A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

阿彌陀經疏鈔演義

Phần 33

Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Huệ Trang và Đức Phong

 

 

Tập 65

 

Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản trang tám mươi tám:

 

(Huyền Nghĩa) Bát, đích chỉ tức hữu niệm tâm đắc nhập vô niệm giả.

(玄義) 八、的指即有念心得入無念者。

(Huyền Nghĩa: Tám là chỉ bày đích xác: Dùng ngay cái tâm hữu niệm để nhập vô niệm).

 

Đây là nói về nhân duyên thứ tám v́ sao [đức Phật] giảng bộ kinh này. Cảnh giới cao nhất trong Phật pháp là vô niệm. Kinh Phật thường gọi “vô niệm” là “chánh niệm”. Vô niệm là không có niệm ǵ? Không có tà niệm! Không có tà niệm bèn gọi là “chánh niệm”. Tà và chánh khác nhau ở chỗ nào? Chúng ta nhất định phải hiểu rơ điều này! Lục Tổ nói rất hay: “Bổn lai vô nhất vật” (vốn chẳng có một vật); vốn chẳng có một vật nào chính là vô niệm. Đủ thấy chỉ cần dấy lên một niệm, một niệm ấy sẽ là vô minh. Trong hội Lăng Nghiêm, tôn giả Phú Lâu Na hỏi Thích Ca Mâu Ni Phật: “Vô minh do đâu mà có? V́ sao có vô minh?” Đây là một câu hỏi lớn. Đức Phật chỉ nói bốn chữ đă giải thích rơ ràng vấn đề này. Đức Phật nói: “Tri kiến lập tri, thị vô minh bổn” (trên tri kiến lại lập ra một cái biết nữa, đó là cái gốc của vô minh). [“Tri kiến lập tri” là] cội gốc của vô minh. Vô minh là từ trên tri kiến lại lập ra một cái biết nữa, kinh Pháp Hoa gọi “tri kiến” là “Phật chi tri kiến”. Mỗi người chúng ta đều là Phật, trong kinh Hoa Nghiêm và kinh Viên Giác, đức Phật đă nói rất rơ ràng: “Hết thảy chúng sanh vốn đă thành Phật”. Đă vốn sẵn thành Phật th́ có tri kiến của người nào chẳng phải là Phật tri Phật kiến? Từ trong tri kiến lại lập ra một cái tri kiến nữa, đó chính là vô minh. Vô minh do nhân tố này mà có!

Ư nghĩa này chẳng dễ ǵ thấu hiểu, chúng tôi nêu một thí dụ. Tôi lắc tay một cái, quư vị đều thấy rất rơ ràng, đó là tri kiến của Phật. Nếu quư vị phân biệt: Cái thẻ kẹp sách trong tay pháp sư bị lay động, đó là “tri kiến lập tri”, đấy là gốc vô minh. Đủ thấy khi sáu căn của chúng ta tiếp xúc cảnh giới sáu trần bên ngoài, thấy rơ ràng, nghe rơ ràng, nếm rơ ràng, thứ ǵ cũng đều rơ ràng, trong ấy không có phân biệt, không có chấp trước, chẳng khởi tâm, chẳng động niệm, khi ấy chính là Phật tri Phật kiến, chẳng khác ǵ tri kiến của Như Lai. Phàm phu luôn cậy ḿnh thông minh, khăng khăng thêm vào những danh tướng ấy khá nhiều danh từ. Lăo Tử đă hiểu “danh khả danh, phi thường danh”, danh từ ấy là giả. Con người hiện tại coi giả danh là thật, quên khuấy chân tướng sự thật; đó là vô minh. Hễ có vô minh, sẽ sanh ra vô lượng vô biên phiền năo.

Chỗ khác nhau giữa Phật và chúng sanh là Phật không có vô minh, phàm phu có vô minh. Chúng ta trừ khử vô minh bằng cách nào? Vô minh không c̣n, chúng ta sẽ thành Phật. Vô minh hoàn toàn chẳng c̣n th́ là Phật. Phá được mấy phần, c̣n chưa thể phá hết sạch th́ gọi là Bồ Tát. Phật, Bồ Tát và phàm phu sai biệt ở chỗ này. Chúng ta dấy lên vô minh, chẳng phải là bây giờ mới dấy lên, chẳng phải là đời này mới dấy lên, mà là đă nhiều đời nhiều kiếp bị vô minh che lấp chân tánh. V́ thế, sanh tử, tử sanh, vĩnh viễn luân hồi trong lục đạo chẳng thể thoát ĺa. Nay nói đến vô minh đâm ra dễ hiểu hơn đối với chúng ta; nói tới vô niệm, nói tới bổn tánh, hóa ra chúng ta chẳng hiểu! Học Phật nhằm khôi phục bổn tánh, tức là khôi phục vô niệm. Tám vạn bốn ngàn pháp môn, chẳng có một pháp môn nào ra ngoài lệ này, hoàn toàn là tu điều này!

      Nay chúng ta dùng phương pháp niệm Phật, niệm Phật là cái tâm hữu niệm. Chúng ta có cái tâm niệm Phật, dùng phương pháp này, dùng cái tâm hữu niệm để chứng nhập chân tánh vô niệm. Vô niệm là Chân Như bổn tánh. Nhân duyên thứ tám nhằm thảo luận chuyện này. Quư vị hiểu rơ đạo lư này, mới biết niệm Phật có công đức chẳng thể nghĩ bàn. Thiền Tông tham Thiền có thể minh tâm kiến tánh, Mật Tông tŕ chú có thể “tức thân thành Phật”; vô niệm là minh tâm kiến tánh, vô niệm là tức thân thành Phật. Nay chúng ta chẳng cần phải tham cứu, cũng chẳng cần tŕ chú, mà minh tâm kiến tánh, tức thân thành Phật, dùng phương pháp ǵ vậy? Dùng phương pháp hữu niệm tâm. Chúng ta lại xem lời khai thị tiếp theo của đại sư.

 

      (Huyền Nghĩa) Tâm bổn vô niệm.

      (玄義) 心本無念。

      (Huyền Nghĩa: Tâm vốn vô niệm).

 

      Tâm này là chân tâm, chân tâm vốn “vô niệm”, Lục Tổ bảo là “vốn chẳng có một vật”. Chỉ cần quư vị hữu niệm đều gọi là vọng niệm. V́ sao đều gọi là vọng niệm? V́ trong chân tâm không có niệm, cho nên hữu niệm đều là vọng! Lại thưa cùng quư vị, hữu niệm là có phiền năo, hữu niệm là có chướng ngại. Trong kinh Hoa Nghiêm nói tới Sự vô ngại, Lư vô ngại, Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại; v́ sao đối với Ngài hết thảy đều không có chướng ngại? V́ Ngài vô niệm, vô niệm th́ chân tánh hoàn toàn hiển lộ; bởi lẽ, trong chân tâm vốn chẳng có vọng niệm.

      Trong Đại Thừa Khởi Tín Luận, Mă Minh Bồ Tát nói rất rơ ràng: “Bổn Giác vốn có, Bất Giác vốn không”. Bổn Giác là vô niệm, vô niệm mới giác. Hữu niệm là Bất Giác, Bất Giác là vô minh. Trên thực tế, hai câu nói ấy của Mă Minh Bồ Tát hoàn toàn có cùng một ư nghĩa với câu “tri kiến lập tri” của kinh Lăng Nghiêm; đó là hai cách diễn tả [khác nhau] của cùng một chuyện. Nói như vậy th́ chúng ta khởi tâm động niệm để niệm A Di Đà Phật có phải cũng là vọng niệm hay chăng? Trong Chân Như bổn tánh tuyệt đối không có một vị A Di Đà Phật! Nếu có A Di Đà Phật, lời của Lục Tổ đại sư đă nói sẽ chẳng thông! [Tổ nói] “vốn chẳng có một vật”, ai nói không có vật ǵ? Có A Di Đà Phật mà! V́ vậy, phải hiểu: Trong Chân Như bổn tánh, A Di Đà Phật cũng chẳng có!

     

      (Huyền Nghĩa) Niệm khởi tức quai.

      (玄義) 念起即乖。

      (Huyền Nghĩa: Niệm dấy lên bèn trật).

 

      “Quai” () là trái nghịch, trái nghịch chân tánh, cũng có nghĩa là trong chân tánh của quư vị dấy lên vô minh, chỉ cần hữu niệm th́ vô minh bèn dấy lên.

 

      (Huyền Nghĩa) Nhi chúng sanh vô thỉ dĩ lai, vọng tưởng quán tập, vị dị tốt khiển.

      (玄義) 而眾生無始以來,妄想慣習,未易卒遣。

      (Huyền Nghĩa: Nhưng chúng sanh từ vô thỉ đến nay đă quen thói vọng tưởng, chưa dễ ǵ trừ sạch).

 

      Từ vô thỉ kiếp đến nay quư vị mê muội, khởi vọng niệm, đời đời kiếp kiếp chẳng có cách nào khôi phục. Vọng niệm biến thành thói quen, quư vị muốn chẳng khởi vọng niệm cũng không được. Suốt ngày từ sáng đến tối vọng niệm chưa hề gián đoạn, ngay cả ngủ nghê cũng chẳng thật thà, vẫn c̣n nằm mộng. Nằm mộng là dấy vọng niệm; chẳng dấy vọng niệm sẽ không nằm mộng. V́ thế, vọng niệm rất khó thể trừ. “Khiển” () là gạt bỏ.

 

      (Huyền Nghĩa) Kim giáo niệm Phật.

      (玄義) 今教念佛。

      (Huyền Nghĩa: Nay dạy [hành nhân] niệm Phật).

 

      “Giáo” là dạy bảo. Dạy bảo quư vị phương pháp niệm Phật, phương pháp ấy chính là ǵ vậy?

 

      (Huyền Nghĩa) Thị năi dĩ độc công độc.

      (玄義) 是乃以毒攻毒。

      (Huyền Nghĩa: Là dùng độc trị độc).

 

      Dùng phương pháp như thế đó.

 

      (Huyền Nghĩa) Dụng binh chỉ binh.

      (玄義) 用兵止兵。

      (Huyền Nghĩa: Dùng quân dẹp quân).

 

      Đây là tỷ dụ, vọng niệm tổn hại Pháp Thân và huệ mạng của chúng ta, đó là chất độc. Bản thân chúng ta phải hiểu: Suốt ngày từ sáng đến tối có vọng tưởng nhiều ngần ấy, tồn tại vọng niệm nhiều ngần ấy. Chính ḿnh biết đó là bệnh, bệnh rất nặng! Niệm Phật là dùng một niệm để ngăn dứt hết thảy vọng niệm, đó gọi là “dùng độc trị độc”. Một câu A Di Đà Phật này cũng là chất độc, cũng là vọng niệm mà! Nếu suốt ngày từ sáng đến tối chỉ khởi lên một vọng niệm thôi, khá lắm! Chẳng đến nỗi dấy lên rất nhiều vọng niệm; v́ thế, trừ được tất cả các vọng niệm, chỉ giữ lại một vọng niệm này. Dùng một niệm để dứt hết thảy vọng niệm; lư luận của niệm Phật là như vậy. Nếu chẳng dùng phương pháp này, quư vị hăy nghĩ xem c̣n có phương pháp tốt đẹp nào khác để đoạn trừ vọng niệm hay chăng? Phương pháp th́ có, thường gọi là “tám vạn bốn ngàn pháp môn”, có thể có tới tám vạn bốn ngàn thứ, có vô lượng vô biên thứ, nhưng trong vô lượng vô biên phương pháp ấy, nói tới phương pháp hiệu quả nhất, dễ dàng đoạn vọng niệm nhất, không chi hơn niệm Phật!

      Niệm Phật th́ quư vị phải biết niệm, chưa thể dứt vọng niệm tức là quư vị chưa biết niệm. Người biết niệm th́ Phật hiệu có thể ngăn dứt vọng niệm. Chỉ cần quư vị có thể ngăn dứt vọng niệm, công phu sẽ đắc lực, nắm chắc văng sanh. Nếu Phật hiệu chẳng thể ngăn dứt vọng niệm, dẫu mỗi ngày niệm mười vạn câu Phật hiệu, cổ nhân bảo “rách toạc cuống họng cũng uổng công”, quư vị vẫn sanh tử luân hồi trong lục đạo! Chúng ta thật sự tu pháp môn Niệm Phật, thật sự muốn văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng thể không biết điều này! Như thế nào mới là biết niệm? Bất luận ư niệm nào, thiện niệm cũng vậy, mà vọng niệm cũng thế, ư niệm vừa dấy lên, ngay lập tức đổi nó thành Phật hiệu, dùng Phật hiệu để thay thế. Nói cách khác, chẳng dấy niệm th́ thôi; hễ dấy niệm bèn A Di Đà Phật, đó là biết niệm! Chẳng biết niệm th́ khóa tụng sáng tối niệm mấy câu A Di Đà Phật, trừ những lúc ấy ra, toàn là khởi vọng tưởng, tạo thị phi, nhân ngă, vậy là không được rồi! Đó gọi là “công phu chẳng đắc lực”. Khi niệm Phật khởi vọng tưởng, lúc nghe kinh cũng khởi vọng tưởng, tu hành như thế th́ tu suốt đời cũng chẳng có cách nào thoát khỏi lục đạo luân hồi, đó là sự thật!

      Mỗi vị đồng tu trong đạo tràng này, quư vị học Phật tuyệt đối chẳng phải là mới bắt đầu từ hôm nay trở đi, tuyệt đối chẳng phải là bắt đầu từ một đời này. Nếu đời này quư vị mới nghe Phật pháp, sẽ chẳng thể ngồi ở đây một tiếng rưỡi được! Quư vị có thể nghe kinh Di Đà ở nơi đây, đúng như kinh Kim Cang đă nói: Trong đời quá khứ, quư vị tuyệt đối chẳng phải đă gieo thiện căn nơi ba, bốn, năm đức Phật, mà là trong đời quá khứ, quư vị thân cận Phật, Bồ Tát, nghe pháp tu hành đă nhiều đời nhiều kiếp. Do vậy, quư vị mới có nhân duyên gặp được bộ kinh này. Quư vị ngồi nghe ở đây, nghe rồi trong tâm sanh hoan hỷ, chẳng phải là chuyện dễ. Đă là đời đời kiếp kiếp đều nghe pháp, nghe kinh, tu hành, v́ sao chẳng thành tựu? V́ công phu của quư vị chưa có cách ǵ đè nén phiền năo. Nếu trong đời quá khứ, công phu niệm Phật của quư vị thật sự đè nén phiền năo, quư vị đă sớm về Tây Phương Cực Lạc thế giới rồi, chẳng c̣n đến nơi này nữa! Trong đời quá khứ, chúng ta đă coi thường, dụng công chẳng đúng pháp, một câu Phật hiệu chẳng niệm cẩn thận. Nay lại gặp gỡ, đă gặp th́ phải giác ngộ, nhất định phải niệm tốt đẹp một câu Phật hiệu này!

      Cái tâm hữu niệm là một câu A Di Đà Phật, nhớ Phật, niệm Phật, tâm ta tưởng Phật, miệng ta niệm Phật. “Vô niệm” là không có hết thảy tạp niệm, không có hết thảy vọng niệm, như vậy th́ mới thành công. Mức độ thấp nhất là quư vị có thể sanh vào cơi Phàm Thánh Đồng Cư, là công phu thành phiến, không có tạp niệm. Phật hiệu quả thật có thể đè nén và khuất phục vọng tưởng và tạp niệm, đương nhiên công phu càng giỏi hơn nữa là khi chẳng c̣n vọng niệm, đoạn rồi! Chẳng c̣n vọng tưởng, đoạn hết rồi th́ gọi là nhất tâm bất loạn. Nhà Thiền gọi nhất tâm bất loạn là Thiền Định, Mật Tông gọi là “tương ứng”; văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng sanh vào cơi Phàm Thánh Đồng Cư, mà thuộc địa vị cao hơn, sanh vào cơi Phương Tiện Hữu Dư. Những điều này đều do bản thân chúng ta dụng công trong lúc b́nh thường.

      Nhất định phải hiểu lư luận, phải hiểu phương pháp. Vận dụng phương pháp này trong cuộc sống thường nhật của chúng ta để cuộc sống thường nhật của chúng ta sẽ là Sự Sự vô ngại giống như kinh Hoa Nghiêm đă nói, tức là bảo quư vị trong cuộc sống đừng quên một câu A Di Đà Phật. Có người hỏi: “Tôi niệm A Di Đà Phật trong pḥng vệ sinh có được hay chăng? Có thể niệm trong buồng tắm hay không? Có thể niệm trong khi ngủ nghỉ hay chăng? Có người nói chớ nên niệm ở những chỗ ấy, chớ nên niệm th́ chẳng phải là gián đoạn ư? Chẳng phải là có trở ngại ư?” Quư vị phải hiểu: Phật hiệu quyết định chớ gián đoạn, hễ gián đoạn sẽ khởi vọng tưởng. Ở những nơi như vậy, chúng ta thường nói tới cái tâm cung kính. Tâm cung kính là chúng ta niệm trong tâm, miệng đừng niệm ra tiếng, hăy niệm thầm. Trong Ấn Quang Đại Sư Văn Sao có nói: Trong t́nh huống hết sức đặc biệt phải niệm lớn tiếng, khi có người bệnh khổ, nhất là phụ nữ trong khi sanh nở, phải niệm lớn tiếng, niệm to giọng. Ngài nói: Niệm lớn tiếng, niệm to giọng, chẳng những sanh nở không đau đớn, mà c̣n sanh rất nhanh, mẹ và con đều b́nh an. Nói như vậy rất hợp lư, Phật pháp rất hợp t́nh người. Có những kẻ chẳng hiểu, bảo ở nơi này chẳng được, nơi nọ cũng không nên, hễ chẳng nên sẽ khởi vọng tưởng, khởi vọng tưởng bèn tạo tội nghiệp. Phật đại từ đại bi, lẽ nào khiến quư vị tạo nhiều tội nghiệp? Chẳng có lẽ ấy! V́ thế, phải biết: Một câu Phật hiệu này có thể giữ càng lâu càng hay, một ngày hai mươi bốn giờ đồng hồ đừng để nó gián đoạn. Khi ngủ say, quên phứt th́ không có cách ǵ; hễ tỉnh giấc, ngay lập tức tiếp tục niệm.

