯知有娑婆。

      (Diễn: Câu này nói đại lược: Tiểu Thừa chỉ biết có Sa Bà).

 

Người Tiểu Thừa chẳng biết có các thế giới nơi phương khác. Vũ trụ quan và nhân sinh quan của Đại Thừa và Tiểu Thừa khác nhau, do vậy, tu hành và chứng quả khác nhau rất lớn.

      Tiếp theo đây, [sách Diễn Nghĩa] giải thích đoạn văn “chư Phật, Bồ Tát, bi trí hạnh nguyện như thị quảng đại, như thị vô tận”.

 

      (Diễn) Chư Phật, Bồ Tát cụ tam duyên bi.

() 諸佛菩薩,具三緣悲。

      (Diễn: Chư Phật, Bồ Tát có ba thứ duyên bi).

 

      Tam duyên bi”, Bi là từ bi, chư vị phải nhớ: Đó là Chúng Sanh Duyên, Pháp Duyên và Vô Duyên. Thông thường, trong Phật pháp nói tới bốn thứ Duyên, ở đây chỉ nói ba duyên. Chúng sanh luôn là Ái Duyên Từ, [nghĩa là] tôi thích người nào đó, tôi đối xử rất từ bi đối với kẻ ấy. Quư vị phải hiểu: Từ bi là Ái, Ái là từ bi. V́ sao đức Phật chẳng nói Ái, mà nói từ bi? Điểm xuất phát khác nhau, Ái sanh từ Lư tánh th́ gọi là từ bi, sanh từ cảm t́nh th́ gọi là Ái. V́ thế, Ái và từ bi là một chuyện. Bởi lẽ, Ái bị biến thành ngũ dục, lục trần, bị ô nhiễm; c̣n từ bi chẳng ô nhiễm. Phàm là Lư tánh, chắc chắn chẳng bị ô nhiễm. Phàm là cảm t́nh, nhất định bị ô nhiễm. Trong bốn thứ Duyên này, duyên thứ nhất là ô nhiễm, Phật, Bồ Tát không có [loại duyên này]. V́ thế, không cần đến nó, chỉ nói ba thứ sau.

Nói thật ra, người thế gian cũng có Chúng Sanh Duyên Từ, ta thường nói là “thôi kỷ cập nhân” (suy từ ḿnh mà nghĩ đến người), không có ḷng riêng tư, người thế gian c̣n gọi nó là “ḷng bác ái”, Nho gia gọi là “nhân ái”. A La Hán có Chúng Sanh Duyên Từ, Bồ Tát có Pháp Duyên Từ. Pháp Duyên Từ: Vạn pháp do nhân duyên sanh, thân tâm của ta cũng là pháp được sanh bởi nhân duyên, hết thảy chúng sanh cũng là pháp được sanh bởi nhân duyên. Chúng ta là pháp được sanh bởi cùng một nhân duyên. Điều này tiến bộ hơn Chúng Sanh Duyên Từ rất nhiều! Sở dĩ Bồ Tát giúp đỡ hết thảy chúng sanh là v́ các Ngài cảm thấy lẽ đương nhiên là phải như thế, phải nên giúp đỡ; bởi lẽ, giúp đỡ chúng sanh chính là giúp chính ḿnh. Ta và người chẳng hai, ta và người có cùng một Thể, đó là Pháp Duyên. Như Lai có Vô Duyên Từ, Duyên là điều kiện, Vô Duyên là không có điều kiện. Ḷng yêu thương của đức Phật đối với hết thảy chúng sanh là vô điều kiện, “đồng thể đại bi, vô duyên đại từ”.

 

      (Diễn) Tứ Chủng Trí.

      () 四種智。

      (Diễn: Bốn thứ Trí).

     

      Tứ Chủng Trí là Tứ Vô Ngại Biện Tài. Quư vị muốn giúp đỡ chúng sanh, đặc biệt là trong thế giới Sa Bà, người trong thế giới Sa Bà Nhĩ Căn lanh lợi nhất. Do vậy, phải thuyết pháp cho họ. V́ họ thuyết pháp th́ cần phải trọn đủ biện tài. Trong kinh, đức Phật đă dạy: Phật, Bồ Tát có bốn thứ Vô Ngại Biện Tài, c̣n gọi là Tứ Vô Ngại Trí, ở đây gọi là Tứ Chủng Trí.

1) Thứ nhất là Nghĩa Vô Ngại Trí, Nghĩa là nghĩa lư. Người ấy có thể thấu hiểu cùng tận những nghĩa lư của vũ trụ và nhân sinh, chẳng bị chướng ngại về mặt nghĩa lư, đó là căn bản của Vô Ngại Biện Tài. Nói cách khác, hoàn toàn thông đạt lư luận, không bị chướng ngại. Đây là điều kiện trọng yếu nhất.

2) Thứ hai là Pháp Vô Ngại Trí, Pháp là phương pháp, vận dụng phương pháp hết sức xảo diệu, mà cũng vô chướng ngại.

3) Thứ ba là Từ Vô Ngại Trí. Tuy thông đạt lư luận, phương pháp thiện xảo, nhưng nếu ngôn từ chẳng thông suốt, cũng chẳng làm ǵ được! V́ thế, Phật, Bồ Tát ngôn từ vô ngại, ngôn ngữ không bị trở ngại.

4) Thứ tư là Nhạo Thuyết Vô Ngại Trí. Người ấy thích nói, rất vui thích chỉ dạy người khác, v́ đại chúng diễn thuyết. Nếu có đủ cả ba điều kiện trên nhưng người ấy không thích nói th́ cũng chẳng có cách nào, vẫn chẳng thể giúp đỡ chúng sanh.

Người Tiểu Thừa chẳng có Tứ Vô Ngại Trí, chỉ có Phật và đại Bồ Tát mới có.

 

      (Diễn) Niết Bàn ngũ hạnh.

      () 涅槃五行。

      (Diễn: Năm hạnh trong kinh Niết Bàn).

 

      Chữ “Niết Bàn” chỉ kinh Niết Bàn. Theo kinh Niết Bàn, đức Phật và các Bồ Tát có năm thứ hạnh môn: Thứ nhất là Thánh Hạnh, thứ hai là Phạm Hạnh, thứ ba là Thiên Hạnh, thứ tư là Bệnh Hạnh, thứ năm là Anh Nhi Hạnh. Đấy là năm phương thức tu hành khác nhau của Phật, Bồ Tát. Đối với năm phương thức khác nhau này, khi tiếp xúc với chúng sanh, không nhất định vận dụng một thứ nào, hễ thứ nào thích đáng các Ngài liền vận dụng thứ ấy. Do vậy, vận dụng hết sức sống động, hết sức tự tại, trọn chẳng phải là chuyên học một thứ.

      1) Loại thứ nhất là Thánh Hạnh. Thánh Hạnh là hoàn toàn nương vào Lư Thể do đức Phật đă tự chứng để hành. Nói cách khác, đây là cảnh giới do Phật tự chứng, mà cũng là diện mục sẵn có của Phật. Chúng ta gọi nó là Thánh Hạnh giống như chúng ta đă thấy trong hết thảy các bộ đại kinh, đại luận.

      2) Loại thứ hai là Phạm Hạnh. Phạm Hạnh là những điều nên ứng dụng trong giai đoạn tu hành. Thánh Hạnh là Tự Thụ Dụng của chư Phật Bồ Tát, chẳng liên quan ǵ đến người khác; c̣n bốn thứ kia là phương tiện thiện xảo để giáo hóa chúng sanh. Trong phương tiện thiện xảo, loại thứ nhất là Phạm Hạnh. Kinh dạy chúng ta, Phạm Hạnh là tu mười một thứ Không; sau đó, ở nơi đâu cũng chẳng bị nhiễm, có thể ḥa quang đồng trần với hết thảy chúng sanh mà chẳng ô nhiễm. Thiền gia thường bảo [bản lănh này] là “bách hoa tùng trung quá, phiến diệp bất triêm thân” (xuyên qua rừng trăm hoa, mẩu lá chẳng dính thân). Người ấy có bản lănh này. Kinh Niết Bàn nói mười một thứ Không, c̣n Đại Trí Độ Luận nói mười tám thứ Không. Trong kinh Nhân Vương, đức Phật cũng giảng nghĩa Không.

      Trong mười một thứ Không, thứ nhất là Nội Không, “nội” là trong thân, tức là bên trong thân thể chúng ta. Tuy có cái thân tướng này, nhưng thân tướng này là pháp sanh bởi nhân duyên. Hễ là pháp sanh bởi nhân duyên th́ bản thể của nó chính là Không, chẳng có bản thể, chẳng có tự thể, t́m tự thể chẳng được! Đấy là Nội Không.

Thứ hai là Ngoại Không, “ngoại” là cảnh giới. Cảnh giới cũng là pháp sanh bởi nhân duyên.

