A Di Đà Kinh Sớ
Sao Diễn Nghĩa
阿彌陀經疏鈔演義
Phần 29
Chủ giảng: Lăo pháp sư Tịnh
Không năm 1984
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Giảo chánh: Minh Tiến, Huệ Trang và
Đức Phong
Tập 57
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang bảy mươi lăm, giảng
đến đoạn thứ tư của phần Giáo Khởi
Nhân Duyên, nói về nhân duyên thứ tư:
(Huyền Nghĩa) Tứ, hóa
đạo Nhị Thừa chấp Không bất tu Tịnh
Độ giả, lương dĩ sạ đắc Ngă
Không, tức sanh đam trệ, văn thuyết tịnh Phật
quốc độ, giáo hóa chúng sanh, tâm bất hỷ nhạo,
cố linh hồi Tiểu hướng Đại, phát ư văng
sanh.
(玄義) 四化導二乘執空不修淨土者,良以乍得我空,即生耽滯。聞說淨佛國土,教化眾生,心不喜樂,故令回小向大,發意往生。
(Huyền Nghĩa: Bốn là
giáo hóa, hướng dẫn hàng Nhị Thừa chấp Không
chẳng tu Tịnh Độ: Ấy là v́ họ vừa
đắc Ngă Không, bèn sanh ḷng đắm chấp, vướng
mắc, nghe nói đến cơi nước thanh tịnh của
Phật và giáo hóa chúng sanh, ḷng chẳng vui thích, nên [đức
Phật nói kinh A Di Đà] làm cho họ hồi Tiểu hướng
Đại, dấy lên ư nguyện văng sanh).
Đây là nhân duyên thứ tư:
Đặc biệt nói với hàng Tiểu Thừa. “Nhị Thừa” là Thanh Văn
và Duyên Giác, những người này chẳng tu Tịnh
Độ. Nói cách khác, họ chấp trước khá nặng,
được chút ít đă cho là đủ. Trong quá tŕnh tu
hành, đạt được thân tâm tự tại bèn rất
thỏa măn, ngừng ở đó, chẳng chịu tinh tấn
tiến lên nữa! Đức Phật cũng hết sức
từ bi đối với những người ấy, biết
khuyết điểm của họ, dùng pháp môn Tịnh
Độ để tiếp dẫn, thành tựu Phật quả
rốt ráo cho họ.
(Diễn) Nhị Thừa chấp
Không giả, Nhị Thừa nhân đơn tu chánh quán giả,
đản niệm Không, Vô Tướng, Vô Tác.
(演) 二乘執空者,二乘人單修正觀者,但念空無相無作。
(Diễn: “Nhị Thừa chấp
Không”: Người Nhị Thừa chỉ tu pháp chánh quán bèn
chỉ nghĩ tới Không, Vô Tướng, Vô Tác).
Pháp môn Tiểu Thừa rất
nhiều, cũng có Tam Tạng Kinh - Luật - Luận hoàn bị,
tông Thiên Thai phán định [Tiểu Thừa] là Tạng Giáo,
có kinh Tiểu Thừa, luật Tiểu Thừa, luận Tiểu
Thừa ba thứ đầy đủ, họ chiếu theo
những thứ ấy để tu hành. Nguyên tắc và
nguyên lư tu học của người Tiểu Thừa là phá
Ngă Chấp, phá Nhân Ngă Không; do vậy, họ phải niệm
“Không, Vô Tướng, Vô Tác”.
(Diễn) Kiêm tu trợ quán giả, đa do Tứ
Không dĩ nhập Diệt Tận, cố giai chấp Không.
(演) 兼修助觀者,多由四空以入滅盡,故皆執空。
(Diễn: Người
tu kèm thêm những pháp trợ quán th́ phần nhiều dùng Tứ
Không để nhập Diệt Tận, nên đều chấp
Không).
“Tứ
Không” là Tứ Không Thiên. Công phu tu hành của người
Tiểu Thừa là Cửu Thứ Đệ Định, phải
trải qua Tứ Thiền, Tứ Không Định[1]
rồi mới vượt thoát [tam giới]. Tứ Thiền
và Tứ Không gộp thành Bát Định; tám món Thiền
Định này đều là Thiền Định thế
gian, chưa thể vượt thoát tam giới. Tu thành công [tám
món Định này] bất quá sanh vào Tứ Thiền Thiên[2]
hoặc là Tứ Không Thiên. Tứ Thiền Thiên và Tứ
Không Thiên thọ mạng rất dài, nhưng trong Tứ Thiền
Thiên c̣n có Phật pháp, Tứ Không Thiên chẳng có Phật pháp.
Chúng ta thường thấy kinh Phật nói tới “tam đồ bát nạn”, trong
bát nạn có Tứ Không Thiên, tức Trường Thọ
Thiên. V́ sao gọi là “gặp nạn”? Tuy đời này, quư vị
sống trong thế gian, nhưng không có cơ hội nghe Phật
pháp, đó là “gặp nạn”. V́ có cơ hội nghe Phật
pháp, sẽ có cơ duyên vượt thoát tam giới. Hiện
thời quư vị không có duyên phận này, đời này nhất
định luống qua nên Phật pháp gọi điều
này là “gặp nạn”. Tứ Không Thiên là một trong bát nạn.
Bát Nạn là tám trường hợp không có cơ hội tiếp
xúc Phật pháp.
Người Nhị Thừa có lợi
căn và độn căn. Bậc lợi căn A La Hán có
thể từ Tứ Thiền Thiên mà trực tiếp đốn
siêu, nhanh chóng chứng đắc Cửu Thứ Đệ
Định. Bậc độn căn A La Hán ắt phải
trải qua Tứ Không Thiên, phải mất một thời gian
khá dài mới có thể chứng quả A La Hán, đạt
đến Cửu Thứ Đệ Định[3].
Do điều này chúng ta biết: Chỉ dựa vào một
ḿnh công phu Thiền Định rất sâu th́ chỉ có thể
đoạn Phiền Năo Chướng, phá Nhân Ngă Chấp, chưa
thể phá Pháp Ngă Chấp, chẳng thể phá Sở Tri
Chướng. Do vậy, người ấy chưa thể
kiến tánh. Đó là người chỉ tu Thiền Định,
từ Tứ Không Thiên mà nhập Diệt Tận Định.
Diệt Tận Định chính là Cửu Thứ Đệ
Định, trong quá khứ khi giảng kinh Lăng Nghiêm,
chúng ta cũng thường thảo luận vấn đề
này.
Do tập khí tu học trong nhiều
đời nhiều kiếp, nên người ấy chấp
trước Không, tức là chấp trước Pháp Không, biết
con người là giả tướng, do nhân duyên Tứ
Đại và Ngũ Ấm ḥa hợp mà hiện ra huyễn
tướng. Do vậy, vị ấy chẳng chấp
trước thân là Ngă. Nói cách khác, người Tiểu Thừa
cao minh hơn phàm phu chúng ta nhiều lắm. Phàm phu chúng ta rất
đáng thương, chấp trước cái thân này là Ngă,
cho nên mới có luân hồi trong lục đạo. Người
Tiểu Thừa đă hiểu thân này chẳng phải là ta,
thân là Không, nhưng chẳng biết Ngũ Uẩn cũng
là Không, chẳng hiểu đạo lư này! Chúng ta đọc
Tâm Kinh: “Quán Tự Tại Bồ
Tát chiếu kiến Ngũ Uẩn giai không”, đó là Pháp
Chấp cũng phá. Phá được Pháp Chấp sẽ
minh tâm kiến tánh, người Tiểu Thừa không có cách
nào đạt đến cảnh giới này. Đây là
điều thứ nhất, nói rơ sự chấp trước
của họ.
(Diễn) Hựu phục Thanh
Văn nhân, đa ư Tứ Đế trung, cư Diệt
dĩ hưu, cánh bất tiền tấn, thành Triền Không
chủng.
(演) 又復聲聞人,多於四諦中,居滅已休,更不前進,成纏空種。
(Diễn: Lại nữa,
hàng Thanh Văn phần nhiều ngừng nghỉ nơi Trạch
Diệt Vô Vi trong Tứ Đế, chẳng c̣n tiến lên nữa,
trở thành hạng người bị Không trói buộc).
Đây là căn bệnh lớn
thứ hai của người Tiểu Thừa. Phần trên
nói về tập khí khó đoạn trong quá tŕnh tu hành, c̣n phần
này nói họ lầm lẫn tưởng Thiên Chân Niết Bàn
mà họ đă chứng đắc là rốt ráo. Tứ
Đế là Khổ - Tập - Diệt - Đạo. Diệt
Đế là quả báo xuất thế gian. Đạo là
nhân xuất thế gian. Hai thứ Khổ và Tập là nhân quả
thế gian; Khổ là quả thế gian, tam giới đều
khổ. Tập là phiền năo, là cái nhân của tam giới.
Tứ Đế Khổ - Tập - Diệt - Đạo là
nói đến hai thứ nhân quả thế gian và xuất thế
gian. Nếu chúng ta đọc Tứ Giáo của Thiên Thai Trí
Giả đại sư sẽ biết Tứ Đế có
Tứ Giáo Tứ Đế, mức độ sâu hay cạn
trong ấy khác biệt rất lớn. Người Nhị
Thừa tu Tạng Giáo Tứ Đế; nói cách khác là Sanh Diệt
Tứ Đế, từ đầu đến cuối họ
tuân thủ trong phạm vi ấy. Họ tu đạo, quá nửa
là ba mươi bảy Đạo Phẩm. Pháp môn tu tập
của người Tiểu Thừa hết sức nhiều,
nhưng nói chung, chẳng ra ngoài ba mươi bảy Đạo
Phẩm. Giống như trong Đại Thừa có vô lượng
pháp môn, nhưng nói chung chẳng ra ngoài Lục Độ. Lục
Độ là tổng cương lănh của Đại Thừa,
ba mươi bảy đạo phẩm là cương lănh của
Tiểu Thừa.
Họ đoạn hết Kiến
Tư phiền năo, chứng Tứ Quả La Hán; do vậy, ở
trong cảnh giới ấy, cho rằng không c̣n có chuyện
ǵ nữa! Tứ Quả La Hán không c̣n học nữa. Những
thứ cần phải học họ đă học toàn bộ,
tốt nghiệp rồi. Đích xác đă tốt nghiệp
rồi, nhưng chẳng qua vị ấy tốt nghiệp
Tiểu Học! Đoạn hết Kiến Tư phiền
năo, c̣n có Trần Sa và Vô Minh, nhưng chính vị ấy không
biết. Nếu biết, nhất định sẽ hồi
Tiểu hướng Đại. Vị ấy không biết,
ngỡ ḿnh đă đạt đến rốt ráo. “Cư Diệt dĩ hưu” (ở
trong Diệt bèn ngừng nghỉ), “Diệt” là chứng đắc Trạch Diệt Vô
Vi, chúng ta thường gọi là Thiên Chân Niết Bàn, chẳng
c̣n tiến lên nữa, trụ ở trong ấy. Do vậy,
trong kinh điển Đại Thừa, đức Thế
Tôn thường quở trách bọn họ “đọa vô vi khanh” (rớt vào hầm vô vi). Thiên
Chân Niết Bàn là “hầm vô vi”,
đọa lạc trong chỗ này, rất đáng
thương! Bất quá, La Hán tuyệt đối chẳng vĩnh
viễn đọa trong hầm vô vi, tuy ở đây nói là “cánh bất tiền tấn” (chẳng
c̣n tiến lên), nhưng điều này có tánh chất thời
gian. Trong kinh điển thường nói: Bậc A La Hán chứng
đắc Vô Vi, trụ trong cảnh giới ấy hai vạn
đại kiếp rồi mới giác ngộ, mới quay
đầu lại, thời gian này khá dài. Bích Chi Phật
thông minh hơn La Hán, phải trụ [trong Thiên Chân Niết
Bàn] một vạn đại kiếp mới có thể quay
đầu. Kinh điển thường nói “định tánh La Hán” là nói
đến hạng người này. Thời gian họ trụ
trong cảnh giới Thiên Chân Niết Bàn khá dài, chẳng chịu
tiến lên. “Thành Triền Không
chủng”, bị Không trói buộc. Họ vượt
ngoài Hữu, nhưng chẳng thể vượt khỏi Không,
bị Không trói buộc. Đây là nói về Tứ Quả
Thanh Văn.
(Diễn) Duyên Giác nhân đa ư
giác minh trung, tức lập Niết Bàn, nhi bất tiền tấn,
sanh bất hóa chủng.
(演) 緣覺人多於覺明中,即立涅槃,而不前進,生不化種。
(Diễn: Hàng Duyên
Giác phần nhiều tưởng giác minh là Niết Bàn, chẳng
c̣n tiến lên nữa, trở thành chủng tánh chẳng biến
đổi).
Duyên Giác là Bích Chi Phật,
căn tánh bén nhạy hơn Thanh Văn. Họ tu Quán, từ
Thập Nhị Nhân Duyên mà nhập đạo. Thanh Văn tu
Định, từ Định nhập môn, đoạn Kiến
Tư phiền năo. Duyên Giác thông minh, không chỉ có Định
mà c̣n có Giác Quán, từ mười hai nhân duyên mà nhập môn,
hiểu “nhân duyên sở sanh
pháp, ngă thuyết tức thị Không” (các pháp từ nhân
duyên sanh ra, ta nói chúng chính là Không). Đức Phật thường
nói như thế! Các pháp sanh từ nhân duyên không có tự
tánh, bản thể của nó chính là Không. Vị ấy hiểu
được đạo lư này, cho nên có thể bỏ hết
thảy pháp, chẳng chấp trước, nhưng cho rằng
cảnh giới mà chính ḿnh đă chứng đắc là Niết
Bàn viên măn rốt ráo, chẳng biết cảnh giới của
ḿnh chẳng khác A La Hán cho mấy, chẳng cao minh hơn bao
nhiêu, cũng là ở trong “hầm
vô vi”; bởi lẽ, vị ấy cũng không biết
rơ. Loại người này “sanh
bất hóa chủng”, “hóa”
là biến hóa, vị ấy ngừng nghỉ giữa chừng
ở chỗ này.
(Diễn) Cố đa chấp
Không, bất tu Tịnh Độ giả.
(演) 故多執空、不修淨土者。
(Diễn: V́ thế,
họ phần nhiều chấp Không, chẳng tu Tịnh
Độ).
Thanh Văn, Duyên Giác, hai hạng
người này tu đến quả vị rốt ráo trong
Tiểu Thừa, đều chấp trước Không, [cho rằng]
Không ấy chính là Niết Bàn, mà cũng là Diệt Đế
trong Tứ Đế, chấp trước vào điều
này. Do vậy, họ “chẳng
tu Tịnh Độ”, tự nghĩ chính ḿnh đă chứng
đắc Niết Bàn, c̣n có ǵ để tu nữa sao? Chẳng
chịu tu Tịnh Độ!
(Diễn) Tự vị dĩ
đắc Niết Bàn cố, hựu phục yếm ly hữu
vi cố.
(演) 自謂已得涅槃故,又復厭離有為故。
(Diễn: Tự cho
rằng ḿnh đă đắc Niết Bàn, lại c̣n chán ĺa hữu
vi).
Một đằng là [cứ tưởng]
tự ḿnh đă chứng đắc Niết Bàn, “chứng
đắc Niết Bàn” là thành Phật rồi, tự
nghĩ ḿnh đă viên măn. Đằng khác là chẳng muốn
tu thêm nữa. Đó là căn bệnh của họ, gốc
bệnh ở chỗ này. V́ sao đức Phật khuyên hai hạng
người này tu Tịnh Độ? Quư vị phải hiểu:
Chỉ có pháp môn Tịnh Độ mới có thể giúp
chúng ta đạt đến Niết Bàn rốt ráo. Họ
chứng đắc Tương Tự Niết Bàn, chứ
không phải là Niết Bàn rốt ráo, chỉ đoạn Kiến
Tư phiền năo, chưa phá căn bản vô minh. Đức
Phật chẳng dùng các pháp môn khác để dạy họ,
mà dùng pháp môn Niệm Phật để dạy bảo họ,
thật là đại từ đại bi. Nếu họ hồi
tâm chuyển ư, niệm Phật, lập tức văng sanh, trừ
phi họ chẳng xoay chuyển ư niệm, chứ hễ ư
niệm chuyển bèn văng sanh, mà phẩm vị văng sanh lại
c̣n cao hơn chúng ta. Với tŕnh độ của họ,
văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới không
phải là sanh trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư, mà là sanh
trong cơi Phương Tiện Hữu Dư. V́ sao? Họ
đă đắc Sự nhất tâm bất loạn. Sự
nhất tâm bất loạn là đoạn Kiến Tư phiền
năo, mỗi vị ấy đều đă đoạn Kiến
Tư phiền năo. Do vậy, chỉ cần hồi tâm phát
nguyện liền thành bậc thượng thiện nhân trong
cơi Phương Tiện Hữu Dư của Tây
Phương Cực Lạc thế giới. Đích xác là chẳng
có một pháp môn nào thẳng chóng, ổn thỏa, thích
đáng bằng pháp môn này. V́ sao đức Phật bảo họ
niệm Phật? Đạo lư là ở chỗ này!
Do đây có thể biết: Nếu
chúng ta niệm Phật, dẫu công phu kém một chút, sanh vào
cơi Phàm Thánh Đồng Cư, nhưng so với hàng Nhị
Thừa chưa hồi Tiểu hướng Đại,
chúng ta cao minh hơn họ quá nhiều, họ chẳng bằng
chúng ta. Thế nhưng, người Nhị Thừa có mấy
ai chịu hồi Tiểu hướng Đại? Chẳng
dễ dàng! Thật sự nhập cảnh giới ấy, nếu
quư vị muốn khuyên họ hồi Tiểu hướng
Đại, quá khó khăn, gần như không thể nào!
Đức Phật làm thế nào để khuyên họ? Họ
đă thật sự chứng Cửu Thứ Đệ
Định, c̣n chưa nhập Niết Bàn; lúc ấy chính là
cơ hội để khuyên bảo họ. Do vậy, dụng
ư của Phật là nhắm vào bậc A La Hán trong lúc ấy.
“Bậc A La Hán vào lúc ấy” là ai vậy? Chính là Thường
Tùy Chúng của Thích Ca Mâu Ni Phật thường được
nhắc tới trong kinh điển, một ngàn hai trăm
năm mươi lăm vị, chính là họ. Kinh này vừa
mở đầu liền liệt kê mười sáu vị
La Hán thượng thủ, đối với các vị ấy
mà nói kinh này. Những vị ấy có văng sanh hay không? Tôi
nghĩ họ chắc chắn văng sanh. Bởi lẽ, đức
Phật nhắm vào họ mà giảng [kinh này]. Khi đức
Phật tại thế, những đệ tử chứng
đắc A La Hán đều niệm Phật cầu sanh Tịnh
Độ, huống ǵ đời sau!
Các vị tổ sư đại
đức phiên dịch kinh điển và hoằng pháp trải
qua các đời tại Trung Quốc, từ đời Tùy
- Đường trở về trước gần như
là những vị đă chứng Tam Quả, Tứ Quả rất
ít thấy, nhưng Tam Quả rất nhiều; cho nên kinh này
mới có thể dịch hay như vậy! Dịch kinh quả
thật chẳng phải là chuyện dễ dàng! Phước
báo của người Trung Quốc lớn hơn người
ngoại quốc quá nhiều! Hiện thời người
ngoại quốc đem kinh này dịch sang ngôn ngữ của
họ hết sức khó khăn. Người tu hành chứng
quả mới có năng lực theo đuổi công tác này,
người b́nh thường không có năng lực dịch
kinh. V́ sao? Trong bài kệ Khai Kinh có câu: “Nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa”. Họ
chẳng hiểu ư nghĩa chân thật trong kinh điển,
hoàn toàn là phiên dịch văn tự, phiền toái rất lớn.
