A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

阿彌陀經疏鈔演義

Phần 32

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Huệ Trang và Đức Phong

Tập 63

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang tám mươi tư:

 

      (Sớ) Duy thử Niệm Phật pháp môn, tam bối cửu phẩm, tất giai độ thoát, triệt thượng, tắc tam tâm viên phát, trực nhập Vô Sanh; triệt hạ, tắc thập niệm thành công, diệc sanh bỉ quốc.

      () 惟此念佛法門,三輩九品,悉皆度脫。徹上,則三心圓發,直入無生;徹下,則十念成功,亦生彼國。

      (Sớ: Chỉ có pháp môn Niệm Phật này, ba bậc chín phẩm đều được độ thoát. Thông trên th́ phát trọn ba tâm, vào thẳng Vô Sanh; thấu dưới th́ mười niệm thành công, cũng sanh về cơi ấy).

 

      Kinh A Di Đà không dài, cổ nhân ca ngợi bản chú giải của Liên Tŕ đại sư là “bác đại tinh thâm” (mênh mông, tinh vi, sâu thẳm). Cơ hội giảng Sớ Sao một lượt hết sức khó có, chúng ta phải nên quư tiếc dịp này. Lần này, khóa giảng của chúng tôi bị gián đoạn tám tháng, đột nhiên đọc kinh văn này, quả thật cũng chẳng biết nói điều ǵ. Xin quư vị mở quyển kinh, chúng ta ôn lại phần Duyên Khởi đă giảng trước kia. Trước khi giảng kinh, Liên Tŕ đại sư đă nói rơ đạo lư của bộ kinh này, đạo lư ấy được chia thành mười đoạn. Đoạn thứ nhất là Giáo Khởi Sở Nhân, [tức là] v́ nguyên nhân nào mà [đức Phật] nói pháp môn này? V́ sao chúng ta phải niệm Phật? Trong điều này, trước hết là tổng thuyết (nói tổng quát), “tiên minh tổng giả (tổng nhân duyên), vị Như Lai duy vị nhất đại sự nhân duyên xuất hiện ư thế” (trước hết, nói nhân duyên chung, nghĩa là Như Lai v́ một đại sự nhân duyên mà xuất hiện trong cơi đời). Rốt cuộc đức Phật v́ đại sự ǵ vậy? Chúng ta phải hiểu rơ điều này!

      Chuyện lớn nhất của đời người trong thế gian là đại sự sanh tử. Nhiều đồng tu cũng có thể nói [như vậy], tuy biết nói, nhưng thường quên khuấy đại sự này. V́ sao? Nếu quư vị chẳng quên khuấy, cớ sao quư vị khởi vọng tưởng? Quư vị suốt ngày từ sáng đến tối khởi vọng tưởng, đủ thấy đă quên khuấy đại sự này. Trong kinh Pháp Hoa, đức Phật nói “khai thị ngộ nhập tri kiến của Phật”. Đó là lư do v́ sao Thích Ca Mâu Ni Phật giáng sanh trong thế gian này, v́ sao Ngài muốn giảng Phật pháp cho chúng ta. Đức Phật “khai thị”, “khai” () là khơi mở, “thị” () là chỉ bày. Gợi mở, chỉ bày điều ǵ? Phật tri, Phật kiến. Mỗi cá nhân chúng ta vốn sẵn có Phật tri, Phật kiến. Kinh Đại Thừa nói “hết thảy các chúng sanh vốn đă thành Phật”. Quư vị vốn là Phật, v́ sao ngày nay biến thành nông nỗi này? Do quư vị mê mất Phật tri Phật kiến của chính ḿnh. Đức Phật làm Tăng Thượng Duyên cho chúng ta, giúp cho chúng khơi mở, chỉ bày Phật tri Phật kiến mà chúng ta sẵn có, nhưng chúng ta phải biết học. V́ thế, hai chữ “ngộ nhập” là chuyện của chính ḿnh, đức Phật khơi mở, chỉ bày, c̣n bản thân chúng ta phải giác ngộ. Sau khi giác ngộ, chính ḿnh phải nhập cảnh giới ấy, “nhập” () là phải chứng đắc, như vậy th́ mới chẳng cô phụ ư nghĩa xuất hiện trong thế gian này của Thích Ca Mâu Ni Phật.

      Tiếp theo đó là “biệt thuyết”, nhân duyên riêng biệt gồm mười điều. “Nhất, đại bi mẫn niệm Mạt Pháp, vị tác tân lương cố” (Thứ nhất, do ḷng đại bi nghĩ thương đời Mạt Pháp, làm cầu bến [cho chúng sanh]). Chúng ta đặc biệt chú ư từ ngữ “mẫn niệm Mạt Pháp”. “Mẫn() là xót thương; [“mẫn niệm Mạt Pháp” là] xót thương chúng sanh đời Mạt Pháp, nay chúng ta đang sống trong thời Mạt Pháp. Cơi đời loạn lạc, thế giới hiện thời nguy cơ trùng trùng, chẳng t́m được chỗ nào để an thân lập mạng, loạn đến tột cùng! Nh́n từ chỗ nào? Nh́n từ ḷng người. Ḷng người rối loạn, đánh mất chuẩn tắc, [tức là] chẳng có một nguyên tắc, tiêu chuẩn nào, không được rồi! Đây là một điềm dự báo hết sức bất lợi, chúng ta phải giác ngộ. Điềm dự báo là cả thế giới nhất định sẽ xảy ra tai nạn to lớn; nay chúng ta may mắn gặp gỡ Phật pháp, nếu có thể tin hiểu, y giáo phụng hành, trong khoảng thời gian ngắn ngủi trước khi đại kiếp nạn xảy tới, chúng ta c̣n có đủ thời gian để chuẩn bị ḥng có thể tránh khỏi tai nạn này, có đủ thời gian ḥng thoát khỏi! Điều cốt yếu là chúng ta có tin hay không, tức là chính ḿnh có thiện căn, phước đức hay chăng. Đă gặp nhân duyên này, [đức Phật] bảo rơ ràng với chúng ta: Trong thời Mạt Pháp, trừ pháp môn Niệm Phật ra, không có pháp nào khác cứu được! Tu học bất cứ pháp môn nào khác đều chẳng thể thành công!

      Lần này, từ Hương Cảng, tôi đem về cuốn băng thâu âm lời khai thị trong Phật Thất của lăo pháp sư Đàm Hư, quư vị hăy nghe lời giảng diễn của vị lăo pháp sư này, Ngài là tổ sư của tông Thiên Thai trong thời cận đại, Ngài cũng nói rơ ràng, minh bạch: Trong cả một đời Ngài, thấy người niệm Phật biết trước lúc mất, có người đứng mà mất, có người ngồi qua đời, không bệnh tật mà mất, ra đi vô cùng tự tại, Ngài thấy cả hơn hai mươi người [ra đi như thế]. Chính Ngài ngồi viên tịch năm chín mươi mấy tuổi, cũng chẳng có bệnh tật ǵ! Đấy đều là những chuyện chứng thực rơ ràng. Ngài học giáo nghĩa Thiên Thai, Thiên Thai th́ phải nên tu Chỉ Quán, nhưng Ngài chẳng tu Thiền, chẳng tu Chỉ Quán, mà niệm Phật, Ngài c̣n đặc biệt nói rơ: Trong thời đại này, tu Thiền, học Mật, hay học ǵ đi nữa, đều chẳng thể thành tựu! Ngài khai thị chém đinh chặt sắt như thế, khuyên chúng ta hăy niệm Phật. V́ thế, nhân duyên thứ nhất là tâm đại bi, đại từ đại bi, nghĩ thương lũ chúng sanh chúng ta trong hiện tại, làm cầu bến cho chúng ta.

      Nhị, đặc ư vô lượng pháp môn, xuất thắng phương tiện cố” (Hai là v́ đặc biệt nêu ra phương tiện thù thắng trong vô lượng pháp môn). “Thắng” () là thù thắng. Pháp môn này thù thắng nhất trong tám vạn bốn ngàn pháp môn. V́ sao biết pháp môn này thù thắng nhất? Phẩm Ly Thế Gian trong kinh Hoa Nghiêm nói về tu hành, nói tới hai ngàn pháp môn, nhưng Văn Thù, Phổ Hiền, Thiện Tài đồng tử chọn lựa pháp môn Niệm Phật văng sanh Tịnh Độ. Quư vị nghĩ xem: Nếu chẳng là pháp thù thắng nhất, lẽ nào Văn Thù, Phổ Hiền chọn lựa pháp môn này? V́ thế, kinh Hoa Nghiêm có thể chứng minh cho chúng ta.

      Tam, khích dương sanh tử phàm phu, linh khởi hân yếm cố” (Ba là v́ khích động, cổ vũ phàm phu sanh tử khiến họ khởi ḷng ưa [Cực Lạc] chán [Sa Bà]). Chúng ta nay là phàm phu sanh tử, thấu hiểu sâu xa nỗi khổ trong đời người, nhất là sống trong thời đại này, nh́n vào thế gian rồi ngẫm lại bản thân, thế gian này chẳng có một chuyện ǵ đáng cho chúng ta lưu luyến. Nói thật ra, chẳng có cách nào vượt thoát, đi không được! Có thể đi th́ có ai chẳng muốn ra đi? Đi không được! Đức Phật bảo chúng ta thật sự có thể ra đi, chỉ cần quư vị chịu tin tưởng, chỉ cần quư vị thật sự mong muốn, chiếu theo lư luận và phương pháp trong bộ kinh này th́ sẽ có thể vượt thoát! Thế nhưng, tu học phải chuyên, đừng gián đoạn, đừng xen tạp, chúng ta nhất định thành công trong một đời này!

      Tứ, hóa đạo Nhị Thừa chấp Không, bất tu Tịnh Độ cố” (Bốn là nhằm giáo hóa, hướng dẫn hàng Nhị Thừa chấp Không, chẳng tu Tịnh Độ): Công đức của bộ kinh này rất lớn, không những là dạy phàm phu, dạy trời người, mà c̣n dạy Thanh Văn, Duyên Giác, tức là những bậc thánh giả trong Tiểu Thừa như A La Hán và Bích Chi Phật, khuyến lơn, khích lệ họ hồi Tiểu hướng Đại, v́ sao? Chẳng tu Tịnh Độ sẽ chẳng thể viên măn Bồ Đề, kinh Hoa Nghiêm đă nói rất rơ ràng như thế. Nhất là trong đạo tràng của chúng ta, tham chiếu kinh Di Đà lẫn kinh Hoa Nghiêm th́ Sự và Lư này càng vô cùng rơ ràng.

      Ngũ, miễn tấn Sơ Tâm Bồ Tát, thân cận Như Lai cố” (Năm là v́ khuyến khích hàng Sơ Tâm Bồ Tát thân cận Như Lai). “Miễn” () là “miễn lệ” (勉勵: khuyến khích, cổ vũ), “tấn” () là khuyên lơn, sách tấn. Sách tấn chúng ta, khuyên chúng ta là hạng Sơ Tâm Bồ Tát; bao nhiêu đồng tu thọ Bồ Tát Giới đều là Sơ Phát Tâm Bồ Tát. Nếu Sơ Phát Tâm Bồ Tát chẳng thân cận đức Phật, sẽ bị thoái chuyển, đi sai đường! Trong các thiện tri thức, Như Lai là vị thiện tri thức tốt lành nhất, là chân thật nhất, chẳng cầu Phật th́ cầu ai đây? Nếu vị Phật ấy rất xa, có cầu cũng chẳng cầu được th́ chẳng biết làm sao, không có cách nào hết! Nay bảo cho quư vị biết: Vị Phật [A Di Đà] này hễ cầu liền cầu được, chẳng xa, chắc chắn có thể cầu được! [V́ thế, Thích Ca Mâu Ni Phật] dạy chúng ta phải thân cận thiện tri thức, phải thân cận A Di Đà Phật.

      Lục, tận nhiếp lợi độn chư căn, tất giai độ thoát cố” (Sáu là v́ nhiếp trọn lợi căn và độn căn, khiến họ đều được độ thoát). Bất luận căn tánh của quư vị là lợi căn hay độn căn, lợi căn là người thông minh, độn căn là kẻ ngu đần. Người căn tánh nhạy bén nhất, hay người căn tánh ngu ngốc nhất đều có thể văng sanh. Nay chúng tôi giảng đến đoạn này, phía sau c̣n có bốn đoạn nữa, đến lúc ấy sẽ giảng tiếp. Đă biết những nguyên do trong phần trước, hôm nay chúng tôi có thể tiếp tục giảng từ đoạn này.

      Duy thử Niệm Phật pháp môn” (Chỉ có pháp môn Niệm Phật này), “duy” () là duy nhất, chỉ có một ḿnh pháp môn này, “tam bối cửu phẩm, tất giai độ thoát” (ba bậc, chín phẩm, thảy đều độ thoát). Câu này là nói tổng quát. “Tam bối” là nói về căn tánh của người ấy, căn tánh bậc thượng, căn tánh bậc trung, và căn tánh bậc hạ, đó là “tam bối”. “Cửu phẩm” là phân chia tỉ mỉ hơn, căn tánh bậc thượng có thượng thượng, thượng trung, thượng hạ; căn tánh bậc trung có trung thượng, trung trung, trung hạ; căn tánh bậc hạ có hạ thượng, hạ trung, hạ hạ. Chín phẩm này vẫn là nói đại lược, bao gồm toàn bộ căn tánh của tất cả chúng sanh trong đó.

      Tiếp đó, đoạn kinh văn này lại nêu sự thật cụ thể. “Triệt thượng” là nói đến căn tánh cao nhất, hạng người nào vậy? “Tam tâm viên phát, trực nhập Vô Sanh” (phát trọn ba tâm, nhập thẳng vào Vô Sanh), đó là người tối thượng thượng căn. Từ Đàn Kinh, chúng ta thấy Lục Tổ đại sư tiếp dẫn chúng sanh, học tṛ của Ngài đều là bậc thượng thượng thừa, họ thuộc loại này, đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh. Người như vậy, luận về địa vị trong Phật giáo, dùng Viên Giáo của Hoa Nghiêm để nói, th́ phải là từ Sơ Trụ Bồ Tát trở lên. Nếu nói theo Biệt Giáo phải là Sơ Địa Bồ Tát trở lên, chẳng phải là phàm phu, phải cao hơn A La Hán và Bích Chi Phật rất nhiều. Lời nói này có căn cứ ǵ hay không? Kinh Hoa Nghiêm là căn cứ! Trong kinh Hoa Nghiêm, đến cuối cùng, Phổ Hiền Bồ Tát dùng mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc, đối tượng là bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại sĩ trong thế giới Hoa Tạng. Đấy là chứng minh, thật đấy, chẳng giả một chút nào! Từ Sơ Trụ Bồ Tát đến Đẳng Giác Bồ Tát không một ai chẳng phát tâm cầu sanh về Tịnh Độ. Do điều này có thể thấy sự thù thắng của pháp môn này.

      Ở đây, [lời Sớ] nêu ra mấy danh từ, “tam tâm viên phát”: Tam tâm là Bồ Đề tâm. Theo Đại Thừa Khởi Tín Luận, tam tâm là trực tâm, thâm tâm và đại bi tâm, đó gọi là “tam tâm”. Chúng ta đă phát tam tâm, nhưng chưa viên măn, [tức là] chưa phát trọn đủ. Chẳng hạn như phải từ bi đối với người khác, nhưng phát [tâm từ bi] rồi, phát được mấy phút, thấy ai đó chẳng vừa mắt, ngay lập tức tâm từ bi chẳng c̣n nữa! Đủ thấy cái tâm từ bi ấy chẳng viên măn! Tâm từ bi đă chẳng viên măn th́ thâm tâm và trực tâm chẳng cần phải nói tới nữa! Thâm tâm là tâm thanh tịnh, trực tâm là tâm b́nh đẳng. Tâm Phật b́nh đẳng, thanh tịnh, từ bi, tâm Bồ Tát là Lục Độ, tâm Thanh Văn là Tứ Đế, tâm Duyên Giác là Thập Nhị Nhân Duyên. Nay chúng ta muốn thành Phật, phải tu tâm b́nh đẳng, tâm thanh tịnh, tâm từ bi. Đó là Phật đạo. Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh nói [tam tâm] là chí thành tâm, thâm tâm và hồi hướng phát nguyện tâm, có ư nghĩa giống với Khởi Tín Luận. Đă phát ba tâm này, nhưng c̣n chưa sanh vào Tịnh Độ!

      Trực nhập Vô Sanh”: Đây là đă sanh vào Tịnh Độ, trực nhập Vô Sanh chính là sanh vào cơi Thật Báo Trang Nghiêm của Tây Phương Cực Lạc thế giới, hoa nở thấy Phật ngộ Vô Sanh. Thử hỏi: Chúng ta có thể làm được hay không? Thưa quư vị, thật sự có thể làm được! Chẳng giả tí nào! Nếu công phu này là Lư nhất tâm bất loạn th́ sẽ có thể làm được. Nếu chưa làm được, phải trách chính ḿnh, tự ḿnh phải chịu trách nhiệm. Quư vị suốt ngày từ sáng đến tối sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần, trong cảnh giới tu cái tâm b́nh đẳng, oán thân b́nh đẳng, tu tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh là chẳng chấp tướng. Tâm b́nh đẳng là Quán Huệ, là trí huệ. Tâm thanh tịnh là Thiền Định; ngoài chẳng chấp tướng, trong chẳng động tâm. Lại c̣n tu tâm đại từ, đại bi, lợi ích trọn khắp hết thảy các chúng sanh, bỏ ḿnh v́ người, đó gọi là “tam tâm”.