 

      (Huyền Nghĩa) Bệnh dũ khấu b́nh, tắc xả bệnh thể cánh vô tự thân, tức khấu đạo nguyên ngô xích tử.

      (玄義) 病愈寇平,則捨病體更無自身,即寇盜原吾赤子。

      (Huyền Nghĩa: “Bệnh lành, giặc yên”: Bỏ cái thân bệnh sẽ trọn chẳng có tự thân, giặc cướp vốn là con thơ của ta).

 

      “Bệnh dũ, khấu b́nh” tỷ dụ vọng tưởng chẳng c̣n nữa. Quư vị sử dụng phương pháp này thuần thục, tự nhiên vọng niệm chẳng c̣n nữa. Khi vọng tưởng chẳng c̣n nữa, quư vị mới hoảng nhiên đại ngộ, vọng vốn là chân! Cớ sao vọng là chân? Vọng tưởng vẫn do chân tánh khởi dụng, [tức là] chân tánh phát sanh tác dụng, nhưng là chân tánh khởi tác dụng khi mê. Chư Phật, Bồ Tát v́ chúng ta giảng kinh, thuyết pháp, nếu chúng ta hỏi các Ngài, các Ngài có khởi niệm hay chăng? Nếu các Ngài chẳng khởi niệm, làm sao có thể nói ra đạo lư nhiều dường ấy? Nói ra phương pháp nhiều dường ấy? Các Ngài có khởi niệm hay chăng? Thưa quư vị, các Ngài chẳng khởi niệm. Chẳng khởi niệm th́ v́ sao có thể nói pháp nhiều ngần ấy? Quư vị hăy tự ḿnh suy nghĩ: Khi quư vị từ sáng đến tối nói chuyện, trong tâm có phải suy nghĩ trước, ta nên nói câu này như thế nào, phải soạn nháp trước, có hay không? Có ai khi nói, vừa mở miệng th́ phải chuẩn bị soạn nháp sẵn: Câu đầu tiên ta nói như thế nào? Chữ thứ hai dùng như thế nào? Có hay không?

      Trong cuộc sống thường nhật, khi nói năng, chúng ta đều chẳng cần phải soạn nháp. Đức Phật nói năng chẳng khởi niệm. Chẳng khởi niệm th́ làm sao Ngài nói ra? Nói thật ra, đức Phật chẳng có pháp nào để có thể nói. Chẳng những là không có pháp nhất định để nói, mà quả thật đức Phật chẳng có pháp nào để nói. Ngài nói như thế nào? Thấy chúng sanh mê, Ngài bèn nói giác. Giác nhằm đối trị mê, mê là bệnh, giác là thuốc. Quư vị tham, đức Phật bèn nói vô tham. Quư vị nóng giận, đức Phật nói pháp không nóng giận. Hết thảy các pháp do đức Phật đă nói đều nhằm hoàn toàn đối lập, tương phản với tập khí phiền năo vô minh của chúng sanh, đưa ra những cách nhằm đối trị tập khí phiền năo vô minh của quư vị mà thôi! Bản thân đức Phật chuyện ǵ cũng chẳng có; do vậy, đức Phật thuyết pháp là v́ chúng sanh mà thuyết. Rời khỏi chúng sanh, tâm Phật thanh tịnh, một câu pháp cũng chẳng có. Nếu chúng sanh đă lành bệnh, đức Phật cũng chẳng có một câu pháp nào! V́ thế, trong tâm đức Phật không có pháp, chẳng lập một pháp nào!

      Đức Phật cũng chưa từng nói một câu pháp; trong kinh Kim Cang, đức Phật đă nói rất rơ ràng chuyện này. Giống như một thầy lang, trong tâm thầy lang không có toa thuốc. Nếu trong tâm ông ta có toa thuốc [cố định], nhất định sẽ hại chết cả đống người! V́ sao? Trong tâm ông ta có toa thuốc, bất luận người khác bị bệnh ǵ, [ông ta cứ khăng khăng]: “Ông phải uống loại thuốc này mới được”. Nếu quư vị rất may mắn, bệnh của quư vị khớp với toa thuốc ấy, [uống vô không sao]. Nếu quư vị uống vô bị chết th́ nói cách khác là quư vị chẳng mắc bệnh khớp với toa thuốc! Ông ta chẳng chịu trách nhiệm! Trong tâm thầy lang không có toa thuốc, khi chẩn đoán sẽ xét xem quư vị bịnh bệnh ǵ, cắt cho quư vị những loại thuốc nào, châm chước phân lượng, mỗi người khác nhau!

      Đức Phật thuyết pháp nhằm trị bệnh cho chúng ta. V́ thế, thuở đức Phật tại thế, chỉ cần có người đến gặp Phật, hướng về đức Phật nói ra nỗi đau khổ, sự phiền năo, mê hoặc của chính ḿnh, đức Phật ngay lập tức khai thị, quư vị sẽ hoảng nhiên đại ngộ, khai ngộ, chứng quả. Quư vị thấy trong kinh thường có chuyện như vậy. Nay chúng ta rất bất hạnh, đức Phật chẳng trụ thế, chúng ta muốn học Phật hết sức khó khăn, giống như thân chúng ta đang bệnh mà chẳng có thầy thuốc. Tuy thầy thuốc chẳng hiện diện, trước kia, Ngài đă kê cả đống toa thuốc cho người khác, tức là kinh điển Tam Tạng gồm mười hai thể loại. Nay chúng ta lấy toa thuốc để trị bệnh của chính ḿnh, quư vị nghĩ xem toa thuốc nào đúng với chứng bệnh của chúng ta? Do vậy, chiếu theo kinh điển nào để tu hành cũng đều chẳng thể thành tựu, nguyên nhân là v́ những toa thuốc ấy chẳng phải kê cho chúng ta, thuở ấy, đức Phật kê toa cho người khác. Nay chúng ta mắc bệnh khác hẳn họ, mức độ nặng nhẹ cũng chẳng như nhau. Trong quá khứ người ta uống một tiền[1] thuốc là khỏi bệnh rồi, hiện thời ta uống tới một cân vẫn chưa lành bệnh. V́ sao? Quá nặng! Nếu hiểu đạo lư này th́ chính quư vị mới chẳng mê tín!

      Nhưng đức Phật cũng hết sức từ bi, biết trong tương lai khi Ngài chẳng trụ thế, có thời kỳ Tượng Pháp, lại c̣n có thời kỳ Mạt Pháp, chúng sanh hết sức đáng thương, tập khí phiền năo hết sức nặng nề, nên đặc biệt lưu lại một toa thuốc cho người đời sau, dành cho người trong thời Mạt Pháp, toa thuốc ấy chính là kinh A Di Đà, là pháp môn Niệm Phật. Rất đáng tiếc, những chúng sanh học Phật trong thời kỳ Mạt Pháp cứ khăng khăng coi thường, chẳng tôn trọng pháp môn này, chẳng chịu sử dụng, chớ trách đức Phật chẳng từ bi, hăy trách chính ḿnh ngu si chẳng chịu nghe lời. Đức Phật đă thọ kư phổ biến cho hết thảy đại chúng trong đời vị lai: “Thời kỳ Chánh Pháp, giới luật thành tựu”, chiếu theo giới luật tu hành, có thể chứng quả A La Hán. “Thời kỳ Tượng Pháp, Thiền Định thành tựu”, chiếu theo giới luật tu hành chẳng thể chứng quả A La Hán. “Thời kỳ Mạt Pháp, Tịnh Độ thành tựu”, tức là niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Nói cách khác, Thiền cũng chẳng thể thành tựu. Trong thời kỳ Mạt Pháp, người tham Thiền có thể đắc Thiền Định, nhưng chưa thể kiến tánh. Đắc Thiền Định, trong tương lai, công phu cao nhất cũng chẳng qua là sanh vào Tứ Thiền Thiên mà thôi, chẳng thể vượt thoát tam giới, chẳng thể liễu sanh thoát tử! Chúng ta suy nghĩ kỹ càng những lời ấy sẽ thấy hoàn toàn chính xác, chẳng sai tí nào!

      Niệm Phật thành tựu, niệm Phật có phải là minh tâm kiến tánh hay không? Chưa phải! Chưa phải th́ làm sao có thể coi là thành tựu? Người ấy văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, chẳng ở trong thế giới Sa Bà nữa, đă thoát ra rồi, giống như nay chúng ta nói “đă di dân” vậy. Thân phận ǵ? Vẫn là thân phận trời người, trọn chẳng phải là chứng A La Hán, cũng chẳng phải là chứng Bích Chi Phật, cũng chẳng phải là Bồ Tát, mà là thân phận con người! Thân phận trời người, đến Tây Phương Cực Lạc thế giới vẫn là người. Trong kinh nói rất rơ ràng: Thế giới Tây Phương không có ba ác đạo, đương nhiên chỉ có hai nẻo trời người. V́ thế, chúng ta văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới vẫn là người. Nếu cao hơn một bậc so với người th́ là trời, mang thân phận trời hay người từ thế giới Sa Bà di dân sang Tây Phương Cực Lạc thế giới, chuyện là như vậy đó. Phương pháp này quả thật quá xảo diệu! Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới bèn chứng trọn vẹn ba thứ Bất Thoái, thành Phật trong một đời. Pháp môn này chẳng thể nghĩ bàn! Mầu nhiệm chẳng thể diễn tả được!

      Tuần sau, chúng ta tổ chức đại chuyên giảng ṭa ở nơi đây, trong ṿng bảy ngày chúng tôi sẽ giới thiệu kinh Di Đà với các đồng học. Phải thảo luận cặn kẽ chuyện to lớn này, nếu quư vị thật sự hiểu rơ th́ đối với pháp môn này, sẽ chết sạch ḷng mong ngóng, khăng khăng tu học, chắc chắn quư vị sẽ thành công trong một đời này. Phải hiểu rơ lư luận và phương pháp th́ tín tâm của quư vị mới đầy đủ. Quư vị chẳng hoài nghi, công phu đừng nên gián đoạn, quyết định thành tựu. Trong tương lai, nếu có phước báo, chúng tôi tạo dựng đạo tràng tu hành này giống như một giảng đường nhằm tiếp dẫn, kiến lập tín tâm cho quư vị, khuyên quư vị phát nguyện. Thật sự tu hành th́ phải là Niệm Phật Đường. Bước vào Niệm Phật Đường, một câu Phật hiệu chẳng gián đoạn, giống như lần này chúng tôi giảng về Tinh Tấn Phật Thất. Trong Tinh Tấn Phật Thất chỉ có một câu danh hiệu, “A Di Đà Phật”.

      Trong mười hai thời là một câu Phật hiệu. Trừ một câu Phật hiệu ra, thứ ǵ cũng chẳng có, chẳng có tạp niệm! Niệm một câu “A Di Đà Phật thân kim sắc” vẫn là vọng niệm, có thêm một vọng niệm. V́ thế, Tinh Tấn Phật Thất, “tinh” là thuần chứ không tạp, ngay cả Nam-mô cũng chẳng cần. Nam-mô là có xen tạp trong ấy, đấy là một câu A Di Đà Phật. Kinh dạy chúng ta chấp tŕ danh hiệu, danh hiệu là bốn chữ. Trong mười hai thời [chấp tŕ danh hiệu] chẳng gián đoạn. Xưa kia, khi Ấn Quang đại sư ở chùa Báo Quốc núi Linh Nham, Niệm Phật Đường của Ngài là như vậy, trong mười hai thời, tức là một ngày hai mươi bốn tiếng đồng hồ, Phật hiệu chẳng gián đoạn. Ban đêm th́ làm như thế nào? Ban đêm mọi người luân phiên niệm, trong Niệm Phật Đường nhất định có người niệm Phật. Bốn người một ban luân phiên niệm, ngày đêm chẳng gián đoạn, suốt cả năm chẳng gián đoạn, cũng chẳng nghỉ phép, đó gọi là đạo tràng tu hành.

      Đạo tràng ấy chẳng giảng kinh, giảng kinh là xen tạp. Đạo tràng ấy chẳng thể giảng kinh, cũng chẳng thể giảng khai thị. Giảng khai thị cũng là xen tạp, một câu Phật hiệu niệm đến cùng. Nếu có đạo tràng như thế, chẳng biết sẽ giúp cho bao nhiêu người thành Phật, công đức vô lượng vô biên. Hiện thời v́ sao không có đạo tràng như vậy xuất hiện, quư vị có biết v́ sao hay chăng? Nếu có một đạo tràng như thế, chẳng ai đến cả! Đương nhiên đạo tràng ấy chẳng thể xuất hiện, không có ai đến mà! Quư vị đến ở trong đó ba ngày sẽ mệt mỏi khôn kham, nơi này không được rồi, nơi này suốt ngày từ sáng đến tối niệm Phật, tôi chịu không nổi! Quư vị chẳng đến đó. Người tu hành như vậy, thưa quư vị, chẳng phải là đạo tràng pháp hội thông thường, chẳng phải là đạo tràng cần rất nhiều tín đồ t́m đến, không có!

      Quư vị thấy Sơ Tổ Tịnh Độ Tông là Huệ Viễn đại sư đời Tấn, Ngài là người kiến lập liên xă đầu tiên tại Trung Quốc, tức Đông Lâm Liên Xă. Mọi người ở cùng một chỗ niệm Phật cộng tu, bao nhiêu người? Một trăm hai mươi ba người, ai nấy đều văng sanh. Đạo tràng nhỏ nhoi, mười mấy người, bảy tám người, có cùng chí hướng cộng tu đều văng sanh. Chúng ta đọc Tây Phương Xác Chỉ, thấy những người được Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát một phen khai thị chỉ có tất cả mười hai người, mười hai người ai nấy đều văng sanh. Đạo tràng tu hành chân chánh nhất định chẳng phan duyên, nếu chẳng phải là người chí đồng đạo hợp, chớ nên cho họ gia nhập, v́ sao? Họ đến gây rối, nhiễu loạn mọi người, đến phá hoại đạo tràng. V́ thế, nhất định chẳng chấp thuận họ.

       Nay chúng ta muốn cầu được pháp duyên thù thắng như Viễn Công đại sư chẳng dễ dàng. T́m hơn một trăm người chẳng dễ! Có thể t́m được mười mấy, hai mươi người đă tuyệt lắm rồi! Mười mấy, hai mươi người thật sự phát nguyện, lấy cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ làm mục đích, có được mấy vị hộ pháp, chẳng phải lo ǵ về lương thực, chi dụng. Thưa quư vị, trong đạo tràng giống như vậy, niệm Phật ba năm là xong rồi, quyết định văng sanh, đầy đủ điều kiện văng sanh Tịnh Độ. Đại sự này là chuyện thù thắng nhất trong Phật môn, phải đợi các đồng tu chúng ta phát tâm cùng nhau nỗ lực. Nhân duyên ấy chẳng phải là nhân duyên thông thường, mà là nhân duyên thù thắng khôn sánh. Chỉ cần chúng ta có nguyện ấy, tôi tin tưởng đạo tràng ấy sớm muộn ǵ cũng sẽ xuất hiện.

      Câu cuối cùng mang ư nghĩa “chân - vọng bất nhị, tánh - tướng nhất như”. Chúng ta đọc lời chú giải.

     

      (Sớ) Khởi Tín Luận vân: “Tâm thể ly niệm”.

      () 起信論云:心體離念。

      (Sớ: Khởi Tín Luận viết: “Tâm thể ly niệm”).

 

      “Tâm” là nói đến chân tánh. “Thể” là bản thể. Chân tâm là bản thể của hết thảy vạn pháp. Trong kinh Hoa Nghiêm, đức Phật đă giảng rất rơ ràng: “Ưng quán pháp giới tánh, nhất thiết duy tâm tạo” (Hăy nên quán tánh pháp giới, hết thảy đều do tâm tạo). Y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”. Bản thể của tâm đích xác là chẳng có niệm.

 

      (Sớ) Nhi khởi niệm niệm Phật, khởi bất phản nhiễu kỳ tâm?

      () 而起念念佛,豈不反擾其心。

      (Sớ: Nhưng dấy lên ư niệm niệm Phật, há chẳng phải là ngược ngạo nhiễu loạn cái tâm ư?)      