Ư nghĩa của Phật pháp nằm ngoài văn tự, chẳng
thể chiếu theo văn tự để phiên dịch. Cổ
nhân thường nói: “Y văn
giải nghĩa, tam thế Phật oan” (Dựa theo
văn tự để hiểu nghĩa th́ ba đời
chư Phật bị oan). “Tam
thế” là quá khứ, hiện tại, vị lai. Ba đời
chư Phật đều kêu oan uổng!
Mười mấy năm
trước, thầy Lư gặp một người ngoại
quốc cầm theo một cuốn Phật Học Từ
Điển bằng tiếng Anh; thầy Lư bảo người
ấy tra hai danh từ rồi nói ư nghĩa của chúng. Thầy
Lư hỏi: “Lưỡng Túc Tôn là ǵ?” Người ấy nói:
“Cái tôn quư nhất ở giữa hai đùi!” Thật Tướng
là ǵ? Người ấy nói: “Vẻ ngoài chân thật”. [Người
ấy hiểu nghĩa theo mặt văn tự của từng
chữ]: Thật là chân thật, Tướng là h́nh dáng bên
ngoài! Hoàn toàn dựa theo văn tự để suy đoán ư
nghĩa, làm sao dịch kinh được? Bởi đó, có
thể h́nh dung người ngoại quốc dịch kinh ra
sao, đích xác là chẳng dễ dàng! Người Hoa may mắn,
các vị đại đức thuở dịch kinh, chú giải,
giảng kinh đều là người tu hành chứng quả,
có rất nhiều vị là Phật, Bồ Tát tái lai...
Đức Phật dùng pháp môn
này để khuyên hàng Tiểu Thừa hăy mau chóng chứng
đắc rốt ráo viên măn. Đoạn này nhằm nêu rơ dụng
ư của Ngài.
Tiếp theo đó là phân tích cặn
kẽ: V́ sao họ chẳng tu Tịnh Độ? “Lương dĩ sạ đắc
Ngă Không” (ấy là v́ vừa đắc Ngă Không), “sạ đắc” là vừa mới
chứng đắc, hoan hỷ! Đoạn sạch phiền
năo khó có lắm, niềm vui ấy chúng ta chẳng thể
tưởng tượng được! Đoạn sạch
phiền năo, vui sướng lắm! Nếu cảnh giới
Niết Bàn chẳng vui sướng, họ đă sớm vứt
bỏ rồi! Người Tiểu Thừa chứng cảnh
giới ấy hết sức sung sướng, chẳng muốn
vứt bỏ, quư vị khuyên họ tu ǵ họ cũng chẳng
chịu tu. Đến khi ấy, đức Phật khuyên họ
cũng chẳng được.
(Diễn) Sạ đắc Ngă
Không giả, Không hữu tứ chủng: Nhất Nhân Không,
nhị Pháp Không, tam Không Không, tứ Không Không Diệc Không.
(演) 乍得我空者,空有四種:一人空,二法空,三空空,四空空亦空。
(Diễn: “Vừa
đắc Ngă Không”: Có bốn loại Không: Một là Nhân
Không, hai là Pháp Không, ba là Không Không, bốn là Không Không Cũng
Là Không).
Do đây có thể biết: Có bốn
tầng cấp. Tiểu Thừa A La Hán mới chứng
đắc tầng thứ nhất. Tầng thứ hai là chứng
đắc của Bồ Tát, chứng đắc Pháp Không, gọi
là Quyền Giáo Bồ Tát. Thật Giáo Bồ Tát mới chứng
đắc Không Không. Không Không Diệc Không là cảnh giới
của Địa Thượng Bồ Tát, thật sự
thanh tịnh.
“Sạ
đắc Ngă Không” chứng đắc cảnh giới ấy,
“tức sanh đam trệ”
(liền sanh đắm trước, vướng mắc),
ngừng ở nơi đó, sanh ḷng tham đắm, chấp
trước.
(Diễn) Tức sanh đam trệ
giả, vị trầm không trệ tịch, đọa vô vi
khanh, ẩm tam-muội tửu dă.
(演) 即生耽滯者,謂沈空滯寂,墮無為坑,飲三昧酒也。
(Diễn: “Liền
sanh đắm trước, vướng mắc” nghĩa là
ch́m đắm nơi Không, vướng mắc nơi Tịch,
đọa trong hầm vô vi, uống rượu tam-muội).
Hai câu này đều là tỷ dụ.
Tam-muội (Samādhi) là tiếng Phạn,
dịch sang nghĩa tiếng Hán là Chánh Thọ, c̣n dịch
là Định. Tôi vừa mới nhắc tới Cửu Thứ
Đệ Định, Chánh Thọ là sự hưởng thụ
đúng mực, b́nh thường. Sự hưởng thụ
của chúng ta chẳng đúng mực, bất b́nh thường,
có năm thứ khổ, lạc, ưu, hỷ, xả. Khổ,
lạc, ưu, hỷ là bất b́nh thường. Xả Thọ
là tâm t́nh rất b́nh tĩnh, không có khổ, lạc, ưu, hỷ,
tuy rất tốt, nhưng thời gian ngắn ngủi, tạm
bợ, chẳng thể giữ ǵn vĩnh viễn. Vĩnh
viễn giữ được cảnh giới ấy th́ là
Định, tạm thời có cảnh giới ấy th́ là
Xả Thọ. Trên thực tế, Định là Xả Thọ.
Tâm không có ưu, hỷ, thân không có khổ, sướng.
Đó gọi là sự hưởng thụ đúng mực,
b́nh thường. Nay bậc A La Hán đă hoàn toàn chứng
đắc, hoàn toàn đạt đến cảnh giới ấy.
Do vậy, họ ngừng nghỉ nơi cảnh giới ấy.
Cảnh giới ấy thoải mái, hết sức tự tại.
Đức Phật phê b́nh bọn họ “đọa vô vi khanh, ẩm tam-muội tửu”
(đọa hầm vô vi, uống rượu tam-muội). Đă
say tít rượu ấy, bất động, [dùng h́nh ảnh
ấy] để h́nh dung bọn họ [đắm ch́m trong
Không Tịch].
(Diễn) Tịnh Phật quốc
độ giáo hóa chúng sanh giả.
(演) 淨佛國土教化眾生者。
(Diễn: “Cơi Phật
thanh tịnh, giáo hóa chúng sanh” là....).
Tuy nghe pháp Đại Thừa, họ
cũng chẳng có hứng thú lắm, v́ sao? V́ Bồ Tát
đạo khó hành! Người Tiểu Thừa bỏ ĺa hết
thảy cảnh giới, đạt được thanh tịnh
tự tại, thanh tịnh tịch diệt, c̣n Bồ Tát ắt
phải tâm địa thanh tịnh tự tại ngay trong cảnh
ồn náo, công phu cao hơn người Tiểu Thừa quá
nhiều. Bồ Tát có thể chống lại sự dụ
dỗ, mê hoặc, c̣n người Tiểu Thừa chưa
thể, tôi né tránh anh, tôi không qua lại với anh, mong sao
thanh tịnh tịch diệt! V́ vậy, người Tiểu
Thừa chẳng có ư nguyện độ sanh. Chẳng phải
là nói họ không độ chúng sanh, mà là nếu quư vị
t́m đến họ, nếu họ ưa thích quư vị th́
sẽ dạy bảo, nhất quyết chẳng chủ
động dạy dỗ người khác. Quư vị đến
t́m họ, nếu chẳng có duyên phận với họ, họ
cũng chẳng tiếp nhận quư vị. Có duyên phận
bèn tiếp nhận, chẳng giống như Bồ Tát đại
từ đại bi dạy dỗ không phân biệt. Đấy
là tâm lượng bất đồng!
Chính v́ người Tiểu Thừa
chẳng muốn hóa độ chúng sanh, nên đối với
cơi Phật thanh tịnh (tức Tây Phương Cực Lạc
thế giới), họ chẳng có hứng thú. V́ sao chúng ta
muốn văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới,
phải hiểu rơ điều này! Nếu chẳng hiểu
rơ, trong tương lai sẽ chẳng thể văng sanh! V́
trong tương lai muốn hóa độ chúng sanh th́ quư vị
phải hoàn thành “chúng sanh vô biên
thệ nguyện độ” trong Tứ Hoằng Thệ
Nguyện. Nếu quư vị không có nguyện như vậy,
sẽ chẳng đến thế giới Tây Phương
được! Bởi lẽ, người trong thế giới
Tây Phương ai nấy đều có tâm lượng rộng
lớn, đều phát nguyện phổ độ chúng sanh.
Quư vị phát nguyện về đó hưởng phước
th́ không được rồi! Mọi người không có
cách nào dung nạp quư vị cả! Tâm của người
Tiểu Thừa là muốn tự ḿnh hưởng phước,
chẳng muốn chuốc lấy phiền phức, chẳng
muốn độ chúng sanh. Do chí thú chẳng hợp nhau, nên
họ chẳng muốn văng sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới.
(Diễn) Tịnh Danh Kinh vân.
(演) 淨名經云。
(Diễn: Kinh Tịnh Danh nói).
Tịnh Danh Kinh chính là Duy Ma Cật
Kinh.
(Diễn) Bồ Tát thủ ư tịnh
quốc, giai vị nhiêu ích chư chúng sanh cố.
(演) 菩薩取於淨國,皆為饒益諸眾生故。
(Diễn: Bồ Tát
giữ lấy cơi tịnh đều nhằm lợi ích các
chúng sanh).
Duyên cớ như vậy, tiếp
theo đây là nói về ba thứ Bồ Đề tâm.
(Diễn) Bảo Tích[4],
đương tri trực tâm thị Bồ Tát Tịnh
Độ, Bồ Tát thành Phật thời, bất siểm
chúng sanh lai sanh kỳ quốc.
(演) 寶積。當知直心是菩薩淨土,菩薩成佛時,不諂眾生來生其國。
(Diễn: Này Bảo Tích! Hăy nên biết trực tâm
là Tịnh Độ của Bồ Tát. Khi Bồ Tát thành Phật,
những chúng sanh chẳng siểm khúc sẽ sanh về cơi
Ngài).
Ở chỗ này, tuy là cảnh
giới của Phật, Bồ Tát, nhưng hiện thời
chúng ta phải hiểu rơ, phải học v́ đại hoàn
cảnh và tiểu hoàn cảnh rất tương tự. A
Di Đà Phật kiến lập thế giới Cực Lạc
tại Tây Phương, đó là một đại đạo
tràng, nay chúng ta ở trong cái thư viện nhỏ này là một
tiểu đạo tràng. Tuy A Di Đà Phật có hoằng
nguyện tiếp dẫn chúng sanh niệm Phật phát nguyện
cầu văng sanh trong mười phương, Ngài hoàn toàn chẳng
siểm mị, bợ đỡ họ: “Các vị nhất
định phải sanh về chỗ tôi”, chẳng phải
vậy! Quư vị muốn đến th́ tôi hoan nghênh, chẳng
muốn đến, tôi quyết chẳng ép buộc! Như
vậy là đúng, Phật tâm mới thanh tịnh. Nếu thấy
quư vị muốn đến bèn hoan hỷ, chẳng muốn
đến bèn phiền năo th́ Phật vẫn là phàm phu! Quư vị
hiểu rơ đạo lư này, chúng ta kiến lập đạo
tràng bất luận lớn hay nhỏ ở chỗ này đều
cũng giống như vậy. Tự viện tùng lâm vào thời
cổ ở Trung Quốc, người đến học
bèn hoan nghênh, người chẳng muốn đến bèn chẳng
mảy may cưỡng ép họ, quyết chẳng đi ra
ngoài quảng cáo, đó là thái độ học Phật.
Cho đến việc giảng
kinh th́ thính chúng nghe giảng kinh cũng là tự họ
đến, cũng chẳng đi ra ngoài lôi kéo, chẳng giống
như các tôn giáo khác phải đi ra ngoài lôi kéo người
ta đến nghe, Phật giáo không có như thế! Phật
giáo chỉ là tôi bảo quư vị: Nay ở đây chúng tôi có
giảng kinh, đến hay không đến là chuyện của
quư vị. Tôi chẳng báo cho quư vị biết, tức là tôi
có lỗi với quư vị. Nói chung, tôi phải báo cho quư vị
biết cơ hội này, quư vị muốn đến th́
hoan nghênh, không muốn đến tôi cũng chẳng trách
móc quư vị. Xưa kia, tùng lâm tự viện giảng kinh
bèn đem cái tràng treo trên cột cờ, người bên ngoài
trông thấy: “Hôm nay chùa ấy có giảng kinh!” Ai thích nghe
kinh th́ đến, [nhà chùa] quyết chẳng đi ra ngoài
lôi kéo người khác. Đó là trực tâm! Tuy hoằng pháp
lợi sanh, lợi lạc hết thảy chúng sanh, chớ
nên đánh mất trực tâm của chính ḿnh, đó là Tịnh
Độ của Bồ Tát, tâm địa thanh tịnh lại
lợi ích chúng sanh, lợi ích chúng sanh quyết chẳng
đánh mất cái tâm thanh tịnh của chính ḿnh.
(Diễn) Thâm tâm thị Bồ Tát
Tịnh Độ, Bồ Tát thành Phật thời, cụ
túc công đức chúng sanh lai sanh kỳ quốc.
(演) 深心是菩薩淨土,菩薩成佛時,具足功德眾生來生其國。
(Diễn: Thâm tâm là Tịnh
Độ của Bồ Tát. Khi Bồ Tát thành Phật, chúng
sanh đầy đủ công đức sẽ sanh về
cơi Ngài).
Nói đơn giản, “thâm tâm” là ưa thiện chuộng
đức, đó là thâm tâm. Ưa thích hết thảy pháp
lành. Bồ Tát thuần thiện, Phật là “chỉ ư chí thiện”[5],
phàm những chúng sanh ưa thích thiện hạnh sẽ tự
nhiên kéo đến, Tây Phương Tịnh Độ có
đạo lư như vậy đó. Lục đạo luân hồi
có nguyên lư như thế này: Thật ra, quư vị sanh vào
đường nào, chắc chắn chẳng phải do vua
Diêm La phán quyết quư vị đi vào đường
đó, cũng chẳng phải do Phật, Bồ Tát làm chủ
tể bảo quư vị đi vào đó, mà do quư vị tự
động đi vào! Đi vào bằng cách nào? Quư vị rất
có hứng thú đối với nơi đó, chính là như
Khổng lăo phu tử đă nói trong phần Hệ Từ của
kinh Dịch: “Nhân dĩ loại
tụ, vật dĩ quần phân” (người nhóm theo loài,
vật tụ theo bầy)[6],
chí đồng đạo hợp mà! Kẻ thích làm ác, đều
đi vào ác đạo, thấy cảnh giới ấy là
“chí đồng đạo hợp”, bèn đi vào. Ưa thích
thiện hạnh bèn đi vào thiện đạo.
Cố nhiên nghiệp nhân trong lục
đạo rất phức tạp, nhưng chủ yếu
nhất th́ [nghiệp nhân của] thiên đạo là Thập
Thiện Nghiệp Đạo, [nghiệp nhân của] nhân
đạo là Ngũ Giới. Trong đời quá khứ, tu
Ngũ Giới, Ngũ Thường, “nhân, lễ, nghĩa,
trí, tín” như Nho gia đă nói có cùng một tinh thần với
Ngũ Giới [nhà Phật], đó gọi là “nhân cách”; trong lục
đạo giữ được tư cách của nhân
đạo. Tư cách để sanh lên trời là Thập
Thiện, Tứ Thiền, Bát Định, Tứ Vô Lượng
Tâm. Cơi trời có hai mươi tám tầng, sáu tầng ở
phía dưới [thuộc về] Dục Giới Thiên lấy
Thập Thiện làm chủ yếu, Tứ Thiền Thiên và Tứ
Không Thiên lấy Thiền Định và Tứ Vô Lượng
Tâm (từ, bi, hỷ, xả) làm chủ. Nghiệp nhân của
ngạ quỷ đạo là keo kiệt, tham lam, [nghiệp
nhân của] súc sanh đạo là ngu si, chẳng thể hiểu
rơ đúng - sai, thiện - ác, lợi - hại, [nghiệp nhân
của] địa ngục đạo là nóng giận. Trong
kinh luận, đức Phật thường giảng về
nghiệp nhân của lục đạo, chúng ta chớ nên
không hiểu rơ! Nghiệp nhân của Thanh Văn là tu pháp Tứ
Đế, Duyên Giác tu Thập Nhị Nhân Duyên, Bồ Tát tu Lục
Độ, Phật là tâm b́nh đẳng. Chân từ b́nh
đẳng là cái nhân thành Phật. Nh́n từ chỗ này, Tây
Phương Cực Lạc thế giới cũng là nơi
chí đồng đạo hợp. “Cụ túc công đức” (đầy đủ
công đức), công đức là Tín - Nguyện - Hạnh.
(Diễn) Năi chí lục độ
vạn hạnh đẳng.
(演) 乃至六度萬行等。
(Diễn: Cho đến lục độ vạn hạnh
v.v...)
Bồ Tát văng sanh cơi ấy.
Đối với Bồ Tát, nếu nói theo Biệt Giáo th́
các Bồ Tát thuộc địa vị Tam Hiền văng sanh
Tây Phương Cực Lạc thế giới sẽ sanh vào
cơi Phàm Thánh Đồng Cư hoặc sanh vào cơi Phương
Tiện Hữu Dư. Bậc Địa Thượng Bồ
Tát nhất định sanh vào cơi Thật Báo Trang Nghiêm. Do vậy,
văng sanh Tây Phương Tịnh Độ nhất định
phải phát nguyện giáo hóa chúng sanh, phải phát ra đại
nguyện ấy. Đó là nói tới “đầy đủ công đức, đầy
đủ nhân lành”. Người Tiểu Thừa thiếu
khuyết chuyện này, chỉ độ chính ḿnh, chẳng
độ chúng sanh. V́ thế, họ rất khó tiếp nhận
điều kiện này!
(Diễn) Tâm bất hỷ nhạo
giả, hướng do trước Hữu.
(演) 心不喜樂者,向由著有。
(Diễn: Tâm chẳng
vui thích v́ c̣n chấp Hữu).
Một mực chấp vào Có.
(Diễn) Cố thọ luân hồi.
(演) 故受輪迴。
(Diễn: Nên hứng chịu luân hồi).
Trước khi chứng đắc
A La Hán, người ấy ở trong sanh tử luân hồi,
nguyên nhân của sanh tử luân hồi là chấp Có: Có thiện,
có ác, có tham, có sân, có si. Những thứ này quả thật
đều chẳng có, chỉ là huyễn giác trong mê tâm của
quư vị. Nói theo cách bây giờ, chúng thuần túy là một
thứ vọng tưởng trừu tượng chẳng
có thật. Ví như tham, quư vị hăy hồi quang phản
chiếu cặn kẽ, tham ở nơi đâu? Trong bộ
phận nào, tế bào nào của thân thể có tham? T́m chẳng
ra! Kinh Kim Cang nói: “Tam tâm bất
khả đắc” (ba tâm chẳng thể được).
Tâm tham chẳng thể được, tâm si chẳng thể
được, tâm sân khuể chẳng thể được,
thiện tâm chẳng thể được, ác tâm chẳng
thể được, quư vị t́m không ra. Những tâm ấy
ở chỗ nào? Nếu biết chúng ở chỗ nào, sẽ
dễ giải quyết lắm! Hiện thời kỹ thuật
giải phẫu rất tiến bộ, tế bào nào có tâm
tham bèn cắt bỏ đi, tâm tham chẳng c̣n nữa! T́m chẳng
ra, không hề có!