      Tách ĺa chúng sanh th́ tu cái ǵ? Ta thấy ưa thích người này, chán ghét người kia, thường thân cận kẻ ưa thích, tránh xa kẻ chán ghét th́ c̣n tu cái ǵ nữa? Đó là tu cái tâm luân hồi trong lục đạo, vẫn là gây tạo lục đạo luân hồi! Phải nên tu bằng cách nào? Người thân ái và kẻ oán gia đối đầu đều phải đối xử b́nh đẳng, chẳng có hai thứ cảnh giới [yêu và ghét] hiện diện, thử hỏi quư vị cách tu như thế nào? Quư vị phải biết tu hành là tu ở chỗ nào? Tu nơi thân của hết thảy các chúng sanh. Hết thảy các chúng sanh là Tăng Thượng Duyên giúp chúng ta tu hành. Trong Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm có tỷ dụ sánh ví Phật như quả và hạt trên cây, ví hoa như Bồ Tát, hoa quả do đâu mà có? Do rễ mà có! Rễ là ǵ? Rễ là hết thảy chúng sanh. V́ thế, đức Phật nói phải dùng nước đại từ bi tưới bón chúng sanh. Tưới bón chúng sanh là thừa sự, cúng dường Như Lai. Nếu quư vị chẳng tu nơi chúng sanh, mà muốn tu Phật, tu Bồ Tát, chắc chắn chẳng thể thành tựu. Nói cách khác, ta muốn khai hoa kết quả mà không cần rễ, hoa quả sẽ do đâu mà có? Cũng có! Cắm trong b́nh hoa, hai ngày bèn úa tàn, chẳng c̣n tươi nữa!

      Quư vị tu Lục Độ vạn hạnh, tu nơi đâu? Tu nơi thân chúng sanh, tu cái tâm b́nh đẳng đối với hết thảy chúng sanh, tâm thanh tịnh tu từ nơi hết thảy chúng sanh. Tách ĺa hết thảy cảnh giới, “tâm ta thanh tịnh lắm”, đó là giả, thanh tịnh kiểu đó có ích ǵ đâu? Tiếp xúc hoàn cảnh phức tạp, tâm vẫn thanh tịnh, đó mới là thanh tịnh thật sự, tu hành thật sự! Giúp đỡ chúng sanh là giúp đỡ chính ḿnh, thành tựu chúng sanh là thành tựu chính ḿnh, thành tựu sự “thanh tịnh, b́nh đẳng, từ bi” của chính ḿnh, đó là Phật pháp. Chúng ta thật sự tu theo cách như vậy, trong một đời này, chắc chắn có thể Thượng Phẩm Thượng Sanh, có thể tu đắc Lư nhất tâm bất loạn. Lư nhất tâm bất loạn là tâm địa thanh tịnh, b́nh đẳng, từ bi. “Vô duyên đại từ, đồng thể đại bi”, ḷng từ bi ấy từ bi vô điều kiện, v́ sao? Sanh từ cái tâm thanh tịnh. Quư vị phải nhớ: Chỉ cần quư vị có phân biệt, chấp trước, có ưa ghét, cái tâm ấy là tâm sanh tử, là tâm luân hồi. Dùng cái tâm như vậy để niệm Phật th́ có được hay chăng? Cũng được! Nếu quư vị niệm đến mức công phu thành phiến, sẽ đới nghiệp văng sanh, sanh vào cơi Phàm Thánh Đồng Cư. V́ vậy, Tịnh Độ quả thật chẳng thể nghĩ bàn!

      Nhưng đến thế giới Tây Phương, chúng ta phải từ cơi Phàm Thánh Đồng Cư vượt lên cơi Phương Tiện Hữu Dư, rồi lại vượt lên cơi Thật Báo Trang Nghiêm. Trong kinh nói phải trải qua bao nhiêu đại kiếp mới có thể thành công. Nếu quư vị biết tu, bèn tu ngay trong thế giới này, trong một đời có thể viên măn, có thể vượt thoát. Do duyên cớ nào? Thật ra, chúng tôi nghĩ chuyện này cũng chẳng khó hiểu! Tây Phương Cực Lạc thế giới là thuận cảnh, chẳng có nghịch duyên. V́ thế, quư vị tu hành tiến bộ rất chậm; c̣n nơi đây gió to sóng lớn, thuận cảnh lẫn nghịch cảnh đều to lớn, biến đổi quá mạnh. Kinh dạy: Chúng ta tu hành ở nơi đây một ngày bằng tu hành một trăm năm trong thế giới Cực Lạc. Chỗ tốt đẹp của thế giới Cực Lạc là không có duyên thoái thất, c̣n ở nơi đây, chúng ta tiến rất nhanh mà lui sụt cũng rất lẹ. Hễ tiến th́ trong một đời có thể đắc Lư nhất tâm bất loạn, sanh vào cơi Thật Báo Trang Nghiêm. Hễ thoái bèn vào trong địa ngục A Tỳ. Ở bên đó là giong thuyền khi nước lặng, tiến từ từ, chỉ có tiến lên, chẳng bị tụt lùi; do vậy, sang bên đó sẽ ổn thỏa, thích đáng. Quư vị phải biết đạo lư này, biết sự thật này. Chúng ta sống trong thế giới Sa Bà chẳng phải là không tốt đẹp, mà là rất tốt, cảnh giới trước mắt quá tốt đẹp, có thể giúp cho chúng ta thành tựu quá lớn trong một thời gian cực ngắn, không thể t́m điều này ở nơi nào khác được! V́ thế, quư vị phải biết lợi dụng hoàn cảnh. Biết lợi dụng hoàn cảnh th́ chẳng những chính ḿnh đạt thành tựu thù thắng trong tu hành, mà c̣n thành tựu nhanh chóng hơn nữa!

      Kinh nói đến Lư nhất tâm bất loạn, nếu chúng sanh trong thế giới Sa Bà chẳng làm được, đức Phật sẽ chẳng nói, v́ nói ra điều này chẳng có ư nghĩa ǵ hết! Đức Phật nói ra là v́ mỗi cá nhân chúng ta đều có thể làm được. Vấn đề là quư vị có chịu làm hay không? Quư vị có thật sự chịu tu hành hay không? V́ thế, nói tới “tu hành”, nói bao nhiêu lượt, mỗi lượt đều có những đồng tu mới đến đây, nên chẳng thể không nói những lời này, hết sức quan trọng! “Tu” là sửa đổi cho đúng, “hành” là hành vi; hành vi của chúng ta có lầm lỗi, phải sửa đổi những lỗi lầm ấy cho đúng, đó là tu hành. Chúng ta thường có quan niệm sai lầm, cách nghĩ sai lầm khiến chúng ta bị đọa lạc, khiến chúng ta đi trật đường lối. Tư tưởng, kiến giải như thế nào mới là chính xác? Hăy nhớ, chỉ cần tâm quư vị thanh tịnh, b́nh đẳng, từ bi; hễ tư tưởng và kiến giải tương ứng với ba điều ấy th́ là chính xác. Nếu tư tưởng và kiến giải chẳng b́nh đẳng, chẳng thanh tịnh, chẳng từ bi, đấy là sai lầm!

      Chúng ta thấy sắc, nghe tiếng, “thấy sắc” là thấy cảnh giới bên ngoài, “nghe tiếng” là nghe người khác nói, chúng ta có thể tương ứng với tâm thanh tịnh, tâm b́nh đẳng, tâm từ bi hay chăng? Nếu có thể tương ứng th́ những tiếng và sắc ấy đều là Phật pháp. Nếu chúng chẳng tương ứng, chúng phá hoại cái tâm b́nh đẳng, tâm thanh tịnh, tâm từ bi của chúng ta, quư vị phải lập tức giác ngộ, đó là ma thuyết pháp, ma đang gây chướng ngại, ma đang phá hoại, phá hoại ai? Phá hoại chính ḿnh, chẳng liên can đến ai khác! Quư vị phải hiểu: Chướng đạo là tự ḿnh chướng ngại chính ḿnh. Nếu quư vị có năng lực phản tỉnh, có năng lực quán sát, yêu ma quỷ quái nào cũng chẳng thể làm ǵ quư vị được! Quư vị phải có trí huệ. “Triệt thượng” (thông trên) th́ những nhân vật bậc nhất sẽ trực tiếp nhập Vô Sanh Pháp Nhẫn, hoa nở thấy Phật, ngộ Vô Sanh, đó là bậc thượng thượng thừa.

      Triệt hạ” (thấu dưới) là kẻ ngu si nhất, “thập niệm thành công, diệc sanh bỉ quốc” (mười niệm thành công, cũng sanh về cơi ấy). Kẻ ngu si nhất, cả đời không điều ác nào chẳng làm, một niệm hồi đầu cũng có thể văng sanh, loại văng sanh này là Hạ Phẩm Hạ Sanh trong cơi Phàm Thánh Đồng Cư. Đối với “thập niệm”, từ xưa đến nay có hai cách giải thích:

      - Một cách giải thích là dùng tâm chí thành, chí thành đến cùng cực, cứ niệm một câu Phật hiệu th́ tính là một niệm, niệm mười câu Phật hiệu sẽ gọi là “thập niệm”.

      - Một cách giải thích khác là cứ hết một hơi tính là một niệm, bất kể Phật hiệu nhiều hay ít. Ví như chúng ta niệm bốn chữ A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, hết một hơi th́ gọi là một niệm, niệm mười hơi. Thông thường, tu pháp môn Thập Niệm th́ quá nửa coi hết một hơi là một niệm.

      Lại c̣n có Lâm Chung Thập Niệm, trường hợp nổi tiếng nhất trong Văng Sanh Truyện là ông Trương Thiện Ḥa đời Đường. Ông này suốt đời giết trâu, sát nghiệp vô cùng nặng. Khi lâm chung, thấy rất nhiều người đầu trâu đến đ̣i mạng, ḷng sanh sợ hăi, lớn tiếng cầu cứu. Khéo sao, có một vị pháp sư đi qua cửa nhà ông ta, nghe ông ta kêu cứu mạng trong nhà, bèn hỏi ông ta v́ lẽ nào? Ông ta thưa: “Cả đống người đầu trâu đến đ̣i mạng”. Pháp sư bèn thắp một nắm hương đưa cho ông ta, bảo: “Hăy nhanh chóng niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới”, ông ta bèn lớn tiếng niệm A Di Đà Phật. Niệm mười tiếng, ông ta nói: “Người đầu trâu không c̣n nữa, A Di Đà Phật đến tiếp dẫn tôi!” Ông ta bèn theo A Di Đà Phật ra đi. Đó là người suốt đời chưa hề nghe Phật pháp, khi lâm chung gặp pháp sư dạy ông ta niệm một câu Phật hiệu, khi ấy là lúc liên quan khẩn thiết đến tánh mạng nên niệm rất khẩn thiết. B́nh thường chúng ta chẳng thể niệm theo cách này được, ông ta dốc hết tánh mạng, chẳng niệm sẽ ngay lập tức bị lũ người đầu trâu kéo đi báo thù, trong tâm ông ta hết sức khẩn thiết, chuyên tâm nhất trí chẳng có vọng niệm. V́ thế, mười niệm bèn thành công.

      Cổ nhân có người suốt đời dùng cách Thập Niệm để tu hành, tụng niệm khóa tối khóa sáng, chẳng gián đoạn ngày nào, cũng có thể thành tựu, nhưng quư vị phải nhớ một sự thật: Học Phật phải dùng chân tâm, phải dùng thành tâm. Nếu dùng cái tâm cầu may, chụp giựt thời cơ lươn lẹo để học Phật, chắc chắn chẳng thành công! Có một số người nẩy sanh hiểu lầm, nghe nói lâm chung mười niệm vẫn được, bèn nghĩ chẳng quan trọng lắm, hiện thời làm chuyện ác nhiều một chút cũng chẳng sao, đến khi lâm chung vẫn c̣n kịp mà! Nói theo lư luận th́ cũng xuôi tai, đến khi lâm chung vẫn kịp! Nhưng quư vị hăy nghĩ xem: Quư vị có bảo đảm là khi lâm chung đầu óc tỉnh táo hay chăng? C̣n có thể nhớ niệm Phật hay không? Không sao cả! Lâm chung có người giúp tôi trợ niệm, tôi chẳng nhớ sẽ có người nhắc nhở tôi! Quư vị có đảm bảo chẳng bị tai nạn xe cộ hay không? Chẳng nẩy sanh tai nạn bất ngờ hay chăng? Đến khi ấy, t́m người cũng t́m chẳng ra, làm cách nào đây? V́ thế, chớ nên cầu may! Phải thật thà nghiêm túc tu học, người giống như ông Trương Thiện Ḥa tuy đời này chẳng học Phật, nhưng nghe pháp sư vừa nói liền tin ngay, thật sự phát nguyện, thật sự niệm, chuyên tâm như vậy, thiện căn ấy phải do tu nhiều đời nhiều kiếp mà có. Hiện thời, trong bệnh viện, người bệnh sắp chết rất đông, quư vị bảo họ niệm Phật, họ có làm theo hay chăng? Họ chẳng thể tiếp nhận, chẳng nghe lọt tai!

      Lúc tôi xuất gia tại chùa Lâm Tế ở Viên Sơn, trong chùa Lâm Tế có hội niệm Phật. Thuở ấy, ông phó hội trưởng hội niệm Phật là cư sĩ Lâm Đạo Khải, khi ông ta văng sanh, một mực hồ đồ. Ông ta bị ung thư, đau khổ khó kham, đồng tu trợ niệm cho ông ta, ông ta cự tuyệt, nghe tiếng niệm Phật bèn chán ghét. Chúng tôi thấy t́nh h́nh ấy mới giác ngộ: Lúc lâm chung vốn chẳng phải là chuyện đơn giản! Phàm là người có thể thật sự văng sanh, khi lâm chung nhất định tỉnh táo, sáng suốt. Nếu bệnh đến nỗi bất tỉnh nhân sự, ngay cả người trong nhà cũng chẳng nhận biết một ai th́ không có cách nào hết, trợ niệm cũng chẳng đảm bảo! V́ thế, b́nh thời phải tu phước, phải làm lành, nhưng đừng nên hưởng phước, phước báo dành cho lúc lâm chung, chính ḿnh tỉnh táo, sáng suốt, đó là đại phước báo. Người Trung Quốc nói Ngũ Phước, phước cuối cùng là “khảo chung mạng” tức là chết tốt lành, chết trong tỉnh táo, sáng suốt. Phàm là người khi chết tỉnh táo, sáng suốt, dẫu chẳng học Phật cũng chẳng đọa ác đạo. Quư vị hăy nghĩ xem: Có người đầu óc tỉnh táo, sáng suốt nào muốn làm súc sanh hay muốn làm ngạ quỷ? Chẳng thể nào! Phàm là kẻ sắp đọa súc sanh, sắp biến thành ngạ quỷ đều là hồ đồ đi vào đó. V́ thế, lúc lâm chung chớ nên hồ đồ! Hồ đồ quá nguy hiểm! Chết tốt lành là đại phước báo; khi luân hồi chắc chắn sanh vào chỗ tốt đẹp. Người học Phật công đức lớn, nếu lâm chung niệm Phật, chắc chắn văng sanh.

      Lần này, tôi sang Hương Cảng giảng kinh, có đồng tu nêu câu hỏi: Trong Văng Sanh Truyện có chép nhiều người niệm Phật ba năm bèn văng sanh, có phải là do niệm xong ba năm, thọ mạng vừa đúng lúc chấm dứt hay không? Tôi bảo người ấy: Chẳng phải vậy! Thọ mạng của người [niệm Phật] ấy vẫn c̣n rất dài; đương nhiên cũng có trường hợp tuổi thọ chỉ c̣n vừa đúng ba năm, nhưng cũng có người tuổi thọ rất dài. Đă rất dài v́ sao lại ra đi? Người ấy đă thành công rồi! Sau khi thành công, sống trong thế giới Cực Lạc là cung điện bảy báu, đường đi lót bằng vàng ṛng, hoàn cảnh tốt đẹp dường ấy, người ấy không ra đi mà c̣n lưu luyến căn nhà rách nát trong thế giới tả tơi này hay sao? Chẳng muốn! Ra đi cho sớm! Có năng lực th́ ai chẳng muốn đi cho sớm? Ai chịu ở lại nơi này thêm một ngày? V́ thế, tuyệt đối chẳng phải là do người ấy thọ mạng đă hết, mà do người ấy đi sớm. Chỉ trừ trường hợp người ấy có duyên phận độ chúng sanh, v́ giúp đỡ chúng sanh bèn trụ thêm mấy năm nữa, tuy có năng lực mà chẳng ra đi. Nếu không có duyên phận ấy, đương nhiên sẽ ra đi sớm, càng sớm càng tốt. V́ thế, ta thấy trong Văng Sanh Truyện có nhiều người niệm Phật sau ba năm bèn ra đi. Đối với chuyện này, có những kẻ sơ học tâm mong văng sanh nhưng chẳng nỡ rời bỏ thế giới này, chuyện này quả thật khó khăn đôi bề! Nghe nói sốt sắng tu học ba năm sẽ đi được, kẻ ấy chẳng dám học nữa. Học pháp này không xong rồi! Ba năm sẽ chết! Thật ra, quư vị chưa thấy! Nếu quư vị thấy Tây Phương Cực Lạc thế giới, cách nghĩ, cách nh́n của quư vị sẽ thay đổi do đă thấy rơ cảnh giới ấy. Người thành tựu sanh tử tự tại, muốn ra đi trước [khi thọ mạng chấm dứt] bèn có thể ra đi, muốn ở thêm mấy năm cũng được; khi ấy, đích xác là thuận theo nguyện vọng, tùy ḷng mong muốn của chính ḿnh. Người niệm Phật có thể làm được như vậy, chứ học những pháp khác sẽ chẳng dễ ǵ [làm được chuyện này].