 

Đây là một đoạn vấn đáp giả định. Nay chúng ta khởi tâm động niệm muốn niệm A Di Đà Phật, nhưng tâm thể chẳng có niệm; thật ra, đối với câu nói này, chúng ta phải suy nghĩ, câu trả lời ở ngay chỗ này. Nếu tâm chúng ta không có niệm, chúng ta cần ǵ phải niệm A Di Đà Phật? Niệm A Di Đà Phật có phải là tăng thêm vọng niệm hay chăng? Hiện thời, v́ trong tâm chúng ta vọng niệm không ngừng, nên mới phải niệm A Di Đà Phật. Nếu thật sự vô niệm th́ niệm Phật hiệu để làm ǵ? Do vậy, phải hiểu đạo lư này! “Niệm mà vô niệm, vô niệm mà niệm”. Đây là nói về tu nhân, trong tương lai khi chứng quả sẽ là “sanh mà vô sanh, vô sanh mà sanh”. Chúng ta hăy t́m cơ hội để nghiên cứu thảo luận kỹ lưỡng bộ sách Tịnh Độ Sanh Vô Sanh Luận. V́ sao? Quư vị sẽ chẳng hoài nghi Tây Phương thế giới, thật sự hiểu rơ, thấu triệt, biết văng sanh là chuyện như thế nào, hiểu rơ ràng, rành rẽ. Lần này tôi mang từ Hương Cảng về một cuốn chú giải tác phẩm Sanh Vô Sanh Luận, chú giải hết sức hay do cư sĩ Quư Thánh Nhất viết vào đầu thời Dân Quốc. Đây là một vị đại đức rất lỗi lạc vào đầu thời Dân Quốc. Tác phẩm của ông ta nội dung rất sâu, nhưng ngôn từ dễ hiểu, đơn giản hơn cổ nhân, viết rất cặn kẽ. Khi có cơ duyên, chúng ta có thể cùng nhau nghiên cứu, thảo luận.

 

      (Sớ) Phật Tạng Kinh vân.

      () 佛藏經云。

      (Sớ: Kinh Phật Tạng dạy...)  

 

      Phật Tạng Kinh[2] là tên một bộ kinh, trong Đại Tạng Kinh có một bộ kinh như vậy.

 

      (Sớ) “Vô giác vô quán, danh vi niệm Phật, vô tưởng vô ngữ, thị danh niệm Phật”, nhi khởi niệm niệm Phật, khởi bất phản bội ư Phật?

      () 無覺無觀,名為念佛。無想無語,是名念佛。而起念念佛,豈不反背於佛?

      (Sớ: “Vô giác vô quán th́ gọi là niệm Phật; không suy tưởng, không nói năng, đó gọi là niệm Phật”. Vậy th́ khởi lên ư niệm niệm Phật, há chẳng phải là trái nghịch Phật ư?)

      Dựa theo kinh, tức Phật Tạng Kinh, để làm căn cứ lư luận th́ theo ư nghĩa này, chúng ta chớ nên khởi tâm động niệm. Chẳng khởi tâm, chẳng động niệm là chánh niệm. Chẳng khởi tâm, chẳng động niệm là niệm Phật chân chánh. V́ sao trong kinh này (kinh A Di Đà), đức Phật lại dạy chúng ta khởi tâm động niệm niệm Phật? Chúng ta xem lời thuyết minh dưới đây sẽ biết.

 

      (Sớ) Kim vị diệt chư giác quán, Thật Tướng Niệm Phật, Lư tắc thành nhiên.

      () 今謂滅諸覺觀,實相念佛,理則誠然。

      (Sớ: Nay nói diệt các giác quán là Thật Tướng Niệm Phật, về Lư th́ đúng là như vậy).

 

      Đây là câu trả lời cho hai câu hỏi phía trên. Chiếu theo [những điều đă hỏi trong] phần trước để nói, xét theo lư luận chẳng sai một tí nào! Cảnh giới được nói trong phần trên là cảnh giới cao nhất trong pháp môn Niệm Phật. Chúng ta thường nói niệm Phật gồm có bốn loại lớn, c̣n như chúng ta nay đang đề xướng Tŕ Danh Niệm Phật, suốt ngày từ sáng đến tối một câu A Di Đà Phật chẳng gián đoạn, đó là Tŕ Danh Niệm Phật, là pháp được đề xướng phổ biến trong Tịnh Độ. Ngoài pháp này ra, c̣n có Quán Tượng Niệm Phật. Người có phước báo kha khá mới tu Quán Tượng Niệm Phật được! V́ sao? Quư vị rất rảnh rỗi, chẳng phải đi làm, suốt ngày từ sáng đến tối có người hầu hạ. Trong Phật Đường của chính ḿnh bốn phía đều treo h́nh A Di Đà Phật, bất luận quư vị đi tới đâu, mắt đều thấy tượng Phật, khiến cho tượng Phật bầu bạn với quư vị, khiến cho ấn tượng về Phật in đậm trong A Lại Da Thức, đó gọi là Quán Tượng Niệm Phật. Nếu quư vị rời khỏi Phật Đường, chẳng thấy tượng Phật nữa, sẽ quên phứt. Quư vị suốt ngày từ sáng đến tối chẳng thể rời khỏi Phật Đường, chẳng thể rời khỏi h́nh tượng Phật th́ phải là người rất rảnh rỗi, phải rất có phước báo th́ mới được, chẳng giống như Tŕ Danh Niệm Phật, vừa làm việc vừa có thể niệm Phật, chẳng bị trở ngại ǵ!

      Phương pháp niệm Phật thứ ba c̣n rắc rối hơn loại này, đó là Quán Tưởng Niệm Phật. Tuy có thể chẳng cần phải đối trước tượng Phật, nhưng quư vị phải quán thành tựu những phương pháp đă dạy trong Thập Lục Quán Kinh; nếu quán chẳng thành sẽ vô ích. Chẳng hạn như phép Quán thứ nhất là “lạc nhật huyền cổ” (mặt trời lặn giống như cái trống treo). Quư vị thấy mặt trời lặn xuống sau núi, lặn về phía Tây, khi mặt trời lặn xuống sau núi, đỏ rực, như thế nào mới là quán thành? Sau khi quư vị đă quán thành tựu, bất luận ở chỗ nào, khi mở mắt, mặt trời luôn ở trước mặt, khi nhắm mắt, mặt trời vẫn hiện diện, đó mới gọi là “quán thành”. Quư vị mở mắt mà trước mặt chẳng có mặt trời, tức là chưa quán thành. Cách này c̣n khó hơn quán tượng! Phép Quán thứ hai là “đại hải kết băng” (biển cả đóng băng), thấy băng trong suốt, tưởng là lưu ly. Sau khi quán thành, nếu quư vị ở trong giảng đường này, hiện thời chúng ta thấy nền lót bằng đá mài[3], quư vị thấy đất này là đất lưu ly, phỉ thúy. Nếu quư vị thấy nền bằng đá mài giống như chúng tôi tức là quư vị chưa quán thành công phép Quán ấy, chẳng dễ đâu, rất khó! V́ thế, đối với Thập Lục Quán Kinh, chúng ta có thể nghiên cứu lư luận, chứ thật ra, những phương pháp trong ấy chúng ta chẳng thể làm được, tuyệt đối chẳng phải là kẻ tầm thường mà có thể thực hiện thành công!

       Cách thứ tư là Thật Tướng Niệm Phật, là phương pháp được nói đến ở đây: Vô niệm mà niệm chính là Thật Tướng Niệm Phật. Ĺa hết thảy các tướng th́ gọi là Thật Tướng, “trực tâm chánh niệm Chân Như” chính là cảnh giới này. Khởi Tín Luận và Phật Tạng Kinh nói tới cảnh giới này, là [cảnh giới] Thật Tướng Niệm Phật cao nhất trong pháp môn Niệm Phật. Do vậy, xét theo lư luận th́ chẳng sai, “Lư tắc thành nhiên” (về Lư, đúng là như vậy), nhưng hiện thời chúng ta chưa làm được, chúng ta chưa đạt cảnh giới cao như thế được!

 

      (Sớ) Đản dĩ tâm tuy ly niệm, nhi vô minh nhiễm tâm, niệm niệm tương tục.

      () 但以心雖離念,而無明染心,念念相續。

      (Sớ: Nhưng v́ tâm tuy ĺa niệm, tâm lại bị nhơ bởi vô minh, niệm niệm nối tiếp).

 

      Đây là nói về cảnh giới của chúng ta trong hiện tại, tức cảnh giới phàm phu. Nói theo Lư th́ [“tâm thể ly niệm”] không sai, về Sự th́ chẳng được! Chúng ta bị vô minh ô nhiễm, ô nhiễm chính là tham, sân, si, mạn, là vô lượng vô biên phiền năo. Chúng ta chưa thể đoạn tập khí phiền năo, niệm niệm tiếp nối, vọng tưởng này tiếp nối vọng tưởng kia, ngày đêm chẳng gián đoạn, phiền quá! Tiếp theo đó, Ngài nêu ra một tỷ dụ.

 

      (Sớ) Như thất niên chi bệnh.

      () 如七年之病。

      (Sớ: Như bệnh đă bảy năm).

 

      Bệnh đă quá lâu, thân thể suy nhược, không dậy nổi.

 

      (Sớ) Cửu loạn chi dân.   

      () 久亂之民。

      (Sớ: Dân trong thời loạn lạc đă lâu).

 

      Thời cuộc chẳng ổn định, đă trải qua thời chiến tranh loạn lạc quá lâu.

 

      (Sớ) Cố viết “quán tập”.

      () 故曰慣習。

      (Sớ: Nên nói là “đă quen thói”).

 

      V́ thế, nay chúng ta khởi tâm động niệm suốt ngày từ sáng đến tối khởi vọng tưởng, đă biến thành thói quen, biến thành tự nhiên, muốn đoạn cũng chẳng đoạn được!

 

      (Sớ) Tư dục miễn cưỡng át nại, lập sử không tịch, nhi chỉ động quy chỉ, chỉ cánh di động.

      () 茲欲勉強遏捺,立使空寂,而止動歸止,止更彌動。

      (Sớ: Nay muốn dồn ép đè nén cho tâm không tịch ngay lập tức, dứt động để trở về lặng lẽ th́ càng dứt lại càng động).

 

      Nói rơ phàm phu vọng niệm dấy lên, ch́m xuống, chúng ta muốn ép cho nó khuất phục, sẽ chèn ép không được, càng chèn ép [vọng niệm] càng nhiều! Khi quư vị chẳng mong thanh tịnh, dường như vọng niệm c̣n ít, quư vị vừa nghĩ đến thanh tịnh th́ vọng niệm đặc biệt nhiều! Nếu quư vị không tin, có thể thử xem. Nay quư vị ngồi ở đây nghe kinh, cảm thấy dường như chẳng có vọng niệm ǵ. Nếu bảo quư vị tịnh tọa, bảo quư vị ngồi xếp bằng ở đó, niệm Phật được mười phút, chẳng biết có bao nhiêu vọng niệm dấy lên! Bèn niệm Phật mong chèn ép nó, càng ép, càng nhiều! Thật ra, vọng niệm nhiều ngần ấy do đâu mà có? Thưa với quư vị, nó vốn sẵn có. Lúc b́nh thường, quư vị không chú ư, chẳng nhận biết nó có nhiều dường ấy! Nay trong lúc tâm vừa mong tịch tĩnh, chợt phát hiện vọng niệm vốn nhiều ngần ấy, tuyệt đối chẳng phải do ta muốn tĩnh lặng nên mới có vọng niệm. Xong rồi! Tĩnh tọa không được! Hễ tĩnh tọa vọng niệm luôn dấy lên; chẳng tĩnh tọa th́ không có! Quư vị phải biết: Khi chẳng tĩnh tọa, vọng niệm vẫn thường như thế, nhưng quư vị không nhận biết. Nếu quư vị thật sự hiểu rơ đạo lư này, quư vị sẽ biết tĩnh tọa là tốt, v́ sao? Khi tĩnh tọa, phát hiện [tâm có quá nhiều vọng niệm], đă phát hiện th́ càng phải nên tĩnh tọa! Chỉ cần quư vị có thể tĩnh tọa niệm Phật cho khéo, những vọng niệm ấy sẽ dần dần giảm ít, công phu đắc lực! Nếu quư vị sợ hăi “hễ ta ngồi sẽ có vọng niệm; thôi! Ta chẳng ngồi nữa” th́ những vọng niệm ấy vĩnh viễn chẳng đoạn. V́ thế, chớ nên sợ nó!

 

      (Sớ) Túng thô niệm tạm tức, tế niệm do tồn, tiện vị tương ứng, thác mậu phi tiểu.

      () 縱粗念暫息,細念猶存,便謂相應,錯謬非小。

      (Sớ: Dẫu thô niệm tạm dứt, tế niệm vẫn c̣n, liền nói là “đă tương ứng”, đấy là lầm lẫn chẳng nhỏ).

 

       Chúng ta phải đặc biệt chú ư mấy câu này. V́ sao? Hiện thời có nhiều người tâm ư thô tháp, đạt được một chút cảnh giới nhỏ nhặt liền ngỡ ḿnh ghê gớm lắm, dường như chính ḿnh đă thành tựu rồi, lầm mất rồi! Nhất là trong xă hội hiện thời, con người thường mang tâm lư mưu mẹo, chụp giật, phần nhiều mang ḷng cầu may, hy vọng chẳng cần phải tốn công sức ǵ, chẳng phải khổ sở tu tập chi hết mà vẫn có thể tu hành chứng quả, luôn có cái tâm tham cầu tiện nghi. Quư vị hăy nghĩ xem: Tu hành chứng quả há có thể tham cầu tiện nghi ư? Mang cái tâm ấy tức là không thật thà, chẳng phải là hảo tâm, làm sao có thể thành Phật cho được? Làm sao có thể thành chánh quả? Chúng ta phải giác ngộ điều này! Học Phật nhất định phải dùng cái tâm chân thành, đừng lừa gạt chính ḿnh, đừng dối gạt kẻ khác, phải chân, phải thành, quyết định chớ nên có tâm lư cầu may!

      Ở ngoại quốc, tôi thấy có nhiều kẻ học Thiền, học Mật luôn coi rẻ hết thảy, khinh thường người khác. Nghiễm nhiên c̣n có Thượng Sư xoa đầu thọ kư cho họ, nói họ đă minh tâm kiến tánh, đă đại triệt đại ngộ rồi. Tôi sang bên đó giảng kinh, những người ấy cũng đến nghe, nghe xong, cũng có người hiu hiu tự đắc tiến lên hỏi tôi, gần như là mong tôi ấn chứng cho họ có phải là bậc đại triệt đại ngộ hay không. Họ hỏi tôi, tôi bèn bảo họ: “Các ông chưa ngộ!” Bọn họ rất tức giận: “Tôi đă được thọ kư, tôi đă đại triệt đại ngộ, cớ sao thầy nói tôi chưa ngộ?” Quư vị hăy nghĩ xem, bọn họ đă ngộ hay chưa? Nếu họ đă ngộ, cớ sao c̣n nổi giận đùng đùng? Hễ nổi nóng, đương nhiên chưa khai ngộ! Đó là sự thật, ngay lập tức bọn họ lộ nguyên h́nh. Tôi bảo họ: “Nếu các ông thật sự đại triệt đại ngộ, sẽ chẳng đến hỏi tôi câu này. Các ông hỏi tôi câu ấy, tôi trả lời: Tôi c̣n chưa khai ngộ, làm sao các ông có thể khai ngộ? Người khai ngộ tâm b́nh khí ḥa, lẽ đâu nổi quạu? Lẽ đâu trừng mắt? Do các ông bực bội, trừng mắt, chứng tỏ các ông hoàn toàn chưa khai ngộ. Nói cách khác, kẻ thọ kư đă lừa gạt các ông. Đó là bỡn cợt, giống như lũ con nít trong nhà trẻ (ấu trĩ viên, kindergarten), hắn ta đội cho các ông cái mũ Tiến Sĩ, hôm nay các ông đạt được học vị Tiến Sĩ, giả trất! Xă hội chẳng công nhận!”

      Khi chúng ta niệm Phật đạt đến mức khinh an, thân tâm sung sướng, phiền năo ít đi, trí huệ tăng trưởng, có đúng là thành tựu hay chăng? Chưa phải! “Thô niệm tạm tức, tế niệm do tồn” (thô niệm tạm dứt, tế niệm vẫn c̣n), vẫn c̣n tế niệm, vẫn chưa đoạn! Nhưng nói thật ra, hai câu này chẳng phải là nói với chúng ta, về phía chúng ta th́ ngay cả tạm dứt thô niệm cũng chưa dứt được! Lời này để nói với bậc A La Hán, nói với người tham Thiền đă đắc Cửu Thứ Đệ Định, chẳng phải để nói với những kẻ tầm thường; người tầm thường không có tư cách ấy. Người tầm thường nếu chứng Tứ Thiền Bát Định bèn có thể tạm thời chế ngự thô niệm, chẳng phải là dứt. Dứt là đă đoạn hết. [Chế ngự thô niệm giống như] đá đè cỏ mà thôi! Bỏ đá đi, cỏ lại mọc dài ra. Đó là nói về Tứ Thiền Bát Định, c̣n ở đây là nói về A La Hán, cũng là như trong kinh Lăng Nghiêm nói: “Nội thủ u nhàn, do vi Pháp Trần phân biệt ảnh sự” (giữ lấy sự u nhàn trong nội tâm, vẫn là chuyện thuộc về bóng dáng của Pháp Trần)[4]. Thích Ca Mâu Ni Phật đă phê b́nh bậc Tiểu Thừa A La Hán như vậy. Đủ thấy bậc Tiểu Thừa đắc A La Hán đă đoạn Kiến Tư phiền năo, đă có năng lực vượt thoát tam giới, chẳng c̣n luân hồi trong lục đạo nữa, họ thuộc về cảnh giới nào? Chính là cảnh giới này! Tế niệm vẫn c̣n. Tuy tế niệm vẫn c̣n, nhưng chính họ không biết. Nếu họ biết th́ sẽ đoạn được!