Thế nhưng có mấy ai trong
bọn phàm nhân chúng ta hồi quang phản chiếu, t́m ṭi
phiền năo của chính ḿnh rốt cuộc là ở chỗ
nào? T́m Tham trọn chẳng thể được! Ví
như chúng ta dấy lên ư niệm Tham nơi cảnh giới,
cổ đại đức thường nói: “Chẳng sợ niệm khởi,
chỉ sợ biết chậm”. Quư vị dấy lên tâm
tham, đừng lo lắng, hễ tâm tham dấy lên bèn ngay lập
tức xoay chuyển nó, tâm tham ở nơi đâu? Quư vị
t́m nó, nó sẽ không c̣n nữa. Đó gọi là Quán Chiếu.
Chẳng thể quán chiếu th́ dùng một câu Phật hiệu để thay thế, v́
cái tâm quán chiếu phải rất vi tế, kẻ tâm ư thô
tháp, hời hợt sẽ không thể làm được,
công phu này rất khó thành tựu! Thực tại là chẳng
thể được! V́ thế, oan uổng luân hồi
trong lục đạo, chẳng có thứ ấy, chính ḿnh
ngỡ nó là có. Ngỡ là có? Chẳng phải là thật
sự có ư? Chẳng phải thật sự có! Giả
có! Chúng ta cần phải giác ngộ điều này!
Người Tiểu Thừa
đến khi ấy cũng được coi là đă giác
ngộ, đă chứng đắc Chánh Giác. Chánh Giác là biết
Nhân Ngă Không, biết Kiến Tư phiền năo đều là
Không, người ấy mới có thể đoạn
được. Nếu chẳng biết là Không, sẽ chẳng
đoạn được! Người ấy biết Kiến
Tư phiền năo là trừu tượng, trọn chẳng
thể được, đấy chỉ là một thứ
quan niệm sai lầm mà thôi! Thật ra, đâu có chuyện ấy!
Hiện tại, họ đă nhập cảnh giới này.
(Diễn) Luân hồi sạ tức.
(演) 輪迴乍息。
(Diễn: Luân hồi vừa dứt).
Vượt thoát lục đạo
luân hồi, đắc tự tại. Người Nhị
Thừa được giải thoát nửa phần,
chưa giải thoát rốt ráo. Họ vượt thoát lục
đạo luân hồi, chẳng c̣n thọ sanh trong tam giới
nữa. Nếu họ lại sanh trong tam giới là do “thừa nguyện tái lai” (theo
bổn nguyện trở lại), chứ không phải do nghiệp
lực mà trở lại, họ do nguyện lực mà sanh.
Phàm là những bậc do nguyện lực mà sanh th́ đều
đă hồi Tiểu hướng Đại. Nếu không hồi
Tiểu hướng Đại, họ chẳng chịu trở
lại, v́ sao? Họ sanh vào đây nhằm giáo hóa chúng sanh. Nếu
không, họ sanh vào thế giới này chẳng có ư nghĩa
ǵ hết! V́ thế, chẳng hồi Tiểu hướng
Đại, sẽ chẳng thể quay lại.
(Diễn) Vị trước thiên
không Niết Bàn chi lạc.
(演) 味著偏空涅槃之樂。
(Diễn: Tham đắm
niềm vui nơi Thiên Không Niết Bàn).
Do
trong Thiền có pháp vị, họ bèn hưởng thụ. Chữ
“vị” (味) tượng
trưng cho sự hưởng thụ; sự hưởng
thụ tối cao vô thượng [đối với Tiểu
Thừa] là “Thiên Không Niết
Bàn chi lạc”. Cái Không này chẳng thể gọi là Chân
Không, chỉ có thể gọi là Thiên Không, tức là chưa
viên măn Chân Không, chỉ có thể chứng đắc một
phần. Do chẳng viên măn nên gọi là Thiên Không (cái Không
thiên lệch).
(Diễn) Văn thuyết Bồ
Tát quảng hành vạn hạnh, Tịnh Độ hóa sanh, tự
nhiên bất sanh nhất niệm háo nhạo chi tâm dă.
(演) 聞說菩薩廣行萬行,淨土化生,自然不生一念好樂之心也。
(Diễn: Nghe nói Bồ
Tát rộng hành muôn hạnh, Tịnh Độ hóa sanh, tự
nhiên chẳng sanh một tâm niệm ưa thích nào!)
Nghe nói Tịnh Độ phải
thệ nguyện học vô lượng pháp môn, phải thệ
nguyện độ vô biên chúng sanh, [họ bèn cảm thấy]
chuyện này phiền phức quá, nhiều thêm một chuyện
chẳng bằng bớt đi một chuyện, bớt
đi một chuyện chẳng bằng không có chuyện ǵ.
Đấy là ư niệm của bậc A La Hán. V́ thế,
đương nhiên họ chẳng muốn tiếp nhận,
hứng thú chẳng dấy lên! Trạng huống của
người Tiểu Thừa nói chung là như thế; nhưng
đức Phật vẫn dùng các thứ phương tiện
thiện xảo để dẫn dụ họ, khiến
cho họ quay đầu. “Cố
linh hồi Tiểu hướng Đại, phát ư văng sanh”
(nên khiến cho họ hồi Tiểu hướng Đại,
phát tâm văng sanh). Đấy là ư nghĩa thứ tư v́ sao
đức Phật nói kinh này. Chúng ta lại xem đoạn
tiếp theo, Liên Tŕ đại sư tự ḿnh chú giải
đoạn văn của Ngài.
(Sớ) Sạ đắc Ngă Không
giả.
(疏) 乍得我空者。
(Sớ: Vừa đắc Ngă Không là...)
Ngài chú giải rất cặn kẽ,
quả thật khiến cho chúng ta có thể thâm nhập kinh
giáo. Quư vị thật sự đọc kỹ càng bộ Sớ
Sao này th́ hết thảy các kinh luận hễ tiếp xúc liền
thông hiểu, bởi lẽ, tất cả những nguyên lư
và nguyên tắc trong các kinh luận Đại Tiểu Thừa
đều giống nhau, đúng là “một kinh thông, hết thảy kinh thông”. Nhưng
quán thông bộ kinh này quả thật chẳng dễ dàng, nếu
chúng ta không có bộ Sớ Sao của Liên Tŕ đại
sư và sách Diễn Nghĩa của pháp sư Cổ Đức,
chúng ta chẳng dễ ǵ nh́n ra ư nghĩa trong kinh Di Đà.
(Sớ) Tiểu Thừa đản
ngộ Uẩn trung vô ngă, bất tri Uẩn diệc thị
Không.
(疏) 小乘但悟蘊中無我,不知蘊亦是空。
(Sớ: Tiểu Thừa
chỉ ngộ vô ngă trong Uẩn, chẳng biết Uẩn
cũng là Không).
Uẩn là Ngũ Uẩn, tức
Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Năm loại
này là phân chia tổng quát. Nếu chia tỉ mỉ, bất cứ
một pháp nào sanh khởi đều có vô lượng nhân
duyên, đúng như kinh Hoa Nghiêm đă nói, hết sức phức
tạp. Đức Phật quy nạp vô lượng nhân
duyên thành năm loại lớn, gọi là Ngũ Uẩn. Ngũ
Uẩn triển khai thành Bách Pháp, nhưng Bách Pháp vẫn là
quy nạp của hết thảy các pháp. Trong Bách Pháp Minh Môn
Luận, Thiên Thân Bồ Tát đă giảng rất rơ ràng. V́
thế, Ngũ Uẩn là hết thảy các pháp quy nạp lại,
quy nạp thành năm loại lớn. Hết pháp thế
gian và xuất thế gian chẳng ra ngoài năm loại lớn
này. Hữu t́nh chúng sanh là hiện tượng do năm loại
nhân duyên lớn này ḥa hợp sanh khởi. Sắc là vật
chất, hiện thời chúng ta quy nạp Thọ, Tưởng,
Hành, Thức thành tinh thần. Phàm là động vật, trừ
nhục thể vật chất ra, c̣n có một bộ phận
là tinh thần th́ mới là một vật thể sống. Nếu
là thực vật và khoáng vật th́ không có bộ phận
tinh thần, chỉ có Sắc. Trong Sắc lại nói đến
Tứ Đại là Địa, Thủy, Hỏa, Phong. Mấy
ngàn năm trước khoa học hoàn toàn chưa phát hiện
kết cấu của vật chất, nhưng đức
Phật đă nói đến Tứ Đại. Trong kinh
điển, đức Phật thường nói: Hết thảy
các tướng là một hiệp tướng. Một hiệp
tướng mới là tướng thật sự b́nh đẳng,
tức là tất cả hết thảy hiện tượng
đều cùng do một loại vật chất tổ hợp
thành.
Tứ Đại là bốn yếu
tố vật chất. Địa là một vật thể,
ngay cả vật nhỏ đến đâu đi nữa, nó
vẫn là vật thể. Địa tượng trưng
cho Thể, tức vật thể. Hỏa Đại tượng
trưng cho ôn độ (độ ấm nóng), con người
hiện thời gọi Hỏa là “dương điện”
(positive). Thủy Đại tượng trưng cho độ
ẩm, Thủy là [những vật chất] tích âm điện
(negative). Phong Đại là sự chuyển động, chẳng
ngưng lặng. Nay chúng ta gọi chúng là nguyên tử, điện
tử, các hạt cơ bản (elementary particles), trong
tương lai khoa học lại phân tích, c̣n có thể phát
hiện những hạt nhỏ hơn nữa. Thật ra, từ
mấy ngàn năm trước, đức Phật đă thấy
được vật chất cơ bản, trong kinh đă
nói rất rơ ràng. Vật chất nhỏ nhất được
gọi là “cực vi vi”, Thiên
Nhăn của A La Hán không thể thấy được, nhưng
Ngũ Nhăn viên minh của Phật trông thấy rơ ràng. Tất
cả vật chất đều do những vật chất
cơ bản này (cực vi vi) sắp xếp, tổ hợp
thành, nhưng chúng có công thức cấu tạo khác nhau. Do vậy,
Phật pháp thấy hết thảy hiện tượng
hoàn toàn b́nh đẳng. Cổ nhân tỷ dụ: “Dùng vàng chế đồ vật,
món nào cũng là vàng”. Vật chất đều là hoàng
kim, tuy làm thành các món đồ vật khác nhau, mấy ngàn thứ,
mấy vạn h́nh thể khác nhau, nhưng nguyên liệu hoàn
toàn tương đồng, giá trị giống hệt
như nhau.
Ngũ Uẩn được
chia thành hai loại: Một là tinh thần, hai là vật chất.
V́ vậy, Ngũ Uẩn lại được quy nạp
thành hai pháp là Sắc và Tâm. Sắc là nói về vật chất;
trong Ngũ Uẩn, Tâm được chia ra thành bốn, Thọ,
Tưởng, Hành, Thức đều là Tâm; nhưng Thức
là bản thể của Tâm, Thọ, Tưởng, Hành là tác
dụng. A La Hán hiểu rơ Ngũ Uẩn vốn là có, trong
Ngũ Uẩn không có Ngă, Ngă là giả. Ví như cái nhà, nhà là
giả, những vật liệu xây dựng là thật. Nhà
do những ǵ tạo thành? Vốn là cốt sắt, xi-măng,
gạch, ngói, những thứ ấy là thật. Chúng ta xếp
đặt những vật liệu xây dựng, cất thành
một căn nhà. Vật liệu chất một đống
th́ chẳng gọi là “nhà”. Thật ra, nhà có sanh diệt hay
không? Chẳng sanh, chẳng diệt. Sắp xếp lại
th́ vật liệu nhiều dường ấy, mà tách ra th́
cũng là chừng ấy vật liệu,
nhà chẳng có sanh diệt, chỉ có sự kết hợp là
tụ hay tán mà thôi!
Thân người chúng ta cũng
là hiện tướng (tướng được biến
hiện) do Tứ Đại và Ngũ Uẩn tụ tập,
con người chúng ta có sanh diệt hay chăng? Chẳng có
sanh diệt! Thật sự là không có! Nếu quư vị
nghĩ con người có sanh diệt, có già chết,
th́ đó là huyễn giác, quư vị đă thấy lầm rồi!
Không có sanh diệt, giống như cuốn sách này, đóng lại
thành tập th́ là một cuốn sách, sau khi tách ra th́ chừng
đó trang tách rời, hỏi quư vị có sách hay không? Không
có sách! Sách có sanh hay chăng? Không có! Đóng lại th́ chẳng
tăng thêm một trang nào, xả ra cũng chẳng bớt
đi trang nào, nó là nhân duyên tụ hay tán mà thôi! Khi tụ tập
chẳng tăng, lúc tán chẳng giảm. Chẳng tăng,
chẳng giảm, bất sanh, bất diệt. Tướng
chân thật của hết thảy các pháp là như thế.
Sanh th́ hoan hỷ, diệt th́ đau khổ. Đó là quư vị
thấy lầm, hiểu lầm, chính ḿnh chẳng liễu
giải chân tướng sự thật, nên mới tự chuốc
lấy phiền phức! Nếu thật sự hiểu rơ
chân tướng sự thật này, đâu có sanh tử! Nếu
ư niệm sanh tử của một cá nhân đă bỏ được
và ư niệm được - mất cũng chẳng c̣n nữa,
người ấy sung sướng lắm! A La Hán chứng
đắc cảnh giới này; v́ thế, các Ngài hết sức
sung sướng. Các Ngài hiểu Ngũ Uẩn vô ngă,
nhưng chẳng hiểu Ngũ Uẩn cũng là Không. Ví
như, chúng ta hiểu rơ cái nhà là giả, do các vật liệu
xây dựng tụ hay tán mà hiện tướng sanh diệt.
Thật ra, t́m chẳng được tướng sanh diệt.
Nếu nghiên cứu những vật liệu ấy th́ chúng
cũng do nhân duyên tụ hợp, không có một pháp nào chẳng
phải là nhân duyên tụ hợp. Đă do nhân duyên sanh th́ nó
hoàn toàn không có tự tánh. Tuy kinh Phật nói đến vật
chất cơ bản, nhưng vật chất cơ bản
do đâu mà có? Vẫn do nhân duyên hiển hiện, bởi vậy,
bản thể của chúng chính là Không!
Vật chất cơ bản từ
nơi nào đến? Từ Kiến Phần biến hiện,
cũng là trong Không sanh ra Có. Nếu nói tới ba tế
tướng trong A Lại Da Thức th́ do một niệm bất
giác trong bổn tánh nên có vô minh, từ vô minh sanh ra nghiệp
tướng. Nghiệp tướng là tướng Động,
từ trong cái Động ấy mà sanh ra Kiến, tức là
tướng Thấy; nay chúng ta nói tướng Thấy là một
bộ phận của tinh thần. Do vậy, vật chất
do tinh thần biến hiện. Nói cách khác, tâm và vật có
cùng một nguồn. Tâm và vật có thể chuyển biến
lẫn nhau, nhưng các nhà khoa học hiện thời
chưa đạt đến cảnh giới này. Hiện
nay, các nhà khoa học biết năng lực và vật chất
có thể chuyển biến thành lẫn nhau, nhưng đó
là năng lực vật chất, chứ chưa phải tâm
năng. Phật pháp nói tâm năng và vật chất có thể
chuyển biến trở thành lẫn nhau. Nếu có thể
đạt đến mục tiêu này, chúng ta sẽ tùy tâm sở
dục (thuận theo ḷng muốn) trong hết thảy các thứ
thụ dụng.
Tây Phương Cực Lạc
thế giới và các cơi nước Phật v́ sao trang nghiêm
dường ấy? Muốn mặc áo, y phục bèn ở
trên thân. Muốn ăn ǵ, đồ ăn bèn hiện trước
mặt, ăn xong cũng chẳng cần rửa chén, không hề
có, biến mất. Trong cái nh́n của chúng ta, đúng là chuyện
thần thoại tiểu thuyết! Thật ra, xét theo lư luận
th́ hoàn toàn hợp lư! Ngày nào chúng ta thật sự đạt
đến mức tâm năng và vật chất có thể
chuyển biến trở thành lẫn nhau, không có thứ ǵ
chẳng phải là “tùy tâm sở dục”. V́ thế, Tây
Phương Cực Lạc thế giới là nơi khoa học
tiến triển đến mức tột cùng. Các nhà khoa học
trong thế giới chúng ta tốt nhất là nên du học
trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, học
lấy những môn khoa học cao minh nhất, viên măn nhất,
rốt ráo nhất. Đó là thật, chẳng phải giả!
Những đại khoa học gia của phương Tây đích
thực là những người thông minh bậc nhất của
nhân loại, đáng tiếc là họ chưa hề tiếp
xúc Phật pháp, chưa nghe kinh Phật. Nếu nghe kinh Phật,
tiếp xúc Phật pháp, họ càng thông minh, nhất định
sẽ phát minh nhiều thứ hơn nữa! Trong kinh Phật
có rất nhiều khải thị chẳng thể nghĩ
bàn, khoa học càng tiến bộ, càng có ích cho Phật pháp.
Những thứ đức Phật đă giảng đều
có thể chứng thực!
Do họ (Thanh Văn, Duyên Giác) chẳng
biết Ngũ Uẩn là Không, Ngũ Uẩn đă là Không th́
bộ phận tinh thần chẳng cần phải nói nữa!
Ngay cả Sắc cũng là Không, Sắc cũng chẳng phải
là chân thật. Chúng ta nói đến vật chất cơ bản
nhất, chúng cũng chẳng thật sự tồn tại,
cũng là pháp sanh bởi nhân duyên, duyên của chúng là nghiệp
tướng, kiến tướng. Do vậy, mới biến
hiện ra Tướng Phần, biến hiện tướng
cảnh giới. Chẳng những phải có Thiền Định
rất sâu, mà c̣n phải có trí huệ thật sự, th́ mới
có thể thấy rơ chân tướng sự thật này, giống
như trong Tâm Kinh đă nói: “Quán
Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhă Ba La Mật Đa thời”.
Đó chẳng phải là Bát Nhă nông cạn, mà là Bát Nhă sâu,
trí huệ rất sâu! “Hành”
là quán chiếu, chiếu kiến. “Chiếu kiến Ngũ Uẩn giai Không”, hai pháp Sắc
và Tâm đều trọn chẳng thể được!
Đấy là “chiếu kiến
Ngũ Uẩn giai Không”. Họ cũng chẳng có Pháp Chấp,
mà cũng chẳng chấp trước pháp, như vậy
th́ mới có thể chứng đắc Bồ Đề
viên măn rốt ráo. Người Nhị Thừa không có công phu
này!
(Diễn) Đản ngộ Uẩn
trung vô Ngă, bất tri Uẩn diệc thị Không giả,
Không hữu nhị: Nhất Ngă Không, vị vô ngă, nhân, chúng
sanh, thọ giả, thử thị Nhị Thừa sở chứng.
Nhị Pháp Không, vị vô Sắc, Thọ, Tưởng, Hành,
Thức. Thử thị Bồ Tát sở chứng. Kim văn
“Uẩn trung vô Ngă”, thị Ngă Không dă. “Uẩn diệc thị
Không” thị Pháp Không dă. Tiểu Thừa quán thân bất tịnh,
quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô
Ngă. Cố ngộ Uẩn trung vô ngă. Nhược chiếu kiến
Ngũ Uẩn giai Không, tắc thị đại Bồ Tát
cảnh giới, cố bỉ bất tri.
(演) 但悟蘊中無我不知蘊亦是空者,空有二:一我空,謂無我、人、眾生、壽者,此是二乘所證。二法空,謂無色受想行識,此是菩薩所證。今文蘊中無我,是我空也;蘊亦是空,是法空也。小乘觀身不淨,觀受是苦,觀心無常,觀法無我,故悟蘊中無我。若照見五蘊皆空,則是大菩薩境界,故彼不知。
(Diễn: “Nhưng ngộ Uẩn
vô Ngă, chẳng biết Uẩn cũng là Không”. Không có hai thứ:
Một là Ngă Không, tức là không có ta, người, chúng sanh,
thọ giả; đây là điều được chứng
bởi hàng Nhị Thừa. Hai là Pháp Không tức là không có Sắc,
Thọ, Tưởng, Hành và Thức, đây là sở chứng
của Bồ Tát. Câu “trong Uẩn không có Ngă” trong đoạn
văn này chính là Ngă Không. Câu “Uẩn cũng là Không” chính là
Pháp Không. Tiểu Thừa quán thân bất tịnh, quán thọ
là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngă; cho nên ngộ
trong Uẩn không có Ngă. Nếu chiếu kiến Ngũ Uẩn
đều là Không th́ đó là cảnh giới của bậc
đại Bồ Tát, cho nên họ (những người Tiểu
Thừa) chẳng biết) .