     

      (Sớ) Sở vị: Bất ly nhất pháp, xảo bị chư căn, hào kiệt vô hạ ức chi tu, dung ngu hữu ngưỡng phan chi ích, cái vô cơ bất thâu, hữu t́nh giai nhiếp giả dă.

      () 所謂不離一法,巧被諸根,豪傑無下抑之羞,庸愚有仰攀之益,蓋無機不收,有情皆攝者也。

      (Sớ: Đó gọi là chẳng ĺa một pháp mà khéo phù hợp khắp các căn, bậc hào kiệt chẳng thẹn v́ bị d́m xuống thấp, kẻ tầm thường ngu muội cũng được lợi ích vói lên cao; bởi lẽ, pháp này không căn cơ nào chẳng thâu gồm, các hữu t́nh đều được nhiếp thọ).

 

      Nhất pháp” là phương pháp niệm A Di Đà Phật, tức phương pháp chấp tŕ danh hiệu. Phương pháp này thiện xảo tột bậc. Chữ “căn” chỉ căn tánh, tức là “tam bối cửu phẩm” như đă nói trong phần trên. “Hào kiệt” là thượng thượng phẩm, “dung ngu” (tầm thường, ngu độn) là hạ hạ phẩm. Người thượng phẩm là Đẳng Giác Bồ Tát như Văn Thù, Phổ Hiền, các Ngài cũng cầu sanh Tịnh Độ, trọn chẳng hổ thẹn v́ niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Nếu có cái tâm [hổ thẹn] như thế th́ tâm quư vị chẳng thanh tịnh. Kẻ hạ hạ căn tầm thường, ngu muội quả thật cũng được lợi ích vói lên cao. Do vậy, pháp môn Tịnh Độ “tam căn phổ bị, lợi độn toàn thâu” (thích hợp trọn khắp ba căn, gồm thâu lợi căn lẫn độn căn). Chỗ thù thắng nhất trong pháp môn này là hết thảy hữu t́nh chúng sanh chỉ cần tin tưởng, chỉ cần chịu phát nguyện, không một ai chẳng thể sanh về Tịnh Độ. Đây là đại pháp chân thật b́nh đẳng trong Phật pháp.

 

      (Sớ) A Già Đà giả, Tây Vực dược danh, năng dĩ nhất dược tổng trị chư tật.

      () 阿伽陀者,西域藥名,能以一藥總治諸疾。

      (Sớ: A Già Đà là tên một loại thuốc ở Tây Vực, có thể dùng một loại thuốc để trị chung các thứ bệnh).

 

      Giống như vạn linh đan, loại thuốc này bệnh ǵ cũng đều trị được. Những thứ thuốc khác chỉ trị được căn bệnh tương ứng, chẳng đúng bệnh [mà uống vào] sẽ hại người. Chỉ ḿnh loại thuốc này chẳng sao hết, bất kể bệnh ǵ, quư vị dùng nó chỉ có lợi, chẳng có hại. Thuốc A Già Đà (Agada) ví như pháp môn Niệm Phật.

 

      (Sớ) Dụ đản tŕ Phật danh.

      () 喻但持佛名。

      (Sớ: Ví như chỉ tŕ danh hiệu Phật).

 

      Chỉ cần niệm A Di Đà Phật.

 

      (Sớ) Ngũ dục tam độc, vô lượng phiền năo, năi chí thiên thừa ngoại đạo, nhất thiết kiến bệnh, tất đoạn trừ cố.

      () 五欲三毒,無量煩惱,乃至偏乘外道,一切見病,悉斷除故。

      (Sớ: Ngũ dục, tam độc, vô lượng phiền năo, cho đến những thừa lệch lạc, ngoại đạo, hết thảy các kiến giải sai lầm đều đoạn trừ).

 

      Mấy câu này cũng hết sức quan trọng. “Ngũ dục” là tài, sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ. Trong kinh, đức Phật gọi chúng là “địa ngục ngũ điều căn” (năm cội gốc của địa ngục). Nếu quư vị tham đắm ngũ dục quá mức, rất phiền! Đấy là nghiệp nhân của ba ác đạo. Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta rất khó rời khỏi ngũ dục, chẳng thể không cần đến chúng, nhưng trong tâm phải nhạt bớt một chút, đừng nên ghim chúng trong ḷng. Ghim những chuyện này trong ḷng sẽ chẳng ĺa khỏi tam đồ. Người học Phật đối với nhu cầu ngũ dục hăy tùy duyên, tùy phận, chẳng cưỡng cầu, chẳng nắm níu, sống cho qua ngày là đủ rồi. Hăy nên ghim một câu Phật hiệu trong ḷng, nói cách khác, thay đổi những nắm níu ngũ dục lục trần hằng ngày trong tâm chúng ta, đổi chúng thành A Di Đà Phật, như vậy th́ mới được, niệm niệm đều là A Di Đà Phật. Trong ngũ dục, ta dấy lên tâm tham, bèn A Di Đà Phật, nhanh chóng thay đổi nó. Trong nghịch duyên khởi lên tâm sân hận, hăy nhanh chóng đổi thành A Di Đà Phật, tuyệt đối chẳng để cho tham, sân, si tăng trưởng. Ư niệm tham, sân, si thứ nhất vừa khởi lên, đừng cho ư niệm thứ hai tiếp nối, ư niệm thứ hai sẽ là A Di Đà Phật, thưa quư vị, đó gọi là niệm Phật, đó gọi là thật sự tu hành!

      Cổ đức thường nói: “Bất phạ niệm khởi, chỉ phạ giác tŕ” (Chẳng sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm). “Niệm” là ư niệm, những ư niệm tham, sân, si, mạn dấy lên, đừng sợ! V́ sao? Tập khí từ vô thỉ kiếp đến nay, làm sao nó chẳng dấy lên được? Đương nhiên sẽ dấy lên! Khi dấy lên, quư vị liền nhận biết, ngay lập tức nhận ra, chẳng cho nó tiếp tục phát triển, lập tức chuyển nó thành Phật hiệu, cũng chẳng cần phải đoạn nó, chẳng cần quan tâm đến nó, lập tức khởi lên Phật hiệu, dùng Phật hiệu thay thế nó. Quư vị có thể niệm Phật như vậy th́ gọi là “công phu”, niệm Phật sẽ đắc lực. Niệm Phật đắc lực th́ mới có thể niệm đến mức công phu thành phiến, mới có thể niệm đến nhất tâm bất loạn. Suốt ngày từ sáng đến tối cầm xâu chuỗi, niệm một vạn tiếng, hai vạn tiếng, mà tham, sân, si, mạn vẫn dấy lên y như cũ, vô ích. Cổ nhân bảo phương cách niệm Phật ấy là “rách toạc cuống họng cũng uổng công”, chẳng thể văng sanh! V́ sao? Tuy quư vị niệm Phật hiệu nhiều, mà chẳng đắc lực, chẳng chế phục phiền năo, phiền năo là tham, sân, si, mạn, không chế phục được! V́ thế, phải biết niệm! “Tam độc” là tham, sân, si, ngũ dục là tài, sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ. “Vô lượng phiền năo” là nói về pháp thế gian, [chúng là] căn bản của sanh tử luân hồi trong lục đạo. Quư vị có thể chế ngự chúng th́ sẽ vượt thoát lục đạo.

      Không chỉ có thể vượt thoát lục đạo, mà c̣n vượt thoát Nhị Thừa. Chữ “thiên thừa” (偏乘: thừa lệch lạc) chỉ Thanh Văn và Duyên Giác, tức Tiểu Thừa giáo, so với Bồ Tát mà nói th́ họ là thiên lệch. “Ngoại đạo”: Có ngoại đạo trong Phật môn và ngoại đạo ở ngoài Phật pháp. Ngoại đạo ở ngoài Phật môn quư vị dễ biết, chứ ngoại đạo trong Phật môn quư vị chẳng dễ nhận biết! Thấy họ thuộc nhà Phật, nhưng thật ra là ngoại đạo. Phân biệt như thế nào? Phàm những ǵ chẳng tương ứng với tâm thanh tịnh, tâm b́nh đẳng, tâm từ bi của chính ḿnh đều là ngoại đạo, dẫu học Phật vẫn là ngoại đạo, đó gọi là “môn nội ngoại”, tức là ngoại đạo trong Phật môn. Hết thảy đều có thể tương ứng với ba tâm th́ là Phật đạo. Quư vị nhớ nguyên tắc này, sẽ chẳng đọa vào ngoại đạo, chẳng đọa lạc trong “môn nội ngoại”. Chính ḿnh biến thành ngoại đạo, mà chính ḿnh chẳng hiểu, vẫn chửi người khác là ngoại đạo, vẫn nói người khác chẳng đúng pháp, thật ra là tự ḿnh lầm lẫn! Những chỗ này chớ nên không biết, chớ nên không phân biệt. V́ chúng ta chẳng có nhiều thời gian, tháng ngày c̣n lại chẳng là bao! Quư vị nh́n vào t́nh h́nh thế sự, nh́n vào ḷng người trong thế giới này, đại nạn sẽ xảy tới, thật sự chẳng tầm thường! Do vậy, phải nhanh chóng nắm lấy tuổi thọ hữu hạn, đừng phí uổng thời gian, phải nghiêm túc học tập.

      Phật pháp gọi là Nội Học, tu học Phật pháp là tu học Giác - Chánh - Tịnh. Sở cầu của Phật pháp là Vô Thượng Bồ Đề, tức Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, phải luôn nhớ điều này! Chúng ta niệm một câu A Di Đà Phật cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, tu Giác - Chánh - Tịnh, tức là cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại sĩ trong hội Hoa Nghiêm c̣n phải phát tâm đến Tây Phương Cực Lạc thế giới để làm ǵ vậy? Văn Thù, Phổ Hiền là bậc Đẳng Giác trong Viên Giáo, các Ngài sang đó để làm ǵ? Đến cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. V́ thế, chúng ta văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới nhằm cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Niệm một câu A Di Đà Phật là Giác - Chánh - Tịnh. Câu A Di Đà Phật này là tâm b́nh đẳng, ta coi hết thảy mọi người đều là A Di Đà Phật, coi hết thảy sự đều là A Di Đà Phật, b́nh đẳng! Một câu A Di Đà Phật là tâm thanh tịnh, sáu căn thanh tịnh, chẳng nhiễm mảy trần, trong tâm thứ ǵ cũng đều chẳng có, chỉ có A Di Đà Phật. A Di Đà Phật là đại từ đại bi. V́ thế, niệm một câu Phật hiệu, phát trọn vẹn ba tâm! Mấy ai biết công đức của câu Phật hiệu này? Mấy ai biết niệm? Hằng ngày niệm như ca hát, đó chẳng phải là biết niệm. Biết niệm th́ nhất định sẽ tương ứng với công đức trong tự tánh.

      Nhất thiết kiến bệnh” (hết thảy các sai lầm về mặt kiến giải): “Kiến” () là kiến giải; nói thật thà th́ chỉ cần có kiến giải bèn là sai lầm. Chỉ cần có tư tưởng th́ đều gọi là vọng tưởng. Trong tâm thanh tịnh chẳng có tư tưởng, mà cũng chẳng có kiến giải, Lục Tổ đại sư nói: “Bổn lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai” (Vốn chẳng có một vật, chỗ nào nhuốm bụi trần). Đây chính là bản tánh, là chân tâm của chúng ta. Biến hết thảy tư tưởng và kiến giải thành A Di Đà Phật th́ là đúng, tư tưởng và kiến giải của quư vị đều chính xác. Người khác chửi quư vị ngu, chửi quư vị ngốc nghếch, chửi quư vị thiếu hiểu biết, quư vị đều “A Di Đà Phật”. Niệm một câu A Di Đà Phật đến cuối cùng văng sanh Tây Phương, c̣n những kẻ vừa hiểu biết vừa chẳng ngu ngốc lại luân hồi trong lục đạo, rốt cuộc ai chiếm tiện nghi? Quyết chẳng bị lời ngon tiếng ngọt bên ngoài lay động cái tâm, [nếu động tâm] là hỏng mất rồi! Cảnh giới ǵ cũng chẳng động tâm, đó gọi là “tám gió thổi chẳng động”.

      Tám gió thổi chẳng động là công phu vừa mới đắc lực, chứ không nói là “cảnh giới trọn chẳng dấy lên”. Phàm là gió cảnh giới vừa thổi, quư vị bị động ngay. Nói cách khác, quư vị trọn chẳng có mảy may công phu nào, uổng công niệm Phật hiệu. Người ta chửi quư vị mấy câu, quư vị liền nổi đóa, uổng công niệm Phật hiệu rồi! Khen ngợi quư vị mấy câu, rất hoan hỷ, niệm Phật hiệu vô ích! Mỗi ngày niệm mười vạn tiếng cũng là niệm uổng công, cũng là uổng phí! Phải niệm sao cho khi người ta khen ngợi ḿnh bèn A Di Đà Phật; khi ḿnh bị hủy báng cũng A Di Đà Phật. Một ḷng đăi người, một vẻ mặt tươi cười tiếp vật; đó là niệm Phật thật sự đắc lực, thật sự có công phu.

     

      (Sớ) Cự dă giả.

      () 巨冶者。

      (Sớ: Ḷ luyện to là...)

 

      ” là “dă lô” (冶爐), giống như ḷ luyện thép vậy.

 

      (Sớ) Nhất dă chi trung, đào chú vạn vật, các thành kỳ khí.

      () 一冶之中,陶鑄萬物,各成其器。

      (Sớ: Trong một cái ḷ luyện, nung đúc vạn vật khiến mỗi món đồ đều thành h́nh).

 

      Giống như ḷ luyện thép, thép được luyện thành có thể chế thành các món đồ khác nhau. Đây cũng là tỷ dụ niệm Phật, một câu A Di Đà Phật có tác dụng chẳng thể nghĩ bàn, vô lượng vô biên.

 

      (Sớ) Dụ đản tŕ Phật danh, tùy bỉ căn hạnh, cửu phẩm văng sanh, giai bất thoái cố.

      () 喻但持佛名,隨彼根行,九品往生,皆不退故。

      (Sớ: Ví như chỉ tŕ danh hiệu Phật, tùy theo căn cơ, công hạnh của từng người mà chín phẩm văng sanh đều là bất thoái).

 

      Công phu niệm Phật sâu hay cạn chẳng do niệm Phật nhiều hay ít. Mỗi ngày tôi niệm Phật mười vạn tiếng, người khác niệm chín vạn tiếng, tôi cao hơn kẻ ấy, đâu phải vậy! Tôi niệm mười vạn tiếng mà chẳng chế ngự phiền năo, vô ích! Người ta mỗi ngày chỉ niệm mười tiếng mà mười tiếng niệm ấy tâm b́nh khí ḥa, niệm đến mức chế phục ngũ dục, tam độc, vô lượng phiền năo, thiên thừa (Nhị Thừa), ngoại đạo và hết thảy các kiến giải sai lầm, th́ công phu mười niệm ấy cao hơn và có ích hơn mười vạn tiếng! Công phu sâu hay cạn phải nh́n từ chỗ này, chứ không phải do nhiều hay ít, phải nh́n xem Phật hiệu có đắc lực hay không, có thể chế phục phiền năo hay không, có thể đoạn phiền năo hay không!

      Nếu người ta niệm đoạn được phiền năo th́ công phu lại cao hơn chế phục phiền năo. Nếu niệm đến mức kiến tánh th́ công phu lại cao hơn đoạn phiền năo. Niệm đến kiến tánh là Lư nhất tâm, niệm đến đoạn phiền năo là Sự nhất tâm, niệm đến mức chế phục phiền năo là công phu thành phiến. Chẳng thể chế phục phiền năo sẽ chẳng thể văng sanh. Có thể chế phục phiền năo sẽ có thể đới nghiệp văng sanh, sanh vào cơi Phàm Thánh Đồng Cư. Quư vị nhất định phải chú ư điều này, ngàn vạn phần đừng coi thường! “Tùy bỉ căn hạnh”, “căn” là căn khí, “hạnh” là thành tựu, thành quả tu hành. Quả báo là “cửu phẩm văng sanh”, phẩm vị cao hay thấp hoàn toàn tùy thuộc quư vị niệm câu Phật hiệu này có đắc lực hay không!