      Do vậy, điều thứ nhất là người tu hành chúng ta phải tự biết ḿnh, phải nhận thức chính ḿnh, v́ sao? Biết chính ḿnh có bệnh th́ tự ḿnh mới biết t́m thầy thuốc chữa trị. Cái thân ḿnh có bệnh nhưng chính ḿnh chẳng biết c̣n tự khoe là rất khỏe mạnh, chẳng t́m thầy thuốc, chẳng đi khám bệnh, không có tâm cảnh giác. V́ thế, trước hết phải nhận biết căn bệnh của chính ḿnh, nhận thức t́nh trạng bệnh tật của chính ḿnh, quư vị mới biết dùng phương pháp nào để đối trị và tự cứu chính ḿnh như thế nào. A La Hán đạt đến cảnh giới này, chẳng biết ḿnh vẫn c̣n có những Hoặc (phiền năo) vi tế; do vậy, họ chẳng có tâm tiến lên, đạt đến chỗ này bèn ngưng dứt, tự cho là công đức đă viên măn. Đó là chứng Thiên Chân Niết Bàn, người ấy ngỡ là đă chứng Đại Niết Bàn, chẳng c̣n cầu tiến bộ nữa. Trong hội Lăng Nghiêm, Thích Ca Mâu Ni Phật đặc biệt nói ra cảnh giới của họ: Cảnh giới của quư vị chưa phải là cảnh giới rốt ráo, công phu của quư vị chỉ thành tựu một nửa, hăy c̣n một nửa khác mà quư vị hoàn toàn chẳng liễu giải. Nếu quư vị nghĩ là tương ứng th́ lầm mất rồi, lầm lẫn rất lớn, chẳng nhỏ đâu!

      Nay chúng ta là người tu hành, có thể nói căn bệnh lớn nhất là chẳng nhận biết chính ḿnh, cả thân đầy bệnh mà tự ḿnh chẳng biết, cả thân đầy lỗi mà chẳng tự thừa nhận. V́ thế, cổ đức thường nói: “Thánh nhân cả thân đầy bệnh, nên gọi là thánh nhân; hiền nhân mắc bệnh đôi chút, phàm phu về căn bản là chẳng có bệnh ǵ!” V́ sao về căn bản chẳng có bệnh ǵ? Chẳng biết! Chẳng hiểu chính ḿnh có bệnh. Hiền nhân phát hiện chính ḿnh bị bệnh một phần, thánh nhân hoàn toàn biết rơ căn bệnh, biết lỗi liền sửa. Chẳng biết lỗi th́ sửa cái ǵ đây? Nếu quư vị bảo người khác: “Ông có lỗi lầm này nọ”, người ấy chẳng thừa nhận, quư vị biết kẻ đó là người b́nh thường, chẳng phải là thánh nhân, chẳng phải là Bồ Tát. Nếu người ấy là thánh nhân, hay là Bồ Tát, sẽ biết cả thân đầy bệnh! Con người quư ở chỗ biết lỗi, biết lỗi có thể sửa đổi. Kẻ chẳng biết chính ḿnh có bệnh, không được rồi, hết thuốc chữa! Phật chẳng có cách nào cứu kẻ ấy. Kẻ tự biết lỗi của chính ḿnh th́ Phật có thể cứu hắn được!

 

      (Sớ) Kư cư phàm địa.

      () 既居凡地。

      (Sớ: Đă thuộc địa vị phàm phu).

 

      Ở đây nói đến chúng ta trong hiện thời, chúng ta hiện đang là phàm phu.

 

      (Sớ) Vị năng tuyệt lự vong duyên.

      () 未能絕慮忘緣。

      (Sớ: Chưa thể dứt lo nghĩ, quên duyên).

     

      “Lự” () là ư niệm. Trong tâm chúng ta, một niệm này khởi lên, niệm kia diệt mất. “Duyên” () là cảnh giới bên ngoài, là hoàn cảnh vật chất và hoàn cảnh nhân sự (quan hệ giữa con người với nhau). Bên ngoài có ngoại duyên đến quấy nhiễu quư vị, bên trong tâm động chẳng ngừng, vọng niệm sanh diệt không ngớt. Đó là căn bệnh của chúng ta do Phật, Bồ Tát đă chỉ ra.

 

      (Sớ) Hà bất tức duyên lự nhi tác tu tấn.

      () 何不即緣慮而作修進。

      (Sớ: Sao chẳng dùng ngay duyên lự để tấn tu?)

 

      Dạy chúng ta một phương pháp đối trị: Dùng duyên lự để tấn tu. Quư vị thấy “lự” ấy chẳng phải là vọng niệm tơi bời hay sao? Nay chúng ta niệm A Di Đà Phật th́ “lự” ấy chỉ là một lự, tức là A Di Đà Phật. Duyên th́ trong đạo tràng này của chúng ta, đồng tham đạo hữu ở cùng một chỗ đó là duyên lự. Chúng ta dùng duyên lự này sẽ có thể tấn tu, đấy là biện pháp “theo đường trở về nhà”.

 

      (Sớ) Cố dĩ niệm hoàn công ư niệm.

      () 故以念還攻於念。

      (Sớ: V́ thế, lấy niệm để trị ngược các vọng niệm).

 

      “Dĩ niệm” là dùng một niệm A Di Đà Phật để “công ư niệm” tức là dùng niệm này để tấn công hết thảy vọng niệm, dùng một niệm này để dẹp sạch tất cả vọng niệm. Tŕ danh niệm Phật được kiến lập trên căn cứ lư luận như thế đó.

     

      (Sớ) Niệm nhất Phật danh, hoán bỉ bách thiên vạn ức chi tạp niệm dă.

      () 念一佛名,換彼百千萬億之雜念也。

      (Sớ: Niệm một danh hiệu Phật để thay thế trăm ngàn vạn ức tạp niệm).

 

      Câu này là nói toạc ra cho chúng ta [nhận biết] v́ sao chúng ta phải niệm Phật? Vẫn có những kẻ tự cậy thông minh, coi thường pháp môn Niệm Phật, nói pháp môn Niệm Phật này cứ niệm Phật có ích ǵ đâu? Nếu quư vị cung kính A Di Đà Phật, mà hằng ngày kêu réo Ngài, Ngài chẳng phiền ḷng ư! Quư vị yêu mến Ngài cách nào đi nữa, Ngài cũng chán ngán! Ví như đứa con gọi bố, suốt ngày từ sáng đến tối nó cứ không ngớt: “Bố ơi! Bố ơi!” Bố nó có chán ghét nó hay chăng? Kẻ ấy nói: “Quư vị cứ nhất định phải niệm Phật, Phật cũng chán ghét quư vị”. Chúng ta thoạt nghe [lời biện luận ấy] cũng cảm thấy rất có lư, cho nên chẳng niệm. Thật ra, kẻ ấy chẳng biết: Niệm Phật nhằm đoạn vọng niệm của chính ḿnh. Chúng ta hăy suy nghĩ: Chúng ta không niệm Phật, có vọng niệm hay không? Có! Có vọng niệm là không được rồi! Vọng niệm là căn bản của sanh tử trong lục đạo, chúng ta dùng câu Phật hiệu này giống như dùng thuốc nhằm chấm dứt vọng niệm, khác với người thường gọi cha. Quư vị nhất định phải hiểu rơ đạo lư này. Thường có những kẻ học Phật tự nghĩ ḿnh cao minh, nhưng trên thực tế chẳng hề liễu giải, chính họ cũng suốt ngày từ sáng đến tối dấy vọng tưởng, mà chẳng có cách nào chế ngự, ngăn dứt! Nay chúng ta có được phương pháp này, những kẻ ấy c̣n hủy báng, c̣n phê b́nh, tức là mắc vô lượng vô biên tội nghiệp! V́ thế, người thật sự niệm Phật, người ta nói ǵ cũng đều chẳng cần nghe, v́ sao? Hễ quư vị nghe, chẳng phải là tăng trưởng vọng niệm hay chăng? Vấn đề ǵ cũng chẳng cần phải đi khắp nơi hỏi người khác. Hỏi người khác, nếu thật sự gặp được bậc cao minh, vị ấy có thể giải đáp vấn đề; lỡ gặp phải kẻ dở dở ương ương, đâm ra họ càng khiến cho quư vị gặp rối ren thêm! Quư vị chẳng hỏi th́ c̣n đỡ, càng hỏi càng rối beng, hỏi đến cuối cùng ngay cả Phật cũng chẳng c̣n tin nữa!

 

      (Sớ) Nhi vọng tùng chân khởi, ba trục thủy sanh, tức niệm tức không, cư nhiên bản thể.

      () 而妄從真起,波逐水生,即念即空,居然本體。

     (Sớ: Nhưng vọng từ chân khởi, sóng từ nước sanh, niệm chính là không, không chính là niệm, bản thể rành rành).

 

       “Vọng tùng chân khởi”: Vọng ở đây là nói niệm Phật. Niệm Phật cũng là vọng niệm. Tuy niệm Phật là vọng niệm, nhưng vọng niệm ấy nếu ĺa khỏi chân tánh th́ c̣n có vọng niệm ấy hay chăng? V́ thế, vọng niệm sanh khởi từ chân tánh, giống như sóng, sóng do nước sanh ra. Ĺa khỏi nước, đâu c̣n sóng ṃi! Coi nước là chân, coi sóng là vọng, hoàn toàn là nói theo Lư. “Tức niệm tức không, cư nhiên bản thể”: Chữ “tức niệm tức không” có hai ư nghĩa, chính là nói “chân - vọng bất nhị”.

1) Ư nghĩa thứ nhất là “niệm cực nhi không”, tức là quư vị niệm đến mức công phu thuần thục, vọng niệm chẳng c̣n nữa. Vọng niệm chẳng c̣n, câu Phật hiệu này cũng chẳng c̣n, kinh gọi cảnh giới này là nhất tâm bất loạn. Đó chính là cảnh giới Lư nhất tâm bất loạn. V́ thế, phương pháp Niệm Phật này có thể niệm đến mức đắc Định giống như Thiền Tông, niệm đến mức đắc Định là Sự nhất tâm bất loạn, thành tựu Niệm Phật tam-muội. Cao hơn nữa là có thể phá vô minh, có thể chứng Pháp Thân, có thể thấy bổn tánh, kinh gọi đó là Lư nhất tâm bất loạn. Dùng phương pháp này để niệm đến mức “niệm cực nhi không”.

      2) Ư nghĩa thứ hai là quán sát từ bản thể, “niệm thể bổn không” (bản thể của niệm vốn là Không). Trong chân tánh vốn chẳng có một vật nào; nếu quư vị có thể hiểu rơ đạo lư này, sẽ suốt ngày niệm Phật mà suốt ngày vô niệm. Sự niệm Phật ấy chẳng chấp tướng. Tuy chẳng chấp tướng, Phật hiệu chẳng gián đoạn. Phương pháp niệm như vậy cao minh, lại c̣n thụ dụng lớn nhất, tương ứng với Bát Nhă, tam luân thể không, “niệm mà vô niệm, vô niệm mà niệm”. Phật hiệu có đoạn hay chăng? Quyết định chẳng đoạn! Trong mười hai thời, Phật hiệu chẳng dứt. Bởi lẽ, người ấy hiểu niệm và vô niệm chẳng có chướng ngại, trên mặt Lư th́ vô niệm, trên mặt Sự là có niệm. Lư chẳng trở ngại Sự, Sự chẳng trở ngại Lư, Lư Sự vô ngại. Cách niệm này rất cao minh, thụ dụng vô cùng, rất dễ đạt đến thân tâm thanh tịnh, đắc nhất tâm bất loạn; lại c̣n có thể vận dụng lư luận và sự thụ dụng ấy vào cuộc sống thường ngày. Chúng ta từ sáng đến tối ăn cơm, mặc áo, đăi người, tiếp vật, đều có thể là niệm mà vô niệm, vô niệm mà niệm. Kinh Hoa Nghiêm bảo đó là “Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại”. Cuộc sống hiện tại đă thuộc vào cảnh giới giải thoát, đắc đại tự tại, đó là nói ở mức độ cao. V́ thế, pháp môn này tuyệt đối chẳng đơn giản!

      Cũng chính v́ như vậy, người niệm Phật chúng ta chẳng thể không thâm nhập, nghiên cứu, thảo luận A Di Đà Kinh Sớ Sao và Yếu Giải, v́ sao? Nếu quư vị không thâm nhập, nghiên cứu, thảo luận, sẽ chẳng hiểu nhiều đạo lư vi diệu trong ấy, chẳng biết thật sự thụ dụng. Nếu quư vị chẳng hiểu lư luận, phương pháp, cảnh giới này, niệm một câu A Di Đà Phật lâu ngày sẽ niệm uể oải, sẽ niệm đến mức chán ngán, niệm đến cuối cùng chẳng thích niệm nữa: “Ta niệm đă bao nhiêu năm, chỗ tốt đẹp ǵ cũng chẳng có! Cảm ứng ǵ cũng chẳng có”. Xong luôn! Kẻ ấy chẳng niệm nữa. Nguyên nhân là do không hiểu lư luận, không hiểu phương pháp, chẳng biết cảnh giới, cổ nhân bảo là “tu mù, luyện đui”. Nếu quư vị thật sự hiểu rơ, niệm Phật hiệu câu nào cũng đều sanh tâm hoan hỷ, câu nào cũng phấn chấn tinh thần, khi mệt nhọc, niệm mấy tiếng A Di Đà Phật, tinh thần lại khá hơn. Niệm mấy câu A Di Đà Phật mà chẳng thể phấn chấn tinh thần, tức là quư vị niệm chẳng đúng pháp!

      Năm ngoái, tôi giảng kinh ở Cựu Kim Sơn (San Francisco), gặp một người từ Trung Quốc Đại Lục sang Mỹ, nói đă học vơ thuật tại chùa Thiếu Lâm, công phu khá cao. Ông ta nghe tôi giảng kinh, nói với các đồng tu ở phía dưới: “Vị pháp sư này công phu cao, công phu thuộc mức độ cao”. Người ta nói: “Nh́n từ chỗ nào?” “Nh́n vào tinh thần, nh́n vào khí sắc, là một cao thủ cao lắm”. Người khác đến hỏi tôi: “Bạch pháp sư, thầy có luyện vơ công hay chăng?” Tôi đáp: “Không có!” “Ông ta nói công phu của thầy thuộc mức độ cao!” Đến cuối cùng, ông ta đến nói chuyện với tôi, nói đến lúc hỏi [tại sao thầy không luyện vơ mà công phu] cao như vậy? [Tôi trả lời] tôi niệm A Di Đà Phật. Ông ta phải tu bao nhiêu năm mới có thể đạt đến cảnh giới như thế, tôi chỉ niệm A Di Đà Phật mà cũng chẳng thua kém ông ta, quả thật là như thế. V́ thế, một câu A Di Đà Phật là chất dinh dưỡng tốt nhất. Thật sự biết niệm, trường sanh bất lăo! So với bất cứ đồ bổ nào trong hiện thời đều hữu hiệu hơn, linh hơn bất cứ linh dược tiên đan nào! Quư vị chẳng biết niệm, có cách nào hay chăng? Biết niệm, sẽ có thể đạt được thụ dụng như vậy. V́ thế, nhất định phải nghiêm túc nghiên cứu, thảo luận bộ kinh này.

     

      (Sớ) Phi ư niệm ngoại biệt đắc Bồ Đề, cố vân: “Vạn pháp hư ngụy, duy thị nhất tâm, liễu ngộ tự tâm, xúc mục Bồ Đề hỹ”.

      () 非於念外別得菩提。故云萬法虛偽,唯是一心,了悟自心,觸目菩提矣。

      (Sớ: Chẳng phải là đắc Bồ Đề ở ngoài niệm, cho nên nói: “Muôn pháp hư dối, chỉ là nhất tâm. Liễu ngộ tự tâm th́ những ǵ chạm vào mắt đều là Bồ Đề”).

 

      Đây là thật sự nhập cảnh giới, thật sự chỗ nào cũng là đạo, pháp nào cũng đều thật. Bài thơ du ngoạn Lô Sơn của Tô Đông Pha có câu: “Khê thanh tận thị quảng trường thiệt, sơn sắc vô phi thanh tịnh thân” (Tiếng suối là tướng lưỡi rộng dài, sắc núi không ǵ chẳng phải là thân thanh tịnh). Đấy là nói vận dụng phương pháp Niệm Phật ḥng chứng đắc Pháp Thân.

 

      (Sớ) Dụ như bệnh thể sưu thời.

      () 喻如病體瘳時。

      (Sớ: Ví như khi cái thân bệnh tật đă lành).

 

      Bệnh ấy đă khỏi.

     

      (Sớ) Tiện danh kiện thể.

      () 便名健體。

      (Sớ: Bèn gọi là thân thể khỏe mạnh).

 

      Người đă khôi phục sức khỏe.

 

      (Sớ) Loạn dân định hậu, tức thị lương dân.

      () 亂民定後,即是良民。

      (Sớ: Dân làm loạn sau khi đă dẹp yên bèn là dân lành).