Trong kinh Kim Cang, nửa bộ
đầu nhằm phá Tứ Tướng: “Nhược Bồ Tát hữu Ngă Tướng, Nhân Tướng, Chúng Sanh Tướng, Thọ Giả
Tướng, tức phi Bồ Tát” (Nếu Bồ Tát có Ngă Tướng, Nhân Tướng,
Chúng Sanh Tướng, Thọ Giả Tướng th́ chẳng
phải là Bồ Tát), chẳng phải là Bồ Tát! Tiêu chuẩn
thấp nhất của Bồ Tát là phải phá Tứ Tướng.
Bồ Tát phá Tứ Tướng có công phu b́nh đẳng
với bậc Tiểu Thừa A La Hán. Tiểu Thừa A La
Hán phá Tứ Tướng, vô ngă! [Chỉ chứng đắc]
vô ngă th́ địa vị Bồ Tát ấy trong Đại
Thừa không cao, thuộc vào địa vị Tam Hiền Bồ
Tát, là địa vị Thất Tín trong Viên Giáo. Địa
vị Sơ Tín Bồ Tát trong Viên Giáo là giai đoạn
đầu của năm mươi mốt địa vị
Bồ Tát trong Viên Giáo, giống như đi học: Lớp
Một là Tiểu Thừa Sơ Quả Tu Đà Hoàn, đă
phá Thân Kiến, chẳng c̣n chấp cái thân này là ta, nhưng
c̣n có Ngă Chấp. Ắt phải đạt đến Tứ
Quả, mới phá Ngă Chấp. V́ sao? Đoạn Tư Hoặc
rồi, tức là đă đoạn tham, sân, si, mạn, mới
thật sự đạt đến Vô Ngă. V́ thế, cảnh
giới của kinh Kim Cang là cảnh giới của địa
vị Thất Tín Bồ Tát trong Viên Giáo trở lên. Cảnh
giới trong nửa sau của bộ kinh ấy cao lắm,
phá Tứ Kiến. “Nhược
Bồ Tát hữu Ngă Kiến, Nhân Kiến, Chúng Sanh Kiến,
Thọ Giả Kiến, tức phi Bồ Tát”. Cảnh giới
này c̣n cao hơn cảnh giới trước. Trong phần trước
là Phá Tướng, nhưng chưa Phá Kiến; trong phần
sau là Phá Kiến, triệt để phá trừ, nhà Thiền
gọi [cảnh giới này] là “minh tâm kiến tánh”. Bồ
Tát thuộc địa vị Sơ Trụ trong Viên Giáo trở
lên được gọi là Pháp Thân đại sĩ, chiếu
kiến Ngũ Uẩn đều Không. Đó là cảnh giới
của nửa sau bộ kinh Kim Cang.
Được nêu ra ở
đây là Tiểu Thừa, người Tiểu Thừa tu ba
mươi bảy đạo phẩm, chia thành bảy khoa mục.
Bất luận tu học bất cứ pháp môn nào, đối
với mười hai mục trong ba khoa Tứ Niệm Xứ,
Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ư Túc, chẳng thể thiếu
khuyết; pháp môn Niệm Phật của chúng ta cũng không
phải là ngoại lệ! Đó gọi là Chánh Trợ Song
Tu. Niệm Phật là chánh tu, nếu trong cuộc sống có
thể thêm vào mười hai hạng mục thuộc ba khoa
ấy th́ chúng sẽ giúp chúng ta đắc nhất tâm, giúp
chúng ta thành tựu “công phu thành phiến”.
Trong Tứ Niệm Xứ,
điều thứ nhất là “quán
thân bất tịnh”. Chướng ngại lớn nhất
của chúng sanh là quá yêu tiếc thân thể của chính ḿnh,
đây là v́ chẳng liễu giải chân tướng sự
thật. Chẳng yêu tiếc thân thể của chính ḿnh
cũng là lầm lỗi, sai lầm, nhưng quá yêu tiếc
thân thể cũng là sai lầm! Nhà Phật thường nói
“tá giả tu chân” (nhờ cái
giả để tu cái thật), [nếu chúng ta hiểu câu
này có nghĩa là] chúng ta phải khéo ǵn giữ thân thể này,
dùng nó để tu Chân, [hiểu như vậy] là hiểu lầm!
“Tá giả” th́ Giả là ǵ?
Phật pháp là giả, nhờ vào Phật pháp giả để
tu chân tánh, chứ không phải là nhờ vào thân thể giả
tạm. Do vậy, chỗ này đúng là chớ nên hiểu lầm
chút nào! Hễ lầm lẫn sẽ sai lệch quá xa. V́ thế,
phải hiểu: Thân bất tịnh. Đối với thân
thể này, quư vị nhất định phải có một
cách nh́n khác, có nhân sinh quan khác hẳn. Ta biết thân thể
này bất tịnh, là công cụ mà thôi; nay ta phải khéo lợi
dụng công cụ này. Ta muốn một phen thành tựu sự
nghiệp, hăy khéo sử dụng cái thân này. Kẻ chẳng
liễu giải chân tướng, coi thân này là chính ḿnh. Đối
với người liễu giải chân tướng, thân là
công cụ của ta, là công cụ để ta thành Phật,
liễu sanh tử, đoạn phiền năo. Ta phải khéo lợi
dụng nó, đừng làm hỏng nó, mà cũng chẳng yêu
tiếc nó. Coi nó như tánh mạng th́ vô ích, phải khéo vận
dụng nó th́ mới nên!
Thân thể quả thật là một
cỗ máy. Nay chúng ta nói đến nhuyễn thể (software)
và ngạnh thể (hardware). Cỗ máy thân thể của
chúng ta cũng giống như thế, nhuyễn thể lẫn
ngạnh thể đều có, tổ hợp lại. Nếu
khéo sử dụng bộ máy này, nó sẽ sống một
trăm, hai trăm năm là chuyện b́nh thường. Hễ
đoản mạng th́ nói cách khác là chưa khéo vận dụng,
chẳng biết bảo dưỡng (maintain), tự ḿnh làm
hư hỏng. Y học Trung Quốc quả thật phi phàm!
Thầy tôi nghiên cứu y học Trung Quốc rất kỹ,
cụ nói: “Y học Trung Quốc chẳng phải là trị
bệnh, mà dạy con người làm thế nào để
chẳng ngă bệnh, ngơ hầu có thể sống hai ba
trăm tuổi!” Dự pḥng thích đáng lúc b́nh thường
th́ khi thật sự có bệnh, dùng châm cứu, như hiện
thời nói tới phương pháp “chỉ áp” (bấm huyệt). Trên thực tế, quả
thật là bất đắc dĩ mới dùng thuốc. Thuốc
thang là phương pháp trị liệu rất thấp kém, cách
trị liệu bậc cao chẳng dùng đến thuốc!
Hễ bị bệnh tật, nói chung là ở nơi nào
đó bị chướng ngại! Chẳng hạn như
huyết dịch tuần hoàn không tốt, bị bế tắc
ở chỗ nào đó. Đả thông chỗ bế tắc
ấy, người đó sẽ khôi phục sức khỏe,
trở lại b́nh thường. Thầy thuốc thật sự
cao minh nghe tiếng nói của quư vị, nh́n vào cử chỉ
hành động của quư vị sẽ phán đoán mười
năm, hai mươi năm sau quư vị bị bệnh ở
đâu! Quán thân bất tịnh, khéo lợi dụng thân thể
này, chẳng làm hỏng nó, giống như chúng ta có một
chiếc xe, hoàn toàn hiểu rơ tánh năng (functionalities) của
chiếc xe ấy, ta khéo lợi dụng nó để làm công
cụ giao thông, tuổi thọ của nó sẽ lâu dài!
Thứ hai, “quán thọ thị khổ”: Đối với chính
ḿnh có sự cảnh giác càng lớn hơn nữa! Chẳng
c̣n tham luyến sự luân hồi trong tam giới lục
đạo, biết tam giới đều khổ, trong ấy
chỉ có khổ, chẳng có vui.
Thứ ba, “quán tâm vô thường”: Tâm ở đây là tâm sanh diệt, tâm sanh diệt
là vô thường, thoạt nghĩ Đông rồi thoạt
nghĩ Tây, chẳng thể nghĩ măi một chuyện
ǵ. Nếu có thể nghĩ măi một chuyện ǵ tức là
người ấy đắc Định. Đó gọi là
tam-muội. Đức Phật dạy chúng ta chỉ
nghĩ tới A Di Đà Phật. Nếu chúng ta suốt ngày
từ sáng đến tối chỉ nghĩ tới A Di
Đà Phật th́ công phu đă thành phiến, hay nhất tâm bất
loạn, thành tựu rồi! Phải mất bao lâu? Nếu trong
một ngày quư vị thành công
th́ đích thực ngày hôm ấy quư vị đă thực hiện
xong chuyện liễu sanh tử, văng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới. Nhưng nói th́ rất đơn giản,
quư vị hăy nghĩ xem, chẳng cần nói nhiều, năm
phút là xong rồi, quư vị A Di Đà Phật, A Di Đà Phật,
một mặt A Di Đà Phật, một mặt vẫn suy
nghĩ loạn xạ; v́ thế, chẳng có cách nào hết! Chúng ta thường phải rèn
luyện điều này!
V́ sao có vọng tưởng? Vẫn
là v́ chưa buông xuống, chưa thấy thấu suốt. Chẳng
biết chân tướng sự thật của hết thảy,
chưa thấy thấu suốt! Chưa thấy thấu suốt,
nên không buông xuống được! Nếu quư vị thật
sự thấy thấu suốt, không ǵ chẳng buông xuống
được! Thấy thấu suốt, sẽ buông xuống
được! Buông xuống giúp quư vị thấy thấu
suốt, thấy thấu suốt lại giúp quư vị buông xuống. Do vậy,
chúng ta thấy thấu suốt một chút, hăy nhanh chóng buông
xuống một chút. Nói là đă thấy thấu suốt mà
vẫn chưa chịu buông xuống th́ sự thấy thấu
suốt của quư vị chỉ là thấy thấu suốt
một tí xíu, công phu chẳng thể tiến bộ. Do vậy,
hai điều này (thấy thấu suốt và buông xuống)
giúp đỡ lẫn nhau, thành tựu lẫn nhau. Càng buông
xuống nhiều, cảnh giới thấy thấu suốt
càng cao. V́ thế, một mặt thấy thấu suốt, một
mặt phải buông xuống, tuyệt đối chớ
nên tham luyến. Đừng nghĩ rằng: Thứ ǵ ta
cũng buông xuống th́ ta chẳng có thứ ǵ hết! Ngày
mai chúng ta sống sót bằng cách nào đây? Quư vị c̣n
chưa buông xuống, tức là vẫn chưa thấy thấu
suốt. Thật sự thấy thấu suốt, phước
báo tự nhiên! Buông xuống, trong mạng quư vị đă có
th́ tới lúc nó sẽ tự nhiên đưa tới. Dẫu
trong mạng sẵn có, [tài vật] đưa tới, chúng
ta chỉ cần ăn no, mặc ấm, những thứ
dư ra đều phải buông xuống. Bởi lẽ,
tích trữ trong pháp giới là đáng tin cậy nhất, chẳng
bị biến chất, mà cũng chẳng bị mất
giá. Để ở chỗ nào cũng đều chẳng
đáng tin cậy. Để ở trong ngân hàng có thể bị
mất giá, để trong công ty hay cửa hàng của người
ta có thể bị đóng cửa, đều là phiền
toái, vẫn chẳng bằng đem bố thí. Bố thí hết,
do quư vị không thụ dụng, nên phước báo vẫn
c̣n. Không chỉ vẫn c̣n, mà c̣n tăng trưởng. Đó
là người thông minh nhất.
Thứ tư là “quán pháp vô Ngă”, “pháp” là hết thảy vạn pháp.
Hết thảy vạn pháp đều không có tự tánh,
không có tự thể. V́ thế, Phật pháp nói “vạn pháp đều Không”,
do đạo lư này. Chiếu kiến Ngũ Uẩn đều
là Không. Đó là cảnh giới của đại Bồ
Tát. Đối với người Tiểu Thừa, Ngũ
Uẩn đều chẳng Không, nhưng nhân ngă đă Không rồi.
Do vậy, đây là hai thứ cảnh giới khác nhau.
(Diễn) Diệc thị Không giả,
dĩ Ngũ Ấm pháp, tự tánh bất sanh, tắc vô hữu
diệt, bổn lai Niết Bàn cố.
(演) 亦是空者,以五陰法,自性不生,則無有滅,本來涅槃故。
(Diễn: “Cũng là
Không”: Do tự tánh của pháp Ngũ Ấm chẳng sanh, nên
chẳng có diệt, vốn là Niết Bàn).
Niết Bàn là tịch diệt.
(Sớ) Chấp cảnh vi Hữu, duy dục tỵ cảnh
xu tịch, cố văn Tịnh Độ hóa sanh, tâm bất
hỷ nhạo.
(疏) 執境為有,唯欲避境趨寂,故聞淨土化生,心不喜樂。
(Sớ: Chấp cảnh
là Có, chỉ muốn tránh né cảnh, hướng về vắng
lặng, nên nghe đến chuyện hóa sanh trong Tịnh
Độ tâm chẳng vui ưa).
Vị ấy chưa thật sự
triệt để hiểu rơ chân tướng sự thật,
cho nên mới có sự hiểu lầm này. Hôm nay đă hết
thời gian rồi, chúng tôi giảng tới chỗ này.
Tập 58
Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn
Nghĩa Hội Bản, trang bảy mươi sáu:
(Sớ) Như chư Thanh Văn, bất kiến Xá Na
thần lực, bất dự Bồ Tát đại hội,
dĩ bổn bất tán thuyết thập phương Phật
sát thanh tịnh công đức cố.
(疏) 如諸聲聞,不見舍那神力,不與菩薩大會,以本不讚說十方佛剎清淨功德故。
(Sớ: Như các
Thanh Văn chẳng thấy thần lực của Lô Xá Na
Phật, chẳng dự đại hội của Bồ
Tát, v́ họ vốn chẳng khen nói công đức thanh tịnh
của mười phương cơi Phật).
Trong đoạn này, đại
sư dẫn kinh Hoa Nghiêm để nói; thuở Phật tại
thế, hàng Tiểu Thừa hạn cuộc trong phạm vi
nhỏ bé, nên đức Phật rất ít khi bảo họ:
“Có mười phương thế giới, có mười
phương chư Phật”, v́ sao? Họ chẳng thể
tiếp nhận, cho nên đức Phật chỉ nói với
họ về thế giới Sa Bà. Măi cho đến ngày nay,
những quốc gia Tiểu Thừa như Thái Lan chỉ thừa
nhận có một vị Phật là Thích Ca Mâu Ni Phật. Trừ
Thích Ca Mâu Ni Phật ra, chẳng thừa nhận có Phật ở
phương khác, càng chẳng thừa nhận con người
có thể tu hành thành Phật. Họ cho rằng tu hành tối
đa chỉ có thể thành A La Hán, chẳng thể thành Phật.
Thật ra, trong các kinh Đại Thừa, đức Phật
đă nói rơ ràng: Đây là tập khí nhiều đời nhiều
kiếp của họ, chứ không phải là ngẫu nhiên.
Giống như người Trung Quốc, nói đến
chư Phật nơi phương khác, thế giới
nơi phương khác, chúng ta đều có thể tiếp
nhận, đấy cũng chẳng phải là chuyện dễ
dàng. Đúng như trong xă hội hiện tại, có rất
nhiều người nói chuyện quỷ thần với họ
th́ có người tin tưởng, có kẻ nhất quyết
không tin tưởng, về căn bản là chẳng thể
nào làm cho họ tin tưởng được; điều
này cũng có quan hệ mật thiết với nhân duyên trong
quá khứ.
Hạng người Tiểu Thừa
do nhiều đời nhiều kiếp chưa từng tiếp
xúc Phật pháp Đại Thừa, cũng chưa từng
tham dự đại hội Bồ Tát nào (tức là pháp hội
Đại Thừa), v́ sao? V́ có những người từ
bao kiếp lâu xa đến nay chưa hề tán thán Phật,
Bồ Tát, họ chẳng có tí xíu ư nghĩ cung kính nào. Tuy
chư Phật, Bồ Tát đại từ đại bi
đối với họ, nhưng v́ căn tánh của họ
chưa chín muồi, tạm thời để họ qua một
bên, chẳng hỏi tới. V́ sao Phật, Bồ Tát chẳng
dùng pháp Đại Thừa để tiếp dẫn họ?
Quư vị phải hiểu: Họ gặp gỡ pháp Đại
Thừa, chẳng những không tán thán mà c̣n hủy báng, hủy
báng là tạo tội nghiệp. Do đó, chư Phật, Bồ
Tát vẫn v́ ḷng đại từ đại bi, tránh cho họ
khỏi tạo tác ác nghiệp. Do vậy, chẳng nói tới
mười phương Phật, cũng chẳng nói Phật
pháp Đại Thừa với họ. Có phải là Phật,
Bồ Tát chẳng quan tâm đến họ hay không? Chẳng
phải vậy! Phật, Bồ Tát ứng hóa trước mặt
bọn họ, nên dùng Tiểu Thừa để độ
họ th́ Phật, Bồ Tát bèn hiện thân Tiểu Thừa
để độ thoát. Từ chỗ này mới thấy
được ḷng từ bi thật sự của Phật,
Bồ Tát, lũ tầm thường chúng ta chẳng thể
nào tưởng tượng được! Chúng ta lại
xem đoạn văn tiếp theo, đoạn văn ấy
càng nói rơ hơn nữa:
(Sớ) Cổ vị Tiểu Thừa
vô tha Phật chi thuyết, đại giáo hữu sát hải
chi đàm.
(疏) 古謂小乘無他佛之說,大教有剎海之談。
(Sớ: Cổ nhân
nói: “Tiểu Thừa không nói đến vị Phật nào
khác, giáo pháp Đại Thừa bàn đến sát hải[7]”).
Đây cũng là dẫn lời
cổ đức để làm chứng.
(Sớ) Tư danh độc thiện
chi lưu, diệc hiệu Độn A La Hán, thị dĩ
giáo linh hồi đoạn diệt tâm, tu Tịnh Độ
hạnh. Năi tri chư Phật, Bồ Tát, bi trí hạnh nguyện,
như thị quảng đại, như thị vô tận,
tâm bất ngại cảnh, cảnh bất ngại tâm, nhất
thiết chư pháp, bổn tánh tự không, chung nhật
độ sanh, chung nhật vô độ, nhi đơn tu Thiền
Định, bất nguyện văng sanh, thị vi đại
thất hỹ.
(疏) 斯名獨善之流,亦號鈍阿羅漢,是以教令回斷滅心,修淨土行。乃知諸佛菩薩,悲智行願,如是廣大,如是無盡,心不礙境,境不礙心。一切諸法,本性自空,終日度生,終日無度,而單修禪定,不願往生,是為大失矣。
(Sớ:
Hạng người này được gọi là “hạng
người chỉ biết tốt lành cho riêng ḿnh”, c̣n gọi
là Độn Căn A La Hán, cho nên phải dạy cho họ
xoay cái tâm đoạn diệt lại, tu Tịnh Độ
hạnh. Do vậy biết bi trí hạnh nguyện của
chư Phật, Bồ Tát rộng lớn như thế, vô tận
như thế, tâm chẳng ngại cảnh, cảnh chẳng
ngại tâm. Hết thảy các pháp, bổn tánh của chúng tự
rỗng không, suốt ngày độ sanh mà suốt ngày chẳng
độ. Chỉ tu Thiền Định, chẳng nguyện
văng sanh, sẽ bị mất mát to lớn vậy).