       Nho gia nói “nhân giả vô địch”, [nghĩa là] một người nhân từ th́ trong tâm không có oán gia đối đầu, đó là pháp thế gian. Phật, Bồ Tát đại từ đại bi, lẽ đâu thấy có kẻ chẳng thuận mắt? Chúng ta cảm thấy người khác chẳng vừa mắt ḿnh, thật ra là do cái tâm của chính ḿnh giở tṛ, do tự ḿnh tạo thành. Lục Tổ đại sư thường răn dạy người khác: Người tu hành nhất định phải nội tỉnh, phải phản tỉnh. Sở dĩ Ngài có thể thành công là v́ Ngài chẳng thấy lỗi của người khác, chỉ thấy lỗi của chính ḿnh, nên có thể thành Phật, thành Tổ.

      Tại Trung Quốc, v́ sao vua Đại Thuấn[1] có thể trở thành bậc đại thánh nhân? Ngài chỉ thấy lỗi ḿnh, chẳng thấy lỗi người khác. Quư vị đọc lịch sử sẽ thấy cha Ngài, mẹ kế của Ngài, cả em trai do mẹ kế sanh ra, cả nhà ngược đăi Ngài, luôn nghĩ cách hại chết Ngài. Trong hoàn cảnh ấy, bất cứ ai cũng chẳng có cách nào chịu đựng được, v́ sao vua Thuấn có thể chịu đựng? Ngài thường nghĩ, Ngài chẳng cảm thấy ba người kia không đúng, chỉ cảm thấy chính ḿnh chưa xử sự đúng, v́ sao chẳng thể khiến người khác vui ḷng? V́ sao chẳng thể khiến người khác bằng ḷng? Ngài chuyên nghĩ về ḿnh, quên bẵng người khác. Ngài nghĩ cha, mẹ kế, em trai đều là người tốt, c̣n chính ḿnh luôn sai trái. V́ thế, đến cuối cùng, cả nhà đă bị Ngài cảm hóa.

      Thuở ấy, hoàng đế Nghiêu vương nghe chuyện này, vời Ngài đến gặp. Người [ngang ngược] như vậy đều bị cảm hóa, nếu [ông Thuấn] làm hoàng đế, há chẳng thể cảm hóa cả nước ư? Do vậy, vua gả hai người con gái cho ông Thuấn, nhường ngôi hoàng đế cho. Công phu ấy là công phu tu hành của Bồ Tát. Lục Tổ nói: “Chân chánh tu đạo nhân, bất kiến tha nhân quá” (người thật sự tu đạo, chẳng thấy lỗi người khác). V́ sao chẳng thấy? V́ người ấy nội tỉnh, sự nội tỉnh ấy tuyệt diệu lắm! Thành tựu Nhẫn Nhục Ba La Mật của chính ḿnh, thành tựu cái tâm thanh tịnh, tâm từ bi, tâm b́nh đẳng của chính ḿnh. V́ thế, những điều này làm Tăng Thượng Duyên lẫn nhau. Nếu trong nhà vua Thuấn không có ba người ấy, Ngài chẳng thể trở thành thánh nhân. V́ sao Ngài có thể trở thành thánh nhân? Ba người ấy giúp đỡ Ngài.

      Chúng ta đọc phẩm Đề Bà Đạt Đa trong kinh Pháp Hoa, Đề Bà Đạt Đa là người ác, chẳng phải là người tốt! Kinh nói Đề Bà Đạt Đa là oán gia đối đầu của Thích Ca Mâu Ni Phật chẳng phải trong một đời, mà là đời đời kiếp kiếp; nhưng Thích Ca Mâu Ni Phật hết sức cảm kích ông ta. Nếu chẳng do Đề Bà Đạt Đa, Ngài chẳng thể thành Phật. V́ có oán gia đối đầu như thế, Phật giống như Đại Thuấn, luôn luôn có thể nội tỉnh, thành tựu đạo tâm và đạo nghiệp của chính ḿnh. Do vậy, Đề Bà Đạt Đa giúp Thích Ca Mâu Ni Phật sớm thành Phật, đấy cũng là vô lượng công đức. Đề Bà Đạt Đa đọa địa ngục v́ đă hại Phật, làm thân Phật chảy máu, ôm ḷng toan mưu hại Thích Ca Mâu Ni Phật, tội nghiệp ấy đáng đọa địa ngục. Đức Phật phái vị [đệ tử] thần thông bậc nhất là Mục Kiền Liên vào địa ngục t́m kiếm ông ta. Sau khi [ngài Mục Liên] trở về, Thích Ca Mâu Ni Phật hỏi: “Ông ta ở trong địa ngục như thế nào?” [Ngài Mục Liên thưa]: “Sung sướng khôn sánh, giống như ở thiên cung!” Ông ta giúp Thích Ca Mâu Ni Phật thành Phật; tuy ở trong địa ngục A Tỳ, nhưng chốn địa ngục ấy đặc biệt, sự hưởng thụ giống như trên thiên cung, phước báo quá lớn! Mỗi thứ đều có quả báo, ác có ác báo, phước có phước báo. Trong địa ngục A Tỳ c̣n có phước báo, điều này chẳng thể nghĩ bàn! Nếu quư vị thật sự thông đạt đạo lư này, trong thuận cảnh hay nghịch cảnh sẽ tự nhiên tâm b́nh khí ḥa, công phu mới đi theo đúng đường lối, mới có thể đạt được lợi ích!

     

      (Sớ) Quảng đại giả, Châu Dịch Càn viết đại sanh, Khôn viết quảng sanh, kim vô sở bất độ, dụ như thiên phú địa tải, tịnh dục kiêm dung, chí Từ vô trạch, danh Phổ Môn dă.

      () 廣大者,周易乾曰大生,坤曰廣生。今無所不度,喻如天覆地載,並育兼容,至慈無擇,名普門也。

      (Sớ: “Quảng đại”: Sách Châu Dịch gọi Càn là đại sanh, gọi Khôn là quảng sanh[2]. Nay không ǵ chẳng độ, ví như trời che đất chở, cùng nuôi dưỡng và bao dung, ḷng Từ tột bậc không phân biệt, nên gọi là Phổ Môn).

 

      Kinh Hoa Nghiêm có nói đến Thập Phổ[3]. Phổ Môn rộng lớn, sánh ví một câu A Di Đà Phật, không ǵ chẳng bao gồm, không ǵ chẳng chứa đựng, chắc chắn chẳng có chọn lựa. Đấy là như cổ đức đă bảo chúng ta: “Vạn tu, vạn nhân khứ” (vạn người tu, vạn người đến). Câu này là sự thật ngàn vạn phần xác đáng. Sở dĩ, có tu mà chẳng thể văng sanh là v́ tu chẳng đúng pháp. Nếu hợp lư, hợp pháp th́ chẳng có một ai tu học mà không văng sanh, ngay cả lâm chung mười niệm cũng văng sanh! V́ thế, pháp môn này được gọi là Phổ Môn, pháp môn này rộng lớn khôn sánh. Từ hơn hai ngàn pháp môn trong kinh Hoa Nghiêm, đặc biệt chọn lấy pháp môn này là v́ pháp môn này rộng lớn, là v́ pháp môn này triệt để, là v́ pháp môn này đơn giản, là v́ pháp môn này dễ dàng, là v́ pháp môn đáng tin cậy, ổn thỏa, thích đáng. Do đó, Văn Thù, Phổ Hiền, Thiện Tài và bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại sĩ trong hội Hoa Tạng thảy đều kiên quyết chọn lựa pháp môn này. Nếu quư vị hiểu rơ chuyện này, chính ḿnh tin tưởng pháp môn này, cái tâm niệm Phật chắc chắn không bị dao động, th́ người ta nói Thiền cũng được, Mật cũng được, một đời thành Phật cũng được, ngay lập tức thành Phật cũng được, [chúng ta] như như bất động, một câu A Di Đà Phật niệm đến cùng, tuyệt đối chẳng lay động.

      Những sách vở do người hiện thời viết, tri kiến chẳng chánh đáng, đọc những thứ đó, tâm địa bị ô nhiễm. Có thời gian để đọc những thứ đó, v́ sao chẳng xem Di Đà Kinh Sớ Sao? V́ sao chẳng niệm danh hiệu A Di Đà Phật? Hiện nay tôi chỉ đọc hai cuốn sách là Di Đà Kinh Sớ Sao và kinh Hoa Nghiêm, những kinh khác tôi đều chẳng xem, v́ sao vậy? Đối với tôi, những kinh sách ấy không cần thiết, tôi chẳng lăng phí thời gian. Khi chẳng đọc sách bèn niệm Phật, c̣n khi đọc sách th́ đọc hai cuốn ấy. Bản thân tôi chắc chắn thành công, chắc chắn văng sanh, tôi nắm rất vững, đắc tự tại. Quư vị đồng tu chịu tin, chịu hành, ai nấy đều có thể thành công, hy vọng mọi người ai nấy đều nỗ lực. Hôm nay đă hết thời gian, chúng tôi giảng tới chỗ này.

 

Tập 64

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang tám mươi lăm:

 

      (Huyền Nghĩa) Thất, hộ tŕ đa chướng hành nhân bất tao đọa lạc giả.

      (玄義) 七、護持多障行人不遭墮落者。

      (Huyền Nghĩa: Bảy là v́ hộ tŕ hành nhân nhiều chướng ngại khiến cho người ấy chẳng bị đọa lạc).

 

      Đây là nhân duyên thứ bảy khiến Liên Tŕ đại sư chú giải bộ kinh này. V́ sao phải chú giải bộ kinh này? V́ sao phải giảng bộ kinh này? Nói cách khác, v́ sao phải tu học pháp môn Di Đà? Điều thứ bảy là nói “hộ tŕ đa chướng hành nhân”, “hành nhân” là người tu hành. Chúng ta thấy đề mục này liền lập tức suy nghĩ: Hiện thời, chúng ta thật sự có quá nhiều chướng ngại. Lắm chướng ngại, dễ bị đọa lạc, tu hành chẳng dễ ǵ thành tựu. Chướng ngại càng ít càng hay, dễ thành tựu; pháp môn này có ích rất lớn đối với người nhiều chướng ngại.

 

      (Huyền Nghĩa) Mạt thế tu hành, đa chư chướng nạn, nhất khuy chánh kiến, tức hăm quần tà.

      (玄義) 末世修行,多諸障難,一虧正見,即陷群邪。

      (Huyền Nghĩa: Tu hành trong đời Mạt có nhiều chướng nạn, hễ thiếu chánh kiến bèn bị vây hăm trong các thứ tà kiến).

 

      Hiện tượng này đặc biệt rơ ràng trong hiện thời, có thể nói phát tâm tu hành đều là thiện hạnh, đều là hảo tâm, nhưng chính ḿnh thường đọa trong tà đạo, mà chính ḿnh trọn chẳng hay biết. Nếu biết chính ḿnh đi vào đường tà, đương nhiên kẻ ấy cũng quay lại. “Nhất khuy chánh kiến”: Chánh kiến vừa thiếu hụt đôi chút bèn biến thành tà tri tà kiến. Hiện thời, thiếu sót chánh kiến quá nhiều, đương nhiên do rất nhiều nhân tố: Thứ nhất là ít người thật sự hoằng dương chánh pháp, đó là ngoại duyên. Ngoại duyên quá ít! Những thứ chúng ta tiếp xúc, gặp gỡ, đúng như kinh Lăng Nghiêm đă nói: “Thời kỳ Mạt Pháp, tà sư thuyết pháp nhiều như cát sông Hằng”. Tà sư quá nhiều, đó là ngoại duyên không tốt. Trừ ngoại duyên ra, bản thân chúng ta cũng chẳng tốt lành ǵ! Ưa chuộng kỳ quái, ham lạ chuộng quái! Theo đúng quy củ giảng kinh cho quư vị, [quư vị bèn chê] không có ǵ hiếm hoi, lạ lùng! Biến [việc giảng kinh] thành tṛ ảo thuật, hiển lộ một chút thần thông, [nâng thân] rời khỏi mặt đất ba thước, tuyệt diệu quá! Chính ḿnh ưa thích thần thông, ham kỳ chuộng lạ! Do vậy, yêu ma quỷ quái liền biến hiện các thứ thần thông để dụ dỗ, mê hoặc quư vị. Nội duyên lẫn ngoại duyên đều bất hảo, nội duyên là không có chánh tri chánh kiến. Quư vị nhất định phải hiểu rơ: Phật pháp là sự giáo dục của đức Phật. Đă là giáo dục, nhất định phải theo quy củ dạy học, chẳng thể hằng ngày biến hiện tṛ ảo thuật, diễn tṛ xiếc cho chúng ta xem, không có kiểu cách ấy! Đúng quy củ lên lớp dạy học! Yêu ma quỷ quái mới làm ảo thuật, dùng tṛ xiếc để dụ dỗ, mê hoặc quư vị, chẳng lên lớp nghiêm túc. Chúng ta phải hiểu rơ điều này. Sau khi hiểu rơ, chánh kiến của chúng ta mới được dấy lên. Tri kiến của chính ḿnh đă chánh đáng th́ bất luận lũ yêu ma quỷ quái bên ngoài biến hóa những tṛ ảo thuật ǵ, quư vị chẳng bị chúng nó dụ dỗ, mê hoặc!

      Ở Los Angeles, tôi đă từng gặp không ít các đồng tu học Phật rất kiền thành, từng có một vị Thượng Sư Mật Tông đến đó mở đỉnh đầu (khai đảnh) cho họ, cắm cọng cỏ vào đó[4]. Những đồng tu học Phật như ong vỡ tổ kéo đến, đến cắm cọng cỏ [vào đỉnh đầu] vẫn phải nộp lệ phí, thâu mỗi người hai mươi Mỹ kim. Đă thế, vị Thượng Sư bảo họ: “Đỉnh đầu đă mở, tương lai chắc chắn sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới”. Tôi đến Los Angeles, các đồng tu đem chuyện này kể với tôi, tôi nói: “Nếu có pháp môn ấy mà trong thời Thích Ca Mâu Ni Phật, đức Phật chẳng truyền lại, Phật chẳng từ bi! Cớ sao chúng ta phải khổ sở niệm Phật nhiều năm như thế, cắm cọng cỏ vào đỉnh đầu là sang Tây Phương được rồi, đơn giản ngần đó! Pháp này chưa hề được truyền rộng khắp trong thiên hạ, đức Phật chẳng từ bi! Cắm cọng cỏ [vào một huyệt trên đỉnh đầu] bèn có thể văng sanh, tôi chẳng tin tưởng!”

      Sau đó, tôi đến Nữu Ước, ở Nữu Ước có một vị pháp sư tuổi c̣n rất trẻ, lại c̣n có một tỳ-kheo-ni rất trẻ, đại khái chưa đến ba mươi tuổi, chúng tôi nhắc đến chuyện ở Los Angeles, bọn họ nói: “Chuyện này rất đơn giản, chúng tôi đều có thể cắm”. Tôi hỏi: “Chuyện này là như thế nào?” Bọn họ đă học châm cứu, họ nói: “Trên thân người có các huyệt đạo. Huyệt đạo trên đỉnh đầu lớn nhất, chỉ cần t́m đúng huyệt đạo th́ sẽ có thể cắm được, cũng chẳng cần phải tác pháp[5], cũng chẳng cần phải niệm chú”. Tôi nói: “Công phu của các vị c̣n cao hơn công phu của vị Thượng Sư đó!” Đủ thấy tánh con người ưa chuộng kỳ quái, tà sư bên ngoài dùng cách mầu mè để lừa gạt. Hắn cắm cọng cỏ kiếm được không ít tiền mang về; quư vị chẳng thể văng sanh, hắn đâu có chịu trách nhiệm! Do vậy, hễ thiếu tri kiến bèn bị lừa, bị người khác gạt gẫm. Tôi thấy quá nhiều người bị gạt, bị lừa. Quư vị giảng chánh pháp, bảo họ bỏ ra một ít tiền để làm công đức họ chẳng làm, tiếc tiền! Lừa gạt họ, họ ngoan ngoăn mắc lừa, hết sức ngu si! Tri kiến chẳng chánh, “hăm nhập quần tà” (bị vây hăm trong các thứ tà kiến). “Quần tà” là như kinh Lăng Nghiêm đă nói: “Tà sư thuyết pháp nhiều như cát sông Hằng”, bị kẻ khác gạt gẫm!

 

      (Huyền Nghĩa) Bỉ Phật nguyện lực oai thần gia bị hành nhân, đại quang minh trung, bất tao ma sự, năng vị hộ niệm, trực chí đạo tràng.