Thứ ba là Nội Ngoại Không, thứ tư là Hữu Vi Không, thứ năm là Vô Vi Không. Hữu vi và vô vi là tạo tác. Không riêng ǵ hữu vi là Không, mà vô vi cũng là Không. Do điều này, chớ nên chấp trước cả hữu vi lẫn vô vi. Nếu quư vị chấp trước th́ sai mất rồi. Pháp hữu vi là pháp sanh diệt, pháp vô vi và pháp hữu vi là kiến lập tương đối. Trong Bách Pháp, chín mươi bốn pháp trước thuộc về pháp hữu vi, sáu pháp sau[8] thuộc về pháp vô vi. Trong các pháp vô vi, chỉ có Chân Như Vô Vi là vô vi thật sự, năm thứ kia là Tương Tự Vô Vi. Đối với Vô Vi Không được nói đến ở đây, chẳng những bao gồm toàn bộ năm thứ Tương Tự Vô Vi trước đó là Không, mà ngay cả Chân Như Vô Vi cũng chớ nên chấp trước. Hễ quư vị chấp trước là phạm sai lầm rồi, là mắc lầm lỗi rồi!

Kế đó là Vô Thỉ Không, Tánh Không, Vô Sở Hữu Không, Đệ Nhất Nghĩa Không, Không Không và Đại Không. Mười một thứ Không này đại đồng tiểu dị với mười tám thứ Không[9] trong Đại Trí Độ Luận.

Kinh dạy chúng ta: Nếu Bồ Tát chứng đắc cảnh giới này, sẽ trụ trong Không B́nh Đẳng tam-muội. V́ thế, nghĩa Không khá sâu, đừng nên hiểu Không là Vô. [Nếu hiểu] “Không” là cái ǵ cũng chẳng có, ư nghĩa này ai mà chẳng hiểu, đứa trẻ ba tuổi cũng biết! Trong Phật pháp, Không chẳng phải là như vậy. Không là Không trong “Không - Hữu bất nhị”, ư nghĩa này rất khó hiểu. Rành rành là có, Phật bảo là không; rơ ràng là không, Phật bảo là có. Không và Hữu như một, Không và Hữu chẳng hai! Đấy mới là tinh hoa của nghĩa Không, một bộ kinh Đại Bát Nhă chủ yếu giảng giải đạo lư này!

      Đây là nói về Phạm Hạnh, v́ Phật, Bồ Tát biết hết thảy các pháp trong và ngoài thân tâm đều là pháp sanh bởi nhân duyên, không có tự tánh, trọn chẳng thể được! V́ thế, thứ ǵ các Ngài cũng đều chẳng chấp trước. Bản thân các Ngài chẳng phân biệt, chẳng chấp trước điều ǵ. Trong hết thảy các cảnh giới, chẳng khởi tâm, chẳng động niệm. V́ thế, đương nhiên trong hết thảy cảnh giới, các Ngài chẳng nhiễm. Các Ngài biết tướng chân thật của hết thảy các pháp, kinh Kim Cang gọi tướng ấy là “Thật Tướng của các pháp” (chư pháp Thật Tướng), các Ngài hoàn toàn hiểu rơ, cho nên chẳng nhiễm trước, chẳng chấp trước mảy may. Nhằm dạy người học Đại Thừa, đức Phật thường dùng phương pháp này để chỉ dạy.

3) Loại thứ ba là Thiên Hạnh, Thiên được nói ở đây chính là Đệ Nhất Nghĩa Thiên. Trong kinh, đức Phật nói có năm loại trời, Thiên có nghĩa là “cao”, cao ngất ở trên th́ chúng ta gọi là Thiên. Trong năm loại Thiên, loại thứ nhất là Thế Gian Thiên, tức là vua trong loài người, giả gọi là Thiên, như [các hoàng đế Trung Hoa] xưng là Thiên Tử (con của trời). Loại thứ hai là Sanh Thiên, tức là người thật sự ở trên cơi trời (chư thiên), có thể sanh vào Thiên Đạo trong lục đạo. Thứ ba là Tịnh Thiên, Tịnh là thanh tịnh, thanh tịnh cũng mang ư nghĩa “chỗ cao cả”. Thứ tư là Nghĩa Thiên, tức vị “trời” về mặt nghĩa lư. Thứ năm là Đệ Nhất Nghĩa Thiên, tức là bậc nhất trong các vị “trời” về nghĩa lư. Chúng ta gọi Phật là Thiên Trung Thiên (vị trời của các vị trời), hoặc gọi Ngài là Đệ Nhất Nghĩa Thiên. Ở đây, mang ư nghĩa: Danh xưng dựa trên nghĩa lư mà lập ra. Nghĩa lư tối cao vô thượng [nên gọi là Thiên]. Giáo nghĩa Đại Thừa thuộc loại này, chúng ta thường gọi nó là Đệ Nhất Nghĩa Đế.

4) Loại thứ tư là Bệnh Hạnh, tức là thị hiện có các thứ phiền năo và bệnh khổ giống như chúng sanh. Chư Phật, Bồ Tát đă đạt đến Lư Sự Vô Ngại, Sự Sự Vô Ngại, làm sao các Ngài c̣n có chướng ngại hay c̣n có phiền năo cho được? Đó là biến hiện, nhằm răn nhắc chúng ta. Thuở Thích Ca Mâu Ni Phật tại thế, Ngài cũng bị nhức đầu, đó là [thị hiện] nghiệp báo. Phước báo của đức Phật quá lớn, mà c̣n mắc quả báo ăn lúa mạch dành cho ngựa suốt ba tháng: Đi khất thực không có ai cúng dường, người ta bèn đem những thứ dành để nuôi ngựa cúng dường Ngài, Ngài cũng ăn[10]. Khổng lăo phu tử bị tuyệt lương ở đất Trần[11], thánh nhân đấy nhé! Phật là đấng phước huệ nhị túc tôn, phước báo viên măn, đi khất thực không được, chẳng có ǵ ăn. Đấy là thị hiện Bệnh Hạnh nhằm khải thị chúng ta: Tốt nhất là đừng tạo ác nghiệp. Quư vị đă tạo ác nghiệp, khi thành Phật vẫn phải chịu quả báo.

Nếu nói thành Phật vẫn phải chịu quả báo th́ nói như vậy cũng thông. V́ sao? Có bốn loại Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật v́ chúng ta mà thị hiện loại Phật thấp nhất trong bốn loại Phật, tức là Tạng Giáo Phật. Tám tướng thành đạo là Tạng Giáo Phật. Ngài thật sự là đấng phước huệ vẹn toàn, viên măn, là Viên Giáo Phật. Tạng Giáo Phật c̣n chưa kiến tánh, thuộc địa vị Thập Tín Bồ Tát. Thông Giáo Phật và Biệt Giáo Phật là Chánh Đẳng Chánh Giác, thuộc địa vị Thập Trụ Bồ Tát hay Thập Hạnh Bồ Tát, c̣n chưa đạt đến Thập Hồi Hướng, đối với Thập Địa càng chẳng phải bàn tới nữa! Thành Phật, Tạng, Thông, Biệt, Viên, Ngài thuộc loại Phật nào, chúng ta phải hiểu rơ. Thích Ca Mâu Ni Phật biểu diễn dưới thân phận Tạng Giáo Phật. Quư vị phải hiểu rơ ư nghĩa này. Ngài thị hiện, quư vị biết Phật, Bồ Tát thị hiện Bệnh Hạnh nhằm cảnh tỉnh, sách tấn chúng ta “thiện có thiện báo, ác có ác báo”. Nếu quư vị tạo ác nghiệp, nhất là định nghiệp, th́ khi thành Phật, hay thành Bồ Tát vẫn phải chịu quả báo. V́ thế, nhất định chớ nên tạo ác nghiệp. Do vậy, có lúc Phật, Bồ Tát thị hiện tạo tác ác nghiệp, thị hiện hứng chịu ác báo cho chúng ta thấy, chúng ta phải hiểu ư nghĩa này!

Tăng Thượng Duyên có hai loại: Có thuận duyên và có nghịch duyên. Hết thảy những thứ hợp t́nh hợp lư là Thuận Tăng Thượng Duyên. Hết thảy phiền năo xấu hèn là Nghịch Tăng Thượng Duyên. Hai loại này đều vận dụng, quư vị sẽ thuận buồm xuôi gió trên Bồ Tát đạo. Trong hai loại này, nếu chỉ sử dụng một loại, quư vị nhất định gặp chướng ngại. Chẳng hạn như chúng tôi nêu lên một thí dụ rất nông cạn, dễ thấy, quư vị đều biết: Trong lịch sử có một vị đại trung thần, yêu nước nhất là Nhạc Phi, nhắc đến ông ta, không ai chẳng biết. Tại Trung Quốc, gần như mỗi địa phương đều có Nhạc Vương Miếu (miếu thờ Nhạc Phi). Văn Miếu của Trung Quốc thờ Khổng lăo phu tử, Vơ Miếu thờ Quan Công và Nhạc Phi. Ông được đại chúng dân tộc tôn kính. Chúng ta thấy tượng Nhạc Phi, nghe nói đến Nhạc Phi bèn nghĩ phải tận trung báo quốc, đó là Thuận Tăng Thượng Duyên. Thấy tượng Tần Cối, Tần Cối cũng chẳng tầm thường, cũng là anh hùng dân tộc! Tôi nói lời này chắc quư vị chẳng vui lắm! Ông ta giáo huấn chúng ta rất lớn, v́ trông thấy ông ta, chúng ta sẽ nghĩ chẳng thể làm Hán gian được! Một đằng là chánh diện dạy chúng ta, một đằng là phản diện dạy chúng ta. Công đức của hai người to như nhau! Trước kia có người hỏi tôi: “Tần Cối có đọa trong địa ngục A Tỳ hay không?” Tôi nói: “Tần Cối đă sớm sanh lên trời rồi!” Tượng hắn ta quỳ bên mộ Nhạc Vương tại Tây Hồ[12], người ta vừa thấy, mỗi người chửi hắn một tiếng, tội của hắn đă tiêu hết rồi! Hắn lại c̣n răn nhắc mọi người: “Làm Hán gian sẽ giống như thế đó, chúng ta nhất quyết chẳng dám làm Hán gian!” Có ư nghĩa giáo dục không ǵ lớn hơn ở trong đó. Một người là chánh diện dạy chúng ta, một người là phản diện dạy chúng ta. Hai người đều là thiện tri thức của chúng ta! Nếu quư vị biết dùng [thuận duyên và nghịch duyên], sẽ giống như Thiện Tài đồng tử, chẳng có ai không phải là thiện tri thức, chẳng có ai không phải là Phật, Bồ Tát, chẳng có ai không phải là người tạo đại lợi ích cho chúng ta! Nói chung, hai bên thuận và nghịch đều khéo vận dụng, quư vị sẽ chẳng có một chút chướng ngại nào!