Câu
nào cũng là lời chân thật.
(Diễn) Cổ vị hạ, dẫn
cổ ngữ vi chứng.
(演) 古謂下,引古語為證。
(Diễn: Từ chữ
“cổ nhân nói” trở đi, dẫn lời người
xưa để làm chứng).
Từ câu “cổ vị Tiểu Thừa vô tha Phật chi thuyết”
trở đi.
(Diễn) Vô tha Phật chi thuyết
giả, Tiểu Thừa đản tri hữu Thích Ca, bất
tri thập phương chư Phật, thử cú ảnh
lược Đại giáo hữu tha phương chư Phật.
(演) 無他佛之說者,小乘但知有釋迦,不知十方諸佛,此句影略大教有他方諸佛。
(Diễn: “Vô tha Phật chi thuyết”:
Tiểu Thừa chỉ biết có Phật Thích Ca, chẳng
biết đến mười phương chư Phật.
Câu này nói đại lược:
Theo giáo pháp Đại Thừa, có chư Phật ở những
phương khác).
Nhất định có chư Phật
ở những phương khác th́ về mặt giáo
nghĩa mới có thể nói thông suốt được! Nhất
là Phật pháp được kiến lập trên quan niệm
tuyệt đối b́nh đẳng. Nếu không có chư Phật
ở những phương khác th́ sẽ giống như các
tôn giáo thông thường rồi: Chỉ có một Thượng
Đế, không có vị Thượng Đế thứ hai!
Nói như vậy sẽ chẳng thông. Phật pháp nhằm dạy
con người tôn kính sự b́nh đẳng ấy: Hết
thảy chúng sanh đều có thể thành Phật. Huống
chi trong kinh Hoa Nghiêm, đức Phật thẳng thừng bảo
chúng ta: “Hết thảy chúng
sanh vốn đă thành Phật”. Kinh Viên Giác cũng có câu
giống như thế; đấy mới thật sự là
b́nh đẳng, là lời luận định rốt ráo.
(Diễn) Hữu sát hải chi
đàm giả.
(演) 有剎海之談者。
(Diễn: Có bàn đến “sát hải” là....)
Đây là Phật pháp Đại
Thừa.
(Diễn) Như Hoa Tạng Thế
Giới phẩm.
(演) 如華藏世界品。
(Diễn: Như
trong phẩm Hoa Tạng Thế Giới)
Đây là nói đến kinh Hoa
Nghiêm, [trong kinh ấy], đức Phật dạy:
(Diễn) Hữu thập bất
khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới
chủng.
(演) 有十不可說佛剎微塵數世界種。
(Diễn: Có các thế
giới chủng số lượng nhiều bằng số
vi trần trong mười bất khả thuyết cơi Phật).
“Chủng”
là chủng tử, có chủng tử lại có thể biến
hiện ra vô lượng vô biên thế giới; v́ vậy,
thế giới quả thật vô lượng vô biên!
(Diễn) Nhất nhất thế
giới chủng hữu nhị thập chủng vô tận
thế giới.
(演) 一一世界種有二十重無盡世界。
(Diễn: Mỗi một thế giới chủng có
hai mươi thứ thế giới vô tận).
Kinh Hoa Nghiêm nêu ra vũ trụ
quan của Đại Thừa Phật giáo, quả thật
chẳng thể nghĩ bàn!
(Diễn) Thử cú ảnh lược
Tiểu Thừa duy tri hữu Sa Bà.
(演) 此句影略小乘唯知有娑婆。
(Diễn: Câu này nói đại lược: Tiểu
Thừa chỉ biết có Sa Bà).
Người
Tiểu Thừa chẳng biết có các thế giới
nơi phương khác. Vũ trụ quan và nhân sinh quan của
Đại Thừa và Tiểu Thừa khác nhau, do vậy, tu
hành và chứng quả khác nhau rất lớn.
Tiếp theo đây, [sách Diễn
Nghĩa] giải thích đoạn văn “chư Phật, Bồ Tát, bi trí hạnh nguyện
như thị quảng đại, như thị vô tận”.
(Diễn) Chư Phật, Bồ
Tát cụ tam duyên bi.
(演) 諸佛菩薩,具三緣悲。
(Diễn:
“Tam
duyên bi”, Bi là từ bi, chư vị phải nhớ:
Đó là Chúng Sanh Duyên, Pháp Duyên và Vô Duyên. Thông thường,
trong Phật pháp nói tới bốn thứ Duyên, ở đây
chỉ nói ba duyên. Chúng sanh luôn là Ái Duyên Từ, [nghĩa là] tôi
thích người nào đó, tôi đối xử rất từ
bi đối với kẻ ấy. Quư vị phải hiểu:
Từ bi là Ái, Ái là từ bi. V́ sao đức Phật chẳng
nói Ái, mà nói từ bi? Điểm xuất phát khác nhau, Ái sanh
từ Lư tánh th́ gọi là từ bi, sanh từ cảm t́nh th́
gọi là Ái. V́ thế, Ái và từ bi là một chuyện. Bởi
lẽ, Ái bị biến thành ngũ dục, lục trần,
bị ô nhiễm; c̣n từ bi chẳng ô nhiễm. Phàm là Lư
tánh, chắc chắn chẳng bị ô nhiễm. Phàm là cảm
t́nh, nhất định bị ô nhiễm. Trong bốn thứ
Duyên này, duyên thứ nhất là ô nhiễm, Phật, Bồ
Tát không có [loại duyên này]. V́ thế, không cần đến
nó, chỉ nói ba thứ sau.
Nói
thật ra, người thế gian cũng có Chúng Sanh Duyên Từ,
ta thường nói là “thôi kỷ
cập nhân” (suy từ ḿnh mà nghĩ đến người),
không có ḷng riêng tư, người thế gian c̣n gọi nó
là “ḷng bác ái”, Nho gia gọi là “nhân ái”. A La Hán có Chúng Sanh Duyên
Từ, Bồ Tát có Pháp Duyên Từ. Pháp Duyên Từ: Vạn
pháp do nhân duyên sanh, thân tâm của ta cũng là pháp được
sanh bởi nhân duyên, hết thảy chúng sanh cũng là pháp được
sanh bởi nhân duyên. Chúng ta là pháp được sanh bởi
cùng một nhân duyên. Điều này tiến bộ hơn
Chúng Sanh Duyên Từ rất nhiều! Sở dĩ Bồ Tát
giúp đỡ hết thảy chúng sanh là v́ các Ngài cảm thấy
lẽ đương nhiên là phải như thế, phải
nên giúp đỡ; bởi lẽ, giúp đỡ chúng sanh chính
là giúp chính ḿnh. Ta và người chẳng hai, ta và người
có cùng một Thể, đó là Pháp Duyên. Như Lai có Vô Duyên Từ,
Duyên là điều kiện, Vô Duyên là không có điều kiện.
Ḷng yêu thương của đức Phật đối với
hết thảy chúng sanh là vô điều kiện, “đồng thể đại bi,
vô duyên đại từ”.
(Diễn) Tứ Chủng Trí.
(演) 四種智。
(Diễn: Bốn thứ Trí).
Tứ Chủng Trí là Tứ Vô Ngại
Biện Tài. Quư vị muốn giúp đỡ chúng sanh, đặc
biệt là trong thế giới Sa Bà, người trong thế
giới Sa Bà Nhĩ Căn lanh lợi nhất. Do vậy, phải
thuyết pháp cho họ. V́ họ thuyết pháp th́ cần phải
trọn đủ biện tài. Trong kinh, đức Phật
đă dạy: Phật, Bồ Tát có bốn thứ Vô Ngại
Biện Tài, c̣n gọi là Tứ Vô Ngại Trí, ở đây gọi
là Tứ Chủng Trí.
1)
Thứ nhất là Nghĩa Vô Ngại Trí, Nghĩa là nghĩa
lư. Người ấy có thể thấu hiểu cùng tận
những nghĩa lư của vũ trụ và nhân sinh, chẳng
bị chướng ngại về mặt nghĩa lư, đó
là căn bản của Vô Ngại Biện Tài. Nói cách khác,
hoàn toàn thông đạt lư luận, không bị chướng
ngại. Đây là điều kiện trọng yếu nhất.
2)
Thứ hai là Pháp Vô Ngại Trí, Pháp là phương pháp, vận
dụng phương pháp hết sức xảo diệu, mà
cũng vô chướng ngại.
3)
Thứ ba là Từ Vô Ngại Trí. Tuy thông đạt lư luận,
phương pháp thiện xảo, nhưng nếu ngôn từ
chẳng thông suốt, cũng chẳng làm ǵ được!
V́ thế, Phật, Bồ Tát ngôn từ vô ngại, ngôn ngữ
không bị trở ngại.
4)
Thứ tư là Nhạo Thuyết Vô Ngại Trí. Người
ấy thích nói, rất vui thích chỉ dạy người
khác, v́ đại chúng diễn thuyết. Nếu có đủ
cả ba điều kiện trên nhưng người ấy
không thích nói th́ cũng chẳng có cách nào, vẫn chẳng thể
giúp đỡ chúng sanh.
Người
Tiểu Thừa chẳng có Tứ Vô Ngại Trí, chỉ có
Phật và đại Bồ Tát mới có.
(Diễn) Niết Bàn ngũ hạnh.
(演) 涅槃五行。
(Diễn: Năm hạnh trong kinh Niết Bàn).
Chữ “Niết Bàn” chỉ kinh Niết Bàn. Theo kinh Niết
Bàn, đức Phật và các Bồ Tát có năm thứ hạnh
môn: Thứ nhất là Thánh Hạnh, thứ hai là Phạm Hạnh,
thứ ba là Thiên Hạnh, thứ tư là Bệnh Hạnh,
thứ năm là Anh Nhi Hạnh. Đấy là năm
phương thức tu hành khác nhau của Phật, Bồ
Tát. Đối với năm phương thức khác nhau
này, khi tiếp xúc với chúng sanh, không nhất định
vận dụng một thứ nào, hễ thứ nào thích
đáng các Ngài liền vận dụng thứ ấy. Do vậy,
vận dụng hết sức sống động, hết
sức tự tại, trọn chẳng phải là chuyên học
một thứ.
1) Loại thứ nhất là
Thánh Hạnh. Thánh Hạnh là hoàn toàn nương vào Lư Thể
do đức Phật đă tự chứng để hành.
Nói cách khác, đây là cảnh giới do Phật tự chứng,
mà cũng là diện mục sẵn có của Phật. Chúng
ta gọi nó là Thánh Hạnh giống như chúng ta đă thấy
trong hết thảy các bộ đại kinh, đại luận.
2) Loại thứ hai là Phạm
Hạnh. Phạm Hạnh là những điều nên ứng
dụng trong giai đoạn tu hành. Thánh Hạnh là Tự Thụ
Dụng của chư Phật Bồ Tát, chẳng liên quan ǵ
đến người khác; c̣n bốn thứ kia là
phương tiện thiện xảo để giáo hóa chúng
sanh. Trong phương tiện thiện xảo, loại thứ
nhất là Phạm Hạnh. Kinh dạy chúng ta, Phạm Hạnh
là tu mười một thứ Không; sau đó, ở nơi
đâu cũng chẳng bị nhiễm, có thể ḥa quang
đồng trần với hết thảy chúng sanh mà chẳng
ô nhiễm. Thiền gia thường bảo [bản lănh này]
là “bách hoa tùng trung quá, phiến
diệp bất triêm thân” (xuyên qua rừng trăm hoa, mẩu
lá chẳng dính thân). Người ấy có bản lănh này.
Kinh Niết Bàn nói mười một thứ Không, c̣n Đại
Trí Độ Luận nói mười tám thứ Không. Trong
kinh Nhân Vương, đức Phật cũng giảng nghĩa
Không.
Trong mười một thứ
Không, thứ nhất là Nội Không, “nội” là trong thân, tức là bên trong thân thể
chúng ta. Tuy có cái thân tướng này, nhưng thân tướng
này là pháp sanh bởi nhân duyên. Hễ là pháp sanh bởi nhân
duyên th́ bản thể của nó chính là Không, chẳng có bản
thể, chẳng có tự thể, t́m tự thể chẳng
được! Đấy là Nội Không.
Thứ
hai là Ngoại Không, “ngoại”
là cảnh giới. Cảnh giới cũng là pháp sanh bởi
nhân duyên.
Thứ
ba là Nội Ngoại Không, thứ tư là Hữu Vi Không, thứ
năm là Vô Vi Không. Hữu vi và vô vi là tạo tác. Không riêng ǵ
hữu vi là Không, mà vô vi cũng là Không. Do điều này, chớ
nên chấp trước cả hữu vi lẫn vô vi. Nếu
quư vị chấp trước th́ sai mất rồi. Pháp hữu
vi là pháp sanh diệt, pháp vô vi và pháp hữu vi là kiến lập
tương đối. Trong Bách Pháp, chín mươi bốn
pháp trước thuộc về pháp hữu vi, sáu pháp sau[8]
thuộc về pháp vô vi. Trong các pháp vô vi, chỉ có Chân Như
Vô Vi là vô vi thật sự, năm thứ kia là Tương Tự
Vô Vi. Đối với Vô Vi Không được nói đến
ở đây, chẳng những bao gồm toàn bộ năm
thứ Tương Tự Vô Vi trước đó là Không, mà ngay
cả Chân Như Vô Vi cũng chớ nên chấp trước.
Hễ quư vị chấp trước là phạm sai lầm rồi,
là mắc lầm lỗi rồi!
Kế
đó là Vô Thỉ Không, Tánh Không, Vô Sở Hữu Không, Đệ
Nhất Nghĩa Không, Không Không và Đại Không. Mười
một thứ Không này đại đồng tiểu dị
với mười tám thứ Không[9]
trong Đại Trí Độ Luận.
Kinh
dạy chúng ta: Nếu Bồ Tát chứng đắc cảnh
giới này, sẽ trụ trong Không B́nh Đẳng tam-muội.
V́ thế, nghĩa Không khá sâu, đừng nên hiểu Không là
Vô. [Nếu hiểu] “Không” là cái ǵ cũng chẳng có, ư
nghĩa này ai mà chẳng hiểu, đứa trẻ ba tuổi
cũng biết! Trong Phật pháp, Không chẳng phải là
như vậy. Không là Không trong “Không - Hữu bất nhị”,
ư nghĩa này rất khó hiểu. Rành rành là có, Phật bảo
là không; rơ ràng là không, Phật bảo là có. Không và Hữu
như một, Không và Hữu chẳng hai! Đấy mới
là tinh hoa của nghĩa Không, một bộ kinh Đại
Bát Nhă chủ yếu giảng giải đạo lư này!
Đây là nói về Phạm Hạnh,
v́ Phật, Bồ Tát biết hết thảy các pháp trong và
ngoài thân tâm đều là pháp sanh bởi nhân duyên, không có tự
tánh, trọn chẳng thể được! V́ thế, thứ
ǵ các Ngài cũng đều chẳng chấp trước. Bản
thân các Ngài chẳng phân biệt, chẳng chấp trước
điều ǵ. Trong hết thảy các cảnh giới, chẳng
khởi tâm, chẳng động niệm. V́ thế,
đương nhiên trong hết thảy cảnh giới,
các Ngài chẳng nhiễm. Các Ngài biết tướng chân thật
của hết thảy các pháp, kinh Kim Cang gọi tướng
ấy là “Thật Tướng
của các pháp” (chư pháp Thật Tướng), các Ngài
hoàn toàn hiểu rơ, cho nên chẳng nhiễm trước, chẳng
chấp trước mảy may. Nhằm dạy người
học Đại Thừa, đức Phật thường
dùng phương pháp này để chỉ dạy.
3)
Loại thứ ba là Thiên Hạnh, Thiên được nói ở
đây chính là Đệ Nhất Nghĩa Thiên.
Trong kinh, đức Phật nói có năm loại trời,
Thiên có nghĩa là “cao”, cao ngất ở trên th́ chúng ta gọi
là Thiên. Trong năm loại Thiên, loại thứ nhất là
Thế Gian Thiên, tức là vua trong loài người, giả gọi
là Thiên, như [các hoàng đế Trung Hoa] xưng là Thiên Tử
(con của trời). Loại thứ hai là Sanh Thiên, tức
là người thật sự ở trên cơi trời (chư
thiên), có thể sanh vào Thiên Đạo trong lục đạo.
Thứ ba là Tịnh Thiên, Tịnh là thanh tịnh, thanh tịnh
cũng mang ư nghĩa “chỗ cao cả”. Thứ tư là
Nghĩa Thiên, tức vị “trời” về mặt nghĩa
lư. Thứ năm là Đệ Nhất Nghĩa Thiên, tức
là bậc nhất trong các vị “trời” về
nghĩa lư. Chúng ta gọi Phật là Thiên Trung Thiên (vị trời
của các vị trời), hoặc gọi Ngài là Đệ
Nhất Nghĩa Thiên. Ở đây, mang ư nghĩa: Danh xưng
dựa trên nghĩa lư mà lập ra. Nghĩa lư tối cao vô
thượng [nên gọi là Thiên]. Giáo nghĩa Đại Thừa
thuộc loại này, chúng ta thường gọi nó là Đệ
Nhất Nghĩa Đế.
4)
Loại thứ tư là Bệnh Hạnh, tức là thị
hiện có các thứ phiền năo và bệnh khổ giống
như chúng sanh. Chư Phật, Bồ Tát đă đạt
đến Lư Sự Vô Ngại, Sự Sự Vô Ngại, làm
sao các Ngài c̣n có chướng ngại hay c̣n có phiền năo cho
được? Đó là biến hiện, nhằm răn nhắc
chúng ta. Thuở Thích Ca Mâu Ni Phật tại thế, Ngài
cũng bị nhức đầu, đó là [thị hiện]
nghiệp báo. Phước báo của đức Phật quá
lớn, mà c̣n mắc quả báo ăn lúa mạch dành cho ngựa
suốt ba tháng: Đi khất thực không có ai cúng dường,
người ta bèn đem những thứ dành để nuôi
ngựa cúng dường Ngài, Ngài cũng ăn[10].
Khổng lăo phu tử bị tuyệt lương ở
đất Trần[11],
thánh nhân đấy nhé! Phật là đấng phước
huệ nhị túc tôn, phước báo viên măn, đi khất
thực không được, chẳng có ǵ ăn. Đấy
là thị hiện Bệnh Hạnh nhằm khải thị
chúng ta: Tốt nhất là đừng tạo ác nghiệp.
Quư vị đă tạo ác nghiệp, khi thành Phật vẫn
phải chịu quả báo.
Nếu
nói thành Phật vẫn phải chịu quả báo th́ nói
như vậy cũng thông. V́ sao? Có bốn loại Phật.