      (玄義) 彼佛願力威神加被行人,大光明中,不遭魔事,能為護念,直至道場。

      (Huyền Nghĩa: Nguyện lực và oai thần của đức Phật ấy gia bị hành nhân, trong đại quang minh chẳng gặp ma sự, được hộ niệm măi cho đến khi ngồi đạo tràng).

 

      Pháp môn này trước hết là kiến lập tín tâm thanh tịnh. Cổ đức từng nói: Nếu chính Thích Ca Mâu Ni Phật đích thân đến bảo quư vị: “Ta có một pháp môn c̣n dễ dàng, c̣n ổn thỏa, c̣n thích đáng, c̣n nhanh chóng [hơn pháp môn Tịnh Độ], ta sẽ truyền dạy cho ngươi”. Chúng ta cũng phải nên có thái độ kiên định chẳng thay đổi đối với Thích Ca Mâu Ni Phật, thưa: “Bạch Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật! Con đă tiếp nhận pháp môn niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tịnh Độ này. Dẫu Phật có pháp môn nào khác con cũng chẳng học, con chỉ học pháp môn này là đủ rồi!” Như vậy th́ mới có thể thành công, tín tâm của quư vị mới thật sự kiên cố, trong ba món tư lương Tín - Nguyện - Hạnh quư vị mới có Tín. Nếu đức Phật nói có một pháp môn nào khác: “Hay quá! Con lại học theo Ngài”, đủ thấy là về căn bản, quư vị chẳng có tín tâm!

      Tín là điều thứ nhất, không có Tín đương nhiên sẽ chẳng có Nguyện, mà Hạnh cũng khỏi cần bàn tới nữa! Văng sanh Tịnh Độ là do ba điều kiện này, thiếu một điều cũng không được. V́ thế, điều thứ nhất là phải kiến lập tín tâm. Tín tâm thanh tịnh là do oai thần của A Di Đà Phật gia tŕ. Tín tâm của chúng ta chẳng thanh tịnh, thần lực của Phật có muốn gia tŕ cũng chẳng được! Chính quư vị có chướng ngại. Quư vị có lắm chướng ngại mà! Tín tâm thanh tịnh, chướng ngại bèn bị trừ khử, có thể được gia tŕ bởi thần lực của Phật. Chúng ta thường nói là “A Di Đà Phật bảo hựu, Quán Thế Âm Bồ Tát bảo hựu quư vị”, yêu ma quỷ quái chẳng thể đến t́m quư vị, mà t́m người khác. Đây là sự thật ngàn vạn phần xác đáng!

      V́ thế, Phật, Bồ Tát thật sự hộ niệm, đặc biệt là trong phần Lưu Thông của bộ kinh này, tức phần nói về chư Phật trong sáu phương có nói “nhất thiết chư Phật sở hộ niệm kinh”, tức là bộ kinh này được mười phương ba đời hết thảy chư Phật hộ niệm. Chúng ta chiếu theo bộ kinh này mà tu hành, đương nhiên cũng là người được mười phương ba đời hết thảy chư Phật hộ niệm, hộ niệm đến khi nào? “Trực chí đạo tràng” (măi cho đến khi ngồi nơi đạo tràng), đạo tràng ấy chính là đạo tràng Tây Phương Cực Lạc thế giới, nhất định bảo hựu quư vị văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới.

 

      (Huyền Nghĩa) Cố tri trạch đồ tỵ quái, bảo kính độn yêu.

      (玄義) 故知澤圖辟怪,寶鏡遁妖。

      (Huyền Nghĩa: Cho nên biết quỷ quái tránh né h́nh vẽ con Bạch Trạch, yêu tinh trốn lánh gương báu).

 

      Ở đây nêu lên hai công án.

     

      (Huyền Nghĩa) Chánh niệm phân minh, vô năng nhiễu giả.

      (玄義) 正念分明,無能嬈者。

      (Huyền Nghĩa: Chánh niệm phân minh, chẳng thể nhiễu loạn).

 

      Nhiễu” () là nhiễu loạn. Đối với người niệm Phật, quan trọng nhất là “chánh niệm phân minh”. Chánh niệm là ǵ? Trong phần sau của kinh này sẽ nói đến Sự Tŕ và Lư Tŕ. Các đồng tu sau khi nghe pháp môn này, thật sự tin tưởng, thật sự phát nguyện, giống như Ấn Quang đại sư đă nói: “Khổ hải vô biên, hồi đầu thị ngạn” (Biển khổ không ngằn mé, quay đầu là bờ). “Lạc bang hữu lộ” (cơi Cực Lạc có nẻo), “Lạc bang” là Tây Phương Tịnh Độ, “năng nguyện tức sanh” (phát nguyện bèn văng sanh), quư vị phát nguyện bèn văng sanh, đúng là “vạn người tu, vạn người đến”. Quư vị thật sự tin tưởng, thật sự phát nguyện, từ hôm nay trở đi, trong tâm giữ kỹ một câu Phật hiệu chẳng gián đoạn, thời thời khắc khắc khởi lên. Câu Phật hiệu ấy từng chữ phân minh, câu trước câu sau liên tục chẳng gián đoạn, suốt ngày từ sáng đến tối là một niệm này, A Di Đà Phật, không có niệm thứ hai. Đó gọi là “chánh niệm phân minh”. Nếu trong khi niệm Phật mà vẫn c̣n nghĩ đến chuyện khác, vẫn khởi vọng tưởng, tuy là chánh niệm, nhưng trong chánh niệm xen tạp vọng niệm th́ chánh niệm cũng chẳng phân minh. Đủ thấy đạt được chánh niệm phân minh là công phu thật sự!

      Chánh niệm phân minh, ư nghĩ tà vạy chẳng xen vào được, đấy là “đại quang minh trung, trực chí đạo tràng” (ở trong đại quang minh măi cho tới khi ngồi đạo tràng). Không có bất cứ kẻ nào mà ḥng nhiễu loạn quư vị được! Niệm như vậy, chúng ta thấy trong Văng Sanh Truyện từ xưa đến nay, bao nhiêu người có thể niệm trong ṿng ba năm bèn thành công, biết trước lúc mất, khi mất, có tướng lành vô cùng tốt đẹp, bảo người nhà, quyến thuộc: Lúc nào ta sẽ ra đi. Đến khi ấy thật sự ra đi, đó là tướng lành đẹp đẽ nhất. Tôi lại nói với quư vị, chết rồi thiêu được rất nhiều xá-lợi, tuy là tướng lành, nhưng chẳng phải là tướng lành tốt nhất. Xá-lợi giả rất nhiều! Chúng ta đừng bị lừa gạt bởi những thứ ấy! Ở Hương Cảng, tôi đă gặp người đem thiêu có xá-lợi, đem xá-lợi đến, quẹt một que diêm đốt thử, “xá-lợi” cháy mất tiêu, chẳng c̣n nữa! Dùng búa gơ nhẹ một cái, xá-lợi vỡ nát. Thứ đó chẳng thật! Sức mạnh của ma rất lớn, biến hiện những thứ đó để gạt người. V́ thế, quư vị thấy những thứ phóng quang, hiện ra này nọ, chẳng đáng coi là lạ! Chỉ có trước lúc lâm chung, bảo với người nhà, quyến thuộc, bạn bè, ngày hôm nào tôi ra đi, đến khi ấy thật sự ra đi, cũng chẳng đổ bệnh. Đó là tướng lành thật sự!

      Ở Hương Cảng có một vị lăo cư sĩ tám mươi mấy tuổi, cụ thường đọc Đại Tạng Kinh, cụ đă văng sanh rồi. Cụ mượn Đại Tạng Kinh từ Trung Hoa Phật Giáo Đồ Thư Quán về nhà xem, lần mượn kinh cuối cùng, cụ nói với pháp sư Sướng Hoài sau một tháng nữa, định rơ ngày giờ, [pháp sư hăy] sai người đến nhà cụ lấy Đại Tạng Kinh về, cụ nói cụ sắp đi rồi! Pháp sư Sướng Hoài nghe nói ngạc nhiên, chẳng lẽ cụ sắp văng sanh? Nh́n chẳng giống, rất hoài nghi, hay là cụ dọn nhà? Rốt cuộc là chuyện như thế nào? Thời gian đúng là c̣n một tháng nữa, đến khi ấy sẽ sai người đến xem thử. Đến đúng ngày lăo nhân gia đă ước định, Đồ Thư Quán sai người đến nhà cụ lấy Đại Tạng Kinh, khi đến nơi, cụ đang ngồi xem kinh, thấy người từ Đồ Thư Quán đến, bảo: “Anh đến làm ǵ?” “Chẳng phải là cụ bảo cháu hôm nay đến lấy Đại Tạng Kinh đó sao?” “Đúng! Phải rồi! Nhưng tôi không bảo anh đến lúc này”. Người trẻ tuổi ấy đương nhiên chẳng tranh căi với cụ già: “Thôi! Hai hôm nữa cháu lại đến”. Lúc trở lại, người nhà nói: “Lăo cư sĩ đă văng sanh rồi!” Anh ta hỏi: “Văng sanh khi nào?” “Sau khi anh đi khỏi hai tiếng”. “Văng sanh như thế nào?” “Văng sanh trong khi xem kinh. Đang xem kinh th́ cụ văng sanh”. Pháp sư Sướng Hoài nghe chuyện này, nhanh nhảu quay đầu niệm A Di Đà Phật, Sư nói chuyện này là thật đấy, chẳng giả đâu. Một tháng trước đó, cụ đă nói với người trong Đồ Thư Quán, cụ cũng chẳng ngă bệnh, hết thảy đều rất b́nh thường, đấy là tướng lành thật sự.

      Trong cuốn Niệm Phật Luận, pháp sư Đàm Hư giảng khai thị, Ngài có nêu ra một người là pháp sư Tu Vô. Vị pháp sư này cũng chưa từng đi học, chẳng có kiến thức ǵ, tuy đă xuất gia rất lâu, nhưng giáo lư cũng chẳng thông, mọi người cũng coi thường Sư, Sư cũng niệm một câu A Di Đà Phật. Pháp sư Đàm Hư lập chùa Cực Lạc tại Trường Xuân, pháp sư Định Tây làm Đương Gia chùa ấy, Ngài (pháp sư Đàm Hư) làm Trụ Tŕ. Đạo tràng ấy dựng xong, bèn [tổ chức] truyền giới một lần, thỉnh lăo pháp sư Đế Nhàn làm Đắc Giới Ḥa Thượng[6]. Sư Tu Vô đến chùa ấy kiếm lăo pháp sư Đàm Hư, lăo pháp sư Đàm Hư bảo pháp sư Định Tây tiếp đăi Sư, hỏi: “Thầy đến làm ǵ?” Sư thưa: “Con nghe nói ở đây truyền giới, con muốn giúp đỡ”. “Thầy có thể làm việc ǵ?” Sư thưa: “Con phát tâm chăm sóc bệnh nhân”. [Thời gian cử hành pháp hội] truyền giới ở Đại Lục là năm mươi ba ngày, người bị trúng gió cảm mạo chẳng ít, Sư phát tâm tới chăm sóc người bệnh. Pháp sư Định Tây nói: “Tốt lắm! Tôi cũng hết sức hoan nghênh”, giữ Sư lại, mời Sư chăm sóc người bệnh. Lễ truyền giới c̣n chưa bắt đầu, Sư lại đến t́m lăo ḥa thượng, thưa: “Bạch lăo ḥa thượng! Con phải ra đi!” Pháp sư Định Tây rất bực bội, quở: “Ông là người xuất gia mà chẳng có cái tâm dài lâu! Ông phát tâm đến đây giúp đỡ, ông muốn đi th́ cũng phải đợi kỳ hạn truyền giới xong mới đi được!” Sư thưa lăo pháp sư: “Chẳng phải là con sang nơi khác, mà là về Tây Phương Cực Lạc thế giới”. Hai vị pháp sư nghe xong, sững sờ: “Ông về Tây Phương Cực Lạc thế giới? Khi nào sẽ đi?” Sư thưa: “Trong ṿng mười hôm nữa!” “Đây là đại sự, chúng ta phải phái người trợ niệm cho ông ta, giúp ông ta chuẩn bị. Trong ṿng mười ngày sẽ có đủ thời gian để lo liệu”. Hôm sau, Sư lại tới kiếm lăo ḥa thượng, thưa: “Không được rồi! Ngày mai con sẽ ra đi”. Pháp sư Định Tây vội vàng kê giường cho Sư tại một gian nhà ở phía sau chùa, t́m mấy người chăm sóc Sư. Đến ngày hôm sau, Sư ngồi xếp bằng trên giường, có mấy người trợ niệm giúp Sư. Niệm chưa đầy mười lăm phút, Sư viên tịch. Pháp sư Đế Nhàn hết sức tán thán Sư: “Vị này chẳng hiểu kinh giáo, chẳng có thân phận, địa vị, mọi người đều coi thường Sư. Thành tựu này của Sư, nói thật thà th́ các đại pháp sư giảng kinh thuyết pháp, hàng Phương Trượng của các ngôi chùa báu tại các danh sơn đều chẳng bằng Ngài”. Ngài về Tây Phương làm Phật, đấy mới là tướng lành chân chánh.

      Lăo nhân gia nêu lên ba người, một người là xuất gia, một người là nam cư sĩ tại gia, một người là nữ cư sĩ tại gia, đều ra đi tự tại ngần ấy. Ngài nêu lên vị nam cư sĩ có học vấn một chút, b́nh thường cũng giảng kinh thuyết pháp ở bên ngoài. Vị nữ cư sĩ làm nội trợ trong gia đ́nh, chuyện ǵ cũng không biết, cũng là niệm một câu A Di Đà Phật, cuộc sống trong nhà hết sức khốn khổ, chồng làm thuê, ngày nào không làm việc, ngày đó chẳng có cơm ăn. Bà ta niệm Phật thành công, đó mới là tướng lành thật sự. Chúng ta niệm Phật cầu điều ǵ? Cầu ra đi giống như thế! Những trường hợp như thế rất nhiều! Đừng bị bệnh, phải vào nằm bệnh viện, khi ấy cũng chẳng đảm bảo sẽ kiếm được người trợ niệm! Phải nên đừng bị bệnh, hoan hỷ sung sướng ra đi, đấy mới là niệm Phật thật sự thành công!

 

      (Sớ) Đa chư chướng nạn giả.

      () 多諸障難者。

      (Sớ: “Lắm thứ chướng nạn” là...).

 

      Đây là giải thích [đoạn Huyền Nghĩa] trong phần trước, đời Mạt Pháp tu hành có lắm thứ chướng nạn.

 

      (Sớ) Hành nhân ư Thiền Quán trung, kích phát Ấm Ma.

      () 行人於禪觀中,擊發陰魔。

      (Sớ: Trong Thiền Quán, hành nhân đă kích động Ấm Ma biến hiện).

 

      Kích” là kích động, “phát” là hiện ra. Kích động các loài ma, ma liền hiện ra. Quá nửa là nói về tu Thiền, Thiền và Mật đều rất dễ bị ma dựa. Ma trong Thiền có thể nói phần nhiều là Nội Ma, tức Ngũ Ấm Ma, giống như kinh Lăng Nghiêm đă nói năm mươi thứ Ấm Ma, quá nửa là biến hiện trong cảnh giới Thiền Định. Đối với Mật, phần nhiều là ma do chiêu vời từ bên ngoài. V́ sao? Quá nửa Mật chú là danh hiệu của quỷ thần. Tŕ Mật chú là giao tiếp với quỷ thần, nếu quư vị xử lư không khéo, họ đều biến thành chướng ngại! Thiên ma, yêu ma, quỷ quái đông lắm. Ma bên ngoài đông lắm! Tham Thiền th́ ma cảnh bên trong nhiều lắm. Kinh Bát Đại Nhân Giác nói có bốn loại ma: Ngũ Ấm Ma, Phiền Năo Ma, Tử Ma, và Thiên Ma. Mật có quan hệ mật thiết với Thiên Ma. Thiền Quán phần nhiều dính tới Ngũ Ấm Ma, c̣n phàm phu th́ gặp Phiền Năo Ma và Sanh Tử Ma.

 

      (Sớ) Như Lăng Nghiêm khai ngũ thập chủng.

      () 如楞嚴開五十種。

      (Sớ: Như kinh Lăng Nghiêm nêu ra năm mươi thứ Ma).

 

      Đây là dẫn kinh Lăng Nghiêm để nói. Cảnh giới ma hiện tiền, thường là loài ma lớn, thật sự có thần thông to, nó hiện ra cảnh giới từa tựa cảnh giới của Phật. Về căn bản, chúng ta không có năng lực phân biệt rốt cuộc là Phật hay ma. Dẫu quư vị niệm kinh Lăng Nghiêm nhuyễn nhừ, khi cảnh giới ấy hiện tiền, chưa chắc đă có thể nhận biết rơ ràng, chúng ta phải đặc biệt chú ư điều này!