5) Loại thứ năm là Anh Nhi Hạnh, trẻ thơ thiên chân vô tà. Bất luận đối với ai, đối với thiện nhân, đối với ác nhân, đối với người ḿnh ưa thích, đối với người ḿnh chán ghét, trẻ thơ không nói lời giả dối, không có vọng tâm. Do vậy, Phật, Bồ Tát đối đăi hết thảy mọi người đều dùng cái tâm chân thành. Hết thảy thiện hạnh và trực hạnh đều gọi là Anh Nhi Hạnh.

 

(Diễn) Vô tác tứ hoằng.

() 無作四宏。

(Diễn: Bốn hoằng thệ nguyện vô tác).

 

Tứ Hoằng là bốn hoằng thệ nguyện: “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền năo vô tận thệ nguyện đoạn, pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”. Tứ Hoằng Thệ Nguyện cũng chia thành đẳng cấp. Tạng Giáo là Sanh Diệt Tứ Hoằng, Thông Giáo là Vô Sanh Tứ Hoằng, Biệt Giáo là Vô Lượng Tứ Hoằng, Viên Giáo là Vô Tác Tứ Hoằng, làm mà không làm, không làm mà làm. Chư Phật, Bồ Tát trọn đủ ba thứ Duyên Từ, Tứ Vô Ngại Trí, năm hạnh Niết Bàn, Tứ Hoằng Thệ Nguyện Vô Tác.

 

(Diễn) Cố vi quảng đại vô tận.

() 故為廣大無盡。

      (Diễn: Cho nên là rộng lớn vô tận).

 

      Trong câu này, do tất cả đều là danh từ, bao hàm rất nhiều ư nghĩa, nhằm giải thích câu Bồ Tát “bi trí hạnh nguyện, như thị quảng đại” (bi trí hạnh nguyện rộng lớn như thế). Tiếp theo đây là giải thích câu “như thị vô tận, tâm bất ngại cảnh, cảnh bất ngại tâm” (vô tận như thế, tâm chẳng trở ngại cảnh, cảnh chẳng trở ngại tâm).

 

      (Diễn) Tâm tức cảnh, cố bất ngại cảnh. Cảnh tức tâm, cố bất ngại tâm.

      () 心即境,故不礙境。境即心,故不礙心。

      (Diễn: Tâm chính là cảnh, nên chẳng ngại cảnh. Cảnh chính là tâm, nên chẳng ngại tâm).

 

      Đây chính là ư nghĩa trong kinh Hoa Nghiêm, tâm và cảnh là một Thể. Duy Thức gọi tâm là Kiến Phần, gọi cảnh là Tướng Phần. Hai phần Kiến và Tướng đều từ Tự Chứng Phần biến hiện ra. Tự Chứng Phần là bản thể, hai phần Kiến và Tướng [là bản thể] khởi tác dụng, từ Thể khởi Dụng, cho nên Kiến và Tướng có cùng nguồn, Kiến và Tướng có cùng một Thể. Do điều này, Kiến Phần và Tướng Phần chẳng có chướng ngại, đấy là Lư Sự Vô Ngại, Sự Sự Vô Ngại, là pháp giới vô chướng ngại. Kinh Lăng Nghiêm cũng nói như thế, dưới đây nêu ra một thí dụ trong kinh Lăng Nghiêm.

     

      (Diễn) Lăng Nghiêm vân: “Kiến dữ Kiến duyên, tịnh sở tưởng tướng, như hư không hoa, bổn vô sở hữu. Cố vân bổn tánh tự không”. Nhất thiết chư pháp, bất xuất Sắc, Tâm nhị chủng. Kim chúng sanh, thị Sắc pháp, độ sanh, thị tâm pháp. Kư nhất thiết tự không, khởi phi chung nhật độ sanh, chung nhật vô độ.

      () 楞嚴云:見與見緣,並所想相,如虛空花,本無所有,故云本性自空。一切諸法,不出色心二種。今眾生,是色法,度生,是心法,既一切自空,豈非終日度生,終日無度。

      (Diễn: Kinh Lăng Nghiêm nói: “Kiến và Kiến Duyên đều là tướng được tưởng, giống như hoa đốm trên hư không, vốn vô sở hữu, nên nói bổn tánh tự không”. Hết thảy các pháp chẳng ngoài hai thứ Sắc và Tâm, nay chúng sanh là Sắc pháp, độ sanh là Tâm pháp. Hết thảy đă là tự không, há chẳng phải là suốt ngày độ sanh mà suốt ngày chẳng độ?)

 

      Đây là tổng hợp Hoa Nghiêm và Lăng Nghiêm, ư nghĩa hết sức rơ ràng. Kinh Lăng Nghiêm nói Kiến, chính là như Hoa Nghiêm nói đến tâm. “Kiến duyên” là cái được duyên[13] bởi Kiến; đó là Tướng Phần. “Tịnh sở tưởng tướng” (đều là tướng được tưởng): Tưởng tướng vẫn là Tướng Phần. Ví như hết thảy sắc pháp trước mắt chúng ta, đó là Tướng Phần. Trong tâm chúng ta khởi lên một ư niệm, nay chúng ta tưởng tượng trạm xe lửa đang được sửa chữa th́ ngay lập tức Tướng Phần của trạm xe lửa bèn nổi lên trong đầu óc của chúng ta. Đó cũng là Tướng Phần [Cái Tướng Phần ấy được gọi là Tưởng Tướng, v́ nó là đối tượng được h́nh thành do sự suy tưởng của ta]. Chúng ta hiểu rơ thứ Tướng Phần này, người khác không thấy; nhưng quư vị phải hiểu: Người khác nếu là phàm phu sẽ không trông thấy, nhưng nếu người ấy có công phu định lực khá sâu sẽ thấy được. Nếu quư vị chẳng động tâm, người ấy chẳng thể thấy quư vị. Quư vị khởi lên ư niệm, ngay lập tức người ấy sẽ thấy. V́ sao? Khởi niệm bèn có tướng, người ấy sẽ t́m được quư vị.

     Trước kia, Thiền Tông có một công án: Thiền sư Kim Bích Phong có công phu định lực rất cao, chính Ngài biết thọ mạng đă tới, vua Diêm La phái tiểu quỷ đến bắt Ngài, Ngài làm sao? Nhập Định! V́ Ngài đă nhập Định, chẳng hiện tướng. Tiểu quỷ rất nóng ruột, nhưng không có cách nào, chẳng bắt được người sẽ chẳng thể hoàn thành nhiệm vụ. Nó nghe nói cái bát của Thiền sư Kim Bích Phong là bát báu, là vật được Ngài yêu quư nhất. Có người bảo với nó: “Ngươi gơ cái bát đó một tiếng, Sư sẽ lập tức xuất Định, v́ sao? Sư rất yêu thích nó, sợ bị mất”. Tiểu quỷ gơ cái bát đó, vừa gơ, Sư bèn xuất Định, ngay lập tức bị bắt. Bị bắt rồi Sư mới biết bị lừa. Kết quả, trong ḷng Sư bèn nghĩ: “Chớ nên cần cái bát ấy, c̣n có thứ ǵ chẳng bỏ sạch th́ tâm chẳng thanh tịnh. A! Ngươi có bắt ta cũng chẳng sợ!” Ngài vừa bị xiềng, lại nhập Định, kết quả tiểu quỷ lại không bắt được, lại gơ bát, nhưng Ngài chẳng xuất Định, chẳng hiện h́nh, bắt chẳng được!