 

      Cái thân bị bệnh và cái thân đă lành mạnh là cùng một thân, chẳng phải là hai thân thể. Vọng niệm và chánh niệm cũng là một tâm, chẳng phải hai tâm.

     

      (Sớ) Khử niệm nhi cầu tâm, thị y tất diệt thân nhi liệu bệnh, tướng tất đồ quốc nhi an dân dă, khởi lư dă tai?

      () 去念而求心,是醫必滅身而療病,將必屠國而安民也,豈理也哉。

      (Sớ: Trừ khử niệm để cầu tâm là như thầy thuốc ắt phải diệt cái thân để chữa bệnh, như ông tướng phải tàn sát cả nước để an dân, há có lẽ ấy chăng?)

           

      Đây là chứng minh, nếu dùng sai cái tâm, dùng sai phương pháp, lầm lẫn quá đỗi! Nếu quư vị nói: Nếu tôi trị bệnh, muốn chữa cho lành bệnh, làm thế nào mới trị lành bệnh được? Hủy diệt thân thể này, bệnh sẽ chẳng c̣n nữa! Quư vị hăy nghĩ xem: Phương pháp ấy có tốt đẹp hay chăng? Làm thế nào để b́nh định dân làm loạn và ổn định cơi đời loạn lạc? Giết sạch hết mọi người! Đó là cách suy nghĩ sai lầm, cách làm sai quấy. V́ thế, Phật, Bồ Tát, bậc quân tử có ḷng nhân, thấy kẻ ác bèn khởi tâm niệm ǵ? Làm thế nào để cảm hóa hắn, khiến hắn trở thành một người tốt, quyết chẳng thấy kẻ ác bèn không màng tới, đuổi hắn đi, hoặc giết chết hắn, đó chẳng phải là biện pháp đúng. Phật pháp nói tam thế nhân quả báo ứng, đời này quư vị giết kẻ khác, đời sau kẻ ấy giết quư vị, oán cừu càng kết càng sâu, đời đời kiếp kiếp vĩnh viễn chẳng xong! V́ thế, nhất định phải dùng [biện pháp] cảm hóa, quyết định chẳng thể dùng bạo lực. Hôm nay chúng tôi giảng đến đoạn này.

 

Tập 66

 

      Xin xem A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Hội Bản, trang chín mươi:

 

      (Huyền Nghĩa) Cửu, xảo thị nhân ư văng sanh thật ngộ Vô Sanh giả.

      (玄義) 九、巧示因於往生實悟無生者。

      (Huyền Nghĩa: Chín là khéo léo chỉ dạy: Do văng sanh mà thật sự ngộ Vô Sanh).

 

      Đây là nhân duyên thứ chín trong các nhân duyên. “Xảo” () là vô cùng hay khéo, cũng có nghĩa là chỉ dạy rất hay khéo: Chính v́ văng sanh th́ mới có thể thật sự ngộ nhập Vô Sanh. Có thể nói là nhân duyên này khiến cho người ta cảm thấy rất hào hứng. Mọi người học Phật đều đặt mục tiêu là cầu đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn. Trong bài Kệ Hồi Hướng chúng ta niệm hằng ngày, có câu: “Hoa khai kiến Phật ngộ Vô Sanh”. “Ngộ Vô Sanh” là một thành tựu thật sự trong quá tŕnh tu học của Bồ Tát. Vô Sanh cũng là “sống đời đời” (vĩnh sanh) như các tôn giáo khác thường mong tưởng. Nói thật ra, các tôn giáo khác nói đến sự sống đời đời đều chẳng phải là thật, Thiên Đường trọn chẳng phải là sống đời đời, hiểu lầm rồi! Thật sự sống đời đời là trong Đại Thừa Phật pháp. A La Hán và Bích Chi Phật của Tiểu Thừa đều chưa đạt đến địa vị này. Do vậy, “ngộ Vô Sanh” là chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, là một thứ thành tựu mang tánh chất quyết định, là sự thành tựu chân thật.

 

      (Huyền Nghĩa) Thất Địa cẩn danh hiện tướng, Bát Địa năi đắc Vô Sanh.

      (玄義) 七地僅名現相,八地乃得無生。

      (Huyền Nghĩa: Thất Địa chỉ gọi là “hiện tướng”. Bát Địa mới đắc Vô Sanh).

 

      Quư vị nghĩ xem: Vô Sanh Pháp Nhẫn là địa vị như thế nào? Địa vị Thất Địa Bồ Tát khá cao, được coi là đă chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn. Vô Sanh Pháp Nhẫn có ba phẩm: Thượng phẩm, trung phẩm và hạ phẩm. Thất Địa Bồ Tát chứng đắc hạ phẩm Vô Sanh Pháp Nhẫn, Bát Địa là trung phẩm, Cửu Địa là thượng phẩm. Đến Đệ Thập Địa là Pháp Vân Địa, chẳng gọi là Vô Sanh Nhẫn mà gọi là Tịch Diệt Nhẫn, nhập cảnh giới của Phật, thanh tịnh tịch diệt. Thập Địa Bồ Tát là hạ phẩm Tịch Diệt Nhẫn, Đẳng Giác Bồ Tát là trung phẩm Tịch Diệt Nhẫn, Như Lai quả địa là thượng phẩm Tịch Diệt Nhẫn. Đạt đến Pháp Vân Địa th́ có thể nói cảnh giới chẳng khác ǵ Phật.

      “Thất Địa cẩn danh hiện tướng” (Thất Địa chỉ gọi là hiện tướng): Đây là tỷ dụ, trước hết, thấy phương Đông có sắc trắng, đấy là mặt trời sắp mọc, nhưng vẫn chưa mọc. Thất Địa Bồ Tát chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn có t́nh trạng giống như vậy, chưa thật sự đạt được, nhưng hết sức gần gũi. Đă thấy phương Đông tỏa sắc trắng, nhưng mặt trời chưa mọc, trong chốc lát sẽ mọc, dùng chuyện này để sánh ví cảnh giới của Thất Địa. Tuy Thất Địa Bồ Tát tu Vô Tướng Quán đă thành tựu, đă ĺa khỏi phân biệt, chấp trước, nhưng những ǵ do thức hiện vẫn chưa trừ hết, chưa thể đại tự tại, chỉ gọi là “hiện tướng” mà thôi!

      “Bát Địa năi đắc Vô Sanh” (Bát Địa mới đắc Vô Sanh), Bát Địa Bồ Tát c̣n gọi là Bất Động Địa. Bất luận trong cảnh giới nào, tâm địa vẫn thanh tịnh, quyết chẳng bị cảnh giới bên ngoài lay động, tự ḿnh thật sự làm chủ tể trong hết thảy cảnh giới nên gọi là Bất Động Địa. Khi ấy, Ngài đă chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, giống như sớm mai mặt trời đă mọc. Tánh b́nh đẳng hiện tiền, nếu chúng ta dùng lư luận của Duy Thức để nói cho dễ hiểu hơn th́: Chuyển thức thứ bảy thành B́nh Đẳng Tánh Trí, thật sự chuyển được. V́ thế, thật sự đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn. Do chỗ này, chúng ta cũng có được một khái niệm rất rơ ràng, Thất Địa Bồ Tát chuyển thức thứ sáu, tức Ư Thức, thành Diệu Quán Sát Trí, thức thứ bảy, tức Mạt Na Thức, cũng chuyển thành B́nh Đẳng Tánh Trí, nhưng chưa thể chuyển hoàn toàn, đến Bát Địa mới là chuyển hoàn toàn. Quư vị phải hiểu: Hai thứ Trí này đă chuyển được th́ thức thứ tám chuyển thành Đại Viên Kính Trí, năm thức trước (Nhăn Thức, Nhĩ Thức v.v..) chuyển thành Thành Sở Tác Trí, đồng thời chuyển! Chuyển Thức thành Trí là “lục, thất nhân địa chuyển, ngũ bát quả thượng chuyển” (thức thứ sáu và thức thứ bảy chuyển trong khi tu nhân, năm thức trước và thức thứ tám sẽ chuyển khi chứng quả). Hễ thức thứ sáu và thức bảy đă chuyển th́ năm thức trước và thức thứ tám cũng đồng thời chuyển theo. Nói cách khác, đạt đến Bát Địa Bồ Tát mới thật sự chuyển tám thức thành bốn trí, đấy mới thật sự là chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn.

      Trong bài kệ Hồi Hướng có câu: “Hoa khai kiến Phật ngộ Vô Sanh”, tức là chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, đến khi ấy mới triệt để liễu giải hết thảy các pháp bất sanh bất diệt, quư vị bèn thấy đó chính là tướng chân thật của hết thảy các pháp, hết thảy các pháp không có sanh diệt. Nay chúng ta thấy hết thảy các pháp có sanh, có diệt, thấy động vật có sanh, già, bệnh, chết, thấy thực vật có sanh, trụ, dị, diệt (mọc lên, tăng trưởng, biến đổi, diệt mất), khoáng vật và quả địa cầu này có thành, trụ, hoại, không. Đấy đều là tướng sanh diệt! Đức Phật dạy chúng ta: Tướng sanh diệt ấy là huyễn tướng, chẳng phải là chân tướng. Chúng ta thấy huyễn tướng, chẳng thấy tướng chân thật của vạn pháp trong vũ trụ. Tướng chân thật của vạn pháp trong vũ trụ là bất sanh bất diệt. Lời nói này quá huyền diệu, nói thật ra, đây chẳng phải là cảnh giới của chúng ta, cũng chẳng phải là điều chúng ta có thể lănh hội bằng kiến thức thông thường! Đây là cảnh giới Hiện Lượng của Phật và các vị đại Bồ Tát, phải là từ Bát Địa Bồ Tát trở lên, những vị ấy đích thân thấy hết thảy các pháp bất sanh, bất diệt.

      Phải như thế nào th́ mới có thể chứng đắc? Có nhiều pháp môn, tông phái đều có rất nhiều lư luận và phương pháp tu hành. Người niệm Phật chúng ta có thể chứng đắc hay không, đó là chuyện chúng ta rất quan tâm. Nếu niệm Phật chẳng thể chứng đắc th́ c̣n phải tu pháp môn khác. Ở đây, đại sư bảo chúng ta: Người niệm Phật có thể chứng đắc. Không chỉ có thể chứng đắc, mà c̣n chứng đắc dễ dàng hơn các pháp môn khác, v́ sao? Hễ quư vị văng sanh liền chứng đắc. “Nhân ư văng sanh thật ngộ Vô Sanh” (Do văng sanh bèn thật sự ngộ Vô Sanh), ngộ Vô Sanh chính là chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn.

     

      (Huyền Nghĩa) Nhi cực dục diệt sanh dĩ cầu Vô Sanh, di cầu di viễn.

      (玄義) 而亟欲滅生以求無生,彌求彌遠。

      (Huyền Nghĩa: Nhưng muốn cực lực diệt sanh để cầu Vô Sanh th́ càng cầu càng xa).

 

      Có những người nôn nóng muốn chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn, họ chứng bằng cách nào? Đoạn trừ sanh, sanh đoạn trừ th́ dường như là Vô Sanh; thật ra đă phạm sai lầm! Nhưng cách suy nghĩ, quan niệm ấy, nói thật ra, kể từ khi Phật pháp chưa truyền đến Trung Quốc, người Trung Quốc đă có kẻ nghĩ theo cách ấy rồi, giống như Lăo Tử đă nói: “Ngô hữu đại hoạn, vị ngô hữu thân”, [nghĩa là] ta có mối lo âu lớn là v́ ta có thân. Nếu không có thân sẽ tốt hơn nhiều lắm, không có thân sẽ tự tại lắm! Không có thân th́ tối thiểu là quư vị chẳng cần phải bươn chải v́ cơm áo. Thân cần phải ăn cơm, thân cần phải mặc áo, thân cần phải sống trong nhà. Quư vị không có thân th́ những phiền năo, ưu lự đều chẳng có; làm thế nào để bỏ được cái thân này? Trước kia, đă có chẳng ít người có cách suy nghĩ giống như vậy!

      Trong tam giới, Vô Sắc Giới thiên không cần thân, vô sắc mà! Họ suy nghĩ như vậy. Trong Sắc Giới, [chư thiên thuộc] mười tám tầng trời trong Tứ Thiền có thân, nhưng chư thiên trong Tứ Không Thiên không có thân, đấy là cảnh giới tối cao của phàm phu. Quư vị phải hiểu: Phàm phu cao cấp chẳng cần thân thể, họ được tự tại! Nhưng đây chẳng phải là biện pháp [giải quyết rốt ráo], tuy chẳng cần thân, thần thức vẫn tồn tại (người Hoa gọi “thần thức” là “linh hồn”). Trong Thiền Định rất sâu như thế, quả thật vọng niệm chẳng sanh, v́ họ có công năng định lực. Công năng định lực hoàn toàn khống chế phiền năo, thời gian duy tŕ công năng định lực của họ rất dài, tám vạn đại kiếp! Đấy cũng là thọ mạng của chư thiên trong Tứ Không Thiên, nhưng khi tám vạn đại kiếp đă hết, họ bị thoái chuyển công lực, sau khi thoái chuyển vẫn phải luân hồi trong lục đạo, đủ thấy đây chẳng phải là rốt ráo! Cách cầu như thế là “di cầu di viễn”, [tức là] càng cầu càng xa, chẳng phải là thật, giả trất!

 

      (Huyền Nghĩa) Kim dĩ cầu sanh Tịnh Độ, năi ngộ Vô Sanh, nhập Hữu đắc Không, tức phàm thành thánh, khả vị thông huyền bí quyết, hoán cốt thần đan.

      (玄義) 今以求生淨土,乃悟無生,入有得空,即凡成聖,可謂通玄秘訣,換骨神丹。

      (Huyền Nghĩa: Nay do cầu sanh Tịnh Độ bèn ngộ Vô Sanh, nhập Hữu mà đắc Không, từ phàm trở thành thánh, có thể nói là bí quyết để thông đạt lẽ u huyền, là thuốc thần để thay xương).

 

      Quư vị tu Tịnh Độ thật sự chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, “cầu sanh Tịnh Độ” là từ Hữu môn mà tiến nhập. Kinh dạy rất rơ ràng, “hữu thế giới danh viết Cực Lạc, hữu Phật hiệu A Di Đà, kim hiện tại thuyết pháp” (có thế giới tên là Cực Lạc, có Phật hiệu A Di Đà, nay c̣n đang thuyết pháp). Đấy là từ Hữu môn mà tiến nhập. Từ Hữu môn tiến vào chỗ ấy nghe pháp tu hành, chắc chắn có thể ngộ Vô Sanh. V́ thế, nói là “đắc Không”. Đắc Không là đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn. “Nhập Hữu” là phàm phu, “đắc Không” là chứng thánh quả. V́ thế, “tức phàm thành thánh”. Hai câu cuối cùng là lời tán thán; quả thật có thể nói là “thông huyền bí quyết”, văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, “huyền” là Vô Sanh. Chúng ta cũng mong chứng đắc Vô Sanh, thông đạt Vô Sanh. Văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, niệm Phật là bí quyết chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn. “Hoán cốt thần đan”, thoát thai hoán cốt[5], chữ “thần đan” tỷ dụ niệm Phật. Niệm Phật sanh về Tịnh Độ; thoát thai hoán cốt là giống như siêu phàm nhập thánh, chúng ta sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới là phàm phu, sau khi sang nơi đó bèn thành thánh nhân. Viên chứng ba thứ Bất Thoái, lẽ nào chẳng thành thánh nhân?

 

      (Sớ) Cẩn danh hiện tướng giả.

      () 僅名現相者。

      (Sớ: Chỉ gọi là “hiện tướng”)

 

      Đây là cảnh giới của bậc Bồ Tát trụ nơi Thất Địa.

 

      (Sớ) Hoa Nghiêm địa địa giai viết Vô Sanh, nhi chánh đắc năi quy Bát Địa.

      () 華嚴地地皆曰無生,而正得乃歸八地。

      (Sớ: [Các địa vị Bồ Tát trong Thập Địa của] kinh Hoa Nghiêm, địa nào cũng đều gọi là Vô Sanh, nhưng thật sự đắc Vô Sanh phải là Bát Địa).

 

      Mỗi một Địa từ Sơ Địa trở đi đều có thể nói là chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, nhưng thật sự chứng đắc là Đệ Bát Địa. Sơ Địa Bồ Tát giống như phương Đông ửng sắc trắng, măi cho đến Thất Địa đương nhiên độ sáng ngày càng rơ hơn, nhưng mặt trời chưa mọc, đến Bát Địa mặt trời mới ló dạng. Đây là tỷ dụ Đăng Địa Bồ Tát (chứng nhập từ Sơ Địa Bồ Tát trở lên) đă thấy phương Đông ửng sắc trắng, trời sắp sáng, Thất Địa và Bát Địa hết sức gần gũi.

 

      (Sớ) Kỳ Thất Địa vân: “Tịnh vô lượng thân khẩu ư, đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn quang minh”.

  () 其七地云:淨無量身口意,得無生法忍光明。

(Sớ: [Kinh Hoa Nghiêm] giảng về Thất Địa như sau: “Thanh tịnh vô lượng thân, miệng, ư, có được ánh sáng của Vô Sanh Pháp Nhẫn”).