      Thiền Quán: Thiền có thế gian Thiền, xuất thế gian Thiền, và xuất thế gian thượng thượng Thiền; Quán có Tích Không Quán, Thể Không Quán, Thứ Đệ Tam Quán và Nhất Tâm Tam Quán. Thông thường, người tham Thiền đắc Tứ Thiền Bát Định th́ nhiều, đó là Thiền Định thế gian. Đắc loại Thiền Định này, họ sẽ sanh về đâu? Sanh lên Tứ Thiền Thiên. Tứ Thiền Thiên không ra khỏi tam giới! Dẫu sanh vào Đệ Tứ Thiền, công phu rất cao, cổ đức bảo chúng ta: Vẫn chẳng bằng Sơ Quả Tu Đà Hoàn của Tiểu Thừa. V́ sao? Tiểu Thừa Sơ Quả Tu Đà Hoàn chẳng đọa vào tam ác đạo, nhưng người trong Tứ Thiền Thiên và Tứ Không Thiên khi hết tuổi thọ, Định mất đi, thường đọa địa ngục. Tiểu Thừa Tu Đà Hoàn có năng lực ǵ? Các Ngài đă đoạn sạch tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc trong tam giới; v́ thế, chẳng đọa tam đồ, tri kiến chánh đáng, tri kiến chẳng tà. Người đắc Tứ Thiền Bát Định chỉ chế phục phiền năo, chưa đoạn phiền năo, một phẩm Kiến Tư phiền năo cũng chẳng đoạn, chỉ là “phục trụ” (chế ngự, khuất phục phiền năo), ở trong Định, do Định lực chế ngự phiền năo, cho nên họ có thể sanh vào cảnh giới cao dường ấy, nhưng sau khi Định lực mất đi, Kiến Tư phiền năo lập tức hiện tiền. Đó gọi là “trèo cao, ngă đau”, chúng ta phải hiểu rơ, phải giác ngộ.

      Ma cảnh hiện tiền, kinh Lăng Nghiêm dạy chúng ta một phương pháp: Chính ḿnh phải thật sự giữ vững chánh niệm phân minh, đừng sợ hăi, ma cảnh hiện tiền ta chẳng bị lay động. Kinh dạy chúng ta như thế này...

 

      (Sớ) Giai vân bất tác thánh tâm, danh thiện cảnh giới, nhược tác thánh giải, tức thọ quần tà.

      () 皆云不作聖心,名善境界,若作聖解,即受群邪。

     (Sớ: Đều nói: “Tâm chẳng nghĩ [chính ḿnh] đă đắc thánh cảnh th́ gọi là cảnh giới tốt đẹp. Nếu nghĩ là ḿnh đă chứng thánh quả, liền vướng vào các thứ tà kiến).

 

      Hai câu này chúng ta phải nhớ kỹ trong ḷng. V́ sao? Quư vị mới chẳng gặp nạn! Cảnh giới hiện tiền th́ như thế nào? Như như bất động. Quư vị hăy nhớ hai câu kinh Kim Cang: “Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng” (phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng). Khi cảnh giới hiện tiền, chẳng sanh ḷng hoan hỷ, thấy mà như chẳng thấy, cảnh giới ấy sẽ là cảnh giới tốt đẹp. Vừa thấy liền động tâm, quư vị bị lừa rồi; ngay lập tức bị cảnh giới xoay chuyển! Trong quá tŕnh chúng ta tu hành, dẫu thấy tướng hảo cũng đừng chấp trước, cũng chẳng cần phải nói với ai. Khi thật sự dụng công, sẽ có cảm ứng, có [trường hợp là] cảm ứng thật sự, mà cũng có trường hợp ma đến thử thách, tức là ma đến nhiễu loạn. Ma biến hiện thành một vị Phật ở trước mặt quư vị, quư vị thấy Phật, tâm bị ma lôi đi. Quư vị tu tập th́ phải tu nhất tâm bất loạn, hễ ma hiện tiền, tâm hoan hỷ th́ tâm bị loạn mất rồi, ma đến phá hoại nhất tâm, đoạn mất công phu của quư vị. Nếu quư vị thấy cảnh giới ấy, thấy mà như chẳng thấy, trong ḷng bất động, vĩnh viễn bảo vệ được ḿnh, đó là chánh niệm phân minh, chắc chắn chẳng có ư niệm ham chuộng quái lạ

nào!

      Vừa nghe nói cắm cọng cỏ [xuyên qua đỉnh đầu đảm bảo sanh về Cực Lạc], liền vội ùa đến, hạng người niệm Phật ấy làm sao niệm thành công cho được? Chẳng thể nào có chuyện ấy! Ở nơi kia nói pháp sư giảng kinh phóng quang tại đó, họ bèn vội hùa nhau kéo đến, ở nơi đây nói [pháp sư thuyết pháp] ĺa khỏi [mặt đất] ba thước, họ lại chạy đến. Tâm luôn bị cảnh giới xoay chuyển, đến năm nào mới có thể đắc nhất tâm bất loạn? Đây là chuyện chẳng thể nào có được! Thật sự có công phu, niệm đến mức nhất tâm bất loạn, nhất định chẳng bị xoay chuyển bởi bất cứ cảnh giới nào, chỉ có khi sắp mất mới nói ra, cáo từ mọi người: “Hôm ấy tôi sẽ ra đi”. Chẳng phải là trong t́nh cảnh đó th́ bất cứ cảnh giới nào cũng chẳng nói ra! Sơ Tổ Tịnh Độ Tông là Huệ Viễn đại sư khi c̣n tại thế đă ba lần thấy Tây Phương Cực Lạc thế giới, trước nay chưa hề kể với ai, đến lúc sắp văng sanh mới tuyên bố với mọi người thấy Tây Phương Tam Thánh, thanh tịnh hải hội đại chúng đến nghênh tiếp Ngài. Ngài bảo đại chúng: “Trong quá khứ, tôi đă từng thấy cảnh giới này ba lần. Lần này tôi sắp theo A Di Đà Phật ra đi”. Đó là cổ đức chánh niệm phân minh. V́ thế, hai câu kinh trên đây của kinh Lăng Nghiêm rất quan trọng, phải thường ǵn giữ cái tâm thanh tịnh của chính ḿnh.

     

      (Sớ) Cố tri chánh kiến sảo khuy, tà ma toại xí.

      () 故知正見稍虧,邪魔遂熾。

      (Sớ: Cho nên biết: Chánh kiến hơi thiếu, tà ma liền lừng lẫy).

     

      Do người học Phật chánh kiến suy giảm, thiếu khuyết, nên yêu ma, quỷ quái bèn lừng lẫy trong thế gian.

 

      (Sớ) Vô ích cánh tổn.      

      () 無益更損。

      (Sớ: Đă vô ích lại càng thêm tổn hại).

 

      Đối với chúng ta trọn chẳng có mảy may lợi ích ǵ, chỉ tăng thêm tổn hại.

 

      (Sớ) Cầu thăng phản trầm.

      () 求升反沈。

      (Sớ: Cầu thăng lên, đâm ra bị ch́m xuống).

 

      Chúng ta vốn mong thành Phật mau một tí, kết quả bị đọa lạc. Con người hiện thời cái tâm mong thành tựu nhanh chóng quá tha thiết, lại c̣n ưa cầu may: Tốt nhất là khỏi phải chịu khổ sở ǵ hết, ngay cả một câu A Di Đà Phật cũng chẳng muốn niệm, mà cứ mong đến lúc ấy sẽ văng sanh, trong thế gian đâu có chuyện tiện nghi dường ấy?

 

      (Sớ) Diêu thử thiển căn bố đạo bất học.

      () 繇此淺根怖道不學。

      (Sớ: Do lẽ này, kẻ căn cơ nông cạn sợ hăi chẳng học đạo).

 

      Nói chung là sợ phải chịu khổ! Nói chung là chẳng nghiêm túc học đàng hoàng. V́ sao hiện thời Mật Tông thịnh hành dường ấy? Mọi người luôn ấp ủ tâm lư cầu may. Học các tông thuộc Hiển Giáo của Trung Quốc phải tŕ giới, ăn chay, chẳng thể sát sanh, học Mật Tông khoẻ ru! Mật Tông có thể ăn thịt, chẳng bó buộc quư vị ăn chay, cũng chẳng ràng buộc nghiêm ngặt, mọi người như ong vỡ tổ ùa theo. Đă thế, lại c̣n đề xướng những thuyết rất êm tai, “tức thân thành Phật” (thành Phật ngay trong cái thân này). Thành Phật như thế nào? Mỗi ngày ăn thịt cá no kềnh cũng thành Phật, đâu có lẽ ấy! Ở Los Angeles, tôi gặp cư sĩ Hạ Kinh Sơn, sau khi ông ta đến Mỹ bèn học Mật với các lạt-ma pháp vương Tây Tạng hay Nê Bạc Nhĩ (Nepal). Tôi giảng pháp môn Tịnh Độ ở Los Angeles, ông ta cũng đến nghe, nghe xong cũng hoan hỷ. Có người hỏi ông ta: “Nghe cảm thấy như thế nào?” “A! Tôi cũng phải niệm Phật”. Có người hỏi ông ta: “Ông c̣n học Mật hay chăng?” “Tạm thời vẫn chưa buông bỏ Mật! Để xem [Mật] có linh hay không?” Ông ta vẫn chưa buông xuống được. Năm nay, ở Los Angeles, tôi lại gặp ông ta, ông ta nêu ra một câu hỏi, v́ gần đây có ba người văng sanh là thầy Lư ở Đài Trung, pháp sư Quảng Khâm, và Sử cư sĩ ở Los Angeles, tướng lành văng sanh đều rất tốt, chẳng bị bệnh khổ, hết sức an tường. Cho nên ông ta hỏi: “V́ sao các lạt-ma hay Hoạt Phật trong Mật Tông lúc chết đều đau khổ dường ấy? Đều bị bệnh ung thư, khổ chẳng thể kham, h́nh dáng cũng chẳng tốt đẹp!” Ông ta hỏi tôi: “V́ lẽ nào vậy? Dường như nh́n từ những điều này th́ Mật Tông chẳng bằng niệm Phật!” Chúng tôi cũng chẳng thể mích ḷng Mật Tông, ông ta hỏi như thế, tôi chỉ đành đáp: “Nói chung là những vị đại đức trong Mật Tông phước báo quá lớn, hưởng hết phước rồi, c̣n những vị trong Hiển Tông cả đời đều chẳng hưởng phước, suốt đời tu khổ hạnh”. Tôi chỉ có thể trả lời ông ta như vậy, ông ta nghe xong cũng cười x̣a!

      Phàm những ai tin vào tôn giáo đều thừa nhận có đời sau, trong đời này chết rất tốt đẹp, đời sau nhất định sống rất tốt đẹp. Đời này chết chẳng tốt lành, đại khái là đầu thai vào đời sau làm sao có thể tốt đẹp được! Con người v́ sao đầu thai trong đường súc sanh, biến thành ngạ quỷ, hay đọa địa ngục? Ai muốn đi vào đó? Quư vị phải biết: Vào trong ba ác đạo đều là v́ hồ đồ mà vào, người lúc chết tỉnh táo, sáng suốt, chắc chắn người ấy chẳng đọa trong ba đường ác. Phàm ai khi chết mê hoặc, điên đảo, bất tỉnh nhân sự, sẽ không thể đảm bảo, quá nửa là đọa trong ba ác đạo. V́ thế, con người nhất định phải tu phước. Người Trung Quốc nói tới Ngũ Phước, phước cuối cùng trong Ngũ Phước cũng là điều quan trọng nhất: Mong được chết tốt lành. Chết tốt lành là khi mất tỉnh táo, sáng suốt, khi chết chẳng mê hoặc, quả báo trong đời sau sẽ thù thắng, chẳng đọa trong ba ác đạo. V́ thế, những điều này đều là chuyện trước mắt, mà cũng là những chứng cứ sống động trước mắt, chúng ta phải tự biết nh́n ra. Nh́n nhiều, tâm quư vị sẽ minh bạch, trong hết thảy các pháp môn sẽ tự nhiên biết lấy hay bỏ như thế nào, biết phải nên tu pháp môn nào, phải nên tu theo cách nào. Người ta có thành tựu như thế đó, chúng ta cũng có thể làm được. Ai nấy đều có thể làm được!

     

      (Sớ) Kim niệm Phật giả, dĩ Phật đại nguyện nhiếp thọ, đại lực khuông tŕ, oai mạc cảm can, thần bất khả trắc, tuy hữu ma sự, hành tương tự tiêu.

      () 今念佛者,以佛大願攝受,大力匡持,威莫敢干,神不可測,雖有魔事,行將自消。

      (Sớ: Nay kẻ niệm Phật do được đại nguyện của Phật nhiếp thọ, được đại lực ǵn giữ, oai thần chẳng ai dám quấy phá, chẳng thể suy lường được, tuy có ma sự nhưng rồi nó sẽ tự tiêu diệt).

 

      Dẫu có những ma sự, người niệm Phật được oai đức và thần lực của Phật, Bồ Tát gia tŕ, hết thảy ma gặp phải quư vị đều lùi tránh, chẳng dám xâm phạm, chẳng dám nhiễu loạn quư vị. Tự ḿnh đă chánh tâm, chánh niệm phân minh, bên ngoài có oai thần của Tam Bảo gia tŕ, cho nên người ấy chẳng gặp ma sự. Nếu quư vị thật sự dụng công, thật sự tu học đúng pháp, chỉ cần nửa năm sẽ có cảm giác, có thể nhận biết Tam Bảo thời thời khắc khắc bảo vệ, ǵn giữ quư vị.

 

      (Sớ) Hựu kinh vân: Niệm Phật chi nhân, hữu tứ thập lư quang minh chúc thân, ma bất năng phạm.

      () 又經云:念佛之人,有四十里光明燭身,魔不能犯。

      (Sớ: Lại nữa, kinh dạy: Thân người niệm Phật có quang minh soi sáng bốn mươi dặm, ma chẳng thể xâm phạm).

 

      Trong kinh, đức Phật dạy: Người thật sự niệm Phật, đi, đứng, nằm, ngồi, trong mười hai thời, một câu Phật hiệu chẳng gián đoạn sẽ có sức mạnh lớn dường ấy. V́ thế, nay chúng ta nói: Phát tâm từ bi muốn cứu độ hết thảy chúng sanh th́ cứu như thế nào? Chúng ta giảng kinh thuyết pháp có cứu được hay chăng? Thưa quư vị, chẳng cứu được! Người thật sự niệm Phật th́ cứu được. Quang minh của người ấy chiếu xa bốn mươi dặm, trong ṿng bốn mươi dặm ma chẳng thể xâm phạm. Chúng sanh ở trong bốn mươi dặm ấy cũng được hưởng lây; một người có phước, cả nhà người ấy đều có phước, mọi người đều được hưởng lây, thật đấy, chẳng giả đâu! Ḥn đảo Đài Loan của chúng ta không lớn, có được dăm ba người tu hành chân chánh, ḥn đảo này sẽ chẳng gặp kiếp nạn. Dăm ba người t́m ở đâu ra? Hy vọng người khác tu hành, ta được hưởng lây, mỗi người đều nghĩ như vậy th́ kết quả chẳng có ai tu hành, chúng ta vẫn phải gặp nạn! Chính ḿnh phải thật sự phát tâm. Thật sự phát tâm th́ nơi đây chẳng gặp tai nạn.

      Phát tâm là niệm niệm v́ chúng sanh, chẳng v́ chính ḿnh. Ta niệm một câu A Di Đà Phật này v́ hết thảy chúng sanh mà niệm, ta văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới là v́ hết thảy chúng sanh mà văng sanh. V́ sao phải văng sanh? V́ chính ḿnh hiện thời không có năng lực hóa độ chúng sanh. Năng lực lẫn học vấn đều chẳng đủ, đến Tây Phương Cực Lạc thế giới cầu học để vun bồi cho chính ḿnh được trọn đủ; sau khi học thành tài sẽ thả chiếc bè Từ trở lại hóa độ chúng sanh. Đủ thấy niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ là v́ chúng sanh, chứ không v́ chính ḿnh. V́ chúng sanh, chúng ta phải sốt sắng niệm, v́ chính ḿnh th́ giải đăi cũng không sao, chuyện cá nhân mà! Ta v́ chúng sanh, ta không niệm, chúng sanh phải chịu khổ nạn thêm một ngày, ta sốt sắng niệm th́ chúng sanh được hưởng phước báo sớm thêm một ngày. Đó là sức mạnh không ǵ lớn hơn, thúc đẩy chúng ta nghiêm túc niệm Phật, nghiêm túc cầu sanh Tịnh Độ. Nếu quư vị thật sự hiểu rơ đạo lư này, quư vị sẽ có thể buông xuống vạn duyên, dấy lên chánh niệm. Một câu A Di Đà Phật là chánh niệm, là chánh tri chánh kiến, là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Ta không chỉ buông xuống hết thảy các pháp thế gian, mà Phật pháp cũng phải buông xuống. Hết thảy kinh luận, hết thảy pháp môn đều buông xuống! V́ sao phải buông xuống? Chẳng buông xuống, sẽ chẳng thể niệm tốt đẹp câu Phật hiệu! Chẳng buông xuống, câu Phật hiệu này sẽ xen tạp rất nhiều thứ táp nham!