     Chỉ cần trong tâm khởi ư niệm bèn hiện tướng. Quư vị hiện tướng, quỷ thần bèn t́m được quư vị. Người có công phu định lực cũng có thể thấy quư vị, chỉ có phàm phu mắt thịt là không biết. Do vậy, quư vị chẳng thể lừa gạt quỷ thần, chẳng thể gạt gẫm người Thiền Định rất sâu. Thường là người có công phu định lực sâu, quư vị và người ấy hai người ngồi đối diện nhau, trong tâm quư vị khởi tâm động niệm, người ấy đều biết ngay, thấy rất rơ ràng. Nói cách khác, ban đêm quư vị ngủ nằm mộng, người ấy cũng thấy rất rơ ràng. V́ sao? Có tướng! Không có tướng, người ấy sẽ chẳng thấy được! “Tịnh sở tưởng tướng” (toàn là tướng được tưởng): Điều này cũng thuộc vào Sắc pháp, gọi là Vô Biểu Sắc. Trong Sắc pháp bao gồm rất nhiều loại, có thô, có tế, Sắc pháp dẫu cực vi tế vẫn thuộc về Sắc pháp. Sắc pháp thô hay tế đều là chẳng có thật. Cái Có này là Huyễn Hữu, mà cũng gọi là Diệu Hữu.

      Như hư không hoa”: Kinh Lăng Nghiêm thường dùng chuyện này làm tỷ dụ. Trong hư không có hoa đốm[14], hư không đâu có hoa! Nếu con mắt bị bệnh, sẽ thấy trên hư không có hoa đốm. Con mắt hết bệnh, trên hư không chẳng c̣n hoa đốm nữa. Tṛng mắt bị bệnh, quư vị nh́n vào đèn, sẽ thấy đèn có quầng tṛn, trong hư không có hoa đốm. Đấy là do quư vị bị bệnh nên mới thấy. Đức Phật dùng tỷ dụ này để tỷ dụ Chân Như bổn tánh của chúng ta có bệnh nên mới xuất hiện Kiến Phần, Tướng Phần, Sắc pháp và Tâm pháp. Nếu Chân Như bổn tánh không có bệnh, những thứ ấy hoàn toàn chẳng có. Trong Chứng Đạo Ca, Vĩnh Gia đại sư đă bảo: “Mộng lư minh minh hữu lục thú, giác hậu không không vô đại thiên” (Trong mộng rành rành phô sáu nẻo, giác rồi ba cơi rỗng toang hoang) nhằm thuyết minh chân tướng sự thật này.

      Bổn vô sở hữu”: Hư không, thế giới, hết thảy muôn h́nh tượng vốn vô sở hữu. Hiện tại tuy là có, có những tướng ấy tồn tại, nhưng giống như chúng ta nằm mộng, đó là mộng cảnh. Chẳng thể nói là mộng không có, có chứ! Nhưng chẳng thể nói là có thật. Tuy có mà không, v́ thế, Không và Hữu bất nhị. Nếu chúng ta coi thế giới hiện thực là mộng cảnh, cái tâm được - mất ở trong ấy sẽ chẳng c̣n nữa. Cái tâm được - mất đă chẳng c̣n th́ phiền năo sẽ đoạn. Tất cả những phiền năo của chúng ta do đâu mà có? Lo được, lo mất. Nếu quư vị biết “đều là Không, vô sở hữu, chắc chắn là vô sở hữu, vô sở đắc” th́ chính là thật sự đạt được. Tâm Kinh nói “vô trí, diệc vô đắc”, “trí” là trí huệ Bát Nhă, Bát Nhă năng chứng, “đắc” là Bồ Đề Niết Bàn, nói đến cảnh giới tối cao: Không có trí huệ Bát Nhă th́ cũng chẳng có Bồ Đề Niết Bàn. Không có th́ gọi là Chân Hữu. Nếu quư vị nghĩ là có, sẽ bị rắc rối liền. [Hễ thấy] có Bát Nhă, quư vị chẳng đạt được Bát Nhă. Có Bồ Đề, sẽ chẳng thể chứng đắc Bồ Đề. Có Niết Bàn sẽ chẳng thể đạt đến Niết Bàn. Đó là giả danh! Do bất đắc dĩ mà đức Phật nói với chúng ta [những danh từ ấy]. Nếu quư vị chấp trước nơi giả danh, quư vị sẽ chẳng đạt được thực tại. Ví như quư vị muốn đến thành phố Đài Bắc, thấy ở chỗ giáp ranh thành phố Đài Bắc ghi “Đài Bắc’ bèn cho tấm bảng ấy là Đài Bắc, lầm mất rồi! Đó là giả danh, ĺa giả danh sẽ thật sự đạt được. Chấp giả danh là thật th́ lầm rồi, lại mê hoặc mất rồi! Bát Nhă Tâm Kinh nói về Bát Nhă chân chánh, hết thảy các pháp đều bỏ, bỏ sạch sành sanh, đó là Bát Nhă hiện tiền.

      Bổn tánh tự không”: “Bổn tánh” là Chân Như bổn tánh, là con người thật sự của chúng ta, “tánh” là thể tánh, Thiền gia gọi nó là “phụ mẫu vị sanh tiền bổn lai diện mục” (diện mạo vốn có trước khi được cha mẹ sanh ra). Đó là bổn tánh. Bổn tánh là Không, Không chẳng phải là Vô. “Không” có thể hiện tướng, có thể biến hiện hết thảy tướng cảnh giới. Do bản thể của nó là Không, nên những cảnh giới được biến hiện bởi nó cũng là Không. Hết thảy các pháp đều do tự tánh biến hiện, là Tướng Phần của tự tánh.

      Kim chúng sanh, thị Sắc pháp, độ sanh, thị Tâm pháp” (nay chúng sanh là Sắc pháp, độ sanh là Tâm pháp): Phật, Bồ Tát phát tâm độ hết thảy chúng sanh, ư niệm độ hết thảy chúng sanh là Tâm pháp. Sắc pháp đă là Không th́ Tâm pháp cũng là Không. Bởi thế, chư Phật, Bồ Tát “chung nhật độ sanh, chung nhật vô độ” (suốt ngày độ sanh, suốt ngày chẳng độ). Phật chẳng độ chúng sanh, nói theo Lư, quả thật là như thế. Nói theo Sự, Phật hằng ngày độ chúng sanh. Chẳng có ngày nào ngưng làm chuyện độ sanh, nhưng độ sanh xét theo Lư rốt ráo là Không. V́ thế, chư Phật, Bồ Tát hằng ngày độ chúng sanh, tâm địa của các Ngài thanh tịnh, chẳng chấp Ngă Tướng, chẳng chấp Chúng Sanh Tướng, cũng chẳng chấp tướng công đức do độ chúng sanh. V́ thế, các Ngài thanh tịnh. Đó là sự Tự Thụ Dụng của chính các Ngài, tức là chính các Ngài hưởng thụ sự thanh tịnh khôn sánh. Trong sự hưởng thụ của chính ḿnh, lại có thể lợi ích hết thảy chúng sanh, đó gọi là đại từ đại bi, là Tha Thụ Dụng. Đại từ đại bi chẳng trở ngại sự thanh tịnh của chính ḿnh, mà sự thanh tịnh của chính ḿnh chẳng trở ngại việc độ hết thảy chúng sanh, không bị trở ngại!

      Người Tiểu Thừa chẳng liễu giải chân tướng này, cho nên họ bị chướng ngại. Họ nói: “Hết thảy mọi chuyện ta đều chẳng làm, ta sẽ thanh tịnh. Ta độ chúng sanh, giúp đỡ người khác sẽ bị phiền năo, chẳng thanh tịnh”. Họ đối lập hai chuyện này thành hai cảnh giới khác nhau; do vậy, người Tiểu Thừa chẳng chịu phát tâm giúp đỡ người khác. Đại Thừa Bồ Tát biết “tự - tha bất nhị”, do vậy, độ chính là chẳng độ, chẳng độ chính là độ. “Chẳng độ” là nói về chính ḿnh, c̣n “độ” là nói tới chuyện giúp đỡ người khác. Các vị ấy biết [hai chuyện ấy] là một, chẳng hai, do vậy, chúng ta chớ nên hiểu lầm ư nghĩa của hai câu này! [Nghe nói] “độ mà chẳng độ, chẳng độ mà độ” [bèn tưởng là] “ta chẳng độ, v́ ta chẳng độ chính là độ”. Nếu dựa theo cách lập luận máy móc ấy, quư vị mỗi ngày ăn cơm, ăn chính là không ăn, không ăn chính là ăn, vậy th́ quư vị không ăn, coi thử quư vị có chịu được hay không? Không được! Chưa đạt đến cảnh giới ấy!

 

      (Diễn) “Năi tri” nhị tự.

      () 乃知二字。

      (Diễn: Hai chữ “bèn biết”).

 

      Hai chữ “năi tri” ở trong câu “năi tri chư Phật” (bèn biết chư Phật). Ư nghĩa của đoạn này rất sâu; v́ thế, đại sư hết sức từ bi, nói rơ cặn kẽ với chúng ta. Hai chữ ấy nghĩa là....

 

      (Diễn) Trực quán chí “chung nhật vô độ”, trung hữu lưỡng tiết, “chư Phật Bồ Tát” tứ cú, ứng thượng văn “Tịnh Độ hóa sanh, tâm bất hỷ nhạo”. “Tâm bất ngại cảnh” lục cú, ứng thượng văn “chấp cảnh vi hữu, duy dục tỵ cảnh xu tịch”.