Thích Ca Mâu Ni Phật v́ chúng ta mà thị hiện loại Phật
thấp nhất trong bốn loại Phật, tức là Tạng
Giáo Phật. Tám tướng thành đạo là Tạng Giáo
Phật. Ngài thật sự là đấng phước huệ
vẹn toàn, viên măn, là Viên Giáo Phật. Tạng Giáo Phật
c̣n chưa kiến tánh, thuộc địa vị Thập
Tín Bồ Tát. Thông Giáo Phật và Biệt Giáo Phật là Chánh
Đẳng Chánh Giác, thuộc địa vị Thập Trụ
Bồ Tát hay Thập Hạnh Bồ Tát, c̣n chưa đạt
đến Thập Hồi Hướng, đối với Thập
Địa càng chẳng phải bàn tới nữa! Thành Phật,
Tạng, Thông, Biệt, Viên, Ngài thuộc loại Phật
nào, chúng ta phải hiểu rơ. Thích Ca Mâu Ni Phật biểu
diễn dưới thân phận Tạng Giáo Phật. Quư vị
phải hiểu rơ ư nghĩa này. Ngài thị hiện, quư vị
biết Phật, Bồ Tát thị hiện
Bệnh Hạnh nhằm cảnh tỉnh, sách tấn chúng ta
“thiện có thiện báo, ác có ác
báo”. Nếu quư vị tạo ác nghiệp, nhất là
định nghiệp, th́ khi thành Phật, hay thành Bồ Tát
vẫn phải chịu quả báo. V́ thế, nhất định
chớ nên tạo ác nghiệp. Do vậy, có lúc Phật, Bồ
Tát thị hiện tạo tác ác nghiệp, thị hiện hứng
chịu ác báo cho chúng ta thấy, chúng ta phải hiểu
ư nghĩa này!
Tăng
Thượng Duyên có hai loại: Có thuận duyên và có nghịch
duyên. Hết thảy những thứ hợp t́nh hợp lư
là Thuận Tăng Thượng Duyên. Hết thảy phiền
năo xấu hèn là Nghịch Tăng Thượng Duyên. Hai loại
này đều vận dụng, quư vị sẽ thuận buồm
xuôi gió trên Bồ Tát đạo. Trong hai loại này, nếu chỉ
sử dụng một loại, quư vị nhất định
gặp chướng ngại. Chẳng hạn như chúng
tôi nêu lên một thí dụ rất nông cạn, dễ thấy,
quư vị đều biết: Trong lịch sử có một
vị đại trung thần, yêu nước nhất là Nhạc
Phi, nhắc đến ông ta, không ai chẳng biết. Tại
Trung Quốc, gần như mỗi địa phương
đều có Nhạc Vương Miếu (miếu thờ
Nhạc Phi). Văn Miếu của Trung Quốc thờ Khổng
lăo phu tử, Vơ Miếu thờ Quan Công và Nhạc Phi. Ông
được đại chúng dân tộc tôn kính. Chúng ta thấy
tượng Nhạc Phi, nghe nói đến Nhạc Phi bèn
nghĩ phải tận trung báo quốc, đó là Thuận
Tăng Thượng Duyên. Thấy tượng Tần Cối,
Tần Cối cũng chẳng tầm thường,
cũng là anh hùng dân tộc! Tôi nói lời này chắc quư vị
chẳng vui lắm! Ông ta giáo huấn chúng ta rất lớn,
v́ trông thấy ông ta, chúng ta sẽ nghĩ chẳng thể
làm Hán gian được! Một đằng là chánh diện
dạy chúng ta, một đằng là phản diện dạy
chúng ta. Công đức của hai người to như nhau!
Trước kia có người hỏi tôi: “Tần Cối có
đọa trong địa ngục A Tỳ hay không?” Tôi nói:
“Tần Cối đă sớm sanh lên trời rồi!” Tượng
hắn ta quỳ bên mộ Nhạc Vương tại Tây Hồ[12],
người ta vừa thấy, mỗi người chửi
hắn một tiếng, tội của hắn đă tiêu hết
rồi! Hắn lại c̣n răn nhắc mọi người:
“Làm Hán gian sẽ giống như thế đó, chúng ta nhất
quyết chẳng dám làm Hán gian!” Có ư nghĩa giáo dục không
ǵ lớn hơn ở trong đó. Một người là chánh
diện dạy chúng ta, một người là phản diện
dạy chúng ta. Hai người đều là thiện tri thức
của chúng ta! Nếu quư vị biết dùng [thuận duyên và
nghịch duyên], sẽ giống như Thiện Tài đồng
tử, chẳng có ai không phải là thiện tri thức, chẳng
có ai không phải là Phật, Bồ Tát, chẳng có ai không phải
là người tạo đại lợi ích cho chúng ta! Nói
chung, hai bên thuận và nghịch đều khéo vận dụng,
quư vị sẽ chẳng có một chút chướng ngại
nào!
5)
Loại thứ năm là Anh Nhi Hạnh, trẻ thơ thiên
chân vô tà. Bất luận đối với ai, đối với
thiện nhân, đối với ác nhân, đối với
người ḿnh ưa thích, đối với người
ḿnh chán ghét, trẻ thơ không nói lời giả dối,
không có vọng tâm. Do vậy, Phật, Bồ Tát đối
đăi hết thảy mọi người đều dùng
cái tâm chân thành. Hết thảy thiện hạnh và trực hạnh
đều gọi là Anh Nhi Hạnh.
(Diễn)
Vô tác tứ hoằng.
(演) 無作四宏。
(Diễn:
Bốn hoằng thệ nguyện vô tác).
Tứ
Hoằng là bốn hoằng thệ nguyện: “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền
năo vô tận thệ nguyện đoạn, pháp môn vô lượng
thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng
thệ nguyện thành”. Tứ Hoằng Thệ Nguyện
cũng chia thành đẳng cấp. Tạng Giáo là Sanh Diệt
Tứ Hoằng, Thông Giáo là Vô Sanh Tứ Hoằng, Biệt
Giáo là Vô Lượng Tứ Hoằng, Viên Giáo là Vô Tác Tứ
Hoằng, làm mà không làm, không làm mà làm. Chư Phật, Bồ
Tát trọn đủ ba thứ Duyên Từ, Tứ Vô Ngại
Trí, năm hạnh Niết Bàn, Tứ Hoằng Thệ Nguyện
Vô Tác.
(Diễn) Cố vi quảng đại
vô tận.
(演) 故為廣大無盡。
(Diễn: Cho nên là rộng
lớn vô tận).
Trong câu này, do tất cả
đều là danh từ, bao hàm rất nhiều ư nghĩa, nhằm
giải thích câu Bồ Tát “bi trí
hạnh nguyện, như thị quảng đại” (bi
trí hạnh nguyện rộng lớn như thế). Tiếp
theo đây là giải thích câu “như
thị vô tận, tâm bất ngại cảnh, cảnh bất
ngại tâm” (vô tận như thế, tâm chẳng trở
ngại cảnh, cảnh chẳng trở ngại tâm).
(Diễn) Tâm tức cảnh, cố
bất ngại cảnh. Cảnh tức tâm, cố bất
ngại tâm.
(演) 心即境,故不礙境。境即心,故不礙心。
(Diễn: Tâm chính là
cảnh, nên chẳng ngại cảnh. Cảnh chính là tâm, nên
chẳng ngại tâm).
Đây chính là ư nghĩa trong kinh
Hoa Nghiêm, tâm và cảnh là một Thể. Duy Thức gọi tâm
là Kiến Phần, gọi cảnh là Tướng Phần.
Hai phần Kiến và Tướng đều từ Tự
Chứng Phần biến hiện ra. Tự Chứng Phần
là bản thể, hai phần Kiến và Tướng [là bản
thể] khởi tác dụng, từ Thể khởi Dụng,
cho nên Kiến và Tướng có cùng nguồn, Kiến và
Tướng có cùng một Thể. Do điều này, Kiến
Phần và Tướng Phần chẳng có chướng ngại,
đấy là Lư Sự Vô Ngại, Sự Sự Vô Ngại,
là pháp giới vô chướng ngại. Kinh Lăng Nghiêm
cũng nói như thế, dưới đây nêu ra một thí
dụ trong kinh Lăng Nghiêm.
(Diễn) Lăng Nghiêm vân: “Kiến dữ Kiến
duyên, tịnh sở tưởng tướng, như hư
không hoa, bổn vô sở hữu. Cố vân bổn tánh tự
không”. Nhất thiết chư pháp, bất xuất Sắc,
Tâm nhị chủng. Kim chúng sanh, thị Sắc pháp, độ
sanh, thị tâm pháp. Kư nhất thiết tự không, khởi
phi chung nhật độ sanh, chung nhật vô độ.
(演) 楞嚴云:見與見緣,並所想相,如虛空花,本無所有,故云本性自空。一切諸法,不出色心二種。今眾生,是色法,度生,是心法,既一切自空,豈非終日度生,終日無度。
(Diễn: Kinh Lăng Nghiêm nói:
“Kiến và Kiến Duyên đều là tướng được
tưởng, giống như hoa đốm trên hư không, vốn
vô sở hữu, nên nói bổn tánh tự không”. Hết thảy
các pháp chẳng ngoài hai thứ Sắc và Tâm, nay chúng sanh là Sắc
pháp, độ sanh là Tâm pháp. Hết thảy đă là tự
không, há chẳng phải là suốt ngày độ sanh mà suốt
ngày chẳng độ?)
Đây là tổng hợp Hoa
Nghiêm và Lăng Nghiêm, ư nghĩa hết sức rơ ràng. Kinh
Lăng Nghiêm nói Kiến, chính là như Hoa Nghiêm nói đến
tâm. “Kiến duyên” là cái
được duyên[13]
bởi Kiến; đó là Tướng Phần. “Tịnh sở tưởng
tướng” (đều là tướng được
tưởng): Tưởng tướng vẫn là Tướng
Phần. Ví như hết thảy sắc pháp trước mắt
chúng ta, đó là Tướng Phần. Trong tâm chúng ta khởi
lên một ư niệm, nay chúng ta tưởng tượng trạm
xe lửa đang được sửa chữa th́ ngay lập
tức Tướng Phần của trạm xe lửa bèn nổi
lên trong đầu óc của chúng ta. Đó cũng là Tướng
Phần [Cái Tướng Phần ấy được gọi
là Tưởng Tướng, v́ nó là đối tượng được
h́nh thành do sự suy tưởng của ta]. Chúng ta hiểu
rơ thứ Tướng Phần này, người khác không thấy;
nhưng quư vị phải hiểu: Người khác nếu
là phàm phu sẽ không trông thấy, nhưng nếu người
ấy có công phu định lực khá sâu sẽ thấy được.
Nếu quư vị chẳng động tâm, người ấy
chẳng thể thấy quư vị. Quư vị khởi lên ư niệm,
ngay lập tức người ấy sẽ thấy. V́ sao?
Khởi niệm bèn có tướng, người ấy sẽ
t́m được quư vị.
Trước kia, Thiền Tông có một
công án: Thiền sư Kim Bích Phong có công phu định lực
rất cao, chính Ngài biết thọ mạng đă tới,
vua Diêm La phái tiểu quỷ đến bắt Ngài, Ngài làm
sao? Nhập Định! V́ Ngài đă nhập Định, chẳng
hiện tướng. Tiểu quỷ rất nóng ruột,
nhưng không có cách nào, chẳng bắt được người
sẽ chẳng thể hoàn thành nhiệm vụ. Nó nghe nói cái
bát của Thiền sư Kim Bích Phong là bát báu, là vật được
Ngài yêu quư nhất. Có người bảo với nó:
“Ngươi gơ cái bát đó một tiếng, Sư sẽ lập
tức xuất Định, v́ sao? Sư rất yêu thích nó, sợ
bị mất”. Tiểu quỷ gơ cái bát đó, vừa gơ,
Sư bèn xuất Định, ngay lập tức bị bắt.
Bị bắt rồi Sư mới biết bị lừa. Kết
quả, trong ḷng Sư bèn nghĩ: “Chớ nên cần cái bát ấy,
c̣n có thứ ǵ chẳng bỏ sạch th́ tâm chẳng thanh tịnh.
A! Ngươi có bắt ta cũng chẳng sợ!” Ngài vừa
bị xiềng, lại nhập Định, kết quả
tiểu quỷ lại không bắt được, lại
gơ bát, nhưng Ngài chẳng xuất Định, chẳng hiện
h́nh, bắt chẳng được!
Chỉ cần trong tâm khởi ư
niệm bèn hiện tướng. Quư vị hiện tướng,
quỷ thần bèn t́m được quư vị. Người
có công phu định lực cũng có thể thấy quư vị,
chỉ có phàm phu mắt thịt là không biết. Do vậy,
quư vị chẳng thể lừa gạt quỷ thần, chẳng
thể gạt gẫm người Thiền Định rất
sâu. Thường là người có công phu định lực
sâu, quư vị và người ấy hai người ngồi
đối diện nhau, trong tâm quư vị khởi tâm động
niệm, người ấy đều biết ngay, thấy
rất rơ ràng. Nói cách khác, ban đêm quư vị ngủ nằm
mộng, người ấy cũng thấy rất rơ ràng.
V́ sao? Có tướng! Không có tướng, người ấy
sẽ chẳng thấy được! “Tịnh sở tưởng tướng” (toàn là tướng
được tưởng): Điều này cũng thuộc
vào Sắc pháp, gọi là Vô Biểu Sắc. Trong Sắc pháp
bao gồm rất nhiều loại, có thô, có tế, Sắc
pháp dẫu cực vi tế vẫn thuộc về Sắc
pháp. Sắc pháp thô hay tế đều là chẳng có thật.
Cái Có này là Huyễn Hữu, mà cũng gọi là Diệu Hữu.
“Như
hư không hoa”: Kinh Lăng Nghiêm thường dùng chuyện
này làm tỷ dụ. Trong hư không có hoa đốm[14],
hư không đâu có hoa! Nếu con mắt bị bệnh, sẽ
thấy trên hư không có hoa đốm. Con mắt hết bệnh,
trên hư không chẳng c̣n hoa đốm nữa. Tṛng mắt
bị bệnh, quư vị nh́n vào đèn, sẽ thấy
đèn có quầng tṛn, trong hư không có hoa đốm. Đấy
là do quư vị bị bệnh nên mới thấy. Đức
Phật dùng tỷ dụ này để tỷ dụ Chân
Như bổn tánh của chúng ta có bệnh nên mới xuất
hiện Kiến Phần, Tướng Phần, Sắc pháp
và Tâm pháp. Nếu Chân Như bổn tánh không có bệnh, những
thứ ấy hoàn toàn chẳng có. Trong Chứng Đạo
Ca, Vĩnh Gia đại sư đă bảo: “Mộng lư minh minh hữu lục
thú, giác hậu không không vô đại thiên” (Trong mộng
rành rành phô sáu nẻo, giác rồi ba cơi rỗng toang hoang) nhằm
thuyết minh chân tướng sự thật này.
“Bổn
vô sở hữu”: Hư không, thế giới, hết thảy
muôn h́nh tượng vốn vô sở hữu. Hiện tại
tuy là có, có những tướng ấy tồn tại,
nhưng giống như chúng ta nằm mộng, đó là mộng
cảnh. Chẳng thể nói là mộng không có, có chứ!
Nhưng chẳng thể nói là có thật. Tuy có mà không, v́ thế,
Không và Hữu bất nhị. Nếu chúng ta coi thế giới
hiện thực là mộng cảnh, cái tâm được - mất
ở trong ấy sẽ chẳng c̣n nữa. Cái tâm được
- mất đă chẳng c̣n th́ phiền năo sẽ đoạn.
Tất cả những phiền năo của chúng ta do đâu
mà có? Lo được, lo mất. Nếu quư vị biết
“đều là Không, vô sở hữu, chắc chắn là vô sở
hữu, vô sở đắc” th́ chính là thật sự đạt
được. Tâm Kinh nói “vô
trí, diệc vô đắc”, “trí”
là trí huệ Bát Nhă, Bát Nhă năng chứng, “đắc” là Bồ Đề Niết Bàn, nói
đến cảnh giới tối cao: Không có trí huệ Bát
Nhă th́ cũng chẳng có Bồ Đề Niết Bàn. Không
có th́ gọi là Chân Hữu. Nếu quư vị nghĩ là có, sẽ
bị rắc rối liền. [Hễ thấy] có Bát Nhă, quư
vị chẳng đạt được Bát Nhă. Có Bồ
Đề, sẽ chẳng thể chứng đắc Bồ
Đề. Có Niết Bàn sẽ chẳng thể đạt
đến Niết Bàn. Đó là giả danh! Do bất đắc
dĩ mà đức Phật nói với chúng ta [những danh từ
ấy]. Nếu quư vị chấp trước nơi giả
danh, quư vị sẽ chẳng đạt được thực
tại. Ví như quư vị muốn đến thành phố
Đài Bắc, thấy ở chỗ giáp ranh thành phố Đài
Bắc ghi “Đài Bắc’ bèn cho tấm bảng ấy là
Đài Bắc, lầm mất rồi! Đó là giả danh,
ĺa giả danh sẽ thật sự đạt được.
Chấp giả danh là thật th́ lầm rồi, lại mê
hoặc mất rồi! Bát Nhă Tâm Kinh nói về Bát Nhă chân
chánh, hết thảy các pháp đều bỏ, bỏ sạch
sành sanh, đó là Bát Nhă hiện tiền.
“Bổn
tánh tự không”: “Bổn tánh”
là Chân Như bổn tánh, là con người thật sự của
chúng ta, “tánh” là thể tánh,
Thiền gia gọi nó là “phụ
mẫu vị sanh tiền bổn lai diện mục” (diện
mạo vốn có trước khi được cha mẹ
sanh ra). Đó là bổn tánh. Bổn tánh là Không, Không chẳng
phải là Vô. “Không” có thể hiện tướng, có thể
biến hiện hết thảy tướng cảnh giới.
Do bản thể của nó là Không, nên những cảnh giới
được biến hiện bởi nó cũng là Không. Hết
thảy các pháp đều do tự tánh biến hiện, là
Tướng Phần của tự tánh.
“Kim
chúng sanh, thị Sắc pháp, độ sanh, thị Tâm pháp”
(nay chúng sanh là Sắc pháp, độ sanh là Tâm pháp): Phật,
Bồ Tát phát tâm độ hết thảy chúng sanh, ư niệm
độ hết thảy chúng sanh là Tâm pháp. Sắc pháp
đă là Không th́ Tâm pháp cũng là Không. Bởi thế, chư
Phật, Bồ Tát “chung nhật
độ sanh, chung nhật vô độ” (suốt ngày
độ sanh, suốt ngày chẳng độ). Phật chẳng
độ chúng sanh, nói theo Lư, quả thật là như thế.
Nói theo Sự, Phật hằng ngày độ chúng sanh. Chẳng
có ngày nào ngưng làm chuyện độ sanh, nhưng độ
sanh xét theo Lư rốt ráo là Không. V́ thế, chư Phật, Bồ
Tát hằng ngày độ chúng sanh, tâm địa của các Ngài
thanh tịnh, chẳng chấp Ngă Tướng, chẳng chấp
Chúng Sanh Tướng, cũng chẳng chấp tướng
công đức do độ chúng sanh. V́ thế, các Ngài thanh tịnh.
Đó là sự Tự Thụ Dụng của chính các Ngài, tức
là chính các Ngài hưởng thụ sự thanh tịnh khôn
sánh. Trong sự hưởng thụ của chính ḿnh, lại
có thể lợi ích hết thảy chúng sanh, đó gọi
là đại từ đại bi, là Tha Thụ Dụng. Đại
từ đại bi chẳng trở ngại sự thanh tịnh
của chính ḿnh, mà sự thanh tịnh của chính ḿnh chẳng
trở ngại việc độ hết thảy chúng sanh,
không bị trở ngại!