      Hôm qua, tôi gặp cư sĩ Châu Gia Lân, chúng tôi nói đến chuyện giảng kinh. Tôi bảo ông ta: Hiện thời tôi chẳng phải là giảng kinh, tôi cũng không biết giảng kinh, khuôn mẫu quy củ giảng kinh tôi đều bỏ sạch. Hiện thời trên bục giảng là giảng ǵ vậy? Cầm kinh sách để đối chiếu xem hành vi và tư tưởng của chính ḿnh có tương ứng với Phật hay không; hễ tương ứng th́ ǵn giữ, chẳng tương ứng bèn sửa đổi ngay lập tức. Hằng ngày niệm kinh, hằng ngày giảng nơi đây, đều là tu hành. V́ thế, chẳng phải là giảng kinh, mà là đang tu hành. Ví như ở chỗ này, chúng ta đọc đến câu “chánh niệm phân minh”, chúng ta suy nghĩ: Chính ḿnh có phải là chánh niệm phân minh hay không? Có phải là trong mười hai thời chỉ có một câu A Di Đà Phật hay chăng? Trừ A Di Đà Phật ra, có tạp niệm nào hay chăng? Tôi phải suy nghĩ chuyện này, nếu thật sự chẳng có tạp niệm, bản thân tôi biết ngay: Tôi thành tựu rất nhanh, tôi nắm chắc Tây Phương Tịnh Độ. Nếu c̣n có những tạp niệm táp nham xen lẫn trong ấy, tôi biết chúng là chướng nạn, là chướng ngại, đó là “gặp nạn”. V́ vậy, tôi bỏ sạch hết thảy các pháp.

      Nay chúng ta chỉ đọc một bộ kinh này. Kinh Hoa Nghiêm nhằm dấy lên ḷng tin, pháp môn này là pháp khó tin, người khác nghĩ pháp này dành để dạy cho mấy bà cụ già! Đối với kinh Hoa Nghiêm, mọi người ca ngợi khôn cùng. V́ thế, tôi dùng Hoa Nghiêm để khởi lên ḷng tin. Quư vị chẳng rất bội phục kinh Hoa Nghiêm hay sao? Kinh Hoa Nghiêm đến cuối cùng dạy quư vị niệm A Di Đà Phật, quư vị c̣n nói ǵ được nữa! Tôi giảng kinh Hoa Nghiêm cũng chẳng phải là giảng kinh, mà là mở kinh ra để đối chiếu với điều tâm ḿnh suy nghĩ, việc thân ḿnh làm có giống như đức Phật đă dạy trong kinh Hoa Nghiêm hay chăng? Cầm lấy tấm gương ấy để sửa đổi cho đúng hành vi của chính ḿnh. Giảng kinh phải đọc từng đoạn, giải thích văn tự, giải thích từng chữ, phải giải thích ư nghĩa. Đó là tuân theo quy củ, tôi đều không có [những bước ấy], v́ thế, chẳng phải là giảng kinh!

      Người thật sự tu hành thân tâm thanh tịnh, đại từ, đại bi, thân người ấy thật sự tỏa quang minh chiếu xa bốn mươi dặm. Thân này phóng quang, chúng ta là phàm phu mắt thịt chẳng thể thấy, nhưng yêu ma quỷ quái chẳng dám đến gần quư vị; bởi lẽ, quang minh ấy có thể nói là quang minh chánh đại, “ma bất năng phạm”, tà ma chẳng dám xâm phạm quư vị!

 

      (Sớ) Dĩ A Di Đà Phật, cập thập phương Phật, thường hộ niệm cố.

      () 以阿彌陀佛,及十方佛,常護念故。

      (Sớ: Do A Di Đà Phật và mười phương Phật thường hộ niệm).

 

      Đây là một nhân tố bên ngoài. Bản thân quư vị nội tâm thanh tịnh, chánh niệm phân minh, tương ứng với Tây Phương Tịnh Độ. Do vậy, cảm được A Di Đà Phật hộ niệm và mười phương chư Phật hộ niệm quư vị, ma làm sao dám dính đến quư vị, dính chẳng được!

 

      (Sớ) Tùng kim phát tâm, trực chí đạo tràng, tự thỉ tự chung, cát vô bất lợi.

      () 從今發心,直至道場,自始自終,吉無不利。

      (Sớ: Từ lúc phát tâm trong hiện thời măi cho đến khi ngồi đạo tràng, từ đầu đến cuối là tốt lành, chẳng có điều ǵ bất lợi).

 

      Đại cát đại lợi, chuyện ǵ cũng đều chẳng cần phải lo âu, chuyện ǵ cũng chẳng cần phải bận ḷng. Dẫu là nơi hiểm nạn, quư vị đến đó cũng được b́nh an, gặp điều dữ hóa lành. Quư vị chẳng đến th́ nơi ấy có thể gặp phải tai nạn. Quư vị là người có đại phước đức, đến đó, chư Phật, Bồ Tát phải bảo vệ quư vị, yêu ma quỷ quái tránh xa, nơi ấy bèn cát tường. Chúng ta muốn cầu cát tường th́ niệm Phật là cát tường nhất.

 

      (Sớ) Lương diêu chánh niệm phân minh, túng ma lai giả, dị thức, dị khiển, phi tỷ đam tĩnh trước không, trung vô chủ tể, phùng ma bất giác, toại chí nhập tâm giả dă.

      () 良繇正念分明,縱魔來者,易識易遣,非比耽靜著空,中無主宰,逢魔不覺,遂至入心者也。

      (Sớ: Ấy là v́ chánh niệm phân minh, dẫu ma có đến cũng dễ biết, dễ xua đuổi ma. Chẳng giống như kẻ đắm đuối trong sự an tĩnh, chấp trước Không, trong tâm chẳng có chủ tể, gặp ma mà chẳng hay biết đến nỗi ma nhập tâm).

 

      Đoạn này nói rất hay! Chúng ta phải ghi nhớ thật kỹ trong ḷng. Đây là nói quả báo của người tu pháp môn Niệm Phật và người tu các pháp môn khác chẳng giống nhau. Nói thật thà, xét theo lư luận để nói, tám vạn bốn ngàn pháp môn b́nh đẳng, nhưng xét theo sự tu học của lũ chúng sanh chúng ta ngày nay, th́ trừ niệm Phật là chánh niệm phân minh ra, những pháp môn khác đều chẳng phải là chánh niệm phân minh! Nghiên cứu Giáo sẽ tăng trưởng Sở Tri Chướng. Đó là nói rất dễ nghe; chứ nói khó nghe th́ là tăng trưởng tà kiến. Học Thiền, học Mật, hễ gặp phải cảnh giới th́ chính ḿnh chẳng thể làm chủ tể. Chữ “đam tĩnh” (đắm đuối nơi tịch tĩnh) chỉ kẻ học Thiền, chữ “trước Không” (chấp vào Không) chỉ người tu học Tam Luận[7] hay Bát Nhă, quả thật họ gặp phải những cảnh giới, bèn chẳng thể làm chủ tể, bất tri bất giác lọt vào ma cảnh. Chỉ có người chánh niệm phân minh, dẫu ma thật sự hiện đến, người ấy nhận biết. Nhận biết nó, sẽ rất dễ dàng đuổi nó đi, chẳng gặp nạn, chẳng bị ma lừa gạt. Đó là người niệm Phật công phu đắc lực, người ấy có thể thấu hiểu sâu xa ư nghĩa này.

 

      (Sớ) Trạch đồ bảo kính giả, dĩ thử nhị dụ, minh phi đản Phật lực, tức thị tự kỷ niệm lực dă.

      () 澤圖寶鏡者,以此二喻,明非但佛力,即是自己念力也。

      (Sớ: “H́nh con Bạch Trạch, gương báu”: Dùng hai tỷ dụ này để chỉ rơ: Chẳng phải chỉ có Phật lực, mà c̣n có niệm lực của chính ḿnh).

     

      Niệm lực” là chính ḿnh, Phật lực là bên ngoài. Pháp môn này gọi là pháp môn Nhị Lực, chính ḿnh có niệm lực, bên ngoài có Phật lực gia tŕ. Không chỉ là thần lực của A Di Đà Phật gia tŕ, mà c̣n được sức mạnh của mười phương ba đời hết thảy chư Phật đều cùng gia tŕ. Đích xác là rất ít người biết chỗ tốt lành của pháp môn Niệm Phật. Người ta coi thường kinh Di Đà, ngày nay tuyên dương pháp môn Tịnh Độ, nói thật ra, trong thời đại này là thời đại yêu ma quỷ quái hoành hành, nếu chẳng thâm nhập Sớ Sao, nghiên cứu cặn kẽ Sớ Sao, quả thật sẽ chẳng biết chỗ hay trong kinh Di Đà. Điều thật sự khó có là Liên Tŕ đại sư đă giới thiệu tỉ mỉ thâm nhập như thế, khiến cho chúng ta thật sự nhận thức pháp môn này. Lại c̣n có kinh Hoa Nghiêm, có thể nói là kinh Hoa Nghiêm từ đầu đến cuối nhằm giới thiệu pháp môn Niệm Phật. Đọc kinh Hoa Nghiêm xong, sẽ chết sạch so đo, khắng khít nơi pháp môn Niệm Phật, chẳng c̣n ngờ vực nữa, biết chính ḿnh quyết định văng sanh trong một đời này! Hai bộ kinh này có công đức chẳng thể nghĩ bàn! Đối với người chân chánh học Phật, hai bộ kinh này là đủ rồi, chẳng cần phải học nhiều nữa!

      Thế nhưng kinh Hoa Nghiêm quá lớn, rất khó đọc. Có một lần cư sĩ Trịnh Thạch Nham và tôi có bàn đến vấn đề này, ông ta nói làm cách nào để đơn giản hóa bộ kinh ấy, giới thiệu một cách đơn giản, trọng yếu, tường tận, rơ rệt cho các đồng tu sơ học. Tôi bảo ông ta: “Tôi đă từng suy nghĩ chuyện này hết nửa năm. Làm thế nào để đơn giản hóa những bộ kinh lớn, quả thật là chuyện tất yếu. Bộ Toản Yếu[8] đă đơn giản hóa hai tác phẩm Hoa Nghiêm Kinh Sớ Sao và Hoa Nghiêm Kinh Hợp Luận, nhưng vẫn chưa đủ, chẳng qua là mới đơn giản hóa một nửa mà thôi. Chúng ta hy vọng có thể đơn giản hóa đến một phần mười, tốt nhất là một phần trăm. Khi ở Mỹ quốc, tôi đă suy xét vấn đề này: Sau khi trở về Đài Loan sẽ giảng kinh này theo cách nào để có thể giảng viên măn kinh này rất mau chóng. Thế nhưng bộ kinh này từ đầu đă giảng từng chữ từng câu như thế th́ hiện thời cũng chỉ đành tiếp tục giảng từng câu từng chữ như thế. Phương pháp được chọn lựa là những chỗ nào có quan hệ thụ dụng mật thiết với chúng ta th́ chúng tôi sẽ giảng cặn kẽ, những chỗ nào chúng ta chưa thể dùng được th́ đọc lướt qua. Đó gọi là “giảng nhanh”, làm như vậy tốc độ sẽ tăng nhanh hơn!

      Trong tương lai, giảng lần thứ hai, tôi sẽ không theo cách giảng này mà giảng ǵ? Tôi giảng trích yếu sớ luận của kinh Hoa Nghiêm. Chẳng hạn như trong một phẩm kinh, tôi chỉ chọn lấy mười câu hay tám câu, tức những câu quan trọng nhất, tôi chỉ giảng những câu đó là được rồi, những câu kinh văn khác tôi đều lược qua. Chú giải, Sớ Sao, Hợp Luận cũng đều giảng như thế, mỗi thứ chọn lấy vài điều, biên tập như thế thành một bài giảng nghĩa. Một bộ kinh Hoa Nghiêm có thể giảng hai mươi lần, ba mươi lần là giảng viên măn. Giảng như vậy sẽ được hết sức hoan nghênh, chẳng giống như hiện thời tôi đă giảng bộ kinh Hoa Nghiêm đến hơn hai ngàn giờ mà mới giảng được một nửa, quả thật là dài quá! Thầy Lư giảng ở Đài Trung hai mươi năm, bắt đầu giảng từ năm Dân Quốc 55 (1966) đến năm nay thầy vừa văng sanh mới giảng được một phần ba. V́ thế, nhất định phải đơn giản hóa th́ mới có thể khế hợp căn cơ của con người trong thời đại hiện tại. Dưới đây là lời giải thích hai tỷ dụ ấy.

 

      (Sớ) Hữu thần thú danh Bạch Trạch[9], năng nhân ngôn.

      () 有神獸名白澤,能人言。

      (Sớ: Có con thú thần kỳ tên là Bạch Trạch có thể nói tiếng người).

 

      Bạch Trạch là tên của một con thú thần diệu, nó có thể nói tiếng người.

 

      (Sớ) Biện vạn vật chi t́nh, chư tà vọng ảnh nhi tỵ. Cố viết: “Gia hữu Bạch Trạch chi đồ, tất vô như thị yêu quái”.

      () 辨萬物之情,諸邪望影而避。故曰家有白澤之圖,必無如是妖怪。

      (Sớ: Nó có thể biện định rành rẽ t́nh huống của muôn vật, các thứ tà vạy vừa thấy bóng nó từ xa liền tránh né, nên nói: “Trong nhà có h́nh Bạch Trạch, ắt chẳng có các loài yêu quái như thế”).

 

      Đây là một truyền thuyết vào thời cổ ở Trung Quốc.

 

      (Sớ) Hựu sơn tinh dă mị, năng biến h́nh chủng chủng, cuống hoặc ư nhân, nhi bất năng biến kính trung chi h́nh.

      () 又山精野魅,能變形種種,誑惑於人,而不能變鏡中之形。

      (Sớ: Lại như loài tinh mị trong núi non đồng vắng có thể biến ra các thứ h́nh dạng dối gạt, mê hoặc con người, nhưng chúng chẳng thể biến đổi h́nh bóng của chúng trong gương).

 

      Yêu ma quỷ quái có thể biến hiện thành h́nh dạng con người, nhưng chẳng thể thay đổi bóng của nó trong gương. Nếu đem gương báu soi nó, nó không có cách ǵ biến hóa được, nó phải hiện nguyên h́nh. Đối với chuyện này, trong thời cổ có truyền thuyết như sau: Xưa kia có một người tên Vương Độ, nhà ông ta có một tấm gương báu gia truyền, có thể soi nguyên h́nh yêu ma quỷ quái. Gần nhà ông ta có một cái cây, yêu tinh nơi cây ấy tác quái. Do vậy, ông ta đem kính treo lên cây, kết quả, cái cây ấy bị sét đánh, có một con rắn to chết cứng dưới gốc cây. Có lần, ông ta đem tấm gương ấy soi vào một bé gái, đứa bé gái ấy van nài ông ta hăy cất gương đi, xin cho ăn no một bữa, uống rượu đă đời một bữa. Uống say xong, nó nằm chết trên giường, hiện nguyên h́nh là một con hồ ly. Đó là chuyện “bảo kính độn yêu” (yêu tinh trốn tránh gương báu). “Sơn tinh dă mị” có thể biến thành h́nh người để lừa gạt con người, nhưng chẳng thể hiện h́nh trước gương báu.

 

      (Sớ) Dụ niệm Phật giả, chánh niệm hiện tiền, trí chiếu tinh lăng, nhất thiết thiên ma, tâm ma bất đắc tiện cố.

      () 喻念佛者,正念現前,智照精朗,一切天魔心魔不得便故。

      (Sớ: Ví như người niệm Phật, chánh niệm hiện tiền, trí chiếu tinh tường, rạng rỡ, hết thảy thiên ma và tâm ma chẳng có cơ hội giở tṛ).

 

      Đủ thấy chánh niệm phân minh rất quan trọng. Quư vị phải nhớ kỹ “chánh niệm” là ba điều kiện Tín - Nguyện - Hạnh đầy đủ, chẳng thiếu một điều nào, đó gọi là “chánh niệm”. Chánh niệm kiến lập từ chỗ nào? Kiến lập từ Phật hiệu. Trong mười hai thời, một câu A Di Đà Phật chẳng dứt, người ấy nhất định đầy đủ ba điều kiện. Nếu người ấy chẳng nguyện văng sanh, chẳng tin tưởng pháp môn này, làm sao người ấy chịu niệm Phật? Làm sao chịu niệm Phật chẳng gián đoạn? Ngẫu nhiên niệm một tiếng Nam-mô A Di Đà Phật, chẳng thấy có tín, có nguyện, nhưng suốt ngày từ sáng đến tối niệm chẳng gián đoạn, nhất định đầy đủ tín nguyện, ba điều kiện thảy đều đầy đủ. Đó là ư nghĩa chính xác của “chánh niệm phân minh”. Đấy cũng là điều chúng ta hy vọng làm được. Không chỉ hy vọng làm được, mà nhất định phải làm được, v́ sao? Nếu quư vị làm được, sẽ liễu sanh tử, thành Phật trong một đời, thành Phật ngay trong thân này, điều này rất quan trọng! Nếu quư vị chẳng làm được, dẫu đời này tu hành tốt đẹp đến đâu đi nữa, đời sau chỉ được hưởng phước báo nhân thiên, hưởng hết phước này sẽ “hưởng” mê hoặc, “hưởng” hồ đồ, lại c̣n chẳng thể sốt sắng tu hành!