      ()直貫至終日無度,中有兩節,諸佛菩薩四句,應上文淨土化生,心不喜樂;心不礙境六句,應上文執境為有,唯欲避境趨寂。

      (Diễn: Xuyên suốt cho đến câu “suốt ngày chẳng độ”, trong phần này có hai tiểu đoạn. Bốn câu “chư Phật, Bồ Tát...” tương ứng với đoạn “Tịnh Độ hóa sanh, tâm chẳng vui thích” trong phần trên. Sáu câu như “tâm chẳng ngại cảnh” v.v... tương ứng với đoạn “chấp cảnh là có, chỉ muốn tránh cảnh, hướng về vắng lặng” trong phần trên [tức phần Huyền Nghĩa]).

 

       Đại Thừa và Tiểu Thừa có khái niệm khác nhau, h́nh thái ư thức không giống nhau. Người Tiểu Thừa tâm lượng hẹp ḥi, không có ḷng dạ rộng răi như người Đại Thừa. Đây là hai thứ căn tánh hoàn toàn chẳng giống nhau.

     

      (Diễn) Đại suất Tiểu Thừa bệnh căn, chỉ tại đản ngộ Uẩn trung Vô Ngă.

      () 大率小乘病根,只在但悟蘊中無我。

      (Diễn: Nói chung, gốc bệnh của Tiểu Thừa là chỉ ngộ rằng Uẩn là Vô Ngă ).

 

      Uẩn là Ngũ Uẩn, trong Ngũ Uẩn quả thật t́m chẳng được Ngă.

 

      (Diễn) Bất tri Uẩn diệc thị Không lưỡng cú.

      () 不知蘊亦是空兩句。

      (Diễn: Chẳng biết đến hai câu “Uẩn cũng là Không”....)

 

       Đây là cái gốc bệnh của hàng Tiểu Thừa, chẳng biết “Ngũ Uẩn cũng là Không”. Nếu biết Ngũ Uẩn cũng là Không, sẽ chứng đắc Pháp Không. Đại Thừa Bồ Tát thông minh hơn họ, biết Nhân Ngă Không, mà Pháp Ngă vẫn là Không. Chẳng thể chấp trước Ngă, mà cũng chẳng thể chấp Pháp. Kinh Kim Cang nói rất hay: “Pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp” (pháp c̣n nên xả, huống là phi pháp). “Pháp” ở đây là Phật pháp. V́ sao Phật pháp mà phải bỏ? Thật ra, có pháp nào là Phật pháp? Bởi lẽ đó, đức Phật nói: Suốt đời Ngài, trong bốn mươi chín năm, Ngài chưa hề nói một câu pháp nào là có lư lắm chứ! V́ sao chưa hề thuyết pháp? V́ những lời Phật nói đều do chúng sanh hỏi. Chúng sanh có nghi vấn ǵ, hỏi Ngài, đức Phật liền giải đáp, giống như chúng sanh có bệnh, Phật pháp là thuốc, thuốc do đâu mà có? Thuốc do bệnh mà có. Nếu chẳng có bệnh, quư vị hăy nghĩ xem, thuốc từ chỗ nào mà có được? Gọi là “thuốc” là do bệnh mà lập ra. Bệnh đă hết, thuốc cũng chẳng c̣n!

      V́ chúng sanh đang mê, nên đức Phật mới thuyết pháp nhằm khai ngộ họ. Hễ ngộ rồi, Phật pháp cũng chẳng c̣n nữa. Nếu ngộ rồi mà vẫn chấp trước vào pháp, th́ lại là mê, mê nơi pháp! V́ thế, chúng sanh rất khó khai ngộ, luôn chấp trước. Đức Phật bảo quư vị: Pháp thế gian là pháp sanh tử trong lục đạo luân hồi, bảo quư vị phải bỏ nó, bỏ rồi th́ như thế nào? Chấp trước Phật pháp! Thật chẳng biết chấp trước Phật pháp vẫn là pháp sanh tử, v́ sao? Đức Phật bảo quư vị phá chấp trước, chứ chẳng bảo quư vị đổi sang chấp trước thứ khác. Thay đổi đối tượng th́ có ích ǵ đâu? Chẳng hạn như đức Phật nói tham là phiền năo, bảo quư vị đừng tham ái ngũ dục lục trần của thế gian, được rồi, quư vị không tham nữa, kết quả ra sao? Tham Phật pháp! Tâm tham chẳng biến đổi, chỉ là thay đổi đối tượng mà thôi!

      Tâm tham là nghiệp nhân của ngạ quỷ đạo trong lục đạo. Quư vị tham ái Phật pháp, tương lai vẫn đọa làm ngạ quỷ. Đọa ngạ quỷ đạo trọn chẳng phải v́ quư vị tham ái đối tượng mà bị đọa, mà do cái tâm tham của quư vị nặng nề nên bị đọa, chẳng cần biết quư vị tham đối tượng nào! Quư vị tham ác pháp, trong ngạ quỷ đạo sẽ làm vô tài quỷ rất khổ. Quư vị tham Phật pháp, Phật pháp là thiện pháp, quư vị sẽ làm đa tài quỷ[15] trong ngạ quỷ đạo, [đa tài hay vô tài] vẫn là quỷ! Phật pháp dạy quư vị đoạn tâm tham, chẳng bảo quư vị thay đổi đối tượng của ḷng tham, quư vị phải hiểu rơ đạo lư này! Do vậy, chúng ta phải xả pháp thế gian, mà Phật pháp cũng phải xả. Pháp thế gian chớ nên tham ái, mà Phật pháp cũng đừng nên tham ái, tâm chúng ta mới thanh tịnh, chúng ta niệm Phật mới có thể đạt được nhất tâm bất loạn. Hễ có tơ hào tham lam, nhất tâm sẽ bị chướng ngại, quư vị niệm Phật muốn đạt đến nhất tâm chẳng dễ dàng! Thậm chí mong đạt công phu thành phiến cũng rất khó.

      Tôi thường nói với quư vị: Trong quá tŕnh chúng tôi tu học nhiều năm như thế, tự ḿnh thể nghiệm sâu xa, công phu chẳng thể thành thục là do chưa trừ sạch những chướng ngại. Do vậy, trong vô lượng pháp môn, chỉ nên chọn lấy một môn. Nếu chọn quá nhiều, quư vị tham nhiều quá, chẳng dễ bỏ được! Chúng ta chỉ lấy một thứ, sẽ bỏ dễ dàng hơn. Quá nhiều sẽ bỏ cái này, vương vấn cái kia, bỏ cái kia lại vương vấn cái này, rắc rối to! V́ thế, chỉ có thể tu một pháp môn, đối với những pháp môn khác, chúng ta tán thán, quyết chẳng hủy báng. Giống như Thiện Tài đồng tử, đối với năm mươi ba vị thiện tri thức, tự ḿnh khiêm hư, tôi chỉ học một pháp môn này. Người ta nói pháp môn kia hay, nhưng tôi đă chọn pháp môn này, tôi vẫn đi theo con đường này đến cùng, tuyệt đối chẳng thay ḷng đổi dạ. Pháp môn kia hay, tôi tán thán! Quư vị học theo pháp môn ấy, tôi cung kính, tôi kính ngưỡng, nhưng tôi vẫn học môn này của tôi, quyết định chẳng thay đổi. Trong một đời này, quư vị nhất định thành công! Phàm “thấy lạ, nghĩ khác” đều là bệnh nặng, tới khi nào mới có thể công phu thành phiến? Nhất tâm bất loạn càng chẳng thể nào [đạt được]! Chuyên tinh nơi một môn, tâm người ấy định. Kẻ “thấy lạ, nghĩ khác” tâm bất định. Tâm bất định bèn là sanh tử phàm phu. Nếu tâm định, sẽ có ngày nở mày, nở mặt!

 

      (Diễn) Cố duy tri sở chứng vi cực, bất phục tri hữu Đại Thừa diệu dụng.

      () 故唯知所證為極,不復知有大乘妙用。

      (Diễn: V́ thế, [hàng Tiểu Thừa] chỉ biết sở chứng [của chính ḿnh] là tột cùng, chẳng biết c̣n có diệu dụng trong Đại Thừa).

     

      Đây là nói về kiến giải của hàng Tiểu Thừa.

 

      (Diễn) Văn Tịnh Độ hóa sanh, tự tâm bất hỷ nhạo dă. Kim nhật hồi tâm, năi tri Đại Thừa diệu dụng như thị quảng đại, như thị vô tận nhĩ. Dĩ bất tri Uẩn diệc thị Không, cố bất tri nhất thiết phù trần huyễn hóa, đương xứ xuất sanh, tùy xứ diệt tận.

      () 聞淨土化生,自心不喜樂也。今日回心,乃知大乘妙用,如是廣大,如是無盡爾。以不知蘊亦是空,故不知一切浮塵幻化,當處出生,隨處滅盡。

      (Diễn: Nghe chuyện hóa sanh trong cơi Tịnh Độ, tự tâm chẳng vui thích. Ngày nay hồi tâm mới biết diệu dụng của Đại Thừa rộng lớn như thế, vô tận như thế. Do chẳng biết Uẩn cũng là Không, nên chẳng biết hết thảy phù trần huyễn hóa xuất sanh ở nơi đâu, sẽ diệt tận ở nơi đó).