Người Tiểu Thừa chẳng
liễu giải chân tướng này, cho nên họ bị
chướng ngại. Họ nói: “Hết thảy mọi chuyện
ta đều chẳng làm, ta sẽ thanh tịnh. Ta độ
chúng sanh, giúp đỡ người khác sẽ bị phiền
năo, chẳng thanh tịnh”. Họ đối lập hai chuyện
này thành hai cảnh giới khác nhau; do vậy, người
Tiểu Thừa chẳng chịu phát tâm giúp đỡ
người khác. Đại Thừa Bồ Tát biết “tự
- tha bất nhị”, do vậy, độ chính là chẳng
độ, chẳng độ chính là độ. “Chẳng
độ” là nói về chính ḿnh, c̣n “độ” là nói tới
chuyện giúp đỡ người khác. Các vị ấy biết
[hai chuyện ấy] là một, chẳng hai, do vậy, chúng
ta chớ nên hiểu lầm ư nghĩa của hai câu này! [Nghe
nói] “độ mà chẳng độ, chẳng độ mà
độ” [bèn tưởng là] “ta chẳng độ, v́ ta
chẳng độ chính là độ”. Nếu dựa theo cách
lập luận máy móc ấy, quư vị mỗi ngày ăn
cơm, ăn chính là không ăn, không ăn chính là ăn, vậy
th́ quư vị không ăn, coi thử quư vị có chịu
được hay không? Không được! Chưa đạt
đến cảnh giới ấy!
(Diễn) “Năi tri” nhị tự.
(演) 乃知二字。
(Diễn: Hai chữ “bèn biết”).
Hai chữ “năi tri” ở trong câu “năi
tri chư Phật” (bèn biết chư Phật). Ư nghĩa
của đoạn này rất sâu; v́ thế, đại
sư hết sức từ bi, nói rơ cặn kẽ với
chúng ta. Hai chữ ấy nghĩa là....
(Diễn) Trực quán chí “chung nhật
vô độ”, trung hữu lưỡng tiết, “chư Phật
Bồ Tát” tứ cú, ứng thượng văn “Tịnh
Độ hóa sanh, tâm bất hỷ nhạo”. “Tâm bất ngại
cảnh” lục cú, ứng thượng văn “chấp cảnh
vi hữu, duy dục tỵ cảnh xu tịch”.
(演)直貫至終日無度,中有兩節,諸佛菩薩四句,應上文淨土化生,心不喜樂;心不礙境六句,應上文執境為有,唯欲避境趨寂。
(Diễn: Xuyên suốt
cho đến câu “suốt ngày chẳng độ”, trong phần
này có hai tiểu đoạn. Bốn câu “chư Phật, Bồ
Tát...” tương ứng với đoạn “Tịnh Độ
hóa sanh, tâm chẳng vui thích” trong phần trên. Sáu câu như
“tâm chẳng ngại cảnh” v.v... tương ứng với
đoạn “chấp cảnh là có, chỉ muốn tránh cảnh,
hướng về vắng lặng” trong phần trên [tức
phần Huyền Nghĩa]).
Đại
Thừa và Tiểu Thừa có khái niệm khác nhau, h́nh thái ư
thức không giống nhau. Người Tiểu Thừa tâm
lượng hẹp ḥi, không có ḷng dạ rộng răi như
người Đại Thừa. Đây là hai thứ căn
tánh hoàn toàn chẳng giống nhau.
(Diễn) Đại suất Tiểu
Thừa bệnh căn, chỉ tại đản ngộ Uẩn
trung Vô Ngă.
(演) 大率小乘病根,只在但悟蘊中無我。
(Diễn: Nói chung, gốc
bệnh của Tiểu Thừa là chỉ ngộ rằng Uẩn
là Vô Ngă ).
Uẩn là Ngũ Uẩn, trong
Ngũ Uẩn quả thật t́m chẳng được
Ngă.
(Diễn) Bất tri Uẩn diệc
thị Không lưỡng cú.
(演) 不知蘊亦是空兩句。
(Diễn: Chẳng
biết đến hai câu “Uẩn cũng là Không”....)
Đây
là cái gốc bệnh của hàng Tiểu Thừa, chẳng
biết “Ngũ Uẩn cũng là Không”. Nếu biết
Ngũ Uẩn cũng là Không, sẽ chứng đắc Pháp
Không. Đại Thừa Bồ Tát thông minh hơn họ, biết
Nhân Ngă Không, mà Pháp Ngă vẫn là Không. Chẳng thể chấp
trước Ngă, mà cũng chẳng thể chấp Pháp. Kinh
Kim Cang nói rất hay: “Pháp
thượng ưng xả, hà huống phi pháp” (pháp c̣n nên
xả, huống là phi pháp). “Pháp”
ở đây là Phật pháp. V́ sao Phật pháp mà phải bỏ?
Thật ra, có pháp nào là Phật pháp? Bởi lẽ đó,
đức Phật nói: Suốt đời Ngài, trong bốn
mươi chín năm, Ngài chưa hề nói một câu pháp
nào là có lư lắm chứ! V́ sao chưa hề thuyết pháp? V́
những lời Phật nói đều do chúng sanh hỏi.
Chúng sanh có nghi vấn ǵ, hỏi Ngài, đức Phật liền
giải đáp, giống như chúng sanh có bệnh, Phật
pháp là thuốc, thuốc do đâu mà có? Thuốc do bệnh
mà có. Nếu chẳng có bệnh, quư vị hăy nghĩ xem, thuốc
từ chỗ nào mà có được? Gọi là “thuốc”
là do bệnh mà lập ra. Bệnh đă hết, thuốc
cũng chẳng c̣n!
V́ chúng sanh đang mê, nên đức
Phật mới thuyết pháp nhằm khai ngộ họ. Hễ
ngộ rồi, Phật pháp cũng chẳng c̣n nữa. Nếu
ngộ rồi mà vẫn chấp trước vào pháp, th́ lại
là mê, mê nơi pháp! V́ thế, chúng sanh rất khó khai ngộ,
luôn chấp trước. Đức Phật bảo quư vị:
Pháp thế gian là pháp sanh tử trong lục đạo luân hồi,
bảo quư vị phải bỏ nó, bỏ rồi th́ như
thế nào? Chấp trước Phật pháp! Thật chẳng
biết chấp trước Phật pháp vẫn là pháp sanh tử,
v́ sao? Đức Phật bảo quư vị phá chấp
trước, chứ chẳng bảo quư vị đổi sang
chấp trước thứ khác. Thay đổi đối
tượng th́ có ích ǵ đâu? Chẳng hạn như đức
Phật nói tham là phiền năo, bảo quư vị đừng
tham ái ngũ dục lục trần của thế gian,
được rồi, quư vị không tham nữa, kết quả
ra sao? Tham Phật pháp! Tâm tham chẳng biến đổi,
chỉ là thay đổi đối tượng mà thôi!
Tâm tham là nghiệp nhân của ngạ
quỷ đạo trong lục đạo. Quư vị tham ái
Phật pháp, tương lai vẫn đọa làm ngạ quỷ.
Đọa ngạ quỷ đạo trọn chẳng phải
v́ quư vị tham ái đối tượng mà bị đọa,
mà do cái tâm tham của quư vị nặng nề nên bị
đọa, chẳng cần biết quư vị tham đối
tượng nào! Quư vị tham ác pháp, trong ngạ quỷ
đạo sẽ làm vô tài quỷ rất khổ. Quư vị
tham Phật pháp, Phật pháp là thiện pháp, quư vị sẽ
làm đa tài quỷ[15]
trong ngạ quỷ đạo, [đa tài hay vô tài] vẫn là
quỷ! Phật pháp dạy quư vị đoạn tâm tham, chẳng
bảo quư vị thay đổi đối tượng của
ḷng tham, quư vị phải hiểu rơ đạo lư này! Do vậy,
chúng ta phải xả pháp thế gian, mà Phật pháp cũng
phải xả. Pháp thế gian chớ nên tham ái, mà Phật
pháp cũng đừng nên tham ái, tâm chúng ta mới thanh tịnh,
chúng ta niệm Phật mới có thể đạt
được nhất tâm bất loạn. Hễ có tơ
hào tham lam, nhất tâm sẽ bị chướng ngại,
quư vị niệm Phật muốn đạt đến nhất
tâm chẳng dễ dàng! Thậm chí mong đạt công phu
thành phiến cũng rất khó.
Tôi thường nói với quư vị:
Trong quá tŕnh chúng tôi tu học nhiều năm như thế,
tự ḿnh thể nghiệm sâu xa, công phu chẳng thể
thành thục là do chưa trừ sạch những chướng
ngại. Do vậy, trong vô lượng pháp môn, chỉ nên chọn
lấy một môn. Nếu chọn quá nhiều, quư vị
tham nhiều quá, chẳng dễ bỏ được! Chúng
ta chỉ lấy một thứ, sẽ bỏ dễ dàng
hơn. Quá nhiều sẽ bỏ cái này, vương vấn
cái kia, bỏ cái kia lại vương vấn cái này, rắc
rối to! V́ thế, chỉ có thể tu một pháp môn,
đối với những pháp môn khác, chúng ta tán thán, quyết
chẳng hủy báng. Giống như Thiện Tài đồng
tử, đối với năm mươi ba vị thiện
tri thức, tự ḿnh khiêm hư, tôi chỉ học một
pháp môn này. Người ta nói pháp môn kia hay, nhưng tôi đă
chọn pháp môn này, tôi vẫn đi theo con đường này
đến cùng, tuyệt đối chẳng thay ḷng đổi
dạ. Pháp môn kia hay, tôi tán thán! Quư vị học theo pháp môn ấy,
tôi cung kính, tôi kính ngưỡng, nhưng tôi vẫn học
môn này của tôi, quyết định chẳng thay đổi.
Trong một đời này, quư vị nhất định
thành công! Phàm “thấy lạ, nghĩ khác” đều là bệnh
nặng, tới khi nào mới có thể công phu thành phiến?
Nhất tâm bất loạn càng chẳng thể nào [đạt
được]! Chuyên tinh nơi một môn, tâm người
ấy định. Kẻ “thấy lạ, nghĩ khác” tâm bất
định. Tâm bất định bèn là sanh tử phàm phu. Nếu
tâm định, sẽ có ngày nở mày, nở mặt!
(Diễn) Cố duy tri sở chứng
vi cực, bất phục tri hữu Đại Thừa diệu
dụng.
(演) 故唯知所證為極,不復知有大乘妙用。
(Diễn: V́ thế,
[hàng Tiểu Thừa] chỉ biết sở chứng [của
chính ḿnh] là tột cùng, chẳng biết c̣n có diệu dụng
trong Đại Thừa).
Đây là nói về kiến giải
của hàng Tiểu Thừa.
(Diễn) Văn Tịnh Độ
hóa sanh, tự tâm bất hỷ nhạo dă. Kim nhật hồi
tâm, năi tri Đại Thừa diệu dụng như thị
quảng đại, như thị vô tận nhĩ. Dĩ bất
tri Uẩn diệc thị Không, cố bất tri nhất thiết
phù trần huyễn hóa, đương xứ xuất sanh,
tùy xứ diệt tận.
(演) 聞淨土化生,自心不喜樂也。今日回心,乃知大乘妙用,如是廣大,如是無盡爾。以不知蘊亦是空,故不知一切浮塵幻化,當處出生,隨處滅盡。
(Diễn: Nghe chuyện
hóa sanh trong cơi Tịnh Độ, tự tâm chẳng vui
thích. Ngày nay hồi tâm mới biết diệu dụng của
Đại Thừa rộng lớn như thế, vô tận
như thế. Do chẳng biết Uẩn cũng là Không, nên
chẳng biết hết thảy phù trần huyễn hóa xuất
sanh ở nơi đâu, sẽ diệt tận ở nơi
đó).
Ba
câu này cũng là một đoạn kinh văn quan trọng
trong kinh Lăng Nghiêm. “Nhất
thiết phù trần huyễn hóa” (hết thảy phù trần
huyễn hóa) bao gồm hết thảy các pháp thế gian và
xuất thế gian, nay chúng ta gọi chúng là “động vật,
thực vật, khoáng vật” cho đến hiện tượng
tự nhiên, toàn bộ đều bao gồm trong ấy. “Phù” (浮) là không thật,
“trần” (塵) là chẳng thanh tịnh. Ở đây, hai chữ
này đều là tỷ dụ. “Huyễn
hóa” là nói đến chân tướng của các pháp ấy,
chúng chẳng phải là thật sự có, chẳng có thật,
mà là huyễn có. Huyễn có là giả có, chẳng phải có
thật! V́ thế, người thông minh biết bản thể
chính là Không, chẳng cần phải phân tích từ từ rồi
mới biết nó là Không.
“Đương
xứ xuất sanh, tùy xứ diệt tận”: Đây là
nói về chân tướng của hết thảy các pháp. Nếu
quư vị thật sự tham cứu thấu triệt câu này,
dùng pháp môn Niệm Phật để nói, th́ trong hiện tại,
quư vị chứng đắc Lư nhất tâm bất loạn.
Trong Thiền Tông nói “minh tâm kiến tánh, đại triệt
đại ngộ” là nói về cảnh giới này. Trong bài
kệ Hồi Hướng có câu “hoa
khai kiến Phật ngộ Vô Sanh”, ngộ cảnh giới
nào vậy? Chính là cảnh giới này! Hết thảy vạn
pháp xuất sanh từ chỗ nào, sẽ diệt tận ở
nơi đó. Quư vị hiểu rơ đạo lư này, mới
biết chẳng đến, chẳng đi, không có đến,
đi! Đây là chân tướng sự thật, nhưng
chúng ta không có cách nào nhận biết chân tướng ấy.
Chúng ta thấy hết thảy pháp diễn biến dần dần,
dường như tiến triển dần dần; thật
ra, chúng ta đă thấy lầm! Sự thật chắc chắn
không hề như thế, mà là như thường nói: “Sanh diệt trong từng sát-na”,
cũng có thể nói là “sanh diệt
đồng thời”. Do vậy, không có sanh diệt!
Trong kinh, đức Phật
đă ban cho chúng ta một khái niệm, có phải là chân
tướng sự thật hay chăng rất khó nói,
nhưng nói chung, chúng ta có thể nói là điều ấy nhất
định hết sức gần với sự thật; bởi
lẽ, sự thật đích xác chân thật sẽ không thể
nói ra được! Đức Phật dạy: Trong một
khảy ngón tay có sáu mươi sát-na, ai khảy ngón tay? Chẳng
phải là như chúng ta thong thả khảy ngón tay, kinh nói
đến người mạnh mẽ. Người mạnh
mẽ có sức khảy, khảy rất nhanh. Một phần
sáu mươi của [thời gian] khảy ngón tay gọi là
sát-na (ksana). Trong một sát-na có chín trăm lần sanh diệt.
Người tầm thường như chúng ta khảy ngón tay,
một giây có thể khảy bốn lần, bốn nhân sáu
mươi nhân với chín trăm th́ một giây có hai
mươi mốt vạn sáu ngàn lần sanh diệt. Cái ǵ
sanh diệt? Thân thể của chúng ta, toàn thể vũ trụ
là tướng cảnh giới; v́ thế, tướng này
là giả, chẳng thật!
Trước kia, người ta
có thể lư giải chân tướng của nhân sinh và vũ
trụ theo như lời Phật dạy, chúng ta ngày nay chẳng
thể không bội phục họ, quả thật rất
khó hiểu! Hiện thời, chúng ta nhờ vào công cụ
khoa học mà dễ dàng thấu hiểu hơn nhiều! Ví
như chúng ta xem phim ảnh, nh́n vào màn bạc, chúng ta thấy
những h́nh tượng giống hệt như thật. Thật
ra, chúng có cùng một nguyên lư “sanh
diệt trong từng sát-na” như đức Phật
đă giảng. Trong một giây, ống kính đóng mở,
thay đổi tấm phim hai mươi bốn lần. Ống
kính vừa mở liền chiếu ra một tấm phim, lại
đóng lại để đổi sang tấm phim khác, rồi
lại mở ra để chiếu tấm phim ấy cho quư
vị xem. Trong một giây, ống kính đóng mở hai
mươi bốn lần, tức là hai mươi bốn lần
sanh diệt. Chúng ta thấy h́nh ảnh trong phim dường
như là thật. Đức Phật bảo: Vũ trụ
và nhân sinh này là một tấm màn bạc lớn để chiếu
phim, tốc độ nhanh như thế nào? Trong một
giây, đóng mở hai mươi mốt vạn sáu ngàn lần;
v́ thế, quư vị tưởng nó là thật. Đă thế,
phim ảnh lại c̣n là phim lập thể (3D), quư vị chẳng
có cách nào cảm nhận nó là giả!
Thật ra, chân tướng là
như thế, đâu có sanh diệt! Không có sanh diệt,
không có đến đi! Quư vị nói từ nhà đến
đây, có chuyện đó hay chăng? Không có chuyện ấy!
Đó gọi là Không, là “Không nghĩa”. Biết tướng
chân thật của hết thảy các pháp, quư vị mới
hiểu hết thảy các pháp chắc chắn là b́nh đẳng,
chắc chắn là không tịch. Chẳng chỉ là Không, mà
c̣n thanh tịnh tịch diệt. Vậy th́ trong hết thảy
các pháp, quư vị quyết định chớ khởi tâm
động niệm, đừng phân biệt, chấp
trước, quư vị sẽ nhập cảnh giới này,
quư vị mới thật sự đạt được
“tự tánh pháp giới do tự tâm biến hiện”, thụ
dụng toàn thể, đắc đại tự tại. Giống
như nằm mộng, chợt biết chính ḿnh đang nằm
mộng, biết chính ḿnh đang nằm mộng rất tốt.
Đang nằm mơ một giấc mộng lớn, [ngỡ
mọi việc là thật], hóa ra chính là mộng! Trong mộng
có thể tận t́nh hưởng thụ, người ấy
cũng chẳng tham, chẳng sân, chẳng si, v́ sao? Biết
nó là cảnh trong mộng, sự thụ dụng của
chư Phật, Bồ Tát gọi là “du hư thần thông”, v́ sao du hư (vui chơi)? Các Ngài biết
chúng đều là giả, không có một pháp nào chân thật!
Hết thảy muôn h́nh tượng,
thân tâm của chúng ta cũng giống như thế: Sanh ra ở
nơi đâu, diệt tận ngay nơi đó. Đă biết
là ở ngay nơi đó th́ sẽ không có đến, đi.
Đă biết nó sanh ra ngay một nơi, diệt tận
cũng cùng một nơi, cho nên không có sanh diệt, bất
sanh, bất diệt, chẳng đến, chẳng đi, bất
cấu, bất tịnh. Đây là nói về chân tướng
của nhân sinh và vũ trụ. Đức Phật chứng
đắc chân tướng này, Ngài thấy chân tướng
sự thật này, v́ sao nay chúng ta không thấy? Tâm chúng ta quá
thô; thô đến nỗi ngay cả h́nh ảnh trong phim sanh
diệt hai mươi bốn lần mà chúng ta c̣n bị lừa,
chẳng thấy nó là bất sanh bất diệt. Huống
chi trong một giây, đúng là hai mươi mốt vạn
sáu ngàn lần sanh diệt, làm sao chúng ta có thể nhận biết
được? Tâm quá thô! Thiền Định càng rất
sâu, tâm càng vi tế. Trong kinh đức Phật dạy:
Đến khi nào sẽ thấy được cảnh giới
ấy? Bát Địa Bồ Tát. Bát Địa Bồ Tát gọi
là Bất Động Địa, đó là cảnh giới của
bậc từ Bát Địa trở lên! Một câu kinh
văn Lăng Nghiêm này là nói về ba tướng tế của
A Lại Da Thức. Đức Phật chẳng dối gạt
người khác, mỗi một cá nhân trong tương lai
đạt đến Bát Địa sẽ thấy xác thực!
Nếu chứng đến Bát Địa mà chẳng thể
thấy t́nh h́nh này th́ đức Phật đă nói dối, đức
Phật đă gạt người. Đức Phật chẳng
hề gạt người! Chính quư vị đạt đến
tŕnh độ ấy, sẽ thấy được chân
tướng sự thật, hiểu rơ ràng chân tướng!