      Cố nhiên Phật pháp dạy quư vị phải hành nhiều thiện sự, nhưng quư vị phải biết: Hảo sự chẳng bằng vô sự! Chuyện tốt nhất là thật thà niệm Phật, chẳng có ǵ tốt hơn! Làm chuyện tốt hăy tùy duyên mà làm, đừng phan duyên, phan duyên là ǵ? Bới chuyện ra để làm th́ là phan duyên. Sự việc đưa đến, chúng ta chẳng thoái thác mà tận tâm tận lực làm cho tốt, đó gọi là “tùy duyên mà làm”, đừng bới chuyện ra để làm. Bới chuyện ra làm sẽ là “hiếu sự” (ham chuyện) sẽ chẳng phải là “hảo sự[10]. Phan duyên th́ làm sao tâm quư vị thanh tịnh cho được? Ấn Quang đại sư suốt đời chẳng lập đạo tràng, chẳng truyền giới, chẳng thâu nhận đệ tử xuất gia, suốt đời Ngài chẳng có chuyện ǵ! V́ thế, Ngài niệm Phật hiệu rất tốt đẹp, niệm thành công.

      Thư viện này của chúng ta chẳng phải do phan duyên mà có, đây là do các đồng tu hoàn toàn tự động tự phát mua chỗ này rồi đến kiếm tôi. Tuy chúng ta có cái đạo tràng nhỏ chừng này, măi cho đến bây giờ chúng ta chẳng phan duyên, chúng ta làm rất tṛn bổn phận. V́ thế, ở nơi đây chúng ta tâm an lư đắc, một câu Phật hiệu cũng niệm rất tốt đẹp, nguyên nhân là ở chỗ này. Nếu thường xuyên phan duyên, thường muốn đề cao mở rộng Phật giáo như thế nào th́ chẳng những không thể giúp đỡ chúng sanh mà chính ḿnh cũng bị hủy hoại. Chuyện hoằng pháp lợi sanh có cần phải làm hay không? Phải làm! Chúng ta tận tâm tận lực th́ công đức viên măn, niệm niệm công đức viên măn, tự tại lắm! Hướng ra ngoài phan duyên th́ công đức ấy vĩnh viễn chẳng viên măn. Từ trong nội tâm của chính ḿnh, tận hết tấm ḷng ta, tận hết sức ta, công đức của ta sẽ viên măn. Nay tôi có một đồng th́ làm chuyện công đức chừng một đồng, công đức của tôi viên măn, tôi chẳng cần kiếm người khác, chẳng cần phải cầu cạnh người khác. Nếu tôi đi kiếm người khác, cầu cạnh người ta th́ có thể làm nhiều hơn một chút, nhưng chẳng viên măn v́ tâm chẳng thanh tịnh. Do vậy, học Phật dẫu là lợi khắp chúng sanh, nhất định phải nghĩ đến thân tâm của chính ḿnh thanh tịnh viên măn. Điều này rất quan trọng!

      Chánh niệm phân minh cũng là pháp môn tốt nhất để xa ĺa yêu ma quỷ quái, kinh Lăng Nghiêm có tỷ dụ như sau:

 

      (Diễn) Chủ nhân nhược mê, khách đắc kỳ tiện.

      () 主人若迷,客得其便。

      (Diễn: Nếu chủ nhân mê, khách thừa dịp lợi dụng).

 

      Chủ nhân” là chính ḿnh, bản thân chúng ta đă mê rồi, người bên ngoài sẽ dùng phương cách mầu mè gạt gẫm chúng ta. Bản thân chúng ta chẳng mê, bất cứ yêu ma quỷ quái nào cũng chẳng làm ǵ chúng ta được, chúng nó chẳng có một tí biện pháp nào hết! V́ thế, đừng sợ ma mà hăy sợ chính ḿnh tà tâm, sợ ư niệm của chính ḿnh bất chánh. Đó là điều đáng sợ nhất! Kinh Lăng Nghiêm c̣n có mấy câu như sau:

 

      (Diễn) Đương xử Thiền Na, giác ngộ vô hoặc.

      () 當處禪那覺悟無惑。

      (Diễn: Hăy nên trụ trong Thiền Na, giác ngộ, không mê hoặc).

 

      Tổng cương lănh tu hành trong Phật môn là Tam Quy Y. Tam Quy Y, khóa sáng khóa tối hằng ngày quư vị đều niệm, khi niệm phải nhắc nhở chính ḿnh: Tự quy y Phật chẳng phải là ai khác quy y, mà là tự ḿnh quy y! Quy y tự tánh Phật, Phật là giác. Trong Đàn Kinh, Lục Tổ giảng Tam Quy Y cho người khác, sợ chúng ta mê hoặc, nên Ngài chẳng dùng [danh xưng] Phật, Pháp, Tăng mà nói “quy y Giác, quy y Chánh, quy y Tịnh”, chúng ta vừa nghe liền hiểu ngay. Hiện thời nói “quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng” khiến chúng ta mê hoặc, hồ đồ, rốt cuộc Phật là ǵ? Pháp là ǵ? Tăng là ǵ? Mấy ai hiểu rơ ràng? Lục Tổ trực tiếp nói ra ư nghĩa này: “Phật là giác, Pháp là Chánh, Tăng là Tịnh”, Ngài bảo chúng ta quy y Giác, quy y Chánh, quy y Tịnh, giác chứ không mê, chánh chứ không tà, tịnh chứ không nhiễm, hết thảy ma sự đều chẳng thể nhiễu loạn. Đây là nhân duyên thứ bảy: Hộ tŕ chướng nạn, chúng tôi giảng tới đây!

A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

Phần 32 hết



[1] Vua Thuấn có tên là Trọng Hoa, do sanh ở Diêu Khư nên có họ là Diêu, người xứ Kư Châu, là con ông Cổ Tẩu (Cổ Tẩu là hậu duệ đời thứ tám của Hoàng Đế, mắt mù ḷa, tính t́nh hung bạo). Tuy là con cháu trực hệ của Đế Chuyên Húc (cháu nội của Hoàng Đế), nhưng đến đời Cổ Tẩu gia cảnh đă sa sút. Vua Thuấn mồ côi mẹ từ nhỏ, cha lấy vợ kế, sanh thêm một trai là Tượng. Vua Thuấn c̣n nhỏ đă phải làm lụng vất vả để duy tŕ cuộc sống cho gia đ́nh, nhưng bị cha, d́ ghẻ và em trai căm ghét, t́m đủ mọi cách hăm hại. Năm ông Thuấn ba mươi tuổi, vua Nghiêu nghe tiếng bèn vời vào hỏi chuyện, rồi gả hai người con gái là Nga Hoàng và Nữ Anh cho ông Thuấn. Về sau, ông Thuấn được vua Nghiêu nhường ngôi, đóng đô ở Bồ Bản (nay là huyện Vĩnh Tế, tỉnh Hà Bắc), đặt quốc hiệu là Hữu Ngu, trở thành thủ lănh của bốn bộ lạc người Hán tại Trung Nguyên thuở ấy (Sử thường gọi ông ta là Cộng Chủ là v́ lẽ này). Cũng do quốc hiệu là Hữu Ngu nên Sử thường gọi Đế Thuấn là Hữu Ngu Thị Đế Thuấn. Vua Thuấn đă chia Trung Nguyên thành mười hai châu là Tinh, Kư, U, Doanh, Duyện, Thanh, Từ, Kinh, Dương, Dự, Lương, và Ung. Ông được xếp vào Ngũ Đế (Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Dự, Nghiêu, Thuấn), và cùng với Tam Hoàng (Phục Hy, Thần Nông, Hiên Viên) và vua Nghiêu được coi là những bậc thánh vương của Cổ Trung Hoa.

[2] Câu này trích lược ư đoạn sau đây trong phần Hệ Từ của kinh Dịch: “Phù, Càn kỳ tĩnh dă chuyên, kỳ động dă trực, thị dĩ đại sanh yên. Phù Khôn, kỳ tịnh dă hấp, kỳ động dă tịch, thị dĩ quảng sanh yên”. Khổng Dĩnh Đạt chú giải: “Càn là thuần Dương, có đức tánh phổ quát trọn khắp, không thiên vị nên là chuyên nhất. Nếu khí chẳng phát động th́ nó tĩnh và chuyên nhất, nên nói ‘kỳ tĩnh dă chuyên’. Nếu nó vận chuyển th́ bốn mùa chẳng sai, nóng lạnh không sai, đúng mực, nên nói ‘kỳ động dă trực’. Do nó động và tĩnh như thế nên có thể sanh trưởng to lớn (đại sanh). Khôn là Âm, mềm mại, bế tàng thâu liễm, nên nói ‘kỳ tĩnh dă hấp’ (Hấp có nghĩa là thâu liễm), hễ động th́ sanh trưởng vạn vật nên nói ‘kỳ động dă tịch’. Do như vậy nên Khôn có thể sanh trưởng rộng răi vạn vật (quảng sanh)”.

[3] Thập Phổ (gọi đủ là Thập Phổ Môn) là mười pháp môn viên măn rộng khắp có công năng giúp hành giả thâm nhập Thật Tướng gồm từ bi phổ, hoằng thệ phổ, tu hành phổ, đoạn hoặc phổ, nhập pháp môn phổ, thần thông phổ, phương tiện phổ, thuyết pháp phổ, thành tựu chúng sanh phổ và cúng dường chư Phật phổ.

[4] Đây là một phép tu của Mật Tông có tên gọi là Ph’owa (thuật ngữ Tây Tạng dịch từ tiếng Phạn Samkrānti, thường được gọi là Sáu Phép Yoga của đại hành giả Naropa, tức là những pháp tu thường được coi là do đại thành tựu sư Tilopa của Ấn Độ truyền lại) nhằm chuyển hóa thần thức khi lâm chung. Phép tu này đ̣i hỏi hành giả phải tập luyện bằng những cách quán tưởng nhằm hướng dẫn thần thức quen với diễn biến của sự chết, để có thể điều khiển thần thức trong lúc lâm chung. Họ tin rằng khi đạt đến thành tựu nhất định, dưới sự hướng dẫn của một vị A-xà-lê, sẽ mở được một huyệt ở đỉnh đầu, và để dễ quán niệm, người ta cắm vào đó một cọng cỏ Kusha (Cát Tường Thảo). Khi lâm chung, thần thức sẽ theo huyệt ấy thoát ra khỏi thân xác. Tuy thế, khi truyền sang các nước khác, nhất là tại Mỹ và các nước phương Tây, có những Thượng Sư ham lợi, đă giở tṛ làm lễ mở đỉnh đầu cho bất cứ ai đóng đủ lệ phí, cắm vào đó một cọng cỏ, bảo họ đă có thể liễu sanh thoát tử, chẳng hề truyền dạy giáo nghĩa và cách hành tŕ của phép tu Ph’owa! Có những người như Liên Sanh Hoạt Phật (tên thật là Lư Thắng Ngạn) của Chân Phật Tông (một tà phái đội danh Mật Tông Tây Tạng ở Đài Loan, pha trộn lung tung Mật Tông và các tín ngưỡng dân gian lẫn Đạo Giáo, có rất nhiều tín đồ người Hoa tại hai tiểu bang California và Washington) đi đâu cũng khoe vết thủng trên đỉnh đầu để chứng tỏ ḿnh là Hoạt Phật (Phật sống) thứ thiệt đă khai đảnh!

[5]Tác pháp” là một thuật ngữ thường dùng trong Mật Tông với ư nghĩa cử hành các nghi lễ như sái tịnh đàn tràng, hộ thân, triệu thỉnh Bổn Tôn, gia tŕ, quán đỉnh, tiêu tai, cung tống Bổn Tôn v.v...

[6] Đắc Giới Ḥa Thượng c̣n gọi là Đàn Đầu Ḥa Thượng hay Truyền Giới Ḥa Thượng là một trong Tam Sư chánh yếu (Đàn Đầu, Yết Ma, Giáo Thọ) của giới đàn. Vị này thường là bậc thanh tu thạc đức, giới hạnh tinh nghiêm, được mười phương sơn môn ngưỡng mộ, và đóng vai tṛ ban giới (thí giới) cho các giới tử trong giới đàn. Theo Tứ Phần Luật, vị tỳ-kheo làm Truyền Giới Ḥa Thượng phải có đủ năm phẩm đức: kiên tŕ tịnh giới, đủ mười tuổi hạ, thông hiểu Luật Tạng, thông đạt thiền tư, và có trí huệ.

[7] Tam Luận là ba bộ luận, tức Trung Luận (Mūlamadhyamakakārikā), Thập Nhị Môn Luận (Dvādashanikāya-Shāstra) và Bách Luận (Śatakaśāstra). Trung Luận và Thập Nhị Môn Luận do Long Thọ Bồ Tát biên soạn, c̣n Bách Luận do ngài Thánh Thiên (Āryadeva) biên soạn. Ba bộ luận này thuộc học phái Bát Nhă Trung Quán của Đại Thừa. Những vị tổ sư tiêu biểu góp phần h́nh thành tông phái này tại Trung Hoa là Cưu Ma La Thập, Tăng Triệu, Tăng Lăng, Pháp Lăng, Đại Minh, Cát Tạng; nhưng người có công hoàn chỉnh luận thuyết của tông này là ngài Cát Tạng. Luận điểm chủ yếu của tông này là: “Các pháp tánh Không, đó là Trung Đạo Thật Tướng”. Sau này, Huệ Quán (Ekan) đă từ Nhật sang Trung Hoa cầu pháp với ngài Cát Tạng vào năm 625 (trong thời đại cai trị của nữ hoàng Thôi Cổ - Suiko) và truyền bá Tam Luận Tông (Sanron Shu) tại Nhật Bản. Ngài Ấn Thuận được coi là học giả lừng danh nhất của tông Tam Luận trong thế kỷ 20.

[8] Đây chính là bộ Hoa Nghiêm Kinh Sớ Luận Toản Yếu do pháp sư Đạo Bái biên soạn vào đời Thanh.

[9] Bạch Trạch là con thú thần thoại được chép trong bộ Vân Cấp Thất Thiêm (do đạo sĩ Trương Quân Pḥng biên soạn vào đời Bắc Tống). Trong bộ sách này, Trương Quân Pḥng đă trích dẫn sách Hiên Viên Bản Kỷ như sau: “Hoàng Đế tuần du, tới Đông Hải, lên núi Hằng, từ bờ biển chợt có con thú Bạch Trạch xuất hiện. Nó có thể nói thông suốt t́nh trạng của muôn vật, do vậy, Hoàng Đế hỏi nó chuyện quỷ thần, từ những vật do tinh khí [của trời đất] tích tụ biến hóa ra, cho tới những loài thần hồn thơ thẩn (du hồn) gồm một ngàn năm trăm hai mươi thứ, Bạch Trạch đều nói cặn kẽ. Hoàng Đế bèn cho vẽ h́nh con Bạch Trạch để truyền dạy dân chúng, và ghi chép những điều đó thành Bạch Trạch Đồ”. Hiên Viên Bản Kỷ do Vương Quán soạn vào đời Đường, thường được coi là lưu giữ nguyên văn trong quyển thứ một trăm của bộ Vân Cấp Thất Thiêm (雲笈七籖). Thông thường, người ta vẽ Bạch Trạch giống như một con ḅ trắng, mặt như mặt người có râu quai nón, có ba mắt, sáu sừng (hai sừng trên đầu, hai cặp c̣n lại ở trên lưng), hai bên hông mỗi bên có ba mắt xếp thành h́nh tam giác, đuôi xù, vẽ cách điệu như h́nh đám mây vờn. Do đạo sĩ gọi tráp đựng sách là “vân cấp” (tráp mây) và chia sách vở trong Đạo giáo thành bảy loại (tam động, tứ phụ) nên bộ sách này mới có tên là Vân Cấp Thất Thiêm (bảy cái thẻ trong tráp mây) tuy bộ sách này gồm 122 quyển. Tam Động là Động Chân, Động Huyền, Động Thần, Tứ Phụ (thường bị đọc sai thành Tứ Phủ) gồm Thái Huyền, Thái B́nh, Thái Thanh và Chánh Nhất. Chữ Động trong Tam Động không có nghĩa là hang động mà có nghĩa là “rỗng thông”. Tam Động tương ứng với ba hệ thống kinh chánh yếu của Đạo Giáo: Động Chân là những sách vở chú giải hoặc phát xuất từ Thượng Thanh Kinh, Động Huyền là những sách thuộc hệ thống Linh Bảo Kinh, Động Thần là sách vở thuộc hệ thống Tam Hoàng Văn.

[10] Chữ có hai cách đọc: Một là “hảo” có nghĩa là tốt đẹp. Hai là Hiếu (hay háo) là ham chuộng, ưa thích. Như vậy nếu bới chuyện ra để làm th́ sẽ “hiếu sự” (ưa bới ra chuyện để làm), không phải là “hảo sự” (chuyện tốt đẹp).