 

       Ba câu này cũng là một đoạn kinh văn quan trọng trong kinh Lăng Nghiêm. “Nhất thiết phù trần huyễn hóa” (hết thảy phù trần huyễn hóa) bao gồm hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian, nay chúng ta gọi chúng là “động vật, thực vật, khoáng vật” cho đến hiện tượng tự nhiên, toàn bộ đều bao gồm trong ấy. “Phù” () là không thật, “trần” () là chẳng thanh tịnh. Ở đây, hai chữ này đều là tỷ dụ. “Huyễn hóa” là nói đến chân tướng của các pháp ấy, chúng chẳng phải là thật sự có, chẳng có thật, mà là huyễn có. Huyễn có là giả có, chẳng phải có thật! V́ thế, người thông minh biết bản thể chính là Không, chẳng cần phải phân tích từ từ rồi mới biết nó là Không.

      Đương xứ xuất sanh, tùy xứ diệt tận”: Đây là nói về chân tướng của hết thảy các pháp. Nếu quư vị thật sự tham cứu thấu triệt câu này, dùng pháp môn Niệm Phật để nói, th́ trong hiện tại, quư vị chứng đắc Lư nhất tâm bất loạn. Trong Thiền Tông nói “minh tâm kiến tánh, đại triệt đại ngộ” là nói về cảnh giới này. Trong bài kệ Hồi Hướng có câu “hoa khai kiến Phật ngộ Vô Sanh”, ngộ cảnh giới nào vậy? Chính là cảnh giới này! Hết thảy vạn pháp xuất sanh từ chỗ nào, sẽ diệt tận ở nơi đó. Quư vị hiểu rơ đạo lư này, mới biết chẳng đến, chẳng đi, không có đến, đi! Đây là chân tướng sự thật, nhưng chúng ta không có cách nào nhận biết chân tướng ấy. Chúng ta thấy hết thảy pháp diễn biến dần dần, dường như tiến triển dần dần; thật ra, chúng ta đă thấy lầm! Sự thật chắc chắn không hề như thế, mà là như thường nói: “Sanh diệt trong từng sát-na”, cũng có thể nói là “sanh diệt đồng thời”. Do vậy, không có sanh diệt!

      Trong kinh, đức Phật đă ban cho chúng ta một khái niệm, có phải là chân tướng sự thật hay chăng rất khó nói, nhưng nói chung, chúng ta có thể nói là điều ấy nhất định hết sức gần với sự thật; bởi lẽ, sự thật đích xác chân thật sẽ không thể nói ra được! Đức Phật dạy: Trong một khảy ngón tay có sáu mươi sát-na, ai khảy ngón tay? Chẳng phải là như chúng ta thong thả khảy ngón tay, kinh nói đến người mạnh mẽ. Người mạnh mẽ có sức khảy, khảy rất nhanh. Một phần sáu mươi của [thời gian] khảy ngón tay gọi là sát-na (ksana). Trong một sát-na có chín trăm lần sanh diệt. Người tầm thường như chúng ta khảy ngón tay, một giây có thể khảy bốn lần, bốn nhân sáu mươi nhân với chín trăm th́ một giây có hai mươi mốt vạn sáu ngàn lần sanh diệt. Cái ǵ sanh diệt? Thân thể của chúng ta, toàn thể vũ trụ là tướng cảnh giới; v́ thế, tướng này là giả, chẳng thật!

      Trước kia, người ta có thể lư giải chân tướng của nhân sinh và vũ trụ theo như lời Phật dạy, chúng ta ngày nay chẳng thể không bội phục họ, quả thật rất khó hiểu! Hiện thời, chúng ta nhờ vào công cụ khoa học mà dễ dàng thấu hiểu hơn nhiều! Ví như chúng ta xem phim ảnh, nh́n vào màn bạc, chúng ta thấy những h́nh tượng giống hệt như thật. Thật ra, chúng có cùng một nguyên lư “sanh diệt trong từng sát-na” như đức Phật đă giảng. Trong một giây, ống kính đóng mở, thay đổi tấm phim hai mươi bốn lần. Ống kính vừa mở liền chiếu ra một tấm phim, lại đóng lại để đổi sang tấm phim khác, rồi lại mở ra để chiếu tấm phim ấy cho quư vị xem. Trong một giây, ống kính đóng mở hai mươi bốn lần, tức là hai mươi bốn lần sanh diệt. Chúng ta thấy h́nh ảnh trong phim dường như là thật. Đức Phật bảo: Vũ trụ và nhân sinh này là một tấm màn bạc lớn để chiếu phim, tốc độ nhanh như thế nào? Trong một giây, đóng mở hai mươi mốt vạn sáu ngàn lần; v́ thế, quư vị tưởng nó là thật. Đă thế, phim ảnh lại c̣n là phim lập thể (3D), quư vị chẳng có cách nào cảm nhận nó là giả!

      Thật ra, chân tướng là như thế, đâu có sanh diệt! Không có sanh diệt, không có đến đi! Quư vị nói từ nhà đến đây, có chuyện đó hay chăng? Không có chuyện ấy! Đó gọi là Không, là “Không nghĩa”. Biết tướng chân thật của hết thảy các pháp, quư vị mới hiểu hết thảy các pháp chắc chắn là b́nh đẳng, chắc chắn là không tịch. Chẳng chỉ là Không, mà c̣n thanh tịnh tịch diệt. Vậy th́ trong hết thảy các pháp, quư vị quyết định chớ khởi tâm động niệm, đừng phân biệt, chấp trước, quư vị sẽ nhập cảnh giới này, quư vị mới thật sự đạt được “tự tánh pháp giới do tự tâm biến hiện”, thụ dụng toàn thể, đắc đại tự tại. Giống như nằm mộng, chợt biết chính ḿnh đang nằm mộng, biết chính ḿnh đang nằm mộng rất tốt. Đang nằm mơ một giấc mộng lớn, [ngỡ mọi việc là thật], hóa ra chính là mộng! Trong mộng có thể tận t́nh hưởng thụ, người ấy cũng chẳng tham, chẳng sân, chẳng si, v́ sao? Biết nó là cảnh trong mộng, sự thụ dụng của chư Phật, Bồ Tát gọi là “du hư thần thông”, v́ sao du hư (vui chơi)? Các Ngài biết chúng đều là giả, không có một pháp nào chân thật!

      Hết thảy muôn h́nh tượng, thân tâm của chúng ta cũng giống như thế: Sanh ra ở nơi đâu, diệt tận ngay nơi đó. Đă biết là ở ngay nơi đó th́ sẽ không có đến, đi. Đă biết nó sanh ra ngay một nơi, diệt tận cũng cùng một nơi, cho nên không có sanh diệt, bất sanh, bất diệt, chẳng đến, chẳng đi, bất cấu, bất tịnh. Đây là nói về chân tướng của nhân sinh và vũ trụ. Đức Phật chứng đắc chân tướng này, Ngài thấy chân tướng sự thật này, v́ sao nay chúng ta không thấy? Tâm chúng ta quá thô; thô đến nỗi ngay cả h́nh ảnh trong phim sanh diệt hai mươi bốn lần mà chúng ta c̣n bị lừa, chẳng thấy nó là bất sanh bất diệt. Huống chi trong một giây, đúng là hai mươi mốt vạn sáu ngàn lần sanh diệt, làm sao chúng ta có thể nhận biết được? Tâm quá thô! Thiền Định càng rất sâu, tâm càng vi tế. Trong kinh đức Phật dạy: Đến khi nào sẽ thấy được cảnh giới ấy? Bát Địa Bồ Tát. Bát Địa Bồ Tát gọi là Bất Động Địa, đó là cảnh giới của bậc từ Bát Địa trở lên! Một câu kinh văn Lăng Nghiêm này là nói về ba tướng tế của A Lại Da Thức. Đức Phật chẳng dối gạt người khác, mỗi một cá nhân trong tương lai đạt đến Bát Địa sẽ thấy xác thực! Nếu chứng đến Bát Địa mà chẳng thể thấy t́nh h́nh này th́ đức Phật đă nói dối, đức Phật đă gạt người. Đức Phật chẳng hề gạt người! Chính quư vị đạt đến tŕnh độ ấy, sẽ thấy được chân tướng sự thật, hiểu rơ ràng chân tướng!

     V́ thế, hết thảy cảnh giới được nói trong kinh Phật đều là cảnh giới Hiện Lượng, [tức là cảnh giới] do chính đức Phật đích thân chứng, chẳng phải do suy tưởng, chẳng phải là suy diễn từ căn cứ lư luận và toán học, mà là đích thân thấy, ngũ nhăn viên minh, đích thân thấy tướng cảnh giới ấy. Đối với người niệm Phật, cảnh giới ấy là Lư nhất tâm bất loạn, nhưng người mới chứng Lư nhất tâm bất loạn vẫn chưa thể thấy. Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo là Lư nhất tâm, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng cho đến Bát Địa [đều là Lư nhất tâm]. Quư vị hăy nghĩ xem, trong Lư nhất tâm có mức độ sâu cạn khác nhau; Lư nhất tâm bất loạn rất sâu th́ mới có thể thấy cảnh giới này. Hàng Tiểu Thừa đă nhập Cửu Thứ Đệ Định mà c̣n chưa thấy, huống ǵ chúng ta? Người Tiểu Thừa...

     

      (Diễn) Toại chấp cảnh vi hữu.

      () 遂執境為有。

      (Diễn: Bèn chấp cảnh là Có).