V́ thế, hết thảy cảnh
giới được nói trong kinh Phật đều là cảnh
giới Hiện Lượng, [tức là cảnh giới] do
chính đức Phật đích thân chứng, chẳng phải
do suy tưởng, chẳng phải là suy diễn từ
căn cứ lư luận và toán học, mà là đích thân thấy,
ngũ nhăn viên minh, đích thân thấy tướng cảnh
giới ấy. Đối với người niệm Phật,
cảnh giới ấy là Lư nhất tâm bất loạn,
nhưng người mới chứng Lư nhất tâm bất
loạn vẫn chưa thể thấy. Sơ Trụ Bồ
Tát trong Viên Giáo là Lư nhất tâm, Thập Trụ, Thập Hạnh,
Thập Hồi Hướng cho đến Bát Địa [đều
là Lư nhất tâm]. Quư vị hăy nghĩ xem, trong Lư nhất tâm
có mức độ sâu cạn khác nhau; Lư nhất tâm bất
loạn rất sâu th́ mới có thể thấy cảnh giới
này. Hàng Tiểu Thừa đă nhập Cửu Thứ Đệ
Định mà c̣n chưa thấy, huống ǵ chúng ta? Người
Tiểu Thừa...
(Diễn) Toại chấp cảnh
vi hữu.
(演) 遂執境為有。
(Diễn: Bèn chấp cảnh là Có).
Họ có thể phá Ngă Chấp,
nhưng Pháp Chấp chẳng dễ phá, đạo lư là ở
chỗ này. Cảnh giới là nói về pháp, họ (người
Tiểu Thừa) nghĩ cảnh là có thật!
(Diễn) Duy dục tỵ cảnh
xu tịch dă.
(演) 唯欲避境趨寂也。
(Diễn: Chỉ muốn
tránh né cảnh, hướng đến vắng lặng).
Nay chúng ta nói là họ “trốn
tránh hiện thực”, họ muốn t́m một nơi thanh
tịnh tịch diệt để tu hành, tránh né những
khó khăn, quấy nhiễu bên ngoài.
(Diễn) Kim nhật hồi tâm, năi tri bổn bất
tương ngại, đương thể toàn không, độ
nhi vô độ nhĩ.
(演) 今日回心,乃知本不相礙,當體全空,度而無度耳。
(Diễn: Nay hồi
tâm mới biết tâm và cảnh vốn chẳng trở ngại
lẫn nhau, bản thể của chúng hoàn toàn là Không, nên
độ [chúng sanh] mà chẳng độ).
Nếu người ấy biết
chân tướng sự thật, nhất định phát
đại tâm, chẳng c̣n bàn căi ǵ nữa, người ấy
cũng phỏng theo chư Phật, Bồ Tát, chẳng đành
ḷng làm kẻ Tiểu Thừa, nhất định là như
vậy, v́ sao? Từ bi là tánh đức, là đức
năng trong bổn tánh tự nhiên khởi tác dụng, tánh
đức nhất định hiện tiền. Do vậy,
sự hiểu lầm này gọi là Sở Tri Chướng:
Người Nhị Thừa đoạn Phiền Năo Chướng,
chưa phá Sở Tri Chướng, phá Ngă Chấp, nhưng chưa
phá Pháp Chấp. Có Pháp Chấp, có Sở Tri Chướng, Tánh
Đức trong tự tánh của người ấy chẳng
thể hiện tiền. Đạo lư là ở chỗ này.
(Sớ) Nhi đơn tu Thiền
Định, bất nguyện văng sanh, thị vi đại
thất hỹ.
(疏) 而單修禪定,不願往生,是為大失矣。
(Sớ: Chỉ tu
Thiền Định, chẳng nguyện văng sanh, là sự mất
mát lớn lao).
Đây là nói về người
Tiểu Thừa, người Tiểu Thừa chuyên tu Thiền
Định, công phu Thiền Định rất sâu, đạt
đến Đệ Cửu Định, chẳng muốn
văng sanh, tổn thất này quá lớn! Nếu một mai
người ấy khai ngộ, Bồ Tát sẽ chỉ dạy
người ấy, người ấy nghe xong sẽ hiểu
rơ, tin tưởng, tiếp nhận, hễ quay đầu,
hồi Tiểu hướng Đại, niệm Phật cầu
sanh Tịnh Độ. Với loại công phu này, người
ấy chỉ cần quay đầu, sẽ sanh vào cơi
Phương Tiện Hữu Dư; bởi lẽ, Định
của người ấy chính là Sự nhất tâm bất
loạn của người niệm Phật. V́ Sự nhất
tâm là đoạn Kiến Tư phiền năo, phá Ngă Chấp.
Người Tiểu Thừa dùng công phu Thiền Định
rất sâu để phá Ngă Chấp, đoạn Phiền Năo
Chướng. V́ thế, họ hồi Tiểu hướng
Đại sẽ chẳng sanh vào cơi Phàm Thánh Đồng
Cư, mà sanh vào cơi Phương Tiện Hữu Dư, cao
hơn những kẻ đới nghiệp văng sanh chúng ta
quá nhiều!
Kinh này cũng v́ ḷng đại từ
đại bi nhằm giáo hóa, hướng dẫn hàng Nhị
Thừa mà nói. V́ thế, trong Tự Phần, chúng ta thấy
có mười sáu vị tôn giả, đều là đại
diện của hàng Tiểu Thừa, ư nghĩa này hết sức
rơ ràng. Hôm nay chúng tôi giảng đến chỗ này.
A Di
Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa
Phần
29 hết
[1] Tứ Không Định, gọi đủ
là Tứ Không Xứ Định gồm: Không Xứ Định,
Thức Xứ Định, Vô Sở Hữu Xứ Định
và Phi Hữu Tưởng Phi Vô Tưởng Xứ Định.
[2] Tứ Thiền Thiên là bốn tầng trời
là nơi cư trụ của người đă đắc
Tứ Thiền:
1. Sơ Thiền Thiên gồm các cơi trời
Phạm Chúng Thiên, Phạm Phụ Thiên, Đại Phạm
Thiên. Đại Phạm Vương làm chủ các tầng
trời này.
2. Nhị Thiền Thiên gồm các tầng
trời Thiểu Quang Thiên, Vô Lượng Quang Thiên, Cực
Quang Tịnh Thiên (c̣n gọi là Quang Âm Thiên).
3. Tam Thiền Thiên gồm Thiểu Tịnh
Thiên, Vô Lượng Tịnh Thiên, Biến Tịnh Thiên.
4. Tứ Thiền Thiên gồm Vô Vân Thiên,
Phước Sanh Thiên, Quảng Quả Thiên, Vô Phiền Thiên,
Vô Nhiệt Thiên, Thiện Hiện Thiên, Thiện Kiến
Thiên, và Sắc Cứu Cánh Thiên.
Bốn tầng trời này đều thuộc
Sắc Giới. Từ cơi trời Vô Phiền Thiên trở
lên là nơi ở của các bậc thánh nhân từ A La Hán trở
lên, không c̣n luân hồi trong lục đạo, nên năm cơi
trời (Vô Phiền, Vô Nhiệt, Thiện Hiện, Thiện
Kiến, và Sắc Cứu Cánh) được gọi chung
là Ngũ Bất Hoàn Thiên hay Tịnh Cư Thiên.
[3] Xin chú ư, lợi căn hay độn
căn A La Hán ở đây là nói về người chưa
chứng quả A La Hán. Nếu là lợi căn th́ sẽ có
thể nhanh chóng chứng quả A La Hán (đắc Cửu
Thứ Đệ Định) ngay trong Tứ Thiền Thiên,
không cần phải trải qua Tứ Không Thiên.
[4] Trong Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh, Bảo
Tích là tên một vị Trưởng Giả tại thành Tỳ
Da Ly (Vaiśālī), thượng thủ của năm
trăm vị trưởng giả, nương theo Phật
thần lực đến cúng dường, tán thán, rồi
thưa hỏi: “Bạch đức
Thế Tôn! Năm trăm vị trưởng giả này
đều đă phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác, nguyện được nghe cơi Phật thanh tịnh.
Kính mong đức Thế Tôn giảng về hạnh Tịnh
Độ của Bồ Tát”. Nhân đó, đức Phật
bèn giảng phẩm đầu tiên của kinh Duy Ma Cật
là phẩm Phật Quốc, trong đó có những câu
được sách Diễn Nghĩa trích dẫn ở
đây.
[5] Theo chú giải của Nho gia, “chỉ ư
chí thiện” nghĩa là đạt
đến cảnh giới hoàn thiện tột bậc. Về
sau, từ ngữ này được dùng với nghĩa rộng
hơn là đă đạt đến cảnh giới
tối cao, toàn thiện, và an trụ trong cảnh giới ấy,
không để mất đi.
[6] Câu này hàm nghĩa những sự vật
có cùng một tánh chất sẽ thu hút lẫn nhau, hoặc
nói rộng hơn là phân chia sự vật theo tánh chất
đặc trưng của chúng. Hệ Từ là một phần
của Dịch Truyện, tức là những lời chú giải
kinh Dịch, thường được coi là trước
tác của Châu Văn Vương và Khổng Tử. Dịch
Truyện bao gồm Thoán Truyện, Tượng Truyện,
Văn Ngôn Truyện, Hệ Từ Truyện, Thuyết Quái
Truyện, Tự Quái Truyện và Tạp Quái Truyện. Hệ
Từ Truyện vốn là lời giải thích phần Hệ
Từ. Theo quan điểm truyền thống do Châu Hy đề
xướng, Châu Văn Vương và Châu Công giải thích mỗi
quẻ trong kinh Dịch rồi buộc (hệ) dưới
mỗi quẻ (thuở xưa chưa có giấy, những
ghi chép được viết lên thẻ bằng tre), hợp
thành kinh văn ngày nay của kinh Dịch. Hệ Từ Truyện
do Khổng Tử viết nhằm giải thích Hệ Từ
cũng như giải thích ư nghĩa chung của trọn bộ
kinh Dịch.
[7] Sát (剎) là Phật sát, tức cơi Phật, c̣n gọi
là “sát độ”. Một cơi Phật nhỏ nhất sẽ
là một tam thiên đại thiên thế giới. Do có vô
lượng vô biên cơi Phật chẳng thể tính kể
được nên dùng chữ “hải” (biển cả)
để h́nh dung số lượng các cơi Phật.
[8] Chín mươi bốn pháp trước
được chia thành năm loại lớn là Tâm Pháp (tám
thức), Tâm Sở Hữu Pháp (c̣n gọi tắt là Tâm Sở,
gồm năm mươi mốt thứ như Xúc, Thọ,
Tư, Tưởng, Tác Ư v.v...), Sắc Pháp (gồm mười
một thứ như Nhăn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân,
Ư...), Bất Tương Ứng Hành Pháp (gồm hai
mươi bốn pháp như Đắc, Mạng Căn,
Chúng Đồng Phận, Dị Sanh Tánh v.v...). Sáu loại
sau cùng là Vô Vi gồm sáu pháp tức Hư Không Vô Vi, Trạch
Diệt Vô Vi, Phi Trạch Diệt Vô Vi, Bất Động
Vô Vi, Tưởng Thọ Diệt Vô Vi, và Chân Như Vô Vi.
[9] Mười tám món Không trong Đại
Trí Độ Luận là Nội Không, Ngoại Không, Nội
Ngoại Không, Không Không, Đại Không, Đệ Nhất
Nghĩa Không, Hữu Vi Không, Vô Vi Không, Tất Cánh Không, Vô Thỉ
Không, Tán Không, Tánh Không, Tự Tướng Không, Chư Pháp
Không, Bất Khả Đắc Không, Vô Pháp Không, Hữu Pháp
Không và Vô Pháp Hữu Pháp Không.
[10] Theo Phật Thuyết Hưng Khởi Hạnh
Kinh, quyển hai, đức Thế Tôn và năm trăm vị
A La Hán nhận lời thỉnh của Bà-la-môn A Chỉ
Đạt cho phép ông ta cúng dường Phật và tăng
đoàn suốt ba tháng an cư. Cúng dường được
mấy hôm, A Chỉ Đạt bị ma gây loạn tâm,
đam mê ngũ dục, đóng chặt cửa hưởng
lạc. Do vậy, đức Phật và năm trăm sa-môn
bị đói, chư Tăng vào thành khất thực,
nhưng suốt ba ngày chẳng xin được ǵ. Chỉ
có một người nuôi ngựa lấy bớt phần
lúa mạch nuôi ngựa cúng dường cho Phật và
Tăng đoàn dùng tạm. Ngài A Nan đành đem lúa mạch
nhờ người nấu thành cháo dâng lên Phật. Chư
Tăng ngạc nhiên, thưa hỏi nguyên nhân v́ sao đức
Phật là Lưỡng Túc Tôn mà c̣n phải ăn lúa ngựa.
Đức Phật giảng: Trong quá khứ hết sức
lâu xa, có Phật Như Lai hiệu là Tỳ Bà Diệp
Như Lai, ngự tại đại thành Bàn Đầu Ma Bạt,
có mười sáu vạn tám ngàn đại tỳ-kheo thường
theo hầu. Quốc vương thành ấy và nhân dân kiền
thành cúng dường Phật và tăng đoàn, khiến
cơm áo không bao giờ thiếu khuyết. Trong thành ấy,
có một giáo sĩ Bà La Môn tên là Nhân Đề Kỳ Lợi,
tinh thông kinh điển Vệ Đà và các phương pháp
xem tướng, dạy dỗ năm trăm đồng tử.
Một hôm quốc vương thiết trai cúng Phật. Do
trong đại chúng có một vị tỳ-kheo tên Di Lặc
bị bệnh không thể dự trai, đức Phật Tỳ
Bà Diệp đem một phần về cho Di Lặc. Khi quay
về, Tỳ Bà Diệp Phật và chư Tăng đi qua
núi của Nhân Đề Kỳ Lợi, Nhân Đề Kỳ
Lợi quá ghen tức, giận dữ thóa mạ: “Lũ
đạo nhân trọc đầu đáng ra phải ăn
lúa mạch nuôi ngựa, chứ lẽ đâu được
hưởng thức ăn ngon lành như thế?” Lại hỏi
năm trăm học tṛ: “Thầy nói như vậy có
đúng hay không?” Lũ học tṛ thưa: “Thầy nói không
sai tí nào”. Bà La Môn lúc đó chính là thân ta hiện tại, c̣n
năm trăm học tṛ chính là năm trăm vị La Hán hiện
thời”.
[11] Theo Sử Kư, do thấy Lỗ Định
Công hôn ám, ham mê nữ sắc, Tam Hoàn (ba gia đ́nh hoàng tộc
nước Lỗ) thừa cơ lũng đoạn triều
chánh, Khổng Tử liền từ chức Đại
Tư Khấu nước Lỗ, chu du các nước Vệ,
Tào, Trịnh, Trần, Sái, Sở, Tống. Khi đó, do
nước Ngô xua binh đánh nước Trần, nước
Sở phái quân sang cứu. Đến biên giới đất
Trần, Sở Chiêu Vương phái người thỉnh Khổng
Tử đến gặp, Khổng Tử liền chuẩn
bị rời đất Trần. Các quan đại phu
nước Trần và Sái sợ nước Sở trọng
dụng Khổng Tử, bèn vây hăm Khổng Tử tại
cánh đồng giáp ranh biên giới Trần và Sái. Do
đường không đi được, Khổng Tử
và môn đệ phải nhịn đói suốt bảy ngày.
Môn đệ nhiều người đói rũ, không dậy
nổi, nhưng Khổng Tử vẫn thản nhiên. Về
sau, Tử Cống trốn được, báo tin cho Sở
Chiêu Vương, Sở Chiêu Vương bèn phái người
đưa Khổng Tử ra khỏi đất Trần. Trần
là một nước chư hầu nhỏ đời Châu.
Người sáng lập đất Trần là Quy Măn, hậu
duệ của vua Thuấn. Sau khi phạt Trụ thành công,
Châu Vũ Vương đă phong cho Quy Măn làm Hồ Công, ban
cho thái ấp ở đất Trần, nên từ đó, Quy
Măn được ban họ theo tên đất là Trần, lại
được Châu Vũ Vương gả con gái là Thái
Cơ cho. Nước Trần thuộc huyện Hoài
Dương tỉnh Hà Nam, đóng đô tại Uyển Khâu,
tiếp giáp các nước Sái, Kỷ, Tống, Sở và Từ.
Trần bị diệt vong khi Ngô vương Phù Sai tấn
công đoạt mất ba thành vào năm thứ ba
mươi (năm 489 trước Công Nguyên) đời Trần
Mẫn Công, Trần Mẫn Công cầu cứu Sở. Sở
phái quân sang cứu, rồi Sở Huệ Vương thừa
cơ sát nhập nước Trần vào lănh thổ của
Sở vào năm 478 trước Công Nguyên. Nước Trần
biến mất từ đó.
[12] Ở Trung Quốc có khá nhiều hồ
mang tên Tây Hồ, nhưng mộ Nhạc Phi ở Tây Hồ
thuộc Hàng Châu, thắng cảnh của tỉnh Chiết
Giang. Tại mộ Nhạc Phi, ngoài tượng sắt của
vợ chồng Tần Cối ra, c̣n có tượng Mặc
Sĩ Tạ và Trương Tuấn cùng quỳ chịu tội.
Mặc Sĩ Tạ quê ở Dương Vũ, huyện
Khai Phong, làm Giám Sát Ngự Sử, là tay chân của Tần Cối,
chủ trương đầu hàng quân Kim. Chính hắn
đă dâng sớ đàn hặc vu cáo Nhạc Phi phản nghịch,
hại chết Nhạc Phi và con trai là Nhạc Vân, cũng
như hăm hại Trương Hiến. Trương Tuấn
làm tướng đời Nam Tống, do đố kỵ
tài năng của Nhạc Phi nên bị Tần Cối mua chuộc,
ngụy tạo chứng cớ để kết tội Nhạc
Phi. Về sau hắn làm đến Thái Sư, chuyên vơ vét
tài sản quốc gia.
[13] Chữ “duyên” ở đây chỉ tác dụng
nhận biết. Chẳng hạn mắt thấy sắc th́
nói là “Sắc được duyên bởi Nhăn Thức”. Kiến
Duyên chính là Sắc được thấy bởi tánh Thấy
(Kiến).
[14] Hoa đốm là những chấm sáng nhảy
nhót lăng xăng trên không trung.
[15] Nói vô tài hay đa tài chỉ là dựa
trên khả năng có được ăn uống hay không
mà phân loại. Ngạ quỷ (tiếng Phạn là Preta, do vậy,
đôi khi c̣n phiên âm là Bệ Lệ Đa) gồm có ba loại:
1. Vô Tài Quỷ: Hoàn toàn không thể ăn
uống, gồm có ba loại nhỏ:
- Cự Khẩu (Diệm Khẩu): Thức
ăn lọt vào miệng liền biến thành lửa đỏ.
- Châm Khẩu: Cổ họng nhỏ
như cái kim, không có cách nào nuốt đồ ăn
được.
- Xú Khẩu: Miệng nứt nẻ hôi thối,
không thể ăn uống được.
2. Thiểu Tài Quỷ: Được
ăn uống đôi chút, gồm có ba loại Châm Mao (lông
trên thân nhọn hoắt như cái kim), Xú Mao (thân thể
đầy lông cứng, hôi thối), Anh (có bướu). Ba
loại quỷ này do nghiệp báo chỉ ăn những thứ
bất tịnh như phân, nước tiểu, máu mủ,
đờm răi, huyết dịch của phụ nữ
đang sanh nở v.v...
3. Đa Tài Quỷ: Tuy vẫn rất
đói khát, nhưng có cơ hội được ăn nhiều
hơn hai loại quỷ Vô Tài và Thiểu Tài. Loại quỷ
thần này gồm ba loại:
- Khí giả: Ăn những thứ vật
do người cúng tế rồi bỏ đi.
- Thất giả: Ăn những vật
do người ta để quên, bỏ sót.
- Đại thế: Những loài đại
lực quỷ vương Dạ Xoa, La Sát, có sự hưởng
thụ gần giống như chư thiên; nhưng vẫn
chịu đựng khổ sở v́ ăn uống, không được
tự tại như chư thiên.