     

      Kinh dạy như vậy. “Tịnh vô lượng thân khẩu ư” là Thất Địa Bồ Tát dùng thâm tâm (“thâm tâm” trong ba thứ Bồ Đề tâm), có thể nói thâm tâm ấy là cái tâm thanh tịnh rất sâu, thành tựu thân nghiệp, ngữ nghiệp, ư nghiệp. Thân thanh tịnh, ngữ thanh tịnh, ư thanh tịnh, đó gọi là “tịnh vô lượng thân khẩu ư”. Đạt đến cảnh giới này, có thể nói là tất cả hết thảy các ác nghiệp, bất thiện nghiệp đạo thảy đều đă tách ĺa, đều không c̣n nữa. Phàm là hết thảy những nghiệp bất thiện như đức Phật đă nói trong kinh điển, hàng Thất Địa Bồ Tát chắc chắn chẳng có. Phàm là hết thảy những thiện nghiệp như trong kinh điển đă dạy, hàng Thất Địa Bồ Tát nhất định trọn đủ. Do vậy nói là “thanh tịnh vô lượng thân khẩu ư”. Nói cách khác, Bồ Tát tu hành đến tŕnh độ và cảnh giới này, sẽ thuần thiện, không lầm lỗi; đừng nói là tội nghiệp, ngay cả sai lầm cũng chẳng có. Đấy là bậc Thất Địa Bồ Tát. “Đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn quang minh”: Vị ấy đă đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn quang minh. Lời Sớ dưới đây là do Thanh Lương đại sư chú giải, tức là lời Sớ của kinh Hoa Nghiêm.

 

      (Sớ) Sớ vị: Vô Sanh Pháp Nhẫn, Bát Địa sở đắc.

      () 疏謂:無生法忍,八地所得。

      (Sớ: Hoa Nghiêm Kinh Sớ viết: “Vô Sanh Pháp Nhẫn là sở đắc của Bát Địa”).

     

      Thanh Lương đại sư giải thích: Bát Địa mới thật sự đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn.

 

      (Sớ) Kim tư Thất Địa, ư bỉ Pháp Nhẫn minh tướng hiện tiền, vị vi chân đắc.

      () 今玆七地,於彼法忍明相現前,未為真得。

      (Sớ: Nay đối với bậc Thất Địa, tướng sáng của môn Pháp Nhẫn ấy đă hiện tiền, chưa phải là thật sự đắc).

 

      “Minh tướng hiện tiền”, trên bầu trời hết sức sáng sủa, nhưng mặt trời chưa mọc! Cảnh giới của Thất Địa là như vậy.

     

      (Sớ) Như Quán Kinh Sớ.

      () 如觀經疏。

      (Sớ: Như Quán Kinh Sớ có nói).

 

      Đây là bản chú sớ Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh do Trí Giả đại sư viết.

     

      (Sớ) Dĩ Vô Sanh tức thuộc Sơ Trụ.

      () 以無生即屬初住。

      (Sớ: Vô Sanh thuộc vào Sơ Trụ).

 

      Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo có thể nói là đă chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, nhưng sự chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn ấy chính là như Thất Địa Bồ Tát thấy tướng quang minh trong phần trên.

 

      (Sớ) Ư lược đồng thử.

      () 意略同此。

      (Sớ: Đại khái giống với ư nghĩa được nói ở đây).

     

      Trí Giả đại sư thuộc tông Thiên Thai; tông Thiên Thai nói Sơ Trụ Bồ Tát đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, c̣n Thanh Lương đại sư của tông Hoa Nghiêm nói từ Sơ Địa trở lên chỉ đắc tướng sáng của Vô Sanh Pháp Nhẫn hiện tiền. [Tông Thiên Thai nói Sơ Trụ Bồ Tát đă đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn] theo ư nghĩa này, [tức là] vị ấy chưa thật sự đắc. Lời giảng của Trí Giả đại sư và thuyết của Thanh Lương đại sư có ư nghĩa giống nhau, đều là nói họ (tức hàng Bồ Tát chưa đạt đến Bát Địa) đă thấy được tướng sáng của Vô Sanh Pháp Nhẫn, trọn chẳng thật sự đạt được, chỉ có thể coi là đạt được; chứ nói nghiêm ngặt th́ Đệ Bát Địa mới thật sự chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn.

      (Sớ) Năi chí Bát Địa, ly nhất thiết tâm ư thức phân biệt, thỉ danh chân đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn dă. Cố tri Vô Sanh, thánh thả nan chi, huống phàm bối hồ!

      () 乃至八地,離一切心意識分別,始名真得無生法忍也。故知無生,聖且難之,況凡輩乎。

      (Sớ: Cho đến Bát Địa, ĺa hết thảy tâm ư thức phân biệt, mới gọi là thật sự đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn. Cho nên biết: Đối với bậc thánh, Vô Sanh c̣n khó, huống là lũ phàm phu ư?)

 

      Do đây có thể biết: Chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn chẳng dễ dàng! Đối với thánh nhân mà nói th́ vẫn c̣n khá khó khăn, huống ǵ phàm phu? “Thánh nhân” được nói đến ở đây là hàng Thất Địa Bồ Tát trong Viên Giáo, địa vị này cao trỗi lắm, rất cao! Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo đă phá một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân. Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, ba mươi địa vị ấy đă phá ba mươi phẩm trong bốn mươi mốt phẩm vô minh, vẫn c̣n sót lại mười một phẩm vô minh. Khi ấy, mới thấy tướng sáng của Vô Sanh Pháp Nhẫn, lại phá bảy phẩm vô minh, đạt đến Đệ Bát Địa, mới thật sự chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn. Do vậy, “hoa khai kiến Phật ngộ Vô Sanh” đọc lên nghe rất đơn giản, nhưng thật sự đạt đến cảnh giới ấy chẳng hề đơn giản! Quư vị biết: Quư vị tu các pháp môn khác muốn đạt đến Bát Địa Bồ Tát th́ phải đến kiếp nào? Nói thật ra là quá xa xôi, quá mờ mịt! Ở đây, đại sư nói những lời này nhằm khích lệ chúng ta, chúng ta dùng pháp môn Niệm Phật này sẽ dễ dàng đạt được, sẽ nắm chắc, lại c̣n làm được ngay trong một đời. Tu những pháp môn khác muốn đạt đến cảnh giới này chẳng phải là chuyện dễ dàng, đúng là khó khăn!

      Đoạn văn kế tiếp hay vô cùng, giảng rơ cảnh giới. Chúng ta đọc xong, trong tâm thật sự chẳng hoài nghi. “Bát Địa Bồ Tát ly nhất thiết tâm ư thức phân biệt”, hoàn toàn chuyển Thức thành Trí, bỏ Thức dùng Căn. Trong bộ Lăng Nghiêm Kinh Chánh Mạch, Giao Quang đại sư đề xướng “bỏ Thức dùng Căn”, chữ “Thức” chỉ thức thứ sáu, thức thứ bảy, và thức thứ tám, “bỏ Thức, dùng Căn” tức là dùng tánh của Căn. Ngài đề xướng biện pháp này, dạy chúng ta hăy dùng Nhăn Căn để thấy, đừng dùng Nhăn Thức để thấy, chẳng dùng thức thứ sáu là Ư Thức để thấy, mà dùng ǵ để thấy? Dùng tánh Thấy để thấy. Đối với Nhĩ Thức, đừng dùng Nhĩ Thức để nghe, mà dùng tánh Nghe để nghe. Nếu quư vị có thể dùng theo cách như vậy, quư vị sẽ chẳng khác ǵ Thất Địa và Bát Địa Bồ Tát. Phương pháp này được bậc Địa Thượng Bồ Tát sử dụng, chẳng đơn giản! Lời Giao Quang đại sư xét theo lư luận không sai, nhưng trên thực tế, có mấy ai làm được? [Giảng giải] kinh Lăng Nghiêm xưa nay có hai phái:

1) Cổ phái là tuân theo tư tưởng của Thiên Thai đại sư, tức là tuân theo Trí Giả đại sư dùng Thức, vẫn nghiễm nhiên dùng thức thứ sáu tức Ư Thức và thức thứ bảy để tu hành, tu Tam Chỉ Tam Quán.

2) Tân phái chủ trương “xả Thức, dùng Căn”, đương nhiên là hay, giống như Lục Tổ, nhưng bậc Thượng Thượng Thừa mới có thể làm được. Từ Đại Thừa trở xuống đều làm chẳng được! V́ thế, những người học kinh Lăng Nghiêm, có rất nhiều người thích bản chú giải kinh Lăng Nghiêm thời cổ v́ nó hợp lư.

Chúng ta hăy bàn luận thế nào là “tâm ư thức”. Theo định nghĩa trong Duy Thức, Thức là phân biệt, “liễu biệt” (hiểu rơ, phân biệt rạch ṛi) được gọi là Thức, đặc biệt chỉ thức thứ sáu, tức Ư Thức, nay chúng ta cũng gọi nó là “tâm”. Ư thức, tức thức thứ sáu, khéo phân biệt, dấy vọng tưởng, nghĩ đến quá khứ, hiện tại, vị lai, đều là do thức thứ sáu (ư thức). Thức thứ bảy là chấp trước, “trù lượng danh ư” (tính toán, so lường danh và ư) chính là thức thứ bảy. Thức thứ bảy rất cố chấp, thức thứ sáu rất thường suy tưởng, khởi vọng tưởng rất nhiều, nhưng không chấp trước. Thức thứ bảy chấp trước thật lợi hại, chấp trước điều ǵ? Chấp trước Ngă. Thức thứ sáu không chấp trước Ngă, thức thứ bảy chấp trước Ngă. Ngă Chấp và Pháp Chấp đều do thức thứ bảy. Chướng ngại lớn nhất đối với tu hành chứng quả là chấp trước; v́ thế, thức thứ bảy gọi là Nhiễm Ô Ư. Thức thứ sáu phân biệt, suy nghĩ, chẳng tạo thành ô nhiễm; nhưng thức thứ bảy tạo thành ô nhiễm. Nói “ô nhiễm” tức là cái tâm tự tư tự lợi. Tự tư tự lợi là thức thứ bảy, trong thức thứ sáu không có điều này. Thức thứ bảy là tự tư tự lợi, cho nên biến thành ô nhiễm, ô nhiễm Chân Như bổn tánh. V́ thế, nó được gọi là Nhiễm Ô Ư, là thứ chẳng thanh tịnh. Hễ chuyển được thức thứ bảy, tâm sẽ thanh tịnh, sẽ b́nh đẳng. Chuyển không được thức thứ bảy, tâm quư vị chẳng b́nh đẳng, chẳng thanh tịnh. Đủ thấy người tu hành phải chuyển thức thứ bảy, mấu chốt trọng yếu nhất trong công phu tu hành là làm thế nào để chuyển biến thức thứ bảy.

Thức thứ tám giống như một cái kho, tất cả chủng tử thiện hay ác đều chứa trong đó. V́ thế, thức thứ tám gọi là Tạng Thức, Tạng () là kho lẫm. Chúng ta thấy sắc nghe tiếng đều lưu lại ấn tượng, ấn tượng đương nhiên phải có chỗ để cất giữ. Nếu chẳng có chỗ để cất giữ, sẽ chẳng có ấn tượng. Trong Duy Thức, ấn tượng được gọi là “chủng tử” (bīja, hạt giống). Chủng tử ấy được cất giữ trong A Lại Da Thức, tức thức thứ tám. Ngày hôm qua tôi gặp anh, hôm nay gặp mặt, tôi vẫn nhận biết anh. V́ sao nhận biết? Vừa gặp mặt th́ A Lại Da Thức giống như máy computer, đem dữ kiện [trong database] ra đối chiếu, đúng rồi, cái người tôi gặp hôm qua giống hệt anh, như vậy là cùng một người. Tốc độ [đối chiếu ấn tượng] rất nhanh, cho nên vừa thấy liền nhận biết. V́ sao? Giữ lại ấn tượng của ngày hôm qua, tập tin (file) ngày hôm qua đă nhập vào máy, hôm nay vừa gặp mặt lập tức hiện hành, ngay lập tức đối chiếu, không sai! Toàn bộ tập tin về anh đều có. Do vậy, A Lại Da Thức là một cái kho lớn, tốc độ [xuất nhập dữ liệu] hết sức nhanh, ấn tượng thiện hay ác đều giữ trong đó, ấn tượng đời đời kiếp kiếp cũng đều giữ trong đó.

      “Ly nhất thiết tâm ư thức phân biệt” (ĺa hết thảy tâm ư thức phân biệt) là nói ĺa khỏi thức thứ sáu, ĺa khỏi thức thứ sáu là ǵ? Là Diệu Quán Sát. Diệu Quán Sát Trí vốn có, thức thứ sáu tức Ư Thức vốn không, do mê nên mới có. Ngộ rồi sẽ chẳng c̣n nữa. Hễ ngộ, thức thức sáu tức Ư Thức chuyển biến thành Diệu Quán Sát Trí (Pratyaveksanā-jñāna). Nói thật ra, chuyện này chỉ là thay đổi danh tự, chẳng có thay đổi ǵ hết! Hễ mê th́ gọi là thức thứ sáu hay Ư Thức, lúc ngộ bèn gọi là Diệu Quán Sát Trí. Cùng một sự việc, chẳng phải là hai! Thức thứ bảy cũng giống như thế, hễ mê bèn gọi là Mạt Na Thức, hay thức thứ bảy; ngộ rồi th́ gọi là B́nh Đẳng Tánh Trí (Samatā-jñāna). A Lại Da Thức cũng giống như thế, mê th́ gọi là A Lại Da, ngộ rồi bèn gọi là Chân Như bổn tánh hay Đại Viên Kính Trí (Ādarsa-jñāna), mê hay ngộ mà thôi! Nơi Phật và Bồ Tát, không gọi những thứ đó là tám thức mà gọi là Tứ Trí Bồ Đề. Bồ Đề là giác, Tứ Trí đều giác. Nơi phàm phu chẳng gọi là Tứ Trí Bồ Đề mà gọi là Bát Thức. Bát Thức là danh xưng khi mê hoặc, điên đảo, Tứ Trí là danh xưng sau khi đại triệt đại ngộ, chuyện là như vậy đó.

      Ĺa hết thảy tâm ư thức phân biệt, khi ấy, thức thứ sáu, thứ bảy, thứ tám tuy có thô hay tế khác nhau, mỗi thức đều có các thứ phân biệt, đạt đến Bát Địa Bồ Tát th́ mới hết sạch. V́ thế, khi ấy, Đại Viên Kính Trí của Bát Địa Bồ Tát hiện tiền, chuyển [thức thành trí] nơi quả địa. Trước khi đạt đến Thất Địa, người ấy có Diệu Quán Sát Trí và B́nh Đẳng Tánh Trí, nhưng Đại Viên Kính Trí vẫn chưa có, tuy đă chuyển, nhưng công phu chưa đến mức. Ắt phải đến khi công phu đă đạt mức, chứng quả, thức thứ tám mới thật sự chuyển thành Đại Viên Kính Trí, thật sự ngộ Vô Sanh Pháp Nhẫn. Trong chú giải của kinh Di Đà, toàn là giảng về Duy Thức học và đạo lư Duy Thức. Hơn nữa, tinh hoa của Pháp Tướng Duy Thức Tông là dạy quư vị hăy chuyển Thức thành Trí.

      Cách tu của Pháp Tướng Duy Thức Tông có “ngũ chủng Duy Thức Quán”[6] rất rắc rối; nay pháp môn Tịnh Độ cũng tu điều này, cũng là chuyển Thức thành Trí, nhưng phương pháp đơn giản và mầu nhiệm hơn! Quư vị thấy một câu Di Đà tuyệt diệu hơn rất nhiều! Cũng có thể tu đạt đến cảnh giới ấy, không chỉ cũng có thể [đạt cùng một cảnh giới], mà so với Duy Thức, [tŕ danh trong Tịnh Tông] c̣n nhanh chóng hơn tu năm thứ Duy Thức Quán. Người ta tu năm thứ Duy Thức Quán, nói thật ra, chưa chắc đă tu thành trong một đời. Năm [phương pháp Quán theo] thứ tự ấy thật sự chẳng dễ dàng! Nếu quư vị thật sự tu hành pháp môn Niệm Phật này đúng lư, đúng pháp, chắc chắn sẽ thành công trong một đời này, thật sự có thể chứng đắc. Do vậy, pháp môn này thật sự chẳng thể nghĩ bàn, được hết thảy chư Phật tán thán, rất có lư vậy! Bát Địa Bồ Tát mới tính là thật sự chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, chẳng những ngay cả phiền năo chẳng c̣n, mà tập khí cũng đều dẹp trừ. Cảnh giới này “thánh thả nan chi” (đối với bậc thánh c̣n khó), Sơ Địa là thánh nhân (Tam Hiền, Thập Thánh), thánh nhân c̣n khó thông đạt, “huống phàm bối hồ” (huống ǵ lũ phàm phu), hàng phàm phu chẳng dễ ǵ đạt đến cảnh giới này!

 

      (Sớ) Di viễn giả, yếm sanh vi hoạn, cực dục diệt sanh dĩ quy ư vô, nhi diệt phi chân diệt, chỉ ích cù lao, chung thành luân chuyển, như ngưu hoại xa, cổ hữu minh dụ.