 

      Họ có thể phá Ngă Chấp, nhưng Pháp Chấp chẳng dễ phá, đạo lư là ở chỗ này. Cảnh giới là nói về pháp, họ (người Tiểu Thừa) nghĩ cảnh là có thật!

 

      (Diễn) Duy dục tỵ cảnh xu tịch dă.

      () 唯欲避境趨寂也。

      (Diễn: Chỉ muốn tránh né cảnh, hướng đến vắng lặng).

 

      Nay chúng ta nói là họ “trốn tránh hiện thực”, họ muốn t́m một nơi thanh tịnh tịch diệt để tu hành, tránh né những khó khăn, quấy nhiễu bên ngoài.

 

      (Diễn) Kim nhật hồi tâm, năi tri bổn bất tương ngại, đương thể toàn không, độ nhi vô độ nhĩ.

      () 今日回心,乃知本不相礙,當體全空,度而無度耳。

      (Diễn: Nay hồi tâm mới biết tâm và cảnh vốn chẳng trở ngại lẫn nhau, bản thể của chúng hoàn toàn là Không, nên độ [chúng sanh] mà chẳng độ).

 

      Nếu người ấy biết chân tướng sự thật, nhất định phát đại tâm, chẳng c̣n bàn căi ǵ nữa, người ấy cũng phỏng theo chư Phật, Bồ Tát, chẳng đành ḷng làm kẻ Tiểu Thừa, nhất định là như vậy, v́ sao? Từ bi là tánh đức, là đức năng trong bổn tánh tự nhiên khởi tác dụng, tánh đức nhất định hiện tiền. Do vậy, sự hiểu lầm này gọi là Sở Tri Chướng: Người Nhị Thừa đoạn Phiền Năo Chướng, chưa phá Sở Tri Chướng, phá Ngă Chấp, nhưng chưa phá Pháp Chấp. Có Pháp Chấp, có Sở Tri Chướng, Tánh Đức trong tự tánh của người ấy chẳng thể hiện tiền. Đạo lư là ở chỗ này.

 

      (Sớ) Nhi đơn tu Thiền Định, bất nguyện văng sanh, thị vi đại thất hỹ.

      () 而單修禪定,不願往生,是為大失矣。

      (Sớ: Chỉ tu Thiền Định, chẳng nguyện văng sanh, là sự mất mát lớn lao).

 

      Đây là nói về người Tiểu Thừa, người Tiểu Thừa chuyên tu Thiền Định, công phu Thiền Định rất sâu, đạt đến Đệ Cửu Định, chẳng muốn văng sanh, tổn thất này quá lớn! Nếu một mai người ấy khai ngộ, Bồ Tát sẽ chỉ dạy người ấy, người ấy nghe xong sẽ hiểu rơ, tin tưởng, tiếp nhận, hễ quay đầu, hồi Tiểu hướng Đại, niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Với loại công phu này, người ấy chỉ cần quay đầu, sẽ sanh vào cơi Phương Tiện Hữu Dư; bởi lẽ, Định của người ấy chính là Sự nhất tâm bất loạn của người niệm Phật. V́ Sự nhất tâm là đoạn Kiến Tư phiền năo, phá Ngă Chấp. Người Tiểu Thừa dùng công phu Thiền Định rất sâu để phá Ngă Chấp, đoạn Phiền Năo Chướng. V́ thế, họ hồi Tiểu hướng Đại sẽ chẳng sanh vào cơi Phàm Thánh Đồng Cư, mà sanh vào cơi Phương Tiện Hữu Dư, cao hơn những kẻ đới nghiệp văng sanh chúng ta quá nhiều!

      Kinh này cũng v́ ḷng đại từ đại bi nhằm giáo hóa, hướng dẫn hàng Nhị Thừa mà nói. V́ thế, trong Tự Phần, chúng ta thấy có mười sáu vị tôn giả, đều là đại diện của hàng Tiểu Thừa, ư nghĩa này hết sức rơ ràng. Hôm nay chúng tôi giảng đến chỗ này.

A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

Phần 29 hết

 

     

       



[1] Tứ Không Định, gọi đủ là Tứ Không Xứ Định gồm: Không Xứ Định, Thức Xứ Định, Vô Sở Hữu Xứ Định và Phi Hữu Tưởng Phi Vô Tưởng Xứ Định.

[2] Tứ Thiền Thiên là bốn tầng trời là nơi cư trụ của người đă đắc Tứ Thiền:

1. Sơ Thiền Thiên gồm các cơi trời Phạm Chúng Thiên, Phạm Phụ Thiên, Đại Phạm Thiên. Đại Phạm Vương làm chủ các tầng trời này.

2. Nhị Thiền Thiên gồm các tầng trời Thiểu Quang Thiên, Vô Lượng Quang Thiên, Cực Quang Tịnh Thiên (c̣n gọi là Quang Âm Thiên).

3. Tam Thiền Thiên gồm Thiểu Tịnh Thiên, Vô Lượng Tịnh Thiên, Biến Tịnh Thiên.

4. Tứ Thiền Thiên gồm Vô Vân Thiên, Phước Sanh Thiên, Quảng Quả Thiên, Vô Phiền Thiên, Vô Nhiệt Thiên, Thiện Hiện Thiên, Thiện Kiến Thiên, và Sắc Cứu Cánh Thiên.

Bốn tầng trời này đều thuộc Sắc Giới. Từ cơi trời Vô Phiền Thiên trở lên là nơi ở của các bậc thánh nhân từ A La Hán trở lên, không c̣n luân hồi trong lục đạo, nên năm cơi trời (Vô Phiền, Vô Nhiệt, Thiện Hiện, Thiện Kiến, và Sắc Cứu Cánh) được gọi chung là Ngũ Bất Hoàn Thiên hay Tịnh Cư Thiên.

[3] Xin chú ư, lợi căn hay độn căn A La Hán ở đây là nói về người chưa chứng quả A La Hán. Nếu là lợi căn th́ sẽ có thể nhanh chóng chứng quả A La Hán (đắc Cửu Thứ Đệ Định) ngay trong Tứ Thiền Thiên, không cần phải trải qua Tứ Không Thiên.

[4] Trong Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh, Bảo Tích là tên một vị Trưởng Giả tại thành Tỳ Da Ly (Vaiśālī), thượng thủ của năm trăm vị trưởng giả, nương theo Phật thần lực đến cúng dường, tán thán, rồi thưa hỏi: “Bạch đức Thế Tôn! Năm trăm vị trưởng giả này đều đă phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, nguyện được nghe cơi Phật thanh tịnh. Kính mong đức Thế Tôn giảng về hạnh Tịnh Độ của Bồ Tát”. Nhân đó, đức Phật bèn giảng phẩm đầu tiên của kinh Duy Ma Cật là phẩm Phật Quốc, trong đó có những câu được sách Diễn Nghĩa trích dẫn ở đây.

[5] Theo chú giải của Nho gia, chỉ ư chí thiện” nghĩa là đạt đến cảnh giới hoàn thiện tột bậc. Về sau, từ ngữ này được dùng với nghĩa rộng hơn là đă đạt đến cảnh giới tối cao, toàn thiện, và an trụ trong cảnh giới ấy, không để mất đi.

[6] Câu này hàm nghĩa những sự vật có cùng một tánh chất sẽ thu hút lẫn nhau, hoặc nói rộng hơn là phân chia sự vật theo tánh chất đặc trưng của chúng. Hệ Từ là một phần của Dịch Truyện, tức là những lời chú giải kinh Dịch, thường được coi là trước tác của Châu Văn Vương và Khổng Tử. Dịch Truyện bao gồm Thoán Truyện, Tượng Truyện, Văn Ngôn Truyện, Hệ Từ Truyện, Thuyết Quái Truyện, Tự Quái Truyện và Tạp Quái Truyện. Hệ Từ Truyện vốn là lời giải thích phần Hệ Từ. Theo quan điểm truyền thống do Châu Hy đề xướng, Châu Văn Vương và Châu Công giải thích mỗi quẻ trong kinh Dịch rồi buộc (hệ) dưới mỗi quẻ (thuở xưa chưa có giấy, những ghi chép được viết lên thẻ bằng tre), hợp thành kinh văn ngày nay của kinh Dịch. Hệ Từ Truyện do Khổng Tử viết nhằm giải thích Hệ Từ cũng như giải thích ư nghĩa chung của trọn bộ kinh Dịch.

[7] Sát () là Phật sát, tức cơi Phật, c̣n gọi là “sát độ”. Một cơi Phật nhỏ nhất sẽ là một tam thiên đại thiên thế giới. Do có vô lượng vô biên cơi Phật chẳng thể tính kể được nên dùng chữ “hải” (biển cả) để h́nh dung số lượng các cơi Phật.

[8] Chín mươi bốn pháp trước được chia thành năm loại lớn là Tâm Pháp (tám thức), Tâm Sở Hữu Pháp (c̣n gọi tắt là Tâm Sở, gồm năm mươi mốt thứ như Xúc, Thọ, Tư, Tưởng, Tác Ư v.v...), Sắc Pháp (gồm mười một thứ như Nhăn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ư...), Bất Tương Ứng Hành Pháp (gồm hai mươi bốn pháp như Đắc, Mạng Căn, Chúng Đồng Phận, Dị Sanh Tánh v.v...). Sáu loại sau cùng là Vô Vi gồm sáu pháp tức Hư Không Vô Vi, Trạch Diệt Vô Vi, Phi Trạch Diệt Vô Vi, Bất Động Vô Vi, Tưởng Thọ Diệt Vô Vi, và Chân Như Vô Vi.

[9] Mười tám món Không trong Đại Trí Độ Luận là Nội Không, Ngoại Không, Nội Ngoại Không, Không Không, Đại Không, Đệ Nhất Nghĩa Không, Hữu Vi Không, Vô Vi Không, Tất Cánh Không, Vô Thỉ Không, Tán Không, Tánh Không, Tự Tướng Không, Chư Pháp Không, Bất Khả Đắc Không, Vô Pháp Không, Hữu Pháp Không và Vô Pháp Hữu Pháp Không.

[10] Theo Phật Thuyết Hưng Khởi Hạnh Kinh, quyển hai, đức Thế Tôn và năm trăm vị A La Hán nhận lời thỉnh của Bà-la-môn A Chỉ Đạt cho phép ông ta cúng dường Phật và tăng đoàn suốt ba tháng an cư. Cúng dường được mấy hôm, A Chỉ Đạt bị ma gây loạn tâm, đam mê ngũ dục, đóng chặt cửa hưởng lạc. Do vậy, đức Phật và năm trăm sa-môn bị đói, chư Tăng vào thành khất thực, nhưng suốt ba ngày chẳng xin được ǵ. Chỉ có một người nuôi ngựa lấy bớt phần lúa mạch nuôi ngựa cúng dường cho Phật và Tăng đoàn dùng tạm. Ngài A Nan đành đem lúa mạch nhờ người nấu thành cháo dâng lên Phật. Chư Tăng ngạc nhiên, thưa hỏi nguyên nhân v́ sao đức Phật là Lưỡng Túc Tôn mà c̣n phải ăn lúa ngựa. Đức Phật giảng: Trong quá khứ hết sức lâu xa, có Phật Như Lai hiệu là Tỳ Bà Diệp Như Lai, ngự tại đại thành Bàn Đầu Ma Bạt, có mười sáu vạn tám ngàn đại tỳ-kheo thường theo hầu. Quốc vương thành ấy và nhân dân kiền thành cúng dường Phật và tăng đoàn, khiến cơm áo không bao giờ thiếu khuyết. Trong thành ấy, có một giáo sĩ Bà La Môn tên là Nhân Đề Kỳ Lợi, tinh thông kinh điển Vệ Đà và các phương pháp xem tướng, dạy dỗ năm trăm đồng tử. Một hôm quốc vương thiết trai cúng Phật. Do trong đại chúng có một vị tỳ-kheo tên Di Lặc bị bệnh không thể dự trai, đức Phật Tỳ Bà Diệp đem một phần về cho Di Lặc. Khi quay về, Tỳ Bà Diệp Phật và chư Tăng đi qua núi của Nhân Đề Kỳ Lợi, Nhân Đề Kỳ Lợi quá ghen tức, giận dữ thóa mạ: “Lũ đạo nhân trọc đầu đáng ra phải ăn lúa mạch nuôi ngựa, chứ lẽ đâu được hưởng thức ăn ngon lành như thế?” Lại hỏi năm trăm học tṛ: “Thầy nói như vậy có đúng hay không?” Lũ học tṛ thưa: “Thầy nói không sai tí nào”. Bà La Môn lúc đó chính là thân ta hiện tại, c̣n năm trăm học tṛ chính là năm trăm vị La Hán hiện thời”.

[11] Theo Sử Kư, do thấy Lỗ Định Công hôn ám, ham mê nữ sắc, Tam Hoàn (ba gia đ́nh hoàng tộc nước Lỗ) thừa cơ lũng đoạn triều chánh, Khổng Tử liền từ chức Đại Tư Khấu nước Lỗ, chu du các nước Vệ, Tào, Trịnh, Trần, Sái, Sở, Tống. Khi đó, do nước Ngô xua binh đánh nước Trần, nước Sở phái quân sang cứu. Đến biên giới đất Trần, Sở Chiêu Vương phái người thỉnh Khổng Tử đến gặp, Khổng Tử liền chuẩn bị rời đất Trần. Các quan đại phu nước Trần và Sái sợ nước Sở trọng dụng Khổng Tử, bèn vây hăm Khổng Tử tại cánh đồng giáp ranh biên giới Trần và Sái. Do đường không đi được, Khổng Tử và môn đệ phải nhịn đói suốt bảy ngày. Môn đệ nhiều người đói rũ, không dậy nổi, nhưng Khổng Tử vẫn thản nhiên. Về sau, Tử Cống trốn được, báo tin cho Sở Chiêu Vương, Sở Chiêu Vương bèn phái người đưa Khổng Tử ra khỏi đất Trần. Trần là một nước chư hầu nhỏ đời Châu. Người sáng lập đất Trần là Quy Măn, hậu duệ của vua Thuấn. Sau khi phạt Trụ thành công, Châu Vũ Vương đă phong cho Quy Măn làm Hồ Công, ban cho thái ấp ở đất Trần, nên từ đó, Quy Măn được ban họ theo tên đất là Trần, lại được Châu Vũ Vương gả con gái là Thái Cơ cho. Nước Trần thuộc huyện Hoài Dương tỉnh Hà Nam, đóng đô tại Uyển Khâu, tiếp giáp các nước Sái, Kỷ, Tống, Sở và Từ. Trần bị diệt vong khi Ngô vương Phù Sai tấn công đoạt mất ba thành vào năm thứ ba mươi (năm 489 trước Công Nguyên) đời Trần Mẫn Công, Trần Mẫn Công cầu cứu Sở. Sở phái quân sang cứu, rồi Sở Huệ Vương thừa cơ sát nhập nước Trần vào lănh thổ của Sở vào năm 478 trước Công Nguyên. Nước Trần biến mất từ đó.

[12] Ở Trung Quốc có khá nhiều hồ mang tên Tây Hồ, nhưng mộ Nhạc Phi ở Tây Hồ thuộc Hàng Châu, thắng cảnh của tỉnh Chiết Giang. Tại mộ Nhạc Phi, ngoài tượng sắt của vợ chồng Tần Cối ra, c̣n có tượng Mặc Sĩ Tạ và Trương Tuấn cùng quỳ chịu tội. Mặc Sĩ Tạ quê ở Dương Vũ, huyện Khai Phong, làm Giám Sát Ngự Sử, là tay chân của Tần Cối, chủ trương đầu hàng quân Kim. Chính hắn đă dâng sớ đàn hặc vu cáo Nhạc Phi phản nghịch, hại chết Nhạc Phi và con trai là Nhạc Vân, cũng như hăm hại Trương Hiến. Trương Tuấn làm tướng đời Nam Tống, do đố kỵ tài năng của Nhạc Phi nên bị Tần Cối mua chuộc, ngụy tạo chứng cớ để kết tội Nhạc Phi. Về sau hắn làm đến Thái Sư, chuyên vơ vét tài sản quốc gia.

[13] Chữ “duyên” ở đây chỉ tác dụng nhận biết. Chẳng hạn mắt thấy sắc th́ nói là “Sắc được duyên bởi Nhăn Thức”. Kiến Duyên chính là Sắc được thấy bởi tánh Thấy (Kiến).

[14] Hoa đốm là những chấm sáng nhảy nhót lăng xăng trên không trung.

[15] Nói vô tài hay đa tài chỉ là dựa trên khả năng có được ăn uống hay không mà phân loại. Ngạ quỷ (tiếng Phạn là Preta, do vậy, đôi khi c̣n phiên âm là Bệ Lệ Đa) gồm có ba loại:

1. Vô Tài Quỷ: Hoàn toàn không thể ăn uống, gồm có ba loại nhỏ:

- Cự Khẩu (Diệm Khẩu): Thức ăn lọt vào miệng liền biến thành lửa đỏ.

- Châm Khẩu: Cổ họng nhỏ như cái kim, không có cách nào nuốt đồ ăn được.

- Xú Khẩu: Miệng nứt nẻ hôi thối, không thể ăn uống được.

2. Thiểu Tài Quỷ: Được ăn uống đôi chút, gồm có ba loại Châm Mao (lông trên thân nhọn hoắt như cái kim), Xú Mao (thân thể đầy lông cứng, hôi thối), Anh (có bướu). Ba loại quỷ này do nghiệp báo chỉ ăn những thứ bất tịnh như phân, nước tiểu, máu mủ, đờm răi, huyết dịch của phụ nữ đang sanh nở v.v...

3. Đa Tài Quỷ: Tuy vẫn rất đói khát, nhưng có cơ hội được ăn nhiều hơn hai loại quỷ Vô Tài và Thiểu Tài. Loại quỷ thần này gồm ba loại:

- Khí giả: Ăn những thứ vật do người cúng tế rồi bỏ đi.

- Thất giả: Ăn những vật do người ta để quên, bỏ sót.

- Đại thế: Những loài đại lực quỷ vương Dạ Xoa, La Sát, có sự hưởng thụ gần giống như chư thiên; nhưng vẫn chịu đựng khổ sở v́ ăn uống, không được tự tại như chư thiên.