      () 彌遠者,厭生為患,亟欲滅生以歸於無,而滅非真滅,祇益劬勞,終成輪轉,如牛壞車,古有明喻。

      (Sớ: “Càng xa”: Chán ngán sanh mạng là nỗi lo sầu, cực lực muốn diệt sanh mạng để trở về Không, nhưng diệt chẳng phải là thật sự diệt, chỉ càng thêm nhọc nhằn, rốt cuộc trở thành luân chuyển, như ḅ phá xe, cổ nhân đă có tỷ dụ rành rành).

 

      Chẳng biết tu th́ càng cầu càng xa, mong được kết quả, đâm ra càng thêm rối beng, đấy là v́ tu hành chẳng đúng pháp! Có một hạng người cảm thấy cái thân này là mối lo sầu lớn nhất, liền nghĩ không cần tới nó nữa! Chư thiên trên Tứ Không Thiên nghĩ như vậy, có rất nhiều vị A La Hán đă thành tựu cũng nghĩ như vậy, nên gọi là “hôi thân diệt trí” (thân như tro bụi, trí tịch diệt), chẳng cần đến thân nữa, “dĩ quy ư vô” (để trở về với Không), làm như vậy có phải thật sự là trở về với Không hay chăng? Không hề!

      “Nhi diệt phi chân diệt” (nhưng diệt chẳng phải là thật sự diệt): Người ấy chẳng thật sự diệt; trong Phật pháp nói sự diệt của người ấy là Đoạn Diệt. Phật pháp nói đến “diệt” th́ phải là Tịch Diệt, Tịch Diệt chẳng phải là Đoạn Diệt. Cảnh giới Tịch Diệt là Sự Sự vô ngại, c̣n Đoạn Diệt là chuyện ǵ cũng có chướng ngại; bởi lẽ, người ấy cảm thấy cái thân này có chướng ngại cho nên mới diệt trừ nó. Nếu thân không có chướng ngại, quư vị cần ǵ phải diệt nó? Đủ thấy đúng là công phu chưa đến mức! Người ấy thấy điều ǵ cũng đều có chướng ngại, [luôn cảm thấy] cần phải đoạn trừ chướng ngại, chẳng biết trong Phật pháp Đại Thừa chân chánh th́ thứ ǵ cũng đều chẳng có chướng ngại. Đối với ư nghĩa này, quư vị đă nghe suốt mấy hôm trong khóa giảng, nói chung cũng phải hiểu được mấy phần. Quư vị thấy Thiện Tài đồng tử tham học năm mươi ba lần, hiển thị thứ ǵ cũng đều chẳng chướng ngại, Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại, thành tựu trí huệ viên măn của chính ḿnh. Thiện Tài đồng tử chẳng cần diệt trừ thân thể, chẳng làm chuyện ngốc nghếch ấy, [làm chuyện ấy] vô ích!

      Diệt là mục tiêu tu học tối cao trong Phật pháp, Diệt là diệt phiền năo, diệt vô minh, diệt sanh tử, diệt những thứ đó, chứ không phải là diệt thân! Quư vị quán sát cặn kẽ cái thân này: Trong thân chẳng có phiền năo, cũng chẳng có sanh tử, cũng chẳng có vô minh. Nếu quư vị không tin, hăy t́m trong thân thể, hiện thời khoa học phát triển, quư vị phân tích, mỗi một tế bào trong thân thể của chúng ta có thể tách thành nguyên tử, điện tử; quư vị hăy quan sát, trong nguyên tử, điện tử nào có phiền năo, có vô minh? Quư vị có thể t́m thấy hay chăng? T́m chẳng ra! Trong lạp tử cơ bản nhỏ nhất đă không có vô minh, mà cũng chẳng có sanh tử, chẳng có phiền năo! Cái thân này bất quá do vật chất cơ bản tích tụ mà thành, quả thật chẳng có! Đă chẳng có th́ không bị chướng ngại!

      Ví như thuở Đạt Ma Tổ Sư của Thiền Tông đến Trung Quốc, t́m chẳng được đồ đệ nào, không ai học theo Ngài, bèn trụ tại chùa Thiếu Lâm chín năm, ngồi nh́n vách chín năm. Sau này, gặp được Huệ Khả, Huệ Khả hướng về Ngài thỉnh giáo. Thỉnh giáo điều ǵ? Tâm Huệ Khả chẳng an, cho nên đến t́m Đạt Ma Tổ Sư, cầu Đạt Ma Tổ Sư an tâm cho. Chuyện cầu pháp ấy chẳng dễ dàng, chặt tay cầu pháp. Là v́ Ngài gặp mặt Đạt Ma Tổ Sư, Đạt Ma Tổ Sư chẳng đoái hoài. Đến cuối cùng, không c̣n cách nào, bèn chặt một cánh tay, cầm cánh tay cúng dường Đạt Ma Tổ Sư. Đạt Ma Tổ Sư thấy Ngài làm như vậy, đúng là kiền thành, hỏi: “Ông cần ǵ phải làm thế? Rốt cuộc ông đến kiếm tôi để làm ǵ?” Ngài mới thưa: “Tâm con bất an, cầu đại sư an tâm cho con”. Đạt Ma Tổ Sư x̣e tay: “Ông đem cái tâm lại đây, ta sẽ an nó cho ông”. Ngài nghĩ cả nửa ngày rồi nói: “Con t́m tâm chẳng thể được! Con t́m tâm không ra”. Tâm rốt cuộc ở nơi đâu? Trong năo chẳng có tâm, quả tim cũng chẳng phải là tâm, t́m thế nào cũng chẳng được, giống như tôn giả A Nan, t́m bên trong chẳng được, t́m bên ngoài chẳng được, ở chính giữa t́m chẳng được, đến nơi đâu cũng chẳng t́m được, Ngài mới thưa với Tổ Sư: “Ngă mịch tâm liễu bất khả đắc” (Con t́m tâm trọn chẳng thể được!) T́m tâm không ra! Đạt Ma Tổ Sư nói: “Ngă dữ nhữ an tâm cánh!” [tức là] ta đă làm cho cái tâm ông được an rồi đó! Ngài bèn hoảng nhiên đại ngộ. “Ông nói tâm ông không an, nhưng về căn bản t́m chẳng được cái tâm, ông c̣n muốn an nó để làm ǵ?” Ngài bèn lập tức đạt được thanh tịnh.

      Quư vị nói quư vị có phiền năo, phiền năo nhiều khôn xiết, nếu tôi duỗi tay: “Quư vị đưa phiền năo cho tôi, sẽ chẳng c̣n phiền năo nữa”. Quư vị t́m xem, phiền năo ở chỗ nào? T́m không ra! Về căn bản là không có! Đấy là tự sanh phiền năo, về căn bản, quư vị chẳng có phiền năo. Quư vị không tin cứ đi t́m, phiền năo ở trong đầu, hay ở trên tay, ở dưới chân? T́m không được! Nếu quư vị hoảng nhiên đại ngộ, phiền năo vốn là vọng tưởng của ta, chẳng có vọng tưởng sẽ chẳng có phiền năo, phiền năo lập tức bị tiêu trừ. Sự thật xác thực là như vậy!

      Bởi thế, Phật pháp cầu Tịch Diệt, chẳng cầu Đoạn Diệt. Nhất định phải hiểu rơ ràng điều này! Đoạn diệt chẳng phải là Chân Diệt, Tịch Diệt là Chân Diệt. Kinh Lăng Nghiêm nói rất hay: “Sanh diệt kư diệt, Tịch Diệt hiện tiền” (Sự sanh diệt đă diệt mất th́ Tịch Diệt hiện tiền), đó là cảnh giới của Như Lai, là Tịch Diệt Nhẫn, c̣n cao hơn Vô Sanh Pháp Nhẫn một bậc; đấy là cảnh giới của Thập Địa Bồ Tát trở lên. Thất Địa, Bát Địa, Cửu Địa là Vô Sanh Pháp Nhẫn. Thập Địa, Đẳng Giác, Như Lai quả địa là Tịch Diệt Nhẫn. Do Đoạn Diệt chẳng phải là Chân Diệt, nên nếu tu Đoạn Diệt th́ Phật pháp thường bảo đó là khổ hạnh vô ích, rất khổ, chẳng có ích ǵ! Đấy chẳng phải là thật sự tu hành chánh pháp đúng như pháp, mà là khổ hạnh vô ích. “Chỉ ích cù lao” (chỉ càng thêm nhọc nhằn), tăng thêm phiền toái, tăng thêm mệt nhọc, tu kiểu này chẳng có ích ǵ cả!

      “Chung thành luân chuyển, như ngưu hoại xa, cổ hữu minh dụ” (Rốt cuộc biến thành luân chuyển, như ḅ phá xe, cổ nhân đă có tỷ dụ rành rành). Đây là nêu tỷ dụ để nói. “Chung thành luân chuyển” (rốt cuộc biến thành luân chuyển): Chẳng hạn như ta thường nói tu Vô Tưởng Định là dùng cách tu Đoạn Diệt để đoạn trừ hết thảy vọng tưởng, tu thành quả báo là Vô Tưởng Thiên trong Đệ Tứ Thiền, thọ mạng năm trăm kiếp, thời gian ấy khá dài, nhưng năm trăm kiếp cũng phải qua đi, công phu định lực mất đi; sau khi mất đi, người ấy vẫn phải đọa lạc. V́ thế, rốt cục biến thành luân chuyển, người ấy vẫn phải luân hồi! Khổ hạnh tu Vô Tưởng Định thành tựu, chẳng dễ dàng! Sự khổ hạnh ấy chẳng thể đạt đến kết quả rốt ráo, vô giá trị! “Như ngưu hoại xa” (như ḅ phá xe), đây là tỷ dụ, ḅ kéo xe rất mệt mỏi, rất khổ sở, ḷng nó nghĩ như thế nào? Ta phá tan cái xe này, sẽ chẳng phải kéo nữa! Đó là cách suy nghĩ rất ngốc nghếch. Quư vị đều biết, ḅ phá tan cái xe th́ chủ nhân lại đóng cái xe mới, lại chế cái xe to hơn, ḅ vẫn phải kéo! [Phá xe] chẳng phải là biện pháp [thoát khổ].

      “Cổ hữu minh dụ” (cổ nhân có tỷ dụ rành rành): Tỷ dụ rất rơ rệt, tỷ dụ ấy chính là con người chán ngán cái thân khổ sở, nghĩ muốn nhanh chóng diệt trừ cái thân này, chẳng biết sau khi diệt thân, lại phải thọ thân. Nếu quư vị thật sự hiểu rơ đạo lư này, quư vị sẽ biết: Trong thế gian này, có rất nhiều kẻ cảm thấy cuộc đời đau khổ quá, sống không được bèn tự sát. Tự sát là ta chẳng cần đến cái thân này nữa, cứ ngỡ chết rồi th́ chuyện ǵ cũng xong xuôi! Đâu có chuyện tiện nghi như vậy? Chết rồi chưa đầy bốn mươi chín ngày lại đầu thai, lại tái sanh, khổ sở đáng phải chịu như thế nào th́ vẫn khổ sở như thế ấy, không có cách nào thoát ly. Nếu quư vị hiểu rơ chân tướng sự lư này, nhất định đừng đi t́m cái chết! Có chết cũng không xong, phiền phức lớn lắm!

      Nay chúng ta gặp gỡ pháp môn này, nói thật ra là đừng chết th́ quư vị sẽ thành công, hễ chết bèn bị luân hồi. V́ sao nói là chẳng chết? Văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới là ra đi trong lúc c̣n sống, không phải là chết rồi mới đi. Trong trạng thái hết sức b́nh thường, hết sức tỉnh táo, quư vị thấy A Di Đà Phật đến tiếp dẫn, theo Ngài ra đi. Đấy đâu phải là chết, ra đi trong khi c̣n sống đấy chứ! Quư vị phải hiểu rơ đạo lư này. Nói chết rồi mới có thể văng sanh th́ trong Mật Tông có cách cứu độ Trung Ấm, họ nói rất hay, có thể độ thân Trung Ấm của người đă chết về Tây Phương Cực Lạc thế giới, trong Mật Tông có cách nói như thế. Thưa quư vị, kiểu nói này có rất nhiều vấn đề! Có thể độ thân Trung Ấm của người đă chết về Tây Phương Cực Lạc thế giới th́ khi c̣n sống chúng ta chẳng cần tu hành, tu hành để làm ǵ? Chết rồi, thỉnh mấy vị lạt-ma đến siêu độ văng sanh Tây Phương! Quư vị tra duyệt khắp các kinh điển Tịnh Độ xem có đạo lư ấy hay chăng? Chẳng thể nào!

      Quư vị xem Lương Hoàng Sám, phi tử của Lương Vũ Đế chết rồi, thỉnh ngài Bảo Chí Công đến siêu độ, ngài Bảo Chí Công là hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát. Quán Thế Âm Bồ Tát là hậu bổ Phật của A Di Đà Phật bên Tây Phương Cực Lạc thế giới, Ngài cũng chẳng thể độ phi tử của Lương Vũ Đế về Tây Phương Cực Lạc thế giới, chỉ có thể độ cho bà ta sanh lên trời Đao Lợi. Nh́n từ trường hợp này, chúng ta thật sự hiểu rơ: Cái gọi là siêu độ Trung Ấm, đích xác là có thể siêu độ, nhưng chỉ có thể siêu độ lên Đao Lợi Thiên! Nếu nói là siêu độ cao hơn cơi trời Đao Lợi, siêu độ về Tây Phương Cực Lạc thế giới, chắc chắn chẳng có lẽ ấy! Nếu quư vị nghe lời họ nói, sẽ bị mắc lừa thật to! Xét về lư, nói chẳng xuông, chẳng t́m thấy căn cứ [của việc siêu độ Trung Ấm Thân về Tịnh Độ] trong kinh điển, không có cách nói ấy!

      Văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, trong mấy hôm nay chúng ta cũng bàn không ít những nguyên tắc trọng yếu. Thứ nhất là quư vị phải phát Bồ Đề tâm, Trung Ấm Thân có thể phát Bồ Đề tâm hay không? Điều thứ hai, quư vị phải đầy đủ ba món tư lương, Trung Ấm Thân có thể đầy đủ hay chăng? Nhiều vấn đề quá! Quá ư là nhiều! Trung Ấm so với khi chúng ta mang thân người c̣n mê hoặc nhiều hơn; khi quư vị c̣n sống, đầu óc tỉnh táo mà c̣n chưa thể phát Bồ Đề tâm, chưa thể đầy đủ ba món tư lương, th́ khi mê hoặc, điên đảo quư vị có thể làm được hay chăng? Trung Ấm Thân c̣n tệ hơn mộng cảnh, c̣n mê hoặc hơn nữa; nếu chẳng mê hoặc th́ cớ sao người ấy lại đi vào tam ác đạo? V́ thế, vào trong ba ác đạo là hồ đồ đi vào. Người mê hoặc điên đảo làm sao có thể đến Tây Phương Cực Lạc thế giới cho được? Làm sao A Di Đà Phật tiếp dẫn người ấy được? Chắc chắn là chẳng thể nào! Nếu là có thể, chắc chắn là trong thuở ấy, ngài Bảo Chí Công đă độ phi tử của Lương Vũ Đế về Tây Phương Cực Lạc thế giới! Nếu là như vậy th́ chúng ta mới tin tưởng vẫn có thể siêu độ Trung Ấm Thân văng sanh Tây Phương, chúng ta sẽ tin tưởng.

      Từ xưa đến nay, phàm là siêu độ người sau khi đă chết, kinh Địa Tạng cũng nói như thế, chỉ có thể siêu độ lên Đao Lợi Thiên là cao nhất, v́ sao? Đó là phước báo. Kinh Địa Tạng dạy: Người nhà quyến thuộc tu phước cho vong nhân th́ người đă khuất chỉ có thể hưởng một phần bảy [phước ấy], người tu phước tự được sáu phần bảy. Trong kinh [Địa Tạng], đă có kinh văn nói rơ ràng, rành rành như thế. V́ thế, quư vị phải biết, phải hiểu, phải thật sự giác ngộ! Ngàn vạn phần đừng nhẹ dạ tin theo những lời đồn đại của kẻ khác, chớ nên dễ dăi tin tưởng. Nghe người ta nói kiểu đó, trong ḷng chúng ta quyết định chẳng bị lay động!

      Nay pháp môn này của chúng ta có căn cứ lư luận chắc chắn, vững vàng, thế mà hiện thời c̣n có người nói như thế nào? Hủy báng Tịnh Độ hết sức dữ dội, nói kinh Di Đà là giả, nói A Di Đà Phật là thần Thái Dương, quư vị nói xem c̣n có cách ǵ hay không? Rất nhiều năm trước đây, khi tôi dạy học tại Phật Quang Sơn. Ở Phật Quang Sơn có học sinh trong buổi học đă nêu ra câu hỏi, anh ta nói: Có một vị pháp sư cũng đang dạy bọn họ tại đó nói Tây Phương Tịnh Độ là giả, là một cơi nước lư tưởng của Thích Ca Mâu Ni Phật, chẳng phải là thật! C̣n nói: “A Di Đà Phật là hóa thân của thần mặt trời”. Anh ta hỏi tôi, tôi trả lời: “Rất đáng tiếc, tŕnh độ của tôi quá nông cạn, tuy có coi sơ qua Đại Tạng Kinh một lần, chưa coi kỹ, không biết điều đó xuất phát từ bộ kinh hay bộ luận nào! Các anh nên biết: Tốt nhất là hăy hỏi vị thầy nói câu đó!” Bịa đặt, đồn thổi, hết cách nói!

      Sau đấy, tôi quay về Đài Bắc, đặc biệt ấn hành lưu thông bộ Thông Tán Sớ của Khuy Cơ đại sư nhằm tạo bằng chứng đanh thép cho kinh Di Đà trong pháp môn Tịnh Độ, chứng minh pháp môn này là thật. Ngài Khuy Cơ là học tṛ của Huyền Trang đại sư, Huyền Trang sang Ấn Độ ở lại đó suốt mười bảy năm. Đích thân ngài Huyền Trang cũng dịch kinh Di Đà sang tiếng Hán, bản dịch của Ngài hiện c̣n lưu trong Đại Tạng Kinh, không được lưu hành riêng. Ngài Khuy Cơ là truyền nhân của Huyền Trang đại sư, là đại đệ tử của ngài Huyền Trang, là người truyền pháp, lại c̣n là tổ sư khai sơn của Pháp Tướng Duy Thức Tông, Ngài chú giải kinh Di Đà, dùng bản nào? Dùng bản của Cưu Ma La Thập đại sư, dụng ư quá sâu! Con người chúng ta hiện thời luôn dùng t́nh cảm; từ chỗ này, quư vị có thể thấy đại sư đă ban cho chúng ta một lời giáo huấn rất lớn, “y pháp, bất y nhân”.

      Nếu nói như chúng ta hiện thời th́ Khuy Cơ đại sư là học tṛ của ngài Huyền Trang, bản dịch của ngài Huyền Trang đă được dịch xong, người khác chẳng lưu thông th́ lẽ ra kẻ làm học tṛ phải dốc hết tánh mạng lưu thông. Viết chú giải kinh Di Đà, lẽ ra phải dùng bản dịch của thầy, cớ sao lại chọn bản dịch của Cưu Ma La Thập đại sư? Đấy chẳng phải là không thông hiểu phép xử sự đúng lẽ t́nh người hay sao? Nếu là như hiện thời th́ chắc chắn sẽ là như thế. Hiện thời th́ thầy ta là bậc nhất, người khác đều không bằng! Thế nhưng Khuy Cơ đại sư vẫn y như cũ dùng bản dịch của Cưu Ma La Thập đại sư, nói cách khác, hai thầy tṛ Ngài đều công nhận bản dịch của Cưu Ma La Thập đại sư (hiện thời chúng ta tụng bản dịch này) chắc chắn chẳng sai lệch ư nghĩa so với Phạn bản. Nếu có sai lầm, Huyền Trang đại sư nhất định nói ra v́ Ngài đă đọc bản tiếng Phạn. Đây là nhằm chứng minh cho chúng ta, tạo chứng cớ đanh thép: Bản dịch kinh này [của ngài La Thập] dịch khá lắm. Khuy Cơ đại sư soạn chú giải, chọn lấy bản của La Thập đại sư để chú giải, trọn chẳng phải là nghịch thầy, phản đạo! Huyền Trang đại sư thấy ngài Khuy Cơ làm như vậy, chẳng dùng bản dịch của thầy để chú phải, mà lại dùng bản dịch của người xưa, Ngài cũng chẳng nghĩ học tṛ phản thầy. Đủ thấy cổ nhân đối với Phật pháp quả thật đă theo đúng Tứ Y Pháp, “y pháp, bất y nhân, y nghĩa, bất y ngữ”.

      Bản dịch của La Thập đại sư đă dịch hay như thế, đă được lưu thông, người ta có thể bỏ ḿnh v́ người, đương nhiên bản dịch của chính ḿnh cũng chẳng kém bản dịch của Cưu Ma La Thập đại sư, nhưng bản dịch của ngài La Thập đă được lưu thông phổ biến, có thể thâu bản dịch của chính ḿnh lại, hoằng dương bản của cổ đức, tâm lượng ấy rất phi phàm, thật sự đă thể hiện “đại công vô tư”, v́ Phật pháp, v́ chúng sanh, chẳng v́ tiếng tăm, lợi dưỡng của chính ḿnh. V́ thế, cuốn Thông Tán Sớ là một chứng cớ đanh thép cho kinh luận Tịnh Độ và pháp môn tu hành Tịnh Độ. Kinh Di Đà chắc chắn là chân thật, chẳng giả, v́ đă được Huyền Trang và Khuy Cơ chứng minh. Do điều này, bất luận là ai, nếu nói kinh này là giả th́ gă đó là ma, đều là bịa đặt, rêu rao, đều muốn diệt pháp, chúng ta nhất quyết chớ bị những gă đó lường gạt. Chúng ta quả thật có chứng cớ đanh thép, chứng minh kinh này là chân thật, chẳng hư vọng.

     

      (Sớ) Kim chuyên niệm Phật, phát nguyện văng sanh, sanh bỉ quốc dĩ, hoa khai kiến Phật, thức tự bổn tâm, bổn tự bất sanh, sanh diệc hà ngại? Sở vị: Xí nhiên cầu sanh, nhi bất quai ư Vô Sanh chi lư, chung nhật sanh nhi vị thường sanh giả, năi sở dĩ vi chân Vô Sanh dă.

      () 今專念佛,發願往生,生彼國已,華開見佛,識自本心,本自不生,生亦何礙。所謂熾然求生,而不乖於無生之理,終日生而未嘗生者,乃所以為真無生也。

      (Sớ: Nay chuyên niệm Phật, phát nguyện văng sanh, sanh về cơi ấy xong, hoa nở thấy Phật, nhận biết bổn tâm vốn tự bất sanh, có sanh cũng chẳng ngăn ngại ǵ? Đó gọi là náo nức cầu sanh mà chẳng trái nghịch lư Vô Sanh, suốt ngày sanh mà chưa hề sanh. Đấy mới chính là Vô Sanh thật sự vậy).

 

       Đây là nói với chúng ta là những người tu học pháp môn này; nay chúng ta chuyên niệm Phật hiệu, hoàn toàn nhờ vào bốn chữ ấy để vượt thoát lục đạo luân hồi trong tam giới, hoàn toàn dựa vào bốn chữ ấy để chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn, thành tựu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Đáng quư là “phát nguyện văng sanh”, đúng như Ngẫu Ích đại sư đă nói “phát nguyện văng sanh là phát Vô Thượng Bồ Đề Tâm”. Sau khi sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, “hoa khai kiến Phật”, đấy là Thượng Phẩm Thượng Sanh. Hễ sanh về Tây Phương, hoa sen liền nở, thấy Phật. Từ Trung Phẩm trở xuống, thời gian [hoa sen nở] dài hay ngắn khác nhau. Nếu quư vị hỏi: “Sanh về đó, phải mất bao lâu hoa sen mới nở, thấy Phật?” Mỗi cá nhân có t́nh h́nh khác nhau, mấu chốt là do chính ḿnh siêng năng hay lười nhác. Nếu quư vị tinh tấn chẳng lười, hoa nở thấy Phật rất nhanh chóng; nếu quư vị giải đăi, biếng nhác, thời gian sẽ kéo dài. V́ thế, thời gian sớm hay trễ phải hỏi chính ḿnh, chẳng cần hỏi ai khác!

      Đến khi hoa nở thấy Phật bèn ngộ Vô Sanh Pháp Nhẫn. Nói thông thường th́ khi nào hoa nở thấy Phật? Sơ Địa là hoa nở thấy Phật, khi ấy, tuy đă ngộ Vô Sanh, nhưng chỉ là tướng sáng của Vô Sanh Pháp Nhẫn mà thôi, vẫn phải tu đến Đệ Bát Địa mới thật sự chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn. Thế nhưng Sơ Địa Bồ Tát đă thấu lộ tin tức Vô Sanh Pháp Nhẫn rồi, đă biết tin tức rồi! V́ thế, nói “thức tự bổn tâm, bổn tự bất sanh” (tự biết bổn tâm vốn tự bất sanh). Đă vốn tự bất sanh, lẽ nào có diệt? Hết thảy các pháp đều bất sanh, bất diệt, đấy là chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn. Đến khi ấy, “sanh diệc hà ngại” (có sanh cũng chẳng trở ngại ǵ), Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại, đấy là cảnh giới Nhất Chân pháp giới của Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Cơi Thật Báo Trang Nghiêm trong Tây Phương Cực Lạc thế giới chính là Nhất Chân pháp giới trong thế giới Hoa Tạng, tức là [nhờ vào] một câu A Di Đà Phật, hễ văng sanh liền có thể đạt được [Nhất Chân pháp giới], công đức chẳng thể nghĩ bàn!

      “Sở vị xí nhiên cầu sanh, nhi bất quai ư Vô Sanh chi lư” (Đó gọi là náo nức cầu sanh mà chẳng trái nghịch lư Vô Sanh). Hăm hở cầu văng sanh là t́nh h́nh của chúng ta trong hiện thời. Trong hiện tại, chúng ta có tâm trạng hết sức nóng bỏng muốn được sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, đó là “xí nhiên cầu sanh”. [Mong cầu ấy] có trái nghịch lư Vô Sanh Pháp Nhẫn hay không? Chẳng trái nghịch tí ti nào! Chúng ta văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới để chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn, đại sư v́ sao phải nói với chúng ta như vậy? V́ sợ các tông, các giáo khác dụ dỗ, mê hoặc quư vị: “Ở bên đó, quư vị chẳng thể ngộ Vô Sanh, sanh về đó là sanh vào cơi Phàm Thánh Đồng Cư”. Sợ quư vị nghe những lời lẽ ấy sẽ dao động, chẳng niệm Phật nữa, mà đi học các pháp môn khác, thật sự lỡ làng đại sự của chính ḿnh. Sau khi hiểu rơ đạo lư này, đối với học thuyết của các tông phái khác, quư vị nghe xong chắc chắn chẳng dao động, quyết định niệm một câu Di Đà đến tột cùng, chắc chắn quư vị sẽ thành công. Đó là “cầu sanh bất quai ư Vô Sanh chi lư” (cầu văng sanh mà chẳng trái nghịch lư Vô Sanh). Trong Chứng Đạo Ca, ngài Vĩnh Gia đă viết: “Thùy vô niệm, thùy vô sanh, nhược thật vô sanh vô bất sanh. Hoán thủ cơ quan mộc nhân vấn, cầu Phật thi công tảo văn thành” (Ai vô niệm? Ai vô sanh? Thật sự vô sanh, vô bất sanh, thay đổi cơ quan hỏi người gỗ, cầu Phật thi công sớm muộn thành). Đó là nói đến đạo lư này, là phương pháp trong Thiền Tông. Chúng ta dùng phương pháp niệm một câu A Di Đà Phật chắc chắn sẽ chứng đắc. Dùng phương pháp của nhà Thiền để đạt đến quả thật khá khó khăn! Dùng phương pháp Niệm Phật ai nấy đều có thể thành tựu.

      “Chung nhật sanh nhi vị thường sanh giả, năi sở dĩ vi chân Vô Sanh dă” (suốt ngày sanh mà chưa hề sanh chính là chân Vô Sanh vậy). “Chung nhật sanh” là chúng ta niệm niệm đều mong cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ, trọn chẳng biết cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ chính là thật sự chứng đắc Vô Sanh. Nói như vậy quá viên măn, quá thấu triệt. Bộ sách Tịnh Độ Sanh Vô Sanh Luận chuyên môn thảo luận vấn đề này, “sanh” là chúng ta cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ, “vô sanh” là chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn. Bộ luận này được đưa vào tác phẩm Tịnh Độ Thập Yếu, chuyên môn thảo luận lư luận văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, là một tác phẩm vô cùng hay. Nay đă hết thời gian rồi, tôi giảng đến chỗ này.

A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa

Phần 33 hết

 



[1] Tiền ở đây là đơn vị đo trọng lượng. Một Tiền là mười Phân. Một Cân bằng mười lạng, một Lạng gồm mười Tiền. Ở Hoa Lục, một Tiền là 5 gram, nên một Cân tại Hoa Lục là 500 gram, trong khi đó, tại Hương Cảng và Đài Loan, một Tiền chỉ bằng 3,78 gram. Các hiệu thuốc Đông Y phần nhiều sử dụng đơn vị Tiền theo kiểu Hương Cảng.

[2] Phật Tạng Kinh c̣n có tên là Phụng Nhập Long Hoa Kinh, hoặc Tuyển Trạch Chư Pháp Kinh, do ngài Cưu Ma La Thập dịch vào năm Hoằng Thỉ thứ bảy (405), gồm ba quyển, mười phẩm. Kinh này chủ yếu nói về luật nghi của Bồ Tát, nhưng khác với bộ luật khác ở chỗ đặc biệt nhấn mạnh: Nếu hành giả không thông đạt Thật Tướng của các pháp là vô sanh vô diệt v.v.. dẫu có thọ tŕ hai trăm năm mươi giới cũng giống như phá giới, hành giả phải xa ĺa các món hư luận, phân biệt, th́ mới được gọi là tŕ giới.

[3] Nguyên văn “ma thạch” (đá mài, Terrazzo). Đây là một loại vật liệu xây cất, được chế bằng cách trộn các mảnh vụn cẩm thạch, thạch anh (quartz), đá hoa cương (granite), thủy tinh, hoặc các vụn đá thích hợp, kể cả những chất dẻo tổng hợp (polimer) với xi-măng, rồi đổ khuôn, chủ yếu để làm sàn nhà hoặc ốp vách tường. Khi chất liệu đă cứng, người ta bèn mài bóng.

[4] Để dễ hiểu ư của câu này, xin mạn phép trích một đoạn trong Lăng Nghiêm Kinh Chánh Mạch Sớ của pháp sư Giao Quang như sau: “Túng diệt nhất thiết kiến văn giác tri, nội thủ u nhàm, do vi pháp trần phân biệt ảnh sự (Dẫu diệt hết thảy thấy, nghe, hay biết, giữ lấy sự u nhàn bên trong, vẫn là chuyện thuộc về bóng dáng phân biệt Pháp Trần). ‘Kiến văn giác tri’ là nói về năm thức trước và ư thức. Dùng bốn chữ này (kiến văn giác tri) để bao gồm cả sáu thức ấy, gộp ngửi và nếm thành một chữ Giác. ‘Diệt’ là dứt trừ sự nhận biết các ngoại duyên của các thức, khiến cho chúng bất động. ‘U nhàn’ là cảnh vắng lặng trong nội tâm [khi đă dứt sự phân biệt ngoại duyên]. Cảnh này chính là cảnh bị giữ lấy bởi phàm phu, ngoại đạo, Quyền Giáo, Tiểu Thừa trong khi nhập Định, mà cũng là cái họ chấp lấy, coi đó là Pháp Tánh cần phải chứng. ‘Pháp trần’ là tên gọi của cảnh này. ‘Phân biệt’ là cái tâm giữ lấy cảnh này. Chữ ‘ảnh sự’ chỉ tâm và cảnh ấy, chứ không phải là bóng dáng do ánh sáng chiếu rọi vật, trọn chẳng có thật. Phàm phu, ngoại đạo, Quyền Giáo, Tiểu Thừa chấp sự u nhàn là Pháp Tánh sâu xa, chẳng biết nó vẫn là Pháp Trần được duyên bởi vọng thức”.

[5]Thoát thai hoán cốt” vốn là một thuật ngữ Đạo Giáo. Họ tin rằng nếu uống kim đan (thần đan) sẽ đổi thai phàm thành thai thánh, đổi xương phàm thành xương tiên, nên mới gọi là “thoát thai, hoán cốt”, tức là sẽ trở thành Địa Tiên, trường sanh bất lăo, có thể bay lên không, tùy ư tự tại. Kim đan là những loại thuốc nung luyện bằng phương cách bí truyền gồm các kim loại quư (hoặc những chất được tin tưởng là mẹ của các kim loại như ch́, thủy ngân) và một số dược vật kỳ quái khác. Kim đan phải chọn ngày giờ, phương vị để nung luyện (tương tự như Giả Kim Thuật của châu Âu). Tư tưởng luyện kim đan bắt nguồn từ Cát Hồng đời Tấn như ông ta đă tŕnh bày trong sách Băo Phác Tử, và được các đạo sĩ đời sau hăm hở luyện theo. Nhiều vua chúa Trung Hoa đă mê muội muốn trường sanh bất tử, chẳng hạn các vua Hiến Tông, Mục Tông, Vũ Tông, Tuyên Tông nhà Đường, Gia Tĩnh nhà Minh đă chết tươi hay điên cuồng, vật vă mấy ngày rồi chết sau khi uống kim đan v́ trong ấy có những chất kịch độc như thủy ngân, ch́! Ở đây, Liên Tŕ đại sư chỉ mượn từ ngữ này để ca ngợi phép Niệm Phật giúp cho phàm phu có thể từ phàm nhập thánh, vượt thoát tam giới nhanh chóng mà thôi!

[6] Theo Nhiếp Đại Thừa Luận và Thành Duy Thức Luận, Ngũ Chủng Duy Thức Quán là:

1. Khiển hư tồn thật quán (phép quán nhằm bỏ hư vọng, giữ lấy chân thật).

2. Xả lạm lưu thuần quán (phép quán nhằm bỏ những ǵ tràn lan, giữ lấy pháp thuần khiết).

3. Nhiếp mạt quy bổn quán (phép quán nhằm gom ngọn về gốc).

4. Ẩn liệt hiển thắng quán (phép quán nhằm giấu điều kém, phô bày điều thù thắng).

5. Khiển tướng chứng tánh quán (phép quán nhằm bỏ tướng, chứng tánh).